📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Những Tấm Gương Xưa - Quách Tấn

119 trả lời, 29.157 lượt xem — Trang 4 / 4
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-27 22:51:35diên vỹ>
Không Nên Tin Dùng Những Kẻ Phản Phúc
 
 
Những kẻ phản phúc luôn luôn đặt quyền lợi cá nhân lên trên hết . Lòng dạ của chúng chỉ hướng về lợi và danh . Cho nên muốn sử dụng chúng, người ta luôn luôn lấy lợi danh làm mồi để nhử . Một khi chúng đã say mồi rồi thì bất kể nhân, bất kể nghĩa, ơn nưóc coi như không, nợ nhà coi như không .
Lã Bố đời Hán mạt là một nhân vật điển hình .
Lã Bố là con cái nhà ai không ai biết rõ , chỉ thấy sách chép là con nuôi Thứ sử Kinh Châu là Đinh Nguyên .
Bố mày tằm, mắt phượng, khí vũ hiên ngang, tay cầm cây Phương thiên họa kích nặng trên tám mươi cân , người đời đều khen phục tài nghệ .
Khi Đổng Trách kéo binh về triều muốn chuyên quyền làm loạn, liền bị Đinh Nguyên cản trở . Trác muống giết Đinh Nguyên nhưng không hạ thủ được vì bên cạnh Đinh Nguyên có Lã Bố . Trác hợp các tướng lại bàn :
- Lã Bố là tay phi thường . Nếu ta được người ấy thì còn lo gì việc thiên hạ .
Lý Túc thưa :
- Chúa Công chớ lo. ToTi với Lã Bố vốn người đồng châu . Tôi biết rõ hắn là đứa hữu dũng vô mưu , thấy lợi thì quên nghĩa . Vậy xin đem ba tấc lưỡi đi thuyết Bố , khiến háan phải chấp tay lại hàng .
Đổng Trách mùng rở , hỏi :
- Cần đem theo vật gì để dụ ?
Thưa :
- Tôi nghe Chúa Công có con ngựa Xích Thố , ngày đi ngàn dặm . Nếu được con ngựa ấy với một ít vàng ngọc để mua chuộc lòng hắn, rồi tôi sẽ lâ"y lời thuyết dụ. Lã Bố ắt phản Đinh Nguyên lại hàng Chúa Công .
Trác có ý tiếc ngựa . Lý Nho nói :
- Chúa Công muốn lấy thiên hạ mà lại tiếc một con ngựa sao ?
Trác vui vẻ nghe theo . Lại lấy ra một ngàn nén vàng . Mười hạt minh châu và một chiếc đai ngọc giao cho Túc . Túc đem ngựa và lễ vật trại Bố .
Lâu ngày được gặp lại người cũ . Bố rất vui mừng. Nhưng được của tặng nhiều, lại nghe những lời tưng bốc hứa hẹn, Bố lại mừng vui gắp ngàn gấp muôn . Bố hỏi Túc :
- Tôi muốn giết Đinh Nguyên  dẫn quân quy hàng Đổng công. Nên chăng /
Túc xuýt xoa đáp:
- Được thế thì công lớn nào bằng . Nhưng phải cẩn mật và thi hành gấp mới được .
Bố hẹn với Túc hôm sau sẽ đến hàng .Túc từ biện.
 
Đêm ấy, vào lúc anh hai, Lã Bố cầm gươm vào trướng Đinh Nguyên. Đinh Nguyên đương chong đèn gnồi đọc sách , thấy Bố vào, bèn hỏi :
- Đêm khuya con vào có việc gì đấy ?
Bố trợn mắt hén :
- Đường đường một kẻ trượng phu như ta, đâu thèm làm con cái nhà mày !
Đinh Nguyên kinh hải hỏi :
- Phụng Tiên ! Sao con đổi lòng như vậy ?
Bố không thèm đáp, vung gươm chém một nhát, rồi xách thủ cấp Đinh nGuyên bước ra hô lớn :
- Bớ tả hữu ! Đinh Nguyên là kẻ bất nhân, ta đã giết rồi . Vậy ai theo ta thì ở lại, ai không theo thì cứ việc đi .
Quân sĩ liền giải tán quá nửa .
 
Sáng hôm sau. Lã Bố đến tìm Lý Túc. Túc dẫn vào ra mắt Đổng Trác . Trác hết sức vui mừng, sai dọn tiệc thết đãi . Đoạn đứng dậy cúi đầu vái và nói :
- Trác này được tướng quân như hạn lâu gặp mưa rào .
Lã Bố mời Đổng Trác ngồi lên, rồi sụp lạy và thưa :
- Nếu Minh Công cho phép, Bố này xin bái làm nghĩa phụ .
Trác mừng lắm, sai lấy giáp vàng bào gấm ban cho Bố, rồi cùng yến ẩm cho đến chiều .
Từ ấy uy thế Trác càng ngày càng lớn . Trong triều, ai thuận với Trác thì sống, ai nghịch thì chết. Nắm được trọn quyền bính trong tay , Trác lăm le muốn tiếm ngôi rồng . Nhưng thấy cơ hội chưa thuận tiện mới phế Vua Thiếu Đế lập vua Hiến Đến , và tự tôn làm Tướng quốc, dâng sớ không phải xưng tê, vào chầu khỏi phải lạy , ra vào cung cấm tự do .
 
Trác hết sức tàn bạo, gian ác, và dâm dật vô độ . Nhiều người lập mưu giết Trác nhưng đều thất bại , bị Trác tru di . Tào Tháo bổN thân vào dinh Trác để thích khách . Cơ mưu bị lộ, Tháo trốn thoát .Quan tư đồ là Vương Doãn phải dùng đến liên hoàn kế để trừ nạn cho nước cho dân .
Nguyên Vương Doãn có một nàng ca kỹ nhan sắc kiều diễm, lại có lòng thương nước thương nhà . Vốn biết hai cha con Đổng Trác là tuồng hao sắc . Vương Doãn bàn cùng Điêu Thuyền, dùng sắc nước làm cho hai cha con căm ghét lẫn nhau, sát hại lẫn nhau . Điêu Thuyền ưng thuận . Tư Đồ bèn mời Lã Bố đến dinh , sai Điêu Thuyền ra dâng rượu . Thấy Lã Bố say mê Điêu Thuyền, Tư Đồ xin gả làm vợ và hẹn chọn ngày lành đưa dâu . Qua hôm sau Tư Đồ lại mời Đổng Trác sang và cũng sai Điêu Thuyền ra dâng rượu . Và cũng như Lã Bố , Đổng Trác đắm sắc Điêu Thuyền. Tư Đồ xin dâng về hầu hạ . Đổng Trác hết sức mừng, liền rước ngay về dinh .
 
Bị mắc mưu Vương Doãn, Lã Bố tưởng rằng Đổng Trác mượn tiếng rước dâu rồi đoạt luôn vợ mình . Và mắc mưu Điêu Thuyền, Đổng Trác ghen Lã Bố muốn trêu ái thiếp của mình. Từ ấy hai cha con giận ghét nhau vì Điêu Thuyền .
Khi nhận thấy mối thù của hia bên đã sâu , Vương Doãn xúi Lã Bố giết Đổng Trách .
Một hôm Vương Doãn nói cùng Lã Bố :
- Thái sư gian dâm con gái lão, đoạt vợ của Tương quân, khiên cho thiên hạ đàm tiếu sỉ vả . Nhưng thiên hạ không cười Thái sư mà chỉ cười Doãn này và tướng quân đó thôi . Doãn đã già rồi đành chịu bó tay, chẳng đáng kể . Chỉ tiếc cho tưóng quân là bậc cái thế anh hùng mà đành chịu để kẻ khác làm nhục !
Lã Bố nghe qua, uất khi 'xung thiên, đập tay xuống án, thét lên một tiếng ! Vương Doãn vội ngăn lại, xin lỗi :
- Chết ! Chết ! Lào phu trót lỡ lời . Xin tướng quân bớt giận .
Bố nghiến răng nói :
- Ta thề giết thằng giặc già để rửa nhục này .
Vương Doãn khích thêm mấy lời nữa . Bố nói :
- Tôi đã muống giết thằng giặc già ấy, nhưng còn ngại chút tình cha con, e người đời đàm tiếu đó thôi .
Vương Doãn cười nhạt :
- Tướng quân họ Lã, Thái sư họ Đổng kia mà ! Huống hồ hôm trước vì ghen, cầm kích mà lao vào mình tướng quân, thử hỏi Thái Sư có nghĩ đến tình cha con nữa chăng ?
Thấy Bố đã quyết trả thù . Vương Doãng bèn bày mưu kế .
Lã Bố theo kế của Vương Doãn giết được Đổng Trác và lấy được Điêu Thuyền làm vợ thứ .
 
Sau đó kinh thành bị du đảng của Đổng Trác cướp phá, Lã Bố phải bỏ cả vợ con, chạy sang Nam Dương đầu hàng Viên Thuật.
Nước Trung Hoa lúc bấy giờ luôn luôn loạn lạc . Anh hùng mỗi người chiếm cứ mỗi nơi , đánh nhau không ngớt . Lã Bố lập được nhiều chiến công, danh tiếng lẫy lừng . Nhưng rồi bị Tào Tháo bắt được , Lã Bố xin Tào Thái tha chết :
- Minh Công phải lo lắng chẳng qua chỉ vì tôi mà thôi . Nay tôi đã phục, Ngài làm Đại tướng, nếu cho tôi làm Phó tướng, ắt việc bình định thiên hạ không khó gì nữa .
Tào Tháo chưa quyết, hỏi Lưu Bị :
- Nghĩ thế nào ? Hỡi ông !
Bị thở dài đáp:
- Thừa tướng không thấy cái gương Đinh Nguyên và Đổng Trác đó ư ?
Tào Tháo giật mình liền sai lôi Lã Bố xuống lầu thắt cổ .
 
Xem chuyện Lã Bố có người luận rằng:
- Vì Tào Tháo là người đa nghi, lại bị Lưu Bị đánh trúng vào nhược điểm nên Lã Bố bị giết . Nếu Tàu Tháo dùng Lã Bố thì Bố không phản Tháo bao giờ , vì Tháo biết chiều theo thị hiếucủa mỗi người , nên những kẻ gần Tháp phần nhiều đều bị Tháo chinh phục . Đối với Lã Bố , chỉ làm thỏa mãn lòng ham muốn của y là sai khiến y một cách dễ dàng . Sẵn tài dùng người trong tay , Tào Tháo nắm giữ Lã Bố không khó .
Cũng có lý . Song Tào Tháo là giống Lang, Lã Bố là giống Sói . Hai bên hiệp lại với nhau chỉ vì lợi . Vì lợi mà hiệp nhau thì nhất định sẽ tan lìa nhau, sát hại lẫn nhau cùng vì lợi . Tào Tháo là kẻ phản phúc, Lã Bố cũng là kẻ phản phúc, hiệp nhau lại thêm tai hại cho dân lành. Trừ bớt đi một tên là đỡ bớt một phần hại cho dân , cho nước .
 
dv sẽ sửa chính tả sau....
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-27 22:49:14diên vỹ>
Cậy Sức Mạnh Không Biết Nghe Lời Phải
 
 
Nhà Tần tàn bạo, trăm họ lầm than, hào kiệt bốn phương nổi dậy chống cự.
Lưu Bang cùng Hạng Vũ khởi binh chống Tần một lượt. Họ Lưu lấy huyện Bái bằng một bức thư "nhân nghĩa " . Họ Vũ dùng kiếm giết tướng để lấy Cối Kê .
So bên võ nghệ và tài lược Lưu Bang thua hẳn Hạnh Vũ .
So bên quân số và binh lực Hạng Vũ hơn gấp mấy lần Lưu Bang.
Thế mà khi vâng mệnh Sở Hoài Vương chia đường đánh Hàm Dương . Lưu Bang lại vào Quan Trung trước. Và theo lời giao ước khi xuất chinh, thì đáng lẽ Lưu Bang được làm Vua nước Tần. Thế mà Hạng Vũ ỷ mạnh cướp công, phụ ước, rồi đày Lưu Bang vào Hán Trung là nơi sơn cùng thủy tận. Nhưng sau năm năm bền gan chiến đấu, Lưu Bang diệt được Hạng Vũ và thống nhất giang san, lập nên nhà Hán thạnh trị .
Tại vì sao ?
Chỉ vì :
 Hạng Vũ luôn luôn dùng vũ lực và ít nghĩ đến nhân đạo .
Lưu Bang khôn ngoan mượn đạo đức để chinh phục lòng người, khiến mỗi ngày người theo về mỗi đông . Trái lại, Hạng Vũ mỗi ngày mỗi thêm tàn bạo, khiến lòng người càng ngày càng oán ghét và càng xa, nhất là sau khi thân đã ngồi trên ngôi báu, chủ quan rằng chỉ có uy vũ, chỉ có quyền thế ...là thắng tất cả những khó khăn trên đời .
Đó là nhân tố thất bại thứ nhất của họ Hạng.
Nguyên nhân thứ hai :
Lưu Bang biết nghe lời phải .
Hạng Vũ không biết nghe lời phải .
 
Quân sư của Hạng Vũ là Phạm Tăng so vói Trương Lương là quân sư của Lưu Bang, tài trí không kém. Cũng như Trương Lương, Phạm Tăng đoán biết trước tất cả những gì sắp xảy tới ; những lời Phạm Tăng nói ra đều ứng nghiệm cả mười. Thế mà Hạng Vũ mặc dù kính nể Phạm Tăng, mười điều Phạm Tăng nói ra, Hạng Vũ không nghe đến bảy tám ! Những điều Phạm Tăng can gián đừng làm, Hạng Vũ cứ làm theo ý muốn . Những điều Phạm Tăng khuyên nên làm, Hạng Vũ lại không chịu làm vì lòng tự cao tự đại. Trái lại  Lưu Bang nhất nhất đều nghe lời Trương Lương, nghe và theo một cách chân thành và triệt để .
Hạng Vũ không chịu nghe lời phải cũng như hay dùng bạo lực là cậy có sức mạnh trong tay, tự cho mình hơn người .
Phạm Tăng vốn biết Lưu Bang sau này là đối thủ của Hạng Vũ, nên thường khuyên Hạng Vũ giết Lưu Bang để trừ hậu hoạ .
 
Sau khi đã vào được Quan Trung rồi, Phạm Tăng nói cùng Hạng Vũ :
- Bái Công lúc còn ở Sơn Đông thì là một kẻ tham tài háo sắc, ai cũng khinh khi. Nay vào Hàm Dương, của báo không ham, sắc đẹp không đắm. Như thế đã lập được chí lớn. Minh Công nên liệu truớc, chồi non không bẻ, rễ sâu khó đào .
Ban đầu Hạng Vũ muốn đem binh đánh Lưu Bang . Phạm Tăng can không nên kinh động nhân tâm và khuyên đợi đêm khuya lẻn đem quân cướp trại, bắt Lưu Bang chém là xong.
Hạng Vũ y kế.
Nhưng chú Hạng Vũ là Hạng Bá tiết lộ cơ mưu cùng Trương Lương rồi nghe lời Trương Lương về ngăn Hạng Vũ .
Hạng Vũ nói :
- Thúc phụ nói rất phải. Thực ra Lưu Bang cũng chưa có tội gì. Nếu ta giết e thiên hạ chê cười .
 
Phạm Tăng nói :
- Muốn mưu tính đại sự, nhiều lúc kẻ có tội vẫn phải khoan hồng, kẻ vô tội vẫn phải trừ khử . Tôi sở dĩ khuyên Minh công giết Lưu Bang vì biết sau này có thể tranh ngôi bá chủ với Minh Công . Nay không trừ tất sau hối không kịp. Lão tướng nhà ta có lẽ đã mắc mưu Trương Lương rồi. Xin Minh Công đừng nghe.
Hạng Vũ do dự một lúc rồi nói:
- Giết một kẻ chưa có tội là trái với lương tâm. Vả lại, nếu muốn hại Bái Công thì thiếu gì cách đâu cần chi phải lén lút đến cướp trại trong đêm khuya , làm uy danh ta bị thương tổn. Tiên Sinh nên nghĩ kế khác thì hơn .
 
Phạm Tăng bèn hiến kế : Bày tiệc rượu tại Hồng Môn, mời Lưu Bang đến dự, rồi giết đi. Và dặn:
- Minh công phải quả quyết mới được. Tôi biết Minh công tính nóng mà trực . Tánh ấy có hại cho việc lớn .
Hạng Vũ nguyện theo lời. Nhưng rồi thấy Lưu Bang khúm núm sợ sệt, cho là đã phục tùng mình, nên không hạ thủ .
Thế là Lưu Bang thoát nạn .
Có người bảo:
- Xem đó thì thấy Hạng Vũ không đến đỗi vô lương .
Xin thưa :
- Không nở giết một Lưu Bang mà nỡ chôn sống  mười vạn hàng binh ! Như thế thì lương tâm Hạng Vũ để đâu khi giết chết mười vạn sinh linh vô tội ?
Hạng Vũ sai Anh Bố đi giết mười vạn hàng binh, Phạm Tăng hết lời can gián mà Hạng Vũ vẫn không tha. Còn đối với Lưu Bang thì Phạm Tăng hết lời khuyên nên giết thì lại không chịu giết ! Như thế chứng tỏ rằng Hạng Vũ là con người ỷ mạnh, không thấy rộng , không nghĩ xa, chỉ làm theo sở thích .
Phạm Tăng chẳng những biết Lưu Bang là địch thủ nguy hiểm của Hạng Vũ sau  này, mà còn biết Hàn Tín là một tay lợi hại cần phải đề phòng . Đã nhiều lần Phạm Tăng tiến cữ Hàn Tín, song Hạng Vũ khinh thường, chỉ cho làm Chấp kích lang.
Sau khi Hạng Vũ xưng Bá Vương và phong cho Lưu Bang làm Hán vương ở đất Ba Thục , liền sai Phạm Tăng đến Bành Thành bắt Hoài Vuơng thiên đô để Bành Thành cho Hạng Vũ, thì Phạm Tăng bảo Hạng Vũ :
- Bệ hạ truyền chỉ, thần chẳng dám trái lời. Song chỉ sợ trong lúc thần đi vắng, có kẻ lừa dối bệ hạ. Vậy thần xin ba điều .
Hạn Vũ hỏi:
- Ba điều chi, Quân sư cứ nói
- Thứ nhất, Bệ Hạ chớ nên bỏ Hàm Dương, vì Hàm Dương là nơi trù mật, đất rộng, dân giàu, trong thiên hạ không đâu bằng.
Thứ hai , nên trọng dụng Hàn Tín vì Hàn Tín là kẻ có tài nguyên nhung. Nếu đắc dụng, Hàn Tín sẽ trổ tài, trong thiên hạ không có ai có thể đối địch. Nhược bằng không dùng thì phải giết đi, đừng để lọt vào tay người khác .
Thứ ba, không nên cho Hán Vương vào Hán Trung vội. Hãy tạm giữ đến lúc thần về sẽ tính .
Ba điều ấy rất khẩn yếu. Xin bệ hạ chớ quên .
- Quân sư cứ an tâm mà đi. Trẫm xin ghi nhớ .
 
Nhưng Phạm Tăng đi rồi, thì lời căn dặn của Phạm Tăng cũng bay đi mất .
Hạng Vương bị Trương Lương đánh lừa nhất định bỏ Hàm Dương di đô đến Bành Thành. Quan Gián nghị là hàn Sinh can gián bị bắt nấu dầu .
Để cứu Lưu bang ra khỏi nanh vuốt Phạm Tăng, Trương Lương nhờ bọn Trần Bình xin cho về gấp Hán Trung:
- Bệ Hạ đã phong Lưu Bang làm Hán Vương mà còn giữ mãi ở đây e thất tín cùng thiên ha.
Hạng Vương khen là phải và cho Lưu Bang vào ngay Hán Trung .
Còn Hàn Tín thì vẫn giữ chức Chấp kích lang .
 
Trương Lương sau khi đưa Lưu Bang theo đường sạn đạo vào Hán Trung rồi thì đốt đường sạn đạo để cho Hạng Vương không để ý đến Hán Trung, và băng ngàn đi tìm người có tài điều khiển binh tướng ra giúp Lưu Bang.
Trương Lương gặp được Hàn Tín và chỉ đường tắc cho Hàn Tín vào Hán Trung phò Lưu Bang.
Hàn Tín đi đã hai ngày rồi Phạm Tăng mới hay, liền dậm chân, thở dài.
- Thôi ! Cọp đã vào rừng, ta còn mong gì mưu việc thiên hạ .
Bèn vào triều tâu với Bá Vương. Bá Vương sai tướng đuổi theo bắt lại , song Hàn Tín đã đi xa. Bá Vương nói :
- Đứa thất phu ấy làm nên trò trống gì mà phải bận tâm .
Có ngờ đâu đứa thất phu ấy về sau đã giúp Lưu Bang diệt Sở và nhất thống sơn hà .
 
Đáng tiếc thật ! Bao nhiêu cơ mưu của Phạm Tăng đều bị Hạng Vũ làm hỏng hết !
Nếu Hạng Vũ biết nghe lời Phạm Tăng mà giữ Lưu Bang bên cạnh, đừng cho vào Hán Trung, thì Lưu Bang không có đất dụng võ .Kẻ tranh thiên hạ không còn ai đáng bận tâm .
Hán Trung, tức là đất Ba Thục, thuộc điạ phận Quan Trung, núi non hiểm trở, nhà Tần thường đày người có tội vào đó. Nếu Lưu bang bị đày vào Hán Trung mà Hạng Vũ cứ đống đô nơi Hàm Dương để tiện bề kiểm soát hành động và chận đường hiểm yếu không cho Bái Công chiêu binh mãi mã và thoát ra khỏi Ba Thục, thì Bái Công phải chếg già nơi hung địa. Sở Bá Vương rảnh tay chinh chiến để lo việc trị an thiên hạ và củng cố địa vị thêm vững bền .
 
Dù Lưu Bang gặp cơ hội may, vẫy vùng được, mà Hạng Vũ dùng Hàn Tín làm vây cánh , hoặc không để Hàn Tín lot. về tay Lưu Bang, thì Hán không dễ gì mà hưng và Sở không dễ gì mà diệt. Điều này chắc chắn một trăm phần trăm. Đừng nói chi lúc mới khởi sự tranh hùng hoàn toàn nhờ công sức Hàn Tín. Cho đến lúc, nhờ Hàn tín, hán đã chiếm được nửa giang sang của Sở, binh đã mạnh tướng đã đông, mà Hàn Tín mắc ở Tề, Hán Vương bị Hạng Vương đánh thua suýt bỏ mạng ! Và nếu khi đã được phong vương ở Tề, Hàn Tín chịu nghe lời Khoái Triệt, cùng Lưu, Hạng chia ba giang san, thì cuộc diện đổi thay, Sở đã làm gì bị Hán diệt .
Cho nên trong ba điều liện hệ mật thiết đến sự hưng vong của Hán, Sở, Phạm Tăng đem việc giữ Lưu Bang không cho vào Ba Thục ra nói trước hết, và việc dùng hay giết Hàn Tín nói ra sau hết, để cho Hạng Vũ dễ nhớ .
Nhưng vì cậy sức cậy tài, tự phu tự đắc , Hạng Vũ đã bỏ ra ngoài tai cả ba .
Gương Hạng Vũ còn đó. Những người muốn gánh việc lớn trong thiên hạ nên đem để một bên .
 
 
 
 
dv sẽ sửa chính tả sau....
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-09 17:47:21diên vỹ>
Thương Tiếc Kẻ Gian Ác
 
 
Người ở đời dù gian ác đến đâu, lúc chết ngoài vợ con, vẫn có ít ra là một người thương tiếc.
Như Đổng Trác thời Tam Quốc là một .
Đổng Trác nắm được quyền bính trong tay , không sợ một ai nữa. Trên hiếp vua, dưới hại dân, tội ác chứa đầy trời đất . Tào Tháo hiệp cùng các trấn chư hầu đánh Trác. Nghe lời Lý Nho, Trác bỏ kinh đô Lạc Dương, dời về cựu đô Tràng An. Nhiều đại thần can ngăn đều bị Trác giết chết . Lý Nho lại nói :
- Nay tiền lương bị thiếu hụt, mà bọn phú hộ ở Lạc Dương này thì nhiều lắm, nên tịch thu gia sản mà bỏ vào việc quân .
Trác nghe lời, sai năm ngàn quân thiết kỵ đi bắt hết thảy các phú gia đất Lạc Dương trên vài ngàn người. Những người bị bắt, đều bị lôi ra ngoài thành, trên đầu cắm một lá cờ đề bốn chữ : " phản thần loạn đảng " rồi bị chém một loạt. Và bao nhiêu của cải đều bị tịch thâu . Bọn tay chân của Trác được thế tha hồ hiếp dâm vợ con lương dân và cướp giựt tài sản . Nhiều người vô cớ bị đánh bị giết. Tiếng than khóc vang dậy khắp nơi .
Trước khi đi, Trác còn sai Lã Bố bới lăng tẩm của các  tiên hoàng, hậu phi của nhà Hán để lấy châu báo. Quân sĩ thừa cơ cũng khai quật mồ mả của người giàu có và của các quan để tìm của. Xong, Trác sai phóng hoả khắp bốn mặt, đốt hết nhà cửa dân chúng và thiêu hủy cả tôn miếu đền đài, cung điện ...rồi bắt hiếp Thiên Tử nhà Hán cùng Hậu phi theo sang Tràng An .
 
Di đô sang Tràng An, Trác càng bạo hành kiêu hãnh tự xưng là Thượng phụ, ra vào tiếm dụng nghi trượng của Thiên Tử , và phong tước hộ hầu cho tất cả người trong họ hàng bất kỳ lớn bé . Trác lại sai đắp cho mình một cái thành , cách Tràng An hai trăm năm mươi dặm .
Thành xây với hai mươi lăm vạn dân phu ngót một năm trời mới hoàn tất . Thành ngoài, quách trong, chổ cao, chổ thấp, hoành tráng kiên cố trông chẳng khác thành Tràng An . Trong thành, cung điện đài các ..nơi nào cũng tráng lệ nguy nga . Các kho đụn chứa đầy cả lương thực ; nếu thành bị vây thì đủ ăn ít cũng hai mươi năm . Kiến thiết xong xuôi , Trác đặt tên là My Ổ , sai tuyển tám trăm mỹ nữ thanh tân con nhà dân, đem vào cung, rồi dời dinh đến ở . Từ ngày đến My Ổ, cứ nửa tháng hoặc một tháng, Trác mới tới Tràn An một lần và mỗi bận Trác đi , về, các Công khanh Đại thần đều phải ra tận ngoài thành đưa đón . Nhiều khi Trác vây trướng ở ngoài đường, ngồi uống rượu cùng các quan .
Một hôm đương hội ẩm trước thành Tràng An, thì một viên tướng dẫn một số sĩ tốt đầu hàng ở miền Bắc đến . Trác liền sai chặt tay khoét mắt đứa này, cắt lưỡi đục mũi đứa kia . Có kẻ bị lột áo bỏ vào vạc lớn mà nấu như luộc lợn . Tiếng kêu, thét , gào , khóc thê thảm vang dội cả vùng ! Bá quan run sợ rơi cả đũa . Thế mà Trác vẫn ăn uống, cười nói vui vẻ như không !
 
Lại một hôm Trác hợp bá quan ở trong tỉnh đài . Các quan ngồi hai hàng dài đương uống rượu , bỗng Lã Bố đi vào, ghé miệng vào tai Trác thì thầm mấy câu . Trác cười lớn và nói :
- À, thì ra thế ấy !
Đoạn sai Lã Bố đến chổ quan Tư không Trương Ôn ngồi, nắm cổ lôi ra khỏi bàn tiệc, kéo xuống thềm đem ra ngoài . Các quan không hiểu việc gì, nhìn nhau, thất sắc . Được một lát, quân hầu bưng vào một chiếc mâm đậy lồng bàn đỏ, mở ra thì thấy đầu Trương Ôn . Bá quan đều hồn vía lên mấy hết ! Trác cười , nói :
- Các quan đừng sợ ! Trương Ôn liên kết với Viên Thuật, mưu hại ta . Viên Thuật viết thư gởi vào cho Trương Ôn, đứa đem thư đưa lộn vào nhà Phụng Tiên, nên mưu cơ bại lộ . Vì thế mà ta chém . Các quan không việc gì, bất tất phải sợ như vậy .
Các quan vâng vâng dạ dạ , rồi cùng nhau ra về .
 
Sau đó quan Tư Đồ Vương Doãn dùng kế mỹ nhân giết được Đổng Trác . Thủ cấp và thây Trác bị đem bêu ngoài đường . Ai nấy đều vui mừng , lũ lượt kéo nhau đi xem . Để cho hả giận, nhiều người đạp vào đầu, đá vào thây mà xỉ vả . Quân sĩ đứng canh lấy cây bấc nong vào rốn Trác mà đốt như đốt đèn . Trác sung sức béo phệ , mỡ bị lửa nóng, chảy lênh láng ra mặt đất, tanh hôi nôn cả người .
Những tướng tá cùng tất cả người trong gia tộc của Trác đều bị chém đầu . Của cải của Trác đã bóc lột dân chúng và đục khoét công khố, nhiều không biết bao nhiêu mà kể . Tất cả đều bị tịch thu bỏ vào của công và khao thưởng cho quân sĩ .
Triều đình lại bày tiệc ở đô đường, triệu tập bá quan đến uống rượu ăn mừng . Trong triều ngoài dân đều vui lòng , hả dạ .
Trong khi các công khanh đương vui chén thì có tin báo rằng :
- Thây Đổng Trác đang bêu ở ngoài đường, bỗng có người đến phục ở bên cạnh mà khóc .
Vương Doãn nổi giận nói :
- Đổng Trác bị giết, hết thẩy sĩ dân, ai nấy đều mừng . Nay đứa nào lại dám khóc nó như vậy ? Vũ sĩ đâu ? Hãy đi bắt đứa ấy về cho ta .
 
Hồi lâu vũ sĩ điệu người ấy vào . Các quan trông thấy, ai cũng giật mình . Vì người ấy chẳng ai xa lạ: chính là quan Thị trung Thái Ung, tự là Bá Giai, một nhân vật nổi danh về văn học .
Vương Doãn hỏi vặn Thái Ung :
- Đổng Trác là đứa nghịch tặc đại gian đại ác . Nay giết được nó là phúc lớn cho nước cho dân . Ngươi là bầy tôi nhà Hán, đã không vui với quốc gia thì chớ, lại còn khóc giặc là thế nào ?
Thái Ung cuối đầu nhận tội, và thưa:
- Tôi tuy bất tài cũng hiểu đại nghĩa, đâu dám phản nước theo giặc . Chỉ vì có chút tri ngộ với Trác trước đây, nên nay bất giác khóc lên một tiếng . Như thế tự mình biết tội to lắm . Xin ngài tha cho . Dù phải gọt đầu chặt chân mà được sống để chép nốt pho Hán sử để chuộc tội này, thì may cho tôi lắm .
 
Các quan tiếc tài Thái Ung, đều xin tha tội . Quan Thái phó Mã Nhật Đàn bảo nhỏ Doãn:
- Thái Bá Giai học rộng tài cao, nếu tha cho sống để làm pho Hán sử, thật là việc hay lắm . Vả ông ta là người hiếu hạnh nổi tiếng, nếu giết đi, e mất lòng trông cậy của người đời .
Doãn nói :
- Xưa vua Hiếu Vũ không giết Tư Mã Thiên, để về sau y làm sử gièm chê đủ điều , còn truyền mãi hậu thế . Nay đang lúc vận nước suy vi, triều chính rối ren, mà để bọn này cầm bút bên cạnh ấu chúa cho chúng ta bị đời soi mói về sau ư ?
Mã Nhật Đàn không nói gì nữa . Khi ra về bảo cùng các quan :
- Vương Doãn nghiệt lắm, e không có người nối hậu . Phàm người giỏi là "Kỷ " của nước, việc chế tác là "Điển " của nước . Đã diệt kỷ, bỏ điển thì còn bền thế nào được .
 
Không còn ai can được nữa, Doãn sai đem Thái Ung bỏ ngục rồi bắt phải thắt cổ chết . Hết thảy sĩ phu thời bấy giờ nghe tin đều thương cảm rơi lệ .
Người đời sau bàn việc Thái Ung khóc Đổng Trác đều cho là không phải, nhưng cũng đều chê việc Vương Doãn giết Thái Ung là thái quá .
Người viết truyện Tam Quốc có thơ than Thái Ung rằng:
Đổng Trác chuyên quyền tứ bất thân,
Thị Trung hà sự cách vong thân ?
Đương thời Gia Cát Long Trung ngọa
An khẳng khinh thân sự loạn thần

Nghĩa là :
Đổng Trác chuyên quyền lại bất nhân
Thị Trung sao chuốc vạ vào thân ?
Nằm cao chốn ẩn kìa Gia Cát
Thân chẳng thèm theo đứa loạn thần .

Trường hợp của Đổng Trác ngày xưa thật giống trường hợp Ngô Đình Cẩn thời nay quá !
Ngô Đình Cẩn và Đổng Trác gian giảo và độc ác, một bên tám lạng, một bên nửa cân . Ai nấy đều oán ghét.
Thế mà khi chết, Đổng Trác được Thái Ung khóc, và Ngô Đình Cẩn được Đào Đăng Vỹ tha thiết xin cho khỏi tội tử hình .
Thật là "kim cổ đạo đồng "!
Nhưng xét kỹ trong những điểu giống nhau có những điểm khác . Đó là :
- Hành động của Đổng Trác quá trắng trợn, không khôn khéo bằng Ngô Đình Cẩn biết dùng thủ đoạn " ném đá giấu tay "
- Tấm lòng của Thái Ung đối với Đổng Trác rõ ràng, thẳng thắn, dù có chỗ đáng trách nhưng vẫn có chỗ đáng thương . Vì phàm là kẻ sĩ thì có thể chết vì tri kỷ của mình . Thái Ung được Đổng Trác hậu đãi có thể coi Trác là tri kỷ . Khi thấy Trác chết mà nhỏ vài gọt nước mắt, thì tưởng cũng là thường tình . Chỉ vì vài giọt nước mắt ấy mà chết thì đối với kẻ sĩ cũng không có chi là hối hận . Nhưng Thái Ung chết đâu có phải vì "khóc Đổng Trác " mà chỉ vì có tài viết sử đó thôi . Tuy vậy, nếu "không có lửa châm vào súng thì đạn chứa sẵn trong kho không có cơ hội để nổ ". Cho nên việc khóc Đổng Trác là nguyên nhân gần và nguyên nhân quyết định cho sự chết của Thái Ung là có tài viết sử .
 
Nhưng ở đây chỉ bàn đến cái khác giữa hành động của Thái Ung và Đào Đăng Vỹ .
Thái Ung khóc Đổng Trác vì vốn có chút tình tri ngộ .
Còn Đào Đăng Vỹ thiết tha xin tội chết cho Ngô Đình Cẩn, theo lời đương sự tuyên bố, không phải vì tình , vì xưa nay không hề thọ ân Cẩn . Họ Đào bảo xin như thế là vì lòng nhân đạo . Có người không tin , nói :
- Nếu quả họ Đào giàu lòng nhân đạo thì sa lúc xử Ba Cụt, họ Đào lại không đứng ra xin ?
Bởi vậy tấm lòng của Thái Ung ngày xưa da rõ như ban ngày, còn tấm lòng của họ Đào ngày nay còn ẩn trong bóng tối .
Đó là những điểm khác giữa sự kiện lịch sử xưa và nay .
Về câu chuyện Thái Ung khóc Đổng Trác và Đào Đăng Vỹ xin tội chết cho Ngô Đình Cẩn chứng minh rằng : " Con người dù gian ác đến đâu, lúc chết vẫn có người thương tiếc, ngoài vợ con ". Tình người vốn có nguyên do . Biết rõ được nguyên do ấy, mới đánh giá được tình kia một cách đúng đắn .


bài đã được sửa chính tả
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-09 17:53:57diên vỹ>
Kế Ly Gián
 
 
Xưa nay để thực hiện kế ly gián, người ta thường mượn tay đàn bà .
Để ly gián cha con Đổng Trác - Lã Bố , quan tư đồ Vương Doãn mượn tay Điêu Thuyền.
Bị kế ly gián của Vương Doãn, Lã Bố đã giết Đổng Trác .
Nhưng Đổng Trác chết rồi, Lý Thôi, Quách Dĩ lên nắm quyền, hiếp vua nhà Hán, áp bức nhân dân Trung Hoa, cũng không kém gì Đổng Trác .
Các quan đình thần một lần nữa lo mưu kế để trừ khử hai tên gian thần .
Thái Úy Dương Bưu cùng Đại tư mã Chu Tuấn mật tâu cùng vua Hiến Đế rằng :
- Nay Tào Tháo cầm quân hơn hai mươi vạn ở ngoài, mưu thần vò tướng có vài chục viên . Nếu được người ấy phò xã tắc, ra tay trừ gian đảng thì may cho thiên hạ lắm .
Hiến Đế khóc :
- Trẫm bị hai thằng giặc khinh khi, lấn áp nhiều quá rồi . Nếu giết được chúng thì thật là đại hạnh .
Dương Bưu tâu :
- Thần có một kế này: Trước hãy làm cho hai tên giặc tàn hại lẫn nhau, rồi sau hạ chiếu gọi Tào Tháo dẫn binh về diệt ác đảng để an triều đình .
Hiến Đế hỏi :
- Kế như thế nào ?
Dương Bưu tâu :
- Hạ thần nghe nói vợ Quách Dĩ có máu ghen ghê gớm . Nếu cho người đến làm thân, rồi mượn tay thị để thực hiện kế ly gián, ắt hai tên giặc giết hại lẫn nhau .
Nhà vua bèn viết mật chiếu giao cho Dương Bưu .
 
Dương Bưu về nhà bàn kín cùng vợ . Dương phu nhân tìm cớ vào phủ Quách Dĩ, thừa lúc vắng người bảo nhỏ vợ Dĩ rằng:
- Nghe đồn Quách tướng quân nhà ta với nội tướng Lý Tư mã tình đối nhau đầm thắm lắm đấy . Mối tình thần kín này nếu đến tai Lý Tư mã thì tai vạ không thể tránh khỏi cho Quách tướng quân . Vậy phu nhân nên ngăn hắn, đừng để đi lại nữa là hơn .
Vợ Quách Dĩ giật mình , nói :
- Chết chưa ! Hèn chi nhiều đêm phu quân tôi đi biền biệt không về ! Té ra là vì cái việc đốn mạt vô liêm sĩ ấy ! Nếu phu nhân không thương mà báo cho, thì tôi làm sao biết được ! Vâng, tôi xin thận trọng đề phòng và xin muôn đội ơn phu nhân .
Vợ Dương Bưu cáo từ ra về .Vợ Quách Dĩ đưa ra đến ngõ, hai ba lần tạ ơn rồi mới trở vào .
Cách vài hôm sau, Quách Dĩ sửa soạn sang phủ Lý Thôi dự tiệc. Vợ Dĩ ngăn lại :
- Lý Thôi là kẻ bất trắc, không nên quá tin thân . Huống chi ngày nay đang ở tình thế "hai tay hùng phải một mất " nếu họ bỏ thuốc độc vào rượu cho Tướng quân uốn, thì thân tôi sẽ ra sao ?
Quách Dĩ không nghe, nhưng bị vợ năn nỉ hai ba lần nữa, đành phải ở nhà. Chiều đến, Lý Thôi sai người nhà khiên một mâm cỗ sang biếu. Vợ Dĩ lén lấy thuốc độc rắc vào, rồi mới cho quân hầu đem lên. Dĩ thấy rượu cỗ ngon, toan cầm đũa, thì vợ ngăn lại :
- Đồ ăn từ ngoài đưa vào, mà dám ăn ngay thế ư ?
 
Liền lấy một ít cho chó ăn thử. Tức thì chó ngã ra chết. Quách Dĩ nổi giận, toan sang dinh Lý thôi làm dữ. Nhưng người vợ can. Từ ấy Quách Dĩ đâm nghi Lý Thôi . Nhưng vốn có tánh thích ăn uống, mà Lý Thôi lại hay đãi đằng, nên một hôm tan buổi chầu Lý Thôi mời Quách Dĩ về thẳng phủ mình uống rượu , thì Dĩ liền nhận lời ngay . Đến đêm tan tiệc, Dĩ say mèm, trở về nhà, ngẫu nhiên lên cơn đau bụng . Vợ Dĩ kêu lên the thé :
- Thôi ! Hẳn là trúng độc nhà Lý Thôi rồi !
Liền sai lấy nước phân đổ vào miệng để giải độc . Dĩ uống xong mửa hết đồ ăn ra thì hết đau . Dĩ đùng đùng nổi giận:
- Ta với thằng Lý Thôi cùng mưu đại sự . Cớ gì nó toan hại ta ?  Nếu không ra tay trước, ắt bị hắn xuống tay .
Bèn ra mật lệnh chỉnh đống binh giáp kéo đi đánh Lý Thôi .
 
