Hoạt động biến nhân hình
Sherlockhomes gõ
Trang 173 đến 199
còn được, hôm nay đến cơm cũng chẳng có mà ăn. Sao mà còn đổ thuốc “hoàng thang” nữa chứ?
Tịnh Trân lập tức sầm mặt xuống. Tôi có thể không ăn cơm. Mớ mì sợi vụn này một cọng cũng không ăn. Rượu không thể không uống. Tôi phải uống rượu. Nói thực nhá, em gái ạ, đừng có nói em không quản nổi việc chị uống rượu, mẹ cũng không quản nổi đâu. Kể cả cha từ dưới đất chui lên không cho chị uống rượu, chị cũng không nghe cha đâu. Dao kề vào cổ, cũng được. Rượu, vẫn phải uống. Không phải em nói không có cơm mà ăn ư? Em ạ, nói thực nhá, không có cơm ăn chị cũng phải uống lạng rượ nhạt này.
Dào, chỉ là tiện miệng nói một câu thôi mà, sao lại nói cứ như nuốt phải thuốc nổ ấy vậy, đúng là trời mới tối chưa nằm được mộng.
Hưng hưng. Tịnh Trân cười khẩy lên mấy tiếng, mặt mũi nanh nọc gớm ghê. Không giấu gì em đâu, em gái ạ, thuốc nổ chị cũng nuốt rồi, dao chị cũng có thể nuốt được. Mộng đẹp mộng xấu, chúng ta muốn mơ thế nào cũng được. Nói cho nhanh gọn nhá, người khác không hiểu chị em cũng không hiểu a? Em cũng quá vô tình vô nghĩa đấy. Chị đi đâu để nằm mơ mộng đẹp bây giờ? Chị mà có tám chữ (1) của em vận hội của em phúc tinh cao chiếu của em thì chị cũng không uống rượu!
Kéo cái việc đó vào làm gì? Em chỉ muốn tốt cho chị.
Lo cho tôi vừa thôi! Muốn tốt cho tôi vừa thôi! Đừng có lo
(1) Tám chữ: Tại gia tòng phụ xuất giá tòng phu. (Ở nhà theo cha lấy chồng theo chồng) (ND)
những sự thân, sơ, khô, ướt của hắn ta…Ai nói muốn tốt cho tôi toàn là loại cáo đi chúc tét gà…
Làm sao mà một câu cũng không cho nói nữa? Làm sao mà nói cái câu vừa rồi nghe như thổ phỉ?
Thổ phỉ? Em nói đúng rồi đấy. Thổ phỉ là cái gì? Đao trắng vào đao đỏ ra, chị mày mà chớp mắt một cái thì chị đây không phải là giống cha sinh mẹ dưỡng đâu nhá!
Đừng đánh nữa, đừng đánh nữa, tình thủ túc, tình cốt nhục, các người nếu cứ đánh nhau, thì mụ già tuyệt tự này lại càng chẳng còn gì để thiết sống nữa. Bà già bất đắc dĩ phải ra mặt khuyên giải, xúc động tủi thân rơi nước mắt. Hai chị em nọ cũng bị lây tâm trạng thương cảm đó mà đỏ hoe cả mắt.
Buổi trưa, năm cái miệng của ba đời người đang xì xụp húp mì nước còn nóng, cổng nhà xịch mở, một vị đàn bà trung tuổi tiến vào. Một tràng cười khanh khách cùng với người đàn bà dó đi qua sân để vào nhà. Bà ta có một búi tóc nhỏ đằng sau gáy, trên tay bưng một bát sủi cảo to, vẫn còn ở tận ngoài sân đã tươi cười đon đả rộn rã:
“Tôi bảo thím này! Tôi bảo em lớn em bé này! Mọi người thử nếm bánh sủi cảo rau thì là của tôi làm xem có ngon không! Trước kia đều ăn thì là vào trước và sau lập hạ, dạo này thế mà hay, sau thu phân cũng vẫn được ăn thì là nhá. Lá hẹ với dưa chuột đều còn tươi tốt lắm. “Thì là” cũng chẳng thế là gì. Cũng là mới gieo xuống thì tươi, lúc sắp cắt đi thì cũng tươi nhá! Tôi nghĩ bụng, hãy múc sang cho bên thím ăn thử xem nhanh lên đi! Vừa là người cùng phố cũ lại là cùng phố mới. Tục ngữ nói, anh em xa không bằng láng giềng gần, láng giềng gần không bằng nhà trước cửa. Lại nói là, chẳng thân thích cũng thì cùng quê đấy!” Giọng bà ta rộn ràng hồn hậu, vừa nói vừa cười, lại còn đậm tính nhà quê chính hiệu hơn cả mấy mẹ con nhà Khương Triệu Thị.
Bà ta là người đồng hương của họ, hồi trước ở cùng thôn. Gần đây, bà ta cùng với chồng cũng chuyển nhà đến Bắc Kinh, nói rằng cũng khéo làm sao, lại ở ngay sát vách nhà họ. Sau khi chuyển đến bà ta luôn chủ động liên lạc nối tình cảm với bà con đồng hương. Tịnh trân đặt biệt hiệu cho bà ta là “Nóng hổi”.
Bánh sủi cảo hình như đến thật đúng lúc. Nghê Tảo vui thích ra mặt, thật quá sức tưởng tượng của nó. Thế là Tịnh Nghi cũng mừng ra mặt. Thế là khí thế vui vẻ trào dâng, ba đời già trẻ đều cũng đã cùng nói lời cám ơn.
Chỉ tội “Nóng hổi” kia khi cầm bát sủi cảo, mắt cứ nhìn ngược nhìn xuôi, cứ nhìn chòng chọc vào bát mì nước và những đồ trần thiết trong nhà không rời mắt. Cái đó khiến ba mẹ con tự nhiên phải đưa mắt cho nhau một cái. Cầm chiếc bát không và được Tịnh Trân tiễn ra đến sân xong. “Nóng hổi” lại phóng mắt nhanh chóng sục sạo xung quanh một vòng. Bà ta nhìn thấy xích với khoá ở nhà trên, ánh mắt dừng lại chừng hai giây. Bà ta hỏi: “Ồ, anh nhà ta không ở nhà ư?” Tịnh Nghi không thèm để ý trả lời bà ta gì cả.
“Không phải đồ gì tốt đâu!” Tịnh Trân vừa quay vào đến nhà đã chỉ ra điểm đó. “Quan không đánh người đến biếu”, Tịnh Nghi dẫn ra câu danh ngôn ở quê. Bọn trẻ con ăn thật ngon miệng. người lớn cũng đều nếm mỗi người mấy cái, trong khi đang ăn sủi cảo của “Nóng hổi”, thì chưa tiến hành phân tích thêm một bước về cử chỉ biếu sủi cảo của “Nóng hổi”.
Bữa cơm ăn xong, việc dọn dẹp đã xong, bọn trẻ đi học, chị gái hâm rượu, Tịnh Nghi và mẹ đều đi nằm chợp mắt một lúc. Trong khi nửa thức nửa ngủ, chỉ nghe thấy Tịnh Trân lúc thì đi ra, lúc thì đi vào, lúc thì thở dài, rồi lại lầm bầm lẩm bẩm, tự nói một mình. Tiếng lẩm bẩm càng ngày càng to, cuối cùng làm ầm ỹ khiến hai mẹ con đang mơ màng ngủ phải tỉnh hẳn dậy.
“Lại làm lung bung gì vậy hả?” Tịnh Nghi hỏi.
“Hôm nay “Nóng hổi” vào nhà ta, là tại làm sao mà đến?”
Trên mặt Tịnh Trân hiện rõ sắc thái nghiêm trọng và thần bí.
