📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Những Tấm Gương Xưa - Quách Tấn

119 trả lời, 29.155 lượt xem — Trang 2 / 4
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-13 20:35:26diên vỹ>
Chớ Cậy Tài


Kẻ có tài thường hay phụ khí. Nếu gặp được người tri kỷ, gặp được cơ hội để thi thố tài năng, thì tận lực tận tâm, tấm thân coi nhẹ như chiếc lá úa. Bằng vấp phải cảnh bất như ý thì hay phát tiết lòng uất hận bằng những cử chỉ ngạo nghễ, những hành động ngông cuồng. Người đời gọi là Cuồng Sĩ.
Nễ Hành đời Tam Quốc (219-280) là nhân vật điển hình.
Nễ Hành là một trang thanh niên học vấn uyên bác, đạo đức thanh khiết. Nhà danh nho Khổng Dung làm biểu tiến cử cùng vua Hiến Đế nhà Hán. Xem biểu xong vua Hán trao biểu lại cho Thừa Tướng là Tào Tháo.

Thừa tướng đòi Nễ Hành đến yết kiến. Nghi lễ yết kiến xong, Nễ Hành không được mời ngồi, bèn ngước mặt lên trời than:
- Trời đất tuy rộng rãi, sao lại không có được một người!
Tào Tháo liền hỏi:
- Thủ hạ của ta có mấy chục người đều là bậc anh hùng đời nay, sao gọi là không người được?
Nễ Hành bảo:
- Xin cho nghe tên tuổi.
Tào Tháo kể:
- Tuân Dục, Tuân Du, Quách Gia, Trình Dục mưu trí sâu xa dẫu cho Tiêu Hà, Trần Bình cũng không kịp. Trương Liêu, Hứa Chử, Lý Điển, Nhạc Tiến vũ dũng vô địch, dẫu cho Sầm Bành, Mã Vũ cũng không hơn được. Lữ Kiền, Mã Sủng làm chức tùy sự, Vu Cấm, Từ Hoảng làm chức tiên phong, Hạ Hầu Đôn là bậc kỳ tài trong thiên hạ, Tào Tử Kiến là phúc tướng của thế gian. Như thế sao gọi là không có người được?

Nễ Hành cười đạp:
- Ông nói sai rồi. Bọn người ấy tôi biết rõ lắm. Tuân Dục có thể sai đi viếng đám ma, đi thăm người bệnh. Tuân Du có thế sai giữ mả giữ mồ. Trình Dục có thể sai đóng của đóng ngõ. Quách Gia có thể đọc phú ngâm thơ. Trương Liêu có thể sai gõ chuông đánh trống. Hứa Chử có thể sai dắt ngựa chăn trâu. Nhạc Tiến có thể sai đưa thư truyền hịch. Hạ Hầu Đôn có thể gọi là ông tướng không tróc vẩy trầy da. Tào Tử Hiếu nên gọi là quan Thái thú ưa vàng ham bạc. Ngoài ra đều là phường giá áo, túi cơm, thùng rượu, bị thịt mà thôi.
Tào Tháo giận, hỏi:
- Mi có tài chi ?
Nễ Hành đáp:
- Thiên văn, địa lý không chuyện gì là không thông. Tam giáo cửu lưu, học thuyết xưa nay, không một điều gì không hiểu. Trên có thể giúp vua xây sự nghiệp Nghiêu Thuấn, dưới có thể sánh với Khổng Tử, Nhan Uyên. Há đem ta sánh bàn cùng người đời được sao?

Trương Liêu đứng bên cạnh, hằm hằm rút gươm muốn giết. Tào Tháo bảo:
- Ta đương thiếu một viên quan đánh trống. Nay mai có yến tiệc khách hạ, để sai Nễ Hành làm chức ấy.
Nễ Hành không từ chối, dạ dạ lui ra. Trương Liêu hỏi:
- Thằng ấy nói năng vô lễ, sao Thừa tướng không giết đi?
Tào Tháo đáp:
- Hắn vốn có hư danh, xa gần đều biết. Nếu ta giết hắn, thiên hạ sẽ chê ta độ lượng hẹp hòi. Hắn tự cho là có tài, ta sẽ cho làm tên đánh trống để làm nhục cho bỏ ghét.

Hôm sau, Tào Tháo mở tiệc lớn. Quan khách đến đông đủ, Tào Tháo truyền lệnh gióng trống. Viên quan coi việc đánh trống cũ bảo Nễ Hành thay áo mới. Nễ Hành không đáp, mặc áo cũ đi thẳng đến giá để trống, gióng ba hồi theo điệu Ngư Dương. Âm điệu du dương réo rắt như tiếng khách tiếng chuông, khác ngồi trên tiệc đến cảm xúc, bồi hồi, có kẻ đến rơi lệ. Bọn lính hầu thét:
- Sao không thay áo?
Nễ Hành từ từ trút bỏ quần áo cũ, thân thể trần truồng. Tân khách đều che mặt. Nễ Hành lại ung dung vận khố lên, nét mặt không hề thay đổi. Tào Tháo mắng:
- Trên chốn miếu đường sao ngươi dám vô lễ quá thế?

Nễ Hành bình tĩnh đáp:
- Khinh mạn nhà vua, lừa dối người trên, mới gọi là vô lễ. Ta chỉ để lộ hình hài cha mẹ để cho rõ tính chất trong sạch của ta mà thôi.
Tào Tháo hỏi:
- Mi trong sạch, vậy chớ ai là người ô trọc?
Nễ Hành đáp:
- Nhà ngươi không biết kẻ hiền, người ngu, ấy là mắt ô trọc. Không đọc Kinh Thi, Kinh Thư, ấy là miệng ô trọc. Không nghe lời nói thẳng, ấy là lỗ tai ô trọc. Không thông hiểu sự việc xưa nay, ấy là tấm thân ô trọc . Thường nuôi mộng cướp ngôi cướp nước, ấy là trái tim ô trọc. Ta là kẻ sĩ có danh trong thiên hạ. nhà ngươi sai ta làm chức đánh trống, thế có khác gì Dương Hóa dám khinh Khổng Tử, Tang Sương dám nói xấu Mạnh Tử không ? Muốn dựng thành nghiệp vương nghiệp bá, mà lại khinh người hiền như thế sao?

Tào Tháo giận lắm, nhưng không giám giết Nễ Hành vì sợ mang tiếng hại kẻ hiền tài, bèn ép Nễ Hành đi sứ sang Kinh Châu dụ Lưu Biểu về hàng nhà Hán. Nễ Hành phụng mệnh. Gặp Lưu Biểu, sứ giả giả vờ xưng tụng công đức để mách khéo. Lưu Biểu giận lắm, nhưng đoán biết Tào Tháo muốm mượn tay mình giết Nễ Hành, nên không để mắc mưu, mới ép Nễ Hành đi sứ qua đất của Hoàng Tổ, Trông thấy Hoàng Tổ, Nễ Hành phê bình:
- Ngài giống như thành hoàng trong miếu, tuy được hưởng của thế tự, nhưng tiếc một điều là không linh ứng chi cả.
Hoàng Tổ vốn là kẻ vũ phu, nghe lời chê bai, nổi giật rút gươm chém chết. Tào Tháo nghe tin, cười lớn:
- Hủ nho có ngọn lưỡi sắc như gươm, gươm ấy trở lại hại mình vậy.

Luận về Nễ Hành, người đời sau khen là có gan nhưng chê là bất trí. Kể cùng không đến nỗi quá đáng: Tào Tháo là một nhân vật tuấn kiệt đương thời, bộ hạ phần đông lại đều là những tay tài trí xuất chúng. Đem tánh mạng mà liều với Tào Tháo để triệt hạ uy thế của phe Tào đương ngấp nghé ngôi tôn, việc liều ấy không đến nỗi vô ích. Nhưng đối với Hoàng Tổ là một kẻ thất phu vô tài vô học, mà Nễ Hành lại cũng đem ngọn lưỡi hùng biện nổi danh ra chỉ trích, để phải thiệt mạng một cách "vô duyên" như thế thì thật không còn chi thất sách bằng!
Đó cũng là vì phụ khí mà quên nghĩa chủ thân. Người Trí không bao giờ vấp phải.
Cũng vì cậy tài mà bị hại, dưới đời Tam Quốc còn một người nữa là Dương Tu.
Dương Tu là bộ hạ của Tào Tháo.

Tào Tháo lập một hoa viên. Lập xong đến xem, không khen cũng không chê, chỉ viết một chử HOẠT trong cửa rồi trở về. Không ai hiểu ý nghĩa chi cả. Dương Tu thấy vậy bảo:
- Đó là Thừa Tướng chê cửa vườn này rộng.
Người ta hỏi vì sao biết. Dương Tu đáp:
- Trong chữ MÔN thêm chữ HOẠT thành chữ KHOÁT.
Thợ bèn sửa nhỏ lại một ít. Hôm sau Tào Tháo đến xem, cả mừng, hỏi ai đoán được ý muốn. Kẻ tả hữu thưa:
- Dương Tu.

Tào Tháo khen giỏi nhưng có ý không thích.
Lại một khi ngoài ải Bắc đem dâng một thố cơm rượu. Tào Tháo đề nơi nắp thố ba chữ " Nhất Hiệp Tô ". Dương Tu vào thấy liền giở thố ra, lấy muỗng múc chia cho mỗi người một muỗng. Tào Tháo làm mặt giận quở:
- Sao dám vô lễ .
Dương Tu thưa:
- Thừa tướng ra lệnh, tôi đâu dám trái. Thừa tướng đề rõ ràng " Nhất Hiệp Tô " tức là nhất nhân nhất khẩu tô. Như thế chẳng phải Thừa tướng ra lệnh chia mỗi người một miếng ư?

Tào Tháo khen giỏi, nhưng lòng rất ghét.
Tào Tháo rất sợ khích khách nên dặn kẻ hầu hạ:
- Khi ta ngủ chúng bây đừng lại gần, vì ta chiêm bao hay giết người.
Một hôm Tháo đương ngủ ngày, rớt mền. Tên hầu cận lật đật tới lấy mền đắp lại. Tháo ngồi dậy rút gươm chém chết rồi nằm ngủ trở lại. Giây lâu mở mắt ra, giả đò thất kinh hỏi:
- Kẻ nào cả gan dám giết người hầu cận của ta?

Đám bộ hạ thưa rõ sự tình. Tháo khóc thảm thiết rồi khiến chôn cất tử tế. Ai ai cũng đều tin Tào Tháo thật chiêm bao giết người. Dương Tư biết thâm ý của Tháo, chỉ vào hòm nói:
- Không phải Thừa Tướng chiêm bao, mà chính nhà ngươi chiêm bao đấy!
Tào Tháo hay đặng, lại càng ghét thêm.
Sau đó Tào Tháo đem quân đi đánh đất Hán Trung. Dương Tu làm hành quân chủ bộ. Quân Tào đi tới thì bị quân Mã Siêu ngăn, nhưng rút lui lại sợ bên Thục chê cười, nên không muốn rút. Đóng quân tại Tà Cốc lâu ngày Tào Tháo đã thấy chán. Đương khi nghĩ ngợi thiệt hơn thì người đầu bếp dọn cơm chiều. Trong mâm có bát gân gà nấu canh. Tào Tháo gắp gân toan ăn, nhưng lại bỏ xuống, vừa bỏ xuống lại gắp trở lên...., ăn không ăn mà bỏ cũng không muốn bỏ. Chợt Hạ Dầu Đôn vào xin khẩu hiệu cho đêm sắp tới. Tháo liền ra: "Gân gà, gân gà ".

Khẩu hiệu truyền ra cho các quan dưới cờ. Dương Tu bèn khiến quân mình sửa soạn hành trang để trở về. Hạ Hầu Đôn nghe tin, cả kinh, cho mời Dương Tu đến hỏi. Dương Tu đáp:
- Theo khẩu đã ra thì nhất định ngày mai Ngụy vương sẽ rút quân. Bởi vì gân gà ăn không có vị, nhưng bỏ đi lại tiếc vì có mùi. Nay binh ta tiến thì không thắng nổi, còn thối thì e thiên hạ cười. Song đóng ở đây hoài lại càng vô ích, chi bằng về phứt cho xong. Khẩu hiệu kia đã nói rõ nỗi lòng của Ngụy Vương, tôi biết thế nào ngày mai vương cũng lui binh . Để quân lính khỏi chộn rộn khi có lệnh, tôi khiến sắp đặt trước.
Hạ Hầu Đôn khen phải và bắt chước truyền binh lo dọn dẹp chỉnh tề.
Đêm ấy Tào Tháo lo lắng ngủ không yên, trở dậy xách kiếm đi tuần các trại. Đến trại Hạ Hầu Đôn thấy hành trang đã xếp đặt đâu vào đấy, giật mình trở về trướng, cho gọi Hầu Đôn đến hỏi:
- Chưa có lệnh ta, cớ gì nhà ngươi đã chuẩn bị việc rút lui ?
Hạ Hầu Đôn bèn kể lại câu chuyện của Dương Tu. Tào Tháo nổi giận cho đòi Dương Tu đến mắng:
- Sao mi dám đặt điều làm loạn lòng quân?

Rồi liền sai chém đầu làm hiệu lệnh. Nhưng qua ngày hôm sau lại truyền lui binh y như lời Dương Tu đã bảo.
Tào Tháo bảo " Sao dám đặt điều làm loạn lòng quân" là để lấy cớ đặng chém Dương Tu. Sự thật thì ý muốn giết Dương Tu ngấm ngầm trong bụng Tháo ngay từ lúc sửa cửa hoa viên. Trí thông minh của Dương Tu đã làm cho Tào Tháo khó chịu, chỉ đợi có cơ hội là rửa hờn ngay. Tâm địa ấy chẳng phải riêng gì Tào Tháo. Hầu hết những kẻ quyền quí đều ghét những kẻ ở dưới mình mà thông minh tài ba hơn mình, nhất là những kẻ dưới lại hay khoe khôn khoe giỏi.
Dương Tu cũng như Nễ Hành chết vì hay khoe khôn khoe giỏi.
Cổ nhân dạy rằng:
- Những người thông minh, sâu sắc mà có khi đến phải thiệt mạng, đều là vì hay chê bai biếm nhẻ, hay bới móc, phơi bày cái xấu, cái dở của người ta, nhất là hay nghị luận tâm sự của kẻ quyền quí có sẵn quyền sanh sát trong tay.
Lại dạy:
- Nhà buôn giỏi khéo chứa của quí thì làm như người không có gì. Người quân tử thạnh đức, dung mạo như người ngu. Tánh khoe khoang, khí kiêu ngạo đã không ích cho đời mà còn hại cho thân.
Chuyện của Nễ Hành và Dương Tu là hai tấm gương làm sáng tỏ lời dại cổ nhân vậy.


bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-13 20:35:44diên vỹ>
Chớ Cậy Công


Những kẻ có công to thường bị người thủ lãnh giết hại khi đại sự đã thành, đó là vì kẻ có công hay cậy công.
Như trường hợp Văn Chủng và Câu Tiễn là một.
Câu Tiễn được Phù Sai tha cho về nước, lấy trận thua ở Cối Kê làm sỉ nhục, mới xây đắp thành trì tại Cối Kê rồi dời đô ra đóng ở đó để ghi nhớ thù xưa. Dời đô xong, Câu Tiễn giao quốc chính cho Văn Chủng và quân chính cho Phạm Lãi. Trong nước trăm họ an vui.
Câu Tiễn vì gấp muốn báo thù nên làm việc chăm chỉ suốt ngày đêm. Buồn ngủ thì lấy cỏ lục đánh vào mắt, chân lạnh thì lấy nước rưới vào. Mùa đông thường ngồi gần băng, mùa hạ thường ngồi bên lửa. Lấy củi có gai xếp làm gường nằm, bên chỗ ngồi treo một quả mật gấu, thỉnh thoảng nếm một chút để luôn luôn tưởng nhớ đến những nỗi cay đắng đã qua. Đêm nào cũng sụt sùi khóc và nhắc đến hai tiếng " Cối Kê "

Đối với dân, Câu Tiễn hết lòng khuyến khích việc sanh sản, việc sản xuất. Trong bảy năm ròng không thu thuế má và cùng dân chia sẻ nỗi vui buồn.
Tuy vậy không tháng nào không sai sứ sang cống hiến nước Ngô. Phù Sai khen Câu Tiễn là người trung thành, phong thêm đất cho nước Việt, Ngủ Viên chán ngán, cáo bệnh không vào triều.
Phù Sai nói với Bá Hi:
- Ngày nay nước mạnh, dân an, ta muốn mở thêm cung thất để lấy chỗ vui chơi, chẳng biết nên tìm chỗ nào?
Bá Hi thưa:
- Ngay nơi Đô thành nước ta, đài cao cảnh đẹp không đâu bằng Cô Tô. Nhưng các đời trước tạo thành nơi cụ lãm. Đại vương nên sửa sang lại, bề cao phải được trăng dặm, bề rộng có thể chứa được nghìn người. Rồi họp các ca nhi, vũ nữ để múa hát, tôi tưởng không còn gì thích thú hơn.

Phù Sai liền nghe theo.
Tin đồn đến nước Việt. Văn Chủng hay được vào tâu cùng Câu Tiễn:
- Tôi nghe nói con chim bay trên mây xanh chỉ chết vì miếng ăn ngon, con cá lặn dưới vực thẳm chỉ chết vì miếng mồi thơm. Đại vương muốn trả thù nước Ngô, sao không tìm xem vua Ngô ưa thích bả mồi nào để trị.
Câu Tiễn nói:
- Dẫu tìm được mồi ngon cũng khó có cách trị.
Văn Chủng thưa:
- Để phá nước Ngô, tôi nghĩ ra được bảy kế: 1/ Chịu tốn của để mua chuộc lòng vua Ngô. 2/ Lấy giá đắt mua thóc và cỏ của nước Ngô để nước Ngô khan hiếm. 3/ Đem mỹ nữ dâng vua Ngô để mê hoặc vua bỏ việc nước. 4/ Đem thợ khéo gỗ tốt sang dâng để vua Ngô lập cung thất, tốn hại của kho, dâng chúng khổ cực ta thán. 5/ Dùng kẻ mưu sỹ làm cho nước Ngô loạn. 6/ Hại kẻ trung thần nước Ngô để làm cho thế cô lực yếu. 7/ Chứa lương thảo, luyện binh tướng, đợi nước Ngô suy yếu, đem quân sang đánh.

Câu Tiễn khen và hỏi nên dùng kế nào trước. Văn Chủng đáp:
- Nay vua Ngô sắp sửa lại đài Cô Tô, ta nên tìm gỗ lớn đem dâng.
Câu Tiễn nghe lời, sai ba ngàn mộc công vào rừng tìm cây. Tìm ngót một năm trời mới gặp được hai cây thần mộc to 20 vi, cao 50 tầm. Một cây gọi là cây Tử, một cây gọi là cây Nam. Câu Tiễn truyền đốn về, dùng sơn xanh đỏ vẽ hình rồng hình rắn, rồi cậy Văn Chủng sang dâng cho Phù Sai.
Phù Sai được gỗ quí vui mừng khôn xiết. Ngũ Viên nói:
- Ngày xưa vua Kiệt làm Lịnh đài, vua Trụ làm Lộc đài, của kho hết sạch, dân chúng thán oán. Câu Tiễn muốn hại ta nên đem dâng hai cây ấy. Xin Đại Vương chớ dùng.

Phù Sai không nghe, truyền đem hai cây gỗ ấy sửa đài Cô Tô. Đài sử ngót năm năm mới xong, cao 300 trường rộng 84 trượng. Đứng trên đài có thể trông suốt hai trăm dặm xa. Trăm họ ngày đêm phục dịch, lao lực đau chết rất nhiều.
Nghe tin đài Cô Tô sửa sang xong, Câu Tiễn theo lời Văn Chủng phái một trăm người nội thị đi lẫn cùng bọn thầy tướng, len lỏi khắp nơi để tuyển mỹ nữ đem dâng cho Phù Sai. Mới nửa năm đã lựa được hai nghìn gái đẹp, trong số có hai người tuyệt sắc là Trịnh Đán và Tây Thi.
Hai nàng đều ở thôn Trử La. Nhà ở gần sông, ngày ngày cùng nhau đi giặt lụa. Má hồng trên nước biếc, chập chờn như hai đóa phù dung.
Khi Phạm Lãi vâng lệnh Câu Tiễn đến Trử La đón hai nàng về thì tất cả kinh thành nước Việt đều xôn xao trước sắc đẹp thiên kim. Thiên hạ tranh nhau đến xem mặt. Nhân cơ hội Phạm Lãi để hai nàng ngồi trong chiếc xe loan, hễ ai đến xem phải nạp một đồng tiền. Tiếng đồn khắp trong nước ngoài nước, người người đưa nhau đến xem đông như hội. Không mấy lúc mà tiền thu được dư muôn.

Câu Tiễn cho Tây Thi và Trịnh Đán ở riêng nơi Thổ thành, sai nhạc sư vào dạy múa hát. Sau ba năm, nghệ thuật tinh xảo, hai mỹ nhân được đưa sang hiến cho Ngô Phù Sai.
Phạm Lãi để Tây Thi và Trịnh Đán ngồi chung một xe, ngoài phủ rèm châu, hương xông ngào ngạt. Vừa trông thấy hai nàng, Phù Sai ngẩn ngơ nhìn không chớp mắt. Ngũ Viên bèn can:
- Nhà Hạ mất vì nàng Muội Hỷ, nhà Ân mất vì nàng Đắc Kỷ, nhà Châu mất vì nàng Bao Tự. Xem thế mỹ nhân là vật làm hại nước. Xin Đại Vương chớ dùng.
Phù Sai không nghe theo, truyền đưa hai nàng vào hậu cung.
Trịnh Đán và Tây Thi mỗi người đẹp mỗi vẻ. Nhưng Tây Thi có phần quyến rũ hơn, nói năng lại cũng hấp dẫn hơn nên được ở Cô Tô cùng Phù Sai, đi chơi đâu cũng dùng nghi vệ như Hoàng hậu. Còn Trịnh Đán thì ở Ngô Cung, ít được nhà vua săn sóc đến. Thương phậm hẩm hiu, Trịnh Đán ngậm buồn mà chết.
Từ khi được Tây Thi, Ngô Phù Sai dồn tất cả tình yêu thương cho nàng. Nhà vua lập ra Quán Khuê cung ở Linh Nhạn sơn, trang trí toàn bằng châu ngọc, để Tây Thi du ngoạn. Để nghe tiếng guốc nàng đi dạo, nhà vua sai đào hầm ở dưới hành lang rồi lớt ván lên trên, gọi là Hưởng Điệp lang. Quanh cung có ao thưởng hoa, gọi là Ngoạ Hoa trì, có ao thưởng nguyệt, gọi là Ngoạn Nguyệt trì, lại có tiếng gọi là Ngô Vương tĩnh, nước trong như lọc, thường ngày Tây Thi đứng tựa giếng mà soi. Ngoài ra còn những Tây Thi động để cho nhà vua và Tây Thi nghỉ mát; Thái Liên đình để nhà vua cùng Tây Thi hái sen; sông Cẩm Phàm là con sông đào dài hàng trăm dặm, hai bên bờ giăng gấm, để nhà vua cùng Tây Thi dong thuyền hứng mát; Trường Châu uyển là nơi săn bắn; Ngư thành để nuôi cá, Áp thành để nuôi vịt, Kê bi để nuôi gà, Tửu thành để uống rượu, Cầm đài để gảy đàn...Hết ngày này sang ngày nọ Phù Sai cùng Tây Thi ở luôn trên đài Cô Tô, vua hưởng lạc thú, không còn nghĩ gì đến việc nước việc dân. Ngũ Viên xin vào yết kiến luôn luôn bị từ chối không cho vào.

Câu Tiễn nghe tin Phù Sai say đắm Tây Thi bỏ cả quốc sự, bèn triệu Văn Chủng đến hỏi chước trả thù. Văn Chủng bày kế làm đói dân nước Ngô, làm cho kẻ trung thần nước Ngô bị nhà vua làm hại....Câu Tiễn nghe theo lời, rồi kéo quân đánh thắng nước Ngô, bắt giết Phù Sai tại đất Vu Toại.
Câu Tiễn phủ dụ dân Ngô rồi cùng các vua nước Tề, Tấn, Tống, Lỗ hội ở Thư Châu và sai người đem lễ vật vào cống hiến Thiên tử nhà Châu. Châu Nguyên vương sai sứ đem cổn miện ban cho Câu Tiễn và phong làm Bá Chủ Đông Phương. Chư hầu đều đến chúc mừng.
Câu Tiễn mở tiệc nơi cung Văn Đài của nước Ngô để cùng tướng sỹ ăn mừng trước khi về nước. Các quan ai nấy đều vui và đều ca tụng công lao Văn Chủng và Phạm Lãi. Câu Tiễn tỏ vẻ không bằng lòng. Phạm Lãi tự nghĩ:

- Lúc việc đã thành rồi, Đại Vương không muốn nói đến công kẻ hầu người hạ. Như thế là mối nghi kỵ đã chớm nở trong lòng.
Ngày hôm sau, vào bát yết Câu Tiễn và thưa:
- Tôi nghe nói hễ vua nhục thì bề tôi phải chết. Ngày trước Đại Vương bị nhục ở Cối Kê mà tôi không chết là cố ẩn nhẫn để báo thù nước Ngô. Nay nước Ngô đã diệt rồi, xin Đại Vương gia ân cho thân già này được về an nghỉ.
Câu Tiễn thở dài nói :
- Ta nhờ nhà ngươi mới gây dựng được cơ nghiệp như thế này. Ta đương nghĩ cách đền ơn, cớ sao mà ngươi nỡ bỏ ta mà đi? Nếu nhà người ở lại, ta sẽ giao quyền chính cho, bằng bỏ đi ta sẽ giết vợ con nhà ngươi hết.
Phạm Lãi thưa:

- Giết tôi còn hơn, chứ vợ con tôi có ích gì ?
Đêm hôm ấy, Phạm Lãi đi một chiếc thuyền nhỏ, qua Tam Giang vào Ngũ Hồ, nghìn trùng mây nước...
Câu Tiễn hay tin, sai Văn Chủng đuổi theo bắt Phạm Lãi.
Đi được nửa đường, Văn Chủng lượm được một bức thư, nhận thấy rõ là chữ của Phạm Lãi, nét mực vừa khô. Thư rằng:
"Vua Việt môi dài miệng nhọn. Đó là tướng người chịu nhẫn nhục nhưng ghét kẻ có công lao. Lúc hoạn nạn cùng ở thì được, chứ lúc an lạc thì thân không thể toàn. Nay ngài không đi ngay tất sẽ có tai hoạ".
Văn Chủng tự nghĩ:
- Phạm Lãi nhận xét vua Việt như thế thì là quá đáng. Lẽ nào con người đủ chí khí báo thù, lập nên bá nghiệp, lại không có trí sáng suốt hay sao.

Rồi không đuổi theo nữa.
Mấy hôm sau Câu Tiễn rút quân về nước, đem cả Tây Thi theo. Vợ Câu Tiễn mật sai người bắt Tây Thi bỏ vào bao da thả xuống sông Tiền Đường, lấy cớ rằng " là vật vong quốc không nên để".
Câu Tiễn về nước, lo sửa sang dinh thự, không nói gì đến việc ban thưởng các triều thần có công giữ nước và các tướng sĩ có công đánh giặc. Các đại thần kẻ thì giả điên từ chức, kẻ thì cáo lão xin hưu. Văn Chủng nhớ lời Phạm Lãi cáo bệnh không vào triều. Câu Tiễn vốn biết tài kinh tế của Văn Chủng, tự nghĩ:
- Nay nước Ngô đã diệt rồi, còn dùng hắn làm chi. Nếu một mai hắn làm phản thì còn ai trị nổi ?
Một hôm Câu Tiễn đến thăm Văn Chủng. Văn Chủng giả đau, gượng dậy thủ lễ. Ngồi nói chuyện hồi lâu, Câu Tiễn cởi thanh kiếm để trên án và nói:

- Kẻ sĩ không sợ chết mà chỉ sợ không làm xong bổn phận. Nhà người trước kia giúp ta bảy chước để diệt Ngô. Ta chỉ dùng có ba chước mà nước Ngô đã bị diệt. Vậy còn bốn chướng nhà ngôi định dùng làm gì?
Văn Chủng không hiểu ý thật thà đáp:
- Tôi cũng chẳng biết dùng vào việc gì cho có lợi.
Câu Tiễn nói:
- Tiền nhân nước Ngô ở nơi cửu tuyền hẳn đương cần.
Nói đoạn lên xe ra về, bỏ thanh kiếm lại.

Văn Chủng cầm kiếm xem, thấy nơi vỏ kiếm có khắc hai chữ "Trúc lâu", biết là thanh kiếm của Phù Sai đã đưa cho Ngũ Tử Tư tự tử. Văn Chủng ngửa mặt lên trời than:
- Chao ôi! Đứa nhục tử này đã không nghĩ đến công lao còn muốn lấy oán mà trả. Ta không nghe lời Phạm Lài để ngày nay phải chết. Như vầy thật là ngu!
Than xong cầm kiếm tự vẫn.
Câu Tiễn vui mừng đem thi hài chôn nơi Ngoạ Long sơn.
Người đời đều chê Câu Tiễn là kẻ vong ân. Nhưng riêng gì kẻ "môi dài miệng nhọn " ấy. Lưu Bang giết Hàn Tín, Triệu Khuôn Dẫn giết Trịnh Ân ...và ở nước ta Lê Lợi tru đi Phạm Văn Xảo, bức tử Trần Nguyên Hãn, tống lao Nguyễn Trãi, Nguyễn Ánh giết Nguyễn Văn Thành.....Những người bị giết kia công lao có thua gì Văn Chủng...., và cũng như Văn Chủng họ bị giết là vì tự hào công lao của mình nên lắm khi tỏ ý ngạo nghễ. Mà kẻ bề trên hầu hết đều không muốn có người công đức hơn mình và rất ghét những người cậy công và ngạo nghễ.

Cho nên kẻ có công lớn mà muốn hưởng trọn tuổi trời thì một là không nên nghĩ đến công lao của mình, hai là hễ công thành thì than thối. Phạm Lãi đời Đông Châu và Trương Lương đời Tiền Hán là hai tấm gương sáng của nghìn muôn thu.


bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-13 20:35:59diên vỹ>
Sự Thật


Tục ngữ có câu: "Tốt khoe, xấu che ".
Cho nên những cái xấu trong thiên hạ thường bị che giấu, khiến sự thật ít trược trình bày đúng cả trăm phần trăm.
Nhưng một nhà văn Pháp nói rằng:
- Không có sự bí mật nào mà thời gian không phát giác. (Il n'y a pas de secret que le temps ne révèle).
Nghĩa là đã là sự thật thì có che giấu thế nào đi nữa, cuối cùng cũng bị tiết lộ.
Trong thần thoại Hy Lạp có câu chuyện rằng:
Thần Appollon nổi tiếng về đàn Thất huyền.

Pan có tài thổi địch.
Hai bên đua tài, cậy vua xứ Phrygie là Midas làm trọng tài. Midas không biết rằng lẽ phải nhiều khi không nên đem áp dụng với kẻ có quyền thế, khi kẻ quyền thế không muốn lẽ phải ấy là lẽ phải. Thêm nữa Midas lại muốn tỏ cho thiên hạ biết rằng mình là kẻ công bình chính trực, không hề vị nể ai. Bởi vậy mới long trọng tuyên bố, sau khi nghe hai bên trổ tài, rằng nghệ thuật của Pan tuyệt vời, Appollon không sao sánh kịp. Appollon giận, hét lớn:
- Có giá trị gì lời phán đoán của một thằng điên, một con lừa!
Midas hoảng kinh, chạy một mạch về cung đóng kín cửa lại, khóa ba lớp khóa, rồi lên gường trùm chan, nằm co rút, hai tay ôm chặt hai lỗ tai để khỏi nghe tiếng hét luôn luôn vang dội. Chẳng ngờ hai lỗ tai hất mạnh hai tay và mọc dài ra như hai tai lừa! Đó là thần trả thù cho bõ ghét.

Để cho thần dân không trông thấy hình dáng xấu xa, nhà vua sắm một vương miện tuyệt đẹp, có hai cánh gà bằng vàng khảm ngọc, khi đội lên thì che khuất hai tai. Nhà vua chỉ cởi vương miện trong khi đi ngủ. Nhưng tóc mỗi ngày mỗi dài, đâm vào cổ nhột nhạt khó chịu, nên gọi thợ cạo vào phòng vắng, lấy vương miện xuống cho người thợ hớt. Hớt xong nhà vua thưởng rất hậu và dặn:
- Nếu nhà ngươi không kín miệng thì bay đầu.
Người thợ cạo giơ tay thề " trung thành".
Nhưng giữ mãi đều bí mật ở trong lòng không phải là dễ, nên được ít lâu thì người thợ cạo thấy ngứa ngáy lỗ miệng. Mỗi ngày ngứa mỗi thêm. Sau cùng không còn chịu nổi, anh ta phải đào một lỗ sau ở một nơi xa vắng, rồi chõ miệng vào lỗ nói nhỏ rằng:
- Midas, nhà vua Midas có đôi tai lừa.

Nói xong lấp lỗ lại, ra về, chắc bụng rằng không một ai nghe biết. Chẳng ngờ ở dưới đáy lỗ có một mầm lau nghe được. Cách ít lâu mầm mọc lên khỏi mặt đất và lớn dần. Trông thấy cây cối quanh mình không có chuyện gì để nói, khóm lau muốn đem điều bí mật mình đã nghe được ra khoe. Nhưng để giữ tánh cách bí mật, khóm lau đợi ngọn gió thổi, nghiêng mình sát bên một khóm lách, rì rào:
- Midas, nhà vua Midas có đôi tai lừa.
Để tỏ rằng mình biết được những điều mà xưa nay chị em chưa biết, khóm lách bèn rỉ tai cùng khóm trúc:
- Midas, nhà vua Midas có đôi tai lừa.
Khóm trúc thích thú quá liền nghiêng qua nói khẽ cùng khóm tùng, rồi khóm tùng chuyền sang qua rặng phi lao. Từ ấy mỗi lần ngọn gió thổi qua thì rặng phi lao chấu đầu lại thì thầm:
- Midas, nhà vua Midas có đôi tai lừa.

Các bà đi chợ nghe được, người này thì thầm bảo người kia, người kia bảo người nọ, không bao lâu cả thế giới đều biết rằng nhà vua Midas có đôi tai lừa!
Thế là sự thật bị bại lộ.
Nhưng cũng may là hai tai lừa của vua Midas không bị thêm cách thêm lông, nghĩa là sự thật không bị xuyên tạc.
Nhiều khi sự thật chỉ bằng con kiến mà dư luận biến thành con voi chính ngà có cả bành cả lọng. Để chế nhạo tánh hay thổi phồng ấy, một nhà ngụ ngôn có câu chuyện rằng:
Một con thỏ nằm ngủ gốc cây đa. Một quả đa chín rụng nhằm xuống mũi. Thỏ giật mình tỉnh giấc, hốt hoảng bỏ chạy. Giữa đường gặp bầy chồn chận lại hỏi. Thỏ vừa thở vừa nói :

- Tao nằm ngủ dưới gốc đa làng Mỗ. Thình lình nhánh đa to nhất bị gãy rớt xuống chính chỗ tao nằm. May tao nhanh chân chạy khỏi, nếu chậm một chút thì xương thịt nát như tương rồi chớ còn gì! Chao ôi! Dễ sợ quá!
Nói xong vụt chạy. Bầy chồn tự nhiên thấy sợ, rùng rùng tìm đường chạy trốn. Một bầy hươu chận đường hỏi nguyên do. Bầy chồn đáp:
- Cây đa làng Mỗ trốc gốc. Nếu con thỏ không lanh lẹ thì bị nát thây rồi! Dễ sợ quá!
Nói rồi hối nhau chạy. Bầy hươu thấy thế cũng đâm hoảng, liền cất vó sải nhanh. Vào rừng sâu gặp giống thú nào cũng đem tin cây đa làng Mỗ bị trốc gốc ra nói. Nhưng nghĩ rằng không lẽ tự nhiên mà cây đa trốc gốc, bầy hươu bèn thêm nạn động đất vào làm nguyên nhân. Thú lớn thú nhỏ trong rừng sâu nghe tin động đất ở làng Mỗ thì hết hồn, và làng Mỗ cách rừng không lấy làm xa, nên kéo nhau ra tản cư hết thảy!

Tục ngữ có câu: "Kiến đẻ ra voi", là vậy đó.
Việc đời " Kiến đẻ ra voi " không phải là việc hiếm.
Cho nên khi nghe tin đồn chớ nên tin vội.
Nói thì dễ nhưng thực hiện không phải dễ đâu.
Như chuyện Tăng Sâm giết người thời Chiến Quốc.
Tăng Sâm có tiếng là người hiền.
Một hôm bà mẹ đương ngồi dệt, một người láng giềng đến bảo:
- Tăng Sâm giết người, bà có biết chăng ?
Bà cụ không đáp, lặng lẽ ngồi dệt. Hồi lâu một người thứ hai đến bảo:
- Tăng Sâm giết người, bà không hay sao?

Bà cụ dừng thoi, ngó người đem tin, rồi lại tiếp tục dệt. Kế đó một người thứ ba, hớt hải chạy đến nói:
- Tăng Sâm giết người, đã bị bắt rồi. Sao bà không lo thoát thân?
Bà cụ liền quăng thoi, chạy trốn.
Sau đó mới hay rằng việc giết người quả có thật, nhưng thủ phạm không phải Tăng Săm mà là một người khác trùng tên khác họ.
Nghĩ không ai biết con bằng mẹ, thế mà đến ba tin báo dữ cũng phải tin rằng con mình đã làm chuyện tày trời huống nữa đối với những người không phải là ruột thịt.
Xét cho kỹ trong chuyện Tăng Sâm giết người, chỉ sai có tên người thủ phạm, chớ sự thật vẫn không sai. Cho nên không nên tin hẳn dư luận, mà cũng không nên khinh.
Bất kỳ trong trường hợp nào, trong những cái sai đều có ít nhiều sự thật. Và trong những việc mà nhiều người quả quyết rằng đúng sự thật một trăm phần trăm, vẫn có ít nhiều chân rắn. Muốn rõ sự thật, thì phải tự mình tìm lấy, và khi tìm phải vút bỏ những thành kiến đã có sẵn, phải vứt bỏ lòng thương ghét đã có sẵn, thì mới có thể tìm thấy được sự thật trong thực tại khách quan.


bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-13 20:36:16diên vỹ>
Thật Giả Khó Phân


Ca dao có câu:
      Trông anh, em ngỡ sao mai,
      Biết rằng trong có như ngoài hay không ?

    Nghi ngờ như thế, bởi vì ở đời thường thường cái hình thức bên ngoài không phản ánh đúng cái thực tế bên trong, mà chẳng những không tương xứng, nhiều khi lại còn tương phản là khác.
    Như chuyện quả cam của Lưu Cơ đời nhà Minh.
    Chuyện rằng:

    Ở Hàng Châu có người bán trái cây, khéo để dành cam, lâu mà không úng, vỏ vẫn đỏ hồng, trông đẹp như vàng như ngọc. Cam đem ra chợ bán, giá rất đắt, mà người ta tranh nhau mua như trang lúc gạo năm mất mùa. Lưu Cơ mua thử một quả, đem về bóc ra, mùi hôi xông lên mũi, múi xác như bông nát. Lưu Cơ liền đem ra chợ, hỏi người bán cam:
    - Anh bán cam cho người ta để cúng, hoặc để đãi tân khách, hay mục đích của anh chỉ làm cho người ta choáng mắt vì bề ngoài để đánh lừa mà trục lợi ? Tệ thật! Anh giả dối quá lắm!
    Người bán cam cười, nói :
    - Tôi làm nghề này đã lâu năm, để kiếm tiền nuôi thân. Tôi bán người ta mua. Chẳng ai nói gì, chỉ có ông kêu ca, cự nự! Thiên hạ giả dối nhiều, đâu phải riêng tôi ? Ông thật không chịu nghĩ đến nơi ...Này thử xem: - Người đeo hổ phù, ngồi da hổ, hùng dũng trông ra dáng quan võ lắm, kỳ thiệt không biết có giỏi được như Tôn Tẫn, Ngô Khởi chăng? - Người đội mũ cao, thắt đai dài, đường hoàng trông ra dáng quan văn lắm, kỳ thiệt không biết có giỏi được như Y Doãn, Cao Dao chăng? Giặc nổi không biết dẹp, dân khổ không biết cứu, quan lại tham nhũng không biết trừng trị, pháp độ hỏng nát không biết sửa đổi, ngồi không ăn lương không biết xấu hổ. Thế mà lúc ngồi công đường, đi xe ngựa uống rượu ngon ăn của quí, oai vệ hách dịch vô cùng! Đó bề ngoài chẳng như vàng như ngọc, mà bề trong chẳng như bông nát là gì? Ông không chịu xét những hạng người ấy mà đi xét quả cam của tôi!
    Lưu Cơ nghe nói, không đáp được lời nào, lẳng lặng ra về, chép câu chuyện để phổ biến trong dân gian và lưu truyền hậu thế:
    Thật là:
        Nhác trong ngỡ tượng tô vàng,
        Nhìn xem mới biết chẫu chàng ngày mưa!

      Vì ở đời có nhiều trường hợp " tốt mã rã đám " như vậy, cho nên người ta hay sợ bề ngoài. Quá sợ bề ngoài cũng như quá tin bề ngoài, thường bị bề ngoài làm sai lạc trí xét đoán.
      Muốn thấy được chân tướng của mọi sự mọi vật, chúng ta nên mở rộng tầm mắt, mở rộng cõi lòng, vứt bỏ tất cả những thành kiến. Ở đời có khi bề ngoài tốt mà bề trong xấu, như quả cam của Lưu Cơ; nhưng nhiều khi ở ngoài xấu ở trong tốt, như viên ngọc của Biện Hoà đời Chiến Quốc.
      Rằng:

      Ở nước Sở có người tên là Biện Hòa lượm được một viên ngọc phác ở tại Kim Sơn, bèn đêm dâng cho Sở Vệ Vương. Vệ Vương sai thợ ngọc xem, thợ ngọc thấy hình dáng sù sì liền tâu rằng là một viên đá. Vệ Vương nổi giận, cho Biện Hòa là kẻ khi quân, truyền đem chặt một chân bên tả.
      Vệ Vương mất, Vô Vương lên ngôi, Biện Hòa lại đem dâng ngọc. Võ Vương sai thợ ngọc xem. Thợ ngọc cũng bảo : "Đá, chớ không phải ngọc". Vì vậy nên vua sai chặt nốt chân bên hữu của Biện Hòa.
      Rồi Võ Vương qua đời, Văn Vương kế vị, Biện Hoà lại muốn đem dâng ngọc, nhưng không làm sao đi được bèn ôm viên ngọc lăn khóc ở chân núi Kim Sơn, khóc suốt ba ngày đêm, máu tuông theo nước mắt. Có người đến hỏi:

      - Hai lần đem dâng ngọc, hai lần bị chặt chân. Đã thế thì thôi, còn tiếc gì mà khóc ?
      Biện Hòa đáp:
      - Không phải tôi mong được thưởng, mà chỉ tiếc rằng nước, đã trải mấy đời vua, nhưng trong nước không ai phân biệt được ngọc và đá. Lòng ngay lại bảo là gian! Thói đời quá điên đảo! Vì thế nên tôi khóc!
      Có người đem lời nói của Biện Hòa thuật lại cùng Sở Văn Vương. Văn Vương thương tình, sai người lấy viên ngọc phác phá ra xem thì bên trong quả có một viên ngọc toàn hảo, áng sáng lóng lánh chiếu đủ màu sắc. Văn Vương mừng rỡ, đặt tên là " Ngọc Bích họ Hòa " và cho Biện Hòa được ăn lộc Đại Phu suốt đời.

      Như thế thì cái hậu vận của Biện Hòa cũng còn khá.
      Có nhiều trường hợp xét đoán lầm mà làm thiệt hại người ngay mới là tội nghiệp, nhưng trường hợp ông Trưởng giả ở vùng Lê Khưu trong sách Lã Tử.
      Rằng:
      Ở gò Lê Khưu thuộc huyện Ngu Thành tỉnh Hà Nam, có giống quỉ giả người rất giống.
      Một hôm, một ông Trưởng giả ở vùng ấy đi chợ đánh chén. Lúc trở về ông cụ say ngả nghiêng ngả ngửa. Đi qua gò, quỉ hiện hình đứa con trai ông cụ, đến dìu đỡ, nhưng tay ôm lưng, miệng lại kề bên tai mắng nhiếc thói say sưa.
      Về nhà, khi tỉnh rượu, Trưởng giả gọi con ra mắng:
      - Tao là cha mày, dù có điều gì ác nghiệt, lúc tao say mày cũng lơ mới phải. Có sao mày nỡ mai mỉa tao đủ điều?
      Người con khóc, lạy cha và thưa rằng:

      - Oan quá! Thật không bao giờ con dám như thế. Con nghe đâu ở gò Lê Khưu có giống quỉ khéo bắt chước giả hình người giống như đúc. Có lẽ chúng đấy chăng?
      Trưởng giả đi dò hỏi, thì quả nhiên có thế thật. Ông cụ tức lắm, định bụng hễ gặp giống quỉ ấy thì giết ngay.
      Hôm sau, ông cụ lại đi chợ, lại đánh chén say khướt mới về. Người con sợ cha lại gặp quỉ nữa, bèn đi đón, Trưởng giả thấy con, nhưng cho là quỉ giả dạng, liền rút gươm đâm. Người con bất ngờ bị thiệt mạng!

      Chao ôi! Khó thật! Làm thế nào mà phân biệt được giả chân? Trên trường đời, kẻ gian xảo thì rất khôn ngoan quỉ quyệt. Chúng đã rắp tâm lừa ai thì dùng thiên phương bách kế của giống quỉ gò Lê Khưu, cho nên những người con có hiếu cùng Tổ Quốc lắm khi cũng có phần lo ngại rủi gặp phải những vị trưởng giả uống rượu say.
      Nhưng nghĩ đến câu : "Il n'y a pas de vérité que le temps ne révèle", nghĩa là "không có sự thật nào mà thời gian không phát giác" mà câu chuyện quả cam của Lưu Cơ, viên ngọc của Biện Hoà đã chứng minh, người có lương tâm vẫn yên tâm mà làm những việc có lợi cho nhân dân Tổ Quốc.
          Chớ ngại đường khuya không ánh đuốc
          Trời cao trăng sáng vẫn nghìn thu



        bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-13 20:36:30diên vỹ>
Giống Mình Khác Mình


Quan Đại Phu nước Tần thời Chiến Quốc, họ Tử Xa, có con lợn nái sắc đen toàn, đẻ một lứa ba con, hai con giống me, một con loang lổ. Lợn nái nuôi hai con giống mình rất chăm chỉ cẩn thận, hơi một tí cũng lo sợ. Còn con lợn loang lổ thì ghét bỏ, sau cắn chết, xé cả gan ruột.
Đó là tâm thuật của loài vật.
Nhưng loài người cũng vẫn có trường hợp như thế. Như chuyện Doãng Văn Tử đời Xuân Thu.
Doãn Văn Tử sanh một đứa con đầu lòng, không thấy giống mình, lấy làm giận lắm, thường đánh đập luôn. Một hôm đang cầm gậy đánh, thấy thầy Tử Tư đến chơi, bèn nói:
- Nó không giống tôi, không phải con tôi. Tôi chắc mẹ nó ngoại tình mà đẻ nó ra, nên tôi muốn đuổi hai mẹ con đi.

Tử Tư mĩm cười, hỏi:
- Cứ như ông nói thì vợ vua Nghiêu vua Thuấn cũng đáng ngờ lắm ư ?
Doãn Văn Tử đáp:
- Sao lại ngờ được ?
Tử Tư ôn tồn nói:
- Vua Nghiêu vua Thuấn là bậc thánh đế mà sao đẻ ra Đan Chu và Thương Quân lại không bằng kẻ thất phu. Như thế thì con cứ gì phải giống cha? Đạo thường thì phần nhiều cha mẹ làm sao sanh con ra làm vậy. Nhưng cha hiền mà sanh con ngu, thì cũng là cái thế tự nhiên như thế, chớ phải lỗi tại người vợ đâu.

Doãn Văn Tử nghe hiểu, nói rằng:
- Xin ông đừng nói nữa.
Và từ ấy ăn năn, thương yêu đứa con và bỏ lòng ngờ vực vợ .
Nếu không gặp thầy Tử Tư thì làm gì Doãn Văn Tử không phạm phải tội con lợi nái đã phạm.
Tử Hoa Tử bàn rằng :
- Gớm thay tâm thuật hay chuyển di. Mắt đã mờ về kẻ giống mình hay khác mình, thì bụng sanh ra có kẻ yêu kẻ ghét. Đã ghét đến con đẻ mà cũng hại huống chi là người khác máu. Người đời lúc bình cư, thì âu yếm thân thiết, thề ước cùng nhau kiên cố tưởng keo sơn cũng không bằng. Khi lâm đến thế Lợi, chỉ chênh nhau bằng sợi tơ sợi tóc, thì mặt đã đổi sắc, cơn giận nổi lên, và tìm cách tàn hại nhau ngay lập tức. Gớm thay !Tâm thuật chuyển di, tưởng chẳng khác gì con lợi nái của Tử Xa vậy
Lời bàn chí lý.

Nhưng thế thường trong thiên hạ, hễ khác mình thì sanh lòng ghét. Có biết đâu cái đáng sợ ở đời lại chính những cái giống mình. Để chứng minh, tôi xin kể hai chuyện trong sách Duyệt Vi rằng:
Tại lầu sách nhà kia có con hồ tinh không hiện hình ra bao giờ, nhưng thường hay trò chuyện cùng người trong lầu. Lời nói rất lý thú, ai nghe cũng phải phục.
Một hôm tân khách hợp đông, có con hát mời rượu, đờn địch rất vui. Mọi người giao ước với nhau rằng " Ai sợ gì thì nói ra, nếu nói vô lý thì phải phạt rượu" . Cử tọa lần lượt nói, nào sợ người học rộng, nào sợ người giàu có, nào sợ người làm quan to, sợ người nịnh giỏi, sợ người kiêm tốn quá, sợ người lễ phép câu nệ quá, sợ người thận trọng ít nói, sợ người hay nói nửa chừng ...Sau cùng hỏi đến hồ tinh, thì hồ tinh đáp:
- Ta chỉ sợ hồ tinh thôi.
Ai nấy đều cười bảo:
- Người ta sợ hồ tinh mới phải, chớ anh là đồng loại can gì mà lại sợ ? Phạt anh một chén rượu.

