<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-13 20:35:26diên vỹ>
Chớ Cậy Tài
Kẻ có tài thường hay phụ khí. Nếu gặp được người tri kỷ, gặp được cơ hội để thi thố tài năng, thì tận lực tận tâm, tấm thân coi nhẹ như chiếc lá úa. Bằng vấp phải cảnh bất như ý thì hay phát tiết lòng uất hận bằng những cử chỉ ngạo nghễ, những hành động ngông cuồng. Người đời gọi là Cuồng Sĩ.
Nễ Hành đời Tam Quốc (219-280) là nhân vật điển hình.
Nễ Hành là một trang thanh niên học vấn uyên bác, đạo đức thanh khiết. Nhà danh nho Khổng Dung làm biểu tiến cử cùng vua Hiến Đế nhà Hán. Xem biểu xong vua Hán trao biểu lại cho Thừa Tướng là Tào Tháo.
Thừa tướng đòi Nễ Hành đến yết kiến. Nghi lễ yết kiến xong, Nễ Hành không được mời ngồi, bèn ngước mặt lên trời than:
- Trời đất tuy rộng rãi, sao lại không có được một người!
Tào Tháo liền hỏi:
- Thủ hạ của ta có mấy chục người đều là bậc anh hùng đời nay, sao gọi là không người được?
Nễ Hành bảo:
- Xin cho nghe tên tuổi.
Tào Tháo kể:
- Tuân Dục, Tuân Du, Quách Gia, Trình Dục mưu trí sâu xa dẫu cho Tiêu Hà, Trần Bình cũng không kịp. Trương Liêu, Hứa Chử, Lý Điển, Nhạc Tiến vũ dũng vô địch, dẫu cho Sầm Bành, Mã Vũ cũng không hơn được. Lữ Kiền, Mã Sủng làm chức tùy sự, Vu Cấm, Từ Hoảng làm chức tiên phong, Hạ Hầu Đôn là bậc kỳ tài trong thiên hạ, Tào Tử Kiến là phúc tướng của thế gian. Như thế sao gọi là không có người được?
Nễ Hành cười đạp:
- Ông nói sai rồi. Bọn người ấy tôi biết rõ lắm. Tuân Dục có thể sai đi viếng đám ma, đi thăm người bệnh. Tuân Du có thế sai giữ mả giữ mồ. Trình Dục có thể sai đóng của đóng ngõ. Quách Gia có thể đọc phú ngâm thơ. Trương Liêu có thể sai gõ chuông đánh trống. Hứa Chử có thể sai dắt ngựa chăn trâu. Nhạc Tiến có thể sai đưa thư truyền hịch. Hạ Hầu Đôn có thể gọi là ông tướng không tróc vẩy trầy da. Tào Tử Hiếu nên gọi là quan Thái thú ưa vàng ham bạc. Ngoài ra đều là phường giá áo, túi cơm, thùng rượu, bị thịt mà thôi.
Tào Tháo giận, hỏi:
- Mi có tài chi ?
Nễ Hành đáp:
- Thiên văn, địa lý không chuyện gì là không thông. Tam giáo cửu lưu, học thuyết xưa nay, không một điều gì không hiểu. Trên có thể giúp vua xây sự nghiệp Nghiêu Thuấn, dưới có thể sánh với Khổng Tử, Nhan Uyên. Há đem ta sánh bàn cùng người đời được sao?
Trương Liêu đứng bên cạnh, hằm hằm rút gươm muốn giết. Tào Tháo bảo:
- Ta đương thiếu một viên quan đánh trống. Nay mai có yến tiệc khách hạ, để sai Nễ Hành làm chức ấy.
Nễ Hành không từ chối, dạ dạ lui ra. Trương Liêu hỏi:
- Thằng ấy nói năng vô lễ, sao Thừa tướng không giết đi?
Tào Tháo đáp:
- Hắn vốn có hư danh, xa gần đều biết. Nếu ta giết hắn, thiên hạ sẽ chê ta độ lượng hẹp hòi. Hắn tự cho là có tài, ta sẽ cho làm tên đánh trống để làm nhục cho bỏ ghét.
Hôm sau, Tào Tháo mở tiệc lớn. Quan khách đến đông đủ, Tào Tháo truyền lệnh gióng trống. Viên quan coi việc đánh trống cũ bảo Nễ Hành thay áo mới. Nễ Hành không đáp, mặc áo cũ đi thẳng đến giá để trống, gióng ba hồi theo điệu Ngư Dương. Âm điệu du dương réo rắt như tiếng khách tiếng chuông, khác ngồi trên tiệc đến cảm xúc, bồi hồi, có kẻ đến rơi lệ. Bọn lính hầu thét:
- Sao không thay áo?
Nễ Hành từ từ trút bỏ quần áo cũ, thân thể trần truồng. Tân khách đều che mặt. Nễ Hành lại ung dung vận khố lên, nét mặt không hề thay đổi. Tào Tháo mắng:
- Trên chốn miếu đường sao ngươi dám vô lễ quá thế?
