📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Hiệu Đính Truyện

CỔ HỌC TINH HOA - HẾT

148 trả lời, 21.452 lượt xem — Trang 3 / 5
83. HẾT LÒNG VÌ NƯỚC

Vua Bình Vương nước Sở nghe lời gièm pha, giết chết đại tướng là Ngũ Xa, Ngũ Thượng là con cả Ngũ Xa cũng bị hại. Người con thứ ba là Ngũ Viên bèn bỏ nước Sở, sang làm tướng nước Ngô. Trước khi đi, có đến từ giã một người bạn đang làm quan đại phu tên là Thân Bao Tư mà bảo rằng:
“Ba năm nữa nước Sở không mất, thời tôi không trông thấy bác nữa.”
Thân Bao Tư nói: “Bác làm mất nước Sở, thì tôi tất phải giữ cho nước Sở còn.”

Ba năm sau, Ngũ Viên đem quân Ngô về đánh Sở, vua Chiêu Vương nối ngôi cho Bình Vương thua chạy, phải trốn vào trong núi.
Thân Bao Tư đang ở trong núi, nghe nói Ngũ Viên cường bạo bèn sang cầu cứu nước Tần, tâu cùng vua rằng:
“Nước Ngôn vô đạo, quân khỏe người nhiều, sắp đánh cả thiên hạ, bây giờ mới đánh một nước Sở thôi trước. Vua nước tôi phải chạy trốn, hiện đang ở Vân Mộng, sai tôi đến cấp báo với thượng quốc.”
Vua nước Tần là Ai Công bảo: Ừ! Để rồi ta liệu. Nhà ngươi hãy ra nghỉ ngoài sứ quán.
Thân Bao Tư nói: “Vua nước tôi bây giờ đang khốn đốn, phận làm bầy tôi đâu giám ăn nằm yên một chỗ”.
Nói đoạn cứ đứng giữa sân khóc lóc thảm thiết suốt bảy ngày đêm.
Ai Công thấy vậy, nói rằng: “Một nước có người bầy tôi như thế, ta không cứu cũng không đành”. Rồi đem quân sang cứu nước Sở.
Quân Ngô nghe thấy tin, vội phải rút quân về.
Nước Sở nhờ thế mà không mất, vua Chiêu Vương lại lên ngôi, tìm Thân Bao Tư để thưởng công thì không thấy đâu cả. Thân Bao Tư đã lánh lâu rồi.

Trước khi đi lánh, Thân Bao Tư có nói rằng:
“Mượn quân, yêu nước không phải là vị thân, cứu cấp, trừ hại không phải là vị danh. Bây giờ nước đã định rồi, thì ta còn cầu gì nữa?”

Thuyết Uyển

GIẢI NGHĨA

Sở: xem truyện số 9
Đại tướng: một chức quan to nhất
Ngũ Xa: người nước Sở thời Xuân Thu, thờ vua Bình Vương vì can vua mà phải giết
Ngũ Thượng: con cả Ngũ Xa, cha bị nạn, đi theo cha rồi cũng bị hại
Ngũ Viên: tức là Ngũ Tử Tư, có thứ Ngũ Xa, trốn sang Ngô để mưu phục thù cho cha
Thân Bao Tư: người thời Xuân Thu làm quan đại phu thờ vua Bình Vương nước Sở và chơi thân với Ngũ Viên.

LỜI BÀN


Ngũ Viên vì cha bị giết oan mà quyết chỉ muốn haị vua, làm cho vua mất nước là trọng chữ Hiếu hơn chữ Trung, có phần đáng khen cũng có phần nên chê. Thân Bao Tư muốn cứu nước chỉ lấy nước mắt, tiếng khóc mà nên công, thực là người quá nhẫn nhục trong lúc kế cùng lực kiệt, để chuyển được người không có ý giúp cũng phải giúp, thế là có bụng rất trung, yêu vua, cứu nước vậy. Việc nghĩa làm là làm cho cả nước, làm được là hả, là sướng, chớ có cầu cạnh gì riêng cho thân mình?
 
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-09-15 18:51:49CTT>
84. ỨNG ĐỐI LINH LỢI

Thiệu là con vua Nguyên Đế nhà Tần, lúc nhỏ đã cực kỳ thông tuệ.

Một hôm có sứ thần ở Trường An lại, vua Nguyên Đế hỏi thử rằng: “Trường An gần hay mặt trời gần hơn?”
Thiệu đáp: Trường An gần hơn.
- Tại làm sao?
- Tôi chỉ thấy nói có người ở Trường An lại, chứ chưa từng thấy nói có người ở mặt trời lại đây bao giờ.
Vua nghe câu nói lấy làm lạ.

Cách mấy hôm, vua đem câu chuyện kể lại cho quần thần nghe. Nhân Thiệu đứng hầu bên lại hỏi đùa rằng:
- Trường An gần hay mặt trời gần hơn?
Thiệu đáp: Mặt trời gần hơn.
Vua ngạc nhiên hỏi: Sao hôm nay lại trả lời khác hôm nọ như thế?
- Tôi ngửng đầu lên, tôi trông thấy ngay mặt trời, chớ không trông thấy Trường An đâu cả.
Vua nghe lại càng lấy làm lạ.

Tấn Sử

GIẢI NGHĨA

Tấn: tên một nước triều đại bên Tàu (265-419)
Thiệu: sau nối ngôi Nguyên Đế, gọi là vua Minh Đế
Trường An: tên một thành cũ bên Tàu, tức là bắc huyện Trường An, tỉnh Thiểm Tây bây giờ

85. THỬA GIÀY


Nước Trịnh có kẻ định thửa giày, đo chân làm no rồi để cái no bên chỗ ngồi. Lúc đi chợ quên không cầm no đi. Đến hàng giày mới sực nhớ ra nói rằng: “Thôi quên! Không cầm no đi rồi!”. Rồi, mãi vội chạy về nhà lấy no. Khi trở lại thì chợ đã tan, không thửa được giày nữa. Có người thấy thế bảo rằng:
“Sao không đưa chân ra người ta đo có được không?”
Anh ta cãi: “Tôi chỉ tin cái no thôi, chớ tôi không tin chân tôi được.”

Ôi! Thửa giày cốt chỉ đi vừa chân là được mà không tin chân, chỉ tin cái no đo chân, chẳng là câu nệ quá lắm ư! Ở đời kẻ làm công việc cứ bo bo giữ lề lối cổ hủ, không biết thế nào là hợp thời thích nghi thì có khác gì người đi thử giày chỉ tin no đo chân, mà không tin chính chân mình hay chăng?

Hàn Phi Tử

GIẢI NGHĨA


Trịnh: xem truyện số 34
No: các mẫu đo cá, chiều dài, ngắn của đồ vật gì
 
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-09-15 18:51:14CTT>
86. CỨU NGƯỜI LÚC NGUY CẤP

Trang Chu nghèo túng sang hỏi vay thóc Ngụy Văn Hầu. Ngụy Văn Hầu nói:
“Tôi có cái ấp, người ta sắp nộp tiền thóc, tôi sẽ cho ông vay ba trăm lạng, ông có bằng lòng không?”
Trang Chu giận nói: “Khi Chu đến đây, đi giữa đường nghe có tiếng gọi, ngoảnh lại thấy một con cá đang ngắc ngải trong cái vết bánh xe. Chu này hỏi: Cá ở đây làm gì thế? -Cá đáp: Tôi là thủy thần ở bên bể Đông mắc nạn tại đây, ông có thể cho tôi bát nước để cứu tôi lúc nguy cấp này không? -Chu này bảo: Để tôi qua chơi nước Ngô, nước Việt rồi lấy nước sông Tây Giang về đón ngươi, ngươi có bằng lòng không? Cá giận nói: Tôi đang cần đến nước, ông chỉ cho tôi được một ít là tôi sống. Nay ông nói như thế; đợi đến lúc ông về, thì có khi ông đến chỗ hàng cá khô đã thấy tôi đấy rồi.”

Thuyết Uyển

GIẢI NGHĨA

Ngụy Văn Hầu: Văn Hầu nước Ngụy, cứ theo sách Trang Tử tuyết thi là Giám Hà Hầu

87. NGHÈO MÀ KHÔNG OÁN

Tử Dư làm bạn với Tử Tang. Tử Tang rất nghèo. Gặp khi trời mưa luôn mười hôm, Tử Dư nhớ đến bạn nghĩ bụng rằng: “Tử Tang đến khốn mất!”. Mới bọc gạo đem lại cho.

Lúc đến trước cửa, thấy Tử Tang đang đánh đàn, nửa như khóc, nửa như hát, tiếng không ra hơi, giọng thì liu nhíu, lắng tai nghe như có câu rằng: “Cha ư! Mẹ ư! Người ư!”

Tử Dư bước vào hỏi: “Bác đàn hát như thế là làm sao vậy?”

Tử Tang nói: “Tôi nghĩ mãi mà không biết tự đâu đến nông nỗi cùng cực như thế này? Nào có phải cha mẹ tôi muốn cho tôi nghèo khổ đâu! Nào có phải trời đất để cho tôi nghèo riêng một mình đâu? Trời không riêng che đất không riêng chở một ai…Thực tôi muốn tìm cho biết tự đâu tôi phải chịu cùng cực như thế này, mà không ra. Vậy thì chẳng phải là cái mệnh nó xui khiến ra như thế ư!”

Trang Tử Tuyết

GIẢI NGHĨA

Tử Dư, Tử Tang: hai người đời Xuân Thu tính khoáng đạt, chơi thân với nhau.

LỜI BÀN

Tử Tang nghèo mà cho là số mệnh thì ý giống câu ngạn ngữ của ta: “Số giàu của đến dửng dưng, số nghèo con mắt cháo chưng vẫn nghèo”. Phàm yên phận nghèo, hay không lo nghèo, hay quên cả cảnh nghèo, đó là nết cao quý của hiền triết, không để cho cảnh làm lụy được tâm, làm tổn được chí. Nhưng chúng ta chớ quên rằng những bậc hiền triết thường cần lao, hoặc cầy ruộng hay câu cá, hoặc kiếm củi hay chăn nuôi cho có đủ sống, rồi các ngài mới sống cho ra sống. Cần lao để mưu sinh, đó là sự thường, chúng ta phải có trước đã, để cho thoát khỏi nhục ký sinh, cái hại cơ hàn thiết thân bất cố liêm sỉ. Khi chúng ta tự lập được, đã biết trọng liêm sỉ, thì chúng ta mới có thể trở nên người không lo nghèo được.
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
88. THÂN TRỌNG HƠN LÀM VUA

Người nước Việt giết ba đời vua. Con vua đời thứ ba tên là Sưu lo sợ, phải trốn vào ở trong hang.

Nước Việt thành ra không có vua. Người Việt đi tìm con vua mãi không thấy. Đến lúc tìm thấy ở trong hang thì con vua không chịu ra. Người Việt một mặt lấy lá ngải hun vào hang, một mặt đem xe đón. Con vua bất đắc dĩ phải ra. Lúc lên xe, ngửa mặt lên trời kêu to rằng:
“Ôi làm vua! Ôi làm vua! Ta không muốn làm vua cũng không được hay sao!”

Con vua lo như thế không phải là ghét làm vua, ghét là ghét cái họa làm vua. Không muốn làm vua, tức là không chịu lấy một nước mà phiền lụy đến thân mình. Thân mình không muốn phiền lụy, thì khi làm vua, tất không nỡ làm phiền lụy khổ hại ai. Mà chỉ bởi cái lẽ ấy, người Việt mới cố tôn lên làm vua cho được.

Trang Tử

LỜI BÀN


Làm vua thường tình ai chả muốn. Thế mà có người đến làm vua cũng không muốn! Không phải ghét gì làm vua, nhưng ghét rằng làm vua thường có khi không giữ được toàn tính mệnh. Bài này cốt ý cảnh tỉnh những kẻ ham danh, ham lợi để hại đến thân. Cứ theo ý tác giả thì chỉ những người nào không có chút gì phiền lụy đến tấm thân, mới là không “thương sinh” nghĩa là hại đến đời mình, mà giữ được “toàn sinh” nghĩa là giữ được đời mình cho trọn vẹn. Còn như đây không muốn làm vua mà cứ bị tôn lên làm vua, là vì rằng ông thông minh nhân hậu, lại có đức độ cùng biết người và thương dân thì dân chúng nào chả muốn tôn lên làm quân trưởng.

89. THÂN TRỌNG HƠN THIÊN HẠ

Nước Hàn, nước Ngụy muốn lấn đất của nhau, Tử Hoa Tử đến ra mắt vua Chiêu Nghi nước Ngụy, thấy vua có dáng lo buồn mới hỏi rằng:
“Giá bây giờ cả bao nhiêu nước họp nhau, đính ước một câu và khắc câu ấy trước mặt vua rằng: “Tay trái lấy thiên hạ thì hỏng mất tay phải; tay phải lấy thiên hạ thì hỏng mất tay trái”. Hỏng mất một tay mới lấy được thiên hạ, thế thì nhà vua có bằng lòng lấy thiên hạ không?”

Vua Chiêu Hi nói: “Thế thì ta chẳng lấy thiên hạ làm gì”.
Tử Hoa Tử thưa: “Nhà vua nói phải lắm. Cứ xem như thế thì hai cánh tay trọng hơn cả thiên hạ, thì cái thân ta trọng hơn hai cánh tay ta lại đáng trọng hơn biết là bao! Nước Hàn so với cả thiên hạ bé nhỏ thấm vào đâu! Miếng đất tranh nhau so với cả nước Hàn bé nhỏ thấm vào đâu! Thế mà sao chỉ vì lo không tranh được miếng đất nhỏ ấy, mà nhà vua đến nỗi ủ dột, buồn rầu, mất ăn, mất ngủ, thương sinh quá như vậy?”

Vua Chiêu Hi nói: “Phải lắm. Người dạy bảo quả nhân cũng nhiều, nhưng chưa từng thấy ai dạy bảo quả nhân được những lời như thế.”
Tử Hoa Tử bàn như thế mới thực là người biết điều khinh, điều trọng ở đời vậy.

GIẢI NGHĨA

Hàn: một nước lớn trong bảy nước thời Chiến Quốc ở vào trung bộ Hà Nam bây giờ.

Ngụy: cũng là một nước lớn về thời đại ấy, ở vào bắc bộ Hà Nam và phía nam Sơn Tây bây giờ.

Tử Hoa Tử: một nhà học thuyết giỏi nước Ngụy đời vua Chiêu Hi.