Hồ tinh cười ha hả rồi đáp:
- Thiên hạ duy có đồng loại là sợ nhau. Con cùng cha mới tranh giành gia sản; gái cùng chồng mới hay ghen tuông; kẻ tranh quyền nhau tất là quan lại đồng triều, kẻ tranh lợi nhau tất là lái buôn một chỗ. Bức nhau thì trở ngại nhau. Mà trở ngại nhau thì tất khuynh loát nhau. Này thử xem có phải người bắn trĩ thì dùng con trĩ làm mồi, chớ không dùng gà , ngỗng; người săn hươu thì dùng con hươu làm mồi chớ không dùng con dê, con lợn. Phàm những việc phản gián đều phải dùng đồng loại cả. Cứ thề mà suy thì tài nào mà hồ lại chẳng sợ hồ ?
Cử tọa đều cho câu nói của hồ tinh là xác đáng.
Lại cũng một năm có người trốn tránh quân thù nghịch, đến ẩn núp ở một nơi núi thẳm hang cùng. Một đêm gió mát trăng trông, người ấy chợt thấy một con ma đi vơ vẩn quanh gốc cây dương liễu gần bên hang. Anh ta sợ quá nằm phục xuống, không dám trở dậy.

Con ma thấy thế lại gần bảo:
- Sao không ra đây mà chơi ?
Anh ta rung cầm cập, thưa:
- Lạy ông con sợ ông lắm.
Con ma nói:
- Sao mà gàn thế? Việc chi mà sợ ? Kẻ đáng sợ chính là loài người kia chớ.
Người kia vẫn không dám ngước mặt lên. Ma lại nắm tay kéo dậy, vừa cười vừa nói:

- Sao lại sợ ma ? Ma đã làm gì bác ? Làm bác đến nỗi điên bái cơ cực như thế này, là ma hay là người ?
Nói xong cười lớn, rồi biến mất.
Nghe những chuyện trên, Tiên Liêu Tử hỏi Tây Phương Sóc rằng:
- Như thế là nên ghét kẻ giống mình hay nên yêu ? Nên sợ kẻ giống mình hay nên thân ?
Tây Phương Sóc vỗ nơi trán ba cái, vỗ nơi bụng ba cái, rồi ngữa mặt lên trời than rằng:

- Ghét thì bất công, yêu thì bất lợi; sợ thì vô lý, thân thì vô duyên.
Tiêu Liêu Tử thấy thế dậm chân nói :
- Như vậy tôi biết làm sao mà sống cho phải đạo ?
Tây Phương Sóc nơi cổ đeo một xâu ngọc trai bèn cởi ra vất nơi đường, và nói:
- Không nên quí những gì thế nhân đua nhau quí chuộng. gạt bỏ trí thức hẹp hòi thường phân chia nhân và ngã. Mở rộng cõi lòng để đón tất cả mọi tấm lòng người khác. Nghĩa là đừng coi cái bị thịt thúi tha này là quí, đừng để cái bụng chất chứa những nhơ bẩn kia sai khiến mình. Như thế là sống phải đạo.


bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-13 20:36:47diên vỹ>
Giá Trị Của Sự Vật Trong Thế Gian

Ở đời không có gì là tuyệt đối.
Mọi sự mọi vật có giá trị, giá trị cao hay thấp, hoặc không có giá trị, là tùy người, tuỳ cảnh , tùy lúc.
Đối với " thằng bờm cầm cái quạt mo" thì ba bò chính trâu không giá trị bằng cục xôi.
Còn lạc bước trong bãi sa mạc mênh mông, bụng đói hầu khát, thì lẽ tất nhiên bao chà là có giá trị hơn bao ngọc quí bội phần.
Cho nên những kẻ có tài năng, muốn đem thi thố tài mình, phải hiểu biết nhân tâm và thời thế.
Câu chuyện sau đây là một tấm gương: Rằng:

Vua nước Tề thích nghe sáo. Một anh chàng mong cầu chút công danh, đem đàn đến đứng trước cửa đền vua mà gảy. Gảy luôn ba năm mà vua không hỏi tới. Anh chàng giận lắm, gắt lên rằng:
- Ta đánh đàn đến cả quỉ thần cũng phải say mê. Thế mà vua không biết cho ta!
Một ông lão nghe nói, cười lớn:
- Đem đàn gảy cho người thích sáo nghe, mà cầu cho người ta ưa mình, thì thật là bất trí ! Sao bác không sang nước Tấn gảy cho vua Tấn nghe.
Anh chàng theo lời.
Vua Tấn vốn rành âm luật, vừa nghe qua mấy khúc liền vời anh chàng vào phong làm nhạc sư được tự do ra vào nơi cung cấm. Được ít lâu người ái phi của vua mất, lòng vua buồn bã, muốn nghe những khúc bi ai. Anh chàng lại chỉ sở trường những ngón đàn tươi sáng. Vì thế mà bị thải hồi. Anh chàng bèn trở về nước Tề, lòng buồn lộ ra nét mặt. Ông lão ngày trước đến bảo:

- Bác là người có tài , thì giá trị của bác đâu phải ở chỗ được vua dùng hay không được vua dùng. Bác không nghe chuyện Trang Chu sao ?
Anh chàng hỏi:
- Chuyện thầy Trang Chu như thế nào ?
Ông lão đáp:
- Thầy Trang Chu câu ở sông Bộc, vua Sở sai quan Đại Phu đến thưa trước rằng: " Xin đem đất để phiền ngài ". Thầy Trang chẳng quay lại, vừa câu vừa nói: " Tôi nghe nước Sở có rùa Thần, chết đã ba nghìn năm. Nhà vua đựng vào hòm vải, cất ở miếu đường. Xin hỏi: Con rùa ấy mong chết để lại bô xương quí giá, hay mong sống mà lê đuôi ở trong bùn lầy?" Quan Đại Phu đáp: "Mong sống mà lê đuôi trong bùn lầy". Thầy Trang liền nói: " Vậy ông hãy đi thôi. Tôi sẽ lê đuôi ở trong bùn lầy ".

Lại một lần khác, thầy Trang sang thăm thầy Huệ làm Tể Tướng ở nước Lương. Có kẻ bảo cùng thầy Huệ rằng thầy Trang muốn đến thay thầy. Thầy Huệ sợ, ôm tướng ấn xuống giếng trốn ngót ba đêm ba ngày. Thầy Trang tìm được, bảo:
- Phương nam có giống chim tên là Uyên Sồ, bác có biết chăng? Uyên Sồ cất cánh từ biển Nam bay sang biển Bắc. Phi ngô đồng chẳng đậu, phi hạt luyện chẳng ăn, phi suối trong chẳng uống. Uyên Sồ bay ngang qua một gò nhỏ. Lúc ấy có con cú vừa vớ được con chuột chù, trông thấy Uyên Sồ, sợ bị cướp mất mồi, liền xù lông, ngửng cổ lên kêu "hoé" một tiếng não nuột. Nay bác muốn đem nước Lương nhà bác mà "hóe " tôi sao ?
Kể đến đó, ông lão nhìn anh chàng, cười, rồi nói tiếp:
- Dưới con mắt của kẻ trí thức, ngôi tể tướng còn chẳng có giá trị gì huống hồ địa vị nhạc sư của bác. Sao bác lại mừng vì được mà buồn vì mất ?

Anh chàng có ý thẹn. Ông lão tiếp luôn:
- Chẳng những ngôi tể tướng không đáng quí, mà cả ngôi cửu ngũ cũng không đáng quí nốt, nếu chịu khó nghĩ cho kỹ thấy cho xa. Có lẽ bác đã có nghe chuyện vua Nghiêu nhường thiên hạ ?
Vua Nghiêu biết Hứa Do là người hiền, liền mời đến nhường thiên hạ. Vua nói: " Khi mặt trời mặt trăng đã mọc mà cứ cầm đóm đuốc soi thì chẳng cũng khó lắm ru! Khi mong mưa mà trời đã mưa, còn cứ múc nước dội, như thế chẳng cũng nhọc lắm ru! Nay đã có ngài ra đời, đức thịnh tài cao, thiên hạ tự khắc cảm hoá bình trị, thế mà tôi còn giữ lấy thiên hạ. Như vậy nên tôi tự nghĩ còn kém lắm. Xin nhường thiên hạ cho Ngài ". Hứa Do đáp:

- Nhà ngươi trị thiên hạ đã được bình trị, mà ta còn thay nhà ngươi, như thế chẳng là ta không có cái thực làm cho thiên hạ bình trị, mà lại đi nhận cái danh bình trị thiên hạ ư ? Vả danh là khách của thực, nếu không có thực mà lại mang lấy danh, thì chẳng hóa ra ta làm người khách không có chủ ư ? Con chim làm tổ ở rừng chẳng qua chỉ một cành cây, con chuột uống nuớc ở sông chẳng qua chỉ đến no bụng. Thôi nhà ngươi cứ về mà trị lấy thiên hạ, ta có dùng thiên hạ làm gì? Người nhà biếp mà chẳng trông nom việc bếp, thì người giữ việc tế tự cũng chẳng có thể bỏ đèn hương mà làm thay cho được.
Vua Nghiêu đôi ba phen nài nỉ thêm. Hứa Do phất tay áo đứng dậy bỏ đi, ra đến sông Dịch, xuống bến rửa tai. Lúc ấy Sào Phủ cũng dắt trâu xuống sông cho uống nước, thấy Hứa Do đương rửa tai, bèn hỏi duyên cớ. Hứa Do thuật chuyện lại. Sào Phủ vội kéo trâu lên. Hứa Do ngạc nhiên hỏi. Sào Phủ đáp : " Ta định cho trâu ta uống nước. Nhưng nuớc sông Dịch đã bị tai ông làm bẩn, nên ta không nở để bẩn lây đến mồm trâu ta" .

Anh chàng nhạc sư nghe chuyện thở dài:
- Những bậc thánh hiền, ai mà theo kịp.
Ông lão đáp:
- Không phải ai ai cũng có thể làm được hiền được thánh. Nhưng ai nấy đều có thể lấy hiền thánh mà tự kỳ. Huống nữa người có tài lớn đức lớn, thì có giá trị lớn, người có tài nhỏ đức nhỏ, thì có giá trị nhỏ. Mà rằng lớn rằng nhỏ lấy chỗ tương đối mà nói, chớ đối với chỗ vô cùng thì cái lớn nhỏ kia có nghĩa lý gì. Vì không hiểu thấy lẽ vô cùng nên bọn chúng ta mới so đo, ganh tị, giành giựt, lấn áp...lẫn nhau, khiến lòng chúng ta không mấy lúc được yên vui, và làm cho cuộc đời trở thành khổ hải.
Lời ông lão thật chí lý.
Và người đời Tống có bài thi rằng:
      Tiêu miên sát địch mân mi thượng,
      Mang xúc giao tranh oa dốc trung.
      Hà dị chư thiên quan hạ giới:
      Nhất vi trần lý đấu anh hùng.

    Nghĩa là: Trên lông mày của con muỗi bầy tiêu miên xúm nhau giết địch. Ở trong sừng con ốc giống mang xúc đương đánh lộn nhau. Ở nơi các cõi trời nhìn xuống hạ giới thấy bọn anh hùng tranh đấu với nhau thì có khác gì chúng ta trông thấy những giống vi trùng trên lông mày con muỗi, trong sừng con ốc kia.

    Những câu chuyện của ông lão kể và bài thơ trên là những bài học rất quí báu. Nhưng giá trị của những bài học ấy sẽ kém đi hoặc mất hẳn, nếu chúng ta đem hiến cho những người chỉ biết có miếng ăn như thằng bờm cầm cái quạt mo, và những người đương cần cái ăn như người đi lạc trong bãi sa mạc, bụng đói hầu khát, kia vậy.







    bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-13 20:37:04diên vỹ>
Nhân Tình


Cổ nhân có câu:
      Thế sự đoản như xuân mộng
      Nhân tình bạc tợ thu vân.

Nghĩa là :
      Chuyện đời ngắn ngủi mộng xuân,
      Tình đời mỏng mảnh in làn mây thu

Mà mỏng nhất là tình những kẻ giàu sang.
Nói có sách, mách có chứng.
Đây bằng chứng rút trong sách của cổ nhân: Trùng Nhĩ.
Trùng Nhĩ là công tử nước Tấn đời Xuân Thu. Vì trong nước có loạn. Trùng Nhĩ phải bôn tẩu ở nước ngoài. Trong đám tòng vong có nhiều trang hào kiệt như Hồ Yển, Hồ Thúc, Triệu Thôi, Ngụy Phù, Diên Hiệp, Giới Tử Thôi ...Chúa tôi đi hết nước này đến nước khác, có nước thì được trọng đãi, có nước thì bị hất hủi khinh khi, cực nhọc đủ điều.

Một hôm đến nước Vệ, bị vua nước Vệ không cho vào thành, Trùng Nhĩ cùng kẻ tùy tùng phải đi vòng sau thành để sang Tề. Tiền lưng không còn một đồng một chữ, Ngụy Thù và Diên Hiệp nói:
- Vua Vệ cư xử với ta như thế, thì ta vào làng xóm cướp giựt mà kiếm ăn cũng chẳng tội lệ gì.
Trùng Nhĩ đáp:
- Cướp phá là quân đạo tặc, thà chết đói còn hơn.
Chúa, tôi đi cả buổi mới đến đất Ngư Lộc, ai nấy dều đói bụng. Xảy thấy trên gò có một đám nông dân đang ngồi dưới gốc cây ăn uống, Trùng Nhĩ khiến Hồ Yển đến xin cơm. Đám nông dân hỏi:
- Các ngươi ở đâu đến đây?

Hồ Yển đáp:
- Chúng tôi là người nước Tấn, đi lỡ đường, lương thực đều cạn, xin các ông ra ơn giúp một bữa.
Đám nông dân nói:
- Các ngươi ăn mặc sang trọng như thế mà đi xin chúng tôi là kẻ làm ruộng tay lắm chân bùn, tay làm hàm nhai, thì lấy đâu mà bố thí.
Hồ Yển lại nói:
- Nếu không có gạo, xin cho mượn đồ nấu.
Một tên lấy cục đất đưa cho Hồ Yển và trêu:
- Ta không có nồi, hãy lấy đất này mà nắn cũng được.

Ngụy Thù nổi xung, giật nồi chén của chúng mà đập bể hết và mắng:
- Đồ thất phu! Sao dám khinh ta!
Trùng Nhĩ cũng giận, rút roi muốn đánh. Hồ Yến vội can:
- Cơm dễ tìm, đất khó đăng. Nay họ đã dâng cho công tử, sao công tử không lấy? Ấy là trời mượn tay nông phu dâng đất cho công tử. Vậy công tử hãy xuống xe tạ ơn Trời.
Công tử khen phải, liền xuống tạ ơn thinh không. Bọn nông phu nhìn nhau cười lớn:
- Thật là một lũ điên!
Trùng Nhĩ và đoàn tùy tùng lại ra đi. Đi chừng mười dặm nữa, ai nấy đều đuối sức, phải ngồi tựa lưng vào thân cây bên đường mà nghỉ. Hồ Thúc nói:

- Triệu Thôi còn mang một bị cháo đi sau.
Ngụy Thù đáp:
- Bị cháo đó chỉ miệng va, có đâu tới ta.
Rồi xúm nhau hái rau tìm nồi, nấu ăn đỡ. Trùng Nhĩ không ăn được, đành chịu đói. Bỗng đâu Giới Tử Thôi bưng đến một tô thịt nóng dâng cho Trùng Nhĩ. Trung Nhĩ tiếp lấy, ăn một hơi. Ăn xong hỏi Giới Tử Thôi:
- Thịt ở đâu mà có vậy?
Giới Tử Thôi đáp:
- Ấy là thịt đùi của tôi. Vì thấy Công Tử yếu quá, sợ có bề gì e nguyện cả không thành, nên tôi phải tìm cách cho Công Tử đỡ dạ.

Trùng Nhĩ rơi lệ, ngồi than:
- Biết đến bao giờ ta đáp được nghĩa trọng này?
Giới Tử Thôi nói:
- Tôi chỉ mong sao đại sự chóng thành, nhân dân được no ấm, chớ đâu dám nghĩ đến công ơn.
Một lúc sau Triệu Thôi đến, mọi người đều hỏi:
- Sao đi chậm thế?
Đáp:
- Vì dẫm phải gai.

Đoạn lấy cháo dâng cho Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ hỏi sao không ăn. Đáp rằng phải cho Chúa trước. Hồ Thúc bảo Ngụy Thù:
- Nếu để anh mang bị cháo, thì chắc chỉ còn bị không!
Ngụy Thù xấu hổ bỏ đi nơi khácl Trùng Nghĩ lấy nước hòa cháo cho lỏng, rồi chia cho mỗi người một ít.
Nhờ có hơi cháo mà chúa tôi lấy lại hơi sức để lên đường.
Chẳng bao lâu tới địa giới nước Tề. Tề Hoàn Công vốn mến danh Trùng Nhĩ, vội sai nội thị rước vào công quán đãi đằng, và lựa một người con gái trong dòng Tôn Thất là Khương Thị mà gả như Trùng Nhĩ. Lại truyền quan giữ kho cung cấp cho chúa tôi Công tử đủ mọi thứ cần thiết.

Trùng Nhĩ ở Tề ngót bảy năm. Vì được chỗ nương thân sung sướng, Trùng Nhĩ không còn nghĩ đến việc phục nghiệp nữa. Còn đám tòng vong thì thấy chưa có cơ hội thuận tiện để lo việc cả, đành phải nấn ná chờ thời. Rồi Tề Hoàn Công mất, trong nước không yên. Đám tòng vong bèn mật cùng Khương Thị phục rượu cho Công Tử thật say rồi đưa lên xe chở đi sang nước khác. Tỉnh rượu, biết mình đã rời khỏi nước Tề, xa người yêu dấu, Trùng Nhĩ nổi giận, cầm giáo đâm Hồ Yển là kẻ cầm cương xe. Triệu Thôi cùng mọi người xán lại khuyên giải, Trùng Nhĩ có ý hổ thẹn ngồi lặng thịnh.
Rồi Chúa tôi chịu nhục một phen nữa ở nước Tào, bị thất vọng ở nước Tống, nước Trịnh, sau rồi đến nước Sở. Vua Sở tiếp đãi tử tế song không muốn giúp binh để mưu việc lớn. Chúa tôi đưa nhau sang Tần. Vua Tần trọng đãi và hứa sẽ giúp đỡ khi có cơ hội thuận tiện.

Kế đó có nguời sang báo tin rằng vua Tấn bạo ngược, các trung thần và nhân dân đều oán. Mọi người đều muốn mong Công Tử về nước. Trùng Nhĩ mừng rỡ vào yết kiến Tần Mục Công. Mục Công sai điểm binh cho tướng đưa Trùng Nhĩ về Tấn.
Dân Tấn nghe tin Trung Nhĩ về nước, chực sẵn ghe thuyền ở sông Hoàng Hà đón rước.
Từ lúc Trùng Nhĩ lưu lạc quê người cho đến khi về nước, Hồ Thúc theo hầu một bên không rời. Được trở về Tần, Hồ Thúc gom góp tất cả đồ đạc, nồi niêu, mền chiếu, và mỗi mỗi đều đem theo. Lúc sang sông Trùng Nhĩ trong thấy cười lớn:
- Nay ta về làm chúa nước Tấn, ngươi đem đồ ấy theo làm chỉ?
Bèn khiến vất hết xuống sông, Hồ Yển thấy vậy than:
- Giàu sang chưa thấy, Công tử đã đổi lòng, quên lúc khổ sở. Nay mai Công tử lên ngôi, chắc sẽ đối với chúng ta chẳng khác đồ cũ rách ấy.
Đoạn bước đến trước mặt Trùng Nhĩ, dâng viên ngọc của vua Tần tặng lúc lên đường, và nói:

- Công tử qua sông rồi là đến đất Tấn. Tại triều đã có các đại thần giúp sức, bên ngoài có chư thần che chở, nước Tấn đã cầm chắc trong tay, chẳng lo chi nữa. Vậy xin cho tôi ở lại Tần làm ngoại thần. Kính dâng Công tử viên ngọc này làm vật từ giã.
Trùng Nhĩ ngạc nhiên hỏi:
- Bấy lâu cực khổ có nhau, nay sắp được hiển vinh, sao ngươi lại thối thác làm vậy?
Hồ Yển đáp:
- Xét mình có tội với Công tử nên không dám theo.
Trùng Nhĩ hỏi:
- Tội gì ?

Hồ Yển thưa:
- Để chúa bị khinh nơi Ngư Lộc là một tội. Để Tào, Vệ ngạo mạn với chúa là hai tội. Lén gạt đem Công tử ra khỏi Tề là ba tội. Trước kia Công tử còn cô đơn, tôi không nỡ bỏ. Nay về với Tấn đã có nhiều người hầu hạ, nên xin Công tử cho tôi ra đi, để sau này khỏi ân hận vì bị hất hủi như những vật vừa rồi.
Trùng Nhĩ nghe nói tỏ vẻ hối hận rồi sai vớt cái đồ đạc lên. Đoạn quăng viên ngọc xuống sông mà thề:
- Sau này ta có phụ bạc, con cháu ta sẽ không sống yên vui. Xin thủy thần chứng giám.
Giới Tử Thôi thấy vậy cười và nói một mình:
- Công tử về Tấn là do trời giúp, đâu phải công lao của bọn tòng vong mà kể? Hồ Yển là kẻ xấu bụng, ta không thể bạn cùng.

Từ ấy Giới Từ Thôi có ý tìm nơi ẩn dật.
Trừng Nhĩ qua sông xong, nhắm Tấn Đô, kéo quân thẳng tới.
Tấn Hoài Công nghe tin , thất kinh, sai tướng ra chận lại. Nhưng tướng của Hoài Công chưa đánh đã hàng. Nhờ vậy mà Trùng Nhĩ vào kinh đô được mau chóng. Hoài Công bỏ chạy sang nước ngoài. Các quan đại thần rước Trùng Nhĩ vào cung tức vị.
Trùng Nhĩ lên ngôi là Tấn Văn Công, ban thưởng cho những người có công trong việc phục nghiệp. Ban thưởng xong lại ra một chỉ dụ, viết nơi cửa thành rằng: " Kẻ nào có công thưởng chưa được xứng, được phép kêu nài ". Hồ Thúc thấy tờ chỉ dụ, vào tâu:
- Tôi theo Chúa Công từ nơi đất Bố. Trong lúc bôn tẩu quê người, lúc nào cũng hầu bên cạnh. Nay Chúa Công thưởng tôi rất bạc, chẳng biết tôi đã phạm tội gì?

Trùng Nhĩ đáp:
- Trong bọn tòng vong, kẻ nào lấy điều nhân nghĩa khuyên bảo ta thì được công đầu. Kẻ nào vì ta mà bày mưu lập kế, thì được công thứ hai. Kẻ nào xông pha tên đạn để giữ gìn cho ta, thì được công thứ ba. Còn những kẻ chỉ chịu khổ nhọc theo hầu thì phải hương phần kém hơn. Hồ Thúc nghe nói hổ thẹn cúi đầu lui ra.
Ngụy Thù và Điện Hiệt ỷ mình vũ dũng, thấy Hồ Yển, Triệu Khôi là bực văn thần được hưởng dầu công, lòng không phục, mãi kêu ca oán hận.
Riêng Giới Tử Thôi, từ khi Trùng Nhĩ lên ngôi, chỉ vào chúc mừng một lần rồi cáo bệnh về nhà, ngày ngày đi vá thuê giày nuôi mẹ. Khi ban thưởng công thần, vì không thấy Giới Tử Thôi nên Tấn Văn Công quên không nghĩ đến, rồi không ai nhắc nhở, hoá quên luôn!!!
Người láng giềng của Tử Thôi là Giải Trương thấy vậy đến nói cùng Tử Thôi:

- Ngài cũng có công theo phò Chúa Công trong mười chín năm trời, nay Chúa Công phục nghiệp, lẽ nào lại không hưởng chút công lao?
Mẹ Giới Tử Thôi cũng nói:
- Nhà mình nghèo khổ, trước kia con đã cắt thịt đùi nuôi Chúa Công trong cơn cùng khốn, sao bây giờ không nói ra, may nhận được vài chung thóc, chẳng hơn đi vá giày thuê ư?
Giới Tử Thôi thưa:
- Tấn Hiến Công xưa có chín người con, chỉ có Chúa Công là hiền hơn cả. Nay Chúa Công phục nghiệp đó là ý Trời. Các người theo hầu không biết, tự nhận công lao mình, con lấy làm xấu hổ lắm.

Bà mẹ nói:
- Con đã là người trọng liêm sỉ, mẹ đây há không làm được mẹ của người biết trọng liêm sỉ sao? Vậy mẹ con ta nên tìm nơi rừng núi mà ẩn thân, chớ không nên ở nơi thành thị này nữa.
Giới Tử Thôi nghe mẹ nói, mừng quá đỗi mừng, bèn thưa:
- Con vẫn thích chốn Miên Thượng là nơi núi cao hang sâu. Nay mẹ con ta tới đó mà ở vậy.
Nói rồi cõng mẹ đi. Người trong thôn trừ Giải Trương không ai biết mẹ con Giới Tử Thôi đi đâu.
Nghĩ đến lòng bạc bẽo của Tấn Văn Công, Giải Trương bèn viết một mảnh giấy, thừa lúc đêm tối, đem dán nơi cửa thành. Đại ý rằng: "Có một con rồng, lúc thất thế, có đàn rắn đi theo chu du khắp thiên hạ. Rồng đói một rắn xẻ thịt đùi nuôi. Đến khi rồng mây gặp hội, đàn rắn hưởng cảnh sung sướng, riêng con rắn xẻ thịt đùi, chẳng một ai hỏi đến tên".

Sáng hôm sau, quân sĩ trông thấy gỡ đem trình Tấn Văn Công. Văn Công đọc xong, giật mình, nói:
- Đây là Giới Tử Thôi oán ta đó. Giới Tử Thôi cắt thịt đùi nấu cho ta ăn, mà nay thưởng công lại quên nghĩ đến. Thật ta có lỗi!
Bèn hạ chỉ đi tìm Giới Tử Thôi, nhưng không kịp nữa. Văn Công truyền hễ ai biết Tử Thôi đi đâu thì sẽ được thưởng. Giải Trương đến yết kiến và tâu:
- Bức thư đó không phải của Giới Tử Thôi mà chính là tôi đã viết dán. Tử Thôi không muốn cầu thưởng, đã cõng mẹ vào ẩn trong núi Miên Thượng.
Văn Công liền sai Giải Trưởng đưa đường vào Miên Thương tìm Tử Thôi. Nhưng núi cao rừng rậm, mịt mù khói tỏa mây giăng. Quân sĩ bắt mấy kẻ nông phụ ở gần núi, hỏi. Đáp:

- Mấy hôm trước chúng tôi có thấy một người cõng một bà cụ già đến đây, ngồi nghỉ dưới chân núi, rồi chẳng biết đi đâu.
Tấn Văn Công truyền đỗ xe lại rồi sai quân sĩ đi tìm.
Quân sĩ lục lạo khắp nơi, nhưng ngót mấy hôm ròng vẫn không tìm được tung tích. Văn Công nói:
- Giới Tử Thôi giận ta nên không khịu ra yết kiến. Ta nghe va là người chí hiếu. Nếu ta đốt rừng, thế nào va cũng cỗng mẹ chạy ra.
Đoạn sai phóng hỏa.
Gió to lửa mạnh, không bao lâu đã cháy khắp cả khu rừng. Sau ba hôm lửa mới tắt. Quân sĩ tìm thấy trong hang sâu, hai xác chết cháy! Biết rằng đó là xác hai mẹ con Giới Tử Thôi, Tấn Văn Công truyền chôn cất dưới chân núi và lập miễu thờ, lại đổi tên núi là Giới Sơn.

Giới Tử Thôi chết ngày mùng hai tháng ba, trước Thanh Minh hai ngày. Để nhớ cái chết đau đớn của người biết trọng liêm sỉ, nhân dân Trung Hoa, cứ mỗi năm đến ngày ấy thì nhà nhà cữ đốt lửa, và suốt ngày chỉ ăn đồ nguội. Trước mỗi nhà lại có cắm một cành liễu để chiêu hồn Giới Tử Thôi. Ngày ấy gọi là " Hàn Thực ".
Câu chuyện của Trùng Nhĩ là một bức tranh nhân tình, thể hiện được nhều cạnh khía. Lúc thất thế, Trùng Nhĩ có nhiều hành động dễ thương, như việc chia cháo là một. Khi gặp cảnh giàu sang thì cái bản ngã của con người thật tự nhiên phát lộ, như thái độ khi bị đưa ra khỏi nước Tề, và nhất là việc quên Giới Tử Thôi khi đã lên được ngôi báu.
Có người trách Giới Tử Thôi là cố chấp, khen Trùng Nhĩ là người biết hối quá.

Giới Tử Thôi có cố chấp hay không thì ngày Hàn Thực đã trả lời đầy đủ. Còn về Trùng Nhĩ, thì việc đi tìm Giới Tử Thôi, việc lập miếu thờ, việc đổi tên núi, theo kẻ hèn này chỉ là một cách che đậy tấm lòng bội bạc của mình đó mà thôi. Đối với một người đã cắt thịt cho mình ăn trong lúc gần chết đói, mà có thể quên được khi vừa mới bước lên cửa giàu sang, thì có còn Trời Đất nào nữa?
Nhưng đó là Nhân Bản.
Không cần phải bàn bạc nhiều lời.


bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-13 20:37:21diên vỹ>
Tri Kỷ


Cổ nhân có câu: "Đắc nhất tri kỷ, khả dĩ bất hận". Nghĩa là ở đời có một người tri kỷ, thì kể cũng không còn ân hận gì nữa.
Thế nào gọi là tri kỷ?
Là người biết rõ mình, nghĩa là người đồng chí đồng tâm với mình, thấy được một cách tường tận sở trường, sở đoản của mình, chơi với mình rất thân thiết, lo phát huy sở trường của mình, tìm cách khắc phục sở đoản của mình, lúc sống phúc cùng hưởng, họa cùng chịu, lúc chết nếu chết được với nhau không tiếc.
Lúc sống gặp được người bạn như thế thì lúc chết không lấy làm uổng đời. cổ nhân bảo rằng: " không ân hận " là vậy đó.
Việc Thạch Phủ người nước Tề thời Xuân Thu, có tiếng là giỏi. Thạch Phủ phải tội oan, bị giam trói. Án Tử đi chơi, gặp ở giữa đường, bèn tháo một con ngựa đương kéo xe ra bán lấy tiền chuộc tội, rồi đưa Thạch Phủ về nhà.

Về đến nhà, Án Tử vào thẳng hậu tẩm, không ra chuyện vãn. Thạch Phủ tức giận đi và nói lớn rằng không bước đến cửa Án Tử nữa. Án Tử nghe tiếng, sửa khăn áo chạy theo, tạ rằng:
- Tôi tuy chẳng ra gì, song cũng vừa gỡ được tội cho ông, cớ sao ông lại vội cự tuyệt tôi như thế ?
Thạch Phủ đáp:
- Tôi nghe người quân tử gặp phải người bất tri kỷ thì phải cực thân, gặp được người tri kỷ thì được hả dạ. Tôi đã bị giam trói oan là vì gặp phải kẻ bất tri kỷ, may mà ông biết tôi mà chuộc cho tôi khỏi tội oan, thì ông là tri kỷ của tôi. Đã là người tri kỷ mà vô lễ, thì thà rằng cứ ngồi trong chỗ giam trói còn hơn.

Án Tử tạ tội, rồi thỉnh Thạch Phủ trở vào, tôn làm thượng khách.
Án Tử và Thạch Phủ là đôi tri kỷ.
Nhưng để nói về tri kỷ, các nhà văn, nhà thơ thường nhắc đến Bảo Thúc và Quản Trọng.
Bảo Thúc tức là Bảo Thúc Nha, Quản Trọng tức là Quản Di Ngô. Cả hai đều là người nước Tề, thời Xuân Thu, đối với Án Anh là bậc tiền bối.
Bảo Thúc và Quản Trọng làm bạn với nhau từ lúc còn hàn vi. Hai người thường đi buôn chung. Lúc chia lời Quản Trọn luôn luôn lãnh phần hơn. Bảo Thúc vẫn vui vẻ nhận phần ít. Có người thấy vậy bất bình, bảo Thúc Nha:

- Cùng công cán như nhau, sao ông lại để Di Ngô hiếp như thế?
Thúc Nha đáp:
- Quản Di Ngô đâu phải tham lam. Chỉ vì nhà nghèo lại đông người, tiêu không đủ, nên ta nhường phần hơn cho va đó.
Quản Di Ngô ra nơi chợ búa thường bị lắm kẻ dọa nạt mà không khán cự lại. Ai nấy đều chê là hèn. Bảo Thúc nói:
- Không phải hèn. Đó là người có lượng bao dung.
Việc làm của Di Ngô phần nhiều bị thất bại. Ai nấy đều chê là bất trí. Bảo Thúc đáp:
- Việc thành hay bại là do may hay không may. Đó là con người chưa gặp thời. Khi Di Ngô gặp được thời thời mười lời không sai một.
Quản Di Ngô ba lần ra làm quan, ba lần bị bãi. Ai nấy đều cho là bất tiếu. Riêng Bảo Thúc thương là chưa gặp được vua hiền.

Sau ra phò Tề Tương Công, giúp việc quân vụ, mỗi lần ra trận thì Di Ngô đi sau, đến khi rút binh thì lại lo đi trước. Ai nấy đều cho là vô dũng bất tài. Bảo Thúc nói:
- Không phải vô dũng bất tài đâu. Chỉ vì còn mẹ già, Di Ngô phải giữ thân để nuôi mẹ.
Nghe Bảo Thúc nhận xét mình như thế , Quản Di Ngô thường bảo cùng người quen thân:
- Sanh ta là cha mẹ, biết ta là Bảo Thúc.
Bảo Thúc Nha và Quản Di Ngô nổi tiếng là học rộng.
Tề Tương Công có hai người con, người con lớn là Công tử Củ, mẹ là người nước Lỗ, người con nhỏ là Tiểu Bạch, mẹ là người nước Cử. Cả hai đều đã khôn lớn. Tương Công bèn chọn Thúc Nha và Di Ngô làm sư phó để dại hai Công tử. Thúc Nha lãnh dạy công tử Tiểu Bạch, Di Ngô thì lãnh công tử Củ và hẹn nhau sau này công tử nào được nối ngôi thì tiến cử lẫn nhau để phụng sự.
Không bao lâu, vì Tương Công ham mê săn bắn, không can gián được, Thúc Nha đưa công tử Tiểu Bạch, sang nước Cử. Kế đó Tương Công bị Công Tôn Vô Tri giết và đoạt ngôi. Di Ngô phò công tử Củ chạy sang nước Lỗ.

Triều Thần không mấy người phục Công Tôn Vô Tri, nên lên ngôi mới vừa đầy tháng thì Vô Tri bị quần thần giết chết. Giết xong Vô Tri, các triều thần cho người sang Sở rước công tử Củ về nối nghiệp. Lỗ Trang Công toan khiến người đem quân hộ tống công tử Củ về Tề, thì Quản Di Ngô vào tâu:
- Tề Tương Công có hai người con là Công Tử Củ và Công Tử Tiểu Bạch. Tiểu Bạch hiện ở nước Cử là nước giáp liền với Tề. Tôi e Tiểu Bạch được tin về nước trước, lên ngôi. Nên xin Chúa công cho tôi mượn con ngựa hay và một ít quân đặng đón đường Tiểu Bạch. Như thế mới tranh ngôi cho công tử Củ được.
Lỗ Trang Công hỏi:
- Nhà ngươi muốn đem bao nhiêu quân?
Di Ngô đáp:
- Chỉ độ ba mươi cỗ xe là đủ.
Trang Công chấp thuận. Quản Di Ngô kéo quân đi.

Ngay lúc ấy, bên nước Cử, công tử Tiểu Bạch cũng đã hay tin Vô Tri bị giết, và đã được vua nước Cử cho mượn một trăm cỗ xe hộ tống về Tề. Quả như lời Di Ngô đã nói, vì nước Cử nằm sát biên giới nước Tề, nên công tử Tiểu Bạch đã vào đất Tề rồi. Di Ngô phải đuổi theo kịp. Vừa thấy quân Tiểu Bạch, Quản Di Ngô gọi lớn:
- Từ ngày cách mặt đến nay, Công Tử có được mạnh khoẻ chăng? Chẳng hay Công Tử cất binh đi đâu mà gấp vậy?
Công Tử Tiểu Bạch đáp:
- Tôi về nước để lo việc cư tang cho phụ thân.
Di Ngô nói:
- Việc cư tang đã có Công Tử Củ là anh cả. Công Tử là em thì có vội gì? Xin hãy đình lại đã.

Bảo Thúc Nha nói:
- Chúng ta ai có Chúa nấy. Di Ngô chớ có nhiều lời.
Nói xong thúc quân tiến bước.
Di Ngô muốn cản lại, song thấy Tiểu Bạch đông, liệu không thắng nổi, bèn rút cung tên, nhắm Tiểu Bạch bắn một mũi. Tiểu Bạch la lên một tiếng, té ngửa trong xe, và miệng trào máu. Thúc Nha thất kinh chạy đến cứu. Bọn tùy tùng trông thấy chủ bị nạn, khóc rống lên. Tin chắc Tiểu Bạch đã chết, Di Ngô quày xe trở về, lòng hớn hở. Chẳng ngờ Tiểu Bạch không chết. Vì mũi tên của Quản Di Ngô xẹt qua chiếc đai thắt lưng. Biết rõ tài bắn của Di Ngô, Tiểu Bạch lanh trí, cắn chót lưỡi phung máu ra rồi ngã ngửa trên xe, để Di Ngô lầm tưởng rằng đã hạ được, khỏi bắng tiếp mũi thứ hai. Khi thấy Tiểu Bạch không bị thương tích gì, Bảo Thúc Nha vội giấu vào một chiếc xe riêng rồi hối quân tiến gấp.

Đến Tề đô, Thúc Nha vào thành, ra mắt các quan, xin lập Công Tử Tiểu Bạch lên ngôi kế vị. Các quan nói:
- Chúng tôi đã cho người qua Lỗ rước Công Tử Củ rồi, nếu tôn Tiểu Bạch lên, rồi nay mai Công Tử Củ về, chúng tôi biết làm sao?
Thúc Nha đáp:
- Nước không nên để một ngày không có vua. Công tử Củ hiện chưa về mà công tử Tiểu Bạch đã có mặt. Đó là lòng Trời muốn Tiểu Bạch nói nghiệp Tề. Thêm nữa nước Lỗ đem binh đưa Công Tử Củ về phục nghiệp, thế nào rồi cũng kể ơn mà đòi hối lộ như trường hộp nước Tống với Trịnh Hốt ngày trước, thật là xấu hổ.

Triều thần nghe phải bèn tôn Công tử Tiểu Bạch lên ngôi.
Đó là Tề Hoàn Công.
Tề Hoàn Công nhờ Bảo Thúc Nha phò tá chỉnh đốn việc triều chánh, ban bố ân đức khắp muôn dân.
Để ngăn quân Lỗ đưa Công Tử Củ về nước, Tề Hoàn Công, theo lời Bảo Thúc Nha, cho tướng dẫn ba trăm chiến xa ra đóng nơi biên tái.
Không đưa được công tử Củ về nước Tề, Lỗ Hầu nổi giận gây chiến cùng Tề Hoàn Công nhưng bị đại bại. Để trừ hậu hoạn Bảo Thúc Nha viết thư sang Lỗ, yêu cầu Lỗ Hầu giết công tử Củ và bắt hai kẻ tòng vong là Quản Di Ngô và Thiệu Hốt nạp cho Tề trị tội. Để làm hài lòng nước Tề, Lỗ Hầu bèn giết công tử Củ và bắt Thiệu Hốt và Quản Di Ngô bỏ vào tù xa. Thiệu Hốt than:

- Làm con phải hy sinh vì cha mẹ, làm tôi phải hy sinh vì Chúa. Nay Chúa đã chết ta còn sống làm gì?
Nói rồi đập đầu vào cột mà chết.
Quản Di Ngô nói:
- Thiệu Hốt đã liều chết vì Chúa, thì ta cũng nên vì Chúa giữ thân này, để có ngày minh oan cho Chúa ta.
Nói xong đưa tay chịu trói và bước vào tù xa.
Ngồi trong từ xa, Di Ngô biết rằng Bảo Thúc muốn cứu mình, song lại sợ Lỗ Hầu ăn năn cho người đuổi theo bắt lại, bèn đặt ra bài hát cho quân sĩ vui mà quên cực nhọc để đi cho mau qua khỏi biên giới nước Lỗ.

Đến đất Tề, Bảo Thúc Nha ra đón. Vừa thấy Di Ngô, Bảo Thúc mừng rỡ chạy đến mở tù xa. Di Ngô hỏi:
- Chưa có quân mạng sao dám mở tù xa?
Thúc Nha đáp:
- Không hề chi, tôi sẽ tiến cử ông với Tề Hầu. Ông đã quên lời hứa của chúng ta ngày trước rồi sao?
Di Ngô nói:
- Quên thế nào được. Nhưng trước khác nay khác. Tôi phò công tử Củ mà chẳng làm nên việc, lại không trọn tiết làm tôi, còn mặt mũi nào chịu ơn kẻ địch.

Bảo Thúc cười:
- Quí tiểu tiết thì không thể làm nên vinh danh, ghét tiểu sỉ thì không thể làm nên đại sự. Ông có tài trị thiên hạ nhưng chưa gặp thời, còn chúa tôi là người đại lượng nhưng chưa có người giúp. Nếu ông không tị hiềm mà chịu phò chúa tôi, thì chẳng khác nào cá gặp nước, sẽ dựng nên nghiệp bá, uy danh lừng lẫy trong thiên hạ, chẳng quí hoá lắm sao?
Di Ngô làm thinh. Bảo Thúc mở trói, đưa Di Ngô vào Công quán nghỉ ngơi, một mình trở về triều ra mắt Tề Hoàn Công. Tâu:
- Tôi xin chia buồn và đồng thời cũng chia vua cùng Chúa Công.
Hoàn Công hỏi:
- Có việc gì buồn, vui ? Ta chưa được biết.

Bảo Thúc đáp:
- Công Tử Củ, anh ruột chúa công đã bỏ mình. Đã biết rằng vì việc nước, bất đắt dĩ phải để Công Tử Củ chết, nhưng nghĩ tình cốt nhục không thể không buồn.
Tề Hoàn Công nghe nói ứa nước mắt, Bảo Thúc tiếp:
- Còn việc vui là Quản Di Ngô đã được đưa về nước. Chúa Công sẽ được gặp một nhân tài.
Tề Hoàn Công nói:
- Quản Di Ngô bắn ta một mũi tên, lòng oán hận chưa nguôi, lẽ đâu ta lại dùng hắn.

Bảo Thúc tâu:
- Làm tôi ai cũng phải hết lòng vì chúa. Di Ngô bắn Chúa Công là vì lúc ấy phò công tử Củ, trong lòng chỉ biết công tử Củ mà không biết đến chúa công. Nay Chúa Công dùng Di Ngô thì Di Ngô sẽ vì chúa công mà bắn thiên hạ. Chính những kẻ như thế mới đáng gọi là trung thần.
Hoàn Công tỉnh ngộ, tươi ngay nét mặt nói:
- Nếu Khanh không nói thì ta sẽ vì oán nhỏ mà quên mất việc lớn!
Bảo Thúc Nha mừng rỡ, bái tạ Tề Hầu, rồi đến Công quán đón Di Ngô về dinh.
Sau đó Hoàn Công nghị thưởng các đình thần có công với nước, và muốn giao việc triều chánh cho Bảo Thúc Nha. Bảo Thúc từ chối, và hết lời tiến cử Quản Di Ngô. Hoàn Công hỏi:

- Di Ngô lại hơn khanh được sao ?
Bảo Thúc đáp:
- Có năm điều tôi không bằng Di Ngô. Thứ nhất là mềm mỏng, ra ơn với dân; tôi không bằng được. Thức hai là lấy trung tín mua lòng bá tánh, tôi không bằng được. Thứ ba là trị nước không sai giềng mối, tôi không bằng được. Thứ tư là chế lễ nghĩa ra khắp bốn phương, tôi không bằng được. Thứ năm là cầm dùi trống đứng giữa ba quân giục lòng binh sĩ, tôi không bằng được.
Hoàn Công nói:
- Nếu quả Di Ngô có tài như thế khanh hãy đòi vào yết kiến, để ta xem tài học đến mức nào.
Bảo Thúc tâu:
- Người hèn không dám gần kẻ sang, người sơ không dám gần kẻ thân. Nếu chúa công muốn dùng thì phải phong Di Ngô làm Tướng Quốc, đối đãi như sư phụ, thì con người ấy mới đem hết sở năng mà hiến cho Chúa Công.

Theo lời Bảo Thúc, Tề Hầu thân hành đem lễ vật đi đón Quản Di Ngô về phong làm Tướng Quốc, cấm người trong nước không được gọi tên húy Di Ngô mà chỉ được gọi tên chữ là Quản Trọng. Nhà vua lại tôn xưng Di Ngô là Trọng Phụ. Cảm ơn tri ngộ. Di Ngô đêm trọn tài sức làm cho nước Tề trở nên phú cường và Tề Hoàn Công trở thành Bá chủ thiên hạ.
Đến khi Quản Trọng lâm bệnh nặng, Tề Hoàn Công đến thăm, cầm tay hỏi:
- Nếu bất hạnh, Bá phụ có đều gì, ta biết cậy vào ai ?
Quản Trọng thở dài. Nhà vua hỏi tiếp:
- Ta muốn giao quyền cho Bảo Thúc Nha có được chăng ?

Quản Trọng đáp:
- Thúc Nha là bậc quân tử, nhưng không có tài chính trị, hay phân biệt thiện ác. Đành rằng đối với người hiền, yêu lành ghét dữ là bản tánh trời sanh. Song nếu cố chấp những điều ác, thấy ai có điều ác thì suốt đời không quên, đó cũng là việc dở đối với những kẻ đang gánh vác đại sự.
Bèn tiến cử Thấp Bằng.
Tên gian thần là Dịch Nha vốn ghét Quản Trọng, hay tin, liền đến yết kiến Bảo Thúc Nha và đem việc Quản Trọng chê Bảo Thúc Nha và tiến dẫn Thấp Bằng mà kể lại. Bảo Thúc Nha cười lớn, đáp:
- Sở dĩ ta tiến cử Quản Trọng lên làm Tể tướng là vì ta tin ở tài hiểu biết của Quản Trọng. Nay Quản Trọng xét ta như thế rất là phải. Ta chỉ có tài trừ gian diệt nịnh, chứ không có tài cầm quyền chính. Giả như ta mà làm chức ấy thì nhà ngươi đâu còn chỗ dung thân.

Dịch Nha xấu hổ, cúi đầu trở lui.
Ngày hôm sau, Quản Trọng không còn nói được nữa. Bảo Thúc Nha và Thấp Bằng đến thăm, nhìn Quản Trọng mà ứa lệ.
Trong chỗ bạn bè mà hiểu biết nhau, thương yêu nhau như Bảo Thúc Nha, Quản Di Ngô thì thật là hiếm. Có một điều đáng chú ý nhất là dù hết lòng thương yêu quí mến nhau, Bảo Thúc cũng như Di Ngô, bao giờ cũng đặt quyền lợi chung của nước nhà lên trên quyền lợi riêng của mình hay của bạn.
Thật là một tấm gưong sáng của nghìn thu, chúng ta soi vào nhất định thấy rõ chân tướng.


bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-13 20:37:40diên vỹ>
Dung Nhan Và Đức Hạnh


Người đàn bà có hai vẻ Đẹp: Dung Nhan và Đức Hạnh.
Dung nhan đẹp đẽ là nhờ Trời mà có, và đó là vẻ đẹp bên ngoài.
Đức Hạnh cao quí là do Người luyện nên. Và đó là vẻ đẹp bên trong.
Người đàn ông yêu thích, quí chuộng người đàn bà, phần nhiều do sắc hơn do đức.
Hứa Doãn người đời Tống, có tài văn chương lẫn chính trị, đỗ tiến sĩ, làm quan rất được lòng dân.

Người vợ là Nguyễn Thị nhan sắc rất kém, nhưng học vấn và hạnh kiểm hơn người. Khi mới cưới về, đêm nhập phòng, trông thấy vợ. Hứa Doãn toan bỏ đi, bèn hỏi:
- Đàn bà có tứ đức, nàng được mấy đức ?
Nguyễn Thị đáp:
- Thiếp đây chỉ kém có Dung mà thôi.
Rồi hỏi tiếp:
- Kẻ sĩ có bách hạnh, dám hỏi chàng được mấy hạnh ?
Hứa Doãn đáp:
- Ta đây có đủ bách hạnh.
Nguyễn Thị cười:
- Trong bách hạnh, Đức làm đầu. Chàng là người háo sắc, không háo đức, sao dám bảo rằng có bách hạnh được ?

Hứa Doãn cả thẹn, nghiêng mình tạ tội.
Từ ấy vợ chồng thương yêu, kính mến nhau như khách.
Hứa Doãn làm quan có chính sách hay, một phần nhờ có Nguyễn Thị.
Đó là Nguyễn Thị có vẻ Đẹp bên trong.
Yêu được vẻ Đẹp bên trong mà quên được vẻ Xấu bên ngoài, không phải là việc dễ. Chính đức Khổng Phu Tử là bậc thánh mà còn nói ; " Ngô vị kiến hiếu đức như hiếu sắc giả dã", nghĩa là " Ta chưa thấy người nào háo đức như háo sắc vậy ". thì chúng đủ rõ rằng xưa như nay ai cũng thích Đẹp.
Mà chẳng những người đàn ông mới yêu mê Sắc Đẹp của người đàn bà, nhiều khi người đàn bà cũng yêu sắc đẹp của người đàn bà chẳng kém người đàn ông.

