Mưa Thu

Lượt đọc: 30 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
MƯA THU phần thứ hai

❊ ❊ ❊

I

Năm Ất Dậu 1945, vào cữ lạnh.

Cụ Ðầu Xứ ngồi như vậy từ lúc tinh sương. Ấm trà ủ dưới vạt áo bông dài đã nguội, màu nước trà trong chiếc chén men xanh lúc này ngả vàng. Cái thứ trà ngày loạn ly này uống vào lại càng thêm nhớ hương xưa khói cũ. Ðã nhiều lúc cụ Ðầu Xứ nghĩ lẩn mẩn không biết trời có còn cho sống để một ngày nào đó lại được cùng mấy người bạn già nâng chén nước “Vũ Di”, ngâm ngợi mấy lời thơ trong nắng sớm. Nhưng làm gì còn có nữa, thời buổi khói lửa này!

Cơn gió lạnh từ lòng sông rộng dâng lên, làm rung cánh liếp dựa vào tấm vách rệu rã vì mưa nắng. Ở sân sau, lũ cháu nhỏ đang ngồi xúm vào nhau gọt gỗ, khoét tre làm súng ống bày trận giả. Cụ trông cháu mà đau ruột. Bố chúng đã ba năm nay nghe chừng đi đâu xa lắm, chả có tin tức gì. Người con dâu vừa ngồi băm bèo vừa coi lũ trẻ, vì ngay đấy là rìa sông sâu.

Ðôi lợn đói phá chuồng. Người đàn bà băm vội mớ bèo, đứng lên vào bếp. Lũ trẻ buộc xong sợi cao su vào dóng tre con rỗng ruột, giơ súng lên trời thử bắn. Súng không nổ, chỉ có mồm chúng kêu, làm con chim ngói trên cành xoan sợ cất cánh bay đi mất. Hoa xoan trắng rụng xuống bể nước mưa ở giữa những luống cải và húng Láng.

Gió ngoài sông lùa qua phên thưa vách nát. Cụ Ðầu Xứ khẽ rùng đôi vai gầy. Cụ nghĩ đến chiếc hỏa lò than đỏ. Giá như mọi khi thì những ngày trời trở rét thế này, cụ cho người nhà ra bờ sông đón thuyền mua cá, rồi sai cầm thiếp đi thỉnh mấy bạn già ở làng xa đến nhắm rượu cùng với gỏi cá, bàn chuyện thơ văn, thế sự bên lò than ấm. Thế mà bây giờ cụ đành ngậm ngùi ngày ngày ngồi nghe tiếng sóng con sông Hồ.

Giữa dòng sông, một chiếc thuyền bị bắn đắm từ ngày nọ vẫn còn nằm phơi nửa mình trên mặt nước. Cụ chạnh lòng nghĩ đến đời mình, ở lúc cỗi cằn này, có khác gì con thuyền nát bị sa lầy, vô dụng phó cho nước vỗ. Cụ nhớ lại những ngày trai tráng thuở Ðông Kinh Nghĩa thục, nhớ tới những nắm xương tàn nơi hoang đảo.

Xuân này không áo đẹp,

Nhưng khói tỏa sông Hồ

Ðất nước phơi sương máu,

Tay anh hùng điểm tô.

Trên nẻo giang thôn mờ mưa bụi, tiếng gà gáy ngọ theo hơi gió hòa lời thơ ngân khẽ của ông già bên lũ cháu.

Năm nay, tết nhà cụ lão nho là cái tết buồn tẻ nhất trên bến Hồ vắng tanh. Tuy nhiên người con dâu cũng thưa bằng được với mẹ chồng cho phép gói vài chục bánh chưng nhân dừa mỡ, vài chục bánh gio mà chị biết tính bố chồng tết mọi năm vẫn khen ngon. Nhưng bữa cơm sáng ngày mồng một năm nay cụ chỉ uống rượu suông, nếu có cầm đũa thì chỉ để gắp cho lũ cháu ngồi ghếch đầu lên đùi ông nội mà làm nũng.

Chén rượu có lúc nằm trên tay cụ một hồi lâu không nhúc nhích. Ðôi mắt mờ dưới cặp kính nhìn ra ngoài con sông cạn chìm giữa đôi bờ dâu, sắn, điểm thưa thớt vài búi tre vàng. Cụ nghĩ tới người con trai từ ngày Hà Nội khói lửa đã theo đoàn người áo vải lấy gian lao làm nghĩa của đầu xanh. Cụ chỉ có mỗi một người con trai đó. Nhưng xa thì nhớ mà gần thì cha con ít khi ngồi cùng một bữa mâm cơm thường ngày. Trước đó cụ nghĩ rằng Linh chỉ là một kẻ bê tha hư hỏng, lấy khói men tửu sắc làm lẽ sống mà thôi. Năm thì mười họa, Linh mới tạm rời Hà Nội, trở lại căn nhà lá bến Hồ. Linh từ con đò ngang bước chân lên đất. Dăm ba bà già, cô gái và lũ trẻ thập thò dẫy phố bên sông. Họ nhìn anh mặt xanh xao hơn mà thì thầm bàn tán:

- Cậu giáo Linh ở tỉnh về. Chắc là ngày lễ.

- Cậu ấy có dạy học nữa đâu mà giáo diếc. Nghe nói dạo này cậu ta làm nghề diễn kịch, làm báo viết sách gì ấy mà!

- Lắm nghề thế chắc kiếm được nhiều tiền đấy nhỉ?

- Chả biết có kiếm được nhiều không, chứ mợ ấy lúc nào cũng tần tảo khổ cực mà cứ kêu túng thiếu. Bà cụ chỉ thở dài, không ra khỏi cửa. Ông cụ lang độ này nghề thuốc ế ẩm làm sao, chả thấy ai mời đi chữa bệnh.

Tiếng bàn tán còn xì xào sau lưng Linh mãi cho tới lúc anh ngượng nghịu bước chân qua ngưỡng cửa khẽ lạy chào cụ Ðầu Xứ lúc đó lạnh lẽo nhìn qua mặt con rồi lại cúi vào trang sách. Lũ trẻ trông thấy bố cũng như trông thấy người lạ mặt mặc tây vào xem mạch lấy thuốc của ông nội chúng. Ðến nỗi người mẹ, má đỏ hồng, mắt long lanh ướt vì mừng tủi, phải mắng yêu con:

- Bố ở tỉnh về đấy mà. Con không yêu bố ư, hư đến thế thì thôi! Thơm bố rồi bố cho quà tỉnh, chóng!

Lũ trẻ vẫn rụt rè nấp sau cánh liếp. Hảo kéo con vào. Linh cúi hôn các con. Mặt anh cũng đỏ lên như Hảo. Anh có cảm tưởng những vầng trán thơ ngây trên đó chưa in bóng hình tục lụy, những cặp má mịn mát như cánh bạch hồng trong đó dòng máu thiên lương còn nguyên hương tươi thắm, vậy mà cặp môi anh bấy nay hằn tội lỗi vừa đặt xuống.

Anh ghé ngồi xuống góc giường, đáp qua loa mấy câu cụ hỏi về chuyện Hà Nội, chuyện chính trị, chuyện thế giới, hỏi cho có chuyện, thực thì cụ cũng chẳng thiết tha gì lắm nữa với việc đời. Trong khi ấy bà mẹ nhìn con xanh gầy đi mà đứt ruột, rón rén đứng dậy ra sân lau nước mắt. Lũ trẻ ngồi xúm cả sau lưng ông, mắt đen nháy tròn xoe nhìn bố để ngóng quà, nhưng trong chiếc cặp da cũ nát ném trên giường kia chỉ có chiếc sơ mi rách vá, chiếc quần đùi, còn thì toàn bản thảo kịch, thơ.

Linh cố lưu lại với gia đình được hai ngày. Hai ngày ấy anh không nói với ai, chỉ ra sau nhà ngồi hàng giờ lâu bên bờ sông thả cần câu cá, nhưng mắt anh chẳng buồn nhìn phao chìm hay nổi trên dòng nước đục không gợn chút sóng.

Anh lại cắp chiếc cặp da cũ kỹ vội xuống con đò ngang trở sang sông. Chiếc sào đẩy lướt mũi thuyền nan, người ra đi không quay lại nhìn người vợ trẻ còn đứng trong ngưỡng cửa gượng cười với lũ con thơ: “Bố dặn phải học cho ngoan, chủ nhật sau bố lại về, lần này thì bố sẽ mua quà thật.” Lũ trẻ lại tròn mắt nhìn mẹ, để lạ sao mẹ khóc; và chúng quay cổ nhìn bà để lạ sao bà khóc, trong lúc ông nội chúng chỉ khẽ thở dài và run tay lật nhanh trang sách mực tàu giấy bản đặt trên đùi.

Bảng lảng thân tàn ai có hay,

Gươm thiêng ngủ bụi đã lâu ngày,

Chiến bào thơm máu phơi trăng khuyết,

Vó ngựa chồn sương ngóng cát bay...

Trên nẻo giang thôn mờ bụi nước, cụ Ðầu Xứ gửi uất sầu vào chén rượu hoàng hôn.

***

Bốn tháng liền, cụ vắng nhà. Tới chiều nay, vừa đi chữa cho mấy con bệnh về, cụ ngồi với bầy cháu ngoan trước đĩa lạc rang, chai rượu thuốc.

Có tiếng ồn ào ở ngoài đường. Lũ trẻ chạy ra rồi chạy vào, ngã vào lòng ông, nói:

- Ông ơi, người ta đang chạy. Họ bảo nguy lắm ông ơi!

Cụ Ðầu Xứ vẫn ngồi yên, mặt không biến sắc. Bà cụ và người con dâu run lập cập. Bà khẽ thì thầm:

- Sao lại thế hả ông, sao lại động ngay được đến vùng này. Ði đâu được hả ông? Tôi lo lắm.

Cụ Ðầu Xứ chau mày, suy nghĩ. Ở ngoài kia tiếng người nhốn nháo, tiếng chân chạy rậm rịch ở gần ở xa, trong xóm và ngoài bến.

Bà cụ và người con dâu cuống quýt hết chạy ra đường, lại chạy vào nhà. Cụ Ðầu Xứ lật mạnh trang sách đặt trên đùi, chậm rãi:

- Bà và con cứ an tâm. Ðừng bắt chước người ta, chưa có gì đã rối lên.

Cụ rót đầy chén rượu. Nhìn vào trong chén, cụ tưởng như máu sôi cháy rượu men nồng. Phút giây, tận đáy ly rượu tràn đầy, dựng lên bao nhiêu bóng hình ký ức: mồ hoang, tù ngục, cảnh tình nếm mật nằm gai của người quốc sĩ bốn mươi năm về trước, giờ đây thực không còn là gì nữa trong tuổi già suy bại trước bão đời.

Cạn một hơi, cụ lại ngậm ngùi nghĩ đến câu chuyện đêm qua ở nhà cụ Chánh Kiều. Người con trai lớn cụ Chánh cho biết, nghe nói Linh vừa chết bệnh ở miền sơn cước. Thảo nào, ít đêm nay cụ cứ thấy ruột gan sôi nóng, và đêm qua, vào khoảng canh ba, cụ mơ thấy con trai đứng ở chân giường cụ, mặt giàn giụa nước mắt.

Hảo bưng cây đèn dầu lạc đặt bên mâm cơm, ánh lửa đèn nhuộm vàng chòm râu cước.

Cụ cúi xuống, lật trang bìa cuốn sách phủ đầy bụi. Ðây là bản thảo một vở kịch thơ dài của Linh. Xưa nay vẫn biết con mình làm thơ ca, nhưng cụ Ðầu Xứ chưa hề biết cái anh “đãng tử” ấy đã gửi gắm những gì trên giấy. Tối hôm nay, tâm tư nặng niềm đau huyết mạch, cụ rút trong ngăn sách cũ lấy ra tập sách dầy đã úa màu bụi bậm thời gian. Cụ lật trang đầu. Mái tóc trắng như bông nghiêng bên ánh lửa đèn, bỗng bàn tay run để rơi cuốn sách xuống đùi.

Một lát, cụ ngâm khe khẽ:

Hỡi ai múa kiếm trên lưng ngựa,

Giờ đã nằm yên dưới suối vàng.

- Chao ôi, oan nghiệt gửi vào lời thơ mệnh đoản. Thằng Linh nếu có chết yểu cũng là thiên mệnh đó thôi. Ai đời lại khai bút một văn phẩm dài bằng câu thơ gở độc này!

Cụ ngồi lặng lẽ nhìn vào ngọn lửa leo lét trước ngọn gió lùa qua phên liếp mấy lần muốn tắt. Chén rượu rung trên tay yếu gợn lên hình ảnh người con viễn xứ, vô tình cụ để rơi xuống mâm đồng. Chiếc chén vỡ tan.