Nễ Hành bình tĩnh đáp:
- Khinh mạn nhà vua, lừa dối người trên, mới gọi là vô lễ. Ta chỉ để lộ hình hài cha mẹ để cho rõ tính chất trong sạch của ta mà thôi.
Tào Tháo hỏi:
- Mi trong sạch, vậy chớ ai là người ô trọc?
Nễ Hành đáp:
- Nhà ngươi không biết kẻ hiền, người ngu, ấy là mắt ô trọc. Không đọc Kinh Thi, Kinh Thư, ấy là miệng ô trọc. Không nghe lời nói thẳng, ấy là lỗ tai ô trọc. Không thông hiểu sự việc xưa nay, ấy là tấm thân ô trọc . Thường nuôi mộng cướp ngôi cướp nước, ấy là trái tim ô trọc. Ta là kẻ sĩ có danh trong thiên hạ. nhà ngươi sai ta làm chức đánh trống, thế có khác gì Dương Hóa dám khinh Khổng Tử, Tang Sương dám nói xấu Mạnh Tử không ? Muốn dựng thành nghiệp vương nghiệp bá, mà lại khinh người hiền như thế sao?
Tào Tháo giận lắm, nhưng không giám giết Nễ Hành vì sợ mang tiếng hại kẻ hiền tài, bèn ép Nễ Hành đi sứ sang Kinh Châu dụ Lưu Biểu về hàng nhà Hán. Nễ Hành phụng mệnh. Gặp Lưu Biểu, sứ giả giả vờ xưng tụng công đức để mách khéo. Lưu Biểu giận lắm, nhưng đoán biết Tào Tháo muốm mượn tay mình giết Nễ Hành, nên không để mắc mưu, mới ép Nễ Hành đi sứ qua đất của Hoàng Tổ, Trông thấy Hoàng Tổ, Nễ Hành phê bình:
- Ngài giống như thành hoàng trong miếu, tuy được hưởng của thế tự, nhưng tiếc một điều là không linh ứng chi cả.
Hoàng Tổ vốn là kẻ vũ phu, nghe lời chê bai, nổi giật rút gươm chém chết. Tào Tháo nghe tin, cười lớn:
- Hủ nho có ngọn lưỡi sắc như gươm, gươm ấy trở lại hại mình vậy.
Luận về Nễ Hành, người đời sau khen là có gan nhưng chê là bất trí. Kể cùng không đến nỗi quá đáng: Tào Tháo là một nhân vật tuấn kiệt đương thời, bộ hạ phần đông lại đều là những tay tài trí xuất chúng. Đem tánh mạng mà liều với Tào Tháo để triệt hạ uy thế của phe Tào đương ngấp nghé ngôi tôn, việc liều ấy không đến nỗi vô ích. Nhưng đối với Hoàng Tổ là một kẻ thất phu vô tài vô học, mà Nễ Hành lại cũng đem ngọn lưỡi hùng biện nổi danh ra chỉ trích, để phải thiệt mạng một cách "vô duyên" như thế thì thật không còn chi thất sách bằng!
Đó cũng là vì phụ khí mà quên nghĩa chủ thân. Người Trí không bao giờ vấp phải.
Cũng vì cậy tài mà bị hại, dưới đời Tam Quốc còn một người nữa là Dương Tu.
Dương Tu là bộ hạ của Tào Tháo.
Tào Tháo lập một hoa viên. Lập xong đến xem, không khen cũng không chê, chỉ viết một chử HOẠT trong cửa rồi trở về. Không ai hiểu ý nghĩa chi cả. Dương Tu thấy vậy bảo:
- Đó là Thừa Tướng chê cửa vườn này rộng.
Người ta hỏi vì sao biết. Dương Tu đáp:
- Trong chữ MÔN thêm chữ HOẠT thành chữ KHOÁT.
Thợ bèn sửa nhỏ lại một ít. Hôm sau Tào Tháo đến xem, cả mừng, hỏi ai đoán được ý muốn. Kẻ tả hữu thưa:
- Dương Tu.
Tào Tháo khen giỏi nhưng có ý không thích.
Lại một khi ngoài ải Bắc đem dâng một thố cơm rượu. Tào Tháo đề nơi nắp thố ba chữ " Nhất Hiệp Tô ". Dương Tu vào thấy liền giở thố ra, lấy muỗng múc chia cho mỗi người một muỗng. Tào Tháo làm mặt giận quở:
- Sao dám vô lễ .
Dương Tu thưa:
- Thừa tướng ra lệnh, tôi đâu dám trái. Thừa tướng đề rõ ràng " Nhất Hiệp Tô " tức là nhất nhân nhất khẩu tô. Như thế chẳng phải Thừa tướng ra lệnh chia mỗi người một miếng ư?
Tào Tháo khen giỏi, nhưng lòng rất ghét.
Tào Tháo rất sợ khích khách nên dặn kẻ hầu hạ:
- Khi ta ngủ chúng bây đừng lại gần, vì ta chiêm bao hay giết người.
