📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Harry Potter và Hoàng tử lai (Bản dịch Lý Lan) 🔒

85 trả lời, 32.101 lượt xem — Trang 1 / 3
J.K. Rowling
Bản dịch: Lý Lan
Harry Potter và Hoàng tử lai
Chương 1
Ông Thủ Tướng kia
 
Đã gần nửa đêm và ông Thủ tướng đang ở một mình trong văn phòng, đọc một cái biên bản dài lòng thòng cứ trôi tuồn tuột khỏi đầu óc ông mà không để lại đằng sau một tí xíu vết tích ý nghĩa. Ông đang đợi cú điện thoại của ông Tổng thống ở một nước rất xa, và vừa tự hỏi chừng nào thì cái ông chết tiệ ấy sẽ gọi, vừa cố gắng đàn áp cái ký ức khó chịu về những chuyện đã xảy ra trong một tuần lễ khó khăn, mệt mỏi và dài lê thê vừa qua, nên chẳng còn chỗ đâu trong đầu để chứa thêm cái gì khác nữa. Ông Thủ tướng càng cố gắng tập trung vào cái điều in trên trang giấy trước mặt, thì ông càng thấy rõ hơn bộ mặt lãng đãng của một tay trong đám đối thủ chính trị của ông. Cái tay đối thủ cá biệt này đã xuất hiện trên báo chí mỗi ngày, không những điểm qua tất cả những chuyện khủng khiếp đã xảy ra trong tuần vừa qua (làm như thể người ta cần nhắc nhở vậy) mà hắn còn giải thích nguyên nhân của mỗi chuyện và mọi chuyện hóa ra đều là sai lầm của chính quyền.
Cứ nghĩ về mấy vụ buộc tội này là nhịp tim của ông Thủ tướng lại tăng nhanh, bởi vì đó toàn là những cáo buộc tầm bậy và oan ức.Chứ làm cách nào mà chính phủ có thể ngăn cây cầu sập xuống? Người nào cho rằng chính quyền đã không chi đủ tiền bảo quản cây cầu thì đúng là muốn sỉ nhục. Cây cầu ấy chưa đầy mười tuổi, và những chuyên gia giỏi nhất cứ ú ớ khi phải giải thích tại sao mà nó lại đứt đôi gọn gàng, tống hàng tá xe hơi xuống đáy nước của con sông chảy dưới gầm cầu. Và làm sao có kẻ lại dám cho rằng vì thiếu cảnh sát nên mới có cái hậu quả là có hai vụ sát nhân ghê tởm nổi đình nổi đám ấy? Hoặc cho rằng chính quyền đáng lẽ ra phải làm cách nào đó nhìn thấy trước trận cuồng phong quái đản ở Miền Tây đã gây ra vô số thiệt hại cho người lẫn của cải? Và chẳng lẽ đó cũng là lỗi của ông Thủ tướng nốt khi một trong mấy ông Phó Thủ tướng, ông Herbert Chorley, lại chọn đúng cái tuần lễ này để có hành vi khác thường là bỏ ra khối thì giờ ở nhà hủ hỉ với vợ con?
“Đất nước ta đang mắc kẹt trong một tình thế ngặt nghèo.” Gã đối thủ đã kết luận như vậy, chả cần giấu giếm nụ cười toe toét nham nhở của mình.
Mà rủi thay, điều nay lại hoàn toàn đúng. Chính ông Thủ tướng cũng cảm thấy như vậy; người ta quả thật có vẻ sầu thảm hơn mọi khi. Đến cả thời tiết cũng trở nên ảm đạm; cả cái trận sương mù lạnh cóng giữa tròi tháng bảy này nữa… Thật chẳng đúng gì cả, thật chẳng bình thường…
Ông lật qua trang hai của biên bản, thấy nó còn tiếp tục lê thê hơn nữa, đành dẹp nó đi như một công việc nuốt không trôi. Vươn tay qua khỏi đầu để duỗi thân, ông Thủ tướng rầu rĩ nhìn quanh văn phòng của mình. Đó là một căn phòng đẹp, có một cái lò sưởi bằng đá hoa cương đối diện với những cửa sổ dài có khung kính trượt đã được đóng kín gài kỹ để ngăn cơn sương giá trái mùa. Khẽ rùng mình, ông Thủ tướng đứng dậy đi tới bên cửa sổ, nhìn ra ngoài màn sương mỏng đang cố ép vào lớp kính cửa sổ. Chính lúc đó, ông đang đứng quay lưng về phía căn phòng, ông nghe một tiếng ho nhẹ sau lưng mình.
Ông đứng chết trân, giáp mặt với chính cái bóng khiếp sợ của gương mặt mình trong kính cửa sổ tối om. Ông đã biết rành tiếng ho đó. Ông đã từng nghe nó trước đây. Ông từ từ xoay người lại đối diện với căn phòng vắng hoe.
“Chào?” Ông nói, với giọng cố gắng tỏ ra có can đảm.
Trong một thoáng ngắn ngủi, ông tự cho phép mình có một niềm hy vọng không thể xảy ra là sẽ chẳng có ai đáp lời cả. Thế nhưng ngay lập tức, một giọng nói đáp lại liền, một giọng đanh thép cả quyết nghe như thể đang đọc một tuyên bố đã được soạn sẵn. Theo như ông Thủ tướng từng biết qua lần ho đầu tiên, thì giọng nói đó xuất phát từ một gã đàn ông nhỏ thó trông như con ếch đội một đầu tóc giả óng ánh bạc, được vẽ trong một bức tranh sơn dầu nhỏ nhắn đặt ở mút trong góc phòng.
“Kính gửi ông Thủ tướng dân Muggle. Chúng ta cần gặp mặt khẩn cấp. Vui lòng hồi âm tức thì. Thành kính, Fudge.”
Gã đàn ông trong bức tranh nhìn ông Thủ tướng dò hỏi.
“Ờ,” ông Thủ tướng nói, “Thế này nhé… lúc này không thuận tiện cho tôi lắm… Anh biết đấy, tôi đang chờ một cú điện thoại… của ông Tổng Thống nước…”
“Cái đó có thể dàn xếp lại.” Người trong tranh nói chặn ngay.
Trái tim ông Thủ tướng chùng xuống. Ông đã lo ngại chuyện đó.
“Nhưng thực tình tôi có phần mong muốn nói chuyện...”
“Chúng tôi có thể dàn xếp để cho ông Tổng Thống quên béng đi vụ gọi điện thoại. Bù lại ông sẽ gọi vào tối mai,” gã đàn ông nhỏ thó nói. “Hãy lịch sự hồi âm ông Fudge ngay lập tức.”
“Tôi… ơ… thôi được.” Ông Thủ tướng yếu ớt đáp. “Vâng, tôi sẽ gặp ông Fudge vậy.”
Ông Thủ tướng vội vã trở lại bàn làm việc, vừa bước đi vừa chỉnh lại cái cà vạt. Ông chưa kịp ngồi xuống ghế và điều chỉnh gương mặt mình cho ra cái vẻ mà ông hy vọng là đỉnh đạc thong dong, thì những ngọn lửa xanh biếc chợt bùng cháy lên bên dưới cái bệ lò sưởi bằng đá hoa cương. Ông Thủ tướng nhìn, cố gắng không để lộ ra một tí tẹo ngạc nhiên hay sợ hãi nào, khi một người đàn ông bệ vệ xuất hiện từ trong ngọn lửa, xoay tít như con vụ. Chỉ giây lát sau, ông ta trèo ra khỏi lò sưởi, bước lên tấm thảm thuộc loại đồ cổ xinh xắn, phủi bụi tro bám hai ống tay của chiếc áo khoác dài bằng vải sọc nhuyễn, và cầm trong tay ông ta là một cái nón tròn như trái dưa màu xanh vỏ chanh.
“A… Chào ông Thủ tướng.” Ông Cornelius Fudge vừa sải dài bước chân tiến về phía trước vừa chìa bàn tay ra. “Hân hạnh gặp lại ông.”
Ông Thủ tướng không thể thành thật đáp lại lời chào mừng đó, nên chẳng nói năng gì cả. Ông ta chẳng có tí xíu hân hoan nào trong chuyện gặp gỡ ông Fudge, người mà những lần xuất hiện đặc biệt thường có nghĩa là ông Thủ tướng sắp phải nghe toàn điều chẳng lành, không kể chính sự xuất hiện của ông ta đã là sự rất chẳng lành rồi. Đã thế, ông Fudge lại tỏ ra lo lắng đến tiều tụy một cách rõ ràng. Trông ông ta gầy đi, đầu hói thêm, tóc bạc thêm, và bộ mặt ông ta thì trông thiệt là bèo nhèo thê thảm. Ông Thủ tướng đã từng nhìn thấy trước đây vẻ bèo nhèo tương tự nơi những chính khách, và vẻ mặt kiểu đó chẳng khi nào báo trước điềm lành.
“Chẳng hay tôi có thể giúp gì được cho ông?” Ông Thủ tướng nói, hờ hững bắt tay ông Fudge và ra dấu về phía cái ghế ít êm ái nhất trong đám ghế đặt đằng trước bàn giấy của ông.
“Thật khó mà biết bắt đầu từ đâu.” Ông Fudge lẩm bẩm, vừa kéo cái ghế, ngồi xuống, và đặt cái nón hình trái dưa xanh lên đầu gối. “Cái tuần gì đâu, cái tuần gì mà...”
“Ông cũng trải qua một tuần lễ nát bét sao?” Ông Thủ tướng hỏi giọng cứng cỏi, hy vọng thông qua đó truyền đạt cái ý là chưa có thêm ông Fudge thì chính ông cũng đã có đủ chuyện để bù đầu rồi.
“Vâng, tất nhiên rồi.” Ông Fudge nói, mệt mỏi dụi hai con mắt của mình, rồi buồn bã ngó ông Thủ tướng. “Tôi cũng bị một tuần te tua như ông, ông Thủ tướng à. Cây cầu Brockdale... rồi vụ ám sát Bones và Vance... ấy là chưa kể vụ um xùm ở Miền Tây...”
“Ông... Ơ... Dân ông... Ý tôi muốn nói là, một số thành viên trong giới của ông có... có dính líu tới mấy... mấy sự kiện đó, đúng không?”
Ông Fudge trân cho ông Thủ tướng một cái nhìn khá nghiêm khắc. Ông nói, “Dĩ nhiên rồi. Chứ ông không nhận thấy chuyện gì đang diễm ra à?”
“Tôi...” Ông Thủ tướng ấp úng.
Đây đích thị là cái kiểu cư xử đã khiến cho ông Thủ tướng không mấy ưa những cuộc viếng thăm của ông Fudge cho lắm. Nói cho cũng, ông đường đường là một vị Thủ tướng và chẳng thích thú gì khi bị bẽ mặt như một đứa học trò dốt nát. Nhưng mà dĩ nhiên, cái kiểu cư xử này vốn đã như vậy ngay từ lần gặp đầu tiên giữa ông và ông Fudge, trong ngay cái đêm đầu tiên ông mới trở thành Thủ tướng. Ông nhớ vụ đó rõ như thể mới xảy ra ngày hôm qua và biết rõ vụ đó sẽ ám ảnh ông mãi cho tới ngày chết mới thôi.
Lúc đó ông đang đứng một mình trong chính căn phòng này, thưởng thức hương vị chiến thắng mà ông đã tốn bao nhiêu năm mưu đồ, mơ ước mãi mới đạt được, thì chợt nghe một tiếng ho đằng sau lưng, giống y như tối nsy, và khi quay lại thì ông nhận ra bức chân dung xấu xí đang nói chuyện với ông, thông báo là ông Bộ trưởng Bộ Pháp thuật sắp đến viếng thăm xã giao.
Đương nhiên lúc đó ông cứ tưởng là chiến dịch tranh cử căng thẳng và kéo dài đã khiến cho ông mụ mẫm. Ông đã cực kỳ kinh hoảng khi phát hiện ra một bức chân dung đang nói chuyện với mình, mặc dù chuyện này chẳng thấm thía vào đâu so với cảm giác của ông sau đó, khi một kẻ tự xưng là pháp sư vọt ra từ trong lò sưởi đến bắt tay ông. Ông đã cứ thế mà nín khe trong suốt buổi ông Fudge giải thích rằng hãy còn những phù thủy và pháp sư đang sống bí mật trên khắp thế giới, đồng thời cam đoan rằng ông Thủ tướng chẳng cần phải bận tâm rối trí về họ làm gì bởi vì đã có Bộ Pháp thuật chịu trách nhiệm về toàn bộ cộng đồng Pháp thuật và ngăn cách không cho dân chúng phi-pháp-thuật dính dáng gì tới họ cả. Ông Fudge có nói đó là một công tác khó khăn bao gồm mọi thứ, từ những qui định về việc sử dụng có trách nhiệm những cây chổi bay đến việc kiểm soát dân số rồng. (Ông Thủ tướng nhớ là nghe tới điểm này ông đã bíu vô bàn mới ngồi vững được.) Ông Fudge lúc đó với cái giọng cha người ta đã vỗ vai ông Thủ tướng đang khiếp đảm đến ngọng luôn.
“Đừng lo,” ông ta nói. “Rất có thể là ông sẽ chẳng bao giờ gặp lại tôi lần nào nữa. Tôi sẽ chỉ quấy rầy ông nếu bên phía chúng tôi xảy ra chuyện gì đó thực sự nghiêm trọng, chuyện có thể ảnh hưởng dân Muggle- đúng ra tôi nên nói là dân chúng phi-pháp-thuật. Ngoài ra, mạnh ai nấy sống. Và tôi phải nói thêm, ông đã tiếp thu khá hơn nhiều so với ông Thủ tướng trước. Cái ông đó đã tính quẳng tôi qua cửa sổ, tưởng tôi là đồ xỏ lá do phe đối lập dàn dựng ra.”
Tới đây, ông Thủ tướng bỗng kiếm lại được cái lưỡi của mình, bèn hỏi:
“Vậy... ông... ông không phải là đồ xỏ lá hả?”
Thực tình đó là hy vọng tha thiết cuối cùng của ông Thủ tướng.
“Không.” Ông Fudge nhẹ nhàng đáp. “Không. Tôi e rằng không phải. Xem đây.”
Và ông đã biến xong cái tách trà của ông Thủ tướng thành ra một con chuột lóc chóc.
“Nhưng,” ông Thủ tướng thều thào nói, vừa ngó cái tách trà của ông gậm nhấm cái góc của bài diễn văn sắp tới của ông. “Nhưng tại sao... tại sao không ai báo cho tôi biết...?”
“Bộ trưởng Pháp thuật chỉ tiết lộ bí mật về mình cho đương kim Thủ tướng mà thôi.” Ông Fudge vừa nói vừa nhét cây đũa phép vô trong áo khoác. “Chúng tôi nhận thấy đó là cách giữ bí mật tốt nhất.”
“Nhưng vậy thì...” Ông Thủ tướng lí nhí, “Tại sao ông Thủ tướng tiền nhiệm không báo trước cho tôi...?”
Nghe câu này ông Fudge thực sự lăn ra cười.
“Thưa ông Thủ tướng yêu quí của tôi, liệu chính ông có định nói cho bất cứ ai biết không?”
Vẫn còn cười khà khà, ông Fudge quăng một ít bột vô trong lò sưởi, bước  vô ngọn lửa màu xanh biếc, và biến mất trong một tiếng vút. Ông Thủ tướng vẫn đứng đó, hoàn toàn bất động, và hiểu rằng mình sẽ không đời nào, cho đến hết đời, dám kể với bất cứ sinh linh nào về cuộc gặp gỡ này, bởi vì ai trong cái thế gian rộng lớn này tin ông được chớ?
Mất một lúc lâu cơn sốc mới qua đi. Có lúc ông Thủ tướng đã cố tự thuyết phục mình rằng ông Fudge  thực ra chỉ là một ảo giác, hậu quả của sự thiếu ngủ trong suốt chiến dịch tranh cử khốc liệt. Trong một cố gắng vô ích nhằm gạt bỏ hết tất cả những gì gợi nhớ đến cuộc gặp mặt khó chịu này, ông đã đem con chuột lóc chóc cho đứa cháu gái mừng húm và ra lệnh cho viên thư ký riêng gỡ xuống bức chân dung gã đàn ông nhỏ thó xấu xí đã thông báo về cuộc viếng thăm của ông Fudge. Tuy  nhiên, bức chân dung đã chứng tỏ là nó bất khả di dịch, khiến ông Thủ tướng sa sút tinh thần ghê gớm. Khi mấy người thợ mộc, một hay hai thợ hồ, một sử gia nghệ thuật, và cả ngài Chưởng ấn kho tàng quốc gia đều đã không thành công trong cố gắng nạy bức tranh ra khỏi bức tường, ông Thủ tướng đành phải bãi bỏ lệnh đó và giải quyết vấn đề một cách đơn giản là hy vọng cái đồ đó cứ ở yên một chỗ và lặng thinh cho đến hết nhiệm kỳ của ông.
Ông Thủ tướng dám thề, rằng thỉnh thoảng, ông thoáng thấy bằng đuôi mắt, cái lão trong tranh có ngáp dài hoặc ngoáy mũi, thậm chí một hay hai lần lão còn đi ra khỏi khung tranh, bỏ lại đằng sau vỏn vẹn tấm vải bố màu nâu bùn. Tuy nhiên, ông Thủ tướng đã tự rèn luyện mình không nhìn vô bức tranh thường xuyên lắm, và nếu mà có lỡ nhìn thấy chuyện lạ diễn ra trong tranh thì ông luôn luôn khẳng định với chình mình là chẳng qua con mắt mình đã đánh lừa mình ấy thôi.
Thế rồi, cách đây ba năm, vào một đêm rất giống đêm nay, ông Thủ tướng đang ở trong văn phòng một mình thì cái chân dung lại một lần nữa thông báo cuộc viếng thăm sắp sửa diễn ra của ông Fudge. Ông này lại vọt ra từ lò sưởi, ướt lem nhem và trong trạng thái hơi bị hoảng hốt. Trước khi ông Thủ tướng kịp hỏi tại sao ông khách lại nhễu nước khắp Dinh Thủ tướng, thì ông Fudge đã thao thao nói về một cái nhà tù mà ông Thủ tướng chẳng bao giờ nghe nói tới, và một người đàn ông nào đó tên Black “Nghiêm trọng”, cùng một cái gì đó kêu là “Hogwarts”, với một thằng nhóc tên Harry Potter, mà chẳng có cái nào gợi lên một tí tẹo ý nghĩa nào đối với ông Thủ tướng.
“...Tôi vừa từ Azkaban đến đây,” ông Fudgevừa thở hổn hển vừa giũ một đống nước trên vành cái nón hình trái dưa vô túi áo.  “Ở giữa biển Bắc, ông biết đấy, chuyến bay cực quá... Bọn giám ngục đang náo loạn,” – ông rùng mình - “trước đây chúng có bao giờ gặp cảnh tù vượt ngục đâu. Nhưng thôi, tôi phải gặp ông, ông Thủ tướng à. Black là một tay giết dân Muggle nổi tiếng và có thể đang tái đầu quân cho Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy... Nhưng dĩ nhiên, ông cũng đâu có biết Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy!”
Ông Fudge ngó chằm chằm ông Thủ tướng một cách tuyệt vọng một lúc, rồi nói:
“Thôi được, ngồi xuống, ngồi xuống, tôi nên giải thích cho ông thì tốt hơn... làm một ly rượu whisky nhé...”
Ông Thủ tướng bị biểu ngồi xuống trong chính văn phòng của ông đã đủ để nổi khùng rồi, huống chi còn bị mời bằng chính rượu whisky  của mình nữa, nhưng dù sao thì ông cũng ngồi xuống. Ông Fudge rút ra cây đũa phép của ông, phù phép từ trong không khí ra hai cái ly to đầy ắp một chất lỏng màu hổ phách, ấn một ly vô tay ông Thủ tướng, rồi kéo một cái ghế lại gần để ngồi.
Ông Fudge nói một hơi hơn một tiếng đồng hồ. Có một chỗ ông không chịu nói to lên một cái tên mà chỉ viết nó ra một mảnh giấy da, rồi nhét nó vô bàn tay không bị cầm ly rượu của ông Thủ tướng. Cuối cùng khi ông Fudge đứng dậy để ra đi, ông Thủ tướng cũng đứng dậy.
“Vậy là ông cho rằng...” Ông Thủ tướng liếc mắt xuống cái tên trong bàn tay trái của mình. ”Chúa tể Vol...”
“Kẻ-chớ-gọi-tên-ra!” Ông Fudge nạt ngay.
“Xin lỗi... Vậy là ông cho rằng, Kẻ-chớ-gọi-tên-ra vẫn còn sống?”
“Ừ, cụ Dumbledore nói kẻ ấy còn sống.” ÔNg Fudge vừa nói vừa gài chặt cái áo khoác bằng vải có sọc lên tới tận cằm. “Nhưng chúng tôi vẫn chưa tìm ra kẻ ấy. Nếu ông muốn biết thì kẻ ấy hiện không nguy hiểm trừ khi có được sự hỗ trợ, cho nên chính gã Black mới là mối lo lắng cần quan tâm. Thế ông sẽ cho phát ra thông báo cảnh giác chứ? Vậy tốt, tôi mong chúng ta sẽ không phải gặp nhau lần nữa, ông Thủ tướng à. Chúc ngủ ngon.”
Nhưng rồi hai ông lại phải gặp nhau nữa. Chưa đầy một năm sau, một ông Fudge trông thê thảm hết chỗ nói lại từ không khí hiện ra trong văn phòng Thủ tướng để thông báo cho ông Thủ tướng biết là đã xảy ra một tình huống gây phiền phức trong giải Cúp thế giới Kwidditch (hay cái gì đó nghe na ná vậy) và nhiều dân Muggle đã bị “dính líu” vô; nhưng chuyện đó ông Thủ tướng cũng khỏi cần lo , cái sự kiện mọi người nhìn thấy Dấu hiệu của Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy thực ra không có nghĩa gì hết; ông Fudge tin chắc rằng đó chỉ là một sự cố riêng lẻ, và trong khi họ đang nói chuyện ở đây thì Sở Bịp dân Muggle đang thanh toán tất cả các vụ điều hòa trí nhớ.
“À, suýt nữa tôi quên mất” Ông Fudge nói thêm. “Chúng tôi đang nhập khẩu ba con rồng ngoại quốc và một con Nhân sư cho kỳ thi đấu Tam Pháp thuật, cũng thông thường thôi, nhưng Bộ Qui định và Kiểm soát Sinh vật huyền bí báo cáo cho tôi biết là theo như sách hướng dẫn thì tôi cần lưu ý ông nếu chúng tôi đem vào đất nước này những sinh vật cực kỳ nguy hiểm.”
“Tôi... cái gì... Rồng hả?” Ông Thủ tướng lắp ba lắp bắp.
“Ừ, ba con” Ông Fudge  nói. “Và một con nhân sư. Thôi, chúc ông một ngày tốt lành.”
Ông Thủ tướng đã hy vọng hơn cả hy vọng rằng rồng và nhân sư là những thứ ghê gớm hết mức rồi, nhưng ai dè đâu. Chưa đầy hai năm sau, ông Fudge lại vọt ra từ lửa một phen nữa, lần này với thông tin là đã xảy ra một cuộc vượt ngục tập thể ở nhà tù Azkaban.
“Một cuộc vượt ngục tập thể à?” Ông Thủ tướng lặp lại bằng giọng khàn khàn.
“Không phải lo! Không phải lo!” Ông Fudge quát, một chân đã thò vô ngọn lửa. “Chúng tôi sẽ gom chúng lại ngay thôi – chẳng qua tôi nghĩ rằng ông cũng nên biết!”
Và trước khi ông Thủ tướng kịp quát lại, “Khoan, chờ cho một phút!” Thì ông Fudge đã biến mất trong một chùm tung tóe những tia sáng lóe xanh biếc.
Cho dù báo chí hay phe đối lập có nói gì đi nữa, thì ông Thủ tướng vẫn không phải là một thằng ngu. Ông đâu có dễ bỏ qua mà không nhận thấy rằng, bất chấp sự cam đoan của ông Fudge trong lầm gặp gỡ đầu tiên, giờ đây họ gặp gỡ hơi bị  nhiều, và cứ mỗi lần gặp ông Fudge lại càng te tua rối rắm. Mặc dù ông Thủ tướng không muốn suy nghĩ nhiều về ông Bộ trưởng Bộ Pháp thuật (hay, theo như cách của ông luôn gọi ông Fudge trong trí là ông Thủ tướng kia), ông Thủ tướng này không thể nào không lo sợ rằng lần sau ông Fudge mà tái xuất hiện thì lại sẽ có thêm tin xấu trầm trọng hơn nữa. Do vậy, cái cảnh mà ông Fudge bước ra khỏi ngọn lửa một lần nữa, trông tả tơi, cáu gắt và ngạc nhiên một cách nghiêm khắc về cái sự ông Thủ tướng không biết chính xác tại sao ông lại có mặt tại đây, báo hiệu điều này sẽ tồi tệ nhất trong những điều đã xảy ra trong diễn biến của tuần lễ cực kỳ tăm tối vừa qua.