"Nói có sách, mách có chứng". Tôi xin đem bằng chứng ở trong sách ra trình cùng bà con đây:
Hoàn Ôn là một danh thần đời Tấn, uy quyền lừng lẫy.
Vợ là Nam Khang công chúa, con gái vua Hán Minh Đế, dung nhan kiều diễm.
Khi đem quân chinh phục nước Thục, Hoàn Ôn mê người con gái họ Lý là một nhà quyền quí nước Thục, mang về làm thiếp.
Lúc về nhà, công chúa biết chuyện, nổi cơn ghen, rút kiếm cùng đoàn thị tỳ xăm xăm đến quyết chém chết Lý Thị. Lý Thị đang ngồi trước gương chải đầu bên cửa sổ, tóc đen như huyền chảy dài chấm đất, dung nhan tử mạo đoan trang nùng diệm, như đoá hoa sen trên hồ nước trong. Trông thấy công chúa, Lý Thị thong thả vấn tóc, cung tay đến trước công chúa, kính cẩn thưa:

- Nước mất, nhà tan, tôi quả vô tâm mà đến đây. Nếu quả được bà chém cho, thật cũng thoả lòng tôi mong mỏi.
Lý Thị khi nói mặt nghiêm chỉnh ung dung, giọng ngọt ngào thấm thía. Công chúa cảm động, quăng kiếm xuống đất, chạy đến ôm Lý Thị mà nói rằng:
- Em ơi ! Chị đây là phận gái mà thấy em cũng phải thương phải yêu, huống chi lão già nhà ta vậy !
Thế rồi chị em thương yêu nhau như ruột thịt.
      Tình riêng riêng đã kính yêu
      Chồng chung chị cũng chung chiều như em


Nhưng, những người đàn bà đẹp được một người đàn bà khác tỏ vẻ thương yêu, chiều chuộng mình, đừng vội tin rằng đó là tình thật. Hãy nghe chyện Trịnh Tụ đây:
Trinh Tụ là phu nhân vua nước Kinh thời Chiến Quốc.
Vua Ngụy đem một người con gái tuyệt sắt dâng cho vua Kinh. Vua Kinh rất yêu dấu.
Trịnh phu nhân cũng tỏ lòng yêu dấu người con gái như nhà vua. Người con gái muốn gì, phu nhân cũng chiều theo ý muốn. Vua khen :
- Phu nhân biết ta yêu mến tân nhân mà đem lòng yêu mến tân nhân hơn ta, thật chẳng khác nào người con có hiếu thờ cha mẹ, người tôi trung thờ vua. Ta rất cảm kích.
Phu nhân bái tạ.

Chắc bụng rằng nhà vua không nghi ngờ lòng mình, phu nhân mới bảo người con gái:
- Vua yêu mến nhà ngươi lắm, nhưng rất ghét lỗ mũi nhà ngươi. Giá từ nay, hễ thấy vua, ngươi cứ che mũi đi, thì sẽ được vua yêu mến mãi đó.
Người con gái nghe lời. Từ ấy mỗi khi thấy vua thì lấy tay che mũi. Vua lấy làm lạ, bèn hỏi phu nhân:
- Tân nhân hễ trong thấy ta thì che mũi, là ý làm sao?
Phu nhân ngần ngừ đáp:
- Thiếp không được rõ.
Vua cưỡng hỏi mãi, mới thưa:
- Thiếp nghe đâu tân nhân có chê rằng hơi vua khí nặng, lấy làm khó chịu mỗi khi gần.

Nhà vua nổi giận thét:
- À nếu thế thì hãy xẻo mũi nó đi cho ta.
Tức thì, một viên quan hầu cầm đao nhảy ra, xẻo ngay mũi người con gái!
Thế là dung nhan bị hủy, người con gái không còn được vua yêu mến như xưa!
Muốn tranh mà giả thương để tranh trọn. Cách dụng tâm của phu nhân vua Kinh thật nham hiểm, thâm độc ! Không ai ngờ!

Gương trên, tưởng những người đàn bà đẹp nên đem ra soi, mỗi lần trang điểm cho thêm đẹp.
Và quí bà đừng tưởng rằng tất cả đàn ông, lòng dạ đều in vua nước Kinh, nghĩa là chỉ yêu quí sắc đẹp, hễ hết đẹp thì hết quí yêu. Nếu các bà tưởng thế là vì các bà chưa nghe chuyện Án Anh.
Án Anh làm Tể tướng nước Tề, tục gọi là Án Tử.
Vua Tề Cảnh Công có nàng con gái đẹp, muốn gả cho Án Anh. Một hôm nhà vua đến nhà Án Anh ăn tiệc, thấy vợ Án Anh bèn hỏi:
- Phu nhân đó phải không ?
Án Anh thưa phải. Vua tiếp:
- Ôi! Người trông vừa già vừa xấu! Quả nhân có đứa con gái trẻ và đẹp, muốn cho về hầu, Khanh nghĩ sao ?

Án Anh đứng lên thưa rằng:
- Nội tử tôi nay thật vừa già vừa xấu; nhưng lấy tôi và ăn ở cùng tôi từ lúc còn trẻ đẹp. Xưa nay, đàn bà lấy chồng lúc trẻ, cốt để nhờ cậy lúc già, lấy chồng lúc đẹp cốt để nhờ cậy lúc xấu. Nội tử tôi thường nhờ cậy tôi, mà tôi cũng đã nhận sự nhờ cậy ấy. Nay nhà vua tuy muốn ban ơn, nhưng chắc cũng không muốn để tôi mang tiếng phụ bạc.
Nói xong lại hai lạy, xin từ.
Thấy chưa ? Nếu đức Khổng Phu Tử mà biết được chuyện này thì chắc không nói câu " hiếu sắc hơn hiếu đức "

Đức là vẻ đẹp bên rong.
Sắc là vẻ đẹp bên ngoài.
Vẻ đẹp bên trong, nếu cố giữ, thì trăm năm mãi còn, nghìn thu vẫn còn.
Vẻ đẹp bên ngoài, dù giữ gìn cho mấy, cũng chỉ được vài ba mươi năm là cùng.
Ở đời thương yêu nhau vì đẹp, thì lẽ tất nhiên hễ hết đẹp thì hết yêu nhau. Đễ giữ mãi tình yêu của người mình yêu quí, tưởng nên giữ cho còn mãi vẻ đẹp bên trong là vẻ đẹp có thể giữ được nếu muốn.

Vợ Án Anh nếu bên trong mà chị em với lòng người vợ Châu Mãi Thần, thì dù có đức độ đến đâu, Án Anh cũng không thể nghĩ đến tình tào khang được. Và vợ Bá Lý Hề, như chúng ta đã thấy, vốn có vẻ đẹp bên trong, nên xa cách chồng trên ba bốn mươi năm, mà tình xưa vẫn còn nguyên vẹn.
Tục có câu "Cái nết đánh chết cái đẹp ", nghĩa là cái đẹp bên trong thường thắng cái đẹp bên ngoài. Câu chuyện của Dương Chu thời Chiến Quốc sau đây sẽ chứng minh câu tục ngữ.
Dương Chu sang nước Tống, đến trọ nơi một nhà kia.
Người chủ nhà có hai người thiếp, một người đẹp, một người xấu. Dương Chu thấy trong nhà ai cũng quí người thiếp xấu mà khinh người thiếp đẹp, lấy làm lạ, bèn hỏi dò một đứa trẻ ở trong nhà. Đứa trẻ đáp:

- Người thiếp đẹp tự lên mặt là đẹp mà mất đẹp, nên tôi chẳng biết cái đẹp của nàng nữa. Người thiếp xấu tự biết là xấu mà quên xấu, nên tôi chẳng biết vẻ xấu của nàng nữa.
Dương Chu bèn gọi học trò ra bảo:
- Các con nhớ lấy câu ấy. Người ta giỏi mà bỏ được thói " tự cho mình là giỏi" thì đi đến đâu ai mà chẳng kính trọng, chẳng thân yêu.
Bởi vậy người đàn bà không cần lo rằng mình kém nhan sắc mà chỉ nên lo rằng đức hạnh mình không bằng chị em. Người thơ có câu rằng:
      Chớ ngại trăng thu đà xế bóng
      Giữ gìn trong áo hạt minh châu.

Cũng là ý đó.


bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0
Lòng Đàn Bà


Xưa nay việc đổi vợ thay chồng là việc thường trong thiên hạ. Người đàn ông hay bội nghĩa phụ tình vì giàu sang, nên có câu " Giàu đổi bạn, sang đổi vợ ". Còn người đàn bà lại thường vì nghèo khổ mà không giữ trọn thủy chung, như trường hợp vợ Chu Mãi Thần là một.
Chu Mãi Thần là người đời Hán, nhà nghèo nhưng rất ham học. Ngày ngày phải đi bán củi độ nhật, mà quyển sách không hề rời khỏi tay. Người vợ không chịu nổi cơ hàn, phải xin đi lấy chồng khác. Mãi Thần nói:
- Ta đã 49 tuổi, đến năm 50 tuổi nhất định lập nên công danh. Nàng chịu khổ đã bấy lâu rồi, hãy ráng chịu thêm một năm nữa.
Người vợ nhất định không chịu.
Mãi Thần đành bấm bụng chia ly.
Người vợ lấy một người làm ruộng trong hạt,

Không bao lâu Chu Mãi Thần được tiến cử lên vua Hán Võ Đế và được trọng dụng, cảnh bạch óc liền xoay lại cảnh lâu đài. Người vợ bèn đến xin trở lại. Chu Mãi Thần bưng bát nước đầy đổ xuống đất, và bảo:
- Nếu hốt lên được thì ta sẽ đem về.
Người vợ xấu hổ trở lui.
Nghĩ tình xưa, Chu Thần cấp cho vàng lụa và một ngôi nhà. Nhưng người vợ xấu hổ quá không chịu nổi, bèn thắt cổ chết.
Người đời thường mượn tích đó mà chê những người đàn bà tham phú phụ bần. Nhưng "đàn bà ba thứ đàn bà". Có lắm người, ở trong cảnh nghèo khổ, chẳng những vẫn giữ được trọn tình trọn nghĩa, mà còn giúp cho chồng dựng sự nghiệp vẻ vang, như Đỗ Thị vợ Bá Lý Hề đời Xuân Thu.

Bá Lý Hề là người nước Ngu, có tài kinh luân nhưng không có người tiến cử, nên đành nương thân trong chốn bồng mao. Nhà nghèo, tuổi 30 mới lấy được Đỗ Thị làm vợ, và sinh được một trai.
Bá Lý Hề muốn bỏ làng đi lập công danh, nhưng thương vợ con không người nương tựa, nên quyến luyến không nỡ dứt ra đi. Đỗ Thi biết ý bèn thưa:
- Thiếp nghe nói làm trai phải lập chí. Nay phu quân tìm đường tấn thân, cứ bận bịu gia đình như thế này mãi thì bao giờ mới nên đại sự? Phận thiếp tuy yếu đuối, nhưng cũng có thể tự nuôi thân nuôi con được, xin phu quân đừng lo. Đoạn bắt con gà mái đương ấp làm thịt, nấu một nồi cơm gạo đỏ, làm một bửa tiệc tiễn hành.

Bá Lý Hề mang gói ra đi. Đỗ Thị tay bồng con, tay níu áo chồng, nói:
- Lúc phú quí xin đừng phụ nhau.
Bá Lý Hề sang Tề, muốn vào yết kiến Tương Công, nhưng không người tiến dẫn, túi trống, đành phải ăn xin. Sau gặp một ẩn sĩ mến tài là Kiển Thúc đem về kết làm anh em. Nhưng vì Kiển Thúc cũng nghèo, nên Bá Lý Hề phải đi chăn trâu thuê cho người trong làng để độ khẩu. Kế đó nghe tin Vương Tử Đồi nhà Châu thích chơi trâu, những kẻ chăng nuôi được ăn lương rấu hậu, Bá Lý Hề bàn cùng Kiển Thúc sang Châu tìm cơ hội. Kiển Thúc nói:
- Kẻ trượng phu không nên khinh thường đem thân giao cho kẻ khác. Nếu làm quan với người ta mà không cẩn thận lựa chọn, đến khi hoạn nạn lại bỏ đi là bất trung, còn nếu không đi là bất trí. Em có ra đi thì phải thận trọng trong việc chọn chủ.

Bá Lý Hề sang kinh đô nhà Châu, vào yết kiến Vương Tử Đồi, đem thuật nuôi trâu ra nói. Vương Tử mừng rỡ, ban thưởng tiền bạc và toan dùng làm gia nhân. Kịp lúc ấy Kiển Thúc đến thăm. Bá Lý Hề đưa vào yết kiến Vương Tử. Khi ra về Kiển Thúc nói:
- Vương Tử Đồi chí lớn nhưng bất tài, lại gần gũi kẻ nịnh, tất có ngày làm bậy. Chúng ta nên bỏ đi thì hơn.
Bá Lý Hề nói:
- Em xa quê hương đã lâu ngày, nay trở về nước Ngu thăm vợ con có được không?
Kiển Thúc đồng ý, cùng Bá Lý Hề sang nước Ngu.

Lúc ấy vợ Bá Lý Hề vì nghèo quá không biết lấy gì nuôi sống, phải bồng con đi tha phương sinh ý, không rõ là đi đâu. Bá Lý Hề vô cùng thương xót.
Sau đó Bá Lý Hề được người hiền thần của nước Ngu là Cung Chi Kỳ tiến cử và được nhà vua phong làm trung đại phu. Kiển Thúc nói:
- Anh nhận thấy vua nước Ngu là người thiếu kiến thức mà tự đắc. Như thế không phải là vua hiền.
Bá Lý Hề đáp:
- Em lâu nay nghèo khổ, có khác nào như cá bị cạn ngóng chờ nước để khỏi chết khô. Dẫu chưa phải vua hiền cũng phải tạm dung thân vậy.
Kiển Thúc nói:
- Vì nghèo mà phải quyền biến, anh không thể nào ngăn. Nhưng mai sau em có nhớ đến anh thì cứ đến làng Minh Lộc ở nước Tống.
Nói rồi từ giã.

Bá Lý Hề ở lại làm quan cùng nước Ngu . Được ít lâu nước Ngu bị nước Tấn đánh lấy. Vua Tấn sai Bá Lý Hề theo hầu Bá Cơ sang Tần. Đi nửa đường Bá Lý Hề trốn thoát, muốn sang Tống, nhưng bị nghẹn đường, phải qua Sở. Sau một thời gian lao khổ, Bá Lý Hề được vua Sở gọi cho làm chức Ngữ nhân và sai ra Đông Hải chăn ngựa.
Một hôm vua Tần là Mục Công xem sổ những người theo hầu Bá Cơ, thấy tên Bá Lý Hề mà không thấy người, bèn gọi công tử Trí hỏi. Công tử Trí cho biết tài năng và tung tích Bá Lý Hề. Tần Mục Công muốn đem lễ vật sang Sở xin rước về. Công Tôn Chi thưa:
- Vua Sở dùng Bá Lý Hề chăn ngựa tức là chưa biết Bá Lý Hề là kẻ hiền tài. Nếu Chúa Công đem lễ vật sang, chẳng khác nào bảo cho vua Sở biết Bá Lý Hề là hiền sĩ. Mà đã biết là hiền sĩ thì chưa chắc chịu cho về cùng Chúa Công. Chi bằng lấy cớ Bá Lý Hề trốn đi, xin chuộc về trị tội. Đó là theo kế Quản Trọng đánh lừa nước Lỗ mà thoát thân.

Tần Mục Công khen phải, sai người đem năm bộ da dê sang biếu vua Sở, xin chuộc Bá Lý Hề. Vua Sở liền chấp thuận.
Bá Lý Hề vào yết kiến Tần Mục Công. Ban đầu Mục Công chê tuổi già, nhưng sau khi nghe bàn đến việc giữ nước yên dân thì mừng rỡ, phong Bá Lý Hề làm chức Thượng Khanh, nắm giữ quyền bính trong nước, Bá Lý Hề tiến cử Kiển Thúc. Vua Tần vời đến phong làm quan Đại Phu cùng Bá Lý hề lo việc triều chính.
Nhờ hai bậc tôi hiền ấy mà nước Tần mỗi ngày mỗi thêm cường thịnh, và vua Tần lập nên nghiệp bá.
Nói về Đỗ Thị, từ khi bỏ làng ra đi, lưu lạc khắp nơi, sau tìm đến nước Tần làm nghề giặt mướn. Lúc Bá Lý Hề làm quan nước Tấn, Đỗ Thị hay tin, nhưng nghĩ phận nghèo khổ, không dám ra mặt. Nhân trong dinh Bá Lý Hề cần người giặt giữ, Đỗ Thị xin vào làm công. Thị làm việc rất chăm chỉ, người nhà ai cũng thương, nhưng ngày tháng trôi qua, muốn gặp chồng vẫn chưa có dịp gặp.

Một hôm Bá Lý Hề ngồi nơi thư trang, các phường nhạc đàn hát dưới thềm, Đỗ Thị mới nói cùng người nhà rằng:
- Tôi có biết âm nhạc, xin cho tôi được đến nghe.
Người nhà đưa Đỗ Thị đến. Đỗ Thị bảo phường nhạc cho đàn thử. Phường nhạc nhận lời trao cây Tì Bà. Đỗ Thị đàn một khúc, tiếng nghe ai oán não nuột, ai nấy điều khen Đỗ thị nói:
- Tôi còn biết ca nữa. Nhưng từ khi đến đây chưa hề cất tiếng. Nay xin cho tôi vào thư trang hát hầu quan Thượng Khanh một bài.
Phường nhạc lên thưa, Bá Lý Hề chấp thuận. Đỗ Thị ôm đàn, khép nép bước lên, vừa đàn vừa hát.
Hát rằng:
      Bá Lý Hề! Bá Lý Hề!
      Năm bộ da dê!
      Nhớ ngày ly biệt,
      Mổ gà mái ấp,
      Thổi nồi cơm vàng,
      Tình chứa chan!
      Nay giàu sang
      Gặp người xưa cũ
      Nỡ tâm phụ phàng?
      Bá Lý Hề! Bá Lý Hề!
      Năm bộ da dê...
      Cha cao lương mỹ vị,
      Con cơ cực trăm bề!
      Chồng áo gấm,
      Vợ giặt thuê!
      Há vì vinh hoa phú quí
      Mà phụ tình phụ tử, phu thê?
      Bá Lý Hề! Bá Lý Hề!
      Năm bộ da dê...
      Nhớ ngày ly biệt,
      Nhìn nhau thảm thiết,
      Lệ ngập ngừng,
      Bước ngập ngừng...
      Chừ đây trong gang tấc,
      Mà nghìn trùng xa cách!
      Ơi hỡi chàng! Ơi hỡi chàng!
      Nỡ vì giàu sang
      Đan tâm phụ phàng!

    Tiếng ca tiếng đàn lâm ly bi thiết, người nghe đều phải áo não bồi hồi! Bá Lý Hề ngạc nhiên, gọi đến hỏi ...Biết là Đỗ Thị bèn ôm lấy khóc oà!
    Từ ấy vợ chồng, cha con đoàn tụ.
    Thật là đáng khen.
    Nhưng chưa bằng Khương Thị vợ Trùng Nhĩ.
    Trùng Nhĩ là công tử nước Tấn, gặp lúc vận nước suy, phải chạy ra ngoài lánh nạn và chờ cơ phục nghiệp. Công Tử chạy hết nước này sang nước khác, khổ cực trăm chiều.
    Khi Trùng Nhĩ sang nước Tề, vua Tề là Hoàn Công lựa một người trong hoàng tộc là Khương Thị gả cho làm vợ và tặng ngựa hay cùng tiền bạc châu báo. Công tử được chổ yên thân, không còn nghĩ đến việc cả.

    Các quan tòng vong, biết nước Tề không có thể tin cậy được, bèn hợp nhau ở chổ vườn dâu, bày mưu đưa Trùng Nhĩ sang nước khác. Một đứa thị tỳ nghe được, về mách cùng Khương Thị. Sợ việc tiếc lộ, Khương Thị giết ngay đứa thị tỳ, rồi bảo chồng rằng:
    - Các tướng theo chàng định đưa chàng đi nước khác. Có đứa thị tỳ của thiếp nghe lóm được, thiếp sợ cơ mưu tiết lậu làm hư việc cả của chàng nên đã giết chết rồi. Vậy xin chàng lo liệu.
    Trùng Nhĩ đáp:
    - Trước kia còn trẻ, ta vẫn có chí bốn phương. Nay đã già rồi chỉ mong được an vui như thế này là đủ.
    Khương Thị khuyên nhủ thế nào, Trùng Nhĩ cũng không chịu. Nàng bèn cùng các tướng tòng vong lập kế.

    Một đêm Khương Thị bày tiệc rượu linh đình, mời Trùng Nhĩ nâng chén. Trùng Nhĩ hỏi:
    - Hôm nay có gì vui mà phu nhân bày yến tiệc ?
    Khương Thị nói:
    - Thiếp nghe công tử có ý muốn về nước, nên chén rượu nhạt tiễn chân.
    Trùng Nhĩ có ý không vui, nói:
    - Đời người như bóng câu qua cửa sổ, dù có dọc ngang trời đất, cuối cùng chỉ vùi nấm cỏ xanh. An nhàn được lúc nào tưởng nên vui hưởng trọn lúc ấy. Như ta đây còn mong muốn gì hơn?

    Khương Thị nói:
    - Biết rằng người đời ai cũng chết. Nhưng có kẻ chết đi còn để lại cho đời những công đức mà nghìn thu vẫn còn ghi. Có kẻ chết đi chỉ như một bị cơm thúi nát. Công tử vốn có chí lớn, nay say một người yêu thành ra mê mệt, thích một cảnh vui mà cứ an nhàn, làm bại hoại cả công danh sự nghiệp một đời, thì thiếp tưởng không còn gì đáng tiếc hơn vậy.
    Trùng Nhĩ lộ vẻ giận, bỏ chén rượu xuống. Khương Thị cười:
    - Công tử thật tình muốn ở cùng thiếp, hay là đã đổi lòng?
    Trùng Nhĩ quả quyết:
    - Mối tình quyến luyến, có bao giờ lại dứt bỏ mà đi.
    Khương Thị vừa cười vừa nói:
    - Một bên là chí hướng, một bên là tâm tình. nếu công tử ra đi thì thiếp vì chí hướng của công tử mà dâng chén chia phôi. Còn nếu công tử ở lại, thì vì tâm tình của công tử mà dâng chén tương thân vậy.

    Nghe vợ nói, Trùng Nhĩ rất hài lòng. Vợ chồng cùng nhau thù tạc. Khương Thị ép Trùng Nhĩ uống thật say, rồi bỏ lên xe, kêu các tướng tòng vong đưa đi sang nước khác.
    Khương Thị đưa đi một đoạn rồi gạt lệ trở lui.
    Nhờ ra đi chuyến này mà Trùng Nhĩ gặp được cơ hội trở về làm vua nước Tấn rồi làm bá chủ cả chư hầu.
    Hy sinh tình riêng để giúp chí cả của chồng như Đỗ Thị vợ của Lý Bá Hề và Khương Thị vợ Trùng Nhĩ, thì ai còn đem "dạ con nít " ví với "lòng đàn bà "?

    bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0
Lời Nói Danh Dự


Vua nước Sở là Trang Vương đem quân đánh nước Tống. Quan Tư Mã là Công Tử Trác được phong làm nguyên soái chỉ huy ba quân.
Quân Sở đến vây thành nước Tống, bốn mặt đông như kiến. Vua nước Tống là Văn Công lo sợ. Quan tướng quốc là Hoa Nguyên cố sức chống giữ, lại sai quan đại phu Nhạc Anh Tề sang Tấn cầu cứu. Tấn Cảnh Công định cho quân đi cứu Tống. Mưu sĩ là Bá Tôn can:
- Quân đang mạnh, đánh gấp không đặng.
Tấn Cảnh Công bảo:
- Nước Tống lâu nay giao hảo với nước ta, nay không cứu sao phải.
Bá Tôn thưa:
- Nước Sở cách xa nước Tống hơn hai trăm dặm, vận lương rất khó. Chúa Công sai người đến bảo Tống Văn Công cứ cố thủ thành trì, đợi quân Sở hết lương phải rút về, không cần đánh.

Tấn Cảnh Công theo lời sai quan đại phu Giải Dương sang Tống. Giải Dương vừa đến Tống thì quân Sở bắt được, đem nạp cho Sở Trang Vương. Trang Vương mắng:
- Nhà ngươi trước kia đã bị bắt, ta tha cho về. Nay sao còn dám đến đây?
Giải Dương không một chút sợ hãy, thưa:
- Tôi phụng mệnh vua Tấn đến truyền cho nước Tống cố thủ thành, đợi quân Tấn đến cứu.
Trang Vương bảo:
- Sở và Tấn là hai nước cừu địch. Nay nguơi đến đây tất phải bỏ mạng. Nhưng nếu ngươi chịu đem lời ta mà dụ nước Tống hàng thì ta sẽ dung tha.
Giải Dương hỏi:
- Tôi làm thế nào mà dụ được nước Tống?
Trang Vương đáp:
- Ngươi bảo người nước Tống rằng nước Tấn vì bận vệc không thể đem binh sang cứu được. Như thế nước Tống phải sợ mà đầu hàng.

Giải Dương giả ý chịu. Trang Vương cho một chiếc xe nhỏ chở Giải Dương đến bên thành. Giải Dương cất to tiếng bảo binh Tống nên cố sức giữ thành, không kíp thì chầy quân tiếp viện sẽ đến giải cứu.
Sở Trang Vương cả giận, truyền bắt Giải Dương đến hỏi:
- Sao nhà ngươi lại thất tín với ta?
Giải Dương ung dung đáp:
- Muốn thủ tín cùng Quí Quốc thì thất tín với nước tôi. Nếu Quí Quốc có kẻ làm tôi nghe theo lời nước địch, phản lại nước mình, thì Quí Quốc nghĩ sao ?
Sở Trang Vương khen :
- Nhà ngươi thật là kẻ trung nghĩa, đáng làm gương cho những bề tôi trên thế gian.

Liền truyền mở trói tha cho Giải Dương.
Còn Hoa Nguyên nghe theo lời Giải Dương, cố hết sức giữ thành. Quân Sở vây đánh hơn chín tháng trời vẫn không hạ được.
Lần hồi trong thành nước Tống gần hết lương thực. Ngoài thành quân Sở vây lâu ngày cũng đã mỏi mệt, kế có tin lương thực sắp cạn, chỉ còn ăn được bảy ngày nữa mà thôi. Nhưng trong cũng như ngoài, hai bên đều trấn tỉnh được lòng quân, nên hàng ngũ đâu đó đều tề chỉnh, không bên nào biết rõ tình hình bên nào, mặc dù hai bên đều có cất chòi cao để kiểm soát binh tình của bên địch.
Một hôm Sở Trang Vương lên chòi xem xét hành động của quân Tống. Trông thấy trong thành không chút nao núng, Trang Vương lắc đầu than:
- Không ngờ nước Tống mà lại khó đánh đến thế ?
Rồi có ý muốn lui binh. Các tướng can. Kẻ đánh xe cho nhà vua là Thông Thúc Thời dâng kế:
- Sở dĩ nước Tống không chịu đầu hàng là vì biết rằng quân ta không thể vây lâu được, hễ lương cạn thì tất phải lui binh. Nay xin Đại Vương giả cách lâu dài, cho quân sĩ đốn cây làm nhà, cày ruộng cấy lúa. Nước Tống trông thấy ắt phải sợ.

Sở Trang Vương khen phải, lập tức cho làm theo kế của Thông Thúc Thời. Hoa Nguyên hay tin, thất kinh nói với Tống Văn Công:
- Quân Sở không có ý rút về, binh Tấn lại không đến cứu. Thế nào ta cũng phải thua. Xin Chúa Công cho tôi lén sang dinh Sở, cưỡng bức công tử Trắc phải cho nước ta hoà thì mới được việc.
Tống Văn Công nói:
- Nước Tống còn hay mất là do tay tướng quân. Vậy cẩn thận cho lắm mới được.
Hoa Nguyên liền cải trang theo người nước Sở, đang đêm leo thành ra ngoài. Gặp quân Sở đang đi tuần, Hoa Nguyên hỏi:
- Quan nguyên sói ở đâu?
Không ngờ Hoa Nguyên giả dạng, quân Sở đáp:
- Nguyên Soái đang ở trên vọng địch đài.

Hoa Nguyên vội đến vọng địch đài, vừa muốn leo lên thì quân canh ngăn lại. Hoa Nguyên nói:
- Đại Vương sai ta đến báo mật lệnh cho nguyên soái.
Quân Sở tưởng thật, để Hoa Nguyên leo lên đài.
Trên đài còn thấp đèn. Công Tử ngót mấy hôm bận việc, mỏi mệt, cởi áo giáo, nằm ngủ say trên giường. Hoa Nguyên rón rén bưóc đến, hai tay đè chặt lấy Công Tử Trắc. Giật mình thức dậy, Công Tử Trắc thất kinh hỏi:
- Ai đó ? Sao dám đến đè ta?
Hoa Nguyên nói nhỏ:
- Xin nguyên soái chớ sợ. Tôi là Hoa Nguyên, phụng mệnh vua Tống đến xin nguyên soái cho nước tôi được giảng hoà. Nếu Nguyên Soái không nghe thì số mệnh chúng ta cùng tuyệt tại đây.

Vừa nói vừa để lộ thanh đoản kiếm giắt ở cạnh sườn.
Công tử Trắc nói:
- Nếu muốn giảng hoà thì cùng nhau bàn bạc, cớ sao lại hành động một cách bỉ ổi như thế này?
Hoa Nguyên buông Công Tử Trắc và xin lỗi.
Công Tử Trắc ngồi dậy hỏi:
- Tình hình nước Tống thề nào ?
Hoa Nguyên đáp:
- Nước tôi lương thực hết ráo!
Công Tử Trắc giật mình hỏi:
- Tình hình cùng khốn như thế, sao tướng quân lại đem nói thật với tôi?

Hoa Nguyên nói:
- Kẻ biết trọng danh dự, dẫu trong trường hợp nào cũng chẳng nói dối. Còn kẻ có nhân không bao giờ thừa lúc kẻ khác khốn mà áp bức. Tôi chắc Công Tử không nỡ làm khổ nước tôi nên tôi nói thật.
Công Tử Trắc hỏi:
- Đã vậy sao không chịu đầu hàng ?
Hoa Nguyên đáp:
- Nước tôi tuy lương thực hết mà chí khí quân dân rất hăng, thà chịu chết chớ không chịu nhục mà đầu hàng dưới thành. Nếu ngày chịu lui binh ba mươi dặm thì nước tôi xin tùng phục và giao hiếu.

Công Tử Trắc nói:
- Tôi chẳng giấu gì tướng quân. Quân Sở cũng chỉ còn lương thực đủ trong bảy hôm. Nếu nước Tống không đầu hàng thì phải rút về. Còn việc cất nhà cày ruộng chẳng qua là kế để cho người nước Tống sợ hãi đó thôi. Sáng mai tôi sẽ tâu cùng Sở Trang Vương lui binh ba mươi dặm mà giảng hoà. Tướng quân chớ thất tín.
Hoa Nguyên nói:
- Một lời đã thốt, bốn ngựa khó theo. Nguyên soái chớ ngại.
Công tử Trắc lấy lệnh tiễn trao cho Hoa Nguyên.

Hoa Nguyên tạ từ, trở về thành.
Sáng hôm sau Công Tử Trắc đem chuyện Hoa Nguyên đến xin hoà tâu cùng Sở Trang Vương. Trang Vương nói:
Tình hình nước Tống cùng khốn như vậy thì ta nên đánh lấy thành, cớ sao lại giảng hoà?
Công Tử Trắc thưa:
- Tôi đã hứa với Hoa Nguyên rồi. Nước Tống nhỏ nhen như thế mà còn có bề tôi không biết nói dối, huống chi một nước lớn như nước Sở lại không có một người biết trọng danh dự sao? Để biểu dương khí tiếc và độ lượng của Đại Vương, tôi đã thuận cho nước Tống giảng hoà.

Sở Trang Vương nói:
- Theo binh pháp, không nên vì danh dự mà tiết lộ quân tình, lại cũng không thể vị danh nghĩa trong khi hai bên đang thi đấu. Tuy nhiên, khanh đã trót hứa, lẽ nào ta không giữ thể diện cho một tướng lãnh nước Sở ư.
Liền đó nhà vua truyền lui binh ba mươi dặm để cùng vua Tống ăn thề.
Từ ấy Sở Tống giao hiếu, Công tử trắc và Hoa Nguyên trở thành hai người bạn thân và đã làm cho mối bang giao giữa Tống và Sở thêm bền chặt.
Thời Xuân Thu, Chiến Quốc, thiên hạ loạn lạc, nhân tâm điên đảo. Để thôn tính lẫn nhau, các nước chư hầu, ngoài binh lực ra, còn đủ mọi mưu mô xảo quyệt. Chữ THÀNH, chữ TÍN không còn giá trị được bao lăm.
Thế mà Giải Dương, Hoa Nguyên, Công Tử Trắc đã dám " đi ngược trào lưu ", đem chính tâm thành ý ra xử trí cùng đối phương, thì thật là đáng phục vậy.

Lại còn đáng kính phục hơn nữa là Sở Trang Vương: Nhà vua vì trọng người trung nghĩa mà vút bỏ mối cừu thù, vì muốn giữ danh dự cho kẻ bề tôi mà không kể đến mối lợi lớn đương mong chiếm đoạt. Thật cao thượng quá!
Giải Dương, Hoa Nguyên, Công Tử Trắc là những bậc hiền nhân.
Sở Trang Vương là trang hảo hớn
Thời loạn ly xưa còn có những hạng người cao thượng như thế, huống chi thời nay là thời tương đối thái bình,
Và câu chuyện đời xưa kia giúp ta thấy rõ rằng trên trường giao thế không gì quí bằng lòng thành tín. Muốn giải quyết những việc khó khăn cho ổn thoả, người trong cuộc cần phải thành thật với nhau, tin tưởng lẫn nhau, nhất là phải biết trọng lời nói danh dự. Dùng những thủ đoạn lừa gạt dối trá, dù có thu được kết quả mong muốn đi nữa, thì kẻ đắc thắng cũng không lấy gì làm vinh dự, và sự thành công cũng chỉ có lợi trong nhất thời. Sao bằng cứ thành thật với nhau như Hoa Nguyên và công tử Trắc, cái thành quả vừa tốt đẹp vừa bền lâu.
Tục ngữ có câu: "Trâu chết để da, người chết để tiếng". Và tiếng thơm trong thiên hạ chỉ bay ra từ nơi Đạo Đức, thời xưa cũng như thời nay.

Thầy Tuân Khanh thường gọi là Tuân Tử, sanh sau thầy Mạnh Kha tức Mạnh Tử độ nửa thế kỷ, thấy thời bấy giờ luôn luôn loạn lạc, phong hóa suy đồi, bèn làm sách nói về lễ, nghĩa ...để chỉnh đức và hành đạo. Sách ấy gọi là sách Tuân Tử.
Trong sách Tuân Tử có nói rằng:
"Thấy người hay thì phải cố mà bắt chước. Thấy người dỡ thì phải tự xét xem mình có dở như thế chăng để mà sửa chữa.
"Chính mình có điều hay, thì phải cố giữ lấy. Chính mình có điều dở thì phải cố mà trừ đi.
"Người ta chê, mà chê phải, tức là thầy ta. Người ta khen, mà khen phải, tức là bạn ta. Còn người nịnh hót ta, chính là người cừu địch làm hại ta đó.
" Cho nên người quân tử trọng thầy, quí bạn và rất ghét cừu địch; thích điều phải mà không chán, nghe lời can mà biết răng ...Như thế dù muốn hay không cũng không được.
"Kẻ tiểu nhân lại không thế. Cực bậy, mà trở ghét người chê mình; rất dở , mà lại thích người khen mình; bụng dạ như hổ lang, ăn ở như cầm thú, mà thấy người ta không phục lại không bằng lòng; thân với kẻ xiểm nịnh, xa kẻ can ngăn; thấy người chính trực thì cười, thấy người trung tín thì chê... Như thế thì dù muốn không dở cũng không được".
Ai muốn tu tâm, tưởng không nên quên lời dại ấy.

Đạo Tu thân rút lại chỉ có biết theo điều hay, biết tránh điều dở. Mà muốn đạt mục đích, thì chẳng những mình phải xét bản thân mình, mà còn phải xét tư cách những người ở xung quanh mình nửa.
Nước Kinh có người xem tướng giỏi, nói câu nào trúng câu ấy. Trong nước xa gần đều biết danh.
Vua Trang Vương bèn vời đến hỏi:
- Nhà ngươi dùng thuật gì mà xem tướng giỏi như thế ?
Người xem tướng đáp:
- Thần không có thuật gì lạ cả, mà chỉ xem bạn của ngưòi thì tất biết được là người hay hay dở. Như xem tướng cho dân, mà thấy chơi với những người hiếu, dễ, thuần, cẩn, biết giữ phép nước thì thần đoán biết người dân ấy là người hay, thân tất có ngày vẻ vang, nhà tất có ngày thịnh vượng. Như xem tướng cho quan lại, mà thấy chơi với những bạn thành, tín, có phẩm hạnh, ưa chuộng điều phải, thì thần đoán cho ông quan đó là người tốt, làm tất mỗi ngày một thăng cao, giúp vua tất mỗi ngày một ích lợi, như xem cho vua chúa, mà thấy quan gần có lắm người hiền, quan xa có lắm người trung, thì thần đoán biết là ông vua giỏi, ngôi tất mỗi ngày một thêm tôn trọng, nước mỗi ngày một thêm bình trị, thiên hạ tất mỗi ngày mỗi qui tụ thêm đông. Thuật xem người của thần chỉ có thế, quả không có gì lạ.

Vua Trang Vương cho là lời nói phải, nghe theo, kíp thu dụng người tài giỏi. Nhờ thế mà nước Sở trở nên cường thịnh nhất thời Chiến Quốc.
Lời nói của người xem tướng giống như câu ngạn ngữ của Tây Phương:
- Dis mor qui tu hantes, je te dirai qui tu es.
Nghĩa là:
- Anh hãi nói cho tôi biết ai là người anh giao du, tôi sẽ nói cho anh biết anh là ai.
Tục ngữ của ta cũng có câu:
- Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.
- Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.
Cũng đều gợi ý khuyên chúng ta nên chọn bạn.

Nhưng đâu phải chỉ gần người tốt là trở nên tốt như người. Muốn được như người, thì cần phải bắt chước mới được. Song phải biết cách bắt chước cho khéo, kẻo nữa thành nàng Đông Thi trong sách thầy Trang Chu.
Sách Trang Chu kể rằng:
Nước Việt có nàng Tây Thi, sắc đẹp nổi tiếng. Nàng có chứng đau bụng. Mà những lúc đau, ôm bụng, nhăn mặt, trông nàng lại đẹp bội phần.
Trong làng có người con gái tên là Đông Thi, dung mạo xấu xí nhưng ưa làm dáng, thấy Tây Thi nhăn mặt đẹp, liền bắt chước cũng ôm bụng nhăn mặt. Nhưng eo ơi! Ai trông thấy cũng tưởng quỉ dạ xoa hiện hình, nhà giàu đóng cửa không dám ra, nhà nghèo bồng bé con chạy trốn.
Đó là Đông Thi bắt chước cái bề ngoài.

Mà cái đẹp bên ngoài bắt chước còn khó thay huống hồ là cái đẹp bên trong. Nhưng dù có dễ bắt chước đi nữa cũng không nên bắt chước, vì chẳng qua là một lớp sơn, lâu ngày lở tróc, chất gỗ tạp cũng bị lòi ra. Có bắt chước cho được bằng người thì nên bắt chước cái đẹp bên trong, nghĩa là bắt chước đạo đức.
Bắt chước tức là học.
Chúng ta nên học như Công Minh Tuyên học thầy Trang Tử.
Công Minh Tuyên đến học thầy Trang Tử đã ba năm ròng mà không hề cầm đến sách vở. Thầy hỏi:
- Ngươi đến đây học đã ba năm nay, ta xem ý ngươi không mấy khi học tập sách vở như các anh em, là tại làm sao?

Công Minh Tuyên thưa:
- Thưa thầy con vẫn học.
Con nhận thấy:
Thầy ở trong nhà, trước mặt song thân, lúc nào cũng hiếu thuận; hoà nhã, cho đến giống vật như chó mèo, cũng không bao giờ thấy thầy la mắng.
Thầy ứng biến bạn bè, thì cung kính, ung dung, rất có lễ độ, kẻ dở người hay, ai nấy đều thiếp phục.
Thầy ở triều đình, đối với kẻ dưới, bề ngoài rất nghiêm trọng , mà trong bụng rất nhân từ, không có ý hại ai bao giờ cả.
Ba điều ấy con rất lấy làm vui lòng, mà mãi làm chưa được. Chớ con đâu dám không học mà cứ ở cửa nhà thầy.

Nghe phân, thầy Trang Tử liền tạ Công Minh Tuyên và nói:
- Thật ta không bằng nhà ngươi.
Học như thế mới thật là học.
Và đó là học lấy cái tinh hoa, học lấy đạo làm người vậy.
Học như thế tức là tu thân.
Sách nho có câu:
- Dĩ ngôn vi giáo, dĩ thân di giáo.
Tức là dùng lời nói mà giáo hoá người, dùng đạo đức của bản thân mà giáo hóa người.
Thầy Trang Tử đã "dĩ thân vi giáo " mà thầy không ngờ vậy.

Và cách học của Công Minh Tuyên thật là cao.
Nhưng chưa bằng cách học của Từ Tuân Minh .
Từ Tuân Minh là người thời Hậu Ngụy, ở đất Hoa Âm. Mồ côi cha từ thuở bé, tánh rất hiếu học. Mười bảy tuổi theo học cùng Vương Thông ở Sơn Đông. Được một năm, từ biệt thầy, sang nước Triệu học cùng Trương Ngô Quí. Dụng tâm học được hai tháng, nói riêng cùng Điền Mãnh Lược rằng:
- Thầy ta danh tiếng tuy lừng lẫy, song nghĩa lý không được quán triệt. Những câu thầy giảng thuyết, phần nhiều nghe không thoả tâm. Tôi muốn đi tìm thầy khác.
Rồi cùng Điền Mãnh Lược sang Phạm Dương thụ nghiệp cùng Tôn Mãi Đức. Nhưng mới được một năm lại muốn bỏ đi. Mãnh Lược trách:
- Anh tuổi còn trẻ, theo thầy học hành, mà chẳng chịu chuyên học một thầy, cứ nay thầy này, mai thầy khác, vừa tìm đến đã bỏ đi, nghìn dặm xa xôi, sách vở mang cắp, học hành như vậy, sợ không thành đạt.

Tuân Minh đáp:
- Nay tôi biết được chỗ ở của ông thấy đích thật là ông thầy.
Mãnh Lược hỏi:
- Ở đâu?
Tuân Minh chỉ vào tâm, nói:
- Đây, chính là nơi đây.
Rồi trở về nhà, đóng cửa, tự nghiên cứu lấy, tự nghiền ngẫm lấy. Khi mỏi mệt thường đàn địch để di dưỡng tính tình. Ngót sáu năm trời tu tập, không bước chân ra khỏi nhà. Sau trở thành một bậc đại nho.

Đó là Tuân Minh lấy TÂM làm thầy.
Nhưng trước khi lấy TÂM làm thầy thì phải có sách có thầy làm thầy trước mới được.
Có thầy có sách để mà học.
Học rồi mới lấy tâm mà tu lập.
Tu lập cho đến khi thấy được Chơn Tâm, thì là thành đạt, nếu không đến được bậc Đại Giác, cũng đến được bậc đại nho như thầy Tuân Minh vậy.





bài đã được sửa chính tả















Đăng nhập để trả lời
0
Cách Cư Xử Của Người Hiền



Người hiền cư xử theo lẽ phải. Giàu sang không làm mờ được lẽ phải, nghèo hèn không làm mất được lẽ phải, uy vũ không làm công được lẽ phải.
Khi đã nhận thức rõ ràng việc mình làm là phải đạo trời là hợp lòng người thì người cứ làm, có bị thiệt cho mình cũng không ngại.
Tín Lăng Quân lấy trộm binh phù, giết Tấn Bỉ, tự cầm quân đi cứu nước Triệu. Vua Ngụy giận lắm muốn đem gia quyến của Tín Lăng Quân ra chém, nhưng thấy tân khách của Tín Lăng đang còn ở trong nước đông đảo, nên không dám ra tay. Như Cơ thấy vậy quì tâu.
- Đó không phải tội của Tín Lăng Quân, mà chính là tội của thiếp.
Ngụy Vương nổi giận thét:
- Nhà ngươi lại dám tư thông cùng Vô Kỵ trộm binh phù ư?

Như Cơ đáp:
- Cha thiếp bị người giết chết. Đại Vương không thể vì thiếp báo thù, mà Tín Lăng Quân giúp được việc ấy. Thiếp mang ơn Tín Lăng Quân, không lấy gì đền đáp. Nay Tín Lăng Quân thương chị là vợ Bình Nguyền Quân, nóng lòng cứu Triệu. Thiếp không nở để người ơn phải buồn rầu, nên phải lấy trộm binh phù đưa cho Tín Lăng Quân ra thay Tấn Bỉ. Triệu và Ngụy hai nước như một nhà, lẽ nào Triệu nguy mà Ngụy không cứu. Nếu Tín Lăng Quân thắng được quân Tần, làm cho nước Ngụy lừng danh thì Đại Vương nghĩ sao?
Ngụy Vương ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói:
- Nhà ngươi lấy trộm binh phù rồi đưa cho ai trao lại cho Tín Lăng Quân?
Như Cơ thưa:
- Nhan Âm đem đưa cho Tín Lăng Quân.
Ngụy Vương sai bắt Nhan Âm đến mắng:
- Sao ngươi dám đem binh phù giao cho Tín Lăng Quân?
Nhan Âm quì tâu:
- Phu nhân sai bảo gì mà tôi dám trái.

Ngụy Vương chưa hết giận, truyền đem giam Nhan Âm vào ngục, và đày Như Cơ vào hậu cung. Đoạn sai người dò tìm Tín Lăng Quân.
Khi Vệ Khanh mang binh và hổ phù về báo tin thắng Tần của Tín Lăng Quân, vua Ngụy mừng rỡ tha Như Cơ ra khỏi hậu cung và thả Nhan Âm ra khỏi ngục thất. Như Cơ tạ ơn vua và tâu:
- Nhờ Tín Lăng Quân mà nước Ngụy lừng danh, vua Tần khiếp oai Đại Vương. Như thế Tín Lăng Quân là bức thành kiên cố của nước Ngụy, há lại để ở nước ngoài. Xin Đại Vương sai sứ triệu về nước để tỏ lòng mến kẻ hiền tài.
Vua Ngụy đáp:
- Hắn được miễn tội là đã đủ, đâu có quyền kể đến công lao.
Đoạn đem bổng lộc ở ấp Phong phân phối cho gia đình Tín Lăng Quân chi dụng, không cho triệu Tín Lăng Quân về.

Tín Lăng Quân ở nước Triệu được vua Triệu trọng đãi.
Thời bấy giờ ở nước Triệu có hai danh sĩ là Mao Công và Tiết Công. Mao Công ẩn thân trong đám đánh bạc. Tiếc Công dấn thân trong làng buôn rượu. Tín Lăng Quân nghe tiếng là người hiền, sai Chu Hợi đến hỏi thăm. Hai ông tránh mặt không tiếp. Tín Lăng Quân phải thân hành đi tìm.
Một hôm giả người thường dân theo dò tung tích, Tín Lăng Quân biết hai ông ở nơi quán rượu, liền bước vào, thi lễ xưng tên họ và tỏ lòng ngưỡng mộ. Hai ông không tránh kịp, đành phải tiếp kiến.
Từ ấy Tín Lăng Quân thường lui tới vơi Mao Công và Tiết Công, hai bên rất là tương đắc.

Bình Nguyên Quân hay tin, nói cùng phu nhân:
- Tôi nghe Tín tướng quân là bậc hiền sĩ, trong đám công tử không ai bằng, nay lại chơi bời cùng những kẻ rượu chè cờ bạc như thế, e có hại cho thanh danh.
Phu nhân đem lời ấy nói lại với em. Tín Lăng Quân nổi giận nói:
- Lâu nay em vẫn tưởng Bình Nguyên Quân là người cao thượng. Ai ngờ là kẻ chỉ chuộng những vẻ hào hoa bên ngoài không biết gì đến chân giá trị của kẻ sĩ. Khi em còn ở Ngụy được nghe ở Triệu có hai bậc hiền nhân là Mao Công và Tiết Công, ước ao được gặp mặt. Nay lại được kết thân với hai ông thì thật là vinh hạnh. Bình Nguyên Quân đã không biết, lại còn tỏ ý khinh khi, thì thật không phải là hiền sĩ. Em không muốn ở lại nước Triệu nữa.

Liền đó bàn cùng tân khách sửa soạn đi nước khác.
Bình Nguyên Quân hay tin, tự trách:
- Nước Triệu có hai người hiền nổi danh nước ngoài mà ta hông biết, thật đáng thẹn!
Bèn vội vã thân hành đến tạ tội cùng Tín Lăng Quân và xin Tín Lăng Quân ở lại Triệu.
Cách mười năm sau, nước Ngụy bị nước Tần kéo quân sang đánh. Quân bị thua luôn. Như Cơ tâu cùng Ngụy Vương:
- Nước ta yếu, lại không có tướng tài. Muốn giữ nước phải có Tín Lăng Quân. Xin Đại Vương cho người sang triệu về nước.
Trong cơn nguy cấp Ngụy Vương phải nghe theo, viết thư, sai Nhan Âm mang vàng lụa sang Triệu đón Tín Lăng Quân.

Tín Lăng Quân xem thư, bảo Chu Hợi:
- Vua Ngụy bỏ ta đã mười năm, nay có việc mới đón về, đó là vì cần chứ không phải vì trọng.
Bèn treo lá thư ở dưới cửa và tuyên bố:
- Nếu sứ Ngụy vào thì giết chết.
Nhan Âm không vào được, ngày ngày thơ thẩn ở trước dinh.
Một hôm Mao Công và Tiết Công đến. Biết là hai vị thượng khách của Tín Lăng Quân, Nhan Âm liền đến kể sự tình. Hai ông hứa nói giúp
Vào yết kiến Tín Lăng Quân, hai ông nói:
- Nghe Công tử sắp trở về Ngụy để cứu nguy, chúng tôi xin đến mừng.

Tín Lăng Quân nói:
- Tôi có bao giờ nghĩ đến chuyện trở về Ngụy đâu!
Tiết Công nói:
- Quân Tần vây nước Ngụy quá gấp. Công tử bỏ qua sao?
Tín Lăng Quân đáp:
- Rời bỏ nước Ngụy đã mười năm rồi. Nay đã thành người nước Triệu, không còn muốn nghe chuyện nước Ngụy nữa.
Mao Công lắc đầu nói:
- Công tử không nên nghĩ thế. Công tử được trọng đãi ở nước Triệu, được tiếng khen khắp chư hầu, là nhờ ở nước Ngụy. Thêm nữa, nước Ngụy là nơi chôn nhau cắt rốn, mà không vì Ngụy mà giải nguy thì e thiên hạ chê cười, bạn bè cũng vì thế mà xa lánh.