***

Nhưng mấy hôm sau, cụ Ðầu Xứ đã được yên lòng vì cái tin Linh chết nơi miền ngược chỉ là một tin hư huyễn. Thế rồi tiếng súng thêm gần, thêm gần mãi, vọng qua sóng nước, vọng cả vào chén rượu bữa thường ướt hoen trang giấy bản.

Một sớm, lũ trẻ vừa thò đầu ra cửa đã thụt vào. Chúng xanh mắt nhìn nhau, nói nhỏ:

- Người ta đi đâu mà nhiều gươm súng thế?

- Rõ ràng có tiếng anh Xương, anh Sửu.

- Các anh ấy là học trò ông nội. Chắc các anh ấy đến báo tin để ông nội tản cư. Chứ ở đây nghe súng mà hết vía.

Lũ trẻ đang thì thào thì bọn trai tráng ngoài đường, theo lời hô, dừng bước lại. Dân phố bến đò Hồ kinh hoàng hé liếp, kẹt cửa ngó ra, lại tụt ngay vào như đàn chuột lủi vào hang tối. Có tiếng quát to:

- Trói thằng Lý Kỷ vào gốc bàng kia! Thượng lệnh truyền xử tử thằng phản động, đã không chịu tham gia công tác lại còn nỏ miệng nói những câu lạc hậu. Mổ bụng, phơi đầu quân phản động, quân thoái hóa, để...[1]

II

Linh, Thảo, Oanh vẫn cùng đoàn kịch Bông Lau diễn ở thôn Mai Thượng. Dân chúng rất hoan nghênh, và thượng cấp chỉ huy văn hóa từ khu xa về kiểm điểm rất hài lòng về nghệ thuật, nhưng không hoàn toàn đồng ý về phương diện sáng tác của Linh, bảo rằng những kịch phẩm ấy tuy rất lôi cuốn khán giả song bất lợi cho mục đích tuyên truyền. Linh không cãi, chỉ mỉm cười. Thái độ của anh rất rõ ràng, và thái độ ấy đã tách xa anh với bạn đồng hành đồng ngũ song chẳng hề chung quan niệm và chí hướng. Anh ngoảnh mặt đi, hoặc cắm cúi làm thơ, hoặc lặng lẽ nhìn trời mỗi khi người ta cãi cọ về chính trị. Quá lắm thì anh đứng dậy, ra chỗ vắng ngồi, hay đi chơi đâu dăm bảy bữa, rồi trở về với anh em khi bầu không khí luận chiến đã nguội lạnh như vẻ mặt chán chường của Ngọ, Hoạt, Quý, Uy lúc không còn tiền mua rượu thịt.

Tiết trời rét dữ. Cứ về cữ mưa dầm gió bấc là Oanh ốm yếu luôn. Cái thai đã làm cho cơ thể của cô quá nặng nề.

Ðoàn kịch vẫn luôn chuyển như vành xe gỉ trên đường bụi.

Cô lúc này tự thấy mình là một phần tử sắp rơi vào vòng sa thải, vì ốm đau và to bụng, không thể ra sân khấu đóng đôi với Linh được nữa. Ông bầu Tích tỏ ra khó chịu, và anh em có lần say, sỗ sàng trách Linh tác quái. Tác quái có nghĩa là làm hỏng hình hài một nữ tài tử của đoàn, phạm nội quy mà đoàn viên cần phải tránh.

Linh không chịu được những lời đùa bỡn có tính cách lên án đó, nên đã bàn với Thảo đành xa các bạn. Thảo đồng tình. Ngày hôm sau, Thảo rủ Oanh và Linh về nhà mình tạm nghỉ, chờ Oanh sinh đẻ, trong thời gian ấy anh sẽ có thể sáng tác thêm chăng.

Ba người bạn rời Mai Thượng vào một buổi tinh sương, giữa lúc các kịch sĩ đang nằm rúc vào nhau ngủ mệt trên giường, dưới đất, lấy phông cảnh, cánh gà làm chăn gối đắp điếm cho nhau sau một đêm bôi râu, vẽ mặt làm vương hầu, tráng sĩ, hiến vui cho bọn khán giả quê mùa.

Gió sớm lùa qua hơi sương băng giá vèo vèo quất vào da mặt. Ba người đã xa thôn Mai Thượng, lặng lẽ và chậm chạp cúi đầu đi bên bờ sông máng, nước sánh chất độc cao nguyên rót xuôi về đồng ruộng. Cô xuýt xoa so đôi vai gầy guộc, áo đơn không đủ ấm, níu chặt cánh tay Linh. Thảo đi lên trước, cản đỡ gió cho cô.

Màng sương đọng trên các khóm lá cúc tần trắng tựa những mảnh sa vương vất đó đây. Gió thổi dạt những bông lau tím phớt nghiêng nghiêng chụm vào nhau, ẻo lả như thân gái dặm trường đang dạt vào nẻo bến đời bất định.

Gần trưa, ba người tới Khương Sơn Hạ. Vợ Thảo vẫn như thường lệ, ngồi trong quán bán hàng. Ðàn con Thảo mừng thấy bố, vui gặp bác, hò reo ra đỡ ba lô, đứa nắm tay áo cô Oanh khoe mẹ đắt hàng vừa mua đôi vịt, đứa nắm tay Linh khoe nhà có rượu ngon chờ đón bác.

Vợ Thảo hân hoan đón bạn vào hàng, hỏi thăm Oanh về ngày sinh. Oanh ứa nước mắt nhìn ra đồi cước bốn mùa lá nõn màu ngọc thạch, đáp:

- Chỉ vào cuối tháng sau em ở cữ. Ðời lang bạt mãi thế này, thực chưa biết ngả vào đâu.

- Anh chị tạm nghỉ với chúng tôi. Một cái quán chông chênh này cũng đủ che mưa nắng - Thảo cười rồi nói tiếp - Ðược cái bếp không bao giờ tắt lửa, bún riêu và chè đậu đen những khi không bán hết, chủ quán được ăn trừ bữa như cảnh vợ chồng bác Trương ở Ngã tư Ngô Xá.

Linh giọng chân thành:

- Oanh sẽ chịu khó giúp chị làm hàng, phải cố mà quên cuộc đời quận chúa, giai nhân sân khấu...

Vợ Thảo nhìn hai bàn tay Oanh nõn nà, những chiếc móng thon dài nhuộm màu hoa lựu, cô cười khanh khách cắt lời Linh:

- Thôi ạ, tay tôi đã quen với càng cua, củi sắc thế mà cũng nát ra. Bàn tay nữ nghệ sĩ đẹp thế kia thì nhất định là ngon lắm, cua nó tha hồ bắt nạt. Chị cứ an tâm tĩnh dưỡng, đến ngày sinh nở đã có tôi. Bạn đàn bà với nhau phải có bổn phận dắt díu nhau khi vượt cạn. Còn các ông thì vượt sông vượt biển cũng mặc các ông. Ðến cá ông voi cũng chán không muốn nuốt các ông vào bụng nữa.

Thảo cười:

- Thế mà chúng tôi phải sợ càng cua đấy. Gái thời loạn các bà anh hùng hơn chúng tôi nhiều.

Vợ Thảo cười tiếp ý chồng:

- Chả anh hùng mà cứ mỗi ngày lại xé xác hàng năm bảy trăm cua. Các ông thử mó vào xem, các ông sẽ biết.

Ðứa trẻ lớn xen vào lời mẹ:

- Mẹ cháu lại có cái tài giết vịt. Tiết canh vịt mà mẹ cháu đánh cho bố cháu nhắm tuyệt lắm. Mẹ thử trổ tài cho bác Linh xem.

Ðứa bé ngắt lời anh:

- Thế mới gọi là anh hùng chứ!

- Con sẽ vào trại nhà ông Chánh trong làng trèo lên cây ngắt khế. Tỏi thì trong bếp có sẵn rồi. Chỉ còn thiếu húng Láng thôi.

Thảo cười to:

- Các con tôi thảo luận về công tác tiết canh vịt, riêu cua dữ quá. Yêu cầu biểu quyết và thông qua, nghĩa là các chú đi đun nước ngay đi, để chiều nay đãi tiệc.

Ðàn con mừng vì sắp được no cơm thịt sau khi bố đi vắng lâu ngày trở về; nếu như không có “các bác” qua đường ghé nghỉ để thay quần áo bụi bặm, ra sông máng tắm và nằm khểnh ngâm nga thi phú với bố chúng độ dăm ngày, thì mấy mẹ con chỉ được ăn chè bún ế, cơm gạo đỏ với trám xanh muối mặn.

Thấm thoắt Oanh và Linh trú ngụ ở gia đình Thảo đã gần một tháng. Ngày ngày cô ra hàng ngồi cùng vợ Thảo, lúc đông khách vào ăn thì tiếp hộ. Lúc rỗi, cô lại vá víu quần áo cho Linh hoặc phá các áo cũ khâu thành những chiếc áo xinh xắn cho đứa con sắp ra đời.

Sống trong gia đình Thảo, cô mới biết đồng tiền kiếm được thực khó khăn. Vợ Thảo ngày nào cũng vậy, đều đều như cái máy, dậy từ gà gáy lần thứ nhất để xé cua, cời gạch, rồi thì giã, lọc, rồi thì nướng quả dọc chua, gạn mẻ, xào mầu mỡ. Xong nồi riêu ngon ngọt lại lo đến nồi chè đỗ, lọ kẹo, que đóm nỏ, hũ chè tươi. Người đàn bà ấy từ thuở còn con gái đã quen mùi phú quý đến khi lấy chồng đã quen buôn nghìn bán vạn, gánh vác việc nhà chồng, quần quật cả ngày, làm nhanh, sạch sẽ, ngăn nắp, không hề dám gắt chồng mắng con. Và khi hàng ế cũng như lúc hàng đắt, người đàn bà ấy không hề xao nhãng mâm cơm đãi bạn, cần có rượu ngon, món nhắm, chẳng đợi chồng phải bảo.

Oanh xưa nay vốn quen mùi hương phấn thời bình ở các tỉnh thành, cô chỉ mỉm một nụ cười, rướn đôi mày liễu, đưa một ngón tay ra hiệu là đã có kẻ dâng tiền cho cô sài phá. Mới ngoài hai mươi tuổi, cô đã lang bạt từ Cao Mên đến Sài Gòn, lục tỉnh, bước qua năm bảy dịp cầu tình duyên. Dịp trước gẫy dịp sau lại nối, cô coi là thường sự cầm cố cái nhan sắc lộng lẫy của mình cho cái sòng đời đen đỏ, chẳng quan trọng gì hơn việc gởi tạm một bộ áo, chiếc đồng hồ cho nhà Vạn Bảo. “Ái tình chỉ là một cuộc giết thời giờ”, cô đã quen cười lớn, nói thẳng vào mặt những kẻ sắp muốn tự tử vì cô. Nhưng rồi người con gái dày dạn ấy đã hiểu ý nghĩa tình yêu kể từ khi gặp Linh trên kịch trường mà tài trí, phong độ của anh đã chế ngự và buộc chặt cánh con chim én đong đưa ấy. Con chim trời đã cam chịu qua mấy năm nay nằm hót những tiếng buồn rầu, tha thiết trong tay áo rộng của người tình nghệ sĩ. Bởi thế mà Linh nghiến răng lìa bỏ gia đình, coi thân thế nhẹ như cánh lá bay theo tình, theo gió. Và chính vì thế mà cô cũng đành bỏ mẹ già và đứa con tám tuổi ở Thái Bình quê cũ, say đắm theo Linh và đoàn kịch kéo nhau lên phía Bắc trước ngày Hà Nội khói lửa. Yêu nhau vì nghệ thuật, bây giờ lại vì nghệ thuật mà đôi lứa ấy khổ vì nhau. Anh cam đành, không than thở. Nhưng cô, từ khi thai nghén đâm ra hay đau ốm, thành ra bẳn tính, luôn luôn day dứt bạn tình, tuy vợ chồng Thảo đã cố dàn hòa, an ủi.

Ít ngày nay sống bên vợ Thảo, Oanh đã được cảm hóa dần dần. Trước đây cô còn ngại rét, vẫn trùm chăn kín trong khi vợ Thảo đã lẹp kẹp guốc mòn ra giếng khơi múc nước, đãi gạo, giã cua. Rồi lại suốt ngày vợ Thảo ngồi còng lưng phẩy ruồi, chào khách, châm đóm và bưng điếu, chiều từ anh chàng công tác qua đường đến bác lái thuốc lào, lái lợn, để ngửa tay nhặt năm hào, một đồng tiền bát nước chè, bát bún.