LỜI BÀN

Mất một cánh tay mà được cả thiên hạ còn không muốn, huống chi hại cả cái thân mà được một miếng đất cỏn con lại còn muốn hay sao! Thế mới hay, tất cả mọi người, trên tự vua chúa dưới đến thường dân ai ai cũng biết trọng cái thân mình, quí thân mình hơn cả ngoại vật, nhưng tiếc thay những kẻ có quyền thế trong tay thường chỉ biết mến một cái thân mình, còn cái thân của người, của bao nhiêu người lại nỡ đem ra sát hại để thỏa chút lòng tham muốn, cầu lợi rất đáng khinh bỉ. Nếu ai cũng biết thương sinh là hại, sát sinh là bất nghĩa, thì còn đâu là những sự chiến tranh hại kể có đến muôn, triệu tính mệnh sinh linh!
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
90. CHÚC MỪNG

Vua Nghiêu đến chơi đất Hoa. Viên quan giữ cõi đất Hoa chúc rằng:
- Xin chúc nhà vua sống lâu.
Vua Nghiêu nói: Đừng chúc thế.
Viên quan lại chúc: Xin chúc nhà vua giàu có.
Vua Nghiêu nói: Đừng chúc thế.
Viên quan lại chúc: Xin chúc nhà vua lắm con trai.
Vua Nghiêu nói: Đừng chúc thế.
Viên quan lấy làm lạ, hỏi: Sống lâu, giàu có, lắm con trai, người ta ai cũng muốn, một mình nhà vua không muốn là cớ làm sao?

Vua Nghiêu nói: Lắm con trai thì sợ nhiều; giàu có thì công việc nhiều; sống lâu thì nhục nhã nhiều. Ba điều ấy không phải là những điều gây nên đức hay cho mình nên ta từ chối.

Viên quan nói: Nhà vua như thế thực là một bậc quân tử. Nhưng trời sinh ra người, mỗi đứa cho làm một việc thì có lo sợ gì. Giàu có mà biết đem chia của với người ta thì còn công việc gì? Ăn uống có chừng, ngủ có độ, trong bụng lúc nào cũng thư thái tự nhiên, thiên hạ hay ra, thì cũng hay với thiên hạ, thiên hạ mà dở thì làm cho thiên hạ hay, trăm tuổi thì nhắm mắt về cõi rất vui, một đời không có tai họa gì, thì còn nhục nhã làm sao được.

Viên quan nói xong lùi ngay. Vua Nghiêu còn muốn nói nữa thì cho theo không kịp.

GIẢI NGHĨA

Nghiêu: vua đời Đường (357 – 289 tr.Th.Ch) .

Hoa: chỗ vua Nghiêu đóng kinh đô.

91. NGƯỜI BÁN THỊT DÊ


Vua Chiêu Vương nước Sở mất nước, phải bỏ chạy. Có người hàng thịt dê tên là Duyệt, cũng chạy theo vua.

Sau vua Chiêu Vương lại trở về, lấy lại được nước. Vua bèn thưởng những người chạy theo khi trước, có cả anh hàng thịt dê nữa. Ai ai cũng nhận thưởng, chỉ có anh hàng thịt dê từ chối, nói rằng:
- Trước nhà vua mất nước, tôi mất nghề bán thịt dê, nay nhà vua còn nước, tôi còn nghề bán thịt dê. Thế là tôi giữ được nghiệp cũ đủ ăn rồi, còn đâu dám mong thưởng gì nữa.

Vua cố ép. Người hàng thịt dê thưa rằng:
- Nhà vua mất nước không phải tội tôi, nên tôi không dám liều chết; nhà vua lấy lại được nước không phải công tôi, nên tôi không dám lĩnh thưởng.

Vua bảo để rồi ra đến nhà ngươi chơi vậy.
Người hàng thịt dê nói: Theo phép nước Sở, phàm người nào có công to được trọng thưởng thì vua mới đến nhà. Nay tôi xét tôi trí mưu không đủ giữ được nước, dũng cảm không đủ giết được giặc. Quân giặc vào trong nước, tôi lánh nạn, phải theo nhà vua chớ có phải là cốt ý theo nhà vua đâu! Nay nhà vua lại muốn bỏ phép nước mà đến chơi nhà tôi, tôi e thiên hạ lại chê cười chăng.

Chiêu Vương thấy nói, ngoảnh lại bảo Tư Mã Sử Ký rằng: Người hàng thịt dê này tuy làm nghề vi tiện mà giãi bày nghĩa lý rất cao xa. Nhà ngươi làm thế nào mời được người ấy ra giữ chức tam công cho ta.

Người hàng thịt dê nói: tôi biết chức tam công là quí hơn cửa hàng bán thịt dê, bổng lộc nghìn vạn, giàu hơn tiền lãi bán thịt dê. Nhưng tôi đâu dám tham tước lộc mà để nhà vua mang tiếng là gia ơn không phải nghĩa. Tôi thực không dám nhận. Xin cho về giữ lấy nghề bán thịt dê.

Nói đoạn lui ra ngay.

Trang Tử

GIẢI NGHĨA


Tam công: ba chức quan to, đời nhà Chu thì là Thái Sư, Thái Phó, Thái Bảo, đời nhà Tây Hán thì là Đại Tư Mã, Đại Tư Đề, Đại Tư Không, đời nhà Đông Hán thì là Thái Úy, Tư Đồ, Tư Không.

LỜI BÀN


Vua Chiêu Vương muốn thưởng là lấy cái ý khi mình gặp bước lưu vong mà người ta đi theo mình, là người ta có lòng trung thành với mình. Người hàng thịt dê không nhận thưởng là lấy cái nghĩa không đáng nhận vì không có công cán gì. Nếu ai cũng biết an phận thủ thường, quí trọng nghề nghiệp như người bán thịt dê, thì còn ai là kẻ ham mê phú quí, quyền thế và sự thưởng phạt ở đời chẳng là công minh lắm ư! Thực đáng làm gương cho những kẻ không biết liêm sỉ, tài năng công đức chẳng có gì, mà cũng cố cày cục, chạy chọt lấy chút phẩm hàm chức vị để lòe đời vậy.
 
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-09-17 04:08:14CTT>
92. Thành thực

Vợ thầy Tăng Tử đi chợ. Con khóc đòi đi theo. Mẹ bảo:
Con ở nhà rồi mẹ về mẹ làm thịt con lợn cho ăn.
Lúc vợ về thầy Tăng Tử bắt lợn đi làm thịt.
Vợ nói:
Tôi nói đùa nó đấy mà.
Thầy Tăng Tử bảo:
Nói đùa là thế nào? Đứng khinh trẻ thơ là không biết gì. Cha mẹ làm gì nó thường hay bắt trước. Nay mình nói dối nó, chẳng là mình dạy nó nói dối ư!
Tăng Tử nói xong, làm thịt lợn cho con ăn thực.

Lời bàn: “Ấu tử thương thi vô cuồng”; câu kinh Lễ đã dạy, ta không nên nói dối trẻ. Thầy Tăng Tử nhà nghèo, phải giết lợn, mẹ thầy Mạnh Tử cũng có mua miếng thịt lợn nhà láng giềng cho con ăn, đều là đã trót nói đùa vời trẻ cho ăn thịt lợn, thì không muốn dối trá nó, để giữ lấy lòng thực. Phàm cha *** ai là không muốn cho con thành thực. Nhưng muốn như vậy, tất phải giữ gìn, chớ có nói dối nó bao giờ. Lục Chí có câu nói rằng: “ Nều mình không hết lòng thành mà mong người ta hết lòng thành, chắc người ta chán mình mà không theo mình nữa. Lần này mình không có lòng thành mà bảo lần sau rồi có lòng thành, chắc người ta ngờ vực mà không tin nữa”. Cũng một ý với thầy Tăng Tử dạy con vậy.

93.Mẹ hiền dạy con

Thầy Mạnh Tử, thuở nhỏ nhà gần nghĩa địa, thấy người ta đào, chôn, lăn khóc, về nhà cũng bắt trước đào, chôn lăn khóc. Bà mẹ thấy thế nói:
Chỗ này không phải chỗ con ta ở được
Rồi dọn nhà ra gần chợ. Thầy Mạnh Tử ở gần chợ, thấy người buôn bán điên đảo, về nhà cũng bắt chước người ta buôn bán điên đảo. Bà mẹ thấy thế lại nói:
Chỗ này cũng không phải là chỗ con ta ở được.
Bèn dọn nhà đến ở cạnh trường học. Thầy Mạnh Tử ở gần trường học, thầy trẻ đua nhau học tập lễ phép, cắp sách vở, về nhà cũng bắt chước học tập lễ phép, cắp sách vở. Bấy giờ bà mẹ mới vui lòng nói:
Chỗ này là chỗ con ta ở được đây.

Một hôm, thầy Mạnh Tử thấy nhà hàng xóm giết lợn, về hỏi mẹ:
Người ta giết lợn làm gì thế?
Bà mẹ nói đùa:
Để cho con ăn đấy.
Nói xong, bà nghĩ lại hối rằng:
Ta nói lỡ mồm rồi. Con ta thơ ấu, trí thức mới mở mang mà ta nói dối nó, thì chẳng ra ta dạy nó nói dối hay sao?

Rồi bà đi mua thịt lợn về cho con ăn thật.

Lại một hôm thầy Mạnh Tử đang đi học, bỏ học về nhà chơi. Bà mẹ đang ngồi dệt cửi, trông thấy, liền cầm dao cắt đứt tấm vải đang dệt trên khung, mà nói rằng:
Con đi học mà bỏ học thì cũng như ta đang dệt tấm vải này mà cắt đứt đi vậy.

Từ hôm đó thầy Mạnh Tử học tập rất chuyên cần rồi về sau thành một bậc đại hiền. Thế chẳng nhờ có cái công giáo dục quý báu của bà mẹ hay sao?

Liệt Nữ Truyện

Lời bàn:
mẹ thầy Mạnh Từ thực là biết dạy con. Mấy lần dọn nhà, thế là hiểu cái lẽ gần mực thì đen gần đen thì rạng. Nói lỡ lời phải mua thịt cho con ăn, thế là hiểu cái lẽ chớ nên nói dối trẻ. Thấy nó bỏ học mà cầm dao cắt đứt tấm vải làm thí dụ, thế là hiểu cái lẽ học hành cốt phải chuyên cần. Người ta đã nói: người mẹ là thầy giáo thứ nhất của trẻ, nên người mẹ phải biết cách dạy trẻ mới được. Dạy con từ thuở còn thơ, cái buổi đầu là cái buổi khó, mà cái buổi ấy là ở trong tay người *** người mẹ tức là người có trách nhiệm gia đình giáo dục rất to, không kém gì người cha, mà có lẽ hơn.

Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-09-17 04:12:52CTT>
94. Ngọc bích họ Hòa

Nước Sở có người họ Hòa, được một hòn ngọc ở trong núi, đem dâng vua Lê Vương. Vua sai thợ ngọc xem. Thợ ngọc nói: “Đá không phải ngọc”. Vua cho người họ Hòa là nói dối, sai chặt chân trái.

Đến khi vua Vũ Vương nối ngôi, người họ Hòa lại đem ngọc đên dâng. Vua sai thợ ngọc xem. Thợ ngọc nói: “Đá không phải ngọc”

Đến khi vua Văn Vương lên ngôi, người họ Hòa ôm hòn ngọc, khóc ở chân núi Sở Sơn suốt ba ngày ba đêm đến chảy máu mắt ra. Vua thấy thế, sai người đến hỏi. Người họ Hòa thưa: “ Tôi khóc không phải là thương hại chân tôi bị chặt, chỉ thương về nỗi ngọc mà cho là đá, nói thật mà cho là nói dối”. Vua bèn sai người xem lại cho rõ kỹ, thì quả nhiên là ngọc thật, mới đặt tên gọi là “ngọc bích họ Hòa”.

Hàn Phi Tử

Giải nghĩa:
Sở: xem bài 9
Lê Vương, Vũ Vương, Văn Vương: ba vua kế tiếp nước Sở
Ngọc bích: thứ ngọc rất đẹp, rất quý hiếm

Lời bàn:
Người ta ở đời thường mờ mịt của thật cho là của giả, sự phải ngờ là sự trái. Hoặc có ai biết lẽ phải, muốn đem ra báy tỏ, mà thiên hạ không biết cho, lại còn mỉa mai, thì thực là khổ tâm. Người họ Hòa không đau vì nỗi hai chân bị chặt chỉ vì đau vì nỗi ngọc mà cho là đá, nói thực cho là nói dối, quả là một người vì yêu cái thực, cái phải, cố làm cho sự thực, sự phải phá đổ đực sự u mê của người đời.

95.Nuôi gà chọi

Vua Tuyên Vương sai Kỷ Sảnh nuôi một con gà chọi.
Được mười hôm, vua hỏi:
Gà đã đem chọi được chưa?

Kỷ Sảnh thưa:
Chưa được, gà hăng lắm, chưa thấy gà khác đã muốn chọi rồi.

Cách mười hôm, vua hỏi:
Gà đã đem chọi được chưa?

Kỷ Sảnh thưa:
Chưa được, gà còn hăng, mới thấy bóng gà khác đã muốn chọi rồi.

Cách mười hôm, vua lại hỏi:
Gà đã chọi được chưa?

Kỷ Sảnh thưa:
Chưa được, gà còn hơi hăng, trông thấy gà khác đã muốn chọi rồi.

Mười hôm sau, vua lại hỏi:
Gà đã đem chọi được chưa?

Kỷ Sảnh thưa:
Được rồi, gà bây giờ cho nghe thấy tiếng gà khác cũng không cho vào đâu. Trông thì tựa như gà gỗ, mà thực thì đủ các ngòn hay. Gà khác coi cũng đủ sợ, phải lùi chạy.

Trang Tử

Giải nghĩa:
Tuyên Vương: đây là Tuyên Vương nước Tề
Gà gỗ: chữ là Mộc Kê. Các nhà làm văn hay dùng hai chữ ấy để khen những bậc học tập, tu dưỡng được hoàn toàn, không có gì bộc lộ ra ngoài.

Lời bàn:
1. Chưa trông thấy gà khác đã muốn chọi thế tức khĩ hão chớ vì tất chọi mà đã được.
2. Trông thấy bóng gà khác đã muốn chọi thế là cậy khỏe chớ vị tất chọi mà đã được.
3. Trông thực thấy gà khác đã muốn chọi thế là còn hiều thắng chớ vị tất chọi mà đã được.
Chỉ đến lúc mất hết tất cả tức khí, cậy khỏe, hiếu thắng, luyện đã được hình toàn thần toàn đủ hết cả ngón hay, mà trông bề ngoài trơ ra như gỗ, là lúc ấy mới chọi được, có khi không phải đợi chọi, gà khác ngó thấy cũng đủ sợ mà trốn chạy rồi. Thế mới hay những bậc thánh hiến chỉ thu cái tài vào khuôn phép nén cái khí vào tâm thần, chỉ cốt trong mình cho đầy đủ, không có ý gì tranh cạnh với ai, mà thiên hạ hồ dễ ai cạnh tranh nổi. Chớ những kẻ chỉ vụ bề ngoài, chăm chăm danh lợi, có tranh giành mới lấy làm vui lòng, có tham lam mới lấy làm mãn nguyện, còn là những hạng tầm thường, có khi hại đến thân mà vẫn tự đắc cho là phải.

Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
96. Dùng chó bắt chuột


Nước Tề có người xem tướng chó giỏi. Nhà láng giềng nhờ mua một con chó hay bắt chuột. Một năm trời anh ta mới mua được, bảo nhà láng giếng: “Con chó này tốt đấy”

Nhà láng giềng nuôi chó mấy năm mà không thấy nó bắt chuột, mới nói chuyện với anh ta. Anh ta bảo: “Con chó tốt lắm đấy. Nhưng cái chí nó chăm bắt hươu nai, cầy, cáo chớ không muốn bắt chuột. Bây giờ muốn nó bắt chuột thì phải cùm chân nó lại.”

Nhà láng giềng làm theo như thế, quả sau con chó hay bắt chuột.

Lã Thị Xuân Thu

Lời Bàn:
con chó trước không bắt chuột, là vì nó có tài bắt những hươu nai, không thèm bắt chuột. Sau nó bắt chuột, là vì người ta đã cùm chân, hãm cái tài nó lại, không cho chạy nhanh quá. – Cốt ý bài ngụ ngôn này nói kẻ có đại tài mà đem dùng vào việc nhỏ thì không được việc. Muốn cho được việc, thì người dùng tất phải biết chế hạn cái tài ấy lại. Nên người có tài mà làm được việc hay không làm được việc là cốt ở người biết dùng hay không biết dùng mà thôi. Nhưng muốn cho người có cái tài to làm việc nhỏ thì phải làm cho mất cái tài to đi đã, thì chẳng đáng tiếc cho người có tài mà chẳng gặp được tri kỷ lắm ru !

97. Lời người bán cam


Ở Hàng Châu có người bán các thứ quả, khéo để dành cam, lâu mà không úng, vỏ vẫn đỏ hồng, trông đẹp như vàng, như ngọc, đem ra chợ bán giá đắt, mà người ta tranh nhau mua. Ta cũng mua một quả. Đem về, bóc ra, hơi xông lên mũi, múi xác như bông nát. Ta liền đem ra chợ hỏi người bán cam:
Anh bán cam cho người ta để làm của cúng lễ, đãi tân khách hay là chỉ làm cho choáng bề ngoài để đánh lừa người ta? Tệ thật! Anh giả dối lắm!

Người bán cam cười nói:
Tôi làm nghề này đã lâu năm để kiếm tiền nuôi thân. Tôi bán, người ta mua, chẳng ai nói gì, chỉ có ông là kêu ca. Thiên hạ giả dối nhiều, chẳng phải gì một mình tôi? Ông thật không chịu nghĩ đến nơi.. Này thử xem, người đeo hổ phù, ngồi da hổ, hùng dũng trông ra dáng quan võ lắm kỳ thực không biết có giỏi được như Tôn Tẫn, Ngô Khởi hay không? Người đội mũ cao, đóng đai dải, đường hoàng trông ra dáng quan văn lắm, kỳ thực không biết có giỏi như Y Doãn, Cao Dao không? Giặc nổi không biết dẹp, dân khổ không biết cứu, quan lại tham nhũng không biết trừng trị, pháp độ hỏng nát không biết sửa đổi, ngồi không ăn lương, không biết xấu hổ. Thế mà lúc ngồi công đường, đi xe ngựa, uống rượu ngon, ăn của quy, oai vệ, hách dịch vô cung!.. Đó bề ngoài chẳng như vàng, như ngọc, mà bên trong chẳng như bông nát là gì? Ông không chịu xét những hạng người ấy mà đi xét quả cam của tôi!

Ta nghe nói thế, nín lặng, không trả lời được ra làm sao. Ta nghĩ người ấy ghét kẻ gian tà, giận phường thế tục mới thác ra chuyện bán cam để dạy người đời chăng?

Lưu Cơ

Giải nghĩa
Hàng Châu: tên một phủ tức tỉnh lỵ Chiết Giang bây giờ
Tôn Tẩn, Ngô Khải : hai người làm tướng võ giỏi thời Chiến quốc
Y Doãn tướng giỏi đời vua Thang nhà Thương
Cao Dao tướng giỏi thời vua Nghiêu vua Thuấn

Lời bàn:
Người bán cam đây chẳng qua chính là tác giả. Mà cốt ý của tác giả là muốn lấy quả cam đẹp vỏ, thối ruột mà bóc cả cái hách dịch oai vệ bề ngoài của những bậc quan lớn một đời suy đốn, để phơi bày cái thực tình bất tài, bất tri, bất dũng ở bên trong. Nói rộng ra, bài này có ý dạy ta không nên tin bề ngoài, cũng như những bài ngụ ngôn nói: cái thùng không, bông lúa lép hay những câu ca dao:

Trông em, anh ngỡ sao mai, biết rằng trong có như ngoài hay không.
Nhác trông ngỡ tượng tô vàng, nhìn ra mời biết chẫu chàng ngày mưa
Thật là có ý vị.
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
98. VỢ CHỒNG NGƯỜI NƯỚC TỀ

Người nước Tề có hai vợ, vợ cả và vợ lẽ. Ngày ngày, chồng cứ sáng ra đi, tối đến mới về, mà hôm nào về cũng no say phè phỡn. Hai vợ thường hỏi:
“Đi ăn với ai mà đi luôn thế?”
Anh ta nói: “Ta đi ăn với toàn những bậc giàu có, sang trọng cả”.

Một hôm, vợ cả bảo vợ bé: “Chồng ta chơi bời toàn những bậc giàu sang , mà sao không thấy một người nào giàu sang đến chơi nhà nhỉ? Ta thử dò xem chồng ta đi những đâu và chơi với những ai”.
Hôm sau, vợ cả dậy sớm, lẻn đi theo chồng. Đi cùng làng này, xóm khác, chẳng thấy một người nào dừng lại nói chuyện với chồng mình cả. Khi đi đến phía đông ngoại thành, thấy có đám cất mả, người ta đang tế lễ, ăn uống, đã thấy chồng lật đật lại đấy, xin những cơm thừa canh cặn, ăn lấy ăn để. Ăn xong, lại ngong ngóng đi chỗ khác.
Bấy giờ chị ta mỡi rõ cái cách chồng ngày ngày ăn uống no say là thế, tủi thẹn vô cùng, ngậm ngùi trở về; kể chuyện cho vợ bé nghe, rồi than rằng: “Chồng là người trông cậy suốt đời, ai ngờ chị em ta lại gặp phải một người chồng đê mạt quá đến như thế!”. Nói đoạn, hai người ngồi trông nhau giữa sân sụt sùi khóc. Ngay lúc đấy anh chồng ngất ngưởng ở đâu về, vẫn ra bộ làm kiêu với hai vợ như những hôm trước.

Ôi! Đem con mắt tinh đời mà coi, thì ngày nay những kẻ cầu công danh phú quí hồ dễ không mấy kẻ mà ở nhà vợ cả vợ lẽ không thẹn không tủi, không ngấm ngầm khóc với nhau như hai vợ người nước Tề này!

Mạnh Tử

GIẢI NGHĨA

Mạnh Tử: tên là Kha, lúc nhỏ được mẹ hiền dạy bảo, lúc lớn theo học thầy Tử Tư, lúc học hành, đi du lịch các nước Chư hầu. Về sau biết đạo thông hành, cùng làm sách với học trò là Nhạc Chính Khắc, Công Tôn Sửu, Vạn Chương. Đời sau nhặt những câu Mạnh Tử đối đáp với học trò và vua các nước Chư hầu làm quyển Mạnh Tử, bảy thiên.

LỜI BÀN

Lấy đức, lấy tài, lấy học thức đường đường chính chính mà được công danh phú quí thì còn gì bằng. Nhưng nịnh nọt, luồn cúi, làm những việc đê hạ, mất cả phẩm giá con người, để chen chúc vào đám công danh để cầu lấy chút phú quí, thì tưởng không còn gì đáng khinh hơn nữa! Thế mà đến lúc được công danh phú quí, lại còn vác mặt làm cao, ra dáng hách dịch, thiên hạ người ta biết ta, thì còn ai cho vào đâu nữa! Tưởng rằng khuất một người để đẻ muôn nghìn người, nhưng người ta có e lệ bề ngoài, trong bụng người ta cũng không sao trọng được. Thầy Mạnh Tử đặt ra câu chuyện người nước Tề này thật là phơi bày được cái xấu xa của những kẻ quen thói cầu công danh phú quí “hôn dạ khất ai, kiêu nhân bạch nhật” (đêm khuya van lạy, ban ngày vênh váo khinh người) vào những thời buổi mạc tục vậy.

99. ĐẦY THÌ ĐỔ

Đức Khổng Tử vào xem miếu Hoàn Công nước Lỗ, có một cái lọ dựng nghiêng. Ngài hỏi người coi miếu. Người này nói rằng:
“Đó là một vật quí của nhà vua thường để bên chỗ ngồi chơi để làm gương.”
Đức Khổng Tử nói: “Ta nghe nói nhà vua có vật quí để làm gương, vật đó bỏ không thì đứng nghiêng, đổ nước vừa vặn thì đứng ngay, mà đầy quá thì lại đổ, có lẽ vật này chăng.”

Ngài bèn sai học trò đổ nước vào. Quả nhiên nước đổ vừa thì lọ đứng ngay; nước đổ đầy thì lọ đổ; bỏ không thì lọ lại đứng nghiêng. Ngài chép miệng than rằng: Hỡi ôi! Ở đời chẳng có cái gì đầy mà không đổ!

Thầy Tăng Tử nói: Dám hỏi có cách gì giữ cho đầy mà không đổ không?
Ngài nói: Thông minh thánh trí nên giữ bằng cách ngu độn, công lao to lớn thiên hạ nên giữ bằng cách khiêm cung; sức khỏe hơn đời nên giữ bằng tính nhút nhát; giàu có bốn bể nên giữ bằng thói nhún nhường. Đó là cách đổ bớt đi để giữ cho khỏi quá đầy mà đổ.

Tuân Tử

LỜI BÀN

Mặt trời đứng bóng rồi xế, mặt trăng tròn rồi lại khuyết; nhân sự cũng vậy, thăng rồi trầm, thịnh rồi suy, đó là luật tự nhiên khó mà tránh khỏi. Tuy vậy cứ theo lời dạy của Khổng Tử đây thì cũng có cách giữ được lâu dài mà không suy đổ. Cách ấy là “Hữu nhược vô, thực nhược hư” nghĩa là có mà như không, đầy đặc mà như trống rỗng.
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-09-17 04:21:36CTT>
100. ÔNG LÃO BÁN DẦU

Ông Trần Nghiêu Tư làm quan đời nhà Tống, bắn cung giỏi có tiếng ở đời bấy giờ không ai bằng. Ông cũng lấy thế là kiêu căng.

Ông thường bắn trong vườn nhà. Một hôm có ông lão bán dầu đi qua, đặt gánh xuống, ngấp nghé xem mãi. Ông lão thấy ông Nghiêu Tư bắn mười phát trúng được tám chín thì hơi gật gù mỉm cười. Nghiêu Tư gọi vào hỏi:
“Nhà ngươi cũng biết bắn à? Ta bắn chưa được giỏi hay sao?”

Ông lão nói: Chẳng phải giỏi gì cả. Chẳng qua là quen tay thôi.

Nghiên Tư giận lắm, bảo: À nhà ngươi giám khinh ta bắn không giỏi à?

Ông lão nói: Cứ xem tôi rót dầu thì đủ biết.
Nói đoạn bèn lấy một cái bầu đặt xuống đất, để đồng tiền lên miệng, lấy cái môi từ từ rót dầu qua lỗ đồng tiền, mà không dây một tí dầu nào ra đồng tiền cả.
Rồi nói: Tôi cũng chẳng phải giỏi gì, chỉ quen tay mà thôi.

Nghiêu Tư cười chịu là phải.

Âu Dương Tử

GIẢI NGHĨA


Trần Triệu Tư: người đời nhà Tống, làm quan Tiết độ sứ là người có chí khí, viết tốt và bắn giỏi.

101. GẶP QUỈ


Hoàn Công nước Tề đi săn ngoài đầm có Quản Trọng theo hầu. Hoàn Công trông thấy quỉ, nắm tay Quản Trọng hỏi rằng:
-Trọng phụ có thấy gì không?
Quản Trọng thưa: Thần không thấy gì cả.

Hoàn Công về nghe trong người khó chịu, như là mất vía, rồi sinh ốm, mấy hôm không ra chầu.
Có người học trò tên Cáo Ngao vào ra mắt nói rằng:
- Nhà vua đau, là tự mình làm ra cả, chớ ma quỉ nào làm được! Phàm chưng khí tán mà không thu lại được, thì tinh thần suy yếu; cái khí ấy bốc lên trên không xuống được, thì làm cho người ta hay giận dữ, cái khí ấy tụ ở dưới không vận lên được thì làm cho người ta hay mê lú, chóng quên, cái khí ấy không lên không xuống, kết ở giữa bụng, thì sinh ra hoảng hốt.
Hoàn Công hỏi: Thế nhưng có quỷ thực không?
Cáo Ngao thưa: Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá, núi có Sơn Thần, bể có Long Vương, đầm có thứ quỷ gọi là Uy Di.
Hoàn Công hỏi hình dạng Uy Di thế nào?
Cáo Ngao thưa: Quỷ Uy Di to như cái cối xe, dài như cái càng xe, mặc áo tía, đội mũ đỏ, tính hay sợ tiếng sấm, tiếng xe, hễ nghe thấy thì đứng sững, hai tay ôm lấy đầu. Ai trông thấy, thì…rồi làm nên đến nghiệp Bá.

Hoàn Công vẫn có chí muốn làm Bá, nghe nói hớn hở cười rằng: “Ấy ta trông thấy cũng như thế đấy”.
Nói đoạn, sửa mũ, mặc áo, ngồi dậy chưa hết một ngày, bệnh đã khỏi tự bao giờ không biết.

Trần Tử Tuyết

GIẢI NGHĨA


Hoàn Công: vua nước Tề, đứng đầu Ngũ Bá thời Xuân Thu

Quản Trọng: xem chuyện 44

Trọng phụ: trọng tôn Quản Trọng; phụ: cha, gọi như thế có ý tôn Quản Trọng như cha

LỜI BÀN

Hoàn Công thấy quỷ, sinh lo ngờ mà sinh bệnh, sau có người nói thấy quỉ mà làm được nghiệp bá thì khỏi bệnh ngay. Thế mới biết có quỷ hay không có quỷ, quỷ hại mình hay lợi cho mình cũng là tự tâm mình tưởng tượng ra cả, rồi yên trí như thế mà thôi. “Đau là tại mình chớ quỷ nào làm” Câu Cáo Ngao nói thật là xác lý, Cáo Ngao lại khéo biết trước, lấy lẽ thuốc thang làm như ông lang rõ bệnh của người ốm, khiến người ốm để tai nghe, sau lấy chuyện vu vơ đâu đâu mà xử được chuyện mơ hoảng khiến người mới phá được cái lòng lo ngờ mà hóa nên vui vẻ. Tiếc thay đời bây giờ người mê như Hoàn Công thật lắm, mà người biết giải mê được như Cáo Ngao lại không được mấy người.
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
102. MUA NGHĨA

Mạnh Thường Quân nhà giàu cho vay mượn nhiều. Một hôm sai Phùng Huyên sang đất Tiết đòi nợ. Lúc sắp đi Phùng Huyên hỏi: “Tiền thu được có định mua gì về không? – Mạnh Thường Quân nói: Ngươi xem trong nhà ta còn thiếu thứ gì thì mua”.