Tín Lăng Quân nghe nói toát mồ hôi, vội đứng dậy, tạ:
- Nếu không có nhị vị tiên sinh, thì Vô Kỵ này sẽ là người có tội lớn trong thiên hạ.
Đoạn bảo tân khách sửa soạn hành trang, rồi vào từ giã vua Triệu. Vua Triệu cầm tay nói:
- Từ khi Bình Nguyên Quân mất, ta chỉ trông cậy vào công tử. Nay công tử bỏ ta mà đi thì ai sẽ cùng ta lo việc xã tắc?
Tín Lăng Quân bùi ngùi đáp:
- Vì không muốn để nước Ngụy bị nước Tần tàn phá, Vô Kỵ này phải về cứu nguy. Nhờ phúc Đại Vương, xã tắc không mất, thì còn có ngày tái hội.
Triệu Vương nói:
- Trước kia công tử lấy binh lực nước Ngụy cứu nước Triệu. Nay công tử về nước Triệu, ta phải tận lực giúp lại.

Vua Triệu liền đem ấn thượng tướng trao cho Tín Lăng Quân, và sai Bàng Noãn làm phó tướng lãnh mười vạn quân theo cứu ứng.
Tín Lăng Quân cho Nhan Âm về trước báo tin cho Ngụy Vương hay, rồi sai tân khách mang thư đến các nước cầu cứu. Ba nước Yên, Hàn, Sở vốn trọng nhân phẩm Tín Lăng Quân, liền sai Đại Tướng mang quân cứu Ngụy.
Nhờ vậy mà Tín Lăng Quân đánh tan quân Tần.
Vua Ngụy cả mừng thân hành ra ngoài thành hơn ba mươi dặm để đón Tín Lăng Quân. Anh em gặp nhau mừng mừng, tủi tủi, cùng ngồi chung một xe mà về triều. Luận công ban thưởng, Ngụy Vương phong Tín Lăng Quân làm Tướng Quốc, việc triều chính lớn nhỏ đều giao trọn quyền. Nhà vua lại tha tội giết Tấn Bỉ của Chu Hợi và phong làm Thiếu Tướng.
Từ ấy, uy danh của Tín Lăng Quân vang lừng trong thiên hạ.

Vua Tần bị thua bàn cùng triều thần tìm cách rửa hận. Thái Trạch tâu:
- Các nước sở dĩ liên minh giúp Ngụy là nhờ uy tín Tín Lăng Quân. Nay đại vương sai sứ sang thông hiếu với Ngụy, mời Tín Lăng Quân sang Tần hội kiến, rồi lập kế giết đi, để trừ hậu hoạ.
Vua Tần theo lời, sai sứ sang Ngụy.
Tín Lăng Quân không đi. Ngụy Vương sai Chu Hợi làm sứ đem đôi ngọc bích sang Tần tạ lễ. Vua Tần giận, toan giết Chu Hợi, nhưng kẻ mưu sĩ can:
- Chu Hợi là người vũ dũng, xin lưu lại mà dùng.
Vua Tần nghe lời muốn phong tước cho Chu Hợi. Chu Hợi nhất định từ chối. Vua Tần nổi giận sai trói bỏ vào chuồng hổ. Một con hổ lớn thấy người liền nhảy đến vồ. Chu Hợi trợn mắt hét lên một tiếng như sấm. Con hổ khiếp oai nằm mọp xuống. Quân sĩ trông thấy vào tâu cùng vua Tần. Vua Tần sai bắt giam vào trạm, không cho ăn uống, Chu Hợi nói:
- Ta chịu ơn Tín Lăng Quân rất nặng. Nay chỉ có chết mới đền được ơn tri ngộ.

Nói xong, đập đầu vào cột, nhưng cột gãi mà đầu không vỡ. Chu Hợi bèn móc cổ họng mà quyên sinh.
Tín Lăng Quân nghe tin khóc lớn.
Còn vua Tần không hại được Tín Lăng Quân bèn tìm cách ly gián Tín Lăng Quân và vua Ngụy. Vua Ngụy bị mắc mưu, đem lòng nghi kỵ Tín Lăng Quân. Biết được, Tín Lăng Quân liền đem ấn trả lại, cáo bệnh từ quan, ngày ngày cùng Tân khách vui cùng non xanh nước biếc.
Thời Chiến Quốc là thời loạn lạc mà vẫn có những tâm hồn cao đẹp như thế, cao đẹp từ lời nói đến việc làm, thì ai dám bảo rằng loạn lạc làm điên đảo nhân tâm. Thật ra thì lòng kẻ tiểu nhân lúc nào cũng điên đảo. Còn lòng người quân tử thì lúc khốn cùng càng thêm vững bền....




bài đã được sửa chính tả



Đăng nhập để trả lời
0
Tấm Lòng Kẻ Sĩ


Xưa nay, nổi tiếng có lòng hiếu sĩ, không ai hơn Mạnh Thường Quân, Bình Nguyên Quân, và Tín Lăng Quân thời chiến quốc.
Trước hết xin nói về Mạnh Thường Quân.
Mạnh Thường Quân là người nước Tề, từ lúc bé đã biết chiêu hiền đã sĩ, đón rước tân khách hơn ngàn người. Sau làm tiết công, trong dinh tân khách đông như hội.
Vua Tần mến danh, đưa người thân sang Tề làm con tin để mời Mạnh Thường Quân về Tần làm tướng. Vua Tề là Mân Vương không dám từ chối, sai Mạnh Thường Quân sang Tần.

Mạnh Thường Quân cùng hơn hai ngàn tân khách đi đến Hàm Dương vào yết kiến vua Tần. Chiêu Tương Vương bước xuống ngai đón tiếp, tỏ lòng mến yêu. Mạnh Thường Quân dâng lên nhà vua một chiếc áo cừu.
Chiếc áo cừu này lông trắng như tuyết, trời lạnh đến đâu, mặc vào liền thấy ấm.
Tần Vương rất lấy làm quí, liền mặc thử rồi vào cung khoe cùng ái phi là Yên Cơ, Yên Cơ nói:
- Áo cừu này cũng nhiều người có, lấy gì làm đặc biệt?
Tần Vương đáp:
- Giống hồ không sống được vài ngàn năm thì sắc lông không trắng. Áo này phải lấy những manh da nơi nách hồ, ráp lại. Giá đáng muôn vàng.

Lúc bấy giờ trời còn ấm, Tần Vương bèn cởi áo cừu giao cho viên giữ kho, rồi lo chọn ngày phong Mạnh Thường Quân làm tướng quốc.
Vu Lý Tật sợ mất địa vị bèn sai người đến gièm cùng Tần Vương:
- Mạnh Thường Quân là người nước Tề, dẫu sao cũng vị Tề hơn Tần. Nếu va mượn quyền mà mưu ngầm cho Tề thì Tần không khỏi nguy.
Vua Tần liền bàn cùng Vu Lý Tật. Tật nói:
- Lời ấy rất phải.
Vua Tần hỏi:
- Nếu vậy thì cho Mạnh Thường Quân về nước hay sao ?
Vu Lý Tật thưa :
- Mạnh Thường Quân ở Tần hơn một tháng, khách theo hơn vài ngàn người, những việc nước Tần đều biết rõ hết. Nếu để cho về tất có hại. Nên giết đi.

Vua Tần nghe lời, truyền Mạnh Thường Quân ra ở nơi quán dịch. Kinh Dương Quân khi sang Tề được Mạnh Thường Quân hậu đãi, nên mến đức, nay nghe tin vua Tần dự tính việc không lành, bèn lén đến cho Mạnh Thường Quân biết. Mạnh Thường Quân thất kinh, hỏi kế, Kinh Dương Quân nói:
- Trong cung có Yên Cơ được vua yêu quí, nói gì vua cũng nghe. Nếu ngài có vật báu đem dâng thì tôi có thể vì ngài lo liệu.
Mạnh Thường Quân liền trao cho Kinh Dương Quân đôi ngọc bích. Kinh Dương Quân đem vào xin Yên Cơ giải cứu Mạnh Thường Quân. Yên Cơ nói:
- Tôi chỉ thích thứ áo lông cừu trắng. Nếu có tôi sẽ giúp cho. Còn ngọc bích tôi chẳng thiếu.
Kinh Dương Quân bảo lại cho Mạnh Thường Quân. Mạnh Thường Quân than:
- Tôi chỉ có một hồ cừu đã dâng cho Tấn Vương rồi, bây giờ biết tìm đâu có nữa.

Một môn khách xin đi tìm.
Người môn khách này có tài giả làm chó rất giống. Đêm ấy đội lốt chui qua cửa cổng, lén vào kho, sửa lên mấy tiếng rồi đến nằm bên xó hè. Viên giữ kho tưởng là chó thiệt, không để ý tới. Đợi đến lúc viên giữ kho ngủ say, người môn khách mò đến lấy trộm chìa khoá, mở kho, tìm lấy được áo hồ cừu, đem về dâng cho Mạnh Thường Quân, và kể rõ mọi sự. Mạnh Thường Quân mừng rỡ, trao áo cho Kinh Dương Quân đem dâng cho Yên Cơ.
Yên Cơ mở tiệc thiết vua Tần. Khi nhà vua đã ngà say, Yên Cơ mới thỏ thẻ nói:
- Mạnh Thường Quân là người hiền của nước Tề, vì nể lời Đại Vương mà qua đây. Nếu chẳng dùng thì cho về, cớ sao lại giết để mang tiếng xấu cùng chư hầu?
Vua Tần khen phải, liền hạ lệnh cho Mạnh Thường Quân về nước. Mạnh Thường Quân cả mừng, nhưng lại sợ Tần Vương đổi ý.
Trong các tân khách có người khéo làm giấy giả, liền tạo cho Mạnh Thường Quân một tờ thông hành, đổi họ tên, rồi giục lên đường.
Lúc ấy trời đã tối, khi đến cửa ải Hàm Cốc thì mới nửa đêm, cửa quan còn khóa chặc. Mạnh Thường Quân than:
- Phải đợi đến gà gáy cửa ải mới mở. Nếu có người đuổi theo thì chúng ta khó thoát nổi.
Mạnh Thường Quân vừa dứt lời thì trong đám tân khách có tiếng gà gáy cất lên. Mạnh Thường Quân lấy làm lạ. Xét ra thì là tiếng gà gáy giả của một tân khách. Tiếng gái giả giống hệt nhu tiếng gà thật. Gà quanh xóm nghe tiếng gáy, đều cất tiếng gáy theo. Viên quan giữ cửa ải tưởng trời đã sáng, liền trở dậy khám xét giấy thông hành rồi sai mở của ải. Mạnh Thường Quân cùng đòn tân khách vội vã lên đường.

Được tin Chiêu Tương Vương cho Mạnh Thường Quân về nước, Vu Lý Tật vào can. Vua hối hận, lập tức cho một toán quân theo bắt lại, khi đến Hàm Cốc thì Mạnh Thường Quân đi xa rồi.
Mạnh Thường Quân về đến nước Tề, Tề Mân Vương mừng rỡ phong làm tướng quốc,
Từ ấy tân khách theo Mạnh Thường Quân mỗi ngày mỗi thêm đông. Mạnh Thường Quân chia ba hạng đẳng:
- Thượng đẳng gọi là Đại Xá.
- Trung đẳng gọi là Hạnh Xá.
- Hạ đẳng gọi là Truyền Xá.
Đại Xá Khách có thể thay thế chủ nhân những khi cần đến, bữa ăn có thịt và lúc đi có xe.
Hạnh Xá Khách có quyền ăn thịt nhưng không có quyền đi xe.
Truyền Xá Khách chỉ ăn cơm rau mắm.

Những người có tài và có công, như những người chó sủa, gà gáy, làm giấy thông hành giả ...để cứu mạng cho chủ nhân, đều được đãi vào hạng Đại Xá.
Một hôm có người mặc áo rách, đi giày cỏ, thân hình vạm vỡ, đến xin yết kiến. Mạnh Thường Quân mời vào, hỏi:
- Tiên sinh có điều gì dạy bảo:
Người ấy đáp:
- Tôi vốn người nước Tề, họ Phùng tên Hoan, nghe tiếng ngài yêu chuộng hiền sĩ, nên đến xin hầu hạ.
Mạnh Thường Quân vì chưa rõ tài đức như sao, theo thường lệ, cho vào hạng Truyền Xá. Sau 10 ngày, hỏi Truyền Xá Trưởng:
- Người khách mời đến hàng ngày làm việc gì ?
Truyền Xá trưởng thưa:
- Phùng Hoan nghèo quá, không có vật gì ngoài thanh gươm. Gươm lại không có vỏ, phải lấy dây buộc đeo ở sau lưng. Mỗi ngày ăn xong thường gõ thanh gươm hát " Về đi thôi, ăn không có thịt ".

Mạnh Thường Quân nói:
- Phùng Tiên sinh trách ta cho ăn uống không ra gì.
Liền đổi Phùng Hoan lên hạng Hạnh Xá. Năm ngày sau hỏi Hạnh Xá trưởng. Hạnh Xá trưởng thưa:
- Người ấy ăn rồi thường vỗ gươm hát: " Về đi thôi, đi chẳng có xe!"
Mạnh Thường Quân liền đưa Phùng Hoan lên hàng Đại Xá và cho người do xét. Thì biết rằng người khách này ngày nào cũng cỡi xe đi chơi đến tối mới về, ăn xong lại vỗ gươm hát: " Về đi thôi, chẳng có gì để giúp nhà!". Mạnh Thường Quân nhăn mày nói:
- Phùng Hoan sao mà tham lam đến thế?

Rồi lại cho người theo dõi nữa, sau đó Phùng Hoan không hát nữa.
Được một năm thì khách khứa mỗi ngày mỗi đông, bổng lộc không đủ cung cấp, Mạnh Thường Quân bèn đem tiền cho ấp Tiết vay để lấy lợi. Nhưng đến kỳ, phần đông kẻ thiếu nợ không trả. Mạnh Thường Quân đem việc thiếu hụt bàn cũng tân khách và nhờ người đến ấp Tiết tra sổ đòi nợ. Truyền Xá trưởng thưa:
- Phùng tiền sinh tánh chất thật thà, có thể nhờ được.
Mạnh Thường Quân theo lời, cậy Phùng Hoan. Phùng Hoan không từ chối, hỏi:
- Thâu được nhiều tiền có mua vật chi chăng?
Mạnh Thường Quân cười:
- Tiên sinh xem trong nhà thiếu gì thì mua nấy.

Phùng Hoan đến ấp Tiết mở tiệc mời những người mắc nợ đến dự, và truyền rằng:
- Ai có nợ quan Tướng Quốc, nếu trả nổi thì trả, ai trả chưa nổi và liệu có thể trả được thì làm giấy kỳ hẹn. Còn những người nghèo khổ quá thì có thể xin hủy giấy nợ đi.
Phần đông vì nghèo khổ quá liệu không thể trả nổi, đều xin hủy giấy. Phùng Hoan nổi lửa đốt sạch. Dân chúng vui mừng dự tiệc và hết lời ca ngợi ơn đức Mạnh Thường Quân.
Phùng Hoan trở về. Mạnh Thường Quân hỏi:
- Tiên sinh đòi nợ được nhiều chăng?
Phùng Hoan đáp:
- Đòi được gần hết, nhưng tôi đã dùng mua vật báu đem về dâng cho Tướng Công.

Mạnh Thường quân không thấy Phùng Hoan mang vật gì, bèn hỏi. Phùng Hoan đáp:
- Nhà Tướng Công châu báu đầy kho, ngựa dê đầy chuồng. người đẹp đầy nhà...Không còn thiếu chi nữa, chỉ còn thiếu đức Nghĩa, nên tôi trộm phép vì Tướng Công mà mua về.
Mạnh Thường Quân tỏ ý không bằng lòng. Phùng Hoan nói:
- Ấp Tiết là đất phong của Tướng Quốc, dân chúng cùng Tướng Quốc chia sẻ buồn vui. Nếu không nhẹ tiền tài thì đâu phải là bậc hiền sĩ.
Mạnh Thường Quân tuy lo lương thiếu hụt, nhưng cũng bỏ qua, gượng gạo tạ ơn Phùng Hoan.
Cách đó ít lâu, vua Tề bị lầm kế ly gián của vua Tần, thu tướng ấn của Mạnh Thường Quân và đuổi về ấp Tiết. Các tân khách bỏ đi hết, chỉ có Phùng Hoan theo phò bên cạnh.

Mạnh Thường Quân về đến ấp Tiết, trẻ già, trai, gái kéo nhau ra đón chật đường, và dành nhau dâng thực phẩm. Mạnh Thường Quân ứa nước mắt, nói cùng Phùng Hoan:
- Trước kia tiên sinh vì tôi mua Nghĩa, nghĩa ấy ngày nay tôi mới trông thấy.
Phùng Hoan nói:
- Việc ấy chưa phải là hay. Nếu tôi được một cỗ xe, tôi sẽ làm cho Ngài thêm trọng vọng ở trong nước.
Mạnh Thường Quân liền sắm một cỗ xe trao cho Phùng Hoan.

Phùng Hoan liền lên xe thẳng qua nước Tần, vào yết kiến Tần Chiêu Vương, và nói:
- Tần và Tề không thể cùng nhau đứng ngang hàng được. Hễ thấy nước nào mạnh thì được thiên hạ. Tôi đến đây là muốn giúp Tần mạnh hơn Tề vậy.
Chiêu Vương mừng rỡ hỏi:
- Tiên sinh có chước gì để giúp ta?
Phùng Hoan đáp:
- Nước Tề trước được thiên hạ trọng vọng là nhờ có Mạnh Thường Quân là người hiền phò tá. Nay vua Tề nghe lời gièm pha bỏ Mạnh Thường Quân. Hiện Mạnh Thường Quân đang oán. Đại Vương nên nhân cơ hội mà rước Mạnh Thường Quân sang Tần làm Tướng. Mọi bí quyết của Tề hiện ở trong tay Mạnh Thường Quân. Như vậy Đại Vương có thể thôn tính nước Tề dễ dàng.

Lúc bấy giờ Vu Lý Tật đã qua đời. Đương muốn có kẻ tiền tài phó tá, vua Tần nghe nói cả mừng, truyền lấy 10 cỗ xe cùng lễ vật sai người sang ấp Tiết rước Mạnh Thường Quân. Phùng Hoan xin vì trước để báo tin. Nhưng không về ấp Tiết mà lại thẳng đến kinh đô nước Tề, vào ra mắt Tề Mân Vương, nói:
- Tần và Tề, hai nước sức mạnh ngang nhau. Hễ nước nào được người hiền thì lấn, nước nào mất người hiền thì thua. Nay vua Tần được tin Mạnh Thường Quân bị đuổi, cho người sang rước về làm Tướng. Hễ Mạnh Thường Quân chịu về cùng Tần, trong tay đã nắm sẵn những điều bí hiểm của Tề, thì tôi e nước Tề khó giữ nổi.
Mân Vương sợ hãi, hỏi:
- Như thế biết tính sao bây giờ ?
Phùng Hoan đáp:
- Sứ Tần chưa đến ấp Tiết. Đại Vương nên cho người rước gấp Mạnh Thường Quân về triều, trả lại ấn tướng, lại tăng thêm bổng lộc. Như thế Mạnh Thường Quân đã biết ơn mà nước Tần cũng không làm sao mua chuộc Mạnh Thường Quân được nữa.

Mân Vương chưa tin, cho người đi dò xét, thì quả nhiên sứ Tần đã rầm rộ đem xe đi rước Mạnh Thường Quân. Được tin đích xác Mân Vương lập tức sai Phùng Hoan cầm cờ tiết về ấp Tiết đón Mạnh Thường Quân về triều. Khi sứ Tần đến nơi thì Mạnh Thường Quân đã đi rồi, đành phải quay trở về.
Mạnh Thường Quân vào ra mắt vua Tề. Nhà vua hết lời phủ dụ rồi giao ấn tín lại và giao thêm đất cho Mạnh Thường Quân. Tân khách hay tin, lần lượt kéo đến. Mạnh Thường Quân nói cùng Phùng Hoan:
- Tôi đối với tân khách không có gì mích lòng. Thế mà lúc tôi bị bãi chức, khách đều bỏ tôi mà đi. Nếu không có tiên sinh thì sao có được ngày nay vậy.
Phùng Hoan nói:
- Xin ngài chớ chấp. Lòng người đời là thế. Đã gọi là kẻ sĩ thì tấm lòng phải khác người đời.
Mạnh Thường Quân bái tạ:
- Tiên Sinh mới thật là kẻ sĩ, tôi không thể sánh bì.
Và lòng thấy hân hoan, Mạnh Thường Quân càng hậu đãi tân khách hơn trước.



bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0
Lòng Kẻ Sĩ


Cổ nhân có câu:
    Biết ai gan ruột gởi mình
    Mua tơ thêu lấy tượng Bình Nguyên Quân.

Bình Nguyên Quân là ai mà cổ nhân ngưỡng mộ đến thế?
Đó là Công Tử Thắng, tướng quốc nước Triệu, được phong đất Bình Nguyên, tên gọi là Bình Nguyên Quân.
Bình Nguyên Quân cũng có lòng hiếu sĩ như Mạnh Thường Quân. Khách thường xuyên ở trong nhà có trên vài ngàn, và hàng ngày tiếp đón hàng trăm tân khách.
Bình Nguyên Quân lại dành riêng một tòa hoa lâu để cho mỹ nữ ở. Trước hoa lâu có nhà một người thường dân, mà chủ nhân bị què một chân. Sáng nào người bình dân tàn tật cũng khập khiễng đi xách nước.

Một sáng, một mỹ nữ ngồi trên lầu trong thấy bộ dạng người bình dân, vùng cười rộ lên. Người bình dân liền đến yến kiến Bình Nguyên Quân, và nói:
- Tôi là một kẻ sĩ, chẳng may bị què chân, đi không vững. Ở hậu cung ngài có người mỹ nữ thấy tôi tàn tật mà cười. Thế là vô lễ. Tôi đến xin ngài cái đầu của mỹ nữ ấy.
Bình Nguyên Quân mỉm cười không đáp. Người bình dân bỏ ra về.
Cách một thời gian sau, tân khách trong nhà lần hồi thưa thớt. Bình Nguyên Quân lấy làm lạ, dò hỏi. Có người bảo:
- Ngài không chém mỹ nữ đã vô lễ với kẻ sĩ, tức là trọng sắc hơn đức. Vì thế kẻ sĩ không muốn gần ngài.

Bình Nguyên Quân thất kinh, liền đem chém mỹ nữ và đem đầu đến tạ tội cùng người bình dân. Kẻ sĩ nghe tin, rủ nhau đến đông đúc.
Hành động Bình Nguyên Quân vang động khắp trong nước và ngoài nước. Ai đều khen là nghĩa hiệp.
Bình Nguyên Quân kết giao cùng Tín Lăng Quân Vô Kỵ Công Tử ở nước Ngụy.
Tín Lăng Quân cũng là một người hiếu sĩ, danh ngang cùng Bình Nguyên Quân và Mạnh Thường Quân. Trong nhà tân khách nườm nượp. Ngoài ra Tín Lăng Quân còn giao du thân mật cùng một ông lão bình dân là Hậu Sinh và một người hàng thịt là Chu Hợi. Cách đối xử của Tín Lăng Quân đều được mọi người khâm phục.
Vua Tần kéo quân đánh Triệu.
Vua Triệu sai sứ qua Ngụy cầu cứu. Vua Ngụy không khứng chịu. Bình Nguyên Quân bèn gởi thư cho Tín Lăng Quân, nhờ nói giúp. Tín Lăng Quân vào tâu xin vua Ngụy cứu Triệu. Vua Ngụy vẫn không nghe.

Không lẽ phụ lòng Bình Nguyên Quân, Tín Lăng Quân bèn sửa soạn vài trăm cỗ xe, hẹn cùng các tân khách, thẳng đến nước Triệu để sống chết cùng Bình Nguyên Quân. Tân khách xin theo hơn nghìn người.
Khi đi ngang qua Di Môn, Tín Lăng Quân vào từ biệt Hầu Sinh. Hầu Sinh nói:
- Công Tử cố lên. Tôi già rồi, không thể đi theo được, xin đừng trách.
Tín Lăng Quân đưa mắt nhìn Hầu Sinh. Hầu Sinh không nói gì thêm nữa. Tín Lăng Quân buồn bã ra đi. Được hơn mười dậm nghĩ thầm:
- Ta lấy nghĩa đãi Hầu Sinh không thiếu. Thế mà nay ta ra đi, vạn tử nhất sanh, Hầu Sinh không vì ta, bày một mưu kế là nghĩa làm sao ?
Bèn bảo tân khách dừng lại, một mình quay xe trở lại yết kiến Hầu Sinh. Tân khách nói:
- Lão già ấy gần đất xa trời, trí não mù mịt, còn biết gì lợi hại mà ngài phải bận tâm.

Tín Lăng Quân không nghe. Khi đến nơi, thấy Hầu Sinh đã đứng đợi ngoài cửa, vừa cười vừa nói:
- Tôi biết thế nào công tử cũng trở lại.
Hỏi tại sao biết, đáp:
- Công Tử đãi tôi quá hậu. Nay dấn thân vào chỗ nguy hiểm mà tôi không đưa, tất giận trở lại mắng.
Tín Lăng Quân vái hai vái, và nói:
- Lúc đầu Vô Kỵ này ngỡ có điều gì lỗi, nên tiên sinh ghét bỏ, bởi vậy mới quay lại xin lỗi cùng tiên sinh.
Hầu Sinh nói:
- Công Tử nuôi tân khách hơn vài mươi năm rồi, mà bây giờ trong cơn nguy biến, không một ai bàn ra mưu kế, để đến nỗi Công Tử dấn thân vào nơi hang hùm, thật là nguy hiểm.
- Tôi biết ra đi là nguy hiểm, song Bình Nguyên Quân với tôi chung một tâm tình, lẽ nào sợ chết.

Hầu Sinh nói:
- Khi nãy ở chỗ đông người, đành phải cam chịu thất lễ cùng Công Tử. Bây giờ xin mời Công Tử vào nhà, lão xin hiến một kế có thể lui binh Tần đặng.
Tín Lăng Quân vào nhà. Hầu Sinh hỏi:
- Tôi nghe nói nàng Như Cơ được vua Ngụy tin yêu lắm phải không?
Tín Lăng Quân nói phải, Hầu Sinh tiếp:
- Tôi lại nghe người cha của Như Cơ năm xưa bị giết, Như Cơ muốn trả thù, nhưng kiếm người thù không được. Sau đó Công Tử sai khách chém đầu người thù ấy đem cho Như Cơ. Việc ấy có phải như thế chăng?
Tín Lăng Quân gật đầu, Hầu Sinh tiếp luôn:
- Như Cơ cảm ơn ấy, lâu nay chưa có dịp báo đáp. Tôi biết hiện Tấn Bỉ đóng quân ở Nghiệp Hạ và binh phù của Tấn Bỉ ở nơi chỗ vua nằm, chỉ có Như Cơ mới lấy trộm được. Nếu Công Tử chịu khó nói với Như Cơ lấy được cái binh phù ấy thì có thể dùng binh quyền của Tấn Bỉ giúp Triệu lui Tần.

Tín Lăng Quân nghe nói như người say mới tỉnh, liền sụp lạy tạ Hầu Sinh, rồi đến bảo tân khách nghỉ đợi ở ngoài thành, một mình quay xe về nhà, sai tên nội thị là Nhan Âm đem việc ấy nói riêng cùng Như Cơ. Như Cơ nói:
- Công Tử đã sai bảo, dù gian nan đến đâu, thiếp cũng chẳng dám từ.
Đêm ấy Như Cơ phục rượu cho vua Ngụy uống say ngủ vùi, rồi lén lấy hổ phù giao cho Nhan Âm chuyển đến tận tay Tín Lăng Quân. Tín Lăng Quân liền đến hỏi Hầu Sinh:
- Đã có binh phù rồi, Tiên Sinh còn có điều chi dạy bảo chăng?
Hầu Sinh nói:
- Làm tướng ra cõi ngoài có thể không tuân lệnh vua. Mặc dù có binh phù, nếu Tấn Bỉ không chịu giao binh quyền thì hỏng việc. Dũng sĩ Chu Hợi sức địch muôn người, xin Công Tử đem hắn theo. Nếu Tấn Bỉ bằng lòng thì thôi, bằng không bảo Chu Hợi giết quách đi là xong chuyện.
Tín Lăng Quân buồn bã hiện ra mặt. Hầu Sinh hỏi:
- Công Tử sợ chăng?
Tín Lăng Quân đáp:
- Tấn Bỉ là một lão tướng tận trung với nước. Nếu giết đi là bất nhân. Tôi chỉ buồn thế thôi.

Hầu Sinh đưa Tín Lăng Quân đến nhà Chu Hợi, nói rõ sự tình. Chu Hợi nói:
- Tôi là đứa hàng thịt hèn mạt mà được Công Tử hạ cố, bấy lâu nay không biết lấy gì đền ơn. Nay Công Tử có việc dùng đến dù chết cũng không dám từ.
Hầu Sinh nói:
- Đáng lẽ tôi phải đi theo, nhưng tuổi già không ngồi xe được, xin dùng vong hồn tiễn đưa Công Tử cùng hiệp sĩ.
Nói xong, rút gươm đâm vào cổ, chết trước xe của Tín Lăng Quân.
Tín Lăng Quân sững nhìn Hầu Sinh hồi lâu rồi gạt lệ ra đi. Đến Nghiệp Hạ vào ra mắt Tấn Bỉ, nói:
- Đại Vương nghĩ tướng quân tuổi già, chịu khổ cực nơi đây đã lâu ngày, nên cho tôi ra đây thay ngài để chịu sự khó nhọc.
Đoạn sai Chu Hợi cầm binh phù cho Tấn Bỉ xem.

Tấn Bỉ có ý nghi, bảo cùng Tín Lăng Quân:
- Công Tử hãy tạm thời ở lại đây ít hôm, đợi tôi binh ngủ lập thành sổ sách, rồi sẽ bàn giao cho được rõ ràng.
Tín Lăng Quân nói:
- Thành Hàm Đan bị quân Tần vây rất nguy ngập. Tôi tuân lệnh đến đây để giải cứu gấp, không thể duy trì được.
Tấn Bỉ nói:
- Chẳng giấu gì Công Tử. Việc quân cơ là đại sự. Tôi phải tâu lại với Đại Vương rồi mới dám trao quân.
Tấn Bỉ vừa dứt lời, Chu Hợi liền hét lớn:
- Nguyên sói không vâng lệnh vua là có ý làm phản.

Vừa nói vừa rút dùi sắt, nhắm vào Tấn Bỉ đánh tới. Tấn Bỉ đỡ không kịp bị vỡ sọ chết ngay. Tín Lăng Quân cầm binh phù bảo chư tướng:
- Vua Ngụy có lệnh sai ta đến đây thay Tấn Bỉ. Tấn Bỉ không vâng lệnh, ta đã giết chết. Ba quân hãy yên lòng nghe lệnh ta, chớ có vọng động.
Ai nấy đều răm rắp tuân theo.
Cách hai hôm sau, vua Ngụy đã hay tin Tín Lăng Quân đã ăn cắp được binh phù ra Nghiệp Hạ, liền sai Vệ Khánh đuổi theo bắt lại. Khi Vệ Khánh đến Nghiệp Hạ thấy Tín Lăng Quân đã giết Tấn Bỉ và giữ lấy binh quyền rồi, liệu không làm được nữa, toan bỏ ra về. Tín Lăng Quân nói:
- Nhà ngươi đã đến đây, chờ ta phá xong quân Tần hãy trở về tâu cùng Đại Vưong.
Vệ Khánh không dám cưỡng lệnh, phải cùng Tín Lăng Quân đem quân đi phá binh Tần.
Binh Tần bất ngờ, không đề phòng trước, bị đánh bại phải rút quân về nước. Thành Hàm Đan được giải vây. Vua Triệu thân hành đem trâu rượu khao quân, cảm tạ Tín Lăng Quân và nói:
- Nước Triệu đã mất mà lại còn là nhờ Công Tử.
Tín Lăng Quân có vẻ tự đắc. Chu Hợi bèn bảo nhỏ:
- Ơn người, Công Tử chớ nên quên. Ơn Mình, Công Tử chớ nên nhớ. Huống nữa, Công Tử dối mệnh vua, cướp quân Tấn Bỉ cứu được nước Triệu, thì đối với Triệu, Công Tử là kẻ có công, song đối với Ngụy, Công Tử là kẻ có tội. Công Tử lại lấy làm tự đắc sao?
Tín Lăng Quân hổ thẹn tạ;
- Vô Kỵ này xin kính vâng lời dạy của Tiên Sinh.
Để đền ơn, vua Triệu đem đất Hoắc Phonng cho Tín Lăng Quân làm đất ăn lộc. Tín Lăng Quân nghĩ mình đắc tội cùng vua Ngụy, không dám về nước, đem binh phù giao cho Vệ Khánh đốc quân về, còn mình ở lại Triệu cùng Bình Nguyên Quân.

Thái độ và hành vi của Tín Lăng Quân, Bình Nguyên Quân thật đáng ca ngợi, song không cao quí bằng thái độ và hành vi của Chu Hợi và Hầu Sinh. Nhưng xưa nay, người ta thường nhắc đến Tín Lăng Quân, Bình Nguyên Quân, chớ ít ai ca tụng Hầu Sinh và Chu Hợi.
Vì sao thế?
Chỉ vì phần đông văn nhân thi sĩ, nay cũng như xưa, thường đem ngòi bút phụng sự giàu sang, còn Hầu Sinh và Chu Hợi là kẻ thường dân nghèo khó.
Cái nghèo ở trong trường hợp nào cũng đều bất lợi.
Nhưng muốn tìm kẻ sĩ quân tử thì không nên tìm ở chốn giàu sang. Vì chỉ trong cảnh khốn cùng mới thấy rõ được ai là tiểu nhân ai là quân tử.

bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0
Biết Nghe Lời Nói Phải



Loan Danh làm quan Hạ Khanh ở nước Tấn, phạm tội, thân bị giam cầm, cả họ bị giết. Con là Loan Phường trốn thoát chạy ra nước ngoài.
Một hôm vua Tấn đi chơi thuyền, bá quan theo hầu đông đủ. Thình lình nhà vua hỏi:
- Loan Danh ta đã cấm cố một nơi. Con là Loan Phường trốn ra ngoại quốc. Có ai biết bây giờ Loan Phường ở đâu chăng?
Các quan ngồi im.
Người lái thuyền tên là Thanh Quyền buông tay chèo, đứng dậy thưa:
- Nhà vua hỏi Loan Phường làm gì?
Vua đáp:
- Từ khi ta đánh được họ Loan tới nay, nghe họ Loan là người già chưa chết hết, người trẻ đã lớn lên. Ta lo họ phục thù, nên mới hỏi.
Thanh Quyên nói:
- Nếu nhà vua khéo sửa sang chánh sách nước Tấn, trong được lòng quan, ngoài được lòng dân, thì con cháu họ Loan dù còn nhiều tới đâu cũng không làm gì được nhà vua. Bằng nhà vua không lo việc nước, để mất lòng dân, thì ngay những người trong thuyền này ai cũng là con cháu nhà họ Loan cả.

Vua khen:
- Ngươi nói phải lắm.
Sáng hôm sau đòi Thanh Quyên đến, ban cho một vạn mẫu ruộng. Thanh Quyên từ không nhận. Vua nói:
- Lấy một vạn mẫu ruộng đổi một lời nói hay của nhà ngươi, kể ra nhà ngươi còn thiệt mà ta còn lợi nhiều. Nhà ngươi cứ lấy.
Người nước Lỗ là Thi Tử chép lại câu chuyện, khen người xưa biết trọng lời nói phải.
Khen người xưa biết trọng lời nói phải là ngụ ý chê người đương thời không biết trọng người nói phải.
Biết nghe lời nói phải thì có lợi cho bản thân nếu thính giả là người bạch diện, có lợi cho xã hội nhân quần, nếu thính giả là người có trọng trách đối với dân với nước.
Vua Hoàn Công nước Tề đi săn đuổi con hươu chạy vào một cái hang đá. Một ông lão ra chào. Vua hỏi:
- Hang này tên là gì ?

Ông lão thưa:
- Hang Ngu Công.
Vua hỏi:
- Tại sao mà đặt tên như thế?
Ông lão đáp:
- Tại kẻ hạ thần ở đây mà thành có tên ấy.
Vua ngạc nhiên hỏi tiếp:
- Coi hình dáng lão không phải là người ngu, cớ gì lại gọi thế ấy?
- Để hạ thần tâu rõ: Nguyên hạ thần có con bò cái đẻ được một con nghé. Khi nghé con đã lớn, hạ thần đưa đi bán, rồi lấy tiền mua một con ngựa con đem về cùng nuôi với bò cái. Một hôm một chàng thiếu niên đến lấy lý " Bò không đẻ được ngựa", bèn bắt con ngựa đem đi mất. Tôi không cãi được đành chịu mất ngựa. Vì thế xa gần đâu cũng cho tôi là ngu, mới gọi hang tôi ở đây là hang Ngu Công.

Hoàn Công cười:
- Thế thì lão ngu thật.
Buổi chầu hôm sau, Hoàn Công đem chuyện Ngu Công kể lại cho Quản Trọng nghe. Quản Trọng nói:
- Đó chính là cái ngu của Di Ngô này. Nếu được vua giỏi như Nghiêu, bầy tôi minh như Cao Dao, thì khi nào lại có kẻ dám ngỗ ngược, lấy không ngựa của người ta như thế? Ngu Công đành để mất ngựa, chắc là biết rõ hình pháp không ra gì. Cúi xin Chúa Công kíp chỉnh đốn cái chính sự lại.
Đức Khổng Phu Tử nghe chuyện, bảo đệ tử:
- Đệ tử ta đâu, ghi lấy việc ấy. Hoàn Công là bá quân. Quản Trọng là hiền thần. Tuy đã vào bật khôn ngoan, mà còn tự cho mình là ngu dại.
Đó là Đức Khổng ngụ ý khen Tề Hoàn Công biết nghe lời phải của Quản Trọng và Quản Trọng biết nghe lời phải của ông lão hang Ngu mà lo sửa hình pháp cho được công minh.
Có người hỏi:
- Ngu Công chỉ nói sự thật. Vậy lời của Ngu Công là lời nói thật chớ đâu phải là lời nói phải?

Xin Thưa.
- Lẽ phải thường nằm ở trong sự thật. Hơn nữa Quản Trọng đã giải thích cho nhà vua thấy rõ vì sao ông lão đành chịu mất ngựa chớ không chịu kiện quan: hình pháp không ra gì, thà chịu mất ngựa và tiếng ngu, còn hơn làm khôn đi kiện để chẳng những không đòi được ngựa mà còn có thể mất luôn cả bò.
Ông lão hang Ngu không nói toại móng heo như thế, nhưng Quản Trọng sáng suốt nhận thấy được ẩn ý giấu trong lời nói đơn sơ kia. Nhờ trí sáng suốt của Quản Trọng, nhờ sự sáng suốt của vua tôi nước Tề, mà Tề Hoàn Công được làm bá chủ chư hầu.
Đừng khinh thường những lời chất phát của đám bình dân.
Những lời nói không phấn sáp là những mảnh gương phản chiếu trung thành trạng thái tâm hồn và hoàn cảnh xã hội. Nếu người có trọng trách đối với Quốc gia, xã hội, mà chịu khó thu thập để kiểm điểm công việc của mình, của kẻ dưới hoặc người trên mình, thì có lợi cho Chánh thể lắm lắm.
Ngày xưa các nhà đại chánh trị thường không bỏ qua những lời lượm lặt được trong dân gian.

Đức Khổng Phu Tử cùng các đệ tử đi sang Tề. Đi ngang qua núi Thái Sơn, thấy một người đàn bà đang khóc ở ngoài đồng, tiếng nghe rất thê thảm. Phu Tử nói:
- Người đàn bà này hẳn trong nhà có trùng tang.
Đoạn sai thầy Tử Cống đến hỏi. Người đàn bà thưa:
- Ở đây lắm hổ. Bố chồng tôi đã chết vì hổ, chồng tôi đã chết vì hổ, bây giờ con tôi lại chết vì hổ nữa. Thảm lắm ông ơi!
Thầy Tử Cống hỏi:
- Thế sao không bỏ chốn này đi nơi khác?
Người đàn bà đáp:
- Tuy vậy, nhưng ở đây chính sách quan trên không đến nỗi hà khắc, tàn bạo như các nơi khác.

Thầy Tử Cống đem lời người đàn bà về trình cùng Đức Khổng Phu Tử nói:
- Các trò nhớ đấy: Chính sách hà khốc hại hơn là hổ.
Ở Vĩnh Châu có giống rắn lạ, thân đen, vằn trắng, chạm vào cây cỏ thì cây cỏ chết, cắn phải người thì không thuốc gì chữa nổi. Song mà bắt được giống rắn ấy dùng làm thuốc chữa bệnh trúng phong, bệnh rút gân, bệnh nhiễm trùng độc, thì thật thần diệu.
Vì vậy vua có lệnh bắt dân mỗi năm phải hiến hai con rắn ấy để dành làm thuốc. Ai bắt được rắn thì được trừ thuế ruộng. Người Châu Vĩnh đua nhau làm nghề bắt rắn, song rồi cũng bỏ. Riêng có nhà họ Trương nối nhau hành nghề đến ba đời.
Nhà thơ Liễu Tôn Nguyên nhân đến chơi nhà họ Trương, hỏi thăm về việc bắt rắn. Người nhà họ Trương nói:
- Ông tôi chết về nghề bắt rắn, cha tôi chết về nghề bắt rắn. Tôi nối nghề ông cha tôi mới mười hai năm, cũng đã mấy lần suýt chết.

Người ấy nói, vẻ mặt rất buồn rầu. Liễu Tôn Nguyên động lòng bảo:
- Nhà ngươi có thật cho nghề bắt rắn là khổ chăng? Ta sẽ nói với quan trên cho nhà ngươi bỏ nghề ấy và cứ nộp thuế như thường. Nhà ngươi tính sao?
Người họ Trương vừa khóc vừa nói:
- Ông thương tôi muốn cho tôi sống, thì ông để tôi làm nghề bắt rắn còn hơn. Nghề bắt rắn nguy hiểm thật. Song nếu tôi không làm nghề này thì tôi đã bị khốn khổ từ lâu. Nhà tôi ở kể cũng đã hơn sáu mươi năm. Cách sinh nhai trong làng mỗi ngày mỗi thêm quẫn bách. Người làng phải rút hết cả huê lợi, vét hết của cải trong nhà để mà nộp thuế. Thậm chí có người phải bỏ làng bỏ xóm, trôi dạt quê người, đói khát lạnh lẽo, chết đường chết chợ không biết bao nhiêu. Những người vào trạc tuổi ông tôi, mười nhà không còn một. Những người vào trạc tuổi cha tôi, mười nhà không còn độ hai ba. Tôi nhờ nghề bắt rắng mà còn đến bây giờ. Những quan lại về làm thuế làng tôi, lục hết từ đầu làng đến cuối xóm, vơ vét đến cả con gà con chó. Dân gian hãi hùng kinh sợ! Những lúc ấy về phần tôi, tôi được yên ổn. Trông trong giỏ con rắn còn là tôi vẫn được ăn no ngủ yên. Tôi làm nghề bắt rắn mỗi năm chỉ sợ chết có hai lần. Ngoài ra được vui vẻ, không lo thuế má, chẳng đến nỗi như người làng xóm tôi, hết ngày này sang ngày khác, không ngày nào lại không khốn khổ về quan lại tàn ác. Giá tôi có chết về nghề bắt rắn, ví với người làng xóm tôi, kể cũng đã là chậm, đâu dám cho rắn là độc mà xin bỏ nghề.

Liễu Tôn Nguyên chép lại câu chuyện, có thêm mấy lời rằng:
"Ta nghe câu chuyện lại càng thương lắm"
Xưa Đức Khổng nói "Chính sách hà khắc độc hơn hổ dữ" ta vẫn ngờ. Bây giờ nghe chuyện họ Trương mới cho là thật. Than ôi! Cái độc quan lại làm thuế ở dân gian dữ hơn con rắn độc, cho nên nói ra đây để người xem xét phong tục thấu được tình cảnh đau khổ của dân".
Ở đời nếu ai nấy đều nói được những lời nói phải, và ai nấy đều chịu nghe những lời nói phải thì nhất định thiên hạ thái bình.


bài đã được sửa chính tả



Đăng nhập để trả lời
0
Mưu Sâu

Lòng con người thật vô cùng nguy hiểm.
Ca dao có câu:
    Biển sâu còn có thể dò,
    Lòng người gian hiểm khó đo khó lường

Vì khó đo lường nên người đời thường mắc phải những kế độc mưu sâu của những kẻ dụng tâm bẫy người. Như Ly Cơ là một.
Ly Cơ là vợ vua Tấn Hiến Công đời Xuân Thu.

Hiến Công lúc còn làm Thế Tử, tư thông cùng người tiểu thiếp của vua cha là nàng Tề Khương và sanh được một trai là Thân Sanh. Đến lúc lên ngôi Hiến Công lập Tề Khương làm Chánh Thất và phong Thân Sanh làm Thế Tử.
Mười lăm năm sau, Hiến Công cử binh đánh nước Ly Nhung. Chúa Ly Nhung bị thua, dâng hai người con gái cho Hoàn Công để cầu hoà.
Hai người con gái ấy, người lớn là Ly Cơ, người nhỏ là Thiếu Cơ, cả hai đều là những trang tuyệt đại gia nhân. Nhưng Ly Cơ có phần sắc sảo mặn mà hơn, lại có nhiều mánh khéo làm say đắm lòng đàn ông. Vì vậy nàng rất được Hiến Công yêu chuộng.
Không bao lâu Ly Cơ sanh được một con trai đặt tên là Hề Tề.
Nàng Tề Khương lúc bấy giờ đã qua đời. Hiến Công bèn lập Ly Cơ làm chánh thất, và muốn truất ngôi thế tử của Thân Sanh để lập Hề Tề. Một hôm nhà vua nói cùng Ly Cơ:
- Nay phu nhân ở chức Chánh Cung, chả lẽ không lập Hề Tề lên làm Thế Tử.
Ly Cơ nghe nói khấp khởi mừng thầm, nhưng tự nghĩ:
- Thân Sanh được phong Thế Tử đã lâu, nay vô cớ mà phế đi thì ắt quần thần chẳng phục. Huống Thân Sanh còn có hai người em khác mẹ là Trùng Nhĩ và Di Ngô, ba anh em đối với nhau rất thân mật. Nếu họ biết trước ý định của nhà vua mà đề phòng, thì công việc phế lập ắt khó thực hiện được yên ổn.

Nàng bèn tâu cùng Hiến Công:
- Khi Chúa Công lập Thế Tử Thân Sanh, các chư hầu đều biết. Nay Thế Tử không có tội gì mà bị truất, thì thiếp thà chết chớ không dám vâng mệnh.
Hiến Công ngỡ Ly Cơ có lòng tốt, khen ngợi không ngớt lời, rồi bỏ qua việc phế lập.
Lúc bấy giờ có một ca công tên là Ưu Thi, trẻ tuổi, đẹp trai, có tài khôi hài, rất được Tấn Hiến Công ưa thích. Nhà vua cho phép được tự do ra vào cung điện. Ly Cơ được thế, tư tình cùng Ưu Thi, hai bên rất tương đắc.
Một hôm Ly Cơ đem ý muốn lập Hề Tề làm Thế Tử, nói cùng Ưu Thi. Ưu Thi đáp:
- Ba vị công tử kia còn ở Kinh Đô, việc lớn khó thực hiện được. Trước hết phải tìm cách đưa họ ra trấn cõi ngoài, rồi tùy cơ ứng biến.
Ly Cơ hỏi:
- Ta đem ý ấy bàn cùng Chúa Công có được chăng?
Ưu Thi nói:
- Không nên. Nay trong triều có Nhị Ngũ là Lương Ngũ và Đông Quang Ngũ, nói gì Chúa Công cũng nghe. Phu Nhân nên đem vàng bạc mua lòng. Hễ Nhị Ngũ thảo thuận thì việc không có gì khó.

Ly Cơ cả mừng, sai Ưu Thi đi lo lót Nhị Ngũ.
Sáng hôm sau Lương Ngũ và Đông Quang Ngũ vào chầu. Lương Ngũ tâu:
- Đất Khúc Ốc là chỗ Tiên quân lập nghiệp, hiện nay tôn miếu hãy còn. Còn đất Bồ và đất Khuất tiếp giáp với Nhung Địch, là nơi trọng địa. Ba chỗ ấy phải có người trấn thủ. Xin Chúa Công sai Thế tử Thân Sanh ra trấn nơi Khúc Ốc, Công Tử Trùng Nhĩ ra trấn đất Bồ và Công Tử Di Ngô ra trấng đất khuất. Nếu được như vậy thì nước Tấn mới được vững vàng.
Nhà vua hỏi:
- Trấn đất Khúc Ốc thì phải rồi. Còn đất Bồ và đất Khuất là hai nơi hoang địa, tại sao phải cho hai công tử ra trấn giữ?
Đông Quang Ngũ quì tâu:
- Tuy hoang địa nhưng lại là nơi trọng địa. Nếu xây thành đắp lũy cho kiên cố và cho khai khẩn đất hoang, thì sẽ trở nên những nơi trù mật, và nước Tấn nhờ đó mà trở nên giàu mạnh thêm.

Tấn Hiến Công nghe lời. Từ ấy trong triều chỉ còn có Hề Tề. Ly Cơ tìm hết cách làm say lòng nhà vua để đi cho đến đích. Nhưng dip may chưa có vì kế đó Thân Sanh vâng lệnh vua cha đi đánh nước Cảnh, nước Quắc và nước Ngụy, ba nước đánhh không lại phải đầu hàng. Vì vậy công lao của Thân Sanh rất lớn và thanh thế càng thêm lẫy lừng, khó mà hại được. Ly Cơ rất buồn, gọi Ưu Thi vào hỏi kế. Ưu Thi bàn một mặt làm cho Hiến Công giết Thân Sanh, một mặt đem chỗ lợi hại tỏ cho các đình thần có uy quyền thấy để khỏi phản ứng trước cái chết của Thân Sanh. Ly Cơ theo kế.
Tối hôm ấy Ly Cơ Thưa cùng Hiến Công:
- Lâu nay Thế Tử ở Khúc Ốc, nuôi lòng căm thù thiếp. Nay xin Chúa Công triệu về, nói là thiếp có lòng nhớ mong Thế Tử, để thiếp lấy sự nuông chiều làm cho mối hờn giận kia khuây khoả, may ra Thế Tử dung mạng sống cho thiếp chăng.
Hiến Công nghe lời, xuống chiếu triệu Thân Sanh.