0
Chương 1 (tt)
 
“Làm sao tôi biết được chuyện gì đang xảy ra trong... ơ... cộng đồng phù thủy chứ?” Bây giờ thì ông Thủ tướng nạt lại. “Tôi có cả một đất nước phải cai trị với đủ mối bận tâm và không cần thêm...”
 “Chúng ta có cùng mối bận tâm.” Ông Fudge ngắt lời ông Thủ tướng. “Cây cầu Brokdale không sập vì cũ quá. Vụ cuồng phong không thực sự là cuồng phong. Những vụ giết người không phải tội ác của dân Muggle. Và gia đình ông Herbert Chorley sẽ được an toàn hơn nếu không có ông ta. Hiện giờ chúng tôi đang dàn xếp để ông ta được chuyển đến bệnh viện Thánh Mungo chuyên Điều trị thương tích và Bệnh tật pháp thuật. Việc chuyển viện sẽ được thực hiện tối nay.”
“Ông muốn... Tôi e là tôi... Cái gì?” Ông Thủ tướng lắp bắp.
Ông Fudge hít một hơi thở sâu, nói, “Ông Thủ tướng à, tôi rất tiếc là tôi phải báo cho ông biết kẻ ấy đã trở lại. Kẻ-chớ-gọi-tên-ra ấy.”
“Trở lại? Khi ông nói “trở lại”... có nghĩa là hắn còn sống à? Ý tôi nói...”
Ông Thủ tướng cố mò trong ký ức những chi tiết về cuộc đối thoại cách đây ba năm, khi ông Fudge báo cho ông biết về vị pháp sư đáng sợ hơn hết thảy, vị pháp sư đã thực hiện một ngàn tội ác khủng khiếp trước khi biến mất một cách bí mật mười lăm năm trước.
“Vâng, còn sống.” Ông Fudge nói. “Ấy là – tôi chẳng rõ – có thể nói một người là vẫn còn sống nếu không cách nào giết được hắn chăng? Tôi không thực sự hiểu điều đó lắm, và cụ Dumbledore sẽ không giải thích một cách thỏa đáng – nhưng dù sao chăng nữa, kẻ ấy nhất định đã có được một hình hài, và đang đi lại, đang nói năng, đang giết chóc; cho nên, để cho cuộc nói chuyện của chúng ta trôi chảy, tôi cho là, vâng; kẻ ấy còn sống.”
Ông Thủ tướng không biết nói sao về chuyện này, nhưng một thói quen bướng bỉnh mong muốn tỏ ra mình được thông báo đầy đủ về bất cứ đề tài nào đã khiến cho ông cố lục lọi những chi tiết mà ông có thể nhớ được về những cuộc đối thoại trước đây.
“Có phải Serious Black là… ơ… Kẻ-chớ-gọi-tên-ra?”
“Black? Black hả?” Ông Fudge bối rối nói, vừa xoay tít cái nón trái dưa trong mấy ngón tay. “Ông muốn nói Sirius Black hả? Quỷ thần ơi, không phải. Black đã chết rồi. Hóa ra chúng tôi đã… ơ… sai lầm về Black. Ông ta rốt cuộc vô tội. Và ông ta cũng không hề liên minh với Kẻ-chớ-gọi-tên-ra. Ý tôi nói là,” ông nói thêm với vẻ phân trần, cái nón trong tay ông càng bị xoay nhanh hơn nữa, “tất cả chứng cớ đều cho thấy vậy – chúng tôi có hơn năm mươi nhân chứng mà – nhưng dù sao đi nữa, như tôi đã nói, ông ta cũng đã chết rồi. Thực ra là đã bị ám sát rồi. Ngay trong cơ quan Bộ Pháp thuật. Đúng là sẽ có một cuộc điều tra…”
Ở điểm này ông Thủ tướng ngạc nhiên nhận ra mình thoáng cảm thấy tội nghiệp cho ông Fudge. Tuy nhiên, cảm giác đó hầu như tức thì bị khuất lấp ngay bằng một luồng hưng phấn ích kỷ khi nghĩ rằng cho dù bản thân mình có kém cỏi trong lãnh vực hiện hình ra từ lò sưởi, nhưng ông chưa từng để xảy ra vụ ám sát nào trong bất kỳ một cơ quan công quyền nào dưới trướng của mình... Dù sao thì cũng chưa...
Trong khi ông Thủ tướng bí mật mân mê mặt gỗ của cái bàn giấy, ông Fudge tiếp tục nói, “Nhưng giờ đây Black đã là chuyện-cho-qua rồi. Vấn đề là chúng ta đang lâm chiến, ông Thủ tướng à, và chúng ta phải hành động.”
“Lâm chiến?” Ông Thủ tướng lo lắng lặp lại. “Chắc là ông có hơi cường điệu một tí chứ?”
“Kẻ-chớ-gọi-tên-ra giờ đây đã được bọn vượt ngục Azkaban hồi tháng giêng theo phò tá.” Ông Fudge nói càng lúc càng nhanh, và quay mòng mòng cái nón của ông nhanh đến nỗi trông nó như một cục màu xanh lờ mờ. “Từ khi chúng chuyển ra hoạt động công khai, chúng đã phá hoại tàn hại. Vụ cây cầu Brokdale – chính kẻ ấy đã gây ra, ông Thủ tướng à. Kẻ ấy đe dọa một cuộc tàn sát tập thể dân Muggle trừ khi tôi bước ra một bên tránh đường hắn và…”
“Hay dữ à. Vậy ra do lỗi của ông mà người ta bị giết và tôi thì đang phải trả lời chất vấn về thiết bị lắp đặt cùn gỉ và những khớp nối giãn nở hao mòn và tôi không biết còn thêm gì nữa.” Ông Thủ tướng tức tối nói.
“Lỗi của tôi hả?” Ông Fudge nổi nóng lên, nói “Chẳng lẽ ông đang nói là đáng ra phải nhượng bộ một sự hăm dọa như thế sao?”
“Có thể không.” Ông Thủ tướng nói, vừa đứng dậy và sải bước quanh căn phòng, “nhưng nếu là tôi thì tôi sẽ đặt tất cả nỗ lực của mình vào việc bắt cho được kẻ hăm dọa trước khi hắn thực hiện bất kỳ một hành động tàn bạo nào như thế!”
“Chẳng lẽ ông thực tình cho rằng tôi đã không thực hiện tất cả mọi nỗ lực sao?” Ông Fudge vặn hỏi trong cơn giận bừng bừng. “Mỗi Thần Sáng của Bộ Pháp thuật đã và đang cố gắng truy lùng hắn, nhưng chúng ta chẳng may đang nói về một trong những pháp sư quyền lực nhất của mọi thời đại, một pháp sư đã đào thoát trong gần ba thập niên!”
“Vậy thì tôi đồ rằng ông sắp nói cho tôi biết là cũng chính hắn đã gây ra vụ cuồng phong ở miền Tây?” Ông Thủ tướng nói, cơn bực tức của ông tăng theo đà mỗi sải chân ông bước. Ông nổi điên lên khi mình thì được biết nguyên nhân của tất cả những tai họa kinh hoàng này trong khi lại không thể công bố cho dân chúng nghe, mà như vậy thì thậm chí còn tệ hơn là cứ coi phứt đi đó là lỗi của chính quyền.
“Đó không phải là cuồng phong. ” Ông Fudge rầu rĩ nói.
 “Xin lỗi à! ” Ông Thủ tướng quát lên, lúc này ông đã chuyển sang dậm lên đạp xuống từng bước chân chắc nịch. “Cây cối tróc gốc, nóc nhà bị tốc bay, cột đèn đường cong vòng, thương vong khủng khiếp…”
“Đó là do bọn Tử thần thực tử gây ra. ” Ông Fudge nói. “Bọn tay chân của Kẻ-chớ-gọi-tên-ra ấy. Và… và chúng tôi nghi ngờ có sự tham gia của người khổng lồ. ”
Ông Thủ tướng đứng khựng lại như đụng phải một bức tường vô hình.
“Sự tham gia của cái gì?”
“Lần trước hắn đã sử dụng người khổng lồ, khi hắn muốn đạt được hiệu quả lớn,” ông  Fudge nhăn nhó. “Sở Tin Thất thiệt hiện đang làm việc ngày đêm, chúng tôi đã phái những toán Cán sự Lú đi điều hòa trí nhớ của tất cả những Muggle nào đã chứng kiến những gì đã thực sự xảy ra, chúng tôi đã cử hầu hết nhân viên của Bộ Qui định và và Kiểm soát Sinh vật huyền bí chạy quanh khu vực Somerset, nhưng vẫn chưa thể tìm ra người khổng lồ, thật là một đại nạn.”
“Ông đừng có than!” Ông Thủ tướng điên tiết nói.
“Tôi sẽ không chối cãi là tinh thần ở Bộ đang xuống thấp.” Ông Fudge nói “Được gì với tất cả những chuyện đó, để rồi lại mất Amelia Bones.”
“Mất ai?”
“Amelia Bones. Trưởng phòng Thi hành Luật Pháp thuật. Chúng tôi cho là rất có thể đích thân Kẻ-chớ-gọi-tên-ra đã giết cô ấy, bởi vì cô ấy là một phù thủy rất tài giỏi và tất cả bằng chứng cho thấy cô ấy đã trải qua một cuộc chiến đấu ác liệt.”
Ông Fudge tằng hắng, và có vẻ như bằng một nỗ lực lớn, đã ngừng được việc xoay tít cái nón trái dưa.
“Nhưng vụ giết người đó có đăng báo,” ông Thủ tướng nói, tạm thời xao nhãng cơn thịnh nộ của mình. “Báo của chúng tôi. Amelia Bones... Báo chỉ đăng cô ta là một phụ nữ trung niên sống một mình. Vụ... vụ giết người đó thiệt bi thảm há? Vụ đó nổi tiếng lắm. Cảnh sát đang bó tay, ông biết đó.”
Ông Fudge thở dài.
“Vâng, dĩ nhiên là họ bó tay.” Ông nói “Cô ta bị giết trong một căn phòng khóa trái từ bên trong, đúng không? Chúng tôi ngược lại biết chính xác ai đã ra tay, nhưng điều đó cũng chẳng giúp chúng tôi tóm được thủ phạm. Và rồi đến Emmeline Vance, có lẽ ông chưa từng nghe nói đến tên người này...”
“Ồ, tôi có biết chứ!” Ông Thủ tướng kêu lên. “Đúng ra, vụ đó xảy ra ngay ở góc đường gần đây thôi, báo chí được dịp đưa tin nóng: Suy đốn luật pháp và kỷ cương ngay trong sân sau Dinh Thủ tướng...”
“Và làm như thế tất cả ngần ấy vẫn chưa đủ,” ông Fudgenói, hầu như chẳng buồn để tai đến lời ông Thủ tướng. “Chúng tôi gặp giám ngục tủa ra khắp nơi, tấn công người cánh tả, cánh hữu, và cả trung lập...”
Vào cái thời xa xưa còn vui vẻ hơn bây giờ, câu nói này ắt hẳn là bất khả tri đối với ông Thủ tướng, nhưng giờ đây ông đã khôn ngoan hơn nhiều.
“Tôi tưởng là bọn giám ngục canh gác tù nhân ở Azkaban chứ?” Ông dè dặt nói.
“Trước đây.” Ông Fudge mệt mỏi nói. “Bây giờ thôi rồi. Chúng đã bỏ nhiệm sở ở nhà tù mà đi theo Kẻ-chớ-gọi-tên-ra. Tôi sẽ không giả bộ làm như chuyện này không phải là một cú đấm vô mặt.”
“Nhưng,” ông Thủ tướng nói, với ý thức về một nỗi hải hùng đang ló dạng, “có phải ông từng nói với tôi chúng là những sinh vật rút cạn hy vọng và hạnh phúc của người ta không?”
“Đúng vậy. Và chúng đang sinh sôi. Đó là nguyên nhân của tất cả mớ bòng bong này.”
Ông Thủ tướng rũ xuống, đầu gối bủn rủn, ngồi sụp xuống một cái ghế gần đó. Cái ý nghĩ về những sinh vật vô hình đột kích khắp thành thị và thôn quê, làm lây lan nỗi cùng đường tuyệt vọng trong lòng đám cử tri, khiến ông Thủ tướng cảm thấy suýt ngất xỉu.
“Thế này nhé ông Fudge... Ông cần phải làm điều gì đó! Đó chính là trách nhiệm của ông với tư cách Bộ trưởng Bộ Pháp thuật!”
“Ông Thủ tướng thân mến của tôi ạ, thực lòng ông không thể nghĩ rằng tại sao tôi vẫn còn giữ chức Bộ trưởng Bộ Pháp thuật sau tất cả những vụ việc này à? Tôi đã bị mất chức cách đây ba ngày rồi! Toàn thể cộng đồng Pháp thuật đã kêu gào tôi từ chức trong vòng nửa tháng. Tôi không hề biết họ đoàn kết đến như vậy trong suốt thời tôi còn tại chức!” Ông Fudge nói, cố gắng nở một nụ cười.
Ông Thủ tướng tạm thời không kiếm ra từ để nói. Bất chấp cơn phẫn nộ về cái vị thế mà ông bị đặt vào, ông vẫn cảm thấy tội nghiệp người đàn ông bộ dạng quắt queo ngồi đối diện mình.
“Tôi rất lấy làm áy náy.” Cuối cùng ông nói. “Tôi có thể giúp gì được không?”
“Ông thiệt là tử tế, ông Thủ tướng à. Nhưng chẳng làm được gì đâu. Đêm nay tôi được phái đến đây để giúp ông cập nhật hóa kiến thức về những sự kiện gần đây và để giới thiệu ông với người kế nhiệm tôi. Tôi cho rằng lẽ ra giờ này ông ta đã có mặt ở đây, nhưng dĩ nhiên lúc này ông ta rất bận, với bao nhiêu là chuyện đang diễn ra.”
Ông Fudge ngoái đầu ngó bức chân dung người đàn ông nhỏ thó xấu xí đội một đầu tóc giả màu bạc dài thoòng xoăn tít, cái ông này đang ngoáy lỗ tai bằng đầu nhọn của một cái lông ngỗng. Bắt được ánh mắt của ông Fudge, bức chân dung nói, “Chút xíu nữa là ông ấy tới. Ông ấy đang viết cho xong một lá thư gửi cụ Dumbledore.”
“Tôi cầu chúc ông ta may mắn.” Ông Fudge nói, lần đầu tiên nghe ông tỏ vẻ cay đắng. “Trong vòng nửa tháng qua tôi đã viết thư cho cụ Dumbledore hai lần mỗi ngày, nhưng cụ chẳng hề lay chuyển. Nếu ông ta chỉ chuẩn bị để thuyết phục cậu bé, thì tôi vẫn còn có thể... Mà thôi, biết đâu ông Scrimgeour lại chẳng thành công hơn.”
Ông Fudge chìm vào một cõi rõ ràng là yên lặng phiền muôn, nhưng hầu như ngay tức thì bức chân dung phá tan cái cõi yên lặng đó bằng cách thình lình cất lên cái giọng rành rọt trịnh trọng:
“Kính gửi ông Thủ tướng dân Muggle. Yêu cầu hội kiến. Khẩn cấp. Vui lòng hồi âm tức thì. Rufus Scrimgeour, Bộ trưởng Bộ Pháp thuật.”
“Vâng, vâng, được.” Ông Thủ tướng luống cuống nói, và ông ta không chút nao núng khi ngọn lửa trong lò sưởi bùng lên màu xanh biếc, bốc cao, hiện hình ra vị pháp sư thứ hai đang quay mòng mòng ở  giữa ngọn lửa, và trong tích tắc sau đó đã vọt ra đứng lên tấm thảm đồ cổ ngoạn. Ông Fudge đứng lên, và sau một thoáng ngập ngừng, ông Thủ tướng cũng làm theo, quan sát người mới đến đang chỉnh đốn trang phục, phủi bụi bám trên tấm áo choàng đen dài và nhìn quanh.
Ý nghĩ đầu tiên hơi ngốc nghếch của ông Thủ tướng là cái tay Rufus Scrimgeour này trông hơi giống một con sư tử già. Có mấy vệt tóc bạc trên mớ tóc bờm hung hung và bộ lông mày rậm rạp. Ông ta có đôi mắt vàng vàng sắc sảo ẩn sau cặp kiếng viền kim loại và có một vẻ duyên dáng uyển chuyển uy nghi nhất định, mặc dù bước đi hơi cà thọt. Ấn tượng ngay tức thì là sự khôn ngoan và kiên định; ông Thủ tướng nghĩ ông hiểu tại sao cộng đồng Pháp thuật lại chọn ông Scrimgeour thay cho ông Fudge làm lãnh tụ trong thời kỳ nguy biến này.
“Chào ông.” Ông Thủ tướng lịch sự nói, giơ tay ra.
Ông Scrimgeour bắt tay ông Thủ tướng rất nhanh, mắt ông lướt qua khắp căn phòng, rồi ông rút ra một cây đũa phép từ dưới tấm áo chùng.
“Ông Fudge đã nói với ông tất cả rồi hử?” Ông ta sải chân bước tới cánh cửa, gõ cây đũa phép của ông lên cái lỗ khóa. Ông Thủ tướng nghe ổ khóa đóng một cái kịch.
“Ờ... vâng,” ông Thủ tướng nói. “Và nếu ông không phiền, tôi thích để cánh cửa ấy không khóa hơn.”
“Tôi thì thích không bị chen ngang hay rình mò hơn.” Ông Scrimgeour nói ngắn gọn. Ông chỉa cây đũa phép về phía cửa sổ, khiến cho tấm màn kéo ngang che kín mít, nói thêm: “Được, thế này, tôi là một người bận rộn, cho nên chúng ta hãy bàn ngay vào công việc. Trước tiên, chúng ta cần thảo luận về sự an toàn của ông.”
Ông Thủ tướng rướn người lên hết mức chiều cao của mình, và đáp, “Tôi tuyệt đối hài lòng về sự an toàn mà tôi đã có, cám ơn ông rất...”
“Chà, chúng tôi thì không.” Ông Scrimgeour cắt ngang. “Dân Muggle sẽ không có được sự canh phòng tử tế nếu ông Thủ tướng của họ bị ếm phải Lời nguyền độc đoán. Viên thư ký mới của ông ở phòng ngoài...”
“Tôi sẽ không gạt bỏ ông Kingsley Shacklebolt đâu, nếu ông tính đề nghị như vậy.” Ông Thủ tướng nóng nảy nói. “Ông ta rất năng nỗ, mẫn cán, làm việc nhanh gấp hai lần tất cả đám còn lại...”
“Bởi vì ông ta là một pháp sư,” ông Scrimgeour  nói mà không hề hé một cái mỉm cười. “Một Thần sáng được huấn luyện cao cấp, người được ủy thác nhiệm vụ bảo vệ ông.”
“Khoan, chờ một tí!” Ông Thủ tướng tuyên bố, “Ông không thể ngang nhiên cài đặt người của ông vô văn phòng của tôi, tôi quyết định nhân sự làm việc cho tôi...”
“Tôi tưởng ông hài lòng với ông Shacklebolt mà?” Ông Scrimgeour  lạnh lùng nói.
“Tôi thì... Ấy là nói... Tôi đã...”
“Vậy thì không có vấn đề gì hết, phải không?” Ông Scrimgeour nói.
“Tôi... thôi được, miễn là công việc của ông Shacklebolt vẫn tiếp tục... ơ... xuất sắc.” Ông Thủ tướng nói lọng ngọng, nhưng ông Scrimgeour dường như chẳng buồn nghe ông nữa.
“Bây giờ đến lượt ông Herbert Chorley, Phó Thủ tướng của ông,” ông Scrimgeour tiếp tục. “Cái ông lâu nay đang giải trí cho công chúng bằng cách thủ vai một con vịt.”
“Ông ta làm sao?” Ông Thủ tướng hỏi.
“Ông ta rõ ràng là đang phản ứng lại một Lời nguyền độc đoán bị ếm vụng về.” Ông Scrimgeour nói. “Nó khiến ông ta quẫn trí, nhưng ông ta vẫn có thể trở nên nguy hiểm.”
“Ông ta đâu có kêu cạp cạp!” Ông Thủ tướng nói một cách yếu ớt. “Chắc là chỉ một chút cả hơi... Có thể uống hơi nhiều...”
“Một đội chữa thương của bệnh viện Thánh Mungo chuyên Điều trị thương tích và Bệnh tật pháp thuật đang khám nghiệm cho ông ta trong lúc này. Cho tới lúc này, ông ta đã tính vặn cổ ba người trong đội.” Ông  Scrimgeour nói. “Tôi nghĩ tốt nhất là chúng ta nên đem ông ấy ra khỏi xã hội Muggle một thời gian.”
“Tôi... Chà... ông ta sẽ không sao, phải không?” Ông Thủ tướng nói một cách lo lắng.
Ông Scrimgeour chỉ nhún vai, lúc đó ông ta đã đi về phía lò sưởi.
“Thôi, đó quả thật là tất cả những gì tôi phải nói. Tôi sẽ thông báo cho ông để nắm kịp tình hình tiến triển, ông Thủ tướng ạ. Hay ít nhất, nếu tôi quá bận không thể đích thân tới được, thì trong trường hợp đó tôi sẽ phái ông Fudge đến đây. Ông ấy đã đồng ý tiếp tục phục vụ với tư cách cố vấn.”
Ông Fudge cố gắng mỉm cười, nhưng không thành công lắm. Trông ông chỉ giống như đang nhức răng. Ông Scrimgeour đã lục lọi trong túi áo một thứ bột bí mật khiến cho ngọn lửa trở nên xanh lè. Ông Thủ tướng ngó chằm chằm hai vị phù thủy một lát trong tuyệt vọng, thế rồi những lời lẽ mà ông đã cố hết sức đè nén trong suốt cả buổi tối cuối cùng đã vọt ra.
“Nhưng trời đất quỉ thần ơi... Các ông là phù thủy! Các ông biết làm pháp thuật! Chắc chắn là các ông biết giải quyết... Chà... bất cứ vấn đề gì!”
Ông Scrimgeour chậm rãi xoay người lại tại chỗ và trao đổi một ánh mắt ngờ vực với ông Fudge, lần này ông Fudge đã cố bẹo ra được một nụ cười khi tử tế nói:
“Rắc rối là ở chỗ, đối phương cũng có thể làm pháp thuật nữa, ông Thủ tướng à.”
Và sau mấy lời đó, cả hai phù thủy lần lượt bước vào ngọn lửa xanh lè chói lọi mà biến mất.
0
Xin lỗi, mình còn thiếu tên người đánh máy: tiquay.
0
Chương 2
Đường Bàn xoay
 
Làn sương mù lạnh lẽo ép vô cửa sổ văn phòng ông Thủ tướng đã lãng đãng trôi xa cách đó vài dặm đến một dòng sông bẩn thỉu uốn éo chảy giữa đôi bờ tràn ngập rác rưởi đổ bừa. Một cột ống khói khổng lồ, tàn tích của một nhà máy không còn hoạt động nữa, chọc lên trời, trông như một cía bóng lờ mờ và xíu quẩy. Chẳng có âm thanh nào khác ngoại trừ tiếng rì rào của dòng nước đen, và chẳng có dấu hiệu nào của sự sống ngoại trừ một con cáo ốm lòi xương đã lén lút mò xuống bờ sông để hít hửi trong hy vọng tràn trề tìm ra được mấy miếng bao bì gói cá và khoai tây chiên vứt lẫn trong đám cỏ cao.
Thế nhưng, đồng thời với một tiếng nổ bốp mơ hồ, một hình thù mảnh khảnh đội mũ trùm xuất hiện từ trong không khí ngay trên mép sông. Con cáo đứng ngây ra, đôi mắt cảnh giác bám chặt vòa hiện tượng mới mẻ lạ lùng này. Cái hình thù ấy có vẻ mất vài phút để ổn định vóc dáng, rồi bắt đầu di chuyển với những bước chân dài, nhẹ nhàng, nhanh chóng, với vạt áo khoác dài của nó loạt soạt trên cỏ.
Cùng lúc với một tiếng bốp thứ hai, nghe to hơn, một hình thù đội mũ trùm khác cũng hiện hình.
“Chờ với!”
Tiếng kêu khàn khàn làm con cáo giật mình, lúc đó gần như đang ép dẹp lép thân mình trên mặt đất. Nó nhảy vọt ra khỏi chỗ ẩn nấp và phóng ngược lên phía bờ sông. Một tia sáng xanh lè lóe lên, một tiếng kêu ăng ẳng phát ra, và con cáo rớt lại xuống mặt đất, chết queo.