“Lo đến bà ấy làm quái gì, quan không đánh người đến biếu mà. Với lại sủi cảo thì là có bỏ thuốc độc đâu!”
“Hưng hưng”.Tịnh Trân bật ra một tiếng cười khẩy, “cái tâm hại người không nên có, cái tâm phòng người chẳng nên không. Lời cổ gọi là hết sức giữ gìn cẩn thận, như tới miệng vực sâu, như đi qua hố cạn. Có thể là băng mỏng. Vực sâu tức là hố sâu có nước. Mình đứng bên miệng hố sâu, việc cần thiết nhất là gì? Chính là đề phòng có người từ đằng sau đẩy mình một cái”.
Tịnh Nghi tỏ ra thán phục luận thuyết của chị mình. Nhưng cô vẫn không hề lúng túng tí nào mà nói: “Nhưng “Nóng hổi” với chúng ta chẳng có thù xa oán gần gì cả, đồng hương cùng xã lại là láng giềng sát vách, sớm hỏi thăm, tối thăm hỏi, bà ta đúng là nóng hổi với chúng ta chứ còn gì?”
“Hưng hưng, trong lời nói của bà ta có gian trá, mắt thì có ma, bụng thì có mưu chước. Bà ta đến cho bánh? Bà ta là thám tử! Em không thấy đôi mắt kẻ trộm của bà ta? Nhìn đằng trước, nhìn đằng sau, nhìn đông ngó tây, lại hỏi thăm dò với chị “Lão Tôn” đã về nhà chưa. Em quán chứ? Chị không thèm trả lời bà ta”.
“Loại người này thật đáng ghét. Mình mà không hỏi han gì đến, thì nó săn đón hỏi chào mình bằng được. Mình mà để ý chiếu cố đến một tí thì nó dính nhằng nhằng ngay, được đằng chân lân đằng đầu, lại còn tra hỏi hạch sách người ta nữa chứ!”
“Mẹ thật là hồ đồ quá rồi”, Khương Triệu Thị vỗ đùi đánh đét, nghĩ ra cái gì đó. “Hôm nọ mẹ đến chỗ hiệu “Mũi tẹt” để mua thịt. chỉ thấy có “Nóng hổi” đang ở đó, chị ta đang nói chuyện thầm thầm thì thì gì đó với “Mũi tẹt”, vừa thấy mẹ là im luôn không nói năng gì nữa. “Mũi tẹt” lại còn nhìn mẹ một cái”.
“Mụ ấy chắc chắn là đi bại hoạ nhà mình rồi, chúng ta không thể chịu cái nhục như thế được? Tịnh Trân uống nốt ngụm rượu cuối cùng, mặt đỏ găng cả lên. “Cái giống con người là thế cả đấy, tôi cứ nghĩ đến là sợ lắm. Tôi goá chồng thất nghiệp, tuyệt đối không thể để cho người bắt nạt. Thế giới này không có gì ghê gớm ác mó như cái giống người. Người đối mặt với người, thì tuyệt đối không nên tỏ ra yếu đuối. Hễ nó bắt nạt được mình một lần, là lại bắt nạt mình lần thứ hai thứ ba nữa ngay, từ đó là không bao giờ chịu thôi. Nó sẽ ăn sống nuốt tươi mình không bỏ vỏ cũng không nhả hạt!”
Nói đúng đấy! Nói đúng đấy! Mẹ và con gái hoàn toàn tán thành.
Tịnh Trân chậm rãi đặt cút rượu xuống, đi tới cửa nhà, vén bức rèm lên, quay lại nhếch miệng khẽ cười với mẹ và cô em gái.
Sau nụ cười đầy tình mẫu tử và tỷ muội sâu sắc kia. Tịnh Trân bước từng bướ chắc nịch xuống bậc tam cấp, vòng qua cây thạch lựư, đi tới chân tường giáp nhà “Nóng hổi”. Chị ta lại cười nhạt một cái, hít vào một hơi dài.
Đối với toàn bộ động tác thần sắc lệ bộ của chị gái, tất nhiên Tịnh Nghi chẳng lạ lùng gì. Nhưng cô vẫn cảm thấy có một tốc độ và sức mạnh như sấm sét không kịp bịt tai và như núi Thái đè nặng lên đỉnh đầu. Quả nhiên, cô chưa kịp suy nghĩ được rõ rệt, thì đã thấy đôi chân chị gái cẫng lên trên không:
“Giỏi thật cái đồ thám tử lòng lang dạ chó, mày là đồ chết tiệt chứa giai trong nhà!”
Một tiếng tuyên chiến gầm gừ bùng nổ. Tiếp theo đó là một chuỗi những câu chửi rủa tuôn xối như thuỷ triều. Ngôn ngữ chửi rủa mới mẻ sinh động biến hoá phong phú đa dạng, hình tượng cụ thể, hùng tráng riết róng. Đúng thật là một chuỗi lựu đạn bùng nổ liên hoàn.
Vừa chửi vừa vẫy tay gọi Tịnh Nghi. Tịnh Nghi đã bắt đầu cảm thấy chị mình đã hơi bốc đồng lên rồi. Nhưng tâm trạng kích động mạnh mẽ của chị gái đã nhanh chóng lây lan sang cô ta. Cô cảm thấy máu huyết trong mình sắp sôi lên rồi. Cô ngồi không yên nữa, cô đã không kìm nén được ý chí muốn tham chiến nữa rồi. Cuối cùng, cô cũng phi nhảy lên mấy cái, chửi lên mấy câu.
Chửi hai phút đồng hồ, chị em nhìn nhau toét cười. Một lát trước đó còn chung một kẻ thù, khí thế ngút trời, như nuốt cả sơn hà, đã lại lập tức quay mặt lại cùng làm mặt xấu với nhau tí tởn cười, chính Tịnh Nghi cảm thấy thú vị, thậm chí thần kỳ nữa.
Đang lúc chị em sắp sửa thu quân, bỗng nghe thấy từ bên kia đường vọng sang tiếng lầu bầu, hình như là “Nóng hổi” nói một câu: “Đó là cái giống gì không biết chứ!”
Câu đó đã gây ra vụ bùng nổ mới, lại chửi càng sâu cay nghiệt ngã, quyết liệt hơn. Vụ nổ mới kéo dài đúng ba phút, cuối cùng bên kia phải tịt hẳn: im lìm lìm…, hoả lực của kẻ địch thế là đã bị tiêu diệt.
Tịnh Trân vã đầy trán mồ hôi, cổ họng củng khản đặc cả lại. Chị ta pha một chậu đầy nước nóng mang ra rửa mặt, lại cho em gái rửa vào chỗ nước thừa của mình. Bộ dạng của Tịnh Trân giống như một vị tướng quân vừa thắng trận, tuy có hơi mệt mỏi, nhưng trên mặt vẫn mang một nụ cười đắc ý. Chị ta tự lẩm bẩm phân tích giải thích cho mình rằng: “Ba bảy hai mươi mốt mặc bố nó, hãy chửi một trận cho hả đã!” Dừng lại một lát, chị ta lại bổ sung: “Mình lại chưa nói là chửi ai. Nhà ta lại chưa chỉ tên chỉ mặt ra, ai có tật giật mình thì là chửi người ấy. Trên đời chỉ có kẻ đi nhặt vàng, có kẻ nhặt bạc, có kẻ nhặt đồng, chứ chưa từng nghe nói có kẻ nào đi nhặt chửi. Tôi chửi bà à, ai bảo thế? Chẳng có tật thì chẳng giật mình, vô bệnh thì chẳng kinh nước lạnh. Bọn mình chửi như vậy, đứa xấu thì không chạy nổi, người tốt cũng chẳng oan uổng nào” Giải thích xong. lại dừng nghỉ một lúc, rồi tự cười khinh khích một mình.