Có người tin cho Lý Thôi biết, Lý Thôi nổi giận mắng:
- Thằng Quác Á Đa sao dám hỗn thế ?
Rồi điểm binh kéo ngay đi đánh Quách Dĩ .
Hai bên gặp nhau giữa kinh thành Tràng An, mỗi bên có tới vài vạn quân, xáp đánh nhau kịch liệt . Nhân dân bị vạ lây, kẻ bị thương, người bị mất hết của cải vì bị bọn vô lại thừa cơ cướp giựt .
Cháu Lý Thôi là Lý Tiêm dẫn quân vào vây cung điện, bắt Thiên tử và Hoàng Hậu cùng các cung nhân nội thị đem đi . Quách không giành Vua và Hoàng Hậu được, kéo quân vào nội cung bắt hết cung tần thế nữ còn lại, đem vè dinh mình, rồi phóng hoả đốt hết cung điện .
 
Sáng hôm sau Thôi - Dĩ lại đem binh đánh nhau . Quân Dĩ có phần bất lợi, bèn tạm rút lui . Lý Thôi thừa thế, đem Vua và Hoàng Hậu ra My Ổ, sai cháu là Lý Tiêm coi giữ, cấm tuyệt không cho nội sứ ra vào . Cơm ăn bữa có bữa không , các thị thần lắm hôm đói lả ! Quách Dĩ ngày ngày lại kéo quân đến đánh . Vua tôi sợ hết hồn !
 
Không biết làm cách gì để cứu nguy , Dương Bưu cùng Chu Tuấn hội họp đình thần hơn sáu mươi người , đi giải hoà Thôi - Dĩ.
Các quan đến dinh Quách Dĩ trước . Dĩ bèn đem hết giam lại .
Một bên giữ Thiên Tử, một bên giữ công khanh, giằng co nhau trong một thời gian khá dài , nước loạn dân khổ ...
Vương Doãn đem đàn bà ra thi hành kế phản gián . Dương Bưu cũng dùng đàn bà làm kế phản gián . Hai bên cùng nhắm một mục đích như nhau là ly gián quân giặc .
Thế mà Doãn dùng kế thì đổi loạn thành bình, Bưu dùng mưu thì loạn lại càng thêm loạn .
 
bài đã được sửa chính tả
 

Đăng nhập để trả lời
0
Còn 8 chương nữa là xong...Cảm ơn Diễn Vỹ nhiều nha.
Một lần nữa chúc bạn gặp nhiều may mắn và hạnh phúc.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-12-22 18:42:31diên vỹ>
Trá Thuật

 
Để đạt đến mục đích, kẻ theo bá đạo ưa dùng trá thuật .
Viên Thuật lấy được ấn ngọc, tiếm xưng Đế hiệu , hội phải nhà Hán. Tào Tháo làm thừa tướng nhà Hán, kéo binh đi đánh Viên Thuật tại Thọ Xuân . Quân Tào Tháo đông đến mười bảy vạn. Viên Thuật sợ hãi, hợp các tướng bàn tính, Dương Đại Tướng nói :
- Thọ Xuân này đã mấy năm liền hết bị hạn lại bị lụt, nhân dân đều thiếu ăn . Nay lại đóng trọng binh làm náo động lòng dân , dân sanh oán, khó chống nổi địch . Chi bằng lưu một số quân ở đây giữ thành, không cần ra đánh, đợi quân địch hết lương sanh biến, sẽ hay . Còn Bệ hạ thì thống lĩnh quân Ngự lâm rút qua sông Hoài , trước để trù hoạch cho kỹ càng, luyện binh cho thêm tinh thục, sau là tạm tránh nhuệ khí của giặc .
Thuật nghe lời, để bốn tướng và mười vạn binh cố giữ thành Thọ Xuân, còn bao nhiêu quân tướng thì rút đi hết .
 
Tào Tháo vây thành Thọ Xuân hơn một tháng , lương đã sắp cạn mà thành vẫn chưa công phá xong . Tháo gởi thư vay Tôn Sách được mười vạn hộc gạo . Nhưng rồi binh đông gạo ít không đủ để phân phát cho đều . Viên quan coi kho là Vương Cấu vào bẩm cùng Tào Tháo :
- Quân nhiều, lương ít, bây giờ làm thế nào ?
Tháo bảo :
- Hãy lấy cái ống nhỏ mà đông gạo phát cho chúng, tạm cứu nỗi nguy cấp nhất thời nầy .
Vương Cấu hỏi :
- Nếu binh sĩ oán thì sao ?
Tháo đáp:
- Ta đã có cách .
Vương Cấu tuân lệnh .
 
Tháo cho người đi các trại thám thích . Đến đâu cũng nghe quân sĩ ta thán : " Thừa tướng khinh dối ba quân ". Tháo mật triệu Vương Cấu vào bảo :
- Ta muốn phiền ngươi cho mượn một vật để trấn áp lòng quân . Mong ngươi đừng tiếc .
Cấu ngơ ngác hỏi :
 - Thừa Tướng muốn dùng vật gì ?
Tháo nghiêm nghị đáp:
- Ta muốn mượn chiếc thủ cấp của nhà ngươi để răn ba quân .
Cấu nghe nói run sợ bẩm :
- Tôi quả không có tội gì !
Tháo an ủi :
- Ta cũng biết nhà ngươi vô tội . Nhưng không giết ngươi thì đại sự không thành . Ngươi chết rồi, ta sẽ nuôi nấng vợ con ngươi chu đáo . Ngươi đừng lo .
Cấu muốn năn nỉ thêm . Nhưng Tháo hét quân đao phủ :
- Hãy chém đầu tên gian xảo .
 
Rồi truyền treo thủ cấp lên cây sào dài ở trước viên môn, và yết bản hiểu thị : "Vương Cấu dám dùng đấu nhỏ phát gạo, ăn bớt quân luơng, đã bị trị theo quân pháp ".
Ba quân đều khâm phục Thừa Tướng là công minh, và lòng hết oán giận.
Sáng hôm sau, Tháo truyền lệnh cho các tướng lãnh:
- Trong vòng ba ngày nếu không tận lực phá thành, sẽ bị chém hết .
Rồi Tháo thân hành ra đốc thúc ba quân khiêng đất lấp hào để trèo tường vào thành địch . Trên thành tên  đá bắn xuống như mưa . Hai viên tùy tướng sợ hãi lùi lại . Tháo vung kiếm chém chết ngay , rồi nhảy xuống ngựa , tự tay ôm đất lấp hào . Các tướng sĩ lớn nhỏ thấy vậy đều hè nhau nỗ lực công thành . Quân khí nổi dậy như gió bão, quân trên thành không sao cản nổi . Không mấy lúc hào cạn, quân Tào ùa vào như thác chảy, tràng nhau trèo lên thành, chém khóa , mở cửa .
Tào Tháo vào thành, tướng giữ thành đều bị bắt sống . Tháo truyền chém hết để thị oai . Rồi mở kho, khao thưởng quân sĩ .
 
Thế là Tào Tháo đã dùng trá thuật, mượn đầu kẻ trung thành với mình, tuân mệnh lệnh mình, để mua chuột lòng ba quân, rồi tiến đến thắng địch.
Kế đó Tháo nghe tin Trương Tú nổi loạn đánh phá bờ cõi, bèn về Hứa Đô, tâu cùng vua Hiến Đến xin hưng binh đi đánh dẹp . Hiến Đế sai bày loan giá thân tiễn Tháo .
Quân Tháo đi ngang qua một cánh đồng lúa chín. Dân chúng trông thấy binh mã kéo đến, bỏ ruộng chạy trốn. Tháo sai người đem bảng văn đi hiểu dụ khắp nơi , rằng:
- Ta phụng chiếu Thiên Tử xuất quân tảo nghịch , trừ hại cho dân . Nay gặp mùa lúa chín, bất đắc dĩ mới phải khởi binh . Các tướng sĩ , bất kỳ lớn nhỏ, ai qua ruộng lúa đều phải xuống ngựa. Hễ ai dẫm đạp lên lúa đều bị chém đầu . Quân pháp rất nghiêm, dân chúng chớ nghi sợ .
Trăm họ nghe lời dụ, đâu đấy đều hoan hỉ ca tụng, kéo nhau ra đồng, trông về con đường cát bụi ngất trời mà vái tạ .
 
Tướng quân không một ai dám trái lệnh, mỗi lẫn đi qua ruộng lúa, đều không dám để lúa vướng chân . Tào Tháo cỡi ngựa đi ngang, bỗng một con chim nghe động sợ hãi bay vụt lên . Con ngựa của Tháo giật mình nhảy tràn vào ruộng, giẫm xéo lúa mất hết một vùng, Tháo liền gọi quan Hành quân Chủ bạ đến, bảo nghị tội giẫm lúa của mình . Quan Chủ bạ nói :
- Lẽ nào lại nghị tội cả Thừa tướng.
Tháo nghiêm nghị đáp:
- Ta tự lập pháp, rồi tự ta lại phạm pháp ! Nếu không trị tội, còn bắt ai phục tùng được nữa ?
Nói rồi, rút thanh kiếm đeo bên mình, toan tự xử .
Các tướng vội giằng kiếm . Quách Gia nói :
- Từ xưa, theo nghĩa Xuân Thu, luật pháp không gia hình đến bậc tôn . Nay Thừa Tướng tổng thống đại binh, há nỡ hủy thân như vậy ?
Tháo trầm ngâm hồi lâu rồi nói :
- Nếu nghĩa Xuân Thu đã định rõ " Pháp bất gia vu tôn " như thế, thì ta mới được miễn tội chết . Nhưng ...
Nói chưa dứt lời, lấy gươm cắt xọet búi tóc của mình ném xuống đất, dõng dạc nói tiếp :
- Nắm tóc này tạm thay thủ cấp của ta .
 
Rồi sai người đem búi tóc đi truyền khắp ba quân :
- Thừa tương giẫm lúa, tội đáng chém đầu làm lệnh . Nay phải cắt tóc để thế thủ cấp đây .
Ai nấy đều sợ hết hồn . Từ ấy một lệnh đưa ra là tuân theo răm rắp .
Người sau có thơ luận rằng:
Thập vạn tì hưu, thập vạn tâm,
Nhất nhân hiệu lệnh chúng nam câm,
Bạt đao cát phát quyền vi thủ,
Phương kiến Tào Man trá thuật thâm
Nghĩa là:
Mười vạn tì hưu mười vạn tâm
Một người ra lệnh khó mà nghiêm.
Tung gươm cắt tóc tay quyền vững
Mới biết Tào Man trá thuật thâm .
Tào Tháo là một tay gian hùng, suốt đời chuyên dùng phương pháp " mượn ". Nào mượn thiên tử để sai khiến chư hầu; mượn chư hầu để đánh chư hầu . Đến lúc muốn an lòng ba quân lại mượn đầu của Vương Cấu, muốn nghiêm quân lệnh thì mượn ngay cái búi tóc của mình . Cái "mưu mượn " càng kỳ, cái "thuật mượn " càng ảo . Cái thuật mượn ấy cổ nhân gọi là trá thuật .
 
Dùng trá thuật , Tào Tháo luôn luôn thu được kết quả mong muốn và người chung quanh phần đông đều không nhận thấy được cơ tâm .
Đó là nhờ Tào Tháo có tài .
Ưa dùng xảo thuật để lừa phỉnh người tức là gian .
Mà phỉnh được người một cách thần dịu đó là Tài tức là Hùng .
Tào Tháo phỉnh lừa người một cách thần diệu nên gọi là gian hùng .
Cái Gian của Tào Tháo và cái Hùng của Tào Tháo từ xưa đến nay ít ai bì kịp . Cho nên Thánh Thán gọi Tào Tháo là tay " Thiên cổ đệ nhất gian hùng " .
 
Thời nay những nhà chánh trị lắm nhà noi gương Tào Tháo , nghĩa là ưa dùng trá thuật . Nhưng vì chỉ có cái gian của Tào Tháo mà không có cái hùng của Tào Tháo cho nên kết quả thường là cảnh lấy thúng úp voi , chẳng những không lừa phỉnh được ai mà lắm khi làm hỏng cả việc lớn của dân của nước .
Các bà mẹ hiền thường dạy con rằng:
- Trá thuật dù có gây được sự nghiệp to lớn đến đâu cũng không nên dùng, vì sự nghiệp do trá thuật gây nên không bao giờ bền vững . Muốn nắm  vững giềng mối của nước để gây dựng sự nghiệp cho nhân dân trong đó có mình, thì không gì hơn là thành tâm, thiện ý .
 
 
 
 
bài đã được sửa chính tả .
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-12-22 18:57:49diên vỹ>
Trung Lập

 
 
Trung lập là đứng giữa, nghĩa là không nghiêng bên tả, cũng không nghiêng bên hữu, không nghiêng bên đông, cũng không nghiêng bên tây .
Nói là nói vậy, chớ trên đời người thế này có cái gì, có người nào có thể trung lập được thật sự !
Người xưa có bài thơ rằng:
Đằng quốc thương oi, phận nhỏ nhen,
Lại thêm Tần, Sở kẹp hai bên
Nghiêng mình sợ Sở e Tần giận,
Xây mặt thờ Tần sợ Sở ghen .

Đó là bài thơ ngạo anh chồng có hai vợ . Để cho yên cửa  yên nhà, anh ta nhất định dùng chánh sách "trung lập " đối với nhị vị phu nhân .
Đêm nằm ở giữa ngã "đông liễu tây đào ", anh ta phải nằm thẳng người mặt ngó thẳng lên trần nhà , mỏi không dám nghiêng bên này bên kia, vì hễ nghiêng sang tả thì sợ bị hữu véo, nghiêng sang hữu thì bị tả véo. Cảnh khổ của anh chàng thật chẳng khác gì cảnh khổ của nước Đằng thời Xuân Thu Chiến Quốc bên Tàu ! Và cũng như nước Đằng, anh chàng ngoài mặt phải ép mình "trung lập " nhưng trong lòng có thật sự trung lập cóc gì đâu . Nghiêng bên này thì sợ bên kia, nghiêng bên kia lại sợ bên này, nên buộc lòng phải giả đò "nằm trung lập " vậy thôi .
Việc đời có khác gì anh chàng hai vợ đó .
Miệng nói "trung lập " là vì lòng sợ . Mà lòng sợ vì sức yếu, muốn cầu an .
 
Nhưng có an được không ?
Xem chuyện anh chàng hai vợ thì biết .
Có người thắc mắc :
- Nói thế, chẳng lẻ chỉ kẻ yếu muốn cầu an mới xướng thuyết trung lập sao ?
Xin thưa:
- Kẻ mạnh cũng ưa xướng thuyết trung lập lắm chớ .
Như Lữ Bố thời Tam Quốc bên Trung Hoa là một .
 
Thời bấy giờ Lữ Bố chiếm đóng Từ Châu, Lưu Bị đóng quân ở Tiểu Bái, Viên Thuật hùng cứ ở Hoài Nam.
Viên Thuật muốn cử binh mã đánh Lưu Bị. Kẻ bề tôi là Dương Đại Tướng bày kế rằng:
- Lưu Bị đóng quân ở Tiểu Bái, ta đánh lấy thì dễ như trở bàn tay . Song còn ngại có Lữ Bố như con hổ giữ Từ Châu . Trước đây Chúa Công đã hứa cho hắn vàng lụa lương mã mà chưa đưa sang, nay ta khởi binh, e hắn giúp Lưu Bị . Vậy trước nên sai sứ đem tặng vật đến cho Lữ Bố để lấy lòng, khiến hắn án binh bất động , ắt ta bắt được Lưu Bị . Bắt được Bị rồi, ta sẽ đánh Bố thì có thể lấy Từ Châu dễ dàng .
 
Viên Thuật mừng rỡ, sai lấy hai mươi vạn hộc thóc và vàng lụa, sai Hàn Dận mang mật thư đến ra mắt Lữ Bố . Bố được của, vui lòng nhận lời Viên Thuật , Thuật bèn sai Kỷ Linh làm đại tướng cùng hai phó tướng thống lĩnh mười vạn tinh binh tiến đánh Tiểu Bái .
Lưu Bị nghe tin, hợp các tướng thương nghị . Trương Phi đòi đánh ngay . Tôn Càn nói :
- Thành Tiểu Bái này lương thiếu, binh ít , chống cự làm sao ? Chúa Công nên viết thư cáo cấp cùng Lữ Bố .
Trương Phi nói :
- Thằng ấy đời nào chịu đến giúp !
Lưu Bị Khen lời Tôn Càn là phải , bèn viết thư cầu cứu Bố, Bố xem thư , bàn cùng Trần Cung rằng:
- Vừa rồi Viên Thuật đưa lương và gởi thư tới để ta đừng cứu Lưu Huyền Đức . Giờ Lưu Huyền Đức lại đưa thư cầu cứu. Ta nghĩ Huyền Đức đóng quân ở Tiểu Bái chưa dễ làm gì được ta , chứ Viên Thuật mà thôn tính được Huyền Đức rồi, hắn sẽ liên kết với bọn giặc Thái Sơn ở phía bắc, bao vây Từ Châu thì ta nằm không êm gối . Chi bằng cứu Huyền Đức là hơn .
Bèn điểm binh kéo đi cứu Tiểu Bái .
 
Đương khi ấy thì Kỷ Linh kéo đại binh tiến ào ào như nước chảy . Đến phía Đông Nam Bái huyện thì hạ trại . Ban ngày thì cờ bay rợp núi sông , ban đêm ánh lửa sáng rực trời , trống chiên khua vang như sấm dậy . Huyền Đức chỉ có hơn năm ngàn quân, cũng phải miễn cưỡng mở cửa thành ra hạ dinh bày trận . Bỗng có tin báo quân Lữ Bố đến hạ trại cách huyện chỉ hơn một dặm về phía Tây Nam . Biết rằng Bố đem quân đến cứu Huyền Đức, Kỷ Linh liền sai người mang thư đến trách . Bố cười :
- Ta đã có một kế làm cho hai nhà Viên, Lưu đều không oán ta được .
 
Đoạn sai sứ đến trại Kỷ Linh và Huyền Đức, mời cả hai đến dự yến .
Huyền Đức mừng rỡ đi ngay . Quan Công và Trương Phi can :
- Đại ca không nên đi, Lữ Bố ắt có bụng khác .
Huyền Đức đáp:
- Ta đãi hắn không bạc, lẽ gì hắn lại hại ta .
Liền lên ngựa ra đi . Quan, Trương đi theo .
Lữ Bố bảo Huyền Đức :
- Tôi đến giải mối nguy cho ông đây . Ngày sau đắc chí đừng quên nhau nhé .
Huyền Đức tạ ơn. Bố mời ngồi . Quan, Trương chống gươm đứng hầu . Bỗng quân báo:
- Kỷ Linh đến .
Huyền Đức giật mình, muốn tránh. Bố nói :
- Hôm nay tôi mời hai bên đến hội nghị đấy . Xin đừng nghi ngờ .
Huyền Đức chẳng hiểu ý Bố ra sao , lòng rất áy náy .
 
Kỷ Linh tới ngoài trại . Bố cho mời vào . Trông thấy Huyền Đức ngồi trong tướng, thất kinh, quay mình chạy trở ra . Tả hữu cố giữ lại không được . Lữ Bố thấy thế, vội chạy theo , nắm lấy tay Kỷ Linh, lôi trở vào như ông hộ pháp dắt đứa trẻ . Kỷ linh kinh hãi, hỏi vội:
- Tướng quân giết Kỷ Linh này chăng ?
Bố cười :
- Không phải thế .
Linh hơi yên tâm, lại hỏi nhỏ :
- Thế thì tướng quân giết "thằng tai to " kia ư ?
Bố lắc đầu đáp:
- Huyền Đức với ta là tình anh em, nay bị Tướng quân làm khốn, ta phải tới cứu .
Kỷ Linh run lên mà rằng:
- Như thế tức là phải giết Linh này rồi, chớ còn gì nữa ?
Bố đáp:
- Làm gì có chuyện ấy . Ta bình sinh không ưa đánh nhau, chỉ ưa can giải những vụ đánh nhau . Nay ta đứng giữa giải hoà cho hai nhà vậy .
Kỷ Linh hỏi:
- Xin cho nghe phương pháp giải hoà ấy như sao .
Bố đáp:
- Ta có cách này, do ý trời quyết định .
Đoạn lôi Kỷ Linh vào trướng gặp Huyền Đức .
 
Hai bên nhìn nhau, lo lắng . Lữ Bố ngồi giữa, Huyền Đức ngồi bên tả , Kỷ Linh ngồi bên hữu . Tiệc rượu bưng lên . Rượu được vài tuần Bố nói lớn :
- Hai nhà các ông hãy nể mặt ta mà bãi binh đi thì hơn .
Huyền Đức làm thinh . Kỷ Linh nói :
- Tôi phụng mệnh Chúa Công tôi, đem mười vạn quân mã tới đây, cốt để bắt Lưu Bị . Bãi binh làm sao được !
Trương Phi đùng đùng nổi giận, nói :
- Quân ta tuy ít, nhưng chỉ coi chúng mày như lũ con nít mà thôi . Chúng mày so với trăm vạn quân giặc Khăn Vàng đã thấm vào đâu mà dám xúc phạm tới anh tao ?
Quan Vân Tường vội ngăn lại :
- Thì hãy để xem chủ ý của Lữ Tướng quân ra sao đã, rồi sẽ về trại ra quân đánh nhau cũng không muộn .
Lữ Bố cương quyết nói :
- Ta mời hai bên tới đây để giải hoà, chớ đâu phải để đánh nhau .
 
Bên kia Kỷ Linh hầm hầm nét mặt . Bên này Trương Phi cũng trợn mắt dựng mày , khí giận hừng hực . Lữ Bố thấy thế , thét tả hữu :
- Hãy đem hoạch kích ra đây cho ta .
Ai nấy đều tưởng Bố toan làm dữ . Nhưng khi hoạch kích đem ra, Bố cầm lăm lăm trong tay, dõng dạc nói :
- Đây là trời sai ta khuyên hai nhà bỏ cuộc chém giết .
Nói rồi sai tả hữu đở lấy cây hoạch kích, đem ra tận ngoài viên môn . Khi đã cách được một khoảng xa, ra hiệu cắm xuống đất, rồi quay lại bảo Kỷ Linh và Huyền Đức :
- Từ đây tới đó xa một trăm năm mươi bước . Vậy nếu ta bắn một phát mà trúng cái cạnh nhỏ cây kích, thì hai nhà phải bãi binh . Nếu ta bắn sai thì các ông cứ về trại sửa soạn giao chiến . Ta đứng giữa mà phân giải, bên nào không nghe lời, ta sẽ hợp sức với bên kia, đánh cho một trận .
 
Kỷ Linh nghĩ thầm:
- Kích cấm xa những một trăm năm mươi bước, bắn trúng sao được .
Bèn lên tiếng ưng thuận trước .
Còn Huyền Đức không nói gì nhưng lòng thầm cầu chúc :
- Xin cho hắn bắn trúng một phát thì hay quá !
Lữ Bố sai rót rượu , mời mỗi người cùng mình uống một chung lớn . Uống xong sai đem cung tên đến, vén cao tay áo bào , đặt tên vào cung, gương ra từ từ , rồi kêu lên một tiếng :
- Coi này .
Vòng cung trương ra như trăng thu ngang trời, và mũi tên bay ra như sao băng sa xuống đất . Vừa nghe một tiếng tách đã thấy mũi tên dính ngay cái cạnh nhỏ cây kích ! Tức thì trên trướng dưới trướng, các tướng sĩ đều vỗ tay reo vang , và vừa trống vừa chiên đều nổi lên một loạt !
 
Bố đắc ý cười lớn , rồi ném cây cung xuống đất, cầm tay Huyền Đức và Kỷ Linh mà rằng:
- Đó là trời khiến hai ông bãi binh đấy .
Nói xong lại thét quân sĩ đem thêm rượu lên, cùng uống mỗi người một chén sừng lớn . Rồi tiễn hai bên ra về .
Thế là:
Nhẹ buông một mũi tên găm kích .
Mười vạn hùng binh dẹp kiếm cung .

 
Để cho yên cửa yên nhà, anh chàng hai vợ phải dùng thế "trung lập ". Để giải hoà Viên Thuật và Lưu Bị khỏi đánh nhau, Lữ Bố cũng dùng thế "trung lập " . Nghĩa là cả hai bên đều  muốn "hoà bình ". Nhưng Lữ Bố thu được kết quả một cách mỹ mãn, nghĩa là đem lại được hoà bình mà thân không bị "lép " như anh chàng hai vợ kia .
Vì sao vậy ?
Vì Lữ Bố mạnh, còn anh chàng hai vợ kia yếu .
Cho nên đã yếu mà còn theo thuyết Trung Lập thì chỉ mang cái nhục vào thân . Muốn Trung lập trước hết phải mạnh, mạnh để có thể, như Lữ Bố , "bên nào không nghe lời bãi binh, thì hợp sức với bên kia, đánh cho một trận ". Như thế mới mong đem lại hoà bình cho thiên hạ .
Nhưng xét cho kỹ, kẻ yếu nói Trung lập hay theo Trung lập là vì hèn nhát, cầu an . Còn kẻ mạnh xướng thuyết Trung lập hay giữ thế Trung lập chỉ vì Trung lập có lợi cho mình, chớ đâu vì thiên hạ . Thế mà kẻ mạnh lúc nào cũng khoe khoang rằng vì thiên hạ mà mình lo ...! Lữ Bố thật là nhân vật điển hình cho kẻ mạnh xướng thuyết Trung lập trong thế gian . Và anh chàng hai vợ kia là người tượng trưng cho những kẻ yếu cầu an trong thiên hạ .
Suy cổ cập kim vậy .
 
 
 
++ bài đã được sửa chính tả ++

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-27 22:54:40diên vỹ>
Biết Mắng Người Và Biết Nghe Người Mắng

 
 
Tào Tháo đọc bài hịch Trần Lăm mắng mình mà không giận . Ai cũng khen là phi thường . Nhưng Tào Tháo có phi thường mãi chăng, xem chuyện Nễ Hành sau đây thì rõ :
Nễ Hành tự Chính Bình; người xử sĩ đất Bình Nguyên, tuổi mới hai mươi bốn mà tài ba lỗi lạc, học rộng văn hay, nghe qua một lần là biết rõ thị phi, đọc qua một lần là thuộc không sót một chừ . Ai cũng khen là kỳ tài thần trí . Nhân Tào Tháo muốn chọn người đi thuyết phục Lưu Biểu, danh sĩ Khổng Dung bèn dâng biểu t iến cử Nễ Hành . Vua xem biểu xong, đưa cho Tháo, Tháo sai người đi triệu Nễ Hành , Hành đến, Tháo hỏi xong, làm lơ không mời ngồi . Hành ngửa mặt lên trời than :
- Than ôi ! Trời đất rộng lớn thế này, sao không có được một người !
Tháo hỏi :
- Thủ hạ ta có mấy chục người đều là anh hùng đời nay, sao lại bảo không có người !
Hành hỏi :
- Là những ai xin cho nghe .
Tháo kể :
- Tuân Hút, Tuân Du, Quách Gia, Trình Dục ..., cơ mưu trí viễn, dẫu Tiêu Hà, Trần Bình cũng không bì kịp . Trương Liêu, Hứa Chữ, Lý Điển, Nhạc Tiến .., sức khoẻ vô địch, dẫu Sầm Bành, Mã Vũ cũng không dễ bằng . Chức tòng sự như Mãn Sũng, Lã Kiều, tướng tiên phong như Vu Cấm, Từ Hoảng đều lỗi lạc hơn người . Hạ Hầu Đôn lừng danh là phúc tướng thế gian, Tào Tử Hiếu nổi tiếng là kỳ tài thiên hạ ! Sao bảo là không người ?
 
Nễ Hành nghe xong, bật cười mà rằng :
- Ông nói sai rồi . Mấy nhân vật này, tôi biết rõ lắm, như Tuân Húc có thể sai đi điếu tang thăm bệnh , Tuân Du có thể dùng giữ mả canh mồ , Trình Dục có thể coi nhà giữ cửa, Quách Gia có thể sai đọc văn ngâm thơ, Trương Liêu thì đánh chuông đánh trống, Hứa Chữ có thể giữ ngựa chăn trâu, Nhạc Tiến thì nên sai đi đọc chiếu đọc trạng, Lý Điển có thể sai đi truyền hịch tống thư , Lã Kiến biết mài dao đúc kiếm, Mãn Sủng "có tài .." ...uống rượu ăn tấm , Vu Cấm có thể sai vác gạch xây tường , Từ Hoảng nên sai mổ lợn giết chó ! Hạ Hầu Đôn có thể gọi là "tướng quân hoàn thể " và như Tào Nhân thật đáng mặt "Thái Thú vòi tiền ". Ngoài ra đều là hạng giá áo túi cơm, lọ rượu bị thịt hết mà thôi !
Tháo vặn hỏi :
- Thế ngươi có tài gì ?
Hành nói ngay :
- Thiên văn, địa lý, không điều gì không biết . Tam giáo cửu lưu không chỗ nào không tường . Trên có thể giúp vua được như Nghiêu, Thuấn, dưới có thể theo đòi Đức Khổng, Thầy Nhan, há nghị luận với bầy tục tử sao ?
 
Trước tình thế gây go ấy, chỉ có Trương Liêu là đứng gần rút gươm toan giết Hành . Nhưng Tháo đưa mắt, rồi nói :
- Hiện ta đang thiếu một chức cổ lại để sớm tối đánh trống hầu những buổi triều hạ, yến hưởng. Vậy Hành hãy giữ chức này !
Hành không hề từ chối, nhận lời ngay rồi bước ra , Trương Liêu hỏi Tháo :
- Tên ấy ăn nói ngạo mạn, sao không giết đi ?
Tháo nói :
-  Vì nó vốn có cái hư danh xa gần đồn đại . Nếu giết nó, thiên hạ sẽ bảo ta hẹp lượngkh dung được người . Nó đã cậy mình tài giỏi, thì ta sai làm tên đánh trống cho mà nhục!
 
Hôm sau, Tháo ngồi trên đỉnh sảnh, mở tiệc lớn đãi tân khách, rồi truyền cổ lại đánh trống . Nễ Hành bước tới. Tên đánh trống cũ bảo Hành rằng:
- Đánh trống, thì phải mặc ao mới vào !
Hành không thèm nghe, cứ mặc áo cũ mà vào , xắn tay đánh ba hồi trống nhịp Ngư Dương, âm tiết tuyệt diệu, nghe văng vẳng như có tiếng đá tiếng vàng ngân theo ai oán . Khách trên tiệc nghe qua, không khỏi bồi hồi rơi lệ . Bỗng tả hửu quát nạt Hành:
- Sao không thay áo ?
Hành bèn cởi áo, tụt quần ngay trước bàn tiệc, đứng lỏa thể trơ trơ như con nhộng, chẳng che đậy gì hết ! Trên tiệc kẻ lấy tay che mặt tíu tít, người vội vã quay đi . Bấy giờ Hành mới từ từ cúi xuống kéo quần lên, sắc mặt thản nhiên, không hề tha đổi .
Tháo mắng rằng:
- Trên chỗ miếu đường, sao mày quá vô lễ ?
Hành mắng lại :
- Dối vua lừa trên mới là vô lễ chứ ? Ta để lộ cái hình do cha mẹ sinh ra, tức là phò tấm thân trong trắng của ta vậy !
Tháo vặn hỏi :
- Mày trong trắng thì ai dơ bẩn ?
Hành đáp lập tức :
- Mày dơ bẩn chứ ai ! Mày không thấy rõ người hiền kẻ ngu, ấy là mắt bẩn; không đọc Thi, Thư ấy là miệng bẩn ; không nghe lời ngay thẳng, là tai bẩn, cứ nghĩ mưu soán nghịch ấy là trái tim bẩn ! Như ta đây là danh sĩ thiên hạ mà mày dùng làm tên đánh trống, thì cũng giống như Dương Hóa kinh Đức Trọng Ni, Tang Thương gièm thầy Mạnh Tử . Mày muốn gây nghiệp Vương bá mà khinh người thế này ư ?
 
Bấy giờ Khổng Dung ngồi trên tiệc, sợ Tháo giết mất Hành, bèn khoang thai nói :
- Tội Nễ Hành chỉ đáng làm tù sung địch, không đáng giấc mộng đấng Minh Vương.
Tháo trỏ mặt Hành mà rằng:
- Nay mày hãy đi sứ qua Kinh Châu, nếu thuyết phục được Lưu Biểu về hàng, sẽ được chức công khanh .
Hành không chịu đi . Tháo bắt đóng yên ba con ngựa, sai ha người áp hai bên bế xốc Hành lên lôi đi . Lại bảo bọn văn võ tay sai đem rượu ra cửa Đông tống tiễn . Khi ra chờ ngoài thành, Tuân Húc dặn đồng bọn rằng:
- Khi Nễ Hành tới, cứ ngồi im, đừng ai đứng dậy nhé !
Hành đến nơi, xuống ngưạ bước vào . Bọn Tuân Húc ngồi lặng thinh, Hành bèn ngả người khóc rống lên . Tuân Húc hỏi :
- Vì sao mà khóc ?
Hành nói :
- Ôi chao ! Vào chổ để quan tài người chết, không khóc sao được ?
Cả bọn cùng nói :
- Bọn ta là thây ma, thì mày là thằng cuồng quỉ không đầu !
Hành ngạo nghễ :
- Ta là bề tôi nhà Hán, không thuộc đảng thằng Tào Man, sao lại không có đầu ?
Bọn chúng muốn giết đi , Tuân Húc vội ngăn lại mà rằng:
- Đồ chim sẻ chuột đồng ấy, giết làm gì cho bẩn đao ?
Hành mắng lại :
- Tao là chim chuột, còn có tính chất người . Chú tụi chúng bay chỉ là giun dế, sâu bọ hết !
Bọn chúng tức giận, đứng lên giải tán .
 
Hành sang tới Kinh Châu, vào ra mắt Lưu Biểu . Nhưng miệng tuy ca tụng tài đức, mà lời vẫn ngụ ý chê bai châm biếm . Biểu bực mình nhưng không nói ra , chỉ sai Hành qua Giang Hạ yết kiến Hoàng Tổ .
Có người hỏi Biểu :
- Nễ Hành xấc cợt cả Chúa Công , sao không giết đi ?
Biểu đáp:
- Nễ Hành lăng nhục Tào Tháo biết bao nhiêu mà Tháo không giết, là sợ mất lòng người . Nay sai đến đây, ý muốn mượn tay ta giết giùm, để ta mang tiếng hại hiền đấy . Vậy ta sai hành qua gặp Hoàng Tổ , để Tháo biết rằng ta đây không đến nỗi khờ .
Mọi người đều phục là cao kiến .
Nễ Hành đến Giang Hạ. Hoàng Tổ mở tiệc thiết đãi . Chén ngà ngà say, Hoàng Tổ hỏi Nễ Hành :
- Anh ở Hứa Đô có thấy nhân vật nào đáng kể chăng ?
Hành đáp:
- Có thằng cu lớn Khổng Văn Cử với thằng cu nhỏ Dương Đức Tổ là tạm được . Ngoài ra chẳng có nhân vật nào đáng kể .
Tổ lại hỏi :
- Còn ta đây như thế nào ?
Hành đáp:
- Anh như vị thần trong miếu, tuy hưởng đồ cúng tế, mà chẳng linh ứng chút nào .
Tổ đùng đùng nổi giận mắng :
- Mày dám bảo tao là hạng người gỗ, tượng đất à ?
Rồi thét đao phủ đem chém lập tức .
Hành không chút sợ, chửi Hoàng Tổ không ngớt miệng cho đến chết .
Lưu Biểu hay tin có ý thương tiếc, sai thu xác Hành đem táng nơi bãi Anh Vũ . Còn Tào Tháo nghe Nễ Hành bị hại vuốt râu cười rằng:
- Đồ hủ nho múa gươm lưỡi ! Nay lưỡi mình giết hại mình .
 
Cổ nhân bàn rằng:
"Tào Tháo vốn tự phụ là gian hùng, cậy tài mình đủ lung lạc thiên hạ . Thế mà Nễ Hành coi như đồ bỏ đi . Nếu không phải tay đảm dũng hơn người , Nễ Hành đâu dám thế .
Có người hỏi :
- Trần Lâm mắng Tào Tháo thậm tệ, Tháo còn không giết, thì có sợ gì một Nễ Hành ! Tháo sai Nễ Hành tới chổ chư hầu, là vì thấy Hành cậy tài mà ngông cuồng, muốn để người khác làm nhục cho bớt nhuệ khí rồi sẽ dùng . Không ngờ Hoàng Tổ giết mất . Vì thế người xưa đã làm văn thay lời Tào Tháo trách Hoàng Tổ .
Xin thưa :
- Không đúng . Ai lập ra thuyết ấy là người không biết phân biệt Nễ, Trần, người hơn kẻ kém . Nễ Hành mắng Tháo bằng miệng . Trần Lâm mắng bằng bút . Tuy cũng đều mắng Tháo, nhưng Hành tự mình mắng, còn Lâm thay người mà mắng . Như thế là Nễ Hành chửi thẳng, Trần lâm chửi mướng . hai bên khác nhau .
 
Trần Lâm khi bị bắt nói cùng Tháo : "Mũi tên đã đặt vào cung, không thể không bắn " , khiến Tháo thu dùng Lâm để thay mình bắn kẻ địch . Trần Lâm chửi Tháo, rồi lại theo Thao . Nễ Hành chửi Tháo quyết không theo Tháo . Bởi kẻ "chửi mướn " có thể đầu hàng, người "chửi thẳng " không bao giờ chịu khuất . Biết thế nên Tháo không giết Trần Lâm mà giết Nễ Hành .
Lời bàn của cổ nhân thật sâu sắc . Nhưng ở đây chúng ta muốn xét xem Nễ Hành có biếtn mắng người và Tào Tháo có biết nghe người mắng chăng ?
Theo thiển kiến :
- Nễ Hành biết mắng người, nhưng biết chưa được thấu đáo . Kẻ biết mắng chẳng những biết rõ khuyết điểm của người , biết dùng những lời thích hợp , mà phải còn biết nhắm đối tượng . Nễ Hành là một kẻ sĩ trong thiên hạ, Tào Tháo là một kẻ gian hùng trong thiên hạ . Như thế Hành mắng Tháo thật xứng đáng . Lưu Biểu tuy không bằng Tháo xong không đến nỗi tệ. Hành có mắng cũng được . Đến như Hoàng Tổ là một vũ phu đắc thế ; sao lại đem lưỡi gươm bách luyện mà chém một con gà cồ đá vênh vang với cựa và lông ? Chỗ kém của Nễ Hành là không biết nhắm đối tượng .
 
Còn Tào Tháo ? Tháo là người có gan chịu đựng được lời mắng , chớ đâu phải người biết nghe lời mắng . Người biết nghe lời mắng là người lấy lời mắng mà mình được nghe làm thuốc đắng để sử mình. Nếu Tháo có được đức tính ấy thì Tháo lấy gì mà gian , nghĩa là Tháo còn gì là Tháo .
Ở đời này không có Nễ Hành , mà có lắm người muốn bắt chước Tào Tháo , nhưng có gian mà không có hùng cho nên nhiều khi bị ló "đuôi Hoàng Tổ ".
Thế mới biết "cái biết " thật khó có .
Bởi vậy cụ Trạng Trình dạy rằng:
- Dại chết, khôn chết, "biết " sống .
 
 
dv sẽ sửa chính tả sau....
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-27 22:55:06diên vỹ>
Đức Nhịn Nhục Của Kẻ Anh Hùng

 
 
Những kẻ nông nổi thường hay phụ khí . Những kẻ anh hùng thường nhịn nhục trong khi chưa gặp thời, thường nhịn nhục trong những việc nhỏ, trong những việc không đáng tranh chấp . Nhưng đứng trước việc lớn thì dù sấm sét bên tai, nước lửa bên chân, kẻ anh hùng vẫn không lùi bước .
Lưu Bị tự là Huyền Đức đời Tam Quốc là một tấm gương nhẫn nhục đáng nêu cao .
Huyền Đức bị thất thế đến nương nhờ Tào Tháo . Để đề phòng Tào Tháo có thể mưu hại, Huyền Đức thường  ra vườn sau trồng rau, tự tay sới đất tưới cây . Quan Vũ và Trương Phi thấy thế mới hỏi :
- Huynh trưởng sao không lưu tâm đến việc lớn trong thiên hạ, lại đi làm việc nhỏ mọn của kẻ thường dân như thế này ?
Huyền Đức trả lời :
- Việc này hai em không thể biết được .
Quan, Trương không dám hỏi nữa .
 
Một hôm Quan, Trương đi vắng, một mình Huyền Đức ở nhà đương tưới rau, thì Hứa Chữ , Trương Liêu dẫn vài chục tên quân đi thẳng ra vườn sau, nói :
- Thừa Tướng sai chúng tôi đến mời Sứ quân tới gấp .
Huyền Đức có ý lo, vội hỏi :
- Có việc gì mà khẩn cấp thế ?
Hừa Chữ đáp:
- Không biết việc gì, chỉ thấy sai chúng tôi đến mời .
Huyền Đức đành phải theo hai tướng vào phủ ra mắt Tháo . Vừa thấy Huyền Đức, Tháo cười, nói:
- Chà ! Sứ quân ở nhà lo toan "đại sự " ghê nhỉ !
 
