📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Lớp Học Cuối Cùng - Mitch Albom - Hết 🔒

66 trả lời, 6.168 lượt xem — Trang 1 / 3
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-08-05 16:39:33Ct.Ly>
LỚP HỌC CUỐI CÙNG
Nguyên tác: TUESDAY WITH MORRIE
Tác giả: MITCH ALBOM
Biên dịch: HƯƠNG PHONG
Thể loại: Suy ngẫm, Làm người
Nhà Xuất Bản Trẻ



Trong những ngày tháng cuối cùng trên giường bệnh, thay vì bất lực nhìn tử thần cứ dần dà gậm nhấm từng mẩu thân thể của mình, thầy Morrie đã trăn trở tự vấn: “Ta cứ héo hắt biến mất khỏi thế gian này hay cố gắng biến quãng đời còn lại thành thời gian đẹp nhất của cuộc sống?” để rồi đi đến một quyết định quan trọng, rằng: “Thầy sẽ biến mình thành quyển sách giáo khoa sống để mọi người khác đọc”, rằng “Thầy muốn bước qua cây cầu cuối cùng nối giữa sự sống và cái chết. Đi qua và thuật lại cho hậu thế”. Và thế là buổi tái ngộ sau nhiều năm xa cách trở thành buổi đầu tiên của khóa học cuối cùng - một thầy một trò - ngay bên giường bệnh.

Lẫn trong nỗi tiếc nhớ vô hạn, là niềm tin tự hào không che giấu của Mitch về người thầy của mình: có bao giờ bạn thực sự có một người thầy? Một người trân trọng bạn như viên ngọc quý chưa được mài giũa, một thứ trang sức mà có thể lấy trí tuệ chà cho sáng bóng lên...
Lớp học cuối cùng của thầy Morrie đã kết thúc bởi đời người không thể vượt qua cái hữu hạn, nhưng hình ảnh một Người Thầy với tất cả ý nghĩa cao đẹp của nó cùng những bài học về nhân sinh thì vẫn mãi mãi bất tử.
📎 LHCC
0
Trước Khi Vào Truyện
 
Có những khoảnh khắc bất ngờ, những sự việc ngẫu nhiên lại có ảnh hưởng sâu sắc, làm đảo lộn cả nếp sống và thay đổi những sắp đặt của đời người.
“Lớp học cuối cùng” ra đời từ cái khoảnh khắc tình cờ ấy, nói cho đúng ra, đó là sự tiếp nối của lớp học đầu tiên thời sinh viên: Gần hai thập kỷ trước, khi còn ngồi trên ghế nhà trường, Mitch Albom từng là học trò cưng của tiến sĩ xã hội học Morrie Schuwartz, một giáo sư giàu uy tín và kinh nghiệm giảng dạy, một người bạn lớn, nhiệt tình và có sức thu hút đối với sinh viên, được họ trìu mến đặt cho biệt danh “Coach” - Huấn luyện viên.
Mối quan hệ thầy trò khắng khít tưởng chừng thâm giao ấy bỗng dưng bị gián đoạn sau lễ tốt nghiệp của Mitch, bởi chàng trai trẻ ấp ủ quá nhiều dự định đã lao ngay vào guồng quay hối hả của xã hội ngõ hầu chạy đua với thời gian trên con đường tự khẳng định mình, và lời hẹn với thầy ngày tốt nghiệp đã nhanh chóng rơi vào lãng quên, như anh tự bạch: “Tôi đã đánh đổi nhiều giấc mơ thời thanh niên để nhận lại hàng đống tiền”!
Cho đến cái khoảnh khắc tình cờ nọ...
Đó là cái tích tắc nhà báo thời danh Mitch Albom tiện tay bật TV, và tiết mục truyền hình "Câu chuyện hàng đêm” đã khiến anh rúng động toàn thân khi gặp lại người thầy cũ: Chàng “thanh niên râu” linh hoạt và vui nhộn, người tưởng chừng không có tuổi, người từng sáng chói trên sàn nhảy tự do năm xưa với vũ điệu độc đáo của riêng mình, giờ đây đã trở thành một ông lão tàn phế bị cột chặt trên xe lăn với bản án tử hình đã được phán quyết - Căn bệnh nan y ALS, đang phá hủy hệ thần kinh, đẩy ông dần đến cái chết.
Trong những ngày tháng cuối cùng trên giường bệnh, thay vì bất lực nhìn tử thần cứ dần dà gậm nhấm từng mẩu thân thể của mình, thầy Morrie đã trăn trở tự vấn: “Ta cứ héo hắt biến mất khỏi thế gian này hay cố gắng biến quãng đời còn lại thành thời gian đẹp nhất của cuộc sống” để rồi đi đến một quyết định quan trọng, rằng “Thầy sẽ biến mình thành quyển sách giáo khoa sống để người khác đọc”, rằng “Thầy muốn bước qua cây cầu cuối cùng nối giữa sự sống và cái chết. Đi qua và thuật lại cho hậu thế”. Và thế là buổi tái ngộ sau nhiều năm xa cách trở thành buổi đầu tiên của khóa học cuối cùng - một thầy một trò - ngay bên giường bệnh.
Hầu như toàn bộ những vấn đề có ý nghĩa nhất của cuộc sống đã được đặt ra trong 13 tuần ngắn ngủi ấy: tình yêu, công việc, gia đình, cộng đồng, cái chết... không có giáo trình hay tài liệu tham khảo, chỉ là những lời tâm tình, gợi ý và chiêm nghiệm, là sự chứng kiến của học trò trước cái cách ung dung và dũng cảm đương đầu với bệnh tật của người thầy. Không có kì tốt nghiệp, bởi vì đó là ngày vĩnh biệt người thầy. Nhưng còn lại đây “khóa luận” kết thúc lớp học, đó chính là những trang sách bạn đọc sắp thưởng thức, một công trình được sự gợi ý và bàn bạc của thầy Morrie, một “đề án của chúng ta” - như cách ủy thác của vị giáo sư quá cố.
Lẫn trong nỗi tiếc nhớ vô hạn, là niềm tự hào không che giấu của Mitch về người thầy của mình: “Có bao giờ bạn thực sự có một người Thầy? Một người trân trọng bạn như viên ngọc quý chưa được mài giũa, một thứ trang sức mà có thể lấy trí tuệ chà cho sáng bóng lên…”
Lớp học cuối cùng của thầy Morrie đã kết thúc bởi đời người không thể vượt qua các hữu hạn, nhưng hình ảnh một Người Thầy với tất cả ý nghĩa cao đẹp của nó cùng những bài học về nhân sinh thì vẫn mãi mãi bất tử.
 
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
 
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
0
CHUƠNG TRÌNH HỌC
 
Lớp học cuối cùng của vị giáo sư cũ của tôi được thu xếp mỗi tuần một lần ngay trong nhà ông, bên cửa sổ phòng làm việc, nơi mà ông có thể ngắm những cây dâm bụt nhỏ nhắn hé những cánh hoa hồng hồng. Lớp học được tổ chức vào ngày thứ Ba hàng tuần, sau bữa ăn sáng. Những bài giảng của thầy về ý nghĩa cuộc đời xuất phát từ kinh nghiệm sống của ông.
Dẫu thầy không cho điểm, nhưng mỗi tuần vẫn có cuộc vấn đáp. Bạn phải trả lời những câu hỏi và phải nêu ra những thắc mắc của riêng mình. Thỉnh thoảng, bạn sẽ được yêu cầu làm đôi ba việc như giúp thầy sửa đầu nằm trên chiếc gối cho thuận tiện hơn, đặt cặp kính lên sống mũi người... Được hôn thầy trước khi tạm biệt là ân huệ phụ thêm cho học trò.
Dù không cần tới bất kỳ cuốn sách nào nhưng thầy và trò vẫn bàn tới nhiều vấn đề: tình yêu, công việc, gia đình và cộng đồng, tuổi tác, lòng vị tha và cả cái chết. Bài giảng cuối cùng ngắn ngủi, chỉ vỏn vẹn đôi lời.
Một đám tang thay cho lễ tốt nghiệp.
Cho dù không có kỳ thi cuối khoá, bạn vẫn phải viết một bài khoá luận dài về những điều đã học. Bài khoá luận ấy đang nằm trước mặt bạn.
Lớp học cuối cùng của người thầy giáo già chỉ có một học trò duy nhất.
0
Người ấy là tôi.
 
 
Vào một chiều thứ Bảy nóng nực và ẩm ướt cuối xuân năm 1979, hàng trăm đứa chúng tôi ngồi bên nhau trên những hàng ghế xếp nơi bãi cỏ trong khuôn viên chính trường đại học. Chúng tôi mặc những chiếc áo choàng màu xanh dương, kiên nhẫn nghe những bài diễn văn dài dằng dặc. Buổi lễ kết thúc, chúng tôi nhảy cẫng reo hò, tung mũ lên trời. Thế là chúng tôi, những sinh viên năm cuối Trường Tổng hợp Brandeis thành phố Waltham (bang Massachusetts) đã chính thức ra trường. Đối với nhiều người trong chúng tôi, buổi lễ tốt nghiệp như một tấm rèm buông xuống ngăn cách họ với tuổi thơ.
Sau lễ, tôi tìm Morrie Schwartz, vị giáo sư mà tôi yêu quý nhất và giới thiệu ông với cha mẹ tôi. Vóc dáng thầy Morrie nhỏ bé, ông bước đi từng bước ngắn, dường như sợ cơn gió có thể bốc ông lên tận đám mây bất kỳ lúc nào. Khoác bộ áo choàng lễ phục giáo sư trong lễ tốt nghiệp, thầy Morrie nửa giống nhà tiên tri, nửa giống cây thông Giáng sinh. Đôi mắt xanh lơ cua thầy lóng lánh, mái tóc bạc thưa thớt rủ xuống trán. Đôi tai thầy to tướng, mũi hình tam giác, hai chòm lông mày rậm điểm bạc. Mặc dầu trông như bị móm mỗi khi mỉm cười nhưng nụ cười của ông rạng rỡ như thể ông đang được nghe kể câu chuyện hài đầu tiên trên thế gian này.
Thầy Morrie khen tôi trước mặt cha mẹ: “Ông bà có một cậu con trai đặc biệt”. Quá bối rối, tôi chỉ biết gầm mặt nhìn xuống chân mình. Trước khi chia tay, tôi gửi biếu thầy món quà: chiếc cặp màu nâu, ở mặt trước có khảm những chữ cái đầu tên thầy. Hôm trước, tôi đã mua nó ở khu thương xá. Tôi không muốn quên thầy. Có lẽ, tôi không muốn thầy quên tôi.
“Mitch, con là một người tốt”, thầy nói trong lúc ngắm nghía chiếc cặp. Rồi ông ôm chầm lấy tôi. Tôi cảm nhận được đôi tay gầy gò của ông sau lưng mình.. Tôi cao hơn thầy nên khi ông ôm tôi, bỗng nhiên tôi lại cảm thấy mình trở nên già cả và vụng về hơn.
Thầy nhắc tôi nhớ giữ liên lạc với ông. Không do dự, tôi trả lời: “Dĩ nhiên rồi, thưa thầy”.
Khi thầy quay lưng đi, tôi thấy ông đang khóc.
0
ĐỀ CƯƠNG KHÓA HỌC
 