Buổi chiều hôm đó Tịnh Trân trở nên khá vui vẻ. Chị ta đi đi lại lại một mình trong căn buồn nhỏ một lát. Rồi chị ta cầm ra cuốn tiểu thuyết “Mạnh Lệ Quân”. Trông điệu bộ chị ta như là đang đọc cực kỳ chăm chú, say sưa. Vừa đọc lại còn vừa ngâm nga những bài hát vặt. Sau đ1o chị ta khe khẽ đọc lên thành tiếng, có bổng có trầm, nhịp nhàng hẳn hoi.
Khương Triệu Thị nhìn con gái lớn của mình chìm đắm vào niềm vui đọc sách, thì vừa thương xót vừa hài lòng. Bà ta đưa ngón tay cái ra cho Tịnh Nghi, thì thào nói: “Nhìn mẹ con họ Khương nhà ta kìa, thật không đến nỗi tồi đâu, cũng có thể gọi được là kiên trinh tiết liệt, một bước là một dấu chân. Nhìn cái thế đạo này, chỉ sợ sau đây rồi đàn bà con gái như vầy càng ngày càng khó tìm được đấy!”
Tịnh Nghi tự nhiên cảm thấy như kiến bò chảo nóng, ngồi đứng không yên. Cô có thể dựa vào kinh nghiệm và trực giác của mình mà đoán định rằng Nghê Ngô Thành có thể sẽ trở về. Đã trở về rồi thì sẽ làm sao đây? Cô lại phải đi hỏi chị gái, chị cứ mải đọc sách, chỉ khẽ cười một cái. “Giặc đến thì tướng ra giữ, nước đến thì đất chặn. Còn có chị với mẹ kia mà!” Rồi quay đi tiếp tục vùi đầu đọc sách.
May quá Nghê Tảo hôm nay tan học sớm, cũng làm vơi bớt nỗi lòng căng thẳng của Tịnh Nghi. Nghê Tảo đã ra cổng chạy chơi rồi. Một lát sau. Cô gọi Nghê Tảo đang mải mê chơi trò “đuổi bắt”, dặn dò nó để ý xem ba nó có về không. Sắp đặt xong cái “vọng gác” đó, cô mới cảm thấy hơi hơi yên tâm đi một chút.
Sau đó cô đi hầm canh đậu xanh.
CHƯƠNG CHÍN
Nghê Ngô Thành cuối cùng rồi cũng lắc la lắc lư đi ra khỏi nhà tắm công cộng. Sau đó, anh ta ngựa quen đường cũ đi đến hiệu cầm đồ tên là “Vĩnh Tồn”, cầm luôn chiếc đồng hồ Thuỵ Sĩ của mình. Hiệu cầm đồ Vĩnh Tồn là bạn thân của anh ta, là chỗ dựa tin cậy không thể thiếu trong cuộc sống của anh ta. Khi không tiền thì cầm, có tiền rồi thì đi chuộc, thật là không có gì hợp lý hơn, không gì tiện lợi hơn nữa. Bảo rằng vừa cầm lại chuộc ngay, mà ở giữa đã bị người ăn chặn, bóc lột? Anh ta không bao giờ nghĩ tới. Nghĩ như vậy chẳng phải tự chuốc thêm phiền não ư?
Chiếc đồng hồ Thuỵ Sĩ này đã từng bị cầm cố ba lần. Ngoài việc là tiền cầm được mỗi ngày mỗi giảm, còn tất cả đều rất thuận tiện và phải chăng. Thậm chí anh ta còn vui vẻ hẳn lên, miệng khe khẽ thổi sáo, lại có tiền rồi! Những ngày trong túi không có đồng tiền nó mới bất an thấp thỏm làm sao! Khi trong túi chẳng có tiền thì khổ người cao mét tám dường như đột nhiên biến thành ngay một mét tư!
Anh ta hớn ha hớn hở rời khỏi tiệm cầm đồ, đi đến hiệu thuốc đối diện mua một lọ dầu gan cá tinh chế. Anh ta phải tăng cường dinh dưỡng cho hai đứa con. Rõ ràng là chúng nó phát dục không tốt rồi, thiếu canxi, thiếu chất đạm, thiếu mỡ, thiếu vitamin A,B,C,D, anh ta tưởng tượng rằng Nghê Bình và Nghê Tảo uống xong dầu cá sẽ biến thành cứng cáp khoẻ chắc và lớn bổng hẳn lên, trong lòng thấy vui đáo để.
Cho đến khi mua xong dầu cá, rời khỏi tiệm cầm đồ, Nghê Ngô Thành mới chợt ý thức rõ về một sự xách động nào đó trong lòng; khi từ trong hiệu cầm đồ đi ra, trên giá để đồ của hiệu có một vật gì đó khiến anh ta bỗng hơi thấy bất an, giật thột. Là cái gì nhỉ? Anh ta nghĩ không ra nữa. Đó cũng là sự đáng buồn của anh ta, vì thường nghĩ về việc của bản thân, nên đã ảnh hường đến sức chú ý đến sự vật ở thế giới bên ngoài. Phản ứng đối với những sự vật bên ngoài, anh ta thường bị chậm đi một nhịp.
Rẽ qua góc phố, thì thấy một hiệu bán văn phòng phẩm và đồ chơi trẻ em. Anh ta đi vào hiệu lựa chọn một hồi, những món đồ chơi nếu không quá đắt thì lại là quá xấu xí tầm thường. Trẻ em Trung Quốc không có đồ chơi, bọn con trai chỉ có thể lôi con chim bé xíu của mình ra mà chơi, thật là đáng buồn! Cuối cùng thì cũng coi như đã chọn được một cuốn sách gọi là “Hoạt động biến nhân hình” của nhà sáhc Danh Cổ màu sắc rực rỡ. Giống như một cuốn sách, toàn vẽ những bộ phận như đầu, nửa thân trên, nửa thân dưới, đều có thể lật giở một cách độc lập, như vậy lắp ghép vào nhau theo những trật tự lệch pha với nhau, có thể tạo thành vô số những hình vẽ người không giống nhau vì vậy mới gọi là “hoạt động biến nhân hình”. Nghê Ngô Thành xem bản thuyết minh bằng tiếng Nhật một lúc, biết rằng thứ đồ chơi này có thể bồi dưỡng sức tưởng tượng cho trẻ em, lại có thể làm cho trẻ em chưa đến tuổi đi học có thể thoã mãn đôi chút vì “em cũng có sách để học”, từ đáy lòng, anh ta bái phục tính tiên tiến và trí tuệ của người Nhật.
Có thể cuốn sách đó mà mua thì quá muộn rồi? Nghê Tảo đã học lớp một, không, không, theo mình nhớ thì sau tiết lập thu, nó sẽ là học sinh lớp hai chứ. Thế còn chị nó? Khỏi phải nói, đã là lớp ba rồi. Mà theo bản thuyết minh tiếng Nhật của nhà Danh cổ thì “Hoạt động biến nhân hình” lại là sách cho học trò lớp ấu trĩ viên (ngày nay gọi là lớp mẫu giáo) hoặc tr3 em còn chưa đi mẫu giáo “đọc” kia đấy. Còn có cách nào nữa đây? Trung Quốc vẫn còn chưa có giáo dục cho tuổi mầm non mà…Hơn nữa bản thân Nghê Ngô Thành cũng còn phải đọc một cách nghiêm túc cuốn “Hoạt động biến nhân hình” này kia mà. Anh ta đã hơn ba mươi rồi, vậy mà vẫn muốn học bù lại một chút những bài học tuổi nhi đồng, tuổi mẫu giáo, để được sống một chút giống như trẻ con bên Tây bên Nhật, chúng đã được hưởng thụ biết bao trong cuộc sống và sự giáo dục của nền văn minh.