Vốn Huyền Đức đã thề cùng Đổng Thừa và các trung thần nhà Hán tìm phương trừ Tào Tháo , nên khi nghe Tháo nói đến hai chữ "đại sự " thì thất kinh, mặt biến sắc. Nhưng Tháo không để ý, nắm tay Huyền Đức dắt thẳng vào hậu viên, và nói :
- Huyền Đức làm vườn có khó nhọc lắm chăng ?
Bấy giờ Huyền Đức mới hiểu câu nói của Tháo, bèn ung dung đáp:
- Vì chẳng có việc gì làm, nên bày trò tiêu khiển đó thôi .
Tháo trỏ tay lên những cây mơ xanh tốt mà nói :
- Vừa rồi nhân ngắm rặng mơ, thấy đầu cành đơm quả non mơn mởn, bỗng cảm xúc nhớ chuyện năm qua , khi đem quân đi đánh Trương Tú. Bữa ấy giữa đường hết nước uống, tướng sĩ đều khát cháy cổ . Tôi bỗng nghĩ ra một kế, lấy roi ngựa trỏ về phía trước và nói lớn : "Kìa trước mặt chúng ta có rừng mơ đầy quả đó " . Tướng sĩ nghe nói đến "mơ "  đều thèm ứa nước miếng . Thế là ai nấy đỡ khát . Nay thấy mơ tươi phô quả thắm, đối cảnh sinh tình, không thể không thưởng thức . Nhân lại mới cất được một ít rượu ngon, nên mời Sứ quân đến tiểu đình cùng uống rượu cho vui .
 
Huyền Đức khoan khoái trong lòng, thong dong theo Tào Tháo . Nơi tiểu đình, mâm chén đã bày sẵn . Những quả mơ tươi thắm đặt trong những đĩa sứ trong trắng, để giữa mâm sáng ngời, bên cạnh một vò rượu hương thơm ngát . Chủ khách ngồi xuống, cùng nhau đối ẩm .
Rượu được nửa chừng thì trời kéo mây đen kịt và cơn mưa sắp đổ . Người đứng hầu dưới thềm trỏ tay lên không trung bảo nhau :
- Rồng lấy nước !
Tháo cùng Huyền Đức ra vịn lan can nhìn xem . Tháo hỏi :
- Sứ quân có rõ phép biến hoá của rồng chăng ?
Huyền Đức đáp:
- Bẩm chưa hiểu thế nào cả .
Tháo cao hứng nói :
- Con rồng biến hoá, có khi to có khi nhỏ, lúc bay cao, lúc ẩn kín . Khi vương mình thì cuộn mây phun mù, khi thu hình thì xếp vây ẩn tích . Lên cao thì bay lượn khắp vũ trụ , tạm ẩn thì chìm lặng dưới ba đào . Nay đương tiết xuân, rồng thừa thời mà biến hoá , cũng như con người gặp cơn đắc chí , tung hoành . Con rồng trong loài vật chẳng khác người anh hùng trong đám người . Sứ quân từng lịch duyệt hồ hải, chơi khắp bốn phương, ắt rõ những ai là anh hùng thời nay ? Xin nói cho biết .
 
Huyền Đức thông thả đáp :
- Bị này mắt thịt, làm sao biết được anh hùng.
Tháo nói :
- Thôi, xin đừng khiêm tốn như thế .
Huyền Đức cung kính , thưa :
- Bị bất tài lại thiển học, từ lâu sống trong tăm tối, nay nhờ ơn Thừa Tướng mới được vào triều làm quan . Quả thật chẳng biết ai là anh hùng trong thiên hạ .
Tháo cười :
- Dù không biết mặt đi nữa, ít ra cũng nghe danh chứ ?
Huyền Đức giả bộ suy nghĩ rồi kể :
- Kìa như Viên Thuật ở Hoài Nam, binh nhiều lương đủ, chiếm cứ một phương, có thể gọi là anh hùng ?
Tháo cười lớn, đáp:
- Hắn chỉ là một bộ xương khô trong mả ! Sớm tối rồi ta cũng bắt sống cho mà xem .
Huyền Đức tiếp:
- Thế thì Viên Thiệu ở Hà Bắc, bốn đời làm đến tam công, kẻ tùy thuộc môn hạ đầy rẫy nơi nơi, nay chiếm Ký Châu như hổ cứ nhất phương, văn quan võ tướng đông đúc, có thể gọi là anh hùng chăng ?
 
Tháo lại  cười, đáp:
- Viên Thiệu mặt bạo mà gan non, háo mưu mà võ đoán . Gánh việc lớn thì tiếc thân, thấy lợi nhỏ lại quên mệnh. Không phải là anh hùng .
Tháo cùng Huyền Đức trở vào bàn tiệc . Huyền Đức uống cạn chén rượu rồi nói tiếp :
- Có người kia nổi tiếng là một trong tám tay tài tuấn, uy trấn cử châu . Đó là Lưu Cảnh Thang, có thể gọi là anh hùng ?
Tháo lắc đầu :
- Lưu Biểu chỉ có hu danh, không có thực tài . Đâu phải là anh hùng !
Huyền Đức ngẫm nghĩ giây lâu rồi nói :
- Còn người này nữa hiện làm lãnh chúa Giang Đông, trí dũng kiêm toàn lại đang độ huyết khí hăn hái . Đó là  Tôn Bá Phù . Tôi tưởng đã đáng mặt anh hùng vậy .
Tháo vẫn chưa chịu :
- Tôn Sách nhờ tiếng của cha là Tôn Kiên mà được thế . Vẫn chưa phải là anh hùng .
Huyền Đức hỏi :
- Lưu Quý Ngọc ở Ích Châu có thể gọi là anh hùng chăng ?
Tháo xua tay :
- Lưu Chương tuy là dòng Tôn thất, nhưng chỉ làm con chó giữ nhà thôi ! Anh hùng gì ?
Huyền Đức ngần ngại hỏi :
- Còn những người như Trương Tú, Trương Lỗ, Hàn Toại ...thì thế nào ?
Tháo vỗ tay cười lớn :
- Chao ôi ! Lũ tiểu nhân lúc nhúc ấy, điếm xỉa đến làm gì ?
 
Huyền Đức kết khúc :
- Vậy thì ngoài những người vừa kể , Bị chẳng biết ai nữa !
Tháo vuốt râu, dõng dạc nói :
- Người anh hùng ấy à  ? phải là người nuôi chí lớn trong tim óc, lại phải có mưu cao kế giỏi, có tài bao tàng cả máy vũ trụ ở trong lòng , có chí nuốt Trời mửa Đất . Như thế mới đáng gọi là anh hùng .
Huyền Đức hỏi :
- Ai là người được như thế ?
Tháo không chút do dự giấu giếm, trỏ tay sang Huyền Đức , rồi lại trỏ vào ngực mình, nói lớn :
- Anh hùng trong thiên  hạ, hiện nay chỉ có Sứ quân và Tháo mà thôi .
 
Huyền Đức nghe qua, giật nẩy mình ! Đôi đũa đương cầm trên tay bất giác rơi xuống đất ! May thay, lúc ấy trời sắp đổ mưa, một tiếng sét nổ dữ dội . Huyền Đức từ từ cuói xuống, vừa lượm đũa vừa than :
- Oai trời ta thật ! Vừa nghe một tiếng đã đến nỗi này !
Tháo cười hỏi :
- Trượng phu mà cũng sợ sấm à ?
Huyền Đức nghiêm trang đáp:
- Đến Thánh nhân xưa kia nghe sấm rền gió thét cũng còn biến sắc nữa là tôi !
Thế là Huyền Đức kịp thời thác ra chuyện sợ sấm để che giấu mối sợ thật của mình . Tào Tháo lại cho rằng Huyền Đức còn tầm thường, chưa phải người có gan dạ đáng sợ . Từ đó không còn nghi ngờ gì nữa .
 
Người xưa nói rằng:
- Anh hùng năng khuất năng thân .
Như Lưu Bị thật đáng mặt anh hùng . Tào Tháo đã nhận biết được mà rồi chỉ vì một chút việc nhỏ không xét kỹ , mà bị lầm . Cho nên ở đời, biết người không phải dễ vậy, nhất là những kẻ anh hùng biết nhịn nhục phải thời .
-
 
dv sẽ sửa chính tả sau....
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-27 22:55:34diên vỹ>
Lòng Chân Thành Của Người Gian Ác

 
Thời Tam Quốc có nhiều nhân vật đặc biệt, nhưng được nhiều người biết hơn hết là Quan Vân Trường và Tào Tháo .
Quan Vân Trường tức là Quan Vũ tục gọi là Quan Công, nổi tiếng trung can nghĩa khí .
Tào Tháo tự Mạnh Đức nổi tiếng gian hùng, dối trên lừa dưới , luôn luôn dùng xảo thuật để đạt mục đích .
Nhưng với Vân Trường, Tháo lại đem lòng chân thành ra đối xử .
Thành Hạ Bì thất thủ, Lưu Bị và Trương Phi mỗi người chạy lạc mỗi nơi , còn Quan Vân Trường thì bị quân Tào Tháo vây nơi Thổ Sơn không sao thoát được .
 
Vốn yêu quí Vân Trường là nhân tài lỗi lạc, Tháo sai Trương Liêu là bạn quen thân cùng Vân Trường đến dụ . Trương Liêu gặp Quan Công tại Thổ Sơn, Công nói :
 
- Ta tuy lâm vào tuyệt địa, nhưng vẫn coi cái chết như không . Ngươi hãy về đi. Ta xuống núi nghinh địch ngay bây giờ .
Trương Liêu cười lớn :
- Đại huynh nói thế không sợ thiên hạ cười cho sao ?
Vân Trường ngạc nhiên hỏi :
- Ta vì trung nghĩa mà chết, thiên  hạ cười ta sao được ?
Trương Liêu đáp:
- Nếu đại huynh chết bây giờ thì mắc ba tội lớn .
Vân Trường hỏi :
- Ba tội gì, thử nói nghe .
Trương Liêu ung dung thuyết :
- Đại huynh thử nghĩ: Xưa kia Lưu sứ quân cùng đại huynh kết nghĩa vườn đào, đã thề sống chết . nay sứ quân mới thua một trận mà đại huynh vội tử chiến, xem nhẹ tấm thân . Nếu Lưu Huyền Đức hãy còn, nay mai lại đổi thua thành thắng, muốn tìm đại huynh về sum hợp mà đại huynh không còn nữa , thì chẳng là đại huynh đã phụ lời thề năm xưa sao ?
Đó là một tội .
Tào Mạnh Đức chiếm Hạ Bì , sai  người hộ vệ gia quyến Huyền Đức cẩn thận, cấm không ai được kinh động . Nhị vị phu nhân của Lưu sứ quân còn đó, nếu đại huynh chết đi thì ai bảo hộ hai phu nhân ? Như thế đại huynh phụ lòng trông cậy của Lưu sứ quân .
Đó là hai tội .
Đại huynh võ nghệ siêu quần lại kiêm thông kinh sử. Sao chẳng lo cùng sứ quân khuôn phò nhà Hán, mà chỉ lăm lăm nhảy vào chỗ nước sôi lửa nóng để cầu lấy tiếgn DŨNG của kẻ thất phu ? Như thế đâu phải là NGHĨẠ
Đó là ba tội .
Sợ đại huynh mắc tội cùng thiên hạ nên tiểu đệ không thể không khuyên giải đôi lời .
Mong đại huynh nghĩ kỹ .
Quan Công trầm ngâm hồi lâu rồi hỏi :
- Vậy tôi phải làm thế nào ?
Trương Liêu đáp:
- Quân Tào công vây bốn mặt . Nếu đại huynh không hàng ắt phải chết . Mà chết lúc này vô ích . Chi bằng tạm hàng Tào Công, đợi nghe ngóng tin tức Huyền Đức ở đâu, bấy giờ sẽ tìm đến . Trước hết đại huynh bảo toàn được hai phu nhân, thứ là không phụ ước đào viên, ba là giữ được tấm thân hữu dụng. Hàng thì được ba điều tiện như thế. Đại huynh xé kỹ xem .
 
Vân Trường ngẫm nghĩ hồi lâu rồi bảo :
- Tôi xin đưa ra ba điều hẹn . Nếu Tào thừa tướng bằng lòng, tôi sẽ cởi giáp. Bằng không tôi đành chịu ba tội, mà tử chiến vậy .
Trương Liêu nói:
- Thừa tướng khoan hồng đại độ, lẽ nào lại không chấp nhận . Xin đại huynh hẹn ba điều gì cứ đưa ra .
Quan Công đáp:
- Điều thứ nhất : Tôi cùng Hoàng Thúc nguyện phò nhà Hán . Vậy tôi chỉ hàn Hán Đế chứ không hàng Tào công . Điều thứ hai: Đối với hai chị tôi, xin đem bổng lộc của Hoàng thúc mà cấp cho đầy đủ . Trên dưới bất cứ ai, đều không được tới cửa . Điều thứ ba: Một khi biết Hoàng thúc ở nơi nào, thì không kể ngàn dặm vạn dặm, phải để cho tôi tới theo ngay . Ba điều ấy nếu thiếu một, tôi nhất quyết không hàng . mong Văn Viễn về thưa cùng Thừa tướng như thế .
Trương Liêu nhận lời về ra mắt Tào Tháo  , kể lại ba điều giao hẹn . Về điều "hàng Hán, không hàng Tào ", Tháo cười :
- Ta làm tướng nhà Hán, Hán tức là ta ! Điều này nghe được .
Về điều thứ hai, Tháo nói :
- Ta sẽ cấp gấp hai lần bổng lộc của Hoàng thúc . Còn việc nghiêm cấm trong ngoài , thì gia pháp xưa nay vẫn thế, cần gì phải nghi ngại .
Đến điều thứ ba, Tháo lắc đầu :
- Như thế ta nuôi Vân Trường để làm gì ?
Trương Liêu thưa :
- Thừa tướng không nghe lời luận về chúng nhân và quốc sĩ của Dư Nhượng sao ? Huyền Đức đãi Vân Trường chẳng qua cũng lấy ơn hậu đó thôi . Nếu thừa tướng đãi hậu hơn nữa để kết tâm, thì lo gì Vân Trường chẳng phục .
Tháo gật đầu :
- Văn Viễn nói phải . Ta chấp nhận cả ba điều .
Thế là Quang Vân Trường về cùng Tào Tháo  . Th thân ra tận ngoài viên môn đón tiếp . Hai bên thi lễ . Quan Công nói :
- Tướng bị thua, rất cảm ơn không giết
Tháo nói :
- Ta hằng ngưỡng mộ lòng trung nghĩa của Vân Trường . Nay được gặp nhau thật thỏa lòng khát vọng.
Vân Trường tiếp:
- Tôi nhờ Văn Viễn bẩm rõ ba việc, đã được Thừa Tướng rộng lượng ưng cho . Chắc rằng chẳng bao giờ quên được .
Tháo dõng dạc đáp:
- Ta quyết không sai lời .
Vân Trường nhắc lại :
- Nếu tôi biết Lưu Hoàng thúc ở đâu, dù phải dẫm vào nước sôi lửa hừng, cũng quyết tìm đến . Lúc ấy sợ có khi không kịp bái từ . Vậy mong Thừa tướng lượng thứ trước cho .
Tào Tháo  nói :
- Nếu Huyền Đức còn, ắt ông được gặp có ngày . Nhưng sợ đã mất trong đám loạn quân rồi chăng ? Ông hãy khoan tâm, để nghe ngóng xem sao .
Vân Trường bái tạ, Tháo bày tiệc đãi .
Hôm sau ban sư về Hứa Xương, Vân Trường sửa soạn xa trượng mời nhị tẩu lên xe, bổn thân theo hộ vệ . Giữa đường quân đóng lại nơi quán dịch nghỉ đêm . Tháo để Quan Công ở chung cùng nhị tẩu . Công bèn đốt đuốic cầm đứng hầu trước cửa suốt đêm . Tháo hết sức cảm phục . Về Hứa Đô, Tháo sai dọn một công phủ cho Quan Công ở . Công đem chia phủ làm hai nơi riêng biệt . Nhị tẩu ở bên trong , có mười tên lính có tuổi tác canh giữ . Còn Công thì ở bên ngoài .
Hôm sau Tháo đưa Quan Công vào chầu vua . Hiến Đế phong Công làm Thiên tướng quân . Công tạ ơn lui về .
Liền đó Tháo mở đại tiệc, hội hợp đủ mưu thần võ tướng . Quan Công được đãi như thượng khách . Tiệc tan, Tháo lại đem vàng bạc, gấm vóc và đồ trang hoàng quí giá ra tặng . Công lãng đem về nạp hết cho nhị tẩu cất giữ .
Từ ấy cứ ba ngày Tháo mở một tiểu yến, năm ngày mở một đại yến để thết đãi Công . Tháo lại chọn mười mỹ nữ đương xuân gởi đến hầu hạ . Công đưa hết vào nhà trong hầu hạ nhị  tẩu .
Đối với nhị tẩu, Công hết lòng cung kính . Cứ ba ngày Công vào đứng nơi cửa ngoài , chấp tay nghiêng mình thi lễ và vấn an . Nhị tẩu hỏi thăm tin tức Hoàng thúc xong, lại nói :
- Thôi, thúc thúc tùy nghi .
Bấy giờ Công mới dám lui ra .
Tháo nghe chuyện càng thêm kính phục .
 
Một hôm Tháo thấy chiếc chiến bào của Công đã bạc màu, liền sai thợ đo kích thước , lấy gấm thượng hạng may chiếc áo mới , rồi đem tặng. Công nhận lãnh, nhưng mặc vào trong áo cũ . Tháo thấy thế cười :
- Sao Vân Trường tiết kiệm quá thế ?
Công thưa:
- Không phải tiết kiệm . Chiếc áo cũ này là của Hoàng thúc cho . Tôi mặc ra ngoài cũng như thấy mặt anh tôi vậy . Chẳng dám vì áo mới của Thừa Tướng mà quên cái cũ của anh .
Tháo khen :
- Thật là nghĩa sĩ .
Một buổi sáng sớm, Công đương ngồi nơi phủ, bỗng có tin báo :
- Hai phu nhân trong nhà khóc ngất lăn xuống đất . Không hiểu vì cớ gì . Mời tướng quân vào ngay .
Công liền chỉnh tề khăn áo, vào quỳ trước cửa hỏi thăm nguyên uy . Cam phu nhân sụt sùi nói :
- Khi hôm tôi nằm mơ thấy Hoàng thúc ngã ngựa, bị hãm dưới hầm sâu . Giậc mình thức dậy, tôi cùng My phu nhân bàn bạc ..., sợ có khi Hoàng thúc đã lạc ...về chín suối mất rồi ! Vì thế nên chúng tôi khóc .
Quan Công tìm lời trấn tỉnh .
Chị em đang trò chuyện thì Tháo sai mời Công vào dự yến . Tháo thấy Công có ngấn nước mắt , mới khẽ hỏi duyên do . Công kể lại chuyện vừa qua . Tháo tìm lời khuyên giải rồi luôn tay mời rượu cho khuây . Rượu ngà say, Công đưa tay nhè nhẹ vuốt râu than :
- Làm thân nam tử đã không đáp được ơn nước nhà, lại phụ cả lòng anh, thì sống cũng bằng thừa !
Tháo thấy Công buồn, khéo léo tìm câu hỏi cho khuây :
- Chẳng hay bộ râu Vân Trường được bao nhiêu gốc ?
Công đáp:
- Ước độ năm trăm sợi . Nhưng mỗi độ thu về lại rụng mất năm ba sợi . Đến mùa đông thì phải may túi the thâm bọc ngoài cho đỡ rụng .
Tháo liền sai lấy gấm ra may một chiếc túi dài tặng Công .
 
Ngày nọ, tiệc tan, Tháo tiễn Công ra ngoài cửa phủ , chợt thấy ngựa Công không được béo tốt, liền hỏi :
- Ngựa Vân Trường sao gầy thế !
Công cười :
- Vì người có hơi nặng nên cưỡi ngựa nào cũng chóng gầy . Tháo bèn sai tìm ngựa khác cho Công . Kẻ tả hữu dắt ra một con ngựa cao lớn , toàn thân đỏ như lửa, dáng điệu hùng dũng lạ thường . Tháo trỏ ngựa hỏi Công :
- Vân Trường biết ngựa nào đây chăng ?
Công chợt nhớ ra :
- Có phải con Xích Thố của Lã Bố ngày trước ?
Tháo đắc ý cười :
- Chính nó đấy .
Rồi sai đem khớp vàng yên gấm ra đống , tặng Công . Tức thì Công phục xuống lạy tạ . Tháo có vẻ không bằng lòng, hỏi :
- Đã bao phen ta tặng nào vàng bạc, gấm vóc, nào mỹ nữ ...mà chưa lần nào Vân Trường lạy tạ . Nay chỉ tặng một con ngựa mà Tướng quân lại mừng rỡ như thế ? Khinh người , rẻ của mà quí vật là nghĩa làm sao ?
 
Công thưa:
- Tôi biết con ngựa này quí lắm . Mỗi ngày đi hơn nghìn dặm . Nay được ơn ban, nếu biết anh tôi ở đâu, thì có thể đi một ngày là gặp mặt .
Tháo hoảng nhiên tỉnh ngộ, có ý hối tiếc . Sau đó về hỏi Trương Liêu :
- Ta đãi Vân Trường không bạc, sao y cứ nghĩ đến chuyện ra đi ?
Liêu xin đi dò tình ý  . Hôm sau đến thăm Vân Trường . Thi lễ xong Liêu hỏi :
- Từ khi tôi tiến cử đại huynh lên Thừa Tướng, đại huynh đã có điều gì bất như ý chưa ?
Công đáp:
- Tôi rất cảm hậu ân của Thừa tướng. Thật chẳng thiếu điều gìi . Chỉ hiềm thân tuy ở đây, mà lòng quá nhớ Hoàng thúc, không phút nào quên lãng được .
Liêu nói :
- Đại huynh nghĩ thế là sai . Bậc tượng phu xử thế phải cân nhắc khinh trọng . Huyền Đức đãi huynh vị tất đã hậu hơn Thừa tướng. Sao đại huynh chỉ nghĩ đến chuyện ra đi ?
Vân Trường đáp:
- Tôi vẫn biết Tào Công đãi tôi quá hậu . Hiềm tôi đã chịu ơn Hoàng Thúc từ xưa , thề cùng sống chết, không thể đổi lòng . Thế nào tôi cũng không ở đây được, nhưng tôi phải lập chút công báo đáp Thừa tướng đã rồi mới ra đi .
Trương Liêu hỏi gạn :
- Nếu Huyền Đức đã qua đời, thì đại huynh đi về đâu ?
Công đáp:
- Đành theo xuống truyền đài cho trọn nghĩa .
Trương Liêu về thuật lại cuộc hội kiến . Tháo than :
- Thờ Chúa không quên gốc, thật là nghĩa sĩ trong thiên hạ !
Tuân Húc nói :
- Vân Trường bảo sẽ lập công rồi mới đi . Vậy ta đừng để y lập công để trả ơn thì ắt y không thể đi được .
Tháo cho là phải .
 
Nói về Lưu Huyền Đức sau khi bị mất thành , chạy sang Hà Bắc náu nương cùng Viên Thiệu . Huyền Đức khuyên Thiệu cử binh đánh Tào Tháo  . Thiệu nghe lời sai đại tướng là Nhan Lương làm tiên phong .
Tào Tháo  được tin bèn thương nghị khởi binh cự định . Quan Công xin làm tiền bộ . Tháo kiếm lời từ khước . Nhưng rồi không ai địch nổi Nhan Lương , Tháo phải sai Vân Trường ra trận .
Vân Trường lên ngựa Xích Thố, cầm ngược thanh long đao xông vào rừng quân Hà Bắc . Ngựa Công đến đâu thì quân tướng Hà Bắc đều rẻ ra như nước xé . Công xông thẳng đến chổ Nhan Lương . Lúc bấy giờ Nhanh Lương đang đứng dưới cờ , bỗng thấy Quan Công đột ngột xuấ hiện, thì giật mình, vừa toan quát hỏi, thì ngựa Xích Thố đã vụt tới trước mặt. Lương trở tay không kịp, bị chém một đau chết lăn xuống ngựa . Quan Công nhảy xuống đất, cắt lấy thử cấp treo dưới cổ ngựa , rồi lên yên vung đao ra khỏi trận , dễ dàng như vào chổ không người . Binh tướng Hà Bắc kinh hồn tán loạn . Quân Tào thừa thế đáng tràn sang , chém giết tơi bời, cướp được lừa ngựa và đồ binh khí vô số . Tháo mừng rỡ dâng biểu về triều xin phong cho Quan Vũ tước Hán Thọ Đình Hầu và đúc ấn ban cho .
 
Tướng Viên Thiệu là Văn Xú xinra trận báo thù cho Nhan Lương . Tuớng Tào là Trương Liêu và Từ Hoảng không địch nổi , bị Văn Xú đánh đuổi . Bổng một toán hơn mười quân kỵ xuất hiện, cờ hiệu phấp phới . Một tướng đi đầu, mặt đỏ râu dài, cầm đại đao, giục ngựa đến hét lớn .
- Tướng giặc ! Đừng đuổi nữa .
Đó là Quang Vân Trường .
Văn Xú tiếp đánh, mới ba hiệp đã khiếp đảm, quay ngựa chạy trốn . Nhưng ngựa Xích Thố chạy như bay, trong nháy mắt đã đến sau lưng Văn Xú . Một ánh đao chớp choáng Vân Trường đã chém Văn Xú chết lăn xuống ngựa . Quân Viên Thiệu mất người cầm đầu chạy tán loạn , bị quân Tào chém chết quá nửa .
Tào Tháo  đại thắng mở tiệc ăn mừng .
Tiệc đang rộn rịp thì có tin báo Nhữ Nam có giặc .
Quan Công xin đi đánh, Tháo điểm cho 5 vạn quân sai hai tướng theo giúp . Tuân Húc bảo nhỏ Tháo :
- Vân Trường vẫn có ý tìm về Lưu Bị . Nếu biết bị ở đâu ắt bỏ đi theo ngay . Đừng cho ra trận thì hơn .
Tháo nói :
- Chỉ cho đi lập công một lần này nữa thôi .
Vân Trường đến Nhữ Nam thì được tin Huyền Đức ở bên Viên Thiệu . Công rất mừng nhưng vừa chém mất hai tướng của Hà Bắc, nên lòng e khi sang đến đó tìm anh sẽ gặp biến .
Hôm sau lấy được thành Nhữ Nam, Công đem quân về Hứa Đô . Tháo thân ra ngoài thành nghênh tiếp và thưởng lạo quân sĩ . Yến tiệc tan . Công về dinh báo tin mừng cùng nhị tẩu .
 
Trong khi ấy Tào Tháo  cũng dò biết được Lưu Bị ở bên  Viên Thiệu , bèn sai Trương Liêu đến dò ý . Quan Công tỏ thật nỗi lòng. Liêu về bẩm cùng Tháo . Tháo tìm cách giữ Công .
Một hôm Quan Công đang ngồi tư lự thì có người đến thăm . Đó là Trần Chấn ở Hà Bắc .
Nguyên sau khi Vân Trường giết Nhan Lương, Văn Xú thì Viên Thiệu dò biết được tông tích, nên nổi giận đòi giết Lưu Bị . Lưu Bị tìm lời biện bạch , nên được tha chết . Để được gặp lại em, Huyền Đức xin viết thư xin Viện Thiệu cho người sang Hứa Đô, lén trao cho Vân Trường để gọi sang Hà Bắc .
Vân Trường được thư anh, òa lên khóc, rồi viết thư trao cho Trần Chấn đem về cho Lưu sứ quân. Đoạn vào báo cho hai chị rõ , rồi lập tức đến tướng phủ bái từ Tào Tháo  .
Tháo biết trước ý định của Quan Công nên sai treo bảng "hồi tị " ở trước cửa .
Công trở về sai thu dọn hành trang . Những vật Tháo tặng đều để lại hết . Sáng hôm sau vào tướng phủ một lần nữa, nhưng bản "hồi tị " vẫn còn treo . Công tìm Trương Liêu , Liêu cũng cáo bệnh không tiếp . Công nghĩ bụng :
- Tào thừa tướng ý không muốn cho ta đi đây . Nhưng chí ta đã quyết , ngăn trở thế nào được .
 
Bèn một mặt viết thư cáo biệt sai người đem đến tướng phủ , một mặt sai niêm phong tất cả vàng bạc Tháo đã tặng từ trước đem bỏ vào khó . Còn chiếc ấn "Hán Thọ Đình Hầu " thì treo lơ lững trên xà nhà , Rồi cùng đoàn thuộc hạ hộ tống hai bà chị lên đường .
Tin báo cho Tào Tháo  biết . Tưóng bộ hạ của Tháo là Thái Dương xin đuổi theo bắt lại . Tháo gạt đi và bảo :
- Khi đến cũng như khi đi , Vân Trường đều đường hoàng minh bạch . Lòng lúc nào cũng không quên chủ cũ . Thật là bậc trượng phu . Các ngươi nên lấy đó làm gương .
Trình Dục nói :
- Thừa tướng đãi Quan Vũ hậu như thế, mà nay ra đi không vào từ giã , chỉ để lại một mảnh giấy lời lẽ ngông nghênh, coi thường bề trên, thật là tội lớn . Nếu ta tha cho y về cùng Viên Thiệu, ấy là thêm cánh cho hùm . Chi bằng đuổi theo giết đi cho tuyệt mối lo .
Tháo nói :
- Trước đây ta đã hứa, nay há sai lời ? Vân Trường là người trung nghĩa đáng khen, không nên đuổi .
Đoạn bảo Trương Liêu :
- Vân Trường treo ấn, nêm vàng, của cải không làm xiêu lòng, tước lộc không làm đổi chí . Người như thế ta thật yêu kính vô cùng . Chắc y đi cũng chưa xa . Ta hãy theo tiễn đưa cho trọn nghĩa . Ông mau mau đi trước, bảo y dừng lại đợi ta tới có đôi lời từ giả .
Trương Liêu vâng lệnh, một người một ngựa chạy theo Vân Trường .
Vân Trường ra đi, vì phải hộ tống nhị tẩu, nên không dám cho Xích Thố chạy nhanh . Đương đi bỗng nghe tiếng gọi . Công quay lại, thấy Trương Liêu đang phóng ngựa tới bèn hỏi :
- Văn Viễn định đuổi bắt ta chăng ?
Trương Liêu thuật lại lời Tào Tháo  . Hai người đương trò chuyện thì Tháo đã dẫn vài chục người đi tới , sau lưng có các đại tướng . Đến gần thấy Vân Trường cầm ngang thanh long đao , dừng ngựa đứng trên cầu , Tháo liền truyền chu tướng dừng lại, hỏi :
- Sao Vân Trường đi vội vàng quá thế ?
Quan Công ngồi trên ngựa, khẽ nghiêng mình đáp:
- Trước sau tôi đã thưa cùng Thừa tướng mọi nỗi . Nay chủ cũ ở Hà Bắc, tôi không thể chân chờ . Đã mấy lần tới phủ, đều không được vào hầu, nên đã để cáo thư bái biệt . Cúi mong Thừa tướng chớ quên lời hứa trước kia .
Tháo nói :
- Ta muốn thủ tín cùng thiên hạ, lẽ nào phụ ước với Tướng quân , chỉ sợ Tướng quân đi đường xa, thiếu nhu dụng, nên vội đem chút lộ tư tới tiễn đó thôi .
Tháo vừa dứt lời thì một tướng cỡi ngựa bưng một mâm vàng ra trước trao tặng . Quan Công nói :
- Tôi được ơn Thừa tướng ban cho đã nhiều, nay hãy còn dư dụng . Xin thừa tướng giữ số vàng này lại để thưởng công các chiến sĩ .
Tháo ép đôi ba phen, Vân Trường nhất định không lấy .
Tháo mĩm cười :
- Vân Trường là nghĩa sĩ trong thiên hạ . Tiếc rằng ta đây bạc phước , không giữ được nhau ! Thôi thì có chiếc áo này gọi là chút lòng ta vậy .
Nói rồi sai một tướng xuống ngựa, hai tay nâng chiếc cẩm bào tới trao . Vân Trường đưa mũi thanh long đao ra kéo lấy áo, quàng lên vai, rồi quày đầu ngựa tạ rằng :
- Cảm ơn thừa tướng, ước mong sẽ hội ngộ có ngày .
Tạ rồi quay ngựa xuống cầu, trông về phía Bắc đi thẳng .
 
Hứa Chữ thấy Quan Công cứ hiên nghang ngồi trên ngựa nhận áo rồi đi, hằm hằm nổi giận, bảo Tháo :
- Người ấy vô lễ quá ! Sao không bắt lại ?
Tháo ôn tồn đáp:
- Y có một thân một ngựa, còn ta những hơn hai chục người , làm sao y khỏi nghi được ? Thôi, ta đã nói cho đi thì không được đuổi nữạ
Dứt lời quay ngựa cùng các tướng trở về, dọc đường luôn miệng khen ngợi Quan Vũ .
Quan Vũ sau khi từ biệt Tháo chạy theo xa trượng nhị tẩu . Dọc đàng gặp nhiều nỗi gian nguy, nhất là lúc qua các quan ải . Các tướng giữ ải, vì không có văn bằng của Tào Tháo  cấp, không cho Quan Công qua ải . Quan Công buộc lòng phải chém tướng để lấy đường đi . Qua năm ải chém hết sáu tướng Tào .
 
Nhưng khi qua khỏi đất Tào thì được tin Lưu Bị không còn ở Hà Bắc nữa, mà đã bỏ viên Thiệu trốn sang Nhữ Nam . Quan Công liền rẽ cương đưa hai chị sang Nhữ Nam .
Xa trượng đương đi, thì phía sau cát bụi tung trời , một đoàn quân mã hùng hổ đuổI theo . Tướng đi đầu là Hạ Hầu Đôn , cả tiếng gọi :
- Bớ Quan Vũ, chớ chạy ?
Vân Trường để bộ hạ hộ vệ xa trượng đi trước , quay ngựa lại . hỏi :
- Sao nhà ngươi lại đuổi theo ta, làm mất đại lượng của Tào Thừa tướng ?
Đôn hằn học đáp:
- Thừa tướng không có công văn truyền báo việc ngươi đi . Lại thêm dọc đường ngươi lại giết người và hại mất bộ tướng của ta . Vô lễ quá lắm . Ta phải bắt nhà ngươi về nạp Thừa tướng xét xử .
Dứt lời giục ngựa vung thương toan giáp chiến thì có sứ giả phi ngựa đến gọi :
- Đừng đánh nhau .
Quan Công dừng đao, gò cương bất động . Hạ Hầu Đôn quay lại nhìn sứ giả . Sứ giả rút trong tay áo ra một tờ công văn, bảo Đôn:
- Thừa tướng yêu kính Quan Hầu là người trung nghĩa, sợ đi đường bị các quan giữ ải ngăn chặn, nên sai tôi mang công văn này truyền cho các nơi đều biết .
Đôn hỏi :
- Quan Vũ đi đường chém giết tướng giữ ải , Thừa tướng có biết chăng ?
Sứ giả đáp "không " . Đôm hăm hở nói:
- Vậy thì ta bắt sống nó về nạp . Rồi thừa tướng muốn tha thì tha .
Liều muá thương đánh . Quan Công nghênh địch .
Cuộc giao phong đương hăng thì lại có người phi ngựa đến gọi lớn :
- Hai tướng quân hãy ngừng tay .
Hạ Hầu Đôn lùi lại hỏi :
- Thừa tướng sai bắt Quan Vũ phải không ?
Sứ giả đáp:
- Không phải . Thừa tướng sợ các tướng trấn ải ngăn đường Quan Tướng quân, nên sai tôi mang công văn đi theo . Nếu gặp nơi nào cản trở thì phải can thiệp cho đi .
Đôn giận dữ nói :
- Hắn giết mất sáu tướng giữ ải, thừa tướng biết chăng ?
Sứ đáp:
- Thừa tướng chưa biết .
Đôn hét lớn :
- Thừa tướng chưa biết thì không thể để hắn đi .
Đao thương vung múa . Nhưng liền đó có tiếng kêu :
- Vân Trường , Nguyên Thượng ! Đừng giao tranh nữa .
Đó là tiếng của Trương Liêu .
Hai tướng dừng tay, gò ngưạ . Trương Liêu bước thẳng tới trước nói :
- Tôi vâng chỉ thừa tướng tới đây . Nhân nghe Vân Trường quá quan sát tướng, sợ dọc đường có sự ngăn trở, thừa tưuớng sai tôi truyền dụ các quan ải, để Vân Trường đi qua .
Thế là Vân Trường được thoái khỏi hẳn mọi khó khăn của Tào Tháo  .
 
Đọc chuyện Quan Vũ và Tào Tháo  , người xưa bàn rằng :
"Tào Tháo  nhất sinh gian hùng ngụy trá như ác quỷ, như hồ ly tinh . Bỗng gặp phải một nghĩa sĩ đường đường chính chính, lẫm lẫm liệt liệt, lòng tựa thanh thiên bạch nhật như Quan Công , thì Tháo như trông thấy châu trong ngọc sáng ở trước mắt mà phải dẹp bớt những cái xấu xa ở trong lòng . Vì thế, bất giác Tháo yêu kính và không nở giết Vân Trường .
Xem đó, không phải là Tháo có lòng Nhânmà dụng nạp được Vân Trường , mà chính cái nghĩa của Vân Trường đã chinh phục được Tào Tháo  vậy .
Tuy nhiên , ta bái phục Quan Công , nhưng cũng lấy làm lạ về Tào Tháo  . Vì xưa nay hào kiệt chinh phục đưuợc hào kiệt thì có , chứ hào kiệt mà chinh phục được gian hùng thì chưa . Hào kiệt yêu hào kiệt thì không lạ gì, chứ gian hùng mà yêu hào kiệt thì thật là hiếm vậy .
Ôi ! Một trang hào kiệt mà chinh phục được kẻ gian hùng, thì hào kiệt đó chỉ có một : Quan Vũ . Và gian hùng mà biết yêu kính hào kiệt, thì gian hùng đó cũng không hai : Tào Tháo  !"
 
Nếu thế thì sự hội ngộ của Quan Vũ và Tào Tháo  có phải chăng là do sự an bài của tạo hóa ?
Nhưng lòng thành của Tào Tháo  đối với Quan Vũ đã bị nhiều người nghi ngờ . Nhiều người cho rằng Tào Tháo  đối đãi tử tế với Quan Công chỉ để mua lòng, hầu mong Quan Công theo hẳn Tháo . Đó là mánh khoé chớ không phải chân tâm .
Nghi ngờ hành động của Tháo lúc Quan Công còn ở tại Tào đã đành, đến những chuyện tặng vàng, tặng áo , đi tiễn tống ...của Tháo lúc Vân Trường ra đi cũng bị nghi ngờ nốt . Có người bàn rằng :
- Khi Quan Công ra đi, Tháo tặng nào vàng, nào áo , lại thân đi tiễn tống ..., thế mà có mỗi một tờ "giấy phép " lại không cấp cho . Đó là không giữ lại mà vẫn giữ . Giả sử Quan Công bị giết, thì Tháo sẽ nói "Đâu phải tại ta " ! Rồi trách cứ người đã giết Quan Vũ. Như thế vẫn giữ được tiếng "ái hiền " . Thật là gian hùng !
Theo thiển nghĩ của chúng tôi thì Tào Tháo  quả thật muốn mua chuộc lòng Vân Trường , quả thật Tào Tháo  tìm đủ cách để cầm chân Vân Trường lại với mình . Nhưng không thể ngờ lòng kính yêu chân thật của Tháo được .
Trong Tào Tháo  có hai con người . Con người chánh trị và con người thơ .
Con người chánh trị chuộng lợi .
Con người thơ chuộng đẹp .
Con người chánh trị thủ đoạn.
Con người thơ chân thành .
Quang Vân Trường là một nhân vật vừa có tài vừa ĐẸP, đẹp cả tướng mạo lần tinh thần .
Chiếm hữu được Vân Trường , Tào Tháo  thoả mãn được cả hai mặt chánh trị và thơ .
 
Cho nên nhất cử nhất động của Tào Tháo  đối với Vân Trường đều có cả hai con người trong Tào Tháo  tham dự . Nhưng ít ai tin lòng chân thành của Tào Tháo  . Cũng không lấy gì làm lạ . Vì đương thời vai trò chánh trị của Tào Tháo  lấn át hẳn vai trò nghệ sĩ , và những nhà phê bình xưa nay phần nhiều là nhà lý luận chớ không phải nhà thơ để thông cảm tâm hồn thơ của Tào Tháo  .
 
Tào Tháo  không bao giờ muốn Quan Công chết . Không thể giữ lại được thì để cho đi . Tháo không phát văn thư là cố ý giữ , chớ không cố ý để cho kẻ bộ hạ giết , vì biết rằng không ai võ nghệ hơn Quan Công . Đến sau cùng sai đem văn thư đến là vì biết sức Hạ Hầu Đôn có thể ngăn cản bước tiến của Quan Vũ . Đó là chổ chí tình, chớ không phải vì "bắt không nổi, tha làm phước " , không phải "khéo mua chuộc nhân tình đến phút cuối cùng " như dịch giả Tam Quốc Chí Tử Vi Lang tiên sinh đã nói .
Nói tóm lại là Tào Tháo  đối với Quang Vân Trường bên trong có chổ chí tình, bên ngoài thật là khéo . Có thể nói rằng:
- Quang Vân Trường là một bài thơ hùng trán đẹp một cách tự nhiên .
Tào Tháo  là một bài thơ tế nhị, đẹp được trau dồi chảy chuốt .
Cả hai đều hoàn toàn, để gần bên nhau thật là thú vị .
Nhiều người chê Tào Tháo  là gian, nhưng ở đời những kẻ gian đều được như Tào Tháo  thì đời không đến nỗi khó chịu cho lắm, vì gian một cách có nghệ thuật như Tào Tháo  gây được nhiều hứng thú cho đời , nhất là những người biết phân biệt được cái đẹp , cái xấu .
 
