
Trung đoàn 91 chuyển quân đến thành phố Bruck an der Leitha – Királyhida⦾.
Đúng vào lúc chỉ còn ba tiếng đồng hồ nữa là Švejk được trả tự do sau ba ngày bị giam, người ta dẫn anh và người lính tình nguyện một năm ra phòng bảo vệ, rồi một đội lính hộ tống đưa họ ra nhà ga.
“Việc này là cái rõ ràng từ lâu rồi,” người lính tình nguyện một năm nói với anh, “người ta sẽ chuyển chúng ta sang Hungary. Các tiểu đoàn hành quân sẽ được hình thành ở đấy, quân lính sẽ tập bắn, sẽ đánh nhau với người Hungary rồi sẽ vui vẻ đi Karpat. Còn lính Hungary thì sẽ đến đóng quân ở Budějovice và sẽ pha trộn giống nòi. Có một lý thuyết nói rằng hãm hiếp con gái dân tộc khác là hình thức tốt nhất để chống lại sự thoái hóa. Người Thụy Điển và Tây Ban Nha đã làm việc đó trong chiến tranh Ba mươi năm, người Pháp trong thời Napoleon, bây giờ thì người Hungary sẽ làm như thế ở vùng Budějovice và việc đó sẽ không bị coi là sự cưỡng dâm thô bạo. Theo thời gian, mọi việc sẽ đâu vào đấy, người ta sẽ chỉ coi đó là một sự trao đổi qua lại đơn thuần. Người lính Séc ngủ với một cô gái người Hungary, còn cô gái Séc tội nghiệp đưa về nhà mình một người lính Hungary. Và hàng trăm năm sau, việc đó sẽ là điều gây ngạc nhiên thú vị cho các nhà nhân chủng học, họ sẽ đặt câu hỏi tại sao mà những người dân sống ở bên bờ sông Malše⦾ lại có xương gò má cao như thế.”
“Giao hợp qua lại,” Švejk nhận xét, “nói chung là một việc rất thú vị. Ở Praha có một người da đen tên là Kristián làm nghề hầu bàn. Cha của anh ấy là vua của Đế quốc Ethiopia, hay còn gọi là Abyssinia. Ông ấy đi với một đoàn xiếc đến đảo Štvanice ở Praha. Có một cô giáo, tác giả các bài thơ về những người chăn cừu và dòng suối ở trong rừng đăng trên tạp chí phụ nữ Lady, đem lòng yêu nhà vua. Cô theo người ấy vào khách sạn và thông dâm với người ấy, như lời ghi trong Kinh Thánh. Ít lâu sau, cô hết sức ngạc nhiên là đứa con trai cô sinh ra có nước da hoàn toàn trắng. Nhưng mà mười bốn ngày sau, da đứa bé chuyển sang màu nâu, rồi cứ thẫm dần, một tháng sau thì bắt đầu sang màu đen. Khi được sáu tháng tuổi thì đứa bé đen hệt như cha nó, như nhà vua xứ Abyssinia. Cô giáo đem con đến bệnh viện da liễu xin bác sĩ tẩy da cho nó, nhưng người ta bảo rằng không thể làm gì được, vì nước da ấy thực sự là nước da của người da đen. Thế là cô ấy quẫn trí, rồi bắt đầu viết đến các tạp chí để hỏi dùng cái gì chống lại người Ethiopia. Cô bị đưa đến viện tâm thần ở phố Kateřinská, còn đứa trẻ da đen thì đến trại mồ côi, nơi nó hay bị mọi người đem ra làm trò đùa. Sau này lớn lên, cậu học nghề hầu bàn và thường đi nhảy ở các quán cà phê đêm. Bây giờ, các con của anh ấy là những người Séc lại rất thành công, nhưng nước da của họ sáng hơn của anh. Có một sinh viên trường Y hay đến quán U Kalicha đã nói với chúng tôi, rằng điều đó cũng không phải là chuyện đơn giản. Một người lai như thế lại sinh ra con lai và những đứa trẻ lai ấy có thể không khác gì người da trắng. Nhưng mà tự nhiên, ở một thế hệ nào đó lại xuất hiện một đứa trẻ da đen. Các anh cứ thử tưởng tượng cái chuyện oái oăm đó mà xem. Anh lấy một cô vợ, đó là người da trắng hẳn hoi, thế mà tự nhiên lại đẻ ra một đứa con da đen. Nếu trước đó chín tháng cô nàng có đi xem biểu diễn điền kinh, mà ở đó lại có một người da đen nào đó tham gia, thì tôi cho rằng dù sao anh cũng băn khoăn nghĩ ngợi một chút.”
“Về trường hợp người da đen mang tên Kristián của anh,” người lính tình nguyện một năm nói, “thì cũng nên nghĩ đến cả từ góc độ chiến tranh nữa. Chúng ta cứ thử cho là người da đen ấy phải đi lính. Anh ấy là người Praha, tức là sẽ thuộc về trung đoàn 28. Mà anh hẳn cũng nghe nói là trung đoàn 28 đã bỏ chạy sang phía quân Nga. Và nếu bắt được một tù binh da đen thì người Nga sẽ có thể ngạc nhiên đến như thế nào. Báo chí Nga chắc chắn sẽ viết là nhà nước Áo đưa quân đội các nước thuộc địa của mình vào chiến tranh, mà Áo thì lại không có thuộc địa, rằng Áo đã phải dùng đến cả quân dự bị người da đen.”
“Nhưng nghe nói dù sao thì Áo cũng có thuộc địa, tại một nơi nào đó ở phía bắc. Có một vùng đất nào đó mang tên là Đất của Hoàng đế Franz Josef…⦾”
“Này, thôi đi các cậu,” một người lính hộ tống nói, “thời buổi này nói chuyện về vùng đất nào đó của Hoàng đế Franz Josef là điều rất không thận trọng. Tốt hơn là các cậu đừng có nêu tên ai cả…”
“Nếu các anh nhìn bản đồ,” người lính tình nguyện một năm xen lời, “thì sẽ thấy quả thật đấy là đất của Hoàng đế Franz Josef yêu quý của chúng ta. Theo thống kê thì ở đấy chỉ có nước đá thôi, và người ta chở nước đá từ đó đi bằng các tàu phá băng của nhà máy nước đá Praha. Ngành công nghiệp nước đá này đặc biệt được cả người nước ngoài đánh giá cao và tôn trọng, bởi vì nó mang lại lợi nhuận, nhưng mặt khác nó cũng là ngành công nghiệp nguy hiểm. Cái nguy hiểm lớn nhất là việc chuyển nước đá từ Đất của Hoàng đế Franz Josef qua vòng Bắc Cực. Các anh có thể tưởng tượng được điều ấy không?”
Người lính hộ tống lẩm bẩm một cái gì không rõ ràng và hạ sĩ dẫn đầu đội hộ tống lùi gần lại để nghe người lính tình nguyện một năm kể chuyện, còn anh này thì vẫn tiếp tục một cách nghiêm trang: “Nước thuộc địa duy nhất này của Áo có thể cung cấp nước đá cho cả châu Âu và là một yếu tố có giá trị kinh tế tuyệt vời. Nhưng quá trình thuộc địa hóa tiến triển chậm, bởi vì các thực dân một phần không tỏ ra tình nguyện tham gia, một phần thì bị chết cóng. Mặc dù vậy, với sự chỉnh sửa các điều kiện khí hậu mà Bộ Thương mại và Bộ Ngoại giao rất quan tâm đến, hy vọng là một diện tích lớn của vùng băng hà sẽ được đưa vào sử dụng một cách thích hợp. Cho xây dựng một số khách sạn cũng sẽ góp phần lôi cuốn rất nhiều khách du lịch. Sẽ cần phải sửa cho phù hợp các tuyến đường mòn du lịch và các đường đi giữa các tảng băng, cũng như vẽ biển chỉ dẫn đường du lịch trên mặt bằng. Nhưng ở đó, vấn đề khó khăn duy nhất là người Eskimo. Họ gây cản trở cho công việc của các cơ quan chúng ta tại đó… Bọn họ không muốn học tiếng Đức,” người lính tình nguyện một năm tiếp tục nói, và người hạ sĩ rất chăm chú nghe. Hạ sĩ là một người đàn ông năng nổ, trước khi nhập ngũ là người chuyên đi làm thuê ở nông thôn, đồng thời là người ngu si và thô bạo, thấy ai kể chuyện gì cũng háo hức nghe mà chẳng hiểu gì cả. Và mong muốn lớn nhất của anh ấy là làm sao phục vụ thật lâu trong quân đội.
“Thưa hạ sĩ, Bộ Giáo dục đã xây dựng trường học cho người Eskimo bằng kinh phí cao và với tổn thất lớn về người, có năm công trình sư đã bị chết cóng…”
“Nhưng những người thợ nề thì sống sót,” Švejk ngắt lời anh ấy, “vì họ đã sưởi ấm bằng lửa hút tẩu.”
“Không phải là tất cả đều sống sót,” người lính tình nguyện một năm nói, “có hai người gặp sự cố là quên không hút, thành ra tẩu bị tắt, thế là người ta phải đào băng chôn họ. Nhưng mà cuối cùng thì trường học cũng được xây xong bằng gạch nước đá và bê tông cốt thép, những vật liệu này kết nối với nhau rất tốt. Chỉ có điều người Eskimo đã lấy gỗ dỡ từ các thuyền buôn bị đóng băng rồi đốt lửa xung quanh trường và đã đạt được cái họ muốn. Gạch nước đá xây trường bị tan chảy, ngôi trường bị sập rơi xuống biển, kéo theo thầy hiệu trưởng và vị đại diện của chính phủ, người phải có mặt trong lễ cúng cầu may trọng thể ngày hôm sau. Lúc ngôi trường rơi xuống biển, còn nghe thấy tiếng của vị đại diện chính phủ. Mặc dù đã bị ngập đến tận cổ, nhưng ông ấy vẫn kêu bằng tiếng Anh: ‘Chúa trừng phạt nước Anh!’ Bây giờ thì có lẽ người ta sẽ đưa lính tới đó để trừng phạt người Eskimo. Rõ ràng cuộc chiến đấu với họ sẽ gặp khó khăn và cái làm hại quân đội chúng ta nhiều nhất là những con gấu trắng Bắc Cực đã được thuần hóa.”
“Ôi lại còn chuyện ấy nữa,” người hạ sĩ nói một cách khôn ngoan, “chẳng gì thì cũng đã có nhiều phát minh cho chiến tranh rồi. Cứ lấy thí dụ từ cái mặt nạ chống khí độc chẳng hạn. Đeo nó lên mặt là bị nhiễm độc liền, như người ta đã nói với chúng tôi ở trường hạ sĩ quan.”
“Họ chỉ dọa các anh thế thôi,” Švejk lên tiếng, “chứ chẳng người lính nào phải sợ cái gì cả. Kể cả khi chiến đấu mà bị ngã xuống hố phân thì cũng lau chùi qua loa rồi lại tiếp tục tấn công. Còn nói về khí độc thì ai mà chẳng đã quen từ doanh trại, sau khi ăn bánh mì mới ra lò cùng với đậu Hà Lan và hạt đại mạch. Nhưng bây giờ nghe bảo quân Nga đã nghĩ ra được cái gì để chống các hạ sĩ quan…”
“Có lẽ đó là những dòng điện đặc biệt,” người lính tình nguyện một năm bổ sung, “những dòng điện này nhập vào các ngôi sao gắn ở quân hàm cổ áo và các ngôi sao sẽ nổ, bởi vì chúng được làm từ chất dẻo. Thế là lại sẽ có thảm họa mới đấy.”
Mặc dù khi là dân thường hạ sĩ thuộc loại con bò, nhưng cuối cùng thì chắc cũng hiểu được rằng mọi người đang lấy anh ấy ra làm trò đùa, vì vậy anh trở lại vị trí dẫn đầu ở phía trước.
Lúc đó, cả toán cũng đi gần tới nhà ga, nơi người Budějovice đến chia tay với trung đoàn của mình. Tuy không tổ chức tiễn đưa chính thức, nhưng ở quảng trường phía trước nhà ga vẫn đầy người đứng chờ quân lính.
Švejk chăm chú theo dõi dãy người đứng hai bên đường. Như thường lệ, cả lần này, những người lính bình thường tử tế cũng đi phía sau, còn phạm nhân bị giải dưới lưỡi lê đi ở phía trước. Sau đó, những người lính tử tế sẽ bị nhồi nhét vào các toa tàu vẫn dùng để chở súc vật, còn phạm nhân Švejk và người lính tình nguyện một năm thì lên toa đặc biệt chở tù nhân. Toa đặc biệt này thường được gắn liền ngay sau các toa của Ban Tham mưu và bao giờ cũng rộng rãi thoải mái.
Không kìm được, Švejk quay mặt về phía hai hàng người đang đứng, vẫy vẫy chiếc mũ và kêu to: “Nazdar!⦾” Việc đó gây tác động thôi thúc lên mọi người và tất cả lớn tiếng nhắc lại lời anh. Tiếng hô “nazdar” truyền đi vang động đến tận phía trước nhà ga đằng xa, và những người đứng ở đấy bắt đầu bảo nhau: “Quân lính đang đến!”
Người hạ sĩ trưởng đội hộ tống rất lấy làm bực tức và gào lên bảo Švejk câm mồm. Nhưng tiếng hô cứ lan đi như sóng. Các hiến binh gạt người đứng hai bên, lấy đường cho đội hộ tống cùng tù nhân đi, và đám đông tiếp tục gào thét “nazdar,” đồng thời ngả mũ vẫy liên tục.
Đó là một sự thể hiện tinh thần rất đỗi nồng nhiệt. Từ cửa sổ khách sạn đối diện nhà ga, mấy người phụ nữ vẫy khăn mùi xoa và lớn tiếng cổ vũ bằng tiếng Đức “Thành công!” cả từ hàng người đứng dưới đường cũng vang lên lời chào “Thành công!” bằng tiếng Đức hòa lẫn với lời chào “Nazdar.” Một người hào hứng nào đó tranh thủ cơ hội đã hô “Đả đảo người Serbia.” Anh ta liền bị đám đông quật ngã rồi xúm lại giẫm lên người.
Câu “Quân lính đang đến!” tiếp tục truyền đi như luồng điện.
Và họ đi. Dưới các lưỡi lê, Švejk tươi cười vẫy chào mọi người, còn người lính tình nguyện một năm thì nghiêm trang giơ tay chào.
Hai người cùng đội hộ tống vào nhà ga và hướng tới đoàn tàu quân sự. Bởi vì rất bối rối trước tình huống bất ngờ, chỉ một ly nữa là nhạc trưởng cho ban quân nhạc của pháo binh cử bài quốc ca “Chúa phù hộ Hoàng đế.” May mà cha giám mục Lacina, tuyên úy trưởng của sư đoàn kỵ binh 7, trên đầu đội cái mũ cứng màu đen, đã có mặt đúng lúc và ngăn lại.
Chuyện của cha Lacina rất đơn giản. Ngày hôm qua, cha đến Budějovice. Cha là một người nổi tiếng đáng sợ trong các nhà ăn của sĩ quan, một người đàn ông tham ăn không bao giờ biết no. Làm như tình cờ gặp bữa, cha đến dự tiệc chia tay nhỏ cho các sĩ quan trung đoàn chuẩn bị ra mặt trận. Cha ăn uống gấp mười lần người khác và trong trạng thái say sưa, cha còn vào nhà bếp đòi anh nuôi cho thức ăn thừa. Cha ngốn ngấu ăn sạch các bát nước sốt và bánh bao, gặm xương như hổ báo gặm mồi và tìm đến được cả chai rượu Rum ở trong bếp, để rồi vội vàng nốc đến phát nấc. Sau đó, cha trở lại bàn tiệc và lại say sưa uống. Trong việc uống thì cha rất giàu kinh nghiệm và sĩ quan của sư đoàn kỵ binh 7 thường phải trả tiền cho cha. Sáng hôm nay, cha thấy cần phải ổn định trật tự ở đội quân ra mặt trận của trung đoàn. Vì vậy, cha đi đi lại lại suốt giữa dãy người hai bên đường và gây náo động ở nhà ga đến mức các sĩ quan chịu trách nhiệm về giao thông của trung đoàn phải chạy trốn vào văn phòng của ông trưởng ga.
Và cha xuất hiện ở nhà ga thật đúng lúc để giật lấy cây đũa chỉ huy của nhạc trưởng, khi ông ấy định cho quân nhạc chơi quốc ca “Chúa phù hộ Hoàng đế.”
“Dừng lại!” cha nói, “Chưa đến lúc, đợi bao giờ tôi ra hiệu đã. Bây giờ thì đứng nghỉ chờ tôi quay lại.”
Cha đi vào sảnh nhà ga, đuổi theo đội hộ tống và hô lớn: “Dừng lại!”
“Đi đâu thế hả?” cha nghiêm khắc hỏi hạ sĩ và người này không biết xử sự thế nào trước tình hình mới.
Švejk thay hạ sĩ trả lời bằng giọng hiền lành: “Người ta đưa chúng tôi đi Bruck. Nếu tuyên úy muốn thì cũng có thể đi cùng với chúng tôi được ạ.”
“Thì tất nhiên tôi đi,” cha Lacina trả lời và quay sang nói thêm với đội hộ tống, “ai bảo là tôi không thể đi được, hả?” rồi cha ra lệnh bằng tiếng Đức: “Tiến phía trước! Bước!”
Khi vào đến toa chở tù nhân, cha Lacina ngả mình nằm xuống cái ghế dài và Švejk tốt bụng cởi cái áo khoác của mình, cuộn lại làm gối rồi đặt xuống bên dưới đầu cha. Người lính tình nguyện một năm quay sang nói với hạ sĩ đang hốt hoảng: “Cả cha tuyên úy cũng cần được chăm sóc chứ?”
Nằm duỗi dài thoải mái trên chiếc ghế, cha Lacina bắt đầu nói: “Món ragu với nấm, các anh ạ, càng nhiều nấm càng ngon, nhưng mà trước tiên phải xào nấm với hành, rồi sau mới cho lá nguyệt quế và hành…”
“Nhưng mà cha đã cho hành vào trước rồi ạ,” người lính tình nguyện một năm lên tiếng. Viên hạ sĩ sợ hãi nhìn người lính tình nguyện. Cha Lacina đang say thật, nhưng dẫu sao thì cũng là cấp trên của anh.
Hạ sĩ đang ở tình trạng quả thật là tuyệt vọng.
“Vâng,” Švejk nói, “cha tuyên úy nói rất đúng. Càng cho nhiều hành bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu. Ở Pakoměřice có một người nấu bia và anh này cho cả hành vào bia, bởi vì nghĩ rằng hành sẽ làm cho người ta bị khát rồi uống nhiều hơn. Nói chung, hành là thứ rất tốt. Có khi người ta còn dùng cả hành nướng để đắp lên mụn nhọt nữa…”
Trong khi đó, cha Lacina thầm thì như mê ngủ: “Tất cả phụ thuộc vào gia vị, nêm gia vị nào, nhiều hay ít. Không được cho quá nhiều hạt tiêu, không được cho quá nhiều ớt…”
Cha nói mỗi lúc một chậm hơn, nhỏ hơn: “Nhiều…đinh… hương, nhiều…chanh, nhiều…hạt… tiêu… Ja…mai…ca…, nhiều…”

Chưa nói hết câu, cha đã nhắm mắt ngủ, thỉnh thoảng lại ngáy qua mũi như huýt sáo.
Hạ sĩ ngây người nhìn tuyên úy, trong khi những người lính của đội hộ tống rúc rích cười ở ghế của mình.
“Còn lâu ông ấy mới dậy,” Švejk nói sau một hồi, “ông ấy say bí tỉ. Chẳng sao cả,” anh nói tiếp khi thấy hạ sĩ đưa tay ra hiệu bảo anh im, “biết làm sao được, ông ấy say mèm. Về cấp bậc thì ông ấy ngang hàng với đại úy đấy. Nhưng mà tất cả các tuyên úy, dù ở cấp thấp hay cấp cao, đều có cái tài năng trời phú là nhồi nhét căng rốn trong bất kỳ cơ hội nào, ngay cả trước mặt Chúa Trời. Tôi đã từng làm lính hầu cho tuyên úy Katz. Ông ấy là người uống không biết trời đất là gì. Còn ông này ấy à, so với tuyên úy Katz thì chẳng thấm vào đâu. Chúng tôi đã đem Hào Quang đến hiệu cầm đồ để có tiền cùng nhau uống, giá mà có ai ứng tiền cho thì có thể chúng tôi còn bán cả Đức Chúa Trời để uống nữa.”
Švejk đi đến bên cha Lacina, xoay nghiêng ông ấy về phía tường và tuyên bố một cách hiểu biết: “Ông ấy sẽ ngủ cho đến tận Bruck,” rồi quay trở lại chỗ ngồi của mình. Người hạ sĩ bất hạnh theo dõi Švejk một cách tuyệt vọng và bảo: “Có lẽ tôi phải đi báo cáo.”
“Anh quên đi,” người lính tình nguyện một năm nói, “anh là người phụ trách đội hộ tống nên không được phép rời khỏi chúng tôi. Theo quy định thì anh cũng không được phép cử ai trong đội hộ tống đi ra ngoài, nếu anh không tìm được người thay thế. Anh thấy đấy, đây là vấn đề nan giải. Nếu anh muốn bắn súng để ra hiệu cho ai đến đây thì cũng không được, vì ở đây chẳng có việc gì xảy ra đến nỗi phải bắn. Nhưng mặt khác, cũng có quy định là ngoài tù nhân và những người hộ tống ra thì trong toa chở tù nhân không được phép có người nào khác. Không nhiệm vụ cấm vào mà. Nếu vì muốn xóa bỏ dấu vết việc vi phạm quy định mà anh kín đáo đẩy tuyên úy ra ngoài thì cũng không được, bởi vì ở đây có người chứng kiến là anh đã cho ông ấy vào toa tàu, nơi ông ấy không được phép vào. Thưa hạ sĩ, việc này dẫn đến giáng chức như chơi.”
