<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-08 19:31:16ct.ly>
65 NĂM NGÀY GIỖ TẢN ĐÀ – NGUYỄN KHẮC HIẾU
Chiếc “cầu nối” của thi ca Việt Nam
Nhà thơ Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 08.05.1889 ở làng Khê Thượng, huyện Ba Vì, nay thuộc tỉnh Hà Tây. Ông tạ thế tại Hà Nội ngày 07.6.1939. Trên văn đàn của văn học VN trong hơn 3 thập niên đầu thế kỷ XX, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tạo. Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, An Nam tạp chí. Ông được đánh giá là người mở đầu cho thơ mới của văn học Việt Nam.

Nhà thơ Tản Đà (08.05.1889 - 07.6.1939)
Tản Đà là một cây bút phóng khoáng, xông xáo trên nhiều lĩnh vực, đi khắp miền đất nước, ông để lại nhiều tác phẩm với nhiều thể loại. Bài thơ: “Thề non nước” của ông đã hun đúc lòng yêu nước của nhiều thế hệ người Việt Nam. Hình ảnh non non nước song hành sánh đôi trong cả bài thơ, cùng đồng vọng hoà nên nét trữ tình, lãng mạn của bài thơ. Hai hình ảnh son sắt, gắn bó đến không thể tách rời. Nỗi chờ mong mòn mỏi đựơc khắc hoạ trong cả thời gian xa cách lẫn trong cả không gian muôn trùng rộng lớn. Tình yêu nào còn có thể mãnh liệt hơn cái tức tưởi đến héo hon tàn tạ của suối khô dòng lệ, hình ảnh nào còn có thể thủy chung, son sắt hơn lời thề non nước được nhắc đến trong suốt cả bài thơ. Mở đầu là một lời thề và kết thúc cũng lại một lời thề, một lời thề thiêng liêng xuyên suốt, bao trùm lên cả bài thơ, mang đến cho người đọc cái cảm giác của một mối tình mãnh liệt, sâu đậm đến phi thường: Dù cho sông cạn đá mòn, và đó là lòng yêu nước sâu sắc của dân tộc ta!
Những tác phẩm nổi tiếng khác của Tản Đà gồm: Khối tình con I, Khối tình con II, Giấc mộng con, Giấc mộng lớn, Tản Đà xuân sắc...
Nhà thơ bước vào văn chương ở giai đoạn Tân – Cổ giao thời.
Thơ cổ phong không thể chứa đựng hết ý tứ rộng rãi của thời đại mới. Nhà thơ phải tự tìm lấy con đường mới. Tản Đà đương nhiên trở thành một tác giả tự do, cả về hình thức lẫn nội dung không còn bị khuôn sáo câu thúc. Khi thì ông thể hiện thơ qua hình thức hát nói, hát sẩm, tứ tuyệt, bát cú, yết hậu, lục bát, trường đoản, từ khúc, trường thiên... Khi thì bằng nội dung: tập Kiều, thù tiếp, thơ họa... Tản Đà làm thơ như nói, như chơi nhưng dào dạt tình người.Trong thơ Tản Đà, người đọc dễ nhận thấy dân ca đi liền với triết học, cổ điển xen cùng lãng mạn cách tân, trào phúng hoà lẫn trữ tình.
Nhà thơ Vũ Quần Phương nhận xét:
- ” Hồn mơ mộng, thơ hiu hắt, tình điệu âm u. Cõi u ẩn của lòng người, cao thấp sang hèn gì, đều dám phơi lên mặt giấy, gợi thương, gợi buồn, gợi cảm thông. Bài Tống biệt từ âm điệu đến hình ảnh đều nói được cái dúng dắng của khách trần lưu luyến động tiên, khát thèm mộng ảo:
Cửa động.
Đầu non.
Đường lối cũ
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi.