 
 
 
 
 
dv sẽ sửa chính tả sau....
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-27 22:56:04diên vỹ>
Can Gián Phải Tùy Người
 
 
Cổ nhân dạy:
- Gặp người đáng nói mà không nói thì mất người . Gặp người không đáng nói mà nói thì uổng lời .
Lời nói thường còn phải cân nhắc thế ấy huống hồ lời can gián .
Điền phong làm quan cùng Viên Thiệu, vì làm phật ý Thiệu nên bị bắt bỏ ngục . Trong khi ấy thì Viên Thiệu cử binh đi đánh Tào Tháo  . Khi quân sắp xuất phát, Điền Phong từ trong ngục dân thư ra can rằng:
- Chúa công nên yên giữ bờ cõi để đợi thiên thời . Không nên khởi binh, e bất lợi .
Phùng Kỳ nói gièm :
- Chúa công khởi quân nhân nghĩa, sao Điền Phong dám thốt lời quái gở như thế !
Thiệu giận lắm muốn giết ngay Điền Phong . Các quan xin dùm. Thiệu nói :
- Phá xong Tào Tháo  sẽ về trị tội .
 
Rồi thúc ba quân tiến phát . Cờ quạt rợp đất, gươm giáo như rừng . Đến Dương Vũ thì hạ trại . Thư Thụ nói :
- Quân ta tuy đông, song không tinh nhuệ bằng quân địch . Quân địch tinh nhuệ, nhưng lương thảo không đầy đủ bằng quân ta . Quân kia thiếu lương, lợi ở đánh gấp . Quân ta nhiều lương, nên thông thả, giữ vững . Nếu ta cầm cự được lâu ngày, chẳng đánh địch cũng phải thua .
Thiệu nổi giận mắng :
- Điền Phong đã làm trễ nảo lòng quân, ta trở về sẽ chém đầu . Sao ngươi còn dám ăn nói thế ?
Bèn thét tả hữu lôi Thư Thụ vào giam trong quân, và bảo :
- Khi phá xong giặc Tào, ta sẽ đem trị tội cùng Điền Phong một thể .
Rồi hạ lệnh đem bảy mươi vạn quân dàn khắp bốn mặt . liên lạc nhau hơn chín mươi dặm .
Tào Tháo  thân chinh .
 
Hai bên đánh nhau kịch liệt . Những trận ban đầu quân Tào thua to , léo về đóng ở Quan Độ chống giữ .
Chống giữ Quan Độ ngót hai tháng trời, sức quân mỏi dần , lương thảo cạn dần . Tháo muốn rút quân trở về Hứa Xương nhưng ý chưa quyết, viết thư hỏi Tuân Húc . Húc khuyên rạch đất chống giữ , chờ lúc địch đuối thế kiệt sức . Tháo theo lời, hạ lệnh cho tướng sĩ cố sức tử thủ . Nhưng rồi lương gần hết, Tháo sai sứ về Hứa Đô truyền Tuân Húc thu thập lương thảo gởi đến tiếp tế cấp tóc . Sứ mang thư Tào bị quân Viên Thiệu bắt nạp cho mưu sĩ Hứa Du . Du vào trình cùng Thiệu :
- Tào Tháo  đóng quân ở Quan Độ , cầm cự cùng ta đã lâu ngày, ắt bỏ trống Hứa Xương . Vậy ta chia một cánh quân kéo suốt đêm đến đánh úp ắt chiếm được . Đã chiếm được Hứa Đô thì bắt sống Tào Tháo  không khó . Hiện nay Tháo đã hết lương, ta nên thừa cơ chia quân mà đoạt thắng .
 
Thiệu nghi hoặc nói :
- Tào Tháo  có trăm ngàn quỷ kế . Lá thư này là mẹo dụ địch của hắn . Không nên tin .
Du đáp:
- Lúc này không chiếm Hứa Đô ắt về sau nó lại hại mình .
Đương bàn bạc thì có sứ giả từ Nghiệp Đô tới trình thư của Thẩm Phối . Thư trình về việc chuyên chở lương thảo và kể tội Hứa Du lúc còn ở Ký Châu . Thiệu xem thư nổi giận mắng:
- Đồ thất phu lạm hành ! Còn mặt mũi nào ngồi hến kế trước mặt ta nữa ! Mày vốn quen biết Tào Tháo  , nay ăn hối lộ của nó, làm quân tế tác rình mò quân ta chớ gì ? Đáng lý ta chém đầu . Nhưng hãy tạm gởi đầu mày nơi cổ . Thôi hãy cút ngay đi . Từ nay về sau, cấm không được nhìn mặt ta .
Hứa Du bị mắng, uất ức lui ra, ngửa mặt lên trời than:
- Than ôi ! Lời ngay trái tai ! Với đứa trẻ con này không thể cùng mưu việc được nữa ! Con cháu ta đã bị hại về tay Thẩm Phối , ta còn mặt mũi nào trông thấy nhân dân Ký Châu !
Than rồi rút gươm toan tự tử . Những người đi theo vội giằng lấy kiếm can :
- Tội gì ông phải phí thân ? Viên Thiệu không nghe lời ngay, sau này ắt bị Tào Tháo  bắt . Ông vốn có quan Tháo ; còn đợi gì không bỏ chổ tối ra chỗ sáng ?
 
Hứa Du tỉnh ngộ, đi tắt đến trại Tào. Quân phục lộ bắt được . Du bảo :
- Ta là bạn cũ của thừa tướng . Mau vào thông báo giùm rằng có Hứa Du ở Nam Dương đến thăm .
Lúc ấy Tháo vừa cởi áo đi nằm nghỉ , nghe báo thì mừng quýnh lên , không kịp xỏ giày, chạy ngay ra đón tiếp . Vừa trông thấy Du, Tháo vội vã nắm tay cười lớn rồi dắt nhau vào trướng . Vào đến bên trong . Tháo phục lại . Du vội vàng đỡ dậy nói :
- Ông đường đường là thừa tướng nhà Hán . Tôi chỉ là tên áo vải . Sao quá khiêm cung thế nầy ?
Tháo đáp:
- Tử Viễn là cố hữu của Tháo ,  dám đâu lấy danh tước ra phân trên dưới sao ?
Du nói :
- Tôi không biết chọn chủ, khuất thân thờ Viên Thiệu . Nói không nghe, kế không dùng . Nay phải bỏy, tìm tới cố nhân . Mong được thân dụng chăng ?
Tháo cười đáp :
- Tử Viễn đã chịu đến đây, việc ta ắt thành . Vậy có kế gì phá Thiệu xin dạy bảo ngay cho ?
Du nói :
- Tôi đã từng khuyên Viên Thiệu chia quân khinh kỵ kéo đi đánh úp Hứa Đô, rồi hai mặt cùng đánh dồn ông .
Tháo nghe nói thất kinh :
- Nếu Thiệu nghe lời cố nhân thì Tháo này bại mất !
Du hỏi :
- Nay lương thảo trong quân liệu còn dùng được bao lâu ?
Tháo gật gật, đáp:
- Còn cũng được một năm nữa .
Du cười :
- E không được thế .
Tháo nói:
- Nếu phân phát cho đầy đủ thì cũng được nửa năm .
Du vụt rũ áo đứng phắt dậy , vừa bước ra khỏi trướng vừa nói :
- Tôi lấy lòng thành mà tới . Ông lại nở dối trá như thế , còn mong nhờ gì nữa !
Tháo bước theo, nắm tay giữ lại :
- Tử Viễn đừng giận . Để tôi nói thật cho mà nghe : Lương thảo chỉ được ba tháng nữa mà thôi .
Du cười :
- Người đời đồn Mạnh Đức gian hùng . Nay mới biết rằng đúng thật .
Tháo cũng cười :
- Thì ông há lại không nhớ "việc binh không nệ dối trá " hay sao ?
Rồi ghé tai thì thầm:
- Lương chỉ còn đủ ăn hết tháng này nữa thôi .
Du hét vào tay Tháo :
- Hết sạch rồi ! Tôi biết mà ! Đừng nói dối nữa !
Tháo giật mình , hỏi :
- Sao ông biết ?
Du bèn móc lá thư giấu trong áo đưa ra cho Tháo :
- Ai viết thư này ?
Tháo tái mặt , hỏi vì sao có thư . Du bèn thuật lại chuyện bắt được sứ giả của Tháo . Tháo nắm chặt tay Du :
- Tử Viễn đã nghĩ tình cố giao mà đến, thì xin dạy bảo điều hay . Tình thế đã khẩn cấp lắm .
 
Hứa Du cùng Tháo trở vào trướng , đem việc cơ mật trong quân Viên Thiệu nói hết và khuyên Tháo đem quân đến Ô Sào là nơi chứa lương của Thiệu mà đốt phá . Tháo nghe theo . Trương Liêu khuyên Tháo không nên khinh suất, e bị lừa dối . Tháo đáp:
- Nếu Hứa Du mang tâm dối trá thì đâu dám ở lại trại ta . Đoạn chia quân, lớp ở lại giữ trại , lớp léo đến Ô Sào .
Trời nhá nhem tối . Quân Tào đều mang cỏ khô theo . Người ngậm tăm, ngựa buộc mồm, bỏ lạc . Tháo tự chỉ huy . Đoàn quân im lìm tiến phát trong ánh sao lấp lánh dưới vòm trời không mây .
 
Tron khi ấy Thư Thụ bị giam trong quân, hé nhìn ra ngoài trời thấy sao tỏ trời trong , mới bảo người coi ngục dẫn ra sân , ngửa mặt xem thiên Văn . Xem hồi lâu , bỗng kinh hãi kêu lên :
- Vạ đến nơi rồi !
Lúc ấy Thiệu uống rượu say, đang nằm nghỉ, nghe báo có việc cơ mật, liền gọi Thụ vào hỏi . Thụ vào , thưa :
- Tôi vừa xem thiên tượng, thấy sao Thái Bạch nghịch hành, xâm phạm thiên phận Đẩu ,Ngưu. Sợ quân địch tới cướp phá . Ô Sào là nơi dồn lương, không thể không phòng bị .
Viên Thiệu bực mình , mắng :
- Người là kẻ có tội, sao còn dám nói càn làm hoang mang lòng quân sĩ ?
Đoạn thét mắng kẻ coi ngục, rồi sai chém đầu và truyền người khác áp giữ Thư Thụ .
Thụ bước ra ngoài, gạt nước mắt than :
- Quân ta nguy vong chỉ trong sớm tối ! Thi hài ta rồi đây không biết sẽ trôi lạc về đâu ?
 
Nói về quân Tào Tháo  lặng lẽ đi trong đêm vắng, qua lọt mấy lần trại canh . Khi đến Ô Sào thì đã hết canh tư . Tháo sai quân chất cỏ xung quanh rồi nổi lửa . Tướng giữa lương là Thuần Vu Quỳnh, rượu say đương nằm ngủ trong trướng, chợt nghe trống đánh quân reo, vội nhổm dậy, thì bị tướng Tào bắt . Quân Ô Sào bị giết quá nửa. lương thảo trong đồn bị cháy ra tro hết .
Quân Tào thừa thắng kéo đến đánh các trại Viên Thiệu . Tào Tháo  đại thắng . Viên Thiệu không kịp mặc áo giáp đội mũ, chỉ mang áo mỏng, quấn chăng thưa, hớt hải lên ngựa chạy trốn, bỏ cả đồ đạc giấy tờ . Quân sĩ còn sống sót đều bỏ chạy hết . Suy Thư Thụ vì bị giam cầm, không chạy thoát, bị quân Tào bắt đem nạp . Thụ cùng Tháo vôn chỗ quen biết cũ . Nhưng vừa trông thấy Tháo, Thụ la lớn :
- Thụ này không hàng đâu .
Tháo nói:
- Viên Ban Sơ là kẻ vô mưu, không nghe lời ông. Sao ông còn chấp nê thế ấy ? Nếu Tháo này được gặp ông sớm hơn, thì việc thiên hạ còn lo gì nữa .
Bèn hậu đãi Thụ, lưu lại trong quân . Nhưng đến đêm, Thụ lén trộm ngựa toan trốn theo Viên Thiệu . Tháo bắt được tức giận, sai đem chém . Thụ bình thản như không . Giết Thụ xong, Tháo hối hận, than :
- Ta nóng giận, giết kẻ trung nghĩa !
Bèn lấy hậu lễ an táng, xây phần mộ và dựng bia đá khắc 6 chữ "Trung liệt Thư quân chi mộ ".
 
Còn Viên Thiệu thua trận chạy tới bờ sông Lê Dương thì gặp đại tướng Tưởng Nghĩa Cừ đón về trại . Nghĩa Cừ chiêu dụ những quân thất tán trở về . Liền đó Thiệu kéo quân về Ký Châu . Dọc đường, một đêm Thiệu nằm trong trướng nghe tiếng khóc than, bèn ra nghe ngóng . Thì ra đó là tiếng than khóc của quân tàn bại tụ tập nhau trong bóng tối . Chúng than khóc rồi bảo nhau :
- Nếu Chúa công biết nghe lời Điền Phong thì chúng ta đâu có bị tai hoạ này !
Viên Thiệu hối hận ! Hôm sau lên ngựa kéo quân về, nửa đường gặp Phùng Kỷ tới đón. Thiệu bảo Kỷ :
- Ta không nghe lời Điền Phong đến nỗi binh bại tướng vong ! Nay trở về, không muốn nhìn thấy hắn nữa .
Đoạn rút kiếm trao cho sứ giả , sai về ngục Ký Châu giết Điền Phongười .
Điền Phong bị giam trong ngục . Một hôm người coi ngục vào thăm và nói :
- Tôi vào mừng quan Biệt giá đây .
Điền Phong hỏi có việc gì đáng mừng . Người coi ngục đáp:
- Viên tướng quân đã bị đại bại mà vền . Phen này hẳn trọng ông lắm .
Điền Phong mỉm cười, chua chát :
- Thế thì ta chết mất !
Người coi ngục ngạc nhiên :
- Hiện ai nấy điều mừng cho ông, sao ông lại bảo thế ?
Phong lắc đầu nói :
- Viên tướng quân , ngoài mặt khoan dung, mà trong lòng nghi kỵ không nghĩ gì đến những kẻ trung thành với mình . Nếu thắng trận, được hả lòng hả dạ thì còn có thể tha thứ cho ta . Chứ nay thua về, ắt hẳn phải hổ thẹn. Ta khó mà sống được .
 
Người coi ngục chưa tin . Nhưng rồi sứ giả mang gươm về, truyền lệnh của Thiệu . Người coi ngục giật mình . Phong nói:
- Ta đã thừa biết .
Hết thảy ngục lại đều ứa nước mắt xót xa .
Phong thản nhiên cầm lấy bảo kiếm, và nói :
- Đại trượgn phu sanh trong trời đất, không biết chọn chúa mà thờ , thật là bất trí . Ngày nay chịu chết, còn hối trách ai ?
Đoạn tự tử trong ngục . Ai nghe tin cũng đều thương tiếc .
 
Vì không biết nghe lời can gián mà Viên Thiệu bị đại bại . Vì đã biết Viên Thiệu là con người ưa nghe lời dua nịnh , không biết trọn lời cương trực, mà vẫn đem lời phải trái ra can gián, nên Điền Phong, Hứa Du, Thư Thụ, kẻ bị nhục, người bị giết . Riêng Tào Tháo  nhờ biế nghe lời Hứa Du mà đổi hẳn được thế cờ : đương thua trở thắng .
Thế mới hay: lời can gián nhiều khi không sướng tai thích ý, nhưng biết trải lòng nhận lấy thì bổ ích cho người nghe không biết đến đâu . Và lời can gián là hải vị sơn hào, không nên trao tặng cho những kẻ "thực bất tri kỳ vị ".
 
 
dv sẽ sửa chính tả sau....
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-12-22 18:43:57diên vỹ>
Biết Quý Trọng Lời Can Gián
 
 
 
Người lãnh đạo muốn thành công thì phải biết:
Tri Nhân
Thiện Dụng
Ngôn thính
Kế Tùng

Viên Thiệu thiếu tất cả những đức tính ấy .
Họ Viên trọng dụng kẻ dua nhịnh, ưa nghe lời gièm pha . Những kẻ trung ngôn đều bị hại .
Trái lại Tào Tháo  đã biết người , biết dùng người đúng chổ, còn biết phân biệt sự lợi hại trong việc dùng mưu kế và nghe lời can gián của những người phò tá .
Bởi vậy Tào Tháo  thắng Viên Thiệu là lẽ tất nhiên .
Về điểm "nghe lời can gián " , Tào Tháo  có chổ rất khả ái, như trường hợp sau đây :
Tào Tháo  đánh lấy được Ký Châu, cho người đi tìm kiếm hiền sĩ . Dân chúng cho biết :
- Có quan kỵ đô úy tên Thôi Diệm, tự Quý Khuê, đã mấy lần hiến kế cho Thiệu mà Thiệu không nghe, nên cáo bệnh về ẩn dật .
 
Tào Tháo  liền vời Thôi Diệm đến, cử làm Biệt giá . Nhân hỏi :
- Ta vừa xét qua sổ bộ, châu này cộng tính được tới ba mươi vạn . Quả là một châu lớn .
Thôi Diệm nghiêm nét mặt nói :
- Nay thiên hạ chia xẻ, chín châu tan hoang . Hai anh em họ Viên tranh giành địa vị , dân Ký Châu phơi xương đầy đồng . Thế mà Thừa tướng chưa hỏi phong tục, chưa nghĩ phương cứu khổ cho dân, đã vội tính số hộ, thì sĩ dân già trẻ bản châu còn mong gì, còn mong nhờ Thừa tướng sao được ?
Tào Tháo  nghe nói, lòng hối quá hiện hẳn ra nét mặt , vội tạ lỗi và đãi Thôi Diệm làm thượng khách, vui nghe lời chỉ bảo , trong công việc bình định Ký Châu .
Định xong việc Ký Châu, Tháo kéo quân đi đánh Viêm Đàm và giết được Viên Đàm ở thành Nam Bì . Tháo sai bêu đầu ngoài thành và hạ lệnh :
- Nếu kẻ nào dám tới khóc, sẽ bị chém đầu .
Nhưng liền đó co người đội mũ vải, mặc áo tang, tới lạy khóc dưới đầu lâu Viên Đàm. Quân sĩ bắt đem trình Tháo . Tháo hỏi ra mới biết đó là quan Biệt giá Thanh Châu, tên Vương Tu , trước vì đem lời ngay can gián Viên Đàm, bị đuổi, nay nghe Đàm chết đến điếu tang . Tháo hỏi :
- Ngươi có biết hiệu lệnh của ta chăng ?
Vương Tu bình tĩnh đáp:
- Có biết .
Tháo hỏi tiếp:
- Ngươi không sợ chết sao ?
Vương Tu khẳng khái nói :
- Tôi sống đã chịu ơn họ Viên. Nay chủ chết mà không khóc thì không phải nghĩa sĩ . Sợ chết quên nghĩa, sao đáng đứng trên đời ? Nếu được phép, tôi xin thu thập thi thể viên Đàm mai táng, rồi chịu chết không oán hận gì .
Tháo than :
- Hà Bắc sao nhiều nghĩa sĩ thế ? Tiếc thay họ Viên không biết dùng ! Nếu họ biết dùng người thì ta đâu dám ngó thẳng con mắt vào đất này !
Bèn cho đem thi thể Viên Đàm chôn cất, rồi phong Vương Tu làm chức Trung lang tướng . Nhân đó hỏi Vương Tu :
- Nay Viên Thượng đã chạy tới Viên Hy, ta nên dùng kế gì mà đánh ?
Vương tu làm thinh không đáp . Tháo khen :
- Thật là trung thần !
Liền đó Tháo sai tướng chia binh đi đánh Viên Thượng và Viên Hy .
Anh em Viên Thượng, Viên Hy không chống nổi quân Tào, chạy đến Liêu Tây ở nhờ cùng rợ Ô Hoàn .
Tào Tháo  bèn bàn bạc việc kéo quân sang đánh rợ Ô Hoàn . Tào Hồng can :
- Viên Hy, Viên Thượng, quân thua tướng mất, thế cùng lực tận, đã xa chạy qua sa mạc . Nay nếu ta đuổi theo sang phía Tây, thảng hoặc Lưu Biểu, Lưu Bị thừa hư đánh úp Hứa Đô, ta không về cứu kịp, ắt tai vạ không nhỏ . Vậy xin hồi sư , đừng tiến nữa là hơn .
Nhưng Tháo nghe lời Quách Gia đem hết ba quân với mấy ngàn cỗ xe, trông thẳng hướng Tây Liêu tiến phát .
Đi qua sa mạc, cát vàng mênh mông bát ngát, gó lốc thổi mịt mù, lối đi gập ghềnh thăm thẳm , người ngựa chật vật lao đao ...Quách Gia chịu không nổi, đau nằm liệt trên xe . Lắm lúc Tháo đã nản chí muốn trở lui, nhưng Quách Gia luôn tìm lời khuyến khích, nên đoàn viễn chinh cố vượt mọi gian lao .
Sao bao nhiêu khổ cực, quân Tào hạ đưọc thành Liêu Tây, Viên Hy, Viên Thượng chạy trống sang Liêu Đông .
 
Phủ dụ xong rợ Ô Hoàn, Tháo rút quân về .
Bây giờ trời nắng to mà khí vẫn lạnh . Suốt hai trăm dặm, không có một mạch suối, một bóng cây ! Quân lại cạn lương, phải giết ngựa ăn thịt , đào đất sâu đến ba bốn mươi trượng mới lấy được nước giải khát .
Về đến Dịch Châu, Tháo trọng thưởng cho các tướng sĩ . Nhân bảo Tào Hồng:
- Chuyến này ta mạo muội nguy hiểm, kéo quân đi đánh xa, nhờ gặp may mà thành công . Tuy đắc thắng, nhưng không nên lấy đó làm phép dụng binh . Khi ra đi, các ông can ta , là vì kế sách vạn toàn mà can . Ta rất quý . Vậy từ nay có ý gì cứ việc nói , đừng ngại nhé .
 
Đọc truyện Tam Quốc đến đây, Tô Lão Huyền, một danh sĩ đời Tống than rằng:
- Tào Mạnh Đức và Viên Ban Sơ hơn kém, hưng vong vì điểm quyết đoán và độ lượng .
Tào Tháo  nghe lời phải đều vui vẻ mà nhận . Lời nói không hạp ý mình, không nghe cũng không giận . Chẳng những không giận mà còn bảo : "có ý gì cứ việc nói, đừng ngại ", như trường hợp Tào Hồng .
Tào Hồng can Tháo đừng đi đánh vì sợ thua . Tháo không nghe cứ đi và đã thắng . Như thế là lời can kia không trúng . Vậy mà Tháo đã không bắt tội lại còn ban thưởng và dặn " cứ nói đừng ngại "
Còn Viên Thiệu cất quân đi đánh Quan Đô , Điền Phong can vì e bất lợi . Viên Thiệu không nghe lại nổi giận bắt Điền Phong bỏ ngục rồi xuất binh . Sau quả bị đại bại . Trở về nghĩ bụng :
- Ai nghe ta bại trận cũng buồn, chỉ riêng Điền Phong không buồn lại còn mừng là khác , vì đã nói trúng !
Rồi sai người vào ngục giết Điền Phong .
Độ lượng của Viên Thiệu hết sức hẹp hòi !
Hẹp hòi có lẽ vì bất tài mà được giữa địa vị cao cả, trong người mang cả hai thứ mặc cảm tự ti và tự tôn, lúc nào cũng cho là mình hơn người và sợ người khinh mình .
Những kẻ như thế chỉ ưa nghe lời nịnh nọt .
Biết quý trọng lời can gián, lời trung thực, chỉ có những bậc có chân tài như Tào Tháo  .
Cho nên xưa nay ai chê Tào Tháo  là chê về mặt Đạo Đức, chớ về mặt biết dùng người và biết nghe lời can gián, thì ai cũng phải khen, cho đến những người không ưa Tháo .
Mà ở đời cũng nhiều cái lạ thật .
- Nghe lời phải có lợi cho mình mà vì sao lại không chịu nghe ? Gương xưa còn sờ sờ, sao không chịu soi để biết mà sửa chữa ?
 
++ bài đã được sửa chính tả ++
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-12-22 18:44:31diên vỹ>
Lòng Nhân Đức

 
 
Chân tướng của chữ NHÂN là vị tha .
Cho nên người nhân đức yêu người như yêu mình, nhất thiết không bao giờ làm hại người để lợi mình, dù lợi ấy to lớn đến đâu cũng thế .
Lưu Bị đến Kinh Châu nương náu cùng Lưu Biểu . Nhân đi đánh dẹp bọn Trương Vũ ở Giang Hạ, lấy được con chiến mã của tướng giặc, cao lớn vạm vỡ trông rất hùng dũng . Lưu Biểu trông thấy tấm tắc khen mãi . Lưu Bị liền đem biếu . Lưu Biểu rất thích, cỡi về thành . Khoái Việt hỏi ngựa ở đâu. Biểu đáp:
- Của Huyền Đức tặng đó .
Việt nói :
- Trước đây anh Khoái Lương tôi rất giỏi xem tướng ngựa nên tôi cũng hiểu đôi chút . Như con ngựa này , dưới mắt có một vết thâm, tức là "vũng chứa lệ ", lại thêm trên tráng có điểm trắng, chính là giống Đích Lư hại chủ . Không nên cỡi . Trương Vũ đã vì ngựa này mà chết, sao chúa công còn dùng ?
Biểu nghe lời, hôm sau mời Huyền Đức vào dự tiệc, nhân thể bảo :
- Hôm qua được hiền đệ cho con tuấn mã, ta rất cảm hậu ý . Nhưng nay nghĩ hiền đệ phải đi đánh dẹp bất thần, cần có ngựa tốt, vậy xin hoàn lại để hiền đệ dùng .
Huyền Đức đứng dậy tạ ơn . Biểu lại nói :
- Hiền đệ ở đây lâu, e bỏ trễ việc võ bị . Gần đây có huyện Tân Dã cũng là thuộc ấp Tương Dương, có đủ tiền lương, có thể đem quân mã tới đó đóng đồn. Hiền đệ ưng chăng ?
Huyền Đức xin vâng.
Hôm sao kéo quân bản bộ ra thẳng huyện Tân Dã . Vừa ra đến cửa thành, gặp một người đến trước ngựa vái dài rồi bảo :
- Con ngựa của ngài đây, thật không nên cưỡi .
Người ấy là quan Mạc tân Kinh Châu tên là Y Tịch, tự là Cơ Bá . Huyền Đức vội xuống ngựa chào và hỏi lý do . Y Tịch đáp:
- Hôm qua tôi nghe Khoái Dị Độ nói với Lưu Kinh Châu rằng ngựa này là ngựa Đích Lư, cưỡi thì hại chủ . Vì thế, Lưu công mới trả lại cho ngài. Sao còn cưỡi làm gì ?
Huyền Đức nói:
- Tiên sinh quá yêu mà dạy cho , Bị thâm cảm tấm lòng . Nhưng nghĩ rằng người ta sống chết do số mạng chứ ? Há con ngựa có thể hại nổi ?
Y Tịch khen là cao kiến . Từ ấy trở thành thân .
 
Lưu Bị đến Tân Dã thì nhân dân được an cư lạc nghiệp .
Do đó có bài hát rằng:
Tân Giả mục
Lưu Hoàng Thúc
Tự đáo thử
Dân phong túc

Nghĩa là :
Kể từ khi
Lưu Hoàng Thúc
Đến Tân Dã
Làm quan Mục
Trăm họ đều
Được phong túc .

 
Lưu Biểu đối với Lưu Bị vẫn giữ hậu tình . Song Huyền Đức vì không đồng ý cùng bọn gian thần của Biểu về việc bỏ con trưởng lập con thứ nên bị chúng ghét và tìm cách trừ khử . Chúng bàn nhau mở Đại Hội Tương Dương, mời Lưu Bị đến, thừa dịp giết đi . Lưu Biểu vì bị bệnh không đến được . Lưu Bị thay Biểu làm chủ đãi khách . Triệu Tử Long đem năm trăm quân mã theo hầu .
Tên gian thần là Thái Mạo thấy Triệu Tử Long không rời Lưu Bị , e khó hạ thủ, bèn bày riêng một tiệc ở ngoại sảnh đãi các tướng và mời Triệu Tử Long ra dự . Huyền Đức thật tình bảo Tử Long nhận lời mời của Thái Mạo .
Rượu được nửa chùng Y Tịch đứng dậy nâng chén đi mời . Khi đến trước mặc Huyền Đức , Tịch đưa mắt ra hiệu rồi nói nhỏ :
- Xin vào thay áo ngay .
Huyền Đức hiểu ý đi ngay .
Y Tịch nân chén mời khắp mọi người rồi lẻn ra vườn sau tìm Huyền Đức , ghé tai cấp báo:
- Chí nguy ! Thái Mạo bày mưu hại ngài . Hiện ngoài thành, ba cửa Đông, Nam, Bắc đều có quân mã đón chận . Chỉ còn của Tây có thể chạy thoát . Ngài mau mau trốn đi ngay .
 
Huyền Đức vội mở ngựa Đích Lư, dắt qua cửa vườn sau , phi thân lên yên, một người một ngựa chạy ra cửa Tây . Người giữ cửa không ngăn cản nổi vội phi báo cùng Thái Mạo . Mạo liền lên ngựa dẫn năm trăm quân đuổi theo .
Huyền Đức ra khỏi của Tây, chạy chưa được vài dặm đã thấy một khe lớn chận mất đường đi . Khe này tên là Đàn Khê , rộng đến vài trượng, nước chảy cuồn cuộn, ghe thuyền không thể qua ngang . Huyền Đức liệu không thể qua được, toan quay ngựa trở lại, bỗng thấy xa xa bụi bay mù mịt, biết rằng có quân đuổi theo . Huyền Đức than:
- Phen này ắt chết .
Nhưng truy binh mã đến gần . Không đừng được , Huyền Đức thúc ngựa lội liều xuống khe . Ngựa lội được vài bước, bỗng hai chân trước sa lầy . Ngựa phục xuống, nước tràn lên ướt cả áo bào . Lúc bấy giờ tiếng ngựa hí quân reo ở phía sau đã sát bên lưng . Huyền Đức bèn quất mạnh một rôi vào mông ngựa và quát :
- Đích Lư, Đích Lư ! Mày thật là ngựa hại chủ ! Hôm nay mi đã hại ta rồi !
Tiếng quát vừa dứt, con Đích Lư từ dưới bùn lầy, vùng nhô lên, rồi vọt một cái qua khỏi khe , sang bờ phía Tây . Huyền Đức cảm thấy như bay bổng lên mây mù, và khi mở mắt ra , thì bên bờ Phía Đông Đàn Khê, Thái Mạo rút cung tên sắp bắn . Huyền Đức vội vã thúc ngựa bỏ chạy .
 
Thoát được nạn lớn, Huyền Đức theo hướng Nam Chương mà đi . Đến lúc mặt trời lặn thì gặp một tên mục đồng đưa vào nhà một ẩn sĩ là Tư Mã Huy . Nhờ cuộc gặp này mà Huyền Đức biết danh được nhiều bậc hiền tài trong thiên hạ .
Sáng hôm sau, Triệu Tử Long đi tìm gặp được Huyền Đức . Chúa tôi cùng nhau trở về Tân Dã .
Một hôm Huyền Đức ra ngoài thành, bỗng thấy một người áo vải, khăn thưa, dây lưng thâm, giày mỏ quạ, vừa đi vừa hát rằng:
Thiên địa phản phúc hề, hỏa dục tồ,
Đại hạ tượng băng hề, nhất mộc nan phù !
Sơn cốc hữu hiền hề, dục đầu minh chúa !
Minh chúa cầu hiền hề, khước bất tri ngô ?

Nghĩa là :
Trời đất nghiêng ngửa hề, lửa sắp tàn!
Nhà to sắp sụp hề, một cây khôn ngăn !
Non sâu có hiền hề, muốn phò minh chúa
Minh chúa cầu hiền hề, không biết ta chăng ?

Nghe ca, Huyền Đức thầm nghĩ:
- Người này phải chăng là Ngoạ Long, Phụng Sồ mà Tư Mã Huy đã nói ?
Bèn xuống ngựa tới chào và mời về huyện .
Hỏi tên họ, người ấy đáp:
- Tôi vốn người Dĩnh Thượng, họ Đan tên Phúc . Từ lâu  nghe sứ quân nạp sĩ chiêu hiền, lòng muốn đến nhưng chưa dám đường đột . Nay đi rong hát mua vui, may được lọt tai ngài vậy .
Huyền Đức rất mừng, đãi như thượng khách .
Đan Phúc nói :
- Con ngựa sứ quân vừa cưỡi đâu rồi ? Xin cho xem lại một chút .
Huyền Đức sai người dắt ngựa vào dưới thềm . Đan Phúc xem ngắm rồi nói :
- Đây là con Đích Lư. Nó tuy là ngựa thiên lý, nhưng phải cái tướng hại chủ . Thật không nên cưỡi .
Huyền Đức nói :
- Đã ứng nghiệm rồi đấy .
Bèn kể lại việc vọt qua Đàn Khê .
Đan Phúc thưa :
- Đó là cứu chủ, chưa phải hại chủ . Sau này thế nào cũng hại chủ . Tôi xin hiến phép này có thể giải được mối hại .
Huyền Đức xin cho nghe , Đan Phúc nói :
- Ngài nghĩ xem có ai là thù địch với mình thì đem ngựa này mà cho . Đợi khi ngựa đã hại người ấy rồi, ngài sẽ lấy về mà cưỡi . Thế là khỏi lo nữa.
Huyền Đức nghe nói biến sắc mặt, bảo :
- Ông mới tới đây, chưa dạy ta điều gì chính đạo, đã khuyên ta làm việc lợi kỷ hại nhân ! Ta thật không dám nghe lời .
Đan Phúc vui vẻ tạ :
 Trước nay vẫn nghe đồn sứ quân là bậc nhân đức, lòng còn chưa tin. Nay nghe lời này mới thật là chắc chắn .
Biết rằng Đan Phúc thử lòng mình, Huyền Đức cũng đứng dậy tạ:
- Bị này làm gì có nhân đức thấm đến người như thế . Còn mong tiên sinh dạy bảo cho nhiều .
 
Đan Phúc đây không ai khác là Từ Thứ .
Từ Thứ sau đó đã giúp Lưu Bị nhiều mưu kế thần tình . Ở đây chỉ nói đến việc ngựa .
Đứng trước con ngựa Đích Lư, chúng ta thấy Lưu Biểu  và Lưu Bị khác nhau xa quá .
Một bên hoàn toàn ích kỷ .
Một bên có lòng vị tha .
Và lòng nhân đức của Lưu Bị đã phát hiện nơi lời nói với Đan Phúc .
Đan Phúc là người giỏi về khoa tâm lý, đã thấy rõ được chân tướng của Lưu Bị qua một chổ hé bất ngờ .
Bởi chỉ trong những lúc bất ngờ , người đời mới để lộ chân tướng .
Những kẻ giả nhân, giả nghĩa, dù ngụy trang khéo léo đến đâu, trong những lúc bất ngờ cũng để lộ cái "đuôi của Tôn Hành Giả ".
 
 
 
++ bài đã được sửa chính tả ++
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-12-22 17:43:14diên vỹ>
Lòng Ái Trọng Kẻ Hiền Sĩ
 
 
Từ Thứ cải tên họ là Đan Phúc giúp Lưu Bị đánh phá quân Tào nhân mấy trận tan thành . Tào Nhân chạy về Hứa Đô ra mắt Tào Tháo  , sụp lại xuống đất, khóc chịu tội, rồi kể rõ việc thua quân thiệt tướng .
Tháo nói :
- Được thua là chuyện thường của kẻ cầm binh . Nhưng có biết ai bày mưu kế cho Lưu Bị chăng ?
Tào Nhân thưa :
- Vì mắc mưu Đan Phúc nên bị hại .
Tháo hỏi các quan :
- Đan Phúc là ai ?
Trình Dục mỉm cười nói :
- Người ấy không phải là Đan Phúc đâu . Hắn từ thuở nhỏ đã học nghề đánh kiếm . Cuối năm Trung Bình, vì giết người để báo thù cho bạn, phải xõa tóc vẽ mặt để lẩn trốn . Kế bị bắt . Hỏi họ tên, nhất định không khai . Quan lại bèn trói để lên xe, sai lính đánh trống đẩy đi bêu ngoài chợ cho thiên hạ nhận mặt . Có người biết rõ họ tên, nhưng thương tình không nói . Sau đó nhờ có bạn lén đến giải thoát, bèn đổi tên họ tránh đi nơi xa , tìm danh sư thọ nghiệp . Thường đi lại đàm luận cùng Tư Mã Huy. Người ấy quê Dĩnh Châu, họ Từ tên Thứ, tự là Nguyên Trực . Còn Đan Phúc chỉ là tên giả đấy thôi .
 
Tháo than:
- Tiếc thay ! Hiền sĩ đã về cùng Lưu Bị . Thế là vây cánh đủ rồi , còn biết tính sao ?
Trình Dục nói :
- Từ Thứ tuy đã theo Lưu Bị, nhưng nếu Thừa tướng muốn dùng, vẫn gọi về được .
Tháo có ý mừng, hỏi :
- Làm sao y có thể về ?
Trình Dục thưa :
- Từ Thứ là người chí hiếu . Từ nhỏ mồ côi cha, nay còn mẹ già ở đây . Hiện em thứ là Từ Khang đã chết . Từ Mẫu không có người nuôi dưỡng . Vậy thừa tướng có thể sai người dụ bà ấy tới , bảo viết thư gọi con về Hứa Đô . Từ Thứ ắt phải vâng lời mẹ .
 
Tháo rất mừng, liền sai người đi tìm Từ Mẫu .
Qua hôm sau bà lão bị đưa về Hứa Đô . Tháo tiếp đãi rất hậu, rồi bảo :
- Nghe lệnh lang Từ Nguyên Trực là bật kỳ tài trong thiên hạ, mà hiện lại ở Tân Dã giúp tên nghịch thần Lưu Bị , bội phản triều đình . Thật chẳng khác viên ngọc quý rơi vào vũng bùn nhơ . Rõ đáng tiếc ! Nay phiền lão bà viết thư gọi về Hứa Đô . Ta sẽ tâu giúp cùng Thiên tử, ắt được trọng thưởng .
Nói xong, gọi tả hữu đem nghiên bút đến .
Từ Mẫu không chịu viết . Tháo ép . Bà cả tiếng mắng nhiếc rồi cầm lấy nghiên mực ném vào mặt Tháo .
Tháo tức giận ghét vũ sĩ lôi ra chém .
Trình Dục can nhỏ Tháo :
- Từ Mẫu dám xúc phạm Thừa Tướng là muốn được chết đấy . Nếu Thừa Tướng giết đi thì mang lấy tiếng bất nghĩa mà mụ ta lại được tiếng đạo đức . Và một khi mẹ bị hại rồi, ắt Từ Thứ càng cố sức giúp Lưu Bị để báo thù . Chi bằng cứ để cho sống, khiến Thứ thân một nơi, bụng một ngã, có giúp Lưu Bị cũng không hết lòng được . Vả lại tha cho mụ ấy, rồi đây tôi sẽ có kế lừa Từ Thứ về giúp Thừa Tướng .
 
Tháo nghe lời, sai người đưa Từ Mẫu về ở một nơi tử tế . Ngày ngày Trình Dục đến thăm hỏi, nói dối rằng mình là bạn thân cùng Từ Thứ, đã kết làm anh em, và đãi Từ Mẫu như mẹ ruột . Có những món ngon vật lạ, Dục đều gởi biếu . Và mỗi khi có vật hiếm thì Dục đều viết tờ thiếp gởi kèm . Từ Mẫu vốn là một bậc nữ lưu học thức ,  nên mỗi lần nhận quà biếu, đều viết thiếp đáp lại cảm ơn . Dục để ý học nét chữ của bà, rồi giả mạo một bức thư cho người sang Tân Dã trao cho Từ Thứ .
Từ Thứ xem thư thấy quả chữ của mẹ, lòng đau như cắt, vội cầm thư vào gặp Huyền Đức , kể rõ thực tình .
- Xin sứ quân thấu cho . Tôi chính là Từ Thứ, tự Nguyên Trực, quê ở Dĩnh Châu, vì trốn nạn nên mới đổi tên là Đan Phúc.  Trước đây nghe Lưu Cảnh Thắng chiêu hiền nạp sĩ, tôi tới yết kiến . Khi đàm luận mới biết là người vô dụng, đang đêm tìm đến trang viện Tư Mã Thủy Kính, kể lại sự tình . Thủy Kính trách tôi không biết tìm chúa, và nhân đó bảo rằng : "Hiện Lưu Dự Châu đang ở trong nhà này, ông nên tìm gặp ".
Vì thế tôi mới hát rong giữa chợ mong động đến tay Sứ quân , và may được Sứ quân đoái tưởng, đem lòng tin yêu trọng dụng . Không ngờ nay lão mẫu mắc phải gian kế Tào Tháo  , lừa đến Hứa Xương, giam cầm trong ngục định gia hại . Lão mẫu đã viết thư đến gọi, tôi không thể không về . Than ôi ! Thứ này đâu dám không đem hết sức khuyển mã để báo ơn sứ quân . Ngặt vì Từ thân lâm nạn, phận làm con phải liều chết lo toan . Nay đành khóc lạy xin đi , cầu mong sẽ có ngày tái ngộ .
 