Oanh không đành ngủ sớm dậy trưa, cũng cố tung chăn dậy cùng vợ Thảo nhóm bếp xé cua, cời gạch cua, vừa làm vừa sưởi ấm. Mỗi lần ngón tay nuột nà của cô bị càng cua cắp nghiến, cô lại xuýt xoa rồi cười khanh khách, trong khi ấy thì nước mắt cô đã ứa ra. Vợ Thảo nắm tay Oanh, gỡ bẻ càng cua, xoa xuýt thổi, bảo cô lên nhà nằm nghỉ, kẻo sắp đến ngày ở cữ, nên tĩnh dưỡng. Cô khóc nấc lên, chua xót đáp:

- Cua cắp thịt không đau. Em chỉ đau lòng vì yêu thương anh chị, nhất là thương chị, đã từ bao lâu rồi, bàn tay chị nứt mãi ra vì cua cắp, gai đâm, vậy mà lúc nào chị cũng vui vẻ lo cho chồng con, bạn bè ấm no.

Vợ Thảo khẽ thở dài. Khuôn mặt người đàn bà đảm đang, tần tảo sớm già trước tuổi ấy bỗng như se lại bên ánh lửa.

Mọi khi ngày phiên chợ, vợ Thảo phải nhờ Linh trông hộ cửa hàng, nếu ông chồng không mắc bận ngao du, để cắp thúng đi chợ cách xa vài cây số. Oanh tình nguyện xin đi chợ mua các thứ về làm hàng và làm cơm bữa. Vợ Thảo không nghe, bảo:

- Bà to bụng và yếu ớt đi sao nổi năm bảy cây số cả đi lẫn về. Ðường lại xẻ nhiều, hố sâu nước vũng như ao, nhỡ sẩy chân thì khốn. Thôi để mặc tôi.

Nhưng cô cứ đòi đi, đỡ đần cho bạn. Thảo liền đề nghị:

- Nếu thế thì anh Linh đi phò tá. Lũ trẻ cho đi hộ vệ, để lúc về chúng nó thay phiên nhau xách bị.

Anh đang soạn dở vở kịch thơ lịch sử, đành phải xếp bản thảo, bỏ bút, mặc áo đội mũ đi chợ với cô. Cô chụp nón, xách bị, nhẩm lại những món cần mua mà vợ Thảo căn dặn. Ði được ba bước, Oanh vội quay lại hỏi:

- Mật, cua, kẹo bột, kẹo lam, cá, cà chua... rồi gì nữa, đến chợ thì có lẽ em quên hết.

Rồi đập yêu vào cánh tay Linh:

- Tại có anh Linh đi cạnh làm em lú lẫn.

Vợ Thảo cả cười:

- Còn món bầu dục đem về chần cho các ông ấy đánh chén. Nhớ mua chuối tiêu và dặn cô hàng bún mai xếp bớt đi, vì không phải ngày phiên chợ.

Oanh lim dim mắt, nhẩm lại, rồi lại ngập ngừng:

- Khó nhớ quá. Nhiều món thế. Anh Linh nhớ hộ em, hay biên vào sổ tay kia.

Vợ chồng Thảo cùng cười. Thảo nói:

- Ấy thế mà học vở kịch thì chỉ thoáng một đêm là bà ấy thuộc vanh vách hàng mấy trăm câu thơ của ông ấy. Thuộc đến nỗi ra sân khấu bà ấy lại nhắc thầm cho chính tác giả và các vai khác nữa.

Oanh cười, hai hàng răng đều như ngọc loáng trong nắng ấm phơn phớt ửng trên làn môi nhẫy mọng tuy cô không tô son điểm phấn như những ngày đi làm kịch:

- Thế mới gọi là khôn nhà dại chợ, phải không anh chị?

Linh chế giễu:

- Cô ấy chẳng dại đâu. Chốc nữa đến chợ, thấy mùi chả chó lại sà ngay vào làm năm bảy gắp. Quận chúa Huyền Cơ của tôi chỉ thích chả chó chấm mắm tôm chanh thôi ạ.

Vợ Thảo cãi hộ Oanh:

- Nếu không biết thưởng thức hương vị chả chó thì biết sao được cái hay của thơ anh để thuộc lòng tất cả các tác phẩm anh đã viết.

Cô cười:

- Ðúng thế. Mà có phần hương vị chả chó còn ngon hơn thơ anh đấy. Yêu thơ anh tôi cứ gầy võ mãi đi, chứ yêu hương vị chả chó rồi tôi sẽ béo.

- Vậy thì hoan hô chả chó.

Linh vẫy lũ trẻ con:

- Nào, xuống chợ mau, các cháu. Ðường xa ngày ngắn, tán mãi, đến nơi thì vãn hết chợ rồi!

Oanh, Linh và bọn trẻ đi được lúc lâu, Thảo quay vào đọc tập bản thảo của Linh. Thơ Linh dạo này đã nhiễm màu đại chúng, nhưng đôi khi cái nước sơn phong kiến tư sản cũ vẫn lộ ra qua những sắc thái dị kỳ rung lên bằng nhạc điệu.

Thảo cao hứng cất giọng ngâm. Vừa lúc đó, Thảo nghe có tiếng một cụ già nói ngoài hàng:

- Hai bác dọn quán ở đây à? May quá, mỏi chân vào quán nghỉ, gặp ngay người quen định gặp. Già không vào quán thì lại mất công tìm hỏi ở trong làng. Bác trai đâu?

Vợ Thảo thấy một cụ già khăn nhiễu tam giang quấn rối, đeo kính trắng, mặt vuông, mắt sáng tai to, thân thể cao lớn, mặc áo bông dài, quần lụa nhuộm màu cánh kiến, chân đi giày tàu, tay cầm ô lục soạn. Cụ điềm nhiên vén áo ngồi xuống ghế, liếc mắt vào gian trong, ánh mắt loáng như đường gươm bén. Tuy chưa gặp, nhưng vợ Thảo linh cảm ngay rằng khách lạ chính là cụ Ðầu Xứ Bắc Ninh, và linh cảm nữa rằng cụ lặn lội đường trường đến đây để tìm Linh.

- Bẩm cụ, cụ ở bến Hồ lên?

Khách lạ ngạc nhiên:

- Sao bác cũng nhận được tôi ở bến Hồ?

Vợ Thảo đứng dậy chắp tay thưa:

- Bẩm cụ, con thường được nghe bố cháu nói nhiều về cụ. Nay trông cụ phảng phất giống anh Linh con, nên con phỏng đoán.

Rồi quay vào phía trong:

- Mình ra tiếp cụ Tú ở Hồ lên chơi đấy.

Từ nãy, Thảo đang bối rối vì cũng linh cảm như vợ rằng chuyện cụ Ðầu Xứ lên đây chỉ là để trừng trị tội Linh. Anh còn đang luống cuống thì nghe vợ gọi. Thảo không tránh được phải bước ra cúi đầu chào, rồi mời cụ vào gian trong ẩm tối, trơ trọi hai chiếc giường ọp ẹp. Cụ Ðầu Xứ nhìn quanh, ngồi xuống, Thảo loay hoay nhặt nhạnh mấy chiếc chén mà lũ trẻ vứt mọi nơi, đặt vào chiếc khay gỗ cũ, vờ đem ra ngoài hàng rửa. Nhân dịp đó, Thảo ghé tai vợ thì thầm:

- Mình ba chân bốn cẳng chạy ngay xuống chợ, báo động cho Linh và Oanh biết. Bảo họ đi vòng về phía đồi sau, trên đồi thông có ngôi đền thờ đổ nát, cứ việc chui vào đấy, rồi chờ tối, ta sẽ sai con mang chăn chiếu, cơm nước ra tiếp tế. Tôi xem chừng cụ đồ mắt nhiều sát khí nhưng cố nén. Nếu để cụ bắt được Linh thì Linh sẽ bị đòn, Oanh cũng không thoát được. Mình gửi hàng cô bé ở quán bên sang trông giúp, đi ngay đi!

Thảo bưng khay nước chè tươi và đèn điếu vào kính cẩn mời, rồi chắp tay đứng hầu, như trước kia anh vẫn chắp tay nghe cụ đồ giảng sách ở gian nhà lá bến sông Hồ.

- Bẩm, cụ bà con và chị Linh cùng các cháu vẫn bình yên?

Cụ nhìn ngọn lửa bấc đèn bắt từ từ vào que đóm gỗ thông, chậm rãi:

- Chúng tôi không yên được tại Hồ, đã chuyển cả sang vùng Phương Thảo, cách đấy ngót hai mươi cây số. Mẹ thằng Linh độ này ốm đau luôn, tôi dẫu bốc thuốc chữa hàng ngày, nhưng xem ra ít hy vọng lắm. Còn vợ thằng Linh đang hậu sản mòn, ngày đêm lặng lẽ mong chồng. Bày trẻ thì không bố, thành một lũ chó con hoang. Cảnh nhà không ra làm sao cả - Cụ Ðầu Xứ trầm ngâm, nhìn một con muỗi ngày vừa đắm mình vào đĩa dầu bấc lụi - Vì thế mà tôi phải lê thân già đi tìm thằng Linh vấn cái tội thất giáo và lưu đãng. Tôi đoán chắc rằng nó ở đây với bác. Xin cho tôi được gặp.

Thảo cố giữ nét mặt thản nhiên, cung kính:

- Bẩm, chúng con đã từng khuyên nhủ anh Linh trở về hầu các cụ và trông nom các cháu. Nhưng trời phú bẩm cho cái máu giang hồ phóng khoáng nên anh con cứ say mê những chuyện sự nghiệp...

Cụ cười chua chát:

- Nó say mê gì sự nghiệp. Tôi biết nó, tôi hiểu nó. Nó chỉ nặng lòng với một con đàn bà, một mối tình cẩu trệ, cho nên tôi cần gặp chúng nó, để nhắc chúng nó nhớ lại chữ sách đã học từ ngày còn nhỏ: “Phụ mẫu tại dương bất khả viễn du...” . Mà viễn du ở phương nào, vì mục đích gì cao cả?

Bỗng cụ cười rộ lên mấy tiếng, giọng mỉa mai:

- Thằng con tôi nó viễn du ở trong khóe mắt con đàn bà trốn chúa lộn chồng. Thực là nhục nhã cho một kẻ đã dùng nhầm cái chí nam nhi hồ thỉ giữa thời này. Tôi đâu phải người chưa từng biết sống dọc ngang, mà nó dám xảo trá dối gạt tôi - Giọng cụ trở nên gay gắt - Ông bảo chúng nó ra đây cho tôi hỏi chuyện.

Cặp mắt cụ long lanh sau cặp kính, khiến Thảo ghê sợ lo lắng cho Linh và Oanh. Anh vẫn phải buộc lòng nói dối, dẫu rằng lương tâm anh không yên ổn đối với gia đình Linh, trong đó mẹ già hấp hối, vợ trẻ ốm đau, đàn con không bố như bầy chó con hoang lạc.

- Tôi biết rằng chúng nó ở đây. Bác cho tôi thấy mặt thằng nghịch tử và con yêu nữ ấy.

Thảo bị dồn vào trường hợp không biết xử thế nào cho ổn. Cụ Ðầu Xứ mà Thảo từ xưa vẫn tôn trọng vào bậc sư phụ và bá phụ đã vì gia đạo bất nghiêm mà vượt đường trường sương gió tới đây không lẽ Thảo nỡ đánh lừa cụ để cụ hậm hực ra về? Còn nghĩa bạn với Linh, lòng thương với Oanh, Thảo thấy không đành cho hai kẻ tài tử giai nhân ấy chịu đau đớn vì lời nhục mạ và roi vọt.

- Thế nào, bác giấu chúng nó ở đâu? Bác hãy thương mẹ nó đang trọng bệnh, hãy thương vợ nó đang ốm đau mòn mỏi, lũ con nó đang bơ vơ, nheo nhóc mà xử sự cho ra người quân tử. Tôi tin rằng bác không thể thương nó, thương con đĩ hơn nghĩ đến tình nghĩa của gia đình tôi.

Thảo đã suy nghĩ kỹ, và cương quyết đáp:

- Bẩm cụ, vài ngày trước đây, anh Linh và cô Oanh có thường tới đây với chúng con. Nhưng thực tình sáng qua, anh Linh đã đi tiễn cô Oanh tìm đường xuôi về Thái. Cô ta về với gia đình, anh Linh sau đó cũng sẽ nghe lời chúng con khuyên nhủ mà sẽ về cùng các cháu. Cuộc tiễn đưa kia chỉ mươi cây số, rồi thế nào anh Linh cũng về nhà hầu hai cụ, và tin cụ bà bất an, anh Linh đã biết rồi.

