📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Kinh Hoa Nghiêm 🔒

41 trả lời, 5.311 lượt xem — Trang 1 / 2
Kinh Hoa Nghiêm

Hán dịch: Đại Sư Thật Xoa Nan Đà
Việt dịch: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh
Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản Phật lịch 2527 - 1983



Thay lời tựa

Kinh Hoa Nghiêm là bộ kinh đại thừa, là vua trong các kinh, với nội dung siêu việt tuyệt luân hùng vĩ, tráng lệ nguy nga, thể hiện pháp thân, tư tưởng và tâm nguyện của Phật
Hoa Nghiêm tiếng Phạn là Avatamsaka, có nghĩa là đóa hoa thanh khiết tuyệt đẹp nhất trần gian, ngát hương khắp mười phương các cõi pháp giới.
Tư tưởng Hoa Nghiêm trình bày vạn pháp do tâm sanh.  Tâm là thực thể của vạn pháp.  Tâm vọng thì vạn pháp hoạt hiện sai biệt hình hình sắc sắc, trùng trùng duyên khởi, cái này có cái kia có và ngược lại, như lưới đế châu.  Tâm chơn thì pháp giới tánh với tâm là một, vạn pháp đồng nhất thể.  Tâm thanh tịnh thì thấu đạt chơn lý Phật tánh, suốt thông pháp giới vô ngại, thể nhập bất tư nghì giải thoát hạnh môn.  Kinh Hoa Nghiêm, đức Phật chỉ cho chúng sanh thấu rõ cội nguồn của xum la vạn tượng do mê thức vọng tưởng nghiệp duyên hình thành, các pháp hiện hành trong vũ trụ là huyễn hóa, như hoa trong gương, như trăng trong nước.  Tất cả vạn pháp trong pháp giới đều từ tâm sanh.  Tâm trùm khắp cả pháp giới.  Tất cả vạn hữu vũ trụ có thể nằm gọn trong hạt cải.  Hạt cải có thể thâu nhiếp tất cả vũ trụ vạn pháp.  Thể tánh của tâm nhiếp thâu tất cả.  Tất cả là một, một là tất cả.  Đó là bản tánh vô ngại của tâm.  Bản tánh chơn tâm suốt thâu vạn pháp hữu tình và vô tình; lấy toàn thể pháp giới tánh làm lượng; lấy xứng tánh bất tư nghì vô ngại giải thoát làm thể.  Đó là ý nghĩa căn cốt của Kinh Hoa Nghiêm.
Bởi thế, nếu Kinh Đại Bát Nhã tiêu biểu cho tư tưởng Phật Pháp đại thừa về lý chơn không vô ngại, thì Kinh Hoa Nghiêm đại biểu cho tư tưởng Phật Pháp đại thừa về lý hữu hóa duyên sanh của vạn pháp.
Ngoài ra Kinh Hoa Nghiêm còn là một thông điệp, một bài học phong phú sinh động muôn đời, trao gởi cho hành giả có tâm hướng thượng đại thừa, tu là cần phải học phải hành qua hình ảnh Thiện Tài đồng tử tham bái cầu học đạo với năm mươi ba vị thiện tri thức, là bằng chứng cho ta thấy rằng tu học đạo bồ đề điều tiên quyết cần phải khắc phục nội tâm cống cao ngã mạn, dục vọng loạn tưởng; ngoài thân khiêm cung cầu tiến hành trì phương pháp Hoa Nghiêm tuyệt đỉnh, tìm chân sư liễu ngộ mới mong hiển lộ được Phật tánh chơn tâm của mình.
Nên nghiên tầm ý nghĩa của Kinh Hoa Nghiêm là khai mở quang lộ trở về bản tánh chơn tâm thanh tịnh sáng suốt thường nhiên; là biêt được tự thể của các pháp hiện hành trong thế giới vũ trụ; là thấu suốt cội nguồn sanh sanh hóa hóa của hữu tình và vô tình chúng sanh; là quán chiếu bí yếu mật nghĩa viên dung tương quan của tâm và cảnh, để rồi từ đó có thể thống triệt lý viên dung vô ngại chủ và khách của vạn pháp, hiện hành sanh hóa, tương duyên tương nhơn quả, tương sanh tương diệt.  Tất cả vạn pháp toàn triệt ảnh hiện trên đài gương chơn như thể tánh.  Thế nên, thọ trì Kinh Hoa Nghiêm là bước vào cửa phương tiện cầu tu học đạo, là nhân tố đặc thù hy hữu ly vọng hoàn chơn.
Bởi công đức đặc thù nhiệm mầu vi diệu của Kinh Hoa Nghiêm như thế, nên người có thiện duyên thấy Kinh Hoa Nghiêm mà biết phát tâm thành kính tin sâu, thì như chính mình được thấy Phật.  Người thành tâm đọc Kinh Hoa Nghiêm như trực tiếp nghe Phật khai thị.  Người chí thành phụng thờ Kinh Hoa Nghiêm như chính mình trực tiếp phụng thờ Phật.  Người phát tâm bồ đề ấn tống Kinh Hoa Nghiêm có công đức như được cúng dường Phật, như được thỉnh Phật trụ thế chuyển pháp luân, như được dự vào sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh của chư Phật.  Kinh Hoa Nghiêm cao sâu, nhiệm mầu vi diệu như thế, nên những ai thành kính phát tâm ấn tống thọ trì kinh này, thì phải biết rằng người đó nhiều đời gieo thiện duyên bồ đề, đã từng làm sứ giả của Phật và đã từng ở trong ngôi nhà chánh pháp.
Phật Học Viện Quốc Tế nhận thấy thời mạt pháp này, pháp nhược ma cường, để cho chánh pháp đại thừa được trường tồn phổ cập nhân gian, làm rường cột cho niềm tin chánh đạo, ngõ hầu thức tỉnh quần mê sớm hồi đầu về bến giác.  Nên nguyện cùng chư Phật tử bốn phương, đồng chí hướng đại thừa vô lượng đạo, đồng tâm thành kính in lại bộ kinh đại thừa quý giá này, để kết thiện duyên vô thượng bồ đề, cùng các bạn hiền đang hướng nguyện tiến bước theo gót chân Phật trở về giác tánh chân như.
Ngưỡng nguyện chư tôn thiền đức và các bậc thiện hữu tri thức Phật tử gần xa phát tâm hoan hỷ hộ  trì.
Thành tâm kính lậy thập phương thường trụ Tam Bảo tác đại chứng minh.

Phật Đản 2532 - Mậu Thìn 1988
Thích Đức Niệm



Lời nói đầu của dịch giả
Khảo cứu theo truyền sử trong đại tạng, khi thành đạo vô thượng chách giác, chưa vội rời đạo tràng bồ đề, đức Thích Ca Mâu Ni Phật với pháp thân Tỳ Lô Giác Na, cùng chư đại Bồ Tát chứng giải thoát môn, tuyên thuyết Kinh Hoa Nghiêm.
Sau khi đức Phật nhập diệt lối sáu trăm năm, do Long Thọ Bồ Tát, Kinh Hoa Nghiêm này mới được lưu truyền bằng Phạn văn.  Toàn bộ kinh chữ Phạn có một trăm ngàn bài kệ, chia làm bốn mươi tám phẩm.
Đến nhà Đường, Đại sư Thật Xoa Nan Đà từ nước Vu Điền mang bổn kinh chữ Phạn này sang Trung Quốc dịch ra Hán văn.  Nhưng Đại sư chỉ dịch ra được ba mươi chín phẩm, từ phẩm "Thế Chủ Diệu Nghiêm" đến phẩm "Nhập Pháp Giới", cộng có ba mươi sáu ngàn bài kệ theo Phạn văn, còn lại chín phẩm sáu mươi bốn ngàn bài kệ Phạn văn chưa được dịch ra Hán văn.
Kế đó, Pháp sư Bác Nhã, người Kế Tân dịch thêm phẩm "Phổ Hiền Hạnh Nguyện" ra Hán văn, thành phẩm thứ bốn mươi của bộ Kinh Hoa Nghiêm này.
Nguyên bổn chữ Hán chia ra làm tám mươi mốt quyển.  Vì xét thấy chia quyển ra như thế, có nhiều phẩm bị cắt ra làm hai ba quyển hoặc nhiều hơn, thành thử mạch văn bị gián đoạn, nên khi phiên dịch ra Việt văn, tôi vẫn chia số quyển của bổn chữ Hán trong bổn Việt văn này, để tiện sự so cứu cho người đọc.
Kinh này gọi đủ là "Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm", ta quen gọi là Kinh Hoa Nghiêm.
Nội dung của kinh này đứng trên cảnh giới bất tư nghì giải thoát, chư pháp thân Đại sĩ thừa oai thần của đức Phật tuyên dương công đức, cùng cảnh giới của chư Phật và xương minh nhơn hạnh xứng tánh bất tư nghì của chư đại Bồ Tát.
Kinh Hoa Nghiêm này đã hoàn toàn ở trong lãnh vực xứng tánh bất tư nghì giải thoát mà xương minh, nên mỗi lời mỗi câu trong kinh này đều lấy toàn thể pháp giới tánh làm lượng.  Đã là toàn thể pháp giới tánh nên tất cả Giáo, Lý, Hạnh Quả nơi đây đều dung thông vô ngại, nên cũng gọi là vô ngại pháp giới.
Từng bực cứu cánh của vô ngại pháp giới là sự sự vô ngại pháp giới, chỗ chứng nhập hoàn toàn của chư Phật mà chư pháp thân Bồ Tát thời được từng phần.
Muốn hiểu thấu phần nào cảnh giới trên đây, người học đạo cần phải biết rõ bốn pháp giới, bốn cấp bậc mà chư đại thừa Bồ Tát tuần tự tu chứng:
1.  Lý vô ngại pháp giới
2.  Sự vô ngại pháp giới
3.  Lý sự vô ngại pháp giới
4.  Sự sự vô ngại pháp giới
Lý tức là chơn lý thật tánh, là thể tánh chơn thật của tất cả pháp, nên cũng gọi là pháp tánh hay pháp giới tánh, chơn như tánh.  Tất cả pháp trong vũ trụ đều đồng một thể tánh chơn thật ấy.  Thể tánh ấy dung thông vô ngại, nên gọi là "Lý vô ngại pháp giới".  Người chứng được lý vô ngại này chính là bực thành tựu căn bổn trí, mà bắt đầu dự vào hàng pháp thân Bồ Tát.
Tất cả pháp Sự đều đồng một thể tánh chơn thật, tức là đồng lấy pháp tánh làm tự thể.  Toàn thể Sự là pháp tánh, mà pháp tánh đã viên dung vô ngại, thời toàn sự cũng vô ngại, nên gọi là "Sự vô ngại pháp giới".  Người chứng được pháp giới này chính là bực pháp thân Bồ Tát thành tựu sai biệt trí (cũng gọi là quyền trí, tục trí, hậu đắc trí).
Lý là thể tánh của Sự (tất cả pháp), Sự là hiện tượng của Lý tánh.  Vậy thời lý tánh tức là lý tánh của sự, còn sự lại là sự tướng của lý tánh.  Chính Lý tánh là toàn sự, mà tất cả sự là toàn Lý tánh, nên gọi là "Lý sự vô ngại pháp giới".  Người chứng được lý sự pháp giới này thời là bậc pháp thân Bồ Tát đồng thời hiển phát cả hai trí (căn bổn trí và sai biệt trí).
Tất cả sự đã toàn đồng một thể tánh mà thể tánh thời dung thông không phân chia riêng khác, nên bất luận là một sự nào cũng đều dung nhiếp tất cả sự, và cũng đều tức là tất cả sự, một sự nhiếp và tức tất cả sự, tất cả sự nhiếp và tức một sự.   Thế là sự sự vô ngại tự tại, nên gọi là "Sự sự vô ngại pháp giới".  Người chứng được Sự sự pháp giới này là bậc pháp thân Bồ Tát thành tựu nhứt thiết chủng trí.  Viên mãn trí này chính là Đấng Vô Thượng Giác (Phật Thế Tôn).
Sự sự vô ngại pháp giới dung thông tự tại, nội dung của toàn bộ Kinh Hoa Nghiêm, được chứng minh trên toàn thể văn kinh này.  Nay xin lược dẫn một vài đoạn văn rõ nhất để chư học giả tiện tham cứu:
Sự sự là tất cả sự hoặc là tất cả pháp, tức là toàn thể không gian và thời gian.
Về không gian dung thông vô ngại văn kinh nói:
Bao nhiêu vi trần trong thế giới
Trong mỗi vi trần thấy các cõi
Bửu quang hiện Phật vô lượng số
Cảnh giới tự tại của Như Lai.
---
Vô lượng vô số núi Tu Di
Đều đem để vào một sợi lông,
Một thế giới để vào tất cả
Tất cả thế giới để vào một,
Thể tướng thế giới vẫn như cũ
Vô đẳng vô lượng đều cùng khắp.
---
Trong một chân lông đều thấy rõ
Vô số vô lượng chư Như Lai
Tất cả chân lông đều thế cả
Tôi nay kính lạy tất cả Phật


Về thời gian dung thông vô ngại văn kinh nói:
Kiếp quá khứ để hiện, vị lai,
Kiếp vị lai để quá, hiện tại,
Ba đời nhiều kiếp là một niệm
Chẳng phải dài vắn: hạnh giải thoát.
---
Tôi hay thâm nhập đời vị lai
Tất cả kiếp thâu làm một niệm,
Hết thảy những kiếp trong ba đời
Làm khoảng một niệm tôi đều nhập.


Về không gian và thời gian dung thông vô ngại nhau, văn kinh nói:
Khắp hết mười phương các cõi nước
Mỗi đầu lông đủ có ba đời
Phật cùng quốc độ số vô lượng
Tôi khắp tu hành trải trần kiếp.
Trong một niệm tôi thấy ba đời
Tất cả các đấng Nhơn Sư Tử
Cũng thường vào trong cảnh giới Phật
Như huyễn, giải thoát và oai lực.

Tất cả sự không ngoài thời gian và không gian.  Thời gian dung thông thời gian, không gian dung thông không gian, thời gian dung thông không gian, không gian dung thông thời gian.  Một không gian dung thông tất cả không gian, một thời gian dung thông tất cả thời gian, tất cả dung thông với một, thời gian với không gian, một cùng tất cả cũng đều dung thông như vậy.  Đây chính là Sự sự vô ngại pháp giới, mà cũng chính là cảnh giới giải thoát bất tư nghì mà Kinh Hoa Nghiêm này lấy đó làm nội dung như đã nói ở trên.
Lược giải một vài điều, để giúp phần nào cho học giả khi cần thấy phải thấu triệt nội dung của kinh này.  Vị nào muốn nghiên cứu đầy đủ xin xem bộ Hoa Nghiêm đại sớ của Tổ Thanh Lương và Thập huyền môn của Tổ Hiền Thủ.
Tôi thành kính đem công đức phiên dịch Việt văn này hồi hướng cho tất cả chúng sanh đồng về Tịnh Độ, đồng sớm thành Phật.
Viết tại chùa Vạn Đức
Thủ Đức ngày Phật nhập Niết Bàn, Rằm tháng Hai 2508
Dịch giả Hân Tịnh Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh



Nghi thức Sám Hối trước khi tụng Kinh
(Dùng ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh mà tụng kinh, thời phước đức vô lượng, nên trước khi tụng kinh cần phải sám hối, sám hối tức là làm cho ba nghiệp thanh tịnh).
Nam mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Chư Phật (1 lạy)
Nam mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Tôn Pháp (1 lạy)
Nam mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Hiền Thánh Tăng (1 lạy)

(Quỳ tay cầm hương cúng dường phát nguyện)
Nguyện mây hương mầu này
Khắp cùng mười phương cõi
Cúng dường tất cả Phật
Tôn Pháp, các Bồ Tát,
Vô biên chúng Thanh Văn,
Và cả thảy Thánh Hiền,
Duyên khởi đài sáng chói
Trùm đến vô biên cõi,
Khắp xông các chúng sanh
Đều phát lòng bồ đề,
Xa lìa những nghiệp vọng
Trọn nên đạo vô thượng.

(Cầm hương lạy 1 lạy, đứng chắp tay xướng)
Sắc thân Như Lai đẹp
Trong đời không ai bằng
Không sánh, chẳng nghĩ bàn,
Nên nay con đảnh lễ.
Sắc thân Phật vô tận
Trí huệ Phật cũng thế,
Tất cả pháp thường trú
Cho nên con về nương.
Sức trí lớn nguyện lớn
Khắp độ chúng quần sanh,
Khiến bỏ thân nóng khổ
Sanh kia nước mát vui.
Con nay sạch ba nghiệp
Quy y và lễ tán
Nguyện cùng các chúng sanh
Đồng sanh nước An Lạc.
Án phạ nhựt ra vật (7 lần).

Chí tâm đảnh lễ:
Thường tịch quang tịnh độ
A Di Đà Như Lai
Pháp thân mầu thanh tịnh
Khắp pháp giới chư Phật (1 lạy)

Chí tâm đảnh lễ:
Thật báo trang nghiêm độ
A Di Đà Như Lai
Thân tướng hải vi trần
Khắp pháp giới chư Phật (1 lạy)

Chí tâm đảnh lễ:
Phương tiện thánh cư độ
A Di Đà Như Lai
Thân trang nghiêm giải thoát
Khắp pháp giới chư Phật (1 lạy)

Chí tâm đảnh lễ:
Cõi An Lạc phương tây
A Di Đà Như Lai
Thân căn giới đại thừa
Khắp pháp giới chư Phật (1 lạy)

Chí tâm đảnh lễ:
Cõi An Lạc phương tây
A Di Đà Như Lai
Thân hóa đến mười phương
Khắp pháp giới chư Phật (1 lạy)

Chí tâm đảnh lễ:
Cõi An Lạc phương tây
Giáo hạnh lý ba kinh
Tột nói bày y chánh
Khắp pháp giới Tôn Pháp (1 lạy)

Chí tâm đảnh lễ:
Cõi An Lạc phương tây
Quan Thế Âm Bồ Tát
Thân tử kim muôn ức
Khắp pháp giới Bồ Tát (1 lạy)

Chí tâm đảnh lễ:
Cõi An Lạc phương tây
Đại Thế Chí Bồ Tát
Thân trí sáng vô biên
Khắp pháp giới Bồ Tát (1 lạy)

Chí tâm đảnh lễ:
Cõi An Lạc phương tây
Thanh Tịnh Đại Hải Chúng
Thân hai nghiêm: Phước, trí
Khắp pháp giới Thánh chúng (1 lạy)

(Đứng chắp tay nguyện)
Con nay khắp vì bốn ơn ba cõi cùng chúng sanh trong pháp giới, đều nguyện dứt trừ ba chướng (1), nên quy mạng (2) sám hối (3).
(1 lạy, quỳ chắp tay sám hối)

Chí tâm sám hối:
Đệ tử... và chúng sanh trong pháp giới, từ đời vô thỉ nhẫn đến ngày nay, bị vô minh che lấp nên điên đảo mê lầm, lại do sáu căn ba nghiệp (4) quen theo pháp chẳng lành, rộng phạm mười điều dữ cùng năm tội vô gián (5) và tất cả các tội khác, nhiều vô lượng vô biên nói không thể hết.  Mười phương các đức Phật thường ở trong đời, tiếng pháp không dứt, hương mầu đầy lấp pháp vị ngập tràn, phóng ánh sáng sạch trong chiếu soi tất cả.  Lý mầu thường trụ đầy dẫy hư không.
Con từ vô thỉ đến nay, sáu căn che mù, ba nghiệp tối tăm, chẳng thấy chẳng nghe, chẳng hay chẳng biết, vì nhơn duyên đó trôi mãi trong vòng sanh tử, trải qua các đường dữ (6), trăm nghìn muôn kiếp trọn không lúc nào ra khỏi.  Kinh rằng: Đức Tỳ Lô Giá Na thân khắp cả chỗ, chỗ của Phật ở gọi là Thường Tịch Quang, cho nên phải biết cả thảy các pháp đều là Phật Pháp, mà con không rõ lại theo dòng vô minh vì thế trong trí bồ đề mà thấy không thanh tịnh, trong cảnh giải thoát mà sanh ràng buộc.  Nay mới tỏ ngộ nay mới chừa bỏ ăn năn, phụng đối trước các đức Phật và A Di Đà Thế Tôn mà phát lồ (7) sám hối, làm cho đệ tử cùng pháp giới chúng sanh, tất cả tội nặng do ba nghiệp sáu căn, gây tạo từ vô thỉ, hoặc hiện tại cùng vị lai, chính mình tự gây tạo hoặc biểu người, hay là thấy người gây tạo mà vui theo, hoặc nhớ hoặc chẳng nhớ, hoặc biết hoặc chẳng biết, hoặc nghi hoặc chẳng nghi, hoặc che giấu hoặc chẳng che giấu, thảy đều được rốt ráo thanh tịnh.
Đệ tử sám hối rồi, sáu căn cùng ba nghiệp trong sạch, không lỗi lầm, căn lành tu tập, cũng trọn thanh tịnh, thảy đều hồi hướng dùng trang nghiêm Tịnh Độ, khắp với chúng sanh, đồng sanh về nước An Dưỡng.
Nguyện đức A Di Đà Phật thường đến hộ trì, làm cho căn lành của đệ tử hiện tiền tăng tiến, chẳng mất nhơn duyên Tịnh Độ, đến giờ lâm chung, thân an lành niệm chánh vững vàng, xem nghe đều rõ ràng, tận mặt thấy đức A Di Đà cùng các Thánh chúng, tay cầm đài hoa tiếp dẫn đệ tử, trong khoảng sát na sanh ra trước Phật, đủ đạo hạnh Bồ Tát, rộng độ khắp chúng sanh đồng thành Phật đạo.
Đệ tử sám hối phát nguyện rồi quy mạng đảnh lễ: Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới, đại từ đại bi, A Di Đà Như Lai, biến pháp giới Tam Bảo. (1 lạy)
(lạy xong tiếp nghi thức tụng kinh...)

Thích nghĩa Sám Pháp:
1. Phiền nào, nghiệp nhơn, quả báo, ba món đều hay làm chướng ngại đường giải thoát nên gọi: ba món chướng.
2.  Đem thân mạng về nương, giao phó cho Phật, Pháp, Tăng, chính là nghĩa của hai chữ Nam mô.
3.  Nói đủ là Sám ma hối quá.  Sám ma là tiếng Phạn, nghĩa là hối quá, tức là ăn năn tội trước, ngừa giữ lỗi sau.
4.  Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, sáu căn và ba nghiệp thân khẩu ý.
5.  Giết cha, giết mẹ, giết thánh nhơn, ác tâm làm thân Phật ra máu, phá hòa hiệp Tăng, gọi là năm tội nghịch, nếu phạm sẽ bị đọa vào ngục Vô Gián nên gọi là tội Vô Gián.  Ngục Vô Gián là chỗ thọ khổ không có lúc nào ngừng ngớt.
6.  A Tu La, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, các đường đó vui ít khổ nhiều, do nghiệp dữ cảm ra.
7.  Bày tỏ tội lỗi ra trước chúng nhơn không chút giấu che thời gọi là phát lồ, trái với phú tàng (che giấu), có phát lồ tội mới tiêu, như bịnh cảm mà đặng phát hạn (ra mồ hôi).




Nghi thức trì tụng


Bài tán lư hương
Lư hương vừa ngún chiên đàn
Khói thơm ngào ngạt muôn ngàn cõi xa
Lòng con kính ngưỡng thiết tha
Ngửa mong chư Phật thương mà chứng minh.
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)

Chơn ngôn tịnh pháp giới
Án Lam (7 lần)

Chơn ngôn tịnh khẩu nghiệp
Tu rị tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị ta bà ha (3 lần)

Chơn ngôn tịnh ba nghiệp
Án ta phạ bà phạ thuật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ bà phạ thuật độ hám (3 lần)

Chơn ngôn phổ cúng dường
Án nga nga nẳng tam bà phạ phiệt nhựt ra hồng (3 lần)

Bài văn phát nguyện
Nam mô thập phương thường trụ Tam Bảo (3 lần)
Lậy đấng tam giới Tôn
Quy mạng mười phương Phật
Nay con phát nguyện lớn
Trì tụng Kinh Hoa Nghiêm
Trên đền bốn ơn nặng
Dưới cứu khổ tam đồ
Nếu có ai thấy nghe
Đều phát bồ đề tâm
Khi mãn báo thân này
Sanh qua cõi Cực Lạc.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)

Bài kệ khai kinh
Phật pháp rộng sâu rất nhiệm mầu
Trăm nghìn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con nghe thấy chuyên trì tụng
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.
Nam mô Hoa Nghiêm Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)





Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-10-08 05:06:43canary>
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 1

Phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm thứ nhất

I.  Đại Hội Vân Tập
(1) Như vậy tôi nghe, một lúc Phật ở nước Ma Kiệt Đề, trong đạo tràng bồ đề, ban đầu thành Vô thượng chánh giác.  Nơi đó đất cứng chắc, bằng kim cang.  Có các luân báu, hoa báu, châu ma ni thanh tịnh, dùng trang nghiêm.  Các châu ma ni sắc tướng hải làm tràng, thường phóng quang minh, luôn vang ra tiếng vi diệu.  Các mành lưới báu, chuỗi hoa hương thơm, bủa giăng rủ bốn phía.  Châu ma ni bảo vương biến hiện tự tại, mưa vô tận châu bảo và những hoa đẹp rải khắp mặt đất.  Cây báu giăng hàng, nhánh lá sum sê sáng rỡ.
Do thần lực của Phật làm cho đạo tràng này ảnh hiện tất cả sự trang nghiêm.
Cây bồ đề cao lớn lạ thường: thân bằng kim cang và lưu ly, cành cây bằng nhiều chất bảo tốt đẹp, lá báu giăng che như mây, hoa báu nhiều màu đơm sáng các nhánh, trái bồ đề châu ma ni chiếu sáng, như lửa ngọn xen lẫn trong hoa.
Quanh cây bồ đề đều phóng quang minh, trong quang minh rưới ma ni bảo, trong ma ni bảo có các Bồ Tát xuất hiện, đông nhiều như mây.
Lại do thần lực của Như Lai, cây bồ đề này thường vang ra tiếng vi diệu, nói các thứ pháp mô vô cùng vô tận.
Cung điện lâu đài của đức Như Lai ở, rộng rãi trang nghiêm, tốt đẹp khắp đến mười phương.  Lâu đài này do châu ma ni nhiều màu hiệp thành, các thứ hoa báu đơm đẹp, những đồ trang nghiêm trong lâu đài tuôn ánh sáng như mây.
Từ trong lâu đài chói sáng kết thành bảo tràng, vô biên Bồ Tát và đạo tràng chúng hội đều hợp nơi đó, vì có thể xuất hiện quang minh của chư Phật.  Ma ni bửu vương bất tư nghì âm kết lại thành lưới.  Thần thông tự tại của Như Lai làm cho tất cả cảnh giới đều hiện trong lưới báu.  Tất cả chúng sanh, cùng nơi chỗ nhà cửa của họ, đều hiện bóng trong đó.  Lại do thần lực của chư Phật, trong khoảng một niệm, cả pháp giới đều bao gồm trong lưới.
Tòa sư tử cao rộng tốt đẹp: đài bằng châu ma ni, lưới bằng hoa sen, vòng quanh bằng bảo châu vi diệu thanh tịnh, hoa đẹp nhiều mầu kết thành chuỗi.
Cung điện, lâu đài, cửa nẻo, thềm bực, tất cả đều hoàn toàn trang nghiêm.  Cây báu, nhánh lá, bông trái xen nhau rực rỡ.  Châu ma ni chiếu sáng như mây.  Chư Phật mười phương hóa hiện nơi chân vương.  Bảo châu vi diệu trong búi tóc của tất cả Bồ Tát đều phóng quang minh chói sáng lâu đài.
Lại do oai thần của chư Phật, chư Bồ Tát diễn nói cảnh giới rộng lớn của Như Lai, tiếng đó vi diệu, vang xa khắp đến tất cả chỗ.
Lúc đó, đức Thế Tôn ngự trên tòa sư tử này thành vô thượng chánh giác: trí Phật chứng nhập thời gian ba đời đều bình đẳng, thân Phật khắp đầy tất cả thế gian, tiếng Phật thuận khắp cõi nước mười phương.  Ví như hư không bao gồm các sắc tướng, đối với các cảnh giới không chỗ phân biệt.  Lại như hư không khắp cùng tất cả, bình đẳng vào trong tất cả quốc độ.  Thân Phật thường khắp ngồi trong tất cả đạo tràng của chúng Bồ Tát, oai quang của Phật chói rỡ như mặt trời mọc lên soi sáng thế giới.  Phước đức của Phật rộng lớn như biển cả, đều đã thanh tịnh, mà luôn thị hiện sanh vào quốc độ chư Phật.  Vô biên sắc tướng, đầy đủ ánh sáng, cùng khắp pháp giới, bình đẳng không sai khác.  Diễn thuyết tất cả pháp như giăng bủa mây lớn.  Mỗi đầu sợi lông đều có thể dung thọ tất cả thế giới mà vẫn không chướng ngjai.  Đều hiện vô lượng thần thông giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh.  Thân Phật khắp mười phương mà không có tướng qua lại.  Trí Phật vào tất cả tướng mà rõ thấu các pháp đều không tịch.  Tất cả thần biến của chư Phật ba đời đều thấy cả trong quang minh.  Tất cả sự trang nghiêm của tất cả Phật độ trong kiếp số bất tư nghì đều làm cho hiển hiện.
Có mười thế giới vi trần số đại Bồ Tát theo hầu quanh Phật.  Danh hiệu của các ngài là: Phổ Hiền Bồ Tát, Phổ Đức Tối Thắng Đăng Quang Chiếu Bồ Tát, Phổ Quang Sư Tử Tràng Bồ Tát, Phổ Bảo Diệm Diệu Quang Bồ Tát, Phổ Âm Công Đức Hải Tràng Bồ Tát, Phổ Trí Quang Chiếu Như Lai Cảnh Bồ Tát, Phổ Bảo Kế Hoa Tràng Bồ Tát, Phổ Thanh Tịnh Vô Tận Phước Quang Bồ Tát, Phổ Quang Minh Tướng Bồ Tát, Hải Nguyệt Quang Đại Minh Bồ Tát, Vân Âm Hải Quang Vô Cấu Tạng Bồ Tát, Công Đức Bảo Kế Trí Sanh Bồ Tát, Công Đức Tự Tại Vương Đại Quang Bồ Tát, Thiện Dũng Mãnh Liên Hoa Kế Bồ Tát, Phổ Trí Vân Nhựt Tràng Bồ Tát, Đại Tinh Tấn Kim Cang Tê Bồ Tát, Hương Diệm Quang Tràng Bồ Tát, Đại Minh Đức Thâm Mỹ Âm Bồ Tát, Đại Phước Quang Trí Sanh Bồ Tát, có mười thế giới vi trần số đại Bồ Tát như vậy làm bực thượng thủ.
Từ xưa chư Bồ Tát này cùng với Tỳ Lô Giá Na Như Lai đồng  tu tập thiện căn, thực hành Bồ Tát hạnh, từ biển căn lành của Như Lai sanh ra, đã đầy đủ các môn ba la mật, huệ nhãn sáng suốt thấy ba đời, nơi các môn tam muội đều đầy đủ thanh tịnh, biện tài rộng lớn vô tận như biển, đủ công đức Phật tôn nghiêm đáng kính, biết căn tánh của chúng sanh thuận theo giáo hóa điều phục, vào tạng pháp giới, trí vô phân biệt, chứng giải thoát của Phật rất sâu rộng lớn, có thể tùy phương tiện, vào nơi một bực mà dùng tất cả hạnh nguyện, thường đi chung với trí tuệ, cùng tận thuở vị lai rõ thấu cảnh giới bí mật rộng lớn của chư Phật, khéo biết tất cả pháp bình đẳng của Phật, đã đi trên bực Phổ Quang Minh của Như Lai, nhập nơi vô lượng môn tam muội, đều tùy loại hiện thân khắp tất cả chỗ, đồng sự với thế gian mà thực hành thế pháp, tổng trì rộng lớn chứa nhóm tất cả pháp, biện tài thiện xảo chuyển pháp luân bất thối, biển cả công đức của tất cả Như Lai đều vào nơi thân của các ngài, tất cả quốc độ của chư Phật các ngài đều phát nguyện đi đến, đã từng cúng dường tất cả chư Phật chứng đạo bồ đề, các ngài thường ở trong đó gần gũi không rời, thường đem nguyện thệ Phổ Hiền đã được, làm cho trí thân của tất cả chúng sanh đều đầy đủ.  Chư Bồ Tát trên đây trọn nên vô lượng công đức như vậy.
Lại có thế giới vi trần số Chấp Kim Cang Thần: Diệu Sắc Na La Diên Thần, Nhựt Luân Tốc Tật Tràng Thần, Tu Di Hoa Quang Thần, Thanh Tịnh Vân Âm Thần, Chư Căn Mỹ Diệu Thần, Khả Ái Lạc Quang Minh Thần, Đại Thọ Lôi Âm Thần, Sư Tử Vương Quang Minh Thần, Mật Diệm Thắng Mục Thần, Liên Hoa Quang Ma Ni Kế Thần.  Thế giới vi trần số Kim Cang Thần như vậy làm bực tối thượng thủ.  Chư thần này thường phát nguyện lớn trong vô lượng kiếp quá khứ: nguyện thường gần gũi cúng dường chư Phật, nguyện hạnh đã được viên mãn, đã đến bỉ ngạn, chứa nhóm vô biên phước nghiệp thanh tịnh, đã thông đạt cảnh giới của các môn tam muội, đã được thần thông theo ở bên Như Lai, nhập cảnh giới bất khả tư nghì giải thoát, oai quang các ngài rất hùng mãnh nơi chúng hội, tùy theo chúng sanh mà hiện thân để điều phục, tất cả chư Phật hóa thân ở chỗ nào thời các cũng hóa thân theo qua, chỗ của tất cả Như Lai ở các ngài thường siêng năng hộ vệ.
Lại có thế giới vi trần số Thân Chúng Thần: Hoa Kế Trang Nghiêm Thần, Quang Chiếu Thập Phương Thần, Hải Âm Điều Phục Thần, Tịnh Hoa Nghiêm Kế Thần, Vô Lượng Oai Nghi Thần, Tối Thượng Quang Nghiêm Thần, Tịnh Quang Hương Vân Thần, Thủ Hộ Nhiếp Trì Thần, Phổ Hiện Nhiếp Thủ Thần, Bất Động Quang Minh Thần, có thế giới vi trần số Thân Chúng Thần như vậy làm bực thượng thủ.  Từ xưa chư thần này đã thành tựu đại nguyện cúng dường phục sự tất cả chư Phật.
Lại có thế giới vi trần số Túc Hành Thần: Bửu Ấn Thủ Thần, Liên Hoa Quang Thần, Thanh Tịnh Hoa Kế Thần, Nhiếp Chư Thiện Kiến Thần, Diệu Bảo Tinh Tràng Thần, Lạc Thổ Diệu Âm Thần, Chiên Đàn Thọ Quang Thần, Liên Hoa Quang Minh Thần, Vi Diệu Quang Minh Thần, Tích Tập Diệu Hoa Thần, có thế giới vi trần số Túc Hành Thần như vậy làm bực thượng thủ.  Chư thần này trong vô lượng kiếp quá khứ thường gần gũi Như Lai.
Lại có thế giới vi trần số Đạo Tràng Thần: Tịnh Trang Nghiêm Tràng Thần, Tu Di Bảo Quang Thần, Lôi Âm Tràng Tướng Thần, Vũ Hoa Diệu Nhãn Thần, Hoa Anh Quang Kế Thần, Vũ Bửu Trang Nghiêm Thần, Kim Cang Thể Vân Thần, Liên Hoa Quang Minh Thần, Diệu Quang Chiếu Diệu Thần, có thế giới vi trần số Đạo Tràng Thần như vậy làm bực thượng thủ.  Chư thần này đã gặp vô lượng Phật thành tựu nguyện lực thường cúng dường Phật.
Lại có thế giới vi trần số Chủ Thành Thần: Bửu Phong Quang Diệu Thần, Diệu Nghiêm Cung Điện Thần, Thanh Tịnh Hỷ Bảo Thần, Ly Ưu Thanh Tịnh Thần, Hoa Đăng Diệm Nhãn Thần, Diệm Tràng Minh Hiện Thần, Thạnh Phước Quang Minh Thần, Thanh Tịnh Quang Minh Thần, Hương Kế Trang Nghiêm Thần, Diệu Bửu Quang Minh Thần, có thế giới vi trần số Chủ Thành Thần như vậy làm bực thượng thủ.  Trong vô lượng bất tư nghì kiếp, chư thần này đều trang nghiêm thanh tịnh cung điện của Như Lai.
Lại có thế giới vi trần số Chủ Địa Thần: Phổ Đức Tịnh Hoa Thần, Kiên Phước Trang Nghiêm Thần, Diệu Hoa Nghiêm Thọ Thần, Phổ Tán Chúng Bửu Thần, Tịnh Mục Quán Thời Thần, Diệu Sắc Thắng Nhãn Thần, Hương Mao Phát Quang Thần, Duyệt Ý Âm Thinh Thần, Diệu HOa Triền Kế Thần, Kim Cang Nghiêm Thể Thần, có thế giới vi trần số Chủ Địa Thần như vậy làm bực thượng thủ.  Chư thần này thuở xưa phát nguyện rộng lớn thường gần gũi chư Phật đồng tu phước nghiệp.
Lại có vô lượng Chủ Sơn Thần: Bửu Phong Khai Hoa Thần, Hoa Lâm Diệu Kế Thần, Cao Tràng Phổ Chiếu Thần, Ly Trần Tịnh Kế Thần, Quang Chiếu Thập Phương Thần, Đại Lực Quang Minh Thần, Oai Quang Phổ Thắng Thần, Vi Mật Quang Luân Thần, Phổ Nhãn Hiện Kiến Thần, Kim Cang Mật Nhãn Thần, có vô lượng Chủ Sơn Thần như vậy làm bực thượng thủ.  Chư thần này đã được pháp nhãn thanh tịnh đối với các pháp.
Lại có bất tư nghì số Chủ Lâm Thần: Bố Hoa Như Vân Thần, Trạc Cán Thơ Quang Thần, Sanh Nha Phát Diệu Thần, Cát Tường Tịnh Diệp Thần, Thuỳ Bố Diệm Tàng Thần, Thanh Tịnh Quang Minh Thần, Khả Ý Lôi Âm Thần, Quang Hương Phổ Biến Thần, Diệu Quang Hoánh Diệu Thần, Hoa Quả Quang Vị Thần.  Bất tư nghì số Chủ Lâm Thần như vậy làm bực thượng thủ.  Chư thần này đều có vô lượng quang minh khả ái.
Lại có vô lượng Chủ Dược Thần: Cát Tường Thần, Chiên Đàn Lâm Thần, Thanh Tịnh Quang Minh Thần, Danh Xưng Phổ Văn Thần, Mao Khổng Quang Minh Thần, Phổ Trị Thanh Tịnh Thần, Tế Nhựt Quang Tràng Thần, Minh Kiến Thập Phương Thần, vô lượng Chủ Dược Thần như vậy làm bực thượng thủ.  Chư thần này đều lìa cấu nhiễm, lòng nhơn từ cứu giúp muôn vật.
Lại có vô lượng Chủ Giá Thần: Nhu Nhuyến Thắng Vị Thần, Thời Hoa Tịnh Quang Thần, Sắc Lực Dũng Kiện Thần, Tăng Trưởng Tinh Khí Thần, Phổ Sanh Căn Quả Thần, Diệu Nghiêm Hoàn Kế Thần, Nhuận Trạch Tịnh Hoa Thần, Thành Tựu Diệu Hương Thần, Kiến Giả Ái Nhạo Thần, Ly Cấu Tịnh Quang Thần, có vô lượng Chủ Giá Thần như vậy là bực thượng thủ.  Chư thần này đều được thành tựu đại hỷ.
Lại có vô lượng Chủ Hà Thần: Phổ Phát Tánh Lưu Thần, Phổ Kiết Tuyền Giản Thần, Ly Trần Tịnh Nhãn Thần, Thập Phương Biến Hống Thần, Cứu Hộ Chúng Sanh Thần, Vô Nhiệt Tịnh Quang Thần, Phổ Sanh Hoan Hỷ Thần, Quảng Đức Thắng Tràng Thần, Quang Chiếu Phổ Thế Thần, Hải Đức Quang Minh Thần, có vô lượng Chủ Hà Thần như vậy làm bực thượng thủ.  Chư thần này đều ân cần để ý lợi ích chúng sanh.
Lại có vô lượng Chủ Hải Thần: Xuất Hiện Bửu Quang Thần, Thành Kim Cang Tràng Thần, Viễn Ly Trần Cấu Thần, Phổ Thủy Cung Điện Thần, Cát Tường Bửu Nguyệt Thần, Diệu Hoa Long Kế Thần, Phổ Trì Quang Vị Thần, Bửu Diệm Hoa Quang Thần, Kim Cang Diệu Kế Thần, Hải Triều Lôi Âm Thần, có vô lượng Chủ Hải Thần như vậy làm bực thượng thủ.  Chư thần này đều dùng biển cả công đức của Như Lai để đầy đủ thân mình.
Lại có vô lượng Chủ Thủy Thần: Phổ Hưng Vân Tràng Thần, Hải Triều Vân Âm Thần, Diệu Sắc Luân Kế Thần, Thiện Xảo Triền Phục Thần, Ly Cấu Hương Tích Thần, Phước Kiều Quán Âm Thần, Tri Túc Tự Tại Thần, Tịnh Hỷ Thiện Âm Thần, Phổ Hiện Oai Quang Thần, Hống Âm Biến Hải Thần, có vô lượng Chủ Thủy Thần như vậy làm bực thượng thủ.  Chư thần này thường siêng năng cứu hộ và làm lợi ích tất cả chúng sanh.
Lại có vô số Chủ Hỏa Thần: Phổ Quang Diệm Tàng Thần, Phổ Tập Quang Tàng Thần, Đại Quang Phổ Chiếu Thần, Chúng Diệu Cung Điện Thần, Vô Tận Quang Kế Thần, Chủng Chủng Diệm Nhãn Thần, Thập Phương Cung Điện Như Tu Di Sơn Thần, Oai Quang Tự Tại Thần, Quang Minh Phá Ám Thần, Lôi Âm Điển Quang Thần, có vô số Chủ Hỏa Thần như vậy làm bực thượng thủ.  Chư thần này đều có thể thị hiện các thứ quang minh làm cho chúng sanh dứt trừ những nhiệt não.
Lại có vô lượng Chủ Phong Thần: Vô Ngại Quang Minh Thần, Phổ Hiện Dũng Nghiệp Thần, Phiêu Kích Vân Tràng Thần, Tịnh Quang Trang Nghiêm Thần, Lực Năng Kiệt Thủy Thần, Đại Thinh Biến Hống Thần, Thọ Sóc Thuỳ Kế Thần, Sở Hành Vô Ngại Thần, Chủng Chủng Cung Điện Thần, Đại Quang Phổ Chiếu Thần, có vô lượng Chủ Phong Thần như vậy làm bực thượng thủ.  Chư thần này đều siêng năng làm tan dứt tâm ngã mạn.
Lại có vô lượng Chủ Không Thần: Tịnh Quang Phổ Chiếu Thần, Phổ Du Thâm Quảng Thần, Sanh Cát Tường Phong Thần, Ly Chướng An Trụ Thần, Quảng Bộ Diệu Kế Thần, Vô Ngại Quang Diệm Thần, Vô Ngại Thắng Lực Thần, Ly Cấu Quang Minh Thần, Thâm Viễn Diệu Âm Thần, Quang Biến Thập Phương Thần, có vô lượng Chủ Không Thần như vậy làm bực thượng thủ.
Lại có vô lượng Chủ Phương Thần: Biến Trụ Nhứt Thiết Thần, Phổ Hiện Quang Minh Thần, Quang Hạnh Trang Nghiêm Thần, Châu Hành Bất Ngại Thần, Vĩnh Đoạn Mê Hoặc Thần, Phổ Du Tịnh Không Thần, Đại Vân Tràng Âm Thần, Kế Mục Vô Loạn Thần, Phổ Quán Thế Nghiệp Thần, Châu Biến Du Lãm Thần, có vô lượng Chủ Phương Thần như vậy làm bực thượng thủ.  Chư thần này có thể dùng phương tiện phóng quang minh thường chiếu khắp mười phương chẳng dứt.
Lại có vô lượng Chủ Dạ Thần: Phổ Đức Tịnh Quang Thần, Hỷ Nhãn Quán Thế Thần, Hộ Thế Tinh Khí Thần, Tịch Tịnh Hải Âm Thần, Phổ Hiện Cát Tường Thần, Phổ Phát Thọ Hoa Thần, Bình Đẳng Hộ Dục Thần, Du Hí Khoái Lạc Thần, Chư Căn Thường Hỷ Thần, Xuất Sanh Tịnh Phước Thần, có vô lượng Chủ Dạ Thần như vậy làm bực thượng thủ.  Chư thần này thường siêng năng tu tập, vui với chánh pháp.
Lại có vô lượng Chủ Trú Thần: Thị Hiện Cung Điện Thần, Phát Khởi Huệ Hương Thần, Lạc Thắng Trang Nghiêm Thần, Hương Hoa Diệu Quang Thần, Phổ Tập Diệu Dược Thần, Nhạo Tác Hỷ Mục Thần, Phổ Hiện Chư Phương Thần, Đại Bi Quang Minh Thần, Thiện Căn Quang Chiếu Thần, Diệu Hoa Anh Lạc Thần, có vô lượng Chủ Trú Thần như vậy làm bực thượng thủ.  Chư thần này có thể sanh lòng tin hiểu nơi diệu pháp, thường cùng nhau siêng năng nghiêm sức cung điện.
Lại có vô lượng A Tu La Vương: La Hầu Vương, Tỳ Ma Chất Đa La Vương, Xảo Huyễn Thuật Vương, Đại Quyến Thuộc Vương, Đại Lực Vương, Biến Chiếu Vương, Kiên Cố Hành Diệu Trang Nghiêm Vương, Quảng Đại Nhơn Huệ Vương, Xuất Hiện Thắng Đức Vương, Diệu Hảo Âm Thinh Vương, có vô lượng A Tu La Vương như vậy làm bực thượng thủ.  Các A Tu La Vương này đều đã siêng năng xô dẹp ngã mạn và những phiền não.
Lại có bất tư nghì số Ca Lâu La Vương: Đại Tốc Tật Lực Vương, Vô Năng Hoại Bảo Cái Vương, Thanh Tịnh Tốc Tật Vương, Tâm Bất Thối Chuyển Vương, Đại Hải Xứ Nhiếp Trì Lực Vương, Kiên Cố Tịnh Quang Vương, Xảo Nghiêm Quang Kế Vương, Phổ Thiệp Thị Hiện Vương, Phổ Quán Hải Vương, Phổ Âm Quãng Mục Vương, có bất tư nghì số Ca Lâu La Vương như vậy làm thượng thủ.  Các Ca Lâu La Vương này đều đã thành tựu sức phương tiện lớn, có thể cứu hộ tất cả chúng sanh.
Lại có vô lượng Khẩn Na La Vương: Thiện Huệ Quang Minh Thiên Vương, Diệu Hoa Tràng Vương, Chủng Chủng Trang Nghiêm Vương, Duyệt ý Hống Thinh Vương, Bửu Thọ Quang Minh Vương, Kiến Giả Hân Lạc Vương, Động Địa Lực Vương, Nhiếp Phục Ác Chúng Vương, có vô lượng Khẩn Na La Vương như vậy làm bực thượng thủ.  Các Khẩn Na La Vương này đều siêng năng tinh tấn quán tất cả pháp, lòng thường khoái lạc du hí tự tại.
Lại có vô lượng Ma Hầu La Già Vương: Thiện Huệ Vương, Thanh Tịnh Oai Âm Vương, Thắng Huệ Trang Nghiêm Kế Vương, Diệu Mục Chủ Vương, Như Đăng Tràng Vi Chúng Sở Quy Vương, Tối Thắng Quang Minh Tràng Vương, Sư Tử Ức Vương, Chúng Diệu Trang Nghiêm Âm Vương, Tu Di Kiên Cố Vương, Khả Ái Nhạo Quang Minh Vương, có vô lượng Ma Hầu La Già Vương như vậy làm bực thượng thủ.  Các Ma Hầu La Già Vương này đều siêng tu tập phương tiện rộng lớn làm cho chúng sanh dứt hẳn ngu si.
Lại có vô lượng Dạ Xoa Vương: Tỳ Sa Môn Vương, Tự Tại Âm Vương, Nghiêm Trì Khí Trượng Vương, Đại Trí Huệ Vương, Diệm Nhãn Chủ Vương, Kim Cang Nhãn Vương, Dũng Kiện Tý Vương, Dũng Địch Quân Vương, Phú Tư Tài Vương, Lực Hoại Cao Sơn Vương, có vô lượng Dạ Xoa Vương như vậy làm bực thượng thủ.  Các Dạ Xoa Vương này đều siêng thủ hộ tất cả chúng sanh.
Lại có vô lượng Đại Long Vương: Tỳ Lâu Bát Xoa Vương, Ta Kiệt La Vương, Vân Âm Diệu Tràng Vương, Diệm Khẩu Hải Quang Vương, Phổ Cao Vân Tràng Vương, Đức Xoa Ca Vân Tràng Vương, Phổ Vận Đại Thinh Vương, Vô Nhiệt Não Vương, có vô lượng Đại Long Vương như vậy làm bực thượng thủ.  Các Long Vương này đều siêng năng kéo mây rưới mưa làm tiêu trừ sự phiền não cho chúng sanh.
Lại có vô lượng Cưu Bàn Trà Vương: Tăng Trưởng Vương, Long Chúa Vương, Thiện Trang Nghiêm Tràng Vương, Phổ Nhiêu Ích Hành Vương, Thậm Khả Bố Úy Vương, Mỹ Mục Trang Nghiêm Vương, Cao Phong Huệ Vương, Dũng Kiện Tý Vương, Vô Biên Tịnh Hoa Nhãn Vương, Quảng Đại Thiên Diệu A Tu La Nhãn Vương, có vô lượng Cưu Bàn Trà Vương như vậy làm bực thượng thủ.  Các Cưu Bàn Trà Vương này đều siêng tu học pháp môn vô ngại phóng quang minh lớn.
Lại có vô lượng Càn Thác Bà Vương: Trì Quốc Càn Thác Bà Vương, Thọ Quang Vương, Tịnh Mục Vương, Hoa Quang Vương, Phổ Âm Vương, Nhạo Diệu Động Diêu Mục Vương, Diệu Âm Sư Tử Tràng Vương, Phổ Phóng Bửu Quang Minh Vương, Kim Cang Thọ Hoa Tràng Vương, Nhạo Phổ Hiện Quang Nghiêm Vương, có vô lượng Càn Thác Bà Vương như vậy làm thượng thủ.  Các Càn Thác Bà Vương này đều tin hiểu sâu xa đối với đại pháp, hoan hỷ kính mến, siêng năng tu tập chẳng mỏi nhàm.
Lại có vô lượng Nguyệt Thiên Tử: Nguyệt Thiên Tử, Hoa Vương Kế Quang Minh Thiên Tử, Chúng Diệu Tịnh Quang Minh Thiên Tử, An Lạc Thế Gian Tâm Thiên Tử, Thọ Vương Nhãn Quang Minh Thiên Tử, Thị Hiện Thanh Tịnh Quang Thiên Tử, Phổ Du Bất Động Quang Thiên Tử, Tinh Tú Vương Tự Tại Thiên Tử, Tịnh Giác Nguyệt Thiên Tử, Đại Oai Đức Quang Minh Thiên Tử, có vô lượng Nguyệt Thiên Tử như vậy làm bực thượng thủ.  Chư Thiên Tử này đều siêng năng mở bày tâm bửu của chúng sanh.
Lại có vô lượng Nhựt Thiên Tử: Nhựt Thiên Tử, Quang Diệu Nhãn Thiên Tử, Tu Di Quang Khả Úy Kính Tràng Thiên Tử, Ly Cấu Bửu Trang Nghiêm Thiên Tử, Dũng Mãnh Bất Thối Chuyển Thiên Tử, Diệu Hoa Anh Quang Minh Thiên Tử, Tối Thắng Tràng Quang Minh Thiên Tử, Bửu Kế Phổ Quang Minh Thiên Tử, Quang Minh Nhãn Thiên Tử, Trì Thắng Đức Thiên Tử, Phổ Quang Minh Thiên Tử, có vô lượng Nhựt Thiên Tử như vậy làm bực thượng thủ.  Chư Thiên Tử này đều siêng tu tập lợi ích chúng sanh thêm lớn căn lành cho họ.
Lại có vô lượng Đao Lợi Thiên Vương: Thích Ca Nhơn Đà La Thiên Vương, Phổ Xưng Mãn Âm Thiên Vương, Từ Mục Bửu Kế Thiên Vương, Bửu Quang Tràng Danh Xưng Thiên Vương, Phát Sanh Hỷ Lạc Kế Thiên Vương, Khả Ái Nhạo Chánh Niệm Thiên Vương, Tu Di Thắng Âm Thiên Vương, Thành Tựu Niệm Thiên Vương, Khả Ái Nhạo Tịnh Hoa Quang Thiên Vương, Tự Tại Quang Minh Năng Giác Ngộ Thiên Vương, có vô lượng Đao Lợi Thiên Vương như vậy làm bực thượng thủ.  Chư Thiên Vương này đều siêng phát khởi phước nghiệp rộng lớn của tất cả thế gian.
Lại có vô lượng Dạ Ma Thiên Vương: Thiện Thời Phần Thiên Vương, Khả Ái Nhạo Quang Minh Thiên Vương, Vô Tận Huệ Công Đức Tràng Thiên Vương, Thiện Biến Hóa Đoan Nghiêm Thiên Vương, Tổng Trì Đại Quang Minh Thiên Vương, Bất Tư Nghì Trí Huệ Thiên Vương, Luân Tê Thiên Vương, Quang Diệm Thiên Vương, Quang Chiếu Thiên Vương, Phổ Quan Sát Đại Danh Xưng Thiên Vương, có vô lượng Dạ Ma Thiên Vương như vậy làm bực thượng thủ.  Chư Thiên Vương này đều siêng năng tu tập căn lành rộng lớn, thường có lòng hỷ túc.
Lại có bất tư nghì số Đâu Suất Thiên Vương: Tri Túc Thiên Vương, Hỷ Lạc Hải Kế Thiên Vương, Tối Thắng Công Đức Tràng Thiên Vương, Tịch Tịnh Quang Thiên Vương, Khả Ái Nhạo Diệu Mục Thiên Vương, Bửu Phong Tịnh Nguyệt Thiên Vương, Tối Thắng Dũng Kiện Lực Thiên Vương, Kim Cang Diệu Quang Minh Thiên Vương, Tinh Tú Trang Nghiêm Tràng Thiên Vương, Khả Ái Nhạo Trang Nghiêm Thiên Vương, có bất tư nghì Đâu Suất Thiên Vương như vậy làm bực thượng thủ.  Chư Thiên Vương này đều siêng trì niệm danh hiệu của tất cả chư Phật.
Lại có vô lượng Hóa Lạc Thiên Vương: Thiện Biến Hóa Thiên Vương, Tịch Tịnh Âm Quang Minh Thiên Vương, Biến Hóa Lực Quang Minh Thiên Vương, Trang Nghiêm Chủ Thiên Vương, Niệm Quang Thiên Vương, Tối Thượng Vân Âm Thiên Vương, Chúng Diệu Tối Thắng Quang Thiên Vương, Diệu Kế Quang Minh Thiên Vương, Thành Tựu Hỷ Huệ Thiên Vương, Hoa Quang Kế Thiên Vương, Phổ Kiến Thập Phương Thiên Vương, có vô lượng Hóa Lạc Thiên Vương như vậy làm bực thượng thủ.  Chư Thiên Vương này đều siêng điều phục tất cả chúng sanh cho họ được giải thoát.
Lại có vô số Tha Hoá Tự Tại Thiên Vương: Đắc Tự Tại Thiên Vương, Diệu Mục Chủ Thiên Vương, Diệu Quang Tràng Thiên Vương, Dõng Mãnh Huệ Thiên Vương, Diệu Âm Cú Thiên Vương, Diệu Quang Tràng Thiên Vương, Tịch Tịnh Cảnh Giới Môn Thiên Vương, Diệu Luân Trang Nghiêm Tràng Thiên Vương, Hoa Nhị Huệ Tự Tại Thiên Vương, Nhơn Đà La Lực Diệu Trang Nghiêm Quang Minh Thiên Vương, có vô số tự tại Thiên Vương như vậy làm bực thượng thủ.  Chư Thiên Vương này đều siêng tu tập pháp môn rộng lớn phương tiện tự tại.
Lại có vô số Đại Phạm Thiên Vương: Thi Khí Thiên Vương, Huệ Quang Thiên Vương, Thiện Huệ Quang Minh Thiên Vương, Phổ Vân Âm Thiên Vương, Quán Thế Ngôn Âm Tự Tại Thiên Vương, Tịch Tịnh Quang Minh Nhãn Thiên Vương, Quang Biến Thập Phương Thiên Vương, Biến Hóa Âm Thiên Vương, Quang Minh Chiếu Diệu Nhãn Thiên Vương, Duyệt Ý Hải Âm Thiên Vương, có vô số Phạm Thiên Vương như vậy làm bực thượng thủ.  Chư Thiên Vương này đều đủ đại từ thương xót chúng sanh, phóng quang chiếu khắp làm cho chúng sanh đều vui đẹp.
Lại có vô số lượng Quang Âm Thiên Vương: Khả Ái Nhạo Quang Minh Thiên Vương, Thanh Tịnh Diệu Quang Thiên Vương, Năng Tự Tại Âm Thiên Vương, Tối Thắng Niệm Trí Thiên Vương, Khả Ái Nhạo Thanh Tịnh Diệu Âm Thiên Vương, Thiện Tư Duy Âm Thiên Vương, Phổ Âm Biến Chiếu Thiên Vương, Thậm Thâm Quang Âm Thiên Vương, Vô Cấu Xưng Quang Minh Thiên Vương, Tối Thắng Tịnh Huệ Quang Thiên Vương, có vô lượng Quang Âm Thiên Vương như vậy làm bực thượng thủ.  Chư Thiên Vương này đều an trụ nơi pháp môn hỷ lạc tịch tịnh rộng lớn vô ngại.
Lại có vô lượng Biến Tịnh Thiên Vương: Thanh Tịnh Danh Xưng Thiên Vương, Tối Thắng Kiến Thiên Vương, Tịch Tịnh Đức Thiên Vương, Tu Di Âm Thiên Vương, Tịnh Niệm Nhãn Thiên Vương, Khả Ái Nhạo Tối Thắng Quang Chiếu Thiên Vương, Thế Gian Tự Tại Chúa Thiên Vương, Quang Diệm Tự Tại Thiên Vương, Nhạo Tư Duy Pháp Biến Hóa Thiên Vương, Biến Hóa Tràng Thiên Vương, Tinh Tú Âm Diệu Trang Nghiêm Thiên Vương, có vô lượng Biến Tịnh Thiên Vương như vậy làm bực thượng thủ.  Chư Thiên Vương này đều đã an trụ pháp môn rộng lớn, siêng làm lợi ích cho thế gian.
Lại có vô lượng Quảng Quả Thiên Vương: Ái Nhạo Pháp Quang Minh Tràng Thiên Vương, Thanh Tịnh Trang Nghiêm Hải Thiên Vương, Tối Thắng Huệ Quang Minh Thiên Vương, Tự Tại Trí Huệ Tràng Thiên Vương, Nhạo Tịch Tịnh Thiên Vương, Phổ Trí Nhãn Thiên Vương, Nhạo Triền Huệ Thiên Vương, Thiện Chủng Huệ Quang Minh Thiên Vương, Vô Cấu Tịch Tịnh Quang Thiên Vương, Quảng Đại Thanh Tịnh Quang Thiên Vương, có vô số lượng Quảng Quả Thiên Vương như vậy làm bực thượng thủ.  Chư Thiên Vương này đều dùng pháp tịch tịnh mà làm cung điện và an trụ trong đó.
Lại có vô số Đại Tự Tại Thiên Vương: Diệu Diệm Hải Thiên Vương, Tự Tại Danh Xưng Quang Thiên Vương, Thanh Tịnh Công Đức Nhãn Thiên Vương, Khả Ái Nhạo Đại Huệ Thiên Vương, Bất Động Quang Tự Tại Thiên Vương, Diệu Trang Nghiêm Nhãn Thiên Vương, Thiện Tư Duy Quang Minh Thiên Vương, Khả Ái Nhạo Đại Trí Thiên Vương, Phổ Âm Trang Nghiêm Tràng Thiên Vương, Cực Tinh Tấn Danh Xưng Quang Thiên Vương, có vô số Đại Tự Tại Thiên Vương như vậy làm bực thượng thủ.  Chư Thiên Vương này đều siêng quán sát pháp vô tướng, chỗ thật thành bình đẳng.

(1) Lúc bấy giờ, hải chúng đều đã vân tập nơi đạo tràng của Như Lai.  Tất cả đều nhất tâm chiêm ngưỡng đức Thế Tôn.
(1) Hán bộ quyển 2


Cả chúng hội này đều đã rời tất cả tâm cấu nhiễm phiền não và những tập khí thừa, xô ngã tòa núi trọng chướng, được thấy Phật không bị trệ ngại.  Đại chúng này, từ vô lượng kiếp xa xưa, đã được sự nhiếp thọ của đức Tỳ Lô Giá Na Phật, trong thời kỳ tu bồ tát hạnh.  Họ đã được giáo hóa thành thục và đều được an trụ nơi đạo nhứt thiết chủng trí, đã vun trồng vô lượng đức lành và đều được đại phước, đã vào nơi nguyện hải phương tiện, chỗ thật hành đều hoàn toàn thanh tịnh, đã khéo xuất ly, thường thấy Phật được rõ ràng, dùng sức thắng giải vào trong biển lớn công đức của Như Lai, đã được du hí thần thông nơi môn giải thoát của chư Phật.


II. Chư Thiên Vương giải thoát môn
Diệu Diệm Hải Đại Tự Tại Thiên Vương được giải thoát môn có sức phương tiện tịch tịnh khắp pháp giới hư không giới.
Tự Tại Danh Xưng Quang Thiên Vương được giải thoát môn quan sát khắp tất cả pháp đều tự tại.  Thanh Tịnh Công Đức Nhãn Thiên Vương được giải thoát môn biết tất cả các pháp vô tướng, không sanh diệt, không lai khứ, vô công dụng hạnh.
Khả Ái Nhạo Đại Huệ Thiên Vương được giải thoát môn biển trí huệ hiện thấy thật tướng của tất cả pháp.  Bất  Động Quang Tự Tại Thiên Vương được giải thoát môn đại định phương tiện đem lại vô biên sự an lạc cho chúng sanh.  Diệu Trang Nghiêm Nhãn Thiên Vương được giải thoát môn quan sát pháp tịch tịnh dứt những si mê bố úy.  Thiện Tư Duy Quang Minh Thiên Vương được giải thoát môn công hạnh tư duy khéo vào vô biên cảnh giới chẳng khởi tất cả cõi hữu lậu.  Khả Ái Nhạo Đại Trí Thiên Vương được giải thoát môn đến thuyết pháp khắp mười phương nhưng vẫn bất động, vô sở y.  Phổ Âm Trang Nghiêm Tràng Thiên Vương được giải thoát môn vào cảnh giới tịch tịnh, khắp hiện quang minh của Phật.  Danh Xưng Quang Thiện Tinh Tấn Thiên Vương được giải thoát môn an trụ nơi chỗ tự ngộ, mà dùng vo biên cảnh giới rộng lớn làm cảnh sở duyên.
Bấy giờ, Diệu Diệm Hải Thiên Vương, nương oai lực của Phật, quan sát khắp các chúng Đại Tự Tại Thiên, rồi nói kệ rằng:
Thân Phật phổ biến các đại hội
Đầy khắp pháp giới không cùng tận
Tịch diệt vô tánh bất khả thủ
Vì cứu thế gian mà xuất hiện.
Như Lai Pháp Vương xuất thế gian
Thắp đèn diệu pháp chiếu cõi đời
Cảnh giới vô biên cũng vô tận
Đây, chỗ chứng của Tự Tại Danh.
Phật bất tư nghị rời phân biệt
Rõi mười phương đều không có tướng
Mở đạo thanh tịnh để dạy đời
Tịnh Nhãn Thiên Vương quan sát thấy.
Như Lai trí huệ vô biên tế
Tất cả thế gian chẳng lường được
Diệt lòng si tối của chúng sanh
Đại Huệ Thiên Vương được an trụ
Như Lai công đức bất tư nghị
Chúng sanh thấy Phật hết phiền não
Khiến khắp thế gian được an vui
Bất Động Thiên Vương đã được thấy.
Chúng sanh tối tăm thường lầm lỗi
Như Lai dạy cho pháp tịch tịnh
Là đèn trí huệ sáng soi đời
Diệu Nhãn Thiên Vương có thể biết.
Sắc thân tịnh diệu của Như Lai
Hiện khắp mười phương không gì sánh
Thân Phật vô tánh vô sở y
Thiện Tư Thiên Vương quan sát được.
Thinh Âm của Phật vô hạn ngại
Kẻ đáng được ngọ đều được nghe
Nhưng Phật vắng lặng thường bất động
Nhạo Trí Thiên Vương chứng môn này.
Như Lai tịch tịnh, bực giải thoát
Hiện khắp mười phương không sót chỗ
Quang minh soi sáng khắp thế gian
Nghiêm Tràng Thiên Vương đã được thấy.
Vô biên kiếp hải thuở quá khứ
Phật vì chúng sanh cầu giác đạo
Vô lượng thần thông độ muôn loài
Danh Xưng Thiên Vương đã thấy được.
Khả Ái Nhạo Pháp Quang Minh Tràng Thiên Vương được giải thoát môn quan sát khắp căn cơ tất cả chúng sanh để thuyết pháp dứt nghi.  Tịnh Trang Nghiêm Hải Thiên Vương được môn giải thoát theo sự tưởng niệm làm cho được thấy Phật.  Tối Thắng Huệ Quang Minh Thiên Vương được môn giải thoát thân pháp thánh bình đẳng trang nghiêm vô sở y.  Tự Tại Trí Huệ Tràng Thiên Vương được giải thoát môn rõ biết tất cả các pháp thế gian, trong một niệm an lập bất tư nghì biển trang nghiêm.
Nhạo Tịch Tịnh Thiên Vương được giải thoát môn nơi một lỗ chân lông hiện bất tư nghì Phật độ không chướng ngại.  Phổ Trì Nhãn Thiên Vương được giải thoát môn quán sát pháp giới.  Nhạo Truyền Huệ Thiên Vương được giải thoát môn vì tất cả chúng sanh trong vô biên kiếp thường xuất hiện vô lượng thân.  Thiện Chủng Huệ Quang Minh Thiên Vương được giải thoát môn quán tất cả cảnh giới thế gian chứng nhập pháp giới bất tư nghì.  Vô Cấu Tịch Tịnh Quang Thiên Vương được giải thoát môn khai thị pháp xuất yếu cho tất cả chúng sanh.  Quảng Đại Thanh Tịnh Quang Thiên Vương được giải thoát môn quan sát tất cả chúng sanh đáng được hóa độ làm cho họ chứng nhập Phật pháp.
Lúc đó Khả Ái Nhạo Pháp Quang Minh Tràng Thiên Vương thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả thiên chúng Thiểu Quảng Thiên, Vô Lượng Quảng Thiên, Quảng Quả Thiên rồi kệ rằng:
Cảnh giới của Phật bất tư nghì
Tất cả chúng sanh chẳng lường được
Khiến chúng sanh kia đều tin hiểu
Ý nguyện rộng lớn không cùng tận.
Nếu có chúng sanh kham thọ pháp
Thần lực của Phật dìu dắt họ
Khiến họ thường thấy Phật hiện tiền
Nghiêm Hải Thiên Vương thấy như vậy.
Tất cả pháp tánh vô sở y
Phật hiện thế gian cũng như vậy
Khắp trong các cõi không chỗ nương
Nghĩa này, Thắng Huệ quan sát được.
Theo lòng chúng sanh chỗ mong muốn
Thần lực của Phật đều hiện được
Mỗi mỗi sai khác bất tư nghì
Huệ Tràng Thiên Vương đã được chứng.
Bao nhiêu cõi nước thuở quá khứ
Trong lỗ chân lông hiện đủ cả
Đây là chư Phật đại thần thông
Tịch Tịnh Thiên Vương tuyên thuyết được.
Tất cả pháp môn không cùng tận
Hội trong đạo tràng của một pháp
Pháp tánh như vậy Phật nói ra
Môn phương tiện này Trí Nhãn biết.
Bao nhiêu cõi nước ở mười phương
Xuất hiện trong đó mà thuyết pháp
Thân Phật không đến cũng không đi
Đây, cảnh giới của Nhạo Truyền Huệ.
Phật xem thế pháp như vang bóng
Vào chỗ rất sâu của pháp kia
Nói các pháp tánh thường lặng yên
Thiện Chủng Thiên Vương hay thấy biết.
Phật khéo rõ biết các cảnh giới
Theo cơ chúng sanh rưới pháp mầu
Dạy môn xuất yếu bất tư nghì
Tịch Tịnh Thiên Vương hay ngộ nhập.
Thế Tôn thường dùng từ bi lớn
Vì độ chúng sanh mà hiện thân
Bình đẳng thuyết pháp đều được nhờ
Quảng Đại Thiên Vương đã chứng được.
Thanh Tịnh Huệ Danh Xưng Thiên Vương được giải thoát môn rõ thấu đạo phương tiện giải thoát tất cả chúng sanh.  Tối Thắng Kiến Thiên Vương được giải thoát môn khắp thị hiện theo chỗ ưa thích của tất cả chư thiên như vang, như bóng.  Tịch Tịnh Đức Thiên Vương được giải thoát môn phương tiện lớn trang nghiêm thanh tịnh khắp tất cả cảnh giới Phật.  Tu Di Âm Thiên Vương được giải thoát môn mãi lưu chuyển trong biển sanh tử theo các chúng sanh.  Tịnh Niệm Nhãn Thiên Vương được giải thoát môn nghĩ nhớ công hạnh điều phục chúng sanh của Như Lai.  Khả Ái Nhạo Phổ Chiếu Thiên Vương được giải thoát môn vô lượng phổ môn Đà La Ni thường diễn thuyết.  Thế Gian Tự Tại Chủ Thiên Vương được giải thoát môn có thể làm cho tất cả chúng sanh gặp Phật, sanh tín tâm.  Quang Diệm Tự Tại Thiên Vương được giải thoát môn có thể làm cho tất cả chúng sanh nghe pháp tin mừng mà được xuất ly.  Nhạo Tư Duy Pháp Biến Hóa Thiên Vương được giải thoát môn chứng nhập công hạnh điều phục của tất cả bồ tát vô biên vô tận như hư không.  Biến Hóa Tràng Thiên Vương được giải thoát môn bi, trí rộng lớn quan sát vô lượng phiền não của chúng sanh.  Tinh Tú Âm Diệu Trang Nghiêm Thiên Vương được giải thoát môn phóng quang minh hiện thân khẩn ý của Phật nhiếp hóa chúng sanh.
Lúc đó Thanh Tịnh Huệ Danh Xưng Thiên Vương, thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả thiên chúng Thiền Tịnh Thiên, Vô Lượng Tịnh Thiên, Biến Tịnh Thiên rồi nói kệ rằng:
Rõ biết pháp tánh là vô ngại
Hiện khắp mười phương vô lượng cõi
Nơi cảnh giới Phật chẳng nghĩ bàn
Khiến chúng đồng quy biển giải thoát.
Như Lai ở đời vô sở y
Hiện trong các cõi như vang bóng
Pháp tánh rốt ráo không khởi sanh
Thắng Kiến Thiên Vương được ngộ nhập.
Từ vô lượng kiếp tu phương tiện
Thanh tịnh các cõi khắp mười phương
Pháp giới bất động thường như như
Tịnh Đức Thiên Vương đã tỏ ngộ.
Chúng sanh ngu si bị chướng che
Mù tối thường ở trong sanh tử
Như Lai dạy cho đạo sạch trong
Tu Di Âm Vương được giải thoát.
Chư Phật thật hành đạo vô thượng
Tất cả chúng sanh không lường được
Thị hiện các thứ phương tiện môn
Tịnh Nhãn Thiên Vương quan sát rõ.
Như Lai thường dùng môn tổng trì
Nhiều như vi tràn trong các cõi
Dạy bảo chúng sanh khắp mọi nơi
Phổ Chiếu Thiên Vương đã chứng nhập.
Như Lai ra đời rất khó gặp
Qua vô lượng kiếp gặp một lần
Làm cho chúng sanh hiểu biết tin
Tự Tại Chủ Thiên đã chứng được.
Phật nói pháp tánh đều vô tánh
Rộng lớn rất sâu chẳng nghĩ bàn
Khiến khắp chúng sanh khởi lòng tin
Quang Diệm Thiên Vương khéo rõ biết.
Tam thế Như Lai công đức đủ
Hóa độ chúng sanh bất tư nghì
Suy nghĩ nơi kia sanh mừng vui
Nhạo Pháp Thiên Vương khai diễn được.
Chúng sanh chìm trong biển phiền não
Kiến trược ngu si rất đáng sợ
Như Lai thương xót khiến thoát ly
Hóa Tràng Thiên Vương quan sát thấy.
Như Lai thường phóng đại quang minh
Trong mỗi quang minh vô lượng Phật
Đều hiện Phật sự hóa chúng sanh
Diệu Âm Thiên Vương đã chứng nhập.
Khả Ái Nhạo Quang Minh Thiên Vương được giải thoát môn thường hưởng thọ vui tịch tịnh mà có thể hóa hiện tiêu diệt khổ thế gian.  Thanh Tịnh Diệu Quang Thiên Vương được giải thoát môn tâm đại bi tương ứng lòng hỷ lạc của tất cả chúng sanh.
Tự Tại Âm Thiên Vương được giải thoát môn trong một niệm khắp hiện năng lực phước đức cho tất cả chúng sanh trong vô biên kiếp.  Tối Thắng Niệm Trí Thiên Vương được giải thoát môn khiến khắp tất cả thế gian thành trụ hoại đều như hư không thanh tịnh.  Khả Ái Nhạo Tịnh Diệu Âm Thiên Vương được giải thoát môn ưa thích tin nhận giáo pháp của tất cả thánh nhơn.
Thiện Tư Duy Âm Thiên Vương được giải thoát môn có thể trải qua kiếp số diễn thuyết nghĩa và phương tiện của tất cả địa.
Diễn Trang Nghiêm Âm Thiên Vương được giải thoát môn phương tiện cúng dường tất cả Bồ Tát lúc từ Đâu Suất Thiên Cung giáng sanh.  Thậm Thâm Quang Âm Thiên Vương được giải thoát môn quan sát biển vô tận thần thông trí tuệ.  Quảng Đại Danh Xưng Thiên Vương được giải thoát môn biến công đức của tất cả chư Phật đầy đủ sức phương tiện xuất hiện thế gian.  Tối Thắng Tịnh Quang Thiên Vương được giải thoát môn phát sanh lòng tin sâu ưa thích đối với nguyện lực thuở trước của Như Lai.
Lúc đó Khả Ái Nhạo Quang Minh Thiên Vương, thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả thiên chúng Thiều Quang Thiên, Vô Lượng Quang Thiên, Quang Âm Thiên rồi nói kệ rằng:
Tôi nhớ Như Lai thuở trước tu
Kính thờ cúng dường vô biên Phật
Như hạnh thanh tịnh tính tâm xưa
Thừa Phật oai thần nay điều thấy.
Thân Phật vô tướng lìa cấu nhiễm
Thường trụ từ bi luôn xót thương
Thế gian ưu khổ đều khiến trừ
Diệu Quang Thiên Vương được giải thoát.
Phật pháp rộng lớn không ngàn mé
Tất cả quốc độ hiện vào trong
Cõi kia thành hoại đều chẳng đồng
Tự Tại Âm Vương môn giải thoát.
Như Lai thần lực không ai sánh
Hiện khắp mười phương cõi rộng lớn
Trang Nghiêm Thanh Tịnh thường hiện tiền
Niệm Trí Thiên Vương đã chứng được.
Vi trần số cõi khắp mười phương
Có bao nhiêu Phật đều thờ kính
Nghe pháp dứt nhiễm chẳng luống công
Diệu Âm Thiên Vương đã chứng nhập.
Phật trong vô lượng vô số kiếp
Diễn thuyết phương tiện không ai hơn
Phật pháp vô cùng cũng vô biên
Thiên Tư Thiên Vương đã được thấy.
Như Lai thần biến vô lượng biên
Một niệm hiện ở tất cả chỗ
Giáng sanh thành đạo phương tiện lớn
Là môn giải thoát của Nghiêm Âm.
Thần lực gia hộ hay diễn thuyết
Và hiện thần thông của chư Phật
Làm cho thanh tịnh theo căn cơ
Quang Âm Thiên Vương đã được chứng.
Như Lai trí huệ không ngằn mé
Thế gian không sánh không nhiễm trước
Từ tâm ứng vật khắp hiện tiền
Danh Xưng Thiên Vương đã được ngộ.
Phật xưa tu tập bồ đề hạnh
Cúng dường thập phương tất cả Phật
Ở trước chư Phật pháp đạo tâm
Tối Thắng Thiên Vương đã thấy biết.
Thi Khí Phạm Vương được giải thoát môn trụ khắp trong đạo tràng mười phương thuyết pháp chỗ thật hành thanh tịnh không nhiễm trước.  Huệ Quang Phạm Vương được giải thoát môn khiến tất cả chúng sanh nhập chánh thiền định.  Thiện Tư Huệ Quang Minh Phạm Vương được giải thoát môn vào khắp tất cả pháp bất tư nghì.  Phổ Vân Âm Phạm Vương được giải thoát môn vào tất cả biển âm thinh của chư Phật.  Quán Thế Ngôn Âm Tự Tại Phạm Vương được giải thoát môn có thể ghi nhớ phương tiện giáo hóa tất cả chúng sanh của Bồ Tát.  Tịch Tịnh Quang Minh Nhãn Phạm Vương được giải thoát môn hiện tất cả tướng nghiệp báo thế gian đều sai khác.  Phổ Quang Minh Phạm Vương được giải thoát môn tuỳ phẩm loại sai khác của tất cả chúng sanh đều hiện thân ra trước họ để điều phục.  Biến Hóa Âm Phạm Vương được giải thoát môn trụ cảnh giới hành tướng tịch diệt thanh tịnh của tất cả pháp.  Quang Diệu Nhãn Phạm Vương được giải thoát môn đối với tất cả cõi hữu lậu không chấp trước, không y chỉ, không ngằn mé, thường siêng xuất hiện.  Duyện Y Hải Âm Phạm Vương được giải thoát môn thường tư duy quán sát vô tận pháp.
Lúc đó Thi Khí Đại Phạm Vương thừa oai lực của Phật quán sát khắp tất cả thiên chúng Phạm Chúng Thiên, Phạm Phụ Thiên, Đại Phạm Thiên, rồi nói kệ rằng:
Thân Phật thanh tịnh thường tịch diệt
Quang minh chói sáng khắp thế gian
Không tướng không hành không hình bóng
Ví như mây nổi giữa không gian.
Phật thân như vậy cảnh giới định
Tất cả chúng sanh không thể lường
Thị hiện phương tiện khó nghĩ bàn
Huệ Quag Thiên Vương đã ngộ được
Thế giới vi trần biển pháp môn
Một lời diễn thuyết không còn sót
Kiếp hải như vậy nói không cùng
Thiện Tư Phạm Vương được giải thoát.
Viên âm chư Phật khắp thế gian
Chúng sanh tùy loại đều được hiểu
Nhưng nơi âm thinh vô phân biệt
Phổ Âm Phạm Vương ngộ như vậy.
Bao nhiêu chư Phật trong ba đời
Hướng đến phương tiện bồ đề hạnh
Tất cả đều hiện nơi Phật thân
Âm Tự Tại Vương môn giải thoát.
Tất cả chúng sanh nghiệp sai khác
Tùy chỗ nhơn cảm đều khác nhau
Thế gian như vậy Phật hiện đều
Tịch Tịnh Quang Vương được ngộ nhập.
Vô lượng pháp môn đều tự tại
Điều phục chúng sanh khắp mười phương
Cũng chẳng phân biệt nơi trong đây
Phổ Quang Thiên Vương đã rõ biết.
Phật thân vô tận như hư không
Vô tướng vô ngại khắp mười phương
Như huyễn như hóa khắp ứng hiện
Biến Hóa Âm Vương đã ngộ được.
Thân tướng Như Lai không ngằn mé
Trí hệu âm thinh cũng như thế
Hiện thân vô trước ở thế gian
Quang Diệu Thiên Vương đã chứng nhập.
Pháp Vương an trụ cung Diệu pháp
Pháp thân quang minh soi tất cả
Pháp tánh vô tướng không gì bằng
Hải Âm Phạm Vương được giải thoát.
Tự Tại Thiên Vương được giải thoát môn hiện tiền thành thục vô lượng chúng sanh tự tại.  Thiện Mục Chủ Thiên Vương được giải thoát môn quan sát sự vui của tất cả chúng sanh làm cho họ duọd vào cảnh giới vui của thánh nhơn.  Diệu Bửu Tràng Quang Thiên Vương được giải thoát môn tùy theo những chỗ muốn hiểu biết của chúng sanh làm cho họ thật hành.  Dũng Mãnh Huệ Thiên Vương được giải thoát môn khắp nhiếp tất cả nghĩa diễn thuyết vì tất cả chúng sanh.  Diệu Âm Cú Thiên Vương được giải thoát môn ghi nhớ đại từ rộng lớn của Như Lai tăng tấn công hạnh của tự mình.  Diệu Quang Tràng Thiên Vương được giải thoát môn thị hiện đại bi dứt trừ tất cả tràng kiêu mạn.  Tịch Tịnh Cảnh Thiên Vương được giải thoát môn điều phục tâm sân hại của tất cả thế gian.  Diệu Luân Trang Nghiêm Tràng Thiên Vương được giải thoát môn tùy sự nghĩ nhớ đều đến phó hội nơi đạo tràng của vô biên chư Phật mười phương.  Hoa Quang Huệ Thiên Vương được giải thoát môn tùy tâm niệm của chúng sanh khắp hiện thành chánh giác.  Nhơn Đà La Diệu Quang Thiên Vương được giải thoát môn oai lực tự tại lớn vào khắp tất cả thế gian.
Lúc đó Tự Tại Thiên Vương thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả Tha Hóa Tự Tại Thiên chúng rồi nói kệ rằng:
Phật thân cùng khắp đồng pháp giới
Khắp ứng chúng sanh đều hiện tiền
Các thứ giáo môn thường dạy trao
Nơi pháp tự tại hai khai ngộ.
Thế gian chỗ có các đều vui
Thánh tịch diệt lạc là hơn hết
Trụ trong pháp tánh lớn mênh mông
Diệu Nhãn Thiên Vương quan sát thấy.
Như Lai xuất hiện khắp mười phương
Theo tâm chúng sanh mà thuyết pháp
Tất cả lòng nghi đều dứt trừ
Diệu Tràng Thiên Vương được giải thoát.
Chư Phật khắp nơi diễn pháp mầu
Những pháp đã nói vô lượng kiếp
Hay nói hết cả nơi một lời
Dũng Mãnh Thiên Vương đã rõ biết.
Đức từ rộng lớn của thế gian
Chẳng bằng mảy lông của đức Phật
Từ tâm của Phật như hư không
Diệu Âm Thiên Vương đã được ngộ.
Núi cao ngã mạn của chúng sanh
Phật lực dứt trừ không còn sót
Công dụng đại bi của Như Lai
Quang Tràng Thiên Vương được giải thoát.
Huệ Quang thanh tịnh khắp thế gian
Những người được thấy trừ si ác
Các đường ác đạo cũng được lìa
Tịnh Cảnh Thiên Vương được tỏ ngộ.
Ánh sáng chân lông hay diễn thuyết
Hiện chư Phật đồng số chúng sanh
Tùy chỗ thích ưa đều được nghe
Nghiêm Tràng Thiên Vương môn giải thoát.
Như Lai tự tại chẳng hề lường
Pháp giới hư không đều đầy khắp
Tất cả chúng hội thấy rõ ràng
Hoa Quang Thiên Vương chứng nhập được.
Vô lượng vô biên biển đại kiếp
Hiện khắp mười phương mà thuyết pháp
Chưa từng thấy Phật có đến đi
Diệu Quang Thiên Vương đã tỏ ngộ.
Thiện Hóa Thiên Vương được giải thoát môn khai thị tất cả thần lực biến hóa.  Tịch Tịnh Âm Quang Minh Thiên Vương được giải thoát môn rời bỏ tất cả phan duyên.  Biến Hóa Lực Quang Minh Thiên Vương được giải thoát môn trừ diệt tâm si ám của tất cả chúng sanh cho họ được đầy trí huệ.  Trang Nghiêm Chủ Thiên Vương được giải thoát môn thị hiện vô biên âm thinh vừa ý.
Niệm Quang Thiên Vương được giải thoát môn rõ biết vô tận tướng phước đức của tất cả chư Phật.  Tối Thượng Vân Âm Thiên Vương được giải thoát môn biết khắp thứ lớp thành hoại của tất cả kiếp quá khứ.  Thắng Quang Thiên Vương được giải thoát môn khai ngộ trí tuệ tất cả chúng sanh.  Diệu Kế Thiên Vương được giải thoát môn phóng quang khắp đến hư không giới mười phương.  Hỷ Huệ Thiên Vương được giải thoát môn sức tinh tấn tất cả công việc làm không ai phá hoại được.  Hoa Quang Kế Thiên Vương được giải thoát môn biết tất cả chúng sanh tạo nghiệp thọ báo.  Phổ Kiến Thập Phương Thiên Vương được giải thoát môn thị hiện bất tư nghì thân hình chúng sanh sai khác.
Lúc đó Thiện Hóa Thiên Vương thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả Hóa Lạc Thiên chúng rồi nói kệ rằng:
Thế gian nghiệp tánh chẳng nghĩ bàn
Phật vì quần mê đều khai thị
Khéo nói lý chơn thật nhơn duyên
Tất cả chúng sanh nghiệp sai khác.
Các môn quán Phật vô sở hữu
Mười phương tìm cầu bất khả đắc
Pháp tánh thị hiện không chơn thật
Tịch Âm Thiên Vương thấy pháp này.
Công hạnh Phật vô lượng kiếp
Vì dứt si mê cho thế gian
Nên dùng tịnh quang thường chiếu soi
Lực Quang Thiên Vương đã được ngộ.
Âm thinh vi diệu của thế gian
Không thể sánh được tiếng của Phật
Phật dùng một tiếng khắp mười phương
Trang Nghiêm Thiên Vương môn giải thoát.
Bao nhiêu phước lực của thế gian
Chẳng bằng một tướng nơi thân Phật
Phước đức của Phật đồng hư không
Niệm Quang Thiên Vương đã được thấy.
Tam thế có nhiều vô lượng kiếp
Bao nhiêu hình tướng thành cùng hoại
Hiện đủ nơi trong chân lông Phật
Vân Âm Thiên Vương đã rõ biết.
Thập phương hư không có thể lường
Chân lông của Phật không lường được.
Như vậy vô ngại bất tư nghì
Diệu Kế Thiên Vương đã tỏ ngộ.
Phật trong vô lượng kiếp quá khứ
Rộng tự tại đầy đủ ba la mật
Tinh tấn thật hành không mỏi nhàm
Hỷ Huệ Thiên Vương đã được biết.
Nhơn duyên nghiệp tánh bất tư nghì
Phật vì thế gian đều diễn thuyết
Pháp tánh thanh tịnh vốn không nhơ
Hoa Quang Thiên Vương ngộ nhập được.
Ông nên quán Phật một chân lông
Tất cả chúng sanh ở trong đó
Chúng cũng chẳng đến cũng chẳng đi
Phổ Kiến Thiên Vương đã hiểu biết.
Tri Túc Thiên Vương được giải thoát môn tất cả Phật xuất thế đều viên mãn pháp luân giáo hóa.  Hỷ Lạc Hải Kế Thiên Vương được giải thoát môn thân quang minh thanh tịnh khắp hư không giới.  Tối Thắng Công Đức Tràng Thiên Vương được giải thoát môn nguyện hải thanh tịnh tiêu diệt khổ thế gian.  Tịch Tịnh Quang Thiên Vương được giải thoát môn khắp hiện thân thuyết pháp.  Thiện Mục Thiên Vương được giải thoát môn khắp thanh tịnh tất cả chúng sanh giới.  Bửu Phong Nguyệt Thiên Vương được giải thoát môn tạng vô tận thường hiện tiền giáo hóa khắp thế gian.  Dũng Kiện Lực Thiên Vương được giải thoát môn khai thị tất cả cảnh giới chánh giác của chư Phật.  Kim Cang Diệu Quang Thiên Vương được giải thoát môn kiên cố tâm bồ đề của chúng sanh làm cho không hư hoại.  Tinh Tú Tràng Thiên Vương được giải thoát môn chư Phật xuất thế đều thân cận quan sát phương tiện điều phục chúng sanh.  Diệu Trang Nghiêm Thiên Vương được giải thoát môn một niệm biết rõ tâm chúng sanh tùy cơ ứng hiện.
Lúc đó Tri Túc Thiên Vương, thừa oai lực Phật, quan sát khắp tất cả Đâu Suất Đà Thiên chúng rồi nói kệ rằng:
Như Lai rộng lớn khắp pháp giới
Với các chúng sanh đều bình đẳng
Khắp ứng quần sanh xiển pháp mầu
Khiến vào pháp nan tư thanh tịnh.
Tất cả chư Phật đều đến họp
Cung kính nghe pháp lại cúng dường
Tịnh Tú Tràng Vương đã được thấy.
Chúng sanh tâm hải chẳng nghĩ bàn
Không trụ không nương cũng không động
Phật nơi một niệm thấy rõ ràng
Diệu Trang Nghiêm Vương khéo rõ biết.
Thời Phần Thiên Vương được giải thoát môn phát khởi thiện căn của chúng sanh khiến họ lìa hẳn ưu não.  Diệu Quang Thiên Vương được giải thoát môn vào khắp tất cả cảnh giới.  Vô Tận Huệ Công Đức Tràng Thiên Vương được giải thoát môn sức đại bi dứt trừ tất cả khổ hoạn.  Thiện Hóa Đoan Nghiêm Thiên Vương được giải thoát môn rõ biết tâm của tất cả chúng sanh trong ba đời.  Tổng Trì Đại Quang Minh Thiên Vương được giải thoát môn đà la ni quang minh ghi nhớ tất cả pháp không quên mất.  Bất Tư Nghị Huệ Thiên Vương được giải thoát môn phương tiện bất tư nghì khéo vào tự tánh của tất cả nghiệp.  Luân Tê Thiên Vương được giải thoát môn phương tiện chuyển pháp luân thành thục chúng sanh.  Quang Diệm Thiên Vương được giải thoát môn quảng đại nhãn quan sát khắp chúng sanh mà đến điều phục.
Quang Chiếu Thiên Vương được giải thoát môn siêu xuất tất cả nghiệp chướng chẳng thuận theo chỗ làm của ma.  Phổ Quán Sát Đại Danh Xưng Thiên Vương được giải thoát môn khéo dạy bảo tất cả thiên chúng khiến thật hành tâm thanh tịnh.
Lúc đó Thời Phần Thiên Vương thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả Dạ Ma Thiên chúng rồi nói kệ rằng:
Phật nơi vô lượng kiếp lâu xa
Đã cạn thế gian biển ưu não
Mở rộng đạo ly trần sạch trong
Soi sáng chúng sanh đèn trí huệ.
Như Lai pháp thân rất rộng lớn
Thập phương biên tế bất khả đắc
Tất cả phương tiện không thể lường
Diệu Quang Thiên Vương trí khéo nhập
Sanh lão bịnh tử, ưu bi khổ
Bức ngặt thế gian không tạm dứt
Như Lai xót thương nguyệt dứt trừ
Vô Tận Thiên Vương đã tỏ ngộ.
Phật trí như huyễn không chướng ngại
Nơi tất cả pháp đều thấu suốt
Vào trong tâm hành của chúng sanh
Cảnh giới của Thiên Vương Thiện Hóa.
Tổng Trì biên tế bất khả đắc
Biện tài đại hải cũng vô tận
Hay chuyển thanh tịnh diệu pháp luân
Đại Quang Thiên Vương môn giải thoát.
Nghiệp tánh rộng lớn không cùng tận
Trí huệ giác ngộ khéo khai thị
Tất cả phương tiện bất tư nghì
Bất Tư Nghì Vương được ngộ nhập.
Chuyển bất tư nghì diệu pháp luân
Hiển thị tu tập bồ đề đạo
Dứt hẳn các khổ của chúng sanh
Luân Tê Thiên Vương môn phương tiện.
Như Lai chơn thân vốn không hai
Tuỳ hình thế gian khắp ứng hiện
Chúng sanh đều thấy ở trước mình
Cảnh giới này Diệm Thiên đã chứng.
Chúng sanh một phen thấy được Phật
Tất cả nghiệp chướng sẽ trừ sạch
Lìa các nghiệp ma trọn không thừa
Là đạo sở hành của Quang Chiếu.
Tất cả chúng hội như đại hải
Phật ngự trong đó rất oai diệu
Khắp rưới pháp vũ nhuận chúng sanh
Danh Xưng Thiên Vương được giải thoát.
Thích Ca Nhơn Đà La Thiên Vương được giải thoát môn ghi nhớ chư Phật ba đời xuất thế nhẫn đến quốc độ thành hoại đều thấy rõ rất vui mừng.  Phổ Xưng Mãn Âm Thiên Vương được giải thoát môn có thể làm cho sắc thân của Phật rất thanh tịnh rộng lớn thế gian không gì sánh bằng.  Từ Mục Bửu Kế Thiên Vương được giải thoát môn từ vân khắp che trùm.  Bửu Quang Tràng Danh Xưng Thiên Vương được giải thoát môn hằng thấy Phật hiện các thứ thân hình tướng oai đức ở trước tất cả thế chủ.  Phát Sanh Hỷ Lạc Kế Thiên Vương được giải thoát môn biết thành ấp cung điện của tất cả chúng sanh từ phước nghiệp nào cảm ra.  Đoan Chánh Niệm Thiên Vương được giải thoát môn khai thị công việc thành thục chúng sanh của chư Phật.  Cao Thắng Âm Thiên Vương được giải thoát môn biết tướng kiếp thành, kiếp hoại, chuyển biết của tất cả thế gian.  Thành Tựu Niệm Thiên Vương được giải thoát môn ghi nhớ hạnh điều phục chúng sanh của vị lai Bồ Tát.  Tịnh Hoa Quang Thiên Vương được giải thoát môn rõ biết nhơn duyên khoái lạc của tất cả chư thiên.  Trí Nhựt Nhãn Thiên Vương được giải thoát môn khai thị thiện căn thọ sanh của tất cả thiên tử khiến không mê lầm.  Tự Tại Quang Minh Thiên Vương được giải thoát môn khai ngộ tất cả thiên chúng dứt hẳn các điều nghi.
Lúc đó Thích Ca Nhơn Đà La Thiên Vương thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả Đao Lợi thiên chúng rồi nói kệ rằng:
Tôi nhớ tất cả tam thế Phật
Bao nhiêu cảnh giới đều bình đẳng
Các quốc độ kia hoại hoặc thành
Oai thần của Phật đều được thấy.
Phật thân rộng lớn khắp mười phương
Tướng hảo quần sanh đều lợi ích
Quang minh chói sáng khắp mọi nơi
Đạo này, Phổ Xưng đã được thấy.
Đại từ phương tiện của Như Lai
Kiếp xưa tu hành rất thanh tịnh
Hóa đạo chúng sanh thật vô biên
Bửu Kế Thiên Vương đã tỏ ngộ.
Tôi nhớ công đức của Pháp Vương
Trên hết trong đời không ai sánh
Phát sanh quảng đại hoan hỉ tâm
Bửu Quang Thiên Vương được giải thoát.
Phật biết nghiệp lành của chúng sanh
Các thứ thắng nhơn sanh đại phước
Điều khiến hiển hiện không có thừa
Hỉ Kế Thiên Vương đã được thấy.
Chư Phật xuất hiện khắp mười phương
Tất cả thế gian đều cùng khundefinedp
Quán sát điều phục tâm chúng sanh
Chánh Niệm Thiên Vương đã tỏ ngộ.
Như Lai trí thân mắt rộng lớn
Vi trần thế giới đều thấy suốt
Như vậy cùng khắp nơi mười phương
Thắng Âm Thiên Vương được giải thoát.
Phật tử thật hành hạnh bồ đề
Chân lông của Phật đều hiện đủ
Số kia vô lượng bất tư nghì
Thành Niệm Thiên Vương đã thấy rõ.
Thế gian tất cả sự an vui
Tất cả đều do Phật xuất thế
Như Lai công đức bất tư nghì
Hoa Quang Thiên Vương môn giải thoát.
Nếu niệm Như Lai chút công đức
Nhẫn đến một niệm tâm kính ngưỡng
Lo sợ ác đạo đều dứt trừ
Trí Nhãn Thiên Vương được tỏ ngộ.
Trong pháp tịch diệt đại thần thông
Tùy chúng sanh tâm đều khắp ứng
Bao nhiêu nghi hoặc khiến dứt trừ
Quang Minh Thiên Vương đã chứng được.
Nhựt Thiên Tử được giải thoát môn tịnh quang chiếu khắp mười phương chúng sanh tận kiếp vị lai thường làm lợi ích.  Quang Diệm Nhãn Thiên Tử được giải thoắt môn dùng tất cả tùy loại ứng thân khai ngộ chúng sanh làm cho vào biển trí huệ.  Tu Di Quang Hoan Hỉ Tràng Thiên Tử được giải thoát môn làm chúa tất cả chúng sanh khiến siêng tu vô biên công đức thanh tịnh.  Tịnh Bửu Nhựt Thiên Tử được giải thoát môn tu tất cả khổ hạnh thâm tâm hoan hỉ.  Dũng Mãnh Bất Thối Chuyển Thiên Tử được giải thoát môn quang minh vô ngại soi khắp khiến tất cả chúng sanh được thêm tinh sáng.  Diệu Hoa Anh Quang Minh Thiên Tử được giải thoát môn tịnh quang chiếu khắp thân chúng sanh khiến sanh lòng vui mừng tin hiểu.  Tối Thắng Tràng Quang Minh Thiên Tử được giải thoát môn quang minh chiếu khắp tất cả thế gian khiến thành tựu những công đức vi diệu.  Bửu Kế Phổ Quang Minh Thiên Tử được giải thoát môn biển đại bi hiện vô biên cảnh giới các thứ sắc tướng trang nghiêm.  Quang Minh Nhãn Thiên Tử được giải thoát môn làm cho chúng sanh được pháp nhãn thanh tịnh thấy tạng pháp giới.  Trí Đức Thiên Tử được giải thoát môn phát sanh tâm thanh tịnh tương tục làm cho chẳng hư hoại.  Phổ Vận Hành Quang Minh Thiên Tử được giải thoát môn phổ vận nhựt cung điện chiếu thập phương chúng sanh khiến việc làm được thành tựu.
Lúc đó, Nhựt Thiên Tử thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chúng Nhựt Thiên Tử rồi nói kệ rằng:
Trí huệ quang Như Lai rộng lớn
Chiếu khắp mười phương các quốc độ
Chúng sanh đều thấy đức Như Lai
Điều phục quần mê nhiều phương tiện.
Như Lai sắc tướng thật vô biên
Hiện thân theo lòng chúng sanh thích
Khắp mở trí huệ cho thế gian
Diệm Nhãn Thiên Tử quan sát thấy.
Phật thân vô tỉ không ai bằng
Quang minh chiếu sáng khắp mười phương
Là bực vô thượng hơn tất cả
Pháp môn như vậy Hoan Hỉ được.
Vì lợi cho đời tu khổ hạnh
Qua lại các cõi vô lượng kiếp
Quang minh biến tịnh như hư không
Tịnh Bửu Thiên Tử đã được biết.
Phật diễn diệu âm không chướng ngại
Cùng khắp mười phương các quốc độ
Đều sùng pháp vị lợi quần sanh
Phương tiện như đây Dũng Mãnh rõ.
Phóng quang minh lớn bất tư nghì
Thanh tịnh tất cả loài hàm thức
Đều khiến phát sanh tin hiểu sâu
Hoa Âm Thiên Tử được ngộ nhập.
Thế gian chỗ có những quang minh
Chẳng bằng ánh sáng chân lông Phật
Phật quang như vậy bất tư nghì
Thắng Tràng Thiên Tử được giải thoát.
Tất cả chư Phật pháp như vậy
Ngồi cội bồ đề thành chánh giác
Khiến kẻ tà ác về đường lành
Bửu Kế Thiên Tử thấy như vậy.
Chúng sanh ngu si khổ tối tâm
Vì muốn cho họ được tịnh nhãn
Nên Phật vì họ thắp huệ đăng
Thiện Mục Thiên Tử quan sát thấy.
Đấng tự tại phương tiện giải thoát
Nếu ai được gặp cúng một lần
Phước này giúp họ lần chứng quả
Phương tiện trên đây Trì Đức được.
Vô lượng môn trong một pháp môn
Vô lượng ngàn kiếp nói như vậy
Diễn thuyết pháp môn nghĩa nhiệm mầu
Phổ Vận Quang Thiên đã hiểu rõ.
Nguyệt Thiên Tử được giải thoát môn tịnh quang chiếu khắp pháp giới nhiếp hóa chúng sanh.  Hoa Vương Kế Quang Minh Thiên Tử được giải thoát môn quan sát tất cả chúng sanh khiến họ vào khắp vô biên pháp.  Chúng Diệu Tịnh Quang Thiên Tử được giải thoát môn rõ biết tâm niệm phan duyên của tất cả chúng sanh.  An Lạc Thế Gian Tâm Thiên Tử được giải thoát môn đem sự vui bất tư nghì cho tất cả chúng sanh.  Thọ Vương Nhãn Quang Minh Thiên Tử được giải thoát môn tùy thời thủ hộ khiến được thành tựu như nông gia gieo giống.  Xuất Hiện Tịnh Quang Thiên Tử được giải thoát môn từ bi cứu hộ tất cả chúng sanh khiến họ được thấy những sự thọ khổ thọ vui.  Phổ Du Bất Động Quang Thiên Tử được giải thoát môn có thể cầm mặt nguyệt thanh tịnh hiện khắp mười phương.  Tinh Tú Vương Tự Tại Thiên Tử được giải thoát môn khai thị tất cả pháp như huyễn như hư không vô tướng không tự tánh.  Tinh Giác Nguyệt Thiên Tử được giải thoát môn vì khắp tất cả chúng sanh khởi công dụng lớn.  Đại Oai Đức Quang Minh Thiên Tử được giải thoát môn dứt tất cả nghi hoặc.
Lúc đó Nguyệt Thiên Tử thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chư thiên trong nguyệt cung điện rồi kệ rằng:
Phật phóng quang minh khắp thế gian
Chiếu sáng mười phương các quốc độ
Chuyển pháp rộng lớn bất tư nghì
Phá hẳn chúng sanh nghiệp si ám.
Cảnh giới vô biên lại vô tundefinedn
Trong vô lượng kiếp thường khai thị
Thần lực tự tại độ quần sanh
Hoa Kế như vậy quan sát Phật.
Tâm niệm chúng sanh niệm niệm khác
Phật trí rộng lớn đều rõ biết
Thuyết pháp cho họ được vui mừng
Diệu Quang Thiên Tử được giải thoát.
Chúng sanh không có thật an vui
Mê chìm ác đạo thọ sự khổ
Như Lai dạy họ pháp tánh môn
Lạc Tâm Thiên Tử suy gẫm thấy.
Như Lai hy hữu đại từ bi
Vì lợi chúng sanh vào các cõi
Thuyết pháp khuyên họ khiến làm lành
Nhãn Quang Thiên Tử đã rõ biết.
Thế Tôn khai thị pháp quang minh
Phân biệt thế gian các nghiệp tánh
Chỗ làm thiện ác không mất hư
Tịnh Quang Thiên Tử lòng vui đẹp.
Phật là chỗ nương tất cả phước
Ví như địa cầu gìn cung điện
Khéo truyền đạo mầu rất an vui
Phương tiện như đây Bất Động thấy.
Lửa trí sáng lớn cùng pháp giới
Hiện hình vô số đồng chúng sanh
Mở bày chân thật vì muôn loài
Tinh Tú Vương Thiên được tỏ ngộ.
Phật như hư không không tự tánh
Vì lợi chúng sanh hiện thế gian
Tướng hảo trang nghiêm như bóng hình
Tịnh Giác Nguyệt Thiên thấy như vậy
Chân lông thân Phật diễn thinh âm
Mây pháp thế gian che trùm khắp
Người thấy kẻ nghe đều vui mừng
Đại Oai Đức Thiên được giải thoát.


III.  Chư Thần Vương giải thoát môn
Trì Quốc Càn Thát Bà Vương được giải thoát môn phương tiện tự tại nhiếp tất cả chúng sanh.  Thọ Quang Càn Thát Bà Vương được giải thoát môn thấy khắp tất cả công đức trang nghiêm.
Tịnh Mục Càn Thát Bà Vương được giải thoát môn dứt hẳn ưu khổ của tất cả chúng sanh làm cho sanh lòng vui mừng.
Hoa Quan Càn Thát Bà Vương được giải thoát môn dứt hẳn tà kiến mê lầm của tất cả chúng sanh.  Hỉ Bộ Phổ Âm Càn Thát Bà Vương được giải thoát môn khắp che chở rưới nhuần tất cả chúng sanh như mây che mát.  Nhạo Diêu Động Mỹ Mục Càn Thát Bà Vương được giải thoát môn hiện thân xinh đẹp rộng lớn làm cho tất cả được an vui.  Diệu Âm Sư Tử Tràng Càn Thát Bà Vương được giải thoát môn danh đồn lớn tốt lan khắp mười phương.  Phổ Phóng Bửu Quang Minh Càn Thát Bà Vương được giải thoát môn hiện tất cả thân thanh tịnh quang minh đại hoan hỷ.  Kim Cang Thọ Hoa Tràng Càn Thát Bà Vương được giải thoát môn pháp nhuần sum sê tất cả cây cối làm cho người thấy vui mừng.  Phổ Hiện Trang Nghiêm Càn Thát Bà Vương được giải thoát môn khéo vào tất cả cảnh giới Phật cho chúng sanh sự an vui.
Lúc đó Trì Quốc Càn Thát Bà Vương thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chúng Càn Thát Bà rồi nói kệ rằng:
Chư Phật cảnh giới vô lượng môn
Tất cả chúng sanh chẳng vào được
Phật tánh thanh tịnh như hư không
Vì khắp thế gian khai chánh đạo.
Mỗi mỗi chân lông của Như Lai
Đầy đủ công đức như biển cả
Tất cả thế gian đều an vui
Thọ Quang Vương đây đã thấy được.
Biển khổ rộng lớn của thế gian
Phật đều có thể tiêu trừ sạch
Phật nhiều phương tiện đại từ bi
Tịnh Mục Vương này hiểu biết được.
Mười phương cõi nước rộng vô biên
Trí Quang của Phật đều sáng chói
Dứt trừ tất cả chấp ác tà
Môn giải thoát này Hoa Quan được.
Phật từ thuở xưa vô lượng kiếp
Tu tập đại từ hạnh phương tiện
Tất cả thế gian đều an vui
Phổ Âm Thần Vương hay ngộ nhập.
Phật thân thanh tịnh đều thích thấy
Hay sanh thế gian vui vô lượng
Nhơn quả giải thoát thứ đệ thành
Diêu Động Mỹ Mục khéo khai thị.
Chúng sanh mê lầm thường lưu chuyển
Ngu si che chướng rất kín chắc
Như Lai vì họ nói pháp mầu
Sư Tử Tràng Vương diễn thuyết được.
Như Lai khắp hiện diệu sắc thân
Vô lượng sai khác khắp chúng sanh
Nhiều thứ phương tiện soi thế gian
Phổ Phóng Bửu Quang thấy như vậy.
Đại Trí phương tiện vô lượng môn
Phật vì chúng sanh mà khai diễn
Vào hạnh chơn thật đại bồ đề
Kim Cang Tràng Vương khéo quan sát.
Trong một sát na, trăm ngàn kiếp
Phật lực hay hiện không động diêu
Khắp đem an lạc thí quần sanh
Phổ Hiện Trang Nghiêm môn giải thoát.
Tăng Trưởng Cưu Bàn Trà Vương được giải thoát môn trừ diệt tất cả oán thù.  Long Chúa Cưu Bàn Trà Vương được giải thoát môn tu tập vô biên công hạnh.  Trang Nghiêm Tràng Cưu Bàn Trà Vương được giải thoát môn biết tất cả lòng ưa thích của chúng sanh.  Nhiêu Ích Hạnh Cưu Bàn Trà Vương được giải thoát môn khắp thành tựu công hạnh thanh tịnh sáng suốt.  Khả Bố Úy Cưu Bàn Trà Vương được giải thoát môn khai thị đạo an ổn vô úy cho tất cả chúng sanh.  Diệu Trang Nghiêm Cưu Bàn Trà Vương được giải thoát môn tiêu trừ biển ái dục của tất cả chúng sanh.  Cao Phong Huệ Cưu Bàn Trà Vương được giải thoát môn khắp hiện mây sáng chói che muôn loài.  Dũng Kiện Tý Cưu Bàn Trà Vương được giải thoát môn khắp phóng quang minh dứt chướng nặng như núi.  Vô Biên Tịnh Hoa Nhãn Cưu Bàn Trà Vương được giải thoát môn khai thị tâm đại bi bất thối chuyển.
Quảng Đại Diện Cưu Bàn Trà Vương được giải thoát môn hiện thân lưu chuyển trong các loài.
Lúc đó Tăng Trưởng Cưu Bàn Trà Vương thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Cưu Bàn Trà mà nói kệ rằng:
Thành tựu nhẫn lực Thế Đạo Sư
Vì người tu hành vô lượng kiếp
Lìa hẳn kiêu mạn cùng mê lầm
Nên thân của Phật rất nghiêm tịnh.
Từ xưa đức Phật đã tu hành
Giáo hóa thập phương vô lượng chúng
Các thứ phương tiện lợi quần sanh
Môn giải thoát này Long Chúa được.
Phật dùng đại trí cứu chúng sanh
Thấy biết rõ ràng tâm của họ
Phương tiện tự tại khéo dắt dìu
Nghiêm Tràng Vương thấy lòng hoan hỷ.
Thần thông ứng hiện như bóng vang
Pháp luân như không thường chơn thật
Vô ương số kiếp ở nơi đời
Nhiêu Ích Hạnh Vương đã được chứng.
Chúng sanh mù lòa thường tối tâm
Phật quang chiếu hiện đường an ổn
Cứu hộ muôn loài khổ được trừ
Khả Bố Úy Vương quan sát thấy.
Biển dục trôi chìm đủ sự khổ
Trí Quang chiếu khắp đều tiêu diệt
Khổ đã dứt trừ dạy pháp mầu
Diệu Trang Nghiêm Vương được tỏ ngộ.
Phật thân phổ ứng người đều thấy
Nhiều môn phương tiện độ
Tiếng như sấm nổ rưới mưa pháp
Cao Phong Huệ Vương được chứng nhập.
Quang minh thanh tịnh thường lợi ích
Gặp được Phật quang tiêu chướng nặng
Công đức của Phật vốn vô biên
Thâm lý như đây Dũng Tý biết.
Vì muốn an vui các chúng san
Phật tu đại bi vô lượng kiếp
Tất cả khốn khổ phương tiện trừ
Vô Biên Tịnh Hoa đã thấy rõ.
Thần thông tự tại bất tư nghì
Thân Phật hiện khắp mười phương cõi
Nhưng vẫn bất động không khứ lai
Quảng Đại Diện Vương đã hiểu rõ.
Tỳ Lâu Bát Xoa Long Vương đã được giải thoát môn tiêu diệt tất cả khổ hoạn của loài rồng.  Ta Kiệt La Long Vương được giải thoát môn trong một niệm chuyển hình rồng hiện vô lượng thân chúng sanh.  Vân Âm Tràng Long Vương được giải thoát môn ở trong các loài dùng tiếng thanh tịnh nói vô biên danh hiệu của chư Phật.  Diệm Khẩu Long Vương được giải thoát môn hiện khắp vô biên thế giới kiến lập sai khác.  Diệm Nhãn Long Vương được giải thoát môn Như Lai từ mẫn trừ diệt sân si của tất cả chúng sanh.  Vân Tràng Long Vương được giải thoát môn khai thị phước đức hỷ lạc lớn cho tất cả chúng sanh.  Đức Xoa Ca Long Vương được giải thoát môn dùng tiếng thanh tịnh cứu hộ dứt trừ tất cả sự bố úy.  Vô Biên Bộ Long Vương được giải thoát môn thị hiện tất cả sắc thân của Phật và trụ kiếp thứ đệ.  Thanh Tịnh Sắc Tốc Tật Long Vương được giải thoát môn xuất sanh sự ưa thích vui mừng lớn cho tất cả chúng sanh.  Phổ Hành Đại Âm Long Vương được giải thoát môn thị hiện tất cả âm thanh vô ngại bình đẳng thích ý.  Vô Nhiệt Não Long Vương được giải thoát môn dùng mây đại bi che khắp dứt sự khổ của tất cả thế gian.
Lúc đó Tỳ Lâu Bát Xoa Long Vương thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả long chúng rồi nói kệ rằng:
Quan sát Như Lai pháp chơn thường
Tất cả chúng sanh đều lợi ích
Dùng lòng đại từ luôn xót thương
Cứu kẻ trôi chìm lo sợ khổ.
Tất cả chúng sanh đều sai khác
Một chân lông Phật đủ thị hiện
Thần thông biến hóa khắp thế gian
Ta Kiệt Long Vương quan sát thấy.
Phật dùng thần thông không hạn lượng
Rộng nói danh hiệu khắp chúng sanh
Tùy lòng ưa thích đều được nghe
Vân Âm Long Vương được tỏ ngộ.
Vô lượng vô biên các quốc độ
Có thể đem vào một chân lông
Như Lai an tọa chúng hội kia
Diệm Khẩu Long Vương đã thấy được.
Tất cả chúng sanh lòng sân hận
Ngu si ràng buộc chìm biển khổ
Như Lai xót thương đều dứt trừ
Diệm Nhãn Long Vương quan sát thấy.
Bao nhiêu phước đức của chúng sanh
Trong chân lông Phật đều hiển hiện
Hiện rồi đồng về biển đại phước
Vân Tràng Long Vương đã quan sát.
Chân lông thân Phật phát trí quang
Trí quang khắp nơi thuyết diệu pháp
Chúng sanh được nghe hết sợ lo
Đức Xoa Long Vương đã được ngộ.
Tam thế tất cả chư Như Lai
Quốc độ trang nghiêm kiếp thứ đệ
Như vậy đều hiện nơi Phật thân
Biên Bô Long Vương được thấy biết.
Như Lai công hạnh thuở xa xưa
Cúng dường tất cả vô lượng Phật
Cúng rồi thêm lớn lòng vui mừng
Tốc Tật Long Vương được chứng nhập.
Âm thinh của Phật thuận theo loài
Vì họ thuyết pháp được hỷ lạc
Tiếng Phật thanh nhã cúng vui lòng
Đại Âm Long Vương lòng tỏ ngộ.
Chúng sanh bức ngặt trong các cõi
Nghiệp hoặc trôi chìm không người cứu
Phật dùng đại bi khiến thoát lìa
Vô Nhiệt Long Vương đã chứng được.
Tỳ Sa Môn Dạ Xoa Vương được giải thoát môn dùng vô biên phương tiện cứu khổ chúng sanh ác.  Tự Tại Âm Dạ Xoa Vương được giải thoát môn quan sát khắp chúng sanh dùng phương tiện cứu hộ.  Nghiêm Trì Khí Trượng Dạ Xoa Vương được giải thoát môn có thể giúp ích tất cả chúng sanh rất ác.  Đại Trí Huệ Dạ Xoa Vương được giải thoát môn xưng dương công đức của tất cả thánh nhơn.   Diệm Nhãn Chúa Dạ Xoa Vương được giải thoát môn đại bi trí quan sát khắp tất cả chúng sanh.  Kim Cang Nhãn Dạ Xoa Vương được giải thoát môn các thứ phương tiện lợi ích an lạc tất cả chúng sanh.  Dũng Kiện Tý Dạ Xoa Vương được giải thoát môn khắp vào nghĩa lý của tất cả pháp.  Dũng Địch Đại Quân Dạ Xoa Vương được giải thoát môn hộ vệ tất cả chúng sanh khiến đều trụ nơi chánh đạo.  Phú Tài Dạ Xoa Vương được giải thoát môn tăng trưởng phước đức của tất cả chúng sanh khiến họ luôn được khoái lạc.  Lực Hoại Cao Sơn Dạ Xoa Vương được giải thoát môn tùy thuận ức niệm xuất sanh trí lực quang minh của Phật. 
Lúc đó, Đa Văn Đại Dạ Xoa Vương thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chúng Dạ Xoa rồi nói kệ rằng:
Chúng sanh tội ác đã quá sâu
Trăm ngàn kiếp qua chẳng thấy Phật
Trôi chìm sanh tử thọ khổ nhiều
Vì cứu chúng sanh Phật xuất thế.
Như Lai cứu hộ các thế gian
Tất cả chúng sanh hiện trước họ
Dứt khổ luân chuyển hết sợ lo
Tự Tại Âm Vương đã ngộ nhập.
Chúng sanh tạo ác nghiệp, chướng nhiều
Phật dạy lý mầu khiến rõ biết
Ví như đèn sáng chiếu thế gian
Nghiêm Trì Xoa Vương đã được thấy.
Thuở xưa nhiều kiếp Phật tu hành
Xưng tán mười phương tất cả Phật
Nên có tiếng đồn lớn cao xa
Đại Trí Huệ Vương được rõ biết.
Trí huệ như không vô lượng biên
Pháp thân rộng lớn bất tư nghị
Do đây mười phương đều hiện thân
Diệm Nhãn Chúa Vương quan sát thấy.
Trong tất cả loài diễn diệu âm
Thuyết pháp lợi ích vô lượng chúng
Tiếng Phật đến đâu khổ dứt trừ
Kim Cang Nhãn Vương được phương tiện.
Tất cả nghĩa rộng lớn rất sâu
Phật dùng một câu diễn thuyết được
Giáo lý như vậy khắp thế gian
Dũng Kiện Tý Vương đã được ngộ.
Vô lượng chúng sanh chấp đạo tà
Phật dạy chánh đạo bất tư nghị
Khiến khắp thế gian thành pháp khí
Dũng Địch Quân Vương rõ biết được.
Bao nhiêu phước nghiệp của thế gian
Tất cả đều do Phật quang chiếu
Phật trí rộng lớn khó nghĩ lường
Phú Tài Xoa Vương được giải thoát.
Nhớ đến kiếp xưa vô lượng số
Phật từ lâu xa tu thập lực
Hay khiến trí lực đều tròn đầy
Lực Hoại Cao Sơn được rõ biết.
Thiện Huệ Ma Hầu La Già Vương được giải thoát môn dùng tất cả thần thông phương tiện khiến chúng sanh chứa nhóm công đức.  Tịnh Oai Âm Vương được giải thoát môn khiến tất cả chúng sanh trừ phiền não được thanh lương vui sướng.  Thắng Huệ Trang Nghiêm Kế Vương được giải thoát môn khiến tất cả chúng sanh suy tưởng lành hay chẳng lành đều vào pháp thanh tịnh.  Diệu Mục Chủ Vương được giải thoát môn rõ thấu tất cả tướng phước đức tự tại bình đẳng vô sở trước.  Đăng Tràng Vương được giải thoát môn khai thị tất cả chúng sanh khiến lìa đường tối tăm sợ sệt.  Tối Thắng Quang Minh Tràng Vương được giải thoát môn rõ biết tất cả công đức của Phật sanh lòng vui mừng.  Sư Tử Úc Vương được giải thoát môn sức dũng mãnh làm chủ cứu hộ chúng sanh.  Chúng Diệu Trang Nghiêm Âm Vương được giải thoát môn khiến chúng sanh tùy ý niệm sanh vô biên hỷ lạc.  Tu Di Úc Vương được giải thoát môn quyết định bất động nơi tất cả cảnh duyên và được đầy đủ đến bờ kia.  Khả Ái Nhạo Quang Minh Vương được giải thoát môn bình đẳng vì tất cả chúng sanh khai thị đạo bình đẳng.
Lúc đó, Thiện Huệ Ma Hầu La Già Vương thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chúng Ma Hầu La Già rồi nói kệ rằng:
Ông xem Như Lai tánh thanh tịnh
Phổ hiện oai quang lợi quần phẩm
Khai đạo cam lồ khiến thanh lương
Các khổ dứt hẳn không còn sót.
Tất cả chúng sanh ở biển khổ
Các nghiệp hoặc ác tự ràng buộc
Đem pháp tịch tịnh dạy chúng sanh
Tịnh Oai Âm Vương khéo rõ biết.
Phật trí vô đẳng bất tư nghì
Tâm chúng sanh đều rõ biết cả
Vì họ xiển minh pháp thanh tịnh
Trang Nghiêm Kế Vương đã tỏ ngộ.
Vô lượng chư Phật hiện thế gian
Vì khắp chúng sanh làm ruộng phước
Biển phước rộng lớn rất khó lường
Diệu Mục Chủ Vương thấy tất cả.
Chúng sanh ở mãi biển sợ lo
Phật khắp hiện tiền mà cứu hộ
Pháp giới hư không đều khắp cùng
Đăng Tràng Vương đây đã thấy được.
Công đức nơi một chân lông Phật
Thế gian chung tính không biết  được
Vô biên vô tận đồng hư không
Quang Minh Tràng Vương quan sát thấy.
Như Lai thông đạt tất cả pháp
Nơi pháp tánh kia đều chiếu rõ
Không nghiêng không động như Tu Di
Sư Tử Úc Vương môn giải thoát.
Phật từ thuở trước kiếp lâu xa
Biển rộng hoan hỷ sâu vô tận
Vì thế ai thấy đều thích ưa
Trang Nghiêm Âm Vương được chứng nhập.
Rõ biết pháp giới không hình tướng
Biển ba la mật đều đầy đủ
Đại quang phổ tế các chúng sanh
Tu Di Úc Vương đã tỏ ngộ.
Ông xem Như Lai sức tự tại
Mười phương thị hiện khắp đồng đều
Sáng soi tỏ ngộ các chúng sanh
Nhạo Quang Minh Vương đã khéo chứng.
Thiện Huệ Quang Minh Thiên Khẩn Na La Vương được giải thoát môn khắp sanh tất cả công hạnh hỷ lạc.  Diệu Hoa Tràng Khẩn Na La Vương được giải thoát môn có thể sanh pháp hỷ vô thượng khiến tất cả được an vui.  Chủng Chủng Trang Nghiêm Vương được giải thoát môn tất cả công đức đầy đủ tâm tin hiểu thanh tịnh rộng lớn.  Duyệt Ý Hống Thinh Vương được giải thoát môn thường nói ra tất cả tiếng duyệt ý khiến người nghe lìa khỏi ưu bố.  Bửu Thọ Quang Minh Vương được giải thoát môn đại bi an lập tất cả chúng sanh khiến giác ngộ cảnh sở duyên.  Phổ Nhạo Kiến Vương được giải thoát môn thị hiện tất cả sắc thân vi diệu.  Tối Thắng Quang Trang Nghiêm Vương được giải thoát môn rõ biết tất cả quả thù thắng trang nghiêm từ nghiệp não sanh.  Vi Diệu Hoa Tràng Vương được giải thoát môn khéo quan sát tất cả nghiệp thế gian sanh ra quả báo.  Động Địa Lực Vương được giải thoát môn môn thường khởi tất cả sự lợi ích chúng sanh.  Oai Mãnh Chủ Vương được giải thoát môn khéo biết và khéo nhiếp phục tâm niệm của tất cả Khẩn Na La.
Lúc đó, Thiện Huệ Quang Minh Vương thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chúng Khẩn Na La rồi nói kệ rằng:
Thế gian tất cả sự an vui
Tất cả đều do Phật xuất thế
Đạo Sư lợi ích các chúng sanh
Khắp làm chỗ quy y cứu hộ.
Xuất sanh tất cả những hỷ lạc
Thế gian đều được không cùng tận
Hay khiến người thấy chẳng luống qua
Diệu Hoa Tràng Vương được tỏ ngộ.
Biển công đức Phật không cùng tận
Cầu biên tế kia bất khả đắc
Quang Minh chiếu sáng khắp mười phương
Trang Nghiêm Vương đây môn giải thoát.
Như Lai đại âm thường diễn thông
Khai pháp chơn thật lìa ưa não
Chúng sanh nghe được đều đẹp vui
Duyệt Ý Hống Thinh hay tín thọ.
Tôi xem Như Lai sức tự tại
Đều do thuở trước siêng hành đạo
Đại bi cứu người khiến sạch trong
Bửu Thọ Quang Minh hay ngộ nhập.
Như Lai khó được thấy và nghe
Ức kiếp chúng sanh mới được gặp
Tướng hảo đầy đủ để trang nghiêm
Phổ Nhạo Kiến Vương đã xem thấy.
Ông xem Như Lai đại trí huệ
Quần sanh tâm nguyện đều khắp ứng
Đạo nhứt thiết trí đều tuyên bày
Tối Thắng Trang Nghiêm hay rõ biết.
Biển nghiệp rộng lớn bất tư nghì
Chúng sanh khổ vui đều do đó
Tất cả như vậy hay chỉ bày
Vi Diệu Hoa Tràng quan sát thấy.
Chư Phật thần thông không xen dứt
Mười phương đại địa thường chấn động
Tất cả chúng sanh chẳng biết hay
Động Địa Lực Vương hằng thấy rõ.
Ở nơi chúng hội hiện thần thông
Phóng đại quang minh khiến giác ngộ
Hiển bày tất cả cảnh Như Lai
Oai Mãnh Chủ Vương hay quan sát.
Đại Tốc Tất Lực Ca Lâu La Vương được giải thoát môn vô ngại vô trước nhãn quan sát khắp chúng sanh giới.  Bất Khả Hoại Bửu Kế Vương được giải thoát môn khắp an trụ pháp giới giáo hoá chúng sanh.  Thanh Tịnh Tốc Tật Vương được giải thoát môn khắp thành tựu sức tinh tấn ba la mật.  Bất Thối Tâm Trang Nghiêm Vương được giải thoát môn sức dũng mãnh vào cảnh giới Như Lai.  Đại Hải Xứ Nhiếp Trì Lực Vương được giải thoát môn vào biển công hạnh trí huệ rộng lớn của Phật.  Kiên Pháp Tịnh Quang Vương được giải thoát môn thành tựu vô biên chúng sanh sai biệt trí.  Diệu Nghiêm Quan Kế Vương được giải thoát môn trang nghiêm thành Phật pháp.  Phổ Tiệp Thị Hiện Vương được giải thoát môn thành tựu sức bình đẳng bất khả hoại.  Phổ Quán Hải Vương được giải thoát môn rõ biết tất cả thân chúng sanh mà vì hiện hình.  Long Âm Đại Mục Tinh Vương được giải thoát môn trí hạnh vào khắp sanh tử của tất cả chúng sanh.
Lúc đó, Đại Tốc Tật Lực Vương thừa oai lực của Phật quan sát tất cả chúng Ca Lâu La rồi nói kệ rằng:
Phật nhãn rộng lớn không ngằn mé
Thấy khắp mười phương các quốc độ
Trong đó chúng sanh chẳng thể lường
Hiện đại thần thông đều điều phục.
Thần thông của Phật sức vô ngại
Ngồi khắp mười phương cội bồ đề
Thuyết pháp như mây đều khắp đầy
Bửu Kế lóng nghe lòng tin thuận.
Phật thuở xa xưa tự tại các hạnh
Phổ tịnh quảng đại ba la mật
Cúng dường tất cả chư Như Lai
Thanh Tịnh Tốc Tật sâu tin hiểu.
Như Lai trong mỗi một chân lông
Một niệm hiện khắp vô biên hạnh
Cảnh giới Như Lai rất khó suy
Bất Thối Trang Nghiêm đều thấy rõ.
Phật hạnh rộng lớn bất tư nghì
Tất cả chúng sanh không lường được
Công đức trí huệ của Đạo Sư
Nhiếp Trì Lực Vương đạo giải thoát.
Như Lai vô lượng trí huệ quang
Hay dứt chúng sanh lưới nghi hoặc
Cứu hộ tất cả các thế gian
Khiên Pháp Tịnh Quang thọ trì được.
Pháp thành rộng lớn không thể cùng
Các thứ pháp môn vô lượng số
Đức Phật ra đời rộng mở bày
Diệu Nghiêm Quan Kế đã tỏ rõ.
Tất cả chư Phật một pháp thân
Chơn như bình đẳng vô phân biệt
Phật dùng sức này thường an trụ
Phổ Tiệp Thị Hiện diễn thuyết đủ.
Phật ở các cõi nhiếp chúng sanh
Quang minh thế gian đều chiếu khắp
Các thứ phương tiện hiện điều phục
Phổ Quán Hải Vương đã được ngộ.
Phật xem tất cả các quốc độ
Đều nương nghiệp hải mà an trụ
Rưới khắp pháp vũ ở trong kia
Long Âm Tinh Vương được giải thoát.
La Hầu A Tu La Vương được giải thoát môn hiện làm chủ tôn thắng trong đại hội.  Tỳ Ma Chất Đa Vương được giải thoát môn thị hiện vô lượng kiếp.  Xảo Huyễn Thuật Vương được giải thoát môn tiêu diệt khổ tất cả chúng sanh khiến thanh tịnh.  Đại Quyến Thuộc Vương được giải thoát môn tu tất cả khổ hạnh tự trang nghiêm.  Bà Trí Vương được giải thoát môn chấn động thập phương vô biên cảnh giới.  Biến Chiếu Vương được giải thoát môn các thứ phương tiện an lập tất cả chúng sanh.  Kiên Cố Hạnh Diệu Trang Nghiêm Vương được giải thoát môn khắp họp thiện căn sạch các nhiễm trước chẳng thể phá hoại.  Quảng Đại Nhơn Huệ Vương được giải thoát môn sức đại bi không nghi lầm.  Hiện Thắng Đức Vương được giải thoát môn khắp khiến thấy Phật thờ kính cúng dường tự tại các thiện căn.  Thiện Âm Vương được giải thoát môn công hạnh quyết định bình đẳng khắp vào tất cả loài.
Lúc đó, La Hầu Vương thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chúng A Tu La rồi nói kệ rằng:
Tất cả mười phương quảng đại chúng
Phật thù đặc nhứt trong tất cả
Quang minh chiếu khắp đồng hư không
Trước các chúng sanh đều khắp hiện.
Trăm ngàn muôn kiếp các quốc độ
Trong một sát na đều hiện rõ
Phóng quang độ người đồng khắp đều
Tùy Ma Chất Đa vui khen ngợi.
Như Lai cảnh giới không ai bằg
Các thứ pháp môn thường lợi ích
Chúng sanh có khổ đều dứt trừ
Xảo Huyễn Thuật Vương đã được thấy.
Trong vô lượng kiếp tự tại khổ hạnh
Lợi ích chúng sanh làm thanh tịnh
Do đây Phật trí trọn viên thành
Đại Quyến Thuộc Vương đã thấy rõ.
Vô ngại vô đẳng đại thần thông
Khắp động mười phương tất cả cõi
Chẳng khiến chúng sanh có sợ kinh
Đại lực nơi đây đã rõ biết.
Phật hiện ra đời cứu chúng sanh
Đạo nhứt thiết trí đều khai thị
Đều khiến bỏ khổ được an vui
Nghĩa đây, Biến Chiếu xiển dương rộng.
Tất cả biển phước của thế gian
Phật lực hay sanh khiến thanh tịnh
Phật hay khai thị đạo giải thoát
Kiên Cố Trang Nghiêm được chứng nhập.
Phật đại bi thân không ai bằng
Đi khắp vô ngại đều khiến thấy
Dường như hình bóng hiện thế gian
Nhơn Huệ hay tuyên công đức Phật.
Thần thông rộng lớn không ai sánh
Khắp chốn hiện thân đầy pháp giới
Đều ngồi dưới cội đại bồ đề
Nghĩa này, Thắng Đức hay tuyên thuyết.
Như Lai ngày trước tu công hundefinednh
Trải qua các loài đều cùng khắp
Thoát khổ chúng sanh không có thừa
Thiên Âm ca ngợi công đức Phật.


IV.  Chư Thần Chủ giải thoát môn

Thị Hiện Cung Điện Chủ Trú Thần được giải thoát môn khắp vào tất cả thế gian.  Pháp Khởi Huệ Hương Thần được giải thoát môn quan sát khắp tất cả chúng sanh đều khiến lợi ích vui mừng đầy đủ.  Nhạo Thắng Trang Nghiêm Thần được giải thoát môn hay phóng vô biên pháp quang minh đáng thích ưa.  Hoa Hương Diệu Quang Thần được giải thoát môn khai phát tâm tin hiểu thanh tịnh của tất cả chúng sanh.  Phổ Tập Diệu Dược Thần được giải thoát môn chứa nhóm trang nghiêm công lực quang minh rộng khắp.  Nhạo Tác Hỉ Mục Thần được giải thoát môn khai ngộ khắp tất cả chúng sanh khổ vui đều khiến được pháp lạc.  Quán Phương Phổ Hiện Thần được giải thoát môn thân sai biệt thập phương pháp giới.  Đại Bi Oai Lực Thần được giải thoát môn cứu hộ tất cả chúng sanh khiến được an lạc.  Thiện Căn Quang Chiếu Thần được giải thoát môn công đức lực khắp sanh vui mừng đầy đủ.  Diệu Hoa Anh Lạc Thần được giải thoát môn tiếng tăm đồn khắp nơi chúng sanh thấy Phật đều được lợi ích.
Lúc đó, Thị Hiện Cung Điện Thần thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Chủ Trú Thần rồi nói kệ rằng:
Phật trí như không vô cùng tận
Quang minh soi sáng khắp mười phương
Tâm hành chúng sanh đều biết rành
Thế gian không nơi nào chẳng đến.
Biết lòng sở thích của chúng sanh
Theo cơ diễn nói vô lượng pháp
Cú nghĩa rộng lớn đều không đồng
Phát Khởi Huệ Hương thấy được rõ.
Phật phóng quanh minh chiếu thế gian
Thấy nghe vui mừng không luống mất
Chỉ bày tịch diệt chỗ rộng sâu
Nhạo Thắng Trang Nghiêm lòng tỏ ngộ.
Phật rưới Pháp vũ vô biên lượng
Hay khiến người thấy đều mừng rỡ
Thiện căn tối thắng từ đây sanh
Hoa Hương Diệu Quang rõ biết được.
Khắp vào pháp môn sức khai ngộ
Nhiều kiếp tu tập đều thanh tịnh
Phổ Tập Diệu Dược hay thấu suốt.
Nhiều môn phương tiện hóa quần sanh
Hoặc thấy hoặc nghe đều thọ ích
Đều khiến hớn hở rất vui mừng
Nhạo Tác Hỉ Mục thấy như vậy.
Thập lực ứng hiện khắp thế gian
Mười phương pháp giới đều không sót
Thể tánh chẳng có cũng chẳng không
Quán Phương Phổ Hiện hay chứng nhập.
Chúng sanh lưu chuyển trong hiểm nạn
Như Lai xuất thế vì thương xót
Tất cả khổ hoạn đều dứt trừ
Đại Bi Oai Lực môn giải thoát.
Chúng sanh trôi chìm trong đêm dài
Phật vì thuyết pháp cho thông hiểu
Đều khiến được vui trừ khổ lo
Thiện Căn Quang Chiếu môn ngộ nhập.
Như Lai phước đức đồng hư không
Từ đây nở sanh thế gian phước
Chỗ làm của Phật trọn không hư
Diệu Hoa Anh Lạc được giải thoát.
Phổ Đức Tịnh Quang Chủ Dạ Thần được giải thoát môn tịch tịnh thiền định lạc đại dũng kiện.  Hỉ Căn Quán Thế Thần được giải thoát môn tướng công đức thanh tịnh rộng lớn khả ái.  Hộ Thế Tinh Khí Thần được giải thoát môn hiện khắp thế gian điều phục chúng sanh.  Tịch Tịnh Hải Âm Thần được giải thoát môn chứa nhóm lòng hoan hỷ rộng lớn.  Phổ Hiện Kiết Tường Thần được giải thoát môn ngôn âm duyệt ý tự tại rộng lớn.  Phổ Phát Thọ Hoa Thần được giải thoát môn tạng quang minh rộng lớn đầy đủ hoan hỉ.  Bình Đẳng Hộ Dục Thần được giải thoát môn khai ngộ chúng sanh khiến thành thục thiện căn.  Du Hí Khoái Lạc Thần được giải thoát môn vô biên từ cứu hộ chúng sanh.  Chư Căn Thường Hỉ Thần được giải thoát môn đại bi khắp hiện trang nghiêm.  Thị Hiện Tịnh Phước Thần được giải thoát môn khiến khắp tất cả chúng sanh sở thích được đầy đủ.
Lúc đó, Phổ Đức Tịnh Quang Thần thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Chủ Dạ Thần mà nói kệ rằng:
Các ngài nên xem công hạnh Phật
Quảng đại tịch tịnh tướng hư không
Biển dục không bờ làm sạch trong
Chiếu mười phương đoan nghiêm thanh tịnh.
Tất cả thế gian đều thích thấy
Vô lượng ức kiếp một lần gặp
Đại bi thương người đều khắp cùng
Hỉ Can Quán Thế quan sát thấy.
Đạo Sư cứu hộ các thế gian
Chúng sanh thấy Phật hiện trước mình
Làm cho các loài đều thanh tịnh
Hộ Thế Tinh Khí đã biết rõ.
Phật xưa tu tập biển hoan hỉ
Rộng lớn vô biên chẳng lường được
Vì thế người thấy đều thích ưa
Tịch Tịnh Hải Âm hiểu biết được.
Như Lai cảnh giới chẳng thể lường
Diễn khắp mười phương mà hằng tịch
Khiến khắp chúng sanh ý sạch trong
Phổ Hiện Kiết Tường nghe vui đẹp.
Giữa nhóm chúng sanh không phước đức
Phật bực đại phước trang nghiêm sáng
Khai pháp tịch diệt lìa cấu trần
Phổ Phát Thọ Hoa đã được ngộ.
Mười phương khắp hiện đại thần thông
Tất cả chúng sanh đều điều phục
Các thứ sắc tướng đều khiến xem
Bình Đẳng Hộ Dục quan sát được.
Như Lai thuở xưa trong mỗi niệm
Từ bi phương tiện đều thanh tịnh
Cứu hộ chúng sanh đã khắp cùng
Du Hí Khoái Lạc môn giải thoát
Chúng sanh ngu si thường loạn đụt
Tâm họ cứng độc rất đáng sợ
Như Lai xuất thế vì xót thương
Chư Căn Thường Hỉ được tỏ ngộ.
Xưa Phật tu hành vì chúng sanh
Tất cả chí nguyện đều đầy đủ
Do đây đức tướng đều viên thành
Thị Hiện Tịnh Phước được chứng nhập.
Biến Trụ Nhứt Thiết Chủ Phương Thần được giải thoát môn năng lực khắp cứu hộ.  Phổ Hiện Quang Minh thần được giải thoát môn trọn nên công lực thần thông hóa độ khắp tất cả chúng sanh.  Quang Hạnh Trang Nghiêm Thần được giải thoát môn đại quang minh phá tất cả chướng sanh hỉ lạc.  Châu Hành Bất Ngại Thần được giải thoát môn hiện khắp tất cả chỗ chẳng luống nhọc.  Vĩnh Đoạn Mê Hoặc Thần được giải thoát môn thị hiện danh hiệu phát sanh công đức đồng số tất cả chúng sanh.  Biến Du Tịnh Không Thần được giải thoát môn hằng phát diệu âm khiến người nghe đều hoan hỉ.  Vân Tràng Đại Âm Thần được giải thoát môn như rồng khắp rưới mưa khiến chúng sanh hoan hỉ.  Kế Mục Vô Loạn Thần được giải thoát môn được giải thoát môn năng lực tự tại vô sai biệt thị hiện hạnh nghiệp tất cả chúng sanh.  Phổ Thế Nghiệp Thần được giải thoát môn quan sát các thứ hạnh nghiệp trong tất cả thú sanh.  Châu Biến Du Lãm Thần được giải thoát môn công việc làm đều rốt ráo sanh sự hoan hỉ tất cả chúng sanh.
Lúc đó, Biến Trụ Nhứt Thiết Thần thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chúng Chủ Phương Thần rồi nói kệ rằng:
Như Lai tự tại hiện ra đời
Tất cả quần sanh đều giáo hóa
Chỉ bày khiến ngộ các pháp môn
Đều khiến được thành vô lượng trí.
Thần thông vô lượng khắp chúng sanh
Tùy họ sở thích mà hiện tướng
Người thấy đều được lìa khổ lo
Phổ Hiện Quang Minh môn giải thoát.
Trong biển mê tối của chúng sanh
Phật hiện đuốc pháp rất sáng suốt
Sáng đó chiếu khắp người đều thấy
Quang Hạnh Trang Nghiêm đã tự tại.
Đầy đủ các tiếng của thế gian
Khắp chuyển pháp luân người đều hiểu
Chúng sanh nghe pháp phiền não trừ
Châu Hành Bất Ngại được tỏ ngộ.
Tất cả danh tự của thế gian
Hồng danh của Phật đồng số đó
Đều khiến chúng sanh lìa mê lầm
Vĩnh Đoạn Mê Hoặc quan sát biết.
Nếu có chúng sanh đến trước Phật
Được nghe diệu âm của Như Lai
Họ đều sanh lòng rất vui mừng
Biến Du Tịnh Không ngộ pháp đó.
Phật ở trong mỗi mỗi sát na
Khắp rưới vô biên đại pháp vũ
Đều khiến chúng sanh phiền não trừ
Vân Tràng Đại Âm rõ biết được.
Tất cả thế gian những biển nghiệp
Phật xưa khai thị đồng không khác
Khắp khiến chúng sanh nghiệp hoặc trừ
Kế Mục Vô Loạn đã rõ thấu.
Nhứt Thiết Trí địa vốn vô biên
Tất cả tâm niệm của chúng sanh
Như Lai soi thấy đều rõ ràng
Phổ Quán Thế Nghiệp môn rộng lớn.
Phật xưa nhiều kiếp tu công hạnh
Đủ vô lượng môn ba la mật
Đại bi thương xót lợi chúng sanh
Châu Biến Du Lãm được giải thoát.
Tịnh Quang Phổ Chiếu Chủ Không Thần được giải thoát môn biết khắp tất cả tâm chúng sanh trong các loài Phổ Du Thâm Quảng Thần được giải thoát môn khắp vào pháp giới.  Sanh Kiết Tường Phong Thần được giải thoát môn rõ thấu vô biên cảnh giới thân tướng.  Ly Chướng An Trụ Thần được giải thoát môn hay trừ nghiệp hoặc chướng tất cả chúng sanh.  Quảng Bộ Diệu Kế Thần được giải thoát môn khắp quán sát tư duy biển công hạnh rộng lớn.  Vô Ngại Quang Diệm Thần được giải thoát môn đại bi quang khắp cứu hộ ách nạn tất cả chúng sanh.  Vô Ngại Thắng Lực Thần được giải thoát môn vào khắp tất cả phước đức lực vô sở trước.  Ly Cấu Quang Minh Thần được giải thoát môn hay khiến tâm tất cả chúng sanh lìa cái chướng được thanh tịnh.   Thâm Viễn Diệu Âm Thần được giải thoát môn trí quang minh thấy khắp mười phương.  Quang Biến Thập Phương Thần được giải thoát môn chẳng động bổn xứ mà hiện khắp thế gian.
Lúc đó, Tịnh Quang Phổ Chiếu Thần thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Chủ Không Thần rồi kệ rằng:
Như Lai mắt rộng lớn
Như hư không thanh tịnh
Thấy khắp các chúng sanh
Tất cả đều tỏ rõ.
Thân Phật rất sáng chói
Chiếu khắp mười phương cõi
Mọi nơi đều hiện tiền
Phổ Du Thần xem thấy.
Thân Phật như hư không
Vô sanh vô sở thủ
Vô tánh vô khả đắc
Cát Tường Thần rõ thấu.
Phật từ vô lượng kiếp
Rộng nói các thánh đạo
Dứt trừ chướng chúng sanh
Ly Chướng Thần được ngộ.
Tôi xem Phật thuở xưa
Tu tập bồ đề hạnh
Vì an lạc thế gian
Diệu Kế Thầ được thấy.
Tất cả cõi chúng sanh
Lưu chuyển biển sanh tử
Phật phóng diệt khổ quang
Vô Ngại Thần thấy rõ.
Tạng công đức thanh tịnh
Làm phước điền thế gian
Dùng trí huệ hiển bày
Thắng Lực Thần tỏ ngộ.
Chúng sanh thường si mê
Lưu chuyển trong đường hiểm
Vì họ Phật phóng quang
Ly Cấu Thần chứng được
Trí huệ không ngằn mé
Hiện khắp các quốc độ
Quang minh chiếu thế gian
Diệu Âm Thần thấy Phật.
Phật vì độ chúng sanh
Khắp mười phương tu tập
Tâm nguyện lớn không lường
Quang Biến Thần thấy biết.
Vô Ngại Quang Minh Chủ Phong Thần được giải thoát môn vào khắp Phật pháp và tất cả thế gian.   Phổ Hiện Dũng Nghiệp Thần được giải thoát môn Phật xuất hiện trong vô lượng quốc độ đều cúng dường rộng lớn.  Phiêu Kích Vân Tràng Thần được giải thoát môn dùng hương phong khắp dứt trừ bịnh của tất cả chúng sanh.  Tịnh Quang Trang Nghiêm Thần được giải thoát môn khắp sanh thiện căn tất cả chúng sanh khiến dứt trừ núi chướng nặng.  Lực Năng Kiệt Thủy Thần được giải thoát môn có thể phá vô biên chúng ác ma.  Đại Thinh Biến Hống Thần được giải thoát môn dứt hẳn sự sợ hãi tất cả chúng sanh.  Thọ Diễu Thùy Kế Thần được giải thoát môn biển biện tài vào thật tướng của tất cả pháp.
Phổ Hành Vô Ngại Thần được giải thoát môn tạm phương tiện điều phục tất cả chúng sanh.  Chủng Chủg Cung Điện Thần được giải thoát môn nhập thiền định tịch tịnh dứt trừ ngu si rất nặng.  Đại Quang Phổ Chiếu Thần được giải thoát môn tùy thuận tất cả chúng sanh thật hành vô ngại.
Lúc đó, Vô Ngại Quang Minh Thần thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chúng Chủ Phong Thần rồi nói kệ rằng:
Tất cả Phật Pháp rất sâu rộng
Phương tiện vô ngại khắp vào được
Phật thường xuất hiện khắp thế gian
Không tướng, không hình, không ảnh tượng.
Ông xem thuở xa xưa
Một niệm cúng dường vô lượng Phật
Như vậy dũng mãnh hạnh bồ đề
Phổ Hiện Dũng Nghiệp được tỏ ngộ.
Như Lai cứu thế bất tư nghì
Tất cả phương tiện không luống uổng
Đều khiến chúng sanh lìa khổ lo
Phiêu Kích Vân Tràng môn giải thoát.
Chúng sanh vô phước, chịu khổ đau
Chướng nặng, cái đầy, thường che đậy
Đều khiến tất cả được thoát lìa
Tịch Quang Trang Nghiêm được rõ biết.
Thần thông rộng lớn của Như Lai
Dẹp trừ tất cả loài ma chướng
Bao nhiêu phương tiện dùng nhiếp trừ
Lực Năng Kiệt Thủy quan sát thấy.
Chân lông của Phật diễn diệu âm
Tiếng Phật thế gian đều cùng khắp
Tất cả khổ sợ đều dứt trừ
Đại Thinh Biến Hống rõ biết được.
Phật ở tất cả các quốc độ
Trong vô lượng kiếp thường diễn thuyết
Biện tài vi diệu của Như Lai
Thọ Diễu Thùy Kế đã được hiểu.
Như Lai tất cả môn phương tiện
Trí vào trong đó đều vô ngại
Cảnh giới vô biên không ai bằng
Phổ Hành Vô Ngại được giải thoát.
Như Lai cảnh giới không ngằn mé
Nơi nơi phương tiện đều khiến thấy
Mà thân tịch tịnh không tướng hình
Chủng Chủng Cung Điện được chứng nhập.
Như Lai nhiều kiếp tu công hạnh
Tất cả trí lực đều viên mãn
Thuận theo thế pháp ứng chúng sanh
Đại Quang Phổ Chiếu đã được thấy.
Phổ Quang Diệm Tạng Chủ Hỏa Thần được giải thoát môn đều trừ tối tăm tất cả thế gian.  Phổ Tập Quang Tràng Thần được giải thoát môn có thể dứt các nghiệp hoặc trôi chìm khổ của tất cả chúng sanh.  Đại Quang Biến Chiếu Thần được giải thoát môn tạng đại bi phước lạc vô động.  Chúng Diệu Cung Điện Thần được giải thoát môn quan sát Như Lai thần thông lực thị hiện vô biên tế.  Vô Tận Quang Kế Thần được giải thoát môn quang minh chiếu diện vô biên hư không giới.  Chủng Chủng Diệm Nhãn Thần được giải thoát môn các thứ phước trang nghiêm quang minh tịch tịnh.  Thập Phương Cung Điện Như Tu Di Sơn Thần được giải thoát môn dứt những khổ não của tất cả các loài.  Oai Quang Tự Tại Thần được giải thoát môn tự tại khai ngộ tất cả thế gian.  Quang Chiếu Thập Phương Thần được giải thoát môn phá hẳn tất cả kiến chấp ngu si.  Lôi Âm Điển Quang Thần được giải thoát môn thành tựu tất cả nguyện lực âm thinh chấn động.
Lúc đó, Phổ Quang Diệm Tạng Thần thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chúng Chủ Hoá Thần rồi nói kệ rằng:
Ông xem Như Lai tinh tấn lực
Rộng lớn ức kiếp bất tư nghì
Vì độ chúng sanh hiện thế gian
Bao nhiêu ám chướng khiến đều dứt.
Chúng sanh ngu si sanh kiến chấp
Phiền não như thác như lửa cháy
Đạo sư phương tiện đều dứt trừ
Phổ Tập Quang Tràng được tỏ ngộ.
Phước đức như không vô cùng tận
Cầu tìm biên tế bất khả đắc
Phật đại bi lực không động lay
Đại Quang Biến Chiếu lòng vui đẹp.
Tôi xem công hạnh của Như Lai
Trải vô lượng kiếp không ngằn mé
Như vậy thị hiện sức thần thông
Chúng Diệu Cung Thần đã rõ biết.
Ức kiếp tu hành chẳng thể suy
Cầu tìm biên tế chẳng thể biết
Diễn pháp thật tướng khiến vui mừng
Vô Tận Quang Thần quan sát thấy.
Mười phương chỗ có vô lượng chúng
Đại chúng hiện tiền chiêm ngưỡng Phật
Quang minh tịch tịnh chiếu thế gian
Chủng Chủng Diệm Nhãn hay rõ thấu.
Như Lai xuất hiện khắp thế gina
Ngồi trong tất cả cung điện báu
Tuyên thuyết đại pháp rộng vô biên
Thập Phương Cung Thần môn giải thoát.
Chư Phật trí huệ rất rộng sâu
Thế gian tự tại đều khắp hiện
Thuyết minh rành rẽ chơn thật lý
Oai Quang Tự Tại ngộ môn này.
Kiến chấp ngu si bị che tối
Chúng sanh mê lầm thường lưu chuyển
Vì họ Phật dạy diệu pháp môn
Quang Chiếu Phương Thần hay ngộ nhập.
Chí nguyện rộng lớn bất tư nghì
Thập lực lục độ đã thanh tịnh
Theo bổn nguyện xưa hiện ra đời
Lôi Âm Điển Quang rõ biết được.
Phổ Hưng Vân Tràng Chủ Thủy Thần được giải thoát môn từ tâm bình đẳng lợi ích tất cả chúng sanh.  Hải Triều Âm Thần được giải thoát môn vô biên pháp trang nghiêm.  Diệu Sắc Luân Kế Thần được giải thoát môn quan sát chúng sanh đáng giáo hóa dùng phương tiện nhiếp thọ.  Thiện Xảo Triền Phục Thần được giải thoát môn khắp diễn bày cảnh giới thậm thâm của chư Phật.  Ly Cấu Hương Tích Thần được giải thoát môn khắp hiện đại quang minh thanh tịnh.  Phước Kiều Quang Âm Thần được giải thoát môn thanh tịnh pháp giới vô tướng vô tánh.  Tri Túc Tự Tại Thần được giải thoát môn biển đại bi vô tận.  Tịnh Hỷ Thiện Âm Thần được giải thoát môn đại hoan hỷ trong đạo tràng chúng hội Bồ Tát.  Phổ Hiện Oai Quang Thần được giải thoát môn dùng sức đại phước đức vô ngại khắp xuất hiện.  Hống Thinh Biến Hải Thần được giải thoát môn quan sát tất cả chúng sanh phát khởi phương tiện điều phục như hư không. 
Lúc đó, Phổ Hưng Vân Tràng Thần thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Chủ Thủy Thần rồi nói kệ rằng:
Thanh Tịnh từ bi sát trần số
Cộng sanh một tướng của Như Lai
Mỗi mỗi tướng hảo đều như vậy
Do đây nhìn Phật không nhàm đủ.
Thế Tôn thuở xưa lúc tu hành
Khắp đến chỗ ngự tất cả Phật
Công hạnh tu hành không nhàm mỏi
Phương tiện như đây Vân Âm biết.
Phật trong tất cả mười phương cõi
Vắng lặng bất động không lai khứ
Đều khiến chúng sanh thấy thân Phật
Diệu Sắc Luân Kế hay ngộ nhập.
Như Lai cảnh giới vô biên lượng
Tất cả chúng sanh chẳng biết được
Diệu Âm diễn thuyết khắp mười phương
Thiện Xảo Triền Phục tu tập được.
Thế Tôn quang minh vô cùng tận
Chiếu khắp pháp giới bất tư nghị
Thuyết pháp giáo hóa độ chúng sanh
Ly Cấu Hương Tích quan sát thấy.
Như Lai thanh tịnh đồng hư không
Vô tướng vô hình mười phương khắp
Tất cả chúng hội đều được thấy
Phước Quang Âm Thần khéo quan sát.
Phật xưa tu tập môn đại bi
Tâm Phật rộng khắp đồng chúng sanh
Dường như mây lớn hiện thế gian
Môn giải thoát này Trí Túc biết.
Tất cả thập phương các quốc độ
Đều thấy Như Lai ngự pháp tòa
Khai ngộ rành rẽ đại bồ đề
Tịnh Hỷ Thiện Âm được chứng nhập.
Chư Phật chỗ làm không chướng ngại
Qua khắp mười phương tất cả cõi
Các nơi thị hiện đại thần thông
Phổ Hiện Oai Quang đã ngộ được.
Tu tập vô biên hạnh phương tiện
Khắp cõi chúng sanh đều đầy đủ
Thần thông diệu dụng chẳng tạm dừng
Hống Thinh Biến Hải chứng nhập được.
Xuất Hiện Bửu Quang Chủ Hải Thần được giải thoát môn dùng thân châu báu trang nghiêm tâm bình đẳng bố thí phước đức cho tất cả chúng sanh.  Bất Khả Hoại Kim Cang Tràng Thần được giải thoát môn phuog tiện khéo giữ gìn thiện căn của tất cả chúng sanh.  Bất Tạp Ly Cấu Thần được giải thoát môn có thể làm cạn biển phiền não của tất cả chúng sanh.  Hằng Trụ Ba Lãng Thần được giải thoát môn khiến tất cả chúng sanh lìa ác đạo.  Cát Tường Bửu Nguyệt Thần được giải thoát môn khắp dứt trừ đại si ám.  Diệu Hoa Long Kế Thần được giải thoát môn dứt trừ tất cả sự khổ của các loài ma mà ban cho sự an lạc.  Phổ Trì Quang Vị Thần được giải thoát môn chữa sạch kiến chấp ngu si của tất cả chúng sanh.  Bửu Diệm Hoa Quang Thần được giải thoát môn xuất sanh tất cả bửu chủng tánh bồ đề tâm.  Kim Cang Diệu Kế Thần được giải thoát môn biển công đức tâm bất động.  Hải Triều Lôi Âm Thần được giải thoát môn vào khắp môn pháp giới tam muội.
Lúc đó, Xuất Hiện Bửu Quang Thần thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Chủ Hải Thần rồi nói kệ rằng:
Bất khả tư nghì biển đại kiếp
Cúng dường tất cả mười phương Phật
Khắp đem công đức thí quần sanh
Do đây đoan nghiêm không ai sánh.
Tất cả thế gian đều xuất hiện
Chúng sanh căn dục đều biết rõ
Vì họ hoằng tuyên biển pháp môn
Bất Hoại Kim Tràng vui được ngộ.
Phật là đạo sư của thế gian
Pháp vân pháp vũ chẳng lường được
Tiêu cạn biển khổ vốn vô cùng
Bất Tạp Trần Cấu môn ngộ nhập.
Phiền não che đậy các chúng sanh
Lưu chuyển các loài chịu khổ não
Vì họ khai thị cảnh Như Lai
Hằng Trụ Ba Thần đã chứng được.
Phật trong nhiều kiếp khó nghĩ bàn
Tu hành công hạnh vô cùng tận
Dứt hẳn lưới nghi của chúng sanh
Cát Tường Bửu Nguyệt đã được biết.
Phật thấy chúng sanh thường khủng bố
Lưu chuyển trong biển sanh tử lớn
Khai đạo vô thượng của Như Lai
Diệu Hoa Long Kế đã hiểu được.
Chư Phật cảnh giới bất tư nghì
Pháp giới hư không tướng bình đẳng
Trừ sạch lưới nghi của chúng sanh
Trì Quang Vị Thần hay tuyên thuyết.
Phật nhãn thanh tịnh bất tư nghì
Tất cả cảnh giới đều gồm thấy
Đem đạo vi diệu dạy chúng sanh
Bửu Diệm Hoa Quang tâm tỏ ngộ.
Ma quân rộng lớn số vô lượng
Trong một sát na đều trừ diệt
Tâm không lay động khó nghĩ lường
Kim Cang Diệu Kế được phương tiện.
Khắp mười phương cõi diễn diệu âm
Mười phương pháp giới đều cùng khắp
Cảnh giới tam muội của Như Lai
Hải Triều Âm Thần được rõ biết.
Phổ Phát Tấn Lưu Chủ Hà Thần được giải thoát âm khắp mưa vô biên pháp vũ.  Phổ Khiết Tuyền Giản Thần được giải thoát môn khắp hiện trước tất cả chúng sanh khiến lìa hẳn phiền não.  Ly Trần Tịnh Nhãn Thần được giải thoát môn dùng phương tiện đại bi khắp rửa sạch phiền não trần cấu của tất cả chúng sanh.  Thập Phương Biến Hống Thần được giải thoát môn hằng ra tiếng lợi ích chúng sanh.  Phổ Cứu Hộ Chúng Sanh Thần được giải thoát môn thường sanh lòng từ không não hại đối với tất cả hàm thức.  Vô Nhiệt Tịnh Quang Thần được giải thoát môn khắp thị hiện tất cả căn lành mát mẻ.  Phổ Sanh Hoan Hỷ Thần được giải thoát môn tu hành đầy đủ bố thí khiến tất cả chúng sanh lìa hẳn bỏn sẻn.  Quảng Đức Thắng Tràng Thần được giải thoát môn làm tất cả phước điền hoan hỷ.  Quang Chiếu Phổ Thế Thần được giải thoát môn hay khiến tất cả chúng sanh người tạp nhiễm được thanh tịnh, kẻ sân độc được hoan hỷ.  Hải Đức Quang Minh Thần được giải thoát môn hay khiến tất cả chúng sanh vào biển giải thoát thường hưởng vui đầy đủ.
Lúc đó, Phổ Phát Tấn Lưu Thần thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Chủ Hà Thần rồi nói kệ rằng:
Như Lai thuở trước vì chúng sanh
Tu tập pháp hải vô biên hạnh
Dường như mưa rưới tan nóng nực
Dứt hết phiền não của chúng sanh.
Phật xưa nhiều kiếp bất tư nghì
Quang Minh đại nguyện sạch thế gian
Căn tánh thuần thục khiến ngộ đạo
Phổ Khiết Tuyền Thần tâm được ngộ.
Đại bi phương tiện khắp chúng sanh
Đều hiện trước họ thường giáo hóa
Khiến họ dứt sạch phiề não nhơ
Tịnh Nhãn thấy đây rất vui đẹp.
Phật diễn diệu âm đều khiến nghe
Chúng sanh ưa thích lòng hoan hỷ
Đều khiến trừ sạch vô lượng khổ
Biến Hống Thần đây được giải thoát.
Phật xưa tu tập hạnh bồ đề
Vì lợi chúng sanh vô lượng kiếp
Do đó quang minh khắp thế gian
Phổ Cứu Hộ Thần nhớ biết rõ.
Phật xưa tu hành vì chúng sanh
Phương tiện giáo hóa khiến thành thục
Biển phước thanh tịnh trừ khổ phiền
Vô Nhiệt Quang Thần đã được thấy.
Bố thí rất rộng lớn vô cùng
Tất cả chúng sanh đều lợi ích
Hay khiến người thấy hết xan tham
Phổ Hoan Hỷ Thần được tỏ ngộ.
Phật xưa tu hành thật phương tiện
Thành tựu vô biên biển công đức
Người thấy được Phật đều mừng rỡ
Đức Thắng Tràng Thần lòng vui thích.
Chúng sanh phiền não đều trừ sạch
Từ tâm bình đẳng với oán thù
Nên được quang minh chiếu khắp nơi
Phổ Chiếu Thế Thần được thấy rõ.
Phật là biển phước điền công đức
Hay khiến chúng sanh lìa điều ác
Nhẫn đến thành tựu đại bồ đề
Hải Đức Minh Thần được giải thoát.
Nhu Nhuyến Thắng Vị Chủ Giá Thần được giải thoát môn đem pháp vị cho chúng sanh khiến thành tựu thân Phật.  Thời Hoa Tịnh Quang Thần được giải thoát môn hay khiến tất cả chúng sanh được sự vui mừng rộng lớn.  Sắc Lực Dũng Kiện Thần được giải thoát môn dùng tất cả pháp môn viên mãn làm cho các cảnh giới đều thanh tịnh.  Tăng Ích Tinh Khí Thần được giải thoát môn thấy đại bi vô lượng thần thông biến hóa của Phật.  Phổ Sanh Căn Quả Thần được giải thoát môn khắp hiện Phật phước điền khiến gieo giống không hư mất.  Diệu Nghiêm Hoàn Kế Thần được giải thoát môn khắp phát hoa tịnh tín của chúng sanh.  Nhuận Trạch Tịnh Hoa Thần được giải thoát môn đại từ cứu tế chúng sanh khiến thêm lớn biển phước đức.  Thành Tựu Diệu Hương Thần được giải thoát môn rộng khai thị tất cả hành pháp.  Kiến Giả Ái Nhạo Thần được giải thoát môn hay khiến pháp giới chúng sanh xa lìa những điều ác giải đãi ưu não đều được thanh tịnh.  Ly Cấu Quang Minh Thần được giải thoát môn quan sát thiện căn của tất cả chúng sanh tuỳ thuận thuyết pháp khiến chúng hội được vui mừng đầy đủ.
Lúc đó, Nhu Nhuyến Thắng Vị Thần thừa oai lực của Phật, quan sát khắp hết tất cả chúng Chủ Giá Thần rồi nói kệ rằng:
Như Lai vô thượng biển công đức
Khắp hiện đèn sáng chiếu thế gian
Tất cả chúng sanh đều cứu độ
Ban cho an lạc chẳng sót thừa.
Thế Tôn công đức vô lượng biên
Chúng sanh được nghe chẳng luống bỏ
Đều khiến lìa khổ thường vui mừng
Thời Hoa Quang Thần được chứng nhập.
Như Lai trí lực đều viên mãn
Công đức trang nghiêm hiện thế gian
Điều phục tất cả loài chúng sanh
Pháp này Dũng Kiện được chứng rõ.
Phật xưa tu tập biển đại bi
Tâm Phật niệm niệm khắp thế gian
Thần thông của Phật thật vô biên
Tăng Tinh Khí Thần quan sát thấy.
Phật khắp thế gian thường hiện tiền
Tất cả phương tiện không luống bỏ
Chúng sanh phiền não đều sạch trừ
Sanh Căn Quả Thần được giải thoát.
Phật là biển trí của thế gian
Phóng tịnh quanh minh đều cùng khắp
Tin hiểu rộng lớn từ đây sanh
Diệu Nghiêm Kế Thần được ngộ nhập.
Phật quán thế gian khởi từ tâm
Vì lợi chúng sanh mà xuất hiện
Khai thị thắng đạo rất vui lành
Nhuận Tinh Hoa Thần môn giải thoát.
Thiện Thệ tu hành hạnh thanh tịnh
Dưới cội bồ đề tuyên thuyết đủ
Giáo hóa như vậy khắp mười phương
Thành Diệu Hương Thần lãnh hội được.
Phật nơi tất cả các thế gian
Khiến lìa ưu não sanh đại hỷ
Bao nhiêu căn dục khiến sạch trừ
Kiến Ái Nhạo Thần được ngộ nhập.
Như Lai xuất hiện nơi thế gian
Quan sát chúng sanh lòng ưa thích
Các môn phương tiện khiến thành thục
Ly Cấu Quang Thần môn giải thoát.
Kiết Tường Chủ Dược Thần được giải thoát môn quan sát khắp tâm của tất cả chúng sanh mà siêng năng nhiếp thủ.  Chiên Đàn Lâm Thần được giải thoát môn dùng quang minh nhiếp thủ chúng sanh khiến họ được lợi ích.  Ly Trần Quang Minh Thần được giải thoát môn dùng phương tiện thanh tịnh dứt trừ phiền não của tất cả chúng sanh.  Danh Xưng Phổ Văn Thần được giải thoát môn hay dùng đại danh xưng thêm lớn vô biên thiện căn.  Mao Khổng Hiện Quang Thần được giải thoát môn đại bi tràng mau đến tất cả cảnh giới bịnh tật.  Phá Ám Thanh Tịnh Thần được giải thoát môn chữa trị tất cả chúng sanh mù lòa khiến được trí nhãn thanh tịnh.  Phổ Phát Hống Thinh Thần được giải thoát môn hay diễn Phật Âm giảng nghĩa sai biệt của các pháp.  Tế Nhựt Quang Tràng Thần được giải thoát môn hay làm thiện tri thức khiến chúng sanh đều phát thiện căn.  Minh Kiến Thập Phương Thần được giải thoát môn tạng đại bi thanh tịnh hay dùng phương tiện khiến chúng sanh tín giải.  Phổ Phát Oai Quang Thần được giải thoát môn phương tiện khiến niệm Phật dứt trừ bịnh của tất cả chúng sanh. 
Lúc đó, Kiết Tường Thần thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Chủ Dược Thần rồi nói kệ rằng:
Như Lai trí tuệ bất tư nghì
Chúng sanh tâm niệm đều rõ biết
Hay dùng vô lượng phương tiện môn
Dứt trừ chúng sanh vô lượng khổ.
Đại Hùng thiện xảo khó nghĩ lường
Hành động thi vi không luốn uổng
Tất khiến chúng sanh khổ dứt trừ
Chiên Đàn Lâm Thần đã ngộ được.
Ông xem chư Phật pháp dường ấy
Thuở xưa siêng tu vô lượng kiếp
Đối với các cõi không chấp tham
Ly Trần Quang Thần được chứng nhập.
Trăm ngàn muôn kiếp khó gặp Phật
Ai được thấy Phật và nghe danh
Tất được lợi ích không luống qua
Danh Xưng Phổ Văn đã biết rõ.
Trong mỗi chân lông của Như Lai
Đều phóng quang minh dứt các khổ
Thế gian phiền não đều dứt trừ
Mao Khổng Quang Thần môn ngộ nhập.
Chúng sanh ngu si bị mù lòa
Nghiệp hoặc khổ não nhiều vô lượng
Phật đều dứt trừ khai trí huệ
Phá Ám Tịnh Thần quan sát thấy.
Như Lai nhứt âm vô hạn lượng
Khai diễn tất cả biển pháp môn
Chúng sanh được nghe đều biết rành
Phát Hống Thinh Thần được giải thoát.
Ông xem Phật trí khó nghĩ bàn
Hiện vào các loài để cứu độ
Hay khiến người thấy đều thuận theo
Tế Nhựt Tràng Thần rõ biết được.
Như Lai phương tiện biển đại bi
Vì cứu chúng sanh mà xuất hiện
Rộng khai chánh đạo dạy chúng sanh
Kiến Thập Phương Thần đã rõ thấu.
Như Lai khắp phóng đại quang minh
Tất cả mười phương đều chiếu đến
Chúng sanh niệm Phật sanh công đức
Phổ Phát Quang Thần môn giải thoát.
Bố Hoa Như Vân Chủ Lâm Thần được giải thoát môn biển trí rộng lớn vô biên.  Trạc Cán Thơ Quang Thần được giải thoát môn sửa sang rộng lớn khắp thanh tịnh.  Sanh Nha Phát Diệu Thần được giải thoát môn tăng trưởng các thứ mầm tịnh tín.  Kiết Tường Tịnh Diệp Thần được trang nghiêm tất cả công đức thanh tịnh.  Thùy Bố Diệm Tạng Thần được giải thoát môn trí huệ phổ môn thanh tịnh thường xem khắp pháp giới.  Diệu Trang Nghiêm Quang Thần được giải thoát môn biết khắp công hạnh của tất cả chúng sanh mà bủa giăng mây pháp.  Khả Ái Lôi Thinh Thần được giải thoát môn nhẫn thọ tất cả tiếng trái ý mà diễn thuyết âm thinh thanh tịnh.  Hương Quang Phổ Biến Thần được giải thoát môn hiện khắp mười phương những cảnh giới rộng lớn đã làm từ thuở xưa.  Diệu Quang Hoánh Diệu Thần được giải thoát môn dùng tất cả công đức nhiêu ích thế gian.  Hoa Quả Quang Vị Thần được giải thoát môn hay khiến tất cả chúng sanh thấy Phật ra đời thường kính nhớ chẳng quên trang nghiêm tạng công đức.
Lúc đó, Hoa Bố Như Vân Thần thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Chủ Lâm Thần rồi nói kệ rằng:
Phật xưa tu tập hạnh bồ đề
Phước đức trí huệ đều viên mãn
Tất cả trí lực trọn đủ đầy
Phóng đại quang minh mà xuất thế.
Đại bi vô lượng khắp chúng sanh
Như Lai thuở xưa tu thanh tịnh
Nên nay hay làm lợi thế gian
Trạc Thơ Quang Thần biết rõ được.
Nếu người thấy Phật được một lần
Tất được thắng vào biển thâm tín
Khai thị tất cả đạo Như Lai
Sanh Nha Diệu Thần môn giải thoát.
Chân lông chứa nhóm các công đức
Ức kiếp tuyên dương chẳng thể hết
Chư Phật phương tiện khó nghĩ bàn
Cát Tường Diệp Thần hay hiểu rõ.
Tôi nhớ Như Lai thuở xa xưa
Cúng dường sát trần vô lượng Phật
Trí huệ lần lần thêm sáng suốt
Bố Diệm Tạng Thần rõ biết được.
Tất cả chúng sanh nhiều công hạnh
Thế Tôn một niệm đều rõ biết
Trí huệ vô ngại rộng vô biên
Diệu Nghiêm Quang Thần hay ngộ nhập.
Hằng diễn Như Lai tịch diệu âm
Khắp sanh vô lượng đại hoan hỷ
Tùy theo căn tánh đều được ngộ
Lôi Âm Thần đây đã làm được.
Như Lai thị hiện đại thần thông
Mười phương quốc độ đều cùng khắp
Phật xưa tu hành khiến được thấy
Phổ Hương Quang Thần được chứng nhập.
Chúng sanh gian ác chẳng biết tu
Mê hoặc trầm luân trong sanh tử
Vì họ mở bày đường trí huệ
Diệu Quang Lâm Thần đã được thấy.
Phật vì nghiệp chướng các chúng sanh
Qua vô lượng kiếp mới xuất hiện
Người khác niệm niệm thường khiến thấy
Hoa Quả Vị Thần quan sát được.
Bửu Phong Khai Hoa Chủ Sơn Thần được giải thoát môn nhập đại tịch định quang minh.  Hoa Lâm Diệu Kế Thần được giải thoát môn tu tập từ thiện căn thành thục bất khả tư nghì số chúng sanh.  Cao Tràng Phổ Chiếu Thần được giải thoát môn quan sát tất cả tâm ưa thích của chúng sanh làm nghiêm tịnh các căn.  Ly Trần Bửu Kế Thần được giải thoát môn vô biên kiếp tinh tấn không nhàm trễ.  Quang Chiếu Thập Phương Thần được giải thoát môn dùng vô biên công đức quang khắp giác ngộ.  Đại Lực Quang Minh Thần được giải thoát môn hay tự thành thục lại khiến chúng sanh xa lìa ngu mê.  Oai Quang Phổ Thắng Thần được giải thoát môn trừ tất cả khổ khiến không còn thừa.  Vi Mật Quang Luân Thần được giải thoát môn diễn giáo pháp quang minh hiển bầy tất cả công đức của Như Lai.  Phổ Nhãn Hiện Kiến Thần được giải thoát môn khiến tất cả chúng sanh, nhẫn đến trong chiêm bao, đều thêm lớn thiện căn.  Kim Cang Kiên Cố Nhãn Thần được giải thoát môn xuất hiện vô biên đại nghĩa.
Lúc đó, Bửu Phong Khai Phong Thần thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Chủ Sơn Thần rồi nói kệ rằng:
Xưa tự tại thắng hạnh rộng vô biên
Nay được thần thông cũng vô lượng
Rộng mở pháp môn nhiều vô số
Đều khiến chúng sanh được tỏ ngộ.
Tướng hảo nghiêm thân khắp thế gian
Ánh sáng chân lông đều thanh tịnh
Đại từ phương tiện bày tất cả
Diệu Kế Sơn Thần ngộ môn này.
Phật thân hiện khắp vô biên cõi
Thập phương thế giới đều đủ cả
Tướng hảo nghiêm tịnh người vui mừng
Phổ Chiếu Sơn Thần ngộ nhập.
Nhiều kiếp siêng tu không lười mỏi
Chẳng nhiễm thế pháp như hư không
Các môn phương tiện độ chúng sanh
Môn này Bửu Kế Thần được ngộ.
Chúng sanh tối tâm vào đường hiểm
Phật xót thương họ phóng quang chiếu
Khiến khắp thế gian tỉnh giấc mơ
Quang chiếu vui mừng tâm được ngộ.
Xưa ở các cõi rộng tu hành
Cúng dường thập phương vô số Phật
Chúng sanh được thấy phát nguyện to
Đại Lực Sơn Thần đã thấy rõ.
Thấy các chúng sanh lưu chuyển khổ
Tất cả nghiệp chướng luôn ràng buộc
Dùng trí huệ quang đều dứt trừ
Phổ Thắng Sơn Thần được giải thoát.
Mỗi mỗi chân lông vang tiếng diệu
Tùy chúng sanh tâm ca ngợi Phật
Khắp cả mười phương vô lượng kiếp
Quang Luân Sơn Thần chứng môn này.
Khắp cả mười phương Phật hiện tiền
Các môn phương tiện thuyết diệu pháp
Lợi ích chúng sanh nhiều công hạnh
Hiện Kiến Sơn Thần được tỏ ngộ.
Pháp môn vô lượng dường biển cả
Nhứt âm diễn thuyết người đều hiểu
Cả kiếp diễn bày vẫn chẳng cùng
Môn phương tiện này Kim Cang được.
Phổ Đức Tịnh Hoa Chủ Địa Thần được giải thoát môn dùng tâm từ bi niệm niệm quan sát khắp tất cả chúng sanh.  Kiên Phước Trang Nghiêm Thần được giải thoát môn hiện khắp năng lực phước đức của tất cả chúng sanh.  Diệu Hoa Nghiêm Thọ Thần được giải thoát môn vào khắp các pháp xuất sanh tất cả cõi Phật trang nghiêm.  Phổ Tán Chúng Bửu Thần được giải thoát môn tu tập các môn tam muội khiến các chúng sanh trừ chướng cấu.  Tịnh Mục Quán Thời Thần được giải thoát môn khiến tất cả chúng sanh thường du hí khoái lạc.  Kim Sắc Diệu Nhãn Thần được giải thoát môn thị hiện tất cả thân thanh tịnh điều phục chúng sanh.  Hương Mao Phát Quang Thần được giải thoát môn rõ biết biển công đức đại oai lực của tất cả Phật.  Tịch Âm Duyệt Ý Thần được giải thoát môn nhiếp trì khắp biển âm thinh của tất cả chúng sanh.  Diệu Hoa Triền Kế Thần được giải thoát môn đầy đủ tánh ly cấu.  Kim Cang Phổ Trì Thần được giải thoát môn khắp xuất hiện tất cả pháp luân của Phật nhiếp trì.
Lúc đó, Phổ Đức Tịnh Hoa Thần thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Chủ Địa Thần rồi nói kệ rằng:
Như Lai thuở xưa trong mỗi niệm
Môn đại từ bi bất khả thuyết
Tu hành như vậy không thôi ngừng
Nên được bền chắc thân bất hoại.
Tam thế chúng sanh và Bồ Tát
Tất cả phước đức đã tạo được
Đều hiện chân lông của Như Lai
Phước Nghiêm Địa Thần đã được thấy.
Tam muội tịch tịnh rất rộng lớn
Bất sanh bất diệt không lai khứ
Nghiêm tịnh quốc độ dạy chúng sanh
Diệu Hoa Địa Thần được giải thoát.
Phật thuở xa xứa tu các hạnh
Vì khiến chúng sanh tiêu chướng nặng
Phổ Tán Chúng Bửu Chủ Địa Thần
Thấy giải thoát này lòng mừng rỡ.
Như Lai cảnh giới không ngằn mé
Thế gian niệm niệm đều hiện khắp
Tịnh Mục Quán Thời Chủ Địa Thần
Thấy công hạnh Phật lòng vui đẹp.
Diệu Âm vô hạn bất tư nghì
Khắp vi chúng sanh trừ phiền não
Thấy Phật công đức rộng vô biên
Kim Sắc Nhãn Thần hay tỏ ngộ.
Tất cả sắc hình đều hóa hiện
Mười phương pháp giới đều đầy khắp
Như vậy hóa độ các chúng sanh
Hương Mao Địa Thần thường thấy Phật.
Diệu Âm cùng khắp cả mười phương
Trải vô lượng kiếp thường diễn thuyết
Duyệt Ý Địa Thần được suốt thông
Theo Phật được nghe rất mừng kính.
Chân lông thân Phật tuông mây thơm
Tùy chúng sanh tâm khắp các cõi
Những ai được thấy thành căn lành
Diệu Hoa Kế Thần thường quan sát.
Kiên cố khó hoại như kim cang
Chẳng thể lay động hơn tu di
Phật thân như vậy ở thế gian
Phổ Trì Địa Thần được thấy rõ.
Bửu Phong Quang Diệu Chủ Thành Thần được giải thoát môn phương tiện lợi ích chúng sanh.  Diệu Nghiêm Cung Điện Thần được giải thoát môn biết căn tánh chúng sanh giáo hóa thành thục.  Thanh Tịnh Hỷ Bửu Thần được giải thoát môn thường vui mừng khiến tất cả chúng sanh hưởng thọ phước đức.  Ly Ưu Thanh Tịnh Thần được giải thoát môn tạng đại bi cứu những kẻ bố úy.  Hoa Đăng Diệm Nhãn Thần được giải thoát môn đại trí huệ khắp rõ suốt.  Diệm Tràng Minh Hiện Thần được giải thoát môn phương tiện khắp thị hiện.  Thạnh Phước Oai Quang Thần được giải thoát môn quan sát khắp tất cả chúng sanh khiến tu biển phước đức rộng lớn.  Tịnh Quang Minh Thân Thần được giải thoát môn khai ngộ tất cả chúng sanh ngu ám.  Hương Tràng Trang Nghiêm Thần được giải thoát môn quan sát thần lực tự tại của Như Lai khắp thế gian điều phục chúng sanh.  Bửu Phong Quang Mục Thần được giải thoát môn có thể dùng đại quang minh phá núi chướng ngại của tất cả chúng sanh.
Lúc đó, Bửu Phong Quang Diệu Thần thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Chủ Thành Thần rồi nói kệ rằng:
Đạo Sư thần lực bất tư nghì
Quang minh chiếu khắp mười phương cõi
Chúng sanh hiện tiền thấy Như Lai
Giáo hóa thành thục vô lượng số.
Chúng sanh căn tánh đều sai khác
Phật rõ biết cả không dư sót
Diệu Nghiêm Cung Điện Chủ Thành Thần
Chứng được môn này lòng mừng rỡ.
Như Lai vô lượng kiếp tu hành
Hộ trì chánh pháp của chư Phật
Tâm thường thừa phụng sanh hoan hỷ
Môn này Diệu Bửu Thần được ngộ.
Như Lai từ xưa đã trừ được
Tất cả khủng bố của chúng sanh
Luôn luôn với họ khởi từ bi
Ly Ưu Thành Thần mừng được ngộ
Phật trí quảng đại vô hạn biên
Ví như hư không chẳng lường được
Hoa Đăng Diệm Nhãn Chủ Thành Thần
Học được Như Lai môn diệu huệ.
Phật thân sắc tướng đồng chúng sanh
Tùy họ ưa thích đều khiến thấy
Diệm Tràng Minh Hiện Chủ Thành Thần
Học phương tiện này lòng hoan hỷ.
Như Lai ngày trước tu phước đức
Thanh tịnh quảng đại vô biên tế
Thạnh Phước Oai Quag Chủ Thành Thần
Quán Sát tỏ ngộ lòng vui thích.
Chúng sanh ngu mê trong các cõi
Như kẻ sanh manh trọn không thấy
Vì lợi ích họ Phật ra đời
Tịnh Quang Minh Thần được chứng nhập.
Như Lai tự tại rộng vô biên
Như mây che khắp cùng thế giới
Nhẫn đến hiện mộng khiến điều phục
Môn này Hương Tràng quan sát thấy.
Chúng sanh si tối như mù lòa
Các thứ chướng cái theo ràng buộc
Phật quang chiếu suốt khiến mở ra
Quang Mục Thành Thần được chứng nhập.
Tịnh Trang Nghiêm Tràng Đạo Tràng Thần được giải thoát môn đủ sức thệ nguyện xuất hiện cúng dường Phật rộng lớn trang nghiêm.  Tu Di Bửu Quang Đạo Tràng Thần được giải thoát môn thành tựu bồ đề hạnh rộng lớn hiện ra trước tất cả chúng sanh.  Lôi Âm Tràng Tướng Đạo Tràng Thần được giải thoát môn tùy tâm ưa thích của tất cả chúng sanh khiến trong chiêm bao thấy Phật thuyết pháp.  Vũ Hoa Diệu Nhãn Thần được giải thoát môn hay mưa tất cả đồ báu trang nghiêm.  Thanh Tịnh Diệm Hình Thần được giải thoát môn có thể hiện đạo tràng trang nghiêm vi diệu rộng giáo hóa chúng sanh khiến thành thục.  Hoa Anh Thùy Kế Thần được giải thoát môn  theo căn cơ thuyết pháp khiến sanh chánh niệm.  Vũ Bửu Trang Nghiêm Thần được giải thoát môn hay dùng biện tài khắp mưa vô biên pháp hoan hỷ.  Dũng Mãnh Hương Nhãn Thần được giải thoát môn rộng khen ngợi công đức của chư Phật.  Kim Cang Thể Vân Thần được giải thoát môn thị hiện vô biên sắc tướng trang nghiêm đạo tràng.  Liên Hoa Quang Minh Thần được giải thoát môn dưới cội bồ đề yên lặng bất động mà đến khắp mười phương.  Diệu Quang Chiếu Diệu Thần được giải thoát môn hiển thị những trí lực của Như Lai.
Lúc đó, Tịnh Trang Nghiêm Tràng Thần thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Đạo Tràng Thần rồi nói kệ rằng:
Tôi nhớ Như Lai thuở xa xưa
Trong vô lượng kiếp tu công hạnh
Chư Phật xuất thế đều cúng dường
Được công đức lớn dường hư không.
Phật xưa bố thí vô cùng tận
Vô lượng cõi nước như vi trần
Tu Di Bửu Quang Đạo Tràng Thần
Nhớ đến Như Lai lòng hớn hở.
Như Lai sắ tướng vốn vô cùng
Biến hóa rộng khắp tất cả cõi
Chúng sanh mơ mộng thường thị hiện
Lôi Âm Tràng Thần quan sát thấy.
Phật vô lượng kiếp tu hạnh xả
Xả được khó xả trí như biển
Xả hạnh như vậy vì chúng sanh
Diệu Nhãn Hoa Thần tỏ ngộ được.
Vô biên sắc tướng như mây báu
Hiện bồ đề tràng khắp thế gian
Thanh Tịnh Diệm Hình Đạo Tràng Thần
Thấy Phật tự tại sanh hoan hỷ.
Chúng sanh công hạnh biển vô biên
Như Lai cùng khắp rưới mưa pháp
Tuỳ căn tánh họ trừ nghi hoặc
Hoa Anh Tràng Thần đã được ngộ.
Vô lượng pháp môn nghĩa sai khác
Biện tài rộng lớn đều vào được
Vũ Bửu Nghiêm Cụ Đạo Tràng Thần
Nơi tâm niệm niệm thường như vậy.
Tất cả quốc độ bất khả thuyết
Dùng hết ngôn từ ca ngợi Phật
Nên được danh dự công đức to
Dũng Mãnh Nhãn Thần ghi nhớ được.
Các thứ sắc tướng nhiều vô biên
Dưới cội bồ đề đều khắp hiện
Kim Thể Vân Thần ngộ môn này
Hằng quán đạo thọ sanh hoan hỷ.
Biên tế mười phương bất khả đắc
Phật tọa đạo tràng trí cũng vậy
Liên Hoa Quang Minh Đạo Tràng Thần
Được giải thoát này rất vui thích.
Đạo Tràng tất cả xuất diệu âm
Ca ngợi Như Lai trí thanh tịnh
Cũng khen nhơn hạnh đã viên thành
Diệu Quang Chiếu Thần nghe hiểu được.
Bửu Ấn Thủ Túc Hành Thần được giải thoát môn khắp rưới những châu báu sanh hoan hỷ rộng lớn.  Liên Hoa Quang Thần được giải thoát môn thị hiện Phật thân ngồi tất cả tòa liên hoa sáng đẹp khiến người thấy vui mừng.  Tối Thắng Hoa Kế Thần được giải thoát môn trong mỗi tâm niệm kiến lập chúng hội đạo tràng của tất cả Như Lai.  Nhiếp Chư Thiện Kiến Thần được giải thoát môn cất chân bước đi đều điều phục vô biên chúng sanh.  Diệu Bửu Tinh Tràng Thần được giải thoát môn trong mỗi niệm hóa hiện các thứ lưới liên hoa chiếu sáng rưới những châu báu vang ra thinh âm vi diệu.  Nhạo Thổ Diệu Âm Thần được giải thoát môn xuất sanh vô biên hoan hỷ.  Chiên Đàn Thọ Quang Thần được giải thoát môn dùng hương phong giác ngộ khắp tất cả chúng hội đạo tràng.  Liên Hoa Quang Minh Thần được giải thoát môn tất chân lông phóng quang minh diễn pháp âm vi diệu.  Vi Diệu Quang Minh Thần được giải thoát môn nơi thân phóng ra các thứ lưới quang minh chiếu sáng khắp nơi.  Tích Tập Diệu Hoa Thần được giải thoát môn khai ngộ tất cả chúng sanh khiến sanh nhiều thiện căn.
Lúc đó, Bửu Ấn Thủ Thần thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Túc Hành Thần rồi nói kệ rằng:
Phật xưa tu hành vô lượng kiếp
Cúng dường tất cả mười phương Phật
Tâm thường vui đẹp chẳng mỏi nhàm
Tâm hoan hỷ rộng sâu như biển.
Niệm niệm thần thông chẳng thể lường
Hóa hiện hoa sen hương thơm ngát
Phật ngồi tòa sen đi khắp nơi
Liên Hoa Quang Thần đều thấy rõ.
Chư Phật Như Lai pháp như vậy
Chúng hội rộng lớn khắp mười phương
Thị hiện thần thông bất tư nghì
Tối Thắng Hoa Thần đều thấy biết.
Cõi nước mười phương tất cả chỗ
Nơi đó dở chân hoặc hạ chân
Đều hay thành tựu các chúng sanh
Nhiếp Thiện Kiến Thần tâm được ngộ.
Như số chúng sanh khắp hiện thân
Mỗi mỗi thân này khắp pháp giới
Đều phóng tịnh quang rưới các báu
Diệu Bảo Tinh Thần được chứng nhập.
Như Lai cảnh giới vô biên tế
Khắp rưới pháp vũ đều cùng khắp
Chúng hội thấy Phật sanh vui mừng
Thổ Diệu Âm Thần thấy biết được
Âm thanh của Phật đồng hư không
Tất cả âm thinh đều ở trong
Điều phục chúng sanh đều cùng khắp
Chiên Đàn Thọ Thần nghe hiểu được.
Tất cả chân lông vang tiếng pháp
Diễn thuyết hồng danh tam thế Phật
Người nghe tiếng này đều vui mừng
Liên Hoa Quang Thần thấy như vậy.
Phật thân biến hiện bất tư nghì
Mỗi bước hiện tướng dường như biển
Tùy tâm chúng sanh khiến được thấy
Diệu Quang Minh Thần được giải thoát.
Mười phương khắp hiện đại thần thông
Tất cả chúng sanh đều khai ngộ
Tập Diệu Hoa Thần nơi pháp này
Thấy biết trong lòng rất hoan hỷ.
Tịnh Hỷ Cảnh Giới Thân Chúng Thần được giải thoát môn nhớ biển thệ nguyện thuở xưa của Phật.  Quang Chiếu Thập Phương Thần được giải thoát môn quang minh phổ chiếu vô biên thế giới.  Hải Âm Điều Phục Thần được giải thoát môn đại âm khắp giác ngộ tất cả chúng sanh khiến vui mừng điều phục.  Tịnh Hoa Nghiêm Kế Thần được giải thoát môn thân ở cùng khắp như hư không.  Vô Lượng Oai Nghi Thần được giải thoát môn thị hiện cảnh giới chư Phật cho tất cả chúng sanh.  Tối Thắng Quang Nghiêm Thần được giải thoát môn khiến tất cả chúng sanh đói thiếu được sắc lực đầy đủ.  Tịnh Quang Hương Vân Thần được giải thoát môn trừ phiền não cấu của tất cả chúng sanh.  Thủ Hộ Nhiếp Trì Thần được giải thoát môn chuyển nghiệp ma ngu si của tất cả chúng sanh.  Phổ Hiện Nhiếp Hóa Thần được giải thoát môn khắp ở nơi trong tất cả cung điện của thế chủ hiển thị tướng trang nghiêm.  Bất Động Quang Minh Thần được giải thoát môn nhiếp khắp tất cả chúng sanh đều khiến sanh thiện căn thanh tịnh.
Lúc đó, Tịnh Hỷ Cảnh Giới Thần thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả Thân Chúng Thần rồi nói kệ rằng:
Tôi nhớ vi trần kiếp về trước
Có Phật Diệu Quang hiện xuất thế
Thế Tôn nơi đức Như Lai kia
Phát tâm cúng dường tất cả Phật.
Như Lai thân phóng đại quang minh
Quang chiếu pháp giới đều đầy khắp
Chúng sanh gặp được tâm điều phục
Quang Chiếu Phương Thần đã được thấy.
Như Lai tiếng tâm khắp các cõi
Ngôn âm của Phật đều viên mãn
Giác ngộ quần sanh không sót thừa
Âm Điều Phục Thần lòng hớn hở.
Phật thân thanh tịnh thường tịch diệt
Khắp hiện nhiều thân vẫn vô tướng
Như vậy khắp ở nơi thế gian
Tịnh Hoa Nghiêm Thần chứng nhập được.
Đạo Sư thần lực bất tư nghì
Tùy tâm chúng sanh đều khiến thấy
Hoặc ngồi hoặc đứng hoặc nằm đi
Vô Lượng Oai Nghi được tỏ ngộ.
Trăm ngàn muôn kiếp khó gặp Phật
Ra đời lợi ích sức tự tại
Khiến chúng xa lìa khổ nghèo cùng
Thắng Quang Nghiêm Thần môn chứng nhập.
Trong mỗi tướng răng của Như Lai
Phóng quang minh thơm như mây phủ
Dứt trừ hoặc nghiệp của chúng sanh
Tịnh Quang Hương Vân quan sát thấy.
Chúng sanh nhiễm trước vì chướng nặng
Chạy theo đường ma thường lưu chuyển
Như Lai khai thị giải thoát môn
Thủ Hộ Nhiếp Thần ngộ nhập được.
Tôi xem Như Lai sức tự tại
Phóng đại quang minh khắp pháp giới
Ở tại vương cung hóa chúng sanh
Phổ Hiện Hóa Thần được giải thoát.
Chúng sanh mê vọng đủ sự khổ
Phật ở trong đó thường cứu hộ
Khiến dứt phiền não tâm vui mừng
Bất Động Quang Thần đã thấy biết.
Diệu Sắc Na La Diên Chấp Kim Cang Thần được giải thoát môn thấy Như Lai thị hiện thân vô biên sắc tướng.  Nhựt Luân Tốc Tật Tràng Thần được giải thoát môn mỗi sợi lông nơi thân Phật như mặt nhựt hiện ra các thứ quang minh.  Tu Di Hoa Quang Thần được giải thoát môn hóa hiện vô lượng thân đại thần biến.  Thanh Tịnh Vân Âm Thần được giải thoát môn vô thanh tùy theo mọi loài.  Diệu Tý Thiên Chúa Thần được giải thoát môn hiện vì tất cả thế chủ khai ngộ chúng sanh.  Khả Ái Nhạo Quang Minh Thần được giải thoát môn khắp khai thị tất cả môn sai biệt trong Phật pháp.  Đại Thọ Lôi Âm Thần được giải thoát môn dùng đồ trang nghiêm khả ái nhiếp tất cả thọ thần.  Sư Tử Vương Quang Minh Thần được giải thoát môn phước đức trang nghiêm rộng lớn của Như Lai đều đầy đủ rõ ràng.  Mật Diệm Cát Tường Mục Thần được giải thoát môn quan sát khắp tâm của chúng sanh hiểm ác vì họ hiện thân oai nghiêm.  Liên Hoa Ma Ni Kế Thần được giải thoát môn khắp rưới tất cả đồ trang nghiêm như ý của Bồ Tát.
Lúc đó, Diệu Sắc Na La Diên Thần thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Kim Cang Thần rồi nói kệ rằng:
Ông nên xem Pháp Vương
Pháp Vương pháp như vậy
Sắc tướng vô lượng biên
Thế gian đều hiện khắp.
Mỗi lông nơi thân Phật
Lưới sáng bất tư nghì
Dường như vừng mặt trời
Khắp soi mười phương cõi.
Như Lai sức thần thông
Pháp giới đều cùng khắp
Trước tất cả chúng sanh
Thị hiện thân vô tận.
Như Lai thuyết pháp âm
Mười phương đều được nghe
Tùy các loài chúng sanh
Đều khiến tâm đầy đủ.
Chúng thấy đấng Mâu Ni
Ở trong cung điện vua
Khắp vui các quần sanh
Xiển dương pháp rộng lớn.
Chỗ biển pháp xây vần
Tất cả nghĩa sai biệt
Các hứ môn phương tiện
Diễn thuyết không cùng tận.
Vô biên phương tiện lớn
Khắp ứng mười phương cõi
Gặp Phật tịnh quanh minh
Đều thấy thân của Phật.
Cúng dường lên chư Phật
Số vạn ức vi trần
Công đức như hư không
Tất cả đều chiêm ngưỡng.
Thần thông lực bình đẳng
Tất cả cõi đều hiện
An tọa diệu đạo tràng
Khắp hiện trước quần chúng.
Quang minh chiếu thế gian
Ánh sáng đều viên mãn.
Pháp giới chiếu khắp cùng
Hiển bày công hạnh Phật.


V.  Đại Bồ Tát giải thoát môn

Phổ Hiền Bồ Tát ma ha tát nhập bất tư nghì giải thoát môn phương tiện hải, nhập Như Lai công đức hải, chính là những môn giải thoát nghiêm tịnh tất cả quốc độ điều phục chúng sanh khiến họ được xuất ly rốt ráo, giải thoát môn khắp đến chỗ của tất cả Như Lai tu tập đầy đủ công đức, giải thoát môn an lập tất cả địa vị những đại nguyện của Bồ Tát, có giải thoát môn khắp hiện vô số vô lượng thân, giải thoát môn diễn thuyết bất tư nghì số danh tự sai khác khắp tất cả quốc độ, giải thoát môn trong tất cả vi trần đều hiện vô biên cảnh giới thần thông của chư Bồ Tát, có giải thoát môn trong một niệm hiện những sự kiếp thành kiếp hoại trong ba đời, có giải thoát môn hiện tất cả Bồ Tát đều nhập cảnh giới của mình, có giải thoát môn hay dùng thần thông lực hóa hiện nhiều thân khắp vô biên pháp giới, có giải thoát môn hiển thị những pháp môn thứ đệ tu hành vào nhứt thiết trí rộng lớn của tất cả Bồ Tát.  Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát ma ha tát dùng công đức của mình, lại nương thừa oai thần của Phật, quan sát khắp tất cả chúng hội rồi nói kệ rắng:
Như Lai trang nghiêm cõi rộng lớn
Đồng với tất cả vi trần số
Phật tử thanh tịnh đều khắp đầy
Mưa bất tư nghì pháp vi diệu.
Như trong hội này thấy Phật ngồi
Tất cả vi tràn đều như vậy
Phật thân không đến cũng không đi
Bao nhiêu quốc độ đều hiện rõ.
Hiển bày Bồ Tát chỗ tu hành
Vô lượng quốc độ các phương tiện
Và nói chơn lý bất tư nghì
Khiến các Phật tử vào pháp giới.
Xuất sanh Hóa Phật số vi trần
Khắp ứng quần sanh lòng họ muốn
Thâm nhập pháp giới môn phương tiện
Rộng lớn vô biên đều khai diễn.
Như Lai danh hiệu đồng thế gian
Mười phương quốc độ đều đầy khắp
Tất cả phương tiện không luống qua
Điều phục chúng sanh lìa cấu nhiễm.
Phật ở trong tất cả vi trần
Thị hiện vô biên đại thần lực
Đều ngồi đạo tràng hay diễn thuyết
Như Phật thuở xưa bồ đề hạnh
Tam thế vô biên kiếp rộng lớn
Phật trong mỗi niệm đều thị hiện
Tất cả kiếp hoại và kiếp thành
Trí bất tư nghì đều biết rõ.
Chúng hội Phật tử rộng vô hạn
Cùng nhau muốn lường cảnh giới Phật
Pháp môn của Phật vô lượng biên
Rõ biết được cả rất là khó.
Phật như hư không vô phân biệt
Đồng chơn pháp giới vô sở y
Hóa hiện đi khắp đến mọi nơi
Đều ngồi đạo tràng thành chánh giác.
Phật dùng diệu âm rộng tuyên dương
Tất cả các địa đều rành rõ
Hiện trước khắp mỗi mỗi chúng sanh
Đều ban pháp Như Lai bình đẳng.
Tịnh Đức Diệu Quang Bồ Tát ma ha tát được giải thoát môn qua khắp đạo tràng trang nghiêm của chúng hội Bồ Tát ở mười phương.  Phổ Đức Tối Thắng Đăng Quang Chiếu Đại Bồ Tát được giải thoát môn trong một niệm hiện vô tận thân thành chánh giác, giáo hóa thành thực bất tư nghì chúng sanh.  Phổ Quang Sư Tử Tràng Đại Bồ Tát được giải thoát môn tu tập phước đức trang nghiêm của Bồ Tát thành tựu tất cả Phật độ.  Phổ Bửu Diệm Diệu Quang Đại Bồ Tát được giải thoát môn quan sát thần thông cảnh giới không mê lầm.  Phổ Âm Công Đức Hải Tràng Đại Bồ Tát được giải thoát môn ở trong một chúng hội đạo tràng thị hiện tất cả Phật độ trang nghiêm.  Phổ Trí Quang Chiếu Như Lai Cảnh Đại Bồ Tát được giải thoát môn theo Như Lai quan sát tạng pháp giới quảng đại thậm thâm.  Phổ Giác Duyệt Ý Thinh Đại Bồ Tát được giải thoát môn gần gũi phụng thờ tất cả chư Phật.  Phổ Thanh Tịnh Vô Tận Phước Oai Quang Đại Bồ Tát được giải thoát môn xuất sanh tất cả đà la ni thần thông biến hóa rộng lớn.  Phổ Bửu Kế Hoa Tràng Đại Bồ Tát được giải thoát môn công hạnh vào khắp tất cả thế gian xuất sanh vô biên hạnh môn của Bồ Tát.  Phổ Tướng Tối Thắng Quang Đại Bồ Tát được giải thoát môn có thể ở nơi trong pháp giới vô tướng xuất hiện tất cả cảnh giới của chư Phật.
Lúc đó, Tịnh Đức Diệu Quang Đại Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp biển giải thoát môn của tất cả Bồ Tát rồi nói kệ rằng:
Tất cả mười phương những quốc độ
Trong một sát na đều nghiêm tịnh
Dùng diệu âm thinh chuyển pháp luân
Cùng khắp thế gian không gì sánh.
Như Lai cảnh giới vô biên tế
Nhứt niệm pháp giới đều đầy đủ
Trong mỗi vi trần lập đạo tràng
Đều chứng bồ đề hiện thần biến.
Thế Tôn ngày trước tu các hạnh
Trải qua trăm ngàn vô lượng kiếp
Tất cả Phật độ đều trang nghiêm
Vô ngại như không thường xuất hiện.
Thần thông của Phật không hạn lượng
Sung mãn vô biên tất cả kiếp
Giả sử trải qua vô lượng kiếp
Niệm niệm quan sát không nhàm mỏi.
Nên quan sát Phật cảnh thần thông
Thập phương quốc độ đều nghiêm tịnh
Tất cả nơi đây đều hiện tiền
Niệm niệm chẳng đồng vô lượng thứ.
Xem Phật trăm ngàn vô lượng kiếp
Chẳng hết một lông nơi thân Phật
Phương tiện vô ngại của Như Lai
Phật quang chiếu khắp vô lượng cõi.
Kiếp xưa đức Phật ở thế gian
Kính thờ chư Phật vô biên số
Do đây đại chúng như sông đổ
Đều đến cúng dường biển Thế Tôn.
Như Lai xuất hiện khắp mười phương
Trong mỗi vi trần vô lượng cõi
Vô lượng cảnh giới đều hiện ra
Đều trụ vô biên vô tận kiếp.
Phật trong nhiều kiếp vì chúng sanh
Tu tập vô biên đại bi hạnh
Tùy thuận chúng sanh vào thế gian
Giáo hóa chúng hội khiến thanh tịnh.
Phật trụ chơn như pháp giới tạng
Vô tướng vô hình không cấu nhiễm
Chúng sanh xem thấy được Phật thân
Tất cả khổ nạn đều tiêu diệt.
Hải Nguyệt Quang Đại Minh Bồ Tát ma ha tát được giải thoát môn phương tiện xuất sanh các địa, các ba la mật giáo hóa chúng sanh và nghiêm tịnh tất cả Phật độ.  Vân Âm Hải Quang Ly Cấu Tạng Đại Bồ Tát được giải thoát môn trong mỗi niệm vào khắp pháp giới các nơi sai khác.  Trí Sanh Bửu Kế Đại Bồ Tát được giải thoát môn trong vô lượng kiếp hiện công đức rộng lớn thanh tịnh ra trước tất cả chúng sanh.  Công Đức Tự Tại Vương Tịnh Quang Đại Bồ Tát được giải thoát môn thấy các thứ trang nghiêm, lúc thập phương tất cả Bồ Tát tối sơ đến đạo tràng.  Thiện Dũng Mãnh Liên Hoa Kế Đại Bồ Tát được giải thoát môn tùy thuận căn trí của chúng sanh khắp hiển bày tất cả Phật pháp.  Phổ Trí Vân Nhựt Tràng Đại Bồ Tát được giải thoát môn thành tựu Phật trí an trụ vĩnh viễn vô lượng kiếp.  Đại Tinh Tấn Kim Cang Tế Đại Bồ Tát được giải thoát môn công lực vào khắp tất cả vô biên pháp ấn.  Hương Diệm Quang Tràng Đại Bồ Tát được giải thoát môn hiển bày tất cả Phật hiện tại, lúc bắt đầu tu hạnh Bồ Tát nhẫn đến thành tựu đại trí huệ.  Đại Minh Đức Thâm Mỹ Âm Đại Bồ Tát được giải thoát môn an trụ biển đại nguyện của Phật Tỳ Lô Giá Na.  Đại Phước Quang Trí Sanh Đại Bồ Tát được giải thoát môn hiển bày cảnh giới thậm thâm khắp pháp giới của Như Lai.
Lúc đó, Hải Nguyệt Quang Đại Minh Đại Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp biển trang nghiêm của tất cả chúng Bồ Tát rồi nói kệ rằng:
Các ba la mật và các địa
Rộng lớn vô biên đều viên mãn
Vô lượng chúng sanh điều phục hết
Tất cả Phật độ đều nghiêm tịnh
Như Phật giáo hóa chúng sanh giới
Mười phương quốc độ đều sung mãn
Trong mỗi tâm niệm chuyển pháp luân
Khắp ứng quần sanh không bỏ sót.
Phật trong vô lượng kiếp rộng lớn
Khắp hiện trước tất cả chúng sanh
Như Phật thuở xưa rộng tu hành
Đem dạy cho họ hạnh thanh tịnh.
Tôi thấy mười phương không thừa sót
Cũng thấy chư Phật hiện thần thông
Đều ngồi đạo tràng chứng bồ đề
Chúng hội nghe pháp bao quanh Phật.
Quang minh rộng lớn Phật pháp thân
Hiện ở thế gian dùng phương tiện
Khắp theo chúng sanh lòng thích ưa
Xứng căn trí họ mà thuyết pháp.
Chơn như bình đẳng thân vô tướng
Pháp thân thanh tịnh lìa cấu nhiễm
Trí huệ tịch tịnh thân vô lượng
Ứng khắp mười phương mà thuyết pháp.
Trí lực của Phật đều thanh tịnh
Trí huệ vô biên như hư không
Vì chúng khai thị không ẩn sót
Khiến khắp chúng sanh đồng ngộ nhập.
Như Phật thuở xưa đã tu hành
Nhẫn đến thành tựu nhứt thiết trí
Nay phóng quang minh khắp pháp giới
Trong đó hiện bày đều sáng rõ.
Phật dùng bổn nguyện hiện thần thông
Chiếu khắp mười phương không chỗ sót
Như Phật thuở xưa đã tu hành
Trong lưới quang minh đều diễn thuyết.
Thập phương cảnh giới vô cùng tận
Vô đẳng vô biên đều sai khác
Phật lực vô ngại phóng đại quang
Tất cả quốc độ đều sáng rõ.


VI.  Chư Bồ Tát cúng dường tán thán

Lúc bấy giờ tòa sư tử của Như Lai, những hoa báu đẹp, luân đài, thềm bực và các cửa nẻo, mỗi mỗi đều xuất hiện Phật sát vi trần số Đại Bồ Tát.  Danh hiệu của các ngài là: Hải Huệ Tự Tại Thần Thông Vương Đại Bồ Tát, Lôi Âm Phổ Chấn Đại Bồ Tát, Chúng Bửu Quang Minh Kế Đại Bồ Tát, Đại Trí Nhựt Dũng Mãnh Huệ Đại Bồ Tát, Bất Tư Nghì Công Đức Bửu Trí Ấn Đại Bồ Tát, Bá Mục Liên Hoa Kế Đại Bồ Tát, Kim Diệm Viên Mãn Quang Đại Bồ Tát, Pháp Giới Phổ Âm Đại Bồ Tát, Vân Âm Tịnh Nguyệt Đại Bồ Tát, Thiện Dũng Mãnh Quang Minh Tràng Đại Bồ Tát.  Vi trần số đại Bồ Tát như vậy làm bực thượng thủ đồng thời xuất hiện.  Chư Bồ Tát này đều sắm những thứ cúng dường như mây: mây bửu hoa như ý, mây liên hoa diệu hương, mây bửu quang, mây hương diệm, mây quang minh như ý, mây nhạc âm duyệt ý, mây bửu đăng quang, mây cây nhánh bông trái bằng châu báu, mây vô tận bửu như ý quang minh thanh tịnh, mây tất cả đồ trang nghiêm như ý.  Chư Bồ Tát này đem những mây báu đẹp như vậy rưới khắp tất cả chúng hội đạo tràng để cúng dường, rồi đi nhiễu Phật vô lượng trăm ngàn vòng.  Sau đó chư Bồ Tát này hóa hiện vô lượng tòa sư tử liên hoa báu đẹp, rồi ngồi kiết già trên ấy.  Công hạnh của chư Bồ Tát này thanh tịnh rộng lớn như biển, được trí huệ lớn soi sáng pháp phổ môn, tùy thuần chư Phật được công hạnh vô ngại, đầy đủ biệt tài, được bất tư nghì môn giải thoát, trụ nơi bực phổ môn của Như Lai.  Đã được tất cả môn đà la ni có thể dung thọ tất cả pháp, khéo trụ bậc trí huệ tam thế bình đẳng, đã được hỷ lạc rộng lớn rất sâu, rất khéo thanh tịnh vô biên phước đức, quan sát khắp hư không pháp giới chư Phật xuất thế ở mười phương quốc độ đều siêng cần đến cúng dường.  Lúc đó Hải Huệ Tự Tại Thần Thông Vương Đại Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng hội đạo tràng rồi nói kệ rằng:
Chư Phật tỏ ngọ đều đã biết
Vô ngại như không đều chiếu rõ
Sáng khắp mười phương vô lượng cõi
Ở nơi chúng hội rất nghiêm khiết.
Như Lai công đức chẳng thể lường
Thập phương pháp giới đều sung mãn
Khắp ngồi dưới tất cả thọ vương
Bực đại tự tại đồng vân tập.
Phật có sức thần thông như vậy
Một niệm hiện ra vô lượng tướng
Như Lai cảnh giới thật vô biên
Tùy môn giải thoát hay xem thấy.
Như Lai thuở xưa vô lượng kiếp
Ở trong các cõi siêng tu hành
Các môn phương tiện độ chúng sanh
Khiến họ tuân hành các Phật pháp.
Tỳ Lô Giá Na đủ tướng hảo
Ngồi liên hoa tạng sư tử tòa
Tất cả chúng hội đều thanh tịnh
An trụ vắng lặng đồng chiêm ngưỡng.
Ma Ni Bảo Tạng phóng quang minh
Khắp pháp vô biên mây hương diệm
Vô lượng chuỗi đẹp đồng thòng rũ
Bảo tọa như vậy Như Lai ngồi.
Các thứ trang nghiêm cửa cát tường
Thường phóng đăng quang mây bửu diệm
Lửa sáng rộng lớn chiếu khắp nơi
Đức Phật ngồi trên thêm nghiêm hảo.
Các thứ cửa sổ ma ni đẹp
Hoa sen đẹp báu khắp trang nghiêm
Thường vang tiếng diệu người nghe vui
Phật ngồi trên tòa minh hiển nhứt.
Luân báu chở tòa hình bán nguệt
Kim Cang làm đài màu lửa sáng
Chư đại Bồ Tát thường bao quanh
Phật ngồi giữa chúng sáng chói nhứt.
Các thứ biến hóa khắp mười phương
Diễn nói Như Lai nguyện rộng lớn
Tất cả ảnh tượng đều hiện trong
Trên tòa như vậy Phật an tọa.
Lúc đó Vân Âm Phổ Chấn Đại Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng hội đạo tràng rồi nói kệ rằng:
Ngày xưa Phật tu bồ đề hạnh
Cúng dường thập phương vô lượng Phật
Như Lai oai lực thường hộ trì
Trong tòa Như Lai đều thấy rõ.
Như ý châu vương như lửa chói
Hoa đẹp trang nghiêm tòa sư tử
Các thứ trang nghiêm đều ảnh hiện
Tất cả chúng hội đồng thấy rõ.
Phật tòa khắp hiện tướng trang nghiêm
Niệm niệm sắc loại đều sai biệt
Tùy các chúng sanh hiểu chẳng đồng
Riêng thấy Phật ngồi nơi trên đó.
Nhánh báu bủa giăng lưới liên hoa
Hoa nở hiện ra chư Bồ Tát
Tiếng vui vi diệu thường vang ra
Ca ngợi Như Lai ngồi bửu tọa.
Công đức Như Lai rộng vô lượng
Tất cả trang nghiêm từ đây sanh
Những sự nghiêm sức trong mỗi địa
Tất cả chúng sanh chẳng rõ được.
Kim cang làm đất không hư hoại
Rộng lớn thanh tịnh rất bằng phẳng
Ma ni làm lưới giăng hư không
Dưới cội bồ đề đều cùng khắp.
Nơi đó vô biên sắc tướng sáng
Chơn kim làm cát rải khắp nơi
Khắp nơi rải hoa và châu báu
Đều dùng sáng đẹp tòa Như Lai.
Địa Thần hoan hỷ nên hớn hở
Sát na thị hiện vô cùng tận
Khắp hiện tất cả mây trang nghiêm
Luôn ở trước Phật đứng chiêm ngưỡng.
Bửu đăng rộng lớn rất sáng chói
Hương diệm phóng quang không dừng ngớt
Tùy thời thị hiện đều sai khác
Địa Thần dùng đây cúng dường Phật.
Tất cả mười phương những quốc độ
Những sư trang nghiêm trong các cõi
Nay đạo tràng này đều hiện đủ
Do Phật oai thần nên được vậy.
Lúc đó, Chúng Bửu Quang Minh Kế Đại Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng hội đạo tràng rồi nói kệ rằng:
Thế Tôn thuở trước lúc tu hành
Thấy các Phật độ đều viên mãn
Vô lượng vô tận việc đã thấy
Trong đạo tràng này đều hiện đủ.
Thần lực quảng đại của Thế Tôn
Phóng quang khắp rưới ma ni bửu
Bửu châu như vậy rải đạo tràng
Khắp cả mặt đất trang nghiêm đẹp.
Như Lai phước đức đại thần thông
Ma ni châu bửu khắp trang nghiêm
Mặt đất cùng dưới cội bồ đề
Đều phóng quang minh mà diễn thuyết.
Bửu đăng vô lượng từ trên xuống
Bửu Vương xen lẫn để trang nghiêm
Khắp nơi đều diễn diệu pháp âm
Đây là Địa Thần tự hiển hiện.
Bửu địa khắp nơi hiện mây sáng
Bửu cự chói sáng như chớp nháng
Bửu võng bủa giăng trùm trên không
Bửu chi bày hàng trang nghiêm đẹp.
Các ngài nên xem nơi chốn này
Nhiều thứ diệu bảo dùng trang nghiêm
Hiển bày biển nghiệp của chúng sanh
Khiến họ rõ biết chơn pháp tánh.
Cùng khắp mười phương tất cả Phật
Những cội bồ đề đều viên mãn
Tất cả đều hiện trong đạo tràng
Diễn nói Như Lai pháp thanh tịnh.
Tuỳ lòng ưa thích của chúng sanh
Nơi ấy vang ra tiếng vi diệu
Như trên Phật tòa đã diễn thuyết
Mỗi mỗi pháp môn đều nói đủ.
Nơi ấy thường phóng diệu hương quang
Hương quang diễn nói tiếng thanh tịnh
Nếu có chúng sanh kham thọ pháp
Đều khiến được nghe trừ phiền não.
Mỗi mỗi trang nghiêm đều viên mãn
Giả sử ức kiếp nói không hết
Như Lai thần lực khắp mọi nơi
Vì thế chỗ kia đều nghiêm tịnh.
Lúc đó, Đại Trí Nhựt Dũng Mãnh Huệ Đại Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng hội đạo tràng rồi nói kệ rằng:
Thế Tôn nghiêm nhìn ngồi pháp đường
Chói sáng rực rỡ trong cung điện
Tuỳ lòng ưa thích của chúng sanh
Thân Phật hiện khắp mười phương cõi.
Như Lai cung điện chẳng nghĩ bàn
Ma ni bửu tạng dùng trang sức
Những đồ trang nghiêm đều sáng trưng
Trong đó Phật ngồi minh hiển nhứt.
Ma ni làm trụ đủ các màu
Linh lạc chơn kim như mây bủa
Thềm báu bốn mặt liệt thành hàng
Cửa nẻo tùy phương đều mở rộng.
Màn trướng trang nghiêm lụa bông đẹp
Cây báu nhánh lá đều nghiêm sức
Chuỗi ngọc ma ni rũ bốn phương
Pháp Vương yên lặng ngồi trong đó.
Ma ni làm lưới tràng đẹp thơm
Đèn sáng chói rực như mây bủa
Che trên dùng những vật trang nghiêm
Đấng Chánh Biến Tri ngồi nơi đó.
Hiện mây biến hóa khắp mười phương
Mây ấy diễn thuyết khắp thế gian
Tất cả chúng sanh đều thuận phục
Hiện rõ như vậy trong điện Phật.
Ma ni làm cây đơm bông đẹp
Mười phương các cõi không sánh được
Những sự trang nghiêm trong ba đời
Bóng hình đều hiện nơi trong ấy.
Các nơi đều có châu ma ni
Ánh sáng rực rỡ vô lượng thứ
Cửa nẻo tùy phương xen nhau bày
Trụ nóc trang nghiêm rất tráng lệ.
Như Lai cung điện bất tư nghì
Thanh tịnh quang minh đủ các tướng
Tất cả cung điện hiện nơi trong
Nơi nơi đều có Như Lai tọa.
Như Lai cung điện vô lượng biên
Đức Phật tự nhiên ngự trong ấy
Mười phương tất cả các chúng hội
Đều hướng về Phật mà vân tập.
Lúc đó, Bất Tư Nghì Công Đức Bửu Trí Ân Đại Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng hội đạo tràng rồi nói kệ rằng:
Xưa Phật tu hành những biẻn phước
Tất cả quốc độ vi trần số
Thần thông nguyện lực cảm sanh ra
Đạo tràng nghiêm tịnh không cấu nhiễm.
Châu Vương như ý làm gốc cây
Kim cang như ý làm thân cây
Bửu võng che giăng trên không gian
Diệu hương ngào ngạt lan tràn khắp.
Cây nhánh nghiêm sức đủ châu báu
Thân bằng ma ni đua cao vọi
Nhánh lá che đầy như mây giăng
Đây là đạo tràng nơi Phật ngự.
Đạo tràng rộng lớn bất tư nghì
Cây báu giáp vòng đều che khắp
Lá dầy bông say, soi sáng nhau
Trong hoa đều kết ma ni quả.
Tất cả nhánh cây phát diệu quang
Chiếu khắp đạo tràng đều sáng rỡ
Quang minh thanh tịnh sáng vô tận
Hiển hiện như đây do Phật lực.
Ma ni bửu tạng dùng làm bông
Bóng sáng chói giăng dường mây gấm
Quanh cây khắp nơi đều thơm tho
Trong đạo tràng này khắp nghiêm sức.
Các ngài nên xem Phật đạo tràng
Lưới báu liên hoa đều thanh tịnh
Tia sáng kết vừng đây hiện ra
Tiếng lạc tiếng linh trong mây phát.
Mười phương tất cả các quốc độ
Những cây trang nghiêm màu sắc tốt
Trong cộ bồ đề hiện rõ ràng
Phật ngự nơi đây sạch cấu nhiễm.
Đạo tràng rộng lớn do phước thành
Cây nhánh mưa báu luôn vô tận
Trong báu xuất hiện các Bồ Tát
Đều đến mười phương cúng dường Phật.
Chư Phật cảnh giới bất tư nghì
Khiến khắp cây báu vang tiếng nhạc
Như đạo bồ đề tu thuở trước
Chúng hộ nghe tiếng đều được thấy.
Lúc đó, Bá Mục Liên Hoa Kế Đại Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng hội đạo tràng rồi nói kệ rằng:
Tất cả ma ni vang diệu âm
Xưng dương hồng danh tam thế Phật
Chư Phật vô lượng sự thần thông
Trong đạo tràng đây đều hiện thấy.
Các bông đua nở như chuỗi giăng
Mây sáng phủ tuôn khắp mười phương
Thần cây bồ đề hướng Thế Tôn
Nhứt tâm chiêm ngưỡng cúng dường Phật
Lửa sáng ma ni kết thành tràng
Trong tràng hừng hực phát hương thơm
Hương thơm luân khắp tất cả chúng
Do đây đạo tràng đều nghiêm khiết.
Liên hoa thòng tuôn sáng màu vàng
Sáng vàng vang ra tiếng của Phật
Che khắp mười phương các quốc độ
Dứt hẳn nóng phiền của đại chúng.
Bồ đề thọ vương tự tại lực
Thường phóng quang minh rất thanh tịnh
Chúng hội mười phương vô lượng biên
Trong đạo tràng này đều hiện rõ.
Nhánh báu chói rõ như đèn sáng
Ánh sáng tuyên thuyết bổn nguyện lớn
Như Phật thuở xưa nơi các cõi
Công hạnh tu hành đều nói đủ.
Dưới cây chư thần đông vô số
Nơi đạo tràng này đồng hội đến
Trước cây đạo thọ của Như Lai
Cùng nhau tuyên dương môn giải thoát.
Thế Tôn thuở xưa thường tu tập
Cúng dường tất cả mười phương Phật
Công hạnh tu hành và hồng danh
Trong châu ma ni đều hiện rõ.
Tất cả đạo tràng vang tiếng diệu
Diệu âm rộng lớn khắp mười phương
Nếu có chúng sanh thọ được pháp
Liền điều phục họ khiến thanh tịnh.
Như Lai thuở xưa khắp tu hành
Tất cả vô lượng trang nghiêm sự
Mười phương tất cả cội bồ đề
Mỗi cây trang nghiêm vô lượng thứ.
Lúc đó, Kim Diệu Viên Mãn Quang Đại Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng hội đạo tràng rồi nói kệ rằng:
Xưa Phật tu hành hạnh bồ đề
Nơi các cảnh giới hiểu rành rõ
Xứ cùng phi xứ trọn không nghi
Đây là trí lực đầu tiên cả.
Như xưa khắp quan sát pháp tánh
Tất cả biển nghiệp đều sáng suốt
Việc ấy ngày nay trong lưới sáng
Cùng khắp mười phương diễn thuyết đủ.
Thuở xưa tu hành đại phương tiện
Theo cơ chúng sanh mà hóa độ
Khiến khắp chúng hội lòng sạch trong
Nên nay Phật thành căn trí lực.
Như các chúng sanh hiểu chẳng đồng
Ý muốn việc làm đều sai khác
Thuận theo mỗi người để thuyết pháp
Phật dùng trí lực được như vậy.
Khắp hết mười phương những cõi nước
Tất cả vô lượng chúng sanh giới
Phật trí bình đẳng như hư không
Trong chân lông Phật đều hiện đủ.
Việc làm mọi nơi Phật đều biết
Nhứt niệm tam thế đều không sót
Thập phương quốc độ các chúng sanh
Có thể khai thị khiến được rõ.
Thiền định giải thoát sức vô biên
Tam muội phương tiẹn cũng như vậy
Vì chúng thị hiện khiến vui mừng
Tối tâm phiền não đều trừ sạch.
Trí Phật vô ngại gồm tam thế
Sát na đều hiện trong chân lông
Phật pháp quốc độ và chúng sanh
Hiện rõ đều do sức tùy niệm.
Phật nhãn rộng lớn như hư không
Thấy khắp pháp giới đều không sót
Lực dụng vô thượng bực vô ngại
Phật nhãn vô lượng hiển bày được.
Tất cả chúng sanh đủ phiền não
Tất cả tùy miên cùng tập khí
Như Lai xuất hiện khắp thế gian
Đều dùng phương tiện khiến trừ diệt.
Lúc đó, Pháp Giới Phổ Âm Đại Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng hội đạo tràng rồi nói kệ rằng:
Oai thần của Phật khắp mười phương
Thị hiện rộng lớn vô phân biệt
Hạnh đại bồ đề ba la mật
Từ xưa đầy đủ đều khiến thấy.
Xưa với chúng sanh khởi đại bi
Tu hành Bồ Tát ba la mật
Do đây thân Phật rất đẹp xinh
Chúng sanh thấy Phật đều mừng rỡ.
Thuở xưa vô biên vô lượng kiếp
Tu trì tịnh giới ba la mật
Thân Phật thanh tịnh khắp mười phương
Dứt trừ thế gian những đau khổ.
Thuở xưa tu hành nhẫn thanh tịnh
Tín giải chân thật vô phân biệt
Nên sắc tướng Phật đều viên mãn
Phóng quang chiếu sáng khắp mười phương.
Thuở xưa nhiều kiếp tinh tấn tu
Chuyển được chúng sanh chướng sâu nặng
Nên Phật phân thân khắp mười phương
Dưới cội bồ đề đều có Phật.
Xưa Phật tu hành vô lượng kiếp
Vô lượng thiền định đều thanh tịnh
Người thấy được Phật tâm vui mừng
Phiền não chướng cấu đều trừ dứt.
Như Lai thuở xưa tu các hạnh
Đầy đủ bát nhã ba la mật
Nên Phật phóng quang khắp sáng soi
Trừ được tất cả ngu si ám.
Các môn phương tiện độ chúng sanh
Khiến chỗ tu hành đều thành tựu
Tất cả mười phương đều khắp qua
Vô biên kiếp số chẳng thôi dứt.
Xưa Phật tu hành trải nhiều kiếp
Trọn nên đại nguyện ba la mật
Nên Phật xuất hiện khắp thế gian
Cứu chúng sanh tận vị lai tế.
Từ vô lượng kiếp Phật tu hành
Tất cả pháp lực ba la mật
Do đây được thành sức tự nhiên
Hiện khắp mười phương các quốc độ.
Xưa Phật tu hành trí phổ môn
Trí tánh rộng lớn như hư không
Do đây được thành sức vô ngại
Phóng quang chiếu khắp mười phương cõi.
Lúc đó, Vân Âm Tịnh Nguyệt Đại Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng hội đạo tràng rồi nói kệ rằng:
Thần thông cảnh giới khắp hư không
Thập phương chúng sanh đều được thấy
Như xưa tu hành đã được thành
Trong quả ma ni đều nói đủ.
Thanh tịnh siêng tu vô lượng kiếp
Vào bực sơ địa cực Hoan Hỷ
Xuất sanh pháp giới trí rộng lớn
Thấy khắp mười phương vô lượng Phật.
Trong tất cả pháp bực Ly Cấu
Khắp chúng sanh số trì tịnh giới
Đã nhiều đại kiếp rộng tu hành
Cúng dường vô biên vô lượng Phật.
Chứa nhóm phước đức bực Phát Quang
Tạng xa ma tha trí kiên cố
Pháp vân rộng lớn đều đã nghe
Trong trái ma ni nói như vậy.
Diệm Huệ sáng chói bực vô đẳng
Khéo rõ cảnh giới khởi từ bì
Tất cả quốc độ bình đẳng thân
Như Phật đã tu đều diễn nói.
Các môn pháp tạng bực Nan Thắng
Động tịch thuận nhau không trái phản
Cảnh giới Phật pháp đều bình đẳng
Như Phật đã tu đều nói được.
Tu hành rộng lớn bực Hải Huệ
Tất cả pháp môn đều rõ khắp
Hiện khắp quốc độ như hư không
Pháp âm này trong cây diễn nói.
Cùng khắp pháp giới thân hư không
Khắp soi chúng sanh đèn trí huệ
Tất cả phương tiện đều thanh tịnh
Bậc Viễn Hành xưa nay nói đủ.
Tất cả nguyện hạnh đã trang nghiêm
Vô lượng quốc độ đều thanh tịnh
Tất cả phân biệt không động được
Đây bực Vô Đẳng đều tuyên thuyết.
Vô lượng cảnh giới sức thần thông
Khéo vào giáo pháp quang minh lực
Thanh tịnh như đây bực Thiện Huệ
Nhiều kiếp tu hành đều nói đủ.
Pháp Vân rộng lớn đệ thập địa
Chứa trùm tất cả khắp hư không
Cảnh giới chư Phât đều tuyên bày
Tiếng này Đại Bồ Tát oai thần của Phật.
Lúc đó, Thiện Dũng Mãnh Quang Tràng Đại Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Vô lượng chúng sanh ở trong hội
Các môn tin hiểu tâm thanh tịnh
Đều ngộ nhập được trí Như Lai
Liễu đạt tất cả trang nghiêm cảnh.
Đều khởi tịnh nguyện tu các hạnh
Đều từng cúng dường vô lượng Phật
Thấy thân chân thật của Như Lai
Cũng thấy tất cả những thần biến.
Hoặc có thấy được Phật pháp thân
Vô đẳng vô ngại đều cùng khắp
Tất cả vô biên các pháp tánh
Đều vào trong thân không thừa sót.
Hoặc có thấy Phật diệu sắc thân
Quang minh sắc tướng đều vô biên
Tùy các chúng sanh hiểu chẳng đồng
Trong mười phương đều hiện biến khắp.
Hoặc thấy vô ngại trí huệ thân
Tam thế bình đẳng như hư không
Thuận tâm chúng sanh mà chuyển biến
Các môn sai biệt đều khiến thấy.
Có người rõ được âm thanh Phật
Cùng khắp mười phương các cõi nước
Tùy theo chúng sanh chỗ nên hiểu
Ngôn âm nói ra không chướng ngại.
Hoặc thấy Như Lai phóng quang minh
Sáng soi mọi nơi khắp thế gian
Có người ở trong Phật quang minh
Lại thấy chư Phật hiện thần biến.
Có người thấy Phật phóng quang minh
Từ nơi chân lông tuôn ánh sáng
Thị hiện thuở xưa đạo tu hành
Khiến sanh tin sâu vào Phật trí.
Hoặc thấy tướng Phật phước trang nghiêm
Và thấy phước này từ đâu sanh
Thuở xưa tu hành ba la mật
Đều trong tướng Phật được thấy rõ.
Như Lai công đức chẳng thể lường
Đầy khắp pháp giới không ngằn mé
Nhẫn đến thần thông các cảnh giới
Do nơi Phật lực tuyên nói được.
Lúc đó, Hoa Tạng Thế Giới trang nghiêm do thần lực của Phật, khắp nơi chấn động sáu cách mười tám tướng: động, biến động, phổ biến động; khởi, biến khởi, phổ biến khởi; dũng, biến dũng, phổ biến dũng; chấn, biến chấn, phổ biến chấn; hống, biến hống, phổ biến hống; kích, biến kích, phổ biến kích.  Các Thế Chủ trên đây mỗi vị đều hiện bất tư nghì những cụm mây báu cúng dường rưới xuống nơi chúng hội đạo tràng của Như Lai: những mây hoa hương trang nghiêm, những mây ma ni tốt đẹp, những mây lưới báu rực rỡ, những mây vô biên các loại châu ma ni sáng chói, những mây chơn châu nhiều mầu, những mây hương chiên đàn, những mây bửu cái, những mây châu ma ni vang ra tiếng vi diệu thanh tịnh, những mây chuỗi ngọc ma ni sáng như mặt nhựt, những mây các thứ đồ trang nghiêm sai khác.  Như trong thế giới này mỗi vị Thế Chủ hoan hỷ cúng dường như vậy, trong hoa tạng thế giới trang nghiêm tất cả Thế Chủ cũng cúng dường như vậy.  Trong tất cả thế giới, đều có Như Lai ngồi đạo tràng, mỗi vị Thế Chủ đều riêng tin hiểu, đều riêng cảnh duyên, đều riêng tu tập pháp trợ đạo, đều riêng thành tựu, đều riêng hoan hỷ, đều riêng chứng nhập, đều riêng ngộ hiểu các pháp môn, đều riêng nhập cảnh giới thần thông của Như Lai, đều riêng vào cảnh giới trí lực của Như Lai, đều riêng nhập môn giải thoát của Như Lai.  Như Hoa Tạng Thế Giới này, thập phương tận pháp giới hư không giới trong tất cả thế giới cũng đều như vậy.

