Truyện chọn lọc nước ngoài Tập 1

Lượt đọc: 107 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
7. CÂU CHUYỆN TÌNH ĐẦU TIÊN CỦA TÔI • Sholem Aleichem
Chương một: Tôi vận động ngầm được việc làm đầu tiên

❊ ❊ ❊

(Мой первый роман, 1903, Nga)

Anh nào đã từng phải ngồi nhịn đói đến tận khuya, quấn mình trong chiếc áo đã sờn, vùi đầu vào cuốn ngữ pháp tiếng Nga dưới ánh sáng của một mẩu nến, miệng chia các danh từ và tính từ trong câu “bánh mỳ trắng mới” trong bụng lại mơ ước một mẩu củi bánh mỳ đen thường, anh nào đã từng phải ngủ trên chiếc ghế dài cứng quèo, đầu gối lên nắm tay, bên cạnh một ngọn đèn bốc khói: mấy đứa con nhỏ khóc ra rả và người mẹ già càu nhàu; anh nào đã từng lết qua đám bùn đặc sệt, với đôi giày rách – một chiếc long mất gót, một chiếc đã sắp tuột, chỉ còn lủng lẳng mà không biết làm thế nào vứt nó đi được; anh nào đã từng phải tìm cách cầm cố cái đồng hồ của mình mà gặp phải anh chủ tiệm cầm đồ nó lại không muốn nhận cho cầm, vì vỏ chiếc đồng hồ không phải bằng bạc nguyên chất và bộ máy thì không đáng một xu; anh nào đã từng phải ngửa tay hỏi bạn vay tiền mà anh bạn nọ lại thò tay vào túi, rút chiếc ví ra, thề rằng anh ta không có lấy một đồng xu dính túi – anh nào đã từng trải qua tất cả những cảnh đó như tôi, chắc chắn sẽ hiểu cái tâm trạng của tôi khi lần đầu tiên tôi kiếm được việc làm với số lương tháng mười hai rúp, cơm nuôi.

Tôi không muốn làm mệt các bạn với câu chuyện làm thế nào mà tôi lại đã kiếm được công việc làm đó, mà các bạn cũng chẳng cần biết rằng tôi có một ông cậu, cậu tôi lại có một người bà cô, bà này có một người bạn, người bạn này có một người bà con, người bà con nọ lại có một người họ đằng vợ rất giàu, mặc dù lão ta chỉ là một người bình thường sống ở nông thôn. Lão nhà giàu này có độc nhất một đứa con trai, lão muốn tìm cho con một cậu gáo dạy tiếng Do Thái, tiếng Nga, tiếng Đức và nghề kế toán. Cậu giáo phải là một thanh niên đứng đắn thuộc một gia đình có danh vọng và không đòi trả công quá đắt, quá khả năng của người mướn. Tôi ra sức cậy cục, chạy bổ đến nhà cậu tôi, nói với cậu tới nhờ ông nói với bà cô của ông nói giúp với người bạn của bà để người ấy đi thuyết người bà con của ông ta nói với đằng vợ lão – là ông lão nhà giàu – mướn tôi làm chứ đừng mướn ai khác, vì ngoài tôi ra, ở Mazepovka còn vô số thanh niên khác cũng biết tiếng Do Thái, tiếng Nga, tiếng Đức và nghề kế toán, và họ sẵn sàng đi bất cứ đâu để kiếm một miếng cùi bánh mỳ. Ông chủ của tôi suy nghĩ mất khá lâu rồi mới ưng thuận mướn tôi. Một là, ông ta không biết chắc mình có cần mướn một cậu giáo dạy tư không và hai là, ông ta còn phân vân không biết nên mướn tôi hay mướn người nào khác. Sau cùng lạy Chúa, ông ta đã quết định mướn một cậu giáo và lại chọn trúng vào tôi, vì, nếu quả các bạn muốn biết, tôi xin nói là ông ta không coi trọng việc học hành cho lắm. Ông ta thường nói thời buổi bây giờ, người có học đông như lợn con. Điều chủ yếu là cái người cậu giáo ông ta mướn phải là con một gia đình danh giá và, vì tôi thuộc một gia đình danh giá, nên ông ta mướn tôi. Đấy là lời ông chủ mới của tôi nói, nhưng – xin các bạn bỏ quá cho – tôi e là ông ta đã nói dối. Những địch thủ của tôi cũng là con nhà danh giá không kém gì tôi. Vậy thì vì lý do gì? Đúng, chỉ vì có một cớ – thế lực – vì những cuộc vận động ngầm của tôi.

Đúng thế, những cuộc vận động ngầm có một sức mạnh phi thường. Vì, phúc thay cho ai có một ông cậu, ông cậu ấy có một bà cô, bà cô này có một người bạn, người bạn ấy có một người bà con và người này có một người họ, đằng vợ – là ông lão nhà giàu ở nông thôn chỉ có một cậu con trai và ông lão muốn mướn cho con cậu một cậu giáo dạy tiếng Do Thái, tiếng Nga, tiếng Đức và nghề kế toán, mà cậu giáo phải là một thanh niên đứng đắn, con nhà danh giá, lại không đòi trả công quá đắt, quá khả năng của nhà lão.

Chương hai:Những câu chuyện dài dòng của ông chủ tôi ru tôi ngủ

Vậy thì ông chủ tôi là ai? Ông ta làm gì để sinh sống? Hình dáng ông ta trông ra sao? Ông ta cao hay thấp, béo hay gầy, tóc đỏ hay đen? Tôi thiết tưởng các bạn chẳng cần biết điều đó. Tên ông ta là gì? Cái đó cũng không quan hệ lắm. Ông ta có thể vẫn còn sống, vậy nêu tên tuổi lên thì có phần bất tiện cho tôi. Chẳng thà để tôi nhắc lại câu chuyện đầu tiên giữa tôi và ông ta khi ông ta mời tôi lên chiếc xe ngựa – và đãi tôi một điếu xì gà đầu tiên của tôi và điếu xì gà đó đã là điều tai hại cho tôi.

