📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Hiệu Đính Truyện

CỔ HỌC TINH HOA - HẾT

148 trả lời, 21.453 lượt xem — Trang 4 / 5
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-06 05:07:56Bụi Tím>
135. DÂNG THƯ CỨU CHA

Thuần Vu Ý làm quan ở Tề Trung phải tội sắp đem hành hình, giải đến Trường An.

Ông không có con trai, chỉ sinh được năm con gái. Lúc bị bắt đi, ông mắng con rằng:
- Đẻ con chẳng đẻ con trai, những khi nguy cấp thật không có ai đỡ đần công việc.

Người con gái út tên là Đề Oanh thương khóc theo cha đến Trường An, dâng tờ thư, đại ý nói:
-…Cha tôi làm quan, cả miền Tề Trung ai cũng ca tụng là thanh liêm công bình, nay bất hạnh phải tội thật là oan quá. Vả chăng tôi trộm nghĩ người đã chết thì không sống lại được, đã chém thì không liền lại được. Nên dù có muốn đổi lỗi, theo điều phải trở nên hay, nên tốt cũng không có cách nào nữa. Tôi xin bán mình làm đứa ở chỗ quan phủ, chuộc tội cho cha để cho cha tôi được tự tân.

Thư tâu lên vua. Vua xem, tha cho Thuần Vu Ý. Rồi xuống chiếu, trừ các nhục hình.

Sử Ký Hán Vân Đế

LỜI BÀN

Bên Phương Đông ta, thường tình cha mẹ vẫn quý con trai hơn con gái, vì kể cứ trong nhà, con trai bao giờ vẫn được việc hơn con gái, nhất là những khi nguy cấp. Nên Thuần Vu ý đây tức mình mà gắt như thế cũng là phải. Nhưng Thuần Vu ý biết đâu là được người con gái như Đề Oanh thực là hết lòng với cha, cứu cha được ra ngoài vòng tội hình, lại có phần giúp đỡ được cho cả nhân dân trong nước, vì vua bỏ các nhục hình.

Thế mới hay con gái hay con trai cũng vậy mà thôi, quí hồ là ăn ở hết đạo với cha *** giúp đỡ có ích cho xã hội, thì cũng là quý giá không bên nào khinh, bên nào trọng. Cổ ngữ có câu:

“Gái mà chi, trai mà chi
Con nào có nghĩa, có nghì là hơn”.
Thực là phải lắm.

136. NUÔI MẸ BẰNG ĐIỀU PHẢI

Roãn Thuần lúc nhỏ học ông Trình Di, thường chỉ cốt theo nghề khoa cử.

Có một khoa thi Tiến sĩ, ông đã vào đến kỳ văn sách, đầu bài ra có câu: “Chu Nguyên Hựu chư thần” nghĩa là giết các bầy tôi đời Nguyên Hựu. Ông bỏ bài không làm, đi ra.

Khi về, ông thưa với thầy là ông Trình Di rằng: Từ nay con không thi Tiến sĩ nữa.
Ông Trình Di nói: Ngươi còn có mẹ già kia mà.

Roãn Thuần về thưa chuyện thi cử với mẹ và nhắc lại cả câu thầy học bảo.
Bà mẹ nói:
- Ta muốn con lấy “điều phải” mà nuôi ta hơn là lấy “bổng lộc không ra gì” mà nuôi ta.
Ông Trình Di nghe thấy câu ấy khen rằng: “Giỏi thay một người mẹ như thế!”

Tống Sử Roãn Thuần Truyện

GIẢI NGHĨA

Roãn Thuần: người đời Tống, học giỏi nết tốt, mấy lần vua triệu từ chối không ra làm quan.

Trình Di: tức là Trình Y Xuyên một bậc danh nho đời Tống.

LỜI BÀN

Như Roãn Thuần đây sở dĩ mà không muốn đi thi là vì đầu bài ra trái ngược hẳn với lẽ phải. Bầy tôi đời Nguyên Hựu vốn là người giỏi mà lại bảo đem giết, đầu bài mà ra như thế là có ý muốn cho bọn đi thi đỗ, mà sau này là bọn quan trường, phải bác đời Tống Triết Tôn đi để nâng cái đời bấy giờ là đời Tĩnh Khang lên.

Còn như Trình Di ở đây có ý khuyên bảo nên đi thi, là bụng nghĩ Roãn Thuần còn mẹ già phải phụng dưỡng. Thói thường cha mẹ cho con ăn học, ai là người không muốn cho con đi thi lấy đỗ, đã kiếm được chút lương bổng nuôi nấng mình, lại còn làm nên chút công danh vẻ vang cho cả nhà cả họ.

Kịp đến bà *** sở dĩ bảo Roãn Thuần như thế, là bà biết trọng việc nghĩa hơn là danh lợi. Một câu bà dạy con khiến một nhà hiền triết như Trình Di còn phải phục, phải khen thì há chẳng đáng làm cho những cha mẹ có con thi đỗ, chỉ mong cho con được chút danh phận, bất phân danh phận ấy thật hay giả, hay hay dở, phải suy xét cân nhắc rồi hãy đặt để cho con ru!
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-06 05:12:43Bụi Tím>
 
137. SAY BẮN CHẾT TRÂU

Ngưu Hoằng, Ngưu Bật, hai anh em ở chung với nhau.

Bật có tính hay chén, mà hễ chén vào thì thường khi nát rượu.

Một hôm anh đi vắng, Bật ở nhà uống say túy lúy, bắn chết mất con trâu của anh.

Kịp lúc anh về, người vợ đón cửa, xăm xăm bảo rằng:
- Này này! Chú nó ở nhà bắn chết trâu rồi!
Hoằng nói: Trâu chết thì phải cho đem làm thịt.

Hoằng vào nhà, vừa ngồi yên, vợ lại chạy đến hăm hở nói:
- Chú nó bắn chết trâu là việc to lắm, có phải việc thường đâu.
Hoằng nét mặt vẫn hòa nhã tự nhiên nói:
- Phải tôi biết rồi mà. – Rồi lấy sách giở xem như không có chuyện gì cả.
Vợ thấy thế nguôi cơn giận, không giám nói gì nữa.

Tùy Kỷ

GIẢI NGHĨA

Ngưu Hoằng: người đời nhà Tùy làm quan đến Lại bộ thượng thư, đời bấy giờ xưng là “Đại nhã quân tử”

Tùy kỷ: sách chép việc đời nhà Tùy

LỜI BÀN

Anh em một nhà mà ghét bỏ xa lánh nhau phần nhiều chỉ là tại chi em dâu. Không phải chị em dâu có bạc ác gì đâu; tại thường tình đàn bà, phần thì suy hơn tính thiệt, tí chút cũng so kè, làm cho chữ “Lợi” đè mất chữ “Nghĩa”, phần thì đêm ngày trò chuyện, bao nhiêu cái hay muốn vơ cả vào mình, thành ra anh em hóa dở, làm cho chữ “Tình” lấn được chữ “Thân”. Đám nam nhi ta muốn ăn ở cho trọn vẹn nghĩa anh em, tình vợ chồng, tưởng cũng khi khó.

Ngưu Hoằng lấy thái độ ôn hòa, trầm tĩnh đối với vợ khi vợ đang bực tức căm giận, thật là biết đường lửa cháy cất dầu, cơm sôi bớt lửa mà biết đâu Hoằng lại chả nghiêm trách em mà không ai biết. Vì thế mà vợ mất giận, em được toàn, thế chẳng phải là biết cách ăn ở rất khéo trong chốn gia đình ư!


138. TÊN TÙ NƯỚC SỞ

Chung Nghi là người nước Sở bị nước Trịnh bắt nộp sang nước Tấn. Nước Tấn đem bỏ vào Tù. Một hôm vua Cảnh Công đòi ra, cho cởi trói, gọi đến tận nơi ủy lạo, rồi hỏi:
- Ông cha nhà ngươi xưa nay làm nghề gì?

Chung Nghi thưa: Ông tôi xưa nay làm nhạc quan.
- Thế ngươi có biết nhạc không?
- Cha tôi xưa làm chức ấy, tôi nay vẫn giữ nghiệp nhà, đâu dám sao lãng.

Cảnh Công đưa cho đàn cầm, bảo gảy một khúc. Chung Nghi gảy thuần tiếng Nam, tức là tiếng nước Sở. Nghe xong Cảnh Công hỏi:
- Vua Sở là người thế nào?
Chung Nghi thưa: Tôi trí khôn hèn kém không đủ biết được thịnh đức của quân vương nước tôi.

Cảnh Công hỏi đi hỏi lại hai ba lần.
Sau Chung Nghi phải thưa:
- Quân vương nước tôi khi làm thái tử, nghe lời quan Sư, quan Bảo dạy dỗ, buổi sáng đến chơi với Anh Tề, buổi chiều đến chơi với Tử Phản. Tôi biết có thế, còn việc khác tôi không được rõ.

Cảnh Công đem chuyện ấy nói cho Phạm Văn Tử nghe. Văn Tử thưa:
- Tên tù nước Sở như thế thật là một bậc quân tử. Chức nghiệp vẫn giữ nước nhà, là người không quên gốc âm nhạc vẫn giữ tiếng Nam, là người không quên nước; khen vua Sở mà khen tính tự nhiên là vô tư; nói với nhà vua đây mà gọi hẳn tên hai quan khanh là tôn quân. Không quên gốc là “nhân”, không quên nước là “tín”, vô tư là “trung”, tôn quân là “mẫn”. Nhân thì xử được việc; tín thì giữ được việc; trung thì nên được việc; mẫn thì xong được việc. Có bốn đức ấy việc to đến đâu cũng phải xuôi, sao nhà vua không giao trả tên tù cho nước Sở, để hắn về yêu kết việc hòa hiếu cho nước Tấn, nước Sở với nhau?

Cảnh Công theo lời Văn Tử, hậu đãi Chung Nghi, đưa về Sở đề cầu việc hòa hiếu.

Tả truyện

LỜI BÀN

Tên tù này không phải vì phạm tội thường mà bị tù, nhưng vì việc nước mà bị nước khác bắt tù. Khi đã bị bắt, người ta tra hỏi mà không rối trí, cứ ung dung đối đáp rất thông hoạt, và có ý vị khiến cho vua tôi nước ngoài nghe thấy phải khen, phải phục, như thế chẳng là vì một cái trí lự khí khái của mình mà được thoát nạn, nước mình cũng được nhân đấy mà tôn lên ru! Ôi! Một nước được một tên tù giỏi mà kiến trọng, huống chi là có bao nhiêu hiền tào thì nước được mong cậy biết là bao. “Quốc hữu nhân tắc thực” nghĩa là nước có người giỏi thì nước mới đầy đủ vững chắc, câu trong sách dạy quả là đúng lắm.
Đăng nhập để trả lời
0
139. BỆNH QUÊN

Nước Tống có anh đứng tuổi, tự nhiên mắc phải bệnh quên; buổi sáng lấy gì của ai, buổi chiều đã quên; ngày nay cho ai cái gì, ngày mai đã quên; ra đường quên cả đi, ở nhà quên cả ngồi, trước có làm những gì, bây giờ quên hết, bây giờ đang làm gì thì sau này cũng quên hết.

Cả nhà anh lấy làm lo. Xem bói không tốt, đi cúng không đỡ, đón thầy thuốc chữa cũng không khỏi.

Sau có ông đồ người nước Lỗ đến xin đám, nói rằng chữa được.
Vợ người có bệnh hứa với ông đồ hễ chữa khỏi thì chia cho nửa cơ nghiệp.
Ông đồ nói:
- Bệnh này bói không ra được, cũng không khỏi được, thuốc không chữa được. Nay tôi thử hóa cái tâm tính, biến cái trí lự của anh ta, may mà khỏi chăng.

Nói đoạn ông đồ liền sai lột áo để cho rét, thì thấy anh ta xin áo, sai cấm ăn để cho đói thì thấy anh ta xin ăn, sai đem vào chỗ tối thì thấy anh ta xin ra chỗ sáng.
Ông đồ hớn hở bảo con anh ta rằng:
- Bệnh chữa được, song môn thuốc của tôi bí truyền không thể nói cho ai biết.

Rồi ông đuổi cả người chung quanh đi, chỉ một mình ông với người có bệnh trong bảy ngày. Chẳng ai biết ông đồ chữa chạy thế nào, mà cái bệnh lâu năm thế nhất đán khỏi phăng.

Khi anh có bệnh đã tỉnh như thường, anh liền nổi cơn giận, chửi vợ đánh con, cầm giáo đuổi ông đồ.

Người ta bắt anh hỏi, vì cớ gì mà anh giận như vậy, thì anh ta nói:
- Lúc trước ta có bệnh quên, thì trong lòng ta thản nhiên khoan khoái, trời đất có hay không ta cũng chẳng biết. Nay ta hết bệnh, ta nhớ lại cả những việc vài mươi năm về trước, việc còn, việc mất, việc được, việc hỏng, việc thương, việc vui, việc yêu, việc ghét, trong lòng lại muôn mối ngổn ngang bời bời nổi lên vậy. Ta e sau này những việc còn mất, được hỏng, thương vui, yêu ghét ấy cứ vướng vít trong lòng ta mãi mãi, thì bấy giờ dù muốn quên cả đi một phút, một lát liệu còn có được nữa chăng.

Liệt Tử

GIẢI NGHĨA

Tống: nước chư hầu thời Xuân Thu ở vào huyện Thương Khưu tỉnh Hà Nam bây giờ.

Ông đồ người nước Lỗ: đây ám chỉ Khổng phu tử

LỜI BÀN

Lòng người đen trắng, việc đời đảo điên, lắm nỗi ngang tai trái mắt, làm cho người ta không muốn trông, muốn nghe, thậm chí đến không muốn biết đến, chỉ muốn quên sạch. Bởi thế Liệt Tử thành ra chán đời, mới đặt ra câu chuyện này để tỏ hết cái nỗi bực tức đau thương trong lòng. Ôi! Chẳng gì cái đời cổ tự Liệt Tử cũng còn chất phác, mà đã khắt khe đáng chán như thế, huống chi cái đời bây giờ là cái đời mỗi ngày gian trá quái ác thêm sinh thì phỏng còn có gì làm cho người biết nghĩ đáng yêu đáng quí nữa:
Nghĩ thân phù thế mà đau,
Bọt trong bể khổ, bèo dầu bến mê!
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-06 05:21:29Bụi Tím>
140. Bệnh mê

Nước Tần có con nhà học Bàng, lúc nhỏ thông minh khôn ngoan sớm, đến lúc lớn tự nhiên mắc phải bệnh mê, nghe hát cho là khóc, trông trắng hóa ra đen, ngửi thơm cho là thối, ăn ngọt cho là đắng. Tính hạnh anh dở mà cứ cho là phải, bao nhiêu những cái anh ta nghĩ đến, trời đất, bốn phương, nước, lửa, nực, rét, không cái gì là không đảo ngược sai lầm cả.

