Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Nhà Thơ Tản Đà

39 trả lời, 2.300 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-08 19:31:16ct.ly>
65 NĂM NGÀY GIỖ TẢN ĐÀ – NGUYỄN KHẮC HIẾU

Chiếc “cầu nối” của thi ca Việt Nam



Nhà thơ Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 08.05.1889 ở làng Khê Thượng, huyện Ba Vì, nay thuộc tỉnh Hà Tây. Ông tạ thế tại Hà Nội ngày 07.6.1939. Trên văn đàn của văn học VN trong hơn 3 thập niên đầu thế kỷ XX, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tạo. Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, An Nam tạp chí. Ông được đánh giá là người mở đầu cho thơ mới của văn học Việt Nam.




Nhà thơ Tản Đà (08.05.1889 - 07.6.1939)

Tản Đà là một cây bút phóng khoáng, xông xáo trên nhiều lĩnh vực, đi khắp miền đất nước, ông để lại nhiều tác phẩm với nhiều thể loại. Bài thơ: “Thề non nước” của ông đã hun đúc lòng yêu nước của nhiều thế hệ người Việt Nam. Hình ảnh non non nước song hành sánh đôi trong cả bài thơ, cùng đồng vọng hoà nên nét trữ tình, lãng mạn của bài thơ. Hai hình ảnh son sắt, gắn bó đến không thể tách rời. Nỗi chờ mong mòn mỏi đựơc khắc hoạ trong cả thời gian xa cách lẫn trong cả không gian muôn trùng rộng lớn. Tình yêu nào còn có thể mãnh liệt hơn cái tức tưởi đến héo hon tàn tạ của suối khô dòng lệ, hình ảnh nào còn có thể thủy chung, son sắt hơn lời thề non nước được nhắc đến trong suốt cả bài thơ. Mở đầu là một lời thề và kết thúc cũng lại một lời thề, một lời thề thiêng liêng xuyên suốt, bao trùm lên cả bài thơ, mang đến cho người đọc cái cảm giác của một mối tình mãnh liệt, sâu đậm đến phi thường: Dù cho sông cạn đá mòn, và đó là lòng yêu nước sâu sắc của dân tộc ta!

Những tác phẩm nổi tiếng khác của Tản Đà gồm: Khối tình con I, Khối tình con II, Giấc mộng con, Giấc mộng lớn, Tản Đà xuân sắc...

Nhà thơ bước vào văn chương ở giai đoạn Tân – Cổ giao thời.
Thơ cổ phong không thể chứa đựng hết ý tứ rộng rãi của thời đại mới. Nhà thơ phải tự tìm lấy con đường mới. Tản Đà đương nhiên trở thành một tác giả tự do, cả về hình thức lẫn nội dung không còn bị khuôn sáo câu thúc. Khi thì ông thể hiện thơ qua hình thức hát nói, hát sẩm, tứ tuyệt, bát cú, yết hậu, lục bát, trường đoản, từ khúc, trường thiên... Khi thì bằng nội dung: tập Kiều, thù tiếp, thơ họa... Tản Đà làm thơ như nói, như chơi nhưng dào dạt tình người.Trong thơ Tản Đà, người đọc dễ nhận thấy dân ca đi liền với triết học, cổ điển xen cùng lãng mạn cách tân, trào phúng hoà lẫn trữ tình.

Nhà thơ Vũ Quần Phương nhận xét:
- ” Hồn mơ mộng, thơ hiu hắt, tình điệu âm u. Cõi u ẩn của lòng người, cao thấp sang hèn gì, đều dám phơi lên mặt giấy, gợi thương, gợi buồn, gợi cảm thông. Bài Tống biệt từ âm điệu đến hình ảnh đều nói được cái dúng dắng của khách trần lưu luyến động tiên, khát thèm mộng ảo:

Cửa động.
Đầu non.
Đường lối cũ
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi.

Bài Nhớ mộng mở đầu như một sự giác ngộ Giấc mộng mười năm đã tỉnh rồi. Nhưng tỉnh lại thấy không bằng mộng:

Nghĩ đời lắm nỗi không bằng mộng!
Tiếc mộng bao nhiêu lại ngán đời.

Hai câu này còn là cái lãng mạn mực thước của chủ nghĩa cổ điển. Nó là tổng kết chung của cõi đời dâu bể. Cái chỗ hé ra nỗi niềm Tản Đà là ở câu Những lúc canh gà ba cốc rượu và Mộng cũ, mê đường biết hỏi ai. Tản Đà có những câu thơ chán đời nhưng trong cốt lõi, ông là người ham chơi, ham sống:

Trời sinh ra bác Tản Đà
Quê hương thời có cửa nhà thời không
Nửa đời Nam Bắc Tây Đông
Bạn bè xum họp vợ chồng biệt ly.

Tản Đà chỉ hiện thực khi nào cái thực đánh rất đau vào cái mộng, đánh vào tâm trí nhân ái: Năm hào một đứa trẻ lên sáu. Tiền có năm mà trẻ lên sáu, ấn tượng con số diễn tả sự rẻ rúng của phận người năm lụt lội đói kém”.