Thân Sanh về ra mắt vua cha rồi vào cung chúc mừng Ly Cơ. Ly Cơ đón tiếp niềm nở và xin phép Hiến Công làm tiệc đãi Thân Sanh. Mãn tiệc nàng vào cung, sụt sùi khóc lóc. Hiến Công ngạc nhiên hỏi:
- Thế Tử có điều gì làm phu nhân không hài lòng chăng?
Ly Cơ nói:
- Thiếp những tưởng làm tiệc để làm vui lòng Thế Tử hầu mong cởi bỏ oán thù. Ngờ đâu Thế Tử lại vô lễ, giỡ trò trăng gió. Thiếp phải chống cự mãi mới chạy thoát.
Hiến Công ngẫm nghĩ:
- Thân Sanh là đứa con thảo thuận xưa nay, lẽ nào lại có những cử chỉ loạn luân thế ấy.
Thấy nhà vua có ý nghi ngờ, Ly Cơ nói tiếp:
- Nếu Chúa Công không tin lời thiếp, xin Chúa Công cho thiếp cùng Thế Tử dạo chơi trong hoa viên, Chúa Công đứng trên lầu nhìn xem thì sẽ rõ được nội tình.
Hiến Công đồng ý.

Sáng hôm sao Ly Cơ mời Thế Tử Nhân Sanh. Hai người cùng đến nơi hoa viên. Ly Cơ lập kế, lấy mật bôi vào mái tóc, nên khi bước vào vườn, ông bướm nghe mùi, đua nhau bay đến bu vào mái đầu Ly Cơ, Ly Cơ bảo Thân Sanh:
- Sao Thế Tử không đuổi hộ ta ?
Thế tử vô tình lấy tay áo rộng xua đàn ong bướm. Ly Cơ bỏ chạy, đàn bướm ong bay theo. Thế Tử chạy theo xua đuổi. Hiến Công đứng trên lầu trông thấy, đinh ninh Thế Tử cố ý trêu ghẹo Ly Cơ, nên muốn đem giết. Ly Cơ thưa:
- Mặc dù Thế Tử bất hiếu, song nay thiếp triệu về mà Chúa Công đem giết thì ắt thiên hạ sẽ nghi rằng thiếp âm mưu. Huống nữa hành động của Thế Tử chưa ai biết được rõ ràng, nên xin Chúa Công nhẫn nhục.
Hiến Công liền cho Thân Sanh về Khúc Ốc rồi mật sai người theo dò tìm những lỗi lầm để hãm hại.

Một hôm Tấn Hiến Công đi săn nơi đất Dịch Hoàn, Ly Cơ mưu cùng Ưu Thi, rồi sai người ra nói cùng Thân Sanh rằng:
- Chánh cung vừa nằm mộng thấy Tiên hậu kêu đói, không có gì ăn, nên đến bảo Thế Tử phải lo cúng tế.
Thân Sanh động lòng thương, liền bày lễ tế mẹ, rồi gởi lễ tế về dâng vua cha.
Tấn Hiến Công lúc ấy đi săn chưa về, món ăn phải để lại đến mấy hôm. Ly Cơ lén tẩm thuốc độc vào rượu và thực phẩm, và Hiến Công về, nàng tâu:
- Thiếp nằm mộng thấy Tề Khương kêu đói, lòng thiếp quá thương, sai đến Khúc Ốc bảo Thế Tử lập đàn tế lễ. Thế Tử đã tế lễ xong, và gởi phần tế về dâng Chúa Công đó.
Hiến Công toan rót rượu uống. Ly Cơ cản lại, nói:
- Món ăn từ ngoài đưa vào, xin Chúa Công thận trọng.

Hiến Công đổ rượu xuống đất, thấy hơi độc bốc lên, thất kinh bảo đem một con chó đến thử. Chó vừa ăn xong miếng thịt tế, liền ngã lăn ra chết. Ly Cơ lại khiến một tên nội thị ăn thử. Tên nội thị chần chờ. Ly Cơ thét mắng. Tên nội thị sợ hãi phải nuốt. Thịt vừa khỏi cổ thì máu mồm học ra chết tức khắc. Ly Cơ hét lớn:
- Ôi! Cơ nghiệp này là của Thế Tử. Chúa Công đã già rồi mà Thế Tử không thể chờ được ít lâu nữa hay sao?
Đoạn đến trước mặt Hiến Công khóc sụt sùi và nói:
- Thế Tử bày ra kế này chỉ vì mẹ con thiếp mà thôi. Nay muốn cho Chúa Công và Thế Tử được hoà hảo, thiếp xin ăn những món đầu độc này thay Chúa Công.
Vừa nói vừa gấp thịt toan bỏ vào mồm. Hiến Công thất sắc, vội cản lại rồi ôm Ly Cơ vào lòng và nói:
- Thôi, Phu Nhân chớ buồn. Để ta tuyên cáo với triều thần rồi giết Thân Sanh đi là yên chuyện.

Nói rồi lâm triều, triệu đình thần đến thương nghị. Các quan đã biết rõ lòng Hiến Công, nên không ai dám bênh vực Thế Tử.
Hiến Công sai Lương Ngũ làm chánh tướng, Đông Quan Ngũ làm phó tướng, kéo quân ra Khúc Ốc bắt Thân Sanh.
Lúc bấy giờ có một trung thần là Hồ Đột vì bất mãn nhà vua nên cáo lão, về đóng cửa nằm nhà. Khi hay được tin Nhị Ngũ kéo quân đi bắt Thân Sanh, liền viết mật thư sai người ra Khúc Ốc tin cho Thế Tử biết trước. Thế Tử xem thư, bàn cùng quan Thái Phó Đỗ Nguyên Khoản. Nguyên Khoản nói:
- Phần tế để trong triều đã năm sáu hôm, thì rõ là người trong cung bỏ thuốc độc. Vậy xin Thế Tử làm minh trạng gởi về kêu oan, không lẽ trong triều không có ai biện bạch cho Thế Tử?
Thân Sanh nói:
- Phụ thân tôi mê Ly Cơ đến quên ăn bỏ ngủ, nên dù có minh oan cũng chẳng ích chi. Làm vua mà đã ghét con, thì sớm muộn đứa con cũng phải chết. Chi bằng tôi chết sớm cho vừa lòng phụ thân tôi.
Đỗ Nguyên Khoản nói:
- Thế Tử tìm một nước khác lánh nạn, đợi tai biến qua rồi sẽ trở về phục nghiệp.

Thân Sanh đáp:
- Đến nước khác với lý do nào? Nếu nói rõ sự tình thì bêu tiếng xấu cho phụ thân tôi, lòng tôi không an. Còn tự gán cho mình cái tội toan giết cha thì còn ai coi mình ra gì nữa. Cho nên chỉ có chết là trọn vẹn hơn cả.
Nói xong, viết thư tạ ơn Hồ Đột rồi tự thắt cổ mà chết.
Qua hôm sau Nhị Ngũ kéo quân đến, hay tin Thân Sanh đã bỏ mình, liền bắt quan Thái phó Đỗ Nguyên Khoản đem về triều trị tội.
Đỗ Nguyên Khoản đến trước mặt Tấn Hiến Công la lớn:
- Sở dĩ tôi không chết theo Thế Tử, là muốn đem thân mình về đây để tỏ nỗi oan tình của Thế Tử. Thế Tử Thân Sanh là một người hiếu thảo có tiếng khắp thế gian, không bao giờ có thể làm việc vô đạo. Đồ ăn để trong cung lâu ngày, có kẻ làm chuyện ám muội. Vì nếu thuốc độc từ ngoài đem vào, đồ ăn để đến năm sáu ngày được sao?

Ly Cơ đứng trong bình phong nghe nói, hoảng vía, hét to:
- Đỗ Nguyên Khoản là Thái Phó của Thân Sanh, mưu tính việc dữ. Nay còn dám đổ tội cho kẻ khác. Sao Chúa Công không giết ngay đi, còn để làm gì?
Hiến Công liền truyền lực sĩ cầm dùi đồng đánh Nguyên Khoản vỡ sợ chết tươi.
Các quan trọng điều đều động lòng thương, nhưng không ai dám nói lên một tiếng!
Trừ xong Thân Sanh, Ly Cơ bèn mưu cùng Nghị Ngũ trừ luôn Trùng Nhĩ và Di Ngô để phòng hậu hoạn. Nhưng hai công tử trốn khỏi ra nước ngoài.

Được ít lâu Tấn Hiến Công mất, Hề Tề lên ngôi. Những kẻ chung lo mưu kế cùng Ly Cơ đều được thăng thưởng trọng hậu.
Mưu của Ly Cơ và bọn đồng lõa thật là thâm độc! Và bọn Ly Cơ đã dùng mưu kế để hãm hại người hiền để đoạt ngôi báu, nhưng khi quyền bính đã vào tay, lại không biết dùng mưu trí ra yêu dân trị nước, mà chỉ lo hạnh phúc cho bản thân. Cho nên nước Tấn từ khi Tề Hề lên ngôi, trong triều các quan bất hoà, ngoài dân loạn lạc nổi lên hết nơi này đến nơi khác, khiến nhân dân khổ sở suốt mấy mươi năm trời!
Ôi! Mưu kế của kẻ gian tham độc ác có hại cho nước nhà không biết bao nhiêu vậy!





bài đã được sửa chính tả




Đăng nhập để trả lời
0
Chí Công Danh

Cổ nhân có câu:
    Đã mang tiếng ở trong trời đất
    Phải có danh gì với núi sông.

Mà muốn có danh thì phải có công.
Nhưng lập nên công nghiệp ở đời không phải là việc dễ. Chẳng những phải có tài mà cần phải có chí, cần phải bền chí.
Đó là chí công danh.
Ngô Khởi, người nước Vệ, lúc nhỏ tánh du đảng, bị mẹ đánh mắng luôn. Một hôm cắn ngón tay chảy máu và thề:
- Từ nay con xin từ giã mẹ, đi du học phương xa. Nếu không làm nên khanh tướng, quyết không trở về thấy mẹ nữa.
Bà mẹ khóc nức nở. Ngô Khởi vẫn dứt áo ra đi.

Đến nước Lỗ, Ngô Khởi vào theo học cùng thầy Tăng Sâm. Hết lòng học tập, ngày đêm, trừ khi ăn ngủ, quyển sách không hề rời khỏi tay. Quan Đại Phu nước Tề là Điền Cư đến nước Lỗ, nghe danh, tìm tới diện kiến. Nhận thấy sức học uyên thâm, bèn đem con gái gả cho, Ngô Khởi bèn phấn khởi học tập.
Sau mấy năm, Tăng Sâm biết được Ngô Khởi còn mẹ già, không ai nuôi dưỡng, bèn hỏi:
- Con đi học lâu ngày, không về thăm mẹ, lòng con sao đành?
Ngô Khởi thưa:
- Con đã thề nếu không làm nên khanh tướng quyết không trở về thấy mẹ già.
Tăng Sâm không bằng lòng. Từ ấy có ý ghét Ngô Khởi.
Cách ít lâu, mẹ Ngô Khởi chết. Tin nhà đưa đến, Ngô Khởi chỉ ngửa mắt lên trời khóc to ba tiếng, rồi lau nước mắt đọc sách như thường! Tăng Sâm nổi giận nói:
- Ngô Khởi không về để tang mẹ, như thế là mất gốc. Nước mất nguồn nước cạn, cây mất gốc chết khô. Người quên ơn cha mẹ, ông bà, không bao giờ nên người được. Ngô Khởi không phải là học trò của ta nữa.
Bèn sai môn đệ đuổi Ngô Khởi ra khỏi trường.

Ngô Khởi bỏ nghiệp Nho sang học tập binh pháp. Sau ba năm thành tài, xin làm quan ở Lỗ. Quan tướng quốc nước Lỗ là Công Nghi Hưu, xét thấy Ngô Khởi văn võ toàn tài, liền tâu xin vua phong làm quan Đại Phu.
Lúc bấy giờ quan Tướng Quốc nước Tề là Điền Hoà, muốn cướp ngôi vua Tề, nhưng sợ nước Lỗ vì tình giao hiếu sẽ đem quân sang vấn tội, nên tìm cớ cất quân sang đánh Lỗ trước để thị oai. Công Nghi Hưu bèn tâu cùng Lỗ Mục Công:
- Muốn lui quân Tề, phải dùng Ngô Khởi mới được.
Lỗ Mục Công đáp:
- Ta cũng biết Ngô Khởi có tài, song là vì làm rể họ Điền nước Tề, chỗ tình nghĩa vợ chồng, sao cho khỏi thiên vị.
Công Nghi Hưu cho là phải, cáo lui. Khi ra khỏi triều, gặp Ngô Khởi đón lại hỏi:
- Quân Tề kéo tới đông. Chẳng hay Chúa Công đã định sai ai đi đánh dẹp chưa? Tôi tuy bất tài, nhưng nếu được làm tướng thì quyết không để một tên quân Tề trốn thoát.
Công Nghi Hưu bèn thuật lại lời của Lỗ Mục Công. Ngô Khởi nói:
- Muốn cho Chúa Công khỏi nghi ngờ. Điều ấy có khó gì.

Bèn trở về dinh, hỏi vợ là Điền Thị:
- Tại sao người ta quí vợ?
Điền Thị đáp:
- Vợ là nội tướng, giúp chồng dựng nên sự nghiệp.
Ngô Khởi hỏi tiếp:
- Có phải người vợ lúc nào cũng mong chồng lập nên công danh sự nghiệp lớn lao chăng?
Điền Thị không nghĩ ngợi đáp ngay :
- Phải.
Ngô Khởi bèn nói:
- Thế thì ta mong nàng giúp ta một việc để ta lập nên danh vọng với đời.
Điền Thị lo ngại, nói:
- Tôi là đàn bà, làm thế nào mà giúp được việc khó khăn đến thế?
Ngô Khởi nói:
- Không có gì khó. Nay quân Tề đánh Lỗ. Lỗ Công muốn phong ta làm đại tướng, ngặt vì ta kết hôn cùng nàng là con gái họ Điền nước Tề, nên nghi ngờ không dùng. Nếu ta được cái đầu của nàng đem dâng vua Lỗ tất nhà vua không nghi nữa.

Điền Thị thất kinh, toan bỏ chạy, thì liền bị Ngô Khổi rút gươm chém chết. Ngô Khởi lấy lụa bọc đầu Điền Thị, xách vào triều tâu cùng vua Lỗ:
- Tôi một lòng tận trung báo quốc. Chỉ vì vợ tôi mà Chúa Công nghi ngại. Nay tôi chém đầu vợ tôi, đem dâng Chúa Công để tỏ lòng tôi vậy.
Lỗ Mục Công buồn bã đáp:
- Như thế là tướng quân lầm rồi.
Kế đó Công Nghi Hưu vào. Lỗ Mục Công nói:
- Ngô Khởi giết vợ để cầu làm tướng. Người như thế thật tàn nhẫn. Tâm địa khó lường!
Công Nghi Hưu thưa:
- Ngô Khởi không quí vợ mà chỉ ham công danh. Nếu Chúa Công không dùng, ắt hắn sang giúp Tề để cầu phú quí.
Lỗ Mục Công suy nghĩa hồi lâu rồi hạ lệnh cho Ngô Khởi làm đại tướng đem hai vạn quân ra đánh Tề.

Ngô Khởi là kẻ ham danh vọng, khi được đắc chí, ai cũng tưởng thế nào cũng hống hách vênh vang. Nhưng trái lại, Ngô Khởi lúc nào cũng tỏ ra bình dị, khiêm tốn, cơm ăn áo mặc không khác gì quân sĩ. Tình đối với quân sĩ biểu lộ ra nơi cử chỉ và hành động. Những khi trong quân có người đau ốm. Ngô Khởi thân hành đến thăm viếng và cấp thuốc men; những khi có việc vui mừng thì cùng ba quân chung hưởng một cách thân mật, không phân đẳng cấp. Quân sĩ cảm ân, yêu kính như cha mẹ, dốc một lòng đánh giặc, lúc nào cũng hăng cũng vui.
Quân Tề kéo sang đất Lỗ đóng ở Nam Bỉ. Điền Hoà nghe tin Ngô Khởi cầm binh, cười bảo cùng chư tướng.
- Người ấy là rể họ Điền, chỉ là một tên háo sắc, chớ có biết gì về binh pháp. Như thế tỏ rằng nước Lỗ đã đến ngày suy vong.
Khi quân hai nước đã đóng đồn gần nhau. Điền Hoà không thấy Ngô Khỏi ra khiêu chiến mới sai người đi dò xem. Thám tử về báo rằng:
- Ngô Khởi đương cùng một tên quân ngồi dưới đất chia cơm canh cùng ăn.
Điền Hoà cười lớn:
- Phép làm tướng phải giữ uy nghiêm thì quân sĩ mới sợ. Nay Ngô Khởi hành động như kẻ thất phu, thì làm sao cầm quân đánh giặc được! Ta khỏi phải lo.

Điền Hoà lại sai kẻ thuộc hạ là Trương Sửu giả cách sang cầu hòa để dò xét quân tình của Ngô Khởi. Ngô Khởi biết được đem các đoàn quân tinh nhuệ giấu sau núi, còn những đoàn quân lão nhược thì dàn ra trước đồn, rồi làm bộ sợ sệt tiếp khiến Trương Sửu. Trương Sửu hỏi:
- Ta nghe đồn tướng quân giết vợ để được làm tướng. Có quả như thế chăng?
Ngô Khởi đáp:
- Tôi dẫu hèn mạt nhưng cũng có bước vào cửa thánh, dám đâu làm chuyện bất nghĩa như vậy. Vợ tôi lâm bệnh, tạ thế trong lúc tôi được phong, nên người ta lầm tưởng mà dị nghị đó.
Trương Sửu nói:
- Nếu ngài còn nghĩ đến họ Điền thì xin cùng chúng tôi giảng hoà có được không ?
Ngô Khởi đáp:
- Tôi là kẻ thư sinh, tài năng thô thiển, dám đâu chống với họ Điền. Nếu tướng quân cho tôi được giảng hoà thì còn gì may mắn hơn nữa.

Đoạn truyền mở tiệc thiết đãi, đàn hát vui vầy, không bàn đên việc quân nữa. Tiệc tan Trương Sửu trở về thuật lại những điều nghe thấy. Điền Hoà mừng rỡ, không đề phòng. Chẳng ngờ Ngô Khởi sau khi Trương Sửu đi rồi, liền chia quân làm ba đạo thẳng tới dinh Tề.
Bị đánh thình lình, Điền Hoà bị thua to. Quân Tề tan rã hàng ngũ kéo nhau chạy không dám ngó lui. Ngô Khởi rượt theo đến đất Bình Lục của nước Tề, rồi mới chịu lui binh. Điền Hoà kiểm điểm tàn quân thì thấy hao quá nửa, bèn trách Trương Sửu:
- Nhà ngươi đi do thám mà không lo tròn nhiệm vụ, nên ta mới thất bại đến nỗi này!
Trương Sửu nói :
- Tôi thấy sao nói vậy, có ngờ đâu bị mắc kế của Ngô Khởi.
Điền Hoà than:
- Ta tưởng Ngô Khởi là kẻ bất tài, chẳng ngờ va dụng binh chẳng khác Tôn Vũ ngày trước. Nếu Lỗ dùng Ngô Khởi mãi thì nước Tề khó yên được.
Bèn cùng Trương Sửu dùng kế ly gián. Trương Sửu nói:
- Tôi xin liều chết để chuộc tội vừa rồi.

Điền Hoà liền chọn hai mỹ nhân tuyệt đẹp và sắm hai xe vàng bạc lụa gấm, sai Trương Sửu đem dâng cho Ngô Khởi, xin bãi binh.
Vốn là kẻ tham tài háo sắc, Ngô Khởi liền nhận lời và nói:
- Nếu Tề không xâm phạm đến Lỗ, thì Lỗ chẳng bao giờ xâm phạm đến Tề.
Thế là hai bên rút quân. Điền Hoà bèn tiếc lộ cho mọi người biết việc Ngô Khởi ăn lễ của Tề. Tin ấy không mấy chốc đã bay đến tai Lỗ Mục Công. Lỗ Mục Công giận lắm, toan bắt Ngô Khởi trị tội. Nhưng Ngô Khởi biết được, vội trốn sang Ngụy.
Nước Ngụy lúc bấy giờ đang cần người trấn thủ đất Tây Hà. Quan Đại Phu nước Ngụy là Địch Hoàng liền giới thiệu Ngô Khởi. Vua Ngụy phong Ngô Khỏi làm quan trấn thủ Tây Hà. Khô Khởi đem tài kinh tế làm cho Tây Hà trở nên giàu mạnh, khiến nước Tần ở bên cạnh không còn dám sang quấy nhiễu, nhân dân được sống yên vui.
Được ít lâu Ngụy hầu mất. Thế Tử Kích nối ngôi, hiệu là Ngụy Vũ Hầu, Vũ Hầu phong Điền Văn làm tướng quốc. Ngô Khởi cậy mình có công nhiều mà không được làm tướng quốc, nổi giận bỏ Tây Hà về triều vấn nạn. Vũ Hầu biết được liền giữ Ngô Khởi ở lại triều sai người khác ra trấn Tây Hà. Ngô Khởi sợ Vũ Hầu giết, bỏ trốn sang Sở.

Vua Sở Niệu Vương vốn dã nghe danh Ngô Khởi, liền phong làm tướng quốc. Cảm ơn tri ngộ, Ngô Khởi đem tài dùng binh ra rèn luyện binh tướng và xin vua sửa đổi quan chế, sửa đổi việc thưởng phạt. Chỉ trong một thời gian ngắn nước Sở trở nên cường thịnh, không nước nào dám xâm lăng.
Nhưng sự cải cách của Ngô Khởi làm thiệt hại đến quyền lợi một số cá nhân, nên khi Sở Niệu Vương mất, thi thể chưa kịp liệm, thì những con cháu các quí thích đại thần nổi lên làm loạn, đánh đuổi Ngô Khởi. Biết mình thất thế, Ngô Khởi bèn chạy vào cung, ôm thi hài Niệu Vương để các loạn thần sợ không dám xâm phạm đến. Chẳng ngờ đám loạn thần không kiêng nể, trương cung bắn tấp tới. Thi thể Sở Niệu Vương gâm đầy tên và Ngô Khởi chết trong đám loạn tiễn.

Ngô Khởi bỏ mẹ giết vợ để đạt cho được cái nguyện công danh. Mưa nắng không sờn, tháng năm không nản, Ngô Khởi lập chí thật đã bền vậy.
Nhưng tham công danh đến nổi bỏ mẹ giết vợ thì thật là đứa nhẫn tâm thái thậm! Đặt công danh lên trên cả hiếu nghĩa, kẻ chưa mất hẳn thiên lương, không ai làm được.
Có người bảo rằng:
- Ngô Khởi không hoàn toàn đáng trách. Lúc ra cầm quân, biết hoà mình cùng đám sĩ tốt, cùng sĩ tốt chia vui sẻ buồn; lúc lên cầm quyền trị dân, cầm vận mệnh của nước, hết lòng lo cho dân được an cư lạc nghiệp, hết lòng lo cho nước được thịnh vượng phú cường. Chớ không lợi dụng địa vị để mưu cầu lợi riêng cho bản thân, cho gia đình, như phần đông người đồng thời, mà Điền Hoà nước Tề kia là một.
Lời ấy cũng có lý lắm. Song thử nghĩ có phải vì dân vì nước, có phải vì thật có lòng cùng nhân đạo mà Ngô Khởi tận tâm tận lực phục vụ hay chăng ? Nhất định không phải. Ngô Khởi lo cho quân, cho dân, cho nước, không phải vì thương quân, thương dân, thương nước, mà chính để giữ địa vị mình cho thêm vững đó thôi, Vì quân có cảm tình với mình mới hết lòng cùng mình liều sốn chết; dân có yên, nước có mạnh, nhà vua mới tin dùng mình lâu dài. Động cơ thúc đẩy chỉ là động cơ vị kỷ. Không có gì đáng khen và cái công làm cho nước Lỗ thắng quân Tề, làm cho nước Ngụ, nước Sở giàu mạnh, không thể chuộc được cái tội bất hiếu vong tình.
Đeo nghiệp khanh tướng để mà sống thì chết vì nghiệp khanh tướng, cái chết của Ngô Khởi không có gì đáng phàn nàn. Và những ai nuôi chí công danh, tưởng nên soi kỹ vào gương Ngô Khỏi mà ngẫm nghĩ cho chín.




bài đã được sửa chính tả



Đăng nhập để trả lời
0
Thù Nhà


Sở Bình Vương là một ông vua dâm vật hôn ám, đã cướp vợ của con là Thái Tử Kiến lại còn nghe lời nịnh đày Thái Tử ra trấn nơi biên thùy. Theo phò Thái Tử có võ tướng Ngũ Xa và quan văn Phấn Dương.
Được ít lâu Bình Vương muốn giết Thái Tử Kiến, nên triệu Ngũ Xa về triều rồi sai người ra bảo Phấn Dương hạ sát Thái Tử. Phấn Dương báo cho Thái Tử biết để đi trốn, còn mình thì bó thân về kinh đô chịu tội.
Ngũ Xa về triều bái kiến, Sở Bình Vương hỏi:
- Thái tử đem lòng phản nghịch, nhà ngươi có biết chăng?
Ngũ Xa vốn là người chánh trực, nghe nói, nổi giận đáp:
- Đại Vương chiếm vợ Thái Tử cũng đã quá lắm rồi, sao còn nghe lời kẻ nịnh thần mà bỏ tình cốt nhục?
Bình Vương vừa thẹn vừa giận, truyền bắt giam Ngũ Xa.
Kẻ nịnh thần là Phí Vô Cực tâu:
- Ngũ Xa có hai con là Ngũ Thượng và Ngũ Viên đều là bậc tài giỏi. Nay cả hai đều bỏ trốn ra nước ngoài. Xin Đại Vưong bảo Ngũ Xa viết thư triệu về rồi giết phứt để trừ hậu hoạn.

Bình Vương nghe lời, sai người vào ngục đem Ngũ Xa ra, rồi đưa giấy bút bảo viết thư triệu con về. Ngũ Xa thưa:
- Con trưởng tôi là Ngũ Thượng, tính nết hiền lành, nghe tôi triệu tất về ngay. Còn con thứ là Ngũ Viên vốn đứa hay suy xét lẽ phải quấy e không chịu về.
Bình Vương nói:
- Ngươi cứ theo lời ta viết thư. Còn hai đứa nó về hay không, ngươi không cần bận tâm đến.
Ngũ Xa không dám trái mệnh.
Ngũ Thượng được thư cha, xem rồi trao cho Ngũ Viên và nói:
- May thay! Phụ thân đã khỏi tội, vua Sở lại sai triệu chúng ta về phong chức. Chúng ta nên về ngay.
Ngũ Viên đáp:
- Thân phụ vì nói thẳng mà bị hạ ngục. Nếu quả được tha thì thật là điều may mắn. Còn chúng ta có công gì mà Sở Vương triệu về phong chức? Đó là mưu gian, không nên tin.

Ngũ Thượng đáp:
- Hiện có thư của thân phụ, lẽ nào thân phụ lại gạt chúng ta.
Ngũ Viên đáp;
- Thân phụ một lòng tận trung với nước. Nay bị hàm oan, biết đâu chỉ vì ép buộc mà thân phụ mới triệu chúng ta về để cùng chết cho khỏi thấy cảnh nước mất nhà tan vì hành động của tên hôn quân dâm loạn. Chúng ta về phải mang hại.
Ngũ Thượng nói:
- Dù mang hại, nhưng thấy mặt phụ thân, ta cũng vui lòng. Chớ thân phụ lâm nạn, chúng ta trốn tránh mãi sao tròn chữ hiếu.
Ngũ Viên thở dài, than:
- Sở dĩ vua Sở không dám giết thân phụ là vì sợ chúng ta ở cõi ngoài tác loạn. Chúng ta về chỉ làm cho thân phụ chóng chết mà thôi. Nếu anh không nghe lời em thì từ đây em xin vĩnh biệt, chớ không thể bó tay trước bọn ám chúa, gian thần.

Ngũ Thượng vừa khóc vừa hỏi:
- Em định đi đâu ?
Ngũ Viên đáp:
- Em đến nơi nào có thể trả thù được vua Sở.
Ngũ Thượng nói:
- Tài năng anh không bằng em. Vậy anh lấy việc theo cha làm hiếu, em lấy việc trả thù làm hiếu. Mỗi người một con đường, từ đây không còn thấy mặt nhau được nữa.
Hai anh em ôm nhau khóc. Đoạn Ngũ Viên sụp lại bốn lạy để từ biệt anh. Ngũ Thượng gạt lệ theo sứ giả về kinh.
Vừa trông thấy mặt Ngũ Thượng, Sở Bình Vương truyền bắt hạ ngục ngay tức khắc. Phí Vô Cực tâu:
- Ngũ Viên là kẻ thao lược, nếu không bắt đặng, sau này không tránh khỏi họa to.
Sở Bình Vương liền sai quan Đại Phu là Vũ Thành Hắc đem quân đi bắt Ngũ Viên.

Ngũ Viên tự là Tử Tư, thân lớn, mặt sáng, võ nghệ tinh thông, lại có sức mạnh muôn người khôn địch.
Khi nghe tin binh Sở đến bắt, Ngũ Viên vào hỏi ý kiến vợ là Giả Thị. Nàng nói:
- Đấng trượng phu thù nhà nợ nước là trọng. Nay tướng quân bận bịu thê nhi, không chịu lên đường cho sớm, thiếp lấy làm nhục lắm.
Nói xong vào buồng thắt cổ tự vận.
Ngũ Viên chạy vào cứu thì đã quá muộn, bèn ôm thây khóc rống một hồi rồi đem mai táng vào một nơi kín đáo. Đoạn cắp cung kiếm lên đường.
Đi được vài đặm thì quân của Vũ Thành Hắc đuổi kịp, Ngũ Viên liền rút tên bắn một mũi, trúng người đánh xe của Thành Hắc té nhào xuống đất. Thành Hắc sợ hãi toan quay trở lại, Ngũ Viên bảo dừng lại và nói:
- Ta giết ngươi chẳng khó khăn gì, song ta muốn cho ngươi sống trở về báo cho vua Sở biết rằng Ngũ Viên này quyết không đội trời chung với kẻ nào giết cha và anh ta.

Vũ Thành Hắc không dám đuổi theo, liền kéo quân trở về báo với vua Sở. Bình Vương nổi giận truyền giải cha con Ngũ Xa ra chợ chém đầu, rồi ra chỉ dụ truyền khắp dân gian ai bắt được Ngũ Viên thì được thưởng 50 ngàn quan tiền và phong làm thượng tướng. Lại rao khắp các nước chư hầu, nước nào chứa Ngũ Viên, Sở sẽ cử binh đến vấn tội.
Được hung tin, Ngũ Viên khóc rống và vạch đất thề quyết diệt cho được nước Sở mới nghe.
Ngũ Viên chạy sang nước Tống, rồi lại qua nước Trịnh. Nhưng đến đâu cũng bị bạc đãi. Ngũ Viên bỏ trốn sang Ngô. Khi đến Lịch Dương Sơn, cách nước Ngô chừnng 60 dặm, Ngũ Viên không dám qua cửa Chiêu quan, ẩn nấp trong rừng rậm. Bỗng một ông già chống gậy đi đến, trông thấy, hỏi:
- Nhà ngươi có phải là Ngũ Viên chăng?
Ngũ Viên giật mình. Ông lão tiếp:
- Ta là Đông Cao Công, học trò Biển Phước. Năm trước vào chữa bệnh cho quan trấn ải, trông thấy bức vẽ treo trước cửa giống nhà ngươi lắm Vì vậy ta mới hỏi. Nhà ngươi tất phải giấu ta làm gì. Nhà ta ở gần chân núi này, nhà ngươi hãy đến chơi, ta sẽ nói nhiều chuyện.
Biết không phải là kẻ tầm thường, Ngũ Viên liền đi theo.

Đến nơi một khu vườn trúc thanh u, nhà tranh vách gỗ, trang trí sơ sài, chủ khách phân ngôi thứ ngồi rồi, Đông Cao Công nói:
- Nhà lão tuy bần bạc, song nhà ngươi có thể dung thân được. Muốn ở bao lâu tùy ý . Còn nếu muốn qua nước Ngô thì cửa Chiêu quan hiện canh phòng nghiêm nhặt, muồn phần khó qua.
Ngũ Viên vội sụp lại, thưa:
- Nếu ngài có kế giúp tôi thoát được, ơn ấy ngàn năm tôi chẳng dám quên.
Đông Cao Công đỡ dậy, nói:
- Nơi này hẻo lánh, ngươi hãy tạm trú trong ít lâu, rồi ta sẽ tìm phương đưa qua ải.
Bảy ngày qua, không thấy Đông Cao Công bàn đến việc giải thoát, bèn hỏi. Cao Công đáp:
- Phải chờ một người nữa mới được.

Ngũ Viên sanh nghi, muốn từ giả chủ nhân, song lại sợ cửa ải đã không qua được mà còn mang vạ thêm. Suy lui tính tới, lo sợ dập dồn. Đêm hôm ấy trằn trọc không hề nhắm mắt. Trời vừa rạng đông, Ngũ Viên vừa trở dậy, thì Đông Cao Công đã xô cửa bước vào, thất kinh hỏi:
- Cớ chi nhà ngươi bỗng nhiên bạc trắng đầu râu thế kia?
Ngũ Viên lấy gương soi, thấy đầu râu mình quả bạc trắng, động lòng cất tiếng than:
- Chao ôi! Râu tóc đã bạc rồi, mà thù chưa trả đặng! Đau đớn thay!
Đông Cao Công cười lớn đáp:
- Đó là điềm tốt, nhà ngươi không nên buồn.
Ngũ Viên không hiểu ý, Đông Cao Công giảng:
- Nhà ngươi mặt mũi khôi ngô, người ta dễ nhận biết. Nay tóc râu đổi sắc có thể che được mắt thế nhân. Vả người bạn thân của ta cũng sắp đến đây rồi, kế của ta có thể thành tựu được.
Ngũ Viên hỏi:
- Ngài định dùng kế gì?
Đáp:
- Người bạn của ta tên Hoàng Phủ Nột ở Long Đông Sơn cách đây bảy trăm dặm. Người ấy tầm vóc và mặt mũi trông giống nhà ngươi. Ta đã nhắn Hoàng quân sang giả hình ngươi, còn ngươi thì giả làm kẻ hầu hạ, kéo nhau qua cửa ải. Quân giữ ải sẽ bắt Hoàng quân đem nạp. Trong lúc ấy nhà ngươi lẻ trốn đi.
Ngũ Viên nói:
- Kế ấy rất hay, song vì tôi mà phải lụy đến người, lòng tôi sao nở ?
Đông Cao Công cười:
- Không hề gì. Ta đã có cách giải cứu.

Mặt trời lên vừa khỏi sào thì Hoàng Phủ Nột đến. Ngũ Viên và Hoàng Phủ Nột trông nhau mà cười. Đông Cao Công dùng thuốt bôi mặt thành đen điu. Rồi khi trời đã sập tối, bảo Ngũ Viên cởi áo trao cho Hoàng Phủ Nột măc, còn Ngũ Viên thì mặc áo ngắn giả làm đứa hầu. Ngũ Viên sụp lại Đông Cao Công bốn lạy, và nói:
- Sau này nếu việc cả được thành, ơn ngài quyết hậu tạ.
Đông Cao Công đỡ dậy nói:
- Lão thấy nhà ngươi bị hàm oan, nên giúp đỡ đó thôi, không nên nói đến việc ơn nghĩa.
Rồi giục mọi người lên đường.
Trời vừa mờ sáng Hoàng Phủ Nột và Ngũ Viên đến cửa Chiêu quan.
Nơi cửa quan có dán hình Ngũ Viên. Những hành khác đi qua đều bị tra xét rất kỹ. Trông thấy Hoàng Phủ Nột giống người trong bức tượng, quân giữ ải liền giữ lại và phi báo với ải quan. Ải quan xem, mừng rỡ hét lớn:
- Đúng nó rồi. Hãy giải vào dinh.
Hoàng Phủ Nột làm bộ ngơ ngác hỏi:
- Sao lại bắt tôi? Tôi là kẻ ẩn sĩ ở Long Động Sơn tên là Hoàng Phủ Nột, có hẹn với bạn là Đông Cao Công đến chơi, không làm điều gì trái phép. Có lẽ ngài lầm với người khác chăng?

Ải quan còn đương nghi hoặc thì Đông Cao Công xin vào yết kiến. Ải quan đem nhốt Hoàng Phủ Nột một nơi, rồi ra tiếp Cao Công, Cao Công nói:
- Đi chơi qua đây, nghe đồn ngài vừa bắt được Ngũ Viên nên xin vào chúc mừng.
Ải Quan nói:
- Tôi cùng cha của Ngũ Viên trước kia cùng làm quan một triều, nên được biết mặt Ngũ Viên. Kẻ vừa bị bắt, hình dung thì giống nhưng tiếng nói khác nhiều, lại tự xưng là Hoàng Phủ Nột. Cho nên tôi còn xét lại.
Đông Cao Công xin cho xem mặt, ải quan cho dẫn Hoàng Phủ Nột ra. Vừa trông thấy Đông Cao Công, Phủ Nột liền la lớn:
- Chao ôi! Ông hẹn tôi cùng đi chơi, sao ông đến trễ, để tôi phải chịu nhục thế này?
Đông Cao Công cười lớn:
- Tướng Quân lầm rồi! Đây quả là Hoàng Phủ Nột, bạn thân của tôi, chớ nào phải Ngũ Viên. Tôi cùng Hoàng Phủ Nột hẹn nhau đi săn, nhưng tôi tới trễ. Nếu tướng quân không tin thì hãy xem tờ quá quan thông điệp đây.
Ải quan xem văn điệp, có ý thẹn thùng, đứng dậy mở trói cho Hoàng Phủ Nột, rồi rót một chén rượu mời uống và xin lỗi. Đông Cao Công và Hoàng Phủ Nột cúi đầu từ biệt ải quan rồi dắt nhau đi.

Còn Ngũ Viên, nhân lúc dân chúng nghe tin quân giữ ải bắt được kẻ bị tầm nã nô nức kéo nhau đến xem, mới lẻn ra khỏi ải, đi thẳng một mạch.
Đi được mấy dặm, Ngũ Viên bỗng gặp một người hầu cận của Ngũ Xa xưa, nay làm đốc canh giữ cửa Chiêu Quan, tên là Tả Thành. Tả Thành thấy Ngũ Viên, liền nhận ra ngay, và hỏi:
- Ngài đang bị triều đình tầm nã, tại sao lại thoát được qua ải quan?
Ngũ Viên nói dối:
- Sở dĩ Đại Vương tìm bắt ta vì biết ta có viên dạ minh châu, bảo phải đem nạp. Nhưng viên dạ minh châu ấy đã lọt vào tay người khác, nên ta phải đi tìm. Vừa rồi ta có trình bày cho quan trấn phủ ải quan nên mới được qua ải.
Tả Thành không tin, nói:
- Đại Vương đã chỉ dụ rõ ràng: Ai bắt được ngài thì được trọng thưởng, còn ai tha thì bị tử tội. Vậy xin ngày theo tôi về ải để tôi hỏi cho rõ rồi sẽ đi.
Ngũ Viên nỗi giận:
- Quan trấn thủ đã cho ta đi. Ngươi có quyền chi mà bắt trở lại? Thôi đừng có nhiều lời.

Biết không thể cưỡng bách nổi. Tả Thành đành phải để Ngũ Viên đi và giấu kín cuộc gặp gỡ.
Ngũ Viên vội đi suốt ngày đêm không nghỉ. Sáng hôm sao đến bờ sông Đại Giang. Mặt sông lênh láng. Nước chảy sóng cuộn, lại không một bóng thuyền bè qua lại. Ngũ Viên thất kinh, tưởng không còn lối thoát, thì chợt thấy một ngư ông đầu râu tóc bạc, chèo một chiếc thuyền con từ trong đám lau ra, vừa chèo vừa hát. Lắng nghe khúc hát thì hội ý rằng ngư ông muốn đưa khách sang sông, Ngũ Viên liền đi xuống mé sông. Chiếc thuyền cặp mé, ngư ông ra hiệu, Ngũ Viên vội bước xuống thuyền. Thuyền lướt nhẹ trên mặt sông, không mấy chốc thì đến bờ bên kia, ngư ông nói:
- Đêm qua lão nằm mộng thấy sao rơi trong thuyền, đoán biết rằng có quí nhân sang sông nên chực đón tiếp. Vậy lão mong được biết rõ tướng quân là ai.
Ngũ Viên nói tên thật và hoàn cảnh. Ông lão nói:
- Nhìn sắc diện, lão đón biết tướng quân đói. Vậy tướng quân hãy ngồi đây, lão vào xóm tìm cơm ra tướng quân dùng đỡ.
Dứt lời, cột thuyền vào gốc đại thọ, rồi đi vào xóm.
Ngồi chờ, Ngũ Viên sanh nghi, bèn chui tránh vào trong đám lau lách. Ông lão đem cơm ra, không thấy Ngũ Viên, liền gọi lớn:
- Tôi có ác ý đâu mà quí nhân lại bỏ trốn?
Ngũ Viên bước ra, có ý thẹn, đáp:
- Tánh mạng tôi hiện ở trong tay lão trượng, cho nên phải dè dặt đôi chút chớ đâu dám nghi lòng.

Ông lão dọn cơm. Ngũ Viên ăn xong, cởi thanh kiếm giao cho ông lão:
- Thanh Kiếm này của Tiên Vương ban cho họ tôi. Ông cha tôi đã mang hơn ba đời, giá đáng muôn vàng. Tôi xin dâng lão trượng để tỏ lòng tri ân.
Ông lão cười lớn:
- Lão nghe vua Sở trao giải thưởng năm mươi ngàn quan tiền và phong làm thượng tướng. Nếu lão tham giàu sang thì đâu có đưa tướng quân đến đây. Vậy xin tướng quân hãy giữ thanh kiếm lại để có lúc dùng.
Ngũ Viên cảm động, nói:
- Nếu lão trượng không nhận thanh kiếm thì xin cho biết tánh danh, để ngày sau đền đáp.
Ông lão nổi giận, nói:
- Lão thấy tướng quân bị hàm oan, nên giúp đỡ. Tướng quân không lo đến việc rửa hận mà cứ nghĩ đến việc đền ơn!
Ngũ Viên nói:
- Kẻ tri ân không kể, nhưng người thọ ân đâu dám quên.
Ông lão nói:
- Tướng quân là kẻ có tội đi trốn, gối bắc đầu đông. Còn lão thời mặc nước sanh nhai, nguồn mây lạch sóng. Một xa khó mà gặp lại, nhưng nếu có duyên trời còn run rủi, thì lão sẽ gọi tướng quân bằng "người trong lau" còn tướng quân gọi lão là "lão đánh cá". Như thế là đủ rồi.

Ngũ Viên lạy tạ rồi đi, nhưng được mấy bước quay lại nói:
- Giả sử đàng sau có quân đuổi theo, xin lão trượng đừng tiết lộ cho ai biết.
Ông lão thở dài:
- Lão đã hết lòng cùng tướng quân, sao tướng quân cứ nghi hoặc mãi thế.
Nói đoạn chống thuyền ra giữa sông, lật úp thuyền mà tự nịch.
Ngũ Viên hét lên một tiếng rồi dậm chân than:
- Thương ôi! Ta nhờ lão mà sống. Lão vì ta mà chết!
Rồi gạt lệ mà đi.
Đến đất Phiên Dương, bụng đói, ghé vào xóm xin ăn. Chợt thấy một người con gái ngồi giặt bên sông Lại Thủy, có đem theo một xách cơm. Ngũ Viên dừng lại, nói:
- Đường xa lỡ bước, cô có thể làm ơn giúp một bửa ăn chăng?
Người con gái cúi mặt đáp:
- Năm nay tôi đã ba mươi tuổi, chưa có chồng. Nhà chỉ một mẹ một con, đâu dám đem cơm đãi khách lạ.

Ngũ Viên nghe nói hết sức ngạc nhiên, nhưng vì đói quá, phải năn nỉ:
- Chỉ vì gặp bước cùng khốn, nên phải lụy người. Nếu cô rủ lòng thương, thì thật là ơn trọng.
Người con gái ngước lên trông, rồi nói:
- Tướng quân không phải kẻ tầm thường, không lẽ vì giữ tư cách người con gái mà để tướng quân phải chịu đói khát ư.
Nói đoạn mở gói cơm mời khách.
Ngũ Viên ăn xong, vái người con gái và nói:
- Cô rủ lòng thương, không bao giờ tôi dám quên ơn đức. Song tôi là kẻ có tội đi trốn. Phỏng có gặp người nào theo hỏi, xin cô giấu giùm cho.
Ngươi con gái buồn rầu than:
- Mẹ góa, con côi, ngớt ba mươi năm thiếp giữ tròn tiết hạnh. Nào ngờ nay vì xách cơm mà tiếp chuyện cùng người đàn ông! Thế thì còn gì tư cách của người trinh nữ? Thôi tướng quân hãy đi đi, đừng nói nhiều lời.

Ngũ Viên vừa đi được mấy bước, ngoảnh lại, thì ...than ôi! Cô gái đã ôm một bia đá lớn, nhảy ùm xuống sông sâu!
Ngũ Viên hết sức thương xót, cắn móng tay lấy máu viết lên một tảng đá trên sông, mấy dòng chữ rằng:
      Nhĩ hoàn sa,
      Ngã hành khuất
      Ngã phúc bão,
      Nhĩ thân nịch.
      Thập niên chi hậu,
      Thiên kim báo đức

    Nghĩa là:
        Nàng giặt bên sông,
        Ta đi hành khuất!
        Lòng ta vừa no,
        Đời nàng đã khuất!
        Nguyện mười năm sau,
        Nghìn vàng báo đức.

      Viết xong sợ người khác trông thấy, vội lấy đất lấp khuất tảng đá, rồi mới lên đường.
      Đi hơn ba trăm dặm đến đất Ngô Xu, Ngũ Viên ngạc nhiên ngừng lại xem: Trước một túp liều tranh, một tráng sĩ trán gồ, mắt sâu, hình thù dữ tợn, đương đánh cùng một tráng sĩ khác thân vóc to lớn mắt lồi râu rậm. Hai bên đánh đương hăng, bỗng có bà lão từ trong lều bước ra, quát: "Chuyên Chư! Không nên thế". Tráng sĩ trán gồ, sợ hãi, vội bỏ vào nhà. Ngũ Viên hỏi:
      - Bà lão là ai mà tráng sĩ nể nang đến thế?
      Người đứng xem đáp:
      - Đó là mẹ của tráng sĩ. Tráng sĩ tên Chuyên Chư, sức mạnh cử đỉnh, tánh trung trực, nghĩa khí, thấy việc bất bình không bỏ qua. Lại rất có hiếu, dẫu đương giận mấy, nghe mẹ bảo cũng thôi ngay.
      Ngũ Viên khen thầm. Sáng hôm sau tìm vào yết kiến, cùng Chuyên Chư tỏ hết tâm sự của mình. Chuyên Chư nói:
      - Sao không tìm vào bệ kiến vua Ngô để mượn quân về Sở báo thù?
      Ngũ Viên nói:
      - Nguyện vọng như thế, song không có người tiến dẫn.
      Chuyên Chư hỏi:
      - Nay Ngài hạ cố đến đây, hẳn có điều chỉ bảo?
      Ngũ Viên đáp:
      - Vì mến đức Ngài, nên mong được kết nghĩa.

      Chuyên Chư cả mừng, vào thuật lại cùng mẹ, rồi cùng Ngũ Viên kết làm anh em. Ngũ Viên lớn hơn Chuyên Chư hai tuổi nên được tôn làm anh. Ngày hôm sau Ngũ Viên từ giã Chuyên Chư để vào Bình Thành tìm cách vào bệ kiết vua Ngô. Chuyên Chư nói:
      - Vua Ngô là người vũ dũng, tánh tình ngạo nghễ, không bằng Công Tử Quang. Công Tử Quang là người có đức độ, biết trọng hiền đãi sĩ, sau này ắt có cơ hội làm nên.
      Ngũ Viên xin lĩnh ý và cùng Chuyên Chư chia tay.
      Đến đất Mai Lý, Ngũ Viên bỏ tóc xõa, bôi mặt giả người điên vào chợ, vừa đi vừa thổi tiêu, tiếng nghe não nùng ai oán. Người trong chợ kéo nhau theo xem, nhưng không ai hiểu vì cả. Bỗng một người rẽ đám đông đến gần Ngũ Viên, nhìn từ đầu đến gót, rồi bảo nhỏ:
      - Xin Ngài ghé vào nhà, tôi có chuyện muốn nói.
      Ngũ Viên cất ống tiêu, theo người ấy cùng vào nhà.
      Người ấy là ai?
      Ấy là Bi Ly, một người có tài xem tướng, Công Tử Quang đã dùng làm chức giữ chợ, để tìm kết nạp những kẻ anh hùng hào kiệt chưa gặp thời.

      Công Tử Quang là con vua Chư Phan vua nước Ngô trước kia. Chư Phan chết, đáng lẽ Công Tử Quang được lên nối ngôi. Nhưng vâng lời cha dặn, Công Tử Quang phải nhường ngôi cho chú là Dư Sái. Dư Sái chết, em là Di Muội nối ngôi. Di Muội chết, đáng lẽ người em út là Quí Trát lên kế vị. Nhưng Quí Trát không chịu làm vua. Như thế đáng lẽ ngôi phải giao lại cho con Chư Phan là Công Tử Quang. Nhưng vì con Di Muội là Vương Liêu tham lam, tự lập mình lên làm vua nước Ngô. Công Tử Quang không phục, mới dùng Bi Ly chiêu mộ hào kiệt làm vây cánh để mong lấy lại ngôi vua.
      Bi Ly đưa Ngũ Viên vào nhà, nói:
      - Tôi xem tướng đã nhiều, nhưng chưa thấy ai có tướng tốt như Ngài. Lại nghe tiếng tiêu sầu thảm, tôi biết rằng Ngài có tâm sự đau thương. Vì vậy nên tôi có ý muốn giúp đỡ.
      Ngũ Viên chưa kịp trả lời, Bi Ly nói tiếp:
      - Tôi nghe vua Sở giết oan một trung thần là Ngũ Xa. Con thứ Ngũ Xa là Tử Tư trốn thoát, hiện đương lưu lạc nước người. Không biết Ngài có phải là Tử Tư chăng?
      Biết rằng không phải người mong làm hại mình, Ngũ Viên bèn tỏ thật nỗi nhà nỗi nước.