Trong tay đang cầm “cuốn sách” đồ chơi của Nhật đủ màu rực rỡ, trong túi đang có lọ dầu cá màu nâu sẫm. Nghê Ngô Thành rẽ vào ngõ nhà mình. Vừa đi vào ngõ anh ta đã nhìn ngay thấy thằng con, thằng con đang bơ vơ trơ trọi đứng ở cổng nhà, đứng dưới gốc cây hoè to lớn cổ xưa và dường như đã chết đi một nửa.
“Nghê Tảo!” anh to gọi to. Anh ta không gọi là “Tảo con”, cũng không cho đặt tên ở nhà cho con cái, anh ta phải gọi tên nó một cách đàng hoàng tử tế, muốn rằng ngay từ nhỏ nó đã biết đến sự độc lập về nhân cách của mình, độc lập về tên họ của mình. Điều đó may mà lại được Tịnh Nghi và mẹ cô ta, chị gái cô ta chấp nhận. Ai bảo những văn minh của anh ta tất cả đều bị chống đối bị đả kích lại nào, ít nhất về cái điềm gọi tên này, phương thức văn minh chả đã được cùng thực thi một cách thắng lợi đó là gì? Anh ta đã nhếch một nụ cười cay đắng.
Anh ta vừa gọi Nghê Tảo vừa dấn mấy bước chân lên phía trước, vậy mà tới nơi chỉ còn cách Nghê Tảo có mười mấy bước chân, anh ta bỗng dừng phắt lại. Anh ta nhìn thấy một thân hình thật là gầy nhỏ quắt queo, một khuôn mặt sao mà ngây ngô, sợ sệt, ngơ ngác, ngẩn ngơ đến thế! Ôi, trời đất ơi, đó là Nghê Tảo? Đó là đứa con trai thân yêu nhất thông minh nhất mà tôi đã gửi gắm tất cả kỳ vọng và ảo tưởng vô hạn độ của tôi đây ư? Nhìn xem cái bộ dạng đáng thương của tấm áo kép vừa bẩn vừa rách và đã một lần xuống gấu tay kia! Nhìn xem, cái cẳng tay khẳng khiu như que sậy và cái bàn tay nhỏ bé nhem nhuốc thế kia kìa. Nhìn xem cái cặp chân đứng khoành khoành kia, chẳng lẽ mới bé thế mà đã bị vòng kiềng rồi ư? Cái bệnh còi xương do thiếu vitamin D thật là quá đáng sợ. Nhất là cái ánh mắt đờ đẫn và kinh hoảng kia…Tại sao nó lại không gọi “ba ơi”? Tại sao nó không chạy tới ôm mình, thơm mình như con thỏ con, con chim sẻ, con linh dương nhỏ bé để mà nhận lấy cuốn sách đồ chơi đẹp đẽ xanh xanh đỏ đỏ trong tay mình? Tại sao nó không reo, cười, quậy, nhõng, vòi vĩnh, đòi đồ ăn, đòi đồ uống, đì đồ mặc, đòi đồ chơi, chẳng lẽ nó không biết cách làm như một đứa trẻ được cưng chiều để đòi quyền lợi của mình từ nơi ông bố đẻ hay sao? Mình thà để bản thân phải xuống địa ngục, nhưng vẫn cầu mong cho con cái mình được sống trên thiên đàng!
Dáng vẻ của đứa con khiến anh ta trở nên nghi ngại, dường như có một tấm bình phong ngăn cách giữa họ với nhau. Ánh tà dương rực rỡ chiếu lên hai cha con, hai cha con đổ những cái bóng dài thườn thượt của họ trên mặt đất. Tán cây hoè rợp xuống đất tự nhiên có vẻ âm u lạnh lẽo, Nghê Ngô Thành cảm thấy đang có luồng hơi giá buốt từ những khe nứt của thế giới tuồn ra, và cứ từ từ lặng lẽ ngấm vào cơ thể họ.
Anh ta đi tới gần, và đứng ở chỗ chỉ cần với tay ra là chạm được vào thằng con trai. Tay phải anh đưa ra cuốn “Hoạt động biến nhân hình”, tay trái móc túi lấy ra cái lọ thuỷ tinh màu nâu sẫm mẫu mã rất khéo léo tinh tế đựng dầu gan cá. Thứ lọ thuỷ tinh như vậy, ở Bắc Kinh lúc đó, cũng được coi là kiểu thời thượng đắt tiền lắm rồi.
Vậy mà ánh mắt của đứa con trai lại đầy vẻ bất an mà ngơ ngác. Ánh mắt như vậy khiến Nghê Ngô Thành run sợ, anh ta gần như buột miệng kêu lên một tiếng lớn và tuột tay đánh rơi cái lọ xuống đất. Từ ánh mắt đó anh ta nhìn thấy những thửa ruộng muối trắng lôm lốp, những cuộc đời áo không đủ che thân, những niềm vui sướng lấy chân di bẹt cứt dê lỏn chỏn, những làn khói thuốc phiện và những bức tường đất phát nhẵn đi vì mông đít chịn vào sau khi ỉa. Từ ánh mắt đó, dường như anh ta nhìn thấy người Trung Quốc từ bao đời tiên tổ, những con người tá điền khi gặp phải địa chủ hoặc địa chủ gặp phải quan trên, những phạm nhân bị chặt đầu thị chúng hoặc những công công tự thiến mất tinh hoàn, những tấm lưng mãi mãi không thẳng ngay lên được hoặc những cái miệng mãi mãi không ngậm được vào. Cái điều khiến anh ta không rét mà run nhất là, tự trong đôi mắt của Nghê Tảo, anh ta đã nhìn thấy Tịnh Nghi, nhìn thấy bản thân mình thời niên thiếu hút thuốc phiện. Anh ta luôn gửi gắm tất cả hi vọng vào lớp người đời sau, phải chăng lớp người đời sau từ lâu đã phải gánh gánh nặng kế tục lớp người đời nay và bao nhiêu đời về trước. Cái hi vọng “Lạc quan chủ nghĩa” của anh ta cuối cùng biết gửi gắm vào đâu?
Nghê Tảo đột nhiên quay mình chạy đi mất, không trông thấy nữa.
Tim Nghê Ngô Thành đập thình thịch. Không hay rồi. Dữ nhiều lành ít. Anh ta nhặt lọ dầu cá rơi dưới đất lên, hai mắt tối lại.
Anh ta nhíu lông mày vào một cái. Lông mày anh ta lúc nào cũng đã cau cau, không nhíu thêm vào được nữa. Anh ta nghĩ đến châu Âu, đến trẻ con, thanh niên, phụ nữ châu Âu…mặc dù chiến tranh đã quét qua nơi đó, chủ nghĩa phát xít đang nuốt chửng tất cả, nhưng ở nơi đó vẫn cứ có những con người sống động sôi nổi nhiệt tình.
Anh ta lắc lắc đầu. Anh ta đi lên bậc thềm đá xanh hơi nghiêng lệch. Gót giày dẫm lên bậc đá làm tung bụi bặm. Cánh cổng nứt nẻ tồi tàn bong tróc hết lớp sơn, bị ánh chiều tà nhuộm thành màu vàng cam. Đây là lần đầu tiên anh ta xem xét nhìn nhận đến nhà cửa sân sướng mà nhà mình đang thuê để ở. Đây là đâu? Đây là nhà của ai, tại sao anh ta lại đến đây cơ chứ? Tất cả đều rất mơ hồ. Trên cánh cổng vốn có những mảng gỗ sơn mài màu đỏ tía hình vuông đặt chéo theo hình quả trám, mỗi miếng gỗ sơn ở trên có viết một chữ, nét chữ đã mờ mịt lắm rồi, đó là câu đối “Trung hiếu truyền gia”, chữ “cứu” ở cuối câu đã hoàn toàn bị bong hết. Giữa các chữ “Thi thư” và “Thế trường” là chữ “tục” cũng đã chẳng còn dấu tích.
