Nhưng chúng ta cứ để đoàn tàu tiếp tục cuộc hành trình của nó. Khu rừng thông đang lao lại gần, biến các cửa sổ thành những tấm gương, làm như thể hai cái bóng phản chiếu đang ngồi trên một chuyến tàu ma chạy trên hai đường ray nằm song song, ngồi đối diện nhau trên những chiếc ghế bọc nhung, đông cứng lại như thể bị khóa chặt trong một ván cờ trong khi vùn vụt va chạm qua những cái bóng tàn tạ của màn đêm mà không hề sứt mẻ. Họ lúc này chỉ còn cách Vienna chưa đầy một giờ đồng hồ - vừa đủ thời gian để Hans hoàn tất màn kết thúc ván cờ của cậu ta bằng việc kể câu chuyện của tôi cho kẻ ẩn mình sau cái tên Frisch.
Trong số những phẩm chất một kỳ thủ giỏi cần đến có sự kiên nhẫn và gan lì. Quả thực đây là những tính cách tôi chưa bao giờ thiếu. Nhưng hàng thập kỷ trôi qua trong khi chúng ta theo đuổi một mục tiêu không ngừng nghỉ. Nỗi lo sợ thất bại dâng lên trong khoảnh khắc. Ở đây huyết thống đã bị cắt lìa, vì thế việc hoàn tất nhiệm vụ rơi vào tay Hans, đứa con nuôi vào lúc cuối đời của tôi, một thực tế đã làm dịu đi nỗi nghi ngờ vò xé về sự dối trá của chính mình, giúp tôi tin rằng việc này can dự tới nhiều thứ hơn báo thù cá nhân, và đem đến cho tôi ảo tưởng về việc được phục hồi, nếu không phải công lý, thì ít nhất cũng là một thứ cân bằng, một sự bù đắp tự nhiên. Nhưng chắc chắn phải có một bài học trong tất cả chuyện này - điều tôi hy vọng hiểu được trước khi chết.
Điều diễn ra tiếp theo là câu chuyện tôi đã kể cho Hans, câu chuyện tôi mang theo mình hơn bốn mươi năm. Nó liên quan tới một người tôi đã để mất dấu ngay sau chiến tranh nhưng chưa bao giờ từ bỏ việc tìm kiếm. Tôi kiềm chế không nhắc đến tên y chỉ vì tôn trọng những người khác ở đất nước này có thể cùng mang cái tên đó, những người tôi tin là sống trong vòng công lý và không có liên quan gì tới y.
Trước hết, đó là câu chuyện về một cuộc đối đầu diễn ra trên bàn cờ, những dãy ô vuông chỉ có vẻ quá nhỏ với những ai không thể hay không muốn nắm bắt chiều sâu của nó, vì bàn cờ trên thực tế là một thế giới không có giới hạn và không hề vô hại. Những gì xảy ra trên đó, dưới hình thức hành vi sáng tạo đôi lúc giống với một tác phẩm nghệ thuật thực sự, trên thực tế là một cuộc giao tranh dữ dội khác thường, một dạng giết người không đổ máu mà kết cục chỉ được chia sẻ bởi hai kẻ trong cuộc. Không điều gì gắn kết hai con người bằng một thách thức nghiêm trọng trên bàn cờ, khiến họ trở thành các đối cực của một sự sáng tạo tinh thần chung trong đó một người bị hủy diệt cho lợi thế của người kia. Không thể có thất bại nào tàn khốc hay quyết liệt hơn. Các kỳ thủ mang những vết sẹo lưu lại suốt đời, và không bao giờ hoàn toàn hồi phục lại được, cả về thể xác lẫn tâm hồn. Bất cứ điều gì có thể đánh thức ký ức về cuộc tra tấn đều bị xua đuổi một cách dữ dội.
Chính ý thức này đã thúc đẩy tôi không ngừng như thế trong cuộc tìm kiếm gã đàn ông này. Trong nhiều năm, tôi đã tham dự tất cả các giải đấu lớn ở châu Âu, tìm tòi bất cứ thứ gì liên quan tới cờ vua theo bất cứ cách nào, tập hợp thành một kho lưu trữ lớn. Nhưng chẳng bao giờ có chút manh mối nào của hắn.
Hy vọng cuối cùng sẽ tìm được hắn của tôi dựa trên niềm tin rằng dù có bao lâu trôi qua, tôi cũng sẽ nhận ra hắn dù hắn thay đổi danh tính và ngụy trang như thế nào, cho dù hình dáng bên ngoài của hắn đã được một lưỡi dao của bác sĩ phẫu thuật làm biến đổi. Dẫu vậy, tôi thường xuyên tiệm cận bỏ cuộc. Tôi tự hỏi hắn đã trở thành thế nào. Hắn có thể ở đâu? Tôi biết tôi sẽ không bao giờ tìm được hắn bên ngoài thế giới cờ vua, nhưng tôi không hề sợ rằng hắn có thể đã từ bỏ trò chơi. Một kỳ thủ như hắn không bao giờ từ bỏ hoàn toàn. Cho dù có quyết định không tham gia các giải đấu và các cuộc thi nữa, hắn vẫn sẽ duy trì một mối liên hệ nào đó, bằng các ván cờ qua thư, qua nghiên cứu và phân tích, thậm chí có thể bằng cách trở thành một học giả đáng kính, viết những cuốn sách và bài báo về lý thuyết cờ vua.
Vẫn còn khả năng xa xôi rằng hắn đã chết, và như thế cuộc truy lùng của tôi sẽ thành ra công cốc. Nhưng cảm giác thường trực của một mối đe dọa chập chờn thuyết phục tôi rằng cả hai chúng tôi vẫn còn trên thế giới này.
Thoạt đầu, tôi không nói với Hans về người đàn ông này. Tôi biết rằng khi đến đúng thời điểm tôi sẽ làm điều đó, cho dù mọi thứ có diễn ra như thế nào, nhưng lúc này cậu ta chỉ đang chơi thay tôi. Bất cứ ý nghĩ nào khác cũng đã có thể gây phân tán, và tôi không hề có ý làm phức tạp thêm quá trình huấn luyện tôi đã áp đặt lên cậu ta. Phong cách ưa mạo hiểm, hiếu chiến khiến cậu ta trở thành người thừa hành lý tưởng cho chiến lược của tôi, người có thể triển khai biến thể của tôi trong thực chiến. Thế giới cờ vua, xưa nay luôn khao khát cái mới, sẽ tóm lấy nó, đưa nó ra phân tích theo cách tỉ mỉ nhất, tới mức cho dù có bị phá hủy thì chắc chắn nó cũng sẽ được ghi nhận, hơn ai hết bởi người đã biết nó quá rõ vì đã tự mình trải nghiệm.
Tuy nhiên, điều tôi sắp kể là một câu chuyện không chỉ đơn thuần về sự kình địch trần tục, mà là về nghịch cảnh, khái niệm chuyển tải cảm nhận đúng đắn về một sức mạnh khôn cưỡng được khởi động bởi một trí tuệ có khả năng không chỉ mang tới những biến cố không thể tránh khỏi mà còn phá vỡ tất cả nguyên tắc nhân đạo tới mức truyền vào bên trong chúng ta, trong một trạng thái nặng nề tột cùng, thoạt đầu là sự nghi ngờ rồi cuối cùng là sự chắc chắn rằng chỉ có bản thân chúng ta, cùng với Đấng Tối Cao trị vì, mới là thứ xấu xa tồn tại.
Tôi nói điều này vì tin chắc rằng câu chuyện vượt quá phạm vi thuần túy cá nhân. Cho dù tôi chắc chắn rằng thậm chí cả những hiện tượng với quy mô khổng lồ cũng có thể được lần ngược về một điểm khỏi đầu vô cùng nhỏ, có những lần, trong những hồi ức tăm tối nhất, tôi cảm thấy rằng khởi thủy của chuỗi phản ứng không thể cưỡng được rồi sẽ sớm bao trùm cả thế giới nằm ở đây, tại khách sạn Friedrichsbad lộng lẫy này, vào ngày chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên ở hai phía một bàn cờ vua khi mới chỉ là hai thiếu niên.
Nếu được hỏi tôi học chơi cờ vua khi nào, tôi hẳn sẽ không biết phải trả lời ra saoTôi cảm thấy như thể tôi vốn luôn chơi cờ, từ những thời điểm và nơi chốn xa xăm nhất. Nếu có thứ gì tôi phải học, thì đó là những quy tắc của thế kỷ này và hành tinh này.
Dẫu vậy, với tôi cờ vua gắn liền không thể tách rời với bố tôi, hay đúng hơn là với một thứ nằm sau ông như một hình chiếu của quá khứ, một bóng ma có ý thức và toan tính.
Bố tôi đã gần năm mươi tuổi khi tôi ra đời. Tôi khi ấy mới chỉ là một đứa bé, còn ông là một người bố nghiêm khắc. Tôi chỉ tìm thấy chốn trú ẩn ngắn ngủi trong sự trìu mến của mẹ tôi, và chỉ nhờ sự đồng lõa của bà tôi mới được phép chơi những trò của trẻ con cùng trang lứa, điều bố tôi coi là vô vị và tai hại. Ông tin rằng mọi thứ tôi làm phải hướng đến mục đích giáo dục, hình thành nhân cách. Cho dù có lục tìm rộng đến đâu trong ký ức, tôi cũng không nhớ lại được khoảnh khắc vui vẻ hay phù phiếm nào không đồng hành với cảm giác tội lỗi. Bố tôi cho rằng mọi sai sót, dù nhẹ đến đâu, cũng đáng bị trừng phạt. Nhưng hình phạt cần được thực thi mà không có tức giận hay oán hận, ngược lại đòi hỏi phải bình yên và êm ái, như trị liệu. Theo cách nhìn này, tôi giữ lại một ký ức độc nhất vô nhị về ông. Ông trừng phạt việc không vâng lời của tôi với một cái thắt lưng cũ, một cách làm khá phổ biến thời ấy. Nhưng ông sử dụng nó theo một cách đặc biệt. Ông không trừng phạt tôi tức thì, cũng không nói cho tôi biết khi nào nó diễn ra. Thay vì thế, ông để tôi băn khoăn vô thời hạn, cho tới một buổi tối nào đó, sau bữa tối, câu trả lời dành cho câu hỏi của tôi sẽ tới khi tôi đi theo hành lang quay về giường ngủ: ở dưới đáy một cái chậu rửa bằng thủy tinh đổ đầy nước tràn thành và được đặt lộ liễu trên một cái bệ rửa, tôi sẽ thấy cái thắt lưng của bố tôi, được cuộn lại như một con rắn đen. Đó là lời nhắc nhở dành cho tôi. Mối đe dọa sẽ treo lơ lửng trên đầu tôi trong nhiều ngày hay nhiều tuần, cho tới khi món nợ của tôi được đánh giá là đã quá mức. Chỉ tới khi đó hình phạt, phải thừa nhận là không mấy thường xuyên, mới được thi hành, nhanh chóng và vào lúc tôi ít ngờ tới nhất. Đôi khi ông sẽ đánh thức tôi dậy giữa đêm để thanh toán nợ nần với chiếc thắt lưng cầm trong tay.
Trong tâm trí tôi, bố tôi là hiện thân trần thế, hữu hình của một hệ thống tinh thần vô hạn, nấc thang đầu tiên trong đức tin của chúng tôi, đại diện xác thực của Đấng Tối Cao không thể mô tả và đáng sợ luôn trông đợi sự thành tâm và tuân phục hoàn toàn của tôi.
Một nhà xã hội học hiện đại có thể lập luận rằng tài năng cờ vua của tôi có gốc rễ từ môi trường thời thơ ấu, nhưng tôi lại thích nghĩ rằng nó tồn tại từ trước đó và chỉ đơn giản là được thu hút tới cái người, hay thế giới, cho nó cơ hội tốt nhất để bộc lộ. Dù thế nào đi nữa, sự thật là cả bố tôi cũng có niềm đam mê dành cho cờ vua, và từng là một kỳ thủ đáng gờm thời trẻ. Ông tuyên bố bản thân Chigorin từng là bạn và sư phụ của ông. Khi tôi ra đời, tuổi tác và nhiều trách nhiệm không cho ông chơi cờ nữa, song niềm đam mê vẫn còn nguyên vẹn.
Bố tôi là một người buôn bán tác phẩm nghệ thuật giàu có thường xuyên đi lại, và khi tôi đã học được cách di chuyển các quân cờ, ông bắt đầu đưa tôi đi cùng trong các chuyến đi của mình, trong những chuyến đi ấy tôi đã có cơ hội để dự những giải đấu lớn và theo dõi những ván cờ của các nhà vô địch vĩ đại thời ấy. Thường ông sẽ chọn một trong những giải đấu thú vị nhất, và bố con tôi sẽ theo dõi trên bảng trình bày nơi ván cờ được giới thiệu cho công chúng. Cờ vua là một thứ ngôn ngữ tôi hiểu từ khi còn rất nhỏ. Điều này giống như có mặt tại một hiện tượng tự nhiên, như chiêm ngưỡng bầu trời hay mặt trời, những thứ mà sự tồn tại đầy diễm phúc của chúng không gây nên câu hỏi hay sự thách thức nào. Nhưng bố tôi không hề biết tôi cảm nhận như thế. Ông nghĩ tôi chỉ là một cậu bé lặng lẽ, ngoan ngoãn có thể đứng cạnh ông hàng giờ mà không hề có dấu hiệu sốt ruột.
Vào thời kỳ đó, có một nhóm kỳ thủ đáng gờm đang du đấu vòng quanh châu Âu và châu Mỹ, một dạng đội Olympic lưu động, do kỳ thủ người Cuba Capablanca dẫn đầu, người có vẻ như không thể bị khuất phục sau khi giành chức vô địch thế giới từ Lasker.
Trong số những nhà vô địch vĩ đại thời đó có một người khiến bố tôi đặc biệt ngưỡng mộ. Tên ông là Akiba Rubinstein, một trong những kỳ thủ vĩ đại nhất mọi thời đại. Cho dù thần kinh yếu ngăn cản ông đạt tới đỉnh cao tuyệt đối, cách chơi của ông vẫn được cho là vô song, và bố tôi làm tất cả những gì có thể để không bao giờ bỏ lỡ một giải đấu có Rubinstein tham dự. Ông có thể đột nhiên hối hả lên đường thực hiện cái ông tuyên bố là một thương vụ khẩn. Chỉ ông và tôi biết chuyến đi tình cờ lại trùng với một giải đấu tại một trong các thành phố trên hành trình của chúng tôi. Một cuộc bán đồ sứ quý đang diễn ra tại Prague ư? Đúng, nhưng Rubinstein cũng đang thi đấu tại đó. Một cuộc đấu giá quan trọng đã được lên lịch tại London ư? Phải, nhưng trên đường chúng tôi sẽ dừng lại ở một thành phố mà, như thể tình cờ, Rubinstein cũng đang có mặt. Tôi đã thường xuyên tự hỏi liệu sự ngưỡng mộ vô bờ bố tôi dành cho vị kỳ thủ này xuất phát đơn thuần từ lối chơi của ông hay một phần vì họ mang cùng họ (Tabori, họ tôi chọn sau chiến tranh, là nhũ danh của mẹ tôi) và vì cả hai đều có gốc gác từ khu người Do Thái ở miền Đông. Điều chắc chắn là chỉ cần nhắc tới tên vị kỳ thủ dường như cũng khiến bố tôi trẻ lại. Khi ông chơi lại một trong các ván cờ của Rubinstein, khuôn mặt ông luôn thể hiện một vẻ cứng rắn lạ lùng của sự phấn khích bị đè nén, tương tự như cái tôi thấy khi ông nán lại trước một bức tranh hay lắng nghe âm nhạc.
Một ngày nọ, tôi đề nghị bố dạy tôi chơi cờ vua, ông chưa bao giờ tự mình đưa ra đề nghị đó. Bố tôi không hề cấm tôi động vào các quân cờ, song ông cũng chẳng làm gì để thổi bùng lên đam mê của tôi cho tới khi tôi tự ý đề nghị ông làm thầy cho tôi. (Có lẽ đó chính là điều ông đang chờ đợi.) Khi đó chắc tôi sáu hay bảy tuổi. Trên thực tế, như tôi đã nói, tôi vốn đã biết gần như mọi thứ về cờ vua. Chỉ còn một ít quy tắc, chẳng hạn như bắt tốt qua đường hay cách nhập thành là còn chưa hoàn toàn rõ ràng với tôi. Bố tôi kiếm một bàn cờ rồi bắt đầu một ván cờ với tôi, hiển nhiên là dự kiến phải giải thích mọi thứ khi chúng tôi chơi. Nhưng thái độ của ông sớm chuyển từ buồn cười sang ngạc nhiên, lúng túng và quan tâm thực sự. Gần như không hề nhận ra điều đó, ông thấy mình lâm vào khó khăn. Ông từ chối tin rằng những nước đi của tôi chỉ được may mắn ngẫu nhiên chỉ dẫn, và thỉnh thoảng ông lại nhìn tôi chằm chằm một cách lạ lùng qua gọng kính của mình. Cuộc tấn công lạc quan của ông sụp đổ thảm hại. Ông bị buộc phải thí một quân tốt, rồi một quân hiệp sĩ. Cuối cùng, nhận ra mình sẽ thua nếu ván cờ tiếp tục, bố tôi đề nghị dừng chơi và mang bàn cờ đi.
Vài ngày sau, ông dẫn tôi vào một căn phòng nhỏ ở phía trong phòng làm việc đã bị khóa trái nhiều năm, mà chỉ mình ông được phép bước vào. Bị thôi thúc bởi sự tò mò trẻ con, trong những lúc ông vắng mặt, tôi vẫn hay tìm cách mở khóa để tìm xem thứ gì có thể được cất trong đó, và tôi bàng hoàng mất hết tinh thần khi giờ đây bố tôi đang đưa tôi vào đó. Tôi nghĩ mình sắp sửa bị phạt vì một tội lỗi nào đó, có thể vì đã thử tìm cách vượt qua ngưỡng cửa mà tôi sắp bước qua. Vậy là tôi run rẩy vì sợ hãi và kích động lúc ông để tôi ngồi xuống, sau khi vào trong phòng, trước một bàn cờ sáng ánh lên mờ mờ đặt trên bệ trong cảnh tranh tối tranh sáng của căn phòng trống không, một bàn cờ không giống bất cứ bàn cờ nào tôi từng thấy qua. Đến lúc đó bố tôi cho tôi hay ông sẽ là thầy của tôi, như ông nội đã từng là thầy của bố, và cụ nội từng là thầy của ông nội trước đó. Cờ vua, bố tôi nói, đã được truyền lại qua các thế hệ trong gia đình chúng tôi. Người ta tin rằng chuỗi xích này - cùng với sự đe dọa về những lời nguyền khủng khiếp giáng xuống bất cứ kẻ nào làm đứt đoạn nó - đã bắt đầu từ một vị tổ tiên là thương gia vào đầu thế kỷ mười bảy. Sau khi gặp Joachim Greco trên đường trở về sau một chuyến đi tới phương Đông, vị thương gia này đã đánh cuộc vào ván cờ, và để thua, cả một chuyến tàu đầy ắp đồ trang sức quý giá từ Shiraz. Theo truyền thuyết, vị tổ tiên của tôi quyết định rằng đứa con trai đầu lòng của mọi thế hệ hậu duệ của ông sẽ phải thành thạo trò chơi này. Tôi chưa bao giờ khám phá được liệu truyền thuyết này hoàn toàn chỉ là hư cấu hay chứa đựng trong đó một chút sự thật. Có lẽ chi tiết về sự mất mát vật chất được thêm vào để làm câu chuyện thêm đáng tin trong đầu óc trẻ con của tôi, song tôi luôn ngờ rằng còn có một điều khác ẩn giấu đằng sau nó, một điều bố tôi đến một ngày nào đó sẽ hé lộ cho tôi nếu tôi không tự mình khám phá ra.