Có người bảo cha anh rằng:
Bậc quân tử nước Lỗ có lắm thuật, nhiều nghề họa may chữa được chăng, sao không đưa đi mà hỏi.

Người cha sang nước Lỗ. Khi qua nước Trần gặp ông Lão Đam, nhân nói chuyện chứng bệnh của con.

Lão Đam nói:
Nhà ngươi há biết được cái bệnh mê của con nhà ngươi đâu. Nay thiên hạ ai ai cũng ù ờ phải trái, mờ mịt, về lợi hại, kẻ mắc phải bệnh mê như con nhà ngươi rất nhiều, chẳng có ai tỉnh cả.
Vả lại, một mình mê không đủ làm lụy một nhà, một nhà mê không đủ làm lụy một nước, một nước mê không đủ làm lụy cả thiên hạ. Thiên hạ ai ai cũng mê cả, thì còn ai làm lụy ai được nữa.

Giả sử thiên hạ ai cũng mê như con nhà ngươi mà chỉ nhà ngươi muốn chữa bệnh mê, thế thì chính nhà ngươi lại hóa ra mê mất.

Ở đời những sự thương, vui, lẽ phải trái, những cái mắt trông, tai nghe, mồm nếm, mũi ngửi, ai nấy là người chắc cứ cho như thế mới là phải. Này ngay như lời nói ta đây, vị tất đã khỏi mê, huống chí người quân tử nước Lỗ lại là người quá ư mê , thì chữa sao được bệnh mê của người.
Nhà ngươi đem bao nhiêu tiền đi tìm thầy chữa chạy chẳng bằng nghe ta trở về ngay còn hơn.

Liệt Tử

Giải nghĩa:
-Tần: tên một nước về đời Xuân Thu ở vào đất Thiểm Tây ngày nay.
-Quân tử nước Lỗ: ám chỉ Khổng Tử.
-Lắm thuật nhiều nghề: Lắm cách nhiều lối.
-Trần: tên một nước Xuân Thu ở khoảng phủ Thai Phong (Hà Nam) cho đến châu Bạc (An Huy ) bây giờ.
-Lão Đam: tức Lão Tử, họ Lý tên Nhi người Xuân Thu có làm sách Đạo đức kinh, tổ đạo Lão.

Lời bàn: bài ngày cũng như bài trên có ý chê Đức Khổng Tử, bác hẳn cái nếp đã thành ở đời, xưa nay ai nấy, tự lúc biết đời cũng cứ cho như thế mới là phải. Nhưng xét đến nơi, cái nếp ấy chẳng qua cũng chỉ là ước định mà thôi. Ấy là không nói ở đời lắm kẻ lợi dụng cái nếp ấy làm điều giả dối để ngu hoặc người ta, lắm khi đến nỗi chỉ còn có danh mà không có thực. Giả sử bây giờ ta thử đổi cái trắng là đen, cái đen là trắng, cái ngọt là đắng, cái đắng là ngọt, nếu lâu ngày quen nếp đi, thì tất thiên hạ lại cho thế mới là thuận mà chính như bây giờ là nghịch vậy. Ôi! Cái thanh, sắc khứu, vị rõ rệt như thế, người đời cho ngược hẳn lại được, thì cái nhân tâm, thế đạo là cái vô hình, vô trạng người đời há lại không dám ngược lại hay sao! Này những đời loạn, càn dỡ thì cho là tòng quyền, hà hiếp thì gọi là bênh vực, cái phận trên dưới không phân minh, đến cả cha con cũng bình đẳng, cái mối luân thường đã rối loạn, đến cả vợ chồng cũng tự do, mà cứ càng ngày càng đắm đuối mãi vào, thì có gọi đời là tỉnh được hay không! Hay chính là mê, mê quá không biết nữa vậy. Bệnh mê thực làm hại người ta, hầu hết cả một nước, cả loại người như điên, như cuồng, ai chữa cho khỏi, mà ai là kẻ có cách nhìn được khỏi. Than ôi biết làm thế nào?
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-06 05:52:01Bụi Tím>
141. Vợ lẽ phải đòn

Xưa có người đi làm quan xa. Vợ ở nhà có ngoại tình ít lâu, có tin người chồng sắp về, đứa gian phụ lấy làm lo. Đứa gian phụ bảo rằng:
Không việc gì mà sợ. Tôi đã làm sẵn thứ rượu thuốc để đã nó đây rồi.

Hai hôm sau chồng về tới nhà, đang khi chuyện trò vui vẻ, người vợ sai người thiếp rót chén rượu dân chồng, bảo cố mời uống. Người thiếp biết rõ chén rượu ấy có thuốc độc, nghĩ trong bụng rằng:
Ta mà dâng chén rượu này thì ta là người giết chồng, ta mà nói ra thì ta lại làm cho vợ cả ghét ta.

Bèn giả cách ngã, làm cho chén rượu đổ xuống đất.

Chống thấy vậy giận lắm, đánh cho người thiếp mấy chục roi.

Than ôi! Người thiếp này đánh đổ chén rượu, phần thì làm cho chống được sống, phần thì làm cho vợ cả khỏi tội. Trung tín đến như thế mà chẳng khỏi đòn mà phải chịu tội.

Chiến Quốc Sách.

Lời bàn:
Thân danh được là bà quan mà có ngoại tình là rất xấu xa đã nên tội. Đã ngoại tình lại còn những toan giết chồng, cái tội càng nặng biết để vào đâu cho hết. Ngoan thay! Thế mà vẫn chẳng ai biết, vẫn ra ngoài vòng pháp luật.

Phận hèn tiểu thiếp mà biết giữ cho chồng khỏi chết, vợ cả khỏi tội, hết lòng ủy khúc, chỉ cốt giữ cho gia đình được êm thấm, khỏi ô uế, không quản gì đến thân, cái chí cao như thế, cái đức dày như thế mà lại đến nỗi vừa phải đòn, vừa bị người ghét. Than ôi Tình cảnh khắt khe, nỗi oan ai tỏ.

Trong gia đình nhà ông quan này, có một câu chuyện như thế, nhưng trong cả nước, cả thiên hạ, còn có bao nhiêu câu chuyện như thế. Xưa nay đã có biết bao nhiêu chí sĩ nhân nhân, trung thần liệt nữ chỉ vì chân lý, chỉ vì cứu người mà phải ngục tù oan ức đau khổ đến thân. Khổ nhục oan ức những bậc ấy có coi vào đâu, miễn là đạt được mục đích, dù không ai biết, cũng lấy làm vui, có sá kể chi thế thái nhân tình của thế tục. Tấm lòng trung nghĩa tinh tinh thành của những bậc ấy đáng quý, đáng trọng biết nhường nào.

142. Khoét mắt
Lư phu nhân, vợ ông Phòng Huyền Linh là người tuyệt đẹp và đức hạnh.
Ông lúc trẻ hàn vi lắm. Một khi bệnh nặng tưởng đã sắp chết, ông gọi Lư thị đến bảo rằng:
Tôi bệnh nguy quá, nàng tuổi còn trẻ không nên ở vậy, liệu mà ăn ở tử tế với người chồng sau.

Lư thị nghe nói nức nở khóc. Đoạn vào trong mà khoét một mắt bỏ đi, có ý tỏ cho chồng biết rằng dù chồng bất hạnh có chết, cũng không chí lấy ai nữa.

Không bao lâu, ông Huyền Linh khỏi bệnh.
Sau ông thi đỗ, làm quan đến chức tể tướng. Ông một niềm yêu mến, kính trọng Lư thị vô cùng, không hề lấy người tì thiếp nào nữa.

Người ngoài cho thế là tại ông sợ Lư thị có tính hay ghen.
Chính vua Đường Thái Tôn muốn thử Lư phu nhân, một hôm cho Hoàng Hậu gọi vào bảo:
Theo phép thường các quan to vẫn có tì thiếp. Quan nhà ta tuổi đã cao, vua muốn ban cho một người mỹ nhân.

Lư thị nhất quyết không nghe. Vua nổi giận mắng rằng:
Nhà ngươi không ghen thì sống mà ghen thì chết. Rồi sai người đưa cho một chén rượu, giả làm chén rượu độc, phán rằng : “ Đã vậy thì phải uống chén thuốc độc này”.

Lư thị không ngần ngại chút nào, cầm chén uống hết ngay.
Vua thấy thế nói :
Ta cũng phải sợ nữa là Huyền Linh

Lư Phu Nhân Truyện

Giải nghĩa:
Phòng Huyền Linh: danh tướng thới nhà Đường

Lời bàn: Tưởng mình sắp chết, thấy vợ trẻ trung, không muốn để cho vợ ở vậy, thế là quá thương yêu vợ, thể tất cho vợ lắm. Sợ chồng tiếc đẹp, chết đi không dứt, mà khoét mắt để tỏ ra thành tật cho yên lòng chồng, thế là chí tình và nhất tâm với chồng lắm.
May khỏi bệnh, sau lại làm đến Tể tướng, ông chỉ biết có bà mắt khoét, không biết gì đến tì thiếp xinh đẹp, thế là ông muốn giữ cho được trọn vẹn cái tình đối với bà. Còn bà không muốn để cho ông có tì thiếp, tuy gọi là thói quen thường tình, nhưng cũng là vì chung tình với ông, không muốn cúng ai san sẻ mối tình nữa. Quý thay! Đôi vợ chồng này, chân tình và chí tình suốt đời kính yêu nhau, vợ chỉ biết có chồng, chồng cũng chỉ biết có vợ, chồng một vợ một, không những thoát khỏi cái nạn đa nhân duyên nhiều phiền não mà còn gây được cái phúc lâu dài cho thân, cho gia đình, cho con cháu sau nữa.
 
Đăng nhập để trả lời
0
143. Vợ xấu

Vợ Hứa Doãn là Nguyễn thị nhan sắc kém lắm. Khi Hứa Doãn mới lấy về, làm lễ cưới xong, trông thấy vợ xấu muốn lập tức bỏ đi thẳng, bèn hỏi Nguyễn thị rằng:
Đàn bà có “ tứ đức”, nàng được mấy đức?

Nguyễn thị thưa:
Thiếp đây chỉ kém có “dung” mà thôi. Rồi liền hỏi:
Kẻ sĩ có “ bách hạnh”, dám hỏi chàng được mấy hạnh?

Hứa Doãn đáp:
Ta đây đủ cả bách hạnh.

Nguyễn thị nói:
Bách hạnh thì “ đức” là đầu, chàng là người hiếu sắc, không hiếu đức, sao lại bảo là có đủ bách hạnh được?

Hứa Doãn nghe nói, có sắc thẹn. Tự bây giờ hai vợ chồng bèn yêu mến, kính trọng nhau suốt đời.

Thế Thuyết

Giải nghĩa
Hứa Doãn: Người đời Tống có tài văn chương thi đỗ Tiến sĩ, làm quan chính sách rất hay, lòng dân cảm phục.

Lời bàn: Thường tình người ta tự xưa đến nay, ai cũng thích đẹp, chuộng đẹp. Xem như câu Đức Khổng Tử nói: “ Ngô vị kiến hiếu đức như hiếu sắc giả dã” thì đủ rõ. Tuy vậy, cái đẹp có hạn, cái nét vô cùng. Thế gian, những kẻ đem cái đẹp mà thờ người, mua chuộc lòng người, đến khi cái đẹp kém xuân, thường phải người ta cư xử ra tình phụ bạc. Đến như cái nết thì êm đềm thấm thía, cảm hóa được người, khả dĩ làm cho người ta càng biết, càng thân yêu, càng thân yêu càng kính phục, vì thế mà thường được trọn vẹn suốt đời.

Vợ Hứa Doãn đây lanh trí khôn lắm thật. Chỉ một câu nói mà làm cho tan hết được nỗi bất bình của chồng và khiến cho chồng suốt đời phải yêu vì cái duyên lặn vào trong. Thế chẳng phải là “ cái nết đánh chết được cái đẹp” là gì.

Nhưng được những người như vợ Hứa Doãn rất là hiếm vậy. Ở đời kể đã được mấy tay có thể lấy đức mà thay sắc hay thường khi đã xấu người lại thêm xấu cả nết nữa.

144. Ghen cũng phải yêu

Hoàn Ôn trước đã có vợ là Nam Khang công chúa, con gái vua Minh Đế nhà Hán. Sau Hoàn Ôn sàng đánh dẹp được nước Thục lại lấy con gái của Lý Thế là một nhà quyền quý nước Thục mang về làm thiếp.

Lúc về nhà, công chúa biết chuyện nổi cơn ghen, liền cầm gươm và đem theo mấy người nàng hầu, xăm xăm đến, chực chém chết Lý thị. Lúc đến nơi, công chúa thấy Lý thị ngồi trước cửa sổ chải đầu, tóc rũ chấm đất, dung nhan tư mạo đoan trang tươi đẹp. Lý thị thong thả vấn tóc, lượm tay, đến trước công chúa thưa rằng:
Nước tôi mất, nhà tôi tan, tôi quả vô tâm mà hóa ra đến đây. Được bà chém cho, thật thỏa lòng tôi mong mỏi.

Lý thị khi nói, mặt trông nghiêm chính ung dung, tiếng nghe êm đềm thấm thía.

Công chúa thấy vậy ném gươm xuống đất ôm lấy nàng mà nói rằng:
Này em ơi! Chị thấy em còn phải yêu, phải thương huống chi là lão già nhà ta.

Rồi tự đây, công chúa rất trọng đãi Lý thị.

Thế Thuyết

Giải nghĩa
-Hoàn Ôn: người đời nhà Tấn, làm quan đến chức Đại tư mã, uy quyền lừng lẫy thường hay nói câu: “ Tài trai chẳng có thể để tiếng thơm trăm đời cũng nên để tiếng xấu muôn năm” – “Nam tử bất năng lưu phương bách thế, diệc đương di khứu vạn niên”
-Thục: nước ở vào vùng Thành Đô, thuộc tỉnh Tử Xuyên ngày nay.
-Thế Thuyết: pho sách của Lưu Nghĩa Thánh đời nhà Tống soạn nói những chuyện vụn vặt từ đời Hậu Hán đến Đổng Tấn.