Bản án tử hình đến với ông vào mùa hè năm 1994. Nhìn lại, ông hiểu rằng lâu nay sức khoẻ của mình có cái gì đó không ổn. Thầy Morrie nhận ra điều này vào đúng cái ngày ông vĩnh viễn từ bỏ sàn nhảy.
Vị giáo sư già của tôi là một người thích nhảy. Loại nhạc không thành vấn đề đối với ông: nhạc rốc, nhạc trữ tình hay giao hưởng? Nhạc nào ông cũng đều nhảy được tuốt. Thứ nào ông cũng say mê. Mắt ông nhắm nghiền, một nụ cười hạnh phúc nở trên môi. Cứ thế, ông đu đưa theo cách cảm nhận giai điệu của riêng mình. Vì thế, từ ngoài trông vào. Trông ông nhảy không lấy gì đẹp lắm. Ông không hề quan tâm tới bạn nhảy. Thầy Morrie nhảy cho chính mình.
Mỗi tối thứ Tư, thầy Morrie thường tới ngôi nhà thờ trên quảng trường Havard để "nhảy tự do". Ông thường chỉ bận mỗi chiếc áo thun trắng, quần da đen và quấn chiếc khăn len trên cổ. Dưới những ngọn đèn màu chớp nháy quay cuồng và tiếng nhạc đinh tai phát ra từ những thùng loa, thầy Morrie tự chế vũ điệu cho hợp với tiếng nhạc ông nghe được. Ông uốn éo, xoay ngược xoay xuôi, tay múa như nhạc trưởng đang cầm đũa chỉ huy cho tới khi lưng áo ướt đẫm mồ hôi. Ít ai ngờ rằng ông là một tiến sĩ xã hội học nổi tiếng với vài chục năm kinh nghiệm giảng dạy đại học, tác giả của gần chục cuốn sách.
Một lần, ông đem tới một băng nhạc tăng-gô và bỏ nó vào máy phát ra loa. Thầy Morrie thực sự làm chủ sàn nhảy. Những bước nhảy sôi động khiến mọi người liên tưởng ông với anh chàng đấu bò si tình thời trai trẻ. Điệu nhảy kết thúc. Cử toạ vỗ tay râm ran. Còn ông bất động trong tư thế cúi chào đầy duyên dáng và kiêu hãnh. Dường như ông muốn mình được sống mãi trong thời khắc đó.
Đó cũng chính là lần bước ra sàn nhảy cuối cùng của thầy Morrie.
Ở tuổi 60, bệnh hen của thầy Morrie trở chứng. Hơi thở của ông nặng nhọc. Trong một lần đi dạo bên bờ sông Charles, một cơn gió lạnh làm ông ngạt thở. Người ta vội đưa ông vào bệnh viện và tiêm cho ông một liều Adrenalin.
Vài năm sau, thầy Morrie bắt đầu đi lại khó khăn. Trong bữa tiệc sinh nhật của một người bạn, ông sẩy chân té một cách bí hiểm. Rồi một tối nọ, thầy bị ngã ngay trên thềm nhà hát trước con mắt kinh ngạc của một đám người xúm xít xung quanh.
"Để cho ông ấy thở chút nào!", ai đó nói to.
Lúc bấy giờ thầy Morrie đã ở tuổi 70, vì thế người ta thì thào với nhau "Tuổi già nó vậy!" và giúp ông lão đứng dậy. Nhưng thầy biết rõ mình hơn ai hết và hiểu rằng có một cái gì đó còn tồi tệ hơn là tuổi già đang đến với bản thân. Lúc nào thầy cũng cảm thấy mệt lử, mất ngủ. Thỉnh thoảng thầy lại nằm mộng thấy mình đang... hấp hối.
Thầy Morrie bắt đầu chịu khó tới bác sĩ khám bệnh. Qua biết bao nhiêu thầy thuốc. Họ thử máu, họ thử nước tiểu, họ bỏ lên kính hiển vi cả chất thải của ruột già, họ dòm vào tận trong ống tiêu hóa. Cuối cùng, khi chẳng ai tìm được dấu vết khả nghi nào, bỗng nhiên một vị bác sĩ nổi hứng ra lệnh lấy mẫu sinh thiết cơ bắp chân của thầy. Kết quả xét nghiệm cho biết có gì đó trục trặc trong hệ thần kinh của thầy. Suốt một năm sau đó, thầy Morrie bị lôi từ phòng xét nghiệm này sang phòng xét nghiệm kia. Một lần, người ta đặt thầy ngồi trong một chiếc ghế đặc biệt với đủ thú dây, phích, chốt cắm tinh tinh, trông thoáng qua tưởng ghế điện dành cho tử tội.
Sau một hồi cắm cúi xem xét kết quả, các bác sĩ nói vắn tắt:
"Chúng tôi cần kiểm tra thêm nữa".
"Sao!", thầy Morrie hỏi. "Có chuyện gì vậy?".
"Chúng tôi chưa dám chắc, nhưng có lẽ đã muộn"
Cái gì đã muộn? Các bác sĩ muốn ám chỉ điều gì?
Cuối cùng, vào một ngày oi ả và ẩm ướt tháng Tám năm 1994, thay Morrie và cô Charlotte, vợ thầy, được mời tới gặp bác sĩ thần kinh. Người ta mời ông an tọa trên ghế để nghe thông báo: thầy mắc chứng Lon Gehrig, một căn bệnh phá huỷ hệ thần kinh gây chết người mà y học hiện đang chịu bó tay.
"Làm thế nào mà tôi mắc phải bệnh đó?", thầy Morrie hỏi.
Không ai biết.
"Đã ở vào giai đoạn cuối rồi, phải không?"
Chính thế.
"Vậy là tôi sắp chết?"
"Vâng,” bác sĩ nói. “Tôi rất lấy làm tiếc.”
Bác sĩ ngồi với thầy Morrie và cô Charlotte gần hai giờ đồng hồ, kiên nhẫn trả lời những câu hỏi của họ. Trước khi hai vợ chồng ra về, bác sĩ đưa cho họ một cuốn sách mỏng trình bày các hiểu biết cần thiết về căn bệnh của thầy. Ngoài phố mặt trời chiếu sáng lòa, người hối hả đi lại lo công việc của mình. Một người đàn bà vội vã mang tiền đi nộp phạt vì đậu xe không đúng chỗ. Người khác ì ạch tha chiếc túi xách to tướng đựng thức ăn mới mua ở siêu thị… Hàng triệu ý nghĩ chạy trong đầu cô Charlotte: Chúng ta còn bao nhiêu thời gian? Làm gì với nó? Liệu nó có hành hạ chúng ta hay không?...
Trong lúc đó, vị giáo sư già lại sững sờ: Cuộc sống xung quanh sao mà vẫn bình thường đến thế, như không hề có sự cố nào xảy ra.
Thế giới dâu có dừng lại và công chúng có ai biết tai họa đã đến với mình.! Thầy Morrie nhận ra điều này khi chạm tay vào cửa xe hơi riêng, ông cảm thấy như đang rơi xuống vực.
Làm gì bây giờ? Ông nghĩ.
0
Trong lúc thầy giáo cũ của tôi đang mò mẫm tìm lời đáp cho câu hỏi của mình thì căn bệnh của ông tiếp tục tiến triển xấu hơn theo từng ngày, từng tuần. Một buổi sáng, thầy định lái chiếc xe hơi ra khỏi gara nhưng rồi chỉ đủ sức đạp thắng. Thế là việc lái xe chấm dứt từ đó.
Để duy trì những chuyến dạo chơi, thầy mua một cây batoong. Thế là hết chuyện đi lại tự do.
Thầy Morrie vẫn thường xuyên đến bể bơi của trường đại học, cố duy trì một thời khoá biểu đã có từ lâu. Thế nhưng, một ngày nọ thầy buồn rầu phát hiện ra rằng mình không thể tự thay đồ được nữa. Lần đầu tiên trong đời, thầy đành phải mượn người giúp việc, một nữ sinh viên khoa Thần học có tên Tony. Cô cầm tay ông dắt xuống nước, lên khỏi bể bơi, vào ra nhà tắm. Trong phòng thay đồ, mọi người giả vờ như không nhìn thấy gì. Nhưng dù sao thì cũng chẳng còn cái gọi là sự riêng tư.
Mùa thu năm 1994, thầy Morrie lặn lội leo lên những ngọn đồi của khu Đại học Brandeis đọc loạt bài giảng cuối cùng. Tất nhiên, ông có thể từ chối, trường hoàn toàn thông cảm. Việc gì phải bộc lộ đau khổ của mình trước mặt mọi người? Cứ ở nhà và để mọi việc trôi theo trật tự của nó. Tuy nhiên, thầy Morrie không hề có ý định rũ áo.
Và thế là thầy khập khiễng từng bước tới giảng đường quen thuộc đối với ông suốt hơn ba chục năm qua. Vướng vất với chiếc ba toong một lúc, thầy Morrie mới bước được lên bục giảng. Thầy ngồi xuống ghế, móc túi lấy cặp kiếng đeo lên mũi, đưa mắt xuống những gương mặt trẻ trung đang im lặng nhìn ông chờ đợi.
"Các bạn, tôi được giao nhiệm vụ giảng cho các bạn môn Tâm lý xã hội. Tôi dạy môn này đã hai chục năm và đây là lần đầu tiên tôi đành phải nói với các bạn rằng vì tôi mắc một chúng bệnh nan y nên có thể tôi sẽ không hoàn tất được học kỳ. Tôi hoàn toàn thông cảm nếu có ai đó xin chuyển sang lớp khác". Thầy mỉm cười.
Thầy Morrie quyết định không giữ kín bí mật của mình nữa.
0
Căn bệnh của thầy Morrie giống như cây nến đang cháy dở. Nó làm các dây thần kinh của bạn như tan mất và biến cơ thể của bạn thành một cục sáp nham nhở. Căn bệnh này thường bắt đầu từ chân và leo ngược lên trên. Trước tiên, bạn sẽ không kiểm soát được cơ đùi, không đứng dậy nổi. Tiếp đó, các cơ lưng bị tê liệt khiến bạn không thể nào ngồi thẳng lên được. Rồi sau, tuy bạn còn sống nhưng phải thở qua ống tiếp ôxy đặt trong họng. Đầu óc còn tỉnh táo của bạn bị nhốt trong một cái thân xác mềm oặt chỉ còn biết chớp mắt và chép lưỡi mà thôi. Thông thường, cái chết sẽ mang bạn đi sau năm năm chớm bệnh.
Các bác sĩ đoán thầy Morrie chỉ còn sống được hai năm nữa.
Tự thầy biết rằng thời gian đích thực còn ít hơn nhiều.
Và người thầy cũ của tôi đã có một quyết định quan trọng, một quyết định mà ông liên tục nghiền ngẫm từ cái ngày ông bước ra khỏi phòng mạch của bác sĩ với lưỡi gươm treo lơ lửng trên đầu. “Ta cứ héo hắt rồi biến mất khỏi thế gian này hay cố gắng biến quãng đời còn sót lại thành thời gian đẹp nhất của cuộc sống?” Không biết bao lần ông tự đặt ra cho mình câu hỏi như vậy.
Ông sẽ không chịu héo hắt tàn lụi, ông không ngại phải đối mặt với cái chết.
Ngược lại, ông sẽ biến cái chết của mình thành đỉnh cao cuộc đời. Không ai tránh được cái chết, vì vậy ông sẽ làm cho nó có giá trị hơn, ông sẽ biến mình thành một cuốn sách giáo khoa sống để người khác đọc. “Hãy qua tôi mà học cách sống chung với sự hấp hối chậm rãi. Hãy quan sát những gì xảy đến với  tôi. Hãy học cùng tôi.”
Thầy Morrie muốn bước qua cây cầu cuối cùng nối giữa cái sống và cái chết. Đi qua và thuật lại cho hậu thế.
0
Thế rồi học kỳ cũng nhanh chóng qua đi. Những viên thuốc ngày càng nhiều lên. Các cô y tá đều đặn tới nhà giúp thầy Morrie luyện đôi chân đang bị teo. Họ co gập ống chân từ trước ra sau và ngược lại như thể người ta kéo chiếc cần bơm tay hút nước từ giếng lên. Mỗi tuần một lần, các chuyên gia xoa bóp cố gắng làm dịu đi cảm giác cứng đờ nặng nề mà thầy thường xuyên phải chịu đựng. Thầy Morrie chịu khó ngồi nhắm mắt và cố rũ bỏ mọi ý nghĩ để hợp tác với các bác sĩ thôi miên.
Một bữa nọ, lọ mọ với cây ba toong, thầy Morrie lần mò ra hè phố và ngã xuống lòng đường. Cây can liền bị đổi thành cặp nạng. Chả bao lâu sau, việc đi lại giữa buồng ngủ và nhà vệ sinh làm thầy kiệt sức, ông đành phải dùng tới cái bô lớn. Dẫu có người đỡ ông khi làm việc này, lần nào thầy Morrie cũng phải gắng gượng.
Chắc chắn đa số những người ở tuổi thầy Morrie đều bực bội khi rơi vào hoàn cảnh tương tự. Thế nhưng, thầy lại có thái độ hoàn toàn khác. Thỉnh thoảng, khi có vài đồng nghiệp tới thăm, thầy bình thản nói: “Tôi muốn đi vệ sinh. Ông giúp tôi nhé, được chứ?"
Dẫu vậy, họ vẫn cứ quay trở lại thăm thầy.
Quả tình, dòng khách tới với thầy Morrie cảm thấy rất vui. Thầy thảo luận với họ về bản chất của cái chết, cố gắng giải thích tại sao mọi người đều sợ chết trong khi chưa hiểu đích xác về nó. Thầy dặn bạn bè rằng nếu quả thực họ muốn giúp đỡ thầy thì chẳng cần họ phải bày tỏ thương cảm. Thầy chỉ trông đợi những cuộc thăm viếng, những cú điện thoại để thầy có cơ hội cùng chia sẻ nhũng vấn đề của họ như họ vẫn từng làm trước đây. Thầy Morrie vốn có tài kiên nhẫn lắng nghe người khác mà.
Bất chấp mọi tai họa, giọng nói của thầy Morrie vẫn sang sảng, quyến rũ. Đầu óc thầy lúc nào cũng đầy ắp những ý nghĩ mới mẻ. Thầy cố gắng chứng minh rằng từ "cái chết" không hề đồng nghĩa với từ "vô dụng".
Ngày đầu năm mới đến rồi đi. Mặc dù không hé răng với ai, nhưng thầy biết rõ rằng đây là năm cuối cùng của cuộc đời mình. Hiện giờ thầy đã phải dùng tới xe lăn và thầy đang cố trì hoãn cái ngày mà thầy buộc phải nói ra tất cả những gì muốn nói với những người mà thầy thương yêu. Trở về nhà sau tang lễ của một đồng nghiệp ở trường Brandeis qua đời vì đột quy tim, thầy Morrie tỏ ra chán nản.
"Tiếc thật!", thầy than thở. "Ai cũng nói ra toàn những lời tốt đẹp. Mình chưa từng được nghe những lời nào như thế”.
Thầy Morrie chợt nảy ra ý nghĩ mới, ông gọi điện thoại, chọn ngày hẹn. Đó là vào một buổi chiều Chủ nhật ở ngay trong ngôi nhà của mình, thầy Morrie cùng một nhóm bạn hữu và những người thân tổ chức một "tang lễ sống". Mỗi người tham dự nói lời vĩnh biệt trước vị giáo sư cũ của tôi. Người khóc, kẻ cười. Một người phụ nữ đọc mấy vần thơ do bà tự viết:
 
Người anh thân thương và khả kính...
Trái tim con xanh mãi
Qua bao lớp thời gian.
Cứng cáp tựa gốc tùng...
 
Thầy Morrie cười và khóc cùng mọi người. Bữa đó thầy bộc bạch tất cả những điều thành tâm nhất mà chúng ta hiếm khi nói với người chúng ta yêu thương. "Tang lễ sống" dành cho ông đã thành công.
Duy thầy Morrie vẫn còn sống.
Nói cho đúng, quãng thời gian đặc biệt nhất trong cuộc đời thầy chỉ mới bắt đầu hé mở.
0
SINH VIÊN
 
Đến đây, tôi phải dừng chốc lát để kể lại những gì đã xảy ra với tôi kể từ cái ngày hè lúc tôi ôm hôn lần cuối vị giáo sư đáng kính và khôn ngoan, hứa thư từ qua lại với ông.
Tôi đã không giữ được lời hứa.
Thực ra, tôi đã mất liên lạc với hầu hết những ai đã cùng tôi đi qua năm năm đại học, từ mấy thằng bạn bia bọt cho tới người phụ nữ đầu tiên ngả vào vòng tay tôi. Những năm tháng sau đại học đã nhào nặn tôi - chàng sinh viên khệnh khạng mới tốt nghiệp háo hức bay tới thành phố New York thi thố tài năng - thành con người khác xa.
Tôi khám phá ra rằng thế giới không hoàn toàn thú vị như người ta tưởng. Ở tuổi 20, tôi đã phải lang thang đây đó nhiều năm, dốc hầu bao trả tiền thuê phòng chỉ để ngày ngày đọc mấy mục rao vặt tìm việc. Tôi ôm mộng trở thành nhạc công nổi tiếng (tôi chơi đàn piano). Thế nhưng sau vài năm đen tối vất vưởng trong những hộp đêm vắng ngắt, những lời hứa suông, những cuộc hợp tan của các ban nhạc, thái độ thờ ơ của các nhà sản xuất băng đĩa đối với tài năng của tôi… giấc mộng trở nên chua chát. Tôi đã nếm vị đắng cay từ thất bại đầu đời.
Cùng thời gian đó, lần đầu tiên tôi phải đối mặt với chết chóc. Ông cậu yêu quý của tôi - người thầy dạy nhạc, dạy lái xe và là người đầu tiên chỉ vẽ cho tôi mánh lới tán tỉnh bọn con gái - qua đời ở tuổi 44 vì bệnh ung thư tụy. Cậu tôi vóc người tuy thấp bé nhưng là người đàn ông đẹp trai với một bộ ria rậm. Trong suốt một năm cuối đời ông, tôi sống trong một căn hộ tầng dưới nơi ông ở. Tôi đã chứng kiến cảnh ông héo hon, rồi sau đó bị phù. Mỗi lần ngồi bên bàn ăn, cơn đau của ông dường như nhân lên gấp đôi. Ông ôm bụng, mắt nhắm nghiền, miệng méo xệch vì đau đớn. "Aaaaaaa. Lạy Chúa!", ông rên rỉ. Những người còn lại trong gia đình - mợ tôi, hai đứa con trai của cậu và tôi - đúng đó, im lặng lau chén đĩa. Chúng tôi chỉ còn biết đưa mắt nhìn nơi khác.
Trong đời, tôi chưa bao giờ cảm thấy mình bất lực như vậy.
Một đêm tháng Năm, hai cậu cháu tôi ngồi trên ban công căn hộ. Gió hiu hiu, ấm áp. Cậu tôi nhìn về phía chân trời và nói qua kẽ răng rằng sang năm ông sẽ không còn được tiễn con mình tới trường. Ông yêu cầu tôi thay ông chăm sóc hai đứa em. Tôi khẩn cầu ông đừng nói như vậy nhưng ông chỉ nhìn tôi buồn rầu.
Vài tuần sau, cậu tôi qua đời.
Sau lễ tang, cuộc đời tôi có thay đổi chút ít. Tôi cảm thấy thời gian đột nhiên trở nên quý giá. Nó như dòng nước chảy nhanh xuống cống mà tôi không cách nào đuổi kịp. Những hộp đêm vắng khách không còn làm tôi quan tâm. Dẹp qua một bên những ca khúc thúc trắng đêm sáng tác nhưng chẳng ai buồn nghe, tôi quay trở lại trường kiếm thêm được tấm bằng cao học báo chí và không lưỡng lự chấp nhận lời mời làm việc đầu tiên. Tôi làm việc cho vài tờ báo và viết bài thêm cho mấy tờ tạp chí khác. Từ bỏ cố gắng trở thành một nhạc công trứ danh, tôi xoay sang viết về những vận động viên đang rượt đuổi theo danh tiếng của họ. Tôi làm việc bất kể giờ giấc. Sáng tinh mơ, vừa nhào khỏi giường, tôi đánh răng qua quýt, mặc nguyên bộ đồ ngủ ngồi vào bàn miệt mài gõ máy đánh chữ. Sinh thời, cậu tôi làm việc cho một công ty và ông căm ghét công việc đơn điệu ngày qua ngày của mình. Chắc chắn tôi sẽ không bao giờ như ông.
Một dạo, tôi long đong đây đó từ New York cho tới Florida. Sau cùng, tôi đồng ý nhận giữ chuyên mục thể thao cho tờ Detroit Free Press. Dân thành phố Detroit rất say mê thể thao. Điều này thật hợp ý tôi. Họ có những đội bóng tròn, bóng chuyền, bóng rổ và khúc côn cầu chuyên nghiệp. Trong vài năm liền, tôi không chỉ là cây bút chủ chốt của trang thể thao mà còn viết được vài cuốn sách, xuất hiện thường xuyên trên radio, truyền hình, lớn tiếng công kích các cầu thủ bóng đá giàu có cũng như các đối thủ khác của tôi... Tôi là một phần của con sấm sét truyền thông đang giáng xuống nước Mỹ của chúng ta. Tôi đang có giá.
Chuyện thuê mướn đã lùi vào quá khứ. Giờ tôi đã có đủ tiền để mua. Mua một căn nhà trên đồi, một chiếc xe hơi, mua chứng khoán. Giờ thì tôi lúc nào cũng cài số năm, đã chơi thì chơi hết cỡ. Tôi hùng hục luyện tập thể thao như một con quỷ. Tôi phóng xe như bay. Tôi kiếm ra tiền nhiều đến chóng mặt. Tôi gặp gỡ một cô gái tóc đỏ sẫm tên là Janine, người chưa rõ tại sao lại yêu tôi bất chấp lịch làm việc kín mít và sự vắng nhà thường xuyên của tôi. Chúng tôi cưới nhau sau 7 năm hẹn hò. Chỉ một tuần sau hôn lễ, tôi đã phải đi làm trở lại. Trước đấy, tôi có hứa với cô ấy và cả chính mình rằng một ngày nào đấy chúng tôi sẽ bắt đầu cuộc sống gia đình thật sự - điều vợ tôi hằng mong mỏi. Nhưng rủi thay, ngày ấy chưa từng đến.
Thay vào đó, tôi tự chôn vùi trong hàng núi công việc bởi lẽ tôi tin rằng chỉ trong công việc tôi mới làm chủ được mình, tôi mới tìm được hạnh phúc trước khi bệnh tật và chết chóc mang tôi đi, giống như cậu tôi trước đây.
Còn thầy Morrie? Thỉnh thoảng, tôi cũng nghĩ tới thầy, nhớ tới những điều thầy dạy chúng tôi phải nằm lòng để "làm người" và "đối xử với nhau”. Nhưng tình thực những lời của thầy có vẻ xa lắc như ở tận hành tinh nào vậy. Trong nhiều năm liền, tôi quẳng vào sọt rác mọi thư từ gửi đến từ trường Đại học Brandeis, nghĩ rằng người ta chỉ nhớ đến tôi khi nào cần... tiền. Vì vậy, tôi không hể biết là thầy Morrie lâm bệnh. Tên họ của những người có thể báo cho tôi biết tin này đã nhòa trong ký ức của tôi. Số điện thoại của họ lẫn đâu đó trong những thùng các-tông được đóng gói cẩn thận cất trên gác xép đầy bụi bặm và mạng nhện.
Mọi chuyện có lẽ sẽ cứ như vậy nếu một tối nọ tôi không bật máy truyền hình.
0
PHUƠNG TIỆN NGHE NHÌN
 