Hạ sĩ bối rối nói rằng không phải anh ấy cho tuyên úy vào toa, mà chính tuyên úy đi theo họ, rằng ông ấy chẳng gì cũng là cấp trên của anh ấy.
“Ở đây, người cấp trên duy nhất là anh,” người lính tình nguyện một năm khẳng định dứt khoát. Và Švejk nói thêm: “Kể cả khi chính bản thân Hoàng đế muốn đi với chúng ta thì anh cũng không được phép cho đi cùng. Việc này cũng giống như ở trạm canh gác, khi viên thanh tra đi đến gặp một tân binh đang đứng gác và yêu cầu cậu ấy đi mua hộ thuốc lá mà cậu ấy lại còn hỏi mua loại nào. Làm những việc như vậy thì chỉ có đi tù thôi.”
Viên hạ sĩ rụt rè cãi, rằng chính Švejk là người đầu tiên nói với tuyên úy rằng ông ấy có thể đi cùng với họ.
Švejk trả lời: “Thưa hạ sĩ, tôi có thể làm thế được, bởi vì tôi là thằng ngu, nhưng với anh thì không ai nghĩ rằng anh lại làm như thế?”
“Anh là lính chính quy đã lâu chưa, hả hạ sĩ?” người lính tình nguyện một năm hỏi ngoài lề.
“Được đến năm thứ ba rồi. Bây giờ tôi đang chờ được thăng trung sĩ.”
“Ồ, thế thì hẳn là anh phải chia tay với chức ấy thôi,” người lính tình nguyện lạnh lùng nói, “tôi đã bảo anh rằng việc này dẫn đến giáng chức là cái chắc.”
“Đằng nào thì cũng thế cả,” Švejk lên tiếng, “chết như một hạ sĩ quan, hay một người lính thường thì có khác gì nhau nhưng mà quả thật nghe bảo là những ai bị giáng chức đều bị xếp đi ra tuyến đầu.”
Cha tuyên úy cựa mình.
“Ông ấy ngáy,” Švejk nói, sau khi thấy không có gì xảy ra, “bây giờ chắc ông ấy đang ngủ mê thấy một bữa nhậu nào đó. Tôi chỉ sợ là ông ấy sẽ bậy ra ở đây. Ông tuyên úy Katz của tôi ấy, khi say rượu rồi ngủ thì không tự chủ được mình. Có một lần…”
Và Švejk bắt đầu nói về những gì tuyên úy Katz làm mà anh đã chứng kiến. Anh kể tỉ mỉ và lôi cuốn đến mức không để ý thấy là tàu đã chuyển bánh.
Tiếng hò hét từ các toa phía sau làm ngắt quãng lời kể của Švejk. Trung đoàn 12, gồm toàn lính người Đức từ Krumlov và từ vùng Kašperské Hory đang hát hò ầm ĩ:
Cho đến khi tôi về,
cho đến khi tôi về…
Tôi sẽ lại trở về,
sẽ lại trở về…
Từ một toa khác thì có tiếng của một người nào đó tuyệt vọng gào về phía những người dân Budějovice đang xa dần:
Người của tôi ơi
ở lại đợi anh
Holarijó! Holarijó!
Đó là giọng hát kiểu Yodel thuộc vùng Tirol ở dãy Alps. Tiếng hát hòa lẫn tiếng gào thét ồn ào đến mức các đồng đội phải kéo anh ta khỏi cửa sổ toa tàu chở súc vật.
“Tôi thấy lạ,” người lính tình nguyện một năm nói về phía hạ sĩ, “là vẫn chưa có ai đến đây kiểm tra. Theo quy định thì đáng lẽ anh phải thông báo cho chỉ huy tàu ngay từ ở nhà ga gốc, chứ không phải là bận tâm đến một tuyên úy say mèm nào.”
Một thị trấn của tỉnh Plzeň phía tây nam Séc. Plzeň là thành phố nấu bia Pilsen nổi tiếng.
Người hạ sĩ bất hạnh cố tình im lặng và chỉ chăm chăm nhìn những cột dây điện báo đang chạy lùi về phía sau.
“Cứ chỉ nghĩ đến việc là chúng ta chẳng trình báo cho ai,” người lính tình nguyện một năm đay nghiến ác ý, “đến ga tới chắc chắn chỉ huy tàu sẽ vào đây, là máu nhà lính của tôi sôi lên. Chúng ta đang giống như….”
“… như dân Digan,” Švejk chen lời, “hay là bọn lang thang. Tôi có cảm giác như là chúng ta sợ cả ánh sáng và không dám trình báo ở đâu để khỏi bị bắt giam.”
“Hơn nữa,” người lính tình nguyện tiếp tục, “trên cơ sở chỉ thị ban ra ngày 21 tháng 11 năm 1879 về việc chuyên chở tù nhân quân đội bằng tàu hỏa thì cần phải tuân theo các quy định như sau: Thứ nhất, toa chở tù nhân phải có các tấm sắt mắt cáo. Cái này thì quá rõ ràng, và toa này có đúng theo quy định. Chúng ta đang ở giữa các tấm sắt mắt cáo hoàn hảo, về mặt này như vậy là không có vấn đề gì. Thứ hai, phần Phụ lục của chỉ thị ban hành ngày 21 tháng 11 năm 1879 cũng có quy định là mỗi một toa chở tù nhân phải có một phòng vệ sinh. Nếu không thì phải được trang bị thùng hay xô có nắp đậy là chỗ cho tù nhân và lính hộ tống tiểu tiện đại tiện. Ở đây thì chúng ta không thể nói được về một toa chở tù nhân có nhà vệ sinh. Đơn giản là chúng ta đang ở trong một toa tàu cách ly với toàn thế giới. Ở đây cũng chẳng có cả cái thùng hay cái xô nào cả…”
“Các anh có thể phóng ra từ cửa sổ,” người hạ sĩ vô cùng tuyệt vọng nói.
“Anh đã quên,” Švejk nói, “là không tù nhân nào được đi đến gần cửa sổ.”
“Thứ ba,” người lính tình nguyện một năm nói tiếp, “cũng còn phải có bình đựng nước uống. Cả về cái này anh cũng không lo toan. Ngoài ra, anh có biết sẽ phát thức ăn ở ga nào không? Anh không biết hả? Còn tôi thì biết là anh đã không hỏi về chuyện ấy…”
“Đấy, anh thấy chưa,” Švejk nói, “thưa hạ sĩ, chuyên chở tù binh đâu phải là chuyện đùa! Phải chăm sóc chúng tôi chứ! Chúng tôi đâu phải là lính bình thường tự lo được mọi việc cho mình. Đối với chúng tôi thì cái gì cũng phải mang đến tận nơi, bởi vì đã có chỉ thị và điều lệ mà ai cũng cần tuân theo, không thì sẽ chẳng ra kỷ luật trật tự gì. ‘Tù nhân giống như một đứa trẻ bọc trong chăn,’ có một tay côn đồ nổi tiếng đã nói, ‘phải chăm sóc để nó không bị lạnh, để nó không cáu gắt, để nó hài lòng với số phận của mình, rằng chẳng ai làm hại nó.’ À,” Švejk tiếp tục nói và nhìn người hạ sĩ bằng cái nhìn thân thiện, “lúc nào đến mười một giờ thì anh bảo cho tôi nhé!”
Người hạ sĩ đưa mắt dò xét nhìn Švejk.

“Chắc hẳn anh muốn hỏi tôi tại sao anh phải bảo tôi lúc nào mười một giờ. Từ mười một giờ tôi sẽ là một trong những người ngồi ở toa chở súc vật, thưa hạ sĩ,” Švejk nhấn mạnh và tiếp tục với giọng trang trọng, “tôi bị xử phạt giam ba ngày ở nhà giam trung đoàn. Tôi đã đến phòng giam lúc mười một giờ, và mười một giờ hôm nay là lúc tôi phải được thả. Từ mười một giờ trở đi tôi không có việc gì làm ở đây nữa. Không được phép giam quá hạn bất kỳ một người lính nào, bởi vì trong quân đội phải giữ gìn kỷ luật và trật tự, thưa hạ sĩ.”
Điều đó làm người hạ sĩ tuyệt vọng không sao hoàn hồn được. Cuối cùng, anh phân trần là chẳng nhận được giấy tờ gì về việc ấy cả.
“Thưa hạ sĩ quý mến,” người lính tình nguyện một năm nói, “giấy tờ tự nó không đi đến đội trưởng đội hộ tống được, vì thế đội trưởng đội hộ tống phải tự đi lấy giấy tờ. Bây giờ anh đang phải đối mặt với tình hình mới. Dứt khoát anh không được phép giữ người nào được trả tự do. Mặt khác, theo quy định thì không ai được phép rời toa chở tù nhân. Quả là tôi không biết anh làm sao thoát khỏi được tình thế nan giải này. Càng ngày tình hình sẽ càng xấu đi. Bây giờ là mười rưỡi rồi đấy.”
Người lính tình nguyện một năm nhét đồng hồ vào túi và bảo: “Thưa hạ sĩ, tôi rất muốn biết một nửa tiếng nữa anh sẽ làm gì?
“Một nửa tiếng nữa là tôi sẽ thuộc về toa chở súc vật rồi,” Švejk mơ màng nhắc lại. Người hạ sĩ thấy mình lẫn lộn và choáng váng, anh quay sang Švejk và bảo:
“Nếu anh không thấy có vấn đề gì thì tôi nghĩ ở đây thoải mái hơn nhiều so với các toa chở súc vật. Tôi nghĩ…”
Lời hạ sĩ bị tiếng kêu trong mơ của tuyên úy làm ngắt quãng: “Cho thêm nước xốt!”
“Ngủ đi, ngủ đi!” Švejk hiền hậu nói và ghẹm dưới đầu tuyên úy cái vạt áo khoác bị thòng xuống xuống sàn, “Lại mơ tiếp về cái ăn đi!” Người lính tình nguyện một năm cất tiếng hát ru:
Bé ơi, nhắm mắt ngủ đi
Ông Trời cũng hát thầm thì ru em!
Thiên thần nựng bé trên tay…
Người hạ sĩ khổ sở không phản ứng lại cái gì nữa. Anh thẫn thờ nhìn ra bên ngoài, để mặc cho toa chở tù nhân trong trạng thái vô tổ chức.
Ở ngăn bên cạnh, lính của đội hộ tống đang chơi trò maso, trên mông họ lằn những vết tay quật thẳng cánh. Khi đưa mắt về phía đó, hạ sĩ thấy cái mông của một người lính nào đó đang giương giương nhìn mình. Anh thở dài và lại quay mặt về phía cửa sổ.
Người lính tình nguyện một năm suy nghĩ về cái gì đó một hồi rồi quay sang người hạ sĩ đang hết sức đau khổ: “Anh có biết tạp chí Thế giới động vật⦾ không?”
“Tạp chí ấy,” hạ sĩ tỏ vẻ vui mừng rõ rệt vì câu chuyện được chuyển sang đề tài khác, “ông chủ quán ở làng chúng tôi có đặt mua, tại vì ông ấy rất thích giống dê Sannen của Thụy Sĩ, nhưng mà tất cả các con dê ông ấy nuôi đều bị chết. Vì thế ông ấy đã yêu cầu tạp chí cố vấn cho.”
“Anh bạn thân mến ơi,” người lính tình nguyện nói, “câu chuyện mà tôi kể sau đây sẽ chứng tỏ cho anh thấy là trên đời này không ai là người không mắc sai lầm! Tôi tin là các anh ở đằng kia sẽ ngừng chơi maso, bởi vì chuyện tôi kể có nhiều từ chuyên môn mà các anh không hiểu nổi, và chỉ thế thôi nó đã là chuyện rất hay rồi. Tôi sẽ kể cho các anh nghe câu chuyện về Thế giới động vật, để chúng ta quên đi những cái khổ sở trong chiến tranh hiện nay của chúng ta.
Việc làm sao mà ngày ấy tôi trở thành biên tập viên của tạp chí Thế giới động vật, một tờ tạp chí rất hay, là một câu đố phức tạp đối với tôi trong suốt một thời gian dài. Tình trạng ấy kéo dài mãi cho đến khi tự tôi đi đến kết luận là tôi đã làm công việc biên tập tạp chí trong trạng thái điên rồ hoàn toàn mất ý thức, trạng thái mà tôi lâm vào do tình cảm bạn hữu thân thiết có từ lâu của tôi đối với anh Hájek. Anh ấy từng là biên tập viên có thái độ làm việc nghiêm túc của tờ tạp chí Thế giới động vật, nhưng đồng thời anh lại đi yêu cô con gái của ông Fuchs, ông chủ tạp chí. Thế là ông đuổi anh ngay tức khắc, lại còn thêm điều kiện là anh phải tìm được cho ông một biên tập viên có năng lực.
Đấy, các anh thấy ngày ấy vấn đề lao động ăn lương nó kỳ lạ thế đấy!
Khi anh Hájek giới thiệu tôi với ông chủ tờ tạp chí, ông đã tiếp tôi rất lịch sự thân thiện và hỏi tôi có biết gì về động vật không, và ông đã rất hài lòng khi tôi trả lời là bao giờ tôi cũng rất tôn trọng động vật, rằng tôi nhìn thấy ở chúng sự chuyển tiếp lên loài người, rằng đặc biệt từ quan điểm bảo vệ động vật, tôi luôn luôn tôn trọng những mong muốn ước mơ của chúng. Con vật nào cũng không có mong ước gì khác, là nếu có thể được thì trước khi bị ăn thịt, nó sẽ được giết một cách gọn nhẹ không đau đớn.
Con cá chép ngay từ thuở còn trứng nước đã khăng khăng mang một tưởng tượng là nếu bà nội trợ phanh bụng nó khi nó còn đang sống thì đó không phải là việc làm tử tế tốt đẹp của bà. Cái tục chặt đầu gà trống là cố gắng của Hiệp hội Bảo vệ Động vật tránh việc cắt tiết gia cầm bởi người không khéo tay. Hình dạng vặn vẹo cong queo của những con cá bám đá sau khi bị rán chứng tỏ trong khi quằn quại chết, chúng đã phản đối chống lại việc bị người ta rán bằng bơ thực vật ở Podolí⦾. Đuổi gà tây…
Ông chủ tạp chí ngắt lời tôi và hỏi tôi có biết gì về gia cầm không, thí dụ về chó, về thỏ, về nuôi ong, về cái phong phú của thế giới động vật; nếu tôi biết cắt những hình ảnh từ các tạp chí nước ngoài để in lại, nếu tôi biết dịch các bài viết chuyên môn về động vật từ tạp chí nước ngoài, nếu tôi biết đọc sách của Brehm⦾, nếu tôi có thể cùng với ông viết các bài xã luận về thế giới động vật trong liên quan với những ngày lễ của Kitô giáo, với sự thay đổi thời tiết của từng mùa, với việc đua ngựa, với các cuộc săn bắn, với việc huấn luyện chó cảnh sát, với các ngày lễ dân tộc và lễ của các giáo hội, nói ngắn gọn lại thì nếu tôi có con mắt tổng quan của nhà báo trong mọi tình huống và biết sử dụng nó để viết các bài xã luận ngắn.
Tôi tuyên bố với ông là tôi đã suy nghĩ rất lâu về việc điều hành một tạp chí như tờ Thế giới động vật, rằng tôi có thể đảm đương được tất cả các mục báo và thành thạo trong tất cả các đề tài ông đã nói. Nhưng cố gắng lớn của tôi là nâng tạp chí lên tầm cao bất thường. Chẳng hạn tổ chức lại về mặt nội dung và hình thức. Là đưa ra các mục mới, thí dụ Góc vui về động vật hay Động vật nói về động vật đồng thời hết sức chú ý đến tình hình chính trị. Tôi cũng nói về cố gắng liên tục mang đến cho độc giả những điều ngạc nhiên, làm họ không thể rời khỏi các con vật được. Thí dụ mục Một ngày của động vật phải được đăng luân phiên với mục Chương trình mới giải quyết vấn đề súc vật ở gia đình và mục Phong trào của gia súc.
Ông lại ngắt lời tôi và bảo đối với ông như vậy là đủ, và nếu mà tôi chỉ làm được một nửa những gì tôi đã nói thôi thì ông sẽ tặng tôi một cặp gà Wyandotte lùn từ triển lãm gia cầm vừa qua ở Berlin. Những con gà ấy đã chiếm giải nhất và ông chủ của chúng được tặng huy chương vàng về thành tích nhân giống.
Có thể nói tôi đã hết sức cố gắng thực hiện chương trình tự vạch ra, thậm chí tôi còn phát hiện ra rằng các bài tôi viết đều vượt trên khả năng của mình.
Vì muốn cho độc giả biết cái gì hoàn toàn mới lạ, tôi nghĩ ra nhiều con vật mới.
Tôi dựa trên nguyên tắc không viết về cái quen thuộc, thí dụ các con voi, hổ, sư tử, khỉ, chuột chũi, ngựa, lợn, vân vân, là những con vật mà độc giả tạp chí Thế giới động vật quen biết từ lâu, và cần cho độc giả giải mã một cái gì mới, phát hiện một cái gì mới. Vì vậy, tôi đã thử với Cá voi Bụng lưu huỳnh. Loài cá voi mới của tôi có độ lớn của cá tuyết Đại Tây Dương, trong bụng có bong bóng chứa acid formic, còn gọi là acid kiến, có lỗ huyệt đặc biệt, qua đó cá phát tiếng nổ, phun acid độc gây mê ấy lên các con cá con mà nó muốn đớp ăn. Sau đó, một nhà bác học người Anh… bây giờ tôi quên mất không nhớ tên ông ấy là gì, vâng nhà bác học ấy đặt tên cho acid ấy là acid cá voi. Mỡ cá voi thì ai cũng biết rồi, nhưng acid cá voi thì chưa, nó làm một số độc giả chú ý đến và họ đã hỏi thông tin về công ty sản xuất loại acid này.
Tôi có thể khẳng định với các anh rằng, độc giả của tờ Thế giới động vật là những người rất tò mò.
Sau Cá voi Bụng lưu huỳnh, tôi liên tục phát hiện ra hàng loạt các con vật khác. Tôi xin kể tên mấy con trong số ấy. Thí dụ con Móc túi hông là con đực của một loại chuột túi, con Bò thiến ăn liền là nguồn gốc đầu tiên của bò sữa, hay con Trùng lông mực biển mà tôi gọi là một loại chuột cống.
Ngày nào tôi cũng có thêm một con vật mới. Chính tôi cũng lấy làm ngạc nhiên về những thành công của mình trong lĩnh vực chuyên môn ấy. Chưa bao giờ tôi nghĩ rằng cần phải bổ sung nhiều loài động vật đến như thế, cũng chưa bao giờ tôi nghĩ rằng làm sao mà trong sách Đời sống động vật của mình, Brehm lại có thể bỏ qua không nói tới nhiều con vật đến như thế. Brehm và những người theo bước ông có biết gì về con dơi của tôi ở Iceland, còn gọi là con Dơi Xa xôi không? Hay về con mèo nhà của tôi ở trên đỉnh Kilimanjaro mà tôi đặt cho cái tên là Giầy da hươu kích thích?
Cho đến thời gian ấy, thử hỏi các nhà động vật học biết gì về con bọ chét của kỹ sư Khún mà tôi tìm thấy trong một miếng hổ phách, một con bọ chét hoàn toàn mù, bởi vì nó đã sống ký sinh trên da của con chuột chũi thời tiền sử, mà con chuột chũi này cũng mù, bởi vì cụ bà của nó, như tôi đã viết, đã ngủ với con manh giông ở hang động Postojna⦾, và hang động này thì hồi đó còn thông ra đến tận biển Baltic ngày nay?
Sự kiện không đáng kể ấy gây ra cuộc đàm luận lớn giữa tạp chí mang tên Thời gian và tạp chí mang tên Người Séc, bởi vì trong các tiểu phẩm đa dạng của mình, Người Séc đã nói tới bài viết của tôi về bọ chét rồi tuyên bố: ‘Trời làm gì cũng làm tốt.’ Tất nhiên là bằng quan điểm hiện thực, Thời gian đã đập nát con bọ chét của tôi và cả Người Séc đáng kính. Xem ra từ ngày ấy, ngôi sao may mắn của nhà phát minh và người khám phá những sinh linh mới đã rời bỏ tôi. Những người đặt mua dài hạn tạp chí Thế giới động vật bắt đầu thấy không hài lòng.
Sự không hài lòng đó bắt nguồn từ đủ những bài báo ngắn của tôi viết về nuôi ong và nuôi gia cầm. Trong những bài ấy, tôi phát triển lý thuyết mới của mình, những lý thuyết gây nên nỗi kinh hoàng thật sự, bởi vì sau khi đọc lời khuyên của tôi, ông Pazourek, một người nuôi ong có tiếng, đã bị tai biến mạch máu não, rồi việc nuôi ong ở Šumava lẫn ở vùng Podkrkonoší cũng bị mất luôn. Còn gia cầm thì bị dịch cúm làm toi hết cả. Những người đặt mua dài hạn đã viết thư đe dọa và từ chối tạp chí của chúng tôi.
Tôi chuyển sang viết về các loài chim sống trong thiên nhiên và cho đến nay tôi vẫn còn nhớ đến vụ rắc rối với biên tập viên của tờ Chân trời nông thôn. Người ấy là ông Josef Kadlčák, một chức sắc tôn giáo làm đại biểu Quốc hội, đồng thời là giám đốc của tờ tạp chí.
Số là tôi cắt từ tạp chí Anh Country Life bức tranh một con chim nào đó đậu trên cây óc chó. Tôi bèn đặt cho nó cái tên là chim Óc chó, với logic tương tự như vậy tôi sẽ chẳng ngại ngần gì mà không viết rằng con chim đậu trên cây bách xù sẽ là chim Bách xù.
