📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Những Tấm Gương Xưa - Quách Tấn

119 trả lời, 29.157 lượt xem — Trang 3 / 4

Nghiêng Thành Nghiêng Nước


Vua U Vương nhà Châu là một ông vua háo sắc, bạo ngược, ghét người trung, ưu kẻ nịnh.
Bao Hướng đem lời can gián. U Vương giận bắt hạ ngục.
Con Bao Hướng là Hồng Đức mua một mỹ nhân đẹp tuyệt thế tên là Bao Tự, rồi dùng vàng lụa lo lót cùng người tôi yêu của U Vương là Quách Công, để đem dâng cho nhà vua, xin chuộc tội cha.
U Vương trông thấy Bao Tự vui mừng hết sức, bèn tha ngay Bao Hướng.
Từ ngày được Bao Tự, U Vương chẳng thiết gì đến việc triều chính, suốt ngày ở nơi cung Quỳnh Đài cùng mỹ nhân. Chẳng bao lâu Bao Tự sanh được một trai đặt tên là Bá Phục. Theo lời xúi của Bao Tự và các nịnh thần, U Vương đuổi Thái Tử Nghi Cựu về ở cùng ông ngoại là Thân Hầu và giam Hoàng Hậu vào lãnh cung. Bọn gian thần tâu xin vua lập Bao Tự làm Chánh Cung và tôn Bá Phục làm Đông Cung Thái Tử.

Mẹ con được hiển vinh tột bực như thế nhưng Bao Tự chưa lấy làm vui, cả ngày ít nói và không hề cười. Không ai hiểu nổi lòng ước muốn. U Vương lo lắng, triệu tất cả nhạc công trong nước đến đàn ca, hát xướng để làm vui. Nhưng nàng vẫn dàu dàu nét mặt. Nhà vua gặn hỏi. Nàng đáp:
- Thiếp ưng nghe tiếng xé lụa.
U Vương cả mừng truyền mỗi ngày đem vào cung một trăm tấm lụa, rồi khiến cung nhân thay phiên nhau xé để Bao Tự nghe. Nhưng lụa xé dồn cao như núi mà tuyệt nhiên không thấy nàng hé môi cười. U Vương hỏi:
- Đã ưa tiếng xé lụa, và lụa đã xé nhiều rồi, sao Ái Khanh không cười lên một tiếng cho vui lòng trẫm?
Bao Tự buồn rầu không đáp:
Để thỏa lòng mong muốn, nhà vua ra lệnh cho triều thần, ai có kế làm cho Bao Tự cười lên một tiếng sẽ được thưởng nghìn vàng. Quách Công tâu:
- Ngày trước Tiên Vương có lập mười ngọn phong hỏa đài tại núi Ly Sơn, lại tạo mấy cỗ trống rất lớn, để mỗi khi có giặc Tây Nhung đến xem lấn bờ cõi thì nổi lửa giống trống lên, các chư hầu nghe thấy, đem binh đến cứu. Từ ấy đến nay, trong nước thái bình, nên phong hỏa đài không dùng đến. Nếu Bệ Hạ muốn làm cho Chánh Hậu vui cười thì xin Bệ Hạ hãy cùng Chánh Cung đến Ly Sơn du ngoạn, rồi nửa đêm đốt phong hỏa đài lên và đánh trống cho thật dữ, các chư hầu ắt đem binh đến. Chừng ấy không thấy giặc giã đâu cả, các chư hầu phải lục tục kéo về. Như thế làm sao Chánh Hậu không tức cười được.
U Vương vỗ tay cười lớn:
- Kế ấy rất hay.
Đoạn cùng Bao Tự và triều thần đến Ly Sơn, bày yến tiệc ăn uống, nửa đêm truyền nổi lửa đốt phong hỏa đài. Quan Tư đồ can gián vua nhất định không nghe.
Lửa phong hỏa đài cất cháy, tiếng trống nỗi dậy rền trời.
Các chư hầu ngỡ là Kiểu Kinh có giặc, vội vàng kiểm điểm binh tướng kéo đến Ly Sơn. Đến nơi giặc giã đâu không thấy mà chỉ nghe trên lầu thánh thót tiếng đàn ca!
Thấy chư hầu rầm rộ kéo quân đến, U Vương mỉm cười ra đứng trước hiên lầu, nói lớn:
- Trầm được may mắn ngồi hưởng thái bình, nên không dám phiền chư hầu phải nhọc sức.
Các chư hầu đều ngơ ngác nhìn nhau, rồi bẽn lẽn cuốn cờ dẹp trống, ai về nước nấy.

Bao Tự đứng trên lầu trông xuống, thấy binh lính các nơi ồ ạt kéo đến, rồi tiu nghỉu kéo về, thì thích chí vỗ tay cười lớn. U Vương sung sướng, ôm Bao Tự vào lòng, nói:
- Ái Khanh ơi! Một tiếng cười của Ái Khanh chẳng những làm vui lòng ta, mà còn tô thắm muôn màu trong vũ trụ. Ấy cũng nhờ công của Quách Thạch Phủ mà nên.
Đoạn truyền đem nghìn nén vàng thưởng cho Quách Công.
Nói về Thân Hầu, sau khi mẹ con Thái Tử Nghi Cựu bị truất phế, liền làm sớ gởi đến can U Vương. Đại ý nói rằng:
- Xưa nay Kiệt mê Muội Hỷ mà nhà Hạ hư, vua Trụ mê Đắc Kỷ mà nhà Thương mất. Nay Bệ Hạ đắm say Bao Tự, phế bỏ dòng chính, lập dòng thứ, là trái nghĩa phu thê, hại tình phụ tử. Xin Bệ Hạ lấy gương nhà Hạ nhà Thương mà tránh cho nhà Châu khỏi điều tai biến.
U Vương xem sớ cả giận, vỗ án thét:
- Quân phản tặc sao dắm loạn ngôn?

Rồi nghe lời sàm tấu của Quách Thạch Phủ, hạ chỉ cách chức Thân Hầu và sai Thạch Phủ điểm binh mã kéo đến nước Thân vấn tội.
Được tin, Thân Hầu thất kinh, hội các tướng tá lại thương lượng. Chư tướng bàn nen cầu cứu nước Tây Nhung. Vua Tây Nhưng nhận lời, điểm binh mười vạn, cùng binh Thân Hầu kéo thẳng đến Kiểu Kinh. U Vương nghe báo, thất kinh, nói:
- Ta chưa kịp cất quân đi đánh mà giặc đã đến vậy thành thì làm thế nào bây giờ?
Quách Công quì tâu:
- Xin Bệ Hạ sai người đến phong hỏa đài đốt lửa lên và nổi trống lên thì chư hầu sẽ đem binh đến cứu. Chừng ấy ngoài đánh vô, trong đánh ra, giặc phải bị tiêu diệt.
U Vương theo lời.
Lửa cháy ngất trời. Tiếng trống dậy đất.
Nhưng các vua chư hầu bảo quần thần:
- Thiên tử lại muốn giở trò cũ để làm vui cho Chánh Cung!
Thế là không nước nào cho binh đi cứu. Quân U Vương không chống giữ nổi. Quân Tây Nhung hạ được hoàng thành. Vua U Vương chạy ra Ly Sơn cùng Bao Tự.
Như vào nơi không người, quân Tây Nhung tự do cướp bóc, đốt phá. Thân Hầu không thể ngăn được. Nhung Chúa vào thành không tìm thấy U Vương bèn đem binh đi kiếm. Gặp U Vương ở Ly Sơn, Nhung Chúa chém đầu và bắt Bao Tự và hầu chăn gối. Thân Hầu than cùng Nhung Chúa:
- Tôi muốn đem binh vào vấn tội để răn vua, không ngờ lại xảy ra cơ sự này! Chúng ta không khỏi mang tiếng!
Đoạn sai khăm liệm và an táng U Vương, rồi lấy vàng lụa trong kho sắp lên mười xe, làm lễ tiễn hành đưa Nhung Chúa về nước. Chẳng ngờ Nhung Chúa không chịu đi, cứ đóng quân ở mãi nơi Kinh Thành, ăn uống, chơi bời và phá phách nhân dân. Ai nấy đều oán trách.

Thân Hầu túng thế phải viết thư cầu cứu các chư hầu.
Đuổi được quân Tây Nhung ra khỏi Trung Nguyên, Thân Hầu cùng các vua chư hầu và triều thần tôn Thái Tử Nghi Cựu lên ngôi nhà Châu xưng hiệu là Bình Vương.
Bình Vương thấy Kiểu Kinh bị tàn phá, lại thêm Tây Nhung thường đem quân vào đánh cướp, nhân dân không thể sống yên, bèn dời đô sang đông. Từ ấy nhà Châu suy yếu dần dần và cuối cùng bị diệt.
Từ xưa tới nay, phần đông đều đổ tội cho Bao Tự đã làm mất nhà Châu, cũng như Muội Hỷ làm mất nhà Hạ , Đắc Kỷ làm mất nhà Thương. Sau Hạ, Thương, Châu, còn nhiều nhà vua bị mất ngôi, người đời cũng đổ thừa vì phụ nữ, như nước Ngô bị nước Việt diệt vì Tây Thi, vua Đường Minh Hoàng bị An Lộc Sơn rượt chạy lên Ba Thục vì Dương Quí Phi ..v.v..Do đó mà có câu:

Má hồng không thuốc mà say
    Nước kia cũng đổ thàny này cũng nghiêng
    Nhưng thử nghĩ cho kỹ xem lời đổ tội xưa nay có công bằng hay không ?


bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0

Khinh Thường Là Cửa Tai Họa

Nước Trịnh muốn cử binh đáng nước Tống. Quan đại thần nước Trịnh là Tế Túc tâu cùng Trịnh Trang Công phải sang hoà hiếu cùng nước Trần, nước Lỗ trước rồi sẽ xuất binh. Trang Công theo lời, sai sứ đến cầu hoà. Trần Hoàn Công không chịu. Công Tử Đà thấy vậy hỏi:
- Thân thiết với người hữu đức, tử tế với nước láng giềng, là việc tốt. Cớ sao Chúa Công lại từ chối?
Hoàn Công đáp:
- Tống và Vệ là hai nước lớn, có thể hại ta. Còn Trịnh có làm gì?
Sứ Trịnh trở về nước. Trịnh Trang Công nổi giận, nói với các quan:
- Nước Trần cậy vào Tống và Vệ. Nay nước Vệ mới dẹp yên loạn lạc, chưa đủ sức giúp đỡ ai. Ta hãy giảng hoà cùng Vệ và Lỗ, rồi cử binh sang đánh Tống và Trần thì ắt thắng.

Tế Túc thưa:
- Nước ta mạnh, nước Trần yếu, nay vô cớ, ta đến giảng hòa, Trần nghi ta có mưu kế mà không dám nhận. Vậy xin Chúa Công cho quân tràn qua bờ cõi cướp giật, rồi cho một sứ giả có tài ăn nói đem những vật cướp được trả lại tỏ tình thân mật, thì Trần sẽ chịu hoà.
Trang Công cho là hữu lý phái năm đạo quân đến đánh cướp nơi biên thùy nước Trần. Quân Trịnh cướp được hơn một trăm xe lương thực và nhiều binh khí chở về kinh đô.
Trần Hoàn Công nghe biên thùy bị quân Trịnh đến cướp, bèn hợp triều thần luận kế. Bỗng sứ giả nước Trịnh là Dĩnh Khảo Thúc đem những đồ cướp được sang trả lại cho Trần và dâng thư Trịnh Bá cho Trần hầu. Trong thư, đại ý nói rằng:

"- Tôi cùng hiền hầu đều là bề tôi nhà Châu. Vì vậy trước đây có sai sứ đến giao hảo. Chẳng ngờ hiền hầu từ khước, nên quân sĩ nơi biên thùy ngỡ hai nước có điều xích mích, mới tự tiện xăm phạm bờ cõi hiền hầu.
Hay được việc ấy tôi lấy làm áy náy, vội sai Dĩnh Khảo Thúc đem các vật bị cướp lại mà tạ tội.
Mong từ nay ha nước kết nghĩa anh em. Chắc hiền hầu không nỡ từ chối."

Trần Hoàn Công xem thư xong, tiếp đãi sứ giả rất niềm nở. Đoạn sai Công Tử Đà sang Trịnh đáp lễ. Từ ấy hai nước giao hảo với nhau.
Người đời sau khen mưu của Tế Túc là diệu: Muốn nói chuyện với ai thì trước hết phải làm cho họ nẻ mình, thì việc ăn nói của mình mới dễ có kết quả. Vừa đánh mạnh vừa nghị hòa là một chiến thuật hiện được các nước áp dụng.
Còn đối với Trần Hoàn Công, các sứ giả đều chê.

Tả Khâu Minh bàn rằng:
"Điều lành chớ nên bỏ mất, sự ác chớ nên để cho trưởng thành. Có phải như việc của Trần Hoàn Công chăng?
Cho sự ác trưởng thành sẽ không trị nổi, hoạ kia chắc cận kề, muốn cứu cũng không kịp. Trong Kinh Thi, bài "Bàn Canh" về Thương, có câu: "Ác dễ lớn, như lửa giữa đồng, khó đến gần, dập sao tắc được?"
Châu Nhăm có nói một lời đáng ghi nhớ là: "Vua trị nước thấy điều ác như nông phu thấy cỏ, phải lo bửa cào cho thành đống, cày cuốc cho tận gốc, chớ để sống lại. Nếu vua làm thế điều thiện sẽ hiện ra."

Và Lữ Đông Lai bàn rằng:
"Việc thiên hạ, thắng là nhờ lòng biết lo âu, bại là bởi dạ hay khinh dễ.
Sợ là nguồn phước, khinh là cửa họa.
Trần hầu cho Tống, Vệ là hai nước to mạnh đáng lo sợ, xem Trịnh là một nước nhỏ yếu nên dễ khinh. Vì vậy mới bảo "Trịnh có làm gì" và không cho Trịnh giảng hòa, rồi gây ra binh liên họa kết. Những nạn ấy không gây ra bởi Tống và Vệ là hai nước đáng lo sợ, lại do Trịnh là một nước đáng khinh thường! Như vậy khinh thường chẳng phải là cửa họa ư?

Câu "Trịnh có làm gì" của Trần hầu là nguồn gốc của sự tan nhà mất nước. Vì thế mới bảo rằng: "Tại một lời nói mà nước mất" là vậy đó.
Như nhà Tần chỉ có phòng ngừa Hung Nô mà để cho trăm họ chịu lầm than, có phải là vì sợ thế Hung Nô mạnh và cho rằng "Bá tánh có làm chi". Nhưng sau này nhà Tần mất nào phải tại Hung Nô.
Như nhà Hán chỉ lo áp chế tôn thất để tin dùng ngoại thích, phải chăng vì sợ tôn thất gần gũi có thể uy hiếp được và cho rằng "ngoại thích có làm chi". Nhưng sau nhà Hán bị hại nào phải do tôn thất?

Còn Tấn Võ Đế vì khinh "Nhung địch có làm chi" mà không dời chúng đi, sau này mất nước là do bọn man di ấy.
Còn Tùy Nhượng Đế vì khinh "Nhung địch có làm chi" mà không dời chúng đi, sau này mất nước chỉ bởi bọn trộm cướp ấy.
Như vậy câu "Có làm chi" cần phải hết sức bài hủy.
Nhà vua chắc tự bảo "Oán của dân có làm gì?" mới dám bạo ngược; chắc bảo " ngân sách thiếu thốn nào có làm gì", mới dám xa xí; chắc bảo "Đông binh nào có làm sao" mới dám thích chinh chiến. Như thế có phải ba chữ "có làm gì" là mối sanh ra vạn ác chăng?

Nếu không suy tận gốc thì ba chữ "có làm gì" tuy có mối sanh ra họa hoạn mà không có hình tạo nên họa hoạn, tuy có thật sự đáng ghê sợ mà không có dấu yiệu đáng ghê sợ. Nếu không phải là bậc quân tử tri cơ thì làm thế nào cản ngăn được ngọn sóng cao ngất trời mà lúc khởi đầu chỉ là một dòng nước chảy rỉ rỉ ..."
Câu chuyện Trần Hầu là một chuyện ngó hết sức tầm thường, người xem chuyện Đông Châu Liệt Quốc ít ai để ý. Thế mà ngọn bút của các nhà phê bình lật xuôi lật ngược vấn đề làm cho người xem thấy được chỗ lợi hại trong câu chuyện. Thật là hay!
Nếu họ Ngô có đọc những lời bình sử, hoặc đọc sử được kỹ càng, thì đâu đến nỗi dân Việt Nam phải chịu đau khổ ngót chín năm trời, và rồi hai anh em phải chịu hậu quả thê thảm như thế.


bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0
Làm Nghĩa Phải Cho Trọn

Vua Huệ Công nước Lỗ có người chánh thất tên Mạnh Tử và một người thiếp tên Thanh Tử.
Bà chánh thất không có con.
Người thiếp có một trai, tánh tình nhân hậu.
Bà chánh thất mất, Huệ Công cưới con gái vua nước Tống và sanh thêm được một trai, đặc tên là Quỹ. Huệ Công rất yêu Quỹ, có ý muốn truyền ngôi, nhưng chẳng may mất sớm.
Huệ Công mất, Công Tử Quỹ còn nhỏ, triều thần tôn người con trai bà thiếp lên kế vị, lấy hiệu là Ân Công.
Tuy được ngôi báu, Ân Công không hề quên ý định của cha, nên thường nói:
- Nước Lỗ này là của Công Tử Quỹ, ta chỉ tạm thay quyền nhiếp Quốc Chánh mà thôi.

Trong triều có quan Đại Phu là Công Tử Vận, tánh tham tài hám vị, một hôm xin Lỗ Ân Công ban cho chức thái tể. Ân Công bảo:
- Ngươi hãy đợi Công Tử Quỹ lên ngôi rồi hãy xin.
Ngờ rằng Ân Công không ưa Công Tử Quỹ nên đem lời mỉa mai, Công Tử Vận bèn thưa:
- Tôi thiết nghĩ ngôi báu Chúa Công đã giữ, thiên hạ đều kính phục, thì đợi đến khi trăm tuổi sẽ truyền lại cho con cháu. Nay Chúa Công lại định trao lại cho Công Tử Quỹ là nghĩa làm sao?
Ân Công xua tay nói:
- Người không phải là kẻ điên cuồng, cớ sao thốt ra những lời bất chính như vậy? Ta đắp sửa sang cung thất ở Đồ Cửu để về an dưỡng tuổi già. Ngôi báu ta sẽ trả lại cho Công Tử Quỹ.

Công Tử Vận biết mình lỡ lời, sợ Ân Công nói lại cùng Công Tử Quỹ thì sau này ắt mang họa, bèn tìm đến Công Tử Quỹ nói gièm:
- Tiên Công đã định truyền ngôi cho Công Tử. Ân Công chỉ tạm cầm quyền. Nay Công Tử lớn, Ân Công sợ Công Tử đòi mất ngôi, nên sai tôi tìm cách giết Công Tử.
Công Tử Quỹ cả sợ, hỏi:
- Biết tính sao bây giờ?
- Công Tử phải giết Ân Công thì mới thoát nạn.
Công Tử Quỹ ái ngại:
- Ân Công ở ngôi hơn mười năm, dân tình mến phục. Nếu việc không thành, ắt mang họa lớn.

Công Tử Vận nói:
- Chẳng khó gì. Tôi đã có kế. Ngày mai Lỗ Ân Công đi tế thần ở Chung Vu rồi về nghĩ nơi dinh Vỹ Đại Phu. Công Tử cho quân tới đó mai phục để giết quách đi, rồi đổ cho Vỹ Đại Phu mưu sát. Như thế ắt vẹn được tiếng tăm.
Công Tử Vận dụng kế giết được Lỗ Ân Công và tôn Công Tử Quỹ lên ngôi, lấy hiệu là Lỗ Hoàn Công. Hoàn Công liền phong cho Vận làm Thái Tể. Người trong nước đều biết rõ âm mưu bất chính, song không ai dám hở môi.
Người đọc sử đều chê Công Tử Quỹ và Công Tử Vận, nhất là Công Tử Vận, kẻ tham quyền lợi đã làm đầu mối cho điều bất nghĩa bất nhân.
Nhưng không mấy ai chịu khó lật ngược lại xuôi vấn đề để tìm cho thấy những cạnh khía sâu sắc.
Chỉ có Lữ Đông Lai là người đầu tiên đã thấy những điểm mà chưa ai khám phá.

Lữ Đông Lai bàn rằng:
"Than ôi! Sự thí Ân Công là phá tấm lòng mến nghĩa của thiên hạ!
Điều lợi ai cũng ham mà đeo đuổi. Việc nghĩa ai cũng ngại mà trốn tránh. Ví khiến làm nghĩa mà không mắc họa, người đời còn từ chối thay, huống chi lại còn có họa!
Ân Công không màng đến sự giàu có muôn xe, toan đem nước Lỗ nhường lại cho Hoàn Công. Vậy mà Hoàn Công chẳng nghĩ đến tấm lòng quảng đại ấy, đang tâm thí Ân Công, khiến cho Ân Công có một tiết tháo tối cao phải chịu một tai hoạ tối thảm, và trong đời ai cũng xem vụ thí Ân Công là một gương nên tránh sự làm nghĩa.

Trong thế gian, ai cũng cho việc thí Ân Công là việc phá tấm lòng yêu NGHĨA của thiên hạ.
Trái với thế gian, ta cho việc thí Ân Công là sự khuyến khích tấm YÊU NGHĨA của thiên hạ.
Tại sao vậy?
Vì Ân Công bị thí đâu phải tại làm nghĩa, mà chính tại LÀM NGHĨA KHÔNG TRÒN.
Việc nhường ngôi báu của Ân Công, tâm rất rõ ràng mà tích cũng rất sáng sủa.. Vì nếu lúc Hoàn Công còn trẻ dại, nếu Ân Công có ý gì khác thì Hoàn Công đã tan như cám nát như tương, bởi vì ở trong tay Ân Công đến trên mười năm chớ không phải ít.
Lòng Ân Công chẳng có mảy may gì đáng nghi ngờ. Dốc dạ dưỡng nuôi, chỉ lo giúp đỡ, trên có trời, dưới có đất, tâm và tích không chút dối trá.

Chỉ có điều đáng tiếc là LÀM NGHĨA CHẲNG TRỌN, vì mến quyền vị vài năm nữa mà không chịu bỏ đi ngay! Bởi không lìa ngay ngôi báu nên hình tích tham luyến mới lộ ra, Vũ Phủ (tức Công Tử Vận) nhơn thấy đó mới bày mưu giết Ân Công. Nếu Ân Công có phong độ thoái vị thật mạnh mẽ, rồi tỏ cho mọi người biết rõ rệt, thì kẻ bất nhân nào dám đến gần vách, quân bất nghĩa nào dám tới tận cửa, chớ đừng nói đến việc bày mưu hạ sát đứa em, dùng nết chó heo làm nhơ bẩn lòng mình được? Nay Vũ Phủ dám đến trước mặt để bày lời tàn bạo không chút rụt rè, là bởi hình tích tham luyến quyền hành của Ân Công xúi giục. Than ôi! Thấy vậy mà Ân Công chưa kinh sợ còn đáp với Vũ Phủ rằng: "Vì Thế Tử còn trẻ nên ta tạm cầm quyền. Ta sắp trả ngôi lại. Sẽ cho sửa soạn dinh nơi Đồ Cửu để về đó dưỡng lão". Chữ "sắp", chữ "sẽ" là lòng tham luyến của Ân Công lộ ra trong lời nói. Đáng trả thì trả ngay, tại sao lại "sắp trả". Đáng sửa dinh để về dưỡng lão thì sắp ngay, tại sao lại "sẽ"? một kẹt hở tuy nhỏ không dung được sợi tóc nhưng để lọt được chữ "sắp" chữ "sẽ", nên có thể cho người lợi dụng được. Do đó, lòng khinh lờn của Vũ Phủ, dạ nghi ngờ của Hoàn Công mới hợp nhau tạo sanh ra việc thí Ân Công!

Than ôi! Sự nhượng ngôi của Ân Công, tâm sáng sủa đường ấy, tích rõ ràng dường ấy, chỉ vì không dứt bỏ được mảy lông của mùa thu mà phải lâm họa! Còn bao nhiêu người tâm và tích chẳng theo kịp Ân Công thì sao không lo mà cố gắng thêm lên? Cho nên khi quân tử làm nghĩa thì phải nối liền đêm với ngày, không bao giờ lại dám không lo cho trọn. Lo như thế chẳng phải chỉ vì NGHĨA mà cũng để tránh tai họa.
Nếu không có gương của Ân Công thì kẻ LÀM NGHĨA, vừa thâu được một chút lành, sửa được một nết nhỏ, đã tự cho là đủ, rồi lười biếng không bước tới nữa. Cho nên ta mới bảo: Việc thí Ân Công là sự khuyến khích tấm lòng YÊU NGHĨA của thiên hạ."
Lời bàn của Đông Lai mới nghe thì dường như lập dị, dường như khe khắt, nhưng nghĩ kỹ thì thật chí lý mà cũng thật thâm thúy tinh vi! Sửa đức được như lời Đông Lai khuyên thì đức mới có thể sáng được.

bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0
Gặp Khó Chớ Lo Buồn, Gặp Dễ Chớ Mừng Vui

Nước Sở có người học cầm lái thuyền. Ban đầu, đi quanh hay thẳng, đi mau hay chậm, đều theo đúng lời thầy. Một hôm thấy thầy bỏ chèo, trương buồm cho thuyền chạy như mây lướt, như chim bay, chỉ một phút đi ngàn dặm, thì chàng ta muốn thử một mình tại khúc sông kia. Thời may gặp nước cạn, gió êm, nên thuyền đi theo ý muốn. Chàng ta tưởng mình đã đạt được thuật lái thuyền, bèn tạ lễ lìa thầy.
Về nhà dương dương tự đắc, coi biển như ao, xem hồ tợ chén, chàng ta đánh trống cho thuyền lướt thẳng vào nơi mây nước thương mang. Thuyền đâm ngay vào chốn nguy hiểm, gió dốc ngược biển như trút núi, sóng cao che lấp cả mặt nhật, sóng gió hung tợn đến cá kình, rồng con cũng thất đảm, phải lo tìm nơi ẩn trốn. Chàng lái thuyền dáo dác ngó tứ bề, tan mật nát hồn, tay chèo tay lái rơi lúc nào không biết. Rồi thuyền bị đánh chìm trong chốc lát và thân chàng lái thuyền bị chôn vùi dưới đáy biển sâu.
Người đời ai cũng cho đó một gương đáng sợ. Sự nguy hôm nay có phải tại điều may ngày trước tạo ra chăng? Phải chi lúc mới thử gặp ngay sóng to gió lớn thì chắc biết sợ điều nguy khó, trọn đời không dám coi thường việc ra khơi.