Tản Đà qua ký hoạ

Nhà thơ cổ phong cuối cùng Quách Tấn vốn rất mến mộ thi sĩ Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu, ông viết trong hồi ký “Tản Đà tiên sinh đối với tôi là bậc tiền bối, song coi tôi như người bạn vong niên. Đề tựa “Một Tấm Lòng” ra đời năm 1939, Tiên sinh có câu: “Ông Quách Tấn người Bình Định… với tôi, tuy chưa từng gặp mặt nhau, mà có thể coi nhận nhau là cố nhân…”. Và trong thư từ qua lại từ 1932, Tiên sinh luôn luôn dùng hai chữ “cố nhân” mà gọi tôi. Nhưng đối với Tiên sinh, tôi vẫn một mực tôn kính vào bậc thầy… Nhờ Tiên sinh nâng đỡ, dìu dắt, mà tôi có được đôi chút sự nghiệp văn chương. Ơn sâu không xiết kể. Tôi ngưỡng mộ Tiên sinh từ buổi thiếu thời”. Điều khá bất ngờ là Quách Tấn lại miêu tả từng chi tiết về Tản Đà trong ẩm thực: “Mỗi bữa ăn của Tản Đà kéo dài hàng buổi, và món ăn phải hợp khẩu mới chịu ăn. Đã có lần vì nhà thơ muốn ăn tiết canh vịt mà nửa đêm chủ nhân phải chạy đi tìm mua vịt để làm tiết canh. Lại một lần nữa vì bữa ăn thiếu rau thơm, mà sân gạch của một người bạn thân bị Tiên sinh đào lên để trồng rau thơm theo ý thích”. Năm 1939, hay tin Tản Đà mất, Quách Tấn “thiết hương án hướng ra Bắc lạy anh hồn Tiên sinh bốn lạy”. Quách Tấn và Tản Đà là cả một mối tình thâm! Tập thơ Một Tấm Lòng của Quách Tấn được Tản Đà đề tựa: “Nay ông xuất bản tập thơ, mà trước khi tập thơ ấy ra đời, ông có lòng nhớ đến cố nhân cho biết. Thời chút tình tương tri tương ái, ai nhớ ai mà ai dám quên ai”.

Nhân kỷ niệm 115 năm ngày sinh Tản Đà, ngày 22.5 vừa qua, chính quyền và nhân dân làng Khê Thượng, xã Sơn Đà, huyện Ba Vì (Hà Tây) đã tổ chức lễ kỷ niệm. Sau lễ dâng hương, các đại biểu ôn lại thân thế, sự nghiệp của Tản Đà. Với kiến thức uyên bác, ông đã để lại một gia tài khá bề thế bao gồm nhiều thể loại: báo chí, dịch thuật, khảo luận, sân khấu và đặc biệt là thơ.

Trong lịch sử văn học Việt Nam, Tản Đà giữ một vị trí quan trọng, là tác giả tạo sự chuyển tiếp giữa hai nền văn học cổ điển và hiện đại, ông cũng là một trong những người mở đầu phong trào Thơ Mới, người mang hơi thở mới để ngôn ngữ thơ mang tính cá thể gắn liền với đời thường, đậm đà tính dân tộc. Cũng nhân dịp này, UBND Hà Tây đã cấp bằng xếp hạng khu di tích lưu niệm danh nhân Tản Đà tại xã nhà.

VÂN TRINH

TỐNG BIỆT

Lá đào rơi rắc lối thiên thai
Suối tiễn, oanh đưa những ngậm ngùi
Nửa năm tiên cảnh
Một bước trần ai
Ước cũ, duyên thừa có thế thôi!
Đá mòn, rêu nhạt.
Nước chảy, hoa trôi
Cái hạc bay lên vút tận trời
Trời đất từ nay xa cách mãi
Cửa động
Đầu non
Đường lối cũ
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi ...

TẢN ĐÀ

THỀ NON NƯỚC

Nước non nặng một lời thề
Nước đi, đi mãi, không về cùng non.
Nhớ lời "nguyện nước thề non",
Nước đi chưa lại, non còn đứng không.

Non cao những ngóng cùng trông
Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày,
Xương mai một nắm hao gầy,
Tóc mây một mái đã dày tuyết sương.
Trời tây chiếu bóng tà dương,
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha.
Non cao tuổi vẫn chưa già,
Non thời nhớ nước, nước mà quên non.
Dù như sông cạn đá mòn,
Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa.

Non xanh đã biết hay chưa?
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn.
Nước non hội ngộ còn luôn
Bảo cho non chớ có buồn làm chi.
Nước kia dù hãy còn đi,
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui.

Nghìn năm giao ước kết đôi,
Non non nước nước không nguôi lời thề.


TẢN ĐÀ
📎 nhà tho tan dà
Đăng nhập để trả lời
0
Tản Đà:Từ cậu ấm con quan đến nhà văn Quốc ngữ


“Bán văn buôn chữ kiếm tiền tiêu”



Cùng với những biến động lớn lao về chính trị, xã hội, kinh tế, văn hoá… những thay đổi về lực lượng sáng tác là một trong những tiền đề quan trọng dẫn đến quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam hồi mấy chục năm đầu thế kỷ XX. Sự đổi thay diễn ra không phải chỉ ở những lớp người sau trước khác nhau mà nhiều khi trong chính một con người. Tản Đà là một hiện tượng như thế. Hành trình từ một cậu ấm con quan đến nhà văn quốc ngữ “Bán văn buôn chữ kiếm tiền tiêu” không chỉ nói đến cảnh ngộ riêng tư của nhà thơ núi Tản sông Đà mà còn là biểu hiện sinh động của quá trình hiện đại hoá văn học nước ta thời kỳ này.