Bàn cờ trong phòng bố tôi lạ lùng đến mức có vẻ như nó tới từ một thế giới khác. Hoặc có lẽ nó là một vật thiêng liêng. Được ghi ở một bên là hai mươi hai chữ cái trong bảng chữ cái Hebrew. Ở ba mặt còn lại, bị thời gian làm mờ đi một nửa, là những câu mà bố tôi tuyên bố ông đã giải mã được: “Ngươi sẽ không gây ra nỗi đau. Ngươi sẽ chạy khỏi nỗi đau. Ngươi sẽ học từ nỗi đau.” Chúng nghe như những điều răn hay một lời tiên tri không thể giải mã được. Ông cũng nói với tôi rằng bàn cờ này có quyền lực khác thường: nó sẽ trừng phạt sai lầm ngay lập tức, hành động trên sự tích lũy vô thức của năng lượng tiêu cực không tránh khỏi đồng hành với bất cứ thứ gì vi phạm sự hài hòa.
Nó sẽ chỉ vô hiệu với đầu óc một người điên hay sự cô độc siêu nhiên của thiên tài, và bằng cách áp dụng với tôi thử thách đó (thứ mà tôi đã vượt qua không hề tổn hại) bố tôi đã lần đầu tiên ngờ rằng tôi là cực điểm của tất cả kinh nghiệm đã được truyền lại cho chúng tôi từ quá khứ.
Nhưng ông cũng phải tìm ra liệu có phải tôi sở hữu tài năng thiên bẩm. Tôi dường như có thể phá vỡ các quy luật của trò chơi như một nghệ sĩ tung hứng tuồng như phá vỡ các quy luật của trọng lực để tạo ra những phức hợp lạ lùng và nghịch lý nhất. Sự thật là tôi đã phải lòng sự mạo hiểm và đặc biệt thích thú với việc giật lại chiến thắng từ những tình thế có vẻ như vô vọng.
Bố tôi kiên quyết rằng sự hào hứng của tôi cần được kìm lại và kiểm soát bằng kỷ luật và nghiên cứu có phương pháp. Tôi không biết điều gì chờ đợi mình khi yêu cầu ông dạy tôi chơi cờ, và có lúc tôi đi tới chỗ căm ghét trò chơi tôi yêu đến thế, vì việc thực hành và nghiên cứu bố tôi áp đặt chỉ là tra tấn thuần túy. Ông là một sư phụ không khoan nhượng, buộc tôi phải thực hành trong nhiều giờ như người ta tập chơi một nhạc cụ, sự hoàn hảo luôn ở ngay ngoài tầm với. Chúa biết tôi thích được chơi dù chỉ một ván cờ thuần túy vì vui thích như các bạn học của tôi vẫn chơi đến mức nào. Tôi thích được cảm nhận khía cạnh vui đùa của trò chơi dù chỉ trong một khoảnh khắc. Nhưng điều này đã bị từ chối với tôi ngay từ đầu. Bố tôi cho tôi hay sự tôn thờ cờ vua, và nhất là sự nghiêm khắc của nó, đã được truyền lại qua nhiều thế hệ trong gia đình chúng tôi và không bao giờ được bỏ qua.
Ông là sư phụ đầu tiên và duy nhất của tôi, nghiêm khắc và không khoan nhượng. Ông buộc tôi hứa không bao giờ chơi với bất cứ ai khác ngoài ông. Ông chỉ đưa tôi tới những giải đấu quan trọng nhất, bảo tôi chọn lấy một kỳ thủ và cố gắng đoán trước các nước đi của người đó. Tôi không phủ nhận rằng đây là một cách thực hành tuyệt vời, và hiếm khi tôi sai lầm. Tôi thường mạnh dạn đưa ra những biến thể sáng tạo hơn, nhưng thật không may tôi vẫn chưa phải là người di chuyển các quân cờ trên bàn cờ.
Trong thời gian này, từ năm chín tuổi tới mười hai tuổi, tôi khám phá ra mình có một thứ năng lực thấu thị cho phép tôi thấy rõ mức độ bị trói buộc vào ván cờ của bất cứ kỳ thủ nào. Nó xuất hiện với tôi dưới dạng một điểm sáng chói hình ngôi sao, gần như là một nốt cháy đỏ ở chính giữa vầng trán, một chấm nhỏ gần như khó lòng nhận ra ở một số người, nhưng lại cực kỳ rõ ràng ở những người hoàn toàn bị niềm đam mê cờ vua của họ khống chế, những người mà số phận là tìm thấy sự mãn nguyện hay hủy diệt trong đó, trải nghiệm nó như một sự chuộc tội trần thế hay một bản án chung thân. Điểm sáng ấy, thoáng ẩn thoáng hiện như một đốm lửa ma trơi, xuất hiện độc lập với ý chí của tôi và chỉ trong những điều kiện đặc biệt của chiếu sáng gián tiếp (dễ dàng nhất là trong cảnh tranh tối tranh sáng). Năng khiếu này biến mất hoàn toàn khi tôi bước sang tuổi mười ba và chỉ quay lại một lần, sau đó khoảng mười năm, trong những bối cảnh hết sức khác thường.
Bố tôi có tiếng trong giới cờ vua. Sự nhiệt tình của ông thường đi tới mức tài trợ, và một số nhà vô địch nổi tiếng trở thành bạn của gia đình. Các kỳ thủ đến thăm nhà chúng tôi tại Munich, và ở bất cứ đâu các kỳ thủ tụ họp, câu chuyện cũng chỉ về một chủ đề. Những bình luận về ván cờ này hay ván cờ kia chẳng mấy chốc dẫn tới những màn minh họa trên bàn cờ, và đến lúc này tôi đã có thể bày tỏ quan điểm của chính mình, vì cờ vua đã bộc lộ những bí mật của nó với tôi, và cho dù bố là đối thủ duy nhất của tôi, những suy đoán tôi đưa ra không chỉ được để ý đến mà còn thường chứng tỏ là đúng. Việc bố tôi cư xử với tôi như một người lớn trong những buổi tụ họp đó, cho phép tôi thức khuya nếu tôi muốn khiến tôi tràn ngập tự hào. Và ông cảnh báo những người khác về sự nghiêm túc hết mức họ cần phải dành cho tôi khi đụng độ.
Đó là một thời kỳ mà các nhà vô địch đương thời là những vị khách thường xuyên. Vidmar, Tartakover, Znosko Borovski, ông béo Bogoliubov (được coi là kẻ thách thức không chính thức cho danh hiệu vô địch thế giới) đều nằm trong số những người tôi nhớ. Vidmar là một người đàn ông lịch thiệp, ít nói, một người ăn thanh đạm cư xử với dạ dày của mình bằng sự tôn trọng ông dành cho cờ vua, trong khi Znosko và Bogo ăn không biết chán, hào nhoáng và ồn ào, kèm theo niềm đam mê lần lượt dành cho vodka và bia. Ngược lại, Tartakover là một quý ông hoàn hảo và một nghệ sĩ piano tuyệt vời, thực hiện những trò ảo thuật khiến tôi ngỡ ngàng.
Với tôi, cờ vua dường như là một thế giới của những anh hùng và những chiến binh bất khả chiến bại, nhưng rồi đến một ngày tôi thoáng nhận ra những cột trụ nó tựa lên kém bền vững tới mức nào. Khi đó tôi nhận ra rằng một số công trình trí tuệ lấp lánh chứa đựng bên trong chúng được che đậy bởi một lớp vỏ không thể mỏng manh hơn, một thế giới trống rỗng luôn bên bờ vực sụp đổ, đe dọa vùi sâu mọi thứ trong đống đổ nát của nó.
Trong tiểu sử những kỳ thủ vĩ đại của quá khứ tôi đã đọc thấy sự điên rồ, đôi khi vô hại, đôi khi bạo lực, ghi dấu ấn lên cuộc đời của một số thiên tài cờ vua. Tôi biết về cơn trầm cảm nặng nề Morphy vĩ đại đã rơi vào, về cái chết khủng khiếp của Pillsbury ở độ tuổi còn trẻ đến vậy, về chứng vĩ cuồng đã chế ngự trí tuệ sáng suốt của Steinitz trong những năm cuối đời. Ấy thế nhưng khi chúng ta biết những thứ như thế chỉ qua những cuốn sách, chúng ta có xu hướng không nắm bắt được rằng bệnh tật, đau đớn và sự điên rồ không phải lúc nào cũng tương đồng ở khắp nơi, vì chúng tàn phá thậm chí còn khủng khiếp hơn khi nạn nhân của chúng là một thiên tài.
Tôi sẽ không bao giờ quên buổi tối Akiba Rubinstein tới nhà chúng tôi - với chúng tôi là một sự kiện vui vẻ. Tartakover là người đưa ông tới, sau nhiều năm được bố tôi thúc giục. Trên đường trở về sau một thành công mới đây ở Budapest, Rubinstein đã thi đấu tại một giải đấu quan trọng ở Karlsbad, đứng thứ ba trong số hai mươi ba người, sau Nimzovitch và Capablanca. Không nghi ngờ gì nữa, ông vẫn là một kỳ thủ lớn. Bố tôi dành ra hàng tuần trông đợi buổi tối này và nhiều ngày bị giày vò bởi nỗi ngờ vực liệu Rubinstein có xuất hiện hay không. Chúng tôi biết ông không có bạn bè hay thân thích và đang không ở tình trạng sức khỏe tốt nhất. Tartakover đã đưa ông tới khách sạn nơi ông này đang lưu lại ở Munich, trả bằng tiền túi của mình sau khi tìm thấy Rubinstein lang thang không mục đích gần ga xe lửa, không một xu dính túi và không có nơi nào để đi, phàn nàn rằng có người đã trấn lột ông trên tàu. Chúng tôi cũng biết Rubinstein không hề yêu thích Bogoliubov và một số kỳ thủ khác, bố tôi đã cẩn thận không mời họ tới. Bản thân tôi cũng nhận được những chỉ dẫn chi tiết. Tôi không được nhìn chằm chằm vào Rubinstein hay nói với ông, những mệnh lệnh này dĩ nhiên càng thổi bùng thêm sự tò mò vốn đã sẵn sống động trong tôi.
Chúng tôi chờ đợi suốt một hồi lâu và cuối cùng, khi đã hết hy vọng vị khách sẽ tới, bèn ngồi vào bàn ăn. Đúng lúc ấy một chiếc taxi xịch tới trước cửa, và Rubinstein, có Tartakover tháp tùng, bước vào không nói một lời, chỉ gật đầu chiếu lệ với chúng tôi. Thoạt đầu, ông từ chối cởi áo khoác ra, và cuối cùng miễn cưỡng đồng ý giao nó lại cho một người hầu. Trước khi ngồi xuống, ông lau sạch mặt ghế của mình bằng một chiếc khăn tay. Dù chúng tôi đã dự rất nhiều ván đấu của Rubinstein, tôi chưa bao giờ trông thấy ông ở gần đến vậy. Ông là một người bé nhỏ, lúc ấy đã đẫy đà, đeo kính, để ria vuốt sáp, mái tóc thưa thớt được cẩn thận chải gọn trên vầng trán cao.
Ai đó cảm thấy có bổn phận phải chúc mừng ông về thành công mới nhất. Rubinstein đón nhận tràng vỗ tay ngắn với một cái nhăn mặt hài lòng, nhưng rồi lập tức bắt đầu lau những chiếc đĩa và đồ bạc bằng chiếc khăn tay được vo tròn lại trong bàn tay - một việc làm có vẻ vô nghĩa, vì mỗi món được mang ra phục vụ ông chỉ ăn vài miếng, đẩy thức ăn vòng quanh đĩa mình bằng một chiếc nĩa như thể đang tìm kiếm thứ gì. Ông cũng dè sẻn lời nói, suốt hơn một tiếng đồng hồ chỉ buông ra không hơn một hay hai từ. Ấy thế nhưng đây chính là Rubinstein, “kỳ thủ không người trần thế nào có thể sánh ngang”, đang ngồi ngay đó trước mặt tôi.
Những người khác tiếp tục khe khẽ trò chuyện với nhau, song ai cũng cảm thấy gượng gạo. Cuộc trò chuyện không tránh khỏi quay sang cờ vua, một chủ đề hẳn phải làm vị khách danh dự của chúng tôi quan tâm. Nhưng có lẽ ông quá bị thu hút vào cờ vua để muốn nói chuyện về nó.
Đã nửa đêm. Có thể nghe thấy tiếng đổ chuông rất khẽ của một chiếc đồng hồ quả lắc đứng trong phòng khách khi chiếc ly của Rubinstein đổ lăn ra trên bàn. Việc này dường như khiến ông bừng tỉnh khỏi tình trạng lờ đờ của mình, và khiến tất cả những người khác yên lặng. Nhưng câu nói ông thốt ra chẳng liên quan gì tới điều họ đã trò chuyện. Nó dường như trồi lên từ đâu đó sâu trong ông, và đó là một câu nói khiến chúng tôi lạnh người, vì nghe như một lời cầu cứu.
“Ai đó đang gõ,” ông nói với giọng the thé. “Chúng không bao giờ cho tôi một khoảnh khắc bình yên, màn tra tấn này chẳng bao giờ kết thúc cả, chúng gõ lên tường phòng tôi cả ngày lẫn đêm.”
Sau đó ông ngồi phịch xuống. Trong suốt phần còn lại của buổi tối ông không hề hé một lời, không ăn một miếng nào và cũng không hề uống. Ông ngồi như bắt rễ vào cái ghế của mình, nhìn chằm chằm vào hai bàn tay.
Khuôn mặt ông được chiếu sáng bởi ánh đèn dìu dịu, và đằng sau ông là những bức tường trống trơn. Đây là những điều kiện lý tưởng để đánh thức các giác quan của tôi, và khi nhìn vào trán Rubinstein, tôi nhận ra rõ ràng kích thước mà tổn thương đã hình thành trong ông. Nó dường như đã xâm chiếm toàn bộ phần trán vị khách, giới hạn của nó chỉ có thể thấy được qua một đường răng cưa mờ ảo và mong manh.
Tôi không thể nào biết giải đấu ông vừa tham dự sẽ là giải đấu cuối cùng của ông. Giờ đây ông đã bị kết án ở mức vô phương vãn hồi. Một chứng rối loạn tâm lý không thể lay chuyển đã bám chặt lấy ông.
Không lâu sau cũng đến thời điểm khởi đầu của tôi, nó diễn ra vào năm 1929 theo cách ít ngờ được nhất, trên boong chiếc Bremen, chiếc tàu hơi nước đưa chúng tôi từ châu Âu tới New York. Trong những ngày đầu tiên của chuyến đi, bố tôi bảo là ông có một sự ngạc nhiên dành cho tôi, và một buổi tối ông dẫn tôi tới sảnh tiếp tân, ở đó có nhiều bàn nhỏ bày những bàn cờ đẹp được kê thành một vòng tròn. José Raúl Capablanca sắp thực hiện màn trình diễn chơi đồng thời hai mươi lăm ván cờ, và tên tôi được đưa vào danh sách các đối thủ của ông, trong đó có cả một số kiện tướng có tên tuổi.
Sự phấn khích của tôi trước triển vọng được thi đấu với huyền thoại Capablanca đã bù đắp quá đủ cho tất cả những hy sinh tôi đã bỏ ra. Tôi dồn được đối phương vào thế bí sau hai mươi chín nước đi. Chỉ ba người trong chúng tôi - hai kiện tướng giỏi và bản thân tôi - giành được ván hòa, những người khác đều thua chỉ sau vài nước đi. Tôi vẫn chỉ là một cậu bé, và Capablanca đã bắt tay tôi rồi tiên đoán một tương lai xán lạn cho tôi.
Vào những ngày đó, tất cả những người hâm mộ cờ vua đều bồn chồn theo dõi những cuộc thương lượng dài vô tận cho một cuộc tái đấu tranh chức vô địch thế giới. Sau khi chiếm lĩnh đỉnh cao trong hơn hai mươi năm, Capablanca cuối cùng đã bị lật đổ bởi ngôi sao đang lên Alexander Alekhine. Giờ đây ông nóng lòng muốn phục thù. Hai năm đã trôi qua, nhưng vẫn chưa có gì được thu xếp. Người Nga có vẻ chẳng hề vội vã, họ viện ra vô số lý do để trì hoãn một cuộc tái đấu. Chắc chắn là cuộc chiến kiệt sức với kỳ thủ Cuba, kéo dài trong 74 ngày, vẫn còn mới tinh trong ký ức ông này.
Thất bại duy nhất đó đã không hề tước đi chút gì trong sự vĩ đại của nhà cựu vô địch. Ông tiếp tục tham dự các giải đấu quốc tế, giành hết chiến thắng này tới chiến thắng khác. Cũng nhờ ông mà cờ vua có ngày càng nhiều người chơi. Ai cũng háo hức muốn học. Đó là một thời kỳ hoàng kim, gần như thể người ta đang tìm mọi cách để lãng quên đi một tương lai đầy bất trắc. Chỉ bốn mươi năm sau, với sự xuất hiện của Bobby Fischer không thể kìm hãm, mới có một thời kỳ có thể so sánh được. Mọi thành phố dường như đều tổ chức ít nhất một giải đấu thường niên, và những cái hầu bao căng phồng từ các nhà tài trợ (trong đó có bố tôi) thu hút tất cả những cái tên hàng đầu. Các nhà xuất bản cũng hào hứng với những ấn phẩm về cờ vua. Những ván cờ kinh điển được thuật lại và vô vàn cẩm nang được xuất bản, cũng như những bộ sưu tập các ván cờ và tường thuật các giải đấu. Tất cả các tờ nhật báo đều có một cột về cờ vua đăng tin những ván cờ quan trọng và in những lời công kích kịch liệt bất tận của các kỳ thủ thuộc những phe đối lập, cũng như những lá thư từ các độc giả muốn bày tỏ quan điểm về sự kiện này hay sự kiện kia. Có rất nhiều tranh luận về việc liệu cờ vua chỉ đòi hỏi đơn thuần sự khôn ngoan và trí thông minh hay liệu, như các hình thức nghệ thuật khác, cũng cần đến cả cảm hứng. Bản thân Alekhine dường như có ý chia thế giới cờ vua thành hai khối riêng biệt: những nghệ sĩ thực thụ đối lập với những vận động viên chỉ nhắm tới việc chiến thắng bằng bất cứ phương thức nào cần thiết, bất chấp gây phương hại đến bản thân trò chơi.
Đây là thế giới tôi sắp sửa bước vào, với lời hứa hẹn ngầm rằng tôi sẽ sớm được đọ sức với những nhà vô địch vĩ đại và một ngày sẽ được nhắm tới danh hiệu vô địch thế giới.
Sau một khởi đầu chói sáng như thế, tôi đã trông đợi rằng khi bố con tôi từ Mỹ trở về, tôi sẽ bắt đầu chơi ở các giải đấu loại ngay lập tức. Song mọi thứ đã không diễn ra như tôi nghĩ. Một ông bầu sân khấu hay tổ chức những buổi trình diễn tạp kỹ nhỏ tại các quảng trường làng đã thuyết phục bố tôi - hay đúng hơn đã thành công trong việc khơi dậy sự phù phiếm vô biên của ông - đưa tôi ra một cuộc biểu diễn thi đấu đồng thời tới hai mươi lăm ván cờ. Tôi mới mười một tuổi và trông bề ngoài chẳng hề có vẻ gì hiếu chiến hay thậm chí là đặc biệt thông minh. Những người hằng trông đợi sẽ đấu cờ với một ông lão rậm râu với vầng trán nhăn nheo, đã sửng sốt khi nhận ra đối thủ của họ là một cậu nhóc mặc quần soóc. Sự xuất hiện của tôi thường được chào đón bằng những tràng cười kinh ngạc mỉa mai. Các đối thủ của tôi hầu như luôn là người lớn, đôi lúc là những nhân vật tiếng tăm hay quý phái, song cách nhìn nhận của họ về cờ vua thiển cận tới mức tôi có thể đánh bại họ chẳng mấy khó khăn.