Khi đến đất Tiết, Phùng Huyên cho gọi dân lại bảo rằng: “Các ngươi công nợ bao nhiêu Thường Quân đều cho cả”. Nói rồi đem văn tự ra đốt sạch.

Lúc về Phùng Huyên thưa với Mạnh Thường Quân rằng: Nhà Tướng Công châu báu đầy kho, chó ngựa đầy chuồng, người đẹp đầy nhà, không còn thiếu gì nữa. Chỉ có thiếu một cái “nghĩa” tôi trộm phép vì tướng công đã mua về.

Mạnh Thường Quân nghe thấy nói thế, cũng không hỏi gì đến tiền nữa.

Sau Mạnh Thường Quân phải bãi quan về ở đất Tiết, dân đất Tiết nhớ đến ơn xưa, ra đón rước đầy đường, Mạnh Thường Quân bấy giờ mới ngoảnh lại bảo Phùng Huyên rằng: “Trước tiên sinh vì tôi mua “nghĩa”, nghĩa ấy ngày nay tôi mới trông thấy”.

Quốc Sách

GIẢI NGHĨA

Mạnh Thường Quân: xem chuyện số 52

Phùng Huyên: người khách ở nhà Mạnh Thường Quân, muốn gì được nấy nên giúp Mạnh Thường Quân được nhiều việc, khi Thường Quân bị bãi về, cũng nhờ có Phùng Huyên mà được phục chức

Tiết: tên một nước nhỏ thời Chiến Quốc, sau bị nước Hồ lấy mất, nay là huyện Đằng, tỉnh Sơn Đông

103. ỨNG ĐỐI GIỎI


Án Tử sắp sang nước Sở, vua Sở nghe thấy bảo cận thần rằng:
- Án Tử là một tay ăn nói giỏi nước Tề, nay sắp sang đây, ta muốn làm nhục, có cách gì không?
Cận thần thưa: Đợi bao giờ Án Tử sang, chúng tôi xin trói một người , dẫn đến trước mặt nhà vua.
- Để làm gì?
- Để giả làm người nước Tề.
- Cho là phạm tội gì?
- Tội ăn trộm

Lúc Án Tử đến nơi, vua Sở làm tiệc thiết đãi tử tế. Rượu uống ngà ngà, bỗng thấy hai tên lính điệu một người bị trói vào.
Vua hỏi: Tên kia tội gì mà phải trói thế?
Lính thưa: Tên ấy là người nước Tề phải tội ăn trộm.
Vua đưa mắt nhìn Án Tử hỏi rằng:
- Người nước Tề hay trộm cắp lắm nhỉ?
Án Tử đứng dậy thưa rằng: Chúng tôi trộm nghe cây quất mọc ở đất Hoài Nam, thì là quất ngọt, đem sang trồng ở đất Hoài Bắc, thì hóa quất chua. Cành lá giống nhau mà quả chua, quả ngọt khác nhau là tại làm sao? Tại thủy thổ khác nhau vậy. Nay dân sinh trưởng ở nước Tề thì không ăn trộm, sang ở nước Sở thì sinh trộm cắp. Có lẽ cũng tại vì cái thủy thổ khác nhau nó khiến ra như thế chăng!

Vua Sở cười nói: Ta muốn nói đùa thành phải chịu nhục. Thế mới hay kẻ cả không nên nói đùa bao giờ.

GIẢI NGHĨA


Hoài Nam, Hoài Bắc: hai đất ở về phía Nam, phía Bắc sông Hoài ở vùng Giang Tô, An Huy bây giờ.
 
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-09-18 06:04:35CTT>
104. Hà chính mãnh ư hổ

Đức Khổng Tử khi sang nước Tề, đi qua núi Thái Sơn thấy một ngưới đàn bà khóc ở ngoài đồng, nghe thê thảm lắm. Ngài nói rằng:
Người đàn bà này xem như trong nhà có trùng tang.

Rồi sai thầy Tử Cống đến hỏi. Người đàn bà thưa rằng:
Ở đây lắm hổ, bố chồng tôi đã chết vì hổ, chồng tôi đã chết vì hổ, bây giờ con tôi lại chết vì hổ nữa. Thảm lắm ông ạ!

Thầy Tử Cống bảo:
Thế sao không bỏ chỗ này đi ở chỗ khác?

Người đàn bà nói:
Tuy vậy nhưng ở đây chính sách quan trên không đến nỗi hà khắc tàn bạo như các nơi khác.

Thầy Tử Cống đem câu chuyện thưa lại với Đức Khổng Tử
Đức Khổng Tử nói:
Các ngươi nhớ đấy: Chính sách hà khắc khốc hại hơn là hổ.


Lễ ký

Lời bàn: Người đàn bà ở một nơi lắm hổ, hổ ăn thịt mất bố chồng, mất chồng lại mất con, đáng lẽ phải bỏ nơi ấy mà đi nơi khác. Nhưng không là tại làm sao? Tại người đàn bà cho chính sách các nơi khác là hà khắc hơn dữ hơn là hổ. Ôi! Hổ có hại chị một số ít người, chớ hà chính hại cả muôn dân, hổ có hại chỉ hại một phương, chớ hà chính hại cả toàn quốc. Hổ hại còn có cạm bẫy, cạm trừ bỏ được, chớ hà chính hại, trừ bỏ rất khó lòng. Thật vậy, kẻ dùng hà chính hại dân đã dữ quá hổ, lại còn bao nhiêu thần tử bè cánh, phần làm cho hổ thêm cánh, phần mượn oai hổ đi ăn thịt người. Hà chính một khi trừ bỏ được thì dân cũng đã điêu tàn và nước cũng đã bao kiệt. Vậy ai là người có chút quyền chính trong tay mà chẳng nên lấy câu “Hà chính mãnh ư hổ” để làm câu cảnh giới thống thiết cho dân được nhờ ư.

105. Hang Ngu công

Vua Hoàn Công nước Tề đi săn, đuổi con hươu chạy vào trong một cái hang, thấy có một ông lão, bèn hỏi rằng:
-Hang này tên gọi là hang gì?

Ông lão thưa :
-Tên là hang Ngu Công

-Tại làm sao mà đặt tên như thế?

-Tại kẻ hạ thần đây mới thành có tên ấy.

-Coi hình dáng lão không phải người ngu cớ gì lại đặt cái tên như thế?

Để hạ thần xin nói:
- Nguyên hạ thần có con bò cái đẻ được một con. Khi bò con đã lớn, Hạ thần đem đi bán, rồi lấy tiền mua một con ngựa con đem về cùng nuôi với bò cái. Một hôm, có một chàng thiếu niên đến lấy lý “bò không đẻ được ra ngựa” bèn bắt con ngựa con đem đi. Tôi chịu mất, không cãi được. Vì thế xa gần đâu cũng cho tôi là ngu, mới gọi hang tôi ở đây là hang Ngu Công.

Hoàn Công nói:
- Lão thế thì ngu thật!

Buổi chiều hôm sau, Hoàn Công đem câu chuyện kể lại cho Quản Trọng nghe.
Quản Trọng nói:
-Đó chính là cái ngu của Di Ngô này. Nếu được vua giỏi như vua Nghiêu, bầy tôi minh như Cao Dao, thì khi nào lại có kẻ dám ngỗ ngược, lấy không ngựa của người ta như vậy. Ngu Công mà đành để mất ngựa, chắc biết rõ hình pháp ngày nay không ra gì. Xin nhà vua kíp chỉnh đốn các chính sự lại.

Đức Khổng Tử nghe thấy nói:
-Đệ tử đâu, ghi lấy việc ấy! Hoàn Công là ba quân, Quản Trọng là hiền thần. Tuy đã vào bậc khôn ngoan, mà còn tự cho là ngu dại.


Khổng Tử tập ngữ

Giải nghĩa:
- Ngu Công: Ông ngu dại.
- Di Ngô: tên của Quản Trọng.

Lời bàn:
Ông lão cam tâm mất ngựa lại chịu cả tiếng “ngu” là ý lão nghĩ gặp phải thời buổi người trên tham nhũng, kẻ dưới hung nghịch, đành chịu để êm chuyện đi, còn hơn dở khôn đi kiện, chẳng những mất ngựa, mà có khi lại mất cả bò và bao tiền của, thời giờ vào đấy nữa. Hoàn Công thấy chuyện mà lưu tâm đến, thế là ông vua có bụng với dân. Quản Trọng nghe chuyện mà biết nhận ngay cái lỗi ấy tại mính, thế là cũng là hai bậc minh quân, lương tướng hiểu rõ cái trách nhiệm chăm dân của mình, nên Đức Khổng Tử có lời khen thực là đáng lắm. Vì rằng giữ vận mệnh một dân tộc mà không hiểu thấy ẩn tình của dân, thì tuy có lòng thương dân, dân vẫn khổ và nước vẫn không yên được.

Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-09-18 06:09:24CTT>
106.Trung hiếu lưỡng toàn

Đời vua Chiêu Vương nước Kinh, có người Thạch Chử làm quan rất công bình chính trực.
Một hôm, đang đi tuần trong hạt thấy ở ngoài đường có kẻ giết người. Thạch Chử đuổi bắt, thì ra chính cha mình, bèn quay xe trở lại rồi chạy đến trước sân rồng nói rằng:
Kẻ giết người là cha tôi. Bắt cha mà làm tội thì tình không nỡ, vì cha mà bỏ phép nước thì lý không xuôi. Làm quan đã không giữ phép thì phải chịu tội.

Vừa nói vừa kề gươm vào cổ, xin vua cho hành hình.
Vua nói:
Nhà ngươi đuổi mà không bắt được đã là biết giữ phép còn có tội gì. Cứ yên tâm làm chức vụ.


Thạch Chử thưa:
Làm con không ủy khúc thờ cha, không gọi là người con có hiếu, làm tôi không công bằng giữ phép nước không gọi là bấy tôi trung. Bao dung mà xá tội là ơn của quân thượng, trái phép mà chịu tội là phận của tôi con.

Nói đoạn cầm gươm tự sát.

Không giữ phép nước thì chết, cha phạm tội không nỡ bắt, vua tha tội không chịu nhận. Người Thạch Chử làm quan như thế, thật là người trung hiếu lưỡng toàn.

Lã Thị Xuân Thu

Giải nghĩa:
- Thạch Chử: tức Thạch Xa, tướng giỏi của vua Chiêu Vương, người thanh liêm chính trực.

Lời bàn: Đồng thời bấy giờ có kẻ, vì thù cha mà quật mả vua lên mà đánh vào xác thật là người có hiếu nhưng không có trung. Lại có kẻ, vì phép nước mà làm chứng nói thẳng cha ăn trộm dê thật là người có trung nhưng không có hiếu. Sao bằng Thạch Chử đây, giết cha không nỡ, dối vua không đành, cam chịu trái phép để cứu cha, thì thân để giữ phép. Thực mới là trọn được cả đôi niềm trung hiếu vậy. Ta cũng nên biết khổ tâm của Thạch Chử có khi là: được vua tha cho mà cứ cẩu thả sống, sống chỉ càng làm to cái hung ác của cha, giết người không tội vạ, kết cục liệu cha có thoát án tử hình không. Sống chỉ tăng cái tư tình của vua để cho vua khinh nhờn phép nước, biết đâu sau này không gây ra cuộc rối loạn trị an, thì thà một chết còn hơn đối với gia đình đủ làm cho cha hối hận mà tuyệt được mầm ác, đối với tổ quốc đủ làm cho vua tỉnh ngộ mà tự mình giữ phép để trọng tính mệnh dân. Thạch Chử không nhưng trung hiếu mà còn là nhân nữa.


107. Mong làm điều phải
Nước Lỗ có người ở một mình một nhà. Bên láng giềng có người đàn bà góa cũng một mình một nhà.

Một đêm, mưa to, gió lớn, nhà người đàn bà đổ, người đàn bà sang xin ngủ nhờ nhà người láng giềng. Người láng giềng đóng cửa không cho vào. Người đàn bà đứng trước cửa sổ nói rằng:
Ngươi sao bất nhân thế! Không cho ta vào ư?

Người láng giềng đáp:
Ta nghe đàn ông, đàn bà sáu mươi tuổi trở lên, mới ở chung được, nay người còn trẻ mà ta cũng còn trẻ cho nên ta không cho người vào ngủ nhờ được.

Người đàn bà nói:
Ngươi sao không làm như ông Liễu Hạ Huệ ủ người con gái ngồi vào lòng mà không tai tiếng gì?

Ông Liễu Hạ Huệ thì thế được, ta đây thật chưa thể được. Ví ta cho ngươi vào mà không được như ông Liễu Hạ Huệ, thì thà rằng, ta không cho ngươi vào mà ta cũng giữ không tai tiếng gì được như ông Liễu Hạ Huệ. Thế chẳng là ta không làm theo như Liễu Hạ Huệ mà cũng được như Liễu Hạ Huệ ư?

Đức Khổng Tử nghe chuyện nói:
Phải lắm! Kẻ muốn học ông Liễu Hạ Huệ, chưa ai giống được như người nước Lỗ này, mong làm điều rất phải, không bắt chước cách làm, rồi mà làm được, thế mới thật khôn.

Lã Thị Xuân Thu
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
108. Kẻ bất chính

Nước Sở có người có hai vợ. Vợ cả và vợ lẽ cùng đẹp, cùng xinh.

Anh láng giềng ghẹo người vợ cả. Người vợ cả giận và mắng thậm tệ. Anh láng giềng lại ghẹo vợ lẽ, người vợ lẽ bằng lòng đi lại.

Không bao lâu, người hai vợ ấy chết. Anh láng giềng muốn tính cuộc vuông tròn lại dạm hỏi người vợ cả.

Có kẻ hỏi rằng:
Người vợ cả trước đã mắng anh người vợ lẽ vẫn có tình với anh, sao bây giờ anh lại định lấy người vợ cả.

Anh ta đáp:
Lúc người ta còn là vợ người, thì thích kẻ tư tình với mình, lúc người ta đã là vợ mình thì thích kẻ không tư tính với ai. Kẻ trước đã tư tình với tôi, thì rồi ai nó cũng tư tình được, thiên hạ ai cũng là chồng nó được. Cho nên bây giờ tôi không lấy nó.

Thế mới hay con người bất chính đi làm tôi tớ người ta dù làm cho người ta bằng lòng đến đâu, người ta vẫn rẻ rúm khinh bỉ.