Lời bàn: Phận hồng nhan số bạc mệnh, đã phải cảnh nước phá, nhà tan, quân cừu địch bắt hiếp về làm tỳ thiếp, mà nào đã yên, lại còn nỗi gặp tay vợ cả phũ phàng, xăm xăm đến những chực mổ mề, móc gan, róc xương, lột xác. Đau đớn thay phận đàn bà thật! Thương thay! Lý thị nào phần thù riêng, nào phần nghĩa công lo phiền uất ức, trăm mối bên lòng, sống cũng là thừa người yêu ta xấu, thì thà rằng chết trẻ còn hơn. Cho nên câu Lý thị nói với công chúa khí khái ràn ra ngoài lời nói, tưởng một liều, ba bảy cũng liều cho xong. Nào ngờ, vì chính câu nói khí khái mà mếm dẻo ấy lại thêm được cái vẻ nghiêm nghị mà khiến cho người đang giận dữ phải dẹp ngay nỗi bất bình, đang ghét lại hóa ngay ra chiều thân ái.

Ta chắc xem câu chuyện này, chẳng những các bà có tính ghen với cây, hờn cùng bóng, thành ra có lượng bao dung rộng rãi, mà nam nhi ta, những phường giá áo túi cơm, bội gốc, quên nguồn, cũng phải sinh lòng khảng khái vậy.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-06 17:29:06Bụi Tím>
145. Lời con can cha

Điền Văn là con Điền Anh, ít tuổi mà cực khôn ngoan, thấy cha làm quan hay vụ lợi riêng, một hôm thừa nhàn, hỏi cha:
-Con đứa con gọi là gì?
Cha nói:
-Gọi là cháu
-Cháu đứa cháu gọi là gì?
-Gọi là chút.
-Chút đứa cháu gọi là gì?
-Ai biết gọi là gì được ...
-Cha làm tướng một nước Tề này đến nay đã trải ba đời vua, giàu có hàng ức vạn mà môn hạ không có một người nào là hiền tài cả. Con nghe nhà quan tướng võ, tất có quan tướng võ giỏi, cửa quan tướng văn, tất cả quan tướng văn giỏi. Nay cha áo mặc gấm vóc mà người giỏi trong nước vẫn rách rưới, tôi tớ thừa ăn mà người giỏi trong nước vẫn đói khát. Cha quên hết cả việc công ích hiện thời của dân, của nước, chỉ chăm chăm súc tích của cải muốn để dành cho những kẻ sau này không biết gọi nó là gì! Con trộm nghĩ như thế thì thật là quái lạ lắm...

Sử Ký Mạnh Thường Quân Truyện

Lời bàn: người ta ai là chẳng vì con vì cháu mà cố sức làm ăn, mà súc tích tiền của. Cái sự lo cho mình xong đến lo cho con cái cháu chắt họ hàng là cái tôi đi rất có thứ tự tự nhiên. Tuy vậy, ai cũng nên biết có nhà, có họ, nhưng lại còn có nước, có xã hội nữa. Cho nên cái sự mưu cho nhà, cho họ cũng có chế hạn để còn có tâm, có sức mưu cho người cùng giống, cùng nòi, cùng ở chung một nước, cùng sống trong một thời với mình. “ Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào” ta lo quá xa mà cứ đem thân làm trâu ngựa giúp cho đến mấy đứa cháu mấy mươi đời về sau này, sao cho bằng ta lo ngay cho bao nhiêu sinh linh mắt ta trông thấy khốn khổ hàng ngày. Để của lại sau này, sâu xuống không biết đến đâu là đáy, mà của ấy thường một hai đời đã hết, so với làm ơn rộng ra ngay hiện thời, ơn ấy đến đâu thấm đến đấy, thì đằng nào hơn. Câu Điền Văn vặn hỏi cha rồi giảng giải như bài này thực là một bài học hay cho những người có tính cách cá nhân chỉ biết có người máu mủ trong một nhà mà không có độ lượng biết đến những người trong cả làng, cả nước, cả xã hội, nhân loại vậy.
 
146. MỘT CÁCH ĐỂ LẠI CHO CON CHÁU

Bàng Công tính điềm đạm, không mấy khi bước chân tới chốn tỉnh thành. Hai vợ chồng ở nhà làm ăn và thường kính nhau như khách vậy.

Một hôm Lưu Biểu tìm đến chơi. Bàng Công đang cày dưới ruộng, bỏ cày lên bờ nói chuyện, còn vợ con vẫn cứ ở dưới đồng.

Lưu Biểu thấy thế, hỏi rằng:
- Sao tiên sinh khổ thân cày cuốc, chẳng chịu ra kiếm chút quan lộc, sau này lấy gì để lại cho con cháu?

Bàng Công nói:
- Người đời ai cũng lấy “nguy” để lại cho con cháu, duy chỉ tôi là lấy “an” để cho con cháu mà thôi. Cách ấy để lại cho con cháu, tuy khác nhau nhưng thực thì đàng nào cũng gọi là để cả.

Lưu Biểu nghe nói, than thở rồi đi.

Hậu Hán Thư

GIẢI NGHĨA

Bàng Công: tức là Bàng Đức Công, người hiền ở đất Tương Dương, đời Đông Hán không chịu ra làm quan vào ẩn núi Lộc Môn, hái thuốc và làm ruộng kiếm ăn với vợ con.

Lưu Biểu: người đất Cao Bình đời Đông Hán, làm thứ sử ở Kinh Châu có bụng yêu dân trọng người tài giỏi.
Đăng nhập để trả lời
0
147. MỘT CÁCH LO XA CHO CON CHÁU

Sơ Quảng đời nhà Hán, làm quan tri sĩ về, được vua ban cho nhiều vàng lụa.

Con cháu cụ thấy thế, bèn nhờ cậy người già cả trong họ đến nói với cụ lập nhiều cơ nghiệp và mua ruộng đất.

Một hôm, nhân lúc thư nhàn, những người già cả đem câu chuyện làm giàu cho con cháu thưa lại để cụ nghe, thì cụ nói rằng:

“Ta tuy già lão há lại không nghĩ đến con cháu hay sao. Hiện ta cũng đã có ít ruộng nương, cửa nhà cũ của tiền nhân để lại. Con cháu ta mà chăm chỉ vào đấy thì cũng đủ ăn đủ mặc bằng người được rồi. Nếu bây giờ ta lại làm giàu thêm cho chúng để cho thừa thãi dồi dào, thì là ta chỉ làm cho chúng lười biếng thêm ra thôi. Người giỏi mà sẵn có nhiều của thì kém mất chí hay; người ngu mà sẵn có nhiều của thì càng thêm tội lỗi. Vả chăng của cải mà chứa nhiều thì chỉ tổ làm cho người ta oán. Ta đã không có gì giáo hóa được con cháu ta thì cũng không nên làm cho chúng có nhiều tội lỗi và để thiên hạ ai oán chũng cho thêm phiền.

Những của cải ta đang có đây là ơn của vua trên hậu đãi người bầy tôi già lão, ta chỉ muốn cùng cả anh em, họ hàng, làng nước cùng hưởng chung cái ơn ấy để trọn tuổi trời chẳng cũng là phải ư?”

Người trong họ nghe nói thế ai nấy đều cảm phục.

Hán Thư Sở Quảng Truyện

148. HAI THẦY TRÒ DẠY NHAU

Thường Tung yếu.

Lão Tử đến thăm, hỏi rằng:
- Tôi xem ra tiên sinh mệt nặng. Dám hỏi tiên sinh còn có câu gì để dạy đệ tử chúng con nữa không?

Thường Tung nói: Qua chỗ cố hương mà xuống xe, ngươi đã biết điều ấy chưa?
Lão Tử thưa: Qua chỗ cố hương mà xuống xe, có phải nghĩa là không quên nơi quê cha đất tổ không?
- Ừ phải đấy. Thế qua chỗ cây cao mà bước rảo chân, ngươi đã biết điều ấy chưa?
- Qua chỗ cây cao mà bước rảo chân, có phải là kính những bậc già cả không?
- Ừ phải đấy.

Thường Tung há miệng ra cho Lão Tử coi và hỏi rằng:
- Lưỡi ta còn không?
Lão Tử thưa: Còn.
Thường Tung lại há miệng cho Lão Tử coi nữa và hỏi rằng:
- Răng ta còn không?
Lão Tử thưa: Rụng hết cả.
- Thế ngươi có rõ cái lí do ấy không?
- Ôi! Lưỡi mà còn lại, có phải tại lưỡi mềm không? Răng mà rụng hết, có phải tại răng cứng không?
- Ừ phải đấy. Việc đời đại để như thế cả. Ta không còn gì để nói cùng các ngươi nữa.

Thuyết Uyển
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-09 06:44:20CTT>
149. LƯỠI VẪN CÒN

Trương Nghi lúc hàn vi thường hay hầu rượu tướng nước Sở.

Một hôm, tướng nước Sở mất ngọc bích, môn hạ ai nấy đều ngờ cho Trương Nghi, và đánh đập Trương Nghi tàn nhẫn. Trương Nghi không phục tình. Lúc được tha trở về, vợ thấy thế bảo rằng:
- Than ôi! Giá chàng học hành biết du thuyết, thì không đến nỗi nhục nhằn như thế này!

Trương Nghi há mồm to, hỏi vợ rằng:
- Nàng thử xem cái lưỡi của ta có còn không?
Vợ cười, nói: Lưỡi vẫn còn.
Trương Nghi bảo: Thế thì được.
Rồi sau Trương Nghi quả nhiên thành ra một nhà du thuyết giỏi có tiếng thời bấy giờ.

Trương Nghi Truyện

GIẢI NGHĨA


Trương Nghi: Người nước Ngụy là một nhà du thuyết giỏi thời Chiến Quốc.

LỜI BÀN

Phàm người ta thường có bị sỉ nhục thì mới phẫn chí. Khi đang phẫn chí mà có ai khích cho một câu thì tất phải cố công, gắng sức làm cho rửa được cái nhục và nên công, nên việc mới nghe.

Trương Nghi đây sở dĩ mà thành được một nhà du thuyết giỏi, tuy là tự tài mình làm nên, nhưng cũng vì có kẻ làm nhục, lại nhờ có vợ khuyến khích thêm cho nữa. Vậy nên ở đời những kẻ thù nghịch sỉ nhục mình thường có khi lại chính là kẻ giúp cho mình làm nên vậy.

150. KHÔNG CHỊU NHỤC

Đời vua Trang Công nước Tề, có một chàng tên là Tân Ti Tụ đêm nằm thấy một người to lớn mặc quần gai, áo vải, đội mũ trắng, đi giày mới, đeo thanh gươm tự dung vào tận nhà mắng, rồi nhổ vào mặt.

Chàng ta giật mình, sực tỉnh dậy, tuy biết là chuyện chiêm bao chàng ta vẫn tức, ngồi suốt đêm, lấy làm bực dọc khó chịu lắm.

Sáng hôm sau, chàng ta mời một người bạn thân đến và nói rằng:
- Bác ơi! Từ thuở bé đến giờ, tôi vẫn là người hiếu dũng, nay đã sáu mươi tuổi, chưa hề phải đứa nào tỏa nhục bao giờ. Thế mà đêm qua phải một đứa nó làm nhục. Tôi định tìm kỳ được đứa ấy để báo thù mới nghe. Nếu tôi tìmh thấy nó thì hay, nếu không tìm thấy thì tôi chết mất.

Rồi từ hôm đó cứ sáng nào chàng ta cũng cùng người bạn ra đứng ngoài đường cái để rình. Rình đã hai ba ngày mà không thấy đâu, chàng ta về nhà uất lên mà chết.

Như câu chuyện này mà ta cho là phải thì chưa chắc là phải. Tuy vậy, cứ xem một cái tâm không chịu nhục ở trong chuyện, thì đã có cái gì hơn được thế chưa!

Lã Thị Xuân Thu

LỜI BÀN

Tác giả kể chuyện rồi bàn một câu ở dưới như thế cũng là đủ.

Quả vậy, xem chuyện này, không cho là phải được, là vì tức ai chứ tức một người gặp trong lúc chiêm bao mơ ngủ thì là tức hão huyền, tức cái không đáng tức.

Nhưng tựu trung, câu chuyện lại có một điều thật đáng phục là chính thâm ý câu chuyện muốn nâng cao cái lòng biết nhục, biết lấy liêm sỉ làm trọng. Ôi! Trong khi giấc ngủ mơ màng, bị người ta làm nhục còn không chịu được thì trong khi người thật tỉnh táo rõ ràng mà bị người ta làm nhục, thì đáng như thế nào?... Thế mà lạ thay có ở đời có lắm kẻ hoặc ham mê danh lợi, hoặc quen thói tôi đòi, chôn hết cả liêm sỉ, chịu hết mọi nỗi nhục nhằn đè nén không bút nào tả cho xiết được mà vẫn giữ hớn hở như không. Đối với những hạng không biết nhục, Tân Ti Tụ đây thực đáng là một cái gương soi sáng sâu vào đến tâm não họ vậy.
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
151. CÂU NÓI CỦA NGƯỜI ĐÁNH CÁ

Vua Văn Công nước Tấn đi săn ham đuổi một con thú mải theo quá chân, thành lạc vào trong cái chầm lớn không biết lối ra.

Vua gặp một người đánh cá, bèn bảo rằng:
- Ta là vua đây. Ta lạc đường, nhà nươi chỉ lối cho ta ra rồi ta hậu thưởng.

Người đánh cá nói: Bầy tôi muốn dâng nhà vua một câu.

Vua bảo: Cứ đưa ra khỏi chầm đã, rồi muốn nói gì thì hãy nói.

Khi người đánh cá đưa vua ra khỏi chầm, vua phán rằng:
- Nào câu gì nhà ngươi muốn nói với quả nhân lúc nãy thì nói nghe đi.

Người đánh cá thưa: Chim hồng hộc ở bờ sông bờ biển, chán sông biển mà vào đầm tất mắc phải dò bẫy. Thuồng luồng ba ba ở đáy vực sâu, chán vực sâu mà ra chỗ bãi nông, tất phải bị chài lưới. Nay nhà vua đi săn, sao quá chân vào đến tận đây như thế?

Vua Văn Công bảo: Người nói phải lắm.
Đoạn ngoảnh lại truyền quan hầu ghi tên người đánh cá để sau ban thưởng .
Người đánh cá nói:
- Nhà vua bảo ghi tên bầy tôi làm gì. Xin nhà vua cứ tôn kính thiên địa, xã tắc phòng giữ biên thùy, thương yêu muôn dân, đánh nhẹ thuế má, tự khắc là bầy tôi được hưởng ân huệ của nhà vua rồi. Nếu nhà vua chẳng tôn kính thiên địa, xã tắc chẳng phòng giữ biên thùy, chẳng chăm công việc, bên ngoài không khéo xử với các nước , bên trong mất cả lòng muôn dân, để đến nước mất dân khổ, thì dù bầy tôi có được hậu thưởng, cũng không thể sao giữ mà hưởng một mình được.