Tôi thú thực là tôi đã thấy chuyện đó thú vị. Tôi thích thú quan sát họ lưỡng lự, lúng túng, mất kiên nhẫn, rồi cuối cùng nổi xung. Nói chung họ không thể tin nổi vào mắt mình ngay cả khi đối diện với thất bại không thể chối cãi, nhưng rốt cuộc họ không có lựa chọn nào khác ngoài cúi đầu trước điều hiển nhiên: tôi là kỳ thủ giỏi hơn. Một số tìm cách bao biện cho thất bại của mình bằng cách tuyên bố họ đã cố ý thua để khỏi làm tổn thương cảm xúc của tôi. Số khác buộc tội tôi ăn gian (làm như cờ vua mà ăn gian được vậy), bóng gió rằng tôi được chỉ các nước đi một cách bí mật từ một vị kiện tướng nấp kín trong khán phòng. Lại có cả những người khác tuyên bố tôi đã thôi miên các đối thủ của mình, rằng tôi đã đọc ý nghĩ trong đầu họ, rằng tôi bị Quỷ ám. Một số gợi ý - và tin đồn này lan ra với tốc độ ấn tượng - rằng tôi không phải mười một tuổi mà ba mươi, một gã lùn cải trang thành trẻ con. Nói tóm lại, họ coi tôi là một kẻ lừa đảo và cư xử với tôi bằng sự khinh rẻ tương ứng. “Màn trình diễn của một người Do Thái bé nhỏ” là một tiêu đề trên báo viết về tôi. Từ đó trở đi, việc tôi là người Do Thái đều đặn được nhắc tới, điều bao hàm mọi sự phỉ báng có thể.
Cũng chính vào thời kỳ này tôi đã gặp hắn lần đầu tiên, tại một trong những cuộc trình diễn của mình. Tôi tin rằng ở đâu đó trên thế giới mỗi người trong chúng ta đều có kẻ đối kháng với mình, bản thể thứ hai đối lập của anh ta, giống như kẻ chống lại Những Cái Tên Thiêng Liêng của Cây Sự Sống, Qlippah, tên kẻ đó những nhà thông thái khuyên răn chúng ta thậm chí không được nhắc tới, con rắn luôn sẵn sàng ngóc đầu dậy, đối thủ chúng ta hy vọng không bao giờ gặp phải song cuối cùng chúng ta không tránh khỏi chạm trán, vì hắn là một phần của chính chúng ta. Trong trường hợp của tôi, như thể tất cả từng ấy thế kỷ tranh đấu của các thế hệ quá khứ chỉ nhằm chuẩn bị cho cuộc đối đầu một mất một còn này.
Tôi gặp đối thủ định mệnh của mình tại Baden-Baden trong một cuộc trình diễn đánh cờ đồng thời tại khách sạn Friedrichsbad. Tôi hy vọng mình nghe không có vẻ thiển cận khi nói hắn có dáng vẻ của con người. Trong số rất nhiều đối thủ của tôi có một cậu thiếu niên, người cuối cùng xuất hiện, cậu ta có vẻ hơn tôi hai hay ba tuổi. Cậu ta được giới thiệu kèm theo danh vị nam tước, và cả cậu ta cũng được một ông bố đầy kiêu hãnh tháp tùng. Trên trán cậu ta tôi lập tức nhận thấy dấu ấn của một kẻ tôn thờ cờ vua hết thuốc chữa. Tôi cũng thấy cậu ta ghen tị với tôi, căm ghét tôi. Cậu ta là người duy nhất gây ra cho tôi rắc rối nghiêm trọng ngày hôm ấy, tới mức như thể tôi đang chơi một ván cờ duy nhất, căng thẳng. Tôi bước đi theo vòng các bàn cờ, thực hiện nước đi của mình, song tâm trí tôi chỉ tập trung vào vị trí của cậu ta.
Cậu ta là đối thủ cuối cùng của tôi còn trụ lại, và thật may ván cờ kết thúc hòa. Bố cậu ta đầy ắp tự hào. Thấy chưa? Ông ta có vẻ muốn nói thế. Hãy cho thằng bé thêm một cơ hội và con trai tôi sẽ dạy cho đứa nhóc vắt mũi chưa sạch kia một bài học! Thái độ con trai ông ta cũng chẳng khác. Từ cách cậu ta hành xử, nhiều người theo dõi đoán là cậu ta đã thắng, và chính cậu ta là người được hoan hô tối hôm đó. Một người ủng hộ nhiệt thành giới thiệu cậu ta với công chúng như niềm hy vọng thực sự của cờ vua, một ứng cử viên tương lai cho danh hiệu vô địch thế giới.
Đến tận khuya tối đó, cậu ta đã đưa ra với tôi một lời thề. Cậu ta đợi tôi sau một tấm rèm tại một hành lang, và khi tôi đi ngang qua trên đường trở về phòng mình, cậu ta túm lấy tôi ghì sát vào một bức tường, giơ nắm đấm kề vào mặt tôi và rít lên, “Mày sẽ trả giá cho việc này, thằng Do Thái!” Cậu ta to con và khỏe hơn tôi, và tôi không thể đáp trả đòn tấn công của cậu ta.
Đó là một biến cố tôi không bao giờ quên. Tôi chưa bao giờ bị đe dọa nghiêm trọng trước đó, và từ lúc ấy trở đi tôi tin chắc mình sẽ còn gặp lại cậu ta trên đường đời.
Khi hợp đồng với ông bầu đó kết thúc, bố tôi bắt đầu đưa tôi vào các giải đấu loại. Ở tuổi mười hai, tôi đã là một kiện tướng, và đến năm mười bốn tuổi tôi giành được cấp bậc mà ngày nay hẳn sẽ được gọi là đại kiện tướng quốc tế. Các giải đấu ngày càng trở nên cạnh tranh hơn. Trong khi trước đó tôi luôn là người thắng cuộc không cần bàn cãi, giờ đây tôi đối diện với những khó khăn ngày càng lớn. Dẫu vậy, tôi đều đặn kết thúc ở những vị trí dẫn đầu và giành quyền thi đấu với những kỳ thủ hàng đầu, bất chấp tuổi đời còn trẻ.
Trong những năm đầu tiên đó, sự hiện diện của đối thủ được lựa chọn của tôi luôn là một mối giày vò thường trực với tôi. Hắn xuất hiện tại mọi giải đấu, và dù số mệnh có vẻ tránh cho chúng tôi việc đối đầu trực tiếp, gần như thể cố tình trì hoãn nó lại cho một dịp thuận lợi hơn, tôi luôn có cảm giác rằng tôi đang thi đấu với hắn, và chỉ mình hắn. Chúng tôi là kỳ phùng địch thủ từ xa. Ánh mắt chúng tôi luôn gặp nhau qua một căn phòng đầy những bàn cờ căng thẳng, và vì quy định cho phép chúng tôi được đi lại trong khi các đối thủ suy tính nước đi của họ, đôi khi tôi cảm thấy hắn ngay sau lưng mình. Và hẳn là hắn cũng cảm thấy tôi.
Hắn gây nên một dạng sợ hãi trong tôi. Thế nhưng tôi không hề có chút nghi ngờ nào về việc ai trong chúng tôi là kỳ thủ giỏi hơn. Tôi biết phong cách của hắn và đã phân tích vài ván cờ hắn chơi, và không tìm ra điều gì độc đáo ở chúng. Hắn là một kỳ thủ bảo thủ, vẫn bám lấy các phương pháp sơ đồ của Tarrasch (cây đại thụ lớn tuổi của cờ vua tại Đức), không hề chịu ảnh hưởng của các lý thuyết hiện đại thịnh hành khi đó. Thế nhưng chính sự thiếu độc đáo, mạo hiểm và trí tưởng tượng của hắn, sự tuân thủ mù quáng các giáo điều của hắn, khiến tôi bất an.
Hắn cũng đã thắng được một số ván cờ trước những kỳ thủ có thứ hạng khá và kết thúc lọt vào top đầu ở một số giải đấu. Thoạt đầu tôi tự hỏi bằng cách nào, nhưng điều có ý nghĩa trong cờ vua không chỉ có cách chơi mà cả thái độ của kỳ thủ. Những sách dạy cờ vua cũ đầy ắp những lời khuyên về cách làm đối thủ khó chịu, đẩy đối thủ vào một vị thế dưới cơ ngay từ trước khi ván cờ bắt đầu. Có vô vàn ví dụ về những chiến thuật như thế, từ điếu xì gà độc hại của Lasker cho tới ngôn ngữ thô lỗ của Steinitz.
Những lời đe dọa hắn đưa ra với tôi vào buổi tối sau cuộc chạm trán đầu tiên giữa chúng tôi là không thể nào xóa đi nổi trong ký ức tôi. Tôi biết, tới lúc chúng tôi gặp lại nhau tại bàn cờ, tôi sẽ phải bảo vệ bản thân chống lại sự hiện diện của hắn nhiều hơn lối chơi của hắn. Tôi sẽ phải chịu đựng sự hiện diện đó trong suốt thời gian của một ván cờ tại giải đấu.
Chúng tôi cũng không thể khác nhau hơn về mặt thể chất. Tôi thấp người và mũm mĩm; hắn cao và rất gầy, như một con cò mặc quần soóc. Tôi có mái tóc nâu xoăn; tóc hắn vàng óng, mượt mà và thẳng, để hất xuống một bên thái dương. Nói tóm lại, tôi là một người Do Thái và hắn là một người Aryan. Lần cuối cùng tôi trông thấy hắn ở tuổi vị thành niên trong tiệm cà phê Kaiserhof ở Berlin, hắn đã mặc đồng phục của Thanh niên Hitler, người đại diện, niềm hy vọng cờ vua của chủng tộc mới đang khẳng định mình rầm rộ tại Đức khi đó.
Cho dù cờ vua là toàn bộ cuộc đời tôi vào những ngày đó, nó cũng là một bản thu nhỏ hoàn hảo của một thế giới dường như đang trên bờ của những biến cố lớn lao. Những khái niệm điển hình của cờ vua - tấn công, làm chủ, chinh phục, chiến thắng - đang được áp dụng cho một thực tế rộng lớn hơn vốn đã trải qua những thay đổi khủng khiếp. Vào một ngày tháng Năm năm 1933, một đống lửa khổng lồ được đốt lên tại Berlin. Ngọn lửa được nuôi dưỡng bằng sách: những tác phẩm của Freud, Proust và Einstein, và cả của Steinitz, Nimzovitch và Rubinstein. Trong khi đó, doanh số bán Mein Kampf vượt quá một triệu mark. Các dàn nhạc bị cấm trình diễn tác phẩm của Mendelsshon, Schonberg và các nhà soạn nhạc Do Thái khác. Mười sáu nghìn bức tranh, họa phẩm và tác phẩm điêu khắc thể hiện nội dung bị cho là “nghệ thuật suy đồi” bị tịch thu từ các phòng triển lãm, phòng trưng bày và tiêu hủy. Chỉ nhờ vào sự nhìn xa của những người như bố tôi mà nhiều kiệt tác mới được cứu thoát khỏi tai họa. Quả thực, bố tôi không chỉ là một người buôn bán tác phẩm nghệ thuật mà còn là một người yêu nghệ thuật đích thực, một người có những ý tưởng hiện đại, nhìn xa trông rộng. Ông thường giữ các tác phẩm quý giá lại cho mình, thẳng thừng từ chối bán chúng. Trong đó có cả một bộ sưu tập các tác phẩm của các họa sĩ tiên phong. Chỉ một số ít được cứu thoát: đó là những bức họa Hans đã chiêm nguỡng trên các bức tường căn hộ của tôi.
Không lâu sau, phong trào bài Do Thái công khai được phát động. Người Do Thái bị ngăn cấm đảm nhiệm các vị trí trong chính quyền, vào trường đại học, và Nghị viện. Đến cuối năm 1933, hàng chục nghìn người đã quyết định rời khỏi Đức. Nhưng thật nghịch lý, nhiều người lại nhìn thấy những dấu hiệu tích cực trong những điều đang diễn ra. Quả thực, chẳng phải sự xuất hiện của Messiah không tránh khỏi sẽ đến sau những biến cố khủng khiếp hay sao? Nếu đúng vậy, đó quả là một nhà tiên tri buồn thảm giờ đây đang khiến người ta cảm thấy sự hiện diện của mình. Dẫu thế, vẫn có nhiều người tin họ có thể đứng vững thậm chí trước cả những hạn chế khó nhọc nhất. Nói cho cùng, chẳng phải họ là người Đức sao? Nhiều người là cựu binh trong Cuộc Chiến Vĩ Đại. Họ đã chiến đấu cho tổ quốc, cùng chung lý tưởng và cùng sùng bái những người anh hùng của đất nước này. Đây cũng là đất nước “của họ”, phải không nào? Và nếu không gì trên thế giới này được đảm bảo, vậy thì một nơi trú ẩn an toàn có thể ở đâu?
Nếu có điều gì đặc trưng cho dân tộc chúng tôi trong hàng thiên niên kỷ, thì đó là một thứ chủ nghĩa định mệnh hay sự cam chịu. Đúng là chúng tôi có tới hàng triệu người, song chúng tôi là một bầy cừu khổng lồ sẵn sàng dạt ra tứ tán chỉ trước sự xuất hiện của một con chó nhe nanh gầm gừ. Và Đức là dải san hô trên đó chúng tôi bị mắc kẹt, bị áp đảo bởi một nỗi kinh hoàng làm chúng tôi tê liệt. Chúng tôi trở lại với cuộc sống của khu trại tập trung, với những dải tua nút thắt, trong khi các cuộc diễu binh và những đám đông rầm rộ cuồng loạn khắp quanh chúng tôi và không trung âm vang những giọng nói lớn tiếng đầy đe dọa. Một cuộc chọn lọc tỉ mỉ đã bắt đầu diễn ra. Tất cả nam giới được yêu cầu phải thêm tên Israel vào cạnh tên riêng của họ, tất cả phụ nữ phải thêm tên Sarah. Quyền công dân của chúng tôi bị tước, chúng tôi trở thành những kẻ ngoại quốc có visa sắp hết hạn. Có những lời đồn đại về việc di dời hàng loạt chúng tôi tới Madagascar hay trả chúng tôi trở lại Palestine, điều với nhiều người có nghĩa là phải thừa nhận thất bại lịch sử của chính họ. Vậy thì Miền Đất Hứa được trông ngóng bấy lâu ở đâu?
Bố tôi là một trong những người trở thành nạn nhân của tội lạc quan, bất chấp những gì hai nghìn năm lịch sử đã dạy cho ông. Sự giàu có đem đến cho bố tôi cảm giác không thể bị đe dọa khiến ông cảm thấy an toàn. Ông từ chối bỏ chạy khi vẫn còn có thể làm thế, thay vì vậy chỉ rút lui khỏi tâm bão. Chúng tôi chuyển tới Graz, tại Áo, chúng tôi có một ngôi nhà ở đó. Điều kiện sống có vẻ dễ chịu hơn.
Tuy nhiên, giữa những biến cố bi thảm này, hai con người tiếp tục tìm kiếm nhau, như hai điện tích trái dấu trong một cơn bão dữ dội. Tôi phải rời đi, nhưng hắn bám theo tôi, và thế là chúng tôi gặp lại nhau, năm năm sau đó, tại giải đấu cuối cùng tôi được phép tham dự. Cuộc chạm trán diễn ra tại Vienna, vào cuối mùa đông năm 1938.
Tôi nhận ra hắn ngay lập tức. Giờ đây hắn khoác trên người bộ quân phục SS ngạo nghễ, và sự thù hằn của hắn không hề thuyên giảm. Hắn nhìn tôi đầy khinh bỉ.
Ngay từ những vòng đầu tiên, rõ ràng là hắn đã có ý không để ai đoạt mất giải thưởng của mình, nhất là tôi. Trong vài ngày, chúng tôi bằng điểm nhau, như hai nhà leo núi cố gắng chinh phục cùng một đỉnh núi từ hai mé sườn đối diện, mỗi người đều quyết tâm lên tới đỉnh trước người kia. Mọi dấu hiệu cho thấy chúng tôi sẽ chạm trán trực tiếp ở trận chung kết, một cao trào tôi đã thấy trước từ đầu.
Giải đấu diễn ra trong một tòa nhà của hội đồng thành phố. Gần như tất cả những người tham dự, kể cả tôi, đều ở tại khách sạn Krone, không phải là một trong những nơi trọ tốt nhất, nhưng sẵn lòng thay đổi giờ giấc bằng cách mở cửa nhà hàng sau nửa đêm. Các kỳ thủ, bạn bè, người ủng hộ và người hâm mộ tạo thành một luồng khách hàng đều đặn, nhưng có một điều gì đó hắc ám bên dưới bề mặt vui vẻ, như thể những con người này đang thiếu thứ gì đó cốt yếu mà tôi không thể gọi tên ra được. Mọi khuôn mặt dường như đều thể hiện cùng một biểu cảm, như thể một trong những sợi cơ cần thiết để cấu thành một nụ cười đã bị đứt lìa, hay dây thần kinh kiểm soát sự hài hước và châm biếm, sự thỏa mãn mà trí thông minh dành riêng cho bản thân nó, đã bị cắt mất.
Tôi cảm thấy bị đe dọa. Tất nhiên, tôi đã vắng bóng khỏi giới cờ vua một thời gian, nhưng tôi không hề biết lấy một kỳ thủ nào trong giải đấu đó, và chẳng mấy chốc tôi vỡ lẽ rằng mình sẽ không tìm thấy người bạn mới nào trong nhóm người này. Một buổi tối, cảm giác nguy hiểm mơ hồ đột ngột định hình trong một câu nói bâng quơ tình cờ nghe lỏm được trong nhà hàng khi tôi đi ngang qua bàn đối thủ của tôi ngồi, được đám đông ngưỡng mộ bao quanh.
“Đáng lẽ con lợn Do Thái đó không được phép...” ai đó nói, và câu này chẳng thể nhắm vào ai khác ngoài tôi.
Tôi ngồi ở chỗ quen thuộc của mình, vẫn còn đang nghĩ về ván cờ vừa kết thúc. Lúc ấy đã chín giờ tối, và căn phòng đông nghịt người. Những tiếng hát và giọng nói vang lên từ nhóm tiệc đêm ở bàn kề bên, và những tràng cười từ nhóm người vui vẻ đó dường như chế nhạo tôi.
Có lẽ vì tôi là người duy nhất ngồi một mình trong căn phòng rộng, người duy nhất im lặng trong khi những âm hưởng tiệc tùng hân hoan của những người Vienna tuôn tràn quanh tôi, nhưng cảm giác về mối đe dọa chực chờ đột nhiên mạnh hơn bao giờ hết. Trong thâm tâm, tôi thầm nghĩ, sự điên rồ bắt rễ từ bên trong chúng ta. Đột nhiên mọi thứ dường như thật hiểm ác, mà không hề có điều gì xảy ra trên thực tế ở thế giới bên ngoài. Tôi cố trấn tĩnh lại, tự nhủ rằng có lẽ đó chỉ là tưởng tượng, vì tôi còn trẻ và dễ bị choáng ngợp.
Hơn một giờ đồng hồ trôi qua mới có người hạ cố phục vụ tôi. Sau khi đã vẫy tay gọi hết lần này tới lần khác những người phục vụ dường như mù và điếc, cuối cùng tôi cũng gọi được bữa tối. Nửa giờ sau, tôi được cho biết họ đã hết thứ tôi gọi. Tôi gọi món khác; người phục vụ vô cùng lịch sự cẩn thận ghi nó lại. Nhưng có thực sự anh ta là một người phục vụ hay không, hay là viên thư lại ghi tên các linh hồn bị đưa tới bờ dòng sông chết?