Cảnh ngộ của quan Mạc Ngao nước Sở là Khuất Hà cũng giống như chàng láy thuyền kia vậy.
Khuất Hà sắp minh hội cùng nước Nhị và nước Chẩn, thì nước Viên đem quân đóng chận ở Bồ Tao để chờ binh của nước Tùy, nước Giao, nước Châu và nước Liêu đến cùng đánh Sở. Khuất Hà rất lo ngại. Đại Phu nước Sở là Đấu Liêm bàn rằng:
- Quân Viên đương đóng gần thành của chúng, chắc không phòng bị và chỉ trông cậy vào quân của bốn nước đồng minh. Ngài đóng binh ở đất Sính để ngăn binh bốn nước, tôi có thể đem tinh binh, thừa đêm đánh quân Viên. Viên vì trông nhờ ở bốn nước bạn, lại cậy sự đóng tại đất nhà, chắc không sẵn chí chiến đấu. Quân Viên thua, quân bốn nước sẽ tán loạn.
Khuất Hà hỏi:
- Sao không xin thêm quân?
Đáp:
- Thắng là vì đồng tâm chớ không phải vì đông. Võ Vương chỉ có 300 nhung xa và 3.000 quân hổ bôn mà thắng quân của Trụ Vương đông như rừng vững như núi. Chuyện ấy chắc Ngài đã có nghe? Vậy quân ta nên tập thằng đội ngũ chỉnh tề rồi ra trận. Cần gì xin thêm.
Khuất Hà lại hỏi:
- Sao lại không bói thử?
Đáp:
- Bói là để quyết định điều nghi ngờ. Không nghi ngờ cần gì phải bói.
Khuất Hà nghe theo, đem quân đánh thắng được Viên, chiếm được Bồ Tao. Minh hội xong, kéo quân về Sở.
Qua năm sau, Sở đem quân đánh nước Giao, đóng quân ở cửa Nam kinh thành Giao. Vua nước Giao cậy thành cao hào sâu, có ý xem khinh quân Sở. Khuất Hà tâu cùng vua Sở:
- Nước Giao nhỏ mà khinh địch. Khinh thì ít mưu. Vậy ta dùng bảo vệ quân đi đốn củi để dụ giặc.
Vua Sở nghe theo.
Quân Giao bắt được 30 tên quân Sở đi hái củi. Hôm sau hừng chí, binh Giao tranh nhau rượt quân phục dịch của Sở ở trên núi, không lưu tâm đến việc giữ thành. Vua Sở đem quân phục nơi chân núi. Rồi một tiếng pháo làm hiệu, trên đánh xuống dưới đánh lên, quân Giao đại bại.

Vua Sở buộc vua Giao ký minh ước rồi kéo quân về.
Qua năm sau nữa, Khuất Hà đem binh đánh nước La. Quan Đại Phu Đấu Bá Tỷ đưa đi một khúc đường, lúc về nói cùng tên đánh xe rằng:
- Quan Mạc Ngao chắc sẽ thua. Bộ kiêu mà tâm không vững.
Rồi xin vào yết kiến vua Sở và tâu:
- Xin Chúa Công tăng quân cho Khuất Hà.
Nhà vua không chịu. Và khi vào cung thuật chuyện lại cùng phu nhân là Đặng Man. Phu nhân thưa:
- Ý của Đại phu đâu phải xin thêm quân. Dụng ý là khuyên Chúa Công thương sĩ tốt bằng TÍN, dạy tì tướng bằng ĐỨC, đãi quan Mạc Ngao bằng NGHIÊM HÌNH. Vì quen thắng trận ở Bồ Tao, quan Mạc Ngao tự dùng ý riêng, sẽ khinh thường nước La bé nhỏ. Nếu Chúa Công không vỗ về và trấn áp bề tôi, chắc chúng sẽ không lo phòng bị. Thiếp ngờ rằng quan Đại Phu khuyên Chúa Công nên giáo huấn ba quân, khéo trấn vũ tướng sĩ, đòi các tỳ tướng đến khuyên lịnh đức, và khi gặp Mạc Ngao nên bảo: "Trời không tựa kẻ khinh thường đâu". Nếu chẳng thế thì há quan Đại Phu lại không biết rằng tất cả quân Sở đã ra trận hết rồi hay sao?
Vua Sở khen phải, sai người theo gọi quan Mạc Ngao về. Nhưng không kịp nữa. Khuất Hà hạ lệnh cho ba quân rằng:
- Kẻ nào dám cản ngăn sẽ bị trọng hình.
Quân cứ tiến. Qua khỏi sông Yển, quân không còn giữ được trật tự. Hàng Ngũ không sắp lại. Chẳng đặt canh phòng.
Quân La được tin, hiệp cùng quân Lô Nhung công kích hai mặt. Vì Khuất Hà khinh thường, không phòng bị nên quân Sở bị thua to!
Lúc rút quân về Khuất Hà vào trong hang núi thắt cổ chết. Các tướng đều tự trói mình chịu tội. Vua Sở bảo: " Bại binh là lỗi của Quả Nhân", rồi tha cho các tướng sĩ.

Cổ Nhân bàn rằng:
- Đương lúc cầm quân chống nuớc Viên ở Bồ Tao, vì biết mình là tướng bất tài nên Khuất Hà luôn luôn nghe theo mưu của Đấu Liêm. Vì không có việc nhỏ nào Khuất Hà không theo kế hoạch của Đấu Liêm nên mới thành công.
Khi đã mục kích được sự dùng kỳ binh và cách áp dụng kỳ kế, Khuất Hà bèn tự bày mưu khi đem quân đánh nước Giao. Thời may cho Khuất Hà: nước Giao mắc lầm quỉ kế nên đại bại.
Khuất Hà hiu hiu tự đắc nghĩ rằng trù tính của mình không còn sót một nước nhỏ mọn chỉ dùng roi vọt mà đánh cũng phải chạy, nên bỏ phép cũ, tùy ý hành động, thung dung tiến bước cho đến lúc biến cố xảy ra bất ngờ, đến nỗi phải bại binh, phải thiệt mạng!
Xem các giai đoạn cầm quân của Khuất Hà có khác gì các giai đoạn láy thuyền của anh chàng nước Sở kia đâu!
Suy tìm mối hoạ, bà Đặng Man cho là tại trận Bồ Tao. Nhưng thật ra phát sanh mối hoạ chính là trận đánh với nước Giao. Khi đánh Giao, Khuất Hà tuy muốn tự dụng, nhưng cũng còn chưa dám tin vào nơi tài mình. Nếu lúc đó bị thua, thì chắc phải tự nghĩ rằng: "Trước kia sở dĩ ta thắng là nhờ người chỉ vẽ, nay vì tự dưng nên mới thất bại". Như thế tất sẽ tìm mà học thêm những điều chưa thấu đáo, không dám xem việc quân là món trò chơi, Trận thắng quân Giao làm cho Khuất Hà tưởng rằng nhờ mưu kế của mình tài giỏi, chớ chẳng ngờ là nhờ may. Do đó mới sanh kiêu căng. Bởi kiêu căng nên mới lâm vào hoạ ở nước La vậy."
Coi đó từ kẻ cầm vận mệnh quốc gia đến kẻ thứ dân, vừa lìa khỏi sự dạy dỗ của bậc thầy, mà muốn tự mình đạt chí riêng, thì nếu gặp việc dễ chớ vui mừng, gặp việc khó chớ buồn lo. Vì trước gặp dễ, sẽ tưởng việc đời thường khó, đó là nền phước.
Trong đời cũng thường thấy: Trước được một trận, sau lụy cả nước, trước được một việc, sau lụy cả thân.
Câu chuyện chàng lái thuyền và quan Mạc Ngao nước Sở là hai tấm gương sáng cho chúng tasoi khi gặp việc dễ, việc khó. Và để cho thêm sáng tỏ chân lý, chúng ta cũng nên nhớ câu ca dao của các ông bà già cả chốn thôn quê, rằng:
    Thất bại là mẹ thành công
    Tự thị, tự đắc, hoạ không khỏi nào.



bài đã được sửa chính tả



Đăng nhập để trả lời
0
Làm Việc Nên Thận Trọng Từ Buổi Đầu


Lỗ Hoàn Công lấy em gái Tề Trương Công làm vợ, sanh ra Thế tử Đồng.
Hoàn Công cùng vợ sang Tề.
Tề Trương Công thông dâm cùng vợ Hoàn Công.
Hoàn Công biết được. Để tránh tiếng, Tương Công sai người giết lén Hoàn Công.
Thế tử Đồng lên kế vị lấy hiệu là Lỗ Trang Công.
Mùa hạ năm Trang Công thứ VIII, quân Lỗ và quân Tề hợp nhau lại đánh nước Thành. Nước Thành bị thua, nhưng chỉ chịu hàng riêng với Tề.
Quan Đại Phu nước Lỗ là Trọng Khánh Phủ giận vì Tề cướp công chung, xin Trang Công đánh Tề. Trang Công đáp:
- Không nên. Ta đây bạc đức, chớ Tề có tội chi? Hạ thơ có câu: "Cao Dao siêng trồng đức, đức xuống tận dân". Vậy ta nên sửa đức để chờ thời.
Rồi qua thu, Trang Công kéo quân về nước.
Nhiều kẻ thức giả khen ngợi Lỗ Trang Công.
Nhưng Lỗ Trang Công có thật đáng khen ngợi hay chăng?

Lữ Đông Lai bàn rằng:
"Hai nước Tề Lỗ liên minh đánh Thành, rồi Tề một mình giựt lấy chiến công. Theo thường tình thì gặp cảnh ấy ai cũng tranh giành . Vậy mà Lỗ Trang Công chịu lui binh, không tranh giành, tự bắt lỗi về mình, không một lời trách Tề. Người đời không biết hành động của Lỗ Trang Công là dũng hay khiếp.
Ta đoán Lỗ Trang Công khiếp.
Kẻ đại dũng không tranh giành.
Kẻ đại khiếp cũng không tranh giành.
Nhưng kẻ đại dũng không tranh giành vì đại nghĩa, vì không kể tư lợi. Nhưng khi nghĩa vụ bắt buộc phải tranh giành thì sẽ đem sức mạnh có thừa ra tranh đấu. Chừng ấy trong thiên hạ còn ai đương cự nổi.

Đối với Tề Tương Công, Lỗ Trang Công có cái thù cha và vua, không thể đội chung trời. Như vậy vì nghĩa phải tranh đấu. Vậy mà sợ sệt, cúi mình để làm tay sai cho kẻ thù, ngồi xem kẻ thù chiếm xứ Thành không dám tranh giành. Không dám tranh giành vì sự sức mạnh của kẻ thù, rồi giả mượn lời nhân nghĩa! Chớ bổn tâm của Trang Công đâu phải như vậy.
Có người lại bảo: "Trong đời cũng có yếu xâm mạnh, nhỏ đánh lớn, vì không biết lượng sức nên bị tiêu diệt. Như thế tuy Trang Công không được liệt vào bực dũng, nhưng cũng đáng kể là người biết lượng sức mình". Xin đáp: "Khi nói đến NGHĨA, chớ nói đến SỨC. Thù của vua, thù của cha, nghĩa buộc phải đánh. Chẳng may sức không hơn người, chết trong tay kẻ thù, thì cũng đủ trưng bày tấm lòng cùng tiên phụ tiên vương. Như Đại Phu nước Tống là Cửu Mục, về sức làm sao hơn được Nam Cung Trường Vạn, mà trong đời chưa từng bị ai chê là không biết lượng sực mình.
Vậy xin hỏi: "Lỗ Trang Công có nên tranh giành với Tề chăng? Xin đáp:"Lỗ Trang Công đã quên thù vua và cha đã thông hiếu với Tề Trương Công, rồi lại liên minh cùng Tề đem quân đánh xứ Thành. Đến khi bị tranh công, nếu Lỗ Trang Công đứng lên tranh đấu với Tề, thì đó là giành lợi, chớ không phải phục thù. Trong trường hợp của Trang Công, tranh đấu cũng lỗi, mà không tranh đấu cũng lỗi. Lỗi đó sanh ra tự buổi đầu, nghĩa là từ khi thông hiếu cùng Tề. Đã phạm lỗi từ đầu, nên lui hay tới, xuống hay lên, qua hay lại, đến đâu cũng gặp lỗi."

Vì vậy cần biết rằng:
- Người quân tử muốn làm việc chi, nên thận trọn từ buổi đầu."
Một câu chuyện ngó thật tầm thường," mà người trí thức lại rút ra được một bài học thâm thúy, giúp ích cho những người đọc người nghe biết suy gẫm, rất nhiều. Và một lời nói, mới nghe qua tưởng rất là "quân tử", ngờ đâu chỉ là một tấm nhiễu điều che đậy một giá gương đã bị mọt ăn và tróc hết nước thủy.
Bởi vậy xét người xét việc, chúng ta nên ráng đi vào chiều sâu, thì mới thấy rõ được chân tướng.
Và lời dặn của Đông Lai: "Người quân tử muốn làm việc gì, nên thận trọng từ buổi đầu", là một lời chúng ta nên ghi lòngkhắc cốt. Làm việc không thận trọng lúc ban đầu, xưa nay đã làm hại đại cuộc không biết mấy.
Xin kể ra đây một chuyện nữa:

Vua nước Y Lặc là một hôn quân, tàn bạo, dâm dật. Ngót bao nhiêu năm trị vì đã làm cho nhân dân chịu không biết bao nhiêu thống khổ.
Để cứu dân, quan Tổng trấn xứ Ba Cách Đạt hợp lực cùng quan Tổng trấn xứ Đa Mạch, kéo quân về kinh đô đánh hôn quân. Toàn dân hoan nghênh quân khởi nghĩa. Quân nhà vua chống không lại. Các tướng lãnh và triều thần đều đầu hàng. Nhà vua dắt hoàng hậu và thái tử chạy ra ngõ sau thành, định sang Ba Tư lánh nạn. Nhưng chưa qua khỏi biên giới thì nghĩa binh đuổi kịp, giết chết cả ba.
Triều thần và tướng lãnh tôn quan Tổng trấn Ba Cách Đạt lên kế vị, và giao quyền cai trị xứ Ba Cách Đạt cho quan Tổng trấn Đa Mạch kiêm nhiệm.
Toàn dân trong nước nếu vui mừng. Suốt mười ngày đêm mở tiệc liên hoan, đờn ca múa hát không giờ phút nào dứt.
Tân Vương vốn là người góa vợ và đã hỏi con gái quan Tổng trấn Đa Mạch làm kế thiếp, nhưng vì cô gái còn bé, nên chưa có thể thành hôn. Khi lên ngôi trời trị nước, Tân Vương tạm dùng người ái phi của vua trước trong việc chiếu chăn. Các đình thần can:
- Người ấy có sắc đẹp. Trước đây đã dùng sắc đẹp của mình mà mê hoặc nhà vua khiến nhà vua trở nên hôn ám. Nay Đại Vương dùng nữa e không tránh khỏi vết xe xưa.
Nhà vua không nghe, đáp:
- Ta chỉ dùng tạm trong khi chờ đợi con gái quan Tổng trấn Đa Mạch trưởng thành. Dùng một người khác không khỏi bị xáo trộn trật tự trong thâm cung. Huống nữa nàng ấy chỉ lo việc chiếu chăn mà thôi thì có hại gì đến việc nước.
Nhân dân thì thầm:
- Không khéo tấn tuồng xưa sẽ diễn lại!

Bọn dua nịnh ngày xưa nhận thấy được nhược điểm của Tân Vương, bèn đua nhau tìm phương kế gần gũi Tân Vương và người ái phi, để mưu cầu quyền lộc.
Người đời ai lại không ưa những lời ngon ngọt, ai lại không ưa người khác thờ phụng mình! Vì không vượt khỏi thường tình, Tân Vương lần lần tin dùng bọn chúng, và người ái phi theo mưu kế của bọn chúng, làm cho Tân Vương không còn nghĩ đến việc cưới con gái quan Tổng trấn Đa Mạch, và nhất định tôn người ái phi lên ngôi Chánh Cung.
Đình thần hết lời can ngăn, nhưng chẳng những nhà vua không nghe mà còn đày một số công thần ra trấn nơi biên ải. Một số nữa, muốn tránh hậu hoạ, kẻ cáo bệnh từ quan, kẻ bỏ trốn ra ngoại quốc.
Khắp nước Y Lặc, dư luận xôn xao.
Nhà vua không nghĩ kỹ, cậy có binh đông tướng mạnh, nên đã không lo sửa mình, sửa chánh sách trị quốc, mà còn theo lời bọn gian nịnh, dùng bạo lực để trấn áp nhân tâm!
Thế là trời Y Lặc vừa hé nắng xuân đã bắt đầu kéo mây nổi bấc. Và cuối cùng, nhân dân toàn quốc buộc lòng phải đứng dậy giành quyền sống của con Người.
Thật là:
    Nhất thất túc thiền thiên cổ hận
    Tái hồi đầu thị bách niên thu

Nghĩa là:
    Một lần sẩy chân
    Nghìn thu đeo giận.
    Lòng biết hối hận
    Thân đà trăm năm.

Cho nên lời dặn của Đông Lai "nên thận trọng từ buổi đầu", chúng ta nên nhớ khi bắt tay vào việc, nhất là việc nước việc dân, thì mới chắc thu hoạch được kết quả mong muốn.


bài đã được sửa chính tả




Đăng nhập để trả lời
0
Đừng Giả Nhân Giả Nghĩa


Tống Tương Công muốn làm bá chủ, bàn cùng các nước chư hầu mở đại hội. Sở Thành Vương ra giúp.
Tể tướng nước Sở là Tử Văn hay tin, hỏi Thành Vương:
- Vua nước Tống là kẻ bất cần liêm sĩ, sao Đại Vương lại giúp Tống hội chư hầu?
Thành Vương cười:
- Ta muốn làm Minh chủ ở Trung Quốc, nay sẵn dịp, sao lại từ chối?
Quan Đại Phu Thành Đắc Thần nói:
- Vua Tống là kẻ háo danh, lại vô mưu. Trong kỳ hội chư hầu này, nếu ta đem quân sĩ phục sẵn, ắt bắt được vua Tống.
Thành Vương đáp:
- Đó là dự tính của ta.
Tử Văn can:
- Giúp người ta hội chư hầu, rồi lại bắt người ta như vậy, thì làm sao các nước phục được mình!
Thành Đắc Thần cười:
- Tướng Quốc chớ nên câu nệ việc nhỏ mà bỏ điều lợi lớn. Vua Tống đã háo danh, lại tự phụ, tất nhiên trong khi hội hợp sẽ làm cho nhiều người ghét. Nhơn cơ hội ấy ta bắt vua Tống để thị oai, rồi lại tha chết. Như thế các nước ắt phải phục, vì thường tình thiên hạ, ai lại không muốn làm bỉ mặt những kẻ tự đắc, tự cao.

Sở Thành Vương liền sai Thành Đắc Thần tuyển năm trăm giáp sĩ chờ ngày ra tay.
Còn Tống Tương Công được vua Sở thuận giúp việc hội chư hầu thì rất lấy làm đắc ý. Công tử Mục Di thưa:
- Người Sở là giống Man Di, tâm địa khó lường. Tôi e Chúa Công mắc mưu Sở đó.
Tương Công đáp:
- Nhà ngươi tánh đa nghi lắm! Ta đem lòng trung tín mà đãi người, lẽ đâu người lại đi lừa đối ta.
Thế là hịch truyền khắp các nước chư hầu, hẹn tháng quí thu đến hội nơi đất Vu Địa nước Tống.
Đến kỳ hẹn, Tống Tương Công sửa sang xa giá đến Vu Địa. Công Tử Mục Di thưa:
- Nước Sở cậy sức mạnh không biết giữ lễ nghĩa. Chúa Công phải đem quân theo để đề phòng.
Tương Công nói:
- Hội chư hầu, mục đích để giữ tình hòa hảo. Nay đem quân theo phòng vệ, thì sao các nước khỏi chê cười.
Mặc dù Công Tử Mục Di hết lời can gián, Tương Công nhất định không nghe. Tương Công lên đường. Mục Di xin theo phò.

Ngày hội, Tương Công tự coi mình là chủ lấy lễ đãi khách, chào đón chư hầu, rồi sắp theo hai hàng cùng đứng trên đàn. Các chư hầu đều sợ uy Sở Thành Vương, nhường nhà vua đứng trước. Sở Thành Vương hỏi Tống Tương Công:
- Không biết hội chư hầu ngày hôm nay, ai làm chủ tọa?
Tương Công tự cho mình là nước có công nhất nên tự phong làm chủ tọa. Thành Vương không chịu. Hai bên sanh ra bất hòa. Kẻ tùy tùng của Sở Thành Vương là Thành Đắc Thần liền nhảy ra phất cờ lệnh. Hơn nghìn giáp sĩ phục sẵn quanh đài, kéo đến phủ vây. Các vua chư hầu cùng Tống Tương Công đều hết vía. Thành Đắc Thần đến bắt Tống Tương Công trói lại. Mục Di biết thế không xong, lén trốn về triều lo việc nước.
Mục Di về triều cùng Công Tôn Cố nắm giữ quyền bính, lo chống lại nước Sở.
Sở Thành Vương kéo quân đến đánh Tống, Bị quân Tống kháng cự mãnh liệt, phải rút lui.
Sau đó Sở Thành Vương được các nước do Trịnh Văn Công đề xướng, tôn lên làm Minh Chủ. Và thể theo lời xin của chư hầu, Thành Vương tha Tống Tương Công về nước. Nhưng vì để lãnh đạo quân dân chống Sở, trong khi Tương Công bị bắt, Mục Di đã tạm lên ngôi nước Tống, Tương Vương biết được, chạy qua Vệ. Mục Di nghe tin, cho người sang Vệ rước Tương Công về trao trả ngôi vua.

Trở về nước, Tống Tương Công căm giận Sở đã gạt mình, và thù Trịnh đã bày mưu tôn Sở làm Minh Chủ nên cất binh đi phạt Trịnh trước. Mục Di can. Tương Công không nghe. Công Tôn Cố cũng can. Vua nổi giận nói:
- Các ngươi không muốn theo ta phạt Trịnh, thì ta đi một mình.
Công Tôn Cố không dám nói nữa, cùng Tống Tương Công kéo binh sang Trịnh.
Trịnh Văn Công thất kinh sai người sang Sở cầu cứu.
Sở Thành Vương toan sai tướng đem binh cứu Trịnh, thì Thành Đắc Thần tâu:
- Cứu Trịnh không bằng phạt Tống. Vì từ khi Tương Công bị bắt, được tha về nước, đã không biết sửa mình, nay lại còn không lượng sức, đem binh đánh Trịnh! Đánh Trịnh chưa chắc đã thắng nổi mà trong nước lại bỏ trống. Ta thừa cơ đem quân đoạt thành. Nếu quân Tống hay tin, trở về cứu, thì sức đã mệt mỏi, ta thắng được dễ dàng.
Sở Vương khen hay, phong Thành Đắc Thần làm chánh tướng đem quân sang đánh Tống.
Tống Tương Công đương xua quân đánh Trịnh, hay tin quân Sở kéo đến biên giới, vội rút quân về đóng phía Nam sông Hoàng Thủy, chặng đường bình Sở.
Thành Đắc Thần kéo quân đến sông Hoằng, hạ trại rồi sai người khiêu chiến.

Công Tôn Cố khuyên Tương Công nên hòa với Sở để tránh việc binh đao. Tương Công không nghe, hạ chiến thư hẹn ngày giao chiến cùng Sở. Lại khiến dựng sau xe mình một cây đại kỳ đề hai chữ "NHÂN NGHĨA" to lớn. Công Tôn Cố than thầm cùng kẻ tả hữu:
- Chinh chiến là việc chém giết, thế mà chúa công đem việc Nhân Nghĩa ra nói. Tôi thật không hiểu làm sao cả!
Thành Đắc Thần tiếp được chiến thư của Tương Công bèn cùng tướng tá bàn luận. Ai nấy đều bảo nên đem quân sang sông đánh trước. Thành Đắc Thần cười:
- Tống Tương Công đánh giặc vì háo chiến, chớ không tinh thông binh pháp. Ta tới sớm đánh sớm, tới trễ đánh trễ, có chi phải lo.
Rồi đợi trời sáng tỏ mới cho quân sang sông.
Công Tôn Cố thưa cùng Tống Tương Công:
- Binh Sở đợi sáng mới sang sông là có ý khinh ta. Vậy nhơn lúc định quân mới sang sông nửa chừng, ta xua binh chận đánh ắt trọn thắng.
Tương Công chỉ cây đại kỳ nói:
- Cờ ta để "NHÂN NGHĨA", lẽ đâu lại làm vậy?
Công Tôn Cố đành thở dài!

Giây phút binh Sở sang qua hết. Thành Đắc Thần đầu đội mão khảm ngọc, mình mặc áo thêu hoa, giáp bằng gấm, tay cầm roi, ngồi trên ngựa điểm binh, bố trận, một cách ung dung. Công Tôn Cố giục Tương Công xáp trận ngay. Tương Công nhổ nước miếng vào mặt Công Tôn và nói:
- Nhà ngươi chỉ ham thắng, chớ không nghĩ chi đến lời đàm tiếu của thế gian!
Công Tôn Cố không dám nói thêm một lời!
Trận của Sở dàn xong, hàng ngũ chỉnh tề, người ngựa đông không thể đếm. Binh Tống trông thấy phải kinh tâm! Tống Tương Công ra lệnh tiến quân. Công Tôn Cố cùng các tướng theo hộ giá.
Bên quân Sở, Thành Đắc Thần ngầm ra hiệu cho tướng sĩ cứ đứng yên. Đợi khi quân Tống đến đã gần, Đắc Thần hét to một tiếng, binh Sở áp lại vậy binh Tống vào giữa mà đánh như bão táp mưa tuôn. Quân Tống chống cự không nổi, chưa mấy lúc đã rã tan. Phần đông các tướng theo Tương Công đều tử trận. Tương Công bị trọng thương, may nhờ Công Tôn Cố ráng hết sức mới phá được vòng vây cứu nhà vua khỏi nạn.
Quân Sở toàn thắng. Quân Tống chỉ còn sống sót được vài ba phần trăm! Gia đình binh sĩ bị tử trận kéo đến sân triều oán trách:
- Tại Chúa Công không nghe lời can gián nên mới thảm bại làm vậy!
Tương Công nói:
- Ta lấy nhân nghĩa mà xử, hiềm vì người Sở quá tiểu nhân nên ba quân mới bị hại.

Than ôi! Đã đến thế mà Tống Tương Công vẫn không biết hối hận, còn tự cho mình là người "nhân nghĩa" và chê kẻ khác là "tiểu nhân"!
Người nước Sở có tiếng là xảo quyệt thật. Song Tống Tương Công xem ra có quân tử gì hơn Sở Thành Vương? Trái lại còn tiểu nhân hơn vua nước Sở một bậc, là vì vua Sở thẳng thắn làm theo sở dục, còn Tống Tương Công lo che giấu lòng hèn kém của mình dưới hình thức. "Nghĩa Nhân". Ngán thay bề mặt đạo đức quá mong manh không che nổi con mắt khách bàng quan, mà lại còn làm cho nhà vua hai phen gần thiệt mang!
Thế mà không giác ngộ! Thế mới biết kẻ tiểu nhân, giả nhân giả nghĩa, thường ngoan cố biết bao!
Và gương Tống Tương Công cho chúng ta thấy rõ rằng những kẻ háo danh háo lợi, thường giả nghĩa giả nhân, và những kẻ giả nghĩa giả nhân thường hay ngoan cố .
Theo đó chúng ta có thể kết luận rằng: Những kẻ ngoan cố hầu hết đều là những kẻ tiểu nhân say danh đắm lợi, sự thất bại đã chực sẵn một bên, nên:
    Rủi tham, nén bớt lòng tham,
    Đừng mong che đậy giả làm nghĩa nhân.




bài đã được sửa chính tả



Đăng nhập để trả lời
0
Hãy Dùng Việc Người Để Xét Mình


Tục ngữ có câu: "Việc người thì sáng, việc mình thì quáng". Cho nên dùng lòng mình xem việc mình là khó, mà dùng việc người xét mình có phần dễ hơn.
Thật vậy, nhận thấy người lành, mới thấy mình ác; nhận thấy người ác mới rõ mình lành. Người là một tấm gương sáng, mình chỉ nhìn vào là thấy rõ mình ngay. Nhưng phải nhìn thẳng vào gương, chớ đừng đứng lệch một bên mà chỉ thấy gương chứ không thấy bóng, hoặc có thấy chăng cũng thấy không được rõ, được thật.