Cụ Ðầu Xứ trầm ngâm, hơ đầu que đóm vào bấc lửa rít một hơi điếu trúc. Tiếng nước sòng sọc nấc trong ruột dóng tre rừng tựa hồ tiếng cuốc gào non nước giữa đêm sâu.

Cụ chẳng nói năng chi nữa, một lát khẽ thở dài.

Thảo se lòng vì đã phải dối lừa một lão trượng từ bao dặm xa xôi đến tìm con, trong khi ấy ở phía chân trời xa kia đàn cháu nhỏ đang trông ngóng bóng ông về với người cha lưu đãng mặt xanh má hóp đeo khăn gói theo sau gót, từ nay sẽ ở yên nhà với chúng.

Vợ Thảo tất tưởi về, nháy mắt ra hiệu cho chồng biết rằng Linh đã y theo mưu kế, rồi vào bếp nhặt rau mổ cá, làm cơm đãi khách.

Cụ Tú mệt mỏi, ngả lưng nằm xuống nghỉ, với tay lên mặt hòm rút một cuốn sách, thờ ơ nói:

- Nếu tôi về ngay, e gặp tối giữa đường. Phiền hai bác cho nghỉ chân một đêm nay, mai lấy sức lên đường về sớm vậy.

Vợ chồng Thảo kẻ lấy gối, người giũ chăn đắp lên mình cụ, chắp tay thưa:

- Chúng con thường ngày vẫn băn khoăn nhắc đến hai cụ và các cháu, không biết có được an lành ở đất cũ chăng, thì hôm nay cụ từ xa đến, con được cái may mắn rót rượu hầu. Xin cụ lưu lại đây vài bữa, quanh miền này có nhiều di tích lịch sử, con sẽ xin hướng dẫn...

Cụ Ðầu Xứ mỉm cười:

- Ba mươi năm xưa tôi đã lên đây nhiều lần với vài ba ông bạn. Những ông bạn ấy đều đã bỏ mình trên máy chém rồi. Thế mà tôi vẫn cứ sống, bụi trần trắng quá ba phần râu tóc. Ðời mình đã bỏ đi rồi, sót lại thằng con, thì nó lại là một cái rác rơm vô dụng, ngông nghênh dăm vần thơ sáo mép, vùi mình vào nhan sắc kẻ phụ nhân. Ngao ngán quá!

Thảo thưa:

- Con nghĩ rằng anh Linh con không đến nỗi hư hỏng thế. Giá khi nào rảnh rỗi, cụ bớt thì giờ đọc thi phẩm của Linh, và nếu có dịp dự kiến một buổi kịch do Linh soạn vở và đạo diễn, cụ sẽ hiểu con người tài hoa ấy hơn chút nữa.

Cụ Ðầu Xứ im lặng một lúc rồi mới đáp

- Tôi đã hiểu thằng Linh từ lâu rồi. Nó là một người thừa, vô dụng.

Ðịnh kiến khắt khe của cụ khiến Thảo phẫn uất thay cho bạn. Anh thầm nghĩ: “Khảng khái, cố chấp, khư khư ôm sĩ khí ở trong lòng, mặc kệ cả những điều cần xét đoán cho minh bạch, không trách cổ nhân, lấy danh nghĩa văn thân, đã theo nhau chết uổng và ngã dúi trên bao nhiêu vết xe nghiêng đổ.”

Vợ Thảo bưng vào mâm rượu, đặt xuống giường. Thảo không dám ngồi cùng chiếu, bê chiếc ghế ngồi phía dưới, rót rượu hầu.

Linh và Oanh vẫn ẩn nấp trong ngôi đền cổ mà dân chúng miền này bảo đó là di tích của lão cách mạng Ðề Thám trong thời kỳ chống Pháp. Và họ nói nữa rằng cụ Hoàng Hoa Thám sau một ngày giáp chiến đã rút vào ngôi đền hẻo lánh này an nghỉ. Mái đền tối thấp, rui kèo nát mọt, trơ ba pho tượng nhện chăng tơ. Chung quanh đồi, rừng thông tiết ra mùi ngái hắc. Hoa thông khô quắt rơi lộp bộp xuống mái đền, sân cỏ. Dưới sân, mấy cây si có lẽ mọc từ tiền sử ngả cành buông rễ xuống vũng ao sánh váng xanh.

Tối mịt mù. Oanh ôm lấy Linh sợ hãi. Cô tủi đời, nức nở, tiếng khóc vọng vào cái đìu hiu sâu thẳm của cây đồi.

- Em có ngờ đâu yêu anh mà khổ nhục thế này. Thôi thì cứ để em về dưới xuôi. Anh về với gia đình cho xong.

Anh đau lòng, ôm lấy cô mà an ủi. Bỗng có ánh đóm le lói từ dưới quán đang đi tới. Oanh hoảng hốt:

- Anh thử nhìn coi. Em sợ lắm!

Linh nhìn xói vào bóng tối. Năm sáu bóng người. Họ lẳng lặng mà đi. Ánh đóm chập chờn rồi tắt lụi. Linh nhận thấy họ đều mang khí giới. Oanh càng ghì chặt cánh tay Linh, thở rộ lên. Linh cũng hồi hộp, lắng nghe những nhịp chân bước vội. Sắp đến đền, họ rẽ quặt ra phía sau bức tường đổ, lên đồi rồi mất hút.

Oanh rùng mình, rên khẽ:

- Ðã khổ chưa, anh ơi! Thật là thấm thía. Ðời tôi, đời tôi chưa bao giờ nhục đến thế này.

Linh khó chịu:

- Ðừng phàn nàn nữa. Hãy nhẫn nhục cùng chia nỗi khổ để cùng thương xót nhau hơn.

- Tôi không thể nào chịu đựng hơn được nữa. Chắc ông cụ lên tìm tôi để nhục mạ, rồi bắt anh về xích lại, chứ gì!

Anh cau mày khẽ bóp bàn tay Oanh lạnh giá trong gió lùa từ đồi thông xuống, từ dưới ao lên. Mấy con đom đóm bạt gió ngàn, gạch nhằng vào đêm tối nét sáng xanh dị ảo. Từ bụi hoa dại um tùm, con rắn nhỏ mốc mình hoa nhoài ra đớp tàn lửa đóm rồi nó lại chui vào bụi kín, trườn qua khe cửa mọt. Oanh không còn hồn vía, dập tắt vội que diêm vừa lóe trên tay Linh soi theo rắn. Im lặng như tờ. Oanh định thần, ngồi gục đầu vào vai Linh xoa xuýt:

- Rét quá, và đói lắm. Ngồi cả đêm thế này thì chịu làm sao nổi.

- Anh tin rằng Thảo sẽ ra tiếp tế, không khi nào vợ chồng anh ấy để chúng mình chết đói rét ở đây - bỗng anh ngừng lại, bấm Oanh nhìn về con đường nhỏ, thì thầm - Em nhìn xem. Có người đi đến, chắc là Thảo...

- Sao anh ấy không mang đèn đóm, ăn mò xó tối à?

Linh tặc lưỡi:

- Anh ấy không mang đèn đóm, có lẽ sợ ông cụ nghi ngờ chăng.

Oanh thở dài ngao ngán. Những tiếng chân nặng nề đã đến gần, lẫn tiếng ho sù sụ. Ba bốn bóng người rên hừ hừ, đi qua mặt Oanh và Linh, xuống dưới dãy ba gian nhà xiêu vẹo bên gốc si cổ thụ. Họ thổi mồi lửa rơm, nhóm củi khô vun sẵn ở góc nhà kín gió. Một lát lửa sáng lên, soi rõ mấy cái đầu bù mặt võ, họ run lập cập trong những manh tải rách quấn bọc những bộ xương xám xịt. Linh ghé tai Oanh:

- Bọn hành khất ở chợ về. Ðây là nơi trú ngụ thường đêm của chúng.

- Coi bộ họ hung dữ lắm. Nếu họ biết mình nấp ở đây...biết đâu họ không giở trò hung bạo vì anh còn chiếc áo bành tô chưa quá rách, mà em thì...

- Mình đa nghi quá! Họ chỉ là những bộ xương ma, làm gì được chúng mình.

- Anh tưởng! Người ta vẫn bảo trai Yên Thế...

Linh tắc lưỡi:

- Chi bằng mình đừng náu hình, im tiếng mãi. Chúng ta ra nhập với bọn họ, sưởi ấm với họ, thử sống một đêm với anh em hành khất xem sao.

Oanh nắm áo Linh:

- Chịu thôi, em hết vía!

Linh đứng dậy tiến xuống chỗ bọn người tóc rũ, xương khô. Oanh sợ sệt bước sau Linh. Ánh lửa hắt lên mảng tường rêu phủ, chiếu vào những tròng mắt trũng sâu, những bàn tay còng queo hơ trên củi cháy. Bóng họ rung rinh ở mặt tường, gợi cho Linh nghĩ đến một hoạt cảnh ma rừng quỷ núi. Linh dặng hắng. Bọn hành khất có kẻ khẽ ngẩng lên lừ đừ nhìn Linh, có kẻ vẫn gục đầu xuống đầu gối, mắt nhắm và bất động như xác chết ngồi trơ ra đó từ bao giờ.

Linh lên tiếng:

- Các ông đêm nào cũng ngủ ở miếu này?

Hai người ngồi bên lửa không hé miệng. Một lát, có tiếng phều phào ở trong đống chiếu góc tường:

- Chả ngủ miếu, ngủ đình, còn biết ngủ ở đâu. Ông đến đuổi chúng tôi ư?

Linh kéo Oanh ngồi xuống, cũng hơ tay vào lửa:

- Không, chúng tôi cũng lỡ độ đường, phải vào miếu này ngồi chờ sáng. Ðang đói rét, thấy có lửa, chúng tôi đến xin được sưởi nhờ cho đỡ cóng. Các ông cứ yên tâm...

Bộ xương chết ngồi từ lúc nãy, giờ mới hé đôi môi thâm nhợt nhầy rớt dãi:

- Chả yên tâm thì sao nữa. Ăn mày khố rách còn sợ ai bóc lột, còn sợ ai đuổi đánh. Người ta đã đuổi đánh chán rồi. Chỉ còn thoi thóp thở, chờ xuống âm phủ nữa mà thôi.

Hắn mở đôi mắt trắng dã như lợn luộc nhìn dữ dội vào mặt Linh, Oanh. Hai bàn tay xương xẩu lóng cóng vì lạnh trao sát xuống ngọn lửa. Miệng hắn méo lệch đi:

- Chúng tôi ở làng Vàng tỉnh Bắc. Bị di cư lên miền này, vì súng đuổi sau lưng. Hồi đầu còn có áo quần, nồi niêu mà bán. Sau dần nhẵn nhụi, đi ở không ai mướn, rồi thì sốt rét, dở sống chết để đi ăn mày, nhặt lá bới xương các chợ.

Hắn im bặt, mắt lại nhắm như mù và môi lại mím, trơ như một cành cây mục ải. Trong đống chiếu có tiếng nhai xương gau gáu. Người đàn bà ở xó tối vút hiện ra tựa ma chơi, phào đến một mùi hôi tanh gớm ghiếc. Mặt chị ta đỏ loét, một mắt lòi cả con ngươi, mở chiếc bị lôi ra gói bánh đúc lẫn với mấy con cá chết. Chị hơ cá lên lửa nướng. Mùi thịt chín bốc thơm. Bộ xương khô vừa phẫn uất với Linh kia hé mắt và hé môi nhìn con cá đang được vàng mình trên lửa. Hắn lầu nhầu:

- Củi lửa của ta, dễ đốt lên cho chị làm điếc mũi thằng này chắc?

Rồi hắn giật phăng con cá nóng, bỏ vào mồm nhai, nuốt chửng. Chị kia kêu the thé, rủa mấy câu độc địa, vơ gói bánh đúc, tập tễnh lẩn nhanh vào bóng tối. Chợt có ánh đèn từ đường đồi rọi xuống. Ánh đèn lắc lư, tới gần thêm. Tiếng guốc trượt trên bậc gạch trơn bánh lá và vỏ chuối. Linh nhận rõ tiếng Thảo la:

- Suýt hỏng ăn. Cô cậu tha hồ đói nhé. Có thế mới biết thế nào là cái nhục cơ hàn.

Thảo xách liễn cơm to và bát món ăn lồng trong chiếc quang mây nhỏ, đứng sững trước cảnh tượng lạ lùng của bầy quỷ đói, khẽ kêu:

- Trời ơi, một tấm tranh sơn dầu linh hoạt và bi đát. Tiếc rằng anh bạn họa sĩ Trần Văn Cẩn không được vẽ.