Tháng Ba năm 1995, một chiếc xe hơi sang trọng đưa Ted Koppel, người dẫn chương trình truyền hình Câu chuyện hàng đêm của hãng truyền hình ABC, xịch đỗ trước những bậc thềm phủ đầy tuyết ngoài cửa nhà thầy Morrie ở West Newton (Massachusetts).
Giờ đây, thầy Morrie phải ngồi cả ngày trong xe lăn, và ông đã quen với việc người khác nâng ông như nâng một bao cát nặng trịch từ ghế lên giường và ngược lại. Thầy thường ho trong lúc ăn uống. Với đôi chân đã bị liệt hoàn toàn, thầy không bao giờ có thể đi lại được nữa.
Tuy thế, thầy Morrie chẳng hề buồn phiền. Ngược lại, giờ đây ông giống như cây pháo bông đang cháy, lúc nào cũng toé ra những ý tưởng rực rỡ. Thầy ghi chúng lên những tập giấy nháp vàng ố, bì thư, cặp giấy. Triết học của thầy phảng phất hình bóng cái chết: "Hãy chấp nhận nhũng gì bạn có thể làm được và cả những điều không thể làm được"; "Hãy chấp nhận quá khứ như những gì đã xảy ra, không phủ nhận cũng không vứt bỏ nó” ; "Hãy học tha thứ cho mình và cho những người khác"; "Chớ bao giờ cho là đã quá muộn để tận tâm với công việc".
Thầy Morrie đã tích lũy được khoảng năm chục câu "cách ngôn" tương tự và ông chia sẻ chúng với bạn bè. Một người bạn, đồng nghiệp với thầy ở trường Brandeis, giáo sư Maurie Stein, đã lựa vài ba câu gởi cho phóng viên của tờ Địa cầu Boston. Anh chàng này bèn viết một bài phóng sự dài về thầy Morrie với đầu đề:
 
KHÓA HỌC SAU CHÓT CỦA VỊ GIÁO SƯ:
CÁI CHẾT CỦA BẢN THÂN
 
Bài báo lọt vào mắt chủ nhiệm chương trình Câu chuyện hàng đêm của ABC và nó được gửi tới Washington D.C cho Ted Koppel.
"Xem đây này,” người chủ nhiệm nói.
Chuyện tiếp theo bạn đã biết. Căn phòng nhỏ của thầy Morrie chật ních các tay quay camera truyền hình, còn chiếc xe của Ted Koppel đậu trước nhà.
Một vài người bạn cùng những người thân trong gia đình thầy Morrie quây quần chờ gặp Ted. Khi con người nổi danh ấy bước vào nhà, họ tranh nhau nói ồn ào. Thầy Morrie tự lăn xe ra cửa, nhướng mày và cắt đứt sự ồn ào bằng một giọng cao và du dương như hát.
"Ted, tôi cần kiểm tra anh trước khi chấp nhận trả lời phỏng vấn".
Một thoáng im lặng ngượng nghịu trước khi hai người đàn ông dẫn nhau vào phòng làm việc. Cánh cửa khép lại sau lưng họ.
"Tôi hy vọng Ted sẽ dễ dàng thuyết phục được Morrie". người nào đó thì thào phía ngoài cửa.
Trong phòng, Morrie ra dấu cho Koppel ngồi xuống. Ted đặt hai bàn tay lên đùi và mỉm cười.
"Kể cho tôi nghe cái gì đó gắn bó gần gũi với anh nhất", thầy Morrie hỏi.
"Với tôi ấy à?"
Koppel chăm chú nhìn ông già. "Được thôi", Ted đáp và rồi anh kể về những đứa con mình. Tất nhiên, con cái chắc chắn là những gì gần gụi nhất, phải không?
"Tốt". thầy Morrie nói. "Nào, bây giờ hãy nói cho ta nghe về lòng trung thành của anh".
Koppel bối rối. "Thật khó nói những chuyện ấy với người khác chỉ trong vài phút".
"Ted. tôi sắp chết", thầy Morrie nói, mắt ông nhìn Koppel săm soi qua đôi kiếng. "Tôi chẳng còn bao nhiêu thời gian".
Koppel cười. Được thôi. Chúng ta sẽ nói chuyện về lòng trung thực. Koppel trích dẫn một số đoạn của Marcus Aurelius mà ông rất thích.
Morrie gật đầu.
"Bây giờ hãy để tôi hỏi cụ đôi chút chứ", Koppel nói "Cụ đã có khi nào xem chương trình của chúng tôi chưa?"
Thầy Morrie nhún vai: "Hình như hai lần"
"Hai lần? Có thế thôi à?"
"Đừng buồn. Tôi xem chương trình của Oprah vỏn vẹn có một lần"
"Vâng. Thế sau hai lần xem chương trình của tôi cụ nghĩ gì?"
Thầy Morrie thoáng ngập ngừng: "Nói thật lòng chứ?"
"Vâng"
"Tôi nghĩ anh là kẻ tự ngắm mình"
Koppel phá ra cười.
"Tôi quá xấu xí để tự say mê chính mình". Ông ta đáp.
Chả mấy chốc camêra truyền hình bắt đầu chạy qua chạy lại trước lò sưởi phòng khách. Koppel khoác lên mình bộ áo vét diêm dúa màu xanh da trời, còn thầy Morrie lại từ chối chỉnh trang quần áo và hoá trang đôi chút. Ông bảo rằng cái chết phải làm cho người ta cảm thấy lúng túng vì thế ông không chịu để cho người ta đánh phấn lên mặt.
Thầy Morrie ngồi trong xe lăn nên hình ảnh đôi chân bị teo tóp của thầy không hề lọt vào ống kính camêra. Tay thầy vẫn còn cử động được nên khi nói chuyện thầy vẫn ra dấu biểu lộ những cảm xúc của mình khi phải đối diện với thần chết.
"Ted", thầy nói, "khi biết mắc bệnh nan y, tôi tự hỏi liệu mình sẽ lãnh đạm với thế giới hay vẫn sống theo cách mà tôi muốn: tự trọng và điềm tĩnh, dũng cảm và hài hước. Có những buổi sáng tôi khóc và khóc mãi như đang dự đám tang chính mình vậy. Lại có những buổi sáng tôi cảm thấy giận dữ và cay đắng.
“Nhưng tất cả những thái cực ấy đều không kéo dài được lâu. Tôi đứng dậy và nói: “Tôi muốn sống...”
"Cho đến giờ tôi đã làm được điều đó. Liệu tôi còn đủ khả năng tiếp tục hay không, tôi chưa biết. Nhưng tôi đánh cuộc rằng tôi sẽ làm được".
Kopel dường như bị cuốn hút bởi câu chuyện của Morrie. Hai người đàm luận về kiếp sau, rồi sau chuyển sang việc sinh hoạt của thầy ngày càng phụ thuộc vào những người khác. Hiện thầy cần người bón cho ăn, cần người chuyện trò và giúp thầy di chuyển từ chỗ này qua chỗ khác. Koppel hỏi liệu thầy có sợ hãi tình trạng suy sụp từ từ này hay không?
Chương trình được phát sóng vào tối thứ Sáu. Nó bắt đầu bằng hình ảnh Ted Koppel ngồi sau bàn giấy của mình ở Washington. Giọng của ông oang oang đầy quyền lực.
"Morrie Schwartz là ai," Koppel nói, "và tại sao cho tới trước đêm nay đã có quá nhiều người quan tâm tới ông?"
Đúng thời khắc đó, trong ngôi nhà trên một quả đồi nhỏ nằm cách trường quay vài ngàn cây số, tôi tình cờ bật máy truyền hình. Lời của người dẫn chương trình "Morrie Schwartz là ai?” khiến toàn thân tôi tê cứng.
0
Cuộc gặp gỡ đầu tiên của lớp chúng tôi được tổ chức vào mùa Xuân năm 1976. Bước vào phòng làm việc của thầy Morrie, tôi thấy sách nhiều vô kể. Sách về xã hội học, triết học, tôn giáo và tâm lý học. Chúng được xếp ngay ngắn trên kệ. Cái nọ nối tiếp cái kia thành một bức tường sách bao kín tứ bề. Trên mặt sàn gỗ có trải một tấm thảm lớn. Một ô cửa sổ nhìn ra con đường đi dạo uốn luợn trong khuôn viên trường. Trong phòng có mặt chừng độ hơn chục sinh viên đang ngượng nghịu mân mê những cuốn tập ghi chép bài giảng và đề cương môn học. Đa phần họ đến mặc quần gin, áo sơmi vải thô, chân mang giày thể thao. Tôi tự nhủ thầm: Chẳng cách nào phớt lờ nhau nếu lớp chỉ có mấy mống như thế này. Đáng ra tôi không nên đăng ký vào lớp này.
“Mitchell”, thầy Morrie đọc, mắt nhìn vào danh sách lớp.
Tôi giơ tay.
“Anh có thích tên Mitch không? Hay gọi là Mitchell tốt hơn?”
Tôi chưa từng nghe thầy giáo nào hỏi như vậy cả. Tôi ngạc nhiên nhìn vị giáo sư súng sính trong chiếc quần nhung kẻ, áo cổ lọ màu vàng chóe. Mái tóc bạc của ông rủ xuống trán. Ông đang nhìn tôi mỉm cười.
“Mitch” - tôi đáp. (Mitch là tên bạn bè thường gọi tôi)
“Được. Thế thì gọi là Mitch,” thầy Morrie nói với vẻ muốn chấm dứt câu chuyện.
“Này, Mitch”
“Dạ?”
“Ta hy vọng một ngày nào đó anh sẽ coi ta như một người bạn.”
0
ĐỊNH HUỚNG
 
Một tay tôi quay vô lăng điều khiển xe hơi quẹo sang phố có ngôi nhà của thầy Morrie ở West Newton, tay còn lại cầm ly cà phê, đầu ngoẹo xuống vai giữ chiếc điện thoại di động. Tôi đang thảo luận với người chủ nhiệm về chương trình truyền hình chúng tôi đang thực hiện. Mắt tôi hết liếc nhìn mặt số chiếc đồng hồ điện tử đeo tay - chuyến bay khứ hồi của tôi sẽ cất cánh sau vài giờ nữa - lại dòm chừng số hòm thư dựng bên con đường cao tốc ba làn xe. Tóm lại tôi làm tới năm việc cùng một lúc.
"Quay lại băng coi nào!", tôi nói với người chủ nhiệm chương trình qua điện thoại. "Cho nghe lại đoạn đó lần nữa đi".
"Được" ông ta trả lời. "Chờ chút nhé”
Đột nhiên ngôi nhà cần tìm xuất hiện như tù dưới đất chui lên. Tôi đạp thắng gấp. Ly cà phê sóng sánh, rớt vài giọt lên đùi. Xe vừa dừng lại, đập vào mắt tôi là bóng một cây gỗ thích Nhật Bản lớn và ba người ngồi gần đường rẽ vào nhà. Một cô gái, một người phụ nữ đã luống tuổi bên cạnh một ông già nhỏ thó ngồi trong chiếc xe lăn.
Thầy Morrie.
Thoáng thấy bóng thầy, người tôi tê cứng.
"Alô?", tiếng người chủ nhiệm vang lên trong tai tôi "Cậu sao im lặng thế...?"
Đã 16 năm tôi không gặp lại nay tóc thầy đã thưa hơn, gần như bạc trắng. Khuôn mặt hốc hác. Bỗng nhiên tôi cảm thấy mình chưa sẵn sàng cho cuộc đoàn viên này. Tôi chỉ mong thầy đừng nhận ra sự có mặt của tôi để tôi có thể lái xe qua khu này thêm vài vòng vừa tranh thủ hoàn tất công việc dở dang, vừa chuẩn bị tâm lý cho cuộc gặp gỡ. Thế nhưng thầy Morrie đang mỉm cười nhìn chiếc xe hơi như chờ tôi xuất hiện.
"Này”, lại tiếng của người chủ nhiệm chương trình. "Cậu có đó không đấy?"
Nhớ tới những năm tháng bên thầy, nhớ tới lòng tốt và sự kiên nhẫn mà thầy đã dành cho tôi khi tôi còn trẻ, tôi chỉ muốn quăng máy điện thoại đi, nhảy ra khỏi xe nhào tới ôm hôn thầy.
Nhưng rồi tôi tắt máy xe hơi, cúi gập người xuống ghế ra bộ tìm kiếm vật gì.
"Tôi đây", tôi thì thào vào máy di động và tiếp tục điện đàm với người chủ nhiệm chương trình cho tới lúc chúng tôi bàn xong việc.
Tôi vừa ứng xử theo đúng cái cách đã giúp tôi trở thành người xuất sắc nhất trong công việc. Chăm lo công việc trên hết, thậm chí cả khi người thầy cũ đang hấp hối chờ tôi trên bãi cỏ. Tôi không tự hào về điều này, nhưng tôi đã hành xử như vậy.
0
Còn bây giờ, thầy Morrie đang ôm hôn tôi. Những cọng râu lưa thưa của ông cọ vào má tôi. Tôi giải thích với ông rằng vì mải kiếm chùm chìa khoá nên tôi mới nấn ná trong xe lâu như vậy. Tôi siết chặt ông vào lòng, dường như muốn khoả lấp nhũng lời dối trá của mình. Mặc dầu mặt trời mùa xuân ấm áp, thầy Morrie vẫn khoác thiếc áo gió, chân thầy ẩn dưới tấm mền mỏng. Người thầy phảng phất mùi hơi chua chua thường thấy ở những người dùng thuốc quá nhiều. Khi thầy áp mặt vào sát má tôi, tôi nghe thấy hơi thở dốc bên tai.
"Anh bạn cũ của ta rốt cục cũng đã trở về!", thầy Morrie nói khẽ .
Ông bám cứng không rời, hai cánh tay khư khư giữ chặt khủy tay tôi. Tôi sửng sốt trước tình cảm đặc biệt ông dành cho tôi sau bấy nhiêu năm. Quả tình, từ lâu tôi đã tự nhốt mình giữa bốn bức tường đá do chính tôi dựng lên ngăn cách hiện tại với quá khứ. Lâu nay, tôi quên rằng đã có thời tôi và thầy rất gần gũi nhau. Ký ức như sống lại, nhắc tôi nhớ đến ngày tốt nghiệp, nhớ chiếc cặp, nhớ những giọt nước mắt của thầy lúc chia tay. Tôi nuốt nước bọt. Tự đáy lòng, tôi hiểu rằng mình đã không còn là cậu sinh viên tốt bụng mang quà tặng thầy giáo như trong trí nhớ của thầy Morrie.
Tôi chỉ hy vọng là sau cuộc gặp gỡ kéo dài vài giờ sắp tới, trong tâm niệm của thầy, tôi sẽ lại vẫn là cậu học trò xưa.
Vào nhà, thầy trò cùng ngồi bên chiếc bàn bằng gỗ óc chó bên chiếc cửa sổ trông sang nhà hàng xóm. Thầy Morrie cuống quýt lăn đôi bánh xe lăn để tìm góc ngồi thuận tiện nhất. Như thủa xưa, thầy hỏi tôi có nếm một chút gì không. Tôi gật đầu. Chị giúp việc người Ý mập mạp tên là Connie cắt mấy khoanh bánh mì đặt cạnh đĩa xà lách trộn, gà nấu đậu.
Vừa nhác thấy Connie đặt lên bàn một nắm thuốc, thầy Morrie nhìn chúng thở dài. Hai hốc mắt thầy trũng sâu, đôi gò má cao cao hơn so với hình ảnh ghi trong ký ức của tôi. Chúng khiến cho vẻ mặt thầy khắc nghiệt hơn xưa, cho tới lúc nụ cười xuất hiện trên môi.
"Này Mitch", thầy nói nhẹ nhàng, "Con biết ta sắp chết chứ?"
Tôi biết.
"Vậy thì", Morrie nuốt nốt mấy viên thuốc còn lại, đặt chiếc ly giấy xuống, hít vào một hơi sâu rồi thở mạnh ra. "Ta sẽ kể cho con hay nó ra sao".
"Nó? Cái chết ư thưa thầy?"
"Phải", thầy đáp.
Những bài giảng cuối cùng của thầy đã bắt đầu như vậy, ngoài chủ ý của tôi.
0
Dạo tôi còn học năm thứ nhất, thầy Morrie là vị giáo sư cao tuổi nhất trường, còn tôi là cậu sinh viên măng sữa. Hòng bù lại sự thiếu hụt về tuổi tác, tôi thường mặc chiếc áo trấn thủ xám, năng lui tới một câu lạc bộ thể thao trong vùng tập quyền Anh và đi vòng vòng với điếu thuốc lá cháy dở trên môi mặc dù tôi chẳng hề biết hút thuốc. Lúc nào cửa kính xe hơi Mercury Congar của tôi cũng hạ xuống, từ đó vọng ra tiếng nhạc rống ong ỏng. Tôi muốn phô bày bản thân như một người cứng cỏi và từng trải. Kỳ tình, tôi bị cuốn hút bởi sự dịu đàng của thầy Morrie. Còn ông lại làm như không chú ý tới những trò làm bộ làm tịch trẻ con của tôi, vì thế tôi chùng xuống.
Học hết năm thứ nhất với thầy, tôi chuyển sang lớp khác. Thầy Morrie dễ dãi trong việc chấm điểm, thầy không chú ý tới điểm số của học trò. Người ta kể rằng hồi còn chiến tranh Việt Nam, đã có lần thầy chấm điểm A cho tất cả sinh viên nam trong lớp để họ khỏi bị gọi quân dịch.
Thầy Morrie thích biệt danh, vì thế tôi chuyển sang gọi thầy là Coach, theo đúng cách chúng tôi vẫn xưng hô với huấn luyện viên trong câu lạc bộ thể thao của trường.
“Coach à?”, thầy Morrie nhướng mày. "Tốt. Vậy ta sẽ là huấn luyện viên, còn con sẽ là vận động viên. Con có thể chơi được tất cả những trò đời mà bây giờ ta đành chịu thua vì đã quá già.”
0
LỚP HỌC
 