Ví dụ chuyện Tấn Hoài Công sau đây.
Tấn Hiến Công mê người tiểu thiếp là Lý Cơ muốn truyền ngôi cho con Lý Cơ là Tề Hề, bèn giết thế tử Thân Sanh.
Thân Sanh có hai người anh khác mẹ là Công Tử Di Ngô và Công Tử Trùng Nhĩ. Sợ hai Công Tử trả thù, Ly Cơ xui Hiến Công trừ trước. Hiến Công theo lời sai người đi bắt.

Quan Đại Phu là Hồ Đột nghe biết, gọi con là Hồ Yển đến bảo:
- Công Tử Trùng Nhĩ, tướng mạo khác thường, xương sườn dính liền nhau, con mắt có hai đồng tử, ắt sau này sẽ thay Thân Sanh mà gìn giữ cơ nghiệp nước Tấn. Con hãy đến đất Bồ cùng anh con phò Công Tử đi ra nước ngoài tạm lánh.
Anh Hồ Yển là Hồ Mao đương phò Trùng Nhĩ tại đất Bồ.

Hồ Yển đến thưa rõ ý cha và hai anh em phò Trùng Nhĩ sang nước Địch.
Còn Công Tử Di Ngô cũng được người thân tin phò trốn sang nước Lương.
Được ít lâu Tấn Hiến Công mất, bọn gian thần tôn Tề Hề lên ngôi. Nhiều quan đại thần không chịu, nên mẹ con Tề Hề và bọn đồng lõa bị giết hết. Đình thần sai người sang nước Địch rước Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ biết vận nước còn nhiều biến chuyển , nên không chịu về. Đình thần bèn sai người sang nước Lương rước Công Tử Di Ngô.

Di Ngô về nước tức vị lấy hiệu là Tấn Huệ Công. Huệ Công tánh tham lam, ít đức, nên dân tình không phục, trong nước ít khi yên. Huệ Công lại còn gây sự cùng nước Tần, bị vua Tần bắt, phải dâng 5 thành mới được tha.
Về nước, Huệ Công nói:
- Ta bị cầm ở Tần ba tháng, rất lo sợ Trùng Nhĩ về cướp ngôi. Nay mới yên dạ.
Người bề tôi là Khước Nhuế tâu:
- Trùng Nghĩ còn là một mối lo ngại lớn của Chúa Công. Phải trừ cho được mới dứt hậu họa.
Huệ Công bèn sai người qua nước Địch tìm cách giết Trùng Nhĩ.

Trùng Nhĩ ở nước Địch đã mười hai năm. Kẻ phò tá, ngoài hai anh em Hồ Mao, Hồ Yến, còn có Triệu Khôi, Ngụy Thù, Giới Tử Thôi, vân vân ....đều là những trang tuấn kiệt. Được tin vua Tấn cho người sang để mưu hại mình, Trùng Nhĩ cùng bầy tôi bỏ nước Địch chạy qua nước Vệ. Không được vua nước Vệ tiếp, cả bọn bị đói tại đất Ngư Lộc, phải xin ăn. Đám nông phu đã không cho thời chớ lại còn buông lời mai mỉa và lấy đất cục mà trao cho. Chúa tôi lủi thủi chạy qua Tề, được Tề Hoàn Công hậu đãi, gả Khương Thị cho Trùng Nhĩ. Ở Tề ngót năm năm tròn, kế Tề bị nội loạn, bọn tòng vong bàn cùng Khương Thị phục rượu Trùng Nhĩ, đưa ra khỏi nước Tề. Chúa tôi chạy sang nước Tào. Vua Tào nghe Trùng Nhĩ có dị tướng, mời đi tắm để lén xem trộm xương sườn dính liền. Quan Đại Phu nước Tào là Hy Phụ Cơ biết nhà vua làm chuyện phi lễ, bèn đem thực phẩm đến dâng, trong đồ ăn để ngầm ngọc bích dâng tặng. Trùng Nhĩ nhận thực phẩm nhưng hoàn ngọc bích lại, rồi dắt bầy tôi sang các nước khác. Hết Tống, đến Sở, phong trần lận đận, cuối cùng đến Tần, được vua Tần hậu đãi. Trùng Nhĩ được vua Tần gả con gái và hứa đưa về nước. Trùng Nhĩ ở Tần chờ thời cơ.

Trong khi Trùng Nhĩ bôn tẩu ở nước ngoài, thì trong nước Tấn luôn luôn có loạn, nhân dân ngóng trông Trùng Nhĩ về trị vì. Nhưng ngày tháng trôi qua....Tấn Huệ Công vẫn ngồi vững trên ngôi báu.
Huệ Công mất, Thế Tử Ngữ lên nối ngôi, lấy hiệu là Tấn Hoài Công.

Hoài Công sợ Công Tử Trùng Nhĩ ở ngoài không khỏi sinh biến, bèn hạ lệnh: "Phàm những người bề tôi nước Tấn theo Trùng Nhĩ đi trốn, hạn trong bảy tháng, họ hàng ở nhà phải viết thư gọi về. Ai đúng hạn mà về, thì tha không bắt tội, lại được phục chức cũ. Nếu quá hạn không về, đều bị kết án vắng mặt, mà cha con anh em ở nhà đều bị tử hình".

Khước Nhuế khuyên Hồ Đột viết thư gọi hai con về. Hồ Đột không nghe. Khước Nhuế vào tâu cùng Hoàn Công. Hoàn Công cho đòi Hồ Đột đến phán bảo:
- Gọi con về sẽ miễn tội.
Hồ Đột nói:
- Con làm quan, cha phải dạy Trung, ấy là phép xưa. Hai con tôi theo phò Trùng Nhĩ đã lâu ngày, gọi về tức là gọi chúng ở hai lòng. Phó thác mình với người, rồi lại sanh ra hai lòng, là có tội. Huống nữa cha đã dạy con ăn ở hai lòng thì biết lấy đạo gì mà thờ vua?
Hoàn Công nổi giận, sai hai người cầm gươm kề vào cổ Hồ Đột, nói:
- Nếu muốn khỏi chết phải viết thư gọi con về.
Khước Nhuế lại lấy giấy bút để truớc mặt Hồ Đột rồi cầm tay bảo viết.
Hồ Đột nói:
- Cứ để ta viết, cần gì phải cầm tay.
Nói xong viết:
- Con không hai cha, tôi không hai chúa.
Hoàn Công cả giận thét lớn:
- Nhà ngươi không sợ chết sao?
Hồ Đột đáp:
- Không lạm dụng hình pháp là sáng suốt của bề trên, mà cũng là ý nguyện của bề tôi. Lạm dụng hình pháp để ra oai thì ai mà không có tội. Thần xin tuân theo mệnh lệnh.

Nói rồi đưa cổ cho hai tên võ sĩ chém. Hoàn Công sai đem ra chợ khai đao để răn chúng.
Hồ Đột chết, kẻ tôi trung đều rơi lệ. Thấy Hoàn Công bạo ngược, nhân dân không phục, chư hầu chán ghét. Trong triều các lão thần bàn nhau tôn Trùng Nhĩ lên ngôi, và cho người sang Tần thông tin tức.
Được tin, Trùng Nhĩ mừng rỡ vào xin binh vua Tần. Vua Tần bằng lòng, sai đại tướng đem binh theo giúp Trùng Nhĩ phục quốc. Nhân dân nghe Trùng Nhĩ về, kéo nhau đi đón. Hoàn Công không chống cự nổi, bỏ thành chạy sang đất Cao Lương lánh nạn. Trùng Nhĩ lên ngôi vua nước Tấn, lấy hiệu là Tấn Văn Công.

Tấn Hoài Công cũng như Tấn Huệ Công, không biết dùng việc người để xét mình.
Có thể nói là nhà vua chưa từng lấy người làm gương, cho nên mới không biết mình chẳng có chi để cho người khác theo, mà chỉ biết trách sao người khác không theo mình!

Thử nghĩ Hoàn Công là vua nước Tấn, còn Trùng Nhĩ là một Công Tử lo đi trốn. Bọn Hồ Mao, Triệu Thôi ...lủi thủi chạy theo Trùng Nhĩ, bị khinh khi, bị giặc hãm, lúc phải xin ăn, lúc phải trốn tránh....hết nước này sang nước khác, tủi nhục, nhọc nhằn....đến thế tưởng nhân tình thường khó kham nổi. Nếu chịu bỏ Trùng Nhĩ để theo về cùng Hoàn Công thì quyền cao, thân sướng, lòng không còn phải lo sợ, như thế chẳng là hạnh phúc lắm sao? Thế mà bọn Hồ Mao, Triệu Thôi ...cam chịu gian lao, quyết giữ một lòng cùng Trùng Nhĩ.
Chỉ ngó qua cũng đủ thấy Hoàn Công cùng Trùng Nhĩ bên nào kém bên nào hơn.

Nếu Hoàn Công nhân việc Hồ Đột không chịu gọi con về và bọn tòng vong không chịu về với mình mà kiểm điểm lòng mình, việc mình, thì sẽ thấy rằng:
- Giàu, sang, an, vui, người đời ai cũng ham muốn. Bọn Hồ Mao, Triệu Thôi ....lại chịu gian lao tủi nhục mà theo Trùng Nhĩ thì đâu phải có khác với thường tình. Chúng bỏ được sang, vui và quên lo, nhục ...thì chắc Trùng Nhĩ phải có đức gì để thắng được tủi nhục lo âu? Chúng bỏ được an nhàn mà theo nhọc, thì chắc Trùng Nhĩ có đức gì để thắng được gian lao?

Khi thấy được người khác có cái gì hơn mình rồi, thì lo sửa mình cho bằng người. Hoàn Công đã có nước Tấn hùng cường, nếu được thêm đạo đức nữa, thì những kẻ theo Hoàn Công đã có sự vui của danh vị lại thêm sự vui của đạo đức. Đã có sự yên vui của đạo đức còn có sự yên vui của danh vị, thì Trùng Nhĩ không có những cái Hoàn Công có, còn Hoàn Công lại có thêm những cái Trùng Nhĩ không có. Sự hơn kém đã thấy rõ ràng, bọn Hồ Mao, Triệu Thôi...không đợi gọi cũng lo tìm về với Hoàn Công.

Vì Hoàn Công lòng nhỏ nhen, trí đen tối, không biết lấy việc người xét thân mình, trở lui tự vấn lương tâm mà tu thân lập đức, lại đi giết người để thị oai, cắt đức ý hướng của những kẻ còn muốn về với mình, và làm vững lòng những kẻ đương theo kẻ thù với mình. Mưu kế thật không có gì ngu muội bằng! Dẫu cho Trùng Nhĩ không có chí trở về Tấn, mà Hồ Yển, Hồ Mao có mối thù bất cọng đới thiên, thì khi nào lại chịu để Trùng Nhĩ ở yên ngoài nước Tấn.

Cho nên cổ nhân bảo rằng: "Chính Tấn Hoài Công đã đem Trùng Nhĩ về nước", thật là đúng vậy.
Và xem đó thấy rõ rằng lấy người làm gương để xét mình nhật là có lợi



bài đã được sửa chính tả



Đăng nhập để trả lời
0
Yên Vui Là Cửa Của Trăm Điều Ác


Người đời ai cũng ước được yên vui. Thế mà bảo "yên vui là cửa của trăm điều ác" thì chẳng là trái với thường tình trong thiên hạ lắm ư?
Thưa không trái.
Cổ nhân dạy rằng:
- Với xe đi trên đất, chẳng chổ nào nhân từ bằng đường quanh co khúc khuỷu như ruột dê, mà không nơi nào bất nhân bằng đường bằng phẳng, rộng, thẳng. Với thuyền đi trên nước, chẳng chổ nào nhân từ bằng khúc sông sâu hiểm như gành thác, mà không nơi nào bất nhân bằng nơi rộng, lớn và êm lặng như mặt ao tù. Bởi vì biết có nguy, lòng lo âu, thân mới toàn; thấy quá dễ, dạ khinh thường thân mới nát.
Lẽ ấy thật hiển nhiên. Xưa nay có rất nhiều gương sáng tỏ. Và chuyện vua Linh Chi và vua Cô Trúc sau đây là một tấm gương cổ nên soi.

Nước Linh Chi tục gọi là Sơn Nhung, phía Tây giáp nước Yên, phía Đông giáp Tề và Sở.
Chúa Linh Chi là Mật Lư ỷ nước mình là nơi hiểm địa, không ai dám xâm lấn nên chẳng chịu phục tùng nước nào, lại còn đem binh phá phách nhiều nơi để cướp bóc của cải.
Năm 660 trước kỷ nguyên Thiên Chúa. Mật Lư kéo binh đánh nước Yên. Nước Yên cự không lại, sai sứ sang Tề cầu cứu. Tề Hoàn Công hỏi Quản Trọng. Quản Trọng thưa:
- Bọn Nhung địch là giống sài lang, tham không biết chán. Các nước Chu Ba là lân cận chớ nên lìa bỏ. Điều vui yên là thuốc độc, chớ nên hoài bão. Kinh thi có câu "Há lòng không muốn trở về, chỉ vì kính sợ giản thơ". Giản thơ có nghĩa là "đồng nạn tương cứu". Xin Chúa Công cứu nước Yên để theo giản thơ.
Tề Hoàn Công theo lời, kiểm điểm binh mã, và tự mình thân chinh.

Mật Lư đánh phá nước Yên đã hơn hai tháng. Của cải bị cướp, đàn bà con gái bị bắt không biết bao nhiêu mà kể. Nghe tin quân Tề đến cứu liền rút binh về nước.
Vua nước Yên là Trang Công khai thành nghênh tiếp Hoàn Công.
- Quân Sơn Nhung chưa thua mà đã kéo về, nếu chúng ta lui binh, tất chúng lai đến phá rối nữa. Bây giờ phải thừa thắng, kéo đến nội địa chúng mà đánh, mới dứt hậu hoạn được.
Tề Hoàn Công khen phải, truyền tiến binh. Yên Trang Công đem quân theo giúp.
Nhờ núi khe hiểm trở, quân nước Linh Chi ngăn cản không cho quân Tề tiến bước được dễ dàng. Mật Lư lại sai quân đắp dòng sông Nhụ Thủy, khiến binh Tề không có nước uống. Quản Trọng cho đào giếng, nhưng đào nhiều nơi mà vẫn không nước. Sau đào được mạch suối, đặt tên là Thánh Tuyền, nước dùng tạm đủ. Quân Linh Chi dò biết, chúa tôi bảo nhau:
- Đó chỉ là sống tạm trong một thời gian. Thế nào Tề cũng không ở lâu nổi. Ta chờ họ rút binh, ta sẽ đem quân truy kích, đoạt một số vũ khi mà dùng.

Chúa tôi đắc ý, cả ngày say sưa, không lo nghĩ gì nữa.
Bỗng một hôm, có tin báo:
- Quân Tề kéo đại binh đến vây thành.
Mật Lư và đình thần thất kinh, bỏ thành chạy trốn. Quân Sơn Nhung mất người chỉ huy, chạy tán loạn, lớp đầu hàng, lớp ôm nhau mà khóc.
Tề Hoàn Công cấm binh sĩ không được chém giết, cướp đoạt. Lại truyền mở ngục thả đàn bà con gái mà bọn Sơn Nhung đã bắt bên nước Yên. Đoạn chiêu an bá tánh. Hoàn Công đòi quân Sơn Nhung vào hỏi:
- Mật Lư hiện trốn nơi nào?
Chúng đáp:
- Nước chúng tôi giáp với Cô Trúc. Hai nước giao hảo mật thiết. Trước đây Chúa chúng tôi có cho người sang mượn binh, nhưng binh Cô Trúc chưa kịp đến thì thành bị vây, nên nay Chúa chúng tôi chắc chạy sang lánh nạn ở Cô Trúc.
Sau khi dò hỏi địa thế, Tề Hoàn Công kéo binh sang đánh Cô Trúc.

Mật Lư chạy sang Cô Trúc. Vua Cô Trúc là Đáp Lý Kha tiếp đón nồng hậu và hứa sẽ giúp binh về phục quốc. Xảy có quân báo quân Tề đã đến địa đầu Cô Trúc. Đáp Lý Kha cười lớn:
- Đã lấy được Linh Chi còn dám mạo hiểm đến đây chịu chết!
Địa thế nước Cô Trúc hiểm trở gấp trăm lần nước Linh Chi. Núi non trùng điệp, đá dựng lởm chởm và sắc bén như gươm, cây cối rậm rạp chận kín cả đường lối. Lại thêm có suối Tỵ Nhĩ, vừa sâu vừa rộng, nước chảy mạnh như thác đổ, người không quen thuộc dòng khúc khó vượt thuyền bè sang qua. Nhờ vậy nên từ ngàn xưa, không nước nào có thể xâm phạm đến Cô Trúc. Để thêm chắc chắn, Đáp Lý Kha truyền quân đi thâu hết thuyền hè ở nơi Tỵ Nhĩ. Đại tướng là Hoàng Hoa thưa:
- Tôi sợ quân Tề có thể đóng thuyền, kết bè để sang suối. Xin Chúa Công cho quân sĩ phục nơi mé rừng để phòng bị trước là hơn.
Đáp Lý Kha nói:
- Quân Tề dễ gì mà vượt qua được mấy trùng núi hiểm để đến Tỵ Nhĩ. Huống nữa việc đóng thuyền để độ binh sang sông không phải chốc lát mà xong được. Ta không cần phải lo xa.
Đoạn truyền dọn tiệc cùng Mật Lư chung vui.

Quân Tề đến Cô Trúc, trông thấy đường sá đều ngã lòng. Quản Trọng phải tìm đủ mưu kế để phần khỏi lòng ba quân. Đến một nơi đá dựng như vách, chỉ có một con đường nhỏ ở giữa, vừa một người một ngựa đi qua, Tề Hoàn Công biến sắc, nói:
- Chỗ này nếu bị phục binh, thì chúng ta không còn một mạng sống sót!
Quản Trọng truyền dừng binh nghỉ ngơi, rồi cho hai toán binh đi dọ thám. Quân thám tử trở về thưa:
- Không có quân mai phục, song thuyền bè bị thu giấu hết, sông sâu không dễ gì sang.
Quản Trọng còn đang tìm kế thì đoàn thám tử thứ hai cho biết :
- Suối Tỵ Nhĩ phía mặt sâu thăm thẳm nhưng phía trái có nơi lòng suối nổi đá, nước sâu không quá gối.
Yên Trang Công ngạc nhiên, nói:
- Thuở nay tôi không nghe nói suối Tỵ Nhĩ có nơi cạn. Đây có lẽ là trời giúp chúng ta.

Thế là quân Tề vượt qua được tất cả các nơi hiểm yếu, nhưng vua Cô Trúc vẫn chưa hay biết mảy may.
Bị đánh thình lình, quân Cô Trúc bị thua to. Vua tôi đắt nhau chạy trốn. Tướng Hoàng Hoa giết vua Mật Lư rồi đem đầu đến trá hàng cùng Tề Hoàn Công. Hoàn Công bị lầm kế, suýt bị khốn nơi sa mạc, nhưng nhờ trí sáng suốt của Quản Trọng mà thoát khỏi hiểm nghèo. Rồi đó quân Tề gắng sức đánh dẹp các đồn lũy, và bắt được vua Cô Trúc.

Vua Cô Trúc và vua Linh Chi bị công nát nghiệp tan, là vì đâu? Nhất là vua Linh Chi, vì sao lại hôn mê, không biết lấy điều thất bại của mình mà khuyên vua Cô Trúc nên phòng bị? Tất cả những sự ấy đều do yên vui mà sanh ra. Cho nên bảo "yên vui là cửa của trăm điều ác" là đúng lắm vậy. Và cửa ấy, cổ nhân nói thêm rằng: "Người hiền vào, khi ra, trở nên ngu. Kẻ sáng suốt vào, khi ra, trở nên mê muội. Người cương trực vào, lúc ra, trở thành liệt nhược. Người thanh khiết vào, lúc ra, trở thành ô uế. Giết mình, hại nhà, mất nước, đầu với đuôi liên tiếp nhau, như vậy chẳng đáng ghê sợ lắm sao."

Gương xưa còn đó, lời xưa còn đó, chúng ta không nên đắm mình vào cảnh an vui.


bài đã được sửa chính tả




Đăng nhập để trả lời
0
Công Trạng Của Người Theo Bá Đạo


Người xưa nói rằng:
- Điều mà vương giả lo sợ, bá giả lại ưa thích.
Vương giả sợ có danh, bá giả lại thích có danh.
Sự có danh tại sao lại đáng sợ?

Vì nếu không trải qua cảnh bạo ngược của vua Kiệt, dân chúng làm sao biết được vua Thang; nếu không nếm qua sự ác nghiệt của vua Trụ, dân chúng làm sao biết được vua Võ. Nếu hai vua Thang, Võ được may mắn sống thời Nghiêu, Thuấn, thì nào có tai hại nào đáng trừ có công trạng nào đáng lập. Như thế thì được cùng trăm họ sống trong cảnh an nhàn vô sự, chí nguyện bậc thánh nhân ắt được thỏa mãn rồi. Vì sống trong thời Kiệt, Trụ mà vua Thang, vua Võ mới phải ra công cứu nạn, mới nổi danh trong thế gian. Công trạng kia vì loạn mà lập nên, danh vọng kia vì đó mà nổi lên. Bổn tâm của đấng vương giả đâu có muốn vậy.

Lòng của kẻ bá giả lại khác.
Vương giả sợ thiên hạ loạn, bá giả mong thiên hạ loạn. Loạn càng lớn, lòng bá giả càng thích. Vì loạn không lớn thì công không to, mà công không to thì danh không cao. Lòng bá giả mong danh cao nên thích loạn lớn là vậy đó.
Xin kể chuyện Hoàn Công nước Tề đối với nước Hình và nước Vệ để chứng minh.

Năm 660 trước Tây Lịch, Vệ Ý Công vì quí chim hạc hơn quan dân, nên người trong nước đều oán ghét. Quân nước Địch thừa cơ kéo đến đánh. Ý Công bị giặc giết, nước Vệ bị tàn phá, nhân dân còn sống sót được bao nhiêu đều bỏ nước chạy tứ tán.
Hai đại thần nước Vệ là Thạch Kỳ và Ninh Tốc thoát nạn. Khi quân giặc rút lui, hai người chiêu tập được một số dân, đàn ông lẫn đàn bà được trên năm ngàn người, rồi lập Công Tử Thân lên ngôi, lấy hiệu là Vệ Đái Công.
Đái Công lên ngôi được mới hôm thì bị bệnh, mất.
Trước kia vì loạn lạc ở Vệ, Công Tử Huy chạy sang lánh nạn ở nước Tề. Ninh Tốc sai người qua Tề rước Công Tử về kế vị, lấy hiệu là Vệ Văn Công.
Tề Hoàn Công sai Công Tử Vô Khuy đem ba trăm chiến xa và ba ngàn giáp sĩ đến đóng tại ranh giới Vệ.

Kế đó quân Bắc Địch lại kéo đến nước Hình. Chúa nước Hình là Thúc Nhan sai người đến nước Tề xin quân cứu viện . Tề Hoàn Công truyền hịch cho các chư hầu, hội nhau nơi đất Nhiếp Bắc để cùng đánh Bắc Địch, cứu nước Hình. Quản Trọng thưa:
- Quân Bắc Địch vừa thắng Vệ, thế quân đang mạnh. Còn nước Hình cầu cứu, song quân lực chưa phải suy yếu. Nay ta đợi cho hai bên giáp chiến đã. Nước Hình dẫu thua, quân Địch cũng bị mệt mỏi. Lúc ấy ta sẽ kéo quân đến đánh, ắt dễ dàng thắng hơn.
Tề Hoàn Công theo lời, đem bình đến Nhiếp Bắc, giả cách chờ đợi binh các nước chư hầu, rồi cho người đi do thám tin tức.
Quân Bắc Địch khí thế đương hăng, ngày đêm công thành. Binh Vệ chống cự không nổi, vua tôi bỏ chạy tán loạn. Thúc Nhan chạy đến trại Tề Hoàn Công cầu cứu. Hoàn Công nói:
- Tôi đến quí quốc không kịp, thật có lỗi lớn.

Đoạn hợp các chư hầu, bàn mưu phá giặc.
Vua Bắc Địch chiếm được kinh thành nước Hình, vơ vét của cải, đốt phá cung điện, lòng tham đã mãn, lại nghe quân các chư hầu sắp kéo đến, bèn vội vã rút quân về. Vì vậy khi các nước chư hầu đến, thì nước Hình chỉ còn vườn không, nhà trống, cung điện hoang tàn! Tề Hoàn Công hỏi Thúc Nhan:
- Thành cũ còn có thể ở tạm được nữa chăng?
Thúc Nhan thưa:
- Dân chúng đã bỏ đi, quá nửa đến trú ngụ tại Di Nghi. Tôi phải theo ý dân, dời đô sang Di Nghi mới được.

Tề Hoàn Công bèn hội chư hầu, giúp vua nước Hình xây đáp thành lũy nơi Di Nghi, và cắp cho trâu, bò và lúa thóc. Vua tôi nước Hình cảm ơn, hết lời ca tụng công đức Tề Hoàn Công.
Quản Trọng tâu:
- Quân sĩ đóng đồn phòng thủ cho nước Vệ thật khổ cực đã lâu ngày, và còn khổ cực chưa biết bao giờ mới nghỉ được. Chi bằng đắp cho nước Vệ một cái thành, tuy khó nhọc, nhưng chỉ khó nhọc một lần, mà được yên ổn mãi mãi.
Tề Hoàn Công nghe lời, đem chư hầu sang đắp thành cho nước Vệ.
Vệ Văn Công ra tận biên thùy nghênh tiếp. Thấy Vệ Văn Công đội mũ lụa xấu, mặc áo vải thô, Tề Hoàn Công tỏ ý thương xót, hỏi:
- Tôi nhờ các chư hầu đến giúp quí quốc xây thành đấp lũy, chẳng hay quí quốc muốn đóng đô nơi nào?
Vệ Văn Công thưa:
- Tôi đã chọn đất Sở Khâu. Song công việc xây đắp tốn phí khá nhiều, nước tôi không kham nổi.
Tề Hoàn Công nói:
- Chúng tôi sẽ giúp sức. Xin hiền hầu chớ lo.
Đoạn truyền các vua chư hầu đến đất Sở Khâu.

Thành quách xây xong, dân Vệ dời đến ở, vui thích như được trở lại quê hương.
Theo sách Xuân Thu, thì thành Di Nghi của nước Hình khởi công trong mùa hạ năm đầu vua Lỗ Hy Công tức năm 658 trước kỷ nguyên Thiên Chúa, và thành Sở Khâu của nước Vệ hoàn thành năm thứ hai vua Lỗ Hy Công, tức năm 657 trước kỷ nguyên Thiên Chúa.
Và Tề Hoàn Công giúp nước Hình, cứu nước Vệ, tiếng tăm vang dậy, người người đều khen là một nhà vua có nhân, xứng đáng đứng đầu trong ngũ bá.
Nhưng xét cho kỹ thì Tề Hoàn Công, không phải vì lòng nhân dân mà cứu giúp nước Hình, nước Vệ.
Thật vậy: Quân Địch đánh nước Hình tan nát, hai năm sau Tề hầu mới giúp vua tôi nước Hình đời qua Di Nghi. Quân Địch diệt nước Vệ gần hoàn toàn, ba năm sau Tề hầu mới giúp cho vua tôi nước Vệ ở yên nơi Sở Khâu. Nếu thật lòng thương hại hai nước ấy, tại sao phải chờ hai ba năm mới để ý đến?
Chủ tâm của Tề Hoàn Công chỉ muốn nuôi loạn đó thôi!