Bài Nhớ mộng mở đầu như một sự giác ngộ Giấc mộng mười năm đã tỉnh rồi. Nhưng tỉnh lại thấy không bằng mộng:
Nghĩ đời lắm nỗi không bằng mộng!
Tiếc mộng bao nhiêu lại ngán đời.
Hai câu này còn là cái lãng mạn mực thước của chủ nghĩa cổ điển. Nó là tổng kết chung của cõi đời dâu bể. Cái chỗ hé ra nỗi niềm Tản Đà là ở câu Những lúc canh gà ba cốc rượu và Mộng cũ, mê đường biết hỏi ai. Tản Đà có những câu thơ chán đời nhưng trong cốt lõi, ông là người ham chơi, ham sống:
Trời sinh ra bác Tản Đà
Quê hương thời có cửa nhà thời không
Nửa đời Nam Bắc Tây Đông
Bạn bè xum họp vợ chồng biệt ly.
Tản Đà chỉ hiện thực khi nào cái thực đánh rất đau vào cái mộng, đánh vào tâm trí nhân ái: Năm hào một đứa trẻ lên sáu. Tiền có năm mà trẻ lên sáu, ấn tượng con số diễn tả sự rẻ rúng của phận người năm lụt lội đói kém”.
Tản Đà qua ký hoạ
Nhà thơ cổ phong cuối cùng Quách Tấn vốn rất mến mộ thi sĩ Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu, ông viết trong hồi ký “Tản Đà tiên sinh đối với tôi là bậc tiền bối, song coi tôi như người bạn vong niên. Đề tựa “Một Tấm Lòng” ra đời năm 1939, Tiên sinh có câu: “Ông Quách Tấn người Bình Định… với tôi, tuy chưa từng gặp mặt nhau, mà có thể coi nhận nhau là cố nhân…”. Và trong thư từ qua lại từ 1932, Tiên sinh luôn luôn dùng hai chữ “cố nhân” mà gọi tôi. Nhưng đối với Tiên sinh, tôi vẫn một mực tôn kính vào bậc thầy… Nhờ Tiên sinh nâng đỡ, dìu dắt, mà tôi có được đôi chút sự nghiệp văn chương. Ơn sâu không xiết kể. Tôi ngưỡng mộ Tiên sinh từ buổi thiếu thời”. Điều khá bất ngờ là Quách Tấn lại miêu tả từng chi tiết về Tản Đà trong ẩm thực: “Mỗi bữa ăn của Tản Đà kéo dài hàng buổi, và món ăn phải hợp khẩu mới chịu ăn. Đã có lần vì nhà thơ muốn ăn tiết canh vịt mà nửa đêm chủ nhân phải chạy đi tìm mua vịt để làm tiết canh. Lại một lần nữa vì bữa ăn thiếu rau thơm, mà sân gạch của một người bạn thân bị Tiên sinh đào lên để trồng rau thơm theo ý thích”. Năm 1939, hay tin Tản Đà mất, Quách Tấn “thiết hương án hướng ra Bắc lạy anh hồn Tiên sinh bốn lạy”. Quách Tấn và Tản Đà là cả một mối tình thâm! Tập thơ Một Tấm Lòng của Quách Tấn được Tản Đà đề tựa: “Nay ông xuất bản tập thơ, mà trước khi tập thơ ấy ra đời, ông có lòng nhớ đến cố nhân cho biết. Thời chút tình tương tri tương ái, ai nhớ ai mà ai dám quên ai”.
Nhân kỷ niệm 115 năm ngày sinh Tản Đà, ngày 22.5 vừa qua, chính quyền và nhân dân làng Khê Thượng, xã Sơn Đà, huyện Ba Vì (Hà Tây) đã tổ chức lễ kỷ niệm. Sau lễ dâng hương, các đại biểu ôn lại thân thế, sự nghiệp của Tản Đà. Với kiến thức uyên bác, ông đã để lại một gia tài khá bề thế bao gồm nhiều thể loại: báo chí, dịch thuật, khảo luận, sân khấu và đặc biệt là thơ.