Trông kìa, vẫn còn chưa vào qua cửa, đã thấy nặng nề rồi. Cái mà Nghê Ngô Thành nhìn thấy là một hòn núi hoang vu.
Anh ta bước qua ngạch cổng, bước vào trong sân. Đập vào mắt là một bức tường che cổng, trên tường đó cũng có viết chữ, hai chữ lớn: Tiễn cốc. Tiễn cốc là gì và xuất xứ ở đâu, không chỉ một lần, không chỉ một người đã giảng giải cho Nghê Ngô Thành, nhưng anh ta lại không nhớ được.
Lúc đó không biết từ đâu vọng lại một tiếng đàn nhị đơn điệu, trùng lắp, mơ hồ.
Anh ta rẽ vào lối cửa hoa dây, trong sân vắng lặng như tờ. Chẳng lẽ cả ba người bọn họ đều không có nhà? Không, sau cánh cửa sổ dán giấy, phảng phất mơ hồ như có bóng người ở nhà phía tây, anh ta nhìn thấy mà.
Anh ta xuyên qua giữa một đôi chum lớn. Ngoài vụ hè năm ngoái có hứng được ít nước mưa ra, trong chum hoàn toàn là trống rỗng, vách trong là bùn, bên ngoài thân chum cũng dính trắng những vết bùn khô.
Ngoài bờ tường hành lang bày hai chậu thạch lựu, hai chậu trúc đào kép, đều không phải đúng vụ hoa. Chúng hoang mang lúng túng ngó nhìn sự trở về của Nghê Ngô Thành, hơi hơi run rẩy, xào xạc lá cành.
Anh ta bước lên tam cấp nhà trên. Anh ta mắt cận thị, đã đeo kính mà thị lực vẫn không thực tốt. Vì vậy lên hết tam cấp rồi mới phát hiện ra dây xích và khoá.
Anh ta đã phát bực lên rồi, anh ta biết bão táp đã là không tránh khỏi. Anh ta còn không còn thực tâm hồi hộp lo sợ nữa, không còn thương cảm cho con cái cho bản thân cho cố hương cho bao nhiêu thứ khác nữa. “Nghê Tảo, mang chìa khoá ra đây!” Anh ta quát lên một tiếng, giọng run lên, có vẻ vừa hung hăng lại vừa thấp thỏm.
Nghê Tảo quì ở chỗ cửa sổ có cái lỗ nhỏ để nhìn cha. Tiếng quát to của cha khiến cho nó giật bắn mình khiếp hãi.
Tịnh Nghi gọi chị gái. Lúc đó Nghê Ngô Thành trông tướng rất dữ dội, Tịnh Nghi cho rằng đó là cái tướng “lưu manh”. Một mình cô không dám bước ra đối mặt, cô cần có sự hậu thuẫn của chị gái.
Còn Tịnh Trân thì lại đang để hứng thú vào chỗ những Mạnh Lệ Quân với Hoàng Phủ Trưởng Hoa, Hoàng Phủ Thiếu Hoa kia cơ. Tịnh Nghi khẩn khoản nài xin chị ta, chị ta bụng dạ còn để tận đâu, nói nhẹ như không rằng “Để ý hắn làm gì? Đừng cần để ý hắn”.
Tịnh Nghi đã chợt hiểu ra, những sự hung hăng hùng hổ kích động kịch liệt của chị gái, đã dùng vào vụ nhảy lên chửi rủa cái mụ “Nóng hổi” láng giềng vừa nãy hết sạch cả rồi. Giờ chị ấy đang rất thảnh thơi dễ chịu. Chị ấy bây giờ không muốn nổi cáu nổi cơn gì nữa, chẳng còn bao nhiêu hoả mà bốc lên nữa. Chị ấy đang thực ung dung tự tại.
Khổ thay! Đối sách mà ba người dày công nghiên cứu không còn dùng gì được nữa! Sự báo tin của Nghê Tảo cũng chẳng còn chút xíu ý nghĩa nào nữa.
Mở - cửa! Lại là một tiếng quát đanh gọn đầy uy lực.
Tịnh Trân lúc này mới đặt cuốn sách xuống, vừa thò đầu đã rụt cổ, cười một cái thản nhiên nhẹ nhõm.
Tịnh Nghi như ngồi trên bàn chông. Nghê Tảo tim đập thùm thụp. Khương Triệu Thị mặt đỏ gay. Không biết Nghê Bình làm sao mà vào được nhà. Nó chui vào sân và nhà mé tây, cứ như chuột, chẳng bị ai phát giác cả. Chắc nó vừa làm trực nhật ở trường xong mới về thì phải? Vừa kịp nhìn thấy cái cảnh tượng lúc đó, nó buồn bã xúc động quá bật lên khóc.
Mở cửa! Mở cửa! Mở cửa!
Không biết từ đâu vọng đến tiếng đàn nhị rít lên nhức tai.
“Đắp đàn tế, mượn gió đông…” gào to trong họng rồi liền không thấy tiếng nữa. Tiếp theo đó là một giọng rao lê thê trong ngõ – có chai rượu tây không tôi mua! Tất cả những tiếng xôn xao đó tựa như đều mang một ý vị khiêu khích nào thì phải.
Lúc đó Nghê Ngô Thành đã nắm chặt lấy dây xích sắt, anh ta kéo giật mấy lần, kéo không đứt, chỉ cảm thấy lửa giận vô cớ bùng lên cao vạn trượng, tưởng như dây xích kia đã xích chặt anh ta, đã xích chặt linh hồn và thể xác anh ta. Anh ta giống như con thú đã phát cuồng, nắm chặt lấy dây xích mà kéo mà giật, hai cánh cửa đã lung lay rung lên trước sức lực của anh ta, phát ra tiếng răng rắc, điều đó khiến anh ta được khích lệ. Anh ta mím chặt miệng lấy hơi, ra sức đạp, giật liên hồi, hai cánh cửa bị rời khỏi bản lề nối với khung cửa, tung ra, nặng nề đổ sập xuống đất. Tiếp đó là tiếng ván gỗ gãy nứt và tiếng kính vỡ loảng xoảng.
Nghê Ngô Thành chệnh choạng cả người, cơ hồ muốn đổ theo cánh cửa. Anh ta ngán ngẩm bước những bước dài sải chân qua hai cánh cửa, giống như bước qua hai thi thể. Anh ta đi vào nhà, quạu chặt đôi lông mày ngồi xuống một chiếc ghế gỗ bên cạnh bàn.
Ở trong nhà phía tây, Tịnh Nghi sợ hết hồn vía. Khương Triệu Thị đã nổi đoá lên, bà ta sắp sửa ra mặt can dự đến nơi rồi, Tịnh Trân kéo bà lại, nhìn nhìn sang phía nhà chính nơi vừa bị sập hai cánh cửa, cười mấy tiếng ra đằng mũi. Trong một chớp mắt, cảm giác của Nghê Tảo là: ba mình oai thật! Trông con mắt của Nghê Tảo, khoá với cửa cũng như là tường và lửa, là những vật chướng ngại mà con người không thể nào vượt qua nổi. Thế mà ba mình keng keng cạch cạch lay kéo một lúc rồi giật ầm một cái, cửa sập xuống ngay, cứ y như thần lực dời non lấp biển. Không phải ba của đứa nào học lớp hai cũng đều có dũng khí và thần lực như thế đâu nhé. Khi các bạn cùng lớp ngồi với nhau, thường khoe khoang về ba mình. Lần này thì Nghê Tảo có thể có cái để khoe rồi. Lần sau mà gặp bạn nào thân, nó sẽ nói cho bọn chúng biết về thần lực và sự dũng mãnh của cha mình. Có khi bọn nó nghe xong đều chẳng tin đâu!