Hết Phẩm 1



Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 1

Phẩm Như Lai Hiện Tướng
Thứ hai


Lúc bấy giờ, chư Bồ Tát và tất cả Thế Gian Chủ nghĩ rằng: "Thế nào là địa vị của chư Phật?  Thế nào là cảnh giới của chư Phật?  Thế nào là chư Phật gia trì?  Thế nào là chỗ làm của chư Phật?  Thế nào là lực của chư Phật?  Thế nào là vô sở úy của chư Phật?  Thế nào là tam muội của chư Phật?  Thế nào là thần thông của chư Phật?  Thế nào là chư Phật tự tại?  Thế nào là chư Phật không ai nhiếp thủ được?  Thế nào là mắt của chư Phật?  Thế nào là tai của chư Phật?  Thế nào là mũi của chư Phật?  Thế nào là lưỡi của chư Phật?  Thế nào là thân của chư Phật?  Thế nào là ý của chư Phật?  Thế nào là thân quang của chư Phật?  Thế nào là quang minh của chư Phật?  Thế nào là tiếng của chư Phật?  Thế nào là quang minh của chư Phật?  Thế nào là tiếng của chư Phật?  Thế nào là trí của chư Phật?  Mong đức Thế Tôn xót thương chúng tôi mà khai diễn cho.  Lại thập phương chư Phật đều vì chư Bồ Tát mà diễn thuyết thế giới hải, chúng sanh hải, pháp giới an lập hải, Phật hải, Phật ba la mật hải, Phật giải thoát hải, Phật biến hóa hải, Phật diễn thuyết hải, Phật danh hiệu hải, Phật thọ lượng hải, và diễn nói Bồ Tát thệ nguyện hải, Bồ Tát phát thu hải, Bồ Tát trợ đạo hải, Bồ Tát thừa hải, Bồ Tát hạnh hải, Bồ Tát xuất ly hải, Bồ Tát thần thông hải, Bồ Tát ba la mật hải, Bồ Tát địa hải, Bồ Tát trí hải.  Mong đức Thế Tôn cũng vì chúng tôi mà diễn thuyết như vậy." 
Lúc đó, do thần lực của chư Bồ Tát, nơi trong tất cả lùm mây đồ cúng dường tự nhiên vang ra tiếng nói kệ rằng:
Vô lượng kiếp tu hành viên mãn
Dưới cội bồ đề thành chánh giác
Vì độ chúng sanh khắp hiện thân
Như mây đầy khắp vị lai tế.
Chúng sanh có nghi đều khiến dứt
Tín hiểu rộng lớn đều khiến phát
Vô biên khổ não đều khiến trừ
An lạc của Phật đều khiến chứng.
Vô số Bồ Tát đồng sát trần
Cùng đến pháp hội chiêm ngưỡng Phật
Mong theo ý mình chỗ nên thọ
Phật thuyết diệu pháp trừ nghi hoặc.
Thế nào rõ biết Như Lai địa
Thế nào quan sát Như Lai cảnh
Phật chỗ gia trì pháp vô biên
Mong dạy pháp này khiến thanh tịnh.
Thế nào là Phật chỗ thật hành
Mà dùng trí huệ có thể vào
Phật lực thanh tịnh rộng vô biên
Vì các Bồ Tát nên khai thị.
Thế nào tịnh trị pháp vô uý
Thần thông lực dụng chẳng thể lường
Nguyện tùy chúng sanh tâm thích nói.
Chư Phật Pháp Vương như Thế Chủ
Chỗ làm tự tại không chướng ngại
Tất cả những pháp rộng lớn kia
Vì lợi chúng sanh nên khai diễn.
Tại sao Phật nhãn là vô lượng
Nhĩ, tỷ, thiệt, thân cũng như vậy
Phật ý vô lượng lại thế nào
Mong giải cho biết phương tiện đó.
Như các chúng sanh vô lượng cõi
Pháp giới chỗ có sự an lành
Chư Phật rộng lớn cũng vô biên
Mon vì Phật tử đều khai diễn.
Ra hẳn các độ khả tư nghì
Khắp vào giải thoát môn phương tiện
Chỗ có tất cả biển pháp môn
Trong đạo tràng này xin tuyên thuyết.
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn biết tâm niệm của chư Bồ Tát liền từ trên mặt, trong răng phóng ra vi trần số quang minh.  Những là quang minh bửu hoa khắp soi sáng, những quang minh các thứ tiếng trang nghiêm pháp giới, những quang minh giăng bủa mây vi diệu, những quang minh thập phương chư Phật ngồi đạo tràng hiện thần biến, những quang minh mây lọng báu, những quang minh đầy khắp pháp giới vô ngại, những quang minh trang nghiêm khắp soi tất cả cõi Phật, những quang minh kiến lập bửu tràng kim cang thanh tịnh, những quang minh khắp trang nghiêm chúng hội đạo tràng Bồ Tát, những quang minh diệu âm xưng dương tất cả danh hiệu chư Phật.  Phật phóng ra vi trần số quang minh như vậy.  Mỗi quang minh này lại có vi trần số quang minh làm quyến thuộc.  Tất cả quang minh đủ màu báu đẹp, chiếu khắp mười phương đều một ức Phật sát vi trần số thế giới.  Chúng Bồ Tát trong những thế giới đó từ nơi quang minh đều được thấy Hoa Tạng thế giới trang nghiêm này.  Do thần lực của Phật, quang minh đó ở trước tất cả chúng hội Bồ Tát xướng kệ rằng:
Trong vô lượng kiếp chỗ tu hành
Cúng dường thập phương vô lượng Phật
Hóa độ tất cả loài chúng sanh
Nay thành đấng Thế Tôn Diệu Giác.
Trong chân lông Phật tuôn mây báu
Quang minh chiếu khắp mười phương cõi
Người đáng được độ đều thấy hiểu
Khiến đến bồ đề không chướng ngại.
Phật xưa qua lại trong các loài
Giáo hóa thành thục những quần sanh
Thần thông tự tại vô lượng biên
Một niệm đều khiến được giải thoát.
Cây báu bồ đề châu ma ni
Các thứ trang nghiêm đều đặc thắng
Phật ở dưới cây thành chánh giác
Phóng đại quang minh khắp soi sáng.
To tiếng chấn động khắp mười phương
Vì chúng rộng tuyên pháp tịch diệt
Tùy tâm chúng sanh chỗ ưa thích
Các môn phương tiện khiến tỏ ngộ.
Xưa tu các độ đều viên mãn
Đồng số vi trần ngàn quốc độ
Tất cả trí lực đều đã thành
Các ông nên qua đồng lễ kính.
Thập phương Phật tử như sát trần
Đều cùng vui mừng vân tập đến
Đã rưới mây báu để cúng dường
Nay ở trước Phật chuyên chiêm ngưỡng.
Như Lai nhứt âm vô lượng số
Hay diễn Khế Kinh sâu rộng lớn
Khắp rưới diệu pháp ứng quần tâm
Đấng Lưỡng Túc Tôn nên qua thấy.
Tam thế chư Phật phát nguyện lớn
Dưới cội bồ đề đều tuyên thuyết
Trong một sát na đều hiện tiền
Ông nên mau đến chỗ Như Lai.
Tỳ Lô Giá Na biển đại trí
Diệu môn phóng quang đều được thấy
Nay chờ chúng nhóm để phát tâm
Ông nên qua kia nghe Phật dạy.
Lúc đó tất cả chúng hội trong thập phương thế giới đã nhờ quang minh của Phật khai thị, đều cùng nhau đến chỗ Phật Tỳ Lô Giá Na cung kính cúng dường.
Phương đông Hoa Tạng trang nghiêm thế giới hải này, có thế giới hải tên Thanh Tịnh Quang Liên Hoa Trang Nghiêm.  Trong thế giới này có quốc độ, tên Ma Ni Anh Lạc Kim Cang Tạng, Phật hiệu Pháp Thủy Giác Hư Không Vô Biên Phương.  Trong đại chúng của Như Lai đó có Đại Bồ Tát tên Quán Sát Thắng Pháp Liên Hoa Tràng cùng vi trần số Bồ Tát đồng đến chỗ Phật, đều hiện mười thứ thân tướng của Bồ Tát đầy khắp hư không mà chẳng tan mất.  Lại hiện thứ mây mưa tất cả hoa sen báu sáng rỡ.  Lại hiện mười thứ mây núi báu Tu Di.  Lại hiện mười thứ ánh sáng mặt trời.  Lại hiện mười thứ mây chuỗi hoa báu.  Lại hiện mười thứ mây tất cả anh lạc.  Lại hiện mười thứ mây hương bột.  Lại hiện mười thứ mây hương thoa hương đốt.  Lại hiện mười thứ mây tất cả gỗ thơm.  Vi trần số mây cúng dường như vậy đều khắp cả hư không mà chẳng tan mất.  Chư Bồ Tát này hướng Phật kính lễ cúng dường, rồi ở phương đông đều hóa làm những thứ tòa sư tử tốt đẹp sáng chói, chư Bồ Tát này ngồi kiết già trên những pháp tòa ấy.
Phương nam của Hoa Tạng thế giới này có thế giới tên Nhứt Thiết Bửu Nguyệt Quang Minh Trang Nghiêm Tạng.  Trong thế giới chủng này có quốc độ tên Vô Biên Quang Viên Mãn Trang Nghiêm.  Phật hiệu Phổ Trí Quang Minh Đức Tu Di Vương.  Trong đại chúng của Như Lai đó có Đại Bồ Tát tên Phổ Chiếu Pháp Hải Huệ cùng vi trần số Bồ Tát đồng đến chỗ Phật, đều hiện mười thứ mây báu ma ni châu vương trang nghiêm sáng chói đầy khắp hư không mà chẳng tan mất.  Lại hiện mười thứ mây ma ni bửu châu hiện ra đồ trang nghiêm.  Lại hiện mười thứ mây ma ni bửu châu xưng dương hồng danh của Phật.  Lại hiện mười thứ mây ma ni bửu châu nói tất cả Phật pháp.  Lại hiện mười thứ mây ma ni bửu châu những cây đẹp trang nghiêm đạo tràng.  Lại hiện mười thứ mây ma ni bửu châu hiện các Hóa Phật.  Lại hiện mười thứ mây ma ni bửu châu khắp hiện hình tượng trang nghiêm của tất cả đạo tràng.  Lại hiện mười thứ mây ma ni bửu châu nói cảnh giới của chư Phật.  Lại hiện mười thứ mây hình tượng vô số cung điện bất tư nghì.  Lại hiện mười thứ mây khắp hiện thân tượng của tam thế Phật.  Hiện vô số mây ma ni châu vương như vậy đầy khắp hư không mà chẳng tan mất.  Chư Bồ Tát này hướng Phật kính lễ cúng dường rồi ở phương nam hóa làm vi trần số tòa sư tử đế thanh bửu diêm phù đàn kim liên hoa tạng, đồng ngồi kiết già trên bửu tòa ấy.
Phương tây của Hoa Tạng thế giới hải này có thế giới hải tên Khả Ái Nhạo Bửu Quang Minh.  Trong thế giới chủng đó quốc độ tên Xuất Sanh Thượng Diệu Tư Thân Cụ.  Phật hiệu Hương Diệm Công Đức Bửu Trang Nghiêm.  Trong đại chúng của Như Lai đó có Đại Bồ Tát tên Nguyệt Quang Hương Diệm Phổ Trang Nghiêm cùng vi trần số Bồ Tát đồng đến chỗ Phật, đều hiện mười thứ mây lầu các châu bảo tốt đẹp thơm sáng, khắp hư không chẳng tan mất.  Lại hiện mười thứ mây lầu các vô biên sắc tướng.  Lại hiện mười thứ mây lầu các đèn báu sáng chói.  Lại hiện mười thứ mây lầu các chơn châu.  Lại hiện mười thứ mây lầu các hoa báu.  Lại hiện mười thứ mây lầu các chuỗi ngọc báu trang nghiêm.  Lại hiện mười thứ mây lầu các trang nghiêm sáng chói hiện khắp mười phương.  Lại hiện mười thứ mây lầu các những bột báu xen lẫn trang nghiêm.  Lại hiện mười thứ mây lầu các những châu báu cùng khắp mười phương.  Lại hiện mười thứ mây lầu các cửa đẹp lưới báu.
Chư Bồ Tát này hiện vi trần số mây lầu các rồi hướng Phật kính lễ cúng dường, liền ở nơi phương tây hóa làm tòa sư tử chơn kim đại bửu, rồi đều ngồi kiết già trên bảo tòa ấy.
Phương bắc của Hoa Tạng thế giới hải này, có thế giới hải tên Tỳ Lưu Ly Liên Hoa Quang Viên Mãn Tạng.  Trong thế giới chủng đó có quốc độ tên Ưu Bát la Hoa Trang Nghiêm.  Phật hiệu Phổ Trí Tràng Âm Vương.  Trong đại chúng của Như Lai đó có Đại Bồ Tát Sư Tử Phấn Tấn Quang Minh cùng vi trần số Bồ Tát đồng đến chỗ Phật.  Chư Bồ Tát này đều hiện mười thứ mây những cây đẹp ma ni thơm tho khắp hư không, chẳng tan mất.  Lại hiện mười thứ mây những cây trang nghiêm hóa hiện vô biên sắc tướng.  Lại hiện mười thứ mây những cây trang nghiêm hoa đẹp.  Lại hiện mười thứ mây cây trang nghiêm ánh sáng báu.  Lại hiện mười thứ mây những cây trang nghiêm hoá hiện thân Bồ Tát.  Lại hiện mười thứ mây những cây trang nghiêm hiển hiện chỗ đạo tràng bất tư nghì thuở trước.  Lại hiện mười thứ mây cây báu y phục sáng như mặt trời.  Lại hiện mười thứ mây cây phát ra tất cả âm thanh vừa ý.
Chư Bồ Tát hiện những mây cây báu trang nghiêm rồi hướng Phật kính lễ cúng dường, liền ở phương bắc đều hóa làm tòa sư tử liên hoa ma ni, rồi đều ngồi kiết già trên bảo tòa đó.
Phương đông bắc của Hoa Tạng thế giới này, có thế giới hải tên Diêm Phù Đàn Kim Pha Lê Sắc Tràng.  Trong thế giới chủng đó có quốc độ tên Chúng Bửu Trang Nghiêm.  Phật hiệu Nhứt Thiết Pháp Vô Úy Đăng, trong đại chúng của Như Lai đó có Đại Bồ Tát tên Tối Thắng Quang Minh Đăng Vô Tận Công Đức Tạng cùng vi trần số Bồ Tát đồng đến chỗ Phật.  Chư Bồ Tát này đều hiện mười thứ mây bửu liên hoa vô biên sắc tướng khắp hư không chẳng tan mất.  Lại hiện mười thứ mây tòa sư tử ma ni sáng chói.  Lại hiện mười thứ mây tòa sư tử tất cả đồ trang nghiêm.  Lại hiện mười thứ mây tòa sư tử tràng hoa báu.  Lại hiện mười thứ mây tòa sư tử khắp rưới chuỗi ngọc báu.  Lại hiện mười thứ mây tòa sư tử tất cả hoa hương chuỗi ngọc báu.  Lại hiện mười thứ mây tòa sư tử thị hiện tòa trang nghiêm ma ni của tất cả Phật.  Lại hiện mười thứ mây tòa sư tử cửa nẻo thềm bực và những chuỗi ngọc trang nghiêm.  Lại hiện mười thứ mây tòa sư tử tất cả cây nhánh báu ma ni.  Lại hiện mười thứ mây tòa sư tử hương báu xen lẫn trang nghiêm ánh sáng chói như mặt nhựt.  Chư Bồ Tát này hiện vô số mây báu tòa sư tử rồi hướng Phật kính lễ cúng dường, liền ở phương đông bắc đều hóa ra làm tòa sư tử bửu liên hoa ma ni, rồi đều ngồi kiết già trên bảo tòa đó.
Phương đông nam của Hoa Tạng thế giới hải này, có thế giới hải tên Kim Trang Nghiêm Lưu Ly Quang Phổ Chiếu.  Trong thế giới chủng đó có quốc độ tên Thanh Tịnh Hương Quang Minh.  Phật hiệu Phổ Hỷ Thâm Tín Vương.  Trong đại chúng của Như Lai đó có Đại Bồ Tát tên Huệ Đăng Phổ Minh cùng vi trần số Bồ Tát đồng đến chỗ Phật.  Chư Bồ Tát này đều hiện mười thứ mây màn trướng tất cả châu ma ni khắp hư không chẳng tan mất.  Lại hiện mười thứ mây màn trướng tất cả hương.  Lại hiện mười thứ mây màn trướng bửu đăng.  Lại hiện mười thứ mây màn trướng thị hiện Phật thần thông thuyết pháp.  Lại hiện mười thứ mây màn trướng hiển hiện tất cả y phục trang nghiêm.  Lại hiện mười thứ mây màn trướng tất cả bửu hoa.  Lại hiện mười thứ mây màn trướng lưới báu khua tiếng lạc tiếng linh.  Lại hiện mười thứ mây màn trướng đài liên hoa lưới ma ni.  Lại hiện mười thứ mây màn trướng tất cả đồ trang nghiêm bất tư nghì.  Chư Bồ Tát này hiện ra vi trần số mây màn lưới báu như vậy rồi hướng Phật kính lễ cúng dường, liền ở phương đông nam đều hóa làm toà sư tử bửu liên hoa, rồi ngồi trên bửu tòa đó.
Phương tây nam của Hoa Tạng thế giới hải này có thế giới hải tên Nhựt Quang Biến Chiếu.  Trong thế giới chủng đó có quốc độ tên Sư Tử Nhựt Quang Minh.  Phật hiệu Phổ Trí Quang Minh Âm.  Trong đại chúng của đức Phật đó có Đại Bồ Tát tên Phổ Hoa Quang Diệm Kế cùng vi trần số Bồ Tát đồng đến chỗ Phật.  Chư Bồ Tát này đều hiện mười thứ mây bửu cái vi diệu trang nghiêm khắp hư không chẳng tan mất.  Lại hiện mười thứ mây bửu cái đẹp trang nghiêm sáng chói.  Lại hiện mười thứ mây bửu cái tạng chơn châu vô biên sắc.  Lại hiện mười thứ mây bửu cái châu ma ni vang ra tiếng bi mẫn của tất cả Bồ Tát.  Lại hiện mười thứ mây bửu cái tràng hoa đẹp báu.  Lại hiện mười thứ mây bửu cái rủ lưới lục lạc.  Lại hiện mười thứ mây bửu cái cây ma ni nhánh trang nghiêm.  Lại hiện mười thứ mây bửu cái châu ma ni chói sáng như mặt nhựt.  Lại hiện mười thứ cây bửu cái tất cả hương thoa hương đốt.  Lại hiện mười thứ mây bửu cái tạng chiên đàn.  Lại hiện mười thứ mây bửu cái cảnh giới Phật rộng lớn khắp sáng chói.  Chư Bồ Tát này hiện vi trần số mây bửu cái như vậy rồi hướng Phật kính lễ cúng dường, liền ở phương tây nam đều hoá làm tòa sư tử đế thanh bửu trang nghiêm sáng rỡ rồi ngồi kiết già trên đó.
Phương tây bắc của Hoa Tạng thế giới hải này, có thế giới hải tên Bửu Quang Chiếu Diệu.  Trong thế giới chủng đó có quốc độ tên Chúng Hương Trang Nghiêm.  Phật hiệu Vô Lượng Công Đức Hải Quang Minh.  Trong đại chúng của Như Lai đó có Đại Bồ Tát tên Vô Tận Quang Ma Ni Vương cùng vi trần số Bồ Tát đồng đến chỗ Phật.  Chư Bồ Tát này đều hiện mười thứ mây viên mãn quang tất cả châu bửu khắp hư không chẳng tan mất.  Lại hiện mười thứ mây viên mãn quang tất cả bửu diệm.  Lại hiện mười thứ mây viên mãn quang tát cả diệu hoa.  Lại hiện mười thứ mây viên mãn quang tất cả hóa Phật.  Lại hiện mười thứ mây viên mãn quang mười phương Phật độ.  Lại hiện mười thứ mây viên mãn quang Phật cảnh giới.  Lại hiện mười thứ mây viên mãn quang tất cả lưu ly bửu ma ni.  Lại hiện mười thứ mây viên mãn quang trong một niệm hiện vô biên tướng chúng sanh.  Lại hiện mười thứ mây viên mãn quang tiếng diễn thuyết nói đại nguyện của tất cả Như Lai.  Lại hiện mười thứ mây mười thứ mây viên mãn quang ma ni vương tiếng diễn hóa tất cả chúng sanh.  Chư Bồ Tát này hiện vi trần số mây viên mãn quang như vậy rồi hướng Phật kính lễ cúng dường, liền ở phương tây bắc đều hóa làm tòa sư tử vô tận quang minh oai đức tạng rồi ngồi kiết già trên bửu tòa ấy.
Phương dưới của Hoa Tạng thế giới hải này có thế giới hải tên Liên Hoa Hương Diệu Đức Tạng.  Trong thế giới hải đó có quốc độ tên Bửu Sư Tử Quang Minh Chiếu Diệu.  Phật hiệu Pháp Giới Quang Diệm Huệ cùng vi trần số Bồ Tát đồng đến chỗ Phật.  Chư Bồ Tát này đều hiện mười thứ mây quang minh tất cả tạng ma ni, khắp hư không chẳng tan mất.  Lại hiện mười thứ mây quang minh tất cả hương.  Lại hiện mười thứ mây quang minh tất cả bửu diệm.  Lại hiện mười thứ mây quang minh tất cả Phật độ trang nghiêm.  Lại hiện mười thứ mây quang minh tất cả diệu hoa lầu các.  Lại hiện mười thứ mây quang minh việc chư Phật giáo hóa chúng sanh trong tất cả kiếp.  Lại hiện mười thứ mây quang minh hoa nhụy vô tận bửu.  Lại hiện mười thứ mây quang minh bửu tòa quang minh.  Chư Bồ Tát này hiện mười thứ mây quang minh như vậy rồi hướng Phật kính lễ cúng dường, liền ở nơi phương dưới đều hóa làm tòa sư tử liên hoa bửu diệm rồi ngồi kiết già trên đó.
Phương trên của Hoa Tạng thế giới hải này có thế giới hải tên Ma Ni Bửu Chiếu Diệu Trang Nghiêm.  Trong thế giới chủng đó có quốc độ tên Vô Tướng Diệu Quang Minh.  Phật hiệu Vô Ngại Công Đức Quang Minh Vương.  Trong đại chúng của Như Lai đó có Bồ Tát tên Vô Ngại Lực Tinh Tấn Huệ cùng vi trần số Bồ Tát đồng đến chỗ Phật.  Chư Bồ Tát này đều hiện mây quang diệm báu vô biên sắc tướng đầy hư không mà chẳng tan mất.  Lại hiện mười thứ mây quang diệm lưới báu ma ni.  Lại hiện mười thứ mây quang diệm tất cả Phật độ trang nghiêm rộng lớn.  Lại hiện mười thứ mây quang diệm tất cả diệu hương.  Lại hiện mười thứ mây quang diệm tất cả trang nghiêm.  Lại hiện mười thứ mây quang diệm chư Phật biến hóa.  Lại hiện mười thứ mây quang diệm các cây hoa đẹp.  Lại hiện mười thứ mây quang diệm tất cả kim cang.  Lại hiện mười thứ mây quang diệm châu ma ni hiện công hạnh của vô biên Bồ Tát.  Lại hiện mười thứ mây quang diệm tất cả đèn chơn châu.  Chư Bồ Tát hiện vi trần số mây quang diệm như vậy rồi hướng Phật kính lễ cúng dường, liền ở nơi thượng phương đều hóa làm tòa sư tử liên hoa quang minh diễn thinh âm của Phật, rồi ngồi trên bửu tòa đó.
Trong mười ức Phật sát vi trần số thế giới hải như vậy có mười ức vi trần số đại Bồ Tát, mỗi Đại Bồ Tát có thế giới hải vi trần số chúng Bồ Tát đồng đến tập hội.  Mỗi Bồ Tát đều hiện thế giới hải vi trần số mây, các thứ đồ trang nghiêm cúng dường đều khắp hư không mà chẳng tan mất.  Hiện những mây như thế rồi, chư Bồ Tát đồng hướng Phật kính lễ, cúng dường.  Tùy theo phương hướng của mình đến, chư Bồ Tát đều hóa làm các thứ bửu tòa sư tử trang nghiêm rồi ngồi kiết già trên bửu tòa đó.
Sau khi ngồi xong, trong chân lông nơi thân của chư Bồ Tát, mỗi mỗi đều hiện mười thế giới hải vi trần số các thứ bửu sắc quang minh. 
Trong mỗi quang minh đều hiện mười thế giới hải vi trần số chư Bồ Tát đều ngồi tòa sư tử liên hoa tạng.
Chư Bồ Tát này đều có thể vào khắp trong tất cả vi trần của tất cả pháp giới hải.
Trong mỗi vi trần đó đều có mười thế giới vi trần số những cõi rộng lớn.  Trong mỗi cõi này đều có tam thế chư Phật Thế Tôn.
Chư Bồ Tát này đều có thể qua gần gũi cúng dường khắp chư Thế Tôn đó.  Lại có thể trong mỗi niệm dùng pháp môn tự tại thị hiện để khai ngộ thế giới hải vi trần số chúng sanh.  Trong mỗi niệm lại dùng pháp môn thị thiện tất cả chư thiên chết rồi sanh để khai ngộ vi trần số chúng sanh.  Trong mỗi niệm lại dùng pháp môn nói tất cả công hạnh Bồ Tát, dùng pháp môn chấn động tất cả cõi tán thán công đức thần biến của Phật, dùng pháp môn nghiêm tịnh tất cả cõi Phật hiển thị tất cả đại nguyện hải, dùng pháp môn thinh âm của Phật nhiếp khắp tất cả ngôn từ của chúng sanh, dùng pháp môn hay rưới tất cả Phật pháp, dùng pháp môn quang minh chiếu khắp mười phương quốc độ khắp pháp giới thị hiện thần biến, dùng pháp môn hiện Phật thân đầy khắp pháp giới giải thoát lực của tất cả Như Lai, dùng pháp môn Phổ Hiền Bồ Tát kiến lập tất cả chúng hội đạo tràng, trong mỗi niệm dùng những pháp môn như vậy để khai ngộ thế giới hải vi trần số chúng sah.
Trong mỗi niệm, mỗi quốc độ đều làm cho Tu Di Sơn vi trần số chúng sanh, kể đoạ ác đạo được lìa hẳn khổ não.  Đều làm cho Tu Di Sơn vi trần số chúng sanh, kẻ trụ tà định được vào chánh định.  Đều làm cho Tu Di Sơn vi trần số chúng sanh tùy lòng ưa thích được sanh lên cõi trời.  Đều làm cho Tu Di Sơn vi trần số chúng sanh an trụ bậc Thanh Văn, bậc Bích Chi Phật.  Đều làm cho Tu Di Sơn vi trần số chúng sanh thờ bậc thiện tri thức đủ những phước hạnh.  Đều khiến Tu Di Sơn vi trần số chúng sanh phát bồ đề tâm.  Đèu làm Tu Di Sơn vi trần số chúng sanh thẳng đến bực Bồ Tát bất thối chuyển.  Đều làm cho Tu Di Sơn vi trần số chúng sanh được trí nhãn thanh tịnh thấy tất cả pháp bình đẳng của Như Lai đã thấy.  Đều làm cho Tu Di Sơn vi trần số chúng sanh an trụ trong những lực, những nguyện, dùng trí vô tận làm phương tiện thanh tịnh các Phật độ.  Đều làm cho Tu Di Sơn vi trần số chúng sanh đều được an trụ nguyện hải rộng lớn Tỳ Lô Giá Na, sanh ra trong nhà Như Lai.
Lúc đó, chư Bồ Tát ở trong quang minh, đồng thời nói kệ:
Trong các quang minh vang diệu âm
Cùng khắp mười phương tất cả nước
Diễn thuyết Phật tử các công đức
Hay vào đạo bồ đề vi diệu.
Kiếp hải tu hành không mỏi nhàm
Khiến chúng sanh khổ được giải thoát
Tâm không hạ liệt không nhọc nhằn
Phật tử khéo vào phương tiện đạo.
Tất cả kiếp hải phương tiện
Vô lượng vô biên không thừa sót
Tất cả pháp môn đều khắp vào
Mà thường nói kia tánh tịch diệt.
Tam thế chư Phật bao nhiêu nguyện
Tu hành tất cả đều trọn vẹn
Bèn dùng lợi ích các chúng sanh
Mà tự thật hành nghiệp thanh tịnh.
Tất cả chư Phật trong chúng hội
Cùng khắp mười phương đều qua đến
Đều dùng biển trí huệ thậm thâm
Vào pháp tịch diệt của chư Phật.
Mỗi mỗi quang minh đều vô biên
Đều vào nan tư các quốc độ
Trí nhãn thanh tịnh khắp thấy đều
Là cảnh sở hành của Bồ Tát.
Bồ Tát hay trụ một đầu lông
Động khắp mười phương các quốc độ
Chẳng khiến chúng sanh có sợ ngờ
Đây là phương tiện bực thanh tịnh.
Trong mỗi mỗi trần vô lượng thân
Lại hiện trang nghiêm các cõi nước
Một niệm sống chết khắp khiến thấy
Được bực trang nghiêm ý vô ngại.
Tam thế chỗ có tất cả kiếp
Trong một sát na đều hiện được
Biết thân như huyễn không thể tướng
Chứng minh pháp tánh bực vô ngại.
Phổ Hiền thắng hạnh đều được vào
Tất cả chúng sanh đều thích thấy
Phật tử trụ được pháp môn này
Trong các quang minh vang tiếng lớn.
Lúc đó đức Thế Tôn muốn khiến tất cả đại chúng Bồ Tát được sự thần thông vô biên cảnh giới của Như Lai, nên phóng quang minh nơi giữa chặn mày, gọi là nhứt thiết Bồ Tát trí quang minh, chiếu khắp mười phương, trạng như mây sáng bửu sắc, tất cả quốc độ và chúng sanh trong tất cả Phật độ ở mười phương đều làm cho hiển hiện.  Quang minh lại chấn động khắp các thế giới.  Trong mỗi trần hiện vô số Phật.  Tùy theo tánh ưa thích chẳng đồng của các chúng sanh khắp rưới mây diệu pháp luân của tam thế chư Phật, hiển thị biển ba la mật của Như Lai.  Lại rưới vô lượng những mây xuất ly khiến các chúng sanh thoát hẳn sanh tử.  Lại rưới mây đại nguyện của chư Phật hiển bày chúng hội đạo tràng của Phổ Hiền Bồ Tát trong thập phương thế giới.  Quang minh ấy chiếu hiện những việc như vậy rồi, trở về nhiễu vòng quanh Phật, rồi nhập vào dưới chơn Phật.
Lúc đó, trước Phật có hoa sen lớn thoạt hiện ra.  Hoa ấy có đủ mười thứ trang nghiêm: các châu báu xen lẫn làm cộng, ma ni bửu vương làm gương, các báu làm cánh, các hương ma ni làm tua, vàng diêm phù đàn trang nghiêm đài hoa, lưới đẹp trùm trên mầu sáng thanh tịnh, trong niệm thị hiện vô biên thần biến của chư Phật, trong âm thinh có thể diễn thuyết tất cả hạnh nguyện của Bồ Tát.
Khi hoa sen này hiện ra rồi, trong khoảng một niệm trong tướng bạch hào của Như Lai đồng thời xuất hiện đại Bồ Tát tên Nhứt Thiết Pháp Thắng Âm và thế giới hải vi trần số Bồ Tát.  Chư Bồ Tát này đi nhiễu Phật vô lượng vòng, lễ chân Phật.  Thắng Âm Bồ Tát ngồi đài liên hoa, các Bồ Tát ngồi trên tua sen.
Thắng Âm Bồ Tát này rõ pháp giới, lòng rất hoan hỷ, nhập sở hành của Phật trí không nghi trệ, vào biển pháp thân chẳng thể lường của Phật, qua tất cả cõi chỗ của các Như Lai.  Các chân lông đều hiện thần thông, niệm niệm đều quán khắp tất cả pháp giới.  Thập phương chư Phật đồng ban thần lực khiến chư Bồ Tát này khắp an trụ tất cả tam muội, cùng tận kiếp vị lai thường thấy thân vô biên pháp giới công đức hải của Phật, nhẫn đến tất cả tam muội, giải thoát thần thông biến hóa.
Chư Bồ Tát này liền ở trong chúng, thừa oai thần của Phật, quan sát mười phương mà nói kệ rằng:
Phật thân đầy khắp nơi pháp giới
Hiện khắp trước tất cả chúng sanh
Tùy duyên phó cảm đều khắp cùng
Mà hằng ở tòa bồ đề này.
Trong mỗi chân lông của Như Lai
Tất cả sát trần chư Phật ngồi
Chúng hội Bồ Tát cùng vây quanh
Diễn nói thắng hạnh của Phổ Hiền.
Như Lai ngồi yên nơi Bồ Đề
Một lòng thị hiện nhiều sát hải
Mỗi mỗi lông đều hiện như vậy
Như vậy khắp cùng cả pháp giới.
Trong mỗi mỗi cõi đều an tọa
Tất cả sát độ đều cùng khắp
Thập phương Bồ Tát như mây nhóm
Tất cả đồng đến hội đạo tràng.
Tất cả quốc độ vi trần số
Công đức quang minh chúng Bồ Tát
Ở khắp trong hội của Như Lai
Nhẫn đến pháp giới đều đầy khắp
Thập phương Bồ Tát như mây nhóm
Tất cả đồng đến hội đạo tràng.
Tất cả quốc độ vi trần số
Công đức quang minh chúng Bồ Tát
Ở khắp trong hội của Như Lai
Nhẫn đến pháp giới đều đầy khắp.
Pháp giới vi trần các quốc độ
Trong tất cả chúng đều xuất hiện
Như vậy phân thân trí cảnh giới
Trong hạnh Phổ Hiền hay kiến lập.
Ở giữa chúng hội của chư Phật
Thắng Trí Bồ Tát đều an tọa
Tất cả nghe pháp đều hoan hỷ
Nơi nơi tu hành vô lượng kiếp.
Đã vào hạnh nguyện của Phổ Hiền
Tất cả nghe pháp đều hoan hỷ
Nơi nơi tu hành vô lượng kiếp.
Đã vào hạnh nguyện của Phổ Hiền
Tất cả xuất sanh các Phật pháp
Trong pháp hải Tỳ Lô Giá Na
Tu hành chứng được Như Lai địa.
Phổ Hiền Bồ Tát đã khai giác
Tất cả Như Lai đồng khen mừng
Đã được chư Phật đại thần thông
Pháp giới châu lưu đều cùng khắp.
Tất cả quốc độ vi trần số
Thường hiện hóa thân đều đầy khắp
Khắp vi chúng sanh phóng đại quang
Đều rưới pháp giới xứng lòng họ.
Lúc đó trong đại chúng lại có Đại Bồ Tát tên Quán Sát Nhứt Thiết Thắng Pháp Liên Hoa Quang Huệ Vương, thừa oai lực của Phật, quán sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Như Lai trí rất sâu
Vào khắp nơi pháp giới
Hay chuyển theo ba đời
Vì đời làm Minh Đạo.
Chư Phật đồng pháp thân
Vô y, vô sai biệt
Tùy theo ý chúng sanh
Khiến thấy thân hình Phật.
Đầy đủ nhứt thiết trí
Biết khắp tất cả pháp
Trong tất cả quốc độ
Tất cả đều hiện đủ.
Thân Phật và quang minh
Sắc tướng chẳng nghĩ bàn
Chúng sanh ai ưa thích
Tùy ưng đều khiến thấy.
Nơi trên một thân Phật
Hóa làm vô lượng Phật
Lôi âm khắp các cõi
Diễn pháp sâu như biển.
Trong mỗi mỗi chân lông
Lưới sáng khắp mười phương
Diễn diệu âm của Phật
Điều phục kẻ khó phục.
Trong quang minh Như Lai
Thường vang tiếng thâm diệu
Ca ngợi công đức Phật
Và công hạnh Bồ Tát.
Phật chuyển chánh pháp luân
Vô biên vô lượng số
Pháp nói ra vô đẳng
Trí cạn không lường được.
Trong tất cả thế giới
Hiện thân thành chánh giác
Mỗi mỗi khởi thần biến
Pháp giới đều đầy đủ.
Như Lai mỗi mỗi thân
Hiện Phật đồng chúng sanh
Tất cả vi trần cõi
Khắp hiện thần thông lực.
Lúc đó trong đại chúng lại có Đại Bồ Tát tên Pháp Hỷ Huệ Quang Minh, thừa oai thần của Phật, quan sát khắp mười phương, rồi nói kệ rằng:
Phật thân thường hiển hiện
Pháp giới đều đầy đủ
Hằng diễn quảng đại âm
Chấn động mười phương cõi.
Như Lai khắp hiện thân
Thế gian đều vào khắp
Tùy chúng sanh thích ưa
Hiển thị thần thông lực.
Phật tùy tâm chúng sanh
Hiện khắp ở trước họ
Chúng sanh chỗ được thấy
Đều là Phật thần lực.
Quang minh chiếu vô biên
Thuyết pháp cũng vô lượng
Phật tử tùy trí mình
Vào được quan sát được.
Phật thân vốn vô sanh
Mà thị hiện xuất sanh
Pháp tánh như hư không
Chư Phật trụ trong đó.
Không trụ cũng không đi
Mọi nơi đều thấy Phật
Quang minh chiếu cùng khắp
Tiếng tâm đồn khắp cõi.
Vô thể vô sở trụ
Cũng không có chỗ sanh
Không tướng cũng không hình
Chỗ hiện đều như bóng.
Phật tùy tâm chúng sanh
Vì họ hiện pháp vân
Các thứ môn phương tiện
Khai ngộ và điều phục.
Trong tất cả thế giới
Thấy Phật ngồi đạo tràng
Đại chúng đồng bao quanh
Chói sáng mười phương cõi.
Tất cả thân chư Phật
Đều có tướng vô tận
Thị hiện dầu vô lượng
Sắc tướng vô cùng tận.
Lúc đó trong đại chúng lại có Đại Bồ Tát tên Hương Diệm Quang Phổ Minh Huệ thừa thừa oai thần của Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Bồ Tát trong hội này
Vào Phật địa khó lường
Mỗi mỗi đều được thấy
Thần lực của chư Phật.
Trí thân khắp vào được
Tất cả vi trần cõi
Thấy thân ở trong đó
Thấy khắp các đức Phật.
Như bóng hiện các cõi
Tất cả chỗ Như Lai
Trong tất cả chỗ đó
Đều hiện sự thần thông.
Phổ Hiền các hạnh nguyện
Tu tập đã sáng sạch
Có thể tất cả cõi
Thấy khắp Phật thần biến.
Thân ở tất cả chỗ
Tất cả đều bình đẳng
Trí có thể như vậy
Vào cảnh giới của Phật.
Đã chứng trí Như Lai
Chiếu khắp trong pháp giới
Khắp vào chân lông Phật
Tất cả quốc độ Phật
Đều hiện thần thông lực
Thị hiện các thứ thân
Và các thứ danh hiệu.
Nơi trong khoảng một niệm
Hiện khắp những thần biến
Đạo tràng thành chánh giác
Và chuyển diệu pháp luân.
Tất cả cõi rộng lớn
Ức kiếp chẳng nghĩ bàn
Bồ Tát trong chánh định
Một niệm đều hiện được.
Tất cả những Phật độ
Chư Bồ Tát mỗi vị
Khắp vào nơi thân Phật
Vô biên cũng vô tận.
Lúc đó lại có Đại Bồ Tát tên Sư Tử Phấn Tấn Huệ Quang Minh thừa oai thần của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Tỳ Lô Giá Na Phật
Hay chuyển chánh pháp luân
Pháp giới các cõi nước
Như mây đều cùng khắp.
Trong mười phương chỗ có
Những thế giới rộng lớn
Phật nguyện lực thần thông
Chuyển pháp luân khắp chỗ.
Tất cả những cõi nước
Trong chúng hội rộng lớn
Danh hiệu đều chẳng đồng
Tùy ưng diễn diệu pháp.
Như Lai oai lực lớn
Phổ Hiền nguyện tạo thành
Trong tất cả cõi nước
Diệu âm đều khắp đến.
Phật thân khắp pháp giới
Khắp rưới những mưa pháp
Vô sanh vô sai biệt
Thế gian hiện tất cả.
Muôn ức vô số kiếp
Trong tất cả quốc độ
Việc làm từ thuở xưa
Diệu âm đều nói đủ.
Mười phương vi trần cõi
Lưới sáng trùm khắp nơi
Ánh sáng đều có Phật
Khắp hóa độ quần sanh.
Phật thân vô sai biệt
Đầy khắp trên pháp giới
Đều khiến thấy sắc thân
Tùy cơ khéo điều phục.
Tam thế tất cả cõi
Tất cả đấng Đạo Sư
Danh hiệu sai khác nhau
Tuyên thuyết đều khiến thấy.
Quá hiện và vị lai
Tất cả chư Như Lai
Chuyển vi diệu pháp luân
Chúng hội đều nghe được.
Lúc đó, trong đại chúng lại có Đại Bồ Tát tên Pháp Hải Công Đức Tạng thừa oai thần của Phật, quan sát thập phương rồi nói kệ rằng:
Phật tử trong hội này
Khéo tu các trí huệ
Người này đã vào được
Môn phương tiện như vậy.
Trong tất cả cõi nước
Khắp diễn quảng đại âm
Nói công hạnh Phật làm
Nghe khắp mười phương cõi.
Trong mỗi mỗi tâm niệm
Xem khắp tất cả pháp
An trụ chơn như địa
Rõ thấu biển chánh pháp.
Trong mỗi mỗi Phật thân
Ức kiếp chẳng nghĩ bàn
Tu tập ba la mật
Và nghiêm tịnh quốc độ.
Trong mỗi mỗi vi trần
Chứng được tất cả pháp
Được vô ngại như vậy
Đi khắp mười phương cõi
Trong mỗi mỗi cõi Phật
Qua đến đều không sót
Thấy Phật xuất thần thông
Vào công hạnh của Phật.
Chư Phật tiếng rộng lớn
Pháp giới đều khắp nghe
Bồ Tát rõ biết được
Khéo vào biển âm thanh.
Kiếp hải diễn diệu âm
Diệu âm đồng không khác
Bực trí khắp ba đời
Vào diệu âm của Phật.
Thinh âm của chúng sanh
Tiếng tự tại của Phật
Đều được trí thinh âm
Tất cả đều rõ được.
Từ địa mà được địa
Trụ ở trong lực địa
Ức kiếp siêng tu hành
Chỗ được pháp như vậy.
Lúc đó trong chúng lại có Đại Bồ Tát tên Huệ Đăng Phổ Minh thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Tất cả chư Như Lai
Xa lìa các hình tướng
Nếu biết được pháp này
Mới thấy đấng Đạo Sư.
Bồ Tát trong chánh định
Huệ Quang khắp sáng rõ
Biết được tất cả Phật
Thể tánh vốn tự tại.
Thấy Phật thể chơn thật
Thời hộ pháp thậm thâm
Khắp quan sát pháp giới
Tùy nguyện mà thọ thân.
Từ nơi biển phước sanh
An trụ trong trí địa
Quan sát tất cả pháp
Tu hành đạo tối thắng
Trong tất cả Phật sát
Chỗ tất cả Như Lai
Khắp pháp giới như vậy
Đều thấy thể chơn thật.
Mười phương cõi rộng lớn
Ức kiếp siêng tu hành
Đi trong chánh biến tri
Biển tất cả các pháp.
Chỉ một thân dày cứng
Trong vi trần đều thấy
Vô sanh cũng vô tướng
Hiện khắp trong các cõi.
Tùy tâm của chúng sanh
Hiện khắp ở trước họ
Hiện các môn điều phục
Khiến mau đến Phật đạo.
Do oai thần của Phật
Xuất hiện các Bồ Tát
Phật lực thường gia trì
Thấy khắp các Như Lai.
Tất cả đấng Đạo Sư
Vô lượng oai thần lực
Khai ngộ các Bồ Tát
Pháp giới đều cùng khắp.
Lúc đó trong chúng lại có Đại Bồ Tát tên Hoa Diệm Kế Phổ Minh Trí, thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Trong tất cả quốc độ
Khắp diễn tiếng vi diệu
Ca ngợi công đức Phật
Pháp giới đều đầy đủ.
Phật dùng pháp làm thân
Thanh tịnh như hư không
Hiện ra những sắc hình
Khiến vào trong pháp đó.
Nếu có người tin mừng
Và được Phật nhiếp thọ
Nên biết người như vầy
Sanh được Phật trí huệ.
Những người trí kém ít
Không biết được pháp này
Người huệ nhãn thanh tịnh
Nơi đây mới thấy được.
Do oai lực của Phật
Quan sát tất cả pháp
Nhập trụ và lúc xuất
Chỗ thấy đều sáng rõ.
Trong tất cả các pháp
Pháp môn nhiều vô biên
Thành tựu nhứt thiết trí
Vào nơi biển pháp sâu.
An trụ Phật quốc độ
Hiện ra tất cả chỗ
Không đến cũng không đi
Pháp chư Phật như vậy.
Tất cả biển chúng sanh
Phật thân như bóng hiện
Tùy họ hiểu sai khác
Đều được thấy Đạo Sư.
Trong tất cả chân lông
Mỗi mỗi hiện thần thông
Tu hành nguyện Phổ Hiền
Người thanh tịnh được thấy.
Phật dùng mỗi mỗi thân
Nơi nơi chuyển pháp luân
Pháp giới đều cùng khắp
Nghĩ bàn chẳng thể đến.
Lúc đó trong chúng lại có Đại Bồ Tát tên Oai Đức Huệ Vô Tận Quang thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Trong mỗi mỗi cõi Phật
Nơi nơi ngồi đạo tràng
Chúng hội đồng bao quanh
Ma quân đều xô dẹp.
Thân Phật phóng quang minh
Đầy khắp cả mười phương
Tùy ưng mà thị hiện
Sắc tướng hiện nhiều thứ.
Trong mỗi mỗi vi trần
Quang minh đều đầy đủ
Thấy khắp mười phương cõi
Chúng loại đều sai khác.
Mười phương những quốc độ
Vô lượng vô biên cõi
Đều bình thản thanh tịnh
Đế thanh bửu làm thành.
Hoặc trùm hoặc ở bên
Hoặc giống hoa sen búp
Hoặc tròn hoặc bốn góc
Những hình tướng sai khác.
Cõi nước trong pháp giới
Đi khắp không chướng ngại
Trong tất cả chúng hội
Thường chuyển diệu pháp luân.
Phật thân chẳng nghĩ bàn
Quốc độ đều ở trong
Nơi tất cả chỗ kia
Nói pháp giáo hóa chúng.
Diệu pháp luân đã chuyển
Pháp tánh không sai khác
Nương nơi một thật lý
Diễn thuyết các pháp tướng.
Phật dùng tiếng viên mãn
Thuyết minh lý chơn thật
Tùy chúng hiểu sai khác
Hiện vô tận pháp môn.
Trong tất cả quốc độ
Thấy Phật ngồi đạo tràng
Phật thân như bóng hiện
Sanh diệt bất khả đắc.
Lúc đó trong chúng lại có Đại Bồ Tát tên Pháp Giới Phổ Minh Huệ thừa oai thần của Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Như Lai thân vi diệu
Sắc tướng chẳng nghĩ bàn
Người thấy lòng vui mừng
Cung kính tin Phật pháp.
Phật thân tất cả tướng
Đều hiện vô lượng Phật
Vào khắp mười phương cõi
Trong mỗi mỗi vi trần.
Thập phương những quốc độ
Vô lượng vô biên Phật
Đều riêng hiện thần thông.
Chư Bồ Tát đại trí
Thâm nhập nơi pháp hải
Phật lực thường gia trì
Phương tiện này biết được.
Nếu người đã an trụ
Các hạnh nguyện Phổ Hiền
Thấy những quốc độ kia
Thần lực của chư Phật.
Nếu người có tin hiểu
Nhẫn đến các đại nguyện
Đầy đủ trí huệ sâu
Thông đạt tất cả pháp.
Có thể nơi thân Phật
Mỗi mỗi quan sát được
Sắc thinh không chướng ngại
Rõ thấu nơi các cảnh.
Có thể nơi thân Phật
An trụ cảnh trí huệ
Mau vào Như Lai địa
Nhiếp khắp cả pháp giới.
Số vi trần Phật sát
Những quốc độ như vậy
Hay khiến trong một niệm
Hiện trong mỗi vi trần.
Tất cả những quốc độ
Nhẫn đến sự thần thông
Đều hiện trong một cõi
Sức Bồ Tát như vậy.
Lúc đó trong chúng có Đại Bồ Tát tên Tinh Tấn Lực Vô Ngại Huệ thừa oai thần của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Phật diễn một diệu âm
Nghe khắp mười phương cõi
Các tiếng đều đầy đủ
Pháp vũ đều cùng khắp.
Tất cả biển ngôn từ
Tất cả tiếng tuỳ loại
Trong tất cả Phật độ
Chuyển pháp luân thanh tịnh.
Tất cả các cõi nước
Đều thấy Phật thần biến
Nghe pháp âm Phật nói
Nghe rồi đến bồ đề.
Pháp giới các cõi nước
Trong mỗi mỗi vi trần
Giải thoát lực của Phật
Nơi kia khắp hiện thân.
Pháp thân đồng hư không
Vô ngại vô sai biệt
Sắc hình như ảnh tượng
Các thứ tướng hiển hiện.
Ảnh tượng không nơi chỗ
Vô tánh như hư không
Người trí huệ rộng lớn
Rõ thấu tánh bình đẳng.
Phật thân bất khả thủ
Vô sanh cũng vô tác
Ứng vật khắp hiện tiền
Bình đẳng như hư không.
Thập phương vô lượng Phật
Đều nhập một chân lông
Đều riêng hiện thần thông
Trí nhãn xem thấy được.
Tỳ Lô Giá Na Phật
Nguyện lực khắp pháp giới
Trong tất cả quốc độ
Thường chuyển pháp vô thượng.
Một lông hiện thần thông
Tất cả Phật đồng nói
Trải qua vô lượng kiếp
Ngằn mé không thể hết.

Hết phẩm 2


Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-11-17 02:09:43canary>
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 3

Phẩm thăng Đâu Suất thiên cung
Thứ hai mươi ba


Hán bộ quyển thứ hai mươi hai

Lúc bấy giờ, do thần lực của đức Phật, thập phương tất cả thế giới, trong mỗi Diêm Phù Đề đều thấy đức Phật ngự dưới cây bồ đề, đều có Bồ Tát thừa oai lực của Phật mà thuyết pháp, không ai chẳng cho rằng đức Phật luôn ở trước mình.
Đức Thế Tôn lại dùng thần lực chẳng rời các chỗ:  Cây bồ đề, đảnh Tu Di sơn, Dạ Ma thiên cung, mà qua đến Đâu Suất Đà thiên nơi điện Diệu Bửu Trang Nghiêm.
Đâu Suất Thiên Vương vọng thấy đức Phật đến, liền dọn tòa ma ni tạng sư tử tại giữa điện.  Tòa ấy do những diệu bửu cõi trời  họp thành, từ những thiện căn công đức mà có, không ai quan sát trọn hết được sự tốt đẹp của nó.  Có trăm vạn ức từng cấp vòng quanh tòa.  Có trăm vạn ức lưới vàng, lưới ma ni, lưới báu, trăm vạn ức trướng hoa, trướng báu, trướng tràng hoa, trướng hương giăng che phía trên tòa.  Tràng hoa thòng xuống, hơi thơm lan khắp nơi.  Có trăm vạn ức lọng hoa, lọng tràng hoa, lọng báu, do chư thiên cầm bày hàng bốn phía.  Trăm vạn ức bửu y trải trên tòa.  Trăm vạn ức lâu các chói sáng trang nghiêm.  Trăm vạn ức lưới chuỗi ngọc báu rủ bốn phía.  Có trăm vạn ức màn linh báu, những linh ấy hơi động vang ra tiếng hòa nhã.  Cửa sổ bằng trăm vạn ức báu kiên cố ma ni.  Cửa chính bằng trăm vạn ức báu thanh tịnh diệu tạng.  Rưới trăm vạn ức mây thiên hoa, mây thiên hương, mây thiên y, mây thiên bửu, mây thiên cái, mây thiên trang nghiêm cụ, mây thiên bửu man, mây thiên anh lạc.  Trăm vạn ức bửu thọ che mát xung quanh.  Trăm vạn ức thiên nhạc đồng hòa tấu ra tiếng vi diệu diệt các phiền não, tán thán sự cúng dường, sự thờ phụng, sự tu hành, cũng tán thán Phật quả, thiệt lý, Phật bổn hạnh, cũng tán thán sự cúng dường chư Phật thời quá khứ, ca ngợi chư Phật tối thắng vô úy, ca ngợi công đức vô tận của Bồ Tát, ca ngợi hạnh tương ưng của tất cả bậc Bồ Tát, ca ngợi công đức bất tuyệt của Phật, ca ngợi công hạnh thấy Phật, ca ngợi lý tương ưng với vô ngại.  Tiếng thiên nhạc vang khắp tất cả phật sát.
Có trăm vạn ức sơ phát tâm Bồ Tát vừa thấy bửu tòa này lại càng thêm lớn tâm nhất thiết trí.  Trăm vạn ức Trị Địa Bồ Tát tâm tịnh hoa hỷ.  Trăm vạ ức Tu Hành Bồ Tát ngộ giải thanh tịnh.  Trăm vạn ức Sanh Quý Bồ Tát trụ thắng chí lạc.  Trăm vạn ức Phương Tiện Cụ Túc Bồ Tát khởi đại thừa hạnh.  Trăm vạn ức Chánh Tâm Trụ Bồ Tát siêng tu tất cả đạo Bồ Tát.  Trăm vạn ức Bất Thối Bồ Tát tịnh tu tất cả Bồ Tát địa.  Trăm vạn ức Đồng Chơn Bồ Tát được quang minh tam muội của tất cả Bồ Tát.  Trăm vạn ức Pháp Vương Tử Bồ Tát nhập bất tư nghì chư Phật cảnh giới.  Trăm vạn ức Quán Đảng Bồ Tát hay hiện thập lực của vô lượng Như Lai.  Trăm vạn ức Bồ Tát được tri giải thanh tịnh.  Trăm vạ ức Bồ Tát sanh lòng ưa thích.  Trăm vạn ức Bồ Tát thâm tín chẳng hư hoại.  Trăm vạn ức Bồ Tát thế lực rộng lớn.  Trăm vạn ức Bồ Tát thêm lớn danh tiếng.  Trăm vạn ức Bồ Tát diễn thuyết pháp nghĩa khiến trí quyết định.  Trăm vạn ức Bồ Tát chánh niệm chẳng loạn.  Trăm vạn ức Bồ Tát sanh trí quyết định.  Trăm vạn ức Bồ Tát được sức văn trì, trì tất cả Phật pháp.  Trăm vạn ức Bồ Tát xuất sanh vô lượng tri giải rộng lớn.  Trăm vạn ức Bồ Tát an trụ tín căn.  Trăm vạn ức Bồ Tát được đàn ba la mật có thể thí tất cả.  Trăm vạn ức Bồ Tát được thí ba la mật, trì toàn vẹn các giới hạnh.  Trăm vạn ức Bồ Tát được nhẫn ba la mật tâm chẳng vọng động, trọn nhẫn thọ được tất cả Phật pháp.  Trăm vạn ức Bồ Tát được tinh thấn ba la mật, có thể thật hành vô lượng xuất ly tinh tấn.  Trăm vạn ức Bồ Tát được thiền ba la mật, đủ vô lượng thiền định quang minh.  Trăm vạn ức Bồ Tát được bác nhã ba la mật, trí huệ quang minh có thể soi sáng khắp nơi.  Trăm vạn ức Bồ Tát thành tựu đại nguyện trọn đều thanh tịnh.  Trăm vạn ức Bồ Tát được đèn trí huệ soi sáng pháp môn.  Trăm vạn ức Bồ Tát được pháp quang của thập phương chư Phật chiếu đến.  Trăm vạn ức Bồ Tát diễn pháp ly si cùng khắp mười phương.  Trăm vạn ức Bồ Tát vào khắp tất cả quốc độ chư Phật.  Trăm vạn ức Bồ Tát pháp thân đến tất cả Phật độ.  Trăm vạn ức Bồ Tát được Phật âm thanh hay rộng khai ngộ chúng sanh.  Trăm vạn ức Bồ Tát được phương tiện xuất sanh nhất thiết trí.  Trăm vạn ức Bồ Tát được thành tựu tất cả pháp môn.  Trăm vạn ức Bồ Tát thành tựu pháp trí như bửu tràng có thể hiển thị tất cả Phật pháp.  Trăm vạn ức Bồ Tát có thể trọn thị hiện cảnh giới Như Lai.  Trăm vạn ức Thiên Vương cung kính lễ bái.  Trăm vạn ức Long Vương nhìn ngắm không nhàm.  Trăm vạn ức Dạ Xoa Vương chấp tay trên đầu.  Trăm vạn ức Càn Thát Bà Vương khởi lòng tịnh tín.  Trăm vạn ức A Tu La Vương dứt lòng kiêu mạn.   Trăm vạn ức Ca Lâu La Vương miệng ngậm dải lụa màu.  Trăm vạn ức Khẩn Na La Vương vui mừng hớn hở.  Trăm vạn ức Ma Hầu La Già Vương hoan hỷ chiêm ngưởng.  Trăm vạn ức thế chúa cúi đầu đảnh lễ.  Trăm vạn ức Đao Lợi Thiên Vương chiêm ngưỡng chẳng nháy mắt.  Trăm vạn ức Da Ma Thiên Vương hoan hỷ ca ngợi.  Trăm vạn ức Đâu Suất Thiên Vương mọp thân làm lễ.  Trăm vạn ức Hóa Lạc Thiên Vương cung kính đảnh lễ.  Trăm vạn ức Tha Hóa Thiên Vương chấp tay cung kính.  Trăm vạn ức Phạm Vương nhất tâm quan sát.  Trăm vạn ức Đại Tự Tại Thiên Vương cung kính cúng dường.  Trăm vạn ức Bồ Tát lên tiếng tán thán.  Trăm vạn ức thiên nữ chuyên tâm cúng dường.  Trăm vạn ức Đồng Nguyệt Thiên hớn hở vui mừng.  Trăm vạn ức Đồng Trụ Thiên ca ngợi.   Trăm vạn ức Phạm Thân Thiên trải thân kính lễ.  Trăm vạn ức Phạm Phụ Thiên chấp tay trên đầu.  Trăm vạn ức Phạm Chúng Thiên hầu hạ xung quanh.  Trăm vạn ức Đại Phạm Thiên ca ngợi vô lượng công đức.  Trăm vạn ức Quang Thiên năm vóc gieo xuống đất.  Trăm vạn ức Thiểu Quang Thiên ca ngợi khó gặp Phật xuất thế.  Trăm vạn ức Vô Lượng Quang Thiên vọng lễ Phật.  Trăm vạn ức Quang Âm Thiên tán thán rất khó được thấy Phật.  Trăm vạn ức Tịnh Thiên cùng cung điện đồng đến đây.  Trăm vạn ức Thiểu Tịnh Thiên dùng tâm thanh tịnh cúi đầu làm lễ.  Trăm vạn ức Vô Lượng Tịnh Thiên nguyện muốn thấy Phật.  Trăm vạn ức Biến Tịnh Thiên thân cận tôn trọng cúng dường.  Trăm vạn ức Quảng Thiên nhớ căn lành đời trước.  Trăm vạn ức Thiểu Quang Thiên sanh quan niệm hi hữu đối với Như Lai.  Trăm vạn ức Vô Lượng Quảng Thiên quyết định tôn trọng sanh các nghiệp lành.  Trăm vạn ức Quảng Quả Thiên cúi mình cung kính.  Trăm vạn ức Vô Phiền Thiên tín căn kiên cố kính lễ.  Trăm vạn ức Vô Nhiệt Thiên chấp tay niệm Phật không lòng mỏi nhàm.  Trăm vạn ức Thiện Kiến Thiên đảnh lễ.  Trăm vạn ức Thiện Hiện Thiên mãi nhớ cúng dường Phật.  Trăm vạn ức Sắc Cứu Cánh Thiên kính lễ.  Trăm vạn ức chư thiên đều rất hoan hỷ lên tiếng tán thán.  Trăm vạn ức chư thiên đều khéo tư duy để trang nghiêm.  Trăm vạn ức Bồ Tát thiên hộ trì phật tòa không ngớt trang nghiêm.  Trăm vạn ức Hoa Thủ Bồ Tát rải tất cả thứ hoa.  Trăm vạn ức Hương Thủ Bồ Tát rải tất cả thứ hương.  Trăm vạn ức Man Thủ Bồ Tát rải tất cả tràng hoa.  Trăm vạn ức Y Thủ Bồ Tát rải tất cả thứ y phục.  Trăm vạn ức Cái Thủ Bồ Tát rải tất cả thứ lọng.  Trăm vạn ức Tràng Thủ Bồ Tát rải tất cả thứ tràng.  Trăm vạn ức Phan Thủ Bồ Tát rải tất cả thứ phan.  Trăm vạn ức Bửu Thủ Bồ Tát rải tất cả thứ bửu.  Trăm vạn ức Trang Nghiêm Thủ Bồ Tát rải tất cả đồ trang nghiêm.  Trăm vạn ức thiên tử đến dưới bửu tòa.  Trăm vạn ức thiên tử cùng cung điện đồng đến đây với tâm tịnh tín.  Trăm vạn ức Sanh Quý Thiên Tử dùng thân gìn bửu tòa.  Trăm vạn ức Quán Đảnh Thiên Tử cả thân gìn bửu tòa.  Trăm vạn ức Tu Duy Bồ Tát cung kính tư duy.  Trăm vạn ức Sanh Quý Bồ Tát phát tâm thanh tịnh.  Trăm vạn ức Bồ Tát sáu căn vui đẹp.  Trăm vạn ức Bồ Tát thâm tâm thanh tịnh.  Trăm vạn ức Bồ Tát tín giải thanh tịnh.  Trăm vạn ức Bồ Tát ba nghiệp thanh tịnh.  Trăm vạn ức Bồ Tát thọ sanh tự tại.  Trăm vạn ức Bồ Tát pháp quang chiếu sáng.  Trăm vạn ức Bồ Tát thành tựu các bậc.  Trăm vạn ức Bồ Tát khéo giáo hóa tất cả chúng sanh.  Trăm vạn ức thiện căn sanh ra.  Trăm vạn ức Phật hộ trì.  Trăm vạn ức phước đức viên mãn.  Trăm vạn ức đại nguyện nghiêm khiết.  Trăm vạn ức hạnh lành sanh khởi.  Trăm vạn ức tâm thù thắng làm thanh tịnh.  Trăm vạn ức pháp lành làm kiên cố.  Trăm vạn ức thần lực thị hiện ra.  Trăm vạn ức công đức làm thành.  Trăm vạn ức pháp tán thán để ca ngợi.
Như ở thế giới này, Đâu Suất Thiên Vương phụng vì đức Như Lai mà trần thiết bửu tòa, trong tất cả thế giới, các Đâu Suất Thiên Vương cũng vì đức Như Lai mà trần thiết bửu tòa đều đồng sự trang nghiêm, đồng nghi tắc, đồng tín ưa, đồng tâm tịnh, đồng vui thích, đồng mừng rỡ, đồng tôn trọng, đồng quan niệm hi hữu, đồng hớn hở, đồng khát ngưỡng như thế cả.
Trần thiết bửu tòa xong, Đâu Suất Thiên Vương với lòng tôn trọng cùng mười vạn ức vô số Đâu Suất Thiên Tử phụng nghinh đức Như Lai.
Thiên Vương và chư thiên dùng tâm thanh tịnh rưới vô số mây màu hoa, mây màu hương, mây màu tràng hoa, mây bửu cái, mây thiên y, mây diệu bửu, mây trang nghiêm cụ.
Lúc chư thiên từ nơi thân mình tuôn ra vô số thứ mây màu báu đẹp này, trăm ngàn vô số Đâu Suất Thiên Tử cùng chúng thiên tử hiện diện trong hội lòng rất hoan hỷ kính lễ.  Vô số thiên nữ hớn hở kính mộ chiêm ngưỡng đức Như Lai.  Bất khả thuyết Bồ Tát trụ giữa hư không tinh tấn nhất tâm cúng dường đức Phật nhiều hơn chư thiên và cung kính đảnh lễ.  Vô số âm nhạc đồng thời hòa tấu.
Bấy giờ, do thần lực của đức Phật, do căn lành ngày trước, do sức tự tại bất tư nghì, nên trong Đâu Suất thiên cung, tất cả thiên tử và thiên nữ đều vọng thấy đức Phật đối trước mình.  Họ đồng tự nghĩ rằng:  Đức Như Lai xuất thế khó gặp gỡ được, nay tôi được thấy đấng vô thượng chánh giác.
Trăm ngàn ức na do tha vô số Đâu Suất thiên tử trụ giữa hư không đều khởi tâm cảnh giới trí huệ, đối với đức Phật, mà đốt những thứ thiên hương, khói hương kết thành mây đẹp thơm trang nghiêm trên hư không.  Lại với đức Phật, họ khởi tâm hoan hỷ mà rưới những mây hoa trời trang nghiêm hư không.  Lại với đức Phật, họ khởi tâm tôn trọng rưới những mây lọng trời trang nghiêm hư không.  Họ lại khởi tâm cúng dường Phật mà rải mây tràng hoa trời trang nghiêm hư không.  Họ lại khởi tâm tín giải bủa vô số lưới vàng che trùm hư không, có những bửu linh luôn vang tiếng hòa dịu.  Họ lại khởi tâm tối thắng phước điền dùng vô số màn báu trang nghiêm hư không và rưới mây chuỗi ngọc báu không ngớt.  Họ lại sanh tâm thâm tín dùng vô số cung điện trời trang nghiêm hư không, tất cả thiên nhạc vang tiếng vi diệu.  Họ lại sanh tâm tối thắng khó gặp đối với đức Phật, dùng vô số mây thiên y nhiều màu trang nghiêm hư không và rưới vô tỉ những y phục vi diệu.  Họ lại sanh vô lượng tâm hoan hỷ hớn hở dùng vô số thiên bửu quang trang nghiêm hư không và rưới vô lượng thiên quan kết thành mây.  Họ lại khởi tâm hoan hỷ dùng vô số báu nhiều màu trang nghiêm hư không và rưới những mây chuỗi ngọc không ngớt.
Trăm ngàn ức na do tha vô số thiên tử, đối với đức Phật, đều sanh tâm tịnh tín rải vô số thiên hoa nhiều màu, đốt vô số thiên hương để cúng dường Như Lai.  Họ lại khởi tâm đại trang nghiêm biến hóa cầm vô số thiên mạt hương nhiều màu phụng rải cúng dường đức Phật.  Họ lại khởi tâm hoan hỷ cầm vô số lọng nhiều màu theo bên Như Lai.  Ho lại khởi tâm tăng thượng cầm vô số y báu nhiều màu trải trên đường để cúng dường Như Lai.  Họ lại khởi tâm thanh tịnh cầm vô số bửu tràng nhiều màu phụng nghinh Như Lai.  Họ lại khởi tâm tăng thượng hoan hỷ cầm vô số trang nghiêm báu cúng dường Như Lai.  Họ lại sanh tâm bất hoại tín cầm vô số tràng hoa báu cúng dường Như Lai.  Họ lại sanh tâm hoan hỷ vô tỉ cầm vô số bửu phan cúng dường Như Lai.
Trăm ngàn ức na do tha vô số thiên tử dùng tâm điều thuận tịch tịnh không phóng dật đem vô số thiên nhạc vang tiếng vi diệu cúng dường Như Lai.
Bất khả thuyết Bồ Tát ở trước nơi trời Đâu Suất, sanh ra từ pháp siêu thế gian, từ hạnh ly phiền não, từ tâm vô ngại, từ pháp thậm thâm phương tiện, từ trí quảng đại, từ tín tâm thanh tịnh kiên cố, từ thiện căn bất tư nghì, từ vô số thiện xảo biến hóa, từ tâm cúng dường Phật, từ pháp môn vô tác.
Chư Bồ Tát này đem đồ cúng dường hơn cả chư thiên để dâng lên Phật:  Những bửu cái từ ba la mật sanh ra, những hoa trướng từ trí giải thanh tịnh sanh ra, những bửu y từ vô sanh pháp nhẫn sanh ra, những lưới bửu linh từ tâm vô ngại sanh ra, những hương báu từ tâm hiểu pháp như huyễn sanh ra, những bửu tòa từ tâm cùng khắp Phật cảnh giới Như Lai tòa sanh ra, những bửu tràng từ tâm cúng dường Phật chẳng lười trễ sanh ra, những bửu điện từ tâm hoan hỷ hiểu pháp như giấc mơ sanh ra, những mây bửu liên hoa từ thiện căn vô trước vô sanh sanh ra, cùng những mây hương, mây hoa, mây bửu y, mây đồ trang nghiêm hơn cả chư thiên dâng lên cúng dường đức Phật.
Mỗi thân của chư Bồ Tát nầy đều hiện ra bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha Bồ Tát đầy khắp pháp giới hư không giới.  Tâm của chư Bồ Tát này đồng với tam thế chư Phật, bởi từ pháp không điên đảo khởi lên, vô lượng Như Lai gia hộ, khai thị đạo an ổn cho chúng sanh, đầy đủ bất khả thuyết danh vị cú, vào khắp vô lượng pháp trong tất cả môn đà la ni, sanh tạng biện tài chẳng cùng tận, lòng không e sợ, rất hoan hỷ, dùng bất khả thuyết vô lượng vô tận pháp tán thán như thật để ca ngợi đức Phật không mỏi nhàm.
Lúc đó, tất cả chư thiên, và tất cả Bồ Tát thấy đức Như Lai vô thượng chánh giác thân vô lượng không thể đếm lường, hiện bất tư nghì thần biến, khiến vô số chúng sanh lòng rất vui mừng, dùng Phật trang nghiêm mà trang nghiêm cả pháp giới hư không giới, khiến các chúng sanh an trụ thiện căn, thị hiện vô lượng Phật thần lực, vượt khỏi tất cả đường ngữ ngôn, chư đại Bồ Tát đồng khâm kính, tuỳ chỗ đáng được độ đều khiến hoan hỷ trụ nơi thân rộng lớn của chư Phật, công đức thiện căn đều đã thanh tịnh, sắc tướng đệ nhất, trí huệ cảnh giới không thể cùng tận, từ vô tỉ tam muội sanh ra, thân Phật không ngằn mé trụ khắp trong thân của tất cả chúng sanh, khiến vô lượng chúng sanh đều vui mừng, khiến Phật chủng tánh chẳn dứt, trụ nơi chỗ trụ rốt ráo của đức Phật, sanh nơi nhà tam thế chư Phật, khiến vô số chúng sanh tín giải thanh tịnh, khiến tất cả Bồ Tát trí huệ thành tựu, căn thân vui thích, pháp vân trùm khắp pháp giới hư không giới giáo hóa điều phục không thừa sót, tùy tâm chúng sanh đều khiến đầy đủ, khiến họ an trụ trí vô phân biệt, được nhất thiết trí, phóng đại quang minh, thiện căn đời trước đều khiến hiển hiện, khiến khắp tất cả phát tâm rộng lớn, khiến tất cả chúng sanh an trụ trí Phổ Hiền, trụ khắp các quốc độ, từ trong chánh pháp bất thối mà sanh, trụ nơi pháp giới bình đẳng, hiểu rõ cơ nghi của tâm chúng sanh, hiện bất khả thuyết bất khả thuyết thân Như Lai sai biệt, có thể khiến tất cả chúng thường nghĩ đến sự niệm Phật, đầy khắp pháp giới rộng độ quần sanh, tuỳ người sơ phát tâm chỗ muốn lợi ích mà đem pháp dạy cho, khiến họ điều phục tín giải thanh tịnh, thị hiện sắc thân bất tư nghì, bình đẳng xem chúng sanh không lòng chấp trước, trụ bậc vô ngại, được Phật thập lực, tâm thường tịch tịnh không tán loạn, trụ nhất thiết trí, khéo có thể khai diễn những nghĩa chân thật của văn cú, có thể nhập trọn trong biển sâu trí huệ, xuất sanh vô lượng huệ tạng công đức, luôn dùng huệ nhật chiếu khắp pháp giới, tùy bổn nguyện lực hiện luôn không ẩn mất, luôn trụ nơi pháp giới, trụ nơi chỗ trụ của Phật không đổi khác, trọn không chấp ngã ngã sở, trụ pháp xuất thế không nhiễm thế pháp, nơi tất cả thế gian dựng tràng trí huệ, trí đó rộng lớn không nhiễm trước vượt hơn thế gian, cứu các chúng sanh khiến ra khỏi bùn lầy để nơi chỗ trí huệ vô lượng, có bao nhiêu phước đức đều đem lợi ích chúng sanh mà vẫn vô tận, rõ biết trí huệ của tất cả Bồ Tát, tin và xu hướng quyết định sẽ thành chánh giác, dùng đại từ bi hiện vô lượng thân Phật đủ sự trang nghiêm, dùng âm thanh vi diệu diễn vô lượng pháp, tùy theo ý của chúng sanh đều khiến đầy đủ, với ba thời lòng luôn thanh tịnh, khiến các chúng sanh chẳng tham chấp cảnh giới, hằng thọ ký cho chư Bồ Tát khiến đều nhập chủng tánh Phật và sanh nhà Phật, được Phật quán đảnh, thường du thập phương không thôi ngớt mà đối với tất cả không nhiễm trước, đều có thể qua khắp các Phật độ trong các pháp giới, biết tất cả tâm chúng sanh, chẳng trụ sanh tử mà như bóng hiện khắp trong thế gian, dùng trí huệ chiếu khắp pháp giới, rõ thấu tất cả đều vô sở đắc, hằng dùng trí huệ biết các thế gian như huyễn, như mộng, như bóng, như hóa, tất cả đều dùng tâm làm tự tánh mà trụ như vậy, tuỳ các chúng sanh nghiệp báo không đồng, sở thích sai biệt, các căn đều khác, mà hiện Phật thân.  Đức Như Lai luôn dùng vô số chúng sanh làm sở duyên mà vì họ nói thế gian đều từ duyên mà khởi, biết các pháp tướng thảy đều vô tướng, chỉ là tướng duy nhất, gốc của trí huệ.  Muốn khiến chúng sanh lìa sự chấp tướng nên thị hiện tất cả tánh tướng thế gian mà đi trong đời vì họ khai thị vô thượng bồ đề.  Vì muốn cứu hộ tất cả chúng sanh nên xuất hiện thế gian khai thị Phật đạo khiến họ được thấy thân tướng của Như Lai, để ghi nhớ siêng tu tập trừ diệt tướng phiền não thế gian, tu hạnh bồ đề tâm chẳng tán động, nơi môn đại thừa đều được viên mãn, thành tựu sự lợi ích của chư Phật, đều có thể quan sát thiện căn của chúng sanh mà chẳng hoại diệt nghiệp báo thanh tịnh, trí huệ sáng rõ vào khắp ba thời, lìa hẳn tất cả sự phân biệt của thế gian, phóng quang minh chiếu khắp mười phương, tất cả thế giới đều đầy khắp, sắc thân tốt đẹp không nhàm.  Dùng công đức trí huệ thần thông lớn hiện ra cảnh giới các căn các hạnh của chư Bồ Tát, làm những Phật sự tự tại viên mãn, làm xong liền ẩn.  Khéo hay khai thị đạo nhất thiết trí trong ba thời.  Vì các Bồ Tát khắp rưới vô lượng đà la ni, khiến phát khởi chí nguyện quảng đại, thọ trì tu tập thành tựu tất cả công đức của chư Phật.  Vô biên diệu sắc trang nghiêm nơi thân, tất cả thế gian đều hiện thấy, lìa hẳn tất cả sự chướng ngại.  Nơi nghĩa chân thiệt của tất cả pháp đã được thanh tịnh.  Nơi pháp công đức đã được tự tại.  Làm đại pháp vương chiếu khắp như mặt nhật.  Đủ oai đức lớn làm phước điền thế gian.  Hiện hóa thân khắp trong tất cả thế gian.  Phóng ánh sáng trí huệ đều khiến khai ngộ, muốn cho chúng sanh biết đức Phật đầy đủ vô biên công đức.  Dùng trí vô ngại thọ ngôi.  Tuỳ thuận thế gian mà phương tiện khai thị dắt dìu.  Dùng cánh tay trí huệ an ủi chúng sanh.  Làm đại y vương khéo trị lành bệnh chúng sanh.  Có thể qua khắp vô lượng quốc độ chưa từng thôi nghỉ.  Huệ nhãn thanh tịnh rời những chướng lòa đều có thể thấy rõ cả.  Với những chúng sanh làm nghiệp ác thời nhiều cách điều phục khiến họ nhập đạo, khéo năm lấy thời nghi không thôi nghỉ.  Nếu các chúng sanh khởi tâm bình đẳng, liền vì họ  hóa hiện nghiệp báo bình đẳng.  Tùy sở thích của họ, tuỳ nghiệp quả của họ mà vì họ hiện Phật thân các thứ thần biến để thuyết pháp cho họ được tỏ ngộ, được pháp trí huệ, lòng rất hoan hỷ, các căn hớ hởn, thấy vô lượng Phật khởi lòng tin sâu, sanh các thiện căn trọn không thối chuyển.
Tất cả chúng sanh theo nghiệp ràng buộc, mãi ngủ trong sanh tử, đức Như Lai xuất thế có thể giác ngộ, an ủi tâm họ khiến không lo sợ.  Người được thấy Phật thời đều khiến chứng nhập nghĩa trí vô y, trí huệ thiện xảo rõ thấu cảnh giới, trang nghiêm tốt đẹp không gì chói lấn được, pháp trí đều đã thanh tịnh.
Hoặc hiện thân Phật, hoặc hiện thân Bồ Tát, khiến các chúng sanh đến chỗ không khổ hoạn, trang nghiêm với vô số công đức, công hạnh thành tựu hiện nơi thế gian.
Tất cả chư Phật trang nghiêm thanh tịnh đều do công hạnh nhất thiệt trí mà thành tựu.  Luôn gìn bổn nguyện chẳng bỏ rời thế gian, làm bạn lành bền chắc của các chúng sanh.  Quang minh vô cấu thanh tịnh đệ nhất, khiến tất cả chúng sanh đều được hiện thấy.
Sáu loài chúng sanh vô lượng vô biên, đức Phật dùng thần lực luôn theo họ không rời.  Nếu có ai thuở trước đồng Phật gieo trồng căn lành thời đều khiến được thanh tịnh.  Đối với lục đạo chúng sanh chẳng bỏ bổn nguyện, không khi dối, đều dùng pháp lành phương tiện nhiếp thủ khiến họ tu tập hạnh thanh tịnh, xô phá tất cả ma đấu tranh.
Từ vô ngại tế sanh ra sức quảng đại, nhật tạng tối thắng không chướng ngại, nơi tịnh tâm giới hiện ra ảnh tượng, tất cả thế gian đều được thấy, đem nhiều pháp môn ban cho khắp chúng sanh.
Đức Phật là tạng quang minh vô biên, những trí lực đều viên mãn, luôn dùng quang minh lớn chiếu khắp chúng sanh, tùy sở nguyện của họ đều khiến đầy đủ, lìa các oán địch, là phước điền vô thượng, chỗ nương tựa chung của tất cả chúng sanh, phàm có cúng dường đều khiến thanh tịnh, tu chút ít hạnh lành thọ hưởng vô lượng phước, đều khiến được vào bậc trí vô tận.  Là ông chủ những thiện căn thanh tịnh của tất cả chúng sanh.  Là ruộng tốt tối thượng phát sanh phước đức cho tất cả chúng sanh.  Trí huệ Phật rất sâu, phương tiện thiện xảo có thể cứu tất cả khổ ác đạo.
Tin hiểu như vậy, quan sát như vậy, và biển trí huệ như vậy, đi trong biển công đức như vậy, khắp đến trí huệ quảng đại như vậy, biết phước điền của chúng sanh như vậy, chánh niệm hiện tiền quán sát như vậy, quán những nghiệp tướng hảo của Phật như vậy, quán Phật hiện khắp thế gian như vậy, quán Phật thần thông tự tại như vậy.
Lúc đó, cả đại chúng thấy thân Như Lai:  Mỗi chân lông tuôn ra trăm ngàn ức na do tha vô số quang minh, mỗi quang minh có vô số màu, vô số thanh tịnh, vô số chiếu sáng.  Làm cho vô số chúng nhìn xem, vô số chúng hoan hỷ, vô số chúng khoái lạc, vô số chúng thêm lớn lòng thâm tín, vô số chúng chí nguyện thanh tịnh, vô số chúng các căn mát mẻ, vô số chúng cung kính tôn trọng.
Lúc đó, cả đại chúng đều thấy thân Phật phóng ra trăm ngàn ức na do tha bất tư nghì đại quang minh.  Mỗi quang minh đều có bất tư nghì màu, bất tư nghì ánh sáng chiếu bất tư nghì vô biên pháp giới.
Do thần lực của Phật vang ra tiếng lớn vi diệu.  Tiếng đó diễn xướng trăm ngàn ức na do tha bất tư nghì lời tán tụng, vượt hơn tất cả ngôn từ thế gian, đây là thiện căn xuất thế làm thành.
Lại hiện trăm ngàn ức na do tha bất tư nghì sự trang nghiêm vi diệu, ca ngợi trong trăm ngàn ức na do tha bất tư nghì kiếp cũng không hết được, đây là đức Như Lai vô tận tự tại xuất hiện ra.
Lại hiện bất khả thuyết chư Phật Như Lai xuất thế khiến các chúng sanh vào môn trí huệ hiểu nghĩa thậm thâm.
Lại hiện tất cả sự biến hóa của bất khả thuyết Như Lai khắp pháp giới hư không giới khiến tất cả thế gian bình đẳng thanh tịnh.  Đây đều từ trí vô ngại của Như Lai sanh ra, cũng từ bất tư nghì thắng đức của Như Lai tu hành sanh ra.
Lại hiện trăm ngàn ức na do tha bất tư nghì diệu bửu quang diệm, do từ thiện căn đại nguyện thuở trước khởi ra, vì đã từng cúng dường vô lượng Như Lai, vì tu tập hạnh thanh tịnh không phóng dật, vì tâm đại bi vô ngại sanh ra thiện căn, vì hiển bày Phật lực rộng khắp, vì dứt nghi của tất cả chúng sanh, vì khiến đều được thấy Như Lai, vì khiến vô lượng chúng sanh trụ nơi thiện căn, vì hiển bày thần lực tự tại của Như Lai, vì muốn khiến chúng sanh được vào khắp nơi biển rốt ráo, vì khiến tất cả Bồ Tát đại chúng trong các Phật độ đều đến họp, vì muốn khai thị Phật pháp bất tư nghì.
Lúc đó, đức Như Lai vì lòng đại vi rộng khắp hiển bày tất cả sự trang nghiêm của nhất thiết trí, muốn cho những chúng sanh trong bất khả thuyết vô số thế giới, kẻ chưa tin thời được tin, đã tin thời thêm lớn, đã thêm lớn thời được thanh tịnh, đã thanh tịnh thời được thuần thục, đã thuần thục thời khiến điều phục, quán sát pháp thậm thâm, đủ vô lượng trí huệ, phát sanh vô lượng tâm quảng đại, tâm từ bi không thối chuyển, chẳng trái pháp tánh, chẳng sợ thiệt tế, chứng lý chân thiệt, đủ tất cả ba la mật, thật hành thiện căn xuất thế đều thanh tịnh như Phổ Hiền, được Phật tự tại rời lìa cảnh giới ma vào cảnh giới Phật, rõ biết thâm pháp, được trí bất tư nghì, trọn không thối chuyển thệ nguyện đại thừa, thường thấy chư Phật chưa từng bỏ rời, thành tựu chứng trí chứng vô lượng pháp, đủ vô biên tạng phước đức, phát tâm hoan hỷ vào bậc vô nghi, thanh tịnh lìa ác, nương nhất thiết trí thấy pháp bất động, được vào Bồ Tát hội, thường sanh nhà Như Lai.
Đức Thế Tôn hiện sự trang nghiêm như vậy đều do những thiện căn nhóm họp từ thời quá khứ làm thành, vì muốn điều phục chúng sanh, vì khai thị oai đức lớn của Như Lai, vì chiếu sang tạng trí huệ vô ngại, vì thị hiện vô biên thắng đức rất hùng mãnh của Như Lai, vì hiển thị bất tư nghì thần biết lớn của Như Lai, vì dùng thần lực hiện Phật thân trong tất cả loài, vì thị hiện thần thông biến hóa vô biên của Như Lai, vì bổn nguyện đều thành tựu viên mãn, vì hiển thị trí huệ dũng mãnh có thể đến khắp nơi của Như Lai, vì tự tại với tất cả pháp mà thành pháp vương, vì xuất sanh tất cả môn trí huệ, vì thị hiện thân Như Lai thanh tịnh, vì hiện thân Phật rất vi diệu, vì hiển thị chứng được pháp bình đẳng của tam thế Phật, vì khai thị tạng thiện căn thanh tịnh, vì hiển bày sắc thân vi diệu tuyệt thế gian, vì hiển bày tướng đầy đủ thập lực khiến người thấy không nhàm, là mặt nhật của thế gian vì chiếu suốt ba đời.
Đấng Pháp Vương tự tại tất cả công đức đều từ thiện căn thuở trước hiện ra.  Dầu tất cả Bồ Tát ca ngợi tuyên duyên trải qua tất cả kiếp cũng chẳng cùng tận được.
Lúc bấy giờ, Đâu Suất Thiên Vương cùng trăm ngàn ức na do tha vô số Đâu Suất Thiên Tử chấp tay hướng Phật bạch rằng: "Lành thay đấng Thế Tôn, đấng Thiện Thệ, đấng Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác!  Xin đấng đại từ thương xót chúng tôi mà ngự nơi cung điện này."
Đức Thế Tôn vì muốn cho tất cả chúng sanh được hoan hỷ, tất cả Bồ Tát được tỏ ngộ thâm pháp, tất cả Đâu Suất Thiên Tử thêm lớn chí nguyện, Thiên Vương cúng dường không nhàm, chúng sanh vì nhớ đến Phật mà phát tâm, mà chủng thiện căn phước đức thấy Phật, thường phát khởi lòng tin thanh tịnh, thấy Phật cúng dường không lòng mong cầu, tất cả chí nguyện đều thanh tịnh, siêng tu tập thiện căn không lười nghỉ, phát đại nguyện cầu nhất thiết trí, nên thọ  lời thỉnh của Thiên Vương mà vào ngự trong điện Bửu Trang Nghiêm.
Tất cả thế giới ở mười phương cũng đều như vậy cả.
Liền lúc đức Như Lai ngự trên bửu tòa, điện Bửu Trang Nghiêm tự nhiên trang nghiêm vượt hẳn trên sự trang nghiêm của chư thiên.  Vô số bửu võng giăng khắp bốn phía, khắp nơi rưới mây báu vi diệu vô lượng mây đồ trang nghiêm, mây bửu y, mây hương chiên đàn, mây hương kiên cố, mây lọng báu, mây hoa báu.  Khắp nơi vang bất tư nghì tiếng kỹ nhạc ca ngợi nhất thiết chủng trí của Như Lai.  Tiếng nhạc này đều tương ưng với diệu pháp.
Do thần lực của đức Phật khiến tâm của Đâu Suất Thiên Vương không động loạn, thiện căn thuở trước đều được viên mãn, vô lượng thiện pháp càng thêm kiên cố, tăng trưởng lòng tin thanh tundefinednh, khởi đại tinh tấn, sanh đại hoan hỷ, chí nguyện thanh tịnh phát bồ đề tâm, niệm pháp không dứt, tổng trì chẳng quên.
Đâu Suất Thiên Vương thừa oai lực của đức Phật, liền tự nhớ căn lành đã gieo trồng nơi chư Phật quá khứ, nên nói kệ rằng:
Xưa có Phật hiệu Vô Ngại Nguyệt
Trong những cát tường là bậc nhất
Phật từng vào điện Trang Nghiêm này
Thế nên chốn này rất cát tường.
Xưa có Như Lai hiệu Quảng Trí
Trong những cát tường là bậc nhất
Phật từng vào điện Kim Sắc này
Thế nên chốn này rất cát tường.
Xưa có Như Lai hiệu Phổ Nhãn
Trong những cát tường là bậc nhất
Phật từn vào điện Liên Hoa này
Thế nên chốn này rất cát tường.
Xưa có Như Lai hiệu San Hô
Trong những cát tường là bậc nhất
Phật từng vào điện Bửu Tạng này
Thế nên chốn này rất cát tường.
Xưa có Phật hiệu Luận Sư Tử
Trong những cát tường là bậc nhất
Phật từng vào điện Sơn Vương này
Thế nên chốn này rất cát tường.
Xưa có Như Lai hiệu Nhật Chiếu
Trong những cát tường là bậc nhất
Phật từng vào điện Chúng Hoa này
Vì thế chốn này rất cát tường.
Xưa có Phật hiệu Vô Biên Quang
Trong những cát tường là bậc nhất
Phật từng vào điện Thọ Nghiêm này
Thế nên chốn này rất cát tường.
Xưa có Như Lai hiệu Pháp Tràng
Trong những cát tường là bậc nhất
Phật từng vào điện Bửu Cung này
Thế nên chốn này rất cát tường.
Xưa có Như Lai hiệu Trí Đăng
Trong những cát tường là bậc nhất
Phật từng vào điện Hương Sơn này
Thế nên chốn này rất cát tường.
Xưa có Phật hiệu Công Đức Quang
Trong những cát tường là bậc nhất
Phật từng vào điện Ma Ni nầy
Thế nên chốn này rất cát tường.
Trong tất cả thế giới ở mười phương các Đâu Suất Thiên Vương cũng đều thừa thần lực của Phật mà nói kệ tán thán chư Phật quá khứ như vậy.
Lúc đó, đức Thế Tôn ngồi kiết già trên tòa sư tử ma ni bửu tạng, trong điện Bửu Trang Nghiêm, pháp thân thanh tịnh diệu dụng tự tại, đồng một cảnh giới cùng tam thế chư Phật, trụ nhất thiết trí đồng vào một tánh với tất cả Phật, phật nhãn sáng rõ thấy tất cả pháp đều vô ngại, có oai lực lớn đi khắp pháp giới chưa từng thôi nghỉ, đủ đại thần thông tuỳ chỗ có chúng sanh có thể hóa độ thời đều qua đến, dùng tất cả sự trang nghiêm vô ngại của tất cả chư Phật để tự trang nghiêm, khéo biết thời cơ mà vì chúng sanh thuyết pháp.
Bất khả thuyết chúng Bồ Tát đều từ những quốc độ phương khác cùng đến nhóm họp.
Chúng hội thanh tịnh, pháp thân không hai, không sở y mà có thể tự tại khởi thân hạnh của Phật.  Khi chúng hội an tọa xong, trong điện Bửu Trang Nghiêm tự nhiên có vô lượng vô số đồ đẹp lạ hơn những đồ cúng dường của chư thiên, những là tràng hoa, y phục hương thoa, hương bột, lọng báu, tràng phan, kỹ nhạc, ca tán, tất cả đều chẳng thể đếm kể được, dùng tâm quảng đại cung kính cúng dường đức Phật.
Tất cả Đâu Suất thiên cung ở mười phương đều như thế cả.
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 3

Phẩm Đâu Suất kệ tán 
Thứ hai mươi bốn


Hán bộ quyển thứ hai mươi hai

Lúc đó, do thần lực của đức Phật, mười phương ngoài vạn phật sát vi trần số thế giới, mỗi phương đều có một đại Bồ Tát cùng vạn phật sát vi trần số Bồ Tát câu hội. 
Kim Cang Tràng Bồ Tát từ Diệu Bửu thế giới của đức Phật Vô Tận Tràng; Kiên Cố Tràng Bồ Tát từ Diệu Lạc thế giới của đức Phật Phong Tràng; Dũng Mãnh Tràng Bồ Tát từ Diệu Ngân thế giới của đức Phật Giải Thoát Tràng; Quang Minh Tràng Bồ Tát từ Diệu Kim thế giới của đức Phật Oai Nghi Tràng; Trí Tràng Bồ Tát từ Diệu Ma Ni thế giới của đức Phật Minh Tường Tràng; Bửu Tràng Bồ Tát từ Diệu Kim Cang thế giới của đức Phật Thường Tràng; Tinh Tấn Tràng Bồ Tát từ Diệu Ba Đầu Ma thế giới của đức Phật Tối Thắng Tràng; Ly Cấu Tràng Bồ Tát từ Diệu Ưu Bát La thế giới của đức Phật Tự Tại Tràng; Tinh Tú Tràng Bồ Tát từ Diệu Chiên Đàn thế giới của đức Phật Phạm Tràng; Pháp Tràng Bồ Tát từ Diệu Hương thế giới của đức Phật Quan Sát Tràng.
Chúng Bồ Tát khi đến trước đức Phật và đảnh lễ Phật xong, tuỳ theo phương của mình đến, đều hóa hiện tòa sư tử diệu bửu tạng rồi ngồi kiết già trên đó.
Thân của chư Bồ Tát đều phóng trăm ngàn ức na do tha vô số quang minh thanh tịnh cùng đại nguyện rời lìa những lỗi ác mà phát khởi, hiển thị pháp tự tại thanh tịnh của tất cả Phật.
Bởi chư Bồ tát có nguyện lực có thể cứu hộ khắp tất cả chúng sanh, tất cả thế gian đều thích thấy.  Ai thấy Bồ Tát đều được lợi ích được điều phục.
Chúng Bồ Tát này đều đã thành tựu vô lượng vô đức.  Những là đi khắp tất cả cõi Phật không chướng ngại, thấy pháp thân thanh tịnh không nương đỗ, dùng trí huệ thân thiện vô lượng thân, đến khắp mười phương phụng thờ chư Phật, vào nơi vô lượng vô biên bất tư nghì pháp tự tại của chư Phật, trụ nơi vô lượng môn nhất thiết trí, dùng trí quang minh khéo rõ các pháp, ở trong các pháp được vô úy biện tài thuyết pháp vô tận, dùng đại trí huệ khai môn tổng trì, huệ nhãn thanh tịnh thâm nhập pháp giới cảnh giới trí huệ không ngằn mé, rốt ráo thanh tịnh như hư không.
Tất cả Đâu Suất thiên cung trong thập phương thế giới đều có chư Bồ Tát đồng sống lượng, đồng danh hiệu, thế giới và chư Phật cũng đồng như nơi đây cả.
Bấy giờ đức Thế Tôn từ hai gối phóng trăm ngàn ức na do tha quang minh, chiếu khắp tất cả thế giới tận pháp giới hư không giới.
Chúng Bồ Tát ở các cõi kia đều thấy thần biến của đức Phật ở đây.  Chúng Bồ Tát ở cõi đây đều thấy biến của tất cả chư Phật kia.
Tất cả chúng Bồ Tát như vậy, cùng với đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai, từ thuở xưa, đồng trồng căn lành tu Bồ Tát hạnh, đều đã ngộ nhập thậm thâm giải thoát tự tại của chư Phật, được pháp giới thân bình đẳng, vào tất cả thế giới mà vô trụ, thấy vô lượng Phật đều qua kính thờ, trong một niệm đi khắp pháp giới tự tại vô ngại, tâm ý thanh tịnh như bửu châu vô giá, vô lượng vô số chư Phật thường hộ niệm và đồng ban cho thần lực, đến nơi bờ rốt ráo đệ nhất kia luôn dùng tịnh niệm trụ vô thượng giác, niệm niệm luôn vào chỗ nhất thiết trí, đem nhỏ vào lớn, đem lớn vào nhỏ đều tự tại, thông đạt vô ngại đã được Phật thân, cùng Phật đồng an trụ, được nhất thiết trí, từ nhất thiết trí mà sanh ra thân, đều có thể theo vào chỗ sở hành của tất cả Như Lai mà khai xiển vô lượng pháp môn trí huệ, đến bờ kim cang tràng đại trí kia, được kim cang định dứt các điều nghi hoặc, đã được tự tại thần thông của chư Phật, vào khắp tất cả quốc độ mười phương, giáo hóa điều phục trăm ngàn muôn ức vô số chúng sanh, dầu không tham trước nơi tất cả số lượng mà có thể tu học thành tựu cứu cánh, phương tiện an lập các pháp.
Trăm ngàn ức na do tha bất khả thuyết vô lượng tạng công đức thanh tịnh vô tận như vậy, chúng Bồ Tát này đều được thành tựu.
Kim Cang Tràng Bồ Tát thừa thần lực của đức Phật, quán sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Như Lai chẳng xuất thế
Cũng chẳng nhập niết bàn
Dùng sức bổn nguyện lớn
Thị hiện pháp tự tại.
Pháp này khó nghĩ bàn
Tâm không duyên đến được
Trí huệ đến bờ kia
Mới thấy cảnh giới Phật.
Sắc thân chẳng phải Phật
Âm thanh cũng chẳng phải
Nhưng chẳng lìa sắc, thanh
Thấy thần lực của Phật.
Trí kém chẳng biết được
Cảnh giới thiệt của Phật
Tu hạnh thanh tịnh lâu
Mới thấy được cảnh Phật.
Chánh giác không chỗ lại
Đi cũng chẳng từ đâu
Sắc thân diệu thanh tịnh
Do thần lực hiển hiện.
Trong vô lượng thế giới
Thị hiện thân Như Lai
Nói rộng pháp vi diệu
Trong tâm không trụ trước.
Trí huệ không ngằn mé
Rõ thấu tất cả pháp
Vào khắp các pháp giới
Thị hiện sức tự tại.
Chúng sanh và các pháp
Rõ thấu đều vô ngại
Khắp hiện các sắc tượng
Cùng khắp tất cả cõi.
Muốn cầu nhất thiết trí
Chóng thành vô thượng giác
Phải dùng tâm tịnh diệu
Tu tập hạnh bồ dề.
Nếu ai thấy Như Lai
Oai thần lực như vậy
Nơi đức Tối Thắng Tôn
Nên cúng dường chớ nghi.
Kiên Cố Tràng Bồ Tát thừa thần lực của đức Phật quán sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Phật tối thắng vô tỷ
Rất sâu bất khả thuyết
Vượt khỏi đường ngôn ngữ
Thanh tịnh như hư không.
Quán sát đấng Đạo Sư
Sức tự tại thần thông
Đã lìa nơi phân biệt
Mà khiến phân biệt thấy.
Đức Phật vì khai diễn
Pháp vi diệu thậm thâm
Vì do nhân duyên ấy
Hiện thân vô tỷ này.
Đây là chỗ chư Phật
Đại trí huệ sở hành
Nếu ai muốn biết rõ
Phải nên gần gũi Phật.
Ý nghiệp thường thanh tịnh
Cúng dường chư Như Lai
Trọn không lòng mỏi nhàm
Hay vào nơi Phật đạo.
Đủ vô tận công đức
Trụ chắc tâm bồ đề
Do đây trừ lưới nghi
Quán Phật không nhàm mỏi.
Thông đạt tất cả pháp
Mới phải chân Phật tử
Người này rõ biết được
Sức tự tại chư Phật.
Trí quảng đại đã nói
Làm căn bổn các pháp
Nên sanh lòng hy vọng
Chí cầu vô thượng giác.
Nếu ai tôn kính Phật
Nhớ báo đáp ơn Phật
Người đó chẳng xa lìa
Chỗ an trụ của Phật.
Đâu có người trí huệ
Nơi Phật thường thấy nghe
Chẳng tu nguyện thanh tịnh
Nơi đường Phật đã đi.
Dũng Mãnh Tràng Bồ Tát thừa thần lực của Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Ví như mắt tỏ sáng
Ban ngày thấy hình sắc
Tâm thanh tịnh cũng vậy
Nhờ Phật lực thấy Phật.
Như dùng sức tinh tấn
Hay tột nguồn đáy biển
Trí lực cũng như vậy
Thấy được vô lượng Phật.
Ví như ruộng phfi nhiêu
Gieo trồng tất tươi tốt
Tâm thanh tịnh như vậy
Xuất sanh các Phật pháp.
Như người được bửu tạng
Lìa hẳn khổ nghèo cùng
Bồ Tát được Phật pháp
Tâm ly cấu thanh tịnh.
Ví như thuốc già đà
Tiêu được tất cả độc
Phật pháp dùng như vậy
Diệt các hoạn phiền não.
Chơn thiệt thiện tri thức
Hạng Như Lai ngợi khen
Vì do oai thần kia
Được nghe những Phật pháp.
Giả sử vô số kiếp
Của báu cúng dường Phật
Chẳng biết Phật thiệt tướng
Cũng chẳng gọi cúng dường.
Vô lượng những hình sắc
Trang nghiêm nơi thân Phật
Chẳng phải trong hình sắc
Mà thấy được đức Phật.
Như Lai đẳng chánh giác
Tịch nhiên hằng bất động
Có thể khắp hiện thân
Đầy khắp mười phương cõi.
Ví như hư không giới
Bất sanh cũng bất diệt
Phật pháp cũng như vậy
Rốt ráo không sanh diệt.
Quang Minh Tràng Bồ Tát thừa thần lực của đức Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Nhân gian và thiên thượng
Tất cả các thế giới
Khắp thấy đức Như Lai
Sắc thân diệu thanh tịnh.
Ví như một tâm niệm
Hay sanh các thứ tâm
Như vậy một Phật thân
Khắp hiện tất cả Phật.
Bồ đề không hai pháp
Cũng không có các tướng
Mà ở trong hai pháp
Hiện thân tướng trang nghiêm.
Rõ pháp tánh không tịch
Sanh khởi như huyễn hóa
Sở hành luôn vô tận
Đạo Sư hiện như vậy.
Tam thế tất cả Phật
Pháp thân đều thanh tịnh
Tùy kia chỗ đáng độ
Khắp hiện diệu sắc thân.
Như Lai chẳng nghĩ rằng
Ta hiện thân như vậy
Tự nhiên mà thị hiện
Chưa từng có phân biệt.
Pháp giới không sai biệt
Cũng không chỗ tựa nương
Mà ở trong thế gian
Thị hiện vô lượng thân.
Phật thân chẳng phải hóa
Cũng chẳng phải chẳng hóa
Nơi trong pháp không hóa
Thị hiện thân biến hóa
Chánh giác chẳng lường được
Đồng pháp giới hư không
Sâu rộng không bờ đáy
Đường ngôn ngữ tuyệt hẳn.
Như Lai khéo thông đạt
Tất cả xứ hành đạo
Pháp giới các quốc độ
Qua đến đều vô ngại.
Trí Tràng Bồ Tát thừa thần lực của đức Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Nếu người tin thọ được
Nhất thiết trí vô ngại
Tu tập hạnh bồ đề
Tâm đó chẳng thể lường.
Trong tất cả quốc độ
Khắp hiện vô lượng thân
Mà thân không chỗ ở
Cũng chẳng trụ nơi pháp.
Mỗi mỗi chư Như Lai
Thần lực thị hiện thân
Bất tư nghì kiếp số
Tính đếm chẳng hết được.
Tam thế các chúng sanh
Trọn biết được số lượng
Việc thị hiện của Phật
Số lượng chẳng thể được.
Có lúc hiện một hai
Nhẫn đến vô lượng thân
Hiện khắp mười phương cõi
Thiệt ra không hai thứ.
Ví như trăng tròn sáng
Hiện khắp các dòng nước
Bóng hình dầu vô lượng
Mặt trăng vẫn không hai.
Trí vô ngại như vậy
Thành tựu bậc chánh giác
Hiện khắp tất cả cõi
Phật thể cũng không hai.
Chẳng một cũng chẳng hai
Cũng chẳng phải vô lượng
Tùy chỗ đáng hóa độ
Thị hiện vô lượng thân.
Phật thân chẳng quá khứ
Cũng chẳng phải vị lai
Một niệm hiện xuất sanh
Thành đạo và niết bàn.
Hiện hình sắc như huyễn
Không sanh cũng không khởi
Phật thân cũng như vậy
Thị hiện không có sanh.
Bửu Tràng Bồ Tát thừa thần lực của Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Phật thân vốn vô lượng
Thị hiện thân hữu lượng
Tùy chúng chỗ nhìn thấy
Đạo Sư hiện như vậy.
Phật thân không nơi chỗ
Đầy khắp tất cả chỗ
Như hư không vô biên
Khó nghĩ bàn như vậy.
Chẳng phải chỗ tâm duyên
Tâm chẳng khởi trong đó
Trong cảnh giới chư Phật
Rốt ráo không sanh diệt.
Như mắt lòa xem thấy
Chẳng trong cũng chẳng ngoài
Thế gian thấy chư Phật
Phải biết cũng như vậy.
Vì lợi ích chúng sanh
Nên Phật hiện ra đời
Chúng sanh thấy có hiện
Thiệt thì không có hiện.
Chẳng thể dùng quốc độ
Ngày đêm mà thấy Phật
Năm tháng một sát na
Phải biết đều như vậy.
Chúng sanh nói như vậy
Ngày đó Phật thành đạo
Như Lai được bồ đề
Thiệt chẳng thuộc thời gian.
Như Lai lìa phân biệt
Rời thời gian, không gian
Tam thế chư Như Lai
Xuất hiện đều như vậy.
Ví như mặt trời sáng
Chẳng hiệp cùng đêm tối
Mà nói ngày đêm ấy
Phật pháp đều như vậy.
Tam thế tất cả kiếp
Chẳng cùng Như Lai hiệp
Mà nói tam thế Phật
Phật pháp đều như vậy.
Tinh Tấn Tràng Bồ Tát thừa thần lực của đức Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Tất cả các Đạo Sư
Thân đồng nghĩa cũng đồng
Khắp cả mười phương cõi
Tùy nghi mà thị hiện.
Quan sát đấng Mâu Ni
Chỗ làm rất kỳ đặc
Đầy khắp cả pháp giới
Tất cả đều không thừa.
Phật thân chẳng ở trong
Cũng chẳng ở nơi ngoài
Thần lực nên hiển hiện
Đạo Sư pháp như vậy.
Theo các loài chúng sanh
Nghiệp đã họp đời trước
Những loại thân như vậy
Thị hiện đều chẳng đồng.
Thân chư Phật như vậy
Vô lượng chẳng đếm được
Chỉ trừ đấng Đại Giác
Không ai nghĩ bàn được.
Như ngã nan tư kia
Tâm nghiệp chẳng đến được
Phật nan tư cũng vậy
Chẳng phải tâm nghiệp hiện.
Như quốc độ nan tư
Mà thấy tịnh trang nghiêm
Phật nan tư cũng vậy
Diệt tướng đều hiện đủ.
Ví như tất cả pháp
Do các duyên sanh khởi
Thấy Phật cũng như vậy
Tất nhờ ác thiện nghiệp.
Ví như châu như ý
Hay thỏa mãn lòng chúng
Chư Phật pháp như vậy
Thỏa mãn tất cả nguyện.
Trong vô lượng quốc độ
Đạo Sư hiện ra đời
Vì tuỳ theo nguyện lực
Ứng hiện khắp mười phương.
Ly Cấu Tràng Bồ Tát thừa thần lực của đức Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Như Lai không sở trụ
Mà trụ tất cả cõi
Tất cả cõi đều qua
Tất cả nơi đều thấy.
Phật tuỳ tâm chúng sanh
Hiện khắp tất cả thân
Thành đao chuyển pháp luân
Và cùng nhập niết bàn.
Chư Phật bất tư nghì
Ai tư nghì được Phật.
Ai thấy đươc Chánh Giác
Ai hiện được tối thắng
Tất cả pháp đều "Như"
Cảnh giới Phật cũng vậy.
Nhẫn đến không một pháp
Trong Như có sanh diệt.
Chúng sanh vọng phân biệt
Là Phật là thế giới
Người liễu đạt pháp tánh
Không Phật không thế giới.
Như Lai khắp hiện tiền
Khiến chúng sanh tin mừng
Phật thể bất khả đắc
Cũng lại không sở kiến.
Nếu được nơi thế gian
Trọn xa lìa chấp trước
Vô ngại lòng hoan hỷ
Nơi pháp được khai ngộ.
Thần lực tự tại hiện
Chính đây gọi là Phật
Trong tất cả thế giới
Tìm cầu trọn không có.
Nếu biết được như vậy
Tâm ý và các pháp
Thấy biết trọn tất cả
Chóng được thành Như Lai.
Trong ngôn ngữ hiển thị
Tất cả Phật tự tại
Chánh giác siêu ngôn ngữ
Giả mượn ngôn ngữ nói.
Pháp Tràng Bồ Tát thừa thần lực của đức Phật, quán sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Thà nên luôn thọ đủ
Tất cả khổ thế gian
Trọn chẳng xa Như Lai
Chẳng rời đấng Tự Tại.
Nếu có những chúng sanh
Chưa phát tâm bồ đề
Được nghe danh hiệu Phật
Quyết định thành chánh giác.
Nếu có bậc trí huệ
Một niệm phát đạo tam
Quyết thành đấng vô thượng
Cẩn thận chớ sanh nghi.
Như Lai đấng tự tại
Vô lượng kiếp khó gặp
Nếu sanh một niệm tin
Mau chứng đạo vô thượng.
Giả sử trong mỗi niệm
Cúng dường vô lượng Phật
Chưa biết pháp chân thật
Chẳng gọi là cúng dường.
Nếu nghe pháp như vậy
Chư Phật từ đây sanh
Dầu bị vô lượng khổ
Chẳng bỏ hạnh bồ đề.
Một lần nghe đại trí
Pháp sở nhập của Phật
Khắp ở trong pháp giới
Thành tam thế đạo sư,
Dầu tận vị lai thế
Đi khắp các cõi Phật
Chẳng cầu diệu pháp này
Trọn chẳng thành bồ đề.
Chúng sanh vô thủy lại
Mãi lưu chuyển sanh tử
Chẳng rõ pháp chân thật
Nên chư Phật ra đời.
Các pháp chẳng thể hoại
Cũng không ai hoại được
Tự tại đại quang minh
Hiện khắp nơi thế gian.


Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 1

Phẩm Phổ Hiền Tam Muội
Thứ ba


Lúc bấy giờ Phổ Hiền Bồ Tát ma ha tát ngồi trên tòa sư tử ở trước Phật, thừa thần lực của Phật mà nhập tam muội tên là Nhứt Thiết Chư Phật Tỳ Lô Giá Na Như Lai Tạng Thân, vào khắp tánh bình đẳng của tất cả Phật, có thể ở nơi pháp giới thị hiện những ảnh tượng rộng lớn vô ngại đồng hư không, pháp giới xoay vần đều theo vào, xuất sanh tất cả tam muội, có thể bao nạp khắp mười phương pháp giới, trí quang minh của tam thế chư Phật đều từ đây mà sanh những sự an lập trong mười phương đều có thể thị hiện, trùm chứa tất cả lực giải thoát của Phật và trí của chư Bồ Tát, có thể khiến tất cả quốc độ vi trần, đều có thể dung thọ vô biên pháp giới, thành tựu biển công đức của tất cả Phật, hiển thị biển đại nguyện của Như Lai, bao pháp luân của tất cả chư Phật đều lưu thông hộ trì  không đoạn tuyệt.
Như trong thế giới này, Phổ Hiền Bồ Tát ở trước Phật nhập tam muội đây, cũng vậy, khắp pháp giới hư không giới, thập phương tam thế vi thế vô ngại quang minh rộng lớn, Phật nhãn chỗ thấy được, Phật lực đến được, Phật thân hiện được, tất cả quốc độ, trong quốc độ này có bao vi trần, trong mỗi vi trần có thế giới vi trần số Phật độ, trong mỗi độ có thế giới vi trần số Phật, trước mỗi đức Phật có thế giới vi trần Phổ Hiền Bồ Tát cũng đều nhập tam muội Nhất Thiết Chư Phật Tỳ Lô Giá Na Như Lai Tạng Thân này.
Lúc đó, trước mỗi Phổ Hiền Bồ Tát đều có thập phương tất cả chánh pháp hiện ra.  Chư Phật này đồng khen rằng: "Lành thay lành thay!  Này thiện nam tử!  Ông có thể nhập Nhất Thiết Chư Phật Tỳ Lô Giá Na Như Lai Tạng Thân này.
Này Phật tử!  Đây là mười phương tất cả chư Phật đồng gia hộ cho ông, do vì nguyện lực của đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai, mà cũng do nguyện lực tu tập tất cả Phật hạnh của ông.  Chính là ông có thể chuyển pháp luân của chư Phật, chiếu khắp những biển an lập ở mười phương không sót, khiến tất cả chúng sanh trừ tạp nhiễm được thanh tịnh, nhiếp khắp tất cả quốc độ không chấp trước, sâu vào cảnh giới của chư Phật không chướng ngại, hiện bày công đức của chư Phật, vào được thật tướng của các pháp thân lớn trí huệ, quan sát tất cả pháp môn, rõ biết căn của tất cả chúng sanh, hay thọ trì giáo văn của Như Lai."
Lúc đó thập phương tất cả chư Phật liền ban cho Phổ Hiền Bồ Tát trí lực vào được nhất thiết trí tánh, ban cho trí vào pháp giới vô biên vô lượng, ban cho trí thành tựu cảnh giới chư Phật, ban cho trí biết tất cả thế giới thành hoại, ban cho trí biết chúng sanh giới rộng lớn, ban cho trí trụ những tam muội giải thoát thậm thâm vô sai biệt của chư Phật, ban cho trí nhập căn tánh của tất cả Bồ Tát, ban cho trí biết ngôn ngữ của tất cả chúng sanh và từ biện chuyển pháp luân, ban cho trí vào khắp thân pháp giới, ban cho trí được thinh âm của tất cả Phật.
Như trong thế giới này Phổ Hiền Bồ Tát ở trước Như Lai được chư Phật ban cho những trí như vậy, tất cả Phổ Hiền Bồ Tát ở trong vi trần thế giới cũng được như vậy.  Tại sao thế?  Vì chứng tam muội đó thời được như vậy.
Lúc đó thập phương chư Phật đều đưa tay hữu xoa đảnh của Phổ Hiền Bồ Tát.
Tay Phật đủ tướng hảo trang nghiêm phóng lưới quang minh thơm sáng, đồng thời phát ra tiếng vi diệu và những sự thần thông tự tại.  Tất cả Phổ Hiền nguyện hải của tất cả Bồ Tát quá khứ, hiện tại, vị lai, những pháp luân thanh tịnh và ảnh tượng của tam thế chư Phật cũng đều hiện cả trong quang minh ấy.
Tất cả Phổ Hiền Bồ Tát trong tất cả thế giới vi trần cũng đều được xoa đảnh như vậy.
Bấy giờ Phổ Hiền Bồ Tát liền từ tam muội ấy mà xuất, đồng thời cũng từ vi trần số tam muội mà xuất: từ môn tam muội trí biết tam thế niệm vô sai biệt mà xuất, từ môn tam muội biết số vi trần trong tam thế tất cả pháp giới mà xuất, từ môn tam muội hiện tam thế tất cả Phật độ mà xuất, từ môn tam muội hiện xá trạch của tất cả chúng sanh mà xuất, từ môn tam muội biết danh tự sai khác của tất cả chúng sanh mà xuất, từ môn tam muội biết thập phương pháp giới chỗ nơi đều sai khác mà xuất, từ môn tam muội biết trong tất cả vi trần đều có vô biên Phật thân rộng lớn mà xuất, từ môn tam muội diễn nói lý thú của tất cả pháp mà xuất.
Lúc Phổ Hiền Bồ Tát từ những môn tam muội như vậy mà xuất, chư Bồ Tát đều được thế giới vi trần số tam muội, được thế giới vi trần số đà la ni, được thế giới vi trần số pháp phương tiện, được thế giới vi trần số môn biện tài, được thế giới vi trần số môn tu hành, được thế giới vi trần số trí quang minh công đức của chư Phật khắp chiếu pháp giới, được thế giới vi trần số phương tiện lực trí huệ vô sai biệt của chư Phật, được thế giới vi trần số hải vân trong mỗi chân lông của tất cả chư Phật đều hiện các quốc độ, được thế giới vi trần số hải vân mỗi Bồ Tát thị hiện từ Đâu Xuất thiên cung giáng sanh thành Phật chuyển pháp luân nhập niết bàn.
Lúc đó, tất cả thế giới ở mười phương do thần lực của Phật và Đại Bồ Tát sức tam muội của Phổ Hiền Bồ Tát, nên các báu trang nghiêm đều lay động nhẹ, đồng thời vang ra diệu âm diễn nói các pháp.  Lại nơi trong chúng hội đạo tràng của tất cả Như Lai khắp rưới mười thứ mây đại ma ni vương: mây ma ni vương kim tràng vi diệu, mây ma ni vương quang minh chiếu sáng, mây ma ni vương bửu luân rũ xuống, mây ma ni vương bửu tạng hiện tượng Bồ Tát, mây ma ni vương xưng dương danh hiệu Phật, mây ma ni vương quang minh chiếu sáng thấy cả Phật độ đạo tràng, mây ma ni vương chiếu sáng mười phương tất cả biến hóa, mây ma ni vương ca ngợi công đức của tất cả Bồ Tát, mây ma ni vương sáng chói như mặt nhựt, mây ma ni vương tiếng nhạc thích ý vang khắp mười phương.
Rưới khắp mười thứ mây ma ni vương như vậy rồi trong các chân lông của chư Phật đều phóng quang minh.  Trong quang minh nói kệ rằng:
Phổ Hiền ở khắp các quốc độ
Ngồi bửu liên hoa chúng đều thấy
Tất cả thần thông đều hiện ra
Vô lượng tam muội đều hay nhập.
Phổ Hiền thường dùng các thứ thân
Châu lưu pháp giới đều đầy khắp
Tam muội phương tiện sức thần thông
Viên âm rộng nói đều vô ngại.
Trong tất cả cõi chư Phật ngự
Các môn tam muội hiện thần thông
Mỗi mỗi thần thông đều khắp cùng
Thập phương quốc độ không chỗ sót.
Như tất cả cõi Như Lai ngự
Trong sát trần kia cũng như vậy
Chỗ hiện tam muội sự thần thông
Nguyện lực Tỳ Lô Giá Na Phật.
Phổ Hiền thân tướng như hư không
Nương chơn tánh ở chẳng phải cõi
Tuỳ lòng chúng sanh chỗ thích ưa
Thị hiện thân hình đồng tất cả.
Phổ Hiền an trụ các đại nguyện
Vô lượng thần thông sức tự tại
Tất cả Phật thân các quốc độ
Đều hiện hình kia mà đến đó.
Tất cả sát hải vô lượng biên
Phân thân ở đó cũng vô lượng
Cõi nước hiện ra đều trang nghiêm
Trong một sát na thấy nhiều kiếp.
Phổ Hiền an tất cả cõi
Hiện đại thần thông hơn tất cả
Chấn động mười phương đều khắp cùng
Khiến chúng quan sát đều được thấy.
Tất cả công đức Phật trí lực
Các môn đại pháp đều thành đủ
Dùng các tam muội phương tiện môn
Bày hạnh bồ đề mình đã tập.
Tự tại như vậy bất tư nghì
Thập phương quốc độ đều thị hiện
Vì bày tam muội đã khắp vào
Trong mây Phật quang khen công đức.
Lúc đó tất cả chúng Bồ Tát đều hướng về phía Phổ Hiền chấp tay chiêm ngưỡng, thừa thần lực của Phật đồng nói kệ rằng:
Từ các Phật pháp mà sanh ra
Cũng do Như Lai nguyện lực khởi
Chơn như bình đẳng tạng hư không
Pháp thân của ngài đã nghiêm tịnh.
Tất cả Phật độ trong chúng hội
Phổ Hiền ở khắp nơi trong đó
Quang minh công đức bực trí hải
Chiếu khắp mười phương đều được thấy.
Phổ Hiền công đức biển rộng lớn
Quá khắp mười phương gần gũi Phật
Tất cả vi trần có các cõi
Đều đến được kia mà hiện rõ.
Phật tử chúng tôi thường thấy Ngài
Gần gũi tất cả chư Như Lai
Trụ trong tam muội cảnh chơn thật
Số kiếp vi trần tất cả cõi.
Phật tử hay dùng thân phổ biến
Đều đến thập phương các cõi nước
Biển cả chúng sanh đều tế độ
Pháp giới vi trần đều vào cả.
Vào nơi pháp giới tất cả trần
Thân đó vô tận không sai khác
Ví như hư không đều khắp cùng
Diễn nói Như Lai pháp rộng lớn.
Bực tất cả công đức sáng chói
Rộng lớn như mây sức thù thắng
Trong biển chúng sanh đều qua đến
Nói công hạnh Phật pháp vô đẳng.
Vì độ chúng sanh nơi kiếp hải
Thắng hạnh Phổ Hiền đều tu tập
Diễn nói các pháp như mây to
Thinh âm quảng đại đều nghe khắp.
Quốc độ thế nào mà xuất hiện
Chư Phật thế nào mà xuất hiện
Nhẫn đến tất cả biển chúng sanh
Mong theo nghĩa đó nói như thật.
Trong đây vô lượng vô biên chúng
Ở trước đức Phật đều cung kính
Vì chuyển thanh tịnh diệu pháp luân
Tất cả chư Phật đều tùy hỉ.

Hết phẩm 3


Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-10-09 05:55:19canary>
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 1

Phẩm thế giới thành tựu
Thứ tư


Lúc bấy giờ Phổ Hiền Bồ Tát ma ha tát, do thần lực của Phật, quan sát khắp tất cả thế giới hải, tất cả chúng sanh hải, tất cả chư Phật hải, tất cả pháp giới hải, tất cả chúng sanh nghiệp hải, tất cả chúng sanh căn dục hải, tất cả chư Phật pháp luân hải, tất cả tam thế hải, tất cả Như Lai nguyện lực hải, tất cả Như Lai thần biến hải.
Quan sát xong, Phổ Hiền Bồ Tát bảo khắp tất cả chư Bồ Tát trong chúng hội đạo tràng rằng: "Chư Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn có trí huệ thanh tịnh bất tư nghì biết tất cả thế giới hải thành hoại, biết tất cả chúng sanh nghiệp hải, biết tất cả pháp giới an lập hải, nói tất cả vô biên Phật hải, vào tất cả căn dục hải, một niệm biết khắp tất cả tam thế, hiển thị tất cả Như Lai vô lượng nguyện hải, thị hiện tất cả Phật thần biết hải, chuyển pháp luân, kiến lập diễn thuyết hải, thanh tịnh Phật thân, vô biên sắc tướng hải phổ chiếu minh, tướng hảo và tùy hình hảo đều thanh tịnh, vô biên sắc tướng quang minh luân hải, cụ túc thanh tịnh, các thứ sắc tướng quang minh vân hải, thù thắng bửu diệm hải, thành tựu ngôn âm hải, thị hiện ba thứ tự tại điều phục  thành thục tất cả chúng sanh, dũng mãnh điều phục chúng sanh hải không luống qua, an trụ Phật địa, vào cảnh giới Như Lai, oai lực hộ trì, quan sát tất cả chỗ làm của Phật trí, trí lực viên mãn không ai điều phục được, công đức vô úy không ai hơn, trụ nơi tam muội vô sai biệt, thần thông biến hóa, trí thanh tịnh tự tại, tất cả Phật pháp không ai huỷ hoại được.
Tất cả pháp bất tư nghì như vậy, tôi sẽ thừa thần lực của Phật và oai thần của tất cả Như Lai mà tuyên thuyết đầy đủ.  Vì muốn khiến chúng sanh vào trí huệ hải của Phật, vì muốn khiến tất cả Bồ Tát được an trụ trong biển công đức của Phật, vì muốn khiến tất cả thế giới hải, tất cả Phật tự tại được trang nghiêm, vì muốn khiế trong tất cả kiếp hải chủng tánh Phật thường chẳng dứt, vì muốn khiến trong tất cả thế giới hải hiển thị tánh chơn thật của các pháp, vì muốn khiến tùy vô lượng sự hiểu biết của chúng sanh mà diễn thuyết, vì muốn khiến tùy căn hải của tất cả chúng sanh mà phương tiện làm cho sanh Phật pháp, vì muốn tùy chỗ ưa thích của tất cả chúng sanh mà dẹp phá tất cả núi chướng ngại, vì muốn khiến tùy tâm hành tất cả chúng sanh khiến tu tập thanh tịnh đạo xuất yếu, vì muốn khiến tất cả Bồ Tát an trụ trong nguyện hải Phổ Hiền.
Lúc đó, Phổ Hiền Bồ Tát lại muốn khiến chúng hội đạo tràng sanh lòng hoan hỷ, thêm lớn sự ưa thích đối với tất cả pháp, sanh lòng tin rộng lớn chơn thật thanh tịnh pháp giới thân, an lập nguyện hải Phổ Hiền tu tập vào trí nhãn tam thế bình đẳng, thêm lớn trí huệ chiếu khắp tất cả thế gian, sanh đức đà la ni trì tất cả pháp luận, và cũng muốn trong tất cả đạo tràng tất cả Phật cảnh giới đều khai thị, mở bày tất cả pháp môn của Như Lai, thêm lớn tất cả trí tánh pháp giới rộng lớn rất sâu, liền nói kệ rằng:
Trí huệ công đức biển rất sâu
Hiện khắp mười phương vô lượng cõi
Tùy các chúng sanh chỗ nên thấy
Quang minh soi khắp chuyển pháp luân.
Thập phương quốc độ bất tư nghì
Phật vô lượng kiếp đều nghiêm tịnh
Vì độ chúng sanh khiến thành thục
Xuất hiện tất cả các quốc độ.
Phật cảnh rất sâu khó nghĩ được
Khắp dạy chúng sanh khiến được vào
Lòng họ thích nhỏ chấp hữu lậu
Chẳng thông đạt được cảnh giới Phật.
Nếu có lòng tin trong sạch chắc
Thường được gần gũi thiện tri thức
Tất cả chư Phật hộ niệm cho
Đây mới được vào Như Lai trí.
Lìa các dua dối lòng thanh tịnh
Thường thích từ bi tánh hoan hỷ
Chí nguyện rộng lớn tin hiểu sâu
Kia nghe pháp này lòng vui đẹp.
An trụ Phổ Hiền những hạnh nguyện
Tu hành Bồ Tát đạo thanh tịnh
Quan sát pháp giới như hư không
Bèn biết được chỗ làm của Phật.
Chư Bồ Tát đây được lợi lành
Thấy Phật tất cả thần thông lực
Tu những đạo khác không biết được
Học hạnh Phổ Hiền mới tỏ ngộ.
Chúng sanh rộng lớn vốn vô biên
Như Lai tất cả đều hộ niệm
Chuyển chánh pháp luân khắp mọi nơi
Cảnh giới Tỳ Lô Giá Na Phật.
Tất cả cõi nước vào thân tôi
Chỗ chư Phật ngự cũng như vậy
Chúng nên xem các chân lông tôi
Nay tôi hiện bày cảnh giới Phật.
Phổ Hiền hạnh nguyện không ngằn mé
Tôi đã tu hành được đầy đủ
Cảnh giới phổ nhãn thân rộng lớn
Là Phật chỗ làm phải nghe kỹ.
Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử!  Thế giới hải có mười việc mà chư Phật trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai đã nói, hiện nói và sẽ nói.
Những gì là mười?
Chính là nhơn duyên khởi thế giới hải, chỗ trụ nương của thế giới hải, hình trạng của thế giới hải, thể tánh của thế giới hải, sự trang nghiêm của thế giới hải, sự thanh tịnh của thế giới hải, Phật xuất hiện nơi thế giới hải, kiếp trụ của thế giới hải, kiếp chuyển biến sai biệt của thế giới hải, môn vô sai biệt của thế giới hải.
Chư Phật tử!  Lược nói thế giới hải có mười việc này.  Nếu nói rộng ra thời đồng với thế giới hải vi trần số mà tam thế chư Phật đã nói, hiện nói và sẽ nói.
Chư Phật tử!  Lược nói do mười thứ nhơn duyên mà tất cả thế giới hải đã thành, hiện thành và sẽ thành.  Chính là do vì thần lực của Như Lai, vì pháp phải như vậy, vì hạnh nghiệp của tất cả chúng sanh, vì chỗ sở đắc của tất cả Bồ Tát thành nhứt thiết trí, vì các chúng sanh và chư Bồ Tát đồng chứa nhóm thiện căn, vì nguyện lực nghiêm tịnh Phật độ của chư Bồ Tát, vì hạnh nguyện thành tựu bất thối của chư Bồ Tát, vì thắng giải tự tại thanh tịnh của chư Bồ Tát, vì chỗ lưu xuất do thiện căn của chư Như Lai và thế lực tự tại lúc chư Phật thành đạo, vì nguyện lực tự tại của Phổ Hiền Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Đó là lược nói mười thứ nhơn duyên.  Nếu rộng nói thời có thế giới hải vi trần số."
Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này, thừa oai lực của Phật, quan sát mười phương mà nói kệ rằng:
Đã nói vô biên sát độ hải
Tỳ Lô Giá Na đều nghiêm tịnh
Thế Tôn cảnh giới bất tư nghì
Trí huệ thần thông lực như vậy.
Bồ Tát tu hành những nguyện hải
Khắp tùy chúng sanh tâm chỗ muốn
Chúng sanh tâm hạnh rộng vô biên
Bồ Tát quốc độ khắp mười phương
Bồ Tát thẳng đến nhứt thiết trí
Siêng tu các môn tự tại lực
Vô lượng nguyện hải khắp xuất sanh
Sát độ rộng lớn đều thành tựu.
Tu những hạnh hải vô lượng biên
Vào cảnh giới Phật cũng vô lượng
Thanh tịnh thập phương các cõi nước
Mỗi mỗi cõi trải vô lượng kiếp.
Chúng sanh phiền não làm loạn đục
Phân biệt ưa thích chẳng phải một
Tùy tâm tạo nghiệp bất tư nghì
Tất cả sát hải đầy thành lập.
Phật tử sát hải tạng trang nghiêm
Ly cấu quang minh báu làm thành
Đây do rộng lớn tâm tín hải
Chỗ ở mười phương đều như vậy.
Bồ Tát hay tu hạnh Phổ Hiền
Du hành pháp giới vi trần đạo
Trong trần đều hiện vô lượng cõi
Rộng lớn thanh tịnh như hư không.
Khắp cõi hư không hiện thần thông
Đều đến đạo tràng chỗ chư Phật
Trên tòa liên hoa hiện các tướng
Mỗi thân bao trùm tất cả cõi.
Một niệm hiện khắp nơi tam thế
Tất cả sát hải đều thành lập
Phật dùng phương tiện đều vào trong
Là Phật Tỳ Lô chỗ nghiêm tịnh.
Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử!  mỗi mỗi thế giới hải có thế giới hải vi trần số chỗ nương trụ.  Hoặc nương tất cả trang nghiêm mà trụ.  Hoặc nương hư không mà trụ.  Hoặc nương bửu quang minh mà trụ.  Hoặc nương bửu sắc quang minh mà trụ.  Hoặc nương thinh âm chư Phật mà trụ.  Hoặc nương kim cang hình đại lực a tu la chúng sanh như huyễn mà trụ.  Hoặc nương thân các Thế Chủ mà trụ.  Hoặc nương thân chư Bồ Tát mà trụ.  Hoặc nương tất cả biển trang nghiêm sai khác hạnh nguyện Phổ Hiền mà trụ.
Chư Phật tử!  Thế giới hải có thế giới vi trần số chỗ nương trụ như vậy."
Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này thừa oai lực của Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Khắp cả mười phương cõi hư không
Chỗ có tất cả những quốc độ
Như Lai thần lực thường gia trì
Khắp nơi hiện tiền đều thấy được.
Hoặc có các thứ những quốc độ
Đều do ly cấu bửu làm thành
Ma ni thanh tịnh rất tốt xinh
Quang minh sáng rỡ khắp hiển hiện.
Hoặc có cõi nước sáng thanh tịnh
Nương hư không giới mà an trụ
Hoặc ở trong biển ma ni bửu
Lại có an trụ tạng quang minh.
Như Lai ở trong chúng hội này
Diễn thuyết pháp luân đều xảo diệu
Cảnh giới chư Phật rộng vô biên
Chúng sanh được thấy lòng hoan hỷ.
Có cõi nghiêm sức bằng ma ni
Hình như đèn sáng giăng cùng khắp
Lửa thơm mây sáng màu chói rực
Lưới báu sáng chói dùng phủ che.
Hoặc có quốc độ không ngằn mé
An trụ liên hoa biển lớn sâu
Rộng rãi thanh tịnh khác thế gian
Chư Phật diệu thiện trang nghiêm đó.
Hoặc có quốc độ theo luân chuyển
Do Phật oai thần được an trụ
Đại chúng Bồ Tát đều ở trong
Thường thấy vô lượng báu rộng lớn.
Có cõi nước ở tay kim cang
Hoặc cõi nước ở thân Thiên Chúa
Tỳ Lô Giá Na đấng vô thượng
Thường ở cõi này chuyển pháp luân.
Hoặc nương cây báu trụ bằng thẳng
Trong mây sáng thơm cũng như vậy
Có cõi nương trong những biển lớn
Hoặc trụ kim cang rất bền chắc.
Có cõi nương trụ kim cang tràng
Có cõi trụ trong biển Hoa Tạng
Thần biến rộng lớn khắp các nơi
Tỳ Lô Giá Na Phật hay hiện.
Hoặc dài hoặc vắn vô lượng thứ
Tướng đó xoay vần cũng chẳng đồng
Hoa Tạng trang nghiêm khác thế gian
Tu hành thanh tịnh mới thấy được.
Các cõi như vậy đều sai khác
Tất cả đều nương nguyện hải trụ
Hoặc có cõi thường ở hư không
Chư Phật như mây đều đầy khắp.
Có ở hư không lưới che trùm
Hoặc lúc hiện ra hoặc không hiện
Hoặc có cõi nước rất thanh tịnh
Trụ trong bửu quan của Bồ Tát.
Thập phương chư Phật thần thông lớn
Tất cả đều hiện thấy trong đây
Chư Phật thinh âm đều cùng khắp
Đây do nghiệp lực mà hóa hiện.
Hoặc có cõi nước khắp pháp giới
Ly cấu thanh tịnh tùng tâm khởi
Như ảnh như huyễn rộng vô biên
Như lưới thiên đế đều sai khác.
Hoặc hiện các thứ tạng trang nghiêm
Hoặc ở hư không mà kiến lập
Nghiệp chơn cảnh giới chẳng nghĩ bàn
Phật lực hiển thị đều khiến thấy.
Trong mỗi cõi nước số vi trần
Niệm niệm thị hiện những Phật độ
Số đều vô lượng khắp chúng sanh
Phổ Hiền chỗ làm thường như vậy.
Vì muốn thành thục các chúng sanh
Trong đây tu hành trải kiếp hải
Thần thông rộng lớn hiện khắp nơi
Trong các pháp giới đều cùng khắp.
Pháp giới quốc độ mỗi vi trần
Những cõi nước lớn ở trong đó
Phật vân bình đẳng đều giăng che
Tất cả mọi nơi đều đầy đủ.
Lực dụng tự tại trong mỗi trần
Tất cả vi trần cũng như vậy
Chư Phật Bồ Tát đại thần thông
Tỳ Lô Giá Na đều hay hiện.
Tất cả quốc độ rộng vô biên
Như ảnh, như huyễn như dương diệm
Mười phương chẳng thấy từ đâu sanh
Cũng không có chỗ đi và đến.
Diệt hoại sanh thành xoay vần mãi
Trong cõi hư không chẳng tạm dừng
Tất cả đều do nguyện thanh tịnh
Cũng do nghiệp lực chỗ giữ gìn.
Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử!  Thế giới hải có nhiều hình tướng sai khác, hoặc tròn, hoặc vuông, hoặc chẳng phải tròn vuông, hoặc hình như nước xoáy, hoặc hình như núi, hoặc hình như cây, hình như bông, hoặc hình như cung điện, như hình chúng sanh, như hình Phật, có thế giới vi trần số hình sai khác như vậy."
Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này, thừa oai lực của Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Vô lượng quốc độ sai khác nhau
Vô lượng trang nghiêm vô lượng trụ
Hình trạng sai khác khắp mười phương
Các ngài đều nên đồng quan sát.
Hình kia hoặc tròn hoặc vuông vức
Hoặc có ba góc và tám cạnh
Hình châu ma ni hình liên hoa
Tất cả đều do nghiệp mà khác.
Có cõi thanh tịnh sáng trang nghiêm
Vàng ròng xen lẫn nhiều tốt đẹp
Cửa nẻo mở trống không bít lấp
Đây do nghiệp rộng ý tinh thuần.
Sát hải vô biên tạng sai khác
Ví như mây bủa giữa không gian
Bửu châu trải đất trang nghiêm tốt
Ở trong quang minh sáng của Phật.
Tất cả quốc độ tâm phân biệt
Quang minh soi đến mà hiện ra
Chư Phật ở trong những cõi ấy
Nơi nơi thị hiện thần thông lực.
Có cõi tạp nhiễm hoặc thanh tịnh
Chịu khổ hưởng vui đều sai khác
Đây do biển nghiệp chẳng nghĩ bàn
Các pháp lưu chuyển thường như vậy.
Trong một chân lông vô lượng cõi
Như số vi trần mà an trụ
Mỗi cõi đều có đấng Thế Tôn
Ở trong chúng hội tuyên diệu pháp.
Trong mỗi vi trần cõi lớn nhỏ
Nhiều loại sai khác số vi trần
Bằng phẳng cao thấp đều chẳng đồng
Phật đều qua đến mà thuyết pháp.
Tất cả vi trần hiện quốc độ
Đều là bổn nguyện thần thông lực
Tuỳ lòng ưa thích sai khác nhau
Trong khoảng hư không đều làm được.
Tất cả quốc độ những vi trần
Trong mỗi vi trần Phật đều nhập
Khắp vì chúng sanh hiện thần thông
Tỳ Lô Giá Na pháp như vậy.
Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử!  Nên biết thế giới hải có các loại thể.  Hoặc dùng tất cả bửu trang nghiêm làm thể.  Hoặc dùng một bửu trang nghiêm làm thể.  Hoặc dùng tất cả bửu quang minh làm thể.  Hoặc dùng các thứ sắc quang minh làm thể.  Hoặc dùng tất cả quang minh trang nghiêm làm thể.  Hoặc dùng kim cang làm thể.  Hoặc dùng Phật lực nhiếp trì làm thể.  Hoặc dùng tướng diệt bửu làm thể.  Hoặc dùng Phật biến hóa làm thể.  Hoặc dùng nhựt ma ni làm thể.  Hoặc dùng cực vi trần bửu làm thể.  Hoặc dùng tất cả bửu diệm làm thể.  Hoặc dùng các thứ hương làm thể.  Hoặc dùng bửu hoa quan làm thể.  Hoặc dùng bửu ảnh tượng làm thể.  Hoặc dùng trang nghiêm thị hiện làm thể.  Hoặc dùng nhứt âm thị hiện cảnh giới làm thể.  Hoặc dùng bửu hình Bồ Tát làm thể.  Hoặc dùng bửu hoa nhụy làm thể.  Hoặc dùng ngôn âm của Phật làm thể.  Có thế giới vi trần số thể như vậy."
Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát, muốn tuyên lại nghĩa này, thừa oai lực của Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Hoặc có những quốc độ
Diệu bửu hiệp lại thành
Bền chắc không hư hoại
Đều ở bửu liên hoa.
Hoặc là bửu quang minh
Xuất sanh chẳng biết được
Tất cả quang trang nghiêm
Nương hư không mà ở.
Hoặc tịnh quang làm thể
Lại nương quang minh ở
Mây sáng làm trang nghiêm
Chỗ Bồ Tát đi đến.
Hoặc có những quốc độ
Từ nơi nguyện lực sanh
An trụ như ảnh tượng
Đem nói chẳng thể được.
Hoặc ma ni hiệp thành
Chói sáng như mặt trời
Bảo châu dùng trang nghiêm
Bồ Tát đều đầy khắp.
Bửu diệm thành quốc độ
Mây sáng trùm trên đó
Bửu quang rất xinh đẹp
Đều do nghiệp cảm nên.
Hoặc từ tướng tốt sanh
Các tướng trang nghiêm đẹp
Như mão tốt đội đầu
Đây do Phật hóa hiện.
Hoặc từ tâm niệm sanh
Tùy tâm chỗ hiểu biết
Như huyễn không chỗ nơi
Tất cả là phân biệt.
Hoặc do Phật quang minh
Ma ni quang làm thể
Chư Phật hiện trong đó
Đều thị hiện thần thông.
Hoặc Phổ Hiền Bồ Tát
Hóa hiện các quốc độ
Dùng nguyện lực trang nghiêm
Tất cả đều tốt đẹp.
Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử!  Nên biết thế giới hải có nhiều loại trang nghiêm.  Hoặc dùng trong những đồ trang nghiêm hiện ra mây đẹp nhứt để trang nghiêm.  Hoặc dùng thuyết minh công đức của chư Bồ Tát để trang nghiêm.  Hoặc dùng thuyết minh nghiệp báo của tất cả chúng sanh để trang nghiêm.  Hoặc dùng thị hiện nguyện lực của chư Bồ Tát để trang nghiêm.  Hoặc dùng biểu thị ảnh tượng của tam thế chư Phật để trang nghiêm.  Hoặc dùng trong một khoảng một niệm thị hiện cảnh giới thần thông trải vô biên kiếp để trang nghiêm.  Hoặc dùng xuất hiện thân của chư Phật để trang nghiêm.  Hoặc dùng xuất hiện tất cả mây hương báu để trang nghiêm.  Hoặc dùng thị hiện những vật trân diệu quang minh chiếu sáng trong tất cả đạo tràng để trang nghiêm.  Hoặc dùng thị hiện tất cả Phổ Hiền hạnh nguyện để trang nghiêm."
Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này, thừa oai lực của Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Sát hải rộng lớn vô lượng biên
Thành nên đều do nghiệp thanh tịnh
Nhiều thứ trang nghiêm nhiều nơi ở
Tất cả mười phương đều đầy khắp.
Vô biên sắc tướng mây báu sáng
Rộng lớn trang nghiêm chẳng phải một
Mười phương sát hải thường xuất hiện
Khắp dùng diệu âm mà thuyết pháp.
Bồ Tát vô biên biển công đức
Những nguyện rộng lớn để trang nghiêm
Khắp cõi đồng thời vang diệu âm
Chấn động mười phương các quốc độ.
Chúng sanh biển nghiệp rộng vô lượng
Tùy kia cảm báo đều chẳng đồng
Trong tất cả chỗ được trang nghiêm
Đều do chư Phật hay diễn thuyết.
Tất cả Như Lai trong ba thuở
Thần thông hiện khắp thế giới hải
Trong mỗi sự có tất cả Phật
Các ngài xem sự trang nghiêm đó.
Quá khứ, vị lai, kiếp hiện tại
Mười phương tất cả những quốc độ
Những sự trang nghiêm ở nơi kia
Đều thấy ở trong một cõi nước.
Vô lượng Phật trong tất cả sự
Số đông chúng sanh khắp thế gian
Vì khiến điều phục hiện thần thông
Dùng đây trang nghiêm thế giới hải.
Tất cả trang nghiêm tuôn mây đẹp
Nhiều thứ mây hoa mây hương sáng
Mây báu ma ni thường xuất hiện
Sát hải dùng đây để trang nghiêm.
Mười phương những nơi Phật thành đạo
Các thứ trang nghiêm đều đầy đủ
Phóng quang chiếu xa như mây sáng
Trong thế giới hải đều khiến thấy.
Phổ Hiền hạnh nguyện chư Bồ Tát
Vô biên kiếp hải siêng tu tập
Vô biên quốc độ đều trang nghiêm
Trong tất cả chỗ đều hiển hiện.
Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử!  Nên biết thế giới hải có thế giới hải vi trần số môn phương tiện thanh tịnh.  Chính là do thiện căn của chư Bồ Tát gần gũi thiện trí thức.  Do thêm lớn những công đức khắp pháp giới.  Do tu tập những thắng giải rộng lớn.  Do quan sát cảnh giới của tất cả Bồ Tát mà an trụ.  Do tu tập những môn ba la mật đều viên mãn.  Do quán sát những địa vị của chư Bồ Tát mà nhập trụ.  Do xuất sanh tất cả thệ nguyện thanh tịnh.  Do tu tập những hạnh xuất yếu.  Do nhập tất cả biển trang nghiêm.  Do thành tựu sức phương tiện thanh tịnh."
Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này, thừa oai lực của Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Tất cả cõi nước những trang nghiêm
Do nguyện lực phương tiện sanh ra
Tất cả quốc độ thường chói sáng
Vô lượng nghiệp thanh tịnh hiện thành.
Bồ Tát lâu xa gần trí thức
Đồng tu nghiệp lành đều thanh tịnh
Từ bi rộng lớn khắp chúng sanh
Dùng dây trang nghiêm các quốc độ.
Tất cả pháp môn những tam muội
Thiền định giải thoát môn phương tiện
Nơi chỗ chư Phật đều tu hành
Do đây sanh ra những quốc độ.
Phát sanh vô lượng trí thắng giải
Hiểu được Như Lai đồng không khác
Phương tiện nhẫn nhục đã tu hành
Nên nghiêm tịnh được vô biên cõi.
Vì lợi chúng sanh tu thắng hạh
Phước đức rộng lớn thường tăng trưởng
Ví như mây bủa khắp hư không
Tất cả quốc độ đều thành tựu.
Môn ba la mật nhiều vô lượng
Đều đã tu hành khiến đầy đủ
Nguyện ba la mật vô cùng tận
Quốc độ thanh tịnh từ đây sanh.
Những pháp vô thượng đều tu hành
Sanh ra vô biên hạnh xuất yếu
Nhiều môn phương tiện độ chúng sanh
Như vậy trang nghiêm các quốc độ.
Tu tập trang nghiêm môn phương tiện
Chứng Phật công đức biển pháp môn
Khiến khắp chúng sanh cạn nguồn khổ
Cõi nước rộng lớn đều thành tựu.
Nguyện lực rộng lớn không gì sánh
Khiến khắp chúng sanh gieo thiện căn
Cúng dường tất cả chư Như Lai
Vô biên quốc độ đều thanh tịnh.
Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử!  nên biết mỗi mỗi thế giới hải có thế giới hải vi trần số Phật xuất hiện sai khác: hoặc hiện thân nhỏ, hoặc hiện thân lớn, hoặc hiện đoản thọ, hoặc hiện trường thọ, hoặc chỉ nghiêm tịnh một quốc độ, hoặc hiện nghiêm tịnh vô lượng quốc độ, hoặc chỉ hiển thị pháp nhứt thừa, hoặc hiển thị vô lượng thừa, hoặc hiện điều phục thiểu số chúng sanh, hoặc hiện điều phục vô biên chúng sanh, có vi trần số sai khác như vậy."
Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này thừa oai lực của Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Chư Phật có các môn phương tiện
Xuất hiện tất cả những quốc độ
Đều tùy sở thích của chúng sanh
Đây là Như Lai quyền lực khéo.
Pháp thân chư Phật bất tư nghì
Không sắc, không hình, không ảnh tượng
Vì chúng sanh hiện tướng sai khác
Theo lòng họ ưa khiến họ thấy.
Hoặc vì thấy sanh hiện đoản thọ
Hoặc hiện trường thọ vô lượng kiếp
Pháp thân mười phương khắp hiện tiền
Trong thế gian tuỳ nghi xuất hiện.
Hoặc hiện nghiêm tịnh bất tư nghì
Mười phương vô biên các quốc độ
Hoặc chỉ nghiêm tịnh một cõi nước
Nơi một thị hiện đủ không sót.
Hoặc tùy sở thích của chúng sanh
Thị hiện vô lượng vô biên thừa
Hoặc chỉ tuyên thuyết pháp nhứt thừa
Trong một thừa hiện vô lượng pháp.
Hoặc hiện tự nhiên thành chánh giác
Độ thiểu số người vào chánh pháp
Hoặc lại thị hiện trong một niệm
Khai ngộ quần sanh vô lượng số.
Hoặc nơi chân lông tuôn mây sáng
Thị hiện vô lượng vô biên Phật
Tất cả thế gian đều hiện thấy
Các môn phương tiện độ quần sanh.
Hoặc hiện thinh âm khắp mọi nơi
Tùy lòng họ ưa mà thuyết pháp
Vô lượng vô biên những đại kiếp
Điều phục vô lượng các chúng sanh.
Phật có vô lượng cõi trang nghiêm
Chúng hội thanh tịnh ngồi nghiêm chỉnh
Phật như vầng mây che trong đó
Thập phương quốc độ đều đầy khắp.
Chư Phật phương tiện bất tư nghì
Tùy tâm chúng sanh hiện ra trước
Ngự trong các cõi rất trang nghiêm
Tất cả quốc độ đều cùng khắp.
Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử!  Nên biết thế giới hải có thế giới hải vi trần số kiếp trụ, hoặc có a tăng kỳ kiếp trụ, hoặc có vô lượng kiếp trụ, hoặc có vô biên kiếp trụ, hoặc có vô đẳng kiếp trụ, hoặc có bất khả sổ kiếp trụ, hoặc có bất khả xung kiếp trụ, hoặc có bất khả tư kiếp trụ, hoặc có bất khả lượng kiếp trụ, hoặc có bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp trụ, có vi trần số kiếp trụ như vậy."
Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này, thừa oai lực của Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Trong thế giới hải nhiều kiếp trụ
Phương tiện rộng lớn để trang nghiêm
Mười phương cõi nước đều xem thấy
Số lượng sai khác đều rành rẽ.
Tôi thấy mười phương thế giới hải
Kiếp số vô lượng đồng chúng sanh
Hoặc dài hoặc vắn hoặc vô biên
Dùng Phật thinh âm nay diễn nói.
Hoặc thấy mười phương những quốc độ
Hoặc trụ quốc độ vi trần kiếp
Hoặc chỉ một kiếp hoặc vô số
Bởi những tâm nguyện đều chẳng đồng.
Hoặc có thuần tịnh hoặc thuần nhiễm
Hoặc lại nhiễm tịnh chung lộn lạo
Nguyện lực an lập nhiều sai khác
Trong tâm chúng sanh mà an trụ.
Thuở xưa tu hành vi trần kiếp
Được thế giới hải thanh tịnh lớn
Cảnh giới chư Phật đều trang nghiêm
Trụ mãi vô biên kiếp rộng lớn
Dùng bửu quang minh để đặt tên
Hoặc tên Đẳng Âm Diệm Nhãn Tạng
Tên Ly Quang Minh và Hiền Kiếp
Kiếp thanh tịnh này nhiếp tất cả.
Có kiếp thanh tịnh một Phật hiện
Vô tận phương tiện đại nguyện lực
Vào trong tất cả thời gian kiếp.
Hoặc vô lượng kiếp và một kiếp
Hoặc lại một kiếp vào nhiều kiếp
Tất cả kiếp hải phương tiện môn
Thập phương quốc độ đều hiện rõ.
Hoặc tất cả kiếp sự trang nghiêm
Ở trong một kiếp đều hiện thấy
Hoặc sự trang nghiêm trong một kiếp
Vào khắp tất cả vô biên kiếp.
Trước từ một niệm sau thành kiếp
Sanh ra đều do tâm chúng sanh
Tất cả quốc độ kiếp vô biên
Dùng một phương tiện đều thanh tịnh.
Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử!  Nên biết thế giới hải có thế giới hải vi trần số kiếp chuyển biến sai khác.  Như là vì pháp như vậy nên thế giới hải có vô lượng kiếp thành, kiếp hoại chuyển biến.  Vì chúng sanh nhiễm ô ở nên thế giới hải thành kiếp nhiễm ô chuyển biến.  Vì chúng sanh tu phước rộng lớn ở, nên thế giới hải thành kiếp nhiễm tịnh chuyển biến.  Vì tín giải Bồ Tát ở, nên thế giới hải thành kiếp nhiễm tịnh chuyển biến.  Vì vô lượng chúng sanh phát bồ đề tâm nên thế giới hải thuần kiếp thanh tịnh chuyển biến.  Vì thập phương tất cả chư Bồ Tát vân tập nên thế giới hải vô lượng kiếp đại trang nghiêm chuyển biến.  Vì chư Phật Thế Tôn nhập niết bàn nên thế giới hải kiếp trang nghiêm diệt chuyển biến.  Vì chư Phật xuất hiện ra đời nên tất cả thế giới hải kiếp rộng lớn trang nghiêm thanh tịnh chuyển biến.  Vì Như Lai thần thông biến hóa nên thế giới hải kiếp thanh tịnh chuyển biến.  Có vi trần số kiếp chuyển biến như vậy."
Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này, thừa oai lực của Phật, quan sát mười phương mà nói kệ rằng:
Tất cả những quốc độ
Đều tùy nghiệp lực sanh
Các ngài nên quan sát
Tướng chuyển biến như vậy.
Những chúng sanh nhiễm ô
Nghiệp phiền não đáng sợ
Tâm họ khiến quốc độ
Tất cả thành nhiễm ô.
Nếu có tâm thanh tịnh
Tu những hạnh phước đức
Tâm họ khiến quốc độ
Tạp nhiễm và thanh tịnh.
Chư Bồ Tát tín giải
Sanh vào trong kiếp kia
Tùy tâm Bồ Tát này
Quốc độ đủ tịnh nhiễm.
Vô lượng số chúng sanh
Đều phát bồ đề tâm
Tâm họ khiến quốc độ
Trụ kiếp thường thanh tịnh.
Vô lượng ức Bồ Tát
Qua đến mười phương cõi
Trang nghiêm không có khác
Trong kiếp thấy sai khác.
Trong mỗi mỗi vi trần
Bồ Tát đồng vân tập
Quốc độ đều thanh tịnh.
Thế Tôn nhập niết bàn
Cõi đó dứt trang nghiêm
Chúng sanh không pháp khí
Thế giới thành tạp nhiễm.
Nếu có Phật ra đời
Cõi nước đều tốt đẹp
Tuỳ theo tâm thanh tịnh
Đầy đủ sự trang nghiêm.
Thần thông của chư Phật
Thị hiện bất tư nghì
Lúc đó những quốc độ
Tất cả đều thanh tịnh.
Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử!  Nên biết thế giới hải có thế giới hải vi trần số sai biệt.  Như là trong mỗi thế giới hải có thế giới hải vi trần số thế giới vô sai biệt.  Trong mỗi thế giới hải chư Phật xuất hiện oai đức thần lực vô sai biệt.  Trong mỗi thế giới hải tất cả đạo tràng khắp thập phương pháp giới vô sai biệt.  Trong mỗi thế giới hải quang minh của chư Phật khắp pháp giới vô sai biệt.  Trong mỗi thế giới hải chúng hội đạo tràng của chư Phật vô sai biệt.  Trong mỗi thế giới hải chư Phật biến hóa danh hiệu vô sai biệt.  Trong mỗi thế giới hải thinh âm của chư Phật khắp thế giới hải vô biên kiếp trụ vô sai biệt.  Trong mỗi thế giới hải pháp luân phương tiện vô sai biệt.  Trong mỗi thế giới hải tất cả thế giới hải vào khắp một vi trần vô sai biệt.  Trong mỗi thế giới hải mỗi vi trần cảnh giới rộng lớn của tất cả tam thế chư Phật đều hiện trong đó vô sai biệt.  Có vi trần số vô sai biệt như vậy."
Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát muốn tuyện lại nghĩa này, thừa oai lực của Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Trong một vi trần nhiều sát hải
Chỗ nơi riêng khác đều nghiêm tịnh
Vô lượng như vậy mà một cõi
Mỗi mỗi chia khác không xen tạp.
Trong mỗi vi trần vô lượng Phật
Tùy tâm chúng sanh khắp hiện tiền
Tất cả quốc độ đều cùng khắp
Phương tiện như vậy vô sai biệt.
Trong mỗi vi trần những thọ vương
Nhiều thứ trang nghiêm đều thòng rủ
Thập phương quốc độ đều đồng hiện
Tất cả như vậy vô sai biệt.
Trong mỗi trần có vị trần chúng
Cùng nhau bao quanh đức Thế Tôn
Siêu việt tất cả khắp thế gian
Cũng chẳng chật hẹp tạp loạn nhau.
Trong mỗi trần có vô lượng quang
Chiếu khắp mười phương các cõi nước
Đều hiện chư Phật hạnh bồ đề
Tất cả sát độ vô sai biệt.
Trong mỗi trần có vô lượng thân
Biến hóa như mây đều cùng khắp
Phật dùng thần thông độ chúng sanh
Thập phương quốc độ vô sai biệt.
Trong mỗi trần diễn nói các pháp
Pháp đó thanh tịnh như luân chuyển
Các môn phương tiện đều tự tại
Tất cả diễn thuyết vô sai biệt.
Một trần diễn khắp tiếng chư Phật
Đầy khắp pháp khí các chúng sanh
Trụ khắp sát hải vô biên kiếp
Thinh âm như vậy cũng không khác.
Sát hải vô lượng trang nghiêm đẹp
Trong mỗi vi trần tam thế Phật
Tùy chỗ sở thích đều khiến thấy
Thể tánh không đến cũng không đi
Do nơi nguyện lực khắp thế gian.

Hết phẩm 4
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-10-09 07:01:08canary>
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 2

Phẩm tịnh hạnh 
Thứ mười một



Lúc bấy giờ Trí Thủ Bồ Tát hỏi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát: "Phật tử!  Bồ Tát làm thế nào thân, ngữ, ý, ba nghiệp được không lỗi lầm?  Thân, ngữ, ý, ba nghiệp được chẳng tổn hại?  Thân, ngữ, ý, ba nghiệp được không thể bị huỷ hoại?  Thân, ngữ, ý, ba nghiệp được chẳng dao động?  Thân, ngữ, ý, ba nghiệp được thù thắng?  Thân, ngữ, ý, ba nghiệp được vô nhiễm?  Thân, ngữ, ý, ba nghiệp được trí dẫn đạo?
Bồ Tát làm thế nào được sanh xứ đầy đủ?  Chủng tộc đầy đủ?  Gia thế đầy đủ?  Sắc thân đầy đủ?  Tướng mạo đầy đủ?  Niệm đầy đủ?  Huệ đầy đủ?  Hạnh đầy đủ?  Vô úy đầy đủ?  Giác ngộ đầy đủ?
Bồ Tát làm thế nào được thắng huệ?  Được đệ nhứt huệ?  Được tối thượng huệ?  Được tối thắng huệ?  Được vô lượng huệ?  Được vô số huệ?  Được bất tư nghĩ huệ?  Được vô giữ đẳng huệ?  Được bất khả lượng huệ?  Được bất khả thuyết huệ?
Bồ Tát làm thế nào được: nhơn lực, duyên lực, dục lực, phương tiện lực, sở duyên lực, căn lực, quan sát lực, xa ma tha lực, tỳ bát xá na lực, tư duy lực?
Bồ Tát làm thế nào được: uẩn thiện xảo, xứ thiện xảo, giới thiện xảo, duyên khởi thiện xảo, dục giới thiện xảo, sắc giới thiện xảo, vô sắc giới thiện xảo, quá khứ thiện xảo, vị lai thiện xảo, hiện tại thiện xảo?
Bồ Tát làm thế nào khéo tu tập: niệm giác phần, trạch pháp giác phần, tinh tấn giác phần, hỉ giác phần, xả giác phần, không giác phần, vô tướng giác phần, vô nguyện giác phần?
Bồ Tát làm thế nào được viên mãn: đàn ba la mật, thí ba la mật, sằn đề ba la mật, tỳ lê gia ba la mật, thiền na ba la mật, tỳ lê gia ba la mật, thiền na ba la mật, bát nhã ba la mật, từ, bi, hỉ, xả?
Bồ Tát làm thế nào được thập lực: xứ phi xứ trí lực, quả vị hiện tại nghiệp báo trí lực, căn thắng liệt trí lực, chủng chủng giới trí lực, chủng chủng giải trí lực, nhứt thiết chí xứ đạo trí lực, thiền giải thoát tam muội nhiễm tịnh trí lực, tú trụ niệm trí lực, vô chướng ngại thiên nhãn trí lực, đoạn chư tập trí lực?
Bồ Tát làm thế nào thường được sự thủ hộ cung kính cúng dường của: Thiên Vương, Long Vương, Dạ Xoa Vương, Càn Thát Bà Vương, A Tu La Vương, Ca Lâu La Vương, Khẩn Na La Vương, Ma Hầu La Già Vương, Nhơn Vương, Phạm Vương?
Bồ Tát làm thế nào được mình là những chỗ: y tựa, cứu độ, chỗ về, chỗ đến, là đuốc, là sáng, là soi, là dẫn đạo, thắng đạo, phổ đạo cho tất cả chúng sanh?
Đối với tất cả chúng sanh, Bồ Tát làm thế nào là: đệ nhứt, là lớn, là thắng, là tối thắng, là diệu, là cực diệu, là thượng, là vô thượng, là vô đẳng, là vô đẳng đẳng?"
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát bảo Trí Thủ Bồ Tát: "Lành thay Phật tử!  Nay ngài vì muốn nhiều lợi ích, nhiều an ổn, thương xót thế gian, lợi lạc thiên nhơn mà hỏi những nghĩa như vậy.
Phật tử!  Nếu Bồ Tát khéo dụng tâm thời được tất cả công đức thắng diệu, nơi Phật pháp được tâm vô ngại, được trụ nơi đạo của tam thế chư Phật, trụ theo chúng sanh hằng không bỏ rời, đều có thể thông đạt đúng các pháp tướng, dứt tất cả điều ác, đầy đủ tất cả điều lành, sẽ được hình sắc đệ nhứt như Phổ Hiền, đầy đủ tất cả hạnh nguyện, với tất cả pháp đều được tự tại sẽ là đạo sư thứ hai của chúng sanh.
Phật tử!  Bồ Tát dụng tâm thế nào mà có thể được tất cả thắng diệu công đức?
Phật tử lóng nghe đây:
Bồ Tát ở nhà, nên nguyện chúng sanh, biết nhà tánh không, khỏi sự bức ngặt.
Hiếu thờ cha mẹ, nên nguyện chúng sanh, kính thờ chư Phật, hộ dưỡng tất cả.
Vợ con hội họp, nên nguyện chúng sanh, oán thân bình đẳng, lìa hẳn tham trước.
Nếu được ngũ dục, nên nguyện chúng sanh, nhổ mũi tên dục, rốt ráo an ổn.
Kỹ nhạc tụ hội, nên nguyện chúng sanh, vui nơi chánh pháp, rõ nhạc chẳng thật.
Nếu ở cung thất, nên nguyện chúng sanh, vào nơi thánh địa, trừ hẳn uế dục.
Lúc đeo trang sức, nên nguyện chúng sanh, bỏ tư trang giả, đến chỗ chơn thật.
Lên trên lầu các, nên nguyện chúng sanh, lên lầu chánh pháp, thấy suốt tất cả.
Nếu có bố thí, nên nguyện chúng sanh, bỏ được tất cả, lòng không ái trước.
Chúng hội tu tập, nên nguyện chúng sanh, xả những tụ pháp, thành nhứt thiết trí.
Nếu ở ách nạn, nên nguyện chúng sanh, tùy ý tự tại, chỗ làm vô ngại.
Lúc bỏ cư gia, nên nguyện chúng sanh, xuất gia vô ngại, tâm được giải thoát.
Vào tăng già làm, nên nguyện chúng sanh, diễn thuyết các thứ pháp không tranh cãi.
Đến đại, tiểu sư, nên nguyện chúng sanh, khéo thờ sư trưởng, tập làm điều lành.
Cầu xin xuất gia, nên nguyện chúng sanh, được pháp bất thối, lòng không chướng ngại.
Thoát bỏ tục nhãn, nên nguyện chúng sanh, siêng tu căn lành, bỏ những tội ách.
Cạo bỏ râu tóc, nên nguyện chúng sanh, lìa hẳn phiền não, rốt ráo tịch diệt.
Đắp y ca sa, nên nguyện chúng sanh, lòng không nhiễm trước, đủ đạo đại tiên.
Lúc chánh xuất gia, nên nguyện chúng sanh, đồng Phật xuất gia, cứu hộ tất cả.
Tự quy y Phật, nên nguyện chúng sanh, nối thạnh Phật chủng, phát tâm vô thượng.
Tự quy y Pháp, nên nguyện chúng sanh, sâu vào kinh tạng, trí huệ như biển.
Tự quy y Tăng, nên nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, tất cả vô ngại.
Lục thọ học giới, nên nguyện chúng sanh, khéo học nơi giới, chẳng làm điều ác.
Thọ Xà Lê dạy, nên nguyện chúng sanh, đầy đủ oai nghi, chỗ làm chơn thật.
Thọ Hòa Thượng dạy, nên nguyện chúng sanh, vào trí vô sanh, đến chỗ vô y.
Thọ giới cụ túc, nên nguyện chúng sanh, đủ các phương tiện, được pháp tối thắng.
Nếu vào nhà cửa, nên nguyện chúng sanh, lên nhà vô thượng, an trụ bất động.
Nếu trải giường tòa, nên nguyện chúng sanh, trải mở pháp lành, thấy tướng chơn thật.
Chánh thân đoan tọa, nên nguyện chúng sanh, ngồi bồ đề tòa, tâm không tham trước.
Lúc ngồi kiết già, nên nguyện chúng sanh, căn lành kiên cố, được bậc bất động.
Tu hành nơi định, nên nguyện chúng sanh, dùng định phục tâm, rốt ráo không thừa.
Nếu tu pháp quán, nên nguyện chúng sanh, thấy lý như thật, trọn không tranh cãi.
Xả ngồi kiết già, nên nguyện chúng sanh, quan sát hành pháp, đều quy tan mất.
Lúc để chân đứng, nên nguyện chúng sanh, tâm được giải thoát, an trụ bất động.
Nếu cất chân lên, nên nguyện chúng sanh, khỏi biển sanh tử, đủ các pháp lành.
Lúc mặc quần dưới, nên nguyện chúng sanh, mặc những căn lành, đầy đủ hổ thẹn.
Chỉnh áo cột giải, nên nguyện chúng sanh, kiểm thúc căn lành, chẳng để tan mất.
Nếu mặc áo trên, nên nguyện chúng sanh, được căn lành lớn, đến bờ pháp kia.
Đấp tăng già lê, nên nguyện chúng sanh, vào ngôi đệ nhứt, được pháp bất động.
Tay cầm nhành dương, nên nguyện chúng sanh, đều được diệu pháp, rốt ráo thanh tịnh.
Lúc nhăn nhành dương, nên nguyện chúng sanh, tâm ý điều tịnh, nhai các phiền não.
Lúc đại tiểu tiện, nên nguyện chúng sanh, bỏ tham sân si, dẹp trừ điều tội.
Việc rồi đến nước, nên nguyện chúng sanh, trong pháp xuất thế, qua đến mau chóng.
Rửa ráy thân nhơ, nên nguyện chúng sanh, thanh tịnh điều nhu, rốt ráo không nhơ.
Xối nước trên tay, nên nguyện chúng sanh, được tay thanh tịnh, thọ trì Phật pháp.
Dùng nước rửa mặt, nên nguyện chúng sanh, được tịnh pháp môn, trọn không nhơ bợn.
Tay cầm tích trượng, nên nguyện chúng sanh, lập hội bố thí, bày đạo như Phật.
Tay cầm ứng khí, nên nguyện chúng sanh, thành tựu pháp khí, thọ trời người cúng.
Bước chân lên đường, nên nguyện chúng sanh, đến chỗ Phật đi, vào nơi vô y.
Nếu ở nơi đường, nên nguyện chúng sanh, hay đi đường Phật, hướng pháp vô dư.
Theo đường mà đi, nên nguyện chúng sanh, noi tịnh pháp giới, tâm không chướng ngại.
Thấy lên đường cao, nên nguyện chúng sanh, khỏi hẳn ba cõi, tâm không khiếp nhược.
Thấy xuống đường thấp, nên nguyện chúng sanh, tâm ý khiêm hạ lớn căn lành Phật.
Thấy đường quanh co, nên nguyện chúng sanh, bỏ đạo bất chánh, trừ hẳn ác kiến.
Nếu thấy đường thẳng, nên nguyện chúng sanh, tâm ý chánh trực, không dau không dối.
Thấy đường nhiều bụi, nên nguyện chúng sanh, xa lìa bụi bặm, được pháp thanh tịnh.
Thấy đường không bụi, nên nguyện chúng sanh, thường tu đại bi, tâm ý nhuần thấm.
Nếu thấy đường hiểm, nên nguyện chúng sanh, trụ chánh pháp giới, lìa những tội nạn.
Nếu thấy chúng hội, nên nguyện chúng sanh, nói pháp thậm thâm, tất cả hòa hiệp.
Nếu thấy trụ lớn, nên nguyện chúng sanh, lìa tâm chấp ngã, không có phẩn hận.
Nếu thấy tòng lâm, nên nguyện chúng sanh, chư thiên và nhơn, chỗ nên kính lễ.
Nếu thấy núi cao, nên nguyện chúng sanh, căn lành siêu thoát, không thể tột đảnh.
Lúc thấy cây gai, nên nguyện chúng sanh, chóng được cắt bỏ, những gai tam độc.
Thấy cây lá rậm, nên nguyện chúng sanh, dùng định giải thoát, để làm che chói.
Nếu thấy hoa nở, nên nguyện chúng sanh, các pháp thần thông, như hoa đua nở.
Nếu thấy cây hoa, nên nguyện chúng sanh, tướng tốt như hoa, đủ ba mươi hai.
Nếu thấy trái hột, nên nguyện chúng sanh, được pháp tối thắng, chứng đạo bồ đề.
Nếu thấy sông lớn, nên nguyện chúng sanh, được dự pháp lưu, vào Phật trí hải.
Nếu thấy bờ đầm, nên nguyện chúng sanh, chóng ngộ diệu pháp, nhứt vị của  Phật.
Nếu thấy ao hồ, nên nguyện chúng sanh, ngữ nghiệp hoàn toàn, hay khéo diễn thuyết.
Nếu thấy giếng nước, nên nguyện chúng sanh, đầy đủ biện tài, diễn tất cả pháp.
Nếu thấy suối chảy, nên nguyện chúng sanh, thêm lớn phương tiện, thiện căn vô tận.
Nếu thấy kiều lộ, nên nguyện chúng sanh, rộng độ tất cả, dường như cầu đò.
Nếu thấy nước chảy, nên nguyện chúng sanh, được ý nguyện lành, rửa nhơ phiền não.
Thấy dọn vườn tược, nên nguyện chúng sanh, trong vườn ngũ dục, dọn sạch cỏ ái.
Thấy rừng vô ưu, nên nguyện chúng sanh, lìa hẳn tham ái, chẳng còn lo sợ.
Nếu thấy công viên, nên nguyện chúng sanh, siêng tu hạnh lành, đến Phật bồ đề.
Thấy người nghiêm sức, nên nguyện chúng sanh, trang nghiêm thân đẹp, ba mươi hai tướng.
Thấy không nghiêm sức, nên nguyện chúng sanh, bỏ những trang sức, đủ hạnh đầu đà.
Thấy người ham vui, nên nguyện chúng sanh, vui nơi chánh pháp, ưa thích chẳng bỏ.
Thấy không ham vui, nên nguyện chúng sanh, trong sự hữu vi, lòng không ưa thích.
Thấy người vui sướng, nên nguyện chúng sanh, thường được an vui, thích cúng dường Phật.
Thấy người khổ não, nên nguyện chúng sanh, được căn bổn trí, dứt trừ sự khổ.
Thấy người mạnh khoẻ, nên nguyện chúng sanh, vào chơn thật huệ, trọn không bịnh khổ.
Thấy người tật bịnh, nên nguyện chúng sanh, biết thân không tịch, lìa sự tranh cãi.
Thấy người xinh đẹp, nên nguyện chúng sanh, với Phật Bồ Tát, thường kính thường tin.
Thấy người xấu xí, nên nguyện chúng sanh, với điều bất thiện, chẳng ưa chẳng thích.
Thấy người báo ơn, nên nguyện chúng sanh, với Phật Bồ Tát, hay biết ơn đức.
Thấy người bội ơn, nên nguyện chúng sanh, với kẻ làm ác, chẳng trả thù oán.
Nếu thấy sa môn, nên nguyện chúng sanh, điều nhu tịch tịnh, rốt ráo đệ nhứt.
Thấy bà la môn, nên nguyện chúng sanh, giữ trọn phạm hạnh, lìa tất cả ác.
Thấy người khổ hạnh, nên nguyện chúng sanh, y nơi khổ hạnh, đến bực rốt ráo.
Thấy người hạnh tốt, nên nguyện chúng sanh, giữ bền chí hạnh, chẳng bỏ Phật đạo.
Thấy mặc giáp trụ, nên nguyện chúng sanh, thường mặc giáp lành, đến pháp vô sư.
Thấy không võ trang, nên nguyện chúng sanh, lìa hẳn tất cả, những nghiệp bất thiện.
Thấy người luận nghị, nên nguyện chúng sanh, đều dẹp pháp được, tất cả dị luận.
Thấy người chánh mạng, nên nguyện chúng sanh, được mạng thanh tịnh, không dối giả dạng.
Nếu thấy quốc vương, nên nguyện chúng sanh, được làm pháp vương, thường chuyển chánh pháp.
Nếu thấy vương tử, nên nguyện chúng sanh, từ pháp hóa sanh, mà làm Phật tử.
Nếu thấy trưởng giả, nên nguyện chúng sanh, xét đoán sáng suốt, chẳng làm điều ác.
Nếu thấy đại thần, nên nguyện chúng sanh, hằng giữ chánh niệm, tập làm điều thiện.
Nếu thấy thành quách, nên nguyện chúng sanh, được thân kiên cố, tâm không hèn nhát.
Nếu thấy kinh đô, nên nguyện chúng sanh, công đức đồng nhóm, lòng luôn vui vẻ.
Thấy ở rừng vắng, nên nguyện chúng sanh, đáng được trời người, ca ngợi kính ngưỡng.
Vào xóm khất thực, nên nguyện chúng sanh, nhập thâm pháp giới, tâm không chướng ngại.
Đến cửa nhà người, nên nguyện chúng sanh, vào trong tất cả, cửa nhà Phật pháp.
Vào nhà người rồi, nên nguyện chúng sanh, được vào Phật thừa, ba thời bình đẳng.
Thấy không thí xả, nên nguyện chúng sanh, thường chẳng bỏ rời, pháp công đức lớn.
Thấy người thí xả, nên nguyện chúng sanh, được bỏ lìa hẳn khổ ba ác đạo.
Nếu thấy bát không, nên nguyện chúng sanh, tâm ý thanh tịnh, trống sạch phiền não.
Nếu thấy bát đầy, nên nguyện chúng sanh, đầy đủ trọn vẹn, tất cả thiện pháp.
Nếu được cung kính, nên nguyện chúng sanh, cung kính tu hành, tất cả Phật pháp.
Chẳng được cung kính, nên nguyện chúng sanh, chẳng làm tất cả những điều bất thiện.
Thấy người hổ thẹn, nên nguyện chúng sanh, đủ hạnh hổ thẹn, che giữ căn thân.
Thấy không hổ thẹn, nên nguyện chúng sanh, lìa bỏ không thẹn, trụ đạo đại từ.
Được thực phẩm ngon, nên nguyện chúng sanh, đều được mãn nguyện, không lòng tham muốn.
Được thực phẩm dở, nên nguyện chúng sanh, ai cũng đều được, pháp vị tam muội.
Được vật thực mềm, nên nguyện chúng sanh, huân tập đại bi, tâm ý nhu nhuyến.
Được vật thực cứng, nên nguyện chúng sanh, tâm không nhiễm trước, dứt hết tham ái.
Nếu lúc ăn cơm, nên nguyện chúng sanh, ăn món thiền duyệt, pháp hỉ no đủ.
Lúc thọ mùi vị, nên nguyện chúng sanh, được Phật hương vị, cam lộ đầy đủ.
Lúc ăn cơm xong, nên nguyện chúng sanh, việc làm đều xong, đủ những Phật pháp.
Nếu lúc thuyết pháp, nên nguyện chúng sanh, biện luận vô tận, tuyên rộng pháp yếu.
Lúc ra khỏi nhà, nên nguyện chúng sanh, thâm nhập Phật trí, khỏi hẳn ba cõi.
Nếu lúc xuống nước, nên nguyện chúng sanh, vào nhứt thiết trí, rõ ba thời đồng.
Tắm rửa thân thể, nên nguyện chúng sanh, thân tâm không nhơ, trong ngoài sáng sạch.
Màu nắng nóng độc, nên nguyện chúng sanh, bỏ lìa khổ não, tất cả đều hết.
Hết nắng vừa mát, nên nguyện chúng sanh, chứng pháp vô thượng, rốt ráo mát mẻ.
Lúc đọc tụng kinh, nên nguyện chúng sanh, thuận lời Phật dạy, tổng trì chẳng quên.
Nếu được thấy Phật, nên nguyện chúng sanh, được vô ngại nhãn, thấy tất cả Phật.
Lúc ngắm kỹ Phật, nên nguyện chúng sanh, đều như Phổ Hiền, xinh đẹp nghiêm tốt.
Lúc thấy thap Phật, nên nguyện chúng sanh, tôn trọng như tháp, thọ trời người cúng.
Cung kính xem pháp, nên nguyện chúng sanh, chư thiên và người, cùng nhau chiêm ngưỡng.
Đảnh lễ tháp Phật, nên nguyện chúng sanh, tất cả trời người, chẳng thấy đảnh được.
Đi nhiễu tháp Phật, nên nguyện chúng sanh, tu hành không trái, thành nhứt thiết trí.
Nhiễu tháp ba vòng, nên nguyện chúng sanh, siêng cầu Phật đạo, lòng không biếng trễ.
Khen công đức Phật, nên nguyện chúng sanh, đều đủ công đức, ca ngợi vô tận.
Khen tướng hảo Phật, nên nguyện chúng sanh, thành tựu Phật thân, chứng pháp vô tướng.
Nếu lúc rửa chân, nên nguyện chúng sanh, đủ sức thần túc, chỗ đi vô ngại.
Ngủ nghỉ phải thời, nên nguyện chúng sanh, thân được an ổn, lòng không động loạn.
Ngủ vừa tỉnh giấc, nên nguyện chúng sanh, tất cả trí giác, ngó khắp mười phương.
Phật tử!  Nếu chư Bồ Tát dụng tâm như vậy thời được tất cả công đức thắng diệu.  Tất cả thế gian: chư thiên, ma, phạm, sa môn, bà la môn, càn thát bà, a tu la, v.v... nhẫn đến tất cả Thanh Văn, Duyên Giác, không thể làm lay động được.

Hết phẩm 11
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 2


Phẩm Tỳ Lô Giá Na
Thứ sáu

Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử!  Quá thế giới vô trần số kiếp về thuở quá khứ, lại quá xấp bội thời gian đó, có thế giới hải tên Phổ Môn Tịnh Quang Minh.
Trong thế giới hải này có thế giới tên Thắng Âm, y biển ma ni võng mà trụ, có tu điều phục sơn vi trần số thế giới bao quanh, hình tròn và bằng phẳng.  Cõi này đủ vô lượng sự trang nghiêm.  Ba trăm lớp bửu thọ luân vi sơn bao bọc.  Những bửu vân giăng che.  Thanh tịnh không nhơ uế, áng sáng rực rỡ.  Thành ấp cung điện như tu di sơn.  Y phục cùng thứ ăn uống tuy niệm hiện đến.  Kiếp đó tên Chủng Chủng Trang Nghiêm.
Chư Phật tử!  Trong cõi Thắng Âm đó có biển Thanh Tịnh Quang Minh Hương Thủy.  Trong biển này có đại liên hoa tu di sơn xuất hiện, tên Hoa Diệm Phổ Trang Nghiêm Tràng, lan can bằng mười chất báu bao vòng.  Trên núi đó có một khu rừng lớn, tên Ma Ni Hoa Chi Luân.  Nơi đây có vô lượng lâu các đẹp,  vô lượng nhà viện báu, vô lượng tràng diệu hương, vô lượng tràng bửu sơn, rất mực trang nghiêm.  Vô lượng bạch liên hoa báu đua nở khắp nơi, vô lượng lưới hương ma ni liên hoa bủa giăng.  Tiếng nhạc hòa vui, hương vân chói sáng, số đều vô lượng không kể hết.
Có tất cả trăm muôn ức na do tha thành bao quanh, nhân dân ở trong đó.
Phía đông của khu rừng có đại thành Diệm Quang Minh, chỗ đóng đô của Nhơn Vương, vòng quanh có trăm muôn ức na do tha thành, ngang rộng đều bảy ngàn do tuần, xây dựng bằng những diệu bửu thanh tịnh, quách bằng bảy báu, những lầu tháp ngừa giặc đều tráng lệ, bảy lớp hào báu đầy những hương thủy, nơi đây hoa sen bốn màu, xanh, vàng, đỏ, trắng, đua nở khoe xinh.  Cây đa la báu bao bọc bảy lớp.  Lâu các cung điện đều bằng châu báu, trên đó lưới báu che giăng.  Hoa hương thơm sáng rải khắp nơi.  Có trăm muôn ức na do tha cửa lớn, đều bằng châu báu.  Trước mỗi cửa đều có bốn mươi chín tràng thi la, bày hàng thứ tự.  Lại có trăm muôn ức khu vườn bao vòng.  Trong đây đều có nhiều loại cây tạp hương, cây ma ni hương, mùi thơm lan khắp nơi.  Bày chim đẹp hòa hót, ai nghe cũng đẹp ý cả.
Trong đại thành này, cư dân không ai là chẳng có sanh đắc thần thông bay đi tự tại, nết hạnh như chư thiên, những vật nhu cầu, theo ý muốn hiện đến.
Kế cận đại thành này về hướng nam, có một thiên thành hiệu Thọ Hoa Trang Nghiêm.
Xoay theo phía hữu của thiên thành, có Đại Long thành tên Cứu Cánh.
Kế đó là dạ xoa thành tên Kim Cang Thắng Diệu Tràng.
Kế đó là càn thát bà thành tên Diệu Cung.
Kế đó là a tu la thành tên Bửu Luân.
Kế đó là ca lâu la thành tên Diệu Bửu Trang Nghiêm.
Kế đó là khẩn na la thành tên Du Hí Khoái Lạc.
Kế đó là ma hầu la thành tên Kim Cang Tràng.
Kế đó là phạm thiên vương thành tên Chủng Chủng Diệu Trang Nghiêm.
Có trăm vạn ức na do tha thành như vậy.  Mỗi thành này đều có trăm vạn ức na do tha lâu các trang nghiêm vô lượng.
Chư Phật tử!  Trong khu rừng lớn Ma Ni Hoa Chi Luân này có một đạo tràng tên Bửu Hoa Biến Chiếu, dùng những châu báu trang nghiêm khắp nơi.  Hoa báu ma ni đua nở một chỗ.  Thắp hương đăng đủ những màu báu đẹp.  Mây sáng giăng che, lưới sáng rực rỡ.  Những vật trang nghiêm luôn sản xuất diệu bửu.  Tất cả nhạc khí thường tấu tiếng hòa nhã.  Châu Ma Ni Vương hiện thân Bồ Tát.  Các loại hoa đẹp cùng khắp mười phương.
Trước đạo tràng đó có một biển to tên Hương Ma Ni Kim Cang, có đại liên hoa tên Hoa Nhuỵ Diệm Luân.  Hoa đó rộng lớn trăm ức do tuần.  Cọng, cánh, tua, gương đều bằng diệu bửu.  Mười bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha liên hoa bao quanh.  Thường phóng quang minh, luôn vang tiếng diệu, khắp đến mười phương.
Chư Phật tử!  Thế giới Thắng Âm, trong kiếp tối sơ, có mười tu di sơn vi trần số Như Lai ra đời.  Đệ nhứt là đức Nhất Thiết Công Đức Sơn Tu Di Thắng Vân.
Chư Phật tử!  Trước lúc đức Phật đó xuất thế một trăm năm, trong rừng Ma Ni Hoa Chi Luân, tất cả đều trang nghiêm thanh tịnh.  Những là xuất hiện mây bửu diệu, vang tiếng ca ngợi công đức của Phật, diễn nói âm thinh của vô số Phật.  Phóng ánh sáng như lưới giăng che mười phương.  Cung điện lầu các chiếu sáng lẫn nhau.  Hoa báu sáng bay nhóm thành mây.  Lại vang ra tiếng vi diệu trình bày căn lành quảng đại của chúng sanh tu hành từ thuở trước, kể danh hiệu của tam thế chư Phật, thuật đạo cứu cánh và hạnh nguyện của Bồ Tát tu hành, nói những lời của Như Lai chuyển pháp luân.
Hiện ra những tướng trang nghiêm như vậy, để ứng điềm đức Như Lai xuất thế.   Tất cả vua chúa trong thế giới Thắng Âm, vì thấy nghe những tướng trang nghiêm đó nên căn lành được thành thục, đều muốn gặp Phật mà đến đạo tràng.
Lúc đó trong đại liên hoa nơi đạo tràng, đức Nhứt Thiết Công Đức Sơn Tu Di Thắng Vân Phật thoạt xuất hiện, đủ tướng báu tốt, vô biên diệu sắc thanh tịnh.
Tất cả cung điện đều hiện bóng Phật.  Tất cả chúng sanh đều được thấy Phật. 
Từ nơi thân Phật xuất hiện vô biên Hóa Phật, nhiều loại màu sắc sáng rỡ khắp pháp giới.  Trong thế giới Thắng Âm có sáu mươi tám ngàn ức Tu Di sơn, Phật đều hiện thân ngồi trên đảnh núi, như hiện đang ngự trên bửu tọa tại rừng Ma Ni Hoa Chi Luân.
Đức Phật phóng bạch hào quang, quang minh này tên Phát Khởi Nhứt Thiết Thiện Căn Âm, kèm theo mười phật sát vi trần số quang minh, chiếu khắp cả quốc độ ở mười phương.
Nếu có chúng sanh đáng được điều phục, thời áng sánh đó chiếu đến họ, liền được tự khai ngộ, dứt phiền não, phá lưới mê, xô ngã núi chướng, sạch cấu trược, phát tín giải lớn, sanh thiện căn thù thắng, lìa hẳn tất cả nạn khủng bố, diệt trừ tất cả khổ não nơi thân tâm, khởi tâm thấy Phật, hướng đến nhứt thiết trí.
Bấy giờ tất cả vua chúa cùng vô lượng trăm ngàn quyến thuộc, nhờ quang minh của Phật khai giác nên đều đến chỗ Phật ngự, đầu mặt lạy chân Phật.
Chư Phật tử!  Trong đại thành Diệm Quang Minh, quốc vương Hỷ Kiến Thiện Huệ thống lãnh cả trăm vạn ức na do tha thành.  Phu nhân Phước Kiết Tường làm thượng thủ bất khả thuyết vạn bảy ngàn phu nhân thể nữ.  Thái tử Đại Oai Quang làm thượng thủ trong năm trăm vương tử.  Thái tử có một vạn phu nhân và Diệu Kiến phu nhân là thượng thủ.
Khi đã được thấy quang minh của Phật, nhờ sức tu căn lành từ trước, Thái tử Đại Oai Quang liền chứng được mười pháp môn:  Một là môn chư Phật công đức luân tam muội.  Hai là môn chư Phật pháp phổ môn đà la ni.  Ba là môn Quảng đại phương tiện tạng bát nhã ba la mật.  Bốn là môn Điều phục chúng sanh đại trang nghiêm đại từ.  Năm là môn Phổ vân âm đại bình đẳng.  Sáu là môn Sanh vô biên công đức tối thắng tâm đại hỉ.  Bảy là môn Như thật giác ngộ nhứt thiết pháp đại xả.  Tám là môn Quảng đại phương tiện bình đẳng tạng đại thần thông.  Chín là môn Tăng trưởng tín giải lực đại nguyện.  Mười là môn Phổ nhập nhứt thiết trí quang minh biện tài.
Lúc đó, Đại Oai Quang Thái tử thừa oai lực của Phật, quan sát khắp đại chúng, rồi nói kệ rằng:
Thế Tôn ngồi đạo tràng
Đại quang minh thanh tịnh
Như ngàn mặt nhật mọc
Chiếu khắp cõi hư không.
Vô lượng ức ngàn kiếp
Phật mới hiện một lần
Nay Phật hiện ra đời
Mọi người đều mến kính.
Xem trong quang minh Phật
Hóa Phật bất tư nghì
Trong tất cả cung điện
Tịch tịch mà chánh thọ.
Hãy xem thần thông Phật
Chân lông tuôn mây sáng
Chói rực cả thế gian
Quang minh vô cùng tận.
Hãy nhìn xem thân Phật
Lưới sáng rất thanh tịnh
Hiện hình đồng tất cả
Cùng khắp đến mười phương.
Diệu âm khắp thế gian
Ai nghe cũng vui đẹp
Tùy theo tiếng chúng sanh
Ca ngợi công đức Phật.
Phật quang chiếu đến đâu
Chúng sanh đều an lạc
Khổ não đều dứt trừ
Trong lòng rất mừng rỡ.
Hãy xem chúng Bồ Tát
Mười phương đến đạo tràng
Đều phóng mây báu đẹp
Hiện tiền ca ngợi Phật.
Đạo tràng vang diệu âm
Tiếng đó rất sâu xa
Hay dứt khổ chúng sanh
Đây là thần lực Phật.
Chúng hội đều cung kính
Lòng họ rất mừng vui
Đồng ở trước Thế Tôn
Chiêm ngưỡng đấng Vô Thượng.
Chư Phật tử!  Lúc Thái tử Đại Oai Quang nói kệ, do thần lực của Phật, tiếng của Thái tử vang khắp thế giới Thắng Âm.
Quốc vương Hỉ Kiến Thiện Huệ, sau khi nghe lời kệ, rất vui mừng.  Nhà vua quan sát các quyến thuộc rồi nói kệ rằng:
Hỡi tất cả chư Vương
Vương tử và đại thần
các tể quan thành ấp
Phải mau họp lại đây!
Phổ cáo trong các thành
Mau đánh trống truyền rao
Họp tất cả mọi người
Đồng đến ra mắt Phật!
Tất cả các nẻo đường
Đều phải rung lạc báu
Dắt vợ con quyến thuộc
Đồng đến lễ Như Lai.
Tất cả các thành quách
Phải sửa sang sạch sẽ
Khắp nơi dựng tràng phan
Nghiêm sức bằng châu ngọc!
Mành lưới báu che giăng
Kỹ nhạc bủa như mây
Trang nghiêm giữa hư không
Mọi nơi phải đầy đủ!
Đường xá phải dọn sạch
Y phục phải đẹp xinh
Ngồi trên xe báu tốt
Cùng ta đồng đến Phật!
Mỗi người tùy tự lực
Rải những vật trang nghiêm
Rợp trời như mây che
Cùng khắp cả không gian!
Lửa thơm, lọng liên hoa
Chuỗi ngọc hình bán nguyệt
Và nhiều y phục đẹp
Mọi người nên đồng rải!
Đem nhiều thứ nước thơm
Luân ma ni thượng diệu
Và chiên đàn thanh tịnh
Đều rải đầy hư không!
Những hoa báu chuỗi ngọc
Trang nghiêm sạch không nhơ
Cùng với đèn ma ni
Đều treo ở trên không!
Mọi người hướng phía Phật
Lòng đều rất vui mừng
Cùng vợ con quyến thuộc
Đến ra mắt Thế Tôn.
Lúc đó, Quốc vương Hỉ Kiến Thiện Huệ cùng Phu nhân, vương tử, đại thần và quyến thuộc, bảy mươi bảy trăm ngàn ức na do tha người đồng ra khỏi thành Diệm Quang, thừa phước lực của Quốc vương, bay trên không mà đi.  Những đồ cúng dường đầy khắp hư không.  Khi đến đạo tràng, đại chúng đồng lễ Phật rồi ngồi qua một phía.
Thiên Vương Thiện Hóa Tràng ở thành Diệu Hoa cùng với quyến thuộc mười ức na do tha đồng câu hội.
Long Vương Tịnh Quang ở thành Cứu Cánh cùng với hai mươi lăm ức quyến thuộc câu hội.
Dạ Xoa Vương Mãnh Kiện ở thành Kim Cang Thắng Tràng cùng quyến thuộc bảy mươi bảy ức câu hội.
Càn Thát Bà Vương Hỉ Kiến ở thành Vô Cấu cùng chín mươi bảy ức quyến thuộc câu hội.
A Tu La Vương Tịnh Sắc Tư Duy ở thành Diệu Luân cùng năm mươi tám ức quyến thuộc câu hội.
Ca Lâu La Vương Thập Lực Hành ở thành Diệu Trang Nghiêm cùng chín mươi chín ngàn quyến thuộc câu hội.
Khẩn Na La Vương Kim Cang Đức ở thành Du Hí Khoái Lạc cùng mười tám ức quyến thuộc câu hội.
Ma Hầu La Già Vương Bửu Xưng Tràng ở thành Kim Cang Tràng cùng bất khả thuyết ức trăm ngàn na do tha quyến thuộc câu hội.
Phạm Vương Tối Thắng ở thành Tịnh Diệu Trang Nghiêm cùng mười tám ức quyến thuộc câu hội.
Trong trăm vạn nức na do tha đại thành như vậy, tất cả chư vương cùng với quyến thuộc đồng đến đạo tràng đảnh lễ đức Nhứt Thiết Công Đức Sơn Tu Di Thắng Vân Như Lai, rồi ngồi qua một phía.
Lúc đó, vì muốn điều phục các chúng sah, đức Thắng Vân Như Lai ở trong hải hội đạo tràng diễn thuyết khế kinh Phổ Tập Tam Thế Chư Phật Tự Tại Pháp, cùng với thế giới vi trần số khế kinh khác.  Tùy tâm chúng sanh đều khiến được lợi ích.
Đại Oai Quang Bồ Tát, sau khi nghe pháp này, liền chứng được pháp hải quang minh của đức Phật Thắng Vân đã tích tập từ đời trước.  Những là:  Chứng được trí quang minh tất cả pháp tụ bình đẳng tam muội, trí quang minh tất cả pháp đều vào trụ trong tâm bồ đề tối sơ, trí quang minh thập phương pháp giới phổ quang minh tạng thanh tịnh nhãn, trí quang minh quan sát tất cả Phật pháp đại nguyện hải, trí quang minh vào vô biên công đức hải thanh tịnh hạnh, trí quang minh hướng đến bất thối chuyển đại lực tốc tật tạng, trí quang minh sức vô lượng biến hóa trong pháp giới xuất ly luân, trí quang minh quyết định vào biển vô lượng công đức viên mãn, trí quang minh rõ biết biển thần thông hiện trước tất cả chúng sanh của vô biên Phật trong pháp giới, trí quang minh rõ biết pháp lực vô sở úy của chư Phật.
Đại Oai Quang Bồ Tát được vô lượng trí quang minh như vậy rồi, thừa oai lực của Phật mà nói kệ rằng:
Tôi nghe Phật pháp vi diệu
Mà được trí quang minh
Do đây thấy Thế Tôn
Việc đã làm thuở trước.
Tất cả chỗ sanh ra
Danh diệu thân sai khác
Và cúng dường nơi Phật
Như vậy tôi đều thấy.
Thuở xưa chỗ chư Phật
Đều kính thờ tất cả
Vô lượng kiếp tu hành
Nghiêm tịnh các thế giới.
Thí xả chính thân mình
Quảng đại không ngằn mé
Tu tập hạnh tối thắng
Nghiêm tịnh các quốc độ.
Tai, mũi, đầu, tay, chân
Và đến những cung điện
Thí xả số vô lượng
Nghiêm tịnh các sát hải.
Nơi mỗi mỗi thế giới
Ức kiếp bất tư nghì
Tu tập hạnh bồ đề
Nghiêm tịnh các thế giới.
Phổ Hiền đại nguyện lực
Trong tát cả chư Phật
Tu hành vô lượng hạnh
Nghiêm tịnh các quốc độ.
Như nhân nhật quang chiếu
Trở lại thấy mặt trời
Tôi do Phật trí quang
Thấy đạo của Phật làm.
Tôi xem Phật sát hải
Thanh tịnh rất sáng suốt
Tịch tịnh chứng bồ đề
Pháp giới đều cùng khắp.
Tôi sẽ như Thế Tôn
Nghiêm tịnh các sát hải
Nhờ oai thần của Phật
Tu tập hạnh bồ đề.
Chư Phật tử!  Lúc đó, Đại Oai Quang Bồ Tát do thấy và cúng dường đức Phật Nhứt Thiết Công Đức Tu Di Thắng Vân, nên tâm được tỏ ngộ, rồi vì thế gian mà hiển thị hạnh hải thuở xưa của Như Lai, hiển thị phương tiện tu hành của Bồ Tát thuở xưa, hiển thị trí thanh tịnh vào khắp tất cả pháp giới, hiển thị sức thành Phật tự tại trong tất cả đạo tràng, hiển thị lực vô sở úy trí vô sai biệt của Phật, hiển thị khắp thị hiện thân Như Lai, hiển thị thần biến bất khả tư nghì của Phật, hiển thị trang nghiêm thanh tịnh vô lượng Phật độ, hiển thị những hạnh nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát.
Vì thế gian hiển thị như vậy khiến tu di sơn vi trần số chúng sanh phát bồ đề tâm.  Phật sát vi trần số chúng sanh thành tựu Như Lai thanh tịnh quốc độ.
Lúc đó, Nhứt Thiết Công Đức Sơn Tu Di Thắng Vân Như Lai, vì Đại Oai Quang Bồ Tát mà nói kệ rằng:
Lành thay Đại Oai Quang
Phước tạng danh tiếng lớn
Vì lợi ích chúng sanh
Hướng đến bồ đề đạo.
Ông được trí quang minh
Pháp giới đều đầy khắp
Phước huệ đều rộng lớn
Sẽ được biển trí sâu.
Trong một cõi tu hành
Trải qua sát trần kiếp
Như ông thấy nơi Phật
Sẽ được trí như vậy.
Chẳng phải kẻ hạnh kém
Biết được phương tiện này
Được sức đại tinh tấn
Mới tịnh sát hải được.
Trong mỗi mỗi vi trần
Tu hành vô lượng kiếp
Người đó mới làm được
Trang nghiêm các Phật độ.
Vì mỗi mỗi chúng sanh
Luân hồi trải kiếp hải
Trong lòng chẳng nhàm mỏi
Sẽ thành Đại Đạo Sư.
Cúng dường mỗi mỗi Phật
Cùng tận thuở vị lai
Lòng không chút nhàm mỏi
Sẽ thành vô lượng đạo.
Tam thế tất cả Phật
Sẽ khiến ông toại nguyện
Trong tất cả Phật hội
Thân ông đều ở đó.
Tất cả chư Như Lai
Thệ nguyện vô lượng biên
Người đại trí thông đạt
Biết được phương tiện này.
Đại Quang cúng dường Phật
Nên được oai lực lớn
Khiến trần số chúng sanh
Thành thục hướng bồ đề.
Người tu hạnh Phổ Hiền
Bồ Tát tiếng tăm lớn
Trang nghiêm Phật sát hải
Pháp giới đều cùng khắp.
Chư Phật tử!  Trong kiếp Đại Trang Nghiêm đó, có hằng hà sa số tiểu kiếp, loài người thọ hai tiểu kiếp.
Chư Phật tử!  Đức Nhứt Công Đức Sơn Tu Di Thắng Vân Phật thọ năm mươi ức tuổi.  Sau khi đức Phật đây diệt độ, thời đức Ba La Mật Thiện Nhãn Trang Nghiêm Vương Phật ra đời, cũng thành chánh giác nơi đạo tràng ở rừng Ma Ni Hoa Chi Luân.
Lúc đó, Đại Oai Quang đồng tử thấy đức Thiện Nhãn Trang Nghiêm Vương thành Phật hiện thần thông, liền chứng được niệm Phật tam muội tên Vô Biên Hải Tạng Môn, và được đà la ni tên đại trí lực pháp uyên, được đại từ tên Phổ tùy chúng sanh điều phục độ thoát, được đại bi tên Biến phú nhứt thiết cảnh giới vân, được đại hỉ tên Nhứt thiết Phật công đức hải oai lực tạng, được đại xả tên Pháp tánh hư không bình đẳng thanh tịnh, được bát nhã ba la mật tên Tự tánh ly cấu pháp giới thanh tịnh thân, liền được thần thông tên Vô ngại quang phổ tùy hiện, được biện tài Thiện nhập ly cấu uyên, và được trí quang tên Nhứt thiết Phật pháp thanh tịnh tạng.  Được thông đạt mười ngàn pháp môn như vậy.
Đại Oai Quang đồng tử, thừa oai lực của Phật, vì các quyến thuộc mà nói kệ rằng:
Trong số bất tư nghì ức kiếp
Đấng Đại Đạo Sư khó gặp gỡ
Cõi này chúng sanh nhiều lợi hành
Nên nay được thấy đệ nhị Phật.
Thân Phật khắp phóng đại quang minh
Sắc tướng vô biên rất thanh tịnh
Như mây đầy khắp tất cả cõi
Mọi nơi ca ngợi công đức Phật.
Phật quang chiếu đến đều hoan hỷ
Chúng sanh có khổ đều trừ diệt
Đều khiến cung kính khởi từ tâm
Đây là Như Lai tự tại dụng.
Tuôn mây biến hóa bất tư nghì
Phóng lưới quang minh vô lượng sắc
Mười phương thế giới đều đầy khắp
Đây thần thông của Phật biến hiện.
Mỗi chân lông Phật hiện mây sáng
Chiếu khắp hư không vang tiếng lớn
Những nơi tối tăm đều chiếu đến
Những khổ địa ngục đều trừ diệt.
Như Lai diệu âm khắp mười phương
Tất cả ngôn âm đều diễn đủ
Tuỳ các chúng sanh có thiện nghiệp
Đây là thần biến của đức Phật.
Vô lượng vô biên đại chúng hải
Trong các pháp hội Phật đều hiện
Khắp chuyển vô tận diệu pháp luân
Tất cả chúng sanh được điều phục.
Thần thông của Phật vốn vô biên
Trong tất cả cõi đều xuất hiện
Phật trí như vậy thường vô ngại
Vì độ chúng sanh thành chánh giác.
Đại chúng nên sanh lòng vui mừng
Hớn hở mến ưa rất kính trọng
Ta sẽ cùng nhau đồng đến Phật
Nếu thấy Như Lai tất hết khổ.
Phát tâm hồi chướng đến bồ đề
Xót thương tất cả các chúng sanh
Trụ nơi Phổ Hiền nguyện rộng lớn
Sẽ như Pháp Vương được tự tại.
Nhờ thần lực của đức Phật, nên tiếng kê của Đại Oai Quang đồng tử được vô ngại.  Tất cả thế giới đều được nghe.  Vô lượng chúng sanh phát bồ đề tâm.
Đại Oai Quang đồng tử cùng Vương phụ, vương mẫu và quyến thuộc, với vô lượng trăm ngàn ức na do tha chúng sanh giăng lọng báu như mây, cùng đến đạo tràng Phật Ba La Mật Thiện Nhãn Trang Nghiêm Vương.
Đức Phật vì đại chúng này diễn thuyết nói khế kinh Pháp tánh thanh tịnh trang nghiêm, cùng với thế giới hải vi trần số khế kinh.
Đại chúng này, sau khi nghe kinh, được trí thanh tịnh, được vào tất cả phương tiện thanh tịnh, được bậc Ly Cấu Quang Địa, được môn ba la mật Thị hiện nhứt thiết thế gian ái nhạo trang nghiêm, được môn tăng quảng hạnh Phổ nhập nhứt thiết sát độ vô biên quang minh thanh tịnh kiến, được môn thu hướng hạnh Ly cấu phước đức vân quang minh tràng, được môn tùy nhập chứng Nhứt thiết pháp hải quảng đại quang minh, được hạnh chuyển thâm phát thu tên Đại trí trang nghiêm, được quán đảnh trí tên Vô công dụng tu cực diệu kiến, được đại quang minh hiển liễn tên Như Lai công đức hải tướng quang ảnh biến chiếu, được nguyện lực trí tên Vô lượng nguyện lực tín giảng tạng.
Đức Thiện Nhãn Trang Nghiêm Vương Phật vì Đại Oai Quang Bồ Tát mà nói kệ rằng:
Lành thay biển công đức trí huệ
Phát tâm thu hướng đại bồ đề
Ông sẽ thành Phật bất tư nghì
Khắp vì chúng sanh làm chỗ tựa.
Ông đã xuất sanh biển đại trí
Đều hay rõ khắp tất cả pháp
Sẽ dùng vô lượng diệu phương tiện
Vào cảnh vô tận của Phật làm.
Đã thấy mây công đức của Phật
Đã vào bậc trí huệ vô tận
Các biển phương tiện ba la mật
Bậc danh hiệu lớn sẽ đầy đủ.
Đã được môn phương tiện tổng trì
Cùng với môn biện tài vô tận.
Bao nhiêu hạnh nguyện đều tu tập
Sẽ thành vô thượng đại trí huệ.
Ông đã xuất sanh những nguyện hải
Ông đã vào nơi tam muội hải
Sẽ đủ các môn đại thần thông
Bất khả tư nghì các Phật pháp.
Pháp giới rốt ráo bất tư nghì
Thâm tâm rộng lớn đã thanh tịnh
Thấy khắp mười phương tất cả Phật
Ly cấu trang nghiêm các sát hải.
Ông đã vào hạnh bồ đề Phật
Thuở xưa bổn sự biển phương tiện
Như Phật tu hành chỗ dứt trừ
Diệu hạnh như vậy ông đều ngộ.
Phật ở vô lượng trong mỗi cõi
Nhiều thứ cúng dường vô lượng Phật
Như Phật tu hành đã chứng quả
Trang nghiêm như vậy ông đều thấy.
Kiếp hải rộng lớn vô cùng tận
Trong tất cả cõi tu tịnh hạnh
Thệ nguyện kiên cố không thể lường
Sẽ được thần thông lực của Phật.
Cúng dường chư Phật không thiếu sót
Quốc độ trang nghiêm đều thanh tịnh
Trong tất cả kiếp tu diệu hạnh
Ông sẽ thành Phật đại công đức.
Chư Phật tử!  Sau khi đức Ba La Mật Thiện Nhãn Trang Nghiêm Vương Phật nhập niết bàn, quốc vương Hỉ Kiến Thiện Huệ cũng băng hà.  Đại Oai Quang đồng tử lên ngôi Chuyển Luân Vương.
Lúc đó, nơi đạo tràng ở rừng Ma Ni Hoa Chi Luân, đức Phật thứ xuất thế hiệu là Tối Thắng Công Đức Hải.
Đại Oai Quang Vương cùng quyến thuộc, nhân dân đồng đến chỗ Phật ngự đem lâu các trang nghiêm lớn dâng cúng Phật.
Đức Phật diễn nói khế kinh Bồ Tát Phổ Nhãn Quang Minh Hạnh, và thế giới vi trần số khế kinh khác.
Đại Oai Quang Vương, sau khi nghe kinh, được tam muội tên Đại phước đức phổ quang minh.  Do được tam muội này nên có thể rõ biết biển phước cũng chẳng phải phước thuở quá khứ, hiện tại, vị lai của tất cả Bồ Tát và tất cả chúng sanh.
Lúc đó, đức Phật vì Đại Oai Quang Vương mà nói kệ rằng:
Lành thay Đại Oai Quang phước đức
Các ông nay đến chỗ Phật ngự
Xót thương tất cả chúng sanh hải
Phát tâm bồ đề thắng đại nguyện.
Ông vì tất cả chúng sanh khổ
Khởi tâm đại bi khiến giải thoát
Sẽ làm chỗ tựa cho quần mê
Đây gọi phương tiện của Bồ Tát.
Nếu có Bồ Tát hay kiên cố
Tu những thắng hạnh không nhàm mỏi
Trí giải vô ngại tối thượng thắng
Diệu trí như vậy đó sẽ được.
Đấng phước đức quang, đấng phước tràng
Bậc phước đức xứ, bậc phước hải
Phổ Hiền Bồ Tát những hạnh nguyện
Chính Đại Oai Quang hay chứng nhập.
Ông đem được nguyện rộng lớn này
Vào biển bất tư nghì của Phật
Phước hải chư Phật vốn vô biên
Ông dùng diệu giải đều thấy được.
Ông ở trong thập phương quốc độ
Đều thấy vô lượng vô biên Phật
Chư Phật thuở xưa chỗ tu hành
Tất cả như vậy ông đều thấy.
Nếu ai trụ nơi phương tiện này
Tất cả được vào nơi trong trí địa
Đây là tuỳ thuận chư Phật học
Quyết định sẽ thành nhứt thiết trí.
Ông ở trong tất cả sát hải
Vi trần kiếp hải tu các hạnh
Tất cả Như Lai những hạnh hải
Ông đều đã học sẽ thành Phật.
Như ông đã thấy trong mười phương
Tất cả sát hải rất nghiêm tịnh
Cõi ông nghiêm tịnh cũng như vậy
Vô biên nguyện lớn đều sẽ được.
Nay đây chúng hội đạo tràng này
Nghe ông phát nguyện đều mừng rỡ
Đều vào nguyện lớn của Phổ Hiền
Phát tâm hồi hướng bồ đề đạo.
Vô biên quốc độ trong mỗi cõi
Đều vào tu hành trải kiếp hải
Bởi những nguyện lực được viên mãn
Phổ Hiền Bồ Tát tất cả hạnh.
Chư Phật tử!  Trong đạo tràng Ma Ni Hoa Chi Luân, sau đó lại có Phật xuất thế hiệu là Danh Xưng Phổ Văn Liên Hoa Nhãn Tràng, Đại Oai Quang Vương băng hà trong thời kỳ này, rồi sanh trong thiên thành Tịch Tịnh Bửu Cung trên núi Tu Di, làm đại thiên vương hiệu là Ly Cấu Phước Đức Tràng, cùng thiên chúng đồng đến chỗ Phật rải hoa báu cúng dường.
Lúc đó, đức Phật Danh Xưng Phổ Văn Liên Hoa Nhãn Tràng, vì thiên vương mà diễn nói khế kinh Quảng Đại Phương Tiện Phổ Môn Biến Chiếu, và thế giới hải vì trần số khế kinh khác.
Nghe kinh xong, thiên vương và thiên chúng được tam muội tên Phổ Môn Hoan Hỉ Tạng.  Do sức tam muội nên được nhập thật tướng hải của tất cả pháp.  Sau đó thiên vương và thiên chúng lễ Phật, rời đạo tràng trở về bổn cung."

Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 2


Phẩm Như Lai danh hiệu
Thứ bảy

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn ở nước Ma Kiệt Đề, trong đạo tràng bồ đề, sơ thỉ thành chánh giác, nơi điện Phổ Quang Minh, ngồi trên tòa liên hoa tạng sư tử, diệu ngộ đều viên mãn, tuyệt hẳn hai hạnh, đạt pháp vô tướng, an trụ nơi chỗ trụ của chư Phật, được Phật bình đẳng, đến chỗ vô chướng, chỗ làm vô ngại, đứng nơi bất tư nghì, thấy khắp tam thế.
Cùng với mười phật sát vi trần số chư Bồ Tát câu hội, tất cả đều là bậc nhứt sanh bổ xứ, từ phương khác đồng vân tập đến, đều khéo quan sát chúng sanh giới, pháp giới, thế giới, niết bàn giới, các nghiệp quả báo, tâm hành thứ đệ, tất cả văn nghĩa thế gian, xuất thế gian, hữu vi trần, vô vi, quá khứ, hiện tại, vị lai, những pháp như vậy đều khéo quan sát cả.
Chư Bồ Tát nghĩ rằng: nếu đức Thế Tôn có lòng mẫn niệm chúng tôi, xin tùy theo sự ưa thích mà khai thị những điều:  Phật sát, phật trụ, phật sát trang nghiêm, phật pháp tánh, phật sát thanh tịnh, phật thuyết pháp, phật sát thể tánh, phật oai đức, phật sát thành tựu, phật đại bồ đề.
Như chư Phật Thế Tôn trong thập phương thế giới, vì thành tựu tất cả Bồ Tát, vì khiến chúng tánh Như Lai không dứt, vì cứu hộ tất cả chúng sanh, vì khiến chúng sanh lìa tất cả phiền não, vì rõ tất cả công hạnh, vì diễn thuyết các pháp, vì dứt trừ tất cả tạp nhiễm, vì dứt hẳn tất cả lưới nghi, vì trừ bỏ tất cả tham vọng, vì hoại diệt tất cả chỗ ái trước, mà diễn nói thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập tạng, thập địa, thập nguyện, thập định, thập thông, thập đảnh của Bồ Tát.  Và cũng diễn nói Như Lai địa, Như Lai cảnh giới, Như Lai thần lực, Như Lai vô úy, Như Lai tam muội, Như Lai thần thông, Như Lai tự tại, Như Lai vô ngại, nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý của Như Lai, Như Lai biện tài, Như Lai trí huệ, Như Lai tối thắng.
Mong đức Thế Tôn cũng vì chúng tôi mà diễn thuyết cho!
Lúc đó, đức Thế Tôn rõ tâm niệm của chư Bồ Tát, đều tùy theo từng loại mà vì họ hiện thần thông.
Sau khi đức Phật hiện thần thông, phương đông, quá mười phật sát vi trần số thế giới, có thế giới hiệu Kim Sắc, Phật hiệu Bất Động Trí, nơi đó có Bồ Tát tên Văn Thù Sư Lợi, cùng mười phật sát vi trần số Bồ Tát đồng đến đây lễ Phật, rồi hóa hiện toàn liên hoa tạng sư tử ở phía đông mà ngồi kiết già trên đó.
Phương nam, quá mười phật sát vi trần số thế giới có thế giới Diệu Sắc, Phật hiệu Vô Ngại Trí, có Bồ Tát Giác Thủ cùng mười phật sát vi trần số chư Bồ Tát đồng đến đây lễ Phật, rồi hóa hiện tòa lien hoa tạng sư tử ở phía nam mà ngồi kiết già trên đó.
Phương tây, quá mười phật sát vi trần số thế giới, có thế giới Liên Hoa Sắc, Phật hiệu Diệt Ám Trí, có Bồ Tát Tài Thủ cùng mười phật sát vi trần số Bồ Tát đồng đến đây lễ Phật, rồi hóa hiện tòa liên hoa tạng sư tử ở phía tây mà ngồi kiết già trên đó.
Phương bắc, mười phật sát vi trần số thế giới, có thế giới Chiêm Bặc Hoa Sắc, Phật hiệu Oai Nghi Trí, có Bồ Tát Nhật Bửu Thủ cùng mười phật sát vi trần số Bồ Tát đồng đến đây lễ Phật, rồi  hóa hiện tòa liên hoa tạng sư tử ở phía bắc mà ngồi kiết già trên đó.
Phương đông bắc, quá mười phật sát vi trần số thế giới, có thế giới Ưu Bát La Hoa Sắc, Phật hiệu Minh Trí Tướng, có Bồ Tát Công Đức Thủ cùng mười phật sát vi trần số Bồ Tát đồng đến đây lễ Phật, rồi hóa hiện tòa liên hoa tạng sư tử ở phía đông bắc mà ngồi kiết già ở trên đó.
Phương đông nam, quá mười phật sát vi trần số thế giới, có thế giới Kim Sắc, Phật hiệu Cứu Cánh Trí, có Bồ Tát Mục Thủ cùng mười phật sát vi trần số Bồ Tát đồng đến đây lễ Phật, rồi hóa hiện tòa liên hoa tạng sư tử ở phía đông nam mà ngồi kiết già trên đó.
Phương tây nam, quá mười phật sát vi trần số thế giới, có thế giới Bửu Sắc, Phật hiệu Tối Thắng Trí, có Bồ Tát Tinh Tấn Thủ cùng mười phật sát vi trần số Bồ Tát đồng đến đây lễ Phật, hóa hiện tòa liên hoa tạng sư tử ở phía tây nam mà ngồi kiết già trên đó.
Phương tây bắc, quá mười phật sát vi trần số thế giới, có thế giới Kim Cang Sắc, Phật hiệu Tự Tại Trí, có Bồ Tát Pháp Thủ cùng mười phật sát vi trần số Bồ Tát đồng đến đây lễ Phật, rồi hóa hiện tòa liên hoa tạng sư tử ở phía tây bắc mà ngồi kiết già trên đó.
Hạ phương, quá mười phật sát vi trần số thế giới, có thế giới Pha Lê Sắc, Phật hiệu Pham Trí, có Bồ Tát Trí Thủ cùng mười phật sát vi trần số Bồ Tát đồng đến đây lễ Phật, rồi hóa hiện tòa liên hoa tạng sư tử ở hạ phương mà ngồi kiết già trên đó.
Thượng phương, quá mười phật sát vi trần số thế giới, có thế giới Bình Đẳng Sắc, Phật hiệu Quan Sát Trí, có Bồ Tát Hiền Thủ cùng mười phật sát vi trần số Bồ Tát đồng đến đây lễ Phật, rồi hóa hiện tòa liên hoa tạng sư tử ở thượng phương mà ngồi kiết già trên đó.
Bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi đại Bồ Tát thừa oai lực của Phật quan sát tất cả chúng hội Bồ Tát mà nói rằng: "Chư Bồ Tát này rất hi hữu.
Chư Phật tử!  Phật quốc độ chẳng thể nghĩ bàn.  Phật trụ, phật sát trang nghiêm, Phật pháp tánh, phật sát thanh tịnh, Phật thuyết pháp, Phật xuất hiện, phật sát thành tựu, Phật vô lượng bồ đề đều chẳng thể nghĩ bàn.  Tại sao thế?
Chư Phật tử!  Tất cả chư Phật trong mười phương biết rằng chúng sanh ưa thích không đồng, nên tuỳ chỗ thích nghi mà thuyết pháp điều phục họ, nhẫn đến khắp pháp giới, hư không giới.
Chư Phật tử!  Đức Như Lai nơi thế giới Ta Bà này, trong những tứ châu thiên hạ, thị hiện nhiều thân, nhiều hiệu, nhiều sắc tướng, nhiều dài ngắn, nhiều tuổi thọ, nhiều xứ sở, nhiều căn, nhiễu chỗ sanh, nhiều tiếng lời, nhiều quan sát, khiến chúng sanh đều thấy biết khác nhau.
Chư Phật tử!  Đức Như Lai ở trong tứ châu thiên hạ này, hoặc hiệu Nhứt Thiết Nghĩa Thành, hoặc hiệu Viên Mãn Nguyệt, hoặc hiệu Sư Tử Hống, hoặc hiệu Thích Ca Mâu Ni, hoặc hiệu Đệ Nhất Tiên, hoặc hiệu Tỳ Lô Giá Na, hoặc hiệu Cù Đàm Thị, hoặc hiệu Đại Sa Môn, hoặc hiệu Tối Thắng, hoặc hiệu Đạo Sư, có mười ngàn hiệu như vậy, khiến chúng sanh thấy biết riêng khác.
Chư Phật tử!  Phương đông của tứ thiên hạ này, có thế giới tên Thiện Hộ Đức.  Như Lai ở tại thế giới đó, hoặc hiệu Kim Cang, hoặc hiệu Tự Tại, hoặc hiệu Hữu Trí Huệ, hoặc hiệu Nan Thắng, hoặc hiệu Vân Vương, hoặc hiệu Vô Tránh, hoặc hiệu Năng Vi Chủ, hoặc hiệu Tâm Hoan Hỉ, hoặc hiệu Vô Giữ Đẳng, hoặc hiệu Đoạn Ngôn Luận, có mười ngàn hiệu như vậy, khiến các chúng sanh thấy biết riêng khác.
Chư Phật tử!  Phương nam của tứ thiên hạ này, có thế giới tên Nam Nhẫn.  Đức Như Lai ở thế giới đó hoặc tên Đế Thích, hoặc hiệu Bửu Xưng, hoặc hiệu Ly Cấu, hoặc hiệu Thật Ngữ, hoặc hiệu Năng Điều Phục, hoặc hiệu Cụ Túc Hỉ, hoặc hiệu Đại Danh Xưng, hoặc hiệu Năng Lợi Ích, hoặc hiệu Vô Biên, hoặc hiệu Tối Thắng, có mười ngàn hiệu như vậy, khiến các chúng sanh thấy biết riêng khác.
Chư Phật tử!  Phương tây của tứ thiên hạ này, có thế giới tên Thân Huệ.  Đức Như Lai ở thế giới đó hoặc hiệu Thủy Thiên, hoặc hiệu Hỉ Kiến, hoặc hiệu Tối Thắng Vương, hoặc hiệu Chơn Thiệt Huệ, hoặc hiệu Đáo Cứu Cánh, hoặc hiệu Hoan Hỉ, hoặc hiệu Pháp Huệ, hoặc hiệu Sở Tác Dĩ Biện, hoặc hiệu Thiện Trụ, có mười ngàn hiệu như vậy, khiến các chúng sanh thấy biết khác nhau.
Chư Phật tử!  Phương bắc của tứ thiên hạ này có thế giới tên Hữu Sư Tử.  Đức Như Lai ở thế giới đó hoặc hiệu Đại Mâu Ni, hoặc hiệu Khổ Hạnh, hoặc hiệu Thế Sở Tôn, hoặc hiệu Tối Thắng Điền, hoặc hiệu Nhứt Thiết Trí, hoặc hiệu Thiện Ý, hoặc hiệu Thanh Tịnh, hoặc hiệu Kề La Bạt Na, hoặc hiệu Tối Thượng Thí, hoặc hiệu Khổ Hạnh Đắc, có mười ngàn hiệu như vậy, khiến các chúng sanh thấy biết khác nhau.
Chư Phật tử!  Phương đông bắc của tứ thiên hạ này có thế giới tên Diệu Quan Sát.  Đức Như Lai ở thế giới đó hoặc hiệu Điều Phục Ma, hoặc hiệu Thành Tựu, hoặc hiệu Tức Diệt, hoặc hiệu Hiền Thiên, hoặc hiệu Ly Tham, hoặc hiệu Thắng Huệ, hoặc hiệu Tâm Bình Đẳng, hoặc hiệu Vô Năng Thắng, hoặc hiệu Trí Huệ Âm, hoặc hiệu Nan Xuất Hiện, có mười ngàn hiệu như vậy, khiến các chúng sanh thấy biết khác nhau.
Chư Phật tử!  Phương đông nam của tứ thiên hạ này có thế giới tên Hỉ Lạc.  Đức Như Lai ở thế giới đó hoặc hiệu Quang Diệm Tụ, hoặc hiệu Biến Trí, hoặc hiệu Bí Mật, hoặc hiệu Giải Thoát, hoặc hiệu Tánh An Trụ, hoặc hiệu Như Pháp Hành, hoặc hiệu Tịnh Nhãn Vương, hoặc hiệu Đại Dũng Kiện, hoặc hiệu Tinh Tấn Lực, có mười ngàn hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết khác nhau.
Chư Phật tử!  Phương tây nam của tứ thiên hạ này có thế giới tên Thậm Kiên Lao.  Đức Như Lai ở thế giới đó hoặc hiệu An Trụ, hoặc hiệu Trí Vương, hoặc hiệu Viên Mãn, hoặc hiệu Bất Động, hoặc hiệu Diệu Nhãn, hoặc hiệu Đảnh Vương, hoặc hiệu Tự Tại Âm, hoặc hiệu Nhứt Thiết Thí, hoặc hiệu Trì Chúng Tiên, hoặc hiệu Thắng Tu Di, có mười ngàn hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết khác nhau.
Chư Phật tử!  Phương tây bắc của tứ thiên hạ này có thế giới tên Diệu Địa.  Đức Như Lai ở đó hoặc hiệu Phổ Biến, hoặc hiệu Quang Diệm, hoặc hiệu Ma Ni Kế, hoặc hiệu Khả Ức Niệm, hoặc hiệu Vô Thượng Nghĩa, hoặc hiệu Thường Hỉ Lạc, hoặc hiệu Tánh Thanh Tịnh, hoặc hiệu Viên Mãn Quang, hoặc hiệu Tu Tý, hoặc hiệu Trụ Bổn, có mười ngàn hiệu như vậy, khiến các chúng sanh thấy biết sai khác.
Chư Phật tử!  Hạ phương của tứ thiên hạ này có thế giới tên Diệm Huệ.  Đức Như Lai ở đó hoặc hiệu là Tập Thiện Căn, hoặc hiệu Sư Tử Tướng, hoặc hiệu Mãnh Lợi Huệ, hoặc hiệu Kim Sắc diệm, hoặc hiệu Nhứt Thiết Trí Thức, hoặc hiệu Cứu Cánh Âm, hoặc hiệu Tác Lợi Ích, hoặc hiệu Đáo Cứu Cánh, hoặc hiệu Chơn Thiệt Thiên, hoặc hiệu Phổ Biến Thắng, có mười ngàn hiệu như vậy, khiến chúng sanh thấy biết sai khác.
Chư Phật tử!  Thượng phương của tứ thiên hạ này có thế giới tên Nhựt Trì Địa.  Đức Như Lai ở đó, hoặc hiệu Hữu Trí Huệ, hoặc hiệu Thanh Tịnh Diện, hoặc hiệu Giác Huệ, hoặc hiệu Thượng Thủ, hoặc hiệu Hạnh Trang Nghiêm, hoặc hiệu Phát Hoan Hỉ, hoặc hiệu Ý Thành Mãn, hoặc hiệu Như Thạch Hỏa, hoặc hiệu Trì Giới, hoặc hiệu Nhứt Đạo, có mười ngàn hiệu như vậy, khiến các chúng sanh thấy biết sai khác.
Chư Phật tử!  Cõi Ta Bà này có trăm ức tứ châu thiên hạ.  Đức Như Lai ở đây có tất cả trăm vạn ức danh hiệu, khiến các chúng sanh thấy biết sai khác.
Chư Phật tử!  Phương đông của cõi Ta Bà này, có thế giới tên Mật Huấn.  Đức Như Lai ở đó hoặc hiệu Bình Đẳng, hoặc hiệu Thù Thắng, hoặc hiệu An Ủy, hoặc hiệu Khai Hiểu Ý, hoặc hiệu Văn Huệ, hoặc hiệu Chơn Thiệt Ngữ, hoặc hiệu Đắc Tự Tại, hoặc hiệu Tối Thắng Thân, hoặc hiệu Đại Dũng Mãnh, hoặc hiệu Vô Đẳng Trí, có trăm vạn ức hiệu như vậy, khiến các chúng sanh thấy biết sai khác.
Chư Phật tử!  Phương nam của cõi Ta Bà này có thế giới tên Phong Dật.  Đức Như Lai ở đó hoặc hiệu Bổn Tánh, hoặc hiệu Cần Ý, hoặc hiệu Vô Thượng Tôn, hoặc hiệu Đại Trí Cự, hoặc hiệu Vô Sở Y, hoặc hiệu Quang Minh Tạng, hoặc hiệu Trí Huệ Tạng, hoặc hiệu Phước Đức Tạng, hoặc hiệu Thiên Trung Thiên, hoặc hiệu Đại Tự Tại, có trăm vạn ức hiệu như vậy khiến chúng sanh thấy biết sai khác.
Chư Phật tử!  Phương tây của cõi Ta Bà này có thế giới tên Ly Cấu.  Đức Như Lai ở đó hoặc hiệu Ý Thành, hoặc hiệu Tri Đạo, hoặc hiệu An Trụ Bổn, hoặc hiệu Năng Giải Phược, hoặc hiệu Thông Đạt Nghĩa, hoặc hiệu Nhạo Phân Biệt, hoặc hiệu Tối Thắng Kiến, hoặc hiệu Điều Phục Hạnh, hoặc hiệu Chúng Khổ Hạnh, hoặc hiệu Cụ Túc Lực, có trăm vạn ức hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết sai khác.
Chư Phật tử!  Phương bắc của cõi Ta Bà này có thế giới tên Phong Lạc.   Đức Như Lai ở đó hoặc hiệu Chiêm Bặc Hoa Sắc, hoặc hiệu Nhựt Tạng, hoặc hiệu Thiện Trụ, hoặc hiệu Hiện Thần Thông, hoặc hiệu Tánh Siêu Mại, hoặc hiệu Huệ Nhựt, hoặc hiệu Vô Ngại, hoặc hiệu Như Nguyệt Hiện, hoặc hiệu Tấn Tật Phong, hoặc hiệu Thanh Tịnh Thân, có trăm vạn ức hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết sai khác.
Chư Phật tử!  Phương đông bắc của cõi Ta Bà này có thế giới tên Nhiếp Thủ.  Đức Như Lai ở đó hoặc hiệu Vĩnh Ly Khổ, hoặc hiệu Phổ Giải Thoát, hoặc hiệu Ly Thế Gian, hoặc hiệu Vô Ngại Địa, hoặc hiệu Đại Phục Tạng, hoặc hiệu Giải Thoát Trí, hoặc hiệu Quá Khứ Tạng, hoặc hiệu Bửu Quang Minh, hoặc hiệu Tịnh Tín Tạng, hoặc hiệu Tâm Bất Động, có trăm vạn ức hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết sai khác.
Chư Phật tử!  Phương đông nam của cõi Ta Bà này có thế giới Nhiêu Ích.  Đức Như Lai ở đó hoặc hiệu Hiện Quang Minh, hoặc hiệu Tận Trí, hoặc hiệu Mỹ Âm, hoặc hiệu Thắng Căn, hoặc hiệu Trang Nghiêm Cái, hoặc hiệu Tinh Tấn Căn, hoặc hiệu Đáo Phân Biệt Bỉ Ngạn, hoặc hiệu Thắng Định, hoặc hiệu Giản Ngôn Từ, hoặc hiệu Trí Huệ Hải, có trăm vạn ức hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết sai khác.
Chư Phật tử!  Phương tây nam của cõi Ta Bà này có thế giới tên Tiển Thiểu.  Đức Như Lai ở đó hoặc hiệu Mâu Ni Chủ, hoặc hiệu Cụ Chúng Bửu, hoặc hiệu Thế Giải Thoát, hoặc hiệu Biến Tri Căn, hoặc hiệu Thắng Ngôn Từ, hoặc hiệu Minh Liễu Kiến, hoặc hiệu Căn Tự Tại, hoặc hiệu Đại Tiên Sư, hoặc hiệu Khai Đạo Nghiệp, hoặc hiệu Kim Cang Sư Tử, có trăm vạn ức hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết sai khác.
Chư Phật tử!  Phương tây bắc của thế giới Ta Bà này có thế giới tên Hoan Hỉ.  Đức Như Lai ở đó hoặc hiệu Diệu Hoa Tụ, hoặc hiệu Chiên Đàn Cái, hoặc hiệu Liên Hoa Tạng, hoặc hiệu Siêu Việt Chư Pháp, hoặc hiệu Pháp Bửu, hoặc hiệu Phục Xuất Sanh, hoặc hiệu Quảng Đại Nhãn, hoặc hiệu Hữu Thiện Pháp, hoặc hiệu Chuyên Niệm Pháp, hoặc hiệu Võng Tạng, có trăm vạn ức hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết sai khác.
Chư Phật tử!  Hạ phương của cõi Ta Bà này có thế giới tên Quan Thược.  Đức Như Lai ở đó hoặc hiệu Phát Khởi Diệm, hoặc hiệu Điều Phục Độc, hoặc hiệu Đế Thích Cung, hoặc hiệu Vô Thường Sở, hoặc hiệu Giác Ngự Bổn, hoặc hiệu Đoạn Tăng Trương, hoặc hiệu Đại Tốc Tật, hoặc hiệu Thường Lạc Thí, hoặc hiệu Phân Biệt Đạo, hoặc hiệu Tối Phục Tràng, có trăm vạn ức hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết sai khác.
Chư Phật tử!  Mười phương quanh cõi Ta Bà này mỗi phương đều có trăm ngàn ức vô số, vô lượng, vô biên, vô đẳng, bất khả sổ, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết thế giới, tận pháp giới, hư không giới, trong đó danh hiệu của Như Lai đều không đồng.
Như thuở xa xưa, lúc đức Như Lai còn là Bồ Tát, do nhiều thứ đàm luận, nhiều thứ ngôn ngữ, nhiều thứ âm thinh, nhiều thứ nghiệp, nhiều thứ báo, nhiều thứ xứ sở, nhiều thứ phương tiện, nhiều thứ căn, nhiều thứ tín giải, nhiều thứ địa vị mà được thành thục, cũng khiến các chúng sanh thấy biết như vậy nên vì họ thuyết pháp."
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-11-06 04:01:31canary>
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 2


Phẩm Tứ Thánh Đế
Thứ tám


Lúc bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi đại Bồ Tát bảo chư Bồ Tát rằng: "Chư Phật tử!  Khổ Thánh Đế, trong cõi Ta Bà này, hoặc gọi là tội, là bức ngặt, là biến dị, là phan duyên, là nhóm, là đâm, là căn tựa, là hư dối, là chỗ nhọt ghẻ, là kẻ ngu si.
Chư Phật tử!  Khổ Tập Thánh Đế, cõi Ta Bà này, hoặc gọi là trói buộc, là diệt hoại, là ái trước, là vọng niệm, là thú nhập, là quyết định, là lưới, là hí luận, là tùy hành, là gốc điên đảo.
Chư Phật tử!  Khổ Diệt Thánh Đế, cõi Ta Bà này, hoặc gọi là vô tránh, là ly trần, là tịch tịnh, là vô tướng, là vô một, là vô tự tánh, là vô chướng ngại, là diệt, là thể chơn thật, là trụ tự tánh.
Chư Phật tử!  Khổ Diệt Đạo Thánh Đế, cõi Ta Bà này, hoặc gọi là nhứt thừa, là thú tịch, là đạo dẫn, là cứu cánh vô phân biệt, là bình đẳng, là xả đảm, là vô sở thú, là tùy thánh ý, là tiên nhơn lành, là thập tạng.
Chư Phật tử!  Nơi cõi Ta Bà này nói về tứ thánh đế có bốn trăm ức mười ngàn danh từ, theo tâm ý của chúng sanh khiến họ được điều phục.
Chư Phật tử!  Như cõi Ta Bà này nói về khổ thánh đế, trong thế giới Mật Huấn hoặc gọi là doanh cầu căn, là bất xuất ly, là hệ phược bổn, là làm điều không nên làm, là khắp tranh đấu, là phân tích đều vô lực, là chỗ để tựa, là cực khổ, là tháo động, là hình trạng vật.
Chư Phật tử!  Về khổ tập thánh đế, trong thế giới Mật Huấn, hoặc gọi là thuận sanh tử, là nhiễm trước, là đốt cháy, là lưu chuyển, là gốc bại hoại, là mối hữu lậu, là ác hạnh, là ái trước, là nguồn bịnh, là phân số.
Chư Phật tử!  Về khổ diệt thánh đế, trong thế giới Mật Huấn, hoặc gọi là đệ nhất nghĩa, là xuất ly, là tán thán, là an ổn, là thiện thú nhập, là điều phục, là nhứt phần, là vô tội, là ly tham, là quyết định.
Chư Phật tử!  Về khổ diệt đạo thánh đế, trong thế giới Mật Huấn, hoặc gọi là mãnh tướng, là thượng hạnh, là siêu xuất, là hữu phương tiện, là bình đẳng nhãn, là ly biên, là liễu ngộ, là nhiếp thủ, là tối thắng nhãn, là quán phương.
Chư Phật tử!  Về tứ thánh đế, ở thế giới Mật Huấn, có bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm ý của chúng sanh để khiến họ điều phục.
Chư Phật tử!  Về khổ thánh đế, ở thế giới Tối Thắng, hoặc gọi là khủng bố, là phần đoạn, là khả yểm ố, là phải thừa sự, là biến dị, là chiếu dẫn oan, là hay khi đoạt, là khó cộng sự, là vọng phân biệt, là có thế lực.
Chư Phật tử!  Về khổ tập thánh đế, ở thế giới Tối Thắng, hoặc gọi là bại hoại, là si căn, là đại oan, là dao bén, là dứt mùi vị, là cừu thù, là chẳng phải vật của mình, là ác đạo dẫn, là thêm đen tối, là hư lợi lành.
Chư Phật tử!  Về khổ diệt thánh đế, ở thế giới Tối Thắng, hoặc gọi là đại nghĩa, là nhiêu ích, là nghĩa trung nghĩa, là vô lượng, là chỗ phải thấy, là ly phân biệt, là tối thượng điều phục, là thường bình đẳng, là khả đồng trụ, là vô vị.
Chư Phật tử!  Về khổ diệt đạo thánh đế, ở thế giới Tối Thắng, hoặc gọi là hay đốt cháy, là tối thượng phẩm, là quyết định, là vô năng phá, là thâm phương tiện, là xuất ly, là bất hạ liệt, là thông đạt, là giải thoát tánh, là năng độ thoát.
Chư Phật tử!  Ở thế giới Tối Thắng, về tứ thánh đế, có bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm ý chúng sanh khiến họ điều phục.
Chư Phật tử!  Ở thế giới Ly Cấu, về khổ thánh đế, hoặc gọi là hối hận, là tư đải, là triển chuyển, là trụ thành, là nhứt vị, là phi pháp, là cư trạch, là chỗ vọng trước, là thấy hư vọng, là không có số.
Chư Phật tử!  Ở thế giới Ly Cấu, về khổ tập thánh đế, hoặc gọi là vật không thật, là chỉ có lời nói, là chẳng trong trắng, là sanh địa, là chấp thủ, là bỉ tiện, là tăng trưởng, là gánh nặng, là hay sanh, là thô rắn.
Chư Phật tử!  Ở thế giới Ly Cấu, về khổ diệt thánh đế, hoặc gọi là vô đẳng đẳng, là khắp trừ sạch, là ly cấu, là tối thắng căn, là xưng hội, là không tư đãi, là diệt hoặc, là tối thượng, là tất cánh, là phá noãn.
Chư Phật tử!  Ở thế giới Ly Cấu, về khổ diệt đạo thánh đế, hoặc gọi là vật kiên cố, là phương tiện phần, là giải thoát bổn, là bổn tánh thật, là chẳng thể chê mắng, là rất thanh tịnh, là mé hữu lậu, là toàn nhận gởi, là làm rốt ráo, là tịnh phân biệt.
Chư Phật tử!  Ở thế giới Ly Cấu, tứ thánh đế có bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tuỳ tâm ý chúng sanh khiến họ điều phục.
Chư Phật tử!  Ở Phong Dật thế giới, về khổ thánh đế, hoặc gọi là chỗ ái nhiễm, là gốc hiểm hại, là phần biển hữu lậu, là chứa nhóm lên, là gốc sai biệt, là tăng trưởng, là sanh diệt, là chướng ngại, là cây đao gươm, là số làm thành.
Chư Phật tử!  Ở thế giới Phong Dật, về khổ tập thánh đế, hoặc gọi là đáng ghét, là danh tự, là vô tận, là phân số, là chẳng đáng ưa, là hay chụp cắn, là vật thô bỉ, là ái trước, là khí cụ, là dao động.
Chư Phật tử!  Ở thế giới Phong Dật, về khổ diệt thánh đế, hoặc gọi là dứt tương tục, là khai hiển, là vô văn tự, là vô sở tu, là vô sở kiến, là vô sở tác, là tịch diệt, là đã đốt sạch, là xả trọng đảm, là đã trừ hoại.
Chư Phật tử!  Ở thế giới Phong Dật, về khổ diệt đạo thánh đế, hoặc gọi là hạnh tịch diệt, là hạnh xuất ly, là siêng tu chứng, là đi an ổn, là vô lượng thọ, là khéo rõ biết, là đạo cứu cánh, là khó tu tập, là đến bờ kia, là vô năng thắng.
Chư Phật tử!  Ở thế giới Phong Dật, về tứ thánh đế, có bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm chúng sanh, khiến họ điều phục.
Chư Phật tử!  Ở thế giới Nhiếp Thủ, về khổ thánh đế, hoặc gọi là hay cướp dựt, là bạn chẳng lành, là nhiều khủng bố, là những hí luận, là địa ngục tánh, là không thật nghĩa, là gánh tham dục, là gốc sâu nặng, là tùy tâm chuyển, là bổn trống rỗng.
Chư Phật tử!  Ở thế giới Nhiếp Thủ, về khổ tập thánh đế, hoặc gọi là tham trước, là ác thành biện, là quá ác, là tốc tật, là hay chấp thủ, là tưởng, là có quả, là vô khả thuyết, là vô khả thủ, là lưu chuyển.
Chư Phật tử!  Ở thế giới Nhiếp Thủ, về khổ diệt thánh đế, hoặc gọi là bất thối chuyển, là ly ngôn thuyết, là vô tướng trạng, là khả hân lạc, là kiên cố, là thượng diệu, là ly si, là diệt tận, là viễn ác, là xuất ly.
Chư Phật tử!  Ở thế giới Nhiếp Thủ, về khổ diệt đạo thánh đế, hoặc gọi là ly ngôn, là vô tránh, là giáo đạo, là tiện hồi hướng, là đại thiện xảo, là sai biệt phương tiện, là như hư không, là tịch tịnh hạnh, là thắng trí, là năng liễu nghĩa.
Chư Phật tử!  Về tứ thánh đế, ở Nhiếp Thủ thế giới có bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tuỳ tâm ý của chúng sanh khiến họ điều phục.
Chư Phật tử!  Ở thế giới Tiển Thiểu, về khổ thánh đế, hoặc gọi là hiểm lạc dục, là chỗ hệ phược, là tà hạnh, là tùy thọ, là vô tâm sĩ, là tham dục căn, là hằng hà lưu, là thường phá hoại, là tánh khói lửa, là nhiều ưu não.
Chư Phật tử!  Ở thế giới Tiển Thiểu, về khổ tập thánh đế, hoặc gọi là quảng địa, là năng thú, là viễn huệ, là lưu nạn, là khủng bố, là phóng dật, là nhiếp thú, là trước xứ, là trạch chủ, là liên phược.
Chư Phật tử!  Ở Tiển Thiểu thế giới, về khổ diệt thánh đế, hoặc gọi là sung mãn, là bất tử, là vô ngã, là tự tánh, là phân biệt tận, là an lạc trụ, là vô hạn lượng, là đoạn luân chuyển, là tuyệt hành xứ, là bất nhị.
Chư Phật tử!  Ở Tiển Thiểu thế giới, về khổ diệt đạo thánh đế, hoặc gọi là đại quang minh, là diễn thuyết hải, là giản trạch nghĩa, là hòa hiệp pháp, là ly thủ trước, là đoạn tương tục, là quảng đại lộ, là bình đẳng nhơn, là tịnh phương tiện, là tối thắng kiến.
Chư Phật tử!  Về tứ thánh đế, ở Tiển Thiểu thế giới, có bốn trăm ức mười ngàn danh hiệu như vậy, tùy tâm ý của chúng sanh khiến họ điều phục.
Chư Phật tử!  Ở thế giới Hoan Hỉ, về khổ thánh đế, hoặc gọi là lưu chuyển, là xuất sanh, là thất lợi, là nhiễm trước, là trọng đảm, là sai biệt, là nội hiểm, là tập hội, là ác xá trạch, là khổ não tánh.
Chư Phật tử!  Ở thế giới Hoan Hỉ, về khổ tập thánh đế, hoặc gọi là địa, là phương tiện, là phi thời, là phi thật pháp, là vô để, là nhiếp thủ, là ly giới, là phiền não pháp, là hiếp liệt kiến, là cấu tụ.
Chư Phật tử!  Ở thế giới Hoan Hỉ, về khổ diệt thánh đế, hoặc gọi là phá y chỉ, là bất phóng dật, là chơn thật, là bình đẳng, là thiện tịnh, là vô bịnh, là vô khúc, là vô tướng, là tự tại, là vô sanh.
Chư Phật tử!  Ở thế giới Hoan Hỉ, về khổ diệt đạo thánh đế, hoặc gọi là nhập thắng giới, là đoạn tập, là siêu đẳng loại, là quảng đại tánh, là phân biệt tận, là thần lực đạo, là chúng phương tiện, là chánh niệm hạnh, là thường tịch lộ, là nhiếp giải thoát.
Chư Phật tử!  Về nhiếp thánh đế, ở Hoan Hỉ thế giới có bốn trăm ức mười ngàn danh hiệu như vậy, tùy tâm ý của chúng sanh khiến họ điều phục.
Chư Phật tử!  Ở Quan Thược thế giới, về khổ thánh đế, hoặc gọi là bại hoại tướng, là như phố khí, là ngã sở thành, là chư thú thân, là sát lưu chuyển, là chúng ác môn, là tánh khổ, là khả khí xả, là vô vị, là lai khứ.
Chư Phật tử!  Ở Quan Thược thế giới, về khổ tập thánh đế, hoặc gọi là hành, là phần độc, là hòa hiệp, là thọ chi, là ngã tâm, là tạp độc, là hư xưng, là oai vị, là nhiệt não, là kinh hãi.
Chư Phật tử!  Ở Quan Thược thế giới, về khổ diệt thánh đế, hoặc gọi là vô tích tập, là bất khả đắc, là diệu dược, là bất khả hoại, là vô trước, là vô lượng, là quảng đại, là giác phần, là ly nhiễm, là vô chướng ngại.
Chư Phật tử!  Ở Quan Thược thế giới, về khổ diệt đạo thánh đế, hoặc gọi là an ổn hạnh, là ly dục, là cứu cánh thật, là nhập nghĩa, là tánh cứu cánh, là tịnh hiện, là nhiếp niệm, là tu giải thoát, là cứu tế, là thắng hạnh.
Chư Phật tử!  Ở Chấn Âm thế giới, về khổ thánh đế, hoặc gọi là dấu lỗi, là thế gian, là sở y, là ngạo mạn, là tánh nhiễm trước, là dòng chảy mau, là chẳng vui được, là che dấu, là mau diệt, là khó điều.
Chư Phật tử!  Ở Chấn Âm thế giới, về khổ tập thánh đế, hoặc gọi là cần chế phục, là tâm thú, là năng phược, là tùy niệm khởi, là đến hậu biên, là cộng hòa hiệp, là phân biệt, là môn, là phiêu động, là ẩn che.
Chư Phật tử!  Ở Chấn Âm thế giới, về khổ diệt thánh đế, hoặc gọi là vô y xứ, là bất khả thủ, chuyển hườn, là ly tránh, là tiểu, là đại, là thiện tịnh, là vô tận, là quảng bác, là vô đẳng giác.
Chư Phật tử!  Ở Chấn Âm thế giới, về khổ diệt đạo thánh đế, hoặc gọi là quan sát, là năng tồi địch, là liễu tri ấn, là năng nhập tánh, là nan địch đối, là vô hạn nghĩa, là năng nhập trí, là hòa hiệp đạo, là hằng bất động, là thù thắng nghĩa.
Chư Phật tử!  Về tứ thánh đế, ở Chấn Âm thế giới có bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tuỳ tâm ý của chúng sanh khiến họ điều phục.
Chư Phật tử!  Như cõi Ta Bà này nói tứ thánh đế có bốn trăm ức mười ngàn danh hiệu, cũng vậy, mười phương tất cả vô lượng, vô biên, bất khả thuyết thế giới, tận pháp giới hư không giới, trong mỗi thế giới nói tứ thánh đế đều có bốn trăm ức mười ngàn danh từ, tùy tâm ý của chúng sanh khiến họ được điều phục."
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 2


Phẩm Quang Minh Giác
Thứ chín


Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, từ dưới lòng hai bàn chân, phóng ra trăm ức tia sáng chiếu khắp đại thiên thế giới: trăm ức diêm phù đề, trăm ức phất bà đề, trăm ức cù gia ni, trăm ức uất đơn việt, trăm ức đại hải, trăm ức luân vi sơn, trăm ức Bồ Tát thọ sanh, trăm ức Bồ Tát xuất gia, trăm ức Như Lai thành chánh giác, trăm ức Như Lai chuyển pháp luân, trăm ức Như Lai nhập niết bàn, trăm ức Tu Di Sơn, trăm ức Tứ Vương Thiên, trăm ức Đao Lợi Thiên, trăm ức Dạ Ma Thiên, trăm ức Đâu Suất Thiên, trăm ức Hóa Lạc Thiên, trăm ức Tha Hóa Thiên, trăm ức Sơ Thiền Thiên, trăm ức Nhị Thiền Thiên, trăm ức Tâm Thiền Thiên, trăm ức Tứ Thiền Thiên, nhẫn đến trăm ức Sắc Cứu Cánh Thiên.  Tất cả vật cảnh trong đại thiên thế giới đều được quang minh của Thế Tôn soi sáng hiển hiện cả.
Như nơi đây hiện thấy đức Thế Tôn ngồi tòa liên hoa tạng sư tử, mười phật sát vi trần số Bồ Tát vây quanh.  Trong trăm ức Diêm Phù Đề khác, cũng đều có Như Lai an tọa như thế cả.
Do thần lực của Phật, trong mười phương, mỗi phương đều có một đại Bồ Tát, cùng mười phật sát vi trần số Bồ Tát đồng câu hội đến chỗ đức Phật ngự:  Đông phương Kim Sắc thế giới có Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Nam phương Diệu Sắc thế giới có Giác Thủ Bồ Tát, Tây phương Liên Hoa Sắc thế giới có Tài Thủ Bồ Tát, Bắc phương Chiêm Bặc Hoa Sắc thế giới có Bửu Thủ Bồ Tát, Đông bắc phương Ưu Bát La Hoa Sắc thế giới có Công Đức Thủ Bồ Tát, Đông nam phương Kim Sắc thế giới có Mục Thủ Bồ Tát, Tây nam phương Bửu Sắc thế giới có Tinh Tấn Thủ Bồ Tát, Tây bắc phương Kim Cang Sắc thế giới có Pháp Thủ Bồ Tát, Hạ phương Pha Lê Sắc thế giới có Trí Thủ Bồ Tát, Thượng phương Bình Đẳng Sắc thế giới có Hiền Thủ Bồ Tát.
Lúc đó, trong tất cả trăm ức đạo tràng, nơi chư Phật ngự, trăm ức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đồng thời ứng thinh nói kệ rằng:
Nếu có ai thấy Phật
Giải thoát lìa hữu lậu
Chẳng tham trước thế gian
Người này chẳng chứng đạo.
Nếu ai biết Như Lai
Thể tướng vô sở hữu
Tu tập được rõ ràng
Người này mau thành Phật.
Nếu thấy thế giới này
Tâm được chẳng dao động
Với Phật thân cũng vậy
Sẽ thành bậc Thắng Trí.
Nếu với Phật cùng Pháp
Được tâm trọn bình đẳng
Chẳng móng khởi nhị niệm
Sẽ lên bậc Nan Tư.
Nếu thấy Phật và thân
Bình đẳng mà an trụ
Vô trụ vô sở nhập
Sẽ thành bậc Nam Ngộ.
Sắc, thọ không có số
Tưởng, hành, thức cũng vậy
Nếu biết được như đây
Sẽ là Đại Mâu Ni.
Kiến chấp thế, xuất thế
Tất cả đều vượt khỏi
Mà hay khéo biết pháp
Sẽ thành bậc Đại Quang.
Nếu nơi đấng Toàn Trí
Phát sanh tâm hồi hướng
Thấy tâm không chỗ sanh
Sẽ được bậc Hồng Danh.
Chúng sanh không có sanh
Cũng lại không có hoại
Nếu được trí như vậy
Sẽ thành vô thượng đạo.
Trong một: hiểu vô lượng
Trong vô lượng: hiểu một
Rõ kia sanh lẫn nhau
Sẽ thành vô sở úy.
Lúc bấy giờ, quang minh của đức Phật chiếu ra ngoài thế giới này suốt đến mười phương, mỗi phương đều chiếu mười quốc độ.  Trong những cõi đó, tất cả vật cảnh từ Diêm Phù Đề đến Sắc Cứu Cánh Thiên đều được chói sáng, và đều có đức Phật ngự trên tòa sư tử như ở cõi này.
Do thần lực của đức Phật, mười phương đều có một đại Bồ Tát cùng mười phật sát vi trần số Bồ Tát đồng câu hội đến chỗ Phật, cũng chính là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, v.v...
Bấy giờ, ở trước mỗi Như Lai, Văn Thù Sư Lợi Bò Tát đồng thời ứng thinh nói kệ rằng:
Chúng sanh không trí huệ
Tham ai đâm thương độc
Vì cứu họ nên Phật
Cầu bồ đề vô thượng.
Thấy các nơi các pháp
Đều xa rời hai bên
Đạo thàh trọng chẳng thối
Chuyển pháp luân vô đẳng.
Bất khả tư nghì kiếp
Tinh tấn tu các hạnh
Vì độ các chúng sanh
Là nguyện lực của Phật.
Đạo sư hàng quân ma
Dũng kiện khôn ai hơn
Quang minh diễn diệu nghĩa
Từ bi nên như vậy.
Dùng tâm trí huệ kia
Phá các chướng phiền não
Một niệm thấy tất cả
Là thần lực của Phật.
Đánh trống lớn chánh pháp
Giác ngộ mườip phương cõi
Đều khiến đến bồ đề
Sức tự tại như vậy.
Chẳng hoại vô biên cảnh
Mà đi ức cõi nước
Với cõi không trệ trước
Kia tự tại như Phật.
Chư Phật như hư không
Rốt ráo thường thanh tịnh
Nghĩ nhớ lòng hoan hỉ
Kia các nguyện đầy đủ.
Trong mỗi mỗi địa ngục
Trải qua vô lượng kiếp
Vì cứu độ chúng sanh
Mà nhẫn được khổ này.
Chẳng tiếc nơi thân mạng
Thường hộ các Phật pháp
Vô ngã tâm điều nhu
Hay được đạo Như Lai.
Lúc đó quang minh của đức Phật chiếu quá mười phương thế giới, rồi chiếu suốt trăm thế giới ở mỗi phương trong mười phương.  Nơi các thế giới ấy đều có Như Lai ngự tòa sư tử như ở tại đây, và do thần lực của đức Phật, mỗi phương đều có một đại Bồ Tát, tức là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, v.v... cùng mười phật sát vi trần số Bồ Tát đồng đến chỗ Phật.
Bấy giờ, trước mỗi đức Phật, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đồng ứng thinh nói kệ rằng:
Phật rõ pháp như huyễn
Thông đạt không chướng ngại
Tâm tịnh lìa tham chấp
Điều phục các chúng sanh.
Hoặc có thấy sơ sanh
Sắc đẹp như núi vàng
Trụ thân tối hậu này
Làm mặt nguyệt nhân loại
Hoặc thấy Phật kinh hành
Đủ vô lượng công đức
Niệm huệ đều thiện xảo
Bước đi Đại Sư Tử.
Hoặc thấy mắt xanh biếc
Quan sát khắp mười phương
Có lúc hiện vui cười
Vì thuận lòng quần chúng.
Hoặc thấy sư tử hống
Thân thù thắng vô tỉ
Thị hiện tối hậu sanh
Nói lời đều chân thật.
Hoặc có thấy xuất gia
Giải thoát những hệ phược
Tu tập hạnh chư Phật
Thường thích quán tịch diệt.
Hoặc thấy ngồi đạo tràng
Rõ biết tất cả pháp
Đến bờ công đức kia
Phiền não si đã hết.
Hoặc thấy thắng thượng phu
Đầy đủ tâm đại bi
Chuyển pháp luân vi diệu
Độ vô lượng chúng sanh.
Hoặc thấy sư tử hống
Oai quang rất thù đặc
Siêu tất cả thế gian
Thần thông lực vô đẳng.
Hoặc thấy tâm tịch tịnh
Như ngọn đèn tắt hẳn
Hiện các loại thần thông
Đấng thập lực như vậy.
Lúc bấy giờ, quang minh của đức Phật chiếu khỏi trăm thế giới, suốt đến khắp ngàn thế giới ở mỗi phương trong mười phương.  Nơi mười phương thế giới này cũng đều có đức Phật ngự đạo tràng giữa chúng hội mười phật sát vi trần số Bồ Tát.
Do thần lực của đức Phật, mỗi phương trong mười phương đều có một đại Bồ Tát, chính là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, v.v... cùng mười phật sát vi trần số Bồ Tát đồng câu hội đến chỗ Phật ngự.
Bấy giờ, trước mỗi đức Phật, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đồng ứng thinh nói kệ rằng:
Phật nơi pháp thậm thâm
Thông đạt không ai sánh
Chúng sanh không thấy được
Phật tuần tự khai thị
Ngã tánh chưa từng có
Ngã sở cũng không tịch
Cớ sao chư Như Lai
Lại được có thân thể
Đấng giải thoát Minh Hạnh
Vô số vô đẳng luân
Các nhân lượng thế gian
Tìm lỗi không thể được.
Phật chẳng phải những loại
Uẩn, xứ, giới, sanh tử
Số pháp vẫn không thành
Nên hiệu Nhân Sư Tử.
Tánh Phật vốn không tịch
Trong ngoài đều giải thoát
Rời tất cả vọng niệm
Pháp vô đẳng như vậy.
Thế tánh thường bất động
Không ngã không đến đi
Mà hay giác ngộ đời
Vô biên đều điều phục.
Thường thích quán tịch diệt
Một tướng không có hai
Tâm Phật không tăng giảm
Hiện vô lượng thần lực.
Chẳng làm hạnh nghiệp báo
Nhân duyên của chúng sanh
Mà rõ thấu vô ngại
Đấng Thiện Thệ như vậy.
Tất cả loài chúng sanh
Lưu chuyển trong mười phương
Như Lai không phân biệt
Độ thoát vô biên loại.
Chư Phật thân kim sắc
Chẳng cõi khắp các cõi
Tùy chúng sanh sở thích
Diễn thuyết pháp tịch diệt.
Lúc bấy giờ, quang minh của đức Phật chiếu quá ngàn thế giới, suốt khắp mười ngàn thế giới, ở mỗi phương, trong mười phương.  Nơi những thế giới này cũng đều có đức Phật ngự nơi đạo tràng giữa chúng hội mười phật sát vi trần số Bồ Tát.
Do thần lực của Phật, mỗi phương trong mười phương đều có một đại Bồ Tát, chính là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, v.v... cùng mười phật sát vi trần số Bồ Tát, đồng câu hội đến chỗ đức Phật ngự.
Bấy giờ, trước mỗi đức Phật, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đồng ứng thinh nói kệ rằng:
Phát khởi tâm đại bi
Cứu hộ các chúng sanh
Thoát hẳn chúng nhân thiên
Nên làm việc như vậy.
Lòng thường tin ưa Phật
Tâm đó không thối chuyển
Gần gũi chư Như Lai
Nên làm việc như vậy.
Chí thích công đức Phật
Tâm đó trọn không thối
Trụ nơi huệ thanh lương
Nên làm việc như vậy.
Trong tất cả oai nghi
Thường nhớ công đức Phật
Ngày đêm không tạm dứt
Việc như vậy nên làm.
Quán tam thế vô biên
Học công đức của Phật
Thường không lòng nhàm mỏi
Việc như vậy nên làm.
Quán thân như thiệt tướng
Tất cả đều tịch diệt
Lìa ngã, không chấp ngã,
Việc như vậy nên làm.
Bình đẳng quán chúng sanh
Chẳng móng niệm phân biệt
Vào nơi cảnh chân thật
Việc như vậy nên làm.
Bưng cả vô biên cõi
Uống hết tất cả biển
Thần thông đại trí lực
Việc như vậy nên làm.
Tư duy các quốc độ
Tướng sắc và phi sắc
Đều biết được tất cả
Việc như vậy nên làm.
Vi trần mười phương cõi
Một trần là một Phật
Đều biết được số đó
Việc như vậy nên làm.
Lúc bấy giờ, quang minh của đức Phật chiếu quá mười ngàn thế giới, suốt khắp đến trăm ngàn thế giới, ở mỗi phương, trong mười phương, nơi đó đều có đức Phật ngự giữa đạo tràng, chúng hội mười phật sát vi trần số Bồ Tát.
Do thần lực của đức Phật, mỗi phương đều có một đại Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, v.v... cùng mười phật sát vi trần số Bồ Tát đồng câu hội đến chỗ Phật.
Bấy giờ, trước mỗi đức Phật, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đồng ứng thinh nói kệ rằng:
Nếu dùng oai đức, sắc, chủng tộc
Để thấy đấng Điều Ngự trong đời
Đây là mắt bịnh thấy điên đảo
Người này chẳng biết pháp tối thắng.
Như Lai sắc, hình những tướng tốt
Tất cả thế gian chẳng lường được
Ức na do kiếp đồng nghĩ lường
Sắc tướng, oai đức chuyển vô biên.
Như Lai chẳng lấy tướng làm thể
Chính là pháp tịch diệt vô tướng
Thân tướng oai nghi đều đầy đủ
Thế gian tùy thích đều được thấy.
Phật pháp vi diệu khó lường được
Tất cả ngôn thuyết chẳng đến được
Chẳng phải hòa hiệp, bất hòa hiệp
Thể tánh tịch diệt không các tướng.
Phật thân vô sanh ngoài hí luận
Chẳng phải uẩn tụ, pháp sai biệt
Được sức tự tại thấy quyết định
Sở hành vô úy lìa ngôn thuyết.
Thân tâm đều bình đẳng
Trong ngoài đều giải thoát
Nhiều kiếp trụ chánh niệm
Vô trước, không hệ phược.
Bậc tâm sạch sáng suốt
Sở hành không nhiễm trước
Trí nhãn đều cùng khắp
Rộng lớn lợi chúng sanh.
Một thân là vô lượng
Vô lượng lại là một
Rõ biết các thế gian
Hiện hình khắp tất cả.
Thân này không từ đâu
Cũng không nơi tích tụ
Vì chúng sanh phân biệt
Thấy Phật có nhiều thân.
Tâm phân biệt thế gian
Tâm này vô sở hữu
Như Lai biết pháp này
Thấy thân Phật như vậy.
Lúc bấy giờ, quang minh của đức Thế Tôn chiếu quá trăm ngàn thế giới, suốt đến trăm vạn thế giới, ở mỗi phương trong mười phương.  Nơi đó đều có đức Phật ngự đạo tràng chúng hội mười phật sát vi trần số Bồ Tát.
Do thần lực của đức Phật, mỗi phương đều có một đại Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, v.v... cùng mười phật sát vi trần số Bồ Tát đồng câu hội đến chỗ Phật ngự.
Bấy giờ, trước mỗi đức Phật, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đồng ứng thinh nói kệ rằng:
Như Lai rất tự tại
Siêu thế vô sở y
Đủ tất cả công đức
Độ thoát nơi các cõi.
Không nhiễm cũng không trước
Vô tưởng vô y chỉ
Thể tánh không thể lường
Ai thấy cũng ca ngợi.
Quang minh khắp thanh tịnh
Trần luỵ đều rửa bỏ
Bất động lìa hai bên
Đây là trí Như Lai.
Thân tâm lìa phân biệt
Thời với tất cả pháp
Thoát hẳn những nghi trệ.
Trong tất cả thế gian
Nơi nơi chuyển pháp luân
Vô tánh vô sở chuyển
Đạo Sư phương tiện nói.
Nơi pháp không nghi lầm
Tuyệt hẳn những hí luận
Chẳng sanh tâm phân biệt
Là niệm Phật bồ đề.
Rõ biết pháp sai biệt
Chẳng chấp trước ngôn thuyết
Chẳng có một cùng nhiều
Đây là thuận lời Phật.
Trong nhiều không một tánh
Một cũng không có nhiều
Bỏ cả hai như vậy
Khắp vào Phật công đức.
Chúng sanh và quốc độ
Tất cả đều tịch diệt
Vô y vô phân biệt
Vào được Phật bồ đề.
Chúng sanh và quốc độ
Đồng dị đều chẳng được
Khéo quan sát như vậy
Là biết nghĩa Phật pháp.
Lúc bấy giờ, quang minh của đức Phật chiếu quá trăm vạn thế giới suốt đến một ức thế giới ở mỗi phương trong mười phương.  Nơi đó đều có đức Phật ngự giữa chúng hội mười phật sát vi trần số Bồ Tát.
Do thần lực của đức Phật, mỗi phương đều có một đại Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, v.v... cùng mười phật sát vi trần số Bồ Tát đồng câu hội đến chỗ Phật ngự.
Bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ở trước mỗi đức Phật, đồng thời ứng thinh nói kệ rằng:
Trí huệ vô đẳng pháp vô biên
Vượt biển hữu lậu đến bờ kia
Thọ lượng quang minh đều vô tỉ
Phương tiện lực của đấng công đức.
Bao nhiêu Phật pháp đều rõ ràng
Thường quán tam thế không nhàm mỏi.
Dầu duyên cảnh giới không phân biệt
Đây phương tiện của bậc Nan Tư.
Thích quán chúng sanh vốn vô sanh
Khắp thấy các loài vốn không loài
Hằng trụ thiền tịch chẳng hệ luỵ
Đây phương tiện của Vô Ngại Huệ.
Khéo léo thông đạt tất cả pháp
Chánh niệm siêng tu đạo niết bàn
Thích nơi giải thoát lìa bất bình
Đây phương tiện của bậc Tịch Diệt.
Hay khuyên người hướng Phật bồ đề
Đến nhứt thiết trí như pháp giới
Khéo dạy chúng sanh vào đế lý
Đây phương tiện người trụ tâm Phật.
Phật chỗ thuyết pháp đều thuận vào
Trí huệ quảng đại không chướng ngại
Tất cả xứ hành đều bước lên
Phương tiện tu tập của Tự Tại.
Hằng trụ niết bàn như hư không
Tùy tâm hóa hiện đều cùng khắp
Đây tựa vô tướng mà làm tướng
Phương tiện của bậc Đáo Nan Đáo.
Sáng tối ngày tháng và năm kiếp
Thế giới thỉ chung là thành hoại
Như vậy nhớ nghĩ đều rõ biết
Đây phương tiện của Thời Số Trí.
Tất cả chúng sanh có sanh diệt
Sắc phi sắc cùng tưởng phi tưởng
Bao nhiêu danh tự đều rõ biết
Đây phương tiện của bậc Nan Tư.
Thời quá khứ, hiện tại, vị lai
Bao nhiêu ngôn thuyết đều rõ được
Mà biết ba thời đều bình đẳng
Đây phương tiện của Vô Tỷ Giải.
Lúc bấy giờ, quang minh của đức Phật chiếu quá một ức thế giới, suốt khắp mười ức thế giới, ở mỗi phương, trong mười phương.  Nơi đó đều có đức Phật ngự giữa đạo tràng mười phật sát vi trần số Bồ Tát.
Do thần lực của đức Phật, mỗi phương đều có một vị đại Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, v.v... đều cùng mười phật sát vi trần số Bồ Tát đồng câu hội nơi Phật ngự.
Bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ở trước mỗi đức Phật, đồng ứng thinh nói kệ rằng:
Khổ hạnh lớn khó đều tu tập
Ngày đêm tinh cần không nhàm trễ
Đã độ khó độ sư tử hống
Độ khắp chúng sanh là hạnh Phật.
Chúng sanh lưu chuyển biển ái dục
Vô minh che đậy rất khổ ngặt
Chí Nhân dũng mãnh đều dứt trừ
Thệ nguyện như vậy là hạnh Phật.
Thế gian phóng dật say ngũ dục
Phân biệt sai lầm chịu những khổ
Phụng hành Phật giáo đều nhiếp tâm
Nguyện độ chúng sanh là hạnh Phật.
Chúng sanh chấp ngã vào sanh tử
Cầu tột mé kia không thể được
Khắp thờ chư Phật được diệu pháp
Vì họ giảng pháp là hạnh Phật.
Chúng sanh bơ vơ bịnh khổ vây
Thường troi nẻo ác khởi ba độc
Ngọn lửa hừng lớn luôn đốt cháy
Tịnh tâm động chúng là hạnh Phật.
Chúng sanh mê lầm mất chánh đạo
Thường đi đường tà vào nhà tối
Vì họ thắp sáng đèn chánh pháp
Luôn luôn soi sáng là hạnh Phật.
Chúng sanh trôi chìm biển hữu lậu
Khổ lo không bờ chẳng ở được
Vì họ sửa sang đại pháp thuyền
Đều khiến thoát khổ là hạnh Phật.
Chúng sanh vô tri chẳng thấy cội
Mê lầm cuồng si trong hiểm nạn
Phật thương xót họ xây pháp kiều
Khiến trụ chánh niệm là hạnh Phật.
Thấy các chúng sanh ở đường hiểm
Khổ già bịnh chết luôn bức ngặt
Tu các phương tiện không hạn lượng
Thệ độ tất cả là hạnh Phật.
Nghe pháp tin hiểu không nghi lầm
Rõ tánh không tịch chẳng kinh sợ
Tùy hình lục đạo khắp mười phương
Cứu khắp quần mê là hạnh Phật.
Lúc bấy giờ, quang minh của đức Phật chiếu quá mười ức thế giới, suốt khắp đến trăm ức thế giới, ngàn ức, vạn ức, trăm ngàn ức, na do tha ức, trăm na do tha ức, ngàn na do tha ức, trăm ngàn na do tha ức, nhẫn đến vô số, vô lượng, vô biên, vô đẳng, bất khả số, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết, tận pháp giới, hư không giới, tất cả thế giới ở mười phương.  Nơi mỗi thế giới từ Diêm Phù Đề đến Sắc Cứu Cánh Thiên mọi vật cảnh đều được hiển hiện.  Nơi mỗi Diêm Phù Đề đều có đức Phật ngự giữa đạo tràng mười phật sát vi trần số Bồ Tát.
Do thần lực của đức Phật, mỗi phương đều có một đại Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, v.v... đều cùng mười phật sát vi trần số Bồ Tát đồng câu hội đến chỗ Phật ngự.
Bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ở trước mỗi đức Phật, đều ứng thinh nói kệ rằng:
Một niệm quán khắp vô lượng kiếp
Vô khứ vô lai cũng vô trụ
Như vậy rõ biết việc ba thời
Siêu xuất phương tiện thành thập lực.
Mười phương vô tỉ hồng danh tốt
Lìa hẳn các hạnh thường hoan hỉ
Khắp đến trong tất cả quốc độ
Vì người tuyên dương pháp như vậy.
Vì lợi chúng sanh cúng dường Phật
Đúng ý nguyện được quả tương tợ
Với tất cả pháp đều thuận biết
Khắp trong mười phương hiện thần lực.
Tối sơ cúng Phật ý nhu nhuẫn
Nhập đại thiền định quán pháp tánh
Khuyên khắp chúng sanh phát đạo tâm
Do đây mau thành quả vô thượng.
Mười phương cầu pháp lòng không đổi
Vì tu công đức cho đầy đủ
Hai tướng có không đều dứt trừ
Người này thấy Phật đúng chân thật.
Qua khắp các cõi nước mười phương
Nói rộng diệu pháp hưng lợi ích
Trụ nơi thật tế chẳng động dao
Công đức người này đồng với Phật.
Pháp luân vi diệu của Phật dạy
Tất cả đều là bồ đề phần
Nếu được nghe rồi ngộ pháp tánh
Người như đây là thường thấy Phật.
Chẳng thấy thập lực không như huyễn
Dầu thấy nhưng chảng thấy như lòa
Phân biệt chấp tướng chẳng thấy Phật
Rốt ráo lìa chấp mới thấy Phật.
Chúng sanh tùy nghiệp đều sai khác
Mười phương trong ngoài khó thấy hết
Thân Phật vô ngại khắp mười phương
Chẳng thể thấy hết cũng như vậy.
Như trong không giới vô lượng cõi
Không lai không khứ khắp mười phương
Sanh thành diệt hoại vô sở y
Phật khắp hư không cũng như vậy.



Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 2


Phẩm thăng Tu Di sơn đảnh
Thứ mười ba


Lúc bấy giờ, do nơi thần lực của đức Như Lai, thập phương tất cả thế giới, trong mỗi Diêm Phù Đề, đếu thấy đức Phật ngự dưới cội cây bồ đề, đều có Bồ Tát thừa oai thần của Phật mà thuyết pháp, tất cả đều cho rằng mình luôn đối trước Phật.
Đức Phật chẳng rời dưới cây bồ đề, mà thăng lên đảnh núi tu di, hướng đến điện của Đế Thích.
Lúc đó, Thiên Đế ở trước điện Diệu Thắng thấy vọi Phật đến, liền dùng thần lực trang nghiêm điện này; trần thiết tòa sư tử Phổ quang minh tạng, đều dùng diệu bửu làm thành: mười ngàn từng cấp cao vọi trang nghiêm, mười ngàn lưới vàng giăng che phía trên, mười ngàn thứ màn, mười ngàn thứ lọng bày trí giáp vòng, mười ngàn lụa màu thắt tụi thòng rủ, mười ngàn chuỗi bửu châu xen kết, mười ngàn y phục trải trên tòa, mười ngàn thiên tử, mười ngàn Phạm Vương đứng hầu sau trước, mười ngàn ánh sáng chiếu rực.
Thiên Đế chấp tay cúi mình cung kính nghinh tiếp đức Phật mà bạch rằng: "Lành thay đức Thế Tôn!  Lành thay đức Thiện Thệ!  Lành thay đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Giác!  Xin Phật xót thương vào điện này!"
Đức Phật nhận lời vào điện Diệu Thắng.  Trong tất cả thế giới ở mười phương đều đồng như vậy cả.
Do thần lực của đức Phật, bao nhiêu tiếng nhạc trong các cung điện đều im bặt.
Thiên Đế liền tự nhớ đến những căn lành của đức Phật đã tu thời quá khứ, nên nói kệ rằng:
Ca Diếp Như Lai đủ đại bi
Trong những cát tường rất vô thượng
Phật ấy từng đến cung điện này
Thế nên chốn này rất cát tường.
Câu Na Mâu Ni thấy vô ngại
Trong những cát tường rất vô thượng
Phật ấy từng đến cung điện này
Thế nên chốn này rất cát tường.
Câu Lưu Tôn Phật như núi vàng
Trong những cát tường rất vô thượng
Phật ấy từng đến cung điện này
Thế nên chốn này rất cát tường.
Tỳ Xá Phù Phật sạch ba hoặc
Trong những cát tường rất vô thượng
Phật ấy từng đến cung điện này
Thế nên chốn này rất cát tường.
Thí Khí Như Lai lìa phân biệt
Trong những cát tường rất vô thượng
Phật ấy từng đến cung điện này
Thế nên chốn này rất cát tường.
Tỳ Bà Thi Phật như trăng tròn
Trong những cát tường rất vô thượng
Phật ấy từng đến cung điện này
Thế nên chốn này rất cát tường.
Phất Sa Phật đạt đệ nhứt nghĩa
Trong những cát tường rất vô thượng
Phật ấy từng đến cung điện này
Thế nên chốn này rất cát tường.
Đề Xá Như Lai biện vô ngại
Trong những cát tường rất vô thượng
Phật ấy từng đến cung điện này
Thế nên chốn này rất cát tường.
Ba Đầu Ma Phật tịnh vô cấu
Trong những cát tường rất vô thượng
Phật ấy từng đến cung điện này
Thế nên chốn này rất cát tường.
Nhiên Đăng Như Lai quang minh lớn
Trong những cát tường rất vô thượng
Phật ấy từng đến cung điện này
Thế nên chốn này rất cát tường.
Như Đạo Lợi Thiên Vương trong thế giới này, do thần lực của Như Lai, nói kệ ca ngợi công đức của mười đức Phật thời quá khứ, trong thế giới ở mười phương, chư Thiên Đế cũng ca ngợi công đức của chư Phật như vậy.
Lúc đức Thế Tôn ngự kiết già trong điện Diệu Thắng, thoạt nhiên điện này rộng rãi bằng chỗ ở của tất cả chư thiên.  Thập phương thế giới cũng đều như vậy.




Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 2


Phẩm Bồ Tát vấn minh
Thứ mười

Lúc bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hỏi Giác Thủ Bồ Tát: "Phật tử!  Tâm tánh vốn là một, sao lại thấy có các thứ sai khác?  Những là:  Đến đường lành nẻo dữ, căn thân có đủ có thiếu, thọ sanh đồng và khác, đẹp đẽ cùng xấu xí, nào vui nào khổ, nghiệp không biết tâm, mà tâm cũng chẳng biết nghiệp, thọ không rõ báo mà báo cũng chẳng rõ thọ, tâm chẳng biết thọ mà thọ cũng không biết tâm, nhân không biết duyên mà duyên cũng chẳng biết nhân, trí chẳng biết cảnh mà cảnh cũng chẳng biết trí."
Giác Thủ Bồ Tát nói kệ để đáp:
Nay ngài hỏi nghĩa này
Vì liễu ngộ quần mông
Cứ tánh kia, tôi đáp
Xin ngài lóng nghe cho.
Các pháp không tác dụng
Cũng không có thể tánh
Vì thế nên các pháp
Đều chẳng biết được nhau.
Ví như nước trong sông
Các dòng đua nhau chảy
Chúng đều chẳng biết nhau
Các pháp cũng như vậy.
Lại cũng như đống lửa
Đồng thời phát ngọn to
Chúng đều chẳng biết nhau
Các pháp cũng như vậy.
Lại như gió lớn thổi
Xao động các cảnh vật
Chúng đều chẳng biết nhau
Các pháp cũng như vậy.
Lại như các địa giới
Xây vần nương tựa nhau
Các pháp cũng như vậy.
Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân
Tâm ý sáu tình căn
Do dây thường lưu chuyển
Những vẫn không năng chuyển.
Pháp tánh vốn vô sanh
Trong đây không năng hiện
Cũng không vật sở hiện.
Nhãn, nhỉ, tỉ, thiệt, thân
Tâm ý sáu tình căn
Tất cả rỗng vô tánh
Vọng phân biệt mà có.
Cứ đúng lý quan sát
Tất cả đều vô tánh
Pháp nhãn bất tư nghì
Đây là thấy chân thật.
Hoặc vọng hay chẳng vọng
Hoặc thiệt hoặc chẳng thiệt
Thế gian cùng xuất thế
Chỉ là giả ngôn thuyết.
Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hỏi Tài Thủ Bồ Tát:  "Phật tử!  Đức Như Lai tuỳ thời gian như thế nào, cũng như tuỳ mạng sống, tuỳ thân thể, tùy hành vi, tùy hiểu biết, tùy ngôn luận, tuỳ sở thích, tùy phương tiện, tùy tư duyn, tùy quan sát của chúng sanh như thế nào, mà hiện thân Phật để giáo hóa điều phục các chúng sanh ấy?"
Tài Thủ Bồ Tát nói kệ đáp rằng:
Đây là cảnh của bậc
Đa văn thích tịch diệt,
Nay tôi vì ngài đáp
Xin ngài chú ý nghe.
Phân biệt quán nội thân
Trong đây gì là ta?
Nếu hiểu được như vậy
Thời biết ta không.
Thân này là giả tạo
Chỗ trụ không nơi chỗ
Người thiệt biết thân này
Trong đây không chấp trước.
Nơi thân khéo quan sát
Tất cả đều thấy rõ
Biết pháp đều hư vọng
Chẳng khởi tâm phân biệt.
Mạng sống nhân gì có
Rồi nhân gì tan mất
Khác nào vòng lửa xây
Đầu đuôi chẳng biết được.
Người trí hay quan sát
Có tướng đều vô thường
Các pháp, không, vô ngã
Lìa hẳn tất cả tướng.
Các báo, tùy nghiệp sanh
Giả dối như giấc mơ
Luôn luôn thường diệt hoại
Như trước, sau cũng vậy.
Những pháp thấy ở đời
Chỉ do tâm làm chủ,
Tùy hiểu chấp lấy tướng
Điên đảo chẳng đúng thật.
Những ngôn luận trong đời
Đều do phân biệt cả
Chưa từng có một pháp
Được vào nơi pháp tánh.
Sức năng duyên, sở duyên
Sanh ra những pháp tướng
Chóng diệt, chẳng tạm dừng
Niệm niệm đều như vậy.
Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hỏi Bửu Thủ Bồ Tát: "Phật tử!  Tất cả chúng sanh đồng có tứ đại, không ngã, không ngã sở, tại sao lại có những sự khác biệt, như khổ vui, tốt xấu, ưa trong chuộng ngoài, thọ ít hưởng nhiều, hoặc hiện báo, hoặc hậu báo.  Nhưng trong pháp giới vẫn không tốt xấu?"
Bửu Thủ Bồ Tát nói kệ đáp rằng:
Cứ theo nghiệp đã tạo
Sanh quả báo như vậy
Đều không có tác giả
Đây là lời chư Phật.
Như mặt gương sáng sạch
Tuỳ theo cảnh đối tượng
Hiện bóng sai khác nhau
Nghiệp tánh cũng như vậy.
Cũng như ruộng gieo giống
Chúng đều chẳng biết nhau
Tự nhiên mọc lên cây
Nghiệp tánh cũng như vậy.
Như nhà ảo thuật giỏi
Ở tại ngã tư đường
Hiện ra những sắc tướng
Nghiệp tánh cũng như vậy.
Như người gỗ máy móc
Hay vang ra các tiếng
Nó không ngã ngã sở
Nghiệp tánh cũng như vậy.
Cũng như giống chim bay
Từ trứng nở sanh ra
Tiếng kêu không đồng nhau
Nghiệp tánh cũng như vậy.
Ví như trong thai tạng
Căn thân đều thành tựu
Thể tướng không từ đâu
Nghiệp tánh cũng như vậy.
Lại như ở địa ngục
Bao nhiêu là sự khổ
Kia đều không từ đâu
Nghiệp tánh cũng như vậy.
Như vua Chuyển Luân Vương
Có đủ bảy thứ bảo
Chỗ đến không từ đâu
Nghiệp tánh cũng như vậy.
Lại như các thế giới
Lúc đại hoả cháy tan
Lửa này không từ đâu
Nghiệp tánh cũng như vậy.
Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hỏi Đức Thủ Bồ Tát: "Phật tử!  Chỗ giác ngộ của đức Như Lai chỉ là một pháp duy nhất, sao lại bảo là vô lượng pháp, hiện vô lượng cõi, hóa vô lượng chúng, diễn vô lượng âm, thị vô lượng thân, biết vô lượng tâm, hiện vô lượng thần thông, có thể chấn động khắp vô lượng thế giới, thị hiện vô lượng sự thù thắng trang nghiêm, hiển thị vô biên nhiều loại cảnh giới.  Nhưng trong pháp tánh các tướng sai biệt này đều bất khả đắc."
Đức Thủ Bồ Tát nói kệ đáp rằng:
Nghĩa của Phật tử hỏi
Rất sâu khó rõ được
Người trí biết nghĩa này
Thường chứa công đức Phật.
Như đất chỉ một tánh
Mọi loài ở riêng chỗ
Đất không nghĩ đồng khác
Pháp chư Phật như vậy.
Cũng như một đại hải
Ngàn vạn lượng sóng trào
Nước biển vẫn duy nhất
Pháp chư Phật như vậy.
Cũng như gió một tánh
Thổi động tất cả vật
Gió không nghĩ đồng khác
Pháp chư Phật như vậy.
Cũng như mây sấm lớn
Mưa khắp cả mọi nơi
Nước mưa vẫn không khác
Pháp chư Phật như vậy.
Cũng như mặt đất kia
Mọc lên nhiều mầm mộng
Mặt đất chỉ là một
Pháp chư Phật như vậy.
Mặt nhật không mây mờ
Chiếu sáng khắp mười phương
Quang minh không sai khác
Pháp chư Phật như vậy.
Như mặt nguyệt trên cao
Mọi nơi đều nhìn thấy
Mặt nguyệt vẫn một chỗ
Pháp chư Phật như vậy.
Ví như Đại Phạm Vương
Ứng hiện khắp đại thiên
Thân ngài vẫn không khác
Pháp chư Phật như vậy.
Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hỏi Mục Thủ Bồ Tát: "Phật tử!  Như Lai phước điền đồng một không sai khác, sao lại thấy chúng sanh bố thí được của quả báo chẳng đồng?  Những là:  Nhiều loại sắc, nhiều loại thân, nhiều loại căn, nhiều loại nhà, nhiều loại chủ, nhiều loại quyến thuộc, nhiều loại quan chức, nhiều loại công đức, nhiều loại trí huệ?  Nhưng đức Phật đối với họ, tâm Phật thường bình đẳng, không có quan niệm riêng khác?"
Mục Thủ Bồ Tát nói kệ đáp rằng:
Như tất cả vẫn là một
Theo giống mọc mầm khác
Đất không ý thân sơ
Phật phước điền cũng vậy.
Lại như nước một vị
Nhân đồ đựng có khác
Phật phước điền vẫn một
Do tâm người thành khác.
Như nhà ảo thuật khéo
Làm mọi người hoan hỉ
Phật phước điền cũng vậy
Khiến chúng sanh kính vui.
Như vua có tài trí
Hay khiến nhân dân mừng
Phật phước điền cũng vậy
Khiến chúng đều an vui.
Như mặt gương sáng sạch
Theo hình mà hiện bóng
Phật phước điền cũng vậy
Tùy tâm được báo khác.
Như thuốc a già đà
Trị được tất cả độc
Phật phước điền cũng vậy
Dứt các hoạ phiền não.
Như lúc mặt trời mọc
Chiếu sáng khắp thế gian
Phật phước điền cũng vậy
Phá trừ những tối tăm.
Như mặt nguyệt tròn sáng
Chiếu khắp cõi đại địa
Phật phước điền cũng vậy
Bình đẳng với tất cả.
Ví như gió tỳ lam
Chấn động khắp đại địa
Phật phước điền cũng vậy
Động chúng sanh ba cõi.
Như đại hỏa nổi lên
Đốt cháy tất cả vật
Phật phước điền cũng vậy
Đốt tất cả hữu vi.
Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hỏi Cần Thủ Bồ Tát: "Phật tử!  Phật giáo là một, chúng sanh được thấy biết, cớ sao không liền dứt trừ tất cả phiền não hệ phược mà được xuất ly?  Nhưng nơi chúng sanh sắc, thọ, tưởng, hành và thức, năm uẩn, dục, sắc, vô sắc, ba cõi, vô minh, tham ái đều không sai khác.  Như thế thời Phật giáo, đối với chúng sanh, hoặc có lợi ích, hoặc không có lợi ích?"
Cần Thủ Bồ Tát nói kệ đáp rằng:
Phật tử khéo lóng nghe
Nay tôi cứ thiệt đáp
Hoặc có mau giải thoát
Hoặc có khó xuất ly
Nếu muốn cầu dứt trừ
Vô lượng những lỗi ác
Nên ở trong Phật pháp
Dũng mãnh thường tinh tấn.
Ví như chút ít lửa
Đốt ướt thời chóng tắt
Ở nơi trong Phật pháp
Người giải đãi cũng vậy.
Như cọ cây lấy lửa
Chưa cháy mà nghỉ luôn
Thế lửa liền tắt nguội
Người giải đãi cũng vậy.
Như người cầm nhựt châu
Chẳng dùng vật tiếp bóng
Trọn không thể được lửa
Người giải đãi cũng vậy
Như ánh nắng quá chói
Trẻ nít nhắm đôi mắt
Tự nói sao không thấy
Người giải đãi cũng vậy.
Như người không tay chân
Muốn dùng cỏ làm tên
Bắn phá cả đại địa
Người giải đãi cũng vậy.
Như lấy một đầu lông
Muốn chấm khô đại hải
Người giải đãi cũng vậy
Không thể dứt hoặc nghiệp.
Lại như kiếp hỏa nổi
Muốn tắt với ít nước
Ở nơi trong Phật pháp
Người giải đãi cũng vậy.
Như người ngó hư không
Ngồi yên không giao động
Nói mình bay đi khắp
Người giải đãi cũng vậy.
Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hỏi Pháp Thủ Bồ Tát: "Phật tử!  Như lời đức Phật dạy: Nếu có chúng sanh thọ trì chánh pháp thời đều có thể dứt trừ tất cả phiền não?  Nhưng cớ sao có người thọ trì chánh pháp lại tùy thế lực của tham, sân, si, mạn, tuỳ thế lực của phú, phẩn, hận, tật, xan, cuống, siểm,... xoay chuyển không rời nơi tâm.  Người hay thọ trì pháp, cớ sao lại ở trong tâm hành khởi các phiền não?"
Pháp Thủ Bồ Tát nói kệ đáp rằng:
Phật tử khéo lóng nghe
Thật nghĩa ngài đã hỏi
Vì chẳng phải đa văn
Mà vào được Phật pháp.
Như người trôi giữa dòng
Sợ chìm mà chết khát
Nơi pháp chẳng tu hành
Đa văn cũng như vậy.
Như trần thiết vật thực
Chẳng ăn phải đói
Nơi pháp chẳng tu hành
Đa văn cũng như vậy.
Như người giỏi dược phương
Chẳng cứu được bịnh mình
Nơi pháp chẳng tu hành
Đa văn cũng như vậy.
Như người đếm châu báu
Tự mình vẫn nghèo nàn
Nơi pháp chẳng tu hành
Đa văn cũng như vậy.
Như người ở vương cung
Mà tự chịu đói rét
Nơi pháp chẳng tu hành
Đa văn cũng như vậy.
Như điếc tấu âm nhạc
Người nghe mình chẳng nghe
Nơi pháp chẳng tu hành
Đa văn cũng như vậy.
Như mù hoạ hình tượng
Người thấy mình chẳng thấy
Nơi pháp chẳng tu hành
Đa văn cũng như vậy.
Ví như nhà hàng hải
Mà tự chết trong biển
Nơi pháp chẳng tu hành
Đa văn cũng như vậy.
Như ở ngã tư đường
Giảng nói những điều tốt
Mà tự không thật đức
Chẳng tu cũng như vậy.
Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hỏi Trí Thủ Bồ Tát: "Phật tử!  Trong Phật pháp, trí huệ là trên tất cả.  Cớ sao với các chúng sanh, đức Phật hoặc ca ngơi sự bố thí, sự trì giới, hoặc ca ngợi sự nhẫn nhục, sự tinh tấn, thiền định, trí huệ, từ bi, hỉ xả... mà chẳng chỉ dùng một pháp để được giải thoát, thành vô lượng chánh đẳng chánh giác?"
Trí Thủ Bồ Tát nói kệ đáp rằng:
Phật tử rất hi hữu
Biết rõ tâm chúng sanh
Xin lóng nghe tôi đáp
Những nghĩa ngài đã hỏi.
Chư Phật thuở quá khứ
Hiện tại và vị lai
Không có nói một pháp
Mà chứng được đạo quả.
Phật biết tâm chúng sanh
Tánh phận đều chẳng đồng
Tùy chỗ họ đáng thọ
Theo đó mà thuyết pháp.
Vì kẻ tham, khuyên thí
Vì người lỗi, khen giới
Nhiều sân, thời khuyên nhẫn
Giải đãi, thời khuyên siêng.
Loạn tâm phải tu định
Ngu si trau trí huệ
Bất nhân phải từ mẫn
Giận hại khuyên rèn bi.
Lo rầu thời ngợi hỉ
Chấp trước lời khen xả
Tuần tự tu như vậy
Lần đủ các Phật pháp.
Như trước xây nền móng
Rồi sau tạo nhà cửa
Thí và giới cũng vậy
Là gốc hạnh Bồ Tát.
Ví như dựng thành quách
Để bảo hộ dân chúng
Nhẫn và tấn cũng vậy
Phòng hộ chư Bồ Tát.
Ví như Đại Lực Vương
Cả nước đều ngưỡng vọng
Định huệ cũng như vậy
Chỗ tựa của Bồ Tát.
Cũng như vua Chuyển Luân
Ban vui cho nhân loại
Từ bi và hỉ xả
Làm Bồ Tát an vui.
Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hỏi Hiền Thủ Bồ Tát: "Phật tử!  Chư Phật chỉ do một đạo mà được giải thoát.  Cớ sao hiện nay thấy tất cả Phật độ lại có nhiều sự không đồng, những là:  Thế giới, chúng sanh giới, thuyết pháp, điều phục, thọ lượng, quang minh, thần thông, chúng hội, giáo nghĩa, pháp trụ, v.v... đều sai khác nhau.  Không có vị nào chẳng đủ tất cả Phật pháp mà được thành vô thượng bồ đề?"
Hiền Thủ Bồ Tát nói kệ đáp rằng:
Thưa ngài!  Pháp thường vậy
Pháp Vương pháp duy nhất
Tất cả chư Như Lai
Một đạo mà giải thoát.
Thân của tất cả Phật
Chỉ là một pháp thân
Nhất tâm, nhất trí huệ
Lực vô úy cũng vậy.
Như trước đến bồ đề
Bao nhiêu tâm hồi hướng
Được cõi nước như vậy
Chúng hội và thuyết pháp.
Tất cả các cõi Phật
Trang nghiêm đều viên mãn
Tùy chúng sanh hạnh khác
Thấy chẳng đồng như vậy
Cõi Phật cùng thân Phật
Chúng hội và ngôn thuyết
Các Phật pháp như vậy
Chúng sanh chẳng thấy được.
Tâm ý đã thanh tịnh
Hạnh nguyện đều đầy đủ
Người sáng suốt như vậy
Mới được thấy nơi đây.
Tùy chúng sanh tâm thích
Và cùng sức nghiệp quả
Thấy sai khác như vậy
Do oai thần của Phật.
Cõi Phật vô sai biệt
Không ghét cũng không thương
Chỉ tùy tâm chúng sanh
Thấy có khác như vậy.
Do đây nơi thế giới
Chỗ thấy đều sai khác
Chẳng phải chư Như Lai
Bậc Đại Tiên có lỗi.
Tất cả các thế giới
Người đáng được giáo hóa
Thường được thấy Thế Tôn
Pháp chư Phật như vậy.
Lúc đó, chư Bồ Tát nói với Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát: "Phật tử!  Chúng tôi đã tự nói chỗ hiểu biết của mình rồi.  Xin ngài dùng diệu biện tài diễn sướng những cảnh giới của Như Lai:  Những gì là cảnh giới của Phật?  Những gì là nhân của cảnh giới Phật?  Những gì là sự nhập vào của cảnh giới Phật?  Những gì là trí của cảnh giới Phật?  Những gì là pháp của cảnh giới Phật?  Những gì là ngôn thuyết của cảnh giới Phật?  Những gì là sự hiểu biết của cảnh giới Phật?  Những gì là sự chứng của cảnh giới Phật?  Những gì là sự hiện ở của cảnh giới Phật?  Những gì là sự rộng lớn của cảnh giới Phật?"
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói kệ đáp rằng:
Như Lai cảnh giới sâu
Lượng đó khắp hư không
Tất cả chúng sanh vào
Mà thật không chỗ nhập.
Như Lai cảnh giới sâu
Bao nhiêu nhân thắng diệu
Ức kiếp thường tuyên nói
Cũng lại chẳng thể hết.
Tùy tam trí huệ mình
Khuyến tấn đều khiến lợi
Độ chúng sanh như vậy
Là cảnh giới chư Phật.
Những cõi nước thế gian
Tất cả đều theo vào
Trí thân không có sắc
Chẳng phải kia thấy được.
Chư Phật trí tự tại
Tam thế không chướng ngại
Cảnh giới huệ như vậy
Bình đẳng như hư không.
Pháp giới chúng sanh giới
Rốt ráo không sai khác
Tất cả đều rõ biết
Đây là cảnh giới Phật.
Trong tất cả thế giới
Bao nhiêu những âm thinh
Phật trí đều tùy rõ
Cũng không có phân biệt.
Chẳng phải thức biết được
Chẳng phải tâm cảnh giới
Tánh đó vốn thanh tịnh
Khai thị các quần sanh.
Chẳng nghiệp chẳng phiền não
Không vật không trụ xứ
Không chiếu không sở hành
Bình đẳng đi thế gian.
Tất cả tâm chúng sanh
Khắp ở trong ba thời
Như Lai nơi một niệm
Tất cả đều rõ thấu.
Lúc bấy giờ trong cõi Ta Bà này, tất cả chúng sanh, bao nhiêu pháp sai biệt, nghiệp sai biệt, thế gian sai biệt, thân sai biệt, căn sai biệt, thọ sanh sai biệt, trì giới quả sai biệt, phạm giới quả sai biệt, quốc độ quả sai biệt, do thần lực của Phật thảy đều hiện rõ.
Phương đông, trăm ngàn ức na do tha vô số, vô lượng, vô biên, vô đẳng, bất khả số, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết, tận pháp giới hư không giới, trong tất cả thế giới, bao nhiêu chúng sanh pháp sai biệt, đều do thần lực của Phật mà hiển hiện rõ ràng.
Những phương nam, tây, bắc, đông bắc, đông nam, tây nam, tây bắc, thượng, hạ, cũng đều như vậy.



Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-10-10 09:40:36canary>
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 1

Phẩm Hoa Tạng thế giới
Thứ năm


Lúc đó Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử!  Hoa Tạng thế giới hải này, được trang nghiêm tịnh là do đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai, thuở xưa lúc tu hạnh Bồ Tát trải qua thế giới hải vi trần số kiếp, trong mỗi kiếp gần gũi vi trần số Phật, nơi mỗi Phật tu tập vi trần số đại nguyện thanh tịnh.
Chư Phật tử!  Hoa Tạng thế giới trang nghiêm này, có tu di sơn vi trần số phong luân nhiếp trì.  Phong luân dưới chót tên Bình Đẳng Trụ có thể nhiếp trì phong luân trên, trang nghiêm với vô số ngọn lửa báu sáng rực rỡ.  Phong luân kế trên tên Xuất Sanh Chủng Chủng Bửu Trang Nghiêm có thể nhiếp trì từng trên tràng ma ni vương sáng rỡ.
Phong luân kế trên, tên Bửu Oai Đức có thể nhiếp trì từng trên vô số bửu linh.  Phong luân kế trên tên Bình Đẳng Diêm có thể nhiếp trì từng trên ma ni vương sáng như mặt trời.  Phong luân kế trên tên Chủng Chủng Phổ Trang Nghiêm có thể nhiếp trì từng vòng hoa sáng chói.  Phong luân kế trên tên Phổ Thanh Tịnh có thể nhiếp trì từng trên tòa sư tử hoa báu chiếu sáng.  Phong luân kế trên tên Thinh Biến Thập Phương có thể nhiếp trì từng trên tràng vô số châu vương.  Phong luân kế trên tên Nhứt Thiết Bửu Quang Minh có thể nhiếp trì từng trên cây báu vô số ma ni vương.  Phong luân kế trên tên Tốc Tật Phổ Trì có thể nhiếp trì từng trên mây tu di tất cả hương ma ni.  Phong luân kế trên tên Chủng Chủng Cung Điện Du Hành có thể nhiếp trì từng trên mây hương đài tất cả bửu sắc. 
Chư Phật tử!  Lần lượt đến tu di sơn vi trần số phong luân, trên hết tên Thù Thắng Oai Quang Tạng có thể nhiếp trì biển hương thủy phổ quang ma ni trang nghiêm.  Biển hương thủy này có liên hoa lớn tên Chủng Chủng Quang Minh Nhụy Hương Tràng.  Hoa Tạng thế giới hải trụ trong tràng đó, bốn phương bằng thẳng thanh tịnh kiên cố, kim cang luân sơn bao giáp vòng, những cây nơi đất biển đều có khu vực sai khác."
Lúc đó, Phổ Hiền Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này, thừa oai thần của Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Thế Tôn thuở xưa nơi các cõi
Chỗ chư Phật ngự tu tịnh nghiệp
Nên được các thứ bửu quang minh
Hoa Tạng trang nghiêm thế giới hải.
Từ bi rộng lớn khắp tất cả
Xả thân vô lượng số vi trần
Do xưa nhiều kiếp sức tu hành
Nay thế giới này không cấu nhiễm.
Phóng đại quang minh trụ không gian
Phong luân nhiếp trì không dao động
Phật tạng ma ni khắp nghiêm sức
Nguyện lực Như Lai khiến thanh tịnh.
Khắp rải hoa ma ni diệu tạng
Do đại nguyện lực trụ không gian
Các thứ biển kiên cố trang nghiêm
Mây sáng bủa giăng khắp mười phương.
Trong xuân ma ni chúng Bồ Tát
Khắp đến mười phương sáng rực rỡ
Lửa sáng thành vòng hoa đẹp tốt
Pháp giới châu lưu khắp tất cả.
Trong tất cả báu phóng quang mih
Quang minh đó chiếu khắp chúng sanh
Cõi nước mười phương đều chiếu đến
Khiến chúng khỏi khổ đến bồ đề.
Trong báu, Phật số đồng chúng sanh
Từ chân lông Phật hiện hóa thân
Phạm Vương Đế Thích chuyển luân vương
Tất cả chúng sanh và chư Phật.
Hóa hiện quang minh khắp pháp giới
Quang minh diễn nói tên chư Phật
Các thứ phương tiện hiện điều phục
Ứng khắp lòng chúng không bỏ sót.
Những vi trần trong hoa tạng giới
Trong mỗi mỗi trần thấy pháp giới
Bửu quang hiện Phật như mây nhóm
Chư Phật như vậy ngự tự tại.
Nguyện lực quảng đại khắp pháp giới
Trong tất cả kiếp độ chúng sanh
Hạnh nguyện Phổ Hiền trí đều thành
Tất cả trang nghiêm do đây có.
Lúc đó, Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử!  Hoa Tạng trang nghiêm thế giới hải này, đại luân vi sơn sở trên liên hoa nhựt châu vương, chiên đàn ma ni làm thân, oai đức bửu vương làm chót, diệu hương ma ni làm luân, diệm tạng kim cang hiệp thành, tất cả hương thủy chảy trong đó, rừng bằng châu báu, hoa tốt đua nở, cỏ thơm trải đất, minh châu xen trang nghiêm, khắp nơi đầy những hoa thơm, châu ma ni làm lưới giăng trùm, có thế giới hải vi trần số sự trang nghiêm tốt đẹp như vậy."
Lúc đó, Phổ Hiền Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này, thừa oai lực của Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Thế giới đại hải vô lượng biên
Bửu luân thanh tịnh nhiều màu sắc
Những sự trang nghiêm đều đẹp lạ
Đây do thần lực của Như Lai.
Ma ni bửu luân diệu hương luân
Nhẫn đến chơn châu như đèn sáng
Các thứ diệu bửu dùng trang nghiêm
Thanh tịnh bửu luân chỗ an trụ.
Ma ni kiên cố dùng làm tạng
Diêm phù đàn kim dùng trang sức
Phóng quang phát sáng khắp mười phương
Trong ngoài chói suốt đều thanh tịnh.
Kim cang ma ni họp lại thành
Lại rưới ma ni các diệu bửu
Bửu đó đẹp lạ đều khác nhau
Phóng quang thanh tịnh khắp tráng lệ.
Hương thủy chảy xen vô lượng sắc
Rưới những bửu hoa và chiên đàn
Hoa sen đua nở khắp mọi nơi
Cỏ thơm trải đất hương ngào ngạt.
Vô lượng cây báu khắp trang nghiêm
Hoa nở nhị đơm mầu sáng rỡ
Y phục xinh đẹp ở trong đó
Mây sáng bốn phương thường viên mãn.
Vô lượng vô biên đại Bồ Tát
Cầm lọng thắp hương đầy pháp giới
Đều phát tất cả diệu thinh âm
Chuyển chánh pháp luân của chư Phật.
Những cây ma ni bằng chất báu
Mỗi chất báu đều phóng quang minh
Tỳ Lô Giá Na thanh tịnh thân
Hiện vào trong đó đều khiến thấy.
Trong những trang nghiêm hiện thân Phật
Sắc tướng vô biên vô lượng số
Qua đến mười phương khắp mọi nơi
Hóa độ chúng sanh cũng vô lượng.
Tất cả trang nghiêm vang tiếng diệu
Diễn nói bổn nguyện của Như Lai
Sát hải thanh tịnh khắp mười phương
Thần lực của Phật khiến đầy khắp.
Lúc đó, Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử!  Trong đại luân vi sơn nơi thế giới hải này, tất cả đại địa đều do kim cang hiệp thành, kiên cố trang nghiêm chẳng thể hư hoại, bằng phẳng thanh tịnh, ma ni làm luân, các thứ báu làm tạng, những ma ni bửu xen lẫn trong đó, rải những mạt châu báu, hoa sen trải đất, hương tạng ma ni xen trong hoa.  Những đồ trang nghiêm đầy khắp như mây, tất cả sự trang nghiêm trong tất cả quốc độ của tam thế chư Phật đều họp lại để nghiêm sức, ma ni diệu bửu làm lưới hiện tất cả cảnh giới của Như Lai như lưới thiên đế giăng hàng trong đó.
Chư Phật tử!  Đại địa của thế giới hải này có thế giới hải vi trần số sự trang nghiêm như vậy."
Lúc đó, Phổ Hiền Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này, thừa thần lực của Phật, quan sát mười phương mà nói kệ rằng:
Đại địa bằng phẳng rất thanh tịnh
An trụ kiên cố không hư hoại
Khắp chốn, ma ni dùng trang nghiêm
Trong đó các báu cùng xen lẫn.
Kim cang làm đất rất đáng thích
Bửu luân bửu võng trang nghiêm đủ
Hoa sen trải trên đều viên mãn
Diệu y giăng trùm đều cùng khắp.
Thiên quang anh lạc chuỗi ngọc báu
Trải giăng đầy đất trang nghiêm đẹp
Chiên đàn ma ni rải khắp nơi
Đều phóng quang minh đẹp thanh tịnh.
Bửu hoa sáng chói phóng quang minh
Tia sáng như mây chiếu tất cả
Rải hoa đẹp đầy và các báu
Trùm khắp mặt đất để nghiêm sức.
Mây dày giăng bủa khắp mười phương
Quang minh quảng đại vô cùng tận
Khắp đến mười phương tất cả cõi
Diễn pháp cam lồ của Như Lai.
Trong châu ma ni đều khắp hiện
Đại nguyện của Phật vô biên kiếp
Công hạnh thuở xưa của Như Lai
Trong châu báu này đều hiện đủ.
Những báu ma ni nơi đại địa
Tất cả quốc độ đều đến nhập
Những quốc độ kia mỗi vi trần
Tất cả quốc độ nhập trong đó.
Diệu bửu trang nghiêm Hoa Tạng giới
Bồ Tát du hành khắp mười phương
Diễn nói hoằng thệ của đại sĩ
Đây là thần lực của đạo tràng.
Ma ni diệu bửu khắp trang nghiêm
Phóng tịnh quang minh đủ sự đẹp
Đầy khắp pháp giới khắp hư không
Phật lực tự nhiên hiện như vậy.
Những ai tu tập nguyện Phổ Hiền
Vào cảnh giới Phật bực đại trí
Biết được trong thế giới hải này
Như vậy tất cả sự thần biến.
Lúc đó, Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử!  Trong đại địa của thế giới hải này có mười bất khả thuyết Phật sát vi trần số hương thủy hải.  Tất cả diệu bửu trang nghiêm đáy biển.  Diệu hương ma ni trang nghiêm bờ biển.  Tỳ Lô Giá Na ma ni bửu vương dùng làm lưới.  Trong biển đầy những nước thơm đủ màu chói suốt.  Nhiều thứ hoa báu xoay giăng trên mặt nước.  Bột min chiên đàn lóng đọng dưới nước.  Diễn ngôn âm của Phật, phóng quang minh báu.  Vô biên Bồ Tát cầm các thứ lọng, hiện thần thông.  Bao nhiêu sự trang nghiêm của tất cả thế giới đều hiện trong đó.  Thềm bực bằng mười chất báu liệt hàng khắp nơi.  Bao quanh bằng lan can mười báu.  Tứ thiên hạ vi trần số châu báu trang nghiêm.  Bạch liên hoa đua nở trong nước.  Bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha số tràng thi la mười báu.  Hằng hà sa số tràng thi la mười báu.  Hằng hà sa số tràng y linh lưới báu.  Hằng hà sa số lâu các báu đẹp vô biên sắc tướng.  Trăm ngàn ức na do tha thành liên hoa mười báu.  Tứ thiên hạ vi trần rừng cây báu.  Bửu diệm ma ni dùng làm lưới.  Có hằng hà sa số hương chiên đàn, ngọc ma ni sáng chói vang ngôn âm chư Phật.  Bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha rào tường bằng châu báu bao quanh khắp nơi để trang nghiêm."
Lúc đó, Phổ Hiền Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này, thừa thần lực của Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Đại địa trong thế giới này
Có hương thủy hải ma ni đẹp
Diệu bửu thanh tịnh trải đáy biển
Ở trong kim cang chẳng hư hoại.
Hương tạng ma ni xây thành bờ
Châu luân nhựt diệm như mây bủa
Diệu bửu liên hoa làm anh lạc
Nơi nơi trang nghiêm rất thanh tịnh;
Nước thơm đựng trong đủ các màu
Hoa báu xoay giăng phóng ánh sáng
Tiếng vang chấn động khắp gần xa
Do Phật oai thần nên diễn pháp.
Thềm bực trang nghiêm đủ chất báu
Lại dùng ma ni để trang sức
Lan can bao quanh bằng châu báu
Lưới báu liên hoa như mây bủa.
Cây báu ma ni liệt thành hàng
Hoa nhuỵ đua nở sáng rực rỡ
Các thứ tiếng nhạc luôn hòa tấu
Thần thông của Phật khiến như vậy.
Hương diệm chói ngời không tạm dừng
Những bạch liên hoa đơm báu đẹp
Giăng bủa trang nghiêm biển nước thơm
Quảng đại viên mãn đều đầy khắp.
Tràng báu minh châu thường sáng rực
Y đẹp rủ thòng để nghiêm sức
Lưới linh như ý diễn pháp âm
Khiến người nghe tiếng hướng Phật trí.
Liên hoa diệu bửu làm thành quách
Những ma ni màu trang nghiêm đẹp
Chơn châu như mây giăng bốn phương
Như vậy trang nghiêm biển hương thủy.
Rào tường bao quang đều khắp vòng
Lâu các vọng nhau giăng trên đó
Vô lượng tia sáng thường chói rực
Nhiều thứ trang nghiêm biển thanh tịnh.
Tỳ Lô Như Lai thuở xa xưa
Tất cả sát hải đều nghiêm tịnh
Như vậy rộng lớn vô lượng biên
Đều là Như Lai tự tại lực.
Lúc đó, Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử!  Mỗi biển hương thủy chảy vòng bên hữu.  Tất cả con sông này đều dùng kim cang làm bờ, tịnh quang ma ni dùng để trang nghiêm, thường hiện mây sáng màu báu đẹp của chư Phật và những ngôn âm của các chúng sanh.  Những chỗ nước xoáy trong các sông ấy, hiện ra hình tướng tất cả công hạnh của chư Phật đã tu tập.  Lưới giăng bằng ma ni treo linh và lạc báu, những sự trang nghiêm của các thế giới hải đều hiện trong lưới đó.  Mây báu ma ni trùm trên đó.  Mây này khắp hiện sự thần thông của đức Tỳ Lô Giá Na, thập phương Hóa Phật và tất cả chư Phật.  Lại vang ra tiếng vi diệu xưng dương danh hiệu của tam thế chư Phật và Bồ Tát.  Trong hương thủy đó thường xuất sanh tất cả bửu diệm, mây sáng nối luôn chẳng dứt.  Nếu nói rộng ra, thời mỗi con sông đều có thế giới hải vi trần số sự trang nghiêm."
Lúc đó, Phổ Hiền Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này, thừa oai lực của Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Dòng nước thơm trong đầy cả sông
Kim cang diệu bửu làm bờ bực
Mạt báu làm luân trải đáy sông
Những thứ nghiêm sức đều báu đẹp.
Thềm báu liệt hàng đẹp trang nghiêm
Lan can bao vòng rất tráng lệ
Chơn châu làm tạng những hoa đẹp
Những tràng chuỗi ngọc đồng rũ xuống.
Nước thơm sáng báu màu thanh tịnh
Thường tuôn ma ni dòng chảy xiết
Các hoa theo sóng đều động dao
Đồng tấu nhạc âm tuyên diệu pháp.
Bột mịn chiên đàn làm bun đọng
Tất cả diệu bửu đồng xoáy khoắn
Hương tạng ngào ngạt đầy mặt nước
Phát sáng tuôn thơm khắp mọi nơi.
Trong sông xuất sanh những diệu bửu
Đều phóng quang minh màu chói rực
Quang minh ảnh hiện thành đài tòa
Lọng báu chuỗi ngọc đều đầy đủ.
Trong ma ni vương hiện thân Phật
Quang minh chiếu khắp mười phương cõi
Dùng đây làm luân đẹp mặt đất
Nước thơm chói suốt thường đầy khắp.
Ma ni làm lưới, vàng làm lạc
Trùm khắp hương hà diễn tiếng Phật
Tuyên đủ tất cả đạo bồ đề
Cùng với hạnh Phổ Hiền vi diệu.
Bờ báu ma ni rất thanh tịnh
Thường vang tiếng nói bổn nguyện Phật
Tất cả chư Phật xưa tu hành
Tiếng vang diễn nói đều nghe được.
Trong sông những chỗ nước xoáy khoắn
Bồ Tát như mây thường hiện ra
Những quốc độ lớn đều đầy khắp.
Châu vương thanh tịnh bủa như mây
Tất cả hương hà đều che khắp
Chân kia đồng Phật tướng bạch hào
Sáng rỡ hiển hiện bóng chư Phật.
Lúc đó, Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng: "Chư Phật tử!  Hai bên bờ đất của những sông hương thủy này đều trang nghiêm bằng những diệu bảo.  Mỗi mỗi đều có tứ thiên hạ vi trần số những báu trang nghiêm.  Bạch liên hoa khắp các nơi.  Mỗi nơi đều có tứ thiên hạ vi trần số rừng cây báu hàng lối thứ tự.  Trong mỗi mỗi cây thường tuôn ra những mây đẹp, ma ni bửu vương chiếu sáng trong đó.  Các thứ hoa thơm đầy trên cây.  Những cây báu ấy lại vang ra tiếng vi diệu diễn nói đại nguyện của chư Phật đã tu hành trong nhiều kiếp.  Lại rưới các thứ ma ni bửu vương đầy khắp mặt đất: những là liên hoa luân ma ni bửu vương, hương diệm quang vân ma ni bửu vương, chủng chủng nghiêm sức ma ni bửu vương, hiện bất tư nghì trang nghiêm sắc ma ni bửu vương, hiện Phật thần biến ma ni bửu vương, hiện chúng sanh nghiệp báo hải ma ni bửu vương.  Có thế giới hải vi trần số ma ni bửu vương như vậy.  Hai bên bờ đất của những sông hương thủy đều có đủ những sự trang nghiêm như vậy."
Lúc đó, Phổ Hiền Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này, thừa thần lực của Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Đất kia bằng phẳng, rất thanh tịnh
Chơn kim ma ni đồng nghiêm sức
Cây báu thẳng hàng che trong đó
Cao vọi buông thành rợp như mây.
Nhánh lá toàn bằng báu trang nghiêm
Hoa nở phóng quang chiếu bốn phía
Trái bằng ma ni như mây giăng
Khiến khắp mười phương thường hiện thấy.
Ma ni trải đất đều đầy khắp
Bột báu màu đẹp đồng trang nghiêm
Lại dùng ma ni làm cung điện
Đều hiện tượng hình của chúng sanh
Châu ma ni vương hiện ảnh Phật
Khắp trên mặt đất đều rải khắp
Như vậy sáng chói khắp mười phương
Trong mỗi vi trần đều thấy Phật.
Diệu bửu trang nghiêm khéo chia giăng
Lưới đèn chơn châu xen lẫn nhau
Nơi nơi đều có ma ni luân
Mỗi châu hiện thần thông của Phật.
Châu báu trang nghiêm phóng sáng lớn
Trong tia sáng đó hiện Hóa Phật
Nơi nơi chốn chốn đều cùng khắp
Đều dùng thập lực khai diễn rộng.
Ma ni diệu bửu bạch liên hoa
Trong tất cả sông đều mọc khắp
Hoa sen nhiều loại chẳng đồng nhau
Đều hiện quang minh không dứt hết.
Những sự trang nghiêm trong ba thuở
Trong trái ma ni đều hiển hiện
Thể tánh vô sanh bất khả thủ
Đây là Như Lai tự tại lực.
Tất cả trang nghiêm mặt đất này
Đều hiện Như Lai thân quảng đại
Kia cũng chẳng đến cũng chẳng đi
Phật xưa nguyện lực đều khiến thấy.
Trong mỗi vi trần mặt đất này
Tất cả Phật tử đương hành đạo
Đều thấy cõi mình được thọ ký
Tùy theo ý nguyện đều thanh tịnh.
Lúc đó, Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử!  Thế giới hải trang nghiêm của chư Phật Thế Tôn đều bất tư nghì.  Vì sao vậy?  Này chư Phật tử!  Tất cả cảnh giới của Hoa Tạng thế giới hải này, mỗi mỗi đều dùng thế giới hải vi trần số công đức thanh tịnh để trang nghiêm."
Lúc đó, Phổ Hiền Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này, thừa thần lực của Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Tất cả chỗ trong sát hải này
Đều trang sức với nhiều thứ báu
Phát sáng trên không, bủa như mây
Quang minh rổng suốt, thường giăng đậy.
Ma ni tuôn mây không cùng tận
Ảnh Phật mười phương hiện trong đó
Thần thông biến hóa chẳng tạm dừng
Tất cả Bồ Tát đồng vân tập.
Những ngọc ma ni diễn Phật âm
Tiếng Phật mỹ diệu bất tư nghì
Tỳ Lô Giá Na xưa tu hành
Trong bảo châu này luôn nghe thấy.
Quang minh thanh tịnh đấng Biến Tri
Trong đồ trang nghiêm đều hiện bóng
Biến hóa phân thân chúng vây quanh
Tất cả sát hải đều cùng khắp.
Tất cả Hoá Phật đều như huyễn
Tìm chỗ đến kia đều chẳng được
Bởi sức oai thần cảnh giới Phật
Trong tất cả cõi hiện như vậy.
Thần thông tự tại của Như Lai
Đều khắp mười phương các quốc độ
Trong sự trang nghiêm của cõi này
Nơi các bửu châu đều hiện rõ.
Những sự biến hóa ở mười phương
Tất cả đều như ảnh trong gương
Chỉ do Như Lai xưa tu hành
Thần thông nguyện lực cấu tạo được.
Nếu Phật tử tu hạnh Phổ Hiền
Vào biển thắng trí của Bồ Tát
Có thể nơi trong các vi trần
Khắp hiện thân mình tịnh quốc độ.
Bất khả tư nghì ức đại kiếp
Gần gũi tất cả chư Như Lai
Tất cả công hạnh đã tu hành
Trong một sát na do tha đều hiện được.
Chư Phật quốc độ như hư không
Vô đẳng vô sanh và vô tướng
Vì lợi chúng sanh mà trang nghiêm
Vì bổn nguyện nên trụ trong đó.
Lúc đó, Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử!  Nay tôi sẽ nói trong đây có những thế giới nào an trụ.
Chư Phật tử!  Trong mười bất khả thuyết Phật sát vi trần số hương thủy hải này, có mười bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới chủng an trụ.  Mỗi thế giới chủng lại có mười bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới.
Chư Phật tử!  Ở trong thế giới hải, các thế giới chủng kia đều riêng nương ở, đều riêng hình trạng, đều riêng thể tánh, đều riêng phương sở, đều riêng thu nhập, đều riêng trang nghiêm, đều riêng chừng ngằn, đều riêng bày hàng, đều riêng vô sai biệt, đều riêng năng lực gia trì.
Chư Phật tử!  Các thế giới chủng này, hoặc có nương đại liên hoa hải mà an trụ, hoặc có nương vô biên sắc bửu hoa hải mà an trụ, hoặc có nương nhứt thiết chơn châu tạng bửu anh lạc hải mà an trụ, hoặc có nương hương thủy hải mà an trụ, hoặc có nương nhứt thiết hoa hải mà an trụ, hoặc có nương ma ni bửu võng hải mà an trụ, hoặc có nương triền lưu quang hải mà an trụ, hoặc có Bồ Tát bửu trang nghiêm quan hải mà an trụ, hoặc có nương chủng chủng chúng sanh thân hải mà an trụ, hoặc có nương nhứt thiết Phật âm thinh ma ni vương hải mà an trụ, có thế giới hải vi trần số sự an trụ như vậy.
Chư Phậ tử!  Tất cả thế giới chủng đó hình trạng đều khác nhau: hoặc hình núi tu di, hoặc hình sông, hoặc hình xoay chuyển, hoặc hình nước xoáy, hoặc hình trục xe, hoặc hình lễ đàn, hoặc hình rừng cây, hoặc hình lầu gác, hoặc hình sơn tràng, hoặc hình vuông góc, hoặc hình hoa sen, hoặc hình thai tạng, hoặc hình khư lặc ca, hoặc hình thân chúng sanh, hoặc hình mây, hoặc hình tướng hảo của Phật, hoặc hình quang minh viên mãn, hoặc hình lưới chơn châu, hoặc hình ngạch cửa, hoặc hình đồ trang nghiêm, có thế giới hải vi trần số hình trạng như vậy.
Chư Phật tử!  Những thế giới chủng đó hoặc dùng thập phương ma ni vân làm thể, hoặc dùng quang minh làm thể, hoặc dùng lửa báu thơm làm thể, hoặc dùng tất cả báu trang nghiêm làm thể, hoặc dùng ảnh tượng Bồ Tát làm thể, hoặc dùng quang minh chư Phật làm thể, hoặc dùng sắc tướng của Phật làm thể, hoặc dùng một bửu quang làm thể, hoặc dùng nhiều bửu quang làm thể, hoặc dùng thinh âm những nghiệp hải của tất cả chúng sanh làm thể, hoặc dùng thinh âm thanh tịnh cảnh giới của tất cả chư Phật làm thể, hoặc dùng thinh âm đại nguyện hải của tất cả Bồ Tát làm thể, hoặc dùng thinh âm phương tiện của tất cả Phật làm thể, hoặc dùng thinh âm đồ trang nghiêm thành hoại của tất cả cõi làm thể, hoặc dùng thinh âm của vô biên Phật làm thể, hoặc dùng thinh âm biến hóa của chư Phật làm thể, hoặc dùng thinh âm thiện của tất cả chúng sanh làm thể, hoặc dùng thinh âm thanh tịnh biển công đức của tất cả Phật làm thể, có thế giới vi trần số thể tánh như vậy."
Lúc đó, Phổ Hiền Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này, thừa thần lực của Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Sát chủng kiên cố diệu trang nghiêm
Quảng đại thanh tịnh quang minh tạng
An trụ nơi bửu hải liên hoa
Hoặc an trụ nơi hương thủy hải.
Hình tu điều phục, thành, cây, lễ đàn
Tất cả sát chủng khắp mười phương
Các loại trang nghiêm hình chẳng đồng
Đều riêng của giăng mà an trụ.
Hoặc thể tánh là tịnh quang minh
Hoặc là hoa tạng và bửu vân
Hoặc do những ánh lửa cấu thành
An trụ ma ni tạng bất hoại.
Mây đèn màu lửa quang minh thảy
Nhiều loại vô biên màu thanh tịnh
Hoặc dùng ngôn âm để làm thể
Là tiếng bất tư nghì của Phật.
Hoặc do nguyện lực vang ra tiếng
Thần biến âm thinh làm thể tánh
Phước nghiệp rộng lớn của chúng sanh
Công đức âm của Phật cũng vậy.
Sát chủng mỗi môn đều sai khác
Chẳng thể nghĩ bàn vô cùng tận
Mười phương như vậy đều cùng khắp
Quảng đại trang nghiêm hiện thần lực.
Những cõi rộng lớn ở mười phương
Đều hiện vào trong thế giới này
Dầu thấy mười phương hiện trong đây
Mà thiệt không vào cũng không đến.
Đem một sát chủng vào tất cả
Tất cả vào một cũng không thừa
Thể tướng như cũ không đổi dời
Vô đẳng vô lượng đều cùng khắp.
Trong vi trần của tất cả cõi
Đều thấy Như Lai hiện trong đó
Nguyện hải ngôn âm như sấm vang
Tất cả chúng sanh đồng điều phục.
Phật thân cùng khắp tất cả cõi
Vô số Bồ Tát đều đầy khắp
Như Lai tự tại không ai bằng
Hóa độ tất cả các hàm thức.
Lúc đó, Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng rằng: "Chư Phật tử!  Mười bất khả thuyết Phật sat vi trần số hương thủy hải này ở trong Hoa Tạng thế giới hải giăng bày như lưới báu của thiên đế.
Chư Phật tử!  Hương thủy hải ở trung ương tên Vô Biên Diệu Hoa Quang.  Đáy biển là tràng ma ni vương hiện tất cả hình Bồ Tát, xuất sanh một đại liên hoa tên Nhứt Thiết Hương Ma Ni Trang Nghiêm.  Trên đó có thế giới chủng tên Phổ Chiếu Thập Phương Xí Nhiên Bửu Quang Minh, dùng tất cả đồ trang nghiêm làm thể.  Trong đây có bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới. Phương dưới tất cả, có thế giới tên Tối Thắng Quang Biến Chiếu, dùng kim cang trang nghiêm quang diệu luân làm tế, nương bửu ma ni hoa mà trụ.  Trạng như hình ma ni bửu.  Mây bửu hoa trang nghiêm giăng trùm trên đó.  Trong đây có một Phật sát vi trần số thế giới bao quanh.  Phật hiệu Tinh Nhãn Ly Cấu Đăng.
Qua khỏi phật sát vi trần số thế giới về thượng phương, có thế giới tên Chủng Chủng Hương Liên Hoa Diệu Trang Nghiêm, dùng tất cả đồ trang nghiêm làm tế, nương bửu liên hoa võng mà trụ, trạng như tòa sư tử, mây bửu sắc châu che trùm, hai phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Sư Tử Quang Thắng Chiếu.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Trang Nghiêm Phổ Chiếu Quang, dùng hương phong luân làm tế, nương bửu hoa anh lạc mà trụ, hình tám góc, mây ma ni nhựt luân giăng che, ba phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Tịnh Quang Trí Thắng Tràng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chủng Chủng Quang Minh Hoa Trang Nghiêm, dùng bửu vương làm tế, nương biển kim cang thi la tràng mà trụ, hình như liên hoa ma ni, mây kim cang ma ni bửu quanh che giăng, bốn phật sát vi trần số thế giới bao quanh, đều thuần thanh tịnh, Phật hiệu Kim Cang Quang Minh Vô Lượng Tinh Tấn Lực Thiện Xuất Hiện.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Phổ Phóng Diệu Hoa Quang, dùng bửu linh trang nghiem võng làm tế, nương biển thọ lâm trang nghiêm bửu luân võng mà trụ, hình khắp vuông vức mà có nhiều cạnh góc, mây phạm âm ma ni vương che giăng, năm phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Hương Quang Hỉ Lực Hải.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Tịnh Diệu Quang Minh, dùng tràng bửu vương trang nghiêm làm tế, nương biển kim cang cung điện mà trụ, hình vuông mây ma ni luân kế trướng giăng che, sáu phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Phổ Quang Tự Tại Tràng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chúng Hoa Diệm Trang Nghiêm, dùng hoa trang nghiêm làm tế, nương biển bửu sắc diệm mà trụ, hình như lầu các, mây bửu sắc ý chơn châu lan thuẫn giăng che, bảy phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Hoan Hỉ Công Đức Danh Xưng Tự Tại Quang.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Xuất Sanh Oai Lực Địa, dùng xuất nhứt thiết thinh ma ni vương trang nghiêm làm tế, nương biển bửu sắc liên hoa tòa hư không mà trụ, hình như lưới nhơn đà la, mây vô biên sắc hoa võng giăng che, tám phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Quảng Đại Danh Xưng Trí Hải Tràng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Xuất Diệu Âm Thinh, dùng tâm vương ma ni trang nghiêm làm tế, nương biển ma ni vương hằng xuất diệu âm thinh trang nghiêm vân mà trụ, hình như thân Phạm Thiên, mây tòa sư tử vô lượng bửu trang nghiêm giăng che, chín phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Thanh Tịnh Nguyện Quang Minh Tướng Vô Năng Tối Phục.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Kim Cang Tràng, dùng vô biên trang nghiêm chơn châu tạng bửu anh lạc mà tế, nương biển trang nghiêm bửu sư tử tòa ma ni mà trụ, hình tròn, mười tu di sơn vi trần số mây ma ni hoa hương giăng che, mười phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Nhứt Thiết Pháp Hải Tối Thắng Vương.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hằng Xuất Hiện Đế Thanh Bửu Quang Minh, dùng kim cang trang nghiêm làm tế, nương biển chủng chủng thù thù dị hoa mà trụ, hình bán nguyệt, mây thiên bửu trướng giăng che, mười một phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Vô Lượng Công Đức Pháp.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Quang Minh Chiếu Diệu, dùng phổ quang trang nghiêm làm tế, nương biển hoa triền hương thủy mà trụ, hình như hoa triền, nhiều thứ y vân giăng che, mười hai phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Siêu Thích Phạm.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Ta Bà, dùng kim cang trang nghiêm làm tế, nương liên hoa võng do phong luân nhiếp trì mà trụ, hình như hư không, dùng mây thiên cung điện trang nghiêm giăng che, mười ba phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật chính là đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Tịch Tịnh Ly Trần Quang, dùng bửu trang nghiêm làm tế, nương biển chủng chủng bửu y mà trụ, trạng như hình chấp kim cang, mây vô biên sắc kim cang giăng che, mười bốn phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Biến Pháp Giới Thắng Âm.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chúng Diệu Quang Minh Đăng, dùng trướng trang nghiêm làm tế, nương biển tịnh hoa võng mà trụ, hình như chữ vạn, mây ma ni thọ, hương thủy hải giăng che, mười lăm phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Bất Khả Tôi Phục Lực Phổ Chiếu Tràng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thanh Tịnh Quang Biến Chiếu, dùng vô tận bửu vân ma ni vương làm té, nương biển chủng chủng hương diệm liên hoa mà trụ, hình như quy giáp, mây ma ni luân chiên đàn giăng che, mười sáu phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Thanh Tịnh Nhựt Công Đức Nhãn.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Trang Nghiêm Tạng dùng chúng sanh hình ma ni vương làm tế, nương biển quang minh tạng ma ni vương mà trụ, hình tám góc, dùng lưới luân vi trần sơn bửu trang nghiêm hoa thọ giăng che, mười bảy phật sát vi trần số bao quanh, Phật hiệu Vô Ngại Trí Quang Minh Biến Chiếu Thập Phương.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Ly Trần, dùng Diệu Tướng Trang Nghiêm làm tế, nương biển chúng diệu hoa sư tử tòa mà trụ, hình như chuỗi ngọc, dùng mây ma ni vương viên quang giăng che, mười tám phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Vô Lượng Phương Tiện Tối Thắng Tràng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thanh Tịnh Quang Phổ Chiếu, dùng xuất vô tận bửu vân ma ni vương làm tế, nương biển vô lượng sắc hương diệm tu di sơn mà trụ, hình như bửu hoa xoay nở, mây vô biên sắc quang minh ma ni vương đề thanh giăng che, mười chín phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Phổ Chiếu Pháp Giới Hư Không Quang.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Bửu Diệm, dùng phổ quang minh nhựt nguyệt bửu làm tế, nương biển thiên hình ma ni vương mà trụ, trạng như đồ bửu trang nghiêm, mây bửu y tràng và lưới ma ni đăng tạng giăng che, hai mươi phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh.  Phật hiệu Phước Đức Tướng Quang Minh.
Chư Phật tử!  Thế giới chủng Biến Chiếu Thập Phương Xí Nhiên Bửu Quang Minh này có bất khả thuyết phật sát vi trần số thế giới rộng lớn như vậy:
Đều riêng y trụ, đều riêng hình trạng, đều riêng thể tánh, đều riêng phương tiện, đều riêng thu nhập, đều riêng trang nghiêm, đều riêng chừng ngằn, đều riêng hàng liệt, đều riêng vô sai biệt, đều riêng sức gia trì, giáp vòng bao quanh, chính là:
Mười phật sát vi trần số thế giới hình xoay chuyển.  Mười phật sát vi trần số thế giới hình giang hà.  Mười phật sát vi trần số thế giới hình nước xoáy.  Mười phật sát vi trần số thế giới hình trục xe.  Mười phật sát vi trần số thế giới hình lễ đàn.  Mười phật sát vi trần số thế giới hình rừng cây.  Mười phật sát vi trần số thế giới hình nhà lầu.  Mười phật sát vi trần số thế giới hình tràng thi la.  Mười phật sát vi trần số thế giới hình khắp vuông.  Mười phật sát vi trần số thế giới hình thai tạng.  Mười phật sát vi trần số hình khư lặc ca.  Mười phật sát vi trần số thế giới hình các loại chúng sanh.  Mười phật sát vi trần số thế giới phật tướng.  Mười phật sát vi trần số hình viên quang.  Mười phật sát vi trần số thế giới hình mây.  Mười phật sát vi trần số thế giới hình lưới.  Mười phật sát vi trần số thế giới hình ngạch cửa.
Có bất khả thuyết phật sát vi trần số thế giới như vậy.  Mỗi thế giới này đều có mười phật sát vi trần số thế giới rộng lớn bao quanh.  Mỗi thế giới sau đây lại có vi trần số thế giới làm quyến thuộc.
Tất cả thế giới đã thuyết trình trên đây đều ở nơi biển vô biên diệu hoa hương thủy và trong sông hương thủy bao quanh biển này."
Lúc đó, Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo đại chúng: "Chư Phật tử!  Phương đông của biển Vô Biên Diệu Hoa Hương Thủy này, giáp biển Ly Cấu Diệm Tạng Hương Thủy, có đại liên hoa tên Nhứt Thiết Hương Ma Ni Vương Diệu Trang Nghiêm.  Trên đại liên hoa này có thế giới chủng tên Biến Chiếu Sát Triền, dùng Bồ Tát hạnh hống âm làm thể.  Trong đây, phương dưới hết, có thế giới tên Cung Điện Trang Nghiêm Tràng, hình vuông, một phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh.  Phật hiệu My Gian Quang Biến Chiếu.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Đức Hoa Tạng, hình tròn, hai phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Nhứt Thiết Vô Biên Pháp Hải Huệ.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thiện Biến Hóa Diệu Hương Luân, hình như kim cang, ba phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Công Đức Tướng Quang Minh Phổ Chiếu.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Sắc Quang Minh, trạng như ma ni bửu luân, bốn phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Thiện Quyến Thuộc Xuất Hưng Biến Chiếu.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thiện Cái Phúc, hình liên hoa, năm phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Pháp Hỉ Vô Tận Huệ.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thi Lọi Hoa Quang Luân, hình tam giác, sáu phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Thanh Tịnh Phổ Quang Minh.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Liên Hoa Trang Nghiêm, hình bán nguyệt, bảy phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Công Đức Hoa Thanh Tịnh Nhãn.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Cấu Diệm Trang Nghiêm, hình như bửu đăng giăng hàng, tám phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Huệ Lực Vô Năng Thắng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Phạm Âm, hình chữ vạn, chín phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Quảng Đại Mục Như Không Trung Tịnh Nguyệt.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vi Trần Số Âm Thinh, trạng như lưới nhơn đà la, mười phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Kim Sắc Tu Di Đăng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Sắc Trang Nghiêm, hình chữ vạn, mười một phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Hội Chiếu Pháp Giới Quang Minh Trí.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Kim Sắc Diệu Quang, hình như thành quách rộng lớn, mười hai phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Bửu Đăng Phổ Chiếu Tràng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Biến Chiếu Quang Minh Luân, hình như hoa xoắn tròn, mười ba phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Liên Hoa Diệm Biến Chiếu.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Tạng Trang Nghiêm, hình tứ châu, mười bốn phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Vô Tận Phước Khai Phu Hoa.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Như Cảnh Tượng Phổ Hiện, trạng như thân A Tu La, mười lăm phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Cam Lộ Âm.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chiên Đàn Nguyệt, hình tám góc, mười sáu phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Tối Thắng Pháp Vô Đẳng Trí.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Ly Cấu Quang Minh, trạng như dòng hương thủy xoáy, mười bảy phật sát vi trần số bao quanh, Phật hiệu Biến Chiếu Hư Không Quang Minh Âm.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Hoa Trang Nghiêm, trạng như hình xây quanh, mười tám phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Phổ Hiện Thắng Quang Minh.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thắng Âm Trang Nghiêm, trạng như tòa sư tử, mười chín phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Vô Biên Công Đức Xưng Phổ Quang Minh.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tê Cao Thắng Đăng, trạng như phật chưởng, hai mươi phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Phổ Chiếu Hư Không Đăng.
Chư Phật tử!  Phương nam của biển Ly Cấu Diệm Tạng hương thủy này, giáp biển Vô Tận Quang Minh Luân hương thuỷ, có thế giới chủng tên Phật Tràng Trang Nghiêm, dùng Phật công đức hải âm thinh làm thể.  Trong đây, phương dưới hết có thế giới tên Ái Kiến Hoa, hình như bửu luân, một phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Liên Hoa Quang Hoan Hỉ Diệu.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Âm, Phật hiệu Tu Di Bửu Đăng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chúng Bửu Trang Nghiêm Quang, Phật hiệu Pháp Giới Âm Thinh Tràng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hương Tạng Kim Cang, Phật hiệu Quang Minh Âm.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Tịnh Diệu Âm, Phật hiệu Tối Thắng Tinh Tấn Lực.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Liên Hoa Trang Nghiêm, Phật hiệu Pháp Thành Vân Lôi Âm.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Giữ An Lạc, Phật hiệu Đại Danh Xưng Trí Huệ Đăng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Cấu Võng, Phật hiệu Sư Tử Quang Công Đức Hải.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hoa Lâm Tràng Biến Chiếu, Phật hiệu Đại Trí Liên Hoa Quang.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Lượng Trang Nghiêm, Phật hiệu Phổ Nhãn Pháp Giới Tràng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Phổ Quang Minh Trang Nghiêm, Phật hiệu Thắng Trí Đại Thương Chủ.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hoa Vương, Phật hiệu Nguyệt Quang Tràng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Ly Cấu Tạng, Phật hiệu Thanh Tịnh Giác.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Quang Minh, Phật hiệu Nhứt Thiết Trí Hư Không Đăng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Xuất Sanh Bửu Anh Lạc, Phật hiệu Chư Độ Phước Hải Tướng Quang Minh.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Luân Biến Phú, Phật hiệu Điều Phục Nhứt Thiết Nhiễm Trước Tâm Linh Hoan Hỉ.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Hoa Tràng, Phật hiệu Quảng Công Đức Âm Đại Danh Xưng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Lượng Trang Nghiêm, Phật hiệu Bình Đẳng Trí Quang Minh Công Đức Hải.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Tận Quang Trang Nghiêm Tràng, hình như liên hoa, y biển bửu võng mà trụ, lưới liên hoa quang ma ni giăng che, hai mươi phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Pháp Giới Tịnh Quang Minh.
Chư Phật tử!  Vòng qua phía hữu của biển Vô Tận Quang Minh Luân hương thủy này giáp biển Kim Cang Bửu Diệm Quang Minh hương thủy, có thế giới chủng tên Phật Quang Trang Nghiêm Tạng, dùng âm thinh xưng nói hồng danh của tất cả Như Lai làm thể.
Trong đây, phương dưới hết, có thế giới tên Bửu Diệm Liên Hoa, hình như tướng lông màu ma ni giữa chặn mày, y biển Bửu Sắc Thủy Triền mà trụ, mây lâu các trang nghiêm giăng che, một phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Vô Cấu Bửu Quang Minh.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Quang Diệm Tạng, Phật hiệu Vô Ngại Tự Tại Trí Huệ Quang.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Luân Diệu Trang Nghiêm, Phật hiệu Nhứt Thiết Bửu Quang Minh.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chiên Đàn Thọ Hoa Tràng, Phật hiệu Thanh Tịnh Trí Quang Minh.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Phật Sát Diệu Trang Nghiêm, Phật hiệu Quảng Đại Hoan Hỳ Âm.
Trên đó, quá phật sát vì trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Quang Trang Nghiêm, Phật hiệu Pháp Giới Tự Tại Trí.
Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Biên Tướng, Phật hiệu Vô Ngại Trí.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệm Vân Tràng, Phật hiệu Diễn Thuyết Bất Thối Luân.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chúng Bửu Trang Nghiêm Thanh Tịnh Luân, Phật hiệu Ly Cấu Hoa Quang Minh.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Quảng Đại Xuất Ly, Phật hiệu Vô Ngại Trí Nhựt Nhãn.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Trang Nghiêm Kim Cang Tòa, Phật hiệu Pháp Giới Trí Đại Quang Minh.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Trí Huệ Phổ Trang Nghiêm, Phật hiệu Trí Cự Quang Minh Vương.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Liên Hoa Trì Thâm Diệu Âm, Phật hiệu Nhứt Thiết Trí Phổ Chiếu.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chủng Chủng Sắc Quang Minh, Phật hiệu Phổ Quang Hoa Vương Vân.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Bửu Tràng, Phật hiệu Công Đức Quang.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Ma Ni Hoa Hào Tướng Quang, Phật hiệu Phổ Âm Vân.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thậm Thâm Hải, Phật hiệu Thập Phương Chúng Sanh Chủ.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Tu Di Quang, Phật hiệu Pháp Giới Phổ Trí Âm.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Kim Liên Hoa, Phật hiệu Phước Đức Tạng Phổ Quang Minh.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Trang Nghiêm Tạng, hai mươi phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Đại Biến Hóa Quang Minh Võng.
Chư Phật tử!  Vòng qua phía hữu của biển Kim Cang Bửu Diệm hương thủy này giáp biển Đế Thanh Bửu Trang Nghiêm hương thủy, có thế giới chủng tên Quang Chiếu Thập Phương, nương mây Diệu Trang Nghiêm Liên Hoa Hương mà trụ, dùng vô biên Phật âm thinh làm thể.  Trong đây, phương dưới hết, có thế giới tên Thập Phương Vô Tận Sắc Tạng Luân, hình xoay vòng có vô lượng góc, nương biển vô biên sắc bửu tạng mà trụ, lưới nhơn đà la giăng che, một phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Liên Hoa Nhãn Quang Minh Biến Chiếu.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Tịnh Diệu Trang Nghiêm Tạng, Phật hiệu Vô Thượng Huệ Đại Sư Tử.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Xuất Hiện Liên Hoa Tòa, Phật hiệu Biến Chiếu Pháp Giới Quang Minh Vương.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Tràng Âm, Phật hiệu Đại Công Đức Phổ Danh Xưng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Kim Cang Bửu Trang Nghiêm Tạng, Phật hiệu Liên Hoa Nhựt Quang Minh.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Nhơn Đà La Hoa Nguyệt, Phật hiệu Pháp Tự Tại Trí Huệ Tràng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Luân Tạng, Phật hiệu Đại Hỷ Thanh Tịnh Âm.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Âm Tạng, Phật hiệu Đại Lực Thiện Thương Chủ.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thanh Tịnh Nguyệt, Phật hiệu Tu Di Quang Trí Huệ Lực.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Biên Trang Nghiêm Tướng, Phật hiệu Phương Tiện Nguyện Tịnh Nguyệt Quang.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Hoa Âm, Phật hiệu Pháp Hải Đại Nguyện Âm.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Nhứt Thiết Bửu Trang Nghiêm, Phật hiệu Công Đức Bửu Quang Minh Tướng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Kiên Cố Địa, Phật hiệu Mỹ Âm Tối Thắng Thiên.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Phổ Quang Thiện Hóa, Phật hiệu Đại Tinh Tấn Tịch Tịnh Huệ.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thiện Thủ Hộ Trang Nghiêm Hạnh, Phật hiệu Kiến Giả Sanh Hoan Hỷ.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chiên Đàn Bửu Hoa Tạng, Phật hiệu Thậm Thâm Bất Khả Động Trí Huệ Quang Biến Chiếu.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hiện Chủng Chủng Sắc Tướng Hải, Phật hiệu Phổ Phóng Bất Tư Nghị Thắng Nghĩa Vương Quang Minh.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hóa Hiện Thập Phương Đại Quang Minh, Phật hiệu Thắng Công Đức Oai Quang Vô Giữ Đẳng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Tu Di Vân Tràng, Phật hiệu Cực Tịnh Quang Minh Nhãn.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Liên Hoa Biến Chiếu, hai mươi phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Giải Thoát Tinh Tấn Nhựt.
Chư Phật tử!  Vòng qua phía hữu của biển Đế Thanh Bửu Trang Nghiêm hương thủy này giáp biển Kim Cang Luân Trang Nghiêm Để hương thủy, có thế giới chủng tên Diệu Gián Thố, dùng âm thinh do nhơn đà la võng trí Phổ Hiền sanh ra làm thể. Trong đây, phương dưới hết có thế giới tên Liên Hoa Võng, trạng như hình núi Tu Di, nương biển Chúng Diệu Hoa Sơn Tràng mà trụ, mây Phật cảnh giới ma ni vương đế võng giăng che, một phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Pháp Thân Phổ Giác Huệ.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Tận Nhựt Quang Minh, Phật hiệu Tối Thắng Đại Giác Huệ.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Phổ Phóng Diệu Quang Minh, Phật hiệu Đại Phước Vân Vô Tận Lực.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thọ Hoa Tràng, Phật hiệu Vô Biên Trí Pháp Giới Âm.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chơn Châu Cái, Phật hiệu Ba La Mật Sư Tửu Tần Thân.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Biên Âm, Phật hiệu Nhứt Thiết Trí Diệu Giác Huệ.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Phổ Kiến Thọ Phong, Phật hiệu Phổ Hiện Chúng Sanh Tiền.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Sư Tử Đế Võng Quang, Phật hiệu Vô Cấu Nhựt Kim Sắc Quang Diệm Vân.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chúng Bửu Gián Thế, Phật hiệu Đế Tràng Tối Thắng Huệ.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Cấu Quang Minh Địa, Phật hiệu Nhứt Thiết Lực Thanh Tịnh Nguyệt.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hằng Xuất Thán Phật Công Đức Âm, Phật hiệu Như Hư Không Phổ Giác Huệ.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Cao Diệm Tạng, Phật hiệu Hóa Hiện Thập Phương Đại Vân Tràng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Quang Nghiêm Đạo Tràng, Phật hiệu Vô Đẳng Trí Biến Chiếu.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Xuất Sanh Nhứt Thiết Bửu Trang Nghiêm, Phật hiệu Quảng Độ Chúng Sanh Thần Thông Vương.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Quang Nghiêm Diệu Cung Điện, Phật hiệu Nhứt Thiết Nghĩa Thành Quảng Đại Huệ.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Ly Trần Tịch Tịnh, Phật hiệu Bất Đường Hiện.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Ma Ni Hoa Tràng, Phật hiệu Duyệt ý Kiết Tường Âm.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Phổ Vân Tạng, hai mươi phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Tối Thắng Giác Thần Thông Vương.
Chư Phật tử!  Vòng qua phía hữu của biển Kim Cang Luân Trang Nghiêm để hương thủy này giáp biển Liên Hoa nhơn đà la võng hương thủy, có thế giới chủng tên Phổ Hiện Thập Phương Ảnh, y liên hoa ma ni trang nghiêm mà trụ, dùng Phật trí quang âm thinh làm thể.  Trong đây, phương dưới hết có thế giới tên Chúng Sanh Hải Bửu Quang Minh, hình như tạng chơn châu, nương biển ma ni anh lạc mà trụ, mây thủy quang minh ma ni giăng che, một phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Bất Tư Nghị Công Đức Biến Chiếu Nguyệt.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Hương Luân, Phật hiệu Vô Lượng Lực Tràng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Quang Luân, Phật hiệu Pháp Giới Quang Âm Giác Ngộ Huệ.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hống Thinh Ma Ni Tràng, Phật hiệu Liên Hoa Quang Hằng Thùy Diệu Tý.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Cực Kiên Cố Luân, Phật hiệu Bất Thối Chuyển Công Đức Hải Quang Minh.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chúng Hạnh Quang Trang Nghiêm, Phật hiệu Nhứt Thiết Trí Phổ Thắng Tôn.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Sư Tử Tòa Biến Chiếu, Phật hiệu Sư Tử Quang Vô Lượng Lực Giác Huệ.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Diệm Trang Nghiêm, Phật hiệu Nhứt Thiết Pháp Thanh Tịnh Trí.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Lượng Đăng, Phật hiệu Vô Ưu Tướng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thường Văn Phật Âm, Phật hiệu Tự Nhiên Thắng Oai Quang.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thanh Tịnh Biến Hóa, Phật hiệu Kim Liên Hoa Quang Minh.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Phổ Nhập Thập Phương, Phật hiệu Quán Pháp Giới Tần Thân Huệ.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Xí Nhiên Diệm, Phật hiệu Quang Diệm Thọ Khẩn Na La Vương.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hương Quang Biến Chiếu, Phật hiệu Hương Đăng Thiện Hóa Vương.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Lượng Hoa Tụ Luân, Phật hiệu Phổ Hiện Phật Công Đức.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chúng Diệu Phổ Thanh Tịnh, Phật hiệu Nhứt Thiết Pháp Bình Đẳng Thần Thông Vương.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Kim Quang Hải, Phật hiệu Thập Phương Tự Tại Đại Biến Hóa.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chơn Châu Kim Quang Hải, Phật hiệu Thập Phương Tự Tại Đại Biến Hóa.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chơn Châu Hoa Tạng, Phật hiệu Pháp Giới Bửu Quang Minh Bất Khả Tư Nghị Huệ.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Đế Thích Tu Di Sư Tử Tòa, Phật hiệu Thắng Lực Quang.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Biên Bửu Phổ Chiếu, hai mươi phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Biến Chiếu Thế Gian Tối Thắng Âm.
Chư Phật tử!  Vòng qua phía hữu của biển liên hoa nhơn đà la võng hương thủy này giáp biển tích tập bửu hương tạng hương thủy, có thế giới chủng tên Oai Đức Trang Nghiêm, dùng Phật pháp luân âm thinh làm thể.  Trong đây, phương dưới hết, có thế giới tên Chủng Chủng Xuất Sanh, hình như kim cang, y tràng chủng chủng kim cang sơn mà trụ, mây kim cang bửu quang giăng che, một phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Liên Hoa Nhãn.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hỷ Kiến Âm, Phật hiệu Sanh Hỷ Lạc.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Trang Nghiêm Tràng, Phật hiệu Nhứt Thiết Trí.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Đa La Hoa Phổ Chiếu, Phật hiệu Vô Cấu Tịch Diệu Âm.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Biến Hóa Quang, Phật hiệu Thanh Tịnh Không Trí Huệ Nguyệt.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chúng Diệu Gián Thố, Phật hiệu Khai Thị Phước Đức Hải Mật Vân Tướng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Trang Nghiêm Cụ Diệu Âm Thinh, Phật hiệu Hoan Hỷ Vân.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Liên Hoa Trì, Phật hiệu Danh Xưng Tràng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Trang Nghiêm, Phật hiệu Tần Thân Quán Sát Nhãn.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Tịnh Diệu Hoa, Phật hiệu Vô Tận Kim Cang Trí.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Liên Hoa Trang Nghiêm Thành, Phật hiệu Nhựt Tạng Nhãn Phổ Quang Minh.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Lượng Thọ Phong, Phật hiệu Nhứt Thiết Pháp Lôi Âm.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Nhựt Quang Minh, Phật hiệu Khai Thị Vô Lượng Trí.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Y Chỉ Liên Hoa Diệp, Phật hiệu Nhứt Thiết Phước Đức Sơn.
Trên đó, quá phật sát  vi trần số thế giới, có thế giới tên Phong Phổ Trì, Phật hiệu Nhựt Diệu Căn.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Quang Minh Hiển Hiện, Phật hiệu Thân Quang Phổ Chiếu.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hương Lôi Âm Kim Cang Bửu Phổ Chiếu, Phật hiệu Tối Thắng Hoa Khai Phu Tướng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Đế Võng Trang Nghiêm, hai mươi phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Thị Hiện Vô Úy Vân.
Chư Phật tử!  Vòng qua phía hữu của biển tích tập bửu hương tạng hương thủy này giáp biển bửu trang nghiêm hương thủy, có thế giới chủng tên Phổ Vô Cấu, dùng phật sát thần biết âm thinh làm thể.  Trong đây, phương dưới hết, có thế giới tên Tịnh Diệu Bình Thản, hình như bửu thân, nương biển bửu quang luân mà trụ, mây chiên đàn ma ni chơn châu giăng che, một phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Nan Tối Phục Vô Đẳng Tràng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Xí Nhiên Diệu Trang Nghiêm, Phật hiệu Liên Hoa Huệ Thần Thông Vương.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vi Diệu Tướng Luân Tràng, Phật hiệu Thập Phương Đại Danh Xưng Vô Tận Quang.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệm Tạng Ma Ni Diệu Trang Nghiêm, Phật hiệu Đại Trí Huệ Kiến Văn Giai Hoan Hỷ.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Hoa Trang Nghiêm, Phật hiệu Vô Lượng Lực Tối Thắng Trí.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Xuất Sanh Tịnh Vi Trần, Phật hiệu Siêu Thắng Phạm.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Phổ Quang Minh Biến Hóa Hương, Phật hiệu Hương Tượng Kim Cang Đại Lực Thế.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Quang Minh Triền, Phật hiệu Nghĩa Thành Thiện Danh Xưng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Anh Lạc Hải, Phật hiệu Vô Tỉ Quang Biến Chiếu.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Hoa Đăng Tràng, Phật hiệu Cứu Cánh Công Đức Vô Ngại Huệ Đăng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thiện Xảo Trang Nghiêm, Phật hiệu Huệ Nhựt Ba La Mật.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chiên Đàn Hoa Phổ Quang Minh, Phật hiệu Vô Biên Huệ Pháp Giới Âm.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Đế Võng Tràng, Phật hiệu Đăng Quang Hoánh Chiếu.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Tịnh Hoa Luân, Phật hiệu Pháp Giới Nhựt Quang Minh.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Đại Oai Diệu, Phật hiệu Vô Biên Công Đức Hải Pháp Luân Âm.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Đồng An Trụ Bửu Liên Hoa Trì, Phật hiệu Khai Thị Nhập Bất Khả Tư Nghị Trí.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bình Thân Địa, Phật hiệu Công Đức Bửu Quang Minh Vương.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hương Ma Ni Tụ, Phật hiệu Vô Tận Phước Đức Hải Diệu Trang Nghiêm.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vi Diệu Quang Minh, Phật hiệu Vô Đẳng Lực Phổ Biến Âm.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thập Phương Phổ Kiên Cố Quang Minh Chiếu Diệu, hai mươi phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Phổ Nhãn Đại Minh Đăng.
Chư Phật tử!  Vòng qua phía hữu của biển Bửu Trang Nghiêm Hương Thủy này, giáp biển Kim Cang Bửu Tụ Hương Thủy, có thế giới chủng tên Pháp Giới Hành, dùng Bồ Tát phương tiện âm thinh làm thể.  Trong đây, phương dưới hết, có thế giới tên Tịnh Quang Chiếu Diệu, hình như xâu chuỗi, nương biển Bửu Sắc Châu Anh mà trụ, mây Bồ Tát Châu Kế Quang Minh ma ni giăng che, một phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Tối Thắng Công Đức Quang.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Cái, Phật hiệu Pháp Tự Tại Huệ.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Trang Nghiêm Sư Tử Tòa, Phật hiệu Đại Long Uyên.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Xuất Hiện Kim Cang Tòa, Phật hiệu Thăng Sư Tử Tòa Liên Hoa Đài.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Liên Hoa Thắng Âm, Phật hiệu Trí Quang Phổ Khai Ngộ.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thiện Quán Tập, Phật hiệu Trì Địa Diệu Quang Vương.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hỉ Lạc Âm, Phật hiệu Pháp Đăng Vương.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Ma Ni Tạng Nhơn Đà La Võng, Phật hiệu Bất Không Kiến.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chúng Diệu Địa Tạng, Phật hiệu Diệm Thân Tràng.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Kim Quang Luân, Phật hiệu Tịnh Trị Chúng Sanh Hạnh.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Tu Điều Phục Sơn Trang Nghiêm, Phật hiệu Nhứt Thiết Công Đức Vân Phổ Chiếu.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chúng Thọ Hình, Phật hiệu Bửu Hoa Tướng Tịnh Nguyệt Giác.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Bố Úy, Phật hiệu Tối Thắng Kim Quang Cự.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Đại Danh Xưng Long Vương Tràng, Phật hiệu Quán Đẳng Nhứt Thiết Pháp.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thị Hiện Ma Ni Sắc, Phật hiệu Biến Hóa Nhựt.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Quang Diệm Đăng Trang Nghiêm, Phật hiệu Bửu Cái Quang Biến Chiếu.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hương Quang Vân, Phật hiệu Tư Duy Huệ.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Oán Thù, Phật hiệu Tinh Tấn Thắng Huệ Hải.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Trang Nghiêm Cụ Quang Minh Tràng, Phật hiệu Phổ Hiện Duyệt Y Liên Hoa Tự Tại Vương.
Trên đó, quá phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hào Tướng Trang Nghiêm, hai mươi phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật Thanh Tịnh Nhãn.
Chư Phật tử!  Vòng qua phía hữu của biển kim cang bửu điệp hương thủy, có thế giới chủng tên Đăng Diệm Quang Minh, dùng phổ thị bình đẳng pháp luân âm thinh làm thể.  Trong đó, phương dưới hết, có thế giới tên Bửu Nguyệt Quang Diệm Luân, hình như đồ trang nghiêm, y biển Bửu Trang Nghiêm Hoa mà trụ, mây lưu ly sắc sư tử tòa giăng che, một phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Nhựt Nguyệt Tự Tại Quang.

Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-10-10 04:49:06canary>
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 2

Phẩm hiền thủ 
Thứ mười hai


Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói hạnh thanh tịnh không trược loạn đại công đức rồi, vì muốn hiển thị công đức của bồ đề tâm, nên nói kệ hỏi Hiền Thủ Bồ Tát:
Nay tôi đã vì chư Bồ Tát
Nói hạnh thanh tịnh Phật đã tu
Ngài cũng nên ở trong hội này
Diễn đạt tu hành công đức lớn.
Lúc đó Hiền Thủ Bồ Tát nói kệ đáp:
Lành thay xin ngài lóng nghe đây
Những công đức đó chẳng lường được
Nay tôi tuỳ sức, nói ít phần
Như một giọt nước trong biển lớn.
Nếu có Bồ Tát sơ phát tâm
Thệ cầu sẽ chứng Phật bồ đề
Công đức của kia không ngằn mé
Không thể cân lường, chẳng gì sánh.
Huống là vô lượng vô biên kiếp
Tu đủ địa, độ, các công đức
Mười phương tất cả chư Như Lai
Đều cùng ngợi khen chẳng hết được.
Vô biên công đức lớn như vậy
Nay tôi trong đây nói ít phần
Ví như chân chim vạch không gian
Và như hạt bụi trên đại địa.
Bồ Tát phát tâm cầu bồ đề
Chẳng phải không nhơn, không có duyên
Với Phật, Pháp, Tăng khởi lòng tin
Do đây mà sanh tâm rộng lớn.
Chẳng cầu ngũ dục và ngôi vua
Chẳng mong giàu, vui, danh tiếng lớn
Chỉ vì dứt hẳn khổ chúng sanh
Lợi ích thế gian mà phát ý.
Thường muốn lợi lạc các chúng sanh
Trang nghiêm cõi nước, cúng dường Phật
Thọ trì chánh pháp, tu trí huệ
Vì chứng bồ đề mà phát tâm.
Thâm tâm, tin, hiểu thường thanh tịnh
Cung kính, tôn trọng tất cả Phật
Nơi Pháp và Tăng cũng như vậy
Chí thành cúng dường mà phát tâm.
Thâm tín nơi Phật và Phật pháp
Cũng tin Phật tử đạo tu hành
Và tin vô thượng đại bồ đề
Do đây Bồ Tát phát tâm nguyện.
Tin là đạo nguồn, mẹ công đức
Nuôi lớn tất cả những pháp lành
Dứt trừ lưới nghi, khởi vòng ái
Khai thị niết  bàn, đạo vô thượng.
Tin không nhơ bợn, lòng thanh tịnh
Là cội cung kính, trừ kiêu mạn
Cũng là pháp tạng đệ nhứt tài
Là tay thanh tịnh thọ thiện hạnh.
Tin hay ban cho, không bỏn sẻn
Tin hay hoan hỉ vào Phật pháp
Tin hay thêm lớn trí, công đức
Tin quyết định được bậc Như Lai.
Tin khiến lục căn sạch, sáng, lẹ
Tin sức kiên cố không bị hư
Tin hay dứt hẳn cội phiền não
Tin hay chuyển hướng Phật công đức.
Tin nơi cảnh giới khôn chấp trước
Xa lìa các nạn, được vô nạn
Tin hay vượt khỏi các đường ma
Thị hiện đạo giải thoát vô thượng.
Tin là giống công đức không hư
Tin hay sanh trưởng cây bồ đề
Tin hay thêm lớn trí tối thắng
Tin hay thị hiện tất cả Phật.
Cứ theo công hạnh nói thứ đệ
Tin là hơn hết, rất khó được
Ví như trong tất cả thế gian
Mà có như ý diệu bửu châu.
Nếu thường tin thờ nơi chư Phật
Thời hay trì giới và tu học.
Nếu thường trì giới và tu học
Thời hay đầy đủ các công đức.
Giới hay khai phát gốc bồ đề
Học là siêng tu bậc công đức,
Nơi giới và học thường thuận làm
Thời được chư Phật luôn khen ngợi.
Nếu thường tin phụng nơi chư Phật
Thời hay trần thiết cúng dường lớn
Nếu hay trần thiết cúng dường lớn
Người này tin Phật bất tư nghì.
Nếu thường tin phụng nơi tôn pháp
Thời nghe Phật pháp không nhàm đủ
Nếu nghe Phật pháp không nhàm đủ
Người này tin pháp bất tư nghì.
Nếu thường tin phụng thanh tịnh tăng
Thời được tín tâm bất thối chuyển
Nếu được tín tâm bất thối chuyển
Người này tín lực không dao động.
Nếu được tín lực không dao động
Thời được lục căn sạch sáng lẹ
Nếu được lục căn sạch sáng lẹ
Thời hay xa lìa ác tri thức.
Nếu hay xa lìa ác tri thức
Thời được gần gũi thiện tri thức
Nếu được gần gũi thiện tri thức
Thời hay tu tập quảng đại thiện
Nếu hay tu tập quảng đại thiện
Người này được thành nhơn lực lớn
Nếu người được thành nhơn lực lớn
Thời được thù thắng quyết định giải.
Nếu được thù thắng quyết định giải
Thời được chư Phật thường hộ niệm
Nếu được chư Phật thường hộ niệm
Thời hay phát khởi bồ đề tâm
Nếu hay phát khởi bồ đề tâm
Thời hay siêng tu Phật công đức
Nếu hay siêng tu Phật công đức
Thời được sanh vào nhà của Phật.
Nếu được sanh ở nhà chư Phật
Thời khéo tu hành phương tiện lớn
Nếu khéo tu hành phương tiện lớn
Thời tâm tin ưa được thanh tịnh.
Nếu được tâm tin ưa thanh tịnh
Thời được tâm tăng thượng tối thắng
Nếu được tâm tắng thượng tối thắng
Thời thường tu tập ba la mật
Nếu thường tu tập ba la mật
Thời được trọn đủ pháp đại thừa
Nếu được trọn đủ pháp đại thừa
Thời hay đúng pháp cúng dường Phật.
Nếu hay đúng pháp cúng dường Phật
Thời được tâm niệm Phật bất động
Nếu được tâm niệm Phật bất động
Thời thường thấy được vô lượng Phật.
Nếu thường thấy được vô lượng Phật
Thời thấy Như Lai thể thường trụ
Nếu thấy Như Lai thể thường trụ
Thời biết được pháp trọn bất diệt.
Nếu biết được pháp trọn bất diệt
Thời được biện tài vô chướng ngại
Nếu được biện tài vô chướng ngại
Thời hay khai diễn vô biên pháp.
Nếu hay khai diễn vô biên pháp
Thời hay từ mẫn độ chúng sanh
Nếu hay từ mẫn độ chúng sanh
Thời được tâm đại bi kiên cố.
Nếu được tâm đại bi kiên cố
Thời hay mến ưa pháp thâm diệu
Nếu hay mến ưa pháp thâm diệu
Thời hay xa lìa lỗi hữu vi.
Nếu hay xa lìa lỗi hữu vi
Thời lìa kiêu mạn và phóng dật
Nếu lìa kiêu mạn và phóng dật
Thời hay kiêm lợi tất cả chúng.
Nếu hay kiêm lợi tất cả chúng
Thời ở sanh tử không mỏi nhàm
Nếu ở sanh tử không mỏi nhàm
Thời được dũng kiện không ai hơn.
Nếu được dũng kiện không ai hơn
Thời hay phát khởi đại thần thông
Nếu hay phát khởi đại thần thông
Thời biết hạnh tất cả chúng sanh.
Nếu biết hạnh tất cả chúng sanh
Thời hay thành tựu các quần sanh
Nếu hay thành tựu các quần sanh
Thời được trí khéo nhiếp chúng sanh.
Nếu được trí khéo nhiếp chúng sanh
Thời hay thành tựu pháp tứ nhiếp
Nếu hay thành tựu pháp tứ nhiếp
Thời cho chúng sanh lợi vô hạn
Nếu cho chúng sanh lợi vô hạn
Thời đủ phương tiện trí tối thắng
Nếu đủ phương tiện trí tối thắng
Thời trụ đạo dũng mãnh vô thượng.
Nếu trụ đạo dũng mãnh vô thượng
Thời hay xô dẹp những ma lực
Nếu hay xô dẹp những ma lực
Thời hay vượt khỏi cảnh tứ ma.
Nếu hay vượt khỏi cảnh tứ ma
Thời được đến nơi bậc bất thối
Nếu được đến nơi bậc bất thối
Thời được pháp nhẫn vô sanh lớn.
Nếu được pháp nhẫn vô sanh lớn
Thời được chư Phật thọ ký cho
Nếu được chư Phật thọ ký cho
Thời tất cả Phật hiện ra trước.
Nếu được chư Phật hiện ra trước
Thời rõ mật dụng thần thông lớn
Nếu rõ mật dụng thần thông lớn
Thời được chư Phật thường nhớ tưởng.
Nếu được chư Phật thường nhớ tưởng
Thời dùng Phật đức tự trang nghiêm
Nếu dùng Phật đức tự trang nghiêm
Thời được thân đoan nghiêm diệu phước.
Nếu được thân đoan nghiêm diệu phước
Thời thân chói sáng dường núi vàng
Nếu thân chói sáng dường núi vàng
Thời đủ ba mươi hai tướng hảo.
Nếu đủ ba mươi hai tướng hảo
Tám mươi tùy hảo đồng nghiêm sức
Nếu đủ tùy hảo đồng nghiêm sức
Thời thân sáng chói vô hạn lượng.
Nếu thân sáng chói vô hạn lượng
Thời được quang minh bất tư nghị
Nếu được quang minh bất tư nghị
Quang minh này hiện những liên hoa.
Những quang minh từ liên hoa hiện
Có vô lượng Phật ngự trên liên hoa
Thị hiện mười phương đều khắp cả
Đều hay điều phục các chúng sanh.
Nếu hay điều phục các chúng sanh
Thời hiện vô lượng thần thông lực.
Nếu hiện vô lượng thần thông lực
Thời trụ bất tư nghị cõi nước,
Thời diễn thuyết bất tư nghị pháp
Khiến bất tư nghị chúng hoan hỉ.
Thời dùng sức trí huệ, biện tài
Tùy tâm chúng sanh mà giáo hóa.
Nếu dùng sức trí huệ, biện tài
Tùy tâm chúng sanh mà giáo hóa
Thời dùng trí huệ làm tiên đạo
Thân, ngữ, ý, thường không lầm lỗi.
Nếu dùng trí huệ làm tiên đạo
Thân ngữ ý thường không lầm lỗi
Thời nguyện lực tất được tự tại
Tùy theo các loài mà hiện thân.
Nếu nguyện lực ấy được tự tại
Tuỳ theo các loài mà hiện thân
Thời lúc tùy chúng mà thuyết pháp
Âm thinh tùy loại, khó nghĩ bàn
Thời với tâm tất cả chúng sanh
Một niệm biết cả không thừa sót.
Nếu với tâm tất cả chúng sanh
Một niệm biết cả không thừa sót.
Thời biết phiền não không từ đâu
Trọn không còn chìm trong sanh tử.
Nếu biết phiền não không từ đâu
Trọn không còn chìm trong sanh tử
Thời được thân công đức pháp tánh
Dùng pháp oai lực hiện thế gian.
Nếu được thân pháp tánh công đức
Dùng pháp oai lực hiện thế gian
Thời được thập địa, mười tự tại
Tu hành các độ, thắng giải thoát
Thời được quán đảnh đại thần thông
Trụ nơi tối thắng các tam muội.
Nếu được quán đảnh đại thần thông
Trụ nơi tối thắng các tam muội
Thời khắp mười phương chỗ chư Phật
Đáng thọ quán đảnh được thắng vị
Thời được tất cả Phật mười phương
Tay lấy cam lộ rưới trên đảnh
Thời thân đầy khắp hư không
An trụ bất động khắp mười phương.
Nếu thân đầy khắp như hư không
An trụ bất động khắp mười phương
Thời chỗ sở hành không ai bằng
Chư thiên, người đời chẳng biết được.
Bồ Tát siêng tự tại hạnh đại bi
Nguyện độ tất cả đều trọn vẹn
Nếu ai nghe thấy mà cúng dường
Đều làm cho họ được an lạc.
Thần lực của chư Bồ Tát kia
Pháp nhãn toàn vẹn không thuyếg giảm
Những đạo diệu hạnh thập thiện thảy
Thắng bửu vô lượng đều khiến hiện.
Như báu kim cang trong đại hải
Do oai lực này sanh các báu;
Không tăng, không giảm, cũng vô tận
Công đức của Bồ Tát cũng vậy.
Hoặc có quốc độ không có Phật
Bồ Tát nơi đó hiện thành Phật.
Nếu có quốc độ chẳng biết pháp
Nơi đó Bồ Tát thuyết diệu pháp
Không có phân biệt, không công dụng
Trong khoảng một niệm khắp mười phương
Như mặt nguyệt sáng chiếu khắp nơi
Vô lượng phương tiện độ quần sanh.
Ở trong mười phương các thế giới
Niệm niệm thị hiện thành Phật đạo
Chuyển chánh pháp luân vào tịch diệt
Nhẫn đến xá lợi phân bố rộng.
Hoặc hiện Thanh Văn cùng Độc Giác
Hoặc hiện thành Phật khắp trang nghiêm
Như vậy khai diễn pháp ba thừa
Rộng độ chúng sanh vô lượng kiếp.
Hoặc hiện thân đồng nam đồng nữ
Trời rồng nhẫn đến a tu la,
Cùng với ma hầu la già thảy
Tùy chúng sở thích đều khiến thấy.
Chúng sanh hình tướng đều chẳng đồng
Hành nghiệp, âm thinh cũng vô lượng
Tất cả như vậy đều hiện được
Hải ấn tam muội oai thần lực.
Nghiêm tịnh bất tư nghị quốc độ
Cúng dường tất cả chư Như Lai
Phóng đại quang minh vô lượng biên
Độ thoát chúng sanh cũng vô hạn.
Trí huệ tự tại, bất tư nghị
Ngôn từ thuyết pháp không chướng ngại
Thí, giới, nhẫn, tấn và thiền định
Trí huệ, phương tiện, thần thông thảy.
Tất cả như vậy đều tự tại
Do Phật hoa nghiêm tam muội lực.
Trong một vi trần nhập tam muội
Thành tựu vi trần tất cả định,
Mà vi trần kia cũng không thêm
Nơi một hiện khắp vô biên cõi.
Trong một trần kia, nhiều quốc độ
Hoặc là có Phật, hoặc không Phật,
Hoặc là tạp nhiễm, hoặc thanh tịnh
Hoặc cõi rộng lớn, hoặc hẹp nhỏ
Hoặc có cõi thành, hoặc là hoại
Hoặc cõi chánh trụ, hoặc bàng trụ,
Hoặc như ánh nắng giữa đồng trống
Hoặc như lưới Thiê Đế trên trời.
Như chỗ thị hiện trong một trần
Tất cả vi trần đều như vậy.
Đây là những thánh nhơn cao cả
Tam muội, giải thoát thần thông lực.
Nếu muốn cúng dường tất cả Phật
Nhập nơi tam muội khởi thần thông
Hay dùng một tay khắp đại thiên
Cúng khắp tất cả vô số Phật.
Bao nhiêu hoa đẹp ở mười phương
Hương hoa, hương bột, báu vô giá
Đều từ trong tay xuất hiện ra
Cúng dường chư Phật ngự đạo thọ.
Bửu y vô giá, xen hương diệu
Bửu tràng phan, lọng đều xinh đẹp
Vàng rồng làm hoa, ngọc làm màn
Tất cả đều từ trong tay hiện.
Bao nhiêu vật tốt ở mười phương
Đáng đem phụng hiến đấng vô thượng
Trong tay tất cả đều hiện đủ
Trước cây bồ đề cúng chư Phật.
Tất cả kỹ nhạc ở mười phương
Chung, cổ, cầm, sắc đủ các loại
Đồng tấu hòa nhã âm thinh diệu
Đều từ bàn tay xuất hiện ra.
Bao nhiêu tán tụng ở mười phương
Ca ngợi thiệt đức của chư Phật
Như vậy các thứ diệu ngôn từ
Đều từ bàn tay mà khai diễn.
Bồ Tát tay mặt phóng tịnh quang
Trong quang rưới ra nước thơm sạch
Rưới khắp mười phương các quốc độ
Cúng dường tất cả Chiếu Thế Đăng.
Lại phóng quang minh diệu trang nghiêm
Xuất sanh vô lượng hoa sen báu
Hoa này hình sắc đều rất đẹp
Dùng đây cúng dường lên chư Phật.
Lại phóng quang minh hoa trang nghiêm
Các thứ diệu hoa họp làm trướng
Rải khắp cõi nước ở mười phương
Cúng dường tất cả đấng Đại Đức.
Lại phóng quang minh hương trang nghiêm
Các thứ diệu hương họp làm trướng.
Rải khắp cõi nước ở mười phương
Cúng dường tất cả đấng Đại Đức.
Lại phóng quang minh mạt hương tốt
Các thứ mạt hương họp làm trướng
Rải khắp cõi nước ở mười phương
Cúng dường tất cả đấng Đại Đức.
Lại phóng quang minh y trang nghiêm
Các thứ y phục họp làm trướng
Rải khắp cõi nước ở mười phương
Cúng dường tất cả đấng Đại Đức.
Lại phóng quang minh bửu trang nghiêm
Các thứ diệu bửu họp làm trướng
Rải khắp cõi nước ở mười phương
Cúng dường tất cả đấng Đại Đức.
Lại phóng quang liên hoa trang nghiêm
Các thứ liên hoa họp làm trướng
Rải khắp cõi nước ở mười phương
Cúng dường tất cả đấng Đại Đức.
Lại phóng quang anh lạc trang nghiêm
Các thứ chuỗi ngọc họp làm trướng
Rải khắp cõi nước ở mười phương
Cúng dường tất cả đấng Đại Đức.
Lại phóng quang minh tràng trang nghiêm
Bửu tràng rực rỡ đủ màu đẹp
Các loại vô lượng đều rất tốt
Dùng dây trang nghiêm các Phật độ.
Các thứ báu đẹp lọng trang nghiêm
Những phan lụa đẹp treo rủ xuống
Lạc báu ma ni, diễn Phật âm
Đem đến kính dâng cúng chư Phật.
Tay hiện đồ cúng bất tư nghị
Như vậy cúng dường một Đạo Sư
Nơi tất cả Phật đều như vậy
Đây là thần lực của Đại Sĩ.
Bồ Tát trụ trong môn tam muội
Các thứ tự tại nhiếp chúng sanh
Đều đem pháp công đức đã làm
Vô lượng phương tiện để chỉ dạy.
Hoặc dùng môn cúng dường Như Lai
Hoặc dùng môn nhẫn nhục bất động
Hoặc dùng môn khổ hạnh tinh tấn
Hoặc dùng môn thiền định tịch tịnh,
Hoặc dùng môn trí huệ quyết rõ
Hoặc dùng môn phương tiện tu hành
Hoặc dùng môn phạm trụ, thần thông
Hoặc dùng môn tứ nhiếp lợi ích,
Hoặc dùng môn phước trí trang nghiêm
Hoặc dùng môn nhơn duyên, giải thoát
Hoặc dùng môn căn, lực, chánh đạo
Hoặc dùng môn Thanh Văn giải thoát,
Hoặc dùng môn Độc Giác thanh tịnh
Hoặc dùng môn đại thừa tự tại
Hoặc dùng môn vô thường những khổ
Hoặc dùng môn vô ngã vô thọ,
Hoặc dùng môn bất tịnh, ly dục
Hoặc dùng môn diệt tận tam muội.
Tùy theo chúng sanh bịnh chẳng đồng
Đều dùng pháp dược để đối trị.
Tùy theo chúng sanh tâm sở thích
Đều dùng phương tiện khiến đầy đủ.
Tùy theo chúng sanh hạnh sai biệt
Đều dùng chước khéo khiến thành tựu.
Những tướng tam muội thần thông ấy
Tất cả trời người chẳng lường được.
Có diệu tam muội tên tùy lạc
Bồ Tát trụ đây, khắp quan sát
Tùy nghi thị hiện độ chúng sanh
Đều khiến vui lòng theo chánh pháp.
Trong thời gian, nạn cơ cẩn, tai
Ban cho thế gian đồ cần thiết
Tùy chỗ họ muốn đều khiến đủ
Khắp vì chúng sanh làm lợi ích
Hoặc cho những vật uống, ăn ngon
Y phục, tư trang, những vật tốt
Cả đến ngôi vua, đều xả được
Khiến kẻ ưa thí theo chánh pháp.
Hoặc dùng tướng hảo trang nghiêm thân
Y phục thượng diệu, chuỗi ngọc báu
Tràng hoa nghiêm sức, hương hoa thân
Oai nghi đầy đủ, độ hàm thức.
Tất cả thế gian chỗ ưa chuộng
Sắc tướng, dung nhan, và y phục
Tùy nghi hiện đủ, vui lòng họ
Khiến kẻ ưa sắc theo chánh pháp.
Tiếng ca lăng tần già mỹ diệu
Âm thinh diệu câu chỉ la thảy
Những thứ phạm âm đều đầy đủ
Tùy lòng họ thích vì thuyết pháp.
Tám vạn bốn ngàn các pháp môn
Chư Phật dùng đây độ chúng sanh
Bồ Tát cũng theo pháp sai biệt
Tùy nghi theo đời mà hóa độ.
Chúng sanh khổ, lạc, lợi, suy thảy
Những việc thật hành của thế gian
Đều hay ứng hiện đồng với họ
Dùng đây phổ độ các chúng sanh.
Tất cả thế gian những khổ hoạn
Sâu rộng không bờ như đại hải
Đồng sự với họ đều chịu được
Khiến họ lợi ích được an vui.
Có người chẳng biết pháp xuất ly
Chẳng cầu giải thoát lìa ồn náo
Vì họ Bồ Tát hiện thí xả
Thường ưa xuất gia tâm tịch tịnh.
Nhà là chốn tham ái, ràng buộc
Muốn khiến chúng sanh, đều khỏi lìa
Nên hiện xuất gia được giải thoát
Với các dục lạc không ưa thích.
Bồ Tát hiện làm mười công hạnh
Cũng làm tất cả pháp đại nhơn
Làm hạnh chư tiên đều không sót
Vì muốn chúng sanh được lợi ích.
Nếu có chúng sanh thọ vô lượng
Phiền não vi tế thích đầy đủ
Trong đó Bồ Tát được tự tại
Hiện thọ các khổ: già, bịnh, chết.
Hoặc kẻ tham dục, sân, ngu si
Lửa mạnh phiền não luôn hừng cháy
Bồ Tát thị hiện già, bịnh, chết
Khiến chúng sanh đó đều điều phục.
Như Lai thập lực, vô sở úy
Cùng với mười tám pháp bất cộng
Tất cả vô lượng các công đức
Đều đem thị hiện độ chúng sanh.
Thọ ký, giáo hóa và thần túc
Đều là sức tự tại của Phật
Chư Đại Sĩ kia đều thị hiện
Hay khiến chúng sanh đều điều phục.
Bồ Tát đem các môn phương tiện
Tùy thuận thế pháp độ chúng sanh
Ví như liên hoa chẳng dính nước
Tại thế như vậy, khiến người tin.
Là vua văn tài, học uyên bác
Ca vũ, luận bàn, người đều thích
Tất cả kỹ thuật trong thế gian
Như nhà ảo thuật đều hiện đủ.
Hoặc làm trưởng giả, chủ trong ấp
Hoặc làm thương mãi, người buôn bán
Hoặc làm quốc vương cùng quan lớn
Hoặc làm lương y, nhà hùng biện.
Hoặc làm cây to giữa cánh đồng
Hoặc làm thuốc hay, những kho báu
Hoặc làm bửu châu như ý vương
Hoặc đem chánh đạo dạy chúng sanh.
Nếu thấy thế giới mới thành lập
Chúng sanh chưa có vật cần dùng
Bấy giờ Bồ Tát làm công thợ
Vì họ bầy ra các nghề nghiệp.
Chẳng làm vật bức não chúng sanh
Chỉ nói chuyện thế gian lợi ích
Các luận: chú thuật, dược thảo thảy
Tất cả như vậy đều nói rành.
Thắng hạnh của tất cả tiên nhơn
Trời người, mọi loài đều tín ngưỡng
Những pháp khổ hạnh khó làm đó
Bồ Tát tùy nghi đều làm được.
Hoặc làm ngoại đạo người xuất gia
Hoặc ở núi rừng tự cần khổ
Hoặc để mình trần, không y phục
Mà làm sư trưởng của chúng kia.
Hoặc hiện những hạnh tà mạng thảy
Tập làm phi pháp cho là thắng
Hoặc hiện oai nghi, làm phạm chí
Ở trong chúng kia làm thượng thủ.
Hoặc chịu ngũ nhiệt, phơi dưới nắng
Hoặc giữ giới bò, chó và nai
Hoặc mặc áo rách, phụng thờ lửa
Vì độ chúng kia, làm sư trưởng.
Hoặc hiện yết kiến các thiên miếu
Hoặc lại hiện vào nước sông Hằng
Ăn củ, trái thảy, đều hiện làm
Nơi đó thường suy pháp tối thắng.
Hoặc hiện ngồi xổm, hoặc co chân
Hoặc nằm cỏ gai, hoặc trên tro
Hoặc nằm trên chày, cầu xuất ly
Mà ở chúng kia làm sư thủ.
Như vậy các phái, các ngoại đạo
Quan sát ý giải cùng đồng sự
Hiện làm: khổ hạnh đời chẳng kham
Khiến họ xem thấy đều điều phục.
Chúng sanh mê lầm bẩm tà giáo
Trụ nơi ác kiến, thọ những khổ
Vì họ, phương tiện, nói diệu pháp
Đều khiến được hiểu lý chơn thật.
Hoặc theo chú ngữ nói tứ đế
Hoặc giỏi mật ngữ nói tứ đế
Hoặc dùng tiếng người nói tứ đế
Hoặc trời mật ngữ nói tứ đế.
Phân biệt văn tự, nói tứ đế
Quyết định nghĩa lý, nói tứ đế
Khéo phá nơi người, nói tứ đế
Chẳng bị dao động, nói tứ đế,
Hoặc tiếng bát bộ, nói tứ đế
Hoặc tất cả lời, nói tứ đế
Tùy ngôn âm thế gian hiểu được
Diễn thuyết tứ đế, khiến giải thoát.
Tất cả bao nhiêu các Phật tử
Đều nói như vậy đủ tất cả
Biết cảnh giới lời bất tư nghị
Đây là thuyết pháp tam muội lực.
Có thắng tam muội tên an lạc
Hay khắp cứu độ các quần sanh
Phóng đại quang minh bất tư nghị
Khiến ai được thấy đều điều phục.
Quang minh đã phóng tên thiện hiện
Nếu có ai gặp quang minh này
Tất được lợi ích chẳng luống uổng
Nhơn đây được thành trí vô thượng.
Bồ Tát trước hiện nơi chư Phật
Hiện Pháp, hiện Tăng, hiện chánh đạo
Cũng hiện tháp Phật và hình tượng
Vì thế nên thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên chiếu diệu
Chói lấn tất cả sáng chư thiên
Bao nhiêu ám chướng đều tiêu trừ
Khắp vì chúng sanh làm lợi ích.
Quang này giác ngộ tất cả chúng
Khiến cầm đèn sáng cúng dường Phật
Do dùng đèn sáng cúng dường Phật
Được thành thế gian Vô Thượng Đăng.
Thắp những đèn dầu và đèn tô
Cũng thắp các thứ đuốc sáng tỏ
Những ngọn nến báu thơm đẹp nhất
Dùng đây cúng Phật được quang này.
Lại phóng quang minh tên tế độ
Quang này giác ngộ tất cả chúng
Khiến họ phát tâm đại thệ nguyện
Độ thoát quần sanh trong dục hải
Thời hay vượt qua bốn dòng nước
Bước đến thành vô ưu giải thoát.
Nơi những đường đi ngang sông lớn
Xây cất cầu đò và thuyền bè
Quở rầy hữu vi khen tịch tịnh
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên diệt ái
Quang này giác ngộ tất cả chúng
Khiến họ xa lìa cảnh ngũ dục
Gẩm suy diệu vị pháp giải thoát.
Nếu hay bỏ lìa cảnh ngũ dục
Gẩm suy diệu vị pháp giải thoát
Thời hay dùng Phật pháp cam lồ
Rưới tắt thế gian những khát ái.
Bố thí ao, giếng, và khe suối
Chuyên cầu bồ đề đạo vô thượng
Quở trách ngũ dục, khen thiền định
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên hoan hỷ
Quang này giác ngộ tất cả chúng
Khiến họ ái mộ Phật bồ đề
Phát tâm nguyện chứng vô sư đạo.
Tạo lập Như Lai tượng đại bundefined
Tướng hảo trang nghiêm, ngự liên tòa
Luôn khen những công đức tối thắg
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên ái nhạo
Quang này giác ngộ tất cả chúng
Khiến lòng họ mến kính chư Phật
Mến kính tôn pháp mến kính tăng
Nếu tâm thường kính mến chư Phật
Kính mến Pháp và kính mến Tăng
Thời ở trong chúng hội Như Lai
Thành được pháp nhẫn sâu vô thượng.
Khai ngộ chúng sanh số vô lượng
Khiến họ niệm Phật, Pháp, Tăng bửu
Và dạy phát tâm tự tại công đức
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên phước tụ
Quang này giác ngộ tất cả chúng
Khiến họ thật hành nhiều bố thí
Dùng đây nguyện cầu đạo vô thượng.
Lập hội đại bố thí vô hạn
Ai đến cầu xin đều thỏa mãn
Chẳng để lòng họ còn thấy thiếu
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên cụ trí
Quang này giác ngộ tất cả chúng
Khiến nơi một pháp, trong một niệm
Đều hiểu vô lượng các pháp môn.
Ví các chúng sanh phân biệt pháp
Nhẫn đến quyết liễu nghĩa chơn thật
Khéo nói pháp nghĩa không thiếu bớt
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên huệ đăng
Quang này giác ngộ tất cả chúng
Khiến biết chúng sanh tánh không tịch
Tất cả các pháp vô sử hữu.
Diễn thuyết các pháp không, vô chủ
Như huyễn, như diệm, trăng dưới nước
Cũng như giấc mơ, cùng bóng tượng
Do đây được thành quang minh này.
Phóng quang minh tên pháp tự tại
Quang này giác ngộ tất cả chúng
Khiến được vô tận đà la ni
Tổng trì tất cả các Phật pháp,
Cung kính cúng dường người trì pháp
Cung cấp hầu hạ chư thánh hiền
Đem chánh pháp thí cho chúng sanh
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên năng xả
Quang này giác ngộ kẻ xan tham
Khiến biết tài vật là vô thường
Thường thích bố thí lòng không nhiễm.
Lòng keo kiết khó điều, được điều
Biết của như mộng, như mây nổi
Thêm lớn tâm bố thí thanh tịnh
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên trừ nhiệt
Quang này giác ngộ kẻ phạm giới
Khiến họ thọ trì giới thanh tịnh
Phát tâm nguyện chứng đạo vô sư.
Khuyên đắc chúng sanh thọ trì giới
Mười nghiệp đạo lành đều thanh tịnh
Lại khiến phát hướng bồ đề tâm
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên nhẫn nghiêm
Quang này giác ngộ kẻ sân hận
Khiến họ lìa sân, trừ ngã mạn
Thường thích pháp nhu hòa nhẫn nhục.
Chúng sanh bạo ác khó nhẫn được
Vì bồ đề nên tâm chẳng động
Thường thích chánh pháp ngợi đức nhẫn nhục
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên dũng mãnh
Quang này giác ngộ kẻ giải đãi
Khiến họ thường đối với Tam Bảo
Cung kính cúng dường không nhàm mỏi.
Nếu họ thường đối với Tam Bảo
Cung kính cúng dường không nhàm mỏi
Thời hay vượt khỏi cảnh tứ ma
Mau thành bực bồ đề vô thượng.
Khuyến hóa chúng sanh khiến tinh tấn
Thường siêng cúng dường ngôi Tam Bảo
Lúc pháp sắp diệt chuyên ủng hộ
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên tịch tịnh
Quang này giác ngộ kẻ loạn tâm
Khiến họ xa lìa tham, sân, si
Tâm chẳng dao động được chánh định,
Xa lìa tất cả ác trí thức
Luận đàm vô nghĩa, hạnh tạp nhiễm
Khen ngợi thiền định, hạnh tịch tịnh
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên huệ nghiêm
Quang này giác ngộ kẻ ngu mê
Khiến họ chứng lý, hiểu duyên khởi
Lục căn, trí huệ đều thông đạt,
Nếu hay chứng lý, hiểu duyên khởi
Lục căn, trí huệ đều thông đạt
Thời được pháp tam muội nhựt đăng
Trí huệ sáng tỏ thành Phật quả,
Của ngoài, trong thân đều hay xả
Vì đạo bồ đề cầu chánh pháp
Nghe xong, chuyên cần vì chúng nói
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên Phật huệ
Quang này giác ngộ các hàm thức
Khiến thấy vô lượng vô biên Phật
Đều ngự trên bửu toạ liên hoa.
Khen Phật oai đức và giải thoát
Ngợi Phật tự tại vô hạn lượng
Hiển thị Phật lực và thần thông
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên vô úy
Quang này chiếu đến kẻ sợ hãi
Quỷ mị bắt giữ, những độc hại
Tất cả đều khiến mau trừ diệt,
Hay ban vô úy cho chúng sanh
Gặp kẻ não hại đều khuyên ngăn
Chẩn tế kẻ cô cùng ách nạn
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên an ổn
Quang này chiếu đến người tật bịnh
Khiến trừ tất cả sự khổ đau
Đều được sự vui trong chánh định,
Ban cho thuốc hay cứu các bịnh
Diệu bửu sống lâu, hương thoa thân
Tô, dầu, sữa, mật làm thức ăn
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên kiến Phật
Quang này giác ngộ người sắp chết
Khiến, tùy nhớ tưởng, thấy Như Lai
Mạng chung được sanh cõi nước Phật,
Thấy kẻ lâm chung khuyên niệm Phật
Lại chỉ tượng Phật bảo nhìn ngắm
Khiến đối với Phật rất kính ngưỡng
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên lạc pháp
Quang này giác ngộ tất cả chúng
Khiến nơi chánh pháp luôn mến thích
Lóng nghe, diễn thuyết và biên chép,
Lúc pháp sắp diệt hay diễn thuyết
Khiến người cầu pháp ý thỏa mãn
Mến thích chánh pháp siêng tu tập
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên diệu âm
Quang này khai ngộ chư Bồ Tát
Hay khién các tiếng trong ba cõi
Người đều nghe là tiếng của Phật,
Dùng âm thinh lớn các ngợi Phật
Bố thí lạc, linh, các âm nhạc
Khiến pháp thế gian nghe tiếng Phật
Do đây được thành quang minh này.
Phóng quang minh tên thí cam lộ
Quang này khai ngộ tất cả chúng
Khiến bỏ tất cả hạnh phóng dật
Tu hành đầy đủ các công đức,
Nói pháp hữu vi chẳng an ổn
Vô lượng khổ não đều đầy khắp
Hằng thích ca ngợi vui tịch diệt
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên tối thắng
Quang này khai ngộ tất cả chúng
Khiến ở chỗ Phật khắp lóng nghe
Giới, định, trí huệ pháp tăng thượng,
Thường thích ca ngợi tất cả Phật
Thắng giới, thắng định, thắng trí huệ
Đó là vì cầu đạo vô thượng
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên Bửu nghiêm
Quang này giác ngộ tất cả chúng
Khiến được bửu tạng vô cùng tận
Dùng đây cúng dường chư Như Lai,
Đem các loại bửu châu thượng diệu
Dâng lên chư Phật và tháp Phật
Cũng khiến ban cho kẻ nghèo thiếu
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên hương nghiêm
Quang này giác ngộ tất cả chúng
Khiến người nghe pháp lòng vui đẹp
Quyết định sẽ thành công đức Phật,
Hương tốt quý giá dùng thoa đất
Cúng dường tất cả đấng Tối Tôn
Cũng dùng xây tháp và tượng Phật
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên tạp trang nghiêm
Bửu tràng, phan lọng số vô lượng
Thắp hương, rải hao, tấu âm nhạc
Thành ấp trong ngoài đều khắp cả,
Đem những kỹ nhạc vi diệu ấy
Cùng những hương, hoa, phan, lọng đẹp
Các thứ trang nghiêm cúng dường Phật
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên nghiêm khiết
Khiến mặt đại địa đều bằng phẳng
Trang nghiêm tháp Phật và chỗ ấy
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên đại vân
Hay khởi mây thơm hay nước thơm
Nước thơm rưới tháp và đình viện
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên nghiêm cụ
Khiến người thiếu áo được thượng phục
Vật tốt nghiêm thân đem bố thí
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên thượng vị
Hay khiến kẻ đói được mỹ thundefinedc
Các thức ăn ngon đem bố thí
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên đại tài
Khiến kẻ nghèo cùng được của báu
Đem vật vô tận cúng Tam Bảo
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên nhãn thanh tịnh
Hay khiến kẻ mù được ngó thấy
Đem đèn cúng Phật và tháp Phật
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên nhĩ thanh tịnh
Hay khiến kẻ điếc được nghe rõ
Trổi nhạc cúng Phật và tháp Phật
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên tỹ thanh tịnh
Xưa chưa nghe hương, đều được nghe
Đem hương cúng Phật và tháp Phật
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên thiệt thanh tịnh
Hay dùng tiếng tốt ca ngợi Phật
Trừ hẳn lời nói thô và ác
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên thân thanh tịnh
Kẻ năm căn thiếu khiến hoàn cụ
Đem thân lễ Phật và tháp Phật
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên ý thanh tịnh
Khiến kẻ quên lãng được chánh niệm
Tu hành tam muội đều tự tại
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên sắc thanh tịnh
Khiến thấy Phật sắc bất tư nghị
Đem những diệu sắc trang nghiêm tháp
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên thinh thanh tịnh
Khiến biết thinh tánh vốn không tịch
Quán thinh duyên khởi, như tiếng vang
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên hương thanh tịnh
Khiến vật hôi nhơ đều thơm sạch
Nước thơm rửa tháp, cây bồ đề
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên vị thanh tịnh
Hay trừ tất cả độc trong vị
Hằng cúng Phật, Tăng, cùng cha mẹ
Do đây được thành quang minh này.
Lại phóng quang minh tên xúc thanh tịnh
Hay khiến thô nhám đều dịu mềm
Đao, mâu, kiếm, kích trên rơi xuống
Đều khiến biến làm tràng hoa đẹp,
Bởi xưa từng ở giữa đường sa
Thoa hương, rải hoa, trải y phục
Rước đưa chư Phật đi trên đó
Vì thế này được quang minh này.
Lại phóng quang minh tên pháp thanh tịnh
Hay khiến tất cả những chân lông
Đều diễn diệu pháp bất tư nghị
Ai nghe pháp này đều vui hiểu,
Nhơn duyên sanh ra, vốn vô sanh
Pháp thân của Phật, chẳng phải thân
Pháp tánh, thường trụ như hư không
Do thuyết nghĩa trê được quang ấy.
Những môn quang minh như đã thuật
Hằng hà sa số vô hạn lượng
Đều từ chân lông Đại Tiên phóng
Mỗi quang công dụng đều sai biệt.
Như một chân lông phóng quang minh
Vô lượng vô số như hằng sa
Tất cả chân lông đều như vậy
Đây là Đại Tiên tam muội lực.
Như bổn hạnh xưa, được quang minh
Tuỳ ai, túc duyên, đồng tu hành
Nay phóng quang minh nên như vậy
Đây là Đại Tiên trí tự tại.
Thuở xưa đồng tự tại nơi phước nghiệp
Và người mến thích hay tùy hỉ
Thấy kia thật hành cũng vui theo
Nay nơi quang này đều được thấy.
Nếu ai tự tu các phước nghiệp
Cúng dường chư Phật vô lượng số
Nơi công đức Phật thường nguyện cầu
Được quang minh này làm giác ngộ.
Như kẻ sanh manh chẳng thấy trời
Chẳng phải mặt trời không mọc lên
Những người mắt tỏ đều thấy rõ
Riêng theo phận mình làm công việc,
Quang minh Bồ Tát cũng như vậy
Người có trí huệ đều thấy cả
Phàm phu tà tín, kẻ mê si
Nơi quang minh này không thấy được.
Ma ni cung điện và xe kiệu
Báu đẹp hương thơm dùng thoa sáng
Người có phước đức tự nhiên đủ
Người không phước đức chẳng ở được.
Bồ Tát quang minh cũng như vậy
Người có trí sâu đều chiếu đến
Tà tín, hiểu kém, kẻ phàm ngu
Chẳng thể thấy được quang minh ấy.
Nếu ai nghe quang này sai biệt
Hay sanh lòng tin sâu, thanh tịnh
Dứt hẳn tất cả các lưới nghi
Mau thành tràng công đức vô thượng.
Có thắng tam muội hay xuất hiện
Quyến thuộc trang nghiêm đều tự tại
Tất cả mười phương các quốc độ
Phật tử chúng hội không sánh kịp.
Có diệu liên hoa, quang trang nghiêm
Lượng bằng tam thiên đại thiên giới
Thân ngài đoan tọa khắp liên hoa
Đây là tam muội thần thông lực.
Lại có mười cõi vi trần số
Liên hoa xinh đẹp bao vòng quanh
Chúng Phật tử ngồi trên hoa đó
Trụ nơi tam muội oai thần lực.
Đời trước thành tựu nhơn duyên lành
Tu hành đầy đủ Phật công đức
Những chúng sanh này quanh Bồ Tát
Cùng nhau chấp tay nhìn không chán.
Như mặt nguyệt giữa các tinh tú
Bồ Tát trong chúng cũng như thế
Công hạnh Bồ Tát pháp như vậy
Vào nơi tam muội oai thần lực.
Như sự thị  hiện ở một phương
Các chúng Phật tử cùng vây quanh
Trong tất cả phương đều như vậy
Trụ nơi tam muội oai thần lực.
Có thắng tam muội tên phương võng
Trụ đây Bồ Tát rộng khai thị
Trong tất cả phương khắp hiện thân
Hoặc hiện nhập định hoặc xuất định,
Hoặc ở phương Đông nhập chánh định
Rồi ở phương Tây nhập chánh định
Rồi ở phương Đông mà xuất định,
Hoặc ở phương khác nhập chánh định
Rồi ở phương khác mà xuất định,
Nhập xuất như vậy khắp mười phương
Đây gọi Bồ Tát tam muội lực.
Cùng tận phương Đông các quốc độ
Chư Phật Như Lai vô lượng số
Đều hiện trước Phật thân cận cả
Trụ nơi tam muội tịch bất động,
Những nơi phương Tây các thế giới
Chỗ của tất cả chư Phật ngự
Đều hiện từ nơi tam muội xuất
Sắm sửa vô lượng đồ cúng dường.
Cùng tận phương Tây các quốc độ
Chư Phật Như Lai vô lượng số
Đều hiện trước Phật thân cận cả
Trụ nơi tam muội tịch bất động,
Những nơi phương Đông các thế giới
Chỗ của tất cả chư Phật ngự
Đều hiện từ nơi tam muội xuất
Sắm sửa vô lượng đồ cúng dường.
Như vậy mười phương các thế giới
Bồ Tát vào khắp không bỏ sót
Hoặc nhập tam muội tịch bất động
Hoặc hiện cung kính cúng dường Phật.
Ở trong nhãn căn nhập chánh định
Nơi trong sắc trần từ định xuất,
Thị hiện sắc tánh bất tư nghị
Tất cả trời người chẳng biết được,
Ở trong sắc trần nhập chánh định
Nơi nhãn xuất định, tâm chẳng loạn
Thuyết nhãn, vô sanh và vô khởi
Tánh: không, tịch diệt và vô tác.
Ở trong nhĩ căn nhập chánh định
Nơi trong thinh trần từ định xuất
Phân biệt tất cả tiếng ngữ ngôn
Chư thiên, thế nhơn chẳng biết được.
Ở trong thinh trần nhập chánh định
Nơi nhĩ xuất định, tâm chẳng loạn
Thuyết nhĩ, vô sanh và vô khởi
Tánh: không, tịch diệt và vô tác.
Ở trong tĩ căn nhập chánh định
Nơi trong hương trần từ định xuất
Khắp được tất cả thượng diệu hương
Chư thiên, thế nhơn chẳng biết được.
Ở trong hương trầm nhập chánh định
Nơi tỉ, vô sanh và vô khởi
Tánh: không, tịch diệt và vô tác.
Ở trong thiệt căn nhập chánh định
Nơi trong vị trần từ định xuất
Khắp được tất cả những thượng vị
Chư thiên, thế nhơn chẳng biết được.
Ở trong vị trần nhập chánh định
Trong thiệt xuất định, tâm chẳng loạn
Noi thiệt, vô sanh và vô khởi
Tánh: không, tịch diệt và vô tác.
Ở trong thân căn nhập chánh định
Nơi trong xúc trần từ định xuất
Khéo hay phân biệt tất cả xúc
Chư thiên, thế nhơn chẳng biết được.
Ở trong xúc trần nhập chánh định
Trong thân xuất định, tâm chẳng loạn
Thuyết thân, vô sanh và vô khởi
Tánh: không, tịch diệt và vô tác.
Ở trong ý căn nhập chánh định
Nơi trong pháp trần từ định xuất
Phân biệt tất cả các pháp tướng
Chư thiên, thế nhơn chẳng biết được.
Ở trong pháp trần nhập chánh định
Nơi ý xuất định, tâm chẳng loạn
Thuyết ý, vô sanh và vô khởi
Tánh: không, tịch diệt và vô tác.
Trong thân đồng tử nhập chánh định
Trong thân tráng niên từ định xuất
Trong thân tráng niên từ chánh định
Trong thân lão niên từ định xuất
Trong thân lão niên nhập chánh định
Trong thân thiện nữ từ định xuất,
Trong thân thiện nữ nhập chánh định,
Thân tỳ kheo ni từ định xuất
Thân tỳ kheo ni nhập chánh định
Trong thân tỳ kheo từ định xuất,
Trong thân tỳ kheo nhập chánh định
Thân học vô học từ định xuất,
Thân học vô học nhập chánh định
Thân Bích Chi Phật từ định xuất,
Thân Bích Chi Phật nhập chánh định
Hiện thân Như Lai từ định xuất,
Nơi thân Như Lai nhập chánh định
Trong thân chư Thiên từ định xuất,
Trong thân chư Thiên nhập chánh định
Trong thân đại long từ định xuất,
Trong thân đại long nhập chánh định
Trong thân dạ xoa từ định xuất,
Trong thân dạ xoa nhập chánh định
Trong thân quỷ thần từ định xuất,
Trong thân quỷ thần nhập chánh định
Trong một chân lông từ định xuất,
Trong một chân lông nhập chánh định
Tất cả chân lông từ định xuất,
Tất cả chân lông nhập chánh định
Trên đầu một lông từ định xuất,
Trên đầu một lông nhập chánh định
Trong một vi trần từ định xuất,
Trong một vi tràn nhập chánh định
Tất cả vi trần từ định xuất,
Trong tất cả trần nhập chánh định
Trong đất kim cang từ định xuất,
Trong đất kim can nhập chánh định
Trên cây ma ni từ định xuất,
Trên cây ma ni nhập chánh định
Trong quang minh Phật từ định xuất,
Trong quang minh Phật nhập chánh định
Ở trong sông biển từ định xuất,
Ở trong sông biển nhập chánh định
Ở trong lửa lớn từ định xuất,
Ở trong lửa lớn nhập chánh định
Nơi gió xuất định tâm chẳng loạn,
Ở trong phong đại nhập chánh định
Ở trong địa đại từ định xuất,
Ở trong địa đại nhập chánh định
Nơi thiên cung điện từ định xuất,
Nơi thiên cung điện nhập chánh định
Hư không xuất tâm chẳng loạn
Đây gọi bậc vô lượng công đức
Tam muội tự tại khó nghĩ bàn.
Mười phương tất cả chư Như Lai
Trong vô lượng kiếp nói chẳng hết,
Tất cả Như Lai đều cùng nói
Chúng sanh nghiệp báo khó nghĩ bàn.
Chư long biến hóa, Phật tự tại
Bồ Tát thần lực cũng khó nghĩ
Muốn dùng ví dụ để hiển bày
Trọn không có dụ để dụ được;
Nhưng những người trí huệ thông đạt
Nhơn thí dụ để hiểu nghĩa đó.
Hàng Thinh Văn trụ bát giải thoát
Những sự biến hiện đều tự tại:
Có thể một thân hiện nhiều thân
Lại hiệp nhiều thân thành một thân;
Ở giữa không gian nhập hoả định
Đi, đứng, nằm, ngồi giữa hư không
Trên thân phun nước dưới tuôn lửa
Trên thân tuôn lửa dưới tuôn nước
Như thế đều nơi trong một niệm
Các môn tự tại vô lượng biên;
Thinh Văn chẳng đủ đại từ bi
Chẳng vì chúng sanh cầu Phật đạo
Còn hiện được thần thông vô lượng
Huống là Phật Bồ Tát đại lực!
Như mặt nhựt, nguyệt trên hư không
Bóng tượng cùng khắp cả mười phương
Trong nước ao hồ, đầm, chậu, chén
Sông ngòi, biển lớn đều hiện cả.
Bồ Tát sắc tượng cũng như vậy
Hiện khắp mười phương bất tư nghị;
Đều do tam muội sức tự tại
Chỉ có Như Lai là chứng biết.
Như trong nước trong, bóng vũ khí
Các loại sai khác không xen tạp
Kiếm kích, cung tên, loại rất nhiều
Mão giáp xe cộ chẳng phải một,
Tùy kia bao nhiêu tướng sai khác
Nước trong hiện rõ tất cả bóng
Nhưng nước vốn tự không phân biệt
Bồ Tát tam muội cũng như vậy.
Trong biển có thần tên Thiện Âm
Tiếng thần, thuận hết loài trong biển
Bao nhiêu ngôn ngữ đều hiện rõ
Khiến tất cả chúng đều vui đẹp.
Hải thần có đủ tham, sân, si
Mà còn khéo hiểu tất cả tiếng
Huống là tổng trì tự tại lực
Mà chẳng khiến được chúng vui mừng!
Có một phụ nữ tên Biện Tài
Cha mẹ cầu trời mà sanh nàng
Có ai lìa ác, thích chơn thiệt
Vào trong thân nàng sanh diệu biện.
Nàng ấy có tham dục, sân, si
Còn cho người theo có biện tài,
Huống là Bồ Tát đủ trí huệ
Mà chẳng cho chúng được lợi ích!
Như nhà ảo thuật biết ảo pháp
Hiện được nhiều loại cùng nhiều vật
Giây lát hiện làm ngày tháng năm
Thành ấp giàu có rất an vui,
Thuật gia có đủ tham sân si
Còn biến hóa được vui thế gian
Huống là thiền định, sức giải thoát
Mà chẳng khiến được chúng vui mừng!
Lúc trời cùng tu la chiến đấu
Tu la thua trận đồng chạy trốn
Vũ khí, xe cộ và quân lữ
Đồng thời trốn mất không kiếm được,
Tu la có đủ tham, sân, si
Còn hay biến hóa bất tư nghị
Huống bực thần thông vô úy lực
Biến hiện tự tại đâu lường được!
Thích Đề Hoàn Nhơn có tượng vương
Lúc nó biết Thiên Đế muốn đi
Tự hóa đủ ba mươi hai đầu
Mỗi đầu đều đủ sáu ngà trắng,
Trên mỗi ngà đều có bảy ao
Mỗi ao đầy nước, thơm, trong sạch
Trong mỗi ao nước thơm trong ấy
Có bảy hoa sen rất xinh đẹp,
Trên mỗi hoa sen xinh đẹp ấy
Đều có bảy ngọc nữ cõi trời
Giỏi nghề đờn ca trổi âm nhạc
Cùng với Thiên Đế đồng vui chơi,
Voi ấy hoặc lại bỏ bổn hình
Tự hóa thân nó như chư thiên
Oai nghi đi đứng như trời thiệt
Nó có sức thần biến như vậy.
Tượng vương có đủ tham sân si
Còn hiện thần thông được như vậy
Huống bực đầy đủ trí phương tiện
Mà nơi tam muội chẳng tự tại.
Như a tu la biến thân hình
Chân đạp đáy biển kim cang tế
Nước biển tột sâu ngập nửa thân
Đầu cao ngang đỉnh núi Tui Di,
Tu la có đủ tham sân si
Còn hiện được thần thông to lớn
Huống bực phục ma Chiếu Thế Đăng
Mà không tự tại oai thần lực!
Trời cùng Tu la lúc đánh nhau
Thiên Đế thần lực bất tư nghị
Tùy theo số chúng để cùng đấu,
Hiện thân bằng số để cùng đấu,
Các a tu la tự nghĩ rằng:
Thích Đề Hoàn Nhơn đến đánh ta
Tất sẽ bắt tinh tấn trói tay chân
Do đây chúng nó đều lo lắng,
Đế Thích hiện thân có ngàn mắt
Tay cầm kim cang tuôn lửa ngọn
Mặc giáp cầm gậy rất oai nghiêm
Tu la trông thấy đều sợ chạy.
Thiên đế chỉ do chút phước đức
Còn dẹp pháp được oán địch lớn
Huống bậc đại bi cứu tất cả
Đủ công đức lại chẳng tự tại!
Trong trời Đao Lợi có thiên cổ
Từ nghiệp báo trời mà cảm ra
Lúc biết chư thiên ham phóng dật
Trên không tự nhiên vang tiếng này:
"Tất cả ngũ dục đều vô thường
Như bọt nước kia, tánh hư giả
Các cõi như mơ, như ánh nắng
Như trăng trong nước, như mây nổi,
Phóng dật là oán, là khổ não
Là đường sanh tử, chẳng mát mẻ
Nếu ai ham say việc phóng dật
Lọt vào miệng cá lớn sanh tử;
Những cội gốc khổ của thế gian
Tất cả thánh nhơn đều nhàm sợ,
Ngũ dục hoại diệt các công đức
Các ngài phải thích pháp chơn thật."
Tam thập tam thiên nghe tiếng trống
Cùng dắt nhau lên Thiện Pháp Đường,
Thiên Đế vì họ giảng diệu pháp
Đều khiến thuận đạo, trừ tham ái.
Tiếng trống vô hình không thấy được
Còn hay lợi ích chúng chư thiên
Huống bậc Đại Từ hiện sắc thân
Mà chẳng tế độ loài hàm thức!
Trời cùng tu la lúc đánh nhau
Chư thiên phước đức thù thắng lực
Thiên cổ vang tiếng bảo chư thiên:
Các ngài chẳng nên có kinh sợ!
Chư thiên được nghe tiếng trống này
Đều hết lo sợ thêm thế lực
Lúc đó tu la lòng sợ khiếp
Bao nhiêu binh tướng kéo chạy lui.
Cam lộ diệu định, như thiên cổ
Hằng vang tiếng hàng ma, tịch tịnh
Đại bi xót thương cứu tất cả
Khiến khắp chúng sanh dứt não phiền.
Thiên Đế ứng khắp các thiên nữ
Chín mươi hai na do tha thân
Khiến chư thiên nữ đều tự bảo
Thiên Vương chỉ cùng ta riêng vui.
Như khắp ứng với chư thiên nữ
Trong Thiện Pháp Đường cũng như vậy
Hay trong một niệm hiện thần thông
Đều đến trước mặt mà thuyết pháp.
Thiên Đế có đủ tham, sân, si
Hay khiến quyến thuộc đều hoan hỷ
Huống bực phương tiện đại thần thông
Mà chẳng khiến được chúng vui đẹp!
Tha Hóa Tự Tại Đại Thiên Vương
Ở trong cõi dục được tự tại
Dùng hoặc nghiệp khổ, làm rọ lưới
Cột trói tất cả hạng phàm phu.
Thiên Vương kia có tham, sân, si
Với chúng sanh còn được tự tại
Huống bực đủ cả mười trí lực
Mà chẳng khiến được chúng đồng hành!
Đại Thiên Thế Giới Đại Phạm Vương
Tất cả chỗ ở của Phạm thiên
Đều hay hiện thân ngồi ở trước
Diễn thông tiếng phạm âm vi diệu.
Đại Phạm Vương kia ở thế gian
Thiền định, thần thông còn như ý
Huống đấng xuất thế gian vô thượng
Mà thiền giải thoát chẳng tự tại!
Ma Hê Thủ La trí tự tại
Đại hải long vương lúc làm mưa
Có thể phân biệt đếm từng giọt
Ở trong một niệm biết rõ ràng.
Bực vô lượng kiếp siêng tu học
Được trí giác bồ đề vô thượng
Há lại chẳng được trong một niệm
Biết khắp tất cả tâm chúng sanh!
Chúng sanh nghiệp báo bất tư nghị
Dùng sức đại phong, khởi thế gian
Biển rộng, núi to, thiên cung điện
Các báu, quang minh, muôn vật loại,
Cũng hay nổi mây cùng mưa lớn
Cũng hay làm tan những vân khí
Cũng hay thành thục loài ngũ ốc
Cũng hay an lạc các chúng sanh;
Đại phong chẳng học ba la mật
Cũng chẳng học Phật các công đức
Còn làm thành việc bất tư nghị
Huống bực đầy đủ những hạnh nguyện
Nam tử nữ nhơn các thứ tiếng
Âm thinh của tất cả chim muông
Tiếng biển gào, sông chảy, sấm nổ
Đều hay vừa đẹp ý chúng sanh.
Huống bậc biết tiếng, tánh như vang
Đến được biện tài diệu vô ngại
Ứng khắp chúng sanh mà thuyết pháp
Mà chẳng khiến được chúng sanh mừng!
Biển có pháp hỉ kỳ đặc biệt
Bình đẳng ấn tượng tất cả cảhn
Bửu vật, thế gian, và muôn dòng
Dung nạp tất cả không chống đối.
Vô tận thiền định, bực giải thoát
Là bình đẳng ấn cũg như vậy
Phước đức, trí huệ, các diệu hạnh
Khắp tu tất cả không nhàm đủ.
Đại hải long vương lúc du hí
Nơi nơi chốn chốn được tự tại
Nổi mây trùm khắp cả bốn châu
Mây đó đủ những màu trang nghiêm,
Đệ Lục Tha Hóa Tự Tại Thiên
Nơi đó màu mây như chơn kim,
Mây trời Hóa Lạc màu xích châu,
Mây trời Đâu Suất màu sương tuyết,
Mây trời Dạ Ma màu lưu ly,
Mây trời Đao Lợi màu mã não,
Trời Tứ Vương Thiên màu pha lê,
Trên mặt Đại Hải màu kim cang,
Cõi Khẩn Na La màu diệu hương,
Chỗ ở chư long màu liên hoa,
Chỗ ở dạ xoa màu bạch nga,
Trong a tu la màu sơn thạch,
Châu Uất Đơn Việt màu vàng lửa,
Trong Diêm Phù Đề màu thanh bửu,
Hai châu kia màu tạp trang nghiêm,
Tùy chúng sở thích mà ứng đó.
Và lại Tha Hóa Tự Tại Thiên
Trong mây chớp sáng như nhựt quang,
Trên trời Hóa Lạc như nguyệt quang,
Trên Đâu Suất thiên vàng diêm phù,
Trên Dạ Ma thiên màu kha tuyết,
Trời Đao Lợi sáng màu lửa vàng,
Trên Tứ Vương thiên màu các báu,
Trong Đại Hải kia màu xích châu,
Chỗ Khẩn Na La màu lưu ly,
Chỗ Long Vương màu bửu tạng,
Chỗ Dạ xoa ở màu pha lê,
Trong A tu la màu mã não,
Châu Uất Đơn Việt màu hỏa châu,
Trong Diêm Phù Đề màu đế thanh,
Nơi hai châu kia tạp trang nghiêm
Như màu của mây chớp cũng vậy.
Tha Hóa sấm nổ như phạm âm,
Hóa Lạc thiên như tiếng đại cổ,
Đâu Suất thiên như tiếng xướng chánh pháp,
Dạ Ma thiên như tiếng thiên nữ,
Nơi trên trời tam thập tam kia
Như âm thinh của Khẩn Na La,
Nơi cõi Tứ Vương thiên hộ thế
Như tiếng của thần Càn Thát Bà,
Trong biển như tiếng hai núi chạm,
Trong Khẩn Na La tiếng tiêu địch,
Trong thành Long Vương tiếng tần già,
Chỗ dạ xoa ở tiếng long nữ,
Nơi a tu la tiếng trống trời,
Ở trong nhân loại tiếng hải triều.
Tha Hóa Tự Tại mưa diệu hương
Các thứ tạp hoa dùng trang nghiêm
Hóa Lạc thiên mưa hoa đa la
Mạn đà la hoa và rưới hương,
Trên Đâu Suất thiên mưa ma ni,
Đầy đủ các thứ bửu trang nghiêm,
Bửu châu trong tóc như nguyệt quang
Y phục thượng diệu màu chơn kim,
Trời Dạ Ma mưa tràng phan lọng
Tràng hoa, hương thoa đồ nghiêm sức
Y thượng diệu màu xích chơn châu
Và cùng các thứ kỹ nhạc tốt,
Đạo Lợi thiên mưa châu như ý
Hương kiên hắc trầm thủy, chiên đàn
Uất kim, kê la, đa ma thảy
Hoa đẹp nước thơm xen nhau rưới.
Trong thành Trí Vương mưa thức ngon
Đủ sắc, hương, vị thêm sức khoẻ
Cũng mưa vô lượng các diệu bửu
Tất cả đều do long vương làm.
Và lại nơi trog đại hải kia
Mưa tuôn chẳng dứt như trục xe
Lại mưa vô tận tạng đại bửu
Cũng mưa các thứ đồ trang nghiêm,
Xứ Khẩn Na La mưa anh lạc
Y phục màu liên hoa và bửu
Hương mạt lợi và bà sư ca
Các thứ âm nhạc đều đầy đủ,
Trong thành chư long mưa xích châu,
Thành dạ xoa mưa ma ni qunag,
Trong a tu la mưa dao gậy
Dẹp trừ tất cả những oán địch,
Châu Uất Đơn Việt mưa anh lạc
Cũng mưa vô lượng hoa thượng diệu,
Phất Bà, Cù Gia hai châu kia
Đều mưa các món đồ trang nghiêm,
Diêm Phù Đề mua nước trong sạch
Thấm nhuần mọi nơi thường phải thời
Nuôi lớn cây hoa quả và thuốc
Thành thục tất cả những lúc mạ.
Như vậy vô lượng diệu trang nghiêm
Các thứ mây, chớp và sấm, mưa,
Long vương tự tại đều làm được
Mà thân chẳng động, chẳng phân biệt.
Long Vương ở trong biển thế gian
Còn hay hiện được sức nan tư
Huống bực vào biển pháp công đức
Mà chẳng hiện được đại thần biến!
Môn giải thoát của chư Bồ Tát
Tất cả ví dụ không lệ được
Nay tôi tạm dùng các ví dụ
Lược nói Bồ Tát tự tại lực.
Trí huệ đệ nhứt, huệ quảng đại,
Trí huệ chơn thiệt, huệ vô biên,
Thắng huệ và dùng huệ thù thắng,
Pháp môn như vậy nay đã nói.
Pháp này hi hữu rất kỳ đặc
Nếu người nghe xong lãnh thọ được
Hay tin, hay thọ, hay khen nói
Việc làm như vậy rất là khó.
Tất cả phàm phu ở thế gian
Người tin pháp này rất là khó
Nếu ai siêng tự tại phước thanh tịnh
Do nhân lành xưa mới tin được.
Quần sanh trong tất cả thế giới
Ít ai muốn cầu Thanh Văn thừa
Người cầu Độc Giác lại càng ít
Người hướng Đại Thừa rất khó gặp.
Người hướng Đại Thừa còn là dễ
Tin được pháp này lại khó hơn
Huống lại trì tụng vì người nói
Đúng pháp tu hành hiểu chân thật.
Hoặc người đem đại thiên thế giới
Đầu đội một kiếp thân chẳng động
Việc người này làm chưa là khó
Người tin pháp này mới là khó.
Hoặc người tay bưng mười quốc độ
Đứng giữa không gian trọn mười kiếp
Việc người này làm chưa là khó
Tin được pháp này mới là khó.
Nơi mười cõi vi trần số chúng
Cho vật sở thích trọn một kiếp
Phước đức người này chưa là thắng
Người tin pháp này mới tối thắng.
Nơi mười cõi vi trần số Phật
Đều kính cúng thờ trọn một kiếp
Nếu tụng trì được phẩm kinh này
Phước này tối thắng hơn người trước.
Lúc Hiền Thủ Bồ Tát nói kệ này rồi, thập phương thế giới chấn động sáu cách, cung ma ẩn khuất, ác đạo thôi dứt.  Thập phương chư Phật đều hiện ra trước đồng đưa tay hữu xoa đảnh ngài và đồng tiếng khen: "Lành thay!  Ông khéo nói pháp này.  Chúng tinh tấn tất cả đều tùy hỷ."

Hết phẩm 12




Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0

Đã mang vào thư viện

Chúc Canary luôn vui, an lành trong cuộc sống

Thân thương
0
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 2


Phẩm Tu Di sơn đảnh kệ tán
Thứ mười bốn

Lúc bấy giờ, do thần lực của đức Phật, từ ngoài trăm phật sát vi trần số quốc độ, mười phương đều có một đại Bồ Tát, mỗi vị đều cùng một phật sát vi trần số Bồ Tát đồng vân tập đến.  Mười đại Bồ Tát là: Pháp Huệ Bồ Tát, Nhứt Thiết Huệ Bồ Tát, Thắng Huệ Bồ Tát, Công Đức Huệ Bồ Tát, Tinh Tấn Huệ Bồ Tát, Thiện Huệ Bồ Tát, Trí Huệ Bồ Tát, Chơn Thiệt Huệ Bồ Tát, Vô Thượng Huệ Bồ Tát, Kiên Cố Huệ Bồ Tát.  Cõi nước của các ngài theo thứ tự là: Nhơn Đà La Hoa thế giới, Ba Đầu Ma Hoa thế giới, Bửu Hoa thế giới, Ưu Bát La Hoa thế giới, Kim Cang Hoa thế giới, Diệu Hương Hoa thế giới, Duyệt Ý Hoa thế giới, A Lô Hoa thế giới, Na La Đà Hoa thế giới, Hư Không Hoa thế giới.  Chư Phật ngự trị nơi đó theo thứ tự là: Thù Đặc Nguyệt Phật, Vô Tận Nguyệt Phật, Bất Động Nguyệt Phật, Phong Nguyệt Phật, Thủy Nguyệt Phật, Giải Thoát Nguyệt Phật, Vô Thượng Nguyệt Phật, Tinh Tú Nguyệt Phật, Thanh Tịnh Nguyệt Phật, Minh Liễu Nguyệt Phật.
Chư Bồ Tát này đến đảnh lễ chân Phật, rồi tùy phương đến, đều riêng hóa hiện tòa sư tử Tỳ lô giá na tạng mà ngồi kiết già trên đó.
Như chư Bồ Tát vân tập đến đảnh núi Tu Di nơi thế giới này, thập phương thế giới cũng đều như thế cả, đều danh hiệu, quốc độ và chư Phật cũng đundefinedng.
Lúc đó đức Thế Tôn, từ nơi các ngón của hai chân phóng trăm ngàn ức quang minh màu đẹp chiếu khắp trong cung của Đế Thích ở mười phương thế giới, Phật và đại chúng đều hiển hiện cả.
Pháp Huệ Bồ Tát thừa oai thần của Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Phật phóng tịnh quang minh
Thấy khắp tất cả Phật
Đảnh núi Tu Di Vương
Ở trong điện Diệu Thắng.
Tất cả Thiên Đế Thích
Thỉnh Phật vào cung điện
Đều nói mười kệ hay
Ca ngợi chư Như Lai.
Trong các đại hội ấy
Bao nhiêu chúng Bồ Tát
Đều từ mười phương đến
Hóa tòa mà an tọa.
Bồ Tát trong hội đó
Danh hiệu đồng chúng tôi,
Những cõi từ đó đến
Danh tự cũng vẫn đồng;
Bổn quốc chư Như Lai
Hồng danh đều cũng đồng,
Bồ Tát nơi bổn Phật
Tịnh tu hạnh vô thượng.
Đại chúng nên quan sát
Như Lai tự tại lực
Tất cả Diêm Phù Đề
Đều nói Phật tại đấy.
Chúng tinh tấn nay thấy Phật
Trụ nơi đảnh Tu Di
Thập phương cũng như vậy
Như Lai tự tại lực.
Trong mỗi mỗi thế giới
Phát tâm cầu Phật đạo
Nương nơi nguyện như vậy
Tu tập hạnh bồ đề.
Phật dùng nhiều thân hình
Du hành khắp thế gian
Pháp giới không chướng ngại
Không ai trắc lượng được.
Huệ quang hằng chiếu khắp
Đời tối đều trừ diệt,
Tất cả không sánh bằng
Thế nào lường biết được!
Nhứt Thiết Huệ Bồ Tát, thừa oai lực của đức Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Giả sử trăm ngàn kiếp
Thường thấy đức Như Lai
Chẳng y chân thật nghĩa
Mà quán đấng Cừu Thế,
Người này chấp lấy tướng
Thêm lớn lưới mê lầm
Giam trói ngục sanh tử
Đui mù, chẳng thấy Phật.
Quan sát nơi các pháp
Đều không có tự tánh
Tướng nó, vốn sanh diệt
Chỉ là danh thuyết giả.
Tất cả pháp vô sanh
Tất cả pháp vô diệt
Nếu hiểu được như vậy
Chư Phật thường hiện tiền.
Pháp tánh vốn không tịch
Vô thủ, cũng vô kiến
Tánh không, tức là Phật
Chẳng thể nghĩ lường được.
Nếu biết tất cả pháp
Thể tánh đều như vậy
Người này thời chẳng bị
Phiền não làm nhiễm trước.
Phàm phu thấy các pháp
Chỉ chuyển theo tướng giả
Chẳng rõ pháp vô tướng
Do đây chẳng thấy Phật.
Đức Phật lìa ba thời
Các tướng đều đầy đủ
Trụ nơi vô sở trụ
Cùng khắp mà bất động
Tôi quán tất cả pháp
Thảy đều được rõ ràng
Nay thấy đức Như Lai
Quyết định không nghi ngờ.
Pháp Huệ trước đã nói
Như Lai chơn thiệt tánh,
Tôi từ đó rõ biết
Bồ đề khó nghĩ bàn.
Thắng Huệ Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Như Lai đại trí huệ
Hi hữu không sánh bằng
Tất cả những thế gian
Tư duy chẳng đến được.
Phàm phu vọng quan sát
Chấp tướng chẳng đúng lý
Phật lìa tất cả tướng
Chẳng phải họ biết được.
Kẻ vô trí mê lầm
Vọng chấp tướng ngũ uẩn
Chẳng biết chơn tánh kia
Người này chẳng thấy Phật.
Rõ biết tất cả pháp
Đều không có tự tánh
Hiểu pháp tánh như vậy
Thời thấy Lô Xá Na.
Vì do tiền ngũ uẩn
Có hậu uẩn tương tục
Rõ biết nơi tánh này
Thấy Phật khó nghĩ bàn.
Ví như báu trong tối
Không đèn thời chẳng thấy
Phật pháp không người nói
Dầu huệ chẳng biết được.
Cũng như mắt bị lòa
Chẳng thấy màu xinh đẹp
Như vậy tâm bất tịnh
Chẳng thấy các Phật pháp.
Lại như mặt trời sáng
Kẻ mù không thấy được
Tâm không có trí huệ
Trọn chẳng thấy chư Phật.
Nếu chữa hết bịnh lòa
Bỏ lìa lòng tưởng sắc
Chẳng thấy nơi các pháp
Thời thấy được Như Lai.
Nhứt Thiết Huệ đã nói
Chư Phật bồ đề pháp
Tôi nghe lời ngài nói
Được thấy Lô Xá Na.
Công Đức Huệ Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Các pháp không chơn thật
Vọng chấp là chơn thật
Cho nên các phàm phu
Luân hồi ngục sanh tử.
Nơi ngôn từ thuyết pháp
Tiểu trí vọng phân biệt
Vì thế sanh chướng ngại
Chẳng rõ được tự tâm.
Chẳng rõ được tự tâm
Đâu biết được chánh đạo
Họ do huệ điên đảo
Thêm lớn mọi điều ác.
Chẳng thấy các pháp không
Hằng thọ khổ sanh tử
Người này chưa có được
Pháp nhãn thanh tịnh vậy.
Xưa kia tôi thọ khổ
Vì tôi chẳng thấy Phật,
Nên phải tịnh pháp nhãn
Xem kia chỗ đáng thấy.
Nếu được thấy nơi Phật
Thời tâm không chấp lấy
Người này thời thấy được
Pháp của Phật đã biết.
Nếu thấy Phật chơn pháp
Thời gọi bậc đại trí
Người này có tịnh nhãn
Hay quan sát thế gian.
Không thấy chính là thấy
Hay thấy tất cả pháp
Nơi pháp nếu có thấy
Đây thời là không thấy.
Tất cả các pháp tánh
Không sanh cũng không diệt
Lạ thay đấng Đạo Sư
Tự giác hay giác tha.
Ngài Thắng Huệ đã nói
Pháp của Như Lai ngộ
Chúng tôi nghe ngài nói
Biết được Phật chơn tánh.
Tinh Tấn Huệ Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Nếu trụ nơi phân biệt
Thời hư thanh tịnh nhãn
Thêm ngu si, tà kiến
Trọn chẳng thấy được Phật.
Nếu rõ được tà pháp
Như thiệt chẳng điên đảo,
Biết vọng vốn tự chơn
Thấy Phật thời thanh tịnh.
Có thấy, thời là nhơ
Đây thời chưa phải thấy
Xa lìa các kiến chấp
Như vậy mới thấy Phật.
Pháp ngôn ngữ thế gian
Chúng sanh vọng phân biệt
Biết thế đều vô sanh
Mới là thấy thế gian.
Nếu thấy "thấy thế gian"
"Thấy" là tướng thế gian
Như thiệt đồng không khác
Đây gọi người chơn kiến.
Nếu thấy đồng không khác
Nơi vật chẳng phân biệt
Thấy này lìa phiền não
Vô lậu được tự tại.
Chỗ chư Phật khai thị
Tất cả pháp phân biệt
Đây đều chẳng thể được
Vì pháp tánh thanh tịnh.
Pháp tánh vốn thanh tịnh
Vô tướng như hư không
Tất cả không năng thuyết
Người trí quán như vậy.
Xa lìa nơi pháp tưởng
Chẳng thích tất cả pháp
Đây cũng không chỗ tu
Thấy được Đại Mâu Ni.
Như ngài Đức Huệ nói
Đây gọi là thấy Phật.
Chỗ có tất cả hạnh
Thể tánh đều tịch diệt.
Lúc đó, Thiện Huệ Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Hi hữu đại dũng kiện
Vô lượng chư Như Lai
Ly cấu tâm giải thoát
Tự độ hay độ người.
Tôi thấy thế gian đăng
Như thật chẳng điên đảo
Như trong vô lượng kiếp
Bậc đủ trí chỗ thấy.
Tất cả hạnh phàm phu
Đều mau về diệt tận
Tánh nó như hư không
Nên nói là vô tận.
Người trí nói vô tận
Đây cũng không chỗ nói.
Vì tự tánh vô tận
Được có nan tư tận.
Trong chỗ nói vô tận
Không chúng sanh được có
Biết chúng tánh như vậy
Thời thấy Đại Danh Xưng.
Không thấy nói là thấy
Vô sanh nói chúng sanh
Hoặc thấy, hoặc chúng sanh
Rõ biết không thể tánh.
Năng kiến cùng sở kiến
Kiến giả đều khiển trừ,
Chẳng hoại nơi chơn pháp
Người này rõ biết Phật.
Nếu người rõ biết Phật
Và pháp của Phật nói
Thời hay chiếu thế gian
Như Phật Lô Giá Na.
Chánh giác khéo khai thị
Đạo một pháp thanh tịnh,
Đại Sĩ tinh tấn huệ,
Diễn nói vô lượng pháp.
Hoặc có hoặc không có
Tưởng niệm này đều trừ
Như thế thấy được Phật
An trụ nơi thiệt tế.
Lúc đó, Trí Huệ Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Tôi nghe pháp tối thắng
Liền sanh trí huệ quang
Chiếu khắp mười phương cõi
Đều thấy tất cả Phật.
Trong đây không chút vật
Chỉ có danh tự giả
Nếu cấp có ngã nhân
Thời là vào đường hiểm.
Những phàm phu chấp trước
Chấp thân là thiệt có
Phật chẳng phải sở thủ
Họ trọn chẳng thấy được.
Người này không huệ nhãn
Chẳng thể thấy được Phật
Ở trong vô lượng kiếp
Lưu chuyển biển sanh tử.
Hữu tránh nói sanh tử
Vô tránh là niết bàn
Sanh tử và niết bàn
Cả hai chẳng nói được.
Nếu theo danh tự giả
Chấp lấy hai pháp này
Người này không đúng thật
Chẳng biết Phật diệu đạo.
Nếu móng tưởng như vầy:
"Đây Phật, đây tối thắng"
Điên đảo chẳng phải thật
Chẳng thấy được Chánh Giác.
Biết được thật thể này
Tướng chơn như tịch diệt
Thời thấy đấng Chánh Giác
Vượt khỏi đường ngữ ngôn.
Ngôn ngữ nói các pháp
Chẳng hiển được thiệt tướng
Bình đẳng mới thấy được
Như Pháp, Phật cũng vậy.
Thời quá khứ chư Phật
Vị lai và hiện tại
Dứt hẳn gốc phân biệt
Thế nên gọi là Phật.
Chơn Thật Huệ Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Thà thọ khổ địa ngục
Được nghe hồng danh Phật
Chẳng thích vô lượng vui
Mà chẳng nghe danh Phật.
Sở dĩ nơi thời xưa
Chịu khổ vô số kiếp
Lưu chuyển trong sanh tử
Vì chẳng nghe danh Phật.
Với pháp chẳng điên đảo
Mà hiện chứng như thật
Lìa các tướng hòa hiệp
Gọi là Vô Thượng Giác.
Hiện chẳng phải hòa hiệp
Khứ, lai cũng như vậy
Tất cả pháp vô tướng
Đây là chơn thể Phật.
Nếu quán được như vậy
Các pháp nghĩa thậm thâm
Thời thấy tướng chơn thật
Pháp thân của chư Phật.
Nơi thật thấy chơn thật
Chẳng thật thấy chẳng thật
Hiểu rốt ráo như vậy
Cho nên gọi là Phật.
Phật pháp chẳng giác được
Rõ đây gọi "giác pháp"
Chư Phật tu như vậy
Một pháp bất khả đắc.
Biết do một nên nhiều
Biết do nhiều nên một
Các pháp không chỗ tựa
Chỉ do hòa hiệp khởi.
Không năng tác, sở tác
Chỉ từ nghiệp tưởng sanh
Tại sao biết như vậy
Vì khác đây không có.
Tất cả pháp vô trụ
Định xứ bất khả đắc
Chư Phật trụ nơi đây
Rốt ráo không dao động.
Vô Thượng Huệ Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Đấng đại thừa vô thượng
Xa lìa tưởng chúng sanh
Không có ai hơn được
Nên hiệu là Vô Thượng.
Chỗ chư Phật đã được
Vô tác, vô phân biệt
Thô thần thông vô sở hữu
Vi tế cũng như vậy.
Cảnh chư Phật sở hành
Trong đó không có số
Là chơn pháp của Phật.
Như Lai quang chiếu khắp
Diệt trừ những tối tăm
Quang này chẳng có chiếu
Cũng chẳng phải không chiếu.
Nơi pháp không chỗ chấp
Không niệm cũng không nhiễm
Không trụ không xứ sở
Chẳng hoại nơi pháp tánh.
Trong đây không có hai
Cũng lại không có một
Bậc đại trí thấy đúng
Khéo an trụ thật lý.
Trong không, không có hai
Không hai cũng như vậy
Tam giới tất cả không
Là chỗ thấy chư Phật.
Phàm phu không hay biết
Phật khiến trụ chánh pháp
Các pháp vô sở trụ
Ngộ đây thấy tự thân.
Chẳng thân mà nói thân
Chẳng khởi mà hiện khởi
Không thân cũng không thấy
Là Phật thân vô thượng.
Như ngài Thật Huệ nói
Chư Phật diệu pháp tánh
Nếu người nghe pháp này
Sẽ được thanh tịnh nhãn.
Lúc đó, Kiên Cố Huệ Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Vĩ đại! Quang minh lớn
Bậc vô thượng dũng kiện
Vì lợi ích quần sanh
Mà xuất hiện thế gian.
Phật dùng tâm đại bi
Quan sát khắp chúng sanh
Thấy ở trong ba cõi
Luân hồi thọ nhiều khổ.
Chỉ trừ đấng Chánh Giác
Đấng Đạo Sư đủ sức
Tất cả các trời người
Không ai cứu hộ được.
Nếu chư Phật Bồ Tát
Chẳng xuất hiện thế gian
Thời không một chúng sanh
Có thể được an lạc.
Như Lai đẳng chánh giác
Và các chúng Thánh Hiền
Xuất hiện ở thế gian
Cho chúng sanh được vui.
Nếu ai thấy Như Lai
Vì được lợi hành lớn
Nghe hiệu Phật sanh tin
Thời là tháp thế gian.
Chúng tôi thấy Như Lai
Vì được lợi ích lớn
Nghe diệu pháp như vậy
Đều sẽ thành Phật đạo.
Chư Bồ Tát quá khứ
Do thần lực của Phật
Được huệ nhãn thanh tịnh
Rõ cảnh giới chư Phật.
Nay thấy Lô Xá Na
Càng thêm thanh tịnh tính
Phật trí không ngằn mé
Diễn thuyết chẳng thể hết.
Thắng Huệ Bồ Tát thảy
Và tôi Kiên Cố Huệ
Trong vô số ức kiếp
Cũng nói chẳng thể hết.




Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 2


Phẩm Thập trụ
Thứ mười lăm

Lúc bấy giờ Pháp Huệ Bồ Tát thừa oai lực của Phật, nhập Bồ Tát vô lượng phương tiện tam muội.  Do sức tam muội, ngoài ngàn phật sát vi trần số thế giới ở mười phương, có ngàn phật sát vi trần số Phật đều đồng hiệu là Pháp Huệ và đồng hiện đến bảo Pháp Huệ Bồ Tát rằng:  "Lành thay!  Lành thay!  Thiện nam tử!  Ông hay nhập Bồ Tát vô lượng phương tiện tam muội này.
Thiện nam tử!  Trong mười phương, ở mỗi phương đều có ngàn phật sát vi trần số chư Phật đều dùng thần lực đồng gia hộ ông.
Lại nguyện lực và thần lực của đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai đây, cùng năng lực thiện căn của ông đã tu, nhập tam muội này, khiến ông thuyết pháp, vì để tăng trưởng Phật trí, vì thâm nhập pháp giới, vì khéo rõ chúng sanh giới, vì sở nhập vô ngại, vì sở hành vô chướng, vì được vô đẳng phương tiện, vì nhập nhứt thiết trí tánh, vì giác tất cả pháp, vì biết tất cả căn, vì hay thọ trì diễn thuyết tất cả pháp: chính là phát khởi mười bậc trụ của Bồ Tát.
Thiện nam tử!  Ông nên thừa thần lực của Phật mà diễn thuyết pháp thập trụ ấy!"
Lúc đó, chư Phật liền ban cho Pháp Huệ Bồ Tát trí vô ngại, trí vô trước, trí vô đoạn, trí vô si, trí vô dị, trí vô thất, trí vô lượng, trí vô thắng, trí vô giải đãi, trí vô đoạt.  Tại sao vậy?  Vì năng lực của tam muội này pháp nhĩ như vậy.
Chư Phật đều đưa tay hữu xoa đảnh của Pháp Huệ Bồ Tát.
Pháp Huệ Bồ Tát liền xuất định nói với chư Bồ Tát rằng: "Chư Phật tử!  Trụ xứ của Bồ Tát rộng lớn đồng với hư không giới.  Phật tử!  Bồ Tát trụ nơi nhà tam thế chư Phật.  Nay tôi sẽ nói về chỗ trụ của Bồ Tát ấy.
Chư Phật tử!  Chỗ trụ của Bồ Tát có mười bậc mà tam thế chư Phật đã nói, sẽ nói và hiện đương nói.  Đây là mười bậc trụ:  Sơ phát tâm trụ, Trị địa trụ, Tu hành trụ, Sanh quý trụ, Cụ túc phương tiện trụ, Chánh tâm trụ, Bất thối trụ, Đồng chơn trụ, Pháp vương tử trụ, Quán đảnh trụ.
Chư Phật tử!  Thế nào là Bồ Tát phát tâm trụ?
Vị Bồ Tát này thấy Phật hình dung đoan nghiêm xinh đẹp có oai lực lớn, hoặc thấy thần túc, hoặc nghe thọ ký, hoặc nghe giảng dạy, hoặc thấy chúng sanh chịu những sự quá khổ, hoặc nghe Phật pháp rộng lớn của Như Lai mà phát bồ đề tâm, cầu nhứt thiết trí.  Vị Bồ Tát này duyên mười pháp khó được mà phát tâm.  Đây là mười pháp khó được:  Trí biết rõ thị xứ phi xứ, trí biết rõ thiện ác nghiệp báo, trí biết rõ căn tánh thắng diệt, trí biết rõ các loại trí giải sai biệt, trí biết rõ các cảnh giới sai biệt, trí biết rõ tất cả chí xứ đạo, trí biết rõ các thiền giải thoát tam muội, trí túc mạng vô ngại, trí thiên nhãn vô ngại, trí tam thế lậu tận.
Chư Phật tử!  Vị Bồ Tát này nên khuyên học mười pháp.  Đây là mười pháp:  Siêng cúng dường Phật, thích ở sanh tử, chủ trương dìu dắt thế gian khiến trừ ác nghiệp, thường đem pháp thắng diệu dạy bảo, ca ngợi pháp vô thượng, học công đức của Phật, sanh ở trước Phật luôn được nhiếp thọ, phương tiện diễn nói tam muội tịch tịnh, ngợi khen xa lìa sanh tử luân hồi, làm chỗ quy y cho chúng sanh đang bị khổ.
Vì sao phải khuyên học mười pháp này.  Vì muốn vị Bồ Tát này, ở trong Phật pháp, tâm thêm rộng lớn, có nghe được pháp liền tự hiểu, chẳng do người khác dạy.
Chư Phật tử!  Thế nào là bậc Bồ Tát trị địa trụ?
Vị Bồ Tát này đối với chúng sanh phát mười thứ tâm:  Tâm lợi ích, tâm đại bi, tâm an lạc, tâm an trụ, tâm lân mẫn, tâm nhiếp thọ, tâm thủ hộ, tâm đồng với mình, tâm làm thầy, tâm làm đạo sư. 
Chư Phật tử!  Nên khuyên vị Bồ Tát này học mười thứ pháp:  Tụng tập học rộng, rảnh rang tịch tịnh, gần thiện tri thức, nói lời hòa vui, nói tất biết thời, lòng không khiếp sợ, rõ thấu các nghĩa, tu hành đúng pháp, xa lìa ngu mê, an trụ bất động. 
Do học mười pháp trên đây.  Vị Bồ Tát này đối với chúng sanh thêm lớn đại bi, có được nghe pháp liền tự hiểu chẳng do người khác dạy.
Chư Phật tử!  Thế nào là Bồ Tát tự tại hành trụ?
Vị Bồ Tát này dùng mười hạnh để quan sát tất cả pháp:  Quán tất cả pháp vô thường, tất cả pháp khổ, tất cả pháp không, tất cả pháp vô ngã, tất cả pháp vô tác, tất cả pháp vô vị, tất cả pháp bất như danh, tất cả pháp vô xứ sở, tất cả pháp rời phân biệt, tất cả pháp không kiên thiệt.
Chư Phật tử!  Vị Bồ Tát này nên khuyên học mười pháp:  Quan sát chúng sanh giới, pháp giới, thế giới, quan sát địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, quan sát dục giới, sắc giới, vô sắc giới.  Vì muốn vị Bồ Tát này được trí huệ sáng tỏ, có được nghe pháp liền tự hiểu, chẳng do người khác dạy.
Chư Phật tử!  Thế nào là Bồ Tát sanh quý trụ?
Vị Bồ Tát này từ thánh giáo sanh, thành tựu mười pháp:  Trọn chẳng thối chuyển nơi Phật đạo, sanh lòng tin sâu thanh tịnh, khéo quan sát pháp, rõ biết chúng sanh, quốc độ, thế giới, nghiệp hạnh, quả báo, sanh tử, niết bàn.
Chư Phật tử!  Vị Bồ Tát này nên khuyên học mười pháp:  Rõ biết tất cả Phật pháp thời quá khứ, thời vị lai, thời hiện tại; tu tập tất cả Phật pháp thời quá khứ, vị lai, hiện tại; viên mãn tất cả Phật pháp quá khứ, vị lai, hiện tại; biết rõ tất cả Phật bình đẳng. 
Đây là vì muốn cho vị Bồ Tát này được thăng tiến, nơi trong tam thế tâm được bình đẳng, có được nghe pháp liền tự hiểu, chẳng do người khác dạy.
Chư Phật tử!  Thế nào là Bồ Tát cụ túc phương tiện trụ?
Vị Bồ Tát này trọn đủ mười pháp:  Căn lành tu tập đều vì cứu hộ tất cả chúng sanh, lợi ích tất cả chúng sanh, an lạc tất cả chúng sanh, ai mẫn tất cả chúng sanh, độ thoát tất cả chúng sanh, khiến tất cả chúng sanh lìa những tai nạn, khiến tất cả chúng sanh thoát khổ sanh tử, khiến tất cả chúng sanh phát sanh tịnh tín, khiến tất cả chúng sanh đều được điều phục, khiến tất cả chúng sanh đều chứng niết bàn.
Chư Phật tử!  Vị Bồ Tát này nên khuyên học mười pháp:  Biết chúng sanh vô biên, vô lượng vô số, biết chúng sanh bất tư nghị, vô lượng sắc, bất khả lượng, biết chúng sanh không, vô sở tác, vô sở hữu, vô tự tánh.
Vì muốn vị Bồ Tát này, tâm lại càng tăng thắng hơn không bị nhiễm trước, có được nghe pháp liền tự hiểu, chẳng do người khác dạy.
Chư Phật tử!  Thế nào là Bồ Tát chánh tâm trụ?
Vị Bồ Tát này nghe mười pháp tâm định chẳng động:  Nghe khen Phật hay chê Phật, đối với Phật pháp tâm định chẳng động.  Nghe khen pháp hay chê pháp, đối với Phật pháp tâm định chẳng động.  Nghe khen Bồ Tát hay chê Bồ Tát, đối với Phật pháp tâm định chẳng động.  Nghe khen hay chê công hạnh của vị Bồ Tát, đối với Phật pháp tâm định chẳng động.  Nghe nói chúng sanh hữu lượng hay vô lượng, đối với Phật pháp tâm định chẳng động.  Nghe nói chúng sanh hữu cấu hay vô cấu, đối với Phật pháp tâm định chẳng động.  Nghe nói chúng sanh dễ độ hay khó độ, đối với Phật pháp tâm định chẳng động.  Nghe nói pháp giới hữu lượng hay vô lượng, đối với Phật pháp tâm định chẳng động.  Nghe nói pháp giới có thành có hoại, đối với Phật pháp tâm định chẳng động.  Nghe nói Phật pháp hoặc có hoặc không, đối với Phật pháp tâm định chẳng động.
Chư Phật tử!  Vị Bồ Tát này nên khuyên học mười pháp:  Tất cả pháp vô tướng, tất cả pháp vô thể, tất cả pháp chẳng thể tự tại, tất cả pháp vô sở hữu, tất cả pháp không chơn thiệt, tất cả pháp không, tất cả pháp vô tánh, tất cả pháp như huyễn, tất cả pháp như mộng, tất cả pháp vô phân biệt.
Vì muốn vị Bồ Tát này tâm lại càng thêm tăng tiến được chẳng thối chuyển vô sanh pháp nhãn.  Có được nghe pháp liền tự hiểu chẳng do người khác dạy.
Chư Phật tử!  Thế nào là Bồ Tát bất thối trụ?
Vị Bồ Tát này nghe mười pháp kiên cố bất thối:  Nghe có Phật hay không có Phật, nghe có pháp hay không có pháp, nghe có Bồ Tát hay không có Bồ Tát, nghe có Bồ Tát hạnh hay không Bồ Tát hạnh, nghe có Bồ Tát tu hành được xuất ly hay chẳng xuất ly, nghe quá khứ có Phât hay không Phật, nghe vị lai có Phật hay không Phật, nghe hiện tại có Phật hay không Phật, nghe Phật trí hữu tận hay vô tận, nghe tam thế là một tướng hay chẳng phải một tướng, đối với trong Phật pháp tâm đều chẳng thối chuyển cả.
Chư Phật tử!  Vị Bồ Tát này nên khuyên học mười pháp quảng đại:  Nói một chính là nhiều, nói nhiều chính là một; văn tùy nơi nghĩa, nghĩa tùy nơi văn, chẳng có chính là có, có chính là chẳng phải có, vô tướng chính là tướng, tướng chính là vô tướng, vô tánh chính là tánh, tánh chính là vô tánh.
Vì muốn khiến vị Bồ Tát này tăng tiến, nơi tất cả pháp khéo hay xuất ly, có được nghe pháp liền tự hiểu chẳng do người khác dạy.
Chư Phật tử!  Thế nào là Bồ Tát đồng chơn trụ?
Vị Bồ Tát này trụ mười hạnh nghiệp:  Thân hạnh không lỗi, ngữ hạnh không lỗi, ý hạnh không lỗi, tùy ý thọ sanh, biết chúng sanh các thứ dục, biết chúng sanh các thứ trí giải, biết chúng sanh các thứ cảnh giới, biết chúng sanh các thứ nghiệp, biết thế giới thành hoại, thần túc tự tại vô ngại.
Chư Phật tử!  Vị Bồ Tát này nên khuyên học mười pháp:  Biết tất cả phật sát, động tất cả phật sát, trì tất cả phật sát, quán tất cả phật sát, đến tất cả phật sát, du hành vô số thế giới, lãnh thọ vô số Phật pháp, hiện thân biến hóa tự tại, nói ra tiếng quảng đại biến mãn, trong một sát na thừa sự cúng dường vô số Phật.
Vì muốn vị Bồ Tát này tăng tiến, hay được thiện xảo đối với tất cả pháp, có được nghe pháp liền tự hiểu chẳng do người khác dạy.
Chư Phật tử!  Thế nào là Bồ Tát pháp vương tử trụ?
Vị Bồ Tát này khéo biết mười pháp:  Khéo biết chúng sanh thọ sanh, khéo biết phiền não hiện khởi, khéo biết tập khí tương tục, khéo biết chỗ làm phương tiện, khéo biết vô lượng pháp, khéo biết các oai nghi, khéo biết thế giới sai biệt, khéo biết những việc của thế gian trước thế gian sau, khéo biết diễn thuyết đệ nhứt nghĩa.
Chư Phật tử!  Vị Bồ Tát này nên khuyên học mười pháp:  Pháp vương xứ thiện xảo, pháp vương xứ quỷ độ, pháp vương xứ cung điện, pháp vương xứ thu nhập, pháp vương xứ quan sát, pháp vương xứ quán đảnh, pháp vương lực trì, pháp vương vô uý, pháp vương minh tẩm, pháp vương tán thán.
Vì muốn khiến vị Bồ Tát này tăng tiến tâm không chướng ngại, có được nghe pháp liền tự hiểu chẳng do người khác dạy.
Chư Phật tử!  Thế nào là Bồ Tát quán đảnh trụ?
Vị Bồ Tát này được thành tựu mười thứ trí:  Chấn động vô số thế giới, chiếu diệu vô số thế giới, trụ trì vô số thế giới, qua đến vô số thế giới, nghiêm tịnh vô số thế giới, khai thị vô số chúng sanh, quan sát vô số chúng sanh, biết căn tánh của vô số chúng sanh, khiến vô số chúng sanh thu nhập, khiến vô số chúng sanh điều phục.
Vị Bồ Tát này thân và thân nghiệp, thần thông biến hiện, quá khứ trí, vị lai trí, thành tựu Phật độ tâm cảnh giới, trí cảnh giới, tất cả đều chẳng thể biết được, nhẫn đến Pháp Vương Tử Bồ Tát cũng chẳng biết được.
Vị Bồ Tát này nên khuyên học mười thứ trí của Như Lai:  Tam thế trí, Phật pháp trí, pháp giới vô ngại trí, Phật giới vô biên trí, sung mãn nhứt thiết thế giới trí, phổ chiếu nhứt thiết thế giới trí, trụ trì nhứt thiết thế giới trí, tri nhứt thiết chúng sanh trí, tri nhứt thiết pháp trí, tri vô biên chư Phật trí.
Vì muốn khiến vị Bồ Tát này tăng trưởng nhứt thiết chủng trí, có được nghe pháp liền tự hiểu, chẳng do người khác dạy."
Lúc bấy giờ, do thần lực của đức Phật trong mười phương, mỗi phương đều một vạn phật sát vi trần số thế giới sáu thứ chấn động.  Mưa thiên hoa, tràng hoa, thiên mạt hương, thiên tạp hương, thiên bửu y, thiên bửu vân, thiên trang nghiêm cụ.  Những kỷ nhạc trời tự nhiên hòa tấu.  Phóng thiên quang minh và âm thinh vi diệu.
Như ở thế giới này, thập phương thế giới, nơi điện Thiên Đế Thích nói pháp thập trụ và hiện thần biến cũng như vậy cả.
Lại do thần lực của Phật, mười phương đều có một vạn phật sát vi trần số Bồ Tát đến nơi đây và đồng nói rằng: "Lành thay!  Lành thay!  Này Phật tử!  Ngài khéo nói pháp này.
Chúng tôi đồng tên Pháp Huệ, quốc độ đồng hiệu Pháp Vân, Như Lai ở các cõi đó đều hiệu Diệu Pháp.  Nơi pháp hội của Thế Tôn, chúng tôi cũng giảng thuyết thập trụ, câu văn nghĩa lý và chúng hội quyến thuộc cũng đồng như nơi đây, không có tăng giảm.
Chúng tôi thừa thần lực của đức Phật mà đến nơi pháp hội này để chứng minh."
Lúc đó, Pháp Huệ Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát mười phương khắp cùng pháp giới, rồi nói kệ rằng:
Thấy thân vi diệu đấng Thắng Trí
Tướng hảo đoan nghiêm đều đầy đủ
Tôn trọng như vậy rất khó gặp
Bồ Tát dũng mãnh sơ phát tâm.
Thấy đại thần thông không ai bằng
Nghe lời thọ ký và dạy bảo
Các loài chúng sanh khổ vô lượng
Do đây Bồ Tát sơ phát tâm.
Nghe chư Như Lai đấng Phổ Thắng
Tất cả công đức đều thành tựu
Ví như hư không chẳng phân biệt
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Tam thế nhân quả gọi là xứ
Tự tánh chúng ta là phi xứ
Muốn đều rõ biết nghĩa chân thật
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Tất cả hữu vi các hạnh đạo
Mỗi mỗi đều có chỗ nơi đến
Đều muốn rõ biết thể tánh đó
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Tất cả thế giới các chúng sanh
Tùy nghiệp trôi lăn không tạm dứt
Muốn được thiên nhãn đều thấy rõ
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Trong đời quá khứ đã từng có
Thể tánh như vậy, tướng như vậy
Muốn đều rõ biết túc trụ kia
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Tất cả chúng sanh những phiền não
Tương tục, hiện khởi, và tập khí
Muốn đều rõ biết rốt ráo hết
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Tùy những chúng sanh chỗ an lập
Các môn đàm luận đường ngữ ngôn
Như thế đế đó đều muốn biết
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Tất cả các pháp lìa ngôn thuyết
Tánh không tịch diệt vốn vô tác
Muốn đều rõ thấu chơn nghĩa này
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Muốn đều chấn động mười phương cõi
Nghiên úp tất cả những đại hải
Đầy đủ chư Phật đại thần thông
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Muốn một chân lông phóng quang minh
Chiếu khắp mười phương vô lượng cõi
Trong mỗi quang minh giác tất cả
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Muốn đem nan tư vô lượng cõi
Để trong bàn tay mà chẳng động
Rõ biết tất cả như huyễn hóa
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Muốn dùng một lông chấm nước biển
Tất cả đại hải đều làm cạn
Mà đều phân biệt biết số kia
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Quá khứ vị lai vô lượng kiếp
Tất cả thế gian tướng thành hoại
Đều muốn thấu rõ cùng biên tế
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Tam thế tất cả chư Như Lai
Tất cả Độc Giác và Thanh Văn
Muốn biết hết cả những pháp đó
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Vô lượng vô biên các thế giới
Muốn dùng một lông đều cân nổi
Như thể tướng kia đều biết rõ
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Vô lượng vô số luân vi sơn
Muốn khiến đều vào trong chân lông
Lớn nhỏ của kia đều biết rõ
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Muốn dùng một diệu âm tịch tịnh
Khắp ứng mười phương tùy loại diễn
Như vậy đều khiến sáng sạch rõ
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Ngôn ngữ của tất cả chúng sanh
Một lời diễn nói đều hết cả
Đều muốn rõ biết tự tánh kia
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Ngôn âm thế gian đều nói cả
Khiến họ đều hiểu chứng tịch diệt
Muốn được như vậy diệu thiệt căn
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Muốn khiến mười phương những thế giới
Có tướng thành hoại đều được thấy
Mà đều biết từ phận biệt sanh
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Tất cả mười phương những thế giới
Vô lượng Như Lai đều sung mãn
Đều muốn rõ biết Phật pháp kia
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Các loại biến hóa vô lượng thân
Tất cả thế giới vi trần thảy
Đều muốn rõ thấu từ tâm khởi
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Quá khứ, vị lai và hiện tại
Vô lượng vô số chư Như Lai
Muốn nơi một niệm đều rõ biết
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Muốn diễn thuyết đủ một câu pháp
A tăng kỳ kiếp không cùng tận
Mà khiến văn nghĩa đều chẳng đồng
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Mười phương tất cả các chúng sanh
Tuỳ tướng họ lưu chuyển sanh diệt
Muốn nơi một niệm đều rõ thấu
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Muốn dùng thân, ngữ và ý nghiệp
Đến khắp mười phương không chướng ngại
Rõ biết tam thế đều không tịch
Bồ Tát do đây sơ phát tâm.
Bồ Tát phát tâm như vậy rồi
Khiến nên qua đến mười phương cõi
Cung kính cúng dường chư Như Lai
Do đây khiến được không thối chuyển.
Bồ Tát dũng mãnh cầu Phật đạo
Ở nơi sanh tử chẳng mỏi nhàm
Vì kia ca ngợi khiến thuận lành
Như vậy khiến kia không thối chuyển.
Mười phương thế giới vô lượng cõi
Đều ở trong đó làm Tôn Chủ
Vì chư Bồ Tát nói như vậy
Do đây khiến kia không thối chuyển.
Tối thắng, tối thượng, tối đệ nhứt
Pháp thậm thâm, vi diệu, thanh tịnh
Khuyên chư Bồ Tát nói cùng người
Dạy như vậy khiến lìa phiền não.
Tất cả thế gian không bằng được
Nơi chẳng thể khuynh động dẹp phục
Vì Bồ Tát kia thường ca ngợi
Dạy như vậy khiến chẳng thối chuyển.
Phật là thế gian Đại Lực Chủ
Đầy đủ tất cả những công đức
Khiến các Bồ Tát trụ trong đó
Dùng đây dạy làm Thắng Trượng Phu.
Nơi vô lượng vô biên chư Phật
Đều được qua đến để gần gũi
Thường được chư Phật luôn nhiếp thọ
Dạy như vậy khiến chẳng thối chuyển.
Bao nhiêu những tam muội tịch tịnh
Thảy đều diễn đạt không còn thừa
Vì Bồ Tát kia nói như vậy
Do đây khiến kia chẳng thối chuyển.
Dẹp trừ vòng sanh tử các cõi
Mà chuyển diệu pháp thanh tịnh luân
Tất cả thế gian không chỗ chấp
Vì các Bồ Tát nói như vậy.
Tất cả chúng sanh đọa ác đạo
Vô lượng khổ nặng làm bức ngặt
Làm chỗ quy y cứu hộ họ
Vì các Bồ Tát nói như vậy.
Đây là Bồ Tát phát tâm trụ
Nhất hướng chí cầu vô thượng đạo.
Như tôi đã nói pháp dạy bảo
Tất cả chư Phật cũng như vậy.
Thứ hai: Bồ Tát trị địa trụ
Phải nên phát khởi tâm như vầy:
Mười phương tất cả những chúng sanh
Nguyện đều thuận theo lời Phật dạy,
Tâm đại bi, lợi ích, an lạc,
Tâm an trụ, xót thương, nhiếp thọ,
Tâm thủ hộ chúng sanh đồng mình,
Tâm làm thầy và tâm đạo sư,
Đã trụ tâm thắng diệu như vậy
Kế khiến tụng tập cầu học rộng
Thường thích tịch tịnh, chánh tư duy
Gần gũi tất cả thiện tri thức.
Nói lời hòa vui, lìa thô cứng
Nói tất cả biết thời, không e sợ
Rõ thấu nghĩa lý làm đúng pháp
Xa lìa ngu mê tâm bất động
Đây là sơ học bồ đề hạnh
Làm được hạnh này: chơn Phật tử
Nay tôi nói chỗ kia nên làm
Như vậy Phật tử phải siêng học.
Thứ ba: Bồ Tát tu hành trụ
Thường y Phật giáo siêng quan sát
Các pháp vô thường, khổ, và không
Cũng không ngã chơn, không động tác.
Tất cả các pháp chẳng đáng ưa
Không đúng danh tự, không xứ sở
Không chỗ phân biệt, không chơn thiệt
Người quán như vậy gọi Bồ Tát.
Kế, khiến quan sát chúng sanh giới
Và cũng quan sát nơi pháp giới
Thế giới sai biệt trọn không thừa
Nơi kia đều nên khuyên quan sát.
Thập phương thế giới và hư không
Bao nhiêu địa, thủy, cùng hỏa, phong
Dục giới, sắc giới, vô sắc giới
Đều khuyên quán sát đến cùng tận.
Quán sát cõi kia đều sai khác
Và thể tánh nó, đều rốt ráo
Dạy siêng tu hành được như vậy
Đây thời gọi là chơn Phật tử.
Thứ tư: Bồ Tát sanh quý trụ
Từ các thánh giáo mà xuất sanh
Rõ thấu các cõi không chỗ có
Vượt qua pháp kia sanh pháp giới.
Tin Phật kiên cố, chẳng thể hoại
Quán pháp tịch diệt, tâm an trụ
Tùy những chúng sanh đều rõ biết
Thể tánh hư vọng không chơn thiệt.
Thế gian, sát độ, nghiệp và báo
Sanh tử, niết bàn đều như vậy
Phật tử nơi pháp quán như vậy
Từ Phật thân sanh, gọi Phật tử.
Quá khứ vị lai và hiện tại
Trong đó bao nhiêu những Phật pháp
Rõ biết chứa họp và viên mãn
Tu học như vậy khiến rốt ráo.
Tam thế tất cả chư Như Lai
Hay tùy quán sát đều bình đẳng
Các thứ sai biệt bất khả đắc
Người quán như vậy đạt tam thế.
Như tôi tán dương ca ngợi đó
Là những công đức đệ tứ trụ
Nếu hay y pháp siêng tu hành
Mau thành Phật bồ đề vô thượng.
Đây đến Bồ Tát trụ thứ năm
Hiệu là Cụ túc phương tiện trụ
Vào sâu vô lượng phương tiện khéo
Phát sanh nghiệp công đức rốt ráo.
Bồ Tát chỗ tu các phước đức
Đều vì cứu hộ các quần sanh
Chuyên tâm làm lợi ích an lạc
Một mặt xót thương khiến độ thoát.
Vì tất cả đời trừ các nạn
Dẫn thoát sanh tử, khiến vui mừng
Mỗi mỗi điều phục không để sót
Đều khiến đủ đức hướng niết bàn.
Tất cả chúng sanh vô lượng biên
Vô lượng, vô số, bất tư nghị
Nhẫn đến bất khả xưng lượng thảy
Nghe lãnh Như Lai pháp như vậy.
Đây là Phật tử đệ ngũ trụ
Thành tựu phương tiện độ chúng sanh
Đấng đại trí viên mãn công đức
Đem pháp như vậy để khai thị.
Thứ sáu: Chánh tâm viên mãn trụ
Nơi pháp tự tánh không mê hoặc
Chánh niệm tư duy, rời phân biệt
Tất cả trời người chẳng động được.
Nghe khen chê Phật, cùng Phật pháp
Bồ Tát và cùng Bồ Tát hạnh
Chúng sanh hữu lượng hoặc vô lượng
Hữu cấu vô cấu, độ khó dễ,
Pháp giới lớn nhỏ và thành hoại
Hoặc có hoặc không, lòng chẳng động
Quá khứ, vị lai và hiện tại
Nhớ kỹ tư duy hằng quyết định.
Tất cả các pháp đều vô tướng
Vô thể, vô tánh, không, vô thiệt
Như ảo, như mộng, rời phân biệt
Thường thích được nghe nghĩa như vậy.
Thứ bảy: Bất thối chuyển Bồ Tát
Nơi Phật, Phật pháp, Bồ Tát hạnh
Hoặc có, hoặc không, xuất, chẳng xuất
Dầu nghe thuyết ấy không thối chuyển.
Quá khứ, vị lai và hiện tại
Tất cả chư Phật có cùng không
Phật trí hữu tận hoặc vô tận
Tam thế một tướng các thứ tướng.
Một tức là nhiều, nhiều là một
Văn tùy nơi nghĩa, nghĩa tùy văn
Như vậy tất cả xoay vần thành
Bậc bất thối nên vì chúng nói.
Hoặc pháp có tướng và vô tướng
Hoặc pháp có tánh và vô tánh
Các thứ sai biệt thuộc lẫn nhau
Người này nghe được rồi rốt ráo.
Thứ tám: Bồ Tát đồng chơn trụ
Thân ngữ ý hạnh đều đầy đủ
Tất cả thanh tịnh không có lỗi
Tuỳ ý thọ sanh được tự tại.
Biết những chúng sanh lòng sở thích
Các thứ ý giải đều sai khác
Và kia chỗ có tất cả pháp
Thập phương quốc độ tướng thành hoại,
Đến được diệu thần thông mau chóng
Trong tất cả chỗ tùy niệm qua
Nơi chư Phật được nghe diệu pháp
Khen ngợi tu hành không lười mỏi,
Rõ biết tất cả các Phật độ
Chấn động, gia trì và quán sát
Vượt qua Phật độ vô lượng số
Du hành thế giới vô biên số.
Vô số diệu pháp đều hỏi han
Chỗ muốn thọ thân đều tự tại
Ngôn âm thiện xảo đều sung mãn
Chư Phật vô số đều thờ kính.
Thứ chín: Bồ Tát vương tử trụ
Hay thấy chúng sanh thọ sanh khác
Phiền não hiện, tập, đều biết cả
Chỗ làm phương tiện đều khéo rõ,
Các pháp đều đồng, thuở trước sau
Như kia thế tục, đệ nhứt nghĩa
Đều khéo biết rõ không có thừa,
Chỗ Pháp Vương thiện xảo an lập
Tùy nơi chỗ kia có diệu pháp
Pháp Vương cung điện hoặc thu nhập
Và trong nơi đó quan sát thấy,
Pháp Vương chỗ có pháp quán đảnh
Thần lực, gia trì, không khiếp sợ
Yên nghỉ cung thất, và ngợi khen
Đem đây dạy bảo Pháp Vương Tử.
Như vậy vì nói đều hết cả
Mà khiến tâm kia không chấp trước
Nơi đây rõ biết tu chánh niệm
Tất cả chư Phật hiện ra trước.
Thứ mười: Quán đảnh chơn Phật tử
Thành mãn pháp tối thượng đệ nhứt
Thập phương vô số các thế giới
Đều hay chấn động quang chiếu khắp,
Trụ trì, qua đến, cũng không thừa
Thanh tịnh trang nghiêm đều đầy đủ
Khai thị chúng sanh vô hạn số
Quan sát căn tánh đều biết cả.
Phát tâm điều phục cũng vô biên
Đều khiến thu hướng đại bồ đề
Tất cả pháp giới đều quan sát
Thập phương quốc độ đều khiến đến.
Nơi đó, thân và thân hành động
Thần thông biến hiện khó lường được
Tam thế Phật độ các cảnh giới
Nhẫn đến vương tử không rõ được.
Pháp giới vô ngại vô biên trí
Sung mãn nhất thiết thế giới trí
Chiếu diệu thế giới trụ trì trí
Rõ biết chúng sanh chư pháp trí
Và biết chánh giác vô biên trí
Như Lai vì nói đều đủ cả.
Thập trụ Bồ Tát như vậy thảy
Đều từ Như Lai pháp hóa sanh
Tùy kia chỗ có công đức hạnh
Tất cả trời người chẳng lường được.
Quá khứ, vị lai và hiện tại
Phát tâm cầu Phật số vô biên
Thập phương quốc độ đều sung mãn
Đều sẽ được thành nhứt thiết trí.
Tất cả quốc độ không ngằn mé
Thế giới chúng sanh pháp cũng vậy
Hoặc, nghiệp, sở thích đều khác biệt
Nương đó mà phát bồ đề tâm.
Ban đầu một niệm cầu Phật đạo
Chúng sanh thế gian và nhị thừa
Hết sức suy gẫm còn chẳng biết
Huống là bao nhiêu công đức khác.
Thập phương tất cả các thế giới
Dùng một lông đều cân nhắc được,
Người đó biết được Phật tử này
Công hạnh hướng đến Phật đại trí.
Thập phương chỗ có những biển lớn
Đều dùng sợi lông chấm khiến cạn,
Người đó biết được Phật tử này
Công đức tu hành trong một niệm.
Tất cả thế giới nghiền làm bụi
Đều phân biệt được biết rõ số,
Người như vậy mới có thể thấy
Đạo tu hành của Bồ Tát này.
Thập phương chư Phật trong tam thế
Tất cả Độc Giác và Thanh Văn
Đều dùng tất cả diệu biệt tài
Khai thị sơ phát bồ đề tâm.
Phát tâm công đức chẳng lường được
Sung mãn tất cả cõi chúng sanh
Chúng trí cùng nói không hết được
Huống là bao nhiêu diệu hạnh khác.






Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 2


Phẩm minh pháp
Thứ mười tám

Lúc bấy giờ, Tinh Tấn Huệ Bồ Tát bạch Pháp Huệ Bồ Tát rằng: "Thưa Phật tử!  Đại Bồ Tát sơ phát bồ đề tâm, thành tựu vô lượng công đức như vậy, đủ trang nghiêm lớn, lên Phật thừa, vào chính vị Bồ Tát, bỏ những pháp thế gian, được pháp xuất thế của Phật, được tam thế chư Phật nhiếp thọ, quyết định đến chỗ vô thượng bồ đề rốt ráo.
Chư Bồ Tát đó ở trong Phật giáo, tu tập thế nào khiến chư Phật đều hoan hỷ, vào chỗ trụ của chư Bồ Tát, tất cả đại hạnh đều được thanh tịnh, bao nhiêu đại nguyện đều khiến đầy đủ, được tạng rộng lớn của Bồ Tát, tùy chỗ đáng hóa độ thường vì thuyết pháp mà luôn chẳng bỏ hạnh ba la mật, chúng sanh sở niệm đều làm cho được giải thoát, nối hạnh Phật chủng khiến chẳng đoạn tuyệt, thiện căn phương tiện thảy đều chẳng luống?
Thưa Phật tử!  Chư Bồ Tát đó dùng phương tiện gì có thể sẽ viên mãn được những pháp đó?  Xin xót thương tuyên nói cho đại chúng, trong hội này đều muốn nghe.
Và như chư đại Bồ Tát thường siêng tu tập dứt trừ tất cả vô minh hắc ám, hàng phục ma oán, chế các ngoại đạo, rửa sạch hẳn tất cả tâm nhơ phiền não, đều có thể thành tựu tất cả thiện căn, ra khỏi hẳn tất cả ác thú các nạn, tu tập tất cả cảnh giới đại trí, thành tựu tất cả bậc Bồ Tát, các ba la mật, tổng trì, tam muội, lục thông, tam minh, tứ vô sở úy, công đức thanh tịnh, trang nghiêm tất cả quốc độ chư Phật, và những tướng hảo, thân hạnh, ngữ hạnh, tâm hạnh đều thành tựu đầy đủ, khéo biết lực, vô úy, bất cộng, nhất thiết chủng trí và cảnh giới sở hành của tất cả chư Phật Như Lai, vì muốn thành thục tất cả chúng sanh tuỳ tâm sở thích của họ mà lấy Phật độ, tùy căn, tùy thời diễn thuyết vô lượng pháp, Phật sự rộng lớn, và vô lượng pháp công đức khác, những hạnh, những đạo và những cảnh giới thảy đều viên mãn, mau bình đẳng với công đức của Như Lai, nơi chư Như Lai lúc tu Bồ Tát hạnh trong trăm ngàn vô số kiếp chứa họp pháp tạng đều thủ hộ được và khai thị diễn thuyết được, các ma ngoại đạo không thể làm ngại hư, nhiếp trì chánh pháp không cùng tận, lúc thuyết pháp ở tất cả thế giới được thiên, long, bát bộ, nhân vương, phạm vương, nhẫn đến Như Lai Pháp Vương thảy đều thủ hộ, tất cả thế gian cung kính cúng dường, thường được chư Phật hộ niệm, tất cả Bồ Tát cũng đều ái kính, được sức thiện căn thêm lớn pháp lành, khai diễn pháp tạng rất sâu của Như Lai, nhiếp trì chánh pháp để tự trang nghiêm.  Công hạnh thứ đệ của tất cả Bồ Tát, trông mong ngài đều diễn thuyết cho."
Lúc đó, Tinh Tấn Huệ Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
Đấng Đại Danh Xưng khéo diễn thuyết
Công đức sở thành của Bồ Tát
Sâu vào vô biên hạnh rộng lớn
Đầy đủ thanh tịnh trí vô sư.
Nếu có Bồ Tát sơ phát tâm
Thành tựu bậc phước đức trí huệ
Vào vô sanh vị siêu thế gian
Trọn được pháp bồ đề vô thượng.
Lại kia thế nào trong Phật giáo
Kiên cố siêng tu càng thêm hơn
Khiến chư Như Lai đều hoan hỷ
Trụ địa của Phật mau được vào.
Nguyện hạnh thanh tịnh đều đầy đủ
Và được tạng trí huệ rộng lớn
Thường hay thuyết pháp độ chúng sanh
Mà tân vô y và vô trước.
Bồ Tát tát cả bình đẳng la mật
Đều khéo tu hành không khuyết giảm
Chúng sanh sở niệm đều cứu độ
Thường trì Phật chủng khiến chẳng dứt.
Chỗ làm kiên cố chẳng luống bỏ
Tất cả công thành được xuất ly
Như chư Bồ Tát chỗ tu hành
Đạo thanh tịnh kia nguyện tuyên nói.
Phá hẳn tất cả tối vô minh
Hàng phục các ma và ngoại đạo
Bao nhiêu cấu uế đều trừ sạch
Được gần Như Lai bậc đại trí.
Lìa hẳn ác đạo các hiểm nạn
Tu tập cảnh đại trí thù thắng
Được sức diệu đạo gần đức Phật
Tất cả công đức đều thành tựu.
Chứng được Như Lai trí tối thắng
Trụ ở vô lượng các quốc độ
Tùy tâm chúng sanh mà thuyết pháp
Và làm các Phật sự rộng lớn.
Thế nào mà được các diệu đạo
Khai diễn Như Lai chánh pháp tạng
Thường hay thọ trì các Phật pháp
Không ai hơn được, không ai bằng.
Thế nào vô úy như sư tử
Chỗ làm thanh tịnh như trăng tròn?
Thế nào tu tập công đức Phật
Dường như liên hoa chẳng dính nước?
Lúc đó, Pháp Huệ Bồ Tát nói với Tinh Tấn Huệ Bồ Tát rằng: "Lành thay Phật tử!  Nay ngài muốn được nhiều lợi ích, nhiều an vui, nhiều ơn huệ, thương xót thế gian chư thiên và loài người mà hỏi hạnh thanh tịnh của Bồ Tát tu tập như vậy.
Thưa Phật tử!  Ngài trụ thiệt pháp, phát đại tinh tấn, tăng trưởng bất thối, đã được giải thoát, có thể hỏi như trên đây, đồng với đức Như Lai.
Ngài lóng nghe khéo suy nghĩ, nay tôi thừa oai lực của đức Phật mà nói phần ít trong vấn đề đó.
Thưa Phật tử!  Đại Bồ Tát đã phát tâm vô thượng bồ đề, phải lìa si tối, tinh tấn gìn giữ chớ có phóng dật.
Đại Bồ Tát trụ mười pháp sau đây gọi là chẳng phóng dật:  Một là giữ gìn giới cấm; hai là xa lìa ngu si, tâm bồ đề thanh tịnh; ba là lòng thích ngay thẳng rời điều dua phỉnh; bốn là siêng tu căn lành không thối chuyển; năm là luôn khéo tư duy tâm của mình đã phát; sáu là chẳng thích gần gũi tất cả phàm phu tại gia hay xuất gia; bảy là tu những nghiệp lành mà chẳng mong cầu quả báo thế gian; tám là lìa hẳn nhị thừa mà thật hành Bồ Tát hạnh; chín là thích tu tập điều lành chẳng để đoạn tuyệt; mười là luôn khéo quan sát sức tương tục của mình.
Đại Bồ Tát trụ bất phóng dật thời được điều thanh tịnh dưới đây:  Một là thật hành đúng như lời nói; hai là niệm trí được thành tựu; bình đẳng là trụ nơi thâm định chẳng trầm chẳng điệu; bốn là thích cầu Phật pháp không lười bỏ; năm là theo pháp được nghe quan sát đúng lý sanh diệu trí huệ; sáu là nhập thâm thiền định được Phật thần thông; bảy là tâm bình đẳng không cao hạ; tám là tâm không chướng ngại đối với chúng sanh loại thượng trung hạ, bình đẳng lợi ích như đại địa; chín là nếu thấy chúng sanh nhẫn đến một phen phát bồ đề tâm thời tôn trọng kính thờ xem như hòa thượng; mười là đối với hòa thượng và a xà lê thọ giới, chư Bồ Tát, các thiện tri thức, các pháp sư luôn tôn trọng kính thờ.
Bồ Tát trụ bất phóng dật, phát đại tinh tấn, khởi chánh niệm, sanh thắng nguyện, tu hành chẳng dứt, tâm không y tựa tất cả pháp, hay siêng tu tập pháp thậm thâm, vào môn vô tránh thêm tâm quảng đại; có thể thuận biết rõ vô biên Phật pháp, khiến chư Phật đều hoan hỷ.
Bồ Tát lại có mười pháp sau đây có thể làm cho chư Phật hoan hỷ:  Một là tinh tấn bất thối; hai là chẳng tiếc thân mạng; bình đẳng là không mong cầu lợi dưỡng; bốn là biết tất cả pháp đều như hư không; năm là khéo quan sát vào khắp pháp giới; sáu là biết các pháp ấn lòng không ỷ trước; bảy là luôn phát đại nguyện; tám là thành tựu nhẫn trí; chín là quan sát pháp lành của mình lòng không tăng giảm; mười là y vô tác môn tu những tịnh hạnh.
Lại có mười pháp sau đây có thể làm chư Phật hoan hỷ:  An trụ bất phóng dật; an trụ vô sanh nhẫn; an trụ đại từ; an trụ đại bi; an trụ đầy đủ các môn ba la mật; an trụ đại hạnh; an trụ đại nguyện; an trụ xảo phương tiện; an trụ dũng mãnh lực; an trụ trí huệ; quan sát tất cả pháp đều vô trụ, như hư không.
Có mười pháp sau đây làm cho Bồ Tát mau nhập các địa:  Một là khéo viên mãn hai hạnh phước và trí; hai là có thể trang nghiêm đạo ba la mật; bình đẳng là trí huệ sáng suốt chẳng tùy tha ngữ; bốn là kính thờ thiện hữu luôn không bỏ lìa; năm là thường hành tinh tấn không giải đãi; sáu là khéo an trụ Như Lai thần lực; bảy là tu các căn lành chẳng sanh mỏi nhọc; tám là thâm tâm lợi trí dùng pháp đại thừa để tự trang nghiêm; chín là đối với pháp môn của các địa tâm không trụ; mười là đồng một thể tánh với thiện căn phương tiện của tam thế chư Phật.
Bồ Tát lúc sơ trụ địa phải khéo quan sát tuỳ nơi mình, có tất cả pháp môn, có thậm thâm trí huệ, tùy nhân đã tu, tuỳ quả đã được, tuỳ cảnh giới mình, tùy lực dụng mình, tùy chỗ thị hiện của mình, tùy mình phân biệt, tùy mình đã được, đều khéo quan sát biết tất cả pháp đều là tự tâm mà không sở trước.  Biết được như vậy vào bồ đề địa hay khéo an trụ.
Bồ Tát đó suy nghĩ rằng: chúng ta phải nên mau vào các địa.  Vì nếu chúng ta trụ trong các địa thành tựu công đức rộng lớn như vậy, đã đủ công đức thời lần lần vào Phật địa.  Đã trụ Phật địa thời có thể làm vô biên Phật sự rộng lớn.  Do đây nên phải thường siêng tu tập không thôi nghỉ, không mỏi nhọc.  Dùng đại công đức mà tự trang nghiêm vào Bồ Tát địa.
Có mười pháp dưới đây làm cho Bồ Tát chỗ thật hành thanh tịnh:  Một là xả hết của cải để làm vừa ý chúng sanh; hai là trì giới thanh tịnh không hủy phạm; ba là nhu hòa nhẫn nhục không cùng tận; bốn là siêng tu các hạnh trọn chẳng thối chuyển; năm là do chánh niệm không mê loạn; sáu là phân biệt rõ biết vô lượng pháp; bảy là tu tất cả hạnh mà không sở trước; tám là tâm bất động dường như núi Tu Di; chín là rộng độ chúng sanh dường như cầu đò; mười là biết tất cả chúng sanh cùng chư Phật đồng một thể tánh.
Bồ Tát đã được hạnh thanh tịnh lại được mười pháp tăng thắng dưới đây:  Một là chư Phật phương khác đều hộ niệm; hai là thiệ căn tăng thắng siêu việt đẳng cấp; ba là khéo lãnh thọ được sức gia trì của Phật; bốn là thường được thiện nhân làm chỗ nương tựa; năm là an trụ tinh tấn hằng chẳng phóng dật; sáu là biết tất cả pháp bình đẳng không khác; bảy là lòng luôn an trụ đại bi vô thượng; tám là quan sát các pháp đúng thật xuất sanh diệu huệ; chín là khéo có thể tu hành phương tiện thiện xảo; mười là có thể biết sức phương tiện của Như Lai.
Bồ Tát có mười nguyện thanh tịnh như dưới đây:  Một là nguyện thành thục chúng sanh không mỏi nhàm; hai là nguyện thật hành đủ điều lành để nghiêm tịnh thế giới; ba là nguyện thừa sự Như Lai luôn kính trọng; bốn là nguyện hộ trì chánh pháp chẳng tiếc thân mạng; năm là nguyện dùng trí quan sát vào các Phật độ; sáu là nguyện cùng các Bồ Tát đồng một thể tánh; bảy là nguyện vào cửa Như Lai rõ tất cả pháp; tám là nguyện người thấy sanh tin đều được lợi ích; chín là nguyện thần lực trụ thế tận kiếp vị lai; mười là nguyện đủ Phổ Hiền hạnh tu tập môn nhất thiết chủng trí.
Bồ Tát trụ mười pháp sau đây làm cho những đại nguyện đều được viên mãn:  Một là lòng không nhàm chán; hai là đủ đại trang nghiêm; ba là nhớ nguyện lực thù thắng của chư Bồ Tát; bốn là nghe các Phật độ đều nguyện vãng sanh; năm là thâm tâm lâu dài tận kiếp vị lai; sáu là nguyện trọn thành tựu tất cả chúng sanh; bảy là trụ tất cả kiếp chẳng lấy làm nhọc; tám là thọ tất cả khổ chẳng sanh nhàm lìa; chín là nơi tất cả vui lòng không tham trước; mười là thường siêng gìn giữ pháp môn vô thượng.
Lúc Bồ Tát đầy đủ những nguyện như vậy, liền được mười vô tận tạng sau đây:  Vô tận tạng thấy khắp chư Phật, vô tận tạng tổng trì chẳng quên, vô tận tạng quyết rõ các pháp, vô tận tạng đại bi cứu hộ, vô tận tạng các môn tam muội, vô tận tạng phước đức rộng lớn làm thỏa mãn lòng chúng sanh, vô tận tạng trí huệ rất sâu diễn tất cả pháp, vô tận tạng báo được thần thông, vô tận tạng trụ vô lượng kiếp, vô tận tạng vào vô biên thế giới.
Bồ Tát đã được mười tạng vô tận thời đầy đủ phước đức, trí huệ thanh tịnh, tùy nghi mà thuyết pháp với chúng sanh.
Với các chúng sanh, thế nào là Bồ Tát tùy nghi mà thuyết pháp?
Bồ Tát biết chỗ làm của họ, biết nhân duyên của họ, biết tâm hành của họ, biết sở thích của họ.
Bồ Tát đối với người nhiều tham dục thời thuyết bất tịnh, với người nhiều sân hận thời thuyết đại từ, với người nhiều ngu si thời dạy họ siêng quan sát, với người ba độc đồng đều, thời thuyết pháp môn thành tựu thắng trí, với người ưa thích sanh tử thời thuyết ba sự khổ, với người chấp trước thời thuyết không tịch, với người giải đãi thời thuyết tinh tấn, với người ngã mạn thời thuyết pháp bình đẳng, với người nhiều dua phỉnh thời thuyết tâm chất trực, với người thích tịch tịnh thời thuyết pháp rộng, khiến họ được thành tựu.  Bồ Tát tuỳ thời nghi thuyết pháp như vậy.
Lúc Bồ Tát thuyết pháp:  Văn liên thuộc nhau, nghĩa không sai lầm, quan sát pháp trước sau dùng trí phân biệt, thẩm định phải quấy, chẳng trái pháp ấn, thứ đệ kiến lập vô biên hạnh môn khiến các chúng sanh dứt tất cả nghi ngờ, khéo biết căn tánh và giáo pháp Như Lai, chứng chân lý, biết pháp bình đẳng, dứt những pháp ái, trừ tất cả chấp, thường nhớ chư Phật không rời nơi lòng, rõ biết âm thanh thể tánh bình đẳng, nơi các ngôn thuyết tâm không chấp trước, khó nói ví dụ không trái nghịch nhau, đều khiến được ngộ tất cả chư Phật, tùy nghi khắp hiện trí thân bình đẳng.
Bồ Tát vì các chúng sanh mà thuyết pháp như vậy thời tự mình tu tập tăng trường nghĩa lợi, chẳng bỏ các độ, trang nghiêm đầy đủ đạo ba la mật.
Lúc bấy giờ, Bồ Tát vì khiến lòng chúng sanh được thỏa mãn, trong ngoài đều rời bỏ không còn chấp trước, đây thời là tu đàn ba la mật.
Giữ đủ các giới cấm mà không sở trước, lìa hẳn ngã mạn, đây là tu thí ba la mật.
Đều có thể nhẫn thọ tất cả sự khổ hại, tâm bình đẳng đối với chúng sanh không hề xao động, ví như đại địa hay chở tất cả, đây là tu nhẫn ba la mật.
Với những công hạnh thường tu không lười trễ, không thối chuyển, thế lực dũng mãnh không bị chế phục, nơi các công đức không lấy không bỏ mà có thể đầy đủ tất cả trí môn, đây là hay tu tinh tấn ba la mật.
Không tham trước cảnh ngũ dục, đều thành tựu được các thứ đệ định, luôn chánh tư duy, chẳng trụ chẳng xuất mà có thể tiêu diệt tất cả phiền não, xuất sanh vô lượng môn tam muội, thành tựu vô biên thần thông, nghịch thuận thứ đệ nhập các tam muội, nơi một tam muội nhập vô biên tam muội, biết rõ cảnh giới của tất cả tam muội cùng trí ấn chẳng chống trái nhau, có thể mau vào nơi bật nhất thiết trí, đây là hay tu thiền ba la mật.
Nơi chư Phật nghe pháp thọ trì, gần thiện trí thức kính thờ chẳng mỏi, thường thích nghe pháp không nhàm đủ, tùy pháp đã được thọ mà tư duy đúng lý, nhập chơn tam muội lìa rời những thiên kiến, khéo quan sát các pháp, được thiệt tướng ấn, rõ biết đạo vô công dụng của Như Lai, thừa phổ môn huệ, nhập nơi môn nhất thiết chủng trí, trọn được thôi nghỉ, đây là hay tu bát nhã ba la mật.
Thị hiện tất cả công nghiệp thế gian, giáo hóa chúng sanh không nhàm mỏi, tùy sở thích của họ mà hiện thân, tất cả chỗ thật hành đều không nhiễm trước, hoặc hiện phàm, hoặc hiện thánh, việc làm thời hoặc hiện sanh tử hoặc hiện niết bàn, khéo hay quán sát tất cả việc làm, thị hiện tất cả những sự trang nghiêm mà chẳng tham trước, vào khắp các loài để độ chúng sanh, đây là hay tu phương tiện ba la mật.
Trọn thành tựu tất cả chúng sanh, trọn trang nghiêm tất cả thế giới, trọn cúng dường tất cả chư Phật, trọn thông đạt pháp vô chướng ngại, trọn tu hành khắp cả pháp giới hạnh thân hẳng trụ, trọn trí rõ vị lai kiếp, trọn biết tất cả tâmn niệm, trọn giác ngộ lưu chuyển hoàn diệt, trọn thị hiện tất cả quốc độ, trọn chứng được Như Lai trí huệ, đây là hay tu nguyện ba la mật.
Vì đủ thâm tâm lực nên không tạp nhiễm, vì đủ thâm tín lực nên không bị khuất phục, vì đủ đại bi lực nên không hề mỏi nhàm, vì đủ đại từ lực nên sở hành bình đẳng, vì đủ tổng trì lực nên có thể dùng phương tiện trì tất cả nghĩa, vì đủ biện tài lực nên khiến tất cả chúng sanh hoan hỷ đầy đủ, vì đủ ba la mật lực nên trang nghiêm đại thừa, vì đủ đại nguyện lực nên trọn chẳng đoạn tuyệt, vì đủ thần thông lực nên xuất sanh vô lượng, vì đủ gia trì lực nên khiến tin hiểu lãnh thọ, đây là hay tu lực ba la mật.
Biết hành giả tham dục, biết hành giả sân hận, biết hành giả ngu si, biết hành giả đẳng phần, biết hành giả tu học địa, trong một niệm biết vô biên hạnh chúng sanh, biết vô biên tâm chúng sanh, biết tất cả pháp chân thật, biết môn pháp giới, sức giác ngộ khắp cả của chư Như Lai, đây là hay tu trí ba la mật.
Như vậy, lúc Bồ Tát thanh tịnh các môn ba la mật, lúc viên mãn các môn ba la mật, lúc chẳng rời bỏ các môn ba la mật, trụ trog đại trang nghiêm Bồ Tát thừa, tùy sở niệm đều vì tất cả chúng sanh mà thuyết pháp, khiến họ tăng trưởng tịnh nghiệp để được độ thoát.  Người đọa ác đạo thời dạy họ phát tâm.  Người ở trong nạn thời khiến họ tinh tấn.  Chúng sanh nhiều tham, chỉ cho pháp vô tham.  Chúng sanh nhiều sân, thời khiến thật bình đẳng.  Chúng sanh chấp kiến thời vì nói duyên khởi.  Chúng sanh cõi dục, thời dạy họ lìa tham sân và pháp ác bất thiện.  Chúng sanh cõi sắc, thời vì họ tuyên thuyết tỳ bát xá na.  Chúng sanh vô sắc giới, thời vì họ tuyên thuyết trí huệ vi diệu.  Với hàng nhị thừa thời dạy hạnh tịch tịnh.  Với người thích đại thừa thì thuyết thập lực quảng đại trang nghiêm.
Như thuở xa xưa, lúc sơ phát tâm, thấy vô lượng chúng sanh đoạ các ác đạo, thời đại sư tử hống nói rằng:  Tôi sẽ dùng các pháp môn tùy nghi để độ thoát họ.
Bồ Tát đầy đủ trí huệ như vậy, có thể rộng độ thoát tất cả chúng sanh.
Thưa Phật tử!  Bồ Tát đầy đủ trí huệ như vậy làm cho tam bảo chủng trọn chẳng đoạn tuyệt.  Vì Bồ Tát dạy các chúng sanh phát tâm bồ đề nên có thể làm cho Phật chủng chẳng dứt.  Vì thường khai xiển pháp tạng cho chúng sah nên có thể làm cho pháp chủng chẳng dứt.  Vì khéo thọ trì giáo pháp không trái nghịch nên có thể làm cho tăng chủng chẳng dứt.
Và lại vì đều hay ca ngợi tất cả đại nguyện nên có thể làm cho Phật chủng chẳng dứt.  Vì phân biệt diễn thuyết môn nhân duyên nên có thể làm cho pháp chủng chẳng dứt.  Vì thường siêng tu tập sáu pháp hòa kính nên có thể làm cho tăng chủng chẳng dứt.
Lại vì ở trong ruộng chúng sanh gieo hột giống Phật nên có thể làm cho Phật chủng chắng dứt.  Vì hộ trì chánh pháp chẳng tiếc thân mạng nên có thể làm cho pháp chủng chẳng dứt.  Vì thống lý đại chúng không mệt mỏi nên có thể làm cho tăng chủng chẳng dứt.
Lại vì đối với giáo pháp và cấm giới của tam thế chư Phật đều phụng trì trọn vẹn lòng chẳng bỏ lìa, nên có thể làm cho chủng tử Phật, pháp, tăng vĩnh viễn chẳng đoạn tuyệt.
Bồ Tát nối thạnh tam bảo như vậy, tất cả việc làm không có lỗi, bao nhiêu công hạnh đều đem hồi hướng nhất thiết trí, do đây nên ba nghiệp không có tỳ vết.  Vì ba nghiệp thân, ngữ và ý không tỳ vết nên những điều thiện đã làm, những công hạnh đã làm, giáo hóa chúng sanh, tùy nghi thuyết pháp, nhẫn đến một niệm đều không sai lầm, đều tương ưng với phương tiện trí huệ, đều đem hồi hướng nới nhất thiết chủng trí không để luống qua.
Bồ Tát tu tập thiện pháp như vậy, niệm niệm đầy đủ mười điều trang nghiêm dưới đây:  Một là thân trang nghiêm, vì tùy theo các chúng sanh đáng được điều phục mà thị hiện.  Hai là ngữ trang nghiêm, vì dứt tất cả nghi ngờ khiến họ đều hoan hỷ.  Ba là tâm trang nghiêm, vì trong một niệm nhập các tam muội.  Bồn và phật sát trang nghiêm, vì tất cả thanh tịnh lìa những phiền não.  Năm là quang minh trang nghiêm, vì phóng vô biên quang chiếu khắp chúng sanh.   Sáu là chúng hội trang nghiêm, vì nhiếp khắp chúng hội đều làm cho hoan hỷ.  Bảy là thần thông trang nghiêm, vì tùy tâm chúng sanh mà tự tại thị hiện.   Tám là chánh giáo trang nghiêm, vì có thể nhiếp tất cả người thông huệ.  Chín là niết bàn địa trang nghiêm, vì một chỗ thành đạo cùng khắp mười phương đều không thừa.  Mười là xảo thuyết trang nghiêm, vì tùy xứ tùy thời tùy căn khí chúng sanh mà thuyết pháp.
Bồ Tát thành tựu trang nghiêm như vậy, ở trong niệmn niệm thân, ngữ và ý không luống qua, đều đem hồi hướng nhất thiết trí.  Nếu có chúng sanh nào thấy Bồ Tát này thời cũng không luống qua, vì tất sẽ thành vô thượng bồ đề vậy.
Với Bồ Tát này, nếu ai được nghe tên, hoặc cúng dường, hoặc ở chung, hoặc ghi nhớ, hoặc theo xuất gia, hoặc nghe thuyết pháp, hoặc tùy hỉ thiện căn, hoặc có lòng vọng kính phục, nhẫn đến ca ngợi truyền dương danh tự, thời tất cả sẽ đều được vô thượng bồ đề.
Ví như vị thuốc thiện kiến, ai thấy thuốc này thời tất cả bịnh độc đều tiêu trừ.
Cũng vậy, Bồ Tát thành tựu pháp này, nếu chúng sanh nào thấy Bồ Tát thời các độc phiền não đều được dứt trừ và tăng trưởng thiện pháp.
Bồ Tát trụ trong pháp này, siêng năng tu tập, dùng ánh sáng trí huệ dứt trừ si tối; dùng sức từ bi dẹp phục quân ma; dùng trí huệ lớn và sức phước đức chế các ngoại đạo; dùng kim cang định dứt trừ tất cả tâm nhơ phiền não; dùng sức tinh tấn họp các căn lành; dùng những sức thiện căn tịnh Phật độ mà xa lìa tất cả ác đạo và các nạn; dùng sức vô trước mà thanh tịnh cảnh giới của trí; dùng sức trí huệ phương tiện mà xuất sanh tất cả Bồ Tát địa, các ba la mật, các tam muội, lục thông, tam minh, tứ vô úy đều khiến thanh tịnh.  Dùng tất cả thiện pháp lực để hoàn thành tất cả Phật độ, vô bien tướng hảo, thân, ngữ và tâm trang nghiêm toàn vẹn; dùng sức trí tự tại quan sát thập lực, tứ vô úy, pháp bất cộng của tất cả Như Lai đều bình đẳng; dùng sức trí huệ rộng lớn rõ biết cảnh giới của nhất thiết chủng trí; dùng nguyện lực thuở trước mà tùy nghi ứng hóa, hiện Phật độ, chuyển pháp luân, độ thoát vô lượng vô biên chúng sanh.
Bồ Tát siêng tu pháp này thời thứ đệ thành tựu các Bồ Tát hạnh, nhẫn đến được cùng chư Phật bình đẳng, trong vô biên thế giới làm đại pháp sư hộ trì chánh pháp, được chư Phật hộ niệm, giữ gìn và thọ trì pháp tạng rộng lớn; được vô ngại biện thâm nhập pháp môn, ở trong đại chúng nơi vô biên thế giới tùy loại chẳng đồng mà khắp hiện thân hình xinh đẹp, dùng vô ngại biện khéo nói thâm pháp; vì âm thanh viên mãn khéo phân bố, nên có thể làm cho người nghe vào môn trí huệ vô tận, biết tâm hành phiền não của các chúng sanh mà vì họ thuyết pháp; vì ngôn âm hoàn toàn thanh tịnh nên nhất âm diễn xướng có thể làm hoan hỷ tất cả; vì thân đoan chánh có oai lực lớn nên không ai hơn khi ở trong chúng hội; vì khéo biết tâm chúng sanh nên có thể khắp hiện thân; vì thuyết pháp khéo léo nên âm thanh vô ngại; vì được tâm tự tại nên khéo thuyết đại pháp không bị trở hoại; vì được vô sở úy nên lòng không khiếp nhược; vì nơi pháp tự tại nên không ai hơn; vì nơi trí tự tại nên không ai thắng; vì bát nhã ba la mật tự tại nên những pháp tướng đã nói không chống trái; vì biện tài tự tại nên tùy thích thuyết pháp tương tục chẳng dứt; vì đà la ni tu nên quyết định khai thị thật tướng của các pháp; vì biện tài tự tại nên tuỳ chỗ diễn thuyết có thể khai các môn ví dụ; vì đại bình đẳng tự tại nên siêng dạy chúng sanh không lười trễ; vì đại từ tự tại nên phóng lưới quang minh vui đẹp lòng đại chúng.
Bồ Tát ở nơi tòa sư tử cao lớn diễn nói đại pháp như vậy, chỉ trừ đức Như Lai và các đại Bồ Tát có thắng nguyện trí, thời không còn ai có thể thắng hơn được, không ai thấy đảnh được, không ai chói đoạt được, không ai vấn nạn làm thua được.
Thưa Phật tử!  Bồ Tát được tự tại lực như vậy rồi, giả sử có đạo tràng rộng lớn lượng bằng bất khả thuyết thế giới, chúng sanh đông đầy trong đó, mỗi chúng sanh sắc tướng oai đức đều như đại thiên thế giới chủ, Bồ Tát này vừa hiện thân đến đạo tràng thời có thể che chói tất cả đại chúng trên đây.  Rồi dùng đại từ bình đẳng an định sự khiếp nhược của chúng, dùng thâm trí huệ xét sở thích của chúng, dùng biện tài vô uý vì chúng thuyết pháp, làm cho tất cả chúng đều vui mừng.
Tại sao vậy?
Vì Bồ Tát này đã thành tựu vô lượng môn trí huệ, vô lượng xảo phân biệt, chánh niệm lực rộng lớn, vô tận thiện xảo huệ, đã thành tựu đà la ni quyết liễu thật tướng của các pháp, vô biên bồ đề tâm, diệu biện tài, thâm tín giải, đã thành tựu trí huệ lực khắp vào đạo tràng của tam thế chư Phật, đã thành tựu tâm thanh tịnh biết tam thế chư Phật đồng một thể tánh, đã thành tựu Như Lai trí, Bồ Tát đại nguyện trí, có thể làm đại pháp sư khai thị chánh pháp tạng của chư Phật và hộ trì.
Lúc đó, Pháp Huệ Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này, thừa thần lực của đức Phật mà nói kệ rằng:
Tâm trụ bồ đề nhóm các phước
Thường chẳng phóng dật trồng kiên huệ
Chánh niệm kiên cố tự siêng gắng
Nơi thế không tựa không thối khiếp
Dùng hạnh vô tránh vào thâm pháp
Thập phương chư Phật đều hoan hỷ.
Phật hoan hỷ, rồi bền tinh tấn
Tu hành phước trí trợ đạo pháp
Vào nơi các địa, tịnh các hạnh
Trọn đủ nguyện của Như Lai dạy.
Như vậy mà tu được diệu pháp
Đã được pháp rồi, thí quần sanh
Tùy sở thích và căn tánh họ
Đều thuận cơ nghi vì khai diễn.
Bồ Tát vì chúng diễn thuyết pháp
Chẳng bỏ những độ hạnh của mình
Hạnh ba la mật đã được thành
Thường nơi hữu lậu cứu quần chúng.
Ngày đêm siêng tu không lười mỏi
Khiến tam bảo chủng chẳng đoạn tuyệt
Tất cả pháp lành đã thật hành
Đều đem hồi hướng Như Lai địa.
Bồ Tát tu hành những hạnh lành
Khắp vì thành tựu các quần sanh
Khiến họ phá tối diệt phiền não
Hàng phục quân ma thành chánh giác.
Tu hành như vậy được Phật trí
Thâm nhập Như Lai chánh pháp tạng
Làm đại pháp sư diễn diệu pháp
Ví như cam lộ trọn rưới nhuần
Từ bi thương xót khắp tất cả
Tâm hành chúng sanh đều biết cả
Đúng sở thích họ mà khai diễn
Vô lượng vô biên các Phật pháp.
Cử động an lành như tượng vương
Dũng mãnh vô úy dường sư tử
Bất động như núi, trí như biển
Cũng như mưa to trừ nóng bức.
Lúc Pháp Huệ Bồ Tát nói kệ xong, đức Như Lai hoan hỷ đại chúng đều phụng hành.



Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0

Kinh Hoa Nghiêm
Tập 2


Phẩm thăng dạ ma thiên cung
Thứ mười chín

Lúc bấy giờ, do thần lực của đức Phật, khắp thập phương thế giới, trong Diêm Phù Đề và trên đảnh Tu Di đều thấy Như Lai ngự giữa chúng hội.  Chư Bồ Tát thừa oai thần của Phật mà diễn thuyết diệu pháp.  Tất cả chúng đều cho rằng đức Phật luôn ở trước.
Lúc đó, đức Thế Tôn không rời cội bồ đề và đảnh núi Tu Di mà hướng đến điện Bửu Trang Nghiêm nơi Dạ Ma Thiên Cung.
Dạ Ma Thiên Vương vọng thấy đức Phật đến, liền dùng thần lực, nơi giữa điện, hóa ra tòa sư tử bửu liên hoa tạng trăm vạn từng cấp, trăm vạn lưới vàng, trăm vạn màn hoa, trăm vạn màn tràng hoa, trăm vạn màn hương, trăm vạn màn báu che giăng trên bửu tòa.  Lọng hoa, lọng tràng, lọng hương, lọng báu đều số trăm vạn bố liệt bốn phía, chiếu sáng với trăm vạn quang minh.
Trăm vạn Dạ Ma Thiên Vương cung kính đảnh lễ, trăm vạn Phạm Vương vui mừng hớn hở, trăm vạn Bồ Tát xưng dương ca ngợi, trăm vạn kỹ nhạc hòa tấu, trăm vạn pháp âm không dứt tiếng.
Trăm vạn thứ mây hoa, trăm vạn thứ mây tràng, trăm vạn đồ trang nghiêm, trăm vạn thứ mây y phục giăng giáp vòng, trăm vạn thứ mây ma ni chói sáng, từ trăm vạn thiện căn sanh ra, được trăm vạn Phật hộ trì, trăm vạn thứ phước đức làm tăng trưởng, trăm vạn thâm tâm và trăm vạn thệ nguyện làm trang nghiêm thanh tịnh, trăm vạn công hạnh làm sanh khởi, trăm vạn pháp kiếp lập, trăm vạn thần thông biến hiện, luôn vang ra trăm vạn ngôn âm hiển thị các pháp.
Sắp đặt bửu tòa xong, Dạ Ma Thiên Vương nghinh tiếp đức Thế Tôn, chấp tay cung kính bạch đức Phật rằng: "Lành thay đức Thiện Thệ!  Lành thay đức Như Lai Ứng Cúng Đảnh Chánh Giác!  Xin từ mẫn ngự trong cung điện này."
Đức Phật thọ thỉnh, liền ngự lên bửu tòa.  Thập phương thế giới, tất cả Dạ Ma thiên cung đều như thế cả.
Lúc đó, Thiên Vương liền tự nhớ thiện căn đã vun trồng nơi chư Phật thời quá khứ, thừa oai lực của đức Phật mà nói kệ rằng:
Danh xưng Như Lai khắp mười phương
Trong những cát tường vô thượng nhất
Phật từng vào điện ma ni này
Vì thế chỗ này rất cát tường.
Bửu Vương Như Lai đèn thế gian
Trong những cát tường vô thượng nhất
Phật từng vào điện thanh tịnh này
Vì thế chỗ này rất cát tường.
Hỷ Mục Như Lai thấy vô ngại
Trong những cát tường vô thượng nhất
Phật từng vào điện trang nghiêm này
Vì thế chỗ này rất cát tường.
Nhiên Đăng Như Lai chiếu thế gian
Trong những cát tường vô thượng nhất
Phật từng vào điện vô cấu này
Vì thế chỗ này rất cát tường.
Thiện Giác Như Lai không có thầy
Trong những cát tường vô thượng nhất
Phật từng vào điện bửu hương này
Vì thế chỗ này rất cát tường.
Thắng Thiên Như Lai đèn trong đời
Trong những cát tường vô thượng nhất
Phật từng vào điệu diệu hương này
Vì thế chỗ này rất cát tường.
Vô Khứ Như Lai hùng biện nhất
Trong những cát tường vô thượng nhất
Phật từng vào điện phổ nhãn này
Vì thế chỗ này rất cát tường.
Vô Thắng Như Lai đủ công đức
Trong những cát tường vô thượng nhất
Phật từng vào điện thiện nghiêm này
Vì thế chỗ này rất cát tường.
Khổ Hạnh Như Lai lợi thế gian
Trong những cát tường vô thượng nhất
Phật từng vào điện phổ nghiêm này
Vì thế chỗ này rất cát tường.
Khắp thập phương thế giới, tất cả Dạ Ma Thiên Vương đều ca ngợi công đức của Phật như vậy cả.
Lúc đức Thế Tôn vào điện Ma Ni ngồi kiết già trên bửu tòa sư tử, điện này bỗng rộng rãi bao la bằng tất cả chỗ ở của thiên chúng.   Thập phương thế giới cũng như vậy.

Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 2


Phẩm Dạ Ma Cung kệ tán
Thứ hai mươi

Lúc đó, do thần lực của đức Phật, mười phương đều có một đại Bồ Tát, mỗi vị đều cùng phật sát vi trần số Bồ Tát câu hội, từ những thế giới ngoài mười vạn phật sát vi trần số quốc độ mà đến.
Tên của mười vị Bồ Tát đó là:  Công Đức Lâm Bồ Tát, Huệ Lâm Bồ Tát, Thắng Lâm Bồ Tát, Vô Úy Lâm Bồ Tát, Tàm Quý Lâm Bồ Tát, Tinh Tấn Lâm Bồ Tát, Lực Lâm Bồ Tát, Hạnh Lâm Bồ Tát, Giác Lâm Bồ Tát, Trí Lâm Bồ Tát.
Quốc độ của các ngài từ đó mà đến theo thứ tự là:  Thân Huệ thế giới, Tràng Huệ thế giới, Bửu Huệ thế giới, Thắng Huệ thế giới, Đăng Huệ thế giới, Kim Cang Huệ thế giới, An Lạc Huệ thế giới, Nhựt Huệ thế giới, Tịnh Huệ thế giới, Phạm Huệ thế giới.
Chư Phật Thế Tôn nơi thế giới đó theo thứ tự là:  Thường Trụ Nhãn Phật, Vô Thắng Nhãn Phật, Võ Trụ Nhãn Phật, Bất Động Nhãn Phật, Thiên Nhãn Phật, Giải Thoát Nhãn Phật, Thẩm Đế Nhãn Phật, Minh Tướng Nhãn Phật, Tối Thượng Nhãn Phật, Cám Thanh Nhãn Phật.
Chư Bồ Tát này đến dưới bửu tòa đảnh lễ Phật, rồi theo phương của mình đến đều riêng hóa hiện tòa sư tử liên hoa tạng mà ngồi kiết già trên đó.
Tất cả Dạ Ma thiên ở thập phương thế giới đều như thế cả.  Bồ Tát, quốc độ và Như Lai cũng đồng danh, đồng hiệu như trên.
Lúc đó, đức Thế Tôn từ trên hai bàn chân, phóng ra trăm ngàn ức quang minh màu đẹp chiếu khắp thập phương thế giới.  Tất cả đạo tràng, Phật và Bồ Tát đều hiển hiện cả.
Bấy giờ, Công Đức Lâm Bồ Tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Phật phóng đại quang minh
Chiếu khắp nơi mười phương
Đều thấy Thiên Nhân Tôn
Thông đạt không chướng ngại.
Phật ngồi cung Dạ Ma
Khắp cùng mười phương cõi
Việc này rất lạ lùng
Thế gian rất hi hữu.
Trời Dạ Ma Thiên Vương
Ca ngợi mười Như Lai
Như hội này đã thấy
Tất cả hội cũng vậy.
Những chúng Bồ Tát kia
Đồng hiệu với chúng tôi
Thập phương tất cả chỗ
Diễn thuyết pháp vô thượng.
Bổn quốc của các ngài
Danh hiệu cũng không khác
Đều riêng nơi bổn Phật
Tịnh tu các phạm hạnh.
Các đức Như Lai kia
Danh hiệu cũng đều đồng
Quốc độ đều giàu vui
Thần lực đều tự tại.
Tất cả chúng mười phương
Đều thấy Phật ở đây
Hoặc thấy ở nhân gian
Hoặc thấy ở thiên cung.
Như Lai an trụ khắp
Tất cả các quốc độ
Nay chúng tôi thấy Phật
Ở tại thiên cung này.
Xưa phát nguyện bồ đề
Khắp đến mười phương cõi
Nên oai lực của Phật
Cùng khắp khó nghĩ bàn.
Lìa sự tham thế gian
Đầy đủ vô biên đức
Nên được sức thần thông
Chúng sanh đều thấy cả.
Du hành mười phương cõi
Như hư không vô ngại
Một thân vô lượng thân
Thân tướng bất khả đắc.
Phật công đức vô biên
Thế nào lường biết được
Không dừng cũng không đi
Vào khắp trong pháp giới.
Huệ Lâm Bồ Tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Đấng đạo sư thế gian
Đấng ly cấu vô thượng
Bất khả tư nghị kiếp
Khó được gặp gỡ Phật.
Phật phóng đại quang minh
Thế gian đều khắp thấy
Vì chúng rộng diễn bày
Lợi ích những quần sanh.
Như Lai xuất thế gian
Vì đời trừ si tối
Là đèn sáng thế gian
Hi hữu khó thấy được.
Đã tu thí, giới, nhẫn
Tinh tấn và thiền định
Bát nhã ba la mật
Dùng đây chiếu thế gian.
Như Lai không ai bằng
Muốn sánh chẳng thể được
Chẳng rõ pháp chân thiệt
Thời không thể thấy Phật.
Thân Phật và thần thông
Tự tại khó nghĩ bàn
Không đi cũng không đến
Thuyết pháp độ chúng sanh.
Nếu ai được thấy nghe
Đấng đạo sư thanh tịnh
Thoát hẳn các ác đạo
Xa lìa tất cả khổ.
Vô lượng vô số kiếp
Tu tập hạnh bồ đề
Chẳng thể biết nghĩa này
Chẳng thể được thành Phật.
Bất khả tư nghị kiếp
Cúng dường vô lượng Phật
Nếu biết được nghĩa này
Công đức hơn công kia.
Cúng Phật với trân bửu
Đầy cả vô lượng cõi
Chẳng biết được nghĩa này
Trọn chẳng thành bồ đề.
Lúc đó, Thắng Lâm Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Ví như tháng mạnh hạ
Không tịnh không mây mù
Mặt trời phóng quang huy
Thập phương đều sáng chói.
Quang minh không hạn lượng
Không ai lường biết được
Người mắt sáng còn vậy
Huống là kẻ mù lòa.
Chư Phật cũng như vậy
Công đức vô biên tế
Bất khả tư nghị kiếp
Chẳng thể phân biệt biết.
Các pháp không lai xứ
Cũng không từ đâu sanh
Chẳng thể phân biệt được.
Tất cả pháp không đến
Vì thế nên không sanh
Vì đã không có sanh
Nên cũng không có diệt.
Tất cả pháp vô diệt
Nếu biết được như vậy
Người này thấy được Phật.
Vì các pháp vô sanh
Nên không có tự tánh
Phân biệt biết như vậy
Người này đạt thâm nghĩa.
Do vì pháp vô tánh
Không thể rõ biết được
Nơi pháp hiểu như vậy
Rốt ráo không chỗ hiểu.
Nói rằng có sanh đó
Bởi hiện các quốc độ
Biết được tánh quốc độ
Thời tâm không mê hoặc.
Tánh quốc độ thế gian
Quan sát đều như thật
Nếu nơi đây biết được
Khéo nói tất cả nghĩa.
Vô Úy Lâm Bồ Tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Thân Như Lai rộng lớn
Rốt ráo nơi pháp giới
Chẳng rời bửu tòa này
Mà khắp tất cả chỗ.
Nếu ai nghe pháp này
Mà cung kính tin ưa
Rời hẳn ba ác đạo
Tất cả những khổ nạn.
Giả sử như có người
Qua vô lượng thế giới
Chuyên tâm muốn được nghe
Sức tự tại của Phật.
Những Phật pháp như vậy
Là vô thượng bồ đề
Giả sử muốn tạm nghe
Không ai có thể được.
Nếu ai thời quá khứ
Tin Phật pháp như vậy
Đã thành Lưỡng Túc Tôn
Làm đèn sáng thế gian.
Nếu ai sẽ được nghe
Sức tự tại của Phật
Nghe rồi có lòng tin
Người này sẽ thành Phật.
Nếu có người hiện tại
Tin được Phật pháp này
Cũng sẽ thành chánh giác
Thuyết pháp vô sở úy.
Vô lượng vô số kiếp
Pháp này rất khó gặp
Nếu có người được nghe
Là do bổn nguyện lực.
Nếu ai thọ trì được
Những Phật pháp như vậy
Trì xong rộng tuyên thuyết
Người này sẽ thành Phật.
Huống là siêng tinh tấn
Lòng kiên cố chẳng bỏ
Nên biết người như vậy
Quyết định thành bồ đề.
Lúc đó, Tàm Quý Lâm Bồ Tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Nếu ai được nghe pháp
Hi hữu tự tại này
Sanh được lòng hoan hỷ
Chóng trừ lưới si lầm.
Bậc thấy biết tất cả
Tự nói lời như vầy
Phật không gì chẳng biết
Vì thế khó nghĩ bàn.
Không có từ vô trí
Mà sanh ra trí huệ.
Thế gian thường tối tăm
Nên không thể sanh được.
Như sắc và phi sắc
Hai đây chẳng là một
Trí vô trí cũng vậy
Thể nó đều sai biệt.
Như tướng cùng vô tướng
Sanh tử với niết bàn
Phân biệt đều chẳng đồng
Trí, vô trí cũng vậy.
Thế giới mới thành lập
Không có tướng bại hoại
Trí, vô trí cũng vậy
Hai thứ chẳng đồng thời.
Như Bồ Tát sơ tâm
Chẳng chung với hậu tâm
Trí, vô trí cũng vậy
Hai tâm chẳng đồng thời.
Ví như những thức thân
Đều riêng không hòa hiệp
Trí, vô trí cũng vậy
Rốt ráo không hòa hiệp.
Như thuốc a già đà
Hay diệt tất cả độc
Có trí cũng như vậy
Hay diệt sự vô trí.
Như Lai không ai trên
Cũng không ai sánh bằng
Tất cả không so được
Thế nên khó gặp gỡ.
Tinh Tấn Lâm Bồ Tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Các pháp vô sai biệt
Không ai biết được đó
Chỉ Phật cùng Phật biết
Vì trí huệ rốt ráo.
Như vàng và màu vàng
Tánh nó vô sai biệt
Pháp phi pháp cũng vậy
Chúng sanh phi chúng sanh
Hai đều không chân thật
Như vậy các pháp tánh
Thật nghĩa đều chẳng có.
Ví như thời vị lai
Không có tất cả tướng.
Ví như tướng sanh diệt
Các thứ đều chẳng thiệt
Các pháp đều cũng vậy
Tự tánh vốn không có.
Niết bàn bất khả thủ
Thời gian nói có hai
Các pháp cũng như vậy
Phật biệt có sai khác.
Như nương vật bị đếm
Mà có cái hay đếm
Tánh kia vốn không có
Nên rõ pháp như vậy.
Ví như pháp toán số
Thêm một đến vô lượng
Phép đếm không thể tánh
Vì trí nên sai khác.
Ví như các thế gian
Kiếp hỏa có hư diệt
Hư không chẳng tổn hư
Phật trí cũng như vậy.
Như thập phương chúng sanh
Đều lấy tướng hư không,
Chư Phật cũng như vậy
Thế gian vọng phân biệt.
Lúc đó, Lực Lâm Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Tất cả chúng sanh giới
Đều ở trong ba thời,
Những chúng sanh ba thời
Đều ở trong ngũ uẩn.
Nghiệp là gốc của uẩn
Tâm là gốc các nghiệp
Tâm đó dường như huyễn
Thế gian cũng như vậy.
Thế gian chẳng tự làm
Chẳng phải cái khác làm
Mà nó được có thành
Cũng lại được có hoại.
Thế gian dầu có thành
Thế gian dầu có hoại
Người rõ thấu thế gian
Chẳng nên nói hai việc.
Thế nào là thế gian
Thế nào phi thế gian
Thế gian phi thế gian
Chỉ là tên sai khác!
Tam thế và ngũ uẩn
Nói gọi là thế gian
Nói diệt là phi thế
Như vậy chỉ giả danh.
Sao gọi là các uẩn
Các uẩn có tánh gì
Tánh uẩn chẳng diệt được
Vì vậy nói vô sanh.
Phân biệt các uẩn này
Tánh nó vốn không tịch
Vì không, nên chẳng diệt
Đây là nghĩa vô sanh.
Chúng sanh đã như vậy
Phật và các Phật pháp
Tự tánh vốn không có.
Biết được các pháp này
Như thật không điên đảo.
Người thấy biết tất cả
Thường thấy ở nơi trước.
Hạnh Lâm Bồ Tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Ví như mười phương cõi
Tất cả những địa chủng
Tự tánh vốn không có
Không chỗ nào chẳng khắp.
Thân Phật cũng như vậy
Cùng khắp các thế giới
Những sắc tướng sai khác
Không dừng, không chỗ đến.
Chỉ do vì các nghiệp
Nói tên là chúng sanh
Cũng chẳng lìa chúng sanh
Mà có được các nghiệp.
Nghiệp tánh vốn không tịch
Chúng sanh chỗ y chỉ
Khắp làm các hình sắc
Cũng lại không chỗ đến.
Những hình sắc như vậy
Nghiệp lực khó nghĩ bàn
Liễu đạt căn bổn kia
Nơi trong, không chỗ thấy.
Thân Phật cũng như vậy
Chẳng thể nghĩ bàn được
Những sắc tướng sai khác
Hiện khắp mười phương cõi
Thân chẳng phải là Phật
Phật cũng chẳng phải thân
Chỉ lấy pháp làm thân
Thông đạt tất cả pháp.
Nếu thấy được thân Phật
Thanh tịnh như pháp tánh
Với tất cả Phật pháp
Người này không nghi lầm.
Nếu thấy tất cả pháp
Bổn tánh như niết bàn
Đây thời thấy Như Lai
Rốt ráo vô sở trụ.
Nếu tu tập chánh niệm
Sáng tỏ thấy chánh giác
Vô tướng, vô phân biệt
Đây gọi Pháp Vương Tử.
Lúc đó, Giác Lâm Bồ Tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Ví như họa sư kia
Phân bố những màu sắc
Hư vọng lấy dị tướng
Đại chủng không sai khác.
Trong đại chủng không sắc
Trong sắc không đại chủng
Cũng chẳng ngoài đại chủng
Mà có được màu sắc.
Trong tâm, không màu vẽ
Trong màu vẽ, không tâm
Nhưng chẳng rời nơi tâm
Mà có được màu vẽ.
Tâm đó luôn chẳng trụ
Vô lượng khó nghĩ bàn
Thị hiện tất cả sắc
Đều riêng chẳng biết nhau.
Ví như nhà họa sư
Chẳng biết được tự tâm
Mà do tâm nên vẽ
Các pháp tánh như vậy.
Tâm như nhà họa sư
Hay vẽ những thế gian
Ngũ uẩn từ tâm sanh
Không pháp gì chẳng tạo.
Như tâm, Phật cũng như vậy
Như Phật, chúng sanh đồng
Phải biết Phật cùng tâm
Thể tánh đều vô tận.
Nếu người biết tâm hành
Bảo khắp các thế gian
Người này thời thấy Phật
Rõ Phật chân thật tánh.
Tâm chẳng trụ nơi thân
Thân chẳng trụ nơi tâm
Mà làm được Phật sự
Tự tại chưa từng có.
Nếu người muốn rõ biết
Tất cả Phật ba đời
Phải quán pháp giới tánh
Tất cả duy tâm tạo.
Trí Lâm Bồ Tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:
Sở thủ chẳng thể lấy
Sở kiến chẳng thể thấy
Sở văn chẳng thể nghe
Nhất tâm bất tư nghị.
Hữu lượng và vô lượng
Cả hai chẳng thể lấy
Nếu có ai muốn lấy
Rốt ráo chẳng thể được.
Chẳng nên nói mà nói
Đây là tự khi dối
Việc mình chẳng thành tựu
Chẳng khiến chúng vui mừng.
Có người muốn khen Phật
Vô biên diệu sắc thân
Tận cả vô số kiếp
Không thể thuật hết được.
Vì như châu như ý
Hay hiện tất cả màu
Không màu mà hiện màu
Chư Phật cũng như vậy.
Lại như hư không sạch
Phi sắc, chẳng thấy được
Dầu hiện tất cả sắc
Không ai thấy hư không.
Chư Phật cũng như vậy
Hiện khắp vô lượng sắc
Chẳng phải cảnh của tâm
Tất cả chẳng thấy được.
Dầu nghe tiếng Như Lai
Âm thanh chẳng phải Phật
Cũng chẳng ngoài âm thanh
Biết được đấng Chánh Giác.
Bồ đề không lai khứ
Lìa tất cả phân biệt
Thế nào ở trong đó
Tự nói là thấy được.
Chư Phật không có pháp
Phật chỗ nào có nói,
Chỉ theo tự tâm chúng
Cho rằng Phật nói pháp.




Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 2


Phẩm thập hạnh
Thứ hai mươi mốt


Lúc bấy giờ, thừa thần lực của đức Phật, Công Đức Lâm Bồ Tát nhập Bồ Tát thiện tư duy tam muội.  Nhập tam muội này rồi, mười phương đều quá ngoài vạn phật sát vi trần số thế giới, có vạn phật sát vi trần số chư Phật đều hiện Công Đức Lâm hiện ra nơi trước mà bảo Công Đức Lâm Bồ Tát rằng:  "Lành thay Phật tử!  Ông có thể nhập thiện tư duy tam muội này!  Đây mười phương đều vạn phật sát vi trần số Như Lai cùng một danh hiệu đồng gia hộ ông.  Và cũng là nguyện lực thần lực của Phật Tỳ Lô Giá Na và thiện căn lực của chúng Bồ Tát khiến ông nhập tam muội này để diễn thuyết pháp:  Vì tăng trưởng Phật trí, vì thâm nhập pháp giới, vì rõ chúng sanh giới, vì sở nhập vô ngại, vì sở hành vô chướng, vì được vô lượng phương tiện, vì nhiếp thủ nhất thiết trí tánh, vì giác ngộ tất cả pháp, vì biết tất cả căn tánh, vì có thể thọ trì giảng thuyết tất cả pháp.  Nghĩa là phát khởi mười hạnh của Bồ Tát.
Này Phật tử!  Ông nên thừa oai lực của Phật mà diễn thuyết pháp thập hạnh này."
Chư Phật khuyên cáo xong, liền ban cho Công Đức Lâm Bồ Tát vô ngại trí, vô trước trí, vô đoạn trí, vô sư trí, vô si trí, vô dị trí, vô thất trí, vô lượng trí, vô thắng trí, vô giải đãi trí, vô đoạt trí.
Tại sao vậy? 
Vì công lực của tam muội này là như vậy.
Chư Phật đều đưa tay hữu xoa đảnh của Công Đức Lâm Bồ Tát.
Lúc đó, Công Đức Lâm Bồ Tát xuất định nói với chư Bồ Tát rằng:  "Thưa Phật tử!  Hạnh của Bồ Tát chẳng thể nghĩ bàn được.  Hạnh đó đồng với pháp giới hư không giới.  Vì Bồ Tát học theo tam thế chư Phật mà tu hành vậy.
Những gì là hạnh của Bồ Tát?
Thưa chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười hạnh sau đây, mà tam thế chư Phật đều tuyên nói:  Một là hoan hỷ hạnh; hai là nhiêu ích hạnh, ba là vô vi hạnh; bốn là vô khuất nhiễu hạnh; năm là vô si loạn hạnh; sáu là thiện hiện hạnh; bảy là vô trước hạnh; tám là nan đắc hạnh; chín là thiện pháp hạnh; mười là chân thiệt hạnh.
Thế nào là Bồ Tát hoan hỷ hạnh?
Bồ Tát này làm đại thí chủ, phàm có vật gì đều bố thí được cả, lòng bình đẳng không hề hối tiếc, chẳng trông quả báo, chẳng cầu tiếng tăm, chẳng tham lợi tức, chỉ vì cứu hộ tất cả chúng sanh, vì nhiếp thọ chúng sanh, vì lợi ích chúng sanh, vì học tập bổn hạnh của chư Phật, vì nhớ đến bổn hạnh của chư Phật, vì thích mến bổn hạnh của chư Phật, vì thanh tịnh bổn hạnh của chư Phật, vì tăng trưởng bổn hạnh của chư Phật, vì trụ trì bổn hạnh của chư Phật, vì hiển hiện bổn hạnh của chư Phật, vì diễn thuyết bổn hạnh của chư Phật, vì khiến chúng sanh thoát khổ được vui.
Lúc đại Bồ Tát tu hạnh này, khiến tất cả chúng sanh hoan hỷ mến thích.  Chốn nào, cõi nào nghèo thiếu, Bồ Tát dùng nguyện lực sanh nơi đó, làm nhà hào quý giàu có vô tận.  Giả sử trong mỗi niệm có vô lượng chúng sanh đến chỗ Bồ Tát, vì đói khát mà xin thịt nơi thân Bồ Tát để ăn, Bồ Tát liền móc thịt nơi thân mình để dâng cho họ, khiến lòng họ thỏa mãn vui mừng, không hề khiếp sợ từ chối, chỉ càng tăng trưởng tâm từ bình đẳng.  Vì thế nên chúng sanh đều đến để xin cầu.  Bồ Tát thấy họ đến xin, lòng thêm hoan hỷ, vì nghĩ rằng tôi được lợi lớn, các chúng sanh này là phước điền của tôi, là thiện hữu của tôi.  Tôi chẳng cầu chẳng thỉnh mà họ đến dạy tôi vào trong Phật pháp.  Tôi phải tu học thật hành như vậy không để trái ý chúng sanh.
Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Nguyện những căn lành mà tôi đã, sẽ, hay đang thật hành là cho tôi thọ thân hình to lớn trong tất cả thế giới để được đem thịt nơi thân cung cấp cho tất cả chúng sanh bị đói khổ, thịt còn mãi cắt lấy vô tận, nhẫn đến còn một chúng sanh nhỏ chưa no đủ thời tôi nguyện không xả mạng.  Do thiện căn này nguyện được vô thượng bồ đề, chứng đại niết bàn.  Nguyện cho những chúng sanh đã ăn thịt tôi, cũng đều được vô thượng bồ đề, được trí bình đẳng, đủ những Phật pháp, rộng làm Phật sự, nhẫn đến nhập vô dư niết bàn.  Nếu còn một chúng sanh lòng chưa thỏa mãn, tôi trọn chẳng chứng vô thượng bồ đề.  Bồ đề lợi ích chúng sanh như vậy mà không ngã tưởng, chúng sanh tưởng, hữu tưởng, mạng tưởng, các thứ tưởng, bổ đặc già la tưởng, nhân tưởng, ma nạp bà tưởng, tác giả tưởng, thọ giả tưởng.  Chỉ quán pháp giới, chúng sanh giới vô biên tế, quán không pháp, vô sỡ hữu pháp, vô tướng pháp, vô thể pháp, vô xứ pháp, vô y pháp, vô tác pháp.
Lúc quán như vậy, chẳng thấy tự thân, chẳng thấy vật bố thí, chẳng thấy người thọ, chẳng thấy phước điền, chẳng thấy nghiệp, chẳng thấy báo, chẳng thấy quả, chẳng thấy đại quả, chẳng thấy tiểu quả.
Lúc bấy giờ, Bồ Tát quán thân của tất cả tam thế chúng sanh đều liền hoại diệt, mà nghĩ rằng:  Lạ thay cho chúng sanh ngu si, vô trí, ở trong sanh tử, thọ vô số thân mỏng manh chẳng tạm dừng, mau về nơi hoại diệt, hoặc đã, hoặc hiện, hoặc sẽ hoại diệt, mà họ chẳng thể đem thân chẳng bền để cầu thân kiên cố.
Tôi phải học tập những điều mà chư Phật đã học tập, để được chứng nhất thiết trí, biết nhất thiết pháp, rồi vì chúng sanh diễn thuyết tam thế bình đẳng, tùy thuận pháp tánh tịch tịnh bất hoại, khiến họ được vĩnh viễn an ổn khoái lạc.
Đây gọi là Bồ Tát hoan hỷ hạnh thứ nhất.
Chư Phật tử!  Những gì là Bồ Tát nhiêu ích hạnh?
Bồ Tát này hộ trì tịnh giới, lòng không nhiễm trước sắc thanh hương vị xúc.  Cũng đem sự vô trước ấy nói với chúng sanh, chẳng cầu oai thế, chẳng cầu chủng tộc, chẳng cầu giàu có, chẳng cầu sắc tướng, chẳng cầu ngôi vua, tất cả đều không nhiễm trước.  Chỉ bền giữ tịnh giới.  Tự nghĩ:  Tôi trì tịnh giới, quyết sẽ bỏ lìa tất cả triền phược, tham cầu, nhiệt não, các nạn bứt ngặt, hủy báng loạn trược, mà được chánh pháp bình đẳng của Phật khen ngợi.
Lúc Bồ Tát trì tịnh giới như vậy, trong một ngày, giả sử có vô số đại ác ma đem vô số thiên nữ tuyệt đẹp trang sức lộng lẫy vũ nhạc đàn cát tường đến muốn làm mê loạn đạo tâm của Bồ Tát này.  Bồ Tát này liền suy nghĩ rằng:  Cảnh ngũ dục này là thứ chướng đạo, nhẫn đến chướng vô thượng bồ đề.  Do đây nên Bồ Tát chẳng có mộ niệm dục tưởng, lòng thanh tịnh như Phật.  Chỉ trừ phương tiện giáo hóa chúng sanh, nhưng vẫn không rời tâm nhất thiết trí.
Bồ Tát không vì nhân duyên ngũ dục mà làm não hại một chúng sanh, thà bỏ thân mạng chớ trọn không làm sự não chúng sanh.
Bồ Tát từ khi được thấy Phật đến nay, chưa từng có một niệm dục tưởng, huống là làm theo.
Bồ Tát thường nghĩ:  Các chúng sanh mãi tưởng nhớ ngũ dục, xu hướng ngũ dục, tham trước ngũ dục, lòng họ quyết phải say mê chìm đắm, rồi theo đó mà lưu chuyển không được tự tại.
Nay tôi phải nên khiến bọn ma này cùng các thiên nữ trụ nơi tịnh giới, không thối chuyển nơi nhất thiết trí, được vô thượng bồ đề nhẫn đến vào vô dư niết bàn.  Vì đây là việc mà tôi phải thật hành.  Tôi phải học tập theo Phật, phải rời bỏ ác hạnh, chấp ngã, si mê.  Dùng trí huệ vào tất cả Phật pháp.  Giảng thuyết cho chúng sanh khiến họ trừ điên đảo.  Nhưng biết không ngoài chúng sanh có điên đảo, không ngoài điên đảo có chúng sanh, chẳng ở trong điên đảo có chúng sanh, chẳng ở trong chúng sanh có điên đảo.  Cũng chẳng phải điên đảo là chúng sanh, chẳng phải chúng sanh là điên đảo.  Điên đảo chẳng phải nội pháp ngoại pháp, chúng sanh cũng chẳng phải nội pháp ngoại pháp.  Tất cả các pháp đều hư vọng chẳng thiệt, chóng sanh chóng diệt không kiên cố như mộng, như huyễn, như bóng, như vang, nói dối phỉnh kẻ ngu.
Hiểu được như vậy liền giác ngộ được tất cả hành pháp, thông đạt sanh tử và niết bàn, chứng Phật bồ đề, tự được độ và khiến người được độ, tự giải thoát và khiến người giải thoát, tự điều phục và khiến người điều phục, được tịch tịnh và khiến người tịch tịnh, tự an ổn và khiến người an ổn, tự ly cấu và khiến người ly cấu, tự thanh tịnh và khiến người thanh tịnh, tự niết bàn và khiến người niết bàn, tự khoái lạc và khiến người khoái lạc.
Bồ Tát này lại tự nghĩ rằng:  Tôi phải tuỳ thuận tất cả Như Lai, rời tất cả hành vi thế gian, trọn nên tất cả Phật pháp, trụ nơi vô thượng bình đẳng, xem chúng sanh bình đẳng, rõ suốt cảnh giới lìa lỗi, dứt phân biệt, bỏ chấp trước, khéo xuất ly, tâm luôn an trụ nơi thậm thâm trí huệ vô thượng vô thuyết vô y vô động vô lượng vô biên vô tận vô sắc.
Đây gọi là Bồ Tát nhiêu ích hạnh thứ hai.
Những gì là Bồ Tát vô vi nghịch hạnh?
Bồ Tát này thường tu nhẫn pháp:  Khiêm hạ cung kính, chẳng tự hại, chẳng hại người, chẳng hại mình người, chẳng tự thủ trước, chẳng thủ trước người, chẳng thủ trước cả hai, cũng chẳng tham cầu danh tiếng lợi lộc.
Chỉ nghĩ rằng:  Tôi phải luôn thuyết pháp cho chúng sanh, khiến họ lìa tất cả sự ác, dứt phiền não, khiến họ luôn nhẫn nhục nhu hòa.
Bồ Tát thành tựu nhẫn pháp như vậy, giả sử có vô số chúng sanh ác, đến chỗ Bồ Tát, đem vô số lời ác mắng nhiếc trêu chọc nguyền rủa, đồng thời cầm dao gậy đạp chém trải qua vô số kiếp không thôi.  Bồ Tát bị sự bức khổ vô cùng này, sắp phải chết, tự nghĩ rằng:  Tôi nhân sự khổ nhục này, nếu lòng động loạn thời là tự chẳng điều phục, tự chẳng giữ gìn, tự chẳng sáng suốt, tự chẳng tu tập, tự chẳng chánh định, tự chẳng tịch tịnh, tự chẳng ái tích, tự sanh chấp trước, thời đâu có thể làm cho người khác lòng được thanh tịnh.
Lúc đó, Bồ Tát lại nghĩ:  Tôi từ vô thỉ kiếp trụ nơi sanh tử chịu nhiều khổ não.  Suy nghĩ như vậy rồi càng tự khích lệ thêm, khiến lòng thanh tịnh mà được vui mừng, khéo tự điều nhiếp, tự có thể tự an trụ nơi trong Phật pháp, cũng khiến chúng sanh đồng được pháp này.  Lại suy nghĩ:  Thân này không tịch, không ngã, ngã sở, không thiệt, tánh trống rỗng không hai, đều không có hoặc khổ hoặc vui, vì tất cả pháp đều trống không vậy.  Tôi phải hiểu rõ để nói rộng cho người, khiến các chúng sanh diệt trừ kiến chấp này.  Vì thế nên dầu nay tôi bị khổ nhục, tôi phải nhẫn thọ, vì thương xót chúng sanh, vì lợi ích chúng sanh, vì an vui chúng sanh, vì nhiếp thọ chúng sanh, vì chẳng bỏ chúng sanh, vì để tự giác ngộ và khiến người giác ngộ, vì lòng không thối chuyển xu hướng Phật đạo.
Đây là Bồ Tát vô vi nghịch hạnh thứ ba.
Chư Phật tử!  Những gì là Bồ Tát vô khuất nhiễu hạnh?
Bồ Tát này tu hạnh tinh tấn:  Đệ nhất tinh tấn, đại tinh tấn, thắng tinh tấn, thù thắng tinh tấn, tối thắng tinh tấn, tối diệu tinh tấn, thượng tinh tấn, vô thượng tinh tấn, vô đẳng tinh tấn, phổ biến tinh tấn.
Tánh không tham sân si, tánh không kiêu mạn, phú tàng, xan tật, siểm cuống, tánh tự tàm quý.  Trọn chẳng vì não chúng sanh mà tinh tấn, chỉ vì dứt tất cả phiền não mà tinh tấn, chỉ vì nhổ gốc phiền não mà tinh tấn, chỉ vì biết tất cả chúng sanh giới mà tinh tấn, chỉ vì biết tất cả chúng sanh chết đây sanh kia mà tinh tấn, chỉ vì biết phiền não của tất cả chúng sanh mà tinh tấn, chỉ vì biết cảnh giới của tất cả chúng sanh mà tinh tấn, chỉ vì biết căn cơ thắng liệt của tất cả chúng sanh mà tinh tấn, chỉ vì biết tâm hành của tất cả chúng sanh mà tinh tấn, chỉ vì biết tất cả pháp giới mà tinh tấn, chỉ vì biết tánh căn bổn của tất cả Phật pháp mà tinh tấn, chỉ vì biết tánh bình đẳng của tất cả Phật pháp mà tinh tấn, chỉ vì biết tánh tam thế bình đẳng mà tinh tấn, chỉ vì được trí quang minh của tất cả Phật pháp mà tinh tấn, chỉ vì chứng trí của tất cả Phật pháp mà tinh tấn, chỉ vì biết nhất thiệt tướng của tất cả Phật pháp mà tinh tấn, chỉ vì biết tất cả Phật pháp vô biên tế mà tinh tấn, chỉ vì được trí thiện xảo quyết định quảng đại của tất cả Phật pháp mà tinh tấn, chỉ vì được trí diễn thuyết cú nghĩa của tất cả Phật pháp mà tinh tấn.
Bồ Tát trọn nên hạnh tinh tấn như vậy rồi, có thể vì mỗi mỗi chúng sanh trong vô số thế giới mà chịu khỗ ở vô gián địa ngục trọn vô số kiếp, để những chúng sanh đó được gặp Phật, được hưởng vui, nhẫn đến được vô dư niết bàn, rồi mình sẽ chứng vô thượng bồ đề.
Giả sử có người bảo:  Có vô lượng vô số đại hải, ông sẽ lấy đầu sợi lông chấm từ giọt đến khô cạn, và nghiền vô lượng vô số thế giới làm bụi, đếm biết rõ số giọt, số bụi ấy, ông vì chúng sanh trải qua kiếp số bằng số giọt số bụi ấy mà chịu khổ chẳng dứt.
Bồ Tát dầu nghe lời trên đây, nhưng không hề có một niệm thối khiếp.  Chỉ càng thêm hớn hở vui mừng:  Tôi may mắn được lợi lành lớn.  Vì do sức của tôi mà vô lượng chúng sanh kia thoát khổ hẳn.
Bồ Tát này đem phương tiện thật hành trong tất cả thế giới, làm cho tất cả chúng sanh được rốt ráo vô dư niết bàn.
Đây gọi là Bồ Tát vô khuất nhiễu hạnh thứ tư.
Những gì là Bồ Tát ly si loạn hạnh?
Chư Phật tử!  Bồ Tát này thành tựu chánh niệm, tâm không tán loạn kiên cố bất động tối thượng thanh tịnh rộng lớn vô lượng không có mê hoặc.
Vì do chánh niệm này nên khéo hiểu tất cả ngôn ngữ thế gian, hay trì ngôn thuyết của các pháp xuất thế, như là hay trì ngôn thuyết sắc pháp phi sắc pháp, hay trì ngôn thuyết kiến lập sắc tự tánh, nhẫn đến hay trì ngôn thuyết thọ tưởng hành thức tự tánh mà tâm không si loạn.
Ở trong thế gian, chết đây sanh kia tâm không si loạn.  Nhập thai xuất thai tâm không si loạn.  Phát tâm bồ đề tâm không si loạn.  Thờ thiện trí thức tâm không si loạn, siêng tu Phật pháp tâm không si loạn.  Rõ biết ma sự tâm không si loạn.  Lìa những ma nghiệp tâm không si loạn.  Trong bất khả thuyết kiếp tu Bồ Tát hạnh tâm không si loạn.
Bồ Tát này thành tựu vô lượng chánh niệm như vậy.  Trong vô lượng vô số kiếp được nghe chánh pháp nơi chư Phật, Bồ Tát, thiện tri thức.  Như là thậm thâm pháp, quảng đại pháp, trang nghiêm pháp, những thứ trang nghiêm pháp, pháp diễn thuyết các loại danh cú văn thân, pháp Bồ Tát trang nghiêm, pháp Phật thần lực quang minh vô thượng, pháp chánh thăng giải thanh tịnh, pháp chẳng nhiễm trước tất cả thế gian, pháp phân biệt tất cả thế gian, pháp rất quảng đại, pháp rời mê si chiếu rõ tất cả chúng sanh, pháp cùng đồng với tất cả thế gian, pháp chẳng cùng đồng với tất cả thế gian, pháp Bồ Tát trí vô thượng pháp nhất thiết trí tự tại.
Bồ Tát được nghe những pháp như vậy rồi trải qua vô số kiếp chẳng quên chẳng mất, tâm thường ghi nhớ không gián đoạn.
Tại sao vậy?  Vì trong vô lượng kiếp, lúc tu hành, Bồ Tát trọn chẳng làm não loạn một chúng sanh khiến họ mất chánh niệm, chẳng hoại chánh pháp, chẳng đoạn thiện căn, tâm luôn tăng trưởng trí huệ rộng lớn.
Lại với Bồ Tát này, những thứ âm thanh không làm hoặc loạn được.  Như là tiếng cao thần thông, tiếng thô trược, tiếng khiến người cả sợ, tiếng đẹp lòng, tiếng chẳng đẹp lòng, tiếng huyen loạn nhĩ thức, tiếng trở hoại nhĩ căn.
Bồ Tát này dầu nghe vô lượng vô số âm thanh hay dở như vậy, nhưng chưa từng có một niệm tán loạn.  Nghĩa là chánh niệm chẳng loạn, cảnh giới chẳng loạn, tam muội chẳng loạn, vào pháp thậm thâm chẳng loạn, hành bồ đề hạnh chẳng loạn, phát bồ đề tâm chẳng loạn, nhớ nhiệm chư Phật chẳng loạn, quán pháp chân thật chẳng loạn, trí hóa độ chúng sanh chẳng loạn, trí thanh tịnh chúng sanh chẳng loạn, quyết rõ nghĩa thậm thâm chẳng loạn.  Vì chẳng làm nghiệp ác nên không ác nghiệp chướng, vì chẳng khởi phiền não nên không phiền não chướng, vì chẳng khinh mạn pháp nên không pháp chướng, vì chẳng hủy báng chánh pháp nên không có báo chướng.
Bồ Tát này nhập chánh định trụ nơi thành pháp, tư duy quan sát tất cả âm thanh, khéo biết tướng sanh trụ dị diệt của âm thanh, khéo biết tánh sanh trụ dị diệt của âm thanh.  Nghe âm thanh, Bồ Tát này không sanh lòng tham, sân, không mất chánh niệm, khéo lấy tướng mà không nhiễm trước, biết tất cả âm thanh đều là không chỗ có, thiệt chẳng thể được, không có tác giả, cũng không bổn tế, đồng với pháp giới không sai khác.
Bồ Tát này thành tựu hạnh thân ngữ ý tịch tịnh như vậy thẳng đến nhất thiết trí không thối chuyển, khéo vào tất  cả môn thiền định, biết các tam muội đồng một thể tánh, rõ tất cả pháp không có biên tế, được tất cả pháp chân thiệt trí huệ, được thậm thâm tam muội ly âm thanh, được vô số môn tam muội, thêm lớn vô lượng tâm đại bình đẳng.
Bấy giờ trong khoảng một niệm, Bồ Tát này được vô số trăm ngàn tam muội.  Nghe những tiếng như vậy tâm chẳng hoặc loạn, khiến tam muội lần lần càng thêm rộng.
Bồ Tát này nghĩ rằng:  Tôi phải làm cho tất cả chúng sanh an trụ trong niệm thanh tịnh vô thượng, nơi nhất thiết trí được bất thối chuyển rốt ráo thành tựu vô dư niết bàn.
Đây gọi là Bồ Tát ly si loạn hạnh thứ năm.
Những gì là Bồ Tát thiện hiện hạnh?
Bồ Tát này ba nghiệp thân ngữ ý đều thanh tịnh, trụ và thị hiện đều vô sở đắc.  Biết được ba nghiệp đều vô sở hữu.  Vì không hư vọng nên không hệ phược.  Phàm chỗ thị hiện đều vô tánh vô y.  Trụ tâm như thiệt, biết vô lượng tâm tự tánh, biết tất cả pháp tự tánh, vô đắc vô tướng rất sâu khó vào, trụ nơi chánh vị chân như pháp tánh.  Phương tiện xuất sanh mà không nghiệp báo, bất sanh bất diệt, trụ niết bàn giới, trụ tánh tịch tịnh, trụ nơi tánh chơn thiệt vô tánh, đường ngữ ngôn dứt, siêu các thế gian không sở y, nhập pháp ly phân biệt không phược trước, nhập pháp trí tối thắng chân thật, nhập pháp chẳng phải thế gian có thể rõ biết xuất thế gian.
Đây là phương tiện thiện xảo thị hiện sanh tướng của Bồ Tát này
Bồ Tát này nghĩ rằng:  Tất cả chúng sanh vô tánh làm tánh, tất cả các pháp vô vi làm tánh, tất cả quốc độ vô tướng làm tánh, tất cả tam thế chỉ có ngôn thuyết, tất cả ngôn thuyết ở trong các pháp không có y xứ, tất cả các pháp ở trong ngôn thuyết cũng không y xứ.
Như vậy, Bồ Tát này hiểu tất cả pháp thảy đều rất sâu, tất cả thế gian thảy đều tịch tịnh, tất cả Phật pháp không chỗ thêm, Phật pháp không khác pháp thế gian, pháp thế gian không khác Phật pháp.  Phật pháp và thế gian pháp không có tạp loạn, cũng không sai khác.  Rõ biết pháp giới thể tánh bình đẳng.  Vào khắp tam thế, vĩnh viễn chẳng bỏ lìa tâm đại bồ đề.  Luôn chẳng thối chuyển tâm giáo hóa chúng sanh, càng thêm tăng trưởng tâm đại từ bình đẳng, làm chỗ sở y cho tất cả chúng sanh.
Bấy giờ, Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Tôi không thành thục chúng sanh thời ai sẽ thành thục?  Tôi chẳng điều phục chúng sanh thời ai sẽ điều phục?  Tôi chẳng giáo hóa chúng sanh thời ai sẽ giáo hóa?  Tôi chẳng giác ngộ chúng sanh thời ai sẽ giác ngộ?  Tôi chẳng thanh tịnh chúng sanh thời ai sẽ thanh tịnh?  Đây là những điều đáng cho tôi phải thật hành.
Bồ Tát này lại nghĩ rằng:  Nếu tôi tự hiểu pháp thậm thâm này, thời chỉ một tôi riêng được giải thoát chứng vô thượng bồ đề, mà các chúng sanh mù tối sa vào đường hiểm lớn bị những phiền não triền phược, như người bệnh nặng luôn thọ khổ thống, ở trong ngũ tham ái không tự ra khỏi, chẳng rời địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, cõi vua Diêm La, chẳng diệt được khổ, chẳng bỏ nghiệp ác, thường ở si ám chẳng thấy chân thiệt, luân hồi sanh tử không ra khỏi được, trụ nơi bát nạn, những cấu nhiễm vấy nhơ, những phiền não che chướng tâm họ, tà kiến làm chẳng thật hành chánh đạo.
Bồ Tát này quán sát những chúng sanh rồi nghĩ rằng:  Nếu những chúng sanh này chưa thành thục, chưa điều phục, tôi bỏ họ mà chứng vô thượng bồ đề thời không nên.  Tôi sẽ trước giáo hóa chúng sanh trong bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp thật hành hạnh Bồ Tát.  Kẻ chưa thành thục trước làm cho được thành thục, kẻ chưa điều phục trước làm cho được điều phục.
Bồ Tát này lúc trụ hạnh trên đây, hàng chư thiên, ma, phạm, sa môn, bà la môn, tất cả thế gian, càn thát bà, a tu la, v.v... Nếu có ai được thấy và tạm thời đồng ở chung với Bồ Tát này, rồi kính trọng cúng dường, và tạm nghe qua tai một phen để tâm, đều không luống uổng, nhất định sẽ thành vô thượng bồ đề.
Đây gọi là Bồ Tát thiện hiện hạnh thứ sáu.
Những gì là Bồ Tát vô trước hạnh?
Chư Phật tử!  Bồ Tát này dùng tâm vô trước, ở trong mỗi niệm sẽ nhập vô số thế giới, nghiêm tịnh vô số thế giới, với các thế giới tâm không chấp trước.
Bồ Tát này qua đến chỗ của vô số Như Lai mà kính lễ công đức.  Dùng vô số hoa, tràng hoa, hương, hương bột, hương thoa, y phục, trân bửu, tràng phan, lọng đẹp, đồ trang nghiêm đều vô số để cúng dường chư Như Lai.
Cúng dường như vậy để rốt ráo pháp vô tác, để trụ pháp bất tư nghị, ở trong mỗi niệm thấy vô số Phật.  Nơi chư Phật tâm không chấp trước.  Nơi các cõi Phật cũng không chấp trước.  Nơi hướng hảo của Phật cũng không chấp trước.  Thấy quang minh của Phật, nghe Phật thuyết pháp cũng không chấp trước.  Nơi thập phương thế giới và những chúng hội của Phật Bồ Tát cũng không chấp trước.  Nghe Phật pháp xong, lòng hoan hỷ chí lực rộng lớn, có thể nhiếp thọ, có thể hành trì các hạnh Bồ Tát, nhưng với Phật pháp vẫn không chấp trước.
Bồ Tát này trong bất khả thuyết kiếp, thấy bất khả thuyết Phật xuất thế, nơi mỗi đức Phật tôn thờ cúng dường thảy đều trọn bất khả thuyết kiếp tâm không nhàm đủ.  Thấy Phật nghe pháp và thấy Bồ Tát chúng hội trang nghiêm đều không chấp trước.  Thấy thế giới uế trược cũng không ghét chán.  Tại sao vậy?  Vì Bồ Tát này quán sát đúng với Phật pháp.  Trong Phật pháp, không cấu, không tịnh, không tối, không sáng, không khác, không đồng, không thiệt, không vọng, không an ổn, không hiểm nạn, không chánh đạo, không tà đạo.
Bồ Tát thâm nhập pháp giới như vậy giáo hóa chúng sanh, mà với chúng sanh chẳng sanh chấp trước; thọ trì các pháp mà nơi các pháp chẳng chấp trước; phát bồ đề tâm trụ nơi Phật trụ, mà nơi Phật trụ chẳng sanh chấp trước; dầu có ngôn thuyết mà không chấp ngôn thuyết; vào chúng sanh đạo mà không chấp chúng sanh đạo.  Rõ biết tam muội, hay nhập hay trụ mà nơi tam muội mà tâm không chấp trước.  Qua đến vô lượng Phật độ, hoặc vào, hoặc thấy, hoặc trụ mà nơi Phật độ tâm không chấp trước, lúc bỏ đi cũng không luyến tiếc.
Vì Bồ Tát này có thể không chấp trước như vậy, nên tâm không chướng ngại đối với Phật pháp, rõ Phật bồ đề, chứng pháp tỳ ni, trụ Phật chánh giác, thành tựu Bồ Tát hạnh, trụ Bồ Tát tâm, tư duy pháp giải thoát của Bồ Tát.  Nơi trụ xứ của Bồ Tát tâm không nhiễm trước.  Nơi việc làm của Bồ Tát cũng không chấp trước.  Thanh tịnh Bồ Tát đạo, thọ Bồ Tát ký.  Được thọ ký rồi tự nghĩ rằng:  Kẻ phàm phu ngu si không biết không thấy, không tin hiểu, không thật hành sáng suốt, ngoan cố tham trước, lưu chuyển sanh tử chẳng cầu thấy Phật, chẳng theo bậc Minh Đạo, chẳng tin đấng Điều Ngự, chẳng biết ơn Bồ Tát, tham luyến trụ xứ, nghe pháp không thời quá sợ, xa chánh pháp gần tà pháp, bỏ đường bằng vào đường hiểm, trái với ý Phật, theo ý ma.  Nơi các cõi hữu lậu bền chấp chẳng bỏ.
Bồ Tát này quán sát chúng sanh như vậy, thêm lớn tâm đại bình đẳng, sanh các căn lành mà không chấp trước.
Lúc đó, Bồ Tát này lại nghĩ rằng:  Tôi sẽ vì một chúng sanh nơi mỗi quốc độ trong thập phương thế giới, trải qua bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp giáo hóa thành thục.  Như vì một chúng sanh, vì tất cả chúng sanh cũng như vậy.  Trọn chẳng vì đây và nhàm lìa bỏ đi nơi khác.
Lại lấy đầu sợi lông khắp lường pháp giới, nơi chỗ đầu mỗi sợi lông trọn bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh.  Như nơi đầu một sợi lông, nơi tất cả đầu sợi lông đều như vậy.  Chẳng chấp trước ngã, chẳng khởi tưởng ngã, ngã sở.  Nơi mỗi đầu sợi lông thành tựu Bồ Tát hạnh tận vị lai kiếp, chẳng chấp trước nơi thân, nơi pháp, nơi niệm, nơi nguyện, nơi tam muội, nơi quán sát, nơi tịch định, nơi cảnh giới, nơi sự giáo hóa điều phục chúng sanh.  Cũng chẳng chấp trước, nơi sự nhập pháp giới.
Tại sao vậy?  Vì Bồ Tát này nghĩ rằng:  Tôi phải quán sát tất cả pháp như huyễn, chư Phật như bóng, Bồ Tát hạnh như giấc mơ, Phật thuyết pháp như vang, tất cả thế gian như hóa, vì do nghiệp báo chấp trì, thân sai biệt như huyễn, vì do hành lực khởi ra.  Tất cả chúng sanh như tâm, vì các thứ tạp nhiễm, tất cả pháp như thiết tế, vì chẳng thể đổi khác.
Bồ Tát này lại nghĩ rằng:  Tôi sẽ thật hành Bồ Tát hạnh trong thập phương tất cả quốc độ, niệm niệm rõ thấu tất cả Phật pháp, chánh niệm hiện tiền không chấp lấy.
Bồ Tát quán thân vô ngã như vậy thời thấy Phật vô ngại.  Vì giáo hóa chúng sanh mà diễn thuyết các pháp, làm cho họ đối với Phật pháp phát sanh vô lượng hoan hỷ và lòng tin thanh tịnh.  Cứu hộ tất cả chúng sanh lòng không nhàm mỏi.  Vì không nhàm mỏi nên trong tất cả thế giới, nếu có chúng sanh chưa thành tựu, chưa điều phục, thời liền đến đó dùng phương tiện hóa độ.  Trong những chúng sanh đó:  Các thứ tiếng, các thứ nghiệp, các thứ chấp, các thứ thi vi, các thứ hòa hợp, các thứ lưu chuyển, các thứ việc làm, các thứ cảnh giới, các thứ sanh, các thứ chết, Bồ Tát này do đại nguyện ở trong đó mà giáo hóa họ, chẳng để tâm họ có động có thối, cũng chẳng có một niệm nhiễm trước.
Tại sao vậy?  Vì Bồ Tát này đã được vô trước, vô y, tự lợi và lợi tha đều thanh tịnh đầy đủ.
Đây gọi là Bồ Tát vô trước hạnh thứ bảy.
Những gì là Bồ Tát nan đắc hạnh?
Bồ Tát này thành tựu căn lành khó được, căn lành khó phục, căn lành tối thắng, căn lành chẳng thể hư, căn lành không thể hơn, căn lành chẳng nghĩ bàn, căn lành vô tận, căn lành sức tự tại, căn lành oai đức lớn, căn lành đồng một tánh với tất cả Phật.
Lúc đó, Bồ Tát này tu các công hạnh, ở trong Phật pháp được sự hiểu tối thắng, nơi Phật bồ đề được sự hiểu quảng đại, chưa từng thôi nghĩ nơi nguyện Bồ Tát, tận tất cả kiếp lòng không mệt mỏi, với tất cả khổ chẳng sanh nhàm lìa, chỗ tất cả chúng ma không bị dao động, được tất cả Phật hộ niệm, làm đầy đủ tất cả khổ hạnh của Bồ Tát, siêng thành tựu Bồ Tát hạnh không lười trễ, nơi đại thừa nguyện luôn chẳng thối chuyển.
Bồ Tát này an trụ nơi nan đắc hạnh rồi ở trong mỗi niệm có thể chuyển vô số kiếp sanh tử mà chẳng bỏ đại nguyện của Bồ Tát.
Nếu có chúng sanh nào tôn kính cúng dường nhẫn đến thấy nghe Bồ Tát này đều được chẳng thối chuyển nơi vô thượng bồ đề.
Bồ Tát này dầu biết chúng sanh chẳng phải có nhưng chẳng bỏ tất cả chúng sanh giới.  Ví như thuyền trưởng chẳng dừng bờ này, chẳng đậu bờ kia, chẳng dừng giữa dòng, mà có thể đưa chúng từ bờ này qua đến bờ kia, vì qua lại không thôi nghỉ vậy.
Bồ Tát này cũng như thế, chẳng trụ sanh tử, chẳng trụ niết bàn, cũng chẳng trụ giữa dòng sanh tử, mà có thể độ chúng sanh từ bờ sanh từ này, đặt họ trên bờ niết bàn kia, nơi an ổn vô úy không ưu não.
Bồ Tát này chẳng chấp trước chúng sanh, chẳng bỏ một chúng sanh mà đến với số đông, chẳng bỏ số đông mà đến một, chẳng tăng chẳng giảm đối với chúng sanh giới, cũng chẳng sanh diệt, chẳng tận chẳng trưởng, chẳng phân biệt, chẳng riêng khác đối với chúng sanh giới.
Tại sao vậy?  Vì Bồ Tát này thâm nhập chúng sanh giới như pháp giới, chúng sanh giới, pháp giới không có hai.  Trong pháp không hai không tăng không giảm, không sanh không diệt, không hữu không vô, không lấy không tựa, cũng không chấp trước nơi không hai.  Vì Bồ Tát rõ biết tất cả pháp pháp giới vô nhị vậy.
Bồ Tát này dùng phương tiện như vậy nhập thâm pháp giới, trụ nơi vô tướng, dùng tướng thanh tịnh trang nghiêm thân mình.  Rõ pháp vô tánh mà có thể phân biệt tất cả pháp tướng, chẳng chấp lấy chúng sanh mà có thể biết rõ số chúng sanh, chẳng chấp trước thế giới mà có thể hiện thân khắp phật sát, chẳng phân biệt pháp mà khéo vào Phật pháp, thâm đạt nghĩa lý mà diễn rộng ngôn giáo, rõ chân tế ly dục của tất cả pháp mà chẳng dứt đạo Bồ Tát, chẳng thối Bồ Tát hạnh, thường siêng tu tập hạnh vô tận, tự tại vào nơi thanh tịnh pháp giới.
Ví như cọ gỗ để lấy lửa, lửa cháy vô lượng mà lửa chẳng tắt.
Cũng thế, việc Bồ Tát giáo hóa chúng sanh không cùng tận, mà ở thế gian thường trụ chẳng diệt.  Chẳng phải rốt ráo, chẳng phải không rốt ráo, chẳng phải lấy, chẳng phải không lấy, chẳng phải sở y, chẳng phải không sở y, chẳng phải thế pháp, chẳng phải Phật pháp, chẳng phải phàm, chẳng phải thánh.
Bồ Tát này thành tự tâm nan đắc như vậy, lúc tu tập hạnh Bồ Tát, chẳng phải nói pháp nhị thừa, chẳng nói Phật, chẳng nói thế gian, chẳng nói pháp thế gian, chẳng nói chúng sanh, chẳng nói không chúng sanh, chẳng nói cấu, chẳng nói tịnh.
Tại sao vậy?  Vì Bồ Tát này biết tất cả pháp, không nhiễm không thủ, chẳng chuyển chẳng thối.
Bồ Tát này lúc ở trong pháp tịch diệt thậm thâm tối thắng vi diệu như vậy mà tu hành, cũng chẳng có quan niệm tôi hiện thành tựu, đã tu, hay sẽ tu những hạnh đó, chẳng chấp trước uẩn xứ giới, nội thế gian, ngoại thế gian, nội ngoại thế gian.  Cũng chẳng chấp trước những đại nguyện, những ba la mật và tất cả pháp của mình.
Tại sao vậy?  Vì trong pháp giới không có pháp gọi là hướng Thanh Văn thừa, hướng Độc Giác thừa, hướng Bồ Tát thừa, hướng vô thượng bồ đề, không có pháp gọi là hướng phàm phu giới, hướng nhiễm, hướng tịnh, hướng sanh tử, hướng niết bàn.  Vì các pháp vốn vô nhị, vô bất nhị vậy.
Ví như hư không, trong thập phương ba thời, tìm vốn không được, nhưng chẳng phải là không có hư không.
Cũng thế, Bồ Tát quán:  Tất cả pháp đều bất khả đắc, nhưng chẳng phải là không có tất cả pháp; đúng thật không khác, chẳng mất chỗ làm, khắp hiện tu hành hạnh Bồ Tát; chẳng bỏ đại nguyện điều phục chúng sanh, chuyển chánh pháp luận; chẳng hoại nhân quả, cũng chẳng trái nơi diệu pháp bình đẳng; khắp đồng với tam thế Như Lai chẳng dứt Phật chủng, chẳng hư thiệt tướng; thâm nhập nơi pháp, biện tài vô tận; nghe pháp chẳng chấp, đến đáy sâu của pháp, khéo khai diễn, không lòng e sợ; chẳng rời Phật trụ, chẳng trái thế pháp; hiện khắp thế gian mà chẳng nhiễm trước thế gian.
Bồ Tát này thành tựu tâm trí huệ nan đắc như vậy, tu tập các hạnh, nơi ba ác đạo cứu vớt chúng sanh, giáo hóa điều phục, đặt họ vào trong đạo của tam thế Phật, không để lay động.
Bồ Tát này lại nghĩ rằng:  Chúng sanh thế gian chẳng biết ân báo, lại thù oán nhau, tà kiến chấp trước mê lầm điên đảo ngu si vô trí, không có tín tâm, theo bọn ác sanh niệm ác, tham ái vô minh các thứ phiền não đều đầy dẫy, chính nơi đây là chỗ tôi thành tựu Bồ Tát hạnh.  Giả sử đầy cả thế gian này đều là người biết ân nghĩa thông minh trí tuệ và thiện tri thức, thời tôi không thật hành Bồ Tát hạnh trong đó.  Tại sao vậy?  Vì đối với chúng sanh, tôi trọn không mong, không cầu gì cả.  Tôi tu Bồ Tát hạnh tận vị lai kiếp, chưa từng có một niệm vị kỷ.  Tôi chỉ muốn độ thoát chúng sanh, khiến họ thanh tịnh được giải thoát vĩnh viễn.  Vì tôi là nhà dìu dắt sáng suốt của chúng sanh, thời theo phép, phải không chấp lấy không mong cầu, chỉ vì chúng sanh mà tu đạo Bồ Tát khiến họ được đến nơi bờ an ổn kia và thành vô thượng bồ đề.
Đây gọi là Bồ Tát nan đắc hạnh thứ tám.
Những gì là Bồ Tát thiện pháp hạnh?
Bồ Tát này vì tất cả thế gian:  Trời, người, ma, phạm, sa môn, bà la môn, càn thát bà, v.v... mà làm ao pháp thanh lương, nhiếp trì chánh pháp, chẳng dứt Phật chủng.  Vì được thanh tịnh quang minh, đà la ni nên thuyết phsap thọ ký biện tài vô tận.  Vì được cụ túc nghĩa đà la ni nên nghĩa biện vô tận.  Vì được giác ngộ thiệt pháp đà la ni nên nghĩa biện vô tận.  Vì được huấn thích ngôn từ đà la ni nên từ biện vô tận.  Vì được vô biên văn cú vô tận nghĩa vô ngại môn đà la ni nên vô ngại biện vô tận.  Vì được Phật quán đảnh đà la ni nên hoan hỷ vô tận.  Vì được bất do tha ngộ đà la ni môn nên quang minh biện vô tận.  Vì được đồng biện đà la ni môn nên đồng biện vô tận.  Vì được chủng chủng nghĩa thân, cú thân, văn thân huấn thích đà la ni môn nên huấn thích biện vô tận.  Vì được vô biên đà la ni nên vô biên biện vô tận.
Bồ Tát này tâm đại bi kiên cố nhiếp khắp chúng sanh, nơi đại thiên thế giới, biến ra thân kim sắc mà làm Phật sự.  Tuỳ theo căn tánh và sở thích của các chúng sanh, dùng lưỡi rộng dài, trong một tiếng hiện vô lượng tiếng, đúng theo thời nghi mà thuyết pháp làm cho chúng sanh đều hoan hỷ.
Giả sử có bất khả thuyết nghiệp báo vô số chúng sanh đồng họp chung một chỗ, hội đó rộng lớn khắp bất khả thuyết thế giới, Bồ Tát này ngồi trong chúng hội ấy.  Chúng sanh trong hội trường đó, mỗi mỗi đều có vô số miệng, mỗi miệng nói ra trăm ngàn ức na do tha tiếng, đồng thời nói, lời lẽ khác nhau, Bồ Tát này liền trong một niệm đều có thể nhận hiểu và giải đáp tất cả cho họ đều hết nghi lầm.  Như trong một đại hội trên đây, trong bất khả thuyết hội cũng đều như vậy cả.
Lại giả sử nơi đầu một sợi lông, trong mỗi niệm xuất hiện bất khả thuyết bất khả thuyết đạo tràng chúng hộ, bất khả thuyết bất khả thuyết đầu sợi lông đều như vậy tận vị lai kiếp, số kiếp đó có thể tận, chúng hội vô tận.  Những chúng hội này, trong mỗi niệm dùng ngôn từ riêng biệt, gạn hỏi riêng biệt.  Bồ Tát này trong một niệm có thể nhận biết cả, không sợ không khiếp, không nghi không lầm, mà nghĩ rằng:  Dầu tất cả chúng sanh đồng thời đến hỏi tôi, tôi sẽ vì họ mà thuyết pháp không dứt không cùng, khiến họ đều vui mừng trụ nơi thiện đạo, lại khiến họ khéo hiểu tất cả ngôn từ.
Bồ Tát này có thể thuyết các pháp cho chúng sanh mà nơi ngữ ngôn vẫn không phân biệt.  Giả sử bất khả thuyết bất khả thuyết các thứ ngôn từ đồng thời vấn nạn, Bồ Tát này trong một niệm nhận được cả, một tiếng đều đáp cả, đều khiến tỏ ngộ không sót, vì đã được nhất thiết trí quán đảnh vậy, vì được vô ngại tạng vậy, vì được nhất thiết pháp viên mãn quang minh vậy, vì đầy đủ nhất thiết trí vậy.
Bồ Tát này an trụ thiện pháp hạnh rồi thời có thể tự thanh tịnh, cũng có thể dùng phương tiện vô sở trước mà lợi ích khắp tất cả chúng sanh, chẳng thấy có chúng sanh được giải thoát.
Như tại đại thiên thế giới này như vậy, ở bất khả thuyết đại thiên thế giới biến thân kim sắc, diệu âm đầy đủ, tự tại thật hành Phật sự không bị chướng ngại.
Bồ Tát này thành tựu mười thứ thân:  Những là thân chẳng phải các loài, vào vô biên pháp giới, vì diệt tất cả thế gian; thân các loài vào vô biên pháp giới vì sanh tất cả thế gian; thân bất sanh vì trụ pháp vô sanh bình đẳng; thân bất diệt vì tất cả diệt, ngôn ngữ không thể được; thân chẳng thiệt vì được như thiệt; thân chẳng vọng vì tùy nghi ứng hiện; thân chẳng dời vì chết đây sanh kia; thân chẳng hoại vì pháp giới tánh không hoại; thân một tướng vì Bồ Tát thời ngữ ngôn đã dứt; thân vô tướng vì khéo có thể quán sát pháp tướng.
Bồ Tát này thành tựu mười thứ thân như vậy, là nhà của tất cả chúng sanh vì thêm lớn các thiện căn; là chỗ cứu của tất cả chúng sanh vì khiến họ được rất an ổn; là chỗ về của tất cả chúng sanh vì làm chỗ y tựa lớn cho họ; là nhà dìu dắt của tất cả chúng sanh vì khiến họ được vô thượng giải thoát; là thầy của tất cả chúng sanh vì khiến họ vào pháp chân thiệt; là ngọn đèn của tất cả chúng sanh vì khiến họ thấy rõ nghiệp báo; là ánh sáng của tất cả chúng sanh vì khiến họ soi rõ diệu pháp thậm thâm, là ngọn đuốc của tất cả tam thế vì khiến họ hiểu ngộ thiệt pháp; là soi sáng tất cả thế gian vì khiến họ vào trong bậc quang minh; là ánh sáng của tất cả các loài vì thị hiện Như Lai tự tại.
Đây gọi là Bồ Tát thiện pháp hạnh thứ chín.  Bồ Tát an trụ hạnh này làm ao pháp mát mẻ cho tất cả chúng sanh, vì có thể cùng tận nguồn tất cả Phật pháp.
Những gì là  Bồ Tát chơn thiệt hạnh?
Bồ Tát này thành tựu lời chắc thật đệ nhất, có thể làm đúng như lời, có thể nói đúng như làm.
Bồ Tát này học chân thiệt ngữ của tam thế chư Phật, nhập chủng tánh của tam thế chư Phật, đồng thiện căn với tam thế chư Phật, được lời vô nhị của tam thế chư Phật, theo Như Lai học thành tựu trí huệ.
Bồ Tát này thành tựu trí:  Biết chúng sanh thị xứ phi xứ, trí biết tam thế nghiệp báo, trí biết các căn tánh lợi độn, trí biết các thế giới, trí biết các tri giải, trí biết tất cả đạo chỗ đến, trí biết các thiền, tam muội, giải thoát cấu tịnh, khởi phải thời hay phi thời, trí biết tất cả thế giới túc trụ tùy niệm, trí thiên nhãn, trí lậu tận, mà chẳng rời tất cả Bồ Tát hạnh.  Tại sao vậy?  Vì muốn giáo hóa tất cả chúng sanh đều khiến thanh tịnh.
Bồ Tát này lại sanh tâm tăng thượng như vậy:  Nếu tôi chẳng làm cho tất cả chúng sanh trụ nơi đạo vô thượng giải thoát, mà tôi trước thành vô thượng bồ đề thời trái bổn nguyện của tôi, không nên như vậy, vì thế nên tôi phải làm cho tất cả chúng sanh trước được vô thượng bồ đề vào vô dư niết bàn rồi sau tôi sẽ thành Phật.  Vì chẳng phải chúng sanh thỉnh tôi phát tâm, tội tự vì chúng sanh mà làm bạn chẳng chờ thỉnh, muốn khiến tất cả chúng sanh trước đầy đủ căn lành chứng nhất thiết trí.  Do đây nên tôi là tối thắng vì chẳng nhiễm trước thế gian, là tối thượng vì trụ bậc vô thượng điều ngự, là rời mù lòa vì hiểu chúng sanh không ngằn mé, tôi làm đã xong vì thành tựu bổn nguyện, tôi là Bồ Tát khéo biến hóa vì công đức trang nghiêm, tôi là khéo nương tựa vị được tam thế chư Phật nhiếp thọ.
Vì Bồ Tát này không rời bỏ bổn nguyện nên được vào bậc vô thượng trí huệ trang nghiêm, lợi ích chúng sanh khiến đầy đủ, tuỳ bổn nguyện đều được rốt ráo, với tất cả pháp được trí huệ tự tại, khiến tất cả chúng sanh khắp được thanh tịnh, niệm niệm đi khắp được thanh tịnh, niệm niệm đi khắp thập phương thế giới, niệm niệm đến khắp bất khả thuyết bất khả thuyết Phật độ, niệm niệm đều thấy bất khả thuyết bất khả thuyết chư Phật, và Phật độ trang nghiêm thanh tịnh, thị hiện Như Lai tự tại thần lực khắp pháp giới hư không giới.
Bồ Tát này hiện vô lượng thân vào khắp thế gian mà không sở y.  Ở trong thân mình hiện tất cả cõi, tất cả chúng sanh, tất cả pháp, tất cả Phật.
Bồ Tát này biết chúng sanh:  Các thứ tưởng niệm, các thứ ưa muốn, các thứ hiểu biết, các thứ nghiệp báo, các thứ thiện căn, tùy cơ nghi mà hiện thân để điều phục họ.
Bồ Tát này quán sát chư Bồ Tát như huyễn, tất cả pháp như hóa, Phật xuất thế như bóng, tất cả thế gian như giấc mơ, được tạng nghĩa thân, văn thân vô tận, chánh niệm tự tại, trí huệ tối thắng quyết định rõ biết tất cả các pháp, nhập tất cả tam muội chân thật tánh, trụ nơi nhất tánh không hai.
Vì chúng sanh đều chấp trước nơi hai, nên Bồ Tát này an trụ nơi đại bình đẳng thành tựu hành pháp tịch diệt như vậy, được Phật thập lực, nhập nhân đà la võng pháp giới, thành tựu Như Lai vô ngại giải thoát, hùng mãnh trong loài người, đại sư tử hống, được vô úy chuyển pháp luân vô ngại thanh tịnh, được trí huệ giải thoát rõ biết tất cả cảnh giới thế gian, tuyệt dứt dòng sanh tử vào biển lớn trí huệ, vì tất cả chúng sanh mà hộ trì chánh pháp của tam thế Phật, đến tội đáy nguồn thiệt tướng của biển lớn tất cả pháp.
Bồ Tát trụ nơi chân thiệt hạnh này rồi, tất cả thế gian:  Trời, người, ma, phạm, sa môn, bà la môn, càn thát bà, a tu la, v.v... có ai gần gũi, thời đều làm cho được tỏ ngộ hoan hỷ thanh tịnh.
Đây gọi là Bồ Tát chân thiệt hạnh thứ mười."
Lúc bấy giờ, do thần lực của đức Phật, mười phương đều có phật sát vi trần số thế giới chấn động sáu cách.  Khắp nơi, trời rưới thiên hoa, thiên hương, thiên tràng hoa, thiên y, thiên bửu, thiên trang nghiêm cụ, tấu thiên nhạc, phóng thiên quang minh, diễn thông thần biến.  Thập phương thế giới đều như vậy cả.
Lại do thần lực của đức Phật, mười phương đều quá ngoài mười vạn phật sát vi trần số thế giới, có mười vạn phật sát vi trần số Bồ Tát câu hội, đồng nói với Công Đức Lâm Bồ Tát rằng: "Lành thay Phật tử!  Ngài khéo diễn nói các hạnh Bồ Tát.  Chúng tôi đồng hiệu Công Đức Lâm cả, thế giới của chúng tôi ở đồng hiệu Công Đức Tràng, chư Như Lai ở cõi chúng tôi đồng hiệu Phổ Công Đức cũng nói pháp này.  Chúng hội, quyến thuộc, ngôn từ, nghĩa lý cũng đều như nơi đây không có tăng giảm.
Thưa Phật tử!  Thừa oai lực của Phật, chúng tôi đến đây để chứng minh cho ngài."
Công Đức Lâm Bồ Tát thừa thần lực của đức Phật, quan sát khắp mười phương tất cả chúng hội, cùng tận pháp giới, vì muốn Phật chủng chẳng dứt, vì muốn chủng tánh Bồ Tát thanh tịnh, vì muốn nguyện chủng tánh chẳng thối chuyển, vì muốn hạnh chủng tánh thường tương tục, vì muốn tam thế chủng tánh đều bình đẳng, vì muốn nhiếp tam thế tất cả Phật chủng, vì muốn khai diễn những thiện căn của mình vun trồng, vì muốn quan sát tất cả căn tánh, vì muốn hiểu phiền não, tập khí, tâm hành chỗ làm, vì muốn soi rõi Phật bồ đề, nên nói kệ rằng:
Nhất tâm kính lễ đấng Thập Lực
Ly cấu, thanh tịnh, thấy vô ngại
Cảnh giới sâu xa, không ngang sánh
Trụ, như hư không, có trong đạo.
Quá khứ, đấng Tối Thắng trong người
Công đức vô lượng không sở trước
Dũng mãnh đệ nhất không sánh bằng
Bậc ly trần kia hành đạo này.
Hiện tại thập phương các quốc độ
Hay khéo khai diễn đệ nhất nghĩa
Lìa những lỗi ác rất thanh tịnh
Bậc vô y kia làm đạo này.
Vị lai bao nhiêu đấng Nhân Sư
Du hành cùng khắp trong pháp giới
Đã phát tâm đại bi của Phật
Bậc nhiêu ích kia hành đạo này.
Tam thế tất cả đấng vô tỉ
Tự nhiên trừ diệt ngu si tối
Nơi tất cả pháp đều bình đẳng
Bậc đại lực kia hành đạo này.
Thấy khắp vô lượng vô biên cõi
Tất cả các cõi và các loài
Thấy rồi nơi tâm không phân biệt
Bậc vô động kia hành đạo này.
Tất cả các cõi và các loài
Thấy rồi nơi tâm không phân biệt
Bậc vô động kia hành đạo này.
Tất cả pháp giới đều sáng tỏ
Nơi đệ nhất nghĩa rất thanh tịnh
Trọn phá sân mạn và ngu si
Bậc công đức kia hành đạo này.
Nơi các chúng sanh khéo phân biệt
Đều vào tánh pháp giới chân thiệt
Tự nhiên giác ngộ chăng do người
Bậc đẳng không kia hành đạo này.
Khắp hư không bao nhiêu quốc độ
Đều đến thuyết pháp rộng khai dụ
Lời nói thanh tịnh không bị hoại
Bậc thắng mâu ni hành đạo này.
Trọn vẹn bền chắc không thối chuyển
Thành tựu tôn trọng pháp tối thắng
Nguyện lực vô tận đến bờ kia
Bậc thiện tu kia hành đạo này.
Vô lượng vô biên tất cả bậc
Cảnh giới quảng đại rất sâu diệu
Đều thấy biết được chẳng còn sót
Bậc Nhân Sư kia hành đạo này.
Xa lìa thế gian những lỗi họa
Cho khắp chúng sanh vui an ổn
Hay làm vô đẳng đại đạo sư
Bậc thắng đức kia hành đạo này.
Luôn đem vô úy ban chúng sanh
Khiến khắp tất cả đều vui thích
Lòng họ thanh tịnh lìa nhiễm trược
Bậc vô đẳng kia hành đạo này.
Ý nghiệp thanh tịnh rất điều thiện
Rời những hí luận miệng không lỗi
Oai quang viên mãn chúng tôn kính
Bậc tối thắng kia hành đạo này.
Vào chân thiệt nghĩa, đến bờ kia
Trụ nơi công đức lòng tịch tịnh
Chư Phật hộ niệm luôn chẳng quên
Bậc diệt hữu kia hành đạo này.
Xa lìa ngã, không não hại
Luôn dùng đại âm tuyên chánh pháp
Thập phương quốc độ đều cùng khắp
Bậc tuyệt ví dụ hành đạo này.
Đàn ba la mật đã hoàn thành
Trăm phước tướng hảo dùng trang nghiêm
Chúng sanh nhìn thấy đều vui đẹp
Bậc huệ tối thắng hành đạo này.
Trí địa rất sâu khó vào được
Hay dùng diệu huệ khéo an trụ
Tâm đó rốt ráo chẳng giao động
Bậc kiên cố hạnh hành đạo này.
Tất cả pháp giới đều vào được
Tuỳ nơi chỗ vào đều rốt ráo
Thần thông tự tại gồm tất cả
Bậc pháp quang minh hành đạo này.
Đấng vô đẳng đẳng đại mâu ni
Siêng tu tam muội không hai tướng
Tâm thường tại định thích tịch tịnh
Bậc phổ kiến kia hành đạo này.
Quốc độ vi tế cùng quảng đại
Thiệp nhập lẫn nhau đều sai khác
Như cảnh giới kia đều biết rõ
Bậc trí sơn vương hành đạo này.
Ý luôn sáng sạch lìa nhơ bợn
Ở trong ba cõi không tham chấp
Hộ trì giới hạnh đến bờ kia
Bậc tịnh tâm đây hành đạo này.
Trí huệ vô biên không nói được
Cùng khắp pháp giới hư không giới
Khéo hay tu học trụ trong đó
Bậc kim cang huệ hành đạo này.
Cảnh giới tam thế tất cả Phật
Trí huệ khéo vào đều cùng khắp
Chưa từng tạm khởi lòng nhàm mỏi
Bậc tối thắng kia hành đạo này.
Hay khéo phân biệt pháp thập lực
Rõ biết tất cả chỗ đạo đến
Thân nghiệp vô ngại được tự tại
Bậc công đức thân hành đạo này.
Thập phương vô lượng vô biên cõi
Chỗ có tất cả các chúng sanh
Tôi đều cứu hộ mà chẳng bỏ
Bậc vô úy kia hành đạo này.
Nơi những Phật pháp siêng tu học
Lòng luôn tinh tấn chẳng lười mỏi
Sửa trị tất cả các thế gian
Bậc đại long vương hành đạo này.
Rõ biết chúng sanh căn chẳng đồng
Muốn, hiểu, vô lượng riêng sai khác
Các loài các cõi đều thấu tỏ
Bậc phổ nhập kia hành đạo này.
Thập phương thế giới vô lượng cõi
Đều đến thọ sanh không số lượng
Chưa từng một niệm sanh mỏi nhàm
Bậc hoan hỷ kia hành đạo này.
Khắp phóng vô lượng lưới quang minh
Soi sáng vô lượng các thế gian
Quang minh chiếu đến vào pháp tánh
Bậc thiện huệ kia hành đạo này.
Chấn động mười phương các quốc độ
Vô lượng ức số na do tha
Chẳng để chúng sanh có kinh sợ
Bậc lợi thế kia hành đạo này.
Khéo hiểu tất cả các ngữ ngôn
Vấn nạn đối đáp đều rốt ráo
Thông triết biện huệ đều biết cả
Bậc vô úy kia hành đạo này.
Khéo biết các cõi ngửa hoặc úp
Phân biệt tư duy đều rốt ráo
Đều khiến trụ nơi chỗ vô tận
Bậc thắng huệ kia hành đạo này.
Công đức vô lượng na do tha
Vì cầu Phật đạo đều tu tập
Tất cả đều được đến bờ kia
Bậc vô tận hạnh hành đạo này.
Vượt hơn đại luận sư thế gian
Biện tài đệ nhất sư tử hống
Khiến khắp quần sanh đến bờ kia
Đây bậc tịnh tâm hành đạo này.
Chư Phật quán đảnh pháp đệ nhất
Đã được pháp này rưới trên đảnh
Tâm luôn an trụ môn chánh pháp
Bậc quảng đại âm hành đạo này.
Tất cả chúng sanh khác vô lượng
Rõ thấu tâm họ đều cùng khắp
Quyết định hộ trì Phật pháp tạng
Bậc như tu di hành đạo này.
Có thể ở trong mỗi ngữ ngôn
Khắp vì thị hiện vô lượng tiếng
Khiến chúng theo loài đều được hiểu
Bậc vô ngại kiến hành đạo này.
Tất cả pháp: văn tự ngữ ngôn
Trí đều khéo vào chẳng phân biệt
Trụ trong các cảnh giới chân thiệt
Bậc kiến tánh kia hành đạo này.
An trụ biển pháp rất sâu lớn
Khéo hay ấn định tất cả pháp
Rõ môn vô tướng chân thật pháp
Bậc thấy thật kia hành đạo này.
Mỗi mỗi Phật độ đều qua đến
Tận cả vô lượng vô biên kiếp
Quán sát tư duy chẳng tạm dừng
Bậc chẳng trễ lười hành đạo này.
Vô lượng vô số chư Như Lai
Các thứ danh hiệu đèu chẳng đồng
Nơi một đầu lông đều thấy rõ
Bậc tịnh phước kia hành đạo này.
Nơi một đầu lông thấy chư Phật
Số đó vô lượng bất khả thuyết
Tất cả pháp giới đều cũng vậy
Chư Phật tử kia hành đạo này.
Vô lượng vô biên vô số kiếp
Ở trong một niệm đều thấy rõ
Biết thời dài vắn tướng bất định
Bậc hạnh giải thoát hành đạo này.
Hay khiến người thấy không luống qua
Đều nơi Phật pháp gieo nhân duyên
Mà nơi sở tác lòng không chấp
Bậc tối thắng kia hành đạo này.
Na do tha kiếp thường gặp Phật
Trọn chẳng một niệm sanh mỏi nhàm
Tâm hoan hỷ đó càng thêm lớn
Bậc bất không biến hành đạo này.
Tận cả vô lượng vô biên kiếp
Quan sát tất cả chúng sanh giới
Chưa từng thấy có một chúng sanh
Đây bậc kiên cố hành đạo này.
Tu tập vô biên tạng phước trí
Khắp làm ao công đức thanh lương
Lợi ích tất cả các quần sanh
Bậc đệ nhất kia hành đạo này.
Pháp giới chỗ có các phẩm loại
Cùng khắp hư không vô số lượng
Rõ kia đều nương ngôn thuyết có
Bậc sư tử hống hành đạo này.
Có thể trong mỗi mỗi tam muội
Vào khắp vô số các tam muội
Đều đến pháp môn chỗ kín nhiệm
Đây bậc luận nguyệt hành đạo này.
Nhẫn lực siêng tu đến bờ kia
Hay nhẫn pháp tịch diệt tối thắng
Tâm đó bình đẳng chẳng giao động
Bậc vô biên trí hành đạo này.
Nơi một thế giới một chỗ ngồi
Thân Phật chẳng đồng luôn yên lặng
Mà tất cả chỗ đều hiện thân
Bậc vô biên thân hành đạo này.
Vô lượng vô biên các quốc độ
Đều khiến đồng vào trong một trần
Khắp được bao dung không chướng ngại
Bậc vô biên tư hành đạo này.
Thấu rõ thị xứ và phi xứ
Nơi những lực xứ khắp vào được
Thành tựu thượng lực của Như Lai
Bậc đệ nhất lực hành đạo này.
Quá khứ vị lai và hiện tại
Vô lượng vô biên các nghiệp báo
Thường dùng trí huệ đều rõ biết
Bậc thông đạt kia hành đạo này.
Rõ thấu thế gian thời, phi thời
Tùy nghi điều phục các chúng sanh
Đều thuận căn cơ chẳng lầm lỗi
Bậc thiện liễu kia hành đạo này.
Khéo gìn thân ngữ và ý nghiệp
Luôn khiến y pháp mà tu hành
Lìa những chấp trước phục chúng ma
Bậc trí tâm kia hành đạo này.
Ở trong các pháp được thiện xảo
Hay vào chân như chỗ bình đẳng
Biện tài tuyên nói không cùng tận
Đây bậc Phật hạnh hành đạo này.
Môn đà la ni đã viên mãn
Khéo hay an trụ tạng vô ngại
Nơi các pháp giới đều thông đạt
Bậc thâm nhập kia hành đạo này.
Tam thế chỗ có tất cả Phật
Tâm đều bình đẳng đồng trí huệ
Một tánh một tướng không sai khác
Bậc vô ngại chủng hành đạo này.
Đã vạch tất cả màn ngu si
Thâm nhập biển trí huệ rộng lớn
Thí khắp chúng sanh mắt thanh tịnh
Bậc hữu mục kia hành đạo này.
Đã đủ tất cả các đạo sư
Bình đẳng thần thông hạnh vô nhị
Được sức tự tại của Như Lai
Đây bậc thiện thành tựu hành đạo này.
Đi khắp tất cả các thế gian
Khắp rưới vô biên mưa diệu pháp
Đều khiến nơi nghĩa được hiểu chắc
Bậc pháp vân kia hành đạo này.
Được nơi Phật trí và giải thoát
Tin sâu thanh tịnh trọn chẳng thối
Do tin hay sanh gốc trí huệ
Đây bậc thiện học hành đạo này.
Hay nơi một niệm đều rõ biết
Tất cả chúng sanh không thừa sót
Rõ tâm tự tánh của chúng sanh
Bậc đạt vô tánh hành đạo này.
Pháp giới tất cả các quốc độ
Hóa vô số thân đều qua đến
Thân đó tối diệu không gì sánh
Bậc vô tỉ hạnh hành đạo này.
Phật sát vô biên vô lượng số
Vô lượng chư Phật ngự trong đó
Bồ Tát nơi kia đều hiện tiền
Gần gũi cúng dường và tôn trọng.
Bồ Tát hay dùng riêng một thân
Nhập trong tam muội mà tịch định
Khiến thấy thân mình vô hạn số
Mỗi mỗi đều từ tam muội dậy.
Chỗ Bồ Tát trụ rất vi diệu
Sở hành sở tác vượt hí luận
Trong tâm thanh tịnh thường vui thích
Hay khiến chúng sanh đều vui mừng.
Căn tánh phương tiện đều sai biệt
Hay dùng trí huệ thấy rõ cả
Mà rõ căn tánh không sở y
Bậc điều nan điều hành đạo này.
Hay dùng phương tiện khéo phân biệt
Nơi tất cả pháp được tự tại
Thập phương thế giới đều chẳng đồng
Đều ở trong đó làm Phật sự.
Căn tánh vi diệu hạnh cũng vậy
Hay vì chúng sanh rộng thuyết pháp
Người được nghe ai chẳng vui mừng
Bậc đẳng hư không hành đạo này.
Trí nhãn thanh tịnh không ai bằng
Nơi tất cả pháp đều thấy rõ
Trí huệ như vậy khéo phân biệt
Đây bậc vô đẳng hành đạo này.
Chỗ có vô tận phước rộng lớn
Tất cả tu hành khiến rốt ráo
Khiến các chúng sanh đều thanh tịnh
Đây bậc vô tỉ hành đạo này.
Khuyên khắp tu hành pháp trợ đạo
Đều khiến được trụ nơi phương tiện
Độ thoát chúng sanh vô hạn số
Chưa từng tạm khởi tưởng chúng sanh.
Tất cả cơ duyên đều quan sát
Trước hộ lòng họ khiến vô tránh
Khắp dạy chúng sanh chỗ an ổn
Đây bậc phương tiện hành đạo này.
Thành tựu trí tối thượng đệ nhất
Đầy đủ vô lượng vô biên trí
Ở trong tứ chúng vô sở úy
Đây bậc phương tiện hành đạo này.
Tất cả thế giới và các pháp
Đều hay vào khắp được tự tại
Cũng vào trong tất cả chúng hội
Độ thoát chúng sanh vô hạn số.
Mười phương trong tất cả quốc độ
Đánh trống pháp lớn ngộ quần sanh
Làm chủ thí pháp rất vô thượng
Đây bậc bất diệt hành đạo này.
Một thân kiết già ngồi ngay thẳng
Đầy khắp mười phương vô lượng cõi
Mà khiến thân đó không chật hẹp
Đây bậc pháp thân hành đạo này.
Có thể trong một nghĩa một chữ
Diễn thuyết vô lượng vô biên pháp
Mà nơi ngằn mé vẫn không cùng
Bậc vô biên trí hành đạo này.
Giải thoát của Phật khéo tu học
Được Phật trí huệ không chướng ngại
Thành tựu vô úy làm thế hùng
Đây bậc phương tiện hành đạo này.
Rõ biết mười phương thế giới hải
Cũng biết tất cả phật sát hải
Trí hải pháp hải đều rõ biết
Chúng sanh được thấy đều vui thích.
Hoặc hiện nhập thai và sơ sinh
Hoặc hiện đạo tràng thành chánh giác
Như vậy đều khiến thế gian thấy
Đây bậc vô biên hành đạo này.
Trong vô lượng ức số quốc độ
Thị hiện thân mình nhập niết bàn
Thiệt chẳng bỏ nguyện quy tịch diệt
Đây bậc hùng luận hành đạo này.
Một diệu thân kiên có vi mật
Cùng Phật bình đẳng không sai khác
Bậc một thân thiệt hành đạo này.
Pháp giới bình đẳng không sai khác
Đầy đủ vô lượng vô biên nghĩa
Thích quán một tướng tâm không dời
Bậc tam thế trí hành đạo này.
Nơi các chúng sanh và Phật pháp
Kiến lập gia trì trọn rốt ráo
Những sức gia trì đồng với Phật
Bậc tối thượng trì hành đạo này.
Thần túc vô ngại rất thanh tịnh
Nhĩ căn thanh tịnh khéo lóng nghe
Bậc vô ngại ý hành đạo này.
Bao nhiêu thần thông đều đầy đủ
Tuỳ trí huệ kia trọn thành tựu
Khéo biết tất cả chẳng ai bằng
Đây bậc hiền trí hành đạo này.
Nơi tâm chánh định chẳng dao động
Nơi trí quảng đại không biên tế
Bao nhiêu cảnh giới đều thấu tỏ
Bậc nhất thiết kiến hành đạo này.
Đã đến bờ tất cả công đức
Hay theo thứ đệ độ chúng sanh
Nơi tâm rốt ráo không nhàm đủ
Bậc thường tinh tấn hành đạo này.
Tam thế chỗ có những Phật pháp
Tất cả nơi đây đều biết thấy
Từ nơi Phật tánh mà sanh ra
Các Phật tử kia hành đạo này.
Tùy thuận ngôn từ đã thành tựu
Các phái dị luận khéo khuất phục
Thường hay xu hướng Phật bồ đề
Bậc vô biên huệ hành đạo này.
Phóng một quang minh chiếu vô tận
Thập phương quốc độ đều cùng khắp
Khiến khắp thế gian được sáng rõ
Đây bậc phá ám hành đạo này.
Tùy kia đáng thấy đáng cúng dường
Vì hiện Như Lai thân thanh tịnh
Giáo hóa chúng sanh trăm ngàn ức
Trang nghiêm phật sát cũng như vậy.
Vì khiến chúng sanh xuất thế gian
Tất cả diệu hạnh đều tu tập
Hạnh này rộng lớn không ngằn mé
Thế nào mà có người biết được.
Giả sử phân thân bất khả thuyết
Đồng với pháp giới đồng hư không
Đều đồng ca ngọi công đức kia
Trăm ngàn muôn kiếp không hết được.
Công đức Bồ Tát vô lượng biên
Tất cả tu hành đều đầy đủ
Giả sử vô lượng vô biên Phật
Trong vô lượng kiếp nói chẳng hết.
Huống là thế gian trời và người
Tất cả Thanh Văn cùng Duyên Giác
Có thể vô lượng vô biên kiếp
Ca ngợi tuyên dương rốt ráo được!



Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 2


Phẩm phạm hạnh
Thứ mười sáu

Lúc bấy giờ, Chánh Niệm Thiên Tử bạch Pháp Huệ Bồ Tát rằng: "Thưa Phật tử!  Trong tất cả thế giới, chư Bồ Tát y theo giáo pháp của Như Lai nhuộm y xuất gia, thế nào mà được phạm hạnh thanh tịnh, từ địa vị Bồ Tát đến đạo vô thượng bồ đề?"
Pháp Huệ Bồ Tát nói: "Nầy Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc tu phạm hạnh, nên dùng mười pháp làm cảnh sở duyên để tác ý quan sát.  Đây là mười pháp:  Thân, thân nghiệp, ngữ, ngữ nghiệp, ý, ý nghiệp, Phật, pháp, tăng và giới.
Nên quan sát như vầy: Thân là phạm hạnh ư?  Nhẫn đến giới là phạm hạnh ư? 
Nếu thân là phạm hạnh, phải biết phạm hạnh thời là chẳng phải thiện, là phi pháp, là lộn đục, là hôi xấu, là bất tịnh, là đáng nhàm, là trái nghịch, là tạp nhiễm, là tử thi, là nhóm trùng. 
Nếu thân nghiệp là phạm hạnh, thời phạm hạnh là hành, trụ, toạ, ngoạ, là ngó bên nầy bên kia, là co, duỗi, cúi, ngước.
Nếu ngữ ngôn là phạm hạnh, thời phạm hạnh là âm thinh, gió thở, là môi, lưỡi, cuống họng, là thổ nạp, ngăn buông, là cao thấp, trong đục.
Nếu ngữ nghiệp là phạm hạnh, thời phạm hạnh là thưa chào hỏi thăm, là nói lược nói rộng, là nói dụ nói thẳng, là lời khen lời chê, là lời an lập, lời tùy tục, lời hiển liễu.
Nếu ý là phạm hạnh, thời phạm hạnh là giác, là quán, là phân biệt, ức niệm, tư duy, là ảo thuật, là ngủ mơ.
Nếu ý nghiệp là phạm hạnh, thời phạm hạnh là tư tưởng lạnh nóng đói khát, khổ vui, lo mừng.
Nếu Phật là phạm hạnh, thời sắc là Phật?  hay thọ, tưởng, hành, thức là Phật?  Tướng hảo hay thần thông là Phật?  Nghiệp hạnh hay quả báo là Phật?
Nếu pháp là phạm hạnh, thời tịch diệt hay niết bàn là pháp?  Bất sanh hay bất khởi là pháp?  Bất khả thuyết hay vô phân biệt, vô sở hành, bất hiệp tập, bất tùy thuận, vô sở đắc là pháp?
Nếu tăng là phạm hạnh, thời dự lưu hướng hay dự lưu quả là tăng?  Nhất lai hướng hay nhất lai quả là tăng?  Bất hoàn hướng hay bất hoàn quả, vô sanh hướng hay vô sanh quả là tăng?  Tam minh hay lục thông là tăng?
Nếu giới là phạm hạnh, thời đàn tràng là giới, hay hỏi thanh tịnh là giới?  Dạy oai nghi hay tam yết ma là giới?  Hòa thượng hay A xà lê là giới?  Thế phát là giới, hay đắp y cà sa, hay khất thực, hay chánh mạng là giới?
Quan sát như vậy, nơi thân không sở thủ, nơi tu không sở trước, nơi pháp không sở trụ, quá khứ đã diệt, vị lai chưa đến, hiện tai không tịch, không người tác nghiệp, không kẻ thọ báo, đời này chẳng dời động, đời kia chẳng cải đổi.  Như vậy, trong đây pháp nào gọi là phạm hạnh?  Phạm hạnh từ chỗ nào đến?  Là sở hữu của ai?  Thể là gì?  Do ai làm?  Là có?  Là không?  Là sắc?  Là phi sắc?  Là thọ?  Là phi thọ?  Là tướng?  Là phi tướng?  Là hành?  Là phi hành?  Là thức?  Là phi thức?
Quan sát như vậy, vì pháp hạnh bất khả đắc, vì pháp tam thế đều không tịch, vì ý không thủ trước, vì tâm không chướng ngại, vì sở hành vô nhị, vì phương tiện tự tại, vì thọ pháp vô tướng, vì quán pháp vô tướng, vì biết Phật pháp bình đẳng, vì đủ tất cả Phật pháp.  Như đây gọi là phạm hạnh thanh tịnh.
Lại phải tu tập mười pháp, chính là mười trí lực của Như Lai.  Phải quan sát mỗi trí lực.  Trong mỗi trí lực có vô lượng nghĩa đều phải hạn hỏi.  Sau khi nghe phải khởi tâm đại từ bi, quan sát chúng sanh mà chẳng bỏ lìa, tư duy các pháp không có thôi dứt, thật hành nghiệp vô thượng không cầu quả báo, rõ biết cảnh giới như ảo mộng, như bóng vang, như biến hóa.
Nếu Bồ Tát nào được tương ứng với quán hạnh như vậy, ở trong các pháp chẳng sanh hai kiến giải, tất cả Phật pháp mau được hiện tiền.  Lúc sơ phát tâm liền được a nậu đa la tam muội tam bồ đề.  Biết tất cả pháp tức là tâm tự tánh, thành tựu huệ thân giác ngộ chẳng do người khác."



Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0

Kinh Hoa Nghiêm
Tập 2


Phẩm sơ phát tâm công đức
Thứ mười bảy

Lúc bấy giờ, Thiên Đế Thích bạch Pháp Huệ Bồ Tát rằng: "Thưa Phật tử!  Bồ Tát sơ phát bồ đề tâm được bao nhiêu công đức?"
Pháp Huệ Bồ Tát nói:  "Nghĩa đó rất sâu, khó nói, khó biết, khó phân biệt, khó tin hiểu, khó chứng, khó làm, khó thông đạt, khó tư duy, khó đạt lượng, khó thu nhập.  Tuy nhiên, thừa oai thần của đức Phật, tôi sẽ nói cho ông.
Này Phật tử!  Giả sử có người đem tất cả đồ sở thích cúng dường chúng sanh trong vô số thế giới ở mười phương trọn một kiếp; rồi sau đó dạy họ thọ trì ngũ giới thanh tịnh.  Cứ theo ý ông, công đức của người này nhiều chăng?"
Thiên Đế thưa: "Công đức của người này, trừ Phật ra, không ai có thể lường được."
Pháp Huệ Bồ Tát nói: "Này Phật tử!  Công đức của người này đem so với công đức sơ phát tâm của Bồ Tát chẳng bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần trăm ngàn, một phần ức, một phần trăm ngàn na do tha ức, một phần số, một phần ca la, một phần toán, một phần dụ, nhẫn đến chẳng bằng một phần ưu ba ni sa đà.
Giả sử có người đem tất cả đồ sở thích cúng dường chúng sanh trong mười vô số thế giới ở mười phương trọn trăm kiếp, rồi sau đó dạy họ đều tu thập thiện.  Cúng dường như vậy trọn trăm ngàn kiếp rối dạy trụ tứ vô lượng tâm.  Cúng dường trọn ức kiếp rồi dạy trụ tứ vô sắc định.  Cúng dường trọn trăm ức kiếp rồi dạy trụ quả Tu Đà Hoàn.  Cúng dường trọn ngàn ức kiếp, rồi dạy trụ quả A La Hán.  Cúng dường trọn trăm ngàn na do tha ức kiếp, rồi dạy trụ Bích Chi Phật.
Này Phật tử!  Cứ theo ý của ông, công đức của người này có nhiều chăng?"
Thiên Đế thưa: "Công đức của người này, trừ Phật ra, không ai có thể lường được."
Pháp Huệ Bồ Tát nói: "Này Phật tử!  Công đức của người này đem so với công đức sơ phát tâm của Bồ Tát chẳng bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần trăm ngàn, một phần ức, một phần trăm ngàn na do tha ức, một phần số, một phần ca la, một phần toán, một phần dụ, nhẫn đến chẳng bằng một phần ưu ba ni sa đà.
Tại sao thế?  Này Phật tử!  Tất cả chư Phật lúc sơ phát tâm, chẳng phải chỉ vì đem tất cả đồ sở thích cúng dường chúng sanh trong mười vô số thế giới ở mười phương trải qua trăm kiếp, nhẫn đến trăm ngàn na do tha kiếp mà phát bồ đề tâm.  Cũng chẳng phải chỉ vì giáo hóa những chúng sanh ấy tu ngũ giới, thập thiện, tứ thiền, tứ không, nhẫn đến khiến trụ nơi quả A La Hán và Bích Chi Phật mà phát bồ đề tâm.  Chính là vì khiến chủng tánh Như Lai chẳng dứt, vì đầy khắp tất cả thế giới, vì độ thoát tất cả chúng sanh trong tất cả thế giới, vì biết rõ cả sự thành hoại của tất cả thế giới, vì biết rõ chúng sanh cấu tịnh trong tất cả thế giới, vì biết rõ sở thích, phiền não, tập khí của tất cả chúng sanh, vì biết rõ sự chết đây sanh kia của tất cả chúng sanh, vì biết rõ căn tánh phương tiện của tất cả chúng sanh, vì biết rõ tâm hành của tất cả chúng sanh, vì trí biết rõ tam thế chúng sanh, vì biết rõ cảnh giới bình đẳng của tất cả Phật, vì những điều trên đây mà phát tâm vô thượng bồ đề.
Này Phật tử!  Giả sử có người trong một khoảng một niệm có thể qua khỏi phuog đông vô số thế giới, đi luôn như vậy trọn vô số kiếp, số thế giới của người này đã trải qua khó có ai biết được.
Người thứ hai, trong một niệm có thể qua khỏi tất cả thế giới của người thứ nhất đã trải qua trong vô số kiếp, người này cũng đi luôn mãi trọn vô số kiếp.
Cứ lần lượt tuần tự như vậy đến người thứ mười.  Chín phương kia cũng đều như vậy.  Thế là trong mười phương có cả thảy trăm người.  Số thế giới của trăm người này đã trải qua còn có thể biết được tế hạn.
Công đức căn lành của Bồ Tát sơ phát tâm vô thượng bồ đề tâm, không ai có thể biết tế hạn được.
Này Phật tử!  Tại sao vậy?  Vì Bồ Tát phát bồ đề tâm không có tế hạn.  Nghĩa là vì muốn biết rõ thập phương tất cả thế giới, muốn biết diệu thế giới tức là thô thế giới, và thô tức là diệu, thế giới ngửa tức là thế giới úp, và úp tức là ngửa, tiểu thế giới tức là đại thế giới và đại tức là tiểu, thế giới rộng tức là thế giới hẹp và hẹp tức là rộng, một thế giới tức là bất khả thuyết thế giới và bất khả thuyết tức là một, bất khả thuyết thế giới vào trong một thế giới và một thế giới vào trong bất khả thuyết, uế thế giới tức là tịnh thế giới, và tịnh tức là uế, muốn biết trong đầu một sợi lông tất cả thế giới tánh sai biệt, trong tất cả thế giới một đầu lông một thể tánh, muốn biết trong một thế giới xuất sanh tất cả thế giới, muốn biết tất cả thế giới không thể tánh, muốn dùng một niệm mà biết hết tất cả thế giới rộng lớn mà không chướng ngại.  Vì cớ trên đây mà phát tâm vô thượng bồ đề.
Lại ví dụ: Giả sử có người trong khoảng một niệm có thể biết kiếp số thành hoại trong vô số thế giới ở phương đông, cứ niệm niệm biết như vậy trọn vô số kiếp.
Người thứ hai trong khoảng một niệm có thể biết tất cả kiếp số của người thứ nhất đã biết trong vô số kiếp, rồi niệm niệm biết như vậy trọn vô số kiếp.
Cũng tuần tự tăng lên đến người thứ mười, chín phương kia cũng như vậy.
Thế là có cả thảy trăm người.  Kiếp số thành hoại của tất cả thế giới trong mười phương qua sự hiểu biết của trăm người này, còn có thể biết được ngằn mé.
Công đức căn lành của Bồ Tát sơ phát tâm không ai có thể biết được ngằn mé.
Tại sao vậy?  Vì Bồ Tát chẳng phải chỉ vì biết sự thành hoại của bao nhiêu thế giới đó mà phát tâm vô thượng bồ đề.  Mà vì muốn biết rõ sự thành hoại của tất cả thế giới không thừa không sót nên phát tâm.
Nghĩa là muốn biết kiếp dài tức là kiếp ngắn, ngắn tức là dài, dài ngắn bình đẳng, một kiếp bình đẳng với vô số kiếp, vô số với một cũng vậy, kiếp có Phật bình đẳng với kiếp không có Phật, không với có cũng vậy, trong kiếp một Phật có bất khả thuyết Phật, trong kiếp bất khả thuyết Phật có một Phật, hữu lượng kiếp bình đẳng với vô lượng kiếp, vô lượng kiếp bình đẳng với hữu lượng kiếp, hữu tập kiếp bình đẳng với vô tận kiếp, vô tận với hữu tận cũng vậy, bất khả thuyết kiếp bình đẳng với một niệm, một niệm bình đẳng với bất khả thuyết kiếp, tất cả kiếp vào phi kiếp, phi kiếp vào tất cả kiếp.  Vì muốn trong một niệm biết hết kiếp số thành hoại của tất cả thế giới trong ba thời quá khứ, vị lai và hiện tại, nên phát tâm vô thượng bồ đề.
Đây gọi là sơ phát tâm đại thệ trang nghiêm trí thần thông rõ biết tất cả kiếp.
Lại ví dụ:  Giả sử có người trong khoảng một niệm có thể biết những trí giải sai biệt của tất cả chúng sanh trong vô số thế giới ở phương đông.  Niệm niệm biết rõ như vậy mãn vô số kiếp.
Người thứ hai trong khoảng một niệm có thể biết những trí giải của tất cả chúng sanh mà người thứ nhất đã biết trọn vô số kiếp.  Lần lượt tuần tự đến người thứ mười.  Chín phương kia cũng đều như vậy.
Những trí giải riêng biệt của tất cả chúng sanh trong mười phương như vậy, còn có thể biết được ngằn mé.
Công đức căn lành của Bồ Tát sơ phát tâm, không ai có thể biết được ngằn mé.
Tại sao vậy?  Vì Bồ Tát phát tâm chẳng phải vì chỉ muốn biết bao nhiêu trí giải của bao nhiêu chúng sanh đó, mà vì muốn biết những trí giải của các chúng sanh trong tất cả thế giới.
Nghĩa là Bồ Tát phát tâm vô thượng bồ đề vì muốn biết tất cả tri giải sai biệt vô biên, tri giải sai biệt của một chúng sanh bình đẳng với tri giải của vô số chúng sanh, vì muốn được trí phương tiện biết rõ bất khả thuyết tri giải sai biệt, muốn biết rõ mỗi mỗi tri giải sai biệt của tất cả chúng sanh trọn vẹn không thừa sót, muốn biết rõ tri giải thiện, bất thiện, quá khứ, hiện tại, vị lai, muốn biết rõ tri giải tương tợ, và chẳng tương tợ, muốn biết rõ tất cả tri giải tức là một tri giải, một tri giải tức là tất cả tri giải, muốn biết được sức tri giải của Như Lai, muốn biết rõ sự sai biệt của hữu thượng giải, vô thượng giải, hữu dư giải, vô dư giải, đẳng giải, bất đẳng giải, hữu y giải, vô y giải, cộng giải, bất cộng giải, hữu biên giải, vô biên giải, sai biệt giải, vô sai biệt giải, thiện giải, bất thiện giải, thế gian giải, xuất thế gian giải, muốn được vô ngại ở nơi tất cả diệu giải, đại giải, vô lượng giải, chánh vị giải, muốn dùng vô lượng phương tiện biết rõ trọn vẹn thập phương tất cả chúng sanh giới, mỗi chúng sanh có nào là tịnh giải, tế giải, thô giải, muốn biết rõ trọn vẹn thâm mật giải, phương tiện giải, phân biệt giải, tự nhiên giải, tùy nhân khởi giải, tùy duyên khởi giải.
Vì muốn được như trên đây mà Bồ Tát phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Lại ví dụ:  Giả sử có người trong khoảng một niệm, có thể biết căn tánh sai biệt của tất cả chúng sanh trong vô số thế giới phương đông, niệm niệm biết như vậy trọn vô số kiếp.
Người thứ hai trong một niệm có thể rõ biết tất cả sự biết về căn tánh chúng sanh trọn vô số kiếp của người thứ nhất.  Lần lượt tuần tự đến người thứ mười.  Chín phương kia cũng đều như vậy.
Những căn tánh sai biệt của bao nhiêu chúng sanh trong bao nhiêu thế giới của trăm người đó rõ biết trọn vô số kiếp, còn có thể biết được ngằn mé.
Công đức căn lành của Bồ Tát sơ phát tâm, không ai có thể biết được ngằn mé.
Tại sao vậy?  Vì Bồ Tát phát tâm chẳng phải chỉ vì biết bao nhiêu căn tánh đó, mà chính vì muốn biết rõ trọn vẹn những căn tánh sai biệt của tất cả chúng sanh trong tất cả thế giới.  Nói rộng ra, nhẫn đến muốn biết trọn vẹn tất cả lưới căn tánh mà Bồ Tát phát tâm vô thượng bồ đề.
Lại ví dụ:  Giả sử có người trong khoảng một niệm có thể biết những chỗ sở thích của những chúng sanh trong vô số thế giới ở phương đông, niệm niệm biết như vậy trọn vô số kiếp.  Tuần tự nới rộng đến người thứ mười.  Chín phương kia cũng đều như vậy.  Chỗ sở thích của thập phương chúng sanh này còn có thể biết được ngằn mé.
Công đức thiện căn của Bồ Tát sơ phát tâm, không ai có thể biết được ngằn mé.
Tại sao vậy?  Vì Bồ Tát phát tâm chẳng phải vì chỉ để biết chừng ấy sở thích của bao nhiêu chúng sanh đó, mà chính là vì muốn biết tất cả sở thích của tất cả chúng sanh trong tất cả thế giới.
Lại ví dụ:  Giả sử có người trong khoảng một niệm có thể biết những phương tiện của những chúng sanh trong vô số thế giới ở phương đông.  Tuần tự nới rộng như vậy nhẫn đến người thứ mười.  Chín phương kia cũng đều như vậy.
Những loại phương tiện cùng thập phương chúng sanh đó còn có thể biết được ngằn mé.
Công đức căn lành của Bồ Tát sơ phát tâm không ai có thể biết được ngằn mé.
Tại sao vậy?  Vì Bồ Tát phát tâm chẳng phải vì để biết bao nhiêu phương tiện của thập phương chúng sanh đó, mà chính là để biết trọn vẹn những phương tiện của tất cả chúng sanh trong tất cả thế giới.
Lại ví dụ:  Giả sử có người trong khoảng một niệm có thể biết những tâm sai biệt của những chúng sanh trong vô số thế giới ở phương đông.  Nới rộng nhẫn đến những tâm sai biệt của những chúng sanh trong thập phương thế giới, còn có thể biết ngằn mé.
Công đức căn lành của Bồ Tát sơ phát tâm, không ai có thể biết được ngằn mé.
Tại sao vậy?  Vì Bồ Tát phát tâm chẳng phải vì để biết ngần ấy tâm sai biệt, mà chính vì để biết trọn vẹn những tâm sai biệt của tất cả chúng sanh trong tất cả thế giới.
Lại ví dụ:  Giả sử có người trong khoảng một niệm có thể biết những nghiệp sai biệt của những chúng sanh trong vô số thế giới ở phương đông.  Nới rộng nhẫn đến những nghiệp sai biệt của nhữg chúng sanh trong thập phương thế giới, còn có thể biết ngằn mé.
Công đức căn lành của Bồ Tát sơ phát tâm, không ai có thể biết được ngằn mé.
Tại sao vậy?  Vì Bồ Tát phát tâm chẳng phải chỉ vì để biết những nghiệp sai biệt của bao nhiêu chúng sanh đó, mà chính là vì để biết rõ trọn vẹn những nghiệp sai biệt của tất cả chúng sanh trong tất cả thế giới và cả tam thế.
Lại ví dụ:  Giả sử có người trong khoảng một niệm có thể biết những phiền não của chúng sanh trong vô số thế giới ở phương đông.  Lần lượt nới rộng nói đến người thứ mười và chín phương kia, còn có thể biết được ngằn mé.
Công đức căn lành của Bồ Tát sơ phát tâm, không ai có thể biết được ngằn mé.
Tại sao vậy?  Vì Bồ Tát phát tâm chẳng phải chỉ vì để biết những phiền não của bao nhiêu chúng sanh đó, mà chính vì để biết rõ trọn vẹn những phiền não sai biệt của những chúng sanh trong tất cả thế giới.
Nghĩa là muốn biết rõ trọn vẹn những phiền não nhẹ, nặng, chủng tử hiện hành, tất cả chúng sanh có vô lượng phiền não, các loại sai biệt, các loại giác quán để đối trị sạch tất cả những tạp nhiễm.  Muốn biết trọn vẹn phiền não y tựa vô minh, phiền não tương ưng với ai, để dứt kiết sử phiền não của tất cả loài.  Muốn biết trọn vẹn tham phần, sân phần, si phần và đẳng phần phiền não, để dứt căn bổn phiền não.  Muốn biết trọn vẹn ngã phiền não, ngã sở phiền não, ngã mạn phiền não, để giác ngộ hết tất cả phiền não.  Muốn biết trọn vẹn từ điên đảo phân biệt sanh ra căn bổn phiền não, tùy phiền não, nhân thân kiến sanh sáu mươi hai kiến chấp, để điều phục tất cả phiền não.  Muốn biết trọn vẹn cái phiền não, chướng phiền não, để phát tâm đại bi, tâm cứu hộ dứt tất cả phiền não khiến tất cả trí tánh thanh tịnh.  Vì muốn được như vậy mà Bồ Tát phát tâm vô thượng bồ đề.
Lại ví dụ:  Giả sử có người trong khoảng một niệm đem các thứ thượng vị ẩm thực, y phục, hoa hương, phan lọng, tăng già lam, cung điện thượng diệu, màn trướng báu, những tòa sư tử trang nghiêm và những diệu bửu cung kính cúng dường vô số chư Phật phương đông và những chúng sanh trong vô số thế giới, luôn trọn vô số kiếp và cũng khuyên những chúng sanh đó đồng cúng dường Phật.  Đến khi chư Phật nhập diệt đều xây tháp cao rộng trang nghiêm để thờ xá lợi và hình tượng của Phật trọn vô số kiếp.  Chín phương kia cũng đều như vậy.
Này Phật tử!  Công đức của người trên đây, theo ý ông, có nhiều chăng?"
Thiên Đế thưa: "Công đức đó chỉ có đức Phật là biết được thôi."
Pháp Huệ Bồ Tát nói: "Công đức đem sánh với công đức của Bồ Tát sơ phát tâm không bằng một phần trăm, nhẫn đến chẳng bằng một phần ưu ba ni sa đà.  Nới rộng như thế tuần tự đến người thứ mười.  Công đức cúng dường của tất  cả người trên đây cũng không bằng một phần ưu ba ni sa đà đối với công đức của Bồ Tát sơ phát tâm.
Tại sao vậy?  Vì Bồ Tát phát tâm chẳng phải chỉ hạn cúng dường bao nhiêu đức Phật như vậy, mà chính vì để cúng dường thập phương tam thế tất cả chư Phật. 
Bồ Tát phát tâm này rồi, có thể biết tất cả quá khứ chư Phật lúc mới thành chánh giác đến lúc nhập niết bàn, có thể tin bao nhiêu thiện căn của tất cả vị lai chư Phật, có thể biết bao nhiêu trí huệ của tất cả hiện tại chư Phật.  Tam thế chư Phật có bao nhiêu công đức, Bồ Tát này có thể tin được, thọ được, có thể biết, có thể tu, có thể được, có thể chứng, có thể trọn nên, có thể cùng chư Phật bình đẳng một tánh.
Tại sao vậy?  Bồ Tát này vì chẳng dứt Phật chủng mà phát tâm, vì đầy khắp tất cả thế giới, vì độ thoát tất cả chúng sanh, vì biết rõ sự thành hoại của tất cả thế giới, vì biết rõ sự cấu tịnh của tất cả chúng sanh, vì biết rõ ba cõi thanh tịnh của tất cả thế giới, vì biết rõ sở thích, phiền não, tập khí của tất cả chúng sanh, vì biết rõ tất cả chúng sanh chết đây sanh kia, vì biết rõ căn tánh phương tiện của tất cả chúng sanh, vì biết rõ tâm hành của tất cả chúng sanh, vì trí biết rõ tam thế của tất cả chúng sanh. 
Vì những điều trên đây mà Bồ Tát phát tâm vô thượng bồ đề.
Do phát tâm nên thường được tất cả tam thế chư Phật ức niệm, sẽ được vô thượng bồ đề.  Liền được tất cả tam thế chư Phật ban diệu pháp.  Liền cùng tất cả tam thế chư Phật thể tánh bình đẳng.  Đã tu pháp trợ đạo của tất cả tam thế chư Phật.  Trang nghiêm Phật pháp bất cộng của tất cả tam thế chư Phật.  Được trọn vẹn trí huệ thuyết pháp của tất cả tam thế chư Phật.
Tại sao vậy?  Vì phát tâm như đây sẽ được thành Phật.
Nên biết người này đồng với tam thế chư Phật, bình đẳng với cảnh giới của chư Phật, bình đẳng với công đức của chư Phật, được trí huệ chân thật một thân cùng vô lượng thân rốt ráo bình đẳng của chư Phật.
Lúc vừa phát tâm liền được thập phương tất cả chư Phật đồng khen ngợi, liền có thể thuyết pháp giáo hóa điều phục chúng sanh trong tất cả thế giới, liền có thể chấn động tất cả thế giới, liền có thể chiếu sáng tất cả thế giới, liền có thể dứt diệt những khổ ác đạo của tất cả thế giới, liền có thể nghiêm tịnh tất cả quốc độ, liền có thể thị hiện thành Phật trong tất cả thế giới, liền có thể khiến tất cả chúng sanh đều được vui mừng, liền có thể vào tất cả pháp giới tánh, liền có thể được trí huệ quang minh của tất cả Phật.
Bồ Tát sơ phát tâm đây chẳng phải cầu được một ít trong tam thế, như là Phật, Phật pháp, Bồ Tát, Bồ Tát pháp, Độc Giác, Độc Giác pháp, Thanh Văn, Thanh Văn pháp, thế gian, thế gian pháp, xuất thế gian, xuất thế gian pháp, chúng sanh, chúng sanh pháp, mà chỉ cầu được nhứt thiết chủng trí, nơi các pháp giới tâm không chấp trước."
Lúc bấy giờ, do thần lực của Phật, mười phương đều mười ngàn phật sát vi trần số thế giới chấn động sáu cách, mưa hoa trời, hương trời, tràng hoa trời, y phục trời, báu trời, đồ trang nghiêm trời, trỗi kỹ nhạc trời, phóng quang minh trời và âm thanh trời.
Lúc đó, mười phương đều qua khỏi ngoài mười phật sát vi trần số thế giới, có mười ngàn phật sát vi trần số Phật đồng hiệu Pháp Huệ, và đều hiện thân ra trước Pháp Huệ Bồ Tát mà bảo rằng: "Lành thay!  Lành thay!  Này Pháp Huệ!  Nay ông có thể thuyết được pháp đó.  Chúng thế gian ở mười phương, đều mười ngàn phật sát vi trần số chư Phật cũng thuyết pháp đó.
Lúc ông thuyết pháp đó, có mười ngàn phật sát vi trần số Bồ Tát phát tâm vô thượng bồ đề.  Chư Phật chúng thế gian đều thọ ký cho họ: qua khỏi ngàn bất khả thuyết vô biên kiếp, đồng xuất thế thành Phật trong một kiếp và đồng hiệu Thanh Tịnh Tâm Như Lai, thế giới khác nhau.
Chư Phật chúng thế gian sẽ hộ trì pháp này, khiến chư Bồ Tát thời vị lai, người chưa nghe đều được nghe.
Như ở Ta Bà thế giới này, trên đảnh Tu Di thuyết pháp như vậy khiến các chúng sanh nghe pháp thọ hóa, mười phương trăm ngàn ức na do tha vô lượng, vô biên, tận pháp giới hư không giới, trong tất cả thế giới cũng nói pháp này giáo hóa chúng sanh.  Bồ Tát thuyết pháp đồng tên Pháp Huệ.  Đều do thần lực của Phật, nguyện lực của Phật, vì muốn hiển thị Phật pháp, vì dùng trí quang chiếu khắp, vì muốn khai xiển thật nghĩa, vì khiến chứng được pháp tánh, vì khiến hội chúng đều hoan hỷ, vì muốn khai thị nhân Phật pháp, vì được tất cả Phật bình đẳng, vì rõ pháp giới vô nhị, nên thuyết pháp như vậy."
Lúc đó, Pháp Huệ Bồ Tát quan sát khắp tất cả chúng hội mười phương thế giới, muốn đều thành tựu các chúng sanh, muốn đều trừ sạch những nghiệp quả báo, muốn đều khai hiển thanh tịnh pháp giới, muốn đều nhổ trừ căn bổn tạp nhiễm, muốn đều tăng trưởng tín giải rộng lớn, muốn đều khiến biết rõ căn tánh vô lượng chúng sanh, muốn đều khiến biết pháp tam thế bình đẳng, muốn đều khiến quan sát niết bàn giới, muốn tăng trưởng thiện căn thanh tịnh của mình, thừa oai lực của Phật mà nói kệ rằng:
Vì lợi thế gian phát đại tâm
Tâm đó khắp cùng cả mười phương
Chúng sanh, quốc độ pháp tam thế
Phật và Bồ Tát biển tối thắng.
Rốt ráo hư không khắp pháp giới
Chỗ có tất cả những thế gian
Như các Phật pháp đều qua đến
Phát tâm như vậy không thối chuyển.
Từ niệm chúng sanh không tạm bỏ
Lìa những não hại khắp nhiêu ích
Quang minh chiếu thế làm sở quy
Thập lực hộ niệm khó nghĩ bàn.
Thập phương quốc độ đều đến vào
Tất cả hình sắc đều thị hiện
Như Phật phước trí rộng vô biên
Tùy thuận tu nhân không chấp trước.
Có cõi ngửa, nghiêng, hoặc úp
Thô diệu rộng lớn vô lượng thứ
Bồ Tát một khi phát đại tâm
Đều qua đến được không chướng ngại.
Bồ Tát thắng hạnh bất khả thuyết
Đều siêng tu tập vô sở trụ
Thấy tất cả Phật lòng mến thích
Khắp vào biển pháp sâu của Phật.
Thương xót ngũ thú các quần sanh
Khiến trừ cấu uế khắp thanh tịnh
Nối thạnh Phật chủng chẳng đoạn tuyệt
Dẹp dứt cung ma không có thừa.
Đã trụ Như Lai bình đẳng tánh
Khéo tu vi diệu phương tiện đạo
Nơi Phật cảnh giới sanh tín tâm
Được Phật quán đảnh tâm không trước.
Nhớ nghĩ báo ân cho đức Phật
Lòng như kim cương chẳng bị ngăn
Có thể chiếu rõ công hạnh Phật
Tự nhiên tu tập hạnh bồ đề.
Các loài sai biệt vô lượng tưởng
Nghiệp quả và tâm cũng chẳng một
Nhẫn đến căn tánh các loại khác
Một khi phát tâm đều thấy rõ.
Tâm đó rộng lớn khắp pháp giới
Vô y, vô biến, như hư không
Xu hướng Phật trí, không sở thủ
Rõ chắc thiệt tế lìa phân biệt.
Biết tâm chúng sanh không sanh tưởng
Rõ thấu các pháp không pháp tưởng
Dầu khắp phân biệt mà vô biệt
Ức na do cõi đều qua đến.
Vô lượng chư Phật diệu pháp tạng
Tùy thuận quan sát đều vào được
Căn hạnh chúng sanh đều biết cả
Đến chỗ như vậy là như Phật.
Nguyện lớn thanh tịnh hẳng tương ưng
Thích cúng dường Phật không thối chuyển
Trời người thấy đó không nhàm chán
Thường được chư Phật chỗ hộ niệm.
Tâm đó thanh tịnh vô sở y
Dầu quán thâm pháp mà chẳng chấp
Tư duy như vậy vô lượng kiếp
Ở trong tam thế không sở trước.
Tâm đó kiên cố khó chế ngăn
Đến Phật bồ đề không chướng ngai
Chí cầu diệu đạo trừ mê hoặc
Đi khắp pháp giới chẳng khổ nhọc.
Biết pháp ngữ ngôn đều tịch diệt
Chỉ vào chân như tuyệt dị giải
Chư Phật cảnh giới đều thuận quán
Đạt nơi tam thế tâm vô ngại.
Bồ Tát mới phát tâm rộng lớn
Có thể qua khắp mười phương cõi
Pháp môn vô lượng bất khả thuyết
Trí quang chiếu khắp đều sáng tỏ.
Đại bi rộng độ rất không sánh
Từ tâm cùng khắp đồng hư không
Mà với chúng sanh chẳng phân biệt
Thanh tịnh như vậy đi thế gian.
Thập phương chúng sanh đều an ủy
Tất cả chỗ làm đều chân thật
Hằng dùng tịnh tâm lời chẳng khác
Thường được chư Phật đồng gia hộ.
Quá khứ chỗ có đều ghi nhớ
Vị lai tất cả đều phân biệt
Thập phương thế giới khắp vào trong
Để độ chúng sanh khiến ra khỏi.
Bồ Tát đầy đủ diệu trí quang
Khéo rõ nhân duyên không có nghi
Tất cả mê hoặc đều dứt trừ
Như vậy mà đi nơi pháp giới.
Ma Vương cung điện đều dẹp phá
Chúng sanh màn lòa đều trừ dứt
Lìa những phân biệt tâm chẳng động
Khéo rõ cảnh giới của Như Lai.
Lưới nghi tam thế đều đã trừ
Đối với Như Lai sanh tịnh tín
Do tin được thành trí bất động
Do trí thanh tịnh hiểu chân thiệt.
Vì khiến chúng sanh được xuất ly
Tận thời vị lai khắp lợi ích
Mãi mãi cần khổ tâm chẳng nhàm
Nhẫn đến địa ngục cũng an thọ.
Phước trí vô lượng đều đầy đủ
Chúng sanh căn dục đều rõ biết
Và những nghiệp hạnh đều biết cả
Theo sở thích họ vì thuyết pháp.
Rõ biết tất cả không vô ngã
Từ niệm chúng sanh thường không bỏ
Dùng một đại bi vi diệu âm
Vào khắp thế gian mà diễn thuyết.
Phóng đại quang minh các mầu sắc
Chiếu khắp chúng sanh trừ đen tối
Trong quang Bồ Tát ngồi liên hoa
Vì chúng xiển dương pháp thanh tịnh.
Nơi đầu một lông hiện các cõi
Chư đại Bồ Tát đều sung mãn
Chúng hội trí huệ sai khác cả
Đều rõ biết được tâm chúng sanh.
Thập phương thế giới bất khả thuyết
Một niệm đi khắp hết tất cả
Lợi ích chúng sanh cúng dường Phật
Nơi chỗ chư Phật hỏi thâm nghĩa.
Nơi chư Như Lai tưởng là cha
Vì lợi chúng sanh tu giác hạnh
Trí huệ thiện xảo thông pháp tạng
Vào nơi thâm trí không sở trước.
Tuỳ thuận tư duy nói pháp giới
Trải vô lượng kiếp chẳng cùng tận
Trí dầu khéo vào không xứ sở
Không có mỏi nhàm không sở trước.
Sanh trong nhà tam thế chư Phật
Chứng được Như Lai diệu pháp thân
Khắp vì quần sanh hiện các sắc
Ví như thuật gia làm tất cả.
Hoặc hiện mới tu hạnh thù thắng
Hoặc hiện sơ sanh và xuất gia
Hoặc hiện dưới cây thành bồ đề
Hoặc vì chúng sanh hiện nhập diệt.
Bồ Tát trụ nơi pháp hi hữu
Là Phật cảnh chẳng phải nhị thừa
Thân ngữ ý tưởng đều đã trừ
Các thứ tùy nghi đều hiện được.
Bồ Tát chỗ được các Phật pháp
Chúng sanh tư duy phát cuồng loạn
Trí nhập thiệt tế tâm vô ngại
Khắp hiện Như Lai sức tự tại.
Đây ở thế gian không sánh bằng
Huống là lại thêm hạnh thù thắng
Dầu chưa đầy đủ nhất thiết trí
Đã được Như Lai tự tại lực.
Đã trụ nhất thừa đạo rốt ráo
Sâu vào pháp vi diệu tối thượng
Khéo biết chúng sanh thời, phi thời
Vì lợi ích nên hiện thần thông
Phân thân đầy khắp tất cả cõi
Phóng tịnh quang minh trừ đời tối
Ví như Long Vương khởi đại vân
Khắp tuôn mưa mầu đều đầy thấm.
Quan sát chúng sanh như ảo mộng
Do nghiệp lực nên thường lưu chuyển
Đại bi xót thương đều cứu vớt
Vì nói vô vi tịnh pháp tánh.
Phật lực vô lượng đây cũng vậy
Ví như hư không vô lượng biên
Vì khiến chúng sanh được giải thoát
Ức kiếp siêng tu không mỏi nhọc.
Quan sát tư duy diệu công đức
Khéo tự tại hạnh đệ nhất vô thượng
Nơi các thắng hạnh luôn chẳng bỏ
Chuyên niệm sanh thành nhất thiết trí.
Một thân thị hiện vô lượng thân
Tất cả thế giới đều đầy khắp
Tâm đó thanh tịnh vô phân biệt
Một niệm khó nghĩ, sức như vậy.
Nơi các thế gian chẳng phân biệt
Nơi tất cả pháp không vọng tưởng
Quán sâu các pháp mà chẳng lấy
Hằng cứu chúng sanh không sở độ.
Tất cả thế gian chỉ là tưởng
Ở trong các thứ đều sai khác
Biết cảnh giới tưởng hiểm và sâu
Vì hiện thần thông để độ thoát.
Ví như thuật gia sức tự tại
Bồ Tát thần biến cũng như vậy
Thân khắp pháp giới và hư không
Tuỳ tâm chúng sanh đều được thấy.
Năng sở phân biệt lìa cả hai
Tạp nhiễm thanh tịnh không sở thú
Hoặc phược hoặc giải trí đều quên
Chỉ nguyện khắp ban vui quần chúng.
Tất cả thế gian chỉ tưởng lực
Dùng trí mà vào tâm vô uý
Tư duy các pháp cũng như vậy
Suy cầu tam thế bất khả đắc.
Hay vào quá khứ trọn thời trước
Hay vào vị lai trọn thời sau
Hay vào hiện tại tất cả chỗ
Thường siêng quan sát không chỗ có.
Tùy thuận niết bàn pháp tịch diệt
Trụ nơi vô tránh vô sở y
Tâm như thiệt tế không gì sánh
Chuyên hướng bồ đề trọn chẳng thối.
Tự tại những thắng hạnh không thối khiếp
An trụ bồ đề chẳng động lay
Phật và Bồ Tát cùng thế gian
Cùng tận pháp giới đều sáng tỏ.
Muốn được tối thắng đạo đệ nhất
Là vua giải thoát nhất thiết trí
Nên phải mau phát bồ đề tâm
Hết hẳn hữu lậu lợi quần sanh.
Xu hướng bồ đề tâm thanh tịnh
Công đức rộng lớn bất khả thuyết
Vì lợi quần sanh nên khen thuật
Phật tử các ngài nên nghe kỹ.
Vô lượng thế giới đều làm bụi
Trong mỗi hạt bụi vô lượng cõi
Mỗi cõi chư Phật đều vô lượng
Đều hay thấy rõ không sở thủ.
Mười phương vô lượng các quốc độ
Một niệm qua đến lòng vô trước
Liễu đạt thế gian những pháp khổ
Đều trụ vô sanh chân thiệt tế.
Vô lượng nan tư chỗ chư Phật
Đều đến hội đó để lễ Phật
Thường làm thượng thủ hỏi Như Lai
Bồ Tát thật hành những nguyện hạnh.
Tâm thường nhớ đến Phật mười phương
Mà không sở y không sở thủ
Hằng khuyên chúng sanh trồng thiện căn
Trang nghiêm quốc độ khiến thanh tịnh.
Tất cả chúng sanh trong ba cõi
Dùng vô ngại nhãn đều quan sát
Bao nhiêu tập tánh những căn giải
Vô lượng vô biên đều thấy rõ.
Chúng sanh sở thích đều rõ biết
Như vậy tuỳ nghi vì thuyết pháp
Nơi những nhiễm tịnh đều thông đạt
Khiến kia vô số những tam muội.
Bồ Tát một niệm đều vào được
Trong đó tưởng trí và sở duyên
Đều khéo biết rõ được tự tại.
Bồ Tát được trí rộng lớn này
Mau đến bồ đề không sở ngại
Vì muốn lợi ích các quần sanh
Mọi nơi tuyên dương đại nhân pháp.
Khéo biết thế gian kiếp dài ngắn
Một tháng nửa tháng và ngày đêm
Quốc độ riêng biệt tánh bình đẳng
Thường siêng quan sát chẳng phóng dật.
Đến khắp mười phương các thế giới
Mà nơi phương xứ không sở thủ
Nghiêm tịnh quốc độ đều không thừa
Mà chẳng phân biệt là nghiêm tịnh.
Chúng sanh thị xứ hoặc phi xứ
Và đến những nghiệp hoặc báo khác
Tuỳ thuận tư duy vào Phật lực
Nơi đây tất cả đều rõ biết.
Tất cả thế gian những căn tánh
Những thứ nghiệp hạnh vào ba cõi
Lợi căn và trung cùng hạ căn
Tất cả như vậy đều quan sát.
Tịnh cùng bất tịnh những tri giải
Thắng, liệt và trung đều thấy rõ
Công hạnh chỗ đến của chúng sanh
Ba cõi tương tục đều thuyết được.
Thiền định giải thoát các tam muội
Nhiễm tịnh nhân khởi đều chẳng đồng
Và cùng đời trước khổ vui khác
Tịnh tu Phật lực đều hay thấy.
Chúng sanh nghiệp hoặc nối các loài
Dứt các loài này được tịch diệt
Những pháp hữu lậu trọn chẳng sanh
Và tập chủng kia đều rõ biết.
Như Lai phiền não đều trừ hết
Đại trí quang minh chiếu thế gian
Bồ Tát ở trong Phật thập lực
Dầu chưa chứng được cũng không nghi.
Bồ Tát ở trong một chân lông
Niệm khắp mười phương vô lượng cõi
Hoặc có tạp nhiễm hoặc thế gian
Các thứ nghiêp hạnh đều rõ biết.
Trong một vi trần vô lượng cõi
Vô lượng chư Phật và Phật tử
Các cõi riêng khác không tạp loạn
Như một, tất cả đều thấy rõ.
Nơi một chân lông thấy mười phương
Hết hư không giới các thế gian
Chẳng có một nơi không có Phật
Cõi Phật như vậy đều thanh tịnh.
Ở trong chân lông thấy cõi Phật
Lại thấy tất cả các chúng sanh
Tam thế sáu loài đều chẳng đồng
Ngày, đêm, giờ, tháng có phược giải.
Đại trí như vậy các Bồ Tát
Chuyên tâm xu hướng ngôi Pháp Vương
Nơi cảnh Phật trụ thuận tư duy
Mà được vô biên đại hoan hỷ.
Bồ Tát phân thân vô lượng ức
Cúng dường tất cả chư Như Lai
Thần thông biến hiện thắng vô tỉ
Chỗ Phật sở hành đều trụ được.
Với vô lượng Phật đều mến khen
Bao nhiêu pháp tạng đều say nếm
Thấy Phật nghe pháp siêng tu hành
Như uống cam lộ lòng vui đẹp.
Đã được Như Lai thắng tam muội
Khéo vào các pháp trí tăng trưởng
Tín tâm bất động như Tu Di
Làm tạng công đức cho quần sanh.
Từ tâm rộng lớn khắp chúng sanh
Đều nguyện mau thành nhất thiết trí
Mà luôn vô trước, không sở y
Lìa các phiền não được tự tại.
Trí rộng lớn thương xót chúng sanh
Nhiếp khắp tất cả đồng với mình
Biết không, vô tướng, không chân thật
Mà lòng tu hành không lười trễ.
Bồ Tát phát tâm lượng công đức
Ức kiếp ca ngợi không hết được
Vì xuất sanh các đức Như Lai
Và quả Thanh Văn quả Độc Giác.
Mười phương quốc độ các chúng sanh
Ban cho an vui vô lượng kiếp
Khuyên trì ngũ giới và thập thiện
Tứ thiền, tứ tâm, các định xứ.
Lại trọn nhiều kiếp ban an vui
Khiến dứt phiền não thành La Hán
Những phước đức đó dầu vô lượng
Nhưng chẳng bằng công đức phát tâm.
Lại dạy ức chúng thành duyên giác
Được hạnh vô tránh đạo vi diệu
Đem đó sánh với bồ đề tâm
Toán số thí dụ không bằng được.
Một niệm qua được trần số cõi
Như vậy đi mãi vô lượng kiếp
Số những cõi đó còn tính được
Công đức phát tâm chẳng thế biết.
Quá khứ, vị lai và hiện tại
Bao nhiêu kiếp số vô lượng biên
Những kiếp số này còn biết được
Công đức phát tâm chẳng thể lường.
Do tâm bồ đề khắp mười phương
Bao nhiêu phân biệt đều biết cả
Một niệm tam thế đều thấu tỏ
Vì lợi ích vô lượng chúng sanh.
Thập phương thế giới những chúng sanh
Ý muốn, tri giải và phương tiện
Đến hư không giới đều lường được
Công đức phát tâm khó lường biết.
Bồ Tát chí nguyện khắp mười phương
Từ tâm lợi khắp các quần sanh
Đều khiến tu hành Phật công đức
Thế nên sức đó không ngằn mé.
Chúng sanh: muốn, hiểu, lòng sở thích
Căn tánh, phương tiện, hạnh riêng biệt
Nơi trong một niệm đều rõ biết
Nhất thiết trí tâm đồng đẳng.
Tất cả chúng sanh các hoặc nghiệp
Ba cõi tương tục không tạm dứt
Những ngằn mé này còn biết được
Công đức phát tâm khó nghĩ bàn.
Phát tâm hay lìa nghiệp phiền não
Cúng dường tất cả chư Như Lai
Nghiệp hoặc đã lìa tương tục dứt
Khắp trong bình đẳng đời được giải thoát.
Một niệm cúng dường vô biên Phật
Cũng cúng vô số các chúng sanh
Đều dùng hương hoa và tràng đẹp
Tràng phan lọng báu y phục tốt.
Thức ngon tòa báu chỗ kinh hành
Các thứ cung điện đều nghiêm tốt
Tỳ Lô Giá Na diệu bửu châu
Như ý ma ni phát sáng chói
Như vậy niệm niệm đem cúng dường
Trọn vô lượng kiếp bất khả thuyết
Người đó phước tụ dầu lại nhiều
Chẳng bằng phát tâm công đức lớn.
Đã nói bao nhiêu những ví dụ
Không có bằng được bồ đề tâm
Bởi vì tam thế chư Như Lai
Đều từ phát tâm này mà có.
Phát tâm vô ngại không chừng ngằn
Muốn cầu lượng đó không thể được
Nhất thiết trí trí nguyện tất thành
Bao nhiêu chúng sanh đều độ trọn.
Phát tâm rộng lớn đồng hư không
Sanh những công đức đồng pháp giới
Công hạnh phổ biến không khác: như
Trọn lìa chấp trước bình đẳng: Phật.
Tất cả pháp môn đều vào cả
Tất cả quốc độ đều qua được
Tất cả trí cảnh đều thông đạt
Tất cả công đức đều thành tựu.
Tất cả năng xả luôn tương tục
Tịnh các giới phẩm không sở trước
Đầy đủ vô thượng công đức lớn
Thường siêng tinh tấn bất thối chuyển.
Vào thâm thiền định thường tư duy
Trí huệ rộng lớn đồng tương ưng
Đây là bậc Bồ Tát tối thắng
Xuất sanh tất cả đạo Phổ Hiền.
Tam thế tất cả chư Như Lai
Đều dùng tam muội đà la ni
Thần thông biến hóa đồng trang nghiêm.
Mười phương chúng sanh vô biên lượng
Thế giới hư không cũng như vậy
Phát tâm vô lượng hơn số kia
Do đây hay sanh tất cả Phật.
Bồ đề tâm là gốc thập lực
Cũng là gốc tứ biện vô úy
Và mười tám Phật pháp bất cộng
Tất cả đều từ phát tâm được.
Chư Phật thân sắc tướng đoan nghiêm
Nhẫn đến diệu pháp thân bình đẳng
Trí huệ vô trước đáng cúng dường
Đều do phát tâm mà được có.
Tất cả Độc Giác, Thanh Văn thừa
Sắc giới tứ thiền tam muội lạc
Và vô sắc giới tứ định xứ
Đều do phát tâm làm cội gốc.
Tất cả trời người tự tại vui
Nhẫn đến các loài các thứ vui
Tinh tấn, định, huệ, căn, lực thảy
Tất cả đều do sơ phát tâm.
Từ nhân phát khởi tâm rộng lớn
Thời hay tu hành lục độ hạnh
Khuyên các chúng sanh tự tại chánh hạnh
Ở trong tam giới thọ an vui.
Trụ Phật trí vô ngại thiệt nghĩa
Bao nhiêu diệu hạnh đều khai mở
Hay khiến vô lượng các chúng sanh
Đều dứt hoặc nghiệp hướng niết bàn.
Trí huệ sáng chói như tịnh nhật
Các hạnh đầy đủ như trăng tròn
Công đức luôn đầy như biển cả
Không nhơ không ngại đồng hư không.
Khắp phát vô biên nguyện công đức
Đều ban vui tất cả chúng sanh
Tận thuở vị lai y nguyện hạnh
Thường siêng tu tập độ chúng sanh.
Vô lượng đại nguyện khó nghĩ bàn
Nguyện khiến chúng sanh đều thanh tịnh
Không, vô tướng, vô nguyện, vô y
Do vì nguyện lực đều hiển rõ.
Rõ pháp tự tánh như hư không
Tất cả tịch diệt đều bình đẳng
Pháp môn vô số bất khả thuyết
Vì chúng sanh nói không sở trước.
Thập phương thế giới chư Như Lai
Đều đồng tán thán sơ phát tâm
Tâm này vô lượng đức trang nghiêm
Đến được bờ kia đồng với Phật.
Như số chúng sanh ngần ấy kiếp
Nói công đức đó chẳng thể hết
Bởi ở nhà lớn của Như Lai
Các pháp thế gian không dụ được.
Muốn biết tất cả các Phật pháp
Phải nên mau phát bồ đề tâm
Tâm này hơn hết trong công đức
Tất được Như Lai vô ngại trí.
Chúng sanh tâm hành đếm biết được
Quốc độ vi trần cũng đếm được
Ngằn mé hư không có thể lường
Phát tâm công đức không lường được.
Xuất sanh tam thế tất cả Phật
Thành tựu thế gian tất cả vui
Tăng trưởng tất cả thắng công đức
Dứt hẳn tất cả các nghi hoặc.
Khai thị tất cả diệu cảnh giới
Trừ hết tất cả các chướng ngại
Thành tựu tất cả cõi thanh tịnh
Xuất sanh tất cả trí Như Lai.
Muốn thấy thập phương tất cả Phật
Muốn ban vô tận công đức tạng
Muốn diệt chúng sanh tất cả khổ
Phải nên mau phát bồ đề tâm.


Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 3


Phẩm vô tận tạng
Thứ hai mươi hai


Lúc bấy giờ, Công Đức Lâm Bồ Tát lại nói với chư Bồ Tát rằng: "Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười tạng sau đây mà tam thế chư Phật đã nói, sẽ nói và hiện nay nói:  Tín tạng, giới tạng, tàm tạng, quý tạng, văn tạng, thí tạng, huệ tạng, niệm tạng, trì tạng, biện tạng.
Thế nào là đại Bồ Tát tín tạng?
Bồ Tát nầy tin tất cả pháp là không, là vô tướng, là vô nguyện, là vô tác, là vô phân biệt, là vô sở y, là bất khả lượng, là vô thượng, là nan siêu việt, là vô sanh.
Nếu Bồ Tát có thể tuỳ thuận tất cả pháp mà sanh lòng tin như vậy rồi, thời nghe Phật pháp bất khả tư nghì lòng không khiếp sợ, nghe tất cả Phật bất tư nghì, chúng sanh giới bất tư nghì, đời quá khứ bất tư nghì, đời vị lai bất tư nghì, đời hiện tại bất tư nghì, và nghe nhập tất cả kiếp bất tư nghì đều không lòng khiếp sợ.
Tại sao vậy? 
Vì đối với chư Phật, Bồ Tát này một bề tin chắc.  Biết trí huệ của Phật vô biên vô tận.  Trong thập phương vô lượng thế giới, mỗi mỗi thế giới đều có vô lượng Phật đã, nay, và sẽ được vô thượng bồ đề; đã, nay, và sẽ xuất thế; đã, nay, và sẽ nhập niết bàn.
Trí huệ của chư Phật bất tăng bất giảm, bất sanh, bất diệt, bất tấn bất thối, bất cận, bất viễn, vô tri, vô xả.
Bồ Tát này nhập trí huệ của Phật được thành tựu vô biên vô tận đức tin.
Được đức tin này rồi thời tâm chẳng thối chuyển, tâm chẳng tạp loạn, chẳng bị phá hoại, không bị nhiễm trước, thường có căn bổn, tùy thuận thánh nhân, trụ nhà Như Lai, hộ trì chủng tánh của tất cả Phật, tăng trưởng tín giải của tất cả Bồ Tát, tùy thuận thiện căn của tất cả Phật, xuất sanh phương tiện của tất cả Phật.
Đây gọi là đại Bồ Tát tín tạng.  Bồ Tát trụ nơi tín tạng này thời có thể nghe và trì tất cả Phật pháp, giảng nói cho chúng sanh khiến họ đều được khai ngộ.
Chư Phật tử!  Những gì là đại Bồ Tát giới tạng?
Bồ Tát này thành tựu giới khắp lợi ích, giới chẳng thọ, giới chẳng trụ, giới không hối hận, giới không trái cãi, giới chẳng tổn não, giới không tạp uế, giới không cầu, giới không lỗi lầm, giới không hủy phạm.
Thế nào là giới khắp lợi ích?
Bồ Tát này thọ trì tịnh giới vốn vì lợi ích tất cả chúng sanh.
Thế nào là giới chẳng thọ?  Bồ Tát này chẳng thọ hành những giới của ngoại đạo, chỉ bổn tánh tự tinh tấn phụng trì giới bình đẳng của tam thế Phật.
Thế nào là giới chẳng trụ?  Bồ Tát này lúc phụng trì giới, lòng không trụ dục giới, sắc giới, vô sắc giới, vì trì giới không cầu sanh về các cõi đó.
Thế nào là giới không hối hận?  Bồ Tát này thường được an trụ tâm không hối hận, vì chẳng làm tội nặg, chẳng làm dối trá, chẳng phá tịnh giới.
Thế nào là giới không trái cãi?  Bồ Tát này chẳng bác bỏ giới của Phật đã chế ra cũng chẳng tạo lập lại, lòng luôn tùy thuận giới hướng đến niết bàn, thọ trì toàn vẹn không hủy phạm, chẳng vì trì giới mà làm nhiễm não chúng sanh khác khiến họ sanh khổ, chỉ nguyện cầu tất cả chúng sanh đều thường hoan hỷ mà trì giới.
Thế nào là giới chẳng não hại?  Bồ Tát này chẳng nhân nơi giới mà học những chú thuật, tạo làm phương thuốc não hại chúng sanh, chỉ vì cứu hộ chúng sanh mà trì giới.
Thế nào là giới chẳng tạp?  Bồ Tát này chẳng chấp biên kiến, chẳng trì giới tạp, chỉ quán duyên khởi trì giới xuất ly.
Thế nào là giới không tham cầu?  Bồ Tát này chẳng hiện dị tướng tỏ bày mình có đức, chỉ vì đầy đủ pháp xuất ly mà trì giới.
Thế nào là giới không lầm lỗi?  Bồ Tát này chẳng tự cống cao nói tôi trì giới.  Thấy người pháp giới cũng chẳng khinh hủy khiến họ hổ thẹn, chỉ nhất tâm trì giới.
Thế nào là không hủy phạm giới?  Bồ Tát này dứt hẳn mười ác nghiệp, thọ trì trọn vẹn mười thiệ nghiệp.  Lúc Bồ Tát trì giới không hủy phạm tự nghĩ rằng:  Tất cả kẻ phạm giới đều do điên đảo cả.  Chỉ có Phật là biết được chúng sanh do nhân duyên gì mà sanh điên đảo hủy phạm tịnh giới.  Tôi sẽ thành tựu vô thượng bồ đề, rộng vì chúng sanh nói pháp chân thật khiến họ rời điên đảo.
Đây gọi là đại Bồ Tát giới tạng thứ hai.
Chư Phật tử!  Những gì là đại Bồ Tát tàm tạng?
Bồ Tát này ghi nhớ các điều ác đã làm thời quá khứ mà sanh lòng tự hổ, nghĩ rằng:  Từ thuở vô thỉ đến nay, tôi cùng chúng sanh lẫn nhau làm cha mẹ con cái anh em chị em, đủ cả tham sân si kiêu mạn dua dối tất cả phiền não, tổng hại lẫn nhau, lăng đoạt lẫn nhau, gian dâm giết hại lẫn nhau, không việc ác nào mà chẳng phạm.  Tất cả chúng sanh cũng đều như vậy, do phiền não mà tạo đủ tội ác.  Do đây nên chẳng kính nhau, chẳng trọng nhau, chẳng thuận nhau, chẳng nhường nhau, chẳng dạy bảo nhau, chẳng hộ vệ nhau, trái lại, giết hại nhau, thành cừu thù của nhau.
Tự nghĩ mình và các chúng sanh đã, sẽ, và hiện thật hành những tội lỗi, tam thế chư Phật đều thấy biết cả.  Nếu nay không dứt hẳn hành vi tội lỗi thời tam thế chư Phật cũng sẽ thấy rõ tội.  Nếu tôi vẫn còn phạm mãi không thôi thời là điều rất không nên.  Vì thế tôi phải chuyên tâm dứt bỏ để được chứng vô thượng bồ đề, rộng vì chúng sanh mà nói pháp chân thiệt.
Đây gọi là đại Bồ Tát tàm tạng thứ ba.
Chư Phật tử!  Những gì là đại Bồ Tát quý tạng?
Bồ Tát này tự thẹn:  Từ xưa đến nay ở trong ngũ dục tham cầu mãi không nhàm, nhân đó mà tăng trưởng các phiền não.  Nay tôi chẳng nên phạm lỗi ấy nữa.
Bồ Tát này lại nghĩ rằng:  Các chúng sanh vì vô trí mà khởi phiền não tạo đủ tội ác, chẳng kính trọng nhau, nhẫn đến làm oán thù của nhau, gây tạo đủ mọi tội ác, tạo xong lại vui mừng tự tán thưởng, thật là mù lòa không huệ nhãn, không thấy biết.  Nơi bụng mẹ, vào thai, sanh ra thành thân nhơ uế, trọn đến tóc bạc mặt nhăn.  Người có trí quán sát biết chỉ là từ dâm dục mà sanh ra thứ bất tịnh.  Tam thế chư Phật đều thấy biết rõ điều này.  Nếu nay tối vẫn còn phạm mãi lỗi này thời thật là khi dối tam thế chư Phật.  Thế nên tôi phải tu hành pháp hổ thẹn để mau thành vô thượng bồ đề, rồi khắp vì chúng sanh mà thuyết pháp chân thật.
Đây gọi là đại Bồ Tát quý tạng thứ tư.
Chư Phật tử!  Những gì là đại Bồ Tát văn tạng?
Bồ Tát này biết rằng vì sự này có nên sự này có, vì sự này không nên sự này không, vì sự này sanh nên sự này sanh, vì sự này diệt nên sự này diệt, đây là pháp thế gian, đây là pháp xuất thế, đây là pháp hữu vi, đây là pháp vô vi, đây là pháp hữu ký, đây là pháp vô ký.
Những gì là vì sự này có nên sự này có?  Chính là vì có vô minh nên có hành.
Những gì là vì sự này không nên sự này không?  Chính là vì thức không nên danh sắc không.
Những gì là vì sự này sanh nên sự này sanh?  Chính là vì ái sanh nên khổ sanh.
Những gì là vì sự này diệt nên sự này diệt?  Chính là vì hữu diệt nên sanh diệt.
Những gì là pháp thế gian?  Chính là sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Những gì là pháp xuất thế?  Chính là giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến.
Những gì là pháp hữu vi?  Chính là dục giới, sắc giới, vô sắc giới, chúng sanh giới.
Những gì là pháp vô vi?  Chính là hư không, niết bàn, trạch diệt, phi trạch diệt, duyên khởi, pháp tánh trụ.
Những gì là pháp hữu ký?  Chính là bốn thánh đế, bốn quả sa môn, bốn biện tài, bốn vô úy, bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, tám thánh đạo.
Những gì là pháp vô ký?  Chính là thế gian hữu biên, vô biên, cũng hữu biên cũng vô biên, chẳng phải hữu biên chẳng phải vô biên; thế gian hữu thường, vô thường, cũng hữu thường cũng vô thường, chẳng phải hữu thường chẳng phải vô thường; Như Lai sau khi diệt độ là có, là không, cũng có cũng không, chẳng có chẳng không; ngã và chúng sanh có, không, cũng có cũng không, chẳng có chẳng không; thời quá khứ có bao nhiêu Như Lai nhập niết bàn, bao nhiêu Thanh Văn, Độc Giác nhập niết bàn; thời vị lai sẽ có bao nhiêu Phật, Thanh Văn, Độc Giác, chúng sanh; những Như Lai nào ra đời trước nhất, những Thanh Văn, Độc Giác nào ra đời trước nhất, những chúng sanh nào ra đời trước nhất; những Như Lai nào ra đời sau cả, những Thanh Văn, Độc Giác nào ra đời sau cả, những chúng sanh nào ra đời sau cả; pháp gì trước cả, pháp gì sau cả, những chúng sanh nào ra đời sau cả; pháp gì trước cả, pháp gì sau cả; thế gian từ đâu đến, đi qua đâu; có bao nhiêu thế giới thành, bao nhiêu thế giới hoại, thế giới từ đâu lại, đi đến chỗ nào; gì là ngằn tối sơ của sanh tử, gì là mé tối hậu của sanh tử.  Đây gọi là pháp vô ký.
Đại Bồ Tát nghĩ rằng:  Tất cả chúng sanh ở trong sanh tử không có đa văn, chẳng rõ được tất cả pháp; tôi phải phát tâm trì tạng đa văn, chứng vô thượng bồ đề, rồi vì chúng sanh mà thuyết pháp chân thật.
Đây gọi là đại Bồ Tát đa văn tạng thứ năm.
Chư Phật tử!  Những gì là đại Bồ Tát thí tạng?
Bồ Tát này thật hành mười điều bố thí:  Phân giảm thí, kiệt tận thí, nội thí, ngoại thí, nội ngoại thí, nhất thiết thí, quá khứ thí, vị lai thí, hiện tại thí, cứu cánh thí.
Thế nào là Bồ Tát phân giảm thí?  Bồ Tát này bẩm tánh nhân từ ưa ban cho.  Nếu được thứ ngon thời chẳng chuyên tự dung, cần phải chia cho chúng sanh rồi sau mới ăn.  Phàm thọ được vật gì cũng thế cả.  Nếu lúc tự mình ăn, Bồ Tát nầy tự nghĩ rằng trong thân thể của tôi có tám vạn khí trùng, thân tôi sung túc, chúng nó cũng sung túc, thân tôi đói khổ, chúng nó cũng đói khổ.  Nay tôi ăn uống những thức này, nguyện khắp chúng sanh đều được no đủ.  Vì chúng trùng mà tôi ăn uống, chẳng tham mùi vị.  Bồ Tát này lại nghĩ rằng:  Từ lâu tôi vì mến chấp thân này muốn cho nó được no đủ nên ăn uống.  Nay tôi đem thức ăn này ban cho chúng sanh.  Nguyện tôi đối với thân thể dứt hẳn sự tham chấp.  Đây là phân giảm thí.
Thế nào là Bồ Tát kiệt tận thí?  Bồ Tát này được những thức uống ăn thượng vị, hương, hoa, y phục, những vật tư sanh, nếu tự dùng thời an vui sống lâu, còn nếu đem cho người thời cùng khổ chết yểu.  Lúc đó, có người đến xin tất cả.  Bồ Tát tự nghĩ:  Từ vô thỉ đến giờ tôi vì đói khát nên chết mất vô số thân chưa từng được có mảy may lợi ích cho chúng sanh để được phước lành.  Nay tôi cũng sẽ phải xả bỏ thân mạng này đồng như thuở xưa kia, thế nên tôi phải làm điều lợi ích cho chúng sanh, tuỳ mìn có gì đều thí xả tất cả, nhân đến tận mạng cũng không lẫn tiếc.  Đây gọi là kiệt tận thí.
Thế nào là Bồ Tát nội thí?  Bồ Tát này đương lúc trẻ mạnh xinh đẹp, mới thọ lễ quán đảnh lên ngôi chuyển luân vương, đủ bảy báu, trị bốn châu thiên hạ.  Bấy giờ có người đến tâu với nhà vua rằng vì họ già yếu nhiều bịnh, nếu được tay chân máu thịt đầu mắt xương tủy nơi thân thể của nhà vua, thời họ tất được mạnh giỏi sống còn.  Bồ Tát này nghĩ rằng:  Thân thể của tôi đây, sau này tất sẽ chết vô ích, tôi phải mau thí xả để cứu khổ chúng sanh.  Bồ Tát này suy nghĩ rồi liền đem thân xả thí không có lòng hối tiếc.  Đây gọi là nội thí.
Thế nào là Bồ Tát ngoại thí?  Bồ Tát này tuổi trẻ sắc đẹp lên ngôi vua chuyển luân, đủ bảy báu, trị bốn châu thiên hạ.  Bấy giờ hoặc có người đến tâu:  Hiện tôi nghèo khổ, xin nhà vua nhường ngôi cho tôi, để tôi được hưởng thọ sự giàu vui của nhà vua.  Bồ Tát tự nghĩ rằng:  Tất cả sự giàu sang tất sẽ suy đổ.  Lúc suy đổ không lợi ích gì cho chúng sanh.  Nay tôi nên làm vừa lòng cầu xin của người ấy.  Nghĩ xong, Bồ Tát liền đem ngôi vua nhường cho người ấy, không hối tiếc.  Đây gọi là ngoại thí.
Thế nào là Bồ Tat nội ngoại thí?  Bồ Tát này đương ở ngôi chuyển luân vương như trên.  Có người đến tâu xin nhường ngôi và vua phải làm thần bộc cho họ.  Bồ Tát tự nghĩ rằng:  Thân tôi và của cải cùng ngôi vua này đều là vô thường bại hoại.  Nay có người đến xin, tôi nên đem những thứ chẳng bền này để cầu lấy quả bền chắc.  Nghĩ xong, Bồ Tát liền làm vừa ý người xin không hối tiếc.  Đây gọi là nội ngoại thí.
Thế nào là Bồ Tát thí tất cả?  Bồ Tát này cũng như trên đã nói ở ngôi chuyển luân vương.  Bấy giờ có số đông người nghèo cùng đến tâu xin: Kẻ xin ngôi vua, kẻ xin vợ con của vua, kẻ xin tay chân máu thịt tim phổi đầu mắt tủy óc của vua.  Bồ Tát tự nghĩ rằng:  Tất cả ân ái hội họp tất có biệt ly không lợi ích gì cho người.  Nay tôi nên rời bỏ tham ái, đem những vật tất sẽ ly tán này để làm vừa lòng chúng sanh.  Nghĩ xong, theo chỗ xin của mỗi người đều ban cho không hối tiếc, cũng không khinh nhàm chúng sanh.  Đây gọi là nhất thiết thí.
Thế nào là Bồ Tát quá khứ thí?  Bồ Tát này nghe những công đức của chư Phật, Bồ Tát thời quá khứ, nghe rồi không tham trước, rõ thấu là chẳng phải có, chẳng khởi lòng phân biệt, chẳng tham, chẳng đắm, cũng chẳng cầu lấy, không nương cậy, thấy pháp như giấc mơ không kiên cố, nơi các thiện căn chẳng tưởng là có cũng không nương cậy, chỉ vì giáo hóa những chúng sanh thủ trước thành thục Phật pháp mà diễn thuyết cho họ.  Lại quán sát các pháp quá khứ tìm cầu mười phương đều không thể được.  Nghĩ như thế xong, nơi pháp quá khứ đều xả bỏ tất cả.  Đây gọi là quá khứ thí.
Thế nào là Bồ Tát vị lai thí?  Bồ Tát này nghe công hạnh tu hành của chư Phật thời vị lai, rõ thấu là chẳng phải có, chẳng chấp tướng, chẳng riêng thích vãng sanh quốc độ chư Phật, chẳng ham chẳng trước, cũng chẳng sanh nhàm, chẳng đem thiện căn hồi hướng nơi đó, cũng chẳng nơi đó mà thối thiện căn, thường siêng tu hành chưa từng phế bỏ.  Chỉ muốn nhân cảnh giới đó để nhiếp thủ chúng sanh, vì họ giảng thuyết chân thật khiến thành thục Phật pháp, nhưng pháp này chẳng phải có chỗ nơi, chẳng phải không chỗ nơi, chẳng phải trong, chẳng phải ngoài, chẳng phải gần, chẳng phải xa.  Bồ Tát lại nghĩ rằng nếu pháp đã là chẳng phải có thời chẳng được chẳng xả.  Đây gọi là vị lai thí.
Thế nào là Bồ Tát hiện tại thí?  Bồ Tát này nghe các cõi trời:  Tứ Thiên Vương, Đao Lợi, Dạ Ma, Đâu Suất, Hóa Lạc, Tha Hóa, Phạm Chúng, Phạm Phụ, Phạm Vương, Thiểu Quang, Vô Lượng Quang, Quang Âm, Thiểu Tịnh, Vô Lượng Tịnh, Biến Tịnh, Phước Sanh, Phước Ái, Quảng Quả, Vô Tưởng, Vô Phiền, Vô Nhiệt, Thiện Kiến, Thiện Hiện, Sắc Cứu Cánh, và nghe Thanh Văn, Duyên Giác đầy đủ công đức.  Nghe xong, tâm của Bồ Tát này chẳng mê, chẳng mất, chẳng tụ, chẳng tan.  Chỉ quán sát các hành pháp như giấc mơ chẳng thiệt, lòng không tham trước.  Vì làm cho chúng sanh bỏ lìa ác thú, tâm vô phân biệt, tu Bồ Tát đạo thành tựu Phật pháp, nên khai thị diễn thuyết cho họ.  Đây gọi là hiện tại thí.
Thế nào là Bồ Tát cứu cánh thí?  Giả sử có vô lượng chúng sanh hoặc không mắt, hoặc không tai, hoặc không mũi, không lưỡi, hoặc không tay, không chân... đồng đến xin Bồ Tát này bố thí mắt, tai, mũi, lưỡi, tay, chân nơi thân của Bồ Tát cho họ được toàn vẹn hết tật nguyền.  Bồ Tát này liền bố thí theo chỗ họ muốn, dầu đến phải tự mang tật trải qua vô số kiếp vẫn không có lòng hối tiếc.  Chỉ quán sát thân thể từ khi nhập thai thành hình toàn là bất tịnh ở trong phạ vi sanh, già, bệnh, chết.  Lại quán sát thân thể không thiệt, không tàm quý, chẳng phải vật của Hiền Thánh, là vật hôi nhơ chẳng sạch, xương lóng chỏi nhau, máu thịt kết lại, cửu khiến luôn chảy chất hôi nhơ ai cũng nhàm gớm.  Do sự quán sát này nên không có một niệm ái trước nơi thân thể.  Lại tự nghĩ rằng thân thể này mỏng manh không bền, không nên luyến ái, phải đem bố thí cho mọi người được toại nguyện xin cầu.  Việc làm của tôi đây dùng khai thị dìu dắt chúng sanh, khiến họ chẳng tham ái nơi thân thể mà đều được thành tựu trí thân thanh tịnh.  Đây gọi là cứu cánh thí.
Đây là đại Bồ Tát tạng thứ sáu.
Chư Phật tử!  Những gì là đại Bồ Tát huệ tạng?
Bồ Tát này đối với sắc, sắc tập, sắc diệt, sắc diệt đạo đều biết đúng như thiệt.  Đối với bốn uẩn tập, bốn uẩn, thọ, tưởng, hành, thức, bổn uẩn tập, bốn uẩn diệt, bốn uẩn diệt đạo đều biết đúng thiệt.  Đối với vô minh và ái, vô minh ái tập, vô minh ái diệt, vô minh ái diệt đạo đều biết đúng thiệt.
Bồ Tát này đối với Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát đều biết đúng thiệt; với Thanh Văn tập, Duyên Giác tập, Bồ Tát tập đều biết đúng thiệt, với Thanh Văn niết bàn, Duyên Giác niết bàn, Bồ Tát niết bàn đều biết đúng thiệt.
Biết thế nào?  Biết từ nhân duyên của nghiệp báo tạo ra, tất cả đều hư giả, là không, là chẳng thiệt, chẳng phải ngã, chẳng kiên cố, không có chút pháp nào thành lập được.
Vì muốn cho chúng sanh biết thiệt tánh của các pháp nên rộng tuyên thuyết cho họ.  Tuyên thuyết các pháp bất khả hoại.  Những pháp gì bất khả hoại??  Sắc, thọ, tưởng, hành, thức bất khả hoại; vô minh bất khả hoại; Thanh Văn pháp, Duyên Giác pháp, Bồ Tát pháp đều bất khả hoại.
Tại sao vậy?  Vì tất cả pháp là vô tác, không xứ sở, chẳng sanh khởi, chẳng cho chẳng lấy, không động chuyển, không tác dụng.
Bồ Tát này thành tựu vô lượng huệ tạng như vậy, dùng chút ít phương tiện rõ tất cả pháp, tự nhiên tỏ thấu chẳng do người khác mà giác ngộ.
Tạng huệ vô tận này có mười thứ bất khả tận nên được gọi là vô tận:  Vì đa văn thiện xảo bất khả tận, vì thân cận thiện tri thức bất khả tận, vì thiện phân biệt cú nghĩa bất khả tận, vì nhập tâm pháp giới bất khả tận, vì dùng trí nhất vị trang nghiêm bất khả tận, vì họp tất cả phước đức tâm không mỏi mệt bất khả tận, vì nhập tất cả môn đà la ni bất khả tận, vì hay phân biệt âm thanh ngữ ngôn của tất cả chúng sanh bất khả tận, vì hay dứt nghi lầm của tất cả chúng sanh bất khả tận, vì tất cả chúng sanh mà hiện Phật thần lực để giáo hóa điều phục khiến họ tu hành không dứt bất khả tận.
Đây là đại Bồ Tát huệ tạng thứ bảy.
Bậc trụ trong huệ tạng này được vô tận trí huệ, có thể khai ngộ khắp tất cả chúng sanh.
Những gì là đại Bồ Tát niệm tạng?
Chư Phật tử!  Bồ Tát này lìa bỏ sự si lầm, được niệm lực đầy đủ.  Nhớ thời quá khứ một đời, hai đời, nhẫn đến mười đời, trăm ngàn vô lượng đời, nhớ kiếp thành kiếp hoại, đến trăm ngàn ức kiếp, nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp.  Nhớ hồng danh của một đức Phật đến bất khả thuyết bất khả thuyết đức Phật.   Nhớ một đức Phật xuất thế nói thọ ký nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết đức Phật xuất thế nói thọ ký.  Nhớ một đức Phật xuất thế nói mười hai bộ kinh nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết đức Phật xuất thế nói mười hai bộ kinh.  Nhớ một chúng hội nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết chúng hội.  Nhớ diễn một pháp nhẫn đến diễn bất khả thuyết bất khả thuyết chúng hội.  Nhớ diễn một pháp nhẫn đến diễn bất khả thuyết pháp.  Nhớ một căn tánh nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết căn tánh.  Nhớ những tánh của một phiền não nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết phiền não.  Nhớ những tánh của một tam muội nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết tam muội.
Niệm tạng nầy có mười thứ:  Tịch tịnh niệm, thanh tịnh niệm, bất trược niệm, minh triệt niệm, ly trần niệm, ly chủng chủng trần niệm, ly cấu niệm, quang diệu niệm, khả ái nhạo niệm, vô chướng ngại niệm.
Lúc Bồ Tát trụ trong niệm tạng này, tất cả thế gian không nhiễu loạn được, tất cả dị luận không biến động được, thiện căn đời trước đều được thanh tịnh, nơi thế pháp không nhiễm trước, các ma ngoại đạo không phá hoại được, đổi thân thọ sanh không bị quên mất, quá khứ hiện tại vị lai thuyết pháp đều vô tận, trong tất cả thế giới cùng chúng sanh đồng ở không hề có lầm lỗi, vào tất cả chúng hội đạo tràng của chư Phật không bị chướng ngại, đều được gần gũi tất cả chư Phật.
Đây gọi là đại Bồ Tát niệm tạng thứ tám.
Những gì là đại Bồ Tát trì tạng?  Bồ Tát này thọ trì văn cú nghĩa lý khế kinh của chư Phật nói không quên sót.  Một đời thọ trì nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết đời thọ trì.  Thọ trì danh hiệu của một đức Phật nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp số.  Thọ trì một đức Phật thọ ký nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết Phật thọ ký.  Thọ trì một khế kinh nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết khế kinh.  Thọ trì một chúng hội nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết chúng hội.  Thọ trì diễn một pháp nhẫn đến diễn bất khả thuyết bất khả thuyết Phật pháp.  Thọ trì một căn vô lượng chủng tánh nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết bất khả thuyết căn vô lượng chủng tánh.   Thọ trì một phiền não nhiều thứ tánh nhẫn đến bất khả thuyết nhiều thứ tánh.  Thọ trì một tam muội các thứ tánh nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết tam muội các thứ tánh.
Trì tạng này vô biên, khó đầy, khó đến được đáy, khó được thân cận, không gì chế phục được, vô lượng vô tận, đủ oai lực lớn, là cảnh giới Phật, chỉ có Phật rõ được.
Đây gọi là đại Bồ Tát tạng thứ chín.
Những gì là đại Bồ Tát biện tạng?  Bồ Tát này có trí huệ rất sâu, biết rõ thiệt tướng, rộng vì chúng sanh diễn thuyết các pháp chẳng trái với kinh điển của chư Phật.  Diễn thuyết một phẩm pháp nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết phẩm pháp.  Diễn thuyết một Phật hiệu nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết Phật hiệu.  Như vậy, diễn thuyết thế giới, Phật thọ ký, khế kinh, chúng hội, diễn pháp, căn tánh, phiền não tánh, tam muội tánh, cũng đều từ một đến bất khả thuyết bất khả thuyết cả.  Hoặc diễn thuyết trong một này, hoặc nửa tháng, một tháng, trăm năm, ngàn năm, nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp.  Kiếp số có thể cùng tận, nghĩa lý một chữ, một câu khó cùng tận.
Tại sao vậy?  Vì Bồ Tát này thành tựu mười thứ tạng vô tận, nhiếp được nhất thiết pháp đà la ni môn hiệu ở trước, có trăm vạn vô số đà la ni làm quyến thuộc.  Được đà la ni này rồi, dùng pháp quang minh rộng vì chúng sanh diễn thuyết các pháp.  Lúc thuyết pháp, dùng lưỡi rộng dài ra tiếng vi diệu khắp đến tất cả thế giới mười phương, tùy căn tánh đều làm cho đầy đủ, lòng hoan hỷ, dứt trừ tất cả phiền não, khéo vào tất cả âm thanh ngữ ngôn văn tự biện tài, khiến tất cả chúng sanh chẳng dứt Phật chủng, tâm thanh tịnh được tương tục.  Cũng dùng pháp quang minh mà thuyết pháp không cùng tận, chẳng mỏi mệt.
Tại sao vậy?  Vì Bồ Tát này thành tựu thân vô biên cùng tận hư không pháp giới.
Đây là đại Bồ Tát biện tạng thứ mười.  Tạng này vô cùng tận, không phân biệt, không gián đoạn, không đổi khác, không cách ngại, không thối chuyển, rất sâu không đáy khó vào được, vào khắp tất cả môn Phật pháp.
Chư Phật tử!  Mười tạng vô tận này có mười pháp vô tận khiến chư Bồ Tát rốt ráo thành vô thượng bồ đề.
Đây là mười pháp:  Vì lợi ích tất cả chúng sanh, vì bổn nguyện khéo hồi hướng, vì tất cả kiếp không đoạn tuyệt, vì tận hư không giới đều khai ngộ tâm vô hạn, vì hồi hướng hữu vi mà không tham trước, vì cảnh giới một niệm tất cả pháp vô tận, vì tâm đại nguyện không đổi khác, vì khéo nhiếp thủ các đà la ni, vì tất cả chư Phật hộ niệm, vì rõ tất cả pháp đều như huyễn.
Mười pháp vô tận này có thể khiến chỗ thật hành của tất cả thế gian trọn được rốt ráo tạng lớn vô tận."





Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-11-23 06:49:38canary>
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 3

Phẩm Đâu Suất kệ tán 
Thứ hai mươi lăm (phần trên)


Hán bộ từ phần dưới của quyển thứ 23 đến hết quyển thứ 30)

Hán bộ quyển thứ 23

Lúc bấy giờ, Kim Cang Tràng Bồ Tát thừa thần lực của Phật nhập Bồ Tát trí quang tam muội.
Nhập tam muội này rồi, mười phương đều quá mười vạn phật sát vi trần số thế giới, có mười vạn phật sát vi trần số Phật đồng một hiệu Kim Cang Tràng hiện ra trước Bồ Tát mà đồng khen rằng:  "Lành thay!  Ông có thể nhập Bồ Tát trí quang tam muội này!  Thiện nam tử!  Đây là mười phương đều mười vạn phật sát vi trần số chư Phật dùng thần lực cùng gia hộ ông.  Mà cũng là oai lực bổn nguyện của đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai.  Và vì ông được trí huệ thanh tịnh, cùng chư Bồ Tát thiện căn tăng thắng, khiến ông nhập tam muội này để thuyết pháp, vì khiến chư Bồ Tát được thanh tịnh vô úy, vì để đủ vô ngại biện tài, vì nhập trí địa vô ngại, vì trụ đại tâm nhất thiết trí, vì thành tựu vô tận thiện căn, vì đầy đủ pháp lành vô ngại, vì nhập phổ môn pháp giới, vì hiện thần lực tất cả Phật, vì niệm trí về thời quá khứ chẳng dứt, vì được tất cả Phật hộ trì các căn, vì dùng vô lượng môn nói rộng các pháp, vì nghe rồi trọn hiểu rõ thọ trì chẳng quên, vì nhiếp tất cả căn lành của chư Bồ Tát, vì trọn nên những pháp trợ đạo xuất thế, vì chẳng dứt nhất thiết chủng trí, vì khai phát đại nguyện, vì giải thích thiệt nghĩa, vì rõ biết pháp giới, vì khiến chư Bồ Tát đều trọn hoan hỷ, vì tu tất cả Phật bình đẳng thiện căn, vì hộ trì chủng tánh Phật.
Sẽ diễn thuyết pháp gì?  Chính là diễn nói thập hồi hướng của chư Bồ Tát vậy.
Thiện nam tử!  Ông nên thừa thần lực của Phật mà diễn pháp ấy, vì để được Phật hộ niệm, vì an trụ nhà Phật, vì thêm lớn công đức xuất thế, vì được đà la ni quang minh, vì nhập Phật pháp vô ngại, vì đại quang chiếu khắp pháp giới, vì học pháp thanh tịnh không lỗi, vì trụ cảnh giới trí quảng đại, vì được pháp quang vô ngại."
Chư Phật liền ban cho Kim Cang Tràng Bồ Tát vô lượng trí huệ cùng vô ngại biện, ban cho thiện phương tiện phân biệt cú nghĩa, ban cho pháp quang minh vô ngại, ban cho thân Như Lai bình đẳng, ban cho vô lượng âm thanh thanh tịnh sai biệt, ban cho Bồ Tát bất tư nghì thiện quán sát tam muội, ban cho thiện căn hồi hướng trí kiên cố, ban cho quan sát nhất thiết pháp thành tựu xảo phương tiện, ban cho biện tài ở tất cả chỗ, thuyết tất cả pháp vô đoạn.
Tại sao vậy?  Vì do sức căn lành nhập tam muội này thì được như vậy.
Chư Phật đều đưa tay hữu xoa đảnh Kim Cang Tràng Bò Tát.
Được chư Phật xoa đảnh xong, Kim Cang Tràng Bồ Tát xuất định nói với chúng Bồ Tát rằng: "Thưa chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có đại nguyện bất tư nghì đầy khắp pháp giới cứu hộ được tất cả chúng sanh.  Chính là tu học tam thế chư Phật hồi hướng.
Thưa chư Phật tử!  Đại Bồ Tát hồi hướng có mấy thứ?
Đại Bồ Tát hồi hướng có mười thứ sau đây, tam thế chư Phật đồng diễn thuyết:  Một là cứu hộ tất cả chúng sanh ly chúng sanh tướng hồi hướng.  Hai là bất hoại hồi hướng.  Ba là đẳng nhất thiết chư Phật hồi hướng.  Bốn là chí nhất thiết xứ hồi hướng.  Năm là vô tận công đức tạng hồi hướng.  Sáu là nhậpt nhất thiết bình đẳng thiện căn hồi hướng.  Bảy là đẳng tuỳ thuận nhất thiết chúng sanh hồi hướng.  Tám là chơn như tướng hồi hướng.  Chín là vô phược, vô trước giải thoát hồi hướng.  Mười là nhập pháp giới vô lượng hồi hướng.
Thưa chư Phật tử!  Thế nào là đại Bồ Tát cứu hộ nhất thiết chúng sanh ly chúng sanh tướng hồi hướng? 
Đại Bồ Tát này thật hành đàn ba la mật, thanh tịnh thí ba la mật, tu nhẫn nhục ba la mật, khởi tinh tấn ba la mật, nhập thiền ba la mật, trụ bát nhã ba la mật, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, tu vô lượng thiện căn như vậy.
Lúc tu thiện căn tự nghĩ rằng:  Nguyện những thiện căn này có thể khắp lợi ích tất cả chúng sanh đều làm cho thanh tịnh đến nơi rốt ráo, lìa hẳn vô lượng khổ não địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Diêm La Vương, v.v...
Đại Bồ Tát lúc trồng thiện căn, đem thiện căn của mình hồi hướng như vầy:  Tôi sẽ làm nhà cho tất cả chúng sanh để họ khỏi tất cả sự khổ; tôi sẽ làm chỗ cứu hộ của tất cả chúng sanh khiến họ đều được giải thoát phiền não; tôi sẽ làm chỗ quy y của tất cả chúng sanh khiến họ đều được lìa sự bố úy; tôi sẽ làm chỗ xu hướng của tất cả chúng sanh khiến họ được đến nơi nhất thiết trí; tôi sẽ làm chỗ an ổn cho tất cả chúng sanh khiến họ được chỗ an ổn rốt ráo; tôi sẽ làm ánh sáng cho tất cả chúng sanh khiến họ được trí quang diệt si ám; tôi sẽ làm ngọn đuốc cho tất cả chúng sanh để phá tất cả tối vô minh cho họ; tôi sẽ làm đèn cho tất cả chúng sanh khiến họ an trụ nơi rốt ráo thanh tịnh; tôi sẽ là đạo sư cho tất cả chúng sanh dẫn dắt họ vào pháp chơn thiệt; tôi sẽ làm đại đạo sư của tất cả chúng sanh ban cho họ trí huệ lớn vô ngại.
Đại Bồ Tát đem những thiện căn hồi hướng như vậy, bình đẳng lợi ích tất cả chúng sanh, rốt ráo đều khiến được nhất thiết trí.
Đại Bồ Tát lợi ích hướng cho hàng chẳng phải thân hữu đồng như đối với hàng thân hữu của mình.  Vì đại Bồ Tát đã nhập tánh bình đẳng của tất cả pháp, với các chúng sanh không có một quan niệm là chẳng phải thân hữu.  Giả sử có chúng sanh nào đem lòng oán hại Bồ Tát, Bồ Tát này cũng vẫn thương mến họ trọn không hờn giận.
Bồ Tát này làm thiện tri thức cho khắp tất cả chúng sanh, đem chánh pháp diễn thuyết khiến họ tu tập.
Ví như biển cả, tất cả chất độc, không làm biến hoại được.
Bồ Tát này cũng vậy.  Tất cả kẻ ngu mông vô trí, vô ân, sân độc, kiêu mạn, mê tối không biết pháp lành, những kẻ ác này đủ cách làm bức hại vẫn không làm động loạn tâm Bồ Tát này được.
Ví như mặt nhật hiện ra thế gian, chẳng do vì kẻ sanh manh kia mà lại ẩn đi không sáng.  Lại cũng chẳng vì sương mù, tay a tu la, cây diêm phù đề, gò cao, hang sâu, bụi khói mây mù che hướng mà ẩn đi không sáng.  Lại cũng chẳng vì thời tiết biến đổi mà ẩn đi không sáng.
Đại Bồ Tát cũng như vậy.  Có phước đức lớn, tâm sâu rộng chánh niệm quán sát không thối khuất.  Vì muốn rốt ráo công đức trí huệ nên đối với pháp thắng thượng lập chí nguyện pháp quang chiếu khắp thấy tất cả nghĩa, nơi các pháp môn trí huệ tự tại, thường vì lợi ích chúng sanh mà tu pháp lành, chẳng bao giờ lầm sanh lòng tổn hại chúng sanh.  Chẳng vì chúng sanh tệ ác tà kiến khó điều phục mà rời bỏ chẳng tu hồi hướng.  Chỉ dùng giáp trụ đại nguyện để tự trang nghiêm, luôn cứu hộ chúng sanh không thối chuyển.  Chẳng vì chúng sanh vô ân mà thối Bồ Tát hạnh, bỏ bồ đề đạo, chẳng vì ở chung với kẻ phàm ngu mà lìa bỏ tất cả thiện căn như thiệt, chẳng vì chúng sanh thường sanh lỗi ác khó nhẫn thọ được mà sanh lòng nhàm mỏi.  Như mặt nhật kia chẳng vì có một sự nào che chướng mà lại ẩn đi không chiếu sáng.
Đại Bồ Tát chẳng phải chỉ vì cứu hộ một chúng sanh mà tu các thiện căn hồi hướng vô thượng bồ đề, mà chính vì khắp cứu hộ tất cả chúng sanh vậy.  Chẳng phải chỉ vì thanh tịnh một Phật độ, tin một đức Phật, thấy một đức Phật, rõ một pháp, nhưng chính vì thanh tịnh khắp tất cả Phật độ, tin khắp tất cả chư Phật, thấy khắp tất cả chư Phật, hiểu tất cả Phật pháp mà phát khởi đại nguyện tu các thiện căn hồi hướng vô thượng bồ đề.
Đại Bồ Tát dùng các Phật pháp mà làm duyên khởi, phát tâm quảng đại, tâm bất thối, trong vô lượng kiếp tu tập tâm bửu hy hữu nan đắc, trọn đều bình đẳng với tất cả chư Phật.
Đại Bồ Tát quán sát các thiện căn như vậy, tín tâm thanh tịnh, đại bi kiên cố, dùng thâm tâm, hoan hỷ tâm, thanh tịnh tâm, tối thắng tâm, nhu nhuyến tâm, từ bi tâm, lân mẫn tâm, nhiếp hộ tâm, lợi ích tâm, an lạc tâm, mà khắp vì chúng sanh hồi hướng chân thiệt, chẳng phải chỉ là lời suông.
Đại Bồ Tát lúc đem các thiện căn hồi hướng tự nghĩ rằng:  Do thiện căn của tôi đây, nguyện tất cả loài, tất cả chúng sanh đều được thanh tịnh, công đức viên mãn, chẳng bị trở ngại hư hoại, không cùng tận, thường được tôn trọng chánh niệm chẳng quên, được trí huệ quyết định, đủ vô lượng trí, thân, khẩu, ý ba nghiệp tất cả công đức viên mãn trang nghiêm.
Đại Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Do căn lành này khiến tất cả chúng sanh thừa sự cúng dường tất cả chư Phật không bỏ qua, khởi lòng tin chư Phật thanh tịnh không hư hoại, được nghe chánh pháp dứt các sự nghi hoặc, và ghi nhớ không quên, tu hành đúng pháp, cung kính chư Phật, thân nghiệp thanh tịnh an trụ vô lượng thiện căn rộng lớn, lìa hẳn sự nghèo cùng, đầy đủ bảy thánh tài, thường the chư Phật tu học, thành tựu vô lượng thiện căn thắng diệu, tỏ ngộ bình đẳng trụ nhất thiết trí, dùng vô ngại nhãn bình đẳng nhìn chúng sanh, các tướng hảo nghiêm thân không tỳ vết, lời nói tinh diệu, công đức viên mãn, các căn điều phục, thành tựu thập lực, tâm lành đầy đủ, không chỗ y trụ, khiến tất cả chúng sanh đều được sự vui của Phật, trụ nơi chỗ Phật an trụ.
Đại Bồ Tát thấy các chúng sanh gây tạo ác nghiệp, chịu nhiều khổ, bị đây làm chướng mà không thấy được Phật, chẳng được nghe pháp, chẳng biết tăng, Bồ Tát bèn nghĩ rằng:  Tôi sẽ ở trong các ác đạo kia, thay thế các chúng sanh chịu các sự khổ, khiến họ được giải thoát.  Lúc Bồ Tát chịu khổ thế chúng sanh như vậy càng tinh tấn hơn, chẳng bỏ chẳng tránh, chẳng kinh chẳng sợ, không nhàm mỏi.  Vì đúng như bổn nguyện:  Quyết muốn đảm nhiệm chúng sanh khiến họ được giải thoát.  Bồ Tát nghĩ rằng:  Tất cả chúng sanh ở trong chỗ sanh, già, bệnh, chết, các khổ nạn, theo nghiệp mà lưu chuyển, tà kiến vô trí mất các pháp lành, tôi phải cứu họ, cho họ được xuất ly.
Lại các chúng sanh bị lưới ái vấn, lọng si che, mà nhiễm trước cõi hữu lậu theo mãi không rời bỏ, vào trong lồng củi khổ não, thật hành nghiệp ma, phước trí đều hết thường ôm lòng nghi hoặc, chẳng thấy chỗ an ổn, chẳng biết đạo xuất ly, ở trong sanh tử luân hồi mãi, luôn bị ngập chìm trong khổ bùn lầy.
Bồ Tát thấy chúng sanh như vậy nên khởi tâm đại bi, tâm lợi ích, muốn làm cho chúng sanh đều được giải thoát nên đem tất cả thiện căn hồi hướng, dùng tâm quảng đại hồi hướng, như chỗ tu hành của tam thế Bồ Tát hồi hướng, như lời dạy trong kinh đại hồi hướng mà hồi hướng.  Nguyện các chúng sanh đều khắp được thanh tịnh, rốt ráo thành tựu nhất thiết chủng trí.
Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Chỗ tu hành của tôi, muốn làm cho chúng sanh đều được thành bậc trí huệ vô thượng.  Tôi chẳng vì tự thân mà cầu giải thoát, chỉ vì cứu tế tất cả chúng sanh, khiến họ đều được nhất thiết trí, qua khỏi vòng sanh tử thoát tất cả khổ.
Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Tôi sẽ vì khắp tất cả chúng sanh chịu đủ sự khổ, khiến họ ra khỏi hố sanh tử khổ.  Tôi vì khắp tất cả chúng sanh mà tận vị lai kiếp chịu tất cả khổ trong ác đạo nơi tất cả thế giới, nhưng vẫn luôn vì chúng sanh mà tu thiện căn.  Tôi thà riêng mình chịu mọi sự khổ, đem thân chuộc tất cả ác đạo chúng sanh khiến họ được giải thoát, chớ chẳng để chúng sanh đoạ nơi địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, Diêm La Vương, và các ác đạo.
Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Tôi nguyện bảo hộ tất cả chúng sanh trọn chẳng rời bỏ.  Đây là lời nguyện thành thật không hư vọng.  Tại sao vậy?  Tôi vì cứu độ tất cả chúng sanh mà phát bồ đề tâm, chớ chẳng phải vì tự thân mà cầu đạo vô thượng.  Cũng chẳng phải vì cầu hưởng phước lạc trong ba cõi mà tôi tu bồ đề hạnh.  Tại sao vậy?  Vì phước lạc thế gian không gì chẳng phải là khổ, là cảnh giới ma, chư Phật luôn quở trách, chỉ có kẻ ngu mới tham trước, tất cả khổ hoạn đều nhân đó mà có.  Những ác đạo địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chỗ Diêm La Vương, giận thù kiện cáo hủy nhục nhau, v.v... đều do tham trước ngũ dục mà gây nên.  Kẻ tham ngũ dục thời xa lìa chư Phật, chướng ngại sanh lên cõi trời, huống là được vô thượng bồ đề.
Bồ Tát quán sát thế gian như vậy, vì tham chút ít dục lạc mà bị vô lượng sự khổ, nên trọn chẳng vì cảnh ngũ dục mà cầu bồ đề, Bồ Tát hạnh, chỉ vì an lạc tất cả chúng sanh mà phát tâm tu tập thành tựu viên mãn đại nguyện, cắt đứt những dây khổ của chúng sanh khiến họ được giải thoát.
Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Tôi phải đem căn lành hồi hướng như vậy khiến tất cả chúng sanh được vui rốt ráo, vui lợi ích, vui bất thọ, vui tịch tịnh, vui vô động, vui vô lượng, vui bất xả bất thối, vui bất diệt, vui nhất thiết trí.
Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Tôi sẽ vì tất cả chúng sanh mà làm điều ngự sư, làm chủ tinh thần, cầm đuốc đại trí, chỉ đường an ổn khiến họ lìa hiểm nạn, dùng thiện phương tiện khiến họ biết thiệt nghĩa.  Nơi biển sanh tử làm thuyền trưởng khéo giỏi đủ trí đưa các chúng sanh đến bờ kia.
Thưa chư Phật tử!  Đại Bồ Tát đem các thiện căn hồi hướng như vậy.  Chính là tùy nghi cứu hộ tất cả chúng sanh khiến họ thoát sanh tử, thờ cúng tất cả chư Phật, được trí vô ngại, lìa các ma, xa bạn ác, gần bạn lành Bồ Tát, dứt trừ tội lỗi, thành tựu tịnh nghiệp, đầy đủ hạnh nguyện rộng lớn của Bồ Tát và vô lượng thiện căn.
Đại Bồ Tát đem thiện căn chánh hồi hướng rồi, tự nghĩ rằng:  Chẳng vì tứ châu thiên hạ đông chúng sanh mà có nhiều mặt nhật hiện, chỉ một mặt nhật mọc lên đủ soi sáng khắp tất cả chúng sanh.  Lại các chúng sanh chẳng phải từ mình có ánh sáng để biết ngày đêm, đứng đi hành động, mà đều do mặt nhật mọc lên.  Mặt nhật kia chỉ có một.
Cũng thế, đại Bồ Tát lúc tu tập thiện căn hồi hướng, nghĩ rằng:  Các chúng sanh kia chẳng thể tự cứu, đâu có thể cứu người khác.  Riêng một mình tôi lập chí nguyện tu tập thiện căn hồi hướng như vậy.  Những là:  Vì muốn quảng độ tất cả chúng sanh, vì chiếu khắp tất cả chúng sanh, vì chỉ dẫn tất cả chúng sanh, vì khai ngộ tất cả chúng sanh, vì đoái lại tất cả chúng sanh, vì nhiếp thọ tất cả chúng sanh, vì thành tựu tất cả chúng sanh, vì khiến tất cả chúng sanh hoan hỷ, vì khiến tất cả chúng sanh vui đẹp, vì khiến tất cả chúng sanh dứt nghi.
Đại Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Tôi phải như mặt nhật, chiếu khắp tất cả mà chẳng cầu báo ân; chúng sanh có kẻ ác hại tôi, tôi đều dung thọ trọn chẳng do đây mà bỏ thệ nguyện; chẳng vì một chúng sanh ác mà bỏ tất cả chúng sanh, tôi chỉ riêng tu tập thiện căn hồi hướng, khiến khắp chúng sanh đều được an lạc.  Thiện căn dầu ít, nhưng vì nhiếp khắp chúng sanh tôi dùng tâm hoan hỷ hồi hướng quảng đại.  Nếu có thiện căn mà chẳng muốn lợi ích tất cả chúng sanh thời chẳng gọi là hồi hướng.  Tùy một thiện căn dùng khắp chúng sanh làm cảnh sở duyên mới gọi là hồi hướng.  Hồi hướng đặt để chúng sanh nơi pháp tánh vô trước.  Hồi hướng thấy chúng sanh bất động bất chuyển.  Hồi hướng vô y vô thủ đối với sự hồi hướng.  Hồi hướng chẳng chấp lấy tướng thiện căn.  Hồi hướng chẳng phân biệt nghiệp báo thể tánh.  Hồi hướng chẳng tham trước tướng ngũ uẩn.  Hồi hướng chẳng phá hoại tướng ngũ uẩn.  Hồi hướng chẳng chấp lấy nghiệp.  Hồi hướng chẳng cầu báo.  Hồi hướng chẳng nhiễm trước nhân duyên.  Hồi hướng chẳng phân biệt nhân duyên khởi.  Hồi hướng chẳng chấp xứ sở.  Hồi hướng chẳng chấp pháp hư vọng.  Hồi hướng chẳng khởi tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo.  Hồi hướng chẳng chấp đường ngôn ngữ.  Hồi hướng quán tánh chơn thật của tất cả pháp.  Hồi hướng quán tán bình đẳng của tất cả chúng sanh.  Hồi hướng dùng ấn pháp giới ấn các thiện căn.  Hồi tướng quán các pháp lìa tham dục.  Hiểu tất cả pháp không gieo trồng, thiện căn cũng như vậy.  Quán các pháp không hai, không sanh, không diệt, hồi hướng cũng như vậy.  Dùng những thiện căn hồi hướng như vậy mà tu hành pháp đối trị thanh tịnh.  Bao nhiêu thiện căn thảy đều tùy thuận pháp xuất thế, chẳng làm hai tướng.  Chẳng phải tức nghiệp tu tập nhất thiết trí.  Chẳng phải lìa nghiệp hồi hướng nhất thiết trí.  Nhất thiết trí chẳng phải tức nghiệp, nhưng cũng chẳng phải lìa nghiệp mà được nhất thiết trí.  Bởi nghiệp thanh tịnh như bóng sáng.  Báo như bóng sáng thanh tịnh bóng sáng, lìa ngã ngã sở tất cả động loạn tư duy phân biệt.  Rõ biết như vậy, đem các thiện căn phương tiện hồi hướng.
Lúc Bồ Tát hồi hướng như vậy, Bồ Tát luôn độ thoát chúng sanh không thôi, chẳng trụ pháp tướng.  Dầu biết các pháp không nghiệp, không báo, mà khéo hay xuất sanh tất cả nghiệp báo không trái nghịch, Bồ Tát phương tiện khéo tu hồi hướng như vậy.
Lúc đại Bồ Tát hồi hướng như vậy lìa tất cả lỗi, được chư Phật khen ngợi.
Đây là đại Bồ Tát cứu hộ nhất thiết chúng sanh ly chúng sanh tướng hồi hướng thứ nhất."
Kim Cang Tràng Bồ Tát thừa thần lực của đức Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Tu hành trong bất tư nghì kiếp
Tinh tấn kiên cố tâm vô ngại
Vì muốn lợi ích các quần sanh
Thường cầu khắp công đức của Phật.
Bậc thế gian không ai sánh bằng
Tu sửa tâm ý rất sáng sạch
Phát tâm cứu khắp các hàm thức
Bậc này khéo vào tạng hồi hướng.
Dũng mãnh tinh tấn sức đầy đủ
Trí huệ thông đạt ý thanh tịnh
Cứu khắp tất cả các quần sanh
Lòng kia kham nhẫn chẳng khuynh động
Tâm khéo an trụ không ai sánh
Ý thường thanh tịnh rất vui thích
Như vậy vì người siêng tu hành
Ví như mặt đất khắp dung thọ.
Chẳng vì tự thân cầu khoái lạc
Chỉ muốn cứu hộ các chúng sanh
Như vậy phát khởi tâm đại bi
Chóng được vào nơi bậc vô ngại.
Tất cả thế gian ở mười phương
Bao nhiêu chúng sanh đều nhiếp thọ
Vì cứu họ nên khéo trụ tâm
Như vậy tu học các hồi hướng
Tu hành bố thí rất vui thích
Hộ trì tịnh giới không sai phạm
Dũng mãnh tinh tấn tâm chẳng động
Hồi hướng nhất thiết trí của Phật.
Tâm đó rộng lớn không ngằn mé
Nhẫn lực an trụ chẳng lay động
Thiền định rất sâu luôn chiếu rõ
Trí huệ vi diệu khó nghĩ bàn.
Trong tất cả thế giới mười phương
Tu tập đầy đủ hạnh thanh tịnh
Công đức như vậy đều hồi hướng
Vì muốn an lạc các chúng sanh
Đại sĩ siêng tu những thiện nghiệp
Vô lượng vô biên chẳng đếm được
Đều đem lợi ích các chúng sanh
Khiến trụ nơi trí huệ vô thượng
Khắp vì tất cả các chúng sanh
Mà ở địa ngục vô số kiếp
Nhưng vẫn không có lòng nhàm mỏi
Dũng mãnh quyết định thường hồi hướng.
Chẳng cầu sắc, thinh, hương cùng vị
Cũng chẳng mong cầu các diệu xúc
Chỉ vì cứu độ các quần sanh
Thường cầu trí tối thắng vô thượng.
Trí huệ thanh tịnh như hư không
Tu tập vô biên hạnh đại sĩ
Như những công hạnh Phật đã làm
Bậc này luôn tu học như vậy.
Đại sĩ du hành các thế giới
Đều hay an ổn các quần sanh
Khiến khắp tất cả đều vui mừng
Tu Bồ Tát hạnh không nhàm đủ.
Dứt trừ tất cả những tâm độc
Tư duy tu tập trí vô thượng
Chẳng vì tự mình cầu an lạc
Chỉ nguyện chúng sanh được lìa khổ.
Bậc này hồi hướng được rốt ráo
Tâm thường thanh tịnh lìa các độc
Tam thế chư Phật phó chúc cho
Trụ nơi thành đại pháp vô thượng
Chưa từng nhiễm trước nơi các sắc
Thọ, tưởng, hành, thức cũng chẳng nhiễm
Tâm đó thoát hẳn nơi ba cõi
Tát cả công đức đều hồi hướng.
Những chúng sanh mà Phật thấy biết
Đều trọn nhiếp thủ không thừa sót
Thệ nguyện đều khiến được giải thoát
Vì kia tu hành rất hoan hỷ,
Lòng kia niệm niệm luôn an trụ
Trí huệ rộng lớn không ai sánh
Rời si, chánh niệm thường vắng lặng
Tất cả các nghiệp đều thanh tịnh.
Như Bồ Tát kia ở thế gian
Chẳng nhiễm nội pháp như ngoại pháp
Như gió trong hư không vô ngại.
Đại sĩ dụng tâm cũng như vậy.
Bao nhiêu thân nghiệp đều thanh tịnh.
Tất cả ngôn ngữ không lỗi lầm
Tâm thường quy hướng nơi Như Lai.
Hay khiến chư Phật đều hoan hỷ
Thập phương vô lượng các quốc độ
Nơi tất cả Phật đều qua đến
Trong đó xem thấy đấng đại bi
Người đều cung kính mà thờ phụng.
Lòng thường thanh tịnh lìa các lỗi
Vào khắp thế gian không e sợ
Đã trụ đạo vô thượng của Phật
Làm ao pháp lớn cho ba cõi.
Tinh tấn quán sát tất cả pháp
Tùy thuận tư duy hữu phi hữu.
Như vậy thẳng đến lý chân thật
Được vào chỗ vô tránh rất sâu.
Do đây tu thành đạo kiên cố
Tất cả chúng sanh chẳng hoại được
Khéo hay rõ thấu các pháp tánh
Khắp trong tam thế không chấp trước.
Như vậy hồi hướng đến bờ kia
Khiến khắp quần sanh lìa cấu nhiễm
Lìa hẳn tất cả những sở y
Được vào chỗ vô y rốt ráo.
Ngôn ngữ của tất cả chúng sanh
Tùy theo chủng loại đều sai khác
Bồ Tát trọn hay phân biệt nói
Mà lòng vẫn vô trước vô ngại.
Bồ Tát tu hồi hướng như vậy
Công đức phương tiện bất khả thuyết
Hay khiến trong thế giới mười phương
Tất cả chư Phật đều khen ngợi.


Hán bộ quyển thứ 24


"Thưa chư Phật tử!  Thế nào là Bồ Tát bất hoại hồi hướng?
Đại Bồ Tát này được đức tin bất hoại đối với tam thế chư Phật, vì hay trọn phụng thờ tất cả chư Phật vậy, lại được đức tin bất hoại đối với tất cả chư Bồ Tát, nhẫn đến đối với các Bồ Tát sơ phát tâm cầu vô thượng đạo, vì thệ tu tất cả Bồ Tát thiện căn không mỏi nhàm vậy; được đức tin hoại đối với tất cả Phật pháp, vì phát chí nguyện sâu vậy; được đức tin bất hoại đối với tất cả Phật giáo, vì thủ hộ trụ trì vậy; được đức tin bất hoại đối với tất cả chúng sanh, vì lòng từ bình đẳng xem chúng sanh đem thiện căn hồi hướng khắp lợi ích vậy; được đức tin bất hoại đối với tất cả pháp lành thanh tịnh, vì khắp họp vô biên thiện căn vậy; được đức tin bất hoại đối với đạo hồi hướng của tất cả Bồ Tát, vì đầy đủ những thắng nguyện vậy; được đức tin bất hoại đối với các Bồ Tát pháp sư, vì đối với Bồ Tát tưởng là Phật vậy; được đức tin bất hoại đối với thần thông tự tại của tất cả Phật, vì thâm tín chư Phật khó nghĩ bàn vậy; được đức tin bất hoại đối với phương tiện thiện xảo của tất cả Bồ Tát, vì nhiếp thủ vô lượng vô số công hạnh vậy.
Đại Bồ Tát lúc an trụ đức tin bất hoại như vậy, đối với Phật, Bồ Tát, Độc Giác, Thanh Văn, Phật pháp, Phật giáo, chúng sanh, v.v... đều ở trong đó khéo vun trồng thiện căn vô lượng vô biên, khiến thêm tâm bồ đề, lớn lòng từ bi, quán sát bình đẳng, tùy thuận tu học chỗ làm của chư Phật, nhiếp thủ tất cả thiện căn thanh tịnh vào nghĩa chân thật, nhóm công hạnh phước đức thực hành bố thí lớn, tu các công đức, xem tam thế bình đẳng.
Đại Bồ Tát dùng thiện căn công đức như vậy hồi hướng nhất thiết trí, nguyện thường thấy Phật, gần bạn lành, cùng ở với chư Bồ Tát, nhớ nhất thiết trí không rời, thọ trì Phật giáo siêng thủ hộ, giáo hóa thành thục tất cả chúng sanh, tâm thường hồi hướng đạo xuất thế, cúng dường hầu hạ tất cả pháp sư, hiểu rõ các pháp ghi nhớ chẳng quên, tu hành đại nguyện đều khiến đầy đủ.
Đại Bồ Tát như vậy mà chứa nhóm thiện căn, thành tựu thiện căn, tăng trưởng thiện căn, tư duy thiện căn, hộ niệm thiện căn, phân biệt thiện căn, mến thích thiện căn, tu tập thiện căn, an trụ thiện căn.
Đại Bồ Tát chứa nhóm những thiện căn như vậy rồi, dùng những y báo của thiện căn này mà tu Bồ Tát hạnh, trong mỗi niệm thấy vô lượng Phật và phụng thờ cúng dường.
Dùng vô số châu báu, hoa, tràng hoa, y phục, lọng, tràng phan, đồ trang nghiêm vô số lượng thoa, hương bột, hương hòa trộn, hương đốt, đồ trán đất, vô số sự hầu hạ, thâm tín, mến ưa, tâm thanh tịnh, tôn trọng, ca ngợi, lễ kính, vô số bửu tòa, hoa tòa, hương tòa, man tòa, chiên đàn tòa, y tòa, kim cang tòa, ma ni tòa, bửu tăng tòa, bửu sắc tòa, vô số chỗ kinh hành trải hoa, trải báu, trải hương, trải tràng hoa, trải y phục, trải lụa màu, vô số chỗ kinh hành trồng cây bửu đa la, lan can báu, lưới linh báu giăng che, vô số cung điện báu, cung điện hoa, cung điện tràng hoa, cung điện hương, cung điện chiên đàn, cung điện diệu hương tạng, cung điện kim cang, cung điện ma ni, tất cả đều quý đẹp hơn ở cõi trời, vô số cây báu, cây hương, cây bửu y, cây âm nhạc, cây diệu âm thanh, cây đồ trang nghiêm, cây hàng lụa báu, cây vòng báu, vô số cây hoa hương tràng phan trọng trang nghiêm che mát các cung điện, lại có vô số mái hiên trang nghiêm, vô số cửa chính cửa song trang nghiêm, vô số lâu các trang nghiêm, vô số hình bán nguyệt trang nghiêm, vô số màn trang nghiêm, vô số lưới vàng giăng che, vô số hương thơm tỏa khắp nơi, vô số thảm báu trải đất, tôn kính cúng dường tất cả chư Phật trải qua vô lượng vô số bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp, cúng dường luôn không thối chuyển không thôi nghỉ.
Sau khi mỗi đức Như Lai diệt độ, Bồ Tát cũng cúng dường xá lợi như vậy, vì muốn khiến chúng sanh khởi lòng tin thanh tịnh, nhiếp thiện căn, lìa các khổ, hiểu biết rộng, dùng đại trang nghiêm để tự trang nghiêm, chỗ tu hành được rốt ráo, biết chư Phật xuất thế rất khó gặp, được đủ vô lượng trí lực của Như Lai, trang nghiêm cúng đường tháp miếu của chư Phật, trụ trì Phật pháp.
Bồ Tát cúng dường hiện tại chư Phật và xá lợi của Phật như vậy, dầu cả vô số kiếp nói cũng không thể biết.  Bồ Tát tu tập vô lượng công đức này đều vì thành thục tất cả chúng sanh, không thối chuyển, không dứt nghỉ, không nhàm, không chấp, lìa tâm tưởng, không y chỉ, tuyệt hẳn sở y, xa lìa ngã ngã sở, dùng pháp ấn như thiệt ấn các nghiệp môn, được pháp vô sanh, trụ chỗ trụ của Phật, quán tánh vô sanh, ấn các cảnh giới, chư Phật hộ niệm, phát tâm hồi hướng, hồi hướng tương ưng với pháp tánh, hồi hướng phương tiện nhập pháp vô tác chỗ làm được thành tựu, hồi hướng phương tiện bỏ lìa chấp trước, phương tiện hồi hướng an trụ nơi vô lượng thiện xảo, hồi hướng ra khỏi hẳn tất cả cõi hữu lậu, hồi hướng khéo tu hành chẳng trụ nơi tướng, hồi hướng nhiếp khắp tất cả thiện căn, hồi hướng thanh tịnh khắp tất cả Bồ Tát hạnh rộng lớn, hồi hướng phát tâm vô thượng bồ đề, hồi hướng đồng trụ tất cả thiện căn, hồi hướng đầy đủ tâm tín giải vô thượng.
Đại Bồ Tát lúc đem thiện căn hồi hướng như vậy, dầu theo sanh tử mà chẳng biến đổi, cầu nhất thiết trí chưa từng thối chuyển, ở trong tam giới tâm không động loạn, trọn có thể độ thoát tất cả chúng sanh, chẳng nhiễm pháp hữu vi, chẳng mất trí vô ngại, Bồ Tát hằng vì nhân duyên vô tận, các pháp thế gian không biến động được, thanh tịnh đầy đủ các ba la mật, trọn có thể thành tựu nhất thiết trí lực.
Bồ Tát như vậy lìa các si ám, thành tâm bồ đề, khai thị quang minh, tăng trưởng tịnh pháp, hồi hướng thắng đạo, đầy đủ các hạnh, dùng ý thanh tịnh khéo hay phân biệt, rõ tất cả pháp đều tuỳ tâm hiện, biết nghiệp như huyễn, báo như tượng, hành như hóa, pháp nhơn duyên sanh đều như vang, tất cả Bồ Tát hạnh như bóng, xuất sanh pháp nhãn thanh tịnh vô trước, thấy cảnh giới vô tác rộng lớn, chứng tánh tịch diệt, rõ pháp không hai được pháp thiệt tướng, đủ Bồ Tát hạnh, nơi tất cả tướng đều không chấp trước khéo hay thật hành những việc đồng sự, hằng không rời bỏ các pháp lành thanh tịnh, lìa tất cả chấp trước trụ hạnh vô trước.
Bồ Tát như vậy khéo léo tư duy không mê hoặc, chẳng trái các pháp, chẳng hoại nghiệp nhơn, thấy rõ chơn thiệt, khéo hồi hướng, biết pháp tánh, dùng sức phương tiện thành tựu nghiệp báo đến bờ kia, dùng trí huệ quan sát tất cả pháp được trí thần thông, vô tác mà thật hành các nghiệp thiện căn tùy tâm tự tại.
Đại Bồ Tát đem những thiện căn hồi hướng như vậy, vì muốn độ thoát tất cả chúng sanh, chẳng dứt Phật chủng, lìa hẳn nghiệp ma, thấy nhất thiết trí không ngằn mé tin ưa không bỏ, lìa các cảnh giới, dứt những tạp nhiễm, cũng nguyện tất cả chúng sanh được trí thanh tịnh, vào phương tiện sâu, ra khỏi pháp sanh tử, được thiện căn của Phật, dứt hẳn tất cả sự nghiệp ma, dùng ấn bình đẳng ấn khắp các nghiệp, phát tâm vào thẳng nhất thiết chủng trí, thành tựu tất cả pháp xuất thế gian.
Đây là đại Bồ Tát bất hoại hồi hướng thứ hai.
Đại Bồ Tát lúc trụ nơi hồi hướng này, được thấy vô số chư Phật, thành tựu vô lượng diệu pháp thanh tịnh, được tâm bình đẳng với khắp chúng sanh, với tất cả pháp không nghi hoặc, được tất cả chư Phật thần lực gia hộ, hàng phục chúng ma lìa hẳn nghiệp ma, thành tựu sanh quý viên mãn bồ đề tâm, được trí vô ngại hiểu chẳng do người, khéo hay khai xiển nghĩa của tất cả pháp, có thể tùy năng lực tư tưởng vào tất cả cõi, soi sáng khắp chúng sanh đều khiến thanh tịnh.
Đại Bồ Tát dùng sức bất hoại hồi hướng này nhiếp các thiện căn."
Kim Cang Tràng Bồ Tát thừa thần lực của đức Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Bồ Tát đã được ý bất hoại
Tu hành tất cả những nghiệp lành
Nên có thể khiến Phật hoan hỷ
Người trí do đây mà hồi hướng
Cúng dường vô lượng vô biên Phật
Bố thí trì giới phục các căn
Vì muốn lợi ích các chúng sanh
Khiến khắp tất cả đều thanh tịnh.
Tất cả những hương hoa thượng diệu
Vô lượng sai biệt thắng y phục
Bửu cái nhẫn đến đồ trang nghiêm
Cúng dường tất cả chư Như Lai.
Như vậy cúng dường lên chư Phật
Vô lượng vô số nan tư kiếp
Cung kính tôn trọng thường hoan hỷ
Chưa từng một niệm sanh nhàm mỏi.
Chuyên tâm tưởng niệm nơi chư Phật
Đèn sáng trong tất cả thế gian
Mười phương tất cả chư Như Lai
Thảy đều hiện tiền như mắt thấy.
Bất khả tư nghì vô lượng kiếp
Các thứ bố thí tâm không nhàm
Trong trăm ngàn muôn ức kiếp số
Tu những nghiệp lành đều như vậy.
Chư Như Lai kia diệt độ rồi
Cúng dường xá lợi không nhàm đủ
Đều dùng các loại diệu trang nghiêm
Xây dựng vô lượng những tháp miếu
Tạo lập vô lượng hình tượng Phật.
Châu báu vàng bạc dùng trang nghiêm
Cao lớn vòi vọi như núi cả
Số đó vô lượng trăm ngàn ức
Tịnh tâm tôn trọng cúng dường rồi
Lại khởi lòng hoan hỷ lợi ích
Bất tư nghì kiếp ở thế gian
Cứu hộ chúng sanh khiến giải thoát
Rõ biết chúng sanh đều vọng tưởng
Nơi kia tất cả vô phân biệt
Mà hay khéo biết căn chúng sanh
Vì khắp chúng sanh làm lợi ích.
Bồ Tát tu tập các công đức
Rộng lớn tối thắng không ai sánh
Rõ thấu thể tánh đều chẳng có
Quyết định như vậy đều hồi hướng.
Dùng trí tối thắng quán các pháp
Trong đó không có một pháp sanh
Như vậy phương tiện tu hồi hướng
Công đức vô lượng không thể hết.
Dùng phương tiện này khiến tâm tịnh
Đều cùng tất cả Như Lai đồng
Phương tiện lực này chẳng cùng tận
Nên phước đức cũng không cùng tận.
Phát khởi tâm bồ đề vô thượng
Tất cả thế gian vô sở y
Đến khắp mười phương các thế giới
Mà tất cả nơi đều vô ngại
Tất cả Như Lai xuất thế gian
Vì muốn khải đạo lòng chúng sanh
Như tâm tánh kia mà quán sát
Rốt ráo tìm cầu chẳng thể được.
Tất cả các pháp trọn không thừa
Đều vào chơn như không thể tánh
Dùng tịnh nhãn mà hồi hướng
Mở ngục sanh tử ở thế gian.
Đều khiến các cõi đều thanh tịnh
Cũng chẳng phân biệt nơi các cõi
Biết tánh các cõi đều không có
Mà khiến ý hoan hỷ thanh tịnh.
Nơi một Phật độ không sở y
Tất cả Phật độ đều như vậy
Cũng chẳng nhiễm trước pháp hữu vi
Biết pháp tánh kia không y xứ.
Do đây tu hành nhất thiết trí
Do đây trí  vô thượng trang nghiêm
Do đây chư Phật đều hoan hỷ
Đây là hạnh Bồ Tát hồi hướng.
Bồ Tát chuyên tâm niệm chư Phật
Trí huệ vô thượng phương tiện khéo
Như Phật tất cả không sở y
Nguyện tôi tu thành công đức này.
Chuyên tâm cứu hộ tất cả chúng
Khiến họ xa lìa các nghiệp ác
Như vậy lợi ích các chúng sanh
Chuyên niệm tư duy chưa từng có.
Trụ nơi pháp thủ hộ trí đia
Chẳng lấy niết bàn nơi thừa khác
Chỉ nguyện được Phật đạo vô thượng
Bồ Tát như vậy khéo hồi hướng.
Chẳng chấp lấy ngôn ngữ chúng sanh
Tất cả sự hữu vi hư vọng
Dầu chẳng y tựa đường ngôn ngữ
Cũng lại chẳng chấp không ngôn thuyết
Thập phương tất cả chư Như Lai
Rõ thấu các pháp không còn sót
Dầu biết các pháp đều không tịch
Mà chẳng sanh niệm trụ nơi không.
Dùng một trang nghiêm nghiêm tất cả
Cũng chẳng phân biệt nơi các pháp
Như vậy khai ngộ các quần sanh
Tất cả vô tánh vô sở quán.
Chư Phật tử!  Thế nào là Bồ Tát đẳng nhất thiết Phật hồi hướng?
Đại Bồ Tát này tuỳ thuận tu học đạo hồi hướng của tam thế chư Phật.
Lúc tu học đạo hồi hướng như vậy, Bồ Tát này thấy tất cả lục trần:  Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp hoặc tốt hoặc xấu, chẳng sanh lòng ưa hay ghét, tâm được tự tại, không lỗi lầm, rộng lớn thanh tịnh, hoan hỷ vui thích, lìa những ưu não, tâm ý như nhuyến các căn thanh lương.
Lúc đại Bồ Tát được an lạc như vậy, lại phát tâm hồi hướng chư Phật, tự nghĩ rằng:  Nguyện đem thiện căn của tôi vun trồng hiện nay làm cho sự vui của chư Phật càng thêm.  Những là sự vui nơi an trụ bất tư nghì của Phật, sự nơi tam muội vô tỷ của chư Phật, sự vui đại thần thông ngằn mé, sự vui đại tự tại rất mực tôn trọng, sự vui vô lượng lực rốt ráo rộng lớn, sự vui tịch tịnh lìa những tri giác, sự vui thường chánh định trụ nơi vô ngại trụ, sự vui thực hành hạnh vô nhị không đổi khác.
Đại Bồ Tát đem những thiện căn hồi hướng Phật xong, lại đem thiện căn hồi hướng Bồ Tát.  Nghĩa là người chưa viên mãn làm cho được viên mãn, người tâm chưa thanh tịnh làm cho được thanh tịnh, người chưa tròn đủ ba la mật làm cho được tròn đủ, an trụ nơi tâm kim cang bồ đề, nơi nhất thiết trí được bất thối chuyển, chẳng bỏ đại tinh tấn, thủ hộ môn bồ đề, tất cả thiện căn có thể khiến chúng sanh bỏ lìa ngã mạn phát bồ đề tâm chí nguyện được thành tựu viên mãn, an trụ nơi chỗ trụ của Bồ Tát, được các căn minh lợi của Bồ Tát, tundefined tập thiện căn chứng Phật chủng trí.
Đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng Bồ Tát như thế rồi, lại đem hồi hướng tất cả chúng sanh, nguyện cho tất cả chúng sanh có bao nhiêu thiện căn nhẫn đến rất ít chừng khoẳng khảy ngón tay, đều được thấy Phật nghe pháp, kính tăng, những thiện căn kia đều lìa chướng ngại, niệm Phật viên mãn, niệm pháp phương tiện, niệm tăng tôn trọng, chẳng lìa thấy Phật, tâm được thanh tịnh được các Phật pháp, họp vô lượng đức, thanh tịnh những thần thông, bỏ niệm nghi pháp an trụ đúng Phật giáo.
Bồ Tát này vì Thanh Văn và Bích Chi Phật hồi hướng cũng như vậy.
Lại nguyện tất cả chúng sanh lìa hẳn địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Diêm La Vương, v.v... Tất cả nơi ác khổ, tăng trưởng tâm vô thượng bồ đề, chuyên ý siêng cầu nhất thiết chủng trí, lìa hẳn hủy báng chánh pháp chư Phật được Phật an lạc thân tâm thanh tịnh chứng nhất thiết trí.
Đại Bồ Tát có bao nhiêu thiện căn đều do đại nguyện phát khởi, chánh phát khởi, tích tập chánh tích tập, tăng trưởng chánh tăng trưởng, đều rộng lớn đầy đủ.
Đại Bồ Tát tại gia cùng vợ con ở chung chưa từng tạm bỏ tâm bồ đề, chánh niệm tư duy cảnh nhất thiết chủng trí, tự độ độ người khiến được rốt ráo.  Dùng thiện phương tiện giao hóa quyến thuộc của mình, khiến vào trí Bồ Tát, khiến thành thục giải thoát.  Dầu cùng ở chung mà không lòng chấp trước.  Vì bổn đại bi mà hiện ở nhà, vì từ tâm mà tùy thuận vợ con, nơi đạo thanh tịnh của Bồ Tát vẫn không chướng ngại.
Đại Bồ Tát dầu ở nhà tạo lập sự nghiệp, nhưng chưa từng tạm bỏ tâm nhất thiết trí.  Nghĩa là trong những lúc mặc y phục, ăn thực phẩm, uống thuốc men, tăm rửa, xoay ngó, đi, đứng ngồi, nằm, thân, ngữ, ý hoặc ngủ, hoặc thức v.v... lòng Bồ Tát luôn hướng đến đạo vô thượng giác chuyên nhiếp niệm tư duy nơi đây không lúc nào tạm bỏ rời.
Vì muốn lợi ích tất cả chúng sanh, mà Bồ Tát an trụ vô lượng đại nguyện bồ đề, nhiếp thủ vô số thiện căn rộng lớn, siêng thực hành những điều lành, cứu độ khắp tất cả mọi loài, xa tất cả kiêu mạn phóng dật, quyết định đến bậc nhất thiết trí, trọn chẳng tâm đến những đạo khác, thường quán sát chư Phật bồ đề, bỏ hẳn tất cả những pháp tạp nhiễm, tu hành tất cả chỗ sở học của Bồ Tát, nơi đạo nhất thiết trí, không bị chướng ngại, trụ nơi trí địa, ưa thích tụng tập, dùng vô lượng trí huệ họp những thiện căn, tâm chẳng luyến thích tất cả thế gian, cũng chẳng nhiễm trướcc nơi công hạnh của mình thực hành, chuyên tâm thọ trì giáo pháp của chư Phật.
Bồ Tát ở tại gia nhiếp khắp những thiện căn khiến được tăng trưởng mà hồi hướng chư Phật vô thượng bồ đề như vậy.
Bấy giờ, Bồ Tát nhẫn đến thí cho súc sanh ăn một nắm một hột, đều nguyện rằng:  Tôi sẽ làm cho các loài này thoát khỏi báo súc sanh mà được lợi ích an vui rốt ráo giải thoát, khỏi hẳn biển khổ, dứt hẳn khổ thọ, trừ hẳn khổ uẩn, dứt hẳn khổ giác, khổ tụ, khổ hạnh, khổ nhơn, khổ bổn và các khổ xứ.  Nguyện cho những chúng sanh kia đều được giải thoát tất cả khổ.
Bồ Tát chuyên tâm tưởng nhớ tất cả chúng sanh như vậy, dùng thiện căn này làm trên hết, vì họ mà hồi hướng nhất thiết chủng trí.
Bồ Tát sơ phát tâm bồ đề nhiếp khắp chúng sanh tu những thiện căn đều đem hồi hướng cả, muốn cho họ thoát hẳn sanh tử, được sự khoái lạc vô ngại của các Như Lai, ra khỏi biển phiền não, tu Phật đạo, từ tâm cùng khắp, bi lực rộng lớn, khiến khắp tất cả được vui tịch tịnh, gìn giữ thiện căn, gần gữi Phật pháp, ra khỏi cảnh ma, vào cảnh Phật, dứt giống thế gian, gieo giống Phật, trụ trong pháp tam thế bình đẳng.
Bao nhiêu thiện căn đã, sẽ và hiện tập họp đều đem hồi hướng như vậy cả.
Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Như chư Phật và Bồ Tát quá khứ thực hành những sự cung kính cúng dường chư Phật, độ chúng sanh khiến được giải thoát, siêng năng tu tập tất cả thiện căn đều đem hồi hướng mà không chấp trước.  Nghĩa là chẳng tựa nơi sắc, chẳng nhiễm nơi thọ, không tưởng điên đảo, chẳng khởi hành, chẳng theo thức, bỏ rời sáu trần, chẳng trụ thế pháp, thích đạo xuất thế, biết tất cả pháp đều như hư không, không từ đâu đến, bất sanh, bất diệt, không chân thiệt, không nhiễm trước, xa lìa tất cả những kiến chấp phân biệt; động, chẳng chuyển, chẳng mất, chẳng hoại, trụ nơi thiệt kế không tướng lìa tướng chỉ là nhất tướng.
Bồ Tát thâm nhập tất cả pháp tánh như vậy, thường thích tu tập thiện căn phổ môn, đều thấy tất cả chúng hội chư Phật.
Như thiện căn hồi hướng của tất cả Như Lai thời quá khứ, tôi cũng hồi hướng như vậy hiểu pháp như vậy, chứng pháp như vậy, y pháp như vậy mà phát tâm tu tập chẳng trái pháp tướng, biết chỗ tu hành như huyễn, như ảnh, như trăng đáy nước, như tượng trong gương, nhân duyên hòa hiệp mà hiển hiện nhẫn đến bậc Như Lai rốt ráo.
Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Như chư Phật thời quá khứ lúc tu hạnh Bồ Tát đem những thiện căn hồi hướng như vậy, chư Phật hiện tại và vị lai đều cũng như vậy.
Nay tôi cũng nên phát tâm như chỗ phát tâm của chư Phật, đem những thiện căn mà dùng hồi hướng:  Hồi hướng đệ nhất, hồi hướng thắng, hồi hướng tối thắng, hồi hướng thượng, hồi hướng vô thượng, hồi hướng vô đẳng, hồi hướng vô đẳng đẳng, hồi hướng vô tỉ, hồi hướng vô đối, hồi hướng tôn, hồi hướng diệu, hồi hướng bình đẳng, hồi hướng chánh trực, hồi hướng đại công đức, hồi hướng quảng đại, hồi hướng thiện, hồi hướng thanh tịnh, hồi hướng ly ác, hồi hướng bất tùy ác.
Bồ Tát đem những thiện căn chánh hồi hướng như thế rồi, thời thành tựu thân, ngữ, ý, nghiệp thanh tịnh, trụ nơi an trụ của Bồ Tát, không có các lỗi lầm, tu tập nghiệp lành, lìa sự ác nơi thân, ngữ, tâm, ý không tội lỗi, tu nhất thiết trí, trụ pháp xuất thế, chẳng nhiễm thế pháp, phân biệt rõ biết vô lượng các nghiệp, thành tựu hồi hướng phương tiện khéo léo, nhổ hẳn tất cả cội gốc chấp trước.
Thưa chư Phật tử!  Đây là đại Bồ Tát nhất thiết Phật hồi hướng thứ ba.
Đại Bồ Tát trụ bậc hồi hướng này, thâm nhập nghiệp hạnh của tất cả Như Lai, xu hướng công đức thắng diệu của Như Lai, vào sâu trong cảnh giới trí huệ thanh tịnh, chẳng rời hạnh nghiệp của tất cả Bồ Tát, hay khéo phân biệt phương tiện xảo diệu, nhập thâm pháp giới, khéo biết thứ đệ tu hành của Bồ Tát, vào chúng tánh của Phật, dùng phương tiện xảo diệu phân biệt rõ biết vô lượng vô biên tất cả các pháp.  Dầu hiện thân sanh vào thế gian nhưng không nhiễm trước thế pháp."
Bấy giờ, Kim Cang Tràng Bồ Tát thừa thần lực của Phật, quán sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Chư Bồ Tát ma ha tát đó
Tu pháp hồi hướng Phật quá khứ
Cũng học công hạnh của chư Phật
Hiện tại cùng chư Phật vị lai.
Nơi các cảnh giới được an vui
Chỗ ngơi khen của tất cả Phật
Mắt sáng suốt thanh tịnh rộng lớn
Đều đem hồi hướng đại trí huệ.
Bồ Tát thân căn các sự vui
Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt cũng như vậy.
Vô lượng sự vui thượng diệu ấy
Đều đem hồi hướng bậc tối thắng
Những pháp lành của các thế gian
Và chỗ thành tựu của chư Phật
Nơi đó nhiếp cả không để thừa
Trọn tùy hỷ lợi ích chúng sanh
Thế gian tùy hỷ vô lượng thứ
Khiến vì chúng sanh mà hồi hướng
Những sự vui của đấng nhân sư
Nguyện cho chúng sanh đều viên mãn.
Tất cả quốc độ tất cả Phật
Phàm chỗ thấy biết những sự vui
Nguyện cho chúng sanh đều được cả.
Làm đèn sáng lớn chiếu thế gian
Bồ Tát chỗ được vui thắng diệu
Đều đem hồi hướng cho quần sanh
Dầu vì quần sanh nên hồi hướng
Nhưng không chấp trước nơi hồi hướng
Bồ Tát tu hành hồi hướng này
Hưng khởi vô lượng tâm đại bi
Như đức hồi hướng của Phật tu
Nguyện tôi tu hành trọn viên mãn.
Như chư Như Lai đã thành tựu
Đạo nhất thiết trí vui vi diệu
Và việc làm ở đời của tôi
Công hạnh Bồ Tát vui vô lượng
Thị hiện vào các loài an vui
Luôn gì các căn vui tịch tịnh
Đều đem hồi hướng các quần sanh
Khiến khắp tu thành trì vô thượng.
Chẳng phải thân ngữ, ý, là nghiệp
Cũng chẳng rời đây mà có riêng
Chỉ dùng phương tiện diệt si tối
Như vậy tu thành trí vô thượng
Bồ Tát tu hành các công hạnh
Chứa họp vô lượng thắng công đức
Tùy thuận Như Lai sanh nhà Phật.
Yên lặng chẳng loạn chánh hồi hướng
Tất cả thế giới ở mười phương
Bao nhiêu chúng sanh đều nhiếp thọ
Đều đem thiện căn hồi hướng kia
Nguyện họ đầy đủ vui an ổn.
Chẳng vì thân mình cầu lợi ích
Muốn khiến tất cả đều an vui
Chưa từng tạm khởi tâm hí luận
Chỉ quán các pháp không vô ngã.
Thập phương vô lượng chư Như Lai
Thấy biết tất cả chơn Phật tử
Đều đem thiện căn hồi hướng cho
Mong mau được thành vô thượng giác.
Tất cả loài hàm thức thế gian
Bình đẳng nhiếp thủ không bỏ sót
Đem những nghiệp lành của tôi tu
Khiến chúng sanh kia mau thành Phật
Vô lượng vô biên những đại nguyện
Vô thượng đạo sư đã diễn thuyết
Nguyện các Phật tử đều thanh tịnh
Tùy tâm họ thích đều thành tựu
Xem khắp các thế giới mười phương
Đều đem công đức thí chúng sanh
Nguyện họ đều đủ diệu trang nghiêm
Bồ Tát tu hồi hướng như vậy.
Lòng chẳng gẫm suy pháp sai biệt
Chỉ luôn rõ thấu pháp vô nhị
Các pháp hoặc hai hoặc chẳng hai
Trong đó rốt ráo không chấp trước.
Tất cả thế gian trong mười phương
Đều là chúng sanh tưởng phân biệt
Nơi tưởng, phi tưởng không chỗ được
Với các tưởng rõ thấu như vậy.
Bồ Tát kia thân đã thanh tịnh
Thời ý thanh tịnh không lỗi lầm
Ngữ nghiệp thanh tịnh không sái quấy
Phải biết ý thanh tịnh không nhiễm.
Nhất tâm chánh niệm Phật quá khứ
Cũng nhớ chư Phật đời vị lai
Và nhớ hiện tại đấng Thế Tôn
Bồ Tát đều học pháp của Phật.
Tất cả chư Phật trong ba thời
Trí huệ sáng suốt tâm vô ngại
Vì muốn lợi ích các chúng sanh
Nên họp công hạnh mà hồi hướng.
Trí huệ đệ nhất, huệ rộng lớn
Huệ chẳng hư vọng, huệ vô đảo
Thiệt trí bình đẳng, huệ thanh tịnh
Đấng huệ tối thắng nói như vậy.
Thưa chư Phật tử!  Thế nào là đại Bồ Tát chí nhất thiết xứ hồi hướng?
Đại Bồ Tát này lúc tu tập tất cả thiện căn tự nghĩ rằng:  Nguyện năng lực của thiện căn công đức này đến tất cả chỗ.
Ví như thực tế không chỗ nào là chẳng đến, đến tất cả vạt, đến tất cả thế gian, đến tất cả chúng sanh, đến tất cả quốc độ, đến tất cả pháp, đến tất cả không gian, đến tất cả thời gian, đến tất cả hữu vi và vô vi, đến tất cả ngôn ngữ âm thanh.
Nguyện thiện căn này cũng như vậy, đến khắp mọi chỗ của tất cả Như Lai, cúng dường tất cả chư Phật trong ba thời, chư Phật quá khứ nguyện hạnh đều viên mãn, chư Phật vị lai đầy đủ sự trang nghiêm, chư Phật hiện tại cùng quốc độ đạo tràng chúng hội cùng khắp tất cả hư không pháp giới.
Nguyện do tín giải oai lực lớn, do trí huệ rộng lớn không chướng ngại, do tất cả thiện căn đều hồi hướng, nên dùng những đồ cúng dường như của chư thiên để dâng lên chư Phật, khắp vô lượng vô biên thế giới.
Đại Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Chư Phật Thế Tôn cùng khắp tất cả hư không pháp giới, những hạnh nghiệp tạo ra bất khả thuyết thế giới ở mười phương, bất khả thuyết Phật độ, Phật cảnh giới, các loại thế giới, vô lượng thế giới, thế giới xoay chuyển, thế giới nghiêng, thế giới úp, thế giới ngửa.
Trong tất cả thế giới như vậy, chư Phật hiện tại trụ thế thị hiện những thần thông biến hóa.
Trong những thế giới đó, có Bồ Tát dùng sức thắng giải vì những chúng sanh đáng được giáo hóa mà khắp khai thị vô lượng thần lực tự tại của Như Lai, pháp thân đến khắp không sai biệt, bình đẳng vào khắp tất cả pháp giới, thân Như Lai tạng bất sanh bất diệt, dùng phương tiện thiện xảo hiện khắp thế gian chứng pháp thiệt tánh, vi vượt hơn tất cả vậy, vì được sức bất thối vô ngại vậy, vì sanh ở trong tri kiến vô ngại đức tánh rộng lớn của Như Lai.
Thưa chư Phật tử!  Đại Bồ Tát đem tất cả thiện căn của mình vun trồng, nguyện ở nơi chư Phật như vậy, dùng hoa đẹp, hương thơm, tràng hoa, lọng, tràng phan, y phục, đèn đuốc và tất cả những đồ trang nghiêm khác đều dâng lên đức Phật.  Nơi tượng Phật, tháp Phật cũng đều cúng dường như vậy.
Đem thiện căn này hồi hướng như vậy:  Những là bất loạn hồi hướng, nhất tâm hồi hướng, tự ý hồi hướng, tôn kính hồi hướng, bất động hồi hướng, vô trụ hồi hướng, vô y hồi hướng, không tâm chúng sanh hồi hướng, không tâm đua tranh hồi hướng, tâm tịch tịnh hồi hướng.
Đại Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Khắp không gian, tột thời gian, trong tất cả kiếp, Phật Thế Tôn được nhất thiết trí thành đạo bồ đề, có vô lượng danh tự sai biệt.  Trong những lúc hiện thành bậc chánh giác trọn đều trụ thọ tận thuở vị lai.  Chư Phật đều dùng pháp giới trang nghiêm mà trang nghiêm thân mình, đạo tràng chúng hội khắp cùng pháp giới tất cả quốc độ, tùy lúc xuất thế mà làm Phật sự.
Tất cả chư Phật Như Lai như vậy, tôi đem thiện căn đều hồi hướng khắp cả.  Nguyện dùng vô số lọng thơm, tràng thơm, phan thơm, trướng thơm, lưới thơm, tượng thơm, ánh sáng thơm, ngọn lửa thơm, mây thơm, tòa thơm, chỗ kinh hành thơm, chỗ ở thơm, thế giới thơm, núi thơm, biển thơm, sông thơm, cây thơm, y phục thơm, hoa sen thơm, cung điện thơm... mỗi thứ đều vô số.  Lại dùng vô biên lọng tràng hoa nhẫn đến vô đẳng cung điện tràng hoa.  Lại dùng vô đẳng lọng hương thoa nhẫn đến vô đẳng cung điện hương thoa.  Lại dùng vô đẳng lọng hương thoa nhẫn đến vô đẳng cung điện hương thoa.  Lại dùng bất khả sổ lọng hương bột nhẫn đến bất khả sổ cung điện hương bột.  Lại dùng xưng lọng y phục nhẫn đến bất khả xưng cung điện y phục.  Lại dùng bất khả tư lọng báu nhẫn đến bất khả tư cung điện lọng báu.  Lại dùng bất khả lượng đèn sáng nhẫn đến bất khả lượng cung điện đèn sáng, lại dùng bất khả thuyết lọng đồ trang nghiêm.  Lại dùng bất khả thuyết bất khả thuyết lọng ma ni bửu nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết cung điện ma ni bửu.
Trong mỗi mỗi cảnh giới như vậy đều có vô số lan can, vô số cung điện.  Vô số lâu các, vô số cửa cái, vô số cửa song, vô số hình bán nguyệt, vô số báu thanh tịnh, vô số đồ trang nghiêm.
Đem những vật cúng dường như vậy mà cung kính dưng lên tất cả chư Phật đã kể ở trên.
Nguyện cho tất cả thế gian đều được thanh tịnh, tất cả chúng sanh đều được giải thoát trụ bậc thập địa, trong tất cả pháp được pháp minh vô ngại, khiến tất cả chúng sanh đầy đủ thiện căn đều được điều phục, tâm họ quảng đại vô lượng khắp cõi hư không, qua tất cả cõi mà không chỗ đến, vào tất cả cõi thực hành pháp lành, thường được thấy Phật vun trồng căn lành, thành tựu đại thừa chẳng chấp trước các pháp, đủ các điều lành lập vô lượng hạnh, vào khắp vô biên pháp giới, thành tựu thần lực của chư Phật, được Phật trí.
Ví như vô ngã nhiếp khắp các pháp, cũng vậy những căn lành của tôi nhiếp khắp tất cả chư Phật Như Lai vì đều cúng dường không sót vậy, nhiếp khắp tất cả vô lượng pháp vì đều có thể chứng ngộ vô ngại vậy, nhiếp tất cả chúng Bồ Tát vì rốt ráo đều đồng thiện căn vậy, nhiếp khắp tất cả hạnh Bồ Tát vì bổn nguyện lực đều viên mãn vậy, nhiếp khắp tất cả Bồ Tát pháp minh vì rõ thấu các pháp đều vô ngại vậy, nhiếp khắp đại thần lực của chư Phật vì thành tựu vô lượng thiện căn vậy, nhiếp khắp các Phật lực vô úy vì phát tâm vô lượng viên mãn tất cả vậy, nhiếp khắp những tam muội biện tài đà la ni của Bồ Tát vì khéo có thể chiếu rõ pháp vô nhị vậy, nhiếp khắp phương tiện thiện xảo của chư Phật vì thị hiện đại thần lực của Như Lai vậy, nhiếp khắp tám tướng thành đạo của tam thế Phật vì cung kính cúng dường đều khắp cả vậy, nhiếp khắp tất cả thế giới mười phương vì nghiêm tịnh phật sát đều rốt ráo vậy, nhiếp khắp tất cả kiếp rộng lớn vì xuất hiện trong đó tu Bồ Tát hạnh không đoạn tuyệt vậy, nhiếp khắp tất cả mọi loài vì đều hiện thọ sanh trong đó vậy, nhiếp khắp tất cả chúng sanh giới vì đủ hạnh Phổ Hiền vậy, nhiếp khắp tất cả phiền não tập khí vì đều dùng phương tiện khiến thanh tịnh vậy, nhiếp khắp tất cả vô lượng căn tánh sai biệt của chúng sanh vì đều rõ biết vậy, nhiếp khắp tất cả tri giải sở dục của chúng sanh vì khiến họ lìa tạp nhiễm được thanh tịnh vậy, nhiếp khắp tất cả công hạnh giáo hóa chúng sanh vì tùy chỗ họ đáng được độ mà hiện thân vậy, nhiếp khắp tất cả loài chúng sanh đáng được độ vì đều vào tất cả chúng sanh giới vậy, nhiếp khắp tất cả trí tánh Như Lai vì hộ trì tất cả Phật giáo vậy.
Lúc đại Bồ Tát đem những thiện căn hồi hướng vậy, thời dùng vô sở đắc làm phương tiện, ở trong nghiệp chẳng phân biệt báo, ở trong báo chẳng phân biệt báo, ở trong báo chẳng phân biệt nghiệp.  Dầu không phân biệt mà vào khắp pháp giới.  Dầu vô sở tác mà luôn trụ thiện căn.  Dầu vô sở khởi mà siêng tu thắng pháp.  Chẳng tin các pháp mà có thể thâm nhập các pháp.  Chẳng có nơi pháp mà thấy biết tất cả pháp.  Hoặc làm hay chẳng làm đều bất khả đắc.  Biết các pháp tánh luôn chẳng tự tại.  Dầu đều thấy các pháp mà không sở kiến.  Dầu biết khắp tất cả mà không sở trì.
Bồ Tát rõ thấu cảnh giới như vậy, biết tất cả pháp lấy nhân duyên làm căn bản, thấy pháp thân của chư Phật, hiểu rõ thế gian đều như biến hóa, thấu rõ chúng sanh chỉ là một pháp không có hai tánh, chẳng bỏ nghiệp cảnh, phương tiện thiện xảo nơi hữu vi giới hiển thị vô vi pháp, mà chẳng hoại diệt tướng hữu vi, nơi vô vi giới hiển thị hữu vi pháp mà chẳng phân biệt tướng vô vi.
Bồ Tát quán sát tất cả pháp rốt ráo tịch diệt như vậy, thành tựu tất cả thiện căn thanh tịnh mà khởi tâm cứu hộ chúng sanh, trí huệ thấu suốt biết tất cả pháp, thường thích tu hành pháp lìa ngu si, đã thành tựu đủ công đức xuất thế, chẳng còn tu học pháp thế giới, được trí nhãn thanh tịnh lìa những si tối, dùng phương tiện khéo tu đạo hồi hướng.
Đại Bồ Tát đem các thiện căn hồi hướng như vậy, làm vừa lòng chư Phật, nghiêm tịnh tất cả Phật độ, giáo hóa thành tựu tất cả chúng sanh, thọ trì đầy đủ tất cả Phật pháp, làm phước điền tối thượng của tất cả chúng sanh, là đạo sư trí huệ của tất cả người hành đạo, là mặt nhật sáng tất cả thế gian, mỗi mỗi thiện căn rộng khắp pháp giới đều có thể cứu hộ tất cả chúng sanh, đều khiến họ thanh tịnh có đủ công đức.
Lúc đại Bồ Tát hồi hướng như vậy, có thể hộ trì tất cả Phật chủng, có thể thành thục tất cả chúng sanh, có thể chẳng hư hoại tất cả hạnh nghiệp, có thể rõ biết tất cả pháp, có thể bình đẳng quán sát các pháp vô nhị, có thể qua khắp thế giới mười phương, có thể rõ thấu thực tế ly dục, có thể thành tựu tín giải thanh tịnh, có thể đầy đủ căn thân minh lợi.
Đây là đại Bồ Tát chí nhất thiết xứ hồi hướng thứ tư.
Lúc đại Bồ Tát trụ bậc hồi hướng này được thân nghiệp đến tất cả chỗ vì có thể ứng hiện khắp tất cả thế giới vậy, được ngữ nghiệp đến tất cả chỗ, vì thuyết pháp trong tất cả thế giới vậy, được nghiệp đến tất cả chỗ vì thọ trì tất cả Phật pháp vậy, được thần túc thông đến tất cả chỗ vì tùy theo tâm chúng sanh đều ứng đến vậy, được tùy chứng trí đến tất cả chỗ vì khắp có thể rõ thấu tất cả pháp vậy, được tổng trì biện tài đến tất cả chỗ vì đều tùy theo tâm chúng sanh khiến họ hoan hỷ vậy, được nhập pháp giới đến tất cả chỗ vì trong một chân lông vào khắp tất cả thế giới vậy, được biến nhập thân đến tất cả chỗ vì nơi một thân chúng sanh vậy, được phổ kiến kiếp đến tất cả chỗ vì trong mỗi mỗi kiếp thường thấy tất cả Phật vậy, được phổ kiến niệm đến tất cả chỗ vì trong mỗi mỗi niệm tất cả chư Phật đều hiện tiền vậy.
Đại Bồ Tát được bậc chí nhất thiết xứ hồi hướng thời có thể đem thiện căn hồi hướng như vậy."
Bấy giờ, Kim Cang Tràng Bồ Tát thừa oai lực của đức Phật, quán sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Tất cả những thế gian trong ngoài
Bồ Tát thảy đều không chấp trước
Chẳng bỏ hạnh lợi ích chúng sanh
Đại Sĩ tu hành trí như vậy.
Tất cả quốc độ ở mười phương
Tất cả vô y và vô trụ
Chẳng lấy những pháp mạng sống thảy
Cũng chẳng vọng khởi những phân biệt
Những chúng sanh trong mười phương cõi
Nhiếp khắp tất cả không để sót
Quán thể tánh kia không sở hữu
Chí nhất thiết xứ khéo hồi hướng
Nhiếp khắp pháp hữu vi vô vi
Chẳng ở trong đó sanh vọng niệm
Nơi pháp thế gian cũng như vậy
Bậc Chiếu Thế Đăng được giác ngộ.
Bồ Tát tu hành những nghiệp hạnh
Phẩm thượng, trung, hạ đều sai khác
Đều đem thiện căn hồi hướng đến
Tất cả chư Phật ở mười phương.
Bồ Tát hồi hướng đến bờ kia
Theo Phật tu học đều thành tựu
Thường dùng diệu trí khéo tư duy
Thắng pháp nhân gian đều đầy đủ.
Thiện căn thanh tịnh khắp hồi hướng
Lợi ích chúng sanh thường chẳng bỏ
Đều khiến tất cả các chúng sanh
Thành đấng Chiếu Thế Đăng vô thượng.
Chưa từng phân biệt chấp chúng sanh
Cũng chẳng vọng tưởng nhớ các pháp
Dầu không nhiễm trước nơi thế gian
Cũng lại chẳng bỏ các hàm thức.
Bồ Tát thường thích pháp tịch diệt
Tuỳ thuận được đến cảnh niết bàn.
Cũng chẳng bỏ rời đạo chúng sanh
Mà được trí vi diệu như vậy.
Bồ Tát chưa từng phân biệt nghiệp
Cũng chẳng chấp lấy các quả báo
Tất cả thế gian từ duyên sanh
Chẳng rời nhân duyên thấy các pháp.
Cảnh giới như vậy đều thâm nhập
Chẳng ở trong đó khởi phân biệt
Bậc Điều Ngự Sư của chúng sanh
Nơi đây sáng tỏ khéo hồi hướng.


Hán bộ quyển thứ 25

"Thế nào là đại Bồ Tát vô tận công đức tạng hồi hướng.
Thưa chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này đem thiện căn do sám trừ những nghiệp chướng nặng mà phát sanh, thiện căn do lễ kính tam thế chư Phật mà phát sanh, thiện căn do khuyến thỉnh chư Phật thuyết pháp mà phát sanh, thiện căn do nghe Phật thuyết pháp siêng năng tu tập ngộ cảnh giới rộng lớn bất tư nghì mà phát sanh, thiện căn do lòng tùy hỷ những căn lành của tất cả Phật, của tất cả chúng sanh mà phát sanh, thiện căn do siêng năng tu tập căn lành vô tận của tam thế chư Phật mà phát sanh, thiện căn do lòng tùy hỷ trong khi biết những sự thành Phật thuyết pháp điều phụg chúng sanh của tam thế chư Phật mà phát sanh, tất cả do lòng tùy hỷ nơi sự phát tâm đến thành Phật nhập niết bàn, chánh pháp trụ thế diệt tận của tam thế chư Phật mà phát sanh.  Vô lượng thiện căn quảng đại niệm cảnh giới của bất khả thuyết chư Phật và cảnh giới của Bồ Tát nhẫn đến cảnh giới bồ đề vô ngại, phàm chỗ chứa họp, phàm chỗ tin hiểu, phàm chỗ tùy hỷ, phàm chỗ viên mãn, phàm chỗ thành tựu, phàm chỗ tu hành, phàm chỗ chứng được, phàm chỗ tri giác, phàm chỗ nhiếp trì, phàm chỗ tăng trưởng, tất cả thiện căn đều đem hồi hướng trang nghiêm tất cả Phật độ.
Như chỗ sở hành của chư Phật trong tất ả thế giới nơi vô biên kiếp quá khứ, những là vô lượng vô số thế giới chủng, chỗ Phật trí biết, chỗ Bồ Tát biết, chỗ đại tâm nhẫn thọ, cõi Phật trang nghiêm do nghiệp hạnh thanh tịnh cảm ra ứng theo chúng sanh thần lực của Như Lai thị hiện ra, tịnh nghiệp xuất thế của chư Phật làm thành, diệu hạnh của Phổ Hiền Bồ Tát hưng khởi.  Trong đó, chư Phật thành đạo thị hiện những thần lực tự tại.  Cũng trong đó, cùng tận thời vị lai, tất cả chư Phật Như Lai sẽ thành Phật đạo, sẽ được tất cả Phật độ công đức trang nghiêm thanh tịnh.  Cùng tột pháp giới hư không giới, vô biên, vô tế, vô đoạn, vô tận đều từ trí huệ của Như Lai sanh ra, trang nghiêm với vô lượng diệu bửu.
Tất cả những hương trang nghiêm, hoa trang nghiêm, y phục trang nghiêm, công đức tạng trang nghiêm, Phật lực trang nghiêm, Phật độ trang nghiêm.
Nơi đây là chỗ ngự trị của đức Như Lai.  Là chỗ cùng đồng ở của bất tư nghì chúng thanh tịnh đồng duyên đồng hành, sẽ thành chánh giác ở thời vị lai.
Đây là chỗ thành tựu của chư Phật, thế gian chẳng thấy được, tịnh nhãn của Bồ Tát mới có thể thấy.
Chư Bồ Tát này có đủ oai đức lớn đời trước đã vun trồng thiện căn, biết tất cả pháp như huyễn như hóa, khắp thật hành những nghiệp thanh tịnh của Bồ Tát, nhập bất tư nghì tam muội tự tại, phương tiện thiện xảo có thể làm Phật sự, phóng Phật quang chiếu khắp thế gian không giới hạn.
Hiện tại tất cả chẳng phải cũng đều trang nghiêm thế giới như vậy:  Vô lượng hình tướng, vô lượng quang sắc, đều do công đức làm thành, có vô lượng hương, vô lượng báu, vô lượng cây, vô số  trang nghiêm, vô số cung điện, vô số âm thanh.
Tuỳ thuận các bậc thiện tri thức có duyên đời trước thị hiện tất cả công đức trang nghiêm không cùng tận.  Những là tất cả hương trang nghiêm, tràng hoa trang nghiêm, phan trang nghiêm, lụa màu báu trang nghiêm, lan can báu trang nghiêm, vô số lưới vàng trang nghiêm, vô số sông trang nghiêm, vô số mây trang nghiêm, vô số âm nhạc vi diệu.
Tất cả Phật độ mà Phật rõ biết, Phật tuyên nói, những là Phật độ trang nghiêm, Phật độ thanh tịnh, Phật độ bình đẳng, Phật độ tốt đẹp, Phật độ oai đức, Phật độ rộng lớn, Phật độ an lạc, Phật độ bất khả hoại, Phật độ vô tận, Phật độ vô lượng, Phật độ vô động, Phật độ vô úy, Phật độ quang minh, Phật độ không trái nghịch, Phật độ khả ái, Phật khắp soi sáng, Phật độ nghiêm tốt, Phật độ rực rỡ, Phật độ khéo đẹp, Phật độ đệ nhất, Phật độ thắng, thù thắng, tối thắng, cực thắng, Phật độ thượng, vô thượng, vô đẳng, vô tỷ, vô thí dụ.
Tất cả Phật độ trong ba thời có bao nhiêu sự trang nghiêm, đại Bồ Tát đem thịên căn của mình mà phát tâm hồi hướng.  Nguyện dùng tất cả sự trang nghiêm của tất cả quốc độ trong ba thời mà trang nghiêm nơi một thế giới, cũng đều thành tựu, đều thanh tịnh, đều tu tập, đều hiển hiện, đều tốt đẹp, đều trụ trì.
Một thế giới được trang nghiêm như vậy, tất cả thế giới tận pháp giới hư không giới cũng trang nghiêm như vậy.
Đại Bồ Tát lại đem thiện căn hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả phật sát của tôi tu đều đầy dẫy những bậc đại Bồ Tát.  Những Bồ Tát này thể tánh chân thật, trí huệ thông đạt, khéo phân biệt được tất cả thế giới và chúng sanh giới, thâm nhập pháp giới và hư không giới, lìa bỏ ngu si, thành tựu niệm Phật, niệm pháp chân thật bất tư nghì, niệm tăng vô lượng đều cùng khắp, chỗ thấy vô ngại, từ vô đắc mà sanh và sanh các Phật pháp, là ông chủ thiện căn thắng thượng của đại chúng, phát sanh tâm vô thượng bồ đề, trụ nơi Phật lực, hướng đến Phật trí, pháp ma nghiệp, tịnh chúng sanh, thâm nhập pháp tánh, lìa hẳn điên đảo, thiện căn đại nguyện đều chẳng luống.
Chúng đại Bồ Tát như trê đây đầy dẫy trong quốc độ của tôi tu.
Những bậc Bồ Tát sanh chỗ như vậy, có đức như vậy, luôn thực hành Phật sự, được Phật bồ đề quang minh thanh tịnh, đủ trí pháp giới, hiện sức thần thông một thân đầy khắp pháp giới, có trí huệ lớn vào cảnh giới sở hành của nhất thiết trí, có thể phân biệt vô lượng vô biên pháp giới cú nghĩa, nơi tất cả cõi đều không chấp trước mà có thể hiện khắp tất cả Phật độ, lòng như hư không chẳng y tựa mà có thể phân biệt tất cả pháp giới có thể khéo nhập xuất những tam muội rất sâu bất tư nghì, đến Phật trí, trụ Phật độ, được Phật lực khai thị diễn thuyết vô số pháp mà vẫn vô úy, tùy thuận thiện căn của tam thế chư Phật, chiếu khắp Phật pháp giới, đều có thể thọ trì tất cả Phật pháp, biết vô số ngôn ngữ, khéo hay diễn nói bất tư nghì âm thanh sai khác, vào nơi bậc Phật tự tại vô thượng, đi khắp tất cả thế giới mười phương mà không bị chướng ngại, thực hành pháp vô tánh, vô y, vô phân biệt, tu tập thêm rộng tâm bồ đề, được trí thiện xảo khéo biết cú nghĩa có thể theo thứ đệ mà khai thị diễn thuyết.
Nguyện được chư đại Bồ Tát như trên đây trang nghiêm cõi nước của tôi tu.
Thưa chư Phật tử!  Đại Bồ Tát đem những thiện căn mà phương tiện hồi hướng tất cả Phật, phương tiện hồi hướng tất cả Bồ Tát, phương tiện hồi hướng tất cả Như Lai, phương tiện hồi hướng Phật bồ đề, phương tiện hồi hướng tất cả nguyện rộng lớn, phương tiện hồi hướng tất cả đạo xuất yếu, phương tiện hồi hướng thanh tịnh tất cả chúng sanh giới, phương tiện hồi hướng nơi tất cả thế giới thường thấy chư Phật hiện ra đời, phương tiện hồi hướng thường thấy Như Lai thọ mạng vô lượng, phương tiện hồi hướng thường thấy chư Phật cùng khắp pháp giới chuyển pháp luân vô ngại bất thối.
Lúc đại Bồ Tát đem những thiện căn hồi hướng như vậy, vì vào khắp tất cả Phật độ nên tất cả cõi Phật đều thanh tịnh, vì đến khắp tất cả chúng sanh giới nên tất cả Bồ Tát thảy đều thanh tịnh, vì nguyện chư Phật xuất thế khắp tất cả thế giới nên tất cả pháp giới tất cả Phật độ đều có Phật thân xuất hiện.
Đại Bồ Tát dùng vô tỷ hồi hướng như vậy để đến Phật trí, lòng Bồ Tát rộng lớn như hư không không có hạn lượng, vào bất tư nghì, biết tất cả nghiệp và cùng quả báo thảy đều tịch diệt, tâm thường bình đẳng không có biên tế, có thể vào tất cả pháp giới.
Lúc đại Bồ Tát hồi hướng như vậy, thời chẳng phân biệt ngã cùng ngã sở, chẳng phân biệt Phật pháp, chẳng phân biệt cõi nước cùng nghiêm tịnh, chẳng phân biệt chúng sanh và điều phục, chẳng phân biệt nghiệp và quả báo, chẳng chấp nơi tư và chỗ khởi của tư, chẳng hoại nhân, chẳng hoại quả, chẳng lấy sự, chẳng lấy pháp, chẳng cho rằng sanh tử có phân biệt, chẳng cho rằng niết bàn thường tịch tịnh, chẳng cho rằng đức Như Lai chứng cảnh giới Phật, chẳng có chút pháp nào cùng ở với pháp.
Lúc đại Bồ Tát hồi hướng như vậy, đem các thiện căn thí khắp chúng sanh quyết định thành thục, bình đẳng giáo hóa, không tướng, không duyên, không cân nhắc, không hư vọng, xa lìa tất cả phân biệt chấp trước.
Đại Bồ Tát hồi hướng như vậy rồi, được vô tận thiện căn.  Những là vì niệm tam thế chư Phật nên được vô tận thiện căn, vì niệm tất cả Bồ Tát nên được vô tận thiện căn, vì thanh tịnh Phật độ nên được vô tận thiện căn, vì tịnh chúng sanh giới nên được vô tận thiện căn, vì thâm nhập pháp giới nên được vô tận thiện căn, vì hiểu sâu cảnh giới Phật nên được vô tận thiện căn, vì nơi Bồ Tát hạnh siêng tu tập nên được vô tận thiện căn, vì rõ thấu tam thế nên được vô tận thiện căn.
Lúc đại Bồ Tát đem tất cả thiện căn hồi hướng như vậy, rõ chúng sanh giới không có chúng sanh, hiểu tất cả pháp không có thọ mạng, biết tất cả pháp không có tác giả, ngộ tất cả pháp không có ngã, rõ tất cả pháp không có giận hờn tranh cãi, quán tất cả pháp đều từ duyên khởi không có trụ xứ, biết tất cả vật đều không sở y, rõ tất cả cõi đều không sở trụ, quán tất cả Bồ Tát hạnh cũng không xứ sở, thấy tất cả cảnh giới đều không sở hữu.
Lúc đại Bồ Tát hồi hướng như vậy, mắt trọn chẳng thấy phật sát bất tịnh, cũng chẳng thấy chúng sanh dị tướng, không có chút pháp nào là sở nhập của trí, cũng không có chút trí nào nhập nơi pháp, hiểu thân Như Lai chẳng phải như hư không vì do vô lượng diệu pháp tất cả công đức mà được viên mãn, vì nơi tất cả chỗ khiến các chúng sanh chứa họp thiện căn đều đầy đủ.
Đại Bồ Tát này ở trong mỗi niệm được bất khả thuyết bất khả thuyết thập lục địa, đầy đủ tất cả phước đức, thành tựu thiện căn thanh tịnh làm phước điền của tất cả chúng sanh.
Đại Bồ Tát này thành tựu tạng công đức như ý, vì chỗ cần dùng tất cả đồ thích ý thời đều được có đủ, vì tùy chỗ nào mà Bồ Tát này đặt chân đến đều có thể nghiêm tịnh tất cả Phật độ, khiến bất khả thuyết bất khả thuyết chúng sanh đều thanh tịnh cả, vì nhiếp thủ phước đức tu tập các công hạnh vậy.
Lúc đại Bồ Tát hồi hướng như vậy thời tu tất cả Bồ Tát hạnh, phước đức thù thắng, sắc tướng vô tỷ, oai lực quang minh đều siêu việt thế gian, ma và ma dân chẳng đối lập được, đầy đủ thiện căn, thành tựu đại nguyện, tâm rộng rãi đồng nhất thiết trí, trong một niệm đều có thể cùng khắp vô lượng cõi Phật, trí lực vô lượng có thể rõ thấu tất cả cảnh giới Phật, với tất cả Phật được tín giải sâu, trụ nơi trí vô biên, tâm bồ đề rộng lớn như pháp giới rốt ráo như hư không.
Đây gọi là đại Bồ Tát vô tận công đức tạng hồi hướng thứ năm.
Đại nhất thiết trụ bậc hồi hướng này được mười thứ vô tận tạng sau đây:  Được kiến Phật vô tận tạng vì nơi một chân lông thấy vô số Phật xuất thế.  Được nhập pháp vô tận tạng vì dùng Phật trí lực quán tất cả pháp đều vào một pháp.  Được ức trì vô tận tạng, vì thọ trì tất cả Phật pháp không quên mất.  Được quyết định huệ vô tận tạng vì khéo biết tất cả Phật pháp bí mật phương tiện.  Được giải nghĩa thú vô tận tạng vì khéo biết tế hạn lý thú của các pháp.  Được vô biên ngộ giải vô tận tạng vì dùng trí như hư không thông đạt tam thế tất cả pháp.  Được phước đức vô tận tạng vì làm cho ý của tất cả chúng sanh được sung mãn chẳg cùng tận.  Được dũng mãnh trí giác vô tận tạng vì đều có thể trừ diệt sự ngu si của tất cả chúng sanh.  Được quyết định biện tài vô tận tạng vì diễn thuyết tất cả Phật pháp bình đẳng khiến chúng sanh đều hiểu rõ.  Đươc thập lực vô úy vô tận tạng vì đầy đủ Bồ Tát hạnh, được ly cấu đến nhất thiết trí vô ngại."
Kim Cang Tràng Bồ Tát thừa oai lực của đức Phật, quán sát khắp mười phương nói kệ rằng:
Bồ Tát thành tựu thâm tâm lực
Nơi các pháp được khắp tự tại
Do nên phước khuyến thỉnh tuỳ hỉ
Phương tiện vô ngại khéo hồi hướng.
Tam thế tất cả chư Như Lai
Nghiêm tịnh Phật độ khắp thế gian
Tất cả công đức đều đầy đủ
Hồi hướng tịnh độ cũng như vậy.
Tam thế tất cả những Phật pháp
Bồ Tát thảy đều tư duy kỹ
Dùng tâm nhiếp lấy không để thừa
Như vậy trang nghiêm các Phật độ.
Cùng tận tam thế tất cả kiếp
Khen những công đức một Phật độ
Những kiếp số kia còn cùng tận
Công đức Phật độ không cùng tận
Như vậy tất cả những Phật độ
Những kiếp số kia còn cùng tận
Công đức Phật độ không cùng tận.
Như vậy tất cả những Phật độ
Bồ Tát đều thấy không còn thừa
Đều đem trang nghiêm một cõi Phật
Tất cả Phật độ đều như vậy.
Có những Phật tử tâm thanh tịnh
Đều từ Phật pháp mà hóa sanh
Tất cả Phật độ đều sung mãn
Chư Bồ Tát kia đều đầy đủ
Vô lượng tướng hảo trang nghiêm thân
Biện tài diễn thuyết khắp thế gian
Ví như biển cản không cùng tận.
Bồ Tát an trụ các tam muội
Tất cả công hạnh đều đầy đủ
Tâm đó thanh tịnh không ai sánh
Quang minh chiếu khắp mười phương cõi.
Những Phật độ như vậy không thừa
Chư Bồ Tát đây đều đầy dẫy
Chưa từng nhớ tưởng Thanh Văn thừa
Lại cũng chẳng cầu Duyên Giác đạo.
Bồ Tát tâm thanh tịnh như vậy
Thiện căn hồi hướng khắp quần sanh
Muốn khiến tất cả thành chánh đạo
Rõ biết đầy đủ các Phật pháp.
Mười phương tất cả các ma oán
Bồ Tát oai lực đều phá trừ
Trí huệ dũng mãnh không ai hơn
Quyết định tu hành pháp rốt ráo.
Bồ Tát dùng sức đại nguyện này
Tất cả hồi hướng không chướng ngại
Vào nơi vô tận công đức tạng
Khứ, lai, hiện tại luôn vô tận.
Bồ Tát khéo quán các hành pháp
Rõ thấu tánh nó chẳng tự tại
Đã biết các pháp tánh như vậy
Chẳng vọng lấy nghiệp và quả báo.
Không có pháp sắc pháp vô sắc
Cũng không pháp tưởng pháp vô tưởng
Pháp có tánh không thảy đều không
Rõ biết tất cả vô sở đắc.
Tất cả các pháp nhân duyên sanh
Thể tánh chẳng có cũg chẳng không
Mà nhân duyên và sanh khởi
Trong đó trọn hẳn không chấp trước.
Những ngôn ngữ của các chúng sanh
Trong đó rốt ráo vô sở đắc.
Rõ biết danh tướng đều phân biệt
Hiểu rõ các pháp đều vô ngã
Như tánh chúng sanh vốn tịch diệt
Như vậy rõ biết tất cả pháp
Tam thế nhiếp lấy không thừa sót
Quyết định các nghiệp đều bình đẳng.
Dùng trí như vậy mà hồi hướng
Tùy chỗ ngộ hiểu phước nghiệp sanh
Những phước tướng này như chỗ hiểu
Há lại trong đó có sở đắc.
Hồi hướng như vậy tâm vô cấu
Trọn chẳng cân lường các pháp tánh
Rõ pháp tánh đó đều phi tánh
Chẳng trụ thế gian cũng chẳng xuất.
Tất cả công hạnh những thiện nghiệp
Đều đem hồi hướng các quần sanh
Đều rõ thấu cả chân tánh kia
Tất cả phân biệt đều trừ bỏ
Tất cả những kiến chấp hư vọng
Thảy đều trừ bỏ không để sót
Rời những nhiệt não thường thanh lương
Trụ nơi bậc giải thoát vô ngại.
Bồ Tát chẳng hoại tất cả pháp
Cũng chẳng diệt hoại các pháp tánh
Hiểu rõ các pháp như bóng vang
Đối với tất cả đều vô trước.
Rõ những chúng sanh suốt tam thế
Đều từ nhân duyên hòa hiệp khởi
Cũng biết tâm thích và tập khí
Chưa hoại diệt tất cả pháp.
Rõ thấu nghiệp tánh chẳng phải nghiệp
Mà cũng chẳng trái các pháp tướng
Lại cũng chẳng hoại nghiệp quả báo
Nói các pháp tánh từ duyên khởi
Rõ biết chúng sanh không có sanh
Cũng không chúng sanh bị lưu chuyển
Không thật chúng sanh nói đến được
Chỉ dựa thế tục giả tuyên nói.
"Thế nào là đại Bồ Tát tùy thuận kiên cố nhất thiết thiện căn hồi hướng?
Thưa chư Phật tử!  Bậc Bồ Tát này hoặc làm đế vương ngự nơi đại quốc, có oai đức lớn danh chấn thiên hạ, phàm các oán địch đều quy thuận, hiệu lịnh ban ra đều dựa theo chánh pháp, cầm một cây lọng che mát mười phương, đi khắp cõi nước không bị trở ngại, đầu vấn lụa ly cấu, tự tại đối với các pháp, người thấy đều phục tùng.  Chẳng cần đến hình phạt, chỉ dùng đức cảm hóa.  Dùng pháp tứ nhiếp, nhiếp các chúng sanh.  Làm chuyển luân vương châu cấp tất cả.
Đại Bồ Tát an trụ công đức tự tại như vậy.  Có đông quyến thuộc chẳng ai làm trở ngại phá hoại được.  Lìa khỏi lỗi lầm người thấy không nhàm, phước đức trang nghiêm tướng hảo viên mãn.  Được thân na la diên kiên cố có đại lực không ai khuất phục được.  Được nghiệp thanh tịnh lìa các nghiệp chướng.  Tu hành đầy đủ tất cả bố thí hoặc thí thực phẩm, hoặc thí xe cộ, hoặc thí y phục, hoặc thí tràng hoa, các thứ hương, giường ghế, nhà cửa, đèn đuốc, thuốc men, những khí cụ báu, ngựa giỏi, voi hay đều hoan hỷ bố thí.  Hoặc có kẻ đến xin ghế của vua ngự, hoặc xin lọng, phan, vật báu, đồ trang nghiêm, mão vua, minh châu, cả đến ngôi vua cũng sẵn sàng bố thí không hối tiếc.
Nếu thấy người bị cầm tù, liền xả thí của cải quyến thuộc hoặc đến thân mình đểu giải cứu.  Nếu thấy kẻ tử thù, liền xả thân thế mạng.  Có ai đến xin bất luận vật gì nơi thân:  Mắt, tai, mưỡi, lưỡi, da, thịt, xương, tủy, đầu, mặt, tay, chân, tạng, phủ, v.v... đều vui lòng xả thí.
Hoặc vì cầu thỉnh pháp vị tằng hữu mà gieo mình vào hầm lửa.  Hoặc vì hộ trì chánh pháp mà đem thân nhẫn thọ tất cả sự khổ độc.  Hoặc vì cầu chánh pháp nhẫn đến một chữ mà có thể thí xả tất cả sở hữu.  Thường đem chánh pháp giáo hóa chúng sanh, khiến tu hạnh lành lìa bỏ điều ác.  Nếu thấy kẻ giết hại, thời dùng tâm từ cứu vớt khiến bỏ nghiệp ác.
Nếu thấy đức Như Lai thành đẳng chánh giác thời truyền rao ca ngợi cho mọi nơi đều được hay biết, hoặc thí đất để xây dựng tăng đường, điện nhà, vì chúng sanh mà cúng dường thờ phụng đức Phật.
Lúc đại Bồ Tát bố thí như vậy, phát tâm khéo nhiếp thọ đều đem hồi hướng cả.
Những là khéo nhiếp sắc, thọ, tưởng, hành, thức tùy thuận kiên cố tất cả thiện căn.  Khéo nhiếp đồ cần dùng tùy thuận kiên cố tất cả thiện căn.  Khéo nhiếp huệ thí tùy thuận kiên cố tất cả thiện căn.
Đại Bồ Tát bố thí vật thân mạng thứ nào cũg đến số vô lượng vô biên, đem thiện căn đó hồi hướng như vậy:  Như lúc bố thí thức ăn, lòng Bồ Tát thanh tịnh đối với vật bố thí, không tham trước, không bỏn xẻn luyến tiếc, cầu nguyện cho tất cả chúng sanh được món ăn trí huệ, tâm được vô ngại rõ biết tánh chất của thức ăn nên không tham trước, chỉ thích món ăn pháp hỷ xuất ly, đầy đủ trí huệ dùng pháp kiên trụ nhiếp thủ thiện căn, pháp thân và trí thân thanh tịnh du hành.  Vì từ tâm làm phước điền cho chúng sanh mà thị hiện thọ đoàn thực.  Đây là Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng, lúc bố thí thức ăn.
Đại Bồ Tát lúc bố thí thức uống, đem thiện căn này hồi hướng như vầy:  Nguyện cho tất cả chúng sanh uống nước pháp vị, siêng năng tu tập đầy đủ Bồ Tát đạo, dứt sự khát ái thế gian, thường cầu Phật trí, lìa cảnh dục được sự vui pháp hỷ.  Từ nơi pháp tịch tịnh sanh ra thân mình, thường dùng tam muội mà điều nhiếp tâm mình.  Vào biển trí huệ, nổi mây pháp lớn, xối mưa pháp lớn.  Đây là đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng, lúc bố thí thức uống.
Đại Bồ Tát lúc bố thí những thứ uống ăn thượng vị thanh tịnh có thể làm cho thân tứ đại điều hòa tráng kiện, da thứa tươi nhuần, căn khiếu minh mẫn, tạng phủ mạng tốt, không nhiễm độc, không nhuốm bịnh, luôn được an vui, trong lòng thanh tịnh thường hoa hỷ, đem thiện căn này hồi hướng như vậy:  Nguyện cho tất cả chúng sanh được đầy đủ cam lồ tối thượng vị.  Nguyện cho tất cả chúng sanh được pháp trí vị rõ biết nghiệp dụng của tất cả vị.  Nguyện cho tất cả chúng sanh được vô lượng pháp vị rõ thấu pháp giới an trụ trong thành trì đại pháp thực tế.  Nguyện cho tất cả chúng sanh làm mây đại pháp khắp tất cả pháp giới rưới pháp võ giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh.  Nguyện cho tất cả chúng sanh được thắng trí vị, pháp hỷ vô thượng sung mãn thân tâm.  Nguyện cho tất cả chúng sanh không tham trước tất cả thượng vị, chẳng nhiễm tất cả vị thế gian, thường siêng tu tập tất cả Phật pháp.  Nguyện tất cả chúng sanh được pháp nhất vị rõ các Phật pháp đều không sai khác.  Nguyện tất cả chúng sanh được vị tối thắng trọn không thối chuyển nơi nhất thiết trí.  Nguyện cho tất cả chúng sanh được vào pháp vị bình đẳng của chư Phật đều có thể phân biệt được tất cả những căn tánh.  Nguyện cho tất cả chúng sanh thêm lớn pháp vị thường được đầy đủ Phật pháp vô ngại.  Đây là đại Bồ Tát lúc bớ thí thượng vị đem thiện căn hồi hướng, khiến tất cả chúng sanh siêng tu phước đức đều được đầy đủ trí thân vô ngại.
Đại Bồ Tát lúc bố thí xe cộ, đem thiện căn hồi hướng như vầy:  Nguyện cho tất cả chúng sanh đều được đầy đủ nhất thiết trí ngồi xe đại thừa, xe bất hoại, xe tối thắng, xe tối thượng, xe tốc tật, xe đại lực, xe phước đức đầy đủ, xe xuất thế, xe xuất sanh vô lượng Bồ Tát.  Đây là đại Bồ Tát đem thiện căn hôi hướng lúc bố thí xe cộ.
Đại Bồ Tát lúc bố thí y phuc đem các thiện căn hồi hướng như vậy:  Nguyện tất cả chúng sanh được y phục tàm quý để che thân họ, bỏ lìa tà đạo ác pháp, da thứa mịn màng, nhan sắc tươi sáng, thành tựu sự vui đệ nhất của Phật, được nhất thiết chủng trí.  Đây là lúc đại Bồ Tát bố thí y phục đem thiện căn hồi hướng.
Đại Bồ Tát thường đem các thứ hoa thơm đẹp cúng dường chư Phật hiện tại, và cúng dường điện tháp thờ Phật, cũng cúng dường người thuyết pháp, tỳ kheo tăng, chư Bồ Tát, các thiện trí thức, hành Than Văn, Độc Giác, cha mẹ, sư trưởng, nhẫn đến kẻ nghèo cùng côi cút.
Lúc bố thí, Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh đều được hoa tam muội của Phật có thể đơm nở tất cả pháp.  Nguyện tất cả chúng sanh đều được như Phật, ai xem thấy cũng đều hoan hỷ không chán.  Nguyện tất cả chúng sanh tâm không động loạn, chỗ thấy đều thuận hiệp.  Nguyện tất cả chúng sanh làm đủ những nghiệp hạnh rộng lớn thanh tịnh.  Nguyện tất cả chúng sanh luôn nhớ thiện hữu lòng không đổi dời.  Nguyện tất cả chúng sanh như thuốc a già đà có thể trừ tất cả độc phiền não.  Nguyện tất cả chúng sanh trọn nên đại nguyện đều thành bậc pháp vương vô thượng.  Nguyện tất cả chúng sanh phóng trí quang phá tối ngu si.  Nguyện tất cả chúng sanh đầy đủ trí giác.  Nguyện tất cả chúng sanh gặp thiện trí thức thành tựu đầy đủ tất cả thiện căn.  Đây là lúc đại Bồ Tát bố thí hoa đẹp đem thiện căn hồi hướng khiến chúng sanh được trí huệ thanh tịnh vô ngại.
Lúc bố thí tràng hoa, đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng như vầy:  Nguyện cho tất cả chúng sanh được người thích thấy, người thấy đều mến kính, thân thiện, khát ngưỡng, người thấy đều trừ sự ưu phiền, được hoan hỷ, lìa ác, thường được gần gủi chư Phật, được nhất thiết trí.  Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí tràng hoa đem thiện căn hồi hướng.
Lúc bố thí các thứ hương, đại Bồ Tát hồi hướng như vầy:  Nguyện cho tất cả chúng sanh được đầy đủ giới hương, được giới hạnh chẳng kém thiếu, chẳng tạp, chẳng nhiễm ô, chẳng hối hận, được giới hạnh lìa triều phược, không nhiệt não, không sai phạm, được giới vô biên, giới xuất thế, giới Bồ Tát ba la mật.  Nguyện tất cả chúng sanh do giới hạnh này mà đều được thành tựu giới thân của chư Phật.  Đây là lúc đại Bồ Tát bố thí các thứ hương đem thiện căn hồi hướng, khiến chúng sanh đều được viên mãn giới tụ vô ngại.
Lúc đại Bồ Tát bố thí hương hoa, đem thiện căn hồi hướng như vầy:  Nguyện cho tất cả chúng sanh được thí hương xông khắp đều có thể huệ xả tất cả sở hữu.  Nguyện cho tất cả chúng sanh được giới hương xông khắp đều được tịnh giới rốt ráo của Như Lai.
Nguyện cho tất cả chúng sanh được nhẫn hương xông khắp lìa bỏ tâm hiểm hại.  Nguyện cho tất cả chúng sanh được tinh tấn hương xông khắp thường mặc mão giáp tinh tấn đại thừa.  Nguyện cho tất cả chúng sanh được định hương xông khắp an trụ nơi chánh định hiện tiền của chư Phật.  Nguyện cho tất cả chúng sanh được huệ hương xông khắp trong một niệm được thành trí vương vô thượng.  Nguyện cho tất cả chúng sanh được pháp hương xông khắp nơi pháp vô thượng được vô úy.  Nguyện cho tất cả chúng sanh được đức hương xông khắp thành tựu hương đại công đức.  Nguyện cho tất cả chúng sanh được bồ đề hương xông khắp được Phật thập lực đến nơi bờ kia.  Nguyện cho tất cả chúng sanh được hương bạch pháp thanh tịnh xông khắp dứt hẳn tất cả pháp bất thiện.  Đây là đại Bồ Tát bố thí hương hoa đem thiện căn hồi hướng.
Lúc bố thí giường ghế, đại Bồ Tát đem tất cả hồi hướng như vầy:  Nguyện cho tất cả chúng sanh được giường ghế chư thiên và chứng trí huệ lớn.  Nguyện cho tất cả chúng sanh được giường ghế thánh hiền bỏ ý phàm phu trụ tâm bồ đề.  Nguyện cho tất cả chúng sanh được giường ghế an lạc lìa tất cả khổ não sanh tử.  Nguyện cho tất cả chúng sanh được giường ghế rốt ráo thấy thần thông tự tại của Phật.  Nguyện cho tất cả chúng sanh được giường ghế bình đẳng, luôn huân tu khắp tất cả pháp lành.  Nguyện cho tất cả chúng sanh được giường ghế tối thắng đủ nghiệp thanh tịnh, thế gian không sánh kịp.  Nguyện cho tất cả chúng sanh được giường ghế an ổn chứng pháp chân thật rốt ráo đầy đủ.  Nguyện cho tất cả chúng sanh được giường ghế thanh tịnh tu tập tịnh trí của Như Lai.  Nguyện cho tất cả chúng sanh được an trụ nơi giường ghế, được hành thiện tri thức luôn theo che chở.  Nguyện cho tất cả chúng sanh được giường ghế sư tử thường nằm nghiêng hông mặt như Phật.  Đây là lúc đại Bồ Tát bố thí giường ghế đem thiện căn hồi hướng, khiến chúng sanh tu tập chánh niệm khéo thủ hộ các căn.
Lúc đại Bồ Tát bố thí phòng nhà đem thiện căn hồi hướng như vầy:  Nguyện cho tất cả chúng sanh đều được an trụ Phật độ thanh tịnh, siêng năng tu tập tất cả công đức, an trụ cảnh giới tam muội thậm thâm, rời bỏ tất cả chỗ chấp trước, rõ chỗ trụ đều là vô sở hữu, lìa thế gian mà nơi nhất thiết trí, nhiếp lấy chỗ trụ của Phật, trụ nơi đạo rốt ráo, nơi chốn an vui, luôn trụ nơi thiện căn thanh tịnh đệ nhất, trọn chẳng rời bỏ chỗ trụ vô thượng của Phật.  Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí phòng nhà đem thiện căn hồi hướng, vì muốn lợi ích tất cả chúng sanh tùy chỗ họ đáng được độ mà tư duy cứu độ.
Lúc đại Bồ Tát bố thí chỗ ở, đem thiện căn hồi hướng như vầy:  Nguyện cho tất cả chúng sanh thường được lợi lành lòng họ an vui.  Nguyện cho tất cả chúng sanh y tựa đức Phật mà trụ, y tựa đại trí mà trụ, y tựa thiện trí thức mà trụ, y tựa tôn thắng mà trụ, y tựa thiện hạnh mà trụ, y tựa đại từ mà trụ, y tựa đại bi mà trụ, y tựa sáu môn ba la mật mà trụ, y tựa đại bồ đề tâm mà trụ, y tựa Bồ Tát đạo mà trụ.  Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí chỗ ở đem thiện căn hồi hướng để cho tất cả phước đức được thanh tịnh, rốt ráo thanh tịnh, trí thanh tịnh, đạo thanh tịnh, pháp thanh tịnh, giới thanh tịnh, chí nguyện thanh tịnh, tín giải thanh tịnh, tất cả thần thông công đức thanh tịnh.
Đại Bồ Tát lúc bố thí các thứ đèn sáng:  Đèn tô, đèn dầu, đèn báu, đèn ma ni, đèn sơn, đèn lửa, đèn trầm thủy, đèn chiên đàn, tất cả đèn thơm, đèn vô lượng màu sắc sáng chói... vì muốn lợi ích tất cả chúng sanh, vì muốn nhiếp thọ tất cả chúng sanh, nên đem thiện căn này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh được vô lượng quang chiếu khắp chánh pháp của chư Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh được thanh tịnh quang soi thấy sắc cực vi tế của thế gian.  Nguyện tất cả chúng sanh được ly tế quang rõ biết chúng sanh giới rỗng không vô sở hữu.  Nguyện tất cả chúng sanh được vô biên quang, thân phóng áng sáng vi diệu chiếu khắp tất cả.  Nguyện tất cả chúng sanh được phổ chiếu quang, tâm không thối chuyển đối với Phật pháp, nguyện tất cả chúng sanh được Phật tịnh quang, thảy đều hiển hiện trong tất cả cõi.  Nguyện tất cả chúng sanh được vô ngại quang, một ánh sáng chiếu khắp pháp giới.  Nguyện tất cả chúng sanh được vô đoạn quang, ánh sáng chiếu các Phật độ chẳng gián đoạn.  Nguyện tất cả chúng sanh được trí tràng quang chiếu khắp thế gian.  Nguyện tất cả chúng sanh được vô lượng sắc quang chiếu tất cả cõi thị hiện thần lực.  Đây là lúc đại Bồ Tát bố thí các thứ đèn sáng đem thiện căn hồi hướng như vậy không bị chướng ngại, khiếp khắp chúng sanh an trụ trong thiện căn.
Lúc bồ thí thuốc men, đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh rốt ráo ra khỏi những phiền não.  Nguyện tất cả chúng sanh lìa hẳn thân bịnh được thân Như Lai.  Nguyện tất cả chúng sanh làm thuốc hay, dứt trừ tất cả bịnh bất thiện.  Nguyện tất cả chúng sanh thành thuốc a già đà an trụ bậc bất thối.  Nguyện tất cả chúng sanh thành thuốc Như Lai có thể nhổ tất cả tên độc phiền não.  Nguyện tất cả chúng sanh gần gũi hiền thánh dứt trừ phiền não tu hạnh thanh tịnh.  Nguyện tất cả chúng sanh làm vị dược vương trừ hẳn các bịnh chẳng cho tái phát.  Nguyện tất cả chúng sanh làm cây thuốc bất hoại có thể chữa lành tất cả loài.  Nguyện tất cả chúng sanh được ánh sáng nhất thiết trí nhổ tên các bịnh tật.  Nguyện tất cả chúng sanh khéo hiểu phương thuốc thế gian chữa trị cho những người bịnh.  Vì muốn lợi ích cho tất cả chúng sanh, nên lúc bố thí thuốc men, Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng như vậy.
Đại Bồ Tát lúc đem những khí cụ bằng thất bửu đựng đầy châu báu bố thí cúng dường chư Phật, chư Bồ Tát, các thánh tăng, cúng dường hàng Thanh Văn, Độc Giác, cha mẹ, sư trưởng, nhẫn đến bố thí cho những kẻ nghèo cùng côi cút, chẳng chấp có vật thí người lãnh, tất cả thiện căn đều hồi hướng như vầy:  Nguyện cho tất cả chúng sanh thành tạng vô biên đồng như hư không, niệm lực rộng lớn, có thể thọ trì trọn vẹn tất cả kinh sách thế gian và xuất thế gian không quên sót.  Nguyện tất cả chúng sanh thành khí cụ thanh tịnh tỏ ngộ được chánh pháp thậm thâm của chư Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh thành bửu khí vô thuọg có thể thọ trì trọn vẹn tam thế Phật pháp.  Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu pháp khí rộng lớn của Như Lai dùng lòng tin bất hoại nhiếp thọ pháp bồ đề của tam thế Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu khí cụ bửu trang nghiêm tối thắng trụ tâm bồ đề oai đức lớn.  Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu khí cụ làm chỗ tựa cho tất cả công đức, tin hiểu thanh tịnh đối với vô lượng trí huệ của Như Lai.  Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu khí cụ nhập nhất thiết trí rốt ráo giải thoát vô ngại của Như Lai.  Nguyện tất cả chúng sanh được khí cụ Bồ Tát hạnh có thể làm cho mọi loài đều được an trụ nhất thiết trí.  Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu thắng công đức tam thế Phật tánh, có thể thọ trì pháp âm của chư Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu khí cụ dung nạp tất cả Phật hội đạo tràng khắp pháp giới, là thượng thủ ca ngợi Phật và khuyến thỉnh chuyển pháp luân.  Vì muốn tất cả chúng sanh đều được viên mãn hạnh Phổ Hiền, nên lúc bố thí khí cụ, Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng như vậy."


Hán bộ quyển thứ 26

"Đại Bồ Tát lúc bố thí các loại xe cộ, những là xe bằng vàng bạc thất bửu, hoặc ngựa kéo hay voi kéo, trang nghiêm với những thứ châu ngọc vật báu, cúng dường lên chư Phật, hoặc dâng lên điện tháp thờ Phật, đem công đức này hồi hướng như vầy:  Nguyện cho tất cả chúng sanh đều biết cúng dường phước điền vô thượng, tin chắc rằng cúng Phật được vô lượng quả báo.  Nguyện tất cả chúng sanh nhất tâm hướng đến Phật, thường gặp vô lượng phước điền thanh tịnh.  Nguyện tất cả chúng sanh không lẫn tiếc đối với Như Lai, thành tựu trọn vẹn lòng đại xả.  Nguyện tất cả chúng sanh ở chỗ chư Phật, tu hành hạnh bố thí rời tâm nhị thừa, đến được nhất thiết chủng trí vô ngại giải thoát của Như Lai.  Nguyện tất cả chúng sanh chỗ chư Phật thực hành vô tận thí vào vô lượng công đức trí huệ của Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh nhập thắng trí của Phật được thành bậc trí vương thanh tịnh vô thượng.  Nguyện tất cả chúng sanh được thần thông vô ngại của Phật, muốn đến nơi nào đều tự tại cả.  Nguyện tất cả chúng sanh thâm nhập đại thừa được vô lượng trí an trụ bất động.  Nguyện tất cả chúng sanh đều có thể xuất sanh pháp nhất thiết trí làm phước điền vô thượng của hàng nhân, thiên.  Nguyện tất cả chúng sanh ở chỗ chư Phật không có tâm hiểm hận, siêng vun trồng căn lành thích cầu Phật trí.  Nguyện tất cả chúng sanh nhiệm vận có thể qua đến tất cả Phật độ, trong một sát na đi khắp pháp giới mà không mỏi nhọc.  Nguyện tất cả chúng sanh được Bồ Tát tự tại thần thông, phân thân khắp pháp giới thân cận cúng dường tất cả Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân vô tỷ đến khắp mười phương vẫn không mỏi nhàm.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân quảng đại phi hành mau chóng, chỗ đến tùy ý trọn không lười trễ.  Nguyện tất cả chúng sanh được oai lực tự tại rốt ráo của chư Phật, trong một sát na hiện Phật thần thông biến hóa khắp hư không giới.  Nguyện tất cả chúng sanh tu hạnh an lạc tùy thuận tất cả Bồ Tát đạo.  Nguyện tất cả chúng sanh được mau chóng thực hành rốt ráo thập lực trí huệ thần thông.  Nguyện tất cả chúng sanh bình đẳng vào khắp pháp giới.  Nguyện tất cả chúng sanh không thối chuyển hạnh Phổ Hiền đến bờ kia thành nhất thiết trí.  Nguyện tất cả chúng sanh lên bậc trí huệ vô tỷ tuỳ thuận pháp tánh thấy lý chân thật.  Đây là lúc cúng dường xe cộ cho chư Phật hoặc điện tháp thờ Phật, đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng như vậy, vì muốn cho chúng sanh được Phật thừa rốt ráo giải thoát vô ngại.
Lúc bố thí các loại xe cộ cho chư Bồ Tát các thiện tri thức, đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh tâm thường ghi nhớ lời dạy của thiện trí thức, chuyên cần gìn giữ chẳng để quên mất.  Nguyện tất cả chúng sanh đồng được lợi ích như thiện tri thức, nhiếp khắp tất cả cùng đồng một thiện căn.  Nguyện tất cả chúng sanh gần thiện tri thức tôn trọng cúng dường, xả trọn sở hữu để thuận theo lòng thiện tri thức.  Nguyện tất cả chúng sanh được chí muốn lành chẳng rời thiện hữu.  Nguyện tất cả chúng sanh thường được gặp gỡ các thiện tri thức, kính thờ chẳng trái lời dạy.  Nguyện tất cả chúng sanh mến thích thiện tri thức, chẳng rời, chẳng hở, chẳng lầm lỗi.  Nguyện tất cả chúng sanh có thể đem thân bố thí cho thiện tri thức tùy ý sai bảo chẳng hề trái nghịch.  Nguyện tất cả chúng sanh được thiện tri thức nhiếp thọ tự tại đại từ xa lìa điều ác.  Nguyện tất cả chúng sanh theo thiện tri thức nghe chánh pháp của Phật dạy.  Nguyện tất cả chúng sanh cùng thiện tri thức đồng một thiện căn đồng một nghiệp quả thanh tịnh, đồng một hạnh nguyện với chư Bồ Tát đến rốt ráo thập lực.  Nguyện tất cả chúng sanh đều có thể thọ trì pháp thiện tri thức đến được tất cả định huệ thần thông.  Nguyện tất cả chúng sanh đều có thể thọ trì tất cả chánh pháp, tu tập các hạnh đến nơi bờ kia.  Nguyện tất cả chúng sanh thừa nơi đại thừa không bị chướng ngại thành tựu rốt ráo đạo nhất thiết trí.  Nguyện tất cả chúng sanh đều được lên xe nhất thiết trí đến chỗ an ổn không bị thối chuyển.  Nguyện tất cả chúng sanh biết hạnh như thiệt phàm nghe Phật pháp đều được rốt ráo trọn không quên sót.  Nguyện tất cả chúng sanh được chư Phật nhiếp thọ được trí vô ngại.  Nguyện tất cả chúng sanh được thần thông tự tại, phàm muốn đến chỗ nào, tùy niệm liền đến.  Nguyện tất cả chúng sanh đều đi tự tại giáo hóa rộng khắp khiến đều an trụ nơi đại thừa.  Nguyện tất cả chúng sanh chỗ thực hành chẳng luống, chở chuyên bằng xe trí đến bậc rốt ráo.  Nguyện tất cả chúng sanh được xe vô ngại, dùng trí vô ngại đến tất cả chỗ.  Đây là lúc bố thí xe cộ cho các thiện tri thức, đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng vì muốn cho tất cả chúng sanh đầy đủ công đức đồng với Phật và Bồ Tát.
Lúc Bồ Tát bố thí xe báu cho chư tăng, liền khởi tâm học tất cả hạnh bố thí, tâm trí huệ khéo rõ biết, tâm công đức thanh tịnh, tâm tùy thuận hạnh xả, tâm tăng bửu khó gặp, tâm tin sâu tăng bửu, tâm nhiếp trì chánh pháp, trụ nơi chí muốn thù thắng được chưa từng có làm hội đại thí, xuất sanh vô lượng công đức rộng lớn, tin sâu Phật pháp không bị ngăn trở pháp hoại.  Đem thiện căn này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh vào khắp Phật phát ghi nhớ chẳng quên.  Nguyện tất cả chúng sanh rời pháp phàm ngu, vào chỗ thánh hiền.  Nguyện tất cả chúng sanh mau vào ngôi thánh có thể đem Phật pháp tuần tự dạy bảo.  Nguyện tất cả chúng sanh được toàn thể thế gian tôn trọng, lời nói tất được tin dùng.  Nguyện tất cả chúng sanh khéo vào tất cả pháp bình đẳng rõ biết pháp giới tự tánh không hai.  Nguyện tất cả chúng sanh từ nơi trí cảnh Như Lai mà sanh, những người điều thuận theo làm quyến thuộc.  Nguyện tất cả chúng sanh trụ pháp ly nhiễm dứt trừ tất cả trần cấu phiền não.  Nguyện tất cả chúng sanh đều được thành tựu tăng bửu vô thượng lìa hạng phàm vào thàng thánh.  Nguyện tất cả chúng sanh siêng tu pháp lành được trí vô ngại đủ công đức vô thượng.  Nguyện tất cả chúng sanh được tâm trí huệ chẳng chấp trước nơi thế gian, ở giữa chúng được tự tại như vua chúa.  Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe trí huệ chuyển chánh pháp luân.  Nguyện tất cả chúng sanh có đủ thần thông, trong khoảng một niệm có thể qua đến bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới.  Nguyện tất cả chúng sanh thừa thân hư không được trí huệ vô ngại thấu suốt tất cả thế gian.  Nguyện tất cả chúng sanh vào khắp chúng hội của chư Phật trong tất cả hư không giới và thành tựu đệ nhất ba la mật.  Nguyện tất cả chúng sanh được trí huệ thù thắng thân thể nhẹ nhàng có thể đến khắp tất cả Phật độ.  Nguyện tất cả chúng sanh được thần túc thiện xảo vô biên tế, trong khoảng sát na hiện thân khắp mọi nơi.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân vô sở y dùng thần lực hiện khắp mọi nơi như bóng.  Nguyện tất cả chúng sanh được thần lực tự tại bất tư nghì, tùy kẻ đáng độ liền hiện ra trước họ mà giáo hóa điều phục.  Nguyện tất cả chúng sanh được phương tiện vô ngại nhập pháp giới khoảng một niẹm đi khắp cõi nước mười phương.  Đây là lúc bố thí xe báu cho chư tăng đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng, vì muốn cho chúng sanh đều ngồi xe vô thượng trí thanh tịnh, chuyển pháp luân trí huệ vô ngại nơi tất cả thế gian.
Lúc đại Bồ Tát bố thí xe báu cho Thanh Văn và Độc Giác, liền khởi những tâm phước điền, công đức, tôn kính, tâm xuất sanh công đức trí huệ, tâm từ thế lực công đức của Như Lai sanh ra, tâm tu tập từ trăm ngàn ức na do tha kiếp, tâm có thể tu Bồ Tát hạnh nơi bất khả thuyết kiếp, tâm giải thoát tất cả sự hệ phược của ma, tâm trừ diệt tất cả ma quân, tâm huệ quang chiếu rõ pháp vô thượng.
Đem thiện căn này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh được thế gian tin là phước điền đệ nhất trọn đủ đàn ba la mật vô thượng.  Nguyện tất cả chúng sanh rời bỏ lời nói vô ích thích ở một mình, tâm không có hai niệm.  Nguyện tất cả chúng sanh thành phước điền thanh tịnh đệ nhất, nhiếp các chúng sanh khiến tu phước nghiệp.  Nguyện tất cả chúng sanh thành vực sâu trí huệ có thể đem lại vô lượng vô số thiện quả cho chúng sanh.  Nguyện tất cả chúng sanh trụ hạnh vô ngại trọn đủ phước điền thanh tịnh đệ nhất.  Nguyện tất cả chúng sanh trụ pháp vô tránh, rõ tất cả pháp đều vô sở tác, đều lấy vô tánh làm tánh.  Nguyện tất cả chúng sanh thường được gần gũi phước điền vô thượng tu hành trọn đủ vô lượng phước đức.  Nguyện tất cả chúng sanh có thể hiện vô lượng thần thông tự tại dùng phước điền thanh tịnh nhiếp các hàm thức.  Nguyện tất cả chúng sanh trọn đủ vô tận công đức phước điền có thể đem quả Phật thừa đệ nhất cho các chúng sanh.  Nguyện tất cả chúng sanh là phước điền chơn thực hành nhất thiết trí và phước tụ vô tận.  Nguyện tất cả chúng sanh được pháp diệt tội, trọn thọ trì được cú nghĩa Phật pháp chưa từng nghe.  Nguyện tất cả chúng sanh thường siêng nghe thọ tất cả Phật pháp và đều tỏ ngộ tất cả.  Nguyện tất cả chúng sanh thường siêng nghe lãnh tất cả Phật pháp, tùy thuận diễn nói đúng như chỗ đã nghe.  Nguyện tất cả chúng sanh tin hiểu tu hành theo Phật pháp, bỏ lìa tất cả chín mươi sáu phái ngoại đạo tà kiến.  Nguyện tất cả chúng sanh thường gặp hiền thánh tăng trưởng những thiện căn tối thắng.  Nguyện tất cả chúng sanh tâm thường tin ưa bậc trí huệ, cùng ở  cùng vui với các đấng thánh triết.  Nguyện tất cả chúng sanh tin hiểu công đức chân thật của Phật pháp, trọn bỏ sở hữu để cung kính cúng dường.  Đây là lúc bố thí xe báu cho Thanh Văn, Độc Giác, đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng, vì muốn cho chúng sanh đều được thành tựu trí huệ thần thông thanh tịnh đệ nhất, tinh tấn tu hành được trí lực vô úy.
Đại Bồ Tát đem xe báu nhẫn đến bố thí cho những kẻ nghèo cùng côi cút, tuỳ họ cầu xin đều đem cho cả, lòng luôn hoan hỷ không nhàm mỏi mà còn bảo họ rằng đáng lẽ tôi phải tự mình mang đến phân phát cho các ngài, không dám để các ngài phải nhọc nhằn tìm đến.  Đem thiện căn này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sah ngồi xe pháp luân quảng đại vô ngại bất thối thẳng đến dưới cội cây bồ đề bất tư nghì.  Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe pháp trí thanh tịnh lớn, mãi mãi tu Bồ Tát không thối chuyển.  Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe tất cả pháp vô sở hữu lìa hẳn sự phân biệt chấp trước mà thường tu tập đạo nhất thiết trí.  Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe chánh trực, không dua dối, qua đến các Phật độ tự tại vô ngại.  Nguyện tất cả chúng sanh tùy thuận an trụ nơi xe nhất thiết trí cùng nhau hoan lạc nơi Phật pháp.  Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe Bồ Tát thạnh thanh tịnh đầy đủ mười đạo xuất ly của Bồ Tát và vui nơi tam muội.  Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe bốn bánh:  Nghĩa là ở quốc độ tốt, y tựa bậc thiện nhân, họp phước đức thù thắng, phát thệ nguyện lớn, dùng bốn điều này thành tựu viên mãn tất cả Bồ Tát hạnh thanh tịnh.  Nguyện tất cả chúng sanh được xe pháp quang chiếu khắp mười phương, tu học Phật trí lực.  Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe Phật pháp rốt ráo đến bờ kia.  Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe pháp chở những phước lành hiển bày đạo chơn chánh an ổn khắp mười phương.  Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe đại thí bỏ lòng bỏn xẻn.  Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe tịnh giới trì vô biên giới hạnh thanh tịnh.  Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe nhẫn nhục, rời lòng sân hận.  Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe tinh tấn lớn, bền tu tập công hạnh thù thắng đến đạo bồ đề.  Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe trí huệ phương tiện khéo hóa thân khắp cả Phật độ trong pháp giới.  Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe pháp vương thành tựu vô úy luôn ban bố pháp nhất thiết trí khắp tất cả.  Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe trí huệ vô trước đều có thể vào khắp tất cả mười phương mà chẳng động chơn pháp tánh.  Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe Phật pháp thị hiện thọ sanh khắp mười phương cõi mà chẳng hư mất đạo đại thừa.  Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe báu nhất thiết trí vô thượng, trọn đủ hạnh nguyện Phổ Hiền.  Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí các loại xe báu cho tất cả phước điền, đem thiện căn hồi hướng vì muốn cho chúng sanh đủ vô lượng trí, vui mừng hớn hở rốt ráo đều được xe nhất thiết trí.
Đại Bồ Tát thí tượng bửu cùng mã bửu, trang nghiêm với bành vàng, yên ngọc, giây vàng, lục lạc báu, cho cha mẹ, thiện hữu, nhẫn đến kẻ nghèo cùng, không chút hối tiếc, đem thiện căn này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh ngồi xe điều thuận thêm lớn công đức của Bồ Tát.  Nguyện tất cả chúng sanh được xe thiện xảo, có thể tùy ý xuất sanh tất cả Phật pháp.  Nguyện tất cả chúng sanh được xe tín giải chiếu khắp trí lực vô ngại của Như Lai.  Nguyện tất cả chúng sanh được xe phát thu, có thể khắp phát hưng tất cả đại nguyện.  Nguyện tất cả chúng sanh đầy đủ xe ba la mật bình đẳng, trọn nên tất cả thiện căn bình đẳng.  Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu xe báu xuất sanh bửu trí vô thượng.  Nguyện tất cả chúng sanh được xe Bồ Tát hạnh trang nghiêm nở bông tam muội của Bồ Tát.  Nguyện tất cả chúng sanh được xe mau chóng vô biên trong vô số kiế thanh tịnh tâm Bồ Tát, siêng tư duy rõ thấu các pháp.  Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu đại thừa điều thuận tối thắng dùng phương tiện khéo trọn đủ Bồ Tát địa.  Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu đại thừa kiên cố rất cao rộng có thể khắp chuyên chở tất cả chúng sanh đều được đến bậc nhất thiết trí.  Đây là lúc bố thí voi, ngựa, đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng, vì muốn cho chúng sanh đều được ngồi nơi xe vô ngại trí viên mãn Phật thừa.
Lúc bố thí các thứ tòa ngồi, hoặc bửu tòa sư tử vô lượng trang nghiêm dâng lên đức Phật, chư Bồ Tát, thiện tri thức, thánh tăng, pháp sư, cha mẹ, tôn nhân, Thanh Văn, Độc Giác, người xu hướng Bồ Tát thừa, hoặc tháp miếu của Như Lai, nhẫn đến kẻ nghèo cùng, tuỳ họ cần dùng thứ chi đều ban cho cả, Bồ Tát đem công đức này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh ngồi tòa bồ đề đều có thể giác ngộ chánh pháp của chư Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh ngồi tòa tự tại được pháp tự tại có thể trừ dẹp các quân ma.  Nguyện tất cả chúng sanh được tòa sư tử tự tại của Phật, được tất cả chúng sanh chiêm ngưỡng.  Nguyện tất cả chúng sanh được bất khả thuyết bất khả thuyết tòa trang nghiêm báu đẹp tự tại giáo hóa chúng sanh.  Nguyện tất cả chúng sanh được tòa thù thắng trong tất cả thế gian do thiện căn rộng lớn nghiêm sức.  Nguyện tất cả chúng sanh được toà rộng khắp bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới vô số kiếp khen ngợi vô tận.  Nguyện tất cả chúng sanh được mãn tất cả pháp giới.  Nguyện tất cả chúng sanh được bửu tòa bất tư nghì tùy bổn nguyện của họ mà ban bố pháp thí cho chúng sanh.  Nguyện tất cả chúng sanh được tòa thiện diệu hiện bất khả thuyết thần thông của chư Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh được tòa tất cả bửu, tòa tất cả hương, tòa tất cả hoa, tòa tất cả y phục, tòa tất cả tràng hoa, tòa tất cả ma ni, tòa tất cả lưu ly, v.v... bất tư nghì bửu tòa, tòa vô lượng thế giới, tòa trang nghiêm thanh tịnh, tòa kim cang thị hiện oai đức tự tại thành vô lượng vô thượng chánh giác.  Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí bửu tòa đem thiện căn hồi hướng vì muốn cho chúng sanh được tòa đại Bồ Tát xuất thế gian tự nhiên giác ngộ tất cả Phật pháp.
Lúc đại Bồ Tát với âm thanh tịnh đem vô lượng bửu cái trang nghiêm thù thắng dâng cúng chư Phật, tháp miếu của chư Phật, hoặc vì pháp mà dâng cúng chư Bồ Tát, các thiện tri thức, đại pháp sư, chư tăng, cha mẹ, dâng cúng Phật pháp, bậc phát bồ đề tâm, nhẫn đến kẻ nghèo cùng, tất cả thiện căn này đều hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh siêng tu thiện căn luôn được chư Phật che chở.  Nguyện tất cả chúng sanh dùng công đức trí huệ làm lọng lìa hẳn tất cả phiền não.  Nguyện tất cả chúng sanh dùng thiện pháp để tự che trừ diệt trần cấu nhiệt não thế gian.  Nguyện tất cả chúng sanh được tạng trí huệ khiến đại chúng thích thấy tâm không nhàm đủ.  Nguyện tất cả chúng sanh dùng pháp lành tịch tịnh để tự che chở rốt ráo chẳng hoại Phật pháp.  Nguyện tất cả chúng sanh khéo che thân mình rốt ráo được pháp thân thanh tịnh.  Nguyện tất cả chúng sanh làm lọng to rộng che trùm thế gian với thập trí lực.  Nguyện tất cả chúng sanh được lọng ứng cúng thành phước điền thọ tất cả sự cúng dường.  Nguyện tất cả chúng sanh được lọng tối thượng được vô thượng trí tự nhiên giác ngộ.  Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí lọng báu đem thiện căn hồi hướng khiến tất cả chúng sanh được lọng che trùm tất cả, hư không pháp giới, tất cả cõi nước, thị hiện thần thông tự tại không thối chuyển, có thể trang nghiêm mười phương thế giới để cúng dường Phật, có thể dùng tràng phan tốt và bửu cái đẹp để cúng dường tất cả Phật, có thể được bửu cái phổ trang nghiêm che khắp trọn vẹn tất cả Phật độ, được bửu cái quảng đại che khắp chúng sanh khiến họ đối với Phật sanh lòng tín giải, khiến tất cả chúng sanh dùng bất khả thuyết bửu cái cúng dường một đức Phật, với bất khả thuyết đức Phật, cũng cúng dường như vậy, khiến tất cả chúng sanh được bửu cái bồ đề rộng lớn che khắp tất cả Phật, khiến tất cả chúng sanh được bửu cái ma ni trang nghiêm, bửu cái tất cả hương trang nghiêm, bửu cái tất cả trang nghiêm, bửu cái thanh tịnh trang nghiêm, lưới báu giăng che, linh báu treo thòng gió động reo tiếng vi diệu che khắp Phật thân trong tất cả thế giới, khiến tất cả chúng sanh được bửu cái trí huệ trang nghiêm vô chướng vô ngại che khắp tất cả Phật.
Lại vì muốn khiến tất cả chúng sanh được trí huệ đệ nhất, được Phật công đức trang nghiêm, có chí nguyện thanh tịnh đối với công đức của Phật, được vô lượng vô biên tâm bửu tự tại, được toàn vẹn trí huệ tự tại.  Lại muốn khiến chúng sanh dùng những thiện căn che trùm tất cả, thành tựu bửu cái trí huệ tối thắng, thành tựu bửu cái thập lực, với tất cả pháp được tự tại làm đấng pháp vương.
Lại muốn khiế chúng sanh được tâm tự tại oai đức lớn, được trí rộng lớn không gián đoạn, được vô lượng công đức che khắp tất cả đều trọn vẹn.
Lại muốn khiến tất cả chúng sanh dùng lọng công đức che tâm mình, dùng tâm bình đẳng che chúng sanh, được trí huệ lớn bình đẳng, được phương tiện thiện xảo hồi hướng lớn, được tâm nguyện thanh tịnh thù thắng, được tâm nguyện thanh tịnh thuần thiện, được đại hồi hướng che khắp tất cả chúng sanh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát với tâm tín giải thanh tịnh đem vô lượng tràng phan cực tốt đẹp vi diệu trang nghiêm toàn vàng ngọc, châu báu dâng lên hiện tại chư Phật và tháp miếu của chư Phật đã diệt độ, hoặc dâng lên pháp bửu, tăng bửu, hoặc dâng cho chư Bồ Tát thiện tri thức, hàng Thanh Văn, Độc Giác, hoặc thí cho đại chúng, cùng tất cả người đến cầu xin.
Đại Bồ Tát dùng thiện căn này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh đều có thể kiến lập tràng phan thiện căn phước đức kiên cố chẳng hư hoại, kiến lập tràng phan tự tại nơi tất cả pháp tôn trọng mến thích siêng năng giữ gìn, thường dùng lụa báu biên chép chánh pháp hộ trì pháp tạng của chư Phật Bồ Tát.
Nguyện tất cả chúng sanh kiến lập tràng cao hiển thắp đèn trí huệ soi khắp thế gina.
Nguyện tất cả chúng sanh kiến lập tràng kiên cố trừ dẹp tất cả nghiệp ma, kiến lập tràng trí huệ tất cả loài ma không phá hư được, kiến lập tràng kim cang đại trí huệ trừ dẹp tất cả sự ngạo mạn của thế gian.
Nguyện tất cả chúng sanh được tràng trí huệ đại quang chiếu khắp pháp giới.
Nguyện tất cả chúng sanh có đủ vô lượng tràng báu trang nghiêm sung mãn thập phương tất cả thế giới cúng dường chư Phật.
Nguyện tất cả chúng sanh được tràng Như Lai xô dẹp tất cả chín mươi sáu phái ngoại đạo tà kiến.
Đây là lúc đại Bồ Tát bố thí tràng phan đem thiện căn hồi hướng khiến tất cả chúng sanh được tràng Bồ Tát hạnh cao rộng thậm thâm và được tràng thanh tịnh đạo hạnh thần thông của Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát khai những bửu tạng đem trăm ngàn ức na do tha thứ trân bửu cấp cho vô số chúng sanh, tuỳ theo ý của họ muốn không hề lẫn tiếc.
Đại Bồ Tát đem thiện căn này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh thường thấy Phật bửu, rời bỏ ngu si mà tu hành chánh niệm.  Nguyện tất cả chúng sanh được đầy đủ pháp bửu sáng chói hộ trì pháp tạng của chư Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh đều có thể nhiếp thọ tất cả tăng bửu châu cấp cúng dường luôn không hề nhàm.  Nguyện tất cả chúng sanh được nhất thiết trí tâm bửu vô thượng, tâm bồ đề thanh tịnh bất thối.  Nguyện tất cả chúng sanh được trí bửu vào khắp tất cả pháp tâm không nghi hoặc.  Nguyện tất cả chúng sanh đầy đủ những công đức bửu của Bồ Tát, khai thị diễn thuyết vô lượng trí huệ.  Nguyện tất cả chúng sanh được vô lượng công đức bửu vi diệu tu thành chánh giác mười trí lực.  Nguyện tất cả chúng sanh được diệu tam muội mười sáu trí bửu rốt ráo thành tựu trí huệ rộng lớn.  Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu báu phước điền đệ nhất, ngộ nhập trí huệ vô thượng của Như Lai.  Nguyện tất cả chúng sanh được thành bửu vương vô thượng đệ nhất dùng biện tài vô tận khai diễn các pháp. 
Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí các châu báu đem thiện căn hồi hướng khiến tất cả chúng sanh thành tựu trí bửu đệ nhất và nhãn bửu thanh tịnh của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát xem tất cả chúng sanh ở thế gian như con một, muốn cho họ đều được thân thanh tịnh trang nghiêm, thành tựu sự an lạc tối thượng ở thế gian và sự vui trí huệ của Phật, an trụ Phật pháp lợi ích chúng sanh, nên đem vô lượng thứ trang nghiêm cụ báu đẹp chuyên cần bố thí, mà hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh thành tự đồ nghiêm sức tốt đẹp vô thượng dùng các công đức trí huệ thanh tịnh trang nghiêm nhân, thiên.  Nguyện tất cả chúng sanh được tướng trang nghiêm thanh tịnh dùng phước đức thanh  tịnh trang nghiêm thân mình.  Nguyện tất cả chúng sanh được tướng trang nghiêm thượng diệu dùng tướng trăm phước trang nghiêm thân mình.  Nguyện tất cả chúng sanh được tướng trang nghiêm chẳng tạp loạn dùng tất cả tướng trang nghiêm thân mình.  Nguyện tất cả chúng sanh được tướng ngôn ngữ trang nghiêm thuần thiện thanh tịnh đầy đủ biện tài vô tận.  Nguyện tất cả chúng sanh được tướng tiếng trang nghiêm đủ công đức, thanh âm thanh tịnh người nghe vui mừng.  Nguyện tất cả chúng sanh được tướng ngôn ngữ trang nghiêm khả ái của Phật, khiến các chúng sanh nghe pháp vui mừng tu hạnh thanh tịnh.  Nguyệnt tất cả chúng sanh được tướng tâm trang nghiêm, nhập thâm thiền định thấy khắp chư Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh đươc tướng tổng trì trang nghiêm chiếu sáng tất cả Phật pháp.  Nguyện tất cả chúng sanh được tướng trí huệ trang nghiêm, dùng trí huệ của Phật trang nghiêm tâm mình.
Đây là bố thí các thứ trang sức đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng, khiến tất cả chúng sanh đầy đủ vô lượng Phật pháp, công đức trí huệ đều viên mãn trang nghiêm rời hẳn tất cả sự kiêu mạn, phóng dật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát đem bửu quang ma ni và bửu châu trong búi tóc thí cho chúng sanh không lòng lẫn tiếc, thường siêng tu tập làm đại thí chủ, tu học trí huệ, tăng trưởng xả căn, trí huệ thiện xảo, tâm lượng quảng đại.
Đại Bồ Tát đem thiện căn này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh được pháp quán đảnh của chư Phật thành bậc nhất thiết trí.  Nguyện tất cả chúng sanh tròn đủ đảnh tướng được trí đệ nhất đến bờ kia.  Nguyện tất cả chúng sanh dùng trí bửu vi diệu nhiếp khắp mọi loài đều khiến rốt ráo đảnh công đức.  Nguyện tất cả chúng sanh đều được thành tựu bửu đảnh trí huệ kham thọ sự lễ kính của thế gian.  Nguyện tất cả chúng sanh dùng minh châu trí huệ cột trên đảnh đầu mình, tất cả thế gian không ai thấy đến được.  Nguyện tất cả chúng sanh đều kham thọ sự đảnh lễ của thế gian, thành tựu huệ đảnh chiếu sáng Phật pháp.  Nguyện tất cả chúng sanh đầu đội mão thập lực trang nghiêm, đầy đủ trí huệ thanh tịnh.  Nguyện tất cả chúng sanh đến đảnh đại địa, được nhất thiết trí rốt ráo thập lực phá các loài ma ở đảnh cõi dục.  Nguyện tất cả chúng sanh được thành đảnh vương vô thượng đệ nhất, được đảnh nhất thiết trí sáng chói, không gì là lu mờ được. 
Đây là lúc bố thí mão báu, đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng khiến chúng sanh được bậc trí huệ thanh tịnh đệ nhất, dùng trí huệ làm bửu quang ma ni vi diệu vậy.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát thấy có chúng sanh bị giam cầm cùm xiềng nơi lao ngục tối tăm quá khổ sở không ai cứu vớt, liền liều bỏ của cải vợ con nhẫn đến tự thân mà vào ngục tù cứu các chúng sanh ấy, như Đại Bi Bồ Tát, Diệu Nhãn Vương Bồ Tát.  Khi đã cứu độ rồi, tùy theo chỗ cần dùng của họ mà cung cấp đầy đủ, khiến họ được an ổn.  Sau đó mới ban cho họ pháp bửu vô thượng, khiến họ tu hành rời phóng dật, gieo căn lành, chẳng thối chuyển nơi Phật pháp.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc cứu chúng sanh như vậy, đem công đức này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh giải thoát rốt ráo sự triền phược của tham ái.  Nguyện tất cả chúng sanh dứt giòng sanh tử lên bở trí huệ.  Nguyện tất cả chúng sanh trừ diệt ngu si sanh trưởng trí huệ dứt hẳn phiền não.  Nguyện tất cả chúng sanh dứt sự trói buộc của ba cõi được nhất thiết trí giải thoát rốt ráo.  Nguyện tất cả chúng sanh dứt hẳn tất cả phiền não đến nơi bờ trí huệ vô ngại kia.  Nguyện tất cả chúng sanh lìa động niệm tư duy phân biệt vào nơi trí địa bồ đề bất động.  Nguyện tất cả chúng sanh xa lìa tất cả sự tham dục của thế gian và không nhiễm trước trong ba cõi.  Nguyện tất cả chúng sanh được chí nguyện thù thắng, luôn được chư Phật thuyết pháp cho.  Nguyện tất cả chúng sanh được tâm giải thoát không nhiễm trước, không hệ phược, rộng lớn như pháp giới, rốt ráo như hư không.  Nguyện tất cả chúng sanh được Bồ Tát thần thông, đến tất cả thế giới điều phục chúng sanh khiến lìa thế gian trụ nơi đại thừa.  Đây là đại Bồ Tát lúc cứu độ chúng sanh thoát khổ ngục tù đem thiện căn hồi hướng, khiến chúng sanh khắp vào bậc trí huệ của Như Lai vậy.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát thấy tù nhân:  Cổ mang gông, tay chân bị trói, sắp bị xử tử, hoặc lóc thịt, hoặc giáo đâm, hoặc hỏa thiêu, hoặc bêu đầu, phải xa bỏ gia đình thân tộc mà bị mọi điều thống khổ.  Bồ Tát liền đem thân mình chịu khổ thay thế cho họ, như A Dật Đa Bồ Tát, Thù Thắng Hạnh Vương Bồ Tát, v.v...
Chư Phật tử!  Lúc đại Bồ Tát tự xả thân mạng cứu chúng sanh, đem thiện căn này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh được thân mạng rốt ráo tận, lìa hẳn tất cả tai hoạ bức não.  Nguyện tất cả chúng sanh y chư Phật mà trụ được thọ ký sẽ thành Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh cứu khắp hàm thức khiến lìa bố úy thoát hẳn ác đạo.  Nguyện tất cả chúng sanh được tất cả thọ mạng vào cảnh trí huệ bất tử.  Nguyện tất cả chúng sanh lìa hẳn oán địch nạn khổ, luôn được chư Phật, và thiện hữu nhiếp thọ.  Nguyện tất cả chúng sanh lìa bỏ tất cả dao gươm, võ khí nghiệp ác, tu hành những nghiệp lành thanh tịnh.  Nguyện tất cả chúng sanh lìa khỏi sự bố úy, dưới cội bồ đề phá quân ma.  Nguyện tất cả chúng sanh lìa đại bố úy, nơi pháp vô thượng tâm thanh tịnh vô úy có thể làm bậc đại sư tử hống vô thượng.  Nguyện tất cả chúng sanh được trí vô ngại tu hành chánh nghiệp nơi các thế gian.  Nguyện tất cả chúng sanh đến chỗ vô úy, thường nhớ cứu hộ những chúng sanh khổ.  Đây là đại Bồ Tát lúc tự xả thân cứu những tử tù sắp bị hành hình mà đem thiện căn hồi hướng, muốn cho chúng sanh lìa khổ sanh tử được sự vui vi diệu vô thượng của Như Lai."


Hán bộ quyển thứ 27

"Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát bố thí cả búi tóc liền với da đầu cho kẻ đến xin, như Bửu Kế Vương Bồ Tát, Thắng Diệu Thân Bồ Tát và vô lượng Bồ Tát khác.
Lúc tay cầm dao bén lóc trọn da đầu, liền với búi tóc cung kính trao cho kẻ đến xin, đại Bồ Tát không lòng động loạn, chỉ chánh niệm tam thế chư Phật, lòng hoan hỷ thêm lớn chí nguyện, khéo hiểu các pháp chẳng thấy đau khổ, rõ biết sự khổ vốn vô tướng vô sanh, khổ vui thay nhau không có thường trụ, thật hành hạnh đại xả đồng với tam thế Bồ Tát, phát tín nguyện sâu cầu nhất thiết trí không thối chuyển, chẳng do sức thiện trí thức khác dạy trao.  Đem thiện căn này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh được tướng vô kiến đảnh, được búi tóc như ngọc tháp.  Nguyện tất cả chúng sanh được tóc xanh biếc, tóc kim cang, tóc mịn nhuyễn, có thể dứt tất cả phiền não cho chúng sanh.  Nguyện tất cả chúng sanh được tóc nhuần láng, tóc kín dày, tóc như chữ "vạn", tóc xoắn khu ốc về phía hữu.  Nguyện tất cả chúng sanh được tóc như tóc Phật, lìa hẳn tất cả kiết tập phiền não.  Nguyện tất cả chúng sanh được tóc chói sáng chiếu thập phương thế giới.  Nguyện tất cả chúng sanh được tóc không rối, đẹp, sạch như tóc của Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh được tóc như đảnh tháp của Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh được tóc như đảnh tháp của Phật, khiến người thấy như thấy tóc của Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh đều được tóc vô nhiễm của Như Lai không hề bợn nhơ.  Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí búi tóc liền cả da đầu đem thiện căn hồi hướng, khiến chúng sanh được tâm niệm tịch tịnh đều được viên mãn các môn đà la ni, rốt ráo nhất thiết chủng trí đủ thập lực.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát đem tròng mắt bố thí cho người xin như Hoan Hỷ Hạnh Bồ Tát, Nguyệt Quang Vương Bồ Tát và vô lượng Bồ Tát khác.
Lúc bố thí tròng mắt, đại Bồ Tát khởi tâm thanh tịnh thí nhãn, tâm thanh tịnh trí nhãn, tâm y chỉ pháp quang minh, tâm hiện quán Phật đạo vô thượng, pháp tâm hồi hướng trí huệ rộng lớn, phát tâm xả thí bình đẳng đồng chư Bồ Tát trong ba thuở, phát tâm trí nhãn vô ngại chẳng hư lòng tin thanh tịnh.  Đối với người xin sanh tâm hoan hỷ nhiếp thọ vì để rốt ráo tất cả thần thông, vì sanh Phật nhãn, vì thêm lớn tâm bồ đề, vì tu tập đại từ bi, vì chế phục sáu căn.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc bố thí tròng mắt, đối với người xin sanh lòng thương mến, vì họ mà lập hội bố thí, thêm lớn pháp lực, rời bỏ những ái khiến phóng dật của thế gian, dứt trừ dục nhiễm mà tu tập hạnh bồ đề, tâm an vi bất động làm vừa lòng người xin cho họ được thỏa mãn.
Đem thiện căn này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh được mắt tối thắng dìu dắt tất cả mọi loài.  Nguyện tất cả chúng sanh được mắt vô ngại mở kho trí huệ rộng lớn.  Nguyện tất cả chúng sanh được nhục nhãn thanh tịnh quang minh soi suốt không gì che được.  Nguyện tất cả chúng sanh được thiên nhãn thanh tịnh trọn thấy nghiệp quả của tất cả chúng sanh.  Nguyện tất cả chúng sanh được pháp nhãn thanh tịnh, có thể tuỳ thuận vào cảnh giới Như Lai.  Nguyện tất cả chúng sanh được huễ nhãn lìa bỏ tất cả sự phân biệt chấp trước.  Nguyện tất cả chúng sanh viên mãn Phật nhãn đều có thể giác ngộ tất cả các pháp.  Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu phổ nhãn cùng tận các cảnh giới không bị chướng ngại.  Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu mắt thanh tịnh không mê mờ, rõ chúng sanh giới rỗng không vô sở hữu.  Nguyện tất cả chúng sanh đầy đủ mắt thanh tịnh vô ngại trọn vẹn mười trí lực.  Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí trong mắt đem thiện căn hồi hướng khiến tất cả chúng sanh được mắt thanh tịnh nhất thiết trí.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có thể đem vành tai và cái mũi cho người xin, như Thắng Hạnh Vương Bồ Tát, Vô Oán Thắng Bồ Tát, và vô lượng Bồ Tát khác.
Lúc bồ thí, Bồ Tát gần gũi người xin, chuyên tâm tu tập các hạnh Bồ Tát, đủ chủng tánh Phật, sanh nhà Như Lai, nhớ hạnh bố thí của Bồ Tát tu, luôn siêng phát khởi Phật bồ đề, làm cho các căn công đức trí huệ đều thanh tịnh, quan sát ba cõi không một mảy kiên cố.  Nguyện luôn được thấy chư Phật và Bồ Tát, tuỳ thuận ghi nhớ tất cả Phật pháp, rõ biết thân thể là hư giả rỗng không, không một mảy tham tiếc.
Lúc đại Bồ Tát bố thí tai, mũi như vậy, lòng luôn tịch tịnh điều phục các căn, cố gắng cứu giúp chúng sanh thoát nạn hiểm ác, sanh trưởng tất cả trí huệ chúng sanh, vào biển đại bố thí, rõ thấu nghĩa của các pháp, tu đủ các đạo hạnh, thực hành theo trí huệ, được pháp tự tại, đem thân chẳng bền đổi lấy thân bền.
Chư Phật tử!  Lúc đại Bồ Tát bố thí vành tai đem những thiện căn hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh được tai vô ngại che khắp tất cả âm thanh thuyết pháp.  Nguyện tất cả chúng sanh được tai vô ngại có thể hiểu rõ trọn tất cả âm thanh.  Nguyện tất cả chúng sanh được tai Phật thông thấu tất cả khôn bị trệ ngại.  Nguyện tất cả chúng sanh được tai thanh tịnh, chẳng vì tai nghe mà sanh lòng phân biệt.  Nguyện tất cả chúng sanh không tai điếc lảng, khiến rốt ráo không có sự nghe sai mờ.  Nguyện tất cả chúng sanh được tai khắp pháp giới nghe biết trọn pháp âm của chư Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh được tai vô ngại khai ngộ tất cả pháp vô ngại, khéo biết các luận không ai phá được.  Nguyện tất cả chúng sanh được tai nghe khắp thanh tịnh rộng lớn.  Nguyện tất cả chúng sanh đầy đủ thiên nhĩ nhẫn đến Phật nhĩ.  Đây là lúc bố thí tai, đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng, khiến các chúng sanh đều được tai thanh tịnh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc bố thí cái mũi hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh được mũi cao và thẳng, được mũi đẹp, được mũi có tướng lành, được mũi khả ái, được mũi tịnh diệu, được mũi tuỳ thuận, được mũi cao rõ, được mũi phục oán, được mũi thiện kiến, được mũi Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh được gương mặt lìa nét giận hờn, được mặt nhất thiết pháp, được mặt vô ngại, được mặt thiện kiến, được mặt tùy thuận, được mặt thanh tịnh, được mặt lìa lỗi, được mặt Phật viên mãn, được mặt khắp tất cả chỗ, được mặt vô lượng xinh đẹp.  Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí cái mũi đem thiện căn hồi hướng, khiến chúng sanh rốt ráo vào Phật pháp nhiếp thọ Phật pháp, rõ biết Phật pháp, trụ trì Phật pháp, thường thấy Phật, đều chứng pháp môn của Phật thành tựu tâm không gì phá hoại được, có thể chiếu rõ chánh pháp của Phật, trang nghiêm thanh tịnh khắp những Phật độ, được thân oai lực lớn của Phật.
Trên đây là đại Bồ Tát lúc bố thí tai và mũi đem thiện căn hồi hướng. 
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát an trụ trong bậc tự tại kiên cố, có thể đem nanh răng thí cho chúng sanh, như thuở xưa Hoa Xỉ Vương Bồ Tát, Lục Nha Tượng Vương Bồ Tát, và vô lượng Bồ Tát khác.
Lúc bố thí răng, lòng Bồ Tát thanh tịnh hy hữu như hoa sen xanh:  Những là tâm bố thí vô tận, tâm bố thí tin sâu, tâm bố thí thành tựu vô lượng hạnh xả trong mỗi bước đi, tâm bố thí điều phục các căn, tâm bố thí xả tất cả, tâm bố thí nhất thiết trí, tâm bố thí an lạc chúng sanh, bố thí lớn, bố thí tột mức, bố thí thù thắng, tối thắng bố thí không lòng ghét giận.
Bồ Tát đem thiện căn này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh được nanh răng trắng bén thành tháp tối thắng thọ sự cúng dường của nhân, thiên.  Nguyện tất cả chúng sanh được răng đều bằng như răng Phật không hở khuyết.  Nguyện tất cả chúng sanh được tâm điều phục khéo đến hạnh ba la mật của Bồ Tát.  Nguyện tất cả chúng sanh miệng lành thanh tịnh, nanh răng bóng trắng sáng rỡ.  Nguyện tất cả chúng sanh được nanh răng trang nghiêm, miệng thanh tịnh không tướng xấu.  Nguyện tất cả chúng sanh trọn đủ bốn mươi răng, luôn thoảng ra những mùi thơm vi diệu hi hữu.  Nguyện tất cả chúng sanh ý khéo điều phục răng bóng sạch như hoa sen trắng, phóng vô lượng ánh sáng chiếu khắp nơi.  Nguyện tất cả chúng sanh nanh răng bén chắc, ăn không tham nhiễm làm phước điền vô thượng.  Nguyện tất cả chúng sanh nơi kẻ răng thường phóng quang minh thọ ký chư Bồ Tát.  Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí nanh răng đem thiện căn hồi hướng, khiến chúng sanh đủ nhất thiết trí, vì được trí huệ thanh tịnh ở trong các pháp vậy.
Chư Phật tử!  Nếu lúc có người đến xin cái lưỡi, đối với người xin, đại Bồ Tát dùng tâm từ bi nói lời dịu dàng khả ái, như thuở xưa Đoan Chánh Diện Vương Bồ Tát, Bất Thối Chuyển Bồ Tát, và vô lượng Bồ Tát khác.
Bấy giờ, đại Bồ Tát mời người xin ngồi trên tòa sư tử.  Với tấm lòng thanh tịnh hiền hòa an vui, không chấp lấy thân, không chấp lấy lời.  Bồ Tát quỳ gối hả miệng le lưỡi cho người xin mà bảo rằng:  Thân của tôi đây hiện nay hoàn toàn thuộc về ngài, xin cắt lấy lưỡi này tùy ý ngài sử dụng, cho ngài được thỏa lòng mong muốn.
Bồ Tát đem thiện căn bố thí lưỡi này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh được lưỡi cùng khắp, có thể tuyên nói các lời, các pháp, nguyện tất cả chúng sanh được lưỡi trùm cả mặt, lời nói trọn chân thật, không hai lời.  Nguyện tất cả chúng sanh được lưỡi trùm khắp tất cả Phật độ, thị hiện thần thông tự tại của Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh được lưỡi mềm mỏng, luôn hưởng vị ngon lành thanh tịnh.  Nguyện tất cả chúng sanh được lưỡi biện tài, dứt được tất cả lưới nghi thế gian.  Nguyện tất cả chúng sanh được lưỡi sáng chói, có thể phóng vô lượng quang minh.  Nguyện tất cả chúng sanh được lưỡi quyết định, biện nói các pháp không cùng tận.  Nguyện tất cả chúng sanh được lưỡi điều phục khắp cả, có thể khéo khai thị tất cả bí yếu, lời nói ra khiến người tin nhận.  Nguyện tất cả chúng sanh được lưỡi thông đạt khắp cả, khéo vào tất cả biển ngôn ngữ.  Nguyện tất cả chúng sanh được lưỡi khéo nói tất cả những pháp môn, nơi trí ngôn ngữ, đều đến bỉ ngạn.  Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí cái lưỡi đem thiện căn hồi hướng, khiến chúng sanh đều được viên mãn trí vô ngại.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát dùng đầu bố thí những người đến xin, như Tối Thắng Trí Bồ Tát, Quốc Vương Ca Thi Bồ Tát, và các Bồ Tát khác.  Đại Bồ Tát bố thí như vậy là vì muốn thành tựu trí thủ tối thắng vào tất cả pháp, muốn thành tựu đầu đại bồ đề cứu chúng sanh, muốn đầy đủ đầu đệ nhất thấy tất cả pháp, muốn được đầu trí huệ chánh kiến thanh tịnh, muốn thành tựu đầu vô ngại, muốn được đầu bậc đệ nhất, muốn được đầu trí tối thắng nơi thế gian, muốn được đầu trí huệ thanh tịnh vô kiến đảnh, muốn được đầu trí huệ thị hiện khắp đến mười phương, muốn được đầu tự tại đối với tất cả pháp.
Đại Bồ Tát an trụ pháp này siêng cầu tu tập thời là đã vào chủng tánh Phật, học hạnh bố thí của Phật, sanh lòng tin thanh tịnh đối với Phật, thêm lớn thiện căn, khiến người xin đều được thỏa mãn vui mừng, lòng họ thanh tịnh vui mừng vô lượng, lòng tin hiểu thanh tịnh soi rõ Phật pháp, phát tâm bồ đề, an trụ tâm xả, các căn thơ thới, công đức tăng trưởng, phát chí nguyện lành, thường ưa tu hành hạnh bố thí rộng lớn.
Bấy giờ, Bồ Tát đem thiện căn này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh được đầu Như Lai, được vô kiến đảnh, nơi tất cả chỗ không bị che khuất, là thượng thủ nhất trong các Phật độ, tóc xoắn phía hữu nhuần bóng sáng sạch, chữ "vạn" nghiêm sức rất hy hữu trong đời, toàn vẹn đầu Phật, thành tựu đầu trí, đầu đệ nhất trong tất cả thế gian, là đầu hoàn toàn, là đầu thanh tịnh, là trí thủ viên mãn ngồi nơi đạo tràng.  Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí đầu đem thiện căn hồi hướng, khiến chúng sanh được pháp tối thắng, thành trí huệ vô thượng.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát bố thí tay và chân cho chúng sanh, như Thường Tinh Tấn Bồ Tát, Vô Ưu Vương Bồ Tát, và vô lượng Bồ Tát khác.
Ở trong các loài, Bồ Tát nhiều đời bố thí tay chân.  Dùng tín làm tay mà khởi hạnh nhiêu ích, qua lại xoay vần siêng tu chánh pháp.  Nguyện được tay báu dùng tay làm vật bố thí, đầy đủ Bồ Tát đạo, thường dang rộng hai tay sẵn sàng bố thí, bước đi an lành dũng mãnh không khiếp sợ.  Dùng sức tin thanh tịnh tròn đủ hạnh tinh tấn, trừ diệt ác đạo thành tựu bồ đề.
Đại Bồ Tát lúc bố thí như vậy dùng vô lượng vô biên tâm quảng đại khai thị pháp môn thanh tinh và biển chư Phật thành tựu tay bố thí châu cấp khắp mọi nơi, nguyện lực nhậm trì đạo nhất thiết trí, trụ nơi tâm rốt ráo ly cấu, pháp thân và trí thân không dứt không hư, tất cả nghiệp ma chẳng khuynh động được y tựa nơi thiện trí thức để kiên cố tâm mình, tu hành bố thí ba la mật đồng như chư Bồ Tát.
Đại Bồ Tát đem căn lành này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh tròn đủ sức thần thông đều được tay báu.  Được tay báu rồi, thời đều tôn kính nhau, xem là phước điền, đem các vật báu cúng dường nhau, lại đem các báu cúng dường chư Phật, nổi mây báu đẹp khắp các Phật độ, khiến các chúng sanh thương yêu nhau, chẳng não hại nhau, dạo đi các cõi Phật an trụ vô úy, tự nhiên đầy đủ trọn vẹn thần thông.
Lại khiến chúng sanh đều được tay báu, tay hoa, tay hương thơm, tay y phục, tay lọng, tay tràng hoa, tay hương bột, tay đồ trang nghiêm, tay vô lượng, tay rộng khắp.
Được tay này rồi, dùng sức thần thông thường siêng năng qua đến tất cả Phật độ.  Có thể dùng một tay rờ khắp tất cả thế giới của chư Phật.  Dùng tay tự tại giữ gìn các chúng sanh.  Được tay đủ tướng vi diệu phóng vô lượng quang minh.  Có thể dùng một tay che khắp chúng sanh.  Thành tựu tay Như Lai:  Ngón có màng lưới, móng như đồng đỏ.
Bấy giờ, Bồ Tát dùng tay đại nguyện che khắp các chúng sanh.  Nguyện tất cả chúng sanh chí thường thích cầu vô thượng bồ đề, xuất sanh tất cả biển công đức lớn.  Thấy người đến xin thời lòng hoan hỷ không nhàm.  Vào biển Phật pháp, thiện căn đồng với Phật.
Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí tay chân đem thiện căn hồi hướng. 
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát hoại thân thể để lấy máu bố thí chúng sanh, như Pháp Nghiệp Bồ Tát, Thiện Ý Vương Bồ Tát, và vô lượng Bồ Tát khác.
Ở trong các loài, lúc bố thí máu nơi thân, đại Bồ Tát khởi tâm thành tựu nhất thiết trí, khởi tâm hân ngưỡng đại bồ đề, khởi tâm thích tu hạnh Bồ Tát, khởi tâm chẳng chấp lấy khổ thọ, khởi tâm thích thấy người xin, khởi tâm chẳng hiềm người đến xin, khởi tâm xu hướng Bồ Tát đạo, khởi tâm gìn giữ hạnh xả của tất cả Bồ Tát, khởi tâm làm thêm rộng hạnh bố thí lành của Bồ Tát, khởi tâm bất thối chuyển, tâm chẳng thôi nghỉ, tâm không luyến nơi mình.
Bồ Tát đem căn lành này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh đều được thành tựu pháp thân, trí thân.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân không mỏi nhọc như kim cang.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân bất hoại không ai làm thương tổn được.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân như biến hóa, hiện khắp thế gian không cùng tận.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân khả ái tịnh diệu kiên cố.  Nguyện tất cả chúng sanh thân pháp giới đồng với Như Lai không chỗ y chỉ.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân như diệu bửu chói sáng, tất cả người trong thế gian không sánh kịp.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân trí tạng, ở trong vòng sanh tử mà được tự tại.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân bửu hải, đem sự lợi ích lại cho tất cả ai ngó thấy.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân hư không, những sự khổ não hoạn nạn của thế gian không làm nhiễm trước được.
Đây là lúc bố thí máu nơi thân, Bồ Tát dùng tâm đại thừa, tâm thanh tịnh, tâm quảng đại, tâm vui thích, tâm hân hạnh, tâm hoan hỷ, tâm tăng thượng, tâm an lạc, tâm không ô trược mà đem thiện căn hồi hướng như vầy.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát thấy có người đến xin thịt và tủy nơi thân thể mình, liền hoan hỷ dịu dàng bảo người xin rằng:  Thịt và tủy nơi thân tôi đây tùy ý ngài lấy dùng, như Nhiêu Ích Bồ Tát, Nhất Thiết Thí Vương Bồ Tát, và vô lượng Bồ Tát khác.
Đại Bồ Tát ở trong các loài, nhiều đời đem tuỷ và thịt nơi thân mình mà bố thí cho người đến xin, lòng rất hoan hỷ càng thêm lớn tâm bố thí, tu tập thiện căn đồng với chư Bồ Tát, lìa trần cấu thế gian được chí nguyện sâu, đem thân bố thí khắp nơi, lòng vẫn vô tận, tròn đủ vô lượng thiện căn rộng lớn nhiếp thọ tất cả công đức vi diệu, thọ trì thật hành mãi không nhàm, đúng như pháp tắc của Bồ Tát, lòng thường ưa thích công đức bố thí, châu cấp tất cả lòng không hối tiếc, quan sát khắp các pháp đều tùy duyên sanh vốn không có tự thể, chẳng luyến hạnh nghiệp, bố thí cũng chẳng tham quả báo bố thí, tuỳ chỗ hội ngộ bình đẳng thí cho.
Lúc đại Bồ Tát bố thí như vậy, chư Phật đều hiện tiền, vì khiến được an trụ khắp các pháp thanh tịnh.  Tất cả thế giới đều hiện tiền vì khiến nghiêm tịnh tất cả Phật độ.  Tất cả chúng sanh đều hiện tiền vì dùng tâm đại bi cứu hộ khắp tất cả.  Tất cả Phật đạo đều hiện tiền, vì thích quan sát mười trí lực của Như Lai.  Quá khứ, vị lai, hiện tại tất cả Bồ Tát đều hiện tiền vì đồng chung viên mãn những thiện căn.  Tất cả vô úy đều hiện tiền vì có thể làm bậc thuyết pháp tối thượng.  Tất cả tam thế thời gian đều hiện tiền vì được trí bình đẳng quan sát khắp cả.  Tất cả thời gian đều hiện tiền vì phát nguyện rộng lớn tu hạnh bồ đề trọn kiếp vị lai.  Tất cả hạnh không mệt nhàm của Bồ Tát đều hiện tiền vì phát tâm rộng lớn vô lượng.
Đại Bồ Tát, lúc bố thí thịt và tủy, đem thiện căn hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh được thân kim cang chẳng bị ngăn trở pháp hoại.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân kiên mật chẳng khuyết giảm.  Nguyện tất cả chúng sanh được ý sanh thân, trang nghiêm thanh tịnh như thân Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân đủ trăm tướng phước đức, trang nghiêm với ba mươi hai tướng.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân diệu trang nghiêm đủ tám mươi tướng tuỳ hảo, đủ mười trí lực.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân Như Lai, rốt ráo thanh tịnh không hạn lượng.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân kiên cố, tất cả chúng sanh được thân nhất tướng đồng một thân tướng với chư Phật tam thế.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân vô ngại dùng pháp thân thanh tịnh khắp cõi hư không.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân bồ đề tạng, dung nạp tất cả thế gian.
Đây là Bồ Tát vì cầu nhất thiết trí, lúc bố thí thịt và tủy đem thiện căn hồi hướng, vì muốn cho chúng sanh đều được thân vô lượng thanh tịnh rốt ráo của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát đem quả tim bố thí cho người đến xin, như Vô Hối Yểm Bồ Tát, Vô Ngại Vương Bồ Tát, và vô lượng đại Bồ Tát khác.
Lúc Bồ Tát đem tim mình cho người xin, thời học tâm bố thí tựu tại, tu tâm bố thí tất cả, tập tâm đàn ba la mật, thành tựu tâm đàn ba la mật, học tâm bố thí của tất cả Bồ Tát, tâm vô tận thí xả tất cả, tâm tập quán đều bố thí tất cả, tâm thực hành bố thí gánh vác tất cả của Bồ Tát, tâm chánh niệm tất cả chư Phật hiện tiền, tâm cúng dường tất cả người đến xin không hề đoạn tuyệt.
Vì thành tựu nhất thiết trí, thập lực, an trụ Bồ Tát đạo, nên lúc bố thí tim mình, đại Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh được tâm kim cang tạng.  Nguyện tất cả chúng sanh được tướng chữ "vạn" trang nghiêm tâm kim cang giới, được tâm không thể dao động, được tâm chẳng thể khủng bố, được tâm lợi ích thế gian thường vô tận, được tạng tâm trí huệ đại dũng mãnh, được tâm na la diên kiên cố, được tâm vô tận như chúng sanh giới, được tâm trừ diệt các ma nghiệp ma quân, được tâm vô úy, tâm đại oai đức, tâm thường tinh tấn, tâm đại dũng mãnh, tâm chẳng kinh sợ, tâm áo giáp kim cang, tâm tối thượng của Bồ Tát, thành tựu tâm Phật bồ đề sáng chói, được ngồi dưới cội bồ đề, an trụ Phật pháp, hết mê hoặc, hoàn thành tâm nhất thiết trí, tâm thập lực.
Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí quả tim mình đem thiện căn hồi hướng, vì muốn cho chúng sanh chẳng nhiễm thế gian, tròn đủ tâm thập lực của Như Lai.
Chư Phật tử!  Nếu có người đến xin gan, phổi, ruột, cật của mình, đại Bồ Tát đều bố thí cho họ, như Thiện Thí Bồ Tát, Hàng Ma Tự Tại Vương Bồ Tát, và vô lượng Bồ Tát khác.
Lúc bố thí những vật trên đây, thấy người đến xin, lòng Bồ Tát hoan hỷ kính mến, vì cầu đạo bồ đề, nên đều bố thí đúng theo ý người xin, chẳng hối tiếc, quan sát thân này không bền chắc, tôi nên đem bố thí cho họ để được thân kiên cố.  Bồ Tát lại suy nghĩ thân của tôi đây liền sẽ hư rã ai thấy cũng nhàm, sẽ là món ăn của chồn, sói, thân này là vật vô thường rồi cũng phải bỏ.
Đại Bồ Tát lúc quan sát như vậy, biết thân rất vô thường nhơ uế, được tỏ ngộ nơi pháp nên rất vui mừng, kính mến người xin như bậc thiện tri thức, đem thân không bền đổi lấy thân bền, tất cả thiện căn này đềy hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh được thân trí tạng trong ngoài đều thanh tịnh.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân phước tạng có thể nhậm trì tất cả trí nguyện.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân thượng diệu, trong chứa hương thơm, ngoài phát ánh sáng.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân không lộ bụng, trên dưới ngay thẳng, lóng đốt xứng nhau.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân trí huệ, dùng pháp vị của Phật để dinh dưỡng thơ thới.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân vô tận, tu tập an trụ nơi pháp tánh thậm thâm.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân tổng trì thanh tịnh dùng diệu biện tài hiển thị các pháp.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân thanh tịnh, cả thân và tâm trong ngoài đều thanh tịnh.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân trí hạnh sâu rộng của Phật, trí huệ trùm khắp, mưa pháp vũ lớn.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân ở trong thời tịch tịnh, ở ngoài thời vì chúng sanh mà làm tràng trí huệ phóng đại quang minh soi sáng tất cả.
Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí tạng phủ đem thiện căn hồi hướng.  Vì muốn cho chúng sanh thân tâm thanh tịnh, đều được an trụ trong trí huệ vô ngại.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát bố thí những lóng xương của mình, như Pháp Tạng Bồ Tát, Quang Minh Vương Bồ Tát, và vô lượng Bồ Tát khác.
Lúc thấy người đến xin những lóng xương của mình, đại Bồ Tát rất hoan hỷ kính mến họ.  Lòng Bồ Tát luôn an lạc thanh tịnh dũng mãnh, vững lòng tin, thêm lòng từ mẫn, lòng vô ngại, bố thí đúng theo chỗ nhu cầu của người xin.  Bồ Tát đem thiện căn này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh được hóa thân, chẳng còn bẩm thọ thân máu thịt.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân kim cang bất hoại, không ai hơn được.  Nguyện tất cả chúng sanh được pháp thân viên mãn nhất thiết trí, sanh vào nơi cõi không hệ phược nhiễm trước.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân trí lực, các căn đều toàn vẹn chẳng hư khuyết.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân pháp lực, tự tại đến nơi bỉ ngạn.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân kiên cố không hư hoại.  Nguyện tất cả chúng sanh được tùy loại ứng hiện, giáo hóa điều phục muôn loài.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân trí huân, có sức khoẻ lớn na la diên.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân kiên cố chẳng đoạn tuyệt, lìa hẳn tất cả sự mỏi nhọc.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân rất khoẻ vững vàng, đầy đủ đại lực tinh tấn.  Nguyện tất cả chúng sanh được pháp thân bình đẳng khắp thế gian trụ nơi bậc vô lượng trí huệ tối thượng.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân phước đức, ai ngó thấy đều được lợi ích xa lìa những điều quấy ác.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân không y tựa, đều được đầy đủ trí huệ vô y vô trước.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân Phật nhiếp thọ, thường được chư Phật gia hộ.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân lợi ích tất cả mọi loài, đều có thể vào tất cả mọi loài.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân phổ hiện, có thể chiếu hiện khắp tất cả Phật pháp.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân hoàn toàn tinh tấn, chuyên niệm siêng tu trí hạnh đại thừa.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân thanh tịnh, lìa cống cao, ngã mạn trí huệ luôn vững vàng không động loạn.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân hành kiên cố, thành tựu tất cả trí nghiệp đại thừa.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân nhà Phật, lìa hẳn tất cả sanh tử thế gian.
Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí những lóng xương nơi thân mình đem thiện căn hồi hướng.  Vì muốn cho chúng sanh được nhất thiết trí vĩnh viễn thanh tịnh vậy.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát thấy có người cầm dao bén xin da nơi thân mình, thời rất hoan hỷ xem như là có trọng ân đối với mình.  Bồ Tát liền tiếp rước mời ngồi tòa cao, rồi đem thân dâng nạp cho người xin làm vừa ý họ với lòng kính mến, như Thanh Tịnh Tạng Bồ Tát, Kim Hiếp Lộc Vương Bồ Tát, và vô lượng Bồ Tát khác.
Bấy giờ Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh được da mịn nhuyễn thanh tịnh như thân Phật, người thấy không nhàm.  Nguyện tất cả chúng sanh được da bất hoại như kim cang không ai phá hoại được.  Nguyện tất cả chúng sanh được da màu hoàng kim thanh tịnh sáng sạch.  Nguyện tất cả chúng sanh được da vô lượng màu sắc, tùy theo tâm nguyện hiện sắc thanh tịnh.  Nguyện tất cả chúng sanh được da thanh tịnh vi diệu đệ nhất đủ các tướng hảo của Phật, phóng đại quang minh chiếu khắp tất cả.
Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí da nơi thân mình đem thiện căn hồi hướng, vì muốn chúng sanh đều được tất cả cõi Phật trang nghiêm thanh tịnh đầy đủ công đức lớn của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát đem ngón tay ngón chân bố thí cho người xin, như Kiên Tinh Tấn Bồ Tát, Diêm Phù Đề Tự Tại Vương Bồ Tát, và vô lượng Bồ Tát khác.
Lúc bố thí, Bồ Tát hòa nhã vui vẻ, lòng an lành không điên đảo, chẳng cầu tư lợi chẳng chuộng tiếng tăm, an trụ nơi đại thừa phát ý quảng đại, lìa bỏ lòng ganh ghét bỏn xẻn và tất cả phiền não, chuyên hướng đến diệu pháp vô thượng của Như Lai.  Bồ Tát đem thiện căn này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh được ngón tay ngón chân dài thon, đều đặn, tròn trịa, ngay thẳng trên dưới xứng nhau, móng như đồng đỏ nổi cao chói sáng, như ngón của đức Phật, đầy đủ thập lực.  Nguyện tất cả chúng sanh được ngon có chỉ xoay vòng phía hữu, đẹp như hoa sen.  Nguyện tất cả chúng sanh được ngón tạng quang minh, phóng ánh sáng lớn chiếu vô lượng cõi Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh được ngón khéo an bài, màng lưới hoàn toàn hảo khéo léo.
Đây là đại Bồ Tát lúc bố thí ngón, đem thiện căn hồi hướng vì muốn cho chúng sanh đều được tâm thanh tịnh vậy.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc thỉnh cầu chánh pháp, vui lòng dâng móng liền thịt cho người thí pháp, nếu người này muốn, như Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát, Vô Tận Bồ Tát và vô lượng Bồ Tát khác.
Bấy giờ Bồ Tát đem thiện căn này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh đều được móng tướng đồng đỏ như Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh được móng bóng láng trang nghiêm xinh đẹp chói sáng đệ nhất.  Nguyện tất cả chúng sanh được móng nhất thiết trí toàn vẹn tướng đại nhân, không nhiễm trước thế gian, không gì sánh bằng.  Nguyện tất cả chúng sanh được móng diệu trang nghiêm chói sáng tất cả thế gian.  Nguyện tất cả chúng sanh được móng bất hoại thanh tịnh không kém khuyết.  Nguyện tất cả chúng sanh được móng đủ tướng phương tiện vào tất cả Phật pháp, trí huệ rộng lớn thảy đều thanh tịnh.  Nguyện tất cả chúng sanh được móng thiện sanh, đầy đủ nghiệp quả tịnh diệu của Bồ Tát.  Nguyện tất cả chúng sanh được móng nhất thiết trí đại đạo sư, phóng tạng quang minh vô lượng sắc vi diệu.
Đây là đại Bồ Tát vì cầu pháp mà bố thí móng liền thịt, đem thiện căn hồi hướng, vì muốn chúng sanh được nhất thiết trí vô ngại.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát cầu pháp tạng của Phật, hết lòng cung kính tôn trọng, dầu được nghe chánh pháp rồi phải tự nhảy vào hầm lửa sâu cũng rất vui mừng, như Cầu Thiện Pháp Vương Bồ Tát, Kim Cang Tư Duy Bồ Tát, và chư đại Bồ Tát khác.
Bấy giờ, Bồ Tát đem căn lành này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh an trụ nơi pháp nhất thiết trí của Phật, trọn chẳng thối chuyển vô thượng bồ đề.  Nguyện tất cả chúng sanh lìa các hiểm nạn, hưởng thọ sự an vui của Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh được tâm vô úy, lìa các khủng bố.  Nguyện tất cả chúng sanh thường thích cầu pháp đầy đủ sự vui vẻ trang nghiêm.  Nguyện tất cả chúng sanh lìa các ác thú, dứt trừ tất cả lửa dữ tam độc.  Nguyện tất cả chúng sanh thường được an vui thắng diệu như Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh được tâm Bồ Tát, lìa hẳn tất cả lửa tham, sân, si.  Nguyện tất cả chúng sanh đều được sự vui chánh định của Bồ Tát thấy khắp chư Phật lòng họ rất vui mừng.  Nguyện tất cả chúng sanh khéo nói chánh pháp, đối với pháp cứu cánh luôn không quên sót.  Nguyện tất cả chúng sanh toàn vẹn sự vui vi diệu thần thông của nhất thiết, rốt ráo an trụ nơi nhất thiết chủng trí. 
Đây là đại Bồ Tát vì cầu chánh pháp, lúc đem thân tự nhảy vào hầm lửa dùng thiện căn hồi hướng muốn cho chúng sanh lìa nghiệp chướng ngại, đều được đầy đủ lửa trí huệ.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát vì cầu chánh pháp để khai thị diễn thuyết đạo hạnh Bồ Tát, chỉ đường bồ đề, đến trí vô thượng, siêng tu thập lực, hiển thị tâm nhất thiết trí, được trí vô ngại, cho chúng sanh được thanh tịnh trụ nơi cảnh giới Bồ Tát siêng tu tập đại trí được Phật bồ đề, mà tự thân phải thọ lấy vô lượng sự khổ não, như Cầu Thiện Pháp Bồ Tát, Dũng Mãnh Vương Bồ Tát, và vô lượng đại Bồ Tát khác.
Lúc vì pháp mà thọ khổ, Bồ Tát đem thiện căn này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh lìa hẳn tất cả sự khổ não bức bách, thành tựu thần thông tự tại an vui.  Nguyện tất cả chúng sanh lìa hẳn những sự khổ được tất cả sự vui, dứt hẳn thân khổ được thân thanh tịnh an vui.  Nguyện tất cả chúng sanh thoát khỏi ngục khổ thành tựu trí hạnh.  Nguyện tất cả chúng sanh thấy đường an ổn lìa khỏi các ác đạo.  Nguyện tất cả chúng sanh được vui pháp hỷ dứt hẳn các sự khổ.  Nguyện tất cả chúng sanh dứt hẳn các sự khổ, không lòng oán hại, luôn yêu mến nhau.  Nguyện tất cả chúng sanh được sự vui của Phật, lìa khổ sanh tử.  Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu, sự an lạc thanh tịnh vô tỷ, không sự khổ gì làm tổn thương được.  Nguyện tất cả chúng sanh được tất cả sự vui thù thắng vô ngại của Phật.
Đây là đại Bồ Tát lúc chịu khổ đề cầu chánh pháp đem thiện căn hồi hướng vì muốn cứu hộ tất cả chúng sanh, khiến họ khỏi những hiểm nạn mà an trụ nơi giải thoát vô ngại nhất thiết chủng trí vậy.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc ở ngôi vua mà cầu chánh pháp đến đỗi có thể vì quý trọng một chữ, một câu, một nghĩa mà thí xả tất cả sở hữu trong nước, thành ấp, nhân dân, đất đai, kho tàng, vàng bạc, châu báu, cung điện, quyến thuộc, vợ con, đến cả ngôi vua cũng xả thí được, để đem sự lợi ích lại cho tất cả chúng sanh, cần cầu đạo nhất thiết trí vô ngại thanh tịnh của chư Phật, như Đại Thế Đức Bồ Tát, Thắng Đức Vương Bồ Tát, và vô lượng đại Bồ Tát khác. 
Nhẫn đến vì cầu một chữ chánh pháp mà năm vóc mọp lạy, chánh niệm tam thế Phật pháp, thích tu tập, chẳng màng danh lợi, bỏ ngôi vua thế gian mà cầu ngôi pháp vương tự tại, không tham luyến sự vui thế gian mà dùng pháp xuất thế nuôi lớn tâm tánh, lìa hẳn tất cả sự hý luận thế gian mà trụ nơi Phật pháp không hí luận.
Bấy giờ đại Bồ Tát đem các thiện căn hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh thường thích bố thí tất cả sở hữu không lòng hối tiếc.  Nguyện tất cả chúng sanh luôn cầu chánh pháp, chẳng tiếc những của cải sanh sống đến cả thân mạng.  Nguyện tất cả chúng sanh đều được lợi ích nơi chánh pháp, có thể giải quyết sự nghi hoặc của tất cả chúng sanh.  Nguyện tất cả chúng sanh có lòng ham thích pháp lành, luôn vui thích chánh pháp của Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh vì cầu Phật pháp nên có thể xả thân mạng nhẫn đến ngôi vua, phát đại tâm tu tập bồ đề vô thượng.  Nguyện tất cả chúng sanh tôn trọng chánh pháp, thường rất mến thích chẳng tiếc thân mạng.  Nguyện tất cả chúng sanh hộ trì Phật pháp rất khó được mà thường siêng tu tập.  Nguyện tất cả chúng sanh đều được quang minh Phật bồ đề, thành hạnh bồ đề, tỏ ngộ chẳng do người khác.  Nguyện tất cả chúng sanh thường có thể quan sát tất cả Phật pháp, nhổ trừ mũi tên nghi ngờ, trong tâm được an ổn. 
Đây là đại Bồ Tát thí xả ngôi vua để cầu chánh pháp, đem thiện căn hồi hướng như vậy, vì muốn cho chúng sanh được tri kiến viên mãn thường được trụ nơi đạo an ổn vậy.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát làm đại quốc vương được tự tại, ban chỉ dụ trừ bỏ nghiệp sát sanh.  Cấm dứt sự giết thịt trong toàn thể quốc nội.  Những sanh vật không chân, hai chân, bốn chân, nhiều chân, tất cả đều ban cho sự vô úy.  Không lòng khi đoạt, rộng tu tất cả hạnh Bồ Tát, nhân từ che chở mọi loài, chẳng xâm não, phát tâm làm an ổn chúng sanh, lập quán trí rất thích đối với chư Phật, thường tự an trụ nơi ba tụ tịnh giới và cũng làm cho chúng sanh an trụ như vậy.  Đại Bồ Tát khiến các chúng sanh trụ nơi ngũ giới, dứt hẳn nghiệp sát sanh.  Đem thiện căn này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh phát tâm Bồ Tát đầy đủ trí huệ, thọ mạng được bảo đảm không cùng tận.  Nguyện tất cả chúng sanh trụ vô lượng kiếp cúng dường tất cả Phật, cung kính siêng tu càng thêm thọ mạng.  Nguyện tất cả chúng sanh tu hành hoàn toàn lìa pháp lão tử, tất cả sự tai độc chẳng hại mạng họ được.  Nguyện tất cả chúng sanh được hoàn toàn thân thể không bệnh não, thọ mạng tự tại có thể tùy ý mà trụ thọ.  Nguyện tất cả chúng sanh được thọ mạng vô tận, cùng kiếp số vị lai trụ hạnh Bồ Tát, giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh.  Nguyện tất cả chúng sanh được môn thọ mạng thiện căn thập lực tăng trưởng, thọ mạng vô tận hoàn thành đại nguyện.  Nguyện tất cả chúng sanh đều thấy chư Phật phụng thờ cúng dường, thọ mạng vô tận tu tập thiện căn.  Nguyện tất cả chúng sanh ở nơi chư Phật khéo học Phật pháp, được thánh pháp hỷ, thọ mạng vô tận.  Nguyện tất cả chúng sanh được thọ mạng thường trụ, dũng mãnh tinh tấn nhập trí huệ của Phật.
Đây là đại Bồ Tát trụ ba tụ tịnh giới dứt hẳn nghiệp sát sanh đem thiện căn hồi hướng, muốn cho chúng sanh được toàn vẹn mười trí lực của Phật vậy.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát thấy có chúng sanh ôm lòng tàn nhẫn làm tổn hại loài người và thú vật, vì thế nên phải thọ lấy thân nam hình thiếu sứt khổ sở, Bồ Tát khởi lòng từ bi mà thương xót cứu vớt họ, làm cho tất cả nhân dân nơi Diêm Phù Đề bỏ nghiệp sát hại, đem tất cả tài vật của mình bố thí cho họ, rồi dạy họ hiểu biết chánh pháp, khiến họ vui mừng sanh lòng từ ái thương yêu lẫn nhau, dứt bỏ ác tâm.
Bấy giờ, Bồ Tát đem thiện căn này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh toàn vẹn thân trượng phu thành tựu tướng Phật mã âm tàng.  Nguyện tất cả chúng sanh toàn vẹn thân nam tử, phát tâm dũng mãnh tu các phạm hạnh.  Nguyện tất cả chúng sanh có sức dũng mãnh, thường làm bậc chủ đạo, trụ nơi trí vô ngại không hề thối chuyển.  Nguyện tất cả chúng sanh đều được đầy đủ thân đại trượng phu, lìa bỏ tâm tham dục không còn nhiễm trước.  Nguyện tất cả chúng sanh đều được thành tựu pháp thiện nam tử, trí huệ tăng trưởng được chư Phật khen ngợi.  Nguyện tất cả chúng sanh được đầy đủ sức lực bậc đại nhân, luôn có thể tu tập căn lành mười trí lực.  Nguyện tất cả chúng sanh vĩnh viễn chẳng hư mất thân nam tử, thường tu tập pháp phước huệ vị tằng hữu.  Nguyện tất cả chúng sanh ở trong ngũ dục không nhiễm không ràng buộc, được tâm giải thoát, nhàm lìa ba cõi tu hạnh Bồ Tát.  Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu bậc trượng phu trí huệ đệ nhất, mọi loài đều tôn kính phục tùng sự giáo hóa của họ.  Nguyện tất cả chúng sanh đầy đủ trí huệ của Bồ Tát, chẳng bao lâu sẽ thành bậc đại hùng.
Đây là đại Bồ Tát cấm tuyệt tất cả sự hủy hoại thân nam tử, đem thiện căn hồi hướng, vì muốn cho chúng sanh toàn vẹn thân trượng phu, đều có thể thủ hộ các điều lành của bậc trượng phu, sanh vào nhà hiền thánh, đầy đủ trí huệ, thường siêng tu tập thắng hạnh của bậc trượng phu, có lực dụng bậc trượng phu, khéo hay hiển thị bảy đạo hạnh bậc trượng phu, đầy đủ thiện chủng trượng phu, chánh giáo trượng phu, dũng mãnh trượng phu, tinh tấn trượng phu, trí huệ trượng phu, thanh tịnh trượng phu, làm cho tất cả chúng sanh rốt ráo cũng đều được như vậy, như đấng Như Lai Điều Ngự Trượng Phu."