“Vậy đây là lần đầu tiên cậu về sống ở nông thôn có phải không?” ông ta vừa nói vừa ngắm nghía cái tàn tro xám ở đầu điếu xì gà đen của mình. “Tôi dám chắc anh vẫn nghĩ nông thôn là một cái xó heo hút và những người Do Thái nhà quê chúng tôi không biết thích hưởng một cuộc sống phong lưu chắc. Anh bạn trẻ ơi, để tôi nói cho anh biết rằng anh sẽ thích thú khi được nhìn một căn nhà thôn dã chính cống của một người dân quê Do Thái – một căn nhà có sân, có vườn hoa, vườn hoa quả – đúng là một tòa lâu đài! Còn về các căn phòng – phòng đằng trước, phòng đằng sau, phòng khách, phòng riêng – để tôi nói anh nghe, anh bạn trẻ ơi có tới hai mươi gian chứ không ngoa. Tôi vừa bảo hai mươi à? Ô này, ngoài ba mươi ấy chứ lị! Chính tôi cũng không rõ gia đình chúng tôi cần nhiều phòng như thế để làm gì. Nếu không phải là để cho khách khứa. Nhà tôi luôn luôn có khách đến ở. Tôi vừa bảo luôn luôn à? Tuần nào, ngày nào cũng có. Không ngày nào không có một ít khách tới thăm, nếu không phải là hai hay ba vị. Mà những khách như thế nào! Nhà điền chủ này, ngài cảnh sát này, ông quận trưởng, quan chánh tòa… Tôi vốn chơi thân với tất cả mọi người xung quanh. Biết bao nhiêu lần, chiếc xe tứ mã đã phóng đến tận cổng nhà tôi. Tôi hỏi: Ai ngoài đó? Người ta bảo: Cụ lớn đấy ạ. Thế nghĩa là quan Tổng đốc, anh hiểu ý tôi nói chứ? Phải tất nhiên, anh không thể xử sự keo bẩn được, anh phải, tiếp đón ông ta cho lịch sự, dành cho ông ta những căn phòng tốt nhất trong nhà, những căn phòng trông ra một khoảng vườn đẹp đẽ. Và, để tôi nói anh nghe, anh phải biết cái vườn của tôi mới ưa nhìn làm sao! Đâu có phải là vườn, mà là một khu rừng! Anh phải thấy những quả táo, quả lê, quả mận mới đẹp làm sao! Và những chùm nho, chao ôi! Tôi tự tay trồng lấy đủ mọi thứ, tự tay ép anh đào và nho của nhà, làm lấy rượu vang, dùng nho khô của nhà, và cả đến cá cũng đánh ở dưới sông của nhà lên. Mà cá ra cá! Chép, rô, mè – những con mè bằng ngần này này!” Ông chủ tôi xòe rộng hai bàn tay làm mẫu, và tôi phải co người nhích lại một chút để nhường chỗ cho những con mè của ông ta.

Ông ta cứ tiếp tục kéo dài mãi câu chuyện, còn tôi, tôi ngồi chăm chú nghe, hau háu đớp lấy từng lời. Chiếc xe đu đưa như cái nôi, mấy con ngựa chạy thong thả, đều bước, đuôi phe phẩy đập, và tôi cũng không biết tại cái gì – tại cái ghế ngồi êm trong chiếc xe lắc lư, tại tiếng đuôi ngựa phe phẩy đập, hay tại những chuyện khoác lác của ông chủ tôi – mà chỉ biết là tôi bắt đầu ngủ gà ngủ gật. Đêm hôm ấy là một đêm hè tĩnh mịch. Một làn gió hiu nhẹ quạt vào mặt tôi và tôi ngủ thiếp đi, bên tai còn vang tiếng ngáy của ông chủ.

Khi chúng tôi tới nơi, mặt trời đã lên cao. Nền trời quang đãng, trong sáng và tươi vui, mỉm cười đón chào tôi, kẻ mới đến.

Chương ba:Những hạng người nói dối,những cái nhìn băng giá và một lời giới thiệu ấm áp đầy nhiệt tình

Trên đời có nhiều loại người nói dối. Có những kẻ không cần thiết mà cũng cứ mở mồm ra là nói dối, vì cái lưỡi, như các bạn biết đấy, sinh ra là để cựa quậy ở trong miệng. Có ba loại người nói dối kinh niên: một loại nói dối về quá khứ, một loại nói dối về hiện tại và một loại nói dối về tương lai. Kẻ nói dối về quá khứ kể lại cho các bạn nghe toàn những chuyện dài dòng bịa đặt như thể là hắn đã nhìn thấy tận mắt tất cả những sự việc đó. Đố các bạn vạch ra được là hắn không trông thấy đấy! Kẻ nói dối về hiện tại thật là một kẻ khoác lác hơn là kẻ nói dối, hắn ta sẽ đoan chắc với bạn rằng hắn có mọi thứ, biết mọi thứ và có thể làm mọi thứ, nếu bạn có thể thì cứ thử thẩm tra cái đó xem sao. Kẻ nói dối về tương lai thì là một anh chàng kỳ quái, bản tính cũng tốt thôi. Hắn ta sẽ hứa với bạn những gì họa chỉ có trời biết. Hắn ta bảo sẽ đi gặp người này người nọ cho bạn, làm bất cứ việc gì cho bạn và bạn đành phải tin ở lời hắn ta. Cả ba loại người nói dối này đều biết rằng mình đang nói dối, nhưng họ tưởng rằng mọi người đều tin họ. Nhưng cũng còn có những người nói dối đứng hẳn riêng ra một loại. Mỗi người trong loại này chỉ cần nói dối một câu chơi thôi là chính hắn ta cũng tin như vậy là thực và chắc mẩm là cả những người khác cũng thấy hắn nói sao là bào hao tin làm vậy. Hắn thích thú với cái việc nói dối. Những người này là những con người khì cục, sống trong mộng. Họ là những người mà ta có thể gọi là những tên tán láo, luôn luôn bịa ra những câu chuyện mới và ngày hôm nay họ đã quên hết điều họ mới nói ngày hôm qua. Trí tưởng tượng kỳ quặc của họ luôn luôn hoạt động, luôn luôn đề ra những ý kiến và những tư tưởng mới.

Ông chủ tôi thuộc về loại người nói dối cuối cùng này. Tôi chẳng cần nói với các bạn rằng cái lâu đài của ông ta thực ra chỉ là một căn nhà bình thường, chẳng lấy đâu ra mà có nhiều buồng, và khu vườn cũng chỉ là một mảnh vườn bình thường như mọi mảnh vườn khác. Chẳng có đâu mà nho và rượu vang, mà chỉ có khế xanh với rượu chát thường, mà cũng chẳng có đâu cá mè to đánh ở hồ của nhà lên – chỉ có cá vược nhỏ, mua ở chợ.

Một người đàn bà to béo, chùm chìa khóa đeo bên người, ra đón. Bà ta ngắm nghía tôi với cặp mắt lạnh lúng quá đến nỗi tôi phải ngạc nhiên. Nếu những cặp mắt biết nói thì cặp mắt của bà ta dường như bảo tôi “Cái tên quỷ này là ai?” Ông chủ hiểu ý nghĩa cái nhìn đó của vợ, với giọng ôn hòa và biện bạch xin lỗi, ông lão nói:

“Tôi đem cậu giáo mới về cho thằng cả nhà đấy. Nó đâu rồi?”

“Nó đang ngủ,” người đàn bà nọ trả lời, giọng ồ ồ, và còn ban cho tôi một cái nhìn rất lâu và lạnh giá khác. May thay, ông chủ ra lệnh dọn cơm. Ông ta xếp tôi ngồi cạnh ông ta và mấy phút sau, trong khi siêu nước được chuẩn bị để pha trà thì ông ta nói với tôi không còn thiếu gì về đứa con trai của mình, nào nó học giỏi ra sao, nào nó viết chữ đẹp như thế nào và nó hiểu biết bao nhiêu thứ.

“Chữ nó viết đẹp nổi tiếng vùng này. Đọc chữ nó viết ai cũng thích. Tiếng Đức nó nói thạo như tiếng mẹ đẻ! Và cái lối nó nói tiếng Pháp mới hay làm sao!”