Một hôm Tháo đương ngủ ngày, rớt mền. Tên hầu cận lật đật tới lấy mền đắp lại. Tháo ngồi dậy rút gươm chém chết rồi nằm ngủ trở lại. Giây lâu mở mắt ra, giả đò thất kinh hỏi:
- Kẻ nào cả gan dám giết người hầu cận của ta?
Đám bộ hạ thưa rõ sự tình. Tháo khóc thảm thiết rồi khiến chôn cất tử tế. Ai ai cũng đều tin Tào Tháo thật chiêm bao giết người. Dương Tư biết thâm ý của Tháo, chỉ vào hòm nói:
- Không phải Thừa Tướng chiêm bao, mà chính nhà ngươi chiêm bao đấy!
Tào Tháo hay đặng, lại càng ghét thêm.
Sau đó Tào Tháo đem quân đi đánh đất Hán Trung. Dương Tu làm hành quân chủ bộ. Quân Tào đi tới thì bị quân Mã Siêu ngăn, nhưng rút lui lại sợ bên Thục chê cười, nên không muốn rút. Đóng quân tại Tà Cốc lâu ngày Tào Tháo đã thấy chán. Đương khi nghĩ ngợi thiệt hơn thì người đầu bếp dọn cơm chiều. Trong mâm có bát gân gà nấu canh. Tào Tháo gắp gân toan ăn, nhưng lại bỏ xuống, vừa bỏ xuống lại gắp trở lên...., ăn không ăn mà bỏ cũng không muốn bỏ. Chợt Hạ Dầu Đôn vào xin khẩu hiệu cho đêm sắp tới. Tháo liền ra: "Gân gà, gân gà ".
Khẩu hiệu truyền ra cho các quan dưới cờ. Dương Tu bèn khiến quân mình sửa soạn hành trang để trở về. Hạ Hầu Đôn nghe tin, cả kinh, cho mời Dương Tu đến hỏi. Dương Tu đáp:
- Theo khẩu đã ra thì nhất định ngày mai Ngụy vương sẽ rút quân. Bởi vì gân gà ăn không có vị, nhưng bỏ đi lại tiếc vì có mùi. Nay binh ta tiến thì không thắng nổi, còn thối thì e thiên hạ cười. Song đóng ở đây hoài lại càng vô ích, chi bằng về phứt cho xong. Khẩu hiệu kia đã nói rõ nỗi lòng của Ngụy Vương, tôi biết thế nào ngày mai vương cũng lui binh . Để quân lính khỏi chộn rộn khi có lệnh, tôi khiến sắp đặt trước.
Hạ Hầu Đôn khen phải và bắt chước truyền binh lo dọn dẹp chỉnh tề.
Đêm ấy Tào Tháo lo lắng ngủ không yên, trở dậy xách kiếm đi tuần các trại. Đến trại Hạ Hầu Đôn thấy hành trang đã xếp đặt đâu vào đấy, giật mình trở về trướng, cho gọi Hầu Đôn đến hỏi:
- Chưa có lệnh ta, cớ gì nhà ngươi đã chuẩn bị việc rút lui ?
Hạ Hầu Đôn bèn kể lại câu chuyện của Dương Tu. Tào Tháo nổi giận cho đòi Dương Tu đến mắng:
- Sao mi dám đặt điều làm loạn lòng quân?
Rồi liền sai chém đầu làm hiệu lệnh. Nhưng qua ngày hôm sau lại truyền lui binh y như lời Dương Tu đã bảo.
Tào Tháo bảo " Sao dám đặt điều làm loạn lòng quân" là để lấy cớ đặng chém Dương Tu. Sự thật thì ý muốn giết Dương Tu ngấm ngầm trong bụng Tháo ngay từ lúc sửa cửa hoa viên. Trí thông minh của Dương Tu đã làm cho Tào Tháo khó chịu, chỉ đợi có cơ hội là rửa hờn ngay. Tâm địa ấy chẳng phải riêng gì Tào Tháo. Hầu hết những kẻ quyền quí đều ghét những kẻ ở dưới mình mà thông minh tài ba hơn mình, nhất là những kẻ dưới lại hay khoe khôn khoe giỏi.
Dương Tu cũng như Nễ Hành chết vì hay khoe khôn khoe giỏi.
Cổ nhân dạy rằng:
- Những người thông minh, sâu sắc mà có khi đến phải thiệt mạng, đều là vì hay chê bai biếm nhẻ, hay bới móc, phơi bày cái xấu, cái dở của người ta, nhất là hay nghị luận tâm sự của kẻ quyền quí có sẵn quyền sanh sát trong tay.
Lại dạy:
- Nhà buôn giỏi khéo chứa của quí thì làm như người không có gì. Người quân tử thạnh đức, dung mạo như người ngu. Tánh khoe khoang, khí kiêu ngạo đã không ích cho đời mà còn hại cho thân.
Chuyện của Nễ Hành và Dương Tu là hai tấm gương làm sáng tỏ lời dại cổ nhân vậy.
bài đã được sửa chính tả