Hoàn Công nghĩ rằng:
- Nước Hình, nước Vệ mới bị đánh, nếu ta kíp đến cứu, thì thành tích có gì là kinh dị, có gì đáng lưu lại hậu thế? Ân huệ có gì dồi dào có thể ra oai để định bá cho được? Trước để cho thật đói, sau mới cho ăn, chừng đó món ăn kia mới ngon. Trước để cho thật khát, sau mới cho uống, chừng đó nước kia mới thật ngọt. Nay ta cứ ngồi im, để dưỡng sức loạn, đợi đến khi hai nước đó đã nát hết xã tắc, tan hết thành quách, rã hết dân chúng, rồi ta mới lo vãn cứu lần lần. Cứu trong lúc nguy ngập, đưa từ chỗ ngả nghiêng đến cảnh thái bình, vua Hình vua Vệ mất nước mà lại có nước, dân Hình dân Vệ mất thân mà lại có thân, chừng ấy ơn mới sâu, nghĩa mới nặng, chín vực không sau bằng, chín đỉnh không nặng bằng. Như thế công danh mới rực rỡ, mới đáng làm bá chủ thiên hạ, nghìn thu sử sách còn ghi. Chớ nếu diệt hoạ khi vừa nở mầm, đâm chồi, thì công danh làm sao được chói lọi.

Than ôi! Trong thảm họa Hình và Vệ, từ vua quan đến sĩ dân đều bị xác chết bỏ đầy đồng, mồ hôi nước mắt thấm cả đến cây cỏ! Kẻ có lòng nhân vừa trông thấy cảnh não nùng liền chạy đến cứu ngay, không thể ngồi yên được một buổi sớm. Thế mà Tề Hoàn Công, vì chút công danh, ngồi yên để xem hai nước chịu đau xót trên hai năm trường! Sao mà nhẫn tâm quá thế? Muốn cho tai nạn của người to ra để cho ân huệ của mình rõ ra! Như thế là lấy sanh mạng của muôn người để đổi danh vọng của riêng mình! Tâm gì mà thế?
Người xưa bảo rằng:
- Người theo vương đạo vì mong cứu dân mà có công. Người theo bá đạo lập công chỉ vì ham danh. Vương giả vì người, bá giả vì mình. Hai bên khác nhau ở chỗ đó.
Tề Hoàn Công vốn là một ông vua theo bá đạo, cho nên hành động như thế là lẽ tất nhiên.
      Gương xưa nước thủy còn nguyên
      Chuyện đời chớ vội chê khen mà lầm.




bài đã được sửa chính tả



Đăng nhập để trả lời
0
Nguyên Nhân Của Sự Việc


Tất cả mọi việc đều có nguyên nhân, và nguyên nhân thì luôn luôn có nguyên nhân gần và nguyên nhân xa. Nguyên nhân xa là gốc. Nhưng phần đông chúng ta xét việc thường chỉ xét ở ngọn.
Trịnh Văn Công có bà chính thất là Đích phu nhân. Phu nhân sanh được hai trai là công tử Hoa và Công tử Tang. Văn Công lập công tử Hoa làm Thế tử. Sau đó Văn Công lại lập thêm hai bà phu nhân nữa. Cả hai cũng đều có con trai.

Được ít lâu Đích phu nhân chết. Trong cung có người cung nữ tên Yên Cật nằm mộng thấy một lão trượng, tay cầm cành hoa lan, đến bảo" "Ta đây là thủy tổ nhà ngươi. Ta cho nhà ngươi cành hoa này, mai sau sẽ sanh quí tử, khiến nước nhà thạnh vượng". Nói xong đưa cành hoa lan cho Yên Cật, rồi biến mất. Yên Cật giật mình thức dậy, đem chuyện chiêm bao tâu cùng Vua. Trịnh Văn Công cho là điểm tốt, hết lòng thương yêu Yên Cật. Sau Yên Cật sanh được một trai, mặt mũi xinh đẹp, đặt tên là Lan. Văn Công rất yêu dấu.

Thế tử Hoa thấy cho mình nhiều vợ yêu, con yêu như thế, sợ ngày sau bỏ mình lập người khác, mới bàn riêng cùng các quan Đại Phu Thúc Thiềm, Đỗ Phúc, Sự Thúc, để tìm mưu gây uy thế cho mình. Các quan đều khuyên Thế Tử nên giữ lấy đạo hiếu. Thế Tử không bằng lòng, bèn bàn cùng em là công tử Tang tìm mưu kế khác.
Năm 643 trước kỷ nguyên Thiên Chúa, Tề Hoàn Công triệu tập chư hầu tại đất Ninh Mãn để kiểm điểm việc binh, Trịnh Văn Công sai Thế Tử Hoa đi hội. Thế tử Hoa vào yết kiến Tề Hoàn Công, nói riêng:
- Nước Trịnh tôi ngày nay, quyền bính đều ở rong tay Thúc Thiềm, Đỗ Phúc và Sư Thúc. Sở dĩ phụ thân tôi bỏ không đi dự hội cũng vì ba người ấy. Nếu hiền hầu trừ được ba người ấy, thì nước Trịnh tôi xin thần phục quí quốc mãi mãi.

Tề Hoàn Công đem việc ấy bàn cùng Quản Trọng. Quản Trọng nói:
- Không nên. Lời nói của Thế Tử Hoa tỏ ra một kẻ bất trung, bất tín. Thúc Thiềm, Sư Thúc và Đỗ Phúc đã được người nước Trịnh gọi là "Tam Lương", ta chớ nên nghe theo lời Thế Tử Hoa mà hỏng việc lớn.
Tề Hoàn Công bèn bỏ qua. Quản Trọng ghét Thế Tử Hoa kẻ gian giảo, đem lời nói của Thế Tử tiết lộ cho người nước Trịnh.
Trịnh Văn Công nghe được, đòi Thế Tử Hoa vào và hỏi. Thế Tử thưa:
- Vì phụ thân không qua dự hội, nên Tề Hoàn Công không chịu giảng hòa. Vậy ta nên theo Sở thì hơn.
Biết rằng Thế Tử nói dối, Trịnh Văn Công vỗ án hét:
- Nghịch tử, mi muốn bán nước lại còn dám nói dối cùng ta!
Liền truyền bắt giam Thế Tử vào ngục.

Thế Tử Hoa khoét tường định trốn. Văn Công hay được truyền đem xử tử.
Công Tử Tang sợ liên lụy trốn sang Tống, trú ngụ tại đất Tuy Dương. Được Vua Tống giúp đỡ, công tử vẫn sống một cuộc đời phong lưu gần mười năm nơi đất khách.
Công Tử rất ham thích đội mũ bằng long chim duật, màu thúy. Trinh Văn Công nghe tin, nổi giận, sai bọn côn đồ qua dụ, rồi giết chết công tử Tang giữa hai nước Trần và Tống.
Theo Tả Truyện thì nhằm vào tháng quí thu năm 635 trước kỷ nguyên Thiên Chúa.

Và sách xưa bàn rằng:
- Trang sức không hợp để hại cho thân. Kinh Thi có câu: "Gã kia không xứng với đồ trang sức". Vậy có phải là vì cách ăn mặc vào công tử Tang không tương xứng mà bị hại chăng?
Bàn như thế mới thấy ngọn chớ chưa thấy gốc.
Thử xét: Từ khi Thế Tử Hoa bị tử hình cho đến khi công tử Tang bị ám sát, đằng đẵng gần mười năm, và từ bờ cõi nước Tống đến biên giới nước Trịnh cách xa hơn vài trăm đặm. Việc ưa đội mũ bằng lông chim duật chỉ là một việc xa xỉ của một cá nhân, không có hại chi đến nước Trịnh. Cớ chi Trịnh Văn Công nghe qua liền nổi giận, giận đến nỗi phải sai người băng ngàn đi đưa công tử Tang vào cõi chết? Cơn thịnh nộ sao lại bất thường thế kia?

Việc ưa đội mũ lông chim duật chỉ là nguyên nhân gần làm cho Trịnh Văn Công nổi giận.
Gốc giận của Văn Công đối với công tử Tang đã sinh ra từ khi biết rằng Tang cùng Hoa đồng lõa. Nhưng vì sau khi công tử Tang trốn đi nước không được yên ổn, không gian và thời gian đã làm cho Văn Công lần lần quên cơn giận đối với công tử. Song cơn giận tuy quên mà gốc giận chưa tiêu. Giận ấy có gốc ấy, khi gặp lại gốc thì giận ấy nổi dậy ngay. Cho nên khi vừa nghe chuyện thích đội mũ lông chim duật, thì nổi hờn cũ đương còn tích trữ liền phát bùng lên. Mà giận đã bùng lên thì phải tiêu diệt cho được kẻ thù mới hết giận.

Tin "ưa đội mũ lông chim duật" chỉ là ngọn gió thổi vào đóm lửa còn ngún ở dưới lớp tro nguội, là một mồi lửa châm vào ngồi thuốc súng bỏ quên đã lâu ngày.
Nghĩa là nguyên nhân xa của lòng giận của Trịnh Văn Công là sự đồng lõa của công tử Tang trong việc mưu bán nước Trịnh của Thế Tử Hoa vậy.
Than ôi! Mối giận của Trịnh Văn Công chỉ còn vấn vương chút gốc nơi lòng, mà con người bị giận đã gần mười năm và ở cách xa trên vài trăm dặm, vẫn không tránh khỏi tai hoạ! Lòng oán giận ghê gớm thật!

Cổ nhân bảo rằng:
- Lòng thù hằn là nọc rắn độc. Chớ nên tích giận trữ oán trong trong lòng quá lâu, mà con người trở thành loài rắn rít.
Lại dạy rằng:
- Khi cơn giận nổi lên như bão tố, ta phải ráng sức bình sinh mà đè nén xuống, rồi gắng tìm xem nguyên nhân chính là đâu, để đào cho tận gốc. Con người chỉ hơn con vật ở đức, mà giận là một ngọn lửa đốt cháy hết cả đức của con người.


bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0
Diễn Vỹ ơi bạn không post tiếp phần còn lại đi.
Đăng nhập để trả lời
0
uh tại dv chưa duyệt chính tả, nên chưa post.... hihih ơ mà bạn không thích nghe dv đọc sao? quyển sách này dv đã đọc = audio hết rồi đó...hay là bạn thích tự mình đọc đọc hơn dạ kà...

muốn nghe dv đọc thử thì lick vào link sau đây và tìm phần của quyển sách đó mà bạn nghe tiếp phần dv chưa post hén...

audio - những tấm gương xưa

còn muốn đọc thì chờ dv khoảng 1 tuần nữa thì dv mới đánh máy và duyệt chính tả lại lận...bi giờ thì hơi bận á :)

chúc bạn vui

Đăng nhập để trả lời
0
Cảm ơn Diên Vỹ, nghe giọng bạn tuyệt vời lắm, rất diễn cảm.... Nhưng mà nếu có văn bản đọc thì sẽ ngấm hơn....
Cảm ơn bạn lần nữa
Đăng nhập để trả lời
0
hihi dị thì ráng chờ dv đi á...

dạo này bận quá...mùa học lại cận kề...nên có lẽ dv phải type rất chậm...:)

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-23 17:09:46foxgoblin>
...nên có lẽ


Diễn Vỹ ơi là Diên Vỹ, cứ nghe đi nghe lại giọng đọc ngọt ngào của Diên Vỹ mà bị hút mất hồn thì làm sao??? Diên Vỹ có bắt đền được không??????
Đăng nhập để trả lời
0
Diên Vỹ ơi nhớ Diên Vỹ quá nè. Tui đi tìm cuốn sách này nhưng chẳng thấy có đâu bán, chắc là được xuất bản lâu rồi.
Đành lên đây hỏi phiền Diên Vỹ post nốt phần cuối cho vậy?
Xin cảm ơn.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-28 20:59:46diên vỹ>
Lòng Hối Hận
 
 
 
Vua Tần sai Mạnh Minh cùng các tướng mạnh kéo quân đi đánh nước Trịnh. Đánh Trịnh không được, quân Tần lẻn đánh được nước Hoạt là một tiểu quốc ở gần nuớc Tấn và cùng họ cùng Tấn Hầu.
Lúc bấy giờ Tống Văn Công mới mất, Tấn Tương Công đương cư tang nơi Khúc Ốc. Vợ của Văn Công là Doanh Thị, con gái Vua Tần, cũng có mặt ở đó.
Nguyên soái của nước Tấn là Tiên Trẩn nghe tin quân Tần đánh Hoạt, vào yết kiến Tấn Tương Công, và tâu :
- Vua Tần không nghe lời của Lý Bá Hề và Kiển Thúc, quyết đem quân đánh Trịnh. Nay đánh Trịnh không được trở đánh Hoạt. Vì tham lợi mà làm khổ dân. Cơ hội ấy trời cho, ta chớ nên bỏ mất. Đừng tha giặc vì sẽ mang tai hoạ. Còn trái lòng trời thì ắt gặp sự chẳng lành. Phải đánh Tần .
 
Loan Chi can :
- Không nên. Khi Tiên quân gần mất có dặn chúng ta phải giữ niềm hoà hảo với Tần. Nếu nay đánh Tần thì đối với tiên quân mới mất sao phải.
Tiên Trẩn đáp:
- Tần không nghĩ đến việc tang của ta, đem quân đánh một nước cùng họ với ta, như thế là vô lễ thì còn ơn nghĩa gì ? Ngạn ngữ có câu : " Một ngày tha nghịch, di hoạ vài đời ." Đánh Tần là lo việc lâu dài cho con cháu. Vậy đối với tiên quân mới mất sao gọi là không phải ?
Triệu Thôi nói:
- Tướng quân luận rất phải, ngặt Tấn đương có tang, e ra quân bất tiện .
Tiên Trẩn nói:
- Đóng cửa cư tang là tận hiếu. Diệt giặc giúp nước là tận trung. Nếu quí ngài cho đó là không phải, thì tôi xin đi đánh Tần một mình cũng đặng .
 
Các quan không dám cãi nữa. Tiên Trẩn xin Tấn Tương Công mặt tang phục cầm quân.
Binh Tần đánh được nước Hoạt, đoạt hết bảo vật, rồi rút lui về. Khi đến gần ranh giới nước Tấn thì bị quân Tấn phục kích. Mạnh Minh bị đại bại chạy đến Đông Hào Sơn thì bị bắt sống cùng các tùy tướng. Tất cả lương thực cùng bảo vật cướp được nơi nước Hoạt đều bị binh Tấn thâu đoạt hết.
Thắng được quân Tần, Tấn Tương Công cùng các tướng trở về Khúc Ốc, định làm lễ ma chay cho Tấn Văn Công rồi sẽ giải bọn Mạnh Minh về kinh đô xử tội. Doanh Thị nghe tin tướng Tần bị bắt, lòng buồn rũ rượi. Một bên là quê hương mình, một bên là giang sang nhà chồng, không biết phải vì bên nào ? Nhưng cuối cùng, lòng thương xứ sở thắng. Doanh Thị giả cách vô tình hỏi Tấn Tương Công:
- Ta nghe quân Tấn thắng trận, bọn Mạnh Minh bị bắt cả. Đó là phước lớn của nước nhà. Chẳng hay bọn ấy đã bị hành hình chưa ?
Tấn Tương Công thưa:
- Phải để làm ma chay cho phụ thân rồi mới giải chúng về kinh đô xử trị.
Doanh Thị nói:
- Tần, Tấn xưa nay kết thân với nhau, nếu xảy ra việc binh đao ấy là do các tướng tự động để lập công, chứ đâu phải ý muốn của Tần. Nếu ta tha cho bọn Mạnh Minh về nước, thì vua Tần cũng đem chúng giết đi. Như vậy ta cần chi phải gia hình chúng cho sanh thù oán .
Tấn Tương Công nói:
- Bọn Mạnh Minh đang đắc dụng ở Tần, nay ta đã bắt được mà lại tha về thì sao cho tiện ?
Doanh Thị nói :
- Quân pháp nước Tần rất nghiêm. Hễ ai đem quân đi đánh giặc mà bị thua đều bị tội chết. Từ trước đến nay các bại tướng chưa bao giờ được dung thứ. Huống nữa trước kia nước Tần bắt được Tấn Huệ Công, hết lòng trọng đãi rồi tha về. Tần đã có ơn với ta như thế, ta nỡ nào vì mấy viên tướng mà đem giết cho mang tiếng bội ơn .
Tấn Tương Công xiêu lòng, tha cho bọn Mạnh Minh về nước.
Bọn Mạnh Minh được tha, vội vã lên ngựa ra đi, không đợi vào lạy tạ.
 
Tiên Trẩn đương ngồi ăn cơm tại tư dinh, nghe tin nhà Vua thả bọn Mạnh Minh, vội vàng nhả cơm, vào yết kiến Tấn Tương Công, mặt hầm  hầm tức giận, hỏi :
- Bọn tù nhân nước Tần đâu cả ?
Tấn Tương Công đáp:
- Mẫu hậu xin tha về cho Vua Tần giết, nên ta đã tha rồi.
Tiên Trẩn nổi giận, nói :
- Chao ôi ! Bọn võ phu này tận lực mới bắt được chúng tại chiến trường. Nay vì nghe lời đàn bà mà tha chúng về nước, phá hoại kết quả của ba quân, tăng sức cho kẻ thù. Như vậy bại vong đã tới, cần gì phải chờ !
Nói xong nhổ vào mặt Tấn Tương Công .
Tương Công hối hận, lấy áo chùi mặt, nói :
- Ta cạn nghĩ nên xin chịu lỗi.
Đoạn ngoảnh lại hỏi các tướng :
- Có ai dám đuổi theo tướng Tần chăng ?
Dương Xử Phủ xin đi.
 
Đến sông Hoàng Hà thấy các tướng Tần  đã xuống thuyền, Dương Xử Phủ bèn nghĩ ra một kế, kêu Mạnh Minh nói rằng:
- Tôi phụng mệnh Chúa Công đem con long mã này tặng cho tướng quân để tỏ lòng kính mến, xin tướng quân lên nhận cho.
Mạnh Minh đứng dưới thuyền cúi đầu thưa :
- Nhà Vua ra ơn không dùng máu kẻ đã bị trói này để bôi mặt trống, còn cho về chịu tội với Tần. Dù quả quân chúng tôi có bắt tội mà xử tử, thì thân này tuy tan mà ơn kia không bao giờ mục. Nhược bằng quả quân noi theo ơn huệ nhà Vua, miễn tội cho chúng tôi, thì ba năm nữa xin sang tạ ơn nhà Vua vậy .
 
Dương Xử Phủ toan đáp lại, thì thuyền Mạnh Minh đã vượt ra giữa dòng, trương bườm chạy thẳng. Dương Xử Phủ trở về thuật lại lời nói của Mạnh Minh cùng Tấn Tương Công. Tiên Trẩn nói:
- Chúng hẹn ba năm nữa sang tạ ơn là ngụ ý nói trong ba năm nữa sẽ sang phục thù đó. Ta phải lo trước thì hơn.
Tấn Tương Công khen phải lo chuẩn bị đánh Tần.
Còn Tần Mục Công được tin Mạnh Minh trở về, lòng mừng vô hạn. Các quan tâu:
- Bọn Mạnh Minh thất trận, làm nhục nước Tần, xin Chúa Công đem giết đi để răn quân sĩ .
Mục Công đáp:
- Ta không nghe lời Lý Bá Hề và Kiển Thúc nên mới bị thua. Lỗi ấy về ta, có can chi đến các tướng.
Nói rồi mặc đồ trắng ra rước Mạnh Minh cùng các tướng ở tận ngoài đồng. Rồi nhà Vua dùng Mạnh Minh làm chủ tướng để lo phòng ngừa việc Tấn cử binh sang .
 
Giữa lúc Tấn Tương Công đương cùng các tướng bàn mưu đánh Tần, thì có tin Vua nước Địch đem quân đến đánh và đã tiến vào đất cơ thành. Tấn Tương Công kinh hãi nói :
- Ta với nước Địch không có hiềm khích, tại sao Vua Địch lại đem quân xâm lấn bờ cõi ta ?
Tiên Trẩn nói :
- Xưa tiên quân lưu vong sang Địch, được vua Địch hết lòng hậu đãi. Khi tiên quân về nước cũng có sai sứ sang mừng. Thế mà Tiên quân không sai sứ sang tạ ơn, nên vua Địch đem lòng giận, nhưng không dám nói ra. Nay con là Bạch Hộ Hồ nối ngôi, ỷ có sức mạnh, đem quân sang đánh để rửa hờn.
Tấn Tương Công nói :
- Tiên quân vì bận việc bá chủ, không nghĩ đến ơn riêng. Không ngờ nước Địch lại nuôi oán ! Vậy thì Nguyên soái hãy vì ta mà đem quân dẹp loạn.
Tiên Trẩn sụp lại , thưa :
- Vừa rồi Chúa Công tha bọn Mạnh Minh về nước, tôi vì nóng lòng mà thất lễ với Chúa Công . Tội ấy Chúa Công chưa xử phạt, thật tôi không đáng làm Nguyên Soái, xin Chúa Công chọn người khác.
Tấn Tương Công nói:
- Nguyên soái vì nước mà giận ta, đâu có lỗi gì ? Nếu ta có xử phạt các tướng cũng chỉ vì nước, chớ đâu phải vì cá nhân ta. nay quân Địch xâm lấn cõi bờ, nếu không có Nguyên soái, ta e chẳng ai cự nổi.
Tiên Trẩn không thể từ chối, cúi lại rồi bước ra. Sáng hôm sau, dùng con là Tiên Thả Cư làm tiên phong đem quân đi đánh quân Địch.
Quân Địch bị đại bại. Vua Định là Bạch Hộ Hồ bị tử trận. Tiên Trẩn cả mừng, ngước mặt lên trời nói :
- Thật may cho nước Tấn ! Riêng phần ta là một kẻ thất phu mà dám tỏ sự tức giận trước mặt Vua ! Thế mà không bị tội ! Có dám đâu không biết tự trị lấy tội mình.
 
Nói xong thảo một bức mật thư, niêm phong cẩn thận để trước án , rồi dẫn vài tên tiểu tướng nhắm trận Địch xông vô. Em Vua Địch là Bạch Đôn truyền quân vây Triên Trẩn vào giữa. Tiên Trẩn nỗ lực giết hơn 30 tên quân Địch, làm cho quân Địch không dám đến gần. Tiên Trẩn bảo kẻ tùy tùng :
- Ta quyết đến đây để chết, thì còn giết binh tướng của Địch làm chi .
Liền cởi áo giáp đứng giữa trận. Quân Địch trương cung bắng, tên gâm vào mình Tiên Trẩn như lông nhím, mà Tiên Trẩn vẫn đứng trơ trơ. Quân địch đến gần xem thì không thấy Tiên Trẩn cử động, nhưng đôi mắt vẫn mở trừng trừng. Quân Địch bèn đem xác giao lại cho Tấn rồi kéo về nước.
 
Người đời sau nghe chuyện Tiên Trẩn đều khen ngợi sự biết ăn năn, nhưng lại thương hại vì không biết phép cầm lòng .
Lữ Đông Lai nói :
- Vì không đoái hoài, Tiên Trẩn nhổ vào mặt Vua, mang điều thất lễ, rồi trong lúc đánh Địch tại đất Cơ, ăn năn lỗi trước, bỏ giáp trụ, vào giữa trận địa cho giặc giết. Vì không biết cầm lòng mới không dùng sức ở chỗ lễ nghĩa, mà đi dùng sức ở chỗ nóng nảy. Đã làm Nguyên Soái cầm sanh mạng của ba quân trong tay, chức vụ nặng thế kia mà lại đi hủy mình ! Thân chết đã không thêm được tiếng tăm gì, mà lại còn chuốc tiếng cười của quân giặc. Ý của Tiên Trẩn muốn cải hoá lỗi xưa, không dè lại tạo thêm lỗi mới. Lỗi ấy không do sự biết ăn năn, mà chính do sự không biết cầm lòng khi ăn năn ...Hối hận quá yếu không đủ sức chuyển lòng sang điều lành, còn gặp hối hận mãnh liệt, thì lòng âu sầu kích thích đến lâm vào cảnh tự rẻ rúng mình, tự tiêu diệt mình , phải là tay sành trị lòng mới giữ vững. Nếu biết cầm lòng hối hận, Tiên Trẩn ắt ở trong cảnh thơ thới, khoan thai, cùng tạo ra được mối vui chân chính, cần gì phải tự giết mình. Tiếc thay ! Cũng vì không biết thuật cầm hối tâm.
 
Lời nghị luận của Lữ Đông Lai rất sâu sắc.
Nếu Tiên Trẩn biết cầm lòng hối hận mà đừng tự tiêu diệt , thì với tài cầm quân, với chí hăn hái kia, ông sẽ lập công để chuộc tội có khó khăn gì . Lập công chuộc tội, vừa có ích cho bản thân, vừa có lợi cho nhân dân, Tổ quốc. Thật lưỡng toàn ! Bởi vậy chúng ta thấy rằng:
- Biết ăn năn tội lỗi là một điều đáng quí , nhưng biết cầm lòng hối hận để đi đến điều lành, lại càng quí hơn vậy .
 
bài đã được sửa chính tả

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-28 21:00:20diên vỹ>
Lời Nói Của Những Người Trung Nghĩa
 
 
 
Ca dao có câu :
Người xinh tiếng nói cũng xinh
Chuông kêu khẽ đánh bên thành cũng kêu .

Tức là ngôn ngữ biểu lộ tâm tình
Những kẻ tiểu nhân, để che đậy lòng xấu xa gian dối của mình, thường dùng cái thuật "xảo ngôn lịch sắc ".
Còn người quân tử, lòng chất chứa trung nghĩa, không cần trao chuốt câu nói, mà một khi nói ra, mọi người đều thích nghe.
 
Nước Tấn muốn hợp với nước Tần để đánh nước Trịnh .
Tấn Văn Công sai công tử Lan đi sứ.
Công tử Lan là thứ đệ vua Trịnh Văn Công, trốn sang Tấn lánh nạn. Tấn Văn Công biết là người hiền dùng làm quan Đại Phu. Nay được sai đi sứ sang Tần để bàn việc đánh Trịnh, công tử từ chối :
- Người quân tử dẫu ở nước ngoài vẫn không quên bản quốc. Nay Chúa Công muốn đánh Trịnh, lại sai tôi đi lo việc ấy, tôi quyết không dám tuân.
 
Tấn Văn Công khen:
- Nhà ngươi thật là người trung nghĩa .
Liền sai người khác sang Tần.
Vua Tần hưởng ứng .
Đến ngày hẹn, binh Tần và Binh Tấn kéo đến vây thành nước Trịnh. Trịnh Văn Công sợ hãi, vấn kế đình thần. Quan Đại Phu là Thúc Thêm thưa :
- Tấn, Tần hợp sức, khí thế mạnh lắm, ta khó chống nổi. Nếu được một người biện sĩ đến thuyết Vua Tần lui binh, thì quân Tấn bị cô lập, ta không còn sợ gì nữa.
Dậc Chi Hồ bèn giới thiệu Chúc Vũ :
- Chúc Vũ năm nay đã bảy mươi tuổi , song kiến thức chưa nhụt. Nếu người ấy đi thì việc lui binh Tần không khó.
 
Trịnh Văn Công cho vời tới nhờ đi làm thuyết khách. Chúc Vũ thưa :
- Tôi sức hèn tài mọn, lúc trai trẻ còn chẳng làm chi nên việc. Nay thân đã yếu, trí đã cùn, đâu còn sức nói một lời mà lui binh Tần được.
Trịnh Văn Công nói :
- Một người có tài như nhà ngươi mà không được đắc dụng thì thật là một lỗi lớn của ta. Nay ta phong nhà ngươi làm chức Á khanh, hãy vì nước Trịnh mà ra sức.
Dật Chi Hồ nói cùng Chúc Vũ:
- Trong lúc nước nhà nguy biến, kẻ đại trượng phu lẽ nào lại ngoảnh mặt làm ngơ ? Chúa Công đã ân cần, xin ngài chớ từ chối mà phụ lòng Chúa Công vậy .
Chúc Vũ nhận lời.
 