Huyền Đức nghe nói, khóc oà lên mà rằng:
- Mẫu tử tình thâm, đạo trời là thế . Thôi, Nguyên Trực đừng nghĩ gì đến Bị nữa,  hãy về thăm lãp Phu nhân . Rồi sau này may ra Bị còn được nhờ ơn dạy bảo một lần nữa .
Từ Thứ lạy tạ, toan lên đường ngay . Nhưng Huyền Đức nói :
- Xin cùng nhau sum họp một đêm cuối cùng, sáng mai sẽ ly biệt .
Tôn Càn bảo thầm Huyền Đức :
- Nguyên Trực là bậc kỳ tài thiên hạ , ở Tân Dã lâu nay đã biết rõ hư thực của quân ta . Nay để cho về bên Tào Tháo  ắt được Tào trọng dụng, thì ta bị nguy mất ! Chúa Công nên cố lưu lại, chớ để cho đi . Tháo đợi không thấy Nguyên Trực tới , sẽ giết Từ Mẫu . Nghe tin mẹ chết, tất Nguyên Trực hết sức giúp ta đánh Tào Tháo  để báo thù .
 
Huyền Đức lắc đầu :
- Làm cho kẻ khác giết mẹ để mình dùng con, ấy là bất nhân . Cố giữ lại không cho đi, khiến người dứt tình mẫu tử, ấy là bất nghĩa . Ta thà chết chớ không làm việc bất nghĩa bất nhân .
Kế tiệc dọn. Huyền Đức mời Nguyên Trực vào tiệc . Nhưng cả hai đều không ăn uống gì được , cứ nhìn nhau mà khóc suốt đêm !
Trời hừng đông, cuộc tiễn hành đã sắp đặt sẳn . Huyền Đức cùng Từ Thứ lên yên, sóng ngựa cùng đi ra ngoài thành . Đến trạm Trường Đình, cùng xuống ngựa chia biệt . Huyền Đức nâng chén rượu mời Từ Thứ, ứa nước mắt nói :
- Bị này phận hèn duyên mỏng, không được sum hợp cùng tiên sinh nữa . Thôi từ nay mong tiên sinh khéo thờ chúa mới để lập nên công danh cân xứng với tài năng .
Từ Thứ đỡ lấy chén rượu , khóc và nói :
- Tôi tài thường, trí mọn, đội ơn sứ quân trọng dụng , không may giữa đường chia cách vì tại nạn của mẹ già . Về Tào dù bức bách đến đâu, cũng quyết trọn đời không giúp một kế .
Nói rồi bái biệt .
 
Nhưng Lưu Bị không thể trở lui, lên ngựa đưa Từ đi một trạm nữa, rồi một trạm nữa . Cuối cùng Từ Thứ phải tạ :
- Chẳng dám phiền sứ quân mệt mỏi thêm nữa . Xin cho Thứ được bái biệt ở chỗ này .
Huyền Đức khóc, Từ Thứ cũng thổn thức mà bái từ , lên ngựa cùng vài người tùy tùng tất tưởi ra đi . Huyền Đức dừng ngựa bên đường trông theo . Đoàn người ngựa của Từ xa dần .
Huyền Đức oà lên khóc và nói :
- Ôi thôi ! Nguyên Trực đi rồi ! Ta biết tính sao đây ?
Rồi gạt nước mắt, ngắm theo người đi . Từ Thứ đến khúc đường quanh bị cây che khuất . Huyền Đức lấy rôi ngựa chỉ thẳng về phía trước và nói :
- Ta muốn chặt hết rừng cây kia !
Mọi người ngạc nhiên hỏi cớ . Huyền Đức đáp:
- Vì nó ngăn mắt ta , không cho thấy Nguyên Trực nữa .
 
Còn đang nghiêng đầu ghé mắt nhìn theo , bỗng thấy bóng Từ hiện ra , đang quay ngựa trở lại .
Huyền Đức hồi hộp, nửa lạ, nửa mừng, vội vã thúc ngựa đến đón :
- Tiên sinh trở lại, ắt có chủ ý ?
Từ Thứ dừng ngựa nói :
- Lòng vội trí rối , suýt nữa quên mất việc lớn, nên trở lại xin dặn một lời . Số là vùng này có một kỳ sĩ ẩn dật nơi núi Long Trung , chỉ cách thành Tương Dương hai mươi dặm . Sứ quân hãy đến đó mà cầu  .
Người mà Từ Thứ tiến cử là Khổng Minh .
Tiến cử Khổng Minh xong, hai bên từ giã nhau . Lưu Bị về lo đi cầu hiền tài, Từ Thứ giục ngựa đi thẳng về Hứa Xương thăm mẹ .
Từ Mẫu giận con bất trí lầm mưu Tào Tháo, bèn treo cổ mà chết . Từ Thứ vô cùng đau xót , lo an táng mẹ già, rồi cất nhà bên mộ cư tang . Tháo gửi tặng vật gì đều từ tạ không nhận .
 
 
Quan Vũ vì anh mà ra đi .
Từ Thứ vì mẹ mà ra đi .
Tào Tháo  để Quan Công đi cho trọn nghĩa anh em .
Lưu Bị không giữ Từ Thứ lại để cho trọn nghĩa mẹ con .
Như thế tấm lòng của họ Tào họ Lưu có giống nhau ?
Không giống .
Tào Tháo  đối với Quan Vũ, bề ngoài thả cho đi, bề trong ngầm giữ lại . Đến khi ngăn cản không nổi, mới sai sứ đem công văn truyền các ải cho đi .
Còn Huyền Đức tiễn đưa Từ Thứ thì một mực đưa đi , dù tiếc tài cũng không tìm cách cản trở .
Thêm nữa, trong thâm tâm, Tháo cố ý cho Viên Thiệu giết Huyền Đức để Quan Công không còn người tìm đến và hết lòng giúp mình đánh Thiệu để trả thù cho anh . Trái lại Huyền Đức chỉ sợ Tháo giết mất Từ Mẫu mà mình mang tiếng bất nghĩa bất nhân .
Một bên xảo quyệt gian hùng .
Một bên thành thực nhân hậu .
Nhưng hai bên đều là những người ái trọng hiền sĩ, đều mong kẻ hiền sĩ về với mình, ở với mình .
Để đạt mục đích, Tào Tháo  dùng thuật, Lưu Bị dùng tâm .
Những kẻ sẽ chuộng nhân nghĩa theo họ Lưu .
Những người quí danh vọng theo họ Tào .
Tuy vậy, những người theo Tào Tháo  hầu  hết vẫn đều tận tâm với chủ cũng chẳng khác những người theo Lưu Bị . Đó là nhờ cái thuật dùng người của họ Tào khôn khéo vậy .
 
 
++  bài đã được sửa chính tả ++
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-08-09 17:34:30diên vỹ>
Cầu Hiền

 
 
Người hiền tài chân chính luôn luôn thận trọng .
Được người ta mời ra làm việc cho nước cho dân , kẻ thật có chân tài không bao giờ hấp tấp . Trước khi nhận lời hay từ khước, họ phải xem xét, suy tính kỹ càng .
Không phải làm khó để thách thức giá cao, mà chính là biết tự trọng, tự trọng một cách chân chính . Như trường hợp Khổng Minh là một .
Khổng Minh họ Gia Cát tên Lượng, là một kỳ sĩ đất Nam Dương . Có tài ngang dọc trời đất , song lấy thú ẩn dật làm vui , cùng em là Gia Cát Quân vỡ đất cày ruộng . Nhà ở trên đồi Ngọa Long Cương, nên lấy hiệu là Ngọa Long tiên sinh .
 
Ngọa Long có bốn người bạn chí thân là :
- Thôi Châu Bình ở Bác Lăng .
- Thạch Quảng Nguyên ở Dĩnh Châu
- Mạnh Công Uy ở Nhữ Nam
- Từ Nguyên Trực tức Từ Thứ .
Ngọa Long tiên sinh cũng thường tới lui cùng nhà ẩn sĩ Tư Mã Thủy Kính tức Tư Mã Huy .
Lúc Từ Thứ lên đường về Tào, tiến cử Khổng Minh cho Huyền Đức .
Huyền Đức hỏi :
- Trước đây Thủy Kính tiên sinh có bảo Bị rằng "trong hai người Ngọa Long , Phụng Sồ mà cầu được một thì an định thiên hạ " . Vậy Khổng Minh có phải Ngọa Long , Phụng Sồ đó chăng ?
Từ Thứ đáp:
- Phụng Sồ tức là Bàng Thống . Còn Ngọa Long tức là Ngọa Long tiên sinh .
Huyền Đức hết sức mừng .
Từ Thứ đi rồi Huyền Đức sắm lễ vật rất hậu, cùng Quan, Trương tới Nam Dương cầu Khổng Minh .
 
Đi được mươi dặm, thấy xa xa có mấy người đương cày bên sườn núi, vừa cày vừa hát nghêu . Bài hát có phong vị thần tiên . Huyền Đức gò cương ngựa, gọi mấy nông phu lại hỏi :
- Ai làm bài hát ấy ?
Đáp:
- Ngọa Long tiên sinh làm .
Huyền Đức mừng thầm, hỏi :
- Nhà tiên sinh ở đâu ?
Nông phu chỉ tay, nói :
- Ở phía Nam trái núi này , có dãy gò cao, đó là gò Ngọa Long . Đầu gò, trong đám rừng thưa có một nóc nhà tranh . Đó chính là nơi Tiên Sinh cao ngọa .
Huyền Đức cảm ơn, rồi giục ngựa tiến bước .
Đi vài dặm nữa, xa xa trông thấy dãy Ngọa Long Cương, quang cảnh thật là thanh u nhã tịch .
 
Huyền Đức tới trước nhà, xuống ngựa, đích thân vào gọi cửa . Một chú tiểu đồng ra hỏi . Huyền Đức nói :
- Ta là Tả Tướng quân Nghi Thành Đình Hầu của nhà Hán, lĩnh chức Dự Châu Mục, Hoàng thúc Lưu Bị, tới đây xin bái kiến Tiên sinh .
Tiểu đồng nói :
- Danh hiệu ngài dài quá, tôi nhớ làm sao nổi !
Huyền Đức cười :
- Thế thì em cứ vào thưa rằng có Lưu Bị đến thăm .
Lấy tư cách "phương diện quốc gia " xin vào không được, bèn lấy tư cách cá nhân để xin gặp . Nhưng tiểu đồng lại đáp:
- Rất tiếc, Tiên Sinh mới vừa đi vắng khi sáng .
- Tiên sinh đi đâu ?
- Khi nơi này, khi nơi nọ, không thể biết được .
- Liệu đến bao giờ thì Tiên sinh về ?
- Cũng không biết chừng nào mà đoán ! Khi thì đôi ba ngày, khi thì năm bảy ngày, có khi đến mươi, mươi lăm hôm ...
 
Huyền Đức buồn bã, dùng dằng chưa quyết nên nán lại hay ra về, thì Trương Phi giục :
- Tìm không gặp thì về quách cho xong .
Huyền Đức ôn tồn đáp:
- Hãy đợi một lát nữa xem sao .
Quan Vũ bàn :
- Hãy tạm về, rồi cho người tới dò la, xem lúc nào ông ấy có nhà hãy đến .
Huyền Đức nghe lời, và dặn chú tiểu đồng:
- Chừng nào Tiên sinh về thì em thưa rằng có Lưu Bị đến bái kiến nhé .
Dặn rồi lên ngựa ra về .
 
Đi được vài dặm, dừng ngựa ngoảnh lại ngấm phong cảnh Ngọa Long một lần nữa . Quả thấy : Núi không cao mà xinh tươi, nước không sâu mà trong xanh, đất không rộng mà phì nhiêu, bằng phẳng, rừng không lớn mà xanh mát sum sê . Vượn từng bầy, hạc từng đám, quấn quít nhau trên những khóm tùng rặng trúc, dờn dờn sắc lục lẫn màu xanh ...
Còn đương thưởng lãm thì chợt thấy một người dung mạo hiên ngang, phong tư tuấn tú, đầu đội khăn tiêu dao, mình mặc áo thụng thâm, tay chống gậy lê, từ con đường nhỏ ven núi đi ra . Huyền Đức đoán :
- Chắc là Ngọa Long tiên sinh đây .
Liền xuống ngựa bước tới thi lễ .
Hai bên xưng tên họ, thì người ấy là bạn của Khổng Minh tên là Thôi Châu Bình ở Bác Lăng. Hai người ngồi đối diện trên phiến đá ven rừng, đàm luận cổ kim . Quan, Trương chấp tay đứng hầu . Cảm phục tài biện thuyết, Lưu Bị bèn mờ về huyện chơi . Thôi Châu Bình từ chối rồi vái dài một vái mà đi .
 
Về Tân Dã được vài hôm,  Huyền Đức cho người đi dò la tin tức Khổng Minh . Có tin báo:
- Ngọa Long tiên sinh đã về .
Huyền Đức liền sai thắng ngựa đi . Trương Phi nói :
- Phỏng một kẻ cày ruộng như thế , hà tất đại ca phải thân đi tìm ? Cứ cho người tới gọi cũng được chứ .
Huyền Đức gắt :
- Sao ăn nói lạ thế ? Há không nghe lời thầy Mạnh dạy : Muốn gặp người hiền mà không xử theo Đạo thì có khác gì muốn vào nhà, mà trước khi bước đã đóng cửa lại ? Khổng Minh là bật đại hiền đời nay, mà toan cho người đến gọi sao ?
Bèn lên ngựa đi tìm Khổng Minh . Trương Phi đành im lặng lên ngựa đi theo .
 
Lúc bấy giờ đang giữa mùa đông, trời rét như cắt thịt , mây bủa đầy trời . Đi được mấy dặm, chợt gió bất nổi lên ào ào, rồi mưa tuyét bay phơi phới ...Núi non trong phút chốc bao trùm một màu trắng phau phau và óng a óng ánh ...Trương Phi vừa đi vừa lẩm bẩm :
- Trời rét cắt ruột, váng đóng đầy đất thế này, đến dụng binh còn chẳng được, tội gì lặn lội đi cầu lụy hạng người vô ích ! Đi về quách để tránh gió tuyết còn hơn .
Huyền Đức nói :
- Chính ta muốn cho Khổng Minh thấu rõ lòng ân cần của ta . Nếu hai em sợ rét thì hãy về trước .
Trương Phi nói :
- Chết còn chưa sợ, sợ gì rét . Chỉ sợ Đại ca lao tâm tổn sức đó thôi .
Lưu Bị nói :
- Thế thì đừng nhiều lời, cứ lặng lẽ mà đi .
 
Khi gần đến thảo lư, chợt nghe trong quán rượu bên đường có tiếng ngâm nga. Lưu Bị dừng ngựa lắng nghe, rồi xuống ngựa bước vào quán .
Trong quán hai người đang ngồi đối ẩm. Một người mặt trắng râu dài, một người mày xanh trán rộng , cả hai đều có phong thái thần tiên .
Lưu Bị chắc rằng Khổng Minh là một trong hai người . Nhưng hỏi ra mới biết người râu dài là Thạch Quảng Nguyên ở Dĩnh Châu, còn người trán rộng là Mạnh Công Uy ở Nhữ Nam. Lưu Bị xin được hầu chuyện. Thạch, Mạnh từ khước. Lưu Bị bèn lên ngựa đến Ngọa Long Cương .
Đến nơi hỏi tiểu đồng:
- Hôm nay tiên sinh có nhà không ?
Tiểu đồng đáp:
- Thưa có, hiện đương đọc sách ở trong nhà .
Lưu Bị mừng rỡ theo chân đồng tử đi vào . Đến cửa trong thấy hai hàng chữ lớn viết hai bên :
Đạm bạc dĩ minh chí,
Ninh tĩnh dĩ trí viễn .
Huyền Đức xem nét bút tinh diệu và thưởng thức ý nghĩa cao thâm của văn chương, bỗng nghe tiếng ngâm thơ, bèn nép bên cửa nhìn vào : giữa nhà một người trẻ tuổi, mặt sáng mắt sáng, đang ngồi bên lò sưởi mà cao ngâm .
Đợi tiếng ngâm dứt Huyền Đức bước vào thi lễ .
- Bị này  ngưỡng mộ tiên sinh đã lâu mà chưa có dịp bái hội . Gần đây được Từ Nguyên Trực giới thiệu , Bị đã tới tiên trang một lần, nhưng rủi không được gặp . Hôm nay dầm tuyết băng gió tới đây, may được thấy tôn nhan, thật là vạn hạnh .
 
Người tuổi trẻ vội vàng đáp lễ :
- Tướng quân có phải Lưu Dự Châu muốn gặp anh tôi đó chăng ?
Lưu Bị ngẩn người ! Đoạn hỏi :
- Thế ra tiên sinh không phải Ngọa Long ?
- Thưa tôi là em ruột Ngọa Long, tên Gia Cát Quân . Nhà tôi có ba anh em. Anh trưởng là Gia Cát Cẩn hiện ở Giang Đông giúp Tôn Trọng Mưu . Khổng Minh là anh thứ hai tôi vậy .
Sau khi nói đôi câu chuyện cùng Gia Cát Quân, Lưu Bị viết một bức thư để lại rồi từ giã ra về .
 
Thấm thoát hết đông, sang xuân. Huyền Đức chọn ngày lành giờ tốt , chay tịnh ba hôm, tắm gọi nước hương, thay đổi khăn áo, sắm sửa đi Ngọa Long Cương lần nữa . Quan, Trương nghe tin, rủ nhau vào khuyên can . Lưu Bị nhất định không nghe . Quan, Trương buộc lòng phải đi theo .
Khi còn cách thảo lư độ nửa dặm đường , Huyền Đức xuống ngựa đi bộ . Bỗng gặp Gia Cát Quân. Huyền Đức vội thi lễ :
- Hôm nay lệnh huynh có nhà không ?
Quân đáp:
- Thưa có. Mới về chiều hôm qua. Hôm nay tướng quân có thể cùng gia huynh hội kiến .
Nói xong vùn vụt đi thẳng. Trương Phi giận rằng vô lễ, gườm gườm nhìn theo . Lưu Bị gạt đi, rồi giục Quan, Trương tiến bước .
Đến nơi hỏi thăm tiểu đồng. Tiểu đồng đáp:
- Tiên sinh ngủ chưa dậy .
Lưu Bị bảo Quan, Trương đứng đợi ngoài cổng, rồi nhẹ nhàng từng bước đi vào . Thấy Khổng Minh đang nằm ngửa trên ghế mà ngủ . Lưu Bị bèn chấp tay đứng dưới thềm mà đợi.
 
Đợi ngót nửa giờ mà Khổng Minh vẫn chưa dậy . Quan, Trương nóng ruột bước vào xem . Thấy Lưu Bị chấp tay đứng hầu, Trương Phi nổi nóng nói :
- Sao hắn ngạo mạng đến thế ? Thấy anh ta đứng đợi dưới thềm mà hắn vẫn nằm khểnh giả ngủ . Để em ra nhà sau lấy lửa đốt nhà xem hắn có chịu dậy chăng .
Nói rồi toan thực hiện. Quan Công phải can ngăn hai ba lần, Phi mới thôi. Huyền Đức nghe ồn, quay lại bảo hai em lui ra ngoài cổng rồi đứng chấp tay chờ nữa. Bỗng Khổng Minh vặn mình như muốn dậy. Huyền Đức mừng thầm. Nhưng Tiên sinh lại quay mặt vào pyía trong mà ngủ nữa ! Đồng tử thấy khách đợi lâu quá , toan tời đánh thức chủ , nhưng Huyền Đức ngăn lại, và kiên nhần đứng chờ ...chờ mãi ...Ngót một giờ nữa Khổng Minh mới tỉnh giấc . Vừa mở mắt đã ngâm thơ:
Đại mộng thùy tiên giác ?
Bình sinh ngã tự tri
Thảo đường xuân thụy túc
Song ngoại nhật trì trì .

Nghĩa là :
Mộng lớn ai đà tỉnh ?
Bình sinh ta biết ta
Lều tranh mơ giấc thắm
Bóng ác xế song hoa

 
Ngâm dứt, trở mình hỏi tiểu đồng :
- Có tục khách nào đến chăng ?
Tiểu Đồng thưa :
- Có Lưu Hoàng Thúc đứng đợi từ lâu .
Khổng Minh vội ngồi dậy quở tiểu đồng:
- Sao mày không báo ngay ? Để ta vào thay áo đã .
Nói rồi bước vào nhà trong , lâu đến nửa giờ nữa, mới chỉnh tề khăn áo ra tiếp khách .
 
Huyền Đức trông thấy Khổng Minh mình cao tám thước, mặt đẹp như bạch ngọc, mắt sáng như sao mai, đầu đội luân cân , mình khoác áo lông hạc, phiêu nhiên đường bệ nhưng đượm phong thái thần tiên . Liền vái xuống làm lễ . Khổng Minh đáp lễ . Rồi chủ khách chia ngôi thứ mà ngồi .
Chung trà thấm giọng xong . Huyền Đức đem tỏ hết nỗi lòng . Khổng Minh bày giải qua ý kiến đối với thời cuộc . Rồi sai tiểu đồng đem bức địa đồ, treo giữa nhà, chỉ cho Huyền Đức thấy rõ địa thế trong thiên hạ . Lưu Bị hết sức khâm phục , và khẩn cầu Khổng Minh ra giúp mình cứu thế , an bang . Khổng Minh không chịu . Huyền Đức nghẹn ngào năn nỉ :
- Nếu tiên sinh không ra tay, thì sinh linh thiên hạ còn trông mong ai cứu vớt ?
Nói xong không cầm được nước mắt .
Nhận thấy Huyền Đức quả thành thật hết lòng, bèn nhận lời .
Thế là Lưu Bị được Khổng Minh và chia ba thiên hạ , dựng nên nghiệp đế vương .
Xem thế thì lòng thành thắng tất cả . Và đối với kẻ hiền sĩ, người muốn cầu chỉ nên dùng tấc lòng thành mà thôi .
 
 
Hết
 
 
bài đã được sửa chính tả
 

Đăng nhập để trả lời
0
Cho thơm Diên Vỹ một cái nào. [sm=5.gif][sm=5.gif]
Cảm ơn Diên Vỹ nhiều nha!
Đăng nhập để trả lời
0
cảm ơn Diên Vỹ nhiều
CtLy sẽ xem lại chính tả, rồi sẽ mang vào thư viện sau nhé
 
Thân thương [sm=40.gif]




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-27 22:49:41diên vỹ>
Biết Dùng Người
 
 
Thời Xuân Thu ở nước Tống có người học được môn thuốc gia truyền gọi là quy thủ dược, chữa cóng tay và giá lạnh hiệu nghiệm như thần. Nhà người ấy ở gần sông, làm nghề thợ giặc , nhờ có thuốc, nên trời lạnh đến đâu cũng không bỏ công việc. Nhờ vậy mà cảnh không đến nỗi thiếu hụt .
Một hôm có người ở nước Ngô mang một trăm nén vàng đến mua môn thuốc ấy. Người nước Tống bàn cùng người nhà:
- Làm nghề giặt mướn chẳng qua kiếm gạo hằng bữa, chứ khi nào làm giàu được. Chi bằng ta bán môn thuốc cho người này, lấy một trăm nét vàng, sống phong lưu suốt đời, chẳng hơn sao ?
Ai nấy đều cho là phải .
Người nước Ngô mua được môn thuốc, đem về nước . Gặp lúc Ngô, Việt đánh nhau, trời đông rét quá, quân không thể cầm khí giới chống địch . Người ấy bèn đem thuốc vào yết kiến vua Ngô. Vua Ngô cho thoa thuốc vào tay chân quân sĩ, tức thì không ai còn biết rét nữa, tung vũ khí đánh quân Việt chạy tán loạn .
 
Ấy vậy, cùng một môn thuốc mà người nước Tống chỉ để làm nghề thợ giặt, đỏ lửa ngày hai, còn người nước  Ngô lại dùng dẹp được giặc, đem lại hùng cường cho Tổ Quốc, an lạc cho nhân dân .
Người có tài cũng như mông thuốc chữa cóng, làm được việc hay không làm được việc, là do ở chổ biết dùng hay không biết dùng mà thôi .
Như Bá Lý Hề ở nước Ngu thì Ngu mất, sang nước Tần thì Tần làn mên bá chủ và xưng Vương. Đó chỉ vì Ngu không biết dùng tài Bá Lý Hề mà Tần biết dùng vậy .
Trường hợp hàn Tín cũng thế .
Hàn Tín ở bên Sở bị Hạng Vũ khinh, chỉ cho làm chức Chấp kích lang là một tên tiểu tốt vác kích theo hầu nhà Vua. Trương Lương biết rõ được tài, mới tìm lời khuyên Hàn Tín bỏ Sở về phò nhà Hán. Hàn Tín nghe lời vào Hán Trung, đem tài học ra thi thố cùng Đằng công Hạ Hầu Anh và Thừa tướng Tiêu Hà. Biết là bậc anh tài trong thiên hạ , hai nhà bèn tiến cử Hàn Tín lên Hán Vương. Háng Vương cười:
- Người này, khi ở huyện Bái, ta đã nghe tiếng chịu lòn trôn tên bán thịt là Đỗ Trung ở giữa chợ, không tìm nỗi miếng ăn phải xin cơm Phiếu mẫu nơi bến sông, làng nước ai cũng khinh bỉ. Nay Thừa tướng tiến cử hắn làm Đại tướng, sợ ba quân không phục, các nuớc chê cười và Hạng Vương chê ta là người không có mắt .
Tiêu Hà nói:
- Xưa nhiều người xuất thân bần tiện, mà đến lúc gặp thời đều dựng nên nghiệp cả. Như Y Doãn là kẻ thất phu ở Sằn Giã, Thái Công là một kẻ đi câu ở Vị Giang, Nịnh Thích là một kẻ chăn trâu, Quản Trọng là một tên tù đồ ...Nếu các nhà vua truớc kia mà chê là bần tiện, không dùng, thì làm sao gây nổi được nghiệp vương nghiệp bá. Hàn Tín có tài kinh luân, so với các bậc tiền bối có hơn mà không kém. Nếu đại vương không dùng, tất y tìm sang nước khác .
Hán Vương vị tình Tiêu Hà và Hạ Hầu Anh ban đầu dùng Hàn Tín làm chức Liêu Ngao coi giữ các kho thóc. Sau Tiêu Hà tiến cử một lần nữa, Hán Vương thăng cho chức Tri túc Đô úy coi việc thu thuế .
 
Trước khi chia tay, Trương Lương có trao cho Hàn Tín một bức giác thư, dặn đến Hán Trung thì trình cho Tiêu Hà để dâng lên Hán Vương . Nhưng Hàn Tín không muốn xuất trình giá thư vội, mà chỉ tìm cách trổ tài mình để được trọng dụng mà thôi . Vì vậy khi Hán Vương giao cho các công việc kia, Hàn Tín không tỏ ý bất mãn. Trông thấy cách làm việc của Hàn Tín, Tiêu Hà hết sức khâm phục, bèn mấy lần nữa tiến cử làm Nguyên nhung đem quân đi đánh Sở . Hán Vương nói :
- Ta cũng tin lời Thừa tướng . Nhưng Trương Lương có hứa tìm người phá sở . Hãy đợi hai tháng nữa, nếu không có ai do Trương Lương tiến cử tới đây, thì sẽ trọng dụng Hàn Tín cũng không muộn .
Hai tháng qua, Hán Vương không thực hiện lời hứa .
Hàn Tín nghĩ thầm:
- Đưa giác thư của Trương Lương ra, dù Hán Vương có trọng dụng mình, quân sĩ cũng không phục . Chi bằng ta lập kế làm cho Tiêu Hà sốt ruột mới xong .
 
Đoạn truyền bọn môn hạ sắm sửa hành trang, sáng hôm sau cỡi ngựa ra cửa Đông đi thẳng.
Tiêu Hà nghe tin thấn kinh, dậm chân nói:
- Đã mấy lần ta tiến cử lên Chúa thượng mà Chúa thượng không dùng ! Nay Hàn Tín bỏ đi, nếu không theo gọi về, thì sau  này ăn ngủ sao yên được !
Liền sai thắng ngựa đuổi theo .
Từ sáng đến chiều, đi miết không nghỉ, mãi đến tối mới theo kịp . Hàn Tính đương gò ngựa đứng ngắm trăng bên bờ sông Hàn Khê, Tiêu Hà trách :
- Ở với nhau bấy lâu, dù sao cũng có ít nhiều tình nghĩa . Nở nào ra đi mà không một lời từ giã nhau !
Tiêu Hà vừa dứt lời thì có một bóng ngựa phi tới . Đến nơi thì ra là Đằng công Hạ Hầu Anh cũng đương đi tìm Hàn Tín. Tiêu , Hạ hết lời mời Hàn Tín trở lại, và nói:
- Chúng tôi biết tài tướng quân có thể sánh với Y, Lã, Quản, Nhạc đời xưa, hết lòng tiến cử . Chỉ hiềm chúa thượng chưa có dịp để tin tưởng . Một lần nữa chúng tôi hứa với Tướng quân, nếu Chúa thượng không nghe lời chúng tôi mà trọng dụng tướn quân thì chúng tôi xin bỏ quan về làng, chẳng ở đất Hán Trung này nữa .
 
Hàn Tín bùi ngùi cảm tạ rồi cùng Tiêu, Hạ quày ngựa trở về, tạm nghĩ nơi dinh Tiêu Hà .
Liền đó Tiêu Hà và Hạ Hầu Anh vào chầu Hán Vương.
Hán Vương nghe tin Tiêu, Hạ đi theo Hàn Tín ngót hai ngày một đêm mà chưa thấy về, đương nóng lòng trông đợi . Khi thấy hai tướng bước vào thì giận quở trách . Hai tướng đem chuyện Hàn Tín ra tâu . Hán Vương nói :
- Nước nhà yên hay n guy, ba quân còn hay mất, đều ở cả trong tay người làm tướng . Hàn Tín lúc cha chết không làm nổi ma chay, là kẻ bất trí; đem thân luồn trôn kẻ bán thịt mà không biết nhục, là kẻ hèn hạ; làm tôi nước Sở ba năm mà chỉ làm đến chức Chấp kích lang, là kẻ bất tài . Lấy dĩ vãng đoán tương lai, ta cho Hàn Tín là kẻ vô dụng.
Tiêu Hà và Hạ Hầu Anh đem lời hơn lẽ thiệt ra tâu bày rồi kết thúc :
- Chúng tôi đã biết rõ tài năng Hàn Tín, nên mới tiến cử để lãnh trọng trách quốc gia . Nếu Đại Vương không dùng, chúng tôi xin liều chết .
Hán Vương lòng còn do dự thì trời tối, bèn phán:
- Thôi hai khanh về nghỉ, ngày mai sẽ thương nghị .
 
Đêm ấy Tiêu Hà ngủ không được, dậy sang phòng Hàn Tín . Nhân Tiêu Hà hỏi chuyện về Phạm Tăng, Hàn Tín đoán biết rằng Tiêu Hà nghi mình bỏ đi là có ý đem tin tức Bao Trung về báo cho Sở, bèn lấy giác thư của Trương Lương đưa cho xem. Tiêu Hà cả mừng. Sáng hôm sau cùng Đằng Công vào chầu Hán Vương và dâng giác thư . Hán Vương giật mình:
- Ôi chao ! Té ra là người của Trương Tử Phòng tiên sinh tiến cử . Hàn Tín đã có giác thư, sao lâu nay không xuất trình .
Tiêu Hà liền phân tích tâm trạng của Hàn Tín .
Hán Vương mừng rỡ, nói:
- Bấy lâu hai khanh tiến cử mãi mà ta không tin . Nay có giác thư của Tử Phòng nữa, thế thì Hàn Tín quả là trang anh kiệt rồi vậy . Xem đó đủ biết ta không có con mắt tinh đời , làm mất lòng hiền sĩ . Bây giờ ta phong cho Hàn Tín làm tướng ngay, để bỏ công của các khanh đã tiến cử bấy lâu .
Tiêu Hà nói:
- Nếu Đại vương phong Hàn Tín làm tướng thì e rằng Hàn Tín lại bỏ trốn nữạ
Hán Vương ngạc nhiên hỏi:
- Thế ta phong cho Hàn Tín làm Đại tướng quân, Hàn Tín có bỏ trốn chăng ?
Tiêu Hà đáp:
- Lại càng bỏ trốn gấp hơn nữạ
Hán Vương cau mày hỏi :
- Còn chức gì hơn chức Đại Nguyên Soái ?
Tiêu Hà nói :
- Không còn chức nào hơn . Nhưng Đại Vương phong tước bằng cách nào ?
Hán Vương đáp:
- Vời Hàn Tín đến trước mặt, và phong chức giữa triều .
Tiêu Hà nói:
- Chức Đại Nguyên Soái cầm sinh mệnh muôn quân ngàn tướng, nếu Đại Vương xem thường như vậy, dẫu có phong, Hàn Tín cũng không nhận .
Hán Vương hỏi:
- Vậy phải phong bằng cách nào ?
Tâu:
- Đại Vương phải chọn ngày trai giới, lập đàn tế cáo trời đất như Vũ Vương phong tước cho Lã Vọng ngày xưa . Như thế mới đúng lễ "bái tướng".
Hán Vương nhận lời .
Thế rồi đàn lập, lể cử . Cờ xí rợp trời , trống chiêng dậy đất . Rồng mây cọp gió . Vua tôi cùng vui mừng .
 
Từ ấy Hàn Tín hết lòng giúp Hán Vương . Trước hết lo luyện tướng rèn binh, quânh lệnh nghiêm minh, chiến thuật tuyệt diệu . Không mấy lúc đã đủ sức phá Sở, bèn xin Hán Vương động binh .
Đưòong sạn đạo đã bị Trương Lương đốt . Quân Sở chắc rằng quân Hán hết đường ra khỏi Bao Trung. Quân Bao Trung cũng tưởng phải đợi làm lại xơng đường sạn đạo mới có thể xuất binh . Không ngờ Hàn Tín léo quân đi đường tắc, con đường mà Trương Lương đã chỉ cho Tín ở Sở vào Bao Trung , đánh úp Tam Tần, rồi đánh vào hàm Dương . Đánh đâu thắng đó, không mấy lúc chai hai sơn hà cùng Hạng Võ, làm cho nghiệp Hán mỗi ngày một thêm rộng bền .
Cuối cùng diệt được Sở thu trọn giang san về cho Hán .
 
Thế là Sở không biết dùng Hàn Tín mà mất nước . Hán biết dùng Hàn Tín mà được nước.
Như vậy Hàn Tín chẳng phải là "thuốc chữa cống tay " thời Hán Sở tranh  hùng đó ư ?
Các nhà làm sử xưa nay đều khen Hán Vương .
- Hán Vương trước có thành kiến khinh Hàn Tín nên không dùng . Đến lúc biết được Hàn Tín là anh tài, bao nhiêu tị hiềm trước đều xóa bỏ, lập đàn bái tướng, tôn trọng Hàn Tín hết lòng .
Thói thường thiên hạ, hễ đã khinh ghét ai, thì suốt đời khó mà thật tâm kính trọng, dù biết rằng trước kia mình sai lầm . Hán Vương thoát ra khỏi thưòong tình, nên mới lập nên sự nghiệp vĩ đại .
 
Cổ nhân dạy rằng:
- Đã không tin thì không nên dùng, vì không tin mà dùng thì tất bị phản vì người được dùng biết mình không tin nên không thể hết lòng với mình được . Còn đã tin mà dùng thì phải thật lòng tin tưởng, thì người được tin dùng mói hết lòng với mình . Chớ dùng mà không tin thật sự thì chẳng khác gì không thật tin mà miễn cưỡng dùng . Cả hai đều phải giữ thế với nhau, không lợi gì .
Cho nên có thể nói rằng Hán Vương là tay biết dùng người vậy .





dv sẽ sửa chính tả sau....
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-27 22:51:58diên vỹ>
Ác Lai Ác Báo
 
 
 
Ca sao có câu :
Đời xưa báo trả nhãn tiền,
Đời nay quả báo cũng liền theo tay .

Nghĩa là xưa cũng như nay, hễ ác lại thì ác báo .
Ví dụ trường hợp của Tào Tháo thời Tam quốc .
Xin kể chuyện Tào Tháo :
Tào Tháo muốn giết Đổng Trác để cứu triều đình nhà Hán và nhân dân Trung Hoa ra khỏi bạo quyền . Tháo phải khuất thân thờ Đổng Trác để lừa dịp hạ thủ . Trác rất tin Tháo nên Tháo thường được hầu gần .
 
Một hôm Tháo nhận cây Thất Bảo đao của Vương Doãn, vào phủ Trác đặng thích khách, Đổng Trác đuơng ngồi trên gường gấm , Lã Bố đứng hầu bên cạnh . Thấy Tháo vào, Trác hỏI :
- Sao Mạnh Đức đến chậm thế ?
Tháo thưa :
- Vì con ngựa gầy nên đi chậm .
Trác quay lại bảo Lã Bố :
- Ta có nhiều  ngựa tốt ở Tây Lương mới đến. Phụng Tiên hãy ra lựa cho Mạnh Đức một con .
Lã Bố vâng mệnh đi ra . Tháo nghĩ thầm:
-Thằng giặc này tận số .
 
Vừa toan rút dao đâm, nhưng sợ Trác to và khoẻ quá, nên chưa dám khinh động . Chợt Trác ngả mình nằm xuống quay mặt vào phía trong . Tháo khấp khởi mừng thầm, vội rút dao ra . Chẳng ngờ Trác trông vào gương thấy rõ mọi cử động của Tháo, vội quay lại hỏi :
- Mạnh Đức làm gì thế ?
Vừa lúc ấy , Lã Bố vừa dắt ngựa tới ngoài hiên . Tháo vội quỳ ngay xuống thưa ?:
- Tiểu tương có cây dao quí này, xin dâng lên ân nhân .
Trác cầm xem thấy dao dài hơn thước, chuôi khảm ngọc Thất bảo, lưỡi sáng như nước, bèn khen ngợi và trao cho Lã Bố cất . Tháo cởi vỏ đau đưa luôn cho Bố . Rồi Trác dẫn Tháo ra ngoài xem ngựa . Tháo tạ ơn và nói :
- XIn cho cỡi thử xem sao .
Trác ra lệnh thắng yên cương cho Tháo cỡi .
Ra khỏi phủ Tháo liền ra roi cho ngựa chạy nhanh.
 
Tháo đi rồi cha con Đổng Trác mới nghĩ ra rằng Tháo đã    âm mưu hành thích, bèn thảo văn thư, hoạ hình Tháo, thông sứ đi khắp các nơi  tróc nã .
Tháo ra khỏi thành phóng ngựa đi như bay . Đến huyện Trung Mâu bị lính bắt giải vào nộp quan . Quan huyện lệnh là Trần Cung phục chí khí của Thao, bỏ quan , trốn đi cùng Tháo . Đi được ba ngày, đến một địa phương gần Thành Cao, gặp lúc mặt trời lặn, Tháo cùng Trần Cung ghé vào nhà Lã Bá Xa là anh em kết nghĩa với cha Tháo , để hỏi thăm tin tức gia đình và nghỉ tạm một đêm . Lã Bá Xa mừng, hỏi :
- Ta nghe tiên triều tống văn thư đi tróc nã hiền điệt gấp lắm . Gia đình cháo đã đem nahu sang Trầu Lưu lánh nạn rồi . Sao hiền điệt còn tới đây được ?
Tháo đem câu chuyện gặp Trần Cung kể lại . Lã Bá Xa bái tạ Trần Cung :
- Nếu Tiểu điệt không gặp được sứ quân thì họ Tào đến tuyệt chủng mất . Vậy xin mời sứ quân an toạ và nghỉ tạm một đêm nơi gian nhà cỏ nầy .
Nói rồi đi vào nhà trong , hồi lâu mới đi ra bảo cùng khách :
- Nhà lão không sẵn rượu ngon, xin phép qua Tây thôn , mua một bầu về cùng uống .
 
Lã ông đi được giây lâu thì Tháo nghe sau nhà có tiếng mài dao . Tháo bảo Cung:
- Lã Bá Xa cùng nhà tôi không thân lắm mà ông ta ra đi đột ngột như vừa rồi thật là khả nghi . Vậy thử vào nhà trong nghe ngóng xem sao .
Hai người liền rón rén ra nhà sau , bỗng nghe tiếng nói :
- Trói lại mà giết .
Tháo thất kinh bảo Cung:
- Đúng rồi ! Nếu không hạ thủ trước, ắt bị chúng bắt .
Hai người bèn rút gươm xông vào, gặp ai giết nấy bất luận già trẻ trai gái . Giết luôn một lúc tam mạng người , thây nằm ngổn ngang ! Lúc lục tìm sau bếp thấy một con heo bị trói tròn nằm chờ chọc tiết ! Trần Cung kêu lên :
- Ôi thôi ! Mạnh Đức đa nghi giết lầm người tốt rồi !
 