Nghê Ngô Thành bước vào nhà cửa của mình mà như đi vào hầm chứa băng.
Chẳng lẽ anh ta đang đi vào một thế giới chết chóc? Sau cơn điên cuồng giận dữ kia, trong sân không còn một chút sinh khí nào nữa. Bọn họ rốt cục định làm trò gì vậy nhỉ? Từ nay không cho mình về nhà nữa? A di đà Phật! Đâu mà có chuyện dễ dàng như vậy? Những cái chén uống trà trên bàn đọng lại bao nhiêu cặn trà từ bao nhiêu hôm trước. Dưới đất cũng bao nhiêu ngày chưa hề quét. Trên giường có cả một lớp bụi. Cảm giác chết chóc tĩnh lặng khiến anh ta phát rủn cả người. Những ngón tay run rẩy rút ra một điếu thuốc lá “Bé mập”, đánh liền mấy que diêm khiến căn buồng sực lên mùi lưu huỳnh rồi mới châm được lửa. Lại vọng đến tiếng đàn nhị Bắc kinh và tiếng hát. Rồi bỗng không thấy nữa. Có một tiếng chim kêu, một con chim sẻ nhỏ bay nghiên từ trước chỗ cánh cửa bị sập vút lên thinh không. Từ phía sau, một con sẻ khác vốn là con chim thân yêu của nó liền bay theo. Chúng nó thật hạnh phúc quá. Chúng nó không thèm ngó ngàng gì đến con người bất hạnh. Chúng nó bay mất hút về phía những áng mây chiều đỏ rực, chúng nó chẳng hề liếc qua một con mắt tới Nghê Ngô Thành đang ngồi một mình trong cái tổ lớn tối mò mò này.
Nghê Ngô Thành cảm thấy toàn thân đâu cũng tê cứng đến hoang mang cả lên. Anh ta cởi chiếc áo tây ra, mắc lên mắc áo. Anh ta khoác lên một chiếc áo bông ngắn, chuyển tới ngồi trên một thứ đồ gia dụng “cao cấp” duy nhất trong phòng. Đó là một chiếc ghế mây kiểu nửa giường, lại còn kê thêm một cái đệm nhỏ để tựa nữa. Khi Nghê Ngô Thành đang cảm thấy mệt mỏi hoặc cực kỳ cô đơn, anh ta thích ngồi lên đó mà hút thuốc, uống trà, nghĩ ngợi, gậm nhấm cuộc đời hạnh phúc và tín điều lạc quan của mình. Đó có thể đã là sự xa xỉ và hưởng lạc duy nhất sau khi trở về nhà rồi.
Anh ta muốn uống trà. Vừa ngồi xuống lại đứng lên ngay. Quanh quẩn tìm một vòng trong phòng, không tìm thấy cái hộp trà Nhật Bản mà anh ta hằng yêu quí. Đó là tặng phẩm của người bạn thân. Anh ta bỗng giật nảy mình một cái, lúc này mới kết hợp tất cả lại. Hoá ra nó đứng buồn bã cuối đầu ở trên giá đồ của hiệu cầm đồ lúc trước, đã khiến anh ta tự dưng động lòng nhưng mãi đến lúc mua xong dầu cá mới ý thức được sự xách động trong lòng đó, mà lại vẫn không nghĩ ra tại sao mà lại động lòng như vậy, đó chính là vì cái hộp chè Nhật Bản của mình! Cô ta đã đem hộp chè Nhật Bản của anh ta đi cầm cố rồi! Điều đó thật là sự ngu xuẩn không thể nào cứu chữa được. Đây không phải là thứ có thể cầm cố được đáng đồng tiền, có thể họ chỉ cầm được một số tiền để mua nổi hai chục chiếc bánh rán…Nhưng mà nó là tặng phẩm của bạn bè. Anh ta cũng không phải là không nghĩ đến gia đình một tí nào, đã chẳng cầm cố cả đồng hồ, chuẩn bị đưa cho họ một ít tiền đấy sao?
Thật lăng nhăng xí xố đến đâu nữa nhỉ? Đường đường một giảng sư đại học, mà lại phải cầm cố đồng hồ để nuôi gia đình! Thế mà bọn họ lại dám vượt mặt mình đem đồ cầm ở cùng một hiệu. Người phục vụ trong hiệu sao không nói gì vậy nhỉ?
Rõ ràng họ nhận ra được là người nhà của anh ta chứ?
Thế là anh ta thủ tiêu ngay lòng ham muốn uống trà, kéo dịch cái ghế mây ra một chút, ngồi xuống, xoay lưng lại phía cánh cửa bị đẩy đổ, anh ta tiếp tục hút điếu thuốc “Bé mập” mà lá thuốc cuộn bên trong rất xộc xệch lỏng lẻo, giấy cuốn có một vị đắng mốc hôi xì. Anh ta nhướng mí mắt lên, nhìn thấy trên bức tường đối diện có treo trên cao một bức hoành: Hồ đồ hiếm có. Những chữ nhỏ viết: thông minh khó, hồ đồ khó, từ thông minh trở nên hồ đồ lại càng khó.
Là bản dập nét chữ của Trịnh Bản Kiều, anh ta đã mua chưa lâu lắm. Anh ta cố gắng thể nghiệm cái tinh tuý của triết học hồ đồ. Khi tâm tình vui vẻ, anh ta cảm thấy cái triết học hồ đồ này là có lý, có tác dụng, tuyệt diệu, có thể an định được con người. Hết lần này tới lần khác, anh ta ngâm ngợi và nghiền ngẫm thấm thía, quả thật cũng có được sự bình tâm dịu khí, cái tinh thần bình tĩnh vạn sự đều có thể hoặc đều không thể. Anh bái phục sự khái quát vừa tinh xảo mà lại thông tục. Đã có thể tự an ủi siêu thoát, lại vẫn bộc lộ được ý vị trào phúng. So với Trịnh Bản Kiều, anh ta thừa nhận là mình quá thô thiển nông nổi thật.
Tuy vậy khi anh ta tâm tình không tốt, như lúc này, bốn chữ đó anh ta hoàn toàn không thể nuốt nổi. Ngẩng đầu lên, ngước mí mắt, từ trên ghế nằm ngó thấy “Hồ đồ hiếm có”. Anh ta vốn định mượn ý của Trịnh Bản Kiều để an ủi làm dịu tâm trạng đang phiền muộn đến cực điểm của mình. Nào ngờ anh ta càng nhìn càng hết sức xa lạ, không thể tiêu hoá. Càng nhìn càng bực tức. Hay cho cái “ Hồ đồ hiếm có” đó! Sinh ra một cái lật đật hồ đồ, chết đi một cách lật đật hồ đồ, thù hận một cách lật đật hồ đồ, sống một cách lật đật hồ đồ, đi khỏi một cách lật đật hồ đồ như vậy? Nếu sớm biết sẽ hồ đồ như vậy, thì việc gì mà phải đầu thai làm người, mà đi qua cái kiếp lật đật hồ đồ này chứ?