Người đánh cá cố từ, xong rồi lại nói:
- Xin vua mau mau về nước, tôi đây cũng về chỗ kiếm cá của tôi thôi.


Tân Tự

GIẢI NGHĨA

Văn Công: vua giỏi nước Tấn về đời Xuân Thu

Tấn: nước to thời Xuân Thu ở vào tỉnh Sơn Tây ngày nay

LỜI BÀN


Người đánh cá đây là người hiền muốn khuyên vua Văn Công hai điều là: không nên say mê chơi bời săn bắn quá độ mà có khi hại đến tính mạng, hết đạo làm vua cho dân được nhờ và nước khỏi mất.

Còn người đánh cá từ chối nhận thưuởng nói cái lẽ như thế cũng là lo xa nghĩ sâu và phải lắm vậy. Quả là thế khi tổ chim đã đổ thì trong còn có cái trứng nào lành; nước đã bị phá tan hay xâm chiếm thì nhà toàn vẹn sao được để mình còn hòng riêng hưởng cuộc yên vui; đời được thái bình thì quý bằng bao nhiên ân thưởng, tâm không phiền lụy thì sung sường bằng bao nhiêu công danh.
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
152. Vua tôi bàn việc

Vũ Hầu nước Ngụy cùng với quần thần bàn việc, việc gì vua bàn cũng phải, quần thần không ai giỏi bằng:
Lúc lui chầu, Ngụy Hầu ra dáng hớn hở lắm.

Ngô Khởi bèn tiến lên nói:
Cận thần đã ai đem câu chuyện Sở Trang Vương nói cho nhà vua nghe chưa?

Vũ Hầu hỏi:
Câu chuyện Sở Trang Vương thế nào?

Ngô khởi thưa:
Khi Sở Trang Vương mà bàn việc phải hơn quần thần, thì lúc lui chầu lo lắm. Có người hỏi: Sao vua lại lo? – Sở Trang Vương nói: Ta làm việc mà quần thần không bằng được ta, cho nên ta lo. Cổ nhân có câu: “ Các vua chư hầu, ai có thầy giỏi, thì làm được vương, ai có bạn giỏi thì làm được bá, ai có người quyết đoán cho mọi việc ngờ vực, thì còn nước, ai bàn việc không ai bằng mình thì mất nước”. Ta nghĩ ngu như ta mà quần thần không ai bằng thì nước ta có lẽ mất. Bởi thế ta lo...
Ấy cũng một việc giống nhau. Sở Trang Vương thì lo mà nhà vua thì mừng.

Vũ Hầu nghe nói áy náy vái tạ và nói rằng:
Trời sai nhà thầy đến bảo cái lỗi cho ta.

Tử Tuân

Giải nghĩa:
- Ngô Khởi: người nước Vệ thời Chiến quốc trước làm tướng vua nước Ngụy, sau làm tướng vua nước Sở, là một nhà dùng binh giỏi có tiếng.

Lời bàn: Người làm chúa tể một nước tất là người tài giỏi hơn người, sáng công việc hơn người. Tuy vậy, khi đã dùng quần thần, là mong muốn cậy quần thần, cón có nhiều khi giúp được mình như người ngoài giúp nước cờ vậy. Nếu mà quần thần không có ai hơn mình cả, thì là bọn a dua ăn hại còn mong cậy gì được mà chẳng đáng lo. Nên lời Ngô Khởi nói đây rất là phải. Đã hay rằng người ta ở đời phải cầu ở mình hơn nhờ ở người, nhưng lắm lúc cũng phải có tả phụ hữu bậc mới lo toan được công việc lớn. Những bậc vua chúa cần phải có thầy giỏi, tôi hay là vì cái lẽ ấy.

Truyện này cũng giống câu trong “ Quốc Sách” có nói: “ Đế giả cũng ở với thầy, vương giả cùng ở với bầy tôi, vua vong quốc chỉ cùng ở với hạng đầy tớ”.

Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
153. Khó được yết kiến
Tô Tần sang nước Sở, chầu chực suốt ba ngày mới được yết kiến vua Sở.
Đến khi được yết kiến, nói xong câu chuyện là xin cáo biệt ngay.

Vua bảo:
Quả nhân nghe tiếng tiên sinh quý như nghe tiếng một bậc cổ nhân. Nay tiên sinh đã không quản xa xôi, đến chơi với quả nhân, lại không chịu ở lại là cớ làm sao?

Tô Tân thưa:
Tôi xem ra bên nước Sở ta đồ ăn đắt hơn ngọc, củi thổi đắt hơn quế, quan khó được trông thấy như ma, vua khó được yết kiến như trời. Nhà vua muốn bắt tôi ở lại ăn ngọc, thổi quế, nhờ ma để thấy trời sao?

Vua nói:
Xin mời tiên sinh cứ ở lại. Quả nhân nghe đã hiểu ra rồi.
Chiến Quốc sách

Giải nghĩa
-Tô Tân: Một nhà du thuyết giỏi thới Chiến Quốc đi nói sáu nước đồng minh để kháng cự nước Tần

Lời bàn: Lắm người có được chút quyền chức khiến cho người khác phải cầu đến mình thì tự làm ra khó khăn hình như không muốn cùng ai xúc tiếp nữa. Họ làm như thế, tưởng là nâng giá trị mình cho cao lên, có biết đâu lại là làm cho quyền chức mình kém vì vậy. Vì khi đã làm khó, ít cho người đến gần, tức là lấp đường không cho chân lý, không cho điều khuyết điểm của chức vụ mình đạt được đến mình nữa. Ôi! Như Tô Tần là bậc tài giỏi mà vua Sở làm cho khó yết kiến thì chỉ có phần thiệt cho vua, chớ hại gì cho Tô Tần. Thế mới hay người chúa tể một quốc gia, lãnh đạo một dân tộc, cần phải tôn hiền hạ sĩ, trọng dụng nhân tài để đồng tâm hợp tác thì mới mong thành công được, nếu thông minh tự dụng thì chỉ hại cho dân cho nước mà thôi.

154. Không phục nước Tần

Nước Tần đánh nước Ngụy.
Vua Ngụy sợ, sai Tân Viên Diễn sang nói với vua Triệu, ý muốn cùng tôn nước Tần lên làm đế để đỡ việc chiến tranh.

Lỗ Trọng Liên được tin ấy, đến bảo Diễn rằng:
Nước Tần là nước bỏ hết cả lễ nghĩa, chỉ chăm dùng võ lực chinh chiến, như thế mà tôn làm đế, thì thực là không còn ra sao nữa. Tần sau này mà thắng thế, có làm được đế, thì Liên đây đành bước ra biển đông mà chết chứ không chịu làm dân nước Tần.

Diễn đứng dậy nói rằng:
Tôi nay mới biết tiên sinh là bậc thiên hạ sĩ. Từ nay tôi không dám nói tôn nước Tần làm đế nữa.

Chư thư

Giải nghĩa:
-Tân Viên Diễn: tướng quân nước Ngụy về thời Chiến Quốc.
-Lỗ Trọng Liên: người nước Tề về thời Chiến Quốc, tính khẳng khái, cao thượng, thích vì người bài phân, giải nạn, vua Tề phong tước ông không nhận, khi Tần nhất thống, ông ra ẩn ở biển đông.

Lời bàn:
Khi thấy một nước mạnh hơn nước mình mà mình cần giao hiếu, thì cũng là thường tình, vì như thế tức là vừa giữ cho mình còn lại, vừa được thêm vây cánh nữa. Nhưng mình phải biết khi giao hiếu với nước tàn bạo mà chiều họ tức là như mình muốn xúi giục cho họ càng tàn bạo thêm lên. Điều ấy rất không nên vì như thế chẳng những không lợi gì cho mình mà lại thường nguy cho mình nữa. Họ đã tàn bạo, tất họ không để mình yên, mà dù cho họ có để mình yên nữa, thì cái trò tàn bạo không bền được lâu, chẳng bao lâu họ đổ thì mình tất cũng phải đổ theo.

Lỗ Trọng Liên nói trong bài đây, dù sau có phải tự đem thân ra ẩn biển Đông, thế nhà Tần quả cũng như lời Trọng Liên đã nói, không được bền lâu, chỉ qua hai đời trong vòng bồn mươi năm là mất.
 
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-09 07:00:23CTT>
155. Cậy người không bằng chắc ở mình

Văn Công nước Đằng hỏi thầy Mạnh Tử rằng:
Nước Đằng ta là một nước nhỏ ở vào khoảng giữa nước Tề và nước Sở là hai nước lớn. Kể phận thì phải chiểu cả hai nước, nhưng kể sức thì không thể chiều được cả. Chiều nước Tề chăng? Chiều nước Sở chăng? Ta thực không biết nên nương tựa vào nước để cho nước ta được yên ổn, thầy mưu tính hộ cho ta.

Thầy Mạnh Tử thưa:
Phàm việc mà cứ trông cậy vào người thì không thể chắc được. Chiều Tề thì Sở giận, chiều Sở thì Tề giận; mưu ấy chúng tôi không thể nghĩ kịp. Xin nói chỉ có một cách là tự giữ lấy nước, đào hào cho sâu, đắp thành cho cao, cai trị một cách cố kết lòng dân, cùng dân giữ nước. Hoặc như có biến cố gì xảy ra, vua đã liều chết để giữ nước, thì chắc dân cũng liều chết để giữ nước, không thể bỏ vua. Thế là ta dùng cái lòng dân để giữ lấy đất nước, tự cường mà lo toan lấy việc nước. Còn chiều Tề hay chiều Sở thì tôi không thể quyết được.

Mạnh Tử

Giải nghĩa:
- Đằng : tên một nước nhỏ thời Chiến Quốc tức là huyện Đằng tỉnh Sơn Đông bây giờ.

156. Phẩm trật ông quan, phẩm giá con người

Phẩm trật ông quan là phẩm trật có một đời, phận có, khắc có. Phẩm giá con người là phẩm giá lưu truyền trăm đời, tự mình không cố gây dựng cho mình, thì không bao giờ có.

Sĩ quân tử ta trông thấy cái trời ở ngoài trời, biết rõ cái người ở trong người, hiểu thấu đến cái vật ngoài vật ở đời, nghĩ xa đến cái thân sau thân thiện tại, thì biết đằng nào ngắn, đằng nào dài, đằng nào còn, đằng nào mất, chắc không ham mê cái này mà quên bỏ cái kia.

Chúc Tử
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-09 07:03:46CTT>
157.Bài trâm của người làm quan

1. Sĩ đại phu nên vì đời mình mà tiếc danh, không nên vì đời mình mà mua danh.

Có học thức, chuộng khí tiết, thủ dữ (lấy hay cho) phải cẩn thận, uy nghi phải trang trọng, ấy thế là tiếc danh.

Tâng bốc lẫn nhau, a dua những kẻ quyền quý, làm ra kiểu cách khác thường, lờ mờ hai mặt, ấy thế là mua danh.

Người tiếc danh thì yên lặng mà hay, kẻ mua danh thì rực rỡ mà dở.


2. Sĩ, đại phu nên vì con cháu gây phúc, không nên vì con cháu cầu phúc.

Nghêm giữ phép nhà, chuộng sự tiết kiệm, chất phác, dạy cho chúng biết chữ, cho chúng có nghề, chứa nhiều âm đức, ấy thế là gây phúc.

Mua nhiều cửa nhà, ruộng đất, giao kết với những người quyền thế, tranh lợi nhỏ mọn với dân, mua công danh cho con cháu, ấy thế là cầu phúc.

Người gây phúc thì thanh đạm mà lâu dài, kẻ cầu phúc thì nồng nàn mà ngắn ngủi.

3. Sĩ, đại phu nên vì một nhà mà dùng của, không nên vì một nhà mà hại của.

Giúp cho họ hàng, làng nước, tiêu rộng rãi về việc học, cứu kẻ khốn cùng, chăm làm việc nghĩa, ấy thế là dùng của.

Ăn mặc hoang, xướng hát nhiều, yến hội luôn, tụ tập lắm đồ châu báu, ấy thế là hại của.

Người biết dùng của tuy thiệt mà vẫn có thừa, kẻ không biết dùng của thì tuy thừa mà vẫn thiếu.

4. Sĩ, đại phu nên vì thiên hạ nuôi thân, không nên vì thiên hạ tiếc thân.

Bới thị dục, giảm lo phiền, ít phẫn nộ, tiếc ẩm thực ấy thế là nuôi thân.

So kè lợi hại, xa tránh khó nhọc, tham quyền cố vị chỉ chăm chăm việc vợ con, nhà cửa, ấy thế là tiếc thân.

Người nuôi thân thì im lặng mà to, kẻ tiếc thân thì thỏa thê mà nhỏ.

Trượng Động Sơ

Giải nghĩa: Trâm: lời nói hay thể văn dùng để khuyên răn người ta.

Lời bàn: Bồn đoạn bài này dạy người làm quan muốn vì thân mình, vì con mình, vì nhà mình, vì thiên hạ nên làm thế nào là phải. Mỗi đoạn cân nhắc tách bạch lợi hại, rồi lại bày tỏ tinh tường sự kết quả của cả đôi đương hay dở, thực là xác đáng lắm. Ta tưởng bài trâm này chẳng những riêng cho người làm quan mà ai nấy đã có chút công danh của cải, muốn cho được yên vui sung sướng cũng nên ngầm đọc, hay viết ra mà treo luôn bên mình mà soi ngắm hắng ngày để cố mà thực hành, tưởng cũng nên

[/align] 
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-09 07:20:21CTT>
158. CƯỜI NGƯỜI TA KHÓC

Cảnh Công nước Tề đi chơi núi Ngưu Sơn, trèo lên mặt thành, đứng ngắm trông rồi tràn nước mắt vừa khóc vừa nói:
- Đẹp quá chừng là nước ta! Thật là sầm uất, thịnh vượng! Thế mà nỡ nào một tuổi một già bỏ nước này mà chết đi. Giả sử xưa nay, người ta cứ sống mãi, quả nhân quyết không bỏ nước Tề mà đi nơi khác.

Lã Sử Không, Lương Khưu Cứ thấy vua khóc cũng khóc và nói rằng:
- Chúng tôi đội ơn vua có cơm rau mà ăn, có ngựa hèn, xe xấu mà cưỡi, cũng còn chẳng muốn chết, huống chi là nhà vua.