Trong lịch sử văn học Việt Nam, Tản Đà giữ một vị trí quan trọng, là tác giả tạo sự chuyển tiếp giữa hai nền văn học cổ điển và hiện đại, ông cũng là một trong những người mở đầu phong trào Thơ Mới, người mang hơi thở mới để ngôn ngữ thơ mang tính cá thể gắn liền với đời thường, đậm đà tính dân tộc. Cũng nhân dịp này, UBND Hà Tây đã cấp bằng xếp hạng khu di tích lưu niệm danh nhân Tản Đà tại xã nhà.
VÂN TRINH
TỐNG BIỆT
Lá đào rơi rắc lối thiên thai
Suối tiễn, oanh đưa những ngậm ngùi
Nửa năm tiên cảnh
Một bước trần ai
Ước cũ, duyên thừa có thế thôi!
Đá mòn, rêu nhạt.
Nước chảy, hoa trôi
Cái hạc bay lên vút tận trời
Trời đất từ nay xa cách mãi
Cửa động
Đầu non
Đường lối cũ
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi ...
TẢN ĐÀ
THỀ NON NƯỚC
Nước non nặng một lời thề
Nước đi, đi mãi, không về cùng non.
Nhớ lời "nguyện nước thề non",
Nước đi chưa lại, non còn đứng không.
Non cao những ngóng cùng trông
Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày,
Xương mai một nắm hao gầy,
Tóc mây một mái đã dày tuyết sương.
Trời tây chiếu bóng tà dương,
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha.
Non cao tuổi vẫn chưa già,
Non thời nhớ nước, nước mà quên non.
Dù như sông cạn đá mòn,
Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa.
Non xanh đã biết hay chưa?
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn.
Nước non hội ngộ còn luôn
Bảo cho non chớ có buồn làm chi.
Nước kia dù hãy còn đi,
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui.
Nghìn năm giao ước kết đôi,
Non non nước nước không nguôi lời thề.
TẢN ĐÀ
Chiếc “cầu nối” của thi ca Việt Nam
Nhà thơ Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 08.05.1889 ở làng Khê Thượng, huyện Ba Vì, nay thuộc tỉnh Hà Tây. Ông tạ thế tại Hà Nội ngày 07.6.1939. Trên văn đàn của văn học VN trong hơn 3 thập niên đầu thế kỷ XX, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tạo. Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, An Nam tạp chí. Ông được đánh giá là người mở đầu cho thơ mới của văn học Việt Nam.

Nhà thơ Tản Đà (08.05.1889 - 07.6.1939)
Tản Đà là một cây bút phóng khoáng, xông xáo trên nhiều lĩnh vực, đi khắp miền đất nước, ông để lại nhiều tác phẩm với nhiều thể loại. Bài thơ: “Thề non nước” của ông đã hun đúc lòng yêu nước của nhiều thế hệ người Việt Nam. Hình ảnh non non nước song hành sánh đôi trong cả bài thơ, cùng đồng vọng hoà nên nét trữ tình, lãng mạn của bài thơ. Hai hình ảnh son sắt, gắn bó đến không thể tách rời. Nỗi chờ mong mòn mỏi đựơc khắc hoạ trong cả thời gian xa cách lẫn trong cả không gian muôn trùng rộng lớn. Tình yêu nào còn có thể mãnh liệt hơn cái tức tưởi đến héo hon tàn tạ của suối khô dòng lệ, hình ảnh nào còn có thể thủy chung, son sắt hơn lời thề non nước được nhắc đến trong suốt cả bài thơ. Mở đầu là một lời thề và kết thúc cũng lại một lời thề, một lời thề thiêng liêng xuyên suốt, bao trùm lên cả bài thơ, mang đến cho người đọc cái cảm giác của một mối tình mãnh liệt, sâu đậm đến phi thường: Dù cho sông cạn đá mòn, và đó là lòng yêu nước sâu sắc của dân tộc ta!