Những tia nắng vàng xuyên qua khung cửa sổ phòng ăn rọi sáng mặt bàn gỗ hoa tâm đánh véc ni bóng loáng. Nãy giờ, hai thầy trò tôi hàn huyên suốt hai tiếng đồng hồ. Chuông điện thoại réo. Thầy Morrie nhờ chị giúp việc nhấc máy giùm. Bằng một thứ chữ nhỏ xíu như con kiến, chị Connie chép tên của những người gọi điện tới cho thầy Morrie vào một cuốn sổ nhỏ màu đen ghi các cuộc hẹn. Tôi liếc qua. Nào bạn bè, thầy thiền, một nhóm thảo luận. Người nào đó muốn chụp hình thầy cho trang bìa tờ tạp chí. Rõ ràng, không chỉ riêng mình tôi quan tâm tới thầy. Sự xuất hiện của thầy Morrie trong chương trình Câu chuyện hàng đêm đã biến thầy thành nhân vật nổi tiếng. Tôi cảm kích trước tấm lòng của những người bạn thầy Morrie và trong lòng thoáng chút ghen tị với thầy. Những thằng bạn thời đại học cùng tôi, không biết bây giờ chúng biến đâu hết rồi?
"Con biết đấy, Mitch. Ta đang chết dần và vì thế trong con mắt mọi người, ta càng trở nên thú vị hơn".
“Thầy vốn luôn là con người thú vị kia mà".
"Ồ. Con đừng quá lời như thế,” thầy mỉm cười.
Không quá lời đâu, tôi nghĩ.
"Vấn đề là ở chỗ", thầy nói, "mọi người coi ta như cây cầu. Ta chưa chết nhưng cũng không còn sống toàn vẹn và đầy đủ như ta đã từng sống. Ta đang đứng giữa cái sống và cái chết".
Cố nén cơn ho sặc sụa, thầy cố mỉm cười. "Ta sắp lên đường vào vĩnh cửu, vì thế ai cũng muốn biết xem ta chuẩn bị hành trang ra sao".
Chuông điện thoại lại kêu réo.
“Thưa, cụ có định nói chuyện không ạ?", chị Connie hỏi thầy.
"Tôi đang bận tiếp người bạn cũ", thầy đáp. "Làm ơn nói họ gọi lại sau".
Tôi không thể giải thích nổi vì sao thầy lại tiếp đón tôi nồng hậu đến như vậy. Lúc chia tay thầy 16 năm về trước, tôi đâu phải là cậu sinh viên đầy triển vọng. Nếu không có chương trình Câu chuyện hàng đêm có lẽ thầy sẽ qua đời mà chả bao giờ gặp lại tôi. Về chuyện này, tôi không có lý do gì để tha thứ cho bản thân, ngoại trừ việc hình như bất cứ ai trong thời nay cũng đều như tôi cả. Chúng ta đang chết đuối trong cuộc sống ồn ào và bận bịu của chính mình.
Điều gì đã xảy ra với tôi? Giọng nói the thé như người nghiện thuốc lá của thầy Morrie đưa tôi trở lại với những năm tháng đại học, khi mà tôi coi giàu có là hiện thân của quỷ sứ, ví áo sơmi và cà vạt như bộ đồ sọc tù nhân. Trong đầu tôi lúc đó, cuộc sống tự do trên yên xe môtô phân khối cao, gió rít bên tai, nay đây mai đó, lúc Paris khi Tây Tạng mới là cuộc sống đích thực. Cái gì đã xảy ra?
Những năm 80 và rồi 90 qua đi. Người ta mập ra, đầu hói và rồi bệnh tật, chết chóc. Tôi đã đánh đổi nhiều giấc mơ thời thanh niên của mình để nhận lại hàng đống tiền mà không hề biết rằng mình đang làm việc đó.
Thầy Morrie vẫn đang thích thú hỏi chuyện, làm như tôi còn đang là một cậu sinh viên mới trở về lớp sau một kỳ nghỉ hè dài.
"Con đã tìm thấy người sẵn sàng chia sẻ nhịp đập trái tim của mình chưa?", thầy hỏi.
"Con có cống hiến cho cộng đồng của con hay không?"
"Con có thuận thảo với chính mình không?"
"Con có cố gắng, trong chừng mực có thể, để sống như một con người thực thụ hay không?"
Tôi bối rối. Làm thế nào để thầy biết rằng từ bao lâu nay chính tôi vẫn đang vật lộn với những câu hỏi ấy. Điều đã xảy ra với tôi? Tôi đã từng hứa với chính mình rằng sẽ không bao giờ làm việc chỉ vì tiền, rằng tôi sẽ chỉ sống ở những nơi thật đẹp, thật nên thơ. Thế nhưng tôi đã sống ở Detroit suốt 10 năm nay, làm việc chết dí cho một tờ báo, gởi và rút tiền ở một ngân hàng duy nhất, tháng tháng ghé tiệm hớt tóc quen thuộc. Ở tuổi 37, suốt ngày cột mình vào máy vi tính cá nhân, modem fax, điện thoại di động, năng lực của tôi giờ khác xa thời sinh viên. Tôi mải mê trau chuốt những bài báo của mình về những vận động viên giàu sụ. Trớ trêu thay, những người như tôi có lẽ lại được họ ít quan tâm nhất. Từ lâu tôi đã không còn là chàng sinh viên trẻ nhất lớp, không còn mặc áo trấn thủ xám, miệng phì phèo điếu thuốc cháy dở, cũng chẳng còn vừa nhồm nhoàm miếng bánh mì kẹp trứng vừa tranh luận về ý nghĩa cuộc đời. Những năm tháng của cuộc đời tôi đã và vẫn đang đầy rẫy nhũng khoảng thời gian khiến tôi không hài lòng.
Điều gì đã xảy đến với tôi?
"Coach", đột nhiên tôi thốt ra biệt danh mà tôi đặt cho thầy.
Khuôn mặt thầy Morrie rạng rỡ "Thế ra ta vẫn là huấn luyện viên của con ư?".
Thầy Morrie cười và tiếp tục ăn nốt bữa ăn bắt đầu từ 40 phút trước. Tôi quan sát thầy: đôi bàn tay rón rén giống như lần đầu tiên trong đời thầy học cách sử dụng chúng. Những ngón tay run rẩy của thầy không đủ sức nhấn con dao ăn xuống đĩa. Mỗi miếng ăn là một cuộc vật lộn. Thầy nhai thức ăn thật kỹ trước khi nuốt. Thỉnh thoảng thức ăn trượt khỏi khoé môi buộc thầy phải bỏ dao nĩa đang cầm trong tay và lập cập chấm chiếc khăn tay lên mặt. Làn da từ cổ tay tới những khớp ngón tay thầy lấm tấm những vệt đồi mồi và lòng thòng như miếng da dính vào khúc xương trong nồi xúp.
Chúng tôi ngồi ăn như thế một lúc. Một ông già bệnh tật và một chàng trai mạnh khoẻ, cả hai đều bị cuốn vào không khí im lặng của căn phòng. Theo tôi, đó là một sự im lặng gây bối rối và hình như tôi là người duy nhất bị bối rối.
"Chỉ có chết mới hết buồn. Mitch ạ", bất chợt thầy Morrie nói. "Còn sống là còn bất hạnh. Thế nên đa phần những người tới thăm ta đều bất hạnh".
Tại sao?
"Phải, vì lẽ rằng thứ văn hoá mà chúng ta đang sống trong đó không cho phép chúng ta cảm thấy tự hài lòng về chính mình. Chúng ta đang rao giảng những điều sai lầm. Đáng ra mỗi người phải đủ khả năng để chối bỏ một nền văn hoá nếu nó không phù hợp và tạo ra một cái riêng cho mình. Thế nhưng hầu hết đều không đủ sức làm điều đó. Vì thế họ bất hạnh hơn ta, cho dù ta đang lâm vào tình thế như hiện nay. Ta có lẽ sẽ chết, nhưng xung quanh ta là những linh hồn biết yêu thương chăm sóc. Hỏi có mấy người có thể nói như vậy?"
Tôi sửng sốt khi nhận thấy rằng ở thầy hoàn toàn không còn chút thương xót nào đối với bản thân. Thầy Morrie từ nay không thể khiêu vũ, đi bơi, tắm hay đi dạo, không thể tự mình mở cửa đón khách, không thể tự lau khô người sau khi tắm, thậm chí không thể trở mình khi nằm trên giường. Làm sao thầy có thể là con người dễ dàng chấp nhận hoàn cảnh đến thế? Tôi đã quan sát thầy vật lộn với chiếc nĩa để xiên một miếng cà chua, hai lần thử đầu tiên đều trượt. Một cảnh tượng lâm ly! Thế nhưng tôi không thể chối cãi một điều là khi ngồi bên thầy tôi cảm thấy thanh thản một cách kỳ diệu. hệt như có một làn gió vuốt ve đưa tôi trở lại thời sinh viên.
Theo thói quen, tôi liếc nhìn đồng hồ: Không khéo tôi trễ giờ mất! Và tôi nhác nghĩ tới chuyện đăng ký chuyến bay khác để trở về nhà . Đúng lúc đó thầy Morrie nói một câu ám ảnh tôi cho tới tận hôm nay.
"Con có biết ta sẽ chết như thế nào không?"
Tôi nhướng mày.
"Ta sẽ chết ngạt. Chính thế. Những cơn hen suyễn làm cho hai lá phổi của ta không còn đủ sức chống đỡ với căn bệnh ASL nữa. Nó đang chạy dần lên theo cơ thể của ta. Giờ nó đã tóm được đôi chân ta, không lâu nữa là hai cánh tay, rồi hai bàn tay. Và khi nó tiến tới phổi thì...”
Thầy Morrie nhún vai.
"… Ta sẽ bị ngạt như kẻ chết đuối vậy"
Tôi không biết nên nói gì nên cứ lúng búng một cách khó hiểu:
"Vâng, thầy biết... Ý con là... thầy không bao giờ biết..."
Thầy Morrie nhắm mắt lại:
"Ta biết. Mitch ạ. Con chẳng nên hoảng sợ nếu ta chết. Ta đã sống một cuộc đời thật tuyệt vời và tất cả chúng ta đều biết rằng điều gì sẽ phải xảy ra. Có lẽ ta còn được sống thêm khoảng bốn hay năm tháng nữa".
Thôi nào, tôi đáp lời thầy mà lòng bồn chồn. Không ai có thể nói trước chuyện đó...
"Ta có thể", thầy Morrie dịu dàng trả lời. "Có cách kiểm tra nữa cơ đấy. Một ông bác sĩ dạy cho ta biết".
Cách kiểm tra?
"Hít vào một hơi dài xem nào."
Tôi làm theo lời thầy.
"Bây giờ thì làm lần nữa nhưng khi thở ra nhớ đếm xem con chịu đựng được bao lâu trước khi hít vào một hơi khác".
Tôi đếm nhanh trong khí thở ra "Một, hai, ba, bốn, năm, sáu. bảy, tám..." Vừa đếm tới số bảy mươi thì tôi cũng hết hơi.
"Tốt", thầy Morrie nhận xét. "Con có buồng phổi khoẻ ra phết. Giờ nhìn ta làm đây này".
Thầy Morrie hít vào và bắt đầu đếm bằng một giọng êm ái nhưng hơn run run. "Một, hai, ba. bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười, mười một, mười hai, mười ba, mười bốn, mười lăm, mười sáu, mười bảy, mười tám"
Chợt thầy dừng lại thở hổn hển.
"Lần đầu tiên khi ông bác sĩ bảo ta làm thử, ta đếm được tới hai mươi ba kia đấy. Giờ chỉ còn có mười tám thôi".
Thấy nhắm mắt, lắc đầu: "Ta như chiếc bình cạn sạch nước mất rồi".
Tôi vỗ nhẹ hai tay lên đùi mình. Chừng ấy đã quá đủ cho buổi chiều nay.
"Con nhớ trở lại thăm ông giáo già này nhé". thầy Morrie khẽ nói khi tôi ôm hôn tạm biệt thầy.
Tôi hứa với thầy và cố không nghĩ tới một lời hứa tương tự của mình trong quá khứ.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-07-31 06:35:37HanAn>
Tôi lục lọi trong cửa hàng sách của trường để tìm mấy cuốn có tên trong danh mục thầy Morrie yêu cầu chúng tôi đọc. Tôi mua cuốn có tựa "Tuổi trẻ: Sư đồng nhất và cơn khủng hoảng", "Ta và Ngươi - hai nửa của cái Tôi bị chia rẽ". Tôi chưa bao giờ nghe nói về một cuốn sách như vậy.
Trước khi vào đại học, tôi không bao giờ ngờ rằng mối quan hệ giữa con người lại có thể được người ta xem xét một cách khoa học. Mãi cho tới khi gặp thầy Morrie tôi vẫn tin là như vậy.
Sự đam mê sách của thầy Morrie quả là chân chính và dễ lây lan. Sau giờ học, khi trong phòng đã trống vắng, tôi và thầy thường nói chuyện rất nghiêm túc. Thầy hỏi han tôi về đời sống rồi trích dẫn Erich Fromn, Martin Buber, Erik Erikson. Thường thì ông ngả theo các tác giả đó, tuy vậy thầy vẫn ghi chú thêm những ý kiến riêng cho dù rõ ràng là những suy nghĩ của thầy và của họ như nhau. Qua những lần như vậy tôi nhân ra thầy Morrie là một giáo sư thực thụ chứ không phải chỉ là một ông già tốt bụng. Một chiều nọ, tôi than phiền với thầy về sự bối rối thường gặp ở lứa tuổi tôi: Những gì mà người ta trông chờ ở tôi hoàn toàn khác với cái mà bản thân tôi muốn.
“Ta đã nói cho con nghe về sự căng thẳng giữa những điều trái ngược nhau hay chưa?”
Sự căng thẳng giữa những điều trái ngược?
“Cuộc sống là một chuỗi của những lôi kéo trái ngược nhau. Con muốn làm một cái gì đó, thế nhưng cùng lúc con lại bị thu hút bởi một cái hoàn toàn khác - cái có thể làm hại con, và con cũng biết rằng không nên làm nó. Thỉnh thoảng con vẫn cho chuyện này chuyện kia là đúng, thậm chí khi con biết rất rõ rằng không bao giờ người ta được phép coi bất kỳ chuyện gì là đúng. Sự căng thẳng giữa những điều trái ngược giống như một sợi thun bị kéo căng ở hai đầu vậy, và đa số chúng ta sống ở đâu khoảng giữa sợi thun đó”
Giống như đấu vật vậy, tôi thốt lên.
“Một trận đấu vật”, thầy Morrie cười. “Được. Con có thể diễn tả cuộc sống theo cách đó.”
Vậy bên nào sẽ thắng? Tôi hỏi.
“Bên nào thắng ư?”
Thầy mỉm cười nhìn tôi bằng đôi mắt với những nép nhăn, để lộ những chiếc răng xiêu vẹo.
“Tình yêu sẽ thắng. Luôn luôn chiến thắng.”
0
GHI TÊN VÀO LỚP
 