Một mình Án Tử đứng bên cạnh cười.
Cảnh Công gạt nước mắt, ngoảnh lại hỏi Án Tử rằng:
- Quả nhân hôm nay đi chơi thấy cảnh mà buồn. Không và Cứ đều theo quả nhân mà khóc, một mình nhà ngươi cười là cớ làm sao?

Án Tử thưa:
- Nếu người giỏi mà giữ mãi được nước này thì Thái Công, Hoàn Công đã giữ mãi. Nếu người mạnh mà giữ được nước này, thì Linh Công, Trang Công đã giữ mãi. Mấy vua ấy mà giữ mãi thì vua nay chắc cũng mặc áo tơi, đội nón lá đứng giữa cánh đống lo việc làm ruộng, có được đâu chỗ này đứng, còn rỗi đâu mà lo đến cái chết. Chỉ vì hết đời này đến đời kia thay đổi mãi mới đến lượt nhà vua mà nhà vua lại than khóc thì thật là bất nhân. Nay tôi thấy vua bất nhân, lại thấy bầy tôi siểm nịnh nên tôi cười.

Cảnh Công nghe nói lấy làm thẹn, rót chén rượu tự phạt rồi phạt Không, Cứ mỗi người một chén.

Liệt Tử

GIẢI NGHĨA

Ngưu Sơn: tên núi ở huyện Lâm Chí, tỉnh Sơn Đông ngày nay

Lã Sử Không, Lương Khưu Cứ: cận thần của Cảnh Công

Án Tử: người nước Tề thời Xuân Thu, làm tướng vua Cảnh Công, ông là người kiệm phác, trung thành, giỏi việc chính sự có tiếng thời bấy giờ.

Thái Công, Hoàn Công, Linh Công, Trang Công: các bậc tiền quân của Cảnh Công

LỜI BÀN

Tham sinh là cái thói thường người đời. Nhưng cứ mong sống ở đời mãi, tiếc đời đến nỗi than thở khóc lóc như Cảnh Công đây cũng là tham quá. Trong vũ trụ, cái gì là có cái sinh mà không có diệt. Vậy đời người cũng phải chịu luật chung ấy, bé rồi lớn, lớn rồi già, già rồi chết, thấm thoắt có là bao. Lẽ đó mà không hiểu, lại phải chả ngu lắm ư! Nên Án Tử cười Cảnh Công rất là phải lắm. Án Tử bác cả Sử Không và Lương Khưu Cứ lại là phải lắm nữa.

Thảm thương thay! Xưa nay những nước gặp phải vua ngu và bầy tôi a dua siểm nịnh!
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-09 07:26:52CTT>
159. HIẾU TỬ, TRUNG THẦN

Vương Tôn được bổ làm Thứ sử châu Ích.

Quan Thứ sử trước ở đây là Vương Dương, lúc đi kinh lược trong hàng châu, qua một đường núi rất cheo leo, than rằng:
- Thân ta là thân của cha mẹ ta. Ta nỡ nào xông pha vào những nơi nguy hiểm này. Bèn quay lại, không đi rồi cáo bệnh về nhà.

Lúc Vương Tôn đến thay Vương Dương, đi tuần phòng, cũng phải qua con đường ấy, hỏi nha lại rằng:
- Có phải con đường này là con đường quan Thứ sử trước sợ không dám đi không?
Nha lại thưa: Phải
Vương Tông bảo xe cứ đi và nói rằng:
- Vương Dương trước là người hiếu tử, Vương Tôn đây là người trung thần.

Hán Thư Vương Tôn Truyện

GIẢI NGHĨA

Thứ sử: chức quan cai trị một châu một quận đời cổ

Ích: tên một châu, tức là Tứ Xuyên đời nay

Kinh lược: đi xét qua việc trị an trong hạt mình cai trị

Nguy hiểm: cheo leo, không được yên ổn vững vàng

Cáo bệnh: có bệnh không làm được việc quan xin về nghỉ để chữa

Tuần phòng: đi tuần để phòng bị sự xảy ra

Nha lại: những người theo làm việc tại dinh các quan

Hiếu tử: người con ăn ở hết lòng với cha mẹ

Trung thần: bầy tôi hết lòng đem thân giúp vua, giúp nước

LỜI BÀN

Đối với gia tộc, Hiếu là trọng; đối với quốc gia, Trung là quý. Người ta ở đời, đáng lẽ ai cũng phải cố giữ cho trọn cả Trung lẫn Hiếu. Nhưng khốn nỗi, có lắm cảnh ngộ khiến người ta khó mà giữ cho cả Trung lẫn Hiếu được lưỡng toàn; được Hiếu thì mất Trung, được Trung thì mất Hiếu.

Kể như bài này, Vương Dương vì gia tộc mà giữ thân cũng là phải, nhưng so với Vương Tôn thì Vương Tôn phải hơn. Vì cứ theo cái chủ nghĩa “ở đời thân ta không phải của riêng ta, lúc nhỏ là thân của cha *** lúc lớn là thân của quốc gia, lúc già là thân của thiên hạ, hậu thế trông mong vào đấy” thì lúc ta đã ra làm việc nước, chính là lúc thân ta thuộc về quốc gia, ta há lại còn tiếc mà không làm cho trọn vẹn nghĩa vụ của ta đối với quốc gia hay sao! Đã đem hết thân phụng sự tổ quốc, thì tổ quốc phải để trên hết, chính thế cũng là hiếu lắm, vì cha mẹ ta cũng kỳ vọng cho ta phải thế kia mà.
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-09 07:30:41CTT>
160. ĐỌC SÁCH CỔ

Vua Hoàn Công đọc sách ở nhà trên. Có người thợ mộc đang đẽo bánh xe ở nhà dưới, nghe tiếng đọc, bỏ chàng, **c chạy lên thưa vua rằng:
- Cả dám hỏi nhà vua đọc những câu gì thế?

Hoàn Công nói: Những câu của Thánh nhân.
- Thánh nhân hiện nay còn sống không?
- Đã chết rồi.
- Thế thì những câu nhà vua học chỉ là những tao phách của cổ nhân đấy thôi.
- À anh thợ! Ta đang đọc sách, sao dám được nghị luận? Hễ nói có lý thì ta tha, không có lý thì ta bắt tội.

Người thợ mộc nói:
- Tôi đây cứ lấy việc tôi làm mà suy xét, khi đẽo cái bánh xe, để rộng thì mộng cho vào dễ, nhưng không chặt; để hẹp thì mộng cho vào khó, và không ăn. Còn làm không rộng, không hẹp, vừa vặn đúng mực thì thật tự tâm tôi liệu mà nẩy ra tay tôi làm, như đã có cái phép nhất định, chớ miệng tôi không thể nói ra được. Cái khéo ấy tôi không có thể dạy được cho con tôi, con tôi cũng không thể học được tôi. Bởi thế tôi năm nay đã bảy mươi tuổi mà vẫn giữ nghề đẽo bánh xe.
Người đời cổ đã chết, thì cái hay của người đời cổ khó truyền lại được, tưởng cũng đã chết cả rồi. Thế thì những câu nhà vua học thật chỉ là những tao phách của cổ nhân mà thôi.

Vua cho người thợ mộc nói là phải.

Trang Tử

GIẢI NGHĨA

Hoàn Công: vua giỏi nước Tề thời Xuân Thu

LỜI BÀN

Đọc sách cũng như xem người, xem người mà cứ câu nệ hình, sắc, danh, thanh thì không bao giờ biết rõ được “tình” người, mà có khi lại phải người ta làm cho ngu nữa. Ta học mà cứ bo bo ở ngôn ngữ, văn tự thì bao giờ biết hết được ý sách, vì cái hay nhiều khi miệng không thể nói ra được, bút không thể tả hết được. Ta đọc sách mà tâm ta không lĩnh hội được cái ý ở ngoài câu nói của cổ nhân, thì ta không thể tu kỷ, không thể trì nhân được, chẳng qua chỉ làm cho loạn cái tính của ta mà thôi. Những kẻ hay mượn bã giả của cổ nhân để buông ra những học thuyết dông dài làm ra sách vở để dạy đời, ta tưởng cũng lầm lắm.

Trong bài này, ý Trang Tử cũng như ý Tuân Tử muốn phản kháng lại cái lỗi học của đời bấy giờ, chỉ biết lấy “cổ” làm cốt mà bỏ quên mất cái “kim” chỉ biết cho những thánh nhân như Nghiêu, Thuấn…tự đời nào là phải, chứ không cho người chính thời nay còn được địa vị nào nữa. Như thế không khỏi gọi là thiên vậy. Câu nói của người lao công này chính xác và thực tế lắm. Người đi học chỉ chuộng hư văn, không có thực học tưởng cũng thẹn lắm thay!

*******
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-09 07:35:04CTT>
161. MẤT DÊ

Người láng giềng nhà Dương Chu mất một con dê, đã sai hết cả người nhà đi tìm, lại sang nói với Dương Chu mượn người nhà cho đi tìm hộ.

Dương Chu nói: Ôi! Sao có mất một con dê mà cho những bao nhiêu người đi tìm?
Người láng giềng đáp: Vì đường có lắm “ngã ba”.

Khi các người đi tìm dê đã về, Dương Chu hỏi:
- Có tìm thấy dê không?
Người láng giềng đáp:
- Không
- Sao lại không tìm thấy?
- Tại đường đã lắm ngã ba, theo các ngã ba đi một chốc lại có nhiều ngã ba khác. Thành không biết đi vào đường nào để tìm thấy dê, phải chịu về không cả.

Ấy đường cái chỉ vì lắm ngã ba mà dê mất không tìm thấy. Người đi học cũng vậy, chỉ vì dễ mê muội mà mất cả lương tâm.

Liệt Tử

GIẢI NGHĨA

Dương Chu: người thời Chiến Quốc, xướng lên học thuyết “vị ngã” trái với học thuyết “kiêm ái” của Khổng Tử.

LỜI BÀN

Người đi học mà không suy xét cho tinh, cái gì cũng tham muốn cả thì không bao giờ học cho thực đến nơi đến chốn được! Vì cái tâm con người có một, cái sức hoạt động của người cũng có hạn nên phân tán ra nhiều nơi, dùng sự hoạt động vào nhiều loại, tuy rằng học nhiều biết nhiều thật, nhưng chẳng qua chỉ hời hợt trên mặt, gọi là biết qua loa chút ít thôi. Sao cho bằng chỉ chuyên tâm học về một mặt nào, mà học cho đến cùng kỳ sự học, sự biết mới là chắc chắn sâu xa và có giá trị vậy. Sự học cũng như nhiều sự khác quí hồ tinh bất quí hồ đa.

162. THỰC HỌC


Hết thảy mọi việc, việc gì cũng có tình hình thực sự. Làm thì làm thực sự, chớ vụ hư danh.

Hết thảy câu nói, câu gì cũng có điểm mầu nhiệm. Nói thì nói cho ra nói, chớ vọng ngôn.

Hết thảy mọi vật, mỗi vật có cái lý rất phải. Nếu không hiểu rõ lý ấy, thì nhận xét dễ sai lầm mà thành mê muội.

Hết thảy mọi người, mỗi người ta có một cách để cư xử đối phó, nếu không biết xử thì dễ sinh ra bất hòa, rồi chán ghét nhau.

Người đi học cần cái gì, chỉ cần học làm cho có sự thật, học nói cho khỏi vọng ngôn, học xử với mọi người cho phải…Học chỉ học thế thôi. Không chỗ nào không phải là chỗ học, không lúc nào không phải là lúc học, không tâm niệm nào không phải là tâm niệm để học. Cố học cho được hiểu trọn vẹn, chớ hiểu dở dang, cố học cho kỳ được, học cho đến nơi đến chốn, chớ có tự mãn tự túc. Thế mới đáng gọi là người học giả.

Khuyết DanhLỜI BÀN

Thực học là lối học thực tế, học cho mở mang trí thức, học cho dầy dặn năng lực, để thành tài để ra người, để làm người hữu dụng: Nhỏ thì hữu dụng cho xã hội, to thì hữu dụng cho quốc gia, cho thiên hạ.

Thực học trái người với lối học hư văn là lối tục học, phù hoa khinh bạc, lòe đời nịnh đời, chỉ tổ tự hại và hại tha, tuyệt không có gì là hữu dụng cả. Thế cho nên người đi học thì nhiều, người hữu dụng thì ít; đời mới than phiền: “hiếm nhân tài!”.
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
162. THỰC HỌC

Hết thảy mọi việc, việc gì cũng có tình hình thực sự. Làm thì làm thực sự, chớ vụ hư danh.

Hết thảy câu nói, câu gì cũng có điểm mầu nhiệm. Nói thì nói cho ra nói, chớ vọng ngôn.

Hết thảy mọi vật, mỗi vật có cái lý rất phải. Nếu không hiểu rõ lý ấy, thì nhận xét dễ sai lầm mà thành mê muội.

Hết thảy mọi người, mỗi người ta có một cách để cư xử đối phó, nếu không biết xử thì dễ sinh ra bất hòa, rồi chán ghét nhau.

Người đi học cần cái gì, chỉ cần học làm cho có sự thật, học nói cho khỏi vọng ngôn, học xử với mọi người cho phải…Học chỉ học thế thôi. Không chỗ nào không phải là chỗ học, không lúc nào không phải là lúc học, không tâm niệm nào không phải là tâm niệm để học. Cố học cho được hiểu trọn vẹn, chớ hiểu dở dang, cố học cho kỳ được, học cho đến nơi đến chốn, chớ có tự mãn tự túc. Thế mới đáng gọi là người học giả.

Khuyết Danh

LỜI BÀN

Thực học là lối học thực tế, học cho mở mang trí thức, học cho dầy dặn năng lực, để thành tài để ra người, để làm người hữu dụng: Nhỏ thì hữu dụng cho xã hội, to thì hữu dụng cho quốc gia, cho thiên hạ.

Thực học trái người với lối học hư văn là lối tục học, phù hoa khinh bạc, lòe đời nịnh đời, chỉ tổ tự hại và hại tha, tuyệt không có gì là hữu dụng cả. Thế cho nên người đi học thì nhiều, người hữu dụng thì ít; đời mới than phiền: “hiếm nhân tài!”.