Lật đật hồ đồ ngồi mất một lúc, Nghê Ngô Thành cảm thấy trong bụng đã hơi có gì xục xịch xịc xịch. Lúc trước ăn thịt lợn luộc trong nồi lẩu ngon lành xướng bụng như vậy, mà giờ hình như không còn có cái dễ chịu thoả thuê đó nữa. Có thể những vật liệu mà nhà hàng niêu đất dùng đã mỗi ngày mỗi kém. Những người già nói, thịt lợn của nhà hàng niêu đất bây giờ, so với khi bán cho các tú tài vào kinh di thi thời nhà Thanh, thì kém xa. Anh ta nhấc tay trái lên, nhìn nhìn vào cổ tay, mới nhớ ra đã không còn đồng hồ nữa. Thế rồi anh ta đứng dậy đi vào nhà xí.
Đúng vào lúc anh ta vừa mới rời khỏi căn phòng bị bật cửa để đi ra nhà xí, thì Tịnh Nghi đã luồn vào phòng đó như một luồng khói. Cô đảo mắt quét quanh bốn phía, xem xem sự trở về của Nghê Ngô Thành có đưa đến sự thay đổi gì không. Cô nhìn thấy có chiếc áo vét kiểu tây treo trên mắc. Cô lập tức bước tới, lấy nó xuống, nhanh tay lục soát một lần ba chiếc túi bên ngoài, một chiếc túi bên trong. Trừ ra bao thuốc “Bé mập” đã hút hết một nửa, cô vét sạch sẽ tất cả mất tờ giấy, một ví tiền, một phong bì thư. Sau đó treo lại cái áo vào chỗ cũ. đi luôn.
Tất cả các việc đó đều được hoàn thành nhanh như chớp điện chỉ trong có nửa phút thôi. Nghê Tảo không tin vào mắt mình, hay là ảo giác vậy nhỉ? Nó quay đầu lại nhìn nhìn, mẹ đã ở ngay bên cạnh mình rồi, trông mẹ cò vẻ rất chuyên chú trang nghiêm. Trông dì thì đang rất hăm hở như đã sắp sẵn ý định gì. Nghê Bình mặt mũi tái nhợt, trông như đang có bệnh nặng.
Hình như đã qua một thời gian rất dài. Nó hi vọng ba mình chậm trở lại một chút, nhưng lại bồn chồn vì ba sao mãi chưa trở lại. Chẳng lẽ ba bị ngã xuống hồ chứa cỏ để rắc chuồng xí rồi sao? Người lấy phân đã bao nhiêu hôm rồi chưa đến, vì trong nhà lần trước không cho họ “tiền uống rượu”, mà nhà ngưởi khác lại đã cho họ rồi. Lại qua những mấy phút nữa, ba đã từ nhà xí đi ra. Bóng dáng cao to đi vào gian nhà tối om om, giống như một cái bóng đang lắc lư chuyển động.
Nghê Ngô Thành đã vào nhà, cảm thấy rất khó chịu vì sự bẩn tưởi của nhà xí. Anh ta lại nghĩ tới nhà xí của Châu Âu. Nói trăng nước ngoài tròn hơn trăng Trung Quốc, thì sợ là chưa chắc đúng. Nói hố xí Châu Âu còn sạch hơn một số nhà ở của Trung Quốc thì thật bất hạnh mà cũng rất đáng buồn, nhưng đó là sự thật.
Anh ta hết sức bâng khuâng trống trải, muốn đọc một ít sách. Bèn tiện tay lục ra một cuốn hoạ báo “369” đã cũ rích. Trang bìa hoạ báo là ảnh “tiểu thư Lê Chi Phượng danh tiếng người đẹp Bắc Kinh”, ảnh in mờ mờ tỏ tỏ, chẳng nhìn ra cái gì cả. Trong một cuộc thù tiếp xã giao, anh ta đã từng gặp vị mỹ nhân đó rồi, thân hình mặt mũi cũng khá, chỉ phải cái không đàng hoàng lịch lãm cho lắm, trông có vẻ tỉnh lẻ. Hơn nữa lại rất yếu ớt mỏng manh. Khi nói chuyện thì đúng cái kiểu “nhai đầu lưỡi” chính cống, người nghe cứ cảm thấy cô ả đang nhai cái đầu lưỡi của mình, txư txư tsa tsa txi txi...những phụ âm cứ rít qua kẽ răng nhưng không nghe rõ đang nói cái gì. Thỉnh thoảng có câu nghe được rõ, thì câu trước đá câu sau, nói chuyện chẳng có lôgic gì cả, mà cũng chẳng đúng cả ngữ pháp nữa. Tóm lại là chẳng có gì hay ho.
Cũng là quan niệm riêng của Trung Quốc, cứ phải coi yếu đuối bệnh hoạn là đẹp, cứ coi những cái bị kìm nén làm u uất phiền muộn với những cái bị làm cho tàn phế lệch lạc mới là đẹp. Vì vậy mới thích chân bó. Thích cây mai bị sâu bệnh trong bồn cảnh. Thích Lâm Đại Ngọc bị lao phổi đến thời kỳ thứ ba và Đỗ Lệ Nương tâm thần phân liệt. Đến khi nào các thiếu nữ Trung Quốc mới được có một tinh thần và thể phách của những vận động viên cơ chứ?
Lật giở tiếp sau nữa, một bài viết hoan nghênh thắng lợi trên chiến trường Thái Bình Dương của quân Nhật. Rồi một bài viết bàn về đánh rầm, chia rầm thành ra ba loại lớn mười loại nhỏ. Một chùm tranh biếm nói chuyện bà béo ông gầy hai bên đều có bồ bịch, bà béo giả vờ nói đi đến nhà người bạn đánh bài qua đêm thực tế là đi ôm một chàng bạch diện thư sinh. Ông gầy giả vờ nói phải trực đêm ở toà soạn báo thực tế là đi nhà chứa...
Nghê Ngô Thành lại đưa tay lên xem cái cổ tay không còn đồng hồ. Anh ta tin rằng đã đến giờ hẹn rồi. Là cuộc hẹn nào nhỉ? Ở trong nhà, anh ta không thể nhớ ra được. Vừa vào nhà, tế bào não đã mất hết cả sức sống. Trong hoàn cảnh ngu si ngốc nghếch anh ta cũng đã biến thành ngu si ngốc nghếch. Chỉ cần vừa bước ra đến đầu ngõ, tự nhiên sẽ biết ngay tối hôm nay nên đi chỗ nào. Vốn định hoà giải đấy. Mà hoà giải không xong.
Anh ta vứt toạch cái áo bông mỏng đang khoác xuống giường. Mặc cẩn thận chiếc áo vét kiểu Tây lên người, lại vỗ vỗ túi áo, không nghĩ ra được còn có gì đáng lưu luyến ở trong nhà hoặc có gì cần phải làm ở nhà nữa. Thế là anh ta lại nhìn “Hồ đồ hiếm có” một cái, sải bước đi qua hai cánh cửa đang nằm dưới đất để ra sân.
Anh ta cui cúi cái đầu đi tới gần nhà phía tây, anh ta dịu giọng gọi lên một tiếng: “Nghê Tảo”.
Nghê Tảo vừa định nói gì đó, thì mẹ đã ra một dấu hiệu bằng tay rất nghiêm khắc với nó, hạ giọng thật nhỏ nói vào tai nó một câu: “Đừng có để ý ông ấy”. Nghê Tảo định đứng dậy lại thôi ngay.
Nghê Ngô Thành đợi một lúc, anh ta đã thất vọng rồi. Bỗng vào lúc đó cửa đã kêu lên một tiếng, một đứa bé chạy ra, không phải Nghê Tảo mà là Nghê Bình.
Nghê Bình tự động chạy ra đấy. Nó trắng bệch cả mặt mày, nước mắt loang trên má nhưng mắt thì cháy rực lên. “Ba ơi”, nó gọi lên một tiếng, “ba đứng đi nữa! Sao ba lại muốn đi nữa vậy? Ba ơi, ba ở lại nhà ta đi, ba lại đi đâu nữa đấy? Sao ba cứ không chịu về nhà...Ba định không cẩn chúng con nữa phải không?”