Vài tuần sau, tôi bay tới London theo dõi giải Wimbledon. Đó là nơi tranh tài của các tay vợt tennis siêu hạng thế giới, nơi duy nhất khán giả không la ó và nơi duy nhất bạn không gặp những kẻ say rượu ngật ngưỡng trên bãi đậu xe. Nước Anh đang mùa ấm áp và đầy mây. Mỗi sáng tôi tản bộ dọc theo những đường phố quanh sân tennis, phớt lờ những lời chào mời mua vé "dư" của các cậu trai, bỏ ngoài tai những tiếng rao chua lòm của mấy người bán dạo dâu tây, kem. Ngay cổng có một sạp báo bày bán hàng chục loại báo khổ nhỏ in màu sặc sỡ. Những đầu đề giật gân được viết lem nhem bằng phấn trên một tấm bảng đặt ngay trên đống báo. Các trang bìa đầy rẫy hình ảnh đàn bà hở hang, những bức chụp Hoàng gia do các tay săn ảnh chộp được. Những trang ruột ngập những chuyện thể thao, tử vi bói toán, các cuộc đánh cá, xổ số và cuối cùng một chút xíu cái gọi là tin tức.
Người qua đường vơ vội lấy những tờ báo đó, ngấu nghiến những chuyện đồn đãi trong ruột chúng. Tôi cũng dã từng làm vậy trong những chuyến tới Anh trước đây. Nhưng lần này, không hiểu vì cớ gì, tôi cứ nghĩ tới thầy Morrie mỗi khi đọc được chuyện gì đó ngớ ngẩn và vô nghĩa. Trong lúc tôi tiêu phí hàng giờ đồng hồ đọc những chuyện chẳng liên quan gì tới mình: nào Công nương Di, nào Madonna hay John F. Kennedy. Còn thầy Morrie đang đếm từng hơi thở của mình, cố tranh thủ từng giây, từng phút quý báu cho những người thân yêu của ông. Tôi cảm thấy ghen tỵ với những hơi thở gấp gáp ngắn ngủi của thầy. Tại sao chúng ta lại cứ phải để tâm với những trò điên cuồng do chính chúng ta bày ra?
Tôi trở về Mỹ đúng lúc phiên toà xử vụ O.J. Simpson đang vào giai đoạn cao trào. Có nhiều người bỏ cả bữa trưa chỉ để xem tường thuật trên tivi, thậm chí còn ghi băng để tối coi lại. Họ chẳng hề quen biết Simpson, chẳng quen biết bất kỳ người nào liên quan tới vụ án, thế nhưng họ vứt bỏ nhiều tuần của cuộc đời mình chỉ để tò mò gặm nhấm bi kịch của người khác.
Tôi nhớ lại lời thầy Morrie nói với tôi: "Lối sống của chúng ta không làm cho người ta cảm thấy thoả mãn chính mình. Anh phải là người thật mạnh mẽ để từ chối nếu nó không thích hợp".
Từ rất lâu trước khi rơi vào cảnh bệnh tật, thầy Morrie đã tự tạo cho mình một lối sống riêng. Ngoài những nhóm thảo luận, những cuộc đi dạo đàm đạo với bạn bè, thói quen đi nhảy ở nhà thờ Quảng trường Havard, thầy còn theo đuổi dự án Ngôi nhà Xanh, nơi nhận chăm sóc những vết thương tâm thần cho những kẻ nghèo khó. Thầy Morrie đọc sách không ngừng, chắt lọc những ý tưởng mới mẻ cho các bài giảng. Ông thăm viếng các bạn đồng nghiệp, trao đổi thư từ với sinh viên cũ, bạn bè phương xa. Thầy Morrie dành ngày càng nhiều thời gian sống với thiên nhiên, từ chối ngồi lì trước máy truyền hình. Ông đặt mình trong một thế giới giao tiếp người với người.
Tôi cũng chọn cho mình một lối sống riêng: Công việc. Trong thời gian lưu lại nước Anh, tôi nhận làm việc đồng thời cho vài tờ báo, tung hứng chúng như anh hề. Mỗi ngày tôi dán mắt vào màn hình máy tính suốt 8 tiếng đồng hồ, bóp óc cho đủ bài gởi về Mỹ. Rồi tôi lang thang cùng với nhóm quay phim khắp các xó xỉnh của London làm phóng sự truyền hình. Chưa hết, sáng tinh mơ và chiều tối là giờ tôi gào vào máy điện thoại để chuyển các bản tin cho một đài phát thanh ở Mỹ thuê tôi làm thêm. Một gánh nặng quá sức. Được hơn một năm, tôi thuê một người phụ tá và đẩy cho hắn một mớ việc.
Ở Wimbledon, chẳng cần phải nghĩ ngợi, tôi dùng bữa ngay trên chiếc bàn làm việc trong căn phòng hẹp. Một ngày nọ, trong lúc cùng đám phóng viên đuổi bám theo Andre Agassi và Brooke Shields - cô bạn gái nổi tiếng của anh ta, tôi bị một tay săn ảnh người Anh xô bật ngửa. Không thèm ngoái cổ lại, thằng cha đó chỉ lầm bầm trong họng vỏn vẹn hai chữ "Xin lỗi" và mải miết lao về phía trước với cái máy ảnh to đùng lủng lẳng trước cổ như đeo gông. Tôi nghĩ về một câu khác của thầy Morrie: "Nhiều người cứ lòng vòng với một cuộc sống vô nghĩa. Họ dường như đang mê ngủ mặc dù họ đang làm những điều họ cho là quan trọng. Đó là vì họ sai lầm. Con đường dẫn tới ý nghĩa đích thực của cuộc sống đòi hỏi người ta phải biết yêu người khác, biết hiến mình cho cộng đồng, làm những việc khiến cuộc sống trở nên có mục đích".
Tôi nhận ra rằng những lời thầy Morrie hoàn toàn đúng.
Giải Wimbledon kết thúc, tôi tắt máy tính, dọn dẹp phòng làm việc, trở về khách sạn đóng gói đồ đạc.
Tôi bay tới Detroit vào lúc gần nửa đêm, cố lê bước về tới nhà chui vào giường ngủ. Sáng hôm sau, tôi bừng tỉnh giấc với tin choáng váng: Công đoàn tờ báo nơi tôi làm việc quyết định đình công. Lối vào cửa bị chặn bởi những hàng rào, nhân viên tuần hành dọc theo quãng phố trước cửa toà soạn. Là thành viên công đoàn, tôi không còn chọn lựa nào khác. Lần đầu tiên trong đời, tôi bỏ việc, chống lại các ông chủ. Những người lãnh đạo Công đoàn gọi điện cảnh cáo tôi không được liên lạc với ban biên tập mà trong đó có nhiều người là bạn tôi, và phải treo máy nếu họ gọi lại giải thích sự việc.
"Chúng ta sẽ đấu tranh tới ngày thắng lợi”, các nhà lãnh đạo Công đoàn thề thốt.
Tôi cảm thấy bối rối và chán nản. Mặc dầu tôi còn làm thêm cho mạng truyền hình và phát thanh, thế nhưng báo chí vẫn là công việc chính. Với tôi, tờ báo như khí trời tôi hít thở để sống. Mỗi sáng nhìn thấy những bài viết của mình được đăng, ít nhất tôi cũng biết rằng mình vẫn còn sống.
Bây giờ mọi chuyện đã khác. Cuộc đình công kéo dài sang ngày thứ hai, rồi ngày thứ ba và xuất hiện những cú điện thoại, những tin đồn nói nó sẽ kéo dài vài tháng. Mọi việc đều bị đảo lộn tùng phèo. Đang diễn ra biết bao nhiêu sự kiện thể thao đáng ra tôi phải có mặt để đưa tin, thế mà tôi lại nằm khoèo ở nhà coi chúng qua tivi. Quen nghĩ rằng bạn đọc đang hau háu chờ những bài bình luận sốt dẻo của tôi, tôi kinh ngạc phát hiện ra rằng dẫu không có tôi dòng đời vẫn trôi qua bình thản.
Một tuần trôi qua. Tôi nhấc ống nghe và quay số của thầy Morrie. Chị Connie đỡ ông tới bên máy.
"Con đến chỗ ta nhé”, giọng thầy nói như ra lệnh.
"Vâng".
"Thứ Ba được không?"
Thứ Ba cũng được. Có khi lại tốt nữa.
0
Sang năm thứ hai, tôi học thêm hai môn với thầy Morrie. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau ngoài giảng đường để đàm đạo. Trước đây, tôi chưa nói chuyện lâu với người lớn, trừ phi đó là người thân trong gia đình. Thế nhưng, tôi rất thích những cuộc thảo luận với thầy Morrie, và có lẽ ông cũng cảm thấy như vậy đối với tôi.
“Hôm nay chúng ta sẽ gặp nhau ở đâu nhỉ?”, thầy vui vẻ hỏi khi tôi bước vào phòng làm việc của ông.
Mùa Xuân, chúng tôi ngồi dưới những gốc cây tán lá rộng bên ngoài toà nhà khoa Xã hội học. Tới mùa đông hai thầy trò chuyện trò với nhau bên chiếc bàn làm việc. Tôi lúc nào cũng đánh chiếc áo trấn thú xám không ống tay áo, chân xỏ đôi giày thể thao Adidas. Dưới ống quần nhung kẻ sọc của thầy ló ra mũi giày Rockport. Lần nào, thầy cũng kiên nhẫn lắng nghe câu chuyện lan man của tôi, cố hướng nó thành một bài học về cuộc sống. Ngược lại với cái nhìn rất phổ biến trong sinh viên, thầy Morrie cảnh cáo tôi rằng trong đời tiền tài không phải là thứ chính yếu nhất. Thầy khuyên tôi cần phải làm một "con người hoàn toàn”, phải hoà nhập với xã hội... trong những điều thầy nói ra, có cái tôi hiểu, có cái không. Nhưng hiểu hay không hiểu không thành vấn đề. Những cuộc thảo luận cho tôi cái cớ để được nói chuyện với thầy như với người cha. Cha tôi không mấy khi nói chuyện với tôi và ông mong tôi theo nghề luật sư, còn thầy Morrie lại chúa ghét luật sư.
"Con định làm gì sau khi tốt nghiệp?”,  thầy hỏi.
Tôi muốn trở thành nhạc công. Nhạc công piano.
"Tuyệt”, thầy nói. "Nhưng khó đấy”.
Vâng.
“Có nhiều tay cự phách”.
Tôi có nghe nói.
"Thế nhưng", thầy ngưng một thoáng, “Nếu con thực muốn như vậy, con sẽ làm được”.
Tôi muốn ôm lấy thầy và nói câu cám ơn, nhưng rồi tôi cố nén mình, chỉ lặng lẽ gật đầu.
"Ta dám cá là con sẽ chơi piano hăng hái lắm đấy.”
Tôi cười. Hăng hái ư?
Thầy Morrie cười đáp: "Hăng hái. Thì sao nào?”
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-07-30 04:57:32HanAn>
TUẦN THỨ NHẤT
CHÚNG TÔI BÀN VỀ THẾ GIỚI
 
Chị Connie mở cửa cho tôi vào. Thầy Morrie ngồi trên xe lăn bên cạnh bàn ăn, thầy mặc một chiếc áo sơmi vải bông rộng thùng thình và một chiếc quần còn rộng hơn thế, mặc dù đó chỉ là một chiếc quần kích cỡ bình thường. Lâu nay, đôi chân thầy bị teo, vóc dáng vốn bé nhỏ càng tóp lại. Giả như có đứng lên được, trông thầy cũng chỉ cao không quá mét rưỡi, vừa chui lọt chiếc quần gin của học trò lớp sáu.
"Con mang ít thức ăn biếu thầy". Tôi nói, tay cầm một gói giấy dầu màu nâu. Dọc đường từ sân bay tới đây, tôi ghé vào siêu thị mua miếng thịt gà tây, ít xà lách, mì ống và mấy ổ bánh mì. Tôi biết thầy chẳng thiếu thứ gì, nhưng chẳng qua tôi muốn làm một việc gì đó giúp thầy để khỏi ân hận thấy mình khoanh tay bất lực. Tôi nhớ ra rằng thầy Morrie rất thích ăn uống.
"Ôi, sao nhiều thứ thế này", thầy Morrie nói bằng một giọng nghe như hát. "Vậy con phải ăn giúp thầy thôi".
Hai thầy trò ngồi quanh bàn ăn. Lần này, nhờ không cần phải hỏi han chuyện cũ, chúng tôi bị cuốn vào cuộc đối thoại, hệt như hồi tôi còn là sinh viên. Thầy Morrie hỏi, lắng nghe những câu trả lời và thỉnh thoảng ngắt lời tôi để nhắc nhở những điều tôi đã quên hay chưa hiểu. Thầy quan tâm tới cuộc đình công ở toà soạn và thắc mắc tại sao cả chủ lẫn người làm thuê không chịu gặp gỡ để cùng giải quyết các vấn đế của cả hai phía. Tôi bảo với thầy rằng không phải ai cũng khôn ngoan như thầy.
Thỉnh thoảng cuộc đàm đạo phải ngưng lại để thầy đi vào nhà vệ sinh - một công việc chiếm mất khá nhiều thời gian. Chị Connie đẩy chiếc xe lăn vào nhà vệ sinh, xốc nách cho thầy tựa đi tiểu vào một chiếc bô có cổ. Sau mỗi lần như vậy, dáng điệu thầy tỏ ra mệt mỏi.
"Con nhớ không? Ta từng nói với Ted Koppel rằng chả còn bao lâu sẽ đến ngày ta phải nhờ người khác... rửa đít hộ."
Tôi cười.
"Chính thế. Cái ngày ấy gần tới rồi. Nó làm ta bực bội hết sức."
Tại sao?
Bởi vì đó là dấu hiệu của sự bất lực hoàn toàn. Ta không muốn ai làm hộ việc đó. Làm việc ấy cũng thích lắm."
Thích thú?
"Chứ sao. Nói cho cùng, người già với con trẻ có gì khác nhau? Ta sắp trở lại làm trẻ con".
Một cách nhìn độc đáo đấy chứ!
"Giờ đây ta phải nhìn cuộc sống theo một cách riêng biệt. Này nhé! Bây giờ ta không thể đi mua sắm, không thể kiếm thêm tiền gởi vào ngân hàng, cũng không thể tay xách nách mang... Vì thế, ta đành ngồi một chỗ đếm những ngày còn sót lại và nhìn lại xem cái gì là quan trọng trong cuộc đời. Ta có đủ lý do và thời gian để làm điều này.”
Tôi buột miệng nói rằng phải chăng chìa khoá để hiểu được ý nghĩa cuộc đời chính là ở chỗ quẳng đi những thứ tay xách nách mang, những gánh nặng tự ta ôm vào?
Thầy Morrie chỉ cười và tôi tin rằng chính thầy đã làm như vậy.
Chị Connie vừa dọn chồng chén đĩa mang đi, tôi chợt nhìn thấy một chồng báo. Có lẽ thầy Morrie vừa đọc chúng trước khi tôi tới.
"Thầy vẫn đọc báo đấy ư?" Tôi hỏi.
"Phải", thầy Morrie trả lời. "Bộ chuyện lạ lắm sao? Hay con nghĩ rằng ta sắp chết nên chẳng cần biết nhũng chuyện gì đang xảy ra trên thế gian này?"
Có lẽ vậy
Thầy thở dài. "Có lẽ con đúng. Đáng ra ta chả nên quan tâm. Nói cho cùng, ta đâu có được nhìn thấy kết cục".
"Nhưng thật khó giải thích, Mitch ạ. Khi đau khổ, hơn bao giờ hết ta lại thấy mình gần gũi hơn với những người đang phải chịu khổ đau. Bữa nọ ta xem truyền hình, thấy cảnh người dân Bosnia chạy tán loạn trên đường phố dưới làn đạn. Nhà cửa bốc cháy, những nạn nhân vô tội bị giết... Ta đã khóc. Ta cảm thấy giận dữ hệt như nỗi đau của họ là nỗi đau của riêng ta. Ta không quen biết với ai trong số họ, nhưng ta không thể bỏ qua. Tâm trí ta bị họ cuốn hút."
Đôi mắt thầy rơm rớm. Tôi cố lái câu chuyện sang chủ đề khác nhưng thầy đưa khăn tay chậm lên mắt rồi phẩy tay.
"Độ rày thầy mau nước mắt lắm. Con đừng quan tâm."
Thật kỳ lạ! Bao năm vật lộn trong nghề báo, tôi đã viết vô số phóng sự về những cảnh chết chóc. Tôi phỏng vấn những người thân đang nức nở bên xác người đã khuất, tôi dự biết bao đám tang. Nhưng tôi chưa từng rơi một giọt lệ nào. Thế mà thầy Morrie lại khóc cho những người ở cách thầy tới tận nửa vòng trái đất. Tôi chợt nghĩ: Phải chăng đứng trước cái chết mọi người đều trở nên bình đẳng và cái chết buộc con người phải nhỏ lệ thương tiếc đồng loại?
Tiếng ho của thầy Morrie rít lên nhu tiếng còi xe hơi trong chiếc khăn tay bịt miệng. "Con đã nhàm với những cảnh đàn ông khóc lóc rồi, phải không?"
Tôi gật đầu thật nhanh.
Thầy nhăn mặt. "Ôi, Mitch. Bấy lâu nay ta thả lỏng con quá mất rồi. Rồi sẽ có hôm ta sẽ cho con biết tay."
"Vâng, vâng." tôi đáp.
"Vâng, vâng", thầy nhại lại.
Chúng tôi cùng cười vang khi thầy dùng lại lối nói của hai chục năm về trước. Dạo đó, các giờ lên lớp của thầy thường rơi vào ngày thứ Ba hàng tuần. Chính vào những ngày thứ Ba, sau giờ giảng chúng tôi thường gặp nhau trong phòng làm việc của thầy, tại quán cà phê trong trường hay trên những bậc thềm của toà nhà Pearlman Hall. Thầy trò cùng gọt giũa những bài luận của tôi.
Và bây giờ, chẳng hiểu Tạo hóa xếp đặt ra sao mà chúng tôi lại gặp nhau vào ngày thứ Ba trong ngôi nhà có cây thích Nhật Bản mọc trước của của thầy. Khi tôi nói ra suy nghĩ này với thầy Morrie, ông mỉm cười bảo:
"Chúng ta là những người thứ Ba."
Đột nhiên, thầy Morrie nói "Mitch, con ngạc nhiên về mối quan tâm của ta đối với những người không quen biết. Nhưng con có muốn biết điều gì quan trọng nhất mà ta học được trong thời gian bệnh tật?"
Điều gì vậy?
"Biết ban phát tình yêu và biết tiếp nhận nó."
Thầy hạ giọng gần như thì thầm. "Hãy mở rộng mình đón nhận tình yêu. Chúng ta thường nghĩ rằng chúng ta không xứng đáng với tình yêu hay nếu đón nhận nó chúng ta sẽ trở thành những kẻ mềm yếu".
Tôi gật đầu như một sinh viên thông thái, còn thầy nặng nề thở hắt ra. Tôi cúi người ôm lấy thầy và lần dầu tiên, thật bất ngờ với chính mình, tôi hôn lên má ông. Tôi cảm nhận được cánh tay mềm nhũn của ông, những sợi râu lưa thưa trên má ông cọ vào mặt tôi.
"Thứ Ba sau con sẽ tới chứ?", ông thì thào.
0
Thầy Morrie bước vào giảng đường, lặng lẽ ngồi xuống ghế, không nói không rằng. Thầy nhìn chúng tôi, còn chúng tôi nhìn ông đáp lại. Thoạt đầu, đây đó trong phòng còn có tiếng cười rúc rích, nhưng thấy thầy nhún vai, một bầu không khí im lặng như tờ trùm lên lớp học. Chúng tôi có thể nghe được cả những tiếng động nhỏ nhất, tiếng quạt thông gió rì rào đâu đó tuốt trên góc tường cao, tiếng mũi thở phì phò của một cậu sinh viên mập ú.
Một vài người tỏ ra bối rối. Sao thầy không nói gì? Bao lâu nữa thầy mới định bắt đầu bài giảng? Chúng tôi lúng túng nhìn đồng hồ đeo tay. Vài người ngó qua cửa sổ. Khoảng thời khắc im lặng nặng nề kéo dài 15 phút trước khi thầy Morrie khai mào bằng giọng thì thầm.
“Điều gì đang xảy ra ở đây vậy?”
Và thế là cuộc thảo luận về ảnh hưởng của sự im lặng tới mối quan hệ giữa người với người đã được mở ra một cách từ từ như ý muốn của thầy Morrie. Tại sao sự im lặng lại làm chúng ta bối rối? Phải chăng trong sự ầm ĩ, con người tìm thấy sự an ủi, khuây khỏa?
Thế nhưng, đối với riêng tôi sự im lặng chẳng hề làm tôi bực bội. Dẫu rằng tôi có thế đùa giỡn, tán gẫu với bạn bè ầm ĩ, nhưng tôi chẳng hề thấy thích thú khi phải thảo luận về cảm xúc của mình trước mặt những người khác (đặc biệt khi họ không phải là các bạn học của tôi). Tôi sẵn sàng ngồi lì hàng giờ trong im lặng nếu cả lớp yêu cầu tôi phải làm thế.
Tiếng chuông reo báo hết giờ. Tôi đứng dậy hướng ra cửa giảng đường. Thầy Morrie chặn tôi lại. “Hôm nay sao con không nói gì vậy?”
Tôi không biết. Có gì đâu để mà nói.
'Ta nghĩ con có nhiều điều muốn nói đấy. Này, Mitch, con làm ta nhớ tới một người vào thời trai trẻ cũng luôn thích thu mình lại”.
"Ai vậy, thưa thầy?”
'Ta.”
0
TUẦN THỨ HAI
CHÚNG TÔI BÀN VỀ VIỆC THA THỨ CHO BẢN THÂN
 