Bà chủ với chùm chìa khóa cứ rung lên soang soảng dọn bơ, phó mát, kem chua, sữa mật ong, và các món khác ra bàn. Tuy nhiên, nếu bà chủ không ngồi trước mặt tôi và làm tôi lúng túng với những cái nhìn đầy thiện cảm của bà thì có lẽ tôi lại thấy dễ chịu hơn nhiều. Ông chủ vội cản những cái nhìn ấy và vội vã giới thiệu rõ tôi là ai và là người như thế nào. Tôi cảm thấy mặt, đầu, mắt và cả mái tóc trên đầu tôi cũng nổi gai lên ngứa ngáy. Theo lời ông ta thì tôi là cháu nội cố Baal Shem[1], gia đình tôi toàn là những pháp sư, doanh nhân và những phú ông cả, bản thân tôi cũng học giỏi hơn hết mọi sinh viên, bác sĩ hoặc giáo sư nào khác – ngay đến ba giáo sư gộp lại cũng không giỏi bằng tôi. Tôi không biết bà ta có tin những lời dối trá trâng tráo đó không, nhưng tôi thấy cái nhìn lạnh giá và gay gắt của bà ta có vẻ dịu đi đôi chút.

Chương bốn:Đứa “bé” ngốn như thần trùng, trong khi cậu giáo đói mèm.

Chú học trò của tôi thực ra là một thanh niên mạnh khỏe, đẹp trai, tính tình hoạt bát vui vẻ. Khuôn mặt hắn tròn, trắng trẻo, ưa nhìn với đôi má hồng hào, vầng trán cao và trắng, cặp mắt màu xám hiền hậu, đôi bàn tay trắng mập. Có ba việc hắn thích làm: ăn, ngủ và cười. Nhưng trong cả ba việc đó, hắn thích nhất là ăn. Từ sáng đến tối, lúc nào cũng thấy hắn ăn. Giữa những bữa thường lệ như điểm tâm, bữa trưa, bữa chiều và bữa tối, có kèm theo cà phê, mẹ hắn còn thường gửi cho đứa “bé” một chút thức ăn ngon như cốc súc cù là, hoặc một khoanh bánh mỳ, hoặc cái bánh mật ong, hoặc chiếc bánh ngọt, hoặc một ít mứt, đôi khi là một món ăn lạ như gan gà rán, hoặc một thứ cao lương nào khác tương tự, hoặc chỉ là một khoanh bánh mỳ trắng, trường hợp hắn thấy đói bụng, trong khi cậu giáo của hắn cứ ngồi nhìn, liếm mép và xoa dịu cơn đói bằng một điếu thuốc lá quấn tay.

Thoạt kỳ thủy, cho mãi tới khi làm thân với học trò của mình, cậu giáo cứ phải nếm thử những trận đói dằn vặt, vì người mẹ gã học trò, cái bà đeo chùm chìa khóa, nuôi thầy rất chi là thanh đạm.

Gia đình nhà này, họ sống rất sung túc – nhất là về mặt bơ sữa – nhưng mọi thứ ấy đều cất kín khóa kỹ. Thỉnh thoảng, ngẫu nhiên ông chủ có đề nghị cho cậu giáo cái gì ăn, thì bà chỉ bắt đầu rung rung chùm chìa khóa, dấu hiệu rõ ràng là bà ta tức giận.

Bà ta thường đáp lại:

“Dĩ nhiên là có rồi. Cậu giáo vẫn ngày ba bữa đấy chứ. Thế chưa đủ hay sao?”

Quả là mụ nói dối kinh khủng! Tôi, mỗi ngày một bữa trưa, nói chi đến ba bữa. Biết bao lần tôi nhìn thấy những súc thịt họ vừa vứt đi, những bình sữa đổ tung tóe, trong lúc mình ngồi nhịn đói trong buồng, mơ tưởng một miếng bánh mỳ đen. Những ngày ông chủ đi vắng là tôi đói mềm. May mắn cho tôi là đã nhanh chóng làm thân được với gã học trò của mình.

Chương năm:Cậu giáo và học trò kết bạn đồng minh, cuộc đời vui vẻ bắt đầu

Một hôm đẹp trời, tôi và học trò đang cùng ngồi trong buồng của hắn, một căn buồng có cái cửa sổ trông ra vườn, gã học trò bảo tôi: “Này cậu, nếu cậu muốn ở đây với chúng tôi, nếu cậu muốn cậu với tôi, chúng ta làm bạn thân với nhau, nếu cậu không muốn phải rời khỏi căn nhà này, thì xin cậu hãy quẳng những quyển sách kia xuống gầm bàn. Chúng ta đi chơi cờ đam hay bài sáu mươi sáu, hoặc cứ việc nằm dài trên giường mà chít nước bọt nhổ lên trần nhà.”

Nói xong, gã học trò của tôi liệng sách của hắn xuống gầm bàn, ném mình xuống giường, ngửa đầu và chít nước bọt qua kẽ răng, nhổ lên trần nhà, hắn làm khéo léo và chính xác quá đỗi khiến cả hai, tôi và hắn, cùng phá lên cười.

Từ hôm đó, chúng tôi sống những ngày sung sướng, trò dạy thầy đánh cờ đam hay đánh bài sáu mươi sáu (thú thật cho đến bây giờ tôi chưa nghe nói đến tên thứ bài này bao giờ, nhưng khi tôi học rồi thì tôi trở thành một tay máu mê hạng nặng). Thế là thầy kết bạn đồng minh với trò và, bỏ cả bài lẫn vở, chỉ cùng nhau chơi cờ đam hay đánh bài sáu mươi sáu hoặc nằm trên giường mà nhổ nước bọt lên trần, hoặc giúp trò xơi gọn những thức ăn ngon, món lạ của bà mẹ nó gởi vào cho, và trong công việc này, thầy đã tỏ ra rất đắc lực. Mấy tháng sau, khi chợt nhìn vào gương, cậu giáo ngạc nhiên thấy mình béo tốt hẳn lên.

Không một ai bước chân vào phòng chúng tôi, trừ đứa ở thường ngày mang thức ăn vào. Ông chủ ít khi ở nhà, và bà chủ, không lúc nào rời chùm chìa khóa, ngày đêm bận rộn công việc nhà cửa, tuyệt nhiên chẳng bao giờ ngó vào phòng chúng tôi. Chúng tôi thực là sống trong hạnh phúc. Chúng tôi chẳng phải lo lắng gì mà cũng chẳng có gì bó buộc, chúng tôi tự do muốn làm gì thì làm.

Nhưng một hôm, ông chủ hỏi tôi: “Thế nào, dạo này bài vở học hành ra sao?”

“Tốt lắm,” tôi trả lời, mắt mở trân trân không hề chớp.

“Đấy, thấy không! Tôi đã bảo mà!” Ông ta nói; và tôi lấy làm lạ thấy mình còn có thể nhìn được vào mắt ông ta.

Trong nhà này, mọi người lừa bịp lẫn nhau, tất cả mọi người không ai là không nói dối, nơi mà ngay cả lớp không khí bao phí xung quanh cũng ngầu bẩn những lời nói dối – thì trong cái nhà đó, học nói dối thực chẳng khó khăn gì.

Chương sáu:Những bức thư tình đầu tiên của vị hôn thê, đốm lửa đã được nhen

Tuy vậy, chúng tôi cũng có một nhiệm vụ phải làm – là nhận và trả lời những bức thư. Và hầu như ngày nào chúng tôi cũng nhận được thư. Tôi nói “chúng tôi” bời vì cả hai chúng tôi đều phải trả lời những bức thư đó. Những bức thư gửi cho học trò của tôi là thư của vợ sắp cưới của hắn viết, mặc dù chính hắn đã thú nhận với tôi rằng tình cảm của hắn đối với cô ta chẳng có gì nồng nhiệt.