Oanh không nói, chỉ gượng cười. Thảo tiếp:

- Biết cô cậu đói, nhưng không có dịp đánh tháo ra đây. Mà vợ mình thì lại nhát không dám đi tiếp tế. Ông cụ uống rất nhiều, vừa đi nghỉ. Mai sớm ông cụ lại về.

Linh cúi đầu, tiếp thêm lá khô vào lửa, khẽ thở dài. Thảo cười, giấu nỗi đau lòng thương bạn:

- Thôi, chén đi kẻo chết thì nguy.

Linh mở liễn cơm, bảo những người hành khất:

- Sẵn cơm nóng sốt đây, xin chia đều mỗi người chút ít để nhớ đêm đốt lửa ma này.

Bọn hành khất nhìn cả vào liễn cơm đầy bốc khói, mấy bát cá thịt thơm ngon, lại nhìn ba người một cách lạ lùng, bỡ ngỡ, để tưởng rằng mình bị lỡm.

Linh nhắc lại, họ mới dám ngả bát ra cho Oanh xới cơm và sẻ món ăn. Họ ăn rất nhanh, sung sướng như khi còn ở làng khoác áo quan viên đi đánh chén cỗ bàn hiếu hỷ. Linh và Oanh đang đói ngấu, ăn cũng thấy ngon miệng không kém lũ ăn mày thực thụ.

Thảo xếp bát đĩa vào trong liễn bảo:

- Tôi về mang chăn chiếu ra cho ông bà ngủ một đêm thơ mộng ở miếu hoang này. Ngồi rét cho đến sáng thì chết mất.

Linh gạt ngay đi:

- Tôi biết nhà chỉ có hai chăn. Một cái thầy tôi đắp, một cái phần chị và các cháu. Nếu anh mang ra cho chúng tôi thì chị và các cháu nằm co, chị đã vậy, các cháu chịu làm sao nổi.

Oanh nói:

- Chúng em ngồi suốt đêm cũng được, chỉ lo không còn củi đốt.

Người hành khất đã được bát cơm, trở nên vui vẻ:

- Còn hai bó nữa, xin cứ đốt. Ðáng lẽ mai sớm tôi gánh ra chợ bán, nhưng ông bà dùng thì cũng chẳng ngại gì.

Thảo cười to:

- Có bao nhiêu củi lá cứ đốt hết đi. Tôi xin trả tiền chu tất.

Lão ăn mày đứng ngay bên, khập khiễng vào xó tối, khuân mấy bó củi nỏ ra. Thảo móc túi lấy năm đồng trả, rồi chất thêm cành khô vào đống lửa sắp tàn:

- Ðêm nay ba ta cùng thức ở cổ miếu này, chờ xem cụ Ðề có báo mộng gì chăng, hay thú hơn là chờ xem có nàng hồ ly, hoặc cô tiên nào hiển hiện nói chuyện chơi chốc lát. Va chạm mãi vào sự thực, chán lắm rồi - Thảo khúc khích cười, nói tiếp - Chán nhất là mẹ đĩ, làm ăn khuya sớm, thành ra như ma mút, không còn cái óng ả của cô gái Hàng Ðào xưa ở Hà thành!

Linh nhìn Oanh, quen miệng đọc câu thơ anh vẫn đọc:

- Thời loạn ly ai đẹp mãi bao giờ! Có phải không, Oanh?

Bọn hành khất đã rúc vào nhau ngủ. Chị đàn bà bị chen chúc, và chiếu đắp bị ai kéo mất, la the thé. Thảo nhìn Linh thấp giọng:

- Người ta thường lấy làm lạ mỗi khi thấy các chị ăn mày đã khổ sở đến thế mà còn chửa đẻ luôn luôn. Người ta không biết rằng họ nằm chui nằm chất thế kia, bất phân chồng vợ hay xa lạ, làm gì mà không chửa.

Oanh đỏ mặt lườm Linh và Thảo:

- Gớm chết, hai ông! Khổ chết đi thế này còn nói chuyện ma mãnh ấy.

Linh cười:

- Chúng mình có sướng hơn họ đâu, thế mà tại sao bà cũng nặng nề như thế!

Oanh nguýt Linh, ngoảnh đi chỗ khác:

- Mùa đông ngày ngắn đêm dài, ngồi đến bao giờ cho sáng - Rồi cô cúi xuống nhìn ngọn lửa - Mà sáng để làm gì! Nếu cuộc đời cứ kéo dài mãi thế này!

Nước mắt cô rơi xuống má, long lanh bên ánh lửa. Linh lảng sang chuyện khác, vỗ vai Thảo thân mật và cảm động:

- Anh về nhà nghỉ, kẻo chị và các cháu mong. Anh ngồi đây vẫn biết chịu chung với chúng tôi một đêm, nhưng rét thì vẫn rét như thường.

Thảo bùi ngùi, cười gượng:

- Về chui vào chăn bông, chắc gì đã ấm hơn, khi còn phải nghĩ đến những kẻ đói rét ở ngoài trời. Mờ đất, tôi về giúp nhà tôi làm hàng, đun nước cho cụ nhà rửa mặt để cụ lên đường sớm.

Linh lặng hẳn đi, nước mắt ứa ra:

- Thầy tôi giận tôi lắm đấy, nhưng biết làm sao được. Ðã lâu rồi tôi chưa có dịp về thăm, hẳn là cụ già đi nhiều lắm.

Thảo thở dài:

- Còn gì nữa mà chẳng già nua. Cụ bà cũng đang mang trọng bệnh.

Linh tiếp thêm củi vào than đỏ, ánh lửa chiếu lung linh tựa hồ làm hằn nổi trên mặt anh những nỗi tê tái.

Về khuya gió càng buốt lạnh. Hàng thông ở sườn đồi reo lao xao. Bọn hành khất đã ngáy khò khè lẫn những tiếng rên thảm hại. Lửa vẫn nghi ngút cháy. Oanh mệt mỏi ngả nửa mình vào cánh tay Linh, ngủ thiếp. Thảo đã hút đến điếu thuốc lá khét lẹt cuối cùng mà trời đêm còn mù mịt. Linh đã quen sống với canh trường để viết. Anh tỉnh táo rút cuốn sổ tay, tỳ lên đầu gối ghi vội những vần thơ vừa chợt đến, điền vào màn chót của vở kịch dài. Thảo cũng thiu thiu, tựa đầu vào vách lạnh.

Chim xao xác trong ánh sáng. Linh ngâm lại bốn câu thơ cuối trên bản thảo. Oanh bừng mở mắt, vươn vai, rồi lại nhắm mắt ôm choàng lấy Linh, nũng nịu:

- Rét lắm mình ơi! Thực là một đêm quái gở.

Thảo vùng đứng dậy, vặn mình kêu răng rắc:

- Bây giờ tôi về trước kẻo cụ nghi. Chắc cụ đang sửa soạn xuôi cho sớm. Lát nữa, còi báo động đã hết rồi, tôi sẽ cho cháu gọi về để ngủ bù lại một đêm chết dở.

Sương giá đã tan, trời hửng nắng. Ba đứa con của Thảo, lon ton chạy lên đền, vừa chạy miệng vừa bắt chước còi báo tĩnh:

- Hai bác về rửa mặt. Mẹ cháu đã đun nước nóng. Sẵn cả cháo xôi, chờ hai bác về xơi.

Linh, Thảo cùng lũ trẻ về tới quán. Vợ Thảo nắm lấy tay Oanh, lắc đầu ái ngại:

- Ðêm sao lại buốt lạnh khác thường. Mẹ con tôi nằm chăn ấm, nghĩ đến ba người chịu rét ngồi ngoài ấy, thành ra không ngủ được. Cụ ông cũng cứ dậy hút thuốc cả đêm, rồi ngồi chờ sáng. Cụ rửa mặt, uống nước xong là vác ô đi liền, không thể nào giữ được.

Oanh rớm nước mắt:

- Trăm điều chỉ vì em hết. Cho nên em chỉ mong sinh đẻ cho xong, rồi thì sẽ liệu để cất gánh nặng cho anh Linh và các cụ, nhất là chị ấy...

Oanh tủi cực, quay đi nức nở. Linh lẳng lặng vục mặt vào chậu nước, rồi nhấp ngụm nước chè tươi nóng. Chưa bao giờ anh thấy nước chè tươi ngon đến thế. Một lát, anh khẽ hỏi vợ Thảo:

- Thầy tôi nhắn chị thế nào?

Vợ Thảo mỉm cười, lưỡng lự. Linh nghi ngại nói:

- Chị cứ nói thật cho tôi biết. Tôi đau khổ vì sự thật đã quen rồi.

Vợ Thảo lật chiếu giường lên, bảo:

- Ðó, cụ để lại chiếc roi mây mà cụ gài vào trong ô mang từ nhà lên để vấn tội con trai cụ. Cũng may, nếu cụ gặp cả hai người thì chị Oanh khó mà tránh được nhục hình. Xem ra cụ hờn giận lắm. Ban nãy đội khăn mặc áo xong, cụ nghiêm nghị dặn: “Gửi hai bác cái roi này, hễ chúng nó về thì nhớ trao cho chúng nó.” Thế rồi cụ xuống thẳng dưới đường, không nói năng gì nữa.

Linh cầm chiếc roi lên ngắm nghía, rồi quay lại Thảo:

- Anh còn nhớ chứ? Hồi chúng mình học chữ Hán, đã mấy lần nếm roi này. Hồi ấy, tôi bị đánh mà không thấy đau lắm. Bây giờ roi không đánh vào thể xác mà lòng đau buốt gấp nghìn lần - Dứt lời, anh cuộn tròn chiếc roi, bỏ vào ba lô bản thảo, gượng cười - Cất kỹ roi để nhớ nỗi đau. Biết đâu mình sẽ khá nhờ lá bùa hộ mệnh này.

Rồi anh cười bâng khuâng. Oanh khó chịu đưa mắt lườm. Anh ngoảnh đi, ra quán đứng. Gió sớm nổi từng cơn, làm bồng mái tóc. Anh nhìn con đường xuôi về nẻo cầu Ðồng, nghĩ đến cha già lúc này đương mệt mỏi tiến ngược lên chiều gió lộng.

Cô đã đứng bên anh từ lúc nào. Anh quay lại:

- Gió mát ghê, cay cả mắt.

Dưới đường, tiếng người gồng gánh đi họp chợ sớm cười nói lao xao. Những gánh cà chua chín đỏ lẫn với những thúng bắp cải, su hào xanh mát. Linh nói vẩn vơ:

- Ðường vui quá nhỉ!

Cô cau mặt:

- Ðường nào chẳng vui, khi người ta sắp trở về với vợ hiền, con thảo. Tôi cũng sắp tìm con đường vui khác đây ông ạ. Cần báo cho ông biết trước.

Anh chỉ mỉm cười.

III

Oanh đã đẻ. Như ý cả hai người mong muốn, cô con gái đã ra đời. Cô thường bảo: “Em sẽ tìm trong đôi mắt con gái chúng ta hình bóng những ngày đầu của tình yêu. Tình yêu chỉ có những ngày đầu là đáng kể, còn thì...”. Và Linh đã xen vào: “Ừ, mình nói phải. Ðứa con đầu lòng anh chỉ thích con gái. Chúng mình sẽ soi vào đôi mắt trong trẻo đen lánh của con. Nó sẽ nhiều tình cảm, nó sẽ dịu dàng như mẹ nó, tuy thực ra thì mẹ nó cũng không lấy gì làm dịu dàng cho lắm. Chứ đẻ con trai thật là vô vị. Bé sẽ nghịch ầm ĩ cả nhà, không cho anh viết. Lớn lên thì làm giặc, đập cả bút nghiên của bố”. Oanh cười: “Trai thời loạn phải thế. Cứ như bố thì chỉ hại áo cơm của vợ.”

Ấy thế, đôi vợ chồng non già nhân ngãi ấy đã thì thầm bàn tán nhiều về đứa con trong bụng. Họ mong ngóng, sốt ruột mãi chưa có em bé ẵm. Mặc dầu, sự thực, Oanh đã có con gái lớn chừng tám tuổi vứt bỏ ở quê. Còn Linh thì cũng cứ làm ra thèm khát một cách ngây thơ thành thực, cô con gái xinh đẹp như anh tả trong thi phẩm để cả ngày hôn, ẵm, mặc dầu sự thực, ở cái bến Hồ ngút lửa kia, ba đứa trẻ trai gái một đàn đang đói cơm rách áo, chui bờ rúc bụi, nheo nhóc vì không bố.