Nhưng mà các anh có biết cái gì đã xảy ra không? Ông Kadlčák đã gửi một tấm bưu thiếp ngỏ bình thường, trong đó ông viết phản bác lại tôi, rằng con chim ấy là con Quạ thông, chứ không phải là con Óc chó nào cả, rằng Quạ thông là cái tên dịch từ Eichelhäher của tiếng Đức.
Tôi bèn gửi cho ông bức thư trả lời, trong đó tôi trình bày tất tật lý thuyết về chim Óc chó, kèm vào đó rất nhiều câu nguyền rủa và bịa ra những trích dẫn từ sách của Brehm.
Ngài đại biểu Quốc hội đã đáp lại tôi trong bài xã luận đăng trên Chân trời nông thôn.
Như thường lệ, ông Fuchs, sếp của tôi, ngồi ở quán cà phê đọc báo địa phương, bởi vì trong thời gian gần đây, ông rất hay tìm đọc các thông tin về những bài viết hấp dẫn của tôi ở Thế giới động vật. Thấy tôi đến, ông chỉ cho tôi tờ Chân trời nông thôn đang nằm trên bàn và nói khẽ, đồng thời nhìn tôi với đôi mắt buồn buồn mà bấy lâu nay tôi luôn luôn thấy trên gương mặt ông.
Tôi đọc to bài báo trước công chúng của quán cà phê:
Thưa quý tòa soạn! Tôi đã có lưu ý là tờ tạp chí của quý tòa soạn đưa ra những thuật ngữ khác thường, không dựa trên một cơ sở khoa học nào cả, cũng rất không tôn trọng sự trong sáng của tiếng Séc và còn nghĩ ra đủ các con vật khác nhau. Tôi đã đưa một thí dụ là biên tập viên của tạp chí nghĩ ra cái tên Óc chó cho con chim xưa nay chúng ta quen gọi là Quạ thông, tức là cái tên dịch từ nguyên văn tiếng Đức Eichelhäher – đơn giản là Quạ thông.
‘Quạ thông,’ ông chủ tờ tạp chí Thế giới động vật tuyệt vọng nhắc lại lời tôi.
Tôi thản nhiên đọc tiếp:
Tôi đã nhận được từ biên tập viên của tạp chí Thế giới động vật một bức thư vô cùng thô tục, xấc xược và mang tính cách chống đối cá nhân. Tôi đã bị gọi là đồ con bò không hiểu biết, và đây là điều đáng bị khiển trách nghiêm khắc. Đây không phải là cách phản ứng lại sự phê bình khoa học cụ thể giữa những người lịch sự. Tôi cũng muốn biết giữa tôi và người biên tập viên ấy, ai là con bò ngu hơn. Vâng, có thể đúng ra là tôi không nên dùng hình thức thư ngỏ khi viết qua bưu thiếp, nhưng vì bận rộn mà tôi không để ý đến sự nhỏ mọn ấy. Nhưng bây giờ, sau phản ứng hoàn toàn thô tục của biên tập viên tòa soạn Thế giới động vật, tôi sẽ đưa người ấy ra đả kích trước công luận.
Biên tập viên của quý tòa soạn đã rất sai lầm khi cho rằng tôi là đồ con bò không học hành đến nơi đến chốn, tới mức không hề biết con chim nào tên là gì. Tôi nghiên cứu điểu học đã lâu năm, không phải nghiên cứu trên sách vở, mà trên thực tế ngoài thiên nhiên, tôi có rất nhiều chim trong lồng, nhiều hơn tất cả những con chim mà biên tập viên của quý tòa soạn từng trông thấy trong đời mình, đặc biệt khi mà người ấy chỉ quanh quẩn ở các quán rượu và quán ăn Praha.
Tuy chỉ là việc không quan trọng, nhưng tôi cho là chắc chắn tốt hơn, giá mà biên tập viên của quý tòa soạn bỏ công tìm hiểu trước người mà anh ta phê bình vớ vẩn như thế, trước khi viết ra bài đăng dành cho độc giả, chẳng hạn cho độc giả ở Frýdland gần thành phố Místek ở Morava, những người đã đặt mua thường xuyên tạp chí của quý tòa soạn.
Suy cho cùng, đây không phải là tranh luận cá nhân của người đàn ông gàn dở, mà là tranh luận về một vấn đề, tôi xin nhắc lại, rằng lấy tên gọi dịch từ tiếng nước ngoài để bịa ra những tên khác là điều không được phép, khi mà trong tiếng Séc chúng ta đã có cái tên quen thuộc là Quạ thông.
‘Vâng, Quạ thông,’ sếp của tôi nhắc lại bằng giọng còn tuyệt vọng hơn.
Không để bị ngắt lời, tôi hài lòng đọc tiếp:
Đó là hành động xấu xa của những kẻ không có chuyên môn và của dân thô lậu. Đã từng có ai gọi con Quạ thông là con Óc chó bao giờ chưa? Ở trang 148, tập Chim của chúng ta, có thuật ngữ bằng tiếng Latin: Garrulus glandarius B.A., và đó chính là con chim của tôi – con Quạ thông.
Chắc hẳn biên tập viên của quý tạp chí cũng phải thừa nhận rằng tôi biết chim của mình rõ hơn một người không có chuyên môn nào đó biết về nó. Theo ông tiến sĩ Bayer thì cái tên Óc chó là tên gọi cho loài chim Mucifrag carycatectes B, và chữ B ở đây không hề có nghĩa là chữ đầu của từ Bò, tức là đồ con bò, theo như biên tập viên của quý tòa soạn đã viết cho tôi. Các nhà nghiên cứu chim người Séc chỉ biết đến con Quạ thông nói chung, chứ không biết đến con chim được gọi là Óc chó là con được người đàn ông có tên bắt đầu bằng chữ B đã công bố theo lý thuyết của mình. Đây là sự tấn công tàn bạo tới cá nhân, nhưng không thể làm thay đổi bản chất của sự việc.
Con Quạ thông vẫn cứ là con Quạ thông, cho dù biên tập viên của Thế giới động vật có vì thế mà phát cuồng, và điều đó chỉ chứng minh cho một thực tế là nhiều khi người ta viết liều lĩnh và hời hợt đến chừng nào, mặc dù kể cả biên tập viên của quý tòa soạn cũng dựa theo Brehm, nhưng viết với một sự xuyên tạc thô bạo rõ ràng. Kẻ thô tục ấy đã viết rằng theo Brehm thì Quạ thông thuộc về họ Cá sấu, đứng ở trang 452, nơi có viết về chim Bách thanh, hay còn gọi là chim đồ tể Bách thanh xám nhỏ (Lanius minor L). Sau đó con người thô lỗ ấy, xin phép được gọi anh ta như vậy, lại lôi Brehm ra để khẳng định rằng Quạ thông thuộc họ thứ mười lăm, nhưng Brehm thì lại xếp họ Quạ vào họ thứ mười bảy, trong đó gồm cả các chim quạ thuộc chi Quạ gáy xám; thậm chí anh ta còn thô tục đến mức gọi cả tôi là đồ con quạ (Colaeus), rằng tôi thuộc chi của Ác là, Quạ xanh, thuộc phân họ chim Dodo, mặc dù vẫn trong đó có viết về Quạ thông rừng và chim Ác là nhiều màu.

Trung sĩ hậu cần tài chính Vaněk
‘Quạ thông rừng,’ ông chủ tạp chí của tôi thở dài, hai tay ôm đầu và bảo, ‘đưa đây cho tôi để tôi đọc nốt?’
Tôi giật mình thấy ông đọc bằng giọng khàn khàn:
Con chim Hoét hay chim Hét dịch sang tiếng Séc thì vẫn là con Hoét hay con Hét, cũng như Họa mi vẫn hoàn là Họa mi.
‘Họa mi thì phải gọi là côn trùng, thưa sếp,’ tôi nói, ‘bởi vì nó ăn sâu bọ.’
Ông Fuchs đập tờ tạp chí xuống bàn và chui xuống gầm bàn bi-a rồi tiếp tục bằng giọng khàn đặc: ‘Turdus, hoét, hét. Chẳng phải là quạ thông gì hết,’ ông gầm lên từ gầm bàn, ‘Óc chó đây, tôi cắn đây, các ông ơi!’
Cuối cùng, người ta kéo ông ra khỏi gầm bàn bi-a và hai ngày sau, vì bệnh viêm não⦾, ông mất trong vòng tay gia đình.
Những lời cuối cùng của ông khi còn tỉnh táo là: ‘Tôi không quan tâm đến việc cá nhân, mà đến cái tốt nói chung. Từ quan điểm đó, anh hãy nhận phán quyết của tôi, về mặt thực tế, cũng như là…’ rồi ông nấc lên và qua đời.”
Người lính tình nguyện một năm im một lúc, rồi nhìn người hạ sĩ và nói một cách thâm thúy:
“Qua đó, tôi muốn nói là ai cũng có lúc lâm vào tình huống rắc rối tế nhị và mắc sai lầm!”
Nói ngắn gọn thì người hạ sĩ chỉ hiểu được rằng anh ấy là người mắc sai lầm. Anh lại quay trở về cửa sổ và buồn rầu nhìn mọi thứ chạy lùi lại phía sau tàu.
Câu chuyện của người lính tình nguyện một năm được Švejk chú ý hơn, còn những người lính hộ tống thì ngu ngơ nhìn nhau.
Švejk bắt đầu nói: “Trên đời này, chẳng giữ bí mật được cái gì. Tất cả mọi chuyện đều bị tiết lộ, như các anh đã nghe nói đấy, cả con Quạ thông ngu xuẩn cũng chẳng phải là con Óc chó nào hết. Quả thực đó là chuyện thú vị, rằng lại có người để bị lừa vì chuyện như thế. Nghĩ ra các con vật đúng là việc rất khó, nhưng đưa chúng ra để mọi người nhìn thấy thì quả lại còn khó hơn. Cách đây lâu rồi, ở Praha có một người tên là Mestek. Ông ấy phát hiện ra một nàng tiên cá và đem về để sau tấm bình phong ở phố Havlíčkova khu Vinohrady cho mọi người xem. Ở tấm bình phong có khoét một lỗ tròn, ai ghé nhìn vào cũng thấy trong cái ánh sáng lờ mờ có một chiếc ghế sofa rất bình thường và trên đó là một cô nàng người ở Žižkov. Hai chân cô được bó lại bằng dải băng màu xanh để thành đuôi cá, tóc nhuộm xanh, tay đeo găng tay có gắn vây cá làm bằng bìa carton cứng, cũng nhuộm màu xanh, trên lưng cô có chiếc bánh lái tàu thủy buộc vào bằng một sợi dây thừng. Những thiếu niên dưới mười sáu tuổi không được phép vào đấy, còn tất cả những ai trên tuổi mười sáu mua vé vào xem cũng đều khen là nàng tiên cá có cái mông vĩ đại, trên đó có ghi câu Chào tạm biệt! Bộ ngực của cô nàng thì chẳng có gì đáng nói cả, cặp vú mệt mỏi vì làm nghề của cô xệ xuống đến tận rốn. Cứ đến bảy giờ tối, ông Mestek đóng cửa phòng trưng bày và bảo: ‘Bây giờ thì cô có thể về nhà được rồi, nàng tiên cá ạ!’ Thế là nàng tiên cá thay quần áo và mười giờ đêm cô đã lại lượn lờ ở phố Táborská. Gặp bất kỳ một người đàn ông nào cô cũng chào mời rất thản nhiên: ‘Người bảnh trai ơi, đi chơi với em nào!’ Bởi vì không có sổ y tế nên trong một đợt kiểm tra lùng bắt của cảnh sát, cô nàng bị ông Drašner bắt giam cùng với một số cô gái khác tương tự. Thế là ông Mestek mất cả trưng bày với kinh doanh.”
Đúng lúc đó, tuyên úy ngã lăn từ ghế xuống sàn nhưng vẫn tiếp tục ngủ. Người hạ sĩ ngây người nhìn, mọi người im lặng, thế là anh tự mình lôi tuyên úy lên ghế. Xem ra thì hạ sĩ đã mất hết cả quyền thế và khi anh nói bằng một giọng thất vọng yếu ớt: “Lẽ ra các anh nên giúp tôi.” thì mọi người ở đội hộ tống đều giương mắt nhìn và chẳng một ai động đậy chân tay.
“Đáng lẽ anh cứ để ông ấy ngủ ở chỗ ấy.” Švejk nói. “Tôi đã không làm gì khác với tuyên úy của tôi. Có lần tôi để ông ấy ngủ trong nhà vệ sinh, có lần trên mặt hòm, lần thì ở bồn giặt quần áo của nhà người khác, có trời biết ông ấy đã lăn ra ngủ ở những đâu.”
Người hạ sĩ chợt lấy lại can đảm. Muốn tỏ ra để mọi người biết ai là người có quyền thế, anh xẵng giọng: “Câm mồm đi, đừng tán phét nữa! Lính hầu người nào cũng lải nhải ba hoa. Anh là đồ rận rệp đáng ghét.”
“Vâng ạ, tất nhiên rồi. Còn anh là ông trời, thưa hạ sĩ,” Švejk trả lời với vẻ bình tĩnh của nhà triết học muốn mang lại thanh bình cho cả thế giới, nhưng đồng thời lại tham gia vào cuộc tranh luận dữ dội, “anh là Đức Mẹ của Bảy sự thương khó.”
“Kính lạy Chúa Trời,” người lính tình nguyện một năm chắp tay cầu nguyện, “xin Chúa Trời ban cho chúng con tình yêu đối với các bậc sĩ quan, để chúng con khỏi phải nhìn họ bằng con mắt kinh tởm. Xin Chúa phù hộ cho chuyến đi của chúng con trên toa tàu chở tù nhân này.”
Người hạ sĩ đỏ bừng mặt và chồm lên: “Tôi cấm anh nói những lời như thế, nghe không?”
“Việc đó chẳng phải là lỗi của anh,” người lính tình nguyện một năm nhẹ nhàng nói, “tạo hóa lắm khi chẳng ban một chút thông minh nào cho nhiều giống nòi và nhiều loài động vật. Anh đã từng bao giờ được nghe kể về cái ngu ngốc của con người chưa? Giá mà anh sinh ra như một động vật có vú khác và không mang cái tên ngốc nghếch của con người, cũng như không làm hạ sĩ, thì có phải là tốt hơn không? Anh nghĩ rằng anh là một sinh linh hoàn hảo nhất, phát triển nhất, và đó chính là sai lầm lớn. Nếu người ta gỡ bỏ sao từ quân hàm của anh thì anh chỉ là con số không thôi, và con số không ấy sẽ bị bắn chết ở tất cả mọi chiến hào, ở tất cả mọi chiến trường mà không một ai quan tâm tới. Nếu người ta gắn thêm cho anh một sao trên quân hàm để anh trở thành con vật gọi là lính tình nguyện phục vụ lâu nhất thì anh cũng vẫn chưa được ổn. Cái thế giới tinh thần của anh sẽ còn bị thu nhỏ lại hơn, và khi mà bộ xương còi cọc về văn hóa của anh nằm lại ở một nơi nào đó trên chiến trường, thì khắp châu Âu cũng sẽ chẳng có một người nào nhỏ nước mắt khóc anh.”
“Tôi sẽ cho giam anh lại,” người hạ sĩ bực tức gào lên.
Người lính tình nguyện một năm bật cười: “Anh muốn cho bắt giam tôi, có lẽ bởi vì tôi đã chửi anh. Nhưng mà thế thì anh đã dối trá, tại vì đầu óc anh không thể nào nhận biết được những điều xúc phạm. Ngoài ra, tôi xin cược với anh cái gì anh muốn, là anh cũng chẳng hề nhớ được những gì chúng ta đã nói với nhau. Nếu tôi bảo rằng anh là cái phôi, thì anh cũng quên điều đó ngay, không phải là trước khi tàu chúng ta đến ga tới, mà là trước khi chúng ta vượt qua một cột điện báo tiếp theo đây. Anh là cái tế bào thần kinh bị chết. Tôi không thể tưởng tượng được là anh có thể kể lại có đầu có đuôi về những gì anh đã nghe tôi nói. Hơn nữa, anh có thể hỏi bất kỳ ai ở đây xem trong những điều tôi đã nói có một cái gì bóng gió, cho dù là hết sức nhỏ, về thế giới tinh thần của anh không, hoặc là tôi đã làm gì xúc phạm đến anh không.”
“Tất nhiên rồi,” Švejk khẳng định, “ở đây chẳng ai nói gì làm anh có thể hiểu sai. Thường thì sự việc bao giờ cũng có vẻ xấu, khi mà có ai thấy bị xúc phạm. Một lần, tôi ngồi ở quán cà phê đêm Đường hầm và chúng tôi đã nói chuyện với nhau về đười ươi. Có một thủy thủ cùng ngồi với chúng tôi đã kể là nhiều khi người ta không phân biệt được đười ươi với người rậm râu, rằng một con đười ươi có cái cằm đầy lông lá như thế trông giống như… giống như người đàn ông đang ngồi ở bàn bên cạnh kia chẳng hạn. Tất cả chúng tôi quay sang nhìn. Người đàn ông có cái cằm đầy râu đứng dậy đi tới giáng cho người thủy thủ một cái tát và anh này lấy chai bia phang vỡ đầu ông ấy, làm ông ấy lăn ra bất tỉnh. Thấy thế, người thủy thủ chia tay với chúng tôi rồi bỏ đi ngay. Sau đó, chúng tôi giúp người đàn ông ấy tỉnh lại, nhưng mà đúng ra thì chúng tôi không nên làm thế, bởi vì sau khi tỉnh lại, ông ấy gọi cảnh sát tuần tra tới bắt giải chúng tôi lên phòng cảnh sát, cho dù chúng tôi chẳng hề có dính dáng gì với việc đã xảy ra. Ở phòng cảnh sát, ông ấy cứ lải nhải mãi, rằng chúng tôi coi ông ấy là con đười ươi, rằng chúng tôi đã chẳng nói gì khác với nhau, ngoài chuyện về ông ấy. Cứ suốt như thế. Còn chúng tôi thì bảo là không, ông ấy không phải là đười ươi. Ông ấy bảo ông ấy là đười ươi, rằng đã nghe thấy nói thế. Tôi đã xin ông ủy viên cảnh sát giải thích cho ông ấy. Ông ủy viên cũng nhẹ nhàng giải thích, nhưng ông râu rậm vẫn không nghe, lại còn bảo là ông ủy viên không hiểu được chuyện ấy, rằng ông ấy vào hùa với chúng tôi. Thế là ông ủy viên giam ông rậm râu lại cho tỉnh rượu, còn tất cả chúng tôi thì muốn quay lại quán Đường hầm, nhưng không được, tại vì cũng bị cảnh sát giam luôn. Đấy, thưa hạ sĩ, anh thấy cái gì có thể xảy ra từ một hiểu lầm hết sức nhỏ bé và không đáng kể như thế. Ở Okrouhlice thì lại có một công dân, ông này thấy bị xúc phạm khi ở Německý Brod người ta bảo ông là con trăn đất. Những từ hết sức vô tội như thế có nhiều lắm. Thí dụ nếu chúng tôi bảo anh là con chuột xạ hương, thì anh có thể giận chúng tôi được không?”

Người hạ sĩ gầm lên. Không thể bảo đó là tiếng hét được. Sự giận dữ, cơn thịnh nộ, nỗi tuyệt vọng, tất cả trộn thành tiếng sấm gầm, xen vào tiết mục hòa nhạc ấy là tiếng ngáy rít như tiếng còi qua mũi của ngài tuyên úy.
Cơn sấm sét ấy qua đi, nỗi u sầu đầy ắp tới thay thế. Người hạ sĩ ngồi xuống ghế, đôi mắt mọng nước chẳng có chút sức sống của anh dán vào những cánh rừng và những ngọn núi ở phía xa.
“Thưa hạ sĩ,” người lính tình nguyện một năm nói, “hình ảnh anh ngồi ngắm núi đẹp rừng thơm thế này gợi cho tôi nhớ đến Dante. Cũng khuôn mặt cao quý của nhà thơ, của người đàn ông có trái tim và tâm hồn nhẹ nhàng, rộng mở đón những gì cao thượng. Xin anh hãy ngồi yên như thế, trông anh rất đẹp. Anh ngắm phong cảnh bằng đôi mắt có hồn, không giả tạo, không xa lạ. Nhất định anh đang nghĩ là sang xuân, những nơi hoang vắng này sẽ trở nên rất đẹp, sẽ được phủ tấm thảm đầy hoa đồng nội rực rỡ…”
“… tấm thảm hoa ấy sẽ lượn ôm dòng suối nhỏ,” Švejk nói thêm, “và anh hạ sĩ sẽ ngồi ở một gốc cây, nhấm bút chì để viết bài thơ gửi tạp chí Bạn đọc trẻ⦾.”
Người hạ sĩ trở nên hoàn toàn thờ ơ, trong khi người lính tình nguyện một năm khẳng định rằng dứt khoát đã trông thấy ở một triển lãm tượng một bức tượng có cái đầu làm theo mẫu đầu hạ sĩ.
“Thưa hạ sĩ, có phải anh đã làm mẫu cho nhà điêu khắc Štursa⦾ không?”
Viên hạ sĩ nhìn anh lính tình nguyện và buồn rầu đáp: “Không.”
Người lính tình nguyện một năm không nói gì nữa, anh ngả lưng nằm xuống ghế.
Những người lính của đội hộ tống ngồi chơi bài với Švejk. Anh hạ sĩ buồn chán ngó vào mách nước, thậm chí còn dám nhận xét rằng Švejk xuống con eso xanh là sai lầm, rằng không nên cắt con chủ bài và nên giữ con bảy để xuống bài lần cuối.
“Ở quán,” Švejk nói, “thường có các câu chống những kẻ mách nước. Tôi có nhớ một câu là ‘Đứa nào mách nước hãy câm mồm đi, không thì tao vả cho đấy.’”
Con tàu quân sự vào đến nhà ga, nơi có thanh tra quân đội đến kiểm tra các toa. Tàu dừng lại.