Mới đầu, những bức thư ấy không năng gửi đến luôn – hàng tuần hoặc hàng nửa tháng mới có một lần. Nhưng từ khi tôi nhập cuộc thì thư từ gửi đến thêm phần đều đặn và mau mắn hơn.

Một hôm, gã học trò bảo tôi: “Cậu đọc cái thư này đi và trả lời cho cô ta. Cô ta cần gì tôi vậy?” và gã ném cái thư của người vợ sắp cưới vào mặt tôi. Tôi đọc và thích thú với nội dung bức thư. Cô ta viết thế này:

“Vị hôn phu thân mến và hết sức yêu quý của em. Giá anh biết cho rằng em chán ngán những bức thư của anh đến nhường nào! Những bức thư giống nhau như hai giọt nước cùng một dòng sông, như thể cùng mẹ sinh ra. Em mong được nghe ở anh một câu mới mẻ, một câu có thể sẽ sưởi ấm trải tim em và rọi sáng tâm hồn em.

Trái tim em lạnh giá, tâm hồn em âm u.

Vị hôn thê chân thành của anh…”

Không phải nghĩ tới hai lần, tôi viết ngay hộ học trò của tôi bức thư trả lời như sau:

“Vị hôn thê chung thủy và yêu quý của anh. Em viết rằng những bức thư của anh gửi em đều giống nhau như chúng là con cùng một mẹ đẻ ra. Nhưng làm thế nào khác được, khi chúng cùng xuất phát từ một tình cảm mà ra? Em bảo rằng chúng giống nhau như hai giọt nước từ một dòng sông. Làm thế nào khác được, khi chúng chảy từ một ngọn nguồn, một trái tim mà ra! Em đòi hỏi một câu mới mẻ, nhưng còn gì có thể mới mẻ hơn là câu ‘Anh yêu em!’ Tâm hồn em làm sao mà âm u được khi anh nghĩ tới em, hỡi người yêu thân mến?

Vị hôn phu chân thành của em…”

Trả lời thư này, chúng tôi nhận ngay được lời phúc đáp như sau:

“Anh thân yêu. Những lời êm dịu của anh đã làm em phấn khởi vui vẻ và lòng em ấm lại, chung quanh em chan hòa ánh sáng. Đích thị đây là em đã được nghe một bài ca mới, được nghe âm điệu du dương thần tiên của một trái tim thân yêu. Em cảm thấy trong người khác hẳn. Hình như em đã mọc cánh bay vút lên trời và có một bầy tiên nữ tưng bừng hoan hỉ bay ra đón, mang tới cho em những câu chào mừng và những lời êm dịu của vị hôn phu thân yêu của em, con người đã vĩnh viễn chiếm được trái tim và tâm hồn em.

Người vợ tương lại yêu mến và trọn đời chung thủy của anh.”

Tôi trả lời, viết:

“Người yêu thân mến nhất, khả ái nhất và chung thủy nhất của anh – Em yêu quý của anh, không, em đã không lầm. Đây không phải những lời lạnh nhạt tầm thường mà là những tình cảm từ một trái tim này tới thẳng một trái tim khác. Đây là những sợi dây gắn bó hai trái tim lại với nhau vĩnh viễn. Bầy tiên nữ mang đến em những lời chào mừng của anh, cũng đã mang đến cho anh những lời chào mừng không kém phần chân thành của em, và cùng với bầy tiên nữ đó, anh xin gửi đến em – trái tim thân mến của anh – một cái hôn nồng cháy, cái hôn thiêng liêng của một người bạn mãi mãi là của em và luôn luôn mang theo hình ảnh tươi sáng của em trong tâm can, lúc ngủ cũng như khi thức.

Người yêu vĩnh viễn chân thành của em…”

Chương bảy:Tài liệu cho một cuốn sách dạy viết thư

Một đốm lửa từ đâu có trời biết bay đến và rơi xuống mái một ngôi nhà tranh. Một ngọn lửa tý xíu nhen lên. Gió thổi, nó bốc thành một đám cháy dữ dội. một đám cháy, cháy!

Những bức thư đầu tiên ấy là cái đốm lửa đã nhen lên ngọn lửa kinh khủng. Nội dung những bức thư ngày càng một nồng nàn. Ngọn lửa ngày càng được thổi cao mãi lên. Một đám cháy khổng lồ, có sức tiêu hủy hết thảy đã bốc lên điên cuồng trong trái tim tôi; tôi đau khổ, vô cùng đau khổ. Tôi ăn không thấy ngon, ngủ không sao nhắm mắt được, chỉ đi tha thẩn như một kẻ mất trí. Bao nhiêu tình cảm trong lòng tôi dốc cả vào những bức thư. Chúng là niềm an ủi và nguồn vui duy nhất của tôi. Đối với tôi, ngày nhận được thư là một ngày hội. Tôi mở thư ra đọc và viết trả lời. Gã học trò của tôi chỉ có việc chép lại, và ngay chỉ có thế thôi tôi cũng thường phải thúc giục hắn. Và tôi đã tốn bao tâm sức để giấu kín nỗi đau khổ xuống tận đáy lòng, tránh sao cho khỏi lộ ra ngoài, tôi thường phải úp mặt xuống gối khóc thút thít, rồi lại trở dậy làm bộ vui vẻ lo công việc – chơi cờ đam hoặc một ván bài sáu mươi sáu với bạn kiêm học trò của tôi!

May thay, không ai để ý nhận thấy tôi đang đau khổ, ngày một gầy rộc đi, hao mòn dần như một cây nến thắp. May thay, gã học trò tôi không hề đặc biệt chút ý đến tôi. Dĩ nhiên, nếu hắn chú ý, chắc hắn sẽ biết rõ vì đâu. Tôi có thể hình dung được bộ mặt hắn sẽ thuỗi dài ra, nếu hắn nhìn thấy tôi hôn lấy hôn để những bức thư của người vợ chưa cưới của hắn. Và tôi không hôn chúng làm sao được!

Bạn thử xét xem. Đây, cô ta viết như thế này:

“Anh yêu quý của em, ánh sáng của cặp mắt em! Em phải nói tất cả sự thật với anh. Anh thân yêu của em, em phải thú nhận rằng từ trước đến giờ em không hề biết anh. Em không bao giờ tưởng tượng rằng em lại tìm thấy ở anh một nguồn tình cảm mãnh liệt, những tư tưởng cao cả, và một trí thức uyên thâm như vậy, rằng em lại tìm thấy ở anh một tâm trí siêu phàm như vậy. Những lời lẽ sáng suốt của anh cho em thấy anh học cao biết rộng như thế nào.

Thật là lạ, trước đây em chẳng biết một tý gì về những điểm này hết. Cái đó nói lên bản chất mộc mạc và tính khiêm tốn của anh, và nó càng làm tăng thêm lòng kính mến của em đối với anh. Em không cảm thấy sung sướng sao được, khi định mệnh đã gắn bó số phận em với một người có đủ đức tính tốt đẹp nhất: vẻ người tuấn tú, óc thông minh, trí hiểu biết, tính tình giản dị và đôn hậu. Nết đôn hậu của anh thể hiện trong những lời lẽ anh ăn nói dịu dàng và sáng suốt. Anh đã rộng lượng ban cho em những lời lẽ thân yêu. Em xin cảm tạ anh một ngàn lần về những bức thư đó, và xin thêm nữa.