Vào khoảnh khắc đó tôi đột nhiên nhớ tới Rubinstein và nhìn thấy ông chìm sâu vào vòng xoáy mê loạn của mình trong sự bất lực trọn vẹn và hoảng loạn tột cùng. Giọng nói rít lên khủng khiếp của ông vang vọng trong tai tôi: “Chúng không bao giờ cho tôi một khoảnh khắc bình yên... chúng đập lên tường phòng tôi cả ngày lẫn đêm.” Trong nháy mắt tôi hiểu ngay điềm gở từ những lời nói đó.
Trong khi đó, màn ăn mừng vui vẻ tại bàn đối thủ của tôi vẫn tiếp tục. Nút chai sâm banh nổ lốp bốp, và chuỗi những lần nâng ly chúc mừng có vẻ như vô tận.
Lúc này đã vô vọng, tôi cố gắng thu hút sự chú ý của người phục vụ.
“Xin lỗi, thưa ông, nhưng chúng tôi đã hết mọi thứ,” anh ta nói với vẻ ái ngại.
Tất nhiên tôi cự nự.
“Tôi sẽ đi xem còn lại gì trong bếp hay không,” anh ta nói.
Lần này tôi không phải chờ lâu. Giám đốc khách sạn đích thân lại gần bàn tôi, theo sau là người phục vụ bàn đẩy chiếc xe chở một cái khay lớn được đậy kín. Sự xuất hiện của họ không khỏi thu hút sự chú ý. Nhiều người im lặng. Khi họ tới bàn tôi, người phục vụ nhấc cái vung bạc lên đầy kiểu cách và đặt đầu một con dê con bị chặt lìa xuống trước mặt tôi.
“Tôi e rằng đây là tất cả những gì chúng tôi có,” anh ta nói. Cả hai người họ cùng quay đi trước khi tôi trấn tĩnh lại được khỏi cảm giác kinh hoàng và ghê tởm.
Một tràng cười phá lên từ bàn tiệc đó. Nhóm người cùng nâng ly lên hướng về phía tôi trong một màn chúc mừng hoàn toàn vắng bóng thiện chí.
Chỉ tới lúc ấy tôi mới nhận ra mình đã là mục tiêu của một trò đùa tàn nhẫn được dàn dựng công phu. Tôi nhìn quanh và thấy rằng tất cả những người có mặt trong nhà hàng, kể cả những người ngồi xa tôi nhất, đều là một phần của nó, cho dù họ cẩn thận không để lộ ra. Tôi bị ném cho những cái nhìn chằm chằm đầy mỉa mai thương hại, trong khi họ trao đổi với nhau những ánh mắt đồng lõa. Bọn họ nghiêng người với vẻ lãnh đạm giả bộ để thì thầm với những người cùng hội, những người này đến lượt mình lại lặp lại cử chỉ tương tự, cho tới khi màn kịch câm không ngừng diễn ra này, vốn để không bị quan sát thấy, cuối cùng cũng trở nên quá rõ ràng. Những cái đầu ngả chụm vào nhau như những quân ki bowling. Một tràng cười vui vẻ lan ra khắp căn phòng. Rút lui là phần khó khăn nhất. Tôi rời căn phòng trong một cơn mưa những lời nhục mạ.
Một lời cảnh cáo như thế này đáng lẽ phải khiến tôi cảnh giác. Bất cứ ai có chút tỉnh táo thông thường hẳn cũng đã gói ghém hành lý và trở về nhà. Nhưng vẫn còn đó cờ vua, mà cờ vua là lẽ sống duy nhất của tôi.
Như tôi đã lường trước từ đầu, vào chín giờ sáng hôm sau, chúng tôi đối đầu trong ván cuối cùng, ván cờ quyết định. Chúng tôi đang bằng điểm. Bất cứ ai thắng ván cờ này sẽ thắng giải đấu. Tôi tới nơi đúng giờ và ngồi vào chỗ của mình. Không thấy bóng dáng đối thủ của tôi đâu. Hắn được quyền đi trước, và trọng tài bắt đầu bấm đồng hồ. Quãng chờ đợi nặng nề kéo dài trong hơn mười lăm phút, một khoảng thời gian không phải không đem lại hệ quả gì, và thời gian bị tính bất lợi cho hắn. Nhưng tiếng tích tắc của đồng hồ không mấy chốc đã nghe như tiếng búa tạ, một hiện thân mang tính biểu tượng cho sự có mặt đầy đe dọa của hắn. Kỳ thủ cờ vua thường là những người dễ bồn chồn: họ trông đợi mọi thứ diễn ra như kế hoạch và bối rối trước bất cứ bất ngờ nào. Sự trì hoãn này khiến tôi khó chịu, và vì tôi ngờ rằng nó là cố ý, điều này với tôi quả là một sự thiếu tôn trọng không thể tha thứ. Tôi cũng không hề hân hoan với việc biết rõ rằng sau mười lăm phút nữa tôi sẽ thắng vì đối thủ bỏ cuộc.
Cuối cùng hắn cũng tới, không chút vội vã. Hắn ngồi xuống. Trước khi thực hiện nước ra quân, hắn đặt đồng một xu xuống cạnh bàn cờ. “Tôi không bao giờ chơi mà không có một khoản cuợc,” hắn nói. Và dù rất căng thẳng lúc đó, tôi cũng phải moi tìm trong túi mình một đồng xu có giá trị tương đương. Tôi đã mắc vào trò chơi của hắn thậm chí từ trước khi chúng tôi khai cuộc.
Hắn ra quân bằng quân tốt che mặt hậu, thiết lập một thế cờ không hề thích hợp với tôi. Các quân cờ của chúng tôi chẳng mấy chốc đã kìm chân nhau tới mức không thể đi nước nào nữa. Đến khoảng nước đi thứ ba mươi, tôi cố gắng phá vỡ thế kẹt bằng cách hy sinh hai tốt, giành đuợc một chút không gian và tung ra một đòn tấn công từ xa mà kết cuộc sẽ tái tạo một thế trận cân bằng tuyệt đối, dù là qua những phương thức không ngờ tới. Tôi nhận ra mình thà thua còn hơn là tiếp tục theo kiểu này. Ván cờ được tạm dừng sau nước đi thứ bốn mươi. Tôi dành phần còn lại của buổi sáng để phân tích nó nhưng chẳng đi được tới đâu. Ván cờ tiếp tục chiều hôm đó và kéo dài tới tận tối muộn. Đây là ván cờ cuối cùng còn tiếp diễn, và những người khác xúm lại quanh chúng tôi. Nhưng cuộc đấu trí tiếp tục như nó đã bắt đầu, không có sinh khí và bình lặng. Như tôi đã e ngại, ván cờ kết thúc hòa: không ai trong chúng tôi có cách nào để thắng. Như vậy, cuộc đấu sẽ được quyết định bằng cách so sánh kết quả đấu với các đối thủ trước đây của chúng tôi. Vì những con số rõ ràng nghiêng về phía tôi, tôi không nghi ngờ gì rằng mình đã thắng.
Nhưng các trọng tài dường như không thể đi đến thống nhất với nhau. Sau một hồi lâu tranh luận quyết liệt, họ họp kín như một bồi thẩm đoàn phải thảo luận một vụ án khó, rồi cuối cùng tuyên bố hắn là người chiến thắng. Tôi không được xếp đứng thứ hai, hay thứ ba, hay dưới cùng. Khi tôi phản đối gay gắt, không ai lắng nghe. Cuối cùng, một người nào đó đã đủ tử tế để cho tôi biết tôi đã bị truất quyền thi đấu vì không hợp lệ. Sau đó, tôi gần như là bị tống ra ngoài.
Và đó chưa phải là kết thúc của những bất ngờ. Khi về khách sạn, tôi thấy phòng mình bị lục tung, các va li và tủ của tôi bị khoắng sạch, đồ đạc của tôi bị vứt vung vãi ra sàn. Những bức ảnh chụp bố mẹ tôi, mà tôi mang theo mình đi khắp nơi, bị xé và vứt tung tóe, các khung ảnh bị giẫm nát. Quần áo và vật dụng cá nhân của tôi cũng bị giày xéo.
Tôi ngồi phịch xuống ghế, hoảng loạn tới nơi. Có tiếng bước chân ngoài hành lang, và tôi nghe thấy tiếng gõ cửa. Đó là người chủ khách sạn, và cả ông ta cũng có vẻ lo ngại. Ông ta khuyên tôi nên rời đi càng nhanh càng tốt; nếu không “họ” sẽ quay lại và đốt khách sạn. Tôi bối rối đến mức gần như không nghe được những gì ông ta nói. Tất cả những gì tôi hiểu là tôi đang bị đuổi cổ. Một chiếc xe đang chờ tôi ở lối vào dành cho nhân viên phục vụ. Tôi nhét vội đồ của mình vào một chiếc va li rồi hối hả rời đi.
Trong lúc chiếc taxi đưa tôi qua thành phố tới nhà ga, tôi có cảm giác như thể mình đã bị ném xuống một hành tinh khác, một nơi tàn khốc và thù địch. Vốn có khuynh hướng trầm lặng và suy tưởng, tôi luôn tránh tiếng ồn ào náo động, tránh bất cứ biểu hiện vui vẻ quá trớn nào cận kề quá khích. Tôi vẫn luôn căm ghét những cuộc vui sinh viên, như thể cái chết trở nên còn đe dọa hơn với tôi chính trong những nghi thức nhằm xua đuổi nó. Nhưng vào khoảnh khắc đó tôi chỉ cảm thấy sợ. Đường phố của Vienna là sào huyệt của một thứ hội hè ghê tởm. Có những đống đồ đạc bị đập vỡ ở khắp nơi. Người ta lảo đảo bước đi dọc các vỉa hè như say xỉn. Có những tiếng la hét và chửi rủa, và đây đó vang lên từng phát súng. Nhiều đèn đường trên phố Argentinier đã bị đập vỡ tới mức từng quãng dài trên đường chìm trong bóng tối. Khi chiếc taxi tới nhà ga, một nhóm người từ đâu ùa tới, định vây lấy chúng tôi. Người lái xe đạp chân ga, và thiếu chút nữa chúng tôi đâm phải họ. Bọn họ đấm vào hai bên thành xe khi chúng tôi chạy qua. Tôi gần như có thể chạm vào những khuôn mặt đầy đe dọa, hoặc có thể chỉ đơn thuần là kinh hoàng, của họ. Họ đuổi theo chúng tôi, tay vung lên. Những cuộc bạo động cũng đã nổ ra cả ở ga Franz Josef. Một đám đông những kẻ tò mò hóng hớt đã tụ tập ở quảng trường trước nhà ga để chứng kiến một cảnh tượng ghê rợn: bốn người, vừa đá vừa nhổ nước bọt, đang buộc một ông lão phải bò dọc theo vỉa hè, quần áo của ông lão bị xé tả tơi, một tấm biển treo ròng từ trên cổ ông xuống.
Tôi bảo người lái xe chạy tiếp tới ga tiếp theo, và cả ở đây cũng diễn ra những cảnh bạo lực. Một cuộc săn người đang diễn ra ở khắp Vienna. Đám đông hô vang, “Juden, Juden raus!”
Nhưng kẻ thể hiện trọn vẹn nhất sự căm thù bùng nổ và nỗi oán hận đang bị kìm nén dành cho người Do Thái của người trên phố chính là bản thân người lái xe, ông ta, có vẻ không ngờ rằng tôi là một người Do Thái, tuôn ra những lời nhục mạ “giống người đáng nguyền rủa” cần phải bị “quét sạch khỏi mặt đất”. Cái gáy tím tái sau phần cổ như của một người đánh xe của ông ta, một di sản từ người cha hay có lẽ từ một người ông đánh xe ngựa thuê, căng phồng lên giữa cổ chiếc áo khoác da ông ta mặc và vành sau chiếc mũ đã sờn ông ta đội, thể hiện một sự thù địch trì độn và không thể lay chuyển, hiện thân của thói tàn ác, như một khuôn mặt gớm guốc trên đó mọi đường nét đều bị sứt sẹo, bị bóp méo thành một mớ hỗn độn không còn hình dạng.
Tôi có lẽ là người cuối cùng tại Vienna nhận ra rằng con chó dại đã bị thả vào đất Áo và động thái bạo lực đầu tiên này hướng vào quốc gia láng giềng đã thổi bùng lên những bản năng tồi tệ nhất đang ngủ yên trong tâm hồn bình lặng của công dân Vienna. Kobold hòa bình đã bị Troll khát máu hất cẳng. Nước Áo đã rơi vào một cơn cuồng loạn bài Do Thái dẫn tới những hành vi bạo lực tàn nhẫn một cách kinh hoàng. Hơn nám trăm người Do Thái mất mạng chỉ nguyên tại Vienna vào tối hôm đó và những ngày tiếp theo. Thêm hàng nghìn người khác bị đày tới trại tập trung đầu tiên, ở Dachau.
Đúng tám tháng sau, một làn sóng bạo lực nữa bùng phát, ở quy mô rộng hơn và mức độ còn tàn khốc hơn. 195 giáo đường Do Thái bị đốt tại Đức và Áo vào đêm mồng 9 và 10 tháng Mười một năm 1938. Hàng nghìn cửa hàng của người Do Thái bị cướp bóc và đốt rụi, cùng rất nhiều nhà cửa khác. Ít nhất 20 nghìn người bị bắt và đày tới các trại tập trung. Đêm đó sau này vĩnh viễn được biết tới là Kristallnacht, Đêm Kính Vỡ, một cái tên thật trang nhã cho khỏi đầu của một cuộc thảm sát không có hồi kết.
Người Do Thái nhanh chóng bị tước bỏ mọi quyền của họ. Họ phải đeo một ngôi sao David màu vàng được khâu vào áo, một dấu hiệu ngăn cấm họ lui tới những nơi công cộng hoặc đi dạo hay nhìn vào cửa kính các cửa hàng - nói tóm lại là ngăn cấm họ sống. Trên tất cả các lãnh thổ bị chiếm đóng, cả cờ vua cũng khoác bộ quân phục nâu. Những kỳ thủ tiếng tăm nhất biến mất, tên họ biệt tích trên các cột báo về cờ vua. Thậm chí cả các sách học cờ vua cũng bị thanh lọc. Các kỳ thủ Do Thái chỉ được nhắc tới ở mục châm biếm, chỗ những ván cờ tệ nhất và những sai lầm lớn nhất của họ được ghi lại. Hẳn là các biên niên của trò chơi này đã bị rà đi soát lại rất tỉ mỉ để moi ra được những thông tin lý thú như thế.
Ngoài vô số những cái tên không ai biết đến đột nhiên xuất hiện từ hư không, chỉ còn câu chuyện về Alekhine và những nỗ lực liên tục của ông này để trì hoãn cuộc tái đấu với Capablanca, một cuộc đấu sẽ không bao giờ diễn ra; kỳ thủ thứ hai đã chết bất ngờ vào năm 1947. Song các bài báo bài Do Thái xuất hiện ngày càng thường xuyên với tên nhà vô địch thế giới ở vị trí tác giả, ông này nhiếc móc những người đã kéo “trò chơi cao quý” này xuống thấp đến thế và ghi nhận rằng sau khi đã bị ô nhiễm bởi dòng máu Do Thái lâu đến vậy, thế giới cờ vua cuối cùng cũng sẽ tìm lại được sự thanh khiết của nó.
Sự nghiệp cờ vua của tôi tất nhiên chấm dứt với sự đắc thắng của chủ nghĩa Quốc Xã và việc chiến tranh bùng nổ. Tôi bị cấm tham gia các giải đấu và thậm chí không dám mạo hiểm chơi một ván cờ trong một tiệm cà phê hay xem người khác chơi, một phần vì bất cứ địa điểm công cộng nào (giả sử vẫn còn một nơi sẵn lòng cho tôi vào) cũng sẽ là một cái bẫy trong trường hợp có một vụ bố ráp. Thỉnh thoảng vào Chủ nhật, nếu trời đẹp, tôi cho mình cái thú xa xỉ dõi theo những ván cờ được chơi trên những bàn cờ to ngoài trời trong công viên. Tôi sẽ ngồi kín đáo trên một băng ghế, lật cổ áo lại để che giấu ngôi sao vàng, sẵn sàng biến mất khi có dấu hiệu nguy hiểm đầu tiên.
Bố mẹ tôi và tôi sống trong tình cảnh như không tồn tại này trong một thời gian, thích nghi với những cấm đoán tăng lên từng ngày về số lượng và mức độ tàn nhẫn. Chúng tôi cố không để ai trông thấy hết mức có thể, hiếm khi dám ló mặt ra ngoài và thì thầm ngay cả ở trong nhà khi nói chuyện với nhau. Chúng tôi được trợ sức bởi ảo tưởng rằng vô vàn những điều khủng khiếp chúng tôi đã nghe được liên quan tới những người cách xa chúng tôi và chắc chắn họ đã phạm phải tội lỗi nghiêm trọng nào đó thì mới bị trừng phạt khắc nghiệt như thế. Không thể có chuyện gì như vậy xảy đến với chúng tôi, những người đã không làm gì sai. Chúng tôi tự nói với nhau rằng cả chuyện này nữa rồi cũng sẽ qua. Tất cả những gì chúng tôi cần là sức mạnh để chịu đựng nó. Song chúng tôi đã lầm. Việc một số người trong chúng tôi cho tới lúc đó vẫn được để yên chẳng có nghĩa gì cả. Thậm chí cả một chiếc đồng hồ cát cũng có hạt cát cuối cùng của nó. Và khi cuối cùng chuyện đó xảy ra trên chính con phố nơi chúng tôi sống, khi những người ở bên kia đường và những hàng xóm ở tầng dưới bị đưa đi giữa đêm, chúng tôi hiểu ra rằng không còn chút hy vọng nào, và chắc chắn tên chúng tôi cũng đã được lên danh sách trong một tài liệu nào đó, chỉ còn chờ một chữ ký nữa. Chúng tôi quấn tất cả những thứ quý giá của mình trong một cuộn vải rồi giấu nó dưới những tấm ván lát sàn ở trên tầng áp mái ngôi nhà chúng tôi ở tại Graz. Ai còn sống sót trong chúng tôi có thể quay lại tìm chúng.
Tôi có một ký ức mơ hồ, mờ đục về giai đoạn trì hoãn dài gần như mầu nhiệm đó. Đó là một quãng thời gian không ngừng lang thang từ làng này qua làng khác, không ngừng di chuyển tới những nơi ẩn náu mới, với những danh tính và giấy tờ tùy thân luôn mới, song vẫn luôn với cùng nỗi sợ hãi không hề thay đổi. Tiền của bố tôi đem đến cho chúng tôi nhiều trợ giúp, và chúng tôi được những người bạn, cả Do Thái lẫn không phải Do Thái, hào hiệp giúp đỡ. Nhưng chỉ cần một người tố giác, chỉ cần một mẩu giấy phản bội, là đủ để hủy hoại chúng tôi.
Cơn ác mộng đã bắt đầu như thế. Đó là một cơn ác mộng trong thức tỉnh, nhưng cũng không thể xen ngang hay thay đổi nó, chẳng khác gì một giấc mơ. Chỉ sau một đêm chúng tôi bị tước nốt chút phẩm giá nhỏ nhoi còn lại của mình, bị mất hết thuộc tính con người. Chúng tôi nói cùng một thứ ngôn ngữ như họ và thể hiện cùng các khái niệm, được sinh ra với những cảm xúc và nhu cầu tương tự, song sự tương đồng giả định ấy chỉ là ảo tưởng, vì họ đã đẩy chúng tôi xuống vị thế của súc vật kéo và gia súc để giết thịt.