Tản Đà (1889-1939), sinh trưởng trong một gia đình có dòng dõi khoa bảng, đã từng được sống cuộc đời của cậu ấm con quan. Theo chí hướng của người anh cả cùng cha khác mẹ là Nguyễn Tái Thích, cậu ấm Hiếu được đào tạo theo đường cử nghiệp. Mười bốn tuổi, Tản Đà đã thạo các lối từ chương thơ phú. Đọc thơ văn Tản Đà, người đọc cũng rất dễ nhận ra một điều vốn Hán học của ông rất rộng, rất tinh thông. Tôn thờ sách vở thánh hiền, Tản Đà đã tự nhận mình là “á Châu Khổng phu tử chi đồ đệ” (Đồ đệ của Khổng Tử ở á Đông). Ông theo đuổi Khổng Mạnh để đi thi trong khi không ít những nho sĩ đã ngấy với cái mộng thi cử lỗi thời không phải chỉ vì lời thách đố của người đẹp phố Hàng Bồ (nàng chỉ xe duyên với cử nhân, tri huyện mà thôi). Hai lần thi hương là hai lần ông muốn xuất gia nhập thế bằng đường khoa cử mong lập nên sự nghiệp lớn có ích cho đời. Song, ý định không thành, lại đúng vào lúc xã hội đang có những chuyển mình ghê gớm, Tản Đà không thể độc thiện kỳ thân, ẩn dật để giữ mình thoát khỏi guồng quay của xã hội. Thêm vào đó là gánh nặng gia đình (một người vợ và tám con thơ), nhà thi sĩ ấy đã phải “Vứt bút lông đi viết bút chì” và trở thành một trong những người đầu tiên kiếm sống bằng nghề văn chương chữ nghĩa.

“Đem văn chương đi bán phố phường”, Tản Đà đã được hưởng thụ cũng như phải chịu đựng mọi vinh nhục của một nhà văn.

Nhờ tài văn chương ông đã bất ngờ nhận được gói quà là rau sắng chùa Hương của một bạn đọc không quen biết. Nguyễn Tuân có lần từ Thanh Hoá đã yêu quý gửi ra biếu hòm nem chua và bó đóm diêm. Một nhà giáo hay thơ là Mai Lâm đã viết một bài thơ viếng Tản Đà thật cảm động khi nghe tin nhà thơ qua đời trong khi thi sĩ còn sống đã làm Tản Đà thú lắm… Chưa hết, trong cái xã hội mà “đồng tiền là huyết mạch”, Tản Đà đã từng nhận được những món tiền biếu có khi tới trăm đồng, thậm chí cả nghìn đồng bạc. Đó đều là những cử chỉ để bày tỏ sự mến phục tài năng của nhà thơ núi Tản sông Đà.

Nhưng trong khi tài thơ văn của Tản Đà mọi người chia nhau hưởng, thì nỗi cay đắng của người cầm bút trong thời buổi trọng đồng tiền, vật chất ấy thi sĩ lại phải âm thầm chuốc lấy một mình. “Lo văn ế” là một bài thơ cảm động nói lên hiện thực bi thảm của người làm văn. Ví mình như “con tằm rút ruột lá dâu xanh” để “giả sợi tơ vàng”, Tản Đà vô cùng đau xót khi những đứa con tinh thần của mình bị nâng lên đặt xuống như một thứ hàng hoá vật chất. Đã thế lại còn bị bớt xén bởi chủ nhà in “Ông chủ nhà in in đã đắt”, ông hàng bán sách “Lại ông hàng sách mấy mươi phân”, rồi nhiều khi túng tiền tiêu quá mà đem bán rẻ, cuối cùng còn lại chẳng đáng bao nhiêu. Đau xót là vậy, nhưng “Chữ nghĩa Tây Tàu chót dở dang” và điều quan trọng là niềm đam mê đã trở thành nghiệp chướng nên thi sĩ phải lận đận suốt đời với nó:

Càng đau mà vẫn phải càng theo

Theo mãi cho nên vẫn cứ nghèo

Nghèo chỉ có văn văn lại ế

ế văn cho tới hết tiền tiêu.

Ngôn ngữ cứ động triển khai như vậy theo quy luật nội tại của nó và cái vòng luẩn quẩn của những điều từ “theo”, “nghèo”, “ế” cộng vơi âm “eo” chỉ sự thu lại, thắt lại, tạo nên một vòng xoáy hình trôn ốc. Cuộc đời cứ như sợi dây thòng lọng ngày một thít chặt thêm mãi, để cuối cùng thi sĩ phải ra đi vào tuổi năm mươi. Nhiều người mến phục tài năng của ông không khỏi xót xa ân hận khi biết nhà thơ qua đời vì đau gan và cạn máu: “Cảm động và đau đớn hơn nữa khi chúng ta lại được biết rõ: Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, nhà thi sĩ của thời đại, của chúng ta lại chết vì đau gan và cạn máu, sao chúng ta không dám nói thẳng là chết vì túng, nghèo” (Lê Tràng Kiều - “Nguyễn Khắc Hiếu không còn”).