“Tất nhiên,” người lính tình nguyện một năm nhìn hạ sĩ và nói một cách không thương tiếc, “thanh tra đến đây rồi…”
Viên thanh tra quân đội bước vào toa tàu.
Trưởng tàu quân sự là một sĩ quan dự bị được Ban Tham mưu chỉ định, đó là ông tiến sĩ Mráz. Bao giờ người ta cũng giao những nhiệm vụ dở hơi như thế cho sĩ quan dự bị. Tiến sĩ Mráz đang vô cùng lúng túng. Ông tính mãi mà vẫn cứ thấy thiếu một toa, mặc dù trong đời thường ông là thầy giáo dạy toán ở một trường tiểu học. Ấy là chưa kể đến việc khi tàu tới ga cuối cùng thì số lính từng toa được báo cáo lên thấp hơn so với số lính lên tàu ở ga Budějovice. Khi đối chiếu với danh sách có trong tay thì ông thấy là chẳng hiểu lấy đâu ra mà trên tàu có thêm hai bộ trang bị nhà bếp di động. Ông thấy lành lạnh khó chịu ở sống lưng khi nghe tin khẳng định rằng không biết thế nào mà trên tàu lại có nhiều ngựa hơn. Theo danh sách sĩ quan thì ông thấy thiếu hai trung sĩ học viên. Còn trong văn phòng trung đoàn ở toa đầu tiên thì người ta vẫn chưa tìm thấy một cái máy chữ bị biến đi đâu mất. Những chuyện hỗn loạn linh tinh ấy làm ông đau đầu, ông đã uống ba viên Aspirin, và bây giờ thì ông đi kiểm tra đoàn tàu với nét đau đớn lộ rõ trên gương mặt.
Khi cùng với người phụ tá của mình bước vào toa chở tù nhân, ông tiến sĩ nhìn vào giấy tờ và nghe người hạ sĩ khốn khổ báo cáo về việc giải hai tù nhân, cũng như danh sách những ai ở trong đội hộ tống. Ông soát lại giấy tờ để so sánh xem báo cáo có đúng không rồi nhìn xung quanh.
“Còn người này là ai?” ông thanh tra nghiêm khắc hỏi và chỉ vào ngài tuyên úy đang nằm sấp ngủ, cái mông của ngài đang khiêu khích nhìn ông.
“Báo cáo thiếu úy,” hạ sĩ lắp bắp, “là chúng tôi … cái người này…”
“‘Cái người này’ là thế nào?” tiến sĩ Mráz lầu bầu, “Anh phải nói cho rõ ràng chứ?”
“Báo cáo thiếu úy,” Švejk lên tiếng, “người đang sấp bụng ngủ này là một ông tuyên úy say rượu nào đó ạ. Ông ấy theo chúng tôi vào toa, và vì ông ấy là cấp trên nên chúng tôi không thể đuổi ông ấy đi được, để khỏi phạm kỷ luật cấp dưới không phục tùng cấp trên. Có lẽ là ông ấy nhầm toa, tưởng toa chở tù nhân là toa của Ban Tham mưu ạ.”
Tiến sĩ Mráz thở dài nhìn vào giấy tờ, nhưng chẳng hề thấy ở đó có ghi chép gì về một ông tuyên úy nào có nhiệm vụ đi cùng đoàn tàu đến Bruck an der Leitha. Mắt ông giần giật vì căng thẳng. Ở ga cuối cùng bỗng nhiên ông có thêm ngựa, bây giờ thì thậm chí tự nhiên còn có thêm một ông tuyên úy sinh ra ở toa tàu dành cho tù nhân.
Ông không biết phải làm gì khác, ngoài việc ra lệnh cho hạ sĩ lật ngửa người đang ngủ lên, chứ ở tư thế nằm sấp thì làm sao mà xác định được người đó là ai.
Vất vả một hồi, anh hạ sĩ mới lật ngửa được tuyên úy, nhưng lại làm tuyên úy tỉnh giấc. Khi trông thấy người sĩ quan phía trước mình, ông lẩm bẩm bằng tiếng Đức: “À, lính hầu Fredy! Thế nào, có gì mới không? Cơm chiều xong chưa?” Rồi ông nhắm mắt lại và xoay người quay mặt vào thành ghế.
Tiến sĩ Mráz nhận ngay ra đó chính là người tham ăn trong bữa tiệc chia tay ngày hôm qua ở casino sĩ quan, người vơ vét nổi tiếng của các nhà ăn sĩ quan, và ông lại khẽ thở dài.
“Vì việc này, anh sẽ phải đi trình diện.” Ông nói với người hạ sĩ rồi đi khỏi toa. Nhưng Švejk đã giữ ông lại:
“Báo cáo thiếu úy là tôi không thuộc về toa này ạ. Tôi chỉ bị giam đến mười một giờ, vì hôm nay là ngày cuối cùng tôi bị giam. Tôi đã bị phạt giam ba ngày, bây giờ thì đúng ra tôi phải ngồi toa chở súc vật cùng với những người khác. Tại vì mười một giờ đã qua lâu rồi, xin thiếu úy cho phép tôi hoặc là xuống tàu, hoặc là được chuyển sang toa chở súc vật, hay là đến với trung úy Lukáš”
“Anh tên là gì?” tiến sĩ Mráz hỏi và lại nhìn vào giấy tờ.
“Báo cáo thiếu úy, Švejk Josef ạ.”
“À, ra thế. Anh là anh Švejk nổi tiếng đây,” tiến sĩ Mráz nói, “đúng là anh được ra khỏi phòng giam lúc mười một giờ thật. Nhưng trung úy đã yêu cầu tôi giữ anh lại cho đến khi tàu tới Bruck, nghe bảo là như vậy thì an toàn hơn và ít ra thì trên đường đi anh không làm được chuyện gì lôi thôi.”
Khi viên thanh tra đi khỏi, người hạ sĩ không kìm được câu nhận xét sâu cay:
“Đấy, Švejk ạ, anh đã thấy là kêu lên cấp trên thì cũng chẳng được cái cứt gì. Giá mà muốn thì tôi đã có thể làm cho cả hai các anh khốn đốn rồi.”
“Thưa hạ sĩ,” người lính tình nguyện một năm lên tiếng, “cho dù văng cứt đái cũng là một hình thức tranh luận, nhưng người thông minh thì không nên dùng những lời như thế khi có điều gì bực tức, hay muốn khiển trách ai. Bảo rằng anh có thể làm chúng tôi khốn đốn thì quả là lời dọa dẫm buồn cười. Tại sao anh không làm thế, khi mà anh đã có cơ hội, hả? Dứt khoát lý do ở đây phải là cái chín chắn già dặn về tinh thần của anh, hay là một sự kín đáo tế nhị bất thường.”
“Này, đủ rồi!” người hạ sĩ chồm lên, “tôi có thể tống các anh vào tù.”
“Vì sao, hả?” người lính tình nguyện một năm hỏi một cách vô tội.
“Đấy là việc của tôi!” người hạ sĩ tỏ ra can đảm.
“Ừ, việc của anh,” người lính tình nguyện một năm mỉm cười nói, “nhưng việc của anh cũng là việc của chúng tôi. Giống như khi chơi bài ấy mà, bài của tôi là bài của anh. Tôi thì cho rằng việc sẽ phải đi trình diện làm anh lo lắng, vì thế anh bắt đầu quát mắng chúng tôi, nhưng tất nhiên là anh không có lý.”
“Các anh là đồ đểu,” người hạ sĩ thu hết can đảm để tỏ ra hung dữ.
“Này, thưa hạ sĩ, để tôi nói cái này với anh,” Švejk lên tiếng, “tôi là lính lâu năm, tôi đã ở quân đội từ trước chiến tranh, và xin nói với anh là chửi rủa không bao giờ đem lại ích lợi gì. Hồi ấy, tôi nhớ là ở đại đội chúng tôi có một người lính tình nguyện phục vụ quá hạn tên là Schreiter. Anh này phục vụ tiếp vì cái ăn thôi, chứ đã có thể xuất ngũ với chức hạ sĩ từ lâu rồi, nhưng mà anh ấy lại là người mà chúng tôi gọi là ngu ngốc điên điên. Thế là anh ta trù lính chúng tôi, cứ bám chúng tôi như đỉa đói. Khi chán rồi thì lại đem nội quy ra bắt bẻ và bảo: ‘Các anh không phải là lính, mà là bọn coi vườn cây ăn quả.’ Cho đến một hôm tôi cáu quá đến gặp đại đội trưởng. Ông ấy hỏi tôi ‘Cậu muốn gì?’ Tôi trả lời ‘Thưa đại úy, tôi muốn khiếu nại trung sĩ Schreiter. Chúng tôi là lính của Hoàng đế, chứ đâu phải là bọn đi canh vườn. Chúng tôi phục vụ Hoàng đế, chứ không phải là người coi cây ăn quả.’
‘Này, đồ sâu bọ,’ đại úy bảo tôi, ‘xéo đi cho khuất mắt.’ Tôi trả lời ‘Vâng, thưa đại úy, thế thì xin cho tôi được lên trình diện tiểu đoàn.’
Ở tiểu đoàn, khi tôi giải thích cho ngài trung tá là chúng tôi không phải là người canh gác cây, mà là lính của Hoàng đế, thì trung tá cho giam tôi hai ngày. Nhưng tôi lại đề nghị cho tôi được lên báo cáo trung đoàn. Ở đó, sau khi nghe tôi trình bày, ngài đại tá gầm lên nói tôi là thằng ngu, rồi bảo tôi cút đi. Tôi đã nói với ông ấy: ‘Báo cáo đại tá, vậy thì xin cho tôi lên gặp lữ đoàn.’ Ông ấy giật mình, bèn cho gọi Schreiter đến, và trước mặt tất cả mọi người ở văn phòng, hắn phải xin lỗi tôi về cái từ canh vườn ấy. Khi ra khỏi văn phòng, hắn đuổi kịp tôi ở ngoài sân và bảo rằng từ hôm nay trở đi sẽ không chửi rủa gì tôi nữa, nhưng mà sẽ tìm cách đưa tôi đến nhà giam. Từ dạo ấy, tôi đã rất cẩn thận, nhưng vẫn bị sơ hở. Lần ấy, tôi đứng trong chòi canh bên nhà kho, các anh biết là ở chòi canh thì bao giờ cũng có người vẽ vạch viết lách cái gì đó lên tường. Hoặc là vẽ con bướm của các cô, hoặc là viết một vài vần thơ. Tôi chẳng nghĩ ra được vần thơ nào, nhưng đứng mãi cũng chán, tôi bèn ký tên mình lên tường, bên dưới câu ‘Schreiter là thằng ngu.’ Thế là hắn đi tố tôi, bởi vì hắn luôn luôn theo dõi, đánh hơi như con chó. Không may là bên trên câu ấy còn có một câu khác ‘Chúng ta sẽ không ra chiến trường, chúng ta ỉa vào nó.’ Lần ấy là năm 1912, khi chúng ta vì ngài Lãnh sự Procházka⦾ mà phải tiến quân đến Serbia. Ngay lập tức, người ta đưa tôi đến tòa án địa phương ở Terezín. Các ông ở tòa án quân sự đã chụp ảnh đến mười lăm lần bức tường với những câu phía trên chữ ký của tôi. Họ bắt tôi viết mười lần câu ‘Chúng ta sẽ không ra chiến trường, chúng ta ỉa vào nó.’ để nghiên cứu chữ ký của tôi. Trước mặt họ, tôi cũng phải viết mười lăm lần câu ‘Schreiter là thằng ngu.’ cuối cùng người giám định chữ viết đến và cho đọc tôi viết chính tả: ‘Hôm ấy là ngày 29 tháng 7 năm 1897, thành phố Králový Dvůr chứng kiến sự kinh hoàng do sông Labe⦾ hung dữ gây ra ngập lụt.’ Nhưng ông thẩm phán bảo: ‘Không, như thế thì chưa đủ. Chúng tôi quan tâm đến chữ ỉa, vậy ông hãy cho viết chính tả cái gì có nhiều i và a. Thế là họ đọc cho tôi viết: Bia, kia, ỉa, Serbia, thì, là, khỉ. Ông giám định chữ viết mụ cả người lên và cứ quay đầu nhìn về phía sau, nơi có một người lính đứng mang súng cắm lưỡi lê, cuối cùng ông nói là phải đi Vienna, rồi bảo tôi viết ba lần câu: ’Mặt trời đã bắt đầu chói chang, cái nóng đã bừng bừng.’ Họ mang tất cả những tài liệu ấy sang Vienna và cuối cùng thì kết luận là hai câu viết trên tường thì không phải từ tay tôi viết, còn chữ ký thì đúng là của tôi, chính tôi cũng thú nhận thế. Vì vậy tôi bị phạt giam sáu tuần, bởi vì tôi đã ký tên khi đứng gác, và trong thời gian ký tên lên tường thì tôi đã không thể canh gác được.”
“Qua đấy,” người hạ sĩ hài lòng nói, “đủ thấy là dù sao thì cũng không tránh được sự trừng phạt. Nhưng ở địa vị của tòa án thì tôi không kết án anh sáu tuần, mà sáu năm!”
“Anh đừng ác thế,” người lính tình nguyện một năm lên tiếng, “tốt nhất là anh hãy nghĩ đến cái kết thúc của mình. Ông thanh tra chẳng vừa bảo là anh sẽ phải đi trình diện là gì! Với một việc như thế, anh nên chuẩn bị rất nghiêm túc và suy nghĩ đến những việc cuối đời của một hạ sĩ. Anh thử tưởng tượng mà xem, anh là cái gì so với cả vũ trụ, khi mà khoảng cách từ con tàu quân sự này tới ngôi sao cố định gần chúng ta nhất phải xa gấp 275 nghìn lần so với khoảng cách đến Mặt trời, để cho góc thị sai của nó ứng được với một giây góc? Nếu mà anh là một ngôi sao cố định trong vũ trụ, dứt khoát anh sẽ quá nhỏ đến mức mà cả kính thiên văn tốt nhất cũng không thể quan sát để ý được tới anh. Chẳng cái gì có thể định nghĩa được sự nhỏ mọn của anh trong vũ trụ. Trong một nửa năm anh sẽ di chuyển trên bầu trời được một cánh cung mỏng dính, trong một năm được một hình elip bé xíu, nhỏ đến mức không thể biểu thị được bằng con số, góc thị sai của anh là cái không thể đo tính được.”
“Trong trường hợp như thế,” Švejk nhận xét, “anh hạ sĩ có thể tự hào là chẳng ai có thể đo được anh, và bất kể cuộc đi trình diện báo cáo của anh sẽ kết thúc thế nào, anh cũng phải bình tĩnh và không được nổi cáu, bởi vì cáu giận có hại đến sức khỏe. Bây giờ ở trong quân đội thì ai cũng phải giữ gìn sức khỏe, tại vì chiến tranh đòi hỏi người lính phải khỏe mạnh, chứ không được là kẻ ốm sắp chết. Hạ sĩ ạ, nếu mà người ta sẽ giam anh,” Švejk nở nụ cười thân thiện và tiếp tục, “nếu có gì xấu xảy ra với anh thì anh cũng không được mất tinh thần, nếu họ nghĩ mọi thứ theo cách của họ thì anh cũng nghĩ mọi thứ theo cách của anh. Tôi có biết một người làm nghề đốt than tên là František Škvor. Hồi đầu chiến tranh, ông ấy bị giam cùng với tôi ở sở cảnh sát vì tội phản quốc, sau đó hình như bị xử tử theo Luật về các vấn đề liên quan đến lợi ích chung. Trong khi thẩm vấn người ta hỏi ông có gì phản đối lại những gì ghi ở biên bản không thì ông đã trả lời: ‘Muốn sao thì sao, dù sao cũng thế, vẫn chưa bao giờ có chuyện nào mà không thể nào xảy ra.’
Vì thế mà ông ấy bị người ta giam vào phòng tối hai ngày, không được ăn uống gì cả, rồi lại bị đưa đi hỏi cung, và ông ấy lại bảo: ‘Muốn sao thì sao, dù sao cũng thế, vẫn chưa bao giờ có chuyện nào mà không thể nào xảy ra.’ Sau đó, ông ấy bị đưa sang tòa án quân sự, cũng có thể là vì thế mà ông ấy bị đưa đến giá treo cổ.”
“Nghe bảo bây giờ người ta treo cổ và xử bắn nhiều lắm,” một người lính của đội hộ tống nói, “cách đây không lâu, ở bãi tập, người ta đọc cho chúng tôi nghe thông báo về việc một người lính dự bị tên là Kudrna bị xử bắn ở Motol. Số là anh ấy đã nổi giận khi một ông đại tá lấy kiếm chém vào con trai anh ấy, mà thằng bé thì lúc ấy đang được mẹ bế, cả hai mẹ con đến Benešov chia tay với anh ấy. Rất nhiều người có liên quan đến chính trị bị bắt. Một biên tập viên ở Morava cũng đã bị bắn chết. Ông đại tá của chúng tôi đã bảo là rồi sẽ đến lượt những người khác.”
“Cái gì cũng chỉ có mức độ của nó thôi,” người lính tình nguyện một năm nói mơ hồ.
“Anh nói phải,” người hạ sĩ lên tiếng, “đối với những biên tập viên thì làm thế là phải. Họ chỉ gây phẫn nộ trong dân chúng thôi. Năm kia, hồi tôi mới chỉ là binh nhất, dưới quyền tôi có một biên tập viên. Hắn luôn luôn gọi tôi là thảm họa của quân đội, nhưng mà khi tôi bắt hắn tập thể dục đến đổ mồ hôi thì bao giờ hắn cũng bảo: ‘Xin anh tôn trọng con người của tôi.’ Nhưng tôi đã cho hắn biết thế nào là con người, khi có khẩu lệnh nằm xuống mà đúng lúc ấy ở sân tập trong doanh trại có nhiều vũng nước, thì tôi dẫn hắn đến trước một vũng và hắn phải ngã xuống làm nước bắn tung tóe như ở bể bơi. Nhưng buổi chiều thì tất cả mọi thứ mang trên người của hắn phải tinh tươm, áo khoác phải sạch sẽ phẳng phiu, còn hắn thì vừa giặt giũ vừa chửi rủa. Ngày hôm sau hắn lại lăn lộn trong vũng bùn như con lợn và tôi thì đứng trên hỏi hắn: ‘Thế nào, thưa biên tập viên? Thảm họa của quân đội hay cái gọi là con người của anh, cái gì hơn cái gì, hả?’ Vâng, đó là người thông minh thực thụ.”
Anh hạ sĩ đắc thắng nhìn người lính tình nguyện một năm và tiếp tục: “Chính vì cái thông minh của mình mà hắn bị mất vạch lính một năm, tại vì hắn đã viết bài báo về tra tấn binh lính. Không tra tấn hắn sao được, tuy là người có học nhưng mà hắn không biết tháo khóa nòng, kể cả sau khi người ta chỉ cho hắn có đến mười lần! Còn khi có khẩu lệnh nhìn bên trái thì hắn ngoảnh sang nhìn bên phải như là cố ý làm thế, rồi cứ giương mắt ếch ra mà nhìn. Lúc tập các động tác mang súng thì hắn chẳng biết phải nắm cái gì trước cái gì sau, dây đeo, hay bao đạn, cứ ngờ nghệch nhìn như thằng dại khi nghe nói cầm dây đeo thì phải trượt tay từ trên xuống dưới. Hắn cũng chẳng biết đeo súng ở vai nào, lúc giơ tay chào thì trông hắn như con khỉ, còn lúc luyện tập các động tác đi, thì trời ạ, hắn làm như đang tập đi ấy. Khi phải làm động tác đằng sau, quay thì hắn chẳng hề quan tâm quay bằng chân nào, hắn chập chững sáu bước về phía trước đã, rồi sau đó mới quay lại, còn khi tập bước đều thì hắn khập khiễng như người bị bệnh gút, hay như cô điếm già khiêu vũ sau bữa trẩy hội vậy.”
Anh hạ sĩ nhổ bọt: “Hắn phải lĩnh một khẩu súng rất gỉ để tập lau và đã kỳ cọ rất ghê, nhưng giá mà có mua thêm hai cân vải đay làm giẻ lau đi nữa thì hắn cũng chẳng làm sao mà lau cho sạch được. Càng lau, khẩu súng càng gỉ hơn và khi kiểm tra, mọi người chuyền khẩu súng cho nhau xem, ai cũng ngạc nhiên là làm sao mà nó lại gỉ đến thế. Ông đại úy của chúng tôi thường bảo hắn là chẳng bao giờ hắn trở thành người lính được, rằng tốt hơn là hắn hãy treo cổ mà chết đi, chứ không thì hắn chỉ là người ăn hại bánh mì của quân đội thôi. Còn hắn thì cứ chớp chớp mắt liên tục sau đôi kính. Đối với hắn, khi không bị chế độ phạt giam nghiêm ngặt hay không bị cấm rời doanh trại, thì đó là ngày hội. Vào ngày ấy, hắn thường viết các bài về tra tấn binh lính để gửi đăng báo, cho đến một ngày người ta kiểm tra va-li của hắn. Trời ạ, ở trong ấy hắn có nhiều sách làm sao! Mà toàn là sách về giải trừ quân bị, về hòa bình giữa các dân tộc. Vì thế, hắn bị đưa vào trại giam quân đội, cũng từ đấy chúng tôi thoát nợ với hắn. Nhưng rồi một hôm hắn bỗng lại xuất hiện ở văn phòng để làm việc ghi chép đồ phân phát, cho khỏi có dính dáng giao thiệp gì với binh lính. Đây là cái kết thúc đáng buồn của một anh chàng thông minh. Hắn đã có thể được ở địa vị khác, nếu mà hắn không bị mất cái quyền lợi lính một năm, mà nói cho cùng thì cũng chỉ vì làm những chuyện ngu ngốc thôi. Hắn đã có thể lên cấp thiếu úy.”