Lúc bấy giờ quân hai nước Tấn, Tần đương vây thành rất ngặt. Chúc Vũ chờ lúc đêm tối sai một tráng sĩ dòng dây qua thành, xuống cửa Đông rồi đi thẳng đến dinh Tần. Quân canh không cho vào. Chúc Vũ đứng ngoài cửa dinh khóc ầm ĩ. Quân canh liền bắt đem nạp cho Tần Mục Công. Mục Công hỏi :
- Nhà ngươi ở đâu ? Việc gì lại đến đây khóc ?
Chúc Vũ thưa :
- Lão thần là quan Đại Phu nước Trịnh, tên Chúc Vũ.
Mục Công hỏi :
- Có phải vì nước Trịnh sắp mất mà nhà ngươi khóc chăng ?
Chúc Vũ thưa :
- Đúng vậy. Hiền hầu quả là người hiểu rộng.
Mục Công lại hỏi nữa :
- Nước Trịnh sắp mất, việc gì lại đến dinh ta mà khóc ?
Chúc Vũ đáp:
- Lão thần khóc cho nước Trịnh , nhưng cũng khóc cho nước Tần luôn. Mà nước Trịnh mất không đáng tiếc, chỉ tiếc cho nước Tần của hiền hầu .
Tần Mục Công nổi giận mắng:
- Vọng ngữ ! Nước ta có điều gì đáng tiếc mà phải khóc ?
Chúc Vũ ung dung thưa :
- Nếu quả hiền hầu không thấy có đều gì đáng tiếc thì thực là nguy cho nước Tần rồi. Thế thì lão phu khóc đây không phải uổng nước mắt.
Tần Mục Công ngạc nhiên hỏi tiếp . Chúc Vũ thưa :
- Tần và Tấn hợp lại đánh Trịnh, tất Trịnh phải mất. Trịnh mất đã không có lợi gì cho Tần mà còn là một hại lớn.
Tần Mục Công  bảo nói rõ chỗ lợi hại. Chúc Vũ thưa:
-Trịnh và Tần cách nhau một nước Tấn. Hai nước cách nhau như vậy thì Tần có thể qua nước Tấn để chiếm  nước Trịnh hay không ? Nước Trịnh mất thì lẽ tất nhiên địa giới nước Trịnh thuộc về nước Tấn. Như vậy Tần giúp Tấn đánh Trịnh mà lợi gì sao ? Còn Tấn và Tần, hai nước lại chung một biên giới. Nếu Tấn mạnh thì Tần phải suy. Như vậy đánh Trịnh có ích gì cho Tần ?
Tần Mục Công ngồi yên không để lộ ý nghĩ .
Chúc Vũ ung dung nói tiếp :
- Tấn Huệ Công ngày xưa hẹn biếu hiền hầu năm thành, lúc về nước lại phản bội. Điều đó chắc hiền hầu chưa quên ? Nước Tần có muốn làm ơn mãi với kẻ phản phúc chăng ? Hơn nữa Vua Tấn từ khi về nước lo mở rộng bờ cõi, cố đi đánh chiếm nước ngoài. Nay muốn mở rộng về phía Đông nên đánh nước Trịnh . Lấy được nước Trịnh rồi, thì ngày mai tất mở rộng về phía Tây, sẽ đem tai vạ lại cho Tần. Hiền Hầu há quên việc nước Ngu, nước Quắc ? Nước Tấn mượn đường nước Ngu sang đánh nước Quắc. Nước Quắc bị mất rồi, Tấn trở lui đánh lấy nước Ngu. Đó nước Ngu chỉ vì giúp Tấn mà bị mất. Hiền hầu là bậc thức giả, tôi tưởng không lý gì mà không thấy rõ những tai hại vì giúp Tấn hay sao ?
Tần Mục Công ngẫm nghĩ một lúc rồi nói :
- Quan Đại phu nói có lý lắm .
Rồi đó Tần Mục Công cùng Chúc Vũ lập điều ước Tần Trịnh, quyết giúp đỡ lẫn nhau khi có việc. Xong Mục Công để lại một ít quân tướng bảo vệ Trịnh, còn bao nhiêu đều rút về .
 
Tấn Văn Công được tin nổi giận toan sai tướng đuổi theo quân Tần, nhưng Triệu Thôi can, Văn Công đình việc đưổi theo quân Tần, ra lệnh chia binh vây đánh thành Trịnh.
Trịnh Văn Công bảo Chúc Vũ:
- Nhà ngươi có tài lui được binh Tần, vậy có kế gì làm lui được binh Tấn nữa chăng ?
Chúc Vũ thưa :
- Tôi nghe vua Tấn yêu công tử Lan lắm . Nay Chúa Công cho đón Công tử Lan về mà giảng hoà, thì vua Tấn ắt thuận theo.
 
Trịnh Văn Công muốn sai Chúc Vũ đi sứ. Nhưng Thạch Thân Phủ xin đi thay .
Qua dinh Tấn, Thạch Thân Phủ lấy lễ nhún nhường mà xin giảng hoà. Tấn Văn Công nói :
- Nếu muốn giảng hoà thì phải thực hiện hai điều này : Một là đưa công tử Lan lên làm Thế tử. Hai là đem Thúc Thêm sang nộp cho ta .
Thạch Thân Phủ về thưa lại cùng Trịnh Văn Công . Nhà vua nói :
- Ta chưa có con trai, lập công tử Lan lên làm thế tử cũng được . Còn Thúc Thêm là tay chân của ta, bỏ đi sao nỡ !
Thúc Thêm thưa :
- Vua Tấn đòi bắt tôi mới chịu lui binh, lẽ nào tôi lại sợ chết để Chúa Công phải nhục. Xin Chúa Công cứ cho tôi đi.
Trịnh Văn Công buồn bã nói :
- Ta không nở để Tướng Quốc đi, vì hễ đi ắt phải chết.
Thúc Thêm thưa :
- Chúa Công không nỡ để tôi chết, mà nỡ để cho trăm họ lầm than sao ? Mạng tôi cứu được trăm họ, Chúa Công còn tiếc nỗi gì ?
Trịnh Văn Công gạt lệ tiễn hành .
 
Trông thấy Thúc Thêm, Tấn Văn Công hét lớn :
- Loạn thần ! Ngươi giữ quyền bỉnh chánh nước Trịnh mà để vua Trịnh thất lễ, bội ước với ta như vậy sao ?
Mắng xong truyền nấu vạc dầu để trước sân đặng gia hình .
Thúc Thêm không chút sợ sệt , nói :
- Tôi đã sang đây, dĩ nhiên là không sợ chết . Nhưng trước khi chết tôi có lời xin nói .
Tấn Văn Công hỏi :
- Nhà ngươi muốn nói gì ?
Thúc Thêm thong thả đáp:
- Khi trước Minh Công lưu vong qua nước tôi, tôi có xin Chúa tôi nên tiếp đãi Minh Công, vì thấy Minh Công là người hiền, lại được bầy tôi tài đức phò tá, thế nào rồi cũng dựng nên nghiệp lớn. Đến khi hội chư hầu nơi Ôn Ấp, tôi lại khuyên Chúa tôi một lòng thờ Tấn, không nên bội ước. Nhưng trời không thương nước tôi, khiến lời tôi không được dùng. nay Minh Công đòi bắt tôi, Chúa tôi thương tình, không muốn cho tôi đi, nhưng tôi quyết liều thân để cứu trăm họ. Tôi tự xét mình: Mọi việc đều thấy trước được mà can Vua, đó là Trí; một lòng vì nước, đó là Trung, không tránh lúc hoạn nạn, đó là Dũng; liều thân cứu trăm họ, đó là Nhân. Một người gồm đủ Nhân, Trí , Trung, Dũng mà bị pháp luật nước Tấn xử tội !
 
Vừa nói Thúc Thêm vừa bước đến vạc dầu, hét lớn:
- Hỡi các bề tôi nước Tấn, hãy xem gương Thúc Thêm và sự trừng phạt nước Tấn mà thờ Vua !
Thúc Thêm nắm miệng vạc dầu toan nhảy vào. Tấn Văn Công vội ngăn lại :
- Hãy khoan! Hãy khoan ! Ta không bao giờ phụ kẻ trung liệt.
Đoạn tha cho Thúc Thêm, rồi sai đi đón công tử Lan đến để đưa về Trịnh .
Từ ấy Tấn và Trịnh giao hảo .
 
Xem truyện, nhiều người khen :
- Những lời nói của các nhân vật như công tử Lan, Chúc Vũ, Thúc Thêm ...đều là những lời nói hợp tình, hợp cảnh, cương có, nhu có , khiến dễ lọt tay người nghe .
Nhưng Thanh Tùng Tử lại nói :
- Lời nói nhân nghĩa chỉ lọt tai những người có ít nhiều nhân nghĩa . Đối với những kẻ chỉ biết đến quyền lợi cá nhân, đối  với những kẻ cố bám chặt vào địa vị mình cho đến hơi thở cuối cùng, thì lời nhân nghĩa chẳng những không đem lại được chút gì lợi ích cho đời mà còn thâu riêng cho người nói những điều tai hại. Bởi vậy người thức giả, gặp thời hữu đạo thì " nguy ngôn nguy hạnh ", còn gặp thời vô đạo thì " nguy hạnh ngôn tốn ". Công tử Lan, Chúc Vũ, Thúc Thêm biết rằng các Vua Trịnh Văn Công, Tần Mục Công, Tấn Văn Công là những nhà Vua có đức độ nên mới đem lời phải lẽ chính ra thuyết phục, chớ nếu gặp phải những Tần Thủy Hoàng thì chúng ta đâu đã được nghe những hữu ích .
 
Lời của Thanh Tùng Tử là lời nói của bậc hiền triết .
Còn những người nhân nghĩa thì ở trong hoàn cảnh nào, đứng trước một đối tượng nào cũng nói lên những lời ngay lẽ phải. Nhưng khéo kẻo lầm những người giả nhân giả nghĩa đầy rẫy trong thế gian :
Canh khuya giấc điệp mơ màng
Thấy hòn gạch thắm tưởng vàng nâng niu .

Mà nguy lắm vậy.
 
 
bài đã được sửa chính tả
 

Đăng nhập để trả lời
0
Cảm ơn Diên Vỹ nhiều nha.
Chúc Diên Vỹ có kỳ nghỉ giáng sinh vui vẻ!
Đăng nhập để trả lời
0
Trích đoạn: foxgoblin

Cảm ơn Diên Vỹ nhiều nha.
Chúc Diên Vỹ có kỳ nghỉ giáng sinh vui vẻ!


cám ơn bạn á, chúc bạn vui ! hy vọng trong kỳ nghỉ này dv sẽ  hoàn tất xong các chương còn lại , nếu không chắc cổ bạn dài mất...! thật lòng xin lỗi vì khiến bạn chờ quá lâu á !

mến !

Đăng nhập để trả lời
0
Thực ra mình mới phải là người mới phải xin lỗi Diễn Vỹ chứ. Diên Vỹ đang mắc học mà cứ theo xin hoài...
Cổ mình chắc sẽ không dài thêm nữa và sẽ ngắn lại với kỳ nghỉ Noel này của Diên Vỹ ha...
Chúc Diên Vỹ luôn vui vẻ, hạnh phúc và luôn gặp may mắn.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-27 22:46:42diên vỹ>
Chân Tướng
 
 
 
Chân tướng của con người dù cố giấu thế nào đi nữa, không trước thì sau, thế nào rồi cũng bại lộ .
Chuyện Thân Vô Úy sau đây là một bằng chứng .


Thân Vô Úy làm tư mã nước Sở .


Năm 616 trước Kỷ nguyên Thiên Chúa, Vua nước Sở cùng các Vua nước Trịnh, nước Trần Sái hội tại đất Quyết Lạc để đánh Tống .


Vua Tống là Tống Chiêu Công lo sợ. Quan Ngự sử họ Hoa thưa :


- Sở muốn đánh ta vì ta yếu. Sao ta không tự biết để phục tùng trước, chờ chi người đến dụ. Không chống nổi mà gượng đánh, thì dâu kia có tội gì ?
 
Tống Chiêu Công nghe lời, bổn thân đến đất Quyết Lạc ra mắt Sở Mục Vương, dâng lễ vật xin hoà. Mục Vương chấp nhận. Đoạn mở cuộc săn bắn tại rừng Mạnh Chư: Tống Chiêu Công đi hữu đạo, Trịnh Bá đi tả đạo, Trần Hầu đi tiền đạo, Sài hầu đi tập hậu, Kỳ Tư Công Phục làm hữu tư mã. Tử Châu là Thân Vô Úy làm tả tư mã. Và có lệnh các chư hầu phải đem theo bổi khô để đốt chận thú .
 
Sáng hôm sau Sở Vương cùng chư hầu đều dong xe đến. Sở vương rượt một bầy cáo chạy vào hang và truyền Tống Chiêu Công đem bổi đến un miệng hang. Nhưng xe Tống không  có bổi. Quan Tư mã Thân Vô Úy nói :


- Tống hầu không nghe theo lệnh Chúa Công, lẽ ra phải trị tội. Nhưng trong cuộc vui chẳng lẽ hẹp hòi. Vậy xin bắt tên tùy tướng của Vua Tống trị tội thế để thị uy các chư hầu.


Nói rồi liền hô quân bắt viên tùy tướng của Vua Tống đánh một trăm roi. Tống Chiêu Công thẹn thùng, không nói ra tiếng.


Có người bảo Vô Úy :


- Tống Chiêu Công là Vua một nước, không nên nhục mạ.


Vô Úy đáp:


- Cứ theo phép công mà hành động, sợ gì kẻ cường quyền. Kinh Thi có câu " Cứng không nhả, mềm không nhai " và câu " Đừng để cho kẻ khéo nịnh được trọn tự do thì người quên giới hạn sẽ trở nên thận trọng ". Câu ấy dạy chớ nên lui bước trước kẻ cao quyền cường ngạnh. Vậy tôi đâu dám tiếc sống để cho loạn phép công.
 
Từ ấy nước Sở ngang dọc, tự xưng bá chủ vùng Trung Nguyên, xem thường tất cả các nước chư hầu.


Hai mươi năm sau, tức năm 594 trước Tây Lịch, nước Tấn đánh nước Trịnh. Trịnh cầu cứu Sở. Sở Trang Vương hội triều thần mư việc trừ Tấn. Công tử Trắc nói :


- Muốn cứu Trịnh, ta phải đem quân đánh Tống, vì Tống lâu nay thần phục Tấn, Tống bị đánh thế nào Tấn cũng phải rút quân về cứu.


Sở Trang Vương nói :


- Kế ấy rất hay, song Tống đối với ta lâu nay không có gì xích mích, biết viện cớ gì để giao tranh ?
Công tử Tề Anh thưa :


- Khó chi đều ấy. Vua Tề đã mấy lần triều sính nước ta mà ta chưa đáp lễ. Nay mượn cớ thăm Tề, mà đừng gởi văn thư khi đi ngang qua Tống. Nếu Tống không cho sứ đi, ta sẽ mượn cớ ấy mà tuyên chiến. Để Tống không bắt bẻ ta được, ta cũng sai sứ sang Tấn, và khi đa ngang qua Trịnh, ta cũng không xin phép, lẽ tất nhiên Trịnh không ngăn cản sứ ta. Như thế lỗi của Tống không thể cãi.
 
Sở Trang Vương liền sai công tử Phùng sang Tấn và Thân Vô Úy sang Tề.


Nghĩ đến điều hiềm khích cùng Vua Tống ngày đi săn ở rừng Mạnh Chư, Vô Úy thưa :


- Vua Trịnh sáng, Vua Tống điếc. Kẻ đi sứ qua Tấn chẳng sao, còn thần chắc chết.


Sở Trang Vương nói :


- Nếu Vua Tống dám giết ngươi thì ta sẽ đem quân sang phá nước Tống thành bình địa .
Vô Úy không dám cãi, đem con là Thân Tê trình vua, rồi gạt lệ ra đi.
Khi Thân Vô Úy đến biên giới nước Tống, quan trấn ải biết là sứ nước Sở, đòi xem văn thư. Vô Úy đáp:
- Ta đi sứ nước Tề, nên chỉ có văn thư gởi cho Vua Tề mà thôi.
 
Quan trấn ải liền giữ Vô Úy lại, rồi sai người về kinh đô báo cùng Tống Văn Công. Văn Công chưa quyết định, thì quan Tướng Quốc là Hoa Nguyên bước ra tâu :
- Qua nước ta không xin phép, tức coi nước ta như bờ cõi của Sở. Thị nước ta như thế là cho nước ta không có nữa. Giết sứ giả của Sở, chắc sẽ bị Sở đánh. Nhưng bị đánh cũng mất nước mà không bị đánh cũng mất nước. Mất trước mất sau cũng thế. Xin Chúa Công giết sứ Sở đi để khỏi mất thanh danh.
Đoạn truyền đem Vô Úy chém đầu:
- Như thế vừa tránh được nhục nước, vừa trả thù cho Tiên Công ngày xưa.
Vua Sở hay tin, lập tức cử binh đánh Tống. Quân Tống cố thủ thành. Quân Sở vây hơn chín tháng trời mà không thể hạ được. Sau nhờ lòng thành thật của Hoa Nguyên mà hai nước giảng hoà.
 
Xem câu chuyện trên người xưa bàn rằng:
- Thân Vô Úy chết là tại mình. Tại mình đã khoe khoang lòng khẳng khái , chí cương trực trong cuộc săn bắn đất Mạnh Chư.
Muốn sai sứ đi ngang qua Tống mà không mượn đường Vua Sở không sai ai, chỉ sai Thân Vô Úy, là mì muốn dùng lòng khẳng khái, chí cương trực của Vô Úy để phô trương thanh thế nước nhà.
Nhà Vua có ngờ đâu Vô Úy là "con chồn mượn oai hùm". Trong cuộc săn bắn ở Mạnh Chư, Vô Úy đã dựa vào nước Sở to lớn sáu ngàn dặm để nhục mạ một nhà Vua yếu thế, và cậy uy quyền của Vua Sở để đề cao chí khí của mình. Từ Vua đến quân, ai cũng cho Vô Úy là người cương cường khí khái, chẳng ai nghĩ rằng y viên đã ủ thị vào ngoại vật để mua danh.
 
Nhưng Vô Úy tự biết mình. Cho nên khi Vua Sở sai đi sứ nước Tề , Vô Úy mới run sợ mà phân trần:
- Vua Trịnh thì sáng, Vua Tống thì điếc. Kẻ đi sứ Tấn chẳng sao. Còn tôi thì chắc chết !
Nghe thật thảm đạm quá !
Vậy những lời khẳng khái cương trược ngày xưa bay đi đâu rồi ? Lúc không việc thì vênh váo nói " Đâu dám tiếc sự sống để loạn phép công ", còn khi có việc lại than " Tôi chắc chết ! ".
Cũng thì một con người mà xưa sao oai hùng thế, nay hèn nhát thế ?
 
Vì xưa cậy vào sức người để mua danh. Nay biết hư danh ngày trước đem cho mình thực hoạ ngày nay. Lòng sợ chết ham sống lột trần lột ngoài, để lộ hẳn chân tướng cho mọi người trông thấy.
Sách có câu:
- Dê đội lốt hổ, hễ thấy cỏ thì ham, thấy sư tử thì khiếp, quên lửng cái lốt trùm trên thân.
Rõ là trường hợp Thân Vô Úy .
Nếu Thân Vô Úy chết trước khi Vua Sở sai đi sứ sang Tề, thì ai biết rõ được rằng y viên là một con chồn mưọn oai hổ, và tiếng khen cương cường khẳng khái trong cuộc săn bắn rừng Mạnh Chư, nghìn thu vẫn còn thơm trong sử sách.
 
Nhưng nói là nói vậy, chớ trên đời này có sự bí mật gì mà thời gian không phát giác (Il n'y a point de secret que le temps ne révèle) . Gỗ tạp dù sơn thiếp mấy lớp vàng son cũng không tránh khỏi mối mọt.


Chân tướng của những kẻ bị "khí khái xằng ", "đạo đức giả " thế nào rồi cũng bị bại lộ, không kíp thì chầy. Trăm năm ngắn ngủi, nghìn thu lâu dài ...Tục rằng:


Lấy thúng úp voi
Hễ úp đằng trước lại lòi đằng sau.
Chi bằng cơm mấm thấm lâu.
 
 
 
dv sẽ sửa chính tả sau....
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-27 22:47:00diên vỹ>
Trả Thù
 
 
 
Công Tử Thương Nhân lên ngôi nước Tề lấy hiệu là Tề Y Công .
Y Công là một người tâm địa hẹp hòi, tánh tình lại dâm bạo. Từ khi lên ngôi làm lắm điều ngang ngược và hay bươi móc những chuyện cũ để trả thù.
Lúc Tề Hoàn Công còn sống, một lần Thương Nhân tranh giành ruộng đất cùng quan Đại Phu Bính Nguyên. Tề Hoàn Công giao cho Quản Trọng xét xử. Quản Trọng xử cho Bính Nguyên được thắng. Thương Nhân căm tức. Đến khi lên làm Vua liền chiếm đoạt tất cả đất đai của Bính Nguyên . Lại cho Quản Trọng là bè đảng với Bính Nguyên nên tước bỏ phong ấp của họ Quản. Con cháu họ Quản sợ tội, bỏ trốn sang nước Sở. Bính Nguyên lúc ấy đã qua đời. Con là Bính Súc vẫn được làm quan tại triều .
 
Một hôm Tề Y Công đi săn, qua ngôi mộ của Bính Nguyên, nghĩ đến chuyện xưa, lòng căm tức nổi dậy, liền sai quân đào mả, lấy xác đem chặt chân. Bính Súc lúc ấy theo hầu bên cạnh. Tề Y Công hỏi:
- Cứ như tội cha ngươi, phỏng có đáng chặt chân không ?
Bính Súc đáp:
- Cha tôi lúc sống được khỏi tội chết cũng đã là may lắm rồi. Nay Chúa Công xử sự như vậy cũng chẳng có chi là nặng.
Y Công khen:
- Thế mới thật là kẻ đã hiểu được lầm lỗi của cha mẹ.
Liền đó Y Công đem ruộng đất lấy của Bính Nguyên ban cho Bính Súc.
 
Bính Súc bái lãnh và xin được mai táng thi thể của cha. Y Công chấp thuận.
Sau đó, Tề Y Công bỏ tiền mua gái đẹp đông đầy cả cung.
Như thế vẫn chưa lấy làm đủ. Nghe nói quan Đại Phu là Diêm Chức có vợ đẹp, bèn nhân dịp Tết Nguyên đán, ra lệnh cho các quan đại thần phải đưa vợ vào cung ra mắt chánh hậu. Thích mặt ưa lòng, nhà Vua quyết chiếm đoạt vợ Diêm Chức, bèn giữ lại không cho về, và sai người nhắn cùng Diêm Chức:
- Chánh hậu muốn kết bạn với vợ Đại phu, vậy Đại phu hãy tìm vợ khác.
Diêm Chức giận lắm, nhưng không hề tỏ cho ai biết.
Lúc bấy giờ đang mùa hạ, trời nóng bức.
Nơi cửa phía Nam kinh thành có một cái ao rộng đến vài chục mẫu, nước trong như lọc. Quanh hồ những khóm trúc ngà tỏa bóng xanh, mát mẻ yên lành. Ao ấy gọi là Thân Trì.
 
Tề Y Công muốn ra Thân Trì nghỉ mát, mới truyền Bính Súc và Diêm Chức theo hầu. Quan Hữu sư Hoa Nguyên nói riêng cùng Tề Y Công:
- Chúa Công chặt chân cha Bính Súc, lấy vợ Diêm Chức, hai người ấy chắc gì không oán hận. Xin Chúa Công chọn người khác theo hầu tiện hơn.
Tề Y Công nói :
- Hai người ấy chưa bao giờ tỏ ý giận hờn. Nhà ngươi chớ nghi ngại.
Đoạn cùng Bính Súc và Diêm Chức ra chơi Thân Trì.
Trời nóng như nung.
Rượu được vài tuần, Y Công thấy trong người nóng bức khó chịu, bèn truyền nội thị kê gường gấm dưới bóng trúc nằm nghỉ.
 
Lúc bấy giờ Bính Súc và Diêm Chức cùng tắm dưới ao.
Từ ngày Tề Y Công quật mả và chặt chân Bính Nguyên, Bính Súc hết sức căm giận, lòng không ngớt nghĩ đến việc báo thù, song chưa tìm được cơ hội thuận tiện . Nay nhận thấy có dịp tốt muốn cùng Diêm Chức bàn việc rửa hận, song chưa biết bụng dạ ra sao, mới sanh một kế, cầm cành trúc đánh vào đầu Diêm Chức một cái. Diêm Chức nổi giận, nói :
- Sao ngươi dám khinh ta như vậy ?
Bính Súc tủm tỉm cười, đáp:
- Bị người ta cướp vợ mà nhà ngươi còn chưa giận. Ta đánh một cái có hề chi.
Diêm Chức nói :
- Bị mất vợ là điềm xấu hổ, song so với việc cha bị chặt chân, thì đàng nào nhục hơn ? Nhà ngươi chẳng thiết đến cha mà lại cười ta mất vợ ! Rõ là đứa ngu.
Bính Súc rỉ tai Diêm Chức:
- Ta có mấy lời tâm sự, nhưng chưa dám thổ lộ vì sợ huynh không còn nhớ đến mối thù xưa.
Diêm Chức đáp:
- Thù ai nấy biết. Chỉ vì sức không làm nổi đó thôi.
Bính Súc nói:
- Nay kẻ thù say rượu ngủ dưới bóng trúc, còn kẻ theo hầu chỉ có hai ta. Đó là trời cho chúng ta cơ hội trả thù, nếu bỏ qua thì suốt đời ôm hận.
 
Diêm Chức mừng rỡ.
Hai người liên bờ mặc quần áo, rồi sẽ lén đến bên bụi trúc. Tề Y Công nằm ngủ say, bên mình chỉ có hai tên nội thị đúng quạt ruồi muỗi. Bính Súc bảo hai tên nội thị :
- Chúa Công say rượu, lúc thức dậy thế nào cũng khát nước. Các ngươi lo sửa soạn trước mới được. Đưa quạt cho ta.
Hai tên nội thị vâng lời.
Bính Súc và Diêm Chúc đợi hai tên nội thị đi khuất, đè Tề Y Công, rút dao chặt đầu quăng xuống ao, rồi khiêng xác giấu trong bụi trúc. Khi bọn nội thị đến, Bính Súc bảo:
- Thương nhân giết Vua cướp ngôi, chúng tôi đã trừ bỏ đi rồi . Nay có công tử Nguyên là người hiền, nên lập làm Vua .
Nói xong cùng Diêm Chức ung dung trở về tư dinh đem rượu ra cùng uống .
 
Tin bay về triều, quan Thượng Khanh là Cao Khuynh nói :
- Bọn Bính Súc thí quân, phản nghịch . Ta nên hài tội, giết đi để làm gương.
Quốc Quy Phủ đáp:
- Đứa hôn quân vô đạo bị giết là phải . Ta nở nào làm tội kẻ có công .
Đoạn hai quan đại thần họp bá quan thương nghị, rồi tôn công tử Nguyên lên ngôi, lấy hiệu là Tề Huệ Công.
Còn Bính Súc và Diêm Chức uống rượu xong, sai xếp hết của cải lên xe, dắt vợ con bỏ sang nước Sở .
 