Viết văn để kiếm tiền, Tản Đà chắc hẳn không thể xem đó là một hoạt động chỉ thuần tuý văn chương. Để văn chương trở thành thứ hàng hoá có thể thâm nhập được vào thị trường đô thị, nghĩa là đáp ứng được thị hiếu của khách hàng phần lớn là thị dân, Tản Đà đã dùng đến chữ Quốc ngữ - thứ chữ viết đang góp phần tích cực trong cuộc cách mạng văn hoá đánh đổ nền văn hoá phong kiến bác học để lập nên một nền văn hoá thực sự dân chủ. Rồi không chỉ cách tân phương tiện văn học, Tản Đà còn đổi mới cả nội dung và thách thức biểu hiện của một số thể loại. Ông viết tiểu thuyết về cái tôi, điều mà trước nay chưa ai làm và ngay cả thời ấy, Tản Đà đã phải chịu không ít lời dè bỉu, chê bai: “Tôi lại lấy lời thành thực mà cảnh báo cho ông biết (…), nhà làm sách cũng vậy, không ai đem thân thế của mình ra làm chuyện cho người đời xem” - (Phạm Quỳnh), về chuyện đời thường, về tình yêu và cả truyện viễn tưởng. Ông làm những bài thơ tự do, phóng túng và bộc lộ chân thành của một cái tôi - cá thể có tự hiệu Tản Đà với cấu trúc gồm ba chất liệu cơ bản: ngông - xê dịch - đa tình. Tôn thờ sách vở thánh hiền là thế nhưng thơ văn của ông đã bắt đầu nhắc tới ông Lư Thoa (Rousseau J.J), tới Hoa Thịnh Đốn (Washington)…

Ai hay, trên con đường mưu kế sinh nhai nhọc nhằn ấy, Tản Đà đang dần dần đưa văn chương hoà nhập vào đời sống thị dân. Ông đã trở thành một trong những người mở đầu cho văn học thành thị lúc đó và có vai trò rất lớn trong công cuộc cách tân, hiện đại hoá văn học, nhất là thơ ca. Nói như nhà phê bình Hoài Thanh “Tiên sinh đã dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hoà nhạc tân kỳ đương sắp sửa”.

(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-09 07:40:12Easyman>
Easy thấy bài viết về nhà thơ Tản Đà vì vậy copy từ sưu tập vài bài đem vào
( những bài mà trong thư viện chưa có )[:D]


Trăm năm thơ túi rượu vò
Nghìn năm thi sĩ tửu đồ là ai

Tản Đà


Tự trào
(Sau khi hỏng thi ở trường Nam Định, 1912)

Vùng đất Sơn Tây nảy một ông
Tuổi chửa bao nhiêu văn rất hùng
Sông Đà núi Tản ai hun đúc?
Bút thánh câu thần sớm vãi vung.
Chữ chữ nôm nôm nào kém cạnh,
Khuyên khuyên điểm điểm có hay không?
Bởi ông hay quá ông không đỗ,
Không đỗ ông càng tốt bộ ngông!

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-09 06:33:37Easyman>
[color=#0000CC]
Tự thuật

Văn chương thời nôm na
Thú chơi có sơn hà
Ba Vì ở trước mặt
Hắc Giang bên cạnh nhà Tản Đà.


_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Sự nghèo

Người ta hơn tớ cái phong lưu
Tớ cũng hơn ai cái sự nghèo.
Cảnh có núi sông cùng xóm ngõ,
Nhà không gạch ngói chẳng gianh pheo.
Văn chương rẻ ế coi mà chán
Trăng gió ham mê nghĩ cũng nghèo!
Kiếp trước nhớ sinh đời Hạ Vũ
Mưa vàng ba buổi chán xu tiêu

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Kiếp con quay

Trời sinh ra tớ kiếp con quay,
Quay tít mù xanh nghĩ cũng hay.
Lì mít giang sơn khi chóng mặt,
Đùng lăn thiên địa lúc rời tay.
Lăng băng thân thế đi, đi, đứng,
Nghiêng ngả quan hà tỉnh, tỉnh, say.
Thân tớ ví to bằng quả đất,
Cũng cho thiên địa có đêm ngày.

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Trời mắng

Tình riêng trăm ngẩn mười ngơ
Ngồi buồn lấy giấy viết thơ hỏi ttrời.
Xem thơ trời cũng bật cười,
Cười cho hạ giới có người oái oăm.
Khách hà nhân giả?(1)
Cớ làm sao suồng sã dám đưa thơ?
Chốn thiêng cung ai kén rể bao giờ?
Chi những sự vẩn vơ mà giấy má!
Chức Nữ tảo tùng giai tế giá
Hằng Nga bất nại bão phu miên(2)
Mở then mây quăng giả bức hồng tiên,
Mời khách hãy ngồi yên trong cõi tục!
Người đâu kiếp trước Đông Phương Sóc
ăn trộm đào quen học thói ngày xưa,
Trần gian đày mãi không chừa!...
(1) Khách là người nào thế?
(2) Chức Nữ thì đã gả chồng từ sớm rồi, còn Hằng Nga thì không chịu ôm chồng ngủ.