Người hạ sĩ thở dài: “Đến cả cái nếp gấp trên áo khoác hắn cũng không biết xếp, cúc áo thì hắn đánh bằng đủ thứ nước và dầu đặt mua tận ở Praha, nhưng mà những cái cúc áo của hắn vẫn có màu hơi đỏ như Esau. Hắn chỉ được cái giỏi ba hoa, trong thời gian ở văn phòng hắn chẳng làm gì cả, ngoài việc triết lý. Ngay từ trước hắn cũng thích triết lý rồi. Như tôi đã nói, hắn chỉ toàn ba hoa về con người. Tôi nhớ một lần đứng nhìn hắn phải lăn trong vũng lầy, tôi đã bảo hắn: ’Khi mà anh cứ luôn miệng nói về con người và về bùn lầy, thì anh hãy nhớ rằng con người được tạo thành từ bùn đất, và đây phải là điều con người phải thừa nhận.”
Nói đến đấy, hạ sĩ cảm thấy hài lòng với chính mình và chờ xem người lính tình nguyện một năm sẽ nói gì. Nhưng Švejk lên tiếng:
“Chỉ vì toàn những chuyện như thế này, vì chuyện bị làm khổ như thế mà cách đây mấy năm ở trung đoàn 35 có một người lính tên là Koníček đã đâm chết một hạ sĩ rồi tự tử luôn. Anh hạ sĩ bị đâm khoảng ba mươi nhát, có đến hơn chục nhát gây tử vong. Người lính ấy còn ngồi lên xác hạ sĩ mà đâm thêm nữa. Một trường hợp khác xảy ra ở Dalmatia, cũng cách đây mấy năm. Một người hạ sĩ chết vì bị cắt cổ nhưng cho đến nay vẫn chưa biết ai đã làm việc đó. Mọi thứ đều bí mật, chỉ biết rằng người hạ sĩ ấy tên là Fiala, người làng Drábovna gần Turnov. Tôi cũng còn biết chuyện về một ông hạ sĩ nữa tên là Rejmánek ở trung đoàn 75…”
Câu chuyện dễ chịu bị ngắt bởi tiếng kêu to từ chiếc ghế nơi tuyên úy Lacina nằm ngủ.
Cha tuyên úy tỉnh giấc rất vui vẻ, với những thể hiện giống như sự thức giấc buổi sáng của chàng khổng lồ trẻ tuổi trong Gargantua, theo miêu tả của nhà văn già vui tính Rabelais.
Từ chiếc ghế dài, cha tuyên úy xì hơi và ợ rồi ngáp to như sấm. Cuối cùng ông ngồi dậy và ngạc nhiên hỏi: “Ối trời, tôi đang ở đâu thế này?” Nhìn thấy người cấp trên thức giấc, hạ sĩ nịnh nọt trả lời:
“Thưa, xin báo cáo tuyên úy, ngài đang ở trong toa chở tù nhân ạ.”
Một chút nghi ngờ thoáng qua mặt tuyên úy. Ông ngồi yên lặng một lúc và hết sức cố gắng suy nghĩ. Vô vọng. Giữa những gì ông trải qua đêm hôm trước và sáng hôm nay, cũng như bây giờ tỉnh giấc ở toa tàu có cửa sổ gắn tấm sắt mắt cáo, là một biển cả khúc mắc mơ hồ.
Cuối cùng ông hỏi người hạ sĩ vẫn còn đang khúm núm đứng trước mặt mình:
“Thế ai ra lệnh mà tôi… như là….”
“Xin báo cáo là không có lệnh nào ạ, thưa tuyên úy.”
Cha tuyên úy đứng dậy và đi đi lại lại giữa các hàng ghế, miệng lẩm bẩm rằng ông không cảm thấy rõ ràng một chút nào.
Rồi cha lại ngồi xuống và hỏi: “Bây giờ chúng ta đang đi đâu?”
“Báo cáo, đi Bruck an der Leitha ạ.”
“Nhưng vì sao mà chúng ta đi Bruck?”
“Báo cáo, trung đoàn 91 bị chuyển tới đó ạ.”
Cha tuyên úy lại bắt đầu suy nghĩ xem cái gì đã xảy ra với ông, làm sao mà ông đến toa tàu này và vì sao ông đi Bruck, mà lại đi với trung đoàn 91, với một đội hộ tống nữa.
Cha đã tỉnh cơn say đến mức là nhận ra được cả người lính tình nguyện một năm, vì vậy, ông quay sang hỏi anh ấy:
“Anh là người thông minh có học, anh có thể giải thích mà không giấu giếm điều gì cho tôi biết làm sao tôi lại đến được chỗ các anh không?”
“Rất vui lòng,” người lính tình nguyện một năm trả lời bằng giọng bạn bè thân mật, “đơn giản là sáng hôm nay ở nhà ga, tuyên úy đã lên tàu với chúng tôi, tại vì tuyên úy đã say sưa.”
Người hạ sĩ nghiêm khắc nhìn anh ấy.
“Tuyên úy đã leo vào toa của chúng tôi,” người lính tình nguyện một năm tiếp tục, “và thế là đã thành sự kiện. Tuyên úy đã nằm xuống ghế và anh Švejk đây đã cuộn áo khoác của mình đặt dưới đầu cho tuyên úy. Ở ga trước đã có người đến kiểm tra và ghi tên tuyên úy vào danh sách các sĩ quan trên tàu. Tuyên úy là người, nói thế nào nhỉ, vâng, là người được tìm thấy ở trên tàu, và vì thế mà hạ sĩ của chúng tôi sẽ phải đi trình diện ạ.”
“À, ra thế, ra thế,” cha thở dài, “vậy thì đến ga sau tôi sẽ chuyển sang toa của Ban Tham mưu. Các anh có biết đã đến bữa trưa chưa?”
“Khi nào đến Vienna thì mới có bữa trưa, thưa tuyên úy,” người hạ sĩ lên tiếng.
“Vậy anh là người lấy áo gối đầu cho tôi đấy à?” cha quay sang Švejk. “Rất cảm ơn anh.”
“Không dám ạ. Tôi chẳng xứng đáng được cảm ơn,” Švejk trả lời, “tôi đã làm việc mà bất kỳ người lính nào cũng làm, khi thấy cấp trên của mình dưới đầu chẳng có gì, chỉ nằm không như thế. Người lính nào cũng phải tôn trọng cấp trên của mình, kể cả khi cấp trên ở vào trạng thái này nọ. Tôi có nhiều kinh nghiệm với các tuyên úy, tôi từng làm lính hầu cho tuyên úy Otta Katz. Ông ấy là người vui tính và tốt bụng.”

Cái say sưa ngày hôm qua làm cho tuyên úy cư xử rất dân chủ, ông rút thuốc lá ra mời Švejk: “Con hút đi! Hút cho say sưa đi! Còn con,” cha quay sang người hạ sĩ, “vì cha mà con phải đi trình diện. Nhưng mà đừng sợ gì cả, cha sẽ lo liệu để con không bị sao cả. Còn con,” cha nói với Švejk, “con sẽ đi theo cha, ở với cha thì con sẽ được êm ấm.”
Tuyên úy còn lên cơn hào phóng và khẳng định rằng sẽ làm cho tất cả sung sướng, sẽ mua chocolate cho người lính tình nguyện một năm, sẽ mua Rum cho đội hộ tống, sẽ chuyển hạ sĩ sang bộ phận nhiếp ảnh của Phòng Tham mưu sư đoàn kỵ binh số 7, sẽ cho tất cả ra tù và sẽ không bao giờ quên họ.
Không chỉ cho riêng Švejk, ông bắt đầu lấy thuốc lá ra chia cho tất cả và tuyên bố là cho phép mọi tù nhân được hút thuốc, rằng sẽ làm sao để tất cả được giảm hình phạt và được trở lại cuộc sống bình thường của người lính.
“Tôi không muốn,” ông nói, “không muốn các anh nhớ đến tôi như nhớ đến người xấu. Tôi có nhiều quan hệ và sẽ không bỏ rơi các anh. Tôi có cảm tưởng rằng các anh là những người tử tế được Chúa Trời yêu quý. Nếu đã phạm lỗi thì bây giờ các anh đang chịu hình phạt, và tôi thấy các anh đang vui vẻ và sẵn sàng chịu đựng những gì Chúa Trời giáng xuống các anh. Vì sao,” ông quay sang hỏi Švejk, “vì sao anh bị phạt?”
“Chúa Trời giáng hình phạt xuống tôi,” Švejk trả lời một cách ngoan đạo, “thông qua việc trình diện chỉ huy trung đoàn ạ, vì tôi đã tới trung đoàn muộn mà không phải do lỗi của mình, thưa tuyên úy.”
“Chúa Trời là đấng từ bi và công bằng nhất,” tuyên úy trang trọng nói, “Chúa biết trừng phạt ai, vì sự trừng phạt đó Người chứng minh về tầm nhìn xa và sự toàn năng của mình. Còn anh, vì sao mà bị giam, hả anh lính tình nguyện?”
“Chúa Trời giáng cho tôi bệnh thấp khớp và tôi lấy làm tự hào. Sau khi hết hạn giam thì tôi sẽ được chuyển xuống nhà bếp ạ.”
“Cái gì Chúa Trời thu xếp cũng thu xếp tốt,” nghe thấy từ nhà bếp cha tuyên úy phấn khởi nói, “kể cả ở đấy người đứng đắn cũng có thể làm nên sự nghiệp. Chính nhà bếp là nơi cần phải đưa những người thông minh đến làm việc, bởi lẽ không phụ thuộc vào nấu cái gì, mà nấu bằng tình yêu như thế nào, kết hợp các thứ với nhau ra sao, nêm gia vị thế nào và nhiều thứ khác nữa. Chẳng hạn với nước xốt. Khi làm nước xốt hành thì người thông minh lấy tất cả mọi thứ rau, nấu nó với bơ rồi nêm gia vị, hạt tiêu, tiêu Mexico, thêm một chút nhục đậu khấu và gừng, nhưng một người đầu bếp bình thường thô thiển thì nấu hành, rồi hòa vào đấy bột rang bằng mỡ bò. Tôi thật sự muốn thấy anh ở một nhà bếp sĩ quan nào đó. Không có trí thông minh thì con người ta có thể sống và làm việc bằng một nghề bình thường nào đó, nhưng trong bếp thì nó biểu hiện rất rõ. Tối ngày hôm qua tại casino sĩ quan ở Budějovice, trong các món ăn có món cật nấu theo kiểu Madeira Bồ Đào Nha. Xin Chúa Trời tha thứ mọi tội lỗi cho người đã nấu món này, vì đó phải là một người thông minh thực thụ. Và đúng như vậy, người đầu bếp ấy là một thầy giáo quê ở Skuteč. Một lần tôi cũng ăn cái món cật nấu theo kiểu Madeira Bồ Đào Nha ở nhà ăn sĩ quan của trung đoàn 64 Landwehr. Trời đất ạ, họ cho hạt carum vào đấy, cứ như là món ăn thô thiển bình thường ở cửa hàng ăn. Và các anh biết ai đã nấu món ấy, người đó đã làm gì trong đời thường không? Đó là một tay chuyên cho súc vật ăn ở một trang trại lớn!”
Tuyên úy im lặng một lúc rồi chuyển câu chuyện sang vấn đề nấu ăn trong Cựu Ước và Tân Ước. Theo Kinh Thánh thì thời ấy người ta rất chú ý đến cách nấu những món ăn ngon dành cho bữa ăn sau buổi Thánh lễ và các lễ hội tôn giáo khác. Sau đó, ông bảo mọi người hãy hát một bài hát. Švejk bèn cất tiếng hát một bài thật là không hợp một chút nào:
Có cô Ma-ri-na
đi từ Ho-do-nín
sau cô là cha cố
với một thùng rượu to.
Nhưng tuyên úy chẳng hề giận dữ mà còn ao ước:
“Giá mà ở đây có ít nhất một chút Rum thôi thì cũng chẳng cần thiết phải có cả một thùng rượu vang,” ông cười nói trong không khí bạn bè thân thiết, “cả cô Marina chúng ta cũng thôi luôn, bởi vì cô ấy chỉ quyến rũ ta làm điều tội lỗi thôi.”
Người hạ sĩ thận trọng thò tay vào áo khoác rút ra một cái chai bẹt đựng rượu Rum.
“Báo cáo tuyên úy,” anh nói nhỏ, đủ thấy là anh ý thức được rằng đang gây thiệt hại như thế nào cho bản thân, “nếu tuyên úy không thấy mất lòng…”
“Ồ không, không mất lòng, cậu ạ,” cha tuyên úy mừng rỡ trả lời, “tôi uống chúc cho chuyến đi may mắn của chúng ta.”
“Ối Jesus Maria,” anh hạ sĩ thở dài than vãn một mình khi trông thấy tuyên úy uống một hơi dài hết đến nửa chai rượu.
“Ấy, cái nhà anh này,” tuyên úy vừa nói vừa cười, đồng thời nháy mắt với người lính tình nguyện một năm, “anh lại còn dùng danh Thánh Chúa một cách vô lễ nữa. Chúa Trời phạt anh là phải.”
Cha lại nâng cái chai lên miệng uống, rồi đưa cho Švejk và ra lệnh: “Uống cạn đi!”
“Chiến tranh là chiến tranh,” Švejk nói bằng giọng tử tế và trả lại người hạ sĩ cái chai không, và trong mắt hạ sĩ thoáng qua tia chớp lạ lùng khẳng định điều đó, cái tia chớp chỉ có thể hiện ra ở một người bị bệnh tâm thần.
“Còn từ bây giờ cho đến khi tàu tới Vienna thì tôi chợp mắt một lúc nữa,” tuyên úy nói, “và tôi muốn các anh đánh thức tôi dậy khi tàu đến Vienna. Còn anh,” ông quay sang Švejk, “ở đấy anh sẽ đi đến nhà ăn, lấy dao nĩa và mang bữa trưa về đây cho tôi. Anh bảo là thức ăn cho ngài tuyên úy Lacina. Anh phải làm sao lấy được hai suất. Nếu có bánh bao cắt thì đừng lấy chỗ đầu mẩu, vì nó ít hơn. Rồi nói với nhà bếp đưa cho tôi một chai rượu vang. Anh cũng mang cả cái cặp lồng đi theo, bảo họ đổ Rum vào đấy.”
Cha Lacina lục túi.
“Này anh,” ông nói với người hạ sĩ, “tôi không có tiền lẻ, anh cho tôi vay một zlatý. Đây, tiền đây! Anh tên là gì nhỉ? Švejk à? Tiền này cho anh đây! Hạ sĩ ơi, cho tôi vay một zlatý nữa. Anh thấy không hả Švejk? Đồng zlatý thứ hai này cũng sẽ là của anh, nếu anh lo được tất cả mọi thứ tôi đã nói. Rồi anh bảo họ đưa thuốc lá và xì gà cho tôi nữa. Nếu có phát chocolate thì anh cố lấy hai suất, nếu có phát đồ hộp thì anh hãy bảo họ đưa cho anh lưỡi hun khói, hay gan ngỗng. Nếu có phát phô mai Emmental thì anh hãy làm sao để người ta không đưa cho anh những lát ở phía cạnh ngoài. Còn salami Hungary thì đừng lấy khúc đầu, mà lấy khúc giữa cho nó mềm.”
Tuyên úy ngả mình xuống ghế và một lát sau đã ngủ thiếp đi.
“Tôi nghĩ là,” người lính tình nguyện một năm nói với hạ sĩ trong tiếng ngáy của tuyên úy, “anh chắc phải hoàn toàn hài lòng với người chúng ta nhặt được. Ông ấy sống rất sung sướng.”
“Ông ấy, như người ta thường bảo,” Švejk lên tiếng, “là người đã được cai sữa, bây giờ thì chỉ bú chai thôi, hạ sĩ ạ.”
Anh hạ sĩ đấu tranh với mình một hồi, rồi bỗng quên tất cả cái sỉ nhục hèn hạ và nói cứng rắn: “Ông ấy là người rất khiêm tốn và có giáo dục.”
“Chuyện không có tiền lẻ của ông ấy,” Švejk nói, “làm tôi nhớ đến một người thợ nề tên là Mlíčko ở Dejvice. Tay này cũng không có tiền lẻ trong thời gian dài, cho đến lúc nợ ngập đầu rồi bị đi tù vì tội lừa đảo. Ăn cho hết tiền to, nhưng tiền lẻ thì không có.”
“Ở trung đoàn 75,” một người lính trong đội hộ tống lên tiếng, “trước chiến tranh có một đại úy đã lấy tất cả tiền của trung đoàn để mua bia rượu nên bị xuất ngũ, nhưng bây giờ lại làm đại úy, có một trung sĩ hậu cần đã ăn cắp tới hơn hai mươi gói vải may ve hàm, bây giờ làm trung sĩ hậu cần của Ban Tham mưu. Và cách đây không lâu thì một người lính bộ binh bị bắn chết ở Serbia, tại vì anh ấy đã ăn một lúc hết cả hộp thịt mà đáng lẽ phải để dành ăn trong ba ngày.”
“Cái ấy không dính dáng gì đến chuyện ở đây,” người hạ sĩ nói, “nhưng mà vay hai zlatý của một hạ sĩ khốn khổ để boa thì quả thật là…”
“Một zlatý của anh đây,” Švejk nói, “tôi không muốn lấy tiền của anh để làm giàu. Khi nào ông ấy đưa cho tôi đồng zlatý thứ hai thì tôi cũng đưa lại cho anh, để anh khỏi phải khóc. Đáng lẽ anh phải lấy làm vinh hạnh mới đúng, khi mà một người cấp trên vay tiền của anh để tiêu. Anh là người rất chi là ích kỷ. Ấy là ở đây mới chỉ là hai đồng zlatý khốn nạn thôi, nhưng tôi rất muốn biết anh sẽ làm gì trong trường hợp phải hy sinh tính mạng vì cấp trên của mình, khi người ấy bị thương nằm ở chỗ nào đấy ở trận tuyến của quân địch và anh phải cứu người ấy, phải mang người ấy đi dưới làn đạn của kẻ thù.”
“Nếu ở vào tình huống ấy thì anh sẽ vãi ra quần,” người hạ sĩ chống lại, “chỉ được giỏi cái mồm.”
“Ở trận đánh nào cũng có rất nhiều người vãi ra quần,” một người lính của đội hộ tống lại lên tiếng, “cách đây không lâu, một anh bạn bị thương người Budějovice có kể cho chúng tôi nghe là khi tấn công, anh ấy đã vãi ra quần đến ba lần. Đầu tiên là khi tất cả leo lên từ chiến hào để tiến đến trước hàng rào dây thép gai, sau đó là khi cắt hàng rào dây thép gai và lần thứ ba là khi thấy quân Nga mang súng cắm lưỡi lê gào lên urá lao về phía họ. Rồi họ chạy trở lại chiến hào và cả đơn vị của họ không một ai là không vãi ra quần. Có một người lính bị chết nằm vắt ở bờ chiến hào, hai chân thõng xuống dưới, vì lúc leo lên khỏi chiến hào anh ấy đã bị trúng đạn trái phá, mảnh đạn cắt ngang một nửa đầu anh như bị cưa xén. Trong khoảnh khắc cuối cùng, anh ấy đã vãi ra quần đến mức nó chảy qua đôi giày, hòa lẫn với máu nhỏ xuống dưới. Và nửa cái đầu có cả óc của anh nằm ngay phía dưới chân. Con người ta chẳng biết cái gì sẽ xảy ra với mình.”
“Trong trận đánh,” Švejk nói, “thì có khi lại thấy trong người nôn nao khó chịu bởi vì thấy kinh tởm một cái gì đó. Một người đã ở Przemyśl⦾ về kể cho chúng tôi nghe trong quán Điểm ngắm ở Pohořelec⦾ là trong một cuộc tấn công bằng súng cắm lưỡi lê ở một chỗ nào đó bên dưới pháo đài, có một người lính Nga chạy ngược về phía anh ấy. Đó là một tay hộ pháp, hắn huơ huơ chĩa khẩu súng cắm lưỡi lê về phía anh và nước mũi hắn thì chảy thành dòng. Khi nhìn thấy hai cái dòng nước mũi dài của hắn, anh ấy xỉu ngay và phải đến trạm cứu thương. Ở đấy người ta chứng nhận anh ấy bị nhiễm bệnh dịch tả rồi chuyển anh ấy đến nhà cách ly ở khu Pest của Budapest, và ở đấy anh ấy đã thật sự bị nhiễm bệnh tả.”
“Anh ấy là lính bộ binh bình thường, hay là một hạ sĩ?” người lính tình nguyện một năm hỏi.
“Hạ sĩ,” Švejk bình thản trả lời.
“Cái đó cũng có thể xảy ra cả với bất kỳ người lính tình nguyện một năm nào,” anh hạ sĩ nói một cách ngô nghê, nhưng đồng thời lại đắc thắng nhìn người lính tình nguyện một năm như thể muốn bảo: “Thấy chưa, tớ đã trả miếng cậu, bây giờ thì cậu bảo sao hả?”
Nhưng người lính tình nguyện một năm chẳng bảo sao cả, anh ngả người nằm xuống chiếc ghế dài.
Tàu chạy gần đến Vienna. Từ cửa sổ, những ai không ngủ đều nhìn thấy các hàng rào dây thép gai phòng chống và hệ thống công sự bảo vệ xung quanh thành phố. Cảnh tượng ấy gây cho cả đoàn tàu một cảm giác chán nản ngã lòng.
Tận đến lúc đó, từ các toa tàu vẫn còn vang lên tiếng hét của lính Đức từ Kašperské Hory: “Cho đến khi tôi về, cho đến khi tôi về, tôi sẽ lại trở về, sẽ lại trở về…” nhưng bây giờ, cái ấn tượng khó chịu mà hàng rào dây thép gai bao bọc quanh thành phố Vienna mang lại đã làm tiếng hò hét lặng đi rồi im bặt.