163. ĐÂY MỚI THẬT LÀ THẦY


Từ Tuân Minh, người ở Hoa Âm, thân thể to lớn, mồ côi từ thuở nhỏ, tính hiếu học, mười bảy tuổi theo Mao Linh Hòa sang học Vương Thông ở Sơn Đông. Học một năm thì từ biệt. Rồi sang Yên, Triệu lại học ông Trương Ngô Quý. Học trò ông Ngô Quý rất đông. Tuân Minh dụng tâm học vài tháng sau nói chuyện riêng với bạn học rằng:
- Thầy ta đây danh tiếng lẫy lừng, song nghĩa lý không được quán triệt. Phàm những câu ngoài giảng thuyết, phần nhiều nghe chẳng được thỏa tâm ta. Ta muốn tìm thầy khác.

Rồi bèn cùng Điền Mãnh Lược sang Phạm Dương thụ nghiệp ông Tôn Mãi Đức. Nhưng học vừa được một năm, lại muốn bỏ đi, Lược bảo Tuân Minh rằng:
- Anh tuổi còn trẻ, theo thầy học hành, chẳng chịu chuyên học một thầy, cứ nay thầy này, mai thầy khác, nay đến tìm, mai bỏ đi, nghìn dặm xa xôi, sách vở mang cắp, học hành như vậy sợ không thành được.

Tuân Minh nói: Ta nay mới biết chỗ ở của ông thầy đích thật là ông thầy.
Mãnh Lược hỏi: Ở đâu?
Tuân Minh chỉ vào “tâm” nói: Đây, chính ở chỗ này.
Rồi tự bấy giờ Tuân Minh học lấy một mình, hết sức suy nghĩ, sáu năm không ra khỏi nhà. Khi mỏi mệt thường đàn địch để di dưỡng tình hình. Sau thành một bậc đại nho.

Ngụy Thư Từ Tuân Minh Truyện

GIẢI NGHĨA

Từ Tuân Minh: một bậc đại nho thời Hậu Ngụy

Mao Linh Hòa, Vương Thông, Trương Ngô Quý, Điền Mãnh Lược, Tôn Mãi Đức: cũng là mấy bực đại nho thời bấy giờ.

LỜI BÀN

Học cần phải có thầy, cần phải có sách, đó là lẽ thường, ai đi học cũng khó vượt được hai điểm ấy. Song khi học đã cao, nhất là về mặt tâm học, bảo muốn tìm cho được thực có thấy giỏi để thụ nghiệp, không phải là dễ. Bấy giờ tất nhiên phải như Từ Tuân Minh đây, lấy “tâm” làm thầy là hơn cả. Vì cội rễ muôn nghìn điều phải, điều lành đều do ở tâm. Đem tâm chính trực trị tâm gian tà, đem tâm trung hậu trị tâm bạc ác, đem tâm cần lao trị tâm lười biếng...

Học thế nào cho tâm được thư thái, tâm được yêu thỏa, tâm được quang minh như gương sáng trong, nước im lặng, ngoại vật lại chẳng loạn được tâm, ngoại vật đi chẳng lưu lại ở tâm thế mới gọi là có tâm học vậy.
 
Đăng nhập để trả lời
0
164. Bỏ quên con sinh

Họ Công Sách sắp tế. Trong các lễ vật bỏ quên không đặt con sinh. Đức Khổng Tử nghe thấy chuyện nói rằng:
Trong hai năm nữa, họ Công Sách thế nào cũng mất quan.

Năn sau, họ Công Sách quả nhiên mất quan thật.
Môn nhân hỏi rằng:
Trước họ Công Sách sắp tế bỏ quên con sinh mà thầy nói trong hai năm nữa thì mất quan, nay sự quả nhiên. Dám hỏi vì lẽ gì mà thầy biết trước như vậy?

Đức Khổng Tử nói:
Việc tế là việc người con có hiếu tỏ hết lòng thương nhớ cha mẹ mà lúc sắp tế, bỏ quên con sinh thì các công việc khác bỏ quên, bỏ sót chắc nhiều lắm. Như thế mà không mất quan thì không có lý.

Gia Ngữ

Giải nghĩa: Công Sách: học trò một ông quan đời Xuân Thu.

Lời bàn: Việc tế lễ là việc rất thận trọng, tức là việc giao tế thần minh. Chỉ có người tận tâm và tận thành thì mới cảm cách được, con sinh là lễ vất rất thiết yếu, mà đến lúc tế, lại bỏ quên cả con sinh thì sự sơ suất không phải là nhỏ vậy. Người như thế không thành tâm, công việc như thế là công việc không chu đáo. Xét một sự mà suy ra muôn sự. Đức Khổng Tử suy xét mà biết, há có phải là tiên tri đâu. Nhưng suy xét chắc chắn mà phán đoán trúng việc thì có khác gì tiên tri.


165. Chọn người rồi sau hãy gây dựng

Dương Hổ làm tướng nước Vệ, phải tội, chạy trốn sang nước Tần, vào yết kiến Triệu Giản Tử nói rằng:
Tự nay trở đi, ta nhất quyết không gây dựng cho ai nữa.

Triệu Giản Tử hỏi:
Vì cớ gì mà ông lại nói thế?

Dương Hổ nói:
Khi tôi ở nước tôi, các quan hầu cận nhà vua, tôi gây dựng cho quá nửa, các quan ở triều đình, tôi cũng gây dựng cho quá nửa, đến cả các quan ở biên thùy tôi cũng gây dựng cho nữa. Thế mà bây giờ các quan hầu cận nhà vua thì gièm pha tôi, các quan triều đình thì đem pháp luật trị tôi, các quan biên thùy thì dùng binh khí hiếp tôi. Thế cho nên từ nay trở đi, tôi nhất quyết không gây dựng cho ai nữa.

Triệu Giản Tử bảo:
Ông nói câu ấy thì lầm. Ai trồng cây đào, cây mận thì mùa hè được bóng mát nghỉ, mùa thu được quả ngon ăn. Ai trồng cây tật lê, thì mùa hè bóng mát không có, mùa thu chỉ được những chông gai. Cứ như vậy, thì có phải là tại do cây mình trồng lúc trước không? Nay ông sở dĩ đến nỗi thế, là vì ông gây dựng toàn cho những kẻ không ra gì cả. Cho nên người quân tử phải chọn người trước, rồi sau mới gây dựng.

Hàn Thi Ngoại Truyện

Giải nghĩa:

-Dương Hồ: tức là Dương Hóa, người nước Lỗ thời Xuân Thu, làm quan nước Lỗ là người quyền thần chuyên chính.

-Vệ: tên một nước nhở thời Xuân Thu ở vào một phần tình Trực Lệ ngày nay.

-Tấn: tên một nước lớn đời xuân thu, ở vào tỉnh Sơn Tây ngày nay.

-Triệu Giản Tử: một danh thần nhà Triệu đời Xuân Thu.

Lời bàn: Dương Hổ gây dựng cho người ta, mà về sau lại bị người ta quay lại hại mình, thật chẳng khác nào nuôi ong tay áo, nuôi hổ để chịu vạ lây, đáng tức giận lắm thay. Cho nên Hổ phàn nàn với Triệu Giản Tử và có ý như thề rằng, thôi từ nay không làm ơn cho ai nữa, vì loài người đã bội bạc lại còn thêm độc ác. Triệu Giản Tử bác đi mà giảng giải thế, là có ý quy cái tội cho Dương Hổ, tức là tội đại thần mà tham lam, mà ưa nịnh, chỉ thích gây dựng cho tiểu nhân để lo bè đảng thì khi thất thế, phải chịu lấy cái vạ của tiểu nhân.

Có người nói: làm ân mà phải chọn người trước kể cũng hẹp hòi lắm. Nhưng làm ơn là một việc, vì tổ quốc mà chọn người gây dựng cho người để giúp nước giúp dân là một việc. Như kéo bè kéo đảng, gây dựng cho cả kẻ gian ác có địa vị, có quyền thế để chúng làm mưa làm gió gieo vạ cho nhân dan thì không những không được báo ơn mà còn hại đến thân đắc tội với tổ quốc nữa.
Đăng nhập để trả lời
0
166. Cơ tâm

Thầy Tử Cống đi qua đất Hán Âm thấy một ông lão làm vườn đang xuống giếng gánh từng thùng nước, đem lên tưới rau.

Thầy Tử Cống nói:
Kia có cái máy một ngày tưới được hàng trăm khu đất, sức dùng ít mà công hiệu nhiều. Cái máy ấy đằng sau nặng, đằng trước nhẹ, đem nước lên rất dễ và tên gọi là “ máy lấy nước”.

Ông lão làm vườn nói:
Máy tức là cơ giới, kẻ có cơ giới tất có cơ sự, kẻ có cơ sự tất có cơ tâm. Ta đây có phải không biết cái máy ấy đâu, chỉ nghĩ xấu hổ mà không muốn dùng vậy.

Trang Tử

Giải nghĩa:
- Tử Cống: học trò Đức Khổng Tử giỏi về khoa ngôn ngữ
- Hàn Âm : tên đất hiện ở vào phủ Hưng An tỉnh Thiểm Tây bây giờ.
 
167. Không đợi trông cũng biết

Hứa Kính Tôn có tính kiêu ngạo khinh người, tiếp ai xong, nhiều khi quên ngay, sau người ta có đến, lại không rõ là ai nữa.

Hoặc có kẻ chê Kinh Tôn là người không được thông minh.

Kính Tôn nói:
Cái đó là tự người ta làm cho ta khó nhớ đấy thôi. Ví bằng ta gặp được những bậc tài giỏi như Hà, Lưu, Thẩm, Tạ, thì dù sờ trong xó tối, ta cũng có thể biết mà nhớ ra được.

Tùy Đường Nhai Thoại

Giải nghĩa: Hứa Kính Tôn: người đời nhà Đường, đỗ tú tài, văn chương giỏi, làm quan đến Tể tướng.

Lời bàn:
Kiêu ngạo là thói xấu, đến nỗi người ta có câu: “Ai mà kiêu ngạo là kẻ sắp đi đến bước cuối cùng”.Vậy người ta dù có thông minh tài giỏi cao quý đến đâu cũng không nên kiêu ngạo. Hứa Kính Tôn đây văn chương đã giỏi, quan chức lại to, giao tiếp nhiều người, nhớ sao cho xiết, mà chằng quên. Nên ta cũng chưa thể cho cái quên ấy là thực khinh người. Xem ngay như câu nói của Hứa Kính Tôn, thì ta lại có thể cho là người biết người và có bụng trọng những người tài giỏi.

Và chăng ở đời, cái thói khinh người tuy không nên có, nhưng cái cách phân biệt người đáng trọng, kẻ nên khinh không nên rằng không có. Câu cổ: “ Tố nhân bất khả hữu ngạo thái, nhiên bất khả vô ngạo cốt” (Làm người không nên có cái dáng khinh ngạo, nhưng cũng không nên không có cái cốt khinh ngạo) cũng ám hợp với câu của người Pháp:
“ Il ne f’aut pá mepsriser, mais il faut savoir dédaignef”.
Đăng nhập để trả lời
0
168. Khinh người

Tử Kích là một bậc quyền quý, gặp Điền Tử Phương là một hàn sĩ ở giữa đường, liền xuống xe chào. Tử Phương làm lơ không đáp lại.
Tử Kích giận, hỏi Tử Phương rằng:
Kẻ phú quý hay khinh người đã đành, kẻ bần tiện có khinh người được không?

Tử Phương nói:
Kẻ bần tiện mới có thể khinh người, kẻ phú quý sao dám khinh người. Vua nếu mà khinh người thì mất nước, quan nếu mà khinh người thì mất chức. Còn kẻ có học thức, xử cảnh bần tiện, đi đến đâu mà lời nói vua quan không dùng, việc làm vua quan không theo, thì xỏ chân vào giày, đi ngay lập tức, đến chỗ nào chẳng được bần tiện, còn có lo sợ gì mà không dám khinh người?

Tử Kích nghe ra, bèn xin lỗi Tử Phương.

Chư Thư

Giải nghĩa:
-Tử Kích: một nhà quyền thế đời Chiến Quốc.

-Bậc quyền quý: người có uy quyền thế lực thiên ha phải kinh sợ.

-Điền Tử Phương: người nước Ngụy về đời Chiến Quốc có tiếng là bậc hiền nhân.

Lời bàn: Tử Kích muốn lấy quyền thế, mà khinh người, Tử Phương muốn lấy học thức mà khinh người. Đến cùng, thì học thức khinh nổi được quyền thế. Mời hay ở đời nào cũng vậy, phú quý không bao giờ bằng được học thức. Có lẽ Tử Phương đây muốn chữa cái bệnh cho người quyền thế quá kiêu căng đời bấy giờ, cho nên nói những câu quá khích như thế. Ta cũng không nên quên cái tính phục thiện của Tử Kích đáng trọng và đáng yêu. Nay ta cứ bình tĩnh mà nói: Khinh người tức là “kiêu” mà chữ kiêu là cái nguồn gốc làm bại hoại cả đức tính. Phú quý chẳng nên kiêu , thì bần tiện dẫu kiêu có kiêu được, cũng không lấy gì làm phải. Kẻ sử sĩ đời Chiến Quốc phải coi phong khí nó chuyển đi, cho nên thường hay mắc phải cái thế kiêu như Tử Kích đây, không thoát khỏi tục, cũng là đáng tiếc. Người có học thức mà kiêu, là hạng người khinh thế ngạo vật, coi đời như không quan thiết gì đến mình. Ôi! Đã gọi là học thức mà có tính kiêu, thì vô bổ cho đời, đời có ngưới ấy cũng như không vậy.
Đăng nhập để trả lời
0
169. Hai cô vợ lẽ người nhà trọ

Dương Chu sang nước Tống, đến ở trọ một nhà kia.

Người chủ nhà trọ, có hai người thiếp, một người đẹp, một người xấu. Dương Chu thấy trong nhà ai cũng quý người thiếp xấu mà khinh người thiếp đẹp, lấy làm lạ bèn hỏi dò thằng trẻ con trong nhà trọ thì nó trả lời rằng:
Người thiếp đẹp tự lên là đẹp mà mất đẹp, tôi chẳng biết cái đẹp của họ nữa, người thiếp xấu tự biết là xấu mà quên xấu, tôi chẳng biết cái xấu của họ nữa.

Dương Chu gọi học trò ra bảo:
Các con nhớ lấy câu ấy. Người ta giỏi mà bỏ được cái nết “tự cho mình là giỏi: thì đi đến đâu ai cũng chẳng tôn trọng, chẳng thân yêu.

Trang Tử

Giải nghĩa:
-Dương Chu: người đời Chiến Quốc xướng lên cái thuyết “ Vị ngã”

-Tống: nước chư hầu thời Xuân Thu sau phải nước Tề lấy mất, ở vào địa
phận tỉnh Hà Nam bây giờ

-Thiếp: vợ lẽ, cô hầu.