Cái hình thù thứ hai dùng đầu ngón chân lật ngược xác con thú.
“Chỉ là một con cáo.”  Giọng của một người đàn bà vang lên một cách thô lỗ từ dưới cái mũ trùm. “Ta cứ tưởng có thể một Thần sáng… Cissy, chờ với.”
Nhưng cái hình thù mà mụ ta theo đuổi, lúc nãy dừng chân và ngoái đầu nhìn lại khi ánh sáng lóe lên, giờ lại đang trèo lên phía bờ sông mà con cáo rớt xuống.
“Cissy… Narcissa… Nghe lời tôi này…”
Người đàn bà thứ hai bắt kịp người đàn bà thứ nhất và túm lấy cánh tay của bà ta, nhưng bà này giật mạnh tay ra.
“Về đi, Bella!”
“Cô phải nghe lời tôi!”
“Em đã nghe rồi. Em đã quyết định, giờ để em yên!”
 Người đàn bà tên Narcissa đã lên tới chỗ cao nhất của bờ sông, chỗ có một đường rầy xe lửa cũ kỹ tách con sông ra khỏi con đường rải đá cuội. Người đàn bà kia, Bella, bám sát theo tức thì. Họ đứng bên cạnh nhau cùng nhìn qua bên kia con đường, nơi hàng dãy tiếp hàng dãy những căn nhà gạch đổ nát, cửa sổ âm u mịt mờ trong bóng tối.
“Nó sống ở đây à?” Bella hỏi bằng giọng khinh khỉnh. “Ở đây? Ngay trong đống cứt  dân Muggle à? Chị em mình ắt hẳn là những người đầu tiên trong giới chúng ta đặt chân tới...”
Nhưng Narcissa chẳng buồn lắng nghe; bà ta đã tuột qua một chỗ trống trên đường rầy rỉ sét và vội vã băng qua đường.
 
“Cissy, chờ với!”
Bella đuổi theo, tấm áo khoác phấp phới phía sau, và mụ ta thấy Narcissa xẹt qua một con hẻm nằm giữa những căn nhà để đến con đường thứ hai, cũng giống hệt con đường thứ nhất. Một số đèn đường đã bể, hai người đàn bà chạy giữa mấy bệt ánh snags và bóng tối mịt mùng.
Người rượt theo đã bắt kịp người bị theo đuổi vừa khi người này định quẹo qua một góc đường. Lần này mụ ta tóm giữ được cánh tay của người kia và xoay mạnh người đó lại để hai bên nhìn thẳng vào mặt nhau.
“Cissy, cô không được làm điều này, cô không thể tin tưởng thằng ấy...”
“Chúa tể Hắc ám tin tưởng ông ấy, đúng không?”
“Chúa tể Hắc ám bị... Chị tin là... bị lầm.”
Bella thở hổn hển, đôi mắt mụ long lên một thoáng dưới lớp mũ trùm khi nhìn quanh kiểm tra để chắc chắn là quả thực chỉ có mỗi mình họ mà thôi.
“Trong trường hợp nào đi nữa, chúng ta đã được dặn là không tiết lộ kế hoạch cho bất cứ ai. Làm vầy là phản bội lại lệnh của Chúa tể Hắc ám…”
“Thôi đi, Bella.”
Narcissa gầm gừ, và rút cây đũa phéphù thủyừ dưới lớp áo khoác ra, chĩa nó vô mặt người kia đầy đe dọa. Bella chỉ cười.
“Cissy, dọa chính chị của cô à? Cô chẳng…”
Narcissa thở gấp, có dấu hiệu của chứng cuồng loạn trong giọng nói, và khi bà ta hạ cây đũa phép xuống như chém một nhát dao, một tia snags nữa lóe lên. Bella buông cánh tay em gái ra như thể bị phỏng.
“ Narcissa!”
Nhưng Narcissa đã chạy ù tới trước. Vừa xoa vuốt bàn tay của mình, người săn đuổi bà ta lại rượt theo, nhưng giờ đây giữ một khoảng cách an toàn, khi cả hai đi sâu vào mê cung hoang vắng của những ngôi nhà gạch. Cuối cùng, Narcissa bước vội lên một con phố có tên Đường Bàn xoay, vươn cao bên trên phố này là cột ống khói nhà máy sừng sững hăm he như một ngón tay khổng lồ giơ lên đe nẹt. Bước chân của Narcissa khua vang trên nền đá cuội khi bà ta đi ngang qua mấy cái cửa sổ bị bể kiếng được đóng bít lại bằng giấy bồi, đến tận ngôi nhà cuối cùng, nơi có chút ánh sáng lờ mờ le lói của một căn phòng tầng trệt.
Narcissa đã gõ cửa trước khi Bella bắt kịp, vừa thở vừa nguyền rủa. Hai người cùng đnưgs đợi với nhau, trống ngực khẽ đập, hít thở cái mùi bốc lên từ dòng sông bẩn thỉu được làn gió đêm nhẹ thổi về phía họ. Sau vài giây, họ nghe có sự chuyển động đằng sau cánh cửa và rồi cửa mở ra một cái cạch. Một người đàn ông ló chút thân mình ra nhìn họ; một người đàn ông với tóc đen dài rẽ ngôi giữa tém qua hai bên gương mặt vàng bủng có đôi mắt đen.
Narcissa trật cái mũ trùm ra sau. Bà ta xanh xao đến nỗi trông gần như sáng lên trong bóng tối; mái tóc vàng dài thả đổ xuống lưng tạo cho bà cái vẻ của người chết trôi.
“Narcissa!” Người đàn ông kêu lên, mở cánh cửa rộng hơn một chút, để cho ánh sáng rọi tới soi tỏ Narcissa cùng bà chị. “Thật là một ngạc nhiên thú vị!”
“Severus.”
Narcissa nói bằng giọng thì thào căng thẳng.
“Tôi có thể nói chuyện với ông được không? Khẩn cấp!”
“Dĩ nhiên là được.”
 
Người đàn ông đứng lùi lại để cho Narcissa bước vào trong nhà. Bà chị của bà ta vẫn đội mũ trùm cũng đi theo vào không cần mời.
“Snape,” mụ nói khi đi ngang.
“Bellatrix!” thầy Snape đáp lại, cái miệng mỏng dính cong lên thành một nụ cười mai mỉa khi thầy đóng cánh cửa lại một cái cạch sau lưng hai người đàn bà.
Họ đi thẳng vào trong một căn phòng khách nhỏ, căn phòng này tạo cảm giác như thể đó là một cái xà lim kín mít. Những bức tường được bịt kín hoàn toàn bằng sách, hầu hết những cuốn sách này đề được đóng bìa da nâu, da đen cũ kỹ. Có một cái ghế sofa đã mòn trơ chỉ, một cái ghế bành, và một cái bàn ọp ẹp, cả đám đứng túm tụm với nhau thành đám trong một vũng sáng lờ mờ phát ra từ một cây đèn thắp bằng nến thòng từ trên trần xuống. Nơi này có một vẻ bị bỏ bê, mặc dù không hẳn thường xuyên là không có người ở.
Thầy Snape ra dấu cho Narcissa ngồi xuống ghế sofa. Bà ta cởi áo khoác ra, quẳng nó qua một bên và ngồi xuống, đăm đăm nhìn hai bàn tay trắng bệch và run lẩy bẩy của mình đang đặt trên đùi. Bellatrix hạ mụ trùm xuống một cách chậm rãi hơn. Bà em mụ tái nhợt bao nhiêu thì mụ đen đúa bấy nhiêu, với đôi mắt có quầng có nọng nặng nề và một bộ xương hàm chắc khỏe, mụ chẳng hề rời mắt khỏi thầy Snape trong lúc di chuyển ra đứng đằng sau lưng Narcissa. 
“Vậy, tôi có thể làm gì được cho bà?”
Thầy Snape hỏi, tự mình an tọa trong cái ghế bành đối diện hai chị em.
“Chúng ta… chúng ta không có ai khác nữa chứ?” Narcissa khẽ khàng hỏi.
“Dĩ nhiên là có. Vâng, Đuôi Trùn đang ở đây, nhưng chúng ta đâu có tính đến sâu bọ, phải không?”
Thầy Snape chĩa cây đũa phép vô một bức tường đầy sách đằng sau lưng mình và một tiếng nổ vang lên, một cánh cửa bí mật bật mở ra, để lộ một cầu thang hẹp và một gã đàn ông loắt choắt đang đứng sững như trời trồng trên cầu thang.
“Đuôi Trùn, chắc mi cũng thấy rõ là chúng ta đang có khách.” Thầy Snape nói bằng giọng uể oải.
Gã đàn ông loắt choắt khòm lưng rón rén bò xuống mấy bậc thang cuối cùng để di chuyển vô trong phòng. Gã có đôi mắt nhỏ hí ươn ướt, một cái mũi nhọn và đeo một nụ cười màu mè chẳng thoải mái chút nào. Bàn tay trái của gã đang xoa xoa bàn tay phải, bàn tay này trông như thể bọc trong một cái găng tay bằng bạc.
“Bà Narcissa!” Gã chào bằng một giọng rin rít như chuột kêu. “Và bà Bellatrix! Thật là quyến rũ biết bao…”
“ Đuôi Trùn sẽ bưng nước cho chúng ta, nếu các bà muốn uống,” Thầy Snape nói. “Và rồi hắn sẽ trở về phòng ngủ của hắn.”
Đuôi Trùn nhăn mặt như thể Thầy Snape vừa mới quăng cái gì đó vô mặt gã.
“Tôi không phải đầy tớ của ông!” Gã rít lên, lẩn tránh ánh mắt của Thầy Snape.
“Vậy sao? Ta lại có cảm tưởng là Chúa tể Hắc ám đặt mi ở đây để trợ giúp ta chứ?”
“Trợ giúp ông, ừ… nhưng không phải làm việc bưng nước cho ông và… lau nhà cho ông!”
“ Đuôi Trùn à, ta đâu biết mi ao ước những công tác hiểm nghèo hơn,” Thầy Snape nói giọng ngọt xớt. “Chuyện này cũng dễ dàn xếp thôi: ta sẽ nói với Chúa tể Hắc ám…”
“Tôi cũng có thể tự nói chuyện với Chúa tể Hắc ám nếu tôi muốn!”
“Dĩ nhiên là mi có thể.” Thầy Snape cười nhếch mép, nói. “Nhưng tạm thời trong lúc này, mi hãy bưng nước cho chúng ta. Loại rượu gia tinh pha chế nào đó cũng được.”
Đuôi Trùn dùng dằng một lát, trông như thể muốn cãi tiếp, nhưng rồi gã quay lưng đi về phía cánh cửa bí mật thứ hai. Mọi người nghe tiếng cửa đóng một cái rầm và tiếng ly tách chạm nhau kêu tanh tách. Chỉ vài giây sau gã đã trở lại, bưng một cái mâm trên đó có một cái chai bám đầy bụi bặm và ba cái ly. Gã liệng mấy thứ này xuống cái bàn ọp ẹp rồi mau mắn đi khuất mắt mọi người, đóng sập cánh cửa ngụy trang bằng kệ sách lại sau lưng.
Thầy Snape rót ra ba cái ly một thứ rượu đỏ như máu và đưa hai ly cho hai chị em. Narcissa lẩm bẩm mấy tiếng cám ơn, trong khi mụ Bellatrix chẳng thốt một lời nào, nhưng vẫn tiếp tục nhìn Thầy Snape trừng trừng. Điều này xem ra chẳng làm Thầy Snape bối rối tí nào ; ngược lại, ông còn tỏ ra khoái trá.
“Chúc sức khỏe Chúa tể Hắc ám.”
Thầy Snape nói, nâng ly lên uống cạn. Hai chị em làm theo ông ta. Thầy Snape lại rót đầy ly của họ. Khi Narcissa  uống hết ly rượu thứ hai, bà ta hấp tấp nói.
“Ông Severus, tôi xin lỗi đã đến đây như thế này, nhưng tôi phải gặp ông. Tôi nghĩ ông là người duy nhất có thể giúp tôi…”
Thầy Snape giơ một bàn tay ra để ngăn Narcissa, rồi chĩa cây đũa phép của ông  về phía cửa cầu thang bí mật một lần nữa. Một tiếng nổ to vang lên và một tiếng thét ré lên, tiếp theo là tiếng Đuôi Trùn lật đật bò trở lên lầu.
“Tôi xin lỗi,” Thầy Snape nói. “Dạo gần đây hắn đâm ra nhiễm cái trò rình nghe ở cửa, tôi chẳng biết hắn làm vậy để làm gì… Bà Narcissa, bà đang nói…”
Narcissa hít một hơi thở vĩ đại đến rùng mình và bắt đầu lại một lần nữa.
“Ông Severus, tôi biết tôi không nên đến đây, tôi đã được căn dặn là không được nói với bất cứ ai, nhưng…”
“Vậy thì cô nên liệu mà giữ mồm giữ miệng!” Mụ Bellatrix nạt ngang. “Đặc biệt với người có mặt tại đây.”
“Người có mặt ở đây à?” Thầy Snape nhắc lại một cách nhạo báng. “Và tôi nên hiểu điều đó như thế nào đây, thưa bà Bellatrix?”
“Nghĩa là tôi không tin ông, Thầy Snape à, như ông đã biết quá rõ rồi!”
Narcissa bật ra một âm thanh có thể gọi là tiếng khóc than, và đưa hai tay bưng mặt. Thầy Snape đặt cái ly của mình lên mặt bàn rồi ngồi thẳng lại, hai bắp tay ông đặt trên chỗ tựa tay của cái ghế bành, cười mỉm với gương mặt trâng tráo của Bellatrix.
“Bà Narcissa à, tôi nghĩ chúng ta nên nghe điều mà bà Bellatrix đang hăm hở nói; để tránh những sự chõ mỏ phát mệt. Nào, tiếp tục đi chứ, bà Bellatrix,” Thầy Snape nói. “Tại sao mà bà không tin tôi?”
“Có hằng trăm lý do!” Bellatrix nói to, bước vòng qua cái ghế sofa để dằn mạnh cái ly của mụ ta lên bàn. “Bắt đầu từ đâu đây! Khi Chúa tể Hắc ám suy sụp thì ông ở đâu hả? Tại sao ông không bao giờ ra sức tìm kiếm ngài khi biến mất hả? Suốt những năm tháng mà ông sống trong túi áo của lão Dumbledore ông đã làm những gì hả? Tại sao ông cản trở Chúa tể Hắc ám thu phục Hòn đá Phù thủy hả? Tại sao ông không trở lại ngay tức thì khi Chúa tể Hắc ám phục sinh hả? Ông đã ở đâu cách đây mấy tuần lễ khi chúng tôi chiến đấu để phục hồi lời Tiên tri cho Chúa tể Hắc ám hả? Và tại sao hả, Thầy Snape, tại sao mà Harry Potter vẫn sống nhăn trong khi nó nằm trong bàn tay sinh sát của ông suốt năm năm trời hả?”
Khi mụ tạm ngừng lấy hơi, ngực mụ phập phồng, hai má đỏ ửng. Sau lưng mụ, Narcissa ngồi bất động, mặt vẫn còn vùi trong hai bàn tay.
Thầy Snape mỉm cười.
“Trước khi tôi trả lời bà – À vâng, bà Bellatrix à, tôi sẽ trả lời bà chứ! Bà có thể nói lại lời của tôi cho những người khác, những người ngồi lê đôi mách sau lưng tôi, rồi loan truyền những câu chuyện tầm bậy vè sự bội bạc của tôi đối với Chúa tể Hắc ám! Trước khi tôi trả lời bà, tôi có đề nghị, hãy để cho tôi được hỏi bà một câu trước. Bà có thực sự nghĩ là Chúa tể Hắc ám đã chẳng hỏi tôi từng vấn đề một trong những vấn đề bà vừa nêu ra không? Bà có thực sự nghĩ rằng nếu tôi đã không thể nào đưa ra được câu trả lời thỏa đáng, thì liệu tôi còn có thể ngồi đây mà hầu chuyện cùng bà được chăng?”
Mụ Bellatrix lúng túng.
“Bà nghĩ là ngài lầm chăng? Hay là tôi bằng cách nào đó bưng tai bịt mắt ngài chăng? Chúa tể Hắc ám, pháp sư vĩ đại nhất, bậc quảng đại thần thông xuất chúng nhất mà thế giới từng được chiêm ngưỡng lại bị lừa sao?”
Mụ Bellatrix không nói gì, nhưng lần đầu tiên trông có vẻ nối rối. Thầy Snape không bồi thêm vòa điểm chí tử ấy nữa. Ông lại cầm ly rượu của mình lên, nhấm nháp, rồi nói tiếp.
“Bà hỏi tôi đã ở đâu khi Chúa tể Hắc ám suy sụp à. Tôi đã ở nơi mà ngài ra lệnh cho tôi phải có mặt, tại Hogwarts – trường đào tạo Phù thủy và Pháp sư, bởi vì ngài muốn tôi do thám Albus Dumbledore. Tôi xin mạo muội nói rằng, bà cũng biết, tôi nhận lãnh công việc ở trường Hogwarts là do lệnh của Chúa tể Hắc ám.”
Bellatrix gật đầu một cách khó nhận thấy và toan mở miệng, nhưng Thầy Snape đã cướp lời mụ trước.
“Bà hỏi tại sao tôi đã không cố gắng tìm kiếm ngài khi ngài biến mất. Lý do của tôi tương tự như lý do của Avery, Yaxley, gia đình Carrow, Greyback, Lucius...” thầy nhẹ nghiêng đầu về phía bà Narcissa , “và nhiều người khác cũng đã không nỗ lực tìm kiếm ngài. Tôi tin là ngài đã yên nghỉ ngàn thu. Tôi chẳng lấy làm hảnh diện gì về chuyện này, tôi đã lầm, nhưng sự thể là vậy... Nếu ngài đã không tha thứ cho chúng ta, những kẻ đã đãnh mất lòng tin lúc ấy, thì ngài hẳn sẽ còn lại rất ít đồ đệ.”
“Ngài vẫn còn có tôi!” Mụ Bellatrix nói một cách say sưa. “Tôi, người đã nằm ngục Azkaban bao nhiêu năm trời vì ngài!”
“Vâng, quả thực đáng khâm phục nhất,” Thầy Snape nói bằng giọng chán chường. “Dĩ nhiên, nằm ngục thì bà cũng chẳng được tích sự gì cho ngài cả, nhưng làm điệu làm bộ thì chắc chắn là hay rồi...”
“Làm điệu làm bộ à!” Bellatrix ré lên; trong cơn cuồng nộ, trông mụ ta  hơi giống một con mẹ điên. “Trong khi tôi chịu đựng lũ giám ngục, ông vẫn an nhiên ở lại Hogwarts, thoải mái đóng vai con chó cưng của lão Dumbledore!”
0
“Đâu có được như vậy! bà biết đấy, lão đời nào chịu giao cho tôi bộ môn Phòng chống nghệ thuật hắc ám. Dường như lão nghĩ rằng điều đó có thể, ừ, đưa đến chuyện ngựa quen đường cũ… cám dỗ tôi trở lại cuộc sống trước đây.”
“Việc này mà tính là cả một sự hy sinh của ông cho Chúa tể Hắc ám. Sao, cái chuyện ông không được dạy bộ môn mà ông khoái nhất ấy?” Mụ Bellatrix buông lời giễu cợt. “Tại sao ông cứ ở lỳ nơi đó suốt thời gian ấy hả Thầy Snape? Tiếp tục do thám lão Dumbledore cho ông chủ mà ông tin là đã chết rồi à?”
“Không hẳn vậy,” Thầy Snape nói. “Mặc dù Chúa tể Hắc ám hào lòng là tôi đã không bao giờ rời bỏ nhiệm sở : tôi có mười sáu năm tình báo về Dumbledore để giao cho ngài khi ngài trở lại, một món quà chào mừng ngài có ích hơn những hoài niệm vô tận về sự nằm ngục Azkaban khó chịu như thế nào…”
“Nhưng ông đã ở lại…”
“Phải, bà Bellatrix à, tôi đã ở lại,” Thầy Snape nói, lần đầu tiên để lộ dấu hiệu thiếu kiên nhẫn. “Tôi có một công việc dễ chịu mà tôi thích hơn cái việc ở Azkaban. Lúc đó họ đang lùng bắt các Tử thần thực tử, như bà biết. Sự bảo vệ của Dumbledore đã giúp tôi khỏi bị tống vô ngục; đó là một lợi thế hết sức tốt, và tôi đã tận dụng. Tôi nhắc lại: Chúa tể Hắc ám không phàn nàn việc tôi ở lại Hogwarts, thì mắc gì bà lại càm ràm. Tôi nghĩ điều tiếp theo mà bà muốn biết,” Thầy Snape hối hả nói tiếp, hơi lớn giọng, bởi vì Bellatrix  đã tỏ dấu hiệu muốn ngắt lời ông, “là tại sao tôi đứng chắn giữa Chúa tể Hắc ám và Hòn đá phù thủy. Điều này dễ giải thích thôi. Lúc đó ngài chưa biết là ngài có tin được tôi hay không. Ngài nghĩ, giống như bà, rằng tôi đã biến từ một Tử thần thực tử trung thành ra một con rối của Dumbledore. Ngài đang ở trong hoàn cảnh đáng thương, rất yếu ớt, và phải nương náu trong hình hài của một tay phù thủy tầm thường. Ngài đã không dám để lộ thân phận mình cho một đồng minh trước đây nếu đồng minh đó có thể giao nộp ngài cho Dumbledore hay cho Bộ. Tôi thực sự lấy làm tiếc là ngài đã không tin tưởng tôi lúc đó. Chứ nếu ngài có lòng tin thì ngài đã phục hồi quyền lực sớm hơn ba năm. Trong tình thế lúc đó, tôi thấy chỉ có mỗi tay Quirell tham lam đê tiện đang timd cách đánh cắp hòn đá, và tôi thừa nhận, tôi đã làm hết sức mình để cản trở hắn.”
Mồm Bellatrix méo xệch như thể mụ ta đã nuốt phải một liều thuốc đắng.
“Nhưng ông đã không trở về khi ngài trở lại, ông đã không bay về với ngài ngay lập tức khi ông cảm thấy Dấu hiệu Hắc ám cháy bỏng…”
“Đúng. Tôi đã trở về sau đó hai tiếng đồng hồ. Tôi đã trở về theo lệnh của Dumbledore.”
“Theo lệnh của Dumbledore…?” Bellatrix bắt đầu la lên, giọng điên tiết.
“Hãy suy nghĩ!” Thầy Snape nói, lại mất kiên nhẫn. “Hãy nghĩ cho kỹ đã! Bằng cách chờ hai tiếng đồng hồ sau, chỉ hai tiếng đồng hồ thôi, tôi đã đảm bảo được việc tôi có thể lưu lại trường Hogwarts để do thám! Bằng việc để cho Dumbledore tưởng rằng việc tôi trở về với Chúa tể Hắc ám chỉ là làm theo lệnh của ông ta, tôi đã có thể chuyển giao thông tin về Dumbledore và Hội Phượng hoàng từ ấy đến giờ! Hãy cân nhắc, bà Bellatrix à:  Dấu hiệu Hắc ám đã trở nên càng lúc càng mạnh trong nhiều tháng trời. Lúc ấy tôi đã biết ngài ắt hẳn sắp trở lại, tất cả mọi Tử thần thực tử đều biết. Tôi đã có rất nhiều thì giờ để suy nghĩ về điều mà tôi muốn làm, để chuẩn bị cho hành động kế tiếp, để đào thoát như Karkaroff, đúng không?”
“Chúa tể Hắc ám lúc đầu cũng không vui vẻ về việc trì hoãn của tôi, nhưng tôi cam đoan với bà, sự không hài lòng đó biến mất hoàn toàn khi tôi giải thích rằng tôi vẫn trung thành mặc dù Dumbledore tưởng rằng tôi đã là người của ông ta. Phải, Chúa tể Hắc ám đã tưởng đâu tôi rời bỏ ngài vĩnh viễn, nhưng ngài đã lầm.”
“Nhưng ông được tích sự gì từ ấy đến giờ hả?” Bellatrix cười chế nhạo. “Chúng tôi nhạn được thông tin hữu ích gì từ ông hả?”
“Tin tình báo của tôi được chuyển giao trực tiếp cho Chúa tể Hắc ám,” Thầy Snape nói. “Nếu ngài chọn phương án không nói cho bà biết…”
“Ngài chia sẻ với tôi mọi thứ,” Bellatrix bùng lên cơn giận đùng đùng. “Ngài nói tôi là người trung thành nhất, thủy chung nhất…”
“Vậy sao?” Thầy Snape nói, giọng của thầy biến âm một cách tinh vi để bày tỏ sự nghi ngờ. “Liệu ngài có nói vậy nữa không sau trận thảm bại ở Bộ?”