Hán bộ quyển thứ 28

"Chư Phật tử!  Bậc đại Bồ Tát nếu thấy đức Như Lai xuất thế thuyết pháp, lìa cả tiếng bảo tất cả chúng sanh: Đức Như Lai xuất thế!  Đức Như Lai xuất thế! 
Làm cho mọi loài chúng sanh được nghe danh hiệu của Phật mà rời bỏ tất cả ngã mạn hí luận.
Đại Bồ Tát lại dìu dắt chúng sanh được mau thấy Phật, niệm Phật, về với Phật, tưởng nơi Phật, quan sát Phật, ca ngợi Phật.  Đại Bồ Tát lại vì chúng sanh mà nói gặp Phật là việc rất khó.  Vì ngàn vạn ức kiếp, đức Phật mới xuất thế một lần.
Nhờ sự khuyên bảo của đại Bồ Tát mà chúng sanh được thấy Phật rồi sanh lòng tin thanh tịnh vui mừng hớn hở tôn trọng cúng dường. 
Nơi đức Phật, chúng sanh được nghe danh hiệu của chư Phật, nên rồi lại được gặp gỡ vô số chư Phật khác, do đây sự tu tập các căn lành càng lớn thêm.
Đối với Bồ Tát, các chúng sanh này đều coi là những bậc thiện trí thức tối thượng.
Do đại Bồ Tát mà các chúng sanh được thành tựu Phật pháp, rồi tự đem căn lành đã vun trồng trong vô số kiếp mà thực hành Phật sự khắp thế gian.
Chư Phật tử!  Lúc khai thị cho các chúng sanh được thấy đức Phật, bậc đại Bồ Tát đem những căn lành hồi hướng như vầy:  Nguyện cho tất cả chúng sanh, chẳng cần chờ khuyên bảo, tự đến gặp Phật để cúng dường và sanh lòng hoan hỷ.  Nguyện tất cả chúng sanh thường thích thấy Phật không bỏ rời.  Nguyện tất cả chúng sanh thường siêng tu tập trí huệ rộng lớn thọ trì Phật pháp.  Nguyện tất cả chúng sanh chẳng luận nghe tiếng gì đều tỏ ngộ Phật pháp, tu hạnh Bồ Tát trong vô lượng kiếp.  Nguyện tất cả chúng sanh chánh niệm vững vàng, do trí nhãn, luôn thấy đức Phật xuất thế.  Nguyện tất cả chúng sanh không nhớ nghiệp hạnh nào khác, chỉ thường nhớ Phật, thấy Phật và siêng tu mười trí lực.  Nguyện tất cả chúng sanh thường thấy chư Phật không luận chỗ nào, do đây rõ thấu đức Như Lai khắp cả cõi hư không.  Nguyện tất cả chúng sanh đều được đầy đủ thân tự tại của Phật, thành đạo thuyết pháp khắp cả mười phương.  Nguyện tất cả chúng sanh gặp thiện tri thức thường nghe Phật pháp, được lòng tin bất hoại đối với chư Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh đều có thể ngợi khen chư Phật xuất thế, làm cho người thấy Phật đều được thanh tịnh. 
Trên đây là đại Bồ Tát đem căn lành ca ngợi đức Phật ra đời mà hồi hướng cho chúng sanh được thấy Phật, cúng dường Phật, nơi pháp vô thượng được rốt ráo thanh tịnh.
Chư Phật tử!  Bậc đại Bồ Tát đem đất bố thí cho Phật xây dựng tịnh xá.  Hoặc đem đất bố thí cho chư Bồ Tát, các bậc thiện tri thức tùy ý sử dụng.  Hoặc đem đất bố thí cho chư tăng cất chỗ ở.  Hoặc đem bố thí cho cha mẹ, cho các bậc Thanh Văn, Độc Giác, hoặc là người khác, nhẫn đến kẻ nghèo khó côi cút, tuỳ ý họ sử dụng.  Hoặc đem đất bố thí để xây cất tháp miếu thờ Phật.  Trong tất cả cơ sở đã xây cất lên đó, đại Bồ Tát đều vì họ mà sắm đủ đồ dùng, khỏi lo sợ thiếu thốn.
Đại Bồ Tát lúc bố thí đất, đem căn lành hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh trọn vẹn thanh tịnh nhất thiết trí, rốt ráo hạnh Phổ Hiền.  Nguyện tất cả chúng sanh được bậc tổng trì, chánh niệm thọ trì tất cả Phật pháp.  Nguyện tất cả chúng sanh được sức trụ trì, có thể thường giữ gìn tất cả Phật giáo.  Nguyện tất cả chúng sanh được tâm bao dung như quả đất, đối với mọi loài lòng thường thanh tịnh không có ác niệm.  Nguyện tất cả chúng sanh nắm giữ Phật chủng, trọn nên cấp bậc của Bồ Tát không dứt mất.  Nguyện tất cả chúng sanh làm chỗ an ổn cho tất cả mọi loài, làm cho mọi loài đều được điều phục trụ nơi đạo thanh tịnh.  Nguyện tất cả chúng sanh đồng như đức Phật làm lợi ích thế gian, khiến mọi loài đều siêng tu an trụ nơi Phật lực.  Nguyện tất cả chúng sanh được khắp thế gian mến thích, khiến họ an trụ nơi sự vui vô thượng của Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh được thiện phương tiện, an trụ nơi pháp vô úy, trí lực của Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh được trí huệ như quả đất, tự tại tu hành tất cả Phật pháp.
Trên đây là đại Bồ Tát lúc bố thí đất đai, đem căn lành hồi hướng, vì muốn cho chúng sanh đều được rốt ráo bậc thanh tịnh của chư Phật.
Chư Phật tử!  Bậc đại Bồ Tát đem trăm ngàn muôn ức kẻ đồng bộc tuỳ thời nghi mà dâng hiến cho chư Phật, Bồ Tát, thiện tri thức, chúng tăng; hoặc cung cấp cho cha mẹ, người bệnh tật, kẻ nghèo cùng, côi cút, và tất cả người không kẻ giúp đỡ săn sóc; hoặc để gìn giữ tháp miếu của đức Như Lai; hoặc để biên chép chánh pháp của chư Phật.
Những đồng bộc này đều thông minh khéo léo, tánh nết điều thuận, siêng năng không lười biếng, đều có tâm ngay thẳng, tâm vui vẻ, tâm lợi ích, nhân từ, cung kính, không có lòng oán hận, thù địch.  Lại vì do tịnh nghiệp của đại Bồ Tát cảm hóa nên những đồng bộc này đều có tài năng, tuỳ theo phương tục, hay làm cho người chủ được lợi ích, được vừa ý.
Đại Bồ Tát đem căn lành này mà hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh được tâm điều thuận tu tập căn lành nơi tất cả chư Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh tùy thuận cúng dường tất cả chư Phật, có thể nghe và lãnh thọ lời Phật dạy.  Nguyện tất cả chúng sanh được Phật nhiếp thọ, luôn quán tưởng đức Như Lai, trọn không nghĩ gì khác. Nguyện tất cả chúng sanh chẳng làm hư Phật chủng, siêng tu căn lành tùy thuận nơi Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh thường siêng cúng dường tất cả chư Phật không để thời gian luống qua.  Nguyện tất cả chúng sanh nhiếp trì diệu nghĩa của chư Phật, lời nói thanh tịnh, du hành vô úy.  Nguyện tất cả chúng sanh thường thích thấy Phật không hề nhàm, đối với Phật không tiếc thân.  Nguyện tất cả chúng sanh được thấy chư Phật, không nhiễm đắm thế gian.  Nguyện tất cả chúng sanh chỉ quy y Phật, lìa hẳn tất cả sự tà quy y.  Nguyện tất cả chúng sanh tỳ thuận Phật đạo, lòng thường thích quán Phật pháp vô thượng. 
Trên đây là Bồ Tát lúc bố thí những đồng bộc đem căn lành hồi hướng, để làm cho chúng sanh xa lìa trần cấu, thanh tịnh Phật địa, có thể hiện thân tự tại của đức Như Lai.
Chư Phật tử!  Bậc đại Bồ Tát lúc đem thân thể bố thí cho người đến xin thời sanh lòng khiêm tốn, lòng như mặt đất, chịu đựng mọi sự khổ lòng không xao động, sanh lòng muốn hầu hạ giúp đỡ chúng sanh không hề nhàm, sanh lòng xem chúng sanh như mje hiền có bao nhiêu căn lành đều muốn đem cấp cho cả, sanh lòng tha thứ cho những chúng sanh cực ác thường xâm lăng mình, lại luôn siêng năng giúp đỡ họ.
Đại Bồ Tát đem căn lành này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh thường không thiếu những đồ dùng mà mình muốn; không ngớt thực hành hạnh Bồ Tát; chẳng bỏ việc làm lợi ích của tất cả Bồ Tát; khéo an trụ lợi đạo hạnh Bồ Tát; rõ thấu pháp tánh bình đẳng của Bồ Tát; được ở trong số chủng tộc của Như Lai; gìn lời chân thật, giữ hạnh Bồ Tát; làm cho thế gian được Phật pháp thanh tịnh, tin hiểu sâu chắc, chứng pháp rốt ráo; làm cho chúng sanh xuất sanh thiện căn tăng thượng thanh tịnh, được công đức lớn, đủ nhất thiết trí.
Đại Bồ Tát đem thiện căn này làm cho tất cả chúng sanh thường được cúng dường tất cả chư Phật, hiểu tất cả pháp và thọ trì, đọc tụng, chẳng quên sót, chẳng sai lầm, khéo điều phục tâm, dùng pháp tịch tịnh để rèn luyện tâm mình.  Đại Bồ Tát làm cho chúng sanh ở trong Phật pháp được những công hạnh như vậy.
Đại Bồ Tát lại đundefinedm thiện căn này khiến tất cả chúng sanh làm ngôi tháp đệ nhất, đáng thọ những sự cúng dường của thế gian; khiến tất cả chúng sanh thành phước điền vô thượng, được Phật trí rồi khai ngộ mọi loài, làm lợi ích tất cả chúng sanh, làm cho đầy đủ tất cả thiện căn, được vô lượng phước báu, ra khỏi tam giới, làm đấng đệ nhất đạo sư, chỉ bày đạo như thật cho thế gian; làm cho tất cả chúng sanh được tổng trì vi diệu thọ trì đủ tất cả chánh pháp của chư Phật; làm cho tất cả chúng sanh chứng được pháp giới đệ nhất đầy đủ đạo vô ngại hư không.
Trên đây là đại Bồ Tát bố thí thân thể của mình rồi đem tất cả hồi hướng làm cho chúng sanh đều được trí thân phước điền vô thượng.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát nghe pháp vui mừng sanh lòng tin thanh tịnh, có thể đem thân mạng mình cúng dường chư Phật, xem chư Phật như cha mẹ, ưa thích tin hiểu pháp bảo vô thượng, thọ trì, đọc tụng, chánh pháp vô ngại, vào khắp vô số na do tha pháp bảo đại trí huệ và những môn thiện căn, lòng luôn nhớ tưởng vô lượng Phật, vào nghĩa lý sâu xa cảnh giới của Phật, có thể dùng phạm âm của Phật để hưng khởi mây Phật pháp, rưới mưa Phật pháp, tự tại dũng mãnh có thể giảng thuyết địa vị của bậc đại trí đệ nhất, hoàn mãn đầy đủ trí huệ, dùng vô lượng đại pháp để thành tựu các thiện căn.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát được nghe những pháp như vậy nơi chư Phật, thời hoan hỷ vô lượng, đứng vững trong chánh pháp tự dứt sự nghi lầm, và cũng làm cho người khác dứt, lòng luôn thơ thới, hoàn mãn công đức, đầy đủ thiện căn, luôn luôn có lòng làm lợi ích cho chúng sanh chẳng để thiếu sót, được trí tối thắng thành kim cang tạng, gần gũi chư Phật, thanh tịnh Phật độ, thường siêng cúng dường chư Phật.
Bấy giờ, đại Bồ Tát đem những thiện căn trên đây hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh đều được viên mãn thân tối thắng, được tất cả chư Phật nhiếp thọ.  Nguyện tất cả chúng sanh thường được ở gần bên Phật, luôn được chiêm ngưỡng đức Thế Tôn.  Nguyện tất cả chúng sanh đều được thân thanh tịnh chẳng hư hoại, tất cả công đức trí huệ đều được đầy đủ.  Nguyện tất cả chúng sanh thường siêng cúng dường chư Phật, thực hành phạm hạnh vô sở đắc rốt ráo.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân vô ngã, lìa hẳn ngã và ngã sở.  Nguyện tất cả chúng sanh đều có thể phân thân khắp cõi nước mười phương, như bóng hiện, nhưng vẫn không có tướng qua lại.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân tự tại đến khắp mười phương mà không có ngã, không có lãnh thọ.  Nguyện tất cả chúng sanh ra từ thân Phật và ở nơi nhà vô thượng Phật thân.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân pháp lực, có sức nhẫn nhục lớn không ai phá hoại được.  Nguyện tất cả chúng sanh được thân vô tỷ, thành tựu pháp thân thanh tịnh của Như Lai.  Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu thân công đức xuất thế sanh vào nơi pháp giới thanh tịnh vô sở đắc.
Trên đây là đại Bồ Tát đem thân mạng cúng dường đức Phật, rồi hồi hướng thiện căn cho tất cả chúng sanh được vĩnh viễn ở trong nhà của tam thế chư Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát đem thân bố thí cho tất cả chúng sanh, vì muốn cho tất cả chúng sanh đều thành tựu thiện căn, ghi nhớ thiện căn.
Đại Bồ Tát tự nguyện thân mình làm đèn sáng lớn, soi sáng khắp tất cả chúng sanh.  Làm những nhạc khí, nhiếp thọ khắp tất cả chúng sanh.  Làm diệu pháp tạng nhiếp trì khắp tất cả chúng sanh.  Làm tịnh quang minh, khai ngộ khắp tất cả chúng sanh.  Làm bóng sáng thế gian, khắp tất cả chúng sanh đều thường được ngó thấy.  Làm nhân duyên cho thiện căn, khắp chúng sanh thường được gặp gỡ.  Làm chân thiện tri thức, khắp chúng sanh đều được dạy dỗ.  Làm con đường bình thản, tất cả chúng sanh đều được đi trên đó.  Làm chỗ an lạc hoàn bị vô thượng, cho tất cả chúng sanh khỏi khổ được thanh tịnh.  Làm mặt nhật sáng trong, cho khắp thế gian được lợi ích bình đẳng.
Bấy giờ, đại Bồ Tát đem những thiện căn trên đây hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh thường gần gũi chư Phật, được nhập Phật trí.  Nguyện tất cả chúng sanh được trí tùy thuận trụ bậc vô thượng giác.  Nguyện tất cả chúng sanh thường ở trong pháp hội của chư Phật, khéo điều phục tâm ý.  Nguyện tất cả chúng sanh thực hành đúng pháp tắc, đầy đủ oai nghi của Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh đều được niết bàn, hiểu sâu pháp nghĩa.  Nguyện tất cả chúng sanh đủ hạnh tri túc, sanh vào nahf Như Lai.  Nguyện tất cả chúng sanh bỏ tham dục vô minh, an trụ trong chí lạc của Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh sanh căn lành tối thắng, ngồi tòa bồ đề.  Nguyện tất cả chúng sanh giết giặc phiền não, xa lìa lòng oán hại.  Nguyện tất cả chúng sanh hộ trì đầy đủ tất cả Phật pháp.
Trên đây là đại Bồ Tát bố thí thân mạng đem căn lành hồi hướng nguyện cho tất cả chúng sanh được sự lợi ích ở nơi an ổn vô thượng.
Này chư Phật tử!  Đại Bồ Tát tự đem thân mình hầu hạ chư Phật.  Đối với chư Phật luôn nghĩ nhớ đền đáp ơn nặng như nhớ cha mẹ, rất kính tin chư Phật, hộ trì đạo bồ đề của chư Phật với tấm lòng thanh tịnh, an trụ nơi Phật pháp xa lìa quan niệm thế gian, sanh vào nhà chư Phật, thuận theo chư Phật xa lìa cảnh ma, rõ thấu công hạnh của chư Phật, trọn nên pháp khí của tất cả chư Phật.
Bấy giờ, đại Bồ Tát đem căn lành này hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh được lòng thanh tịnh, tự trang nghiêm với báu nhất thiết trí.  Nguyện tất cả chúng sanh khéo tự điều phục xa lìa tất cả nghiệp ác.  Nguyện tất cả chúng sanh được quyến thuộc bền chặt không bị phá hoại, đều có thể nhiếp thọ chánh pháp của chư Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh làm đệ tử của Phật đến bậc Bồ Tát Quán Đảnh.  Nguyện tất cả chúng sanh thường được chư Phật nhiếp thọ, xa lìa tất cả điều ác.  Nguyện tất cả chúng sanh thuận theo chư Phật, tu hành Bồ Tát hạnh tối thắng.  Nguyện tất cả chúng sanh vào cảnh giới chư Phật, được thọ ký chứng nhất thiết trí.  Nguyện tất cả chúng sanh đều được bình đẳng với chư Phật, nơi tất cả Phật pháp đều được tự tại.  Nguyện tất cả chúng sanh đều được chư Phật nhiếp thọ, luôn tự tại những hạnh vô thủ vô trước.  Nguyện tất cả chúng sanh thường làm thị giả bậc nhất của chư Phật, thường tu hạnh trí huệ.
Trên đây là đại Bồ Tát hầu hạ chư Phật đem căn lành hồi hướng, vì muốn chứng vô thượng bồ đề, cứu hộ tất cả chúng sanh, thoát khỏi ba cõi, trọn nên tâm lành không tổn não, được bồ đề rộng lớn vô lượng, được trí huệ soi rõ Phật pháp, vì muốn thường được chư Phật nhiếp thọ, được chư Phật hộ trì, muốn tin hiểu tất cả Phật pháp, muốn được thiện căn bình đẳng với tam thế chư Phật, muốn được trọn vẹn tâm không hối hận, để được chứng tất cả Phật pháp.
Chư Phật tử!  Đối với tất cả tài vật, cõi nước, nhẫn đến ngôi vua, đại Bồ Tát đều thí xả được tất cả.  Với mọi thế sự, lòng của đại Bồ Tát đều được tự tại, không ràng buộc, không luyến ái, lìa hẳn nghiệp ác, làm lợi ích cho chúng sanh, chẳng chấp nghiệp quả, chẳng thích thế pháp, chẳng còn tham nhiễm chốn sanh tử.  Dầu Bồ Tát ở thế gian nhưng thật ra nơi đây không phải là chỗ sanh của Bồ Tát.  Lòng Bồ Tát không chấp trước những pháp:  Uẩn, xứ, giới.  Không trụ không tựa nơi pháp trong, pháp ngoài.  Chẳng bao giờ quên mất những hạnh Bồ Tát, chưa từng xa rời các thiện tri thức, gìn giữ hạnh nguyện rộng lớn của Bồ Tát.  Thường vui được kính thờ tất cả thiện hữu.
Bấy giờ, đại Bồ Tát đem căn lành đây hồi hướng như vầy:  Nguyện cho tất cả chúng sanh làm đại pháp vương tự tại với các pháp và rốt ráo đến bờ kia.  Nguyện cho tất cả chúng sanh được thành Phật xô dẹp tất cả oán tặc phiền não.  Nguyện cho tất cả chúng sanh ở nơi ngôi Phật, được trí huệ Phật khai diễn Phật pháp.  Nguyện cho tất cả chúng sanh ở nơi cảnh giới Phật hay chuyển pháp luân tự tại vô thượng.  Nguyện cho tất cả chúng sanh, sanh vào nhà Phật được tự tại với các pháp gìn giữ mãi giống Phật không mất.  Nguyện cho tất cả chúng sanh khai thị chánh pháp của chư Phật, tạo nên vô biên bậc đại Bồ Tát.  Nguyện cho tất cả chúng sanh an trụ nơi pháp giới thanh tịnh làm bậc đại pháp vương hiện thân Phật xuất thế nối luôn không dứt.  Nguyện cho tất cả chúng sanh làm vua trí huệ nơi các thế giới giáo hóa mọi loài không tạm ngừng nghỉ.  Nguyện cho tất cả chúng sanh làm vua pháp thí của tất cả mọi loài trong khắp pháp giới hư không giới, làm cho mọi loài đều được trụ nơi đại thừa.  Nguyện cho tất cả chúng sanh được thành bậc đầy đủ pháp lành bình đẳng với chư Phật.
Trên đây là đại Bồ Tát lúc bố thí ngôi vua đem thiện căn hồi hướng, vì muốn khiến cho tất cả chúng sanh được ở chỗ an ổn rốt ráo.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát hiện thân làm vua lúc thấy có người đến xin thành phố tốt, kinh đô của nhà vua, chỗ thâu thuế, đều bố thí cho cả, không chút hối tiếc.  Trong tâm của Bồ Tát chỉ chuyên hướng về đạo bồ đề, phát nguyện lớn, ở vững nơi đức đại từ, thực hành đại bi, luôn vui vẻ làm lợi ích cho chúng sanh, dùng trí huệ rộng lớn hiểu rõ pháp sâu xa, trụ nơi pháp tánh bình đẳng.  Như thế là vì phát tâm cầu được nhất thiết trí, vì thích pháp tự tại, vì muốn được trí huệ tự tại, vì tịnh tu tất cả công đức, vì muốn trụ nơi trí huệ rộng lớn bền chắc, vì muốn chứa nhóm tất cả căn lành, vì nguyện tu hành tất cả Phật pháp, vì muốn được đại trí tự nhiên giác ngộ, vì được an trụ không thối chuyển nơi tâm bồ đề, vì muốn tu tập tất cả hạnh nguyện để trọn rốt ráo nhất thiết chủng trí. 
Vì những điều trên đây mà Bồ Tát thực hành việc bố thí, rồi đem thiện căn này mà hồi hướng như vầy:  Nguyện cho tất cả chúng sanh đều có thể trang nghiêm thanh tịnh vô lượng cõi nước rồi đem dâng lên chư Phật để làm chỗ ở.  Nguyện cho tất cả chúng sanh thường thích ở nơi vắng lặng.  Nguyện cho tất cả chúng sanh trọn chẳng y chỉ đô thành, thị xã, chỉ thích tịch tịnh để được thẳng đến quả lành rốt ráo.  Nguyện tất cả chúng sanh trọn chẳng ham ưa cảnh thế gian, chẳng lìa ngôn ngữ thế gian.  Nguyện tất cả chúng sanh lìa được tâm tham, không bao giờ hối tiếc khi bố thí những gì mình có.  Nguyện tất cả chúng sanh được tâm xuất thế rời bỏ gia nghiệp.  Nguyện tất cả chúng sanh có tâm không bỏn xẻn thường hay bố thí.  Nguyện tất cả chúng sanh được tâm không tham trước lìa nhà thế tục.  Nguyện tất cả chúng sanh được khỏi mọi điều khổ, dứt trừ tất cả sự tai vạ khủng bố.  Nguyện tất cả chúng sanh trang nghiêm thanh tịnh tất cả thế giới ở mười phương rồi đem dâng lên chư Phật.
Trên đây là đại Bồ Tát lúc bố thí kinh đô đem căn lành hồi hướng, vì muốn cho chúng sanh trang nghiêm thanh tịnh các cõi Phật.
Chư Phật tử!  Do nghiệp lành rộng lớn nên tất cả quyến thuộc của Bồ Tát, nhẫn đến thị nữ đều tài mạo xuất chúng, xinh đẹp đoan trang, tài năng đầy đủ, trên thân trang sức đủ đồ báu lạ, tất cả đều thuận thảo.  Nếu có ai đến xin những quyến thuộc thị nữ này, Bồ Tát đều vui vẻ bố thí, trọn không luyến ái, không say mê, không ràng buộc, không chấp lấy, không tham nhiễm, không phân biệt, không theo dõi, không chấp tướng, không thích, không muốn.
Bấy giờ, đại Bồ Tát quan sát các căn lành, đem căn lành này hồi hướng là vì muốn cho tất cả chúng sanh đều được giải thoát, vì được pháp hỷ của Phật, vì được sự kiên cố trong những sự không kiên cố, vì được trí kim cang bất hoại, vì vào đạo tràng của Phật, vì đến bờ kia, vì được tâm vô thượng bồ đề, vì được trí huệ thông rõ các pháp, vì xuất sanh tất cả căn lành, vì vào nhà của chư Phật.  Vì những điều trên đây mà Bồ Tát đem căn lành hồi hướng.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát an trụ trong những pháp lành như vậy mà được sanh vào nhà của Như Lai, được thêm lớn thắng nhân thanh tịnh của chư Phật, được xuất sanh đạo nhất thiết trí tối thắng, được vào sâu nơi trí hạnh rộng lớn của Bồ Tát, được trừ diệt tất cả phiền não thế gian, thường có thể cúng dường nơi phước điền công đức, tuyên thuyết diệu pháp cho chúng sanh, khôn khéo sắp đặt cho chúng sanh tu tập công hạnh thanh tịnh, luôn cần mẫn nhiếp lấy tất cả thiện căn.
Nguyện cho tất cả chúng sanh thường được vô lượng tam muội chánh định nối sanh không dứt.  Nguyện tất cả chúng sanh thường thích thấy Phật, đều vào chánh định trang nghiêm của chư Phật.  Nguyện cho tất cả chúng sanh thành tựu chánh định bất tư nghì của Bồ Tát hiện vô lượng thần thông tự tại.  Nguyện tất cả chúng sanh nhập như thật định được bất hoại tâm.  Nguyện tất cả chúng sanh đều được tam muội thậm thâm của Bồ Tát, đối với các môn thiền định đều được tự tại.  Nguyện tất cả chúng sanh được tâm giải thoát trọn nên tất cả tam muội.  Nguyện tất cả chúng sanh đều được khéo giỏi nơi các môn tam muội, đều có thể nhiếp lấy các tướng tam muội.  Nguyện tất cả chúng sanh được thắng trí tam muội, có thể học khắp các môn tam muội.  Nguyện tất cả chúng sanh được tam muội vô ngại nhập thâm thiền định không hề thối thất.  Nguyện tất cả chúng sanh được vô trước tam muội, tâm luôn trụ trong chánh thọ chẳng chấp lấy hai pháp.
Trên đây là đại Bồ Tát lúc bố thí tất cả quyến thuộc trong cung nội rồi đem căn lành hồi hướng.  Vì muốn cho tất cả chúng sanh đều được quyến thuộc thanh tịnh không tan vỡ, được quyến thuộc đại thừa, được đầy đủ Phật pháp, được đầy đủ sức nhất thiết trí, được chứng trí huệ vô thượng, được quyến thuộc thuận thảo, được bạn đồng chí nguyện cùng ở chung, được đầy đủ tất cả phước trí, được trọn vẹn căn lành thanh tịnh, được quyến thuộc hiền hòa, được pháp thân thanh tịnh của Phật, được biện tài chơn chánh khéo diễn nói vô tận tạng pháp của Phật, rời bỏ hẳn phước nghiệp thế gian mà đồng tu căn lành xuất thế thanh tịnh, được đầy đủ hạnh nghiệp thanh tịnh để trọn nên pháp thanh tịnh, tất cả Phật pháp đều được hiện tiền, dùng quanh minh của Phật pháp trang nhgieem thanh tịnh khắp nơi.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có thể đem vợ con rất thân yêu bố thí cho người, như thuở xa xưa thái tử Tu Đạt Noa, nhà vua Hiện Trang Nghiêm, v.v...
Bấy giờ, đại Bồ Tát do lòng từ bi mà bố thí, mà tu tập hạnh xả thí.  Lòng Bồ Tát luôn thanh tịnh không hề hối tiếc.  Xả thí hết cả những gì của mình trân quý để cầu nhất thiết trí, làm cho chúng sanh được chí nguyện thâm hậu thành tựu hạnh bồ đề quán sát đạo Bồ Tát, tưởng niệm Phật bồ đề, an trụ chủng tánh Phật.
Đại Bồ Tát trọn nên tâm bố thí như vậy rồi, thời quyết đinh chí cầu thân Như Lai, tự xem thân của mình là hệ thuộc với tất cả không được tự tại.  Bồ Tát lại đem thân mình nhiếp khắp chúng sanh, và cấp thí cho tất cả, ai chưa được đầy đủ thời làm cho họ được đầy đủ, như hòn đảo bửu châu.
Bồ Tát làm lợi ích chúng sanh như vậy, muốn chính thân mình là ngôi tháp đệ nhất cho tất cả chúng sanh đều có lòng hoan hỷ, muốn có lòng bình đẳng với tất cả thế gian, muốn làm ao nước mát mẻ cho chúng sanh, muốn ban cho chúng sanh tất cả sự an lạc, muốn làm đại thí chủ của chúng sanh.  Bồ Tát có trí huệ tự tại rõ biết công hạnh của Bồ Tát phải làm nên phát nguyện lớn trang nghiêm như vậy hướng đến nhất thiết trí mong thành bậc trí huệ phước điền vô thượng.  Bồ Tát nhớ tưởng khắp cả chúng sanh thường theo gìn giữ họ.  Do đây tự thân của Bồ Tát được trọn vẹn mọi lợi ích, trí huệ sáng suốt soi khắp thế gian, tâm bố thí rộng lớn thường sốt sắng luôn và thường thích quan sát cảnh giới của Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát dùng tâm giải thoát không buộc ràng tham đắm mà bố thí vợ con, có bao nhiêu căn lành đem hồi hướng như vầy:  Nguyện cho tất cả chúng sanh an trụ nơi vô thượng giác, hóa thân khắp pháp giới chuyển pháp luân bất thối.  Nguyện cho tất cả chúng sanh được thân tự tại nương nguyện lực đi khắp tất cả cõi Phật.  Nguyện cho tất cả chúng sanh bỏ lòng yêu ghét dứt hẳn tâm tham sân.  Nguyện cho tất cả chúng sanh là chân Phật tử làm theo hạnh Phật.  Nguyện cho tất cả chúng sanh đối với Phật quả lòng quyết định không thối thất.  Nguyện tất cả chúng sanh thường làm con Phật từ pháp hóa sanh.  Nguyện tất cả chúng sanh trọn nên Phật trí tự tại được bậc rốt ráo.  Nguyện tất cả chúng sanh chứng vô thượng giác dứt hẳn phiền não.  Nguyện tất cả chúng sanh có thể diễn nói đủ đạo vô thượng và thường thích thực hành pháp thí vô thượng.  Nguyện tất cả chúng sanh được tâm chánh định, mọi chướng duyên không phá hoại được.  Nguyện tất cả chúng sanh ngồi tòa bồ đề thành vô thượng giác, khai hóa vô lượng nam nữ trở thành Phật tử.
Trên đây là đại Bồ Tát lúc bố thí vợ con đem căn lành hồi hướng vì muốn cho chúng sanh đều chứng được trí huệ giải thoát vô ngại vô trước.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát sửa soạn nhà cửa và những vật cần dùng.  Có ai đến xin Bồ Tát đều vui lòng cấp cho cả, không hề tham luyến nhà cửa, xa lìa quan niệm ở nhà, nhàm chán gia nghiệp và mọi vật cần dùng, lòng không tham, không thích, không chút ràng buộc.  Biết nhà cửa dễ hư hoại nên lòng Bồ Tát luôn nhàm bỏ, chỉ muốn xuất gia tu tập hạnh Bồ Tát, chỉ muốn trang nghiêm mình bằng Phật pháp, xả thí tất cả sở hữu không một mảy hối tiếc, thấy người đến xin hết sức vui mừng.  Bồ Tát này thường được chư Phật ngợi khen.
Bấy giờ, Bồ Tát đem căn lành này hồi hướng như vầy:  Nguyện cho tất cả chúng sanh lìa bỏ vợ con, trọn nên sự vui xuất gia đệ nhất.  Nguyện cho tất cả chúng sanh thoát khỏi sự buộc ràng của nhà thế tục vào nhà giải thoát tu tập hạnh thanh tịnh trong Phật pháp.  Nguyện tất cả chúng sanh lìa bỏ lòng bỏn xẻn thích bố thí không thối thất.  Nguyện tất cả chúng sanh lìa hẳn nghiệp nhà, ít muốn biết đủ, không chứa để của cải.  Nguyện tất cả chúng sanh khỏi  nhà thế tục ở nhà Như Lai.  Nguyện tất cả chúng sanh được pháp vô ngại dứt trừ mọi thứ chướng ngại chánh pháp.  Nguyện tất cả chúng sanh lìa sự ái luyến gia thuộc, dầu hiện ở nhà mà lòng khôn tham luyến.  Nguyện tất cả chúng sanh khéo giáo hóa, chẳng rời gia nghiệp mà diễn nói trí huệ của Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh hiện thân tại gia mà lòng luôn an trụ nơi Phật trí.  Nguyện tất cả chúng sanh hiện ở tại gia mà không rời nhà Phật, làm cho mọi loài sanh lòng hoan hỷ.
Trên đây là đại Bồ Tát lúc bố thí nhà cửa đem thiện căn hồi hướng, vì muốn cho tất cả chúng sanh trọn nên các môn trí huệ thần thông hạnh nguyện Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc bố thí những loại vườn rừng, đình đài, chỗ vui chơi thời nghĩ rằng:  Tôi sẽ vì tất cả chúng sanh làm vườn rừng tốt.  Tôi sẽ vì tất cả chúng sanh mà thị hiện pháp lạc.  Tôi sẽ bố thí cho tất cả chúng sanh ý niệm vui vẻ.  Tôi sẽ chỉ cho chúng sanh vô biên sự hỷ lạc.  Tôi sẽ vì tất cả chúng sanh mà khai thị pháp môn thanh tịnh.  Tôi sẽ làm cho chúng sanh phát tâm hoan hỷ.  Tôi sẽ làm cho tất cả chúng sanh được Phật trí.  Tôi sẽ làm cho chúng sanh trọn nên nguyện rộng lớn.  Tôi sẽ như là từ phụ của tất cả chúng sanh.  Tôi sẽ làm cho tất cả chúng sanh được trí huệ quan sát.  Tôi sẽ bố thí tất cả đồ cần dùng cho chúng sanh.  Tôi sẽ như là từ mẫu của tất cả chúng sanh, sanh trưởng tất cả căn lành nguyện lớn cho họ.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc tu hành những căn lành như vậy, đối với chúng sanh ác không hề nhàm bỏ.  Dầu cho tất cả chúng sanh khắp thế gian đều không biết ơn, Bồ Tát không hề có một niệm hờn ghét, cũng không mảy may cầu báo đáp, mà chỉ muốn trừ diệt vô lượng sự khổ não cho họ.  Đối với thế gian, lòng Bồ Tát như hư không, chẳng chút nhiễm trước.  Bồ Tát quan sát tướng chân thật của các pháp, phát thệ nguyện lớn cứu khổ chúng sanh, trọn chẳng nhàm bỏ chí nguyện đại thừa, dứt tất cả kiến chấp, tu tập các hạnh nguyện bình đẳng của Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát quán sát như thế rồi, nhiếp các căn lành đều đem hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh luôn luôn sanh thêm vô lượng pháp lành, trọn nên tâm vô thượng.  Nguyện tất cả chúng sanh được pháp bất động, thấy chư Phật đều hoan hỷ.  Nguyện tất cả chúng sanh vui thích vườn pháp, được thấy vườn diệu lạc của Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh được tâm tịnh diệu, thường thấy vườn rừng thần thông của Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh được sự vui của Phật, thường khéo đi trong cảnh giới trí huệ.  Nguyện tất cả chúng sanh được sự vui thần thông, đến khắp cả đạo tràng pháp hội trong vô lượng cõi.  Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu thần thông giải thoát của Bồ Tát, cùng tận kiếp vị lai thực hành hạnh Bồ Tát không hề biết nhọc.  Nguyện tất cả chúng sanh thấy chư Phật đầy khắp pháp giới, phát tâm rộng lớn ở vườn rừng của Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh đều đến được khắp các cõi Phật và cúng dường khắp tất cả Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh được tâm nguyện lành, trang nghiêm thanh tịnh tất cả cõi Phật.
Trên đây là đại Bồ Tát lúc bố thí vườn rừng đình đài đem căn lành hồi hướng, vì muốn tất cả chúng sanh được thấy chư Phật, được đi trong vườn rừng của Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát mở trăm ngàn ức na do tha vô lượng vô số hội bố thí rộng lớn, tất cả đều thanh tịnh, chư Phật đều ấn khả, trọn không tổn não đến một chúng sanh, làm cho khắp mọi loài xa lìa các điều ác, ba nghiệp thanh tịnh, trọn nên trí huệ, sắp bày trăm ngàn ức na do tha vô lượng vô số cảnh giới thanh tịnh, chứa nhóm trăm ngàn ức na do tha vô lượng, vô số đồ dùng tốt đẹp, phát tâm bồ đề vô thượng, bố thí không giới hạn, làm cho tất cả chúng sanh an trụ nơi đạo thanh tịnh, tất cả đều lành, đều có lòng tin hiểu thanh tịnh.  Tuỳ theo chỗ sở thích của trăm ngàn ức vô lượng chúng sanh mà làm cho họ đều hoan hỷ, dùng lòng đại bi cứu hộ tất cả, cúng dường phụng thờ tam thế chư Phật.  Vì muốn thành tựu tất cả Phật chủng nên Bồ Tát tu hành công hạnh bố thí không hề hối tiếc, thêm lớn lòng tin, trọn vẹn hạnh lớn, luôn luôn tiến đến đàn ba la mật.
Bấy giờ, đại Bồ Tát đem căn lành hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh phát tâm đại thừa đều được thành tựu hạnh bố thí rộng lớn.  Nguyện tất cả chúng sanh đều có thể mở hội bố thí lớn, bố thí tất cả, bố thí lành, bố thí hơn hết, bố thí vô thượng, bố thí vượt trên thế gian, bố thí được tất cả chư Phật ngợi khen.  Nguyện tất cả chúng sanh làm thí chủ đệ nhất, hết lòng cứu khổ cho chúng sanh trong ác đạo đều khiến họ được vào trí huệ vô ngại, tu nguyện bình đẳng, tu thiện căn như thật, được trí vô sai biệt, chứng tự cảnh trí.  Nguyện tất cả chúng sanh an trụ trong trí tịch tịnh của các môn thiền định, vào đạo bất tử, trọn nên tất cả trí huệ thần thông, dũng mãnh tinh tiến, chứng đủ các bậc, trang nghiêm Phật pháp, đến bờ đại giác trọn không thối chuyển.  Nguyện tất cả chúng sanh lập hội bố thí lớn, chẳng nhàm chẳng biết nhọc, cứu giúp chúng sanh không ngừng ngớt, đến rốt ráo chủng trí vô thượng.  Nguyện tất cả chúng sanh luôn siêng gieo trồng tất cả căn lành nhẫn đến vô lượng công đức vô thượng.  Nguyện tất cả chúng sanh thường được chư Phật khen ngợi làm đại thí chủ cho thế gian, đầy đủ công đức ban bố sự vui vô thượng khắp thập phương pháp giới.  Nguyện tất cả chúng sanh lập hội bố thí lớn, chứa nhiều căn lành, bồ đề dìu dắt mọi loài đến bờ vô thượng giác.  Nguyện tất cả chúng sanh thành hạnh bố thí hơn hết, làm cho khắp mọi loài đều an trụ nơi nhất thừa.  Nguyện tất cả chúng sanh bố thí đúng thời, xa hẳn sự bố thí trái thời.  Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu sự bố thí lành nhẫn đến sự bố thí viên mãn rốt ráo của Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh thường thực hành sự bố thí trang nghiêm rộng lớn rốt ráo, lấy chư Phật làm thầy và luôn gần gũi cúng dường.  Nguyện tất cả chúng sanh bố thí thanh tịnh, chứa vô lượng phước đức khắp pháp giới đến bờ chánh giác.  Nguyện tất cả chúng sanh làm bậc đại thíi chủ của thế gian, thệ độ mọi loài đến quả địa Như Lai.
Trên đây là đại Bồ Tát lập hội bố thí lớn đem căn lành hồi hướng, vì muốn cho tất cả chúng sanh thực hành sự bố thí vô thượng, sự bố thí rốt ráo của Phật, sự bố thí trọn lành, sự bố thí bất hoại, sự bố thí vì cúng dường Phật, sự bố thí không xen hờn giận, sự bố thí cứu khổ mọi loài, sự bố thí trọn nên nhất thiết trí, sự bố thí thường thấy chư Phật, sự bố thí tinh tấn trọn lành, sự bố thí rộng lớn trọn nên công đức của Bồ Tát và trí huệ của Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát bố thí tất cả vật dụng không chút hối tiếc, chẳng mong đền đáp, chẳng cầu quả báo, không hề mong được sự giàu vui ở đời, rời tâm vọng tưởng, khéo suy gẫm chánh pháp, chỉ vì muốn lợi ích tất cả chúng sanh, xét kỹ thật tánh của tất cả pháp, tùy theo mọi loài chúng sanh sai khác, chỗ cần chỗ muốn đều khác nhau mà sắm sửa vô lượng vật dụng, tất cả đều bền chắc tốt đẹp, rồi thực hành hạnh bố thí vô biên, bố thí tất cả, bố thí trong thân ngoài của.
Lúc bố thí như thế, Bồ Tát thêm lớn chí nguyện, được công đức lớn, thấy bổn tâm, có thể thường gia hộ cho tất cả chúng sanh đều làm cho họ phát sanh chí nguyện thù thắng.  Bồ Tát trọn không có một niệm cầu đền đáp, do đây thiện căn của Bồ Tát này được đồng với chư Phật, đều để viên mãn nhất thiết chủng trí.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát đem tất cả căn lành bố thí trên đây hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh được điều phục thanh tịnh.  Nguyện tất cả chúng sanh dứt trừ phiền não nghiêm tịnh tất cả cõi Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh do tâm thanh tịnh nơi khoảng một niệm đi khắp pháp giới.  Nguyện tất cả chúng sanh có trí huệ khắp cả hư không pháp giới.  Nguyện tất cả chúng sanh được nhất thiết trí điều phục chúng sanh khắp cả ba đời, trong tất cả thời gian luôn chuyển pháp luân thanh tịnh bất thối.  Nguyện tất cả chúng sanh đủ nhất thiết trí, có thể khéo thị hiện thần thông phương tiện làm lợi ích chúng sanh.  Nguyện tất cả chúng sanh đều có thể tỏ ngộ  vào trí huệ Phật, cùng tận kiếp vị lai thường nói chánh pháp khắp thập phương thế giới không thôi nghỉ, cho mọi loài đều được nghe biết.  Nguyện tất cả chúng sanh trong vô lượng kiếp tu hạnh Bồ Tát đều được viên mãn.  Nguyện tất cả chúng sanh tu hạnh Bồ Tát khắp trong tất cả thế giới ở mười phương.  Nguyện tất cả chúng sanh trong mỗi niệm luôn thực hành sự nghiệp của tam thế chư Phật, giáo hóa mọi loài thẳng đến nhất thiết trí.
Chư Phật tử!  Tùy theo chỗ cần dùng của chúng sanh, đem vô số vật dụng đẹp tốt cung cấp cho họ.  Như thế là vì đại Bồ Tát muốn Phật pháp được nối luôn không dứt, vì lòng đại bi cứu khổ tất cả mọi loài, vì lòng đại từ tu hạnh đại thừa, không hề trái lời Phật dạy, dùng phương tiện khéo tu những hạnh lành, chẳng dứt chủng tánh của chư Phật, tùy theo chỗ cầu xin của người mà cấp cho không hề nhàm, xả thí tất cả không hề tiếc, luôn luôn hướng về nhất thiết trí.
Bấy giờ các quốc độ ở mười phương, có vô số loài chúng sanh cùng vô số phước điền đều hội đến chỗ Bồ Tát mà cầu xin.  Lòng Bồ Tát rất vui mừng đều nhiếp thọ tất cả, xem họ như bạn lành, lòng đại bi xả thí mạnh mẽ không chút mỏi nhàm, tùy theo chỗ cầu xin của mỗi người mà cung cấp đầy đủ, cho họ hết thiếu thốn.
Những người đến xin đều rất hài lòng, hết sức truyền tụng tán dương đức hạnh của Bồ Tát.
Thấy họ vui sướng, lòng Bồ Tát cũng hoan hỷ vô lượng.  Đem sự hỷ lạc trong trăm ngàn ức na do tha kiếp của trời Đế Thích, sự hỷ lạc trong vô số kiếp của trời Dạ Ma, trong vô lượng kiếp của trời Đâu Suất, trong vô biên kiếp của trời Biến Hóa, trong vô đẳng kiếp của trời Tha Hóa, trong bất khả số kiếp của trời Phạm Vương, trong bất khả kiếp của Chuyển Luân Vương, trong bất khả tư kiếp của trời Biến Tịnh, sự diệu lạc trong bất khả thuyết kiếp của trời Tịnh Cư, so sánh cũng không bằng lòng hoan hỷ của đại Bồ Tát lúc thấy người đến cầu xin.  Do đây đại Bồ Tát được thêm lớn đức tin, chí nguyện thanh tịnh, sáu căn điều thuận, đầy đủ tín giải nhẫn đến tăng tấn Phật trí.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát đem căn lành này hồi hướng, muốn cho tất cả chúng sanh được lợi ích, tất cả chúng sanh được an lạc, tất cả chúng sanh được lợi lớn, tất cả chúng sanh được thanh tịnh, tất cả chúng sanh đều cầu Phật đạo, tất cả chúng sanh đều được bình đẳng, tất cả chúng sanh đều được lòng hiền lành, tất cả chúng sanh đều vào đại thừa, tất cả chúng sanh đều được trí huệ lành, tất cả chúng sanh đều trọn đủ hạnh nguyện Phổ Hiền, viên mãn mười trí lực, hiện thành chánh giác.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc đem căn lành trên đây hồi hướng như thế, thời thân, ngữ, ý, ba nghiệp đều giải thoát cả:  Không dính mắc, không buộc ràng, không chúng sanh tưởng, không mạng giả tưởng, không ngã tưởng, không nhân tưởng, không đồng tử tưởng, không sanh giả tưởng, không tác giả tưởng, không thọ giả tưởng, không hữu tưởng, không vô tưởng, không tưởng đời này đời sau, không tưởng chết đây sanh kia, không tưởng thường, không tưởng vô thường, không tưởng có ba cõi, không tưởng không ba cõi, chẳng phải tưởng, không phải chẳng phải tưởng.
Như thế là hồi hướng không hệ phược, hồi hướng không hệ phược giải thoát, hồi hướng chẳng phải nghiệp, hồi hướng chẳng phải nghiệp báo, hồi hướng chẳng phải phân biệt, hồi hướng chẳng phải vô phân biệt, hồi hướng chẳng phải đã tư duy, hồi hướng chẳng phải tâm, hồi hướng chẳng phải vô tâm.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc hồi hướng như thế không chấp trong chấp ngoài, không chấp năng duyên, không chấp sở duyên, chẳng chấp nhân, chẳng chấp quả, chẳng chấp pháp, chẳng chấp phi pháp, chẳng chấp tư duy, không chấp chẳng tư duy, chẳng chấp sắc, thọ, tưởng, hành, thức, chẳng chấp sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệt.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát nếu không chấp trước các pháp, thời không hệ phược nơi sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không hệ phược sắc, thọ, tưởng, hành, thức sanh, không hệ phược sắc, thọ, tưởng, hành, thức diệt.
Nếu có thể không hệ phược với các pháp, thời đối với các pháp cũng không giải thoát.
Bởi vì không có chút pháp nào là hiện sanh, đã sanh, sẽ sanh.  Không có pháp nào có thể lấy, có thế chấp.
Tất cả các pháp:  Tự tướng nó là như vậy.  Nó không có tự tánh, tự tánh nó vốn rời lìa.  Nó chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng phải nhiều, chẳng phải vô lượng, chẳng phải nhỏ, chẳng phải lớn, chẳng phải hẹp, chẳng phải rộng, chẳng phải sâu, chẳng phải cạn, chẳng phải rộn ràng, chẳng phải tịch tịnh, không phải xứ, không phải phi xứ, không phải pháp, không phải phi pháp, không phải thể, không phải chẳng phải thể, chẳng phải có, chẳng phải không có.
Bồ Tát quan sát các pháp là chẳng phải pháp, trong lời nói, thuận theo thế gian, kiến lập chẳng phải pháp làm pháp, chẳng dứt các nghiệp đạo, chẳng bỏ hạnh Bồ Tát, cầu nhất thiết trí trọn không thối chuyển, rõ biết tất cả nghiệp duyên như giấc mơ, tất cả âm thanh như vang, tất cả chúng sanh như bóng, tất cả pháp như ảo, nhưng cũng chẳng hoại nhân duyên nghiệp lực, rõ biết các nghiệp lực công dụng nó rộng lớn, hiểu thấu tất cả pháp đều không sở tác, thực hành đạo vô tác chưa bao giờ tạm bỏ.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này trụ nhất thiết trí, hoặc xứ hay phi xứ thảy đều hoan hỷ nhất thiết trí, nơi tất cả chỗ đều hồi hướng không thối chuyển.
Do nghĩa gì gọi là hồi hướng?
Vì vĩnh viễn độ thế gian đến bờ giác, vì thoát khỏi năm uẩn đến bờ giác, vì vượt qua ngôn ngữ đến bờ giác, vì xa lìa các vọng tưởng đến bờ giác, vì dứt hẳn thân kiến đến bờ giác, vì lìa hẳn chỗ sở y đến bờ giác, vì tuyệt hẳn sở tác đến bờ giác, vì thoát hẳn thế pháp đến bờ giác.  Vì những điều trên đây mà gọi là hồi hướng.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc hồi hướng như thế thời là thuận theo Phật mà trụ, thuận theo pháp mà trụ, thuận theo trí mà trụ, thuận theo bồ đề mà trụ, thuận theo nghĩa mà trụ, thuận theo hồi hướng mà trụ, thuận theo cảnh giới mà trụ, thuận theo hạnh mà trụ, thuận theo chân thật mà trụ, thuận theo thanh tịnh mà trụ.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát hồi hướng như thế thời là liễu đạt tất cả các pháp, thời là trọn vẹn thừa phụng tất cả chư Phật, không có một đức Phật nào mà chẳng thừa phụng, không có một pháp nào mà chẳng cúng dường, không có một pháp nào mà có thể hoại diệt được, không có một pháp nào mà có thể chống trái được, không có một vật nào mà có thể tham trước, không có một pháp nào mà có thể nhàm lìa, với tất cả pháp trong, pháp ngoài không thấy có một chút diệt hoại trái với luật nhân duyên.  Bồ Tát này đầy đủ pháp lực không hề thôi ngớt.
Chư Phật tử!  Đây là bậc đại Bồ Tát tuỳ thuận kiên cố nhất thiết thiện căn hồi hướng thứ sáu.
Lúc đại Bồ Tát an trụ nơi bậc hồi hướng này thời thường được chư Phật hộ niệm nên được kiên cố bất thối, nhập pháp tánh tu nhất thiết trí, tùy thuận pháp nghĩa, tùy thuận pháp tánh, tùy thuận kiên cố tất cả căn lành, tùy thuận tất cả đại nguyện viên mãn, tùy thuận đầy đủ pháp kiên cố, tất cả như kim cang không gì phá hoại được, được tự tại với tất cả pháp."
Bấy giờ Kim Cang Tràng Bồ Tát quán sát mười phương, quán sát đại chúng và quán sát pháp giới xong liền nhập nơi nghĩa thậm thâm của tự cú, tu tập tâm vô lượng rộng lớn, đem lòng đại bi bao trùm thế gian, thêm lớn tánh Phật chủng quá khứ, hiện tại và vị lai, vào nơi công đức của tất cả Phật, thành tựu thần lực tự tại của chư Phật.  Bồ Tát quán sát tâm sở thích của chúng sanh, thuận theo căn lành đáng được thành thục của họ, rồi y cứ nơi pháp tánh thân mà vì họ hiện sắc thân, nương thần lực của đức Phật nói kệ rằng:
Bồ Tát hiện thân làm quốc vương
Là ngôi cao nhất ở thế gian
Oai quyền phước đức hơn tất cả
Để làm lợi ích khắp quần sanh.
Lòng ngài thanh tịnh không nhiễm trước
Tự tại trong đời đều tuân kính
Hoằng tuyên chánh pháp để dạy người
Cho khắp nhân dân được an ổn.
Hiện sanh dòng sang lên ngôi vua
Thường theo Phật giáo chuyển pháp luân
Bẩm tánh nhân từ không bạo ngược
Mọi người kính mến tuân lời dạy.
Trí huệ phân biệt thường tỏ sáng
Dung mạo tài năng đều đầy đủ
Truyền lịnh cả nước đều tuân hành
Trừ dẹp quân ma không thừa sót
Giữ chặt tịnh giới không hề phạm
Quyết chí chịu khổ không động lay
Nguyện trọn trừ dứt lòng giận hờn
Luôn thích tu hành theo Phật pháp.
Đồ uống, món ăn, hương, y phục
Xe cộ, giường, nệm, ghế, bàn, đèn
Nhẫn đến vô lượng món cần dùng
Bồ Tát đều thí cho tất cả.
Vì lợi chúng sanh mà bố thí
Cho họ khai phát quảng đại tâm
Nhẫn đến Thế Tôn cùng chư Thánh
Lòng đều thanh tịnh rất hoan hỷ.
Bồ Tát cung cấp khắp mọi loài
Sở hữu trong ngoài đều bố thí
Lòng luôn bền vững không động lay
Chẳng hề tạm thời sanh hối tiếc.
Bồ Tát thí đầu hoặc cho mắt
Hoặc thí cánh tay hoặc thí chân
Thị, da, xương, tủy tất cả vật
Đều vui bố thí lòng không tiếc.
Bồ Tát hiện thân ở ngôi vua
Dòng họ giàu mạnh hơn mọi người
Dầu là cắt lưỡi cho người xin
Lòng vẫn vui mừng không luyến tiếc.
Công đức thí lưỡi của Bồ Tát
Hồi hướng cho tất cả mọi loài
Nguyện họ nương nhờ công đức này
Đều được tướng lưỡi Phật dài rộng.
Hoặc thí ngôi vua và vợ con
Hoặc xả thân mình làm tôi tớ
Trong lòng hoan hỷ luôn thanh tịnh
Bồ Tát như vậy không hối tiếc.
Tùy người sở thích đều thí cho
Cung cấp đúng thời không mỏi nhọc
Tất cả sở hữu đều phân chia
Mọi người đến xin đều đầy đủ.
Vì nghe pháp, Bồ Tát xả thân
Tu những hạnh khổ cầu Phật đạo
Lại vì chúng sanh bỏ tất cả
Cầu vô thượng giác không thối chuyển.
Vì nghe chánh pháp nơi chỗ Phật
Bồ Tát xả thân làm thị giả
Vì muốn cứu khổ khắp quần sanh
Lòng thêm hoan hỷ vô biên lượng.
Bồ Tát thấy Phật đại đạo sư
Từ tâm rộng lớn, cứu độ lớn
Do đây hớn hở lòng vui mừng
Nghe lãnh pháp vị sâu của Phật.
Bao nhiêu căn lành Bồ Tát có
Đều hồi hướng cả cho chúng sanh
Cứu độ tất cả không sót thừa
Cho giải thoát hẳn luôn an lạc
Bao nhiêu quyến thuộc của Bồ Tát
Dung mạo đẹp xinh trí thông minh
Y phục, hương thơm cùng vàng ngọc
Các thứ trang sức đều đẹp đủ,
Quyến thuộc sang quý như thế này
Bồ Tát có thể bố thí cả
Chuyên cầu thành Phật độ quần sanh
Lòng thí cầu này không tạm bỏ.
Bồ Tát suy gẫm tất cả pháp
Thực hành đầy đủ hạnh rộng lớn
Đều đem hồi hướng khắp chúng sanh
Chẳng có mảy may lòng chấp trước.
Bồ Tát xả thí ngôi quốc vương
Nhẫn đến thành ấp cùng cả nước
Cung điện, đền đài và vườn rừng
Tôi đòi, thị vệ đều không tiếc.
Bồ Tát từ lâu vô lượng kiếp
Đi khắp mọi nơi làm bố thí
Nhân đó giáo hóa khắp mọi loài
Đều khiến vượt lên vô thượng giác
Chúng sanh phẩm loại nhiều vô lượng
Mười phương họp đến đông vô số
Bồ Tát xem thấy rất vui mừng
Theo họ cần chi đều cấp đủ.
Chư Phật hồi hướng như thế nào
Bồ Tát cũng tu hạnh như thế
Thế Tôn thực hành công hạnh gì
Bồ Tát theo học đến toàn vẹn.
Bồ Tát quán sát tất cả pháo
Ai là người vào được pháp này
Thế nào là vào, chỗ nào vào
Thuận theo bố thí lòng không trụ.
Bồ Tát hướng về trí thiện xảo
Bồ Tát hướng về pháp phương tiện
Bồ Tát hướng về nghĩa chân thật
Nhưng trong pháp đó vẫn không trước.
Với tất cả nghiệp không phân biệt
Cũng chẳng nhiễm trước nơi nghiệp quả
Biết tánh bồ đề theo duyên khởi
Bồ Tát tuỳ thuận nhập pháp giới.
Chẳng ở trong thân mà có nghiệp
Cũng chẳng nơi tâm mà trụ trước
Trí huệ rõ biết không nghiệp tánh
Vì do nhân duyên, nghiệp chẳng mất.
Lòng chẳng vọng chấp pháp quá khứ
Cũng chẳng tham lấy pháp vị lai
Chẳng thấy hiện tại có pháp trụ
Rõ thấu tam thế đều trống lặng
Bồ Tát thấu triệt ngằn mé "sắc"
"Thọ, tưởng, hành, thức" cũng thấu suốt
Vượt khỏi thế gian dòng sanh tử
Tâm ý khiêm hạ luôn thanh tịnh.
Quán kỹ ngũ uẩn, thập nhị xứ,
Quán thập bát giới và thân mình
Mỗi mỗi nơi đây cầu bồ đề
Thể tánh rốt ráo bất khả đắc.
Chẳng lấy tướng thường trụ của pháp
Nơi tướng đoạn diệt cũng chẳng chấp
Pháp tánh: phi hữu cũng phi vô
Nghiệp lý thuần tự trọn vô tận.
Đối với các pháp không sở trụ
Đối với chúng sanh và bồ đề
Mười phương quốc độ khắp ba đời
Cầu đó rốt ráo bất khả đắc.
Quán được các pháp đều như vậy
Thời sự hiểu biết đồng chư Phật,
Dầu tìm tự tánh bất khả đắc
Công hạnh Bồ Tát chẳng luống uổng.
Bồ Tát biết pháp theo duyên có
Chẳng trái tất cả đạo đã tu
Khai thị giải thoát những nghiệp nhân
Vì muốn chúng sanh đều thanh tịnh.
Đây là đạo hạnh của người trí
Là điều chỉ giáo của Như Lai
Tùy thuận tư duy vào chánh nghĩa
Tự nhiên giác ngộ thành bồ đề.
Các pháp:  Không sanh cũng không diệt
Cũng lại  không đến và không đi
Cũng chẳng chết đây mà sanh kia
Người này giác ngộ các Phật pháp.
Rõ thấu thật tánh của các pháp
Nhưng không phân biệt nơi pháp tánh
Biết pháp không tánh không phân biệt
Người này chứng nhập trí huệ Phật.
Pháp tánh ở khắp tất cả chỗ
Khắp cả chúng sanh và quốc độ
Ba đời đều khắp không sót thừa
Cũng không hình tướng có thể được.
Tất cả chư Phật chỗ giác ngộ
Thảy đều nhiếp lấy không còn thừa
Dầu rằng diễn nói tất cả pháp
Nhưng các pháp đó đều chẳng có.
Như pháp tánh kia khắp tất cả
Bồ Tát hồi hướng cũng cùng khắp
Hồi hướng tất cả cho chúng sanh
Thường ở thế gian không thối chuyển.


Hán bộ quyển thứ 29

"Chư Phật tử!  Thế nào là đại Bồ Tát bình đẳng tuỳ thuận nhất thiết chúng sanh hồi hướng?
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát tùy theo tất cả căn lành mà mình đã tích tập, như là:  Căn lành nhỏ, căn lành lớn, căn lành rộng, căn lành nhiều, vô lượng căn lành, các loại căn lành, vi trần số căn lành, vô số căn lành, vô biên căn lành, bất khả tư căn lành, bất khả lượng căn lành, Phật cảnh giới căn lành, pháp cảnh giới căn lành, tăng cảnh giới căn lành, thiện tri thức cảnh giới căn lành, tất cả chúng sanh cảnh giới căn lành, phương tiện thiện xảo cảnh giới căn lành, tu các thiện căn cảnh giới căn lành, nội cảnh giới căn lành, ngoại cảnh giới căn lành, vô biên pháp trợ đạo cảnh giới căn lành, căn lành siêng tu tất cả xả thí, căn lành quyết chí rốt ráo trừ tịnh giới, căn lành tất cả hạnh xả thí đều kham chịu khổ, căn lành tâm thường tinh tấn không thối chuyển, căn lành dùng phương tiện lớn nhập vô lượng tam muội, căn lành dùng trí huệ khéo quán sát, căn lành biết tâm hành sai khác của tất cả chúng sanh, căn lành chứa nhóm vô biên công đức, căn lành siêng tu tập hạnh Bồ Tát, căn lành khắp bao trùm nuôi nấng tất cả thế gian.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát đối với căn lành này, an trụ tu hành nhiếp nhập chứa nhóm đầy đủ, tâm thanh tịnh hiểu rõ.  Lúc phát khởi khai thị, được tâm kham nhẫn, đóng cửa ác đạo, khéo điều nhiếp sáu căn trọn vẹn oai nghi, viên mãn chánh hạnh, rời xa sự điên đảo, kham làm pháp khí của chư Phật, có thể làm phước điền tốt của chúng sanh.  Bồ Tát này được chư Phật hộ niệm thêm lớn Phật thiện căn, ở trong Phật nguyện, thực hành Phật nghiệp, tâm được tự tại đồng với tam thế Phật, đến Phật đạo tràng, vào trí lực Phật, đủ tướng hảo của Phật, vượt hẳn thế gian, chẳng thích sanh cõi trời, chẳng tham giàu vui, chẳng chấp pháp hành.
Tất cả căn lành, Bồ Tat này đều đem hồi hướng làm tạng công đức của tất cả chúng sanh.  Bồ Tát này an trụ nơi vô thượng đạo che chở khắp tất cả, nơi đường hư vọng cứu khổ chúng sanh cho họ ở an nơi tất cả pháp lành, mở cửa vô thượng giác, khắp tất cả cảnh giới không dứt không hết, dựng tràng trí huệ nghiêm tịnh đại đạo, có thể thị hiện khắp tất cả thế gian khiến họ dứt trừ cấu nhiễm.
Bồ Tát khéo điều phục tâm, sanh vào nhà Phật, Phật chủng thanh tịnh, đầy đủ công đức, là phước điền lớn làm chỗ nương tựa cho đời.  Đặt để chúng sanh đều làm cho họ thanh tịnh thường siêng tu tập tất cả căn lành.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc dùng năng lực của tâm đại bồ đề chí nguyện thanh tịnh mà tu các căn lành, thời tự nghĩ rằng:  Các căn lành này là chỗ chứa nhóm của tâm bồ đề, là chỗ tư duy của tâm bồ đề, là chỗ phát khởi của tâm bồ đề, là chỗ mong muốn của tâm bồ đề, là chỗ thêm lớn của tâm bồ đề, đều vì xót thương tất cả chúng sanh, đều vì thẳng cầu nhất thiết chủng trí, đều trọn nên mười trí lực của Như Lai.
Do tự suy nghĩ như vậy nên căn lành thêm lớn, trọn không thối chuyển.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lại tự nghĩ:  Nguyện do năng lực của căn lành này mà tôi tu hạnh Bồ Tát suốt kiếp vị lai, đều đem ban bố cho tất cả chúng sanh.  Nguyện cho vô số thế giới tràn đầy châu báu, vô số thế giới tràn đầy y phục, vô số thế giới tràn đầy hương thơm, vô số thế giới tràn đầy đồ trang sức, vô số thế giới tràn đầy báu ma ni, vô số thế giới tràn đầy hoa đẹp, vô số thế giới tràn đầy thức ăn ngon, vô số thế giới tràn đầy của cải, vô số thế giới tràn đầy giường ghế, vô số thế giới tràn đầy mũ báu, trải y đẹp, giăng màn báu.
Giả sử có một người thường đến Bồ Tát để cầu xin mãi đến cùng tận kiếp vị lai.  Bồ Tát đem những đồ vật trên đây ban cho họ không hề biết mỏi biết nhàm, cũng không tạm nghỉ.  Như nói một người, với tất cả chúng sanh cũng như vậy.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc bố thí như vậy, không lòng hư dối, không lòng mong cầu, không lòng danh dự, không lòng hối tiếc, không lòng buồn phiền, chỉ phát tâm cầu nhất thiết trí, phát tâm thí xả tất cả, phát tâm thương xót chúng sanh giáo hóa họ được thành thục đến bậc vô thượng giác.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát đem các căn lành hồi hướng như vậy, luôn bố thí cùng tận kiếp vị lai, thường an trụ nơi tâm nhất thiết trí.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Tôi vì tất cả chúng sanh nên muốn cho vô số thế giới tràn đầy bửu tượng đủ cả bảy chi, tánh rất thuần, trên lưng thiết tràng vàng, giăng lưới vàng, châu báu trang nghiêm, rồi đem bố thí.  Nguyện vô số thế giới tràn đầy bửu mã, như long mã vương, cũng dùng mọi thứ bửu vật để trang nghiêm rồi đem bố thí.  Nguyện vô số thế giới tràn đầy kỹ nữ đều có tài đàn ca ra các thứ tiếng vi diệu rồi đem bố thí.  Nguyện vô số thế giới tràn đầy nam nữ rồi đem bố thí.  Nguyện vô số thế giới tràn đầy thân của mình, rồi phát tâm bồ đề đem bố thí.  Nguyện vô số thế giới tràn đầy đều của mình, rồi phát tâm không phóng dật đem bố thí.  Nguyện vô số thế giới tràn đầy mắt của mình rồi đem bố thí.  Nguyện vô số thế giới tràn đầy máu, thịt, xương, tủy của mình rồi đem bố thí cả không luyến tiếc.  Nguyện vô số thế giới tràn đầy ngôi vua rồi đem bố thí.  Nguyện vô số thế giới tràn đầy tôi đòi công bộc rồi đem bố thí.
Đại Bồ Tát dùng lòng xả thí rộng lớn đem tất cả những thân, những vật như vậy bố thí cho chúng sanh cùng tận kiếp vị lai.  Như với một chúng sanh, với tất cả chúng sanh cùng tận chúng sanh giới cũng đều như vậy.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát ở nơi một thế giới tu Bồ Tát hạnh suốt kiếp vị lai đem những vật như vậy ban bố cho một chúng sanh, nhẫn đến ban bố cho tất cả chúng sanh đều được đầy đủ.  Như sự bố thí nơi một thế giới, nơi tất cả thế giới cùng tận hư không giới khắp pháp giới đều cũng như vậy.
Lòng đại bi của Bồ Tát trùm bao khắp cả, không hở không ngớt, xót thương tất cả, tùy theo chỗ cần đùng của người xin mà cung cấp cho.  Không để vị bố thí vì gặp trở duyên mà ngừng nghỉ, nhẫn đến không chút lòng mỏi mệt dầu trong khoảng đàn chỉ.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc bố thí như vậy bèn sanh những tâm này:  Tâm vô trước, tâm vô phược, tâm giải thoát, tâm đại lực, tâm thậm thâm, tâm thiện nhiếp, tâm vô chấp, tâm không thọ giả, tâm khéo điều phục, tâm chẳng tán loạn, tâm chẳng vọng chấp, tâm bửu tánh, tâm chẳng cầu báo, tâm rõ thấu tất cả pháp, tâm đại hồi hướng, tâm khéo giải quyết các nghĩa lý, tâm làm tất cả chúng sanh trụ vô thượng trí, tâm sanh đại pháp quang minh, tâm chứng nhập nhất thiết trí.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát đem căn lành đã chứa nhóm, trong mỗi niệm hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh của báu dẫy đầy không thiếu thốn.  Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu vô tận tạng đại công đức.  Nguyện tất cả chúng sanh đầy đủ tất cả an ổn khoái lạc.  Nguyện tất cả chúng sanh thêm lớn hạnh Bồ Tát.  Nguyện tất cả chúng sanh trọn nên vô lượng pháp thù thắng đệ nhất.  Nguyện tất cả chúng sanh được chẳng thối chuyển nơi Phật thừa.  Nguyện tất cả chúng sanh thấy khắp tất cả chư Phật ở mười phương.  Nguyện tất cả chúng sanh xa hẳn những phiền não thế gian.  Nguyện tất cả chúng sanh đều được  tâm thanh tịnh bình đẳng.  Nguyện tất cả chúng sanh lìa những chướng nạn được nhất thiết trí.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc hồi hướng như thế phát tâm hoan hỷ.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được lợi ích an lạc.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được tâm bình đẳng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được tâm xả thí.  Vì làm cho tất cả chúng sanh an trụ nơi tâm bố thí tất cả.  Vì làm cho tất cả chúng sanh an trụ nơi tâm hoan hỷ bố thí.  Vì làm cho tất cả chúng sanh an trụ nơi tâm bố thí thoát hẳn sự bần cùng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh an trụ nơi tâm bố thí vô số của báu.  Vì làm cho tất cả chúng sanh an trụ nơi tâm bố thí khắp cả, bố thí vô lượng, bố thí tất cả.  Vì làm cho tất cả chúng sanh an trụ nơi tâm bố thí cùng tận kiếp vị lai không dứt.  Vì làm cho tất cả chúng sanh an trụ nơi tâm bố thí tất cả vật dụng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh an trụ nơi tâm bố thí thuận theo người xin.  Vì làm cho tất cả chúng sanh an trụ nơi tâm bố thí nhiệp thọ mọi loài.  Vì làm cho tất cả chúng sanh an trụ nơi tâm bố thí rộng lớn.  Vì làm cho tất cả chúng sanh an trụ nơi tâm bố thí vô lượng món trang nghiêm.  Vì làm cho tất cả chúng sanh an trụ tâm bố thí không chấp trước.  Vì làm cho tất cả chúng sanh an trụ nơi tâm bố thí bình đẳng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh an trụ nơi tâm bố thí rất mạnh mẽ như kim cang.  Vì làm cho tất cả chúng sanh an trụ nơi tâm bố thí như ánh sáng mặt nhật.  Vì làm cho tất cả chúng sanh an trụ nơi tâm bố thí nhiếp lấy Phật trí.  Vì làm cho tất cả chúng sanh thiện căn quyến thuộc đầy đủ.  Vì làm cho tất cả chúng sanh thiện căn trí huệ thường hiện tiền.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được viên mãn tâm thanh tịnh chẳng hư hoại.  Vì làm cho tất cả chúng sanh thành tựu thiện căn thanh tịnh có thể.  Vì làm cho tất cả chúng sanh ở trong chủng tử phiền não được giác ngộ.  Vì làm cho tất cả chúng sanh diệt trừ tất cả những nghi hoặc.  Vì làm cho tất cả chúng sanh công đức trí huệ thanh tịnh bình đẳng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được viên mãn công đức không hư hoại.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được đầy đủ chánh định thanh tịnh bất động.  Vì làm cho tất cả chúng sanh an trụ nơi nhất thiết trí chẳng hư hoại.  Vì làm cho tất cả chúng sanh trọn nên vô lượng công hạnh thần thông thanh tịnh của Bồ Tát.  Vì làm cho tất cả chúng sanh tu tập thiện căn vô trước.  Vì làm cho tất cả chúng sanh nhớ đến tâm thanh tịnh của tam thế chư Phật.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được căn lành thanh tịnh thù thắng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đầy đủ những pháp công đức thanh tịnh bình đẳng vô ngại.  Vì làm cho tất cả chúng sanh phát tâm quảng đại luôn nhớ đến chư Phật.  Vì làm cho tất cả chúng sanh thường gần gũi chư Phật và siêng cúng dường.  Vì làm cho tất cả chúng sanh mở rộng tất cả những căn lành.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được viên mãn khắp các pháp lành thanh tịnh.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đều thanh tịnh tâm vô lượng, tâm quảng đại, tâm tối thắng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh thành tựu tâm bố thí thanh tịnh bình đẳng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh phụng trì thanh tịnh thí ba la mật.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được nhẫn ba la mật.  Vì làm cho tất cả chúng sanh trụ tinh tấn ba la mật thường không biếng trễ.  Vì làm cho tất cả chúng sanh trụ nơi vô lượng chánh định phát khởi các môn thần thông.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được bát nhã ba la mật biết tất cả pháp đều không thể tánh.  Vì làm cho tất cả chúng sanh viên mãn pháp giới thanh tịnh vô biên.  Vì làm cho tất cả chúng sanh thành tựu căn lành tất cả thần thông đều thanh tịnh.  Vì làm cho tất cả chúng sanh an trụ nơi hạnh bình đẳng chứa nhóm toàn vẹn các pháp lành.  Vì làm cho tất cả chúng sanh khéo vào khắp tất cả cảnh giới của chư Phật.  Vì làm cho tất cả chúng sanh thân, ngữ, ý đều thanh tịnh.  Vì làm cho tất cả chúng sanh quả lành đều thanh tịnh.  Vì làm cho tất cả chúng sanh rõ thấu các pháp đều thanh tịnh.  Vì làm cho tất cả chúng sanh rõ thấu thiệt nghĩa đều thanh tịnh.  Vì làm cho tất cả chúng sanh tu những công hạnh cao đẹp đều thanh tịnh.  Vì làm cho tất cả chúng sanh thành tựu nguyện lớn của Bồ Tát đều thanh tịnh.  Vì làm cho tất cả chúng sanh chứng được tất cả công đức trí huệ đều thanh tịnh.  Vì làm cho tất cả chúng sanh thành tựu căn lành đồng thể hồi hướng phát sanh nhất thiết trí đều được viên mãn.  Vì làm cho tất cả chúng sanh trang nghiêm thanh tịnh tất cả cõi Phật đều được viên mãn.  Vì làm cho tất cả chúng sanh thấy tất cả chư Phật nhưng không chấp trước đều viên mãn.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đủ các tướng tốt công đức trang nghiêm đều viên mãn cả.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được sáu mươi thứ âm thanh lời nói chắc thiệt đều đáng tin nhận, trang nghiêm với trăm ngàn pháp môn, âm thanh công đức vi diệu vô ngại của Như Lai đều được viên mãn.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được mười trí lực trang nghiêm tâm vô ngại bình đẳng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được pháp minh vô tận của chư Phật, tất cả biện tài đều viên mãn.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được vô thượng vô úy là sư tử hống giữa nhân loại.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được nhất thiết trí chuyển pháp luân vô tận bất thối chuyển.  Vì làm cho tất cả chúng sanh rõ tất cả pháp khai thị diễn thuyết đều viên mãn.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đúng thời tù tập pháp lành thanh tịnh đều viên mãn.  Vì làm cho tất cả chúng sanh thành tựu pháp bửu vô thượng của đấng đạo sư đều được thanh tịnh.  Vì làm cho tất cả chúng sanh nơi một trang nghiêm, nơi vô lượng trang nghiêm, nơi đại trang nghiêm.  Nơi chư Phật trang nghiêm đều được viên mãn.  Vì làm cho tất cả chúng sanh vào khắp cả những cảnh giới trong ba đời.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đều có thể qua đến tất cả cõi Phật nghe lãnh chánh pháp.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được trí huệ lợi ích, trong đời tôn trọng xem như Phật.  Vì làm cho tất cả chúng sanh dùng nhất thiết trí biết rõ tất cả pháp.  Vì làm cho tất cả chúng sanh thực hành công hạnh bất động được viên mãn quả vô ngại.  Vì làm cho tất cả chúng sanh sáu căn đều được thần thông biết được căn tánh của tất cả chúng sanh.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được trí huệ bình đẳng vô sai biệt hoàn toàn thanh tịnh nơi pháp nhất tướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh thuận nơi lý tánh, đầy đủ tất cả thiện căn.  Vì làm cho tất cả chúng sanh, đều thông đạt thần thông tự tại của tất cả Bồ Tát.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được vô tận công đức của Phật, hoặc phước hoặc trí đều bình đẳng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh phát tâm bồ đề hiểu tất cả pháp bình đẳng một tướng không thiếu sót.  Vì làm cho tất cả chúng sanh rõ thấu chánh pháp làm ruộng phước đức tối thượng của thế gian.  Vì làm cho tất cả chúng sanh thành tựu đại bi thanh tịnh bình đẳng làm phước điền lớn cho người bố thí.  Vì làm cho tất cả chúng sanh kiên cố bậc nhất không bị ngăn trở phá hoại.  Vì làm cho tất cả chúng sanh thấy liền được lợi ích không bị xô đè.  Vì làm cho tất cả chúng sanh thành tựu tâm bình đẳng tối thắng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh khéo rõ thấu được tất cả pháp được đại vô úy.  Vì làm cho tất cả chúng sanh phóng một quang minh chiếu khắp tất cả thế giới ở mười phương.  Vì làm cho tất cả chúng sanh tu tất cả hạnh tinh tấn của Bồ Tát không giải đãi thối thất.  Vì làm cho tất cả chúng sanh dùng một hạnh nguyện khắp trùm tất cả hạnh nguyện.  Vì làm cho tất cả chúng sanh dùng một âm thanh vi diệu khiến khắp thính giả đều hiểu được cả.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đều có thể đầy đủ tất cả âm thanh tịnh của Bồ Tát.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được gặp các bậc thiện tri thức và đều kính thờ.  Vì làm cho tất cả chúng sanh tu hanh Bồ Tat chẳng ngớt điều phục chúng sanh.  Vì làm cho tất cả chúng sanh dùng biện tài vi diệu đủ cả âm thanh theo cơ nghi diễn thuyết không dứt.  Vì làm cho tất cả chúng sanh có thể dùng một tâm biết tất cả tâm, đem tất cả căn lành khắp hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng  sanh thường thích chứa nhóm tất cả căn lành an lập chúng sanh nơi trí thanh tịnh.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được nhất thiết trí và thân phước đức trí huệ thanh tịnh.  Vì làm cho tất cả chúng sanh khéo biết căn lành của mọi loài, tất cả sự quan sát hồi hướng đều thành tựu.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được nhất thiết trí thành bậc đẳng chánh giác.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được đầy đủ trí huệ thần thông, khi hiện ra ở một nơi thời khắp mọi nơi đều hiện ra cả.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được trí phổ trang nghiêm, khi nghiêm tịnh một pháp hội thời tất cả pháp hội đều nghiêm tịnh cả.  Vì làm cho tất cả chúng sanh ở một Phật độ mà thấy khắp tất cả Phật độ.  Vì làm cho tất cả chúng sanh dùng vô lượng vô tận đồ trang nghiêm để trang nghiêm khắp tất cả Phật độ.  Vì làm cho tất cả chúng sanh nơi tất cả pháp đều có thể thấu rõ nghĩa thậm thâm.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được thần thông tự tại tối thượng của Phật.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được tất cả công đức thần thông tự tại phi nhất phi dị.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đầy đủ tất cả thiện căn bình đẳng, được khắp chư Phật xoa đảnh.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đều được viên mãn trí thân thanh tịnh, là bậc tôn quý nhất trong các cõi.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát xót thương làm lợi ích an lạc cho tất cả chúng sanh như vậy.  Bồ Tát đều làm cho họ được thanh tịnh, xa rời tham ganh, được sự vui thắng diệu, đủ công đức lớn, phát tín giải lớn, lìa hẳn lòng giận hờn và lòng nhơ đục, lòng họ thanh tịnh ngay thẳng hiền hòa, không còn dua vạy ngu si, thực hành công hạnh xuất ly bền vững không lay động, tâm bình đẳng trọn không thối chuyển, thành tựu đầy đủ pháp lực trắng trong, không mất không hại, khéo hồi hướng, thường tu chánh hạnh điều phục chúng sanh, diệt trừ tất cả nghiệp ác, tự tu các khổ hạnh và tất cả thiện căn, lại khuyên chúng sanh đồng tu tập, vì chúng sanh mà chịu đủ mọi sự khổ, dùng mắt trí huệ quan sát các căn lành, biết các căn lành đều lấy trí huệ làm tánh, rồi phương tiện hồi hướng cho tất  cả chúng sanh.
Vì làm cho tất cả chúng sanh đều được an trụ nơi tất cả công đức thanh tịnh.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đều có thể nhiếp thọ tất cả căn lành, biết tánh và nghĩa của các công đức.  Vì làm cho tất cả chúng sanh khắp thanh tịnh tất cả những căn lành.  Vì làm cho tất cả chúng sanh ở trong cảnh giới phước đức gieo trồng pháp lành, lòng không hối hận.
Vì làm cho tất cả chúng sanh có thể nhiếp thọ khắp tất cả chúng sanh, đều đưa mỗi người đến bậc nhất thiết trí.  Vì làm cho tất cả chúng sanh nhiếp khắp tất cả thiện căn, mỗi mỗi đều tương ưng với bình đẳng hồi hướng.
Đại Bồ Tát này lại đem các căn lành hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh đều được rốt ráo an ổn.  Nguyện tất cả chúng sanh đều được rốt ráo thanh tịnh.  Nguyện tất cả chúng sanh đều được rốt ráo an lạc.  Nguyện tất cả chúng sanh đều được rốt ráo giải thoát.  Nguyện tất cả chúng sanh đều được rốt ráo bình đẳng.  Nguyện tất cả chúng sanh đều được rốt ráo tỏ suốt.  Nguyện tất cả chúng sanh đều được rốt ráo an trụ nơi những pháp trắng trong.  Nguyện tất cả chúng sanh đều được con mắt vô ngại.  Nguyện tất cả chúng sanh khéo điều phục tâm mình.  Nguyện tất cả chúng sanh đủ cả mười trí lực điều phục mọi loài.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc hồi hướng như vậy lòng chẳng chấp nghiệp, chẳng chấp báo, chẳng chấp thân, chẳng chấp vật, chẳng chấp cõi, chẳng chấp phương, chẳng chấp chúng sanh, chẳng chấp không chúng sanh, chẳng chấp tất cả pháp, chẳng chấp không tất cả pháp.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc hồi hướng như vậy đem căn lành này bố thí khắp thế gian.  Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu Phật trí, được tâm thanh tịnh trí huệ sáng suốt, nội tâm tịch tịnh, ngoại duyên chẳng động, thêm lớn và thành tựu chủng tánh Phật ba đời.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc tu hành hồi hướng như vậy, vượt tất cả không ai hơn được.  Bao nhiêu ngôn ngữ của tất cả thế gian đều đồng ngợi khen cũng chẳng hết được.  Tu khắp tất cả Bồ Tát hạnh.  Đều có thể qua đến tất cả cõi Phật.  Thấy khắp chư Phật không bị chướng ngại.  Lại có thể thấy khắp công hạnh của chư Bồ Tát.  Dùng phương tiện lành phân biệt câu nghĩa thậm thâm của các pháp cho chúng sanh.  Được đà la ni diễn nói diệu pháp suốt tận thuở vị lai không thôi nghỉ.  Vì tất cả chúng sanh nên khoảng mỗi niệm, dường như bóng hình, hiện thân khắp bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới cúng dường chư Phật, nghiêm tịnh khắp bất khả thuyết bất khả thuyết Phật độ.  Bồ Tát tu hành nghiêm tịnh cõi Phật, trí huệ, không biết nhàm đủ.  Trong mỗi niệm làm cho bất khả thuyết bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha chúng sanh đều được trọn vẹn thanh tịnh bình đẳng.  Ở trong tất cả quốc độ kia, Bồ Tát siêng tu tất cả ba la mật, nhiếp thọ chúng sanh, thành tựu tịnh nghiệp.  Được nhĩ căn vô ngại nghe khắp pháp luân của mỗi mỗi đức Phật diễn day trong bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới, nghe rồi thọ trì siêng tu tập, không hề bỏ rời.  Bồ Tát này trụ nơi thần thông vô sở đắc, vô y chỉ, vô tác, vô trước, trong khoảng một sát na, một đàn chỉ, phân thân đến khắp bất khả thuyết cõi Phật, cùng chư Bồ Tát đồng một thấy biết.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc tu tập hạnh Bồ Tát như vậy còn có thể thành tựu viên mãn vô lượng bất khả thuyết bất khả thuyết công đức thanh tịnh, huống là thành bậc vô thượng bồ đề.  Tất cả Phật độ bình đẳng thanh tịnh, tất cả chúng sanh bình đẳng thanh tịnh, tất cả thân bình đẳng thanh tịnh, tất ả căn bình đẳng thanh tịnh, tất cả nghiệp quả bình đẳng thanh tịnh, tất cả chúng hội đạo tràng binh đẳng thanh tịnh, tất cả hạnh viên mãn bình đẳng thanh tịnh, tất cả pháp trí phương tiện bình đẳng thanh tịnh, tất cả chí nguyện hồi hướng bình đẳng thanh tịnh, tất cả thần thông cảnh giới bình đẳng thanh tịnh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc hồi hướng như vậy được pháp môn tất cả công đức thanh tịnh hoan hỷ, vô lượng công đức đều viên mãn trang nghiêm.
Lúc đại Bồ Tát hồi hướng như vậy, chúng sanh chẳng trái tất cả cõi; cõi chẳng trái tất cả chúng sanh; cõi và chúng sanh chẳng trái tất cả nghiệp; nghiệp chẳng trái chúng sanh và cõi; tư duy chẳng trái tâm; tâm chẳng trái tư duy; tâm và tư duy chẳng trái cảnh giới; cảnh giới chẳng trái tâm và tư duy; nghiệp chẳng trái báo; báo chẳng trái nghiệp, nghiệp chẳng trái nghiệp đạo; nghiệp đạo chẳng trái nghiệp; pháp tánh chẳng trái tướng; pháp tướng chẳng trái tánh; pháp sanh chẳng trái tánh; pháp tánh chẳng trái sanh; cõi bình đẳng chẳng trái chúng sanh bình đẳng; chúng sanh bình đẳng chẳng trái cõi bình đẳng; tất cả chúng sanh bình đẳng chẳng trái tất cả pháp bình đẳng; tất cả pháp bình đẳng chẳng trái tất cả chúng sanh bình đẳng; mé ly dục bình đẳng chẳng trái tất cả chúng sanh an trụ bình đẳng; tất cả chúng sanh an trụ bình đẳng chẳng trái mé ly dục bình đẳng; quá khứ chẳng trái vị lai; vị lai chẳng trái quá khứ; quá khứ vị lai chẳng trái hiện tại; hiện tại chẳng trái quá khứ vị lai; thế gian bình đẳng chẳng trái Phật bình đẳng; Phật bình đẳng chẳng trái thế gian bình đẳng; Bồ Tát hạnh chẳng trái nhất thiết trí; nhất thiết trí chẳng trái Bồ Tát hạnh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc hồi hướng như vậy được nghiệp bình đẳng, báo bình đẳng, thân bình đẳng, phương tiện bình đẳng, nguyện bình đẳng, tất cả chúng sanh bình đẳng, tất cả cõi bình đẳng, tất cả hạnh bình đẳng, tất cả trí bình đẳng, tam thế Phật bình đẳng, được phụng thờ tất cả Phật, được cúng dường tất cả Bồ Tát, được gieo trồng tất cả căn lành, viên mãn tất cả nguyện lớn, giáo hóa tất cả chúng sanh, rõ biết tất cả nghiệp, thờ cúng tất cả thiện tri thức, vào tất cả đạo tràng, thông đạt tất cả chánh giáo, thành tựu viên mãn tất cả pháp lành.
Chư Phật tử!  Đây là bậc đại Bồ Tát bình đẳng tuỳ thuận nhất thiết chúng sanh hồi hướng thứ bảy.
Đại Bồ Tát thành tựu bậc hồi hướng này thời có thể xô dẹp tất cả ma oán, nhổ gai dục nhiễm, được vui xuất ly, trụ nơi tánh vô nhị, đủ oai đức lớn cứu độ chúng sanh, là vua công đức thần thông vô ngại, qua tất cả cõi, vào nơi tịch diệt, đủ tất cả thân, thành hạnh Bồ Tát, nơi các hạnh nguyện tâm được tự tại, phân biệt rõ biết tất cả pháp, đều có thể vãng sanh khắp tất cả Phật độ, được nhĩ căn vô ngại nghe tất cả âm thanh của tất cả cõi, được huệ nhãn thanh tịnh thấy tất cả Phật chưa từng tạm rời, nơi tất cả cảnh giới thành tựu thiện căn, tâm không cao hạ, nơi tất cả phấp được vô sở đắc.
Đại Bồ Tát đem tất cả thiện căn bình đẳng tuỳ thuận tất cả chúng sanh mà hồi hướng như vậy."
Bấy giờ, Kim Cang Tràng Bồ Tát nương thần lực của Phật, quán sát khắp mười phương mà nói kệ rằng:
Bồ Tát tu hành những công đức
Vì diệu rộng lớn rất sâu xa
Nhẫn đến một niệm mà tu hành
Đều hay hồi hướng vô biên lượng.
Bao nhiêu sở hữu của Bồ Tát
Nhiều thứ dẫy đầy vô lượng ức
Hương tượng, bửu mã để thắng xe
Y phục, châu báu đều đẹp lạ.
Hoặc đem đầu, mắt và tay chân,
Hoặc thêm thân thịt cùng xương tủy
Đều khắp mười phương vô lượng cõi
Khắp bố thí cho cả mọi loài
Tu tập trong vô lượng ức kiếp
Tất cả công đức đều hồi hướng
Vì muốn cứu độ các quần sanh
Thường tu hồi hướng hạnh tối thắng
Khiến khắp ba cõi được an vui
Đều khiến sẽ thành quả vô thượng.
Bồ Tát khắp pháp nguyện bình đẳng
Tùy chỗ chứa nhóm nghiệp thanh tịnh
Đều đem hồi hướng thí chúng sanh
Thệ nguyện rộng lớn trọn không bỏ.
Nguyện lực Bồ Tát vô hạn ngại
Nhiếp thọ tất cả các thế gian
Hồi hướng như vậy khắp quần sanh
Chưa hề tạm sanh lòng phân biệt.
Nguyện cho chúng sanh trí sáng suốt
Bố thí, trì giới đều thanh tịnh
Tinh tấn tu hành chẳng bỏ trễ.
Nguyện lớn như vậy không thôi dứt
Bồ tát hồi hướng đến bờ kia
Khắp khai pháp môn diệu thanh tịnh
Trí huệ đồng với đấng Thế Tôn
Phân biệt thiệt nghĩa được rốt ráo.
Bồ Tát đã thông suốt ngôn từ
Các thứ trí huệ cũng như vậy
Thuyết pháp đúng lý không chướng ngại
Nhưng nơi trong ấy lòng không chấp.
Chẳng thấy các pháp là có hai
Cũng lại chẳng thấy là bất nhị
Nơi nhị, bất nhị thảy đều rời
Biết đó đều là đường ngôn ngữ
Biết các thế gian đều bình đẳng
Đều là nghiệp của ngữ, ý, thân
Chúng sanh huyễn hóa không có thiệt
Tất cả quả báo từ đây sanh.
Tất cả sở hữu của thế gian
Các thứ quả báo đều chẳng đồng
Tất cả đều do nghiệp lực thành
Nếu diệt được nghiệp nó đều dứt.
Bồ Tát quán sát các thế gian
Thân, khẩu, ý, nghiệp đều bình đẳng
Cũng khiến chúng sanh trụ bình đẳng
Dường như Thế Tôn đấng Vô Thượng
Thiện nghiệp, Bồ Tát đều hồi hướng
Khiến khắp chúng sanh "sắc" thanh tịnh
Phước đức phương tiện đều đầy đủ
Đồng với Điều Ngự đấng vô thượng.
Bồ Tát lợi ích khắp quần sanh
Vô biên công đức đều hồi hướng
Ngyện cho oai quang hơn thế gian
Được thành thân dũng mãnh đại lực.
Bao nhiêu công đức đã tu tập
Nguyện khắp thế gian đều thanh tịnh
Chư Phật thanh tịnh không ai sánh
Chúng sanh thanh tịnh cũng như vậy.
Bồ Tát nơi nghĩa được khéo hiểu
Biết được Phật pháp là hơn hết
Đem những nghiệp lành đồng hồi hướng
Nguyện khắp chúng sanh đồng với Phật.
Bồ Tát rõ biết các pháp không
Tất cả thế gian không sở hữu
Không có tạo tác và tác giả
Nghiệp báo chúng sanh cũng chẳng mất.
Các pháp tịch diệt, chẳng tịch diệt
Xa rời hai tâm phân biệt này
Biết các phân biệt là thế kiến
Vào nơi chánh vị hết phân biệt.
Phật tử chân thiệt như vậy thảy
Từ nơi Phật pháp mà hóa sanh
Bồ Tát hồi hướng khéo như vậy
Thế gian nghi hoặc đều trừ diệt.


Hán quyển thứ 30

"Chư Phật tử!  Thế nào là đại Bồ Tát chân như tướng hồi hướng? 
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này chánh niệm rõ ràng, tâm vững chắc, xa rời mê lầm, chuyên tâm tu hành, thâm tâm chẳng lay động, thành nghiệp chẳng hư hoại, thẳng đến nhất thiết trí trọn không thối chuyển, chí cầu đại thừa, dũng mãnh vô úy, trồng các cội lành, an ổn khắp thế gian sanh căn lành tối thắng, tu pháp lành thanh tịnh, thêm lớn đức đại bi, thành tựu tâm bửu, thường niệm chư Phật, hộ trì chánh pháp, tin chắc đạo Bồ Tát, thành tựu vô lượng thiện căn vi diệu thanh tịnh, siêng tu tập tất cả công đức trí huệ, là Điều Ngự Dư sanh những pháp lành, dùng trí phương tiện đem hồi hướng.
Bấy giờ, Bồ Tát dùng huệ nhãn xem khắp những thiện căn đã có vô lượng vô biên.  Lúc tu tập những thiện căn này, hoặc cầu duyên, hoặc sắm sửa, hoặc dọn sạch, hoặc thẳng tiến, hoặc chuyên gắng, hoặc khởi hành, hoặc sáng suốt, hoặc thuần gẫm xét, hoặc khai thị.
Tất cả như vậy có nhiều môn, nhiều cảnh, nhiều tướng, nhiều sự, nhiều phần, nhiều hạnh, nhiều danh tự,  nhiều phân biệt, nhiều xuất sanh, nhiều tu tập.
Nơi đây có tất cả thiện căn đều là do phát tâm đại bồ đề cầu nhất thiết chủng trí mà kiến lập cả, chỉ có một không ai, Bồ Tát đem thiện căn hồi hướng như vầy:  Nguyện đem thân viên mãn vô ngại tu hạnh Bồ Tát.  Nguyện được khẩu thanh tịnh vô ngại tu hạnh Bồ Tát.  Nguyện được ý thành tựu vô ngại an trụ nơi đại thừa.  Nguyện được tâm thanh tịnh viên mãn vô ngại tu tất cả hạnh Bồ Tát.  Nguyện khởi tâm bố thí rộng lớn vô lượng châu cấp tất cả chúng sanh.  Nguyện đối với các pháp tâm được tự tại diễn xướng đại pháp không bị che chướng.  Nguyện được thông đạt nhất thiết trí, phát tâm bồ đề chiếu khắp thế gian.  Nguyện thường chánh niệm tam thế Phật, quán tưởng dức Như Lai thường hiện ở trước.  Nguyện trụ nơi chí nguyện viên mãn tăng thượng xa lìa tất cả ma oán.  Nguyện được an trụ mười trí lực của Phật, luôn nhiếp khắp tất cả chúng sanh.  Nguyện được tam muội đi khắp các cõi, nhưng không nhiễm trước nơi thế gian.  Nguyện trụ các thế giới không nhàm mỏi luôn giáo hóa chúng sanh.  Nguyện khởi vô lượng phương tiện về tư huệ, thành tựu đạo hạnh bất tư nghì của Bồ Tát.  Nguyện được trí chẳng mê lầm đối với mười phương đều có thể phân biệt tất cả thế gian.  Nguyện được trí lực thần thông tự tại, trong khoảng một niệm đều có thể nghiêm tịnh tất cả cõi nước.  Nguyện được vào khắp tự tánh của các pháp, thấy tất cả thế gian đều thanh tịnh.  Nguyện được sanh khởi trí vô  sai biệt, trong khoảng sát na vào tất cả cõi.  Nguyện đem tất cả sự trang nghiêm của các cõi hiển thị ra tất cả để giáo hóa vô lượng vô biên chúng sanh.  Nguyện ở trong một cõi Phật hiển thị vô biên pháp giới, tất cả cõi Phật cũng đều như vậy.  Nguyện được trí tự tại đại thần thông có thể qua đến tất cả cõi Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát dùng các căn lành nguyện được trang nghiêm tất cả cõi Phật.  Nguyện được khắp cùng tất cả thế giới.  Nguyện được thành tựu trí huệ quán sát.
Như vì thân mình mà hồi hướng như vậy, vì tất cả chúng sanh cũng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh lìa hẳn tất cả địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ.  Nguyện tất cả chúng sanh trừ diệt tất cả nghiệp chướng ngại.  Nguyện tất cả chúng sanh được trí huệ bình đẳng tâm bao khắp mọi nơi.  Nguyện tất cả chúng sanh đối với kẻ oán người thân đều bình đẳng nhiếp thọ, đều làm cho an vui trí huệ thanh tịnh.  Nguyện tất cả chúng sanh trí huệ viên mãn, tịnh quang soi khắp.  Nguyện tất cả chúng sanh tư huệ thành tựu viên mãn rõ nghĩa chân thật.  Nguyện tất cả chúng sanh dùng chí nguyện thanh tịnh thẳng cầu bồ đề được trí vô lượng.  Nguyện tất cả chúng sanh có thể hiện khăp chỗ ở an ổn.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát luôn dùng thiện căn hồi hướng như vậy, vì muốn tất cả chúng sanh gặp được mây mát mẻ rưới mưa pháp.  Vì muốn tất cả chúng sanh thường gặp phước điền cảnh giới tối thắng.  Vì muốn tất cả chúng sanh đều khéo vào được và tự hộ trì tâm đại bồ đề.  Vì muốn tất cả chúng sanh khéo an trụ lìa những phiền não.  Vì muốn tất cả chúng sanh đều được trí thần thông vô ngại.  Vì muốn tất cả chúng sanh được thân tự tại thị hiện khắp nơi.  Vì muốn tất cả chúng sanh thành tựu nhất thiết chủng trí tối thắng, khắp làm việc lợi ích không để luống qua.  Vì muốn tất cả chúng sanh nhiếp khắp mọi loài làm cho đều thanh tịnh.  Vì muốn tất cả chúng sanh đều được rốt ráo nhất thiết trí.  Vì muốn tất cả chúng sanh tâm chẳng động lay, không chướng ngại.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát thấy những thứ đáng ưa thích, như cõi nước, vườn, rừng, cỏ cây, bông trái, hương thơm, y phục đẹp, châu báu, các vật trang sức, thôn xóm, tụ lạc.  Hoặc thấy bậc đế vương oai đức tự tại, hoặc thấy chỗ ở không ồn náo.  Khi thấy xong, Bồ Tát dùng Phật trí siêng năng tu tập trọn nên vô lượng công đức thắng diệu.  Bồ Tát vì chúng sanh mà cầu pháp lành, không phóng dật, chứa nhiều điều lành rộng như biển và che khắp tất cả, là chỗ y tựa của các pháp lành.  Bồ Tát đem các căn lành phương tiện hồi hướng mà không phân biệt, khai thị vô lượng các môn thiện căn.  Trí của Bồ Tát thường quán sát tất cả chúng sanh, tâm luôn nghĩ nhớ cảnh giới căn lành, đem thiện căn chơn như bình đẳng không ngớt hồi hướng cho chúng sanh.
Bấy giờ, Bồ Tát đem các căn lành hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh được trí vô thượng của Như Lai, thấy chân tánh các pháp bình đẳng, viên mãn thanh tịnh không chấp lấy.  Nguyện tất cả chúng sanh thấy chư Phật rất đáng mến kính cúng dường trọn vẹn.  Nguyện tất cả chúng sanh được vãng sanh Tịnh Độ không tất cả phiền não.  Nguyện tất cả chúng sanh được thấy pháp đáng mến kính của Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh thường thích hộ trì tất cả hạnh đáng mến kính của Bồ Tát.  Nguyện tất cả chúng sanh được con mắt đáng mếtn kính của thiện tri thức thấy khắp không chướng ngại.  Nguyện tất cả chúng sanh thường thấy tất cả vật đáng ưa thích không trái nghịch.  Nguyện tất cả chúng sanh chứng được pháp đáng mến kính và siêng hộ trì.  Nguyện tất cả chúng sanh được trí sáng suốt ở trong tất cả pháp đáng mến kính của chư Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh tu tâm xả thí đáng mến kính của chư Bồ Tát.  Nguyện tất cả chúng sanh được trí vô úy có thể nói tất cả pháp đáng mến kính.  Nguyện tất cả chúng sanh được tam muội thậm thâm rất đáng chuộng của chư Bồ Tát.  Nguyện tất cả chúng sanh được các môn đà la ni rất đáng mến của chư Bồ Tát.  Nguyện tất cả chúng sanh được trí khéo quán sát rất đáng mến thích của chư Bồ Tát.  Nguyện tất cả chúng sanh có thể hiện thần thông tự tại rất đáng kính mến của chư Bồ Tát.  Nguyện tất cả chúng sanh có thể nói diệu pháp rất sâu đáng mến kính ở giữa đại hội của chư Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh có thể dùng phương tiện khai thị diễn nói những câu rất đáng mến thích.  Nguyện tất cả chúng sanh thường hay phát lòng đại bi bình đẳng rất đáng mến kính.  Nguyện tất cả chúng sanh mỗi niệm luôn luôn phát tâm bồ đề rộng lớn rất đáng mến thích, làm cho sáu căn vui vẻ sảng khoái.  Nguyện tất cả chúng sanh được vào nhà Phật rất đáng mến thích.  Nguyện tất cả chúng sanh được hạnh điều phục đáng mến thích, không ngớt dùng hạnh này để điều phục chúng sanh.  Nguyện tất cả chúng sanh được biện tài vô tận diễn thuyết các pháp rất đáng mến thích của chư Bồ Tát.  Nguyện tất cả chúng sanh trải qua bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp ở trong tất cả thế gian đáng mến thích mà giáo hóa chúng sanh không biết mỏi nhàm.  Nguyện tất cả chúng sanh dùng vô lượng phương tiện ngộ nhập được các pháp môn rất đáng mến thích của chư Phật.  Nguyện tất cả chúng sanh được phương tiện vô ngại đáng ưa thích biết tất cả pháp không có căn bổn.  Nguyện tất cả chúng sanh được hạnh ly dục đáng mến thích, biết tất cả pháp rốt ráo vô nhị, dứt trừ tất cả chướng ngại, biết tất cả pháp bình đẳng chân thật.  Nguyện tất cả chúng sanh thành tựu đầy đủ các pháp không hư dối đáng ưa thích của Bồ Tát.  Nguyện tất cả chúng sanh được tâm kim cang tinh tấn trọn nên đạo nhất thiết trí đáng ưa thích.  Nguyện tất cả chúng sanh thiện căn vô ngại đáng ưa thích xô dẹp tất cả phiền não.  Nguyện tất cả chúng sanh được môn nhất thiết trí đáng ưa thích, hiện thân thành bậc đẳng chánh giác khắp thế gian.
Chư Phật tử!  Lúc đại Bồ Tát tu tập những thiện căn như vậy được trí huê minh, các thiện tri thức đều nhiếp thọ, Phật trí chiếu sáng tâm của Bồ Tát này, do đây dứt hẳn si mê, siêng tu chánh pháp, vào các trí nghiệp, khéo học trí địa, giăng bủa căn lành khắp pháp giới, dùng trí huệ hồi hướng tột nguồn đáy thiện căn của chư Bồ Tát, dùng trí vào sâu biển phương tiện lớn, thành tựu vô lượng căn lành rộng lớn.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát đem căn lành này hồi hướng như vầy:  Chẳng chấp thế gian, chẳng chấp chúng sanh, trong tâm luôn thanh tịnh không y tựa, chánh niệm đối với các pháp, rời phân biệt kiến, chẳng bỏ trí huệ tự tại của chư Phật, chẳng trái môn hồi hướng chân tánh của tam thế chư Phật, tùy thuận tất cả chánh pháp bình đẳng, chẳng mất tướng chân thật của Như Lai, bình đẳng quán sát tam thế không tướng chúng sanh, khéo thuận Phật đạo, khéo thuyết chánh pháp, hiểu sâu ý nghĩa, vào bậc tối thắng, ngộ pháp chân thiệt, trí huệ viên mãn, tín nguyện bền chắc, dầu khéo tu chánh nghiệp mà biết nghiệp tánh vốn không rõ tất cả pháp đều như huyễn hóa, biết tất cả pháp không có tự tánh, quán sát tất cả nghĩa và các công hạnh tùy thuận ngôn thuyết thế gian mà không chấp trước, biết lý như thật, quán các pháp tánh thảy đều tịch diệt, rõ tất cả pháp đồng một thiệt tướng, biết các pháp tướng chẳng chối trái nhau, cùng ở chung với chư Bồ Tát, tu hạnh Bồ Tát khéo nhiếp chúng sanh vào môn hồi hướng của tam thế Bồ Tát, nơi tất cả Phật pháp không lòng hãi sợ, dùng vô lượng tâm làm cho khắp chúng sanh đều được thanh tịnh, nơi thập phương thế giới không sanh tâm chấp lấy ngã và ngã sở , nơi các thế gian không lòng phân biệt, nơi các cảnh giới chẳng hề nhiễm trước, siêng tu tất cả pháp xuất thế, nơi các thế gian không lấy không nương, nơi đạo thâm dịu bền vững chánh kiến, lìa các vọng kiến, rõ pháp chân thiệt.
Ví như chân như khắp tất cả chỗ không có ngằn mé, thiện căn hồi hướng cũng khắp tất cả chỗ như vậy.  Ví như chân như tánh là chân thật, thiện căn hồi hướng cũng rõ tất cả pháp tánh là chân thiện.  Ví như chân như luôn gìn bổn tánh không thay đổi, thiện căn hồi hướng giữ bổn tánh nó trước sau không đổi.  Ví như chân như dùng tất cả pháp không tánh làm tánh, thiện căn hồi hướng cũng rõ tất cả pháp không pháp làm tánh.  Ví như chân như không tướng làm tướng, thiện căn hồi hướng cũng rõ tất cả pháp không tướng làm tướng.  Ví như chân như nếu ai chứng được thời không thối chuyển, nơi thiện căn hồi hướng nếu có người được thời không còn thối chuyển nơi Phật pháp.  Ví như chân như là chỗ đi của tất cả Phật, thiện căn hồi hướng cũng là chỗ đi của tất cả Phật.  Ví như chân như lìa tướng cảnh giới mà làm cảnh giới, thiện căn hồi hướng cũng lìa cảnh giới tướng mà làm cảnh giới viên mãn của tất cả Phật.  Ví như chân như hay an lập tất cả, thiện căn hồi hướng cũng có thể an lập tất cả chúng sanh.  Ví như chân như tánh thường tuỳ thuận, thiện căn hồi hướng cũng luôn tùy thuận tận kiếp vị lai.  Ví như chân như không ai trắc lượng được, thiện căn hồi hướng đồng như hư không, tất cả chúng sanh không trắc lượng được.  Ví như chân như tràn đầy tất cả, thiện căn hồi hướng trong một sát na trùm khắp pháp giới.  Ví như chân như thường trụ vô tận, thiện căn hồi hướng cũng rốt ráo vô tận.  Ví như chân như không có đối tượng, thiện căn hồi hướng có thể khắp viên mãn tất cả Phật pháp cũng không có đối tượng.  Ví như chân như thể tánh kiên cố, các phiền não không làm chướng hư được.  Ví như chân như chẳng bị phá hoại, thiện căn hồi hướng cũng không ai phá hoại được.  Ví như chân như thể của nó là chói sáng, thiện căn hồi hướng cũng lấy sự chói sáng khắp nơi làm tánh.  Ví như chân như không đâu là chẳng có, thiện căn hồi hướng cũng không đâu là chẳng có.  Ví như chân như khắp tất cả thời gian, thiện căn hồi hướng cũng khắp tất cả thế giới.  Ví như chân như tánh thường thanh tịnh, thiện căn hồi hướng dầu ở thế gian nhưng tánh thường thanh tịnh.  Ví như chân như vô ngại với các pháp, thiện căn hồi hướng đi khắp tất cả mà cũng vô ngại.  Ví như chân như là con mắt của các pháp, thiện căn hồi hướng cũng có thể làm con mắt của tất cả chúng sanh.  Ví như chân như tánh không mỏi nhọc, thiện căn hồi hướng tu hành tất cả hạnh Bồ Tát vẫn không mỏi nhọc.  Ví như chân như thể tánh rất sâu, thiện căn hồi hướng thể tánh cũng rất sâu.  Ví như chân như không có một vật, thiện căn hồi hướng rõ biết tự tánh cũng không có một vật.  Ví như chân như tánh chẳng phải xuất hiện, thiện căn hồi hướng thể tánh vi diệu cũng khó thấy được.  Ví như chân như lìa những bợn lòa, thiện căn hồi hướng huệ nhãn thanh tịnh cũng rời những mê lòa.  Ví như chân như tánh không gì bằng, thiện căn hồi hướng thành tựu tất cả hạnh Bồ Tát cũng tối thượng không gì bằng.  Ví như chân như thể tánh tịch tịnh, thiện căn hồi hướng cũng khéo tùy thuận pháp tịch tịnh.  Ví như chân như không có căn bản, thiện căn hồi hướng cũng hay vào tất cả pháp không căn bản.  Ví như chân như thể tánh vô biên, thiện căn hồi hướng cũg làm cho vô biên chúng sanh được thanh tịnh.  Ví như chân như thể tánh vô trước, thiện căn hồi hướng cũng rốt ráo xa lìa tất cả chấp trước.  Ví như chân như không có chướng ngại, thiện căn hồi hướng cũng trừ diệt tất cả chướng ngại thế gian.  Ví như chân như chẳng phải chỗ đi của thế gian, thiện căn hồi hướng cũng chẳng phải thế gian có thể đi được.  Ví như chân như thể tánh vô trụ, thiện căn hồi hướng cũng chẳng phải chỗ trụ của tất cả sanh tử.  Ví như chân như tánh vốn vô tác, thiện căn hồi hướng cũng đều bỏ lìa tất cả sở tác.  Ví như chân như thể tánh an trụ, thiện căn hồi hướng cũng an trụ nơi chân thật.
Ví như chân như cùng tương ưng với tất cả pháp, thiện căn hồi hướng cũng cùng tương ưng với chư Bồ Tát về những sự kiến văn tu tập.  Ví như chân như tánh thường bình đẳng nơi tất cả pháp, thiện căn hồi hướng ở trong thế gian cũng tu hạnh bình đẳng.  Ví như chân như chẳng rời các pháp, thiện căn hồi hướng cùng tận vị lai cũng chẳng bỏ thế gian.  Ví như chân như rốt ráo vô tận trong tất cả pháp, thiện căn hồi hướng cũng hồi hướng vô tận đối với chúng sanh.  Ví như chân như không trái với tất cả pháp, thiện căn hồi hướng cũng chẳng trái tất cả Phật pháp.  Ví như chân như nhiếp khắp các pháp, thiện căn hồi hướng cũng nhiếp tất cả căn lành của chúng sanh.  Ví như chân như đồng thể tánh với các pháp, thiện căn hồi hướng cũng đồng thể tánh với tam thế chư Phật.  Ví như chân như không xa rời tất cả pháp, thiện căn hồi hướng cũng nhiếp trì tất cả pháp thế gian và xuất thế gian.  Ví như chân như không gì che khuất được, thiện căn hồi hướng cũng không bị thế gian che khuất.  Ví như chân như không bị lay động, thiện căn hồi hướng cũng không bị tất cả ma nghiệp làm lay động.  Ví như chân như tánh không nhơ bợn, thiện căn hồi hướng tu hạnh Bồ Tát không bị nhơ bợn.  Ví như chân như không có biến đổi, thiện căn hồi hướng luôn thương xót chúng sanh cũng không biến đổi.  Ví như chân như không thể cùng tận, thiện căn hồi hướng chẳng phải thế pháp có thể cùng tận được.  Ví như chân như tánh thường giác ngộ, thiện căn hồi hướng cũng hay giác ngộ, khắp tất cả pháp.  Ví như chân như không mất không hư, thiện căn hồi hướng đối với chúng sanh phát chí nguyện thù thắng trọn không hư mất.  Ví như chân như rất chói sáng, thiện căn hồi hướng cũng dùng trí huệ soi sáng thế gian.  Ví như chân như không thể nói phô, thiện căn hồi hướng cũng không thể dùng ngôn ngữ nói phô được.  Ví như chân như nhiếp trì các thế gian, thiện căn hồi hướng cũng có thể nhiếp trì tất cả hạnh Bồ Tát.  Ví như chân như tùy theo ngôn thuyết thế gian, thiện căn hồi hướng cũng tùy thuận tất cả trí huệ ngôn thuyết.  Ví như chân như khắp tất cả pháp, thiện căn hồi hướng cũng khắp tất cả cõi Phật ở mười phương, hiện đại thần thông thành đẳng chánh giác.  Ví như chân như không có phân biệt, thiện căn hồi hướng cũng không phân biệt đối với thế gian.  Ví như chân như khắp tất cả thân thiện căn hồi hướng cũng khắp trong vô lượng thân nơi mười phương cõi.  Ví như chân như thể vốn vô sanh, thiện căn hồi hướng dầu phương tiện thị hiện có sanh, những vẫn vô sanh.  Ví như chân như khắp tất cả, thiện căn hồi hướng thần thông khắp các Phật độ trong thập phương tam thế.  Ví như chân như khắp ở đêm tối, thiện căn hồi hướng cũng phóng đại quang minh làm các Phật sự trong tất cả đêm tối.  Ví như chân như khắp trong ban ngày, thiện căn hồi hướng cũng làm cho chúng sanh nơi ban ngày thấy thần thông của Phật diễn pháp bất thối thanh tịnh ly cấu, không bỏ luống thời gian.  Ví như chân như khắp trong nửa tháng, nhẫn đến một tháng, thiện căn hồi hướng ở trong thời tiết thế gian cũng được phương tiện khéo, ở trong khoảng một niệm biết rõ tất cả thời gian.  Ví như chân như khắp trong năm tuổi, thiện căn hồi hướng trụ vô lượng kiếp cũng sáng suốt thành thục tất cả căn lành đều làm cho viên mãn cả.  Ví như chân như khắp cả kiếp thành, kiếp hoại, thiện căn hồi hướng trụ trong tất cả kiếp thanh tịnh vô nhiễm, giáo hóa chúng sanh đều làm cho thanh tịnh.  Ví như chân như cùng tận thuở vị lai, thiện căn hồi hướng cũng tột kiếp vị lai tu Bồ Tát hạnh, viên mãn đại nguyện trọn không thối chuyển.  Ví như chân như ở khắp tam thế, thiện căn hồi hướng khiến các chúng sanh trong một sát na thấy tam thế Phật, chưa từng có một niệm bỏ rời.  Ví như chân như khắp tất cả chỗ, thiện căn hồi hướng vượt khỏi ba cõi khắp tất cả nơi đều được tự tại.  Ví như chân như trụ nơi pháp hữu, pháp vô, thiện căn hồi hướng cũng rõ thấu tất cả pháp hữu, pháp vô rốt ráo thanh tịnh.  Ví như chân như thể tánh thanh tịnh, thiện căn hồi hướng cũng hay dùng phương tiện nhóm pháp trợ đạo, tu tập thanh tịnh tất cả hạnh Bồ Tát.  Ví như chân như thể tánh sáng sạch, thiện căn hồi hướng làm cho chư Bồ Tát đều được tam muội, tâm thanh tịnh sáng suốt.  Ví như chân như thể tánh vô cấu, thiện căn hồi hướng cũng xa lìa cấu nhiễm viên mãn tất cả những ý thanh tịnh.  Ví như chân như không ngã và ngã sở, thiện căn hồi hướng cũng dùng tâm thanh tịnh không ngã ngã sở, đầy khắp mười phương Phật độ.  Ví như chân như thể tánh bình đẳng, thiện căn hồi hướng cũng được nhất thiết trí bình đẳng, chiếu rõ các pháp lìa hẳn mê si.  Ví như chân như vượt ngoài số lượng, thiện căn hồi hướng đồng ở một chỗ với pháp tạng nhất thiết trí, nổi mây pháp rộng lớn khắp tất cả thế giới ở mười phương.  Ví như chân như an trụ bình đẳng, thiện căn hồi hướng cũng phát sanh tất cả hạnh Bồ Tát bình đẳng an trụ nơi đạo nhất thiết trí.  Ví như chân như trụ khắp trong tất cả chúng sanh giới, thiện căn hồi hướng đầy đủ nhất thiết chủng trí vô ngại đều hiện ở trước khắp chúng sanh giới.  Ví như chân như không có phân biệt, ở khắp trong tất cả trí âm thanh, thiện căn hồi hướng cũng đầy đủ tất cả trí ngôn âm, có thể hiển thị các thứ ngôn âm để giáo hóa chúng sanh.  Ví như chân như lìa hẳn thế gian, thiện căn hồi hướng cũng khiến khắp chúng sanh thoát hẳn thế gian.  Ví như chân như thể tánh rộng lớn, thiện căn hồi hướng cũng đều có thể thọ trì Phật pháp rộng lớn chẳng quên mất siêng tu tất cả hạnh Bồ Tát.  Ví như chân như không có xen dứt, thiện căn hồi hướng cũng như vậy, vì muốn để chúng sanh ở an nơi bậc đại trí, trong tất cả kiếp tu hạnh Bồ Tát không có xen dứt.  Ví như chân như thể tánh rộng rãi khắp tất cả pháp, thiện căn hồi hướng tịnh niệm vô ngại nhiếp khắp tất cả pháp môn rộng lớn.  Ví như chân như nhiếp khắp chúng sanh, thiện căn hồi hướng chứng được vô lượng trí tu tập hạnh Bồ Tát vi diệu chân thật.  Ví như chân như không có chấp trước, thiện căn hồi hướng đều không chấp lấy các pháp, trừ diệt tất cả sự chấp lấy của thế gian làm cho đều được thanh tịnh.  Ví như chân như thể tánh bất động, thiện căn hồi hướng an trụ nơi hạnh nguyện viên mãn của Phổ Hiền rốt ráo bất động.  Ví như chân như là cảnh giới của Phật, thiện căn hồi hướng làm cho chúng sanh đầy đủ cảnh giới nhất thiết trí, dứt cảnh phiền não đều khiến thanh tịnh.  Ví như chân như không gì chế phục được, thiện căn hồi hướng cũng vậy, không bị tất cả ma nghiệp, ngoại đạo, tà luận chế phục được.  Ví như chân như chẳng phải là có thể tu và không thể tu, thiện căn hồi hướng xa lìa tất cả vọng tưởng chấp trước, không phân biệt với tu và chẳng tu.  Ví như chân như không có lui bỏ, thiện căn hồi hướng thường thấy chư Phật phát tâm bồ đề, thệ nguyện rộng lớn trọn không lui bỏ.  Ví như chân như nhiếp khắp ngôn âm của tất cả thế gian, thiện căn hồi hướng có thể được tất cả ngôn âm sai khác, thần thông trí huệ phát ra tất cả ngôn từ.  Ví như chân như đối với tất cả pháp không chỗ mong cầu, thiện căn hồi hướng làm cho chúng sanh nương hạnh Phổ Hiền mà được xuất ly, đối với tất cả pháp không chút tham cầu.  Ví như chân như trụ nơi tất cả bậc thiện căn hồi hướng làm cho chúng sanh bỏ bậc thế gian mà trụ trí huệ, tự trang nghiêm với hạnh Phổ Hiền.  Ví như chân như không có đoạn tuyệt, thiện căn hồi hướng được vô úy đối với tất cả pháp, tùy theo âm thanh của mỗi loài, không ngớt diễn thuyết ở mọi nơi.  Ví như chân như xa lìa hữu lậu, thiện căn hồi hướng làm cho tất cả chúng sanh thành tựu pháp trí, rõ thấu các pháp viên mãn công đức bồ đề vô lậu.  Ví như chân như không có chút pháp gì làm hư hoại loạn động được một phần nhỏ, thiện căn hồi hướng làm cho chúng sanh tỏ ngộ tất cả pháp, tâm lượng rộng lớn trùm khắp pháp giới.  Ví như chân chư quá khứ chẳng phải khởi thủy, vị lai chẳng phải rốt sau, hiện tại chẳng phải đổi khác, thiện căn hồi hướng cũng vậy, vì tất cả chúng sanh mà luôn khởi phát tâm bồ đề làm cho tất cả thanh tịnh lìa hẳn sanh tử.  Ví như chân như không phân biệt đối với tam thế, thiện căn hồi hướng tâm thường giác ngộ trong hiện tại, nơi quá khứ và vị lai thảy đều thanh tịnh.  Ví như chân như thành tựu tất cả chư Phật và Bồ Tát, thiện căn hồi hướng phát khởi tất cả đại nguyện phương tiện thành tựu trí huệ rộng lớn của chư Phật.  Ví như chân như rốt ráo thanh tịnh không cùng chung với tất cả phiền não, thiện căn hồi hướng cũng hay diệt tất cả phiền não của chúng sanh, làm cho viên mãn tất cả trí huệ thanh tịnh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc hồi hướng như vậy, thời được thế này:  Vì trang nghiêm thanh tịnh khắp tất cả thế giới nên được tất cả cõi Phật bình đẳng.  Vì khắp chuyển pháp luân vô ngại nên được tất cả chúng sanh bình đẳng.  Vì khắp phát tất cả trí nguyện nên được tất cả Bồ Tát bình đẳng.  Vì quan sát chư Phật thể tánh vô nhị nên được tất cả chư Phật bình đẳng.  Vì biết khắp các pháp tánh thể không đổi dời nên được tất cả pháp bình đẳng.  Vì dùng trí phương tiện khéo hiểu tất cả ngữ ngôn nên được tất cả thế gian bình đẳng.  Vì tùy theo các thứ thiện căn đều hồi hướng hết cả nên được tất cả Bồ Tát bình đẳng.  Vì siêng tu hành Phật sự trong tất cả thời gian không ngớt hở nên được tất cả thời gian bình đẳng.  Vì nơi các thiện căn thế gian và xuất thế đều không nhiễm trước và đều rốt ráo nên được tất cả nghiệp quả bình đẳng.  Vì tùy thuận thế gian hiện Phật sự nên được tất cả thần thông tự tại của Phật bình đẳng.
Chư Phật tử!  Đây là đại Bồ Tát chân như tướng hồi hướng thứ tám.
Đại Bồ Tát trụ nơi bậc hồi hướng này chứng được vô lượng pháp môn thanh tịnh, có thể làm Như Lai đại sư tử hống tự tại vô úy, dùng thiện phương tiện giáo hóa thành tựu vô lượng Bồ Tát khắp trong tất cả thời gian không ngừng nghỉ.  Được vô lượng thân viên mãn của Phật, mỗi thân bao khắp tất cả thế giới.  Được vô lượng âm thanh viên mãn của Phật, mỗi âm thanh khai ngộ tất cả chúng sanh.  Được vô lượng sức viên mãn của Phật, trong mỗi chân lông có thể dung nạp khắp tất cả cõi nước.  Được vô lượng thần thông viên mãn của Phật, để các chúng sanh trong một vi trần.  Được vô lượng giải thoát viên mãn của Phật, nơi thân một chúng sanh thị hiện tất cả cảnh giới của chư Phật thành vô thượng giác.  Được vô lượng tam muội viên mãn của Phật, trong mỗi tam muội có thể hiện khắp tất cả tam muội.  Được vô lượng biện tài viên mãn của Phật, diễn nói một câu pháp cùng tận kiếp vị lai vẫn không hết, trừ sạch tất cả sự nghi lầm của chúng sanh.  Được đủ mười trí lực của Phật, thị hiện thành chánh giác khắp chúng sanh giới.
Chư Phật tử!  Đây là đại Bồ Tát đem tất cả thiện căn thuận theo chân như tướng mà hồi hướng."
Bấy giờ, Kim Cang Tràng Bồ Tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương mà nói kệ rằng:
Bồ Tát chí nguyện thường an trụ
Chánh niệm kiên cố lìa mê lầm
Tâm ngài lành mềm luôn sạch mát
Chứa nhóm vô biên hạnh công đức.
Bồ Tát khiêm thuận không trái nghịch
Bao nhiêu chí nguyện đều thanh tịnh
Đã được trí huệ quang minh lớn
Khéo hay soi rõ tất cả nghiệp.
Bồ Tát tư duy hạnh rộng lớn
Các thứ sai biệt rất hy hữu
Ý quyết tu hành không thối chuyển
Dùng đây lợi ích các quần sanh
Những hạnh sai khác vô lượng thứ
Bồ Tát tất cả đều siêng tu
Tuỳ thuận chúng sanh chẳng trái ý
Khiến họ tâm tịnh sanh hoan hỷ.
Đã lên bậc Điều Ngự tôn quý
Lìa những nhiệt não tâm vô ngại
Nơi pháp nơi nghĩa đều khéo biết
Vì lợi chúng sanh mà siêng học.
Bồ Tát tu hành những hạnh lành
Vô lượng vô số hạnh sai khác
Nơi đó tất cả đều biết rõ
Vì lợi quần sanh nên hồi hướng
Dùng diệu trí huệ thường quán sát
Lý chân thật rộng lớn rốt ráo
Dứt hết hữu lậu không để thừa
Như chân như kia, khéo hồi hướng.
Ví như chân như khắp tất cả
Nhiếp khắp thế gian cũng như vậy
Bồ Tát dùng tâm hồi hướng này
Đều khiến chúng sanh không chấp trước.
Nguyện lực Bồ Tát khắp tất cả
Ví như chân như đâu cũng có
Hoặc thấy chẳng thấy, niệm đều cùng
Trọn đem công đức mà hồi hướng.
An trụ trong đêm, ngày cũng trụ
Nửa tháng, một tháng cũng an trụ
Cũng đều trụ trong năm cùng kiếp
Chân như dường ấy, hạnh cũng vậy.
Tất cả thời gian và không gian
Tất cả chúng sanh và các pháp
Đều trọn trong đó, nhưng vô trụ
Dùng hạnh như vậy mà hồi hướng.
Ví như tự tánh của chân như
Bồ Tát phát tâm cũng như vậy
Chân như ở đâu nguyện ở đó
Dùng hạnh như vậy mà hồi hướng
Ví như tự tánh của chân như
Trong đó chưa từng có một pháp
Chẳng được tự tánh là chân tánh
Đem hạnh như vậy mà hồi hướng.
Như tướng chân như, hạnh cũng vậy
Như tánh chân như, hạnh cũng vậy
Như tánh chân như vốn chân thật
Hạnh cũng như vậy đồng chân như.
Ví như chân như không ngằn mé
Hạnh cũng như vậy không có ngằn
Nhưng ở trong đó không chấp trước
Thế nên hạnh này được thanh tịnh.
Bồ Tát trí huệ lớn như vậy
Chí nguyện kiên cố không động lay
Dùng sức trí huệ khéo thông đạt
Vào tạng phương tiện của chư Phật.
Giác ngộ pháp vương pháp chân thật
Trong đó không chấp cũng không lấy
Vô ngại tự tại tâm như vậy
Chưa từng thấy có một pháp sanh.
Pháp thân Như Lai hiển công hạnh
Tất cả thế gian như tướng đó
Nói các pháp tướng đều vô tướng
Biết tướng như vậy là biết pháp.
Bồ Tát trụ cảnh bất tư nghì
Trong đó tư nghì chẳng hết được
Vào chỗ bất khả tư nghì này
Tư và phi tư đều vắng bặt.
Tư duy phát tánh như thế ấy
Rõ thấu tất cả nghiệp sai biệt
Bao nhiêu ngã chấp đều diệt trừ
Trụ nơi công đức không bị động.
Những nghiệp quả báo của Bồ Tát
Đều được vô tận tri ấn khả
Tự tánh vô tận như vậy hết
Vô tận phương tiện cũng dứt diệt.
Bồ Tát quán tâm chẳng ở ngoài
Cũng lại chẳng được thấy ở trong
Biết tâm tánh kia vốn không có
Ngã pháp đều lìa trọn tịch diệt
Các Phật tử kia biết như vậy
Tất cả pháp tánh thường trống lặng
Không có một pháp hay tạo tác
Đồng với chư Phật ngộ vô ngã.
Rõ biết tất cả các thế gian
Cùng chân như tánh tướng bình đẳng
Thấy tướng bất khả tư nghì này
Đây thời hay biết pháp vô tướng.
Nếu hay trụ pháp thậm thâm này
Thường thích tu hành hạnh Bồ Tát
Vì muốn lợi ích các quần sanh
Nguyện lớn trang nghiêm không thối chuyển
Đây thời vượt hơn nơi thế gian
Tất cả đều từ nghiệp duyên được
Vì muốn cứu độ tu các hạnh
Nhiếp khắp ba cõi không ai sót
Rõ biết chúng sanh loại sai khác
Đều là tưởng hành mà phân biệt
Quán sát nơi đây đều rõ ràng
Mà chẳng hư hoại tánh các pháp
Bậc trí rõ biết các Phật pháp
Đem hạnh như vậy mà hồi hướng
Thương xót tất cả các chúng sanh
Khiến tánh tư duy nơi thật pháp.

(Phần dưới tiếp theo)

Hán bộ quyển thứ 31


"Chư Phật tử!  Thế nào là đại Bồ Tát vô trước vô phược giải thoát hồi hướng?
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này sanh lòng tôn trọng đối với tất cả thiện căn, như là:  Lòng tôn trọng với sự thoát khỏi sanh tử.  Lòng tôn trọng với sự nhiếp thủ tất cả căn lành.  Lòng tôn trọng với sự mong cầu tất cả căn lành.  Lòng tôn trọng với sự ăn năn tội lỗi.  Lòng tôn trọng với sự tùy hỷ căn lành.  Lòng tôn trọng với sự lễ kính chư Phật.  Lòng tôn trọng với sự chắp tay cung kính.  Lòng tôn trọng với sự đảnh lẽ tháp miếu.  Lòng tôn trọng với sự khuyến thỉnh đức Phật thuyết pháp.  Với những thiện căn như vậy, Bồ Tát đều tôn trọng tùy thuận bằng lòng.
Chư Phật tử!  Lúc đại Bồ Tát sanh lòng tôn trọng đối với những thiện căn thời tín giải kiên cố, rất mực mừng vui, tự mình được an trụ và làm cho người khác được an trụ, siêng tu không chấp trước, tự tại chứa nhóm công đức, trọn nên chí nguyện thù thắng, ở cảnh giới Như Lai thêm lớn thế lực, đều được thấy biết.
Đại Bồ Tát đem các căn lành hồi hướng như vầy:  Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát để thành tựu thân nghiệp, ngữ nghiệp, ý nghiệp của Phổ Hiền.  Cũng dùng tâm này để phát khởi hạnh tinh tấn rộng lớn của Phổ Hiền, để đầy đủ môn đà la ni âm thanh vô ngại của Phổ Hiền, âm thanh này vang lớn khắp đến mười phương, cũng để đầy đủ môn đà la ni thấy tất cả Phật của Phổ Hiền, thường thấy tất cả chư Phật ở mười phương.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát thành tựu môn đà la ni hiểu rõ tất cả âm thanh, đồng tất cả âm thanh thuyết vô lượng pháp.  Dùng tâm này để thành tựu môn đà la ni trụ tất cả kiếp của Phổ Hiền, tu hạnh Bồ Tát khắp mười phương.
Dùng tâm này để thành tựu sức tự tại của Phổ Hiền, ở trong thân một chúng sanh thị hiện tu tất cả hạnh Bồ Tát cùng tận kiếp vị lai không xen dứt, như nơi thân của một chúng sanh, trong tất cả thân chúng sanh cũng như vậy.
Dùng tâm này để thành tựu sức tự tại của Phổ Hiền vào khắp tất cả đạo tràng, hiện ở khắp trước tất cả chư Phật mà tu hạnh Bồ Tát.
Dùng tâm này để thành tựu sức Phật tự tại của Phổ Hiền, ở trong một thị hiện trải qua bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp trọn không cùng tận, làm cho tất cả chúng sanh đều được ngộ nhập.  Như trong một môn, trong tất cả môn thị hiện cũng như vậy, hiện thân ở khắp trước tất cả chư Phật.
Dùng tâm này để thành tựu sức tự tại của Phổ Hiền, trong mỗi niệm làm cho bất khả thuyết bất khả thuyết chúng sanh trụ nơi mười trí lực, không hề mệt mỏi.
Dùng tâm này để thành tựu sức tự tại của Phổ Hiền, trong thân của tất cả chúng sanh hiện tất cả thần thông tự tại của Phật, làm cho tất cả chúng sanh trụ hạnh Phổ Hiền.  Cũng để thành tựu sức tự tại của Phổ Hiền, ở trong ngữ ngôn của tất cả chúng sanh làm ra tất cả ngữ ngôn, cho tất cả chúng sanh đều trụ nơi bậc nhất thiết trí.  Cũng để thành tựu sức tự tại của Phổ Hiền, ở trong thân mỗi chúng sanh dung nạp tất cả thân chúng sanh, khiến họ đều tự cho là trọn nên thân Phật.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát này để thành tựu sức tự tại của Phổ Hiền, có thể dùng một cái bông để trang nghiêm tất cả thế giới ở  mười phương.
Dùng tâm này để thành tựu sức thiện tri thức của Phổ Hiền phát âm thanh lớn khắp pháp giới tất cả cõi Phật đều nghe, nhiếp thọ điều phục tất cả chúng sanh.
Dùng tâm giải thoát vô trước vô phược để thành tựu sức tự tại của Phổ Hiền, cùng tận thuở vị lai bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp, trong mỗi niệm đều có thể vào khắp tất cả thế giới dùng Phật thần lực mà trang nghiêm tùy ý.  Cùng dùng đây để thị hiện thành Phật xuất thế.  Cũng dùng đây để thành tựu Phổ Hiền, một tia sáng chiếu khắp tất cả thế giới.  Cũng dùng tâm này để thành tựu hạnh Phổ Hiền, được vô lượng trí huệ tất cả thần thông diễn thuyết các pháp.
Dùng tâm giải thoát vô trước vô phược để thành tựu hạnh Phổ Hiền vào vô lượng thần thông trí huệ bất tư nghì của Phật suốt tất cả kiếp.  Cũng dùng tâm này để thành tựu hạnh Phổ Hiền, ở khắp pháp giới, chỗ của chư Phật, dùng thần lực Phật để tu tập tất cả hạnh Bồ Tát, thân, khẩu, ý không hề mỏi nhọc.  Cũng dùng tâm này để thành tựu hạnh Phổ Hiền:  Chẳng trái nghĩa, chẳng hoại pháp, biện tài vô tận, lời nói đều thanh tịnh, giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh, làm cho họ đều được vô thượng bồ đề.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát tu hạnh Phổ Hiền, lúc chứng nhập một pháp môn liền phóng vô lượng quang minh chiếu thấu tất cả bất tư nghì pháp môn.  Như chứng nhập môn pháp môn, tất cả pháp môn cũng như vậy, đều thông đạt vô ngại, rốt ráo sẽ được bậc nhất thiết trí.
Dùng tâm giải thoát vô trước vô phược trụ hạnh Bồ Tát tự tại đối với các pháp, đến nơi cảnh tự tại trang nghiêm của Phổ Hiền, nơi mỗi cảnh giới đều dùng nhất thiết trí quan sát chứng nhập nhưng nhất thiết trí vẫn không cùng tận.  Dùng tâm giải thoát vô trước vô phược, từ đời này đến cùng tận thuở vị lai an trụ nơi hạnh Phổ Hiền thường không xen hở, được nhất thiết trí, ngộ bất khả thuyết bất khả thuyết pháp chân thiệt, đối với các pháp đều rốt ráo không còn mê lầm.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát tu hạnh Phổ Hiền, phương tiện tự tại được pháp quang minh, đối với công hạnh của Bồ Tát tu đều rành rẽ vô ngại.  Cũng dùng tâm này tu hạnh Phổ Hiền, được phương tiện trí biết tất cả phương tiện, như là:  Phương tiện vô lượng, phương tiện bất tư nghì, phương tiện Bồ Tát, phương tiện nhất thiết trí, phương tiện điều phục của tất cả Bồ Tát, phương tiện chuyển vô lượng pháp luân, phương tiện bất khả thuyết, phương tiện diễn nói các pháp, phương tiện vô biên tế vô uý tạng, phương tiện diễn nói đủ tất cả pháp.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát an trụ hạnh Phổ Hiền thành tựu thân nghiệp, khiến tất cả chúng sanh đều hoan hỷ khi được thấy, chẳng sanh lòng chê, do đây họ phát tâm bồ đề trọn không thối chuyển rốt ráo thanh tịnh.  Cũng dùng tâm này tu hạnh Phổ Hiền, được trí thanh tịnh hiểu rõ tất cả ngôn ngữ của chúng sanh, tất cả lời nói ra đều đầy đủ và trang nghiêm, ứng hiệp với khắp chúng sanh đều làm cho họ vui mừng.  Cũng dùng tâm này an trụ nơi hạnh Phổ Hiền, lập chí thù thắng, đủ tâm thanh tịnh, được thần thông rộng lớn, trí huệ rộng lớn, đến khắp tất cả thế gian rộng lớn, cõi nước rộng lớn, chúng sanh rộng lớn, diễn nói vô lượng pháp rộng lớn và tạng trang nghiêm viên mãn của Như Lai.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát thành tựu viên mãn hạnh nguyện hồi hướng của Phổ Hiền, được thân Phật thanh tịnh, tâm thanh tịnh, hiểu biết thanh tịnh, công đức thanh tịnh ở cảnh giới Phật, trí huệ chiếu khắp, thị hiện côn nghiệp thanh tịnh của Bồ Tát, khéo vào tất cả cú nghĩa sai biệt, vì tất cả chúng sanh thị hiện thành chánh giác.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát siêng tu thiện căn hạnh nguyện Phổ Hiền được thiện căn thông lợi, căn điều thuận, căn tất cả pháp tự tại, căn vô tận, căn siêng tu tất cả căn lành, căn cảnh giới bình đẳng của tất cả Phật, căn đại tinh tấn thọ ký tất cả Bồ Tát bất thối chuyển, căn kim cang giới rõ biết tất cả Phật pháp, căn kim cang diệm trí huệ quang minh của tất cả Phật, căn tự tại phân biệt tất cả căn, căn an lập vô lượng chúng sanh nơi nhất thiết trí, căn rộng lớn vô biên, căn viên mãn tất cả, căn thanh tịnh vô ngại.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát tu hạnh Phổ Hiền được tất cả thần lực của Bồ Tát.  Như là: Thần lực vô lượng quảng đại lực, thần lực vô lượng tự tại trí, thần lực hiện ở khắp cõi Phật mà thân chẳng động, thần lực tự tại vô ngại chẳng dứt, thần lực nhiếp khắp tất cả cõi Phật để ở một chỗ, thần lực một thân khắp đầy tất cả cõi Phật, thần lực giải thoát du hí vô ngại, thần lực nhất niệm tự tại vô tác, thần lực trụ vô tánh vô y, thần lực thứ tự đặt để bất khả thuyết thế giới trong một chân lông đi khắp đạo tràng của chư Phật trong pháp giới giáo hóa chúng sanh đều làm cho được vào môn trí huệ.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát vào môn Phổ Hiền sanh hạnh Bồ Tát, dùng trí tự tại trong khoảng một niệm vào khắp vô lượng cõi Phật, một thân dung thọ vô lượng nước Phật, được trí hay trang nghiêm thanh tịnh vô lượng Phật quốc, thường dùng trí huệ xem thấy vô biên Phật độ, vĩnh viễn chẳng khởi tâm nhị thừa.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát tu hạnh phương tiện Phổ Hiền vào cảnh giới trí huệ, sanh vào nhà Phật, trụ đạo Bồ Tát, đầy đủ bất khả thuyết bất khả thuyết vô lượng tâm thù thắng bất tư nghì, thực hành vô lượng nguyện luôn không dứt, rõ biết tất cả pháp giới suốt ba đời.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát thành tựu pháp môn thanh tịnh Phổ Hiền, nơi một chân lông bao dung tất cả tận hư không biến pháp giới bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới đều làm cho mọi người thấy rõ, như nơi một chân lông, nơi tất cả chân lông mỗi mỗi cũng đều như vậy.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát thành tựu phương tiện thâm tâm Phổ Hiền, trong khoảng một niệm hiện bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp niệm tâm của một chúng sanh, nhẫn đến hiện ngần ấy kiếp niệm tâm của tất cả chúng sanh cũng như vậy.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát vào bậc phương tiện hồi hướng Phổ Hiền, ở trong một thân đều có thể bao nạp tận pháp giới bất khả thuyết bất khả thuyết, nhưng chúng sanh giới không hề tổn giảm, nhẫn đến tất cả thân khắp pháp giới mỗi mỗi dung nạp cũng đều như vậy.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát, thành tựu đại nguyện phương tiện Phổ Hiền, lìa bỏ tất cả tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo vào khắp cảnh giới của chư Phật, thường thấy pháp thân thanh tịnh của chư Phật đồng hư không giới, tướng tốt trang nghiêm thần thông tự tại, thường dùng diệu âm khai thị diễn thuyết không ngại không dứt, khiến người nghe thọ trì đúng pháp, đối với thân Như Lai rõ biết là vô sở đắc.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát tu hạnh Phổ Hiền, trụ bậc Bồ Tát, nơi trong một niệm vào tất cả thế giới.  Như là vào thế giới ngửa, thế giới úp, thế giới rộng lớn bất khả thuyết bất khả thuyết như lưới giăng khắp tất cả mười phương.  Dùng phương tiện phân biệt nhân đà la võng phân biệt khắp tất cả pháp giới, đem các thế giới vào một thế giới, đem bất khả thuyết bất khả thuyết vô lượng thế giới vào một thế giới, đem tất cả pháp giới an lập vô lượng thế giới vào một thế giới, đem tất cả hư không giới an lập vô lượng thế giới vào một thế giới, những vẫn không hư hoại tướng an lập, đều làm cho được thấy rõ.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát tu tập hạnh nguyện Phổ Hiền, được Phật quán đảnh, ở trong một niệm vào bậc phương tiện thành tựu viên mãn trí an trụ các hạnh, có thể rõ biêt cả các thứ tâm tưởng, như là:  Tưởng chúng sanh, tưởng pháp, tưởng cõi, tưởng phương, tưởng Phật, tưởng thế, tưởng nghiệp, tưởng hành, tưởng giới, tưởng giải, tưởng căn, tưởng thời, tưởng trì, tưởng phiền não, tưởng thanh tịnh, tưởng thành thục, tưởng thấy Phật, tưởng chuyển phát luân, tưởng nghe pháp hiểu rõ, tưởng điều phục, tưởng vô lượng, tưởng xuất ly, tưởng các thứ bậc, tưởng vô lượng bậc, tưởng Bồ Tát rõ biết, tưởng Bồ Tát tu tập, tưởng Bồ Tát tam muội, tưởng Bồ Tát tam muội khởi, tưởng Bồ Tát thành, tưởng Bồ Tát hoại, tưởng Bồ Tát sanh, tưởng Bồ Tát diệt, tưởng Bồ Tát giải thoát, tưởng Bồ Tát tự tại, tưởng Bồ Tát trụ trì, tưởng Bồ Tát cảnh giới, tưởng kiếp thành, hoại, tưởng sáng, tưởng tối, tưởng ngày, tưởng đêm, tưởng nửa tháng, một tháng, một giờ, một năm biến khác, tưởng đi, tưởng đến, tưởng đứng, tưởng ngồi, tưởng ngủ, tưởng thức.  Các thứ tưởng như vậy, trong khoảng một niệm đều có thể rõ biết cả, nhưng vẫn lìa tất cả tưởng không hề phân biệt, dứt tất cả chướng, không hề chấp trước, Phật trí tràn đầy nơi tâm, Phật pháp làm lớn căn lành, đồng một thân với chư Phật, được tất cả chư Phật nhiếp thọ ly cấu thanh tịnh, với tất cả Phật pháp đều tu học theo đến bờ đại giác.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát vì tất cả chúng sanh mà tu hạnh Phổ Hiền sanh trí huệ lớn, ở trong mỗi tâm biết vô lượng tâm, tuỳ theo chỗ y chỉ, chỗ phân biệt, những chủng tánh, sự tạo tác, các nghiệp dụng, những tướng tạng, chỗ tư giác, các loại chẳng đồng của tâm đều thấy rõ cả.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát thành tựu nguyện trí lớn Phổ Hiền, ở trong một chỗ biết bất khả thuyết vô lượng chỗ, ở trong tất cả chỗ cũng rõ biết như vậy.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát tu tập hạnh nghiệp trí địa Phổ Hiền ở trong một nghiệp có thể biết bất khả thuyết vô lượng nghiệp.  Thấy rõ những nghiệp đó đều do các nhân duyên tạo thành.  Ở trong tất cả nghiệp cũng đều rõ biết như vậy.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát tu tập biết tất cả pháp của Phổ Hiền, ở trong một pháp biết bất khả thuyết vô lượng pháp, ở trong vô lượng pháp biết một pháp, các pháp đó đều sai khác, không chướng ngại, không trái, không dính mắc.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát an trụ nơi hạnh Bồ Tát được trọn vẹn nhĩ căn vô ngại của Phổ Hiền, ở trong một ngôn âm nhiều loại sai khác nhưng vẫn không chấp trước.  Nơi tất cả ngôn âm cũng đều như vậy.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát tu trí Phổ Hiền, khởi hạnh Phổ Hiền, trụ bậc Phổ Hiền ở trong mỗi mỗi pháp diễn nói bất khả thuyết vô lượng pháp, những pháp đó rộng lớn vô lượng sai khác giáo hóa nhiếp thọ tương ứng với phương tiện bất tư nghì.  Nơi vô lượng thời gian, tất cả thời gian, tùy theo chỗ ưa thích, chỗ hiểu biết, theo căn, theo thời của chúng sanh mà dùng âm thanh của Phật để thuyết pháp cho họ.  Dùng âm thanh vi diệu làm cho vô lượng chúng sanh trong vô lượng đạo tràng đều hoan hỷ.  Ở chỗ chư Phật vô lượng Bồ Tát dẫy đầy pháp giới mà lập chí thù thắng, sanh tri kiến rộng lớn, rõ biết rốt ráo tất cả hạnh, trụ bậc Phổ Hiền, tuỳ chỗ thuyết pháp, trong mỗi niệm đều chứng nhập được cả.  Trong khoảng một sát na thêm lớn vô lượng bất khả thuyết bất khả thuyết trí huệ lớn, thuyết pháp suốt thuở vị lai không cùng tận.  Trong tất cả cõi tu tập hạnh rộng lớn đồng hư không, đều thành tựu viên mãn.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát tu tập những căn hạnh Phổ Hiền thành vua Đại Hạnh.  Ở trong mỗi mỗi căn, đều có thể rõ biết vô lượng căn, vô lượng tâm sở thích, diệu hạnh từ cảnh giới bất tư nghì phát sanh.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát an trụ nơi tâm đại hồi hướng Phổ Hiền hạnh, được trí huệ rõ thấu sắc thậm vi tế, thân thậm vi tế, cõi thậm vi tế, thế thậm vi tế, phương thậm vi tế, thời thậm vi tế, số thậm vi tế, nghiệp báo thậm vi tế, thanh tịnh thậm vi tế.  Tất cả những thứ thậm vi tế như vậy, trong khoảng một niệm đều rõ biết cả mà không lòng kinh sợ, chẳng mê lầm, chẳng tán loạn, chẳng nhiễm nhơ, chẳng ty liệt.  Tâm vẫn duyên nơi một, khéo tịch định, khéo phân biệt, khéo an trụ.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát an trụ nơi trí Bồ Tát, tu hạnh Phổ Hiền không hề mỏi nhọc, có thể tất cả chúng sanh thú rất vi tế, chúng sanh tử rất vi tế, chúng sanh sanh rất vi tế, chúng sanh trụ rất vi tế, chúng sanh xứ rất vi tế, chúng sanh phẩm loại rất vi tế, chúng sanh cảnh giới rất vi tế, chúng sanh hạnh rất vi tế, chúng sanh thủ trước rất vi tế, chúng sanh phan duyên rất vi tế.  Chúng sanh giới rất vi tế như vậy, trong khoảng một niệm đều biết rõ cả.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát lập chí nguyện sâu tu hạnh Phổ Hiền, có thể biết tất cả Bồ Tát từ sơ phát tâm vì tất cả chúng sanh mà tu hạnh Bồ Tát rất vi tế, Bồ Tát trụ xứ rất vi tế, Bồ Tát thần thông rất vi tế, Bồ Tát du hành vô lượng cõi Phật rất vi tế.  Bồ Tát pháp quang minh rất vi tế, Bồ Tát thanh tịnh nhãn rất vi tế, Bồ Tát thành tựu tâm thù thắng rất vi tế, Bồ Tát qua đến đạo tràng của chư Phật rất vi tế, Bồ Tát đà la ni môn trí rất vi tế, Bồ Tát biện tài vô úy diễn thuyết rất vi tế, Bồ Tát vô lượng tam muội tướng rất vi tế, Bồ Tát trí thấy tam muội của chư Phật rất vi tế, Bồ Tát trí tam muội thậm thâm rất vi tế, Bồ Tát trí tam muội đại trang nghiêm rất vi tế, Bồ Tát pháp giới trí tam muội rất vi tế, Bồ Tát trí tam muội thần thông tự tại rất vi tế, Bồ Tát trí tam muội trụ trì hạnh rộng lớn cùng tận thuở vị lai rất vi tế, Bồ Tát trí xuất sanh vô lượng tam muội sai khác rất vi tế, Bồ Tát trí tam muội xuất sanh ra trước chư Phật siêng tu tập cúng dường luôn chẳng bỏ rời rất vi tế, Bồ Tát tu hành tất cả trí tam muội thậm thâm rộng rãi không chướng, không ngại rất vi tế, Bồ Tát rốt ráo trí tam muội lìa che chướng nhất thiết trí địa, trụ trì hạnh trí địa, đại thần thông địa, quyết định nghĩa địa rất vi tế.  Tất cả những sự vi tế như vậy đều có thể biết rõ.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát tu hạnh Phổ Hiền, biết trí an lập của Bồ Tát rất vi tế, Bồ Tát địa rất vi tế, Bồ Tát hạnh rất vi tế, Bồ Tát xuất sanh hồi hướng rất vi tế, Bồ Tát được Phật tạng rất vi tế, Bồ Tát quan sát trí rất vi tế, Bồ Tát thần thông nguyện lực rất vi tế, Bồ Tát diễn thuyết tam muội rất vi tế, Bồ Tát tự tại phương tiện rất vi tế, Bồ Tát ấn rất vi tế, Bồ Tát nhất sanh bổ xứ rất vi tế, Bồ Tát sanh Đâu Suất Thiên rất vi tế, Bồ Tát ở thiên cung rất vi tế, Bồ Tát nghiêm tịnh Phật độ rất vi tế, Bồ Tát quan sát nhân gian rất vi tế, Bồ Tát phóng đại quang minh rất vi tế, Bồ Tát chủng tộc thù thắng rất vi tế, Bồ Tát đạo tràng chúng hội rất vi tế, Bồ Tát thọ sanh khắp tất cả thế giới rất vi tế, Bồ Tát nơi một thân thị hiện tất cả thân mạng chung rất vi tế, Bồ Tát vào thai mẹ rất vi tế, Bồ Tát trụ thai mẹ rất vi tế, Bồ Tát ở trong thai mẹ tự tại thị hiện đạo tràng chúng hội khắp pháp giới rất vi tế, Bồ Tát ở trong thai mẹ thị hiện Phật thần lực rất vi tế, Bồ Tát thị hiện đản sanh rất vi tế, Bồ Tát dũng trí đi bảy bước sư tử rất vi tế, Bồ Tát trí phương tiện thị hiện ở vương cung rất vi tế, Bồ Tát xuất gia tu hạnh điều phục rất vi tế, Bồ Tát tọa đạo tràng dưới cội bồ đề rất vi tế, Bồ Tát phá ma quân thành vô thượng chánh giác rất vi tế, đức Như Lai ngồi tòa bồ đề phóng đại quang minh chiếu khắp cõi nước mười phương rất vi tế, đức Như Lai thị hiện vô lượng thần biến rất vi tế, đức Như Lai sư tử hống đại niết bàn rất vi tế, đức Như Lai điều phục tất cả chúng sanh mà vẫn vô ngại rất vi tế, đức Như Lai sức tự tại bất tư nghì tâm bồ đề như kim cang rất vi tế, đức Như Lai hộ niệm khắp tất cả thế gian rất vi tế, đức Như Lai ở khắp tất cả thế giới làm Phật sự tột kiếp vị lai không thôi nghỉ rất vi tế, đức Như Lai thần lực vô ngại cùng khắp pháp giới rất vi tế, đức Như Lai hiện thành Phật khắp pháp giới hư không giới điều phục chúng sanh rất vi tế, đức Như Lai nơi một thân Phật hiện vô lượng thân Phật rất vi tế, đức Như Lai trí huệ tự tại đều ngự đạo tràng suốt quá khứ, vị lai, hiện tại rất vi tế.
Những sự vi tế như vậy Bồ Tát đều có thể rõ biết cả và đều thành tựu thanh tịnh, có thể thị hiện khắp tất cả thế gian, nơi trong mỗi niệm thêm lớn trí huệ, viên mãn phương tiện thiện xảo bất thối, tu hạnh Bồ Tát không thôi nghỉ, thành tựu bậc Phổ Hiền hồi hướng, đầy đủ tất cả công đức của Như Lai, trọn chẳng nhàm bỏ hạnh Bồ Tát, xuất sanh vô lượng phương tiện cảnh giới, hiện tiền của Bồ Tát thảy đều thanh tịnh, muốn an ổn khắp tất cả chúng sanh tu hạnh Bồ Tát, thành tựu bậc Bồ Tát có oai đức lớn, được tâm nguyện của Bồ Tát, được môn kim cang tràng hồi hướng, xuất sanh tạng pháp giới công đức, thường được chư Phật hộ niệm, vào pháp môn thâm diệu của Bồ Tát, diễn nói tất cả nghĩa chân thật thiện xảo đối với các pháp không hề sai lỗi, khởi thệ nguyện lớn chẳng bỏ chúng sanh, trong khoảng một niệm biết hết tất cả tạng giới là tâm địa hay chẳng phải tâm địa, nơi chỗ chẳng phải tâm thị hiện sanh ra tâm, xa lìa ngôn ngữ mà an trụ nơi trí huệ, đồng hạnh với chư Bồ Tát, dùng sức tự tại thị hiện thành Phật đạo, tột thuở vị lai luôn không thôi nghỉ.  Tất cả thế gian chúng sanh kiếp số do ngôn thuyết vọng tưởng kiến lập, Bồ Tát dùng thần thông nguyện lực đều có thể thị hiện.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát tu hạnh Phổ Hiền được trí rõ biết tất cả chúng sanh giới rất vi tế.  Những là: Trí rất vi tế biết sự phân biệt của chúng sanh giới, trí rất vi tế biết ngôn thuyết của chúng sanh giới, trí rất vi tế biết sự chấp trước của chúng sanh giới, trí rất vi tế biết dị loại của chúng sanh giới, trí rất vi tế biết đồng loại của chúng sanh giới, trí rất vi tế biết vô lượng thú của chúng sanh giới, trí rất vi tế biết các thứ phân biệt tạo tác bất tư nghì của chúng sanh giới, trí rất vi tế biết vô lượng tạp nhiễm của chúng sanh giới, trí rất vi tế biết vô lượng thanh tịnh của chúng sanh giới.
Tất cả cảnh giới rất vi tế của chúng sanh giới như vậy, trong khoảng một niệm, Bồ Tát dùng trí huệ đều có thể biết như thật, nhiếp khắp chúng sanh mà thuyết pháp cho họ, khai thị những pháp môn thanh tịnh, khiến họ tu tập trí huệ rộng lớn của Bồ Tát, hóa thân vô lượng ai thấy cũng đều hoan hỷ.  Dùng trí nhật quang chiếu tâm Bồ Tát làm cho khai ngộ trí huệ tự tại.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát, vì tất cả chúng sanh tu hạnh Phổ Hiền nơi tất cả thế giới, được trí rất vi tế biết tột hư khôn giới pháp giới tất cả thế giới.  Những là:  Trí rất vi tế biết tiểu thế giới, trí rất vi tế biêt đại thế giới, trí rất vi tế biết thế giới tạp nhiễm, trí rất vi tế biết thế giới thanh tịnh, trí rất vi tế biết vô tỷ thế giới, trí rất vi tế biết các loại thế giới, trí rất vi tế biết thế giới rộng, trí rất vi tế biết hẹp, trí rất vi tế biết thế giới vô ngại trang nghiêm, trí rất vi tế biết Phật xuất hiện khắp tất cả thế giới, trí rất vi tế thuyết chánh pháp khắp tất cả thế giới, trí rất vi tế hiện thân khắp tất cả thế giới, trí rất vi tế phóng đại quang minh chiếu khắp tất cả thế giới, trí rất vi tế thị hiện Phật tự tại thần thông khắp tất cả thế giới, trí rất vi tế dùng một âm thanh hiển thị tất cả âm thanh khắp tất cả thế giới, trí rất vi tế vào tất cả đạo tràng của chư Phật khắp tất cả thế giới, trí rất vi tế đem tất cả Phật độ trong pháp giới làm một Phật độ, trí rất vi tế đem một Phật độ làm tất cả Phật độ trong pháp giới, trí rất vi tế biết tất cả thế giới như giấc mộng, trí rất vi tế biết tất cả thế giới như ảnh tượng, trí rất vi tế biết tất cả thế giới như huyễn hóa.
Bồ Tát rõ biết xuất sanh tất cả đạo Bồ Tát như vậy, chứng nhập công hạnh trí huệ thần thông Phổ Hiền, được Phổ Hiền quán, tu Bồ Tát hạnh luôn không thôi nghỉ, được tất cả thần biến tự tại của Phật, được thân vô ngại trụ nơi trí vô y, không thủ trước nơi các pháp lành, tâm có phát sanh đều vô sở đắc, có tưởng niệm xa lìa đối với tất cả chỗ, nơi hạnh Bồ Tát có quan niệm tịnh tu, nơi nhất thiết trí không quan niệm thủ chấp, dùng các môn tam muội mà tự trang nghiêm, trí huệ tùy thuận tất cả pháp giới.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát vào hạnh môn Phổ Hiền, Bồ Tát được trí rất vi tế biết vô lượng pháp giới, trí rất vi tế diễn thuyết tất cả pháp giới, trí rất vi tế vào pháp giới rộng lớn, trí rất vi tế phân biệt pháp giới bất tư nghì, trí rất vi tế phân biệt tất cả pháp giới, trí rất vi tế trong khoảng một niệm khắp tất cả pháp giới, trí rất vi tế vào khắp tất cả pháp giới, trí rất vi tế biết tất cả pháp giới là vô sở đắc, trí rất vi tế quán sát tất cả pháp giới vô sở ngại, trí rất vi tế biết tất cả pháp giới vô sanh, trí rất vi tế hiện thần biến nơi tất cả pháp giới.
Tất cả pháp giới rất vi tế như vậy, Bồ Tát dùng trí rộng lớn đều biết như thật, đối với các pháp đều được tự tại hiển thị hạnh Phổ Hiền làm cho tất cả chúng sanh thảy đều đầy đủ, chẳng bỏ nghĩa, chẳng chấp pháp, xuất sanh trí bình đẳng vô ngại, biết căn bản vô ngại, chẳng trụ nơi tất cả pháp, chẳng hư hoại tánh của các pháp, như thật không nhiễm dường như hư không, tùy thuận thế gian mà phát khởi lời nói diễn bày nghĩa chân thật, chỉ tánh tịch diệt, nơi tất cả cảnh không y tựa không trụ trước, không phân biệt, thấy rõ pháp giới an lập rộng lớn, hiểu các thế gian và tất cả pháp đều bình đẳng không hai, lìa tất cả chấp.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát tu hạnh Phổ Hiền phát sanh trí biết tất cả kiếp rất vi tế.  Những là:  Trí đem bất khả thuyết kiếp làm một niệm rất vi tế, trí đem một niệm làm bất khả thuyết kiếp rất vi tế, trí đem vô số kiếp cho vào một kiếp rất vi tế, trí đem một kiếp cho vào vô số kiếp rất vi tế, trí đem kiếp dài cho vào kiếp ngắn rất vi tế, trí đem kiếp ngắn cho vào kiếp dài rất vi tế, trí vào kiếp có Phật, kiếp không Phật rất vi tế, trí biết tất cả kiếp số rất vi tế, trí biết tất cả kiếp phi kiếp rất vi tế, trí trong khoảng một niệm thấy tất cả kiếp suốt quá khứ, vị lai, hiện tại rất vi tế.
Tất cả những kiếp rất vi tế như vậy, Bồ Tát dùng Phật trí trong khoảng một niệm đều biết rõ như thật, được những tâm viên mãn hạnh vương của Bồ Tát, tâm vào hạnh Phổ Hiền, tâm lìa tất cả phân biệt đi đạo hý luận, tâm phát đại nguyện không mỏi nghỉ, tâm thấy khắp vô lượng Phật đầy trong vô lượng thế giới, tâm có thể nghe và thọ trì thiện căn của Phật và hạnh của Bồ Tát, tâm đối với hạnh rộng lớn an ủi tất cả chúng sanh khi nghe rồi thời chẳng quên, tâm có thể hiện Phật xuất thé trong tất cả kiếp, tâm nơi mỗi mỗi thế giới tột kiếp vị lai thực hành hạnh bất động không thôi nghỉ, tâm nơi trong tất cả thế giới dùng thân nghiệp của Như Lai sung đầy nơi thân của Bồ Tát.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát tu hạnh Phổ Hiền thành bất thối chuyển được trí biết tất cả pháp rất vi tế.  Những là:  Trí biết pháp thậm thâm rất vi tế, trí biết pháp rộng lớn rất vi tế, trí biết các loại pháp rất vi tế, trí biết pháp trang nghiêm rất vi tế, trí biết pháp vô lượng rất vi tế, trí biết tất cả pháp vào một pháp rất vi tế, trí biết một pháp vào tất cả pháp rất vi tế, trí biết tất cả pháp vào chẳng phải pháp rất vi tế, trí trong không pháp an lập tất cả pháp mà chẳng trái nhau rất vi tế, trí vào tất cả phương tiẹn Phật pháp không sót thừa rất vi tế.
Những trí vi tế nơi tất cả pháp do tất cả ngôn thuyết an lập trong tất cả thế giới cũng đồng như vậy.  Những trí đó đều vô ngại biết đúng như thật, được vào nơi tâm vô biên pháp giới.  Nơi mỗi mỗi pháp giới thâm tâm kiên trụ thành hạnh vô ngại.  Dùng nhất thiết trí đầy khắp các căn vào nơi Phật trí, chánh niệm phương tiện thành tựu công đức rộng lớn của chư Phật, đầy khắp pháp giới, vào khắp thân của tất cả Như Lai, hiển hiện những thân nghiệp của chư Bồ Tát, tuỳ thuận ngôn từ của tất cả thế giới, diễn thuyết chánh pháp, được ý nghiệp trí huệ do thần lực của chư Phật gia hộ, xuất sanh vô lượng phương tiện thiện xảo, trí bát nhã phân biệt các pháp.
Dùng tâm vô trước vô phược giải thoát tu hạnh Phổ Hiền xuất sanh tất cả trí rất vi tế.  Những là:  Trí biết tất cả cõi rất vi tế, trí biết tất cả chúng sanh rất vi tế, trí biết quả báo của tất cả pháp rất vi tế, trí biết tâm của tất cả chúng sanh vi tế, trí biết tất cả thời gian thuyết pháp rất vi tế, trí biết tất cả pháp giới rất vi tế, trí biết tất cả không gian và suốt thời gian rất vi tế, trí biết tất cả hạnh xuất thế rất vi tế, nhẫn đến trí biết tất cả đạo Như Lai, tất cả đạo Bồ Tát, tất cả đạo chúng sanh rất vi tế.  Tu hạnh Phổ Hiền, trụ đạo Phổ Hiền hoặc văn hoặc nghĩa đều biết như thật, phát sanh trí như ảnh, như mộng, như huyễn, như hưởng, như hóa, như không, phát sanh trí tịch diệt, trí tất cả pháp giới, trí vô sở y, trí tất cả Phật pháp.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát dùng tâm vô trước vô phược giải thoát hồi hướng, chẳng phân biệt hoặc thế gian, hoặc pháp thế gian, chẳng phân biệt hoặc bồ đề hoặc bồ đề tát đỏa, chẳng phân biệt hoặc hạnh Bồ Tát hoặc đạo xuất ly, chẳng phân biệt hoặc Phật hoặc tất cả Phật pháp, chẳng phân biệt hoặc điều phục chúng sanh hoặc chẳng điều phục chúng sanh, chẳng phân biệt hoặc thiện căn hoặc hồi hướng, chẳng phân biệt hoặc tự hoặc tha, chẳng phân biệt hoặc vật bố thí hoặc người thọ thí, chẳng phân biệt hoặc Bồ Tát hạnh hoặc Đẳng Chánh Giác, chẳng phân biệt hoặc pháp hoặc trí.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát đem thiện căn đây hồi hướng như vầy:  Tâm vô trước vô phược giải thoát, thân vô trước vô phược giải thoát, khẩu vô trước vô phược giải thoát, nghiệp vô trước vô phược giải thoát, báo vô trước vô phược giải thoát, thế gian vô trước vô phược giải thoát, Phật độ vô trước vô phược giải thoát, chúng sanh vô trước vô phược giải thoát, pháp vô trước vô phược giải thoát, trí vô trước vô phược giải thoát.
Lúc đại Bồ Tát hồi hướng như vậy đúng như tam thế chư Phật hồi hướng lúc còn tu hạnh Bồ Tát:  Học quá khứ chư Phật hồi hướng, thành vị lai chư Phật hồi hướng, trụ hiện tại chư Phật hồi hướng; an trụ nơi đạo hồi hướng của chư Phật quá khứ; chẳng bỏ đạo hồi hướng của chư Phật vị lai, tuỳ thuận đạo hồi hướng của chư Phật hiện tại; siêng tu giáo pháp của chư Phật vị lai rõ biết giáo pháp của chư Phật hiện tại; đầy đủ bình đẳng của chư Phật quá khứ, thành tựu bình đẳng của chư Phật vị lai, an trụ bình đẳng của chư Phật hiện tại; đi nơi cảnh giới của chư Phật quá khứ, trụ nơi cảnh giới của chư Phật vị lai, đồng với cảnh giới của chư Phật hiện tại; được thiện căn của tam thế chư Phật, đủ chủng tánh của tam thế chư Phật, trụ nơi công hạnh của tam thế chư Phật, thuận với cảnh giới của tam thế chư Phật.
Chư Phật tử!  Đây là đại Bồ Tát vô trước vô phược giải thoát tâm hồi hướng thứ chín.
Đại Bồ Tát lúc trụ bậc hồi hướng này, tất cả núi kim can luân vi đều không thể chướng hoại.  Được sắc tướng đệ nhất trong tất cả chúng sanh không ai bằng.  Có thể phá các ma, các tà nghiệp.  Hiện tu hạnh Bồ Tát khắp tất cả thế giới mười phương.  Vì muốn khai ngộ tất cả chúng sanh nên dùng phương tiện khéo diễn nói Phật pháp được trí huệ lớn.  Tâm không còn mê lầm đối với Phật pháp.  Hiện thọ sanh nơi chốn nào, hoặc đi hoặc ở thường được gặp quyến thuộc vững bền.  Dùng tâm niệm thanh tịnh đều có thể thọ trì chánh pháp của tam thế chư Phật diễn xướng.  Tu hạnh Bồ Tát tột kiếp vị lai luôn không thôi nghỉ, không dựa, không chấp.  Thêm lớn đầy đủ hạnh nguyện Phổ Hiền, được nhất thiết trí ra làm Phật sự, thành tựu thần thông tự tại của Bồ Tát."
Bấy giờ, Kim Cang Tràng Bồ Tát thừa thần lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:
Đấng vô thượng ở khắp mười phương
Chẳng hề dám sanh tâm khinh mạn
Tùy thuận công đức của Phật tu
Và cũng cung kính sanh tôn trọng.
Đã tu tất cả những công đức
Chẳng vì tự mình và người khác
Thường dùng tâm thắng giải tối thượng
Lợi ích chúng sanh nên hồi hướng
Chưa từng tạm khởi lòng cao mạn
Và cũng chẳng sanh ý lạ liệt
Bao nhiêu công hạnh của Như Lai
Bồ Tát đều học siêng tu tập.
Bao nhiêu căn lành đã tu tập
Đều vì lợi ích khắp quần sanh
Trụ nơi thâm tâm trí rộng lớn
Hồi hướng bậc phước trí vô thượng
Vô lượng sai biệt ở thế gian
Các môn thiện xảo, việc kỳ đặc
Thô tế rộng lớn và rất sâu
Tu hành tất cả đều thấu rõ.
Bao nhiêu thân hình ở thế gian
Đem thân bình đẳng vào trong đó
Nơi đây tu hành được tỏ ngộ
Thành tựu trí huệ không thối chuyển.
Cõi nước thế gian vô lượng thứ
Nhỏ, lớn, rộng, hẹp sai khác nhau
Bồ Tát hay dùng môn trí huệ
Trong một chân lông thấy rõ cả.
Chúng sanh tâm hành nhiều vô lượng
Hay khiến bình đẳng vào một tâm
Dùng môn trí huệ đều khai ngộ
Nơi hạnh đã tu không thối chuyển.
Chúng sanh căn tánh và sở thích
Cao, thấp, phẩm loại đều chẳng đồng
Tất cả rất sâu khó biết được
Tùy bản tánh họ đều biết rõ.
Bao nhiêu hạnh nghiệp của chúng sanh
Thấp, cao, phẩm loại phân riêng khác
Bồ Tát thâm nhập trí Như Lai
Dùng sức trí huệ khắp thấy rõ.
Vô lượng ức kiếp bất tư nghì
Hay khiến bình đẳng vào một niệm
Thấy rồi như vậy khắp mười phương
Tu hành tất cả nghiệp thanh tịnh.
Quá khứ, vị lai, và hiện tại
Biết rõ tướng kia đều chẳng đồng
Cũng chẳng trái sai lý bình đẳng
Là hạnh sáng suốt bậc đại tâm.
Chúng sanh thế gian hạnh chẳng đồng
Hoặc ẩn hoặc hiển vô lượng thứ
Bồ Tát đều biết tướng sai biệt
Cũng biết tướng kia đều vô tướng.
Mười phương thế giới tất cả Phật
Thần thông tự tại Phật hiện ra
Rộng lớn khó biết khó nghĩ bàn
Bồ Tát đều hay phân biệt biết.
Trong cung Đâu Suất khắp thế giới
Tự nhiên giác ngộ:  Đấng Nhân Sư
Công đức rộng lớn tối tôn thượng
Như thể tướng đó đều thấy được.
Hoặc hiện giáng thần ở thai mẹ
Tự tại hiển hiện đại thần thông
Thành Phật, thuyết pháp, hiện diệt độ
Khắp cả thế gian không tạm nghỉ.
Đấng Thiên Nhân Sư lúc sơ sanh
Tất cả thắng trí đều kính thờ
Chư Thiên, Đế Thích, Phạm Vương thảy
Đều rất cung kính mà hầu hạ.
Vô lượng vô biên khắp pháp giới
Tất cả mười phương không còn sót
Không trước, không sau, không gần xa
Thị hiện Như Lai sức tự tại.
Thế Tôn Đạo Sư đản sanh rồi
Các phương đều đi đủ bảy bước
Muốn đem diệu pháp dạy chúng sanh
Vì thế Như Lai khắp quan sát
Thấy các chúng sanh chìm biển dục
Ngu si tăm tối bị đậy che
Đấng tự tại hiện nở nụ cười
Nghĩ rằng phải cứu chúng sanh khổ.
Đấng Đại Sư Tử phát diệu âm
Ta là thế gian tôn quý nhất
Đem đèn trí huệ sáng sạch trong
Trừ diệt mê tối của muôn loại.
Lúc đức Thế Tôn hiện xuất thế
Phóng quang minh lớn khắp vô lượng
Làm cho ác đạo đều thôi dứt
Diệt hẳn nạn khổ của thế gian.
Có lúc thị hiện ở vương cung
Hoặc hiện xuất gia tầm học đạo
Vì muốn lợi ích khắp chúng sanh
Hiện ra phương tiện tự tại ấy.
Lúc đức Phật mới ngồi đạo tràng
Tất cả đại địa đều lay động
Ánh sáng chiếu thấu khắp mười phương
Chúng sanh được soi đều khỏi khổ.
Chấn động tất cả cung điện ma
Khai ngộ lòng chúng sanh mười phương
Xưa từng được dạy và tu hành
Đều khiến biết rõ nghĩa chân thật.
Bao nhiêu quốc độ khắp mười phương
Cho và chân lông không để sót
Tất cả chân lông, cõi vô biên
Hiển hiện thần thông khắp nơi ấy.
Tất cả chư Phật đã giảng dạy
Vô lượng phương tiện đều tỏ ngộ
Những điều Như Lai chẳng diễn nói
Cũng hay hiểu được siêng tu tập.
Cùng khắp cõi tam thiên đại thiên
Tất cả ma quân khởi đấu tranh
Gây tạo vô lượng những tội ác
Trí huệ vô ngại trừ diệt được.
Như Lai hoặc ở các cõi Phật
Hoặc lại hiện ở các thiên cung
Hoặc ở Phạm Cung mà hiện thân
Bồ Tát đều thấy khôn chướng ngại.
Phật hiện vô lượng các loại thân
Thường chuyển thanh tịnh diệu pháp luân
Nhẫn đến những kiếp số ba đời
Tìm cầu ngằn mé chẳng thể được.
Bửu tòa cao rộng tối tôn thượng
Cùng khắp mười phương vô lượng cõi
Các loại tướng tốt dùng trang nghiêm
Phật ngự trên đó khó nghĩ biết
Chúng Phật tử đồng bao quanh Phật
Khắp cả pháp giới đều cùng khắp
Khai thị vô lượng hạnh bồ đề
Con đường tu hành bậc vô thượng.
Chư Phật tùy nghi hiện công hạnh
Vô lượng vô biên đồng pháp giới
Người trí hay dùng một phương tiện
Rõ biết tất cả không thừa sót.
Chư Phật tự tại sức thần thông
Thị hiện tất cả các loại thân
Hoặc hiện các loài vô lượng đời
Hoặc hiện thể nữ đồng chầu chực,
Hoặc trong vô lượng các thế giới
Thị hiện xuất gia thành Phật đạo.
Nhẫn đến tối hậu nhập niết bàn
Phân thân xá lợi dựng bửu tháp
Vô biên công hạnh như vậy thảy
Đạo sư diễn nói chỗ Phật ngự
Bao nhiêu công đức của Thế Tôn
Thệ nguyện tu hành trọn vẹn cả.
Lúc đem căn lành dùng hồi hướng
An trụ phương tiện pháp như vậy
Dường ấy tu tập hạnh bồ đề
Tâm chí rốt ráo không lười mỏi
Tất cả thần lực của Như Lai
Và cùng vô biên công đức lớn
Nhẫn đến trí hạnh của thế gina
Đều biết tất cả, hết tất cả.
Bao nhiêu cảnh giới bất tư nghì
Của Phật hiển hiện như vậy thảy
Ở trong một niệm đều tỏ ngộ
Nhưng cũng chẳng bỏ hạnh bồ đề
Những hạnh tế vi của chư Phật
Và tất cả cõi, tất cả pháp
Bồ Tát đều hay tùy thuận biết
Rốt ráo hồi hướng đến giác ngạn.
Có số không, số tất cả kiếp
Bồ Tát rõ biết là một niệm
Nơi đây khéo vào hạnh bồ đề
Thường siêng tu tập không thối chuyển
Vô lượng cõi nước ở mười phương
Hoặc là tạp nhiễm hoặc thanh tịnh
Và cùng tất cả đức Như Lai
Bồ Tát đều hay phân biệt biết.
Ở trong mỗi niệm đều thấy rõ
Vô lượng kiếp số bất tư nghì
Ba đời như thế không có thừa
Tu hành đầy đủ hạnh Bồ Tát.
Bình đẳng vào trong tất cả tâm
Bình đẳng vào trong tất cả pháp
Hư không Phật độ cũng khắp vào
Công hạnh trên đây đều biết rõ.
Phát sanh trí huệ biết chúng sanh
Trí huệ biết pháp cũng được phát
Bồ Tát thần thông cũng như vậy
Tất cả trí lực không cùng tận.
Những trí vi tế đều sai khác
Bồ Tát nhiếp cả không để thừa
Đồng tướng, dị tướng đều khéo biết
Như vậy tu hành công hạnh lớn
Mười phương vô lượng các cõi Phật
Trong đó chúng sanh đều vô lượng
Thú sanh chủng loại sai khác nhau
An trụ trí lực đều biết rõ.
Quá khứ, vị lai và hiện tại
Các cõi tất cả đức Như Lai
Nếu ai biết đây mà hồi hướng
Hạnh mình, hạnh Phật đều bình đẳng.
Nếu ai hay tu hạnh hồi hướng
Thời là học đạo của Phật làm
Sẽ được tất cả Phật công đức
Và được tất cả Phật trí huệ.
Tất cả thế gian chẳng phá được
Tất cả công hạnh đều thành tựu
Thường hay nhớ nghĩ tất cả Phật
Thường thấy tất cả đấng Thế Tôn
Bồ Tát thắng hạnh chẳng thể lường
Các pháp công đức cũng như vậy.
Đã chứng Như Lai hạnh vô thượng
Đều biết chư Phật sức tự tại.


Hán bộ quyển thứ 32

"Chư Phật tử!  Thế nào là đại Bồ Tát đẳng pháp giới vô lượng hồi hướng?
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này lấy lụa vô cấu để bịt đầu mình, trụ ngôi pháp sư rộng thực hành pháp thí, khởi lòng đại từ đại bi an lập chúng sanh nơi tâm bồ đề, thường làm việc lợi ích không hề thôi nghỉ.  Dùng tâm bồ đề để nuôi căn lành.  Làm đức thầy Điều Ngự cho tất cả chúng sanh, dạy đạo nhất thiết tri.  Làm mặt trời pháp cho tất cả chúng sanh, dùng ánh sáng căn lành soi khắp tất cả.  Tâm Bồ Tát luôn bồ đề đối với chúng sanh, tu các hạnh lành không hề thôi dứt.  Tâm Bồ Tát thanh tịnh trí huệ tự tại, chẳng bỏ tất cả thiện căn đạo nghiệp.  Làm thượng chủ đại trí cho tất cả chúng sanh, dắt dẫn họ vào nơi đạo chân chánh an ổn.  Bồ Tát làm hướng đạo cho chúng sanh khiến họ tu tập tất cả pháp lành.  Bồ Tát làm thiện hữu vững vàng bất hoại cho tất cả chúng sanh, khiến thiện căn của họ được tăng trưởng thành tựu.
Chư Phật tử!  Bậc đại Bồ Tát này lấy pháp thí làm đầu, phát sanh tất cả pháp lành thanh tịnh, nhiếp thọ xu hướng tâm nhất thiết trí, nguyện lực thù thắng rốt ráo kiên cố càng thêm thành tựu, đủ oai đức lớn, nương thiện tri thức, lòng không dua dối, tư duy quan sát môn nhất thiết trí vô biên cảnh giới.  Đem thiện căn này hồi hướng như vầy:  Nguyện được tu tập thành tựu thêm lớn tất cả cảnh giới rộng lớn vô ngại.  Nguyện được ở trong chánh giáo của Phật nghe và thọ trì diễn thuyết nhẫn đến một câu một kệ.  Nguyện ghi nhớ được tam thế tất cả chư Phật trong vô lượng vô biên tất cả thế giới đồng với pháp giới, đã ghi nhớ rồi liền tu hạnh Bồ Tát.  Lại nguyện dùng thiện căn niệm Phật này vì một chúng sanh nơi một thế giới mà tu hạnh Bồ Tát suốt kiếp vị lai.  Như ở một thế giới, cùng tận pháp giới hư không giới tất cả thế giới cũng như vậy.  Như vì một chúng sanh, vì tất cả chúng sanh cũng như vậy.
Bồ tát này dùng thiện phương tiện đại thệ trang nghiêm, mỗi mỗi đều là suốt kiếp vị lai, không hề rời tưởng niệm chư Phật, các bậc thiện tri thức, thường thấy chư Phật hiện thân ở trước mình.  Không có một đức Phật nào xuất thế mà không được gần gũi.
Phạm hạnh tịch tịnh của tất cả chư Phật và Bồ Tát đã khen, đã nói đều thệ nguyện tu hành viên mãn.  Những là:  Phạm hạnh chẳng phá, phạm hạnh chẳng khuyết, phạm hạnh chẳng tạp, phạm hạnh chẳng nhơ, phạm hạnh không lỗi, phạm hạnh không bị che, phạm hạnh được Phật khen, phạm hạnh vô sở y, phạm hạnh vô sở đắc, phạm hạnh thanh tịnh lợi ích cho Bồ Tát, phạm hạnh của tam thế chư Phật đã tu, phạm hạnh vô ngại, phạm hạnh vô trước, phạm hạnh vô tránh, phạm hạnh vô diệt, phạm hạnh an trụ, phạm hạnh vô tỷ, phạm hạnh vô động, phạm hạnh vô loạn, phạm hạnh vô sân.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát nếu có thể vì mình mà tu hành những phạm hạnh thanh tịnh như vậy, thời có thể vì khắp tất cả chúng sanh, làm cho tất cả đều được an trụ, làm cho tất cả đều được hiểu rõ, đều được thành tựu, đều được thanh tịnh, đều được vô cấu, đều được chói sáng, đều lìa trần nhiễm, đều không chướng lòa, đều lìa nhiệt não, đều lìa triền phược, đều lìa hẳn sự ác, nhẫn đến làm cho tất cả chúng sanh đều không những não hại, rốt ráo thanh tịnh.
Tại sao vậy?
Vì đại Bồ Tát nếu tự mình ở nơi phạm hạnh chẳng được thanh tịnh thời không thể làm người khác thanh tịnh, nếu có thối chuyển thời không thể làm người khác chẳng thối chuyển, nếu có lỗi hư thời không thể làm người khác không lỗi hư, nếu có xa lìa thời không thể làm người khác thường chẳng lìa, nếu có giải đãi thời không thể làm người khác chẳng giải đãi, chẳng tin chắc thời không thể làm người khác tin chắc, nếu chẳng an trụ thời không thể làm người khác an trụ, nếu chẳng chứng nhập thời không thể làm người khác chứng nhập, nếu có buông bỏ thời không thể làm người khác chẳng buông bỏ, nhẫn đến tự mình đối với phạm hạnh nếu có tán động thời không thể làm cho tâm người khác chẳng tán động.
Vì đại Bồ Tát đã an trụ nơi hạnh không điên đảo, nói pháp không điên đảo, lời nói thành thật, tu hành đúng lời Phật dạy, thân, khẩu, ý thanh tịnh lìa những tạp nhiễm, trụ hạnh vô ngại, diệt tất cả chướng.
Đại Bồ Tát tự mình đã được tâm thanh tịnh mà vì người khác nói pháp tâm thanh tịnh, tự tu hạnh hòa nhẫn dùng thiện căn điều phục tâm mình, rồi làm người khác cũng tu hạnh hòa nhẫn dùng các thiện căn điều phục tâm mình, tự đã lìa nghi hối cũng làm người khác lìa hẳn nghi hối, tự được đức tin thanh tịnh cũng làm người khác được tịnh tin chẳng hư hoại, tự an trụ chánh pháp cũng làm cho chúng sanh an trụ nơi chánh pháp.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lại đem thiện căn do pháp thí mà có, để hồi hướng như vầy:  Nguyện cho tôi được vô tận pháp môn của chư Phật rồi vì khắp chúng sanh mà phân biệt diễn nói cho họ đều hoan hỷ thỏa mãn, dẹp trừ tất cả dị  luận ngoại đạo.
Nguyện tôi có thể vì tất cả chúng sanh diễn nói chánh pháp của tam thế chư Phật, đối với sự sanh khởi của mỗi mỗi pháp, nghĩa lý của mỗi mỗi pháp, danh ngôn của mỗi mỗi pháp, an lập của mỗi mỗi pháp, giải thuyết của mỗi mỗi pháp, hiển thị của mỗi mỗi pháp, môn hộ của mỗi mỗi pháp, ngộ nhập của mỗi mỗi pháp, quan sát của mỗi mỗi pháp, phận vị của mỗi mỗi pháp, tôi đều được vô biên vô tận pháp tạng, được vô sở úy, đủ tứ biện tài vì chúng sanh mà phân biệt giải thuyết vô cùng vô tận suốt thuở vị lai.  Như thế là vì muốn cho tất cả chúng sanh lập chí nguyện thù thắng phát sanh biện tài vô ngại không sai lầm, đều được hoan hỷ, đều được thành tựu trí huệ tùy theo tiếng của các loài mà diễn thuyết không dứt.  Vì muốn cho tất cả chúng sanh tin chắc vui mừng trụ nhất thiết trí, biết rõ các pháp không còn mê lầm, tự nghĩ rằng:  Tôi sẽ ở khắp tất cả thế giới vì chúng sanh mà siêng năng tu tập, được thân vô lượng tự tại khắp pháp giới, được tâm vô lượng quảng đại khắp pháp giới, được đủ âm thanh vô lượng thanh tịnh khắp pháp giới, hiện đạo tràng vô lượng khắp pháp giới, tu hạnh Bồ Tát vô lượng khắp pháp giới, được an trụ bậc Bồ Tát vô lượng khắp pháp giới, chứng đức bình đẳng vô lượng của Bồ Tát khắp pháp giới, học pháp Bồ Tát vô lượng khắp pháp giới, trụ hạnh Bồ Tát vô lượng khắp pháp giới, nhập hồi hướng Bồ Tát vô lượng khắp pháp giới.
Trên đây là đại Bồ Tát đem các thiện căn để hồi hướng, vì muốn cho chúng sanh đều được thành tựu nhất thiết trí.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lại đem thiện căn hồi hướng như vầy:  Vì muốn thấy vô lượng chư Phật khắp pháp giới, vì điều phục vô lượng chúng sanh khắp pháp giới, vì trụ trì vô lượng cõi Phật khắp pháp giới, vì chứng vô lượng trí Bồ Tát khắp pháp giới, vì được vô úy vô lượng khắp pháp giới, vì thành vô lượng đà la ni của Bồ Tát khắp pháp giới, vì được an trụ vô lượng bất tư nghì của Bồ Tát khắp pháp giới, vì đủ vô lượng công đức khắp pháp giới, vì đầy vô lượng thiện căn lợi ích chúng sanh khắp pháp giới.
Đại Bồ Tát lại nguyện do căn lành này khiến tôi được phước đức bình đẳng, trí huệ bình đẳng, lực bình đẳng, vô úy bình đẳng, thanh tịnh bình đẳng, tự tại bình đẳng, chánh giác bình đẳng, thuyết pháp bình đẳng, nghĩa bình đẳng, quyết định bình đẳng, thần thông bình đẳng.  Tất cả pháp trên đây đều được viên mãn.  Tôi được như thế nào, nguyện tất cả chúng sanh cũng đồng được như tôi.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lại đem thiện căn hồi hướng như vầy:  Như pháp giới vô lượng, thiện căn hồi hướng cũng như vậy, được trí huệ vô lượng.  Như pháp giới vô biên, thiện căn hồi hướng cũng như vậy, thấy chư Phật vô biên.  Như pháp giới vô hạn, thiện căn hồi hướng cũng như vậy, đến vô hạn Phật độ.  Như pháp giới vô tế, thiện căn hồi hướng cũng như vậy, nơi tất cả thế giới tu hạnh Bồ Tát không có tế hạn.  Như pháp giới vô đoạn, thiện căn hồi hướng cũng như vậy, an trụ nhất thiết trí trọn chẳng đoạn tuyệt.  Như pháp giới một tánh, thiện căn hồi hướng cũng vậy đồng một trí tánh với tất cả chúng sanh.  Như pháp giới tự tánh thanh tịnh, thiện căn hồi hướng cũng vậy, làm cho tất cả chúng sanh được rốt ráo thanh tịnh.  Như pháp giới tùy thuận, thiện căn hồi hướng cũng như vậy, làm cho tất cả chúng sanh đều tùy thuận hạnh nguyện Phổ Hiền.  Như pháp giới trang nghiêm, thiện căn hồi hướng cũng vậy, làm cho tất cả chúng sanh dùng hạnh Phổ Hiền mà trang nghiêm. Như pháp giới không thể mất hư, thiện căn hồi hướng cũng vậy, làm cho các Bồ Tát chẳng mất hư những hạnh thanh tịnh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lại đem thiện căn này hồi hướng như vầy:  Nguyện đem thiện căn này phụng thờ thiện căn chư Phật, chư Bồ Tát đều hoan hỷ.  Nguyện do thiện căn này mau được vào nhất thiết trí.  Nguyện do thiện căn này tu nhất thiết trí khắp tất cả mọi nơi.  Nguyện do thiện căn này mà tất cả chúng sanh thường được qua thấy tất cả chư Phật.  Nguyện do tất cả thiện căn này mà tất cả chúng sanh thường được thấy chư Phật và hay làm Phật sự.  Nguyện do thiện căn này làm cho tất cả chúng sanh thường được thấy Phật, đối với những Phật sự chẳng sanh lòng lười trễ.  Nguyện do thiện căn này làm cho tất cả chúng sanh thường được thấy Phật lòng thanh tịnh hoan hỷ không thối chuyển.  Nguyện do thiện căn này làm cho tất cả chúng sanh thường được thấy Phật, lòng khéo hiểu rõ.  Nguyện do thiện căn này làm cho tất cả chúng sanh thường được thấy Phật, chẳng sanh lòng chấp trước.  Nguyện do thiện căn này làm cho tất cả chúng sanh thường được thấy Phật, thấu suốt vô ngại.  Nguyện do thiện căn này làm cho tất cả chúng sanh thường được thấy Phật, thành hạnh Phổ Hiền.  Nguyện do thiện căn này làm cho tất cả chúng sanh thường được thấy Phật hiện ra trước không lúc nào tạm bỏ.  Nguyện do thiện căn này làm cho tất cả chúng sanh thường được thấy Phật, phát sanh vô lượng thần lực của Bồ Tát.  Nguyện do thiện căn này làm cho tất cả chúng sanh thường được thấy Phật, nơi tất cả pháp trọn không quên mất.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lại đem những thiện căn hồi hướng như vầy:  Hồi hướng như tánh vô khởi của pháp giới.  Hồi hướng như tánh căn bản của pháp giới.  Hồi hướng như tự thể tánh của pháp giới.  Hồi hướng như tánh vô sở y của pháp giới.  Hồi hướng như tánh không quên mất của pháp giới.  Hồi hướng như tánh không vô tánh của pháp giới.  Hồi hướng như tánh tịch tịnh của pháp giới.  Hồi hướng như tánh không quên mất của pháp giới.  Hồi hướng như tánh không vô tánh của pháp giới.  Hồi hướng như tánh tịch tịnh của pháp giới.  Hồi hướng như tánh vô xứ sở của pháp giới.  Hồi hướng như tánh khôn hiên động của pháp giới.  Hồi hướng như tánh vô sai biệt của pháp giới.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lại đem pháp thí, có bao nhiêu sự tuyên dạy, có bao nhiêu sự khai ngộ, và những thiện căn do đây phát khởi để hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh thành Bồ Tát, pháp sư thường được chư Phật hộ niệm.  Nguyện tất cả chúng sanh làm vô thượng pháp sư phương tiện an lập tất cả chúng sanh nơi nhất thiết trí.  Nguyện tất cả chúng sanh làm pháp sư không thua sút, không ai vấn nạn cùng tận được.  Nguyện tất cả chúng sanh làm vô ngại pháp sư được quang minh vô ngại nơi tất cả pháp.  Nguyện tất cả chúng sanh làm trí tạng pháp sư hay khéo diễn thuyết tất cả Phật pháp.  Nguyện tất cả chúng sanh thành tự tại pháp sư khéo phân biệt trí huệ của Như Lai.  Nguyện tất cả chúng sanh làm như nhãn pháp sư nói pháp như thật không do người khác dạy.  Nguyện tất cả chúng sanh làm phước đức ghi nhớ tất cả Phật pháp thuyết pháp đúng lý không trái cú nghĩa.  Nguyện tất cả chúng sanh làm pháp sư tu hành đạo vô tướng, tự trang nghiêm với những diệu tướng, phóng vô lượng quang minh khéo vào các pháp.  Nguyện tất cả chúng sanh làm đại thân pháp sư, thân lớn đầy khắp tất cả quốc độ nổi mây pháp lớn, mưa những Phật pháp.  Nguyện tất cả chúng sanh làm hộ pháp tạng pháp sư, dựng thắng tràng hộ trì Phật pháp khiến biển chánh pháp không khuyết giảm.  Nguyện tất cả chúng sanh làm pháp nhật pháp sư được biện tài của Phật khéo nói các pháp.  Nguyện tất cả chúng sanh làm diệu âm phương tiện pháp sư khéo diễn nói vô biên pháp tạng.  Nguyện tất cả chúng sanh làm đáo bỉ ngạn pháp sư dùng trí thần thông khai tạng chánh pháp.  Nguyện tất cả chúng sanh làm an trụ chánh pháp pháp sư diễn nói trí huệ rốt ráo của Như Lai.  Nguyện tất cả chúng sanh làm liễu đạt chư pháp pháp sư hay nói vô lượng vô tận công đức.  Nguyện tất cả chúng sanh là pháp sư không phỉnh dối thế gian, hay dùng phương tiện làm cho mọi người vào thực tế.  Nguyện tất cả chúng sanh làm pháp sư phá các chúng ma, hay khéo rõ biết tất cả nghiệp ma.  Nguyện tất cả chúng sanh làm pháp sư được chư Phật nhiếp thọ, rời tâm ngã, ngã sở và nhiếp thọ.  Nguyện tất cả chúng sanh làm pháp sư an ổn tất cả thế gian, thành tựu nguyện lực thuyết pháp của Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lại đem các thiện căn hồi hướng như vầy:  Chẳng vì chấp lấy nghiệp mà hồi hướng.  Chẳng vì chấp lấy báo mà hồi hướng.  Chẳng vì chấp lấy tâm mà hồi hướng.  Chẳng vì chấp lấy sự mà hồi hướng.  Chẳng vì chấp lấy nhân mà hồi hướng.  Chẳng vì chấp lấy ngữ ngôn, âm thanh mà hồi hướng.  Chẳng vì chấp lấy danh, cú, văn thân mà hồi hướng.  Chẳng vì chấp lấy hồi hướng mà hồi hướng.  Chẳng vì chấp lấy lợi ích chúng sanh mà hồi hướng.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lại đem thiện căn hồi hướng như vầy:  Chẳng vì tham lấy cảnh giới của sắc thanh hương vị xúc pháp mà hồi hướng.  Chẳng vì cầu sanh cõi trời mà hồi hướng.  Chẳng vì cầu dục lạc mà hồi hướng.  Chẳng vì mến cảnh giới cõi Dục mà hồi hướng.  Chẳng vì cầu quyến thuộc mà hồi hướng.  Chẳng vì cầu tự tại mà hồi hướng.  Chẳng vì cầu vui sanh tử mà hồi hướng.  Chẳng vì chấp lấy sanh tử mà hồi hướng.  Chẳng vì thích các cõi hữu lậu mà hồi hướng.  Chẳng vì cầu sự vui hòa hiệp mà hồi hướng.  Chẳng vì cầu chỗ đáng thích lấy mà hồi hướng.  Chẳng vì ôm lòng độc hại mà hồi hướng.  Vì chẳng để thiện căn hư hoại mà hồi hướng.  Vì chẳng y tựa ba cõi mà hồi hướng.  Vì chẳng chấp các thiền định giải thoát tam muội mà hồi hướng.  Vì chẳng trụ Thanh Văn thừa, Bích Chi Phật thừa mà hồi hướng.  Chỉ vì giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh mà hồi hướng.  Chỉ vì thành tựu viên mãn trí nhất thiết trí mà hồi hướng.  Chỉ vì được trí vô ngại mà hồi hướng.  Chỉ vì được thiện căn thanh tịnh vô ngại mà hồi hướng.  Chỉ vì làm cho tất cả chúng sanh thoát khỏi sanh tử chứng đại trí huệ mà hồi hướng.  Chỉ vì làm cho tâm đại bồ đề như kim cang không hư hoại mà hồi hướng.  Chỉ vì thành tựu pháp rốt ráo bất tử mà hồi hướng.  Chỉ vì dùng vô lượng trang nghiêm để trang nghiêm chủng tánh Phật thị hiện, nhất thiết trí tự tại mà hồi hướng.  Chỉ vì cầu trí nhất thiết pháp minh đại thần thông mà hồi hướng.  Chỉ vì ở khắp pháp giới hư không giới tất cả Phật độ thực hành hạnh Phổ Hiền viên mãn bất hối, mặc áo giáp đại nguyện kiên cố, làm cho tất cả chúng sanh an trụ nơi bậc Phổ Hiền mà hồi hướng.  Chỉ vì tột kiếp vị lai độ thoát chúng sanh thường không thôi nghỉ, thị hiện bậc nhất thiết trí quang minh vô ngại hằng không dứt mà hồi hướng.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc đem thiện căn đó hồi hướng, thời dùng tâm như vầy mà hồi hướng:  Dùng tâm bản tánh bình đẳng mà hồi hướng.  Dùng tâm pháp tánh bình đẳng mà hồi hướng.  Dùng tâm tất cả chúng sanh vô lượng bình đẳng mà hồi hướng.  Dùng tâm vô tránh bình đẳng mà hồi hướng.  Dùng tâm tự tánh vô khởi bình đẳng mà hồi hướng.  Dùng tâm biết các pháp không loạn mà hồi hướng.  Dùng tâm vào tam thế bình đẳng mà hồi hướng.  Dùng tâm phát sanh tam thế Phật chủng tánh mà hồi hướng.  Dùng tâm được thần thôn bất thối mà hồi hướng.  Dùng tâm sanh thành hạnh nhất thiết trí mà hồi hướng.
Lại vì làm cho tất cả chúng sanh lìa hẳn tất cả địa ngục mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh chẳng vào loài súc sanh mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh chẳng đến chỗ Diêm Vương mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh trừ diệt tất cả pháp chướng đạo mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đầy đủ tất cả thiện căn mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh có thể ứng thời chuyển pháp luân khiến mọi loài đều hoan hỷ mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh vào thập lực mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đầy đủ vô biên pháp nguyện thanh tịnh của Bồ Tát mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh tùy thuận tất cả thiện tri thức giáo hóa tâm bồ đề được đầy đủ mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh thọ trì tu hành Phật pháp rất sâu được Phật trí huệ mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh tu hạnh vô ngại của Bồ Tát luôn hiện tiền mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh thường thấy chư Phật hiện tiền mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được pháp quang minh thanh tịnh thường hiện tiền mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh được trí bất tư nghì của Bồ Tát thường hiện tiền mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh cứu hộ khắp mọi loài khiến tâm đại bi thanh tịnh thường hiện tiền mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh dùng bất khả thuyết bất khả thuyết đồ trang nghiêm thắng diệu để trang nghiêm tất cả Phật độ mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh diệt trừ tất cả ma nghiệp mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh ở nơi tất cả Phật độ đều không y tựa luôn tu hạnh Bồ Tát mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh phát tâm nhất thiết chủng trí vào tất cả pháp môn rộng lớn của Phật mà hồi hướng.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lại đem thiện căn chánh niệm thanh tịnh mà hồi hướng.  Trí huệ quyết định mà hồi hướng.  Biết hết tất cả Phật pháp phương tiện mà hồi hướng.  Vì thành tựu trí vô lượng vô ngại mà hồi hướng.  Vì muốn đầy đủ âm thanh tịnh thủ thắng mà hồi hướng.  Vì tất cả chúng sanh trụ nơi đại từ mà hồi hướng.  Vì tất cả chúng sanh trụ nơi đại bi mà hồi hướng.  Vì tất cả chúng sanh trụ nơi đại hỷ mà hồi hướng.  Vì tất cả chúng sanh trụ nơi đại xả mà hồi hướng.  Vì lìa hẳn chấp trước hai bên, an trụ thiện căn thù thắng mà hồi hướng.  Vì tư duy quán sát phân biệt diễn thuyết tất cả pháp duyên khởi mà hồi hướng.  Vì lập tâm tràng đại dũng mãnh mà hồi hướng.  Vì lập tạng tràng vô năng thắng mà hồi hướng.  Vì phá các ma chúng mà hồi hướng.  Vì được tâm vô ngại thanh  tịnh đối với tất cả pháp mà hồi hướng.  Vì tu tất cả hạnh Bồ Tát không thối chuyển mà hồi hướng.  Vì được tâm thích cầu pháp đệ nhất thù thắng mà hồi hướng.  Vì được tâm thích cầu những pháp công đức nhất thiết chủng trí tự tại thanh tịnh mà hồi hướng.  Vì viên mãn tất cả nguyện, trừ tất cả đấu tranh, được pháp vô ngại thanh tịnh của Phật, vì chúng sanh chuyển pháp luân bất thối mà hồi hướng.  Vì được pháp vô thượng thù thắng của Phật do trăm ngàn quang minh của mặt trời trí huệ trang nghiêm chiếu khắp tất cả chúng sanh trong pháp giới mà hồi hướng.  Vì muốn điều phục tất cả chúng sanh tuỳ chỗ họ ưa thích thường làm cho họ được thỏa mãn, chẳng bỏ bản nguyện, cùng tận thuở vị lai nghe chánh pháp, tu tập đại hạnh, được trí huệ thanh tịnh quang minh không cấu nhiễm, dứt trừ tất cả kiêu mạn, tiêu diệt tất cả phiền não, xé lưới ái dục, phá tối ngu si, đầy đủ pháp vô cấu vô ngại mà hồi hướng.  Vì tất cả chúng sanh, trong vô số kiếp thường siêng tu tập hạnh nhất thiết trí không thối chuyển, mỗi chúng sanh đều khiến được diệu huệ vô ngại, không ngớt thị hiện thần thông tự tại của Phật mà hồi hướng.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc đem những thiện căn hồi hướng như vậy, chẳng tham trước cảnh giới ngũ dục của ba cõi.
Tại sao vậy?
Vì đại Bồ Tát phải sủng thiện căn không tham mà hồi hướng.  Phải dùng thiện căn không sân mà hồi hướng.  Phải dùng thiện căn không si mà hồi hướng.  Phải dùng thiện căn chẳng hại mà hồi hướng.  Phải dùng thiện căn lìa kiêu mạn mà hồi hướng.  Phải dùng thiện căn chẳng dua dối mà hồi hướng.  Phải dùng thiện căn chất trực mà hồi hướng.  Phải dùng thiện căn tinh tấn mà hồi hướng.  Phải dùng thiện căn tu tập mà hồi hướng.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc hồi hướng như vậy, được tâm tính tín, nơi hạnh Bồ Tát vui mừng nhẫn thọ, tu tập đạo thanh tịnh của đại Bồ Tát, đủ Phật chủng tánh, được Phật trí huệ, bỏ tất cả ác, lìa các ma nghiệp, gần gũi thiện hữu, thành tựu đại nguyện của mình, thỉnh các chúng sanh lập hội đại thí.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lại đem thiện căn do pháp thí sanh ra đây mà hồi hướng như vầy:  Làm cho tất cả chúng sanh được diệu âm thanh tịnh, được nhu nhuyến âm, được thiên cổ âm, được vô lượng vô số bất tư nghì âm, được khả ái nhạo âm, được thanh tịnh âm, được âm thanh cùng khắp tất cả Phật độ, được âm thanh trang nghiêm với trăm ngàn ức na do tha bất khả thuyết công đức, được âm thanh cao xa, được âm thanh lớn rộng được âm thanh diệt tất cả tán loạn, được âm thanh nhiếp tất cả ngữ ngôn của chúng sanh, được trí biết vô biên âm thanh của tất cả chúng sanh, được trí âm thanh tất cả ngôn ngữ đều thanh tịnh, được trí âm thanh vô lượng ngôn ngữ, được âm thanh tự tại vào trí tất cả âm thanh, được tất cả âm thanh trang nghiêm thanh tịnh, được âm thanh tất cả thế gian không nhàm đủ, được âm thanh rốt ráo chẳng hệ thuộc tất cả thế gian, được hoan hỷ âm, được âm thanh ngôn ngữ thanh tịnh của Phật, được âm thanh diễn thuyết tất cả Phật pháp xa lìa mê lòa danh tiếng đồn khắp, được âm thanh khiến tất cả chúng sanh được tất cả pháp đà la ni trang nghiêm, được âm thanh diễn thuyết vô lượng tất cả pháp, được âm thanh đến khắp pháp giới vô lượng chúng hôi đạo tràng, được âm thanh nhiếp trì khắp bất tư nghì pháp cú kim cang, được âm thanh khai thị tất cả pháp, được âm thanh tạng trí huệ hay nói bất khả thuyết câu chữ sai biệt, được âm thanh chẳng ngớt diễn thuyết tất cả pháp vô sở trước, được âm thanh tất cả pháp sáng chói, được âm thanh có thể làm cho tất cả thế gian thanh tịnh rốt ráo đến nhất thiết trí, được âm thanh nhiếp khắp cú nghĩa của tất cả pháp, được âm thanh thần lực hộ trì tự tại vô ngại, được âm thanh đến trí rốt ráo cả thế gian.
Đại Bồ Tát lại đem căn lành này làm cho tất cả chúng sanh được âm thanh không hạ liệt, được âm thanh không bố úy, được âm thanh không nhiễm trước, được âm thanh tất cả đạo tràng đại chúng đều hoan hỷ, được âm thanh tùy thuận mỹ diệu, được âm thanh nói tất cả Phật pháp, được âm thanh dứt nghi niệm của tất cả chúng sanh làm cho họ đều được giác ngộ.  Được âm thanh đầy đủ biện tài, được âm thanh giác ngộ giấc ngủ dài của tất cả chúng sanh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lại đem thiện căn hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả chúng sanh được pháp thân thanh tịnh lìa những lỗi ác.  Nguyện tất cả chúng sanh được công đức tịnh diệu lìa những lỗi ác.  Nguyện tất cả chúng sanh được diệu tướng thanh tịnh lìa những lỗi ác.  Nguyện tất cả chúng sanh được nghiệp quả thanh tịnh lìa những lỗi ác.  Nguyện tất cả chúng sanh được tâm nhất thiết trí thanh tịnh lìa những lỗi ác.  Nguyện tất cả chúng sanh được tâm bồ đề thanh tịnh vô lượng lìa những lỗi ác.  Nguyện tất cả chúng sanh được phương tiện thanh tịnh lìa những lỗi ác, biết rõ các căn lành.  Nguyện tất cả chúng sanh được tín giải thanh tịnh lìa những lỗi ác.  Nguyện tất cả chúng sanh được thanh tịnh siêng tu hạnh nguyện vô ngại lìa những lỗi ác.  Nguyện tất cả chúng sanh được chánh niệm biện tài trí huệ thanh tịnh lìa những lỗi ác.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lại vì tất cả chúng sanh đem tất cả thiện căn hồi hướng như vầy:  Nguyện được những thân vi diệu, như là: Thân sáng chói, thân lìa nhơ trược, thân không nhiễm, thân thanh tịnh, thân rất thanh tịnh, thân ly trần, thân ly cấu, thân đáng thích, thân vô ngại.
Lại vì tất cả chúng sanh, nơi tất cả thế giới đại Bồ Tát hiện hình tượng nghiệp báo; nơi tất cả thế gian hiện hfinh tượng ngôn thuyết; nơi tất cả cung điện hiện hình tượng an lập.  Như trong gương sáng sạch, tất cả hình tượng đều tự nhiên hiển hiện.  Chỉ bày cho chúng sanh hạnh đại bồ đề, diệu pháp thậm thâm, các thứ công đức, những đạo tu hành, những hạnh thành tựu hạnh nguyện của Bồ Tát.  Lại cũng chỉ bày cho chúng sanh thấy biết đức Phật xuất thế nơi một thế giới, nơi tất cả thế giới.  Chỉ bày thần thông biến hóa của tất cả Phật, chỉ bày oai lực giải thoát bất tư nghì của chư Bồ Tát cho tất cả chúng sanh.  Lại chỉ dạy cho tất cả chúng sanh thành mãn hạnh nguyện và tất cả trí tánh của Phổ Hiền Bồ Tát.
Đại Bồ Tát phương tiện dùng những thân thanh tịnh vi diệu như vậy để nhiếp thủ tất cả chúng sanh, làm cho họ đều thành tựu thân nhất thiết trí công đức thanh tịnh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lại đem thiện căn do pháp thí phát sanh mà hồi hướng như vầy:  Nguyện thân tôi tùy ở thế giới nào mà tu hạnh Bồ Tát, chúng sanh được thấy thời đều chẳng luống uổng, họ đều phát tâm bồ đề trọn không thối chuyển, thuận theo nghĩa chân thiệt không bị lay động, nơi tất cả thế giới, tột kiếp vị lai luôn an trụ nơi đạo Bồ Tát không hề mỏi nhàm, đại bi tràn khắp lượng đồng pháp giới, biết căn tánh của chúng sanh, thuyết pháp phải thời luôn không thôi nghỉ.  Đối với các bậc thiện tri thức tâm thường chánh niệm, nhẫn đến chẳng bỏ rời khoảng một sát na.  Tất cả chư Phật thường hiện tiền lòng vững chánh niệm chưa hề tạm thời giải đãi.  Tu những thiện căn không chút hư dối.  Đặt để chúng sanh nơi nhất thiết trí làm cho họ không thối chuyển, đủ tất cả ánh sáng Phật pháp, giữ mây đại pháp, thọ mưa đại pháp, tu hạnh Bồ Tát, vào tất cả chúng sanh, vào tất cả Phật độ, vào tất cả pháp, vào tất cả ba đời, vào trí nghiệp báo của tất cả chúng sanh, vào trí phương tiện khéo léo của tất cả Bồ Tát, vào trí xuất sanh của tất cả Bồ Tát, vào trí cảnh giới thanh tịnh của tất cả Bồ Tát, vào thần thông tự tại của tất cả Phật, vào tất cả vô biên pháp giới an trụ nơi đây để tu hạnh Bồ Tát."


Hán bộ quyển thứ 33

"Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lại đem thiện căn do tu tập pháp thí mà hồi hướng như vầy:  Nguyện tất cả cõi Phật thảy đều thanh tịnh, dùng bất khả thuyết bất khả thuyết đồ tốt đẹp để trang nghiêm.  Mỗi mỗi cõi Phật rộng lớn như pháp giới, thuần thiện, vô ngại, thanh tịnh, sáng suốt, chư Phật hiện thành bậc vô thượng chánh giác ở trong đó.  Cảnh giới thanh tịnh trong một cõi Phật đều có thể hiện tất cả cõi Phật.  Như một cõi Phật, tất cả cõi Phật cũng như vậy.
Mỗi mỗi cõi đều dùng vô lượng vô biên đồ trang nghiêm châu báu thanh tịnh để nghiêm sức.  Như là:  Vô số bửu tòa thanh tịnh trải bửu y.  Vô số bửu trướng rủ giăng bửu võng.  Vô số bửu cái nhiều châu báu chói suốt lẫn nhau.  Vố số bửu vân mưa các châu báu.  Vô số bửu hoa xinh đẹp trong sạch.  Vô số bao lơn lan can thanh tịnh bằng châu ngọc.  Vô số bửu linh luôn vang ra âm thanh vi diệu của Phật khắp pháp giới.  Vô số bửu liên hoa nở màu đẹp báu chói sáng.  Vô số bửu thọ thành hàng khắp nơi hoa trái đều bằng vô lượng diệu bửu.  Vô số cung điện báu trong đó có căn lành Bồ Tát.  Vô số lâu các báu rộng rãi tráng lệ nối dài xa gần.  Vô số rào giậu báu trang nghiêm xinh đẹp bằng châu báu.  Vô số cửa nẻo báu, chuỗi báu đẹp rủ giăng.  Vô số cửa song báu trang nghiêm thanh tịnh bằng bất tư nghì châu báu.  Vô số bửu đa la hình bán nguyệt các loại châu báu họp thành.  Tất cả như vậy đều bằng châu báu đẹp trang nghiêm thanh tịnh chẳng thể nghĩ bàn, đều do thiện căn của Như Lai phát khởi, đủ vô số bửu tạng trang nghiêm.
Lại có vô số sông ngòi báu chảy ra tất cả pháp lành thanh tịnh.  Vô số biển báu chứa đầy pháp thủy.  Vô số bạch liên hoa thường phát ra tiếng diệu pháp trong trắng.  Vô số núi bửu tu ti, trí huệ sơn vương cao vọi thanh tịnh.  Vô số diệu bửu tám góc, xâu bằng giây báu rất trang nghiêm thanh tịnh, vô số tịnh quang bửu thường phóng đại trí quang minh vô ngại chiếu khắp pháp giới.  Vô số bửu linh khua đánh lẫn nhau vang tiếng vi diệu.  Vô số báu thanh tịnh đầy những Bồ Tát bửu.  Vô số lục màu báu sáng sạch thòng rủ khắp nơi.  Vô số tràng báu đẹp dùng bán nguyệt bửu để trang sức.  Vô số bửu phan khắp rơi vô lượng bửu phan.  Vô số bửu đài giăng rủ giữ hư không trang nghiêm rất đẹp.  Vô số thảm báu mịn màng êm mát.  Vô số vòng báu hiển bày nhất thiết trí nhãn của Bồ Tát.  Vô số bửu anh lạc, mỗi anh lạc trăm ngàn Bồ Tát thượng diệu trang nghiêm.  Vô số cung điện báu diệu tuyệt vượt hơn tất cả.  Vô số đồ trang nghiêm báu bằng kim cang ma ni.  Vô số các loại trang nghiêm báu luôn hiện màu đẹp thanh tịnh.  Vô số báu thanh tịnh hình khác lạ ánh sáng chói suốt.  Vô số bửu sơn bao quanh làm tường vách thanh tịnh vô ngại.  Vô số bửu hương mùi thơm xông khắp tất cả thế giới.  Vô số bửu biến hóa, mỗi sự biến hóa đều khắp pháp giới.  Vô số quang minh báu, mỗi mỗi quang minh hiện tất cả quang minh.
Lại có vô số bửu quang minh, trí quang thanh tịnh chiếu rõ các pháp.  Lại có vô số bửu quang minh người, mỗi mỗi quang minh đều khắp pháp giới.  Có vô số bửu xứ, mỗi xứ đều đủ tất cả châu báu.  Vô số bửu tạng khai thị tất cả tạng báu chánh pháp.  Vô số bửu tràng, tràng tướng Như Lai cao hơn tất cả.  Vô số bửu hiền, tượng hiền đại trí thanh tịnh viên mãn.  Vô số bửu viên, trong vườn xuất sanh tam muội hỷ lạc của chư Bồ Tát.  Vô số bửu âm, diệu âm của Như Lai dạy khắp thế gian.  Vô số bửu hình, mỗi mỗi hình đều phóng vô lượng quang minh diệu pháp.  Vô số bửu tướng, mỗi mỗi tướng đều vượt hơn các tướng.  Vô số bửu oai nghi, ai thấy được đều phát sanh sự hỷ lạc của Bồ Tát.  Vô số bửu tụ, ai thấy được đều phát sanh bửu tụ trí huệ.  Vố số bửu an trụ, ai thấy được đều sanh bửu tâm thiện trụ.  Vô số bửu y phục, ai được mặc thời phát sanh vô tỷ tam muội của chư Bồ Tát.  Chúng sanh bửu ca sa, ai được đắp thời vừa phát tâm liền dược môn thiện kiến đà la ni.  Vô số bửu tu tập, ai được thấy thời biết tất cả bửu đều là nghiệp quả quyết định thanh tịnh.  Vô số bửu vô ngại tri kiến, ai được thấy thời được tất cả pháp nhãn thanh tịnh.  Vô số bửu quang tạng, ai được thấy thời được thành tựu tạng đại trí huệ.  Vô số bửu tòa, đức Phật ngự trên đó chuyển diệu pháp luân.  Vô số bửu đăng thường phóng quang minh trí huệ thanh tịnh.
Lại có vô số bửu đa la thọ, hàng đều đặn ngay thẳng, dây báu bọc quanh trang nghiêm thanh tịnh.  Cây ấy lại có vô số thân báu tròn thẳng, vô số nhánh báu trang nghiêm rậm rạp, vô số chim bay đậu trong đó, luôn hót tiếng hòa diệu tuyên dương chánh pháp, vô số lá báu phóng trí quang lớn chói khắp nơi, vô số bông báu trên đó, có vô số Bồ Tát ngồi kiết già bay đi khắp pháp giới, vô số trái báu ai thấy đều được quả nhất thiết trí bất thối.
Lại có vô số bửu tụ lạc, ai thấy đều bỏ lìa pháp tu lạc thế gian, vô số bửu đô ấp, trong đó đông đầy chúng sanh tự tại vô ngại.  Vô số bửu cung điện, nhà vua ở trong đó thân Na La Diên mạnh khoẻ, mặc áo giáp chánh pháp lòng không thối chuyển.  Vô số bửu xá, ai vào đó thời đều trừ được lòng luyến tiếc nhà cửa.  Vô số bửu y, ai mặc thời có thể hiểu rõ pháp vô trước.  Vô số bửu cung điện, xuất gia Bồ Tát ở đầy trong đó.  Vô số trân ngoại báu, người thấy đều sanh vô lượng hoan hỷ.  Vô số bửu luân phóng bất tư nghì quang minh trí huệ chuyển pháp luân bất thối.  Vô số cây bửu bạt đà bao bằng lưới nhơn đà la nghiêm thanh tịnh.  Vô số bửu địa, bất tư nghì bửu xen lẫn trang nghiêm.  Vô số làn hơi báu, tiếng thanh lượng khắp pháp giới, vô số trống báu, diệu âm hòa nhã chẳng dứt.  Vô số bửu chúng sanh đều có thể nhiếp trì pháp bửu vô thượng.  Vô số bửu thân đủ vô lượng công đức diệu bửu.  Vô số bửu khẩu thường nói tất cả bửu âm diệu pháp.  Vô số bửu tâm đủ ý thanh tịnh đại trí nguyện bửu.  Vô số bửu niệm dứt những ngu lầm, rốt ráo kiên cố nhất thiết trí bửu.  Vô số bửu minh tụng trì tất cả pháp bửu của chư Phật.  Vô số bửu huệ quyết rõ pháp tạng của tất cả chư Phật.  Vô số bửu trí được viên mãn nhất thiết trí bửu.  Vô số bửu nhãn xem gẫm thập lực bửu không chướng ngại.  Vô số bửu nhĩ nghe căn lành thanh âm khắp pháp giới thanh tịnh vô ngại.  Vô số bửu tỷ thường ngửi tuỳ thuận bửu hương thanh tịnh.  Vô số bửu thiệt có thể nói vô lượng những pháp ngữ ngôn.  Vô số bửu thân đi khắp mười phương vô ngại.  Vô số bửu ý thường siêng tu tập hạnh nguyện Phổ Hiền.  Vô số bửu âm, âm thanh tịnh diệu khắp mười phương cõi.  Vô số bửu thân nghiệp, tất cả việc làm lấy trí làm đầu.  Vô số bửu ngữ nghiệp thường nói tu hành trí bửu vô ngại.  Vô số bửu ý nghiệp được rốt ráo viên mãn trí bửu rộng lớn vô ngại.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát ở trong tất cả Phật độ kia:  Mỗi một cõi, một phương, một xứ, một chân lông đều có vô lượng vô biên bất khả thuyết chư đại Bồ Tát, thảy đều thành tựu trí huệ thanh tịnh.  Khắp pháp giới, tột hư không giới cũng đều như vậy.
Đây là đại Bồ Tát đem những thiện căn để hồi hướng.  Nguyện khắp tất cả Phật độ đều đủ các thứ diệu bửu trang nghiêm như đã có nói rộng ở trước.  Những hương trang nghiêm, hoa trang nghiêm, tràng hoa trang nghiêm, hương thoa trang nghiêm, hương đốt trang nghiêm, hương bột trang nghiêm, y trang nghiêm, lọng trang nghiêm, tràng trang nghiêm, phan trang nghiêm, ma ni bửu trang nghiêm.  Lần lượt nhẫn đến trăm lần hơn đây đều nói rộng như bửu trang nghiêm.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát đem thiện căn do pháp thí chứa nhóm, vì để làm lớn các thiện căn mà hồi hướng.  Vì nghiêm tịnh tất cả Phật độ mà hồi hướng.  Vì thành tựu tất cả chúng sanh mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh tâm được thanh tịnh bất động mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đều vào Phật pháp thậm thâm mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đều được công đức thanh tịnh tối thượng mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đều được phước lực thanh tịnh bất hoại mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đều được trí lực vô tận độ muôn loài vào Phật pháp mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh vô lượng ngôn âm bình đẳng thanh tịnh mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đều được trí nhãn bình đẳng vô ngại khắp pháp giới mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đều được niệm thanh tịnh biết tất cả thế giới thuở kiếp quá khứ mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đều được trí huệ vô ngại rộng lớn quyết rõ tất cả pháp tạng mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đều được đại bồ đề vô hạnh lượng cùng khắp pháp giới không chướng ngại mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đều được đồng thể thiện căn bình đẳng vô phân biệt mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đều được thân, ngữ, ý ba nghiệp đầy đủ công đức thanh tịnh trang nghiêm mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đều được đồng hạnh Phổ Hiền mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đều được vào tất cả Phật độ đồng thể thanh tịnh mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đều quan sát nhất thiết trí đều ngộ nhập viên mãn mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đều được xa lìa thiện căn bất bình đẳng mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đều được thâm tâm không dị tướng tuần tự viên mãn nhất thiết trí mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đều được an trụ tất cả pháp lành thanh tịnh mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đều ở trong một niệm rốt ráo chứng được nhất thiết trí mà hồi hướng.  Vì làm cho tất cả chúng sanh đều được thành tựu viên mãn đạo nhất thiết trí thanh tịnh mà hồi hướng.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát đem các thiện căn vì khắp tất cả chúng sanh mà hồi hướng như vậy rồi, lại đem thiện căn này muốn diễn thuyết trọn vẹn tất cả pháp lực hạnh thanh tịnh mà hồi hướng.  Vì muốn thành tựu oai lực hạnh thanh tịnh, được bất khả thuyết bất khả thuyết pháp hải mà hồi hướng.  Vì muốn nơi mỗi mỗi pháp hải đủ vô lượng trí quang minh thanh tịnh khắp pháp giới mà hồi hướng.  Vì muốn khai thị diễn nói cú nghĩa sai biệt của tất cả pháp mà hồi hướng.  Vì muốn thành tựu vô biên tam muội quảng đại mà hồi hướng.  Vì muốn tùy thuận biện tài của tam thế chư Phật mà hồi hướng.  Vì muốn thành tựu thân tự tại của tam thế chư Phật mà hồi hướng.  Vì tôn trọng pháp vô ngại đáng ưa thích của chư Phật mà hồi hướng.  Vì đầy đủ tâm đại bi cứu hộ tất cả chúng sanh thường không thối chuyển mà hồi hướng.  Vì muốn thành tựu pháp sai biệt bất tư nghì, trí không chướng ngại, tâm không cấu nhiễm, sáu căn thanh tịnh, vào khắp tất cả đạo tràng mà hồi hướng.  Vì muốn thường chuyển pháp luân bất thối bình đẳng nơi tất cả Phật độ khắp pháp giới mà hồi hướng.  Vì muốn ở trong mỗi niệm được vô sở úy không cùng tận, trí huệ biện tài khai thị diễn thuyết mà hồi hướng.  Vì thích cầu các điều lành phát tâm tu tập thiện căn càng thêm được trí huệ đại thần thông đều biết rõ được tất cả pháp mà hồi hướng.  Vì muốn ở nơi tất cả đạo tràng thân cận cúng dường diễn thuyết tất cả pháp cho chúng sanh đều được hoan hỷ mà hồi hướng.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lại đem thiện căn này hồi hướng như vầy:  Hồi hướng để an trụ nơi pháp giới vô lượng trụ.  Hồi hướng để an trụ pháp giới vô lượng thân nghiệp, vô lượng ngữ nghiệp, vô lượng ý nghiệp, pháp giới vô lượng sắc bình đẳng, vô lượng thọ, tưởng, hành, thức bình đẳng.  Hồi hướng để an trụ nơi pháp giới vô lượng uẩn xứ giới bình đẳng.  Hồi hướng để an trụ pháp giới vô lượng nội pháp ngoại pháp bình đẳng.  Hồi hướng để an trụ pháp giới vô lượng phát khởi bình đẳng, thâm tâm bình đẳng, phương tiện bình đẳng, tín giải bình đẳng, căn lực bình đẳng, sơ trung hậu bình đẳng, nghiệp báo bình đẳng, nhiễm tịnh bình đẳng, chúng sanh bình đẳng, Phật độ bình đẳng, chánh pháp bình đẳng, thế gian quang minh bình đẳng, chư Phật bình đẳng, chư Bồ Tát bình đẳng, hạnh nguyện Bồ Tát bình đẳng, Bồ Tát xuất ly bình đẳng, Bồ Tát giáo hóa điều phục bình đẳng, pháp giới vô nhị bình đẳng.  Nhẫn đến hồi hướng để an trụ nơi pháp giới vô lượng đạo tràng bình đẳng của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc hồi hướng như vậy, an trụ nơi pháp giới vô lượng thân thanh tịnh bình đẳng, ngữ thanh tịnh bình đẳng, tâm thanh tịnh bình đẳng, Bồ Tát hạnh nguyện thanh tịnh bình đẳng, đạo tràng thanh tịnh bình đẳng.
Đại Bồ Tát này an trụ nơi pháp giới vô lượng bình đẳng vì tất cả Bồ Tát rộng diễn thuyết trí thanh tịnh nơi tất cả pháp.  An trụ nơi pháp giơi vô lượng bình đẳng có thể vào nơi thân cùng tận pháp giới tất cả thế giới.  An trụ nơi pháp giới vô lượng bình đẳng tất cả pháp sáng suốt trong sạch vô úy, có thể dùng một âm thanh dứt hết sự nghi lầm của tất cả chúng sanh, tùy theo căn tánh của họ đều làm cho hoan hỷ, an trụ nơi pháp giải thoát vô thượng nhất thiết chủng trí, thập lực, tứ vô úy, thần thông tự tại, công đức rộng lớn.
Chư Phật tử!  Đây là đại Bồ Tát đệ thập trụ đẳng pháp giới vô lượng hồi hướng.
Đại Bồ Tát này lúc đem tất cả thiện căn hồi hướng như vậy, thời thành tựu viên mãn vô lượng vô biên hạnh nguyện Phổ Hiền.  Đều có thể nghiêm tịnh khắp pháp giới hư không giới tất cả cõi Phật, làm cho tất cả chúng sanh cũng được như vậy, thành tựu đủ vô biên trí huệ rõ tất cả pháp, trong mỗi niệm thấy tất cả Phật xuất thế.  Trong mỗi niệm thấy vô lượng vô biên tự tại lực của tất cả Phật.  Những là:  Tự tại lực rộng lớn, tự tại lực vô trước, tự tại lực vô ngại, tự tại lực bất tư nghì, tự tại lực thanh tịnh tất cả chúng sanh, tự tại lực lập tất cả thế giới, tự tại lực hiện bất khả thuyết ngôn ngữ, tự tại lực tùy thời ứng hiện, tự lại lực an trụ nơi trí thần thông bất thối chuyển, tự tại lực diễn thuyết vô biên tất cả pháp giới không để sót, tự tại lực xuất sanh trí nhãn vô biên tế của Phổ Hiền Bồ Tát, tự tại lực dùng vô ngại nhĩ thức nghe và ghi nhận vô lượng Phật pháp, tự tại lực hiện một thân ngồi kiết già khắp vô lượng pháp giới mười phương mà không chật hẹp đối với chúng sanh, tự tại lực dùng trí viên mãn vào khắp tam thế vô lượng pháp.
Lại được vô lượng thanh tịnh.  Những là:  Tất cả chúng sanh thanh tịnh, tất cả Phật độ thanh tịnh, tất cả pháp thanh tịnh, trí biết khắp tất cả xứ thanh tịnh, trí vô biên khắp hư không giới thanh tịnh, trí được tất cả ngôn âm sai biệt dùng nhiều loại ngôn âm ứng khắp chúng sanh thanh tịnh, phóng vô lượng quang minh viên mãn chiếu khắp vô biên tất cả thế giới thanh tịnh, trí lực xuất sanh tam thế tất cả Bồ Tát hạnh thanh tịnh, trí lực trong một niệm vào khắp đạo tràng của tam thế tất cả chư Phật thanh tịnh, vào vô biên tất cả thế gian khiến tất cả chúng sanh đều làm những việc nên làm thanh tịnh.
Tất cả sự trên đây đều được đầy đủ, đều được thành tựu, đều đã tu tập, đều được bình đẳng, thảy đều hiện tiền, đều thấy biết, đều ngộ nhập, đều đã quan sát, đều được thanh tịnh đến bĩ ngạn."
Lúc bấy giờ, do thần lực của Phật, sáu thứ chấn động khắp trăm vạn phật sát vi trần số thế giới ở mười phương trong mười phương.  Những là:  Động, biến động, đẳng biến động.  Khởi, biến khởi, đẳng biến khởi.  Dũng, biến dũng, đẳng biến dũng.  Chấn, biến chấn, đẳng biến chấn.  Hống, biến hống, đẳng biến hống.  Kích, biến kích, đẳng biến kích.
Vì do thần lực của Phật, vì pháp như vậy, tự nhiên mưa các thứ hoa trời, tràng hoa trời, hương bột và các loại hương trời, y phục trời, tân bửu trời, đồ trang nghiêm trời, báu ma ni trời, hương trầm thủy trời, hương chiên đàn trời, lọng thượng điều trời, các thứ tràng, các thứ phan trời, vô số thân trời.  Vô lượng pháp âm trời, bất tư nghì tiếng ca ngợi Phật của trời, vô số tiếng hoan hỷ của trời đồng xướng "thiện tai"!  vô lượng vô số chư thiên cung kính lễ bái, vô số thiên tử thường niệm Phật mong cầu vô lượng công đức của Phật lòng chẳng bỏ lìa, vô số thiên tử trổi nhạc ca ngâm khen ngợi cúng dường Như Lai, vô số chư thiên phóng đại quang minh chiếu khắp tất cả Phật độ, hiển hiện vô lượng vô số cảnh giới của chư Phật hóa thân của Như Lai hơn hẳn cõi trời.
Như ở cung Đâu Suất Đà nơi thế giới này, cùng khắp mười phương nơi cung Đâu Suất Đà của thế giới cũng đều thuyết pháp như thế.
Bấy giờ, do thần lực của Phật, mỗi phương trong mười phương đều quá ngoài trăm vạn phật sát vi trần số thế giới, đều có trăm vạn phật sát vi trần số Bồ Tát đồng đến hội họp và đồng xướng rằng:  "Lành thay!  Lành thay!  Phật tử có thể nói được pháp đại hồi hướng này.  Chúng tôi đều đồng một hiện là Kim Cang Tràng, đều từ thế giới Kim Cang Quang của đức Phật Kim Cang Tràng mà đến đây.  Do thần lực của Phật, nơi các thế giới ấy cũng nói pháp này, chúng hội đại tràng văn từ cú nghĩa cũng như vậy cả không tăng, không giảm.
Chúng tôi thừa oai thần của Phật đến đây để chứng minh cho ngài."
Như sự chứng minh nơi đây, tất cả cung Đâu Suất Đà trong mười phương thế giới, chư Bồ Tát hiện đến chứng minh cũng
như vậy.
Kim Cang Tràng Bồ Tát thừa thần lực của Phật, quan sát tất cả chúng hội khắp mười phương pháp giới, tâm đại từ bi càng thêm rộng lớn, vào công đức của tất cả Phật, thành tựu thân tự tại của Phật, quan sát chỗ sở thích của tất cả chúng sanh và thiện căn của họ đã vun trồng, đều biết rõ tất cả.  Bồ Tát tuỳ thuận pháp thân vì họ mà hiện thân diệu sắc thanh tịnh, liền trong đó nói kệ rằng:
Bồ Tát thành tựu pháp trí huệ
Ngộ giải vô biên chánh pháp môn
Là pháp quang minh Điều Ngự Sư
Biết rõ pháp chân thiệt vô ngại.
Bồ Tát là pháp đại Đạo Sư
Khai thị pháp thậm thâm khó được
Dẫn đạo vô lượng chúng mười phương
Điều khiến an trụ trong chánh pháp.
Bồ Tát đã uống biển Phật pháp
Pháp vân mưa khắp mười phương cõi
Pháp nhật xuất hiện nơi thế gian
Xiển dương diệu pháp lợi muôn loại
Thường làm chủ pháp thí khó gặp
Biết rõ phương tiện khéo nhập pháp
Pháp quang thanh tịnh chiếu nơi tâm
Thuyết pháp nơi đời luôn vô úy.
Khéo tu Phật pháp tâm tự tại
Đều hay ngộ nhập các pháp môn
Thành tựu pháp hải rất diệu sâu
Vì khắp chúng sanh đánh trống pháp.
Tuyên nói pháp rất sâu hy hữu
Dùng pháp nuôi lớn các công đức
Tâm pháp hỷ thanh tịnh đủ đầy
Thị hiện thế gian Phật pháp tạng.
Được Phật pháp vương quán đảnh cho
Thành tựu pháp tánh thân trí tạng
Đều hiểu rõ được pháp thiệt tướng
An trụ tất cả những pháp lành.
Bồ Tát tu hành pháp thí lớn
Tất cả Như Lai đều mừng khen
Nhẫn khả việc làm của Bồ Tát
Do đây được thành bậc Nhân Tôn.
Bồ Tát thành tựu diệu pháp thân
Chính được chư Phật pháp hóa sanh
Vì lợi chúng sanh làm đèn pháp
Diễn nói vô lượng pháp tối thắng.
Tùy chỗ tu hành pháp thí diệu.
Cũng thường quán sát thiện căn kia
Làm các điều thiện vì chúng sanh
Đều dùng trí huệ mà hồi hướng
Bao nhiêu pháp thành công đức Phật
Đều đem hồi hướng cho chúng sanh
Nguyện họ tất cả đều sạch trong
Đến bờ trang nghiêm ba la mật.
Mười phương cõi Phật vô lượng số
Đều đủ vô lượng đại trang nghiêm
Trang nghiêm như thế bất tư nghì
Đều dùng trang nghiêm một quốc độ.
Bao nhiêu thịnh trí của Như Lai
Nguyện cho chúng sanh đều trọn đủ
Giống như Phổ Hiền chân Phật tử
Tất cả công đức tự trang nghiêm.
Thành tựu thần thông sức quảng đại
Đến tất cả cõi khắp mười phương
Tất cả chúng sanh không để sót
Đều khiến tu hành Bồ Tát đạo.
Chư Phật Như Lai đã khai ngộ
Vô lượng chúng sanh khắp mười phương
Khiến họ tất cả như Phổ Hiền.
Tu hành đầy đủ hạnh tối thượng
Chư Phật Bồ Tát đã thành tựu
Các loại công đức đều sai khác
Công đức như vậy vô số lượng
Nguyện chư chúng sanh đều viên mãn
Bồ Tát đầy đủ tự tại lực
Chỗ đáng đến học đến học
Thị hiện tất cả đại thần thông
Đến khắp mười phương vô lượng cõi.
Bồ Tát có thể khoảng một niệm
Thấy khắp chúng sanh vô số Phật
Và lại ở trong một chân lông
Nhiếp hết các pháp đều thấy rõ.
Thế gian chúng sanh vô số lượng
Bồ Tát dùng trí đều biết rõ
Chư Phật vô lượng đồng chúng sanh
Bồ Tát cúng dường khắp tất cả.
Các thứ hương thơm hoa thượng diệu
Châu báu xiêm y và phan lọng
Phân bủa pháp giới đầy khắp nơi
Phát tâm cúng dường khắp chư Phật.
Trong một chân lông đều thấy rõ
Vô lượng vô số chư Như Lai
Tất cả chân lông đều như vậy
Lễ khắp tất cả đấng Thế Tôn.
Đem thân thứ đệ cung kính lạy
Vô biên vô lượng chư Như Lai
Cũng dùng lời lẽ khen ngợi Phật
Cùng tận vị lai tất cả kiếp.
Sắm đồ cúng dường một Như Lai
Số nhiều vô lượng đồng chúng sanh
Như đã cúng dường một Như Lai
Cúng dường tất cả Phật cũng vậy.
Cùng tận thế gian tất cả kiếp
Cúng dường tán thán chư Như Lai
Kiếp số thế gian còn hết được
Bồ Tát cúng Phật không thôi trễ.
Tất cả thế gian tất cả kiếp
Trong những kiếp đó tu công hạnh
Cung kính cúng dường một Như Lai
Suốt tất cả kiếp không nhàm đủ.
Như vô lượng kiếp cúng một Phật
Cúng tất cả Phật đều như vậy
Cũng chẳng phân biệt là kiếp số
Công việc cúng dường không nhàm mỏi.
Pháp giới rộng lớn không ngằn mé
Bồ Tát quan sát đều rõ ràng
Đem hoa sen lớn rải khắp nơi
Thí khắp chúng sanh và cúng Phật.
Bửu hoa hương sắc đều vẹn toàn
Thanh tịnh trang nghiêm rất vi diệu
Tất cả thế gian không thể ví
Đem hoa cúng dường đấng Thế Tôn.
Vô số vô lượng những quốc độ
Lọng báu đẹp xinh đầy trong đó
Đều đem cúng dường một Như Lai
Cúng dường tất cả Phật cũng vậy.
Hương thoa vi diệu rất thù thắng
Tất cả thế gian chưa từng có
Dùng đây cúng dường Thiên Nhân Sư
Cùng tận vi trần vô lượng kiếp.
Hương bột, hương đốt, hoa thượng diệu
Những y phục báu đồ trang nghiêm
Như vậy cúng dường chư Như Lai
Hoan hỷ phụng thời không nhàm đủ.
Vô số vô lượng chiếu thế đăng
Mỗi niệm thành tựu bồ đề đạo
Dùng vô biên kệ tụng ca ngợi
Cúng dường tất cả đấng Điều Ngự.
Vô lượng vô số đấng Thế Tôn
Đều vô thượng diệu cúng dường
Vô lượng vô số vi trần kiếp
Khen ngợi như vậy không cùng tận.
Trong lúc Bồ Tát cúng dường Phật
Do thần lực Phật đều cùng khắp
Đều thấy mười phương vô lượng Phật.
An trụ Phổ Hiền Bồ Tát hạnh
Quá khứ, vị lai và hiện tại.
Đã có tất cả những thiện căn
Khiến tôi thường tu hạnh Phổ Hiền
Mau được an trụ Phổ Hiền địa.
Tất cả Như Lai chỗ thấy biết
Thế gian vô lượng những chúng sanh
Đều nguyện đầy đủ như Phổ Hiền
Được người trí huệ luôn khen ngợi.
Đây là mười phương chư Bồ Tát
Cùng lo tu tập hạnh hồi hướng
Chư Phật Như Lai giảng cho tôi
Hạnh hồi hướng này rất vô thượng.
Mười phương tất cả các thế giới
Trong đó tất cả các chúng sanh
Đều làm cho họ được tỏ ngộ
Và được trọn vẹn hạnh Phổ Hiền.
Bồ Tát hồi hướng hạnh bố thí
Cũng lại giữ chắc các giới cấm
Tinh tấn tu hành không khiếp lui
Nhu hòa nhẫn nhục tâm bất động.
Nhiếp tâm thiền định thường duyên một
Trí huệ rõ cảnh đồng tam muội
Khứ, lai, hiện tại đều thông đạt.
Thế gian không thể do ngằn mé
Bồ Tát thân, tâm và ngữ nghiệp
Nghĩ, nói, việc làm đều thanh tịnh
Tất cả tu hành không hở sót
Trọn vẹn đồng như đức Phổ Hiền.
Ví như pháp giới vô phân biệt
Hí luận, nhiễm trước đều hết hẳn
Cũng như niết bàn không chướng ngại
Tâm thương như vậy lìa chấp trước.
Người trí đã có pháp hồi hướng
Chư Phật Như Lai đã khai thị
Tất cả căn lành đều hồi hướng
Do đây hay thành Bồ Tát đạo.
Phật tử khéo học hồi hướng này
Vô lượng hạnh nguyện đều viên mãn
Nhiếp lấy pháp giới trọn không thừa
Do đây hay thành trí lực Phật.
Nếu muốn thàhh tựu lời Phật dạy
Bồ Tát quảng đại hạnh thù thắng
Phải nên khéo trụ hồi hướng này
Phổ Hiền là hiệu của Phật tử.
Tất cả chúng sanh còn đếm được
Tam thế tâm lượng cũng biết được
Phật tử Phổ Hiền hạnh như đây
Ngằn mé công đức không lường được.
Lòng đo không gian biết được số
Vi trần các cõi biết được số
Như vậy chư Phật chân Phật tử
Hạnh nguyện đã tu không lường được.


Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-11-26 06:05:01canary>
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 4

Phẩm thập địa 
Thứ hai mươi sáu (Hán bộ từ quyển 34 đến hết quyển 39)



Hán bộ quyển 34


Bấy giờ đức Thế Tôn ngự ở điện Ma Ni Bửu Tạng trong cung của Tha Hóa Tự Tại Thiên Vương câu hội với chư đại Bồ Tát từ phương khác đến.
Chư Bồ Tát này không thối chuyển vô thượng đẳng chánh giác, an trụ trong cảnh giới của Bồ Tát trí, vào chỗ của đức Phật vào, siêng tu không ngớt, hay khéo hiển hiện những sự thần thông, giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh rất đúng thời.
Vì thành tựu tất cả đại nguyện, chư Bồ Tát này trong tất cả kiếp, tất cả đời, tất cả cõi, thường siêng tu tập không tạm lười nghỉ.  Đã đầy đủ phước, trí, trợ đạo, khắp lợi ích chúng sanh mà luôn không thiếu sót, đạt đến trí huệ phương tiện ba la mật của Bồ Tát.  Thị hiện vào sanh tử và nhập niết bàn, mà vẫn chẳng bỏ phế thực hành Bồ Tát hạnh.  Khéo vào tất cả thiền định giải thoát tam muội của Bồ Tát.  Trí huệ thần thông đều được tự tại với tất cả việc làm.  Được tất cả thần lực tự tại của Bồ Tát.  Không hề động tác, mà trong khoảng một niệm có thể qua đến tất cả đạo tràng của chư Phật, làm thượng thủ trong chúng để thỉnh Phật thuyết pháp, hộ trì chánh pháp cúa Phật, cúng dường phụng thờ tất cả chư Phật với tâm quảng đại, thường siêng tu hạnh Bồ Tát.  Thân các ngài hiện khắp thế gian.  Tiếng các ngài khắp mười phương pháp giới.  Tâm trí các ngài vô ngại thấy khắp tam thế tất cả Bồ Tát.  Các ngài đều đã tu hành viên mãn tất cả công đức, trải bất khả thuyết kiếp cũng không thể nói hết.
Danh hiệu của các ngài là:  Kim Cang Tạng Bồ Tát, Bửu Tạng Bồ Tát, Liên Hoa Tạng Bồ Tát, Đức Tạng Bồ Tát, Liên Hoa Đức Tạng Bồ Tát, Nhật Tạng Bồ Tát, Tô Lợi Gia Tạng Bồ Tát, Vô Cấu Nguyệt Tạng Bồ Tát, Phổ Hiện Trang Nghiêm Tạng Bồ Tát, Tỳ Lô Giá Na Trí Tạng Bồ Tát, Diệu Đức Tạng Bồ Tát, Chiên Đàn Đức Tạng Bồ Tát, Hoa Đức Tạng Bồ Tát, Câu Tô Ma Đức Tạng Bồ Tát, Ưu Bát La Đức Tạng Bồ Tát, Thiên Đức Tạng Bồ Tát, Phước Đức Tạng Bồ Tát, Vô Ngại Thanh Tịnh Đức Tạng Bồ Tát, Công Đức Tạng Bồ Tát, Na La Diên Đức Tạng Bồ Tát, Vô Cấu Tạng Bồ Tát, Ly Cấu Tạng Bồ Tát, Biện Tài Trang Nghiêm Tạng Bồ Tát, Đại Quang Minh Võng Tạng Bồ Tát, Tịnh Oai Đức Quang Minh Vương Tạng Bồ Tát, Kim Trang Nghiêm Đại Công Đức Quang Minh Vương Tạng Bồ Tát, Nhất thiết Tướng Trang Nghiêm Tạng Bồ Tát, Quang Minh Diệm Tạng Bồ Tát, Tinh Tú Vương Quang Chiếu Tạng Bồ Tát, Hư Không Vô Ngại Trí Tạng Bồ Tát, Diệu Âm Vô Ngại Tạng Bồ Tát, Đà La Ni Công Đức Trì Nhất Thiết Chúng Sanh Nguyện Tạng Bồ Tát, Hải Trang Nghiêm Tạng Bồ Tát, Tu Di Đức Tạng Bồ Tát, Tịnh Nhất Thiết Công Đức Tạng Bồ Tát, Như Lai Tạng Bồ Tát, Phật Đức Tạng Bồ Tát, Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát...
Vô số, vô lượng, vô biên, vô đẳng, bất khả sổ, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết đại Bồ Tát như vậy, Kim Cang Tạng Bồ Tát là thượng thủ trong đại chúng này.
Bấy giờ, Kim Cang Tạng Bồ Tát thừa thần lực của Phật, nhập Bồ Tát đại trí huệ quang minh tam muội.  Ngài nhập tam muội này rồi, liền đó khắp mười phương quá ngoài mười ức phật sát vi trần số thế giới, mỗi phương đều có mười ức phật sát vi trần số Phật đồng hiệu Kim Cang Tạng, Phật hiện ra trước ngài mà bảo rằng: "Lành thay!  Lành thay!  Kim Cang Tạng Bồ Tát có thể nhập Bồ Tát đại trí huệ quang minh tam muội này.
Thiện nam tử!  Mười ức phật sát vi trần số Phật ở mỗi phương khắp mười phương đồng gia hộ ông.  Do bổn nguyện lực và oai thần lực của đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai, cũng do thắng trí lực của ông, vì muốn ông tuyên thuyết Phật pháp quang minh bất tư nghì cho chúng hội Bồ Tát.  Như là:  Vì khiến nhập trí địa, vì nhiếp tất cả thiện căn, vì khéo lựa chọn tất cả Phật pháp, vì biết rộng các pháp, vì khéo hay thuyết pháp, vì vô phân biệt trí thanh tịnh, vì tất cả thế pháp chẳng nhiễm, vì thiện căn xuất thế thanh tịnh, vì được cảnh giới trí bất tư nghì, vì được cảnh giới trí của bậc nhất thiết trí.
Lại vì khiến được bậc Bồ Tát Thập Địa thủy chung, vi tuyên thuyết tướng sai biệt của Bồ Tát Thập Địa đúng thật, vì duyên niệm tất cả Phật pháp, vì tu tập phân biệt pháp vô lậu, vì khéo lựa chọn quan sát đại trí quang minh khéo trang nghiêm, vì khéo nhập môn trí quyết định, vì tùy ở chỗ nào đều thứ đệ thuyết pháp vô sở úy, vì được quang minh biện tài vô ngại, vì trụ bậc đại biện tài khéo quyết định, vì ghi nhớ tâm Bồ Tát không quên mất, vì thành thục tất cả chúng sanh giới, vì đến khắp tất cả xứ quyết định khai ngộ tất cả.
Thiện nam tử!  Ông nên biện thuyết pháp sai biệt thiện xảo của pháp môn này.  Những là: Vì nương thần lực và trí huệ của Phật gia hộ, vì thanh tịnh thiện căn của mình, vì thanh tịnh khắp pháp giới, vì nhiếp khắp chúng sanh, vì thâm nhập pháp thân, trí thân, vì thọ quán đảnh của chư Phật, vì được thân cao lớn nhất trong tất cả thế gian, vì vượt hơn tất cả thế gian đạo, vì thanh tịnh thiện căn xuất thế, vì đầy đủ nhất thiết chủng trí."
Bấy giờ, chư Phật ở mười phương đồng ban cho Kim Cang Tạng Bồ Tát thân chói sáng nhất, ban cho trí biện tài vô ngại, ban cho trí thanh tịnh khéo phân biệt, ban cho sức khéo ghi nhớ không quên, ban cho huệ khéo quyết định rõ ràng, ban cho trí đến tất cả xứ để khai ngộ, ban cho sức thành đạo tự tại, ban cho đức vô úy của Phật, ban cho trí biện tài quan sát phân biệt các pháp môn của bậc nhất thiết trí, ban cho thân, ngữ, ý trang nghiêm toàn vẹn thượng diệu của Như Lai.
Tại sao vậy?
Vì được tam muội này thời tất nhiên như vậy, vì bổn nguyện phát khởi, vì thâm tâm thiện tịnh, vì trí luân thiện tịnh, vì khéo chứa nhóm trợ đạo, vì khéo tu sửa công hạnh, vì nhớ vô lượng pháp khí, vì biết tín giải thanh tịnh, vì được tổng trì không lầm lộn, vì khéo ấn khả với pháp giới trí ấn.
Bấy giờ, mười phương chư Phật đều đưa tay hữu xoa đầu Kim Cang Tạng Bồ Tát.
Chư Phật xoa đầu xong, Kim Cang Tạng Bồ Tát xuất định bảo khắp chúng đại Bồ Tát rằng:  "Chư Phật tử!  Thệ nguyện của các vị Bồ Tát khéo quyết định không tạp chẳng thể thấy, rộng lớn như pháp giới, rốt ráo như hư không, khắp tất cả Phật độ, suốt thuở vị lai, cứu độ tất cả chúng sanh, được chư Phật gia hộ, vào trí địa của tam thế chư Phật.
Chư Phật tử!  Những gì là trí địa của đại Bồ Tát?
Chư Phật tử!  Trí địa của đại Bồ Tát có mười bậc.  Tam thế chư Phật đã nói, sẽ nói, đương nói, tôi cũng nói như vậy.
Đây là mười trí địa:  Một là Hồi Hướng Địa.  Hai là Ly Cấu Địa.  Ba là Phát Quang Địa.  Bốn là Diệm Huệ Địa.  Năm là Nan Thắng Địa.  Sáu là Hiện Tiền Địa.  Bảy là Viễn Hành Địa.  Tám là Bất Động Địa.  Chín là Thiện Huệ Địa.  Mười là Pháp Vân Địa.
Chư Phật tử!  Tôi chẳng thấy có quốc độ nào mà chư Phật nơi đó chẳng nói mười trí địa này.
Tại sao vậy?  Vì đây là đạo tối thượng hướng bồ đề của đại Bồ Tát, cũng là pháp môn thanh tịnh quang minh.
Chư Phật tử!  Nơi đây chẳng thể nghĩ bàn đến được, chính là chứng trí của chư đại Bồ Tát."
Kim Cang Tạng Bồ Tát nói song liền im lặng không giảng giải
nữa.
Bấy giờ, chúng Bồ Tát nghe tên mười bậc trí địa mà chẳng nghe giải thích thời đều khát ngưỡng, nghĩ rằng:  "Do cớ gì ngài Kim Cang Tạng Bồ Tát chỉ nói tên mười trí địa mà chẳng giải thích?"
Giải thoát Nguyệt Bồ Tát biết tâm niệm của chúng Bồ Tát, liền nói kệ để hỏi Kim Cang Tạng Bồ Tát:
Cớ sao bậc Tịnh Giác
Đủ niệm trí công đức
Nói tên mười trí địa
Biết rõ chẳng giải thoát?
Tất cả đều quyết định
Dũng mãnh không khiếp nhược
Cớ sao nói tên địa
Rồi im không giải thích?
Nghĩa thú mười trí địa
Trong chúng đều muốn nghe
Lòng chúng không khiếp nhược
Vì chúng xin giải thích.
Chúng hội đều thanh tịnh
Nghiêm khiết không lười biếng
Hay vững vàng bất động
Đủ công đủ trí huệ,
Nhìn nhau đều cung kính
Tất cả đồng khát ngưỡng
Như ong nhớ mật ngọt
Như khát tưởng cam lồ.
Kim Cang Tạng Bồ Tát, bậc đại trí vô úy nghe Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát nói kệ muốn cho lòng chúng hội hoan hỷ, liền nói kệ rằng:
Hạnh địa của Bồ Tát
Góc tối thượng của Phật
Giải thích nói rõ ràng
Hy hữu khó thứ nhất.
Vi tế khó thấy được
Ly niệm siêu tâm địa
Phát sanh cảnh giới Phật
Người nghe sẽ mê lầm.
Gìn lòng như kim cang
Tin chắc nơi Phật trí
Biết tâm địa vô ngã
Thời nghe được pháp này.
Như màu vẽ trên không
Như tướng gió trên không
Phật trí cũng như vậy
Phân biệt rất khó thấy
Tôi nghĩ Phật trí huệ
Tối thắng khó nghĩ bàn
Người đời không thọ được
Nên im lặng chẳng nói.
Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát bạch Kim Cang Tạng Bồ Tát: "Nay đại chúng đây đều đã hội họp, tất cả đều khéo lóng thâm tâm, khéo sạch tư niệm, khéo tu các hạnh, khéo tập trợ đạo, khéo gần gũi trăm ngàn ức Phật, thành tựu vô lượng công đức thiện căn, lìa bỏ mê lầm, không còn cấu nhiễm, thâm tâm tin hiểu, ở trong Phật pháp chẳng theo người khác dạy.
Thưa Phật tử!  Xin ngài nên thừa oai thần của Phật, vì chúng mà diễn nói.  Đại chúng Bồ Tát đây đối với chỗ thậm thâm như vậy đều có thể chứng biết."
Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này bèn nói kệ rằng:
Xin nói hạnh Bồ Tát
Vô thượng rất an ổn
Phân biệt rõ các địa
Trí tịnh thành chánh giác.
Chúng đây không cấu nhiễm
Chí hiểu đều sáng sạch
Kính thờ vô lượng Phật
Hiểu được nghĩa các địa.
Kim Cang Tạng Bồ Tát nói: "Thưa Phật tử!  Dầu đại chúng y đây đã khéo lóng sạch tu niệm, rời bỏ ngu si nghi lầm, nơi Phật pháp thậm thâm không theo người dạy, nhưng còn có chúng sanh trí cạn cợt, nếu nghe những sự thậm thâm khó nghĩa bàn này họ sẽ sanh lòng nghi lầm mà phải chịu khổ lâu dài.  Tôi vì thương xót hạnh này nên im lặng."
Kim Cang Tạng Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
Dầu chúng đây trí rộng thanh tịnh
Pháp sâu trí lẹ hay hiểu thấu
Tâm họ bất động như Sơn Vương
Chẳng thể úy nghiên dường đại hải.
Có hạng mới tu hiểu chưa tới
Theo thức phân biệt chẳng theo trí
Nghe đây sanh nghi đoạ ác đạo
Tôi thương hạng này nên chẳng nói.
Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát lại bạch với Kim Cang Tạng Bồ Tát: "Thưa Phật tử!  Xin ngài thừa thần lực của Phật mà phân biệt diễn nói pháp bất tư nghì này.  Những hạng đây sẽ được đức Như Lai gia hộ cho họ tin thọ được.  Vì lúc nói pháp Thập Địa, tất cả Bồ Tát tất nhiên được Phật hộ niệm.  Vì được Phật hộ niệm nên đối với trí địa này sanh lòng dũng mãnh.  Vì đây là công hạnh tối sơ mà Bồ Tát thực hành để thành tựu tất cả Phật pháp.
Ví như viết chữ, tất cả đều từ mẫu tự làm gốc.  Tự mẫu rốt ráo không có chút phân rời tự mẫu.
Tất cả Phật pháp đều dùng Thập Địa làm căn bản.  Thập địa rốt ráo tu hành thành tựu được nhất thiết chủng trí.  Do đây xin Phật tử diễn nói cho.  Những người này tất được đức Như Lai hộ niệm làm cho họ tin thọ."
Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
Lành thay Phật tử xin diễn thuyết
Các trí địa đưa vào bồ đề
Mười phương tất cả đấng Tự Tại
Thảy đều hộ niệm trí căn bản.
An trụ trí này cũng rốt ráo
Tất cả Phật pháp từ đây sanh
Ví như viết chữ do mẫu tự
Cũng thế, Phật pháp y trí địa.
Lúc đó, chúng đại Bồ Tát đồng thời ứng tiếng hướng về Kim Cang Tạng Bồ Tát mà nói kệ rằng:
Trí thượng diệu vô cấu
Vô biên trí biện tài
Tuyên xướng lời sâu đẹp
Tương úng đệ nhất nghĩa.
Niệm trì hạnh thanh tịnh
Thập lực chứa công đức
Biện tài phân biệt nghĩa
Nói địa tối thắng này.
Định, giới chứa chánh tâm
Lìa ngã mạn tà kiến
Chúng đây không lòng nghi
Cầu xin được nghe giảng.
Như khát tưởng nước mát
Như đói như món ngon
Như bệnh cầu thuốc hay
Như ong tham mật tốt.
Chúng tôi cũng như vậy
Mong nghe pháp cam lồ
Lành thay bậc đại trí
Nguyện giải thoát thập địa,
Thành thập lực vô ngại
Tất cả hạnh của Phật
Chúng tôi nếu được nghe
Tin thọ siêng tu tập.
Bấy giờ, đức Thế Tôn từ chặn mày phóng quang minh thanh tịnh tên là Bồ Tát Lực Diệm Minh, kèm theo vô số trăm ngàn quang minh chiếu khắp tất cả thế giới mười phương.  Ba ác đạo đều được hết khổ. Quang minh này lại chiếu suốt tất cả chúng hội của tất cả Phật, hiển hiện thần lực bất tư nghì của Phật.  Lại chiếu đến thân Bồ Tát được Phật gia hộ thuyết pháp trong tất cả thế giới khắp mười phương.  Quang minh này là những sự trên đây rồi kết thành đài lưới may rất sáng chói dừng ở trên không.
Lúc đó, chư Phật ở mười phương cũng phóng quang như vậy, và cũng hiện thành những sự như vậy.  Lại chiếu đến Phật và đại chúng ở thế giới Ta Bà này, cùng chiếu đến thân và tòa sư tử của Kim Cang Tạng Bồ Tát.
Trong đài lưới mây sáng chói dừng ở trên không, do thần lực của Phật, có tiếng nói kệ rằng:
Phật vô đẳng đẳng như hư không
Thập lực vô lượng thắng công đức
Tối thắng vô thượng trong thế gian
Thích Ca Như Lai gia hộ đó.
Phật tử nên thừa thần lực Phật
Giải bày tạng tối thắng tối tôn
Trí địa quảng đại hạnh thắng diệu
Nương Phật oai thần phân biệt nói.
Nếu được Như Lai gia hộ cho
Sẽ được pháp bửu vào tâm mình
Bồ Tát Thập Địa tuần tự đầy
Cũng đủ chư Phật mười trí lực.
Dầu ở biển sâu hay kiếp hỏa
Kham thọ pháp này tất được nghe
Những ai sanh nghi không lòng tin
Trọn không được nghe nghĩa như vậy.
Nói rộng thập địa: đạo thắng trí
Nhập trụ tuần tự tu tập lundefinedn
Theo hạnh phát sanh cảnh giới trí
Vì lợi ích chúng sanh tất cả.
Kim Cang Tạng Bồ Tát quan sát mười phương muốn cho đại chúng thêm lòng tin thanh tịnh nên nói kệ rằng:
Đạo lớn của Như Lai
Vi diệu khó biết được
Lìa niệm chẳng phải niệm
Cầu thấy chẳng thể được
Không sanh cũng không diệt
Tánh tịnh thường vắng lặng
Người ly cấu thông huệ
Đang đi trong cảnh đó.
Tự tánh vốn không tịch
Vô nhị cũng vô tận
Giải thoát khỏi các loài
Trụ niết bàn bình đẳng.
Chẳng phải sơ, trung, hậu
Chẳng phải ngôn từ đến được
Vượt qua ngoài thời gian
Tướng đó dường hư không.
Cảnh giới Phật tịch diệt
Lời nói không đến được
Cảnh thập địa cũng vậy
Khó nói cũng khó nhận.
Trí phát sanh của Phật
Rời hẳn ngoài tâm niệm
Chẳng phải uẩn xứ giới
Trí biết, ý chẳng biết.
Như dấu chim bay qua
Khó chỉ cũng khó nói
Nghĩa của mười trí địa
Tâm ý không rõ được.
Từ bi và nguyện lực
Sanh hạnh vào thập địa
Tuần tự tâm viên mãn
Chẳng phải cảnh tư lự.
Cảnh giới này khó thấy
Biết được không nói được
Do Phật lực nên nói
Đại chúng phải kính nhận.
Cảnh giới của trí địa
Ức kiếp nói không hết
Nay tôi chỉ nói lược
Nghĩa chân thật của kia.
Đại chúng cung kính chờ
Tôi thừa Phật lực nói
Tiếng pháp diệu thù thắng
Tương ưng chữ ví dụ.
Thần lực vô lượng Phật
Đều đến vào thân tôi
Nơi đây khó hiển bày
Nay tôi nói phần ít.
"Chư Phật tử!  Nếu có chúng sanh trồng sâu căn lành, khéo tu tập những hạnh trợ đạo, hay cúng dường chư Phật, làm thiện tri thức, khéo chứa nhóm những pháp thù thắng trong, giỏi nhiếp và khéo làm thanh tịnh thâm tâm, lập chí quảng đại phát sanh trí biết rộng lớn, lòng từ bi luôn hiện tiền, vì cầu Phật trí, vì được thập lực, vì được đại vô úy, vì được Phật pháp bình đẳng, vì cứu tất cả thế gian, vì thanh tịnh đại từ bi, vì được thập lực nhất thiết chủng trí, vì thanh tịnh Phật độ vô ngại, vì khoảng một niệm biết cả tam thế, vì chuyển đại pháp luân vô úy.
Chư Phật tử!  Bồ Tát phát khởi những tâm như vậy bèn lấy đại bi làm trước, trí huệ tăng thượng, phương tiện khéo diệu, thâm tâm tối thượng là chỗ nhiếp lấy, Phật lực là chỗ giữ gìn, vô lượng trí khéo quan sát, sức phân biệt dũng mãnh, sức trí huệ vô ngại hiện tiền, tùy thuận tự nhiên trí, có thể thọ lãnh tất cả Phật pháp dùng trí huệ để giáo hóa, quảng đại như pháp giới, rốt ráo dường hư không suốt thuở vị lai.
Này Phật tử!  Bồ Tát mới bắt đầu phát tâm như vậy liền được vượt khỏi hạng phàm phu mà vào ngôi Bồ Tát, sanh vào nhà Như Lai.  Không ai có thể nói chủng tộc của ngài lỗi lầm.  Ngài đã rời loài thế gian mà vào đạo xuất thế, được pháp Bồ Tát, ở chỗ Bồ Tát, nhập tam thế bình đẳng, ở trong chủng tánh Như Lai quyết định sẽ thành vô thượng giác.  Bồ Tát an trụ những pháp như vậy gọi là trụ bậc Bồ Tát Hoan Hỷ Địa, vì đã tương ưng với chân như bất động.
Chư Phật tử!  Bồ Tát trụ bậc Hoan Hỷ Địa thời thành tựu nhiều hoan hỷ, nhiều tịnh tín, nhiều ái lạc, nhiều thích duyệt, nhiều hân khánh, nhiều dũng dược, nhiều dũng mãnh, nhiều bất đấu tranh, nhiều vô não hại, nhiều vô sân hận.
Chư Phật tử!  Bồ Tát trụ bậc Hoan Hỷ Địa vì nhơ chư Phật nên sanh vui mừng, vì nhớ Phật pháp nên sanh vui mừng, vì nhớ chư Bồ Tát nên sanh vui mừng, vì nhớ hạnh Bồ Tát nên sanh vui mừng, vì nhớ thanh tịnh ba la mật nên sanh vui mừng, vì nhớ Bồ Tát địa thù thắng nên sanh vui mừng, vì nhớ Bồ Tát không hư hoại nên sah vui mừng, vì nhớ chư Phật giáo hóa chúng sanh nên sanh vui mừng, vì nhớ có thể làm lợi ích cho chúng sanh nên sanh vui mừng, vì nhớ vào trí phương tiện của chư Phật nên sanh vui mừng.
Bồ Tát này lại tự nghĩ:  Vì tôi đã chuyển và rời tất cả cảnh giới thế gian mà hoan hỷ, vì thân cận tất cả Phật mà hoan hỷ, vì lìa xa hạng phàm phu mà hoan hỷ, vì gần bậc trí huệ mà hoan hỷ, vì dứt hẳn tất cả ác thú mà hoan hỷ, vì làm chỗ y chỉ cho tất cả chúng sanh hoan hỷ, vì thấy tất cả Như Lai mà hoan hỷ, vì sanh vào cảnh giới Phật mà hoan hỷ, vì vào trong tánh bình đẳng của tất cả Bồ Tát mà hoan hỷ, vì xa lìa tất cả những sự kinh sợ rùng mình mà hoan hỷ.
Tại sao vậy?  Vì Bồ Tát đã được bậc Hoan Hỷ Địa thời được khỏi hẳn tất cả sự kinh sợ.  Như là xa lìa hẳn sự sợ chẳng sống, sợ tiếng xấu, sợ chết, sợ sa ác đạo, sợ oai đức của đại chúng.
Tại sao lại được khỏi hẳn những sự kinh sợ?
Vì Bồ Tát này đã lìa ngã tưởng, thân mình còn không mến tiếc huống là của cải, vì thế nên không kinh sợ về sự không sống.
Vì Bồ Tát này không trông cầu người khác cúng dường mình, chỉ chuyên cấp thí tất cả chúng sanh nên không kinh sợ về sự tiếng xấu.
Vì Bồ Tát này đã lìa ngã kiến không có ngã tưởng nên không kinh sợ về sự chết.
Vì Bồ Tát này tự biết sau khi chết quyết định không rời chư Phật Bồ Tát nên không kinh sợ về sự sa ác đạo.
Vì chí nguyện của Bồ Tát này, trong tất cả thế gian còn không ai bằng huống là hơn, nên không kinh sợ đối với oai đức của đại chúng.
Chư Phật tử!  Bồ Tát này lấy đại bi làm trước, chí nguyện rộng lớn không có gì trở hoại được.  Lại thêm siêng tu tất cả thiện căn mà thành tựu.
Những thiện căn đó như:  Lòng tin tăng thượng, nhiều lòng tin thanh tịnh, hiểu biết thanh tịnh, lòng quyết định, phát sanh lòng bi mẫn, thành tựu đức đại từ, không nhàm mỏi, lòng hổ thẹn trang nghiêm, thành tựu hạnh như hòa, kính thuận tôn trọn giáo pháp của chư Phật, ngày đêm tu tập các căn lành không nhàm đủ, gần gũi thiện tri thức, luôn mến thích chánh pháp, cầu đa văn không nhàm đủ, chánh quan sát đúng với pháp đã được nghe, lòng không y tựa chấp trước, không tham muốn lợi danh cung kính, chẳng mong cầu tất cả vật dụng nuôi sống phát sanh tâm như thật không nhàm đủ, cầu bậc nhất thiết trí, cầu Phật lực, vô úy, Phật pháp bất cộng, cầu các môn trợ đạo ba la mật, lìa những dua dối, có thể thực hành đúng như lời nói, luôn gì lời như thật, chẳng làm nhơ nhớp nhà Như Lai, chẳng bỏ giới Bồ Tát, sanh nhất thiết trí, lòng vững như Sơn Vương bất động, chẳng bỏ tất cả sự thế gian mà thành tựu tất cả đạo xuất thế, tu tập pháp trợ đạo vô thượng bồ đề không mỏi nhàm, thường cầu đạo vô thượng.
Chư Phật tử!  Bồ Tát thành tựu pháp tu tập thanh tịnh tâm địa như vậy thời gọi là an trụ bậc Bồ Tát Hoan Hỷ Địa.
Bồ Tát này thành tựu đại nguyện, đại dũng, đại dụng như vầy:  Phát sanh trí hiểu biết quyết định thanh tịnh quảng đại, đem tất cả đồ cúng dường cung kính dâng lên tất cả chư Phật không thiếu sót, rộng lớn đường pháp giới, rốt ráo như hư không, suốt tất cả kiếp số vị lai không thôi nghỉ.
Lại phát đại nguyện:  Nguyện thọ lãnh tất cả Phật pháp, nguyện nhiếp tất cả Phật trí, nguyện hộ tất cả Phật giáo, nguyện trì tất cả Phật pháp, rộng lớn như pháp giới, rốt ráo như hư không suốt tất cả kiếp số vị lai không thôi nghỉ.
Lại phát đại nguyện:  Nguyện trong tất cả thế giới, lúc Phật xuất thế:  Giáng thần, nhập thai, trụ thai, sơ sanh, xuất gia, thành đạo, thuyết pháp, nhập niết bàn, tôi đều đến gần gũi cúng dường, làm thượng thủ trong chúng, thọ lãnh và thực hành chánh pháp, đồng thời chuyển pháp khắp tất cả mọi nơi, rộng lớn như pháp giới, rốt ráo dường hư không, suốt tất cả kiếp số vị lai không thôi nghỉ.
Lại phát đại nguyện:  Nguyện tất cả Bồ Tát hạnh quảng đại chẳng hoại, chẳng tạp nhiếp các môn ba la mật, tu tập thanh tịnh các trí địa.  Tổng tướng, biệt tướng, đồng tướng, dị tướng, thành tướng, hoại tướng, tất cả Bồ Tát hạnh đều nói đúng như thật.  Giáo hóa tất cả chúng sanh cho họ lãnh thọ thực hành tâm địa được tăng trưởng, rộng lớn như pháp giới, rốt ráo dường hư không, suốt tất cả kiếp số vị lai không thôi nghỉ.
Lại phát đại nguyện:  Nguyện tất cả giới chúng sanh:  Có sắc, không sắc, có tưởng, không tưởng, chẳng có tưởng, chẳng không tưởng, noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, hệ thuộc ba cõi, vào sáu loài tất cả chỗ thác sanh, nhiếp về danh sắc, những loài như vậy tôi đều giáo hóa cho họ vào Phật pháp, dứt hẳn tất cả loài thế gian mà an trụ đạo nhất thiết chủng trí.  Rộng lớn như pháp giới, rốt ráo dường hư không, suốt tất cả kiếp số vị lai không thôi nghỉ.
Lại phát đại nguyện:  Nguyện tất cả thế giới rộng lớn vô lượng:  Thô, tế, loạn trụ, đảo trụ, chánh trụ, hoặc vào, hoặc đi, hoặc đến, sai khác như đế võng, mười phương vô lượng thế giới nhiều loại không đồng, đều thấy biết rõ với trí lực.  Rộng lớn như pháp giới, rốt ráo dường hư không, suốt tất cả kiếp số vị lai không thôi nghỉ.
Lại phát đại nguyện:  Nguyện tất cả quốc độ vào một quốc độ, một quốc độ vào tất cả quốc độ, vô lượng Phật độ đều khắp thanh tịnh.  Những đồ vật sáng chói dùng để trang nghiêm.  Lìa tất cả phiền não thành đạo thanh tịnh.  Chúng sanh trí huệ số đông vô lượng ở đầy trong đó.  Vào khắp cảnh giới quảng đại của chư Phật, tùy thuận tâm chúng sanh để thị hiện cho họ đều hoan hỷ.  Rộng lớn như pháp giới rốt ráo dường như không, suốt tất cả kiếp số vị lai không thôi nghỉ.
Lại phát đại nguyện:  Nguyện cùng tất cả Bồ Tát đồng một chí một hạnh không ganh thù, chứa nhóm các căn lành, tất cả Bồ Tát bình đẳng một duyên, thường tập hội không rời bỏ nhau, tùy ý có thể hiện nhiều thân Phật, tự tâm nhậm vận có thể biết cảnh giới của chư Phật, oai lực trí huệ được thần thông bất thối tùy ý du hành tất cả thế giới, hiện thân trong tất cả chúng hội, vào khắp tất cả chỗ thác sanh, thành tựu đại thừa tu hạnh Bồ Tát bất tư nghì.  Rộng lớn như pháp giới, rốt ráo dường như không suốt tất cả kiếp số vị lai không thôi nghỉ.
Lại phát đại nguyện:  Nguyện thừa pháp luân bất thối tu hạnh Bồ Tát, thân, ngữ, ý ba nghiệp đều không để luống, nếu ai tạm thấy thời được quyết định nơi Phật pháp, nếu ai tạm nghe âm thanh thời được thật trí, vừa sanh lòng tịnh tín thời dứt hẳn phiền não, được thân như cây đại dược vương, được thân như châu như ý, tu hành tất cả hạnh Bồ Tát.  Rộng lớn như pháp giới, rốt ráo dường hư không, suốt tất cả kiếp số vị lai không thôi nghỉ.
Lại phát đại nguyện:  Nguyện ở khắp tất cả thế giới thành vô thượng chánh giác, chẳng rời một chân lông mà nơi tất cả chân lông thị hiện sơ sanh, xuất gia, đến đạo tràng, thành chánh giác, chuyển pháp luân, nhập niết bàn, được sức đại trí huệ cảnh giới của Phật trong mỗi niệm thuận theo tâm của tất cả chúng sanh mà thị hiện thành Phật làm cho họ được tịch diệt, dùng nhất thiết trí biết tất cả pháp giới chính là tướng niết bàn, dùng một âm thanh thuyết pháp làm cho tâm tất cả chúng sanh đều hoan hỷ.  Thị hiện nhập đại niết bàn mà chẳng dứt hạnh Bồ Tát, thị hiện bậc đại trí huệ an lập tất cả pháp.  Dùng pháp trí thông, thần túc thông, huyễn thông, tự tại biến hóa khắp tất cả pháp giới.  Rộng lớn như pháp giới, rốt ráo dường hư không, suốt tất cả kiếp số vị lai không thôi nghỉ.
Chư Phật tử!  Bồ Tát trụ bậc Hoan Hỷ Địa phát đại nguyện như vậy, dũng mãnh như vậy, đại dụng như vậy.  Dùng mười nguyện môn này làm đầu đầy đủ trăm vạn vô số đại nguyện.
Chư Phật tử!  Đại nguyện này do mười tận cú mà được thành tựu.  Đây là mười tận cú:  Chúng sanh giới tận, thế giới tận, hư không giới tận, pháp giới tận, Như Lai giới tận, tâm sở duyên giới tận, Phật trí sở nhập cảnh giới giới tận, thế gian chuyển pháp chuyển trí chuyển giới tận.
Nếu chúng sanh giới tận, thệ nguyện của tôi mới tận, nhẫn đến thế gian chuyển pháp, chuyển trí, chuyển giới tận, thệ nguyện của tôi mới tận.  Nhưng chúng sanh giới nhẫn đến trí chuyển giới không cùng tận, nên thiện căn đại nguyện của tôi đây cũng không cùng tận.
Chư Phật tử!  Bồ Tát phát đại nguyện như vậy rồi thời được:  Tâm lợi ích, tâm như nhuyến, tâm tùy thuận, tâm tịch tịnh, tâm điều phục, tâm tịch diệt, tâm khiêm hạ, tâm nhuận trạch, tâm bất động, tâm bất trược, thành bậc tịnh tín, có công dụng của đức tin, có thể bin bản hạnh chứng nhập của Như Lai, tin thành tựu được các môn ba la mật, tin vào những bậc thắng địa, tin sức thành tựu tin đầy đủ vô sở úy, tin sanh trưởng Phật pháp bất cộng bất hoại, tin Phật pháp bất tư nghì, tin xuất sanh Phật cảnh giới không trung biên, tin tùy nhập vô lượng cảnh giới của Phật, tin thành tựu quả.  Tóm lại, tin tất cả Bồ Tát hạnh, nhẫn đến tin trí, địa, thuyết, lực của Như Lai.
Chư Phật tử!  Bồ Tát này lại nghĩ rằng:  Chánh pháp của chư Phật thậm thâm như vậy, tịch tịnh như vậy, tịch diệt như vậy, không, vô tướng, vô nguyện như vậy, vô nhiễm như vậy, vô lượng, quảng đại như vậy, mà hàng phàm phu sa vào tà kiến, bị vô minh che lòa, dựng cao tràng kiêu mạn, vào trong lưới khát ái, đi trong rừng rậm dua dối không tự ra được.  Lòng luôn đi đôi với tham lam ganh ghét, thường tạo những nhân duyên thọ sanh trong các loài tham, sân, si gây thành những nghiệp ngày đêm thêm lớn mãi, do gió phẫn hận thổi ngọn lửa tâm thức hực hực không tắt, phàm họ nói hay làm đều là điên đảo.  Dục lưu, hữu lưu, vô minh lưu, kiến lưu nói luôn phát khởi chủng tử tâm ý thức.  Trong ruộng tam giới lại mọc mầm khổ, chính là chẳng rời danh sắc.  Danh sắc này thêm lớn, thành tụ lạc của sáu loài.  Trong đó đối nhau mà sanh ra xúc, do xúc sanh thọ, nhân thọ sanh ái, vì ái tăng trưởng nên sanh thủ, vì thủ tăng trưởng nên sanh hữu mà có hữu não.  Chúng sanh thêm lớn quả khổ, trong đây là trống rỗng lìa ngã và ngã sở, vô tri vô giác, vô giác vô thọ như cỏ cây, đá vách, cũng như vang bóng.  Nhưng chúng sanh vẫn không hay không biết.
Bồ Tát thấy chúng sanh không thể thoát khỏi khổ quả như vậy, liền phát sanh đại bi trí huệ tự nghĩ rằng:  Tôi phải cứu vớt tất cả chúng sanh này đặt họ ở chỗ rốt ráo an lạc.  Do vì suy nghĩ phát tâm như vậy nên sanh trí huệ quang minh đại từ.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát tuỳ thuận đại bi đại từ như vậy, lúc dùng tâm thâm trọng trụ bậc sơ địa, đối với tất cả vật không hề lẫn tiếc, cầu Phật trí, tu đại xả.  Phàm có thứ chi đều có thể bố thí cả.  Những là tiền, lúa, kho, đụn, vàng, bạc, ma ni, châu ngọc, đồ trang sức, voi, ngựa, xe cộ, tôi tớ, nhân dân, thành ấp, tụ lạc, vườn rừng, lầu đài, vợ con quyến thuộc, đầu, mắt, tay, chân, máu, thịt, xương, tủy, tất cả đều không tiếc, để cầu trí huệ rộng lớn của chư Phật.
Đây gọi là thành tựu đại xả của bậc Bồ Tát trụ Sơ Địa.
Chư Phật tử!  Bồ Tát dùng tâm từ bi đại thí này là vì muốn cứu hộ tất cả chúng sanh.  Thêm cầu những sự lợi ích thế gian và xuất thế, vì không nhàm đủ liền được thành tựu tâm không mỏi nhàm.  Được tâm không mỏi nhàm rồi, với tất cả kinh luận, không lòng khiếp nhược, vì lòng không khiếp nhược liền được thành tựu nhất thiết kinh luận trí.  Được trí này rồi thời có thể hay so lường việc nên làm, việc chẳng nên làm.  Với tất cả chúng sanh căn cơ thượng, trung, hạ, thuận theo chỗ đáng độ, năng lực và thói quen của họ mà làm cho họ đều được lợi ích.  Do đây Bồ Tát được thành thế trí.  Thành được thế trí rồi liền biết thời tiết,  biết lượng số.  Vì tàm quý mà siêng tu đạo hạnh tự lợi lợi tha nên thành tựu tàm quý trang nghiêm.  Trong hạnh này siêng tu hạnh giải thoát không thối chuyển thành sức kiên cố.  Được sức kiên cố rồi thời siêng cúng dường chư Phât.  Nơi giáo pháp của Phật có thể thực hành đúng như lời dạy.
Chư Phật tử!  Bồ Tát thành tựu mười pháp thanh tịnh các trí địa như vậy.  Chính là :  Bì, từ, xả, không mỏi nhàm, biết kinh luận, hiểu thế pháp, tàm quý, sức kiên cố, cúng dường chư Phật và y giáo tu hành.
Chư Phật tử!  Bồ Tát đã trụ bậc Hoan Hỷ Địa này rồi, do sức đại nguyện được thấy nhiều đức Phật.  Như là thấy trăm đức Phật, thấy ngàn đức Phật, trăm ngàn đức Phật, ức Phật, trăm ức Phật, ngàn ức Phật, trăm ngàn ức Phật, ức na do tha Phật, trăm ức na do tha Phật, ngàn ức na do tha Phật, trăm ngàn ức na do tha Phật.  Với chư Phật này, Bồ Tát đều dùng đại tâm, thâm tâm, cung kính tôn trọng phụng thờ cúng dường những y phục, ẩm thực, ngọa cụ, y dược và tất cả đồ dùng, cũng cúng dường tất cả chúng tăng.  Bồ Tát đem công đức thiện căn này đều hồi hướng vô thượng bồ đề.
Chư Phật tử!  Vì cúng dường chư Phật, Bồ Tát này thành tựu được chúng sanh pháp, dùng hai nhiếp pháp trước là bố thí và ái ngữ để nhiếp lấy chúng sanh.  Còn hai nhiếp pháp sau thời chỉ do sức tín giải mà thực hành chớ chưa thông đạt.
Bồ Tát này ở trong mười ba la mật thời đàn ba la mật được thượng.  Với chín ba la mật kia thời tuỳ sức tùy phần mà thực hành.
Bồ Tát này trong lúc siêng cúng dường chư Phật giáo hóa chúng sanh đều để tu hành thanh tịnh pháp trí địa.  Bao nhiêu thiện căn đều hồi hướng bậc nhất thiết chủng trí, lần thêm sáng sạch, điều nhu thành tựu, tùy ý đều dùng được.
Chư Phật tử!  Ví như thợ kim hoàn, khéo luyện vàng, cho vào lửa thường thời vàng càng thêm sáng sạch mịn nhuyễn tùy ý người thợ dùng.
Cũng vậy, Bồ Tát này cúng dường chư Phật giáo hóa chúng sanh đều để tu hành thanh tịnh pháp trí địa, bao nhiêu thiện căn đều hồi hướng bậc nhất thiết chủng trí, càng thêm sáng sạch điều nhu thành tựu có thể dùng tuỳ ý.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát trụ bậc Sơ Địa phải đến chỗ chư Phật, Bồ Tát, thiện tri thức tìm cầu thưa hỏi.  Ở trong địa này, từ nơi tướng và đắc quả không nhàm đủ, vì muốn thành tựu pháp của trí địa này.  Lại cũng phải đến chỗ Phật, Bồ Tát, thiện tri thức tìm cầu thưa hỏi tướng và đắc quả của Nhị Địa, Tam Địa, nhẫn đến Thập Địa không nhàm đủ, vì muốn thành tựu pháp của các trí địa đó.
Bồ Tát này khéo biết trong các trí địa:  Chướng và đối trị, địa thành hay hoại, địa tướng và quả.  Cũng biết rõ địa đắc tu, địa pháp thanh tịnh, địa tiến tu lên, phải địa chẳng phải địa, trí thù thắng của các địa, bất thối chuyển của các địa.  Cũng khéo biết thanh tịnh tu trị tất cả trí địa, nhẫn đến chuyển vào Như Lai địa.
Chư Phật tử!  Bồ Tát khéo biết địa tướng như vậy.  Ban đầu ở bậc sơ địa phát khởi tu hành không gián đoạn, nhẫn đến nhập bậc thập địa không gián đoạn.
Do trí huệ sáng suốt của các trí địa đây mà thành trí huệ quang minh của Như Lai.
Chư Phật tử!  Ví như vị thương chủ biết rành phương tiện muốn dắt các thương gia đến đại thành, lúc chưa khởi hành, trước hỏi rõ sự lành dữ dọc đường và chỗ đến ở an hay nguy, được hay không.  Sau đó trang bị tu lương vật dụng đầy đủ rồi mới cùng nhau lên đường.
Chư Phật tử!  Vị thương chủ kia dầu chưa khởi hành mà đã biết rõ lộ trình lành dữ tất cả sự an nguy, khôn khéo suy tính sắm sửa hành trang lương thực không để thiếu sót, mới có thể dắt đoàn thương gia đến đại thành một cách toàn vẹn an ổn.
Chư Phật tử!  Bồ Tát cũng như vậy.  Trụ bậc sơ địa biết rành chướng và đối trị của các trí địa, nhẫn đến biết rành tất cả trí địa thanh tịnh chuyển nhập Như Lai địa, sau đó mới lo đủ lương phước và trí, dắt các chúng sanh đi qua đường hiểm sanh tử, đến thành nhất thiết chủng trí một cách an toàn.
Vì lẽ trên đây nên Bồ Tát phải thường siêng tu công hạnh thanh tịnh thù thắng của các trí địa nhẫn đến chứng nhập Như Lai địa.
Chư Phật tử!  Đây gọi là lược nói môn nhập bậc sơ địa của đại Bồ Tát.  Nói rộng ra thời có vô lượng vô biên trăm ngàn vô số sự sai khác.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát trụ bậc sơ địa này phần nhiều hiện làm vua ở Diêm Phù Đề, giàu mạnh tự tại thường hộ trì chánh pháp.  Hay dùng hạnh đại thí để nhiếp thủ chúng sanh, khéo trừ tật tham lam bỏ sẻn của chúng sanh.  Tất cả công việc làm như bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự đều chẳng rời niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng.  Chẳng rời niệm Bồ Tát đồng hạnh, chẳng rời niệm hạnh Bồ Tát, các môn ba la mật, các trí địa.  Chẳng rời niệm lực, vô úy, pháp bất cộng.  Chẳng rời niệm nhất thiết trí.
Bồ Tát này lại nghĩ rằng:  Tôi phải ở trong tất cả chúng sanh làm thượng thủ, làm thắng, làm thù thắng, làm diệu, làm vi diệu, làm thượng, làm vô thượng, làm đạo sư, làm tướng, làm soái, nhẫn đến làm người y chỉ của nhất thiết chủng trí.
Bồ Tát này nếu muốn bỏ nhà để siêng tu Phật pháp, liền có thể bỏ nhà vợ con ngũ dục, vào nhà Như lai xuất gia học đạo.  Đã xuất gia rồi thời tinh tấn tu hành, trong khoảng một niệm trăm tam muội, được thấy trăm đức Phật, biết thần lực của trăm đức Phật, có thể chấn động thế giới của trăm đức Phật, có thể qua thế giới của trăm đức Phật, có thể chiếu thế giới của trăm đức Phật, có thể giáo hóa chúng sanh trong trăm thế giới, có thể trụ thọ trăm kiếp, có thể biết những việc đã qua và sẽ tới trong trăm kiếp, có thể vào trăm pháp môn, có thể thị hiện trăm thân, ở mỗi thân có thể thị hiện trăm vị Bồ Tát làm quyến thuộc.
Nếu dùng nguyện lực thù thắng của Bồ Tát tự tại thị hiện hơn nơi số trên đây, thời cả trăm kiếp ngàn kiếp, nhẫn đến trăm ngàn ức na do tha kiếp cũng chẳng tính biết được.
Kim Cang Tạng Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này nên nói kệ rằng:
Nếu người tu điều lành
Đủ những pháp bạch tịnh
Cúng dường chư Thế Tôn
Tùy thuận đạo từ bi.
Tin hiểu rất rộng lớn
Chí nguyện cũng thanh tịnh
Vì cầu trí huệ Phật
Phát tâm vô thượng này.
Tu tất cả trí lực
Và cùng vô sở úy
Thành tựu các Phật pháp
Cứu nhiếp các quần sanh.
Vì được đại từ bi
Và chuyển thắng pháp luân
Nghiêm tịnh Phật quốc độ
Phát tâm tối thắng này.
Một niệm biết tam thế
Mà không có phân biệt
Thời gian sai khác nhau
Để hiển thị thế gian
Lược nói cầu chư Phật
Tất cả thắng công đức
Phát sanh tâm quảng đại
Lượng đồng cõi hư không.
Bi trước, huệ làm chủ
Tương ưng cùng phương tiện
Tâm tín giải thanh tịnh
Phật vô lượng thần lực.
Trí vô ngại hiện tiền
Tự ngộ chẳng do người
Đầy đủ đồng chư Phật
Phát tâm tối thắng này.
Phật tử mới phát sanh
Tâm diệu bửu như vậy
Thời siêu hạng phàm phu
Vào chỗ đi của Phật.
Sanh tại nhà Như Lai
Chủng tộc không tội lỗi
Đồng bình đẳng với Phật
Quyết thành vô thượng giác.
Vừa sanh lòng như vậy
Liền được vào sơ địa
Chí nuyện chẳng bị động
Dường như núi tu di.
Nhiều vui, nhiều ưa thích
Lại cũng nhiều tịnh tín
Tâm dũng mãnh rất lớn
Và cùng tâm mừng rỡ.
Xa rời sự đấu tranh
Não hại và giận hờn
Kính thuận mà chất trực
Khéo gìn giữ sáu căn.
Đấng cứu thế vô thượng
Có bao nhiêu trí huệ
Bậc này tôi sẽ được
Ghi nhớ sanh hoan hỷ.
Mới được vào sơ địa
Liền siêu năm điều sợ
Chẳng sống, tiếng xấu, chết,
Ác đạo, chúng oai đức.
Vì chẳng tham chấp ngã
Và chẳng chấp ngã sở
Các Phật tử như đây
Xa rời năm điều sợ.
Thường thực hành đại từ
Luôn kính tin tuỳ thuận
Đủ công đức tàm quý
Ngày đêm thêm pháp lành.
Thích thật lợi chánh pháp
Chẳng ưa thọ dục lạc
Tu duy pháp đã nghe
Rời xa hạnh chấp trước.
Chẳng tham cầu lợi dưỡng
Chỉ thích Phật bồ đề
Nhất tâm cầu Phật trí
Chuyên ròng không niệm khác.
Tu tập ba la mật
Xa rời dua dối gạt
Thực hành đúng lời Phật
An trụ trong thật ngữ.
Chẳng nhơ nhà chư Phật
Chẳng bỏ giới Bồ Tát
Chẳng thích những thế sự
Thường lợi ích thế gian.
Làm lành không nhàm đủ
Thêm cầu đạo tăng thắng
Ưa thích pháp như vậy
Tương ưng nghĩa công đức.
Thường phát khởi đại nguyện
Nguyện thấy chư Như Lai
Hộ trí Phật chánh pháp
Nhiếp lấy đạo vô thượng.
Thường sanh nguyện như vầy:
Tu hành hạnh tối thắng
Thành thục mọi quần sanh
Nghiêm tịnh Phật quốc độ.
Tất cả các cõi Phật
Đều đông đầy Phật tử
Bình đẳng chung một lòng
Việc làm đều chẳng luống.
Nơi tất cả chân lông
Đồng thời thành chánh giác
Những đại nguyện như vậy
Vô lượng vô biên tế.
Hư không cùng chúng sanh
Pháp giới và niết bàn
Thế gian Phật ra đời
Phật trí tâm cảnh giới
Trí của Như Lai chứng
Cùng tam chuyển pháp tận
Tất cả đó có tận
Nguyện của tôi mới tận
Như đó không cùng tận
Nguyện của tôi cũng vậy
Phát nguyện lớn như thế
Tâm nhu nhuyến điều thuận.
Hay tin công đức Phật
Quan sát nơi chúng sanh
Biết từ nhân duyên khởi
Liền sanh lòng từ mẫn:
Chúng sanh khổ như vậy
Nay tôi phải cứu thoát
Vì những chúng sanh này
Thực hành việc bố thí.
Ngôi vua và trân bửu
Nhẫn đến voi, ngựa, xe
Đầu, mắt, cùng tay, chân
Nhẫn đến máu, thịt, xương
Tất cả đều xả thí
Không có lòng hối tiếc.
Cầu các thứ kinh thơ
Không hề biết nhàm mỏi
Khéo hiểu nghĩa thú kia
Hay thuận theo thế gian.
Tàm quý tự trang nghiêm
Tu hành càng kiên cố
Cúng dường vô lượng Phật
Cung kính và tôn trọng.
Thường tu tập như vậy
Ngày đêm không nhàm mỏi
Thiện căn càng sáng sạch
Như lửa luyện chân kim.
Bồ Tát trụ nơi đây
Tịnh tu mười trí địa
Chỗ làm không chướng ngại
Đầy đủ chẳng đoạn tuyệt.
Ví như vị thương chủ
Vì lợi cho thương gia
Hỏi rõ đường dễ khó
An ổn đến đại thành
Bồ Tát trụ sơ địa
Phải biết cũng như vậy.
Dũng mãnh không chướng ngại
Đến bậc đệ thập địa.
Trụ trong sơ địa này
Làm chủ công đức lớn
Đem pháp dạy chúng sanh
Tâm từ không tổn hại.
Thống lãnh Diêm Phù Đề
Giáo hóa tất cả chúng
Đều trụ hạnh đại xả
Thành tựu trí huệ Phật.
Muốn cầu đạo tối thắng
Bỏ ngôi quốc vương mình
Hay ở trong Phật giáo
Dũng mãnh siêng tu tập
Liền được trăm tam muội
Và thấy trăm đức Phật
Chấn động trăm thế giới
Quang minh chiếu trăm cõi
Độ trăm cõi chúng sanh
Chứng nhập trăm pháp môn
Hay biết việc trăm kiếp
Thị hiện trăm thân Phật
Và hiện trăm Bồ Tát
Để dùng làm quyến thuộc
Nếu nguyện lực tự tại
Hơn số này vô lượng
Ở trong nghĩa sơ địa
Tôi lược thuật phần ít
Nếu muốn giảng giải rộng
Ức kiếp chẳng hết được.
Bồ Tát đạo tối thắng
Lợi ích mọi quần sanh
Pháp sơ địa như vậy
Nay tôi đã nói xong.


Hán bộ quyển 35

Chúng Bồ Tát đã nghe
Địa tối thắng vi diệu
Tâm các ngài thanh tịnh
Tất cả đều vui mừng
Đồng rời toà đứng dậy
Vọt bay dừng trên không
Khắp rải hoa báu đẹp
Đồng thời chung khen ngợi:
Lành thay Kim Cang Tạng
Bậc đại trí vô úy
Khéo nói những pháp lành
Của sơ địa Bồ Tát
Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt
Biết lòng chúng thanh tịnh
Thích nghe những hành tướng
Của đệ nhị Ly Cấu
Liền thỉnh Kim Cang Tạng:
Đại trí xin diễn thuyết
Phật tử đều thích nghe
Đệ nhị Ly Cấu Địa.
Bấy giờ, Kim Cang Tạng Bồ Tat bảo Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát rằng:  "Thưa Phật tử!  Đại Bồ Tát đã tu sơ địa muốn vào đệ nhị địa thời phải phát khởi mười thứ thâm tâm.
Đây là mười thứ thâm tâm:  Tâm chánh trực, tâm như nhuyến, tâm kham năng, tâm điều phục, tâm tịch tịnh, tâm thuần thiện, tâm chẳng tạp, tâm không cố luyến, tâm rộng, tâm lớn.
Bồ Tát dùng mười thâm tâm này thời được vào bậc Ly Cấu Địa thứ hai.
Chư Phật tử!  Bồ Tát trụ ly cấu địa thời tánh tự xa rời tất cả sát sanh, chẳng chứa dao gậy, chẳng có lòng oán hận, có tàm quỳ, đầy đủ lòng nhân thứ.  Với tất cả chúng sanh có mạng sống thời thương, sanh lòng từ làm lợi ích.
Bồ Tát này còn chẳng có lòng ác não hại chúng sanh, huống là với họ mà có chúng sanh tưởng cố ý làm việc giết hại.
Tánh tự chẳng trộm cắp.  Với của cải mình Bồ Tát thường biết vừa đủ, với người thời thương yêu tha thứ chẳng hề xâm tổn.  Nếu đồ vật thuộc người khác thời tưởng là của người khác, trọn không sanh lòng trộm cắp, nhẫn đến lá cây của người không cho thời không lấy, huống là đồ vật dụng khác.  Tánh tự chẳng tà dâm.  Với tự thê, Bồ Tát tri túc chẳng mong vợ người.  Với thê thiếp của người cùng con gái của người, trọn không móng lòng tham nhiễm, huống là tùng sự dâm dục, huống là nơi phi đạo.
Tánh tự chẳng vọng ngữ.  Bồ Tát luôn thật ngữ, chân ngữ, thời ngữ, nhẫn đến trong chiêm bao cũng còn chẳng nói lời phú tàng, vô tâm, vọng ngữ, huống là cố ý nói dối.
Tánh tự chẳng lưỡng thiệt.  Bồ Tát đối với chúng sanh không tâm ly gián, không tâm não hại, chẳng đem lời người này đến nói với người kia để phá người kia, chẳng đem lời người kia đến nói với người này để phá người này, người chưa ly phá thời chẳng cho ly phá, người đã ly phá thời chẳng cho thêm hơn.  Chẳng mừng sự ly gián, chẳng ưa sự ly gián, chẳng nói lời ly gián.  Chẳng cho lời ly gián là thật hay chẳng thật.
Tánh tự chẳng ác khẩu, như là lời độc hại, lời thô tục, lời làm khổ người khác, lời làm người khác sân hận, lời hiện tiền, lời chẳng hiện tiền, lời xấu ác, lời dung tiện, lời bất nhã, lời làm người nghe không ưa, không vui, lời giận dữ, lời như lửa đốt lòng, lời oán kết, lời nhiệt não, lời có thể làm hại mình và người.  Những ác khẩu như vậy đều bỏ lìa cả.  Thường nói lời lợi ích, lời mềm mỏng, lời đẹp dạ, lời thích nghe, lời làm người nghe vui mừng, lời khéo vào tâm người, lời phong nhã điển tắc, lời nhiều người mến thích, lời nhiều người vui đẹp, lời thân tâm hớn hở.
Tánh tự chẳng ỷ ngữ.  Bồ Tát thường thích nói lời chín chắn, lời phải thời, lời thật, lời đúng nghĩa, lời đúng pháp, lời thuận đạo lý, lời khéo điều phục, lời tùy thời tính lường quyết định.  Bồ Tát này nhẫn đến chơi cười còn luôn suy nghĩ kỹ, huống là cố ý nói ra lời tán loạn.
Tánh tự chẳng tham lam.  Bồ Tát này đối với tài vật đồ dùng của kẻ khác chẳng móng tâm tham, chẳng mong cầu.
Tánh tự rời giận hờn.  Bồ Tát này đối với tất cả chúng sanh luôn khởi tâm từ mẫn, tâm lợi ích, tâm đau xót, tâm hoan hỷ, tâm hòa thuận, tâm nhiếp thọ, bỏ hẳn sân hận oán hại nhiệt não, thường nghĩ đến thực hành nhân từ lợi ích.
Tánh tự lìa tà kiến.  Bồ Tát trụ nơi chánh đạo, chẳng coi bói, chẳng thọ lấy cấm giới tà ác, tâm kiến chánh trực, không dua dối, quyết định tin nơi Phật, pháp, tăng.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát hộ trì mười nghiệp đạo lành như vậy không hề gián đoạn.  Lại tự nghĩ rằng:  Tất cả chúng sanh sa đoạ nơi ác đạo đều do mười nghiệp ác.  Vì thế nên tôi phải tự tu chánh hạnh, cũng khuyên người khác tự tu chánh hạnh.  Vì mình không tự tu thời không thể bảo kẻ khác tu.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này lại nghĩ rằng:  Mười nghiệp đạo ác là nhân thọ sanh nơi địa ngục, súc sanh và ngạ quỷ.  Mười nghiệp đạo lành là nhân thọ sanh nơi loài người cõi trời.  Lại thượng phẩm mười nghiệp đạo lành này dùng trí huệ để tu tập, vì tâm hẹp kém, vì sợ sanh tử, vì thiếu đại bị, vì theo người Thanh Văn khác mà tỏ ngộ thời thành Thanh Văn thừa.  Lại thượng phẩm mười nghiệp đạo lành này tu tập thanh tịnh, chẳng do người khác dạy mà tự giác ngộ, vì chẳng đủ đại bi phương tiện, mà tỏ ngộ pháp nhân duyên thậm thâm thời thành Độc Giác thừa.  Lại thượng phẩm mười nghiệp đạo lành này tu tập thanh tịnh, vì tâm rộng vô lượng, vì đầy đủ bi mẫn, vì phương tiện nhiếp thọ, vì phát sanh đại nguyện, vì chẳng bỏ chúng sanh, vì mong cầu Phật trí, vì tu tập trí địa của Bồ Tát, vì tịnh tu tất cả ba la mật, mà thành hạnh quảng đại của Bồ Tát.  Lại thượng thượng phẩm mười nghiệp đạo lành này, vì nhất thiết chủng thanh tịnh nhẫn đến chứng thập lực, tứ vô úy nên tất cả Phật pháp đều được thành tựu.  Vì những lẽ trên đây nên tôi bình đẳng thực hành mười nghiệp lành làm cho tất cả đều thanh tịnh đầy đủ.
Những phương tiện như vậy Bồ Tát phải học.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này lại nghĩ rằng:  Mười nghiệp đạo ác:  Thượng phẩm là nhân địa ngục, trung phẩm là nhân súc sanh, hạ phẩm là nhân ngạ quỷ.
Trong đây về tội sát sanh có thể làm cho chúng sanh đoạ địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ.  Nếu sanh trong loài người thời mắc hai quả báo:  Mạng vắn và nhiều bệnh.
Tội trộm cắp cũng làm cho chúng sanh đoạ ba ác đạo.  Nếu sanh trong loài người thời mắc hai quả báo:  Nghèo cùng và tài sản chung không được tự do dùng.
Tội tà dâm cũng làm cho chúng sanh đọa ba ác đạo.  Nếu sanh trong loài người thời mắc hai quả báo:  Vợ không trinh lương và quyến thuộc không được tùy ý.
Tội vọng ngữ cũng làm cho chúng sanh đoạ ba ác đạo.  Nếu sanh trong loài người thời mắc hai quả báo:  Bị phỉ báng và bị khi dối.
Tội lưỡng thiệt cũng làm cho chúng sanh đoạ ba ác đạo.  Nếu sanh trong loài người thời mắc hai quả báo:  Quyến thuộc trái lìa và thân tộc tệ ác.
Tội ác khẩu cũng làm cho chúng sanh đoạ ba ác đạo.  Nếu sanh trong loài người thời mắc hai quả báo:  Thường nghe tiếng ác và lời nói nhiều tranh cãi.
Tội ỷ ngữ cũng làm cho chúng sanh đoạ ba ác đạo.  Nếu sanh trong loài người thời mắc hai quả báo:  Lời nói người không lãnh thọ và lời không rõ ràng.
Tội tham dục cũng làm cho chúng sanh đoạ ba ác đạo.  Nếu sanh trong loài người thời mắc hai quả báo:  Lòng không biết đủ và quá tham muốn không nhàm.
Tội sân hận cũng làm cho chúng sanh đoạ ba ác đạo.  Nếu sanh trong loài người thời mắc hai quả báo:  Thường bị người khác tìm chỗ hay dở và luôn bị người khác não hại.
Tội tà kiến cũng làm cho chúng anh đoạ ba ác đạo.  Nếu sanh trong loài người thời mắc hai quả báo:  Sanh nhà tà kiến và tâm dua vạy.
Chư Phật tử!  Mười nghiệp đạo ác có thể sanh vô lượng vô biên những quả khổ.  Do đây Bồ Tát nghĩ rằng:  Tôi phải xa rời mười nghiệp ác.  Làm vườn pháp an ổn thích thú tự ở trong đó, cũng khuyên người khác cùng ở trong đó.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này với tất cả chúng sanh phát sanh tâm lợi ích, tâm an lạc, tâm từ, tâm bi, tâm lân mẫn, tâm nhiếp thọ, tâm thủ hộ, tâm tự kỷ, tâm sư, tâm đại sư.
Bồ Tát nghĩ rằng:  Chúng sanh đáng thương đoạ nơi rừng rậm tà kiến, trí ác, muốn ác, đạo ác.  Tôi phải làm cho họ trụ nơi chánh kiến tu hành đạo chân thật.
Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Tất cả chúng sanh phân biệt bỉ ngã phá hoại lẫn nhau, đấu tranh sân hận hẩy hừng không ngớt, tôi phải làm cho họ an trụ trong vô thượng đại từ.
Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Tất cả chúng sanh tham lấy không biết nhàm, chỉ cầu của cải tự sống bằng cách tà mạng.  Tôi phải làm cho họ an trụ trong chánh pháp thân, ngữ, ý thanh tịnh chánh mạng.
Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Tất cả chúng sanh thường theo tham, sân, si, các thứ phiền não nhân đó mà hẩy hừng, họ chẳng biết lập chí cầu phương tiện giải thoát.  Tôi phải làm cho họ dứt trừ tất cả lửa lớn phiền não, đặt họ vào chỗ niết bàn thanh lương.
Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Tất cả chúng sanh bị màn đầy ngu si vọng kiến tối tăm che đậy mà phải vào trong rừng rậm tối lòa, mất ánh sáng trí huệ, đi đường hiểm đồng hoang sanh ác kiến.  Tôi phải làm cho họ được trí nhãn thanh tịnh không chướng ngại, biết tường như thật của các pháp, chẳng theo người khác dạy.
Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Tất cả chúng sanh ở trong đường hiểm sanh tử, sắp đoạ địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, vào trong lưới ác khiến, bị rừng tậm ngu si làm mê, theo dõi đạo tà, làm hạnh điên đảo, ví như người mù không kẻ dắt đường.  Chẳng phải đạo giải thoát mà cho là đạo giải thoát.  Vào cảnh giới ma, bị bọn giặc ác nhiếp lấy, thuận theo tâm mà, xa là ý Phật.  Tôi phải cứu họ ra khỏi nạn hiểm như vậy, cho họ an trụ nơi thành nhất thiết trí vô úy.
Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Tất cả chúng sanh bị dòng nước chảy xiết sóng lớn nhận chìm vào dòng dục, dòng sanh tử, dòng vô minh, dòng tà kiến, xoay lăn trong sanh tử, trôi nổi trong sông ái nhiễm, mãi bị dồi giập không rảnh để quan sát, rồi bị quan niệm tham dục, sân hận, độc hại không rời tâm họ, nên họ bị quỷ la sát thân kiến bắt đem nhốt hẳn trong rừng rậm ái dục.  Họ lại quá nhiễm trước nơi chỗ tham ái, ở nơi gò ngã mạn, ngụ trong tụ lạc sáu căn.  Nếu không người cứu giỏi, thời không thể độ họ được.
Tôi phải phát khởi tâm đại bi đối với họ, dùng những thiện căn để cứu tế họ, cho họ khỏi tai hoạn lìa nhiễm ô được thanh tịnh, mà ở an nơi thành báu nhất thiết trí.
Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Tất cả chúng sanh ở trong lao ngục thế gian bị nhiều khổ não, thường ôm lòng yêu ghét, tự mang lấy gông xiềng lo sợ tham dục, rừng rậm vô minh che chướng họ, không thể thoát khỏi ba cõi.  Tôi phải làm cho họ ra khỏi hẳn ba cõi mà ở an nơi đại niết bàn vô ngại.
Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Tất cả chúng sanh chấp trước nơi ngã và ngã sở, chẳng có ý muốn ra khỏi nhà tù ngũ uẩn, nương nơi tụ lạc trống rỗng, sáu căn phát khởi bốn hạnh điên đảo, bị bốn rắn độc tứ đại cắn mổ, bị giặc thù ngũ uẩn giết hại chịu vô lượng đau khổ
Tôi phải làm cho họ ở an nơi chỗ tối thắng vô trước, chính là vô thượng niết bàn dứt hết mọi chướng ngại.
Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Tâm của chúng sanh hèn kém, chẳng chịu thực hành đạo có thể nhất thiết trí.  Dầu họ muốn giải thoát, nhưng họ chỉ thích hai thừa Thanh Văn và Bích Chi Phật.  Tôi phải làm cho họ an trụ nơi Phật pháp quảng đại, nơi trí huệ quảng đại.
Bồ Tát này hộ trì giới cấm như vậy khéo có thể thêm lớn tâm từ bi.
Chư Phật tử!  Bồ Tát ở bậc ly cấu địa này, do nguyện lực mà được thấy nhiều Phật.  Như là thấy trăm đức Phật, ngàn đức Phật, trăm ngàn đức Phật, nhẫn đến thấy trăm ngàn ức na do tha đức Phật.
Ở chỗ chư Phật, Bồ Tát này dùng tâm quảng đại thâm tâm cung kính tôn trọng phụng thờ, cúng dường những thứ y phục, ăn uống, thuốc men, ngoạ cụ, tất cả đồ dùng.  Và cũng cúng dường tất cả chúng tăng.  Đem công đức này hồi hướng vô thượng bồ đề.
Ở chỗ chư Phật, do tâm tôn trọng, Bồ Tát này lại thọ hành mười đạp pháp lành, tuỳ chỗ đã thọ nhẫn đến bồ đề trọn không quên mất.
Bồ Tát này từ vô lượng trăm ngàn ức na do tha kiếp vì đã xa rời tội tham giận phá giới nên hạnh bố thí, trì giới được thanh tịnh toàn vẹn.
Ví như chân kim để trong phàn thạch, đúng theo cách thức luyện xong thời lìa tất cả cấu nhơ càng sáng sạch hơn.
Bồ Tát trụ bậc ly cấu địa này cũng như vậy.  Trải qua vô lượng trăm ngàn ức na do tha kiếp, vì xa lìa bợn nhơ tham sân phá giới, nên hạnh bố thí, trì giới được thanh tịnh đầy đủ.
Chư Phật tử!  Trong bốn nhiếp pháp, Bồ Tát này thiên về ái ngữ nhiều.  Trong mười môn ba la mật, Bồ Tát này thiên nhiều về trì giới.  Với các pháp khác thời tùy phần tùy sức.
Chư Phật tử!  Đây là lược nói về bậc ly cấu địa.
Đại Bồ Tát trụ bậc này, phần nhiều hiện thân làm chuyển luân thánh vương, làm đại pháp chủ, đầy đủ thất bửu, có sức tự tại, có thể trừ cấu nhiễm tham, sân, phá giới của tất cả chúng sanh.  Dùng phương tiện khéo làm cho họ an trụ trong mười nghiệp đạo lành.  Làm vị đại thí chủ châu ấp vô tận.  Bao nhiêu công hạnh như bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự đều không rời niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, nhẫn đến chẳng rời niệm nhất thiết chủng trí.
Bồ Tát này lại nghĩ rằng:  Nơi tất cả chúng sanh tôi sẽ là thượng thủ, là thắng, là tối thắng, là diệu, là vi diệu, là thượng, là vô thượng, nhẫn đến là chỗ y chỉ của nhất thiết chủng trí.
Bồ Tát này lúc muốn bỏ nhà để ở trong Phật pháp tinh tấn tu hành.  Liền có thể rời nhà vợ co, quyến thuộc, ngũ dục.  Khi đã xuất gia thời siêng năng tu tập, khoảng một niệm được ngàn tam muội, được thấy ngàn đức Phật, biết thần lực của ngàn đức Phật, có thể chấn động ngàn thế giới, nhẫn đến có thể thị hiện ngàn thân, mỗi thân thị hiện ngàn Bồ Tát làm quyến thuộc.  Nếu dùng nguyện lực thù thắng tự tại để thị hiện thời hơn số này, trong trăm ngàn ức na do tha kiếp cũng chẳng đếm biết được."
Kim Cang Tạng Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này bèn nói kệ rằng:
Chất trực, nhu nhuyến và kham năng
Điều phục, tịch tịnh và thuần thiện
Ý rộng lớn mau thoát sanh tử
Do mười tâm vào đệ nhị địa.
Ở đây thành tựu giới công đức
Xa lìa sát sanh chẳng não hại
Cũng lìa trộm cắp và tà dâm
Lìa hẳn vọng, ác, ly, ỷ ngữ.
Chẳng tham của cải thường xót thương
Chánh đạo, trực tâm không xiểm ngụy
Rời hiểm, bỏ mạn, rất điều nhu
Y giáo thực hành chẳng phóng dật.
Địa ngục, súc sanh chịu khốn khổ
Ngạ quỷ đói khát miệng tuôn lửa
Tất cả đều do tội ác gây
Tôi phải lìa xa trụ thật pháp
Nhân gian tùy ý được thọ sanh
Nhẫn đến thiền định sắc, vô sắc
Thanh Văn, Độc Giác đến thành tựu.
Tư duy như vậy chẳng phóng dật
Tự gìn tịnh giới dạy người trì
Lại thấy quần sanh chịu đau khổ
Lại càng thêm lớn tâm đại bi.
Phàm phu tà kiến hiểu bất chánh
Thường giận hay hờn nhiều tranh cãi.
Tham cầu nhiễm trước không nhàm đủ
Tôi phải độ họ trừ ba độc
Ngu si đen tối che trùm lấp
Vào đường hiểm lớn lưới tà kiến
Nhà giam sanh tử bị nhốt bắt
Tôi phải khiến họ dẹp giặc ma.
Bốn dòng đẩy trôi tâm chìm đắm
Ba cõi đốt thui vô lượng khổ
Chấp uẩn làm nhà:  Ngã ở trong
Vì muốn độ họ siêng hành đạo.
Dầu muốn giải thoát tâm lại kém
Bỏ xa vô thượng Phật trí huệ
Tôi muốn khiến họ trụ đại thừa
Chuyên cần tinh tấn không nhàm đủ.
Bồ Tát ở đây chứa công đức
Thấy vô lượng Phật đều cúng dường
Ức kiếp tu hành thêm sáng sạch
Như dùng thuốc tốt luyện chân kim.
Bồ Tát ở đây hiện Luân Vương
Độ khắp chúng sanh tu thập thiện
Bao nhiêu pháp lành đều tu tập
Để thành thập lực cứu thế gian
Muốn bỏ vương vị và tài bửu
Liền lìa nhà tục nương Phật giáo
Dũng mãnh tinh tấn trong một niệm
Được ngàn tam muội, thấy ngàn Phật.
Bao nhiêu tất cả sức thần thông
Bồ Tát nhị thừa đều hiện được
Nguyện lực đã làm lại hơn đây
Vô lượng tự tại độ quần sanh.
Người làm lợi ích khắp thế gian
Đã tu Bồ Tát hạnh tối thắng
Công đức đệ nhị địa như vậy
Vì các Phật tử đã khai diễn.
Phật tử được nghe công hạnh này
Cảnh giới Bồ Tát khó nghĩ bàn
Thảy đều cung kính lòng hoan hỷ
Rải hoa hư không để cúng dường.
Khen rằng:  Lành thay đấng Đại Sĩ
Lòng từ thương xót các chúng sanh
Khéo nói luật nghi của trí giả
Và hành tướng trong đệ nhị địa.
Đây diệu hạnh của chư Bồ Tát
Chân thật không lạ không sai biệt
Vì muốn lợi ích các quần sanh
Diễn nói như vậy rất thanh tịnh.
Tất cả nhân, thiên đến cúng dường
Mong được nghe giảng đệ tam địa
Những trí hạnh cùng pháp tương ưng
Cảnh giới như vậy mong nói đủ.
Phật có tất cả pháp:  Thí, giới
Nhẫn nhục, tinh tấn, thiền, trí huệ.
Cùng với phương tiện đạo từ bi
Phật hạnh thanh tịnh xin nói hết.
Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát lại thưa:
Giảng nói tiến vào đệ tam địa
Tất cả công đức của bậc này.
Kim Cang Tạng Bồ Tát nói với Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát:  "Thưa Phật tử!  Đại Bồ Tát đã thanh tịnh đệ nhị địa muốn vào đệ tam địa, phải phát khởi mười thâm tâm.  Đây là mười thâm tâm:  Tâm thanh tịnh, tâm an trụ, tâm nhàm bỏ, tâm lìa tham, tâm bất thối, tâm kiên cố, tâm minh thạnh, tâm dũng mãnh, tâm rộng, tâm lớn.  Bồ Tát do mười tâm này mà được vào đệ tam địa.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát đã an trụ nơi đêm tam địa quán sát tất cả pháp hữu vi đúng với tướng chân thật của nó.  Chính là:  Vô thường, khổ, bất tịnh, chẳng an ổn, bại hoại, chẳng ở lâu, sát na sanh diệt, chẳng phải từ thuở trước sanh, cũng chẳng phải theo thuở sau diệt, và chẳng phải trụ ở hiện tại.
Bồ Tát lại quan sát những pháp này không được cứu, không, chỗ tựa, mà đồng ở với lo, buồn, khổ, não, ràng buộc bởi yêu ghét, sầu thảm càng nhiều không hề dừng, tham, sân, si hẩy hừng chẳng hề dứt, những họa hoạn vấn vít ngày đêm thêm lớn, toàn là như huyễn hóa không thật.
Bồ Tát quan sát thấy như thế rồi, đối với pháp hữu vi càng thêm nhàm lìa mà hướng đến Phật trí huệ.  Thấy Phật trí chẳng thể nghĩ bàn, vô đẳng vô lượng khó được, không tạp, không não, không lo, đến thành trì vô úy không còn lui lại, có thể cứu thoát vô lượng chúng sanh khổ nạn.
Bồ Tát thấy Phật trí vô lượng lợi ích, thấy tất cả pháp hữu vi vô lượng tội lỗi, thời đối với tất cả chúng sanh phát sanh mười tâm xót thương.
Đây là mười tâm xót thương:  Thấy chúng sanh cô độc không chỗ tựa nương mà sanh lòng thương.  Thấy chúng sanh nghèo cùng khốn thiếu mà sanh lòng thương.  Thấy chúng sanh bị lửa tam độc đốt cháy mà sanh lòng thương.  Thấy chúng sanh bị lao tù mà sanh lòng thương.  Thấy chúng sanh bị rừng rậm phiền não luôn che chướng mà sanh lòng thương.  Thấy chúng sanh chẳng khéo quan sát mà sanh lòng thương.  Thấy chúng sanh không thích muốn pháp lành mà sanh lòng thương.  Thấy chúng sanh bỏ mất Phật pháp mà sanh lòng thương.  Thấy chúng sanh theo dòng sanh tử mà sanh lòng thương.  Thấy chúng sanh mất phương tiện giải thoát mà sanh lòng thương.
Bồ Tát thấy chúng sanh giới vô lượng khổ não như vậy phát đại tinh tấn mà nghĩ rằng:  Với tất cả chúng sanh này tôi phải cứu, tôi phải giải thoát, tôi phải thanh tịnh, tôi phải độ, tôi phải đặt họ ở chỗ lành, phải làm cho họ ở an, cho họ hoan hỷ, cho họ thấy biết, cho họ điều phục, cho họ tịch diệt.
Bồ Tát nhàm lìa pháp hữu vi như vậy, lòng thương như vậy.  Biết nhất thiết chủng trí có lợi ích thù thắng, muốn nương Phật trí để cứu độ chúng sanh.
Bồ Tát suy nghĩ rằng:  Những chúng sanh này đọa trong khổ lớn phiền não, dùng phương tiện gì để có thể cứu tế, cho họ an trụ trong sự vui cứu cánh niết bàn? 
Bồ Tát lại nghĩ rằng:  Muốn độ chúng sanh cho họ an trụ nơi niết bàn quyết không thể rời trí giải thoát vô ngại.  Trí này không rời như thật giác ngộ tất cả pháp.  Giác ngộ này không rời huệ quang của hạnh vô hành vô sanh.  Huệ quang này không rời thiền trí thiện xảo quyết định quán sát.  Thiền trí này chẳng rời đa văn hay khéo.
Bồ Tát suy gẫm như vậy rồi, đối với chánh pháp càng thêm siêng năn tu tập, ngày đêm chỉ mong nghe được pháp, vui nơi pháp, nương với pháp, thuận theo pháp, hiểu nơi pháp, đến pháp, trụ tại pháp và thực hành chánh pháp.
Bồ Tát cần cầu Phật pháp như vậy, bao nhiêu của báu đều không lẫn tiếc, chẳng thấy có vật khó được đáng trọng.  Chỉ ở nơi người hay giảng thuyết Phật pháp thời sanh lòng kính ngưỡng.  Ví thế nên đối với tài vật và thân thể của mình, Bồ Tát đều có thể xả thí để cầu Phật pháp.  Không có sự cung kính nào mà chẳng làm được, không có sự kiêu mạn nào mà không bỏ được, không có sự phụng thờ nào mà không làm được, không có sự cần khổ nào mà không chịu được.
Nếu được nghe một câu chánh pháp chưa từng nghe, lòng Bồ Tát rất vui mừng hơn là được trân bửu đầy cả cõi đại thiên.  Nếu nghe được một kệ chánh pháp chưa từng nghe thời Bồ Tát rất vui mừng hơn là được ngôi chuyển luân vương.  Nếu được nghe một kệ chánh pháp có thể thanh tịnh hạnh Bồ Tát, thời xem hơn là được trăm ngàn vô lượng kiếp ở ngôi Đế Thích Phạm Vương.
Nếu có người bảo:  Tôi có một câu Phật pháp có thể thanh tịnh hạnh Bồ Tát, nếu ngài có thể vào hầm lửa chịu nổi sự nóng cháy thời tôi sẽ cho ngài.
Bấy giờ, Bồ Tát tự nghĩ rằng:  Tôi do một câu pháp của Phật nói mà được thanh tịnh Bồ Tát hạnh, thời dầu ngọn lửa lớn đầy cõi đại thiên, tôi còn muốn từ trên trời Phạm Thiên nhảy xuống lửa để lấy được câu Phật pháp, huống là hầm lửa nhỏ này mà vào không được.  Hiện tại tôi vì Phật pháp đáng lẽ phải lãnh lấy tất cả sự khổ nơi địa ngục, huống là sự khổ nhỏ mọn nơi nhân gian.
Bồ Tát này phát tâm tinh tấn cần cầu Phật pháp như vậy, như chỗ đã được nghe mà suy gẫm tu hành.
Bồ Tát này  khi đã nghe pháp liền nhiếp tâm an trụ nơi chỗ vắng lặng suy nghĩ rằng:  Như lời Phật dạy tu hành mới chứng được Phật pháp, chẳng phải chỉ miệng nói mà thanh tịnh được.
Chư Phật tử!  Lúc Bồ Tát này an trụ nơi Phát Quang Địa liền xa lìa dục ác, có giác có quán, ly dục sanh hỷ lạc, trụ nơi Sơ Thiền.  Diệt giác quán, nhất tâm thanh tịnh không giác quán, định sanh hỷ lạc, trụ nơi đệ Nhị Thiền.  Lìa hỷ trụ nơi xả, có niệm chánh biết thân thọ lạc chư Phật đã nói, hay bỏ có niệm, thọ lạc trụ đệ Tam Thiền.  Dứt lạc, trước trừ sự khổ mừng lo, diệt bất khổ, bất lạc, xả niệm thanh tịnh trụ đệ Tứ Thiền.  Siêu tất cả sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, chẳng nhớ các thứ tưởng, vào hư không vô biên, trụ hư không vô biên xứ.  Siêu tất cả hư không vô biên xứ nhập vô biên thức, trụ thức vô biên xứ.  Siêu tất cả thức vô biên xứ, nhập vô thiểu sở hữu, trụ vô sở hữu xứ.  Siêu tất cả vô sở hữu xứ, trụ phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ.  Đây chỉ do tùy thuận theo pháp lành, trọn không thích không chấp.
Chư Phật tử!  Bồ Tát này tâm tùy nơi đức từ duy nhất rộng lớn vô lượng, không oán, không đối, không chướng, không não, đến khắp tất cả chỗ, khắp pháp giới hư không giới, khắp tất cả thế gian.  An trụ đức bi, hỷ và xả cũng như vậy.
Chư Phật tử!  Bồ Tát này được vô lượng sức thần thông, có thể chấn động đại địa.  Một thân hiện nhiều thân, nhiều thân làm một thân, hoặc ẩn hoặc hiện, núi vách đá các vật chướng đều qua lại vô ngại như hư không.  Ở giữa hư không ngồi kiết già bay đi như chim bay.  Vào đất như vào nước, đi trên nước như trên đất.  Thân phát khói lửa như đám lửa lớn, lại tuôn nước mưa như mây lớn.  Mặt trời, mặt trăng ở hư không có oai lực lớn mà có thể lấy tay rờ rẫm bưng nắm.  Thân thể tự tại cao đến Phạm Thiên.
Thiên nhĩ của Bồ Tát này thanh tịnh hơn tai người, nghe được cả tiếng trời, người nhẫn đến tiếng muỗi mòng không luận gần hay xa.
Bồ Tát này dùng tha tâm trí, biết tâm chúng sanh khác đúng như thật.  Như chúng sanh có tâm tham thời biết là có tâm tham, lìa tâm tham thời biết là lìa tâm tham, có tâm sân hay tâm si, thời biết là có tâm sân hay tâm si, lìa tâm sân hay lìa tâm si thời biết là lìa tâm sân, lìa tâm si.  Nhẫn đến tán tâm, định tâm, quảng đại tâm, vô lượng tâm, vô thượng tâm đều biết đúng như thật.
Bồ Tát này nhớ biết vô lượng đời trước sai khác nhau.  Như là nhớ biết một đời, hai đời, nhẫn đến vô lượng trăm ngàn đời; kiếp thành, kiếp hoại, vô lượng kiếp thành hoại.  Thuở đó tôi từng ở xứ đó, tên họ đó, dòng họ như vậy, ăn uống như vậy, sống bao lâu khổ vui như vậy.  Từ xứ đó chết sanh đến xứ này, hình dạng như vậy, tướng mạo như vậy, tiếng nói như vậy.  Quá khứ vô lượng đời sai khác như vậy đều có thể nhớ biết.
Bồ Tát này thiên nhãn thanh tịnh hơn mắt người.  Thấy các chúng sanh lúc sống lúc chết, sắc tốt sắc xấu, đường lành đường dữ theo nghiệp mà đi.  Nếu chúng sanh đó gây tạo nghiệp ác nơi thân, nơi lời, nơi ý tưởng, chế nhạo hiền thánh, đầy đủ tà kiến và nghiệp nhân duyên tà kiến, sau khi chết tất đọa ác đạo, sanh vào địa ngục.  Nếu chúng sanh thân tạo nghiệp lành, lời và ý cũng lành, chẳng khinh hiền thánh, đầy đủ chánh kiến và nghiệp nhân duyên chánh kiến, sau khi chết tất sanh thiện đạo trong loài trời, loài người.  Thiên nhãn của Bồ Tát đều thấy biết như thật.
Bồ Tát này đối với các thiền, tam muộ, tam ma bát đề, có thẻ nhập, có thể xuất, nhưng chẳng nương sức thiền định để thọ sanh, mà chỉ theo chỗ có thể viên mãn bồ đề phần, dùng sức ý nguyện mà thọ sanh trong đó.
Chư Phật tử!  Bồ Tát này trụ bậc Phát Quang Địa, do nguyện lực mà được thấy nhiều đức Phật, được thấy trăm đức Phật, ngàn đức Phật, trăm ngàn đức Phật, nhẫn đến thấy trăm ngàn ức na do tha đức Phật.  Đều dùng quảng đại tâm, thâm tâm để cung kính, tôn trọng, phụng thờ, cúng dường và cũng cúng dường chúng tăng.  Bồ Tát đem thiện căn này hồi hướng vô thượng bồ đề.  Ở chỗ đức Phật, cung kính nghe pháp nghe xong thọ trì rồi tùy sức mà tu hành.
Bồ Tát này quán sát tất cả pháp nhân duyên bất sanh bất diệt mà có kiến phược.  Trước dứt trừ tất cả dục phược, sắc phược, và hữu phược, cả vô minh phược đều càng yếu mỏng.  Vì trong vô lượng trăm ngàn ức na do tha kiếp chẳng tích tập nên tham, sân, si đều được trừ diệt.  Tất cả căn lành càng thêm sáng sạch.
Chư Phật tử!  Ví như chân kim khéo luyện thời cân chẳng giảm mà càng thêm sáng sạch.
Cũng vậy, Bồ Tát trụ bậc phát quang địa này, vì chẳng tích tập nên tham, sân, si đều dứt trừ, bao nhiêu thiện căn càng thêm sáng sạch.
Bồ Tát này về những tâm nhẫn nhục, nhu hòa, thuận hiệp, vui đẹp, chẳng sân, chẳng động, chẳng trược, không cao hạ, chẳng mong đền đáp, lòng báo ân, tâm chẳng dua vạy, chẳng phỉnh dối, không thâm hiểm, càng thêm thanh tịnh.
Trong bốn nhiếp pháp, Bồ Tát này thiên nhiều về lợi hành, và thiên nhiều về nhẫn nhục trong mười môn ba la mật.  Với những pháp môn khác tùy phần, tùy sức mà tu tập.
Chư Phật tử!  Bồ Tát trụ bậc phát quang địa thứ ba này phần nhiều hiện thân làm Đao Lợi Thiên Vương, có thể dùng phương tiện làm cho chúng sanh lìa bỏ tham dục.  Những công hạnh bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự đều không rời niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, nhẫn đến chẳng rời niệm đầy đủ nhất thiết chủng trí.
Bồ Tát này lại nghĩ rằng:  Nơi tất cả chúng sanh, tôi sẽ là thượng thủ, là thắng, là thù thắng, là diệu, là vi diệu, là thượng, là vô thượng, nhẫn đến là người y chỉ của nhất thiết chủng trí.
Bồ Tát này nếu chuyên cần tinh tấn, trong khoảng một niệm được trăm ngàn tam muội, được thấy trăm ngàn đức Phật, biết thần lực của trăm ngàn đức Phật, có thể chấn động trăm ngàn thế giới, nhẫn đến thị hiện trăm ngàn thân Phật, mỗi mỗi thân Phật hiện trăm ngàn Bồ Tát làm quyến thuộc.  Nếu dùng nguyện lực thù thắng, Bồ Tát này tự tại thị hiện hơn số trên, trăm kiếp, ngàn kiếp, nhẫn đến trăm ngàn ức na do tha kiếp không thể tính đếm biết được."
Kim Cang Tạng Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
Thanh tịnh an trụ tâm sáng thạnh
Tâm nhàm lìa, không tham, không hại
Tâm kiên cố, dũng mãnh, rộng lớn
Bậc trí dùng đây vào tam địa
Bồ Tát trụ bậc Phát Quang địa
Quán thấy hữu vi:  Khổ, vô thường
Bất tịnh, bại hoại mau tan diệt
Không bền, không dừng, không qua lại.
Xem pháp hữu vi như bệnh nặng
Buộc ràng bởi ưu bi, khổ não
Lửa mạnh tam độc hẳng cháy hực
Từ vô thủy đến nay chẳng dứt
Nhàm lìa ba cõi chẳng tham chấp
Chuyên cầu Phật trí không niệm lạ
Khó nghĩ khó lường không sánh kịp
Vô lượng vô biên không bức não
Thấy Phật trí rồi thương chúng sanh
Cô độc không chỗ nương cứu hộ
Ba độc cháy hừng thường thiếu khốn
Ở ngục ba cõi luôn chịu khổ.
Phiền não cột trói mê không trí
Chỉ nguyện hạ liệt mất pháp bửu
Tùy thuận sanh tử sợ niết bàn
Tôi phải cứu họ siêng tinh tấn.
Toan cầu trí huệ lợi chúng sanh
Nghĩ phương tiện gì khiến giải thoát.
Chẳng rời Như Lai trí vô ngại
Kìa lại phát khởi huệ vô sanh
Nghĩ rằng huệ này do nghe pháp
Suy nghĩ như vậy tự siêng gắng
Ngày đêm nghe tu không xen hở
Chỉ dùng chánh pháp làm tôn trọng.
Quốc thành, tiền của, các trân bửu
Vợ con, quyến thuộc và ngôi vua
Bồ Tát vì pháp tâm cung kính
Tất cả như vậy đều thí xả
Đầu, mắt, tai, mũi, lưỡi và răng
Tay, chân, xương, tủy, tim, máu, thịt
Thí xả tất cả chưa là khó.
Chỉ cho nghe pháp là rất khó
Dầu có ai đến nơi Bồ Tát
Nếu nhảy vào được trong hầm lửa
Tôi sẽ truyền cho Phật pháp bửu
Nghe nói vào lửa không khiếp sợ
Dầu cho lửa đầy cõi đại thiên
Thân từ trời Phạm mà nhảy vào
Vì cầu Phật pháp xem không khó
Huống là nhân gian những khổ nhỏ.
Từ sơ phát tâm đến thành Phật
Tất cả sự khổ ngục A Tỳ
Vì nghe Phật pháp đều chịu được
Huống là sự khổ của nhân gian.
Nghe Phật pháp rồi chánh tư duy
Lại được tứ thiền, Vô Sắc Định
Tứ đẳng, ngũ thông lần lượt khởi
Chẳng theo định lực để thọ sanh.
Bồ Tát ở đây thấy nhiều Phật
Cúng dường nghe pháp tâm quyết định
Dứt các tà hoặc càng thanh tịnh
Như luyện chân kim chất không giảm
Bậc này thường làm Thiên Đế Thích
Hóa đạo vô lượng chúng cõi trời
Khiến bỏ tâm tham ở đạo lành
Một bề chuyên cầu công đức Phật
Phật tử ở đây siêng tinh tấn
Trăm ngàn tam muội đều đầy đủ
Thấy trăm ngàn Phật thân oai nghiêm
Nếu dùng nguyện lực hơn vô lượng
Lợi ích khắp tất cả chúng sanh
Công hạnh tối thượng của Bồ Tát
Phát quang địa có như vậy thảy
Tôi y theo nghĩa đã giải thích.


Hán bộ quyển 36


Phật tử đã nghe hạnh rộng lớn
Pháp thù thắng thâm diệu đáng ưa
Lòng đều hớn hở rất mừng vui
Rải khắp hoa thơm cúng dường Phật.
Lúc Bồ Tát diễn diệu pháp này
Đại địa, biển cả đều chấn động
Tất cả thiên nữ đều hoan hỷ
Đều phát diệu âm đồng ca ngợi
Tự Tại Thiên Vương rất vui mừng
Rải ma ni bửu cúng dường Phật
Khen rằng:  Phật vì ta xuất thế
Diễn nói công hạnh pháp đệ nhất.
Nghĩa của các địa như đã giải
Trong trăm ngàn kiếp rất khó gặp
Nay tôi bỗng nhiên mà được nghe
Diệu pháp thắng hạnh của Bồ Tát.
Mong lại diễn nói bậc thông huệ
Đạo hạnh quyết định của địa sau
Lợi ích tất cả hàng trời, người
Đại chúng hội này đều mong mỏi.
Dũng mãnh đại tâm Giải Thoát Nguyệt
Thỉnh Kim Cang Tạng đại Bồ Tát:
Đệ tam chuyển vào đệ tứ địa
Có hành tướng gì xin tuyên nói.
Kim Cang Tạng Bồ Tát bảo Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát rằng:  "Thưa Phật tử!  Đại Bồ Tát từ đệ tam Phát Quang địa đã khéo thanh tịnh, muốn vào đệ tứ Diệm Huệ địa, phải tu hành mười pháp minh môn.  Đây là mười pháp:  Quán sát chúng sanh giới, quán sát pháp giới, quán sát thế giới, quán sát hư không giới, quán sát thức giới, quán sát dục giới, quán sát sắc giới, quán sát vô sắc giới, quán sát quảng tâm tín giải giới, quán sát đại tâm tín giải giới, Bồ Tát do mười pháp minh môn này mà được vào đệ tứ Diệm Huệ địa.
Chư Phật tử!  Bồ Tát an trụ nơi Diệm Huệ địa này thời vì có thể dùng mười pháp do trí thành thục nên được nội pháp của đệ tứ địa sanh vào nhà Như Lai.
Đây là mười pháp do trí thành thục:  Vì thâm tâm bất thối, vì trong tam bảo sanh tịnh tín rốt ráo chẳng hoại, vì quán hành pháp sanh diệt, vì quán các pháp tự tánh vô sanh, vì quán thế gian thành hoại, vì quán nhân nơi nghiệp mà có sanh, vì quán sanh tử và niết bàn, vì quán chúng sanh quốc độ nghiệp, vì quán thời gian trước thời gian sau, vì quán vô sở hữu tận.
Chư Phật tử!  Bồ Tát trụ bậc đệ tứ địa này quán nội thân, theo thân quán niệm siêng năng dũng mãnh trừ sự tham lo của thế gian.  Quán ngoại thân, theo thân quán niệm siêng năng dũng mãnh trừ sự tham lo của thế gian.  Quán nội ngoại thân, theo thân quán niệm siêng năng dũng mãnh trừ sự tham lo của thế gian.
Cũng vậy, quán nội thọ, ngoại thọ, nội ngoại thọ, theo thọ quán.  Quán nội tâm, ngoại tâm, nội ngoại tâm, theo tâm quán.  Quán nội pháp, ngoại pháp, nội ngoại pháp, theo pháp quán niệm siêng năng dũng mãnh trừ sự tham lo của thế gian.
Bồ Tát này đối với pháp bất thiện chưa sanh, vì cho nó chẳng sanh mà muốn siêng tinh tấn phát tâm chánh đoạn.  Với pháp bất thiện đã sanh, vì dứt nó mà muốn siêng tinh tấn phát tâm chánh đoạn.  Với pháp thiện chưa sanh, vì cho nó sanh mà muốn siêng tinh tấn phát tâm chánh hành.  Với pháp thiện đã sanh, vì cho nó còn mãi không mất càng thêm rộng lớn, mà muốn siêng tinh tấn phát tâm chánh hành.
Bồ Tát này tu hành dục định, dứt hành pháp thành tựu thần túc, y chỉ nơi yểm, y chỉ nơi ly, y chỉ nơi diệt, hồi hướng nơi xả.  Tu hành tinh tấn định, tâm định, quán định, dứt hành pháp thành tựu thần túc, y chỉ nơi yểm, y chỉ nơi ly, y chỉ nơi diệt, hồi hướng nơi xả.
Bồ Tát này tu hành tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn, huệ căn, y chỉ nơi yểm, y chỉ nơi ly, y chỉ diệt, hồi hướng nơi xả.
Bồ Tát này tu hành tín lực, tinh tấn lực, niệm lực, định lực, huệ lực, y chỉ nơi yểm, y chỉ nơi ly, y chỉ nơi diệt, hồi hướng nơi xả.
Bồ Tát này tu hành niệm giác phần, trạch pháp giác phần, tinh tấn giác phần, hỷ giác phần, khinh an giác phần, định giác phần, xả giác phần, y chỉ nơi yểm, y chỉ nơi ly, y chỉ nơi diệt, hồi hướng nơi xả.
Bồ Tát này tu hành chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, y chỉ nơi yểm, y chỉ nơi ly, chỉ nơi diệt, hồi hướng nơi xả.
Bồ Tát tu hành những công đức như vậy, vì chẳng bỏ chúng sanh, vì bản nguyện giữ gìn, vì đại bi làm đầu, vì đại từ thành tựu, vì tư niệm nhất thiết chủng trí, vì thành tựu trang nghiêm Phật độ, vì thành tựu đầy đủ lực, vô úy, bất động, tướng hảo, âm thanh của Như Lai, vì cầu đạo thượng thượng thù thắng, vì tùy thuận Phật pháp giải thoát thậm thâm đã nghe, vì tư duy đại trí thiện xảo phương tiện.
Chư Phật tử!  Bồ Tát trụ bậc Diệm Huệ địa này, xuất nhập nơi tất cả chấp trước thân kiến, ngã, chân, chúng sanh, thọ giả, uẩn, xứ, giới, để tu duy quán sát đối trị, tất cả sự chấp trước đều xa rời.
Bồ Tát này nếu thấy những nghiệp nào bị đức Như Lai quở trách, bị phiền não nhiễm ô thời đều xa lìa.  Thấy những nghiệp nào được đức Như Lai khen ngợi, thuận đạo Bồ Tát, thời đều tu hành.
Chư Phật tử!  Bồ Tát này tuỳ phát khởi huệ phương tiện đều tu tập đạo và trợ đạo.  Vì vậy mà được tam nhuận trạch, tâm nhu nhuyến, tâm điều thuận, tâm lợi ích an lạc, tâm không tạp nhiệm, tâm cầu pháp thù thắng thượng thượng, tâm cầu trí huệ thù thắng, tâm cứu tất cả thế gian, tâm cung kính bậc tôn đức không trái lời dạy bảo, tâm khéo tu hành nơi pháp đã được nghe.
Bồ Tát này biết ơn, biết báo ơn, rất hòa lành đồng ở an vui, chất trực dịu dàng, không tạp loạn, không ngã mạn, khéo lãnh lời dạy được lòng của người nói.
Bồ Tát này thành tựu nhẫn như vậy, thành tựu điều như vậy, thành tựu tịch diệt như vậy, thành tựu nhẫn điều nhu tịch diệt như vậy, lúc tác ý tu tập công hạnh của địa sau, liền được tinh tấn không thôi nghỉ, tinh tấn chẳng tạp nhiễm, tinh tấn chẳng thối chuyển, tinh tấn rộng lớn, tinh tấn vô biên, tinh tấn hẩy hừng, tinh tấn vô đẳng đẳng, tinh tấn vô năng hoại, tinh tấn thành thục tất cả chúng sanh, tinh tấn khéo phân biệt là đạo hay phi đạo.
Bồ Tát này tâm giới thanh tịnh thâm tâm chẳng mất, ngộ giải sáng lanh, thiện căn tăng trưởng, lìa cấu trược thế gian, dứt nghi lầm, đầy đủ minh đoán, đầy đủ hỷ lạc, được chính đức Phật hộ niệm nên vô lượng chí nguyện đều được thành tựu.
Chư Phật tử!  Bồ Tát ở bậc đệ tứ Diệm Huệ địa này do nguyện lực nên được thấy nhiều đức Phật, nhẫn đến thấy trăm ngàn ức na do tha đức Phật, đều kính trọng, phụng thờ, cúng dường và cũng cúng dường tất cả chúng tăng.  Đem thiện căn này đều hồi hướng vô thượng chánh giác.  Ở chỗ chư Phật cung kính nghe pháp, nghe xong thọ trì tu hành trọn vẹn.  Rồi lại ở trong pháp của đức Phật đó xuất gia tu hành.  Rồi lại tu tập thâm tâm tín giải, trải qua vô lượng trăm ngàn ức na do tha kiếp, cho các căn lành càng thêm sáng sạch.
Chư Phật tử!  Ví như thợ kim hoàn luyện chân kim làm thành đồ trang sức, những kim khí khác không thể sánh kịp.
Cũng vậy, đại Bồ Tát trụ bậc đệ tứ địa này có bao nhiêu thiện căn, những thiện căn của các bậc dưới không thể sánh kịp.
Như ma ni bửu thanh tịnh hay phóng quang minh, những châu báu khác không thể sánh kịp, gió mưa không làm hư được.
Cũng vậy, đại Bồ Tát trụ bậc đệ tứ địa này, các Bồ Tát bậc dưới không thể sánh kịp, các ma phiền não đều không thể phá hoại.
Trong bốn nhiếp pháp, Bồ Tát này thiên nhiều về đồng sự, trong mười môn ba la mật thiên nhiều về tinh tấn.  Với các pháp môn khác thời tùy phần tùy sức mà tu tập.
Chư Phật tử!  Đây là lược nói về Bồ Tát đệ tứ Diệm Huệ địa.
Bồ Tát trụ bậc này phần nhiều làm Dạ Ma Thiên Vương.  Dùng thiện phương tiện hay trừ thân kiến các thứ phiền não cho chúng sanh, khiến họ ở nơi chánh kiến.
Tất cả công hạnh bố thí, ái ngữ, hành, đồng sự thảy đều không rời niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, nhẫn đến không rời nhất thiết chủng trí.
Bồ Tát này lại nghĩ rằng:  Trong tất cả chúng sanh, tôi sẽc là thượng thủ, là thắng, là thù thắng, là diệu, là vi diệu, là thượng, là vô thượng, nhẫn đến là bậc y chỉ của nhất thiết chủng trí.
Bồ Tát này nếu siêng tinh tấn thời trong khoảng một niệm được nhập ức số tam muội, được thấy ức số đức Phật, được biết thần lực của ức số đức Phật, hay chấn động ức số thế giới, nhẫn đến hay thị hiện ức số thân Phật, mỗi mỗi thân hiện ức số Bồ Tát làm quyến thuộc.  Nếu do nguyện lực thù thắng thời Bồ Tát này tự tại thị hiện hơn số trên đây, trong trăm ngàn ức na do tha kiếp chẳng tính đếm mà biết được."
Kim Cang Tạng Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
Bồ Tát đã tịnh đệ tam địa
Kế quán chúng sanh, thế, pháp giới
Không giới, thức giới và tam giới
Tâm hiểu thấu rõ hay thẳng vào
Mới lên diệm địa thêm thế lực
Sanh nhà Như Lai trọn bất thối
Với Phật, pháp, tăng tin sâu chắc
Quán pháp vô thượng và vô sanh
Quán thế thành hoại, nghiệp có sanh
Nghiệp có sanh tử, niết bàn cõi
Quán tiền hậu tế cũng quán tận
Tu hành như vậy sanh nhà Phật.
Được pháp này rồi sanh lòng từ
Càng thêm siêng tu tứ niệm xứ.
Thân, thọ, tâm, pháp, nội ngoại quán
Tham ái thế gian đều trừ dứt.
Bồ Tát siêng tu tứ chánh cần
Dứt trừ pháp ác, thêm thiện pháp
Thần túc, căn, lực đều khéo tu
Giác phần, chánh đạo cũng tinh tấn.
Vì độ chúng tu trợ đạo
Từ bi làm trước, bổn nguyện gìn
Cầu nhất thiết trí và Phật độ
Cũng nhớ thập lực của Như Lai
Tứ vô úy, thập bát bất cộng,
Tướng hảo trang nghiêm, tiếng thâm mỹ
Cũng cầu diệu đạo chỗ giải thoát
Và công hạnh tu hành đại phương tiện.
Thân kiến làm đầu sáu mươi hai
Ngã; ngã sở vô lượng thứ
Uẩn, xứ, giới thảy những chấp trước
Trong đệ tứ địa lìa tất cả
Như Lai quở trách nghiệp phiền não
Là nhân khổ hoạn đều dứt trừ,
Trí giả tu hành nghiệp thanh tịnh
Vì độ chúng sanh tu tất cả
Bồ Tát siêng tu chẳng giải đãi
Liền được đầy đủ cả mười tâm
Chuyên cầu Phật đạo chẳng mỏi nhàm
Chí mong thọ chức độ muôn loại.
Kính trọng Tôn Đức tuân lời dạy
Biết ơn, dễ bảo không hờn giận
Bỏ mạn, lìa nịnh, lòng dịu dàng
Lại thêm siêng năng chẳng thối chuyển.
Bồ Tát trụ bậc Diệm Huệ này
Tâm ngài thanh tịnh trọn không mất
Ngộ giải quyết định, thêm căn lành
Lưới nghi uế trược đều dứt hết.
Bậc tứ địa tối thắng trong người
Cúng dường na do vô lượng Phật.
Được nghe chánh pháp cũng xuất gia
Không phá hoại được như vàng thật.
Bồ Tát tứ địa đủ công đức
Dùng trí phương tiện tu đạo hạnh
Chẳng bị loài ma tâm thối chuyển
Ví như ma ni không hư hoại.
Tứ địa thường làm Dạ Thiên Vương
Tự tại nơi pháp chúng tôn trọng
Độ khắp quần sanh trừ ác kiến
Chuyên cầu Phật trí tu thiện nghiệp.
Bồ Tát càng thêm sức tinh tấn
Được chứng tam muội đều số ức
Nếu dùng nguyện lực tự tại làm
Quá hơn số ức không đếm được.
Như vậy Bồ Tát Diệm Huệ địa
Diệu hạnh thanh tịnh đã thực hành
Công đức nghĩa trí cùng tương ưng
Vì chư Phật tử, tôi đã nói.
Đại chúng được nghe Diệm Huệ hạnh
Tỏ ngộ diệu pháp lòng hoan hỷ
Rải hoa hư không khen ngợi rằng:
Lành thay Đại Sĩ Kim Cang Tạng!
Tự Tại Thiên Vương cùng thiên chúng
Nghe pháp hớn hở trụ hư không
Khắp phóng những mây sáng vi diệu
Cúng dường Như Lai lòng vui đẹp.
Chúng thiên nữ hòa tấu thiên nhạc
Cũng dùng lời ca khen ngợi Phật
Đều do Bồ Tát sức oai thần
Trong tiếng đàn ca phát lời này:
Phật nguyện lâu xa nay mới đầy,
Phật đạo lâu xa nay mới được,
Thích Ca Mâu Ni đến thiên cung
Đấng Thiên Nhân Sư nay mới thấy,
Đại hải lâu xa nay mới động
Phật quang lâu xa nay mới phóng.
Chúng sanh lâu xa mới an vui,
Tiếng đại từ bi lâu được nghe,
Hạnh ba la mật đều đã đến
Kiêu mạn tối tăm đều đã trừ
Cùng tột thanh tịnh như hư không
Như hoa sen chẳng nhiễm thế pháp.
Đấng Đại Mâu Ni hiện ra đời
Ví như tu di vọi trên biển
Cúng Phật có thể dứt các khổ
Cúng dường tất được Như Lai trí,
Chỗ đây đáng cúng, không gì bằng
Thế nên hoan hỷ cúng dường Phật.
Vô lượng thiên nhữ như vậy thảy
Phát diệu âm thanh ca ngợi Phật
Tất cả cung kính rất vui mừng
Chiêm ngưỡng Như Lai, đứng yên lặng.
Bấy giờ Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt
Lại thỉnh đại sĩ Kim Cang Tạng
Hành tướng của đệ ngũ địa kia
Mong đại Bồ Tát vì tuyên thuyết.
Kim Cang Tạng Bồ Tát bảo Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát rằng:  "Thưa Phật tử!  Đại Bồ Tát đệ tứ Diệm Huệ địa công hạnh đã khéo viên mãn muốn vào đệ ngũ Nam Thắng địa, phải dùng mười thứ tâm bình đẳng thanh tịnh.  Đây là mười tâm:  Tâm bình đẳng thanh tịnh đối với Phật pháp quá khứ, tâm bình đẳng thanh tịnh đối với Phật pháp vị lai, tâm bình đẳng thanh tịnh đối với Phật pháp hiện tại, tâm bình đẳng thanh tịnh đối với giới, tâm bình đẳng thanh tịnh đối với tâm, tâm bình đẳng thanh tịnh dứt trừ kiến nghi hối, tâm bình đẳng thanh tịnh nơi trí đạo phi đạo, tâm bình đẳng thanh tịnh tu hành tri kiến, tâm bình đẳng thanh tịnh nơi thượng thượng quán sát tất cả pháp bồ đề phần, tâm bình đẳng thanh tịnh giáo hóa tất cả chúng sanh.
Đại Bồ Tát dùng mười tâm bình đẳng thanh tịnh này mà được vào bậc đệ ngũ nan thắng địa.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát đã an trụ bậc đệ ngũ địa do khéo tu pháp bồ đề phần, do khéo tịnh thâm tâm, do cầu thêm đạo thượng thắng, do tùy thuận chân như, do nguyện lực chấp trì, do từ mẫn không bỏ tất cả chúng sanh, do chứa nhóm phước trí trợ đạo, do tinh tấn tu tập chẳng nghỉ, do xuất sanh phương tiện thiện xảo, do quán sát chiếu rõ các bậc trên, do được Như Lai hộ niệm, do sức niệm trí chấp trì, mà được tâm bất thối chuyển
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này biết như thật đây là khổ thánh đế, đây thật là khổ tập thánh đế, ấy là khổ diệt thánh đế, đây là diệt đạo đế.
Bồ Tát này khéo biết tục đế, khéo biết tướng đẹp, khéo biết sai biệt đế, khéo biết thành lập đế, khéo biết sự đế, khéo biết sanh đế, khéo biết tận vô sanh đế, khéo biết nhập đạo trí đế, khéo biết tất cả Bồ Tát địa thứ đệ thành tựu đế nhẫn đến khéo biết Như Lai trí thành tựu đế.
Bồ Tát này vì tùy lòng sở thích của chúng sanh làm cho họ hoan hỷ nên biết tục đế.  Vì thông đạt nhất thiết tướng nên biết đệ nhất nghĩa đế.  Vì tỏ thấu tự tướng cộng tướng của các pháp nên biết tướng đế.  Vì rõ phần vị sai biệt của các pháp nên biết sai biệt đế.  Vì khéo phân biệt uẩn xứ giới nên thành lập đế. Vì tỏ ngộ các loài sanh tương tục nên biết sanh đế.  Vì tất cả nhiệt não rốt ráo diệt nên biết tận vô sanh trí đế.  Vì xuất sanh vô nhị nên biết nhập đạo trí đế.  Vì chánh giác ngộ tất cả hành tướng nên biết tất cả Bồ Tát địa thành tựu đế nhẫn đến biết Như Lai trí thành tựu đế.
Đây là dùng sức tín giải trí mà biết chẳng phải dùng sức cứu cánh trí. 
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này được các đế trí thời biết như thật tất cả pháp hữu vi hư vọng dối trá gạt phỉnh kẻ ngu, vì thế nên đối với tất cả chúng sanh càng tăng thêm quang minh đại bi và đại từ.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát được trí lực như vậy chẳng bỏ một chúng sanh, thường cầu Phật trí, quán sát như thật tất cả hạnh hữu vi về tiền tế và hậu tế:  Rõ biết từ tiền tế vô minh, ái, hữu mà sanh, do đây sanh tử lưu chuyển.  Nơi các nhà ngũ uẩn không thể thoát ra, thêm lớn sự khổ, không ngã, không thọ giả, không gì kẻ dưỡng dục, không gì là kẻ luôn thọ lấy thân loài sau, rời ngã và ngã sở.
Như tiền tế, hậu tế cũng như vậy, đều là vô sở hữu, hư vọng tham trước, dứt hết thời được giải thoát.  Hoặc có hoặc không điều biết như thật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này lại nghĩ rằng:  Hàng phàm phu này ngu si vô trí thật là đáng thương.  Có vô số thân đã mất, nay mất, sẽ mất.  Diệt mất như vậy mà chẳng thể đối với thân có quan niệm nhàm lìa, lại thêm lớn cơ quan khổ sở, theo dòng sanh tử chẳng trở lại được.  Nơi những nhà ngủ uẩn chẳng cầu thoát khỏi, chẳng biết lo sợ bốn rắn độc lớn, không nhổ được những mũi tên kiêu mạn kiến chấp, không dập tắt được ngọn lửa tham, sân, si, không phá tan được màn vô minh, không làm khô cạn được biển lớn ái dục.  Họ chẳng biết cầu đấng đại thánh đạo sư đủ mười trí lực, mà vào trong rừng rậm ma ý.  Ở trong biển sanh tử họ bị lượng sóng giác quán cuốn trôi nhận chìm.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này lại nghĩ rằng:  Những chúng sanh này thọ khổ như vậy, có cùng khốn đốn, không chỗ nương, không ai cứu, không đất, không nhà, không mắt, không người dẫn dắt.  Họ bị vô minh che lòa, màn tối chụp trùm.
Nay tôi vì họ mà tu hành những pháp trợ đạo phước trí.  Đơn độc pháp tâm chẳng cầu bè bạn.  Đem công đức này làm cho chúng sanh được rốt ráo thanh tịnh, nhẫn đến chứng được mười trí lực vô ngại của Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này dùng trí huệ quán sát thiện căn đã tu như vậy, đều vì cứu hộ tất cả chúng sanh, lợi ích tất cả chúng sanh, thương xót tất cả chúng sanh, thành tựu tất cả chúng sanh, giải thoát tất cả chúng sanh, nhiếp thọ tất cả chúng sanh, khiến tất cả chúng sanh lìa những khổ não, khiến tất cả chúng sanh đều được thanh tịnh, khiến tất cả chúng sanh đều được điều phục, khiến tất cả chúng sanh chứng nhập niết bàn.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát an trụ bậc đệ ngũ nan thắng địa, gọi là niệm là vì chẳng quên chánh pháp, gọi là trí là vì hay khéo nói quyết rõ, gọi là hữu trí là vì biết ý thú kinh thứ đệ liên hiệp, gọi là tàm quý là vì hộ mình hộ người, gọi là kiên cố là vì chẳng bỏ giới hạnh, gọi là giác là vì hay quán sát thị xứ phi xứ, gọi là tùy trí là vì chẳng tuỳ nơi khác, gọi là tùy huệ là vì khéo biết câu sai biệt đúng nghĩa hay chẳng đúng nghĩa, gọi là thần thông là vì khéo tu thiền định, gọi là phương tiện thiện xảo là vì có thể thực hành theo thế gian, gọi là vô yểm túc là vì khéo chứa phước đức, gọi là bất hưu tức là vì thường cầu trí huệ, gọi là bất bì quyện là vì chứa đại từ bi, gọi là siêng tu vì người là vì muốn cho tất cả chúng sanh chứng nhập niết bàn, gọi là cần cầu chẳng giải đãi là vì cầu trí lực, vô úy, bất cộng pháp của Như Lai, gọi là mống ý hay làm là vì thành tựu trang nghiêm Phật độ, gọi là siêng tu công hạnh lành là vì hay đầy đủ tướng hảo, gọi là thường siêng tu tập là vì cầu trang nghiêm thân, ngữ, ý Như Lai, gọi là rất tôn trọng cung kính phá là vì đúng như lời dạy của tất cả đại Bồ Tát mà thực hành, gọi là tâm không chướng ngại là vì dùng đại phương tiện thường du hành thế gian, gọi là ngày đêm xa lìa những tâm khác là vì thích giáo hóa chúng sanh.
Chư Phật tử!  Lúc đại Bồ Tát siêng tu hành như vậy, dùng bố thí để giáo hóa chúng sanh, dùng ái ngữ lợi hành và đồng sự để giáo hóa chúng sanh.  Thị hiện sắc thân để giáo hóa chúng sanh, diễn thuyết các pháp để giáo hóa chúng sanh, khai thị Bồ Tát hạnh để giáo hóa chúng sanh.  Hiển thị lỗi lầm khổ sở của sanh tử để giáo hóa chúng sanh.  Khen ngợi trí huệ lợi ích của Như Lai để giáo hóa chúng sanh.  Hiện sức đại thần thông để giáo hóa chúng sanh.  Dùng các môn phương tiện để giáo hóa chúng sanh. 
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này có thể siêng năng phương tiện như vậy để giáo hóa chúng sanh, lòng luôn tương tục thẳng đến Phật trí.  Thiện căn đã tu không hề thối chuyển.  Thường siêng tu học những pháp hành thù thắng.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này vì lợi ích chúng sanh nên gồm học tập tất cả kỹ nghệ thế gian, thông đạt cả những môn văn tự, toán số, đồ thơ, ấn loát, các sách luận về địa, thủy, hỏa phong.  Lại giỏi phương thuốc trị lành các bệnh:  Điên cuồng, càn tiêu, quỷ mị, cổ độc, lại giỏi những thứ văn bút, tấn vịnh, ca vũ, kỷ nhạc, diễu cười, đàm luận.  Biết rành cách thức kiến thiết thành trì, thôn ấp, nhà cửa, vườn tược, suối ao, cây cỏ, hoa trái, dược thảo.  Biết những nơi có mỏ vàng, bạc, châu, ngọc.  Giỏi xem biết rành mặt trời, mặt trăng, tinh tú, chim hót, địa chấn, chiêm bao tốt xấu, thân tướng sang hèn.  Những môn trì giới, nhập thiền định, vô lượng thần thông, tứ vô sắc và tất cả việc thế gian khác, nếu là những sự không làm tổn chúng sanh mà đem lại lợi ích thời đều khai thị cho họ, lần đưa họ đến Phật pháp vô thượng.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát trụ bậc Nan Thắng này, do nguyện lực được thấy nhiều đức Phật, nhẫn đến thấy trăm ngàn ức na do tha đức Phật, nhẫn đến thấy trăm ngàn ức na do tha đức Phật, đều kính trọng cúng dường, cũng cúng dường tất cả chúng tăng.  Đem thiện căn này hồi hướng vô thượng bồ đề, nơi chư Phật cung kính nghe pháp, nghe xong thọ trì tùy sức tu hành.  Sau đó xuất gia lại nghe Phật pháp được đà la ni làm qua trăm kiếp nhẫn đến vô lượng trăm ngàn ức na do tha kiếp, những thiện căn đã có càng thêm sáng sạch.
Chư Phật tử!  Bồ Tát trụ bậc Nan Thắng địa dùng tiện trí thành tựu công đức, những thiện căn của bậc dưới không thể sánh kịp.
Chư Phật tử!  Như mặt trời mặt trăng cung điện quang minh do sức gió chấp trì nên không bị chướng ngăn phá hoại, cũng chẳng phải sức gió khác làm khuynh động được.
Cũng vậy, những thiện căn của bậc Bồ Tát này, do phương tiện trí theo dõi quán sát nên không bị ngăn hoại, cũng chẳng phải thiện căn của tất cả Độc Giác, Thanh Văn và thế gian làm khuynh động được.
Trong mười môn ba la mật, Bồ Tát này thiên nhiều về thiền ba la mật, với các môn khác thời tùy phần tùy sức.
Chư Phật tử!  Đây là lược nói về đệ ngũ nan thắng địa Bồ Tát.
Bồ Tát ở bậc này thường làm Đâu Suất Thiên Vương.  Đối với chúng sanh đều được tự tại.  Dẹp trừ tất cả ngoại đạo tà kiến, có thể làm cho chúng sanh trụ trong thật đế.
Tất cả công hạnh bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự đều chẳng rời niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, nhẫn đến chẳng rời niệm đầy đủ nhất thiết chủng trí.
Bồ Tát này lại nghĩ rằng:  Tôi sẽ ở trong chúng sanh làm thượng thủ, làm thắng, làm thù thắng, làm diệu, làm vi diệu, làm vô thượng nhẫn đến làm bậc y chỉ của nhất thiết chủng trí.
Bồ Tát này nếu phát cần tinh tấn, trong khoảng một niệm được ngàn ức tam muội, thấy ngàn đức Phật, biết thần lực của ngàn ức đức Phật, có thể chấn động ngàn ức thế giới, nhẫn đến thị hiện ngàn ức thân Phật, mỗi mỗi thân hiện ngàn ức Bồ Tát làm quyến thuộc.
Nếu dùng nguyện lực thù thắng tự tại để thị hiện thời hơn vô số trên đây, nhẫn đến trăm ngàn ức na do tha kiếp chẳng thể đếm được."
Kim Cang Tạng Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
Bồ Tát tứ địa đã thanh tịnh
Tư duy tam thế Phật bình đẳng
Giới, tâm, trừ nghi, đạo phi đạo
Quán sát như vậy vào ngũ địa.
Niệm xứ làm cung, căn làm tên
Chánh cần làm ngựa, xe thần túc
Giáp sắt ngũ lực phá oán địch
Mạnh mẽ bất thối vào ngũ địa
Tàm quý y phục, hoa giác phần
Tịnh giới y phục, hoa giác phần
Tịnh giới làm hương, thiền hương thoa
Trí huệ phương tiện diệu trang nghiêm
Vào rừng tổng trì, vườn tam muội
Như ý làm chân, cổ chánh niệm
Từ bi làm mắt, răng trí huệ
Đấng sư tử vô ngã rống vang động
Phá giặc phiền não vào ngũ địa
Bồ Tát trụ bậc đệ ngũ này
Chuyển tu thắng thượng đạo thanh tịnh
Chí cầu Phật pháp chẳng bất thối chuyển
Gẩm nhớ từ bi không nhàm mỏi.
Chứa nhóm phước trí thắng công đức
Tinh tấn phương tiện quán bậc trên
Phật lực gia hộ đủ niệm huệ
Rõ biết tứ đế như thật.
Khéo biết thế đế, thắng nghĩa đế
Tướng đế, sai biệt thành lập đế
Sự đế, sanh, tận vào đạo đế
Nhẫn đến Như Lai vô ngại đế.
Quán đế như vậy dầu vi diệu
Chưa được vô ngại thắng giải thoát.
Do đây hay sanh thắng công đức
Cho nên vượt hơn thế trí huệ
Đã quán đế rồi biết hữu vi
Thể tánh hư dối không bền chắc
Được phần từ quang của chư Phật
Vì lợi chúng sanh cầu Phật trí
Quán pháp hữu vi thuở trước sau
Vô minh tối tăm, ái ràng buộc
Lưu chuyể xoắn trong quả khổ
Không ngã, không nhân, không thọ mạng.
Ái thủ làm nhân thọ khổ sau
Muốn tìm ngằn mé không thể được
Mê vọng trôi chìm không thuở về
Bọn này đáng thương tôi phải độ
Nhà uẩn, rắn, cõi, mũi tên chấp
Tâm hỏa hừng hực, si tối nặng
Tâm hỏa hừng hực, si tối nặng
Song ái cuốn trôi chẳng rảnh xem
Biển khổ dật dờ không người dắt
Rõ biết như vậy siêng tinh tấn
Chỗ làm đều vì độ chúng sanh
Gọi là người có niệm có huệ
Nhẫn đến có giác giải phương tiện
Tu tập phước trí không nhàm đủ
Cung kính đa văn chẳng mõi nhàm
Cõi nước tướng hảo đều trang nghiêm
Như vậy đều vì chúng sanh cả
Vì muốn giáo hóa các thế gian
Giỏi biết thơ số cách ấn loát
Và cũng biết rành các phương thuốc
Chửa trị bệnh tật đều được lành.
Văn từ, ca vũ đều khéo giỏi
Nhà cửa, vườn ao đều an ổn.
Mõ vàng, bạc ngọc đều pháp hiện
Vô lượng chúng sanh nhờ lợi ích
Nhật, nguyệt, tinh tú và địa chấn
Nhẫn đến thân tướng cũng quán sát
Tứ thiền, vô sắc và thần thông
Vì lợi thế gian đều hiển thị.
Trí giả trụ bậc nan thắng này
Cúng vô lượng Phật và nghe pháp
Như dùng diệu bửu trau chân kim
Thiện căn đã có càng sáng sạch.
Ví như tinh tú ở hư không
Phong lực chấp trì không tổn động
Cũng như hoa sen không dính nước
Bồ Tát độ đời cũng như vậy
Bậc này thường làm Đâu Suất Vương
Hay dẹp ngoại đạo các Phật trí
Nguyện được thập lực độ tận chúng sanh
Ngài tu hành đại tinh tấn
Liền được cúng dường ngàn ức Phật
Đắc định, động cõi cũng ngàn ức
Nếu là nguyện lực lại hơn đây.
Bồ Tát đệ ngũ nan thắng địa
Chân đạo tối thượng trong nhân gian
Tôi cùng các môn phương tiện lực
Vì chư Phật đã tuyên thuyết


Hán bộ quyển 37

Bồ Tát đã nghe những thắng hạnh
Lòng rất hoan hỷ rải hoa thơm
Phóng tịnh quang minh rải bửu châu
Cúng dường Như Lai khen nói giỏi.
Trăm ngàn thiên chúng đều vui mừng
Đồng ở hư không rải các báu:
Tràng hoa, chuổi ngọc và tràng phan
Lọng báu, hương thoa đều cúng Phật.
Tự Tại Thiên Vương cùng quyến thuộc
Lòng sanh hoan hỷ trụ hư không
Rải báu thành mây dùng cúng dường
Khen rằng Phật tử khéo tuyên thuyết
Vô lượng thiên nữ ở hư không
Đồng tấu nhạc âm ca ngợi Phật
Trong tiếng ca nhạc đều nói rằng
Lời Phật hay trừ bệnh phiền não,
Pháp tánh bổn tịch không hình tướng
Dường như hư không chẳng phân biệt
Ngoài những chấp trước, tuyệt nói phô
Chân thật bình đẳng thường thanh tịnh
Nếu muốn thông đạt các pháp tánh
Nơi có, nơi không lòng chẳng động
Vì muốn cứu đời siêng tu hành
Từ miệng Phật sanh chân Phật tử
Bố thí vẫn không thấy có tướng
Vốn dứt điều ác, gìn giữ tịnh giới
Hiểu pháp không hai, thường nhẫn nhịn
Biết pháp tánh ly, chuyên tinh tấn
Đã hết phiền não vào thiền định
Khéo đạt tánh không, phân biệt pháp
Đầy đủ trí lực, hay cứu rộng
Diệt trừ điều ác xưng đại sĩ
Diệu âm như vậy ngàn vạn thứ
Khen rồi đứng yên chiêm ngưỡng Phật.
Kim Cang Tạng Bồ Tát rằng:  "Thưa Phật tử!  Đại Bồ Tát đã đủ đệ ngũ địa muốn vào đệ lục hiện tiền địa phải quán sát mười pháp bình đẳng.  Đây là mười pháp:  Tất cả pháp vì vô tướng nên bình đẳng vì vô thế nên bình đẳng, vì vô sanh nên bình đẳng, vì vô diệt nên bình đẳng, vì không thủ xã nên bình đẳng, vì tịch tịnh nên bình đẳng.  Vì như huyễn, như mộng, như bóng, như vang, như trăng trong nước, như tượng trong gương, như dương diệm, như biến hóa nên bình đẳng, vì có không bất nhị nên bình đẳng.
Bồ Tát quán sát các pháp như vậy, tự tánh thanh tịnh, tùy thuận không trái được vào đệ lục hiện tiền địa, được minh lợi tùy thuận nhẫn, chưa được vô sanh pháp nhẫn.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này quán như vậy rồi, lại lấy đại làm đầu, đại bi tăng thượng, đại bi đầy đủ, quán thế gian sanh diệt mà nghĩ rằng:  Thế gian thọ sanh đều do chấp ngã.  Nếu lìa chấp ngã thời không chỗ sanh.
Lại nghĩ rằng:  Phàm phu không trí huệ chấp lấy ngã thường tìm có không, suy xét bất chánh, khởi vọng hạnh, làm đạo tà, nghiệp tội, nghiệp bất động tích tập thêm lớn.  Ở trong các nghiệp hành trồng hột giống tâm hữu lậu hữu thú, lại khởi hậu hữu:  Sanh và lão tử.  Chính là:  Nghiệp làm đồng ruộng, thức làm hột giống, vô minh che rợp, nước ái thấm nhuần, ngã mạn tưới bón, lưới chấp kiến thêm lớn, mọc mầm danh sắc, danh sắc thêm lơn nảy chồi ngũ căn, các căn đối nhau sanh ra xúc, xúc đối sanh có thọ, sau khi thọ rồi mong cầu sanh có ái, ái tăng thêm sanh ra thủ, thêm lớn thủ sanh ra hữu, đã sanh hữu thời ở trong các loài khởi thân ngũ uẩn gọi là sanh, suy biển gọi là lão, chết mất gọi là tử.  Lúc lão tử sanh ra những nhiệt não.  Do nhiệt não nên đủ thứ khổ ưu sầu, buồn than tập họp lại.  Đây là do duyên mà tập họp chớ không có cái tập họp.  Lần lượt mà diệt chớ không có cái diệt.
Bồ Tát tuỳ thuận quán sát tương duyên khởi như vậy.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này lại nghĩ rằng:  Vì chẳng tỏ ngộ nơi đệ nhất nghĩa đế nên gọi là vô minh, nghiệp quả là hành, sơ tâm của hành y chỉ là thức.  Bốn uẩn cùng thức sanh chung là danh sắc.  Danh sắc tăng trưởng là lục nhập.  Căn, cảnh, thức ba thứ hòa hiệp là xúc.  Xúc sanh chung mà có thọ.  Nhiễm trước nơi thọ là ái.  Thêm lớn ái thành ra thủ.  Nghiệp hữu lậu do thủ khởi lên là hữu.  Từ nghiệp khởi ra uẩn là sanh.  Uẩn chín mùi là lão.  Uẩn hư hoại là tử.  Lúc mê tham luyến trong lòng phiền muộn là sầu.  Rơi lệ than thở là thán.  Tại năm căn là khổ.  Tại ý tưởng là ưu.  Ưu khổ càng nhiều là não.
Như thế thì chỉ có cây khổ làm tăng trưởng, trọn không ngã không ngã sở, không tác giả, không thọ giả.
Lại nghĩ rằng:  Nếu có tác giả thời có tác sự. Nếu không tác giả thời không tác sự.  Trong đệ nhất nghĩa đế hoàn toàn bất khả đắc.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này lại nghĩ rằng:  Toàn cả tam giới chỉ có nhất tâm.  Ở đây đức Như Lai phân biệt diễn nói mười hai chi, đều y cứ nhất tâm mà an lập như vậy.
Tại sao vậy?  Vì theo sự tham dục cùng tâm sanh chung.  Tâm là thức, sự là hành.  Mê lầm nơi hành là vô minh.  Cùng vô minh và tâm sanh chung là danh sắc.  Tăng trưởng danh sắc là lục nhập.  Lục nhập ba phần là xúc.  Xúc sanh chung là thọ.  Thọ không nhàm đủ là ái.  Ái nhiếp chẳng bỏ là thủ.  Các hữu chi sanh là hữu.  Của hữu phát khởi gọi là sanh.  Sanh thục là lão.  Lão hoại là tử.
Chư Phật tử!  Trong đây vô minh có hai thứ nghiệp:  Một là làm cho chúng sanh mê nơi cảnh sở duyên, hai là làm nhân sanh khởi cho hành.
Hành cũng có hai thứ nghiệp:  Một là có thể sanh ra báo vị lai, hai là làm nhân sanh khởi cho thức.
Thức cũng có hai thứ nghiệp:  Một là khiến các hữu nối tiếp, hai là làm nhân sanh khởi cho danh sắc.
Danh sắc cũng có hai thứ nghiệp:  Một là trợ thành lẫn nhau, hai là làm nhân sanh khởi cho lục nhập. 
Lục nhập cũng có hai thứ nghiệp:  Một là đều riêng lấy cảnh giới của tự mình, hai là làm nhân sanh khởi cho xúc.
Xúc cũng có hai thứ nghiệp:  Một là hay xúc cảnh sơ, hai là làm nhân sanh khởi cho thọ.
Thọ cũng có hai nghiệp:  Một là hay lãnh thọ các sự yêu ghét, hai là làm nhân sanh khởi cho ái.
Ái cũng có hai nghiệp:  Một là nhiễm trước sự khả ái, hai là làm nhân sanh khởi cho thủ.
Thủ cũng có hai nghiệp:  Một là làm cho các phiền não nối tiếp, hai là làm nhân sanh khởi cho hữu.
Hữu cũng có hai nghiệp:  Một là hay làm cho sanh trong các loài, hai là làm nhân sanh khởi cho lão.
Lão cũng có hai nghiệp:  Một là làm cho các căn biến đổi, hai là làm nhân sanh khởi cho tử.
Tử cũng có hai thứ nghiệp:  Một là hay làm hoại các hành, hai là vì chẳng giác tri nên nối tiếp chẳng dứt.
Chư Phật tử!  Trong đây vô minh, duyên hành, nhẫn đến sanh duyên lão tử.  Do vô minh làm duyên, nhẫn đến sanh làm duyên làm cho hành nhẫn đến lão tử chẳng dứt, vì nó trợ thành vậy.
Vô minh diệt thời hành diệt, nhẫn đến sanh diệt thời lão tử diệt.  Do vô minh chẳng làm duyên nhẫn đến sanh chẳng làm duyên, khiến cho hành nhẫn đến lão tử dứt diệt, vì nó chẳng trợ thành vậy.
Chư Phật tử!  Trong đây vô minh ái và thủ chẳng dứt là phiền não đạo.  Hành và hữu chẳng dứt là nghiệp đạo.  Những phần khác chẳng dứt là khổ đạo.
Tiền tế hậu tế phân biệt dứt diệt thời ba đạo dứt diệt.
Ba đạo như vậy lìa ngã, lìa ngã sở, chỉ có sanh diệt dường như bó lau.
Lại vô minh duyên hành là quán quá khứ.  Thức nhẫn đến thọ là quán hiện tại.  Ái nhẫn đến hữu là quán vị lai.  Từ đây về sau xoay vần tiếp nối.
Vô minh diệt, hành diệt, đó là quán chờ dứt diệt.
Lại mười hai hữu chi gọi là tam khổ.  Trong đây vô minh, hành đến lục nhập là hành khổ.  Xúc, thọ là khổ khổ.  Những chi khác là hoại khổ.
Vô minh diệt, hành diệt đó là ba khổ dứt.
Lại vô minh duyên hành là vô minh làm nhân hay sanh các hành.  Các chi khác cũng vậy.
Vô minh diệt hành diệt đó là do không vô minh thời hành cũng không.  Các chi khác cũng không.  Các chi khác cũng vậy.
Lại vô minh duyên hành đó là sanh phược.  Vô minh diệt hành diệt đó là diệt hệ phược.  Các chi khác cũng vậy.
Lại vô minh duyên hành đó là tùy thuận vô sở hữu quán.  Vô minh diệt hành diệt đó là tùy thuận tận diệt quán.  Các chi khác cũng vậy.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát quán nghịch thuận các duyên khởi có mười cách như vậy là vì hữu chi nối tiếp, vì nhiếp tại nhất tâm, vì tự nghiệp sai biệt, vì tam đạo chẳng dứt, vì quán quá khứ, hiện tại, vị lai, vì ba khổ tụ tập, vì nhân duyên sanh diệt, vì sanh diệt hệ phược, vì vô sở hữu quán và tận quán.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát dùng mười tướng như vậy quán các duyên khởi biết là vô ngã, vô nhân, vô thọ mạng, tự tánh không, chẳng có tác giả, không có thọ giả, liền được môn không giải thoát hiện tiền.
Quán các hữu chi đều là tự tánh diệt, rốt ráo giải thoát, không có chút pháp tướng sanh, liền được môn vô tướng giải thoát hiện tiền.
Nhập không, vô tướng rồi, không nguyện cầu, chỉ trừ đại bi làm đầu giáo hóa chúng sanh, liền được môn vô nguyện giải thoát hiện tiền.
Bồ Tát tu ba môn giải thoát như vậy, lìa tưởng ngã, lìa tưởng tác giả, tưởng thọ giả, lìa tưởng hữu vô.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này đại bi càng tăng thêm siêng năng tu tập, vì chưa viên mãn pháp bồ đề phần nên làm cho viên mãn.
Bồ Tát nghĩ rằng:  Tất cả hữu vi, có hòa hiệp thời chuyển, không hòa hiệp thời không chuyển.  Duyên nhóm thời chuyển, duyên không nhóm thời chẳng chuyển.  Tôi biết pháp hữu vi có nhiều lỗi họa như vậy, nay phải dứt nhân duyên hòa hiệp này.  Nhưng vì phải thành tựu chúng sanh nên cũng chẳng dứt các công hạnh.
Chư Phật tử!  Bồ Tát như vậy quán sát các pháp hữu vi có nhiều lỗi ác, không có tự tánh, không sanh không diệt mà hằng khởi đại bi chẳng bỏ chúng sanh, liền được bát nhã ba la mật hiện tiền, gọi là vô chướng ngại trí quang minh.
Thành tựu trí quang minh như vậy rồi, dầu tu tập bồ đề phần nhân duyên mà chẳng trụ trong hữu vi, dầu quán pháp hữu vi tự tánh tịch diệt, cũng chẳng trụ trong tịch diệt.  Vì pháp bồ đề phần chưa viên mãn.
Chư Phật tử!  Bồ Tát trụ bậc hiện tiền địa này, được nhập không tam muội, tự tánh không tam muội, đệ nhất không tam muội, hiệp không tam muội, khởi không tam muội, như thật bất phân biệt không tam muội, bất xã ly không tam muội.
Bồ Tát này được mười môn không tam muội như vậy làm đầu.  Kế đó trăm ngàn không tam muội đều hiện tiền cả.
Mười môn vô tướng không tam muội, mười môn vô nguyện tam muội như vậy làm đầu, kế đó trăm ngàn môn vô tướng, vô nguyện đều hiện tiền cả.
Chư Phật tử!  Bồ Tát trụ bậc hiện tiền địa này lại tu tập đầy đủ tâm bất khả hoại, tâm quyết định, tâm thuần thiện, tâm thậm thâm, tâm, tâm bất thối chuyển, tâm bất hưu tức, tâm quảng đại, tâm vô biên, tâm bất hưu tức, tâm quảng đại, tâm vô biên, tâm cầu trí, tâm phương tiện huệ tương ưng, tất cả đều viên mãn.
Chư Phật tử!  Bồ Tát dùng mười tâm này thuận Phật bồ đề, chẳng sợ dị luận, vào các trí địa, lìa đạo nhị thừa, thẳng đến Phật trí, các ma phiền não không trở lại hư hoại được, trụ nơi Bồ Tát trí huệ quang minh.  Trong pháp không, vô tướng, vô nguyện đều khéo tu tập, trí huệ phương tiện luôn chung tương ưng, pháp bồ đề phần thường thực hành chẳng bỏ.
Chư Phật tử!  Bồ Tát trụ trong bậc hiện tiền địa này được tăng thượng hạnh bát nhã ba la mật, được đệ tam minh lợi thuận nhẫn, vì tuỳ thuận không trái với tướng như thật của các pháp.
Chư Phật tử!  Bồ Tát đã an trụ nơi bậc hiện tiền địa này, do nguyện lực nên được thấy nhiều đức Phật, nhẫn đến thấy trăm ngàn ức na do tha đức Phật đều dùng tâm quãng đại, thâm tâm để cúng dường cung kính tôn trọng tán thán, cũng cúng dường tất cả chúng tăng.  Đem thiện căn này hồi hướng vô thượng bồ đề.
Nơi chư Phật, Bồ Tát này cung kính nghe pháp, nghe xong thọ trì, được như thật tam muội trí huệ quang minh, tùy thuận tu hành ghi nhớ chẳng bỏ.  Lại được pháp tạng thậm thâm của chư Phật.  Trải qua vô lượng trăm ngàn ức na do tha kiếp, những thiện căn đã có lại càng sáng sạch.
Ví như chân kim, dùng báu tỳ lưu ly luôn dồi bóng, thời càng thêm sáng sạch.
Cũng vậy, Bồ Tát đệ lục địa này dùng phương tiện huệ theo dõi quán sát, những thiện căn đã được càng thêm sáng sạch, càng thêm tịch diệt, không gì che khuất được.
Ví như ánh sáng của mặt trăng chiếu đến thân chúng sanh làm cho được mát mẻ, bốn thứ phong luân không ngăn hoại được.
Cũng vậy, những thiện căn của bậc Bồ Tát này hay dập tắt ngọn lửa phiền não của vô lượng trăm ngàn ức na do tha chúng sanh.  Bốn thứ ma đạo không phá hoại được.
Trong mười môn ba la mật, Bồ Tát này thiên nhiều về bát nhã ba la mật, ngoài ra tùy sức tùy phần tu các môn khác.
Chư Phật tử!  Đây là lược nói về đại Bồ Tát đệ lục hiện tiền địa.  Bồ Tát an trụ nơi bậc này thường hiện làm Thiện Hóa Thiên Vương, việc làm tự tại.  Tất cả sự vấn nạn của hàng Thanh Văn không làm thối khuất được.  Có thể làm cho chúng sanh trừ diệt ngã mạn, thâm nhập duyên khởi.
Tất cả công hạnh bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự đều chẳng rời niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, nhẫn đến chẳng rời niệm đầy đủ nhất thiết chủng trí.
Bồ Tát này lại nghĩ rằng:  Với tất cả chúng sanh, tôi sẽ là thượng thủ, là thắng, nhẫn đến bậc y chỉ của nhất thiết chủng trí.
Bồ Tát này nếu chuyên cần tinh tấn, trong khoảng một niệm được trăm ngàn ức tam muội, nhẫn đến thị hiện trăm ngàn ức thân Phật, mỗi mỗi thân Phật thị hiện trăm ngàn ức Bồ Tát làm quyến thuộc.
Nếu dùng nguyện lực thị hiện tự tại thời hơn đây, nhẫn đến trăm ngàn ức na do tha kiếp chẳng thể đếm biết được."
Kim Cang Tạng Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
Bồ Tát viên mãn ngũ địa rồi
Quán pháp vô tướng cũng vô tánh
Vô sanh vô diệt vốn thanh tịnh
Không có hỷ luân không thủ xả.
Thể tướng tịch diệt như huyễn thảy
Hữu vô bất nhị rời phân biệt
Tuỳ thuận pháp tánh quán như vậy
Trí này được thành nhập lục địa
Đầy đủ trí minh lọi thuận nhẫn
Quán sát thế gian tướng sanh diệt
Do sức si tối có thế gian
Si tối diệt mất không thế gian.
Quán các nhân duyên không thật tánh
Chẳng hoại giả, gọi hòa hiệp dụng
Vô tác, vô thọ, không nghĩ nhớ
Hành pháp như mây nổi khắp nơi.
Chẳng biết chân đế gọi vô minh
Gây tạo tư: nghiệp, ngu si: quả
Thức khởi sanh chung gọi là danh sắc
Như vậy nhẫn đến những khổ tụ
Rõ thấu ba cõi nương nơi tâm
Mười hai nhân duyên cũng nương tâm
Sanh tử đều do tâm làm ra
Tâm nếu diệt dứt, sanh tử hết.
Vô minh công dụng có hai thứ
Mê lầm sở duyên, làm thành nhân
Như vậy nhẫn đến lão và tử
Do đây quả khổ không cùng tận.
Vô minh làm duyên chẳng thể dứt
Duyên đó nếu dứt, tất cả dứt,
Ngu si, ái, thủ: phiền não chi
Hành, hữu là nghiệp, nghiệp, chi khác: khổ.
Si đến lục nhập là hành khổ
Xúc thọ thêm lớn là khổ khổ
Còn những chi khác là hoại khổ.
Nếu thay vô ngã ba khổ dứt
Vô minh cùng hành thuộc quá khứ
Thức đến xúc, thọ thuộc hiện tại
Ái, thủ, hữu sanh khổ vị lai.
Quán đãi nếu dứt:  Biên tế dứt.
Vô minh là duyên:  Là sanh phược
Rời được nơi duyên phược mới hết
Từ nhân sanh quả, lìa thời dứt,
Quán sát nơi đây biết tánh không.
Tùy thuận vô minh khởi ba cõi
Nếu không tùy thuận ba cõi dứt
Có đây có kia, không cũng vậy
Mười cách tư duy tâm lìa chấp.
Hữu chi tiếp nói nhiếp nhất tâm
Tự nghiệp chẳng rời và tam đạo.
Tam tế, tam khổ nhân duyên sanh
Hệ phược khởi diệt thuận vô tận
Như vậy, quán khắp pháp duyên khởi
Vô tác, vô thọ, không chân thật
Như huyễn, như mộng, như bóng vang
Như kẻ ngu chạy theo dương diệm.
Quán sát như vậy vào nơi không
Biết duyên tánh ly được vô tướng
Rõ pháp hư vọng không nguyện cầu
Chỉ có từ mẫn độ muôn loại.
Đại sĩ tu hành môn giải thoát
Càng thêm đại bi cầu Phật pháp
Biết các hữu vi hòa hiệp làm
Chí nguyện quyết định siêng hành đạo
Môn không tam muội đủ trăm ngàn
Vô tướng, vô nguyện cũng như vậy
Bát nhã thuận nhẫn đều không tăng thượng
Giải thoát trí huệ được viên mãn
Lại dùng thâm tâm cúng nhiều Phật
Ở trong Phật giáo tu tập đạo
Được Phật pháp tạng thêm thiện căn
Như vàng dùng lưu ly trau sáng.
Như trăng sáng mát lợi muôn loài
Bốn phong luân không ngăn hoại được
Bậc Bồ Tát này siêu ma đạo
Dứt trừ phiền não cho quần sanh
Bậc này thường làm Thiên Hóa Vương
Hóa đạo chúng sanh trừ ngã mạn
Công hạnh đều cầu nhất thiết trí
Đều đã vượt hơn đạo Thanh Văn
Bồ Tát bậc này siêng tinh tấn
Được môn tam muội trăm ngàn ức
Cũng thấy trăm ngàn ức đức Phật
Ví như mặt nhật ngày thạnh hạ
Tâm thâm vi diệu khó thấy biết
Thanh Văn, Độc Giác không rõ được
Bồ Tát hiện tiền đệ lục địa
Tôi vì Phật tử đã lược nói.
Bấy giờ thiên chúng lòng hoan hỷ
Rải hoa thành mây dừng hư không
Khắp nơi pháp âm thanh diệu mầu
Thưa cùng đắng tối thắng thanh tịnh:
Rõ thấu thắng nghĩ trí tự tại
Thành tựu công đức trăm ngàn ức
Không chấp trước, như sen không nhiễm
Vì lợi chúng sanh nói thâm hạnh
Tự Tại Thiên Vương ở hư không
Phóng đại quang minh chiếu thân Phật
Cũng rải mây thơm tối thượng diệu
Cúng khắp đắng sạch trừ phiền não
Bấy giờ thiên chúng đều vui mừng.
Đều phát tiếng hay đồng ca ngợi:
Chúng tôi được nghe hiện tiền địa
Thời là đã được nhiều lợi lành
Thiên nữ lúc ấy lòng mừng vui
Cùng trổi âm nhạc ngàn muôn điệu
Đều do thần lực của Như Lai
Trong tiếng hòa nhạc thành lời nói:
Oai nghi tịch tịnh không sánh kịp
Điều ngự chúng sanh đời nên cúng
Đã siêu tất cả những thế gian
Mà vào thế gian truyền diệu đạo
Dầu hiện nhiều loại vô lượng thân
Biết thân mỗi mỗi vô sở hữu
Khéo dùng ngôn từ nói các pháp
Chẳng chấp tướng văn tự âm thanh.
Qua đến trăm ngàn các quốc độ
Dùng những thượng cúng cúng dường Phật
Trí huệ tự tại không chấp trước
Chẳng sanh niệm tưởng cõi Phật ta
Dầu siêng giáo hóa các chúng sanh
Mà không nhân ngã tất cả tâm
Dầu đã tu thành hạnh quản đại
Mà nơi hạnh lành chẳng chấp trước.
Bởi thấy tất cả các thế gian
Lửa tham, sân, si thường cháy hực
Nơi các tưởng niệm thảy đều lìa
Phát khởi đại bi sức tinh tấn
Tất cả chư thiên và thiên nữ
Cúng dường nhiều thứ khen ngợi rồi
Tất cả đồng thời đứng lặng yên
Chiêm ngưỡng Thế Tôn mong nghe pháp
Giải Thoát Nguyệt vì chúng lại thưa:
Cả đại chúng đây lòng thanh tịnh
Những hành tướng trong đệ thất địa
Trông mong Bồ Tát thương giảng giải.
Kim Cang Tạng Bồ Tát nói với giải thoát Nguyệt Bồ Tát rằng:  "Thưa Phật tử!  Đại Bồ Tát đã tròn đủ công hạnh của đệ lục địa muốn vào đệ thất viễn hành địa, phải tu mười môn phương tiện huệ phát khởi đạo thù thắng.  Đây là mười đạo thù thắng:  Dầu khéo tu không, vô tướng, vô nguyện tam muội mà từ bi chẳng bỏ chúng sanh.  Dầu được pháp bình đẳng của chư Phật mà thích thường cúng dường Phật.  Dầu nhập môn quán không trí mà siêng chứa phước đức.  Dầu xa rời tam giới mà trang nghiêm tam giới.  Dầu rốt ráo dập tắt ngọn lửa phiền não mà có thể vì tất cả chúng sanh khởi hạnh diệt tắt ngọn lửa phiền não tham, sân, si.  Dầu biết các pháp như huyễn, như mộng, như bóng, như vang, như dương diệm, như biến hóa, như trăng dưới nước, như tượng trong gương, tự tánh bất nhị, mà tù tâm tác động vô lượng sai khác.  Dầu biết tất cả quốc độ dường như hư không mà hay dùng diệu hạnh thanh tịnh trang nghiêm Phật độ.  Dầu biết pháp thân của chư Phật bản tánh không thân mà dùng tướng hảo trang nghiêm thân mình.  Dầu biết âm thanh của chư Phật tánh không tịch diệt chẳng thể ngôn thuyết, mà có thể tùy tất cả chúng sanh phát ra các thứ âm thanh thanh tịnh sai khác.  Dầu tùy chư Phật rõ biết tam thế chỉ là nhất niệm, mà tùy ý giải sai biệt của chúng sanh, dùng các loại tướng, các thứ thời gian, các thứ kiếp số để tu tập công hạnh.
Bồ Tát dùng môn phương tiện huệ phát khởi hạnh thù thắng này, từ đệ lục hiện tiền địa vào đệ thất Viễn Hành địa.  Lúc vào đệ thất địa rồi thời các hạnh này thường hiện tiền, gọi là an trụ nơi đệ thất Viễn Hành địa.
Phật tử!  Đại Bồ Tát an trụ đệ thất địa này rồi, thời vào vô lượng chúng sanh giới, vào vô lượng công nghiệp giáo hóa chúng sanh của chư Phật, vào vô lượng thế giới võng, vào vô lượng quốc độ thanh tịnh của chư Phật, vào vô lượng pháp sai biệt, vào vô lượng hiện giác trí của chư Phật, vào vô lượng kiếp số, vào vô lượng trí giác liễu tam thế của chư Phật, vào vô lượng kiếp số, vào vô lượng trí giác liễu tam thế của chư Phật, vào vô lượng tín giải sai biệt của chúng sanh, vào vô lượng các loại thân danh sắc của chư Phật thị hiện, vào vô lượng căn tánh sở thích sai biệt của chúng sanh, vào vô lượng ngữ ngôn âm thanh làm cho chúng sanh hoan hỷ của chư Phật, vào vô lượng các loại âm thanh hành của chúng sanh, vào vô lượng trí rõ biết rộng lớn của chư Phật, vào vô lượng tín giải của Thanh Văn thừa, vào vô lượng trí đạo của chư Phật, vào vô lượng môn trí huệ thậm thâm của chư Phật dạy khiến thẳng vào, vào vô lượng hạnh phương tiện của chư Bồ Tát, vào vô lượng sự tập thành của đại thừa của chư Phật dạy làm cho Bồ Tát được vào.
Bồ Tát này nghĩ rằng:  Vô lượng cảnh giới của Như Lai như vậy, nhẫn đến trăm ngàn ức na do tha như vậy, nhẫn đến trăm ngàn ức na do tha kiếp chẳng thể biết được.  Tôi đều phải dùng tâm vô công dụng, vô phân biệt để thành tựu viên mãn.
Chư Phật tử!  Bồ Tát này dùng tâm trí huệ quán sát như vậy.  Thường siêng tu tập phương tiện huệ khởi đạo thù thắng an trụ bất động, không một niệm thôi nghỉ phế bỏ.  Đi, đứng, ngồi, nằm, nhẫn đến lúc ngũ chiêm bao cũng chưa từng tương ưng với cái chướng.  Luôn không hề bỏ những quán niệm trên đây.
Trong mỗi niệm, Bồ Tát này thường có thể đầy đủ mười ba la mật.
Tại sao vậy?  Vì mỗi niệm, Bồ Tát này đều lấy đại bi làm trước để tu hành Phật pháp hướng đến Phật trí.  Những thiện căn đã có đều vì cầu Phật trí mà bố thí cho chúng sanh, đây gọi là đàn ba la mật.  Hay diệt trừ những lửa phiền não, đây gọi là thí ba la mật.  Từ bi làm đầu không tổn hại chúng sanh, đây gọi là sằn đề ba la mật.  Cầu pháp thắng thiện không nhàm đủ, đây gọi là tỳ lê gia ba la mật.  Nhất thiết trí đạo thường hiện tiền chưa từng tán loạn, đây gọi là thiền na ba la mật.  Hay nhẫn thọ các pháp bất sanh bất diệt, đây gọi là bát nhã ba la mật.  Hay xuất sanh vô lượng trí, đây gọi là phương tiện ba la mật, hay cầu thượng thượng thắng trí, đây gọi là nguyện ba la mật.  Tất cả dị luận và các ma chúng không trở hoại, đây gọi là bậc ba la mật.  Rõ biết các pháp đúng thật đây gọi là trí ba la mật.
Chư Phật tử!  Mười môn ba la mật này, trong mỗi niệm Bồ Tát đều đã đầy đủ.
Cũng vậy, bốn nhiếp pháp, bốn pháp trì, ba mươi bảy phẩm trợ đạo, ba môn giải thoát, lược nói nhẫn đến tất cả pháp bồ đề phần, trong mỗi niệm, Bồ Tát này đều viên mãn cả."
Bấy giờ, Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát hỏi Kim Cang Tạng Bồ Tát rằng:  "Thưa Phật tử!  Bồ Tát chỉ ở trong đệ thất địa này đầy đủ tất cả pháp bồ đề phần, hay là trong các địa cũng có thể đầy đủ?"
Kim Cang Tạng Bồ Tát nói:  "Thưa Phật tử!  Bồ Tát ở trong mười địa đều có thể đầy đủ pháp bồ đề phần, nhưng đệ thất địa thù thắng hơn.
Tại sao vậy?  Vì đệ thất địa công dụng viên mãn thời được vào trí huệ tự tại mình.
Chư Phật tử!  Bồ Tát ở trong bậc sơ địa vì duyên tất cả Phật pháp để nguyện cầu nên đầy đủ pháp bồ đề phần.  Vì đệ nhị địa lìa tâm cấu nhơ.  Vì đệ tam địa nguyện cầu càng tăng trưởng được pháp quang minh.  Vì đệ tứ địa nhập đạo.  Vì đệ ngũ địa thuận thế gian mà tu tập.  Vì đệ lục địa nhập pháp môn thậm thâm.  Vì đệ thất địa phát khởi tất cả Phật pháp.  Tất cả địa đều cũng đầy đủ pháp bồ đề phần.
Tại sao vậy?  Bồ Tát từ sơ địa đến đệ thất địa thành tựu trí công dụng phần.  Do công lực này, từ đệ bát địa đến đệ thập địa vô công dụng hạnh đều được thành tựu.
Chư Phật tử!  Ví như có hai thế giới:  Một thời tạp nhiễm, một thời thuần tịnh.  Chặng giữa của hai thế giới này khó qua được, chỉ trừ bậc Bồ Tát đó đại thần thông phương tiện nguyện lực.
Chư Phật tử!  Bồ Tát ở các địa cũng như vậy:  Có tạp nhiễm hạnh, có thanh tịnh hạnh.  Chẳng giữa của hai hạnh này khó qua được, chỉ trừ Bồ Tát có đại nguyện lực phương tiện trí huệ mới có thể qua được."
Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát hỏi:  "Thưa Phật tử!  Bảy địa Bồ Tát này là nhiễm hạnh hay là tịnh hạnh?"
Kim Cang Tạng Bồ Tát nói:  "Thưa Phật tử!  Từ sơ địa đến thất địa, công hạnh tu tập đều lìa bỏ nghiệp phiền não, vì hồi hướng vô thượng bồ đề, vì phần được đạo bình đẳng, nhưng chưa gọi là hạnh siêng phiền não.
Chư Phật tử!  Như Chuyển Luân Thánh Vương ngự tượng bửu du hành tứ thiên hạ, biết có người bần cùng khốn khổ mà không bị lây những sự họa hoạn đó, nhưng chưa được gọi là siêu nhân loại.  Nếu bỏ thân chuyển luân vương sanh lên trời Phạm thế, ngự thiên cung thấy ngàn thế giới, du hành ngàn thế giới, thị hiện quang minh oai đức của Phạm thiện mới gọi là siêu nhân loại.
Chư Phật tử!  Bồ Tát cũng như vậy.  Ban đầu từ bậc sơ địa đến bậc đệ thất địa, ngự xe ba la mật du hành thế gian, biết quá hoạn phiền não của thế gian.  Vì ngự chánh đạo nên chẳng bị lỗi lầm của phiền não làm lây nhiễm, nhưng chưa gọi là siêu phiền não hạnh.  Nếu bỏ tất cả hạnh hữu công dụng, từ đệ thất địa vào đệ bát địa, ngự xe Bồ Tát, thanh tịnh du hành thế gian, biết phiền não lỗi lầm chẳng bị  lây nhiễm, mới gọi là siêu phiền não hạnh, vì được siêu quá hết tất cả.
Chư Phật tử!  Bồ Tát đệ thất địa này siêu quá hết những phiền não đa tham, đa sân, v.v... mà an trụ.  Bậc này chẳng gọi là có phiền não, cũng chẳng gọi là không phiền não.
Tại sao vậy?  Vì ở bậc này, tất cả phiền não chẳng hiện hành nên gọi chẳng gọi là có.  Vì cầu Phật trí tâm chưa mãn toại nên chẳng gọi là không.
Chư Phật tử!  Bồ Tát an trụ bậc đệ thất địa dùng tâm thâm tịnh mà thành tựu thân nghiệp, ngữ nghiệp và thành tựu ý nghiệp.  Tất cả những nghiệp đạo bất thiện bị Phật quở trách đều đã lìa bỏ.  Tất cả thiện nghiệp mà Phật khen thời thường khéo tu hành.  Tất cả kinh, thơ, kỷ thuật của thế gian như đã nói ở đệ ngũ địa đều tự nhiên thực hành thông thạo chẳng cần dụng công.
Bồ Tát ở trong đại thiên thế giới làm đại minh sư.  Chỉ trừ đức Như Lai và từ đệ bát địa trở lên, thâm tâm diệu hạnh của các Bồ Tát khác đều không bằng được.
Ở bậc này, những thiền tam muội, thần thông giải thoát đều được hiện tiền.  Nhưng là do tu tập mà thành, chẳng phải báo đắc thành như bậc đệ bát địa.
Bậc Bồ Tát này trong mỗi niệm tu tập đầy đủ phương tiện trí lực, và tất cả pháp bồ đề phần đều càng viên mãn hơn.
Chư Phật tử!  Bồ Tát trụ bậc này nhập tam muội Bồ Tát thiện quán trạch, tam muội thiện trạch nghĩa, tam muội tối thắng huệ tam muội phân biệt nghĩa tạng, tam muội như thật phân biệt nghĩa, tam muội thiện trụ kiên cố căn, tam muội trí huệ thần thông môn, tam muội pháp giới nghiệp, tam muội Như Lai thắng lợi, tam muội chủng chủng nghĩa tạng sanh tử niết bàn môn.  Nhập trăm ngàn tam muội đầy đủ môn đại trí thần thông như vậy, tu tập thanh tịnh các trí địa.
Vì Bồ Tát này được nhập các tam muội trên đây khéo tu tập thanh tịnh phương tiện huệ, đại bi lực nên vượt hơn bậc nhị thừa, được quán sát trí huệ địa.
Chư Phật tử!  Bồ Tát trụ bậc này khéo tu tịnh vô lượng thân nghiệp vô tướng hành, ý nghiệp vô tướng hành nên được quang minh vô sanh pháp nhẫn."
Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát hỏi:  "Thưa Phật tử!  Bồ Tát từ sơ địa đến bậc này có vô lượng thân nghiệp, ngữ nghiệp, ý nghiệp há chẳng vượt hơn hàng nhị thừa ư?"
Kim Cang Tạng Bồ Tát nói:  "Thưa Phật tử!  Các bậc đó đều vượt hơn, nhưng chỉ là do nguyện cầu Phật pháp, chẳng phải là sức tự trí quán sát.  Nay trong bậc đệ thất địa này do tự trí lực nên tất cả nhị thừa chẳng kịp được.
Ví như vương tử sanh ở cung vua, do vương hậu sanh có đủ vương tướng.  Khi sanh ra thời đã hơn tất cả các quan, nhưng chỉ do đức lực của nhà vua chớ chẳng phải tự lực, khi thân trưởng thành, toàn vẹn tất cả nghề nghiệp oai đức, thời mớii là do tự lực mà hơn tất cả thần dân.
Đại Bồ Tát cũng vậy.  Lúc sơ phát tâm, do vì chí cầu đại pháp nên vượt hơn tất cả Thanh Văn, Duyên Giác.  Nay an trụ bậc đệ thất địa do tự lực trí huệ nên vượt lên trên tất cả nhị thừa.
Chư Phật tử!  Bồ Tát an trụ bậc đệ thất địa này được viễn ly vô hành thậm thâm, thường tu hành thân, khẩu, ý, siêng cầu đạo vô thượng chẳng bỏ rời.  Thế nên Bồ Tát này dầu đi nơi thực tế mà chẳng tác chứng."
Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát hỏi:  "Thưa Phật tử!  Bồ Tát từ địa nào lên đến địa nào có thể nhập được diệt định?"
Kim Cang Tạng Bồ Tát nói: "Thưa Phật tử!  Bồ Tát từ đệ lục địa trở lên có thể nhập diệt định.  Nay an trụ nơi đệ thất địa này thời có thể mỗi niệm nhập diệt định, cũng mỗi niệm xuất, nhưng không tác chứng.  Thế nên Bồ Tát này gọi là thành tựu thân, ngữ, ý nghiệp bất tư nghì, đi nơi thực tế mà chẳng tác chứng.
Ví như có người ngồi thuyền vào biển, do sức thiện xảo nên không bị tai nạn.
Cũng vậy Bồ Tát ở bậc này ngồi thuyền ba la mật đi trong biển thực tế, do nguyện lực nên chẳng chứng diệt.
Chư Phật tử!  Bồ Tát này được tam muội trí lực như vậy, do đại phương tiện, dầu thị hiện sanh tử mà luôn trụ niết bàn, dầu quyến thuộc vây quanh mà thường thích xa lìa, dầu do nguyện lực thọ sanh trong ba cõi mà chẳng nhiễm thế pháp, dầu thường tịch diệt do sức phương tiện mà lại phừng cháy, dầu đốt nhưng chẳng cháy, dầu tùy thuận Phật trí mà thị hiện vào bậc Thanh Văn, Bích Chi Phật, dầu được Phật cảnh giới mà thị hiện ở cảnh giới ma, dầu thị hiện đồng với ngoại đạo mà chẳng bỏ Phật pháp, dầu thị hiện tùy thuận tất cả thế gian mà thường thực hành tất cả pháp xuất thế.
Bồ Tát này chỗ có tất cả sự trang nghiêm vượt hơn tất cả sự trang nghiêm của trời, rồng, bát bộ, người, phi nhân.  Tứ thiên vương, đế thích chánh pháp.
Chư Phật tử!  Bồ Tát thành tựu trí huệ như vậy trụ bậc viễn hành địa do nguyện lực nên được thấy nhiều đức Phật, nhẫn đến thấy trăm ngàn ức na do tha đức Phật, đều kính trọng tán thán cúng dường với tâm quãng đại, tâm tăng thắng.  Cũng cúng dường tất cả chúng tăng.  Đem thiện căn này hồi hướng vô thượng bồ đề.  Lại ở chỗ chư Phật cung kính nghe pháp, nghe xog thọ trì, được như thật tam muội trí huệ quang minh, tùy thuận tu hành hộ trì chánh pháp, thường được chư Phật hoan hỷ khen ngợi.  Hàng nhị thừa không thể vấn nạn làm thua được.  Bồ Tát nà làm lợi ích chúng sanh pháp nhẫn thanh tịnh.  Như vậy trải qua vô lượng trăm ngàn ức na do tha kiếp những thiện căn đã có càng thêm tăng thắng.
Ví như chân kim, dùng các thứ châu báu cẩn xen vào càng làm cho chân kim sáng chói hơn, những vật trang nghiêm khác không thể sánh được.
Những thiện căn của Bồ Tát đệ thất địa này cũng như vậy, do sức phương tiện huệ càng sáng sạch hơn, chẳng phải hàng nhị thừa sánh kịp được.
Chư Phật tử!  Ví như ánh sáng mặt trời, những ánh sáng của trăng sao, v.v... đều không sánh được.  Những chỗ sình lầy nơi đại địa, ánh sáng mặt trời có thể làm khô ráo.
Bồ Tát Viễn Hành địa này cũng như vậy, tất cả hàng nhị thừa không khéo kịp, được có thể làm cạn khô sình lầy phiền não của tất cả chúng sanh.
Bồ Tát này thiên nhiều về phương tiện ba la mật.  Chín môn ba la mật kia thời tuỳ sức tùy phần mà tu tập.
Chư Phật tử!  Đây là lược nói đại Bồ Tát đệ thất Viễn Hành địa.
Bồ Tát an trụ bậc này thường làm Tự Tại Thiên Vương, khéo vì chúng sanh mà nói pháp chứng trí, khiến họ chứng nhập.
Tất cả công hạnh bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự đều chẳng rời niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng nhẫn đến chẳng rời niệm đầy đủ nhất thiết chủng trí.
Bồ Tát này lại nghĩ rằng:  Tôi sẽ ở trong tất cả chúng sanh làm thượng thủ, là thắng, nhẫn đến là bậc y chỉ của nhất thiết chủng trí.
Bồ Tát này nếu phát cần tinh tấn, thời trong khoảng một niệm được trăm ngàn ức na do tha tam muội, nhẫn đến thị hiện trăm ngàn ức na do tha Bồ Tát để làm quyến thuộc.
Nếu dùng nguyện lực thù thắng tự tại thị hiện thời hơn số trên đây, nhẫn đến trăm ngàn ức na do tha kiếp chẳng thể đếm biết được."
Kim Cang Tạng Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
Đệ nhất nghĩa trí tam muội đạo
Lục địa tu hành tâm đầy đủ
Tức thời thành tựu phương tiện huệ
Bồ Tát dùng đây vào thất địa
Dầu chứng tam thoát nhưng từ bi
Dầu đồng Như Lai nhưng cúng Phật
Dầu quán không nhưng chứa phước đức
Bồ Tát do đây lên thất địa.
Xa rời tam giới mà trang nghiêm
Dứt trừ lửa phiền mà khởi lửa
Biết pháp bất nhị nhưng siêng tu
Rõ cõi không hư mà nghiêm độ.
Hiểu thân bất động, đủ các tướng
Thấu thinh tánh ly, khéo khai diễn
Thâm nhập nhất niệm, hành nhiều việc
Bậc trí do đây lên thất địa
Quán sát pháp này được rõ ràng
Rộng vì chúng sanh làm lợi ích
Vào chúng sanh giới không biên tế
Công nghiệp giáo hóa cũng vô lượng.
Quốc độ, các pháp cùng kiếp số
Giải, dục, tâm hành đều hay vào
Thuyết pháp tam thừa cũng vô hạn
Như thế giáo hóa các quần sanh
Bồ Tát siêng cầu đạo tối thắng
Động nghĩ, chẳng bỏ phương tiện huệ
Mỗi mỗi hồi hướng Phật bồ đề
Niệm niệm thành tựu ba la mật.
Phát tâm hồi hướng là bố thí
Dứt hoặc là giới, chẳng hại: nhẫn
Cầu lành không nhàm là tinh tấn
Nơi đạo chẳng động tức tu thiền
Nhẫn thọ vô sanh là bát nhã
Hồi hướng phương tiện là nguyện độ,
Không bị phá: lực, khéo rõ: trí
Thập độ như vậy đều thành mãn
Sơ địa phan duyên công đức đủ
Nhị địa ly cấu tam nghiệp tịnh,
Tứ địa nhập đạo, ngũ thuận hành
Đệ lục vô sanh trí quang chiếu
Đệ thất bồ đề công đức toàn
Tất cả đại nguyện đều đầy đủ
Do đây hay khiến bậc nhập địa
Tất cả hạnh đều thanh tịnh.
Địa này khó qua, trí mới siêu
Ví như chặng giữa hai thế giới
Cũng như Thánh Vương không lây nghèo
Nhưng chưa được gọi: tổng siêu độ.
Nếu trụ trong đệ bát trí địa
Mới là vượt qua tâm cảnh giới
Như Phạm Thiên Vương siêu nhân loại
Như sen ở nước chẳng tanh bùn.
Đệ thất dầu siêu các phiền não
Chẳng gọi có hay không phiền não
Chẳng có vì không hoặc hiện hành
Chẳng không vì tâm cầu Phật trí.
Bao nhiêu kỷ nghệ ở thế gian
Kinh sách từ luận đều rành cả
Thiền định, tam muội và thần thông
Tất cả tu hành đều thành tựu.
Bồ Tát tu hành đạo thất địa
Vượt hơn tất cả hạnh nhị thừa
Sơ địa nguyện hành, đây do trí,
Ví như vương tử đủ oai lực,
Thành tựu thậm thâm vẫn tiến tu
Tâm tâm tịch diệt chẳng tác chứng
Ví như ngồi thuyền vào trong biển
Ở nước chẳng bị nước nhận chìm.
Phương tiện huệ hành đủ công đức
Tất cả thế gian không rõ được
Cúng dường nhiều Phật tâm càng sáng
Như dùng diệu bửu trang nghiêm vàng.
Thất địa Bồ Tát trí rất sáng
Như sáng mặt trời khô nước ái
Thường làm Tự Tại vua cõi trời
Hóa đạo quần sanh tu chánh trí.
Nếu do dũng mãnh tinh tấn lực
Được nhiều tam muội thấy nhiều Phật
Trăm ngàn ức số na do tha
Nguyện lực tự tại lại hơn đây.
Đây là Bồ Tát Viễn Hành địa
Phương tiện trí huệ thanh tịnh đạo
Tất cả thế gian trời và người
Thanh Văn, Độc Giác không biết được.


Hán bộ quyển 38

Bấy giờ Thiên Vương và thiên chúng
Nghe thắng hạnh này đều hoan hỷ
Vì muốn cúng dường lên Như Lai
Và cùng đại chúng chư Bồ Tát,
Rải hoa, tràng hoa, phan, tràng, lọng
Huog thơm chuỗi ngọc và bửu y,
Vô lượng, vô biên ngàn vạn thứ
Đều dùng ma ni để nghiêm sức
Thiên nữ đồng thời tấu thiên nhạc
Khắp phát các thứ diệu âm thanh
Cúng dường cho Phật và Phật tử
Đồng nói lời này để tán thán:
Phước trí viên mãn thấy tất cả
Phật thương chúng sanh hiện thần lực
Khiến cho thứ thiên nhạc trên không
Phát diệu âm thanh khắp được nghe.
Trong một chân lông trăm ngàn ức
Na do tha cõi vi trần số
Vô lượng Như Lai như vậy thấy
An trụ trong đó thuyết diệu pháp
Trong một chân lông vô lượng cõi
Đều có bốn châu và đại hải
Tu di, thiết vi và bửu sơn
Đều thấy ở trong, không chật hẹp
Chỗ một chân lông có sáu loài:
Ba loài ác đạo và trời, người
Các chúng long thần, a tu la
Đều theo tự nghiệp thọ quả báo.
Nơi trong tất cả cõi nước kia
Đều có Như Lai diễn diệu âm
Tùy thuận tất cả tâm chúng sanh
Vì chuyển tối thượng tịnh pháp luân.
Trong cõi các loài thân chúng sanh
Trong thân lại có các loại cõi
Trời người các loài đều riêng khác
Phật đều biết rồi đem giảng dạy
Cõi lớn tùy niệm biến thành nhỏ
Cõi nhỏ tùy niệm biến cũng biến lớn
Thần thông như vậy số vô lượng
Thế gian chung kể không thể hết.
Khắp pháp diệu âm vô lượng tiến
Ca ngợi Như Lai công đức rồi
Chúng hội hoan hỷ ngồi yên lặng
Nhất tâm chiêm ngưỡng muốn nghe pháp.
Nghìa Giải Thoát Nguyệt lại thưa rằng:
Nay đây chúng hội đều tịch tịnh
Mong giải thích hành tướng thứ đệ
Nhập đệ bát bất động trí địa.
Kim Cang Tạng Bồ Tát bảo Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát rằng:  "Thưa Phật tử!  Đại Bồ Tát ở trong thất viễn hành địa, khéo tu tập phương tiện huệ, khéo thanh tịnh các đạo, khéo tu tập pháp trợ đạo, do đại nguyện lực nhiếp trì, được Phật lực gia hộ, tự thiện lực giữ gìn, thường tưởng nhớ, lực vô úy bất cộng của Như Lai, khéo thanh tịnh thâm tâm tự giác, có thể thành tựu phước đức trí huệ, đại từ đại bi chẳng bỏ chúng sanh, vào vô lượng trí đạo, vào tất cả pháp bản lai vô sanh, vô khởi, vô tướng, vô thành, vô hoại, vô chuyển, vô tánh, lấy đây làm tánh ba thuở sơ, trung, hậu thảy đều bình đẳng vô phân biệt, là chỗ nhập của như như trí, lìa tất cả tưởng phân biệt tâm ý thức, không chỗ chấp lấy dường như hư không, vào tất cả pháp như tánh hư không, đây gọi là được vô sanh pháp nhẫn.
Chư Phật tử!  Bồ Tát thành tựu nhẫn này liền được nhập đệ bát Bất Động địa.
Bậc này là thâm hạnh Bồ Tát, khó biết được, vô sai biệt.  Lìa tất cả tướng, tất cả tưởng, tất cả chấp trước.  Vô lượng vô biên tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật không thể kịp được.
Bậc này xa lìa những huyên náo tránh luận, tịch diệt thường hiện tiền.
Ví như tỳ kheo đầy đủ thần thông được tâm tự tại tuần tự nhẫn đến nhập diệt tận định, tất cả động tâm ức tưởng phân biệt thảy đều dừng dứt.
Đại Bồ Tát này cũng như vậy, trụ bất động địa liền bỏ tất cả công dụng hạnh, được pháp vô công hạnh, thân, khẩu, ý nghiệp niệm sự đều dứt, trụ nơi báo hạnh.
Ví như có người trong giấc mơ thấy mình té trong sông lớn, vì muốn thoát nạn nên phát đại dũng mãnh, hành đại phương tiện.  Do đại dũng mãnh và đại phương tiện nên liền được thức tỉnh.  Khi đã thức giấc thời những việc làm trong giấc mơ liền dứt cả.
Cũng vậy, Bồ Tát thấy thân chúng sanh ở trong tứ lưu, vì cứu họ mà phát đại dũng mãnh khởi đại tinh tấn.  Do dũng mãnh tinh tấn nên đến bậc bất động địa này.  Đã đến bậc này tất cả công dụng đều dứt cả.  Hành tướng của hai hạnh đều chẳng hiện tiền.
Chư Phật tử!  Như sanh trời Phạm Thế, những phiền não của dục giới đều chẳng hiện tiền.
Bồ Tát trụ bất độn địa cũng vậy, tất cả tâm ý thức đều chẳng hiện tiền.
Đại Bồ Tát này còn chẳng hiện khởi tâm Bồ Tát, tâm Phật, tâm bồ đề, tâm niết bàn, huống là còn khởi tâm thế gian.
Chư Phật tử!  Bồ Tát này do sức bản nguyện nên chư Phật Thế Tôn đích thân hiện nay trước mặt ban cho Như Lai trí, khiến bậc này được vào trong môn pháp lưu.  Chư Phật bảo: "Trí nhẫn này đệ nhất thuận các Phật pháp.  Nhưng này thiện nam tử!  Thập lực, tứ vô úy, thập bát bất cộng của chư Phật, nay ông chưa được.  Ông phải vì được thành tựu những Phật pháp ấy mà phát khởi tinh tấn, chớ có bỏ nơi môn trí nhẫn này.
Lại này thiện nam tử!  Ông dầu được tịch diệt giải thoát, nhưng hàng phàm phu chưa chứng được, họ còn đủ các thứ phiền não, bị các thứ giác quan xâm hại nhau, ông phải thương những chúng sanh đó.
Lại này thiện nam tử!  Ông phải nhớ lại bản thệ nguyện làm lợi ích khắp tất cả chúng sanh đều làm cho họ được vào môn trí huệ bất tư nghì.
Lại này thiện nam tử!  Những pháp, pháp tánh này, hoặc Phật xuất thế hay không xuất thế, luôn thường trụ không khác.  Chư Phật chẳng do được pháp này mà gọi là Như Lai.  Tất cả hàng nhị thừa cũng có thể được pháp vô phân biệt này.
Lại này thiện nam tử!  Ông xem chư Phật chúng ta đây:  Thân tướng vô lượng, trí huệ vô lượng, quang minh vô lượng, âm thanh thanh tịnh cũng vô lượng.  Ông phải thành tựu những pháp này.
Này thiện nam tử!  Nay ông vừa được một pháp minh này, chính là tất cả pháp vô sanh phân biệt.
Này thiện nam tử!  Pháp minh của Như Lai vô lượng nhập, vô lượng tác, vô lượng chuyển, nhẫn đến trăm ngàn ức na do tha kiếp chẳng thể biết được.  Ông phải tu hành thành tựu pháp này.
Này thiện nam tử!  Ông quán mười phương vô lượng quốc độ chúng sanh, vô lượng pháp, khác nhau vô lượng, đều phải thông đạt tất cả đúng như thật."
Chư Phật tử!  Chư Phật Thế Tôn trao cho Bồ Tát này vô lượng môn khởi trí như vậy, khiến Bồ Tát này có thể khởi vô lượng vô biên trí nghiệp sai biệt.
Chư Phật tử!  Nếu chư Phật chẳng ban môn khởi trí này cho Bồ Tát, thời Bồ Tát này liền nhập cứu cánh niết bàn rời bỏ tất cả công hạnh, lợi ích chúng sanh.
Do chư Phật ban vô lượng vô biên khởi trí môn như vậy nên khoảng một niệm Bồ Tát này phát sanh trí nghiệp, đem công đức hạnh tu hành trí nghiệp, đem công hạnh tu hành từ sơ phát tâm đến bậc đệ thất địa để so sánh thời trăm phần không bằng một, nhẫn đến trăm ngàn ức na do tha phần không bằng một, vô số phần, ca la phần, phần, toán phần, số phần, dụ phần, ưu ba ni sa đà phần cũng chẳng bằng một.
Tại sao vậy?  Chư Phật tử!  Bồ Tát này trước kia dùng một thân khởi hạnh.  Nay trụ bậc này được vô lượng thân, vô lượng âm thanh, vì làm cho tất cả chúng sanh, vô lượng trí huệ, vô lượng thọ sanh, vô lượng tịnh quốc, giáo hóa vô lượng chúng sanh, cúng dường vô lượng chư Phật, nhập vô lượng pháp môn, đủ vô lượng thần thông, có vô lượng chúng hội đạo tràng sai biệt, trụ vô lượng thân, ngữ, ý, nghiệp, tập họp tất cả hạnh Bồ Tát.  Vì do pháp bất động vậy.
Chư Phật tử!  Ví như ngồi thuyền buồm muốn vào biển lớn.  Khi chưa đến thời phải dùng nhiều công lực.  Nếu đã đến biển chỉ theo gió mà thuyền đi chẳng cần nhân lực.  Đem sự thuyền đi khi chưa đến biển sánh sao kịp với lúc đã vào biển.
Cũng vậy, đại Bồ Tát chứa nhóm tư lương thiện căn rộng lớn, ngồi thuyền đại thừa đến biển Bồ Tát hạnh.  Trong khoảng một niệm dùng trí vô công dụng nhập cảnh giới nhất thiết chủng trí.  Những hạnh hữu công dụng trước kia dầu trãi qua vô lượng trăm ngàn ức na do tha kiếp chẳng sánh kịp được.
Chư Phật tử!  Bồ Tát trụ bậc đệ bát địa dùng trí đại phương tiện thiện xảo, phát khởi vô công dụng giác huệ quán cảnh sở hành nhất thiết chủng trí.  Như là quán thế gian thành, thế gian hoại, do nghiệp này họp mà thành, do nghiệp này hết hoại, bao nhiêu thời gian thành, bao nhiêu thời gian hoại, bao nhiêu thời gian thành trụ, bao nhiêu thời gian hoại trụ, đều biết đúng như thật.  Lại rõ biết địa giới tướng nhỏ, tướng lớn, vô lượng tướng, sai biệt tướng.  Biết thủy, hỏa, phong giới nhỏ lớn, v.v... cũng như vậy.  Biết vì trần vi tế, tướng sai biệt, vô lượng tướng sai biệt.  Tùy trong thế giới có nhóm vi trần và vi trần tướng sai biệt đều biết như thật.  Tùy trong thế giới nào có bao nhieu địa, thủy, hỏa, phong giới đều có bao nhiêu vi trần, thân chúng sanh có bao nhiêu vi trần, thân quốc độ có bao nhiêu vi trần đều biết như thật.  Biết thân lớn thân nhỏ của chúng sanh đều có bao nhiêu vi trần thành.  Biết thân địa ngục, thân súc sanh, thân ngạ quỷ, thân a tu la, thân trời người đều có bao nhiêu vi trần họp thành.  Được trí biết vi trần sai biệt như vậy.  Lại biết dục giới, sắc giới, vô sắc giới thành, dục, sắc, vô sắc giới hoại.  Biết dục, sắc, vô sắc giới tướng nhỏ, tướng lớn, tướng vô lượng, tướng sai biệt.  Được trí quán tam giới sai biệt như vậy.
Chư Phật tử!  Bồ Tát này lại khởi trí minh giáo hóa chúng sanh.  Như là khéo biết thân sai biệt của chúng sanh, khéo phân biệt thân chúng sanh, khéo quán sát chỗ sanh ra, tùy chỗ đáng độ mà hiện thân giáo hóa cho họ được thành thục.
Bậc Bồ Tát này nơi tam thiên đại thiên thế giới, tùy chúng sanh thân tín giải sai khác, dùng trí quang minh khắp hiện thọ sanh.  Như thế hoặc hai hoặc ba nhẫn đến trăm ngàn cho đến bất khả thuyết đại thiên thế giới, tùy chúng sanh thân tín giải sai khác thị hiện thọ sanh khắp trong đó.
Vì Bồ Tát này thành tựu trí huệ như vậy nên ở nơi một cõi Phật, thân ngài bất động, nhẫn đến trong chúng hội ở bất khả thuyết cõi Phật đều hiện có thân ngài.
Chư Phật tử!  Bồ Tát này, các chúng sanh thân tâm tín giải các loại sai khác, ở trong chúng hội của cõi Phật đó mà hiện thân.  Như là ở trong chúng sa môn thời thị hiện thân sa môn.  Tron chúng bà la môn thời thị hiện thân bà la môn.  Trong chúng sát lợi thời thị hiện thân sát lợi.  Như vậy trong chúng tỳ xá, thủ đà, cư sĩ, tứ thiên vương, đao lợi thiên, dạ ma thiên, đâu suất thiên, hóa lạc thiên, tha hóa tự tại thiên, ma vương chúng, phạm thiên chúng nhẫn đến chúng sắc cứu cánh thiên, đều theo chúng ấy mà hiện thân.
Lại người đáng được độ bởi thân thanh văn Bồ Tát này hiện thân thanh văn.  Người đáng được độ bởi thân bích chi phật thời hiện thân bích chi phật.  Người đáng được độ bởi thân Bồ Tát thời hiện thân Bồ Tát.  Người đáng độ bởi thân Phật thời hiện thân Phật.
Chư Phật tử!  Bồ Tát này ở trong tất cả thân tướng sai biệt, trụ nơi bình đẳng.
Bồ Tát này biết thân chúng sanh, thân quốc độ, thân nghiệp báo, thân thanh văn, thân độc giác, thân Bồ Tát, thân Như Lai, trí thân, pháp thân, hư không thân.
Bồ Tát này biết tâm sở thích của các chúng sanh, có thể dùng thân chúng sanh làm thân mình, cũng làm thân quốc độ, thân nghiệp báo nhẫn đến thân hư không.
Lại biết tâm sở thích của các chúng sanh, Bồ Tát này có thể lấy quốc độ thân làm thân mình, cũng làm thân mình, cũng làm thân chúng sanh, thân nghiệp báo, nhẫn đến thân hư không.
Lại biết tâm sở thích của chúng sanh, Bồ Tát này có thể lấy thân nghiệp báo làm thân mình, cũng làm thân chúng sanh, thân quốc độ nhẫn đến thân hư không.
Lại biết tâm sở thích của chúng sanh, có thể lấy tự thân làm thân chúng sanh, thân quốc độ, nhẫn đến thân hư không.
Tùy tâm sở thích của chúng sanh chẳng đồng, nên ở nơi thân này, Bồ Tát hiện những thân như vậy.
Bồ Tát này biết chúng sanh:  Thân tập nghiệp, báo thân, phiền não thân, sắc thân, vô sắc thân.  Lại biết thân quốc độ:  Tướng nhỏ, tướng lớn, tướng vô lượng, tướng nhiễm, tướng tịnh, tướng rộng, tướng đảo trụ, tướng chánh trụ, tướng phổ nhập, tướng phương võng sai biệt.
Biết thân nghiệp báo là giả danh sai biệt.  Biết thân thanh văn, thân độc giác, thân Bồ Tát là giả danh sai biệt.
Biết thân Như Lai có bồ đề thân, nguyện thana, hóa thân, lực trì thân, tướng hảo trang nghiêm thân, ý sanh thân, phước đức thân, pháp thân, trí thân.
Biết trí thân tướng khéo suy lường, tướng quyết đoán, tướng thân đúng thiết, tướng nhiếp về quả hành, tướng sai biệt của thế gian và xuất thế gian, tướng sai biệt của tam thừa, cộng tướng, bất cộng tướng, xuất ly tướng, học tướng, vô học tướng.
Biết pháp thân tướng bình đẳng, tướng bất hoại, tướng tùy thời tùy tục giả danh sai biệt, tướng chúng sanh phi chúng sanh pháp sai biệt, tướng Phật, pháp, tăng sai biệt.
Biết thân hư không tướng vô lượng tướng châu biến, tướng vô hình, tướng vô dị, tướng vô biên, tướng hiển hiện sắc thân.
Chư Phật tử!  Bồ Tát thành tựu thân trí như vậy rồi, được mạng tự tại, tâm tự tại, tài tự tại, nghiệp tự tại, sanh tự tại, nguyện tự tại, giả tự tại, như ý tự tại, trí tự tại, pháp tự tại.
Vì được mười môn tự tại này, thời là bậc trí bất tư nghì, bậc trí vô lượng, bậc trí quãng đại, bậc trí vô năng hoại.
Bồ Tát này nhập như vậy rồi, thành tựu như vậy rồi thời được thân nghiệp, khẩu nhiệp, ý nghiệp rốt ráo không lỗi.  Thân ngữ ý luôn hiện hành theo trí.  Bát nhã an lạc mật tăng thượng, đại bi làm đầu, phương tiện thiện xảo, khéo hay phân biệt, khéo khởi đại nguyện, Phật lực gia hộ, thường siêng tu tập trí lợi ích chúng sanh, ở khắp vô biên thế giới sai khác.
Chư Phật tử!  Tóm lại, Bồ Tát an trụ bậc đệ bát bất động địa này thân, ngữ, ý có chỗ làm, đều có thể chứa họp tất cả Phật pháp.
Chư Phật tử!  Bồ Tát này được khéo trụ thâm tâm vì tất cả phiền não chẳng hiện hành.  Được khéo trụ thắng tâm lực vì chẳng rời nơi đạo.  Được khéo trụ đại bi lực vì chẳng bỏ lợi ích chúng sanh.  Được khéo trụ từ lực vì cứu hộ tất cả thế gian.  Được khéo trụ đà la ni lực vì chẳng quên nơi pháp, được khéo trụ biện tài lực vì khéo quán sát phân biệt tất cả pháp.  Được khéo trụ thần thông lực vì qua khắp vô biên thế giới.  Được khéo trụ thần thông lực vì qua khắp vô biên thế giới.  Được khéo trụ đại nguyện lực vì chẳng bỏ công hạnh của Bồ Tát.  Được khéo trụ ba la mật lực vì thành tựu tất cả Phật pháp, được Như Lai hộ niệm lực vì nhất thiết chủng trí hiện tiền.
Bồ Tát này được trí lực như vậy, có hiện tất cả việc làm, trong công việc không có lỗi lầm.
Chư Phật tử!  Trí địa của Bồ Tát này gọi là bất động địa không bị trở hoại.  Gọi là bất thoái chuyển địa vì trí huệ bất thối.  Gọi là nan đắc vì tất cả thế gian không lường được.  Gọi là đồng chân địa lìa tất cả lỗi lầm.  Gọi là sanh địa vì tuỳ thích tự tại.  Gọi là thành địa vì không còn sở tác.  Gọi là cứu cánh địa vì trí huệ quyết định.  Gọi là biến hóa địa vì tuỳ nguyện thành tựu.  Gọi là lực trì địa vì người khác chẳng làm động được.  Gọi là công dụng địa vì trước đã thành tựu.
Chư Phật tử!  Bồ Tát thành tựu trí huệ như vậy nhập Phật cảnh giới, Phật công đức chiếu đến, thuận Phật oai nghi, Phật cảnh hiện tiền, tường được Phật hộ niệm, Phạm thiên, thiên đế, tứ thiên vương, kim cang lực sĩ thường theo thị về.
Bồ Tát này luôn chẳng bỏ lìa các đại tam muội, có thể hiện vô lượng thân sai khác.  Mỗi thân có thế lực lớn, báo đắc thần thông tam muội tự tại.  Tùy nơi nào có chúng sanh đáng được hóa độ thời thị hiện thành chánh giác.
Chư Phật tử!  Bồ Tát này nhập hội đại thừa, được đại thần thông, phóng đại quang minh, nhập vô ngại pháp giới, biết thế giới sai biệt, thị hiện tất cả những công đức lớn tùy ý tự tại, khéo thông đạt tiền tế, hậu tế dẹp phục tất cả đạo ma tà, thâm nhập cảnh giới của chư Phật nơi vô lượng quốc độ tu Bồ Tát hạnh.  Bởi được pháp bất thối chuyển, nên gọi là trụ bất động địa.
Chư Phật tử!  Bồ Tát bậc bất động địa này rồi, do sức tam muội, thường được hiện thấy vô lượng chư Phật, thường chẳng rời bỏ phụng thờ cúng dường.
Bồ Tát này nơi mỗi mỗi kiếp, mỗi mỗi thế giới thấy vô lượng trăm Phật, vô lượng ngàn Phật, nhẫn đến vô lượng trăm ngàn ức na do tha Phật, đều kính trọng cúng dường.
Ở chỗ chư Phật được pháp tạng thậm thâm của Như Lai.  Thọ được vô lượng pháp thế giới sai biệt thảy.
Nếu có ai đến vấn nạn những sự như thế giới sai biệt, v.v... không ai khuất phục Bồ Tát này được.
Như vậy trải qua vô lượng trăm kiếp, nhẫn đến vô lượng trăm ngàn ức na do tha kiếp những thiện căn đã có càng thêm sáng sạch.
Ví như chân kim đem làm mão báu, đặt trên đầu Thánh Vương Diêm Phù Đề, những món trang nghiêm của tất cả thần dân không thể sánh kịp.
Cũng vậy, những thiện căn của bậc Bồ Tát này hơn tất cả những thiện căn của nhị thừa nhẫn đến đệ thất địa Bồ Tát.
Bởi Bồ Tát trụ bậc này, đại trí quang minh diệt trừ tối tăm phiền não của khắp chúng sanh, vì khéo hay khai môn huệ.
Chư Phật tử!  Ví như đại Phạm Thiên Vương chủ ngàn thế giới, có thể khắp vận từ tâm, khắp phóng quang minh đầy ngàn thế giới.
Cũng vậy, Bồ Tát này hay phóng quang minh chiếu khắp trăm vạn phật sát vi trần số thế giới, làm cho chúng sanh dập tắt lửa phiền não mà được thanh lương.
Trong mười môn ba la mật, Bồ Tát này thiên nhiều về nguyện ba la mật, các món khác thời tùy sức phần mà tu tập.
Đây gọi là nói lược về Bồ Tát đệ bát bất động địa.  Nếu nói rộng thời trải vô lượng kiếp cũng không thể cùng tận.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát trụ bâc này phần nhiều làm đại Phạm Thiên Vương chủ ngàn thế giới, tối thắng tự tại, giỏi giảng thiết các nghĩa.  Có thể ban đạo ba la mật cho hàng thanh văn, bích chi phật, chư Bồ Tát.  Tất cả công hạnh bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự, đều chẳng rời niệm Phật, nhẫn đến chẳng rời niệm nhất thiết chủng trí.
Bồ Tát này lại nghĩ rằng:  Tôi sẽ ở trong tất cả chúng sanh là thượng thủ, là thắng nhẫn đến là bậc y chỉ của nhất thiết chủng trí.
Bồ Tát này nếu dùng sức phát khởi đại tinh tấn trong khoảng một nhiệm được trăm vạn đại thiên thế giới vi trần số tam muội, nhẫn đến thị hiện trăm vạn đại thiên thế giới vi trần Bồ Tát làm quyến thuộc.
Nếu dùng nguyện lực tự tại thù thắng để thị hiện thời hơn số trên đây, nhẫn đến trăm ngàn ức na do tha kiếp chẳng thể đếm biết được."
Kim Cang Tạng Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này mà kệ rằng:
Thất địa tu hành phương tiện huệ
Khéo chứa trợ đạo đại nguyện lực
Lại được chư Phật chỗ nhiếp trì
Vì cầu thắng trí nhập bát địa
Công đức thành tựu thường từ mẫn
Trí huệ rộng lớn đồng hư không
Nghe pháp hay sanh quyết định lực
Đây là tịch diệt vô sanh nhẫn.
Biết pháp tướng vô sanh vô khởi
Vô thành, bình đẳng tuyệt phân biệt
Siêu các tâm hành như hư không
Thành tựu nhẫn này siêu hý luận
Thậm thâm bất động luôn tịch diệt
Tất cả thế gian không thảy đều lìa
Trụ ở bậc này chẳng phân biệt
Ví như tỳ kheo nhập diệt định
Như mộng lội sông, thức thời không
Như sanh Phạm thiên tuyệt ái dục.
Do bản nguyện lực được Phật khuyên
Khen trí nhẫn cao quán đảnh cho
Bảo rằng Phật pháp của chúng ta
Nay ông chưa được phải tinh tấn.
Dầu ông đã tắt lửa phiền não
Phiền não thế gian vẫn hẩy hừng
Phải nhớ bản nguyện độ sanh
Đều khiến tu nhân đến giải thoát
Pháp tánh nhân thường lìa tâm niệm
Nơi đây nhị thừa cũng được vậy
Chẳng do cớ này làm Thế Tôn
Chỉ do thậm thâm vô ngại trí
Chư Phật Thế Tôn Thiên Nhân Sư
Ban cho trí huệ bảo quán sát
Vô biên Phật pháp đều được thành
Một niệm vượt hơn công hạnh trước
Bồ Tát an trụ địa này
Thời được sức thần thông quảng đại
Một niệm phân thân khắp mười phương
Như thuyền vào biển nhờ gió thổi.
Tâm vô công dụng, trí nhậm vận
Đều biết quốc độ: Thành, hoại, trụ
Các cõi chủng loại đều khác lạ
Lớn nhỏ vô lượng đều biết được.
Đại thiên thế giới tứ đại chúng
Lục đạo chúng sanh thân đều khác
Và cùng châu báu vi trần số
Dùng trí xem biết không còn thừa
Bồ Tát hay biết không còn thừa
Bồ Tát hay biết tất cả thân
Vì độ chúng sanh hiện thân đồng
Cõi nước vô lượng nhiều loại khác
Đều vì nhật nguyệt ở hư không.
Tất cả trong nước đều hiện bóng
Trụ ở pháp giới không bị động
Tùy tâm hiện bóng cũng như vậy
Tuỳ tâm sở thích của chúng sanh.
Trong các chúng hội đều hiện thân
Thanh văn, độc giác cùng Bồ Tát
Nhẫn đến thân Phật đều hiện cả.
Chúng sanh, quốc độ, nghiệp báo thân
Các bậc thánh nhân trí pháp thân
Hư không thân tướng đều bình đẳng
Vì khắp chúng sanh mà thị hiện.
Mười môn thánh trí khắp quán sát
Lại thuận từ bi làm công hạnh
Tất cả Phật pháp đều thành tựu
Trì giới bất động như tu di
Thập lực thành tựu chẳng động lay
Tất cả ma chúng không chuyển được
Chư Phật hộ niệm, thiên vương kính
Mật tích kim cang thường thị vệ.
Bậc này công đức vô biên tế
Ngàn vạn ức kiếp nói chẳng hết
Thiện căn cúng Phật càng sáng sạch
Như bửu quang trên đảnh Thánh Vương
Bồ Tát trụ bậc đệ bát địa
Thường làm Phạm vương chủ ngàn cõi
Diễn thuyết tam thừa không tận cùng
Từ quang soi khắp trừ phiền não
Tam muội chứng được trong một niệm
Số đến trăm vạn cõi trần
Công hạnh ra làm cũng số đó
Nguyện lực thị hiện lại hơn đây
Bồ Tát đệ bát bất động địa
Tôi vì đại chúng đã nói lược
Nếu muốn thứ đệ nói rộng ra
Trải trăm ức kiếp nói chẳng hết.
Kim Cang Tạng nói đệ bát địa
Như Lai hiện tại thần thông lực
Chấn động các cõi nước mười phương
Vô lượng ức số khó bàn nghĩ
Đấng vô thượng tôn chánh đẳng giác
Thân Phật khắp phóng đại quang minh
Chiếu soi vô lượng vi trần cõi
Đều khiến chúng sanh được an lạc
Bồ Tát vô lượng trăm ngàn ức
Đồng thời hiện đứng giữa hư không
Đồ cúng thượng diệu hơn chư thiên
Cúng dường đấng tối thắng vô lượng.
Đại Tự Tại Vương, Tự Tại Thiên
Đều cùng đồng tâm mừng vô lượng
Đều đem các thứ đồ cúng dường
Dâng lên đấng thậm thâm công đức.
Lại có thiên nữ đồng vạn ức
Thân tâm vui mừng kể không xiết
Hòa tấu nhạc âm vô lượng thứ
Cúng dường nhân thiên đại Đạo Sư
Bấy giờ nhạc âm đồng hòa tấu
Trăm ngàn vạn ức vô lượng thứ
Đều do Như Lai oai thần lực
Diễn xuất diệu âm mà tán thán:
Tịch tịnh, điều nhu, không nhơ hại
Tùy bậc đã nhập khéo tu tập
Tâm như hư không đến mười phương
Nói rộng Phật đạo độ quần sanh
Thiên thượng nhân gian tất cả chỗ
Đều hiện vô đẳng diệu trang nghiêm
Do Phật công đức mà sanh ra
Khiến người xem thấy ưa Phật trí.
Chẳng rời một cõi đến chúng sanh
Như trăng hiện khắp soi thế gian
Âm thanh tâm niệm đều diệt cả
Dường như hang núi dội tiếng vang.
Nếu có chúng sanh tâm hạ liệt
Vì họ diễn nói hạnh thanh văn,
Nếu tâm minh lợi thích độc giác
Thời vì họ giảng đạo trung thừa
Nếu vó từ bi thích độ sanh
Vì họ giảng dạy Bồ Tát hạnh
Nếu có tối thắng tâm trí huệ
Thời dạy Như Lai pháp vô thượng
Ví như thuật gia làm các sự
Nhiều loại hình tướng đều chẳng thật
Bồ Tát trí huyễn cũng như vậy
Dầu hiện tất cả rời hữu vô
Âm thanh ngàn thứ vang như vậy
Ca ngợi Phật rồi đứng lặng yên
Giải Thoát Nguyệt lại vì chúng thỉnh
Xin nói công hạnh đệ cửu địa.
Kim Cang Tạng Bồ Tát bảo Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát rằng:  "Thưa Phật tử!  Đại Bồ Tát dùng vô lượng trí như vậy tư duy quán sát muốn cầu tịch diệt giải thoát hơn, liền tu tập Như Lai huệ:  Nhập các môn đà la ni tam muội Như Lai bí mật pháp quán sát bất tư nghì đại trí tánh thanh tịnh.
Có đủ thần thông quảng đại vào thế giới sai biệt, tu tập thập lực, vô úy, bất cộng.  Theo chư Phật chuyển pháp luân.  Chẳng bỏ đại bi bản nguyện lực.  Được nhập Bồ Tát đệ cửu Thiện Huệ địa.
Chư Phật tử!  Bồ Tát trụ bậc Thiện Huệ địa này, đúng như thật mà biệt các pháp hành thiện, bất thiện, vô úy, hữu lậu, vô lậu, thế gian, xuất thế gian, tư nghì, bất tư nghì, định, bất định, thanh văn, độc giác, Bồ Tát, Như Lai và pháp hành hữu vi, vô vi.
Bồ Tát này dùng trí huệ như vậy, đúng thật mà biết những rừng rậm của chúng sanh:  Tâm, phiền não, nghiệp, căn, giải, tánh, dục lạc, tùy miên, thọ sanh, tập khí tương tục và rừng rậm tam tụ sai biệt.
Bồ Tát này đúng thật mà biết tâm của chúng sanh có các thứ hình tướng.  Như những tướng:  Tạp khởi, tốc chuyển, hoại, bất hoại, vô minh chất, vô biên tế, thanh tịnh, cấu, vô cấu, phược, bất phược, huyễn sở tác, theo các loài mà đến thọ sanh, trăm ngàn muôn ức vô lượng tướng của tâm chúng sanh như vậy đều biết đúng thật.
Lại biết những tướng của ba nghiệp như những tướng:  Thiện, bất thiện, vô ký, có biểu thị, không có biểu thị, cũng tâm đồng sanh chẳng rời, nhân tự tánh sát na hoại mà thứ đệ nhóm quả chẳng mất, có báo, không báo, thọ các đen tối, như ruộng vô lượng, phàm thánh sai khác hiện, thọ, sanh thọ, hậu thọ, thừa phi thừa, bất định.  Lược nói nhẫn đến tám muôn bốn ngàn tướng của nghiệp đều biết đúng thật.
Lại biết tướng hạ, trung, thượng của các căn tánh, tướng tiên tế, hậu tế, sai biệt, vô sai biệt, tướng phiền não câu sanh chẳng rời nhau, tướng thừa phi thừa, định bất định, tướng thuần phục điều nhu, tướng tùy căn nhẹ đến hoại, tướng thối bất sai biệt, tướng xa rời, cùng sanh chẳng đồng.  Lược nói đến tám muôn bốn ngàn tướng đều biết đúng thật.
Lại biết những tướng thượng, trung, hạ của trí giải, thượng, trung, hạ của các tánh, thượng, trung, hạ của lạc dục, đều lược nói nhẫn đến tám muôn bốn ngàn.
Lại biết các tướng của tùy miên:  Tướng cùng thâm tâm đồng sanh, tướng cùng tâm đồng sanh, tướng tâm tương ưng bất tương ưng sai biệt, tướng lâu xa hiện hành, tướng vô thủy chẳng trừ, tướng chống trái với tất cả thiền định, giải thoát, tam muội, tam ma bát đề, thần thông, tướng ba cõi thọ sanh hệ phược, tướng khiến vô biên tâm tương tục hiện khởi, tướng mở cửa các xứ, tướng cứng chắc khó trị, tướng địa xứ thành tựu bất thành tựu, tướng chỉ do thánh đạo mới nhổ được.
Lại biết các loại tướng thọ sanh.  Tướng theo nghiệp thọ sanh, tướng sáu loài sai khác, tướng có sắc không sắc sai khác, tướng có tưởng không tưởng sai khác, nghiệp tướng làm ruộng, nước ái thấm nhuần, vô minh che rợp, thức làm chủng tử sanh mần hậu hữu, tướng danh sắc sanh chung chẳng rời nhau, tướng si ái mong cầu các thân, tướng muốn thọ muốn sanh vô thủy tham chấp, tướng tham cầu vọng cho rằng thoát ba cõi.
Lại biết các tướng của tập khí.  Những là tướng hành bất hành sai khác, tướng tuỳ chúng sanh hành huân tập, tướng tùy nghiệp phiền não luân tập, tướng thiện, bất thiện, vô ký huân tập, tướng tùy nhập hậu hữu huân tập, tướng thứ đệ huân tập, tướng chẳng dứt phiền não lâu xa chẳng bỏ huân tập, tướng thật phi thật huân tập, tướng thấy nghe gần gũi thanh văn, độc giác, Bồ Tát Như Lai huân tập.
Lại biết tướng chúng sanh chánh định, tà định, bất định.  Những là tướng chánh kiến, chánh định, tà kiến, tà định, nhị câu bất định, tướng ngũ nghịch tà định, ngũ căn chánh định, nhị câu bất định, tướng bất tà định, chánh tánh chánh định, nhị câu bất định, tướng sâu chấp tà pháp tà định, tập hành thánh đạo chánh định, nhị câu xả bất định.
Chư Phật tử!  Bồ Tát tuỳ thuận trí huệ như vậy gọi là trụ Thiện Huệ địa.  Đã trụ bậc này, biết rõ những hành sai biệt của chúng sanh mà giáo hóa điều phục cho được giải thoát.
Chư Phật tử!  Bồ Tát này có thể khéo diễn thuyết pháp thanh văn thừa, pháp độc giác thừa, pháp Bồ Tát thừa, pháp Như Lai địa.
Tất cả công hạnh lấy trí huệ làm trước, tất cả chỗ đi trí đều đi theo; nên có thể tùy căn tánh dục giải của chúng sanh, sở hành sai khác, các loài sai khác, cùng tuỳ thọ sanh phiền não miên phược các nghiệp tập khí mà thuyết pháp cho thọ sanh tín giải thêm lớn trí huệ, đều ở nơi thừa của mình mà được giải thoát.
Chư Phật tử!  Bồ Tát trụ bậc Thiện Huệ địa này làm đại pháp sư, đủ hạnh pháp sư, khéo hay giữ gìn pháp tạng của Như Lai, dùng vô lượng trí thiện xảo khởi tứ vô ngại biện.  Dùng ngôn từ Bồ Tát mà thuyết pháp.
Bồ Tát này thường tùy tứ vô ngại trí mà chuyển không tạm bỏ lìa.
Những gì là bốn?  Chính là pháp vô ngại trí, nghĩa vô ngại trí, từ vô ngại trí, lạc thuyết vô ngại trí.
Bồ Tát này đúng pháp vô ngại trí biết tự tướng của các pháp.  Dùng nghĩa vô ngại trí biết tướng sai biệt của các pháp.  Dùng từ vô ngại trí nói không sai lầm.  Dùng lạc thuyết vô ngại trí thuyết pháp vô đoạn vô tận.
Lại dùng pháp vô ngại trí biết tự tánh của các pháp, nghĩa vô ngại trí biết sanh diệt của các pháp, từ vô ngại trí thuyết an lập tất cả pháp chẳng dứt.  Lạc thuyết vô ngại trí tuỳ chỗ an lập chẳng hoại thuyết pháp vô biên.
Lại dùng pháp vô ngại trí biết pháp hiện tại sai biệt.  Nghĩa vô ngại trí biết pháp quá khứ, vị lai sai biệt.  Từ vô ngại trí nơi các quá khứ, hiện tại, vị lai nói không sai lầm.  Lạc thuyết vô ngại trí nơi vô biên pháp trong mỗi đời đều nói rõ ràng.
Lại dùng pháp vô ngại trí biết pháp sai biệt.  Nghĩa vô ngại trí biết nghĩa sai biệt.  Từ vô ngại trí tuỳ ngôn âm của mọi loài mà nói.  Lạc thuyết vô ngại trí tùy tâm ưa thích của họ mà nói.
Lại pháp vô ngại trí dùng pháp trí biết sai biệt chẳng khác.  Nghĩa vô ngại trí biết sai biệt như thật.  Từ vô ngại trí dùng thế trí sai biệt mà thuyết pháp.  Lạc thuyết vô ngại trí dùng đệ nhất nghĩa trí thiện xảo thuyết pháp.
Lại pháp vô ngại trí biết các pháp nhất tướng chẳng hoại.  Nghĩa vô ngại trí biết uẩn, xứ, giới, đế, duyên khởi thiện xảo.  Từ vô ngại trí dùng tất cả âm thanh, văn tự mỹ diệu mà thế gian để hiểu đế thuyết pháp.  Lạc thuyết vô ngại trí dùng vô biên pháp minh tăng thắng đế thuyết pháp.  Lại pháp vô ngại trí biết nhất thừa bình đẳng tánh.  Nghĩa vô ngại trí biết các thừa sai biệt tánh.  Từ vô ngại trí nói tất cả thừa vô sai biệt.  Lạc thuyết vô ngại trí nói mỗi mỗi thừa vô biên pháp.
Lại pháp vô ngại trí biết tuỳ chứng tất cả hạnh Bồ Tát trí hành, pháp hành.  Nghĩa vô ngại trí biết thập địa phần vị nghĩa sai khác.  Từ vô ngại trí thuyết địa đạo tướng vô sai biệt.  Lạc thuyết vô ngại trí thuyết mỗi mỗi địa có vô biên hành tướng.
Lại pháp vô ngại trí biết tất cả Như Lai một niệm thành chánh giác.  Nghĩa vô ngại trí biết các thời gian, các xứ sở đều sai khác.  Từ vô ngại trí thành chánh giác sai biệt.  Lạc thuyết vô ngại nơi mỗi câu pháp vô lượng kiếp nói chẳng hết.
Lại pháp vô ngại trí biết tất cả Như Lai những ngữ ngôn, trí lực, vô úy, bất cộng pháp, đại từ, đại bi, hiện tại, phương tiện, chuyển pháp luân, nhất thiết trí, tùy chứng trí.  Nghĩa vô ngại trí biết Như Lai tuỳ tám vạn bốn ngàn tâm hành căn giải âm thanh sai biệt của chúng sanh.  Từ vô ngại trí tuỳ tất cả chúng sanh hạnh dùng âm thanh sai biệt của Như Lai để thuyết pháp.  Lạc thuyết vô ngại trí tùy tín giải của chúng sanh dùng trí thanh tịnh hạnh viên mãn của Như Lai để thuyết pháp.
Chư Phật tử!  Bồ Tát trụ đệ cửu địa được trí vô ngại thiện xảo như vậy, được Phật pháp tạng làm đại pháp sư, được nghĩa đà la ni, pháp đà la ni, trí đà la ni, quang chiếu đà la ni, thiện huệ đà la ni, chúng tài đà la ni, oai đức đà la ni, vô ngại môn đà la ni, vô biên tế đà la ni, chủng chủng nghĩa đà la ni, trăm vạn a tăng kỳ môn đà la ni, như vậy đều được viên mãn, dùng trăm vạn vô số môn thiện xảo âm thanh biện tài mà thuyết pháp.
Bồ Tát này được trăm vạn vô số môn đà la ni như vậy rồi, nơi chỗ vô lượng đức Phật, trước mỗi đức Phật, đều dùng trăm vạn vô số môn đà la ni như vậy để nghe chánh pháp, nghe rồi chẳng quên, dùng vô lượng môn sai biệt diễn thuyết cho đại chúng khác.
Bồ Tát này mới thấy Phật liền cúi đầu đảnh lễ.  Ở chỗ Phật liền được vô lượng pháp môn.  Pháp môn đã được đây, hàng văn trí đại thanh văn trong trăm ngàn kiếp chẳng lãnh thọ được.
Bồ Tát này được đà la ni như vậy, vô ngại trí như vậy, ngồi trên pháp tòa mà thuyết pháp.
Chúng sanh khắp trong đại thiên thế giới, đều tùy tâm sở thích sai khác của họ mà thuyết pháp.
Chỉ trừ chư Phật và chư Bồ Tát đã thọ chức, các chúng hôi khác không thể sánh kịp oai đức quang minh với Bồ Tát này.
Bồ Tát này ngồi trên pháp tòa, muốn dùng một âm thanh khiến các đại chúng đều được hiểu rõ thời liền được hiểu rõ.  Hoặc có lúc muốn dùng các thứ âm thanh làm cho cả đại chúng đều được khai ngộ.  Hoặc có lúc tâm muốn phóng đại quang minh diễn thuyết pháp môn.  Hoặc có lúc tâm muốn ở trên thân mình, mỗi chân lông đều diễn pháp âm.  Hoặc có lúc tâm muốn nhẫn đến đại thiên thế giới có bao nhiêu vật hữu hình, vô hình đều diễn ra ngôn âm diệu pháp.  Hoặc có lúc tâm phát một ngôn âm khắp cả pháp giới đều hiểu rõ.  Hoặc có lúc tâm muốn tất cả ngôn âm đều làm pháp âm thường trụ bất diệt.  Hoặc có lúc tâm muốn tất cả thế giới những ống tiêu, sáo, chuông trống tất cả tiếng nhạc và ca ngâm đều diễn pháp âm.  Hoặc có lúc tâm muốn trong một chữ, tất cả pháp cú, ngôn âm sai biệt thảy đều đầy đủ.  Hoặc có lúc tâm muốn  làm cho bất khả thuyết vô lượng thế giới, trong tứ đại địa, thủy, hỏa, phong, có bao nhiêu vi trần trong mỗi vi trần thảy đều diễn xuất bất khả thuyết pháp môn.  Tất cả đều muốn như vậy đều tùy tâm hiển hiện thành màn cả.
Chư Phật tử!  Giả sử đại thiên thế giới, tất cả chúng sanh đều đến trước Bồ Tát này, mỗi mỗi chúng sanh đều dùng vô lượng ngôn âm khác nhau để vấn đề nạn tất cả vấn nạn đều chẳng đồng nhau.  Trong nguyện tất cả chúng sanh khoảng một niệm.  Bồ Tát đều lãnh thọ tất cả vẫn dùng một âm thanh mà giải thích khắp tất cả, khiến họ đều vui thích, như vậy nhẫn đến tất cả chúng sanh trong bất khả thuyết thế giới.  Bồ Tát đều không có thể tuỳ tâm sở thích, căn, giải của họ mà thuyết pháp, thừa thần lực của Phật rộng làm Phật sự, vì khắp tất cả mà làm chỗ nương tựa.
Chư Phật tử!  Bồ Tát này lại phát tinh tấn thành tựu trí minh, giả sử nơi một chân lông có bất khả thuyết thế giới vi trần số chư Phật chúng hội, mỗi chúng hội có bất khả thuyết thế giới vi trần số chúng sanh, mỗi chúng sanh có bất khả thuyết thế giới vi trần số tánh dục.  Chư Phật đó tuỳ theo tánh dục của chúng sanh mà đều ban cho pháp môn.
Như nơi một chân lông, tất cả chỗ khắp pháp giới đều như vậy cả.  Vô lượng pháp môn của chư Phật đã nói như vậy, trong khoảng một niệm, Bồ Tát đều lãnh thọ được cả, không hề quên mất.
Chư Phật tử!  Bồ Tát trụ bậc đệ cửu địa này ngày đêm tinh tấn, trọn không xen niệm gì khác, chỉ nhập Phật cảnh giới thân cận Như Lai, nhập chư Bồ Tát thậm thâm giải thoát, thường ở chánh định, thường thấy chư Phật chưa từng bỏ lìa, trong mỗi mỗi kiếp thấy vô lượng Phật, vô lượng trăm ngàn Phật, nhẫn đến vô lượng trăm ngàn ức na do tha Phật, đều kính trọng cúng dường, hỏi pháp, được thuyết pháp đà la ni bao nhiêu thiện căn đã có càng thêm sáng sạch.
Ví như chân kim, thợ giỏi khéo dùng làm bửu quang đế Chuyển Luân Thánh Vương đội, tất cả đồ trang nghiêm của thần dân và các tiểu quốc vương không sánh kịp được.
Thiện căn của bậc Bồ Tát đệ cửu địa cũng như vậy, những thiện căn của thanh văn, độc giác và các Bồ Tát bậc dưới không thể bằng được.
Chư Phật tử!  Ví như đại Phạm Thiên Vương chủ của nhị thiên thế giới, thân phóng quang minh có thể chiếu thấu chỗ tối, chỗ xa của tất cả nhị thiên thế giới, những thiện căn của Bồ Tát này cũng như vậy.  Có thể phóng quang minh, chiếu tâm chúng sanh trừ sạch phiền não tăm tối.
Trong mười môn ba la mật, với Bồ Tát này, lực ba la mật là hơn cả các môn kia thời tuỳ sức tuỳ phần.  Chư Phật tử!  Đây là lược nói đại Bồ Tát đệ cửu Thiện Huệ địa.  Nếu nói rộng thời vô lượng kiếp nói cũng không hết.
Chư Phật tử!  Bồ Tát trụ bậc đệ cửu địa này thường làm đại Phạm Thiên Vương chủ nhị thiên thế giới.  Thống trị giỏi, tự tại làm lợi ích.  Hay vì hàng thanh văn, độc giác và chư Bồ Tát mà giảng giải hạnh ba la mật.  Hay tuỳ tâm của chúng sanh, không bị khuất phục vì vấn nạn.
Những công hạnh bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự đều chẳng rời niệm Phật, nhẫn đến chẳng rời niệm nhất thiết chủng trí.
Bồ Tát này lại nghĩ rằng:  Ở trong tất cả chúng sanh, tôi sẽ là thượng thủ, là thắng, nhẫn đến là bậc y chỉ nhất thiết chủng trí.
Bồ Tát này nếu phát tinh tấn trong khoảng một niệm được trăm vạn vô số quốc độ vi trần số tam muội nhẫn đến thị hiện trăm vạn vô số quốc độ vi trần số Bồ Tát làm quyến thuộc.
Nếu dùng nguyện lực thù thắng tự tại thị hiện thời hơn số này, nhẫn đến trăm ngàn ức na do tha kiếp chẳng thể đếm biết được."
Kim Cang Tạng Bồ Tát muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
Vô lượng trí lực khéo quan sát
Tối thượng vi diệu đời khó biết
Vào khắp chỗ bí mật của Phật
Lợi ích chúng sanh vào cửu địa.
Tổng trì tam muội đều tự tại
Được đại thần thông vào các cõi
Lực, trí, vô úy, bất cộng pháp
Nguyện, lực, bi tâm vào cửu địa
Trụ nơi bậc này trì pháp tạng
Rõ thiện, bất thiện, và vô ký
Hữu lậu, vô lậu, thế, xuất thế
Tư, bất tư nghì đều khéo biết.
Nếu pháp quyết định chẳng quyết định
Tam thừa tu tập đều quán sát
Hữu vi, vô vi hạnh sai biệt
Biết rõ như vậy nhập thế gian.
Nếu muôn biết rõ tâm chúng sanh
Thời hay dùng trí biết như thật
Các thứ chuyển tốc, hoại, chẳng hoại
Những tướng vô chất, vô biên thảy
Phiền não vô biên thường sanh chung
Phục, khởi một nghĩa nối các loại.
Nghiệp tánh chủng loại đều riêng khác
Nhân hoại quả nhóm đều biết được
Căn tánh các lọia hạ trung thượng
Tiên tế hậu tế khác vô lượng.
Giải, tánh, lạc dục cũng như vậy
Tám vạn bốn ngàn đều biết cả
Chúng sanh hoặc kiến luôn tùy chuyển
Rừng rậm vô thỉ chưa cắt trừ
Với chí chung cùng tâm đều sanh
Thường ràng rịt nhau chẳng đoạn tuyệt.
Chẳng phải vật thật, chỉ vọng tưởng
Chẳng rời khỏi tâm không xứ sở
Thiền định cảnh trừ nhưng thối chuyển
Kim cang đạo diệt mới rốt ráo
Sáu loài thọ sanh đều sai khác
Ruộng nghiệp, ái nhuận, vô minh che
Thức làm chủng tử, mầm danh sắc
Ba cõi vô thỉ luôn tiếp nối.
Hoặc, nghiệp, tâm tập sanh các loại
Nếu lìa hoặc nghiệp chẳng còn sanh
Chúng sanh ở trong hoặc, nghiệp, tâm
Hoặc chìm kiến chấp, hoặc thành đạo.
Bậc Bồ Tát này khéo quán sát
Tùy tâm sở thích và căn giải
Đều dùng vô ngại diệu biện tài
Theo chỗ đáng độ mà thuyết pháp.
Ngồi trên pháp tọa như sư tử,
Cũng như ngưu vương, bửu sơn vương,
Lại như long vương bủa mây dầy
Tuôn mưa cam lồ đầy biển lớn.
Khéo biết pháp tánh và áo nghĩa
Tùy thuận ngôn từ hay biện thuyết
Vô số trăm vạn đà la ni
Dường như biển lớn chứa nước mưa
Tổng trì tam muội đều thanh tịnh
Trong khoảng một niệm thấy nhiều Phật
Nơi mỗi mỗi Phật đều nghe pháp
Lại dùng diệu âm để diễn thuyết.
Nếu muốn khắp đại thiên thế giới
Giáo hóa tất cả các quần sanh
Như mây bủa khắp mọi nơi chỗ
Tùy theo căn dục đều khiến mừng.
Đầu lông Phật chúng đông vô số
Chúng sanh sở thích cũng vô cực
Đều xứng tâm họ cho pháp môn
Tất cả pháp giới đều như vậy.
Bồ Tát siêng thêm sức tinh tấn
Lại được công đức càng thêm hơn
Văn trì vô lượng các pháp môn
Như đất hay gì tất cả giống.
Mười phương vô lượng các chúng sanh
Đều đến thân cận ngồi trong hội
Một niệm tùy tâm đều vấn nạn
Một lời đối khắp đều thỏa mãn
Trụ ở bậc này làm pháp vương
Tuỳ cơ dạy bảo không nhàm mỏi
Ngày đêm thấy Phật chưa từng bỏ
Nhập thâm tịch diệt trí giải thoát.
Cúng Phật thiện căn càng thêm sáng
Như mão diệu bửu trên đầu vua
Nhờ đây chúng sanh dứt phiền não
Như quang chiếu khắp của Phạm Vương
Bậc này thường hiện Đại Phạm Vương
Đem pháp tam thừa độ chúng sanh
Thiện nghiệp tu hành khắp lợi ích
Nhẫn đến sẽ thành nhất thiết trí
Một niệm đã nhập các tam muội
Vô số thế giới vi trần số
Thấy Phật thuyết pháp, số cũng vậy
Nguyện lực thị hiện lại hơn đây
Đây là đệ cửu Thiện Huệ địa
Chỗ tu hành của đại Bồ Tát
Thậm thâm vi diệu khó thấy được
Tôi vì Phật tử đã tuyên thuyết.