Cô gái hoa mộng, kết quả của mối duyên giai nhân tài tử đã ra đời sau một cơn kêu la dữ dội của người mẹ gầy còm, tại một ngôi nhà nát tạm dùng làm nhà hộ sinh miền Yên Thế. Vợ Thảo đã đóng cửa hàng, tay ôm thúng áo quần, tã lót, tay dìu Oanh nhăn nhó lê bước một trên con đường ba cây số đắp ụ và xẻ rãnh để tới nhà hộ sinh. Lúc đó trời sẩm tối, gió se lạnh, trăng thượng tuần treo như nửa vành gương vỡ khuất trong sương.

Linh, Thảo bị vời lên phủ, chưa về kịp. Bởi vì, cả hai cùng say rượu sau khi rời quán nhậu. Nửa đêm, về tới nhà, được tin Oanh sinh con gái, Linh trợn mắt gieo mình xuống chõng, thở dài một tiếng, như là mọi khi nghe vợ anh lại vừa sản xuất thêm một đứa con nữa ở bến Hồ.

Linh có cảm tưởng đứng trước một bài tính vô cùng khó khăn. Giải quyết làm sao? Lấy gì nuôi đứa trẻ khi không có một đồng bạc rách. Ném nó cho ai, trong khi cả cái vòm trời đất tối tăm địa ngục này có lẽ chẳng còn nhà đạo đức nào dám nghĩ tới việc lập một cô nhi viện. Mọi người cùng lang thang tay bế tay bồng, coi cái việc chửa đẻ là tai họa, ngay cả những người trước kia hằng năm vẫn vào chùa Hương cầu tự, xoa bụng Phật.

- Khổ lắm, Thảo ôi!

Linh kêu to một tiếng, ôm mặt gục xuống chồng bản thảo. Anh nghĩ đến số kiếp của đàn con anh đang xanh xao nhem nhuốc núp sau lưng ông bà nội chúng ở cái làng xơ xác nọ bên sông. Anh nghĩ đến số kiếp đứa con đỏ hỏn trên cánh tay gầy guộc của Oanh ẩn trong gian đình tối ẩm, đầy chuột bọ hứng mưa đón gió giữa cánh đồng, bao quanh những rừng cùng núi. Chao ôi, đứa trẻ tội tình kia, rồi đây chắc chắn sẽ gây cho anh bao nhiêu điều phiền não.

Anh thở rộn. Một ý nghĩ tàn nhẫn vụt hiện trong đầu: “Giá nó chết đi! Ừ, nếu không có giọt máu ấy thì cũng không sao cả, lại càng nhẹ nợ. Mình với Oanh, còn gần nhau được ngày nào, lại tênh tênh dắt nhau đi xuôi ngược đông đoài, kiếm ăn ngoài thiên hạ. Vợ chồng Thảo xử quá hậu với mình, trước kia ở tỉnh phong lưu cũng như bây giờ lưu lạc ra đây nghèo túng. Mình đã không biết lấy gì đáp tạ, lại còn gieo vạ thêm đứa con đỏ nữa, thực là vô lý.” Anh vùng dậy, ra phía sau nhà, leo lên giữa đỉnh đồi, trông về phía Oanh nằm đẻ ở mé rừng thông lờ mờ in bóng dưới sương trăng, khẽ thốt :

- Vô lý quá! Trời ôi, sao lại còn thêm một chướng ngại vật này cho thêm khổ. Giá nó chết đi! Giá nó chết đi!

Linh chớp mắt. Trong đêm tối, mặt anh hằn nét dữ tợn như một kẻ sắp giết người. Quyết định, anh bước xuống đồi. Anh bước rất nhanh, vội vã, sợ rằng ý nghĩ ghê gớm ấy nguội mất chăng. Bỗng anh vấp ngã. Anh cáu kỉnh, vùng trở dậy, gỡ sợi dây leo quấn chặt giày.

Xuống dưới đường, ngang qua bờ ruộng, sợ Thảo trông thấy gọi về, hay đi theo “thăm mặt cháu” anh sẽ không thể thi hành độc kế.

Hai tay nắm chặt, anh đâm đầu chạy chứ không còn là bước nữa. Mấy lần suýt lao mình xuống hố xẻ hình thước thợ sâu đầy nước. Chạy lên hết chặng đường ngược dốc, anh hoa mắt ù tai, ôm ngực thở, đầu gối rã rời, lao đao bước, tưởng chừng không còn sức. Anh đứng lại, ngồi xẹp xuống bãi cỏ may bên đường, le lói phía sau ánh lửa của túp lều ai mới dựng, mái rạ sẫm vàng trong bóng tối.

Mắt anh mở trừng trừng, nhận ra một bóng người đang đi tới, tiếng guốc khua lách cách trên mặt đường đá rắn, vọng vào tịch mịch trời đêm. Anh hổn hển:

- Ai?... Chị Thảo đấy phải không?

Vợ Thảo thở phào một tiếng:

- Anh làm tôi giật nảy mình. Sao lại ngồi đây thế?

Linh đứng lên, phủi đũng quần. Vợ Thảo nhanh nhảu nói:

- Cô Kiều lớn lên sẽ thành hoa hậu. Trông hay quá mất thôi. Nhờ trời sinh voi sinh cỏ, chị ấy sinh cháu cũng dễ dàng mau chóng. Thực tình tôi đã sợ... lỡ ra gặp khó khăn thì ở đây, đành khoanh tay chịu. Anh vào mà ẵm một tí. Chị ấy đang mong ngóng. Tôi về sửa soạn đem các thứ vào nấu nướng chị ăn lấy sữa cho cháu bú!

Vợ Thảo bước vội xuống con đường dốc gồ ghề. Tiếng guốc đã mất ở phía xa, Linh còn đứng trơ trơ, băn khoăn, ngơ ngác với ý nghĩ hung bạo dường như đã dịu dần trong óc.

Anh lùi lũi bước đi. Lát sau anh rẽ vào ngôi đình nát. Ông lão trước kia làm thủ từ đình bây giờ được người ta cho ở đấy trông coi mấy gian giải vũ, bên tả dùng tạm làm trường học và mấy gian bên hữu dùng làm nhà hộ sinh. Ông lão đang quét lá đánh gọn vào một đống ở góc tường, cạnh đó có pho tượng gãy, đầu gục vào con chó đá lúc nào cũng ngóc mõm sủa trời. Thấy Linh, ông ta dừng chổi hỏi:

- Ông đến thăm bà ấy vừa mới đẻ phải không?

Linh chưa kịp đáp, lão đã trỏ vào cánh phên, vọng ra tiếng hài nhi o oe khóc.

- Bà nhà ta mau mắn, sinh chóng quá. Cô đỡ ở trên phủ chưa kịp đến thì bà đã đòi lên bàn đẻ, tôi đành phải làm thay cô đỡ vậy. Nhờ trời, không khó khăn gì cả, mẹ tròn con vuông ông ạ. Ông vào xem mặt cô gái quý...

Lão hé cánh liếp để Linh vào. Một mùi hôi tanh nồng nặc khiến anh choáng váng. Anh đưa mắt nhìn trong ánh sáng lờ mờ giữa đêm. Gian phòng có ba chiếc giường con, Oanh đang nằm thiêm thiếp ở chiếc giường phía trong cùng, đứa trẻ bọc kín mình bằng chiếc sơ mi cũ phá ra làm khăn lót, nằm bên cạnh mẹ.

Anh thấy lòng đau xót, cúi xuống hôn vào trán Oanh. Cô hé mắt, nhìn anh, khẽ đặt bàn tay lên mép chăn dạ mỏng cho anh nắm. Giọng cô yếu ớt:

- Ngoài đường lạnh lắm hả mình? Trời tối, mình vội vã đến đây với em, chắc là mệt lắm? Ðã ăn uống gì chưa?...

Cô giơ tay lên vuốt tóc, xoa má anh nghẹn ngào nước mắt:

- Anh ơi!...

Cô cắn chặt môi nén tiếng nấc, nhắm nghiền mắt lại. Da mặt cô xanh xao một cách khác thường. Anh bùi ngùi, thương cảm:

- Mình cứ nằm tĩnh dưỡng vài ngày. Anh sẽ tìm cách xin việc làm để lấy tiền giúp đỡ anh chị Thảo. Mình cứ yên tâm tạm ở với anh chị ấy, nuôi con cho nó cứng cáp lên rồi sẽ liệu sau. Biết thế nào mà lo trước. Ðừng khóc nữa. Ðàn bà khi sinh nở không nên khóc lóc, nghĩ ngợi nhiều. Chỉ cần nhớ một điều là lúc nào anh cũng yêu mình, yêu con.

Cô mở mắt, mỉm nụ cười nhợt nhạt, nắm chặt tay anh:

- Em trông cậy ở anh. Anh nhìn xem con có giống bố tí nào không?

Linh bật que diêm, nhìn qua hài nhi đỏ hỏn.

- Giống lắm, và xinh lắm. Giống mẹ nhiều hơn bố... để rồi lại hồng nhan bạc mệnh...

Oanh không bằng lòng, gắt khẽ:

- Anh! Ðừng nói gở. Con còn trứng nước.

Linh cười gượng:

- Chỉ có gái hồng nhan mới được lưu truyền hậu thế. Không hồng nhan thì Tây Thi vẫn chỉ là cô gái quê giặt lụa, cô Kiều chỉ an phận làm máy đẻ cho anh học trò nghèo, và cô Oanh không hồng nhan thì cũng đã là cô hàng tạp hóa hay giỏi lắm là bà phán bà tham, chứ biết thơ văn kịch cỡm là gì nữa.

Cô bấm tay anh:

- Chỉ vì thơ văn kịch cỡm mà em mới biết mùi nằm đình nằm điếm thế này. Thật là vinh dự lớn. Bây giờ anh đặt tên con đi, để rồi mai lên Phủ khai sinh cho con chứ.

Linh chẳng nghĩ ngợi gì, chặc lưỡi:

- Thì gọi ngay là Kiều Hoa.

Cô lẩm bẩm:

- Kiều Hoa! Cũng được. Nhân tiện nhớ đến nhan đề một tác phẩm mình ưng nhất. Nhưng hiềm nỗi Kiều Hoa trong kịch là một gái điên dại vì nước vì nhà, vì tình nữa. Em ngại rằng con ta...

- Em vẽ, kiêng khem cho phiền phức. Ðiên được như Kiều Hoa thì bao nhiêu con gái trong thiên hạ đều là kỳ nữ hết. Chẳng hạn như bây giờ chúng mình chẳng điên dại là gì. Không điên dại, sao có thể sinh ra giọt máu này! Không điên dại thì ta mỗi người ở một phương đã từ lâu...

Có tiếng động ngoài cánh liếp, và tiếng guốc giẫm thềm rêu. Vợ Thảo đã cùng một đứa gái gánh cả nồi niêu, củi gạo, chăn chiếu đến.

Oanh kêu thảng thốt:

- Trời ơi, chị... chị khó nhọc vì em. Em biết lấy gì tạ lại công ơn của chị.

Linh đỡ cây đèn dầu ở tay vợ Thảo, anh cảm động vô cùng.

- Ðêm tối rét mướt thế này, chị còn lặn lội. Chị nghĩ đến chúng tôi nhiều quá.

Vợ Thảo tươi cười:

- Có gì mà ơn huệ, có gì mà vất vả. Tôi vẫn thường bảo chị Oanh là bọn đàn bà chúng tôi có trải qua cái nợ mang nặng đẻ đau mới càng biết thương nhau. Không loạn lạc, vị tất chị em mình đã được giúp đỡ, phiền lụy nhau thế này.

Vừa nói vợ Thảo vừa tháo chăn bông đắp lên mình Oanh và cười bảo:

- Chăn ấm, bà chớ ngủ say gác bẹp cả con gái quý nhá!

Rồi cô cùng đứa gái đặt lên chiếc khay con niêu nước mắm chưng, bát thịt rim, trứng luộc, và liễn cơm ủ nóng.

- Nào, chị ăn đi cho lại sức. Còn cháu bé thì tôi đã sắc nước cam thảo pha đường phèn đổ vào chai vú cao su đây rồi. Con bé này tôi cho nó ở liền đây trông nom, thổi nấu. Mọi việc, tôi đã dặn kỹ nó rồi. Nó sạch sẽ, tỉnh ngủ, chị có thể tin cậy được.

Oanh rớm nước mắt:

- Chị thương em, em tin tưởng rằng tình mẹ con cũng chưa được thế này.