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Lo văn ế

Nhà tớ xưa nay vốn vẫn nghèo
Bán văn buôn chữ kiếm tiền tiêu.
Quanh năm luống những lo văn ế
Thân thế xem thua chú hát chèo.
Hát chèo lắm lúc nghĩ mà ngoan
Vẽ mặt ra trò với thế gian,
Vợ cưới đêm nay, mai lại cưới,
Đêm đêm cưới vợ lại làm quan!
Làm quan ví có dễ như chèo,
Tớ đến năm nay đã chẳng nghèo.
Bởi bước công danh trèo cũng khó,
Trèo leo chẳng được phải nằm meo.
Nằm meo cho tớ nghĩ ra văn,
In bán ra đời cách kiếm ăn.
Tiền kiếm, ăn xong nằm nghĩ lại
Con tằm rút ruột lá dâu xanh.
Dâu xanh rút giả sợi tơ vàng
Thấn thế con tằm những vấn vương
Tớ nghĩ thân tằm như tớ nhỉ
Tơ tằm như tớ mới văn chương.
Văn chương rút ruột kiếm xu tiêu
Nghề nghiệp làm ăn khó đủ điều
Tốn kém vì văn ai có biết
Cứ tiền giấy mực hết bao nhiêu!
Văn chương nào dám nói hơn ai?
Nghề nghiệp làm ăn phải thế thôi.
In hết quyển này ra quyển khác,
Có văn có ích, có văn chơi.
Văn chơi in bán để chơi chung
Dẫu được lời riêng có mấy đồng!
Buôn chữ gặp ngay khi giấy đắt
Người mua ai có biết cho không?
Cho không ai biết đấy là đâu
"Bán nói" khi đâu dám đặt điều?
Tốn kém vì văn chưa tính đến
Những tiền giấy mực đã bao nhiêu!
Bao nhiêu củi nước mới thành văn
Được bán văn ra chết mấy lần!
Ông chủ nhà in in đã đắt,
Lại ông hàng sách mấy mươi phân!
Mười phân gửi bán lấy tiền sau
Bán hết thu tiền đợi cũng lâu.
Lắm lúc túng tiền đem bán rẻ
Trừ đầu trừ cuối nghĩ càng đau!
Càng đau mà vẫn phải càng theo
Theo mãi cho nên vẫn cứ nghèo
Nghèo chỉ có văn, văn lại ế
ế văn cho tớ hết tiền tiêu!
Tiền tiêu không có những băn khoăn
Vay ngược vay xuôi thật khó khăn.
Công nợ nhà in còn chất đống
Còn đâu gan ruột nghĩ ra văn?
Ra văn mà bán chẳng ra tiền!
Cái nghiệp văn chương nghĩ thật phiền!
Văn ế bao giờ cho bán hết,
Phen này có nhẽ gánh lên tiên!

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Khai bút

I. Năm Canh Thân (1920)
Năm nay tuổi đã ba mươi hai
Ta nghĩ mà ta chẳng giống ai.
Khắp bốn phương trời không thước đất,
Địa cầu những muốn ghé bên vai!
II. Năm Tân Dậu (1921)
Năm nay tuổi đã ba mươi ba
Ta nghĩ mà ai chẳng giống ta.
Lo nước, lo nhà, lo thế giới,
Còn thêm lo nợ, nghĩ chưa ra!

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Nói chuyện với bóng

Phòng văn nửa khép cánh thu,
Đèn văn một ngọn trông lù rù xanh.
Đứng lên ngồi xuống một mình
Khối tình ai nặn? Lửa tình ai khêu?
Mập mờ khi thấp khi cao
Trông ra chẳng biết ông nào đến chơi?
Nhận lâu sau mới bật cười
Té ra "anh bóng" chớ ai đâu mà!
Bóng ơi mời bóng vào nhà,
Ngọn đèn khêu tỏ, hai ta cùng ngồi.
Ngồi đây ta nói sự đời
Ta ngồi ta nói, bóng ngồi bóng nghe.
- "Cõi đời tự cất tiếng oe
Đã bên ngọn lửa lập lèo có nhau.
Tương tri thuở ấy về sau,
Đôi ta một bước cùng nhau chẳng rời,
Ta ngồi thời bóng cũng ngồi,
Ta đi ta đứng, bóng thời cũng theo.
Có khi lên núi qua đèo
Mình ta với bóng leo trèo cùng nhau
Có khi quãng vắng đêm thâu
Mình ta với bóng âu sầu nỗi riêng.
Có khi rượu nặng hơi men
Mình ta với bóng ngả nghiêng canh tàn.
Có khi chè đượm mài lan,
Mình ta với bóng bàn hoàn thú xuân.
Có khi bút thảo câu thần
Mình ta với bóng xoay vần nệm hoa.
Đôi khi sấm chớp phong ba
Cuộc đời nguy hiểm có ta có mình.
Hằng khi gió mát trăng thanh
Bầu trời thanh thú riêng mình với ta.
Trăm năm cho đến cõi già,
Còn ta còn bóng, còn là có nhau.
Trần ai mặc những ai đâu,
Ai thương tử biệt, ai sầu sinh li.
Còn ta, bóng nỡ nào đi?
Ta đi, bóng có ở chi cõi trần?
Tin nhau đã vẹn muôn phần
Cũng xin giãi hết xa gần cùng nhau!"
Bóng nghe bóng cũng gật đầu.

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Đêm suông phủ Vĩnh

Đêm suông vô số cái xuông suồng
Suông rượu, suông tình, bạn cũng suông.
Một bức mành con coi ngán nỗi
Một câu đối mảnh nghĩ dơ tuồng.
Một vầng trăng khuất đi mà đứng
Một lá mành treo cuốn lại buông.
Huê tàn trăng xế vơi phần điểm trang.
Thương ai dạ ngọc gan vàng,
Thương ai thân bỏ chiếu tràng như không.
Vô tình chi bấy hoa công?
Giang sơn để giận anh hùng nghìn thu!
(1) Bài thơ tả mối thất tình của Tản Đà với một người con gái ở phủ Vĩnh. Nàng là người tài sắc nhưng rồi phải làm lẽ một viên quan

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Vô đề

Suối tuôn róc rách ngang đèo
Gió thu bay lá, bóng chiều về Tây.
Chung quanh những đá cùng cây,
Biết người tri kỷ đâu đây mà tìm?
Hỏi thăm những cá cùng chim
Chim bay xa bóng, cá chìm mất tăm.
Bây giờ vắng mặt tri âm,
Lấy ai là kẻ đồng tâm với mình?
Nước non vắng khách hữu tình,
Non xanh nước biếc cho mình nhớ ai?