      Người hầu của Bi Ly nghe được, liền vào báo cùng Vương Liêu. Vương Liêu cho đòi Bi Ly đến bắt phải đưa Ngũ Viên vào chầu. Không thể đừng được, Bi Ly bèn sắm sửa cho Tử Tư vào yết kiến vua Ngô, nhưng mật sai người về báo tin cho Công Tử Quang biết.
      Sau khi tiếp kiến Ngũ Viên, vua Ngô biết là người hiền liền phong làm quan Đại Phu, lại hứa sẽ giúp quân về báo thù nước Sở. Công Tử Quang biết Ngũ Viên là bật trí dũng, sợ Vương Liêu thêm vây cánh, mới vào triều nói cùng Vương Liêu:
      - Tôi nghe kẻ vong thần nước Sở là Ngũ Tử Tư chạy sang nước ta. Chẳng biết Đại Vương đối xử thế nào?
      Vương Liêu nói:
      - Ngũ Viên là người hiền lại có hiếu, ta không nên xem thường.
      Công Tử Quang hỏi:
      - Đại Vương nhận xét thế nào mà gọi là người hiền và có hiếu.
      Vương Liêu đáp:
      - Ngũ Viên cùng ta bàn việc nước rất hợp ý ta, lại tỏ ra là người có trí dũng khác chúng, nên ta gọi là người hiền. Ngũ Viên lại nặng tình cha con, quyết tâm báo thù, như thế tức là hiếu.
      Công Tử Quang lại hỏi:
      - Thế, Đại Vương có nhận lời cho mượn quân báo thù chăng?
      Vương Liêu đáp:
      - Ta cảm tình hắn, nên có hứa giúp.

      Công Tử Quang can:
      - Không nên. Nước ta là một nước lớn, không lẽ vì thù riêng một người mà cất quân chinh phạt. Đã nhiều phen giao chiến với Sở, quân ta chưa bao giờ thắng, như vậy là một điều quốc sỉ. Vậy xin Đại Vương nên vì thù nước mà cử binh chứ không nên vì tư thù của kẻ khác. Nếu vì kẻ khác thì thắng chỉ một người hưởng, còn bại thì quân sĩ của ta bị hao tốn máu, xương.
      Vương Liên cho là phải liền bãi việc đánh Sở.
      Ngũ Viên nghe tin Công Tử Quang can vua Ngô, giận xin từ chức Đại Phu. Công tử Quang xúi Vương Liêu không nên dùng Ngũ Viên. Vương Liêu nghe lời, cấp cho Ngũ Viên một trăm mẫu đất và cho ra ở nơi Dương Sơn.
      Công Tử Quang liền tìm đến thăm viếng, giúp lương thực. Ngũ Viên rất cảm kích. Một hôm Công Tử Quang hỏi:
      - Tướng quân là người lỗi lạc. Tướng quân có biết người nào tài giỏi như tướng quân nữa chăng?.
      Biết rằng Công Tử Quang muốn tìm vây cánh, Ngũ Viên liền giới thiệu Chuyện Chư.
      Từ ấy mỗi khi có việc quan trọng Công Tử Quang đều đến hỏi ý kiến Ngũ Viên. Ngũ Viên bày kế cho Công Tử Quang tìm cách làm cho các bậc trung dũng của Vương Liêu đi xa, rồi sai Chuyên Chư giết Vương Liêu.

      Vương Liêu bị giết, Công Tử Quang lên ngôi nước Ngô xưng hiệu là Hạp Lư, phong Ngữ Viên làm chức Hành Nhân, lấy lễ đãi như thượng khách:
      Một hôm Hạp Lư hỏi Ngũ Viên:
      - Ta muốn nước Ngô được trở nên cường thịnh, làm bá chủ thiên hạ, thì phải làm thế nào?
      Ngũ Viên sa nước mắt, sụp lạy, tâu:
      - Tôi là kẻ tội nhân nước Sở, cha và anh bị giết oan, xác không ai chôn, giỗ không ai cúng. Nay sang đây được Đại Vương thương tình trọng dụng, như thế đã thấy tự làm xấu hổ lắm rồi, đâu còn dám nói đến việc chính trị.
      Hạp Lư nói:
      - Nếu không có nhà người thì ta mãi phải chịu nhục dưới tay kẻ khác. Nay ta đem nước nhà ủy thác cho nhà ngươi, nếu nhà người từ chối thì phụ lòng ta lắm!

      Ngũ Viên thưa:
      - Tôi là kẻ lưu lạc đến đây, đâu dám qua mặt các quan triều thần của nước Ngô. Huống chi mối thù lớn tôi chưa trả xong, lòng bối rối không an, làm sao nghĩ ra đuợc mưu kế.
      Hạp Lư nói:
      - Mưu thần nước Ngô không ai bằng nhà ngươi. Nhà ngươi chớ nên khiêm nhường. Khi việc nước đã yên, ta sẽ giúp nhà ngươi rửa hận.
      Ngũ Viên phụng mạng. Trước hết lo xây đắp một thành lớn ở phía đông bắc núi Cô Tô, rồi đón vua Hạp Lư thiên đô đến đó. Đoạn tuyển mộ quân sĩ, tập luyện chiến trận, và lo dồn lương tích thảo thật nhiều. Binh lực mỗi ngày một thêm mạnh, Hạp Lư hết sức vui mừng. Tuy vậy nhà vua vẫn sợ con Vương Liêu là công tử Khánh Kỵ đương ở nước ngoài chiêu mộ hào kiệt để phục thù cha, một hôm hỏi kế Ngũ Viên. Ngũ Viên bèn giới thiệu Yên Ly, và bày mưu cho Yêu Ly đi giết Khánh Kỵ.
      Công việc thành rồi, Ngũ Viên tâu cùng Hạp Lư:
      - Những kẻ thù của Đại Vương đều đã trù được cả, còn kẻ thù của tôi biết bao giờ mới diệt xong?

      Biết rằng Ngũ Viên là người giỏi dùng binh, song còn e rằng là người nước Sở, không hết lòng với Ngô, nên Hạp Lư làm thinh. Ngũ Viên hiểu ý, bèn tâu:
      - Nếu Đại Vương không muốn cho tôi cầm binh đi đánh Sở, thì tôi xin tiến cử một người cất quân ắt thắng.
      Hạp Lư hỏi ai. Ngũ Viên đáp:
      - Người ấy họ Tôn tên Vũ, người nước Ngô, tinh thông thao lược, có làm ra mười ba thiên binh pháp. Đời không mấy người biết tài. Hiện ở ẩn nơi La Phù Sơn. Nếu được họ Tôn làm quân sư thì thiên hạ không ai địch nổi.
      Hạp Lư rất mừng liền sai Ngũ Viên đem vàng ngọc đi rước.
      Tôn Vũ theo Ngũ Viên vào yết kiến Hạp Lư. Sau mấy phen thử thách, Hạp Lư phong Tôn Vũ làm Thượng Tướng, giao việc đi đánh Sở. Ngũ Viên được phong làm phó tướng.

      Binh nước Ngô rầm rộ kéo qua Sở, và sao bao nhiêu trận thư hùng, thành Dĩnh Đô của Sở bị phá. Sở Chiêu Vương chạy thoát. Ngũ Viên bàn cùng Hạp Lư phá hủy nhà tôn miếu của nước Sở. Tôn Vũ can. Nhưng vì muốn diệt nước Sở, nên Hạp Lư không nghe lời Tôn Vũ. Ai nấy đều vui vẻ, duy một mình Ngũ Viên mặt ủ mày châu. Hạp Lư hỏi:
      - Nước Sở đã diệt, thù nhà người đã trả xong, cớ sao lại buồn bã?
      Ngũ Viên gạt nước mắt đáp:
      - Sở Bình Vương là kẻ thù của tôi đã chết rồi. Sở Chiêu Vương cũng trốn thoát. Thế là thù của cha anh tôi chưa trả đặng, lòng tôi không thể nào vui.
      Hạp Lư hỏi:
      - Ý nhà ngươi muốn làm thế nào?
      Ngũ Viên thưa:
      - Xin Đại Vương cho phép tôi đào mả Sở Bình Vương lên phá áo quan, chém lấy đầu thì tôi mới hả được lòng căm tức.

      Hạp Lư nói:
      - Nhà người giúp ta muôn việc, ta tiếc gì nắm xương tàn của Sở Bình Vương mà không cho nhà nguơi báo oán.
      Ngũ Viên được lệnh liền đi tìm mả Sở Bình Vương. Nhưng đến Sơn Trủng thì đồng rộng cây xanh, không biết đâu là nơi chôn cất. Ngũ Viên vật mình than khóc:
      - Trời hỡi! Mười chín năm trời ngậm cay nuốt đáng, mà không báo được thù cha và anh!
      Bỗng thấy một ông lão đi ngang qua, Ngũ Viên hỏi thăm. Ông lão đáp:
      - Sở Bình Vương biết mình có nhiều người oán nên đã đề phòng trước. Sợ sau này có người quật mả, nên dặn đem chôn dưới hồ nước sâu. Tướng quân muốn tìm áo quan thì phải tát cạn cái hồ kia mới lấy được.
      Ngũ Viên nghe lời, cho người lặn xuống hồ mò thử, quả có một cỗ áo quan bằng đá thật lớn. Ngũ Viên mừng rỡ, truyền quân tát hồ, khiêng áo quan lên. Nhưng mở ra chỉ thấy áo mão và 100 tạ sắt, còn hài cốt Sở Bình Vương không thấy đâu. Ông lão nói:
      - Đó là áo quan giả. Chiếc áo quan thiệt dưới áo quan giả, sâu ba thước.

      Ngũ Viên cho đào đất lên, lôi xác ra, đích thị là xác Sở Bình Vương, da thịt vẫn còn nguyên vẹn.
      Vừa trông thấy, Ngũ Viên hầm hầm nổi giận, tay cầm roi đồng đánh một lúc trăm roi, xương thịt tan nát. Đoạn lấy chân giẫm lên bụng, tay khoét mắt, kể tội:
      - Lúc mày sống, mày có mắt vẫn như kẻ mù, không biết ai trung ai nịnh! Vậy ta lấy mắt mày đi cho bỏ ghét.
      Rồi cắt đầu Sở Bình Vương đem trao giữa chợ, còn xương thịt thì sai đem quăng giữa đồng.
      Ngũ Viên đem vàng bạc tạ ơn ông lão và hỏi:
      - Vì đâu lão trượng biết được chổ chôn của Sở Bình Vương?
      Ông lão đáp:
      - Tôi chính là một trong những người thợ đá xây hồ chôn xác Sở Bình Vương. Nhà vua cho xây hồ trước khi chết. Hồ xây xong, huyệt đào xong, nhà vua sợ chúng tôi tiết lộ nên đem giết tất cả thợ làm mồ. Giết hơn trăm người, chỉ riêng tôi trốn thoát. Nay cảm lòng hiếu của Tướng Quân và cũng để báo thù cho các bạn đồng nghiệp, tôi đến đây mách bảo.

      Đào mả Sở Bình Vương rồi, Ngũ Viên vẫn chưa hả giận, bèn tâu cùng Hạp Lư:
      - Lấy được nước Sở mà chưa bắt được vua Sở thì mầm móng vẫn còn. Tôi xin đem một toán đi tầm nã.
      Hạp Lư chấp thuận. Nhưng vì các nước muốn giúp vua Sở nên Ngũ Viên không thành công.
      Chí phục thù của Ngũ Viên thật là ít có!
      Nhưng có lắm người chê Ngũ Viên vì thù nhà mà rước quân Ngô về diệt Tổ Quốc là nước Sở. Lại chê nữa rằng Sở Bình Vương đã chết rồi mà Ngũ Viên còn đào mả liên đả xác, như thế là bất nhân, không có độ lượng.
      Lời chê cũng phải lắm.
      Nhưng chúng ta thử đúng vào cương vị Ngũ Viên, nghĩa là nếu chúng ta cũng bị kẻ cậy quyền cậy thế giết oan cha anh như Ngũ Viên, thì hỏi kỹ lương tâm xem chúng ta có thể làm quân tử được chăng?
      Đoạn trường ai có qua cầu mới hay.

      Nguyễn Thân ở Quảng Nghĩa, một quyền thần thời Pháp thuộc, đã đào mả nhà anh hùng Phan Đình Phùng lấy xác đốt thành tro nhồi thuốc súng bắn ra biển, và suốt đời giết không biết bao nhiêu kẻ vô tội, cướp không biết bao nhiêu hạnh phúc của kẻ khác. Lòng oán giận của nhân dân sâu như biển khơi, nhưng đành phải khoan tay bấm bụng trước quyền thế. Đến khi toàn dân đứng lên đánh Pháp, chính quyền Phong kiến bị sụp đổ, lòng dân chưa nguôi được giận, liền đào mả Nguyễn Thân, lấy xương cốt vất ngoài đất.
      Đã ôm hận vào lòng thì xưa cũng như nay, đều phải rửa mới hết. Khách bàng quan thường lên giọng công kích nọ kia, là vì ruột họ không bị chọc. Chớ nếu họ cũng ở trong hoàn cảnh oan uổng như các nạn nhân của Sở Bình Vương, của Nguyễn Thân, thì e họ còn bất nhân gấp bội.
      Huống nữa những đứa dâm bạo, gian ác như Sở Bình Vương, Nguyễn Thân ..., lúc sống vì có quyền thế trong tay, không ai làm gì nổi, thì lúc chết cũng phải chịu hình phạt gì, để làm gương cho những kẻ cậy quyền cậy thế làm việc bất lương soi cho thấy rõ mặt mình mà kiên sợ chút đỉnh cho dân nhờ chứ.


      bài đã được sửa chính tả



Đăng nhập để trả lời
0
Nợ Nước

Ngũ Tử Tư, vì thù nhà mà phải rước quân Ngô về diệt nước Sở, đào mả kẻ thù là Sở Bình Vương lên đánh đến nát thây, rồi đem binh tìm bắt Sở Chiêu Vương đương bôn lưu nơi ngoại quốc.
Đứng trước tình cảnh nước mất vua nhục ấy, một người khác cam chịu bao nhiêu mỗi nhục nhằn cay đắng để lo cứu nước Sở cho khỏi bị biệt vong.
Người ấy là Thân Bao Tư.
Thân Bao Tư làm quân cùng Sở Bình Vương, là chỗ quan thân cùng Ngũ Tử Tư.
Khi Sở Bình Vương giết cha và anh Tử Tư thì Bao Tư phụng mệnh đi sứ nước ngoài. Lúc Tử Tư đi trốn tình cờ gặp Bao Tư đi sứ về. Bao Tư không thấy Tử Tư vội bước xuống xe hỏi:
- Vì cớ gì hiền huynh lại thui thủi một mình nơi đây?
Tử Tư đem việc Sở giết oan cha và anh mình cho Bao Tư nghe, vừa nói vừa khóc. Bao Tư ứa nước mắt hỏi:
- Bây giờ hiền huynh định đi đâu?

Tử Tư đáp:
- Tôi định sang nước khác, mượn quân về đánh vua Sở trả thù.
Bao Tư can:
- Vua Sở dẫu vô đạo, nhưng nếu hiền huynh phản loạn thì không tránh khỏi tiếng phản thần.
Tử Tư đáp:
- Ngày xưa vua Kiệt vua Trụ bị kẻ bầy tôi giết cũng chỉ vì vô đạo. Nay vua Sở dâm loạn, tranh lấy vợ của con, lại giết cha và anh tôi là những kẻ trung thần hết lòng vì nước. Thù ấy, dẫu tôi có quét sạch đất Dĩnh Đô cũng chưa sạch được sự ô uế của nước Sở.
Bao Tư ngập ngùi đáp:
- Nếu tôi bảo hiền huynh nên báo thù nước Sở, thì là bất trung, còn khuyên hiền huynh đừng báo thù nước Sở, thì là bất hiếu. Thôi, tùy ý hiền huynh định liệu. Phần tôi, thế nào cũng phải bảo tồn nước Sở, nếu Sở lâm nguy. Sĩ các hữu chí. Xin từ biệt hiền huynh.

Thế là mỗi người đi mỗi đường.
Mười chín năm sau, khi quân Ngô phá được nước Sở, Thân Bao Tư liền bỏ trốn vào hang đá đất Di Lăng. Được tin Ngũ Tư đào mả Sở Bình Vương, lùng bắt Sở Chiêu Vuơng, Bao Tư bèn viết thư trách mắng và yêu cầu rút quân về Ngô. Ngũ Tử Tư đọc thư, ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói cùng sứ giả:
- Ta nay nhiều việc, không thể viết thư phúc đáp. Nhà ngươi về nói lại cùng Thân Bao Tư rằng: "Trung và hiếu không thể nào lo trọn vẹn cả hai được. Bảo rằng nghĩ đến nước mà quên thù nhà, đó là lo tròn cả trung lẫn hiếu, nói thế chẳng qua là để tự an ủi mình, và để che miệng thế gian đó thôi"
Sứ giả về thuật lại cùng Bao Tư. Bao Tư nói:
- Ngũ Viên quyết chí diệt nước Sở, ta há ngồi yên hay sao? Phu nhân vua Sở Bình Vương là con gái Tần Ai Công. Thế thì Đại Vương ta ngày nay là cháu ngoại nước Tần. Ta phải qua Tần cầu cứu. Chẳng lẽ nước Tần không giúp.
Thân Bao Tư liền trốn sang Tần. Đường xa, bước vội, hai chân đẫm máu dầm dìa. Đến Ung Châu, vào ra mắt Tần Ai Công và nói:
- Nước Ngô tham tàn độc ác, lâu nay có ý thôn tính chư hầu. Nay bắt đầu diệt nước Sở. Đại Vương tôi bị thua, phải trốn ra nơi thôn dã, sai tôi sang đây cầu cứu quí quốc, xin quí quốc nghĩ tình thân thuộc, giúp đỡ cho.

Tần Ai Công nói:
- Nước ta hẻo lánh, đất hẹp, dân ít, giữ mình còn chưa nổi, dám đâu giúp đỡ ai.
Bao Tư thưa:
- Tần và Sở tiếp giáp nhau. Nay Sở bị Ngô đánh mà Tần không cứu, thì nước Tần có ngày cũng nước Ngô đến diệt như nước Sở. Quí quốc giúp Sở tức là bảo vệ cho mình đó. Môi hở thì răng lạnh, cúi xin quí quốc hãy thương lấy nhau. Nếu quí quốc cứu được nước Sở, thì nước tôi đời đời ghi ơn.
Ai Công chưa quyết, nói:
- Quan Đại Phu hãy tạm ra nhà Công quán nghỉ ngơi, để ta thương nghị cùng đình thần đã.
Thân Bao Tư lui ra, rồi sáng hôm sau lại vào chầu.
Tần Ai Công không tiếp. Bao Tư đứng tới chiều rồi trở về công quán.

Sáng hôm sau Bao Tư cũng đến sân chầu van xin. Nhưng Ai Công vẫn làm lơ. Bao Tư không chịu ra về, cứ đứng gào khóc suốt bảy ngày đêm, bỏ cả ăn cả ngủ, nước mắt đầm huyết!
Tần Ai Công kinh ngạc, nghĩ thầm:
- Bề tôi nước Sở nghĩ đến nước như thế mà còn bị nước Ngô đánh thắng, huống hồ nước ta không có kẻ bề tôi nào có thể sánh. Nếu không lo cứu nước Sở, e nước Tần sẽ không yên với nước Ngô.
Đoạn hứa cùng Bao Tư sẽ phát binh cứu Sở.
Bao Tư lạy tạ lui ra.
Qua hôm sau vua Tần sai Đại Tướng đem binh cùng Bao Tư sanh cứu Sở.
Quân Tần đánh cùng quân Ngô nhiều trận, chưa phân thắng bại thì bên nước Ngô có biến, Hạp Lư phải về nước, giao binh quyền ở Sở lại cho Ngũ Tử Tư và Tôn Vũ. Kế đó nước Việt lại đem quân sang quấy rối nước Ngô. Hạp Lư liền sai người sang Dĩnh Đô triệu Tôn Vũ và Ngũ Tử Tư về.

Được chỉ Hạp Lư triệu hồi, Ngủ Tử Tư cùng Tôn Vũ đương bàn luận thì có người đem đến cho Tử Tư một phong thư. Mở ra xem thì là thư của Thân Bao Tư, đại ý nói rằng:
"- Vua tôi nhà ngươi chiếm Dĩnh Đô đã bao nhiêu lâu rồi mà không trị nổi nước Sở, đủ biết ý Trời không muốn nước Sở diệt vong.
Nhà ngươi muốn diệt Sở. Còn ta cố giữ Sở. Hai quan niệm cùng chống nhau. Tuy nhiên tình bạn đồng hương giữa ngươi và ta vẫn không thể thay đổi.
Và dù sao nhà ngươi cũng không chối cãi, ngươi là người dân nước Sở.
Vậy muốn cho non sông nước Sở không vì người dân vong quốc mà tan nát, ta mong nhà ngươi dẹp bớt uy lực nhà Ngô lại. Còn ta, ta sẽ không tận dụng uy lực của nước Tần."
Ngũ Tử Tư xem xong, trao thư cho Tôn Vũ và nói:
- Nước Ngô ta đem quân chiếm nước Sở, đốt phá tôn miếu, đào mồ người chết, chiếm nhà người sống, việc báo thù như thế kể cũng đã thoả mãn, uy danh của binh tướng như thế kể cũng đã lẫy lừng. Nay quân Tần khí thế đương hăng, nhóm phục hưng lại đương được lòng dân chúng. Còn ta hiện đương đứng trong tình trạng nguy cấp. Nên theo ý tôi thì nên lui binh.

Tôn Vũ đáp:
- Rút quân về là đúng theo ý muốn của Đại Vương. Nhưng muốn cho nước Sở khỏi chê cười, nên tâu cùng Đại Vương lập con Công Tử Kiến là Công Tử Thắng lên nối ngôi nước Sở.
Ngũ Viên khen phải, liền viết thư phúc đáp cho Bao Tư. Đại ý rằng:
"Sở Bình Vương gây nhiều tội ác, giết hại trung thần, nên mới có thảm hoạ này.
Vua là tiêu biểu cho một nước. Vua làm sai, nước phải mang họa. Đó là lỗi của nhà vua, không nên trách kẻ bề tôi.
Ngày xưa, Tề Hoàn Công không nở diệt nước Đình, nước Vệ, Tần Mục Công ba lần lập vua Tấn, tiếng khen muôn đời. Ta đây dẫu hèn mọn cũng biết cái nghĩa ấy, nên muốn lập Công Tử Thắng, con Công Tử Kiến lên trị vì nước Sở. Nếu nhà ngươi đồng tình, thì ta có hẹp hòi gì mà không rút quân để cho nước Sở được hưng thịnh."
Thân Bao Tư được thư bàn cùng Công Tử Thân cho người sang nước Ngô rước Công Tử Thắng về nước. Có người can. Công Tử Thân nói:
- Công Tử Thắng là kẻ bất tài. Ta cứ nghe lời Ngũ Viên cho rước về nước cũng chẳng hại gì. Còn việc có lập lên làm vua hay không thật không quan hệ.

Liền cho đi rước Công Tử Thắng.
Ngũ Tử Tư và Tôn Vũ rút quân về Ngô.
Công tử Thân và Thân Bao Tư rước vua Sở Chiêu Vương về nước Sở.
Sở Chiêu Vương bày tiệc thiết đãi các tướng Tần rồi tiễn đưa về nước, phong cho Công Tử Thắng làm Bạch Công, đắp một ngôi thành cho ở. Kế đó, luận công hành thưởng. Công Tử Thân được làm Tể Tướng. Thân Bao Tư có công đi mượn binh Tần về cứu Sở, nhà vua định phong làm Hữu Doãn. Nhưng Bao Tư từ chối, nói:
- Tôi sang mượn binh Tần là vì nước chứ đâu vì thân tôi. Nay Đại Vương đã phục quốc rồi, như thế là tôi thỏa mãn, không còn ước mong gì nữa.
Sở Chiêu Vương có ép nài. Nhưng Bao Tư nhất quyết không nhận chức. Người vợ ngạc nhiên hỏi:
- Tướng quân liều chết đi mượn binh Tần để cứu nước. Nay nước đã khôi phục rồi, cớ sao lại từ chối chức vị?
Thân Bao Tư nói:
- Lúc trước vì tình bằng hữu, ta không tiết lộ âm mưu của Ngũ Viên, để Ngũ Viên đầu Ngô, phá tan nước Sở. Đó là tội của ta. Mình là kẻ có tội mà lại đi nhận công thì chịu sao nổi với lương tâm.
Đoạn đem vợ con trốn vào rừng núi.
Sở Chiêu Vương sai người đi tìm không được, mới yết một tấm bảng nơi cửu dinh Bao Tự, với bốn đại tự thiếp vàng rằng:
TRUNG THẦN CHI MÔN

Thái độ của Thân Bao Tư thật là cao đẹp.
Yêu nước như thế mới thật là yêu nước. Những kẻ mượn tiếng ái quốc để mưu cầu danh cho bản thân cho gia đình, nhìn vào gương Thân Bao Tư không biết có thẹn thùng chút đỉnh?

bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0
Lòng Phản Phúc


Lòng người rất nguy hiểu, không thể lường được. Vì vậy Cổ nhân rất dè dặt trong việc giao du. Tuy vậy vẫn cứ bị phản bội.
Tôn Tẫn và Bàng Quyên là một bằng chứng cự thể.
Tôn Tẫn là người nước Tề. Bàng Quyên là người nước Ngụy. Hai người đều là học trò Quỉ Cốc tiên sinh, kết làm anh em và cùng học môn binh pháp.
Nghe tin vua nước Ngụy cầu hiền, Bàng Quyên xin thầy xuống núi để lập công danh. Tôn Tẫn tiễn đưa, Bàng Quyên cảm động nói:
- Tôi cùng anh lâu nay giao kết, tuy không cùng dòng máu song có tình ruột thịt. Chuyến này nếu tôi gặp bước tiến thân thì thế nào cũng tiến cử anh, để cùng nhau chung hưởng phú quí.
Tôn Tẫn nói:
- Biết rồi hiền đệ có giữ được lời hứa chăng?
Bàng Quyên thề:
- Nếu tôi thất hứa sẽ bị chết dưới muôn mũi tên.
Tôn Tẫn bùi ngùi:
- Đa tạ hậu tình. Cần chi phải thề độc như thế.
Bàng Quyên đi rồi, Quỉ Cốc tiên sinh hỏi Tôn Tẫn:
- Bàng Quyên đi, nhà người luyến tiếc lắm sao?
Tôn Tẫn thưa:
- Nghĩa tình đồng học sao khỏi nhớ nhau.
Quỉ Cốc lại hỏi:
- Ngươi xét tài Bàng Quyên có làm tướng được chăng?
Tôn Tẫn thưa:
- Được nhờ ơn thầy dạy bảo đã lâu, lẽ nào không làm được.
Quỉ Cốc lắc đầu. Liền đó lấy trong gối ra một bộ sách và nói:
- Đây là mười ba thiên binh pháp của ông nội ngươi là Tôn Vũ. Trước kia Tôn Vũ đem dâng cho vua Hạp Lư nước Ngô. Vua Hạp Lư theo đúng phá tan được quân Sở. Sau Hạp Lư tiếc sách không muốn truyền bá cho mọi người, mới làm một chiếc hộp sắt cất giấu dưới chân cột đài Cô Tô. Đài Cô Tô bị quân Việt đốt tiêu, không ai còn biết đến bộ sách quí ấy nữa. Ta vốn có chơi thân cùng Tôn Vũ, nên được xem trọn bộ. Những điều bí mật trong việc hành binh đều ở trong sách ấy. Ta đã tự tay chú giải kỹ càng và chưa hề đem dạy ai. Nay muốn đem truyền cho nhà ngươi.

Tôn Tẫn nói:
- Tôi, cha mẹ mất sớm, gặp lúc nước nhà biến cố, họ hàng lưu lạc, dẫu biết tổ phụ có sách quí, nhưng không ai truyền bảo. Tôn sư đã nhọc công chú giải, sao không truyền cả cho Bàng Quyên mà chỉ truyền riêng cho tôi?
Quỉ Cốc đáp:
- Được bộ sách này, khéo dùng thì làm lợi cho thiên hạ, không khéo dùng thì làm hại to. Cho nên phải chọn người mà truyền dạy mới được.
Tôn Tẫn lãnh sách, lạy tạ, đem về phòng ngày đêm học tập. Sau ba hôm, tiên sinh gọi Tôn Tẫn đến, hỏi từng thiên từng tiếc trong sách. Tôn Tẫn ứng đáp trôi chảy, một chi tiếc nhỏ không sai. Tiên sinh mừng rỡ, nói:
- Ngươi biết dụng tâm học tập như thế, tổ phụ ngươi tuy đã qua đời nhưng tiếng vẫn còn thơm.
Đoạn lấy sách cất.
Được ít lâu Mặc Định đi chu du thiên hạ, ghé thăm Quỉ Cốc. Gặp Tôn Tẫn, biết là người có tài, họ Mặc bèn khuyên xuống núi để giúp cho thiên hạ bình trị. Tôn Tẫn đáp:
- Tôi có người bạn thân là Bàng Quyên được ra làm quan ở nước Ngụy, hẹn khi nào đắc chí sẽ tiến dẫn nhau, nên tôi phải đợi.
Mặc Địch nói:
- Bàng Nguyên hiện đã làm Tướng nước Ngụy rồi. Thế thì ta sẽ vì anh đến nước Ngụy để dò ý Bàng Quyên xem sao.

Mặc Địch đến nước Ngụy, xét biết Bàng Quyên không muốn tiến dẫn Tôn Tẫn, liền vào xin yết kiến Ngụy Huệ Vương. Huệ Vương vốn mộ danh Mặc Địch, mừng rỡ, sai người ra rước vào Cung đàm đạo. Mặc Địch nói qua binh pháp và thế chiến đương thời trong thiên hạ. Ngụy Vương thích lắm, muốn lưu lại làm quan. Mặc Địch nói:
- Tôi vốn kẻ quê mùa, không quen mặc triều phục. Tôi có biết người cháu Tôn Vũ và Tôn Tẫn, hiện nay ở học cùng Quỉ Cốc tiên sinh, đủ tài thao lược, có thể giúp Đại Vương bình trị thiên hạ được.
Ngụy Vương hỏi:
- Nếu vậy thì Tôn Tẫn là bạn đồng môn cùng Bàng Quyên. Như thế sức học của hai người, ai hơn ai kém?
Mặc Địch đáp:
- Tôn Tẫn có bí truyền của tổ phụ. Khắp trong thiên hạ cũng khó có kẻ bằng nổi chớ đừng nói chi đến Bàng Quyên.
Mặc Địch đi rồi, Ngụy Vương dời Bàng Quyên vào trách sao có bạn đủ tài an bang tế thế mà lại không triệu đến giúp nước. Bàng Quyên thưa:
- Không phải tôi không biết tài Tôn Tẫn, song trộm nghĩ rằng người ấy là người nước Tề, họ hàng đều sống trên đất Tề. Nay nếu về làm quan cùng nước Ngụy thì sao cho khỏi trọng Tề khinh Ngụy.

Ngụy Huệ Vương nói:
- Kẻ sĩ bao giờ cũng chết với người tri kỷ. Cần gì phải lựa người bản quốc mới dùng.
Không dám trái ý Huệ Vương, Bàng Quyên bèn viết thư vời Tôn Tẫn. Huệ Vương dùng xe tứ mã cùng hoàng kim minh châu, sai người đi rước Tôn Tẫn.
Tôn Tẫn được thư Bàng Quyên vào trình cùng Quỉ Cốc tiên sinh. Tiên sinh cho xuống núi và tặng một cẩm nang, dặn khi gặp việc nguy cấp lắm mới được mở xem.
Đến nước Ngụy, Tôn Tẫn vào yết kiến Huệ Vương. Huệ Vương đem việc binh việc nước ra hỏi, Tôn Tẫn đối đáp như lưu. Huệ Vương rất lấy làm vừa ý, quay lại hỏi Bàng Quyên.
- Ta muốn phong Tôn Tẫn là phó quân sư để cùng tướng quân giữ việc binh quyền. Ý tướng quân thế nào?
Sợ Tôn Tẫn chia bớt quyền bính, Bàng Quyên liền nói:
- Tôn Tẫn và tôi là bạn đồng song, mà họ Tôn lại là vai anh, lẽ nào lại để ở dưới chức tôi. Chi bằng đợi ít lâu Tôn Tẫn lập được công, tôi sẽ nhường chức và chịu dưới quyền thì mới thuận.
Huệ Vương nhận lời, đưa Tôn Tẫn đến ở một phủ riêng. Bàng Quyên thường lui tới tỏ niềm thân thiện.

Một hôm Bàng Quyên bày tiệc mời Tôn Tẫn đến dự. Nhân đem việc binh pháp ra bàn luận, Bàng Quyên biết được rằng Tôn Tẫn đã được Quỉ Cốc tiên sinh truyền nhiều bí quyết trong việc hành quân, nên lòng lo sợ Tôn Tẫn sẽ được nhà vua trọng dụng thêm vào lòng ganh tị, khiến Bàng Quyên tìm mưu hãm hại bạn. Bàng Quyên giả cách thân mật hỏi Tôn Tẫn:
- Họ hàng đại huynh ở Tề. Nay đại huynh phò Ngụy, sao không cho đón cả về đây để chung hưởng phú quí?
Tôn Tẫn ứa nước mắt đáp:
- Hiền đệ không rõ cảnh khổ của tôi. Tôi mồ côi mẹ lúc bốn tuổi, mồ côi cha lúc chín tuổi. Nhờ chú tôi là Tôn Kiều nuôi dưỡng. Chú tôi làm quan cùng Tề Khang Công. Sau Điền Thái Công đuổi chú tôi ra bể và giết hết các bề tôi của Tề Khang Công. Họ tôi tan rã, mỗi người đi mỗi nơi. Tôi bị trôi giạt nay đây mai đó; lớn lên theo học cùng Quỉ Cốc tiên sinh. Trong bao nhiêu lâu rồi, tôi không được tin tức gì về quê quán.
Bàng Quyên làm bộ ngậm ngùi hỏi tiếp:
- Bây giờ đại huynh còn tưởng nhớ đến phần mộ ông cha nơi quê hương nữa chăng?
Tôn Tẫn động lòng khóc lớn, rồi nói:
- Người ta không phải cỏ cây, bao giờ quên được cội rễ. Nhưng nay tôi đã làm tôi nước Ngụy, thì việc đó còn nói đến làm chi.

Cách đó nữa năm, đi chầu về, Tôn Tẫn tiếp một người nói tiếng nước Tề, tự xưng là Đinh Ất, đến trao một phong thư và nói:
- Tôi ở Lâm Tri đi buôn bán ở đất Chu. Tôn Bình và Tôn Trác có nhờ cầm thư đến núi Quỉ Cốc. Nhưng đến đó nghe tin đại quan ở đây nên mới tìm đến.
Tôn Bình và Tôn Trác là anh họ Tôn Tẫn. Được thư hai anh Tôn Tẫn nửa mừng nửa tủi, liền mở ra xem. Đại ý nói rằng sau khi lưu lạc được ít lâu thì được vua Tề triệu về làng cũ; nay muốn gọi Tôn Tẫn về để cùng khôi phục sự nghiệp. Tôn Tẫn liền viết thư trả lời. Đại ý nói rằng tuy lòng vẫn nhớ quê hương song đã đem thân phò Ngụy nên không thể trở về được. Viết xong trao thư cho Đinh Ất, nhờ đem về trao lại cho hai anh.
Chẳng ngờ Đinh Ất là tay sai của Bàng Quyên.
Bàng Quyên được thư phúc đáp của Tôn Tẫn liền giả chữ, viết vào sau mấy hàng tái bút rằng: "Tuy vậy, em sẽ tìm cách trở về quê hương. Nếu vua Tề tin dùng, em sẽ hết lòng giúp". Xong đem vào trình cùng Ngụy Vương và tìm lời sàm tấu xin vua giết đi. Ngụy Vương nói:
- Tôn Tẫn vì ta mà đến. Nay tội trạng chưa rõ ràng, nếu giết đi sao cho khỏi mang tiếng bạc đãi kẻ sĩ.
Bàng Quyên thưa:
- Tôi sẽ tìm cách khuyên giải. Nếu Tôn Tẫn nhất quyết không chịu ở Ngụy thì sẽ tìm cách khu xử.
Đoạn đến dinh Tôn Tẫn, giả cách mừng rỡ, nói:
- Nghe nói đại huynh mới được tin nhà?
Tôn Tẫn thực lòng kể lại mọi nỗi. Bàng Quyên nói:
- Sao đại huynh không làm sớ xin nhờ vua về thăm nhà vài tháng rồi sẽ trở qua.
Tôn Tẫn nói:
- Tôi sợ Ngụy Vương nghi lòng không cho phép.
Bàng Quyên an ủi:
- Không hề gì. Tôi sẽ giúp đại huynh.
Tôn Tẫn tưởng thật nên nghe theo. Bàng Quyên đi ngay vào triều tâu cùng Ngụy Vương:
- Tôi đã hết lời khuyên giải, nhưng Tôn Tẫn một mực muốn về Tề. Nếu Tôn Tẫn có dâng sớ xin đi, xin Đại Vương bắt tội tư thông với giặc, giao cho tôi xử trị. Tôi sẽ có cách làm cho va phải chịu mệnh.

Ngụy Vương gật đầu. Hôm sau Tôn Tẫn vào dâng sớ. Ngụy Vương nổi giận phê ngay vào tờ sờ, kết tội tư thông với Tề, truyền bắt giao cho Bàng Quyên trị tội. Nội thị lập tức thi hành. Bàng Quyên trông thấy làm ra vẻ sợ hãi, chạy đến hỏi nguyên do. Nội thị truyền lệnh của nhà vua. Bàng Quyên nói cùng Tôn Tẫn:
- Đại huynh bị oan tình, tiểu đệ phải liều chết vào tâu với vua để minh oan mới được.
Nói xong vào tâu cùng vua Ngụy:
- Tội Tôn Tẫn đáng chết. Song Đại Vương sợ mang tiếng không muốn giết. Vậy thì nên chặt chân khiến hắn ta trở thành phế nhân không về Tề được, ta khỏi lo hậu hoạn.
Ngụy Vương nhận lời. Bàng Quyên về phủ bảo Tôn Tẫn:
- Đại Vương giận lắm, muốn giết đại huynh. Tiểu đệ hết lời xin, đại huynh mới khỏi tội chết, nhưng phải bị chặt chân và thích chữ vào mặt. Đó là luật nước Ngụy.
Tôn Tẫn cảm động nói:
- Trước khi cho xuống núi, thầy có cho tôi biết rằng số tôi phải chịu nạn lớn. Nay hiền đệ đã thương tình giải cứu, ơn ấy tôi không dám quên.

Bàng Quyên truyền quân chặt chân Tôn Tẫn và thích chữ vào mặt. Tôn Tẫn đau quá chết ngất. Bàng Quyên giả ý kêu khóc, lấy vải băng bó, rồi sau khiêng ra ngoài thư quán, dùng lời ngon ngọt an ủi. Thường ngày Bàng Quyên lại sai người đem cơm nước đến nuôi nấng. Tôn Tẫn rất lấy làm ơn.
Cách một tháng sau, Tôn Tẫn khỏi vết thương, nhưng không đi đứng được, đành ngồi một chỗ. Bàng Quyên đến thăm, sụt sùi khóc lóc. Tôn Tẫn cũng khóc. Đoạn Bàng Quyên bảo Tôn Tẫn:
- Đại huynh bị tàn phế, tài năng không sử dụng được, thật uổng công học tập bấy lâu. Đại huynh có học được binh thư bí truyền của Tôn Vũ, xin đại huynh truyền lại cho tiểu đệ, đệ sẽ nhờ đại huynh mà cứu nhân độ thế.

Tôn Tẫn nhận lời. Bàng Quyên đưa giấy bút cho Tôn Tẫn để chép lại những lời chú giải của Quỉ Cốc tiên sinh, và cho một tên gia đinh là Thành Nhi đến hầu hạ Tôn Tẫn. Tôn Tẫn ngày đêm lo chép binh thư, không hề than thở, cũng không chút nghi lòng Bàng Quyên. Thành Nhi biết rõ mưu mô của chủ và thương kẻ trung bị nạn, bèn đem hết sự thật nói cho Tôn Tẫn hay. Tôn Tẫn tự nghĩ:
- Bàng Quyên đã thề độc khi hạ sơn, thì lẽ nào lại đối xử tệ bạc cùng ta đến thế.
Thấy Tôn Tẫn có ý nghi ngờ, Thành Nhi bèn nói:
- Ngài còn sống đến hôm nay là vì Bàng Quyên còn cần đến ngài. Binh thư chép xong thì thân ngày không còn được nữa.
Tôn Tẫn giật mình giác ngộ. Nhưng không tìm ra kế thoát thân. Chợt nhớ đến bức cẩm nang của thầy, bèn mở ra xem, thấy ba chữ vàng viết trên lụa trắng: "Phải giả điên". Tôn Tẫn hội ý. Ngay chiều hôm ấy, bọn thủ hạ đem cơm tới, Tôn Tẫn, trợn mắt hét vang:
- Sao bọn bây đem thuốc độc đến thuốc ta?
Rồi đập đổ hết và lấy lửa đốt hết những đoạn binh thư đã chép xong, miệng lẩm bẩm đọc những câu nhảm nhí.
Thành Nhi cùng bọn thủ hạ chạy báo cùng Bàng Quyên. Bàng Quyên đến xem, thấy Tôn Tẫn nằm lăn dưới đất, mặt mày lem luốt, đôi mắt đỏ hoe, khi cười khi khóc. Bàng Quyên đến hỏi. Tôn Tẫn ngơ ngác nhìn Bàng Quyên, rồi lại chụp áo níu khóc:
- Quỉ Cốc tiên sinh ơi! Thầy cứu con với.

Bàng Quyên sai người gỡ ra, rồi lên xe về phủ. Nhưng nghi rằng Tôn Tẫn chưa thật điên, bèn sai đem nhốt vào chuồng lợn xem thử. Tôn Tẫn xõa tóc phủ cả mặt, cười ré lên rồi nằm lăn trong đống phân lợn. Bàng Quyên tin rằng điên thật, không để ý đến nữa. Nhưng vẫn sức người địa phương phải coi chừng, nếu không thấy Tôn Tẫn thì phải báo cáo ngay.
Trong lúc Mặc Địch ở nước Tề, dò biết được tin tức của Tôn Tẫn, liền bàn cùng vua Tề tìm cách đưa Tôn Tẫn về nước.
Từ khi Bàng Quyên tin chắc rằng Tôn Tẫn điên thật không còn để ý nữa thì Tôn Tẫn ra khỏi chuồng lợn, chống gậy đi xin ăn khắp đường chợ. Nhờ vậy mà người nước Tề lén đem Tôn Tẫn ra khỏi nước Ngụy được dễ dàng. Bàng Quyên ngỡ rằng Tôn Tẫn không chịu nổi đau khổ, đã tự tử rồi, nên không cần tra hỏi.
Tôn Tẫn về Tề được Tề Uy Vương trọng dụng, phong làm quân sư.
Sau đó nước Ngụy sai Bàng Quyên đem quân đánh nước Triệu. Nước Triệu cầu cứu nước Tề. Tôn Tẫn dùng mưu thắng được quân Ngụy. Nhưng Bàng Quyên thoát chết.
Bị thua Triệu, Bàng Quyên xin đem quân đánh nước Hàn. Nước Hàn thua luôn mấy trận, bè dâng đất cầu cứu nước Tề. Tôn Tẫn nói:
- Ta đã tha chết cho Bàng Quyên một quen rồi. Phen này không thể tha thứ được nữa.
Thế rồi dùng mưu dụ Bàng Quyên vào đường hẻm, phục quân bắn chết dưới gốc đại thọ đất Mã Lăng. Thân Bàng Quyên bị bắn hàng nghìn mũi tên, đúng như lời đã thề thi xuống núi.
Chao ôi! Tấm lòng Bàng Quyên thật hiểm độc không thể lường. Còn Tôn Tẫn thì ngay thực quá độ! Ở đời kẻ ngay thực thường bị nạn. Nhưng rốt cuộc nhân nào thì quả nấy. Người ngay vẫn được hưởng phước về sau. Còn kẻ gian thì suốt đời không bị hoạn nạn thì chết rồi vẫn để tiếng xấu đến nghìn thu.


bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0
Biết Phục Thiện


Người xưa dạy rằng:
- Lỗi lầm không đáng sợ, chỉ sợ mình không biết rằng mình lỗi lầm để sửa chữa mà thôi.
Tề Uy Vương là một vua chư hầu ham mê tửu sắc, không kể đến việc nước việc dân. Bờ cõi thường bị các nước Hàn, Ngụy, Lỗ, Triệu thường đem quân đến quấy nhiễu. Các tướng trấn nơi biên tái chống cự không nổi, nhiều khi làm sớ về báo cấp. Thế mà nhà vua vẫn xem như không.
Một hôm, một thư sinh vào yết kiến nhà vua và nói:
- Tôi là người bản quốc, có biết về đàn cầm. Nghe Đại Vương thích âm nhạc, nên vào bái yết.
Tề Uy Vương sai người đặt một cẩm đôn trước mặt, bảo thư sinh ngồi và hỏi:
- Nhà ngươi tên họ chi?
Thư Sinh đáp:
- Họ Sô tên Kỵ:
Nhà vua sai nội thị lấy một cây đàn cầm đưa đến và bảo:
- Nhà ngươi từ xa đến đây hầu ta, chắc nghề đàn phải tuyệt diệu? Vậy thử gảy một bản xem nào.
Sô Kỵ cầm đàn lên dây, nhưng không gảy. Uy Vương lấy làm lạ hỏi:
- Đã so dây, sao lại không gảy? Hay nhà ngươi khinh ta không biết nghe đàn?
Sô Kỵ đặt cây đàn xuống và nói:
- Tôi biết là biết về nhạc lý. Còn gảy lên tiếng đàn đó là việc của bọn nhạc công. Tôi dẫu biết gảy, cũng không dám gảy hầu Đại Vương.
Tề Uy Vương hỏi:
- Nhạc Lý như thế nào?
Sô Kỵ thưa:
- Tôi xin nói nhạc lý về đàn cầm. Cầm nghĩa là Cấm. Cấm những điều dâm tà để giữ vững chính đạo. Thời xưa vua Phục Hy chế ra đàn cầm gồm có năm dây. Dây lớn là vua, dây nhỏ là tôi. Sau Văn Vương và Vũ Vương, mỗi vua thêm vào một dây, để cho tình ý vua tôi được hoà hợp. Xem thế đủ biết rằng vua tôi có tương đắc, chính lệnh mới được điều hoà. Đạo trị nước cũng chỉ có thế thôi.
Tề Uy Vương khen phải và tiếp:
- Nhà ngươi đã biết rõ cầm lý thì thế nào cũng thạo về cầm âm. Vậy hãy gải lên một khúc nghe thử.
Sô Kỵ thưa:
- Tôi học nghề đàn tất phải biết chơi đàn. Cũng như Đại Vương làm vua tất biết lẽ trị nước. Nếu Đại Vương bỏ nước không trị thì cũng như tôi ôm đàn mà không gảy. Tôi ôm đàn mà không gảy thì Đại Vương không thỏa lòng. Đại Vương làm vua mà bỏ việc trị nước thì thiên hạ oán hận.
Tề Uy Vương giật mình, nói:
- Nhà ngươi đến đây, cốt mượn cây đàn để khuyên ta. Ta hiểu rồi.

Bèn lưu Sô Kỵ ở lại nơi hữu thất. Sáng hôm, nhà vua tắm gội tử tế, rồi mời Sô Kỵ bàn việc nước. Trước hết, Sô Kỵ khuyên nhà vua tiếc chế tửu sắc, bỏ nịnh cầu hiền. Sau đem những cải cách về việc binh việc dân ra bàn giải cặn kẽ. Tề Uy Vương rất vừa ý, liền phong Sô Kỵ làm Tướng Quốc.
Lúc bấy giờ trong triều có kẻ biện sĩ là Thuần Vu Khôn, vốn là một tay mưu lược, thấy Sô Kỵ chỉ nói mấy câu mà được làm tướng quốc, lòng không phục, bèn đem đồ đảng sang dinh Sô Kỵ, quyết dùng lời làm nhục để rửa hờn. Sô Kỵ tiếp đãi tử tế. Thuần Vu Khôn vẻ mặt kiêu ngạo, lên ngồi chễm chệ ở ghế trên, to tiếng nói:
- Tôi vừa nghĩ được mấy điều, muốn đem giãi bày cùng quan Tướng Quốc, chẳng biết có nên chăng?
Sô Kỵ ôn tồn đáp:
- Xin Ngày cứ cho nghe.
Thuần Vu Khôn nói:
- Con không lìa mẹ, vợ không lìa chồng.
Sô Kỵ đáp:
- Xin vâng. Từ nay tôi xin ở luôn bên cạnh vua.
Thuần Vu Khôn lại nói:
- Dùng gỗ lim làm bánh xe, lại bôi mỡ vào. Như thế đã trơn lánh lắm rồi. Song nếu đục lỗ vuông thì không thể chuyển vận được.
Sô Kỵ đáp:
- Xin vâng. Tôi chẳng bao giờ dám làm điều trái nhân tình.
Thuần Vu Khôn nói tiếp:
- Cán cung cứng đến đâu, có lúc phải uốn cong. Nước nguồn chảy ra bể tự nhiên mà hợp.
Sô Kỵ đáp:
- Xin vâng. Tôi nguyện hết lòng yêu mến muôn họ.
Thuần Vu Khôn lại tiếp:
- Áo hồ cừu dẫu rách, không nên đem da chó vá vào.
Sô Kỵ đáp:
- Xin vâng. Tôi sẽ kén chọn người hiền mà dùng, không dám cho kẻ tiểu nhân lẫn vào việc nước.
Thuần Vu Khôn lại tiếp thêm:
- Các vật nặng không dùng cân thì không rõ được trọn lượng. Dây đàn không so thì không thể nào hoà âm được.
Sô Kỵ đáp:
- Xin vâng. Tôi sẽ chỉnh đốn pháp luật để sửa chữa những kẻ tà tâm.
Đến đây Thuần Vu Khôn đứng dậy, sụp lạy rồi lui ra. Ra khỏi dinh, các đồ đệ theo hầu hỏi nhỏ:
- Lúc mới vào sao thầy khinh ngạo, đến lúc về thầy lại kích phục như thế là nghĩa làm sao?
Thuần Vu Khôn đáp:
- Ta mới ngỏ năm điều mà quan Tướng Quốc đã rõ hết ý ta, ứng đối như suối chảy. Thật là một bậc đại tài. Ta không sánh kịp.