Tôi đã quay lại vào thứ Ba sau, và nhiều tuần liên tiếp sau đó. Tôi ngóng từng ngày cho tới thứ Ba để bay gần ba ngàn cây số đi về tới ngồi bên giường một ông già đang hấp hối. Cuộc đời tôi đang lâm vào một thời điểm rối loạn, và mỗi lần tới thăm thầy Morrie tôi cảm thấy nhẹ nhõm hơn. Mỗi lần xuống phi trường, tôi không còn thuê điện thoại di động để dùng trên đường từ sân bay về nhà thầy Morrie. Mặc kệ họ chờ đợi, tôi tự nhủ, bắt chước thầy.
Tình hình ở tờ báo Detroit không những không được cải thiện mà xem ra đang tiến triển xấu hơn. Đã xảy ra vài cuộc đụng độ giữa những người tham gia bãi công với các nhân viên mới được chủ thuê thay thế. Một số người bị bắt, bị đánh đập nằm dài trước những chiếc xe chở hàng đậu thành một dãy trên phố.
Trong bối cảnh đó, những cuộc trò chuyện của tôi với thầy Morrie củng cố lòng tốt của con người trong tôi. Chúng tôi bàn về cuộc sống, về tình yêu. Chúng tôi thảo luận về một trong những chủ đề mà thầy Morrie ưa thích nhất, tình thương và lòng trắc ẩn: Tại sao xã hội chúng ta lại thiếu hụt chúng?
Trước khi ghé thăm thầy lần thứ ba, tôi tạt qua của hiệu có tên Bánh mì và Xiếc - tôi từng nhìn thấy những bao gói của cửa hàng này trong nhà thầy Morrie và đoán rằng ông thích thức ăn mua ở đây. Tôi chất một xe đầy toàn những bao nhựa đựng thực phẩm tươi sống, từ mì ống, rau cho tới xúp cà rốt nấu sẵn. Khi bước vào nhà thầy với một đống bao trên vai, tôi trông giống một tên cướp ngân hàng.
"Xe giao thực phẩm tới!", tôi rống lên vui vẻ.
Thầy Morrie mỉm cười.
Tôi đưa mắt thăm dò mức độ tiến triển bệnh tật của thầy Morrie. Các ngón tay của thầy vẫn còn đủ sức cầm bút chì hay tự đeo kiếng. Tuy nhiên, thầy không thể giơ bàn tay lên cao quá tầm ngực. Thời gian ngồi trong phòng khách hay bếp ngày một ít đi. Phần lớn thời gian ông nằm trong chiếc ghế xếp được trang bị đầy đủ gối, mền, mấy cục cao su gác chân. Bên cạnh thầy có đặt một chiếc chuông nhỏ. Khi cần, ông với tay lắc chuông gọi Connie, Tony, Bertha hay Amy - những người giúp việc trong nhà. Nhưng không phải lúc nào tay ông cũng dễ dàng tóm được quả chuông. Mỗi lần nhu vậy, ông lại đâm ra cáu gắt.
Tôi hỏi thầy Morrie: "Có khi nào thầy thương hại chính bản thân?”
"Thỉnh thoảng. Thường vào buổi sáng", thầy đáp. "Đó là khi ta than khóc cho cơ thể của ta. Ta cử động ngón tay, bàn tay - tất cả những gì ta còn có thể cử động - và xót xa cho những gì ta đã bị mất. Ta khóc vì ta đang chết dần chết mòn. Nhưng chỉ có thế rồi thôi".
"Chỉ có thế thôi ư?"
"Đôi lúc ta để cho mình khóc cho thỏa thích. Nhưng sau đó ta hướng ý nghĩ của mình tới những điều tốt đẹp trong cuộc sống, tới những người vẫn tới thăm ta, tới những câu chuyện mà ta sắp được nghe họ kể và tới con, nếu là ngày thứ Ba. Ta không cho phép mình thương xót bản thân nhiều hơn thế. Mỗi sáng một chút, vài giọt nước mắt và chấm hết".
Tôi ngẫm nghĩ về những người quen của mình. Họ tiêu phí nhiều giờ để than vãn cho bản thân. Trong cảnh bệnh tật như vậy phải có nghị lực lắm mới làm được như thầy Morrie: vài giọt nước mắt mỗi ngày, rồi thôi.
"Quả là kinh khủng khi thấy cơ thể mình mỗi ngày một teo tóp lại, biến mất từ từ, không biết lúc nào sẽ phải nói lời vĩnh biệt".
Nhưng thầy mỉm cười: "Không phải ai cũng may mắn vậy đâu".
Tôi nhìn thầy ngồi bất động trong chiếc xe lăn, không đứng dậy được, không thể tự rửa ráy, thậm chí không thể kéo nổi ống quần đang mặc. May mắn ư? Có thật thầy thấy mình may mắn không?
 
* * *
Trong lúc câu chuyện tạm dừng để thầy Morrie đi tiểu tôi lướt qua tờ báo Boston nằm trên ghế. Một bài báo về cái chết của hai bé gái. Các em bị một người quen - một lão già 73 tuổi - tra tấn và giết chết trong một thị trấn nhỏ của những người khai thác gỗ. Sau đó, tên quái vật tổ chức một bữa tiệc trong căn nhà lưu động của hắn để trưng bày thi thể của các cô bé. Một bài khác tường thuật phiên toà xử một người đàn ông giết một người đàn ông đồng tính ái chỉ vì anh chàng này khoác lác rằng người đàn ông kia phải lòng anh ta.
Tôi đặt tờ báo xuống. Connie bước vào đỡ thầy nhổm dậy.
"Để con giúp thầy nhé?" Tôi hỏi.
Một thoáng im lặng. Thầy ngước mắt nhìn chị Connie và nói: "Chị chỉ cho anh ấy cách làm".
"Vâng, thưa cụ", chị Connie khẽ gật đầu.
Theo lời chỉ dẫn của Connie, tôi cúi người, vòng hai cẳng tay dưới nách kéo thầy về phía mình, làm như kéo một vật nặng từ dưới hố lên. Tôi thẳng người nhấc bổng thầy. Thông thường khi bạn kéo một người đứng dậy, tay của họ bám chặt vào bạn. Nhưng thầy Morrie đã không còn đủ sức làm vậy. Tôi có cảm giác mình đang nhấc một bao cát vô tri vô giác. Đầu thầy gục vào vai tôi, thân thể ẩm ướt của thầy võng xuống như muốn rút khỏi vòng tay tôi.
"A... a... a...", thầy rên khe khẽ.
"Con xin lỗi", tôi nói.
Ôm thầy trong lòng, tôi cảm giác nhu mình sờ được vào thần chết đang ẩn náu trong cái thân hình quắt queo. Đặt thầy ngồi trở lại ghế lăn, sửa cho đầu thầy đặt ngay ngắn trên gối, sống lưng tôi ớn lạnh vì hiểu rằng thời gian đã hết.
Và tôi phải làm gì đó.
0
Năm 1978, khi tôi đang học năm thứ hai, và cũng là lúc mà nhạc disco và các bộ phim Rocky đang là mốt văn hoá, thầy Morrie tiếp tục giảng môn xã hội học. Mỗi tuần, chúng tôi phải nghiên cứu cách thức giao tiếp giữa các nhóm sinh viên, cách họ phản ứng lại với sự giận dữ, ghen tuông, sự ân cần... Chúng tôi thực hành với nhau những đều đã học. Nói cho vui, chúng tôi giống như những con chuột trong phòng thí nghiệm. Trong những giờ thực hành, khối đứa khóc rưng rức. Tôi thường gọi những giờ thực hành ấy là giờ “hành hạ”. Thầy Morrie bảo tôi cần phải có đầu óc rộng rãi hơn, bớt thành kiến.
Một bữa, thầy Morrie ra bài thực hành. Chúng tôi đứng thành hai hàng cách nhau vài bước. Hàng sau nhìn gáy người đằng trước. Những người đứng ở hàng trước được lệnh ngã người tự do ra phía sau. Dĩ nhiên, hàng sau phải nhanh tay đỡ bạn mình. Thế nhưng, chẳng ai đứng trước đủ can đảm phó thác tính mệnh cho người phía sau. Ai cũng hoảng hốt sựng lại khi còn kịp. Chúng tôi nhìn nhau cười ngượng ngùng.
Cuối cùng, một cô sinh viên nhỏ bé gầy gò tóc đen thường đến lớp với chiếc áo len màu trắng to xù, khoanh hai tay trước ngực, nhắm mắt thả người rơi về phía sau ngọt như mấy cô người mẫu hở hang lao xuống hồ bơi trong pha quáng cáo trà Lipton vậy.
Tôi đã tưởng cô bé sẽ đập đầu xuống sàn. Nhưng vào thời khắc cuối cùng, anh bạn đứng phía sau lưng cô đã kịp túm lấy đầu và vai, dựng cô đứng dậy.
“Ối!”, nhiều sinh viên rú lên.
Thầy Morrie mỉm cười.
“Con thấy đấy”, thầy khoan thai nói với cô gái. “Con nhắm mắt lại, mọi chuyện đều khác đi. Nhiều lúc người ta không dám tin vào những gì mắt nhìn thấy mà chỉ tin vào cám giác của mình. Từ đây suy ra rằng: nếu con muốn người khác tin con thì con phải cảm thấy rằng con tin họ. Thậm chí ngay cả khi con không nhìn thấy gì hết, thậm chí trong lúc con đang ngã xuống.”
0
TUẦN THỨ BA
CHÚNG TÔI BÀN VỀ SỰ NUỐI TIẾC
 
Thứ Ba sau tôi quay trở lại nhà thầy Morrie, lôi theo một bao to tướng chứa đầy thức ăn: bắp, xà lách, bánh nướng nhân táo... Ngoài ra, còn một thứ không ăn được: chiếc máy ghi âm hiệu Sony. Tôi giải thích rằng muốn ghi lại giọng nói của thầy. Sau này, tôi có thể nghe lại những lời giáo huấn, khi...
"Khi ta đã chết".
"Thầy đừng nói vậy".
Thầy Morrie cười lớn: "Mitch. Ta sắp chết thật mà. Không lâu nữa đâu".
Thầy săm soi cái máy mới và bình phẩm "Bự quá". Bằng sự nhạy cảm của người phóng viên, tôi hiểu ngay rằng trong cuộc nói chuyện giữa hai người bạn vong niên, sự hiện diện của chiếc máy ghi âm sẽ tạo ra không khí xa lạ. Nó gây ấn tượng là trong số tất cả những người quấy rầy thầy, có vẻ như tôi là người tham lam nhất, cố vắt được nhiều điều có lợi cho mình vào những ngày thứ Ba.
Thôi vậy, tôi vừa nói vừa nhấc chiếc máy lên. Chúng ta sẽ không dùng tới nó nếu thấy bất tiện.
Thầy ngăn tôi lại, ngọ nguậy mấy ngón tay rồi móc cặp kiếng trên mũi xuống, thả cho chúng lủng lẳng trên sợi dây cột lên cổ. Thầy nhìn thẳng vào mắt tôi và nói "Bỏ xuống!".
Tôi đặt chiếc máy xuống bàn.
"Mitch", thầy nói tiếp, cũng vẫn bằng giọng nhẹ nhàng. "Con chưa hiểu. Ta muốn nói về cuộc đời ta, muốn kể cho con nghe kẻo nay mai ta không còn đủ sức."
Giọng thầy nhỏ hẳn như thì thầm. "Ta mong có người chịu nghe những câu chuyện của mình. Con thích nghe không?"
Tôi gật đầu.
Chúng tôi ngồi im lặng trong giây lát.
"Chúng ta tiếp tục được chưa?"
Lần đầu thấy thầy Morrie xuất hiện trong chương trình Câu chuyện hàng đêm, tôi tự hỏi: Không biết ông còn ân hận điều gì khi mà cái chết đã kề bên? Ông đau xót vì đã đánh mất nhiều bạn bè? Giá còn sống, phải chăng ông sẽ xử sự khác đi rất nhiều? Và tôi tự hỏi, nếu tôi rơi vào hoàn cảnh của ông, phải chăng tôi cũng sẽ bị chìm ngập trong những ý nghĩ buồn rầu về những lỗi lầm từng mắc phải trong quá khứ? Và những bí mật mà tôi giấu kín suốt đời cũng sẽ không để cho tôi yên?
Khi tôi đề cập vấn đề này với thầy Morrie, ông gật đầu. "Đó có phải là điều ở ta khiến mọi người quan tâm? Cái gì sẽ xảy ra nếu hôm nay là ngày cuối cùng trong đời?" Nghe câu nói của thầy, tôi tưởng tượng ra cảnh mình gục xuống bàn làm việc thở hắt ra lần cuối. Trong lúc các nhân viên y tế đang khiêng xác tôi đi, biên tập viên hối hả lục lọi tìm kiếm bản thảo bài báo cuối cùng mà tôi đang viết dở dang.
"Mitch", thầy Morrie khẽ gọi.
Tôi lắc đầu không nói gì, nhưng rõ ràng thầy nắm bắt được ý nghĩ của tôi.
"Mitch", ông nói tiếp, "Lối sống của chúng ta không khuyến khích con người nghĩ trước chuyện đó, trừ phi anh ta sắp chết. Chúng ta còn mải loay hoay bó mình giữa những chuyện cá nhân, sự nghiệp, gia đình, kiếm cho nhiều tiền bạc, mua một chiếc xe hơi mới, sửa một cái lò sưởi khi nó bị hỏng... Nói tóm lại chúng ta tham dự vào hàng tỷ chuyện lặt vặt không bao giờ chấm dứt. Vì thế chúng ta không có thói quen dừng lại, ngoảnh nhìn về phía sau và tự hỏi: Tất cả chỉ có thế thôi sao? Phải chăng đó là tất cả những gì mà ta mong ước? Còn thiếu gì không?"
Thầy dừng lại một lát.
“Con cần một người giúp con trả lời câu hỏi đó, nhưng câu trả lời lại không tự nó xuất hiện".
Tôi biết thầy đang ám chỉ điều gì. Trong đời, tất cả chúng ta đều cần có những người thầy.
Người thầy của tôi đang ngồi đây, trước mặt tôi.
Được tôi quyết định. Nếu tôi phải làm học trò thì phải là một cậu học trò nghiêm chỉnh.
Ngồi trên chuyến bay trở về nhà sau cuộc gặp lần thứ tư với thầy Morrie, tôi lấy ra cuốn tập nhỏ đã vàng ố, ghi vào đó một danh sách nhỏ những vấn đề những câu hỏi mà trong cuộc đời chúng ta thường phải vật lộn với chúng, từ hạnh phúc, tuổi già cho tới con cái và chết chóc. Dĩ nhiên trên đời này có cả triệu cuốn sách dạy cách tự rèn luyện bản thân được in ra. Cùng đề tài, có rất nhiều chương trình truyền hình, rồi có cả những trung tâm tư vấn với giá 90 đôla/giờ. Nước Mỹ giống như một phiên chợ Ba Tư ồn ào và sặc sỡ chuyên bán cách tự hoàn thiện.
Nhưng hình như tất cả những cuốn sách, chương trình truyền hình ấy vẫn chưa giúp nổi người ta tìm được lời giải đáp rõ ràng cho những câu hỏi như: Nên chăm sóc tới người khác hay lo cho “đứa trẻ to đầu” trong người bạn? Trở về với những giá trị truyền thống hay vứt bỏ chúng như những thứ vô dụng? Chạy đuổi theo sự thành đạt hay hài lòng với với những gì sẵn có? Miệng nói Không hay thực sự Làm?
Còn với thầy Morrie, tôi biết chắc một điều: ông không hề bị mờ mắt bởi những thứ sách dạy người ta phải làm thế nọ thế kia. Ông đang đứng trên đường ray, mặt đối mặt với chuyến tàu tử thần đang lao tới và ông hiểu rành mạch những điều quan trọng nhất trong cuộc đời.
Tôi thèm muốn cái nhìn rành mạch của ông. Tôi biết rằng mỗi linh hồn lầm lạc và đau khổ đều khao khát sự rõ ràng đó.
“Con hỏi ta điều gì đi chứ?”, trong câu chuyện tay đôi thầy Morrie thường nhắc vậy.
Vì thế tôi lập danh mục gồm:
Cái chết
Sợ hãi
Tuổi tác
Tham lam
Hôn nhân
Gia đình
Xã hội
Tha thứ
Cuộc sống đầy đủ và trọn vẹn
Danh sách trên nằm gọn trong chiếc cặp của tôi trong chuyến tới West Newton lần thứ tư. Đấy là một ngày thứ Ba cuối tháng Tám. Hệ thống máy lạnh ở phi trường Logan Airport không làm việc, hành khách vớ gì quạt nấy cho đỡ nóng, giận dữ gạt những giọt mồ hôi chảy ròng ròng trên trán. Nhìn mặt họ, tôi cứ tưởng họ đang săn lùng kẻ nào đó để... giết cho hả nỗi bực bội, tức giận.
0
Tôi bước vào năm học cuối. Thầy Morrie đề nghị tôi viết khoá luận về môn học thầy dạy.
Tôi? Tôi sẽ viết gì đây?
“Vấn đề nào khiến con quan tâm?”, thầy hỏi.
Hai thầy trò đảo tới đảo lui, rà xét nhiều vấn đề và cuối cùng lựa chọn thể thao. Thế là tôi bắt tay vào công trình kéo dài một năm. Chủ đề của khoá luận là tại sao bóng đá lại trở thành một thứ thuốc phiện, một tôn giáo đối với dân Mỹ. Tôi không hề ngờ rằng việc viết khoá luận chính là cuộc thực tập cho nghề nghiệp tương lai của mình. Kì thực, tôi chỉ thấy mình có thêm cơ hội để được gặp thầy mỗi tuần.
Với sự giúp đỡ của thầy Morrie, tới đầu mùa Xuân, tôi đã hoàn tất bản khoá luận dài 112 trang. Cũng đầy đủ chương hồi với đủ loại ghi chú, trích dẫn tài liệu và được đóng bìa da đen. Tôi đem nó khoe thầy với đôi chút tự hào trẻ con.
“Ta chúc mừng con”, thầy Morrie điềm tĩnh nói.
Tôi cười toe toét trong lúc thầy mãi học công trình của tôi. Rồi tôi đưa mắt nhìn quanh phòng làm việc của thầy: cũng vẫn những kệ sách, cái sàn gỗ trải thảm, chiếc trường kỷ quen thuộc đã mấy năm nay. Tôi vẩn vơ nghĩ thầm: Chắc chẳng có chỗ nào trong cái phòng này mà mình chưa ngồi.
“Con biết không, Mitch?”, thầy đăm chiêu. Ông vừa đọc vừa nói, tay đưa lên mũi sửa gọng kính. “Với những khoá luận như thế này, có lẽ trường sẽ yêu cầu con quay lại đây để học Cao học.”
"Thế ạ?”
Tôi đáp và cười thầm mãn nguyện. Thế nhưng chỉ trong nháy mắt, những ý muốn trái ngược lại đã vật lộn trong đầu tôi. Nửa sợ phải từ biệt thầy, nửa thì hăm hở muốn bước vào đến. Tôi nhìn thầy Morrie vẫn đang mãi đọc bán khoá luận, trong đầu tự hỏi: Không hiểu thế giới to lớn mà tôi sắp bước nào sẽ bắt đầu như thế nào đây?
0
PHUƠNG TIỆN NGHE NHÌN
PHẦN HAI
 