“Tất cả mọi thứ đều ổn cả,” Švejk nhìn các thông hào và nói, “tất cả đều rất ổn, chỉ có điều người Vienna có thể bị vướng rách quần khi đi chơi. Ở đây con người ta phải thận trọng. Vienna là một thành phố rất quan trọng,” anh nói tiếp, “chỉ nguyên việc ở vườn thú Schönbunn có bao nhiêu thú vật hoang dã thôi cũng đủ thấy. Cách đây mấy năm, tôi đã ở Vienna, và cái tôi thích nhất là đi xem khỉ. Nhưng mà khi có nhân vật quan trọng nào từ Lâu đài của Hoàng đế đi ra thì lính canh không cho ai qua. Lần ấy, có một người thợ may từ quận mười cùng đi với tôi. Anh ấy đã bị bắt giam, tại vì cứ dứt khoát đòi vào xem khỉ.”
“Thế anh đã vào xem lâu đài chưa?” người hạ sĩ hỏi.
“Ở đấy rất đẹp,” Švejk trả lời, “tôi chưa vào đấy bao giờ, nhưng một người vào rồi đã kể cho tôi nghe. Đẹp nhất là lính gác. Nghe bảo người nào cũng phải cao hai mét thì mới được đứng canh ở chòi. Còn công chúa thì ở đấy có hàng đàn.”
Tàu chạy qua một nhà ga nào đó, còn nghe thấy tiếng quốc ca Áo vẳng lại từ sau. Có lẽ là ban nhạc đến nhầm chỗ, bởi vì tàu còn chạy một hồi lâu nữa mới tới đúng ga họ dừng lại, nơi có bữa trưa đã được chuẩn bị và có cả người đến nghênh tiếp.
Nhưng mà cái đó không còn được như những ngày đầu chiến tranh nữa, khi mà những người lính trên đường ra mặt trận được ăn uống thỏa thích ở tất cả mọi nhà ga nơi tàu dừng lại, khi ở ga nào cũng được các thiếu nữ đón chào. Đó là các cô gái trong bộ váy áo trắng dở hơi, với vẻ mặt còn ngốc nghếch hơn, với những bó hoa vô duyên trong tay. Rồi lời phát biểu còn vô duyên hơn nữa của một quý bà có chồng bây giờ tỏ ra là một người có ý tưởng cộng hòa và là người cực kỳ yêu nước.
Ban đón tiếp ở nhà ga Vienna hôm ấy gồm ba bà hội viên của Hội chữ thập đỏ Áo và hai người phụ nữ từ một hội chiến tranh nào đó của các bà các cô người Vienna, rồi một ông đại diện chính thức của ủy ban thành phố Vienna, cuối cùng là một đại diện từ phía quân đội.
Gương mặt của tất cả những người ấy đều có vẻ mệt mỏi. Các đoàn tàu chở quân lính chạy cả ngày lẫn đêm, các xe cứu thương chở đầy người bị thương chạy qua từng giờ, ở các nhà ga người ta liên tục bẻ ghi hướng các đoàn tàu chở tù binh từ đường ray này sang đường ray khác, và ở mỗi một sự kiện như thế bao giờ các thành viên của đủ các tập đoàn và các hiệp hội kể trên cũng đều phải có mặt. Ngày qua ngày, cái hào hứng ban đầu biến thành những cái ngáp ngắn ngáp dài. Họ thay phiên nhau làm công việc chào đón ấy, và bất kỳ người nào trong họ khi đến một nhà ga nào đó ở Vienna, cũng đều mang cái vẻ mệt mỏi như những người hôm nay đứng chờ đoàn tàu chở trung đoàn từ Budějovice.
Từ những toa tàu vẫn dùng để chở súc vật, những người lính ngó đầu nhìn ra ngoài với vẻ mặt vô vọng giống như vẻ mặt của những kẻ bị đưa ra pháp trường.
Các quý bà tiến tới gần và trao cho họ những cái bánh gừng có các câu tiếng Đức viết bằng kem đường như Chiến thắng và trả thù, Chúa trừng phạt nước Anh, Người Áo có Tổ quốc của mình, họ sống vì Tổ quốc và biết tại sao chiến đấu vì Tổ quốc.
Những người lính từ Kašperské Hory ngấu nghiến ăn bánh gừng, nhưng vẻ vô vọng vẫn giữ nguyên trên gương mặt họ.

Sau đó, có lệnh cho lính đi theo từng đại đội tới bếp dã chiến ở phía đằng sau nhà ga để lĩnh thức ăn. Ở đây cũng có nhà bếp dành riêng cho sĩ quan và Švejk tới đó lĩnh các thứ mà ngài tuyên úy đã yêu cầu. Trong khi đó, người lính tình nguyện một năm ngồi lại tàu chờ đến lúc được ăn, vì có hai người lính của đội hộ tống đã đi lĩnh thức ăn cho cả toa chở tù nhân.
Khi đã lấy được đủ những gì phải lấy, Švejk bước qua đường ray trở về tàu thì anh nhìn thấy trung úy Lukáš, lúc đó đang đi lại giữa hai thanh ray và chờ xem ở nhà bếp cho sĩ quan có còn gì để lĩnh không.
Trung úy đang ở trong một tình trạng rất khó chịu, bởi vì ông đang có chung một lính hầu với trung úy Kierschner. Tay lính hầu ấy thì lại chỉ chăm sóc cấp trên của hắn thôi, chứ với ông thì hắn hoàn toàn có hành động chống đối.
“Anh mang cái ấy cho ai vậy, hả Švejk?” người trung úy bất hạnh hỏi khi Švejk đặt xuống đất một đống những thứ lấy được từ nhà bếp sĩ quan mà anh đã bọc vào chiếc áo khoác.
Švejkhơi ngập ngừng một chút, nhưng lập tức bình tĩnh lại. Với nét mặt rất rạng rỡ và bình thản, anh trả lời:
“Báo cáo trung úy, cái này là của trung úy ạ. Tôi chỉ không biết trung úy ngồi ở toa nào, tôi cũng không biết ông chỉ huy tàu có phản đối gì không, nếu mà tôi đi theo trung úy ạ. Ông ấy là đồ chó má.”
Trung úy Lukáš đưa mắt dò hỏi nhìn Švejk, còn Švejk thì tiếp tục bằng giọng tử tế thân mật: “Vâng, thưa trung úy, ông ấy quả thật là đồ chó má ạ. Khi ông ấy đến thanh tra, tôi đã báo cáo ngay với ông ấy là đã hơn mười một giờ rồi, rằng tôi đã hết hạn bị giam và hoặc là tôi sẽ phải chuyển sang toa chở súc vật, hoặc là đến với trung úy, nhưng ông ấy đã gạt tôi đi rất thô bạo, rằng tôi phải ở lại chỗ tôi đang ngồi, để ít ra trên đường đi tôi lại không làm việc gì khiến trung úy phải hổ thẹn ạ.”
Švejk tỏ ra rất tội nghiệp: “Cứ như là tôi đã từng có lần nào làm trung úy phải hổ thẹn vậy.”
Trung úy Lukáš thở dài.
Švejk tiếp tục: “Tôi chưa bao giờ làm điều gì để trung úy phải xấu hổ, nếu mà có chuyện gì đã xảy ra thì đó chỉ là sự tình cờ, chỉ là ý trời thôi, như ông Vaníček ở Pelhrimov vẫn nói khi bị ngồi tù đến lần thứ ba mươi sáu. Tôi chưa bao giờ cố ý làm cái gì cả, thưa trung úy. Bao giờ tôi cũng muốn làm một cái gì tử tế, tốt đẹp, nhưng mà đâu có phải là lỗi của tôi, nếu mà cả hai chúng ta đều chẳng được hưởng phúc lợi gì cả, mà chỉ toàn phải chịu cái khổ sở nhục hình.”
“Thôi đừng khóc nữa,” trung úy Lukáš nhẹ nhàng nói khi cả hai đi tới gần toa của Ban Tham mưu, “tôi sẽ thu xếp để anh lại được ở cùng với tôi.”
“Báo cáo trung úy, tôi có khóc đâu! Tôi chỉ rất lấy làm tiếc rằng hai chúng ta là những kẻ bất hạnh nhất trong cuộc chiến tranh này và cả trên trái đất này và cái đó chẳng phải phải là lỗi của chúng ta. Cái số phận này thật là khủng khiếp, chỉ nghĩ tới việc xưa nay tôi bao giờ cũng là người biết quan tâm lo toan!”
“Thôi, anh bình tĩnh lại đi!”
“Báo cáo trung úy, đúng ra tôi không sao bình tĩnh lại được, nhưng tôi phải theo lệnh của trung úy, bây giờ tôi đã hoàn toàn bình tĩnh rồi ạ.”
“Được, thế thì anh vào toa đi!”
“Báo cáo trung úy là tôi vào toa ạ.”
Màn đêm yên lặng bao trùm lên trại quân đội ở Bruck an der Leitha. Trong các căn nhà dành cho binh lính, mọi người đều run cầm cập vì rét và ở các ngôi nhà dành cho sĩ quan thì người ta mở cửa sổ vì lò sưởi quá nóng.
Trước các căn nhà đều có lính đứng gác. Thỉnh thoảng từ đó, tiếng chân bước của đội tuần tra vang lên phá rối giấc ngủ của mọi người.
Dưới thành phố Bruck an der Leitha, nhà máy sản xuất đồ hộp của Hoàng đế và Hoàng gia rực sáng ánh đèn. Ở nhà máy, suốt ngày đêm người ta chế biến đủ các loại phụ phẩm giết mổ. Từ phía ấy, gió thổi lùa tới các hàng cây trong trại quân đội, mang đến mùi hôi thối của các đống gân, móng guốc, chân và xương động vật đang bị thối rữa, những thứ mà người ta nấu lên thành súp đóng hộp.
Từ ngôi nhà đã bỏ trống, nơi mà trong thời bình có một người thợ ảnh chuyên chụp hình các binh lính trải qua những ngày tháng tuổi trẻ của mình trên thao trường tập bắn, có thể nhìn thấy được ánh sáng điện màu đỏ của nhà thổ ở dưới thung lũng sông Leitha. Nhà thổ ấy mang tên Bắp ngô, nơi có vinh hạnh được đón tiếp Đại Công tước Stephan⦾ trong những đợt tập trận lớn ở Sopron⦾ năm 1908, nó cũng là nơi tụ tập hằng ngày của các sĩ quan.
Bắp ngô là địa điểm giải trí tốt nhất của sĩ quan mà những người lính bình thường và lính tình nguyện một năm không được phép bén mảng tới. Họ chỉ đến Hoa hồng, nhà thổ với ánh đèn màu xanh mà ta cũng có thể nhìn thấy được từ ngôi nhà với phòng chụp ảnh đã bị bỏ hoang.
Đó là cách phân chia nơi giải trí giữa sĩ quan và binh lính, tương tự như cách chia loại sau này ở ngoài mặt trận, khi mà nhà nước quân chủ đã không còn có thể giúp cho quân đội của mình bằng cái gì khác nữa, ngoài việc tổ chức các nhà thổ di động, còn gọi là các puff theo tiếng Đức. Các nhà thổ di động này được đặt ở gần Phòng Tham mưu các lữ đoàn. Theo cách chia loại đó, có nhà thổ Hoàng gia dành cho sĩ quan, nhà thổ Hoàng gia dành cho hạ sĩ quan và nhà thổ Hoàng gia dành cho lính thường.
Thành phố Bruck an der Leitha rạng rỡ ánh đèn, cũng giống như thành phố Királyhida sáng đèn ở phía bên kia cầu. Ở cả hai thành phố, bên Áo và bên Hung, nghĩa là bên Cisleithanien và cả bên Transleithanie⦾, thường có những buổi biểu diễn của các ban nhạc người Digan, có những ô cửa sổ rạng đèn ở các quán cà phê và các quán ăn, có tiếng hát, có người uống. Các thị dân và cả các viên chức người địa phương thường đưa vợ và những cô con gái đã trưởng thành của mình tới các quán cà phê và quán ăn ấy. Không là cái gì khác, Bruck an der Leitha và Királyhida trở thành một nhà thổ khổng lồ.
Ở một trong những căn nhà dành cho sĩ quan của trại quân đội, Švejk ngồi chờ trung úy Lukáš; ông đi nhà hát trong thành phố từ chiều, nhưng đêm đến rồi mà vẫn chưa thấy ông về. Švejk ngồi trên chiếc giường đã trải chăn đệm của trung úy, ngồi trên bàn đối diện anh là người lính hầu của thiếu tá Wenzl.
Sau khi bị khẳng định là người hoàn toàn không có khả năng trong vụ sông Drina tại Serbia, thiếu tá Wenzl quay trở lại trung đoàn. Người ta kể rằng thiếu tá đã cho dỡ và phá hủy cầu phao, trong khi một nửa tiểu đoàn của ông vẫn còn đang ở phía bên kia sông. Bây giờ thì ông được phân công về chỉ huy trường bắn quân sự ở Királyhida và cũng phụ trách cả về kinh tế ở trại quân đội nữa. Các sĩ quan nói với nhau là phen này thì thiếu tá Wenzl sẽ khá lên nhiều. Trong ngôi nhà tại trại quân đội, phòng của trung úy Lukáš và phòng của thiếu tá Wenzel ở cùng một hành lang.
Lính hầu của thiếu tá tên là Mikulášek, một người nhỏ thó với cái mặt rỗ, đang ngồi vung vẩy hai chân và chửi rủa: “Thật lạ là lão già của tớ vẫn chưa về. Quả thật tớ muốn biết lão lang thang ở đâu mà đi cả đêm. Giá mà ít ra lão đưa chìa khóa phòng cho tớ để tớ được ngả lưng, và tớ cũng có thể uống. Ở trong phòng, lão có rất nhiều rượu vang.”
“Nghe bảo ông ấy lấy cắp,” Švejk nói, miệng đang hút thuốc lá của trung úy một cách thoải mái, bởi vì trung úy cấm anh hút tẩu trong phòng, “chắc hẳn cậu phải biết rượu ấy ở đâu ra chứ!”
“Ông ấy bảo đi đâu, tớ đi đấy,” Mikulášek nói bằng giọng yếu ớt, “tớ mang phiếu ông ấy đưa và đi lĩnh mọi thứ cho bệnh viện, nhưng tớ mang về nhà.”
“Thế nếu ông ấy ra lệnh cậu ăn cắp tiền của trung đoàn, thì cậu có làm không?” Švejk hỏi, “Cậu ngồi trong phòng này chửi rủa ông ấy, nhưng mà trước mặt ông ấy thì cậu run như cầy sấy ấy.”
Mikulášek chớp chớp đôi mắt ti hí: “Cái ấy thì tớ sẽ phải nghĩ lại.”
“Cậu không được phép nghĩ lại nghĩ đi cái gì cả, thằng choắt ấm đầu ạ,” Švejk quát to, nhưng im ngay, vì lúc ấy cánh cửa mở ra và trung úy Lukáš bước vào phòng. Chỉ thoáng nhìn thôi cũng thấy ngay là trung úy đang rất vui vẻ, vì trên đầu ông là cái mũ đội ngược.
Mikulášek giật mình đến mức quên cả nhảy xuống đất, thành ra giơ tay chào mà vẫn ngồi trên bàn, thêm vào đó lại còn quên là trên đầu không đội mũ.
“Báo cáo trung úy là mọi việc đều ổn cả ạ,” Švejk đứng nghiêm theo tư thế quân sự, nhưng miệng vẫn còn ngậm điếu thuốc lá.
Trung úy Lukáš không hề để ý đến điều đó, ông đi thẳng đến chỗ Mikulášek. Anh này thì cứ trợn mắt theo dõi mọi cử động của trung úy, đồng thời vẫn ngồi và tay vẫn giơ lên chào.
“Tôi là trung úy Lukáš,” ông nói và tiến gần đến Mikulášek với bước đi không thật vững vàng lắm, còn anh thì tên là gì?”
Mikulášek im lặng. Trung úy kéo ghế và ngồi xuống ngay trước mặt Mikulášek, rồi ngước mắt nhìn lên anh ta và bảo Švejk: “Anh mở va-li lấy ra đây cho tôi khẩu súng lục công vụ.”
Trong suốt thời gian Švejk tìm súng, Mikuláček vẫn không nói lời nào mà chỉ kinh hoàng nhìn trung úy. Nếu mà lúc ấy có hiểu ra được rằng đang ngồi ở trên bàn thì nhất định anh ấy còn thấy tuyệt vọng hơn nữa, bởi vì hai chân anh chạm đúng vào đầu gối trung úy đang ngồi dưới ghế.
“Thế nào? Tên anh là gì hả?” trung úy ngẩng đầu lên trên hỏi Mikulášek.
Nhưng Mikulášek vẫn tiếp tục im lặng. Sau này, hắn kể lại là lúc đó bị tê cứng người lại vì thấy trung úy đột ngột về. Hắn muốn nhảy từ bàn xuống đất, nhưng không thể nhảy được, muốn trả lời nhưng không thể nói được, muốn thôi chào nhưng cũng không sao bỏ tay xuống được.

“Báo cáo trung úy,” Švejk lên tiếng, “súng chưa nạp đạn ạ.”
“Thế thì anh nạp đi!”
“Báo cáo trung úy là chúng ta chẳng có viên đạn nào và khó mà có thể bắn thằng này rơi từ bàn xuống được ạ. Xin phép được nói với trung úy rằng nó là Mikuláček, lính hầu của thiếu tá Wenzl ạ. Nó bao giờ cũng bị câm khi trông thấy sĩ quan, nói chung nó rất xấu hổ khi phải nói ạ. Tôi thường bảo nó là thằng choắt ấm đầu. Khi đi xuống thành phố, bao giờ thiếu tá Wenzl cũng để nó đứng ngoài hành lang, thành ra nó cứ khổ sở lân la tìm đến các lính hầu khác ở trong nhà. Giá mà có lý do để giật mình thì không nói làm gì, nhưng mà đúng là nó chẳng làm gì sai trái cả ạ.”
Švejk nhổ bọt. Có thể thấy trong giọng nói của anh một sự khinh bỉ vô cùng đối với sự hèn nhát và cả với tác phong phi quân sự của tay lính hầu của thiếu tá Wenzl.
“Xin phép trung úy tôi ngửi nó ạ.” Švejk tiếp tục nói. Anh lôi Mikulášek xuống khỏi bàn, đặt hắn xuống đất rồi ngửi ngửi vào đũng quần hắn, trong khi Mikuláček vẫn giương mắt nhìn trung úy một cách ngu ngốc.
“Vẫn chưa,” Švejk báo, “nhưng mà đang bắt đầu. Tôi có phải đuổi nó đi không ạ?”
“Đuổi nó đi!”
Švejk kéo Mikulášek đang run rẩy ra ngoài hành lang rồi bảo hắn: “Thế là tớ cứu mạng cậu đấy, thằng nhoắt ngu xuẩn ạ. Khi nào thiếu tá Wenzl về thì cậu phải bí mật mang sang đây một chai rượu vang để tạ ơn. Thật đấy chứ không đùa đâu. Đúng là tớ đã cứu mạng cậu. Khi mà trung úy của tớ say rượu thì ông ấy rất dữ tợn. Lúc ấy thì chỉ có tớ biết xử sự thế nào thôi, chứ chẳng ai làm được gì?
“Tớ định…”
“Cậu định cái cứt gì,” Švejk khinh bỉ nói, “ngồi xuống bậc cửa này mà chờ thiếu tá của cậu.”
“Ồ, sao đi lâu thế?” trung úy Lukáš nói với Švejk khi anh quay vào phòng, “Tôi có câu chuyện muốn nói với anh đây. Anh không phải đứng nghiêm như thằng ngu thế này, ngồi xuống đi, mà cũng đừng nói ‘Xin tuân lệnh.’ Anh hãy im mồm lắng nghe tôi nói đây. Anh có biết đường Sopron ở chỗ nào trong thành phố Királyhida không? Đừng có nói ‘Báo cáo trung úy, tôi không biết ạ.’ Không biết thì bảo là không biết, chấm hết! Anh lấy mẩu giấy mà ghi địa chỉ này: 16 đường Sopron. Ở trong nhà ấy có một cửa hàng đồ sắt. Anh có biết cửa hàng đồ sắt là gì không? Trời ơi, đừng có nói ‘Báo cáo’ mà chỉ cần nói biết, hay không biết. À, anh biết, rất tốt! Cửa hàng ấy là của một người Hungary tên là Kákonyi. Anh biết người Hungary là ai không? Trời ơi, biết hay không biết? À, anh biết, rất tốt! Bên trên cửa hàng là tầng hai, ông Kákonyi ở trên ấy. Anh có biết không? Không hả, trời ạ, thế thì bây giờ tôi bảo anh là ông ấy ở trên tầng hai. Như thế đã đủ rõ cho anh chưa? À, đủ rồi, rất tốt! Nếu như thế mà vẫn chưa đủ thì tôi cho bắt giam anh, hiểu không? Anh đã ghi lại cái tên Kákonyi của người ấy chưa? Rồi hả? Rất tốt! Vậy thì sáng mai, khoảng mười giờ, anh xuống thành phố, đi tìm cái nhà ấy và lên tầng hai rồi đưa bức thư này cho bà Kákonyi.”

Trung úy mở túi xách tay, lấy ra một cái phong bì trắng không ghi địa chỉ rồi vừa ngáp vừa trao nó cho Švejk.
“Đây là việc rất hệ trọng, Švejk ạ,” trung úy giảng giải tiếp, “thận trọng là việc không bao giờ thừa, vì thế anh thấy là ở phong bì không có ghi địa chỉ. Tôi hoàn toàn tin tưởng anh, rằng anh sẽ chuyển bức thư này đến nơi đến chốn. Anh ghi thêm Etelka, đấy là tên bà ấy, như vậy họ tên đầy đủ của bà ấy là Kákonyi Etelka. Tôi còn muốn nhắc anh là bất kể trường hợp nào anh cũng phải kín đáo chuyển được bức thư và đợi thư trả lời. Về việc anh phải chờ thư trả lời thì tôi đã viết trong đó rồi. Anh còn muốn gì nữa không?”