Cho tới hôm nay đôi khi tôi vẫn tự hỏi - và trong đầu tôi nghĩ tới sự cứu rỗi họ - liệu tất cả những con người đã tham gia một cách nhiệt thành đến thế vào công cuộc bẩn thỉu này có từng nghe thấy giọng nói con người vang lên từ hàng ngũ chúng tôi, và liệu có phải, vì một thứ thôi miên nào đó sự tuyên truyền từ lãnh tụ của họ đã reo rắc vào bộ óc họ, họ chỉ nghe thấy những tiếng ậm ò và tiếng rống của con vật.
Chúng tôi bị dồn lại thành bầy và bị lùa đi như súc vật, bị giữ thành hàng bằng dùi cui, bị dồn lên những toa xe chở gia súc (còn có thể là đâu khác nữa?). Những cánh cửa trượt đóng sầm lại, để chúng tôi lại trong bóng tối, không hề có chút không khí hay thức ăn nào trong suốt cuộc hành trình khổ ải. Chúng tôi phải chen vai thích cánh để có chỗ, để một chút ánh sáng tới được chỗ mình, để tránh xa mùi xú uế của chất thải và nỗi kinh hoàng của những cái chết đầu tiên. Thứ không khí duy nhất lọt vào từ các ô song sắt ở tít trên quá cao, biến mất hoàn toàn khi đoàn tàu dừng lại hàng giờ liền dưới mặt trời. Chỉ có thân hình không còn sinh khí của những người yếu nhất, đuợc dùng làm bệ đỡ, mới giúp những người khác tránh bị chết ngạt.
Tôi để lạc mất bố mẹ khi đoàn tàu khởi hành. Tôi biết chắc họ cũng ở trên cùng đoàn tàu, nhưng tôi không hy vọng có thể tìm lại họ còn sống. Khi chúng tôi tới đích sau vài ngày đêm và cửa các toa tàu được mở ra, chúng tôi được chào đón bởi đám lính canh có vũ trang và chó. Mệnh lệnh đầu tiên dành cho chúng tôi là chuyển những người chết ra, chất đống những cái xác trên đường ke. Hàng chục và hàng chục người đã chết trong những toa tàu chở gia súc, chủ yếu là người già và người ốm. Chỉ đến lúc đó tôi mới thấy bố mẹ mình, nhưng không thể lại gần họ. Chính tại đây, sau một giờ chờ đợi, cuộc chọn lọc đầu tiên diễn ra. Chúng tôi được chia thành bốn hàng dọc - phụ nữ, đàn ông, người già và trẻ con - rồi sau đó đi tới trại. Chúng tôi không rõ quãng đường xa bao nhiêu, và rất nhiều người đã quá kiệt sức để bước đi. Những người dừng lại hay ngã xuống bị đánh đập, bị giết tại chỗ nếu họ không thể đi tiếp. Chúng tôi không được phép giúp họ theo bất cứ cách nào; chúng tôi bị buộc phải bước qua những người gục ngã phía trước mình. Đằng sau lưng, chúng tôi nghe thấy những tiếng chửi rủa và tiếng sủa hung hãn của lũ chó, tiếp theo là những phát súng.
Phải mất hai giờ đồng hồ dài như vô tận để tới đích của chúng tôi, một tập hợp những tòa nhà gạch và gỗ bao quanh bởi hàng rào thép gai cao hơn ba mét có bố trí các chòi canh và đèn pha. Thế nhưng khi chúng tôi đi ngang qua khu vực rộng như một thành phố nhỏ của khu trại, với những khối nhà có lớp sơn còn mới và những con đường rộng cắt nhau thẳng góc, tôi cuối cùng cũng cảm thấy một thoáng thư thái lừa dối. Tôi gần như hy vọng rằng không điều gì xấu có thể xảy ra tại một nơi ngăn nắp chỉn chu thế này. Thậm chí còn có cả âm nhạc: các nốt nhạc của bản mở đầu Tanhauser, vọng tới từ một chiếc máy quay đĩa, hòa lẫn cùng những điệu van xơ của Strauss chắc chắn được chơi bởi một nhóm nhạc công kỳ cục đứng trên một cái bục gỗ giữa quảng trường vắng tanh. Nhưng khi lại gần hơn, chúng tôi thấy cái mái mà nhóm nhạc công nhỏ này đang biểu diễn bên dưới đỡ một thanh xà khổng lồ, từ đó nhô ra một chuỗi những chiếc móc đủ chắc để chịu sức nặng của một người.
Chính tại đây mà các nhóm khác nhau được tách ra. Mẹ tôi dường như đi theo sô phận của bà với sự cam chịu, xếp hàng cùng những phụ nữ khác, cầm trên tay cái bọc nhỏ đựng mấy món đồ bà mang theo mình. Trong lúc họ bước đi, mẹ tôi lén giơ một bàn tay lên chào tôi, làm một cử chỉ đưa qua đưa lại, lòng bàn tay bà xòe ra, như thể đang lau một cửa sổ bị mờ để trông thấy tôi.
Ngược lại, bố tôi từ chối chấp nhận sự xúc phạm. Đột nhiên ông nổi loạn, lớn tiếng phản đối và cố gắng rời khỏi nhóm mà ông phải đi cùng. Cứng đờ vì kinh hoàng, tôi chứng kiến chúng đánh ông bằng dùi cui và lôi ông trở lại. Ông ngã xuống, nhổm dậy, dò dẫm tìm đôi kính của mình. Trong khi bố tôi cúi người xuống, chúng lại đánh ông, rồi cuối cùng hất ông trở lại giữa những người khác, không thấy gì, khuôn mặt bết máu. Đó là lần cuối cùng tôi thấy bố mẹ mình. Cả hai người đều không sống sót mà rời khỏi nơi đó.
***
Thật không dễ để nói về những ngày tháng tiếp sau đó. Không bản biên niên chi tiết nào có thể thành công trong việc chuyển tải những sự tước đoạt cùng những giày vò tâm can một cách hệ thống mà chúng tôi phải chịu đựng ngay từ khoảnh khắc đầu tiên.
Nếu quả thật việc khẳng định tính cá thể của một con người luôn là một nguồn cảm hứng chính đáng của nhân loại, thì việc nhân loại đã tìm cách nghiên cứu các công nghệ khoa học để dập tắt nguồn cảm hứng này cũng đúng ngang ngửa. Một phương pháp chắc chắn để hủy hoại tính cách một cá nhân là cô lập anh ta hoàn toàn khỏi những người khác, nhưng một biện pháp hữu hiệu không kém là dồn anh ta và đồng loại vào một không gian không đủ. Trong trường hợp thứ nhất, nguồn gốc của sự điên rồ có vẻ là ly tâm: sự cô lập tuyệt đối cắt lìa ý thức khỏi chỗ bám của nó và đẩy nó vào vòng xoáy quay cuồng của sự vô định. Nhưng trong bối cảnh của sự thiếu thốn và chật chội bức bách, ý thức cũng có xu hướng mất đi phương hướng, trượt dần vào một tình trạng điên rồ hướng tâm không còn nhìn về tương lai nữa - hay đúng hơn là về nỗi hoảng loạn của sự đổ vỡ cận kề - mà thay vì thế quay lại chính bản thân nó, hướng tới một quá khứ bán khai nghiền nát nó dưới lượng chết chóc và khổ đau khó lòng hình dung nổi vốn đã xảy ra. Cá tính thoái bộ, hòa tan thành một tâm hồn chung, không còn đặc trưng, trong đó chẳng có gì tồn tại ngoài sự thôi thúc rút lui khỏi nỗi đau tràn ngập khắp nơi. Nếu có lúc nào đó chớp sáng của một phản ứng khác có thể thay thế trạng thái tinh thần yếu đuối tột bậc chúng tôi đã lâm vào, thì có lẽ, thật lố bịch, nó đã được tạo ra từ chính sự kỳ lạ của tình trạng con người. Tôi hình dung rằng phản ứng giống như một tiếng cười sẽ đột nhiên nhấn chìm tất cả chúng ta trong một tiếng động ầm ĩ đủ khủng khiếp để làm chấn động thế giới hơn cả mức mà những tiếng la hét hay khóc lóc có thể.
Nhưng ngay cả thứ động lực thúc đẩy mà chúng ta gọi là đau đớn cũng bắt đầu mờ nhạt đi theo thời gian, vì bằng cách trở nên vô cảm với mọi cảm giác chúng ta mới có thể hy vọng giữ cho mình sống sót. Đến một điểm khi mà cả nỗi đau cũng ngừng tăng lên, như khi nước trong một cái bồn dâng tới chỗ đường thoát chống tràn, để dù nó có tiếp tục tuôn từ vòi xuống, mực nước cũng không dâng lên thêm nữa. Những cảm xúc chúng ta từng tự hào về chúng và tin rằng mình sở hữu đầy ắp bị triệt tiêu. Tôi ngạc nhiên phát hiện ra rằng ngay cả bản thân sự căm ghét cũng kiệt quệ. Dần dà nó bị thay thế bởi một thứ biết ơn lố bịch cho những thoáng quan tâm chúng tôi vẫn còn khơi dậy ở chúng, cho phép chúng tôi sống qua một ngày nữa: những ổ rơm bẩn thỉu nơi chúng tôi vật xuống mỗi đêm, thứ nước xuýt chúng tôi được cho để làm dịu cơn đói luôn hành hạ; sau nhiều tuần hành hạ phủ tạng, cái đói trở thành một cảm giác của nỗi cô độc siêu hình vò xé, như thể tất cả các vị thần đã khinh bỉ chúng tôi, kết án chúng tôi vĩnh viễn và không có hy vọng được thỉnh cầu. Trong tình cảnh trống rỗng, bị ruồng bỏ và phản bội này, những kẻ hành hạ chúng tôi đứng lên giành lấy vị trí của các vị thần vắng mặt, vì chúng sở hữu quyền định đoạt sống chết với chúng tôi, một quyền chúng không bao giờ do dự sử dụng. Nếu chúng ra lệnh cho ai đó tự treo cổ mình lên, mệnh lệnh được thi hành với sự tuân phục máy móc, vô cảm. Một trò chơi được chúng ưa chuộng khi ở vào tâm trạng vui vẻ là giật mũ của một người tù và ném vào hàng rào thép gai, phía bên kia đường ranh giới, ngoài đó lính canh được lệnh bắn ngay khi phát hiện có người. Khi được lệnh đi nhặt mũ về, người tù sẽ bước qua đường ranh giới đó mà không có một khoảnh khắc do dự nào, bước vào cái chết với sự tuân phục tuyệt đối. Vì thế chẳng ngạc nhiên khi theo thời gian bạn bắt đầu cảm thấy một dạng ngưỡng mộ dành cho sự chuyên cần của chúng trong công việc, thậm chí bắt đầu lo rằng liệu có thể bạn là một gánh nặng quá lớn hay không và kết cục là đi tới chỗ cảm thấy có tội vì điều đó. Sự biến chất nội tại này, theo nghĩa nào đó chính là hậu quả kinh khủng nhất từ sự cầm tù chúng tôi phải chịu, đã neo chặt lâu dài trong tôi, như một cảm giác khó nắm bắt được rằng tôi không được phép quên một điều gì đó, dẫu vậy tôi không thể nào nhớ nổi. Trong những năm sau này, tôi đã xem hàng chục bộ phim tài liệu về các trại tập trung Quốc Xã do các nhà làm phim đầy nhiệt huyết của Đế chế sản xuất, nhưng điều từng suốt thời gian dài chỉ là cảm nhận đã trở thành các đường viền rõ nét của ký ức có ý thức dưới dạng một sự tương đồng biểu tượng, thứ khiến tôi còn khổ sở hơn ký ức về những màn tra tấn thể xác. Nó xảy ra khi tôi xem một bộ phim về tự nhiên. Một đàn linh dương bị những con vật săn mồi tấn công và bỏ chạy, túm tụm lại trên đồng cỏ. Một con bị bắt và bị những kẻ ăn thịt to xác xé thành từng mảnh dưới ánh mặt trời; những con khác quan sát bữa tiệc từ xa, và khi máy quay lướt đi trên khuôn mặt chúng, đầy ắp kinh hoàng trước những kẻ ăn thịt đồng loại mình, định nghĩa mà tôi vẫn tìm kiếm trong khi cố tránh một cách vô thức đột nhiên định hình. Trong ánh mắt những con vật đó tôi thấy chính chúng tôi, chính tôi - đông cứng lại trong sợ hãi, phải, nhưng tràn ngập thứ giống như sự thành kính đến xuất thần.
Ngờ vực tồi tệ nhất về Đấng Thiêng Liêng đôi lúc tấn công tôi khi tôi còn bé là đằng sau tấm mặt nạ thông thái và trang nghiêm của Người có thể ẩn chứa khuôn mặt của một kẻ điên và rằng đây có thể mới chính là mặt thật của Người Cha đã tạo ra chúng ta theo hình ảnh và dáng vẻ của Người, cũng là người chúng ta thề tôn kính mãi mãi. Vào những lúc như thế, tôi chỉ có thể chế ngự nỗi kinh hoàng bằng cách buộc tâm trí mình bám vào thứ gì đó thân quen thuộc về tôi, tập trung toàn bộ sự chú ý vào nó cho tới khi nỗi hoài nghi báng bổ tan biến đi.
Nhưng ở đây, trong thế giới xa lạ này, nơi mọi khát vọng con người bị đào tận gốc trốc tận rễ và mọi nguyên tắc thiêng liêng bị lật đổ, nơi chỉ một nước đi sai lầm cũng đem đến chết chóc và mạng người chỉ có giá trị chừng nào nó còn được sử dụng làm nhân công và chỉ để làm nhân công, mọi thứ quanh tôi trở nên trừu tượng. Những giấc mơ thay thế cho hiện thực vào ban đêm cuối cùng cũng xâm chiếm cả những giờ thức tỉnh của tôi, trở thành một dòng chảy liên tục trong đó chỉ hư không mới có thể lý giải cho hư không. Thật nghịch lý, thực tế duy nhất giúp tôi sống sót lại là một thứ trừu tượng. Điều chống đỡ cho tôi trong thời kỳ dài vô tận đó không phải khuôn mặt của người yêu quý hay một hình ảnh thiêng liêng nào mà là một ảo giác kéo dài: một bàn cờ với những chớp sáng và bóng tối, nhanh chóng và phù du.
Chính xác nó xảy ra khi nào tôi không rõ. Tôi chỉ biết là đến một ngày tôi bắt đầu chơi một ván cờ vô tận. Ngồi ở phía đối diện bàn cờ là chính tôi hay Chúa của tôi, việc đó cũng chẳng mấy quan trọng. Ván cờ đó nhanh chóng chiếm hữu toàn bộ ý nghĩ của tôi. Không còn không gian cho bất cứ điều gì khác. Nó trở thành tín ngưỡng duy nhất, không thể thay thế của tôi.
Đúng là Torah đã cảnh báo chúng ta không được lấy những vật trần thế làm ảnh tượng. Nhưng những quy định như thế chắc chắn không phải dành cho những người bị ném sống vào Gehenna như tôi.
Ý nghĩ này không bao giờ từ bỏ tôi, ngay cả khi tôi tin mình sắp chết. Sau này tôi có dự phần vào một mưu toan bỏ trốn, một cách miễn cưỡng, vì tôi biết nó sẽ chẳng dẫn chúng tôi tới đâu. Chúng tôi sẽ vẫn nằm trong tay chúng dù có ở bên kia hàng rào thép gai, và không ai, chúng tôi hay những tên đao phủ của chúng tôi, một lúc nào đó có thể trồi lên nổi khỏi vị thế hèn hạ mà cả loài người đã rơi xuống, cho dù chúng tôi có vượt qua những biên giới đó và sống thêm một nghìn năm nữa. Có lẽ sự lãng quên chính là giải thoát duy nhất khả thi. Ấy thế nhưng tế bào nguyên thủy trong chúng ta vẫn tuân theo giới luật sơ khai, căn bản mà từ đó sự sống được cho là đã hình thành và được duy trì: Ngươi sẽ chạy trốn nỗi đau.
Sau khi đã trải qua giai đoạn cách ly và được phân cho một công việc, tất cả những gì tôi làm là đào. Chính xác đang đào gì thì chúng tôi không bao giờ được cho biết. Tôi thuộc về một nhóm được giao làm việc tại đường hầm, có lẽ là hầm ngầm dưới lòng đất, cách trại ít nhất tám trăm mét. Công việc diễn ra khó nhọc, vì công cụ có hiệu quả duy nhất chúng tôi được phát là một cái búa khoan cũ. Ngoài ra, chúng tôi phải xoay xở với cuốc chim và xẻng. Sau nhiều tuần lao lực, chúng tôi bắt gặp một thứ hang ngầm tự nhiên dẫn ra sau quả đồi vào rừng thạch nam qua một lối hẹp chúng tôi chỉ có thể bò qua, ra ngoài tầm nhìn của các chòi canh. Không ngờ rằng còn có một lối ra khác, đám lính canh giữ chúng tôi chỉ để tâm tới cổng vào. Chúng phỏng đoán rằng chúng tôi vào ở chỗ nào sẽ phải ra ở chỗ đó. Kế hoạch đào tẩu là đánh sập lối vào đường hầm và đi thẳng tới lối ra chưa ai biết trước khi kết thúc ca làm việc vào buổi tối. Nghĩ rằng chúng tôi bị kẹt bên trong, đám SS sẽ mất thời gian tìm cách đào để lôi chúng tôi ra. Sau khi ra khỏi đường hầm, chúng tôi sẽ tản ra, hy vọng chia nhỏ lực lượng những kẻ truy đuổi chúng tôi, ít nhất là tạm thời. Dù chưa hề biết phải đi đâu, chúng tôi tin chắc rằng không trở ngại nào gặp phải khi chạy trốn có thể tồi tệ hơn những gì chúng tôi phải chịu đựng hằng ngày.
Với sự thông đồng của người thợ may trong trại, chúng tôi có được những bộ đồng phục mà chúng tôi kiên nhẫn nhuộm đen bằng bụi than để trông giống quần áo dân thường, cho dù thuộc loại cắt may tệ hại nhất, ít nhất khi nhìn từ xa. Hoàn toàn tình cờ, chúng tôi chọn một ngày đặc biệt bận rộn cho chỉ huy trại. Hai nghìn người bị đày mới đã tới, đòi hỏi phải huy động toàn bộ trại.
Tất cả diễn ra như kế hoạch, và chúng tôi đã trốn được. Nhưng tôi không đi được xa. Chiếc đèn thợ mỏ tôi mang theo mình chẳng mấy chốc đã tắt, và trong lúc lần mò đi ngoài vùng đồng quê trong bóng tối, tôi ngã xuống một cái hố sâu, và một chân bị thương nặng. Tôi vật lộn lần mò tới được một cái lán bỏ không. Tôi trải qua cả đêm trong một ngăn chuồng nhốt cừu, nhưng chân tôi sưng phồng tới mức không thể đứng lên nổi.
Tới rạng sáng, tôi bị đánh thức bởi tiếng chó sủa và một giọng nói ra lệnh cho tôi giơ hai tay lên bước ra ngoài. Tôi bị giải về trại, ở đó tôi thấy chúng đã bắt lại tất cả chúng tôi, trừ một người. Nhưng trước khi tôi kịp mừng về người đó, tôi được cho hay anh ta đã bị giết trên đường. Chúng tôi sẽ phải nhận một hình phạt nghiêm khắc. Chúng muốn những người tù khác tận mắt thấy điều gì sẽ xảy ra với bất cứ mưu toan trốn trại nào. Từng người trong chúng tôi bị quật roi, sau đó chúng tôi phải chạy thành vòng tròn trên sân điểm danh, bị các trật tự viên hối thúc, dùi cui cao su của bọn họ (những vũ khí gây đau đớn vô cùng nhưng không làm gãy xương) đảm bảo không ai lỡ một bước. Chúng tôi chạy trong thứ vòng xoay ngựa gỗ bi hài đó mang trên cổ những tấm bảng viết: “Tôi yêu nơi này”.