“Đó đâu phải là lỗi của tôi!” Bellatrix đỏ ửng mặt lên. “Trong quá khứ Chúa tể Hắc ám đã giao phó cho tôi điều quí báu nhất… nếu như lão Lucius đừng…”
“Chị đừng… chị liệu hồn đừng có đổ lỗi cho chồng tôi!” Narcissa nói, ngước lên nhìn bà chị, giọng nói nhỏ mà lạnh lùng sắc lẹm.
“Đổ lỗi qua lại chẳng đi tới đâu cả,” Thầy Snape nói, giọng êm ái. “Chuyện gì xong thì đã xong rồi.”
“Nhưng ông thì chưa xong!” Bellatrix tức điên lên. “Chưa đâu, ông lại vắng mặt một lần nữa trong khi tất cả chúng tôi xông pha vào nguy hiểm, có không Thầy Snape?”
“Tôi được lệnh ở lại tuyến sau,” Thầy Snape nói. “Có lẽ bà bất đồng ý kiến với Chúa tể Hắc ám, có lẽ bà nghĩ rằng Dumbledore sẽ không chú ý nếu tôi tham dự vào lực lượng các Tử thần thực tử để đánh nhau với Hội Phượng hoàng chăng? Và – sin lỗi – bà nói chuyện xông pha vào nguy hiểm… bà đã đương đầu với sáu đứa tuổi choai choai, phải không nào?”
“Chỉ lát sau là chúng được hỗ trợ, như ông thừa biết, bởi một nửa Hội Phượng hoàng,” Bellatrix gầm gừ. “Và trong khi chúng ta nhắm vô cái Hội đó, ông vẫn cứ khăng khăng tuyên bố ông không thể  tiết lộ tổng hành dinh của chúng ở đâu, có không?”
“Tôi đâu phải Quản gia. Tôi không thể nói tên của nơi đó. Tôi nghĩ bà thừa biết bùa ngải hiệu lực ra sao. Chúa tể Hắc ám đã hài lòng với tin tình báo về Hội mà tôi đã chuyển giao cho ngài. Có lẽ bà cũng đoán được, tin tức đó đã đưa đến việc bắt cóc và ám sát Emmeline Vance, và chắc chắn là giúp ích cho việc khử trừ Sirius Black, mặc dù tôi xin nhường cho bà tất cả công trạng kết liễu đời hắn.”
Thầy Snape nhẹ nghiêng đầu và nâng cốc chúc mừng Bellatrix. Vẻ mặt của mụ ta vẫn không dịu đi chút nào.
“Ông đang né tránh câu hỏi cuối cùng của tôi, Thầy Snape à. Harry Potter. Lẽ ra ông đã có thể giết nó bất kỳ lúc nào trong suốt năm năm qua. Ông đã không làm chuyện đó. Tại sao?”
“Thế bà đã thảo luận vấn đề này với Chúa tể Hắc ám lần nào chưa?” Thầy Snape hỏi lại.
“Ngài… gần đây, chúng tôi… tôi đang hỏi ông mà Thầy Snape!”
“Nếu tôi đã ám sát Harry Potter, thì Chúa tể Hắc ám đã không thể sử dụng máu của nó để tái sinh năng lượng, giúp cho ngài bất khả chiến bại…”
“Ông cho là mình tiên đoán được việc ngài sẽ sử dụng thằng bé ấy à?” Bellatrix nhạo báng.
“Tôi không cho là gì cả. Tôi chẳng biết gì hết về âm mưu của ngài ; Tôi vừa thú nhận là tôi đã tưởng Chúa tể Hắc ám đã chết. Tôi chỉ cố gắng giải thích tại sao Chúa tể Hắc ám không thấy tiếc cái việc mà  Harry Potter vẫn sống sót, ít nhất thì cũng cho đến cách đây một năm...”
“Nhưng tại sao ông cứ để cho nó sống?”
“Bà vẫn chưa hiểu tôi ư? Chính vì sự bảo vệ của ông Dumbledore mà tôi không bị tống vô ngục Azkaban! Bà có đồng ý rằng việc ám sát đứa học trò cưng của ông ta rất có thể khiến ông ta coi tôi là thù địch không? Nhưng có nhiều lý do hơn thế nữa. Tôi thấy nên nhắc bà nhớ rằng khi Potter mới đến trường Hogwarts đã có nhiều câu chuyện đồn đãi về nó, người ta đồn rằng chính nó là một pháp sư Hắc ám vĩ đại, suy ra từ cái cách mà nó đã sống sót qua cuộc tấn công của Chúa tể Hắc ám. Thực ra, nhiều đồ đệ cũ của Chúa tể Hắc ám đã tưởng Harry Potter là một ngọn cờ mà tất cả chúng ta có thể tập hợp xung quanh môt lần nữa. Tôi nhìn nhận là tôi có tò mò và chẳng có chút ý đồ ám sát nó vòa cái thời điểm mà nó đặt chân vô tòa lâu đài.”
“Dĩ nhiên, chẳng bao lâu sau tôi đã thấy rất rõ ràng rằng nó chẳng có chút thiên tài xuất chúng nào cả. Nó đã xoay sở thoát được khỏi một số tình huống ngặt nghèo chỉ nhờ sự kết hợp giữa may mắn thuần túy và đám bạn bè tài giỏi hơn. Nó là một thằng nhóc tầm thường hạng bét, mặc dù nó cũng độc địa và tự mãn y chang thằng cha nó trước đây. Tôi đã làm hết sức mình để khiến nó bị đuổi khỏi trường Hogwarts, tôi cho là nó chẳng thuộc về chốn ấy chút nào, nhưng giết nó, hay để nó bị giết trước mặt tôi ấy à? Tôi đâu có ngu đến nỗi chơi liều như vậy ngày trong tầm tay của Dumbledore.”
“Và qua tất cả những việc này, ông cho rằng chúng tôi vẫn tin rằng lão Dumbledore chẳng bao giờ nghi ngờ ông tới một tẹo sao?” Bellatrix hỏi. “Chẳng lẽ lão không hề biết lòng trung thành thực sự của ông à? Lão vẫn còn tin tưởng ông tuyệt đối sao?”
“Tôi đã đóng vai của mình rất tốt,” Thầy Snape nói. “Và bà đã bỏ qua nhược điểm lớn nhất của Dumbledore: ông ta phải tin tưởng vào phần tốt nhất trong con người ta. Tôi đã từng xạo một câu chuyện về sự ăn năn hối cải sâu sắc của tôi khi mới gia nhập giáo ban của ông ta, từ thời tôi mới là Tử thần thực tử, và ông ta đã giang rộng cánh tay ôm lấy tôi… mặc dù, như tôi đã kể, ông ta vẫn không đời nào chịu cho tôi tới gần bộ môn Nghệ thuật hắc ám. Dumbledore là pháp sư vĩ đại nhất từ trước tới nay - Ừ, đúng vậy, chính ông ấy (bởi vì Bellatrix khịt một tiếng đầy khinh miệt). Chính Chúa tể Hắc ám cũng phải nhìn nhận điều đó. Tuy nhiên, tôi cũng vui mừng mà nói rằng Dumbledore đang già đi. Trận đấu tay đôi hồi tháng trước với Chúa tể Hắc ám đã chấn động ông ta sâu sắc. Từ trận đó ông đã phải chống chỏi với một vết thương trầm trọng bởi vì phản ứng của ông giờ đây chậm chạp hơn trước kia. Nhưng trải qua suốt những năm tháng này, ông ta chưa bao giờ thôi tin tưởng Severus Snape này, và do vậy tôi trở nên rất có giá đối với Chúa tể Hắc ám.”
Bellatrix vẫn không được vui vẻ, mặc dù mụ ta tỏ ra không biết chắc cách nào tốt nhất để tấn công tiếp Thầy Snape. Tận dụng lúc bà chị đang im lặng, Thầy Snape quay sang bà em :
“Sao… Bà đến nhờ tôi giúp đỡ à, bà Narcissa?”
Narcissa ngước nhìn Thầy Snape, gương mặt của bà hiện rõ nỗi  tuyệt vọng.
“Vâng, thưa ông Severus. Tôi… tôi nghĩ ông là người duy nhất có thể giúp tôi, tôi không còn biết bám víu vào đâu nữa. Anh Lucius đang ở tù và...”
Bà nhắm mắt lại và hai giọt nước mắt to tướng ứa ra từ bên dưới mí mắt của bà.
“Chúa tể Hắc ám đã cấm tôi nói về chuyện đó,” Narcissa vẫn nhắm mắt và tiếp tục nói. “Ngài không muốn cho ai biết về kế hoạch. Nó rất… rất bí mật. Nhưng…”
“Nếu ngài đã cấm, thì bà không nên nói ra,” Thầy Snape nói ngay. “Lời của Chúa tể Hắc ám là luật.”
Narcissa há hốc sững sờ, như thể Thầy Snape vừa dội nước lạnh xuống đầu bà ta. Lần đầu tiên, Bellatrix trông có vẻ hài lòng, kể từ khi mụ bước vô căn nhà này.
“Thấy chưa!” Mụ nói với bà em bằng giọng đắc thắng. “Ngay cả Thầy Snape cũng nói thế: em đã được lệnh không nói thì cứ ngậm miệng lại!”
Nhưng Thầy Snape đã đứng lên và sải dài bước chân đi tới khung cửa sổ nhỏ, chăm chú nhìn qua khe tấm màn quan sát con đường hoang vắng, rồi giật thót mình khép tấm màn lại. Ông ta quay lại đối diện với Narcissa, vẻ mặt đăm chiêu.
“Chẳng qua ngẫu nhiên mà tôi có biết đến kế hoạch đó,” ông ta nói bằng giọng thì thào. “Tôi cũng là một trong vìa người mà Chúa tể Hắc ám nói cho biết. Tuy nhiên nếu tôi mà không nằm trong kế hoạch bí mật, thì bà ắt hẳn đã phạm tội lớn phản bội Chúa tể Hắc ám.”
“Tôi nghĩ ông cần phải biết về kế hoạch đó!” Narcissa nói, hít thở thong thả hơn. “Ngài tin tưởng ông biết bao, ông Severus…”
“Thế ông biết về kế hoạch à?” Bellatrix hỏi, vẻ hài lòng vừa thoáng hiện trên mặt mụ đã bị thay thế bằng cơn thịnh nộ. “Ông biết à?”
“Đương nhiên,” Thầy Snape nói. “Nhưng bà Narcissa à, bà cần giúp đỡ chuyện gì hở? Nếu bà tưởng tôi có thể thuyết phục Chúa tể Hắc ám thay đổi quyết định thì tôi e rằng chẳng có hy vọng đâu, không ai làm được chuyện đó cả.”
“Ông Severus,” Narcissa thì thầm, nước mắt lăn dài xuống đôi gò má nhợt nhạt. “Con trai tôi… Đứa con trai duy nhất của tôi…”
“Thằng Draco nên tự hào,” Bellatrix dửng dưng nói. “Chúa tể Hắc ám đang ban cho nó một danh dự lớn. Và tôi sẽ nói điều này thay cho Draco: cháu nó không hề lùi bước trước nhiệm vụ, cháu còn có vẻ vui mừng có được một cơ hội để tự khẳng định chính mình, rất háo hức trước viễn cảnh…”
Trong khi Bellatrix thao thao thì Narcissa đã bắt đầu khóc lóc van xin, tha thiết nài nỉ Thầy Snape.
“Là bởi vì con tôi mới mười sáu tuổi và chẳng biết cài gì nằm trong rọ! Tại sao vậy, ông Severus? Tại sao lại là con trai tôi? Chuyện đó nguy hiểm quá! Đây là sự trả thù cho sai lầm của anh Lucius, tôi biết mà!”
Thầy Snape không nói gì cả. Ông ta trnahs nhìn cái cảnh nước mắt bà rơi như thể những giọt nước mắt rơi không đúng với khuôn phép lịch thiệp, nhưng ông không thể nào giả vờ không nghe thấy tiếng khóc của bà ta.
“Đó chính là lý do chọn Draco, đúng không? Để trừng phạt anh Lucius phải không?” Narcissa  đay nghiến.
“Nếu Draco thành công,” Thầy Snape nói, vẫn tránh nhìn Narcissa, “thì trò ấy sẽ được vinh danh trên tất cả nhưng học sinh khác.”
“Nhưng nó sẽ không thành công,” Narcissa nức nở. “Làm sao nó thành công nổi trong khi chính Chúa tể Hắc ám còn…”
Bellatrix há hốc mồm sững sờ; Narcissa dường như mất trí rồi.
“Tôi chỉ muốn nói… Chưa có ai thành công cả… Ông Severus … làm ơn làm phước… Ông là… ông luôn là người thầy Draco yêu quí nhất… Ông lại là bạn cũ của anh Lucius… Tôi van lạy ông… Ông là cố vấn được tin cậy nhất của Chúa tể Hắc ám… Xin ông hãy nói với ngài, thuyết phục ngài…”
“Chúa tể Hắc ám sẽ không dễ bị thuyết phục, và tôi thì không ngu đến mức thử làm chuyện đó,” Thầy Snape nói thẳng thừng. “Tôi không thể nào giả bộ nói là Chúa tể Hắc ám không giận ông Lucius. Ông Lucius được coi là lãnh chịu cái trách nhiệm đó. Ông để cho bản thân bị bắt cùng nhiều người khác, trả cái giá đắt như vậy mà vẫn không phục hồi được lời tiên tri cho đáng. Ừ, quả thật Chúa tể Hắc ám đang giận, bà Narcissa à, rất giận.”
“Vậy ra tôi đúng, ngài đã chọn Draco để trả thù!” Narcissa nấc lên uất nghẹn. “Ngài đâu có cần nó thành công, ngài chỉ muốn nó bị giết khi đang cố gắng!”
Khi Thầy Snape không nói gì thì Narcissa dường như đánh mất một chút xíu sự tự kiềm chế mà bà ta có được. Bà ta đứng lên, lảo đảo bước đến bên Thầy Snape và nắm lấy vạt trược tấm áo chùng của ông. Mặt bà ta sát mặt Thầy Snape, nước mắt bà ta rơi thấm ngực áo ông, miệng bà ta há hốc không thở được.
“Ông có thể làm được chuyện đó thay cho Draco, ông Severus à. Ông sẽ thành công, dĩ nhiên  ông sẽ thành công, và ngài sẽ ban thưởng cho ông nhiều hơn cho tất cả chúng tôi…”
Thầy Snape nắm lấy hai cổn tay của Narcissa và gỡ hai bàn tay bíu chặt của bà ta ra. Cúi xuống nhìn gương mặt lem luốc nước mắt của bà ta, ông chậm rãi nói.
“Tôi nghĩ, ngài có ý định để tôi làm việc đó vòa phút cuối. Nhưng ngài quyết định là Draco nên thử trước. Bà hiểu chứ, trong tình huống ít xảy ra là Draco thành công, tôi vẫn có thể tiếp tục ở lại trường Hogwarts lâu thêm một chút, hoàn tất vai trò do thám của tôi.”
“Nói cách khác là nếu Draco bị giết thì cũng chẳng thành vấn đề gì!”
“Chúa tể Hắc ám đang rất tức giận,” Thầy Snape lặng lẽ nhắc lại. “Ngài đã không nghe được lời tiên tri. Bà cũng biết rõ như tôi, bà Narcissa à, rằng ngài không dễ dàng tha thứ.”
Narcissa ngã gục, té xuống chân Thầy Snape, thổn thức rên rỉ trên sàn nhà.
“Con trai duy nhất của tôi… con trai duy nhất của tôi…”
“Cô nên tự hào!” Bellatrix nói một cách tàn nhẫn. “Nếu tôi mà có con trai, tôi sẽ vui mừng cống hiến chúng để phục vụ Chúa tể Hắc ám!” Narcissa khẽ gào lên tuyệt vọng và giật giật mái tóc dài vàng óng của mình. Thầy Snape cúi khom người xuống, nắm lấy hai cánh tay của Narcissa, nâng bà ta lên và dìu bà ta ngồi trở lại trên ghế sofa. Rồi ông rót  thêm rượu cho Narcissa và ấn cái ly vô tay bà ta.
“Bà Narcissa à, đủ rồi. Uống cái này đi. Nghe tôi nói.”
Narcissa nín lặng một chút ; bà run run hớp một ngụm, làm đổ rượu xuống chính người mình.
“Cũng có thể có khả năng… tôi giúp được Draco.”
Narcissa đứng dậy, mặt bà ta trắng như tờ giấy, hai mắt mở to ra.
“Ông Severus… Ôi, ông Severus… Ông sẽ giúp cháu nó?  Ông sẽ canh chừng nó, sẽ lo cho nó không bị nguy hiểm?”
“Tôi có thể cố gắng.”
 Narcissa quăng cái ly trong tay bà ta đi. Cái ly lăn ngang qua cái bàn khi bà ta tuột khỏi ghế sofa để quì gối dưới chân Thầy Snape, nắm lấy bàn tay ông trong cả hai tay mình, rồi ép môi lên đó.
“Nếu ông ở đó để bảo vệ cháu nó… Ông Severus, ông có chịu thề không? Ông có chịu phép Thề Không Bội không?”
“Thề Không Bội?” Vẻ mặt của Thầy Snape ngây ra, khó hiểu. Tuy nhiên Bellatrix phát ra một tràng cười khùng khùng đắc thắng.
“Cô không nghe sao, Narcissa? Ôi, ông ấy sẽ cố gắng, tôi biết chắc mà… Những lời nói sáo rỗng thông thường, hành động phỉnh phờ cho qua chuyện… Ôi, đương nhiên là theo lệnh của Chúa tể Hắc ám!”
Thầy Snape không nhìn Bellatrix. Đôi mắt đen của ông ta nhìn chằm chằm vào đôi mắt xanh đầy nước mắt của Narcissa trong khi bà ta tiếp tục níu chặt lấy tay ông.
“Nhất định, bà Narcissa à, tôi sẽ chịu phép Thề Không Bội,” Thầy Snape nói khẽ. “Có lẽ bà chị của bà sẽ vui lòng làm Người Chứng giám cho chúng ta.”
Bellatrix há hốc mồm. Thầy Snape hạ thấp người xuống để có được tư thế quì gối đối diện Narcissa. Dưới cái nhìn trợn trừng đầy kinh ngạc của Bellatrix, hai người nắm lấy tay mặt của nhau.
“Bà phải cần đến cây đũa phép của bà đấy, bà Bellatrix,” Thầy Snape lạnh lùng nhắc.
Bellatrix rút cây đũa phép ra, vẫn còn vẻ kinh ngạc.
“Và bà cần phải tiến đến gần hơn chút xíu nữa,” Thầy Snape nói.
Bellatrix bước tới trước để đứng ở vị trí cao hơn hai người kia, và đặt đầu cây đũa phép lên hai bàn tay nối nhau của họ.
Narcissa  nói.
“Ông Severus, ông thề sẽ trông chừng con trai tôi, Draco, khi nó cố gắng hoàn thành ước nguyện của Chúa tể Hắc ám?”
“Tôi thề,” Thầy Snape nói.
Một tia lửa mảnh sáng rực phóng ra từ đầu cây đũa phép uốn vòng quanh bàn tay của hai người giống như một sợi dây kim loại nóng đỏ.
“Và ông thề sẽ làm hết kahr năng của mình để bảo vệ con trai tôi khỏi hiểm nguy?”
“Tôi thề.”
Một tia lửa thứ hai bắn ra từ cây đũa phép quấn bện vào tia thứ nhất, tạo thành một sợi xích rực rỡ xinh đẹp.
“Và, nếu như cần thiết… nếu có vẻ như Draco sẽ thất bại…” Narcissa thì thào (bàn tay của Thầy Snape bị kẹp chặt trong bàn tay của Narcissa, nhưng ông không rút tay ra) “ông thề sẽ thực hiện hành động mà Chúa tể Hắc ám ra lệnh cho Draco thực hiện?”
Có một thoáng im lặng. Bellatrix quan sát, cây đũa phép của mụ đặt trên hai bàn tay siết chặt của hai người, hai mắt mở banh.
Thầy Snape nói.
“Tôi thề.”
Bộ mặt sững sờ của Bellatrix đỏ ửng lên trong ánh sáng lóe lên từ tia lửa thứ ba bắn ra từ cây đũa phép, xoắn bện với hai tia kia, rồi tự kết dày đặc quanh hai bàn tay siết chặt, giống như một sợi dây thừng, giống như một con rắn lửa.
0
Chương 3
Sẽ và không
 
Harry Potter  đang ngáy như sấm. Nó đã ngồi lì suốt bốn tiếng đồng hồ trong một cái ghế đặt cạnh cửa sổ phòng ngủ, đăm đăm ngó ra đường phố đang tối dần, và rốt cuộc lăn đùng ra ngủ, vẫn áp một bên mặt lên lớp kính cửa sổ lạnh, cặp mắt kính của nó bị lệch đi, và miệng thì há rộng. Hơi thở của nó để lại một vết mờ mờ ẩm ẩm trên tấm kính cửa sổ sáng lóe màu vàng cam của ngọn đèn đường bên ngoài, và ánh sáng nhân tạo này đã làm tiêu hết màu sắc trên gương mặt nó, khiến cho gương mặt bên dưới mái tóc đen bù xù ấy trông có vẻ ma quái.
Căn phòng vương vãi những của nả riêng đủ loại, lẫn lộn với không ít thứ cầm như là rác rưởi. Lông chim cú, lõi trái táo và giấy gói kẹo vứt bừa bãi trên sàn, một số sách thần chú nằm lung tung lộn xộn trong đống áo chùng nhàu nát lọan xà ngầu trên giường, và một đống hổ lốn báo chí nằm ườn trong vùng chiếu sáng của ngọn đèn để trên bàn học của nó. Một số báo đó có cái tít lớn khá nổ:
 
HARRY POTTER: KẺ ĐƯỢC CHỌN?
            Tin đồn tiếp tục lan nhanh về vụ gây náo động mới đây ở Bộ Pháp thuật, và trong vụ này Kẻ-chớ-gọi-tên-ra đã xuất hiện một lần nữa.
“Chúng tôi không được phép nói về chuyện này, đừng hỏi tôi bất cứ điều gì.” Một chuyên viên Lú không muốn nêu tên đã nói như vậy khi rời khỏi Bộ Pháp thuật tối hôm qua.
Tuy nhiên, những nguồn tin rất đáng tin cậy từ bên trong Bộ Pháp thuật đã xác nhận rằng vụ gây náo động tập trung ở một địa điểm truyền thuyết là Sảnh đường Tiên tri.
Mặc dù pháp sư phát ngôn của Bộ Pháp thuật cho đến giờ vẫn từ chối xác nhận thậm chí cả sự tồn tại của một nơi như thế, một số ngày càng đông trong cộng đồng Pháp thuật vẫn tin là những Tử thần thực tử hiện đang bị giam cầm trong nhà ngục Azkaban về tội xâm phạm và mưu toan trộm cắp đã ra sức đánh cắp một lời tiên tri. Không ai biết được bản châts của lời Tiên tri, mặc dù sự suy đoán lan tràn khắp nơi cho là nó có liên quan đến Harry Potter, người duy nhất từ trước đến nay được biết đến như kẻ sống sót qua Lời nguyền Giết chóc, và là người cũng đã có mặt ở Bộ Pháp thuật trong cái đêm xảy ra vụ náo động. Một số người còn đoán già thêm, gọi  Harry Potter là “Kẻ Được Chọn”, họ tin là lời tiên tri chỉ định cậu bé là người duy nhất sẽ có khả năng trừ khử cho chúng ta Kẻ-chớ-gọi-tên-ra.
Lời tiên tri hiện giờ ở đâu, nếu quả là nó tồn tại, vẫn không ai biết, mặc dù (xem tiếp trang 2, cột 5)
Một tờ báo thứ hai nằm cạnh bên tờ thứ nhất. Tờ này mang cái tít:
 
SCRIMGEOUR KẾ NHIỆM FUDGE
            Chiếm gần hết trang đầu là một bức ảnh trắng đen to tướng của một người đàn ông có bờm tóc dày giống như bờm sư tử và một gương mặt khá dạn dày phong sương. Bức ảnh đó đang cử động – người đàn ông trong ảnh đang vẫy tay với cái trần nhà.
            Rufus Scrimgeour, giám đốc Sở Thần Sáng trước đây, vừa nhận chức Bộ trưởng Pháp thuật thay cho ông Cornelius Fudge. Việc bổ nhiệm này đã được cộng đồng Pháp thuật đón nhận nồng nhiệt, mặc dù chỉ vài tiếng đồng hồ sau khi ông Scrimgeour nhậm chức đã nổi lên những lời đồn đại về sự bất đồng chính kiến giữa ông Bộ trưởng mới và Albus Dumbledore, vị Tổng Tư lệnh mới được phục chức của Quân đoàn Pháp thuật.