Các biện sĩ nghe tin, không ai dám đến nước Tề du thuyết. Còn Sô Kỵ theo lời Thuần Vu Khôn sửa sang việc nước và thường dò xét các quan ấp tể xem ai hiền ai nịnh để thưởng phạt cho công minh.
Lúc bấy giờ ở trong triều ai cũng khen quan đại phu đất A là người hiền và chê quan đại phu đất Tức Mặc là kẻ lười nhác. Sô Kỵ cho người đến tận nơi điều tra. Sau khi biết rõ sự thật, liền tâu lên Tề Uy Vương. Uy Vương triệu hai quan đại phu đến. Quan Đại Phu đất Tức Mặc đến trước. Uy Vương không nói gì cả. Khi quan Đại Phu đất A đến rồi, nhà vua mới triệu quần thần đến đình nghị. Các đại thần điều đinh ninh thế nào Đại Phu đất A cũng được khen thưởng và Đại Phu đất Tức Mặc tất bị quở mắng. Vua Uy Vương lâm triều, gọi quan Đại Phu đất Tức Mặc đến, phán:
- Từ khi nhà ngươi ra trấn đất Tức Mặc, ngày nào ta cũng nghe lời chê bai. Nhưng ta cho người đến xét tận nơi thì thấy ruộng nương mở rộng, nhân dân giàu có, đời sống được yên vui, việc công không chậm trễ.
Rồi gọi quan Đại Phu đất A đến phán:
- Còn nhà ngươi, từ khi ra trất đất A, ngày nào ta cũng nghe lời ngợi khen. Nhưng ta sai người đến xét tận nơi thì thấy ruộng đất nhiều chỗ bỏ hoang, nhân dân đói rét. Năm trước quân Triệu đến xâm lấn bờ cõi, nhà ngươi ngồi yên không đi cứu. Người có việc đến công môn, kẻ có tiền được xét xử, người không tiền phải ngậm oan mà về.

Đoạn hướng về các đình thần mà hỏi:
- Tại sao lời khen chê lại trái hẳn với sự thật như thế?
Không thấy ai đáp, nhà vua nói:
- Tại vì quan Đại Phu đất Tức Mặc chuyên lòng trị dân, không chịu đem lễ vật đút lót cho những kẻ thân cận ta, nên họ tìm lời sàm tấu. Còn quan Đại Phu đất A không chăm lo việc dân mà biết bỏ tiền của mua tiếng tốt cùng những kẻ thân cận ta, nên họ mới bày lời ca ngợi. Nếu ta không xét kỹ, thì làm thế nào thưởng phạt cho được công bằng?
Nói rồi liền gia phong cho quan Đại Phu đất Tức Mặc, và truyền vũ sĩ nấu một vạc dầu, bắt quan Đại Phu đất A bỏ vào nấu. Lại đòi những kẻ miệng lằn lưỡi mối vào trị tội, nặng thì giết chết, nhẹ thì đuổi ra khỏi hoàng cung.
Thấy vậy, ai nấy đều thất kinh. Nhưng kẻ gian ác không còn dám manh tâm làm những việc phi pháp.
Rồi theo lời tiến cử của Sô Kỵ, nhà vua thu dụng những kẻ hiền tài, cử những người có tài năng đức độ đi trấn thủ những nơi trọng yếu. Trên dưới một lòng, trong ngoài chung sức, chẳng bao lâu nước Tề trở nên cường thịnh. Tề Uy Vương nghĩ công Sô Kỵ, đem đất Hạ Bì phong làm thực ấp, và phán:
- Ngày nay nước Tề được phú cường như thế này là công của nhà người. Vậy ta phong ngươi làm Thành Hầu.
Sô Kỵ bái tạ và tâu:
- Trong năm đời làm bá chủ thì Tề Hoàn Công và Tấn Văn Công cường thịnh hơn cả. Được như vậy là nhờ bên trong biết phép trị dân, bên ngoài biết dùng chính nghĩa để chế ngự chư hầu. Nay nếu Đại Vương lấy danh hiệu nhà Châu mà sai khiến các nước, thì sự nghiệp của Đại Vương sẽ không kém gì Tề Hoàn Công và Tấn Văn Công ngày trước.
Tề Uy Vương nói:
- Ta đã tiếm xưng Vương hiệu, lẽ nào còn vào chầu vua nhà Châu?
Sô Kỵ thưa:
- Đại Vương xưng Vương hiệu là để tỏ uy dũng cùng chư hầu, chứ phải nào để đối địch cùng nhà Châu. Khi Đại Vương vào chầu vua nhà Châu, thì hãy tạm xưng là Tề Hầu. Như thế Thiên Tử mến đức khiêm tốn của Đại Vương, tất nhiên là hậu đãi.
Tề Uy Vương theo lời.

Nhà Châu yếu thế đã lâu, các nước chư hầu đều bỏ không triều cống. Nay Tề Uy Vương đến, cả triều đều vui mừng. Châu Liệt Vương cảm động nói:
- Các vua chư hầu đều bỏ ta, riêng hiền hầu nghĩ đến. Ta rất cảm hậu tình.
Bèn truyền đem châu báu ban tặng và phong Tề Uy Vương làm Bá chủ chư hầu.
Thời bấy giờ Trung Hoa có bảy nuớc lớn là Tề, Sở, Ngụy, Triệu, Hàn, Yên và Trần, tục gọi là Thất Hùng. Bảy nước ấy, đất rộng, binh hùng, đại để cũng như nhau. Nhưng từ khi Uy Vương được phong làm Bá Chủ, thì các nước đều kiên nể nước Tề và hầu hết đều cùng Tề giao hảo.
Từ địa vị một ông vua ham mê tửu sắc, không kể đến nước đến dân, mà nhờ biết phục thiện, bỏ thói hư tật xấu, trở thành một bậc anh quân làm bá chủ thiên hạ. Như thế có tật xấu chưa phải là con người hư hỏng, mà chỉ hư hỏng là những người không biết nghe lời phải, tức là không biết phục thiện mà thôi.
Đối với người biết phục thiện, lời nói phải quí hơn vàng ngọc. Cho nên cổ nhân "văn thiện ngôn tắc bái" là vậy đó.


bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0
Chính Sách Hà Khắc


Một chánh sách dầu có lợi cho quốc gia đến đâu mà làm khổ dân thì cũng bị dân oán, và người bày ra chánh sách hà khắc ấy thế nào cũng phải chịu cái hậu quả không tốt, không kíp thời chầy. "Trồng dưa thời hái dưa, gieo đậu thời gặt đâu", chuyện xưa còn để lại nhiều gương, mà chuyện Công Tôn Ưởng sau đây, là một.
Công Tôn Ưởng người nước Vệ, có tài an bang tế thế. Thấy nước Vệ nhỏ yếu, không đủ để thi thố tài năng, bèn bỏ sang nước Ngụy. Người nước Ngụy gọi lại là Vệ Ưởng.
Quan Tướng quốc nước Ngụy là Công Tôn Tọa biết Vệ Ưởng là người có tài cao, tâu vua Ngụy cho làm chức Trung Thứ Tử, giúp việc trong dinh. Mỗi khi có việc trọng đại đều cùng Vệ Ưởng bàn bạc.
Chẳng bao lâu Công Tôn Tọa bị bệnh nặng, Ngụy Huệ Vương đến thăm, buồn bã hỏi:
- Chẳng may mà quan Tướng Quốc có mệnh hệ nào, ta biết chọn ai thay thế?
Công Tôn Tọa đáp:
- Vệ Ưởng dẫu tuổi trẻ, nhưng là bậc kỳ tài. Nếu Đại Vương tin dùng thì sẽ hơn tôi nhiều lắm.
Ngụy Huệ Vương nín lặng. Công Tôn Tọa nói tiếp:
- Nếu Đại Vương không muốn dùng Vệ Ưởng thì nên giết đi. Nếu để sang nước khác thì tất có ngày nguy cho nước Ngụy.
Ngụy Huệ Vương gật đầu, nhưng khi ra về than cùng các quan hộ giá:
- Công Tôn Tọa bị bệnh sinh ra mê lẫn. Khuyên ta dùng Vệ Ưởng đã sai, bảo ta giết đi đừng để cho đến nước khác, lại càng sai nữa. Vệ Ưởng có gì mà quan Tướng Quốc lấy làm quan trọng đến thế?!

Nhà vua đi rồi, Công Tôn Tọa kêu Vệ Ưởng đến nói:
- Vừa rồi ta tiến cử nhà ngươi lên thay ta, Đại Vương không chịu. Ta lại đề nghị nếu không dùng thì giết đi, đừng để sang nước khác. Nhà vua nhận lời. Vậy nhà ngươi hãy trốn cho mau kẻo mang họa.
Vệ Ưởng đáp:
- Đại Vương đã không nghe lời quan Tướng Quốc mà dùng tôi, thì đâu có nghe lời quan Tướng Quốc mà giết tôi.
Vệ Ưởng không chịu đi trốn. Sau có người tiến dẫn nữa, nhưng Ngụy Vương vẫn không chịu dùng.
Lúc bây giờ ở nước Tần đang có lệnh cầu hiền. Vệ Ưởng liền bỏ Ngụy sang Tần, nhờ kẻ cận thần của Tần Hiến Công là Cảnh Giám đưa vào yết kiến nhà vua.
Nhà vua hỏi về việc trị nước. Vệ Ưởng viện dẫn các đời Phục Hy, Thần Nông, Nghiêu, Thuấn ra để trả lời. Nhà vua ngồi ngủ lúc nào không biết. Sang hôm sau, Cảnh Giám vào cung bị nhà vua quở:
- Vệ Ưởng là kẻ gàn dở, nói toàn chuyện viển vong. Sao nhà ngươi lại đưa vào yết kiến ta?
Cảnh Giám cúi đầu lui ra. Về nhà trách Vệ Ưởng. Vệ Ưởng nói:
- Tôi đem Đế Đạo nói với Chúa Công, nhưng Chúa Công không hiểu nên quở. Xin cho tôi vào yết kiến lần nữa.
Năm hôm sao Cảnh Giám xin cho Vệ Ưởng vào yết kiến. Tần Hiếu Công bằng lòng. Vệ Ưởng đem giãi bày những việc vua Hạ Vũ vua Thành Thang. Nhà vua ngồi nghe một lúc rồi cũng ngủ tiếp. Vệ Ưởng ra về gặp Cảng Giám đứng đợi trước cửa cung. Cảnh Giám hỏi:
- Hôm nay thế nào?
Vệ Ưởng đáp:
- Tôi dùng Vương Đạo mà giãi bày, nhưng Chúa Công chẳng để ý.
Cảnh Giám nói:
- Ông vua dùng người chẳng khác thợ săn dùng cung nỏ, chỉ mong sớm tối có lợi ngay. Thế mà tiên sinh lại đem Đế Đạo Vương Đạo là chuyện xa vời mà nói, thì làm sao Chúa Công lại không chán ghét được.
Vệ Ưởng nói:
- Vì chưa biết rõ chí hướng của Chúa Công sợ chí cao mà nói thấp. Nay đã rõ rồi, nếu được yết kiến một lần nữa thì lo gì mà không hợp ý.

Năm hôm sau, nhân lúc Tần Hiếu Công tỏ ý buồn vì nỗi không có kẻ có tài phò tá, Cảnh Giám mới tâu:
- Vệ Ưởng có ba thuật là Đế Đạo, Vương Đạo, Bá Đạo. Hai thuật Đế và Vương thì Chúa Công đã nghe rồi. Vậy cũng nên cho va trình bày thêm Bá Đạo.
Tần Hiếu Công truyền đòi Vệ Ưởng vào, hỏi:
- Nhà người biết Bá Đạo sao không nói trước cho ta nghe?
Vệ Ưởng thưa:
- Không phải tôi không muốn nói. Song Vương Đạo và Bá Đạo khác nhau xa, không thể trình bày trong một lúc. Vương Đạo thì cốt lấy dân tình làm cơ bản, còn Bá Đạo cốt lấy sức mạnh làm nòng cốt. Mà lấy sức mạnh làm cốt thì trái lòng dân.
Tần Hiếu Công biến sắc, đứng dậy chống kiếm hỏi:
- Bá Đạo cần gì phải trái lòng dân mới làm được?
Vệ Ưởng ung dung đáp:
- Bá Đạo lấy sự thành công cấp thời. Nếu không dùng sức mạnh để cưỡng ép dân tình thì ai mà tuân lệnh. Trái lại Vương Đạo phải cảm hóa nhân dân để cho nhân dân giác ngộ mà tự nguyện lo tròn bổn phận cứu quốc. Hai bên khác nhau xa lắm. Xưa quản Trọng giúp Tề Hoàn Công, phá hết tổ chức cũ, thay thế vào những tổ chức mới. Những kẻ vì lợi riêng, những kẻ nông nổi chỉ thấy cái lợi trước mắt, không thấy cái lợi trăm năm, đều đem lòng bất mãn. Mãi sau khi nước được cường thịnh, dân được sung túc, mới biết Quản Trọng là bậc đại tài.
Tần Hiếu Công nghe nói rất vừa ý. Sau mấy phen thử thách, nhà vua phong Vệ Ưởng làm Tướng Quốc. Tất cả chánh lệnh đều do Vệ Ưởng định đoạt

Vệ Ưởng liền chỉnh đốn việc triều chính, ban bố tân lệnh.
Tân lệnh gồm có bảy điểm là:
- Định đô: Dời đô ra đóng ở Hàm Dương là nơi sông núi hiểm trở để định Vương nghiệp.
- Kiến huyện: Các thôn trấn trong nước đều đổi thành huyện có viên lệnh thừa coi việc hành pháp.
- Tịch thổ: Các đất hoang đều phải được khai khẩn. Khi nào thành ruộng rồi mới đánh thuế.
- Định phú: Ruộng đất chia từng mẫu mà thu thuế. Ruộng đất đều thuộc về công sản. Tư nhân không được chiếm hữu.
- Bản Phú: Mọi người đều phải làm việc. Con trai phải biết cày ruộng, con gái phải biết dệt cửi. Ai cày được nhiều ruộng, dệt được nhiều vải thì gọi là lương dân, miễn dịch cho một nhà. Người nào nghèo khổ quá thì được thu vào làm nô bộc cho các nhà quan lại. Người nào đi lang thang không nghề đều coi là kẻ bất lương, phải bị trừng trị.
- Khuyến chiến: Quân tướng theo quân công mà định. Ai chém được một đầu thì thăng một cấp. Ai lùi một bước thì bị chém ngay. Kẻ có công nhiều thì được thưởng xe cộ, áo quần, và muốn ăn mặc hoa mỹ thế nào cũng được. Còn không thì dù giàu có mấy cũng phải mặc áo vải đi chân không. Ra trận, những kẻ có chức tước mà không lập được công thì bị giáng.
- Cấm gian: Để phòng gian, cứ hợp năm nhà thành một "bảo", mười nhà thành một "liên". Một nhà có tội thì chín nhà phải tố cáo. Nếu không tố cáo thì cả mười nhà đều bị tội. Ai tố giác được kẻ gian thì được coi như có công đánh giặc, cũng được thưởng. Ai chứa chấp kẻ gian thuộc tội chết, sẽ bị buộc vào tội đồng lõa phải chết chém. Các quán cơm có người ngủ trọ phải khai báo với nhà chức trách, và cấm không được chứa những kẻ không có giấy chiếu thân; nếu vi lệnh sẽ bị chém. Trong dân gian những kẻ bị tội, tài sản đều bị tịch thu sung công.

Tân lệnh vừa ban bố, trăm họ xôn xao. Kẻ cho là phải, người bảo là trái. Vệ Ưởng cho người đi nghe ngóng, bắt tất cả những kẻ bàn tán đem về mắng rằng:
- Chúng bây là dân, luật nước ban hành phải thuận theo. Nếu bảo không đúng tức là ngang ngạnh, còn bảo là đúng tức là ô mi, kẻ ngang ngạnh và kẻ ô mi đều có tội như nhau.
Mắng xong, truyền lấy danh sách, đày ra biên cảnh. Quan Đại Phu là Cam Long và Đỗ Tri vì nghị luận tân lệnh bị giáng làm thứ dân. Thế Tử Tứ cũng chê tân lệnh làm trái nhân tâm. Vệ Ưởng giận nói:
- Pháp luật không thi hành được là tại người trên. Nay Thế Tử có lỗi nhưng là kẻ sẽ nối ngôi, không thể gia hình được, nhưng nếu tha thì trái phép.
Bèn tâu vua trị tội hai người có trách nhiệm về hạnh kiểm của Thế Tử là quan Thái Sư và quan Thái Phó.
Thái Sư Công Tôn Giã và Thái Phó Công Tử Kiến bị cắt mũi về tội không biết dạy Thế Tử. Dân chúng thấy vậy bảo nhau:
- Thế tử trái lệnh còn bị tội, huống hồ kẻ khác.
Từ đó nhất nhất đều theo lệnh, bấm bụng mà theo, không ai dám bàn không ai dám cãi. Mọi người đều chăm lo phận sự. Kẻ gian không còn dám hoành hành. Của rơi ngoài đường không ai dám lượm. Đất đai trong nước không còn một nơi bỏ hoang. Chẳng bao lâu nước Tần trở nên giàu mạnh.
Binh lực hùng cường, Tần cử quân đánh Sở, chiếm được đất Thương Ô, mở rộng bờ cõi hàng nghìn dặm. Vua nhà Châu là Hiền Vương thấy vậy, liền phong cho Tần Hiến Công làm Phương Bá. Các chư hầu đều đến chúc mừng.
Đối với bên ngoài nước Tần mỗi ngày uy thế mỗi vững. Nhưng dân trong nước vẫn sống trong nỗi lo sợ thường xuyên, vì một lỗi nhỏ cũng có thể mất đầu, cũng có thể tù tội, dễ như bỡn.

Làm bá chủ chư hầu chưa đủ, Vệ Ưởng còn muốn tiêu diệt chư hầu để gây nghiệp đế vương cho vua Tần, bèn tâu xin đánh Ngụy. Vua Tần theo lời, phong Vệ Ưởng làm tướng. Vệ Ưởng dùng mưu lấy được đất Tây Hạ.
Tần Hiếu Công mừng rỡ phong Vệ Ưởng làm liệt hầu, lấy mười lăm ấp Thương Ô cho Vệ Ưởng làm thực ấp. Do đó người ta gọi là Thương Quân (và người sao gọi là Thương Ưởng).
Vệ Ưởng cậy mình lập nên công lớn, trở về phủ, mở tiệc ăn mừng và nói:
- Ta là kẻ chi thứ nước Vệ, sang làm quan nước Tần, đem tài năng thay đổi chính trị nước Tần, khiến Tần trở nên cường thịnh. Nay lại lấy đất Ngụy hơn bảy trăm dặm, được hưởng đất phong hơn mười lăm thành. Kẻ trượng phu như thế cũng có thể gọi là đắc chí lắm vậy.
Các tân khách đều đồng thanh khen ngợi. Bỗng có tiếng oang oảng nói:
- Nghìn lời a dua không bằng một lời nói thẳng. Chẳng lẽ chúng ta mang ơn Thương Quân bảo bọc, mà cứ dùng lời dua nịnh mãi sao?
Mọi người đều ngạc nhiên, dồn mắt xem coi ai, thì là viên thượng khách tên Triệu Lương.
Vệ Ưởng hỏi:
- Tiên sinh thử xét tài trị nước của tôi so với Ngũ Cổ Đại Phu xưa, ai hơn?
Triệu Lương khẳng khái đáp:
- Ngũ Cổ Đại Phu giúp Tần Mục Công ba lần bắt được vua Tấn, kiêm tính hai mươi nước, làm cho nước Tần trở thành Bá Chủ ở Tây Nhung. Thế mà không coi thân mình làm trọng, nắng không lọng che, đi không xa giá rầm rộ, lòng không lúc nào không nghĩ đến dân. Vì thế lúc qua đời, dân thương khóc như cha mẹ. Nay ngài làm tướng nước Tần đã tám năm, pháp lệnh dẫu làm được, nhưng sát hại dân chúng quá nhiều. Dân bị áp bức phải phục tùng chớ không phải tự giác. Như vậy, nước tuy có mạnh nhưng không thể bền, dân tuy yên nhưng không vui. Lại thêm Thế Tử giận ngài làm tội Thái Sư và Thái Phó, lòng giận chưa nguôi. Những gia đình vì chánh lệnh ngày, mà cha con phải tù đày hay mất mạng, đeo nặng phẫn uất. Nhất đán, vua Hiếu Công mất, Ngài có thể giữ mãi cảnh phú quí ở Thương Ô này chăng? Riêng ý tôi, Ngài nên tìm người hiền giao lại việc nước, rồi từ quan lui về thôn giã, may ra mới bảo toàn được tính mệnh.
Vệ Ưởng nín lặng, có ý không vui.

Năm tháng sau, Tần Hiến Công lâm bệnh, chẳng bao lâu từ trần. Quần thần tôn Thế Tử Tứ lên ngôi, hiệu là Huệ Văn Công. Vệ Ưởng cậy mình là cựu thần của tiền triều, ra vào ngạo mạn.
Công Tử Kiến và Công Tôn Giã muốn trả thù cũ, tâu cùng Huệ Văn Công:
- Tôi nghe hễ Đại thần quyền trọng quá thì nước ngụy, kẻ hầu cận mà thân tín quá thì thần ngụy. Vệ Ưởng lập phép cai trị nước Tần, tuy nước Tần được thịnh vượng, nhưng đàn bà còn trẻ đều nói đó là phép của Thương Quân chứ không ai nói phép của nước Tần. Nay Vệ Ưởng lại được phong mười lăm ấp nữa, thế lực quá to. Như thế ắt có ngày làm phản.
Huệ Văn Công nói:
- Ta căm giận thằng giặc ấy đã lâu, song nghĩ nó là bề tôi của Tiên Vương, nên chưa nở giết.
Nói xong liền sai thu tướng ấn của Vệ Ưởng, bắt lui về ở ấp Thương Ô.
Vệ Ưởng ra về, xa giá nghi trượng. Các quan lớn nhỏ theo đưa chật đường lối. Công Tử Kiến và Công Tôn Giã thấy vậy vào tâu:
- Vệ Ưởng không biết hối quá, trở về với nghi lễ chư hầu. Hắn về Thương ô không khỏi làm phản.
Huệ Văn Công nổi giận, sai Công Tôn Giã đem ba ngàn võ sĩ đuổi bắt Vệ Ưởng. Dân chúng oán ghét Vệ Ưởng từ lâu, hay tin Công Tôn Giã dẫn quân đuổi bắt, liền nô nức kéo theo. Vệ Ưởng đi được vài trăm đặm, bỗng nghe đàn sau có tiếng hò hét, sai người dò xem, mới hay Triều đình cho quân đuổi bắt, liền vứt áo mũ chạy trốn. Chạy đến cửa Hàm Quan, trời tối, Vệ Ưởng vào quán xin nghỉ trọ. Chủ quán hỏi giấy chiếu thân, Vệ Ưởng không có. Chủ quán nói:
- Lệnh của Thương Quân không cho phép chứa người không có giấy chiếu thân. Nếu tôi vì lệnh sẽ bị chết chém.
Thương Ưởng than:
- Ta đặt ra phép ấy, không ngờ ngày nay nó trở hại ta!

Vệ Ưởng đi suốt đêm, tới đâu cũng bị xưa đuổi, cuối cùng quân Công Tôn Giã đuổi kịp bắt giải về nạp cho Huệ Văn Công. Nhà Vua sai trói Vệ Ưởng đem ra chợ, dùng năm con trâu phanh thây. Trăm họ đến xem, xúm nhau ăn thịt, chỉ có một lúc xác Vệ Ương chỉ còn trơ những xương.
Vệ Ưởng đặt ra tân nháp, giúp nước Tần trở nên cường thịnh, làm bá chủ chư hầu. Thế mà kết quả lại bị dân Tần oán, tấm thân không toàn!
Trước Vệ Ưởng, Ngũ Cổ Đại Phu là Bá Lý Hề cũng giúp Tần, Khổng Phu Tử giúp Lỗ, Quản Trọng giúp Tề, Đấu Tử Văn giúp Sở... Các nhà chánh trị đại tài ấy cũng đem chủ trương riêng của mình ra sửa đổi đường lối chánh trị, làm cho nước mạnh dân yêu, khiến đến lúc chết còn được dân thương tiếc.
Tại sao thế?
Câu nói của Triệu Lương nói cùng Vệ Ưởng trong bữa tiệc mừng được phong hầu của Vệ Ưởng, đã trả lời câu hỏi trên.

Nói một cách khác:
Tuy Vệ Ưởng cùng cáv vị tiền bối đều đạt một kết quả giống nhau, là làm cho quốc gia hưng thịnh, nhưng Chánh Sách của đôi bên khác hẳn nhau.
Các bậc tiền bối thì lo giáo dục nhân dân, để nhân gian giác ngộ mà tự nghuyện thi hành chánh sách. Còn Vệ Ưởng thì lại dùng uy quyền cưỡng bách dân phải theo Chánh Lệnh của mình. Một bên vì nước vì dân mà ban hành chánh sách. Một bên để thực hiện ý muốn của mình mà đặt ra chính sách rồi áp bức dân phải theo. Một bên được lòng dân, một bên mất lòng dân. Một bên là chính sách dân chủ. Một bên là chính sách độc tài.
Áp dụng chính sách độc tài, xưa kia Vệ Ưởng bị nhân dân ăn thịt, và gần đây có Mussolini nước Ý Đại Lợi cũng bị nhân dân xé thây. Lòng dân xưa nay, đông tây, đâu có khác.
Chánh sách dân chủ xưa gọi là Vương Đạo.
Chánh sách độc tài xưa gọi là Bá Đạo.
Và quả như lời Vệ Ưởng đã nói: Chính sách độc tài tức Bá Đạo, cấu kết trên uy quyền, mau thành công mà cũng chóng sụp đổ. Không bằng Vương Đạo, tức chính sách dân chủ thật sự, tuy chậm có kết quả nhưng lâu dài.

bài đã được sửa chính tả



Đăng nhập để trả lời
0
Họa Phước Khó Lường

Ngạn ngữ có câu: "Họa phước vô môn", nghĩa là "họa phước không có cửa". Vì không có cửa, không biết từ đâu đến, không biết đến ở đâu, nên khó lường vậy.
Một ông lão ở gần cửa ải, tục gọi là Tái ông, có con ngựa tốt, tự nhiên đi mất. Người quen thuộc đến hỏi thăm. Tái ông nói:
- Mất ngựa thế mà phước cho tôi, biết đâu.
Mấy tháng sau, con ngựa trở về, lại quyến thêm một con ngựa hay nữa. Láng giềng hay tin đến mừng. Tái ông nói:
- Được ngựa thế là hoạ cho tôi đấy, biết đâu.
Quả thế. Từ khi được thêm ngựa hay, người con trai của ông lão ngày nào cũng cỡi ngựa đi chơi, chẳng may bị té què chân. Người thân thích đến hỏi thăm. Tái ông thản nhiên nói:
- Con bị què thế mà phước cho tôi đấy, biết đâu.
Cách một năm, giặc nổi dậy. Nhà vua bắt lính. quân lính đi đánh giặc, mười người chết đến chín. Con Tái ông, vì què, khỏi phải đi lính, cha con được sống yên với nhau.
Như thế là trong may có rủi, trong rủi có may. Cho nên cụ Đào Tấn có câu:
    Ngựa Tái ông may rủi luống mơ hồ,
    Xe Nguyễn Tịch đi về thêm bối rối.

Và đó là chuyện bên Trung Hoa.
Xin kể thêm một chuyện ở Ấn Độ.
Một hôm đức Phật cùng đệ tử đi ngang qua một dãy núi cao. Đến một nơi núi lở, vàng lăng đầy lối đi. Đệ tử có người muốn lượm lấy. Phật ngăn lại:
- Rắn độc, đừng mó tay vào.
Các đệ tử lặp lại lời Phật mà tránh một bên đường mà đi. Lúc ấy có hai vợ chồng người tiều phu đi đến, lượm vàng lên xem. Vợ bảo chồng:
- Rõ là vàng, cớ sao Phật lại bảo là rắn độc.
Người chồng xem đi lại mấy bận. Sợ mình chiêm bao, dụi mắt, vỗ đầu, rồi nói:
- Quả là vàng, chớ không phải rắn độc.
Người vợ lấy búa đập thử, rồi quả quyết:
- Nhất định là vàng, chớ không phải rắn độc.
Người chồng tiếp:
- Nhất định là vàng, chớ không phải rắn độc. Phật đã lầm.
Mừng rỡ, hai vợ chồng hốt hết đem giấu vào hang đá trong núi sâu, rồi lấy một số đem bán, lấy tiền mua ruộng, cất nhà. Chẳng bao lâu trở nên giàu sang nhất xứ.
Quan địa phương nghi rằng hai vợ chồng tiền phu đã làm điều phi pháp mới có thể trở nên giàu có một cách mau chóng thế ấy, bèn bắt đến hỏi tra. Vợ chồng sợ nói sự thật, của cải sẽ bị sung công, nên nhất định khai rằng nhờ cây núi củi rừng mà làm nên cơ nghiệp.
Ai mà tin được vì mỗi ngày củi bán được bao lăm. Quan bèn truyền hạ ngục cả hai vợ chồng để điều tra. Cuộc điều tra kéo dài ngót năm, nhưng của kho không mất, khắp xứ, khắp nước cũng không có ai mất bạc mất vàng. Thế thì của kia do đâu mà có? Hai vợ chồng tiều phu vẫn một mực khai rằng nhờ cây núi củi rừng. Không biết xử thế nào cho phải, quan liền làm sớ tâu lên vua. Vua truyền dẫn hai vợ chồng tiều phu đến hỏi. hai vợ chồng vẫn cứ giấu quanh. Vua giận truyền đem chém. Hai vợ chồng thất kinh, khóc lớn:
- Vàng đã cắn chết chúng ta! Phật bảo là "rắn độc" bây giờ mới biết rằng đúng. Nhưng ăn năn thì sự đã rồi!
Nghe than vua lấy làm lạ, phán hỏi. Hai vợ chồng bèn quì tâu rõ đầu đuôi. Vua bèn tha cho tội chết nhưng truyền tịch thu tất cả tài sản vì tội nói dối lúc đầu. Hai vợ chồng lạy tạ và tâu:
- Vàng được còn nhiều, hiện giấu trong hang đá. Xin dâng nạp hết vào kho.
Vua cho đi lấy về và phán:
- Vàng này thuộc về công sản. Nhưng quí tấm lòng thành thật ta cho vợ chồng ngươi muốn mấy, thì cứ lấy đem về dùng.
Vợ chồng tiều phu nhất định từ chối:
- Đoạn bái biệt nhà vua. Nhà vua thương tình truyền trả lại gia sản đã tịch ký. Vợ chồng tiều phu đem bán hết để bố thí cho kẻ nghèo, chỉ giữ một gian nhà nhỏ để che mưa nắng.

Tây phương có câu: "A quelque chose, malheur est bon". Nghĩa là "cũng có phần hay trong sự bất hạnh". Ý tứ cũng gần như câu "thất mã ".
Và xem những chuyện trên, chúng ta thấy rằng trong cái phúc, thường khi có cái hoạ nấp sẳn trong ấy, và trong cái hoạ biết đâu lại không có cái phúc đương đợi chờ. Cho nên đối với hoạ phước, ta không nên vội quyết định là hay mãi, hay dở mãi.
Lắm khi cùng một việc, mà bận trước chẳng may mà bận sau lại may, bận trước may mà bận sau lại chẳng may.
Sách Úc Ly Tử chép rằng:
- Một người nhà quê trải rơm phơi ở chân giậu. Hôm sau ra vun rơm, nghe thấyt tiếng kêu chích chích, anh ta lật xem thì bắt được một con trĩ. Anh ta thấy thế, lại cứ để rơm không vun. Bửa hôm sau trở ra, lắng tai nghe cũng thấy tiếng chích chích như hôm trước. Trong lòng mừng thầm, nhưng vừa bới rơm lên, thì một con rắn cắn vào tay, anh bị thương rồi chết.
Úc Ly Tử nói rằng:
- Một việc nhỏ ấy đủ làm gương cho ta. Trong thiên hạ có cái phúc không tưởng được thế, mà may được thế, cũng có cái họa không ngờ đến thế, mà xảy ra thế.
Đó là trước may sau rủi.

Trước rủi sau may như chuyện sau đây:
- Thời pháp thuộc, nước ta có một lúc nổi lên chơi đồ sứ cổ. Những chén dĩa xưa, bình choé xưa.... rất được giá. Người người đổ xô nhau đi tìm mua về bán lấy lời.
Ở hạt Bình Khê, tỉnh Bình Định, có người quả phụ họ Trần có một bộ đồ trà và một chiếc cổ bồng bằng sứ của ông bà để lại làm đồ thờ.
Bộ chén thì thanh tú. Chiếc cỗ bồng thì thô kịch.
Một hôm, một tên lính lệ ở Huyện về làng có việc quan, ghé vào nhà bà thấy bộ chén, hỏi mua. Bà cười nói:
- Chồng đủ hai cây mới bán.
Nghe tiếng "cây", chắc có lắm bạn trẻ không biết nghĩa là gì. Đó là một tiếng thông dụng thời trước cũng như tiếng "ghim" bây giờ. Thời ấy chưa có bạc giấy, mới có bạc đồng và chỉ có bạc một mà thôi. Cứ 50$ phong thành một phong, gọi là một cây. Một cây thời ấy giá trị bằng 20 ghim bây giờ.
Như vậy đánh giá bộ chén trà đến hai cây bạc, nghĩa là 40 ghim, tức là 40.000$ hiện thời, thì đối với những kẻ không thấy xa biết rộng, là một việc trái tai. Mà bọn lính lệ thời phong kiến, thực dân, là hạng người chẳng những tầm thường về mặt trí thức, mà còn hống hách về mặt đối xử. Cho nên khi nghe người quả phụ đánh giá bộ đồ trà đến hai cây bạc, thì tên lính lệ cho là xấc xược, nổi đóa, trợn mắt lớn tiếng, nói:
- Được, muốn mấy cây thì muốn.
Sẳn cây ba-ton cầm nơi tay, hắn vứt mạnh và thân người quả phụ.
Thật quả như lời tục nói: "Lính về làng như Thần Hoàng về miễu". Nhưng tên lính lệ vốn người miền ngoài, không biết câu: "Ai về Bình Định mà coi, con gái Bình Định bỏ roi đi quyền", nên mới dở thói hung hăng như thế. Hắn có ngờ đâu cây ba ton vừa giáng xuống, thì lanh như chớ[, bà họ Trần xoay tay gạt phắt, và thuận chân đá hắn một ái lăn nhào.

Tên lính lệ vừa xấu hổ, vừa tức giận, đứng dậy đi một mạch về huyện, kiếm chuyện vu cáo bà họ Trần. Quan huyện liền ký trát bắt.
Vốn biết trước thói sai nha, bà họ Trần đã mượn người làm tờ khai sẳn. Quan huyện xem tờ khai, không nói chi đến việc tên lính lệ, chỉ truyền bà đem bộ chén trà lên huyện cho quan xem. Bà họ Trần tuân hành....và rồi như lời tục thường nói:" Của vô nhà quan như than vô lò", nghìa là bà họ Trần phải chịu mất bộ đồ trà cổ!
Hai người con trai của bà đi học xa về, nghe chuyện rất lấy làm tức giận, nhưng thân đơn, thế cô đành phải nuốt giận bỏ qua. Nhưng sợ chiếc cổ bồng sẽ chịu một số phận hẩm hiu, hai người con muốn đem chôn giấu. Bà họ Trần hỏi:
- Bọn trộm cướp ban đêm đâu có dám vào nhà mình. Mẹ chỉ sợ bọn cướp ngày mà thôi. Nhưng bọn này đánh hơi rất giỏi, giấu đâu mà chúng chẳng tìm ra.
Cách ít lâu, một người lính tỉnh, đi ngang qua làng bà họ Trần, nghe nói nhà bà có đồ cổ, bèn ghé vào xem. Thấy chiếc cổ bồng biết là quí, hắn bèn về mách cùng quan tỉnh để tâng công. Quan tỉnh liền cho người đến bảo bà họ trần đem chiếc cổ bồng đến tỉnh. Bà họ Trần nói cùng con:
- Nhà ta tuy nghèo hèn nhưng vì có hai món đồ xưa nên được tỉnh, huyện để ý. Bộ trà là sản phẩm đời Khang Hy, và do ba các con để lại. Còn chiếc cổ bồng sản xuất từ đời nào thật không ai biết, nhưng ở nhà ta đã năm đời rồi. Bộ chén đã mất. Cổ bồng cũng sắp mất nữa đây. Âu " nhân hữu thường số, vật hữu thường số" ta cũng không nên tiếc làm gì.

Đoạn, sai người con lớn đem chiếc cổ bồng đến tỉnh.
Quan Tổng Đốc bấy giờ là một người rất sành đồ sứ. Quan xem đi, ngắm lại chiếc cổ bồng, rồi nói cùng kẻ thuộc hạ:
- Đồ sành, đồ sứ chỉ quý ở chổ xưa. Mà kẻ chơi đồ xưa, quí cổ không bằng quí kỳ. Cho nên có câu " nhất kỳ nhì cổ ". Chiếc cổ bồng này là một vật kỳ hiếm có.
Đoạn, quay lại hỏi người con bà họ Trần:
- Muốn bán chăng?
Người con bà họ Trần thưa:
- Nhà nghèo giữ của quí chỉ hại cho thân.
Quan cười, hỏi tiếp:
- Bán giá mấy ?
Đáp:
- Vật không có giá. Giá trị tùy nơi người.
Quan Tổng Đốc thích ý, cười lớn, rồi lấy năm cây bạc, sai hai người lính đem đến tận nhà bà họ Trần.
Xem thế thì rõ là hoạ, phước khó lường. Gặp may, chưa chắc hẳn là phước. Gặp rủi, chưa chắc hẳn là họa. Cho nên khi gặp may đừng lên mặt, lúc gặp rủi đừng nản lòng. Lúc nào cũng như lúc nào, luôn luôn lo dưỡng tánh tu tâm thì phước kia sẽ được lâu dài, hoa kia nếu không tiêu thì cũng giảm.

bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0
Cách Lo Xa Cho Con Cháu


Kẻ làm cha mẹ không ai là không lo nghĩ đến tương lai của con cháu. Nhưng mỗi người lo mỗi cách.
Thời Đông Hán ở đất Tương Dương có một hiền sĩ là Bàng Đức Công, không chịu ra làm quan, vào ẩn ở núi Lộc Môn, hái thuốc, cày ruộng, cùng vợ con vui ngày tháng.
Một hôm quan Thứ Sử đất Kinh Châu là Lưu Biểu đến chơi. Bàng Công đương cày dưới ruộng, bỏ cày lên bờ nói chuyện. Lưu Biểu hỏi:
- Sao tiên sinh khổ thân cày cuốc, chẳng chịu xuất sĩ. Như thế lấy gì để lại cho con cháu sau này.
Bàng Công đáp:
- Người đời ai cũng lấy NGUY để cho con cháu, duy chỉ tôi đây lấy AN để cho con cháu mà thôi. Cách để lại cho con cháu, tuy khác nhau nhưng thực thì đàng nào cũng là "để" cả.
Lưu Biểu nghe nói tán thán rồi đi.

Lời nói của Lưu Biểu phản ánh tấm lòng lo của thường dân. Lời nói của Bàng Đức Công tiêu biểu lòng lo của hàng thức giả.
Nhưng sao lại nói để NGUY và để AN? Là vì thời Đông Hán là thời loạn lạc, ba họ Lưu, Ngô và Tào đứng lên tranh hùng, nhân dân không mấy lúc sống được an vui. Trong thời loạn, tấm thân mỏng mảnh như lá vàng, giữ cho trọn thật là khó, huống hồ còn đeo của cải vào thân. Người thời loạn thường nói rằng: "Nghèo khó giữ đầu, giàu khó giữ của". Như thế ở vào đời Bàn Đức Công mà để của cải lại cho con cháu chẳng phải là để NGUY cho con cháu hay sao. Chi bằng lo dạy cho chúng có nghề nghiệp, biết giữ phận, cố tiến thủ...., như thế chẳng là yên vui lắm sao.
Cách để của cho con cháu như Bàn Đức Công, thời loạn rất hay, mà thời bình cũng hay lắm vậy:
Sở Quảng đời nhà Hán về trí sĩ được vua ban nhiều vàng lụa. Con cháu thấy vậy, cậy người già cả trong họ đến bàn cùng Sở Công mua nhiều ruộng đất để lập cơ nghiệp. Công đáp:
- Tôi tuy già cả sống không còn được bao lăm, nhưng há lại không nghĩ đến con cháu hay sao. Hiện tôi cũng đã có một ít ruộng nương và nhà cửa của tiền nhân để lại. Nếu con cháu tôi chăm chỉ làm ăn thì cũng đủ sống sung sướng bằng người, Nếu bây giờ tôi lại làm giàu thêm cho chúng, để cho của cải thừa thải, thì chỉ làm cho chúng lười biếng mà thôi. Người giỏi mà sẳn có nhiều của thì kém mất chí hay, người ngu mà sẵn có nhiều của thì càng thêm tội lỗi. Huống nữa của cải mà chứa nhiều thì chỉ tổ làm cho người ta oán. Tôi đã không có gì giáo hóa được con cháu thì cũng không nên làm cho chúng nhiều tội lỗi và để thiên hạ thán oán chúng cho thêm phiền. Những của cải tôi hiện có đây là ơn vua hậu đãi người bầy tôi già cả. Tôi chỉ muốn cùng cả anh em bà con, họ hàng, làng nước hưởng chung ái ơn ấy để trọn tuổi trời, như thế chẳng phải hơn sao?

Người trong họ nghe nói thế ai cũng cảm phục.
Cách lo cho con cháu của Sở Quảng cũng tương tợ như cách lo của Bàn Đức Công. Nhưng Sở Quảng chẳng nhũng chỉ nghĩ đến hạnh phúc của con cháu, mà còn nghĩ đến hạnh phúc của nước trong lòng trong nước nữa.
Đó là tấm lòng lo của người quân tử, nhưng của những bật quân tử đã trải đời.
Tôi xin kể một chuyện của người quân tử còn trẻ tuổi, chuyện của Điền Văn thời Chiến Quốc.
Điền Văn là con Điền Anh, ít tuổi mà cực kỳ thông minh, thấy cha làm quan hay vụ lợi riêng, một hôm thừa nhàn, hỏi cha rằng:
- Con của đứa con gọi là gì?
Cha đáp:
- Gọi là cháu.
Điền Văn lại hỏi:
- Cháu của đứa cháu gọi là gì?
Cha đáp:
- Gọi là chút.
Điền Văn hỏi nữa:
- Chút của đứa chút gọi là gì?
Người cha cười, đáp:
- Ai biết gọi là gì.
Điền Văn cung kính thưa:
- Cha làm Tướng nước Tề đến nay trải đã ba đời vua, giàu có hàng ức vạn, mà người giỏi trong nước vẫn đói khát. Cha quên hết việc công ích hiện thời của dân, của nước, chỉ chăm chăm súc tích của cải, muốn để dành cho những kẻ sau này không biết gọi nó là gì! Con trộm nghĩ như thế là quái lạ lắm.

Điền Anh nghe con nói liền giác ngộ. Từ ấy chiêu nạp hiền sĩ, trong nhà khách khứa không lúc nào ngơi. Nhờ vậy mà lớn lên Điền Văn được nổi tiếng là có bụng lân tài và được kẻ hiền sĩ giúp nên đại nghiệp.
Trên đây là những chuyện xưa, và chuyện xưa của Trung Quốc.
Đã biết rằng "Chơn Thiện Mỹ" vượt ngoài không gian và thời gian, nhưng để tỏ rằng chẳng phải chỉ có thời xưa và chỉ có Trung Hoa mới có những bậc cha mẹ cao kiến biết lo xa cho con cháu, tôi xin kể một chuyện ở Việt Nam, trong khoảng thời gian gần đây:
Chuyện bà họ Trần ở triều Khải Định.
Bà ở thôn Trường Định, quận Bình Khuê, tỉnhh Bình Định, chồng chết sớm, sống cùng ba đứa con thơ trong cảnh bần bạc, nhưng không mấy khi bà lo buồn. Có người hỏi, bà đáp:
- Đức Khổng Tử bảo Thầy Tử Lộ rằng: " Người quân tử chỉ cốt suy nghĩ định liệu việc của mình. Lúc chưa làm được vui rằng mình có ý định làm. Lúc đã làm được rồi thì vui rằng mình có trí làm được việc. Thế cho nên người quân tử vui vẻ suốt đời, không lo sợ một ngày nào cả". Tôi nay có một ruộng nương để cày cấy, có mấy đức con để nuôi dạy. Tôi cố gắng lo sao cho tròn bổn phận người đàn bà góa. Như thế có gì mà không vui.

Để cho con ăn học, Bà phải bán ruộng đất dần dần. Người anh trong họ bảo:
- Cô bán hết tài sản cho chúng nó đi học mà chắc chúng nó đã làm nên trò trống gì. Chỉ e sau này không lấy gì mà nuôi thân.
Bà cười:
- Anh không nghe câu:
    "Dẫu có bạc vàng trăm vạn lạng
    Không bằng kinh sử một vài pho"

hay sao?
Tuổi bà không được thọ. Trước khi nhắm mắt bà gọi các con vào trối:
- Đức Khổng Phu Tử thường bảo đệ tử rằng: " Người quân tử có ba điều phải nghĩ, ta chẳng nên chẳng xét đến. Đó là : lúc nhỏ mà chẳng học thì đến lúc lớn dốt không làm được việc gì; lúc già nếu không đem những điều mình biết để dạy người thì sau khi chết không ai mến tiếc; lúc giàu có nếu không bố thì thì lúc khốn cùng chẳng ai cứu giúp. Cho nên người quân tử lúc nhỏ nghĩ đến lúc lớn, thì chăm học, lúc già nghĩ đến lúc chết thì chăm dạy, lúc có nghĩ đến lúc không thì chăm cứu giúp người nghèo khổ". Đó là lời cuối cùng mẹ dặn các con. Các con nên giữ lấy làm của.

Bà mất, các người con theo con đường mẹ đã vạch, và sau đều trở nên người liêm sỉ, trải bao nhiêu cơn nguy biến vẫn giữ vững được thiên lương. Người Bình Định đều khen bà họ Trần là hiền mẫu.
Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm có câu:
    "Quét cửa Nho chờ khách đến,
    Trồng cây Đức để con ăn."

Đó là cách biết lo xa cho con cháu. Xin mượn làm câu kết thúc.



bài đã được sửa chính tả


Đăng nhập để trả lời
0
Địa Vị Đổi Lòng Người .


Chỉ nghĩ đến ích lợi chung của đồng bào và Tổ Quốc mà quên hoặc gác bỏ quyền lợi riêng của mình, xưa nay chỉ có Bảo Thúc Nha.
Bảo Thúc Nha đã nhường ghế Tể Tướng của mình cho Quản Trọng và sau khi Quản Trọng cùng Thấp Bằng qua đời, nước Tề không còn người xuất chúng, Thúc Nha mới phải lên cầm quyền chính mà thôi.
Đó là vì Thúc Nha quan niệm đúng đắn về giá trị của địa vị.

Người đời lấy địa vị đánh giá con người.
Kẻ thức giả xét phẩm giá con người ngồi trên địa vị để định giá cho địa vị kia.
Nghĩa là đối với kẻ thức giả, địa vị quí hay không quí là do con người ở trên dịa vị ấy, chớ không phải ở "bản thân" của địa vị.
Nhưng xưa nay phần đông đều chăm chăm vào địa vị.
Đâu phải chỉ có những kẻ dung thường mới không nghĩ xa thế ấy. Cả đến những người có học có tài mà cũng nặng lòng vì địa vị, cho nên sanh ra thèm địa vị khi chưa được, và lo củng cố địa vị khi được rồi.

Nam Hoa Kinh chép đại khái rằng:
Liệt Tử làm Tể Tướng, nghe Trang Tử sắp sang chơi. Vốn biết Trang Tử là một bật hiền nhân có tài lớn, sợ Trang Tử cướp mất ngôi Tể Tướng của mình, Liệt Tử bèn ôm tướng ấn xuống ẩn núp nơi giếng can suốt ba ngày đêm. Trang Tử đến, biết được, tìm tới gọi lên nói:
- Sang đây tôi đi ngang qua một dãy gò. Trên gò có con kênh kênh đương ăn một con chuột chù. Tình cờ một chim phụng bay ngang qua. Giống chim phụng chỉ ăn trái trúc, uống nước suối, đậu cây ngô đồng. Nhưng kênh kênh không biết được chí chim phụng, tưởng chim phụng cũng như mình, nên vừa trông thấy bóng liền kẹp cứng chuột chù vào đôi chân, rồi ngưởng cổ "ngóe" một tiếng dữ dội. Sao bác cũng đem ghế Tể Tướng của bác mà "ngóe" tôi vậy?
Đoạn bỏ đi thẳng.
Sách Đông Châu Liệt Quốc chép đại khái rằng:
- Sô Kỵ là một thư sinh nước Tề. Tề Uy Vương là một kẻ ham mê tửu sắc, không kể đến việc nước việc dân. Sô Kỵ đem tài năng học thức của mình giác ngộ được Tề Uy Vương. Uy Vương bèn giao việc nước cho Sô Kỵ. Sô Kỵ sửa đổi chánh sự, trừ gian, cầu hiền, dựng lại nghiệp Bá cho nước Tề, ai cũng khen là người có tài kinh tế.

Sau đó Tôn Tẫn bị Bàng Quyên chặt chân và hành hạ tàn nhẫn. Vua Tề nghe lời Mặc Địch cho người lẻn sang Ngụy rước Tôn Tẫn về Tề. Uy Vương muốn cho Tôn Tẫn làm quan. Tôn Tẫn từ chối:
- Tôi chưa có chút công gì không dám nhận chức. Huống nữa lúc này Bàng Quyên đương ganh ghét, nếu biết tôi làm quan nước Tề tất sanh chuyện. Chi bằng hãy tạm giấu đi, lúc có việc dùng đến, tôi sẽ xin hết lòng.
Tề Uy Vương theo lời cho Tôn Tẫn ở nơi nhà Điền Kỵ.
Điền Kỵ đãi Tôn Tẫn vào bậc thượng khách.
Chẳng bao lâu, Bàng Quyên cử binh đánh nước Triệu. Triệu Thành Hầu cắt đất dâng cho nước Tề để xin cứu viện. Tề Uy Vương vốn biết tài Tôn Tẫn, muốn phong làm Đại Tướng đi cứu Triệu.. Tôn Tẫn thưa:
- Tôi là kẻ tàn tật được sống thừa, nếu làm Đại Tướng không khỏi quân địch chê cười nước Tề không có người tài. Xin Đại Vương cử Điền Kỵ thì hơn.
Uy Vương bèn cử Điền Kỵ làm Đại Tướng, Tôn Tẫn làm Quân Sư.
Tôn Tẫn luôn luôn giấu mình ở trong xe, bày mưa cho Điền Kỵ.
Bàng Quyên bị thua luôn mấy trận, xét trận pháp lòng nghi hoặc, nghĩ thầm:
- Hay là Tôn Tẫn đã lén trốn sang nước Tề. Nhưng không lẽ, vì hắn đã chết rồi kia mà!