Lời bàn: Đàn bà đẹp mà tự cậy mình lên đẹp, thì người ngoài chỉ thấy cái bộ khoe khoang đáng ghét chớ không thấy còn gì là vẻ đẹp dáng yêu nữa. Đàn bà xấu, tự thẹn mình là xấu, thì chỉ thấy cái nết dịu dàng đáng thương, không còn thấy cái gì xấu xí đáng ghét nữa. Đấy người đẹp mà bị khinh, người xấu mà được quý là tại thế.
Ôi! Đẹp chỉ vì tên đẹp mà mất đẹp, xấu chỉ vì biết xấu mà quên xấu, thế thì những người giỏi mà tính tự lên là giỏi, thì sinh thời nào, đi đến đâu cũng không mong thiên hạ yêu kính được. Vì như thế tức là kiêu mà kiêu thì không ai chịu được, sự khiếm nhã bao giờ vẫn là hơn vì thiên đạo, ích khiêm lưu khiêm, quỷ thân phúc khiêm, nhân đạo hiếu khiêm. Khiêm hay biết là dường nào! Dương Chu lấy câu chuyện ấy ra dạy học trò rất là phải lắm.

 
170. BA ĐIỀU PHẢI NGHĨ

Đức Khổng Tử nói:
- Người quân tử có ba điều phải nghĩ, ta chẳng nên chẳng xét đến:

1) Lúc nhỏ nếu mà chẳng học, thì đến lúc lớn ngu dốt không làm được việc gì.

2) Lúc già yếu mà không đem những điều mình biết để dạy người, thì sau đến lúc chết chẳng ai thương tiếc.

3) Lúc giàu có nếu mà chẳng bố thí, thì đến lúc khốn cùng chẳng ai cứu giúp.

Cho nên người quân tử lúc nhỏ nghĩ đến lúc lớn thì chăm học, lúc già nghĩ đến lúc chết thì chăm dạy, lúc có nghĩ đến lúc không thì chăm cứu giúp người nghèo khổ.

Gia Ngữ

LỜI BÀN

Lúc nhỏ mà nghĩ đến lúc lớn, lúc già mà nghĩ đến lúc chết, đang giàu mà nghĩ đến nỗi nghèo khổ, ba điều lo xa. Phàm người ta có chịu trông xa như thế mà là biết phòng bị những cái ưu hoạn trước khi nó xảy ra vậy. Đức Khổng Tử còn có nói:
“Người ta không nghĩ xa tất có sự ưu hoạn gần”, cũng là có có nghĩa dự phòng như lời nói trong bài này vậy. (Câu chữ Hán là: Nhân vô viễn lự, tất hữu cận ưu).
Đăng nhập để trả lời
0
171. LO, VUI

Thầy Tử Lộ hỏi Đức Khổng Tử rằng:
- Người quân tử cũng lo sợ ư?

Đức Khổng Tử nói:
- Người quân tử chỉ cốt suy nghĩ định liệu công việc của mình, lúc chưa làm được thì vui rằng mình có ý định làm, lúc làm được thì lại vui rằng mình có trí làm được việc. Thế nên người quân tử có cái vui thú suốt đời, không có cái lo sợ một ngày nào cả.
Kẻ tiểu nhân thì không thế, lúc chưa làm được việc thì lo sợ rằng không được, lúc đã làm được việc thì lo sợ lỡ hỏng mất. Thế nên kẻ tiểu nhân có cái lo sợ suốt đời, không có cái vui thú nào cả.

Thuyết Uyển

172. THẤY LỢI NGHĨ ĐẾN HẠI

Liệt Tử nghèo khổ, có khi đói khát không có gì mà ăn uống.

Có người nói với vua Tử Dương nước Trịnh rằng:
- Liệt Tử là một người cao thượng, nay ở nước vua mà phải bần cùng, thì hóa ra nhà vua không biết quí trọng người giỏi ư?

Tử Dương nghe nói, sai sứ giả đưa cho Liệt Tử vài mươi xe thóc.
Liệt Tử ra yết kiến sứ giả, vái hai vái, xin từ không nhận.

Sứ giả đi, Liệt Tử vào nhà trong. Vợ ngóng trông bực tức, tự đập vào ngực mà nói rằng:
- Thiếp nghe vợ con những bậc đạo đức cao thượng đều được an nhàn vui vẻ, nay vợ con tiên sinh túng đói, vua đưa cho tiên sinh thóc gạo, tiên sinh lại từ. Thế chẳng phải là số mệnh xui ra vậy hay sao?

Liệt Tử cười, bảo vợ rằng: Vua mà biết ta không phải là tự chính vua biết ta, tại nghe có người nói mới biết ta. Vua nghe người nói mới biết ta mà cho ta thóc, thì lúc bắt tội ta, tất vua cũng lại nghe người nói mà thôi. Vì thế mà ta không nhận thóc. Vả chăng chịu bổng lộc của người hoặc khi người mắc hoạn nạn, không liều giúp người là bất nghĩa. Mà nếu liều chết giúp kẻ vô đạo thì lại còn gọi là nghĩa thế nàp được.

Tử Dương sau quả bị nạn chết.

Liệt Tử

GIẢI NGHĨA

Trịnh: tên một nước nhỏ thời Xuân Thu, thuộc về tỉnh Hà Nam bây giờ

Sứ giả: người thay mặt và nhận lời người trên để đi nói hay làm một việc gì đó với ai

Yết kiến: đi chào người trên

Số mệnh: những sự hay dở, được hỏng của đời thường hình như định sẵn sự trời, không phải sức người làm nổi

Vô đạo: ăn ở không theo lẽ phải

LỜI BÀN

Đương lúc túng đói, gặp được vua chúa quý trọng, lại cho vài mươi xe thóc, người ta được thế chắc lấy làm vinh hạnh sung sướng, mà còn lên mặt với đời là khác. Liệt Tử đây khác hẳn, vái sứ giả hai vái, nói xin từ. Thái độ khiêm nhã thật đáng trọng! Xin từ mà không lộ vẻ tự ái, tự cao, không có một lời nghị luận đến thời sự, thậm chí phải vợ con giày vò mà Liệt Tử vẫn thản nhiên, chỉ ôn tồn nói qua mấy câu “ăn ở phải biết lui biết tới, biết ân biết nghĩa”. Người sao sáng suốt khôn ngoan mà như ngu dại, thật đáng phục lắm thay! Vì không thế không sống còn được ở đời loạn. Liệt Tử đây phần biết người hay dở, phần hiểu việc sâu xa. Thật là bực “minh triết bảo thân” vậy. (Câu chữ Hán là: Đã không ngoan lại sáng suốt để bảo toàn tấm thân.)

Ở đời sẵn có máu tham, thấy của tối mắt, đỏ đâu bâu đấy, sống chết mặc bay, đó là bệnh thông thường. Anh em chúng ta như muốn tránh bệnh ấy, tưởng nên học Liệt Tử biết rõ nghĩa lợi, hiểu đường lui tới mới là hơn.
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-13 06:51:52CTT>
173. THỦY CHUNG VỚI VỢ

Vua Cảnh Công có cô con gái yêu, muốn gả cho Án Tử. Một hôm vua đến ăn tiệc nhà Án Tử, thấy vợ Án Tử hỏi:
- Phu nhân đấy phải không?
Án Tử thưa: Vâng, phải đấy.

Vua nói: Ôi! Người trông vừa già vừa xấu! Quả nhân có đứa con gái trẻ và đẹp, muốn cho về hầu, khanh nghĩ sao?

Án Tử đứng dậy thưa rằng: Nội tử tôi nay thật già và xấu; nhưng lấy tôi và cùng tôi ăn ở đã lâu, kể từ lúc còn trẻ và đẹp. Xưa nay đàn bà lấy chồng lúc trẻ cốt để nhờ cậy lúc già, lúc đẹp lấy cốt để nhờ cậy lúc xấu. Nội tử tôi thường nhờ cậy tôi mà tôi cũng đã nhận sự nhờ cậy ấy. Nay nhà vua tuy muốn ban ơn, chắc cũng không nỡ để cho tôi ăn ở bội bạc với những điều nội tử tôi đã nhờ cậy tôi bấy lâu nay.

Nói đoạn Án Tử lạy hai lạy, xin từ không lấy.

Án Tử

GIẢI NGHĨA

Cảnh Công: vua hiền nước Tề thời Xuân Thu

Án Tử: tức là Án Anh, làm tướng đời vua Cảnh Công, ông là người trung thành, tiết kiệm có tiếng thời bấy giờ

Nội tử: tiếng để gọi vợ cả mình. Tiếng cổ dùng để gọi vợ các quan to.

Khanh: tiếng vua gọi một bậc quan to hay một vị đại thần

LỜI BÀN

Vợ chồng là bạn trăm năm đã phải duyên phải lứa lấy nhau từ lúc còn trẻ, kính yêu nhau thì đến lúc già ai lại có nỡ phụ nhau. Ngán thay thói đời giàu hay quên bạn, sang hay quên vợ. Lắm kẻ lúc còn hàn vi vợ nuôi cho ăn học, một mai được chút tiền của, chức tước đã phụ ngay vợ cũ mà kiếm vợ mới, hoặc kiếm vào chỗ giàu, hoặc kiếm vào chỗ sang, hoặc kiếm người trẻ tuổi xinh đẹp hơn. Những kẻ như thế dù viện lẽ gì, tổng chi cũng là phụ bạc cả. Nào đã mấy người được như Án Tử đây: gặp cảnh giàu sang như nhà vua, trẻ đẹp như công chúa, lại như muốn lấy uy quyền bức bách mình, mà mình nhất định cố từ. Ông là người ăn ở thủy chung với vợ tấm cám thật!

Bạn quần thoa đọc truyện này cũng nên ngẫm nghĩ, chớ nên tham lam tài danh mà lấy những kẻ đã đem lòng phụ vợ tào khang. Vì rằng người vợ xưa, nuốt được nghèo khổ, chịu được đắng cay ở với họ đã đã bao lâu mà họ còn phụ, thì họ lấy ta hoặc vì lợi chăng, hoặc vì thế chăng, hoặc vì sắc chăng, một khi lợi kém, thế hết, sắc suy, thì cái tình vợ chồng lúc bấy giờ lại hóa ra ngay cảnh người dưng nước lã.
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-13 06:52:59CTT>
174. ĐÁNG SỢ GÌ HƠN CẢ

Tại lầu sách nhà kia, có con hồ tinh không hiện hình ra bao giờ, nhưng vẫn thường hay trò chuyện. Chuyện nói rất lí thú, ai nghe cũng phải phục.

Một hôm tân khách họp đông, có con hát mời rượu ước với nhau rằng:
“Ai sợ gì thì cứ phải nói, mà nói vô lý thì phải phạt rượu”

Bấy giờ cử tọa lần lượt nói, nào sợ người học rộng, nào sợ người nhà giàu, nào sợ người quan to, nào sợ người nịnh giỏi, nào sợ người khiêm tốn quá, sợ người lễ phép câu nệ quá, nào sợ người thận trọng ít nói, sợ người hay nói nửa chừng…

Sau cùng hỏi đến hồ tinh thì hồ tinh đáp: Ta chỉ sợ hồ tinh.

Ai nấy đều cười bảo rằng: Người ta sợ hồ tinh mới phải, anh là đồng loại can gì mà sợ? Phạt anh một chén rượu.

Hồ tinh cười nói: Thiên ha duy có đồng loại là sợ nhau. Con cùng cha mới tranh gia sản; gái cùng chồng mới hay ghen tuông; kẻ tranh quyền nhau tất là quan lại đồng triều; kẻ tranh lợi nhau tất là lái buôn một chỗ. Bức nhau thì trở ngại nhau, trở ngại nhau thì huynh loát nhau. Nay lại còn người bắn con trĩ thì dùng con trĩ làm mồi, không dùng con gà, con ngỗng; người săn hươu thì dùng con hươu làm mồi không dùng con dê, con lợn. Phàm những việc phản gián đều là phải dùng đồng loại cả. Cứ thế mà suy thì tài nào mà hồ chẳng sợ hồ?

Cử tọa đều cho câu nói của hồ tinh là xác đáng.

Duyệt Vi

LỜI BÀN

Loài yếu sợ loài khỏe, kẻ dại sợ kẻ khôn, như chó sợ hùm, mường mọi sợ người văn minh hoặc vẫn có. Những cái sợ ấy là cái sợ họa hoằn. Chớ cái sợ kẻ đồng loại, kẻ đồng nghiệp mới là cái sợ thường luôn có, cái sợ thực đáng sợ luôn vậy. Người phải sợ người hơn sợ hùm beo, sư tử, kẻ đồng loại, người đồng nghiệp phải sợ nhau hơn là sợ người ngoài? Tại sao? – Tại chỉ có cùng nhau một loài, cùng nhau một nghề mới cạnh tranh, đá chọi lẫn nhau. Mà đã cạnh tranh, tất hay dòm dỏ nhau, tìm cách hại lẫn nhau để cầu lợi cho mình, thậm chí tàn sát nhau đến chôn sống hàng vạn quân, giết chết hàng triệu người mà vẫn không chán. Thảm thương thay! Người hại người!

175. CHỈ BIẾT CÓ MÌNH

Người ta sở dĩ đến nỗi phạm phải muôn nghìn tội lỗi là chỉ vì cái bệnh “chỉ biết có mình”. Vì cớ mình chỉ biết có mình, mình mới suy tính thiên phương bách kế, chỉ muốn cho mình giàu, chỉ muốn cho mình sang, chỉ muốn cho mình sống, chỉ muốn cho mình vui, chỉ muốn cho mình yên, chỉ muốn cho mình thọ, còn người ta nghèo hèn, nguy khổ, lụn bại, chết chóc, nhất thiết là chẳng nghĩ gì đến cả. Bởi thế mà sinh ý chẳng liên can, thiên ý đến tuyệt duyệt, tuy có hình người, kỳ thực không khác gì cầm thú.

Ví bằng trừ bỏ cái bệnh “chỉ biết có mình” tâm địa rộng rãi, công minh, giàu sang, nghèo hèn, vui khổ, sống chết đều cùng chung với cả loài người thì sinh ý quán triệt, ai nấy được hả lòng mà thiên lý giữ được trọn vẹn. Thế là thân ta cùng với muôn vật là nhất thể vậy.

Tiết Huyên
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
176. Thở dài

Ông Hải Tiều Tử lúc thư công việc, thường hay thở dài.
Môn nhân hỏi:
Tiên sinh hay thở dài như vậy là cớ làm sao?

Ông nói:
Ta ước gì các nước trên mặt đất thân yêu nhau để cho bao nhiêu binh cách phải xếp bỏ cả một chỗ.