Khi nói chuyện với người trong nhà, Nghê Bình hoàn toàn dùng giọng nói ở quê, tuy rằng khi nói với bạn học hoặc người ngoài, nó vẫn nói bằng giọng Bắc Kinh rất chuẩn. Nghê Ngô Thành đã từng yêu cầu nó nói tiếng Bắc Kinh, nó không chịu. Chắc hẳn là nó cảm thấy nói tiếng Bắc Kinh với người trong nhà thì ngượng nghịu xa lạ lắm. Nghê Ngô Thành biết làm sao được nữa. Bản thân Nghê Ngô Thành cũa không nói được tốt “quốc ngữ” - tiếng Bắc Kinh, nhưng lại không cam tâm nói bằng thổ ngữ phương ngôn của vùng Mạnh Quan Đồn – Đào Thôn thế là anh ta sáng tạo ra riêng một kiểu tiếng “Lão sáu ngoại quốc” (chữ dùng của Tịnh Nghi) giọng nam dấu Bắc.
Ánh mắt và giọng nói của Nghê Bình đều hơi có vẻ ngô nghê. Những từ ngữ và nội dung câu nói của nó cũng khiến Nghê Ngô Thành không lạnh mà run. Tại sao trong tâm hồn và trong lời lẽ lứa tuổi ngây thơ trong trắng của nó, lại phải xuất hiện những tín hiệu đáng buồn như thế nhỉ? Nói ta không cần chúng nữa rồi, rõ ràng là từ miệng Tịnh Nghi rót vào tai nó đấy. Thật là một tội ác! Lớp người đời sau đáng lẽ phải được ra đời và sống trong môi trường văn minh, khoa học lành mạnh mới phải. Thứ mà Nghê Bình cần phải có là đồ chơi và các trò chơi. Không, cái cần là đàn piano, là khiêu vũ, trượt băng, bơi lội, là những đồ ăn phong phú về dinh dưỡng, lại còn áo quần của con gái và đồ trang điểm. Để cho con gái ăn mặc rách rách rưới rưới thế này, quả thật là lý trời khó dung!
“Ba ơi, sao ba không ở nhà? Tại sao không cần chúng con? Ba ơi, ba đừng có lấy một người đàn bà xấu nữa nhé...” Nghê Bình nói mãi nói mãi, rồi tự nhiên méo xệch miệng oà khóc.
Toàn thân Nghê Ngô Thành chợt rung lên, ôi, cái việc mà anh ta sợ nhất đã xày ra rồi. Đó chính là gánh nặng và nỗi đau khổ của đời này sẽ truyền tới tận lớp người đời sau. Nghê Bình mới có chín tuổi, con gái chín tuổi lẽ ra chỉ biết có hoa và búp bê thôi...Vậy mà anh ta, thậm chí vừa lúc nãy gọi con cái, cũng chỉ gọi mỗi Nghê Tảo mà không gọi Nghê Bình chứ!
Nghê Ngô Thành đã phải rơi nườc mắt. Anh ta kéo tay Nghê Bình, vuốt ve mái tóc Nghê Bình. Anh ta quì sụp tấm thân cao lớn của mình xuống để đối mặt với Nghê Bình mà trò chuyện. Giọng nói của anh ta rất dịu dàng, trông mặt anh ta rưng rưng nước mắt. Anh ta cố tìm mọi cách an ủi Nghê Bình. Không, ba không đi, Nghê Bình, làm sao ba lại có thể không cần con với em trai con cơ chứ. Con là đứa con cực kỳ ngoan ngoãn. Ba tuyệt đối không thể làm gì hại đến con. Ba tuyệt đối không thể để con phải thất vọng, để con phải rơi nước mắt! Trên thế giới có người cha nào như vậy không, anh ta không thể mang đàn pianô về cho con gái, anh ta không thề mang hoa tươi về cho con gái, đến một con búp bê cho ra hồn anh ta cũng không thể mua cho con được lấy một lần. Anh ta chỉ đem lại cho con gái bé bỏng, con gái ngốc nghếch còn nói đặc giọng nhà quê của anh ta những giọt nước mắt không đáng phải rơi! Dẫu rằng có đáng phải chết, hãy để cái thằng làm cha này chết cho xong! Dù cho có nghìn dao vạn kiếm, hãy để tôi hứng trọn nghìn dao vạn kiếm cho, đừng làm thương tổ đến con gái tôi, đừng! Tất cả tội nghiệt đều là của tôi, không phải của bọn trẻ đâu!
Anh ta bảo đảm với con gái, mười phút thôi, không, năm phút nữa sẽ trở lại. Anh ta chỉ đi mua một chút trà, mua thêm một chút bánh thôi. “Tối hôm nay, lại cả tối mai nữa, lại cả về sau, ba nhất định không đi đâu hết”. Nghê Ngô Thành cảm động nói như tuyên thệ với Nghê Bình.
Nghê Ngô Thành đi rồi, Nghê Bình ngơ ngẩn cả người, hồn vía lên mây, kéo lê chân bước vào nhà mé tây. Tịnh Nghi cũng đã đỏ hoe cả tròng mắt, cô đã quan sát từ đầu đến cuối, rồi than thở rằng: “Từ bé đến lớn, cái con bé Nghê Bình này thật nhân nghĩa quá đi mất!” Khương Triệu Thị và Tịnh Trân gật đầu lia lịa và sụt sịt khóc không thôi.
Rồi Tịnh Nghi và mẹ với chị gái cùng nhau điểm nghiệm những “chiến lợi phẩm” thu được trong chuyến đi trinh sát đột kích vừa qua. Cô không để cho bọn trẻ tham dự để khỏi ô nhiễm tâm hồn con cái. Bảo bọn trẻ ra chỗ khác làm bài tập, Tịnh Trân ra cửa múc vào một bát canh đậu xanh, nóng quá, chị ta ghé vào miệng bát không ngớt mồm thổi phù phù.
Tiền, đếm xong, để sang một bên, Tịnh Nghi mừng ra mặt, người làm sao của bào hao làm vậy, đáng kiếp! Ít nhất cũng được một tháng không phải phát sầu vì cơm với cháo. Không đầy một tháng nữa bọn Lý Liên Giáp, Trương Tri Ân đã có thể đưa tiền đến rồi. Cũng có thể chuộc cái hộp trà kia về được, vì mấy cân mì vụn mà cầm cố cái hộp kia thật là hơi quá. Một mảnh giấy, nhìn không rõ là gì. Một mảnh giấy khác, là hoá đơn cầm đồ, là đồng hồ đấy, đáng kiếp. Để hoá đơn cầm đồ sang một bên. Rồi đến một lá thư Khương Tịnh Nghi lập tức nảy sinh ý cảnh giác. Tính nết Nghê Ngô Thành vốn chính hiệu đại thiếu gia, xem xong thư là thuận tay vứt luôn kia mà. Tại sao lá thư này lại phải cất trong túi áo tây?
Mở phong bì ra. Đầu tiên rơi xuống là một tấm ảnh của một người đàn bà, lẳng lơ dung tục, mỗi tế bào của Tịnh Nghi đều sôi hết cả lên. Cô mở thư ra, chữ viết rất thoáng, phần trên nói những chuyện đâu đâu, đọc chẳng ra câu.
Tịnh Trân đặt bát canh đậu nóng sang một bên, đón lấy lá
Hết trang 199.
Bắt đầu là ngọn lửa
Rốt cuộc là tro than
Bắt đầu từ niềm tin
Sẽ bùng lên ngọn lửa
Homes
★
★
★
★
★
0