Người yêu chung thủy và vĩnh viễn của anh…”

Đáp lại, tôi trả lời một cách hơi lờ mờ như sau:

“Người đẹp hết sức yêu mến và tài giỏi của anh! Em không biết anh vì em chưa nhìn thấy anh đấy thôi. Cái người mà em đã nhìn thấy không phải là anh mà chỉ là cái bóng dáng của anh. Em cứ thử tưởng tượng rằng chúng ta chưa trông thấy nhau, có nghĩa là chúng ta đầu thai làm người ở một kiếp khác. Chúng ta sẽ sung sướng xiết bao ví như chúng ta không biết đến cái xã hội này, cái xã hội giả dối đê tiện cùng những con người giả dối đê tiện sống trong cái xã hội đó.

Vị hôn phu yêu em và mãi mãi chung thủy với em cho đến hơi thở cuối cùng…”

Tôi nhận được của cô ta lời phúc đáp như sau:

“Anh yêu quý và hết sức thân mến mà trời đã ban cho em!

Bức thư của anh như thể là một cuốn thiên thư và một câu đố bí hiểm đối với em. Anh viết khó hiểu đến nỗi em phải nát óc trong bao lâu mới nắm được ý anh nói, và giờ đây, em tin là em có thể hãnh diện nói rằng em đã hoàn toàn hiểu anh. Anh bảo rằng chúng ta phải tự coi mình là có phước vì đã chẳng biết đến cái thế giới giả tạo đê tiện này. Cùng những con người giả tạo đê tiện của nó. Nếu vậy thì em phải là một trong những kẻ vô phước vì em lại biết rất rõ cái thế giới giả dối đê tiện này với những con người giả dối đê tiện của nó. Và quả thật là đại phước khi nhận thấy rằng ít nhất cũng còn có một người ngay thẳng, chân thực, cao thượng, sáng suốt và hiền hậu, và người đó lại là người chồng chưa cưới của em, người yêu mà trời đã ban cho em! Anh thân yêu, xin chúc anh mạnh khỏe, anh hãy viết cho biết anh đang đọc sách gì và khuyên em nên đọc những cuốn nào.

Em trìu mến xiết chặt tay anh và xin mãi mãi là người yêu chung thủy của anh…”

Tôi viết thư phúc đáp như sau:

“Cuộc sống của anh, trái tim của anh! Nếu anh đã làm em ngạc nhiên như vậy, thì em hãy thử tưởng tượng xem em đã là một câu đố bí hiểm và một điều ngạc nhiên đối với anh như thế nào. Trước kia, anh chưa hề mơ tưởng rằng anh lại nhận được của em những bức thư như vậy. Cứ xem xét những chữ Do Thái mà thỉnh thoảng em dùng trong những bức thư của em, anh thấy rằng không phải là em không biết đến món cổ văn của chúng ta. Chỉ riêng điều đó cũng đủ khiến anh coi trọng em đến nỗi anh hầu như sợ rằng anh không xứng đáng được ngay cả nhắc đến tên em! Anh ngắm nhìn tấm ảnh của em và tự nhủ: Nàng đây, một cô gái Do Thái thực sự. Đây là lý tưởng của anh, và sẵn lòng hy sinh cả cuộc đời của anh cho em, bất cứ vào giờ phút nào. Em hỏi nên đọc sách gì ư? Anh xin gửi em một danh sách những tác giả cổ điển nổi tiếng của văn học Nga và ngoại quốc như là Gogol, Turgenev, Tolstoy, Dostoevsky, Puskin, Lermontov, Shakespeare, Goethe, Schiller, Heine, Börne; anh mong rằng đọc những tác giả đó em sẽ thấy thích thú. Em hãy nhanh chóng trả lời anh. Ngày mà anh nhận được thư em là một ngày hội đối với anh. Em thân mến, chúc em mạnh khỏe, người yêu chân thành của anh.

Người tình yêu mến và tận tụy của em…”

Và đây, cô ta trả lời:

“Linh hồn của em, báu vật của em, ánh sáng đời em! Em không hiểu sao mấy chữ Do Thái em dùng trong những bức thư lại làm anh ngạc nhiên đến thế. Cổ văn Do Thái[2] là vốn dân tộc và là kho tàng của chúng ta. Hiểu biết thứ tiếng đó phải đâu đã được coi là một tài năng đặc biệt với một cô gái Do Thái? Thực là một điều hổ ngươi và sỉ nhục nếu cô ta lại không thuộc lòng được ít câu thơ của Judah Halevi[3] hoặc nếu khi ra trường, cô ta lại không biết gì về Mapu, Levinson, Smolenski, Gordon và những tác giả cổ điển Do Thái khác! Em rất cảm tạ anh về bản danh sách anh gửi cho em, mặc dầu em đã đọc tất cả các tác phẩm cổ điển này từ lâu rồi. Ngoài những tác phẩm đó ra, em cũng đã đọc những nhà văn và nhà thơ danh tiếng như Byron, Swift, Cervantes, Dickens, Thackeray, Shelley, Balzac, Daudet, Hugo, Sienkiewicz, Orzeszkowa v.v… Em muốn một tác phẩm nào mới lạ cơ, không phải là một cuốn tiểu thuyết mà là một tác giả đúng đắn. Chúc anh khỏe, anh yêu quý của em, tình lang của em. Xin anh đừng quá đề cao em. Em chỉ là một đứa con gái tầm thường hết lòng hết dạ vì anh.

Người yêu chung thủy của anh…”

Đáp lại, tôi trả lời…

Nhưng, phải chăng chúng ta đã thấy đủ lắm với cái chuyện thư từ yêu đương này? Nếu không tôi e rằng chúng ta sẽ có một cuốn sách dạy viết thư chứ không phải một cuốn tiểu thuyết nữa. Tuy nhiên, tôi muốn nói thêm rằng tôi hãy còn giữ lại tất cả những bức thư đó trong một ngăn bàn giấy kín đáo của tôi. Ngoài tôi ra, chưa có một ai được xem. Tôi coi những lá thư đó quý báu như những trang giấy cổ lâu đời của một tập niên giám xa xưa, chúng là những nhân chứng thầm lặng của những niềm vui nỗi buồn đầu tiên trong tôi. Chúng là những bông hoa khô héo và tàn tạ đặt trên nấm mồ của mối tình đầu, thiên tình ca đầu tiên của tôi.

Chương tám:Tôi trở thành một kẻ nói dối không biết ngượng

Khi một anh chàng đang yêu, cứ nhìn nét mặt anh ta là thế nào bạn cũng biết. Bạn cứ nhìn đôi mắt thẫn thờ, cái mỉm cười kỳ lạ của anh ta, những câu anh ta trả lời lơ đãng, suốt ngày cứ chốc chốc anh ta lại soi gương, mỗi ngày thắt một chiếc cà vạt khác nhau, bước chân anh ta đi mới nhẹ nhàng và dẻo dang biết mấy, anh ta mới tha thiết yêu tất cả thiên hạ đến nhường nào – nếu anh ta không quá nhút nhát thì có thể anh ta đã ôm lấy cả bác thợ nạo ống khói mà hôn.