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Tương tư

Quái lạ làm sao cứ nhớ nhau
Nhớ nhau đằng đẵng suốt đêm thâu!
Bốn phương mây nước, người đôi ngả
Hai chữ tương tư, một gánh sầu.


Trông hạc bay
(Đề tranh)

Trông khắp trần gian hết thú chơi
Thèm trông con hạc nó lên trời
Hạc kia bay bổng tuyệt vời
Hỏi thăm cung Nguyệt cho người trọ không?

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Về người đá
(Trường tích cổ - tức trường viễn đông bác cổ - Có một tượng mĩ nhân nằm nghiêng tạo bằng đá trắng hình khối gần bằng người thật. Tuyệt quí, tuyệt đẹp!)

Có bao nhiêu tuổi? Giá bao đồng?
Nằm mãi chi đây? Có bán không?
Tớ muốn mua tiên, tiền chửa có
Đá vàng xin nguyện với non sông!

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Thư đưa người tình nhân có quen biết

Ngồi buồn lấy giấy viết thư chơi,
Viết bức thư này gửi đến ai,
Non nước thề nguyền xưa đã lỗi
Ân tình nay có bốn xu thôi.
Ngàn sương bạc bay qua tiếng nhạn
Ngọn đèn xanh khơi cạn đĩa dầu
Mình ai chiếc bóng đêm thâu
Nỗi riêng, riêng một mối sầu vì ai?
Tâm sự ấy nói dài sao xiết
Giấy mực đâu vẽ hết ru mà
Dở dang là chữ tài hoa
Chắp tay vái lạy trăng già chứng cho.
Kể từ độ giang hồ lạc phách
Hội tương phùng đất khách quê ta
Biết nhau khi mới mười ba
Tuần trăng chưa mãn, nụ hoa chưa cười.
Cùng một thuở ăn chơi nhàn biếng
Trải mấy thu hơi tiếng vừa quen
Canh khuya hai bóng một đèn
Gió mai sương sớm đơn mền có nhau.
Dạ bảo dạ vàng thau gắn bó
Năm lại năm mưa gió đê mê
Một tường lá rủ hoa che
Bắc Nam mấy độ đi về dưới trăng.
Duyên hồ thắm bỗng dưng phai nhạt
Mối tơ vương đứt nát tan tành
Tấm riêng riêng những thẹn mình
Giữa đường tan đứt gánh tình như không
Gấp tờ giấy niêm phong hạt lệ
Nhờ cánh tem bay đệ cung mây
ái ân thôi có ngần này
Thề nguyền non nước đợi ngày tái sinh!

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Thư lại trách người tình nhân không quen biết (1)

Ngồi buồn ta lại viết thư chơi
Viết bức thư này lại trách ai
Ai những nhớ ai, ai chẳng nhớ
Để ai luống những nhớ ai hoài!
Phố Hàng Lọng tiếng người chưa động
Báo An Nam giấc mộng đương dài
Hoả xa còi hét bên tai
Giật mình chợt tưởng như ai gọi mình.
Cho hay vẫn si tình là thói
Nào có đâu ai gọi mà thưa
Trông ra non nước mịt mờ
Nghĩ nguồn cơn lại bây giờ nhớ ai?
Dải sông cũ đầy vơi cữ nước
Đỉnh non xưa tan tác ngàn mây
Nước mây ngày tháng đổi thay
Non sông ngày cũng một ngày khác xưa.
Tình thư gửi đến chưa? Chưa đến?
Nước non này ai hỡi, hỡi ai!
Ngư nhàn trông mất tăm hơi
Nước mây man mác cho người sầu thương.
ứa bốn bể đôi hàng lụy ngọc,
Gầy ba đông một vóc xương mai!
Ơn nhà nợ nước hai vai
Nước nhà ai để riêng ai nặng nề!
Trông mây nước bốn bề lạnh ngắt
Ngắm non sông tám mặt sầu treo
Đường xa gánh nặng bóng chiều
Cơn giông biển lớn, mái chèo thuyền nan.
Nghĩ thân thế mềm gan lắm lúc,
Nhìn giang sơn bạc tóc như chơi
Mong ai mỏi mắt chân trời
Nhớ ai, đi, đứng, ăn, ngồi thẩn thơ.
Thế mà gửi tình thư hai bức
Những là mong tiêu tức tám năm
Phải rằng ai hẳn vô tâm
Núi sông mây nước cũng nhầm bấy nay.
Người bệnh yếu, hơi may lạnh trán
Đêm thu trường tựa án thâu canh,
Phố phường rộn rã trần thanh
Ngoài song con sẻ trên cành tiếng kêu.
Chuyện non nước còn nhiều chưa hết
Sẵn bút nghiên lại viết cho mình
Thứ ba, này bức thư tình
Phục thư chẳng thấy thời rành không ai.
(1) Tản Đà tha thiết tìm một người tri âm, nên gửi "thư tình" cho khắp quốc dân

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Hỏi gió

Cát đâu ai bốc tung trời?
Sóng sâu ai vỗ? Cây đồi ai rung?
Phải rằng dì gió hay không?
Phong tình đem thói lạ lùng trêu ai?
Khoái tai phong dã (1)
Giống vô tình cây đá cũng mê tơi
Gặp gió đây hỏi một đôi lời,
Ta hỏi gió quen ai mà phảng phất?
Thử thị Đà Giang, phi Xích Bích
Dã vô Gia Cát dữ Chu Lang! (2)
Ai cầu phong mà gió tự đâu sang!
Hay mải khách văn chương tìm kết bạn?
Gió hỡi gió, phong trần ta đã chán,
Cánh chim bằng chín vạn những chờ mong.
Nên chăng gió cũng chiều lòng.
(1) Gió thổi sướng làm sao!
(2) Nơi này là Đà Giang, không phải Xích Bích. Cũng chẳng có Gia Cát và Chu Lang.