Những tác phẩm nổi tiếng khác của Tản Đà gồm: Khối tình con I, Khối tình con II, Giấc mộng con, Giấc mộng lớn, Tản Đà xuân sắc...
Nhà thơ bước vào văn chương ở giai đoạn Tân – Cổ giao thời.
Thơ cổ phong không thể chứa đựng hết ý tứ rộng rãi của thời đại mới. Nhà thơ phải tự tìm lấy con đường mới. Tản Đà đương nhiên trở thành một tác giả tự do, cả về hình thức lẫn nội dung không còn bị khuôn sáo câu thúc. Khi thì ông thể hiện thơ qua hình thức hát nói, hát sẩm, tứ tuyệt, bát cú, yết hậu, lục bát, trường đoản, từ khúc, trường thiên... Khi thì bằng nội dung: tập Kiều, thù tiếp, thơ họa... Tản Đà làm thơ như nói, như chơi nhưng dào dạt tình người.Trong thơ Tản Đà, người đọc dễ nhận thấy dân ca đi liền với triết học, cổ điển xen cùng lãng mạn cách tân, trào phúng hoà lẫn trữ tình.
Nhà thơ Vũ Quần Phương nhận xét:
- ” Hồn mơ mộng, thơ hiu hắt, tình điệu âm u. Cõi u ẩn của lòng người, cao thấp sang hèn gì, đều dám phơi lên mặt giấy, gợi thương, gợi buồn, gợi cảm thông. Bài Tống biệt từ âm điệu đến hình ảnh đều nói được cái dúng dắng của khách trần lưu luyến động tiên, khát thèm mộng ảo:
Cửa động.
Đầu non.
Đường lối cũ
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi.
Bài Nhớ mộng mở đầu như một sự giác ngộ Giấc mộng mười năm đã tỉnh rồi. Nhưng tỉnh lại thấy không bằng mộng:
Nghĩ đời lắm nỗi không bằng mộng!
Tiếc mộng bao nhiêu lại ngán đời.
Hai câu này còn là cái lãng mạn mực thước của chủ nghĩa cổ điển. Nó là tổng kết chung của cõi đời dâu bể. Cái chỗ hé ra nỗi niềm Tản Đà là ở câu Những lúc canh gà ba cốc rượu và Mộng cũ, mê đường biết hỏi ai. Tản Đà có những câu thơ chán đời nhưng trong cốt lõi, ông là người ham chơi, ham sống:
Trời sinh ra bác Tản Đà
Quê hương thời có cửa nhà thời không
Nửa đời Nam Bắc Tây Đông
Bạn bè xum họp vợ chồng biệt ly.
Tản Đà chỉ hiện thực khi nào cái thực đánh rất đau vào cái mộng, đánh vào tâm trí nhân ái: Năm hào một đứa trẻ lên sáu. Tiền có năm mà trẻ lên sáu, ấn tượng con số diễn tả sự rẻ rúng của phận người năm lụt lội đói kém”.