Bàn về câu chuyện Tề Y Công và hai kẻ bề tôi, Tiêu Liêu Tử nói :
- Tề Y Công trả thù. Bính Súc, Diêm Chức cũng trả thù . Nhưng thù của Y Công là thù vặt, còn thù của Bính Súc và Diêm Chức , nhất là Bính Súc, là thù biển thù sông .
Những kẻ có mối thù đáng trả mà không lo trả, cũng như những kẻ có những mối thù không đáng trả mà luôn luôn mưu tính việc trả thù, đều là hạng tiểu nhân .
Thù nước, thù nhà đối với những người có tâm huyết, nắng mưa không thể gột rửa được . Không lo trả không phải là người có thiên lương .
Nhưng Phật dại rằng : "Oan gia năng giải bất năng kết " .
 
Lời phật dạy thật là cao . Người đời khó mà làm theo được .
Chúng ta chỉ không nên trả những mối thù vặt vãnh, không nên trả thù khi kẻ thù của ta đã thất thế, không còn có thể làm hại người khác được, và nếu kẻ thù ấy là kẻ thù riêng của chúng ta .
Còn nếu kẻ thù kia là kẻ thù chung của nước , của dân thì nhất thiết không nên vin vào lời Phật để lên mặt đạo đức giả với đời .
Huống hồ giết một người có tội với Tổ quốc, với nhân dân không gọi là trả thù được .


dv sẽ sửa chính tả sau....
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-27 22:47:20diên vỹ>
Lòng Ham Địa Vị
 
 
 
Địa vị cao sang, người đời không ai là không ham muốn. Có nhiều người khi còn hàn vi, lòng thật liêm khiết, không bao giờ để mắc vào vòng lợi danh. Nhưng đến lúc tay đã nắm được quyền, thân đã dựa được thế rồi, thì thấy ai có tài hơn mình, nghe ai có động tới mình, thì chẳng khác sư tử sợ mất mồi ngon, luôn luôn tìm cách đối phó.
Ví dụ như Sô Kỵ thời Đông Châu.
Sô Kỵ là một thư sinh nước Tề.
Vua nước Tề là Uy Vương đắm say tửu sắc, không lo đến việc nước việc dân. Các nước Hàn, Ngụy , Lỗ, Triệu thường đem quân tới đánh. Các tướng nơi biên ải cự không lại, làm sớ về cáo cấp. Nhưng nhà vua vẫn làm ngơ.
 
Nước nhà lâm nguy, không lẽ làm lơ đợi chết. Sô Kỵ bèn lấy cớ biết gải đàn cầm, xin vào yết kiến Uy Vương. Uy Vương vốn thích âm nhạc, liền cho vào, và bảo:
- Nhà ngươi từ xa đến đây hầu ta, chắc nghề đàn tuyệt diệu. Vậy thử gảy lên một bản xem nào.
Đoạn sai đưa đàn cầm đến.
Sô Kỵ cầm đàn lên dây, nhưng không gảy.
Uy Vương lấy làm lạ hỏi :
- Đã so dây, sao lại không gảy? Hay nhà ngươi khinh ta không biết nghe đàn ?
Sô Kỵ đặt cây đàn xuống vào nói :
- Tôi biết là biết về nhạc lý, còn gảy lên tiếng đàn là phần việc của nhạc công. Tôi dẫu biết gảy cũng không dám gảy hầu Đại vưong.
Uy Vương bèn hỏi về nhạc lý.
Sô Kỵ giải đáp như lưu.
Uy Vương nói :
- Đã biết thạo về cầm lý, tất phải thạo về cầm âm. Vậy thử dạo cho nghe một khúc.
Sô Kỵ đáp:
- Tôi học nghề đàn tất biết chơi đàn. Cũng như Đại Vương làm vua, tất biết lẽ trị nước. Nếu Đại Vương bỏ nước không trị thì cũng như tôi ôm đàn mà không gảy. Tôi ôm đàn mà không gảy thì tất Đại vương không được thoả lòng. Đại vương làm vua mà bỏ việc nước thì thiên hạ oán hận.
 
Uy Vương nghe qua vùng tỉnh ngộ .
- Ta hiểu rồi. Nhà ngươi tới đây cốt mượn cây đàn để khuyên ta.
Đoạn lưu Sô Kỵ ở lại cung để chung lo việc nước.
Và xét thấy trong triều không có ai hơn, Uy Vương phong cho Sô Kỵ làm tướng quốc.
Sô Kỵ liền sửa sang chính sự, trừ kẻ gian, tiến người hiền. Trong triều ngoài quân, ai nấy đều cảm đức mến tài. Không bao lâu, nước Tề trở nên giàu mạnh. Các nước đều không đợi đánh cũng phải kiêng.
 
Tề Uy Vương nghĩ công Sô Kỵ, đem đất Hạ Bì phong tặng, và nói :
- Nước Tề ngày nay được cường thịnh là nhờ công nhà ngươi đó. Ta đặt tên nhà ngươi là Thành hâu.
Sô Kỵ lại tạ rồi thiết kế cho Uy Vương vào chầu Thiên tử nhà Châu và được vua nhà Châu phong làm bá chủ. Các nước chư hầu đều phải nể oai.
Thế là nhờ tài trí và đức độ của Sô Kỵ mà một ông vua ham tửu sắc giác ngộ, bỏ tật xấu trở thành một minh quân làm cho nước Tề trở nên hùng cường, giành được ngôi bá chủ.
Xưa nay, đọc Bắc sử đến đây, ai cũng khen Sô Kỵ có tài an ban tế thế.
Có người bảo :
- Nếu Sô Kỵ không tìm người hiền tài tiến cử lên Tề Uy Vương để cùng mình lo việc nước, thì dù có tài giỏi đến đâu, một mình cũng không làm gì nên chuyện.
Đó là lẽ tất nhiên.
Nhưng thử xem Sô Kỵ có phải người thật bụng lân tài ?
Hãy xem thái độ đối với Tôn Tẫn sau này thì rõ .
 
Tôn Tẫn bị nạn Bàng Quyên ở Ngụy. Theo lời tiến cử của Mặc Địch, vua Uy Vuơng tìm cách đưa Tôn Tẫn về Tề, và muốn phong Tôn Tẫn làm quan. Nhưng Tôn Tẫn tâu:
- Tôi chưa có chút công gì, không dám nhận chức. Vả lại lúc này Bàng Quyên đang ganh ghét, nếu biết tôi làm quan nước Tề, tất sanh chuyện. Chi bằng hãy tạm giấu đi, đợi có việc dùng đến, tôi xin tận lực.
Uy Vương theo lời, cho Tôn Tẫn ở nơi dinh Điền Kỵ.
Điền Kỵ đãi Tôn Tẫn vào bậc thượng khách.
 
Kế đó nước Ngụy đem quân đánh nước Triệu. Nước Triệu bị Bàng Quyên đánh thua luôn mấy trận, bèn đem đất Trường Sơn hiến cho nước Tề để cầu cứu. Uy Vương vốn biết tài Tôn Tẫn muốn phong làm Đại tướng đem binh đi cứu Triệu. Tôn Tẫn từ chối.
- Tôi là kẻ bị Ngụy hành hình mà được sống thừa. Nếu làm Đại tướng không khỏi quân địch chê cười nước Tề ta thiếu tướng giỏi. Xin Đại vương cử Điền Kỵ thì hơn.
Uy Vương nghe lời cử Điền Kỵ làm Đại tướng. Tôn Tẫn là Quân Sư.
Tôn Tẫn giúp mưu kế cho Điền Kỵ thắng được quân Ngụy.
Từ đó Tề Uy Vương tin dùng Điền Kỵ và Tôn Tẫn giao cho coi cả binh quyền trong nước .
Bàng Quyên dò biết được Tề trọng dụng Tôn Tẫn, sợ Ngụy không thắng nổi, bèn sai người tư thông cùng Sô Kỵ dùng lễ vật đút lót, để Sô Kỵ tâu với Uy Vương đừng dùng Tôn Tẫn. Đương lúc ấy Sô Kỵ sợ Điền Kỵ sẽ dành mất ngôi tướng quốc của mình, nên cùng Công Tôn Duyệt toan mưu hãm hại.
 
Nhận của lót của Bàng Nguyên, Sô Kỵ liền nghĩ ra một kế, sai Công Tôn Duyệt giả làm người nhà Điền Kỵ, đem tiền nhờ ông thấy bói ở Ngũ Cổ bói việc kiết hung.
Công Tôn Duyệt đến bảo:
- Tôi là người nhà Điền Kỵ. Chủ tôi nay đã nắm được binh quyền trong tay, muốn mưu việc lớn, nên sai tôi đến nhờ thầy xem thử có thành công chăng ?
Thầy bói từ chối không nhận. Công Tôn Duyệt vừa bước ra ngoài chưa đầy nửa khắc thì bọn sai nhân của Sô Kỵ áp đến bắt thầy bói đem về dinh.
Sô  Kỵ liền vào chầu Uy Vương tâu việc Điền Kỵ xem bói, và dẫn ông thầy bói vào làm chứng. Vua Uy Vương đem lòng ngờ vực Điền Kỵ, thỉnh thoảng mật sai người đến nhà dò xét hành động .
 
Điền Kỵ biết được, cáo bệnh trả lại binh quyền, xin về nghỉ. Tôn Tẫn cũng từ chức quân sư.
Bàng Quyên được tin, mừng bảo cùng chư tướng:
- Từ nay nước  Ngụy ta có thể hoành hành trong thiên hạ .
Cách ít lâu Bàng Quyên tâu cùng Ngụy Huệ Vương xin đem quân đánh nước Hàn để trả thù Tề đã giúp Triệu.
Hàn Ai Hầu sợ hãi sai sứ sang Tề cầu cứu.
Lúc bấy giờ Tề Uy Vương đã qua đời, Tề Tuyên Vương lên kế vị. Tuyên Vương muốn sai Điền Kỵ và Tôn Tẫn đem binh cứu Hàn. Sợ Điền Kỵ và Tôn Tẫn lập được công, Sô Kỵ bèn tìm cách ngăn cản. Nhưng rồi nước Hàn thua luôn mấy trận, sai sứ sang cầu cứu nữa. Không thể đừng được, Tề Tuyên Vương phải cho xuất viện binh.
 
Được Tôn Tẫn làm quân sư, Điền Kỵ thắng quân Ngụy luôn mấy trận. Và Tôn Tẫn lập mưu giết được Bàng Quyên, rửa được mối thù chặt chân ở Ngụy.
Điền Kỵ và Tôn Tẫn khải hoàn, Tề Tuyên Vương thưởng cho mỗi người một chung ngự tửu.
Sô Kỵ nghĩ chuyện xưa lấy làm xấu hổ, sanh bệnh, sai người đem nạp ấn từ chức .
 
Nghĩ như Sô Kỵ lấy chuyện nhạc lý mà giác ngộ được Vua Tề, đưa một nước suy nhược lên đến hàng bá chủ. Nhưng thế là Sô Kỵ sáng suốt thấy rõ được chân lý, mới có thể đem lời ngay thức tỉnh được kẻ mê muội. Thế mà khi thấy Điền Kỵ và Tôn Tẫn thắng được Ngụy, lập được huân công, lại tìm cách hãm hại, suýt làm hư nước Tề !
Và sao cũng một con người ấy mà trước sáng sau hôn ?
Rõ ràng chỉ vì quyền lợi làm đen lòng tối mặt !
Xem thế thì con người không phải lúc nào cũng sáng suốt. Người ta chỉ sáng suốt khi đầu óc chưa bị quyền lợi riêng chi phối. Đến lúc vào nơi phú quí, lòng tham nổi dậy, màu u minh che lấp mất thiêng lương.
Cho nên muốn biết con người có thật liêm khiết hay không phải xem họ trong vòng phú quý.
Phú quý bất dâm, bần tiện lạc,
Nam nhi đáo thử thị anh hùng.

Tục ngữ có câu:
- Nghèo đói hay làm càn, giàu sang hay làm phải.
Đó là thường tình trong thiên hạ, nghĩa là tâm lý của những kẻ dung thường.
Kẻ có học và còn giữ được thiên lương thì ở trong cảnh nghèo lại dễ tu thân hơn trong cảnh giàu có. Những hạng người này mà nếu suốt đời không gặp dịp may đưa đến chỗ quyền quý thì nhất định là được danh "đạo đức " để đời.
Chỉ có những bật quân tử là ở cảnh ngộ nào cũng không bị lôi cuốn theo lợi danh.
Và chớ chê người trong cuộc là tối tăm.
Vào cuộc rồi mới biết ai là người có bản lĩnh .





dv sẽ sửa chính tả sau....
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-27 22:47:44diên vỹ>
Đức Nhịn Nhục Của Người Có Chí Lớn
 
 
 
Người có chí lớn đều có đức nhẫn nhục hơn người thường.
Hạng Vũ có chí lớn từ lúc còn bé. Ban đầu theo nghiệp văn, nhưng văn dốt, bỏ sang nghiệp võ, nhưng kiếm thuật lại không rành. Người chú là Hạng Lương thường mắng:
- Mày văn không ra văn, võ không ra võ, lớn lên chỉ là một tên côn đồ dốt nát .
Hạng Vũ đáp:
- Học chữ chỉ để biên chép mòn ngày, học kiếm chẳng qua địch nổi vài ba kẻ địch. Hai môn ấy vô ích nên cháu không cô gắng làm chi.
Hạng Lương giận hỏi:
- Thế thì mày muốn học thứ gì để gọi là có ích ?
Hạng Vũ thưa:
- Cháu muốn học nghề gì mà một người có thể địch vạn người. Như thế ngày sau mới đem ra tranh với thiên hạ được .
 
Hạng Lương thấy cháu có chí lớn, bèn đem sách binh thư ra dạy. Hạng Vũ thích học, song chỉ học những nét đại cương.
Hạng Vũ có sức mạnh lạ thường, hai tay đỡ nổi chiếc đỉnh nặng nghìn cân như người ta đỡ một viên đá nhỏ !
Vũ rất ghét Tần Thủy Hoàng dâm bạo, mong trừ khử.
Một hôm Thủy Hoàng ngự giá đến Cối Kê, dân chúng hai bên đường đều phục lạy đón tiếp. Hạng Vũ có ở đó. Vừa thấy Vũ hầm hầm nổi giận, toan nhảy xổ đến đâm Thủy Hoàng, Hạng Lương vọi kéo lại, bảo nhỏ:
- Không nên. Đại trượng phu phải lập nghiệp lớn, để tiếng nghìn thu, lẽ nào bắt chước những tay thích khách tầm thường.
Hạng Vũ cho là phải, bèn thôi.
Từ ấy hai chú cháu chu du thiên hạ, tìm nhân tài, dựng sự nghiệp.
 
Sự nghiệp của Hạng Vũ tuy nửa chừng bị hỏng, nhưng tiếng anh hùng vẫn còn mãi nghìn thu.
Nếu Hạng Vũ không biết nghe lời Hạng Lương mà dằn khí giận, thì khó mà tránh khỏi chết dưới muôn nghìn binh mã của Thủy Hoàng. Và nghìn thu sau có nhắc đến chẳng qua như nhắc một hiệp khách thường mà thôi.
Có người bảo:
- Nhịn nhục thế có gì đáng khen ?
Xin thưa :
- Đối với người khác thì không có gì đáng nói thật. Nhưng Hạng Vũ là một người nóng như lửa, mà chịu nhịn nhục thế ấy thật là việc khó lắm. Và nén được cơn giận tích trữ từ lâu, vì nghĩ đến việc lớn do lời Hạng Lương nhắc nhở, đó cũng là một điểm dáng khen lắm chứ .
Nhưng chưa phải là một tấm gương hi hữu.
Gương nhịn nhục của Hàn Tín sau đây mới thật là vô song:
 
Hàn Tín người ở Hoài Âm, nhà nghèo , thường câu cá ở bến sông Hoài để độ nhật. Nhưng nghề câu không đủ nuôi sống, nhiều bửa không có cơm ăn.
Một hôm Tín đói quá, hình dáng không còn ra người. Một bà lão giặt bên sông thương tình, nhịn phần cơm đem theo ăn cho Tín. Tín cảm nghĩa nói:
- Ngày sau tôi xin đền ơn bà .
Bà lão mắng:
- Sức vóc đàn ông không nuôi thân nổi. Ta thương mà cho ăn, đâu có mong kẻ bất tài đền đáp .
Hàn Tín vái bà lão rồi lặng lẽ đi.
Lại một hôm , Tín ra chợ bán cá, bị anh hàng thịt khích :
- Này Tín, ngày ngày không kiếm đủ cơm nuôi bữa ! Thân trai như thế thật là nhục ! Thế mà không biết hổ, còn đeo gươm đi rảo khắp phố phường ! Gương đeo làm gì ? Mày dám chém ta không ? Nếu không thì hãy ném gươm đi, luồn dưới trôn ta mà cút ra khỏi chợ này, chớ làm ra mặt hào kiệt nữa .
 
Tín nghe nói giận đỏ mặt. Nhưng nghĩ ngợi giây lâu, đành khúm núm luồn qua trôn anh hàng thịt .
Cả chợ cười ồ, cho Tín là đứa hèn nhát. Duy có một người tên Hứa Phụ vốn giỏi nghề xem tướng, nói nhỏ cùng Tín:
-Anh có tướng vương hầu, nay khổ cực, nhưng sau này gặp cơ hội sẽ phú quý đến tột bậc.
Tín cười nhạt, đáp:
- Thân khốn, tài hèn, lo chưa đủ nuôi miệng, còn nói chi đến chuyện phú quý .
Kịp đến lúc Hạng Lương khởi nghĩa đánh Tần, kéo binh đến bờ sông Tứ Thủy. Hàn Tín chống gươm đến yết kiến. Hạng Lương trông thân vóc gầy gò, không muốn dùng. Phạm Tăng nói:
- Người này tuy dáng điệu không ra sao, song bụng chứa thao lược, ngài chớ nên bỏ. Huống nữa, đang lúc chúng ta chiêu hiền đãi sĩ, bỏ rơi một người có thể làm phật ý hàng trăm hào kiệp bốn phương .
 
Hạng Luơng nể lời Phạm Tăng, cho Hàn Tín làm Chấp kích lang, lưu dưới tướng để sai khiến .
Hạng Lương đánh Tần thắng được nhiều trận, lấy làm tự đắc. Tướng của Tần là Chương Hàm bị thua, đóng cửa thành cố thủ. Quân Hạng Lương đáng không thủng. hạng Lương vừa giận vừa buồn, ngày đêm thẫn thờ tính chưa ra kế. Hàn Tín thấy vậy vào thưa:
- Việc quân tấn thối không nên diên trì. Nay quân ta phá thành không được, mà cứ đóng mãi dưới thành, đêm ngày trễ biếng. Phỏng quân địch dò biết được, nửa đêm kéo ra cướp trại thì nguy ! Đánh là việc nhỏ, phòng bị là việc lớn . Xin tưóng quân thận trọng .
Hạng Lương hét lớn:
- Ta từ lúc khởi binh nơi Cối Kê, uy danh lừng lẫy . Chương Hàm là đứa thất phu, nghe đến ta đã vỡ mật, còn dám mở cửa thành đem quân ra cướp trại ta ư ? Ngươi là một tên quân hầu biết gì mà nói nhảm .
Tống Nghĩa thấy vậy liền cang:
- Hàn Tín tuy là một tên quân hầu, song lời nói đầy thao lược. Xin Tướng quân chớ khi dễ . Kẻ thắng mà tự kêu là bắt đầu đi vào con đường thất bại đó.
 
Hạng Lương nghe nói càng thêm giận, thét võ sĩ đuổi cả hai ra khỏi tướng .
Đêm ấy, Chương Hàm dò biết được tình hình quân Sở, bèn lặng lẽ kéo quân ra đáng úp. Quân Sở không phòng bị nên bị giết rất nhiều. Hạng Lương say rượu nằm mê mệt không hay biết gì cả. Bọn tả hữu đỡ dậy, vực ra viên môn. Nhưng còn loáng thoáng chưa kịp lên ngựa thì bị tướng Tần chém rụng đầu !
Hạng Lương chết, Hạng Vũ lên nối nghiệp .
Phạm Tăng tiến cử Hàn Tín, Hạng Vũ chê Tín là kẻ hèn nhát, cam hạ minh luồn trôn tên hàng thịt, nên không dùng . Hàn Tín vẫn nhần nhục làm tên lính hầu chờ cơ hội .
Khi Hạng Vũ chiếm cứ được giang sơn nhà Tần, làm Vua ở đất Quan Trung, dân chỉ sợ uy mà không mến đức, Hàn Tín bèn dâng biểu bày tỏ điều lợi hại . Hạng Vũ không nghe, toan bắt tội . Nhờ Hạng Bá xin igúp, Tín mới toàn mạng.
 
Sau đó nhân đến thăm Hạng Bá là chỗ cố giao, Trương Lương xem trộm được tờ biểu của Hàn Tín . Biết là một bậc kỳ tài trong thiên hạ, bèn tìm cách dụ Hàn Tín về giúp Lưu Bang.
Lưu Bang được Hàn Tín chẳng khác rồng thêm vây, ngựa thêm cánh . Còn Hàn Tín gặp được Lưu Bang chẳng khác cá gặp nước, cọp gặp gió ...Cơ nghiệp nhà Hán, một phần lớn nhờ tay Hàn tín mà nên .., và cái danh nghìn thu của Hàn Tín cũng nhờ gặp được Trương Lương và Lưu Bang mà có vậy .
 
Nếu trước kia Hàn Tín không nhịn nhục, tuốt gươm chém anh hàng thịt cho hả giận thì chắc chi đã thoát được chết vì pháp luật, để lập nên nghiệp vương hầu .
Nhưng cũng may cho Hàn Tín không chết sớm.
Nếu Hàn Tín chết trước khi gặp Trương Lương và Lưu Bang thì cái tàn của Hàn Tín nghìn sau cũng không ai biết, và nghìn sau chắc chi cái đức nhịn nhục "luồn trôn " đã được phát huy . Cho nên người xưa bảo nên đợi đậy nắp hòm rồi sẽ định luận giá trị con người vậy .
 
 
dv sẽ sửa chính tả sau....
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-27 22:50:27diên vỹ>
Biết Phân Biệt Lời Phải Trái
 
 
 
 
Biết phân biệt lời phải trái, không phải là việc dễ .
Vì kẻ nói lời phải thường là những kẻ thẳng thắn, khi nói ra thì cỉ nghĩ đến ích lợi cho người nghe, cho việc lớn, việc chung, chứ không nghĩ đến quyền lợi riêng của mình . Lưỡi không cần tẩm đường mật. Cho nên lời nói thường làm nghịch tai người nghe . Còn kẻ nói lời trái, một là cố ý hại người nghe, hai là để thu mối lợi về cho cá nhân mình . Mà muốn lọt tai người nghe thì phải lưạ lời ngọt ngào khéo léo , phải nhắm sở thích của người nghe mà đánh vào một cách khôn gnoan . Nên người nghe được sướng tai .
Thấy nghịch tai thì dù phải cũng thành trái .
Được êm tai thì dù trái cũng là phải .
Cho nên phải sáng suốt lắm mới khỏi bị lừa, mới theo đúng lẽ phải .
 
Hàn Tín kéo quân đi đánh Hạng Vũ , bày trận thế ở núi Cửu Lý, nhưng không biết cách nào để lừa Hạng Vũ vào trận điạ, bèn vời Tả Xa đến vấn kế . Tả Xa đáp:
- Hạng Vũ lừa rất dễ . Nhưng quần thần không để Vua mình bị lừa đâu . Nếu họ đào hào đắp lũ, cố thủ không ra đánh, thì quân ta đông, tổn phí nhiều, không thể nào tập trung lâu được . Họ đợi quân ta thiếu thốn, kéo quân ra công kích, tất quân ta phải thua .
Hàn Tín bấm tráng suy nghĩ một lúc rồi hỏi :
-  Tiên sinh có kế gì khiến Hạng Vương kéo quân đến đánh chăng ?
Tả Xa đáp:
- Nay phải có người trá hàng, đến đó bày mưu cho Hạng Vương , đem mối lợi trước mắt mà nhử, may ra Hạng Vương vì nông nổi, sa vào mưu của Nguyên Soái .
Hàn Tín bèn sai Tả Xa đi trá hàng .
Tả Xa đến Bành Thành, dùng trá thuật làm cho Hạng Bá tin đưa vào yết kiến Hạng Vũ . Nhờ ăn nói giỏi , Tả Xa được Hạng Vũ tin dùng, sớm tối ở bên cạnh đặng giúp mưu lược .
Một hôm quân thám thích về báo cùng Hạng Vũ rằng:
- Quân nhà Hán kéo đến Cửu Lý thiết lập dinh trại . Hàn Tín cho xây một ngôi lầu cao, treo một tấm biển khắc mấy câu:
Sở diệt, Hán hưng,
Ý trời định sẵn .
Một trận thư hùng ,
Hạng Vũ mất mạng.
Hạng Vũ nghe báo, nổi giận, hét lớn:
- Nếu ta không giết được thằng luồn trôn, quyết không kéo quân về .
Liền xuống lệnh truyền tướng sĩ lo khởi binh ngay .
Quý Bố là Chu Lan đồng can :
- Đó là kế của Hàn Tín khiêu khích để dụ quân ta . Nếu Đại Vương xuất binh tất trúng kế địch.
Hạng Vương nói :
- Ta suốt đời dọc ngang thiên hạ, chưa chịu nhục bao giờ . Nay bị Hàn Tín nhục mà mà cứ đóng quân thì icòn mặt mũi nào trong thấy thiên hạ nữa .
Chu Lan thưa :
- Binh Hán thế rất mạnh, lại thêm Hàn Tín có nhiều quỷ kế, Đại Vương chớ nên khinh địch . Cứ như  ngu ý, ta chỉ nên đào hào, đắp lũy, cố thủ . Đợi quân địch đóng lâu ngày, lương thực mòn mỏi, quân cơ trễ biếng, chừng ấy ta sẽ kéo quân đến đánh, thì phần thắng nắm chắc trong tay. Bằng Đại vương nóng giận ắt hỏng việc lớn .
Quý Bố tán thành ý kiến của Chu Lan . Hạng Vương trầm ngâm không quyết , khoác áo trở vào cung, mặt mày buồn bã . Ngu Cơ ra đoán, thấy Hạng Vương không vui , liền hỏi :
- Thiếp nghe quân Hán kéo đến gần lắm, chẳng hay Đại Vương định chống cự bằng cách nào .
Hạng Vương bèn đem lời của Chu Lan và Quý Bố thuật lại. Ngu Cơ thưa :
- Lời của hai đại thần rất phải . Nếu Đại Vuơng nghe theo ắt xã tắc được bền vững . Bằng không, đã khó lòng thắng nổi quân Hán, mà Bành Thành cũngười khó giữ yên .
Hạng Vương nói :
- Để sáng mai ta sẽ cùng quần thần bàn tính lại .
 