“Thưa trung úy, nếu người ta không đưa thư trả lời thì tôi phải làm gì ạ?”
“Thì bảo là thế nào anh cũng phải nhận được thư trả lời,” trung úy nói và lại ngáp rất dài, “còn bây giờ thì tôi phải đi ngủ, hôm nay quả là tôi rất mệt. Trời đất ơi, chúng tôi đã uống bao nhiêu thứ. Tôi nghĩ là sau một buổi chiều và một đêm như thế thì ai cũng phải thấy mệt như tôi.”
Đúng ra thì lúc đầu trung úy Lukáš đã không hề có ý định dừng lại lâu ở đâu trong thành phố. Buổi chiều, ông rời trại quân đội xuống Királyhida để đến nhà hát, nơi có diễn một vở opera hài hước của Hungary mà những vai chính được các cô diễn viên người Do Thái mập mạp đảm nhiệm. Cái ưu điểm tuyệt vời của các cô ấy là khi nhảy, các cô hất chân lên rất cao, mà bên trong váy thì chẳng mặc quần nịt hay quần lót gì cả, và để tăng sức thu hút các ngài sĩ quan, các cô còn cạo nhẵn ở phía dưới nữa, giống như phụ nữ người Tatar. Các khán giả ngồi ở tầng trên chẳng được hưởng thụ gì cả, trong khi những sĩ quan pháo binh ngồi ở phòng khán giả chính thì thỏa mãn hả hê, thậm chí họ còn mang theo ống nhòm của pháo binh để ngắm nữa.
Trung úy Lukáš không để ý gì lắm đến cái đam mê thú vật ấy, bởi vì chiếc ống nhòm xem biểu diễn ông mượn của nhà hát không có thấu kính tiêu sắc, thành ra đáng lẽ nhìn thấy cặp đùi thì ông chỉ nhìn thấy một mảng gì đó màu tím đang chuyển động.
Ngược lại, trong giờ giải lao sau màn thứ nhất, ông để ý đến một quý bà có một người đàn ông trung tuổi đi cùng. Bà kéo người đàn ông ấy đến chỗ gửi áo khoác và nói rằng họ sẽ về nhà ngay, chứ sẽ không xem những thứ như thế nữa. Bà nói to bằng tiếng Đức và người đàn ông đi cùng bà trả lời bằng tiếng Hungary: “Ừ, thiên thần của anh ạ, chúng ta sẽ về, anh đồng ý. Cái ấy quả thật là điều xấu xa kinh tởm.”
“Điều ấy thật xấu xa kinh tởm,” quý bà bực bội đáp khi người đàn ông giúp bà mặc áo khoác. Mắt bà quắc lên giận dữ vì sự không biết hổ thẹn ấy, cặp mắt đen rất hợp với thân hình đẹp đẽ của bà. Đồng thời, bà đưa mắt nhìn trung úy Lukáš và nói lại một lần nữa một cách dứt khoát: “Kinh tởm, quả thật kinh tởm.” Và điều này đã là quyết định cho một câu chuyện lãng mạn ngắn tiếp theo. .
Qua bà coi áo khoác, trung úy biết quý bà và người đàn ông ấy là hai vợ chồng, và ông chồng thì có cửa hàng đồ sắt ở số 16 đường Sopron.
“Ông ấy ở với bà Etelka trên tầng hai,” bà coi áo kể tỉ mỉ như một má mì có kinh nghiệm, “bà ấy là người Đức quê ở Sopron còn ông ấy là người Hungary, họ pha trộn nhiều lắm.”
Trung úy Lukáš cũng lấy áo khoác rồi đi ra phố. Trong quán rượu và cà phê lớn mang tên Đại Công tước Albrecht ông đã gặp một số sĩ quan của trung đoàn 91.
Trung úy đã nói ít, nhưng bù vào đó thì uống nhiều, đồng thời suy nghĩ sẽ viết cái gì cho người đàn bà nghiêm khắc, có đạo đức và rất đẹp mà ông gặp ở nhà hát, một người dứt khoát thu hút ông nhiều hơn so với tất cả những con khỉ ở trên sân khấu, theo như các sĩ quan đã gọi họ như thế.
Trong tâm trạng rất vui vẻ, trung úy đi đến quán cà phê nhỏ mang tên cây Thập tự của Thánh Stephan, vào một chỗ ngăn riêng biệt. Nhưng ở đấy có một cô người Romania, cô này chào mời là sẽ hoàn toàn khỏa thân để trung úy muốn làm gì với cô ấy thì làm. Trung úy đuổi cô ấy ra khỏi đó, mượn bút và mực với giấy viết thư, gọi một chai Cognac rồi sau khi suy nghĩ kỹ càng, ông viết một bức thư mà ông cho rằng hay nhất trong tất cả những bức thư ông đã từng viết trong đời. Thư viết như sau:
Thưa bà!
Tối hôm qua tôi đã có mặt ở nhà hát thành phố, xem vở diễn mà bà thấy bực bội về nó. Trong suốt màn đầu, tôi đã để ý đến bà và đến cả phu quân. Khi tôi…
“Cứ tấn công hắn đi,” trung úy nhủ thầm, “thằng cha ấy có quyền gì mà được một người vợ đáng yêu như thế. Trông hắn như con khỉ đầu chó cạo trọc ấy.”
Và trung úy viết tiếp:
… nhìn thấy ông nhà đã xem một cách say mê đầy cảm thông với cái tục tĩu diễn ra trên sân khấu, vở diễn làm bà phản đối, bởi vì đó không phải là nghệ thuật, mà là cái tác động kinh tởm đến tình cảm riêng tư nhất của con người.
“Cái bộ ngực của cô ta!” trung úy nghĩ, “hãy đi thẳng vào vấn đề!”
Thưa bà, xin bà thứ lỗi cho, rằng mặc dù bà không biết tôi, nhưng tôi vẫn thẳng thắn với bà. Trong đời mình, tôi đã thấy nhiều phụ nữ, nhưng không một người nào gây ấn tượng cho tôi như bà, bởi vì cái nhận xét và quan điểm sống của bà hoàn toàn giống như quan điểm của tôi. Tôi chắc chắn rằng ông nhà là một người rất ích kỷ, đã tha lôi bà…
“Không, thế này thì không được,” trung úy tự nhủ và gạch ba chữ tha lôi bà rồi viết thay vào đó:
… vì cái thích thú của bản thân mà đưa bà đến xem vở diễn chỉ phù hợp với phong cách của ông. Tôi thích thẳng thắn, hoàn toàn không muốn can thiệp vào đời riêng của bà, nhưng tôi mong muốn được nói chuyện riêng với bà về nghệ thuật…
“Ở khách sạn tại đây thì không được, mình sẽ phải kéo cô ta đến Vienna,” trung úy lại nghĩ thầm, “mình sẽ phải nhận đi công tác.”
Vì vậy, thưa bà, tôi mạo muội xin được gặp bà, để chúng ta có thể thành thật làm quen với nhau. Tôi mong là bà sẽ không từ chối người mà chỉ trong thời gian gần đây nhất sẽ phải đương đầu với những gian nan của cuộc chuyển quân ra mặt trận, và trong trường hợp bà vui lòng đồng ý thì ở giữa chiến trường, người ấy sẽ giữ kỷ niệm đẹp nhất về một tâm hồn đã cảm thông với người ấy, cũng như chính người ấy đã hiểu tâm hồn ấy. Sự đồng ý của bà sẽ là mệnh lệnh cho tôi, lời hồi âm của bà sẽ là khoảnh khắc quyết định của đời tôi.
Trung úy ký tên, uống cạn chai Cognac, gọi thêm một chai nữa rồi uống hết cốc này sang cốc khác, và khi đọc lại những câu viết sau cùng của mình, hầu như ở câu nào ông cũng rưng rưng nước mắt.
Lúc đó là chín giờ sáng khi Švejk đánh thức trung úy Lukáš: “Báo cáo trung úy là trung úy đã ngủ quá giờ đi làm nhiệm vụ ạ, còn tôi thì phải mang thư của trung úy đến Királyhida đây. Tôi đã đánh thức trung úy lúc bảy giờ, rồi bảy rưỡi, rồi lúc tám giờ khi quân lính đi tập qua đây, nhưng lần nào trung úy cũng chỉ quay mình sang phía khác. Thưa trung úy… ối trời, thưa trung úy…”
Trung úy Lukáš lẩm bẩm cái gì đó và muốn quay người nằm nghiêng, nhưng không được, vì Švejk đang giữ chặt lấy ông mà lay rồi kêu to: “Thưa trung úy, tôi mang thư xuống Királyhida đây.”
Trung úy ngáp dài: “Thư nào? À, bức thư của tôi, phải kín đáo đấy nhé, anh hiểu không? Nó là cái bí mật giữa chúng ta. Giải tán…”
Trung úy lại quấn mình vào cái chăn mà Švejk đã kéo ra rồi ngủ tiếp, trong khi đó Švejk lên đường đến Királyhida.
Tìm nhà số 16 đường Sopron chắc không phải là khó, giá mà Švejk đừng tình cờ gặp Vodička, một lính công binh được chuyển tới ở cùng với những người vùng Steiermark⦾ ở trại quân đội. Trước đây tại Praha, Vodička đã từng ở phố Na Bojišti, vì vậy mà trong cuộc gặp gỡ như thế này thì không thể làm gì khác được, ngoài việc cả hai đi đến quán Con cừu đen ở Bruck an der Leitha. Trong quán này có cô hầu bàn người Séc tên là Růženka, người mà bất kỳ lính tình nguyện một năm người Séc nào đã từng ở trại quân đội cũng nợ một món tiền nào đó.
Dạo này, anh lính công binh Vodička, một người giỏi tính toán xoay xở, đang làm người hộ vệ cho cô Růženka. Anh có trong tay danh sách tất cả các tiểu đoàn sắp rời trại chuyển quân ra mặt trận, để đến đó đúng lúc và nhắc nhở các lính tình nguyện một năm người Séc, tránh việc họ biến đi chiến trường mà không trả nợ.
“Cậu đi đâu đấy?” Vodička hỏi, sau khi đã nhấp ngụm rượu vang rất ngon.
“Cái này là điều bí mật,” Švejk trả lời, “nhưng với cậu là bạn cũ thì tớ tiết lộ.”
Švejk giải thích cặn kẽ mọi chuyện anh phải làm và Vodička tuyên bố, rằng anh là lính công binh và không thể để Švejk đi một mình được, rằng cả hai sẽ cùng đi trao bức thư ấy.

Họ ngồi nói chuyện với nhau rất vui vẻ, ôn lại những kỉ niệm của thời gian trước đây và khi rời quán Con cừu đen sau mười hai giờ trưa, cả hai cùng có cảm giác là tất cả mọi thứ đều tự nhiên hơn và dễ dàng hơn.
Ngoài ra, cả hai cũng chắc chắn tin rằng họ chẳng sợ ai. Trên đường đi đến nhà số 16 đường Sopron, Vodička đã nói về sự thù ghét ghê gớm của anh đối với người Hungary và liên tục kể đã đánh nhau với họ như thế nào, đánh nhau ở đâu, đánh vào lúc nào, kể cả việc cái gì đã gây cản trở khiến anh ấy không đánh nhau được với họ, điều đó xảy ra bao giờ và ở đâu.
“Có một lần, ở quán Pausdorfa, nơi công binh chúng tớ thường đi uống rượu vang, tớ đã tóm cổ một thằng người Hungary, định quật thắt lưng vào đầu nó trong bóng tối, tại vì trước đấy chúng tớ đã lấy chai đập vỡ đèn. Nhưng đột nhiên nó kêu lên: ‘Tớ đây mà, Purkrábek ở Landwehr 16 đây mà!’ May đấy, một tí nữa thì nhầm to! Nhưng mà cách đây ba tuần, chúng tớ đã đi chơi ở hồ Neusiedle⦾, ở đấy chúng tớ đã cho những thằng hề người Hungary một trận nên thân. Ở làng bên cạnh có một đơn vị súng máy của lính Honvédség và thật tình cờ, tất cả chúng tớ và bọn chúng đều vào một quán. Bọn ấy nhảy điệu Csárdas như điên, mồm bành ra đến mang tai hát Ông ơi, ông ơi, ông chánh án ơi. hay Cô gái, cô gái, cô gái làng. Chúng tớ ngồi đối diện bọn chúng, tháo thắt lưng để trên bàn rồi nói với nhau: ‘Ừ, bọn ngu ngốc, chúng tao sẽ cho chúng mày các cô gái.’ Một cậu tên là Mejstřík có hai bàn tay như tay hộ pháp bèn bảo là sẽ đi nhảy và sẽ cướp cô bạn nhảy của một thằng nào đấy. Bọn con gái trông rất xinh, những ống chân, những cặp đùi nõn nà, những cái mông tròn trắn, những con mắt si tình… Lũ lính ngốc nghếch người Hungary cứ ép sát vào bọn con gái, ai cũng nhìn thấy những cặp vú căng đầy như hai nửa quả bóng, cũng thấy là bọn con gái rất lấy làm thích và rất thành thạo trong đám đông. Cậu Mejstřík của chúng tớ nhập cuộc nhảy và muốn mời cô xinh nhất, lúc ấy đang nhảy với một lính Honvédség. Tay này lầu bầu cái gì đó, thế là Mejstřík cho hắn một cái bạt tai, hắn lăn quay xuống, còn chúng tớ thì vơ ngay thắt lưng quấn vào tay cho lưỡi lê khỏi rơi rồi chạy đến chỗ ấy. Tớ kêu lên: ‘Có tội hay không có tội, đánh tất! Lần lượt từng thằng một!’ Thế là chúng tớ đánh ngon ơ. Bọn chúng nhảy qua cửa sổ chạy trốn, chúng tớ kéo chân lôi chúng trở lại. Thằng nào không phải là người của chúng tớ thì bị ăn đòn luôn. Rồi cả trưởng thôn, cả hiến binh cũng đến can thiệp vào và cũng bị chúng tớ cho một trận nên thân. Ông chủ quán cũng bị đánh, tại vì ông ấy bắt đầu chửi rủa bằng tiếng Đức, rằng chúng tớ đã làm tan cuộc vui. Sau đó, chúng tớ còn chạy trong làng đuổi bắt kẻ nào chạy trốn. Một thằng trong bọn chạy trốn là một trung sĩ, chúng tớ tìm thấy hắn vùi mình trong đống rơm ở trên gác nhà kho của một trang trại phía cuối làng. Đúng ra thì cô người yêu của hắn bảo cho chúng tớ biết chỗ hắn trốn, tại vì lúc ở quán hắn đã nhảy với một cô gái khác. Cô nàng lại thấy thích cậu Mejstřík, thế là đi với cậu ấy theo con đường về hướng Királyhida, tới gần khu rừng có chỗ phơi rơm. Cô nàng kéo Mejstřík vào một chỗ phơi rơm như thế, xong việc rồi thì đòi cậu ta đưa năm koruna, nhưng bị ăn một cái tát. Cậu ấy đuổi theo chúng tớ đến tận doanh trại rồi kể rằng trước đây cứ tưởng con gái người Hungary rất cuồng nhiệt, nhưng mà cái con lợn ấy thì cứ nằm ì như khúc gỗ, mồm thì cứ liên tục lải nhải một cái gì. Nói tóm lại, bọn người Hungary là lũ rất đáng khinh.” Anh công binh Vodička kết luận và Švejk bảo: “Cũng có người là người Hungary mà không phải do lỗi của anh ta.”
“Thế thì do lỗi của ai?” Vodička nổi cáu, “Rõ là lẩn thẩn, tất nhiên là lỗi của nó chứ. Tớ cũng mong chúng nó cho cậu một trận như đã cho tớ vào ngày đầu tiên tớ đến đây theo học lớp huấn luyện. Ngay sau buổi trưa ngày hôm ấy chúng tớ đã bị lừa đến trường như một đàn bò, sau đó một thằng ngu bắt đầu vẽ và giải thích cho chúng tớ thế nào là chiến hào có nắp, cách làm khung thế nào, cách đo ra sao, rồi bảo nếu sáng hôm sau ai không có bản vẽ theo như hắn đã giảng thì sẽ bị giam và bị trói lại. Trời đất ạ, tớ nghĩ không biết mình đăng ký học các lớp huấn luyện để khỏi phải ra mặt trận, hay là để buổi tối lấy bút chì ngồi vẽ vào vở như một đứa học trò. Tớ cáu không chịu được nữa, tớ cũng không thể nhìn được thằng ngu đang giảng giải cho chúng tớ nữa. Tớ cáu đến mức chỉ muốn đập tan tành tất cả mọi thứ. Tớ chẳng chờ đến lúc uống cà phê mà đi ngay xuống Királyhida, đang lúc cáu tiết tớ chẳng nghĩ đến cái gì khác, ngoài việc tìm một cái quán yên tĩnh nào đó ở trong phố để uống cho say, rồi làm toáng lên ở đấy, vả cho đứa nào đấy vài cái tát rồi thỏa chí đi về. Nhưng mà trời chẳng chiều ý người. Ở trong phố, tớ tìm thấy một cái quán nhỏ rất im ắng ở giữa những mảnh vườn cạnh bờ sông, một quán thật sự đủ yên lặng để làm chuyện huyên náo. Trong quán lúc ấy chỉ có hai người khách đang ngồi nói chuyện với nhau bằng tiếng Hungary, tớ lại càng thấy cáu hơn, thành ra tớ say sớm hơn tới nghĩ. Tớ không hề để ý là bên cạnh đó còn có một quán nữa và trong lúc tớ say sưa nốc rượu thì có đến tám tay kỵ binh Hungary đã tới đấy. Thế là khi tớ bạt tai hai người khách ở quán bên này thì bọn nó chạy sang nện tớ. Chúng nó đuổi tớ quanh những cái vườn ấy làm tớ lạc đường, mãi đến sáng mới về đến doanh trại, rồi ngay lập tức tớ phải đến trạm xá và đã phải nói dối là bị ngã vào lò gạch. Suốt một tuần người ta phải bọc tớ vào tấm ga ướt để lưng tớ khỏi bị sưng. Đừng bao giờ để bị rơi vào tay lũ tàn bạo ấy. Chúng nó không phải là người, mà là đồ thú vật.”
“Chơi dao có ngày đứt tay,” Švejk nói, “cậu cũng chẳng thể ngạc nhiên được vì việc bọn họ bực tức, khi mà phải để rượu lại ở trên bàn rồi chạy đuổi cậu ở ngoài vườn trong bóng tối. Lẽ ra thì bọn họ phải dần cho cậu một trận ở ngay trong quán rồi tống cổ cậu ra khỏi đấy. Đối với họ và cả đối với cậu thì tốt nhất là giải quyết và kết thúc mọi chuyện ở bên bàn. Tớ có biết một ông chủ quán rượu ở Libeň tên là Paroubek. Một lần, có ông thợ hàn nối tới đấy uống rượu bách xù đến say rồi chửi là rượu nhạt, rằng chủ quán pha thêm nước lã, rằng giá mà ông ấy có đi hàn nối đến một trăm năm rồi lấy tất cả tiền kiếm được để mua thứ rượu này uống cạn một lúc, thì cũng vẫn có thể bế ông Paroubek trên tay mà đi trên dây được như thường. Sau đó ông ấy còn bảo rằng ông Paroubek là quân mất dạy, là kẻ bất lương và đồ quái vật khát máu. Thế là ông Paroubek túm ông thợ hàn nồi, lấy cái bẫy chuột và dây thép quất vào đầu ông ấy rồi tống ra khỏi quán. Thế vẫn chưa đủ, ông Paroubek còn vác cây sào kéo cửa cuốn để đuổi đánh ông thợ hàn nồi. Ông đuổi theo xuống tới Invalidovna, từ đó hung hăng chạy lên đến Žižkov, rồi chạy qua Židovsky pece đến tận Malešice mới đuổi kịp để quật cho ông thợ hàn nồi một trận và sau đó mới hả hê quay lại Libeň. Chỉ có điều lúc bực tức chạy đuổi theo ông thợ hàn nồi, ông Paroubek quên bẵng đi là ở quán vẫn còn có nhiều khách hàng khác nữa, và chắc là suốt thời gian ông vắng mặt bọn đểu đã tự phục vụ mình. Và quả đúng như thế. Khi về được đến quán thì ông thấy cửa cuốn được kéo xuống một nửa, trước cửa có hai người cảnh sát đang say mèm vì đã vào ổn định trật tự ở trong quán. Tất cả mọi chai rượu đã vơi đi một nửa, một thùng Rum cạn khô lăn lóc ở ngoài đường, bên dưới bàn bar là hai người đàn ông say mèm đã được cảnh sát trấn an. Khi bị ông Paroubek kéo ra, cả hai đều muốn trả ông mỗi người hai krejcar, bởi vì họ bảo rằng họ chỉ uống rượu lúa mạch hết bằng ấy tiền thôi. Đấy, hấp tấp vội vàng thì bị trừng phạt như thế đấy! Cái ấy cũng giống như trong chiến tranh vậy. Trước tiên chúng ta đánh bại kẻ thù, sau đó chúng ta đuổi theo chúng, cứ đuổi mãi cho đến lúc chính chúng ta cũng không kịp chạy.”
“Tớ nhớ mặt tất cả bọn chúng,” Vodička lên tiếng, “nếu mà một thằng nào trong bọn chúng rơi vào tay tớ thì tớ đánh trả thù ngay. Lính công binh chúng tớ ấy à, khi mà tức lên thì chúng tớ ghê gớm lắm, chứ chẳng như những con ruồi sắt⦾ đâu! Hồi ở chiến trường gần Przemyśl thì chúng tớ có đại úy Jetzbacher, một tay khốn nạn không ai bằng trên đời này. Hắn làm tình làm tội chúng tớ đủ kiểu, đến nỗi một cậu người Đức tên là Bitterlich ở đại đội của chúng tớ, một người rất hiền lành, đã vì hắn mà nổ súng tự sát. Thế là chúng tớ bảo nhau rằng khi nào quân Nga bắt đầu bắn thì đại úy Jetzbacher của chúng tớ sẽ toi mạng. Quả đúng như thế, khi quân Nga bắt đầu bắn sang thì trong lúc bắn trả, chúng tớ nã năm viên vào đại úy, nhưng thấy vẫn còn ngắc ngoải nên bắn thêm hai viên nữa, thế là xong, tuy hắn còn rên rỉ một lúc, nhìn rất buồn cười.”