            Đại diện của ông Scrimgeour nhìn nhận rằng ông Bộ trưởng có gặp ông Dumbledore ngay sau khi nhận lãnh công việc tối cao, nhưng từ chối bình luận về những đề tài đã được hai bên bàn thảo. Ông Dumbledore được coi là (xem tiếp trang 3, cột 2)
            Bên trái tờ báo này là một tờ báo khác, được lật ra và gấp lại ở chỗ có thể thấy được một bài báo mang tựa đề BỘ PHÁP THUẬT BẢO ĐẢM AN NINH CỦA HỌC SINH.
            Vị Bộ trưởng Pháp thuật mới được bổ nhiệm, ông Rufus Scrimgeour, hôm nay đã nói về những biện pháp mới nghiêm ngặt được Bộ của ông thực hiện để đảm bảo an toàn cho học sinh trở lại trường đào tạo pháp sư và phù thủy Hogwarts vào mùa thu này.
“Vì những lý do hiển nhiên, Bộ sẽ không đi sâu vào chi tiết của những kế hoạch an ninh mới rất chặt chẽ của Bộ,” ông Bộ trưởng nói vậy, mặc dù một người trong Bộ xác nhận rằng những biện pháp đó bao gồm các bùa chú phòng vệ, một sự bố trí phức tạp các bùa phản nguyền, và một đội công tác nhỏ thuộc lực lượng Thần Sáng chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ trường Hogwarts.
Lập trường dứt khoát của ông Bộ trưởng về vấn đề an ninh của học sinh đã đảm bảo cho hầu hết các biện pháp đó. Bà Augusta Longbottom nói “Cháu nội của tôi, Neville -  một người bạn tốt của Harry Potter, đã ngẫu nhiên cùng chiến đấu chống lại bọn Tử thần thực tử bên cạnh Potter ở Bộ Pháp thuật hồi tháng 6 và...
Phần còn lại của câu chuyện không thể đọc được vì bị một cái lồng chim bự chảng ngồi chình ình ngay trên mặt bài báo. Bên trong lồng là một con cú trằng như tuyết đẹp lộng lẫy. Đôi mắt màu hổ phách của con cú quan sát toàn bộ căn phòng một cách ta đây là chủ, đầu nó thỉnh thoảng xoay lại ngó chằm chằm cậu chủ của mình đang nagys pho pho. Một hay hai lần nó mổ lách cách một cách sốt ruột, nhưng Harry ngủ say đến nỗi chẳng hề nghe thấy.
Nằm ngày giữa phòng là một cái rương to đùng. Nắp rương để mở, trông như thể chuẩn bị hành trang, thế nhưng cái rương hầu như vẫn còn trống rỗng, ngoại trừ mấy thứ còn sót lại tận dưới đáy rương như đồ lót, kẹo, lọ mức rỗng, viết lông ngỗng  đã gãy. Gần đó, nằm tênh hênh trên sàn, một tờ bướm màu tím nổi bật những dòng chữ:
 
Được ban hành nhân danh Bộ Pháp thuật
BẢO VỆ NHÀ CỬA VÀ GIA ĐÌNH MÌNH
CHỐNG LẠI LỰC LƯỢNG HẮC ÁM
Cộng đồng Pháp thuật hiện nay đang bị đe dọa bởi một tổ chức gọi là Tử thần thực tử. Tuân theo những hướng dẫn an ninh đươn giản sau đây sẽ giúp quí vị, gia đình quí vị, và nhà cửa quí vị khỏi bị tấn công.
1.      Quí vị không nên rời khỏi nhà một mình.
2.      Đặc biệt cẩn thận vào những thời khắc tối trời. Nơi nào khả dĩ thì nên tính toán sao cho những cuộc hành trình được hoàn tất trước khi trời tối.
3.      Xem xét lại sự bố trí an ninh xung quanh ngôi nhà của quí vị, bảo đảm sao cho tất cả thành viên trong gia đình biết đến những biện pháp cao cấp như Bùa Khiên và Bùa Giải hoang tưởng, và đối với những thành viên nhỏ tuổi trong gia đình, cần biết tới Bùa Độn thổ ké.
4.      Thống nhất với gia đình và bạn bè thân thiết những câu hỏi an ninh để phát hiện Tử thần thực tử giả dạng trà trộn bằng cách sử dụng Đa Quả dược (xem trang 2)
5.      Nếu quí vị cảm thấy một thành viên của gia đình, hay đồng nghiệp, bạn bè, hay hàng xóm, có hành vi lạ lùng, hãy tiếp xúc ngay tức thì với Đội Đặc nhiệm thi hành Luật Pháp thuật. Họ có thể đã bị khống chế bởi Lời nguyền Độc đoán (xem trang 4)
6.      Nếu Dấu hiệu hắc ám xuất hiện bên trên nơi quí cị cư trú hay tòa nhà khác, THÌ ĐỪNG VÀO, mà hãy liên lạc ngay tức thì với Sở Thần Sáng.
7.      Một số quan sát chưa được xác định cho rằng Tử thần thực tử hiện giờ có thể sử dụng Âm binh (xem trang 10). Bất cứ sự nhìn thấy Âm binh nào, hay gặp phải việc tương tự, phải được báo cáo cho Bộ Pháp thuật NGAY LẬP TỨC.
Harry làu bàu mớ ngủ và cái mặt của nó trượt khỏi mặt kính cửa sổ chừng ba phân hay cỡ đó, khiến cho cặp kính cận của nó càng nằm lệch thêm, nhưng nó vẫn không thức giấc. Một cái đồng hồ báo thức, được Harry sửa lại cách đây  nhiều năm, kêu tích tắc om xòm trên ngưỡng cửa sổ, báo mười một giờ kém năm phút. Bên cạnh cái đồng hồ là một đống giấy da đầy những chữ viết xiên xiên gầy gầy bị bàn tay thả lỏng của Harry đè lên tại chỗ. Từ khi lá thư được gửi đến cách đây ba ngày, Harry đã đọc đi đọc lại thường xuyên đến nỗi lá thư bây giờ nằm phẳng lì mặc dù nó vốn được cuộn tròn rất chặt.
Harry mến,
Nếu thuận tiện cho con, thầy sẽ đến thăm con ở ngôi nhà số bốn đường Privet Drive vào thứ sáu tuần này lúc mười một giờ đêm để đưa con đến trang trại Hang Sóc, nơi con được mời ở lại chơi đến hết kỳ nghỉ hè.
Nếu con đồng ý, thầy cũng sẽ vui mừng được con giúp đỡ về một vấn đề mà thầy hy vọng giải quyết trên đường đến Hang Sóc. Thầy sẽ giải thích đầy đủ hơn về điều này khi gặp con.
Vui lòng gửi hồi âm theo bưu cú này. Hy vọng gặp con vào thứ sáu.
Thầy đây, thân yêu nhất của con,
Albus Dumbledore
Mặc dù đã thuộc nằm lòng lá thư, Harry vẫn cứ vài phút lại liếc chừng lá thư từ lúc mới bảy giờ chiều hôm đó, khi nó bắt đầu đóng đô ở cửa sổ phòng ngủ, chỗ mà từ đó có thể nhìn ra hai đầu đường Privet Drive. Nó biết dù có đọc đi đọc lại những lời của cụ Dumbledore thì cũng chẳng được tích sự gì; nó đã gởi ngay câu trả lời “vâng” cho con cú đưa thư theo như yêu cầu, và tất cả những gì mà nó có thể làm bây giờ là chờ đợi: cụ Dumbledore sắp đến, hoặc là cụ sẽ không đến.
Nhưng Harry vẫn chưa chuẩn bị xong hành lý. Cái chuyện nó sắp được cứu vớt ra khỏi gia đình Dursley chỉ sau hai tuần lễ chung sống với họ sao mà có vẻ hay ho tới mức khó tin. Nó không thể nào rũ bỏ được cái cảm giác là có chuyện gì đó bất ổn sắp diễn ra... Biết đâu hồi âm của nó cho lá thư của cụ Dumbledore có thể thất lạc; cụ Dumbledore có thể bị trở ngại trong việc đi đón nó; lá thư biết đâu lại chẳng hóa ra là đồ bịp, một trò đùa, hay một cái bẫy, chứ không phải do cụ Dumbledore gởi đi. Harry đã không thể nào để tâm trí vô chuyện sắp xếp hành lý, rồi nó bỗng chán nản thất vọng và lại giở hành lý ra. Hành động duy nhất mà nó đã thực hiện để cho cuộc hành trình có thể xảy ra là nhốt con cú trằng như tuyết của nó, con Hedwig, vô trong lồng một cách an toàn.
Cây kim phút của cái đồng hồ báo thức quay đến số mười hai, và đúng ngay boong lúc đó, ngọn đèn đường bên ngoài cửa sổ tắt phụt.

Harry thức giấc như thể cái bóng tối thình lình ấy là còi báo thức. Vội vàng chỉnh sửa lại cặp mắt kính và gỡ cái mặt mình ra khỏi mặt kính cửa sổ, nó lại in mũi lên cửa sổ, liếc mắt xuống mặt đường. Một hình thù cao cao trong bộ áo khóac dài phất phới đang đi lên lối mòn trong vườn.
Harry  nhảy cẫng lên như thể nó vừa bị điện giật, hất cái ghế ngã chổng kềnh, và bắt đầu quơ quào bất cứ thứ gì và tất cả mọi thứ trong tầm tay trên sàn phòng rồi quăng hết vô cái rương. Đương khi nó đang với chụp một bộ áo chùng, hai cuốn sách Thần chú, và một gói bánh phồng ở đầu kia căn phòng, tì chuông cửa reo. Dưới nhà, trong phòng khách, dượng Vernon quát:
“Ai cả gan kêu cửa vào đêm hôm như vầy hả?”
Harry đứng lặng trang với cái kính thiên văn bằng đồng đang cầm trong tay và một đôi giày thể thao trong tay kia. Nó đã hoàn toàn quên bén chuyện nên báo trước cho gia đình Dursley về cuộc thăm viếng có thể xảy ra của cụ Dumbledore. Vừa cảm thấy hỏang hốt vừa tức cười, nó trèo qua cái rương và vặn khóa mở cánh cửa phòng ngủ vừa vặn lúc nghe một giọng nói thầm trầm:
“Chào ông. Ắt hẳn ông là ông Dursley. Tôi đồ rằng Harry đã nói với ông rằng tôi sẽ đến đón trò ấy?”
Harry nhảy ào xuống cầu thang từng hai bặc một, nhưng còn cách chân cầu thang nhiều bậc thì nó chợt đứng khựng lại, bởi vì kinh nghiệm lâu dài đã dạy nó là cứ nên ở ngoài tầm tay của của dượng nó khi nào có thể.
Kìa đứng ở ngưỡng cửa chính là một người đàn ông gầy gò cao cao với mái tóc và bộ râu bạc phơ dài tới tận eo. Cặp mắt kính nửa vầng trăng trễ trên sóng mũi khoằm, và cụ mặc một cái áo khoác đi đường dài màu đen, đội một cái mũ chóp nhọn. Ông Vernon Dursley có một bộ ria cũng rậm rạp gần giống với bộ râu của thầy Dumbledore, chỉ có điều màu đen, và ông đang mặc một cái áo ngủ màu cánh dán. Ông trợn mắt ngó chòng chọc vị khách như thể không tin được đôi mắt ti hí của mình.
“Đoán theo vẻ hoài nghi sửng sốt của ông, thì Harry đã không báo cho ông biết trước là tôi sẽ đến,” cụ Dumbledore dịu dàng nói. “Tuy nhiên, chúng ta cứ coi như ông đã thân tình mời tôi vô ngôi nhà của ông. Giữa thời buổi lộn xộn này, cù cưa quá lâu ở bậc thềm thì không khôn ngoan lắm.”
Cụ nhanh nhẹn bước qua bậu cửa và đóng lại cánh cửa sau lưng.
“Kể cũng khá lâu tính từ lần cuối cùng tôi đến thăm ông,” cụ Dumbledore nói, chăm chú ngó xuống dượng Vernon qua cánh mũi khoằm. “Tôi phải nói, tướng tá nghi phong của ông sung mãn thịnh vượng.”
Ông Vernon Dursley không nói năng gì cả. Harry không nghi ngờ chút nào rằng cái lưỡi của ông sẽ hoạt động lại, và sớm thôi – vì nhịp đập của mạch máu nổi cộm trên thái dương của dượng đang gia tăng đến mức nguy hiểm – nhưng có một cái gì đó ở cụ Dumbledore nhất thời làm cho dượng ngạt thở. Có thể là do ngoại hình mang vẻ pháp sư rành rành, nhưng cũng có thể do dượng Vernon cảm nhận được đây là một con người đừng có hòng ăn hiếp.
“À, chào Harry,” cụ Dumbledore nói, ngước lên nhìn Harry qua cặp mắt kính nửa vầng trăng với một vẻ hài lòng. “Xuất sắc, xuất sắc.”
Những lời này dường như làm sôi máu dượng Vernon. ĐIều quá hiển nhiên đối với dượng là, bất cứ người nào có thể nhìn Harry mà nói “xuất sắc” thì dượng không bao giờ nhìn vào mắt người đó được.
“Tôi không có ý thô lỗ...” Dượng bắt đầu nói, bằng một giọng hăm he sự thô bạo trong mỗi âm tiết.
“Nhưng, buồn thay, sự thô  bạo cứ ngẫu nhiên xảy ra với mật độ thường xuyên tới mức báo động,” cụ Dumbledore nghiêm trang hoàn tất câu nói. “Tốt nhất là đừng nói gì hết, thưa ông thân mến. À, đây ắt hẳn là bà Petunia.”
Cửa nhà bếp vừa mở ra, và dì của Harry đứng đó, mang một đôi găng tay bằng cao su và một tấm khoác trong nhà choàng bên ngoài bộ đồ ngủ, hẳn nhiên là dì đang làm dở dang công việc dọn dẹp nhà bếp trước khi đi ngủ. Gương mặt dài ngoằng như mặt ngựa của dì không biểu hiện cái gì khác ngoài vẻ sửng sốt.
“Tôi là Albus Dumbledore,” cụ Dumbledore nói, khi dượng Dursley không chủ động giới thiệu khách. “Dĩ nhiên, chúng ta có thư từ với nhau trước đây.”
Harry nghĩ đây là một cách nhắc lại không hay lắm cho dì Petunia nhớ rằng đã có lần cụ đã gởi cho dì một thư sấm, nhưng dì Petunia không thừa nhận thuật ngữ đó.
“Và đây ắt hẳn là con trai của bà, cậu Dursley?”
Lúc đó Dudley đã thò đầu qua cửa phòng khách dáo dác nhìn ngó: cái đầu bự đội mái tóc vàng óng của nó nhô bên trên cái cổ áo có sọc của bộ đồ ngủ trông lặc lìa quái gở, mồm nó ngoác ra vì kinh ngạc và khiếp sợ. Cụ Dumbledore chờ cho một hay hai giây, rõ ràng là để xem có ai trong gia đình Dursley muốn nói gì không, nhưng khi thấy ai cũng lặng như tờ, cụ mỉm cười.
“Tôi có nên cho rằng quí vị sẽ mời tôi vô phòng khách không nhỉ?”
Dudley lật đật tránh đường cho cụ Dumbledore bước qua. Harry, tay vẫn cầm cái kính thiên văn và đôi giày thể thao, nhảy xuống mấy bậc thang cuối cùng để đi theo cụ Dumbledore. Cụ đã tự mình an tọa trong cái ghế bành gần lò sưởi nhất và đang thưởng thức cảnh trí chung quanh với một vẻ mặt thích thú nhân hậu. Trông cụ nổi bật trong quang cảnh ấy.
“Thưa thầy... chúng ta sắp đi chưa ạ?” Harry lo lắng hỏi.
“Ừ, thực ra chúng ta sắp đi rồi, nhưng có vài vấn đề cần bàn bạc trước,” cụ Dumbledore nói. “Và thầy muốn làm chuyện đó trong nhà hơn là ở nơi công cộng. CHúng ta nên tận dụng lòng hiếu khách của dì và dượng trò thêm một chút nữa.”
“Ông sẽ làm thế thật à?”
Dượng Vernon Dursley cũng đã trở vô phòng khách, dì Petunia bám sát sau vai chồng, và thập thò đằng sau cả hai là Dudley.
 “Vâng, tôi sẽ làm thế.”
Cụ Dumbledore nói một cách đơn giản. Cụ rút cây đũa phép ra lẹ đến nỗi Harry hầu như không nhìn thấy; chỉ bằng một cái phẩy nhẹ bình thường, cái ghế sofa vọt tới trước và tông vô đầu gối từ phía dưới chân ba người nhà Dursley khiến cho họ té nhào lên đó thành một đống. Một cái phẩy nhẹ kahcs của cây đũa phép khiến cái ghế sofa bay trở lại vị trí ban đầu.
“Chúng ta thế là đều được thoải mái,” cụ Dumbledore nói một cách vui vẻ.
Khi cụ cất cây đũa phép vô túi áo, Harry nhận thấy bàn tay của cụ bị nám đen và teo quắt lại; trông như thể cơ bắp của bàn tay đã bị thui cháy.
“Thưa thầy... chuyện gì đã xảy ra với...”
“Để sau đã, Harry,” cụ Dumbledore nói. “Con hãy ngồi xuống.”
Harry ngồi xuống cái ghế bành còn lại, chọn thế làm sao cho khỏi phải nhìn thấy gia đình Dursley, họ có vẻ choáng váng trong im lặng.
0
“Tôi cứ tưởng ông sẽ thết đãi tôi chút trà bánh,” cụ Dumbledore nói với dượng Vernon. “Dè đâu bằng chứng nãy giờ cho thấy cứ lạc quan quá đáng như vậy thì thành ra ngu.”
Một cái phẩy thứ ba của cây đũa phép, và một cái chai bụi bặm cùng năm cái ly xuất hiện giữa cõi thinh không. Cái chai bật nút và rót  vô mỗi ly một lượng hào phóng chất lỏng màu mật, rồi mỗi cái ly tự trôi đến tay mỗi người trong căn phòng.
“Đây là món rượu mật ong rừng sồi ngon nhất của bà Rosemerta,” cụ Dumbledore nói, nâng ly với Harry. Nó đón lấy ly của mình và hớp một ngụm. Nó chưa từng nếm qua cái gì tương tự như vậy trước đây, nhưng cũng khoái vô cùng. Gia đình Dursley, sau cái nhìn thật nhanh đày khiếp đảm, đã cố tình phớt lờ hoàn toàn mấy cái ly phần họ, quả là một thành tích khó khăn, bởi vì mấy cái ly cứ huých huých nhè nhẹ bên đầu họ. Harry không thể nào nén được nỗi nghi ngờ rằng cụ Dumbledore đang tự giải trí cho mình.
“Này, Harry,” cụ Dumbledore quay sang phía Harry và nói, “có một chuyện khó khăn phát sinh mà thầy hy vọng con có thể giải quyết cho chúng ta. Khi nói chúng ta, thầy muốn nói Hội Phượng hoàng. Nhưng trước tiên thầy phải nói với con rằng di chúc của Sirius đã được tìm thấy cách đây một tuần và chú ấy để lại cho con tất cả những gì thuộc về chú ấy.”
Cái đầu của dượng Vernon xoay phía trên cái ghế sofa, nhưng Harry chẳng buồn nhìn ông ấy, cũng không thể nghĩ ra điều gì để nói ngoại trừ mấy tiếng “Ô, được thôi.”
“Điều này về cơ bản, khá minh bạch,” cụ Dumbledore tiếp tục. “Con tăng thêm một số lượng vàng đáng kể vào tài khoản của con trong ngân hàng Gringotts, và con thừa hưởng tất cả sở hữu cá nhân của chú Sirius. Phần hơi có vấn đề của di sản...”
“Cha đỡ đầu của nó chết rồi hả?”
Từ cái ghế sofa, dượng Vernon nói to. Cả cụ Dumbledore lẫn Harry đều quay đầu lại nhìn ông ta. Cái ly rượu mật ong lúc này cứ thế mà khỏ vô chẩm đầu của dượng Vernon; ông ta thì cố gắng đánh đuổi nó đi.
“Ổng chết rồi hả? Cha đỡ đầu của nó ấy?”
“Ừ,” cụ Dumbledore nói. Cụ không hỏi tại sao Harry đã không tâm sự gì về đời nó với gia đình Dursley.
“Vấn đề của chúng ta là,” cụ tiếp tục nói với Harry, như thể đã không hề óc sự gián đoạn nào. “Chú Sirius cũng để lại cho con cả căn nhà số mười hai Quảng trường Grimmauld.”
“Ổng để lại một căn nhà hả?” Dượng Vernon nói với vẻ tham lam, hai con mắt nhỏ xíu của ông ta nheo lại ti hí, nhưng chẳng ai buồn trả lời ông ta cả.
“Thầy có thể tiếp tục sử dụng nó làm tổng hành dinh,” Harry nói. “Con không bận tâm. Thầy cứ lấy đi. Con thực sự không muốn lấy nó.”
Harry không bao giờ muốn đặt chân vào số mười hai Quảng trường Grimmauld một lần nữa nếu nó có thể tránh được. Nó nghĩ nó có thể bị ám ảnh mãi mãi bởi ký ức về chú Sirius vơ vẩn trong những căn nhà mốc meo tăm tối một mình, bị cầm tù trong cái nơi mà chú đã khao khát rời bỏ.
“Thế là hòa phóng,” cụ Dumbledore nói. “Tuy nhiên, tạm thời chúng ta bỏ trống tòa nhà.”
“Tại sao?”
“Chà...” cụ Dumbledore nói, phớt lờ tiếng nói của dượng Vernon. Lúc này ông ta đang bị ly rượu mật kiên trì khỏ ngay đỉnh đầu để cưỡng ép một cách quyết liệt.
“Truyền thống gia đình Black qui định rằng ngôi nhà phải được truyền lại theo trực hệ cho người nam tiếp theo trong dòng họ mang họ “Black’. Chú Sirius là người nam cuối cùng trong dòng họ chính thống này, bởi vì em trai chú ấy, Regulus, đã chết trước chú ấy, và cả hai đều không có con. Trong khi di chúc của chú Siriusnói một cách hoàn toàn rõ ràng rằng chú ấy muốn con thừa hưởng căn nhà, nhưng dù vậy có thể có một số thần chú hoặc bùa ểm đã được ếm lên tòa nhà ấy để bảo đảm là nó không thể bị sở hữu bởi bất cứ ai không thuần huyết thống.”
Một hình ảnh sống động về bức chân dung treo trên tường của bà mẹ chú Sirius gào thét và nhổ nước miếng nháng lên trong đầu Harry. Nó nói.
“Con cá có bùa là cái chắc.”
“Khá nhiều,” cụ Dumbledore nói. “Và nếu có một thứ bùa ểm như thế thì quyền sở hữu rất có thể được truyền lại cho người bà con vai vế cao nhất còn đang sông của chú Sirius, có nghĩa là cho người chị họ của chú ấy, bà Bellatrix Lestrange.”
Harry đứng bật dậy mà không nhận thức được điều mình đang làm; cái kính thiên văn và đôi giày thể thao văng từ trên đùi nó qua tuốt bên kia sàn. Mụ Bellatrix Lestrange, kẻ đã giết chú Sirius, mà thừa kế căn nhà ư?
“Không,” nó kêu lên.
“Ừ, hiển nhiên là chúng ta cũng không muốn bà ấy thừa kế căn nhà. Tình huống đầy nguy hiểm và phức tạp. Chúng ta không biết liệu các thứ bùa ểm mà chính chúng ta đã ếm lên căn nhà, thí dụ bùa Bất Khả định vị, có còn hiệu lực nữa không một khi quyền sở hữu căn nhà không còn thuộc về chú Sirius nữa. Rất có thể Bellatrix sẽ về đến ngay ngưỡng cửa bất kỳ lúc nào. Đương nhiên chúng ta phải dời đi cho đến thời điểm mà chúng ta làm rõ được sở hữu của địa điểm đó.”
“Nhưng làm sao mà thầy biết được là liệu con có được phép sở hữu nó hay không?”
“May mắn thay,” cụ Dumbledore nói, “có một phép kiểm tra đơn giản.”
Cụ đặt cái ly rỗng của mình lên cái bàn nhỏ bên cạnh cái ghế, nhưng trước khi cụ có thể làm bất cứ điều gì, dượng Vernon đã gào lên:
“Ông có dẹp dùm mấy cái thứ đồ chết tiệt này cho chúng tôi nhờ không?”
Harry quay lại nhìn: tất cả ba người nhà Dursley đang dùng tay che đỡ bên trên đầu của mình, bởi vì mấy cái ly cứ khỏ tưng tưng xuống mấy cái sọ dừa của họ, khiến cái thứ đựng bên trong ly văng tung tóe khắp nơi.
“Ôi, tôi xin lỗi,” cụ Dumbledore nhã nhặn nói, rồi giơ cây đũa phép lên một lần nữa. Cả ba cái ly đều biến mất.