Ta ước gì người quân tử lại tiến dẫn quân tử để cho bao nhiêu quân tiểu nhân phải lui về hết sạch.

Ta ước gì những trai có vợ, gái có chồng ai nấy đều yên phận để cho giáo hóa được rõ ràng.

Ta ước gì nhân dân biết giữ gìn tính mệnh mà chăm làm ăn để cho hàng năm được mùa sung sướng.

Ta ước gì ai ai cũng biết con đường phải mà noi theo để không phụ cái chí Thánh hiền thời cổ.

Ta ước mãi mà chưa được, nên ta mới thở dài.

Hải Tiều Tử

Giải nghĩa:
Hải Tiều Tử: tức Vương Sùng Khánh người đời nhà Minh đỗ Tiến sĩ, là quan đến Lại bộ thượng thư là một nhà trước thuật có tiếng bấy giờ.

Lời bàn: Các nước mà tàn bạo sát phạt lẫn nhau để tranh giành, cướp đất của nhau. Những quân gian ác mà cầm quyền giữ chính để cho những bậc hiền tài phải vùi dập. Nam nữ mà dâm ô mất hết liêm sỉ, làm cho phong hóa suy đồi. Nhân dân mà ngu dốt, lười biếng để đến nỗi phải đói rách. Học thuật mà sai lầm để đến nỗi đi vào con đường không hay. Cuộc hòa bình, sự kén nhân tài, nền phong hóa, việc dân sinh, sự giáo dục của loài người mà đồi bại đến nỗi như thế thì còn gì mà không khiến cho người ta phải chán ngán, phiến bực cho đời nữa! Ôi! Năm câu ước của Hải Tiều Tử đây bao giờ mới thành, để cho ông cùng cả bao nhiêu người có chút quan niệm đến quốc kế dân sinh, giáo hóa phong tục, không đến nỗi phải cất tiếng lên mà thở dài nữa?

177. Thằng điên

Các anh có trông thấy người phải bệnh điên bao giờ không?

Đương lúc hôn mê rồ dại, người điên lăn xuống nước dẫm lên lửa, đâm vào chông gai, mặt hớn hở miệng nghêu ngao, vẫn tự tin cho mình là phải.

Đến khi gặp thầy thuốc hay, hết cách chạy chữa, người điên khỏi dần và tỉnh lại.Bà con kể lại chuyện người ấy lắm lúc đang có bệnh điên, thì người ấy rùng mình lấy làm khổ. Bà con kể lại chuyện người ấy lúc uống thuốc tỉnh dần, thì người ấy vui vẻ lấy làm mừng và ân hận gặp thầy, gặp thuốc muộn quá.

Ấy người phải bệnh điên vừa còn chữa được thì như thế. Chớ nếu là người phải bệnh điên nặng không thể chữa được, thì người ấy không những không chịu phục thuốc lại còn mắng thầy thuốc làm cho mất tính thường của mình nữa.

Dương Minh Tử

Lời bàn: Bệnh điên nói trong bài đây tức là lòng tự dục nó làm cho con người mê lú như điên cuồng không còn biết phải trái là gì nữa. Nếu người mắc bệnh tư dục còn nhẹ, may nhờ có người dạy bảo cho, thì còn có thể hối ngộ sửa nết lại mà sửa dần tính xấu đi được. Nhưng nếu là người mắc bệnh tư dục nặng quá hoặc có ai muốn giáo hóa cho, thì người ấy chẳng những không hối ngộ sửa nết lại được mà lại còn trách oán cả người giáo hóa, bảo người ấy là làm mình mất cả tính thường đi. Ôi! Đáng sợ lắm thay! Lương tâm mất đi một vài phần, thì còn có thể cứu được, chớ lương tâm mà đã táng tận, thì còn gì là người mong hóa đi được nữa. Cho nên ta phải cố giữ lấy lương tâm. Chớ bảo một cái lỗi nhỏ có phạm vào cũng không can chi. Cái nết đã quen đi rồi, thì khác nào như xuống dốc chỉ có phần lăn xuống, thụt sa lầy, chỉ có phần thụt xuống, chớ không tài nào lăn trở lại hay ngoi lên được nữa.
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-13 06:58:43CTT>
178. Người xuất tục

Tiếng sấm, tiếng sét không làm thế nào cho nhỏ được tiếng để hòa với tiếng chuông tiếng khánh. Mặt trời, mặt trăng không làm thế nào cho cong được ánh sáng để thấu đến ngõ hẻm, hang cùng. Sông to không làm thế nào mà thu bờ hẹp lại để vừa ý kẻ muốn lội qua. Núi cao không làm thế nào mà rút được ngọn thấp xuống để chiều lòng kẻ muốn trèo chơi.

Cho nên, cũng như cái xe to không thể thu nhỏ bánh để tạm đi qua đường hẹp, người cao sĩ không chịu khuất khúc để hòa đồng với thế lực.

Bão Phúc Tử

Giải nghĩa: Bão Phác Tử: tức ông Cát Hồng, người đời nhà Tấn, có làm pho sách nhan là Bão Phác Tử, vừa nói về thần tiên vừa nói về chính trị.

Lời bàn: Chính ý bài này cốt tỏ rõ thế nào là một người cao sĩ xuất tục. Nhưng tác giả không định nghĩa người xuất tục là gì, tác giả tìm mấy sự ở ngoài mà ví vào người, khiến cho ta đọc hiểu rõ ngay, tục với xuất tục đại để khác nhau như thế nào. Tiếng sấm vời tiếng chuông, ánh sáng mặt trời với ngõ hẻm, sông to với người muốn lội, núi cao với người muốn trèo, xe bánh rộng với đường hẹp, khác nhau xa làm sao, không đon được nhau thế nào, thì người xuất tục khác người tục và không hòa đồng với người tục cũng như thế.
__________________
 
179. Vợ thầy kiện

Có một người thầy kiện rất giỏi. Mỗi khi thảo đơn kiện cho ai, định buộc tội gạt lỗi cho nhiều người mà ý nghĩ chưa được sâu sắc, lời nói chưa được chặt chẽ, thì cứ ngồi yên một chỗ để cấu tứ. Những lúc ấy, thường dặn người nhà, có khách hỏi, không được cho vào, cả đến vợ cũng phải lánh xa ở một buồng khác.

Vợ người thầy kiện trước kia vẫn đã cùng người láng giềng đầu mày cuối mắt chỉ vì không dịp, không chỗ cho nên dòm dỏ đã hơn một năm, mà chưa được thân cận với nhau. Bây giờ biết thế, mỗi khi gặp người thầy kiện cấu tứ thì người vợ bèn lại chuyện trò quấy rối để phải mắng, phải đuổi tránh đi chỗ khác.

Thành vì thế mà người vợ với người láng giềng được bao nhiêu cơ hội đi lại với nhau luôn, kể hàng bao nhiêu năm mà không ai biết.
Sau người thầy kiện vì cấu tứ mãi mà chết. Người vợ chửa hoang phải nhà chồng kiện.

Quan sát xét căn do việc đi lại với ai. Người vợ thầy kiện phải thú thực.
Quan vỗ bàn, thở dài nói:
Ngòi bút của người thầy kiện đã khéo, ai ngờ cơ trời còn khéo hơn!

Duyệt Vi

Lời bàn: Thầy kiện tức là luật sư. Luật sư là người hơn ai hết, hiểu thấu các tinh túy của luật pháp, nếu rõ nỗi u ẩn của nhân dân. Chính phủ nhờ có luật sư mà thêm sáng việc, quần chúng nhờ có luật sư mà đỡ hàm oan. Vậy làm thầy kiện mà gỡ tội cho kẻ oan, đáng trọng biết bao nhiêu, thì buộc tội cho người ngay hay bênh vực kẻ gian ác, đáng khinh bấy nhiêu. Người thầy kiện nói trong bài này là một tay giảo hoạt chắc đã nhiều lần, lấy lý mà thắt người ngay vào tội ghê gớm lắm. Bởi vậy tác giả mới thuật lại chuyện này, nói người thầy kiện vừa tự hại mình, lại để cho vợ phản mình, có ý dạy người tuy khôn khéo đến đâu, cũng không lọt được vành Tạo vật. Tạo vật thường vẫn ghét người xảo, bao giờ cũng bắt sẵn cái cân để cân lại cho công bằng. Nhiều khi muốn hại người, người chẳng thấy đâu, lại chỉ thấy cái hại nó quay ngay vào chính mình trước.
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-13 07:01:38CTT>
180. Ác ngầm

Vua Ngụy đem một người con gái đẹp dâng vua Kinh. Vua Kinh lấy làm thích và yêu lắm.

Phu nhân là Trịnh Tụ biết thế, chính mình cũng yêu mến người con gái, có khi lại yêu mến hơn vua. Người con gái ấy muốn ăn mặc, chơi bời gì, phu nhân cũng đều sắm sửa cho đủ cả.

Vua khen:
Phu nhân biết ta yêu mến tân nhân, mà đem lòng yêu mến tân nhân quá ta thật có khác nào như người con có hiếu thờ cha *** người bầy tôi trung thờ vua vậy.

Phu nhân đã chắc bụng vua không ngờ mình là người ghen, nhân dịp mới bảo tân nhân rằng:
Vua yêu mến nhà ngươi lắm, nhưng ghét cái mũi ngươi. Giá từ nay, hễ ngươi trông thầy vua, ngươi cứ che lấy cái mũi đi, thì vua yêu mến được mãi đấy.

Tân nhân theo lời, từ đó mỗi khi trông thấy vua, là che mũi lại.
Vua thấy thế, bảo phu nhân rằng:
Tân nhân trông thấy ta mà cứ che mũi là ý làm sao?

Phu nhân trước thưa:
Tôi không được rõ.

Đợi vua cưỡng hỏi nữa, mới thưa rằng:
Tôi nghe đâu như tân nhân có nói hơi vua khí nặng lấy làm khó chịu.
Vua phát giận bảo:
À nếu thế thì xẻo mũi nó đi.

Vua nói đoạn, thì một viên quân hầu cầm dao ra xẻo ngay mũi tân nhân. Vì phu nhân đã dặn trước, hễ thầy vua phán gì, là làm ngay lập tức.

Hàn Phi Tử

Giải nghĩa:
-Ngụy: tên một nước về thời Chiến Quốc ở về phía bắc tỉnh Hà Nam và phía tây nam tỉnh Sơn Tây ngày nay.

-Kinh: tức là nước Sở thời Chiến Quốc ở về Hồ Nam, Hồ Bắc ngày nay.

Lời bàn:
Phàm người đời cái gì đáng ghét mà lại yêu, cái gì muốn tranh mà lại nhường, làm trái hẳn thường tình, đều là những người dụng tâm một cách nham hiểm cả. Sự yêu ấy chính là cái giết ngầm, sự nhường ấy chính là cái cướp sạch. Đáng thương cho những kẻ ngu mê nông nổi dạ thật tin người để đến nỗi mắc vào lưới cạm mà không biết.

Trong chuyện này người con gái thì khở dại, vua Kinh thì quá tin. Hai người có hai cái tật như thế, thì tránh sao cho khỏi sự dụng tâm độc ác của phu nhân. Than ôi! Người đang xinh đẹp mà bị cắt mất mũi, bụng đang yêu mến mà để hỏng mất của yêu, ghê gớm thay cho cái lòng nham hiểm, cái mưu thâm độc của Trịnh Tụ.
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-13 07:11:52CTT>
181. Bảy cô vợ lẽ

Ông Phật Ấn là bạn thân của ông Tô Đông Pha, khi trò chuyện hai ông thường đùa bỡn cợt nhả.

Đông Pha có bảy người thiếp.
Một hôm, Phật Ấn đùa bảo Đông Pha rằng:
Sao mà bác lấy nhiều thiếp thế? Bác có chịu bằng lòng tặng tôi được cô thiếp thứ bảy không?

Đông Pha cười nói:
Sao lại không được?

Rồi Đông Pha về nhà đem chuyện nói vời người thiếp.
Người thiếp thưa:
Đó là chuyện nói đùa nhau chứ gì.

Đông Pha nói:
Ta đã hứa rằng cho, thì không nên sai lời. Bây giờ nàng cứ xem ra thế nào.
Chập tối. Tô Đông Pha cho xe người thiếp đến.

Phật Ấn đón người thiếp cho vào nắm trong buồng, rổi bỏ màn xuống. Trước buồng đã đặt sẵn bảy cái hỏa lò cái nào cũng đầy than đỏ rực. Ông bước qua từng cái một, bước qua hết một lượt, rồi lại bước lại cứ thế suốt đêm. Đến sáng ông cho xe người thiếp về trả.

Người thiếp về kể lại đầu đuôi câu chuyện. Đông Pha chợi nghĩ ra, nói rằng:
Bảy cái hỏa lò là chỉ vào bảy người thiếp của ta, giống như bảy cái hang lửa. Ông làm ra như thế, là ông có ý bảo ông đã vượt ra được ngoài sắc dục còn ta thì lại sa ngã đắm đuối vào đấy. Ông này ý muốn làm cho ta tỉnh ngộ chăng.

Dục Hải Từ Hàng.

Giải nghĩa:
Phật Ấn: tên một vị cao tăng có tài hùng biện đời nhà Tống.
Tô Đông Pha: tức là Tô Thức, người đời nhà Tống có tiếng giỏi về văn chương, thi, họa.

Lời bàn: Đông Pha là một bậc tài học phong lưu, Phật Ấn là một nhà tu hành đắc đạo. Người phong lưu thì chỉ cốt đời người cho sung sướng là thỏa lòng, nhà tu hành thì chỉ cốt trí tuệ cho cao minh là mãn nguyện. Cứ bình tĩnh mà nói, thì ai là người chẳng thích phong lưu. Nhưng có biết đâu, “ Phong lưu là cạm ở đời, hồng nhan là bả con người tài hoa”. Bao nhiêu thị dục thường hại cho người ta hết cả. Xưa nay kể sao cho xiết được những kẻ vì thị dục, mà mất hết cả tính thiêng liêng mầu nhiệm, mà hỏng hết cả phẩm giá, thanh danh. Trong các món thị dục, thì sắc dục có phần tệ nhất. Dâm là cái tội ở đầu muôn tội. Muỗn tránh tội ác, cần phải giới dâm.

Phật Ấn đây thật có ý thương có lòng yêu Đông Pha lắm. Chơi với anh em mà bày trò ra như thế để khuyên anh em. Cũng là một cách thuyết pháp thực tế mà cảm hóa được người ta sâu xa vậy.

 
Chân Trời Tím

Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 4 5 » »»