Vodička cười: “Cái này thì ở ngoài chiến trường là chuyện cơm bữa. Một anh bạn, bây giờ đang ở cùng với chúng tớ kể rằng khi còn là lính bộ binh ở Beograd thì trong một cuộc tấn công, bọn hắn cũng bắn trung úy của mình. Đó cũng là một tay hung dữ, hắn đã từng bắn chết hai người lính trong khi hành quân chỉ vì họ đã không thể đi tiếp được nữa. Lúc hấp hối, trung úy đã huýt sáo ra lệnh rút lui làm mọi người được một mẻ cười vỡ bụng.”
Vừa đi vừa nói nói câu chuyện hấp dẫn và bổ ích như vậy, cuối cùng thì Švejk và Vodička tìm thấy cửa hàng đồ sắt của ông Kákonyi ở nhà số 16 đường Sopron.
Ở trước cổng đi vào nhà, Švejk bảo Vodička: “Tốt hơn hết là cậu chờ tớ ở đây. Tớ chỉ chạy lên tầng hai, đưa thư và chờ thư trả lời, rồi tớ xuống ngay.”
“Để cậu đi một mình hay sao?” Vodička ngạc nhiên, “Cậu không biết người Hungary, tớ đã bảo cậu rồi. Chúng mình phải thận trọng. Để tớ nện hắn một trận.”
“Này, nghe tớ bảo đây,” Švejk nói trang nghiêm, “đây không phải là chuyện của ông người Hungary, mà là chuyện của vợ ông ấy. Thì lúc ngồi ở quán có cô hầu bàn người Séc tớ đã chẳng kể tất tần tật cho cậu rồi sao, rằng tớ chuyển thư của trung úy của tớ, rằng đây là việc tuyệt đối bí mật. Trung úy đã dặn kỹ là không một người nào khác được phép biết điều này, và cô hầu bàn của cậu cũng bảo rằng thế là đúng, rằng đây là việc kín đáo tế nhị. Nó kín đáo tế nhị bởi vì không ai được phép biết rằng trung úy thư từ với một người đàn bà có chồng. Chính cậu cũng tán thành và gật đầu đồng ý như vậy. Tớ đã giải thích cho cậu và cô hầu bàn biết sự thể như thế nào rồi, rằng tớ phải thi hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của trung úy của mình cơ mà. Thế mà bây giờ tự nhiên cậu cứ nhất quyết muốn đi với tớ lên trên gác.”
“Này Švejk ạ,” người lính công binh cũng nghiêm trang trả lời, “cậu vẫn chưa biết tớ đâu, một khi mà tớ đã nói rằng tớ không bỏ cậu, thì hãy nhớ là không bao giờ tớ bỏ cậu. Đi hai người bao giờ cũng an toàn hơn.”
“Vậy thì tớ cho cậu thấy là không phải thế. Cậu có biết phố Neklanova ở trên Vyšehrad không? Ở đấy có một anh thợ khóa tên là Voborník, anh ấy có cửa hàng sửa chữa và là người rất công bằng đúng đắn. Một hôm, đi uống ở quán về nhà, anh ấy mang theo người bạn đã cùng uống để cho người ấy ngủ nhờ. Nhưng sau đó, Voborník đã phải nằm liệt giường rất lâu. Sáng nào cũng vậy, khi thay băng trên đầu cho anh ấy, chị vợ lại bảo: ‘Bố nó thấy chưa, giá mà hôm ấy đừng về hai người, thì tôi chỉ mắng thôi, chứ không ném cái bàn cân lên đầu bố nó như thế này đâu.’ Sau này, khi lại có thể nói được, anh ấy bảo: ‘Phải đấy, mẹ nó ạ, lần sau có đi đâu thì tôi chỉ đi một mình thôi.’”
“Ồ, lại còn có chuyện tay người Hungary ấy muốn ném cái gì lên đầu chúng mình nữa hả?” Vodička nổi cáu, “Tớ sẽ tóm cổ hắn ném xuống cầu thang, hắn sẽ bay nhanh như tên bắn. Đối với lũ đàn ông người Hungary thì phải thẳng tay, không lôi thôi gì cả.”
“Vodička ạ, nhưng mà cậu có uống nhiều đâu. Tớ uống nhiều hơn cậu hai cốc. Cậu phải nghĩ đến chuyện là chúng mình không được làm gì ầm ĩ. Tớ phải chịu trách nhiệm về việc này, đó là việc liên quan đến người phụ nữ, cậu hiểu không?”
“Phụ nữ tớ cũng nện, sợ cái quái gì! Cậu vẫn còn chưa biết tới đấy. Một lần ở quán Đảo hoa hồng ở Záběhlice, có một cô nàng không muốn ra nhảy với tớ, nó chê tớ có cái mặt sưng húp. Ừ, quả là mặt tớ lúc ấy bị sưng thật, vì tớ vừa đi từ một đám nhảy khác ở Hostivář đến đấy. Nhưng mà cậu thử tưởng tượng xem, con đĩ ấy đã xúc phạm tớ. Thế là tớ bảo ‘Thưa quý cô, để cô khỏi ghen tỵ với tôi vì cái mặt sưng.’ rồi vả cho nó một cái vào mặt. Nó chúi xuống làm đổ cả chiếc bàn đầy cốc chén ở ngoài vườn, nơi nó cùng bố mẹ và hai em trai đang ngồi. Nhưng tớ chẳng sợ gì những người ngồi ở quán ấy, tại vì cùng với tớ cũng còn những người quen từ Hostivář, họ đã giúp tớ. Trong trận ẩu đả ấy, chúng tớ đánh nhừ tử đến năm gia đình, kể cả bọn trẻ con. Chắc chắn là ở tận Michle cũng phải nghe thấy tiếng ầm ĩ. Sau đấy báo chí cũng viết về trận ấy, rằng đó là cuộc giải trí ngoài vườn của một hội từ thiện của một công dân một thành phố nào đó. Vì thế, như tớ đã bảo cậu, người ta đã giúp tớ, thì cả tớ bao giờ cũng phải giúp các bạn của mình khi có xảy ra việc gì. Bằng bất kỳ giá nào tớ cũng không rời khỏi cậu. Bọn người Hungary này cậu chưa biết đâu… Cậu cũng không thể đẩy tớ ra khỏi cậu được, khi mà chúng mình gặp lại nhau sau bằng ấy năm trời, mà hơn nữa lại gặp nhau trong hoàn cảnh như thế này!”
“Thôi, thế thì đi với tớ vậy,” Švejk quyết định, “nhưng mà phải thận trọng đấy, để khỏi xảy chuyện lôi thôi.”
“Cậu đừng lo,” Vodička nói nhỏ, khi cả hai đi đến chân cầu thang, “tớ sẽ nện hắn.”
Rồi nói thêm bằng giọng còn khẽ hơn: “Cậu sẽ thấy là nện thằng người Hungary này dễ như bỡn.”
Giá mà lúc ấy có một người nào đứng ở cổng và hiểu được tiếng Séc thì có thể nghe thấy tiếng Vodička nói to hơn từ phía cầu thang, đó là câu “Cậu không biết người Hungary…” Đây là khẩu hiệu mà Vodička đã biết được trong cái quán nhỏ yên tĩnh ở bên sông Leitha, giữa những khu vườn của thành phố Királyhida nổi tiếng với những ngọn đồi bao bọc xung quanh. Những ngọn đồi mà mọi người lính sẽ nguyền rủa mỗi khi nhắc đến các kỷ niệm về những buổi luyện tập thao tác chuẩn bị trước Thế chiến và cả trong thời gian Thế chiến, những buổi luyện tập về mặt lý thuyết để sau đó thực hành bằng các cuộc tàn sát và chém giết đẫm máu.
Švejk và Vodička đứng trước cửa căn hộ của ông Kákonyi. Trước khi bấm chuông, Švejk hỏi: “Cậu đã bao giờ nghe nói rằng thận trọng không bao giờ thừa chưa?”
“Tớ không quan tâm đến chuyện ấy,” Vodička đáp, “tớ sẽ không cho thằng cha ấy kịp mở mồm nói…”
“Mà tớ cũng có gì để nói với hắn đâu?”
Švejk bấm chuông và Vodička gọi to: “Một, hai, ba, bay từ tầng hai.”
Cánh cửa mở ra, cô giúp việc xuất hiện và hỏi bằng tiếng Hungary xem họ cần gì.
“Tôi không hiểu,” Vodička khinh bỉ trả lời bằng tiếng Hungary, “cô học tiếng Séc đi!”
“Cô có nói tiếng Đức không?” Švejk hỏi người hầu gái bằng tiếng Đức.
“Một tí thôi.”
“Cô bảo quý bà là tôi có chuyện muốn nói với quý bà. Cô bảo là tôi mang cho bà bức thư của một ông đang đứng ngoài kia.”
“Tớ thấy cậu thật lạ,” Vodička vừa nói vừa đi theo Švejk vào tiền sảnh, “nói làm gì với con ranh con ấy.”
Cả hai đóng cửa ra hành lang rồi đứng trong tiền sảnh. Švejk nhận xét:
“Phòng này trang trí đẹp đấy, thậm chí còn có cả hai cái ô mắc trên giá treo áo khoác. Và bức tranh Chúa Jesus cũng không phải là xấu.”
Cô giúp việc lại đi ra từ căn phòng, nơi có tiếng lách cách của thìa dĩa chạm vào đĩa. Cô nói với Švejk bằng tiếng Đức:
“Bà tôi không có thời gian. Nếu ông có gì thì cứ nói cho tôi biết.”
“Thế thì,” Švejk trang trọng nói, “đây là bức thư cho quý bà, nhưng kín cái mồm đấy!”
Anh rút bức thư của trung úy ra khỏi túi áo.
“Tôi,” Švejk giơ tay chỉ vào mình, “chờ trả lời ở đây, ở tiền sảnh.”
“Sao cậu không ngồi xuống?” Vodička ngồi ở chiếc ghế gần tường hỏi Švejk. “Ngồi xuống cái ghế kia kìa, chứ sao lại đứng như thằng ăn mày vậy? Đừng có nhún mình trước thằng người Hungary ấy. Rồi cậu thấy là chúng mình sẽ có chuyện rắc rối với hắn, nhưng tớ sẽ nện hắn.”
Một hồi sau, Vodička lại nói: “Này, cậu học tiếng Đức ở đâu đấy?”
“À, tớ tự học,” Švejk trả lời. Lại im lặng. Sau đó, có tiếng thét và tiếng ồn ào từ căn phòng mà cô giúp việc đã vào. Một ai đó ném một cái gì nặng xuống sàn nhà, rồi có thể nhận ra rõ được tiếng cốc rơi vỡ, tiếng bát đĩa đập loảng xoảng, lẫn câu chửi thô tục gào lên bằng tiếng Hungary: “Tổ sư cái con mẹ nó, cả Trời, cả Jesus, cả Maria, tiên sư cha nó, tiên sư cái thiên hạ này nữa!”
Hai cánh cửa mở tung ra, một người đàn ông đang độ tuổi đẹp nhất cuộc đời chạy xộc ra tiền sảnh, trên cổ đeo chiếc khăn ăn, tay huơ huơ bức thư Švejk đã đưa cho người hầu gái.

Anh lính công binh Vodička ngồi ngay gần cửa và người đàn ông đang điên tiết nhằm đến anh trước nhất.
“Thế này là nghĩa làm sao? Thằng khốn kiếp đã mang bức thư này bây giờ đâu rồi?”
“Này, từ từ nhé,” Vodička vừa nói vừa đứng dậy, “đừng gầm gào lên với chúng tớ kẻo nguy, còn nếu muốn biết ai mang bức thư đến thì hỏi anh bạn kia. Nhưng phải nói với anh ấy cho tử tế, không thì tớ tống cậu ra cửa ngay lập tức đấy.”
Người đàn ông với chiếc khăn ăn trên cổ bực tức quay sang nói với Švejk, và câu nọ xọ câu kia, ông muốn nói là gia đình ông đang ăn trưa.
“Chúng tôi đã nghe thấy rồi, là ông bà đang ăn trưa,” Švejk nói bằng thứ tiếng Đức ngọng nghịu rồi nói thêm bằng tiếng Séc, “đáng lẽ chúng tôi phải biết là chúng tôi đến đây làm phiền ông bà đúng vào giờ ăn trưa.”
“Cậu đừng nhún mình như thế!” Vodička lên tiếng nhắc.
Còn người đàn ông thì vung mạnh tay làm điệu bộ đến mức chiếc khăn ăn chỉ được giữ trên cổ bằng một góc, và vẫn còn giận dữ, ông tiếp tục nói rằng lúc đầu ông nghĩ là bức thư viết về việc phải để cho binh lính đến ở mấy căn phòng trong ngôi nhà này, mà chủ nhân của ngôi nhà là vợ ông.
“Ừ, tại đây thì còn chỗ cho rất nhiều lính đến ở,” Švejk nói, “nhưng mà về việc ấy thì thư này không nói đến, chắc ông cũng đã đọc ra rồi.”
Ông này giơ tay ôm đầu rồi nói một hồi toàn lời trách móc, rằng ông đã là thiếu úy dự bị, rằng bây giờ ông cũng muốn phục vụ trong quân đội, nhưng mà ông bị bệnh đau thận, rằng thời ông còn là sĩ quan thì đội ngũ sĩ quan đâu có trụy lạc khốn nạn đến mức làm ảnh hưởng đến cái yên bình của gia đình, rằng ông sẽ gửi bức thư này đến Ban chỉ huy trung đoàn, đến Bộ Chiến tranh và gửi đăng báo nữa.
“Thưa ông,” Švejk trang trọng nói nửa tiếng Séc, nửa tiếng Đức, “bức thư này là do tôi viết. Tôi viết, không phải trung úy. Chữ ký, tên, đều giả cả. Tôi rất thích vợ ông. Tôi yêu vợ ông. Tôi yêu vợ ông đến chết mê chết mệt, giống như Vrchlický⦾ đã nói. Bà ấy là của quý.”
Người đàn ông điên tiết muốn nhảy bổ vào Švejk lúc đó đang đứng rất bình thản và hài lòng. Để ý tới mọi cử động của ông ấy, anh công binh Vodička bèn gạt chân ông, giật bức thư ông vẫn huơ huơ trong tay rồi cho vào túi. Khi người đàn ông nhổm dậy, Vodička tóm lấy ông, ôm ông tới cửa, dùng một tay mở cửa ra và ngay lập tức bên ngoài đã nghe thấy tiếng một vật nặng lăn xuống cầu thang. Mọi việc xảy ra nhanh chóng, giống như trong truyện cổ tích, khi con quỷ đến bắt con người.
Từ người đàn ông chỉ còn sót lại chiếc khăn ăn. Švejk nhặt nó lên, lịch sự gõ cửa, cánh cửa căn phòng mà trước đây năm phút ông Kákonyi ra khỏi và bây giờ thì từ đó vang lên tiếng nức nở của một người phụ nữ.
“Tôi mang cái khăn ăn,” Švejk nhẹ nhàng nói với người đàn bà đang ngồi khóc ở ghế sofa “kẻo có ai giẫm phải. Xin kính chào bà.”
Anh chụm chân, giơ tay chào rồi đi ra ngoài hành lang. Ở cầu thang không có dấu vết gì của sự đụng chạm ẩu đả, theo như Vodička đã dự đoán thì mọi việc đều trôi chảy dễ dàng. Chỉ ở cánh cửa dẫn ra cổng thì có chiếc cổ áo mắc lại, chắc hẳn ông Kákonyi đã bám chặt vào cửa để khỏi bị kéo ra đường, và đó là hình ảnh cuối cùng của tấn bi kịch này.
Thế nhưng ở ngoài đường thì rất huyên náo. Người ta lôi ông Kákonyi sang cổng nhà đối diện, đổ nước vào ông, ở giữa đường thì Vodička đang như con sư tử chiến đấu với một đám lính bộ binh Honvédség và lính kỵ binh Hungary tới viện trợ cho đồng hương. Vodička quăng rất thành thạo cái thắt lưng có cài lưỡi dao găm. Và anh không chiến đấu một mình mà cùng với một số lính người Séc từ các trung đoàn khác, vừa lúc đó đi qua phố.
Sau này, Švejk nói là chính anh cũng không biết anh đã vào cuộc chiến như thế nào, và vì không có dao găm, anh cũng không biết làm sao mà trong tay lại có cái gậy ba toong của một người đứng xem cuộc ẩu đả.

Trận đánh kéo dài một hồi lâu, nhưng mà cả những gì đẹp đẽ cũng có cái kết thúc của nó. Cảnh sát quân sự đã tới và bắt tất cả.
Đi cạnh Vodička, Švejk mang cái ba toong mà chỉ huy trưởng cảnh sát quân sự công nhận là tội chứng. Vác cây gậy trên vai như vác súng, anh bước đi và cảm thấy rất hài lòng.
Suốt đường đi, người lính công binh Vodička cứ lầm lì chẳng nói năng gì. Mãi cho đến khi bước vào phòng cảnh sát quân sự, anh mới buồn rầu nói với Švejk: “Cậu chưa biết bọn người Hungary, tớ đã chẳng bảo cậu thế là gì?”

← Bruck an der Leitha là huyện lỵ của huyện cùng tên thuộc bang Hạ Áo, nằm bên sông Leitha (một phụ lưu chính của sông Danube, biên giới tự nhiên giữa Áo và Hungary). Thành phố phía bên kia sông Leitha (phía Hungary) có tên là Királyhida. Năm 1863, Bruck an der Leitha được chọn làm doanh trại cho lính quân đội Áo tới tập trận, từ năm 1867 là nơi đóng quân tạm thời cho binh lính quân đội Áo–Hung trước khi họ ra chiến trường.
← Malše là một nhánh của sông Vltava chảy qua địa phận miền Nam Séc và bang Thượng Áo.
← Franz Josef Land là quần đảo ở Bắc Băng Dương với mũi Fligely là điểm xa nhất của châu Âu về phía bắc. Quần đảo được đoàn thám hiểm Bắc Cực Áo–Hung phát hiện năm 1873, ngày nay thuộc Nga.
← Có nghĩa là thành công – Tiếng chào chính thức của quân đội và các đội thể dục, thể thao Séc.
← Tạp chí phát hành tại Praha. Jaroslav Hašek đã làm biên tập viên của tạp chí trong những năm 1908–1910 và 1912–1913 (theo svejkmuseum.cz).
← Podolí là một khu phố của Praha, trước đây ở đó có cửa hàng ăn chuyên bán các món tôm cá vụn rán bằng dầu thực vật (theo svejkmuseum.cz).
← Alfred Edmund Brehm (1829–1884), nhà văn và nhà động vật học người Đức, tác giả của nhiều tài liệu phổ biến khoa học về cuộc sống của động vật. Tác phẩm lớn của ông là bộ từ điển bách khoa gồm 10 tập mang tên Đời sống động vật.
← Hang động Postojna ở Slovenia là hang động đẹp nổi tiếng thế giới. Ở đó có loài động vật lưỡng cư mù, thường được gọi là con manh giông, hay còn được gọi là cá người.
← Bệnh viêm não Lethargica, tên khoa học đầy đủ Encephalitis Lethargica, tiếng Việt còn gọi là bệnh buồn ngủ, là căn bệnh bí ẩn, xảy ra nhiều đợt trong những năm 1916–1927 và trở thành đại dịch trên toàn thế giới.
← Tạp chí Mladý čtenář xuất bản trong những năm 1882–1941.
← Jan Štursa (1880–1925) nhà điêu khắc Séc, một trong những người đặt nền móng cho ngành điêu khắc hiện đại của Séc.
← Otakar Procházka, gốc người Séc, làm Lãnh sự Áo–Hung ở Prizren (thuộc Kosovo) và Skopje (thuộc Macedonia). Vì một số hiểu lầm mà vào năm 1912 ông suýt trở thành nguyên nhân dẫn đến chiến tranh giữa Áo–Hung và Serbia (theo svejkmuseum.cz).
← Labe, hay Elbe, là con sông lớn của châu Âu, dài 1.094km, bắt nguồn từ dãy Krkonoše phía bắc Séc, chảy qua Đức và đổ ra Bắc Hải. Độ dài đoạn sông trên địa phận Séc là 371km.
← Thành phố lịch sử của vùng Galicia, Ba Lan, có pháo đài Przemyśl, trong Thế chiến I là nơi có nhiều trận chiến kịch liệt giữa quân đội Áo–Hung và quân Nga.
← Pohořelec là một phố ở Praha 1, gần Lâu đài Praha.
← Karl Stephan von Östereich-Teschen (1860–1933), Đại Công tước Áo, Đô đốc Hải quân Hoàng gia Áo.
← Thành phố lớn ở phía tây Hungary, nằm gần biên giới Áo–Hung.
← Cisleithanien (Áo) và Transleithanien (Vương quốc Hungary) là hai phần của Đế quốc Áo–Hung (1867–1918), với sông Leitha là biên giới tự nhiên.
← Một bang ở miền đông nam Áo.
← Một hồ đầm lầy rất lớn của châu Âu, một phần thuộc Áo (240km2), một phần thuộc Hungary (75km2).
← Con ruồi sắt là biệt hiệu khinh thường, ám chỉ lính Landwehr.
← Jaroslav Vrchlický (1853–1912), nhà văn, nhà thơ, nhà soạn kịch và dịch giả lớn người Séc.