Được khuyến khích bởi sự đón tiếp nồng nhiệt của khán giả, chương trình Câu chuyện hàng đêm quyết định thực hiện tiếp cuộc gặp gỡ với thầy Morrie. Trong ngôi nhà của thầy lần này, những người làm chương trình cảm thấy như đang ở nhà mình, đặc biệt là Ted Koppel. Ông này không còn bị thầy Morrie căn vặn trước khi chấp nhận tham gia chương trình. Câu chuyện giữa hai người thân mật hơn. Họ kể cho nhau thời ấu thơ của mình: Ted lớn lên ở England còn thầy Morrie sinh trưởng trong khu Bronx. Bữa nay, thầy Morrie mặc chiếc áo dài tay màu xanh đa trời. Lúc nào ông cũng cảm thấy lành lạnh trong người, mặc dù nhiệt độ trong phòng trên hai chục độ. Koppel cởi áo vét, chỉ mặc mỗi áo sơmi thắt cà vạt trong khi ngồi phỏng vấn. Tôi có cảm giác thầy Morrie đã bóc đi lớp vỏ hào nhoáng bao bọc bên ngoài của ông ta.
"Cụ trông còn khoẻ lắm". Koppel mở lời khi máy quay bắt đầu hoạt động.
"Ai cũng nói với tôi như thế cả."
"Giọng của cụ vẫn còn sang sảng."
"Mọi người đều bảo vậy."
Vậy làm sao cụ biết sức khoẻ mình đang đi xuống?"
Thầy Morrie thở dài. "Không ai biết. Ted. Nhưng tôi biết".
Điều này thật rõ ràng khi nhìn thầy nói chuyện. Khác với cuộc phỏng vấn trước, lần này bàn tay ông không còn đủ sức phác những cử chỉ bổ sung cho lời nói. Khó khăn lắm thầy mới phát âm trọn vẹn một từ. Chữ l dường như bị tắc lại trong cổ họng. Không khéo chỉ vài tháng nữa, thầy sẽ không còn nói được.
"Cảm xúc của tôi như thế nào à?", thầy Morrie trả lời câu hỏi của Ted. "Khi xung quanh có bạn bè, tôi thấy mình phấn khởi. Tình yêu thương nâng đỡ tôi. Nhưng không giấu gì anh, cũng có những ngày tôi cảm thấy chán nản. Tôi thấy sức khoẻ bản thân mỗi ngày một suy sụp mà lấy làm khiếp sợ. Tôi sẽ phải làm gì với hai bàn tay bị liệt hay khi không còn mở miệng nói được nữa? Tôi không quan tâm tới chuyện ăn uống. Người ta có thể đặt ống qua thực quản và đưa vào dạ dày tôi mọi thứ họ thích. Thế nhưng còn giọng nói, bàn tay? Thiếu những bộ phận tối cần thiết đó, tôi sẽ giao tiếp với mọi người ra sao?"
“Thế cụ sẽ làm thế nào khi không còn nói được?", Koppel hỏi.
Thầy Morrie nhún vai:. "Có lẽ, tôi sẽ đề nghị mọi người đưa ra những câu hỏi mà câu trả lời chỉ có thể là có hoặc không".
Câu trả lời giản dị khiến Koppel bất giác mỉm cười. Ông quay sang hỏi thầy Morrie chuyện khác. Koppel nhắc tới Maurie Stein, người đầu tiên gởi cho tờ Địa cầu Boston những câu phương ngôn của thầy. Cùng với thầy Morrie, Stein giảng dạy ở trường Đại học Brandeis từ đầu thập kỷ 60. Họ là những người bạn thân. Hiện giáo sư Stein bị điếc. Koppel tưởng tượng một ngày nào đó hai ông bạn già, một câm một điếc, gặp gỡ. Họ sẽ làm thế nào để nói chuyện với nhau.
"Chúng tôi sẽ nắm tay nhau,” thầy Morrie đáp. "Tình cảm sẽ truyền giữa hai người như dòng điện. Ted này, chúng tôi đã kết bạn với nhau từ 35 năm nay nên không cần nói và cũng chẳng cần nghe cũng hiểu được nhau".
Trước khi cuộc phỏng vấn kết thúc. Ted đọc cho Koppel nghe một bức thư ông nhận được. Sau khi cuộc phỏng vấn thứ nhất được phát hình, thầy Morrie nhận được rất nhiều thư đề tên ông. Bức thư thầy đang cầm là của một cô giáo ở Pennsylvania, người đang dạy dỗ chín đứa trẻ mồ côi.
"Tôi viết trả lời cô ta thế này." thầy Morrie nói với Koppel, tay đặt cặp kiếng lên sống mũi. "Cô Barbara thân mến!... Bức thư của cô khiến tôi vô cùng cảm động. Cô đang làm một công việc quan trọng là chăm sóc chín đứa trẻ mất cha mẹ. Tôi cũng đã từng mồ côi mẹ từ khi còn nhỏ..."
Trong lúc máy quay vẫn còn kêu ro ro, thầy Morrie sửa kính, cắn môi và đột nhiên nấc lên. Những giọt nước mắt chảy xuống mũi ông: “Tôi đã từng mồ côi mẹ khi còn nhỏ... Đó là cú đấm nặng nề để lại dấu ấn suốt đời... Tôi ước được có những người bạn như lớp học của cô để được chia sẻ nỗi đau mất mát của mình. Tôi mong được thành học trò của cô vì..."
Giọng thầy như vỡ ra.
"… Vì tôi cô đơn quá…"
"Thưa cụ,” Koppel rụt rè. "Thế có nghĩa là nỗi đau mất mẹ vẫn đeo đẳng cụ suốt 70 năm qua cho tới hôm nay?"
"Anh đoán không sai”, Thầy Morrie thì thào.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-08-03 03:43:15HanAn>
VỊ GIÁO SƯ
 
Thầy Morrie tròn 8 tám tuổi khi gia đình nhận được bức điện tín gởi từ bệnh viện báo tin mẹ thầy qua đời. Ông cụ thân sinh ra thầy - một người đàn ông Nga di cư - không biết đọc tiếng Anh nên cậu bé Morrie là người đầu tiên đón tin dữ. Bằng một giọng chầm chậm, rành mạch như lối học trò đánh vần trả bài, cậu đọc to những dòng chữ thông báo về cái chết của mẹ: "Chúng tôi lấy làm tiếc báo tin...".
Buổi sáng hôm đưa tang, những người họ hàng của thầy chậm rãi bước xuống cầu thang chung cư nơi gia đình thầy trú ngụ - khu Lower East Side nghèo nàn của quận Manhattan. Những người đàn ông đi đưa đám đều mặc đồ vét sẫm màu, phụ nữ trùm khăn voan đen kín mít. Bọn trẻ con trong khu đổ ra đường tới trường đúng vào lúc đám ma diễu qua đường phố làm cậu bé Morrie cúi mặt nhìn xuống đất, sợ bọn bạn cùng lớp nhìn thấy mình. Một bà cô béo chắc nịch túm lấy vai cậu bé than thở rền rĩ. "Thiếu mẹ, chúng mày rồi sẽ ra sao đây, con ơi là con?"
Cậu bé Morrie òa khóc. Bọn trẻ học cùng lớp bỏ chạy tán loạn.
Trong nghĩa địa, cậu bé Morrie đăm đăm nhìn mấy người phu mai táng hất từng xẻng đất lên cỗ quan tài người mẹ nằm dưới huyệt. Cậu nhớ lại những kỷ niệm dịu dàng với mẹ khi bà còn sống. Sinh thời, mẹ cậu trông coi cả một gian hàng nhỏ bán kẹo. Từ khi lâm bệnh, phần lớn thời gian bà nằm thiêm thiếp trên giường hay ngồi lặng lẽ bên cửa sổ. Thỉnh thoảng, bà thu hết sức lực gọi con trai đưa thuốc. Nhưng khổ nỗi cậu bé còn mải thổi bong bóng xà bông ngoài phố và cố tình lờ đi tiếng gọi khàn khàn của mẹ. Cậu tin rằng cái chết sẽ bỏ qua nếu người ta cứ phớt lờ nó.
Liệu một đưa trẻ lên tám có cách nào khác khi chạm mặt tử thần?
Từ khi rời bỏ nước Nga, người đời đã quên lãng tên thật của ông thân sinh thầy Morrie và chỉ gọi ông bằng một cái tên Mỹ là Charlie. Ông làm công cho một xưởng sản xuất lông thú vì thế không mấy khi có nhà. Học hành chẳng bao nhiêu, tiếng Anh vừa đủ lõm bõm, cuộc đời ông luôn bị cảnh nghèo đeo bám. Gia đình thường xuyên sống nhờ trợ cấp xã hội. Căn phòng của gia đình ông nằm sau cửa hàng kẹo vừa tăm tối, vừa chật chội. Dĩ nhiên, trong nhà chẳng có món gì được liệt vào hàng xa xỉ. Đôi khi, để kiếm thêm đồng ra đồng vào giúp cha mẹ, thầy Morrie và cậu em trai David nhận cọ rủa cầu thang lên xuống tòa chung cư.
Sau đám ma, hai cậu bé được gởi tới một nhà nghỉ nhỏ rẻ tiền trong vùng rừng bang Connecticut. Ở đấy, vài gia đình chia nhau chỗ nằm trong một căn phòng lớn và dùng chung một căn bếp. Những người họ hàng tốt bụng nghĩ rằng không khí trong lành của rừng cây sẽ có lợi cho hai anh em. Morrie và David chưa bao giờ được thấy nhiều cây cối đến thế. Chúng chạy nhảy đùa giỡn trên những thảm cỏ. Buổi tối nọ, sau khi ăn cơm, cả hai đứa lôi nhau đi chơi. Mặc trời đổ mưa, hai đứa trẻ té nước, la hét mấy giờ liền.
Sáng hôm sau, vừa mở mắt Morrie liền tuột khỏi giường.
"Dậy thôi!", cậu giục em.
"Em không..."
"Không cái gì?"
Nét mặt David lộ vẻ hốt hoảng: "Em không... cử động được."
David bị sốt bại liệt. Dĩ nhiên, cơn mưa chiều qua không phải là nguyên nhân, nhưng cậu bé Morrie nào có hiểu điều đó. Trong suốt mấy tháng trời, David được đưa từ bệnh viện nọ qua bệnh viện kia. Người ta đeo đôi chân giả cho cậu. Người anh thấy mình có lỗi trong dáng đi khập khiễng của em trai. Sáng sáng Morrie tới giáo đường Do Thái một mình - cha cậu không tin bất cứ tín ngưỡng nào - đứng lẫn trong đám đàn ông mặc áo choàng đen đang lắc lư theo nhịp thánh ca và cầu Chúa che chở cho người mẹ đã quá cố và cậu em trai tàn tật. Tối tối, cậu co ro đứng trên những bậc thang lát đá hoa cương dẫn xuống ga xe điện ngầm, tay huơ huơ chào bán mấy tờ tạp chí kiếm ít tiền góp phần mua thức ăn đem về nhà. Đến đêm, hệt như mẹ thuở xưa, cậu ngồi nhìn cha lặng lẽ ăn bữa tối, hy vọng nhưng không bao giờ nhận được sự âu yếm.
Mới lên chín, cậu bé đã cảm nhận được sức nặng của cả quả núi đè lên đôi vai gày gò.
Nhưng chỉ một năm sau, vòng tay cứu rỗi đã đến với cậu bé Morrie. Cha cậu đi bước nữa, ông lấy dì Eva, một người đàn bà Rumani thấp người, tóc quăn màu nâu nhưng nghị lực của bà gấp đôi những người phụ nữ khác. Sự sôi nổi của dì rọi sáng bầu không khí u ám mà cha cậu tạo nên trong gia đình. Dì khéo léo phá vỡ sự im lặng của chồng. Đêm đêm dì hát cho các con chồng nghe trước khi đi ngủ. Cậu bé Morrie nhận được những lời an ủi dịu dàng, được dì kèm cặp làm bài tập ở nhà và học được tính khí mạnh mẽ của dì. Khi David trở về nhà với cặp nạng, hai anh em được xếp ngủ chung trên chiếc giường có bánh xe lăn ở trong bếp. Trước khi đi ngủ, bao giờ dì Eva cũng hôn lên trán hai đứa. Tối nào Morrie cũng trông chờ những cái hôn đó như đứa bé mới sinh ngóng bầu sữa mẹ. Tự đáy lòng, Morrie thấy mình lại có mẹ.
Tuy nhiên, cuộc sống của gia đình Charlie không vì thế mà bớt nghèo. Bây giờ họ dời tới sống trong căn hộ một phòng xây bằng gạch mộc, tường không trát vữa trên phố Tremont khu Bronx. Gần đó là khu giải trí của kiều dân người Ý. Chiều chiều, các ông già kéo nhau ra chơi bóng gỗ. Dạo đó đúng vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế. Ở xưởng thuộc lông thú của cha Morrie công việc thất thường và dĩ nhiên là lương hướng cũng chẳng được mấy đồng. Lắm bữa, cả nhà ngồi quanh bàn ăn tối với độc món bánh mì đen.
"Còn gì nữa không ạ?", David hỏi.
"Chẳng còn gì khác đâu, con", dì Eva đáp.
Hàng đêm, sau khi kéo mền đắp cho Morrie và David, dì Eva nán ngồi lại bên giường hát cho chúng nghe bằng tiếng Do Thái. Những bài hát thật buồn. Cậu bé Morrie nhớ mãi lời ca của một cô bé bán thuốc lá dạo:
 
Xin mời mua thuốc của tôi
Trời mưa không ướt, thuốc còn thơm nguyên.
Xin thương lấy kẻ phận nghèo
Xin thương lấy kẻ phận nghèo
 