Chúng bắt chúng tôi chạy tới khi kiệt sức. Chúng tôi trông thực sự lố bịch, nhất là tôi, vì tôi phải nhảy lò cò trên một chân. Kể cũng khó tin, cảm nhận về sự lố bịch là thứ cuối cùng chúng ta đánh mất, và những lời dè bỉu nhạo báng tới cả từ những người cùng cảnh tù tội như chúng tôi bị buộc phải tới xem màn trừng phạt, vì mưu toan trốn trại của chúng tôi sẽ đem đến những hình thức hành hạ mới cho cả họ nữa.
Tối đó, chúng tôi được đưa tới bệnh xá, tại đây chúng tôi ít nhiều được chữa trị cho lành lặn để nhận nốt phần còn lại của hình phạt, vốn sẽ tiếp tục cho tới khi chúng tôi không còn sức lực để làm gì hơn tựa lưng vào tường đủ lâu để bị xử bắn. Không phải hành vi trốn trại luôn bị xử tử, nhưng vì chúng tôi đã đánh sập lối vào đường hầm, tội trạng của chúng tôi bao gồm cả phá hoại. Hình phạt cho việc phá hoại là bị đội xử bắn hành quyết.
Khi chúng tôi bị điệu ra trước bức tường thì tôi đang sốt hầm hập. Bên chân bị thương của tôi bị nhiễm trùng, cơ thể tôi sưng phồng đầy vết bầm tím. Nhưng trong lúc quan sát chúng tập hợp thành hai hàng - một quỳ gối phía trước, một đứng phía sau - tôi lại nghĩ tới cờ vua, tới những quân cờ dàn thành hàng ngang trước nước đi đầu tiên. Những kẻ quỳ gối là các quân tốt, những kẻ đứng là những quân cờ khác. Tôi hình dung ra một kỳ thủ khổng lồ vô hình sắp sửa thực hiện nước ra quân của ông ta, và tôi đang bận rộn chuẩn bị cho thế phòng ngự của mình thì chúng nổ súng và tất cả mọi người đổ gục xuống. Tôi cũng ngã xuống, dưới thân hình của những người khác, tìm cách cảm nhận khoảnh khắc của cái chết, như thể khoảnh khắc đó có thể có hương vị gì không còn là của cuộc sống.
Nhưng dù có cố gắng tới thế nào, tôi cũng không chết hẳn đi được. Thực tế tôi vẫn có thể cảm thấy chính mình và xung quanh, bao gồm cả sức nặng của những thân người đè lên tôi và những giọng nói đang gào thét bên trên, thành ra tôi ngờ rằng tôi vẫn chưa chết - hay cái chết không phải là sự ngừng lại hoàn toàn của cảm giác. Một loạt những phát đạn riêng lẻ nối tiếp nhau bắt đầu vang lên: những phát súng kết liễu. Chẳng mấy chốc nữa sẽ đến lượt tôi, và điều đó chắc chắn sẽ chấm hết cho mọi ngờ vực, cùng với bất cứ khả năng cảm thấy ngờ vực nào. Vào khoảnh khắc ấy, tôi đánh mất mọi tri giác và tin rằng mình đã chết.
Tầm nhìn của tôi khi tôi rơi vào trạng thái vô thức có thể đã thuyết phục tôi rằng mỗi người có một thiên đường hay địa ngục được đo đạc cho vừa khít với số đo của chính chúng ta. Tôi không biết trong bao nhiêu ngày và đêm tôi đã chìm trong ảo giác về một ván cờ bất tận, cho tới khi vào một buổi sáng những hình bóng ghê tởm tràn ngập trong những giấc mơ của tôi biến thành hình người.
Tôi thấy mình trở lại bệnh xá, nằm dài trên một tấm đệm rơm. Một bác sĩ và một y tá đứng bên cạnh, quan sát tôi tỉnh lại với vẻ hài lòng. Tôi đang nằm ngửa. Tôi không cảm thấy đau. Tôi sờ người mình và không thấy vết thương nào. Chân tôi đã được băng bó lại cẩn thận. Thật không tin nổi, ngoài ra tôi không hề bị thêm vết thương nào khác. Có điều gì hay ai đó đã trì hoãn việc hành quyết tôi lại, nhưng tôi không có lý do nào để nghĩ việc đó được thực hiện vì lợi ích của tôi. Tôi không biết mình đã ở trong trạng thái nửa ngủ nửa thức đó bao lâu. Cuối cùng, tôi cảm thấy rằng sức lực của mình đang trở lại, rằng cơ thể tôi đang thể hiện những dấu hiệu của sự sống. Dẫu vậy, nơi này thường là điểm dừng chân tạm thời cuối cùng trước những cái lò thiêu xác. Điều kiện vệ sinh ở đây thậm chí còn tồi tệ hơn những nơi khác, vì nhiều bệnh nhân (xin thứ lỗi vì cách gọi lố bịch này) không thể tự chăm sóc cho bản thân họ. Tình trạng đông đúc vượt quá mức có thể tin nổi, hai hay thậm chí ba người đôi khi bị chất lên cùng một giường. Bệnh tật lan rộng thay vì bị loại trừ, người ta mắc phải những căn bệnh mới trong khi điều trị bệnh cũ. Có vô số trường hợp sốt tinh hồng nhiệt, sỏi và sốt phát ban. Gần như tất cả mọi người đều bị tiêu chảy vào một giai đoạn nào đó. Không có nước để uống hay rửa. Nhà xí là những tấm sắt tây với một cái rãnh phía dưới và hai cái trụ để ngồi lên. Vào buổi tối, chúng tôi dùng những chiếc bô sắt gần như không thể tìm thấy trong bóng tối. Ấy thế nhưng những chiếc áo choàng trắng vẫn đi lại giữa cảnh thối rữa này, các y tá và bác sĩ đi thăm bệnh nhân. Sự đối nghịch đáng kinh ngạc nhất là những người này, ngạo nghễ bước đi giữa các giường bệnh như những ngôi sao sáng đầy kiêu hãnh của y học, dừng chân lại để trò chuyện với các bệnh nhân về tình trạng của họ hay những tác động của việc điều trị, rất có thể cũng sẽ đưa ra án tử chỉ một khoảnh khắc sau. Tại bệnh xá, nó gần như luôn được thực hiện bằng một mũi tiêm formalin vào động mạch chủ, song việc thi hành hiếm khi được thực hiện tại chỗ. Các bệnh nhân được cho là không thể chữa được bị lôi đi tới một khu nhà gạch đằng sau các nhà xí. Chúng tôi gọi đó là lò mổ. Ở đó, họ bị bỏ lại, nhiều khi hàng ngày trời sau cái chết tức thì của họ. Việc lựa chọn được thực hiện gần như hằng ngày, những kẻ bất hạnh bị chọn bị tách ra khỏi những người khác, và để không làm bẩn giường, họ bị đặt lên những tấm vải dầu, và nằm đó chờ đợi số phận của mình, nhiều khi suốt mấy ngày trời, không hề được cho ăn hay cho uống, vì họ vốn đã bị đưa vào danh sách là chết rồi.
Ấy thế nhưng tại nơi này giờ đây tôi lại được dành cho các đặc quyền: khẩu phần đúp khoai tây và bánh mì, bơ thật, thậm chí có riêng một mình một cái giường. Bên chân bị thương của tôi đã được điều trị và không còn đau nữa. Tôi được cho hay tôi đã thoát khỏi bệnh nhiễm trùng máu chỉ trong kẽ tóc.
Một ngày nọ, một trật tự viên ra lệnh cho tôi đi theo ông ta tới một khu vực khác của bệnh xá, tại đây quần áo của tôi được cởi ra và tôi được cho một chầu tắm vòi sen nóng giãy. Sau đó, tôi được đưa tới chỗ một thợ cạo, ông ta cắt móng tay móng chân tôi cụt sát ngón và cạo không chỉ râu tóc mà toàn bộ người tôi, bỏ đi toàn bộ lông. Sau đó tôi được diệt chấy rận rồi trải qua một cuộc kiểm tra y tế cẩn thận. Không gây ra đau đớn quá mức hay chảy máu nhiều, một nha sĩ nhổ một chiếc răng hàm ông ta nói đã bị sâu (và đoan chắc với bản thân về lời chẩn đoán của mình bằng cách đưa cái răng qua dưới mũi ngửi như thể đó là nút của một chai vang lâu năm). Cuối cùng, chân tôi được băng bó lại và tôi được phát cho một bộ đồng phục, gần như mới và vừa được giặt.
Lúc này đã được thắng lên người bộ đồ bảnh nhất của mình, tôi được người trật tự viên dẫn qua sân điểm danh dưới ánh sáng chói chang cuối tháng Chín. Chúng tôi đi ngang qua các khu nhà trại tới khu nhà chỉ huy, và trước sự ngạc nhiên tột độ của tôi, đi qua các hành lang, lên các cầu thang, rồi dừng lại trước một cánh cửa có hai lính SS đứng gác. Trước khi người trật tự viên mở nó, ông ta đặt thứ gì đó vào lòng bàn tay tôi như thể một tấm bùa hộ mệnh. Tôi nắm chặt lấy nhưng không có thời gian để xem nó là gì, vì tôi bị đẩy vào một căn phòng. Cánh cửa đóng lại sau lưng tôi. Tôi đứng cách cửa một bước, đúng tư thế bất động được đòi hỏi để tránh bị phạt, bỏ mũ ra và tỏ thái độ khúm núm nhất có thể, trong khi vẫn lén nhìn quanh. Đây là một căn phòng khá rộng, sàn trải thảm. Hai lá cờ, với những phù hiệu đen nổi bật trên nền đỏ và trắng, treo trên bức tường bên phải tôi. Ở gần cửa sổ phía xa, đối diện với cửa vào tôi vừa đi qua, có một chiếc bàn làm việc lớn. Sau bàn là một chiếc ghế bành xoay ngược lại làm tôi chỉ có thể thấy phần lưng tựa cao của nó.
Đúng lúc ấy, cửa ngách mở ra và một phụ nữ mặc quân phục bước vào như thể từ cánh gà bước ra sân khấu. Cô ta tới bên ghế, cúi xuống nói thầm gì đó với người có vẻ đang ngồi đó, rồi quay người trở ra như đã vào. Chỉ vài khoảnh khắc sau chiếc ghế bành xoay nửa vòng để lộ ra người đang ngồi trên nó.
Ánh sáng chiếu vào từ sau lưng hắn. Tôi không thể thấy được nét mặt hắn và không nhận ra hắn ngay. Khi hắn ra hiệu bảo tôi lại gần, tôi bước qua khoảng cách vô bờ đó, mắt hạ xuống ngày càng thấp hơn khi tôi lại gần hơn. Cố không làm hỏng sự mềm mại quý giá của tấm thảm bởi đôi còng chân của mình, tôi dừng lại cách bàn hai bước chân như được yêu cầu. Có gì đó quen thuộc trong giọng nói. “Tôi trả lại thứ đã bị lấy đi một cách bất công khỏi anh,” nó nói. “Ván cờ cuối cùng của chúng ta kết thúc hòa, và tôi đã sơ ý bỏ túi cả đồng tiền cược của anh cùng với đồng của tôi.”
Tôi không hiểu hắn đang nói về cái gì. Cảm giác tội lỗi khác thường của tôi khiến tôi sợ rằng một hình phạt còn tồi tệ hơn nhiều so với cái chết giờ đây đang được dành sẵn cho mình, trong một góc khuất nẻo của ký ức có một đốm sáng nhận ra lóe lên nhưng không cháy hẳn được thành lửa, và khi nỗi sợ hãi tang tóc tôi cảm thấy với bộ quân phục đó tan đi, tôi nhìn thấy những nét con người của một khuôn mặt trên đó, cho dù tôi có cố gắng tới đâu đi nữa cũng không thể nhận thấy gì hơn ngoài sự lịch thiệp nhã nhặn và phong thái tao nhã chứng tỏ rất nhiều thế hệ được giáo dục chu đáo. Tôi đột nhiên vỡ lẽ ra thứ tôi vẫn cầm trong nắm tay. Đó là đồng một xu, và tôi nắm lấy nó chặt tới mức nó đã gần cứa rách da tôi.
Đúng vào khoảnh khắc đó dấu hiệu trên trán hắn lại lộ rõ với tôi, như thể một sự thấu hiểu mang điềm gở.
Đã mấy năm trôi qua, song thời gian đã tử tế với hắn. Nước da hắn thậm chí còn sáng hơn, mái tóc óng ả hơn. Cho dù cạo nhẵn ở cổ và thái dương, hắn đã được phép để một mái tóc làm dáng suôn mượt nhẹ nhàng gần như nhưng không hẳn là sát qua tai.
Thật chính trực làm sao! Là câu trả lời mù quáng và tự phát của tôi. Trả lại đồng xu cho tôi sau ngần ấy thời gian!
Hắn đã nói với tôi một cách lịch sự, cư xử với tôi như người ngang hàng. Đột nhiên có vẻ như tất cả mọi thứ tôi đã phải chứng kiến và chịu đựng chỉ là một trò đùa xấu xa, và cuộc sống đã đột ngột trở lại bình thường.
“Anh có thể đang tự hỏi,” hắn nói, “vì lý do gì mà anh có đuợc sự trợ giúp đã tới với mình trong bối cảnh khó khăn nhu vậy. Được lắm, tôi sẽ cho anh biết. Thật không may cho tôi khi tìm thấy trong đám đồng nghiệp của mình chỉ toàn những kỳ thủ kém cỏi thảm hại. Anh là hy vọng duy nhất của tôi để có cơ hội tận hưởng vài ván cờ ra hồn. Tất nhiên anh phải ý thức rằng chúng tôi đánh giá cao năng lực của các anh và tìm cách thừa nhận tài năng của các anh. Tất nhiên anh biết là ở trại này chúng ta có một nhóm nghệ sĩ và một ban nhạc, các thợ thủ công và thợ mộc khéo léo, người làm vườn và đầu bếp lành nghề. Tôi đoán là anh sẽ không có gì phản đối nếu với anh chúng tôi tìm cách... nuôi dưỡng... tài năng cờ vua của anh. Tất cả những gì tôi yêu cầu là anh chơi vài ván cờ mỗi tuần, chừng nào tôi có thời gian và hứng thú. Cứ nói luôn là điều đó sẽ cho phép anh có thêm vài cơ hội. Giờ hãy lại đây và ngồi xuống!”
Chỉ những lời cuối cùng này đuợc nói với giọng quyền uy không cho phép từ chối. Hắn lại quay lưng ra phía bàn. Tôi bước tới một bước và trông thấy một cái bàn nhỏ với một bàn cờ đã sắp sẵn. Cũng có cả một chiếc ghế đẩu. Tôi hiểu chiếc ghế đẩu là dành cho tôi, và tôi ngồi xuống không nói một lời.
Các quân cờ được làm bằng gỗ thích và gỗ mun, nhẵn nhụi nhưng không được đánh bóng, có chất lượng hoàn hảo, và cân đối khác thường giữa khối lượng và hình dáng. Phần đế quân cờ được lót nhung cho phép chúng êm ái lướt đi qua các ô vuông, trên đó chúng dừng lại bất động có phần cao ngạo.
Chúng tôi bắt đầu chơi, và những cảm nhận thị giác - xúc giác đã bị lãng quên, những động tác di chuyển quân cờ trên bàn vốn đơn giản dần dà mang trở lại một dòng hồi ức về thời thơ ấu và tuổi trẻ. Tôi nhận ra năng lực trí tuệ của mình vẫn còn nguyên vẹn, chưa có gì bị mất đi, một khám phá đồng thời là một ngạc nhiên choáng váng với tôi. Tôi vẫn là một con người, có cảm giác và cảm xúc. Những cảm nhận và ký ức trộn lẫn vào nhau, lao mạnh về phía hiện tại, quãng thời gian mà cho tới lúc đó vẫn dường như không thực. Vài lần tôi đã phải gắng kìm lại những giọt nước mắt thương thân đang làm cổ họng nghẹn thắt trong nỗi hoài niệm về tất cả những gì tôi đã mất. Ván cờ tiếp diễn gần như độc lập với ý chí của tôi. Được dẫn dắt bởi logic lạnh lùng của riêng chúng, các quân trắng lách xuyên qua giữa các quân đen, những lực lượng đối lập cân bằng lẫn nhau, và ở ngoài xa, như một ánh chớp, chập chờn những đường viền của giải pháp cuối cùng.
Đã bao lâu rồi kể từ lần cuối cùng tôi thi đấu với một đối thủ thực sự, đọ sức với một bộ óc khác chứ không phải chính mình, bằng những quân cờ tôi có thể thực sự cầm và di chuyển được? Có vẻ nhiều năm đã trôi qua kể từ lần cuối tôi mân mê đầu một quân hiệp sĩ hay chóp mũ của một quân giám mục, nhưng trên thực tế tôi đã chơi cờ với bố tôi chỉ vài tháng trước đó, trong ngôi nhà là nơi ẩn náu cuối cùng của chúng tôi. Tôi nhớ về khu ngoại ô ở Linz đó, nơi dưới những cái tên giả chúng tôi đã sống một cuộc sống giả tạo không kém với bề ngoài bình yên, một sự tồn tại bình thường quen thuộc, với những thói quen hằng ngày bình lặng tới mức có những lúc, cho dù chỉ kéo dài vài khoảnh khắc, chúng tôi ảo tưởng được an toàn. Nhưng tôi tự hỏi sự hư cấu ấy có thể kéo dài được bao lâu, vì những lời buộc tội chống lại chúng tôi dường như nằm trong ánh mắt của mọi người qua lại và trên nụ cười của mọi chủ cửa hàng, và thậm chí cả trong những cử chỉ lịch sự chân thành. với mỗi tiếng chuông gọi cửa và mỗi tiếng bước chân trên cầu thang, chúng tôi đều tin rằng thời điểm của mình đã tới.
Bằng một khoản tiền cực lớn, bố tôi đã thuê một người đàn ông có tên Bauer, một người gác rừng, để thu xếp một cuộc chạy trốn trên một chiếc sà lan chạy dọc theo sông Danube. Chúng tôi sẽ rời đất nước chỉ sau vài ngày nữa. Bố tôi báo tin cho cả nhà trong bữa tối. Ông rất vui. Ông mở một chai vang Rhine lâu năm. Rượu vang đã bị hỏng, nhưng không ai phàn nàn. Ngày hôm ấy trôi qua trong yên bình. Mẹ tôi chơi vài đoạn trong Sổ tay cho Anna Magdalena trên đàn piano, và có vẻ như chúng tôi đã thoát khỏi hiểm nguy. Một buổi tối tháng Năm ấm áp buông xuống. Đó là lúc bố tôi lấy bàn cờ ra và gợi ý chúng tôi chơi một ván. Đã nhiều năm rồi. Bố con tôi đã nhất trí không chơi cờ từ ngày ông không còn là sư phụ của tôi nữa, nhưng tối đó bố tôi nhất quyết thách thức tôi, và chúng tôi bắt đầu chơi dưới ánh sáng yếu ớt của một cây đèn với chiếc chụp giấy xanh xanh. Chúng tôi dành ra hàng giờ ngồi yên vị bên bàn cờ đó. Bố tôi đang thua, và tôi đang không chắc liệu có nên vờ rơi vào cái bẫy tuyệt vọng cuối cùng của ông hay không thì chuông cửa reo, và Bauer lên nhà. Ông ta tái mét. Có chuyện gì đó đã diễn ra không suôn sẻ. Ông ta sợ ai đó đã tiết lộ. Ông ta không có thời gian để hoàn tất mọi thứ. Người của Gestapo đang bám theo sát sau lưng ông ta.