Lời bàn: Ở đời những kẻ dễ đổi lòng như người vợ lẽ nói trong chuyện này là những kẻ bất chính. Đã bất chính thường hay phản trắc, rất nên khinh bỉ. Còn những kẻ chính trực như người vợ cả nói trong chuyện này, thì lúc nào cũng thuần thục thẳng băng dù chẳng may gặp sự khó khăn, thiên hạ như có phần không ưa, mà thực bụng vẫn kính phục vô cùng. Ta có hiểu rõ cái tâm lý ấy như người lấy vợ đây thì mới gần được người quân tử mà xa được kẻ tiểu nhân.

109. Nhân trung dài thì sống lâu


Một hôm vua Vũ Đế nhà Hán nói với các quan rằng:
Ta xem trong sách tướng có nói : người ta nhân trung dài một tấc thì sống lâu đến một trăm tuổi.

Đông Phương Sóc đứng bên, phì cười. Các quan bặc là vô phép.
Đông Phương Sóc cất mũ, tạ rằng:
Muôn tâu Bệ hạ, kẻ hạ thần không dám cười bệ hạ, chỉ cười ông Bành Tổ mặt dài thôi

Vua hỏi:
Sao lại cười ông Bành Tổ?

Đông Phương Sóc nói:
Tục truyền ông Bành Tổ sống tám trăm tuổi, nếu quả thực như câu trong sách tướng Bệ hạ vừa nói, thì nhân trung ông dài tám tấc, mà nhân trung ông dài tám tấc thì dễ mặt ông dài đến một trượng.
Vua Vũ Đế nghe nói, bật cười, tha tội cho.

Sử Ký

Giải nghĩa
- Vũ Đế: vua nhà Hán trị vì bên Tàu (140 TCN - 88 TCN)
- Đông Phương Sóc: Bầy tôi vua Vũ Đế nhà Hán là người ăn nói giỏi, tính hay khôi hài.
- Bành tổ: Tên ông lão đới cổ cho là sống lâu lắm.


Lời bàn: Vua Vũ Đế nhắc câu trong sách tướng là có lòng mê tín tướng thuật. Đông Phương Sóc cười, rồi nói như thế, tuy là khôi hài, nhưng thực ý làm cho phá được sự quá tin của vua. Nhân trung có phải là thước đo sự thọ, yểu của người ta, người ta trước hết phải ăn ở cho nhân từ, làm việc cho chăm chỉ, ăn uống cho điều độ và biết quả dục, thì mới có sống lâu được.
 
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-09-18 06:16:52CTT>
110. THUỐC BẤT TỬ

Thời Chiến quốc, có người đem dâng vua nước Sở một vị thuốc bất tử. Người ấy bưng vị thuốc vào, có viên quan canh cửa hỏi rằng:
“Vị thuốc này có ăn được không?”
Người đáp” “Ăn được”.
Tức thì, viên quan giật lấy vị thuốc mà ăn.

Chuyện nói đến tai vua. Vua phán bắt viên quan đem giết.
Viên quan kêu rằng:
“Thần đã hỏi người đem dâng thuốc. Người ấy nói rằng: “Ăn được”, nên thần mới dám ăn. Thế là thần vô tội mà lỗi ở người dâng thuốc. Vả chăng người đem dâng nói là “bất tử” , nghĩa là ăn vào thì không chết nữa. Thế mà thần mới ăn, đã sắp chết, vậy là thuốc tử chứ sao gọi là bất tử được? Nhà vua giết thần, thực là bắt tội một người vô tội mà tỏ rằng thiên hạ dối được nhà vua mà nhà vua vẫn tin.”

Vua nghe nói có lý, bèn tha cho viên quan ấy không giết nữa.

GIẢI NGHĨA

Chiến quốc: xem bài số 69

LỜI BÀN

Có sinh thì phải có tử. Không vật nào có sinh mà lại ra ngoài vòng tử. Kẻ dâng thuốc bất tử, vua Sở có lòng mê tín, không hiểu thấu cái lẽ đó. Viên quan canh cửa làm ra thế, là có ý lấp cái lối lừa đảo của kẻ nịnh, phá cái bụng mê hoặc của vua, khiến cho vua phải tỉnh ngộ. Lời nói tựa giọng khôi hài, nhưng thật là có lý thú.

111. CÁI LẼ SỐNG CHẾT

Mạnh Tôn Dương hỏi Dương Tử: Có kẻ mến đời, yêu thân, cầu cho không chết có nên không?

Dương Tử nói: Có sống thì phải có chết, lẽ nào mà không chết được?
- Thế cầu sống lâu có nên không?
- Lẽ nào sống lâu được? Người ta không phải thích sống mà sống mãi được, yêu thân mà thân còn mãi được. Vả chăng sống lâu để làm gì? Thế tình hay dở xưa cũng như nay; thân thể an nguy xưa cũng như nay; việc đời vua khổ xưa cũng như nay; biến đổi trị loạn xưa cũng như nay; cái gì cũng đã nghe thấy, đã trông thấy, đã từng trải cả rồi, thì sống trong khoảng trăm năm cũng đủ lấy làm chán, huống còn cầu lấy sống lâu để cho khổ làm gì?

Mạnh Tôn Dương nói: Nếu như thế thì chóng chết còn hơn là sống lâu. Ta nên xông vào gươm giáo, nhẩy vào nước lửa để chết ngay đi có thỏa không?

Dương Tử nói: Không phải thế. Đã sinh ra đời thì lúc sống cứ tự nhiên mặc, muốn làm gì thì làm, cho đến lúc chết. Lúc sắp chết, cũng tự nhiên mặc, muốn hóa ra gì thì hóa cho đến lúc cùng. Lúc sống, lúc chêt, lúc nào cũng tự nhiên như không, hà tất phải quan tâm sống lâu hay chóng chết làm gì?

Dương Tử

GIẢI NGHĨA

Dương Tử: người thời Chiến quốc, tên tự là Tử Cư, tôn chỉ học thuyết là: “Mất một cái lông mà lợi thiên hạ cũng không cho, được cả thiên hạ phụng sự một mình cũng không làm, người nào cũng không chịu thiệt, người nào cũng không ham lợi thì thiên hạ tự nhiên thái bình”. Học thuyết ấy rất thịnh hành thời Chiến quốc và người đời bây giờ cho là học thuyết “Vị ngã”.

LỜI BÀN

Người ta ở đời, kẻ thì mến đời không muốn chết, hoặc lại có kẻ chán đời không muốn sống. Như thế đều lầm cả. Sự sống chết không phải tự mình có chủ quyền được, thì mình đem tâm lo nghĩ, cầu khẩn về việc sống chết mà có ích gì! Thà rằng: tự lúc sống đến lúc chết, việc mình mình làm, ngoại giả phó mặc ở sự tự nhiên cho gọi là Số, là Mệnh, là Tạo hóa cũng không cần. Thói đời thường tình vẫn tham sống, sợ chết. Nhưng chết, vị tất đã là khổ hẳn. Mà sống, cũng không ai bảo là toàn sướng được! Như xưa có kẻ sống hơn trăm tuổi, ai chẳng cho sống lâu là quí, thế mà người ấy vẫn thường ca thán rằng: “Sống làm chi cho nhục!”. Sống lâu vô ích cho đời mà chỉ trông nhiều cảnh tang thương thì có hay gì.
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
112. NÓI VỀ SỐNG CHẾT

Người thì cho sống là sướng, chết là khổ, như thế là phái mến đời. Người lại cho rằng chết là sướng, sống là khổ, như thế là phái chán đời.

Cứ theo ý ta, thì ta tưởng ai tuy còn sống, thân thể khỏe mạnh mà ý chí suy đồi thì sống cũng như chết; ai thân thể tuy chết mà chí khí vẫn còn ở tâm não tai mắt người ta thì chết cũng như sống. Cho nên bậc quân tử đối với sự sống chết, không bằng ở phần xác có hay không, bằng ở phần hồn còn hay mất. Kẻ tiểu nhân thì không thể: đương lúc còn sống mê muội về tài lợi, nhọc nhằn về bôn tẩu, đến lúc người ta thóa mạ thì lại nói rằng:
“Đã sinh ra làm người, chẳng để được tiếng hay trăm đời, thì cũng để lại tiếng dở muôn năm”. Than ôi! Kẻ nói như thế thì biết làm sao được cái lẽ sống chết!

Khuyết Danh

LỜI BÀN

Người ta tuy chia hai phần: xác thịt và linh hồn, nhưng hai phần thật có liên lạc với nhau là một, xác có khỏe hồn mới còn; hồn còn mạnh xác mới có giá. Vậy ta không bảo khinh hẳn một bên nào mà chỉ trọng một bên nào được. Nhưng bài này không chủ ý nói về tâm lý hay vệ sinh. Bài này chỉ cốt nói rõ thế nào là sống, thế nào là chết mà thôi. Những kẻ sống không ai biết, chết chẳng ai hay thì tuy sống cũng là vô ích. Còn những bậc ích Quốc lợi Dân thì dẫu chết đi nữa nhưng thiên hạ vẫn còn nhớ đến, vẫn còn sùng bái thì cũng kể như là còn sống. Ngoài ra còn hạng người đê mạt đi xú thì nói mà làm chi! Nếu ở đởi chẳng để tiếng hay lại được, thà không để tiếng gì nữa còn hơn là để tiếng xấu, chỉ làm cái bia cho thế gian chê cười mà thôi.
 
113. BIẾT DỞ SỬA NGAY

Đái Doanh Chi làm quan đại phu nước Tống, nói chuyện với thầy Mạnh Tử rằng:

“Cứ như cổ chế thì ruộng đánh thuế theo phép tỉnh điền, chợ và cửa ải chỉ xét hỏi không mà thôi. Như thế thực là hay nhưng ta chưa làm ngay được. Bây giờ ta hãy đánh nhẹ bớt thuế đi, đợi đến sang năm mới bãi hẳn thì nhà thầy nghĩ thế nào?”

Thầy Mạnh Tử nói: Nay có người mỗi ngày ăn trộm một con gà của hàng xóm. Có kẻ bảo anh ta:
“Làm thế không phải là cách của con người lương thiện. -Anh ta đáp: Ông nói phải lắm, nhưng tôi chưa thể chừa ngay được. Xin để chừa dần, từ nay mỗi tháng tôi ăn trộm một con thôi, đợi đến sang năm tôi sẽ chừa hẳn”. Phỏng nói như thế thì có nghe được không?

Phàm làm việc gì cũng vậy, chưa biết là phi nghĩa thì thôi, chớ đã biết là phi nghĩa thì phải bỏ cho mau cho chóng, sao lại còn đợi đến sang năm?

Mạnh Tử

LỜI BÀN

Phàm nghĩa với lợi không cùng đi được với nhau. Nếu làm nghĩa mà còn tính lợi, cứ tìm cách trì hoãn mãi lại thì biết đến bao giờ mới nên? Cho nên việc đã trót làm biết là dở chẳng những không sửa được, lại còn e mỗi ngày một to thêm mãi ra, nhỏ thì hại việc tu thân, tề gia, lớn thì hại đến việc trị quốc, bình thiên hạ. Câu nói: “Cái gì làm được hôm nay chớ để đến ngày mai”, ta nên ghi nhớ lấy.
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
114. TÀI BẤT TÀI

Một hôm Trang Tử cùng với học trò đi chơi ở trong núi. Thấy một cây to, cành lá rườm rà, có người đốn gỗ chống búa đứng bên mà không chặt.
Trang Tử hỏi: “Sao không chặt cây này thế?”
Người đốn gỗ đáp: “Cây này tuy thế mà gỗ xấu không dùng được việc”.
Trang Tử nói: “Cây này chỉ vì không ra gì mà sống lâu được mãi”.

Ra khỏi núi, Trang Tử vào chơi nhà một người quen. Chủ nhà vui mừng, bảo người nhà đem chim nhạn làm thịt.
Người nhà hỏi: “Một con gáy được, một con không gáy được thì làm thịt con nào?”
Chủ bảo: “Làm con không gáy”.

Hôm sau, học trò hỏi Trang Tử rằng:
“Cái cây ở núi vì bất tài mà được sống lâu, con nhạn ở nhà chủ vì bất tài mà phải giết chết. Giá như tiên sinh thì xử vào địa vị tài hay bất tài?”
Trang Tử cười rồi nói: “Ta xử vào trong cái khoảng giữa tài và bất tài. Như vậy thì tránh khỏi được tai nạn song chưa phải là kế vẹn toàn. Chỉ những bậc đạo đức cao siêu, không quản khen chê, lúc như rồng lúc như rắn, không hẳn rõ ra tài hay bất tài, lúc lên lúc xuống chỉ lấy đức hòa làm mực. siêu việt cả muôn vật, tuy là người ma lại khác người… Những bậc như thế thì còn gì lụy đến thân được! Còn thói đời thường tình nào có thế? Hợp với người thì có lúc lìa tan, làm nên việc thì có người nghị luận; ngay thẳng thì bị đè nén; tôn trọng thì bị chê bai; làm thì có kẻ phá; giỏi thì có người ghen; không ra gì thì thiên hạ lại khinh bỉ… Nhân tình như thế thì làm thế nào được? Thương ôi! Các người nên ghi lấy, chỉ có đạo đức mới khỏi lụy mà thôi.

Trang Tử Tuyết

LỜI BÀN

Tài cũng khổ: quân tử đa nạn, tài liền với tai. Bất tài cũng khổ: khôn sống dại mái, dại để người ăn. Vậy con người ta phải làm thế nào cho ở vào khoảng giữa tài và bất tài thì mới gọi là khôn khéo nghĩa là thông minh thánh trí mà như ngu thì mới sinh tồn được. Tuy vậy vẫn chưa bằng người có đạo đức, nghĩa là người chỉ lấy một cái bụng ăn ở theo thiên lương mà ra ngoài vòng được cái tài, bao bọc được hết cả thiên hạ mà không gì lụy đến thân. Thế mới hay: chữ “tâm” kia mới thực là thu liễm được cái tài mà bổ cứu được cái bất tài vậy.
Đăng nhập để trả lời
0
115. QUÊN CẢ CÁI THÂN

Vua Ai Công hỏi Đức Khổng Tử:
- Quả nhân nghe nói có người tính hay quên, lúc dọn nhà, quên mất vợ có thật không?

Đức Khổng Tử thưa rằng:
- Có người quên như thế cũng chưa lấy gì làm tệ. Có người còn tệ hơn nữa, quên cả đến cái thân của mình.

Vua Ai Công hỏi:
- Thế nào mà lại đến quên cả cái thân của mình nữa?

Đức Khổng Tử nói:
- Ngày xưa vua Kiệt nhà Hạ giàu có cả bốn bể, song làm đến thiên tử chỉ vì sao nhãng cơ đồ của tổ tiên, hủy điểm phát của nước nhà, tin dùng kẻ xiểm nịnh, ghét bỏ kẻ trung lương, ngày ngày say đắm sắc dục, săn bắn rượu chè, hoang du vô độ, sau đến nỗi bị ông Thang giết chết mà mất… Thế chẳng phải là thân mà quên cả thân là gì?