Ngày hôm sau Hạng Vương vào triều đem lời nói của Chu Lan và Quý Bố ra hỏi bá quan văn võ . Tả Xa tâu :
- Nếu Đại Vuơng không cử binh giao chiến, tất quân Hán cho Sở yếu thế, sẽ kéo quân đến đánh Bành Thành . Bành Thành mất, Đại Vương còn biết chạy đi đâu ? Kế diệu nhất là ta phải tìm địch mà đánh để địch khỏi tìm đến đánh cơ sở chính yếu của ta . Nếu thắng, Đại Vương tạo được cơ hội diệt Hán . Bằng bại, sẽ trở về thủ Bành Thành cũng chẳng muộn .
Chu Lan nói :
- Lời luận ấy rất nông cạn . Tôi thiết tưởng quân Sở nay đã ít mà kéo đi xa, lực lượng hao mòn, rủi bị thua, ba quân ắt thất đỏm, còn tinh thần đâu mà giữ thành .
Tả Xa cãi :
- Chính cố thủ, không dám xuất chinh mới làm cho ba quân nhụt chí, và làm cho thiên hạ chê cười quân ta sợ quân Hán .
Hạng Vũ hón hở nói :
- Tả Xa luận rất phải .
Liền truyền liệnh khởi binh, nhắm Cửu Lý sơn tấn phát .
Vừa ra khỏi dinh, chợt có trận gió thổi đến rất mạnh làm gãy cây đại kỳ . Con ngựa Ô Chùy của Hạng Vương bỗng thét lên mấy tiếng kinh khủng . Ba quân đều giật mình sợ hãi .
Chu Lan và Hạng Bá cho là điềm dữ , cố can Hạng Vương không nên tiến bước. Nhưng Hạng Vương nói :
- Có gì là tốt với xấu . Xưa Vua Trụ mất nước vì ngày giát tý, nhưng Vua Vũ lại được nước cũng ngày giáp tý . Sao cũng một ngày mà xấu tốt khác nhau ? Huống hồ cờ gãy  ngưạ hét chẳng qua là sự ngẫu nhiên, lẽ đâu đại binh kéo đi, muôn dân đều biết, mà bỗng nhiên lại kéo về là nghĩa lý gì .
Nói rồi giục binh mã thẳng tiến .
 
Vừa lúc đó có tin Hoàng Hậu Ngu Cơ đưa thư đến . Hạng Vương cười lớn :
- Ngự thê lại đưa thư nói gì đây .
Liền bóc ra xem thì là thư khuyên Hạng Vương nghe lời Chu, Hạng mà lui binh, đợi ngày khác dò xem tình hình địch kỷ càng rồi hãy xuất phát .
Trông thấy Hạng Vương xem thư xong có ý dùng dằng . Tả Xa liền bước tới tâu :
- Có người ở Bái quận vừa đến cho tôi biết rằng Hán Vương dẫn một toán binh về Thành Cao . Hàn Tín cũng có ý đem quân trở về . Tôi nghĩ địch hành động như thế là vì quân Hán nhiều quá, lương không đủ dùng, sợ đại binh của Đại Vương kéo đến, khó bề chống chọi . Binh pháp có câu " Binh đa, tướng lụy ". Huống hồ lại thiếu lương thì làm sao đóng lâu được . Nếu Đại Vương thừa dịp này mà đánh mạnh, thì thế nào cũng trọn thắng .
Hạng Vương theo lời Tả Xa, quyết định tấn binh . Các quan không còn ai dám ngăn nữa .
Chẳng bao lâu, quân Sở kéo đến Cửu Lý, cách năm mươi dặm hạ trại . Hạng Vương sai người sang dinh Hán thám thính. Quân thám thính về báo :
- Đại binh của Hán Vương đóng ở gò Thê Phượng , suốt ngày đàn hát vui chơi . Còn đại binh của Hàn Tín đóng ở chân núi Cửu Lý, suốt ngày thao luyện, không có ý rút về . Dinh trại san sát không chổ nào dứt .
Hạng Vương kinh ngạc, gọi Tả Xa đến hỏi , nhưng không tìm thấy Tả Xa đâu cả . Quân tuần cho biết rằng Tả Xa đem bọn tùy tùng chạy về hướng Bắc , quân Sở đuổi bắt không kịp .
Hạng Vũ nổi giận hét :
- Thế là ta đã bị lừa rồi !
 
Nhưng khi biết bị lừa thì đã quá muộn ! Hối hận cũng không ích chi . Không thể rút lui được nữa, Vua tôi bèn tính kế xuất chiến .
Biết rõ tánh nóng nảy của Hạng Vũ , Hàn Tín tìm kế khiêu khích dụ Hạng Vũ vào sâu trong tận địa ...vây đánh cho mấy trận, tiêu diệt cả đại binh của Sở .
Hạng Vũ bị thua chạy về Bành Thành thì được tinh Bành Thành đã bị quân Hán chiếm cứ, liền chạy đến Cai Hạ . Nơi đây bị Trương Lương dùng tiếng tiêu làm cho số tướng sĩ còn theo được Hạng Vũ phải bỏ trốn hết . Để khỏi vướng chân chồng, Ngu Cơ tự tử. Và Hạng Vương chạy trốn đến Ô Giang, bị quân Hán đuổi bắt, phải tự vận .
Thế là vì không phân biệt được lời phải trái mà Hạng Vương bị mất nước và nát thân !
Tại sao Hạng Vương lại tin lời Tả Xa là kẻ mới đầu  hàng hơn Chu Lan là người đã hết lòng phò tá ? Và tại sao lời Tả Xa lại có thể đánh bạt được lời của Ngu Cơ là người Hạng Vũ rất thương yêu kính nể ?
 
Đó là vì Hạng Vũ là con người ỷ mạnh, háo thắng, hễ ai chạm đến lòng tự ái thì nổi giận không còn biết thiệt hơn, còn ai mà biết vuốt ve sở háo, thì đắc ý, nói gì cũng nghe theo .
Ngu Cơ, Chu Lan chỉ đem lòng thành và lời trung ra mà khuyên can Hạng Vũ . Còn Tả Xa rành tâm lý của Hạng Vũ , nên cứ nhè chỗ ngứa mà gãi, nên lừa được Hạng Vũ một cách dễ dàng .
Bởi vậy cổ nhân nói rằng:
- Lời nói phải không ích lợi nếu không biết cách nói .
Nhưng ở đời, người ngay thật thường chỉ nhằm vào lẽ phải mà ít nhắm xem sở thích của người nghe , để tùy cơ ứng biến. Còn người gian xảo luôn luôn nghĩ đến quyền lợi riêng của mình, thì lúc nào cũng tìm cách nói khéo cho hợp ý người nghe, để đạt được mục đích . Người vừa tôn thờ lẽ phải, vừa có kỷ thuật nói, trên đời rất hiếm .
Bởi vậy, biết phân biệt lời phải lẽ trái, chỉ có người trí sáng, tâm chính . Cho nên "minh, chính " là hai đức cần thiết của những người ra gánh vác việc nước việc dân .

  dv sẽ sửa chính tả sau....
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-27 22:48:19diên vỹ>
Phải Biết Nghĩ Xa
 
 
 
Tay nắm vận mệnh của nước mà lòng nghĩ đến quyền lợi riêng tây, thì việc nước hỏng mà việc riêng cũng không thể nên được .
Xưa nay không hiếm gì gương, mà gương của Triệu Cao là một.
Triệu Cao làm tôi nhà Tần.
Tần Thủy Hoàng bình sanh làm không biết bao nhiêu việc ác. Khi gần chết gọi quan Tể Tướng là Lý Tư đến trối rằng:
- Trẫm biết không còn sống để thụ hưởng vinh hoa được nữa . Nếu vạn nhất Trẫm băng hà, khanh nên đến thượng quận đón Thái Tử Phù Tô về kế vị . Như vậy thiên hạ mới mong lập nghiệp được .
Nói xong viết di chiếu và giao ngọc tỷ cho Lý Tư . Lý Tư sụp lại nhận mệnh . Thủy Hoàng nói tiếp:
- Ngươi phò Trẫm đã lâu, mọi việc lớn nhỏ Trẫm đều phó thác. Vậy ngươi phải hết lòng vì nước, chớ trái lời di chiếu này. Thái tử Phù Tô là người nhân ái, có thể dùng đức cải hoá thiên hạ . Ta tiếc rằng đời ta đã dùng bạo lực. Đó là phương thức không hay đối với chánh sách trị nước .
Vừa hết lời thì tắt thở .
 
Lý Tư liền tẩm liệm, rồi sai người đi triệu Phù Tô. Triệu Cao cản lại :
- Không nên ! Thái Tử Phù Tô lâu nay không tín nhiệm bọn ta. Nếu Thừa tướng lập Phù Tô lên ngôi, chẳng những chúng ta mất chức, mà còn phải nguy đến tánh mạng chứ chẳng chơi đâu .
Lý Tư nói:
- Nhưng mệnh Vua, trái sao đành ?
Triệu Cao cười nhạt:
- Giữ lời di chiếu mà phải lụy thân, thì thà phụ lời di chiếu mà giữ được điạ vị .
Lý Tư thở dài:
- Theo ý ngài nên làm thế nào bây giờ ?
Triệu Cao nói:
- Có khó gì . Hãy đổi tờ di chiếu, lập công tử Hồ Hợi lên nối ngôi .
Lý Tư trầm ngâm một lúc, quyền lợi cá nhân tháng lẽ phải, thắng nghĩa cả, ngẩng nhìn Triệu Cao và nói :
- Tôi xin theo lời ngài .
Triệu Cao mừng rỡ liền đi tìm Hồ Hợi, và nói:
- Nghiệp đế vương ngày nay mất hay còn chỉ do công tử, Thừa tướng và tôi định đoạt. Tiên vương di chiếu lập Thái Tử Phù Tô. Chúng tôi xét thấy quyền hành công tử sẽ mất hết. Vì công tử chúng tôi xin lập công tử lên kế vị.
Hồ hợi cao mày, nói:
- Ôi chao ! Sao các ngài lại có ý nghĩ như thế ? Bỏ anh lập em là trái nghĩa. Bỏ lời di chiếu là bất trung. Cong không nghe lời cha là bất hiếu. Kẻ bất trung, bất hiếu, bất nghĩa, thì còn ai phục ? Tôi không thể theo ý các ngài được .
Triệu Cao nói:
- Đấng trượng phu không nên câu nệ những tiểu tiết mà bỏ đại sự. Cơ hội nghìn năm một thuở. Phú quí vào tay mà không tiếp nhận, dẫu sau hối hận cũng chẳng ích gì .
Nghe nói bùi tai, Hồ Hợi gật đầu.
Triệu Cao bèn về cùng Lý Tư đổi tòo di chiếu. Bắt Phù Tô tự tử và lập Hồ Hợi lên ngôi lấy hiệu là Nhị Thế Hoàng Đế.
 
Từ đó quyền hành trong triều đều nằm trong tay Triệu Cao và Lý Tư. Hai người lập ra hình pháp rất nghiêm khắc để trấn an lòng dân và mưu cầu lợi riêng. Các đại thần chán ngán cáo quan gần hết. Những bọn dua nịnh được đề cử, cất nhắc, toa rập cùng nhau là những việc phi nhân phi nghĩa. Người bị chết oan, của bị cướp giật, trong triều cũng như ngoài quận không đâu là không có, không ngày  nào là không có. Nhân dân còn phải khổ cực hơn cả thời Tần Thủy Hoàng .
Trước tình trạng ấy, trộm cướp nổi dậy khắp nơi, các tay anh hùng hào kiệt đua nhau chiêu tập binh mã để mưu đồ quốc sự. Cái hoạ vong quốc đã đến nơi mà Nhị Thế không hay biết gì cả, ngày đêm mải mê tửu sắc ở cung A phòng.
Trong đám hào kiệt, có Lưu Bang và Hạng Vũ là có uy thế hơn hết.
Binh của nhà Tần bị quân họ Lưu, họ Hạng đánh thua luôn. Tuớng Tần trấn các nơi ải quan làm sớ gởi về triều xin quân tiếp viện đều bị Triệu Cao giấu hết .
Các quan sợ Triệu Cao không ai dám bàn tán.
 
Một hôm Triệu Cao đem dâng cho Nhị Thế một con hươu, bảo là con ngựa. Nhị Thế cười lớn, nói:
- Tả Thừa tướng lầm rồi ! Đó là con hươu chớ đâu phải ngựa.
Triệu Cao không đáp. Nhị Thế ngoảnh qua hỏi triều thần . Người thì im lặng, người thì a dua theo Triệu Cao mà bảo rằng ngựa. Cũng có người dám nói thẳng là hươu. Những người nói thẳng đều bị Triệu Cao tìm cám hãm hại. Quần thần càng thêm sợ Triệu Cao .
Hữu Thừa tuớng Lý Tư thấy vậy, lòng dạ không yên. Triệu Cao biết Lý Tư không ưa mình, bèn tìm cách nói gièm cùng Nhị Thế  và xui giết đi.
Lý Tư bị hại rồi, quyền thế Triệu Cao càng thêm lớn. Quần thần không ai dám nhìn mặt .
 
Trong triều thì thế, còn ngoài biên thuỳ thì lương thực cạn, tướng sĩ tử trận mỗi ngày một thêm nhiều. Cửa ải Hàm Cốc nhờ thế hiểm nên còn giữ được vững. Nhưng tướng giữ ải là Chương Hàm bị Hạng Vũ đánh thua luôn chín trận, mấy lần cho người về triều xin thêm binh lương đều bị Triệu Cao làm khó dễ. Sau đó Triệu Cao sàm tấu, Nhị Thế xuống chiếu bắt tội, Chương Hàm buộc lòng phải đầu Hạng Vũ.
Trong khi ấy, cửa ải Vũ Quan bị Lưu Bang công kích dữ dội. Tướng giữ ải là Chu Mạnh không địch nổi, sai sứ về Hàm Chương cầu cứu. Triệu Cao thất kinh, không dám tâu cùng Nhị Thế . Muốn sai tướng ra quân, nhưng không tướng nào dám lãnh mệnh. Cửa ải sắp mất, tin cáo cấp dập dồn. Sau Nhị Thế nghe được, hỏi Triệu Cao. Triệu Cao giả bệnh không vào triều, và nghĩ thầm:
- Tình thế cấp bách, nếu ta không lo bảo tồn tánh mạng, e rồi hối không kịp.
Bèn cùng người rể là Diêm Nhạc và em ruột là Triệu Thành, phao tin trong cung có giặc, rồi kéo quân vào A Phòng giết vua Nhị Thế.
 
Nhị Thế chết rồi, Triệu Cao họp quần thần, tuyên bố:
- Nhà Vua không nghe lời can gián của ta, làm lắm điều bạo ngược, khiến thiên hạ loạn lạc điêu linh, chư hầu nổi dậy làm phản. Nay ta đã trừ được hôn quân rồi và nghĩ rằng nước Tần từ xưa vẫn xưng vương hiệu, đến thời Thủy Hoàng mới xưng đế hiệu làm phật ý chư hầu. Nay bỏ hiệu Đế, xưng Vương như cũ để bình đẳng cùng sáu nước, tự nhiên sáu nước sẽ hài lòng rút binh về. Các quan nghĩ sao ?
Quần thần đều khen phải. Triệu Cao bèn tôn cháu kêu Nhị Thế bằng chú là Tử Anh lên ngôi nhà Tần .
Tử Anh bình nhật thấy Triệu Cao dua nịnh, hãm hại trung thần, lòng rất căm giận. Nhưng không lẽ bỏ sự nghiệp tổ tiên, nên phải nhận lời, song bảo:
- Ta phải trai giới năm ngày rồi mới tức vị được .
 
Đêm đến, Tử Anh gọi hai con đến bảo:
- Triệu Cao phản nghịch giết Vua, sợ đình thần bắt tội mới giả nhân nghĩa đón ta về kế vị. Nếu để Triệu Cao, trăm họ oán hận. Vậy hai con hãy cùng gia tướng đem quân đao phủ phục ở sau nhà Thái miếu. Hết hạn năm ngày, ta cáo bệnh không đến triều, thế tất Triệu Cao phải thân hành tới đón. Chừng ấy hai con hô phục binh nổi lên giết đi để trả thù cho tiên vương và rửa hận cho bá tánh.
Hai công tử tuân lệnh.
Đến ngày thứ năm, Triệu Cao nghe báo Tử Anh có bệnh, bèn đến trai cung thăm. Tới nơi không thấy Tử Anh. Bỗng nghe tiếng quát:
- Đứa phản tặc đã đến. Quân đâu bắt lấy.
Triệu Cao thất kinh, toan chạy trở lui, những không kịp. Phục quân ùa ra bầm thây nát như tương !
 
Trừ Triệu Cao xong, Tử Anh lên ngôi lấy hiệu là Tam Thế.
Tam Thế có đức độ, song việc nước đã quá hư hỏng và lực lượng của các nhóm hào kiệt ở biên thùy càng ngày càng mạnh thêm, nên nhà Tần chỉ có 43 hôm sau liền bị Lưu Ban tiêu diệt !
Thế là Triệu Cao đã làm mất nhà Tần.
Vì quyền lợi riêng, Triệu Cao giết Phù Tô, phò Hồ Hợi, tác loạn triều đình.
Để củng cố địa vị , Triệu Cao lại giết kẻ cộng tác là Lý Tư rồi giết luôn Hồ Hợi.
Nhưng rồi địa vị không giữ được, tấm thân không toàn được, mà nước nhà cũng bị diệt vong !
Tội ác của Triệu Cao muôn đời còn xỉ vả .
 
Kẻ cầm quyền bính quốc gia , từ xưa đến nay, không mấy ai không biết chuyện Triệu Cao. Thế mà lắm người vẫn chồng lên vết bánh xe bị úp của Triệu Cao.
Vì sao vậy ?
Vì quyền lợi cá nhân làm mờ cả tâm trí. Quyền lợi càng lớn, tâm trí bị mờ ám càng nhiều, mờ ám đến nỗi không trông thấy cả tấm thân của mình chớ đừng nói chi đến dấu bánh xe bị úp.
Những người chưa từng ở địa vị cao sang, chưa từng nắm quyền lợi to lớn trong tay, trông thấy kẻ khác bị quyền lợi làm mờ ám tâm trí , đừng vội chê cười. Vì người đời ai cũng như ai. Ai cũng có túi tham không đáy đeo ở trước ngực. Miệng túi một khi đã mở ra rồi, thì thắc lại khó lắm .
Cho nên người nào ở trong quyền lợi mà không đắm mình theo quyền lợi, thì mới thật là hào hùng .
Những kẻ không thật là hào hùng mà biết nghĩ xa thì nhiều khi cũng tránh khỏi bị quyền lợi xúi dục làm hư thân, hại nhà, hại nước .
Vì vậy cổ nhân dạy:
- Những kẻ nắm vận mạng quốc gia trong tay phải biết nghĩ xa kẻo mang tội cùng lịch sử .
 
 
dv sẽ sửa chính tả sau....
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-27 22:50:47diên vỹ>
Đừng Đứng Núi Này Trông Núi Nọ
 
 
Thường tình trong thiên hạ, hễ đứng núi này thì thấy núi nọ cao , vì thấy núi nọ cao nên ao ước được tới đó , chưa tơi được thì lòng trông mong náo nức . Nhưng khi đã đến được rồi thì lắm khi ...chẳng những núi mới đã không cao hơn núi cũ mà còn có phần nhỏ bé, và gai góc hơn .
Những kẻ đứng núi này trông núi nọ, xưa nay đã từng bị thất vọng nhiều .
Như câu chuyện thời Hán mạt sau đây :
Hán Linh Đế lên nối ngôi , có bọn quạn quan là Tào Tiết, Trương Nhượng, Đoàn Khuê, cùng bảy tên nữa được nhà vua tin dụng , hợp nhau làm điều gian ác , tự xưng là Thập Thường Thị .
Vua Linh Đế tôn trọng Trương Nhượng đến nỗi gọi là Á Phụ và cho bọn chúng được dự quyền chính . Do đó mà việc triều đình càng ngày càng đổ nát, lòng người không phục, giặc cướp nổi dậy khắp nơi  . Quan Đại tướng quân Đậu Vũ và quan Thái phó Trần Phồn lập mưu tru diệt bọn chúng để trừ vạ cho nước . Nhưng cơ mưu bại lộ, bị chúng giết chết . Những quan nào có ý phản đối chúng đều bị chúng hãm hại .
 
Được ít lâu Linh Đế băng hà . Trong cung xảy ra nhiều cuộc lưu huyết . Thiếu đế kế vị . Bọn Thập Thường Thị nhờ khéo nịnh bợ nhà Vua cùng Hoàng Thái Hậu, và nhờ của đút lót cho những tay có quyền thế trong triều đình, nên vẫn được trên che dưới chở .
Quan Đại tướng quân là Hà Tiến lập thế trừ bọn Thường Thị nhưng vì bị Hoàng thái hậu cản trở, không thể hành động được, bèn nghe lời Viên Thiệu mật triệu anh hùng bốn phương kéo quân về triều bắt bọn yểm hoạn . Tào Tháo can :
- Tệ hoạn quan, xưa nay lúc nào chẳng có . Nhưng vì nhà Vua gần đây quá sủng ái, cho chúng nó giữ quyền chính mà không nở tước bỏ, nên mới đến nỗi này . Nay muốn trị tội chúng thì nên trừ đứa đầu đảng , và chỉ cần một tên chúa ngục bắt gaim cũng xong, việc gì phải triệu quân ngoài về ? Nếu muốn giết hết bọn chúng, việc ắt tiết lộ . Tôi e rằng thất bại đó .
Hà Tiến nổi giận mắng :
- Mạnh Đức có bụng khác chăng ?
Tào Tháo bỏ ra ngoài nói :
- Kẻ làm cho thiên hạ loạn chính là thằng Tiến !
Tào Tháo ra khỏi, Hà Tiến ngầm sai người đem mật chiếu đi tới các trấn .
Được chiếu chỉ, quan Thứ sử đất Tây Lương là Đổng Trác bèn vỗ án cười lớn . Trác cười là vì trấn thủ cõi ngoài, trong tay thống lĩnh đại quân Tây Lương hai mươi vạn, thường đã có ý làm phản, nhưng chưa d'am, nay được chiếu gọi, thật chẳng khác đương đói mà gặp kẻ mời đi ăn . Trác liền điểm binh mã kéo về kinh đô . Song nghe lời mưu sĩ Lý Nho, Trác dừng binh, rồi dâng biểu lên vua nói rõ mục đích là về để trị bọn Thập Thường Thị để phò xã tắc, yên thiên hạ .
 
Tiếp được tờ biểu, Hà Tiến mừng rỡ . Quan Thị Ngự sử Trịnh Thái can :
- Đổng Trác là giống sài lang . Để nó vào kinh thành nó sẽ ăn thịt người .
Tiến nói :
- Ông đa nghi như thế thì không mưu việc lớn được .
Các quan cũng can :
- Đổng Trác là hạng mặt người lòng thú, một khi vào cấm đình sẽ gây họa hoạn . Chi bằng ngăn lại đừng cho vào nữa .
 
Tiến một mực không nghen . Trịnh Thái cùng một số đại thần bỏ quan mà về . Tiến sai người ra đón Trác . Đến Dãn Trì, Trác đóng quân lại, không tiến nữa.
Bọn Thập Thường Thị nghe quân ngoài tới, biết là mưu của Hà Tiến, bèn đến cầu cứu cùng Hà Thái Hậu . Thái Hậu cho đòi Hà Tiến vào cung . Bọn Thường Thị chận nơi cửa cung giết chết , rồi đem thủ cấp ném qua tường . Bộ tướng của Hà Tiến trông thấy hét lớn :
- Tụi yểm hoạn dám mưu sát đại thần . Hãy diệt ác đảng .  Đoạn nổi lửa đố Thanh Tỏa , rồi dẫn binh kéo vào cung, gặp tên yểm hoạn nào là giết tên nấy .
Thiếu Đế và Trần Lưu Vương sợ hãy theo lối sau chạy trốn .
Dẹp xong bọn hoạn quan, triều thần chia nhau đi tìm Thiếu Đế và rước về cung . Xa giá đi chưa được vài đạm thì thấy bóng tinh kỳ rợp đất , một đoàn binh mã đương kéo đến trước mặt . Bá quan thất sắc . Nhà vua sợ run . Viên Thiệu vội thúc ngựa ra hỏi thì là binh của Đổng Trác đến để hộ giá .
Bá quan phò Thiếu Đế về cung .
 
Đổng Trác cũng được theo hộ vệ, nhưng binh mã đóng ở ngoài thành .
Từ ấy Trác tự do ra vào nơi cung đình, không kiên nể ai hết . Ngày ngày lại đem giáp sĩ đi cướp bốc khắp nơi trong kinh thành . Nhân dân chịu không biết bao nỗi thống khổ . Bá quan đều sợ uy thế của Trác không ai dám hé môi .
Trác lại muốn phế Thiếu Đế lập Trần Lưu Vương làm Hoàng Đế, nhưng bị quan Thứ sử Kinh Châu là Đinh Nguyên phản đối . Đổng Trác phải nhượng bộ, vì thấy Đinh Nguyên có Lữ Bố là một võ tướng tài nghệ siêu quần , phò tá .
Sau đó Đổng Trác nhờ các mưu sĩ ba `y kế thu phục được Lữ Bố . Lữ Bố giết Đinh Nguyen về làm con nuôi Đổng Trác . Từ ấy Trác không còn sợ ai nữa, bèn thực hiện việc phế lập . Bá quan không ai dám ngăn cản .
Trần Lưu Vương lên ngôi lấy hiệu là Sơ Bình . Đó là vua Hiến Đế nhà Hán .
 
Đổng Trác làm Tướng quốc, dâng sớ không phải xưng tên, vào chầu không phải lạy và được phép đeo gươm đi giày lên điện .
Nắm trọn quyền bính trong tay, Trác buông lòng làm theo ác tánh . Những cảnh mổ bụng, xẻo thịt, chém đầu xảy ra hằng ngày . Trong triều khủng khiếp, ngoài dân hãy hùng .
Để trừ mối hoạ cho dân cho nước, Tào Tháo lập mưu thích khách Đổng Trác . Nhưng việc không thành, phải bỏ trốn . Không còn kế gì khác, quan Tư đồ là Vương Doãn phải dùng kế mỹ nhân, mượn tay Lữ Bố giết Đổng Trác .
Đổng Trác chết rồi, Vương Doãn lên cầm quyền, vì lượng hẹp hòi, triều thần không phục, dư đảng của Đổng Trác nổI lên đánh phá đô thành. Vương Doãn bị giặc giết .
Kẻ cầm đầu du đảng Đổng Trác là Lý Thôi, Quách Dĩ .
Giết được Vương Doãn rồi Lý Thôi, Quách Dĩ kéo quân vào hoàng thành ép vua Hiến Đế phong chức tước cho mình cùng bộ hạ . Bọn chúng đều được nắm quyền lớn trong nước . Trong tay sẵn quyền chúng liền thoa túng nhà vua và bá quan văn võ . Các quan lớn nhỏ đều do tay chúng cất đặt thăng giáng . Chúng lại còn tàn ngược nhân dân, áp bức phải làm theo ý muốn của chúng . Các tướng trấn cõi ngoài đem quân về kinh đô phò nguy, đều bị Lý Thôi, Quách Dĩ đánh bại .
 
Trong triều không yên, ngoài dân bị giặc cướp luôn luôn đánh phá .
Thái úy Dương Bưu và Đại Tư mã Chu Tuấn mật tâu cùng Hiến Đến :
- Nay Tào Tháo cầm quân hơn 20 vạn ở Sơn Đông, mưu thần võ tướng có vài chục viên. Nếu được người ấy phò tá xã tắc , ra tay trừ gian thì may cho thiên hạ lắm .
Vua Hiến Đế đồng ý . Nhưng trước khi triệu Tào Tháo, Dương Bưu dùng kế ly gián Lý Thôi và Quách Dĩ để làm yếu thế chúng . Nhưng vì chủ trương bất định nên đại sự không thành, vua Hiến Đế phải bỏ kinh đô Lạc Dương, chạy ra An Ấp . Sau giảng hoà cùng Thôi, Dĩ nhà vua cùng triều thần trở về Lạc Dương .
Lúc bấy giờ kinh đô Lạc Dương bị tàn phá hết cung điện, lại thêm mùa màng bị mất, quanh cảnh thật tiêu điều . Dương Bưu nhắc lại việc triệu Tào Tháo . Vua Hiến Đế giáng chiếu sai người ra Sơn Đông.
Được chiếu, Tào Tháo mừng rỡ liền kéo quân về Lạc Dương đánh Lý Thôi, Quách Dĩ .
 