Nhưng chẳng ai chú ý đến tôi cả. Thực ra, đôi khi, giữa một ván cờ, cậu học trò của tôi cũng có hỏi tại sao tôi lại lơ đãng đến như vậy, đến nơi lẽ ra chém quân của hắn tôi lại đi chém ngay quân của mình. Tôi thường ngạc nhiên trả lời: “Quân nào?” Cả ông chủ tôi, một lần đang ngồi ăn, cũng hỏi tại sao sắc mặt tôi nom kém như vậy. Nghe hỏi, bà chủ với chùm chìa khóa rung loảng xoảng, trả lời (mặt nom ra vẻ thương hại, mặc dù bà ta như mở cờ trong bụng) bà ta trả lời rằng cậu giáo dạo này ăn rất ít.

“Có chuyện gì thế?” Ông chủ hỏi và tự mình trả lời hộ: “Cậu làm việc nhiều quá, tại thế đấy thôi – Hai thầy trò nhà cậu suốt ngày ngồi trong nhà chúi mũi vào sách vở. Các người phải năng ta ngoài đi dạo chơi mới được.”

“Chúng con phải làm biết bao nhiêu việc, như thế thì đi chơi làm sao được?” Đứa học trò tôi nói với một vẻ hết sức chân thật, khiến tôi muốn nhổ ngay vào người hắn ta và thét lên: “Này, các người! Sao các người lại có thể dối trá đến thế được! Không khí trong cái nhà này sặc sụa những lời nói dối của các người!”

Nhưng tôi lại không nói thế. Đáng lẽ nói rõ sự thật ra tôi lại nói dối thêm một câu khác:

“Tôi nhớ gia đình.”

“Điều đó không có gì lạ,” ông chủ tôi nói, ông ta đem tất cả sức mạnh của cái trí tưởng tượng phong phú của mình ra, phụ họa giúp thêm vào cho những câu tôi nói dối. “Bà nó ạ, cậu ấy nhớ là phải. Gia đình cậu ta là gia đình bậc nhất ở trong tỉnh và cả ngoài tỉnh đấy. Tôi có thể nói với bà rằng trong toàn huyện không tìm đâu có một gia đình nào khác được như thế. Pháp sư Kovno là chỗ bà con với cậu, có phải không?”

“Bác tôi đó,” tôi trâng tráo nói dối.

“Và vị thuyết pháp ở Porechye cũng là bác cậu, đúng không?”

Tôi trả lời: “Vâng, bác về bên ngoại.”

“Và Epstein, ông Epstein vĩ đại, cũng có họ với cậu chứ?”

“Vâng, chúng tôi là anh em họ.”

“Và chắc Reb Moishele Halperin cũng là một người trong họ nhà cậu?”

“Vâng, họ về bên nội.”

“Này, còn những người thân hào Tolchino, nghe đâu cũng họ hàng gần với cậu?”.

“Cháu cô cháu cậu,” tôi nói.

Và tôi hết sức sung sướng, không phải vì có những người họ hàng vĩ đại như vậy mà chính là vì cuối cùng đã được để yên một mình với những cảm xúc say mê và thiêng liêng của tôi, với những bức thư dịu dàng và ngọt ngào của người vợ chưa cưới của gã học trò tôi, mà đối với tôi, cô ta còn thân thiết hơn tất cả những người họ hàng gần xa, thực sự cũng như tưởng tượng.

Cô ta viết cho tôi trong bức thư về sau:

“Nguồn vui của em, thiên thần của em!

Làm sao lại có sự buồn rầu như vậy? Sao những bức thư sau này của anh lại bi thảm thế? Sao anh lại cứ nói đến cái chết? Những câu đó anh đưa ra hỏi em như vậy nghĩa là làm sao? Sao anh lại tự coi mình là người bất hạnh nhất trong số những người bất hạnh? Sao anh làm cho em đau khổ đến thế? Sao anh không nói rõ cho em hay cái bí mật lớn lao nó đang xâu xé trái tim anh? Anh còn có điều bí ẩn gì nữa đối với người con gái chỉ yêu riêng mình anh, người đang say sưa đếm từng giờ mong cho chóng đến lúc chúng ta được gặp nhau và chung hưởng hạnh phúc đời đời!!!”

Và anh chồng sắp cưới của cô ta gửi thư phúc đáp như sau:

“Tâm hồn thiêng liêng của anh, tròng con mắt của anh! Thần tượng của anh!

Xin em tha lỗi cho anh về những bức thư đó. Em nói đúng, em thân yêu, em đã nói đúng! Anh không có quyền phàn nàn, không có quyền kêu là mình bất hạnh. Bất hạnh là kẻ nào chưa yêu bao giờ và chưa được yêu. Anh xin nhắc lại rằng, những bức thư em viết cho anh là niềm vui duy nhất của anh, được trông thấy em và chết là một hạnh phúc đối với anh. Nhưng không, anh đã thề là không nói đến cái chết nữa. Em muốn biết điều bí ẩn lớn lao của anh ư? Ồ không, em sẽ không được biết nó cho đến khi cái giờ hạnh phúc (hay bất hạnh) đó điểm, khi chúng ta sẽ trông thấy nhau trước giờ hôn lễ. Lúc đó, em sẽ biết tất cả… Trong khi chờ đợi, chúc em mạnh khỏe, em thân yêu, trái tim thiêng liêng của anh, em viết cho anh nhé, viết nhé, viết nhé!

Người yêu có phước và vô phước của em, người mà, chao ôi, muốn sao cho thời gian cứ kéo dài mãi…”

Chương chín:Chuẩn bị cho đám cưới và những giấc mơ vớ vẩn của tôi

Ai đã từng yêu sẽ hiểu rõ tâm trạng của tôi, khi thời gian chuẩn bị cho đám cưới đã đến – Và ai đã đọc kỹ lưỡng những chương trước sẽ hiểu rõ tâm trạng tôi ra sao khi gã học trò tôi cắt bộ quần áo cưới của hắn trong thời gian ba tuần lễ liền. Những nhục hình của người tội phạm chẳng thấm vào đâu so với những với những điều mà tôi đã phải chịu đựng. So sánh với nỗi đau khổ của tôi thì địa ngục vẫn còn như một thiên đường.

Có lẽ bạn đã nghĩ rằng tất cả những tình cảm đó phát sinh từ lòng căm thù đối với một địch thủ may mắn. Có đâu như vậy! Tôi biết quá rõ không phải gã học trò của tôi được yêu, mà chính là tôi, tác giả thực sự của những bức thư nọ. Tôi biết quá rõ là tôi chỉ việc tiết lộ cái bí mật, cái bí mật thiêng liêng, tại buổi gặp gỡ đầu tiên của chúng tôi, chỉ việc hở ra một câu là nàng sẽ hiểu ngay và mọi việc đều trở nên tốt đẹp. Nhưng sẽ phải làm thế nào đây? Tôi sắp xếp thế nào để được nói chuyện riêng với nàng, dù chỉ trong ít phút? Tôi vắt óc nghĩ ra có lẽ tới mười bảy ngàn mưu kế lố bịch, mưu kế nào cũng kỳ quái và điên rồ không kém. Thú thực trong đầu óc tôi đã hiện ra những ý nghĩ độc địa đến nỗi tôi cảm thấy xấu hổ khi viết chúng ra, ngay mặc dầu kể từ ngày đó đến nay, thời gian trôi qua cũng không phải là ít. Bạn nghĩ rằng tôi định ám sát địch thủ của tôi, tôi định đầu độc hắn chẳng? Cầu trời tránh cho tôi những ý nghĩ tội lỗi ấy! Tôi chỉ cầu Thượng đế ban cho tôi một phép màu nào đó – làm cho gã học trò của tôi mắc bệnh và về chầu tổ để tôi có thể thế chân hắn.