Cô chạnh niềm sầu tủi khóc nấc lên. Vợ Thảo ngồi bên, cầm tay cô an ủi:

- Khóc mãi rồi toét mắt, lông quặm đấy. Ông ấy chê cho thì dại dột. Có phải không anh? Ðàn ông các ông bạc bẽo thì không ai theo kịp. Cứ suy ông Thảo nhà tôi thì đủ rõ. Mỗi lần tôi có mang là y như ông ấy thở dài sườn sượt. Ðến ngày nằm cữ thì ông ấy xách va li đi chơi xa hàng tháng. Chờ cho con gắm gỏi rồi mới bò về nhìn mặt. Ông ấy bảo sợ đàn bà đẻ, sợ mùi hộ sinh, không thích trẻ con đỏ hỏn, nhất là đi khai sinh cho con ngoài đốc lý.

Oanh lau nước mắt:

- Các ông ấy thực giống nhau. Anh Linh cũng vậy, anh ấy rất buồn phiền từ khi em thai nghén, em biết lắm...

Vợ Thảo đã xới cơm ra bát, rồi đỡ cô ngồi dậy:

- Ðẻ xong nằm thẳng nửa ngày thế là đủ lắm rồi, miễn đừng cựa mạnh. Chị xơi hết liễn cơm này, mai tha hồ tốt sữa.

Bỗng bà lão quét dọn nhà hộ sinh, tức là mụ đỡ thường thay cô đỡ trẻ tuổi tân thời tuy ăn lương mà ít khi đến đỡ đẻ vì còn bận công tác riêng trên phủ bộ, bà lão rón rén bước vào, xoa tay chào Linh, chào vợ Thảo, rồi kể công cắt rốn, tắm rửa sạch sẽ cho đứa trẻ. Linh hiểu thầm mụ muốn vòi tiền, và cũng nghĩ rằng bổn phận mình cần biếu mụ, nhưng anh sờ các túi, không có một đồng nào hết. Vợ Thảo biết ý Linh, liền móc túi lấy ra hai chục đưa mụ đỡ:

- Ban chiều tôi đã biếu cụ rồi, bây giờ ông Linh đây lại thưởng riêng cụ số tiền này nữa để cụ mua trầu cau, diêm thuốc.

Ðêm ấy, vợ Thảo đã ngồi chịu rét chờ trời sáng bên mẹ con Oanh, như đêm nọ Thảo đã cùng Oanh và Linh chia cái khổ thức thâu canh sương gió ở ngôi đền hoang, chia cơm với bọn người hành khất.

IV

Oanh đã khỏe mạnh, ẵm Kiều Hoa về quán đồi thông, ở cùng gia đình Thảo. Ðứa bé phổng phao, bụ bẫm, ngủ ngoan hiền trong tiếng hát ru buồn rượi của Oanh.

Thảo và Linh ít có mặt ở nhà. Linh không lưu ý gì đến sự sinh hoạt và lưu động của đoàn kịch Bông Lau nữa. Anh chỉ rủ Thảo đi tìm các cơ quan báo chí để xin viết kiếm tiền. Một vài tờ báo đã đăng thơ của Linh, tiểu thuyết của Thảo, nhưng chỗ trả được ít nhiều, chỗ xin ủng hộ. Rốt cuộc, mòn giày rách áo, mà đôi bạn hàn sĩ ấy vẫn chẳng được món tiền nào về đỡ vợ. Hai người lại rủ nhau về quán nằm nghe mưa gió, nghe con khóc, chán nản, rồi lại rủ nhau đi.

Thấm thoát Kiều Hoa đã biết bò, càng lớn càng kháu khỉnh. Oanh tìm nguồn an ủi ở Kiều Hoa, tạm nguôi nỗi sầu mẹ con lạc lõng nơi đất khách. Linh cũng tạm nguôi gia cảnh bến Hồ, những ngày không đi lưu đãng vặt lại ở nhà bế ẵm Kiều Hoa, và viết kịch. Bản thảo ngày một dày, chất kín nửa phần chiếc ba lô bụi rách.

Vợ Thảo vẫn hết lòng nuôi bạn không hề than thở về sự hết tiền, hàng ế, cả một nhà mươi miệng ăn trông cả vào bát nước, liễn chè.

Ðoàn kịch Bông Lau lại vòng về diễn ở làng Lệ Mật. Lũ trẻ cấp báo tin cho bố, sau khi đọc cáo bạch ở chợ Cao. Linh thờ ơ nói:

- Các anh ấy vẫn chơi vở của tôi, thế mà không cần biết tác giả có còn ưng thuận để các anh ấy diễn. Ấy là chưa muốn nói rằng kẻ cặm cụi viết những kịch phẩm kia hiện đang sống ở cảnh tình bi đát. Nhưng thôi, mình chẳng cần lên tiếng làm gì. Bọn nghệ sĩ vốn bừa bãi và ích kỷ, mặc dầu họ vẫn chửi các nhà xuất bản là muỗi đói lạm dụng văn phẩm họ... - Anh cười chua chát, nói tiếp - Tôi biết rằng các anh ấy đã có vốn liếng dồi dào, nghĩa là có hết vở của tôi đủ diễn quanh năm các chốn. Oanh chửa đẻ, các anh ấy dãn ra, đồng thời dãn chính cả tôi, vì xét rằng tôi không còn ích lợi gì cho họ nữa. Họ tưởng có mươi vở của tôi đã quá đủ rồi. Họ tưởng tài năng của họ đã xuất sắc lắm rồi. Mai anh tới nơi họ diễn sẽ thấy một vài cô do thượng cấp gửi về thay Oanh. Họ luyện cho các cô ấy chơi giống Oanh như hệt, và anh sẽ thấy có người ngâm thơ cũng giống tôi, có phần hay hơn nữa, theo lời tuyên truyền của họ. Cho nên anh đừng ngạc nhiên khi thấy đồn ở Chợ Cồn, Ðống Năm, Ðồng Quan, các gánh hát cải lương thường có chuyện xung đột, kèn cựa nhau vì đào kép.

Hôm sau, tại một ngôi chùa, đoàn nghệ sĩ phiêu lưu ấy công diễn vở “Trông về quan ải” của Linh. Thiên hạ vốn mộ tài của kịch sĩ này, rủ nhau lên chùa như ngày hội thượng nguyên thời chưa loạn.

Quán nhà Thảo cách chùa Thông ngót bốn cây số, nên nhờ buổi diễn kịch cũng thêm đông khách. Trai gái hàng tỉnh tản cư lâu ngày mới có dịp giải sầu đất khách, đi coi hát chật đường đất núi, như ngày đình chiến người ta lượn lờ ở quanh Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội.

- Ðoàn Bông Lau có tài tử Hoàng Linh ngâm thơ thì phải biết, không thể nào chê được.

Một cô tóc uốn, đội ca lô, áo cánh trắng viền đăng ten, quần đen, tay lồng vòng ngọc thạch làm ra sành sỏi:

- Tôi đã xem Hoàng Linh đóng trong Lệ Chi Viên ở Nhà hát Lớn, đẹp trai hơn Lê Thánh Tôn đời xưa ấy.

Cô khác giễu:

- Mày trông thấy Lê Thánh Tôn rồi à, nếu vậy kiếp trước mày là Thị Lộ. Thị Lộ cho cụ Nguyễn Trãi mọc sừng. Mày sẽ ế chồng, vì không ai dám lấy con rắn ba đời báo oán.

- Eo ôi, loài xà tinh hiện ban ngày, chúng bay ôi!

Các cô cùng các cậu kêu rú cả lên, vừa xô đẩy cô nàng tóc uốn. Tiếng rú đùa nghịch ấy làm cho bé Kiều Hoa đang ngủ giật nảy mình khóc thét trong tay Oanh nằm ở trong giường. Cạnh Oanh, Linh đang ngồi viết.

Hai người nhìn nhau, khó chịu. Oanh vỗ ru con ngủ. Vợ Thảo ngoảnh vào hỏi to, cốt cho bọn trai gái kia nghe thấy:

- Cháu bé giật mình khóc đấy à, chị Oanh? Chị ôm chặt cháu vào lòng, kẻo trẻ con mà giật mình như vậy là hại lắm.

- Thưa chị vâng, cháu còn bé quá, chưa quen tiếng động.

Vợ Thảo mỉm cười:

- Phải ngỗ nghịch, bạo dạn, ăn to nói lớn thì mới phải là gái thời loạn chứ!

Vợ Thảo nói vậy, tưởng các cô nữ binh kia hiểu ý, nhưng họ vẫn cười đùa ầm ĩ, rồi lại quay về câu chuyện kịch.

- Mày thích Hoàng Linh ngâm thơ mặc kệ mày, chúng tao thì cho là đồ cổ. Màn ảnh thì Cá Gáp, Te Lo, còn sân khấu thì phải là vọng cổ Kim Chung, Huỳnh Thái.

- Ðồng ý với con ranh. Chúng mình phải xin với các anh ấy cho công tác miền Ðông Nam xem Huỳnh Thái và uống cà phê các quán Thủ đô cho hả dạ. Chứ sống mãi miền núi đất mọi rợ này ngấy lắm rồi.

- Hãy nghe tạm Hoàng Linh ngâm thơ đêm nay đã. Vợ anh chàng Hoàng Linh là Kim Oanh ngâm thơ và đóng trò cũng tuyệt. Nghe đâu là vợ chồng thì phải.

- Vợ chồng quái quỷ gì. Tao mà định chài thằng cha ấy thì dễ như chơi.

- Thôi xin cô, để cho vợ chồng người ta yên ổn. Thấy nói Kim Oanh to bụng với anh chàng ấy, chả biết tối nay có còn ra sân khấu nữa không.

Câu chuyện ồn ào về sân khấu của mấy cô gái mũ ca lô, lưng đeo súng khiến Linh từ nãy chau mày bỏ bút. Còn Oanh thì vẫn bình thản nhắm mắt, sát má vào má con vờ như ngủ không lưu ý gì đến câu chuyện bên ngoài đang vô tình bàn tán về mình.

Từ ngày có Kiều Hoa, Oanh không còn tính gắt gỏng, chanh chua, day dứt như trước nữa. Cô nghĩ tới con. Cô chỉ còn cái vui bám víu vào con. Ánh đèn sân khâu tắt lạnh trong tâm tưởng, không còn làm cho cô nhớ tiếc một bóng hình. Tình cảm của cô lúc này chỉ có thể gởi vào con, vào Linh, vào vợ chồng Thảo và đàn con Thảo. Nếu còn nước mắt, cô chỉ khóc những đêm tàn ru Kiều Hoa mà chạnh niềm thương nhớ mẹ già và đứa con lạc lõng phương xa, giọt máu còn sót lại của mối tình duyên ngang trái đã chết rồi. Thực ra vợ Thảo đã cảm hóa cô bằng cách cư xử có lễ độ với chồng, hòa nhã với con, rộng rãi với các bạn văn đã được chồng trọng đãi vì tài vì đức. Luôn luôn cô tự nhủ phải rèn luyện đức hạnh như vợ Thảo. Nửa kiếp người, cô đã cậy tài kiêu sắc mà tự đưa thân vào cầu đoạn trường, mệnh bạc, ong chiều bướm sớm, khiến cô tủi thẹn mỗi lần ôn chuyện cũ, hoặc nghe ai nhắc tới chút tài hoa là cô đã rùng mình.

Các cô gái tỉnh đã ăn uống no nê và thôi bàn chuyện kịch, đeo túi dết xuống đường tới chùa Thông xem kịch mà họ tưởng còn có Oanh, Linh diễn.

Linh đứng dậy, ra ngoài quán nhìn thiên hạ đi xem kịch, rồi ngoảnh lại chợt nghe con khóc đói, tiếng Oanh ời ợi dỗ con ở trong buồng, lòng anh đau như cắt. Anh thở dài vụt nghĩ đến thiên truyện ngắn “Ðời tư Lã Bố” Thảo viết đã lâu, tả cuộc đời anh kép riễu làm trò cho thiên hạ giữa lúc bố ở nhà tắt thở vì không tiền, không gạo.

“Mình cũng vậy, có hơn gì anh kép ấy”. Anh chua xót nghe những tiếng nói cười, những bước chân rộn rã khua bụi đường.

Chợt một người đi xe đạp đến, thấy Linh, người đó vội kêu lên:

- Cậu ôi, tôi đạp suýt chết từ sáng sớm, hai lần xe nổ lốp mới tới được đây.

Anh giật mình, nhận ra người đầy tớ cũ của nhà. Linh bàng hoàng hỏi vội:

- Có tin dữ phải không? Nói mau đi!

Người đầy tớ ngồi xuống ghế, nhìn vợ Thảo, nhìn vào bên trong, hổn hển đáp:

- Cụ bà hấp hối từ đêm qua. Tôi chắc sớm nay cụ khó mà chờ cậu thêm được nữa.