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Xuân tứ

Xuân xưa Hàng Lọng cờ bay
Thoi đưa ngày tháng đã đầy mười năm.
Biết bao ra Bắc vào Nam,
Bức dư đồ rách đã cam khó lòng.
Văn chương chút nghĩa đèo bòng
Thuyền không tay lái vẫy vùng được sao?
Ngày xuân thêm tuổi càng cao,
Non xanh nước biếc càng ngao ngán lòng!
1936

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Mậu Thìn xuân cảm

Cuộc thế xoay quanh đất một hòn
Sông chưa cạn đó, núi chưa mòn.
Dân hai nhăm triệu, ai người lớn?
Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con.
Cám cảnh khói mây mờ mặt biển,
Lo đời sương tuyết bạc đầu non.

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Hủ nho lo việc đời

Đáng nực cười cho bác hủ nho
Việc đời ai khiến gánh mà lo?
Lo to lo nhỏ lo nào xiết
Lo thế mà ai có biết cho?
Lo vì công việc báo An Nam
Đã trót đa mang cứ phải làm,
Bốn bể phen này không trắng nợ
Tuyết sương âu hẳn bạc đầu thêm.
Lo vì tin nước đã lưng sông
Đâu đó đê điều có vững không?
Con cháu rồng tiên đang đói dở
Không hay Hà Bá có thương cùng?
Lo vì xã hội thiếu tiền tiêu
Một kẻ phong lưu chín kẻ nghèo.
Cái nỗi sinh nhai mà khốn khó
Con đường tiến hoá cố mà theo.
Lo vì phong hoá mỗi ngày suy
Thánh giáo không ai kẻ hộ trì?
Hằng sản đã không, tâm cũng mất,
Sĩ còn chưa trách, trách dân chi ?
Lo vì thế cục nát như tương,
Cái ruột tằm ai rối vấn vương.
Nhọn chẳng ăn ai ngòi bút sắt,
Cùng ai lo tính lúc đêm trường.
Đáng nực cười cho cái sự lo
Lo quanh loa quẩn chẳng ra trò.
Việc đời ai có lo chăng tá?
Ai có lo cùng bác hủ nho?
1930

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Đời đáng chán

Người đời thử ngẫm mà hay
Trăm năm là ngắn một ngày dài ghê!
Còn ai ai tỉnh, ai mê,
Những ai thiên cổ đi về những đâu?
Đời đáng chán hay không đáng chán?
Cất chén quỳnh riêng hỏi bạn tri âm.
Giá khuynh thành nhất tiếu thiên kim (1)
Mắt xanh trắng đổi nhầm bao khách tục.
Giang hà nhật dạ nhân giai trọc
Thiên địa lô trung thực hữu tình. (2)
Đón đưa ai gió lá chim cành,
ấy nhân thế phù sinh là thế thế.
Khách phù thế chưa dứt câu phù thế
Người phong lưu càng đượm vẻ phong lưu.
Bức khăn hồng nâng đỡ hạt châu
Chuyện kim cổ một vài câu phải trái.
Châu Nam Hải, thuyền chìm sông Thúy ái (3)
Sóng Tiền Đường, cỏ áy bến Ô giang. (4)
Ngẫm nghìn xưa: ai tài hoa, ai tất liệt, ai đài trang,
Cùng một giấc mơ màng trong vũ trụ.
Đời đáng chán biết thôi là đủ
Sự chán đời xin nhủ lại tri âm.
Nên chăng nghĩ lại kẻo lầm.
1922
(1) Một cười đáng giá ngàn vàng.
(2) Sông nước ngày một xuống kém nên người đời đều dơ đục. Trong lò tạo hoá, ai có tình?
(3) Châu Nam Hải: nơi Mị Châu bị cha giết. Thúy ái: nơi Ngô Cảnh Hoàn chết trận và vợ là Phan Thị Thuấn trẫm mình theo chồng.
(4) Sóng Tiền Đường: nơi nàng Tây Thi bị Việt Vương Câu Tiễn dìm chết sau khi thắng Ngô Phù Sai. Bến Ô giang: nơi Ngu Cơ, vợ của Hạng Vũ tự tử.

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Ngày xuân tương tư

Trách cái tằm xuân nhả mối tơ
Làm cho bối rối mối tương tư.
Sương mù mặt đất người theo mộng,
Nhạn lảng chân trời kẻ đợi thư.
Nghìn dặm dám quên tình lúc ấy
Trăm năm còn nhớ chuyện ngày xưa.
Tương tư một mối hai người biết
Ai đọc thơ này đã biết chưa?