Hán bộ quyển 39

Na do tha chúng Tịnh Cư thiên
Nghe những thắng hạnh trong cửu địa
Trên không hớn hở lòng hoan hỉ
Đều cùng cung kính cúng dương Phật.
Bất khả tư nghì chúng Bồ Tát
Cũng ở hư không rất hoan hỉ
Đồng thắp hương duyệt ý tối thượng
Huân khắp chúng hội khiến thanh tịnh.
Tự Tại Thiên Vương cùng thiên chúng
Vô lượng ức số ở hư không
Rải khắp thiên y cúng dường Phật
Trăm ngàn muôn thứ phất phới rơi
Thể nữ cõi trời số vô lượng
Tất cả mừng vui cúng dường Phật
Đều tấu các thứ âm nhạc hay
Đều dùng lời nầy để ca ngợi:
Phật thân an tọa một quốc độ
Tất cả thế giới đều hiện thân
Thân tướng đoan nghiêm vô lượng ức
Pháp giới rộng lớn đều khắp đầy.
Nơi một chân lông phóng quang minh
Khắp dứt thế gian phiền não tối
Thế giới vi trần biết được số
Quang minh này số chẳng lường được.
Hoặc thấy Như Lai đủ tướng hảo
Chuyển chánh pháp luân thắng vô thượng
Hoặc thấy du hành các cõi Phật.
Hoặc thấy vắng lặng an bất động
Hoặc hiện ở tại cung Đâu Suất
Hoặc hiện hạ sanh nhập thai mẹ
Hoặc hiện thụ thai hoặc xuất thai
Đều khiến trong vô lượng cõi thấy,
Hoặc hiện xuất gia tu thế đạo
Hoặc hiện đạo tràng thành chánh giác
Hoặc hiện thuyết pháp hoặc niết bàn
Khiến khắp mười phương đều xem thấy.
Ví như huyễn sư biết huyễn thuật
Ở trong đại chúng hiện nhiều việc
Trí huệ Như Lai cũng như vậy
Ở trong thế gian khắp hiện thân.
Phật trụ thậm thâm chân pháp tánh
Tịch diệt vô tounsg đồng hư không
Mà ở trong đệ nhất thật nghĩa
Thị hiện công hạnh nhiều sự việc.
Hạnh lợi chúng sanh Phật đã làm
Đều nương pháp tánh mà được có
Tướng và vô tướng không sai khác
Vào đến rốt ráo đều vô tướng
Nếu có muốn được Như Lai trí
Phải rời tất cả vọng phân biệt
Thông đạt hữu vô đều bình đẳng
Mau làm Nhân Thiên Đại Đạo Sư
Vô lượng vô biên chúng thiên nữ
Ca nhạc ngôn âm khen ngợi rồi
Thân tâm tịch tịnh đều an lạc
Chiêm ngưỡng Như Lai đứng yên lặng
Liền đó Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát
Biết các chúng hội đều tịch tịnh
Hướng Kim Cang Tạng mà thỉnh rằng:
Bậc đại vô úy chân Phật tử!
Từ đệ cửu địa vào thập địa
Bao nhiêu công đức các hành tướng
Nhẫn đến thần thông trí biến hóa
Mong vì đại chúng mà tuyên thuyết.
Kim Cang Tạng Bồ Tát bảo Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát rằng:  "Thưa Phật tử!  Đại Bồ Tát từ sơ địa đến đệ cửu địa dùng vô lượng trí huệ quán sát giác liễu như vậy rồi, khéo tư duy tu tập, khéo đầy đủ thiện pháp, nhóm vô biên pháp trợ đạo, thêm lớn đại phước trí huệ, rộng thi hành đại bi, biết thế giới sai biệt, vào rừng rậm chúng sanh giới, nhập cảnh giới Như Lai, tuỳ thuận hạnh tịch diệt của Như Lai, thường quán sát trí lực, vô úy, bất cộng pháp của Như Lai, gọi là được nhất thiết chủng trí thọ chức vị.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát dùng trí huệ như vậy nhập bậc Thọ Chức địa rồi liền được ly cấu tam muội, nhập pháp giới sai biệt tam muội, trang nghiêm đạo tràng tam muội, nhất thiết chủng hoa quang tam muội, hải tạng tam muội, hải ấn tam muội, hư không giới quảng đại tam muội, quán nhất thiết pháp tự tánh tam muội, trí nhất thiết chúng sanh tâm hành tam muội, nhất thiết Phật giai hiện tiền tam muội, trăm vạn vô số tam muội như vậy đều hiện tiền.  Bồ Tát này ở nơi các môn tam muội trên đây hoặc nhập, hoặc xuất đều được thiện xảo.  Cũng khéo rõ biết tất cả tam muội việc làm sai biệt.  Tam muội tối hậu tên là thọ nhất thiết trí thắng chức vị.
Lúc tam muội này hiện tiền, bỗng nhiên xuất sanh đại bửu liên hoa.  Liên hoa này rộng lớn bằng trăm vạn đại thiên thế giới, trang nghiêm với các thứ diệu bửu, vượt hơn tất cả cảnh giới thế gian, do thiện căn xuất thế sanh khởi, do những hạnh biết các pháp như huyễn tánh làm thành, thường phóng quang minh chiếu khắp pháp giới, các cõi trời chẳng có được.
Liên hoa này, cọng bằng tỳ lưu ly ma ni bửu, đài bằng chiên đàn vương, tua bằng ngọc mã não, cánh bằng vàng diêm phù đàn, các báu làm tạng, lưới báu che giăng.  Hoa này thường phóng vô lượng quang minh, có mười đại thiên thế giới vi trần số liên hoa làm quyến thuộc.
Bấy giờ, Bồ Tát này ngự trên liên hoa, thân tướng cân xứng với hoa.  Vô lượng quyến thuộc Bồ Tát ngồi trên các liên hoa kia, mỗi vị đều được trăm vạn tam muội, đồng hướng về đại Bồ Tát nhất tâm chiêm ngưỡng.
Chư Phật tử!  Lúc đại Bồ Tát này và quyến thuộc ngồi trên liên hoa, thời quang minh và ngôn âm khắp đến thập phương pháp giới.  Tất cả thế giới đều chấn động, ác đạo khỏi khổ, cõi nước nghiêm tịnh, đồng hạnh Bồ Tát đều vân tập đến, âm nhạc của nhân thiên đồng thời trổi tiếng, tất cả chúng sanh đều được an vui, đem bất tư nghì đồ cúng dường dâng lên chư Phật.  Chư Phật chúng hội thảy đều hiển hiện.
Chư Phật tử!  Lúc Bồ Tát này ngồi trên tòa đại liên hoa, thời nơi dưới hai chân phóng trăm vạn vô số quang minh chiếu khắp các đại địa ngục ở mười phương diệt khổ cho chúng sanh.  Nơi hai gối phóng trăm vạn vô số quang minh chiếu khắp mọi loài súc sanh ở mười phương diệt khổ cho chúng sanh.  Nơi rún phóng trăm vạn vô số quang minh chiếu khắp cõi Diêm La Vương ở mười phương diệt khổ cho chúng sanh.  Nơi hai bên hông phóng trăm vạn vô số quang minh chiếu khắp tất cả nhân gian ở mười phương diệt khổ cho chúng sanh.  Nơi giữa hai tay phóng trăm vạn vô số quang minh chiếu khắp tất cả cung điện của chư thiên và a tu la ở mười phương.  Nơi trên hai vai phóng trăm vạn vô số quang minh chiếu khắp tất cả thanh văn ở mười phương.  Nơi cổ và lưng phóng trăm vạn vô số quang minh chiếu khắp thân bích chi phật ở mười phương.  Nơi mặt trăm vạn vô số quang minh chiếu khắp hành Bồ Tát sơ phát tâm đến bậc đệ cửu địa.  Từ giữa hai chặn mày phóng trăm vạn vô số quang minh chiếu khắp hàng Bồ Tát thọ chức ở mười phương.  Quang minh này làm cho cung điện của ma thảy đều chẳng hiện.
Nơi đảnh đầu phóng trăm vạn vô số đại thiên thế giới vi trần số quang minh chiếu khắp các đạo tràng chúng hội của chư Phật ở tất cả thế giới trong mười phương, hữu nhiễu mười vòng rồi đứng lại trên hư không thành lưới quang minh tên là Xí Nhiên Quang Minh, phát khởi các đồ cúng dường để cúng Phật.  Chư Bồ Tát khác, từ sơ phát tâm đến đệ cửu địa, có những đồ cúng dường đều không sánh được.
Lưới quang minh này, ở trước chúng hội của mỗi đức Phật trong mười phương, mưa những hương tốt, tràng hoa, y phục, tràng phan, bửu cái, các thứ trang nghiêm bằng châu ma ni, để cúng dường lên Phật.
Đồ cúng trên đây đều từ thiện căn xuất thế sanh ra, vượt hơn tất cả cảnh giới thế gian.  Nếu có chúng sanh thấy biết sự này thời đều được bất thối chuyển nơi đạo vô thượng giác.
Chư Phật tử!  Đại quang minh này hiện sự cúng dường như vậy xong, lại nhiễu tất cả thế giới mười phương nơi đạo tràng của chư Phật đủ mười vòng rồi lại từ dưới chân của Phật mà vào.  Lúc đó chư Phật và chư Bồ Tát biết nơi thế giới ấy, có đại Bồ Tát ấy có thể làm hạnh quảng đại như vậy đến bậc Thọ Chức.
Chư Phật tử!  Bấy giờ mười phương vô lượng vô biên Bồ Tát nhẫn đến bậc đệ cửu địa đều vân tập vây quang cung kính cúng dường đại Bồ Tát này, nhất tâm quán sát.  Đương lúc quán sát, chư Bồ Tát liền đều chứng được mười ngàn tam muội.
Lúc đó, những Bồ Tát Thọ Chức ở mười phương đều ở trong đức tướng nơi ngực kim cang trang nghiêm phóng đại quang minh tên Năng Hoại Ma Oán, có trăm vạn vô số quang minh làm quyến thuộc, chiếu khắp mười phương hiện vô lượng thần thông biến hóa, sau đó quang minh này, trở về nhập vào trong ngực kim cang trang nghiêm của đại Bồ Tát.  Khi quang minh nhập vào xong, những trí huệ thế lực của đại Bồ Tát này thêm lớn trăm ngàn lần.
Bấy giờ thập phương chư Phật, từ chặn mày phóng quang minh thanh tịnh tên Ích Nhất Thiết Trí Thần Thông, có vô số quang minh làm quyến thuộc chiếu khắp thế giới mười phương, hữu nhiễu mười vòng, thị hiện sự tự tại quảng đại của Như Lai khai ngộ cho vô lượng trăm ngàn ức na do tha chúng Bồ Tát.  Chấn động khắp cả cõi Phật, diệt trừ tất cả khổ của các ác đạo, che ẩn tất cả cung điện của ma, hiển thị tất cả chỗ của chư Phật chứng bồ đề và đạo tràng chúng hội oai đức trang nghiêm.
Quang minh này chiếu khắp tận hư không biến pháp giới tất cả thế giới rồi lại đến trên pháp hội của đại Bồ Tát này hữu nhiễu ba vòng hiển hiện những sự trang nghiêm.  Hiện xong, nhập vào trên đảnh đầu của đại Bồ Tát này.  Những quang minh quyến thuộc cũng đều nhập vào đảnh đầu của chư Bồ Tát.
Đương lúc quang minh của chư Phật nhập vào đầu, đại Bồ Tát này chứng được trăm vạn tam muội mà trước kia chưa được.  Đây gọi là đã được bậc Thọ Chức vào cảnh giới Phật đầy đủ thập lực dự ở số chư Phật.
Chư Phật tử!  Như Chuyển Luân Thánh Vương sanh thái tử, mẹ là chánh hậu.  Lúc thái tử thân tướng trưởng thành đầy đủ, nhà vua bảo thái tử ngồi tòa diệu kinh trên bạch tượng bửu, trương màn lưới lơn, dưng trang pha to, thắp hương, rải hoa, trổi các âm nhạc, lấy nước bốn biển đựng trong bình vàng.  Nhà vua cầm bình vàng này rưới nước bốn biển lên đầu thái tử.  Đây gọi là lễ thái tử lãnh thọ vương chức, dự ở hàng quán đảnh sát đế lợi vương.  Liền có thể thực hành đầy đủ mười thiện đạo, cũng được gọi là chuyển luân thánh vương.
Đại Bồ Tát Thọ Chức cũng như vậy:  Vì trí thủy của chư Phật rưới vào đầu nên gọi là Thọ Chức, vì đầy đủ mười trí lực của Như Lai nên dự vào hàng chư Phật.
Chư Phật tử!  Đây gọi là Bồ Tát thọ chức đại trí.  Bồ Tát do chức đại trí này nên có thể làm vô lượng trăm ngàn vạn ức na do tha hạnh khó làm, thêm lớn vô lượng trí huệ công đức, gọi là an trụ bậc Pháp Vân địa.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát  ở bậc Pháp Vân địa này, đúng thật mà biết dục giới tập, sắc giới tập, vô sắc giới tập, thế giới tập, pháp giới tập, hữu vi giới tập, vô vi giới tập, chúng sanh giới tập, thức giới tập, hư không giới tận, niết bàn giới tập, kiến chấp phiền não hành tập, thế giới thành hoại tập, thanh văn hạnh tập, độc giác hạnh tập, Bồ Tát hạnh tập, Như Lai trí lực vô úy sắc thân pháp thân tập, nhất thiết chủng trí tập,  thị hiện thành Phật chuyển pháp luân tập, trí quyết định phân biệt tất cả pháp tập.  Tóm lại, đại Bồ Tát này dùng nhất thiết trí mà biết tất cả tập.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này, dùng giác huệ thượng thượng như vậy đúng thật mà biết chúng sanh nghiệp hóa, phiền não hóa, kiến chấp hóa, thế giới hóa, pháp giới hóa, thanh văn hóa, độc giác hóa, Bồ Tát hóa, Như Lai hóa, tất cả phân biệt vô phân biệt hóa.
Lại đúng thật mà biết Phật trì, pháp trì, tăng trì, nghiệp trì, phiền não trì, nguyện trì, cúng dường trì, hành trì, kiếp trì, trí trì.
Lại đúng thật mà biết chư Phật nhập vi tế trí.  Những là tu hành vi tế trí.  Mạng chung vi tế trí, thọ sanh vi tế trí, xuất gia vi tế trí, hiện thần thông vi tế trí, trụ thọ mạng vi tế trí, nhập niết bàn vi tế trí, giáo pháp trụ vi tế trí.
Đại Bồ Tát này lại nhập Như Lai bí mật xứ.  Những là thân bí mật, ngữ bí mật, tâm bí mật, thời phi thời tư lương bí mật, thọ Bồ Tát ký bí mật, nhiếp chúng sanh bí mật, chủng chủng thừa bí mật, tất cả chúng sanh căn hành sai biệt bí mật, nghiêm sở hành bí mật, đắc bồ đề hạnh bí mật.  Những sự này đều biết đúng thật.
Lại biết những nhập kiếp trí của chư Phật.  Những là một kiếp vào vô số kiếp, vô số kiếp vào một kiếp, hữu số kiếp vào vô số kiếp, vô số kiếp vào hữu số kiếp, một niệm vào kiếp, kiếp vào một niệm, kiếp vào phi kiếp, phi kiếp, vào kiếp, hữu Phật kiếp vào vô Phật kiếp, vô Phật kiếp vào hữu Phật kiếp, quá khứ vị lai kiếp vào hiện tại kiếp, hiện tại kiếp vào quá khứ vị lai kiếp, quá khứ kiếp vào vị lai kiếp, vị lai kiếp vào hiện tại kiếp, trường kiếp vào đoản kiếp, đoản kiếp vào trường kiếp.
Lại biết những kiếp sở nhập của Như Lai.  Những là nhập ma đạo trí, nhập vi trần trí, nhập quốc độ thân chánh giác trí, nhập chúng sanh thân chánh giác trí, nhập chúng sanh tâm chánh giác trí, nhập chúng sanh hạnh chánh giác trí, nhập tùy thuận nhất thiết xứ chánh giác trí, nhập thị hiện biến hành trí, nhập thị hiện thuận hành trí, nhập thị hiện nghịch hành trí, nhập thị hiện tư nghì bất tư nghì thế gian liễu tri bất liễu tri hành trí, nhập thị hiện thanh văn trí, độc giác trí, Bồ Tát hạnh trí, Như Lai hạnh trí.  Tất cả như vậy đều biết đúng thật.
Chư Phật tử!  Tất cả chư Phật có những trí huệ quảng đại vô lượng, bậc Bồ Tát này đều có thể chứng nhập.
Đại Bồ Tát trụ bậc Pháp Vân địa này liền được Bồ Tát bất tư nghì giải thoát, vô chướng ngại giải thoát, tịnh quán sát giải thoát, phổ chiếu minh giải thoát, thông đạt tam thế giải thoát, pháp giới tạng giải thoát, quang minh luân giải thoát, vô dư cảnh giới giải thoát.  Mười môn giải thoát này làm đầu, lại có vô lượng trăm ngàn vô số môn giải thoát đến vô lượng trăm ngàn vô số môn tam muội, vô lượng trăm ngàn vô số môn đà la ni, vô lượng trăm ngàn vô số môn thần thông, bậc này đều thành tựu cả.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này thần thông đạt trí huệ như vậy, tuỳ thuận vô lượng bồ đề, thành tựu thiện xảo niệm lực.
Mười phương chư Phật có vô lượng đại pháp minh, đại pháp chiếu, đại pháp vũ, Bồ Tát này trong khoảng một niệm đều có thể an, có thể thọ, có thể nhiếp, có thể trì tất cả.
Ví như Ta Dà La Long Vương làm mưa lớn, chỉ trừ đại hải, ngoài ra tất cả chỗ khác đều không thể chứa thọ nhiếp trì nước mưa đó.
Cũng vậy, chỉ trừ bậc đệ Thập Địa Bồ Tát, ngoài ra tất cả chúng sanh, thanh văn, độc giác, nhẫn đến đệ cửu địa Bồ Tát đều không thể an thọ nhiếp trì tạng bí mật đại pháp minh, đại pháp chiếu, đại pháp vũ của đức Như Lai.
Ví như đại hải có thể an thọ nhiếp trì trận mưa lớn của một long vương, hoặc hai, hoặc ba, nhẫn đến vô lượng long vương đồng thời làm mưa lớn.  Vì đại hải rộng lớn vô lượng.
Cũng vậy, đại Bồ Tát trụ bậc Pháp Vân địa có thể an thọ nhiếp trì đại pháp minh, pháp chiếu, pháp vũ của một đức Phật nhẫn đến của vô lượng đức Phật, dầu trong khoảng một niệm chư Phật đồng thời diễn thuyết.  Vì thế nên bậc Bồ Tát này hiệu là Pháp Vân địa."
Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát hỏi:  "Thưa Phật tử!  Trong khoảng một niệm, đại Bồ Tát này có thể an thọ nhiếp trì đại pháp minh, pháp chiếu, pháp vũ của bao nhiêu đức Phật?"
Kim Cang Tạng Bồ Tát nói: "Thưa Phật tử!  Chẳng thể đếm tính biết được.  Tôi sẽ dùng ví dụ để trình bày việc ấy.
Thưa Phật tử!  Ví như mười phương, trong mỗi phương đều có mười bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha phật sát vi trần số thế giới.  Trong thế giới đó, mỗi mỗi chúng sanh đều được văn trì đà la ni làm thị giả của Phật đa văn bậc nhất trong hàng thanh văn, như tỳ kheo Đại Thắng, thị giả của đức Kim Cang Liên Hoa Thượng Phật.  Những pháp của một chúng sanh đã thọ, các chúng sanh khác không thọ trùng.  Những pháp của tất cả chúng sanh này thọ được có số lượng chăng?"
Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát nói: "Số đó rất nhiều vô lượng vô biên."
Kim Cang Tạng Bồ Tát nói: "Tôi xin nói để Phật tử được rõ.  Bậc Pháp Vân địa Bồ Tát, trong khoảng một niệm, an thọ nhiếp trì đạo pháp minh, pháp chiếu, pháp vũ tam thế pháp tạng của một đức Phật nhiều hơn những pháp của tất cả chúng sanh trên kia đã được nhiếp trì trăm phần không kịp một phần nhẫn đến ví dụ cũng chẳng kịp được.
Như nơi một đức Phật, nơi bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha phật sát vi trần thế giới chư Phật, lại hơn số này vô lượng vô biên, nơi mỗi mỗi đức Như Lai có bao nhiêu pháp minh, pháp chiếu, pháp vũ, tam thế pháp tạng, Bồ Tát này đều có thể an thọ nhiếp trì trọn vẹn, nên hiệu là Pháp Vân địa.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này dùng tự nguyện lực nổi mây phước đức đại bi, chấn sấm đại pháp, nháng chớp trí huệ vô úy, hiện các loại thân, khoảng một niệm, qua khắp mười phương trăm ngàn ức na do tha thế giới vi trần số quốc độ mà diễn thuyết đại pháp xô dẹp quân ma.
Lại hơn số trên đây, nơi vô lượng trăm ngàn ức na do tha thế giới vi trần số quốc độ, tuỳ tâm sở thích của chúng sanh mà tuôn mưa đại pháp dập tắt lửa phiền hoặc.  Do đây hiệu là Pháp Vân địa.
Chư Phật tử!  Bồ Tát ở bậc này, nơi một thế giới từ Đâu Suất Thiên giáng sanh nhẫn đến niết bàn, tuỳ theo tâm của chúng sanh đáng được độ mà thị hiện Phật sự.
Hoặc nơi hai thế giới, ba thế giới nhẫn đến vô lượng trăm ngàn ức na do tha thế giới vi trần số quốc độ cũng đều như vậy.  Thế nên bậc này gọi là Pháp Vân địa.
Chư Phật tử!  Bậc Bồ Tát này trí huệ sáng suốt, thần thông tự tại, tuỳ tâm niệm của mình, có thể đem thế giới hẹp làm thế giới rộng, thế giới rộng làm thế giới hẹp, thế giới cấu uế làm thế giới thanh tịnh, thế giới thanh tịnh làm thế giới cấu, những thế giới loạn trụ thứ trụ, đảo trụ, chánh trụ, tất cả vô lượng thế giới như vậy đều có thể đổi làm lẫn nhau.
Hoặc tùy tâm niệm nơi trong một vi trần để một thế giới núi tu di, sông, biển, v.v... mà thể tướng của vi trần kia vẫn như cũ, trong đó tất cả thế giới đều hiện rõ.
Hoặc tùy tâm niệm ở trong một thế giới thị hiện hai thế giới trang nghiêm, nhẫn đến bất khả thuyết thế giới trang nghiêm.  Hoặc ở trong một thế giới trang nghiêm thị hiện hai thế giới nhẫn đến bất khả thuyết thế giới.  Hoặc tùy tâm niệm đem chúng sanh trong bất khả thuyết thế giới để trong một thế giới.  Hoặc đem chúng sanh trong một thế giới để trong bất khả thuyết thế giới, đối với chúng sanh không làm tổn hại.  Hoặc tùy tâm niệm nơi một lỗ chân lông thị hiện tất cả sự trang nghiêm của cảnh giới Phật.  Hoặc trong một niệm thị hiện bất khả thuyết thế giới vi trần số thân, mỗi mỗi thân thị hiện ngần ấy số tay, mỗi mỗi tay đều cầm hằng hà sa số hộp hoa, trấp hương, tràng phan, bửu cái, cùng khắp mười phương cúng dường đức Phật.  Mỗi mỗi thân lại hiện ngần ấy số đầu, mỗi mỗi đầu hiện ngần ấy số lưỡi, ở trong mỗi niệm tán thán công đức của Phật cùng khắp mười phương.  Hoặc tuỳ tâm niệm, ở trong một niệm, khắp cùng mười phương thị hiện thành chánh giác nhẫn đến niết bàn và cùng cõi nước những sự trang nghiêm.  Hoặc hiện thân mình cùng khắp tam thế mà ở trong thân có vô lượng chư Phật và quốc độ những sự trang nghiêm, thế giới thanh hoại đều hiển hiện cả.  Hoặc trong một chân lông nơi thân phát ra tất cả luồng gió, nhưng vẫn không tổn hại chúng sanh.  Hoặc tùy tâm niệm đem vô biên thế giới làm một đại hải, trong biển này hiện đại liên hoa sáng chói tốt đẹp, trùm khắp vô lượng vô biên thế giới, ở trong đó thị hiện những sự trang nghiêm của cội cây đại bồ đề, nhẫn đến thị hiện thành nhất thiết chủng trí.  Hoặc ở nơi thân mình hiện thập phương thế giới tất cả quang minh ma ni bửu châu, nhật nguyệt tinh tú mây chớp các thứ ánh sáng.  Hoặc dùng miệng hà hơi có thể động thập phương vô lượng thế giới mà chẳng làm cho chúng sanh có quan niệm kinh sợ.  Hoặc hiện thập phương phong tai, hỏa tai và thủy tai.  Hoặc tuỳ tâm sở thích của chúng sanh thị hiện sắc thân đầy đủ sự trang nghiêm.  Hoặc ở nơi tự thân thị hiện Phật thân, hoặc ở Phật thân mà hiện tự thân.  Hoặc ở Phật thân hiện quốc độ của mình, hoặc ở quốc độ mình mà hiện Phật thân.
Chư Phật tử!  Pháp Vân địa Bồ Tát này có thể hiện như vậy, và còn vô lượng trăm ngàn ức na do tha thần lực tự tại."
Bấy giờ, trong chúng hội, chư Bồ Tát và Thiên, Long, Bát bộ, hộ thế tứ thiên vương, Thiên Đế, Phạm Vương, Tịnh Cư thiên, Đại Tự Tại Thiên Vương, các hàng thiên tử đều nghĩ rằng:  Nếu Bồ Tát mà thần thông trí lực dường ấy thời đức Phật lại thế nào?
Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát biết tâm niệm của chúng hội, bèn bạch Kim Cang Tạng Bồ Tát rằng: "Thưa Phật tử!  Nay đại chúng này nghe nói thần thông trí lực của bậc đệ thập địa Bồ Tát mà sanh lòng nghi.  Xin ngài thị hiện chút ít sự trang nghiêm thần lực của Bồ Tát để dứt lòng nghi cho đại chúng."
Kim Cang Tạng Bồ Tát liền nhập nhất thiết Phật độ thể tánh tam muội.
Lúc Bồ Tát nhập tam muội, tất cả Bồ Tát và đại chúng đều thấy thân mình ở trong thân của Kim Cang Tạng Bồ Tát, trong đây thấy rõ cõi đại thiên có bao nhiêu sự trang nghiêm, cả ức kiếp nói cũng chẳng hết.  Lại nơi đây thấy cây bồ đề chu vi mười muôn đại thiên thế giới, cao trăm muôn đại thiên thế giới, nhánh lá che trùm cũng như vậy.  Có tòa sư tử xứng với thân cây.  Trên tòa có đức Phật Nhất Thiết Trí Thông Vương ngự.  Tất cả đại chúng đều thấy đức Phật ngự, đủ tất cả tướng hảo trang nghiêm dầu đến ức kiếp kể cũng không hết.
Hiện thần lực như vậy rồi, Kim Cang Tạng Bồ Tát làm cho đại chúng trở lại như cũ.
Bấy giờ, đại chúng được thấy sự chưa từng có cho là rất đặc biệt lạ lùng, ngồi yên lặng nhất tâm chiêm ngưỡng Kim Cang Tạng Bồ Tát.
Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát bạch Kim Cang Tạng Bồ Tát rằng: "Thưa Phật tử!  Nay tam muội này rất là hi hữu, có thế lực lớn, tên gọi là gì?"
Kim Cang Tạng Bồ Tát nói: "Tam muội này tên là Nhất Thiết Phật Độ Thể Tánh."
Lại hỏi: "Cảnh giới của tam muội này thế nào?"
Đáp: "Nếu Bồ Tát tu tam muội này thời tuỳ tâm sở niệm, có thể ở trong thân mình hiện ra hằng hà sa thế giới vi trần số cõi Phật, lại có thể hiện hơn số này vô lượng vô biên.
Chư Phật tử!  Vì Bồ Tát trụ nơi bậc Pháp Vân địa này được vô lượng trăm ngàn môn đại tam muội như vậy, nên thân và thân nghiệp, ngữ và ngữ nghiệp, ý và ý nghiệp của Bồ Tát này đều chẳng thể lường biết được.  Thần thông tự tại quán sát tam thế, cảnh giới của tam muội, cảnh giới của trí huệ, du hí tất cả môn giải thoát.  Biến hóa làm ra, thần lực làm ra, quang minh làm ra, lực nói nhẫn đến cắt chân, hạ chân tất cả việc làm ra, dầu là bậc Pháp Vương Tử Thiện Huệ Địa Bồ Tát cũng đều chẳng biết được.
Chư Phật tử!  Cảnh giới của Pháp Vân địa Bồ Tát lược nói như vậy, nếu nói rộng ra thời dầu nói suốt vô lượng trăm ngàn vô số kiếp cũng chẳng hết được."
Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát hỏi:  "Thưa Phật tử!  Nếu Bồ Tát thần thông cảnh giới như vậy, thần thông của Phật lại thế nào?"
Kim Cang Tạng Bồ Tát nói: "Thưa Phật tử!  Ví như có người lấy được cục đất nơi bốn châu thiên hạ rồi nói rằng cục đất này là nhiều hay là đất của vô biên thế giới là nhiều?
Tôi xem lời của ngài vừa hỏi cũng như vậy.  Trí huệ cảnh giới của đức Như Lai vô biên vô đẳng, thế nào lại đem so sánh với Bồ Tát.
Lại như lấy chút ít đất nơi bốn châu thiên hạ, thời đâu có thể đem so sánh với cả bốn châu.  Thần thông trí huệ của bậc Pháp Vân địa Bồ Tát, dầu nói suốt vô lượng kiếp cũng chỉ được một ít phần, huống là Như Lai địa.
Thưa Phật tử!  Nay tôi đem sự chứng minh để ngài được rõ cảnh giới của Như Lai.
Giả sử mười phương, mỗi phương đều có vô biên thế giới vi trần số Phật độ, mỗi Phật độ đều có đông đầy bậc Pháp Vân địa Bồ Tát này như mía, tre, lau, lúa, mè, rừng rậm.  Tất cả Bồ Tát đều tu hạnh Bồ Tát trong trăm ngàn ức na do tha kiếp phát sanh trí huệ, đem so sánh với cảnh giới trí huệ của một đức Như Lai, thời không bằng một phần trăm nhẫn đến không bằng một phần ưu ba ni sa đà.
Chư Phật tử!  Bậc Bồ Tát này trụ trí huệ như vậy chẳng khác đức Như Lai, thân, ngữ, ý chẳng rời tam muội lực của Bồ Tát.  Trong vô số kiếp thừa sự cúng dường tất cả chư Phật.  Trong mỗi mỗi kiếp dùng tất cả thứ cúng dường để dâng lên chư Phật.  Được thần lực của tất cả chư Phật gia hộ, trí huệ quang minh lại càng tăng thắng.  Ở trong pháp giới, khéo giải thích các điều vấn nạn, không ai khuất phục được.
Chư Phật tử!  Ví như thợ kim hoàn, dùng chân kim thật tốt làm đồ trang sức, dùng báu ma ni cẩn xen trong vàng.  Tự Tại Thiên Vương tự mang đồ trang sức này vào mình.  Tất cả đồ trang sức của trời người đều không thể sánh kịp.
Bậc Bồ Tát cũng như vậy.  Từ sơ địa đến cửu địa Bồ Tát, tất cả trí hạnh đều không sánh kịp được đệ thập địa Bồ Tát.
Trí huệ quang minh của bậc Bồ Tát này có thể làm cho chúng sanh tăng tiến đến chứng nhập nhất thiết chủng trí.  Những trí huệ quang minh của các bậc Bồ Tát khác đều không được như vậy.
Chư Phật tử!  Ví như Ma Hê Thủ La Thiên Vương quang minh, hay làm cho thân của chúng sanh được mát mẻ, quang minh khác không kịp được.
Bồ Tát ở bậc này cũng như vậy, trí huệ quang minh có thể làm cho chúng sanh đến được thanh lương nhẫn đến trụ nơi nhất thiết chủng trí.  Trí huệ quang minh của tất cả thanh văn, duyên giác cho đến bậc đệ cửu địa Bồ Tát đều không sánh được.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này đã có thể an trụ trí huệ như vậy.  Chư Phật Thế Tôn lại vì các ngài mà thuyết tam thế trí, pháp giới sai biệt trí, biến nhất thiết thế giới trí, chiếu nhất thiết thế giới trí, từ niệm nhất thiết chúng sanh trí nhẫn đến thuyết chứng đắc nhất thiết chủng trí.
Trong mười môn ba la mật, bậc Bồ Tát này tăng thượng nơi trí ba la mật.  Các môn khác thời tùy sức tùy phần.
Chư Phật tử!  Đây là nói lược về bậc Bồ Tát đệ thập Pháp Vân địa.  Nếu nói rộng thời dầu nói suốt vô lượng vô số kiếp cũng không hết.
Chư Phật tử!  Bồ Tát ở bậc này phần nhiều làm Ma Hê Thủ La Thiên Vương tự tại nơi các pháp, hay truyền thọ hạnh ba la mật cho tất cả thanh văn, duyên giác và tất cả Bồ Tát.  Ở giữa pháp chúng không bị khuất phục vì sự chất vấn.
Tất cả công hạnh như bố thí ai ngữ, lợi hành đồng sự đều chẳng rời niệm Phật, nhẫn đến chẳng rời niệm viên mãn nhất thiết chủng trí.
Bồ Tát này lại tự nghĩ rằng:  Nơi tất cả chúng sanh tôi sẽ là thượng thủ, là thắng, nhẫn đến là chỗ y tựa cho bậc nhất thiết chủng trí.
Nếu Bồ Tát này tăng gia tinh tấn, trong khoảng một niệm được mười bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha phật sát vi trần số tam muội, nhẫn đến thị hiện ngần ấy số Bồ Tát để làm quyến thuộc.  Nếu dùng nguyện lực thù thắng để thị hiện thời hơn số trên đây, cho đến trăm ngàn ức na do tha kiếp chẳng thể đếm biết được.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này lúc hành tướng thập địa thứ đệ hiện tiền thời có thể chứng nhập nhất thiết chủng trí.
Ví như ao A Nâu Đạt là nguồn nước của các sông lớn chảy khắp Diêm Phù Đề, nước ao đã không khô cạn mà lại nhiều thêm, nhẫn đến chảy vào biển làm cho nước nơi đây được sung mãn.
Cũng vậy, Bồ Tát từ tâm bồ đề lưu xuất thiện căn đại nguyện, dùng bốn nhiếp pháp nhiếp độ tất cả chúng sanh đã không cùng tận lại thêm tăng trưởng, nhẫn đến vào nơi biển nhất thiết chủng trí và làm cho nơi đây được sung mãn.
Chư Phật tử!  Bồ Tát thập địa, vì do Phật trí mà có sai, như nhân đại địa mà có mười núi lớn.  Những là Tuyết Sơn, Hương Sơn, Tỳ Đà Lê Sơn, Thần Tiên Sơn, Do Càn Đà Sơn, Mã Nhĩ Sơn, Ni Dân Đà La Sơn, Chước Yết La Sơn, Kế Đô Mạt Để Sơn, Tu Di Sơn.
Chư Phật tử!  Như Hương sơn, tất cả thứ hương đều chứa đủ trong đó, lấy không thể hết.  Cũng vậy, Bồ Tát trụ bậc Ly Cấu địa, tất cả giới hạnh oai nghi của Bồ Tát đều ở cả nơi đây, nói không thể hết.
Chư Phật tử!  Như Tỳ Đa Lê sơn thuần bằng chất báu, tất cả bửu chất châu ngọc đủ cả nơi đây, lấy không thể hết.  Cũng vậy, Bồ Tát ở bậc Phát Quang địa, tất cả thế gian thiền định, thần thông, giải thoát tam muội, tam ma bát đề đủ cả ở bậc này, nói không hết được.
Chư Phật tử!  Như Thần Tiên sơn thuần bằng châu báu, ngũ thông thần tiên luôn có trong đó không cùng tận.  Cũng vậy, Bồ Tát ở bậc Diệm Huệ địa, tất cả trí huệ thù thắng đều đủ nơi đây nói không thể hết.
Chư Phật tử!  Như Do Càn Đà sơn thuần bằng chất báu, thần Dạ Xoa đều ở trong đó không cùng tận.  Cũng vậy, Bồ Tát trụ bậc Nan Thắng địa, tất cả tự tại như ý thần thông đều ở trong đây nói chẳng thể hết.
Chư Phật tử!  Như Mã Nhĩ sơn thuần bằng chất báu, trong đây đủ tất cả trái cây, lấy không hết được.  Cũng vậy, Bồ Tát trụ bậc Hiện Tiền địa, quả chứng nhập lý duyên khởi thanh văn đều ở trong đây nói không thể hết.
Chư Phật tử!  Như Ni Dân Đà La sơn thuần bằng chất báu, đại lực long thần đều ở nơi đây không cùng tận.  Cũng vậy, Bồ Tát ở bậc Viễn Hành địa phương tiện trí huệ độc giác quả chứng đều đủ nơi đây nói không thể hết.
Chư Phật tử!  Như Chước Yết La sơn thuần bằng chất báu, chúng tự tại đều ở trong núi này không cùng tận.  Cũng vậy, Bồ Tát trụ bậc Bất Động địa, tất cả Bồ Tát tự tại sai biệt thế giới đều ở trong đây nói không hết được.
Chư Phật tử!  Như Kế Đô sơn thuần bằng chất báu, đại oai đức A Tu La Vương đều ở trong đó không cùng tận.  Cũng vậy, Bồ Tát trụ bậc Thiện Huệ địa tất cả trí hành sanh diệt thế gian đều ở nơi đây nói không thể hết.
Chư Phật tử!  Như Tu Di sơn thuần bằng chất báu, đại oai đức chư thiên đều ở trong đây không cùng tận.  Cũng vậy, Bồ Tát trụ bậc Pháp Vân địa, Phật trí lực, vô sở úy, bất cộng pháp, tất cả Phật sự đều ở trong đây tuyên nói khôn hết được.
Chư Phật tử!  Mười bửu sơn này đồng ở trong đại hải mà có tên sai khác.  Thập địa Bồ Tát cũng như vậy, đồng ở trong nhất thiết chủng trí mà có danh hiệu sai khác.
Chư Phật tử!  Ví như đại hải do có mười tướng  mà được gọi là đại hải không bị đổ tên.  Đây là mười tướng:  Một là tuần tự sâu lần; hai là chẳng chứa tử thi; ba là các dòng nước chảy vào đều mất bản danh; bốn là phổ đồng một vị; năm là có vô lượng trân bửu; sáu là không ai đến tận đây được; bảy là rộng lớn vô lượng; tám là loài thân to lớn ở; chín là thủy triều chẳng quá hạn; mười là chứa khắp hết nước mưa to mà vẫn không tràn.
Cũng vậy, Bồ Tát hạnh do mười tướng mà được gọi là Bồ Tát hạnh không bị đổi tên. Đây là mười tướng:  Hoan Hỉ địa xuất sanh đại nguyện lần lần càng sâu; Ly Cấu địa chẳng chứa tất cả thây phá giới; Phát Quang địa bỏ rời sanh tử giả của thế gian; Diệm Huệ địa đồng một vị với công đức của Phật; Nan Thắng địa xuất sanh vô lượng phương tiện thần thông làm thành những trân bửu của thế gian; Hiện Tiền địa quán sát lý duyên sanh rất sâu; Viễn Hành địa giác huệ rộng lớn khéo quán sát; Bất Động địa thị hiện sự trang nghiêm rộng lớn; Thiện Huệ địa được thâm giải thoát du hành thế gian biết đúng như thật chẳng quá hạn; Pháp Vân địa có thể lãnh thọ tất cả đại pháp của Như Lai không hề nhàm đủ.
Chư Phật tử!  Ví như châu đại ma ni có mười đặc tánh hơn hẳn các thứ châu báu khác.  Đây là mười đặc tánh:  Một là xuất sanh từ đại hải; hai là thợ khéo trau dồi; ba là tròn đầy không thuyết; bốn là trong sạch không bợn; năm là trong ngoài sáng suốt; sáu là dùi lỗ rất khéo; bảy là xỏ bằng dây báu; tám là đặt trên tràng cao bằng lưu ly; chín là phóng ra đủ loại ánh sáng chiếu khắp nơi; mười là có thể theo ý nhà vua mà mưa các loại châu báu và vật dụng làm thỏa mãn tâm nguyện của nhân dân.
Chư Phật tử!  Bồ Tát đây cũng như vậy, vì có mười sự nên hơn các bậc thánh khác.  Đây là mười sự: Một là phát nhất thiết trí; hai là trì giới đầu đà chánh hạnh sáng sạch; ba là các thiền tam muội viên mãn không khuyết; bốn là đạo hạnh thanh bạch lìa các cấu uế; năm là phương tiện thần thông trong ngoài sáng suốt; sáu là duyên khởi trí huệ hay khéo dùi xỏ; bảy là xâu bằng giây phương tiện trí; tám là để trên tràng cao tự tại; chín là quán hạnh chúng sanh mà phóng quang minh văn trí; mười là thọ chức Phật trí dự ở hàng Phật có thể vì chúng sanh rộng làm Phật sự.
Chư Phật tử!  Đây là Bồ Tát hạnh pháp môn phẩm nhóm họp công đức nhất thiết chủng, nhất thiết trí.  Nếu chúng sanh chẳng vun trồng thiện căn thời chẳng được nghe."
Giải Thoát Nguyệt Bồ Tát hỏi: "Nghe  pháp môn này thời được bao nhiêu phước?"
Kim Cang Tạng Bồ Tát nói: "Như phước đức của nhất thiết trí tập họp, nghe pháp môn này phước đức cũng như vậy.  Vì chẳng phải nghe công đức pháp môn này mà có thể tin hiểu thọ trì đọc tụng, huống là tinh tấn tu hành đúng như lời.  Do đây nên biết rằng cần phải được nghe tập họp nhất thiết trí công đức pháp môn này mới có thể tin hiểu thọ trì tu tập, rồi sau mới đến bậc nhất thiết trí."
Bấy giờ, do thần lực của Phật và do pháp như vậy, nên mười phương đều có mười ức Phật độ vi trần số thế giới chấn động đủ mười tám tướng.  Những là động, biến động, đẳng biến động nhẫn đến kích, biến kích, đẳng biến kích.  Trên không khắp nơi mưa thiên hoa, thiên man, thiên y, thiên bửu trang nghiêm, thiên tràng phan, thiên thắng cái.  Nhạc trời hòa tấu âm thanh hòa nhã, đồng thời phát ra tiếng ca ngợi công đức của bậc nhất thiết trí.
Tất cả thế giới khắp mười phương cũng đồng diễn thuyết pháp trên đây như ở vương cung Tha Hóa Tự Tại Thiên nơi thế giới này.
Lại do thần lực của Phật, ngoài mười ức phật sát vi trần số thế giới ở mười phương, có mười ức phật sát vi trần số Bồ Tát đến đại hội này đồng nói như vầy:  "Lành thay!  Lành thay!  Kim Cang Tạng Bồ Tát hay nói pháp này.  Chúng tôi cũng đồng tên Kim Cang Tạng ở thế giới khác nhau nhưng đồng tên Kim Cang Tạng, Phật đồng hiệu Kim Cang Tràng, chúng tôi ở tại bản quốc đều thừa oai lực của Như Lai mà nói pháp này, hội chúng đều đồng như đây, văn tự cú nghĩa cũng không khác.  Chúng tôi đều nương thần lực của Phật đồng đến đây để chứng minh cho ngài."
Kim Cang Tạng Bồ Tát quan sát tất cả hội chúng khắp mười phương pháp giới, muốn tán thán phát tâm nhất thiết chủng trí, muốn thị hiện cảnh giới Bồ Tát, muốn tu tập hạnh lực của Bồ Tát, muốn thuyết nhiếp thủ đạo nhất thiết chủng trí, muốn trừ diệt tất cả cấu nhiễm thế gian, muốn ban cho nhất thiết trí, muốn thị hiện sự trang nghiêm của trí bất tư nghì, muốn hiển thị những công đức của tất cả Bồ Tát, muốn cho ý nghĩa của thập địa đây càng thêm sáng tỏ, nên thừa thần lực của Phật mà nói kệ rằng:
Tâm đó tịch diệt hằng điều thuận
Bình đẳng vô ngại như hư không
Lìa thân cấu trược trụ nơi đạo
Thắng hạnh này, Phật tử nên nghe.
Trăm ngàn ức kiếp tu điều lành
Cúng dường vô lượng vô biên Phật
Cũng cúng Thanh Văn Độc Giác tăng
Vì lợi ích chúng sanh phát tâm lớn.
Tinh cần trì giới thường nhu nhẫn
Tàm quý phước trí đều đầy đủ
Chí cầu Phật trí tu huệ lớn
Mong được thập lực nên phát tâm
Cúng dường khắp tam thế chư Phật
Nghiêm tịnh khắp mười phương quốc độ
Biết rõ các pháp đều bình đẳng
Vì lợi ích chúng sanh phát tâm lớn.
Trụ bậc sơ địa sanh tâm này
Rời hẳn điều ác thường hoan hỷ
Nguyện lực rộng tu những pháp lành
Do lòng bi mẫn nhập nhị địa.
Giới, văn đầy đủ thương chúng sanh
Rửa trừ nhơ bợn tâm sáng sạch
Quán sát thế gian lửa tham sân
Bậc trí quảng đại lên tam địa.
Tất cả ba cõi đều vô thường
Như trúng tên độc thân đau khổ
Nhàm bỏ hữu vi cầu Phật pháp
Bậc trí quảng đại nhập tứ địa.
Niệm huệ đầy đủ được đạo trí
Cúng dường trăm ngàn vô lượng Phật
Thường quán những công đức tối thắng
Bậc này tiến nhập Nan Thắng địa.
Trí huệ phương tiện khéo quán sát
Thị hiện mọi cách cứu chúng sanh
Cúng dường thập lựv Vô Thượng Tôn
Tiến lên vô sanh Hiện Tiền địa.
Thế gian khó biết mà biết được
Chẳng thọ ngã nhân lìa có không
Pháp tánh bản tịch, tuỳ duyên chuyển
Được diệu pháp này lên thất địa.
Trí huệ phương tiện tâm rộng lớn
Khó làm, khó phục, khó biết rõ
Dầu chứng tịch diệt siêng tu tập
Lên bậc như không Bất Động địa.
Phật khuyên khiến từ tịch diệt khởi
Rộng ru trí hạnh đủ các môn
Đủ mười tự tại quán thế gian
Do đây được lên Thiện Huệ địa.
Dùng trí vi diệu quán chúng  sanh
Tâm hành, nghiệp, hoặc những rừng rậm
Vì muốn độ họ vào Phật đạo
Nên nói thắng nghĩa tạng của Phật
Tuần tự tu hành đủ hạnh lành
Nhẫn đến cửu địa gồm phước huệ
Thường cầu pháp tối thượng của Phật
Được Phật trí thủy dùng quán đảnh
Chứng được vô số môn tam muội
Cũng biết rành được công lực kia
Tam muội sau cùng tên Thọ Chức
Trụ cảnh quảng đại luôn bất động.
Lúc Bồ Tát được tam muội này
Đại bửu liên hoa bỗng nhiên hiện
Thân ngồi trên đó xứng cùng hoa
Phật tử vây quanh đồng chiêm ngưỡng
Phóng đại quang minh trăm ngàn ức
Diệt trừ tất cả khổ chúng sanh
Lại nơi trên đảnh phóng quang minh
Chiếu khắp mười phương các Phật hội,
Dừng giữa hư không làm lưới sáng
Cúng dường Phật xong, từ chân vào
Tức thời chư Phật đều rõ biết:
Nay Bồ Tát này lên thập địa.
Mười phương Bồ Tát đến quán sát
Đại sĩ thọ chưc phóng quang minh
Chặn mày chư Phật cũng phóng quang
Chiếu khắp mọi nơi, nhập vào đảnh
Mười phương thế giới đều chấn động
Tất cả địa ngục đều diệt khổ
Bấy giờ chư Phật trao chức cho
Như Chuyển Luân Vương phong thái tử.
Nếu được chư Phật quán đảnh cho
Bồ Tát này gọi là Pháp Vân địa
Trí huệ thêm lớn không ngằn mé
Khai ngộ tất cả khắp thế gian.
Dục giới, sắc giới, vô sắc giới
Hữu số, vô số và hư không
Tất cả như vậy đều thông đạt.
Tất cả hóa dụng oai lực lớn
Chư Phật gia trì trí vi tế
Kiếp số bí mật, mao đạo trí,
Đều hay quán sát đúng như thật.
Thọ sanh, xả tục, thành chánh đạo
Chuyển diệu pháp luân nhập niết bàn
Nhẫn đến tịch diệt pháp giải thoát
Và chỗ chưa nói đều biết được.
Bồ Tát trụ bậc Pháp Vân địa
Đầy đủ niệm lực trì Phật pháp,
Ví như đại hải nhận nước mưa
Bậc này thọ pháp cũng như vậy.
Mười phương vô lượng các chúng sanh
Đều được văn trì thọ Phật pháp
Nơi một đức Phật được nghe pháp
Hơn cả số trên vô lượng số.
Do bổn trí nguyện oai thần lực
Một niệm khắp cùng mười phương cõi
Rưới mưa cam lồ diệt phiền não
Do đây Phật nói hiệu Pháp Vân.
Thần thông thị hiện khắp mười phương
Vượt hơn cảnh giới trời người thảy
Lại hơn số này vô lượng ức
Thế trí suy lường ắt mê loạn.
Trí lượng công đức một cất chân
Đến bậc cửu địa vẫn chẳng biết,
Huống là thanh văn, bích chi phật
Cùng với tất cả loài chúng sanh!
Bậc Bồ Tát này cúng dường Phật
Cùng khắp cõi nước ở mười phương
Cũng cúng dường thánh chúng hiện tiền
Trang nghiêm đầy đủ Phật công đức.
Trụ ở bậc này lại vì nói
Tam thế pháp giới trí vô ngại
Chúng sanh, quốc độ đều cũng vậy
Nhẫn đến tất cả Phật công đức.
Bồ Tát thập địa trí quang minh
Khai thị chúng sanh:  Đường chánh pháp
Sáng tự tại thiên trừ thế ám
Trí quang diệt ám cũng như vậy.
Bậc này thường làm vua ba cõi
Khéo hay diễn thuyết pháp tam thừa
Vô lượng tam muội một niệm được
Được thấy chư Phật cũng như vậy.
Nay tôi lược nói thập địa rồi
Nếu muốn nói rộng không thể hết.
Các địa như vậy trong Phật trí
Như mười sơn vương cao vọi vọi
Sơ địa nghề nghiệp vô cùng tận
Ví như Tuyết sơn chứa dược thảo
Nhị địa giới văn chư Hương sơn,
Tam địa: Tỳ sơn phát diệu hoa,
Diệm Huệ đạo bửu vô cùng tận
Ví như Tiên sơn, chư tiên ở
Ngũ địa thần thôn như Càn sơn,
Lục địa:  Mã sơn đủ loại trái,
Thất địa huệ lớn như Ni sơn,
Bát địa tự tại như Luân Vi,
Cửu địa vô ngại như Kế Đô
Thập địa đủ đức như Tu Di,
Sơ địa:  Nguyện lớn, Nhị: Trì giới,
Tam địa:  Công đức, Tứ: Chuyên nhất
Ngũ địa: Vi diệu, Lục: Thậm thâm
Thất địa: Đại huệ, Bát: Trang nghiêm
Cửu địa tư duy nghĩa vi diệu
Vượt hơn tất cả đạo thế gian,
Thập địa thọ trì pháp chư Phật
Biển hạnh như vậy không cạn hết.
Mười hạnh xuất thế:  Phát tâm trước,
Trì giới thứ hai, thiền thứ ba,
Thứ tư hạnh tịnh, năm: thành tựu
Thứ sáu: duyên sanh, bảy: sâu suốt,
Thứ tám: để trên tràng kim cang,
Thứ chín: quán sát những trù lâm,
Thứ mười quán đảnh tuỳ vương ý,
Đức bửu như vậy lần thanh tịnh.
Mười phương cõi nước nghiền làm bụi
Một niệm biết được số bao nhiêu,
Lông đo không gian biết số lượng,
Ức kiếp nói Địa không thể hết.

Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-12-15 05:03:26canary>
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 5

Phẩm thập định 
Thứ hai mươi bảy



Bấy giờ, đức Thế Tôn ở trong đạo tràng bồ đề tại nước Ma Kiệt Đề vừa thành bậc chánh giác, nơi điện Phổ Quang Minh nhập tam muội tên Sát Na Tế Chư Phật, dùng sức nhất thiết trí tự tại thần thông hiện thân Như Lai thanh tịnh vô ngại không chỗ y tựa, không chỗ nhiễm trước, có thể làm cho người thấy đều được khai ngộ.  Tuỳ nghi xuất hiện chẳng lỗi thời.  Hằng trụ một tướng, chính là vô tướng.  Cùng với mười phật sát vi trần số đại Bồ Tát câu hội.  Chư Bồ Tát này đều là bậc quán đảnh đầy đủ hạnh Bồ Tát đồng như pháp giới vô lượng vô biên, đã được Phổ Kiến tam muội, đại bi an ổn tất cả chúng sanh, thần thông tự tại, thâm nhập trí huệ đồng với Như Lai, diễn nghĩa chân thật, đủ nhất thiết trí hàng phục chúng ma.  Dầu nhập thế gian mà tâm luôn tịch tịnh, an trụ nơi giải thoát vô trụ của Bồ Tát.  Danh hiệu của các người là:  Kim Cang Huệ Bồ Tát, Vô Đẳng Huệ Bồ Tát, Nghĩa Ngữ Huệ Bồ Tát, Tối Thắng Huệ Bồ Tát, Thường Xả Huệ Bồ Tát, Na Dà Huệ Bồ Tát, Thành Tựu Huệ Bồ Tát, Điều Thuận Huệ Bồ Tát, Đại Lực Huệ Bồ Tát, Nan Tư Huệ Bồ Tát, Vô Ngại Huệ Bồ Tát, Tăng Thượng Huệ Bồ Tát, Phổ Cúng Huệ Bồ Tát, Như Lý Huệ Bồ Tát, Thiện Xảo Huệ Bồ Tát, Pháp Tự Tại Huệ Bồ Tát, Pháp Huệ Bồ Tát, Tịch Tịnh Bồ Tát, Hư Không Huệ Bồ Tát, Nhất Tướng Huệ Bồ Tát, Thiện Huệ Bồ Tát, Như Huyễn Huệ Bồ Tát, Quảng Đại Huệ Bồ Tát, Thế Lực Huệ Bồ Tát, Thế Gian Huệ Bồ Tát, Phật Địa Huệ Bồ Tát, Chân Thật Huệ Bồ Tát, Tôn Thắng Huệ Bồ Tát, Niệm Trang Nghiêm Bồ Tát, Đạt Không Tế Bồ Tát, Tánh Trang Nghiêm Bồ Tát, Thậm Thâm Cảnh Bồ Tát, Thiện Giải Xứ Phi Xứ Bồ Tát, Đại Quang Minh Bồ Tát, Thường Quang Minh Bồ Tát, Liễu Phật Chủng Bồ Tát, Tâm Vương Bồ Tát, Nhất Hạnh Bồ Tát, Thường Hiện Thần Thông Bồ Tát, Trí Huệ Nha Bồ Tát, Công Đức Xứ Bồ Tát, Pháp Đăng Bồ Tát, Chiếu Thế Bồ Tát, Trì Thế Bồ Tát, Tối An Ổn Bồ Tát, Tối Thượng Bồ Tát, Vô Thượng Bồ Tát, Vô Tỉ Bồ Tát, Siêu Luân Bồ Tát, Vô Ngại Hạnh Bồ Tát, Quang Minh Diệm Bồ Tát, Nguyệt Quang Bồ Tát, Nhất Trần Bồ Tát, Kiên Cố Hạnh Bồ Tát, Chú Pháp Vũ Bồ Tát, Tối Thắng Tràng Bồ Tát, Phổ Trang Nghiêm Bồ Tát, Trí Nhãn Bồ Tát, Pháp Nhãn Bồ Tát, Huệ Vân Bồ Tát, Tổng Trì Vương Bồ Tát, Vô Trụ Nguyện Bồ Tát, Trí Tạng Bồ Tát, Tâm Vương Bồ Tát, Nội Giác Huệ Bồ Tát, Trụ Phật Trì Bồ Tát, Đà La Ni Dũng Kiện Lực Bồ Tát, Trì Địa Lực Bồ Tát, Diệu Nguyệt Bồ Tát, Tu Di Đảnh Bồ Tát, Bửu Đảnh Bồ Tát, Phổ Quang Chiếu Bồ Tát, Oai Đức Vương Bồ Tát, Trí Huệ Luân Bồ Tát, Đại Oai Đức Bồ Tát, Đại Long Tướng Bồ Tát, Chất Trực Hạnh Bồ Tát, Bất Thối Chuyển Bồ Tát, Trì Pháp Tràng Bồ Tát, Vô Vong Thất Bồ Tát, Nhiếp Chư Thú Bồ Tát, Bất Tư Nghì Quyết Định Huệ Bồ Tát, Du Hí Vô Biên Trí Bồ Tát, Vô Tận Diệu Pháp Tạng Bồ Tát, Trí Nhật Bồ Tát, Pháp Nhật Bồ Tát, Trí Tạng Bồ Tát, Trí Trạch Bồ Tát, Phổ Kiến Bồ Tát, Bất Không Kiến Bồ Tát, Kim Cang Dũng Bồ Tát, Kim Cang Trí Bồ Tát, Kim Cang Diệm Bồ Tát, Kim Cang Huệ Bồ Tát, Phổ Nhãn Bồ Tát, Phật Nhật Bồ Tát, Trì Phật Kim Cang Bí Mật Nghĩa Bồ Tát, Phổ Nhãn Cảnh Giới Trí Trang Nghiêm Bồ Tát, v.v...  Mười phật sát vi trần số đại Bồ Tát như vậy, thuở xưa đều cùng với đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai đồng tu những thiện căn hạnh của Bồ Tát.
Bấy giờ, Phổ Nhãn Bồ Tát thừa thần lực của Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch y vai bên hữu, gối bên hữu quỳ sát đất, chấp tay bạch Phật rằng:  "Bạch đức Thế Tôn!  Con có chỗ muỗn hỏi nơi đấng Như Lai đẳng chánh giác, xin thương xót cho phép."
Phật nói: "Phổ nhãn!  Cho phép ngươi hỏi.  Ta sẽ giải thuyết cho ngươi được hoan hỷ."
Phổ Nhãn Bồ Tát thưa: "Bạch đức Thế Tôn!  Phổ Hiền Bồ Tát và chúng Bồ Tát an trụ nơi hạnh nguyện Phổ Hiền, thành tựu bao nhiêu tam muội giải thoát, mà hoặc nhập, hoặc xuất, hoặc có lúc an trụ nơi các đại tam muội của Bồ Tát.  Vì khéo nhập xuất nơi các đại tam muội quảng đại bất tư nghì của Bồ Tát nên có thể ở nơi tất cả tam muội thần thông biến hóa tự tại không thôi nghỉ?"
Phật nói: "Lành thay!  Này Phổ Nhãn!  Người vì lợi ích cho chúng Bồ Tát thuở quá khứ, vị lai và hiện tại mà hỏi nghĩa trên đây.
Này Phổ Nhãn!  Phổ Hiền Bồ Tát hiện đương ở tại đây, đã thành tựu thần thông tự tại bất tư nghì vượt lên trên tất cả Bồ Tát, khó gặp gỡ được.  Từ nơi vô lượng Bồ Tát hạnh, Phổ Hiền phát sanh Bồ Tát đại nguyện, những công hạnh đều đã thanh tịnh, đều không thối chuyển.  Vô lượng môn ba la mật, môn vô ngại đà la ni, môn biện tài vô tận Phổ Hiền đều đã thanh tịnh vô ngại cả.  Do bổn nguyện lực, Phổ Hiền vận lòng đại bi lợi ích tất cả chúng sanh suốt thuở vị lai không hề nhàm mỏi.
Ngươi nên hỏi Phổ Hiền.  Bồ Tát ấy sẽ vì ngươi mà nói về tam muội tự tại giải thoát đó."
Bấy giờ, chúng Bồ Tát trong hội nghe danh hiệu Phổ Hiền, tức thời chứng được vô lượng bất tư nghì tam muội, tâm được vô ngại yên tịnh chẳng động, trí huệ rộng lớn khó dò lường được, cảnh giới rất sâu ít ai sánh kịp, hiện tiền đều thấy vô lượng chư Phật, được Phật lực, đồng Phật tánh, chiếu sáng suốt ba thuở quá khứ, vị lai, hiện tại.  Được phước đức vô cùng tận, tất cả thần thông đều đã đầy đủ.
Chư Bồ Tát này đối với Phổ Hiền Bồ Tát sanh lòng tôn trọng khát ngưỡng muốn thấy, nhưng nhìn khắp mọi nơi mà vẫn không thấy, cũng chẳng thấy tòa ngồi của Phổ Hiền Bồ Tát.
Sự không thấy Phổ Hiền Bồ Tát của đại chúng trên đây là do oai lực của Như Lai và cũng là thần thông tự tại của Phổ Hiền Bồ Tát khiến như vậy.
Phổ Nhãn Bồ Tát thưa: "Bạch đức Thế Tôn!  Phổ Hiền Bồ Tát hiện nay ở đâu?"
Phật nói: "Này Phổ Nhãn!  Phổ Hiền Bồ Tát hiện đương ngồi gần bên ta không hề dời chỗ."
Phổ Nhãn Bồ Tát và chư Bồ Tát lại ngó tìm khắp cả hội trường rồi thưa: "Bạch đức Thế Tôn!  Nay chúng con vẫn chưa thấy được thân và tòa ngồi của Phổ Hiền Bồ Tát."
Phật nói: "Đúng thế!  Vì cớ chi mà các ngươi chẳng thấy được?  Này Phổ Nhãn!  Vì trụ xứ của Phổ Hiền Bồ Tát rất sâu bất khả thuyết.  Phổ Hiền Bồ Tát được vô biên môn trí huệ, nhập sư tử phấn tấn định, được lực dụng tự tại vô thượng, vào nơi vô ngại thanh tịnh sanh mười trí lực của Như Lai, lấy pháp giới tạng làm thân, tất cả Như Lai đồng hộ niệm, khoảng một niệm có thể chứng nhập trí vô sai biệt của tam thế chư Phật.  Ví thế nên các ngươi không thấy được."
Phổ Nhãn Bồ Tát nghe Phật nói công đức thanh tịnh của Phổ Hiền Bồ Tát liền được mười ngàn vô số tam muội.  Dùng sức tam muội lại khát ngưỡng quán sát muốn thấy Phổ Hiền Bồ Tát, nhưng cũng vẫn chẳng thấy.  Tất cả chư Bồ Tát khác cũng chẳng thấy.
Bấy giờ, Phổ Nhãn Bồ Tát xuất tam muội thưa: "Bạch đức Thế Tôn!  Con đã nhập mười ngàn vô số tam muội cầu thấy Phổ Hiền Bồ Tát, nhưng vẫn chẳng được thấy.  Chẳng thấy thân và thân nghiệp, ngữ và ngữ nghiệp, ý và ý nghiệp, cùng tòa ngồi chỗ ở của Phổ Hiền Bồ Tát."
Phật nói: "Đúng thế!  Đúng thế!  Này Phổ Nhãn!  Phải biết đều do Phổ Hiền Bồ Tát an trụ trong sức bất tư nghì giải thoát.
Này Phổ Nhãn!  Như ý ngươi nghĩ sao?  Có người nào nói được trụ xứ của các huyễn tướng ở trong huyễn thuật văn tự chăng?"
"Bạch Thế Tôn!  Không thể nói được."
"Này Phổ Nhãn!  Tướng huyễn trong huyễn thuật còn không thể nói, huống là cảnh giới thân bí mật, cảnh giới ngữ bí mật và cảnh giới ý bí mật của Phổ Hiền mà có thể nhập có thể thấy được.  Vì cảnh giới của Phổ Hiền Bồ Tát thậm thâm bất tư nghì, vô lượng, đã ngoài hạn lượng.
Tóm lại, Phổ Hiền Bồ Tát dùng kim cang huệ vào khắp pháp giới, nơi tất cả thế giới:  Vô sở hành, vô sở trụ.  Biết thân của tất cả chúng sanh đều tức là phi thân, không đi không đến.  Được không đoạn diệt vô sai biệt thần thông tự tại.  Không y tựa, không tạo tác không động chuyển, đến nơi biên tế rốt ráo của pháp giới.
Này Phổ Nhãn!  Nếu ai được thấy Phổ Hiền Bồ Tát, nếu được hầu hạ, nếu được nghe danh, nếu có tư duy, nếu có tưởng nhớ, nếu sanh tín giải, nếu siêng quán sát, nếu mới xu hướng, nếu đương tìm cầu, nếu phát thệ nguyện tiếp nối không dứt thời đều được lợi ích không luống uổng."
Bấy giờ, Phổ Nhãn và chúng Bồ Tát đối với Phổ Hiền Bồ Tát sanh lòng khát ngưỡng trông mong được thấy, đồng xướng lên rằng: "Nam mô nhất thiết chư Phật!  Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát!"
Xướng ba lần như thế xong, chúng Bồ Tát và Phổ Nhãn đồng cúi đầu đảnh lễ.
Phật bảo Phổ Nhãn Bồ Tát và đại chúng: "Chư Phật tử!  Các ngươi lại phải kính lễ Phổ Hiền Bồ Tát ân cần cầu thỉnh.  Rồi phải chuyên tâm quan sát mười phương, tưởng thân Phổ Hiền hiện ở trước mình.  Suy gẫm như vậy khắp cả pháp giới, thâm tâm tín giải, nhàm lìa tất cả, thệ đồng một hạnh nguyện với Phổ Hiền Bồ Tát vào nơi pháp chân thật bất nhị, thân mình hiện khắp tất cả thế gian, biết rõ các căn tánh sai biệt của chúng sanh, khắp mọi nơi tập họp đạo Phổ Hiền.
Nếu các ngươi có thể phát đại nguyện như vậy thời sẽ được thấy Phổ Hiền Bồ Tát."
Nghe Phật dạy xong, Phổ Nhãn Bồ Tát và đại chúng đồng thời đảnh lễ cầu thỉnh được thấy Phổ Hiền Bồ Tát.
Bấy giờ, Phổ Hiền Bồ Tát liền dùng sức giải thoát thần thông theo chỗ đáng hiện mà hiện sắc thân, làm cho tất cả chúng Bồ Tát đều thấy Phổ Hiền Bồ Tát ngồi trên tòa liên hoa gần đức Như Lai.  Cũng thấy nơi tất cả thế giới khác, chỗ tất cả chư Phật, Phổ Hiền Bồ Tát tuần tự nối tiếp mà đến.  Cũng thấy nơi tất cả chư Phật kia diễn thuyết tất cả hạnh Bồ Tát khai thị đạo nhất thiết chủng trí xiển minh tất cả thần thông của Bồ Tát, phân biệt tất cả oai đức của Bồ Tát thị hiện tất cả tam thế chư Phật.
Bấy giờ, Phổ Nhãn và chúng Bồ Tát thấy thần biến này, lòng hớn hở và rất vui mừng, đều đảnh lễ Phổ Hiền Bồ Tát tôn trọng xem như tất cả chư Phật mười phương.
Do thần lực của Phật và do sức tín giải của chúng Bồ Tát cùng với sức bản nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát tự nhiên kết tụ mười ngàn thứ mây báu:  Những mây hoa, mây tràng hoa, mây hương, mây hương bột, mây lọng, mây y phục, mây đồ trang nghiêm, mây trân bửu, mây hương đốt, mây lụa màu.
Bất khả thuyết thế giới chấn động sáu cách, trổi các thứ nhạc trời, tiếng vang xa đến bất khả thuyết thế giới.  Phóng quang minh chiếu khắp bất khả thuyết thế giới làm cho ba ác đạo đều được thoát khổ.  Nghiêm tịnh bất khả thuyết thế giới làm cho bất khả thuyết Bồ Tát nhập hạnh Phổ Hiền, bất khả thuyết Bồ Tát viên mãn hạnh nguyện Phổ Hiền thành bậc vô thượng chánh giác.
Phổ Nhãn Bồ Tát thưa:  "Bạch đức Thế Tôn!  Phổ Hiền Bồ Tát là bậc trụ nơi oai đức lớn, trụ nơi vô đẳng, trụ nơi vô quá, trụ nơi bất thối, trụ nơi bình đẳng, trụ nơi bất hoại, trụ nơi tất cả pháp sai biệt, trụ nơi tất cả pháp vô sai biệt, trụ nơi tất cả chúng sanh tâm thiện xảo an trụ, trụ nơi tất cả pháp tự tại giải thoát tam muội."
Phật nói: "Đúng thế!  Đúng thế!  Như lời ngươi đã nói.  Phổ Hiền Bồ Tát có vô số công đức thanh tịnh.  Những là vô đẳng trang nghiêm công đức, vô lượng bửu công đức, bất tư nghì hải công đức, vô lượng tướng công đức, vô biên vân công đức, vô biên tế bất khả xưng tán công đức, vô tận pháp công đức, bất khả thuyết công đức, nhất thiết Phật công đức, xưng dương tán thán bất khả tận công đức."
Phật bảo Phổ Hiền Bồ Tát rằng: "Phổ Hiền!  Ngươi nên vì Phổ Nhãn và chúng Bồ Tát trong đại hội mà nói mười đại tam muộ, cho họ được khéo nhập và thành tựu viên mãn hạnh nguyện của Phổ Hiền.
Vì chư đại Bồ Tát nói mười đại tam muội này khiến quá khứ Bồ Tát đã được xuất ly, hiện tại Bồ Tát đương được xuất ly, vị lai Bồ Tát sẽ được xuất ly.
Đây là mười:  Một là phổ quang đại tam muội, hai là diệu quang đại tam muội, ba là thứ đệ biến vãng chư Phật quốc độ đại tam muội, bốn là thanh tịnh thâm tâm hành đại tam muội, năm là tri quá khứ trang nghiêm tạng đại tam muội, sáu là trí quang minh tạng đại tam muội, bảy là nhiễu tri nhất thiết thế giới Phật trang nghiêm đại tam muội, tám là chúng sanh sai biệt thân đại tam muội, chín là pháp giới tự tại đại tam muội, mười là vô ngại luân đại tam muội.
Chư đại Bồ Tát mới có thể khéo nhập mười đại tam muội này.  Tam thế chư Phật đã nói, sẽ nói và nay đương nói.  Nếu chư Bồ Tát mến thích tôn trọng tu tập mười đại tam muội này không trễ nải, thời được thành tựu.  Những bậc này gọi là Phật, là Như Lai, cũng gọi là đấng được mười trí lực, là đấng Đạo Sư, đấng Đại Đạo Sư, là Nhất Thiết Trí, là Nhất Thiết Kiến, là Trụ Vô Ngại, là Đạt Chư Cảnh, là Nhất Thiết Pháp Tự Tại.
Bậc Bồ Tát này vào khắp tất cả thế giới mà không chấp trước thế giới, vào khắp tất cả chúng sanh giới mà không thấy tướng chúng sanh, vào khắp tất cả thân mà nơi thân được vô ngại, vào khắp tất cả pháp giới mà biết pháp giới là vô biên, gần gũi tất cả tam thế chư Phật, thấy rõ tất cả pháp của chư Phật, khéo nói tất cả văn tự, thấu rõ tất cả giả danh, thành tựu đạo thanh tịnh của tất cả Bồ Tát, an trụ tất cả hạnh sai biệt của Bồ Tát, trong một niệm được khắp tất cả pháp tam thế, nói khắp tất cả giáo pháp của chư Phật, chuyển khắp tất cả pháp luân bất thối, nơi quá khứ, vị lai, hiện tại mỗi mỗi đời chứng khắp tất cả đạo bồ đề, nơi trong mỗi mỗi bồ đề này rõ khắp chỗ thuyết pháp của tất cả Phật.
Trên đây là môn pháp tướng của chư Bồ Tát, là môn trí giác của chư Bồ Tát, là môn nhất thiết chủng trí vô thắng tràng, là môn các hạnh nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát, là môn mãnh lợi thần thông thệ nguyện, là môn nhất thiết tổng trì biện tài, là môn tam thế chư pháp sai biệt, là môn nhất thiết chư Phật thị hiện, là môn dùng nhất thiết trí an lập tất cả chúng sanh, là môn dùng Phật thần lực nghiêm tịnh tất cả thế giới.
Nếu Bồ Tát nhập đại tam muội này được pháp giới lực vô cùng tận, được hư không hạnh vô ngại, được pháp vương vị vô lượng tự tại như ngôi quán đảnh thọ chức của thế gian, được vô biên trí thông đạt tất cả, được quảng đại lực viên mãn mười thứ, thành tâm vô tránh nhập tịch diệt tế, đại bi vô úy dường như sư tử, là trượng phu trí huệ thắp đèn chánh pháp sáng, khen không thể hết tất cả công đức, hàng Thanh Văn Duyên Giác chẳng nghĩ bàn đến được.
Bồ Tát này được pháp giới trí, trụ vô động tế mà hay tùy khai diễn các pháp.  Trụ nơi vô tướng khéo vào pháp tướng.  Được tự tánh thanh tịnh tạng sanh nhà Như Lai thanh tịnh, khéo mở các pháp môn sai biệt mà dùng trí huệ rõ vô sở hữu.  Khéo biết thời tiết để thường thực hành pháp thí khai ngộ tất cả, gọi là Trí Giả.  Nhiếp khắp chúng sanh đều làm cho thanh tịnh.  Dùng trí phương tiện thị hiện thành Phật đạo mà thường tu hành hạnh Bồ Tát không cùng tận.  Nhập cảnh giới nhất thiết trí phương tiện thị hiện các môn thần thông quảng đại.
Vì thế nên này Phổ Hiền!  Nay ngươi phải nên phân biệt nói rộng mười đại tam muội của tất cả Bồ Tát.  Nay chúng hội này đều mong được nghe."
Bấy giờ, Phổ Hiền Bồ Tát thừa ý chí của Như Lai, quán sát Phổ Nhãn và chúng Bồ Tát mà nói rằng: "Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này có mười pháp môn vô tận.  Đây là mười:  Một là chư Phật xuất hiện trí vô tận, hai là chúng sanh biến hóa trí vô tận, ba là thế giới như ảnh trí vô tận, bốn là thâm nhập pháp giới trí vô tận, năm là thiện nhiếp Bồ Tát trí vô tận, sáu là Bồ Tát bất thối trí vô tận, bảy là thiện quán nhất thiết pháp nghĩa trí vô tận, tám là thiện trì tâm lực trí vô tận, chín là trụ quảng đại bồ đề tâm trí vô tận, mười là trụ nhất thiết Phật pháp nhất thiết trí nguyện lực trí vô tận.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này phát mười môn vô biên tâm.  Đây là mười:  Một là phát tâm vô biên độ thoát tất cả chúng sanh, hai là phát tâm vô biên thừa sự tất cả chư Phật, ba là phát tâm vô biên cúng dường tất cả chư Phật, bốn là phát tâm vô biên thấy khắp tất cả chư Phật, năm là phát tâm vô biên thọ trì tất cả Phật pháp chẳng quên mất, sáu là phát tâm vô biên thị hiện vô lượng thần biến của tất cả chư Phật, bảy là phát tâm vô biên vì được Phật lực nên chẳng bỏ tất cả bồ đề hạnh, tám là phát tâm vô biên nhập khắp cảnh giới vi tế của nhất thiết trí diễn thuyết tất cả Phật pháp, chín là phát tâm vô biên nhập khăp cảnh giới quảng đại bất tư nghì của Phật, mười là phát tâm vô biên ham thích biện tài của Phật và lãnh thọ các Phật pháp, thị hiện những thân tự tại vào trong chúng hội đạo tràng của tất cả Như Lai.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này có mười môn nhập tam muội sai biệt trí.  Đây là mười:  Một là đông phương nhập định tây phương khởi, hai là tây phương nhập định không phương khởi, ba là nam phương nhập định bắc phương khởi, bốn là bắc phương nhập định đông phương khởi, năm là đông bắc phương nhập định tây nam phương khởi, sáu là tây nam phương nhập định đông bắc phương khởi, bảy là tây bắc phương nhập định đông nam phương khởi, tám là đông nam phương nhập định tây bắt phương khởi, chín là hạ phương nhập định thượng phương khởi, mười là thượng phương nhập định hạ phương khởi.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này có mười môn trí thiện xảo nhập đại tam muội.  Đây là trí thiện xảo nhập phổ quang minh đại tam muội thứ nhất của đại Bồ Tát:  Đại Bồ Tát lấy đại thiên thế giới làm một liên hoa, hiện thân ngồi kiết già khắp trên liên hoa này.  Trong thân lại hiện đại thiên thế giới, trong đó có trăm ức tứ thiên hạ, mỗi mỗi tứ thiên hạ hiện trăm ức thân, mỗi mỗi thân nhập trăm ức trăm ức đại thiên thế giới.  Nơi thế giới này, mỗi mỗi tứ thiên hạ hiện trăm ức Bồ Tát tu hành.  Mỗi mỗi Bồ Tát tu hành phát sanh trăm ức trăm ức thắng giải quyết định.  Mỗi mỗi quyết định giải làm cho trăm ức trăm ức căn tánh viên mãn.  Mỗi mỗi căn tánh thành tựu trăm ức trăm ức pháp hạnh bất thối của Bồ Tát.
Những thân đã thị hiện đây chẳng phải một, chẳng phải nhiều.  Nhập định và xuất định không bị lầm loạn.
Chư Phật tử!  Như Lai Hầu A Tu La Vương, bổn thân cao bảy trăm do tuần, hoá hình cao mười sáu vạn tám ngàn do tuần, đứng giữa đại hải lộ nửa thân cao ngang đỉnh núi tu di.  Dầu hóa thân cao mười sáu vạn tám ngàn do tuần, nhưng bản thân của A Tu La Vương vẫn không hư hoại, các uẩn xứ giới đều như cũ, tâm không lầm loạn, nơi thân biến hóa không nghĩ là thân khác, cũng không nghĩ bản thân là chẳng phải mình.  Bản thân luôn hưởng thọ các sự vui, mà thân biến hóa thường hiện các thứ tự tại thần thông oai lực.
Chư Phật tử!  A Tu La Vương có tham sân si, còn đủ tánh kiêu mạn còn có thể biến hiện thân mình như vậy, huống là đại Bồ Tát đã thân liễu đạt tâm pháp như huyễn, thế gian đều như mộng, chư Phật xuất thế đều như bóng hình, tất cả thế giới dường như biến hóa, ngôn ngữ âm thanh đều như vang, đã thấy pháp chân thật, dùng pháp như thật làm thân mình, biết tất cả pháp bản tánh thanh tịnh, rõ biết thân tâm không có thật thể, thân mình ở khắp vô lượng cảnh giới, dùng Phật trí quang minh quảng đại để tịnh tu tất cả hạnh bồ đề.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát trụ trong tam muội này vượt quá thế gian, xa lìa thế gian.  Không bị mê loạn, không ai che chướng được.
Chư Phật tử!  Như tỳ kheo quán sát thân mình trụ nơi quán bất tịnh, thấy kỹ thân mình đều là bất tịnh.
Cũng vậy, đại Bồ Tát trụ tam muội này quán sát pháp thân thấy các thế gian vào khắp trong thân mình, trong đó thấy rõ tất cả thế gian và pháp thế gian mà trọn không chấp trước.  Trên đây là trí thiện xảo nhập phổ quang minh tam muội thứ nhất.
Đây là diệu quang minh đại tam muội thứ hai của đại Bồ Tát:  Đại Bồ Tát này có thể nhập đại thiên thế giới vi trần số đại thiên thế giới.  Nơi mỗi mỗi thế giới hiện đại thiên thế giới vi trần số thân.  Mỗi mỗi thân phóng đại thiên thế giới vi trần số quang minh.  Mỗi mõi quang minh hiện đại thiên thế giới vi trần số màu sắc.  Mỗi mỗi màu sắc chiếu đại thiên thế giới vi trần số thế giới.  Trong mỗi mỗi thế giới điều phục đại thiên thế giới vi trần số chúng sanh.
Những thế giới này nhiều loại chẳng đồng, Bồ Tát điều biết rõ, đều nhập trong đó.  Những thế giới đó cũng đều đến nhập nơi thân của Bồ Tát, dầu vậy nhưng những thế giới đó vẫn không tạp loạn, các pháp cũng chẳng hoại diệt.
Chư Phật tử!  Ví như mặt nhật mọc lên chiếu núi tu di, chiếu bảy bửu sơn.  Bảy bửu sơn vào khoảng giữa bửu sơn đều có quang ảnh hiển hiện rõ ràng.  Bóng mặt nhật trên bửu sơn đều hiển hiện trong bóng giữa khoảng  bửu sơn.  Bóng  mặt nhật giữa khoảng bảy bửu sơn cũng đều hiển hiện trong bóng mặt nhật trên bửu sơn.  Xoay vần hiện bóng lẫn nhau như vậy.
Có người nói bóng mặt nhật hiện ra nơi bảy bửu sơn, có người nói bóng mặt nhật hiện ra nơi khoảng giữa bảy bửu sơn.  Có người nói bóng mặt nhật nhập vào bảy bửu sơn, có người nói bóng mặt nhật nhập vào khoảng giữa bảy bửu sơn.  Nhưng bóng mặt nhật này chiếu hiện lẫn nhau không có ngằn mé, thể tánh chẳng phải có cũng lại chẳng phải không.  Chẳng ở nơi bửu sơn cũng chẳng rời bửu sơn, chẳng trụ nơi nước cũng chẳng rời nước.
Chư Phật tử!  Cũng vậy, đại Bồ Tát trụ nơi diệu quang minh đại tam muội, chẳng hư hoại tướng an lập của thế gian, chẳng diệt mất tự tánh của pháp thế gian, chẳng trụ trong thế giới, chẳng trụ ngoài thế giới.  Đối với thế giới không chỗ phân biệt, cũng chẳng hư hoại tướng thế giới.  Quán tất cả pháp nhất tướng vô tướng cũng chẳng hư hoại tự tánh các pháp.  Trụ luôn nơi tánh chân như chẳng hề bỏ rời.
Chư Phật tử!  Ví như nhà huyễn thuật, biết giỏi về huyễn thuật làm các sự huyễn nói ngã tư đường, trong một ngày hay khoảng giây lát, hoặc hiện một ngày, hoặc hiện một đêm, hoặc hiện làm bảy ngày, bảy đêm, nửa tháng, một tháng, một năm, trăm năm.  Tuỳ theo ý muốn, nhà huyễn thuật này hiện ra thành ấp, xóm, làng, suối, ao, sông, biển, mặt nhật, mặt nguyệt, mây, mưa, cung điện, nhà cửa.
Chẳng vì huyễn hiện trải qua cả tháng cả năm mà hư hoại một ngày hay một giờ căn bản.  Cũng chẳng vì thời gian căn bản ngắn ngủi mà hư hoại năm tháng huyễn hiện.  Tướng huyễn hiện rõ, ngày giờ căn bản không mất.
Cũng vậy, đại Bồ Tát nhập diệu quang minh đại tam muội này hiện vô số thế giới vào một thế giới.  Vô số thế giới đó, mỗi mỗi thế giới đều có đất, nước, gió, lửa, đại hải, các núi, thành ấp, vườn rừng, nhà cửa, thiên cung, long cung, bát bộ cung điện, đủ cả mọi sự trang nghiêm.  Cũng có ba cõi:  Cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc.  Tiểu thiên thế giới, đại thiên thế giới, nghiệp hành quả báo, chết đây sanh kia, tất cả thời tiết của thế gian: Giờ, phút, ngày, đêm, tháng, năm, kiếp thành, kiếp hoại, cõi nước thanh tịnh, chúng Bồ Tát chầu chực thần thông tự tại, giáo hóa chúng sanh.  Khắp nơi trong các cõi nước đó có vô lượng nhân chúng khác loài khác tướng, vô lượng vô biên chẳng thể nghĩ bàn.  Nghiệp lực thanh tịnh thuở quá khứ vị lai hiện tại xuất sanh vô lượng trân bửu thượng diệu.  Những việc như trên đều thị hiện đủ cả vào nơi một thế giới.
Đại Bồ Tát ở nơi đây đều thấy rõ khắp cả, vào khắp, xem khắp, nghĩ khắp, rõ khắp.  Dùng trí vô tận đều biết như thật.  Chẳng vì những thế giới kia nhiều mà hư hoại một thế giới này.  Chẳng vì một thế giới này mà hư hoại nhiều thế giới kia.
Tại sao vậy?  Vì Bồ Tát biết tất cả pháp đều là vô ngã.  Đây gọi là nhập vô mạng pháp vô tác pháp.
Vì Bồ Tát nơi tất cả thế gian siêng tu hành pháp vô tránh nên gọi là bậc an trụ pháp vô ngã.  Vì Bồ Tát như thật thấy tất cả thân đều từ duyên khởi nên gọi là bậc an trụ pháp vô chúng sanh.  Vì Bồ Tát biết tất cả pháp sanh diệt đều từ nhân mà sanh nên gọi là bậc an trụ pháp vô bổ đặc dà la.  Vì Bồ Tát biết các pháp bản tánh bình đẳng nên gọi là bậc an trụ pháp vô ý sanh vô ma nạp bà.  Vì Bồ Tát biết các pháp bản tánh tịch tịnh nên gọi là bậc an trụ pháp tịch tịnh.  Vì Bồ Tát biết các pháp nhất tướng nên gọi là bậc an trụ pháp vô phân biệt.  Vì Bồ Tát biết pháp giới không có các thứ pháp sai biệt nên gọi là bậc an trụ pháp bất tư nghì.  Vì Bồ Tát siêng tu tất cả phương tiện giỏi điều phục chúng sanh nên gọi là bậc an trụ pháp đại bi.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có thể đem vô số thế giới nhập vào một thế giới, biết vô số chúng sanh nhiều loại khác nhau, thấy vô số Bồ Tát đều phát tâm, xem vô số chư Phật xuất hiện mọi nơi.  Chư Phật đây diễn nói bao nhiêu chánh pháp, các Bồ Tát đây đều lãnh thọ cả.  Cũng thấy thân mình tu hành trong các đạo tràng đó.
Dầu vậy, nhưng chẳng bỏ nơi đây mà thấy chỗ kia, cũng chẳng bỏ chỗ kia mà thấy tại đây.  Thân kia, thân đây không có sai biệt, vì nhập pháp giới vậy.
Thường siêng quán sát không thôi nghĩ chẳng bỏ rời trí huệ, vì chẳng thối chuyển vậy.
Như là huyễn thuật ở một nơi nào đó hiện các sự huyễn, chẳng vì nơi hiện huyễn sự mà hư hoại bản xứ, chẳng vì thời gian huyễn mà hư hoại ngày giờ căn bản.
Cũng vậy, đại Bồ Tát nơi không có quốc độ hiện ra quốc độ.  Nơi có quốc độ hiện không quốc độ.  Nơi có chúng sanh hiện không chúng sanh, nơi không chúng sanh hiện có chúng sanh.  Không sắc hiện có sắc, có sắc hiện không sắc.  Trước chẳng làm loạn sau, sau chẳng làm loạn trước.
Đại Bồ Tát biết tất cả pháp thế gian đều đồng như huyễn hóa.  Vì biết pháp huyễn nên biết trí huyễn.  Vì biết trí huyễn nên biết nghiệp huyễn.
Đã biết trí huyễn và nghiệp huyễn nên khởi huyễn trí xem tất cả nghiệp hư là huyễn thuật thế gian.  Chẳng xứ mà hiện huyễn, cũng ở ngoài bản chẳng ở ngoài huyễn mà có bản xứ.
Cũng vậy, đại Bồ Tát chẳng ở ngoài hư không mà nhập thế gian, cũng chẳng ở ngoài thế gian mà nhập hư không.  Tại sao vậy?  Vì hư không và thế gian không sai biệt, trụ nơi thế gian cũng trụ nơi hư không.
Đại Bồ Tát ở trong hư không hay thấy hay tu tất cả công nghiệp sai biệt diệu trang nghiêm của thế gian.  Khoảng một niệm đều rõ biết được vô số thế giới hoặc thành hoặc hoại, cũng biết các kiếp tuần tự nối tiếp.  Trong khoảng một niệm hiện vô số kiếp, nhưng cũng chẳng làm cho một niệm đó rộng lớn ra.
Đại Bồ Tát được huyễn trí giải thoát bất tư nghì, đến nơi bỉ ngạn, trụ nơi huyễn tế, nhập ở huyễn số thế gian, tư duy các pháp thảy đều như huyễn, chẳng trái huyễn thế, cùng tận nơi huyễn trí, rõ biết tam thế cùng huyễn không khác, thông đạt quyết định, tâm không ngằn mé.
Như chư Như Lai trụ trí như huyễn, tâm Phật bình đẳng.  Cũng vậy, đại Bồ Tát biết các thế gian thảy đều như huyễn, với tất cả chỗ đều không chấp trước, không có ngã sở.
Như là huyễn thuật hiện các sự huyễn, dầu chẳng đồng ở với các huyễn sự đó, nhưng vẫn không mê lầm đối với các huyễn sự.
Cũng vậy, đại Bồ Tát biết tất cả pháp đến rốt ráo bỉ ngạn, tâm chẳng chấp ngã hay nhập nơi pháp, cũng chẳng lầm loạn nơi các pháp.
Trên đây là trí thiện xảo diệu quang minh đại tam muội thứ hai của đại Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Thế nào là thứ đệ biến vãng chư Phật quốc độ thần thông đại tam muội của đại Bồ Tát?
Đại Bồ Tát này qua vô số thế giới phương đông, lại qua vô số thế giới vi trần số thế giới, nơi các thế giới đó nhập tam muội này.  Hoặc sát na nhập, hoặc giây lát nhập, hoặc nối tiếp nhập.  Hoặc sáng, hoặc trưa, hoặc chiều nhập.  Hoặc đầu hôm, giữa đêm, hoặc cuối đêm nhập.  Hoặc nhập một ngày, hoặc năm ngày, hoặc nửa tháng, một tháng.  Hoặc nhập một năm, trăm năm, ngàn năm.  Hoặc nhập trăm ngàn năm, ức năm, trăm ngàn ức năm, trăm ngàn na do tha ức năm.  Hoặc nhập một kiếp, trăm kiếp, trăm ngàn kiếp, trăm ngàn na do tha ức kiếp.  Hoặc nhập vô số kiếp, vô lượng kiếp, vô biên kiếp, vô đẳng kiếp.  Hoặc nhập bất khả sổ kiếp, bất khả xưng kiếp, bất khả tư kiếp, bất khả lượng kiếp, bất khả thuyết kiếp, bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp.  Hoặc lâu, hoặc gần, hoặc pháp, hoặc thời gian các loại chẳng đồng.
Với những sự trên đây, Bồ Tát chẳng sanh lòng phân biệt, chẳng nhiễm trước, chẳng cho là khác, chẳng cho là không khác, chẳng cho là khắp, chẳng cho là riêng.
Dầu lìa sự phân biệt, mà Bồ Tát dùng thần thông phương tiện từ tam muội khởi, với các pháp chẳng quên chẳng mất, đến nơi rốt ráo.
Ví như mặt nhật đi vòng soi sáng, ngày đêm  không dừng.  Mặt nhật mọc gọi là ngày, mặt nhật lặn gọi là đêm.  Ban ngày mặt nhật chẳng sanh, ban đêm mặt nhật cũng chẳng mất.
Đại Bồ Tát nơi vô số thế giới nhập thần thông tam muội.  Đã nhập tam muội, thấy rõ ngần ấy vô số thế giới cũng như vậy.
Trên đây là trí thiện xảo thứ đệ biến vãng chư Phật quốc độ thần thông đại tam muội thứ ba của đại Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Thế nào là đại Bồ Tát thanh tịnh thân tâm hành đại tam muội?
Đại Bồ Tát này biết số thân chư Phật đồng với số chúng sanh.  Thấy vô lượng Phật hơn số vi trần trong vô số thế giới, Bồ Tát đem các thứ hương, hoa, lọng, châu báu, đồ trang nghiêm, ma ni bửu tạng, nhẫn đến tứ sự, tất cả đều thượng diệu quảng đại hơn hẳn của các cõi trời để cúng dường mỗi đức Phật.
Đối với mỗi đức Phật, Bồ Tát cung kính tôn trọng cúi đầu đảnh lễ thưa thỉnh Phật pháp, khen Phật bình đẳng, ca ngợi công đức quảng đại của chư Phật.  Nhập vào đại bi của chư Phật, được sức vô ngại bình đẳng của chư Phật.  Khoảng một niệm, cần cầu diệu pháp khắp tất cả Phật.  Nhưng với những tướng chư Phật xuất thế nhập diệt, đều vô sở đắc.
Như tâm tán động liễu biệt cảnh sở duyên, tâm khởi, chẳng biết sở duyên nào khởi, tâm diệt, chẳng biết sở duyên nào diệt.
Cũng vậy, đại Bồ Tát này trọn chẳng phân biệt tướng xuất thế cùng nhập niết bàn của Như Lai.
Chư Phật tử!  Như dương diệm giữa ngày, chẳng phải từ mây sanh, chẳng phải từ ao sanh, chẳng ở trên đất, chẳng ở dưới nước, chẳng phải có chẳng phải không, chẳngn phải thiện chẳng phải ác, chẳng phải trong chẳng phải đục, chẳng dùng uống rửa được, chẳng làm ô uế được, chẳng phải có thể chất chẳng phải không thể chất, chẳng phải có vị chẳng phải không vị.  Do vì nhân duyên mà hiện tướng nước.  Do thức phân biệt trông xa tợ nước mà sanh tưởng là nước, đến gần thời không có, tưởng nước tự mất.
Đại Bồ Tát đây cũng như vậy.  Tướng Như Lai xuất thế và niết bàn đều bất khả đắc.  Chư Phật có tướng hay không tướng đều là tâm tưởng phân biệt.
Chư Phật tử!  Tam muội này gọi là thanh tịnh thâm tâm hành.  Đại Bồ Tát ở nơi tam muội này nhập rồi mà khởi, sau khi khởi chẳng mất.
Ví như có người từ giấc ngủ thức dậy nhớ sự chiêm bao.  Lúc thức dầu nhớ sự chiêm bao, lúc thức dầu không có cảnh giới chiêm bao nhưng vẫn có thể ghi nhớ chẳng quên.
Cũng vậy, đại Bồ Tát nhập tam muội thấy Phật nghe pháp, sau khi xuất định ghi nhớ chẳng quên, rồi đem pháp đã được nghe giảng dạy lại tất cả chúng hội trong đạo tràng, trang nghiêm tất cả quốc độ chư Phật, vô lượng nghĩa thú đều được sáng suốt, tất cả pháp môn cũng đều thanh tịnh, thắp đuốc đại trí, làm lớn giống Phật, đầy đủ vô úy, biện tài chẳng cạn, khai thị diễn thuyết pháp tạng thậm thâm.
Trên đây là trí thiện xảo thanh tịnh thâm tâm hạnh đại tam muội thứ tư của đại Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Thế nào là đại Bồ Tát tri quá khứ trang nghiêm tạng tam muội?
Đại Bồ Tát này biết được quá khứ chư Phật xuất hiện.  Những là các cõi thứ đệ trong kiếp thứ đệ, các kiếp thứ đệ trong cõi thứ đệ, chư Phật xuất hiện thứ đệ trong kiếp thứ đệ, thuyết pháp thứ đệ trong chư Phật xuất hiện thứ đệ, các tâm nguyện thứ đệ trong thuyết pháp thứ đệ, các căn tánh thứ đệ trong tâm nguyện thứ đệ, điều phục thứ đệ trong căn tánh thứ đệ, chư Phật thọ mạng thứ đệ trong điều phục thứ đệ, biết ức na do tha số lượng năm tuổi thứ đệ trong thọ mạng thứ đệ.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này vì được vô biên thứ đệ trí như vậy nên biết quá khứ chư Phật, nên biết quá khứ các cõi, nên biết quá khứ pháp môn, nên biết quá khứ các kiếp, nên biết quá khứ các pháp, nên biết quá khứ các tâm, nên biết quá khứ các tri giải, nên biết quá khứ các chúng sanh, nên biết quá khứ các phiền não, nên biết quá khứ các nghi thức, nên biết quá khứ các thanh tịnh.
Chư Phật tử!  Tam muội này tên là quá khứ thanh tịnh tạng.  Trong một niệm có thể nhập trăm kiếp, có thể nhập ngàn kiếp, có thể nhập trăm ngàn kiếp, có thể nhập trăm ngàn ức na do tha kiếp, có thể nhập vô số kiếp, có thể nhập vô lượng kiếp, có thể nhập vô biên kiếp, có thể nhập vô đẳng kiếp, có thể nhập bất khả sổ kiếp, có thể nhập bất khả xưng kiếp, có thể nập bất khả tư kiếp, có thể nhập bất khả lượng kiếp, có thể nhập bất khả thuyết kiếp, có thể nhập bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát nhập tam muội này chẳng diệt hiện tại, chẳng duyên quá khứ.
Đại Bồ Tát này từ tam muội khởi, thọ nơi đức Như Lai mười thứ pháp quán đảnh bất tư nghì, cũng được, cũng thanh tịnh, cũng thành tựu, cũng nhập, cũng chứng, cũng mãn, cũng trì, bình đẳng biết rõ ba luân thanh tịnh.
Đây là mười:  Một là biện thuyết chẳng trái nghĩa, hai là thuyết pháp vô tận, ba là huấn từ không lỗi, bốn là nhạo thuyết chẳng dứt, năm là tâm không khủng bố, sáu là lời quyết thành thật, bảy là chúng sanh y tựa, tám là cứu thoát ba cõi, chín là thiện căn tối thắng, mười là điều ngự diệu pháp.
Trên đây là mười pháp quán đảnh.  Nếu Bồ Tát nhập tam muội này, từ tam muội xuất liền được.
Như Ca La Lã lúc nhập thai tạng, trong một niệm thức liền thác sanh.
Cũng vậy, đại Bồ Tát từ tam muội này xuất, trong một niệm thời được mười pháp này nơi đức Như Lai.
Trên đây gọi là trí thiện xảo biết quá khứ trang nghiêm tạng đại tam muội thứ năm của đại Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Thế nào là đại Bồ Tát trí quang minh tạng đại tam muội?
Đại Bồ Tát trụ tam muội này có thể biết vị lai chư Phật trong tất cả kiếp tất cả thế giới, hoặc đã nói hoặc chưa nói, hoặc đã thọ ký hoặc chưa thọ ký, các loại danh hiệu chẳng đồng.  Những là vô số danh, vô lượng danh, vô biên danh, vô đẳng danh, bất khả sổ danh, bất khả xưng danh, bất khả tư danh, bất khả lượng danh, bất khả thuyết danh.  Sẽ xuất thế, sẽ độ sanh, sẽ làm pháp vương, sẽ khởi Phật sự, sẽ nói phước lợi, sẽ khen thiện nghĩa, sẽ nói bạch phần nghĩa, sẽ trừ sạch các điều ác, sẽ an trụ công đức, sẽ khai thị đệ nhất nghĩa đế, sẽ nhập quán đảnh vị, sẽ thành nhất thiết trí.  Chư Phật đó tu hạnh viên mãn, phát nguyện viên mãn, nhập viên mãn trí, có viên mãn chứng, đủ viên mãn trang nghiêm, họp viên mãn công đức, ngộ viên mãn pháp, được viên mãn quả, đủ viên mãn tướng, thành viên mãn giác.  Chư Phật đó, danh tánh chủng tộc, phương tiện thiện xảo thần thông biến hóa, thành thục chúng sanh, nhập niết bàn, tất cả những điều như vậy, Bồ Tát này biết rõ cả.
Trong một niệm, Bồ Tát này có thể nhập một kiếp, trăm kiếp, ngàn kiếp, trăm ngàn kiếp, trăm ngàn ức na do tha kiếp.  Có thể nhập Diêm Phù Đề vi trần số kiếp, tứ thiên hạ vi trần số kiếp, tiểu thiên thế giới vi trần số kiếp, trung thiên thế giới vi trần số kiếp, đại thiên thế giới vi trần số kiếp.  Có thể nhập trăm phật sát vi trần số kiếp, trăm ngàn phật sát vi trần số kiếp, trăm ngàn ức na do tha phật sát vi trần số kiếp, vô số phật sát vi trần số kiếp, vô lượng phật sát vi trần số kiếp, vô biên phật sát vi trần số kiếp, vô đẳng phật sát vi trần số kiếp, bất khả sổ phật sát vi trần số kiếp, bất khả xưng phật sát vi trần số kiếp, bất khả tư phật sát vi trần số kiếp, bất khả lượng phật sát vi trần số kiếp, bất khả thuyết phật sát vi trần số kiếp, nhẫn đến nhập bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát cực vi trần số kiếp.
Vị lai tất cả thế giới có ngần ấy kiếp số như vậy, Bồ Tát này có thể dùng trí huệ đều biết rõ.  Vì biết rõ nên tâm Bồ Tát này lại nhập mười thứ trì môn.  Đây là mười:  Vì nhập Phật trì nên được bất khả thuyết phật sát vi trần số chư Phật hộ niệm.  Vì nhập pháp trì nên được mười thứ đà la ni quang minh vô tận biện tài.  Vì nhập hạnh trì nên xuất sanh các nguyện viên mãn thù thắng.  Vì nhập lực trì nên không ai che chướng được, không ai khuất phục được.  Vì nhập trí trì nên thực hành Phật pháp không có chướng ngại.  Vì nhập đại bi trì nên chuyển pháp luân bất thối thanh tịnh.  Vì nhập sai biệt thiện xảo cú trì nên chuyển tất cả văn tự luân, tịnh tất cả pháp môn địa.  Vì nhập sư tử thọ sanh pháp trì nên mở khóa cửa pháp, ra khỏi bùn lầy tham dục.  Vì nhập trí lực trì nên tu hạnh Bồ Tát thường chẳng thôi nghỉ.  Vì nhập thiện hữu lực trì nên làm cho vô biên chúng sanh đều được thanh tịnh.  Vì nhập vô trụ lực trì nên nhập bất khả thuyết bất khả thuyết quảng đại kiếp.  Vì nhập pháp lực trì nên dùng vô ngại phương tiện trí biết tất cả pháp tự tánh thanh tịnh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát đã trụ tam muội này rồi thời khéo hay trụ bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp, khéo hay trụ bất khả thuyết bất khả thuyết cõi, khéo hay biết bất khả thuyết bất khả thuyết các loài chúng sanh, khéo hay biết bất khả thuyết bất khả thuyết tướng khác nhau của chúng sanh, khéo hay biết bất khả thuyết bất khả thuyết nghiệp báo đồng dị, khéo hay biết bất khả thuyết bất khả thuyết những căn tinh tấn tập khí tiếp nối các hạnh sai biệt, khéo hay biết bất khả thuyết bất khả thuyết vô lượng nhiễm tịnh các thứ tư duy, khéo hay biết bất khả thuyết bất khả thuyết các loại pháp nghĩa vô lượng văn tự ngôn từ diễn thuyết, khéo hay biết bất khả thuyết bất khả thuyết chư Phật xuất thế chủng tộc thời tiết hiện tướng thuyết pháp thi vi Phật sự nhập niết bàn, khéo hay biết bất khả thuyết bất khả thuyết vô biên môn trí huệ, khéo hay biết bất khả thuyết bất khả thuyết tất cả thần thông vô lượng biến hiện.
Chư Phật tử!  Ví như mặt nhật mọc lên soi sáng thế gian tất cả vật loại, như thành ấp, cung điện, nhà cửa, núi sông, chim thú, vườn rừng, bông trái vân vân, người có mắt sáng thời đều thấy rõ cả.  Ánh sáng mặt nhật bình đẳng không phân biệt có thể làm cho Bồ Tát khéo biết bất khả thuyết bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha tướng sai khác.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này lúc rõ biết như vậy khiến chúng sanh được mười thứ bất không.  Đây là mười:  Một là kiến bất không, vì làm cho chúng sanh phát sanh thiện căn.  Hai là văn bất không, vì làm cho chúng sanh được thành thục.  Ba là đồng trụ bất không, vì làm cho chúng sanh tâm điều phục.  Bốn là phát khởi bất không, vì làm cho chúng sanh thực hành đúng như lời, thông đạt tất cả pháp nghĩa.  Năm là hạnh bất không, vì làm cho vô biên thế giới đều thanh tịnh.  Sáu là thân cận bất không, vì ở chỗ bất khả thuyết bất khả thuyết chư Phật dứt nghi ngờ cho bất khả thuyết bất khả thuyết chúng sanh.  Bảy là chuyện bất không, vì theo sở niệm của chúng sanh khiến làm việc cúng dường thù thắng thành tựu các nguyện.  Tám là thiện xảo pháp bất không vì làm cho đều được trụ nơi trí thanh tịnh giải thoát vô ngại.  Chín là mưa pháp vũ bất không, vì nơi bất khả thuyết bất khả thuyết căn tánh chúng sanh, phương tiện khai thị hạnh nhất thiết trí khiến trụ Phật đạo.  Mười là xuất hiện bất không, vì hiện vô biên tướng, làm cho tất cả chúng sanh đều được soi sáng.
Chư Phật tử!  Lúc đại Bồ Tát an trụ nơi tam muội này được mười thứ bất không, thời chư Thiên Vương đều đến đảnh lễ, chư Long Vương nổi mây thơm lớn, chư Dạ Xoa Vương đảnh lễ dưới chân, chư A Tu La Vương cung kính cúng dường, chư Ca Lâu La Vương tôn trọng đứng quanh, chư Phạm Thiên Vương đều đến thỉnh cầu, chư Càn Thát Bà Vương thường đến chầu chực, chư Khẩn Na La Vương và chư Ma Hầu La Dà Vương đều cùng ngợi khen, chư Nhân Vương kính thờ cúng dường.
Trên đây là trí thiện xảo trí quang minh tạng đại tam muội thứ sáu của đại Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Thế nào là liễu tri nhất thiết thế giới.  Phật trang nghiêm tam muội của đai Bồ Tát?  Sao lại gọi tam muội này là liễu tri nhất thiết thế giới Phật trang nghiêm?
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát trụ trong tam muội này, hay thứ đệ nhập thế giới phương đông, hay thứ đệ nhập thế giới phương nam, phương tây, phương bắc, đông nam, tây nam, tây bắc, đông bắc, thượng phương và hạ phương.  Đều thấy chư Phật xuất thế, cũng thấy tất cả thần lực của đức Phật đó, cũng thấy những sự biến hóa của chư Phật, cũng thấy oai đức rộng lớn của chư Phật, cũng thấy sự tối thắng tự tại của chư Phật, cũng thấy chư Phật đại sư tử hống, cũng thấy những công hạnh đã tu của chư Phật, cũng thấy các loại trang nghiêm của chư Phật, cũng thấy chư Phật thần thông biến hóa, cũng thấy chúng hội của chư Phật vân tập, chúng hội thanh tịnh, chúng hội quảng đại, chúng hội nhất tướng, chúng hội nhiều tướng, chúng hội xứ sở, chúng hội an ở, chúng hội thành thục, chúng hội điều phục, chúng hội oai đức.  Tất cả những việc như vậy Bồ Tát này đều thấy rõ.  Cũng thấy chúng hội số lượng lớn nhỏ bằng Diêm Phù Đề, hoặc bằng tứ thiên hạ, hoặc bằng tiểu thiên thế giới, hoặc bằng trung thiên thế giới, hoặc bằng đại thiên thế giới.  Cũng thấy chúng hội đầy khắp trăm ngàn ức na do tha cõi Phật, hoặc đầy khắp vô số cõi Phật, hoặc đầy khắp trăm phật sát vi trần số cõi Phật, hoặc đầy khắp ngàn phật sát vi trần số cõi Phật, hoặc đầy khắp trăm ngàn ức na do tha phật sát vi trần số cõi Phật, hoặc đầy khắp vô số phật sát vi trần số cõi Phật, hoặc đầy khắp vô lượng phật sát vi trần số cõi Phật, hoặc đầy khắp vô biên phật sát vi trần số cõi Phật, hoặc đầy khắp vô đẳng phật sát vi trần số cõi Phật, hoặc đầy khắp bất khả sổ phật sát vi trần số cõi Phật, hoặc đầy khắp bất khả xưng phật sát vi trần số cõi Phật, hoặc đầy khắp bất khả tư phật sát vi trần số cõi Phật, hoặc đầy khắp bất khả lượng phật sát vi trần số cõi Phật, hoặc đầy khắp bất khả thuyết phật sát vi trần số cõi Phật, nhẫn đến cũng thấy chúng hội đầy khắp bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số cõi Phật.  Cũng thấy chư Phật ở trong chúng hội đạo tràng kia thị hiện các loại tướng trạng, các loại thời gian, các loại quốc độ, các loại biến hóa, các loại thần thông, các loại trang nghiêm, các loại tự tại, các loại hình lượng, các loại sự nghiệp.
Đại Bồ Tát này cũng thấy tự thân qua chúng hội đó, thấy mình thuyết pháp, thấy mình lãnh thọ lời Phật, cũng thấy mình khéo biết duyên khởi, cũng thấy thân mình ở giữa không gian, cũng thấy thân mình ở nơi pháp thân, cũng thấy thân mình chẳng sanh nhiễm trước, cũng thấy thân mình chẳng ở nơi phân biệt, cũng thấy thân mình không mỏi nhọc, cũng thấy thân mình vào khắp các trí, cũng thấy thân mình biết khắp các nghĩa, cũng thấy thân mình vào khắp các địa, cũng thấy thân mình vào khắp các loài, cũng thấy thân mình vào khắp các địa, cũng thấy thân mình vào khắp các loài, cũng thấy thân mình biết khắp phương tiện, cũng thấy thân mình qua khắp trước Phật, cũng thấy thân mình vào khắp các lực, cũng thấy thân mình vào khắp chân như, cũng thấy thân mình vào khắp vô tránh, cũng thấy thân mình vào khắp các pháp.  Lúc thấy như vậy, Bồ Tát này chẳng phân biệt quốc độ, chẳng phân biệt chúng sanh, chẳng phân biệt Phật, chẳng phân biệt pháp, chẳng nhiễm trước thân và thân nghiệp, chẳng chấp trước tâm và ý.
Ví như các pháp, chẳng phân biệt tự tánh, chẳng phân biệt âm thanh, mà tự tánh chẳng bỏ, danh tự chẳng mất.
Đại Bồ Tát cũng vậy, chẳng bỏ công hạnh, làm theo thế gian, mà vẫn không chấp trước nơi hai sự này.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát thấy Phật có vô lượng ánh sáng màu sắc, vô lượng hình tướng, đều viên mãn thành tựu bình đẳng thanh tịnh, mỗi mỗi hiện tiền chứng biết phân minh.
Hoặc thấy thân Phật nhiều ánh sáng hoặc thấy viên quang một tầm, hoặc thấy sáng rực như mặt nhật, hoặc thấy quang sắc vi diệu, hoặc thấy sắc thanh tịnh, hoặc thấy màu huỳnh kim, hoặc thấy màu kim cang, hoặc thấy màu xanh biếc, hoặc thấy vô biên màu sắc, nhẫn đến hoặc thấy thân Phật màu đại thanh ma ni bửu.
Hoặc thấy thân Phật cao bảy thước tây, hoặc tám thước tây, hoặc chín thước tây, hoặc mười thước tây, hoặc hai mươi thước tây, ba mươi thước tây, một trăm thước tây, một ngàn thước tây, hoặc thấy thân Phật cao một câu lô xá, nửa do tuần, một do tuần, mười do tuần, trăm do tuần, ngàn do tuần, trăm ngàn do tuần, hoặc thấy thân Phật bằng Diêm Phù Đề, tứ thiên hạ bằng tiểu thiên thế giới, bằng trung thiên thế giới, bằng đại thiên thế giới, bằng trăm đại thiên thế giới, bằng ngàn đại thiên thế giới, bằng vẫn chẳng giảm.  Ở tại mặt nguyệt thấy là lớn, cũng chẳng tăng.
Cũng vậy, đại Bồ Tát trụ tam muội này tùy nơi tâm nguyện thấy thân Phật các thứ tướng hóa hiện, ngôn từ thuyết pháp thọ trì chẳng quên, mà thân Như Lai chẳng tăng chẳng giảm.
Ví như chúng sanh sau khi mạng chung lúc sắp thọ sanh chỗ thấy thanh tịnh chẳng rời nơi tâm.
Cũng vậy, đại Bồ Tát chẳng rời tam muội thậm thâm này mà thấy thanh tịnh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát trụ tam muội này thành tựu mười thứ pháp mau chóng:  Những là mau thêm các hạnh viên mãn đại nguyện, mau dùng pháp quang chói sáng thế gian mau dùng phương tiện chuyển pháp luân độ thoát chúng sanh, mau tùy theo nghiệp chúng sanh thị hiện quốc độ thanh tịnh của chư Phật, mau dùng trí bình đẳng thẳng vào thập lực, mau cùng tất cả Như Lai đồng trụ, mau dùng sức đại từ dẹp phá quân ma, mau dứt nghi cho chúng sanh hoan hỉ, mau tuỳ thắng giải thị hiện thần biến, mau dùng các thứ diệu pháp ngôn từ tịnh các thế gian.
Đại Bồ Tát này lại được mười thứ pháp ấn, để ấn tất cả pháp:  Một là đồng thiện căn bình đẳng với tam thế chư Phật, hai là đồng được trí huệ pháp thân vô biên tế với chư Phật, ba là đồng chư Như Lai trụ pháp bất nhị, bốn là đồng chư Như Lai quan sát tam thế vô lượng cảnh giới thảy đều bình đẳng, năm là đồng chư Như Lai được liễu đạt pháp giới vô ngại cảnh giới, sáu là đồng chư Như Lai thành tựu thập lực thật là vô ngại, bảy là đồng chư Như Lai tuyệt hẳn hai hạnh, trụ pháp vô tránh, tám là đồng chư Như Lai giáo hóa chúng sanh hằng chẳng thôi nghỉ, chín là đồng chư Như Lai ở trong trí thiện xảo nghĩa thiện xảo hay khéo quan sát, mười là đồng chư Như Lai cùng với tất cả Phật bình đẳng không hai.
Chư Phật tử!  Nếu đại Bồ Tát thành tựu mười pháp ấn này thời rõ biết môn phương tiện thiện xảo tất cả thế giới Phật trang nghiêm, đại tam muội.  Là bậc vô sư, vì chẳng do người khác dạy mà tự nhập tất cả Phật pháp.  Là bậc trượng phu, vì hay khai ngộ tất cả chúng sanh.  Là bậc thanh tịnh vì biết tâm tánh bổn tịnh.  Là bậc đệ nhất vì hay độ thoát tất cả thế gian.  Là bậc an ủy vì hay khai hiểu tất cả chúng sanh.  Là bậc an trụ, vì người chưa trụ Phật chủng tánh thời làm cho được trụ.  Là bạc chân thật trí vì nhập môn nhất thiết tri.  Là bậc vô dị tưởng vì lời nói không hai.  Là bậc trụ pháp tạng, vì thệ nguyện rõ biết tất cả Phật pháp.  Là bậc hay mưa pháp vũ vì tùy tâm nguyện của chúng sanh đều làm cho đầy đủ.
Chư Phật tử!  Ví như Đế Thích, nơi búi tóc trên đầu để châu ma ni, vì bửu châu này mà oai quang càng thạnh.  Thiên đế lúc mới được bửu châu này, thời được mười pháp vượt hơn tất cả tam thập tam thiên:  Một là sắc tướng, hai là hình thể, ba là thị hiện, bốn là quyến thuộc, năm là đồ dùng, sáu là âm thanh, bảy là thần thông, tám là tự tại, chín là huệ giải, mười là trí dụng.
Cũng vậy, đại Bồ Tát lúc mới được tam muội này thời được mười môn trí tạng quảng đại:  Một là trí chiếu sáng tất cả cõi Phật, hai là trí biết tất cả chúng sanh thọ sanh, ba là trí làm sự biến hóa khắp tam thế, bốn là trí vào khắp tất cả thân Phật, năm là trí thông đạt tất cả Phật pháp, sáu là trí nhiếp khắp tất cả tịnh pháp, bảy là trí khiến khắp tất cả chúng sanh nhập pháp thân, tám là trí hiện thấy tất cả pháp phổ nhãn thanh tịnh, chín là trí tất cả tự tại đến bỉ ngạn, mười là trí an trụ tất cả pháp quảng đại khắp hết không thừa.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát trụ tam muội này lại được mười thứ thân oai đức rất thanh tịnh:  Một là vì chiếu sáng bất khả thuyết bất khả thế giới mà phóng bất khả thuyết bất khả thuyết vầng quang minh, hai là vì làm cho thế giới đều thanh tịnh mà phóng bất khả thuyết bất khả thuyết vầng quang minh vô lượng sắc tướng, ba là vì điều phục chúng sanh mà phóng bất khả thuyết bất khả thuyết vầng quang minh, bốn là vì thân cận tất cả chư Phật mà hóa làm bất khả thuyết bất khả thuyết thân, năm là vì thừa sự cúng dường tất cả chư Phật mà rưới bất khả thuyết bất khả thuyết các thứ mây hoa hương thù diệu, sáu là vì thừa sự cúng dường tất cả chư Phật và điều phục tất cả chúng sanh mà trong mỗi mỗi lỗ chân lông hóa làm bất khả thuyết bất khả thuyết các thứ âm nhạc, bảy là vì thành thục chúng sanh mà hiện bất khả thuyết bất khả thuyết vô lượng các thứ thần biến tự tại, tám là vì nơi chỗ tất cả chư Phật mười phương cầu thỉnh diệu pháp mà một bước vượt qua bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới, chín là vì làm cho tất cả chúng sanh, những ai nghe thấy đều chẳng luống uổng mà hiện bất khả thuyết bất khả thuyết sắc thân vô lượng tướng thanh tịnh không ai thấy được đảnh, mười là vì khai thị vô lượng pháp bí mật cho chúng sanh mà phát bất khả thuyết bất khả thuyết âm thanh ngôn ngữ.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát được mười thứ thân oai đức rất thanh tịnh này rồi, thời có thể làm cho chúng sanh được mười thứ viên mãn:  Một là làm cho chúng sanh được thấy Phật, hai là làm cho chúng sanh thâm tín nơi Phật, ba là làm cho chúng sanh được nghe pháp, bốn là làm cho chúng sanh biết có cõi Phật, năm là làm cho chúng sanh thấy thần biến của Phật, sáu là làm cho chúng sanh nhớ nghiệp đã tập họp, bảy là làm cho chúng sanh định tâm viên mãn, tám là làm cho chúng sanh nhập Phật thanh tịnh, chín là làm cho chúng sanh phát bồ đề tâm, mười là làm cho chúng sanh viên mãn Phật trí.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát làm cho chúng sanh được mười thứ viên mãn rồi, lại vì chúng sanh mà làm mười thứ Phật sự.  Những là dùng âm thanh làm Phật sự vì thành thục chúng sanh.  Dùng sắc hình làm Phật sự vì điều phục chúng sanh.  Dùng ức niệm làm Phật sự vì thanh tịnh chúng sanh.  Dùng chấn động thế giới làm Phật sự vì khiến chúng sanh lìa ác thú.  Dùng phương tiện giác ngộ làm Phật sự vì khiến chúng sanh chẳng thất niệm.  Dùng tướng trong mộng làm Phật sự vì khiến chúng sanh thường chánh niệm.  Dùng phóng đại quang minh làm Phật sự vì nhiếp lấy khắp chúng sanh.  Dùng tu tập Bồ Tát hạnh làm Phật sự vì làm cho chúng sanh trụ thắng nguyên.  Dùng thành đẳng chánh giác làm Phật sự vì làm cho chúng sanh biết pháp huyễn.  Dùng chuyển diệu pháp luân làm Phật sự, do vì đại chúng mà thuyết pháp chẳng lỗi thời.  Dùng hiện trụ thọ mạng làm Phật sự vì điều phục tất cả chúng sanh.  Dùng thị hiện nhập niết bàn làm Phật sự vì biết các chúng sanh nhàm mỏi.
Trên đây là trí thiện xảo rõ biết tất cả cõi Phật trang nghiêm đại tam muội thứ bảy của đại Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Thế nào là nhất thiết chúng sanh sai biệt thân đại tam muội của đại Bồ Tát?
Đại Bồ Tát trụ tam muội này được mười thứ vô sở trước:  Những là nơi tất cả cõi vô sở trước, nơi tất cả phương vô sở trước, nơi tất cả kiếp vô sở trước, nơi tất cả chúng sanh vô sở trước, nơi tất cả pháp vô sở trước, nơi tất cả Bồ Tát vô sở trước, nơi tất cả Bồ Tát nguyện vô sở trước, nơi tất cả tam muội vô sở trước, nơi tất cả Phật vô sở trước, nơi tất cả địa vô sở trước.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát nơi tam muội này, nhập thế nào?  Khởi thế nào?
Đại Bồ Tát nơi tam muội này, nội thân nhập ngoại thân khởi, ngoại thân nhập nội tâm khởi, đồng thân nhập dị thân khởi, dị thân nhập đồng thân khởi, nhân thân nhập dạ xoa thân khởi, dạ xoa thân nhập long thân khởi, long thân nhập a tu la khởi, a tu la thân nhập thiên thân khởi, thiên thân nhập phạm vương thân khởi, phạm vương thân nhập dục giới thân khởi, thiên trung nhập địa ngục khởi, địa ngục nhập nhân gian khởi, nhân gian nhập loài khác khởi, ngàn thân nhập một thân khởi, một thân nhập ngàn thân khởi, na do tha thân nhập một thân khởi, một thân nhập na do tha thân khởi, trong chúng ma châu nhập trong chúng tây châu khởi, trong chúng tây châu nhập trong chúng bắc châu khởi, trong chúng bắc châu nhập trong chúng đông châu khởi, trong chúng đông châu nhập trong chúng ba châu kia khởi, trong chúng ba châu nhập trong chúng bốn châu khởi, trong chúng bốn châu nhập trong chúng tất cả biển sai biệt khởi, trong chúng tất cả biển sai biệt nhập trong chúng tất cả hải thần khởi, trong chúng tất cả hải thần nhập trong thủy đại khởi, trong thủy đại nhập trong địa đại khởi, trong địa đại nhập trong hỏa đại khởi, trong hỏa đại nhập trong phong đại khởi, trong phong đại nhập trong tất cả tứ đại khởi, trong tất cả tứ đại nhập trong pháp vô sanh khởi, trong pháp vô sanh nhập trong núi tu di khởi, trong núi tu di nhập trong bảy bửu sơn khởi, trong bảy bửu sơn nhập trong tất cả cây cỏ lùm rừng hắc sơn khởi, trong tất cả lùm rừng hắc sơn nhập trong tất cả diệu hương hoa bửu trang nghiêm khởi, trong tất cả trang nghiêm nhập trong tất cả chúng sanh thọ sanh nơi bốn châu thượng phương hạ phương khởi, trong tất cả chúng sanh thọ sanh nhập trong chúng sanh nơi tiểu thiên thế giới khởi, trong chúng sanh nơi tiểu thiên thế giới nhập trong chúng sanh nơi trung thiên thế giới khởi, trong chúng sanh nơi trung thiên thế giới nhập trong chúng sanh nơi đại thiên thế giới khởi, trong chúng sanh nơi trăm ngàn ức na do tha đại thiên thế giới nhập trong chúng sanh nơi vô số thế giới khởi, trong chúng sanh nơi vô số thế giới nhập trong chúng sanh nơi vô lượng thế giới khởi, nơi chúng sanh trong vô lượng thế giới nhập trong chúng sanh nơi vô biên thế giới khởi, trong chúng sanh nơi vô biên thế giới nhập trong chúng sanh nơi vô đẳng Phật độ khởi, trong chúng sanh nơi vô đẳng Phật độ nhập trong chúng sanh nơi bất khả sổ thế giới khởi, trong chúng sanh nơi bất khả sổ thế giới nhập trong chúng sanh nơi bất khả xưng thế giới khởi, trong chúng sanh nơi bất khả xưng thế giới nhập trong chúng sanh nơi bất khả tư thế giới khởi, trong chúng sanh nơi bất khả tư thế giới nhập trong chúng sanh nơi bất khả lượng thế giới khởi, trong chúng sanh nơi bất khả lượng thế giới nhập trong chúng sanh nơi bất khả thuyết thế giới khởi, trong chúng sanh nơi bất khả thuyết thế giới nhập trong chúng sanh nơi bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới khởi, trong chúng sanh nơi bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới nhập trong chúng sanh tạp nhiễm khởi, trong chúng sanh tạp nhiễm nhập trong chúng sanh thanh tịnh khởi, trong chúng sanh thanh tịnh nhập trong chúng sanh tạp nhiễm khởi, trong nhãn xứ nhập trong nhĩ xứ khởi, trong nhĩ xứ nhập trong tỷ xứ khởi, trong tỷ xứ nhập trong thiệt xứ khởi, trong nhĩ xứ nhập trong tỷ xứ khởi, trong tỷ xứ nhập trong thiệt xứ khởi, trong thiệt xứ nhập trong thân xứ khởi, trong thân xứ nhập trong ý xứ khởi, trong ý xứ nhập trong thân xứ khởi, trong tự xứ nhập trong tha xứ khởi, trong tha xứ nhập trong tự xứ khởi, trong một vi trần nhập trong vô số thế giới vi trần khởi, trong vô số thế giới vi trần nhập trong một vi trần khởi, trong thanh văn nhập trong độc giác khởi, trong độc giác nhập trong thanh văn khởi, trong tự thân nhập trong Phật thân khởi, trong Phật thân nhập trong tự thân khởi, một niệm nhập ức kiếp khởi, ức kiếp nhập một niệm khởi, đồng niệm nhập biệt thời khởi, biệt thời nhập đồng niệm khởi, tiền tế nhập hậu tế khởi, hậu tế nhập tiền tế khởi, tiền tế nhập trung tế khởi, trung tế nhập tiền tế khởi, tam thế nhập sát na khởi, sát na nhập tam thế khởi, chân như nhập ngôn thuyết khởi, ngôn thuyết nhập chân như khởi.
Ví như có người bị quỷ phá thân họ rung động chẳng tự an được, quỷ chẳng hiện thân mà làm cho thân người kia như vậy.
Cũng vậy, đại Bồ Tát trụ nơi tam muội này tự thân nhập định tự thân khởi.
Ví như tử thi do chú lực mà hay chổi dậy mà đi, cùng làm được các việc.  Tử thi cùng chú dầu đều khác nhau mà có thể hòa hiệp làm những việc trên.
Cũng vậy, đại Bồ Tát trụ nơi tam muội này, đồng cảnh nhập định dị cảnh khởi, dị cảnh nhập định đồng cảnh khởi.
Ví như tỳ kheo được tâm tự tại, hoặc một thân làm nhiều thân, hoặc nhiều thân làm một thân.  Chẳng phải một thân mất mà nhiều thân sanh, cũng chẳng phải nhiều thân mất mà một thân sanh.
Cũng vậy, đại Bồ Tát trụ nơi tam muội này, một thân nhập định nhiều thân khởi, nhiều thân nhập định một thân khởi.
Ví như đại địa đồng một vị mà sanh cỏ cây có nhiều vị khác nhau.  Đất dầu không khác mà vị có sai khác.
Cũng vậy, đại Bồ Tát trụ nơi tam muội này vẫn vô phân biệt, mà có một thứ nhập định nhiều thứ khởi, nhiều thứ nhập định một thứ khởi.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát trụ nơi tam muội này được mười pháp xưng tán chỗ ngợi khen.  Những là:  Vì nhập chân như nên gọi là Như Lai, vì giác ngộ tất cả pháp nên gọi là Phật, vì được tất cả thế gian ngợi khen nên gọi là pháp sư, vì biết tất cả pháp nên gọi là nhất thiết trí, vì được tất cả thế gian quy y nên gọi là chỗ sở y, vì rõ thấu tất cả pháp phương tiện nên gọi là đạo sư, vì dẫn tất cả chúng sanh vào đạo nhất thiết trí nên gọi là đại đạo sư, vì là đèn của tất cả thế gian nên gọi là quang minh, vì tâm chí viên mãn, nghĩa lợi thành tựu, chỗ làm đều xong, trụ trí vô ngại, phân biệt biết rõ tất cả pháp nên gọi là thập lực tự tại, vì thông đạt tất cả pháp luân nên gọi là bậc nhất thiết kiến.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát trụ nơi tam muội này lại được mười thứ quang minh chói sáng.  Những là được quang minh của tất cả Phật, vì cùng Phật bình đẳng.  Được tất cả thế giới quang minh, vì có thể khắp nghiêm tịnh.  Được tất cả chúng sanh quang minh, vì điều đến điều phục.  Được vô lượng vô úy quang minh vì pháp giới làm trường thuyết pháp.  Được vô sai biệt quang minh, vì biết tất cả pháp không các thứ tánh.  Được phương tiện quang minh, vì nơi ly dục tế của các pháp mà chứng nhập.  Được chân thật quang minh, vì nơi ly dục tế của các pháp tâm bình đẳng.  Được thần biến quang minh khắp tất cả thế gian, vì được Phật gia hộ hằng chẳng dứt.  Được thiện tư duy quang minh, vì đến bờ tự tại của tất cả Phật.  Được nhất thiết pháp chân như quang minh vì nơi trong một lỗ chân lông khéo nói tất cả.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát trụ nơi tam muội này được mười thứ vô sở tác.  Những là thân nghiệp vô sở tác, ngữ nghiệp vô sở tác, ý nghiệp vô sở tác, thần thông vô sở tác, rõ pháp vô tánh vô sở tác, biết nghiệp chẳng hoại vô sở tác, vô sai biệt trí vô sở tác, vô sanh khởi trí vô sở tác, biết pháp không diệt vô sở tác, tùy thuận nơi văn chẳng hoại nơi nghĩa vô sở tác.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát trụ nơi tam muội này, vô lượng cảnh giới nhiều thứ sai khác.  Những là một nhập nhiều khởi, nhiều nhập một khởi, đồng nhập dị khởi, dị nhập đồng khởi, tế nhập thô khởi, thô nhập tế khởi, đại nhập tiểu khởi, tiểu nhập đại khởi, thuận nhập nghịch khởi, nghịch nhập thuận khởi, không thân nhập có thân khởi, có thân nhập không thân khởi, vô tướng nhập hữu tướng khởi, hữu tướng nhập vô tướng khởi, trong khởi mà nhập, trong nhập mà khởi.  Đây đều là cảnh giới tự tại của tam muội này.
Ví nhà huyễn thuật trì chú được thành có thể hiện các thứ hình tướng sai biệt.  Chú khác với huyễn, mà có thể làm ra huyễn.  Chú chỉ là âm thanh, mà có thể làm ra các hình sắc cho nhãn thức biết, các thứ tiếng cho nhĩ thức biết, các thứ hương cho tỷ thức biết, các thứ vị cho thiệt thức biết, các thứ xúc cho thân thức biết, các cảnh giới cho ý thức biết.
Cũng vậy, đại Bồ Tát trụ nơi tam muội này, trong đồng nhập định trong dị khởi, trong dị nhập định trong đồng khởi.
Ví như Đao Lợi thiên lúc đánh với A Tu La.  Chư thiên thắng trận.  Vua A Tu La thân cao lớn bảy trăm do tuần dùng sức huyễn thuật đem binh đội trăm ngàn người đồng thời chạy vào trong lỗ cọng sen để trốn.
Cũng vậy, đại Bồ Tát đã khéo thành tựu các huyễn trí địa.  Huyễn trí tức là Bồ Tát, Bồ Tát tức là huyễn trí.  Vì thế nên có thể trong pháp vô sai biệt nhập định trong pháp sai biệt khởi định.  Trong pháp sai biệt nhập định trong pháp vô sai biệt khởi định.
Ví như nhà nông gieo giống trong ruộng, hạt giống ở dưới còn trái sanh ở trên.
Cũng vậy, đại Bồ Tát trụ tam muội này, trong một nhập định trong nhiều khởi, trong nhiều nhập định trong một khởi.
Ví như xích bạch của nam nữ hòa hiệp, hoặc có chúng sanh thọ sanh trong đó, bấy giờ gọi là ca la lã.  Từ đây tuần tự ở thai mẹ đủ mười tháng, do sức nghiệp lành nên tất cả chi phần đều được thành tựu, căn thân chẳng thiếu, tâm ý sáng suốt.  Ca la lã kia với sáu căn thể trạng khác nhau, do nghiệp lực mà có thể làm cho kia thứ đệ thành tựu, thọ các thứ quả báo đồng dị loại.
Cũng vậy, đại Bồ Tát từ nhất thiết trí ngôi ca la lã, do sức tín giải nguyện lần lần tăng trưởng, tâm Bồ Tát quảng đại nhiệm vận tự tại.  Trong không nhập định có khởi, trong có nhập định trong không khởi.
Ví như long cung nương đất làm nền mà chẳng nương hư không.  Rồng ở trong cung chẳng có hư không mà có thể nổi mây đầy khắp hư không.  Có người ngước xem hoặc thấy có cung điện, phải biết đó là thành càn thát bàn chẳng phải long cung.  Dầu rồng ở dưới mà mây nổi trên không.
Cũng vậy, đại Bồ Tát trụ tam muội này nơi vô tướng nhập nơi hữu tướng khởi nơi hữu tướng nhập nơi vô tướng khởi.
Ví như cung của Diệu Quang Đại Phạm Thiên Vương ở tên là nhất thiết thế giới tối thắng thanh tịnh tạng.  Trong cung lớn này thấy khắp đại thiên thế giới:  Những tứ thiên hạ, cung của thiên, long, bát bộ, chỗ ở của nhân gian và ba ác đạo, các núi tu di sơn, v.v... biển cả sông lạch, bờ đầm, nguồn sối, thành ấp tụ lạc, rừng cây, các thứ bửu.  Những vật như vậy tột đến đại luân vi, nhẫn đến vi tế du trần trong hư không đều hiển hiện trong cung của đại phạm vương, như bóng mặt hiện thấy trong gương sáng.
Cũng vậy, đại Bồ Tát trụ nơi nhất thiết chúng sanh sai biệt thân đại tam muội này, biết các thứ cõi nước, thấy các thứ Phật độ, các thứ quả chứng, các thứ pháp thành, các thứ hạnh mãn, các thứ giải nhập, các thứ tam muội, khởi các thứ thần thông, được các thứ trí huệ, trụ các thứ sát na tế.
Đại Bồ Tát này đến mười thứ thần thông bỉ ngạn.  Những là đến chư Phật tận hư không biến pháp giới:  Thần thông bỉ ngạn.  Đến Bồ Tát rốt ráo vô sai biệt tự tại thần thông bỉ ngạn.  Đến hay phát khởi Bồ Tát quảng đại hạnh nguyện nhập Như Lai môn Phật sự:  Thần thông bỉ ngạn.  Đến hay chấn động tất cả thế giới tất cả cảnh giới đều làm cho thanh tịnh:  Thần thông bỉ ngạn.  Đến hay tự tại biết tất cả chúng sanh nghiệp quả bất tư nghì đều như huyễn hóa:  Thần thông bỉ ngạn.  Đến hay tự tại biết các tam muội thô tế nhập xuất tướng sai biệt:  Thần thông bỉ ngạn.  Đến hay dũng mãnh nhập cảnh giới Như Lai mà ở trong đó phát sanh đại nguyện:  Thần thông bỉ ngạn.  Đến hay hóa làm Phật, hóa chuyển pháp luân điều phục chúng sanh, khiến sanh Phật chủng, khiến nhập Phật thừa mau được thành tựu:  Thần thông bỉ ngạn.  Đến hay rõ biết bất khả thuyết tất cả văn cú bí mật mà chuyển pháp luân, khiến trăm ngàn ức na do tha bất khả thuyết bất khả thuyết pháp môn đều được thanh tịnh:  Thần thông bỉ ngạn.  Đến chẳng nhờ ngày đêm năm tháng kiếp số, một niệm đều có thể thị hiện khắp tam thế:  Thần thông bỉ ngạn.
Trên đây là trí thiện xảo nhất thiết chúng sanh sai biệt thân đại tam muội thứ tám của đại Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Thế nào là pháp giới tự tại tam muội của đại Bồ Tát?
Đại Bồ Tát này nơi tự nhãn xứ nhẫn đến tự ý xứ nhập tam muội, nên gọi là pháp giới tự tại.
Đại Bồ Tát nơi mỗi mỗi chân lông của tự thân mà nhập tam muội này, tự nhiên biết được các thế gian, biết các pháp thế gian, biết các thế giới, biết ức na do tha thế giới, biết a tăng kỳ thế giới, biết bất khả thuyết phật sát vi trần số thế giới.  Trong tất cả thế giới thấy có Phật xuất thế, Bồ Tát chúng hội thảy đều đông đủ, quang minh thanh tịnh, thuần thiện không tạp, trang nghiêm rộng lớn, các thứ châu báu dùng để nghiêm sức.
Bồ Tát trong các thế giới này không ngớt tu hạnh Bồ Tát hoặc một kiếp, trăm kiếp, ngàn kiếp, ức kiếp, trăm ngàn ức na do tha kiếp, vô số kiếp, vô lượng kiếp, vô biên kiếp, vô đẳng kiếp, bất khả sổ kiếp, bất khả xưng kiếp, bất khả tư kiếp, bất khả lượng kiếp, bất khả thuyết kiếp, bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp, bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số kiếp.
Bồ Tát lại ở trong vô lượng kiếp như vậy mà trụ nơi tam muội này:  Cũng nhập, cũng khởi, cũng thành tựu thế giới, cũng điều phục chúng sanh, cũng rõ khắp pháp giới, cũng biết khắp tam thế, cũng diễn thuyết các pháp, cũng hiện đại thần thông các thứ phương tiện vô trước vô ngại, vì nơi pháp giới được tự tại.  Khéo phân biệt nhãn, khéo phân biệt nhĩ, tỷ, thiệt, thân, khéo phân biệt ý.  Các thứ sai biệt chẳng đồng như vậy đều khéo phân biệt tột ngằn mé.
Bồ Tát khéo thấy và biết như vậy rồi, có thể sanh khởi mười ngàn ức đà la ni pháp quang minh, thành tựu mười ngàn ức hạnh thanh tịnh, chứng được mười ngàn ức thiện căn, viên mãn mười ngàn ức thần thông, hay nhập mười ngàn ức tam muội, thành tựu mười ngàn ức thần lực, tưởng dưỡng mười ngàn ức công lực, viên mãn mười ngàn ức thâm tâm, vận động mười ngàn ức lực trì, thị hiện mười ngàn ức thần biến, đầy đủ mười ngàn ức Bồ Tát vô ngại, viên mãn mười ngàn ức Bồ Tát trợ đạo, chức nhóm mười ngàn ức Bồ Tát tạng, chiếu sáng mười ngàn ức Bồ Tát phương tiện, diễn thuyết mười ngàn ức các nghĩa, thành tựu mười ngàn ức các nguyện, xuất sanh mười ngàn ức hồi hướng, tịnh tu mười ngàn ức Bồ Tát chánh vị, minh liễu mười ngàn ức pháp môn, khai thị mười ngàn ức diễn thuyết, tu trị mười ngàn ức Bồ Tát thanh tịnh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lại có vô số công đức, vô lượng công đức, vô biên công đức, vô đẳng công đức, bất khả sổ công đức, bất khả xưng công đức, bất khả tư công đức, bất bất khả lượng công đức, bất khả thuyết công đức, vô tận công đức.
Chư Phật tử!  Bồ Tát này nơi công đức như vậy đều đã làm xong, đều đã chứa nhóm, đều đã trang nghiêm, đều đã thanh tịnh, đều đã suốt thấu, đều đã nhiếp thọ, đều đã xuất sanh, đều đáng khen ngợi, đều được kiên cố, đều đã thành tựu.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát trụ tam muội này được đông phương mười ngàn vô số phật sát vi trần số danh hiệu chư Phật nhiếp thọ.  Mỗi mỗi danh hiệu Phật này lại có mười ngàn vô số phật sát vi trần số Phật đều riêng khác.  Như đông phương, chín phương kia cũng như vậy.
Chư Phật đó đều hiện ra trước mặt Bồ Tát.  Vì Bồ Tát mà hiện cõi thanh tịnh của chư Phật, vì nói vô lượng thân của chư Phật, vì nói nan tư nhãn của chư Phật, vì nói vô lượng nhĩ của chư Phật, vì nói tỷ thanh tịnh của chư Phật, vì nói thiệt thanh tịnh của chư Phật, vì nói tâm vô trụ của chư Phật, vì nói thần thông vô thượng của chư Phật, khiến tu vô thượng bồ đề của Phật, khiến được âm thanh thanh tịnh của Phật, khai thị pháp luân bất thối của Phật, hiển thị vô biên chúng hội của Phật, khiến nhập vô biên bí mật của Phật, tán thán tất cả thiện căn của Phật, khiến nhập pháp bình đẳng của Phật, tuyên nói tam thế chủng tánh của Phật, thị hiện vô lượng sắc tướng của Phật, xiển dương pháp hộ niệm của Phật, diễn sướng pháp âm vi diệu của Phật, biện minh thế giới của tất cả chư Phật, tuyên dương tam muội của tất cả chư Phật, thị hiện chúng hội thứ đệ của chư Phật, hộ trì pháp bất tư nghì của chư Phật, nói tất cả pháp dường như huyễn hóa, thuyết minh pháp tánh không động chuyển, khai thị tất cả pháp luân vô thượng, khen ngợi vô lượng công đức của Phật, khiến vào tất cả những mây tam muội, khiến biết tâm đó như huyễn như hóa vô biên vô tận.
Chư Phật tử!  Lúc đại Bồ Tát trụ nơi pháp giới tự tại tam muội này, mười phương kia, mỗi phương đều có mười ngàn vô số phật sát vi trần số danh hiệu Như Lai, trong mỗi mỗi danh hiệu đều có mười ngàn vô số phật sát vi trần số Phật đồng thời hội niệm cho Bồ Tát này được vô biên thân, cho Bồ Tát này được tâm vô ngại, cho Bồ Tát này nơi tất cả pháp được không vọng niệm, cho Bồ Tát này nơi tất cả pháp được huệ quyết định, cho Bồ Tát này càng thêm sáng suốt nơi tất cả pháp đều lãnh thọ được, cho Bồ Tát này nơi tất cả pháp đều có thể hiểu rõ, cho Bồ Tát này các căn mạnh lẹ nơi pháp thần thông đều được thiện xảo, cho Bồ Tát này cảnh giới vô ngại đi khắp pháp giới hằng chẳng nghỉ, cho Bồ Tát này được trí vô ngại rốt ráo thanh tịnh, cho Bồ Tát này dùng sức thần thông trong tất cả thế giới thị hiện thành Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát trụ tam muội này được mười thứ hải.  Những là được chư Phật hải, vì đều xem thấy.  Được chư pháp hải, vì hay dùng trí huệ trọn biết rõ.  Được chúng sanh hải, vì trọn điều phục.  Được chư sát hải, vì dùng thần thông vô tánh vô tác đều qua đến.   Được công đức hải, vì tất cả tu hành trọn viên mãn.  Được thần thông hải, vì hay rộng thị hiện khiến khai ngộ.  Được chư căn hải, vì những căn tánh chẳng đồng đều khéo biết.  Được chư tâm hải, vì biết vô lượng tâm chủng loại sai biệt của tất cả chúng sanh.  Được chư hạnh hải, vì hay dùng nguyện lực đều viên mãn.  Được chư nguyện hải, vì đều làm cho thành tựu trọn thanh tịnh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát được mười thứ hải rồi lại được mười thứ thù thắng:  Một là trong tất cả chúng sanh rất là đệ nhất.  Hai là trong tất cả chư thiên rất là thù đặc.  Ba là trong tất cả phạm vương rất tột tự tại.  Bốn là nơi các thế gian không chỗ nhiễm trước.  Năm là tất cả thế gian không gì che chói được.  Sáu là tất cả các ma chẳng mê loạn được.  Bảy là vào khắp các loài không bị chướng ngại.  Tám là mọi nơi thọ sanh biết chẳng kiên cố.  Chín là tất cả Phật pháp đều được tự tại.  Mười là tất cả thần thông đều hay thị hiện.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát đã được mười thứ thù thắng, lại được mười thứ lực ở trong chúng sanh giơi tu tập các hạnh:  Một là sức dũng kiện, vì điều phục thế gian.  Hai là sức tinh tấn, vì hẳng chẳng thối chuyển.  Ba là sức vô trước, vì lìa các cấu nhiễm.  Bốn là sức tịch tịnh, vì không tránh luận nơi tất cả pháp.  Năm là sức nghịch thuận, vì nơi tất cả pháp tâm tự tại.  Sáu là sức pháp tánh, vì trong các nghĩa được tự tại.  Bảy là sức vô ngại vì trí huệ quảng đại.  Tám là sức vô úy vì khéo thuyết pháp.  Chín là sức biện tài, vì khéo thọ trì các pháp.  Mười là sức khai thị, vì trí huệ vô biên.
Chư Phật tử!  Mười thứ lực này là sức quảng đại, sức tối thắng, sức không ai xô dẹp được, sức vô lượng, sức khéo chứa nhóm, sức bất động, sức kiên cố, sức trí huệ, sức thành tựu, sức thắng định, sức thanh tịnh, sức rất thanh tịnh, sức pháp thân, sức pháp quang minh, sức pháp đăng, sức pháp môn, sức không bị phá hoại, sức rất dũng mãnh, sức đại trượng phu, sức thiện trượng phu tu tập, sức thành chánh giác, sức quá khứ chứa nhóm thiện căn, sức an trụ vô lượng thiện căn, sức trụ Như Lai lực, sức tâm tư duy, sức tăng trưởng Bồ Tát hoan hỷ, sức xuất sanh Bồ Tát tịnh tín, sức tăng trưởng Bồ Tát dũng mãnh, sức do bồ đề tâm sanh, sức Bồ Tát thanh tịnh thâm tâm, sức Bồ Tát thù thắng thâm tâm, sức Bồ Tát thiện căn huân tập, sức cứu cánh các pháp, sức thân vô ngại, sức nhập pháp môn phương tiện thiện xảo, sức diệu pháp thanh tịnh, sức an trụ thế lực lớn tất cả thế gian chẳng khuynh động được, sức tất cả chúng sanh không ai che chói được.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này nơi vô lượng pháp công đức như vậy, hay thành tựu, hay viên mãn, hay chiếu minh, hay cụ túc, hay khắp cụ túc, hay quảng đại, hay kiên cố, hay tăng trưởng, hay tịnh trị, hay khắp tịnh trị.
Về những công đức biên tế, trí huệ biên tế, tu hành biên tế, pháp môn biên tế, tự tại biên tế, khổ hạnh biên tế, thành tựu biên tế, thanh tịnh biên tế, xuất ly biên tế, pháp tự tại biên tế của đại Bồ Tát này không ai có thể nói được.
Bồ Tát này chỗ chứng đắc, chỗ thành tựu, chỗ xu nhập, chỗ hiện tiền, chỗ có cảnh giới, chỗ có quan sát, chỗ có chứng nhập, chỗ có thanh tịnh, chỗ có liễu tri, chỗ có kiến lập tất cả pháp môn, trong bất khả thuyết kiếp không thể nói hết được.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát trụ nơi tam muội này có thể rõ biết vô số vô lượng vô biên vô đẳng bất khả sổ bất khả xưng bất khả tư bất khả lượng bất khả thuyết bất khả thuyết bất khả thuyết tất cả tam muội.  Cảnh giới của mỗi mỗi tam muội đó quảng đại vô lượng.  Trong cảnh giới đó hoặc nhập, hoặc xuất, hoặc trụ, chỗ có tướng trạng, chỗ có thị hiện, chỗ có hành xứ, chỗ có đẳng lưu, chỗ có tự tánh, chỗ có trừ diệt, chỗ có xuất ly, tất cả như vậy đều thấy rõ cả.
Ví như cung của đại long vương nơi ao a nậu đạt chảy ra thành bốn con sông lớn, không đục, không tạp, không cấu uế, màu sắc thanh tịnh dường như hư không.  Bốn mặt ao, mỗi phía có một của sông, chảy ra thành bốn con sông.  Nơi cửa tượng khẩu chảy ra thành sông hằng già.  Nơi cửa sư tử khẩu chảy ra thành sông tư đà.  Nơi cửu ngưu khẩu chảy ra thành sông tín độ.  Nơi cửa mã khẩu chảy ra thành sông phược sô.  Nơi cửa sông hằng già chảy ra cát bạc.  Cửa sông tư đà chảy ra cát kim cương.  Cửa sông tín độ chảy ra cát vàng.  Cửa sông phược sô chảy ra cát lưu ly.  Cửa sông hằng già màu bạc.  Cửa sông tư đà màu kim cương.  Cửa sông tín độ màu vàng.  Cửa sông phược sô màu lưu ly.  Mỗi cửa sông rộng một do tuần.
Nước nơi bốn cửa sông chảy quanh ao a nậu đạt bảy vòng rồi theo phương vị mà chảy ra bốn phía, nổi sóng cuồn cuộn chảy thẳng ra biển.
Nơi dòng nước của bốn sông chảy quanh ao, có thiên bửu hiệp thành bốn thứ hoa sen xanh, vàng, đỏ, trắng, hương thơm lạ lùng ngào ngạt, diệu sắc thanh tịnh.  Những cánh hoa, những đài nhụy đều là các thứ báu tự nhiên chói suốt, đều phóng ánh sáng chiếu hiện lẫn nhau.
Ao a nậu đạt chu vi rộng lớn năm mươi do tuần, những cát báu trải khắp đáy ao, nghiêm sức với những châu ma ni, bờ ao trang nghiêm bằng vô lượng diệu bửu, diệu hương chiên đàn rải khắp trong đó.  Bốn thứ hoa sen và các hoa báu khác đều có khắp ao.  Gió thoảng đưa hương khí đi xa.  Rừng hoa cây báu quanh ao.  Lúc mặt nhật mọc thảy đều chiếu sáng.  Ao và sông cùng tất cả vật chiếu chói lẫn nhau thành lưới quang minh.  Các vật này, hoặc xa, hoặc gần, hoặc cao, hoặc thấp, hoặc rộng, hoặc hẹp, hoặc thô, hoặc tế, nhẫn đến rất nhỏ như một hột cát, một hột bụi đều là diệu bửu quang minh chói sáng.  Tất cả vật đêu có hiện bóng mặt nhật.  Các vật này cũng hiện bóng lẫn nhau.  Các bóng ấy không thêm không bớt, chẳng phải hiệp, chẳng phải tan, đều như bổn chất mà được thấy rõ.
Chư Phật tử!  Như ao a nậu đạt, nơi bốn cửa chảy ra bốn con sông, thẳng vào biển.  Cũng vậy, đại Bồ Tát từ tứ biện tài phát sanh các hạnh rốt ráo vào nơi biển nhất thiết trí.
Như sông hằng già từ tượng khẩu màu bạc chảy ra cát bạc.  Cũng vậy, đại Bồ Tát dùng nghĩa biện tài thuyết tất cả nghĩa môn của đức Như Lai đã nói, xuất sanh tất cả bạch pháp thanh tịnh rốt ráo vào nơi biển trí vô ngại.
Như sông tư đà từ sư tử khẩu màu kim cương chảy ra cát kim cương.  Cũng vậy, đại Bồ Tát dùng pháp biện tài vì tất cả chúng sanh mà nói câu kim cương dẫn ra trí kim cương rốt ráo vào nơi biển trí vô ngại.
Như sông tín độ từ ngưu khẩu màu vàng chảy ra cát vàng.  Cũng vậy, đại Bồ Tát dùng huấn từ biện tài thuyết duyên khởi phương tiện tùy thuận thế gian, khai ngộ chúng sanh khiến đều hoan hỷ điều phục thành thục, rốt ráo vào nơi biển duyên khởi phương tiện.
Như sông phược sô từ mã khẩu màu lưu ly chảy ra cát lưu ly.  Cũng vậy, đại Bồ Tát dùng vô tận biện tài mưa trăm ngàn ức na do tha bất khả thuyết diệu pháp, làm cho người nghe đều được gội nhuần rốt ráo vào nơi biển Phật pháp.
Như bốn con sông chảy quanh ao a nậu đạt rồi đều theo phương vị chảy thẳng ra biển.  Cũng vậy, đại Bồ Tát thành tựu tùy thuận thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp.  Thành tựu trí làm tiền đạo cho thân nghiệp, ngữ nghiệp, ý nghiệp.  Tuôn khắp bốn phương rốt ráo vào nơi biển nhất thiết trí.
Chư Phật tử!  Những gì gọi là Bồ Tát bốn phương?  Những là thấy tất cả Phật mà được khai ngộ, nghe tất cả pháp thọ trì chẳng quên, đầy đủ tất cả hạnh ba la mật, đại bi thuyết pháp làm đầy đủ cho chúng sanh.
Như bốn con sông chảy quanh ao, trong đó mọc đầy những bốn thứ hoa sen:  Xanh, vàng, đỏ, trắng.  Cũng vậy, đại Bồ Tát trong chặng phát tâm bồ đề chẳng rời bỏ chúng sanh, thuyết pháp điều phục khiến điều viên mãn vô lượng tam muội thấy cõi nước Phật trang nghiêm thanh tịnh.
Như cây báu bao quanh ao a nậu đạt.  Cũng vậy, đại Bồ Tát hiện cõi nước Phật trang nghiêm, làm cho chúng sanh xu hướng bồ đề.
Như ao a nậu đạt rộng năm mươi do tuần, nước ao trong sạch không đục.  Cũng vậy, đại Bồ Tát tâm bồ đề rộng vô lượng vô biên, đầy đủ thiện căn thanh tịnh không nhơ.
Như ao a nậu đạt dùng vô lượng bửu trang nghiêm nơi bờ, hương chiên đàn rải đầy khắp trong đó.  Cũng vậy, đại Bồ Tát dùng trăm ngàn ức mười thứ trí bửu trang nghiêm ở đại nguyện bồ đề tâm, khắp rải tất cả những pháp lành diệu hương.
Như ao a nậu đạt, cát vàng trải khắp đáy ao, châu ma ni xen lẫn trang nghiêm.  Cũng vậy, đại Bồ Tát dùng trí huệ vi diệu quán sát cùng khắp, bất tư nghì pháp hữu Bồ Tát giải thoát xen lẫn trang nghiêm, được vô ngại quang minh nơi tất cả pháp, trụ nơi chỗ trụ của tất cả Phật, nhập nơi tất cả phương tiện thậm thâm.
Như long vương nơi ao a nậu đạt khỏi hẳn những nhiệt não của loài rồng.  Cũng vậy, đại Bồ Tát khỏi hẳn tất cả ưu não của thế gian.  Dầu hiện thọ sanh mà không nhiễm trước.
Như bốn sông lớn thấm nhuần khắp mặt đất, rồi chảy vào biển.  Cũng vậy, đại Bồ Tát dùng bốn sông trí huệ thấm nhuần trời, người, sa môn, bà la môn, làm cho họ đều vào nơi biển trí huệ vô thượng bồ đề.  Dùng bốn thứ lực để trang nghiêm:  Một là sông nguyện trí cứu hộ điều phục tất cả chúng sanh thường không ngớt nghỉ.  Hai là sông trí ba la mật tu hạnh bồ đề lợi ích chúng sanh, quá khứ, vị lai, hiện tại nối tiếp vô tận rốt ráo vào nơi biển trí của chư Phật.  Ba là sông trí tam muội của Bồ Tát vô số tam muội dùng làm trang nghiêm thấy tất cả Phật vào nơi biển chư Phật.  Bốn là sông trí đại bi, đại bi tự tại cứu khắp chúng sanh, phương tiện nhiếp lấy không thôi nghỉ, tu hành môn công đức bí mật rốt ráo vào nơi biển lớn thập lực. 
Như bốn sông lức từ ao a nậu đạt chảy ra vô tận chẳng vào đến biển.  Cũng vậy, đại Bồ Tát dùng sức đại nguyện tu hạnh Bồ Tát, tri kiến tự tại vô tận, rốt ráo vào nơi biển nhất thiết trí.
Như bốn sông lớn chảy vào biển, không gì có thể ngăn chẳng cho chảy vào biển được.  Cũng vậy, đại Bồ Tát thường siêng tu tập hạnh nguyện Phổ Hiền, thành tựu tất cả trí huệ quang minh, trụ nơi pháp bồ đề của tất cả Phật, vào Phật trí không chướng ngại.
Như bốn sông lớn chảy thẳng vào biển, trải qua nhiều kiếp vẫn không nhàm mỏi.  Cũng vậy, đại Bồ Tát dùng hạnh nguyện Phổ Hiền tu hạnh Bồ Tát tột kiếp vị lai vào biển Như Lai chẳng nhàm mỏi.
Như lúc mặt nhật mọc, trong ao a nậu đạt, cát bạc, cát vàng, cát kim cương, cát lưu ly, và các thứ bửu vật khác đều có bóng mặt nhật hiện trong đó.  Những cát bạc, vàng, kim cương, lưu ly và tất cả bửu vật cũng đều xoay vần hiện bóng nhau không trở ngại.
Cũng vậy, đại Bồ Tát trụ tam muội này, trong mỗi mỗi lỗ lông nơi thana đều thấy bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số chư Phật Như Lai, cũng thấy cõi nước đạo tràng và chúng hội của chư Phật đó.  Nơi mỗi đức Phật, Bồ Tát này nghe pháp thọ trì, tín giải, cúng dường, đều trải qua bất khả thuyết bất khả thuyết ức na do tha kiếp, mà chẳng tưởng niệm thời tiết dài vắn.  Những chúng hộ đó cũng không bị chật hẹp. 
Tại sao vậy?  Vì Bồ Tát này dùng tâm vi diệu nhập vô biên pháp giới, vì nhập đẳng nghiệp quả sai biệt, vì nhập cảnh giới tam muội bất tư nghì, vì nhập cảnh giới tư duy bất tư nghì, vì nhập cảnh giới tự tại của chư Phật, vì được tất cả Phật hộ niệm, vì được đại thần biến của tất cả Phật, vì được thập lực khó biết khó được của chư Phật, vì nhập cảnh giới hạnh viên mãn của Phổ Hiền Bồ Tát, vì được sức thần thông không mỏi nhọc của tất cả Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát dầu có thể ở nơi chánh định xuất nhập trong một niệm, nhưng cũng chẳng bỏ thời gian lâu ở trong định, cũng không chấp trước.  Dầu nơi cảnh giới không chỗ y trụ, nhưng cũng chẳng bỏ tất cả cảnh sở duyên.  Dầu khéo nhập sát na tế tam muội, nhưng vì lợi ích chúng sanh mà hiện Phật thần thông không nhàm đủ.  Dầu vào khắp pháp giới mà chẳng có ngằn mé.  Dầu không sở trụ không có xứ sở, nhưng luôn xu nhập đạo nhất thiết trí, dùng sức biến hóa vào khắp trong vô lượng chúng sanh, trang nghiêm đầy đủ tất cả thế giới.  Dầu rời điên đảo phân biệt thế gian, vượt khỏi tất cả bậc phân biệt, cũng chẳng bỏ tất cả các tướng.  Dầu hay đầy đủ phương tiện thiện xảo, mà rốt ráo thanh tịnh.  Dầu chẳng phân biệt các bậc Bồ Tát, mà đều đã khéo nhập các bậc.
Ví như hư không dầu hay dung thọ tất cả các vật, mà chẳng rời có và không.  Cũng vậy, đại Bồ Tát dầu vào khắp tất cả thế gian mà rời tưởng thế gian.  Dầu siêng độ tất cả chúng sanh mà rời tưởng chúng sanh.  Dầu sâu biết tất cả pháp mà rời tưởng các pháp.  Dầu thích thấy chư Phật mà rời tưởng chư Phật.  Dầu khéo nhập các thứ tam muội mà biết tất cả pháp tự tánh đều như không chỗ nhiễm trước.  Dầu dùng vô biên biện tài diễn vô tận pháp cú mà tâm luôn trụ nơi pháp lìa văn tự.  Dầu thích quán sát pháp không ngôn thuyết mà luôn thị hiện âm thanh thanh tịnh.  Dầu trụ tất cả pháp tế ly ngôn mà luôn thị hiện các thứ sắc tướng.  Dầu giáo hóa chúng sanh mà biết tất cả pháp rốt ráo tánh không.  Dầu siêng tu đại bi độ thoát chúng sanh mà biết chúng sanh giới vô tận vô tán.  Dầu rõ thấu pháp giới thường trụ bất biến mà dùng tam luân điều phục chúng sanh luôn chẳng thôi nghỉ.  Dầu thường an trụ chỗ trụ của Như Lai, mà trí huệ thanh tịnh tâm không sợ hãi phân biệt diễn thuyết các thứ pháp, chuyển pháp luân thường chẳng thôi nghỉ.
Trên đây là trí thiện xảo pháp gới tự tại đại tam muội thứ chín của đại Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Thế nào là vô ngại luân tam muội của đại Bồ Tát?
Lúc đại Bồ Tát nhập tam muội này thời trụ nơi thân nghiệp vô ngại, ngữ nghiệp vô ngại, ý nghiệp vô ngại.  Trụ nơi Phật độ vô ngại.  Được trí vô ngại thành tựu chúng sanh.  Được trí vô ngại điều phục chúng sanh.  Phóng quang minh vô ngại.  Hiện lưới quang minh vô ngại.  Bày biến hóa vô ngại quảng đại.  Chuyển pháp luân vô ngại thanh tịnh.  Được Bồ Tát vô ngại tự tại.  Vào khắp Phật lực, trụ khắp Phật trí.  Làm chỗ làm của Phật.  Tịnh chỗ tịnh của Phật.  Hiện Phật thần thông.  Làm cho Phật hoan hỷ.  Thực hành hạnh Như Lai.  Trụ đạo Như Lai.  Thường được gần gũi vô lượng Phật.  Làm những Phật sự.  Nối thạnh Phật chủng.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát đã trụ nơi tam muội này rồi, quán nhất thiết trí, tổng quán nhất thiết trí, biệt quán nhất thiết trí, tuỳ thuận nhất thiết trí, hiển thị nhất thiết trí, phan duyên nhất thiết trí, kiến nhất thiết trí, tổng kiến nhất thiết trí, biệt kiến nhất thiết trí.  Nơi hạnh nguyện quảng đại của Phổ Hiền Bồ Tát, nơi tâm quảng đại, hạnh quảng đại, sở xu quảng đại, sở nhập quảng đại, quang minh quảng đại, xuất hiện quảng đại, hộ niệm quảng đại, biến hóa quảng đại, đạo quảng đại của Phổ Hiền Bồ Tát, chẳng dứt, chẳng lui, chẳng thối, chẳng đổi, không mỏi, không bỏ, không tán, không loạn, thường tăng tấn hằng tiếp nối.
Tại sao vậy?  Vì đại Bồ Tát này ở trong các pháp thành tựu đại nguyện, phát hành đại thừa, vào nơi biển Phật pháp đại phương tiện, dùng sức nguyện thù thắng nơi chỗ sở hành của Bồ Tát, trí huệ chiếu sáng đều được thiện xảo.  Đầy đủ Bồ Tát thần thông biến hóa, khéo hay hộ niệm tất cả chúng sanh như chỗ hộ niệm của tam thế chư Phật.  Với các chúng sanh hằng khởi đại bi. Thành tựu pháp chẳng biến dị của Như Lai.
Ví như có người đem châu ma ni để trong lớp lụa màu, châu ma ni dầu đồng màu với lụa nhưng chẳng bỏ bổn chất.  Cũng vậy, đại Bồ Tát thành tựu trí huệ dùng làm tâm bửu, quán nhất thiết trí đều khắp hiện rõ, nhưng chẳng bỏ hạnh Bồ Tát.
Tại sao vậy?  Vì đại Bồ Tát phát thệ nguyện lớn lợi ích tất cả chúng sanh, độ thoát tất cả chúng sanh, thừa sự tất cả chư Phật, nghiêm tịnh tất cả thế giới, an ủy chúng sanh thâm nhập biển pháp.  Vì tịnh chúng sanh giới mà hiện đại tự tại.  Cấp thí chúng sanh chiếu khắp thế gian.  Vào nơi vô biên pháp môn huyễn hóa, chẳng lui, chẳng chuyển, không mỏi, không nhàm.
Ví như hư không chứa giữ các thế giới, hoặc thành hoặc trụ, không nhàm không mỏi, không gầy không hư, không tan không hoại, không biến không khác, không có sai biệt, chẳng bỏ tự tánh.
Tại sao vậy?  Vì tự tánh của hư không là như vậy.  Cũng thế, đại Bồ Tát lập vô lượng đại nguyện độ tất cả chúng sanh tâm không nhàm mỏi. 
Ví như niết bàn, tam thế vô lượng chúng sanh diệt độ trong đó, trọn không nhàm mỏi.  Tại sao vậy?  Vì tất cả pháp bổn tánh thanh tịnh gọi đó là niết bàn, thời đâu có sự nhàm mỏi ở trong đó.
Cũng vậy, đại Bồ Tát vì muốn độ thoát tất cả chúng sanh đều làm cho xuất ly mà hiện ra đời nên không bao giờ có tâm nhàm mỏi.
Như nhất thiết trí hay làm cho tam thế tất cả Bồ Tát đã sẽ và hiện nay sanh vào nhà chư Phật, nhẫn đến làm cho thành vô thượng bồ đề trọn không nhàm mỏi.  Tại sao vậy?  Vì nhất thiết trí cùng pháp giới không hai, vì nơi tất cả pháp vô sở trước.
Cũng vậy, đại Bồ Tát tâm bình đẳng trụ nhất thiết trí thời đâu có tâm nhàm mỏi.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này có một liên hoa.  Liên hoa đó rộng lớn tột thập phương tế, dùng bất khả thuyết cánh, bất khả thuyết bửu, bất khả thuyết hương để trang nghiêm.  Bất khả thuyết bửu đó lại đều thị hiện các thứ bửu thanh tịnh đẹp tốt rất khéo an trụ.  Hoa đó thường phóng quang minh nhiều màu, chiếu khắp mười phương tất cả thế giới không chỗ chướng ngại.  Chân kim là lưới giăng chùm trên hoa.  Linh báu lay nhẹ vang tiếng hòa dịu.  Tiếng linh diễn sướng pháp nhất thiết trí. 
Liên hoa lớn này đầy đủ sự trang nghiêm thanh tịnh của Như Lai.  Là chỗ phát khởi của tất cả thiện căn, tiêu biểu sự cát tường, chỗ hiện của thần lực, có mười ngàn vô số công đức thanh tịnh diệu đạo Bồ Tát làm thành, tâm nhất thiết trí lưu xuất.  Bóng của chư Phật mười phương hiện rõ trong đó.  Thế gian chiêm ngưỡng xem như tháp của Phật.  Chúng sanh ngó thấy đều lễ kính.  Từ chỗ hay thấu rõ huyễn chánh pháp sanh ra.  Tất cả thế gian chẳng ví dụ được.
Đại Bồ Tát ngồi kiết già trên liên hoa này, thân cân xứng với hoa.  Thần lực của chư Phật gia hộ làm cho nơi thân của Bồ Tát, mỗi mỗi chỗ lông đều phóng ra trăm muôn ức na do tha bất khả thuyết phật sát vi trần số quang minh.  Mỗi mỗi quang minh hiện trăm muôn ức na do tha bất khả thuyết phật sát vi trần số châu ma ni.  Châu ma ni này đều gọi là phổ quang minh tạng, trang nghiêm với nhiều sắc tướng, thành tựu do vô lượng công đức.  Các báu và hoa làm mành lưới giăng che phía trên.  Rải trăm ngàn ức na do tha diệu hương thù thắng.  Trang nghiêm với vô lượng sắc tướng.  Lại hiện lọng báu trang nghiêm bất tư nghì dùng cho phía trên.
Mỗi mỗi châu ma ni đều hiện trăm ngàn ức na do tha bất khả thuyết phật sát vi trần số tòa liên hoa tạng sư tử.  Mỗi mỗi tòa sư tử hiện trăm muôn ức na do tha bất khả thuyết phật sát vi trần số quang minh.  Mỗi mỗi quang minh hiện trăm muôn ức na do tha bất khả thuyết phật sát vi trần số sắc tướng.  Mỗi mỗi sắc tướng hiện trăm muôn ức na do tha bất khả thuyết phật sát vi trần số quang minh luân.  Mỗi mỗi quang minh luân hiện trăm muôn ức na do tha bất khả thuyết phật sát vi trần số hoa tỳ lô giá na ma ni bửu.  Mỗi mỗi hoa hiện trăm muôn ức na do tha bất khả thuyết phật sát vi trần số đài.  Mỗi mỗi đài hiện trăm muôn ức na do tha bất khả thuyết phật sát vi trần số đức Phật.  Mỗi mỗi đức Phật hiện trăm muôn ức na do tha bất khả thuyết phật sát vi trần số thần biến.  Mỗi mỗi thần biến tịnh trăm muôn ức na do tha bất khả thuyết phật sát vi trần số chúng sanh.  Trong mỗi loài chúng sanh hiện trăm muôn ức na do tha bất khả thuyết phật sát vi trần số chư Phật tự tại.  Mỗi mỗi tự tại rưới trăm muôn ức na do tha bất khả thuyết phật sát vi trần số Phật pháp.  Mỗi mỗi Phật pháp có trăm muôn ức na do tha bất khả thuyết phật sát vi trần số tu đa la.  Mỗi mỗi tu đa la thuyết trăm muôn ức na do tha bất khả thuyết phật sát vi trần số pháp môn.  Mỗi mỗi pháp môn có trăm muôn ức na do tha bất khả thuyết phật sát vi trần số kim cang trí, chỗ nhập pháp luân sai biệt, ngôn từ riêng khác.  Diễn thuyết mỗi mỗi pháp luân thành thục trăm muôn ức na do tha bất khả thuyết phật sát vi trần số chúng sanh giới.  Mỗi mỗi chúng sanh giới có trăm muôn ức na do tha bất khả thuyết phật sát vi trần số chúng sanh, ở trong Phật pháp mà được điều phục.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát trụ tam muội này thị hiện cảnh giới thần thông vô lượng biến hóa như vậy, đều biết như huyễn trọn không nhiễm trước.  An trụ trong vô biên bất khả thuyết pháp tự tánh thanh tịnh pháp giới thật tướng Như Lai chủng tánh vô ngại tế, không đến không đi, chẳng sau chẳng trước, rất sâu không đáy, hiện lượng mà được, dùng trí tự vào chẳng do người khác khai ngộ, tâm chẳng mê loạn cũng không phân biệt.  Được sự khen ngợi của tam thế chư Phật, lưu xuất từ Phật lực.  Vào cảnh giới của tất cả Phật, thể tánh như thật, tịnh nhãn hiện chứng, huệ nhãn thấy khắp, thành tựu Phật nhãn, là đèn sáng của thế gian.  Đi nơi cảnh giới sở tri của trí nhãn.  Hay rộng khai thị pháp môn vi diệu, thành bồ đề tâm, đến thắng trượng phu.  Không chướng ngại với tất cả cảnh giới.  Nhập chủng tánh trí, phát sanh các trí.  Rời khỏi sanh pháp thế gian mà hiện thọ sanh, thần thông biến hóa phương tiện điều phục.  Tất cả như vậy đều thiện xảo.  Công đức, giải, nguyện đều thanh tịnh, rất tột vi diệu đầy đủ viên mãn.  Trí huệ quảng đại như hư không.  Hay khéo quán sát cảnh giới của chư thánh, tín, hạnh, nguyện, lực kiên cố bất động.  Công đức vô tận được thế gian khen ngợi.  Nơi tạng sở quán của tất cả Phật, chỗ đại bồ đề biển nhất thiết trí, nhóm các diệu bửu làm bậc đại trí.  Dường như liên hoa tự tánh thanh tịnh.  Chúng sanh xem thấy thời đều vui mừng đều được lợi ích.  Trí quang chiếu khắp thấy vô lượng Phật.  Tịnh tất cả pháp chỗ làm tịch tịnh.  Nơi pháp chư Phật rốt ráo vô ngại, hằng dùng phương tiện trụ Phật bồ đề.  Trong hạnh công đức mà được xuất sanh đủ trí Bồ Tát, làm thủ Bồ Tát, được sự chung hộ niệm của tất cả chư Phật, được Phật oai thần, thành Phật pháp thân, niệm lực khó nghĩ bàn.  Nơi cảnh một duyên mà không sở duyên.  Hạnh rộng lớn vô tướng vô ngại, khắp cả pháp giới vô lượng vô biên.  Bồ đề được chứng dường như hư không, chẳng có ngằn mé, không bị phược trước.  Khắp làm lợi ích cho các thế gian.  Thiện căn chảy vào biển nhất thiết trí.  Đều hay thông đạt vô lượng cảnh giới.  Đã khéo thành tựu pháp bố thí thanh tịnh.  Trụ tâm Bồ Tát, tịnh giống Bồ Tát.  Hay tuỳ thuận sanh chư Phật bồ đề.  Nơi pháp chư Phật đều được thiện xảo.  Đủ hạnh vi diệu thành sức kiên cố.  Oai thần tự tại của tất cả chư Phật, chúng sanh khó được nghe, Bồ Tát đều biết, nhập môn bất nhị, trụ pháp vô tướng.  Dầu đã bỏ hẳn các tướng mà hay thuyết rộng các pháp, tuỳ theo tâm chúng sanh thích muốn hiểu, đều làm cho họ điều phục, đều làm cho họ hoan hỷ.  Pháp giới làm thân không phân biệt, cảnh giới trí huệ chẳng thể cùng tận.  Trí thường dũng mãnh, tâm hằng bình đẳng.  Thấy biên tế công đức của tất cả chư Phật.  Rõ sự sai biệt thứ đệ của tất cả kiếp.  Khai thị tất cả pháp.  An trụ tất cả cõi.  Nghiêm tịnh tất cả Phật độ.  Hiển hiện quang minh của tất cả chánh pháp.  Diễn sướng tam thế tất cả Phật pháp.  Bày chỗ sở trụ của chư Bồ Tát.  Là đèn sáng của thế gian, sanh những thiện căn, lìa hẳn thế gian thường sanh chỗ Phật, được Phật trí sáng suốt đệ nhất.  Tất cả chư Phật đều cùng nhiếp thọ, đã vào số chư Phật vị lai.  Từ các thiện hữu mà được xuất sanh, bao nhiêu trí cầu đều được quả toại.  Đủ oai đức lớn, trụ ý tăng thượng.  Tuỳ pháp đã nghe đều có thể khéo nói, cũng để khai thị thiện căn nghe pháp, trụ thực tế luân, tâm không chướng ngại với tất cả pháp.  Chẳng bỏ các hạnh, lìa những phân biệt.  Nơi tất cả pháp, tâm không động niệm.  Được sáng trí huệ diệt trừ si tối, đều hay soi sáng tất cả Phật pháp.  Chẳng hoại các pháp mà sanh trong đó, rõ biết tất cả cảnh giới các cõi, từ nào đến giờ không có động tác, thân ngữ ý nghiệp thảy đều vô biên.  Dầu tuỳ thế tục diễn thuyết vô lượng thứ văn tự, mà thường chẳng hư hoại pháp ly văn tự, thâm nhập Phật hải, biết tất cả pháp chỉ có giả danh, nơi các cảnh giới không hệ phược không nhiễm trước.  Rõ tất cả pháp trống rỗng không chỗ có.  Những hạnh đã tu từ pháp giới sanh, dường như hư không chẳng tướng chẳng hình.  Thâm nhập pháp giới tuỳ thuận diễn thuyết.  Nơi nhất cảnh môn sanh nhất thiết trí.  Quán bậc thập lực dùng trí tu học.  Trí làm cầu đò đến nhất thiết trí.  Dùng mắt trí huệ thấy pháp vô ngại.  Khéo nhập các địa biết các thứ nghĩa.  Mỗi mỗi pháp môn đều được minh liễu, bao nhiêu đại nguyện đều được thành tựu.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát dùng đây để khai thị tánh vô biệt của tất cả Như Lai.  Đây là môn vô ngại phương tiện.  Đây có thể xuất sanh chúng hội Bồ Tát.  Pháp này chỉ là cảnh giới tam muội.  Đây có thể mạnh tiến vào nhất thiết trí.  Đây có thể khai hiển các môn tam muội.  Đây có thể vào khắp các cõi vô ngại.  Đây có thể điều phục tất cả chúng sanh.  Đây có thể trụ nơi vô chúng sanh tế.  Đây có thể khai thị tất cả Phật pháp.  Đây nơi cảnh giới đều vô sở đắc.  Dầu tất cả thời diễn thuyết khai thị mà hẳng xa lìa vọng tưởng phân biệt.  Dầu biết các pháp đều vô tác mà có thể thị hiện tất cả tác nghiệp.  Dầu biết chư Phật không có hai tướng mà có thể hiển thị tất cả chư Phật.  Dầu biết không sắc mà diễn thuyết các sắc.  Dầu biết không thọ, tưởng, hành, thức mà diễn thuyết các thọ, tưởng, hành, thức.  Hằng dùng pháp luân khai thị tất cả.  Dầu biết pháp vô sanh mà thường chuyển pháp luân.  Dầu biết pháp vô sai biệt mà thuyết các môn sai biệt.  Dầu biết các pháp không có sanh diệt mà thuyết tất cả tướng sanh diệt.  Dầu biết các pháp không thô không tế mà thuyết tướng thô tế của các pháp.  Dầu biết các pháp không thượng trung hạ mà hay tuyên thuyết pháp tối thượng.  Dầu biết các pháp không thể ngôn thuyết mà hay diễn thuyết ngôn từ thanh tịnh.  Dầu biết các pháp không nội không ngoại mà nói tất cả những pháp nội ngoại.  Dầu biết các pháp chẳng thể liễu tri mà nói các thứ trí huệ quán sát.  Dầu biết các pháp không có chân thật mà nói đạo xuất ly chân thật.  Dầu biết các pháp rốt ráo vô tận mà hay diễn thuyết tận diệt hữu lậu.  Dầu biết vô vi vô tránh nhưng cũng chẳng không tự tha sai biệt.  Dầu biết các pháp rốt ráo vô sư mà thường tôn kính tất cả sư trưởng.  Dầu biết các pháp chẳng do nơi khác mà tỏ ngộ nhưng thường tôn kính các thiện tri thức.  Dầu biết các pháp không chuyển mà chuyển pháp luân.  Dầu biết các pháp vô khởi mà hiển thị các nhân duyên.  Dầu biết các pháp không tiền tế mà nói rộng về vị lai.  Dầu biết các pháp không có trung tế mà nói rộng về hiện tại.  Dầu biết các pháp không có tác giả mà nói các tác nghiệp.  Dầu biết các pháp không có nhân duyên mà nói những tập nhân.  Dầu biết các pháp không có đẳng tỷ mà nói đạo bình đẳng bất bình đẳng.  Dầu biết các pháp không có ngôn thuyết mà quyết định nói pháp tam thế.  Dầu biết các pháp không có sở y nhưng nói y tựa pháp lành mà được xuất ly.  Dầu biết pháp không thân hình mà nói rộng về pháp thân.  Dầu biết tam thế chư Phật vô biên mà hay diễn thuyết chỉ có một đức Phật.  Dầu biết pháp vô sắc mà hiện các thứ sắc.  Dầu biết pháp vô kiến mà nói rộng các kiến.  Dầu biết pháp vô tướng mà nói các thứ tướng.  Dầu biết pháp không có cảnh giới mà nói rộng cảnh giới trí huệ.  Dầu biết các pháp không có sai biệt mà nói hành quả các thứ sai biệt.  Dầu biết các pháp không có xuất ly mà nói những hạnh xuất ly thanh tịnh.  Dầu biết các pháp bổn lai thường trụ mà nói tất cả những pháp lưu chuyển.  Dầu biết các pháp không có chiếu minh mà hẳng nói rộng pháp chiếu minh.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát nhập đại oai đức tam muội trí luân như vậy, thời có thể chứng được tất cả Phật pháp, thời có thể xu nhập tất cả Phật pháp.  Thời có thể thành tựu, có thể viên mãn, có thể tích tập, có thể thanh tịnh, có thể an trụ, có thể liễu đạt, cùng tất cả pháp tự tánh tương ưng.  Mà đại Bồ Tát này chẳng nghĩ rằng có bao nhiêu Bồ Tát, bao nhiêu pháp Bồ Tát, bao nhiêu Bồ Tát rốt ráo, bao nhiêu huyễn rốt ráo, bao nhiêu hóa rốt ráo, bao nhiêu thần thông thành tựu, bao nhiêu trí thành tựu, bao nhiêu tư duy, bao nhiêu chứng nhập, bao nhiêu xu hướng, nhẫn đến chẳng nghĩ rằng có bao nhiêu cảnh giới.
Tại sao vậy?  Vì Bồ Tát tam muội thể tánh như vậy, vô biên như vậy, thù thắng như vậy.
Tam muội này có các thứ cảnh giới, các thứ oai lực, các thứ thâm nhập.  Những là nhập bất khả thuyết trí môn, nhập các trang nghiêm ly phân biệt, nhập vô biên ba la mật thù thắng, nhập vô số thiền định, nhập trăm ngàn ức na do tha bất khả thuyết trí quảng đại, nhập thấy vô biên tạng thắng diệu của chư Phật, nhập nơi cảnh giới tâm vô ngại, nhập trí nhãn thấy tất cả Phật bình đẳng, nhập chứa nhóm chí hạnh thù thắng của Phổ Hiền, nhập trụ nơi trí thân vi diệu na la diên, nhập thuyết biển trí huệ của Như Lai, nhập khởi vô lượng thứ thần biến tự tại, nhập sanh trí môn vô tận của tất cả Phật, nhập trụ cảnh giới hiện tiền của tất cả chư Phật, nhập tịnh trí tự tại của Phổ Hiền Bồ Tát, nhập khai thị vô tỷ trí phổ môn, nhập khắp biết tất cả cảnh giới vi tế, nhập khắp hiện pháp giới tất cả cảnh giới vi tế, nhập tất cả trí quang minh thù thắng, nhập tất cả biên tế tự tại, nhập tất cả biên tế pháp môn biện tài, nhập thân trí huệ khắp pháp giới, nhập thành tựu đạo đi khắp tất cả chỗ, nhập khéo trụ tất cả tam muội sai biệt, nhập tâm biết tất cả chư Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này trụ hạnh Phổ Hiền mỗi niệm nhập trăm ức bất khả thuyết tam muội nhưng chẳng thấy tam muội của Phổ Hiền Bồ Tát và quá khứ trang nghiêm của Phật cảnh giới.
Tại sao vậy?  Vì biết tất cả pháp rốt ráo vô tận.  Vì biết tất cả Phật độ vô biên.  Vì biết tất cả chúng sanh giới bất tư nghì.  Vì biết tiền tế vô thỉ.  Vì biết vị lai vô cùng.  Vì biết hiện tại tận hư không khắp pháp giới vô biên.  Vì biết cảnh giới của tất cả chư Phật chẳng thể nghĩ bàn.  Vì biết tất cả hạnh Bồ Tát vô số.  Vì biết cảnh giới do biện tài của tất cả Phật nói ra là bất khả thuyết vô biên.  Vì biết tất cả pháp sở duyên của huyễn tâm là vô lượng.
Chư Phật tử!  Ví như châu như ý, theo chỗ cầu tất cả đều được, người cầu vô tận ý đều đầy đủ, mà thế lực thù thắng của bửu châu trọng không thôi không thiếu.
Cũng vậy, đại Bồ Tát nhập tam muội này biết tâm như huyễn, xuất sanh tất cả cảnh giới của các pháp, cùng khắp vô tận chẳng thôi chẳng thiếu.
Tại sao vậy?  Vì đại Bồ Tát thành tựu hạnh trí vô ngại của Phổ Hiền, quán sát vô lượng huyễn cảnh quảng đại, dường như bóng tượng không tăng giảm.
Chư Phật tử!  Ví như phàm phu đều sanh tâm riêng khác, đã sẽ và đương sanh, không có biên tế không dứt không hết, tâm họ lưu chuyển tiếp nối không dứt, chẳng thể nghĩ bàn.
Cũng vậy, đại Bồ Tát vào nơi tam muội phổ huyễn môn này, không có biên tế, chẳng thể đo lường.
Tại sao vậy?  Vì liễu đạt vô lượng pháp, phổ huyễn môn của Phổ Hiền Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Ví như chư long vương:  Nan Đà, Bạt Nan Đà, Ma Na Tư, và chư đại long vương lúc làm mưa, giọt nước mưa lớn như trục bánh xe không có biên tế.  Dầu làm mưa như vậy mà mây chọn chẳng hết.  Đây là cảnh giới vô tác của long vương.
Cũng vậy, đại Bồ Tát trụ nơi tam muội này, nhập các môn tam muội của Phổ Hiền Bồ Tát và các trí môn, pháp môn, môn thấy chư Phật, môn qua các phương, môn tâm tự tại, môn da trì, môn thần biến, môn thần thông, môn huyễn hóa, môn các pháp như huyễn, môn bất khả thuyết bất khả thuyết chư Bồ Tát đầy khắp, môn thân cận bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số Như Lai chánh giác, môn nhập bất khả thuyết bất khả thuyết lưới huyễn quảng đại, môn biết bất khả thuyết bất khả thuyết chúng sanh tưởng, môn biết bất khả thuyết bất khả thuyết thời kiếp sai biệt, môn biết bất khả thuyết bất khả thuyết thời kiếp sai biệt, môn biết bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới thành hoại, môn biết bất khả thuyết bất khả thuyết các phật sát ở úp ở ngửa.  Trong khoảng một niệm đều biết như thật.
Lúc nhập như vậy, không biên tế không cùng tận chẳng nhọc chẳng nhàm, chẳng nghỉ chẳng dứt, không hư không mất.  Ở trong các pháp chẳng trụ phi xứ, hằng chánh tư duy, chẳng trầm chẳng cử.  Cầu nhất thiết trí thường chẳng thôi bỏ.  Làm đèn soi sáng thế gian cho tất cả cõi Phật.  Chuyển bất khả thuyết bất khả thuyết pháp luân.  Dùng diệu biện tài han hỏi Như Lai không lúc nào cùng tận.  Thị hiện thành Phật đạo không có biên tế.  Điều phục chúng sanh hẳng không phế bỏ.  Thường siêng tu tập hạnh nguyện Phổ Hiền chưa từng thôi nghỉ.  Thị hiện vô lượng bất khả thuyết bất khả thuyết sắc tướng không có đoạn dứt.
Ví như đốt lửa, theo duyên đã có, trong thời gian đó lửa cháy không tắt.
Cũng vậy, đại Bồ Tát quán sát chúng sanh giới, pháp giới, thế giới, dường như hư không chẳng có biên tế.  Nhẫn đến có thể trong khoảng một niệm qua đến bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số chỗ của Phật.  Mỗi mỗi chỗ của Phật, nhập bất khả thuyết bất khả thuyết nhất thiết trí các loại pháp sai biệt, khiến bất khả thuyết bất khả thuyết chúng sanh xuất gia làm đạo siêng tu thiện căn rốt ráo thanh tịnh.  Khiến bất khả thuyết bất khả thuyết Bồ Tát nơi hạnh nguyện Phổ Hiền, người chưa quyết định thời được quyết định.  An trụ nơi môn trí huệ của Phổ Hiền.  Dùng vô lượng phương tiện nhập bất khả thuyết bất khả thuyết tam thế kiếp quảng đại: thành trụ và hoại.  Nơi bất khả thuyết bất khả thuyết cảnh giới thành, trụ, hoại sai biệt của thế gian, sanh ngần ấy đại bi đại nguyện điều phục vô lượng chúng sanh không để sót.
Tại sao vậy?  Vì đại Bồ Tát này muốn độ thoát tất cả chúng sanh mà tu hạnh Phổ Hiền, sanh trí Phổ Hiền, đầy đủ hạnh nguyện của Phổ Hiền.
Vì thế nên Bồ Tát phải ở nơi chủng loại như vậy, cảnh giới như vậy, oai đức như vậy, quảng đại như vậy, vô lượng như vậy, bất tư nghì như vậy, môn phổ chiếu như vậy, trụ ở trước tất cả chư Phật như vậy, được tất cả Như Lai hộ niệm như vậy, thành tựu thiện căn thuở trước như vậy, tâm vô ngại bất động như vậy.
Trong tam muội siêng năng tu tập, rời các nhiệut não, không nhàm mỏi, tâm chẳng thối chuyển, lập chí nguyện sâu, dũng mãnh chẳng khiếp, thuận cảnh giới tam muội, nhập trí địa nan tư, chẳng y văn tự, chẳng nhiễm thế gian, chẳng lấy các pháp, chẳng khởi phân biệt, chẳng nhiễm trước thế sự, chẳng phân biệt cảnh giới.  Nơi các pháp trí chỉ nên an trụ mà chẳng nên so lường.  Nghĩa là gần gũi nhất thiết trí, ngộ hiểu Phật bồ đề, thành tựu pháp quang minh, ban bố thiện căn cho tất cả chúng sanh, ở trong ma giới cứu vớt chúng sanh cho họ được vào cảnh giới Phật pháp, khiến chẳng bỏ đại nguyện, siêng quán sát đạo xuất ly, thêm rộng cảnh thanh tịnh, thành tựu các độ.  Với tất cả Phật sanh tín giải sâu, thường phải quán sát tất cả pháp tánh không lúc nào tạm bỏ.  Phải biết tự thân cùng các pháp tánh đều khắp bình đằng.  Phải nên hiểu rõ chố làm của thế gian, chỉ bày trí huệ phương tiện đúng pháp.  Phải thường tinh tấn không thôi nghỉ.  Phải quán tự thân thiện căn kém ít.  Phải siêng làm thêm lớn căn lành cho người.  Phải tự tu hành đạo nhất thiết trí.  Phải siêng tăng trưởng cảnh giới Bồ Tát.  Phải thích gần gũi các thiện tri thức.  Phải đồng hành mà nương ở với thiện trí thức.  Phải chẳng phân biệt Phật.  Phải chẳng rời bỏ chánh niệm.  Phải thường an trụ pháp giới bình đẳng.  Phải biết tất cả tâm thức như huyễn.  Phải biết các hạnh thế gian như mộng.  Phải biết chư Phật nguyện lực xuất hiện như bóng tượng.  Phải biết tất cả những nghiệp rộng lớn dường như biến hóa.  Phải biết ngôn ngữ đều như vang.  Phải quán tất cả pháp như huyễn.  Phải biết tất cả pháp sanh diệt đều như âm thanh.  Phải biết tất cả cõi Phật đã trải qua đều không thể tánh.  Phải vì chúng sanh thỉnh  hỏi chánh pháp nơi Như Lai không biết mỏi mệt.  Phải vì khai ngộ tất cả thế gian nên siêng năng giáo hối chẳng rời bỏ.  Phải vì điều phục tất cả chúng sanh biết thời nghi thuyết pháp mà chẳng thôi nghỉ.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát tu hành hạnh Phổ Hiền như vậy, viên mãn cảnh giới Bồ Tát như vậy, đạo thần thông xuất ly như vậy, thọ trì tam thế Phật pháp như vậy, quán sát tất cả trí môn như vậy, tư duy pháp chẳng biến đổi như vậy, sáng sạch trí nguyện tăng thượng như vậy, tín giải tất cả Như Lai như vậy, rõ biết thần lực rộng lớn của Phật như vậy, quyết định tâm vô ngại như vậy, nhiếp thọ tất cả chúng sanh như vậy.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát lúc nhập đại trí huệ tam muội của Phổ Hiền Bồ Tát an trụ như vậy, mười phương đều có bất khả thuyết bất khả thuyết cõi nước, mỗi mỗi cõi nước đều có bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số danh hiệu Như Lai.   Mỗi mỗi danh hiệu đều có bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số chư Phật hiện ra trước Bồ Tát này ban cho niệm lực Như Lai, khiến chẳng quên mất cảnh giới Như Lai.  Ban cho huệ tất cả pháp rốt ráo khiến nhập nhất thiết trí.  Ban cho huệ biết tất cả pháp các thứ nghĩa quyết định khiến thọ trì tất cả Phật pháp xu nhập vô ngại.  Ban cho Phật bồ đề vô thượng khiến nhập nhất thiết trí khai ngộ pháp giới.  Ban cho Bồ Tát cứu cánh huệ khiến được quang minh của nhất thiết pháp, không còn tối tăm.  Ban cho Bồ Tát bất thối trí khiến biết thời phi thời, phương tiện thiện xảo điều phục chúng sanh.  Ban cho Bồ Tát biện tài vô ngại khiến tỏ ngộ vô biên pháp diễn thuyết vô tận.  Ban cho sức thần thông biến hóa khiến hiện bất khả thuyết bất khả thuyết thân sai biệt, vô biên sắc tướng chủng loại chẳng đồng, khai ngộ chúng sanh.  Ban cho ngôn âm viên mãn khiến hiện bất khả thuyết bất khả thuyết âm thanh sai biệt các thứ ngôn từ khai ngộ chúng sanh.  Ban cho sức chẳng luống bỏ, khiến tất cả chúng sanh nếu được thấy hình, hoặc được nghe pháp, đều được thành tựu không luống bỏ qua.
Chư Phật tử!  Vì đại Bồ Tát đầy đủ hạnh Phổ Hiền như vậy nên được Phật lực, thanh tịnh đạo xuất ly, đủ nhất thiết trí.  Dùng biện tài vô ngại thần thông biến hóa rốt ráo điều phục tất cả chúng sanh, đủ oai đức của Phật, tịnh hạnh Phổ Hiền, trụ đạo Phổ Hiền tột vị lai tế.  Vì muốn điều phục tất cả chúng sanh nên chuyển tất cả pháp luân vi diệu của Phật.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này thành tựu đại nguyện thù thắng các hạnh Bồ Tát như vậy, thời là pháp sư của tất cả thế gian, thời là pháp nhật của tất cả thế gian, thời là núi tu di của tất cả thế gian vòi vọi cao lớn kiên cố bất động, thời là biển trí không bờ của tất cả thế gian, thời là đèn sáng chánh pháp của tất cả thế gian chiếu khắp vô biên tiếp nối không dứt, vì tất cả chúng sanh khai thị vô biên công đức thanh tịnh, đều khiến an trụ công đức thiện căn, thuận nhất thiết trí đại nguyện bình đẳng, tu tập hạnh rộng lớn của Phổ Hiền, thường hay khuyến phát vô lượng chúng sanh trụ bất khả thuyết bất khả thuyết tam muội quảng đại hạnh, hiện đại tự tại.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này được trí như vậy, chứng pháp như vậy.  Nơi pháp như vậy suy gẫm an trụ thấy rõ.  Được thần lực như vậy, trụ cảnh giới như vậy, hiện thần biến như vậy, khởi thần thông như vậy.  Thường an trụ đại bi thường lợi ích chúng sanh, khai thị chánh đạo an ổn cho chúng sanh.  Kiến lập tràng đại quang minh phước trí.  Chứng bất tư nghì giải thoát.  Trụ nhất thiết trí giải thoát.  Đến bỉ ngạn giải thoát của Phật.  Học xong môn phương tiện giải thoát bất tư nghì, được thành tựu môn nhập pháp giới sai biệt không có lầm loạn.  Du hí tự tại nơi bất khả thuyết bất khả thuyết tam muội của Phổ Hiền.  Trụ trí sư tử phấn tấn tâm ý vô ngại.
Tâm Bồ Tát này hằng trụ mười pháp tạng lớn.  Những là trụ ghi nhớ tất cả Phật.  Trụ ghi nhớ tất cả Phật pháp.  Trụ đại bi điều phục tất cả chúng sanh.  Trụ trí thị hiện bất tư nghì cõi nước thanh tịnh.  Trụ trí quyết định thâm nhập cảnh giới của chư Phật.  Trụ bồ đề tướng bình đẳng của tam thế chư Phật.  Trụ biên tế vô trước vô ngại.  Trụ tất cả pháp không tướng tánh.  Trụ thiện căn bình đẳng của tam thế tất cả chư Phật.  Trụ trí tiên đạo thân ngữ ý pháp giới vô sai biệt của tam thế tất cả chư Phật:  Thọ sanh, xuất gia, đến đạo tràng thành chánh giác, chuyển pháp luân, nhập niết bàn, đều vào sát na tế.
Chư Phật tử!  Mười đại pháp tạng này rộng lớn vô lượng, bất khả sổ, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả thuyết, vô cùng tận, khó nhẫn thọ.  Tất cả thế trí không xưng thuật hết được.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này đã đến bỉ ngạn Phổ Hiền hạnh, chứng pháp thanh tịnh, chí lực quảng đại, khai thị vô lượng thiện căn cho chúng sanh, tăng trưởng tất cả thế lực của Bồ Tát.  Nơi khoảng mỗi niệm đầy đủ tất cả công đức của Bồ Tát.  Thành tựu tất cả hạnh Bồ Tát.   Được pháp đà la ni của tất cả Phật.  Thọ trì tất cả sở thuyết của chư Phật.  Dầu thường an trụ chân như thực tế, mà tùy tất cả ngôn thuyết thế tục, thị hiện điều phục tất cả chúng sanh.
Tại sao vậy?  Vì đại Bồ Tát trụ tam muội này thời theo pháp là như vậy.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát dùng tam muội này được trí quảng đại của tất cả chư Phật, được biện tài tự tại khéo nói tất cả pháp quảng đại.  Được pháp vô úy thanh tịnh rất là thù thắng trong tất cả thế gian.  Được trí nhập tất cả tam muội.  Được phương tiện thiện xảo của tất cả Bồ Tát.  Được tất cả pháp quang minh môn.  Đến bỉ ngạn pháp an ủy tất cả thế gian.  Biết tất cả chúng sanh thời, phi thời.  Chiếu tất cả chỗ mười phương thế giới.  Khiến tất cả chúng sanh được thắng trí.  Làm bậc thầy vô thượng của tất cả thế gian.  An trụ tất cả các công đức.  Khai thị tam muội thanh tịnh cho tất cả chúng sah, khiến nhập trí vô thượng.
Tại sao vậy?  Vì đại Bồ Tát tu hành như vậy thời lợi ích chúng sanh, thời thêm lớn đại bi, thời thân cận thiện tri thức, thời thấy tất cả Phật, thời rõ tất cả pháp, thời đến tất cả cõi, thời nhập tất cả phương, thời nhập tất cả thế, thời ngộ tánh bình đẳng của tất cả Phật, thời biết tánh bình đẳng của tất cả Phật, thời trụ tánh bình đẳng nhất thiết trí.  Ở trong pháp này làm công hạnh như vậy, chẳng làm công hạnh khác.  Trụ nơi tâm chưa đủ, trụ nơi tâm chẳng tán loạn, trụ nơi tâm chuyển nhất, trụ nơi tâm siêng tu, trụ nơi tâm quyết định, trụ nơi tâm chẳng đổi khác, tư duy như vậy, tác nghiệp như vậy, cứu cánh như vậy.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát không dị ngữ dị tác, có như ngữ như tác.
Ví như kim cang, do không bị hư hoại nên được tên là kim cang, trọn không lúc nào rời lìa bất hoại.  Cũng vậy, đại Bồ Tát do những hành pháp mà được tên là Bồ Tát, trọn không lúc nào rời các hành pháp.
Ví như chân kim, bởi có diệu sắc mà được tên, trọn không lúc nào rời những thiện nghiệp.
Ví như mặt nhật, do vầng sáng chói mà được tên, trọn không lúc nào rời sáng chói.  Cũng vậy, đại Bồ Tát do trí huệ quang mà được tên, trọn không lúc nào rời trí huệ quang.
Như núi tu di do bốn ngọn núi báu ở nơi đại hải cao vọi đồ sộ mà được tên, trọn không lúc nào rời lìa bốn ngọn núi báu.   Cũng vậy, đại Bồ Tát do các thiện căn ở tại thế gian vượt cao hơn cả mà được tên, trọn không lúc nào bỏ rời thiện căn.
Ví như đại địa do giữ lấy tất cả mà được tên, trọn không lúc nào bỏ rời công năng giữ lấy.  Cũng vậy, đại Bồ Tát do độ tất cả mà được tên, trọn không lúc nào bỏ rời đại bi.
Ví như đại hải do chứa các dòng nước mà được tên, trọn không lúc nào bỏ rời nước.  Cũng vậy, đại Bồ Tát do những đại nguyện mà được tên, trọn không tạm bỏ nguyện độ chúng sanh.
Như tướng quân do giỏi quen tập phương pháp chiến đấu mà được tên, trọn không lúc nào bỏ rời công năng này.  Cũng vậy, đại Bồ Tát do hay quen tập tam muội như vậy mà được tên, nhẫn đến thành tựu nhất thiết trí, trọn không lúc nào bỏ rời hạnh này.
Như vua chuyển luân ngự trí tứ thiên hạ, thường siêng săn sóc muôn dân không cho hoạnh tử, hằng được sung sướng.  Cũng vậy, đại Bồ Tát nhập những đại tam muội này thường siêng hóa độ tất cả chúng sanh, nhẫn đến khiến họ rốt ráo thanh tịnh.
Ví như gieo hột giống xuống đất, nhẫn đến tăng trưởng cành lá.  Cũng vậy, đại Bồ Tát tu hạnh Phổ Hiền, nhẫn đến có thể làm cho tất cả chúng sanh thêm lớn pháp lành.
Ví như mây lớn, trong mùa hạ nóng nực, tuôn mưa lớn, nhẫn đến tăng trưởng tất cả hột giống. Cũng vậy, đại Bồ Tát vào những đại tam muội như vậy tu hạnh Bồ Tát tuôn pháp vũ lớn, nhẫn đến làm cho chúng sanh rốt ráo thanh tịnh, rốt ráo niết bàn, rốt ráo an ổn, rốt ráo bỉ ngạn, rốt ráo hoan hỉ, rốt ráo dứt nghỉ.  Làm phước điền rốt ráo cho chúng sanh, khiến công hạnh bố thí của họ đều được thanh tịnh.  Khiến họ đều an trụ đạo bất thối chuyển.  Khiến họ đồng được nhất thiết trí.  Khiến họ đều được xuất ly tam giới.  Khiến họ đều được trí rốt ráo.  Khiến họ đều được pháp rốt ráo của chư Phật.  Đặt để chúng sanh nơi nhất thiết trí.
Tại sao vậy?  Vì đại Bồ Tát thành tựu pháp này trí huệ sáng suốt nhập pháp giới môn, hay tịnh tu vô lượng hạnh bất tư nghì của Bồ Tát.
Những là hay các trí, vì cầu nhất thiết trí.  Hay tịnh chúng sanh, vì khiến họ điều phục.  Hay tịnh cõi nước, vì thường hồi hướng.  Hay tịnh các pháp vì khắp rõ biết.  Hay tịnh đức vô úy, vì không khiếp nhược.  Hay tịnh tứ vô ngại biện, vì khéo diễn thuyết.  Hay tịnh đà la ni, vì được tự tại với tất cả pháp.  Hay tịnh hạnh thân cận, vì thường thấy tất cả Phật xuất thế.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát trụ tam muội này, được trăm ngàn ức na do tha bất khả thuyết bất khả thuyết công đức thanh tịnh như vậy.
Vì nơi của các cảnh giới của các tam muội như vậy được tự tại.  Vì được tất cả Phật gia hộ.  Vì sức thiện căn của mình lưu xuất.  Vì nhập oai đức lớn của bậc đại trí huệ.  Vì sức dẫn đạo của các thiện tri thức.  Vì tồi phục tất cả các ma lực.  Vì sức đồng phận thiện căn thuần thanh tịnh.  Vì sức thệ nguyện rộng lớn.  Vì sức trồng thiện căn thành tựu.  Vì sức vô đối của phước vô tận siêu thế gian.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát trụ tam muội này thời được mười pháp đồng tam thế chư Phật.
Những là được các tướng hảo trang nghiêm đồng với chư Phật.  Hay phóng đại quang minh thanh tịnh đồng với chư Phật.  Thần thông biến hóa điều phục chúng sanh đồng với chư Phật.  Sắc thân vô biên, thanh âm thanh tịnh đồng với chư Phật.  Tuỳ chúng sanh nghiệp mà hiện tịnh cõi Phật đồng với chư Phật.  Bao ngôn ngữ của tất cả chúng sanh đều có thể nhiếp trì chẳng quên chẳng mất đồng với chư Phật.  Biện tài vô tận tuỳ tâm chúng sanh mà chuyển pháp luân cho họ sanh trí huệ đồng với chư Phật.  Đại sư tử hống không khiếp sợ, dùng vô lượng pháp khai ngộ chúng sanh đồng với chư Phật.  Trong khoảng một niệm dùng đại thần thông vào khắp tam thế đồng với chư Phật.  Hay khắp khai thị cho tất cả chúng sanh:  Chư Phật trang nghiêm, chư Phật oai lự,c chư Phật cảnh giới đồng với chư Phật."
Bấy giờ Phổ Nhãn Bồ Tát bạch Phổ Hiền Bồ Tát rằng:  "Thưa Phật tử!  Đại Bồ Tát này được pháp như vậy đồng với chư Phật, sao lại chẳng gọi là Phật?  Cớ sao chẳng gọi là thập lực?  Cớ sao chẳng gọi là nhất thiết trí?  Cớ sao chẳng gọi là bậc chứng bồ đề trong tất cả pháp?  Cớ sao chẳng được gọi là phổ nhãn?  Cớ sao chẳng gọi là bậc thấy vô ngại trong tất cả cảnh?  Cớ sao chẳng gọi là giác tất cả pháp?  Cớ sao chẳng gọi là bậc cùng tam thế chư Phật ở một chỗ?  Cớ sao chẳng gọi là bậc trụ thực tế?  Cớ sao tu hạnh nguyện Phổ Hiền vẫn chưa thôi nghỉ?  Cớ sao chẳng có thể rốt ráo pháp giới bỏ đạo Bồ Tát?"
Phổ Hiền Bồ Tát nói: "Lành thay Phật tử!  Đúng như lời ngài nói:  Nếu đại Bồ Tát này đồng với chư Phật, thời do nghĩa gì mà chẳng gọi là Phật, nhẫn đến chẳng bỏ đạo Bồ Tát?
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát này đã có thể tu tập các hạnh nguyện của tam thế chư Bồ Tát nhập trí cảnh giới thời gọi là Phật.  Ở chỗ Như Lai tu hạnh Bồ Tát chẳng thôi nghỉ thời gọi là Bồ Tát.  Các trí lực của Như Lai đều đã nhập thời gọi là bậc thập lực.  Dầu thành thập lực pháp mà hành Phổ Hiền hạnh không thôi nghỉ thời gọi là Bồ Tát.  Biết tất cả pháp mà hay diễn thuyết thời gọi là nhất thiết trí.  Dầu có thể diễn nói tất cả pháp, nơi mỗi mỗi pháp thiện xảo tư duy chưa từng thôi nghỉ thời gọi là Bồ Tát.  Biết tất cả pháp không có hai tướng thời gọi là ngộ tất cả pháp.  Nơi đạo sai biệt nhị bất nhị của tất cả pháp thiện xảo quán sát, lần lượt tăng thắng không có thôi nghỉ thời gọi là Bồ Tát.  Đã hay thấy cảnh giới Phổ Nhãn thời gọi là Phổ Nhãn.  Dầu hay chứng được cảnh giới Phổ Nhãn niệm niệm tăng trưởng chưa từng thôi nghỉ thời gọi là Bồ Tát.  Nơi các pháp đều hay soi sáng rời chướng ngại thời gọi là vô ngại kiến.  Thường siêng ghi nhớ vô ngại kiến thời gọi là Bồ Tát.  Đã được mắt trí huệ của chư Phật thời gọi là giác ngộ tất cả pháp.  Quán trí nhãn chánh giác của Như Lai mà chẳng buông lung thời gọi là Bồ Tát.  Trụ chỗ của Phật trụ cùng Phật không hai thời gọi là cùng Phật không trụ hai chỗ.  Được Phật nhiếp thọ tu các trí huệ thời gọi là Bồ Tát.  Thường quán thực tế của tất cả thế gian thời gọi là bậc trụ thực tế.  Dầu thường quán sát thực tế của các pháp mà chẳng chứng nhập cũng chẳng bỏ rời thời gọi là Bồ Tát.  Chẳng đến chẳng đi, không đồng không dị, những phân biệt này thảy đều dứt hẳn thời gọi là bậc hưu tức nguyện.  Tu tập quảng đại viên mãn bất thối thời gọi là bậc chưa hưu tức Phổ Hiền nguyện.  Biết rõ pháp giới không có biên tế, tất cả các pháp nhất tướng vô tướng thời gọi là bậc rốt ráo pháp giới rời bỏ đạo Bồ Tát.  Dầu biết pháp giới không biên tế mà biết các thứ dị tướng khởi tâm đại bi độ các chúng sanh tột thuở vị lai không nhàm mỏi thời gọi là Phổ Hiền Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Ví như Y La Bát Na tượng vương ở núi kim hiếp trong hang thất bửu.  Chư vị hang đó đều dùng thất bửu làm lan can.  Cây đa la báu thành hàng ngay thẳng.  Mành lưới chân kim giăng che trên đó.  Thân voi trắng sạch dường như ngọc kha tuyết.  Trên dựng tràng vàng, anh lạc bằng vàng, lưới báu túm vòi, linh báu thòng xuống, bảy chi thành tựu, đủ sáu ngà, đoan chánh toàn vẹn, ai thấy cũng mến thích, tâm tánh đều thiện không hề hung trái.
Nếu Thiên Đế muốn du hành, tượng vương liền biết ý, ẩn hình nơi hang báu mà hiện ra nơi trời Đao Lợi trước Thiên Đế.  Tượng vương dùng thần thông biến hóa ra ba mươi ba đầu.  Nơi mỗi đầu hóa ra bảy ngà.  Nơi mỗi ngà hóa làm bảy ao.  Trong mỗi ao có bảy hoa sen.  Trên mỗi hoa sen có bảy thiên nữ đồng thời hòa tấu trăm ngàn thiên nhạc.
Bấy giờ, Thiên Đế ngự trên tượng vương từ điện Nan Thắng qua đến hoa viên đầy bông sen.
Khi đã đến hoa viên, Thiên Đế xuống voi vào điện Nhất Thiết Bửu Trang Nghiêm, vô lượng thiên nữ theo hầu ca ngân đàn múa, hưởng thọ khoái lạc.
Bấy giờ, tượng vương lại dùng thần thông ẩn hình voi, hiện thân thiên tử cùng tam thập tam thiên và các thiên nữ ở trong vườn bạch liên hoa vui chơi.  Thân hình hiện ra cũng sáng chói xinh đẹp y phục trang nghiêm đồng như các thiên tử khác.  Không ai phân biệt được là voi, là thiên tử.  Voi và thiên tử giống hệt nhau.
Tượng vương Y La Bát Na nơi hang thất bửu trong núi kim hiếp không có biến hóa.  Khi đến trên trời Đao Lợi, vì cúng dường Thiên Đế mà hóa ra những sự trang nghiêm và hưởng sự khoái lạc như chư thiên tử.
Cũng vậy, đại Bồ Tát tu tập hạnh nguyện Phổ Hiền và các môn tam muội dùng làm những đồ báu trang nghiêm.  Bảy phần bồ đề là thân của Bồ Tát.  Quang minh phóng ra dùng làm lưới báu.  Dựng tràng đại pháp.  Gióng chuông đại pháp.  Đại bi làm hang.  Đại nguyện kiên cố dùng làm ngà.  Trí huệ vô uý dường như sư tử.  Lụa pháp bịt trán.  Khai thị bí mật đến bỉ ngạn những hạnh nguyện Bồ Tát.  Vì muốn ngồi an nơi tòa bồ đề thành nhất thiết trí được vô thượng chánh giác, tăng trưởng Phổ Hiền hạnh nguyện quảng đại, chẳng thối chẳng nghỉ chẳng dứt chẳng bỏ.  Đại bi tinh tấn tột thuở vị lai, độ thoát tất cả chúng sanh khổ não, chẳng bỏ đạo Phổ Hiền, hiện thành chánh giác.  Hiện bất khả thuyết bất khả thuyết môn thành chánh giác.  Hiện bất khả thuyết bất khả thuyết môn chuyển pháp luân.  Hiện bất khả thuyết bất khả thuyết môn trụ thâm tâm.  Nơi bất khả thuyết bất khả thuyết quốc độ quảng đại hiện môn niết bàn biến hóa.  Nơi bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới sai biệt mà hiện thọ sanh, tu hạnh Phổ Hiền.  Hiện bất khả thuyết bất khả thuyết Như Lai, nơi bất khả thuyết bất khả thuyết quốc độ quảng đại dưới cội bồ đề thành vô thượng chánh giác.  Bất khả thuyết bất khả thuyết chúng Bồ Tát gần gũi vây quanh.  Hoặc trong khoảng một niệm tu hạnh Phổ Hiền mà thành chánh giác.  Hoặc trong giây lát, hoặc một giờ, một ngày, nửa tháng, một tháng, hoặc một năm hoặc vô số năm, hoặc một kiếp, nhẫn đến hoặc bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp, tu hạnh Phổ Hiền mà thành chánh giác.  Lại nơi trong tất cả cõi Phật mà làm thượng thủ, gần gũi chư Phật đảnh lễ cúng dường, thỉnh hỏi quán sát cảnh giới như huyễn, tịnh tu vô lượng hạnh Bồ Tát, vô lượng trí Bồ Tát, các thứ thần biến, các thứ oai đức, các thứ trí huệ, các thứ cảnh giới, các thứ thần thông, các thứ tự tại, các thứ giải thoát, các thứ pháp minh, các thứ pháp giáo hóa điều phục.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát bổn thân bất diệt, do sức hạnh nguyện mà biến hiện như vậy khắp các nơi.
Tại sao vậy?  Vì muốn dùng thần lực tự tại Phổ Hiền điều phục tất cả chúng sanh.  Và làm cho bất khả thuyết bất khả thuyết chúng sanh được thanh tịnh.  Vì làm cho họ dứt hẳn vòng sanh tử.  Vì nghiêm tịnh các thế giới rộng lớn.  Vì thường thấy tất cả Phật.  Vì thâm nhập tất cả Phật pháp.  Vì ghi nhớ tam thế phật chủng.  Vì ghi nhớ chánh pháp và pháp thân của tất cả Phật mười phương.  Vì tu khắp tất cả Bồ Tát hạnh khiến viên mãn.  Vì nhập hàng Phổ Hiền tự tai có thẻ chứng nhất thiết trí.
Chư Phật tử!  Các ngài nên quán sát đại Bồ Tát này chẳng bỏ hạnh Phổ Hiền, chẳng dứt đạo Phổ Hiền, thấy tất cả Phật, chứng nhất thiết trí, tự tại thọ dụng pháp nhất thiết trí.
Như tượng vương Y La Bát Na chẳng bỏ thân voi đến trời Đạo Lợi, được chư thiên cỡi, hầu hạ thiên đế, cùng chư thiên nữ vui chơi khoái lạc đồng như chư thiên không khác.
Cũng vậy, đại Bồ Tát chẳng bỏ những hạnh đại thừa Phổ Hiền, chẳng thối các nguyện, được Phật tự tại, đủ nhất thiết trí, chứng Phật giải thoát, không chướng không ngại, thành tựu thanh tịnh, nơi các quốc độ không nhiễm trước, trong các Phật pháp không phân biệt.  Dầu biết các pháp đều khắp bình đẳng không có hai tướng mà hẳng thấy rõ tất cả cõi Phật.  Dầu đãn ngang đồng với tam thế chư Phật mà tu hạnh Bồ Tát tương tục chẳng dứt.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát an trụ pháp hạnh nguyện quảng đại của Phổ Hiền như vậy, phải biết người này tâm được thanh tịnh.
Trên đây là trí quảng đại tâm thù thắng vô ngại luân đại tam muội thứ mười của đại Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Đây là đại Bồ Tát trụ mười môn đại tam muội trong Phổ Hiền hạnh."
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-12-15 05:05:12canary>
Kinh Hoa Nghiêm
Tập 5

Phẩm thập thông
Thứ hai mươi tám



Bấy giờ, Phổ Hiền đại Bồ Tát bảo chư Bồ Tát rằng: "Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát có mười thứ thông:
Đại Bồ Tát dùng tha tâm trí thông biết tâm sai biệt của chúng sanh trong một đại thiên thế giới.  Những là tâm thiện, tâm bất thiện, tâm rộng, tâm hẹp, tâm nhỏ, tâm thuận sanh tử, tâm trái sanh tử, tâm thanh văn hạnh, tâm độc giác hạnh, tâm Bồ Tát hạnh, tâm thiên, tâm long, tâm dạ xoa, tâm càn thát bà, tâm a tu la, tâm ca lâu la, tâm khẩn na la, tâm ma hầu la già, tâm nhân, tâm phi nhân, tâm địa ngục, tâm súc sanh, tâm xứ diêm ma vương, tâm ngạ quỷ, tâm chúng sanh nơi các nạn xứ.  Những tâm chúng sanh vô lượng sai biệt như vậy đều phân biệt biết rõ.
Như một thế giới, đến trăm thế giới, ngàn thế giới, trăm ngàn thế giới, trăm ngàn ức na do tha thế giới, nhẫn đến bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số thế giới, trong đó có bao nhiêu tâm chúng sanh đều phân biệt biết.
Trên đây gọi là thiện trí tha tâm trí thần thông thứ nhất  của đại Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát dùng vô ngại thanh tịnh thiên nhãn trí thông thấy chúng sanh trong vô lượng bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số thế giới, chết đây sanh kia, loài lành, loài dữ, tướng phước, tướng tội, hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc nhơ, hoặc sạch.  Những phẩm loại vô lượng chúng sanh như vậy.  Những là bát bộ chúng, chúng sanh thân to lớn, chúng sanh thân nhỏ nhít.  Trong các loài chúng sanh như vậy dùng vô ngại nhãn thảy đều thấy rõ.  Tuỳ nghiệp mà chức nhóm, tùy chỗ thọ khổ vui, tuỳ tâm phân biệt, tuỳ kiến chấp, tuỳ ngôn ngữ, tuỳ nhân, tùy nghiệp, tuỳ sở duyên, tuỳ sơ khởi, thảy đều thấy rõ không sai lầm.
Trên đây là vô ngại thiên nhãn trí thần thông thứ hai của đại Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát dùng túc trụ tuỳ niệm trí thông có thể biết tự thân và tất cả chúng sanh trong bất khả thuyết bất khả thuyểt phật sát vi trần số thế giới, những việc đời trước trong quá khứ bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số kiếp.  Những là:  xứ đó sanh ra có tên như vậy, họ như vậy, chủng tộc như vậy, uống ăn như vậy, khổ vui như vậy.  Từ vô thỉ đến nay ở trong các cõi, do nhân do duyên xoay vần thêm lớn, thứ đệ nối tiếp, luân hồi chẳng dứt, các thứ phẩm loại, các thứ cõi nước, các thứ loài sanh, các thứ hình tướng, các thứ hành nghiệp, các thứ kiết sử, các thứ tâm niệm, các thứ nhân duyên thọ sanh sai khác.  Những việc như vậy thảy đều biết rõ.  Lại nhớ trong vi trần số kiếp như vậy, trong vi trần số thế giới như vậy, có vi trần số chư Phật như vậy.  Mỗi đức Phật có danh hiệu như vậy, xuất thế như vậy, chúng hội như vậy, cha mẹ như vậy, thị giả như vậy, thanh văn như vậy, hai vị đại đệ tử tối thắng như vậy, nơi thành ấp như vậy, xuất gia như vậy.  Lại ở dưới cội bồ đề như vậy thành vô thượng chánh giác, nơi chỗ như vậy, ngồi tòa như vậy, diễn thuyết ngần ấy kinh điển, lợi ích chúng sanh như vậy, trong bao nhiêu thời gian trụ thọ mạng ra làm những Phật sự, y nơi vô dư niết bàn giới mà nhập niết bàn, sau đó chánh pháp trụ thế lâu mau, tất cả những việc như vậy đều ghi nhớ.
Lại ghi nhớ danh hiệu của bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần vố chư Phật.  Mỗi mỗi danh hiệu có bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số Phật, từ sơi phát tâm khởi nguyện, tu hành, cúng dường chư Phật, điều phục chúng sanh, chúng hội thuyết pháp, thọ mạng nhiều ít, thần thông biến hóa nhẫn đến nhập nơi vô dư niết bàn.  Sau đó pháp trụ lâu mau, xây dựng tháp miếu các thứ trang nghiêm, làm cho chúng sanh vun trồng thiện căn, thảy đều có thể biết.
Trên đây là túc trụ trí thần thông thứ ba biết kiếp quá khứ của đại Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát dùng trí thông biết hết kiếp thuở vị lai, biết những kiếp của trong bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số thế giới.  Trong mỗi mỗi kiếp có những chúng sanh mạng chung thọ sanh, các cõi tiếp nối, nghiệp hành quả báo, hoặc thiện hoặc bất thiện, hoặc xuất ly hoặc chẳng xuất ly, hoặc quyết định hoặc chẳng quyết định, hoặc tà định hoặc chánh định, hoặc thiện căn chung cùng với kiết sử, hoặc thiện căn chẳng chung cùng với kiết sử, hoặc thiện căn đầy đủ, hoặc chẳng đầy đủ, hoặc nhiếp thủ thiện căn, hoặc chẳng nhiếp thủ thiện căn, hoặc tích tập thiện căn, hoặc chẳng tích tập thiện căn, hoặc tích tập tội pháp hoặc chẳng tích tập tội pháp.  Tất cả như vậy đều có thể biết rõ.  Lại biết bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số kiếp, mỗi mỗi kiếp có bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số danh hiệu chư Phật, mỗi mỗi danh hiệu có bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số chư Phật Như Lai.  Mỗi mỗi Như Lai từ sơ phát tâm khởi nguyện lập hạnh cúng dường chư Phật, giáo hóa chúng sann, chúng hội thuyết pháp, thọ mạng nhiều ít, thần thông biến hóa, nhẫn đến nhập nơi vô dư niết bàn, sau đó pháp trụ lâu mau, tạo lập tháp miếu các thứ trang nghiêm làm cho chúng sanh vun trồng căn lành.  Những sự như vậy đều biết rõ.
Trên đây là trí thần thông thứ tư biết tột hết những kiếp thuở vị lai của đại Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát thành tựu vô ngại thanh tịnh thiên nhĩ viên mãn quảng đại thông suốt không chướng, nghe thấu vô ngại thành tựu đầy đủ.  Với tất cả âm thanh, muốn nghe hay chẳng muốn nghe đều tùy ý tự tại.
Chư Phật tử!  Phương đông có bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số Phật, chư Phật này giảng nói chỉ dạy, chỗ an lập, chỗ giáo hóa, chỗ điều phục, chỗ ức niệm, chỗ phân biệt những pháp thanh tịnh thậm thâm quảng đại các thứ sai biệt vô lượng phương tiện vô lượng thiện xảo.  Bồ Tát này đều có thể thọ trì tất cả.  Lại ở trong đó, hoặc nghĩa hoặc văn, hoặc một người, hoặc chúng hội, đúng như ngôn từ, đúng như trí huệ, như chỗ tỏ thấu, như chỗ thị hiện, như chỗ điều phục, như cảnh giới, như sở y, như đạo xuất ly, Bồ Tát này đều hay ghi nhận tất cả chẳng quên chẳng mất, chẳng dứt chẳng thối, không mê không lầm, vì người khác mà diễn nói khiến họ được tỏ ngộ.  Trọn chẳng quên mất một văn một câu.
Như phương đông, chín phương kia cũng như vậy.
Trên đây là trí thần thông thiên nhĩ thanh tịnh vô ngại thứ năm của đại Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát trụ vô thể tánh thần thông, vô tác thần thông, bình đẳng thần thông, quảng đại thần thông, vô lượng thần thông, vô y thần thông, tùy niệm thần thông, khởi thần thông, bất khởi thần thông, bất thối thần thông, bất đoạn thần thông, bất hoại thần thông, tăng trưởng thần thông, tùy nghệ thần thông.
Đại Bồ Tát này nghe danh hiệu chư Phật trong tất cả thế giới rất xa.  Những là vô số thế giới, vô lượng thế giới, nhẫn đến danh hiệu chư Phật trong bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số thế giới.  Nghe danh hiệu chư Phật xong thời tự thấy thân mình ở chỗ chư Phật đó.  Các thế giới đó hoặc ngửa hoặc úp, những hình trạng khác, những sai biệt, vô biên vô ngại các thứ cõi nước, các thứ thời kiếp, vô lượng công đức đều trang nghiêm khác nhau.  Chư Phật Như Lai đó xuất hiện trong ấy, thị hiện thần biến, xưng dương danh hiệu, vô lượng vô số riêng khác chẳng đồng.
Đại Bồ Tát này một khi nghe danh hiệu của chư Phật đó, chẳn động bổn xứ mà thấy thân mình ở chỗ Phật đó lễ bái cúng dường, hỏi pháp Bồ Tát, nhập Phật trí, đều rõ thấy được các Phật độ, đạo tràng chúng hội và sự thuyết pháp, đến nơi rốt ráo không chỗ chấp lấy.  Như vậy trải qua bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số kiếp, khắp đến mười phương mà không chỗ qua đến, nhưng những sự đến cõi, quán Phật, nghe pháp, thỉnh đạo, không lúc nào ngừng ngớt, không phế bỏ, không thôi nghỉ, không nhàm mỏi, tu hạnh Bồ Tát, thành tựu đại nguyện, đều làm cho đầy đủ từng không thối chuyển.  Vì khiến chủng tánh quảng đại của Như Lai chẳng đoạn tuyệt.
Trên đây là trí thần thông thứ sáu trụ vô thể tánh vô động tác mà qua đến tất cả cõi Phật của đại Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát dùng trí thần thông khéo phân biệt ngôn âm của tất cả chúng sanh, biết các loại ngôn từ của chúng sanh trong bất khả thuyết bất khả thuyết phật sát vi trần số thế giới.  Những là thánh ngôn từ, chẳng phải thánh ngôn từ, ngôn từ của thiên, long, bát bộ nhẫn đến bao nhiêu ngôn từ của bất khả thuyết bất khả thuyết chúng sanh, đều biểu thị riêng khác, các loại sai biệt, tất cả như vậy đều có thể biết rõ.
Tùy vào trong thế giới nào, đại Bồ Tát này đều biết được những tánh dục của tất cả chúng sanh trong đó.  Đúng như tánh dục của họ, Bồ Tát nói ra ngôn từ đều khiến họ hiểu biết không nghi lầm.
Như mặt nhật mọc lên chiếu khắp các hình sắc, làm cho người có con mắt đều thấy được rõ ràng.
Cũng như vậy, đại Bồ Tát dùng trí khéo phân biệt tất cả ngôn từ, thâm nhập tất cả mây ngôn từ, có lời nói ra khiến những kẻ thông minh ở các thế gian đều được hiểu rõ.
Trên đây là trí thần thông thứ bảy khéo phân biệt tất cả ngôn từ của đại Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát dùng trí thần thông xuất sanh vô lượng vô số sắc thân trang nghiêm, biết tất cả pháp xa lìa sắc tướng, không tướng sai biệt, không các thứ tướng, không vô lượng tướng, không tướng phân biệt, không tướng xanh vàng đỏ trắng.  Bồ Tát nhập nơi pháp giới như vậy, có thể hiện thân mình làm các hình sắc.  Những là sắc vô biên, sắc vô lượng, sắc thanh tịnh, sắc trang nghiêm, sắc phổ biến, sắc vô tỉ, sắc phổ chiếu, sắc tăng thượng, sắc không trái nghịch, sắc đủ các tướng, sắc lìa các ác, sắc oai lực lớn, sắc đáng tôn trọng, sắc vô cùng tận, sắc nhiều xinh đẹp, sắc rất đoan nghiêm, sắc chẳng thể lường, sắc khéo thủ hộ, sắc hay thành thục, sắc tùy người biến hóa, sắc không chướng ngại, sắc rất sáng suốt, sắc không cấu trược, sắc rất đúng sạch, sắc rất mạnh khoẻ, sắc phương tiện bất tư nghì, sắc chẳng bị phá hoại, sắc rời vết mờ, sắc không tối tăm, sắc khéo an trụ, sắc diệu trang nghiêm, sắc nhiều tướng đoan nghiêm, sắc những tướng tùy hảo, sắc đại tôn quý, sắc diệu cảnh giới, sắc khéo trau bóng, sắc thâm tâm thanh tịnh, sắc rực rỡ rất sáng, sắc tối thắng quảng đại, sắc không gián đoạn, sắc không sở y, sắc không gì sánh bằng, sắc tràn đầy bất khả thuyết cõi Phật, sắc tăng trưởng, sắc nhiếp thọ kiên cố, sắc công đức tối thắng, sắc tùy những tâm sở thích, sắc thanh tịnh hiểu rõ, sắc chứa nhóm những đẹp, sắc thiện xảo quyết định, sắc không chướng ngại, sắc hư không sáng sạch, sắc thanh tịnh đáng thích, sắc lìa những trần cấu, sắc chẳng thể cân lường, sắc diệu kiến, sắc phổ biến, sắc tùy thời thị hiện, sắc tịch tịnh, sắc lìa tham, sắc phước điền chân thật, sắc hay làm an ổn, sắc lìa những bố úy, sắc lìa hạnh ngu si, sắc trí huệ dũng mãnh, sắc thân tướng vô ngại, sắc du hành cùng khắp, sắc tâm không sở y, sắc đại từ khởi ra, sắc đại bi hiện ra, sắc bình đẳng xuất ly, sắc đầy đủ phước đức, sắc tuỳ tâm ức niệm, sắc vô biên diệu bửu, sắc bửu tạng quang minh, sắc chúng sanh tin mến, sắc nhất thiết trí hiện tiền, sắc hoan hỷ nhãn, sắc những báu trang nghiêm đệ nhất, sắc không có xứ sở, sắc thị hiện tự tại, sắc các thứ thần thông, sắc sanh nhà Như Lai, sắc hơn các ví dụ, sắc cùng khắp pháp giới, sắc đại chúng đều qua đến, sắc nhiều thứ, sắc thành tựu, sắc xuất ly, sắc tùy theo oai nghi của người biến hóa, sắc thấy không biết chán, sắc nhiều thứ sáng sạch, sắc hay phóng vô số lưới quang minh, sắc bất khả thuyết quang minh các thứ sai biệt, sắc bất khả tư hương quang minh vượt hơn ba cõi, sắc bất khả lượng nhật luân quang minh chiếu sáng, sắc thị hiện vô tỉ nguyệt thân, sắc vô lượng mây hoa đáng ưa thích, sắc xuất sanh nhiều loại mây tràng liên hoa trang nghiêm, sắc ngọn lửa thơm xông khắp nơi vượt hơn tất cả thế gian, sắc xuất sanh tất cả Như Lai tạng, sắc bất khả thuyết âm thanh khai thị tất cả pháp, sắc đầy đủ tất cả hạnh Phổ Hiền.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát thâm nhập vô sắc pháp giới như vậy, hay hiện những loại sắc thân như vậy, làm cho kẻ được giáo hóa thấy và nhớ.  Vì kẻ được giáo hóa mà chuyển pháp luân.  Tuỳ theo thời và tướng của kẻ được giáo hóa, làm cho họ thân cận, làm cho họ khai ngộ, vì họ mà khởi các thứ thần thông, vì họ mà hiện các thứ tự tại, vì họ mà ra làm các việc.
Trên đây gọi là đại Bồ Tát vì độ tất cả chúng sanh siêng tu thành tựu trí thần thông thứ tám hiện vô số sắc thân.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát dùng nhất thiết pháp trí thông biết tất cả pháp không có danh tự, không có chủng tánh, không đến không đi, chẳng phải khác, chẳng phải chẳng khác, chẳng phải các thứ, chẳng phải chẳng các thứ, chẳng phải hai, chẳng phải chẳng hai, vô ngã, vô tỉ, bất sanh, bất diệt, chẳng động, chẳng hoại, không thật, không hư, nhất tướng, vô tướng, phi vô, phi hữu, chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp, chẳng tùy tục, chẳng phải chẳng tùy tục, chẳng phải nghiệp, chẳng phải phi nghiệp, chẳng phải báo, chẳng phải phi báo, chẳng phải hữu vi, chẳng phải vô vi, chẳng phải đệ nhất nghĩa, chẳng phải chẳng đệ nhất nghĩa, chẳng phải đạo, chẳng phải phi đạo, chẳng phải xuất ly, chẳng phải chẳng xuất ly, phi lượng, phi vô lượng, chẳng phải thế gian, chẳng phải xuất thế gian, chẳng phải từ nhân sanh, chẳng phải chẳng từ nhân sah, chẳng phải quyết định, chẳng phải chẳng quyết định, chẳng phải thành tựu, chẳng phải chẳng thành tựu, chẳng phải xuất, chẳng phải chẳng xuất, chẳng phải phân biệt, chẳng phải chẳng phân biệt, chẳng phải như lý, chẳng phải chẳng như lý.
Đại Bồ Tát này chẳng lấy thế tục đế, chẳng trụ đệ nhất nghĩa, chẳng phân biệt các pháp, chẳng kiến lập văn tự, tuỳ thuận tánh tịch diệt, chẳng bỏ tất cả nguyện, thấy nghĩa biết pháp, bủa mây pháp, xối mưa pháp.  Dầu biết thật tướng không thể nói phô, mà dùng phương tiện vô tận biện tài, theo pháp theo nghĩa thứ đệ diễn thuyết.  Bởi với các pháp, ngôn từ biện thuyết đều được thiện xảo, đại từ đại bi đều đã thanh tịnh.  Có thể ở trong tất cả pháp rời văn tự mà xuất sanh văn tự, cùng pháp, cùng nghĩa tuỳ thuận chẳng trái, mà nói các pháp đều từ duyên khởi.
Dầu có ngôn thuyết mà không chấp trước.  Diễn nói tất cả pháp biện tài vô tận, phân biệt an lập khai phát chỉ dạy, làm cho pháp tánh hiển rõ đầy đủ, dứt lưới nghi của đại chúng, tất cả đều được thanh tịnh.
Dầu nhiếp chúng sanh mà chẳng bỏ chân thật.  Nơi pháp bất nhị mà không thối chuyển.  Thường hay diễn thuyết pháp môn vô ngại.  Dùng những diệu âm theo tâm chúng sanh mưa pháp vũ khắp nơi chẳng hề lỗi thời.
Trên đây gọi là nhất thiết pháp trí thần thông thứ chín của đại Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát dùng nhất thiết pháp diệt tận tam muội trí thông trong mỗi niệm nhập nhất thiết pháp diệt tận tam muội.  Nhưng cũng chẳng thối Bồ Tát đạo, chẳng bỏ Bồ Tát sự, chẳng rời tâm đại từ đại bi, tu tập ba la mật chưa từng thôi nghỉ, quán sát tất cả cõi Phật không có nhàm mỏi, chẳng bỏ nguyện độ chúng sanh, chẳng dứt sự chuyển pháp luân, chẳng bỏ nghiệp giáo hóa chúng sanh, chẳng bỏ hạnh cúng dường chư Phật, chẳng bỏ môn nhất thiết pháp tự tại, chẳng bỏ thường thấy tất cả Phật, chẳng bỏ thường nghe tất cả pháp.  Biết tất cả pháp bình đẳng vô ngại tự tại thành tựu.  Tất cả Phật pháp có bao nhiêu thắng nguyện đều được viên mãn.  Rõ biết tất cả cõi nước sai biệt.  Vào chủng tánh Phật đến nơi bỉ ngạn.  Có thể ở trong những thế giới kia, học tất cả pháp ro pháp vô tướng.  Biết tất cả pháp đều từ duyên khởi không có thể tánh, nhưng tùy thế tục, phương tiện diễn thuyết.  Dầu ở nơi các pháp tâm vô sở trụ nhưng thuận theo căn tánh sở thích của chúng sanh mà phương tiện vì họ nói các pháp.
Lúc Bồ Tát này trụ nơi tam muội tuỳ theo tâm sở thích, hoặc trụ một kiếp, hoặc trụ trăm kiếp, ngàn kiếp, ức kiếp, trăm ức kiếp, ngàn ức kiếp, trăm ngàn ức kiếp, na do tha ức kiếp, trăm na do tha ức kiếp, ngàn na do tha ức kiếp, trăm ngàn na do tha ức kiếp, hoặc trụ vô số kiếp, vô lượng kiếp, nhẫn đến hoặc trụ bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp.
Đại Bồ Tát nhập nhất thiết pháp diệt tận tam muội này, dầu trụ trong bao nhiêu kiếp như trên mà thân chẳng tan rã, chẳng ốm gầy, chẳng đổi khác, chẳng phải thấy, chẳng phải chẳng thấy, chẳng diệt, chẳng hoại, chẳng mỏi, chẳng lười, chẳng thể kiệt tận.  Dầu nơi có nơi không đều vô sở tác mà có thể làm xong các việc Bồ Tát.  Những là hằng chẳng bỏ lìa tất cả chúng sanh, giáo hóa điều phục chưa từng lỗi thời, khiến họ tăng trưởng tất cả Phật pháp, nơi hạnh Bồ Tát đều được viên mãn.
Vì muốn lợi ích tất cả chúng sanh nên thần thông biến hóa chẳng thôi dứt, nhưng nơi tam muội vẫn tịch nhiên chẳng động.  Ví như ánh sáng mặt nhật chiếu hiện tất cả.
Trên đây là đại Bồ Tát nhập nhất thiết pháp diệt tận tam muội trí thần thông thứ mười của đại Bồ Tát.
Chư Phật tử!  Đại Bồ Tát trụ nơi mười thứ thần thông như vậy, tất cả trời người không nghĩ bàn được, tất cả chúng sanh chẳng nghĩ bàn được, tất cả thanh văn độc giác và chúng Bồ Tát khác cũng đều chẳng nghĩ bàn được.
Đại Bồ Tát này thân nghiệp chẳng thể nghĩ bàn, ngữ nghiệp và ý nghiệp đều chẳng thể nghĩ bàn, tam muội tự tại, cảnh giới trí huệ đều chẳng thể nghĩ bàn.  Chỉ trừ chư Phật, và chư Bồ Tát đã được thần thông này, ngoài ra không ai có thể nói được công đức của bậc Bồ Tát này.
Chư Phật tử!  Đây là mười thứ thần thông của đại Bồ Tát.  Nếu đại Bồ Tát trụ thần thông này, đều được tất cả tam thế trí thần thông vô ngại."
Tôi nhìn em, đôi mắt ở đậu,
Giữa cõi mê, tôi ở thật lâu,
Em cũng hiểu, cho nên cười nụ,
Chút mưu toan, khơi một bể sầu.
canary
0
«« « 1 2 » »»