Khổng Tử Tập Ngữ

GIẢI NGHĨA

Ai Công: Vua nước Lỗ

Kiệt: Vua cuối đời nhà Hạ, tàn dân, bại vật đến nỗi mất nước

Hạ: một nhà làm vua bên Tàu đến hơn bốn trăm năm (2205-1818)

Thang: vua đầu nhà Thương giết vua Kiệt nhà Hạ

LỜI BÀN


Dọn nhà không ai dọn vợ. Nhưng thí dụ có kẻ dọn nhà hoặc quên mất vợ thì thiên hạ tất lấy làm lạ lùng và buồn cười lắm. Thế mà những kẻ quên thân rất nhiều và đáng sỉ tiếu, thì lại không mấy người nghĩ đến. Phàm chưng ai đã có một sự ham mê gì, rượu chè, thuốc phiện, trai gái, cờ bạc đến quên cả tính mạng, cửa nhà, xã hội đều là quên thân rất đáng tiếc. Nhất là những bậc thông minh tài trí có quyền thế trong tay, mà quên thân thì lại đáng tiếc hơn nữa. Nên Đức Khổng Tử kể chuyện vua Kiệt mà có ý cảm hóa Ai Công vậy.
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-06 02:55:28Bụi Tím>
116. Đại đồng

Đường lối chính trị rất cao cả mà thực hình thì thiên hạ phải là của chung của cả thiên hạ, không một người nào hay một nước nào được nhận thiên hạ làm của riêng mình. Kén chọn người có đức vọng để làm lãnh đạo, tuyển củ người có tài năng để ra gánh vác. Giao thiệp đi lại với nhau cho có chữ “tín” lỡ có hiểu lầm nhau phải phân trần ngay... Ăn ở đối đãi với nhau cần phải “hòa” lỡ có chênh lệch phải sửa đổi ngay. Có thể, tự khắc ai ai cũng đều tôn quý cha mẹ người như cha mẹ mình, ai ai cũng thân yêu con cái người như con cái mình...

Của ở trên mặt đất hay ở dưới đất, đáng ghét nhất là ngu dại bỏ phí bỏ hoài, không biết tăng gia, không biết khai thác, không biết lợi dụng. Có biết mà làm được, cần phải cùng hưởng, cùng dùng, chớ có vơ cả làm của riêng.
Đã là người thời chẳng nhiều thì ít, ai cũng có sức lực và năng lực, đáng ghét nhất là lười biếng, chỉ thích ỷ lại hay thích đài đệ, không chịu dùng sức mình để cung cấp, không chịu đem năng lực để đảm nhiệm công việc chung. Như việc dùng sức lực năng lực, cần phải cống hiến cho quần chúng, chớ có làm hay riêng cho bản thân là cá nhân...

Có thế thới cơ mưu gian trá mới không nẩy ra và trộm cướp tự nhiên tiêu diệt
Đại khái như thế mới gọi là “ đại đồng”.

Lễ ký

Lời bàn:
Thuyết đại đồng nêu ra tự đời Xuân Thu mấy nghìn năm về trước nghe cũng đã lấy làm vui sướng, huống chi đến đời chúng ta ngày nay, cái đời tranh sống chết kịch liệt, ta được nghe thì lấy làm vui sướng và ao ước biết chừng nào! Lý tưởng đại đồng sống chung với nhau đấy tín nghĩa thân ái, người với ta như một, sung sướng hưởng chung, chỉ những hòa thuận và hòa bình bồng lai và nát bàn thật. Lý tưởng quý báu cao cả ấy có thực hiện được không? Ai ai cũng có chân tâm mà làm thực sự, sao lại không thực hiện được. Khốn nỗi, người sẵn chân tâm mà làm thực sự, có nhưng rất hiếm; kẻ giả danh giả nhân nghĩa, khéo lợi dụng thì lại quá nhiều. Vả lại, nhân loại truy nguyên ra thì trong đầu óc vẫn rớt lại những thú tính, thâm dâm hung tàn. Đa số chỉ có nghĩ lành, nói lành, ước ao lành, cầu người lành bắt, người làm lành, mà chính thân thì ác. Thậm chí người ta phải nói: “Người là giống rất tàn ác hơn cả các loài mãnh thú”. Người lúc nào cũng làm khổ người thì đại đồng bao giờ mới thực hiện được.

Đăng nhập để trả lời
0
117.Cầu ở mình hơn cầu ở người

Ngụy Văn Hầu hỏi Hồ Quyển Tử:
- Cha hiền có đủ nhờ cậy không?

Hồ Quyển Tử thưa:
- Không đủ
- Con hiền có đủ nhờ cậy không?
- Không đủ
- Anh hiền có đủ nhờ cậy không?
- Không đủ
- Bầy tôi hiền có đủ nhờ cậy không?
- Không đủ

Văn Hầu đổi sắc mặt, gắt rằng:
- Quả nhân hỏi nhà ngươi năm điều mà điều nào ngươi cũng cho là không đủ tại cớ làm sao?

Hồ Quyển Tử nói :
- Cha hiền không ai hơn vua Nghiêu mà con là Đan Chu phải bị đuổi. Con hiền không ai hơn vua Thuấn mà cha là Cổ Tẩu thực ngang ngạnh. Anh hiền không ai hơn vua Thuấn mà em là Tượng rất ngạo mạn. Em hiền không ai hơn là ông Chu Công mà Quản Thúc bị giết. Bầy tôi hiền không ai hơn ông Thang, ông Vũ mà vua Kiệt, vua Trụ mất nước... Mong người không được như ý, cậy người không được bền lâu. Nhà vua muốn cho nước được bình trị, thì phải cậy ở mình trước, hơn là mong nhờ người.

Hàn thi ngoại truyện

Giải nghĩa:
- Ngụy Văn Hầu: vua nước Ngụy.

- Hồ Quyển Tử: người nước Ngụy.

- Hiền: người có phẩm hạnh có học thức tài năng.

- Đan Chu: con vua Nghiêu tên là Chu phong cho ở đất Đan nên gọi là Đan Chu. Vua Nghiêu phải phóng( bỏ) Đan Chu vì Đan Chu là đứa con bất hiếu.

- Thuấn: tên Đào họ Diệu, nối vua Nghiêu mà trị thiên hạ (nhà Ngu).

- Cổ Tẩu: cha vua Thuấn.

- Tượng: em vua Thuấn nhưng khác *** là người ngạo mạn vô lễ.

- Chu Công: tên Đán em của Vũ Vương, phong ở nước Lỗ lúc vua Vũ Vương mất, vua Thành Vương còn bé lên ngôi giúp việc nên thiên hạ đại trị.

- Quản Thúc: tên là Tiên anh Chu Công được phong ở đất Quản, về bè dư đảng nhà Ân, phản nhà Chu nên bị Chu Công giết.

- Thang: họ Tự tên Lý, trước là chư hầu vua Kiệt nhà Hạ, nhưng vì vua Kiệt vô đạo nên mới nổi dậy đánh lấy nước mà lập ra nhà Thương

- Vũ: tên là Phát con vua Văn Vương bầy tôi vua Trụ nhà Thương, nhưng vì vua Trụ bạo ngược, Vũ Vương đánh lấy nước lên ngôi Thiên tử đặt ra nhà Chu.

Lời bàn:
Cốt ý Văn Hầu nước Ngụy là chỉ muốn hỏi có thể nhờ cậy được bấy tôi không, nhưng lúc đầu có mượn mấy câu hỏi đến cha con, anh em rồi mới dẫn đến vua tôi. Hồ Quyển Tử đáp như thế là rất phải. Cha tuy từ với con, con tuy hiếu với cha, anh tuy yêu em, em tuy kính anh, bấy tôi tuy trung với vua, nhưng mỗi người vị tất đã là hay được đủ mọi vẻ. Nếu mình không cần chịu ở mình, chỉ biết cầu những bậc ấy để đến nỗi thất đức, thì chẳng những không lợi gì mà còn hại đến thân mình nữa. Ta mong người, nhưng người ai cũng có thân, không ai bỏ cái thân mình để giúp cho ta, ta cậy người, nhưng người cũng có lúc cùng, không thể suốt đời mà đỡ đần ta được. Vậy ta ở đời, chẳng nên chỉ biết mong cậy vào người. Ta phải biết tự chủ tự lập, chớ có bỏ mình mà cầu người. Câu “Quân tử cầu chư kỷ” trong Luận ngữ và câu “ Aide toi, le Ciet t’aidera” của Âu học, thực đáng làm phương châm cho cách lập chí ở đời này.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-06 03:02:37Bụi Tím>
118. Hòa thuận với mọi người
Lưu Ngưng Chi đang đi giày, có người đến nhận, ông đưa ngay. Sau người ấy tìm thấy giày, đem giày ông trả lại. Ông nhất định không nhận nữa.

Thẩm Lân Sĩ đang đi giày. Cũng có người đến nhận. Ông cười hỏi: “ Giày của bác à?”. Rồi ông đưa ngay. Sau, người láng giềng tìm thấy giày đem giày ông trả lại. Ông nói: “ Không phải của bác à?” Ông cười rồi nhận.

Việc này tuy nhỏ mọn. Song ở đời, ta nên cư xử như ông Lân Sĩ, không nên như ông Ngưng Chi.

Tô Thức

Giải nghĩa:
Lưu Ngưng Chi: người đời Tống (Nam triều) tính khẳng khái, phần gia tài của mình nhường cả cho anh em mà tự thực kỳ lực. Vua triệu ra làm quan không chiu ra chỉ thích ngao du sơn thủy.

Thẩm Lân Sĩ: người đời Nam Tề, học thức rộng, không chịu ra làm quan, chỉ thích dạy học và trước thuật.

Tô Thức: tức Tô Đông Pha là một nhà đại thi sĩ nước Tàu làm quan đời nhà Tống, văn hay chữ tốt, sách làm kể có hàng vài trăm quyển lưu truyền ở đời.

Lời bàn:
Giày của mình, mình đang đi, có người đến nhận mà mình cũng đưa, không thèm cãi “ của tao của mày” như Ngưng Chi và Lân Sĩ thực ở đời cũng là hiếm có vậy. Kíp khi người ta tìm thấy giày của người ta, đem giày mình lại trả là người ta đã biết lỗi lầm. Nếu mình khăng khăng không chịu nhận, là mình quá ư nghiêm khắc mà làm ngăn trở cái lòng hối quá của người ta. Sao bằng nhận mới tỏ rõ tấm lòng bao dung được người, cả lúc người lầm cả lúc người biết lầm. Như thế mới thực là người đầy hòa khí để cư xử với quần chúng vậy.
 
119. Mất cung

Vua Cung Vương nước Sở đi săn, giữa đường đánh mất cung. Các quan theo hầu cố xin tìm cho được. Vua Cung Vương nói:
Thôi tìm làm gì nữa! Người nước Sở đánh mất cung, lại người nước Sở bắt được cung, đi đâu mà thiệt.

Đức Khổng Tử nghe thấy chuyện bảo:
Đáng tiếc cho cái chí vua nước Sở không làm to hơn được nữa! Hà tất phải nói : “ Người nước Sở? ” Giá nói: “ người đánh mất cung, lại người nhặt được cung thì chẳng hơn ư?”

Thuyết Uyển

Lời bàn:

Vua đánh mất cung, không nghe lời các quan bắt tìm cung,
thế là có lòng thương dân, không muốn làm phiền đến dân. Vua lại nói một người nước Sở mất cung chịu thiệt, thì có một người nước Sở được cung có lợi, thế là đã có lòng muốn lợi cho dân cả một nước. Tuy vậy, Đức Khổng Tử chê là hẹp, là vì vua Sở chỉ biết có người nước Sở lấy bờ cõi nước Sở mà làm giới hạn cho cái lòng nhân ái của mình. Cứ như ngài nói, mời thực rõ cái nghĩa bác ái, tức là cái lòng rộng yêu hết cả nhân loại, không phân di chủng hay ngoại quốc gì nữa. Cùng một ý với câu thầy Hạ Tử nhắc lời ngài mà đáp Tư Mã Ngưu là không có anh em rằng: “Người bốn bể đều là anh em cả”. Nói rộng ra: chỉ có lý vô phân biệt, trí vô phân biệt, vật ngã nhất thể thì mới hết sạch chướng ngại mà hoan hỉ vô cùng!

Đăng nhập để trả lời
0
120. Muôn vật một loài.

Người họ Điền nước Tề sắp phải đi xa, làm tiệc để cáo biệt anh em. Khách mời kể có cả nghìn người. Cỗ bàn đủ thứ sơn hào hải vị. Lúc ăn đến món chim, món cá, ngưới họ Điền trông thấy, nói rằng: “Trời đãi người hậu thật! Sinh ra thóc lúa, sinh ra chim cá, không thiếu thứ gì để con người dùng”. Bao nhiêu khách ăn đồng thanh khen câu nói ấy là phải. Duy có đứa con họ Bão, tuổi mới mười hai, đứng dậy nói rằng:
Cứ như ý tôi thì câu nói ấy là không phải. Muôn vật trong trời đất là cùng sinh ra với ta, cùng một loài như ta, không có gì là sang hay hèn cả. Sang hèn mà phân biệt chẳng qua là các loại chế lẫn nhau, lớn nuốt nhỏ,khôn đè dại, khỏe lấn yếu mà thôi. Chớ nào có phải trời vì loài này mà sinh ra loài khác đâu. Người ta có cái gì ăn được thì lấy làm mà ăn, chớ trời nào lại vị người mà sinh ra thứ nọ thứ kia? Cứ theo cái lý ấy, ruồi muỗi hút máu người, hổ lang ăn thịt người, thì có nói được trời vì những giống ấy mà sinh ra người không?”

Lời bàn: Người ta ở trong khoảng trời đất thường hay tự phụ mình làm chủ trương cho cả muôn vật. Vì mình mà muôn vật phải sinh, vì mình mà cây thóc mọc, mà con lợn béo, mà con tằm nhả tơ, con ong gây mật, cho đến cả mặt trời sáng ban ngày, ngôi sao lóng lành ban đêm. Nhưng xét lại, thì loài người chẳng qua cũng chỉ là một loài cùng sinh, cùng sống như muôn loài trong trời đất. Loài người sở dĩ hơn vật là chỉ hơn có chút trí khôn mà thôi. Nên như câu nói như đứa bé họ Bão mới thực là cao rộng, hiểu được cái vạn vật, tịnh sinh ở đời vậy.

121.Lúc nào được nghỉ

Thầy Tử Cống hỏi Đức Khổng Tử:
-Tử này mệt về học, khốn về đạo, bây giờ muốn nghỉ để thờ vua có nên không?

Đức Khổng Tử nói:
Phàm làm tôi thờ vua, sớm tối kính cẩn, mà cho trọn được chức trách cũng là việc khó, nghỉ thế nào được!