Nói thật với bạn, tôi ngày đêm ngẫm nghĩ điều đó, mong mỏi cho gã học trò của tôi ngồi chỗ gió lùa bị cảm mạo mà chết, hoặc một cơn ho, hay cơn sốt cách nhật đến lôi hắn đi, hoặc hắn trượt chân ở một chỗ bằng phẳng và ngã gãy cổ, hoặc một hòn đá bay đập trúng vào đầu hắn, hoặc một con chó dại cắn hắn khiến hắn phát điên, hoặc một cơn giông tố sẽ cuốn bật một cái cây lên và buông rơi trúng vào đầu hắn, hoặc là có một phép màu nào khác sẽ xảy ra, bất kể là phép gì, cốt làm sao tôi gạt nổi hắn đi là được.

Đồng thời, tôi cũng cảm thấy một nỗi hối hận day dứt và thấy buồn cho hắn. Sao một linh hồn vô tội như hắn lại bị đau khổ? Sao hắn lại phải chết trẻ như vậy? Trong thâm tâm, tôi khóc thương hắn, thành thực ngậm ngùi cho hắn. Tôi viết cho người yêu của tôi một bức thư, cuối thư có một câu thơ não ruột, nội dung nói tới xót thương gã học trò trẻ tuổi của tôi bị chết bi thảm. Tôi so sánh thế giới như một khu nghĩa địa và hắn như một cây non:

Họa mi đâu có khóc dài

Và chòm sao cũng vơi đầy lệ sa.

Còn mấy câu nữa, nhưng tôi đã quên khấy hết cả.

Và một lần nữa, óc tưởng tượng của tôi lại vẽ ra trước mắt tôi những quang cảnh khác: một năm đã qua từ khi hắn chết, tôi cùng người yêu ra thăm mộ hắn, rỏ một giọt lệ và đặt lên đó những bông hoa tươi thơm ngát, chúng tôi lại còn tặng hắn mấy vần thơ có đoạn cuối như sau:

Xin cho hoa nở mộ người

Và hồn yên nghỉ vui chơi thiên đường…

Hoa đó sẽ nở trên mộ hắn hay không, cái đó chả chắc tý nào, nhưng có điều chắc chắn là gã học trò của tôi đang nở tươi như một bông hồng. Sức khỏe của hắn ngày một thêm tốt, bộ mặt hắn thêm hồng hào, thân thể hắn thêm đẫy đà. Hắn thích thú ngây ngất, vui vẻ và sung sướng. Sung sướng không phải vì mối tình yêu đương vì hắn sắp được rời đến ở một thị trấn lớn, ở đấy, hắn sẽ gặp những nhân vật mới và không còn phải nhìn thấy những người họ hàng chán ngắt của hắn nữa.

Đã nhiều lần, hắn thú nhận với tôi y như vậy, mặc dù trước mặt bố mẹ hắn, hắn vẫn nói là hắn sẽ nhớ họ ghê lắm.

Tôi hỏi hắn: “Thế anh cũng sẽ nhớ tôi chứ?”

”Dĩ nhiên!” hắn trả lời và ôm hôn tôi một cách thân ái. “Nhưng tôi sẽ đem cậu cùng đi với tôi. Chúng ta sẽ cùng chung hưởng hạnh phúc. Chúng ta sẽ chơi cờ đam và đi xem hát. Tôi sẽ không bao giờ xa rời cậu, không bao giờ!”

Tôi thừa biết, đây chỉ là một lời nói dối trâng tráo. Sinh ra, được nuôi dưỡng và giáo dục trong dối trá, hắn đã lại nói dối một lần nữa.

Chương mười:Tôi được mời đến dự dám cưới

Tôi sẽ chẳng bao giờ quên được cái thịnh tình người ta chú ý đến chúng tôi khi chúng tôi đến dự đám cưới. Một cỗ xe lộng lẫy đón chúng tôi ở nhà ga và đưa chúng tôi tới một tòa nhà đẹp đẽ nơi chúng tôi được người ta dành cho những gian phòng riêng biệt, chúng tôi được tiếp đãi cà phê ngon, bánh ngọt và một bữa ăn trưa tuyệt tác có trứng rán và vịt quay. Và khách kéo đến đông nghìn nghịt! Ngày càng nhiều người nối tiếp nhau đến vừa chào mừng vừa làm quen với chúng tôi.

Đối với tôi đang lúc tâm trí hoang mang, họ giống như một bầy sâu bọ tí xíu, lăng xăng và vo ve như đàn ruồi. Tôi bận rộn với những ý nghĩ của mình, những ý nghĩ rầu rĩ nhất – làm sao mà gặp riêng nàng được. Biết là tôi sẽ có thành công hay không? Nếu nàng khám phá ra điều bí mật thiêng liêng của tôi thì sao? Và nếu – thậm chí nói điều ấy lên tôi cũng không dám. Thật là khủng khiếp, khủng khiếp!

Khi ở nhà ra đi, tôi đã nhét trước vào túi, bạn đừng sợ, không phải là một khẩu súng lục đâu, lạy Chúa, mà một bức thư gửi nàng, một bức thư dài ba trang, mô tả câu chuyện tình của tôi cùng tới một mẩu tiểu sử. Nhưng tôi làm thế nào mà đưa cái thư đó đến tay nàng được? Nhờ ai? Và khi nào nàng có thể đọc bức thư ấy?

Trong khi đó, tất cả họ hàng nhà nàng, đàn ông, đàn bà, người ta hối hả và vội vã như chuột ăn phải bả, sai phái người làm, giục giã chuẩn bị bữa tiệc cưới, cho mời các nhạc công và pháp sư. Nhanh lên – cô dâu chú rể đã nhịn đói đến lả đi mất, tội nghiệp![4]

Nhịn đói thì chú rể chẳng nhịn chút nào – điều ấy tôi biết chắc. Hắn đã ăn nhẵn cả một tảng lớn thịt vịt quay lúc ở trong phòng tôi và sau đó giả vờ nhịn đói, bộ mặt vờ tiều tụy cho ra vẻ chú rể và hắn còn cô làm ra bộ ta đây đang nghĩ ngợi việc gì quan trọng lắm.

Sinh ra, được nuôi dưỡng và giáo dục trong sự dối trá, nên đến cả ngày cưới của hắn, cũng dối trá.

Trong khi đó, các nhạc công đã đến và lễ che mạng cho cô dâu bắt đầu.[5] Tiếng ồn ào náo nhiệt thật kinh khủng! Ai cũng làm ra vẻ cho người ta tưởng mình đang bận làm một việc gì đấy. “Nhanh! Nhanh! Nào! Mau lên!” Và có người nào đó – chúng tôi không biết là ai – dẫn đưa chúng tôi đi – không biết đi đâu, và có người nói với chúng tôi – không hiểu nói gì; tôi cảm thấy choáng váng và mê man, tai tôi ù lên, và tim đập mạnh thình thịch thình thịch…

Các nhạc công cử nhạc, cây vĩ cầm rền rĩ, cái kèn đồng kêu toe toe, cây sáo rít, trống đánh bùm bùm, và tim tôi đập thình thịch thình thịch.