Sau biết rõ có Tôn Tẫn trong dinh Tề, Bàng Quyên sợ quá, ban đêm rút quân về Ngụy.
Điền Kỵ và Tôn Tẫn thắng trận, trở về Tề. Uy Vương ban khen và giao cả binh quyền trong nước.
Sô Kỵ sợ sau này Điền Kỵ sẽ thay mình là Tướng Quốc, bèn cùng Công Tôn Duyệt tìm mưu đánh đổ Điền Kỵ và Tôn Tẫn.
Dịp may đưa đến:
Bàng Quyên sợ nước Tề dùng Tôn Tẫn thì nước Ngụy khó thắng nổi, mới sai người đem lễ vật đút lót để Sô Kỵ tâu với Tề Uy Vương đừng dùng Tôn Tẫn và Điền Kỵ nữa, Sô Kỵ nhận lễ, và nghĩ ra một kế ly gián vua tôi.

Sô Kỵ sai Công Tôn Duyệt giả làm người nhà Điền Kỵ, đem tiền nhờ một bốc sư ở Ngũ Cổ bói việc kiết hung. Công Tôn Duyệt nói cùng bốc sư:
- Tôi là người nhà của Điền Kỵ. Chủ tôi đã nắm được binh quyền trong tay, muốn mưu việc lớn, nên sai tôi đến nhờ thầy bói thử có thành công chăng.
Bốc sư từ chối không nhận. Công Tôn Duyệt bước ra ngoài hồi lâu thì một bọn sai nhân của Sô Kỵ áp vào bắt bốc sư đem về nạp cho Sô Kỵ.
Sô Kỵ dẫn bốc sư vào chầu Tề Uy Vương, tâu việc Điền Kỵ xem bói. Từ ấy Uy Vương đem lòng ngờ vực Điền Kỵ, thỉnh thoảng cho người đến dò xét hành động.

Điền Kỵ biết được, giả bệnh, giao trả lại binh quyền, Tôn Tẫn cũng xin từ chúc Quân Sư.
Bàng Quyên hay tin, mừng rỡ nói với các tướng:
- Từ nay nước Ngụy ta có cơ hoành hành trong thiên hạ.
Liền đó Bàng Quyên cất quân đi đánh nước Hàn.
Nước Hàn cầu cứu nước Tề.
Lúc ấy Tề Uy Vương đã mất, Tề Tuyên Vương nói ngôi. Mặc dù có sự cản trở Sô Kỵ, Tuyên vuơng vẫn sai Điền Kỵ làm tướng, Tôn Tẫn làm quân sư đem quân đi cứu nước Hàn.
Sau mấy trận kịch liệt, Tôn Tẫn lập mưu nhử Bàng Quyên vào thế bí, phục quân bắn chết Bàng Quyên dưới một gốc cổ thụ. Quân Ngụy đại bại. Vua Ngụy xin triều cống nước Tề.
Quan Tướng Quốc là Sô Kỵ nghĩ mình ngày trước ăn của lót nước Ngụy, muốn hãm hại Điền Kỵ, nay ăn năn, tự thấy xấu hổ, liền cáo bệnh, từ quan. Tề Tuyên Vương bèn cử Điền Kỵ làm Tướng Quốc, Tôn Tẫn làm Quân Sư và gia phong một ấp lớn. Tôn Tẫn từ chối, xin về ở ẩn nơi núi Thạch Lư.

Tôn Tẫn không ham địa vị bởi vì đã thấy rõ những sự bỉ ổi lòng ham địa vị gây nên.
Còn Liệt Tử và Sô Kỵ là hai nhà trí thức hữu danh một thời, chỉ vì muốn củng cố địa vị mà mang tiếng với hậu thế.
Liệt Tử là một nhà thông hiểu sự đời, làm thầy cả một nước lớn, Sô Kỵ là người thấy rõ chân lý, đem lời ngay làm cho kẻ mê muội giác ngộ. Hai người ấy đâu phải là những người không sáng suốt. Thế mà quyền lợi riêng, địa vị cao cũng làm cho lòng đen tối được. Như vậy thì con người ta không phải lúc nào cũng sáng suốt. Trí óc chỉ sáng suốt khi chưa bị quyền lợi riêng chi phối. Đến lúc sa vào vòng phú quí rồi, thì nếu không phải là bậc quân tử chân chính, thật khó mà giữ được thiên lương. Ai mà suốt đời " phú quí bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất" thì mới gọi là người có bản lĩnh. Những người như thế danh vọng, địa vị mới không làm chuyển lòng được.





bài đã được sửa chính tả


Đăng nhập để trả lời
0
Giá Trị Của Sự Vật

Giá trị của mọi sự, mọi vật, cao hay thấp là tùy người, tùy cảnh, nghĩa là không tuyệt đối.
Vàng, ngọc, ai lại chẳng cho là quí. Nhưng đối với kẻ lạc bước giữa bãi sa mạc mênh mông, thiếu ăn, thiếu uống, thì cả khi vàng ròn, ngọc sáng, cũng không có giá trị bằng một gáo nước, một vắt cơm.
Dùng một con niêm chết đã trăm năm, dán vào phong bì, đem bỏ thùng thư nhà Bưu Điện, nhất định sẽ bị nhân viên Bưu Điện đóng dấu phạt ngay. Nhưng nếu đem đến nhà sưu tầm con niêm thì biết đâu lại không bán được bạc trăm, bạc ngàn, có khi tới bạc vạn.
Vua Edward VIII nước Anh coi bà Simpson quí hơn ngôi báu. Nhưng nếu bà này gặp ông Liễu Hạ Huệ hay ông Socrate, thì "nhà ngói cũng như nhà tranh".

Như thế là giá trị của vật hoàn toàn lệ thuộc đối tượng với hoàn cảnh.
Đó là vật. Còn sự thì như việc vua Edward VIII thoái vị để kết hôn cùng bà Simpson. Việc này đã làm sôi nổi dư luận trên thế giới, kẻ chê nhà vua vì tình riêng mà quên nghĩa chung, kẻ khen là biết quí tâm tình hơn địa vị. Khen, chê bất nhất.
Thời Xuân Thu, ở nước Lỗ có người đàn ông ở một mình một nhà. Bên láng giềng có một người đàn bà goá cũng ở một mình một nhà. Một đêm mưa gió to, nhà người đàn bà bị sập, người ấy sang nhà người đàn ông xin ngủ nhờ. Người đàn ông đóng cửa không cho vào. Người đàn bà đứng trước cửa sổ nói:
- Gió mưa lạnh lẽo, mà ngươi không cho ta vào ư? Sao ngươi bất nhân thế?
Người đàn ông đáp:
- Ta nghe đàn ông, đàn bà, sáu mươi tuổi trở lên mới ở chung với nhau được. Nay ngươi còn trẻ, ta cũng còn trẻ, nên không thể cho ngươi vào ngủ nhờ.

Người đàn bà nói:
- Ông Liễu Hạ Huệ ngày xưa để người con gái ngồi trong lòng mà vẫn không tai tiếng gì. Sao ngươi không bắt chước.
Người đàn ông đáp:
- Ông Liễu Hạ Huệ khác, ta khác. Ví ta cho ngươi vào mà không được như ông Liễu Hạ Huệ, thì thà không cho ngươi vào để giữ không tai tiếng được như ông Liễu Hạ Huệ. Thế chẳng phải là ta không làm như ông Liễu Hạ Huệ mà cũng được như ông Liễu Hạ Huệ ư.
Thế rồi đóng chặt cửa, mặc dầu gió mưa.
Nghe chuyện, nhiều người chê rằng:
- Người đàn ông kia chỉ vì sợ tai tiếng mà nhẫn tâm để người đàn bà chịu mưa gió suốt đêm. Như thế là cố chấp, cố chấp đến nỗi thành bất nhân.
Nhưng Đức Khổng Tử lại khen rằng:
- Phải lắm. Kẻ muốn học ông Liễu Hạ Huệ, chưa ai giống được như người nước Lỗ này: mong làm điều rất phải, không bắt chước cách làm mà rồi làm được, thế mới thật là khôn.

Cùng một sự việc mà kẻ chê người khen. Như thế sự việc ấy, có giá trị hay không giá trị, những lời khen chê kia phải hay không phải?
Đó là tùy quan niệm của mỗi người.
Nhiều khi tùy theo sở thích.
Vua nước Tề thích nghe sáo. Có kẻ muốn cầu chút công danh, đem đàn đến trước cửa nhà vua mà gảy. Gảy luôn ba năm mà vẫn không được nhà vua hỏi tới, anh ta giận nói rằng.
- Ta đánh đàn đến cả quỉ thần cũng say mê. Thế mà nhà vua không biết cho, là cớ làm sao vậy?
Một ông lão nghe nói, cười và bảo rằng:
- Vua thíchnghe sáo, mà bác lại gảy đàn, thì đàn bác dù hay đến đâu cũng không thể lọt vào tai nhà vua được. Sao bác không trách mình là vô ý thức, mà lại trở trách người không biết giá trị của mình? Muốn lập công danhbác nên đi chổ khác.

Ở nước Lỗ có hai vợ chồng, chồng khéo đóng giày, vợ khéo đan mũ, muốn đem nhau sang làm ăn ở nước Việt. Có người đến bảo rằng:
- Vợ chồng nhà bác đi chuyến này thế nào cũng khổ.
Vợ chồng người nước Lỗ hỏi:
- Sao bác lại nói thế?
Người kia đáp:
- Giày dùng để đi, mà người Việt đi chân không, không thích đi giày; mũ dùng để đội, mà người Việt để đầu không, không cần đội mũ. Vợ chồng nhà bác làm giày đan mũ giỏi thật đấy song đến ở nước người ta, mà người ta không dùng đến tài nghệ của mình, thì làm thế nào mà không khốn cùng được.

Như thế là không thích nghi, thì không có giá trị.
Nước Trịnh có người học nghề làm dù che mưa, ba năm mới thành nghề, ai cũng khen là khéo. Rủi trời đại hạn, không ai dùng đến dù anh ta. Anh ta bèn bỏ nghề làm dù đi học nghề đan gàu tác nước. Lại học ba năm mới thành nghề làm giàu, và ai cũng khen là khéo. Nhưng trời lại mưa luôn, không ai dùng đến gàu. Anh ta lại quay về nghề làm như trước, không bao lâu trong nước có giặc, dân gian phần nhiều phải đi lính, mặc đồ nhung phục, không ai cần đến dù. Anh ta bèn xoay ra nghề đúc binh khí, thì đã già quách rồi.
Úc Li Tử thấy anh ta, thương tình, nói rằng:
- Than ôi! Bác chẳng đã già mất rồi ư! Già hay trẻ không phải là tự người, mà là tự trời. Điều ấy đã cố nhiên. Nhưng nghề nghiệp thành hay bại, dù lỡ thời không gặp dịp, cũng không nên đổ cả cho trời, tất có mình ở trong. Ngày xưa nước Việt có người làm ruộng, cấy lúa chiêm ba năm đều bị hại vì lụt. Có người bảo anh ta nên tháo nước mà cấy lúa mùa, anh ta không nghe và cứ cấy chiêm như trước. Năm ấy nắng to, mà nắng luôn ba năm, vụ chiêm nào cũng được, thành ra anh ta kéo lại hoà cả mấy năm mất mùa trước, cho nên có câu: "Trời đại hạn nghĩ đến việc sắm thuyền, trời nóng nực nghĩ đến việc sắm áo bông", đó là một câu nói rất phải.
Xem những chuyện trên, chúng ta thấy rằng "sự"cũng như "vật" có giá trị hay không, giá trị cao hay thấp, là tùy người, tùy thời, tùy nơi.

Mỗi nơi mỗi khác, mỗi thời mỗi khác, mỗi người một ý. Cho nên giá trị của sự vật không nhất định và không cố định.
Được người đời cho là có giá trị chưa chắc đã là hay. Bị người đời chê là vô giá trị chưa chắc đã là dở.
Ngà voi sừng tê có trị. Vì sừng và ngà có giá trị nên tê và voi thường bị giết để lấy ngà lấy sừng; quà quạ kênh kênh, thịt không ngon, dáng không đẹp nên tránh khỏi dò bẫy của bọn thợ săn.

Một hôm Trang Tử cùng học trò đi chơi trên núi, thấy một cây cổ thụ thân cao lớn, bóng rườm rà, nhưng thợ đốn gỗ chống búa đứng một bên không chặt. Trang Tử hỏi:
- Cây to tốt như thế sao lại không chặt?
Thợ đốn gỗ đáp:
- Cây này tuy to lớn như thế, nhưng gỗ xấu không dùng được việc gì.
Trang Tử nói:
- Cây này chỉ vì không ra gì mà được sống lâu.
Ra khỏi núi. Trang Tử cùng học trò vào chơi nhà một người quen. Chủ nhân bảo người nhà soạn cơm đãi khách. Người nhà hỏi:
- Trong nhà hết đồ ăn thì lấy gì mà dọn?
Chủ nhân đáp:
- Hãy làm thịt nhạn đãi khách.
Người nhà nói:
- Nhà có hai con nhạn, một con biết gáy, một con không biết gáy. Vậy làm thịt con nào?
Chủ nhân đáp:
- Làm thịt con không biết áy.
Sáng hôm sau học trò hỏi Trang Tử:
- Cây trong núi vì bất tài mà sống, con nhạn ở nhà chủ vì bất tài mà phải bị chết. Giá như tiên sinh thì xử vào địa vị tài hay bất tài?
Trang Tử cười rồi đáp:
- Ta xử vào trong cái khoảng giữa tài và bất tài. Như vậy thì tránh khỏi được tai nạn, nhưng chưa phải là kế vẹn toàn. Chỉ những bậc đạo đức cao siêu, không quản khen chê, lúc như rồng, lúc như rắn, không hẳn rõ ra tài hay bất tài, lúc lên lúc xuống, chỉ cốt lấy đức hoà làm mực, siêu việt cả muôn đời vật, tuy là người mà lại khác người ....Những bậc như thế, thì còn gì lụy đến thân được. Còn thói đời thường tình nào có thế. Hợp với người thì có lúc lìa tan. Làm nên việc thì có người nghị luận. Ngay thẳng thì bị đè nén. Kính cẩn thì bị chê bai. Làm thì có kẻ phá. Giỏi thì có kẻ ghen. Không ra gì thì thiên hạ lại khinh bỉ....Nhân tình như thế thì làm thế nào được? Than ôi! Các người nên ghi lấy: chỉ có đạo đức mới khỏi lụy mà thôi.
Chữ Tài trong bài trên là chỉ cho giá trị của sự vật. Và lời nói của thầy Trang Tử là lời khuyên quí hoá đối với người trải lòng ăn ở theo thiên lương.


bài đã được sửa chính tả


Đăng nhập để trả lời
0
Phục Lòng Người


Lời nói dù phải đến đâu mà không được người ta nghe, thì vẫn không có giá trị. Và muốn chinh phục lòng người, trước tiên phải làm cho người mình muốn chinh phục chịu nghe lời mình.
Làm thế nào cho người ta nghe lời mình?
Hãy nghe chuyện sau đây thì rõ:
Tề Hoàn Công cùng với Quản Trọng, Bảo Thúc Nha ...kéo quân đi đánh nước Sở.
Vừa đến biên giới Sở, bỗng thấy một người mũ áo chỉnh tề, khép nép bên đường, cúi chào Hoàn Công và thưa:
- Ngài có phải là Tề hầu chăng? Tôi là sứ thần nước Sở chờ ngài nơi đây đã lâu.

Sứ thần tên là Khuất Hoàn, làm quan Đại Phu, vâng lệnh Sở Thành Vương đến thuyết khách. Tề Hoàn Công lấy làm lạ hỏi Quản Trọng:
- Tại sao nước Sở biết ta qua đây mà cho người ta đón.
Quản Trọng đáp:
- Tất có kẻ gián điệp đem mưu của ta nói cho vua Sở biết. Tuy nhiên, nay đã có người đến, xin Chúa Công cho phép tôi dùng lời nói làm cho nước Sở phải phục tòng để khỏi phải dùng đến binh lực.
Nói đoạn bước ra tiếp Khuất Hoàn.
Khuất Hoàn nói:
- Chúa Công tôi hay tin quí quốc đem binh đến, nên sai tôi ra thưa với quí quốc vài lời. Tề với Sở cách nhau vạn dặm, ai có nước nấy, cớ gì đem binh xâm phạm đất đai nhau?
Quản Trọng đáp:
- Ngày xưa vua Thành Vương nhà Châu phong nước Tề cho Tiên Công ta là Thái Công, có dặn rằng: Hễ nước nào không chịu mệnh nhà Châu thì nước Tề có quyền đem binh vấn tội. Từ khi nhà Châu di đô sang Đông, các nước chư hầu đều chểnh mảng không theo vương mệnh. Chúa ta phụng mạng Thiên Triều giữ quyền Minh Chủ. Nay nước Sở bỏ lệ cống hiến nhà Châu, mặc dầu mỗi năm chỉ cống một xe cỏ thanh mao? Không giữ lễ như thế, nước Sở không có lỗi sao?
Khuất Hoàn nói:
- Từ lúc nhà Châu suy yếu, các nước đều bỏ triều cống, há riêng gì nước Sở tôi. Nếu quí quốc cho đó là tội lỗi thì thật đáng buồn cười!
Nói xong, cười lớn, rồi quay xe trở về.
Quản Trọng thưa cùng Tề Hoàn Công:
- Người nước Sở tự cao, tự đắc, không thể dùng lời nói để chinh phục được, nên phải dùng binh lực để thị uy mới xong.

Thế là hai bên sắp đánh nhau. Nhưng trước khi ra quân, viên Đại Tướng nước Sở là Tử Văn thưa cùng Sở Thành Vương:
- Quản Trọng là người giỏi binh pháp, nay đem quân các nước chư hầu đến đây, tất đã có sẵn mưu kế. Xin Chúa Công cho người đi dò xét binh tình rồi sẽ tùy liệu.
Sở Thành Vương hỏi:
- Bây giờ biết sai ai?
Tử Văn thưa:
- Khuất Hoàn đã biết mặt Quản Trọng, vậy nên sai đi một lần nữa.
Sở Thành Vương chưa quyết định, Khuất Hoàn đã thưa:
- Lần trước tôi đã gặp Quản Trọng, nhưng chưa bàn được gì. Nay đi nữa cũng vô ích. Tuy vậy nếu Đại Vương muốn hòa tôi sẽ lựa lời đáp ứng, bằng muốn đánh, xinh sai người khác thì hơn.

Sở Vương nói:
- Đánh hay hòa là tùy tình hình của quân địch. Ta giao ngươi quyền xét đoán để định liệu cho thích nghi.
Khuất Hoàn đến trại Tề xin vào yết kiến. Quản Trọng thưa cùng Tề Hoàn Công:
- Nước Sở sai sứ đến một lần nữa, chắc là xin giảng hòa, xin Chúa Công tiếp đãi tử tế.
Tề Hoàn Công cho đòi Khuất Hoàn vào. Khuất Hoàn quì tâu:
- Chúa Công tôi chỉ vì không cống cỏ thanh mao, để quí quốc nhọc lòng đem quân đi ngàn dặm, thật tội rất lớn. Chúa Công tôi đã biết lỗi, xin quí quốc lui binh khỏi ba mươi dặm, Chúa Công tôi sẽ xin tuân mệnh dâng cỏ thanh mao.
Hoàn Công đáp:
- Nếu vua nước Sở biết giữ tròn bổn phận thì ta còn đòi gì nữa mà chẳng lui binh.
Khuất Hoàn lạy tạ, trở về thưa lại cùng vua Sở.
Thành Vương không tin cho người dò xem thì quả binh Tề đã rút về đóng ở đất Thiên Lăng. Thành Vương nói:
- Tề Hầu chịu rút quân, ấy là có ý sợ ta. Ta cần chi phải giữ lời hứa.
Tử Văn can:
- Chớ nên làm thế. Người quân tử không thể bội tín.

Sở Thành Vương bèn sai Khuất Hoàn đem vàng lụa đến ban thưởng cho quân Tề, và một xe cỏ thanh mao trình cho Tề Hoàn Công để sai sứ đem vào triều cống Thiên Tử. Hoàn Công đãi sứ trọng hậu. Và để khoe lực lượng cùng nước Sở, Hoàn Công đưa Khuất Hoàn đi xem các trại quân của Tề và các nước chư hầu theo giúp. Quân các nước đóng liền nhau, dài hơn mấy mươi dặm. Mỗi khi trại quân Tề nổi trống hiệu, các trại chư hầu đồng hưởng ứng, gióng trống lên như sấm dậy. Hoàn Công đắc ý, bảo Khuất Hoàn:
- Binh lực của các nước Trung Nguyên ta như thế này, đánh đâu mà chẳng thắng.
Khuất Hoàn đáp:
- Minh Công là bá chủ Trung Quốc, dùng đạo đức để chinh phục lòng người, dùng đại nghĩa để thắng thiên hạ. Cái đó mới đáng sợ. Chớ như lấy binh lực cậy oai, thì nước Sở tôi, dẫu nhỏ mọn, nhưng có Phương Thành, có Hán Giang, lũy cao, hào sâu, dẫu trăm vạn binh hùng, vị tất đã làm gì nổi.

Tề Hoàn Công nghe nói, có ý thẹn, bèn bảo Khuất Hoàn:
- Nhà ngươi thật là một hiền sĩ của nước Sở. Nay ta xin cùng nước Sở giữ lấy chức phận của tiên quân ta ngày xưa, nhà nguơi nghĩ thế nào?
Khuất Hoàn thưa:
- Minh Công hạ cố đến Chúa Công tôi mà giảng hoà thì còn gì may mắn hơn.
Hoàn Công truyền mở tiệc đãi sứ. Sáng hôm sau lập đàn cùng nước Sở ăn thề và lập điều ước giảng hòa.
Đoạn Hoàn Công ra lệnh thu quân về nước.

Trong khi đi đường, Thúc Nha hỏi Quản Trọng:
- Nước sở tiếm xưng vương hiệu, tại sao Trọng Phụ không đem việc ấy bắt tội khi quân, lại nhận cỏ thanh mao, là ý gì vậy?
Quản Trọng cười đáp:
- Nước Sở tiếm xưng vương hiệu đã ba đời. Nếu nay bắt bỏ vương hiệu, không đời nào nước Sở chịu tuân theo. Như thế nước ta làm sao điều khiển được. Muốn điều khiển họ, cốt yếu phải làm cho họ nghe lời mình được trước đã. Mà muốn họ nghe lời mình, không gì hơn là đừng để họ bất mãn.
Đó là đường lối chánh trị của Quản Trọng trong việc chinh phục nhân tâm. Xưa qua nay lại, đường lối ấy tưởng cũng đường lối chung vậy.




bài đã được sửa chính tả




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-10 14:34:17diên vỹ>
Khôn Dại


Ông Tú Xương có câu rằng:
    Thế sự đua nhau nói dại khôn,
    Biết ai là dại biết ai khôn.

Quả thật như vậy.
Đời Xuân Thu, vua nước Tề là Hoàn Công đi săn, đuổi theo một con hươu, đến một hang đá, thấy ông lão ở đó, mới hỏi:
- Hang này tên gọi là hang gì?
Ông lão đáp:
- Là hang Ngu Công.
- Sao lại đặt tên như thế?
- Tại kẻ hạ thần ở đây nên mới có tên như thế.
Nhà vua nhìn ông lão hồi lâu rồi hỏi:
- Coi bộ lão không phải người ngu, cớ sao lại gọi là Ngu Công?
Ông lão chậm rãi thưa:
- Nguyên hạ thần có con bò cái đẻ được một con nghé. Nghé lớn lên, hạ thần đem đi bán, lấy tiền mua một con ngựa con đem về nuôi chung cùng bò cái. Một hôm, chàng thanh niên đến lấy lý rằng bò cái không đẻ được ngựa con, nên bắt con ngựa đem đi. Hạ thần không cãi được, đành chịu mất ngựa. Xa gần nghe chuyện, ai cũng chê hạ thần là ngu, mới gọi hang hạ thần ở đây là hang Ngu Công.

Nhà vua cười lớn:
- Như thế thì lão ngu thật!
Trở về cung, Hoàn Công đem chuyện ông lão mất ngựa kể lại cho quan Tể Tướng là Quản Trọng nghe, Quản Trọng nói:
- Đó chính là cái NGU của Di Ngô này. Nếu được vua giỏi như vua Nghiêu, bầy tôi giỏi như Cao Dao, thì khi nào có kẻ dám ngỗ ngược lấy không ngựa của người ta vậy! Ngu Công đành chịu mất ngựa, hẳn vì biết rõ hình pháp ngày nay không ra gì. Xin Chúa Công kíp chỉnh đốn chính sự lại.
Đức Khổng Phu Tử nghe chuyện, gọi đệ tử:
- Đệ tử ta đây? Hãy ghi lấy việc ấy. Hoàn Công là Bá Quân, Quản Trọng là hiền thần, tuy đã vào bậc khôn ngoan mà còn tự cho là ngu dại.

Quản Trọng là bậc đại trí, đến đức Khổng là bậc Thánh mà cũng phải khen là khôn ngoan. Thế mà Quản Trọng tự cho mình là ngu là gián tiếp khen Ngu Công là khôn, thì đủ biết con người mà từ vua đến dân đều chê là ngu kia, khôn ngoan đến bậc nào.
- Đành chịu mất ngựa như thế, sao gọi là khôn?
- Khôn là vì biết rõ hình pháp không ra gì, thà chịu mất ngựa còn hơn đi kiện. Bởi đi kiện để mong lấy lại ngựa, nhưng quyền bính ở trong tay bọn tham quan ô lại do hình pháp không ra gì sinh ra và làm cho hình pháp trở thành công cụ để đè ép và bóc lột dân lành, nơi tụng đình, công lý không còn, mà chỉ còn có cường quyền bạo pháp; như thế thì kiện đã không mong lấy lại được ngựa, mà có khi còn mất luôn bò. Đó là lý tất nhiên. Vì tham nhũng và ngang nghịch là anh em ruột đàn ông chính thể thúi nát sinh ra, thì thế nào lại chẳng giống nhau được. Kẻ cướp ngựa con, người cướp bò cái, là việc không thể tránh được. Cho nên chịu mất một để khỏi mất hết, như thế chẳng phải là khôn lắm sao?

Lữ Khôn nói rằng:
- Ngu độn thì người ta chê cười.
Thông minh thì người ta ghét vơ, ngờ vực.
Thông minh thì biết làm như ngu mới thật là khôn kín.
Ngu Công rõ là người khôn kín vậy.
Khổng Tử ở nước Lỗ vào Kinh đô nhà Châu hỏi lễ cùng Lão Tử. Khi đưa Khổng Tử ra về, Lão Tử dùng lời nói tiễn Khổng Tử. Trong lời tiễn, có câu rằng:
- Tôi nghe nhà buôn giỏi, khéo chứa của quí, thì làm như người không có gì. Người quân tử thạnh đức, dung mạo như người ngu.
Đó là một lời nói quí hoá cho việc phòng thân.
Lưu Bị lúc chưa đắc thời, ở chung cùng Tào Tháo tại triều nhà Hán, sợ Tháo làm hại nên luôn luôn đề phòng. Thường ngày họ Lưu ra vườn rau trồng trỉa, tự tay bón phân tưới nước cho cây. Quan Công và Trương Phi thấy vậy nói:
- Sao anh không lưu tâm đến việc lớn trong thiên hạ, mà lại học làm những việc của kẻ tiểu nhân là ý gì vậy?
Lưu Bị đáp:
- Ấy chẳng phải chỗ hai em biết đặng.
Quan, Trương không dám hỏi nữa.
Cách đó ít lâu, một hôm Lưu Bị đương tưới rau thì có lệnh Tào Tháo cho mời. Lưu Bị cả sợ hỏi:
- Việc gì gấp vậy?
Các tướng đến mời đáp rằng không được biết. Lưu Bị bèn theo vào phủ ra mắt Tào Tháo.
Vừa trông thấy Lưu Bị, Tào Tháo cười, bảo:
- Hoàng thúc ở nhà đã làm nên việc lớn dữ a!
Lưu Bị thất sắc, nhưng Tào Tháo không để ý, cầm tay dắt thẳng ra vườn sau, nói:
- Huyền Đức học làm vườn có khi cực lắm nhỉ?
Lưu Bị nghe nói mới yên lòng, liền đáp:
- Không có việc nên phải làm quấy quá cho vui vậy thôi.
Hai người ra đến tiểu đình thì tiệc rượu đã bày sẵn Tháo nói:
- Vườn mai đơm bông thơ thớ làm cho tôi nhớ đến lúc đem quân đi đánh Trương Tú. Hôm ấy dọc đường hết nước, tướng sĩ đều khát. Tôi dùng kế "vọng mai chỉ khát", lấy rôi ngựa chỉ tới và nói rằng "Trước mặt có rừng mai kia kìa". Quân sĩ nghe nói đến mai, ai nấy đều chảy nước miếng, đỡ khát. Nay mai trổ bông, chẳng lẽ không thưởng. Nên mới đặt rượu ngon mời sứ quân đến chung vui vậy.
Hai người ngồi ngang nhau mà đánh chén.
Rượu được nửa chừng, bỗng mây đen kéo tới, dông gió rầm rầm. Quân sĩ chỉ bảo nhau:
- Rồng lấy nước kia kìa.
Tào Tháo và Lưu Bị đều ngó ra xem. Tháo hỏi:
- Sứ quân biết rồng biến hóa thế nào chăng?
Lưu Bị đáp:
- Chưa được biết rõ.
Tào Tháo nói:
- Tánh rồng hay lớn hay nhỏ, hay thăng hay ẩn. Khi lớn thì làm mây làm mưa, khi nhỏ thì ẩn bóng giấu hình. Thăng thì bay tung trong vũ trụ, ẩn thì núp dưới ba đào. Lúc này đương mùa xuân, rồng nương theo thời mà biến hóa, cũng như người đắc chí tung hoành trong bốn bể. Rồng là một bậc sánh đặng cùng bậc anh hùng trên đời. Sứ quân trải khắp bốn phương, có lẽ biết đặng những kẻ anh hùng trong đời này. Xin chỉ xem thử.

Lưu Bị nói:
- Bị tôi con mắt thịt, lẽ đâu biết đặng anh hùng.
Tào Tháo nói:
- Chớ có khiêm nhường chi cho thái quá.
Lưu Bị nói:
- Tôi nhờ ngài giúp sức nên mới được làm quan tại triều. Còn anh hùng trong thiên hạ thật chưa biết được.
Tháo nói:
- Tuy chưa biết mặt nhưng cũng biết danh chứ.
Lưu Bị chỉ Viên Thiệu, Viên Thuật, Lư Kiển Thăng, Tôn Bá Phù, Lưu Quí Ngọc ..., hết người này đến người nọ. Tháo đều lắc đầu, chê là "lục lục thường tài". Lưu Bị nói:
- Ngoài các người ấy ra, tôi không biết ai nữa cả.
Tào Tháo nói:
- Hễ đấng anh hùng thì trong dạ có chí lớn, bụng có mưu hay, gồm giấu máy vũ trụ, khí nuốt trời mửa đất. Như thế mới thật là anh hùng.
Lưu Bị nói:
- Ai mà sánh đặng điều ấy? Tôi thật không hiểu nổi.
Tào Tháo lấy tay chỉ Lưu Bị rồi lại chỉ mình:
- Anh hùng trong thiên hạ hiện nay chỉ có sứ quân và Tháo mà thôi.
Lưu Bị nghe nói thất kinh! Đôi đũa cầm trên tay bỗng rơi xuống đất. Trong lúc ấy một tiếng sét nổ vang dậy trời đất. Lưu Bị liền cuối xuống lượm đũa mà rằng:
- Một tiếng sấm mà oai đến nỗi này!
Tào Tháo cười:
- Đại trượng phu mà cũng sợ sấm à?
Lưu Bị thưa:
- Đến đỗi Thánh Nhân nghe sấm to gió lớn còn đổi sắc, huống chi tôi, có lẽ nào chẳng sợ.
Tào Tháo nghe nói mỉm cười. Từ ấy lòng không còn nghĩ Lưu Bị là người có đại chí.
Mãn tiệc về dinh, Lưu Bị đem chuyện rớt đũa nói cùng Quan Công và Trương Phi. Quan, Trương hỏi:
- Ý gì vậy?
Lưu Bị đáp:
- Ta học làm vườn để che mắt Tào Tháo. Chẳng dè Tháo lại gọi đây là anh hùng, nên ta thất kinh, làm bộ rớt đũa, dối rằng sợ sấm, để Tháo không nghi rằng ta có đởm lược anh hùng.
Quan, Trương đều nói:
- Anh thật cao kiến, chúng em không sao hiểu kịp.
Nhờ khôn kín như thế mà Lưu Bị khỏi bị Tào Tháo mưu hại.
Đó là "nhà buôn giỏi, khéo giấu của quí" vậy.
Quan Doãn nói rằng:
- Người ta mà bỏ được những cái khôn vặt thì mới khôn lớn được.
Lưu Bị đã biết rõ điều ấy. Còn Dương Tu, như chúng ta đã thấy trong một bài trước đây, vì luôn luôn khoe cái KHÔN của mình cho thiên hạ biết, nên mới bị Tào Tháo ghét, lấy cớ là "làm loạn lòng quân" mà giết chết.
Cái KHÔN của Dương Tu là "khôn dại" và cái DẠI của Ngu Công của Lưu Bị là "dại khôn" tức là KHÔN KÍN, KHÔN LỚN vậy.
Tục ngữ có câu: "Dại chết, khôn chết, biết sống". BIẾT tức là "khéo giấu của quí", tức là "khôn kín" "khôn lớn". Vậy ai muốn sống thì dừng nên DẠI đã đành, mà cũng đừng nên KHÔN VẶT.


bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0
Mối Họa Của Nước


Trong triều có biến, vua nước Trịnh là Lệ Công chạy sang nước Tề, ẩn trú lại đất Lịch. Mười bảy năm sau, được vua Tề giúp sức, Lệ Công lẻn kéo binh về Trịnh để giành lại ngôi.
Đến đất Đại Lăng, Trịnh Lệ Công bắt được tướng giữ thành là Phó Hà. Lệ Công truyền đem chém. Phó Hà la lớn:
- Muốn về Trịnh mà giết tôi thật là thất sách.
Lệ Công liền bảo đao phủ thủ dừng lại và hỏi:
- Nhà ngươi có chước gì hay?
Phó Hà thưa:
- Tôi sẽ cùng kẻ thân tín có thế lực trong triều lập mưu giết Công Tử Nghi, rồi rước Chúa Công về nước.
Để làm tin, Trịnh Lệ Công bắt giam vợ con Phó Hà và buộc Công Tử Nghi, rồi rước Chúa Công về nước.
Về thành đô, Phó Hà đem việc muốn rước Lệ Công về nước bàn cùng người bạn thân là Thúc Thiềm lúc bấy giờ đương nắm quyền chính trong nước. Thúc Thiềm vốn có lòng ái mộ Lệ Công, và ý muốn đưa Lệ Công là chúa cũ về nối ngôi từ lâu, nhưng chưa có dịp, nay được Phó Hà giúp sức thì tán thành ngay. Hai người lập mưu giết Công Tử Nghi.
Phó Hà vào ra mắt Công Tử Nghi, nói:
- Quân Tề giúp Lệ Công chiếm mất Đại Lăng rồi.
Công Tử Nghi thất kinh, bảo:
- Thế thì phải viết thư sang cầu cứu nước Sở mới được.

Thúc Thiềm bên ngoài tuân lệnh, nhưng cứ chần chờ không chịu sai sứ sang Sở. Bỗng có tin quân Tề kéo đến vây thành. Thúc Thiềm xin phép khai thành chống cự, và sai Phó Hà lên mặt thành phòng giữ. Công Tử Nghi lầm kế, theo Phó Hà lên mặt thành xem xét binh tình. Vừa đến nơi, Phó Hà rút gươm đâm Công Tử Nghi chết tức khắc. Bên ngoài Thúc Thiềm mở cửa đón Trịnh Lệ Công vào thành.
Vào thành Lệ Công ra lệnh chém ngay Phó hà vào tha chết cho vợ con.
Trong triều lúc bấy giờ có quan Đại Phu là Nguyên Phồn, làm quan trải bốn triều vua, không vua nào thương cũng không vua nào ghét. Lệ Công sai người đến bảo cùng Nguyên Phồn rằng:
- Lòng Phó Hà hay dời đổi. Luật của nhà Chu không dời đổi. Đã trị tội, ta có hứa: " Những kẻ giúp ta mà không hai lòng sẽ được làm Thượng Đại Phu" . Nay muốn cùng bá phụ bàn việc ấy. Nghĩ như bá phụ, lúc ta ra đi, bá phụ không có một lời để đem ta về, lúc ta về, bá phụ cũng không nghĩ gì đến ta. Ta rất căm giận.
Nguyên Phồn đáp:
- Tiên quân là Hoàn Công giao cho tiên nhân của hạ thần gìn giữ tôn miếu. Xã tắc khi ấy đã có chủ rồi, còn bảo ngó đến chủ khác là hai lòng. Đã làm chủ xã tắc thì dân trong nước ai chẳng phải là bề tôi? Làm tôi không hai lòng, đó là luật thiên nhiên. Công Tử Nghi ở ngôi 14 năm, nếu mưu đem Chúa Công về, như thế có hai lòng chăng? Tiên Công còn tám người con hiện còn sống. Nếu mỗi người ấy đều lấy tước vị mà hối lộ để khuyên bá quan hai lòng, và nếu tất cả đều thành sự, thì Chúa Công nghĩ sao? Nhưng Chúa Công đã muốn, hạ thần xin tuân mạng.
Nói xong thắt cổ chết.
Lữ Đông Lai đời Tống bàn rằng:
"Họa không có chi lớn bằng nội ứng. Gian không có chi lớn bằng trung lập.
Hai tội ấy bên nào trọng hơn?
Xin đáp: Tội Trung Lập.
Tại sao?
Vì nội phản dễ thấy, trung lập khó lường.
Bề tôi phản chúa tức là kẻ thù của nước. Lũ trẻ con còn để chỏm còn biết ghét, chê. Bọn giặc có mượn tay làm nội ứng, khi được thành công thì trọng thưởng, nhưng lòng vẫn nghi ngờ: "Nay ta dụ nó phản vua, sau chúng dụ nó, nó lại phản ta. Nhưng ngôi kia chưa định, ta còn mượn nó để giữ lấy ngôi. Khi ngôi đã định rồi, ta sẽ trừ đi để ngừa hậu hoạn". Cho nên Phó Hà phản Công Tử Nghi theo Lệ Công, không tránh khỏi sự trừ khử của Lệ Công, là lẽ tất nhiên vậy.

Đến như Nguyên Phồn, mưu mô thật vô cùng kín đáo! Từ đời Trang Công, Nguyên Phồn đã cầm chánh sứ tại triều. Rồi trải qua biến cố của các Công Tử Hốt, Công Tử Đán, Công Tử Nghi, Công Tử Đột, bốn lần trong nước thay đổi vua, mà Nguyên Phồn vẫn giữ trung lập, không giúp theo phe nào! Ai về lên ngôi thì coi là vua, ai bỏ nước trốn đi thì xem như mất. Đối với ngôi vua như một nhà cầu, không để vui hay lo vào đó. Nghiên bên này, ngửa bên kia, để được mọi người dung túng cho qua tháng ngày, không ai thương cũng không ai ghét!
Tự nghìn xưa, kẻ làm quan ăn lộc nước đều dùng thuật ấy, dẫu nhà vua là bực thánh cũng chưa dễ thấy được mưu gian của chúng.
Lệ Công vì thù riêng mà hại Nguyên Phồn, đành là chuyện không chánh đáng. Nhưng biết đâu trời không mượn tay Lệ Công để răng dạy kẻ làm tôi? Xem câu trả lời của Nguyên Phồn rằng: "Đã làm chủ xã tắc thì dân trong nước ai không phải là bề tôi". Như vậy thì ai chiếm ngôi vàng sẽ được tôn thờ chẳng chọn lựa ai cả sao? Theo thuyết của Nguyên Phồn, thì kẻ cướp ngôi cũng là vua, kẻ tiếm vị cũng là vua, kẻ trộm ngôi cũng là vua, quân thù cũng là vua! Làm tôi mà giữ lòng đó thì làm vua sẽ nương cậy vào đâu?

Than ôi! Luận tội của thần tử đến tội phản bội là cùng tội. Nhưng sự thành thì nên công danh, sự không thành thì bị mổ phanh. Như vậy được và mất còn phân làm hai. Đến kẻ giữ trung lập thì tự nghĩ tới chỗ nào cũng đều đắc chí: nước còn hay mất, vua lập hay phế, thời trị hay loạn, dân an hay nguy, không cần biết đến, bởi tước lộc còn nguyên vẹn thì những việc an nguy, còn mất có dự gì đến thân! Dụng tâm như thế cũng đã thật là xảo! Nhưng trung lập đến như Nguyên Phồn rồi cũng đến bị Trịnh Lệ Công giết hại. Vậy thì ở đời, muốn ai cũng dung túng mình cả, đâu có phải là một kế trường cửu! Đâu có thể tránh khỏi hoạ được luôn!
Vì lẽ đó, ta nêu cao gương Nguyên Phồn bị hại để làm bài học cho các sĩ phu ham trung lập ."
Lời bàn của Đông Lai đối với thời đại này tưởng không đến nỗi lạc hậu.
Bởi vậy dẫn ra để chúng ta thấy rõ rằng "trung lập" đối với nước là một tội nặng, nặng có phần hơn tội làm nội ứng cho giặc.


bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0
Cơ Tâm


Trịnh Võ Công cưới con gái nước Thân là Võ Khương tức Khương Thị. Khương Thị sanh đặng hai trai, con lớn đặc tên là Ngộ Sanh, con thứ đặc tên là Đoạn.
Ngộ Sanh bị sanh ngược làm cho Khương Thị vừa đau đớn vừa sợ hãi nên không ưa. Còn Đoạn thì hình dung tuấn tú, lại có sức khoẻ phi thường, nên Khương Thị yêu mến lắm.
Khương Thị muốn lập Đoạn làm thế tử, nhưng nhiều lần xin với Võ Công không được.
Võ Công qua đời, Ngộ Sanh kế vị, xưng hiệu là Trịnh Trang Công.
Khương Thị xin cho Thúc Đoạn khúc Chế Ấp. Trang Công thưa:
- Chế Ấp là nơi hiểm địa. Tiên Vương đã có lời di chúc, không nên đem phong cho ai. Trừ đất ấy, Mẫu hậu muốn chỗ nào con cũng xin vâng cả.
Khương Thị xin đất Kinh Thành. Trong lòng không ưng, nhưng Trang Công không dám trái lời mẹ. Quan Đại Phu là Thái Trọng can:
- Kinh Thành đất rộng dân đông không kém Kinh Đô. Nếu phong cho Cung Thúc Đoạn ắt sanh hậu họa.
Trang Công đáp:
- Lệnh của Thái Hậu, ta đâu dám cãi.
Thái Trọng thưa:
- Với lệnh bà bao nhiêu cũng không vừa. Liệu sớm thì hơn. Để lâu ăn sâu dần, dài ra khó trừ. Cỏ còn thế huống chi là em.
Trang Công đáp:
- Làm nhiều điều bất nghĩa là tự mua lấy cái chết. Hãy chờ xem.

Đoạn phong cho Cung Thúc Đoạn đất Kinh Thành. Từ ấy người trong nước gọi Đoạn là Thái Thúc Kinh Thành.
Đến Kinh Thành, Cung Thúc Đoạn bắt buộc hai quan Tể trấn vùng Tây Bỉ và Bắc Bỉ phải theo phe mình. Thuế má chỉ đem nạp cho triều đình một nửa. Đoạn lại còn giả cách săn bắn để luyện tập binh sĩ.
Trang Công hay tin, mỉm cười. Quang Thượng Khanh là Công Tử Lữ thưa:
- Thái Thúc Đoạn ỷ trong có Quốc Mẫu yêu vì, ngoài có đất Kinh Thành là nơi hiểm yếu, luyệt tập binh mã, mưu chiếm đoạt nước Trịnh. Xin Chúa Công cho tôi đem binh đến đó bắt về trị tội:
Trang Công nói:
- Thái Thúc tuy vô đạo, song tội lỗi chưa rõ rệt. Nếu giết đi không khỏi đau lòng Mẫu Hậu, và không khỏi bị đời dị nghị là bất nghĩa. Nếu Thái Thúc cố ý phản bội, thì mỗi ngày sẽ mỗi lộng hành thêm. Chừng ấy tội lỗi rõ ràng, ta muốn trừng trị cách nào, Mẫu Hậu cũng không thể nói gì đặng.

Quả như lời Trang Công nói, Thái Thúc Đoạn sau khi lấy thuế hai ấp Bỉ xong thì đến lấy đất Lẫm Diên, và công nhiên xây thành đắp lũy, rèn đúc khí giới, sắm sửa xa giáp. Khương Thị lại ngầm xúi Thái Thúc mưu phải để đoạt ngôi.
Biết rõ mưu mô, Công Tử Lữ thưa:
- Bây giờ nên trị. Để lâu sẽ có hậu thuẫn rồi đắc nhân tâm, khó trị.
Trang Công bảo:
- Được rồi.
Đoạn sai Công Tử Lữ đem 200 chiến xa đánh vào Kinh Thành.
Dân chúng đất Kinh phản Thái Thúc Đoạn. Đoạn không chống nổi, bỏ thành chạy qua xứ Yên. Trang Công vây xứ Yên. Đoạn liệu không thoát khỏi phải tự vận.

Người cạn nghĩ đều đổ tội cho Thái Thúc Đoạn.
Nhưng Lữ Đông Lai bàn rằng:
"Người câu phụ phàng con cá, cá nào phụ được kẻ đi câu. Thợ săn phụ phàng con thú, thú nào phụ được thợ đi săn. Trang Công phụ phàng Cung Thúc Đoạn, Đoạn nào phụ được Trang Công! Bởi uốn lưỡi câu và tra mồi để gạt cá là do kẻ đi câu; đào hầm, cặm bẫy để lừa thú là do kẻ đi săn. Vậy mà không trách kẻ đi câu, trở lại chê cá ăn mồi; không trách thợ săn, trở lại cười thú sập hầm, mắc bẫy! Trong thiên hạ có lẽ nào như vậy chăng?
Tánh Trang Công, ngoài đố kỵ, trong nham hiểm, coi người ruột thịt như kẻ khấu thù, như quân nghịch tặc, chực hãm vào đường chết. Vì vậy mới che giấu cơ tâm khiến cho người khinh lờn. Vì vậy mới dung dưỡng điều ham muốn khiến cho người buông lung. Vì vậy mới nuôi nấng việc quấy khiến cho thành hình ác. Để cho mua sắm nhiều binh khí và xa giáp, đó là mồi câu của Trang Công. Để cho chiếm thành cao và đất của hai ấp Bỉ, đó là hầm bẫy của Trang Công . Còn như Đoạn ngu mê, không hiểu biết sự nguy hiểm, thì chẳng qua là cá là thú, có lý nào gặp mồi lại không đớp, thấy thầm bẫy lại biết tránh cho khỏi mắc khỏi sa, hay sao? Đưa Đoạn vào đường nghịch, rồi trở tiêu diệt sự nghịch . Dưỡng nuôi sự phải để rồi chinh phạt kẻ phản. Thật Trang Công dụng tâm nham hiểm quá!

Thường xem xét lại chuyện này mới biết trong thiên hạ không có gì hiểm độc bằng cơ tâm của Trang Công. Thái Trọng không thấy được cơ tâm của Trang Công, trở lại can rằng "không nên cho thành quá pháp độ", mà không biết chính Trang Công muốn cho "quá pháp độ", rồi lại khuyên chớ để lâu "càng đắc nhân tâm", chớ không biết chính Trang Công muốn cho Đoạn "đắc nhân tâm". Như thế các bọn khanh sĩ, đại phu trong triều đều mắc mưu Trang Công tất cả. Các thi nhân nước Trịnh cũng không thấy cơ tâm của Trang Công nên trách " không biết can mẹ để hại tới em", rồi lại chê "để chuyện bất nhẫn nhỏ thành đại loạn". Đó là không hiểu Trang Công ưng mang tiếng "khôn biết can mẹ", chính Trang Công không ưng có "bất nhẫn nhỏ ". Như vậy thì trọn nước Trịnh đều mắc kế của Trang Công!
Nhưng muốn dối người, trước hết phải dối với lòng mình. Trang Công thích dối người thật nhiều mà không biết rằng đã tự dối lòng mình không ít! Kẻ bị dối chỉ bị hại đến thân. Kể dối người tự hại lòng mình trước nhất. Mà còn gì đau thương bằng sự chết của lòng! Thân chết chỉ là điều phụ thuộc. Bị người dối, thân bị hại mà lòng vẫn thản nhiên. Dối người thân tự đắc mà lòng phải tan tành. Vậy thì bị dối, mất chẳng bao nhiêu; dối người, bị mất quá sức nặng! Giống như kẻ đi câu tự nuốt cả lưỡi câu lẫn mồi, như thợ săn tự chui mình vào hầm bẫy. Thiên hạ nếu không phải đần độn thì sao lại thế?
Vì vậy, trước ta cho Trang Công là người chí hiểm trong thiên hạ, sau lại cho Trang Công là kẻ chí ngu trong thiên hạ vậy".

Lời của Lữ Đông Lai bàn từ thế kỷ thứ XII, mà mãi đến nay chúng ta vẫn thấy mới. Lý lẽ đã đanh thép, tình ý lại hết sức sâu sắc. Ngòi bút lật ngược lật xuôi vấn đề, để cho chúng ta thấy rõ "máy lòng" ẩn giẩu dưới sự việc.
Và sau khi nghe những lời bác nghị của Đông Lai chúng ta thấy CƠ TÂM nguy hại biết bao nhiêu. Cho nên cổ nhân sợ máy móc của người đời chế ra, ảnh hưởng không tốt đến lòng người, là phải lắm.


bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 4 » »»