Anh đứng lặng người, nước mắt ứa rơi xuống má. “Thảm chưa, cơ sự đến thế này à? Tại mình, chắc chắn tại mình...”. Anh đưa mắt nhìn vào giường trong, đoán rằng Oanh đã biết và đang khóc vì cuộc chia ly mà lâu rồi Oanh đoán thế nào cũng đến. Anh thảng thốt ngồi xuống ghế, tỳ khuỷu tay lên thành chõng ôm lấy mặt. Tên người nhà bưng bát nước chè tươi vợ Thảo mời, rồi nói tiếp:

- Cụ ông nhất định không cho con đi gọi cậu. Nhưng mợ cả phải van lạy mãi, cụ mới cho phép con lên đây. Mợ dặn cậu về ngay, may ra còn kịp. Cụ bà uống mấy thìa sâm vẫn thoi thóp thở. Mợ cả thuê người hàng xóm chiếc xe đạp này, bảo để cậu về cho nhanh, con đi chân về sau vậy.

Tai Linh ù hẳn, không còn nghe gì nữa. Thảo vừa đi dạy học về - người ta mới cho anh công tác ấy - thấy vậy, vội đỡ anh vào nhà trong. Anh đứng sững trước mặt Oanh. Không như anh tưởng, cô vẫn ngồi yên lặng ẵm con, mắt không ướt lệ, nhìn trân trân ra ngoài cửa sổ phơ phất mấy cành lau khô.

Một lát, cô buồn bã nói:

- Cụ bà thất lộc, anh nên về ngay kẻo gia đình mong đợi. Em xấu số, tiếc không được ẵm con theo anh, về khóc mẹ chịu tang - rồi cô không thể nén, nức lên - Nhưng dù chẳng được góp phận dâu con, em cũng xin bà nắm khăn trắng. Anh cứ yên lòng về cư tang ít tháng, em xin nguyện hàng ngày ra đỉnh đồi hướng về phương ấy thắp hương cầu vong hồn mẹ tha thứ cho em. Anh Linh ơi, trăm sự dở dang, chỉ vì số kiếp em tất cả...

Anh cắn chặt môi, trong khi vợ Thảo đỡ Kiều Hoa ở tay Oanh, ẵm ra sau nhà đứng sụt sùi. Người đầy tớ đứng sau anh, khẽ giục:

- Tôi lạy cậu, câu lên xe đạp xuôi ngay, kẻo ở nhà đang bối rối. Mợ cả và các em khóc than nheo nhóc lắm cậu ơi...

Thảo cầm tay Linh thương cảm:

- Anh nên can đảm, đừng bịn rịn làm gì nữa. Anh phải về chịu tang cụ bà ngay đi cho gia đình đỡ thảm. Ở trường hợp này, anh không thể mềm yếu thế. Chị và cháu ở đây đã có chúng tôi săn sóc. Anh phải về, phải nghe vợ chồng tôi, nếu anh còn coi chúng tôi là bạn.

Vợ Thảo lau nước mắt, vội buộc vàng hương vào sau xe đạp:

- Gọi là có nén hương thơm xin gửi anh thay mặt chị Oanh, chúng tôi và các cháu thắp trước linh cữu cụ.

Rồi không quên đưa Linh mấy chục bạc:

- Anh cầm chút ít đề phòng dọc đường uống nước, chữa xe. Vài tháng gia đình đã nguôi rồi, anh lại lên với Kiều Hoa. Anh cứ yên trí rằng mọi sự ở đây sẽ không có gì thay đổi, và những người thân yêu của anh lúc nào cũng trung thành đón đợi...

Oanh đứng dậy, nén cơn thổn thức, xếp mấy manh quần áo cũ bỏ vào ba lô, tự đeo lên lưng người yêu, dắt anh ra bậc gạch trước quán, nhìn vào mắt anh, siết chặt tay anh:

- Anh về, anh về... em xin nguyện cả một đời em vẫn là của anh, của con anh...

Anh cúi hôn Kiều Hoa, nhỏ nước mắt xuống làn má mịn hồng của con, rồi dắt xe đạp xuống đường.

Trên thềm quán, vợ chồng Thảo và Oanh im lặng giơ tay vẫy. Anh lao đao cố đạp, cố đạp lên con đường dốc rồi băng băng vút xuống đoạn đường lòng võng khuất sau đồi.

V

Hai tháng sau, Linh vội vã tìm lên chốn cũ. Anh đã kinh hoàng vì quán gió, người yêu có còn đâu. Này đây vách đất tả tơi, mái gianh đen cháy, cây đa cổ thụ dưới thềm cũng bị gãy rời cả cành lá.

Linh còn đang ngơ ngác, bỗng người thợ cạo trước kia vẫn hàng ngày ngồi ở gốc đa, từ chân đồi đi đến. Người thợ cạo nhìn anh bằng đôi mắt lờ đờ ốm yếu, bác không thể nhận ra ngay vì hình dạng anh đổi thay nhiều: mình gầy, mắt trũng, râu ria tua tủa, nhưng rồi người thợ cạo bỗng kêu lên khi nhận rõ chiếc ba lô vá víu mà bác ta thường để ý.

- Ông Linh đấy ư? Ông về quê lên chậm quá...

Linh hồi hộp sợ:

- Sao lại thế này? Ông nói mau cho tôi biết.

Người thợ cạo chậm chạp đặt hòm và ghế xuống gốc đa, chậm rãi:

- Hôm ấy phiên chợ. Chợ bị bắn đạn lửa, rồi tàu bay lại liệng về đây bắn phá rất lâu. Cả nhà bà hàng nước đây bò được cả ra tăng xê dưới chân đồi. Hàng quán, hòm xiểng bốc cháy ngun ngút. May không ai bị vùi trong lửa. Ghê gớm quá ông ơi! Gia đình bà hàng nước đã lếch thếch một đoàn tán lạc đi đâu cả, tôi cũng không còn hồn vía mà hỏi nữa. Hôm ấy tôi cuống cả chân tay, cứ đành ôm chặt lấy gốc cây này chờ chết. Thế mà đạn đốt trụi nửa thân cây ở trên cao, tôi vẫn sống yên lành dưới gốc. Thực là phúc đức nhà tôi ông ạ.

Nói rồi, bác ta cúi nhặt ghế và hòm, lùi lũi rẽ ngang bờ ruộng, ngược lên bờ sông máng.

Ruột Linh như lửa cháy, cơ hồ đến điên cuồng. Nước mắt ứa ra, Linh rên trong cuống họng:

- Có ngờ đâu mới ít ngày xa cách mà mẹ con Oanh, vợ chồng con cái Thảo đã sẩy đàn tan nghé, bơ vơ, điêu đứng thế này.

Linh tê tái, ngồi bệt xuống đống đất cháy đen. Lúc đó, cụ từ già còng lưng quảy hai vò nước ở dưới giếng nặng nhọc và rờ rẫm leo những bậc gạch lên đền. Linh bước theo, vái lạy:

- Cụ vẫn bình an.

Cụ từ vẫn cúi đầu lần đầu gậy, tay giữ dây quang cho khỏi sóng nước ra ngoài, run giọng đáp:

- Vâng, tôi nhờ trời phật may chưa chết.

Cụ đặt gánh xuống bậc thềm, thở phì phào rồi nhìn sững Linh, thốt nhận ra người quen cũ, vì anh vẫn thường đem giấy mực lên đền ngồi viết để tránh sự ồn ào trong quán Thảo.

- Ông... ông Linh đấy ư? Chao ôi, hôm nọ ông không ở đây mà nghe đạn. Hàng quán cháy cả rồi. Người thoát cả, đã bồng bế nhau đi ráo cả, còn trơ lão ở xó đền heo hút tối tăm này.

Anh nắm cánh tay khô của ông già cô độc:

- Thưa cụ, gia đình ông bà Thảo dọn đi có lên nhờ cụ dặn dò gì cháu không?

Cụ Từ chép miệng:

- Ông Thảo có dặn tôi rằng nếu ông đến hỏi thì bảo gia đình ông ấy dọn sang làng Cước cách đây chừng hai mươi cây số ở bên kia sông Lãnh. Ông cứ đến đấy tìm sẽ gặp.

Anh toan đứng dậy thì cụ già cô độc ấy lại thì thào:

- À quên, ông Linh ạ, cách nay chừng nửa tháng, có một người đàn bà ẵm con lên đây, đưa tôi một lá thư, dặn khi nào ông đến thì đưa hộ. Bà ấy không xưng danh tính, đưa biếu tôi mười đồng bạc, rồi ẵm con đi vội vã. Tôi nhớ mang máng như là đã lên đền này một hai lần với ông rồi thì phải.

Linh bồi hồi giục:

- Thư đâu, cụ đưa ngay cho cháu.

Cụ già ho sằng sặc:

- Tôi để trên đền, bỏ mãi trong túi áo chờ ông đến mà chẳng thấy, sợ nát ra, tôi phải cất vào sau bệ thờ.

Nói rồi, cụ toan cúi xuống lần đòn gánh. Anh nóng ruột:

- Cụ để cháu gánh kẻo lập cập trượt chân thì vỡ cả.

Ðoạn anh quảy đôi vò bước nhanh lên bậc dốc. Cụ già tay chống đầu gối, tay cầm gậy, bước từ từ. Anh điên dại, muốn quăng cả đôi vò và bế thốc cái mình khô đét ấy chạy bay thẳng lên đền, tìm lá thư mà anh biết chắc của Oanh.

Cụ già lẩy bẩy sờ mó mãi mới moi được mảnh giấy cất kỹ sau bệ thờ. Linh giật lấy, mở ra, tay run như chiếc lá rung trong gió.

Anh Hoàng Linh,

Em thật chẳng ngờ còn sống sót để viết mấy dòng này gửi lại mình.

Tai nạn ghê gớm trên trời rơi xuống ngày hôm đó, tuy có làm mẹ con em run sợ nhưng em thực chẳng lấy làm mừng như tất cả những ai tránh được cảnh xương tan thịt nát bất ngờ. Em vẫn sống, Kiều Hoa chỉ nóng sốt vài ngày, lại ăn chơi như cũ, nhờ chị Thảo tận tình săn sóc thuốc thang.

Mẹ con em được anh chị Thảo càng ngày càng thương xót. Anh chị Thảo luôn nhắc nhủ đến mình. Bom đạn nổ trên đầu em nhắm mắt chờ đợi chết, nhưng chỉ cầu trời tránh cho đứa con vô tội của chúng ta, tránh cho gia đình anh chị Thảo.

Em không được chết, có lẽ tội em vẫn còn nhiều. Em nghĩ không nên quấy phiền bạn mãi và cũng không muốn hy vọng thấy mặt anh. Em ẵm con về chốn cũ tìm mẹ già, con bé bơ vơ. Anh hãy cầu nguyện cho Kiều Hoa, con mình được gặp mọi điều may mắn.

Xin vĩnh biệt mình.

Oanh

Linh buông thõng hai bàn tay, bâng khuâng nhìn dải mây xám trên rặng thông xa, phảng phất hình người đàn bà đang xõa tóc cúi xuống.

Cụ thủ từ lúi húi thắp hương trong ngôi đền, gõ mấy tiếng vào mảnh chuông đồng vỡ còn sót lại. Gió lạnh từ dưới đường đồi cuồn cuộn dâng lên, anh chợt nhớ lại đêm nào thức tàn canh bên đống lửa với Oanh, Thảo và bọn người hành khất trong ngôi đền này.

Thế mà bây giờ...

Anh chua xót nghĩ đến gia đình Thảo, một bầy con lếch thếch kéo nhau đi tìm nơi trú ngụ như đoàn du mục tha hương, nghĩ đến mẹ con Oanh chiều nay không biết phiêu dạt phương nào.

Tiếng chim sẻ kêu buồn trên mái đền, vài cánh dơi chập choạng chao mình vào bóng lạnh. Anh mệt mỏi bước xuống đường, chưa biết sẽ dừng chân ngủ đỗ nơi nào đêm nay.

Mùa đông năm Nhâm Thìn (1952)

❀ ❀ ❀

[1] Cuốn Mưa thu, do NXB Trần Văn Huy xuất bản tại Hà Nội năm 1953 mà chúng tôi dựa vào để in lần này, đến đây bị xé rách và mất một đoạn dài. Mong được bạn đọc thông cảm và lượng thứ. Cũng vì đoạn văn đó mà về sau nhà văn Ngọc Giao phải chịu rất nhiều khổ lụy. Tôi đã nói rõ bối cảnh của sự việc này ở bài Cha tôi trong cuốn sách của nhiều tác giả, nhan đề Ngọc Giao - Một đời người, một đời văn, sắp xuất bản. (Nguyễn Tuấn Khanh)

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.