Hai người vội vã ra khỏi trại , lên ngựa đi gấp . Đi được vài dặm đường đã thấy Lã Bá Xa, cỡi lừa đủng đỉnh trở về, hai bên yên đeo hai bầu rượu , tay cầm trái cây và rao thơm . Thấy Trần Cung và Tào Tháo, Lã Bá Xa liền kêu :
- Kìa hiền điệt và Sứ quân, sao lại bỏ đi như vậy ?
Tháo đáp:
- Kẻ có tội trong mình không dám ở lâu một chổ .
Bá Xa hết lời mời trở lại, nhưng Tháo không nhận, quất ngưạ đi luôn . Đi đươc. một đoạn đường, Tháo bỗng quay ngựa chạy theo Bá Xa và gọi lớn :
- Xin bá phụ dừng ngựa cho nhắn lời này .
Bá Xa nghe kêu vừa quay đầu lại thì Tháo vung gươm chém chết ! Trần Cung kinh hãi noí :
- Vừa rồi đã lầm, sao bây giờ còn giết nữa ?
Tháo đáp:
- Để Bá Xa về thấy cảnh toàn gia bị sát hại thì đời nào chịu bỏ qua . Nhất định hô hoán làng xóm đuổi bắt . Như thế chúng ta mắc đại hoạ ngay .
Trần Cung than :
- Biết là giết oan mà cố giết như vậy là đại bất nghĩa .
Tháo nói :
- Thà mình phụ người còn hơn người phụ mình .
Trần Cung lặng thinh .
 
Đêm ấy hai người vào quán nghỉ. Tháo ngủ trước, Trần Cung bứt rứt không nằm yên, tự nghĩ :
-  Mình tưởng nó là người tốt, bỏ quan mà theo . Ai ngờ là phường lòng lang dạ thú . Nếu để nó sống ắt gây tai vạ về sau .
Nghĩ rồi rút gươm tiến lại bên giường để giết Tháo, nhưng  nghĩ lại :
- Mình vì việc nước mà theo hắn đến đây, nếu lại giết hắn thì mình cũng là người bất nghĩa . Âu bỏ hắn mà đi nơi khác thì hơn .
Đoạn tra kiếm vào vỏ, lên ngựa đi sang Đông quận .
Tháo thức dậy không thấy Trần Cung, tự nhủ :
- Anh này nghe mình nói thật quan niệm xử thế của mình, nghi mình là đứa bất nhân, nên bỏ mà đi đây .
Liền hối hả lên ngựa đi gấp .
 
Thao đến Trần Lư thăm cha, rồi đi chiêu mộ hào kiệt, không bao lâu gây nên sự nghiệp lớn ở đất Sơn Đông .
Nhớ ơn sanh thành, Tháo sai người đi rước cha là Tào Tung ở Trần Lưu về cùng hưởng phú quý . Tào Tung cùng em là Tào Đức và gia quyến trên bốn mươi người , đem theo hơn một trăm đầy tớ thân tín, ngồi xe đến Sơn Đông . Khi đến Từ Châu, quan Thứ sử Đào Khiêm, vốn hâm mộ Tào Tháo, muốn kết giao nhưng chưa có dịp, nay nghe tin Tào Tung đi qua, liền ra nghênh tiếp . Sau khi thiết tiệc đãi đằng . Đào Khiêm thân hành tiễn Tào Tung ra khỏi thành, lại sai viên đô úy là Trương Khải đem 500 quân bản bộ đi hộ tống.
Lúc bấy giờ nhằm tiếc thu sang . Khi qua quyến Tào Tung tới Hoa Phi thì gặp mưa lớn, phải ghé vào một ngôi chùa bên đường mà nghỉ ngơi đọi tạnh . Nhưng cơn mưa kéo dài, đêm phải nghỉ lại chùa . Tào Tung sai Trương Khải đem binh đóng dọc theo hai bên hành lang chùa để canh phòng . Lính bị ướt, đều ta thán . Nửa đem Trương Khải gọi bọn đầu mục vào nơi vách kín bàn nhỏ cùng nhau :
-Chúng ta là du đảng Khăn Vàng bất đắc dĩ phải hàng Đào Khiêm . Từ bấy đến nay chưa được gì vừa ý . Nay nhà họ Tào qua đây có cu/a cải vô số chất chứa trên xe . Chúng ta giết hết cả nhà họ Tào, đoạt lấy của cải , về núi theo nghiệp cũ còn hơn .
Ai nấy đều hưởng ứng .
 
Thế là khuya đêm ấy Trương Khải hô năm tram quân phá cửa chùa vào giết sạch gia quyến và tôi tớ của Tào Tung . Tào Tung cùng nàng hầu chạy trốn vào nhà xí cũng bị Trương Khải tìm giết chết ! Giết hết cả nhà Tào Tung và vơ vét hết của cải , bọn Trương Khải phóng hoả đốt chùa rồi kéo nhau lên núi .
Người sau có thơ rằng:
Tào Tháo gian hùng thế sở khoa,
Tằng tương Lã thị sát toàn gia .
Như kim hạp hộ tao nhân sát:
Thiên lý tuần hoàn báo bất sa .

Nghĩa là :
Tào Tháo gian hùng thế chẳng hai,
Giếg nhà Lã Bá chẳng còn ai !
Nhà Tào chết dưới guơm người khác :
Quả báo từ xưa lý chả sai .

dv sẽ sửa chính tả sau....
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-27 22:50:04diên vỹ>
Đắc Thắng Không Nên Khinh Địch
 
 
Hàn Tín làm Đại Nguyên Sói kéo quân từ Hán Trung ra đáng Quang Trung, chỉ trong ba tháng địch được Tam Tần, chiếm được Hàm Dương, lấy luôn cả Tây Ngụy và Lạc Dương làm cho uy danh của Lưu Bang vang vậy khắp thiên hạ, lòng người theo về nhà Hán mỗi ngày một thêm đông.
Hán Vương rất lấy làm đắc chí .
Một hôm Hán Vương cho triệu Hàn Tín đến nói :
- Nay các Vua chư hầu đều đã hợp binh ở Lạc Dương hơn năm mươi vạn. Sức mạnh ấy có thể địch Sở được . Vậy Nguyên Soái cũng nên tính việc Đông chinh .
Hàn Tín tâu :
- Phép dùng binh phải nhắm ba điều căn bản : Thiên thời, địa lợi, nhân hoà . Nay các chư hầu kéo đến quai thuận, đó là được điểm nhân hoà . Chiếm được Quan Trung, đó là điểm địa lợi . Song năm nay niêm mệnh của Đại Vương không tốt, nên thiếu điểm thiên thời . Ấy vậy xin Đại Vương hãy nghỉ quân dưỡng khí, huyấn luyện binh sĩ,  đợi đến sang năm sẽ cử sự . Tôi nhất định phá Sở không khó . Ví bằng cử binh năn nay, thật tôi không dám vâng mệnh.
 
Hán Vương có ý không bằng lòng, nói:
- Năm trước, ta mới dùng Nguyên Soái chưa đầy ba tháng, Nguyên Soái đã khuyên ta Đông chinh . Nay Quan Trung đã được, binh thế đã thịnh gấp mười năm xưa, thế mà Nguyên saói lại rụt rè, thực ta không hiểu nổi .
Hàn Tín tâu :
- Đại Vương dẫu đưọc Quan Trung, song chưa từng đấu chiến cùng Hạng Vũ lần nào cả . Thế lực Hạng Vương còn cường thịnh . Hiện đang đánh Tề, Lương, Yên, Triệu . Ta nên chờ cho các nước kia phân bớt sức mạnh của Sở rồi sẽ đánh, thì mới cầm chắc sự thành công .
Hán Vương thở dài nói:
-  Dịp tốt không phải lúc nào cũng có , lòng dân không phải lúc nào cũng giữ được . Nay Hạng Vũ Vương đem quân đi chinh phạt chư hầu, chính lúc ta nên thừa cơ mà phá Sở . Nguyên soái đã không đồng ý với ta, thì hãy đem quân bản bộ nhân mã trở về trấn thủ Tây Tần, để ta đi Đông Chinh . Nếu có điều gì nguy cấp, Nguyên soái đem binh đến cứu . Công ấy cũng chẳng phải nhỏ .
 
Trương Lương cũng đến khuyên can, nhưng Hán Vương nhất định không nghe.
Hàn Tín lại tâu:
- Hạng Vương kiêu dũng , thiên hạ vô địch . Đại Vương nên suy xét kỹ càng, chớ nên khinh thị .
Lịch Sinh nói :
- Ý Chúa thượng đã quyết. Như thế Nguyên Soái ở nhà lo lắng, sao bằng theo Chúa Thượng cùng đi cho được chắn chắn chẳng hơn sao ?
Hàn Tín lắc đầu nói :
- Không được . Đất Tam Tần mới thu phục, nhân tâm chưa định . Vả lại đó là căn bản, tôi cần phải trấn thủ . Vạn nhất có điều gì bất lợi thì đó là nơi dùng để quật khởi sau này .
Đoạn đem ấn tín nộp trả cho Hán Vương, rồi bái tạ dẫn quân bản bộ trở về Hàm Dương trấn thủ .
 
Hán Vương đem đại binh sang sông . Đến đâu, quận huyện đều quy phục đến đấy . Hán Vương ngoài mạt làm bộ nhún nhường nhưng trong lòng thì dương dương tự đắc, cầm chắc sự thắng lợi trong tay .
Khi đi đến Trần Lưu, Trương Lương xin Hán Vương phong cho con vua nước Hàn bị Hạng Vũ giết lên nối nghiệp . Hán Vương nghe lời, sai Trương Lương cầm cờ tiết đi phong cho Cơ Tín làm Hàn Vương . Trương Lương lãnh mệnh và tâu :
- Tôi đi Trầu Lưu độ một tháng sẽ trở lại yết kiến Đại Vương nơi Bành Thành . Nay xin Đại Vương lựa trong hàng tướng cử ra một vị Nguyên Soái để điều khiển binh nhung.
Trương Lương đi rồi, Hán Vương tiến binh . Qua đò sông Hiệp Hà, quân sĩ tranh nhau sang sông, chen nhau vấp ngã, la hét inh ỏi, mất cả kỷ luật . Chư tướng ngăn không được . Để nắm giữ việc chỉ huy , Hán Vương bèn lập Nguỵ Báo làm Nguyên Soái .
 
Nguỵ Báo điểm duyệt ba quân, kéo thẳng đến Bành Thành .
Lúc ấy Hạng Vương đi đánh các nước chư hầu chưa về . Bành Thành do Bành Việt trấn thử . Hán Vương bèn sai Lục Giả đem thủ thư đến dụ Bành Việt . Bành Việt mở cửa thành nghênh tiếp Hán Vương . Hán Vương vào thành phủ dụ trăm họ, rồi truyền Ngụy Báo chuẩn bị ba quân để phòng giao chiến cùng quân Sở kéo đến . Đêm Hôm ấy Hán Vương vào cung nội, thu các bảo vật cùng mỹ nữ, và đặt tiệc rượu vui mừng .
Tướng Sở là Ngu Tử Kỳ cứu được vợ Hạng Vũ là Ngưu Cơ thoát ra khỏi thành . Hán Vương không thèm đuổi theo cứ lo vui say cùng nhan sắc .
Ngu Tử Kỳ hộ tống Ngu Cơ đến Sở doanh báo tin cho Hán Vương . Hán Vương nổi giận hét như sấm . Đoạn sai Long Thư và Chung Ly Muội lãnh binh đánh Tần, còn mình thì cấp tốc dẫn ba vạn quân, ngày đêm đi miết về Bành Thành .
Ngụy Báo hay tin Hạng Vương kéo quân đến, vội vàng chia quân nghinh địch . Nhưng sức Hạng Vương quá mạnh không tướng nào địch nổi , nên quân Hán đại bại, thây chết ngổn ngang và Bành Thành không mấy lúc đã trở về tay Hạng Vương . Hán Vương may thoát khỏi, một mình một ngựa chạy thẳng vào rừng .., thân mạng như chuông treo đầu chỉ .
 
Lưu Bang bị Hạng Vũ đánh bại một cách thảm khốc như vậy là bởi không nghe lời Hàn Tín .
Hàn Tín biết mình biết người, cho nên trăm trận tram tháng . Biết Hạng Vũ sức mạnh vô địch, khí thế còn đương hăng, nên lấy điểm "thiên thời " mà can Lưu Bang không nên đánh vội . Lưu Bang thấy mình đã được một số đông chư hầu bỏ Sở theo Hán, tự cho rằng mình đã hơn người nên xem thường địch thủ .
Hán Vương biết lợi dụng việc làm chính đáng của mình là diệt bạo cứu dân, để thu phục lòng người . Chỉ một bức hịch văn mà hơn năm mươi vạn tinh binh của mấy nước qui thuận . Chỉ một bức thư mà Bành Việt mở cửa Bành Thành đón Hán Vương . Từ khi xuất binh, không mất một tên quân, không tổn một giọt máu mà thu không biết bao nhiêu thắng lợi .
Xem thế thì điểm "đắc nhân tâm " thật sự có sức mạnh vạn năng .
Tuy vậy, trong trường chiến đâú, nhân tâm lẽ tất nhiên là một yếu tố quan trọng nhất, nhưng quân sự đâu phải quan trọng kém thua . Sức mạnh của nhân sự và sức mạnh của quân cơ phải đầy đủ thì mới chắc thắng . Thiếu một thì nên phòng thủ mà không nên tấn công .
 
Hàn Tín thấy rõ lẽ phải nên khuyên Bái Công " hãy đợi sang năm " . Hán Vương chỉ chú trọng việc chinh phục nhân tâm mà không để ý đến quân cơ, nên phải thất bại .
Như thế là kiến thức của Hán Vương không được rộng.
Chẳng những kiến thức không được rộng mà tâm thuật không tốt : khi thất thế thì chiều người , bảo gì nghe nấy; lúc đắc chí thì liền phụ người, lời phải vần xem khinh .
Mới lấy được Tam Tần, mới được một số chư hầu quy thuận, Bái Công đã tự cho rằng mình có thể gồm thâu thiên hạ như trở bàn tay . Thật là tự phụ quá sức ! Bái Công quên rằng mình ra khỏi được Ba Thục, vào được Hàm Dương, đâu phải tự mình mà được . Nếu không có Hàn Tín thì dù Trương Lương có tài giỏi đến đâu, Tiêu Hà có tận tâm tận lực đến đâu cũng không thể nào mới ba tháng mà đã chia đôi được thiên hạ cùng Hạng Vũ . Thế mà Bái Công có thể phụ ngay Hàn Tín , lột ấn soái, đuổi về trấn thủ Tam Tần, tự mình cầm binh đi đánh Sở !
 
"Đắc Thế , vong ân " hay nói một cách nôm na, "đặng cá quên nôm " có thể lấy Bái Công làm điển hình vậy .
Thế mà xưa nay ai cũng khen Bái Công là một người có đạo đức, biết dùng đạo đức để trị người . Đó là vì nhà Hán trị vì trên bốn trăm năm, sử sách do một bọn bồi bút viết ra , đều tìm lời tán tụng công đức của kẻ sáng  nghiệp , rồi người sau cứ theo lời người trước mà khen theo . Chỉ có Tư Mã Thiên ở Trung Quốc và Hồ Tôn Thốc ở Việt Nam là chê Bái Công không phải người quân tử . Chỉ xem một chuyện trên kia thì biết lời của hai nhà sau đó là đúng .
 
 
 
dv sẽ sửa chính tả sau....
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-27 22:52:25diên vỹ>
Anh Hùng Chưa Gặp Vận
 
 
Ca dao có câu :
Chim quyên xuống đất ăn trùn
Anh hùng lỡ vận lên nguồn đốt than .

Lại có câu :
Lộc còn ẩn bóng cây tùng
Trần ai biết được anh hùng dễ đâu

Để chứng minh một cách cụ thể hai câu ca dao trên, xin kể chuyện ba anh em Lưu, Quan, Trương đời Tam Quốc .
Lưu, Quan, Trương là ba anh em kết nghĩa chốn Đào viên . Lưu Bị tự là Huyền Đức, anh cả . Quan Vũ tự là Vân Trường, anh thứ . Trương Phi tự là Dực Đức, em út . Ba anh em là bật anh hùng trong thiên hạ, nhưng thời chưa gặp, Lưu Bị phải cúi mình nhận chức huyện lệnh để anh em tạm sống qua ngày .
Thời bấy giờ, nhà Hán suy vi , hoàng cương bị thất thống . Đổng Trác thừa cơ làm ác, hiếp đáp nhà vua , tàn ngược khắp trăm  họ . Các trấn chư hầu hưởng ứng lời hiệu triệu của Tào Tháo , hợp binh lại, tôn Viên Thiệu lên làm minh chủ , các chư hầu phân công nhau, kẻ kéo quân đi đánh Đổng Trác, kẻ đóng giữ các nơi hiểm yếu và tiếp ứng lẫn nhau .
 
Đổng Trác hay tin sai đại tướng là Hoa Hùng kéo năm vạn quân ra nghênh địch .
Hoa Hùng người cao chính thước, mình hổ lưng lang, đầu báo tay vượ, võ nghệ cao cưòng, một mình địch trăm người dư sức .
Thái thú Trường Sa là Tôn Kiên đánh cùng Hoa Hùng, bị đại bại, sai người báo tin cho Viên Thiệu .
Viên Thiệu kinh hãi , triệu tập chư hầu lại bàn tính . Ai nấy đều ngôi im. Thiệu đưa mắt nhìn quanh, thấy phía sau lưng Công Tôn Toản có ba người dung mạo khác thường, đứng tủm tỉm cười . Thiệu hỏi :
- Chẳng hay những người đứng sau lưng Công Tôn thái thú kia là ai ?
Công Tôn Toản ngoạnh lại bảo người đứng giữa bước ra trước rồi đáp:
- Đây là người bạn học thuở ấy của tôi, hiện làm huyện lệnh Bình Nguyên, tên là Lưu Bị .
Tào Tháo hỏi :
- Có phải Lưu Huyền Đức đã phá giặc Khăn Vàng ngày trước đó chăng ?
Công Tôn Toản đáp:
- Phải .
Rồi bảo Huyền Đức ra chào chư hầu , đồng thời kể rõ công lao và tôn phái cùng thân thế của Huyền Đức .
Viên Thiệu nói :
- Đã là người tôn thất nhà Hán, thì xin mời cùng ngồi .
Huyền Đức khiêm tốn, từ chối không ngồi . Thiệu bảo :
- Không phải chúng tôi trọng cái chức của ông đâu . Chúng tôi trọng ông vì ông là dòng dõi nhà vua đó thôi .
 
Bấy giờ Huyền Đức mới ngồi vào chiếc ghế cuối cùng . Quan, Trương khoanh tay đứng hầu sau lưng . Bỗng thám tử vào báo rằng Hoa Hùng đã dẫn quân thiết kỵ đến trước trại khiêu chiến . Thiệu hỏi :
- Ai dám ra đánh Hoa Hùng ?
Tướng của Viên Thuật, tên là Du Thiệp bước ra xin đi . Được một lát, có tin về báo :
- Du Thiệp đánh với Hoa Hùng chưa đầy ba hiệp đã bị Hùng chém chết .
Các chư hầu đều lo sợ . Thứ sử Hàn Phức nói :
- Tôi có viên thượng tướng là Phan Phượng có thể lấy đầu Hoa Hùng .
Thiệu vội sai Phan Phượng ra đánh. Phưọng vác một cây búa lớn. lên ngựa, hùng hổ ra trận . Nhưng chưa được mấy chốc, thám tử đã chạy về báo tin rằng Phan Phượng cũng đã bị Hoa Hùng chém chết rồi . Ai nấy đều thất sắc ! Viên Thiệu than :
- Tiếc thay ! Hai viên thượng tướng của ta là Nhan Lương và Văn Xú chưa đến kịp . Nếu được một người tới đây thì sợ gì Hoa Hùng . Thiệu vừa dứt lời, một người bước ra thềm, nói lớn :
- Tiểu tướng xin đi chém Hoa Hùng về dâng dưới trướng .
 
Mọi người nhìn xuống thấy người đó mình cao chính thước, râu dài hai thước, mắt phượng, mày tằm, mặt đỏ và vuông vức như hai trái táo chắp . tiếng ngân như chuông đồng, đứng hiên ngang chờ lệnh . Thiệu hỏi ai . Công Tôn Toản đáp:
- Em Lưu Huyền Đức, là Quan Vũ đấy .
Hỏi :
- Hiện làm chức gì ?
Đáp:
- Làm mã cung thủ cho Huyền Đức .
Viên Thiệu nổi giận quát rằng :
- Thằng kia ! Mày khinh tất cả chư hầu không có ai có đại tướng chăng ? Mày chỉ là một tên mã cung, sao dám loạn ngôn ! Quây bay đâu ? Hãy đáh đuổi nó ra ngoài lập tức .
Tào Tháo vội ngăn lại :
- Công lộ bớt giận . Người này đã dám đại ngôn, ắt có dũNg lược . Ta thử sai ra đánh, nếu không thắng sẽ trách phạt sau cũng không muộn gì .
Thiệu phân vân nói :
- Sai một tên cung thủ ra trận, ắt bị Hoa Hùng cười chết !
Tháo nói :
- Tôi xem người nầy nghi biểu không tầm thường . Hoa Hùng làm sao biết được là một mã cung thủ .
Vân Tường nói :
- Nếu không thắn, xin chém đầu tôi .
 
Tháo bèn truyền đem rượu hâm nóng ra , tự tay rót một chén, mời Vân Trường uống trước khi lên ngựa . Vân Trường nói :
- Rượu cứ rót để đó . Tôi trở về ngay .
Đoạn bước ra ngoài, cầm thanh long đao lên ngựa .
Ngoài trại, trống trận nổi vang trời, tiếng quân hò hét như sấm dậy . Chư hầu ai nấy đều lo sợ, đang định cho người ra thám thính xem sao, thì bỗng tiếng nhạc ngưạ trở về đã rung lên trước trướng ... Và Quan Văn Trường hiện ra, lẫm liệt, tay cầm thủ cấp của Hoa Hùng ném xuống đất, rồi đón lấy chén rượu của Tào Tháo còn bốc hơi ....
Người sau có thơ khen rằng :
Uy chấn càng khôn, đệ nhất công
Viên môn hoạ cổ hưởng đồng đồng
Vân Trường đình trản thi anh dũng
Tửu thượng ôn thời trảm Hoa Hùng
Nghĩa là :
Cửu quân trống trận nổi đùng đùng
Oai rạng càng khôn, đệ nhất công
Rượu tiễn rot' ra còn toả ấm
Trướng doanh đã thấy sọ Hoa Hùng .
Tào Tháo mừng rờ vô cùng . Trương Phi đứng sau lưng Huyền Đức chạy bổ ra trước trướng, hét lớn :
- Anh tôi đã chém được Hoa Hùng, sao không đánh luôn vào cửa quan mà bắt sống thằng Đổng Trác ? Còn đợi bao giờ nửa ?
Viên Thuật nổi giận mắng :
- Các quan đại thần chúng ta đây còn phải khiêm nhượng, mày chỉ là một thằng tiểu tốt, đầy tớ viên huyện lệnh, sao dám dương oai diễu vũ giữa chốn này ? Quân đâu đuổi hết chúng nó ra ngoài kia .
 
Tào Tháo nói :
- Ai có công thì thưởng . Sao lại phân biệt sang hèn như thế .
Thuận bảo :
- Nếu ngày chỉ trọng một viên huyện lệnh thì tôi xin cáo lui .
Tháo nói :
- Há vì một lời nói mà bỏ đại sự hay sao ?
Bèn bảo Công Tôn Toản đưa ba anh em Huyền Đức về trại . Các quan giải tán . Tháo bí mật đem trâu rượu tới trại Toản để vỗ về ba anh em Lưu, Quan, Trương .
 
Lưu, Quan , Trương là những con chim quyên xuống đất ăn trùn , bị bọn Viên Thiệu, Viên Thuật là những phường mắt thịt, những phường chỉ biết đánh giá người theo gia thế , theo địa vị, khinh khi . Riêng có Tào Tháo là có mắt tinh đời, giữa trần ai đoán đươc. anh hùng . Như thế chẳng đáng phục ư ? Cho nên mặc dù mang tiếng là gian hùng, là giảo quyệt , Tào Tháo vẫn thu phục được nhiều kẻ anh tài trong thiên hạ .
Và những người có tài cao chí cả, khi còn gặp bước gian truân, dầu phải nép mình, im tiếng, cũng vẫn tìm được nguồn yên ủi cho lòng . Như ba anh em Lưu Huyền Đức, khi còn phải đứng sau lưng một ông chư hầu, nhìn thấy mười bảy ông chư hầu khác có đông đủ quân tướng trong tay mà phải sợ Hoa Hùng, thì không sao ngăn được lòng khinh dễ . Không ai bảo ai mà ba anh em cùng nhau mỉm cười ! Cổ nhân bảo rằng :
- Nụ cười của ba anh em Lưu, Quan, Trương là một nguồn an ủi của người anh hùng khi chưa gặp vận .
 
 
 
dv sẽ sửa chính tả sau....
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-28 20:56:25diên vỹ>
Biết Lỗi Phải Sửa Ngay

Cổ nhân nói rằng:
- Phàm đã vào đường lỗi, kẻ tàn nhẫn thì toại chí, kẻ xảo trá thì lo tô điểm cho vơ thành phải, kẻ ngu ngốc thì cố che lấp, kẻ hẹp hòi thì cố chấp, kẻ biếng nhác thì yên thân trong tội lỗi ....Những kẻ ấy ít khi biết ăn năn.
Cũng có kẻ biết ăn năng nhưng không chịu sửa chữa, hoặc hẹn sẽ sửa chữa, nhưng không bao giờ thực hành. Như Tấn Linh Công là một.
Tấn Linh Công lúc vãn niên, sinh ra hoang dâm, bạo ngược, chỉ ham tửu sắc, không kể đến chính sự, lại trọng dụng một tên gian thần là Đồ Ngạn Giả để tìm kiếm những thú vui.
 
Nghe lời Đồ Ngạn Giả, Linh Công lập một hoa viên trong kinh thành, tìm hoa thơm cỏ lạ khắp nơi đem về trồng. Giữa vườn xây một đài cao ba tầng và một tháp toàn bằng đá cầm hoa, đặt tên là Giáng Tiên Lâu. Bốn mùa hoa nở như gấm và ánh mặt trời chiếu vào lầu Giáng Tiên, tỏa ra muôn màu sắc. Ngày ngày Linh Công ngự đến Giáng Tiên Lâu cùng Đồ Ngạn Giả, uống rượu thưởng hoa.
Một hôm Linh Công cùng Ngạn Giả thi nhau bắn chim, lại truyền bọn nhạc công đến múa hát nơi hoa viên. Dân chúng kéo đông như hội. Linh Công bảo Ngạn Giả.
- Bắn chim chưa vui. Bắn người mới thú. Ta với ngươi thi nhau bắn mỗi người một mũi vào đám dân chúng. Nếu bắn trúng mắt thì thắng, bắn trúng tay chân không kể, còn bắn trật phải phạt một vò rượu.
Ngạn Giả tán thành. Dân chúng bị bắn, kẻ trúng chân, người trúng đầu, thất kinh, bỏ chạy. Linh Công truyền lính hầu bắn tiếp. Dân chúng lớp chết lớp bị thương, kêu khóc vang dậy. Linh Công vỗ tay cười lớn:
- Từ khi dựng Giáng Tiên Lâu chưa bao giờ được vui thích bằng bữa hôm nay.
Từ ấy người nước Tấn không ai dám đi ngang qua hoa viên.
 
Kế đó một người dân nhà Châu đem biếu Linh Công một con mãnh khuyển, mình cao ba thước, lông đỏ như lửa, khôn ngoan như người, đặt tên là Linh Ngao. Linh Công rất yêu quý, cắp dưỡng mỗi ngày mấy cân thịt dê, có tên tùy cận của Linh Công gọi là Ngao nô chăm sóc. Linh Công đi đâu, Linh Ngao theo đó và mỗi khi Linh Công giận ghét người nào thì liền truyền cho Linh Ngao xé xác! Ai nấy đều khiếp sợ!
 
Triệu Thuẫn và Sĩ Hội là hai trung thần nước Tấn hết sức lo âu! Một hôm bãi triều, các quan về hết, Triệu Thuẫn bảo Sĩ Hội:
- Vua không lo chính đạo, không biết thương dân, cơ nghiệp nước Tấn e khó giữ vững. Tôi đã nhiều lần can gián, nhưng Vua chẳng chịu sữa mình.
Vừa dứt lời, thì thấy một bọn nội thị khiêng một giỏ tre từ trong cung cấm đi ra. Triệu Thuẫn sanh nghi, đến hỏi. Bọn nội thị không đáp cứ cắm đầu đi thẳng. Triệu Thuẫn hét:
- Nếu không đáp ta chém đầu.
Một người trong bọn nói:
- Ngài là quan Tể Tướng, muốn xem thì cứ đến mà xem. Nói ra sợ trái mạng Vua, chúng tôi không dám.
Triệu Thuẫn cùng Sĩ Hội đến mở giỏ ra xem, thấy xác người chết, thất kinh hỏi:
- Xác ai, vì sao lại lén khiêng ra khỏi cung?
Một tên nội thị thưa nhỏ:
- Đây là xác tên ngự thiện, Vừa rồi Chúa Công sai nấu món tai gấu, người này nấu chưa chín mà Chúa Công đã muốn ăn, không ăn được, nổi giận giết chết!
Triệu Thuẫn than cùng Sĩ Hội:
- Vua mà coi mạng người như cỏ rác, thì nắm giữ giềng mối quốc gia thế nào được. Dù chết chúng ta cũng phải liều mình can gián.
Sĩ Hội nói:
- Để tôi vào trước. Nếu can Chúa Công không nghe, quan Tể Tướng sẽ vào.
 
Tấn Linh Công đang ngồi trên ngự ỷ, vỗ đầu con Linh Ngao mà đùa bỡn, thấy Sĩ Hội vào, biết là Sĩ Hội có ý khuyết răn, liền nói:
- Ta đã hối lỗi, các ngươi chớ lắm lời.
Sĩ Hội lui ra, thuật lại cùng Triệu Thuẫn. Triệu Thuẫn nói:
- Nếu kẻ có lỗi biết hối quá thì còn gì quý rằng. Chỉ sợ Chúa Công nói cho qua chuyện.
Sĩ Hội nói:
- Nếu Chúa Công chịu sửa lỗi thì trong ít ngày nữa chắc có chính lệnh.
 
Ngày hôm sau, Tấn Linh Công cũng ngự ra nơi hoa viên như thường lệ! Biết Linh Công không chịu cải thiện, Triệu Thuẫn đến hoa viên yết kiến. Triệu Thuẫn chận xa giá của Linh Công ở trước cửa hoa viên. Linh Công ngạc nhiên hỏi:
- Ta không hề có lệnh triệu, sao nhà ngươi lại đến đây?
Triệu Thuẫn sụp lạy, tạ tội rồi tâu:
- Tôi nghe nói: Một vị Vua dù vô đạo đến đâu, cũng không lấy việc giết người làm vui bao giờ. Nay Chúa Công nuôi chó để cắn người, bắn tên vào dân chúng để thi tài, giết kẻ nô bộc không đáng tội. Như thế sao gọi là Vua hiền? Vua đã không hiền thì còn ai chịu thờ phụng. Xin Chúa Công nghĩ lại, tự hối cải, may ra nước Tấn mới khỏi bị suy vong.
Linh Công nghe nói có ý thẹn, lấy tay áo che mặt và nói:
- Nhà ngươi hãy lui về. Ta vui chơi một hôm nữa, ngày mai ta sẽ lo cải hoá cũng không muộn.
Triệu Thuẫn nói:
- Kẻ thấy điều lỗi là một tai họa, thì phải lập tức từ bỏ ngay, cớ sao còn hứa hẹn? Chúa Công đã nhận thấy việc chơi bời là trái, mà còn lưu luyến như vậy thì chưa phải thực tâm muốn sửa chữa.
Nói xong vẫn đứng chận đường không cho xa giá vào hoa viên. Đồ Ngạn Giả đứng bên cạnh thấy thế bèn nói:
- Quan Tể Tướng can Vua là đủ rồi, cản xa giá của Vua không sợ tội sao? Nếu có điều gì thì cứ về triều thương nghị.
Linh Công tiếp:
- Ta sẽ triệu ngươi vào triều sáng ngày mai.
Triệu Thuẫn bất đắc dĩ phải tránh cho Vua đi.
 
Vào hoa viên, trong lúc đương vui cười, Đồ Ngạn Giả nhìn Tấn Linh Công mà thở dài, và nói:
- Tiếc thay, cuộc vui này là lần chót!
Linh Công hỏi:
- Sao quan Đại Phu lại nói thế?
Đồ Ngạn Giả đáp:
- Tôi chắc rằng quan Tể Tướng sẽ không để Chúa Công đến đây nữa.
Linh Công nổi giận nói:
- Từ xưa đến nay chỉ có Vua kiềm chế bề tôi, chứ bề tôi sao lại kiềm chế Vua được. Ý ta không muốn kẻ nào áp bức ta cả.
Để được tự do chơi bời, Vua tôi bàn mưu giết Triệu Thuẫn.
 
Nguyên Đồ Ngạn Giả có quen một tráng sĩ tên Thư Nghệ. Nhà Thư Nghệ nghèo túng, thường được Ngạn Giả chu cấp, rất lấy làm ơn, mong có dịp đền đáp. Ngạn Giả bèn mời đến nói:
- Triệu Thuẫn chuyên quyền. Nay ta phụng chiếu sai người đi giết Triệu Thuẫn. Vậy ngươi phải hết lòng. Ngày mai Triệu Thuẫn đi chầu sớm. Ngươi chực ở cửa tư dinh Triệu Thuẫn, chờ lúc đi ra thì đâm chết.
 
Thư Nghệ vâng mệnh, giắt một con dao bén vào mình, thẳng đến dinh Triệu Thuẫn. Lúc bấy giờ trời mới lờ mờ sáng, xa giá đã chực sẵn ở cửa ngoài. Thư Nghệ lẻn vào trong dinh thấy Triệu Thuẫn đã mặc áo đại triều, cầm hốt, ngồi đợi đến giờ vào triều kiến. Thư Nghệ thất kinh nói lớn.
- Kẻ lo việc nước là bậc trung thần, cớ sao Vua lại truyền giết đi? Nay ta nghe lời giết một tôi trung, thì ta là kẻ bất trung, mà không giết thì trái mệnh Vua. Nhưng Thư Nghệ đây mà trái mệnh Vua chớ không nỡ hại kẻ trung lương.
Nói xong, rút dao tự tử.
 
Kẻ tả hữu của Triệu Thuẫn lo chôn cất Thư Nghệ và khuyên Triệu Thuẫn chớ nên vào triều vội, e có biến. Triệu Thuẫn đáp :
- Vua đã hẹn cùng ta sáng nay vào triều thương nghị. Nếu ta không đến là trái mệnh Vua. Việc sống chết của ta đâu bằng việc nước.
Tấn Linh Công thấy Triệu Thuẫn không chết, lại nghe tin Thư Nghệ tự vẫn, thì biết rằng cơ mưu bị lộ rồi. Nhưng đã quyết tâm trừ khử Triệu Thuẫn để được tự do làm việc quấy, Linh Công cùng Đồ Ngạn Giả lo tìm kế khác.
Tấn Linh Công đi vào đường tội lỗi, đôi khi cũng ăn năn. Nhưng nhà Vua không để cho lòng ăn năn xuất hiện. Vì khi lòng ăn năn xuất hiện, thì những sự chán ghét tội lỗi, sự tự chán ghét, tự hổ ngươi, tự tức giận, tự bắt lỗi....sẽ làm cho lòng bồn chồn, không một giờ một phút được yên thú. lẽ nào lại chịu thật sự ăn năn. Cho nên chỉ hứa suông vậy.
Hứa sửa chữa mà rồi không hề sửa chữa, thì bước đường tội lỗi cứ đi tới hoài, rốt cuộc không thể nào trở lui được nữa.
Tấn Linh Công cố giết Triệu Thuẫn để tự do đi trên đường tội lỗi. Nhưng không bao lâu nhà vua bị giết, cuộc hoan lạc đương tổ chức thêm, đành phải dứt ngang! Phải chi Vua biết nghĩ xa, đừng theo lời quấy của Đồ Ngạn Giả, thì đâu đến nỗi phải nát thân và phải nghìn thu mang danh xấu xa hơn Kiệt, Trụ.
 
bài đã được sửa chính tả
 
 
 
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-28 20:56:55diên vỹ>
Nghị Luận Của Người Quân Tử

 
Cổ nhân nói rằng:
- Bị nhục giữa chợ, cách đêm có thể quên được, bị nhục với người quân tử, muôn đời không rửa trong. Chỉ dùng ngọn bút mà "chém", chỉ dùng lý luận mà "đánh", người quân tử dù ở trong nhà lá cửa rách, cũng làm cho đứa gian tà vỡ mật, đứa đại bợm tán đởm, thì cũng do quyền ấy.
Bởi vậy những người biết nghĩ rất sợ lời thanh nghị.
Xin kể tiếp chuyện Triệu Thuẫn.
 
Tấn Linh Công và tên gian thần Đồ Ngạn Giả không ám sát được quan Tể Tướng Triệu Thuẫn thì rất lấy làm bứt rứt. Đồ Ngạn Giả chợt nghĩ ra được một kế, thưa cùng Linh Công:
- Ngày mai Chúa Công vời Triệu Thuẫn vào cung uống rượu. Rượu được nửa chừng, Chúa Công bảo Triệu Thuẫn đưa lưỡi gươm ra xem. Tôi đứng một bên đợi lúc Triệu Thuẫn rút gươm khỏi vỏ, sẽ quát do rằng "Triệu Thuẫn toan thí Vua" và hô quân giáp sĩ bắt giết. Như thế Chúa Công khỏi mang tiếng sát hại đại thần.
Linh Công khen là diệu kế.
 
Trời vừa sáng, Triệu Thuẫn vào chầu. Linh Công nói:
- Quan Tể Tướng vì nước, hết lòng khuyên ta sửa lỗi. Ta cảm ơn ấy nên đã truyền sửa một bửa tiệc nơi hậu cung. Ngày mai vời quan Tể Tướng đến đối ẩm cùng ta để ghi nhớ ngày cải quá.
Triệu Thuẫn vâng mệnh.
 
Ngày hôm sau Triệu Thuẩn cùng gia tướng là Đề Di Minh vào hậu cung Linh Công. Đồ Ngạn Giả chận Di Minh không cho bước lên thềm. Triệu Thuẫn bước lên thềm, sụp lại hai lạy, rồi mới cùng Linh Công vào tiệc.
Khi rượu được vài tuần, Linh Công nói:
- Ta nghe quan Tể Tướng có thanh gươm quý, thử cho ta xem qua.
 
Triệu Thuẫn không biết mình bị lừa, toan cởi thanh gươm dâng cho Linh Công. Đề Di Minh trông thấy, thất kinh, nói lớn:
- Bề tôi đến hầu rượu Vua, dầu vui cũng còn không đám quá chén, cớ sao Tể Tướng lại rút gươm trước long nhan ?
Triệu Thuẫn hiểu ý, đứng dậy ngay. Tức thì Di Minh bước lên thềm kéo Triệu Thuẫn xuống. Đồ Ngạn Giả biết cơ mưu bị phá, liền hô chó Linh Ngao đuổi cắn. Di Minh yểm trợ Triệu Thuẫn chạy đến ngõ cung thì Linh Ngao đuổi kịp, Di Minh rút đùi đồng đánh chết Linh Ngao. Linh Công nổi giận hô quân giáp sĩ đuổi đánh. Di Minh đứng cản nơi ngõ cung để cho Triệu Thuẫn chạy.
 
Quả bất địch chúng, Di Minh bị giết.
Còn Triệu Thuẫn đang chạy, thấy một tên giáp sĩ đuổi theo gần kịp, thất kinh hỏi:
- Ngươi quyết giết ta sao?
Giáp sĩ đáp:
- Xin quan Tể Tướng chớ sợ. Tôi theo bảo vệ quan Tể Tướng.
- Ngươi là ai mà lại cứu ta?
- Tôi là Linh Chấp. Quan Tể Tướng không nhớ người đói nằm nơi bụi dâu trước kia sao?
 
Nguyên năm năm về trước, Triệu Thuẫn đi săn ở Cửu Nguyên sơn, ngồi nghỉ  nơi gốc cây dâu, thấy một chàng trai nằm trong bụi. Triệu Thuẫn ngỡ là quân thích khách, truyền kẻ tả hữu đến bắt. Chàng trai không dậy nổi, nói:
- Tôi không phải gian phi. Tôi là Linh Chấp sang học ở nước Vệ đã năm năm nay, bây giờ trở về nước. Dọc đường hết tiền ăn, phải nhịn đói đã ba hôm.
Triệu Thuẫn động lòng thương sai người cho cơm nước và mấy nắm nem. Linh Chấp ăn một nửa còn một nửa cất vào giỏ. Triệu Thuẫn hỏi:
- Sao ngươi không ăn cho no?
Thưa:
- Nhà tôi ở Tông Môn, gắng sức đi trong một ngày nữa là đến. Tôi còn mẹ già trông đợi, tôi sẽ dâng nửa thực phẩm để dành kia để mừng mẹ già.
 
Triệu Thuẩn khen là hiếu tử, cho thêm một số cơm thịt nữa để đem về. Linh Chấp lại tạ ra đi. Sau đó ứng mộ ra lính, được ở vào số quân giáp sĩ vâng lệnh đuổi bắt Triệu Thuẫn. Nhớ ơn ngày xưa, Linh Chấp cố sức chạy theo bảo vệ.
Hai người chạy ra khỏi cửa thành, ngoảnh lại thấy đoàn quân giáp sĩ đuổi theo gần kịp, Triệu Thuẫn nói:
- Ta sắp chết đến nơi, nhà ngươi còn theo làm chi. Hãy trốn đi kẻo oan mạng.
Linh Chấp thưa:
- Dầu chết tôi cũng phải lo đền ơn thuở nọ.
 