“Đến lượt anh đi.”
Những lời này làm tôi giật mình bừng tỉnh khỏi giấc mơ ngày của mình. Thế trận trên bàn cờ hiện ra trong tầm mắt. Một lần nữa tôi lại tự hỏi cần làm gì: vờ rơi vào cái bẫy kém cỏi, trẻ con của hắn hay tránh khỏi nó với nước cờ sẽ đem lại chiến thắng? Tôi do dự một khoảnh khắc, nhưng rồi quyết định thua - tôi phải thú nhận là hoàn toàn vì sợ. Phải, tôi đã để mình bị đánh bại một cách tao nhã, ván cờ tiếp diễn thêm một hồi khá lâu, đối thủ của tôi buộc phải phòng thủ quyết liệt trước những cuộc tấn công ra đằng sau của tôi. Nhưng tôi thua ván cờ.
Tôi được đưa trở lại bệnh xá, và đến 9 giờ tôi ngủ thiếp đi, song đến giữa đêm một trật tự viên đánh thức tôi dậy và lệnh cho tôi đi theo anh ta. Tôi im lặng tuân theo. Đưa ra các câu hỏi chỉ khiến anh ta khó chịu. Chúng tôi ra ngoài trại. Khu rừng thạch nam được trăng lưõi liềm chiếu sáng. Chúng tôi gặp một nhóm người nhỏ: hai sĩ quan SS mang đèn pin và một người tù gập đôi người lại vì đau. Năm người chúng tôi bước tới chỗ một lùm thông rụng lá nằm trên đỉnh một ngọn đồi nhỏ cách trại không xa. Người tù được lệnh cởi quần áo ra và bị trói vào một thân cây không chút khách khí. Hai chiếc đèn pin được chiếu vào anh ta, và lần đầu tiên tôi nhìn thấy khuôn mặt người tù cũng như những vết bầm tím ở bụng và bụng dưới anh ta. Ghê sọ, tôi cố gắng đảo mắt tránh đi nhưng bị buộc phải nhìn. Khi tôi cúi đầu xuống, tay trật tự viên nâng nó lên bằng một cú nện với chiếc dùi cui cao su của y. Người tù còn trẻ, chỉ tầm hai mươi, cho dù rất tiều tụy, roi hoàn toàn vào trạng thái chỉ còn là một bộ xương biết đi, tới mức việc áp cho anh ta một độ tuổi chỉ là vấn đề thuần túy quy ước. Chỉ có thể đoán ra được độ tuổi ấy từ đôi mắt đen và lanh lợi của anh ta, đôi mắt của một cậu thanh niên trên khuôn mặt ông lão. Anh ta đứng trước những kẻ hành hạ mình và khóc, cầu xin chúng đừng giết anh ta, quả quyết rằng anh ta đã không làm gì. Tôi đoán chừng từ câu trả lời của một trong hai gã SS là anh ta đã bị buộc tội ăn cắp một chiếc áo. Gã vừa nói với người tù lúc này lại gần anh ta, rút một khẩu súng ngắn ra khỏi bao, rồi bắn vào mặt anh ta. Thân hình cậu thanh niên khuỵu xuống tựa vào thân cây và bị buộc vào đó, một túi xương thảm hại lủng liểng rũ xuống từ dây trói. Khi còn sống, trong anh ta đã gần như chẳng có gì; khi chết rồi cơ thể anh ta dường như trống rỗng, như xác của một con chim mắc trong lưới. Xong việc, kẻ hành quyết liếc nhìn xuống ủng của hắn với vẻ ghê tởm, có thứ gì đó đã bắn lên đó. Vừa chửi rủa, hắn vừa chùi cái ủng lên bộ đồng phục của người tù, đang nằm vo viên một đống dưới đất. Khi hắn quay sang tôi, tôi sợ rằng mình là kẻ tiếp theo, và hẳn tôi đã có vẻ mặt thật lạ lùng, vì cả ba bọn chúng bắt đầu tặc lưỡi. Chúng cười đùa và pha trò suốt quãng đường trở về. Chúng tôi quay trở vào trại như một nhóm người ham vui đi chơi đêm đang vác kẻ say nhất trong đám trở về nhà.
Hành vi tàn bạo nhẫn tâm này ám ảnh tôi suốt nhiều ngày, không ngừng xuất hiện lại trước mắt tôi. Nhìn vào đâu tôi cũng thấy khuôn mặt anh ta, vì sự hốc hác thê thảm khiến tất cả chúng tôi đều giống nhau, đem đến cho chúng tôi cùng vẻ mặt, cùng ánh mắt mụ mẫm, cùng hai hàm răng tôi đã thấy nghiến chặt lại khi phát súng sắp sửa giết anh ta.
Nhưng tôi không thể thôi tự hỏi vì sao tôi lại bị buộc phải chứng kiến cái chết của anh ta. Cái giá chúng quyết định bắt tôi phải trả là gì vậy? Một sinh mạng nữa đánh đổi cho tính mạng tôi, với điều kiện tôi có mặt và hoàn toàn ý thức được cuộc đánh đổi chăng? Tất nhiên, đó không phải là cuộc hành quyết đầu tiên tôi chứng kiến, song có thể nói nó đã được dàn dựng để dành cho tôi. Nhiều ngày trôi qua tôi mới có thể quên được nó, vì nỗi kinh hoàng sớm được thay thế bởi chính nỗi kinh hoàng.
Tôi được gọi tới để chơi ván cờ thứ hai, và thêm lần nữa tôi đối diện với một lựa chọn khó khăn. Đối thủ của tôi đang trên đà thắng, lần này hoàn toàn xứng đáng, thì đột nhiên hắn phạm phải một sai lầm thô thiển. Cho tới lúc đó hắn đã chơi trên cơ không thể chối cãi, nhưng giờ hắn lâm vào thế khó khăn. Tình thế của tôi cũng đang nguy hiểm, song vì những lý do khác. Tôi đang đứng trước ngã ba: một lối rẽ dẫn tới một chuỗi nước đi đem về chiến thắng, lối rẽ còn lại là một chuỗi tiếp diễn dẫn tới một ván hòa. Tôi bị nỗi hoài nghi giày vò. Thắng sẽ thật dễ dàng, nhưng liệu tôi có thể duy trì được thái độ khúm núm khi chiến thắng không? Tôi sợ phải tìm ra câu trả lời, và vì thế đã chọn hòa. Nhưng tôi ngạc nhiên thấy đối thủ của tôi không thể hiện bất cứ dấu hiệu hài lòng nào. Hắn cũng chẳng phải tay mơ. Quả thực, thậm chí hắn còn cau mày thất vọng.
Chân tôi đã lành, nhưng tôi vẫn chưa phải quay về trại lao động. Giờ đã rõ là tôi đã được dành cho ưu đãi đặc biệt từ chỉ huy trại. Tôi sợ rằng mình sẽ phải trả giá đắt cho chúng.
Có lẽ chúng nghĩ tôi phải được giao cho gì đó để làm, hay có thể chỉ vì chúng muốn nhắc nhở tôi rằng tôi vẫn đang ở một nơi chết chóc, nhưng dù vì lý do nào đi nữa, vào buổi tối sau ván cờ thứ hai, một lần nữa tôi lại bị gọi đến chứng kiến một cuộc hành quyết: cuộc treo cổ hai tù nhân ngoài sân điểm danh. Ban nhạc của trại đệm cho điệu nhảy cuối cùng của họ. Có phải tôi cần coi đó cũng là một ưu đãi hay không?
Thời gian biểu dường như gồm hai ván cờ mỗi tuần. Ba ngày trôi qua, và chúng tôi đối diện trong ván cờ thứ ba. Với tôi các ô vuông của bàn cờ là nơi cuối cùng trên thế giới tôi còn có thể cảm thấy tự do, một không gian nhỏ xíu sớm mở rộng ra thành một vũ trụ vô biên. Ấy thế nhưng tôi bị buộc phải bạo lực với bản thân mình, phải nhét đầy đá vào giày như người ta vẫn nói. Mạng sống của tôi phụ thuộc vào việc không để bản thân mình hạ nhục hắn. Tôi thận trọng không ra đòn quá mạnh và để mình bị dính đòn ngay cả khi biết tôi có thể đỡ được các cú đòn. Nhưng tôi cũng phải thận trọng để làm tất cả có vẻ tự nhiên và không tính toán. Nói cho cùng, hắn là một kiện tướng có thể phát giác ra sự giả tạo.
Tôi xấu hổ với cách chơi của chính mình nhưng vẫn làm những gì có thể để đảm bảo hắn hài lòng với cách chơi của hắn. Tôi cố ý rơi vào bẫy, chấp nhận thứ tôi biết là những hy sinh gây bất lợi. Điều đó giống như bước đi trên dây. Những cơ hội tôi buộc phải bỏ lỡ càng đẹp, thì càng khó để thua. Một kỳ thủ tự trọng tìm cách chiến thắng khi cầm quân trắng và không thua khi cầm quân đen; còn tôi tìm cách hòa khi cầm quân trắng và để mình bị đánh bại khi cầm quân đen. Tôi cảm thấy buồn nôn mỗi lần chọn một chuỗi nước đi dẫn tới thất bại. Tôi phải làm trái bản chất của mình, như thể bị buộc phải chối bỏ Chúa của mình vậy.
Vậy là tôi lại cho phép mình bị vượt qua trong cả ván cờ thứ ba này. Nhưng khi bị đưa trở về khu nhà giam và cửa đóng sập lại sau lưng, tôi bị ám ảnh bởi một dự cảm không lành rằng có điều khủng khiếp sắp xảy ra.
Đúng như tôi đã sợ, tôi lại bị đánh thức giữa đêm. Trong khoảnh khắc, tôi nghĩ tôi đã thấy khuôn mặt của bố, như thể ông tới lay tôi dậy khỏi một giấc ngủ để thực hiện hình phạt tôi đáng phải nhận vì những tội lỗi của tôi. Ấn tượng ấy chỉ kéo dài trong một khoảnh khắc. Chiếc đèn pin ở cách mặt tôi chừng một bước chân chiếu ra một quầng sáng chói mắt. Ai đó hét to rằng tôi phải dậy ngay lập tức. Tôi không hỏi mình đang bị đưa đi đâu. Tôi biết mình sẽ sớm biết thôi.
Đó là một đêm không trăng, quầng sáng của chiếc đèn pin cung cấp nguồn sáng duy nhất. Toán lính giải tôi đi chắc phải gồm sáu tên hoặc hơn, nhưng tôi chỉ có thể phân biệt được những cái bóng trong màn đêm gần như tối hoàn toàn. Hai trong số chúng đang đùa cợt với nhau, có lẽ là về tôi. Một trong số chúng hỏi bâng quơ thành tiếng rằng liệu tôi đã bao giờ đi săn chim cút chưa. Chúng tôi dừng lại ở một khoảng đất trống, có thêm hai gã SS nữa đang đợi ở đó. Những chiếc đèn pin đã được đặt xuống đất. Khắp quanh chúng tôi là bóng tối dày đặc, dẫu vậy dường như tôi vẫn cảm thấy chuyển động, có tiếng gì sột soạt. Có tiếng thì thào như một lời cầu nguyện khe khẽ, cho dù nhìn về hướng âm thanh vọng lại, tôi lại không thấy gì. Tôi nghĩ, và có lẽ cả hy vọng, rằng đó chỉ là một chút tưởng tượng của mình. Màn đêm lúc này dường như trong mờ. Một vệt tối đen không thể xóa đi được nổi bật ra trên mặt đất, trong khi những chỗ khác được quét qua bởi một luồng sáng lóa lẫn sương đêm. Khi đó, và chỉ khi đó, tôi mới trông thấy cái hố. Nó rộng hơn một mét tám, dài hơn hai mét bảy và không sâu lắm, gần như một chỗ lõm xuống tự nhiên trên mặt đất. Ở dưới hố là những mặt người.
Ai đó đã bật những chiếc đèn lên. Sáng hơn, và cùng với ánh sáng là tiếng chim kêu ngày một to. Trong một hồi không ai nhúc nhích, nhưng rồi một mệnh lệnh được đưa ra. Một gã trong đám SS lại gần cái hố, đi vòng quanh, tháo lưõi lê ra khỏi súng trường của hắn, quỳ gối xuống, và thò xuống dưới hố như thể dùng một cái môi để khuấy một cái vạc khổng lồ. Hắn đang cắt dây trói các tù nhân. Khi hắn đứng lên và lắp lê vào súng, những tên khác lại gần, đẩy tôi lên trước chúng. Tiếng khóc lóc dưới hố bị dập tắt bởi những tiếng chửi rủa của gã đội trưởng, kẻ đang gào lên to hết cỡ lệnh cho tất cả họ phải đứng dậy. Những dáng người bắt đầu định hình, những đôi chân dường như đang tái tạo tư thế đã quên lãng, những thân mình lần lượt đứng dậy như thể trả lời tiếng kèn vang lên ngày Messiah xuất hiện. Họ được lệnh cỏi hết đồ đang mặc ra. Họ là - hay đã từng là - phụ nữ. Bốn phụ nữ với độ tuổi không thể xác định được. Gã lính đã cắt dây trói cho họ bảo họ rằng họ được tự do rời đi, hối thúc họ rời đi càng nhanh càng tốt, trước khi hắn đổi ý. vẻ sững sờ đờ đẫn lóe lên trên bốn khuôn mặt. Mệnh lệnh yêu cầu họ chạy nhanh nhất có thể giờ đây được lặp lại với vẻ đe dọa.
Bốn thân hình xanh xao đang vung vẩy tay chân xuất hiện từ dưới hố và bắt đầu bước đi, loạng choạng, vấp ngã, đứng dậy, rồi cuối cùng vụt biến thành một cuộc chạy trốn ác mộng về phía rừng thạch nam, được che phủ dưới màn suông mù đầu tiên lúc tảng sáng. Các chốt an toàn kêu lách cách và những viên đạn đuợc nạp. Toán lính thong thả chuyển sang tư thế bắn, chờ đợi vừa đủ lâu để cuộc thi có tính thể thao. Rồi cuộc “săn chim cút” bắt đầu.
Không còn nghi ngờ gì nữa, cái giá cho vị thế đuợc ưu đãi của tôi là quá đắt. Buộc tôi phải chứng kiến các cách thức tàn sát của chúng cũng chẳng khác nào đưa tôi nhập cuộc. Đó là một gánh nặng khủng khiếp đè lên lương tâm của tôi. Nhưng tôi tự hỏi mục đích là gì. Chúng sẽ không để một nhân chứng tận mắt được sống lâu. Không lẽ chúng muốn tước của tôi bất cứ quyền ảo tưởng có thể nào ngay từ đầu? Hay chuyện này có liên quan gì đó tới các ván cờ? Giả thuyết sau có vẻ ngày càng hợp lý. Tôi hình dung đây là một nỗ lực nhằm làm tôi suy mòn, làm cạn kiệt sự sáng suốt của tôi và cướp đi của tôi khả năng tập trung. Tôi đang phải đối diện với một kỳ thủ không dừng lại trước bất cứ điều gì để chiến thắng. Tôi chắc chắn không thể quên điều đã xảy ra ở Vienna trước lần chạm trán cuối cùng của chúng tôi trước chiến tranh. Nhưng nếu hình thức tra tấn này là nhằm để hủy diệt sự tập trung của tôi, tại sao nó lại diễn ra sau mỗi ván cờ, cho tôi thời gian bình phục lại trước ván cờ tiếp theo, thay vì diễn ra ngay trước mỗi ván cờ? Nếu việc này quả thực có liên hệ với các ván cờ của chúng tôi, có vẻ nó là hậu quả trực tiếp hơn là một biện pháp phòng trước.
Cả một tuần trôi qua tôi mới lại được gọi. Chỉ nghĩ về những gì có thể xảy ra sau đó cũng khiến ý niệm chơi cờ thật khủng khiếp với tôi. Cứ như thể tôi đã quên mất ngay cả những quy tắc cơ bản nhất của trò chơi này. Tôi vẫn bị đưa tới chỗ cũ. Bàn cờ đã sẵn sàng, và đối thủ của tôi dường như được bao trùm trong vầng hào quang bất khả chiến bại. Hắn lịch sự khác thường, thậm chí còn mời tôi thuốc lá.
“Hôm nay ngài thấy thế nào, quý ngài thân mến?” “Không khỏe.”
Vẻ ngạc nhiên của hắn rõ ràng là thái quá. “Thật sao? Tại sao vậy? Chẳng lẽ mệnh lệnh tôi đưa xuống là phải đối xử với anh với tất cả sự tôn trọng lại không được tuân theo? Thức ăn chăng? Chẳng lẽ họ không cho anh ăn đủ?”
“Tôi không thể phàn nàn về thức ăn.”
“Có lẽ chỗ ở của anh không có lợi cho sự tập trung.”
“Tôi không thể đòi hỏi hơn.”
“Vậy thì sao!” Giọng nói của hắn lộ ra chút khó chịu. Rõ ràng hắn sẽ không chấp nhận sự giễu cợt từ một người Do Thái, nhất là một người Do Thái ở vị thế của tôi. Ấy thế nhưng tôi đã không hề nói năng một cách giễu cợt. Không phải là vì tôi không thể hình dung ra cái gì hay hơn, tôi chẳng thể hình dung ra thứ gì cả.
Vì thế, tôi đi thẳng vào vấn đề. “Họ đã đánh thức tôi dậy vào ban đêm,” tôi nói.
“Ai đánh thức anh dậy vào ban đêm cơ, quý ngài thân mến? Những ý nghĩ xấu xa của chính anh chăng?”
“Tôi không biết. Có thể là người thuộc đội cảnh vệ.”
“Và tại sao họ lại làm thế?”
“Họ ra lệnh cho tôi đi theo họ để chứng kiến những vụ giết người.”
Hắn im lặng trong khoảnh khắc, như thể tìm kiếm đúng từ nhằm chia sẻ một bí mật sâu kín với tôi. “Tôi không nghĩ cách chơi cờ của anh được như trước đây,” cuối cùng hắn nói. “Nó có gì đó đi xuống.”
“Tôi không hiểu.”
“Anh sẽ hiểu, quý ngài thân mến, anh sẽ hiểu,” hắn đột ngột buột ra, hé lộ sự thù địch hắn đã kiềm chế được cho tới lúc đó. “Anh biết rồi đấy, chính tôi đã phái những người đó tới.”
Tôi vẫn không hiểu.
“Quý ngài thân mến, nếu có ai đó từng có thể tự hào là đã lừa được tôi, tôi có thể cam đoan với anh đó sẽ không thể là một gã Do Thái. À, nòi giống của anh! Ranh mãnh không thể tin nổi, các người là thế phải không? Anh giả bộ không hiểu, nhưng tôi chỉ đơn giản là không thể tin chỉ vài tháng ngắn ngủi trong kỷ luật hà khắc của trại này có thể biến anh thành thứ nghiệp dư hạng bét. Nghe đây, quý ngài thân mến, rằng nếu tôi chừa mạng sống cho anh, thì chỉ vì tôi trông đợi được đối diện với một đối thủ xứng đáng với danh tiếng của anh ta. Anh đừng có đùa với tôi. Tôi không chấp nhận điều đó. Anh đáng lẽ có thể thắng ván cờ đầu tiên. Anh đã cố ý hòa ván thứ hai. Về ván thứ ba tôi thậm chí sẽ không nói tới nữa.”
Tôi phản đối với tất cả sức lực còn lại. “Không đúng,” tôi lớn tiếng. “Tôi không còn là chính mình ở nơi này. Tôi không có sức lực hay sự tập trung hoặc phẩm giá. Tôi không thể chơi như tôi đã từng chơi khi tất cả những thứ này đã không còn.”