“Nhưng quí vị cũng biết là có cách tốt hơn mà, ấy là cứ uống đi cho rồi.”
Có vẻ như dượng Vernon sắp nổ tung ra với vô số phản đối khó chịu, nhưng ông ta chỉ thụp trở xuống đám gối nệm cùng với dì Petunia và Dudley mà không nói gì cả, hai con mắt heo ti hí cứ ngó chừng cây đũa phép của cụ Dumbledore.
“Con thấy đó,” cụ Dumbledore nói, quay lại với Harry, và một lần nữa chuyện trò như thể dượng Vernon đã không hề chen ngang vô tiếng nào. “Nếu con thực sự thừa kế căn nhà thì con cũng được thừa kế...”
Cụ Dumbledore phẩy cây đũa phép lần thứ năm. Một tiếng “cách” lớn vang lên, và một gia tinh xuất hiện với một cái vòi thế chỗ cho cái mũi, hai cái tai dơi khổng lồ, và đôi mắt ngầu đỏ to thô lố, đang phủ phục trên tấm thảm dày của nhà Dursley, mình mẩy phủ toàn giẻ rách bẩn thỉu. Dì Petunia thốt ra một tiếng thét dựng tóc gáy, chưa bao giờ trong lịch sử từng có một vật bẩn thỉu như thế bước chân vô nhà dì. Dudley co đôi chân trần hồng hào béo tốt của nó lên khỏi sàn và cứ ngồi với hai chân giơ lên gần quá đầu, như thể nó tưởng cái sinh vật đó có thể chạy lên theo ống quần ngủ của nó.
“Cái đồ quỉ gì vậy?” Dượng Vernon rống lên.
“Kreacher,” cụ Dumbledore nói dứt câu.
“Kreacher không, Kreacher không, Kreacher không.” Con gia tinh la ông ổng, tiếng gần to bằng tiếng của dượng Vernon, dẫm thình thình hai chân cáu bẩn và kéo giật hai vành tai tổ chảng của nó.
“Kreacher thuộc về cô Bellatrix, ừ, đúng, Kreacher thuộc về dòng họ Black, Kreacher muốn cô chủ mới, Kreacher không muốn theo thằng ranh con hỗn xược Potter, Kreacher không, không, không.”
“Như con có thể thấy đó, Harry,” cụ Dumbledore nói to, át mấy tiếng không, không, không. “Kreacher đang cho thấy có một sự miễn cưỡng nhất định trong việc chuyển giao quyền sở hữu sang con.”
“Con không quan tâm,” Harry nói một lần nữa, ghê tởm nhìn con gia tinh đang lăn lộn gào thét. “Con không muốn nó.”
“Không, không, không, không…”
            “Chẳng lẽ con lại muốn chuyển quyền sở hữu nó sang cho Bellatrix hơn à? Hãy nhớ rằng nó  đã sống ở Tổng hành dinh của  Hội Phượng hoàng trong suốt năm qua.”
“Không, không, không, không…”
Harry nhìn chằm chằm cụ Dumbledore. Nó hiểu Kreacher không thể nào được phép ra đi và đến sống với Bellatrix Lestrange, nhưng cái ý nghĩ phải làm chủ  Kreacher, phải chịu trách nhiệm về một sinh vật đã từng phản bội chú Sirius khiến nó thấy tởm lợm.
“Hãy ra lệnh cho nó,” cụ Dumbledore nói. “Nếu nó đã được chuyển giao cho con làm chủ, thì nó sẽ phải vâng lời. Nếu không, lúc đó chúng ta sẽ phải nghĩ đến những biện pháp khác để cách ly nó với bà chủ hợp pháp của nó.”
“Không, không, không, KHÔNG!”
Giọng của Kreacher cất cao lên thành một tiếng rú. Harry không thể nghĩ ra cái gì để nói, ngoại trừ:
“Kreacher, im mồm!”
Trong một thoáng, có vẻ như Kreacher sắp tắt thở. Nó chụp lấy cổ họng, mồm nó vẫn còn láp váp một cách điên cuồng, hai con mắt nó lồi hẳn ra. Sau vài giây hớp hơi một cách điên cuồng, nó tự quăng mình nằm sấp lên tấm thảm (dì Petunia khóc thút thít) và đấm đá cái sàn bằng cả hai tay và hai chân, tự chuyển mình qua một cơn cuồng nộ dữ dội, nhưng hoàn toàn yên lặng.
“Tốt, điều đó đơn giản hóa nhiều vấn đề,” cụ Dumbledore phấn khởi nói. “Dường như chú Sirius hiểu điều mà chú ấy làm. Con là người thừa kế hợp pháp của số mười hai Quảng trường Grimmauld và của Kreacher.”
“Con có phải... có phải giữ nó bên mình không?”
Harry thất kinh hồn vía hỏi lại trong khi Kreacher quẫy đập quanh chân nó.
“Không, nếu con không muốn,” cụ Dumbledore nói. “Nếu được, thầy đề nghị con nên gởi nó tới trường Hogwarts để làm việc trong nhà bếp của trường. Bằng cách đó, những gia tinh khác có thể trông chừng nó.”
“Phải đó!” Harry reo lên nhẹ nhõm. “Phải đó, con sẽ làm như vậy. Ơ... Kreacher… ta muốn mi tới trường Hogwarts và làm việc trong nhà bếp của trường với những gia tinh khác.”
 Kreacher lúc này đã xoay ra nằm ngửa trên sàn, giơ cả hai chân hai tay lên không trung, ngó Harry ngược từ dưới lên trên bằng cái nhìn kinh tởm sâu sắc nhất, rồi cùng với một tiếng “cạch” lớn, nó biến mất.
“Tốt,” cụ Dumbledore nói. “Cũng còn một vấn đề về con bằng mã Buckbeak bây giờ đã thuộc về con, cho nên nếu muốn thu xếp cách khác…”
“Không,” Harry nói ngay. “Nó có thể ở lại với bác Hagrid. Con nghĩ Buckbeak thích như vậy hơn.”
“Hagrid sẽ vui mừng lắm,” cụ Dumbledore nói. “Bác ấy rất xúc động khi gặp lại con Buckbeak. Nhân tiện, chúng ta đã quyết định, vì sự an toàn của Buckbeak, tạm thời sửa lại tên của nó là Witherwings, mặc dù thầy không tin rằng Bộ có thể đoán ra nó chính là con bằng mã mà họ đã từng kêu án tử hình. Thôi, Harry, hòm xiểng của con xong chưa?”
“Dạ…”
“Con nghi ngờ là thầy không đến sao?” cụ Dumbledore nói một cách sắc xảo.
“Con sẽ đi… và ơ… làm xong ngay,“ Harry hấp tấp nói, vội vàng nhặt nhạnh lại cái kính thiên văn và đôi giày thể thao.
Nó mất chừng hơn mười phút một tí để tìm ra những thứ mà nó cần; cuối cùng nó cũng loay hoay rút ra được cái Áo khoác tàng hình từ dưới gầm giường, vặn lại cái nút hũ mực đổi màu, và ấn được cái nắp rương đóng đè xuống cái vạc cố nhét bên trong. Xong, một tay cố kéo cái rương, tay kia xách cái chuồng con Hedwig, nó đi trở xuống cầu thang.
Nó thất vọng thấy cụ Dumbledore không chờ nó ở trong hành lang, có nghĩa là nó phải trở lại phòng khách.
Chẳng ai nói năng gì cả. Cụ Dumbledore đang ngâm nga khe khẽ, hiển nhiên là thoải mái dễ chịu, nhưng không khí còn đặc hơn cả cái bánh trứng nguội lạnh, và Harry không dám nhìn gia đình Dursley khi nó nói:
“Thưa giáo sư, con đã sẵn sàng rồi ạ.”
“Tốt,” cụ Dumbledore nói. “Vậy thì chỉ còn một chuyện nữa thôi.” Và cụ quay qua nói chuyện với gia đình Dursley một lần nữa. “Chắc chắn là ông bà biết, Harry sẽ tới tuổi trưởng thành trong vòng một năm nữa.”
“Không,” dì Petunia nói, lần đầu tiên kể từ khi cụ Dumbledore bước vô nhà.
“Cho phép tôi hỏi lại?” cụ Dumbledore nói một cách lịch sự.
“Không, nó chưa đủ tuổi trưởng thành. Nó nhỏ hơn Dudley một tháng, và tới năm sau của năm sau nữa Dudley mới đủ mười tám tuổi.”
“A,” cụ Dumbledore vui vẻ nói. “Nhưng trong thế giới Pháp thuật, chúng tôi trưởng thành khi đủ mười bảy tuổi.”
Dượng Vernon lẩm bẩm, “Lố bịch,” nhưng cụ Dumbledore phớt lờ ông ta.
“Giờ đây, như ông bà biết, vị pháp sư tên là Voldermort đã trở lại đất nước này. Cộng đồng Pháp thuật hiện đang lâm vào tình trạng chiến tranh công khai. Harry, người mà chúa tể Voldermort đã cố gắng giết đi trong nhiều dịp, giờ đây ở trong tình cảm còn nguy hiểm hơn cả cái ngày mà tôi bỏ nó trên ngạc cửa nhà ông bà cách đây mười lăm năm, kèm một lá thư giải thích về việc cha mẹ nó bị ám sát và bày tỏ niềm hy vọng rằng ông bà sẽ chăm sóc nó như thể con cái mình.”
Cụ Dumbledore ngừng lại, mặc dù giọng nói của cụ vẫn nhẹ nhàng bình tĩnh, và cụ chẳng tỏ dấu hiệu nào của sự giận dữ, Harry vẫn cảm thấy một cơn lạnh thấu gì đó phát ra từ cụ và nó nhận thấy gia đình kia co cụm lại sát với nhau.
“Ông bà đã không làm đúng như tôi yêu cầu. Ông bà chưa bao giờ đối xử với Harry như con cái. Nó chẳng nhận được gì từ tay ông bà, ngoại trừ sự bỏ bê và ác nghiệt. Điều tốt nhất còn kể ra được là ít ra thì nó cũng đã thoát được sự hư hỏng đáng sợ mà ông bà đã gây ra cho thằng bé bất hạnh đang ngồi giữa ông bà kia.”
Cả dì Petunia và dượng Vernon đều ngoái đầu nhìn ra sau theo bản năng, như thể trông mong nhìn thấy một ai đó khác Dudley đang ngồi nép vô giữa hai người.
“Chúng tôi... chúng tôi mà đối xử tệ bạc với Dudders à? Ông muốn nói...”
Dượng Vernon bắt đầu nói một cách giận dữ, nhưng cụ Dumbledore giơ ngón tay lên để giữ yên lặng, một sự yên lặng như thể cụ đã táng cho dượng Vernon một cái khờ luôn.
“Pháp thuật mà tôi khơi lên cách đây mười lăm năm có ý nghĩa là Harry có được sự bảo vệ mạnh mẽ khi nó còn có thể gọi căn nhà này là ‘nhà’. Cho dù ở đây nó đã khốn khổ thế nào đi nữa, cho dù nó bị ghẻ lạnh thế nào đi nữa, cho dù nó bị đối xử tàn tệ thế nào đi nữa, ông bà đã cho nó một mái nhà, dù một cách bất đắc dĩ. Pháp thuật này sẽ hết hiệu lực khi Harry đủ mười bảy tuổi; hay nói cách khác, khi nó trở thành một người dàn ông. Tôi chỉ yêu cầu điều này: rằng ông bà hãy cho phép Harry trở về căn nhà này một lần nữa, trước sinh nhật thứ mười bảy của nó, điều này sẽ bảo đảm rằng nó còn tiếp tục có được sự bảo vệ cho tới lúc đó.
Chẳng người nào trong gia đình Dursley nói lời nào. Dudley hơi cau mày, mặc dù nó vẫn còn đang cố gắng suy ra xem nó từng bị đối xử tệ bạc hồi nào. Dượng Vernon thì trông như thể bị cái gì đó vướng mắc trong cổ họng; tuy nhiên, dì Petunia thì lại xúc động một cách kỳ cục.
“Thôi, Harry... đã tới lúc chúng ta lên đường.”
Cuối cùng cụ Dumbledore cũng lên tiếng. Cụ đứng lên và kéo cho ngay lại tấm áo khoác dài màu đen.
“Hẹn đến lúc chúng ta gặp lại,” cụ nói với gia đình Dursley, mấy người này tỏ vẻ như thể thời khắc đó có thể mãi mãi không bao giờ tới. Và sau khi đội mũ, cụ lướt đi ra khỏi phòng.
“Chào,” Harry vội vã nói với gia đình Dursley, rồi bước theo cụ Dumbledore. Cụ đnưgs cạnh cái rương của Harry, bên trên rương đặt cái chuồng của con Hedwig.
“Lúc này chúng ta không muốn bị vướng víu những thứ này,” cụ nói, lại rút cây đũa phép ra một lần nữa.
“Thầy sẽ gởi chúng tới Hang Sóc đợi chúng ta ở đó. Tuy nhiên, thầy muốn con mang theo bên mình Áo khoác tàng hình... phòng khi cần đến.”
Harry rút tấm áo khoác của nó ra khỏi cái rương một cách khó khăn, cố gắng không bày cho cụ Dumbledore thấy cái đống hầm bà lằng hổ lốn bên trong cái rương. Khi nó đã nhét tấm áo vô một cái túi bên trong cái áo gió, cụ Dumbledore vẫy cây đũa phép, và cái rương, cái chuồng, cùng con Hedwig đều biến mất. Cụ Dumbledore lại vẫy cây đũa phép một lần nữa, và cánh cửa trước mở ra một bóng tối mù sương mát lạnh.
“Và bây giờ, Harry à, chúng ta hãy ra đi, bước vào đêm và đuổi theo cô ả phù phiếm – cuộc phiêu lưu.”
0
Chương 4
Horace Slughorn
 
            Bất chấp cái việc Harry đã giành hết từng giây phút không ngủ trong mấy ngày qua hy vọng một cách tha thiết rằng cụ Dumbledore sẽ đến đón mình đi thực sự, nó vẫn cảm thấy lúng túng lộ liễu khi hai thầy trò ra tới đường Privet Drive. Trước giờ nó chưa từng trải qua một cuộc chuyện trò thực sự nào với thầy hiệu trưởng ở bên ngoài khuôn viên trường Hogwarts; giữa hai người luôn có một cái bàn làm việc. Ký ức về cuộc gặp gỡ mặt-đối-mặt vừa qua giữa hai người lại cứ hay trỗi dậy, và chuyện đó càng làm Harry bối rối thêm; nó đã la thét hơi nhiều trong dịp đó, ấy là không kể nó đã thi thố hết tài năng để làm tan tành nhiều món đồ đạc được cụ Dumbledore tưng tiu nhất.
Tuy nhiên, cụ Dumbledore có vẻ hoàn toàn thư thái. Cụ rạng rỡ nói:
“Thủ sẵn cây đũa phép của trò nhé, Harry”
“Nhưng thưa thầy, con tưởng con không được phép sử dụng pháp thuật bên ngoài trường học chớ?”
“Nếu có một cuộc tấn công,” cụ Dumbledore nói, “thầy cho phép con sử dụng bất cứ phép kháng-bùa hay lời nguyền nào mà con biết xài. Tuy nhiên, thầy không nghĩ rằng con cần phải lo lắng về chuyện bị tấn công vào tối nay.”
“Thưa thầy, tại sao không ạ?”
“Con đang ở bên thầy,” cụ Dumbledore nói một cách đơn giản. “Điều này đủ đảm bảo an toàn, Harry à.”
Cụ đột ngột dừng chân giữa đường Privet Drive.
“Dĩ nhiên là con chưa trải qua kỳ Sát hạch Độn thổ, đúng không?” cụ hỏi
“Dạ chưa,” Harry đáp. “Con tưởng phải đủ mười bảy tuổi mới được thi.”
“Đúng vậy,” cụ Dumbledore nói. “Vậy là con phải bám vô cánh tay thầy thật chặt. Tay trái, nếu không phiền… như con đã nhận thấy đó, tay cầm cây đũa phép của thầy lúc này hơi yếu.”
Harry bám chặt cánh tay cụ Dumbledore đưa ra. Cụ bảo:
“Tốt lắm. Nào, chúng ta đi.”
Harry cảm thấy cánh tay cụ Dumbledore xoắn tuột khỏi bàn tay nó. Nó bèn bám chặt hơn nữa. Việc tiếp theo mà nó nhận ra là mọi thứ bỗng đen hù; nó bị ép rất mạnh từ mọi hướng; nó không thể thở nổi, có những đai sắt chằng quanh ngực nó; tròng mắt nó bị đẩy ngược vô tuốt bên trong đầu, màng tai nó bị đẩy sâu hơn vô trong hộp sọ và rồi…
Nó há họng đớp đầy phổi làn khí lạnh ban đêm và mở to đôi mắt đang trào nước. Nó cảm thấy như thể mới vừa bị nhét qua một cái ống cao su rất chặt. Nó mất vài giây định thần mới nhận ra con đường Privet Drive đã biến mất. Nó và cụ Dumbledore lúc này đang đứng ở một nơi có vẻ như một sân làng hoang phế, ở giữa sân có một tượng đài kỷ niệm chiến tranh và vài băng ghế dài. Khi đầu óc đã băts kịp cảm xúc, Harry hiểu ra nó vừa mới được độn thổ lần đầu tiên trong đời.
“Con có sao không?” Cụ Dumbledore ngó xuống nó lo lắng hỏi. “Cảm giác đó rồi sẽ quen đi.”
“Con không sao.” Harry nói, chà xát hai lỗ tai, có vẻ như hai lỗ tai nó hơi bất đắc dĩ phải rời bỏ con đường Privet Drive. “Nhưng con thấy khoái chổi bay hơn...”
Cụ Dumbledore mỉm cười, kéo tấm áo khoác lữ hành lên sát quanh cổ hơn một chút, và nói:
“Đi lối này.”
Cụ bước đi rất nhanh, băng qua một cái quán tọ trống không và vài căn nhà. Theo như cái đồng hồ trên tháp một nhà thờ kế đó thì đã gần nửa đêm. Cụ Dumbledore nói:
“Nào Harry, nói cho thầy nghe, cái thẹo của con… dạo này còn đau không?”
Harry đưa bàn tay lên trán một cách vô thức và xoa xoa cái dấu hình tia chớp. Nó nói:
“Dạ không. Và con đang thắc mắc về việc đó. Con tưởng nó sẽ phải rát hơn bao giờ hết chớ, vì bây giờ Voldermort đã lại có quyền lực rồi.”
Nó ngước nhìn lên cụ Dumbledore và thấy vẻ hài lòng trên mặt cụ. Cụ Dumbledore nói:
“Nhưng thầy thì nghĩ ngược lại. Chúa tể Voldermort cuối cùng đã nhận ra rằng lâu nay con hơi khoái việc tiếp cận nguy hiểm vào suy nghĩ và tình cảm của hắn. Có vẻ như bây giờ hắn đang xài bùa Bế quan chống lại con.”
“Thế cũng được. Con cũng chẳng phiền,” Harry nói. Nó chẳng tiếc nhớ gì cả những giấc chiêm bao đầy xáo trộn đến những phát nháng đến sững sờ rọi vô bên trong đầu óc Voldermort.
Hai người quẹo qua một góc đường, đi ngang qua một trạm điện thoại công cộng và một trạm chờ xe buýt. Harry lại nhìn ngang cụ Dumbledore một lần nữa.
“Thưa thầy…”
“Gì hở Harry?”
 “Ơ… Chúng ta đang ở đâu đây?”
“Harry à, đây là làng Budleigh Babberton xinh đẹp.”
“Chúng ta sẽ làm gì ở đây ạ?”
“À phải, đương nhiên rồi, thầy chưa nói với con,” cụ Dumbledore đáp. “Chà, thầy đã đếm hết nổi số lần thầy đã nói điều này trong những năm gần đây, nhưng một lần nữa thầy lại phải nói rằng chúng ta thiếu một thành viên trong giáo ban. Chúng ta tới đây để thuyết phục một đồng nghiệp cũ của thầy đừng nghỉ hưu nữa để trở về dạy ở trường Hogwarts.”
“Thưa thầy, con giúp gì được trong chuyện này ạ?”
“À, thầy nghĩ sẽ kiếm được chỗ để xài tới con,” cụ Dumbledore nói một cách mơ hồ. “Quẹo trái, Harry.”
Hai người đi lên một con đường hẹp rất dốc, hai bên nhà cửa san sát. Tất cả cửa sổ đều tối thui. Trận lạnh giá kỳ quái đã tan từ hai tuần trước ở đường Privet Drive, nhưng vẫn còn dai dẳng ở đây. Nghĩ đến bọn giám ngục, Harry ngoái lại sau liếc mắt nhìn, nắm chặt lấy cây đũa phép trong túi áo.
“Thưa thầy, tại sao chúng ta không độn thổ thẳng vô nhà đồng nghiệp của thầy cho gọn?”
“Bởi vì như vậy thì bất lịch sự không kém gì đá tông vô cửa nhà người ta,” cụ Dumbledore nói. “Phép lịch sự đòi hỏi chúng ta phải chừa lại cho các pháp sư cơ hội từ chối đón tiếp chúng ta. Vả lại, hầu hết nhà cửa của dân pháp thuật đều được bảo vệ bằng bùa chống lại những cuộc đột nhập bằng độn thổ. Chẳng hạn ở trường Hogwarts…”
“Không ai có thể độn thổ ở bất cứ đâu bên trong lâu đài hay ngoài sân vườn. Hermione Granger có nói với con như vậy,” Harry nhanh nhẩu nói.
“Và trò ấy hoàn toàn đúng. Chúng ta quẹo trái một lần nữa.”
Đằng sau hai thầy trò, chuông đồng hồ nhà thờ điểm nửa đêm. Harry thắc mắc tại sao cụ Dumbledore không coi việc đến thăm đồng nghiệp cũ vào đêm hôm khuya khoắt như vầy cũng là bất lịch sự, nhưng giờ đây hai thầy trò đã trò chuyện thoải mái rồi, Harry có nhiều câu hỏi cấp bách hơn để mà hỏi.
“Thưa thầy, con coi trên Nhật báo Tiên Tri ông Fudge đã bị mất chức…”
“Đúng,” cụ Dumbledore đáp. Lúc này cụ đang đi ngược lên phía dốc đứng của con đường. “Thầy chắc là con cũng có đọc thấy rằng ông ấy đã bị ông Rufus Scrimgeour thay thế. Ông này vốn là Giám đốc Sở Thần sáng.”
“Ông ấy… Thầy có nghĩ là ông ấy tốt không?” Harry hỏi.
“Một câu hỏi thú vị,” cụ Dumbledore nói. “Chắc chắn là ông ấy có khả năng. Một tính cách mạnh mẽ cả quyết hơn ông Cornelius.”
“Dạ, nhưng ý con…”
“Thầy hiểu ý con. Rufus là một người hành động, và vì đã từng chiến đấu chống các phù thủy Hắc ám gần như suốt cả đời công tác, nên không đánh giá thấp Chúa tể Voldermort.”
Harry chờ đợi, nhưng cụ Dumbledore chẳng nói gì tới chuyện cụ bất đồng với ông Scrimgeour mà tờ Nhật báo Tiên Tri đã tường thuật, và nó cũng chẳng dám theo đuổi chủ đề đó, cho nên nó đổi đề tài:
“Và… thưa thầy… Con có đọc tin về bà Bones.”
“Ừ,” cụ Dumbledore khẽ nói. “Một mất mát kinh khủng. Bà ấy là một phù thủy vĩ đại. Thầy nghĩ, ngay ở đây thôi… Ối.”
Cụ đã chỉ hướng bằng bàn tay bị thương.
“Thưa thầy, chuyện gì đã xảy ra với bàn tay của…”
“Bây giờ thầy không có đủ thì giờ để giải thích cho con,” cuh Dumbledore nói. “Đó là cả một câu chuyện gay cấn mà thầy muốn dành cho nó lượng thời gian xứng đáng hơn.”
Cụ mỉm cười với Harry. Nó hiểu rằng cụ không muốn làm cho nó cụt hứng, và rằng nó được phép tiếp tục hỏi.
“Thưa thầy… Con nhận được bằng bưu cú một tờ bướm của Bộ Pháp thuật, về những biện pháp an ninh mà tất cả chúng ta cần thực hiện để chống lại bọn Tử thần thực tử…”
“Ừ, chính thầy cũng nhận được một bản,” cụ Dumbledore nói, vẫn mỉm cười. “Con có thấy tờ đó có ích gì không?”
“Không ích gì mấy ạ.”
“Thầy cũng nghĩ là không. Nãy giờ con đã không hỏi thầy, thí dụ, mùi mứt nào thầy thích nhất, để kiểm tra coi thầy có đúng thật là giáo sư Dumbledore chứ không phải một kẻ giả danh đội lốt không.”