-Vậy xin nghỉ để thời song thân
-Lòng con hiếu thờ cha mẹ thật vô cùng lại có thể lấy sự hiếu thảo của mình cảm hóa được lòng người cũng là việc khó, nghỉ thế nào được!

-Vậy xin nghỉ để vui chơi với vợ con
-Đạo làm chồng phải làm gương cho vợ, lại để cho anh em và thiên hạ trông vào mà bắt chước cũng là việc khó, nghỉ thế nào được!

-Vậy xin nghỉ để chơi với bầu bạn
-Nghĩa bầu bạn phải giúp đỡ nhau, hết lòng hết sức với nhau, cũng là việc khó, nghỉ thế nào được!

-Vậy xin nghỉ để làm ruộng
-Công việc nhà nông phải cấy cày gặt hái hai sương một nắng, chân lấm tay bùn, cũng là việc khó, nghỉ thế nào được!

-Như thế thì Tử này không lúc nào được nghỉ ư?
-Có chứ. Lúc nào ngắm thấy cái huyệt đào nhẵn nhụi, trông thấy cái mồ đắp chắc chắn, ngó thấy người đi đưa cách biệt hẳn mình, ấy lúc bấy giờ mới là lúc nghỉ được đó

Thầy Tử Cống nói:
Như thế cái chết chẳng là cái hay à! Người quân tử đến bấy giờ được nghỉ, kẻ tiểu nhân đến bấy giờ mới chịu thôi, cái chết thật là hay vậy!

Gia ngữ

Giải nghĩa
-Tử Cống học trò giỏi của Đức Khổng Tử.
-Tử: tên thầy Tử Cống theo lễ tục, khi hầu chuyện những người bề trên như cha, như vua, như thầy, thì phải xưng tên.

Lời bàn: Học tập một môn học, nghiên cứu một đạo, lý, càng đi càng thấy dài, càng lên càng thấy cao. Lập chí không bền thấy khó mà thôi (nghỉ) thì chẳng bán đồ nhi phế ngay lập tức.

Thần hạ đối với quân trưởng, con cái đối với cha *** vợ chồng bầu bạn ăn ở với nhau đều có bổn phận phải làm sao cho đầy đủ không tận tâm tận lực (nghỉ) thì thiếu bổn phận và rối loạn ngay lập tức.

Canh nông hay thương mại, thuyền thợ hay quân nhân... ai nấy có một chức nghiệp, chểnh mảng không chu đáo (nghỉ) thì thiếu lương tâm nhà nghề ngay lập tức.

Làm cho đầy đủ, phần ấm cho thân, phần ích cho người, tất cả phải lao tâm lao lực. Thế thì muốn nghỉ sao được. Vì nghỉ là đứng lại thì muôn sự đình trệ ngay. Người ta hay ở tiến lên cố tiến lên, tiến lên mãi mãi, tiến lên đến hơi thở cuối cùng, rồi ta trở về cái nhà đại tạo mà nghỉ ngơi yên tĩnh, lại chả hoan hỉ lắm ru!
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-06 03:19:53Bụi Tím>
122. CÓ CHỊU LO, CHỊU LÀM MỚI SỐNG ĐƯỢC

Ở đời chết vì thuốc độc, muôn người họa mới phải một người, chớ chết vì ăn không ngồi rồi thì thật nhiều. Cái độc "ăn không ngồi rồi” rất thảm rất hại. Nay ta hãy xem một vài sự đáng sợ để thí dụ mà nghe.

Xe đi trên mặt đất, đi chỗ gập ghềnh thường được chắc chắn hơn chỗ phẳng phiu.

Thuyền đi trên mặt nước, đi chỗ ghềnh thác thường được vững vàng hơn đi giữa dòng sông. Tại sao vậy? Tại vì, biết khó khăn mà giữ gìn thì được yên, cho là dễ dàng mà khinh thường thì phải hỏng (bại vong).

Người đời thường sống về những khi lo lắng cần khổ, mà chết về những lúc sung sướng yên nhàn. Lẽ ấy rất rõ, mà người đời không biết sợ là bởi không chịu xét đến nơi.

Những lúc thư nhàn thử nghĩ mà coi. Vì đâu mà chí khí ta phải suy kém? Vì đâu mà công việc ta phải hư hỏng? Vì đâu mà uổng mất một đời rồi cùng nát với cỏ cây? Vì đâu mà hóa ra hôn mê, không biết quay đầu lại, rồi lại đeo thêm cái tiếng xấu về sau? Vì đâu thành chểnh mảng không biết lo xa rồi đến nỗi mắc vào tội vạ? Ấy rút lại mấy điều là chỉ bởi ăn không ngồi rồi mà ra cả. Sự ăn không ngồi rồi quả là cái cửa những điều ác. Cửa ấy người giỏi vào đến lúc ra thì dở, người tỉnh vào đến lúc ra thì mê, người cương trực vào đến lúc ra thì liệt nhược, người thanh khiết vào đến lúc ra thì ô uế, sự ăn không ngồi rồi hại thân, hại nhà, hại nước nghĩ chẳng đáng sợ lắm ru!

Lã Đông Lai

GIẢI NGHĨA

Lã Đông Lai: tức Lã Tổ Khiêm, làm quan đời nhà Tống, học rộng biện bác giỏi, cùng với Chu Hạ và Trương Thúc gọi là Tam Hiển, học trò tự xưng là Đông Lai tiên sinh về làm bộ sách tên là Đông Lai tập.

LỜI BÀN


Không lo, không làm thực làm hại người ta hơn là thuốc độc. Chẳng nói gì, không lo không làm thì không có cơm ăn áo mặc tiền tiêu, không giữ được phẩm giá, không làm hết bổn phận. Không lo không làm, thân thể yếu đi, tâm chí cùn lại, và thường hay sinh ra làm càn, làm bậy, hại đến thân, đến nhà, đến nước. Quả vậy, câu trong bài: “Ăn không ngồi rồi là cái cửa của những điều ác” và bao nhiêu câu như: “Sự ăn không ở rỗi là mẹ đẻ ra các nết xấu. –Cái chìa khóa không dùng thành gỉ hoen. –Nhàn cư vi bất thiện” cũng cùng có một nghĩa nói đến cái tai họa của sự không lo, không làm cả. Cho nên người ta bất cứ nghèo hèn hay giàu sang, ai cũng phải có lo có làm mới đáng sống và có sống được. “Sinh ư ưu cần, tử ư dật lạc”, nghĩa là sống là do ở ưu hoạn cần lao, chết là ở yên nhàn dật lạc. Câu cổ nhân nói thật không sai chút nào.

123. CHÍNH DANH

Vua Cảnh Công nước Tề hỏi Đức Khổng Tử về việc chính sự.

Đức Khổng Tử thưa rằng: Cội rễ việc chính sự cốt nhất phải làm cho sáng rõ luân thường đạo lý. Ở chốn triều đình, vua hết đạo làm vua, tôi hết đạo làm tôi; ở trong gia đình, cha hết đạo làm cha, con hết đạo làm con. Vua tôi, cha con ai nấy đều hết đạo của mình, thì chính sự mới có thể làm hay được.

Vua Cảnh Công nói: Phải lắm! Câu nói ấy thật là thiết yếu. Mà quả thế thật, nếu vua chẳng ra vua, tôi chẳng ra tôi, cha chẳng ra cha, con chẳng ra con, thì cương kỷ rối loạn mà nước phải diệt vong. Thóc gạo tuy có nhiều, liệu có ở yên mà ăn được chăng.

LỜI BÀN

Vua Cảnh Công hỏi về chính sự mà Đức Khổng Tử đáp là chính danh ngài nói đúng ngay vào cái bệnh của vua đối với quốc gia làm mất chủ quyền, đối với gia đình dung túng con cái, mà lại giảng được cái học thuyết chính danh của ngài. Tiếc thay vua Cảnh Công biết là phải mà không liệu cách mau mau thực hành để đến nỗi về sau nước Tề quả có tai vạ, vua thì bị giết, đất thì mất về tay người.

Như nói đến chính sự thời nay, thì chắc còn bao nhiêu sự khó khăn, phiền phức có phải là dễ đâu. Song sự cốt yếu cũng không ra được ngoài câu nói của Đức Khổng phu tử. Ta thử ngẫm mà xem, suốt xưa nay, khắp đông tây có nước nào vua (hoặc người cầm quyền hay lãnh đạo mà gọi tên khác) kém sáng suốt, thần hạ gian nịnh mà nước không nguy vong, có nhà nào cha mẹ bạc ác bất nhân, con cái bất hiếu mà nhà không suy bại không?
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-06 03:24:49Bụi Tím>
124. NÊN XỬ THẾ NÀO

Thầy Mạnh Tử hỏi vua Tuyên Vương nước Tề rằng:
- Giả thử có người bầy tôi nhà vua, đem y thực của vợ con ký thác cho người bạn thân, nhờ trông nom giúp để sang chơi nước Sở có việc; kịp đến lúc về, mới biết bạn để cho vợ con đói rét thì người ấy nên xử với bạn thế nào?
Vua nói: Nên tuyệt giao.

Thầy Mạnh Tử lại hỏi:
- Giả sử có người làm quan sĩ sư không trông nom nổi được thuộc viên, để cho hình ngục sai lầm, công việc phế khoáng, thì nhà vua nên xử thế nào với viên quan ấy?
Vua nói: Nên bãi đi.

Thầy Mạnh Tử nhân đấy hỏi luôn câu nữa:
- Thế thời làm vua một nước mà không sửa sang việc chính sự, việc giáo dục để đến nỗi trong nước không được bình trị, thì trách nhiệm tại ai và nên xử trí thế nào?
Vua nghe nói ngoảnh ngay sang bên tả, bên hữu nói lảng sang chuyện khác, có ý vừa chữa thẹn vừa tránh không trả lời.

Mạnh Tử

GIẢI NGHĨA

Mạnh Tử: người nước Châu, đời Chiến Quốc, tên là Kha, học thuyết của ông cốt ở điều “Nhân nghĩa”, “Tính thiện”, đời sau tôn ông là Á thánh.

LỜI BÀN


Thầy Mạnh Tử đây chỉ vì việc nước mà khuyên can vua Tuyên Vương nước Tề. Hai đoạn trên câu hỏi của thầy hữu tâm mà câu trả lời của vua vô tâm. Đoạn thứ nhất nói về “tình bạn”, kể nghĩa cũ cũng đáng tiếc, song đã nhận lời ký thác của anh em mà ra lòng phụ bạc thì thật là người bạn đáng tuyệt giao. Đoạn thứ nhì nói về “phép nước”, kể thực buộc vào tội chưa có gì là nặng, song làm quan mà đến không trông nom được kẻ dưới để phế khoáng việc công, thì thật là viên quan không nên dụng.

Còn đoạn thứ ba, tuy ông nói qua mà đã ngụ sẵn cái ý thuế má quá nặng để dân đói rét, hình phạt sai lầm để dân oan khổ, làm vua mà đối với dân với nước như vậy cái tội to biết chừng nào. Thế mới tiếc thay vua Tề Tuyên Vương gặp được người chính trực cảm ngôn như thế mà lại không chịu rộng hỏi để sửa lỗi của mình, thật là mất một dịp tốt.

125. CHIẾC THUYỀN ĐỤNG CHIẾC ĐÒ

Một chiếc đò sang sông. Có chiếc thuyền không có người, đâu trôi đến, đâm phải. Người lái đò tuy hẹp bụng đến đâu cũng không lấy làm giận. Giả sử trên chiếc thuyền có người ngồi, thì người lái đò tất phải phùng mang trợn mắt, tru tréo một lần không nghe tiếng, tất tru tréo đến hai lần, hai lần không nghe tiếng tất tru tréo đến ba bốn lần, rồi đến buông lời chửi rủa thậm tệ nữa,

Một việc xảy ra cũng giống nhau, mà như lúc trước không giận, như lúc sau lại giận là tại làm sao?
- Tại lúc trước chiếc thuyền không có người mà lúc sau chiếc thuyền có người.
Người ta mà cứ thản nhiên không có chút tư ý gì thì ở đời còn ai hại mình nữa.

Trang Tử
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-06 04:14:11Bụi Tím>
126. RẮN RỜI CHỖ Ở

Trời nắng, ao cạn, hai con rắn muốn rời đi ở chỗ khác.
Rắn con bảo rắn lớn:
“Anh đi trước, tôi theo sau, người ta biết là rắn kéo nhau đi tìm chỗ, thì thế nào cũng tìm cách giết chết. Sao bằng anh để tôi ngậm vào mình anh, còn anh thì cõng tôi mà đi, người ta tất nhiên cho là Rắn Thần, không dám **ng đến”.

Nói xong, hai con rắng làm y như thế mà đi qua đường cái. Quả nhiên người ta trông thấy ai cũng tránh sợ, bảo nhau là “Rắn Thần”.

Những kẻ nương tựa nhau, thông đồng với nhau để làm điều gian giảo, lừa dối đời, mê hoặc người thì có khác gì hai con rắn cõng nhau đây mà giả làm Rắn Thần không?

LỜI BÀN

Những quân gian giảo định đánh lừa thiên hạ, khi chỉ có một mình thiên hạ cũng mắc lừa chán, huống chi là chúng kết bè, kết đảng đồng tâm bày mưu mà lừa gạt thiên hạ thì ai dù khôn ngoan làm điều lành hay cho thiên hạ bao nhiêu thì bè đảng với nhau để làm điều ác nguy hại cho thiên hạ bấy nhiêu. Vậy ta thấy những điều gì lạ tai lạ mắt, trái hẳn nhân tình thì một là đánh lừa, hai là lợi dụng, ta trước nên suy xét kĩ đã, rồi sau hãy tin theo.

127. NHƯỜNG THIÊN HẠ

Vua Nghiêu nhường thiên hạ cho Hứa Do có nói rằng:
- Khi mặt trời mặt trăng đã mọc mà cứ cầm đóm đuốc soi sáng, như thế chẳng cũng khó lắm ru! Khi đang mong mưa, trời đã mưa mà cứ còn dội nước tắm tưới như thế, chẳng cũng nhọc lắm ru! Nay có ngài ra đời, đức thịnh tài cao, thiên hạ tự khắc cảm hóa bình trị, thế mà tôi còn cứ giữ lấy thiên hạ, thì tôi tự nghĩ lấy làm kém lắm. Xin nhường thiên hạ cho ngài.

Hứa Do nói:
- Nhà ngươi trị thiên hạ đã được bình trị, mà ta còn thay nhà ngươi, như thế chẳng là ta không có cái “thực” làm thiên hạ bình trị mà ta lại nhận lấy cái “danh” bình trị thiên hạ ư? Vả cái “danh” là người khách của cái “thực”, nếu không có thực mà lại đương lấy cái danh, thì hóa ra ta làm người khách không có chủ ư? Con chim làm tổ ở rừng chẳng qua là một cành cây, con chuột uống nước ở sông chẳng qua chỉ đến no bụng. Thôi, xin nhà ngươi cứ về mà trị lấy thiên hạ, ta có dùng thiên hạ làm gì! Người nhà bếp mà chẳng trông nom việc bếp, thì người giữ việc tế tự cũng chẳng có thể bỏ đèn hương mà làm thay cho được.