Tào Tháo thắng Lý Thôi, Quách Dĩ một cách dễ dàng . Vua Hiến Đến bèn phong Tào Tháo làm tư lệ Hiệu uý, ban cho cờ Tiết , và coi việc tòa Thượng Thư .
Nắm được quyền bính trong tay , Tào Tháo bèn mưu đồ đại sự . Trước hết Tháo ép Hiến Đế dời đô về Hứa Xương, lấy cớ Lạc Dương bị tàn phá quá nhiều không còn có cơ sửa chữa . Bá quan ai nấy đều sợ Tháo, nên râm rấp nghe theo .
Đến Hứa Xương, Tào Tháo sai dựng cung điện, tôn miếu, đắp nền xã tắc, lập tỉnh đài, ty viện, nha môn, dinh thự ... Sửa lại thành quách, đào hào thêm sâu, đắp lũu thêm cao ...Hứa Xương chẳng mấy chốc đã trở nên một nơi phồn hoa đô hội nhất nước .
Tháo tự phong cho mình là Đại tướng quân Vũ Bình Hầu, và thăng thưởng cho tất cả tay chân bộ hạ cùng các quan văn võ phục tùng. Quyền lớn trong thiên hạ đều ở trong tay Tháo . Phàm triều đình có việc gì, trước phải bẩm với Tháo, rồi Tháo xem xét việc nào nên tâu cùng Thiên Tử thì Tháo tâu, bằng không thì Tháo tự giải quyết lấy . Uy thế của Tháo mỗi ngày mỗi lớn, lấn át cả Thiên Tử , làm cho nhà Hán mỗi ngày mỗi suy, rồi mất vào tay họ Tào !
 
Rõ thật là " đuổi hùm đi, rước sói về ".
Thập Thường Thị quấy rối triều đường, bầy tôi nhà Hán thỉnh Đổng Trác về để gỡ rối . Nhưng cái rối của Đổng Trác gây nên lại gấp trăm lần và lại còn để di hoạ sau khi đã bị giết ! Để gở cái hoạ Lý Thôi, Quách Dĩ là cái di hoạ của Đổng Trác, bầy tôi nhà Hán lại rước Tào Tháo về, thì cái hoạ của Tào Tháo gây ra cho nhà Hán lại gấp trăm, gấp ngàn cái hoạ của Đổng Trác .
Đứng núi này trông núi nọ, vì tưởng rằng núi nọ hơn núi này, ai ngờ lươn dài hơn chạch !
Thế mới biết không nên ỷ lại nơi người . Và chúng ta nên nhớ rằng nhờ kẻ mạnh giúp đỡ khi nào cũng bị kẻ mạnh hiếp đáp . Muốn sống tự do, muốn xây độc lập, phải biết tự lực cánh sinh. Nhờ người phải chiều người , dù người không hiếp đáp, mình cũng không còn được tự do để theo đúng ý muốn của mình . Những mảnh gương của bầy tôi nhà Hán đó, chúng ta nên soi để mà tự răn .
 
 
dv sẽ sửa chính tả sau....
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-27 22:48:48diên vỹ>
Phải Biết Lui Để Đi Tới
 
 
 
Nhà Tần tàn bạo, sanh linh đồ thán. Anh hùng bốn phương nổi dậy quyết diệt nhà Tần cứu trăm họ ra khỏi ách lầm than.
Lưu Bang chém rắn khởi nghĩa .
Hạng Vũ cử đảnh, thu ngựa thần, tự tạo cho mình một uy thế, danh nổi bốn phương.
Nhưng để có chính nghĩa để chinh phục nhân tâm, cả hai đều phò Sở Hoài Vương, chung sức nhau trừ bạo. Tuy thế hai bên đều có đường lối riêng. Lưu Bang mượn đạo đức đẻ sai khiến người. Hạng Vũ dùng uy lực để điều khiển người .
Lưu Bang được phong là Bái Công.
Hạng Vũ được phong là Lỗ Công.
 
 
Sở Hoài Vương sai hai người chia đường đánh Tần. Bái Công đi con đường phía Tây. Lỗ Công đi con đường phía Đông. Hai con đường xa bằng nhau. Ngày khởi hành, Vua Hoài Vương cầm tay Bái Công và Lỗ Công, nói:
- Các khanh lập ta lên làm Vua là để hợp với nguyện vọng của thần dân. Nhưng tự xét tài hèn đức bạc, không đủ đem hạnh phúc cho thiên hạ. Hai khanh vào đất Tần lần này, người nào đến trước được Hàm Dương, ta sẽ phong làm Vua đất Tần, người nào đến sau phải chịu làm tôi. Hai khanh nên ghi nhớ lời ước của Trẫm. Sau này thiên hạ được thái bình, hai khanh để cho Trẫm một nơi nhàn cư là Trẫm mãn nguyện .
Bái Công và Lỗ Công lạy tạ, kéo binh mã đến Định Đào, mở tiệc ăn mừng, kết nghĩa anh em, thề một lòng giúp nước. Bái Công lớn tuổi hơn làm anh, Lỗ Công làm em, tình ý rất thân mật.
Đoạn hai bên chia tay, ai theo đường nấy.
 
Bái Công theo Tây lộ đem quân đến ấp Bắc Xương . Nhờ có Trương Lương, Tiêu Hà cùng nhiều tướng tài phò ta. Bái Công đánh đâu được đó, không mấy lúc vào được Hàm Dương, Vua Tam Thế nhà Tần dâng ngọc tỷ đầu hàng.
Kinh đô Hàm Dương vô cùng tráng lệ. Lầu vàng điện ngọc, thềm gấm tường hoa. Toà ngang dãy dọc, đâu đâu cũng rực rỡ muôn màu.
Bái Công vào cung A Phòng thấy mỹ nữ đông đúc, người nào cũng như ngọc như hoa, ra đến triều đường thấy ngai vàng bệ ngọc, đồ trần thiết chói cả mắt, ngợp cả lòng, bèn nói : - Ta muốn ở đây trấn an nhân tâm, tự nhiên các chư hầu không còn cạnh tranh nữa.
Thấy Bái Công đắm say cảnh vàng son nhung lụa. Phàn Khoái liền can:
- Đây là một khung cảnh vong quốc, sao Minh công lại ham thích làm gì ? Bởi xa xỉ thế này nên nhà Tần mới bị diệt vong. Xin Minh công hãy xem gương ấy mà xa tránh .
Bái Công do dự, Trương Lương nói tiếp:
- Trong mê sắc đẹp, ngoài thích chim muông, vẽ cột xoi rường, tiệc tùng ca xướng ..Phạm một trong các điều ấy tức là triệu chứng bại vong. Vì sự giàu sang vô đạo của nhà Tần mà Minh công mới tới được nơi đây. Nay thiên hạ chưa định, Minh công đã say mê cảnh vui suớng thì còn ai phục nữa. Xin Minh công hãy nghe lời Phàn Tướng quân mà không nên lưu luyến nữa.
 
Bái công tỉnh ngộ, truyền niêm phong cung điện, dẫn quân về Bái Thượng, truyền xuống các huyện, hợp tất cả thân hào, bô lão đến hiểu dụ, và hạ lệnh cho ba quân không được quấy nhiễu dân chúng, ai trái lệnh bị tử hình. Trăm họ được yên đều lấy làm cảm đức .
Trong khi Bái Công đã lấy được Hàm Dương, diệt nhà Tần an định dân chúng, thì Hạng Vũ mới lấy được Hà Bắc, kéo hết quân chư hầu vào Quang Trung để tiến vào Hàm Dương. Nhưng lúc bấy giờ cửa Quan Trung, quân Bái Công chiếm giữ. Hạng Vũ truyền đóng quân ở ngoài thành để liệu kế .
Đêm ấy Hạng Vũ lén đi tuần các doanh trại. Đến trại quân Tần đầu hàng, thì nghe tiếng quân sĩ bảo nhau :
- Chúng ta bị Chương Hàm đánh lừa, theo hàng Hạng Vũ, là một người bạo ngược, thưởng phạt bất công. Nghe nói Bái Công là người nhân đạo, không hay chém giết, lại vào được Quang Trung trước, chắc sau này sẽ làm Vua thiên hạ. Bọn mình rủi không được theo họ Lưu.
 
Hạng Vũ rất căm tức, trở vào trung quân sai Anh Bố đem binh đến bắt giết để trừ hậu hoạn. Phạm Tăng can không được. Anh Bố kéo ba mươi vạn quân đến vây bắt tất cả hai mươi vạn hàng tốt nhà Tần đem chôn sống hết ! Sáng hôm sau Hạng Vũ nghe lời Phạm Tăng, viết thư bắn vào thành Quan Trung . Thư rằng:
"Lỗ Công Hạng Vũ kính thư Bái Công hiền huynh nhã giám.
Khi trước tôi cùng hiền huynh nhận ước vua Hoài Vương kết làm anh em, hợp sức đánh Tần trừ bạo chúa cứu muôn dân.
Nay hiền huynh sớm được vào Hàm Dương, tài năng ấy tôi rất phục .
Song nếu tôi không dựng vua Sở, thu lòng thiên hạ, không đánh Chương Hàm, thu phục chư hầu, thì liệu hiền huynh có vào được Hàm Dương chăng ? Kẻ đắc thế thường hay quên công của người khác!
Tôi binh hùng tướng mạnh, sức có thể xẻ núi lấp sông, sá gì một cửa thành con con mà hiền huynh ngăn đón ?
Hiền huynh nên tính kỹ, kẻo đến lúc tôi hạ thành, tình sẽ không còn nữa. Lời ước trước kia, tôi sẽ tự xử, hiền huynh không phải lo !"
 
Quân giữ thành lượm được thư đem dâng cho Bái Công . Bái Công hỏi Trương Lương :
- Việc này rất khó nghĩ. Tiên sinh có kế chi chăng ?
Trương Lương đáp:
- Quân Hạng Vũ mạnh lắm, cửa quan không thể giữ được lâu. Nếu dùng sức kháng cự, quân ta sẽ bị tiêu diệt . Như thế không lợi cho bước đường tiến thủ của ta sau này. Chi bằng mở cửa quan cho vào, sau này sẽ liệu.
Bái Công liền sai người cầm cờ tiết đến bảo mở cửa ải cho quân Sở vào.
Quân Sở kéo quân vào thành, trực chỉ đến Hồng Nhạn hạ trại. Đồn quân xong Hạng Vũ sai người đi khắp Hàm Dương điều tra quân tình và hành động của Bái Công. Quân thám thích trở về thuật lại mọi việc. Hạng Vũ than:
- Bái Công không ham vàng bạc châu báo, lo chinh phục lòng dân, là có ý muốn làm vua đất Tần rồi vậy .
 
Phạm Tăng xét biết thế nào sau này Bái Công cũng thắng Hạng Vũ, bèn nói :
- Bái Công lúc còn ở Sơn Đông là một kẻ tham tài, háo sắc, ai cũng khinh bỉ. Nay vào Hàm Dương, của báo không lấy, gái đẹp không yêu, hẳn đã có chí lớn. Minh Công nên liệu trước, chồi non không bẻ, rễ sâu khó đào .
Hạng Vũ lập tức truyền chỉnh đốn binh mã để kéo đánh Bái Công. Nhưng Phạm Tăng can không nên khinh động . Đoạn hiến kế :
- Minh Công tính nóng mà trực. Tánh ấy có hại cho nghiệp lớn. Tôi xin hiến ba kế để giết Bái Công. Minh Công phải quả quyết mà làm mới được .
Hạng Vũ nguyện theo lời, Phạm Tăng tiếp:
- Minh Công lấy cớ Bái Công chinh phục được Quan Trung, giải phóng trăm họ, nên mở tiệc ăn mừng, mời Bái Công đến dự. Khi Bái Công đến Hồng Môn dự yến, một là trong tiệc đem việc ngăn cản nơi cửa quan ra trách rồi giết phứt đi. Đó là thượng sách. Hai là sai quân đao phủ phục dưới trướng, chờ lúc Lưu Ban vào tiệc, hô quân đao phủ áp lại giết, nếu Chúa Công không nỡ xuống tay, đó là trung sách. Ba là sai người chuốc rượu cho Bái Công sai, khiên khích cho Bái Công thất lễ, bắt tội giết đi, đó là hạ sách .
Hạng Vũ nói :
- Ba kế ấy có thể làm được cả. Nhưng ít ra cũng phải làm cho mọi người thấy Lưu Bang có tội trước đã .
Thế là tiệc Hồng Môn bày ra và Lưu Bang đến dự .
Nhưng một mặt nhờ Trương Lương sắp đặt mưu kế, một mặt Lưu Bang hạ mình chịu nhục, tìm lời khôn khéo đề cao Hạnh Vũ khiến Hạng Vũ khoái chí . Thêm nữa một số tướng tá của Hạng Vũ có cảm tình cùng Bái Công. Nhờ vậy Bái Công thoát chết .
 
Không giết được Lưu Bang, Phạm Tăng rất giận. Song Hạng Vũ lại coi Lưu Bang là kẻ hèn hạ không làm nên việc lớn, nên không mấy quan tâm .
Sau đó Hạng Vũ muốn lên ngôi vua đất Quan Trung. Nhưng Sở Hoài Vương không chịu hạ chiếu, bắt phải theo lời ước cũ. Hạng Vũ giận, tự lập mình làm vua, lấy hiệu là Tây Sở Bá Vương rồi đày Sở Hoài Vương vào nơi cô tịch và phong Lưu Bang làm Hán Vương giữ đất Hán Trung .
Từ ấy gây ra cuộc Hán Sở tranh hùng, và cuối cùng Lưu Bang diệt được Hạng Vũ và lập sự nghiệp nhà Hán lâu bền trên bốn trăm năm .
 
Kẻ bàn sử bàn rằng:
- Trong đời có hai hạng người thường hay bội tín. Một là kẻ có uy thế tuyệt đối, hai là kẻ túng cùng .
Hạng Vũ là kẻ bội tín thuộc vào hạng thứ nhất .
Sự bội tín của Hạng Vũ do chỗ đắc thế mà ra. Hạng Vũ lúc bấy giờ nắm quân lực mạnh gắp mười lần Lưu Bang . Chính mãnh lực quân sự đã xui Hạng bội tín .
Lúc bấy giờ nếu quân lực Hạng Vũ bằng Lưu Bang, thì dù tham quyền cố vị đến đâu, Hạng Vũ cũng không dám hiên ngang bội ước như thế .
Cổ nhân dạy rằng:
- Nhân vô tín bất lập .
Người thường mà không giữ được đức TÍN còn không đứng vững trong xã hội được thay huống hồ những kẻ muốn trị thiên hạ. Hạng Vũ vì không có đức Tín nên cuối cùng phải thất bại .
 
Đó là một điểm .
Điểm thứ hai khiến Hạng Vũ bại, Lưu Bang thắng là Lưu Bang biết nghe lời phải mà nhịn nhục lúc cần. Nếu ỷ mình có công vào Hàm Dương trước, mà nhất định chống lại Hạng Vũ thì nhất định bị Hạng Vũ diệt ngay lúc mới vào Quan Trung . Rồi nếu không chịu nhún nhường nơi tiệc rượu Hồng Môn, thì dù có tướng giỏi theo hầu, có mưu hay của Trương Lương sắp sẵn, cũng không chắc thoát khỏi lưỡi gươm của Lỗ Công . Cuối cùng chịu nhịn nhục để Hạng Vũ cướp công diệt Tần, đành vào Hán Trung để sau này nổi dậy đánh thắng Hạng Vũ .
Bởi vậy có câu:
Phải biết lui để đi tới .
Là một câu nói mà kẻ muốn làm việc lớn phải ghi lòng.
 
 
 
dv sẽ sửa chính tả sau...
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-27 22:51:13diên vỹ>
Không Nên Quá Kén
 
Ca dao có câu :
Chê sông mà uống nước bàu,
Chê đây lấy đó có giàu hơn ai ?!

Tục ngữ có câu :
Chê con bồ bắt con mã,
Chê thầy cả rước xã thầy con .

Và ngụ ngôn lại có chuyện rằng:
Trong ao kia có bầy ếch sống tự do, muốn ăn thì ăn, muốn ngủ thì ngủ, không ai cấm không ai rầy . Thật là an nhàn lạc thú . Một hôm nhân bàn luận việc đời, hai nhóm vì bất đồng ý kiến sanh ra cãi cọ nhau , bên nào cũng cho mình là phải , không bên nào chịu nhịn bên nào .
Từ ấy sanh ra sự chia rẽ .
Sự chia rẽ mỗi ngày mỗi thêm trầm trọng, và trong ao ngày nào cũng xảy ra cảnh xô xát nhau hết bằng miệng đến bằng tay chân .
Tình hình trở nên bất ổn .
 
Các ếch ông ếch bà không thẻ dàn xếp đuợc . Để cứu vãn tình thế, bèn lên tròoi xin một vị lãnh tụ anh minh xuống điều khiển dân ếch .
Trời liền thả xuống ao một cây cột nhà cháy .
Thấy thân dài vóc lớn, bầy ếch sợ hãi không dám rầy rà nhau nữa, ai lo phận nấy, nhóm nào ở theo nhóm nấy . Trật tự trong ao được phục hồi .
Được ít lâu, thấy vị lãnh tụ anh minh nổi lềnh bềnh trên mặt nước, bất cử bất động, bầy ếch bèn rủ nhau đến gần để xem cho tận mặt . Không thấy nói năng quở trách gì, lại rủ nhau nảy lên mình, lên đầu ngồi hóng gió . Nhân cao hứng, đem việc nước việc nhà ra thảo luận . Sư nói sư phải, vãi nói vãi hay. Thế là sanh xô xát nhau, đánh cấu nhau toạc cả mồm lòi cả mặt !
Tình hình nước ếch trở lại rối loạn như trước .
Vị lãnh tụ anh minh vẫn nằm trơ như khúc gỗ !
Các vị ếch ông ếch bà lại phải lên chầu trời lần thứ hai .
 
Trời liền truyền vớt vị lãng tụ anh minh cột nhà cháy lên và thả xuống một người hùng là con ngỗng đực .
Ngỗng đực, lông trắng cổ cao, mỏ vàng chân vàng ...trông thật có đế vương tướng . Lại thêm tiếng kêu "oang oang " vang rền át hẳn tiếng kêu cả bầy ếch nhập lại . Vì vậy toàn thể bầy ếch đều hết sức cung kính và kiêng sợ, không con nào dám lớn tiéng hoặc làm vơ .
Cảnh tượng trong ao có thể gọi là thái bình thịnh trị .
Nhưng rồi thấy người hùng tuy bề ngoài trông uy nghi, nhưng bên trong lại rất hiền hậu, bầy ếch lần lần sanh lờn , tánh nào trở lại tật nấy ...
Nước ếch trở lại tình hình mấ an ninh .
Song người hùng vẫn không lưu tâm đến, ngày  ngày chỉ lo bơi lội nhởn nhơ .
Thế là các ông ếch bà ếch lại lên trời cầu cứu !
Trời rút ngỗng đực về và sai một giôn'g hạc đồng xuống thay thế .
 
Giống hạc này rất háo sát và rất tham ăn, bụng phệ như đeo bao, mỏ bén như đôi kiếm .
Bầy ếch thấy hạc cũng lông cũng cánh như ngỗng, tưởng tánh tình cũng hiền hậu như ngỗng, nên rủ nhau lại gần để chiêm ngưỡng tôn nhan . Mừng gặp mồi ngon, hạc đứng thă/người lên, quạt đôi cánh, hươi cần cổ đớp lia đớp liạ, đớp con nào nuốt trửng con nấy, khoái trá, gọn gàng ...Bầy ếch thất kinh xô nhau chạy tránh. Hạc rượt theo đớp, nuốt cho đến lúc cành hông.
Hết hồn hết vía, những ếch còn sống sót phải trốn chui trốn nhủi vào hang .., chờ lúc canh khuya mới dám mò ra kiếm ăn và than thân trách phận ..
Một con cá trê tình cờ nghe tiếng than thở của bầy ếch, liền đến bảo :
- Để cai trị nước mình tại sao mình không tự chọn người của mình mà lại đi nhờ đến những kẻ không hề biết đến hoàn cảnh của mình, tánh tình mình ..., không hề cùng mình đồng sướng đồng khổ ? Như thé chả trách kẻ cai trị mình chỉ nghĩ đến quyền lợi của họ mà thôi .
 
Bầy ếch lắng tay nghe, nhưng làm thinh không đáp .
Những câu ca dao, tục ngữ, ngụ ngôn trên đều có ý bảo thầm chúng ta rằng:
- Những gì chưa có mà mình tưởng rằng tốt, chưa chắc đã hơn những cái đã có sẳn mà mình chê .
Nhưng đâu phải trong  tục ngữ, ca dao, ngụ ngôn, điều ấy mới thấy rỏ . Trên đời thực tế thiếu chi chuyện để làm gương .
Ví dụ đời Hán mạt, bọn Thập Thường Thị làm cho triều đình nghiêng ngửa, nhân dân lầm than. Đình thần không trị nổi phải rước Đổng Trác về . Chẳng ngờ Đổng Trác lại tham ác gấp trăm Thập Thường Thị . Tiếp đến sau  nạn Lý Thôi, Quách Dĩ là bọn dư đảng của Đổng Trác lên nắm triều chánh, sau khi Đổng Trác bị diệt do tay Vương Doãn. Để trừ bọn Quách Dĩ, Lý Thôi, triều thần lại đi cầu Tào Tháo gian hùng .
 
Tình cảnh nhà Hán thời bấy giờ thật còn quá hơn tình cảnh bầy ếch trong ao ngụ ngôn vừa kể !
Bởi vậy thời Xuân Thu có một bà lão ở một địa phương nọ quan cai trị rất gian ác . Ai nấy đều nguyền rủa cho mau chết để cứu khổ cho nhân dân . Riêng bà lão đêm đêm thắp hương cầu khẩn cho quan được an khương trường thọ .
Đức Khổng Tử nghe chuyện, sai thầy Tử Lộ đến hỏi duyên do . Bà lão đáp:
- Mụ nay đã trên 80 tuổi và đã trải năm đời quan cay trị rồi . Vị quan đầu tiên bất tài, bọn bất lương không sợ uy, nổi dậy hà hiếp dân chúng . Có người tâu lên Thiên Tử, vị quan bị cách chức . Vị quan thứ hai đến lại dùng bạo lực, trong hạt tuy yên ổn, song người dân sợ quá, trong lòng không mấy lúc được thảnh thơi . Được ít lâu, vị quan thứ hai bị kẻ thù ám sát . Nhân dân có lòng mừng . Nhưng vị quan đến thay chẳng những không đem yên vui đến cho con dân trong hạt , trái lại còn làm cho con dân phải hao tiền tốn của vì nạn hối lộ và nạn thuế nặng xâu cao . Trong hạt có người học được phép trù ếm, đem bày cho mọi người thực hành . Vị quan bị ếm mà chết . Vị quan thứ tư đến thế , tham nhũng tàn bạo gấp bội quan trước và rôi cũng bị nhân dân trù ếm nguyền rủa mà chết như hai vị quan trước kia . Vị quan đương kim là vị thứ năm . Bao nhiêu xấu xa, bao nhiêu độc ác của bốn vị quan trước cộng lại cũng không bằng . Để thoát ách của hung thần, nhân dân ra công nguyền rủa và trù ếm . Nghĩ rằng trong thời mạt pháp này, làm gì còn có người từ tâm thiện chí ra cứu dân độ thế . Cho nên càng ngày con người càng bạc ác thêm, tham hiểm thêm . Thà chịu cảnh đau khổ đã chịu quen rồi còn hơn đổi sang cảnh đau khổ khác có khi còn khổ gấp ngàn gấp muôn . Bởi vậy một mặt tôi khuyên bà con đừng đem lòng thù oán, một mặt tôi cầu nguyện cho quan cai trị này sống lâu . Đó không phải vì tôi thương kẻ gian ác, mà chính là thương con em trong hạt vậy .
 
Đức Khổng Tử nghe lời bà lão, nghì thế nào và có nói gì với đệ tử không không biết, vì không thấy sách chép . nhưng có người bảo :
- Sao bà lão lại bi quan quá thế ? Mặc dù sự thật quá ư phũ phàng, sống ở đời phải  mạnh dạn tranh đấu, tranh đấu cho đến thắng lợi cuối cùng .
Lại có người bảo:
- Sao không theo lời con cá trê khuyên bầy ếch trong ngụ ngôn mà lưạ người trong hạt lên giữ quyền cai trị . Hạnh phúc mình phải tự tạo lấy , chớ có ai đem đến được cho mình .
Xin thưa :
- Nói thì dễ mà làm thì khó lắm . Huống hồ trước đây hơn hai ngàn năm đâu phải đã có chế độ lựa người thay mặt mình để nắm quyền bính trong địa phương hay trong nước như ngày nay . Đến như ngày nay nhân dân có quyền lựa chọn người cai trị mình, mà sau khi lựa chọn rồi, kẻ mình lựa chọn trở phản lại mình thì sao ?
- Tranh đấu, phản đối . Phản đối mà không sửa chữa thì nổi dậy lật đổ .
- Bầu kẻ khác lên cũng phản nửa thì sao ? Cũng phản đối, cũng đánh đổ nữa . Cứ thế mãi kẻ cầm quyền không làm được việc gì mà nhân dân cũng không hưởng được gì sốt . Như thế có ích gì cho dân cho nước ?
- Nếu chúng ta gặp phải hoàn cảnh của nước ếch trong ngụ ngôn và của quê hương bà lão đời Xuân Thu, thì chúng ta phải làm thế nào cho ổn ?
Trước đây ba mươi năm, một nhà chí sĩ, không nhớ rõ là Phan Tây Hồ hay Trần Quý Cáp, đã trả lời câu hỏi trên rằng :
- Ở đời không có gì tuyệt đối, cho nên không nên cầu toàn trách bị .
Khi ta chưa tìm được CÁI mà ta chắc cháan hơn CÁI mà ta chê, thì ta tạm bằng lòng CÁI ta hiện có . Bằng lòng không phảI là an phận, không phải là thụ động. Tạm bằng lòng để rảnh tay lo xây dựng CÁI khác . Khi đã xây dựng hoàn mỹ CÁI mà ta muống xong, ta sẽ phá bỏ CÁI mà ta không vừa ý . Như thế mới tránh khỏi cảnh huống "càng thay đổi càng rối rắm ".
Nhưng phải nhớ rằng những gì ta đã chọn lựa kỹ càng chưa chắc hoàn toàn tốt đẹp . Vì như trên đã nói "nhân vô thập toàn ". Chúng ta không nên quá kén . Và hễ chưa nắm được cái tốt trong tay một cách chắc chắn thì khoan vứt cái mà ta không ưng ý nhưng cần thiết .
 
Phan Tay Hồ lại thường nói :
- Dân trí chưa khia, dân đức chưa tiến, thì kẻ nào lên nắm chính quyền lại không chuyên chế , độc tài . Trái al.i, một khi trình độ hiểu biết của quần chúng đã cao thì kẻ cầm quyền dù gian ác đến đâu cũng không thể đè đầu cỡi cổ nổi .
Nói tóm lại, câu chuyện bà lão đời Xuân Thu, những câu ca dao, tục ngữ, ngụ ngôn , cùng những lời của các nhà chí sĩ tiền bối đều dạy chúng ta :
- Không nên trách hiền giả, trong khi chúng ta thiếu thốn nhân tài, thiếu thốn những người chân chính yêu dân yêu nước , trong khi nhân dân chưa giác ngộ quyền lợi quốc gia .
 
 
 
dv sẽ sửa chính tả sau....
 

Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 4 » »»