“Con không…” Harry chỉ mới mở miệng, không hoàn toàn chắc là liệu có phải thầy đang rầy nó hay không.
“Để dùng trong tương lai, Harry à, con nên biết đó là mùi mứt dâu đỏ… Mặc dù, dĩ nhiên, nếu thầy là một Tử thần thực tử thì thầy ắt sẽ phải nghiên cứu sở thích mùi mứt của chính thầy trước khi hóa thân  thành chính thầy.”
“Ơ… Đúng vậy,” Harry nói. “À, trong tờ bướm có nói cái gì đó về Âm binh. Chính xác là gì vậy thầy? Tờ bướm nói không rõ lắm.”
“Chúng là những xác chết,” cụ Dumbledore bình tĩnh nói. “Những xác chết đó đã bị phù phép để làm theo lệnh của một phù thủy Hắc ám. Tuy nhiên, lâu lắm rồi chẳng ai nhìn thấy Âm binh đâu cả, kể từ khi Voldermort đầy quyền lực lần cuối… Hắn đã giết đủ người để thành lập cả một đội quân xác chết, tất nhiên. Chỗ này đây, Harry, ngay đây…”
Hai thầy trò đang ở gần một ngôi nhà nhỏ xây bằng đá xinh xắn giữa một khu vườn riêng. Harry còn đang bận tiêu hóa cái khái niệm khủng khiếp về bọn Âm binh nên chẳng còn tâm trí đâu để ý đến cái gì khác, nhưng khi hai người đi tới gần cổng trước, cụ Dumbledore chợt đứng khựng lại khiến Harry đâm sầm vào cụ.
“Ối, ôi thôi, ôi ôi…”
Harry nhướng mắt theo cái nhìn chăm chú của Dumbledore vào lối đi nhỏ được chăm chút kỹ lưỡng phía trước nhà và cảm thấy trái tim nó chùng xuống. Cửa chính ngôi nhà đã bị bung khỏi bản lề.
Cụ Dumbledore liếc nhìn từ đầu đường đến cuối đường. Con đường hoàn toàn vắng ngắt. Cụ khẽ nói:
“Rút đũa phép ra và đi theo thầy, Harry.”
Cụ mở cánh cổng và bước vừa nhanh vừa lặng lẽ trên lối đi nhỏ băng qua khu vườn, Harry bám sát gót thầy. Rồi cụ Dumbledore chầm chậm đẩy cánh cửa chính, cây đũa phép của cụ giơ cao và sẵn sàng.
“Tỏa sáng.”
Đầu cây đũa phép của cụ Dumbledore bùng lên ngọn lửa, soi ánh sáng của nó lên một hành lang hẹp. Một cánh cửa khác ở ngay bên trái để mở. Giơ cao cây đũa phép có đốm lửa, cụ Dumbledore đi vô phòng khách với Harry bám sát sau lưng.
Mắt họ thấy một cảnh tan hoang hoàn toàn. Một cái đồng hồ cổ bể tanh banh nằm ngay dưới chân hai thầy trò, mặt đồng hồ rạn nứt, còn quả lắc bị văng ra nơi xa giống như một thanh kiếm rớt. Bên cạnh đó là một cây đàn dương cầm, phím của nó cũng bị văng ra sàn nhà. Mảnh vở của cây đèn chùm bị rớt nằm lấp lánh gần đó. Mấy cái gối nằm bẹp dí, lông nhồi gối phòi ra từ vết rạch; mảnh vụn của đồ sứ và thủy tinh bị nát như bột phủ lên mọi thứ. Cụ Dumbledore giơ cây đũa phép cao hơn nữa, để ánh sáng của nó rọi lên những bức tường, nơi có cái gì đó màu đỏ sậm và nhơn nhớt được trét lên giấy dán tường. Harry hít vô một hơi ngắn khiến cụ Dumbledore quay nhìn lại. Cụ nói một cách nặng nhọc:
“Không đẹp lắm, hả?”
Cụ di chuyển cẩn thận vô giữa phòng, chăm chú xem xét những mảnh vụn dưới chân. Harry đi theo, dáo dác nhìn quanh, có phần sợ sệt nhỡ đâu bắt gặp cái gì đó ẩn náu đằng sau đống tan nát của cây đàn dương cầm hay cái ghế sofa bị lật úp, nhưng chẳng có dấu vết của ai cả.
“Thưa thầy, có lẽ đã có một trận quyết đấu và… và chúng đã lôi xác ông ấy đi.” Harry đưa ra giả thuyết, cố gắng không tưởng tượng rằng người đó ắt là bị thương nặng lắm mới để lại những vết máu văng tung tóe lên lưng chừng những bức tường.
“Thầy không nghĩ vậy,” cụ Dumbledore nói khẽ, chăm chú nhìn phía sau của một cái ghế bành nhồi quá căng nằm lăn một bên.
“Thầy muốn nói là ông ấy…”
“Vẫn còn ở đâu đây. Đúng vậy.”
Và không hề báo trước, cụ Dumbledore thụp xuống, thọc cây đũa phép vào chỗ ngồi của cái ghế bành nhồi quá căng ấy. Cái ghế bèn kêu ré lên:
“Ối!”
“Chào anh, Horace,” cụ Dumbledore nói. Cụ đứng thẳng trở lại.
Harry há hốc miệng. Ở chỗ trước đó nửa giây vốn là cái ghế bành thì giờ đây lại ngồi thu lu một ông già đầu hói cực kỳ mập mạp. Ông ta đang xoa xoa bụng và liếc xéo lên cụ Dumbledore bằng đôi mắt buồn phiền ươn ướt.
“Đâu có cần phải thọc cây đũa phép mạnh dữ vậy. Đau chết đi.”
Ánh sáng của cây đũa phép soi lấp lánh cái sọ bóng lưỡng và đôi mắt lồi, bộ ria hải mã vĩ đại, và bộ nút được đánh bóng ngời ngời của tấm áo khoác nhung mà ông ta mặc bên ngoài bộ đồ ngủ màu tím hồng. Đỉnh đầu ông chưa nhóng tới cằm cụ Dumbledore.
“Cái gì làm lộ vậy ta?” Ông càu nhàu khi lảo đảo đứng lên, vẫn xoa xoa cái bụng phệ. Bị phát hiện ra đang giả dạng một cái ghế bành như vậy mà ông vẫn chẳng hề nao núng thì quả là đáng nể.
“Anh Horace thân mến của tôi ơi,” cụ Dumbledore nói, có vẻ vui thích. “Nếu bọn Tử thần thực tử thực sự đến tìm anh, thì phía trên mái nhà phải xuất hiện Dấu hiệu Hắc ám chớ.”
Vị phù thủy vỗ một bàn tay múp míp lên cái trán rộng.
“Dấu hiệu Hắc ám,” ông lẩm bẩm. “Đã biết là có cái gì đó... ờ, đúng vậy. Đằng nào thì cũng không có thì giờ, tôi chỉ mới bày biện xong đám đồ đạc khi anh bước vô phòng.”
Ông ta thở khì ra một cái thiệt to khiến cho bộ ria run nhè nhẹ.
“Anh có cần tôi dọn dẹp giúp giúp một tay không?” cụ Dumbledore lịch thiệp đề nghị.
“Vâng, làm ơn,” ông ta đáp.
Hai người đứng đâu lưng lại với nhau, một pháp sư gầy cao lêu nghêu và một pháp sư tròn quay lùn xủn, và cả hai cũng vẫy cây đũa phép của mình trong cùng một động tác quét y hệt nhau.
Bàn ghế bay vèo vèo trở lại vị trí ban đầu của chúng. Chùm đèn trang trí lại treo lơ lửng trên không, lông nhồi gối chui hết trở vô gối, sách rách te tua tự lành lại khi bay lên kệ, đền dầu bay vút lên mặt bàn nhỏ và thắp sáng trở lại. Một đám khổng lồ những cái khung tranh bằng bạc bay vi vút ngang qua căn phòng và đáp xuống trên cái bàn làm việc, nguyên vẹn và không chút tì vết. Khắp nơi, những vết xước, vết nứt, những lỗ hổng đều tự bít lại, và những bức tường tự lau chùi sạch sẽ.
“Nhân tiện xin hỏi, đó là loại máu gì vậy?” cụ Dumbledore hỏi to để át tiếng gõ boong boong của cái đồng hồ cổ vừa mới hết bể.
“Trên tường hả? Rồng,” vị phù thủy tên là Horace hét lên, trong tiếng nghiến ken két và kêu leng keng của chùm đèn treo đang tự rút mình treo lên trần phòng.
Một tiếng tưng cuối cùng vang ra từ cây đàn dương cầm, rồi im ắng.
“ Ừ, rồng,” vị phù thủy lặp lại trong cơn hứng chuyện trò. “Chai cuối cùng của tôi, và giá cả lúc này thì cao tận trời. Dù vậy, có thể dùng lại được.”
0
Ông chồm tới vớ một chai thủy tinh nhỏ để trên đầu tủ ly chén và giơ nó ra phía ánh sáng xem xét cái chất lỏng đậm đặc bên trong chai.
“Hừm, hơi dơ.”
Ông đặt cái chai trở lại đầu tủ và thở dài. Chính lúc đó cái nhìn chăm chú của ông rớt xuống Harry.
“Ố ồ,” ông nói, con mắt tròn to của ông lượn lờ trên vầng trán của Harry và cái thẹo hình tia chớp của nó.
“À há.”
“Đây,” cụ Dumbledore nói, di chuyển tới trước để giới thiệu. “Đây là Harry Potter. Harry, đây là một người bạn và đồng nghiệp cũ của thầy, thầy Horace Slughorn.”
Slughorn  quay sang cụ Dumbledore, mặt ông nhăn lại.
“Thế ra đây là cách anh tưởng sẽ thuyết phục được tôi à? Chà, câu trả lời là không, anh Albus à.”
Ông đẩy Harry qua một bên, ngoảnh mặt đi một cách cương quyết với cái vẻ của một người dang cố gắng kháng cự lại một ham muốn.
“Thì ít nhất chúng ta cũng có thể làm một ly. Để ôn kỷ niệm xa xưa,” cụ Dumbledore nói.
Ông Slughorn ngập ngừng.
“Thôi được, một ly vậy,” ông nói một cách miễn cưỡng.
Cụ Dumbledore mỉm cười với Harry và dẫn nó đến một cái ghế, không giống cái mà ông Slughorn đã giả dạng, đặt ngay bên cạnh cái lò sưởi vừa được đốt lên và ngọn đèn dầu tỏa ánh sáng rực rỡ. Harry ngồi xuống ghế với một cảm tưởng rõ rệt rằng cụ Dumbledore, vì lý do nào đó, muốn cho người ta phải luôn thấy nó rõ. Rõ ràng là ông Slughorn, lúc ấy đang bận bịu với bình cổ cong và ly pha lê, khi quay mặt lại căn phòng một lần nữa, thì ngay lập tức ánh mắt rớt trúng phải Harry.
“Hừm,” ông nói, nhìn thiệt lẹ sang hướng khác như thể sợ làm đau mắt mình.
“Đây...” ông đưa ly rượu cho cụ Dumbledore, cụ đã ngồi xuống mà không cần mời mọc, đoạn ông đẩy cái khay về phía Harry, rồi ngồi lọt thỏm vô đống gối trên cái ghế sofa đã được sửa sang, và rồi một sự im lặng khó chịu lan ra. Chân của ông ngắn quá nên không chạm tới sàn.
“Sao, dạo này sức khỏe ra sao, anh Horace?”
“Không khá lắm,” ông Horace đáp ngay. “Phổi yếu. Khò khè. Thấp khớp nữa. Không thể đi đứng như trước đây. Ôi, tất phải vậy thôi. Già rồi. Mệt mỏi.”
“Thế nhưng mà anh ắt là di chuyển khá lẹ mới chuẩn bị được một cuộc đón tiếp chúng tôi ngoạn mục như vầy, với thời gian báo trước quá ngắn đó chớ,” cụ Dumbledore nói. “Anh đâu có được báo trước nhiều hơn ba phút đâu nhỉ?”
Ông Slughorn nói, nửa quạo quọ nửa tự hào:
“Hai. Không nghe cái bùa Đột nhập của tôi báo động, tại đang tắm. Dù vậy,” ông nghiêm trang nói thêm, dường như đang cố gắng lấy lại thế tự chủ, “cái sự thật vẫn sờ sờ ra đó, tôi là một ông già, anh Albus à. Một ông già về hưu xứng đáng có được một đời sống yên tĩnh và chút ít rượu ngon.”
Ông chắc chắn là đang có những thứ đó, Harry vừa nghĩ, vừa nhìn chung quanh căn phòng. Căn phòng ngột ngạt và lộn xộn, nhưng đừng ai nói là nó không tiện nghi thoải mái; có ghế nệm êm và ghế gác chân, có rượu và sách, mấy hộp sôcôla và mấy cái gối phồng xốp. Nếu Harry không biết ai sống ở đây, nó sẽ tưởng chủ nhân là một bà già giàu có và kiểu cọ.
“Anh đâu đã già bằng tôi, anh Horace?” cụ Dumbledore nói.
“Ừ, có lẽ chính anh cũng nên nghĩ đến chuyện về hưu đi,” ông Slughorn huỵch tẹt. Hai con mắt xanh nhạt màu trái chùm ruột của ông đã nhìn thấy bàn tay bị thương của cụ Dumbledore. “Phản xạ không còn như xưa nữa, tôi hiểu.”
“Anh hoàn toàn đúng,” cụ Dumbledore nói một cách bình thản, hất ống tay áo ngược lên để lộ đầu những ngón tay bị phỏng và thâm đen; cảnh tượng này làm Harry nổi gai ốc một cách khổ sở.
“Tôi chắc chắn chậm hơn xưa. Nhưng mặc khác...” Cụ nhún vai và xòe bàn tay rộng ra, như thể muốn nói rằng tuổi tác cũng có sự đền bù, và Harry nhận thấy một chiếc nhẫn đeo trên bàn tay không bị thương của cụ mà nó chưa từng thấy cụ đeo trước đây: chiếc nhẫn đó to, hơi thô, làm bằng một thứ có lẽ là vàng, và được nạm bằng một viên đá đen đã bị nứt xuống ở chính giữa. Đôi mắt của ông Slughorn cũng ve vãn chiếc nhẫn một lát, và Harry nhìn thấy một tí cau mày thoáng qua làm nhăn vầng trán rộng của ông.
“Vậy, tất cả những sự đề phòng chống đột nhập này, anh Horace à... chúng nhằm chống lại bọn Tử thần thực tử, hay là tôi?” cụ Dumbledore hỏi.
“Bọn Tử thần thực tử thì cần gì ở một cái gối đệm cũ te tua tội nghiệp như tôi?” ông Slughorn hỏi vặn lại.
“Tôi cho rằng chúng muốn anh biến những tài năng đáng kể của mình thành áp bức, tra tấn, và ám sát.” Cụ Dumbledore nói. “Chẳng lẽ anh đang nói với tôi rằng chúng chưa tìm đến anh để chiêu dụ sao?”
Ông Slughorn nhìn cụ Dumbledore một cách độc địa trong một lát, rồi làu bàu:
“Tôi chưa tạo cho chúng cơ hội nào. Tôi đã di chuyển liên tục trong suốt một năm qua. Không bao giờ ở một nơi nào lâu hơn một tuần lễ. Cứ dọn hết từ nhà dân Muggle này sang nhà dân Muggle khác... Chủ nhân ngôi nhà này đang đi nghỉ ở quần đảo Canary – thiệt là thoải mái dễ chịu, thiệt là tiếc khi phải ra đi. Một khi mình biết cách rồi thì cũng dễ thôi, chỉ cần một lá bùa Đông cứng dán lên mấy cái còi báo động chống trộm ngớ ngẩn mà họ dùng thay vì mấy cái Kính Mách lẻo và liệu sao cho bà con lối xóm không dò ra chuyện mình khuân vô một cây đàn dương cầm.”
“Tài tình thật,” cụ Dumbledore nói. “Nhưng tồn tại kiểu đó nghe cũng hơi mệt đối với một cái gối đệm cũ te tua muốn tìm một cuộc sống yên tĩnh. Này nhé, nếu anh chịu trở về trường Hogwarts...”
“Nếu anh định nói với tôi là cuộc sống của tôi sẽ bình yên hơn ở cái trường thổ tả đó, thì anh nên để dành hơi, anh Albus à! Rất có thể là tôi sống ẩn dật lâu nay, nhưng mấy chuyện đồn đại khôi hài vẫn lọt vào tai tôi kể từ khi bà Dolores Umbridge ra đi! Nếu đó là cách anh đối xử với giáo viên vào những ngày này...”
“Giáo sư Umbridge đã húc vô một đàn nhân mã,” cụ Dumbledore nói. “Tôi nghĩ anh, anh Horace à, anh chắc phải biết điều hơn khi rảo bước vô rừng và gọi một đám nhân mã đang cơn giận là nhân mã đồ lai căng bẩn thỉu’.”
“Bà ta đã nói vậy hả?” Ông Slughorn nói. “Mụ này ngu thiệt. Chưa bao giờ ưa được.”
Harry chắt lưỡi và cả cụ Dumbledore lẫn ông Slughorn đều quay lại nhìn nó. Harry vội vã phân bua:
“Con xin lỗi. Chẳng qua… Con cũng chẳng ưa gì bà ấy.”
Cụ Dumbledore đột ngột đứng dậy.
“Anh đi hả?” ông Slughorn hỏi ngay tức thì, vẻ hớn hở đầy hy vọng.
“Không, tôi đang thắc mắc là tôi có thể dùng nhà vệ sinh của anh không?” cụ Dumbledore nói.
“Ồ,” ông Slughorn nói, rõ ràng là thất vọng. “Đi xuống hành lang, cửa thứ hai, bên trái.”
Cụ Dumbledore rảo bước ra khỏi phòng. Khi cánh cửa đã đóng lại sau lưng, chỉ còn lại sự im lặng. Một lát sau, ông Slughorn đứng dậy nhưng dường như không biết chắc là mình định làm gì. Ông lén ngó Harry một cái, rồi đi tới bên lò sưởi và quay lưng lại để sưởi ấm tấm lưng rộng thênh thang của mình.
Bỗng nhiên ông nói:
“Đừng tưởng là tôi không biết tại sao lão dắt theo cậu tới đây.”
Harry chỉ ngước nhìn ông Slughorn. Đôi mắt ươn ướt của ông lướt qua cái thẹo trên trán của Harry, lần này nhìn luôn cả gương mặt nó.
“Cậu trông rất giống cha cậu.”
“Dạ, con có nghe nói vậy,” Harry đáp.
“Ngoại trừ đôi mắt, cậu thừa hưởng đôi mắt của…”
“Mẹ con. Dạ, đúng vậy.” Harry đã nghe nhận xét đó thường xuyên đến nỗi nó phát mệt.
“Hừm. Ừ, phải. Với tư cách thầy giáo, mình không nên có học trò cưng, dĩ nhiên rồi, nhưng con  bé ấy là một trong những học trò cưng của tôi. Mẹ cáu ấy mà.” Ông Slughorn nói thêm, để đáp lại cái nhìn thắc mắc của Harry. “Lily Evans. Một trong những học sinh thông tuệ nhất mà tôi từng dạy. Lanh lợi, cậu biết đấy. Một nữ sinh duyên dáng. Tôi thường nói với trò ấy là đáng ra trò ấy phải thuộc về Nhà của tôi. Tôi cũng thường nhận được những câu trả lời rất táo tợn.”
“Thầy thuộc nhà nào ạ?”
“Tôi là giáo viên chủ nhiệm Nhà Slytherin,” ông Slughorn đáp. “Ôi thôi,” ông nói tiếp rất nhanh, do thấy cảm xúc hiện lên mặt Harry; ông ngoe nguẩy một ngón tay múp míp trước mặt nó. “Đừng cớ trách tôi về chuyện đó! Tôi đoán là cậu cũng thuộc nhà Gryffindor như mẹ cậu chứ gì? Ừ, thường là theo gia đình. Mặc dù không phải lúc nào cũng thế. Có nghe nói đến Sirius Black không? Ắt hẳn là cậu có nghe – đăng báo đầy ra đấy trong suốt hai năm qua – Chết cách đây vài tuần lễ.”
Như thể có một bàn tay vô hình đang vặn ngoéo ruột gan Harry và bóp chặt lại.
“Thôi, dù sao đi nữa hắn cũng là một người bạn lớn của cha cậu. Toàn bộ dòng họ Black đều vô Nhà của tôi, nhưng Sirius lại lọt vô Nhà Gryffindor, thật là xấu hổ. Hắn là một học sinh tài giỏi. Tôi thì được người em của hắn, Regulus, khi cậu ấy xuất hiện, nhưng tôi vẫn khoái có cả bộ.”
Ông nói như thể một nhà sưu tập máu me vừa mua hụt món cổ ngoạn ở một cuộc bán đấu giá. Rõ ràng là bị chìm đắm trong ký ức, ông đăm đăm nhìn bức tường đối diện, lười nhác xoay qua xoay lại tại chỗ cho đến khi bảo đảm hơi nóng phả đều lên cả tấm lưng.
“Mẹ của cậu là một phù thủy gốc Muggle, dĩ nhiên. Không thể tin nổi lúc phát hiện điều đó. Tưởng trò ấy phải thuộc dòng thuần huyết, trò ấy giỏi quá mà.”
“Một trong những người bạn thân nhất của con cũng có gốc Muggle,” Harry nói. “Và bạn ấy là học sinh giỏi nhất trong lứa tụi con.”
“Thỉnh thoảng xảy ra chuyện như vậy, thiệt là khôi hài hả?” ông Slughorn nói.
“Không hẳn,” Harry lạnh lùng đáp.
Ông Slughorn ngó xuống nó ngạc nhiên.
“Cậu chớ có nghĩ rằng tôi thành kiến. Không, không, không! Chẳng phải tôi vừa nói mẹ của cậu là một trong những học trò cưng muôn thuở của tôi đó sao? Rồi nào là Dirk Cresswell trong lứa sau mẹ cậu một năm – bây giờ là Giám đốc đầu ngành Sở Liên lạc Yêu tinh, tất nhiên – một trò nữa cũng gốc Muggle, một học sinh xuất sắc, và vẫn còn cho tôi những thông tin nội bộ tuyệt vời về hiện tình ở Gringotts!”
Ông Slughorn hơi nhún lên nhún xuống một tí, mỉm cười kiểu tự mãn nguyện, và chỉ vào vô số khung hình lấp lánh trên đầu tủ ngăn kéo, trong mỗi khung có hình một người tí hon đang nhúc nhích.
“Tất cả cựu học sinh, đều có chữ ký. Cậu sẽ nhận thấy có Barnabas Cuffe, chủ bút tờ Nhật báo Tiên Tri, trò ấy luôn khoái nghe tôi bình luận tin tức trong ngày. Và Ambrosius Flume, tiệm Công tước Mật – cả thùng mỗi lần sinh nhật, và tất cả chỉ vì tôi đã giới thiệu hắn với Ciceron Harrykiss, người đã cho hắn công việc đầu tiên. Và ở hàng sau – cậu có thể thấy nếu cậu chịu khó nhóng cổ lên – đó là Gwenog Jones, đương nhiên là người cầm đầu tập đoàn Holyhead Harrypies... Người ta cứ luôn ngạc nhiên khi nghe tôi nằm trong danh sách khách hàng thân thiết của Harrypies, và vé miễn phí bất cứ khi nào tôi muốn!”
Ý tưởng này dường như khiến ông Slughorn phấn khởi hẳn lên.
“Và tất cả những người này đều biết thầy ở đâu mà tìm, mà gởi đồ cho thầy à?” Harry hỏi, nó vẫn không thể không thắc mắc tại sao bọn Tử thần thực tử vẫn còn chưa dò ra tông tích của ông Slughorn khi mà những thùng kẹo, vé coi Quidditch, và những người đến xin lời khuyên hay ý kiến đều có thể kiếm ra thầy.
Nụ cười tuột khỏi gương mặt ông Slughorn nhanh y như vết máu biến mất khỏi bức tường.
“Dĩ nhiên là không,” ông đáp, ngó ngó xuống Harry. “Tôi đâu có tiếp xúc với bất kỳ ai trong suốt một năm qua.”
Harry có một ấn tượng là những lời nói đó khiến chính ông Slughorn cũng giật mình. Ông có vẻ bồn chồn một lúc. Rồi ông nhún vai.
“Tuy nhiên... pháp sư khôn ngoan đều nhẫn nhục trong những lúc như thế. Dumbledore nói cái gì thì cũng tốt cả, nhưng nhận một vị trí ở trường Hogwarts lúc này thì cũng cầm như tuyên bố tôi đồng minh công khai với Hội Phượng hoàng! Tôi thì vẫn tin chắc họ là những người dũng cảm và đáng ngưỡng mộ và đủ thứ tốt vân vân, nhưng tôi, với tư cách cá nhân, tôi không tưởng tượng nổi tỉ lệ tử vong...”