Nhờ dì, trong cảnh khốn khó cậu bé Morrie vẫn biết yêu thương và chăm sóc người khác. Hơn thế, dì Eva không bao giờ chấp nhận kết quả học tập của Morrie và David dưới mức "xuất sắc". Theo bà, học tập là con đường duy nhất thoát khỏi cảnh bần cùng. Bản thân dì mỗi ngày đều đặn tới lớp đêm học thêm tiếng Anh. Từ bà, cậu bé Morrie thừa hưởng đức tính ham thích học hành.
Đêm đêm, bên chiếc bàn ăn trong căn bếp nhỏ, cậu bé Morrie miệt mài làm bài dưới ánh đèn tù mù. Sáng ra, cậu lại chịu khó dậy sớm tới nhà thờ cầu nguyện cho mẹ. Đấy là lúc duy nhất cậu nhớ rằng mình còn một người mẹ đã khuất. Ông Charlie dặn con không bao giờ được nhắc đến tên mẹ trước mặt dì Eva, ông muốn rằng đối với David, dì Eva phải thực sự là mẹ ruột. Nhưng việc này quả là gánh nặng quá sức đối với một đứa trẻ như Morrie. Trong nhiều năm, đối với thầy Morrie bằng chứng duy nhất về sự tồn tại của người mẹ đẻ chỉ là bức điện báo tin về cái chết của bà mà thầy đã giấu biến nó cho riêng mình từ cái ngày tang tóc đó. Thầy sẽ giấu nó suốt quãng đời còn lại.
Khi cậu bé Morrie bước vào tuổi thiếu niên, ông Charlie dắt cậu tới xưởng thuộc lông thú xin việc làm. Thời kỳ kinh tế suy thoái vẫn chưa qua. Bước vào xưởng, cậu bé cảm thấy như mình bị nhốt giữa bốn bức tường. Căn phòng tối và nóng nục. Bậu cửa sổ đầy rác. Máy móc san sát. Chúng rít lên ken két như bánh xe lửa nghiến trên đường ray. Bụi lông bay mù mịt khiến không khí có vẻ như quánh lại. Nhũng người công nhân gò lưng khâu những tấm da sống lại với nhau trong lúc viên đốc công rảo bước sau lưng họ, miệng hò hét hối thúc mọi người nhanh tay hơn nữa. Đứng bên cạnh cha, cậu bé Morrie cảm thấy nghẹt thở vì sợ hãi, cứ như chính cậu đang bị viên đốc công chửi, mắng.
Tranh thủ thời gian nghỉ ăn trưa, ông Charlie dẫn con tới gặp viên đốc công hỏi xem có việc gì thích hợp cho thằng con ông hay không. Thật tiếc, ở đây toàn những việc cần người lớn, hơn nữa hiện chẳng còn chỗ nào trống.
Nhưng với cậu bé Morrie, lời từ chối lại là điều may. Cậu vốn ghét những chỗ như thế. Cậu quyết định suốt đời sẽ không để bất cứ ai bóc lột mình và cũng không kiếm tiền nhờ những giọt mồ hôi của người khác.
"Thế con sẽ làm gì?", dì Eva băn khoăn.
"Con chưa biết", cậu trả lời. Dĩ nhiên cậu sẽ không theo ngành luật vì cậu chúa ghét các luật sư. Cậu cũng không mơ tưởng làm bác sĩ vì cậu vốn sợ nhìn thấy máu.
"Con sẽ làm gì?”
Điều ai cũng có thể đoán được là cậu sẽ trở thành thầy giáo.
0
“Ảnh hưởng của những người thầy giáo là bất diệt.
Chính họ cũng không thể biết rõ đâu là giới hạn uy thế của mình.”
Henry Adams
0
TUẦN THỨ TƯ
CHÚNG TÔI BÀN VỀ CÁI CHẾT
 
"Chúng ta bắt đầu như thế này", thầy Morrie nói. "Mọi người đều biết rằng mình sẽ phải chết nhưng chẳng ai chịu tin".
Hôm nay xem ra thầy có vẻ đặc biệt hưng phấn với công việc. Cái chết là đề tài đầu tiên trong danh sách tôi đưa cho thầy. Trước khi tôi tới, thầy đã nguệch ngoạc một vài ý tưởng lên một mẩu giấy trắng, ý chừng sợ quên mất chúng. Không ai ngoài thầy có thể đoán được nghĩa của những dòng chữ run rẩy. Qua cánh cửa sổ, tôi nhìn thấy bờ rào xanh mướt lá cây và nghe thấy tiếng lũ trẻ hò la trên hè phố. Chỉ còn một tuần nữa, kỳ nghỉ hè tự do sẽ chấm dứt và chúng sẽ phải tới trường.
Ở Detroit, đã xuất hiện những cuộc biểu tình lớn do các công đoàn tổ chúc vào các ngày nghỉ cuối tuần nhằm bày tỏ tình đoàn kết với những người bãi công chống lại giới chủ. Trên máy bay, tôi đọc được tin một người phụ nữ đang tâm cầm súng bắn chết chồng và hai con trong lúc họ đang ngủ say, lấy cớ bảo vệ những người thân khỏi "những kẻ xấu xa". Còn Ở California, các luật sư của O.J. Simpson đã trở nên những ngôi sao sau khi cứu thân chủ của mình thoát khỏi ghế điện.
Trong nhà thầy Morrie, lại thêm một ngày quý giá. Thầy trò chúng tôi ngồi bên nhau. Cách vài bước là một vật mới xuất hiện: chiếc máy thở ôxy nhỏ chỉ cao tới đầu gối. Vào những đêm khó thở, thầy Morrie gắn vào hai lỗ mũi một cái chụp nối với ống nhựa dài như vòi voi. Tôi ghét thậm tệ cảnh đó nên cố lảng tránh không để chiếc máy lọt vào tầm mắt trong lúc nói chuyện với thầy.
"Chúng ta bắt đầu như thế này", thầy Morrie nhắc lại. "Mọi người đều biết rằng mình sẽ phải chết nhưng chẳng ai chịu tin điều này. Nếu tin, người ta đã hành động khác đi rồi".
"Thế có nghĩa là chúng ta đang tự lừa phỉnh bản thân?", tôi hỏi.
"Chính thế. Tốt hơn, nên nhìn nhận thực tế. Cái chết là điều không tránh khỏi và nên chuẩn bị tiếp nhận nó bất kỳ lúc nào. Hiểu được như thế con người sẽ sống hết mình trong cuộc đời mà anh ta đang sống."
Phải làm những gì để chuẩn bị đón nhận cái chết?
"Hãy làm như Phật Tổ. Ngày ngày, Ngài hỏi những con chim nhỏ đậu trên vai mình rằng: Hôm nay là ngày nào? Ta đã sẵn sàng chưa? Liệu ta đã phải là con người mà ta muốn? Ta đã hoàn tất những việc cần làm hay chưa?"
Bất giác, thầy quay đầu về phía vai như muốn xem ở đấy có con chim nào không, miệng hỏi: "Hôm nay có phải là ngày cuối cùng trong đời ta hay không?"
Thầy Morrie thường trích dẫn giáo lý của nhiều tôn giáo khác nhau. Sinh ra là một người Do Thái, nhưng một phần do những hoàn cảnh éo le thời niên thiếu, ông từng là người sùng bái thuyết bất khả tri. Lớn lên, ông thích thú với triết lý nhà Phật, đạo Thiên Chúa mặc dù trong gia đình ông vẫn là người theo Do Thái giáo. Chính sự lai tạp tôn giáo đã khiến thầy Morrie trở nên phóng khoáng hơn đối với các sinh viên trong suốt cuộc đời dạy học. Và những điều thầy nói ra trong những tháng cuối cùng dường như đã vượt lên trên những khác biệt giữa các tôn giáo. Chỉ có cái chết mới buộc người ta làm được như vậy.
"Sự thật là, Mitch,” thầy nói tiếp, "nếu con học được cách chết thì con cũng học được cách sống".
Tôi gật đầu.
“Ta nhắc lại lần nữa: Nếu con học được cách chết thì con cũng học được cách sống". Thầy nói rồi mỉm cười. Tôi hiểu: Thầy muốn biết tôi đã thấm ý tưởng của ông hay chưa, nhưng lại không thích quấy rầy bằng những câu hỏi. Phong cách xử sự tế nhị khéo léo như vậy đã giúp ông trở thành một nhà sư phạm tuyệt vời.
"Thế trước khi lâm bệnh có khi nào thầy nghĩ rằng mình sẽ chết hay không?", tôi hỏi.
"Không," thầy Morrie khẽ nở nụ cười. “Ta cũng như mọi người thôi. Trong một thoáng hứng chí ta đã từng tự phụ khoe với một người bạn của mình như thế này: ‘Tớ là người đàn ông khoẻ nhất mà cậu đã từng gặp!’"
"Lúc đó thầy bao nhiêu tuổi, thưa thầy?"
"Khoảng 60."
"Ồ! Vậy thầy là người lạc quan quá".
"Dĩ nhiên. Ta đã nói là không ai tin rằng mình sẽ phải chết kia mà".
"Ai cũng biết thần chết sẽ đón người khác đi", tôi nói. "Vậy thì tại sao người ta lại không chịu hiểu rằng sẽ có ngày tới lượt mình?"
"Bởi vì đa số chúng ta đều đi loanh quanh như những kẻ mộng du. Chúng ta không nhận biết thế giới đầy đủ vì chúng ta nửa thức nửa ngủ, máy móc làm những việc mà chúng ta lầm lẫn là những việc cần làm".
"Và việc đối mặt với cái chết đã thay đổi tất cả?"
"Phải. Lúc đó, người ta sẽ vứt bỏ những trò phù phiếm mà trước nay họ vẫn coi là thiết yếu. Khi hiểu rằng mình sẽ phải chết, con mắt sẽ nhìn sự vật theo cách khác."
Thầy thở dài: "Lúc học được cách chết cũng là lúc học được cách sống."
Hai bàn tay run như lên cơn sốt mỗi khi thầy muốn cử động chúng. Cặp kiếng treo lủng lẳng dưới cổ. Mỗi khi thầy gượng đặt chúng lên sống mũi, hai gọng kiếng trượt lên trượt xuống bên hai thái dương không chịu lọt ra sau hai vành tai. Tôi nghiêng người giúp thầy sửa lại vị trí cặp kiếng.
"Cảm ơn con", thầy Morrie thì thầm. Ông mỉm cười khi bàn tay tôi sượt qua trán ông. Một cú va chạm thật khẽ với da thịt con người cũng đem lại niềm hạnh phúc.
"Mitch, con nghe ta đấy chứ?"
"Dĩ nhiên, thưa thầy".
“Có lẽ con chưa học được cách chết."
"Tại sao?"
“Sự thật là thế, Mitch. Nếu con biết lắng nghe chú chim đậu trên vai, nếu con chấp nhận rằng một ngày kia con sẽ chết, chết bất kỳ lúc nào, thì con đã không là người đầy tham vọng như hiện nay."
Tôi nhe răng cười trừ.
"Những thứ tiêu tốn thời giờ của con và tất cả những công việc con làm xem ra không quan trọng lắm như con tưởng. Đáng ra con nên dành thời gian cho những chuyện tâm linh".
"Tâm linh ư?"
"Con ghét từ đó lắm phải không? "Tâm linh"! Chắc con nghĩ nó là một thứ gì đó quá mong manh, tế nhị?"
"Vâng". Tôi đáp.
Thầy Morrie cố nháy mắt nhưng không thành. Tôi không nhịn được bèn phá ra cười.
"Mitch", thầy vừa cười theo vừa nói. "Mặc dù ta không hiểu ý nghĩa đích thực của thuật ngữ mở rộng tâm hồn, nhưng ta biết chắc rằng chúng ta sống thiếu một cái gì đó. Chúng ta bị vật chất lôi kéo quá nhiều nhưng chúng không làm cho chúng ta cảm thấy thoả mãn. Trong lúc đó chúng ta lại nhìn nhận tình yêu thương và cả nhân loại quanh ta như những thứ gì đó tồn tại một cách hiển nhiên, không đáng quan tâm".
Thầy Morrie hất đầu về phía khung cửa sổ chói ánh sáng mặt trời. "Con thấy không? Bất cứ lúc nào con cũng có thể bước ra ngoài trời. Con đủ súc chạy vòng quanh khu phố cho tới mệt lử nhưng ta thì không. Ta không thể bước ra ngoài, ta không chạy được. Ta không thể ra khỏi nhà mà không sợ bị nhiễm bệnh. Nhưng con có biết không? Chính ta là người hiểu giá trị của cái cửa sổ kia hơn con!".
Hiểu hơn?
"Phải. Ta nhìn qua cửa sổ mỗi ngày. Ta biết mọi sự thay đổi của cây cối quanh nhà. Ta biết bữa nay gió thổi mạnh hay yếu. Dường như thời gian đang diễu qua ngay trước mặt ta, sau khung cửa kia. Vì ta biết rằng quỹ thời gian của ta sắp hết nên ta nhìn thế giới như thể lần đầu tiên trong đời ta được nhìn thấy nó".
Thầy chợt ngưng và trong một thoáng cả hai chúng tôi bất giác đưa mắt nhìn ra ngoài qua ô cửa sổ. Tôi cố gắng nhìn ra những gì mà thầy Morrie đã nhìn thấy. Tôi ráng hình dung ra thời gian, bốn mùa và cả cuộc đời tôi chậm chạp trôi qua, hệt như trong một cảnh phim quay chậm.
"Liệu có phải là ngày hôm nay không, chú chim nhỏ?”, thầy Morrie khẽ hỏi. "Hôm nay chăng?"
0
Sau những lần xuất hiện tiếp theo trong chương trình Câu chuyện hàng đêm, thư tín từ khắp mọi miền trên thế giới tiếp tục đến với thầy. Ông ngồi - vào những lúc ông ngồi dậy được - để đọc thư trả lời. Cả gia đình ông có mặt trong những cái gọi là phiên tư vấn viết thư.
Một ngày Chúa Nhật nọ, hai anh con trai thầy là Rob và Jon có mặt ở nhà. Mọi người tụ tập trong phòng khách. Thầy Morrie ngồi trên xe lăn, đôi chân còm nhom ủ dưới tấm mền. Khi cảm lấy lạnh thầy nhờ các chị giúp việc khoác thêm lên vai chiếc áo gió may bằng vải nylon.
"Mình đọc thư nào trước tiên đây?", thầy Morrie cất tiếng hỏi.
Một đồng nghiệp của thầy lấy giọng đọc thư của một người phụ nữ tên Nancy. Mẹ chị qua đời vì căn bệnh ASL. Nancy kể lại chị đã đau khổ tới nhường nào vì sự mất mát đó và cũng chính vì thế chị hiểu rằng thầy Morrie cũng đang đau khổ.
"Thôi được'" thầy Morrie thốt lên khi người đồng nghiệp kết thúc lá thư. Thầy nhắm mắt lại, "Chúng ta sẽ bắt đầu như thế này”
‘Chị Nancy thân mến!
Câu chuyện của chị về người mẹ khiến tôi vô cùng cảm động. Tôi hiểu tất cả những gì mà chị đã phải trải qua. Cả hai chúng ta, mỗi người đều có nỗi buồn và sự đau khổ. Đau buồn là điều tốt cho tôi và tôi hy vọng nó cũng là điều tốt đối với chị.’
"Có lẽ cha nên sửa lại dòng cuối", Rob nhắc.
Thầy Morrie nghĩ một giây rồi đáp: "Con nói đúng. ‘Tôi hy vọng trong khổ đau chị sẽ tìm thấy sức mạnh'. Thế có khi hay hơn đấy!"
Rob gật đầu.
"Nhớ thêm: 'Xin cảm ơn. Morrie', thầy nhắc.
Bức thư được đọc tiếp theo là của một người phụ nữ khác có tên là Jane. Jane cảm ơn những câu chuyện của thầy trong chương trình Câu chuyện hàng đêm đã truyền cảm hứng cho chị. Jane gọi thầy là nhà tiên tri.
"Ca tụng tới tận mây xanh", một đồng nghiệp của thầy nói. "Nhà tiên tri".
Thầy Morrie nhăn mặt. Rõ ràng ông không đồng ý với cách đánh giá. "Chúng ta cứ cảm ơn chị ấy. Nói thêm rằng ta rất mừng khi biết rằng lời nói của mình có một giá trị nhất định đối với chị ấy".
"Làm ơn thêm vào 'Xin cảm ơn. Morrie'".
Tiếp theo là bức thư của một người đàn ông Anh quốc. Bà cụ thân sinh ra ông ta đã qua đời và ông ta nhờ thầy Morrie giúp liên lạc với bà cụ qua thế giới tâm linh. Lại có một bức thư của một cặp vợ chồng xin được lái xe từ Boston tới thăm thầy. Rồi một lá thư dài của một cựu nữ sinh viên kể chuyện đời mình sau khi ra trường. Trong thư chị ta nhắc tới ba lần tự tử không thành và những đứa trẻ chết từ trong bụng mẹ. Cô sinh viên cũ kể về cái chết của người mẹ mắc căn bệnh ALS và sợ rằng là con chị ta cũng có thể mắc căn bệnh quái ác đó. Toàn là những chuyện đại để như vậy. Hết trang một là tới trang hai, trang ba rồi đến trang bốn.
Thầy Morrie ngồi im lặng nghe câu chuyện ác nghiệt dài dằng dặc. Khi bức thư được đọc xong, thầy nhẹ nhàng nói: "Chúng ta sẽ trả lời sao đây?"
Mọi người im lặng. Cuối cùng Rob lên tiếng: "Cảm ơn chị đã gởi cho chúng tôi lá thư thật là dài'. Thế được chứ?"
Ai nấy bật cười. Thầy Morrie đưa mắt nhìn con trai, ánh mắt thầy trông thật rạng rỡ.
0
Tờ báo nằm cạnh chiếc ghế tựa của thầy có đăng tấm hình một tay bóng chày của đội Boston đang mỉm cười sau một cú ném bóng chặn đầu đối phương. Trong số tất cả các bệnh tật trên đời này, thầy Morrie của tôi mắc đúng căn bệnh được mang tên của một vận động viên.
“Thầy còn nhớ Lou Gehrig không?” Tôi hỏi.
“Ta nhớ hình ảnh của ông ta trên sân vận động, đang nói lời từ biệt.”
“Nếu vậy thầy hẳn còn nhớ câu nói nổi tiếng của ông ta.”
"Câu nào nhỉ?”
“Thầy ráng nhớ thử xem! Lou Gehrig. ‘Niềm tự hào của người Mỹ’. Bài phát biểu vang vọng qua hệ thống loa ấy”
“Làm ơn nhắc ta đi”, thầy Morrie nói. “Con đọc thử xem nào.”
Qua khung cửa sổ, tôi nghe thấy tiếng xe tải gom rác. Mặc dầu tiết trời nóng bức, thầy Morrie vẫn đánh chiếc áo tay dài, chân phủ tấm chăn, nước da nhợt nhạt. Bệnh tật đã xâm chiếm cơ thể thầy.
Tôi cất cao giọng bắt chước Gehrig, tiếng của ông ta bị những bức tường của sân vận động dội lại nghe ồm ồm kéo dài: “Hôôm nayyy... Tôi caaaảm thấy... người haaạnh phúc nhất... Trêêên traáai đất nàyyy...”.
Thầy Morrie nhắm mắt lại và chậm rãi gật đầu.
0
«« « 1 2 3 » »»