Giữa lúc ấy, con Triệu Thuẫn là Triệu Sóc hay tin cha bị nạn, vội đêm quân tiếp cứu. Hai cha con gặp nhau đánh đuổi đoàn giáp sĩ trở lui. Linh Chấp nhân lúc lộn xộn bỏ trốn, không biết đi đâu. Hai cha con Triệu Thuẫn chạy ra cửa Tây, trốn sang nước ngoài tị nạn.
Tuy không giết được Triệu Thuẫn, nhưng thấy Triệu Thuẫn bỏ trốn, Tấn Linh Công cũng yên tâm, không còn sợ ai ngăn cản mình nữa, bèn đem cả cung quyến ra ở nơi hoa viên.
 
Còn hai cha con Triệu Thuẫn đi dọc đường bỗng gặp Triệu Xuyên là cháu kêu bằng chú, đi săn về. Triệu Thuẫn kể hết sự tình, rồi nói:
- Ta không thể ở lại nước Tấn được. Ngươi hãy về triều tìm cách cứu quốc.
Triệu Xuyên nói:
- Thúc phụ chớ sang nước khác vội. Hãy đóng quân nơi Thú Sơn Dương đợi tin.
Đoạn từ biệt nhau:
Triệu Xuyên về kinh đô, tìm cách mua chuộc lòng Tấn Linh Công để được gần gũi.
Được ít lâu, Triệu Xuyên tìm kế sai Đồ Ngạn Giả đi các nơi tuyển gái đẹp để dâng cho Linh Công. Còn một mình hầu gần Linh Công. Triệu Xuyên mưu cùng bọn giáp sĩ thí nhà Vua, rồi cho triệu Triệu Thuẫn về lo việc nước.
 
Triệu Thuẫn tôn công tử Hắc Điền lên kế vị, lấy hiệu là Tấn Thành Công. Và để gỡ tội giết Vua của Triệu Xuyên, Triệu Thuẫn làm lơ không cho tầm nã Đồ Ngạn Giả và bắt tội bè đảng của Ngạn Giả.
Một hôm Triệu Thuẫn bảo quan Thái Sử là Đổng Hồ đem bản thảo ra xem thử đoạn sử nơi vườn hoa chép như thế nào. Đổng Hồ đem bản thảo ra trình. Triệu Thuẫn mở ra xem thấy chép:
 
- Mùa thu, tháng bảy, năm Ất Sửu, Triệu Thuẫn giết Vua Di Cao ở hoa viên.
Triệu Thuẫn giật mình nói:
- Quan Thái Sử lầm rồi ! Lúc đó ta chạy ra Hà Đông, đóng tại núi Thú Dương, cách thành hơn hai trăm dặm. Ta có biết đâu việc giết vua !
Đổng Hồ nói:
- Ngài làm quan Tướng Quốc trốn đi chưa khỏi địa giới nước nhà mà có việc giết Vua, lại khi ngài trở về không trị tội đứa phản loạn, như thế sao dám bảo rằng mình không phải là chủ mưu ?
 
Triệu Thuẫn hỏi:
- Có thể chữa lại được không ?
Đổng Hồ đáp:
- Đã là sử thì bao giờ cũng mang tánh chất thực tại, đâu phải uốn nắn theo ý muốn của người. Đầu tôi có thể rơi, nhưng đoạn sử không thể đổi.
Triệu Thuẫn buồn rầu nói :
- Thế mới biết quyền chép sử là quyền tuyệt đối! Tiếc thay, ta không lo tròn bổn phận để phải mang tiếng xấu nghìn thu !
 
Từ ấy Triệu Thuẫn một lòng tận trung với tân chúa và mọi hành động đều thận trọng từng phân từng ly.
Đó là thái độ của ngươi quân tử.
Còn kẻ tiểu hân thì chỉ nghĩ đến danh lợi nhất thời, việc nghìn sau đâu có kể đến. Họ có ngờ đâu danh lợi có lâu bền lắm cũng chỉ trong vòng trăm năm, mà lời thanh nghị dù trải bao nhiêu bể dâu cũng vẫn không bao giờ mất.
Gương xưa còn đó, hỡi ai là người nghĩ xa , thấy xa .
 
 
bài đã được sửa chính tả
 
 
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-28 20:57:20diên vỹ>
Động Cơ Công Tác

 
Ra làm việc đời, người quân tử lúc nào cũng nghĩ đến nghĩa chung, còn kẻ tiểu nhân thì luôn luôn lo bồi đấp quyền lợi riêng của mình.
Nhiều khi vì tư lợi, kẻ tiểu nhân làm nhiều việc có lợi cho kẻ khác. Nếu không thấy rõ động cơ, thì lắm người lầm tưởng rằng  kẻ kia có mỹ ý, có thiện chí.
Xin kể câu chuyện nàng Hạ Cơ, thời Xuân Thu làm tỷ dụ.
 
Hạ Cơ người nước Trịnh, dung nhan tuyệt thế, lại có thuật ái ân kỳ dị, hễ người đàn ông nào đã gần gũi thì suốt đời không thể quên .
Lúc còn con gái nàng tư tình cùng công tử Man. Công tử vì quá tham luyến mà yểu mạng. Sau nàng lấy chồng người nước Trần là quan Đại Phu Hạ Ngư Thúc, sanh được một trai là Hạ Trung Thư. Chưa được bao lâu Ngư Thúc cũng bất lực mà thác .
Năm Hạ Trung Thư lên 10 tuổi, Hạ Cơ lấy cớ cho theo thầy học tập, để mình được tự do vui hưởng tuổi xuân sắp tàn. Nàng tư thông cùng hai quan Đại Phu nước Trần là Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ, và đối với Nghi Hàng Phủ có phần mặn nồng hơn. Khổng Ninh Nghĩ thầm:
- Nếu cứ để tình trạng kéo dài thì một ngày kia tất Hàng Phủ chiếm đoạt trọn vẹn tình yêu dấu. Chúa Công vốn người háo sắc, ta đưa Chúa Công đến để làm thế chân vạc thì hơn .
 
Thế là Trần Linh Công được gần gũi Hạ Cơ.
Từ ấy cả ba thay phiên nhau mà lui tới cùng người đẹp.
Lúc bấy giờ Hạ Trung Thư đã trưởng thành, hay được tin nhà, rất lấy làm tức giận . Để mua lòng, Trần Linh Công bèn phong cho Trung Thư nối chức cha làm quan Tư Mã, coi giữ binh quyền. Trung Thư tạ ơn Vua, rồi vào bái yết mẹ, Hạ Cơ bảo:
- Đó là một đặc ân của Vua, con phải tận tâm với nước, chớ nên bận đến việc nhà.
 
Một hôm Trần Linh Công cùng Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ ra chơi đất Châu Lâm, là nơi Hạ Cơ ở, Trung Thư hay tin vội về nhà mở tiệc hầu Vua. Hạ Cơ thấy có con, không dám ra hầu rượu.
Ba Vua tôi ngồi trong tiệc nói toàn những chuyện dâm ô. Trung Thư chán ghét, bỏ ra phía sau bức bình phong mà ngồi. Nhân lúc Trung Thư vắng mặt, Trần Linh Công nói đùa cùng Nghi Hàng Phủ:
-  Ta trông Hạ Trung Thư cao lớn giống nhà ngươi lắm, hay là con rơi của nhà ngươi ?
Hàng Phủ cười đáp:
- Đôi mắt của Trung Thư sáng ngời, trông giống in mắt của Chúa Công .
Khổng Ninh tiếp:
- Mẹ hắn đa tình, tôi chắc Trung Thư là đứa con hỗn hợp.
Ba người vỗ tay cười lớn.
 
Hạ Trung Thư ở sau bình phong nghe nói, tức giận tràn hông, vội chạy vào trong khoá chặt cửa phòng của Hạ Cơ, rồi lẻn ra truyền quân vây phủ quanh vườn không được để ai chạy thoát . Đoạn kéo một toán quân vào quát lớn:
- Hãy bắt lũ dâm tặc cho ta .
Ba vua tôi thất kinh xô bàn chạy trốn .
Vì đã thuộc tất cả đường lối trong vườn nhà Hạ Cơ, Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ theo nẻo tắc chạy thoát khỏi. Còn Trần Linh Công bị Hạ Trung giết nơi vườn sau .
 
Giết xong Linh Công, Trung Thư kéo binh về triều nói dối rằng nhà Vua ngộ cảm bỏ mình, và lập thế tử lên kế vị. Đó là Trần Thành Công.
Lúc bấy giờ nước Sở sai sứ sang Trần mời đại hội. Sứ Sở hay tin Hạ Trung Thư giết Trần Linh Công liền trở về tâu cùng vua Sở . Trong khi ấy Khổng Ninh và Hàng Phủ cũng đã trốn sang tới Sở, vào yết kiến Sở Trang Vương. Hai người giấu việc Vua dâm loạn, chỉ kể tội phản nghịch của Hạ Trung Thư mà thôi.
Sở Trang Vương hội quần thần thương nghị .
 
Nước Sở có quan đại phu tên Khuất Vu, tự Tử Linh, phong tư đẹp đẽ, văn võ toàn tài, chỉ mắc phải bệnh háo sắc, Khuất Vu đã từng nghe danh tiếng Hạ Cơ, lòng hằng mơ ước. Nay nhân dịp Trần có biến, muốn mưu việc riêng của mình, bèn khuyên Sở Trang Vương cử binh sang đánh.
Sở Trang Vương theo lời .
Quân Sở giết được Hạ Trung Thư và bắt được Hạ Cơ.
Khi trông thấy Hạ Cơ, Sở Trang Vương mê mẫn, bèn hỏi các quan tùy tùng:
- Các phi tần nước Sở không ai bằng Hạ Cơ, ta muốn đem nàng về cung, các khanh nghĩ sao ?
Khuất Vu liền can:
- Đại vương đem quân sang đây cốt trị kẻ có tội. Nếu Đại Vương lấy Hạ Cơ là mẹ kẻ đã thí Vua, thì nhân dân sẽ cho Đại Vương là người háo sắc, sẽ có hại cho uy danh của Đại Vương.
 
Sở Trang Vương khen:
- Khuất Vu nói rất phải. Nhưng người đàn bà này có một sắc đẹp khác thường, không nên để ta trông thấy.
Nói xong liền truyền đuổi đi.
Công tử Trắc đứng bên cạnh, thấy thế liền tâu:
- Tôi góa vợ đã lâu, xin Đại Vương cho phép tôi lấy nàng làm kế thiếp.
Khuất Vu lại can:
- Không nên. Người đàn bà này là vật bất tường. Trước kia công tử Man và Hạ Ngư Thúc đã chết non vì nàng. Vua Trần bị giết, Khổng Ninh và Nghi Hàng Phủ bị lưu vong cũng vì nàng. Nước Trần bị điêu đứng cũng vì nàng nốt. Xem thế thì ai gần gũi nàng đều phải mang hoạ, công tử nên nghĩ xa.
 
Sở Trang Vương lại khen:
- Thật là lời nói của kẻ quân tử, khanh nên nghe theo. Trong thiên hạ không thiếu chi gái đẹp, nên tìm người khác thì hơn. Tuy nhiên, sắc đẹp ấy mà để tự do nhất định gây rối trong thiên hạ, chi bằng tìm cho một người chủ thì hơn.
Bèn đem gả cho một vị tướng già goá vợ ở đạo hậu quân là Tương Lão.
Tương Lão và Hạ Cơ lạy tạ Sở Trang Vương rồi lui ra.
Khuất Vu nhìn theo thở dài ! Nhưng rồi bụng bảo dạ :
- Tương Lão đã già, sức chịu đựng có bền cũng chỉ trong vài tháng. Chừng ấy sẽ hay.
 
Sau khi dẹp yên nước Trần, Sở Trang Vương kéo quân về nước.
Nhân công tử Anh Tề có công trong việc đánh dẹp, Sở Trang Vương muốn phong đất. Công Tử xin đất Thân và đất Lã. Khuất Vu can:
- Đất Thân và đất Lã là nơi hiểm địa dùng để ngăn quân nước Tấn. Không nên phong cho ai cả.
Sở Trang Vương nghe lời.
Nhưng không bao lâu, Khuất Vu lập được công lớn. Sở Trang Vương lại đem đất Thân và đất Lã phong cho. Khuất Vu liền nhận, không một lời từ chối. Chừng ấy công tử Anh Tề mới biết Khuất Vu không thực tâm.
Động cơ công tác của nhân vật trên đều là tư lợi.
Cho nên muốn phê phán một người nào một cách đúng đắn, thì không nên chỉ dựa trên hành động, trên công tác, mà phải tìm cho biết cái động cơ.
 
 
 
bài đã được sửa chính tả
 
 
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-28 20:57:51diên vỹ>
Lòng Dạ Của Kẻ Tiểu Nhân

 
Tấn Văn Công sai sứ sang nước Vệ mượng đường đi đánh nước Tào. Quan Đại Phu nước Vệ là Nguyên Huyến thưa cùng Vệ Thành Công:
- Khi trước vua Tấn lưu vong sang nước ta, tiên quân ta không tiếp rước, thù ấy chắc vua Tấn chưa quên. Nay mượn đường đánh Tào, nếu ta không chấp thuận thì Tấn ắt đánh Vệ.
Vệ Thành Công nói :
- Vệ và Tào cùng thần phục Sở, nếu ta cho Tấn mượn đường đánh Tào thì chưa chắc đã làm cho Tấn quên hận cũ, mà còn gây oán với Sở. Vậy thà Tấn giận còn hơn để cho Sở hờn trách.
Bèn đuổi sứ Tấn trở về.
 
Tấn Văn Công giận kéo quân đánh lấy đất Ngũ Lộc của Vệ. Vệ Thành Công sợ sai sứ đến yết Tấn Văn Công xin giảng hoà. Văn Công nói:
- Nước Vệ không thật tâm. Ta phải đem quân đến Sở Khâu phá tan kinh đô nước Vệ mới hả giận.
Sứ về thưa lại cùng Vệ Thành Công. Ninh Du bàn:
- Nước Tấn đang giận chúa công. Dân chúng trong thành Sở Khâu nghe tin quân Tấn sắp kéo đến, lại quá sợ hãi. Tình thế khó yên. Chúa công nên lánh đi nơi khác để nước Tấn khỏi kéo quân vào kinh thành, rồi ta sẽ tìm cách giảng hoà sau.
 
Vệ Thành Công nghe lời, giao  quyền chính cho em là Thúc Vũ và quan Đại Phu là Nguyên Huyến nắm giữ, còn mình cùng Ninh Du và một số người thân tính tránh ra đất Tượng Ngu.
Tin ấy đến ta Tấn Văn Công. Văn Công muốn kéo binh diệt Vệ. Tiên Trẩn can. Văn Công nghe lời, giao thành Ngũ Lộc cho người canh giữ, rồi kéo quân đi đánh Tào.
Tấn Văn Công thắng được Tào lại phá tiếp được quân Sở.
Vua nhà Châu hay tin muốn ngự giá đến khen thưởng.
 
Tấn Văn Công liền sửa sang hành cung tại đất Tiền Thổ rồi phát hịch đi khắp các nước chư hầu hẹn ngày hội nơi Tiền Thổ để triều bái Thiên Tử.
Vệ Thành Công không thấy Tấn Văn Công nói đến nước Vệ, liền hỏi Ninh Du:
- Vua Tấn hội chư hầu mà không nói gì đến ta cả. Thế thì Tấn còn giận Vệ nhiều lắm. Ta phải đi tránh nơi khác có lẽ hơn.
Ninh Du thưa:
- Nếu chúa công định trốn thì ai lo cho nước Vệ ? Chi bằng Chúa công giả cách nhường ngôi cho Thúc Vũ, khiến Nguyên Huyến đưa Thúc Vũ đến Tiền Thổ xin dự hội. Nếu hội chư hầu thừa nhận Thúc Vũ, thì sự có mặt của nước Vệ chứng tỏ rằng nước Vệ vẫn còn. Mà nước Vệ còn là ngôi Chúa công còn. Tôi xét Thúc Vũ là bậc hiếu hữu, không lẽ nào lợi dụng cơ hội mà đoạt ngôi luôn.
 
Vệ Thành Công tuy không muốn, nhưng hoàn cảnh không thể cưỡng được, đành phải sai Tôn Viêm đến Sở Khâu thay mặt mình mà trao ngôi cho Thúc Vũ, còn mình và Ninh Du chạy sang Trần.
Thúc Vũ nói:
- Tôi xin quyền tạm để giữ nước mà thôi, dẫu Chúa Công có muốn nhường ngôi tôi cũng không dám nhận .
Đoạn cùng Nguyên Huyến đến đất Tiền Thổ. Đồng thời sai Tôn Viêm về thưa lại cùng Vệ Thành Công rằng khi đến Tiền Thổ thế nào cũng xin cho nhà Vua về phục ngôi. Nguyên Huyên bàn với Thúc Vũ:
- Chúa công tánh đa nghi, mặc dù ngài thực tâm, song chưa chắc Chúa Công đã an dạ.
- Vậy biết làm thế nào để Chúa Công tin ?
Nguyên Huyên suy nghĩ hồi lâu rồi nói :
- Để tôi sai con tôi qua đó làm con tin thì chắc Chúa Công không còn nghi ngại.
 
Nói đoạn sai Nguyên Đốc theo Tôn Viêm.
Công tử Chuyên Khuyển thấy thế nói nhỏ cùng Nguyên Huyến :
- Chúa công chắc hẳn không trở về được. Sao quan Đại Phu không đem việc Chúa Công nhường ngôi bá cáo cho trong nước biết rồi lập Thúc Vũ lên làm Vua. Việc ấy chắc vua Tấn sẽ không từ chối, vì Tấn hầu chỉ ghét giận Chúa công thôi.
Nguyên Huyến đáp:
- Thúc Vũ là một người hiền, hết lòng tử tế với anh. Ta há lại quên sao ? Ta đi phen này quyết xin cho Chúa Công được phục ngôi nước Vệ.
 
Công tử Chuyên Khuyển hổ thầm lui ra, lại nghĩ :
- Sau này nếu Thành Công phục ngôi mà Nguyên Huyến tiếc lộ lời ta thì ắt ta phải chết .
Bèn bỏ qua Trần, nói cùng Vệ Thành Công rằng:
- Nguyên Huyến lập Thúc Vũ lên làm vua, cậy có nước Tấn bảo vệ.
Vệ Thành Công ngỡ thiệt, đòi Tôn Viêm vào hỏi. Tôn Viêm thưa:
- Việc ấy tôi không được biết. Nay Nguyên Huyến đưa con là Nguyên Đốc sang đây làm con tin, thì ắt không có manh tâm như thế. Còn nếu có, xin Chúa công hỏi Nguyên Đốc thì rõ .
 
Vệ Thành Công bèn hỏi Nguyên Đốc. Nguyên Đốc thưa:
- Thúc Vũ là người trung tín, xin Chúa Công chớ nghi ngờ.
Vệ Thành Công bỏ qua. Nhưng ít lâu công tử Chuyên Khuyển lại nói nữa:
- Tôi biết Nguyên Huyến âm mưu phản phúc đã lâu. Nay cho con sang đây, ngoài mặt để Chúa Công khỏi nghi ngờ, nhưng bên trong là để dò xét tình hình của Chúa Công mà phòng bị. Nếu Thúc Vũ thật lòng xin vua Tấn trả ngôi lại cho Chúa Công thì chẳng bao giờ góp mặt với chư hầu. Nay Thúc Vũ đã sang Tiền Thổ thì là có ý đoạt ngôi rồi đó.
 
Vệ Thành Công liền sai người đến Tiền Thổ dò tin tức.
Lúc ấy Thiên Tử nhà Châu là Châu Văn Vương đã ngự đến Tiền Thổ. Tấn Văn Công đem các chư hầu ra đón rước về Vương Cung. Châu Tương Vương phong Tấn Văn Công làm bá chủ chư hầu . Thúc Vũ được Tấn Văn Công đồng ý cho thay mặt Vua nước Vệ dự hội, cùng các chư hầu uống huyết thề kết nghĩa đồng minh. Tấn Văn Công tỏ ý muốn lập Thúc Vũ thay Vệ Thành Công làm Vua nước Vệ. Thúc Vũ không nhận, quỳ xin cho Thành Công được phục hồi ngôi cũ. Nguyên Huyến cũng lạy xin. Tấn Văn Công hứa sẽ y cho.
 
Được tin Nguyên Huyến đưa Thúc Vũ vào hàng chư hầu thề nguyền và có tên trong sổ minh ước, Vệ Thành Công nổi giận mắng:
- Thúc Vũ đã bội nghịch, Nguyên Huyến lại bất nghĩa. Vậy để cha con ngươi có ích chi?
Liền rút gươm chém Nguyên Đốc đứa làm hai đoạn !
Người tâm phúc của Nguyên Đốc lén trốn về báo cùng Nguyên Huyến. Nguyên Huyến khóc, nói:
- Con ta chết bởi mạng trời. Dẫu Chúa Công phụ ta, ta đâu dám trách Chúa Công.
Tư Mã Man nói:
- Chúa Công đã nghi, sao ngài không từ chức để tỏ lòng trung thành của mình ?
Nguyên Huyến nói :
- Nếu từ chúc bỏ về thì ai cùng Thúc Vũ giữ nước Vệ. Vả lại con chết là việc riêng. Lẽ nào vì việc riêng mà bỏ đại sự.
 
Đoạn đem việc Vệ Thành Công giết con mình thuật cho Thúc Vũ biết và bảo Thúc Vũ dâng biểu xin Tấn Văn Công cho Thành Công về phục vị.
Tấn Văn Công chấp thuận truyền ba quân để cho Vệ Thành Công về nước, không được phép ngăn cản.
Hay tin Vệ Thành Công được tha, Thúc Vũ mừng rỡ, hối xa kỵ qua Trần đón nhà vua. Công Tử Chuyên Khuyển bàn cùng Vệ Thành Công:
- Thúc Vũ thề nguyền nơi Tiền Thổ, lại làm chúa nước Vệ đã lâu, người trong nước đều phục. Chúa Công chớ tin hắn, e mang hại vào thân.
 
Vệ Thành Công bèn sai Ninh Du về trước dò xét.
Ninh Du về đến Vệ kinh nhằm lúc Thúc Vũ đang cùng triều thần bàn chính sự. Thúc Vũ ngồi một bên chớ không ngồi nơi ngôi chánh và khi thấy Ninh Du đến liền bước ra tiếp rước rất cung kính. Ninh Du hỏi :
- Sao ngài lại không ngự nơi ngôi chánh ? Làm vậy thật khó coi !
Thúc Vũ đáp:
- Chánh vị là ngôi của anh ta. Ngồi một bên ta còn không đành thay , huống chi là ngồi nơi chánh vị.
Đoạn hỏi:
- Chúa Công bao giờ về ?
Ninh Du đáp:
- Có lẽ ngày rằm về đến .
Rồi trở qua Trần tâu cùng Vệ Thành Công :
- Thúc Vũ quả là người trung nghĩa, mong Chúa Công  về chẳng có ý quấy.
 
Vệ Thành Công tin lời. Nhưng Chuyên Khuyển nói nhỏ:
- Ninh Du hẹn chắc ngày về của Chúa Công, ắt có sự sắp đặt chi đây. Nếu Chúa Công về đúng hẹn e bị hại. Chi bằng thừa lúc bất ý, Chúa Công về trước ngày hẹn, dẫu có sắp đặt cũng không trở tay kịp.
Vệ Thành Công nghe lời truyền sửa soạn hồi trào. Ninh Du can :
- Tôi hẹn với cả nước ngày rằm Chúa Công về đến. Nay Chúa Công về sớm e lòng dân hoang mang.
Chuyên Khuyển sợ Vệ Công nghe theo, bèn nói lớn:
- Ngày không để Chúa Công về sớm, chắc có ý chi chăng ?
 
Ninh Du không dám can nữa, xin đi trước để nói cho dân chúng yên lòng .
Ninh Du vừa vào đến thành thì Chuyên Khuyển đã tiếp đến nói:
- Chúa Công đã đến đàng sau kia.
Lúc ấy Thúc Vũ đương tắm, nghe tin báo, tưởng Vệ Thành Công đã về đến, mừng quá, không kịp quấn tóc, vội vã chạy ra đón. Chuyên Khuyển thấy Thúc Vũ, sợ anh em gặp nhau bàn luận, thì mình không khỏi mang tội gièm pha, liền rút tên bắn. Thúc Vũ bị tên trúng nhằm bụng, ngã lăn chết tươi. Nguyên Huyến trông thấy chạy lại ôm thây khóc.
- Hôn quân vô đạo ! Nỡ nào giết người vô tội? Ta sang Tấn kể lại việc này, ắt nhà ngươi không ngồi yên được.
 
Nói xong bỏ sang Tấn. Lúc ấy Vệ Thành Công vừa vào đến nơi. Ninh Du thấy rõ mọi việc bèn thuật lại cho nhà Vua nghe.
Vệ Thành Công đi thẳng vào triều. Sau khi các quan bái yết, Ninh Du đưa Thành Công đến xem thây Thúc Vũ, và xin giết Chuyên Khuyển để tạ lỗi với vong hồn Thúc Vũ. Thành Công theo lời truyền bắt Chuyên Khuyển. Chuyên Khuyển nói :
- Tôi giết Thúc Vũ là vì Chúa Công , chớ tôi với Thúc Vũ nào có tư thù tư oán chi.
Vệ Thành Công nổi giận nói:
- Nhà ngươi đã nhiều lần nói xấu Thúc Vũ. Nay giết Thúc Vũ, sao lại dám đỗ lỗi cho ta.
Liền truyền đao phủ thủ chém đầu.
 
Chuyên Khuyển rõ mặt người dạ thú.
Có người bảo rằng:
- Con người lòng dạ như thế thì đặt tên như thế thật là xứng hợp.
Nhưng Tiêu Liêu Tử cười:
- Giống chó là giống trung nghĩa. Sủa người cắn người là vì chủ chớ nào phải vì thân. Chuyên Khuyển sủa bậy cắn bậy như thế chỉ vì mình. Rõ là một đứa tiểu nhân. Lấy tên Khuyển, thật làm mất danh dự của giống chó không biết mấy.
 
 
 
 
bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-28 20:58:22diên vỹ>
Lòng Lo Nghĩ Của Những Bậc Hiền Giả
 
 
Sở Trang Vương có tiếng đại lượng. Một hôm nhà vua cùng kẻ bề tôi là Ngu Khâu bàn việc nước, đến nửa đêm mới về cung, bà phu nhân là Phàn Cơ hỏi:
- Hôm nay trong triều có việc gì mà Đại Vương thức khuya thế ?
Nhà vua đáp:
- Ta mãi nói chuyện cùng Ngu Khâu, nên trời khuya mà không hay .
Phàn Cơ hỏi:
- Ngu Khâu là người thế nào mà Đại Vương nói chuyện đến quên thôi ?
Nhà Vua đáp:
- Ngu Khâu là người hiền, đủ tài coi việc nước.
Phàn Cơ thưa:
- Theo ngu ý của thiếp thì Ngu Khâu chưa phải người hiền.
Sở Trang Vương ngạc nhiên hỏi:
- Vì sao phu nhân biết Ngu Khâu không phải người hiền ?
Phàn Cơ thưa:
- Ngu Khâu thường bàn việc cùng Đại Vương lúc đêm khuya, mà lâu nay chưa thấy tiến cử một người nào, chỉ đem trí thức của mình ra bao biện mọi việc, khiến cho bao nhiêu người tài giỏi không được góp phần dựng nước. Như thế sao gọi là người hiền?
 
Nhà vua khen phải. Ngày hôm sau đem lời Phàn Cơ nói cùng Ngu Khâu. Ngu Khâu tạ lỗi .
- Tôi chưa kịp nghĩ đến điều ấy.
Liền đó Ngu Khâu hỏi các đình thần xem có ai biết người hiền thì giới thiệu. Đấu Sinh thưa :
- Tôi biết người con của Vĩ Giả là Vĩ Ngao hiện ẩn nơi Mông Trạch, là một bậc hiền giả.
Ngu Khâu tâu cùng Sở Trang Vương. Nhà vua liền sai Ngu Khâu và Đấu Sinh đi rước Vĩ Ngao.
 
Vĩ Ngao tự là Tôn Thúc, tục gọi là Tôn Thúc Ngao cùng mẹ lánh nạn ở Mông Trạch, thường ngày lo việc cày cuốc nuôi thân.
Một hôm, vác cuốc ra đồng, trông thấy một con rắn hai đầu, Thúc Ngao tự nghĩ :
- Người ta thường nói, kẻ nào thấy rắn hai đầu tất vong mạng. Nay ta thấy con vật chẳng lành này thì khó sống nổi. Vậy ta hãy giết nó đi để tránh cho người khác khỏi mắc nạn như ta.
Liền đánh chết con rắn, chơn nơi bờ ruộng. Khi về thưa chuyện cùng mẹ. Bà mẹ nói:
- Lành dữ là do lòng mình chứ đâu phải do rắn. Lòng con đã nghĩ đến điều lành, thì việc gặp rắn có dữ đến đâu cũng không có gì đáng ngại.
Mấy hôm sau, có tin Ngu Khâu cùng Đổng Sinh phụng mệnh Sở Trang Vương đến triệu, bà mẹ cười bảo Tôn Thúc Ngao:
- Con vừa làm phúc liền gặp phúc đó.
 
Tôn Thúc Ngao đem mẹ theo Ngu Khâu và Đổng Sinh về kinh thành. Sở Trang Vương đem việc nước ra bàn. Tôn Thúc Ngao ứng đối như lưu. Sở Trang Vương rất vừa ý, khen:
- Trong triều không có ai kiến thức bằng ngươi .
Bèn phong Tôn Thúc Ngao làm tể tướng.
Tôn Thúc Ngao cố từ, những không được.
Lên nắm quyền bính, Tôn Thúc Ngao liền chỉnh đốn chánh sự, lập ra quân pháp, lo đắp đê điều, đào mương rãnh ...Kỹ cương mỗi ngày mỗi thêm vững, nước Sở mỗi ngày một thêm phú cường. Người nước Sở đều khen phục là bậc hiền tài.
 
Được ít lâu Tôn Thúc Ngao đau  nặng, kêu con là Tôn An dặn :
 - Ta có tờ di biểu, khi ta chết rồi thì con đem dâng cho Đại Vương. Nếu Đại Vương cho con làm quan, con  chớ nhận, vì tài con hèn mọn không nên dự vào đám quan trường. Nếu Đại Vương phong ấp cho con, con phải từ chối. Từ chối không được, bất đắc dĩ lắm thì nên xin đất Tẩm Khâu. Tẩm Khâu là chỗ đất xấu, chẳng ai thèm tranh, như thế con cháu sau này mới mong hưởng được lộc.
Nói xong tắc thở.
 
Tôn An đem tờ di biểu dâng lên Sở Trang Vương . Nhà vua mở ra đọc. Biểu rằng:
"Tôi là Tôn Thúc Ngao, kẻ có tội, được Đại Vương cho làm tể tướng. Trong mấy năm nay vì tài hèn, không lập được công trạng gì, rất lấy làm hổ thẹn. Nhờ uy linh Đại Vương đến lúc chết không đến nỗi bỏ thây. Như thế là may mắn lắm.
Tôi có đứa con tên Tôn An, ngu dốt không dùng được. Còn cháu tôi là Viễn Bằng, có tài, xin Đại Vương chớ bỏ. Tuân  Phủ và Bằng Bá dẫu vừa rồi bị thua trận, nhưng Đại Vương chớ nên coi thường. Đến nước Sở ta, lâu nay khổ vì chiến tranh, Đại Vương cũng nên bớt chinh phạt, để dân chúng được nghỉ ngơi mà làm ăn.
Lời nói của người sắp chết thường hợp với lẽ phải, xin Đại Vương xét cho."
 
Đọc xong, Sở Trang Vương nói:
- Kẻ hiền giả đến lúc chết cũng không quên xã tắc !
Liền thân hành đến dinh Tôn Thúc Ngao, ôm lấy quan tài mà khóc. Từ quan đến dân đều cảm động !
Qua hôm sau, Sở Trang Vương trọng dụng những người được Tôn Thúc Ngao tiến cử. Nhà vua lại phong cho Tôn An làm quan Công chính. Nhưng Tôn An nhất định từ chối và sau khi tan lễ xong, xin về nhà làm ruộng.
Lúc bấy giờ Sở Trang Vương tin dùng một kép hát tên là Mạnh Thu Nho, tục gọi là Mạnh Ưu, người lùn, làm trò hay, lại có tài khôi hài. Nhà vua rất ưa thích.
 
Một hôm Mạnh Ưu đi dạo nơi thôn dã, gặp Tôn An đi đốn củi về, thấy dáng người lam lũ, bèn đón lại hỏi:
- Sao công tử lại làm việc nặng nhọc quá thế ?
Tôn An đáp:
- Tiên nghiêm thanh bạch, nên sau khi thất lộc, gia đình phải tìm lấy kế sinh nhai.
Mạnh Ưu thở dài, nói:
- Công tử vững tâm. Tôi chắc thế nào Đại vương cũng triệu công tử về làm quan.
Tối hôm ấy, Mạnh Ưu trở về cung, bày trò hát hầu Sở Trang Vương . Vua Sở vừa ngà say, Mạnh Ưu cất tiếng hát rằng:
 
Quan tham không nên làm, thế mà nên làm.
Quan liêm nên làm, thế mà không nên làm.
Quan tham, con cháu được lên xe xuống ngựa,
Quan liêm, con cháu phải nghèo nàn,
Tôn Thúc Ngao làm tể tướng,
Giàu sang không lo hưởng,
Phò xã tắc hết lòng trung,
Nhưng khi chết rồi, con cháu phải đốn củi nuôi thân!
Khó nhọc trăm phần!
Thương đau trăm phần !

Nghe hát Sở Trang Vương chạnh nhớ đến Tôn Thúc Ngao. Sáng hôm sau, sai Mạnh Ưu đi triệu Tôn An.
Tôn An đến, áo vá chân trần, Sở Vương hỏi :
- Nhà ngươi đến nỗi cùng khổ thế ấy ư ?
Mạnh Ưu đứng bên cạnh đỡ lời tâu:
- Nếu không cùng khốn thì làm sao tỏ được lòng liêm chính của quan Tể Tướng ngày xưa.
Sở Vương bào chữa :
- Trước kia Tôn An từ chối không chịu làm quan, chớ đâu phải ta phụ ơn quan Tể Tướng .
Tôn An thưa:
- Tiêm nghiêm đã có lời di chúc, tôi đâu dám sai.
Sở Vương nói:
- Nếu nhà ngươi không chịu làm quan, thì ta phong đất cho để hưởng lộc.
Tôn An từ chối không được, phải xin chút đất nơi Tẩm Khâu, Sở Vương bảo :
- Tẩm Khâu đất xấu, có lợi gì cho nhà ngươi đâu !
Tôn An thưa:
- Tiên nghiêm lúc gần mất có dặn thế. Tôi không dám trái lời.
Sở Trang Vương đành phải y theo.
Và nhờ đất Tẩm Khâu không giá trị, nên không ai tranh giành, con cháu Tôn An đời đời được ở yên mà hưởng lộc.
 
Từ trước đến nay kẻ thức giả đều khen bà Phàn Cơ và ông Tôn Thúc Ngao là những người hiền, lòng lo xa nghĩ rộng, không bị vướng những lợi trước mắt, nên thấy rõ được những lợi lớn ở sau lưng. Nhờ vậy mà việc nước việc nhà đều trọn vẹn.
Do đó, người xưa dạy rằng:
- Quyên mình để lo cho người , ấy là lo cho mình được lâu dài vậy.
Nhưng những bậc hiền giả thì thế ấy, còn phần đông chúng ta, khi thấy danh lợi trước mắt thì lòng tối ngay lại, chưa nắm được thì cố công nắm cho kỳ được, đến khi nắm được rồi thì tìm đủ mọi cách để giữ cho khỏi mất. Có ngờ đâu tất cả đều vô thường. Giấc hoàng lương đâu có phải vĩnh viễn !
Vậy trong thời đại " Chỉ có vàng ngọc là quí " này, gương Tôn Thúc Ngao đáng để cho chúng ta soi vậy .
 

 
 
bài đã được sửa chính tả
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-28 20:58:55diên vỹ>
Tánh Cương Cường
 
 
 
Dương Xử Phủ là một quan Đại Phu của nước Tấn, nổi tiếng là cương cường, hay nói thẳng không sợ oán.
Năm 621 truớc Tây Lịch, Dương Xử Phủ đi sứ sang Vệ, về đến đất Ninh thì một kẻ sĩ là Ninh Dinh theo làm đệ tử. Nhưng đến đất Ôn, Ninh Dinh lại bỏ về. Người vợ lấy làm lạ, hỏi. Ninh Dinh đáp:
- Xử Phủ tánh khí quá cương cường. Trong Kinh Thư có câu : "Trầm tĩnh trị cương cường, cao minh trị nhu nhược ". Xử Phủ chỉ có một mặt, không thể không mất. Trời kia còn chỉ cương đức có một buổi, huống chi là người . Vả chăng chỉ có trổ bông mà không đơm trái là góp oán đó thôi. Đã quá cương cường mà còn góp oán thì không thể giữ mình nổi. Sợ đã không lợi mà còn bị hoạ lây, nên ta bỏ mà về .
 
Trong khi Dương Xử Phủ đi sứ sang Vệ thì ở nhà Tấn Tương Công phong Hồ Xạ Cô làm Nguyên Soái.
Xạ Cô vốn bất tài nhưng rất kiêu ngạo, vừa được phong quyền chức cao trọng, liền lên đài truyền hiệulệnh cho tướng sĩ, thái độ tự đắc, không coi ai ra gì. Quan Tư Mã Du Biền thấy thế can:
- Tôi nghe binh tình là trọng. Một chủ tướng không được cảm tình của ba quân thì khó thắng nổi giặc. Xưa Thành Đắc Thần cũng chỉ vì kiêu ngạo mà thua Tấn. Nguyên soái nên lấy đó làm gương.
Xạ Cô nổi giận mắng:
- Nay ta nắm quyền thống xuất ba quân, truyền mệnh lệnh cho các tướng, nếu không cứng rắng thì làm sao giữ được binh pháp ? Ngươi là đứa thất phu, sao dám nói càng ?
Liền truyền nộc Du Biền ra đánh một trăm roi.
 
Các tướng sĩ đều tỏ ý không phục.
Dương Xử Phủ đi sứ Vệ vừa về, nghe tin Hồ Xạ Cô được phong làm Nguyên soái, liền vào tâu cùng Tấn Tương Công:
- Hồ Xạ Cô là người tài kém mà kiêu ngạo lớn, không đáng làm nguyên soái. Triệu Thuẫn đã hiền lại đủ tài điều khiển tam quân, xin Chúa Công hãy chọn người ấy.
Tấn Tương Công theo lời, cho đòi Hồ Xạ Cô đến, bảo:
- Ngày trước ta cho ngươi làm Nguyên Soái, nay ta muốn Triệu Thuẫn lên thay ngươi, và dùng ngươi làm phó tướng để giúp Triệu Thuẫn.
 
Xạ Cô không dám cãi lệnh, cúi lạy rồi lui.
Triệu Thuẫn lên lãnh chức. liền lo chỉnh đốn quân ngũ. Quân lệnh nghiêm minh, ai nấy đều kính phục.
Có người nói cùng Dương Xử Phủ :
- Ngài nói thẳng chớ không kiêng nể, thậc có lợi cho nước nhà. Song ngài không sợ người ta thù oán sao ?
Dương Xử Phủ đáp:
- Nếu có lợi cho nước, thì dù bị kẻ khác thù oán cũng chẳng sợ gì .
 
Một hôm, Hồ Xạ Cô vào yết kiến Tấn Tương Công, nhân lúc vắng người , hỏi :
- Chúa Công nghĩ đến công lao của tiên nhân tôi mà cho tôi làm Nguyên Soái. Chẳng hay tôi có tội chi, Chúa Công lại đổi người khác ?
Tấn Tương Công đáp:
- Không có cớ gì khác ! Chỉ vì Dương Xử Phủ bảo nhà ngươi không được quân tướng mến phục, nên ta phải thay đó thôi.
Hồ Xạ Cô nín lặng, lui ra.
 
Cách ít lâu, Tấn Tương Công lâm bệnh nặng, triệu Hồ Xạ Cô, Triệu Thuẫn và các quan đại thần vào dặn phải tôn Thế tử  Di Cao lên kế vị.
Nhưng vì Thế Tử Di Cao còn thơ ấu, mà nước Tấn gặp lúc nhiều việc phải đối phó với nước Tần, nước Địch, tôn Vua nhỏ sợ hư quốc sự, nên sau khi Tấn Tương Công mất, đình thần muốn rước một công tử đã lớn tuổi đương ở nước ngoài về kế vị. Nhưng ý kiến của những kẻ có quyền thế trong triều lại bất đồng. Triệu Thuẫn thì muốn rước công tử Ung làm quan ở nước Tần về. Hồ Xạ Cô lại đề nghị rước công tử Lạc ở nước Trần về. Không ai nhượng ai. Các đại thần kẻ theo bên này, người theo bên nọ nên vấn đề không thể giải quyết ổn thoả . Hồ Xạ Cô lén cho người sang Trần rước công tử Lạc. Triệu Thuẫn biết được sai giáp sĩ phục giữa đường đón công tử lạc về giết chết. Hồ Xạ Cô căm tức nói cùng em là Hồ Cúc Cư:
- Bởi Dương Xử Phủ tiến cử Triệu Thuẫn nên ngày nay Triệu Thuẫn mới giành được quyền bính trong nước. Dương Xử Phủ hiện đương ra cõi ngoài tiếp sứ các nước đến viếng tang. Ta thừa cơ mà giết đi cho bỏ ghét.
 