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Thề non nước

Nước non nặng một lời thề
Nước đi, đi mãi không về cùng non.
Nhớ lời nguyện nước thề non,
Nước đi chưa lại, non còn đứng không.
Non cao những ngóng cùng trông,
Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày.
Xương mai một nắm hao gầy,
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương.
Trời Tây ngả bóng tà dương
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha.
Non cao tuổi vẫn chưa già,
Non thời nhớ nước, nước mà quên non!
Dù cho sông cạn đá mòn,
Còn non còn nước hãy còn thề xưa!
- Non cao đã biết hay chưa:
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn.
Nước non hội ngộ còn luôn,
Bảo cho non chớ có buồn làm chi!
Nước kia dù hãy còn đi,
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui.
Nghìn năm giao ước kết đôi
Non non nước nước không nguôi lời thề.
1920

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Cảm ơn Emsyman đã có thì giờ " ngâm cứu " những bài này, rồi khiêng về dùm Ctly nhé.
Chà lúc này nhà hội họa EM lại có tâm hồn thơ.... thẩn quá xá nha.... [:D]

Chúc EM những ngày cuối tuần luôn vui vẻ nhé [:)]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-04-09 20:02:27Dạ Nguyệt>
Tản Đà nhất nhất đời tui !

"Kiếp say sưa đã chấm sổ Thiên Đình..."
........................

📎 champagne
"Dạ Nguyệt đong đưa ru ngàn lá
Bồi hồi tình tự níu vườn thơ"
tlt

Đăng nhập để trả lời
0
Hỏi gió

Cát đâu ai bốc tung trời?
Sóng sâu ai vỗ? Cây đồi ai rung?
Phải rằng dì gió hay không?
Phong tình đem thói lạ lùng trêu ai?
Khoái tai phong dã (1)
Giống vô tình cây đá cũng mê tơi
Gặp gió đây hỏi một đôi lời,
Ta hỏi gió quen ai mà phảng phất?
Thử thị Đà Giang, phi Xích Bích
Dã vô Gia Cát dữ Chu Lang! (2)
Ai cầu phong mà gió tự đâu sang!
Hay mải khách văn chương tìm kết bạn?
Gió hỡi gió, phong trần ta đã chán,
Cánh chim bằng chín vạn những chờ mong.
Nên chăng gió cũng chiều lòng.
(1) Gió thổi sướng làm sao!
(2) Nơi này là Đà Giang, không phải Xích Bích. Cũng chẳng có Gia Cát và Chu Lang.

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Về quê nhà cảm tác

Lạnh lẽo hơi thu chiếc lá bay
Gió đưa người cũ lại về đây.
Ba Vì tây lĩnh nom thêm trẻ
Một dải thu giang nước vẫn đầy.
Nam Bắc đã nên người duyệt lịch
Giang hồ đáng chán vị chua cay.
Mười ba năm đó bao dâu bể
Góp lại canh trường một cuộc say!
1934

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Đời đáng chán

Người đời thử ngẫm mà hay
Trăm năm là ngắn một ngày dài ghê!
Còn ai ai tỉnh, ai mê,
Những ai thiên cổ đi về những đâu?
Đời đáng chán hay không đáng chán?
Cất chén quỳnh riêng hỏi bạn tri âm.
Giá khuynh thành nhất tiếu thiên kim (1)
Mắt xanh trắng đổi nhầm bao khách tục.
Giang hà nhật dạ nhân giai trọc
Thiên địa lô trung thực hữu tình. (2)
Đón đưa ai gió lá chim cành,
ấy nhân thế phù sinh là thế thế.
Khách phù thế chưa dứt câu phù thế
Người phong lưu càng đượm vẻ phong lưu.
Bức khăn hồng nâng đỡ hạt châu
Chuyện kim cổ một vài câu phải trái.
Châu Nam Hải, thuyền chìm sông Thúy ái (3)
Sóng Tiền Đường, cỏ áy bến Ô giang. (4)
Ngẫm nghìn xưa: ai tài hoa, ai tất liệt, ai đài trang,
Cùng một giấc mơ màng trong vũ trụ.
Đời đáng chán biết thôi là đủ
Sự chán đời xin nhủ lại tri âm.
Nên chăng nghĩ lại kẻo lầm.
1922
(1) Một cười đáng giá ngàn vàng.
(2) Sông nước ngày một xuống kém nên người đời đều dơ đục. Trong lò tạo hoá, ai có tình?
(3) Châu Nam Hải: nơi Mị Châu bị cha giết. Thúy ái: nơi Ngô Cảnh Hoàn chết trận và vợ là Phan Thị Thuấn trẫm mình theo chồng.
(4) Sóng Tiền Đường: nơi nàng Tây Thi bị Việt Vương Câu Tiễn dìm chết sau khi thắng Ngô Phù Sai. Bến Ô giang: nơi Ngu Cơ, vợ của Hạng Vũ tự tử.

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Ngày xuân tương tư

Trách cái tằm xuân nhả mối tơ
Làm cho bối rối mối tương tư.
Sương mù mặt đất người theo mộng,
Nhạn lảng chân trời kẻ đợi thư.
Nghìn dặm dám quên tình lúc ấy
Trăm năm còn nhớ chuyện ngày xưa.
Tương tư một mối hai người biết
Ai đọc thơ này đã biết chưa?

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Thề non nước

Nước non nặng một lời thề
Nước đi, đi mãi không về cùng non.
Nhớ lời nguyện nước thề non,
Nước đi chưa lại, non còn đứng không.
Non cao những ngóng cùng trông,
Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày.
Xương mai một nắm hao gầy,
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương.
Trời Tây ngả bóng tà dương
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha.
Non cao tuổi vẫn chưa già,
Non thời nhớ nước, nước mà quên non!
Dù cho sông cạn đá mòn,
Còn non còn nước hãy còn thề xưa!
- Non cao đã biết hay chưa:
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn.
Nước non hội ngộ còn luôn,
Bảo cho non chớ có buồn làm chi!
Nước kia dù hãy còn đi,
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui.
Nghìn năm giao ước kết đôi
Non non nước nước không nguôi lời thề.
1920

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»