Chương cuối cùng:Kết cục của một thiên diễm tình

Trong số những bộ mặt quay cuồng chập chờn trước mắt, tôi nhận thấy có một bộ mặt có vẻ đối với nơi đây cũng lạ nước lạ cái như tôi. Bộ mặt của anh thanh niên tóc dài đeo kính, mà công việc duy nhất là ngắm nhìn và nhận xét tất cả mọi sự việc đang diễn ra. Anh ta có vẻ như cũng thích thú với cái việc đứng ngắm như vậy.

Cặp mắt anh ta dừng lại ở nơi tôi, và tôi cảm thấy như anh ta nhìn xuyên qua người tôi, nhìn thấy trái tim, thấy điều bí mật của tôi, điều bí mật thiêng liêng – và tôi vội cúi mặt nhìn xuống. Tuy nhiên, tôi vẫn biết rõ là đôi mắt anh ta nhìn chăm chú vào tôi, tôi cảm thấy anh ta nhìn tôi chằm chặp, không rời mắt, và khi ngẩng lên, tôi bắt gặp cặp mắt nhìn xuyên thủng tim tôi và thu hút hấp dẫn tôi như một thanh nam châm.

Loanh quanh thế nào tôi không hiểu, nhưng rồi chúng tôi thấy đứng bên nhau – tôi và anh chàng đeo kính – và dĩ nhiên là chúng tôi trò chuyện bàn tán về đám cưới – về cô dâu chú rể.

Họ hàng dìu tay chú rể đưa tới cho cô dâu lúc ấy đang ngồi trên một cái ghế ở giữa phòng, tóc bỏ xõa xuống, và úp mặt vào hai bàn tay – như là đang khóc. Các nhạc công thi nhau cử nhạc, cây vĩ cầm rầu rĩ, tiếng kèn đồng kêu toe toe, ầm ĩ, cây sáo the thé rít, tiếng trống vang lên bùm bum bùm bum và tim tôi đập thình thịch thình thịch.

Tôi nghĩ bụng :

“Một phút nữa, chỉ một phút nữa, và mọi việc sẽ xong xuôi.”

“Một con bò cái,” anh thanh niên đeo kính đột nhiên thì thầm vào tai tôi.

“Đâu?” tôi đưa mắt nhìn quanh, hỏi.

“Nó kia chứ đâu,” anh ta trả lời, hất cặp kính về phía cô dâu.

Nhìn thất vẻ hết sức sửng sốt trên gương mặt tôi, anh ta nói kẽ:

“Một con bò cái, một con bò cái thật sự. Nó chẳng biết cái gì và tính nết hay cằn nhằn như chó! Ấy thế mà lại vớ được một anh chàng tốt như vậy đó. Tôi chắc anh là thầy dạy chú rể phải không?”

Tôi không rõ là tôi kéo anh ta lại ngồi bên cạnh tôi hay là anh ta kéo tôi, hoặc cả hai chúng tôi cùng kéo nhau, chỉ biết là một lát sau, chúng tôi đã đang ngồi bên cạnh nhau, như đôi bạn thân quen biết nhau từ lâu. Anh thanh niên đeo kính – cậu giáo tư của cô dâu – đã kể cho tôi nghe nhiều chuyện về cô ta, mà ví như không biết, tôi còn sung sướng hơn nhiều.

“Nhưng anh thử coi những bức thư của cô ta viết xem!” tôi kêu lên. “Những bức thư của cô ta thì sao?”

Nghe nói, anh thanh niên đeo kính ôm bụng lăn ra cười.

“Những bức thư của cô ta ư? Hà, hà, hà! Những bức thư của cô ta! Chà, nghe kêu gớm! Những bức thư đó mà là của cô ta ư?”

“Thế thì của ai?”

“Của cô ta? Hà, hà, hà! Những bức thư của cô ta! Của tôi đấy! Hà, hà, hà! Những bức thư của đó là của tôi đấy! Của tôi! Của tôi.”

Tôi tưởng anh thanh niên nọ hóa điên hay làm sao đó. Anh ta nắm lấy tay tôi, quay cuồng trong phòng phát vào lưng tôi và cười không ngớt.

“Những bức thư của cô ta, hà hà hà. Những bức thư của cô ta!”

Bạn đã bao giờ thấy một giấc mơ huy hoàng, trong những giấc mơ thấy một tòa lâu đài đẹp đẽ với những nàng tiên hiền hậu, lại có nào là rượu nho ngon tuyệt ngon, có quả vừa mới hái trên cây xuống, nào mùi hương hoa ngào ngạt, cảnh thiên đường – và “nàng”, nàng công chúa với những món tóc vàng. Và bạn bay vút lên, bay vút lên cao, cao mãi tới tận trời. Và rồi đột nhiên, cảnh vật mờ đi. Từ khu rừng vang lên một tiếng còi huýt chối tai, một tiếng vỗ cánh, một chuỗi cười quái đản, điên dại – ha, ha, ha; những tiếng ấy vọng qua khu rừng và đến ven rừng thì tan ra như một tiếng ngáp bị nén lại : A-a-a! Dưới chân bạn, một vực thẳm há hốc miệng ra. Lát nữa là bạn sẽ rơi tuyệt xuống. Bạn giật nẩy mình tỉnh dậy, tỉnh dậy mà đau nhức như muốn vỡ, và phải rất lâu sau, bạn mới hoàn hồn.

Đó là giấc mơ của tôi, trong cái giây lát ngắn ngủi, khi anh thanh niên đứng trước mặt tôi cười, cười không dứt, về những bức thư của tôi và điểm lại tất cả những đức tính tuyệt vời của người yêu tôi. Anh ta cười trong khi lòng tôi tan nát.

Trong phòng đại đình, các nhạc công cử nhạc. Tiếng vĩ cầm rền rĩ, tiếng kèn toe toe vang dội, tiếng sáo rít, tiếng đàn công tơ bát kêu trầm trầm, tiếng trống vang rền! bùm bum bum! Và trong tim tôi là nỗi cô đơn u ám và trống rỗng.

Bá Ngư & Huy Lộc dịch

[1] Tên thường gọi là Baal Shem Tov, được cho là người sáng lập Do Thái giáo Hasidim. [Tất cả chú thích của Tornad ở truyện này đều lấy từ nguyên tác tiếng Nga.] – Tornad

[2] Nguyên văn “Pentateuch” (hay Torah) nghĩa là Ngũ Thư, là phần đầu tiên trong bộ Tanakh, bộ sách thiêng liêng của người Do Thái. – Tornad

[3] Judah Halevi (sinh khoảng 1080-1086, mất 1142), là một trong những thi sĩ Do Thái danh tiếng nhất thời Trung Cổ. – Tornad

[4] Theo phong tục Do Thái, trong đám cưới cô dâu và chú rể sẽ không ăn gì cho đến khi làm xong lễ Chuppah. – Tornad

[5] Trong lễ Chuppah, cô dâu được đặt ngồi trước ở vị trí định sẵn, trên ghế hoặc sàn, và dùng một tấm mạng che lên đầu hoặc tóc. Sau đó chú rể, cùng với các phù rể, bước đến gỡ mạng cho cô dâu. – Tornad

Hợp tác cùng VCTVEGROUP Sách: Bich Dung Chụp sách: Mr. Dean Đánh máy: Tornad, Nhật Huyền, Quynh Hua, Nguyenihc & các truyện có sẵn trên mạng Soát lỗi: Tornad Hỗ trợ soát lỗi: Danny Do, Ntan234, Dlgofly, Thanh Thanh Thiết kế bìa: Tornad
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.