Hồ Cúc Cư xin đi giết Dương Xử Phủ. Không phòng bị, Xử Phủ bị Hồ Cúc Cư giả làm kẻ trộm vào trú xá đâm chết. Người nhà Xử Phủ nhận được diện mạo Cúc Cư, đến báo cùng Triệu Thuẫn. Triệu Thuẫn mắng :
- Dương Xử Phủ bị kẻ trộm vào nhà giết, sao lại đổ tội cho Hồ Cúc Cư ?
Đoạn truyền khâm liệm Dương Xử Phủ đem mai táng.
Mấy tháng sau, khi an táng Tấn Tương Công xong, đưa linh cữu vào nhà Thái miếu, các quan ứng hầu đủ mặt . Triệu Thuẫn đứng ra nói :
- Tiên quân chúng ta trước kia vì biết giữ pháp luật mà làm nên nghiệp bá. Nay trong nhà Thái miếu có kẻ gian thần, không thể nào bỏ qua không trừng trị.
 
Nói xong liền hô võ sĩ bắt Hồ Cúc Cư trói lại giao cho quan tư khấu kết án tử hình.
Hồ Cúc Cư hoảng hốt nói :
- Tôi có tội chi mà phải thọ hình ?
Triệu Thuẫn chỉ vào mặt mắng :
- Ngươi dám giả kẻ trộm vào giết quan Thái Phó Dương Xử Phủ, sao lại bảo rằng không tội ?
Hồ Xạ Cô sợ Triệu Thuẫn biết được âm mưu của mình, nội đêm ấy lén trốn sang nước Địch.
 
Bình Luận về Dương Xử Phủ , Tống Hiền Lữ Đông Lai nói rằng:
" Đã chí lễ thì không có hiệu nghiệm liền để trực tiếp làm đẹp lòng người, nhưng có công sâu để cám hoá người . Đã chí nhạc thì không có thanh âm gần để trực tiếp làm vui lòng người, nhưng có dư vận để cảm hoá người. Và phàm theo lẽ thường của thiên hạ, điều gì chưa thưởng thức được thì không thể lìa bỏ một khi đã niếm. Như xưa kia, đức Phu Tử dạy học nơi khoảng sông Thù, sông Tứ, Tử Cống mới đến yết kiến, muốn dùng trí để nhạo báng ngài, Tử Lộ mới đến ra mắt muốn lấy dũng để lăng bức ngài.  Nghĩ đến bật Thánh mà còn không thể trong một ngày một buổi cảm hoá được lòng người thay! Huống hồ Dương Xử Phủ là người thế nào mà Ninh Dinh mới gặp giữa đường đã phải lật đật mang giày, gánh đồ, tất tưởi chạy theo, dường như sợ không kịp ? Coi thế thì Xử Phủ cảm hoá lòng người hình như mau hơn đức Phu Tử ! Nhưng đức Phu Tử tuy không cảm hoá được ông Do , ông Tứ trong lúc mới gặp, mà trọn đời vẫn được ông Do, ông Tứ phụng thờ. Còn Dương Xử Phủ tuy làm cho Ninh Dinh theo ngay trong một sớm, nhưng lại không giữ được vài ngày ! Như vậy bên hơn bên kém cũng đã rõ rệt lắm vậy.
 
Theo lời của Ninh Dinh thì Dương Xử Phủ dễ khiến cho người ưa mà cũng dễ khiến cho người chán.
Tại sao ?
Là vì cương cường của Xử Phủ lộ ra bề ngoài, bên trong chẳng lưu được dư âm nào cả : Đầy trong tiếng nói, rõ rệt nơi diện mạo và giọng cười , phát hiện trong lúc đi, khi đứng.
 
Khí tượng của bình sinh tủa cả ra, nên bề ngoài xem quá nghiêm khắc mà bên trong chẳng chất chứa được gì, bề ngoài ngó sum sê mà bên trong chẳng có căn bản. Vì vậy lúc đầu vừa trông thấy thì đẹp mắt dễ coi, dường như có ĐỨC lớn khiến người ta dễ ưa thích , nhưng khi cận kề thì thấy cùn, có muốn hái cũng chẳng còn chi nữa, cho nên dễ khiến người ta mau chán. Mới nở thì đẹp như hoa mùa xuân , mà đã qua thu mà không đơm trái ! Mới xem qua thì thật đẹp mắt, mà ngửi thì không có chút vị nào ! Đối với kẻ muốn tìm sự thật của lòng, không thích sự thật nơi mặt, thì không ở được. Cho nên Ninh Dinh mới ưa đó rồi chán đó, mới theo đó rồi bỏ đó, không sợ phiền hà chi cả "
 
Lời bình luận của Lữ Đông Lai rất đúng nhưng có phần khe khắt. Lữ Đông Lai muốn tìm chỗ tuyệt đối, muốn đem chổ cao nhất để dạy đời. Chớ ở đời nếu có được nhiều kẻ cương cường như Dương Xử Phủ , " hễ có lợi cho nước thì không sợ gì kẻ khác thù oán " , thì những sự bất công, bất chính ..., mỗi ngày sẽ mỗi giảm bớt lần lần .
 
 

 
 
bài đã được sửa chính tả
 

Đăng nhập để trả lời
0
Mưu Trí Của Người Quân Tử

Án Bình Trọng tức Án Anh là một người đa mưu túc trí, đã giúp Tề Cảnh Công cùng vua nước Tấn tranh ngôi bá chủ trong thiên hạ.
Cảnh Công có ba người tôi yêu là Cổ Giả Tử, Điền Khai Cương và Công Tôn Thiệp. Cả ba đều là tay vũ dũng và đều được nhà vua cho vào hàng Ngũ Thặng Tân. Chúng kết thân với nhau và tự xưng là " Tam Kiệt " nước Tề.
Ba người cậy mình có sức khoẻ lại có công lớn được vua yêu, nên khinh dễ mọi người, lắm lúc không kể đến phép nước. Cảnh Công tuy có biết song vì mến tài, nên việc gì cũng khoan dung, không hề bắt tội.
Trong triều lúc bấy giờ có một kẻ gian thần là Lương Khấu Cứ được Tề Cảnh Công trọng dụng. Lương Khâu Cứ bên trong tìm cách mua chuộc nhà vua, bên ngoài liên kết cùng bọn Tam Kiệt để làm vây cánh, lại phóng tiền bạc mua nhân tâm, cố lòng tìm cơ hội chiếm đoạt nước Tề.

Án Bình Trọng rất lấy làm lo, muốn trừ kẻ nịnh, nhưng sợ Tề Cảnh Công thiên vị không nghe lời, nên phải chờ cơ thuận tiện.
Một hôm, vua Chiêu Công nước Lỗ, vì không phục nước Tần, muốn giao kết với Tề, mới sang triều kiến Cảnh Công. Cảnh Công bày tiệc thết đãi. Vua Lỗ thì có Thúc Tôn Nhược theo hầu, còn vua Tề thì có Án Bình Trọng hộ vệ. Bọn tam kiệt cầm binh khí đứng hầu dưới thềm, có ý kiêu ngạo, không coi ai ra gì.
Lúc hai vua đã ngà ngà say, Bình Trọng tâu:
- Trong vườn kim đào có quả chín, xin Chúa Công cho hái để chúc thọ hai vua.
Tề Cảnh Công nghe lời, truyền viên thị thần đi hái kim đào về dâng. Bình Trọng nói:
- Kim đào là thứ quả quí. Tôi xin thừa lệnh đi giám trích.
Bình Trọng lãnh chìa khóa cửa vườn rồi cùng viên vị thần đi ngay. Tề Cảnh Công nói cùng Lỗ Chiêu Công:
- Giống đào này vốn ở Đông Hải tên là Vạn Thọ Kim Đào. Nước tôi trồng đã hơn ba mươi năm nay, cành lá xanh tốt, nhưng chỉ khai hoa mà không kết quả. Mãi đến năm nay, kim đào mới đậu trái, tôi lấy làm quí lắm nên truyền khoá kỹ cửa vườn. Nay có hiền hầu quang lâm, tôi xin hái dâng hiền hầu để chúc thọ.
Lỗ Chiêu Công đứng dậy tạ ơn.

Hồi lâu Bình Trọng cùng viên thị thần bưng mâm đào đến. Trong mâm có sáu quả đào chín thắm trông rất ngon lành. Tề Cảnh Công hỏi:
- Chỉ có bây nhiêu đó sao?
Bình Trọng đáp:
- Còn ba bốn quả nữa nhưng chưa chín.
Đoạn dâng đào và ngự tửu cho hai vua.
Cảnh Công bảo Thúc Tôn Nhược:
- Quan đại phu có tiếng là người hiền, hãy cùng ta dùng một quả cho vui.
Thúc Tôn Nhược quì tâu:
- Tài đức của tôi so với Án Anh còn kém xa. Nếu Hiền Hầu ban ơn, tôi xin nhường lại cho Án Anh mới đáng.
Cảnh Công hoan hỉ nói:
- Nếu vậy, ta ban cho cả hai người, mỗi người một quả đào và một chung ngự tửu.

Thúc Tôn Nhược và Án Bình Trọng bái lãnh.
Bình Trọng thưa cùng Tề Cảnh Công:
- Trong mâm còn hai quả đào, xin Chúa Công ban thưởng cho người nào có công trạng lớn nhất.
Tề Cảnh Công khen phải, truyền thị vệ dụ các quan rằng:
- Trong hàng bá quan văn võ, ai có công lao nhiều đáng ăn đào thì được phép ra lãnh.
Công Tôn Thiệp bước đến tâu:
- Năm trước tôi theo Chúa Công đi săn ở Đông Sơn, chợt có một con hổ đóm trắng xông toan vồ Chúa Công, tôi liền nhảy xuống xe, dùng hai tay không mà đánh với hổ. Hổ bị tôi đắm mấy cú vỡ sọ chết ngay. Công cứu giá ấy có đáng gọi là trọng chăng ?
Án Bình Trọng nói:
- Công cứu giá ấy còn gì lớn hơn. Tướng quân đáng được ban thưởng.

Sẵn lòng yêu thích Công Tôn Thiệp, Tề Cảnh Công gật đầu. Bình Trọng liền lấy quả đào trao cho Công Tôn Thiệp, Cổ Giả Tử tỏ ý không phục, bước đến nói:
- Giết hổ cứu giá chưa lấy gì làm lạ. Ngày xưa Chúa Công diễn binh trên sông Hoàng Hà chợt một con khủng long vùng dậy, sóng cuộn gió tuôn. Thuyền ngự sắp bị đánh chìm. Tôi liền nhảy xuống sông đánh cùng thủy quái. Thủy quái sức mạnh như bão tố, tôi phải dùng hết sức bình sinh mới giết được. Thủy quái bị giết thì sóng lặng gió yên. Chẳng những tôi cứu được mạng của Chúa Công mà còn cứu được hàng ngàn binh tướng. Công ấy có đáng gọi là trọng chăng?
Tề Cảnh Công nói:
- Ta còn nhớ lúc ấy mặt sông Hoàng Hà sóng gió hãi hùng, nếu không nhờ Cổ Giả Tử giết con thủy quái thì cả thuyền bị chết đắm.
Bình Trọng vội vàng lấy quả đào còn lại trao cho Cổ Giả Tử.
Bỗng Điền Khai Cương hầm hầm bước ra nói lớn:
- Nước Tề hùng cường, các nước chư hầu phía Nam đều triều cống. Duy nước Từ không tuân lệnh. Phụng mệnh Chúa Công tôi đem quân đi đánh nước Từ, chém tướng bắt quân, khiến nước Từ phải đầu hàng, và các nước Đàm, Cử khiếp uy phải thần phục. Công lao ấy lại không đáng ăn đào sao?

Bình Trọng tâu cùng Cảnh Công:
- Công lao của Điền Khai Cương khá lớn. Nhưng đào không còn, xin Chúa Công tạm thưởng một chung ngự tửu, chờ sang năm sẽ hay.
Tề Cảnh Công bảo Điền Khai Cương:
- Công nhà ngươi rất trọng, song đào không còn. Thật đáng tiếc!
Điền Khai Cương chống gươm xống đất nói:
- Giết mãnh hổ và giết thủy quái là việc nhỏ nhặt mà được hậu thưởng, còn việc xông pha đầu tên mũi đạn là việc lớn, lại phải đứng nhìn người ta ăn món ngon. Như thế chẳng là nhục lắm sao?
Nói xong trở gươm đâm vào cổ tự vận.
Công Tôn Thiệp giật mình, bảo :
- Ta đã cùng Điền Khai Cương kết bạn, nếu để Điền bị nhục thì sao gọi là tâm tình ?
Liền cầm gương đâm cổ chết.
Cổ Giả Tử hét lớn:
- Cả ba đã thề đồng sanh đồng tử. Nay hai người đã chết để rửa nhục, thì ta còn sống làm gì?

Dứt lời, lại cũng rút gươm tự vận.
Tề Cảnh Công hoảng hốt, muốn ngăn nhưng không kịp nữa!
Lỗ Chiêu Công đứng dậy nói:
- Tôi nghe tam kiệt là bật tài giỏi nhất trong thiên hạ. Tiếc thay chỉ một phút mà chết cả ba!
Tề Cảnh Công mặt mày buồn bã ngồi nhìn Án Bình Trọng. Bình Trọng điềm nhiên, đáp:
- Đó chẳng qua là những kẻ vũ dũng ở nước tôi mà thôi. Nhưng công lao của họ nhỏ mọn kông đáng gì cho lắm, và cái chết của họ cũng không có chi đáng buồn.
Lỗ Chiêu Công hỏi:
- Những kẻ vũ dũng như thế, quí quốc được chừng bao nhiêu?
Bình Trọng đáp:
- Những kẻ bày mưu lập kế ở chốn miếu đường, giữ trách nhiệm tồn vong của xứ sở, thì có chừng vài ba mươi người. Còn những kẻ vũ dũng như kia chỉ là những người dùng để Chúa Công chúng tôi sai khiến, việc nhiều ít, chết sống tưởng không quan hệ bao lăm.

Vua Lỗ về nước rồi, Tề Cảnh Công nói cùng Bình Trọng:
- Trong tiệc vừa rồi, nhà ngươi khoe khoang cùng Lỗ Chiêu Công, mục đích để giữ thể diện cho nước Tề. Ta rất bằng lòng. Nhưng tiếc thay! Bọn tam kiệt đã vì lòng khí khái mà chết, ta biết dùng ai thay thế bây giờ?
Án Bình Trọng thưa:
- Bọn tam kiệt là những kẻ hữu dõng vô mưu, không có lợi cho quốc gia bao nhiêu. Nếu Chúa Công cần người hiền để phò tá, tôi xin tiến cử Điền Nhượng Thư, là một bậc văn võ toàn tài, có thể làm lợi cho nước Tề được.
Ban đầu vua Cảnh Công không chịu, nhưng sau bị nước Tấn, nước Yên nghe tin tam kiệt đã chết, đem quân sang quấy nhiễu biên cương, nhà vua mới sai Bình Trọng đem lễ vật đi rước Điền Nhượng Thư đến phong làm nguyên soái cầm quân đi dẹp giặc.
Điền Nhượng Thư thắng trận, Tề Cảnh Công rất mừng, bèn giao chính quyền cho Án Bình Trọng và binh quyền cho Điền Nhượng Thư. Từ ấy nước Tề mỗi ngày mỗi thêm cường thịnh, các nước láng giềng đều phải kiên uy.

Xưa nay ai cũng khen Án Bình Trọng là người trung trực, lại túc trí đa mưu.
Dùng chước " Nhị đào sát tam sĩ ", Bình Trọng đã tỏ là một nhà tâm lý học đại tài. Biết rằng bọn tam sĩ là những ngưuời háo thắng, ỷ tài, cậy công, không có đúc nhẫn nhục.., Bình Trọng bèn đánh vào lòng tự ái của chúng một đòn ngó nhẹ nhàng nhưng rất hiểm!
Hiểm mà thâm, thâm gấp mấy lần cái mưu "dùng dầu bôi tóc", "tẩm thuốc độc vào thịt tế" của Ly Cơ.
Nhưng Ly Cơ mưu giết Thân Sanh là để tranh ngôi cho con ruột, còn Án Anh mưu giết tam kiệt, mục đích chỉ để trừ mối hậu họa cho nước nhà. Một bên dùng chước độc để làm lợi riêng cho mình. Một bên dùng mưu sâu để làm lợi cho dân cho nước. Một đàng là hành động của đứa tiểu nhân ích kỷ. Một đàng là nghĩa cử của bật quân tử vị tha. Mưu chước tuy đồng mà mục đích không đồng vậy.
Mà trên đời kẻ quân tử thì ít, còn bọn tiểu nhân lại nhiều. Cho nên cổ nhân rất sợ cô tâm, và trong việc dùng người, thường dạy thà dùng người đức lón mà trí nhỏ, chớ không nên dùng người trí bén mà đức mỏng.
Song đó là nói về thường tình, không nên cố chấp.


bài đã được sửa chính tả


Đăng nhập để trả lời
0
Thái Độ Người Quân Tử

Nước Tề trong nhờ Án Anh ngoài nhờ Điền Nhược Thư mà trở nên thái bình thịnh trị.
Tề Cảnh Công noi gương Tề Hoàn Công đã tin dùng Quản Trọng, mà giao trọn quyền bính trong nước cho Án Anh. Án Anh đem hết tài năng ra lo việc dân việc nước.
Một hôm Cảnh Công đang uống rược trong cung, chợt nhớ đến Án Anh liền sai thị vệ đem rượu thịt đến ban thưởng, và báo tin nhà vua sắp đến chơi.
Được tin, Án Anh mặc Chế đại bào, cầm hốt đứng chờ nơi cửa. Tề Cảnh Công đến, chưa kịp xuống xe, Án Anh đã vội bước đến, mặt có vẻ lo sợ, hỏi:
- Chẳng hay có nước chư hầu nào quấy nhiễu hay có kẻ nào phản nghịch chăng?
Cảnh Công thân mật đáp:
- Không,
Án Anh ngạc nhiên nói:
- Thế sao Chúa Công lại thân hành đến đây?
Cảnh Công thành thật trả lời:
- Chỉ vì nghĩ đến công khó nhọc của tướng quốc, nên ta muốn cùng tướng quốc chung một bữa tiệc làm vui.
Án Anh kính cẩn thưa:
- Việc giao kết với chư hầu, mưu đồ cho nước mạnh dân an, thì tôi xin ra sức mạnh gánh vác. Còn việc hầu rược Chúa Công đã có người khác, tôi không dám dự đến.

Tề Cảnh Công liền quay xe trở lại, sang dinh quán tư mã Điền Nhượng Thư. Nội thị báo trước cho Nhượng Thư hay. Nhượng Thư vội vã mặc áo chỉnh tề ra đón trước cửa dinh. Cảnh Công đến, Nhượng Thư sụp lạy và hỏi:
- Chư hầu có nước nào quấy nhiễu, loạn thần có kẻ nào phản phúc chăng?
Cảnh Công đáp:
- Không.
Điền Nhượng Thư đứng dậy nói:
- Như thế sao Chúa Công lại ngự giá đến đây?
Tề Cảnh Công thân mật đáp:
- Nghĩ đến công khó nhọc của tướng quân, nên ta muốn đến cùng tướng quân chung vui một bữa tiệc.
Điền Nhượng Thư cúi đầu thưa:
- Việc đánh cừu thù, dẹp phản nghịch là bổn phận của tôi. Còn việc bày cuộc vui để khuây khỏa Chúa Công, xin Chúa Công dạy người khác.

Tề Cảnh Công buồn bã trở về cung, lòng mang tư lự. Nội thị hỏi:
- Chúa Công định trở về, hay còn đi dâu nữa?
Tề Cảnh Công trầm ngâm một lúc rồi đáp:
- Ta sang nhà quan Đại Phu Lương Khâu Cứ.
Nội thị liền đến tin cho Khâu Cứ hay trước. Khâu Cứ tay trái ôm đàn cầm, tay phải cấp ông tiêu, miệng hát nghêu ngao, ra tận ngoài đường nghinh giá. Cảnh Công đẹp lòng, cùng Khâu Cứ vào dinh, cởi mũ áo bày tiệc chung vui.
Vua tôi uống rược, nghe nhạc, vui say thoả thích cho đến lúc gà gáy sáng mới thôi,
Ngày hôm sau Án Anh và Điền Nhượng Thư vào triều tạ tội. Vua khen là trung thần. Hai người lại can nhà vua không nên đến nhà bầy tôi để mua vui, vì trái với phong tục. Cảnh Công nói:
- Nếu ta không có hai khanh thì không lấy ai trị nước, còn nếu không có Lương Khâu Cứ thì không lấy ai giải khuây. Các khanh ai lo phận nấy, chớ nên nghĩ đến việc riêng của ta.

Lương Khâu Cứ là một tên nịnh thần, nhưng vì được Tề Cảnh Công ưa thích, nên Án Anh không thể trừ được. Án Anh bị Lương Khâu Cứ ghét hết sức, nhưng vì Án Anh là người chính trực không hề nghĩ đến lợi riêng, lại rất được Cảnh Công tin trọng, nên Khâu Cứ không có cách hãm hại được. Bởi vậy "ai lo phận nấy", Khâu Cứ lo đem thân nịnh bợ ra phục vụ cá nhân vua để mưu cầu ân huệ, Án Anh hết lòng hết sức lo việc triều chính để cho nước mạnh dân an.
Nhờ vậy mà vua Tề Cảnh Công ở ngoài thì được các vua chư hầu kính nể, ở trong thì được hưởng cái thú làm vua. Cho nên đối với kẻ làm lớn, bậc quân tử rất cần, mà bọn tiểu nhân cũng cần lắm. Vì thế, khi chúng ta thấy những bậc quyền cao chức trọng có hàng đoàn tiểu nhân quấn quít bên chân, chúng ta chớ lấy làm lạ, nhất là đối với những kẻ quyền quí nghĩ đến hạnh phúc riêng của mình, của gia đình mình, nhiều hơn là hạnh phúc chung của dân tộc.

Chúng ta hãy trở lại cùng Án Anh.
Án Anh là một bậc quân tử, tài cao trí sáng, luôn luôn đem tài trí của mình ra giúp nước giúp vua.
Tánh Án Anh rất cương trực.
Dưới triều vua Tề Trang Công, tên quyền thần là Thôi Chữ oán nhà vua dâm loạn cùng vợ mình, nên tìm cơ hội để rửa hận.
Một hôm Thôi Chữ hội họp các sĩ phu tới dinh, kể tội Trang Công và buộc mọi người ăn thề cùng mìnhn để lo việc trừ bạo chúa. Ai nấy đều sợ hãy, răm rắp vâng lời. Duy có Án Anh nghiễm nhiên như không và nhất quyết không chịu. Thôi Chữ bảo:
- Nhà ngươi nghe ta, ta lấy được nước thì ta cho một nửa. Nhược bằng không nghe, ta giết ngay lập tức.
Lúc ấy, bốn mặt quân lính hầm hầm toan áp vào chém Án Anh. Không biến sắc mặt, Án Anh ung dung đáp lại rằng:
- Lấy lợi nhử người để bảo người phản bội quân vương là bất nhân. Lấy binh khí hiếp người để làm cho người mất chí khí là bất dũng. Giết thì giết, không bao giờ ta chịu theo việc nhà ngươi làm.

Thôi Chữ có ý thẹn.
Án Anh phất tay áo, lững thững bước ra về.
Cách ít lâu Tề Trang Công mở tiệc đãi vua nước Cử tại Bắc Bỉ. Thôi Chữ giả bệnh không đến dự.
Trang Công vốn mê vợ Thôi Chữ đến nỗi quên ăn quên ngủ, nhưng vì Thôi Chữ canh giữ cẩn thận nên không dám vãng lai. Nay nghe tin Thôi Chữ bị bệnh, lòng vua mừng khấp khởi, bèn lấy cớ đến thăm bệnh để được gần gũi gia nhân. Thôi Chữ dò biết được, phục binh giết chết tại tư dinh. Các quan Đại Phu nước Tề nghe tin Thôi Chữ làm loạn, đều đóng của nằm nhà, chỉ có Án Anh đến thẳng dinh Thôi Chữ, ôm xác Tề Trang Công khóc. Bọn bộ hạ của Thôi Chữ báo cùng chủ:
- Án Anh mến tiếc vua Tề tất sanh lòng khác, nên giết đi.
Thôi Chữ nói:
- Án Anh có tiếng là người hiền, nếu giết đi sẽ làm cho triều thần khủng khiếp.
Án Anh khóc vua một hồi lâu rồi đứng dậy ra về.

Thôi Chữ tôn con vua Linh Công là công tử Chử Cửu lên ngôi, lấy hiệu là Tề Cảnh Công.
Cảnh Công lúc bấy giờ còn nhỏ, việc triều chính điều do Thôi Chữ và một quyền thần nữa là Khánh Phong định liệu cả. Họ Thôi họ Khanh đưa các triều thần đến nhà Thái Miếu cùng nhau tuyên thệ rằng:
- Nếu kẻ nào không đồng tâm cùng họ Thôi họ Khanh thì có mặt trời soi xét.
Các quan sợ uy Thôi Chữ, ai nấy cũng đều thề như thế ấy. Duy có Án Anh thề rằng:
- Tôi nguyện đồng tâm với bất cứ những ai có lòng trung quân ái quốc. Nếu sai lời có mặt trời soi xét.
Thôi Chữ và Khánh Phong giận đỏ mặt. Hai quan Đại Phu là Cao Chỉ và Quốc Hạ nói:
- Lời thề của Án Anh đúng với lẽ phải. Vả việc làm của hai quan tướng quốc ngày hôm nay là trung quân ái quốc kia mà.
Hai quan tướng quốc không hài lòng, song không dám dùng bạo lực.
Kế đó quan thái sử tên Bá đem sử ra chép. Thôi Chữ bảo:
- Nhà ngươi nên chép rằng vua Trang Công bị sốt mà chết.
Thái sử Bá không nghe, chép:
- Ngày Ất Hợi, tháng 5 mùa hạ, Thôi Chữ giết vua Quang Hiệu là Tề Trang Công.

Thôi Chữ nổi giận giết chết Thái sử Bá.
Thái sử Bá có ba người em là Trọng, Thúc, Quí.
Thái sử Bá chết, Trọng hay anh cũng chép như thế, và cũng bị Thôi Chữ giết. Thúc lại cũng chép như thế và cũng bị Thôi Chữ giết nữa. Quí đến. Thôi Chữ bảo phải theo lời truyền. Quí không nghe. Thôi Chữ nói:
- Ba cái đầu đã rơi mà ngươi không sợ ư?
Quí đáp:
- Chép sử mà chép sai sự thật là một điều nhục, thà chết còn hơn. Ngày xưa Triệu Xuyên giết vua, Triễu Thuẫn đang làm tướng quốc mà cũng phải chịu mang tiếng là giết vua. Đổng Thừa vẫn chép như vậy, có gì là lạ đâu. Nếu cho việc giết vua là nhục, không muốn để tiếng nghìn sau, thì sao còn có kẻ làm?
Thôi Chữ thở dài, bỏ đi.
Được một chốc, quan Nam Sử Thị đến. Quí hỏi:
- Ngài đến có việc gì chăng ?
Nam Sử Thị đáp:
- Ta nghe anh em nhà người bị chết cả, sợ bỏ sử không ai chép nên phải đến đây giữ lấy việc ngày Ất Hợi tháng 5 mùa hạ vừa rồi.
Quí đua quyển sử vừa chép xong cho Nam Sử Thị xem. Nam Sử gật đầu lui về.

Có Án Anh lại có những nhà chép sử như thế, nghĩa là có nhiều bật quân tử chung lo việc phải, thì nước nhà thế nào cũng thạnh trị.
Cổ nhân thường dạy rằng:
- Trong triều có nhiều người quân tử thì nước thạnh. Trong triều có nhiều tiểu nhân thì nước suy.
Đó là lời nói rút trong thực tế khách quan.
Cho nên gương của các bậc quân tử để lại, chúng ta cần phải nêu cao để chung soi với nhau vậy.
Vậy xin kể thêm đôi mẩu chuyện nữa của Án Anh là một bậc quân tử vừa có trí vừa có dũng, như chúng ta đã thấy.
Chẳng nhữn có trí có dũng mà thôi. Án Anh lại còn có tài hùng biện, có tài ứng đối.
Đối với nước ngoài, Án Anh đã dùng những lời lẽ sắc bén làm cho các chư hầu phải kiên nể nước Tề. Ở trong nước Án Anh dùng lời lẽ khôn khéo mà can gián nhà vua, khiến nhà vua vui lòng hối lỗi. Như việc can vua giết người giữ ngựa sau đây, là một.

Vua Tề Cảnh Công có con ngựa quí giao cho một người chăn nuôi. Chẳng may con ngựa tự nhiên lăn ra chết. Vua giận lắm, cho bắt người chăn ngựa đến và truyền kẻ hầu cận phanh thây. Án Anh vội vàng ngăn lại và hỏi nhà vua:
- Thua Chúa Công, vua Nghiêu vua Thuấn xưa phanh thây người thì bắt đầu từ đâu trước?
Cảnh Công ngơ ngác nhìn Án Tử, rồi chợt hiểu ý bèn phán:
- Thôi hãy buông ra, đem giam hắn xuống ngục rồi sẽ trị tội.
Án Anh nói:
- Tên phạm này chưa biết rõ tội trạng mà phải chịu chết thì vẫn tưởng là oan. Tôi xin vì Chúa Công kể rõ tội hắn, rồi hãy hạ ngục.
Cảnh Công khen phải. Án Tử bèn kể tội rằng:
- Nhà ngươi có ba tội đáng chết.
Vua sai nuôi ngựa mà để ngựa chết. Đó là một tội đáng chết.
Lại để chết con ngựa quí nhất của vua. Đó là hai tội đáng chết.
Để vua mang tiếng vì một con ngựa mà giết chết một mạng người, khiến trăm họ nghe thấy ai cũng oán vua, các nước nghe t6hấy ai cũng khinh vua. người làm chết một con ngựa mà để đến nỗi nhân gian đem lòng oán giận, chư hầu có bụng dòm dỏ. Đó là ba tội đáng chết.
Người biết chưa? Bây giờ hãy tạm giam ngươi vào ngục.
Cảnh Công vừa nghe dứt lời, vội vàng bảo:
- Thôi, hãy tha cho nó! Thôi, hãy tha cho nó! Kẻo để ta mang tiếng bất nhân.
Hay quá! Đứng vào phe nguyên để binh vực cho bên bị! Thật không ai ngờ! Ai cũng khen Án Anh có tài "tùy cơ ứng biến".
Nhưng cũng có người bảo:
- May Tề Cảnh Công không phải là Trụ Vương nên lời nói của Án Anh mới có hiệu quả như thế, chớ nếu là Trụ Vương thì biết đâu Án Anh lại chẳng theo Tỷ Can cho trọn nghĩa.
Cũng có thể lắm. Nhưng Án Anh vốn là người trí, biết rõ lẽ thị phi, thấy trước cơ đắc thất, thì gặp người đáng nói mới nói, gặp người không đáng nói thì không bao giờ hé môi.
Bởi vậy những bậc quân tử có tài trí như Án Anh, khi nào ngôn ngữ cũng thẳng thắn, thái độ cũng ung dung.
Khó lắm vậy.

bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-28 20:59:20diên vỹ>
Cách Xử Sự Của Người Quân Tử
 
 
 
Bà nội tổ của Tống Chiêu Công là Vương Cơ, tuổi tuy đã già mà tình hoa nguyệt còn nặng.
Chiêu Công có người em là công tử Bảo, dung mạo như ngọc. Vương Cơ muốn dan díu. Một hôm Vương Cơ vời công tử Bảo vào cung, ép rượu say rồi ép cuộc vân vũ. Công tử cố sức chống cự mới thoát khỏi. Tuy vậy Vương Cơ vẫn không tuyệt tình, muốn phế Tống Chiêu Công để lập công tử Bảo lên thay thế.
 
Tống Chiêu Công có ba người bạn thân là công tử Ấn, Công Tôn Khổng Thúc và Công Tôn Chung Ly. Nhà vua từ khi lên ngôi ngày nào cũng cùng ba người ấy đi săn bắn, vui chơi, không nghĩ gì đến việc triều chính.
Quan tư thành là Công Tôn Thọ biết nước Tống sắp loạn bèn nhường chức cho Công Tôn Chung Ly và quan tư mã Lạc cũng nhường chức cho công tử Ấn, rồi rủ nhau về ẩn nơi thôn quê. Tống Chiêu Công dùng con Công Tôn Thọ là Đảng Ý Chư làm chức tư thành. Công Tôn Thọ bảo con :
- Vua vô đạo, làm quan cận thần, tai vạ khó tránh. Từ chức thì không ai giúp đỡ họ hàng. Con là phân nửa của ta, ráng chậm chết một chút. Tuy mất con, song khỏi mất họ.
 
Để trừ lần vây cách của Tống Chiêu Công hầu có thể thực hiện ý định truất phế, Vương Cơ lập mưu giết công tử Ấn và Công Tôn Chung Ly. Đảng Ý Chư trống sang nước Lỗ. Được ít lâu Chiêu Công sai người qua Lỗ triệu Ý Chư về phục chức.
Còn công tử Bảo nghe tin công tử Thương Nhân ở nước Tề phóng tài hóa để thu phục nhân tâm mà giành được ngôi Vua, bèn theo gương, đem hết tài sản của mình phân phát cho những kẻ nghèo khổ. Những kẻ có tài, có đức đều được trọng đãi. Ai cũng khen là người hiền.
Năm Tống Chiêu Công thứ bảy, trong nước mất mùa, Công Tử bán hết gia tư để cứu đói. Năm sau mùa lại mất nữa, công tử không biết lấy gì để bố thí. Vương Cơ bèn đem của riêng trong cung ra cho công tử để tiếp tục làm việc nghĩa. Tiếng nhân đức của công tử vang dậy khắp nơi. Ai cũng ước mong công tử lên ngôi Vua nước Tống.
 
Biết rằng người trong nước đã mến mình, công tử Bảo mới bàn mưu cùng Vương Cơ. Vương Cơ nói ::
- Ta sẽ cho người mời Chiêu Công đi săn ở đất Mạnh Chư. Nhà vua đi rồi, công tử Tu đóng ngay cửa thành lại, còn nhà ngươi thì đem quân phục ở đất Mạnh Chư để giết Chiêu Công.
Công tử Bảo theo lời.
Đảng Ý Chư biết được âm mưu của công tử Bảo, bàn cùng Chiêu Công:
- Chúa Công chớ nên đi săn, vì chuyện này một đi, khó mà trở về được.
Chiêu Công nói :
- Nếu có kẻ định nổi loạn thì dẫu ta có ở nhà cũng không tránh khỏi nguy.
 
Nói xong, truyền quan Hữu sư và Tả sư ở nhà giữ nước, còn mình thì chuyển vận các châu báo trong kho, cùng Đảng Ý Chư, đem một toán quân ra đất Mạnh Chư.
Nhà vua vừa ra khỏi thành, thì Vương Cơ truyền bắt nhốt hai quan Tả, Hữu sư vào cung cấm, rồi sai công tử Tu đóng chặt cửa thành. Công tử Bảo sai quan tư mã Hoa Ngẫu tuyên cáo cùng quân sĩ:
- Ta phụng mệnh Thái Mẫu Vương Cơ truất phế hôn quân để lập công tử Bảo lên kế vị. Các ngươi nghĩ sao ?
Quân sĩ đều reo hò hoan hỉ. Nhân dân trong thành, ai nấy cũng bằng lòng.
Hoa Ngẫu đem quân đuổi theo Chiêu Công.
Chiêu Công nghe trong thành có biến, muốn đem quân trở lại. Đảng Ý Chư khuyên:
- Việc đã gấp rồi, Chúa Công nên chạy sang nước khác lánh nạn.
Chiêu Công nói :
- Trên Tổ mẫu, dưới nhân dân không còn ai dung, thì còn có nước nào lại chịu nạp. Dù có dung nạp đi nữa, thì phải làm tôi sau khi đã làm vua, thà thác nơi nước nhà còn hơn.
 
Rồi sai chia tất cả các bảo vật cho những kẻ theo hầu, và bảo nên trốn đi.
Những kẻ theo hầu ứa lệ, nói:
- Xin Chúa Công cứ đi. Nếu có quân đuổi theo, chúng tôi nguyện liều chết để bảo giá.
Chiêu Công đáp:
- Chết như thế không ích gì. Các ngươi chớ nên quyến luyến.
Quân sĩ theo hầu vẫn không nỡ bỏ. Kế đó Hoa Ngẫu đuổi kịp, tuyên bố :
- Ta phụng mệnh Thái Mẫu đến đây chỉ giết một mình hôn quân, còn kẻ theo hầu đều tha hết.
 
Chiêu Công vội vàng xua đuổi kẻ tùy tùng. Ai nấy đều bỏ chạy, chỉ một mình Đảng Ý Chư vẫn chống gươm đứng bên cạnh Chiêu Công.
Hoa Ngẫu nói :
- Hôn quân sắp chết, nhà ngươi còn luyến tiếc nỗi gì ? Hãy theo ta về triều ắt không mất phần phú quí .
Đảng Ý Chư đáp:
- Bề tôi bỏ vua trong lúc hoạn nạn, thì đối với vua kế vị phải ra sao ?
Hoa Ngẫu xông đến chém Chiêu Công. Đảng Ý Chư tung kiếm chống cự, nhưng thế cô sức yếu, không thể bảo vệ Chiêu Công được . Ý Chư bèn đâm họng chết theo Vua.
Hoa Ngẫu thành công trở về báo cho Vương Cơ. Vương Cơ liền hội các quan, lập công tử Bảo lên ngôi, tức là Tống Văn Công.
 
Trong cuộc biến loạn do Vương Cơ gây ra, ban đầu Đảng Ý Chư lo chạy trốn, lúc sau cam chịu chết. Đó là vì nghĩa phải bỏ mà đi, và cũng vì nghĩa mà phải chết.
Người quân tử vì nghĩa mà xử sự theo hoàn cảnh của mỗi lúc. Đó là nghĩa tùy thời.
Nhưng Đảng Ý Chư vẫn chưa trọn đạo xử thế .
Lữ Đông Lai luận rằng:
 
- Đảng Ý Chư là họ hàng thân thích với Vua, làm quan lại đến chức tư thành, vậy mà ngồi xem Chiêu Công hành động vô đạo, Vương Cơ chất chứa thù hằn, công tử Bảo âm mưu soán nghịch ! Biến cố đã rõ rệt chỉ chờ có dịp là phát ra. Thế mà trên không nghe Đảng Ý Chư can gián vua, giữa không nghe Đảng Ý Chư điều đình gỡ rối cho vua, cuối không nghe Đảng Ý Chư dùng vũ dũng cứu nạn cho Vua. Chờ khi có loạn mới bỏ mà đi, đi sao mà muộn thế ? Chờ khi Vua bị thí mới chết theo, chết sao mà vô ích thế ?
 
Có thể nào tưởng rằng khi mầm loạn gần thành hình, khi mưu giết Vua gần tượng hình, cả nước trong ngoài đều biết, mà chỉ có một mình Ý Chư nổi danh là hiền giả lại không hay biết mảy may? Tại sao Ý Chư cứ loanh quanh, nhu nhược, không chịu từ quan để làm trang ẩn dật ? Có phải vì nhớ đến lời cha dặn " từ chức thì không ai giúp đỡ họ hàng " mà chịu  nhẫn nhịn, bơ thờ làm quan để nhận bổng lộc ? Như vậy chắc trong lòng cũng nghĩ rằng : " chưa có loạn thì nhịn nhục ở vậy để che chở cho người trong thân thích, nếu có biến cố sẽ hủy mình để thủ tiêu những điều tủi nhục. Dùng tử tiết về sau để chuộc tội lỗi trước, tin rằng người quân tử của hậu thế sẽ thương hại giùm cảnh ngộ của mình đã dụng tâm quá khổ nhục ! " Nhưng Đảng Ý Chư há chẳng biết rằng người quân tử không nên đặt mình một ngày nào vào chỗ đáng tuổi nhục hay sao ? Ngày hôm nay làm lành còn lo ngày mai chẳng làm được lành thay , thì có lý đâu lại đem thân vào cảnh tủi nhục, rồi tính trước sẽ tử tiết sau này để chuộc lỗi hôm nay? Tiết nghĩa của ngày sau chưa ló dạng, mà làm quấy của ngày nay đã đâm chồi, thì trong khi đó mà có lòng dạ đó, thử hỏi có thật là quân tử chăng ?
Lời nghị luận có phần khắt khe, nhưng thật chí lý .
Cho nên lo cho trọn đạo xử thế thật khó lắm vậy .
 
 
 
bài đã được sửa chính tả
 
 

Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 4 » »»