Trang Tử

GIẢI NGHĨA

Nghiêu: tên một bậc thánh đế đời nhà Đào Đường

Hứa Do: một bậc cao sĩ đời thượng cổ, ẩn ở núi Cao Sơn

LỜI BÀN


Ý vua Nghiêu nghĩ thiên hạ là của chung của cả thiên hạ, cho nên vua mới tìm người hiền tài để truyền ngôi, miễn là thiên hạ được thái bình thịnh trị là mình được sung sướng.

Ý Hứa Do nghĩ mình không có tài mà nhận lấy cái tài của người làm của mình thì không gì xấu bằng. Vả ông lại có cái thú vô danh hơn là hữu danh, nên ông lấy việc thiên hạ làm phiền, chứ không phải là sướng.

Một bên quên lợi, một bên quên danh đáng quí thay.

Thời buổi ngày nay giá được những bậc tài giỏi không có lòng tư, không cậy công cậy của, không hiếu lợi hiếu danh thì lo gì thiên hạ chẳng bình trị.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-06 04:34:10Bụi Tím>
128.Rửa tai

Đời thượng cổ có ông Hứa Do là một nhà ẩn dật ở trong chằm Bái Trạch.
Vua Nghiêu nghe tiếng là người giỏi, mời ra, xin nhường cả thiên hạ. Hứa Do tử chối, lui về ẩn tại núi Trung Nhạc, phía nam sông Dĩnh Thủy.

Sau, vua Ngiêu lại tìm đến, cố mời Hứa Do ra làm tổng trưởng cả chín châu, Hứa Do thấy vậy không muốn nghe chuyện nữa, ra bờ sông Dĩnh Thủy rửa tai. Ngay lúc bấy giờ, Sào Phủ đang dắt trâu xuống bờ sông gặp Hứa Do hỏi:
Việc già mà bác phải rửa tai như vậy?

Hứa Do thuật lại chuyện. Sào Phủ liền gò cổ trâu lại mà nói rằng:
Ta toan cho châu uống nước ở đây, lại e bẩn cả miệng trâu.

Nói đoạn, dắt trâu lên quãng sông trên cho trâu uống nước.

Cao Sĩ Truyện

Giải nghĩa:
-Hứa Do : bậc cao sĩ thời thượng cổ.
-Chín châu: thời thượng cổ nước Tàu chia ra làm chín châu để cai trị (Duyên, Ký, Thanh, Từ, Dự, Kinh, Dương, Ung, Lương).
-Sào Phủ : bậc cao sĩ đời thượng cổ không ưa thế lợi, ẩn ở trong núi, lấy cây làm tổ nằm ở trên cây cho nên mới gọi là Sào Phủ (Sào nghĩa là tổ).
-Cao Sĩ Truyện : sách của Hoàng Phủ Mật đời nhà Tấn soạn kể chuyện những bậc cao sĩ ẩn dật thời xưa bên Tàu.

Lời bàn: Có cả thiên hạ cố nhường cho người là lạ. Người nhường thiên hạ cho, mà không nhận cũng là lạ. Nghe thấy câu chuyện nhường thiên hạ cho làm chuyện bẩn, phải đi rửa tai lại lạ hơn. Không để cho trâu uống cái nước đã rửa tai ấy, sợ bẩn miệng trâu càng lạ quá nữa

Ôi! Đọc bài này, tưởng như Hứa Do với Sào Phủ là hai người nếu chẳng ngông cuồng thì cũng gàn dở. Nhưng vì Hứa Do và Sào Phủ hiểu thấu danh lợi nó hãm hại người ta để làm cho mất hết cả liêm sỉ, cho nên hai ông không muốn để cái danh lợi bận đến cái thân, chỉ ưa chuộng sự sống thiên nhiên làm vui sướng, thì cũng là những bậc cao sĩ thờ một cái chủ nghĩa cao quý vậy. Chả bù cho những phường tham danh, trục lợi thường say mê danh lợi, thậm chí đến chết vẫn chưa tỉnh cho!
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-06 04:40:40Bụi Tím>
129. Chết đói đầu núi.

Khi Vũ Vương đem quân đi đánh vua Trụ, Bá Di, Thúc Tề nghe thấy, ra nắm dây cưng ngựa, cản lại và nói rằng:
Cha chết chưa chôn mà đã chăm việc chinh chiến, thế có gọi là “hiếu” được không? Bầy tôi giết vua để cướp nước thế có gọi là “nhân” được không?

Những người thân cận của Vũ Vương tức giận toan giết Bá Di và Thúc Tề. Thái Công can, nói rằng:
Không nên, hai ông là “người nghĩa”. Rồi bảo quân lính ôm hai ông mà đẩy ra.

Đến khi Vũ Vương đã lấy được thiên hạ của vua Trụ, thiên hạ ai cũng tôn nhà Chu, Bá Di và Thúc Tề lấy việc mất nước làm xấu hổ, đến nỗi coi thóc gạo cũng là tài sản của nhà Chu, buồn bực không ăn nữa.

Hai ông lên ẩn ở núi Thú Dương làm bài ca Thái Vi rằng:
Ta lên núi Tây Sơn
Ta hái khóm rau vi
Kẻ bạo thay kẻ bạo
Còn biết phải trái gì!
Đời cổ thoáng qua rồi
Biết đâu mà quy y
Than ôi! Đành chết vậy
Thật vận mệnh ta suy

Chính chữ Hán là:
Đăng bỉ Tây Sơn hề, thái kỳ vi hĩ,
Dĩ bạo dịch bạo hề, bất tri kỳ phi hĩ.
Thần nông, Ngu, Hạ, hốt yên một bề, ngã an thích quy hĩ.
Vua ta tồ hề, mệnh chi suy hĩ

Giải nghĩa:
-Bá Di, Thúc Tề: hai con vua Cô Trúc đời nhà Thương.

-Thái Công: tức Lã Vọng, một hiền thần nhà chu, trước câu cá ở sông Vy, sau gặp vua Văn Vương đón về, vua Vũ Vương dùng làm tướng.

-Thú Dương: tức cũng là Tây Sơn, tên núi ở về huyện Vĩnh Thanh tỉnh Sơn Tây bây giờ.

-Kẻ bạo thay kẻ bạo: đây nói vua Trụ bạo ngược, vua Vũ thay vua Trụ cũng là bạo ngược.

Lời bàn:
Xem bài này, hoặc có nói “Bá Di, Thúc Tề nắm ngựa mà can Vũ Vương là phải. Song can mà người ta không nghe sao không chí thân chết theo với nước, lại đi lên núi Thú Dương hái rau vi. Than ôi! Sau ngày Giáp tý (là ngày vua Trụ mất thiên hạ), Vũ Vương đã đánh được nhà Thương, núi Thú Dương còn là đất của nhà Thương, rau vi ở núi Thú Dương còn là đồ ăn của nhà Thương nữa hay không? Bá Di, Thúc Tề lầm rồi!”. Nói như thế nghe kể cũng có lý, nhưng có phần quá nghiêm khắc. Ta chỉ biết Bá Di, Thúc Tề thân cô mà dám ngăn cả thiên binh vạn mã, thế là trong lòng rất can đảm, biết vua Trụ là người không tốt mà cũng giữ một niềm thủy chung, thế là nghĩa bất sự nhị quân, đáng tôn trọng quý báu biết chừng nào. Vả chăng hăng hái mà liều chết, việc ấy còn dễ chớ chung thủy mà làm điều nghĩa, việc ấy mới là khó. Bá Di, Thúc Tề lên ẩn trên núi mà còn để lại bài ca Thái Vi còn lưu lại hai tiếng “Hiếu, Nhân” lúc ra can Vũ Vương, thật là những bậc có thể phù thực được cương thường muôn đời khiến cho người đời sau ai xem chuyện, ngủ ngoan cũng thành có tri thức, liệt nhược cũng hóa ra cương cương mà có chí tự lập vậy.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-06 04:45:41Bụi Tím>
130. Đời người


Sống bảy mươi năm đã mấy người!
Trước thì tuổi trẻ, sau già lão
Thì giờ quãng giữa được bao lâu?
Lại còn viêm lương cùng phiền não

Hoa quá mùa xuân, hoa kém tươi,
Trăng quá mùa thu, trăng kém sáng
Hoa tươi trăng sáng, ta ngâm nga
Rượu năm, ba chén say chuếnh choáng.

Tiền của càng nhiều, càng oán to
Quan chức càng cao, càng nhọc xác
Quan to tiền nhiều, lòng những lo
Chỉ tổ làm cho đầu chóng bạc

Xuân đi, hạ lại, thu sang đông
Chóng như thoi đưa, như nước chảy
Vừa tiễn buổi chiều, chuông chùa kêu
Đã báo rạng đông, gà sáng gáy.

Ta thử tính xem người nhãn tiền
Một năm đã thấy khuất vô số
Lô nhô nắm đất cánh đồng hoang
Quá nửa không ai người tảo mộ.
 
Đường Bá Hổ

Giải nghĩa:
-Đường Bá Hổ: người thời Tống tên là Trường Nhụ ở Đan Lang, chuyên học kinh Dịch, kinh Xuân Thu, trị gia rất có phép, ông có bài ca nhân sinh mà đây dịch ra.

Lời bàn:
Đời người trăm năm sống được sáu bảy mươi năm đã hiếm. Trong khoảng sảu, bảy mươi năm ấy, trừ lúc tuổi chưa khôn, tuổi già hết khỏe, quãng giữa còn được vài ba mươi năm có là bao, mà lại còn gặp biết bao nhiêu những sự đau đớn phiền não! Ôi đời người rút lại như thế có mấy lúc là sống cho ra sống.

Nên chi, hằng năm, hễ gặp được thắng cảnh, lương thời, thì ra kíp nên vui chơi cho sung sướng thỏa thích, hơi đâu mà cứ mài miệt theo đuổi lấy cái sang giàu giả dối chốc lát để là lụy đến tấm thân.

Lúc sống thì người chóng già, khó giữ lâu được cái thân, lúc chết thì thiên hạ chóng quên khó giữ lâu được mồ mả. Thời giờ mau chóng thói đời viêm lương, vậy người ta lúc sống, mà tự khổ thân quá, tưởng cũng là khờ vậy! Đối với cái thời gian, không gian vô cùng vô hạn thì một người và một đời người kể có thấm vào đâu?
 
Đăng nhập để trả lời
0
131. Ba điều khó học

Thầy Tăng Tử nói với Đức Khổng Tử:
Tôi biết thầy có ba điều, tôi học mãi mà chưa làm được. Thầy:

-Thấy người ta có một điều phải mà quên cả trăm điều trái của người ta, thế là thầy dễ tính.

-Thấy người có điều gì phải, thì vui vẻ như là mình có, thế là thầy không ghen tị.

-Nghe thấy điều gì phải, nhất quyết làm rồi sau mới nói, thế là thầy chịu khó thực hành.

Thầy là người dễ tính, là người không ghen tị, là người chịu khó, tôi học mãi ba điều ấy của thầy mà chưa thể làm được.

Thuyết Uyển.

Giải nghĩa:
-Tăng Tử: tức là Tăng Sâm, người thành thực và rất có hiếu, học trò giỏi của Đức Khổng Tử truyền được đạo đức Khổng Tử có thuật sách Hiếu Kinh và sách Đại Học

Lời bàn:
Lấy một điều phải mà quên trăm điều trái, thế là có bụng khoan dung người ta, lại có ý gây cho người làm nên điều phải. Thấy người làm phải cũng vui như chính mình làm điều phải, thế là có lòng vô ngã muốn giục cho người phải ưa làm điều phải. Thấy điều phải làm ngay rồi mới nói, thế là vụ cái thực làm chớ không chỉ có một cái nói giỏi mà thôi. Ba điều này mới nghe tưởng dễ, mà làm thực khó!. Thói thường, người đời chỉ hay bới xấu nhau, ghen tị nhau, nói giỏi, mà làm càn, cho nên mới ghét bỏ nhau, lừa dối nhau, hãm hại nhau, đưa nhau đến tử vong mà không gỡ ra được.

132. Ba điều vui

Người quân tử có ba điều vui, tuy cho làm vua cả thiên hạ là sướng mà cũng không kể vào trong ba điều vui ấy được.

Cha mẹ còn sống, anh em bình yên là một điều vui.

Ngửa lên không tủi thẹn với trời, cúi xuống không xấu hổ với người là hai điều vui.

Được những bậc anh tài trong thiên hạ mà dạy dỗ gây dựng cho ra người là ba điều vui.

Mạnh Tử
Đăng nhập để trả lời
0
133. Thương mẹ già yếu

Hàn Bá Du ăn ở với mẹ rất là có hiếu. Những khi có lỗi, mẹ thường đánh đòn. Một hôm Bá Du phải đòn, khóc mãi. Mẹ thấy vậy hỏi:
Mọi khi mẹ đánh con biết lỗi, con cam chịu ngay. Lần này sao con khóc dai thế?

Bá Du thưa:
Mọi khi mẹ đánh, con thấy đau, con biết mẹ còn mạnh khỏe. Lần này mẹ đánh con, con thấy không đau mấy, con biết sức mẹ đã yếu, cho nên con nghĩ, con thương mẹ mà con khóc.

Ôi! Con ăn ở với cha *** tuy khó nhọc khổ sở cũng không dám oán như Bá Du trong chuyện này, không những không oán *** lại còn thương mẹ già yếu, tình con yêu mẹ thế mới thật là thâm thiết.

Thuyết Uyển

Giải nghĩa:
- Hàn Bá Du: người đất Lương đời nhà Hán.
- Hiếu: đạo ăn ở hết lòng với cha mẹ
 
134. ÁO ĐƠN MÙA RÉT

Mẫn Tử Khiêm mồ côi mẹ từ thuở nhỏ. Mẹ kế sinh được hai con trai, chỉ yêu con đẻ mà ghét Tử Khiêm.

Mùa đông tháng giá, mẹ kế không cho Tử Khiêm mặc áo mền bông, chỉ cho mặc áo mền hoa lau. Một hôm Tử Khiêm đánh xe hầu cha, cha thấy co ro run rẩy liền quở mắng. Tử Khiêm nín không dám nói. Cha giận đánh, ngờ đâu áo rách, bật hoa lau ra.

Cha thấy thế căm giận người vợ kế bạc đãi con mình liền muốn đuổi đi.

Tử Khiêm khóc mà van rằng:
- Dì con mà ở lại thì chỉ mình con rét; dì con mà phải đuổi đi thì ai may áo cho chúng con, có lẽ ba anh em con đều không có áo, phải chịu rét cả.

Cha nghe nói cảm động, bèn thôi không đuổi vợ kế nữa. Và từ đó người vợ kế cũng có lòng thương yêu Tử Khiêm như con đẻ vậy.

Thuyết Uyển
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 4 5 » »»