Trong một khoảnh khắc, hắn dường như xem xét nghiêm túc lời phản đối của tôi. Hắn bước lại gần và đi vòng quanh tôi, nhìn chằm chằm vào đầu tôi như một thợ cắt tóc kiểm tra kết quả làm việc của mình. Hắn có vẻ tò mò về điều gì đó trong hình dáng xương sọ của tôi.
“Anh thấy đấy, quý ngài thân mến, kể từ khi chúng ta gặp nhau, tôi đã luôn tự hỏi ai trong chúng ta là kỳ thủ giỏi hơn. Hồi đó, nếu tôi nhớ không lầm, cả hai chúng ta đều đuợc coi là ứng cử viên tiềm năng cho chức vô địch thế giới. Đúng là chúng ta còn một quãng đường dài phải đi, nhưng khả quan. Thật không may, các biến cố lịch sử đã tước mất của chúng ta niềm đam mê chung. Sự nghiệp của anh bị hủy hoại - và của tôi cũng vậy. Khi biết được anh đang ở đây, trong trại này, tôi coi đó là một dấu hiệu của định mệnh. Cuối cùng, tôi tự nhủ với mình, chúng ta sẽ có cơ hội để đọ sức. Nhưng tôi biết sự chênh lệch của hoàn cảnh sẽ khiến cuộc đấu không còn giá trị. Chính vì thế tôi đã ra lệnh để anh có được đồ ăn thức uống cần thiết. Như anh hẳn đã nhận ra, tôi thậm chí đã miễn lao dịch cho anh. Ấy thế nhưng vẫn còn một mối nghi ngờ: liệu tôi có thể trông cậy vào mong ước chiến thắng trọn vẹn của anh được không, hay anh sẽ nhường bước trước cám dỗ của việc nịnh bợ tôi bằng cách chơi dưới sức mình, chỉ để đảm bảo cho bản thân một cuộc sống dễ chịu? Vì thế tôi quyết định rằng chúng ta cần đặt cược. Bất cứ ai đã đặt cược, dù nhỏ tới đâu, cũng không thể cho phép mình được chơi gian lận.”
“Tôi không thấy tôi có thể đặt cược cái gì.”
“Và đó là điều anh lầm đấy, quý ông thân mến. Anh đã luôn đặt cược từ đầu.” Có vẻ thích thú trước sự kinh ngạc của tôi, hắn tỏ ra ngạo mạn, như thể buộc phải hạ cố giải thích một nguyên lý triết học cho một kẻ thiểu năng trí tuệ. “Hãy để tôi kể cho anh nghe một câu chuyện về đánh bạc.” Hắn ngồi xuống ghế bành của mình, bắt tréo chân, tận hưởng khoái cảm hắn sẽ có được từ câu chuyện của mình.
“Một ngày nọ, một điền chủ nhà quê đang đi thăm đất của mình thì bắt gặp hai kẻ quê mùa đang chơi bài, ăn thua bằng đậu khô thay vì tiền. Ông ta hỏi những hạt đậu có phải là thẻ chơi hay không, hay nói cách khác có phải chúng đại diện cho tiền hay không. Hai kẻ quê mùa trả lời là không, đó chỉ là những hạt đậu bình thường. ‘Nhưng chơi vì mấy hạt đậu khô thì nghĩa lý gì chứ?’ điền chủ thốt lên. ‘Mấy hạt đậu này là tất cả những gì chúng tôi có hai người quê mùa đáp.”
Hắn ngừng lời để tôi có thời gian suy nghĩ.
“Bây giờ, anh biết rất rõ là tôi không bao giờ chơi mà không có cược. Cho dù món cược đó chỉ là tượng trưng, nhưng nhất thiết theo cách nào đó nó phải thể hiện một mất mát cho kẻ thua cuộc. Tôi tự hỏi nên đặt cược thế nào ở đây, nhất là khi anh chẳng sở hữu gì ngoài đồng xu tôi đã trả lại anh. Một khi mất nó, anh sẽ trắng tay. Hay anh nghĩ mình có thứ gì khác ngoài đồng xu đó?”
“Không,” tôi đáp.
“Anh chắc chứ?”
“Tôi vẫn còn có tính mạng mình.”
“Đúng: tính mạng anh. Đừng tưởng tôi đã không nghĩ tới nó. Tính mạng cũng là một thứ tuyệt vời để đặt cược. Rất lãng mạn khi được chơi vì tính mạng của mình. Nhưng tôi sẽ mất đối thủ cùng với thất bại đầu tiên của anh ta. Trừ phi anh có chín cái mạng, như một con mèo.” Hắn tặc lưỡi, chờ đợi xem tôi có tán thưởng trò đùa hay không nhưng công cốc. “Quý ngài thân mến, tôi thừa nhận rằng vào một thời điểm tôi đã cảm thấy mình ở gần một giải pháp. Ngoài tính mạng anh, tôi tự nhủ với mình, anh cũng sở hữu một thân thể, với mười ngón tay, mười ngón chân, hai mắt, một cái mũi, và vài thứ phụ khác. Sao không nhỉ? Thật cám dỗ. Tôi lấy ý tưởng từ Người lái buôn thành Venice. Một cân thịt ư? Tôi thậm chí đã thảo luận điều đó với bác sĩ của trại, người rất hào hứng với nó. Nếu có chăm sóc y tế chu đáo, sẽ không có nguy cơ nhiễm trùng, và quá trình phục hồi, hiểu theo nghĩa lâm sàng thuần túy, sẽ khá nhanh. Tôi bác bỏ ý tưởng đó chỉ vì nó sẽ buộc tôi phải chấp nhận sự vắng mặt của anh trong những quãng thời gian, chúng ta hãy gọi là bình phục nhỉ, sau những ván thua của anh. Và tất nhiên tôi sẽ không thể tuyên bố đã chơi cờ với một đối thủ... còn nguyên vẹn.” Hắn lại bật cười. “Nhưng hơn hết như thế sẽ không công bằng, vì chúng ta không thể đưa ra những món đặt cược có giá trị tương đương.
Cho dù tôi có thể đưa ra nhiều đến đâu đi nữa, kể cả những đồng tiền bằng vàng thuần chất nhất lúc ấy hẳn cũng sẽ ít có ý nghĩa với anh hơn những hạt đậu khô nọ. Nhưng cuối cùng tôi cũng được một ý tưởng khai sáng. Tôi thật ngốc vì đã không nghĩ tới nó sớm hơn. Có một thứ cả hai chúng ta cùng sở hữu với số lượng lớn và cả hai đều có thể đưa lên bàn, cho dù phải thừa nhận là mỗi người chúng ta sẽ gán một giá trị khác nhau cho các món cược.”
Đến đây hắn mở một ngăn kéo bàn làm việc của mình ra và đưa cho tôi một cái phong bì, tôi cầm lấy nó và lật đi lật lại trên hai bàn tay. Ở bên ngoài hắn đã viết: “Để anh có thể nghĩ tốt hơn.”
“Giờ anh có thể đi,” hắn nói. Một tên lính SS vào áp giải tôi. Tôi mở phong bì ra trong lúc chúng tôi đi dọc theo khu vực cấm lai vãng ở gần hàng rào thép gai. Trong đó là những bức ảnh, những khuôn mặt của những người chắc chắn là tôi không biết. Ở sau mỗi tấm ảnh là họ và tên, ngày tháng năm sinh và ngày tháng tử vong. Ngày tháng cuối cùng này rất gần đây, trùng họp với các ván cờ của chúng tôi. Đột nhiên tôi nhận ra đôi mắt của người thanh niên tôi đã thấy bị trói vào một thân cây và sát hại bằng một phát súng vào mặt, cuộc hành quyết đầu tiên chúng bắt tôi chứng kiến.
Chỉ khi đó tôi mới hiểu ý hắn khi hắn nói có một món mà cả hai chúng tôi đều có thể đánh cuợc; chỉ khi đó tôi mới hiểu chúng tôi đang chơi cờ để đổi lấy mạng người, những mạng sống mà tại Bergen-Belsen không đáng giá bằng một đồng xu, không bằng một nắm đậu khô.
Đó là lúc cuộc đấu của chúng tôi bắt đầu. Nó đuợc chơi dưới các quy tắc London năm 1927, giống như cuộc tranh chức vô địch Alekhine-Capablanca: người đầu tiên giành được sáu ván thắng sẽ giành phần thắng. Các ván hòa không đuợc tính.
Lựa chọn tù nhân bị kết án (vật đánh cuợc) sẽ được thực hiện từ danh sách các tù nhân ở tình trạng sức khỏe đủ tốt để cái chết sẽ không phải là sự giải thoát với họ. Với những ván hòa, bản danh sách sẽ không đuợc xem đến; với mỗi chiến thắng của hắn sẽ là cái chết của một số lượng tù nhân tăng dần theo tỉ lệ tương ứng tại từng bước, như đã thực hiện trong ba ván đầu tiên. Với mỗi thất bại của hắn, tôi sẽ đuợc chấp nhận xóa một số tương tự cái tên ra khỏi danh sách. Những người này sẽ được loại ra khỏi cuộc chơi, qua đó tính mạng của họ đuợc chừa lại (ít nhất là lúc đó).
Đây là một cuộc đấu không khoan nhượng kéo dài suốt mùa đông. Dù rằng chơi ở một hành tinh khác, nó có đủ tính chất của một cuộc đấu giành danh hiệu vô địch thế giới, mục tiêu mỗi người chúng tôi đều tự đặt ra cho mình ngày trước.
Cũng chính trong cuộc đấu này mà tôi đã hình thành nên biến thể của tôi. Giữa các ván đấu, đối thủ của tôi có thoải mái thời gian để nghiên cứu các chiến lược nhằm ngăn chặn đòn phản công của tôi, nhưng tiềm năng của nó vẫn là vô giới hạn. Mục đích tối hậu của chuỗi nước đi vốn bắt đầu hàng thế kỷ trước và vươn tới tận khoảnh khắc sống còn này trong câu chuyện của chúng ta giờ đây trở nên rõ ràng với tôi, và chính bổn phận này cho phép tôi tìm lại được tất cả sức mạnh của mình trong cơn nguy kịch đó. Nếu từng có lúc nào tôi chơi cờ với mọi tế bào trong cơ thể mình, với cả tâm hồn và trái tim, với sức nặng của ký ức mà tất cả các thế hệ xưa truyền lại, thì đó là cuộc đấu dài bất tận vào mùa đông năm 1944. Nhưng có một điều chắc chắn: nó đốt sạch năng lực tưởng tượng của tôi. Nếu có lúc nào tâm trí tôi có khả năng tạo ra điều gì độc đáo mới mẻ, thì chính là khi đó. Nhưng nếu thách thức đó, không nghi ngờ gì nữa, xứng đáng có một chỗ trong catalô những lầm lạc con người, nó sẽ không bao giờ có được vị trí tương tự trong lịch sử cờ vua. Không người mê cờ nào trải qua cùng những nước đi ấy ngày nay có thể ngờ rằng với chính những nước đi này, người ta đã tranh đấu, không phải vì danh tiếng hay tiền bạc, mà cho tính mạng của người khác.
Cuộc thách thức đã tạo ra nhiều ván hòa và kết thúc bằng thắng lợi của tôi. Nhưng tôi phải chịu hai thất bại, và vì điều đó tôi đã buộc phải chứng kiến cái chết của hai mươi tư tù nhân, những người chắc chắn không bao giờ ngờ số phận họ đã bị định đoạt trên một bàn cờ. Tôi vẫn còn ảnh của tất cả họ, như Hans đã thấy, vì những người đàn ông và phụ nữ đó, hoàn toàn xa lạ với tôi vào thời điểm họ chết, đều gắn bó với tôi còn chặt chẽ hơn bất cứ mối liên hệ huyết thống nào. Họ sẽ sống trong ký ức của tôi và lương tri tôi chừng nào tôi còn sống. Khi tôi trở lại với cuộc đời, tôi đã làm hết sức để tìm ra khu vực, đường phố và ngôi nhà họ đã sống, và mỗi năm một lần, tôi cố gắng thực hiện một cuộc hành hương tới tất cả những nơi này.
Liuba Leibowitz, khi còn là một đứa trẻ, hẳn đã ngồi trên các bậc cấp của hiệu may đó tại Vienna, trong khi Peter Lewitzsky lơ đãng nhìn ra quảng trường ngập nắng ở khu ngoại ô Warsaw nơi ông sống trong lúc giúp bố ông đằng sau quầy hiệu thuốc của bố. Một tấm bia được dựng lên cho nắm xương tàn đoán chừng là của Fiona Lowenthal tại Beth-Hachajim ở Prague...
Có một câu tôi vẫn hay tự hỏi là liệu có phải mình cũng đã cứu được những mạng sống hay không. Nhưng có lẽ thật vô ích khi cố gắng thiết lập một bản cân đối như thế cho cái nơi mà sự sống có vẻ như bóng ma của cái chết.
Tôi chỉ biết có hai người tù trong danh sách chắc chắn đã thoát khỏi cái chết, vì tôi đã gặp họ ở Vienna nhiều năm sau ngày giải phóng. Một là Boris: Boris Snabl, người Tiệp Khắc, bị nặng tai ngay từ hồi ấy, người từng gây ấn tượng đáng sợ trong vai trò trật tự viên một thời gian nhưng rồi bị thải hồi khỏi vị trí đó khi bị phát giác ra là không thể làm điều ác. Người còn lại, sinh ra tại Vienna, làm việc trong xưởng may của trại, ông làm việc rất tốt, đã từng là người thu gom đồng nát trước khi bị tống vào Bergen-Belsen. Biệt danh của ông, Strumpfel Lump, cái tên đã ám ảnh ông cả cuộc đời, do chính đám SS đặt. Cũng chính ông đã xoay cho chúng tôi những bộ đồng phục để chúng tôi trốn trại, chấp nhận mạo hiểm tính mạng chính mình. Ông biết chơi cờ vua, và một ngày nọ, sau khi nhận ra tôi theo cách nào đó, ông đã đưa cho tôi cái túi đựng một bàn cờ bằng cỡ khăn tay làm từ những mảnh vải vụn sáng màu và sẫm màu khâu vào nhau, cùng ba mươi hai chiếc khuy áo có kích thước khác nhau, được lựa chọn một cách cẩn thận, biểu tượng cho các quân cờ được vạch thô sơ lên mặt các khuy áo, có lẽ bằng một cái đinh.
Tôi đã học được hai điều từ cuộc giao đấu đó. Thứ nhất là trong tâm trí chúng ta có một thứ giới hạn, vượt qua nó mọi thứ đều có thể, cho dù chúng ta luôn thiếu sự kích thích cần thiết để đạt tới nó trong cuộc sống hằng ngày. Sau khi đã vượt qua giới hạn đó, tôi đã trở thành bất khả chiến bại. Không gì có thể xảy đến với tôi. Tâm trí tôi nằm trong vòng tay của Vị Cố Vấn Vĩ Đại, và tôi bao quát bàn cờ như con chim ưng bay lượn trên cánh đồng, không rung động nào dù chỉ nhỏ nhất của một chiếc lá thoát khỏi ánh mắt. Đối thủ của tôi liên tiếp phải hứng chịu những thế cờ phức tạp hơn bất cứ điều gì hắn từng thấy. Cho dù hắn là một kỳ thủ giỏi tới mức nào, lạnh lùng và khôn ngoan tới mức nào, hắn cũng phải quờ quạng như một kẻ mù trong đầm lầy khi đối diện với quyết tâm của tôi, vì hắn đang di chuyển các quân cờ vô hồn bằng gỗ, trong khi tôi chỉ huy một dãy quái vật đáng sợ. Tôi cảm thấy cũng có quyền lực vô hạn như Steinitz khi ông tuyên bố mình có thể đấu lại cả Chúa trời, và chấp đối thủ một quân tốt.
Điều còn lại (mà tôi chỉ hiểu được trọn vẹn khi năm tháng đã trôi qua) là dù thắng trên bàn cờ, tôi lại thua trong đời thực, vì ngay từ đầu tôi đã là đồng lõa trong một đề án bệnh hoạn. Chỉ nguyên việc vẫn còn sống, là một nhân chứng không bị trừng phạt trong những vụ sát hại họ, đã gắn chặt tôi với chúng, và cho dù có phỉnh phờ bản thân rằng tôi đã nỗ lực hết sức để bảo vệ những người đồng cảnh ngộ, vẫn chẳng có sự biện hộ nào trong mắt Chúa hay trong chính lương tâm của tôi, vì thực tế là dẫu sao tôi cũng đã chơi cờ đặt cược bằng tính mạng của họ.
***
Cuộc tàn sát tại trại Bergen-Belsen đạt tới quy mô vô tiền khoáng hậu vào mùa xuân đó. Lực lượng Đồng minh chỉ còn cách vài dặm, nhưng quá trình hành quyết không hề có dấu hiệu ngừng lại. Mệnh lệnh ban đầu không được để dù chỉ một tù nhân sống sót đã không bao giờ bị hủy bỏ. Nó phải được thực hiện nhanh nhất có thể, xóa sạch mọi dấu vết trước khi kẻ địch tấn công tới. Hỗn loạn ngự trị trong trại. Mệnh lệnh bị hủy bởi các lệnh đối lập, rồi đến lượt chúng lại bị hủy bỏ bởi những mệnh lệnh trái ngược khác. Những kẻ hành hạ chúng tôi bị cơn hoảng loạn tấn công, và đào ngũ diễn ra đầy rẫy. Từng đoàn tù nhân rời trại tới những nơi không rõ, trong khi ngày càng có nhiều tù nhân hơn đổ về. Lương thực vốn đã thiếu nay hoàn toàn mất tích. Có quá nhiều người chết vì đói khiến các lò thiêu bị quá tải. Những cái hào dài được đào, nhưng kể cả chúng cũng không đủ. Xác chết bị quăng rải khắp nơi, chất đống ở bất cứ chỗ nào chúng lọt vừa. Khi quân Đồng minh vào trại, họ tìm thấy hàng nghìn thi thể chưa được chôn. Nhưng quy mô thực sự của cuộc tàn sát chỉ có thể đoán được khi họ tìm thấy các đồ tư trang bị tịch thu từ tù nhân khi họ tới nơi và được giữ lại chu đáo tỉ mỉ: từng đống chất cao như núi nào kính mắt, mũ, kẹp tóc, vòng tay và khuy áo - những thứ được giữ lại chỉ vì chúng không có giá trị. Cho tới ngày nay, thỉnh thoảng tôi vẫn tự hỏi liệu những quý bà thượng lưu giàu có có từng ngờ rằng tóc của các phụ nữ bị sát hại đã được chế thành các bộ tóc giả thời thượng của họ, và những chuỗi dây chuyền quý giá họ đeo có chứa vàng được nấu chảy ra từ những cái răng bị nhổ từ các xác chết.
Trong khi ngồi trên chiếc xe tải Chữ Thập Đỏ đưa tôi rời xa khỏi Bergen-Belsen, cuối cùng cũng được thoát khỏi bộ quần áo tù bẩn thỉu của mình và được mặc quần áo dân sự sạch sẽ không mang bất cứ dấu hiệu nào của sự sỉ nhục, tôi nhận ra rằng ở đâu đó, trong một chiều không gian nằm ngoài phạm vi hiểu biết của tôi, một ván cờ đã được chơi với mức cược và thua thiệt không thể tính đếm nổi. Tôi kinh ngạc thấy rằng thế giới tự nhiên đã trải qua tất cả một cách dửng dưng và không hề xây xước, rằng vẫn có một tháng Năm như những tháng Năm thời thơ ấu của tôi. Mặt trời không còn bị ám đen bởi khói từ các lò thiêu xác, và cơn gió hây hẩy thổi qua những bụi thạch nam mọc thưa thót giữa các dải đồi thấp của khu rừng thạch nam ở Lüneburg.