Tản Đà qua ký hoạ
Nhà thơ cổ phong cuối cùng Quách Tấn vốn rất mến mộ thi sĩ Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu, ông viết trong hồi ký “Tản Đà tiên sinh đối với tôi là bậc tiền bối, song coi tôi như người bạn vong niên. Đề tựa “Một Tấm Lòng” ra đời năm 1939, Tiên sinh có câu: “Ông Quách Tấn người Bình Định… với tôi, tuy chưa từng gặp mặt nhau, mà có thể coi nhận nhau là cố nhân…”. Và trong thư từ qua lại từ 1932, Tiên sinh luôn luôn dùng hai chữ “cố nhân” mà gọi tôi. Nhưng đối với Tiên sinh, tôi vẫn một mực tôn kính vào bậc thầy… Nhờ Tiên sinh nâng đỡ, dìu dắt, mà tôi có được đôi chút sự nghiệp văn chương. Ơn sâu không xiết kể. Tôi ngưỡng mộ Tiên sinh từ buổi thiếu thời”. Điều khá bất ngờ là Quách Tấn lại miêu tả từng chi tiết về Tản Đà trong ẩm thực: “Mỗi bữa ăn của Tản Đà kéo dài hàng buổi, và món ăn phải hợp khẩu mới chịu ăn. Đã có lần vì nhà thơ muốn ăn tiết canh vịt mà nửa đêm chủ nhân phải chạy đi tìm mua vịt để làm tiết canh. Lại một lần nữa vì bữa ăn thiếu rau thơm, mà sân gạch của một người bạn thân bị Tiên sinh đào lên để trồng rau thơm theo ý thích”. Năm 1939, hay tin Tản Đà mất, Quách Tấn “thiết hương án hướng ra Bắc lạy anh hồn Tiên sinh bốn lạy”. Quách Tấn và Tản Đà là cả một mối tình thâm! Tập thơ Một Tấm Lòng của Quách Tấn được Tản Đà đề tựa: “Nay ông xuất bản tập thơ, mà trước khi tập thơ ấy ra đời, ông có lòng nhớ đến cố nhân cho biết. Thời chút tình tương tri tương ái, ai nhớ ai mà ai dám quên ai”.
Nhân kỷ niệm 115 năm ngày sinh Tản Đà, ngày 22.5 vừa qua, chính quyền và nhân dân làng Khê Thượng, xã Sơn Đà, huyện Ba Vì (Hà Tây) đã tổ chức lễ kỷ niệm. Sau lễ dâng hương, các đại biểu ôn lại thân thế, sự nghiệp của Tản Đà. Với kiến thức uyên bác, ông đã để lại một gia tài khá bề thế bao gồm nhiều thể loại: báo chí, dịch thuật, khảo luận, sân khấu và đặc biệt là thơ.
Trong lịch sử văn học Việt Nam, Tản Đà giữ một vị trí quan trọng, là tác giả tạo sự chuyển tiếp giữa hai nền văn học cổ điển và hiện đại, ông cũng là một trong những người mở đầu phong trào Thơ Mới, người mang hơi thở mới để ngôn ngữ thơ mang tính cá thể gắn liền với đời thường, đậm đà tính dân tộc. Cũng nhân dịp này, UBND Hà Tây đã cấp bằng xếp hạng khu di tích lưu niệm danh nhân Tản Đà tại xã nhà.
VÂN TRINH
TỐNG BIỆT
Lá đào rơi rắc lối thiên thai
Suối tiễn, oanh đưa những ngậm ngùi
Nửa năm tiên cảnh
Một bước trần ai
Ước cũ, duyên thừa có thế thôi!
Đá mòn, rêu nhạt.
Nước chảy, hoa trôi
Cái hạc bay lên vút tận trời
Trời đất từ nay xa cách mãi
Cửa động
Đầu non
Đường lối cũ
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi ...
TẢN ĐÀ
THỀ NON NƯỚC
Nước non nặng một lời thề
Nước đi, đi mãi, không về cùng non.
Nhớ lời "nguyện nước thề non",
Nước đi chưa lại, non còn đứng không.
Non cao những ngóng cùng trông
Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày,
Xương mai một nắm hao gầy,
Tóc mây một mái đã dày tuyết sương.
Trời tây chiếu bóng tà dương,
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha.
Non cao tuổi vẫn chưa già,
Non thời nhớ nước, nước mà quên non.
Dù như sông cạn đá mòn,
Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa.
Non xanh đã biết hay chưa?
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn.
Nước non hội ngộ còn luôn
Bảo cho non chớ có buồn làm chi.
Nước kia dù hãy còn đi,
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui.
Nghìn năm giao ước kết đôi,
Non non nước nước không nguôi lời thề.
TẢN ĐÀ

![[:)]](/images/smiley/s1.gif)