“Thầy đâu cần phải gia nhập Hội mới được dạy ở trường Hogwarts,” Harry nói. Nó không thể hoàn toàn giữ cho giọng nói của nó đừng lộ ra sự chế giễu. Thật khó mà thông cảm với cách sống bo bo giữ miếng của ông Slughorn khi nó nhớ đến chú Sirius lúc đó thu mình trong một cái hang và sống bằng những con chuột.
“Phần lớn các giáo sư đâu có ở trong Hội, và chẳng có ai bị giết cả - À, trừ khi thầy tính đến Quirrel, nhưng đáng đời ông ta vì ông ta làm tay sai cho Voldermort.”
Harry đã biết chắc ông Slughorn là một trong những phù thủy không thể chịu đựng nổi khi nghe tên của Voldermort được nói to lên, và nó đã không thất vọng: ông Slughorn rùng mình và kêu oai oái phản đối, nhưng Harry cứ giả nai.
Nó tiếp tục nói:
“Con cho rằng khi cụ Dumbledore là hiệu trưởng thì giáo ban được an toàn hơn so với hầu hết những người khác. Cụ được coi là người duy nhất mà Voldermort sợ, đúng không ạ?”
Ông Slughorn nhìn đăm đăm vào khỏang không một lúc: dường như ông đang ngẫm nghĩ về những lời Harry vừa nói.
“Ừ, phải, đúng là Kẻ-chớ-gọi-tên-ra chưa bao giờ tìm cách đánh nhau với Dumbledore,” ông làu bàu với vẻ miễn cưỡng. “Và tôi cho rằng người ta có thể lập luận rằng bởi vì tôi không gia nhập bọn Tử thần thực tử, thì Kẻ-chớ-gọi-tên-ra đời nào coi tôi như một người bạn... Trong trường hợp đó nếu tôi gần gũi anh Albus hơn thì có thể an toàn hơn... Tôi không thể giả bộ như cái chết của Amelia Bones không làm tôi rúng động... Nếu cô ấy, có tất cả những quan hệ và sự bỏa vệ ở Bộ Pháp thuật thế, mà còn...”
Cụ Dumbledore quay trở lại căn phòng và ông Slughorn nhảy dựng lên như thể ông quên mất có cụ trong nhà. Ông nói:
“A, đây rồi, anh Albus. Anh ở trong ấy lâu dữ à, bị đau bụng hả?”
“Không, tôi chỉ đọc mấy tờ tạp chí Muggle,” cụ Dumbledore nói. “Tôi quả thực khoái những mẫu đan. Thôi, Harry, chúng ta lợi dụng lòng hiếu khách của anh Horace đủ lâu rồi; thầy nghĩ đã đến lúc chúng ta phải ra đi thôi.”
Harry đứng phắt dậy, chẳng cần miễn cưỡng vâng lời chút nào. Ông Slughorn dường như bị  dội.
“Anh đi à?”
“Ừ, đi thật. Tôi nghĩ có gặp thì mới hiểu thế nào là một sự nghiệp tiêu tùng.”
“Tiêu tùng...?”
Ông Slughorn dường như bị kích động. Ông xoay xoay hai ngón tay cái mập mạp và bồn chồn bứt rứt khi nhìn cụ Dumbledore thắt chặt tấm áo choàng đi đường, và Harry kéo dây khóa cái áo gió của nó.
“Thôi vậy, tôi rất tiếc là anh đã không nhận công việc, anh Horace à,” cụ Dumbledore nói. Cụ giơ bàn tay không bị thương ra để chào giã biệt. “Trường Hogwarts sẽ rất vui mừng đón anh trở lại. Mặc dù an ninh của chúng tôi phải tăng cường ghê gớm, chúng tôi vẫn sẽ luôn rộng cửa đón tiếp anh, nếu anh muốn đến thăm trường.”
“Vâng... ừ... rất tử tế... như tôi nói...”
“Vậy thì, tạm biệt nhé.”
“Chào thầy,” Harry nói.
Hai thầy trò vừa đi tới cửa chính thì nghe một tiếng hét đằng sau lưng họ.
“Được rồi! Được rồi! Tôi sẽ nhận!”
Cụ Dumbledore quay lại thấy ông Slughorn đứng nín thở trong hành lang từ phòng khách ra cửa chính.
“Anh sẽ không nghỉ hưu nữa?”
“Ừ, ừ,” ông Slughorn nôn nóng. “Chắc là tôi điên rồi, nhưng mà, ừ.”
“Tuyệt vời!” Cụ Dumbledore tươi cười, nói. “Vậy thì anh Horace à, chúng tôi sẽ đón anh vào ngày một tháng chín.”
“Ừ, tôi dám nói là các anh sẽ gặp tôi vào tháng chín,” ông Slughorn lẩm bẩm.
Khi hai thầy trò đi xuống con đường nhỏ băng qua vườn, giọng nói của ông Slughorn vẫn còn đuổi theo họ.
“Anh Dumbledore, tôi muốn được lên lương!”
0
Cụ Dumbledore cười hì hì. Cổng khu vườn đóng lại sau lưng hai thầy trò, và họ bắt đầu đi ngược xuống đồi xuyên qua bóng tối và làn sương mù xoắn đặc.
“Giỏi lắm, Harry,” cụ Dumbledore nói.
“Con đâu có làm gì đâu?” Harry ngạc nhiên nói.
“Ồ, có chứ. Con đã chỉ ra cho thầy Horace chính xác bao nhiêu lợi lộc thầy ấy đạt được khi trở lại trường Hogwarts. Con có thích thầy Horace không?”
“Ơ...”
Harry không biết chắc là liệu nó có thích thầy Slughorn hay không. Nó cho rằng thầy dễ chịu theo cách của thầy, nhưng thầy cũng có vẻ hời hợt, và cho dù thầy có nói ngược lại đi chăng nữa, thì có vẻ cái việc một người gốc Muggle trở nên một phù thủy xịn đối với thầy vẫn là quá bất ngờ.
Để giải tỏa cho Harry cái trách nhiệm nói ra bất cứ điều nào trong suy nghĩ của nó, cụ Dumbledore nói:
“Thầy Horace thích sự an nhàn của thầy ấy. Thầy ấy cũng thích bầu bạn với những người nổi tiếng, người thành công và có quyền lực. Thầy ấy khoái cái cảm giác rằng mình có ảnh hưởng với những người ấy. Thầy ấy chẳng bao giờ muốn tự mình lên ngôi; thầy ấy thích ngồi ghế sau hơn – rộng chỗ duỗi chân tay, con hiểu chứ. Trước đây thầy ấy thường tuyển chọn học trò cưng ở trường Hogwarts, đôi khi dựa theo tham vọng hay trí tuệ của chúng, đôi khi dựa theo sự duyên dáng hay tài năng của chúng, và thầy ấy có cái sở trường kỳ lạ chọn được những người về sau tiếp tục trở nên xuất chúng trong nhiều lĩnh vự khác nhau. Thầy Horace lập ra một loại câu lạc bộ của những học trò cưng với cái trung tâm là chính thầy ấy, để giới thiệu, tạo ra những giao lưu hữu ích giữa các thành viên, và để đổi lại thầy ấy luôn luôn thu hái được lợi lộc gì đó, hoặc là một hộp mứt khóm khoái khẩu miễn phí, hoặc là một cơ hội để tiến cử nhân viên trẻ cho Sở Liên lạc Yêu tinh.”
Harry chợt thấy rõ ràng trong đầu hình ảnh một con nhện mập căng khổng lồ, dệt cái mạng chung quanh nó, giăng đây một sợi tơ, kia một sợi tơ, để dụ mấy con ruồi to và mập đến gần hơn.
“Thầy nói với con tất cả những điều này không phải để con chống lại thầy Horace – hay giáo sư  Slughorn,” cụ Dumbledore tiếp tục nói. “Bây giờ chúng ta phải gọi ông ấy như vậy –nhưng là để cho con tự cảnh giác. Chắc chắn thầy ấy sẽ cố gắng tuyển chọn con, Harry à. Con sẽ là châu báu trong bộ sưu tập của thầy ấy; ’Đứa trẻ sống sót’... hay như danh hiệu mà họ gán cho con lúc này, ’Kẻ được chọn’.”
Cùng lúc với những lời này, một cơn lạnh thấu không ăn nhập gì với làn sương mù chung quanh lẻn luồn vô người Harry. Những lời đó gợi nó nhớ tới những lời mà nó đã nghe cách đây vài tuần lễ - những lời mang ý nghĩa đặc biệt và khủng khiếp đối với nó.
Không thể nào trong cả hai có thể sống khi mà kẻ kia tiếp tục tồn tại...
Cụ Dumbledore đã dường bước ngang chỗ ngôi nhà thờ mà họ đã đi quan trước đây.
“Sẽ ổn thôi, Harry. Nếu con bám chặt cánh tay thầy.”sức phen này, Harry đã sẵn sàng cho cuộc độn thổ, nhưng vẫn còn thấy khó chịu. Khi áp lực biến mất và thấy mình đã thở lại được rồi, thì nó nhận ra mình đang đứng bên cạnh cụ Dumbledore trên một con đường quê và nhóng nhìn tới trước về phía cái bóng ngoằn ngoèo của tòa nhà yêu dấu thứ hai của nó trên thế giới này: trang trại Hang Sóc. Bất chấp cái cảm giác kinh hoàng vừa quét qua người nó, tinh thần của nó không thể nào không phấn chấn lên khi nhìn thấy ngôi nhà. Ron ở trong đó... Bà Weasley cũng ở trong đó, bà là người nấu ăn ngon hơn bất cứ người nào mà nó biết...
“Nếu con không phiền, Harry à...” cụ Dumbledore nói khi hai thầy trò đi ngang qua cánh cổng, “thì thầy muốn nói vài lời với con trước khi chia tay. Bí mật. Có lẽ nên nói ở đây?”
Cụ Dumbledore chỉ về phía một ngôi nhà phụ xây bằng đá đã xiêu vẹo là nơi mà gia đình Weasley để cán chổi. Hơi bối rối, Harry đi theo cụ Dumbledore qua cánh cửa kêu cọt kẹt để vào một chỗ còn nhỏ hơn cái tủ chén cỡ trung bình một tí. Cụ Dumbledore thắp cây đũa phép của cụ để nó sáng lên như cây đuốc, và mỉm cười với Harry.
“Thầy hy vọng con sẽ tha lỗi cho thầy về việc lại nhắc tới chuyện đó, Harry, nhưng thầy hài lòng và hơi tự hào là con dường như đương đầu khá tốt sau mọi chuyện xảy ra ở Bộ. Cho phép thầy nói rằng thầy nghĩ chú Sirius sẽ tự hào về con.”
Harry nuốt nước miếng, tiếng nói dường như đã bỏ rơi nó. Nó không nghĩ là nó có thể chịu đựng nổi chuyện trò về chú Sirius; nghe cái câu dượng Vernon nói “cha đỡ đầu nó chết rồi hả?” đã đủ đau đớn rồi, và nghe tên chú Sirius bị thầy Slughorn phun ra một cách tùy tiện còn đau tệ hơn nữa.
Cụ Dumbledore nói một cách dịu dàng:
“Thật là tàn nhẫn khi mà con và chú Sirius chỉ ở bên nhau một thời gian ngắn. Một kết thúc tàn khốc của một điều đáng ra phải là một quan hệ hạnh phúc và lâu dài.”
Harry gật đầu, mắt nó nhìn trân trân con nhền nhện lúc này đang bò lên mũ của cụ Dumbledore. Nó có thể nói rằng cụ Dumbledore đã hiểu, rằng cụ có thể không tin, nhưng mãi cho đến khi lá thư của cụ được gởi đến, thì Harry đã dành gần như tất cả thời gian ở nhà Dursley để nằm dài trên giường, không buồn ăn và chỉ đăm đăm nhìn vào khung cửa sổ mờ sương, đầy nỗi trống trải lạnh giá mà nó đã phải trải qua khi tiếp cận bọn giám ngục.
Cuối cùng Harry nói, giọng chùng xuống:
“Thật khó mà tin được là chú ấy sẽ không viết thư cho con nữa.”
Mắt nó chợt nóng rát và nó chớp chớp mắt. Nó cảm thấy ngu ngốc khi phải thừa nhận điều đó, nhưng quả thật rằng chuyện còn có ai đó bên ngoài trường Hogwarts quan tâm đến những gì xảy ra cho nó, gần như một bậc cha mẹ quan tâm tới con, đã từng là điều đẹp đẽ nhất trong chuyện nó phát hiện ra người cha đỡ đầu của mình... Vậy mà giờ đây bọn bưu cú sẽ chẳng bao giờ còn mang đến cho nó niềm an ủi đó nữa...
“Chú Sirius đã đại diện cho nhiều thứ mà trước đó con chưa từng biết đến,” cụ Dumbledore nói dịu dàng. “Đương nhiên, sự mất mát đó quá là tan nát...”
“Nhưng khi con ở nhà Dursley...” Harry ngắt lời cụ Dumbledore, giọng nó trở nên mạnh mẽ hơn. “Con đã hiểu rằng con không thể tự cô lập mình hay... hay sụp đổ. Chú Sirius đâu có muốn con như vậy, phải không? Và dù sao đi nữa, cuộc sống quá ngắn ngủi... Hãy nghĩ tới Bà Bones, nghĩ tới bà Emmeline Vance... Có thể con là người tiếp theo, biết đâu? Nhưng nếu có là thế,” Harry nói năng quyết liệt, bây giờ nó đã nhìn thẳng vào đôi mắt xanh lấp lánh ánh đuốc của cụ Dumbledore, “con chắc chắn sẽ đem theo thật nhiều Tử thần thực tử chết cùng, kể cả Voldermort nếu con thanh toán nổi.”
“Nói năng vừa giống con trai của cha mẹ con vừa là con trai đỡ đầu thực sự của chú Sirius!” cụ Dumbledore vừa nói, vừa vỗ nhè nhẹ lên lưng Harry tán thành.
“Thầy phải ngả mũ trước con... Hay đúng ra là thầy sẽ ngả mũ rồi, nếu thầy không sợ gởi cho con con nhền nhện. Và bây giờ Harry à, về một đề tài rất gần gũi đây... Thầy tình cờ biết là con đặt mua Nhật báo Tiên Tri trong hai tuần lễ vừa qua?”
“Dạ,” Harry nói, tim nó đập nhanh hơn.
“Vậy thì con có nhận thấy là có nhiều rò rỉ tùm lum về cuộc phiêu lưu của con trong Sảnh đường Tiên Tri chứ?”
“Dạ,” Harry lại nói. “Và bây giờ mọi người đều biết con là kẻ...”
“Không, họ không biết,” cụ Dumbledore ngắt lời. “Chỉ có hai người trên cả thế giới này biết nội dung đầy đủ của lời tiên tri được phán về con và chúa tể Voldermort, và cả hai người đó đang đứng trong căn chòi để chổi hôi hám đầy bụi bám nhện giăng này. Tuy nhiên, đúng là nhiều người đã đoán, chính xác là Voldermort đã phái bọn Tử thần thực tử của hắn đi đánh cắp lời tiên tri, và lời tiên tri có liên quan đến con. Bây giờ, thầy nghĩ là thầy đúng nếu nói rằng con chưa kể cho bất cứ ai chuyện con biết lời tiên tri đó nói gì chứ?”
“Vâng,” Harry đáp.
“Một quyết định khôn ngoan, về mọi mặt,” cụ Dumbledore nói. “Mặc dù thầy nghĩ con nên thoải mái tâm sự với bạn bè thân thiết của con như Ron Weasley và cô Hermione Granger. Ừ...” Cụ tiếp tục nói khi thấy Harry tỏ vẻ sửng sốt. “Thầy nghĩ họ cũng nên biết. Nếu con mà không giải bày với họ một điều quan trọng như vầy thì cầm như chơi khăm họ.”
“Con không muốn...”
“...làm họ lo lắng hay sợ hãi hả?” Cụ Dumbledore nói. Cụ đưa mắt nhìn qua bên trên cặp kính nửa vầng trăng để dò xét gương mặt Harry. “Hay cũng có thể, con không muốn thú nhận là chính con cũng lo lắng và sợ hãi? Con cần bạn bè, Harry à. Như con đã nói rất đúng, chú Sirius đâu có muốn con tự cô lập mình.”
Harry không nói gì, nhưng cụ Dumbledore không có vẻ đòi hỏi câu trả lời. Cụ nói tiếp:
“Về một đề tài khác, mặc dù cũng có liên quan, ấy là thầy muốn niên học sắp tới con sẽ theo học một lớp riêng với thầy.”
“Lớp riêng... với thầy?”
Harry nói, ngạc nhiên đến buột miệng, phá vỡ sự im lặng nãy giờ của mình.
“Ừ, thầy nghĩ đã đến lúc thầy cần can thiệp nhiều hơn vào việc giáo dục con.”
“Thưa thầy, thầy tính sẽ dạy con môn gì?”
“À, một chút môn này, một chút môn kia,” cụ Dumbledore ung dung nói.
Harry chờ đợi trong hy vọng tràn trề, nhưng cụ Dumbledore không nói tỉ mỉ, nên nó bèn hỏi về một chuyện khác đã từng khiến nó hơi điêu đứng.
“Nếu con theo học lớp riêng với thầy, con sẽ được miễn học Bế Quan bí thuật với ông Snape, phải không ạ?”
“Giáo sư Snape, Harry à... Ừ, khỏi. Con được miễn.”
Harry thở phào.
“Hay quá. Bởi vì mấy buổi học đó...” Nó ngừng lại, cẩn thận không nói ra những gì nó nghĩ.
“Thầy nghĩ từ ’hỏng bét’ là một từ hay đáng dùng trong trường hợp này,” cụ Dumbledore gật đầu nói.
Harry bật cười.
“Hay quá. Vậy nghĩa là từ nay con sé không phải gặp giáo sư Snape thường xuyên nữa,” nó nói. “Bởi vì thầy ấy sẽ không cho con theo học lớp Độc dược trừ khi con đạt điểm Xuất sắc trong kỳ thi Pháp thuật Thường đẳng (O.W.L.), mà con biết là con sẽ không đạt nổi.”
“Đừng có đếm cú trước khi chúng được giao,” cụ Dumbledore nghiêm trang nói. “À, nhân nói chuyện này, kết quả thi sẽ được cú đưa đến trong ngày hôm nay. Bây giờ còn hai chuyện nữa trước khi chúng ta chia tay, Harry à. Thứ nhất, thầy muốn từ bây giờ trở đi con luôn luôn giữ bên mình tấm Áo khoác tàng hình. Ngay cả khi con ở trong trường Hogwarts. Để đề phòng thôi, con có hiểu ý thầy không?”
Harry gật đầu.
“Và sau cũng, trong thời gian con ở đây, trang trại Hang Sóc được canh phòng an ninh ở mức cao nhất mà Bộ Pháp thuật có thể bố trí. Những biện pháp an ninh này chắc chắn gây ra rất nhiều phiền phức cho ông Arthur và bà Molly – thí dụ, tất cả bưu kiện của họ đều bị đưa về Bộ kiểm tra trước khi được gởi đi. Họ chẳng hề lấy làm phiền chút xíu nào hết, bởi vì mối quan tâm duy nhất của họ là sự an toàn của con. Tuy nhiên, nếu trong thời gian con ở đây với họ mà con làm điều gì liều lĩnh, thì đó sẽ là một sự đền đáp tệ bạc.”
“Con hiểu,” Harry nói nhanh.
“Vậy thì, tốt lắm,” cụ Dumbledore vừa nói, vừa đẩy cửa cái nhà để chổi và bước ra sân. “Thầy thấy có ánh đèn trong nhà bếp. Chúng ta không nên trì hoãn lâu hơn cái cơ hội ca cẩm của bà Molly về cái sự ốm nhom ốm nhách của con.”
0
Chương 5
Hơi bị nhớt
 
Harry và cụ Dumbledore tiến đến gần cửa sau của Hang Sóc, chung quanh vương vãi những thứ đồ vứt đi thân quen như ủng cũ và vạc rỉ; Từ đây Harry có thể nghe tiếng những con gà mái ngái ngủ cục cục vọng lại từ chuồng gà ở xa xa. Cụ Dumbledore gõ cửa ba lần và Harry thấy có một chuyển động thình lình bên trong cửa sổ nhà bếp. Một giọng lo lắng vang lên mà Harry nhận ra ngay là giọng của bà Weasley:
“Ai đó? Hãy tự danh.”
“Tôi đây, Dumbledore, đem Harry đến.”
Cửa mở ra tức thì. Và đứng nagy cửa là bà Weasley, thấp người, phúng phính, và mặc một cái áo ngủ màu xanh lá đã cũ.
“Ôi, Harry cưng! Phước đức quá, cụ Albus, cụ làm tôi hơi hoảng, cụ nói đừng có trông cụ cho tới trước khi trời sáng mà!”
“Tại chúng tôi hên,” cụ Dumbledore nói, đẩy Harry bước qua ngưỡng cửa. “Thầy Slughorn tỏ ra dễ dụ khi hơn là tôi tưởng. Dĩ nhiên là chính Harry làm được việc ấy. A, chào cô Nymphadora!”
Harry ngó quanh và nhận thấy bà Weasley không ở một mình trong bếp, mặc dù vào cái giờ khuya khoắt này. Một phù thủy trẻ có gương mặt hình trái tim nhợt nhạt và một mái tóc nâu xù đang ngồi bên cạnh bàn, ấp một cái tách bự giữa hai bàn tay. Cô ta nói:
“Chào giáo sư. Khỏe hả Harry!”
“Chào cô Tonks.”
Harry nghĩ cô Tonks trông có vẻ u sầu, thậm chí bệnh, và có gì đó gượng gạo trong nụ cười của cô. Chắc chắn là bề ngoài của cô kém màu mè hơn bình thường khi cô không trang điểm bằng cái tán quen thuộc của mái tóc màu hồng kẹo bong bóng.
“Tôi phải đi thôi,” cô nói vội, vừa khoác tấm áo choàng quanh vai. “Bà Molly, cám ơn bà đã mời trà và thông cảm.”
“Xin đừng ra đi chỉ vì tôi đến đấy,” cụ Dumbledore khách sáo nói. “Tôi không thể ở lại lâu đâu, tôi còn vài vấn đề khẩn cấp cần bàn bạc với ông Rufus Scrimgeour.”
“Không, không. Tôi cần phải đi mà,” cô Tonks nói, tránh nhìn vào mắt cụ Dumbledore. “Ngủ ngon!”
“Này cưng, sao không ghé ăn cơm tối vào cuối tuần, cả Remus và Mắt-điên cũng tới…?”
“Không, thực tình là không thể, bà Molly à… Dù sao cũng cám ơn bà… Chúc tất cả ngủ ngon nhé.”
Cô Tonks  bước vội ngang qua cụ Dumbledore và Harry để đi ra sân, cách ngưỡng cửa vài bước, cô đứng quay tại chỗ và biến mất vào không trung. Harry nhận thấy bà Weasley có vẻ phiền muộn.
“Thôi, thầy sẽ gặp lại con ở trường Hogwarts, Harry!” cụ Dumbledore nói. “Bảo trọng. Thưa bà Molly, kẻ tôi tớ xin cáo từ.”
Cụ cúi rạp trước bà Weasley rồi nối bước  cô Tonks, biến mất tại đúng y cùng một địa điểm. Bà Weasley đóng cánh cửa mở ra khoảng sân trống trơn và rồi nắm vai Harry xoay trong vùng sáng rạng rỡ  của ngọn đèn trên bàn để kiểm tra vóc dáng nó.
“Con giống thằng Ron,” bà thở dài, nhìn nó từ trên xuống. “Cả hai đứa bay trông như là bị ếm xì bùa Kéo giãn. Bác thề là thằng Ron đã cao thêm một tấc hai kể từ khi bác mua cho nó bộ đồng phục năm ngoái. Con có đói không, Harry?”
“Dạ, con đói,” Harry nói, bất thình lình nhận ra nó đang đói cồn cào.
“Ngồi xuống đi cưng. Bác sẽ dọn ra cái gì đó.”
Khi Harry ngồi xuống, một con mèo lông xù vàng khè có cái mặt tròn bạnh như trái bầu nhảy phóc lên đầu gối của nó an tọa rồi kêu rừ rừ.
“Vậy là Hermione cũng ở đây ạ?” Harry vui vẻ hỏi, vừa cù nhẹ sau tai con mèo Crookshanks.
“Ờ phải, con bé vừa tới ngày hôm kia,” bà Weasley đáp, vừa gõ nhẹ vào cái nồi sắt tổ tướng bằng cây đũa phép. Cái nồi nhảy phóc lên mặt lò, kêu lên một tiếng keng to và ngay lập tức bắt đầu sôi ùng ục.
“Mọi người đều đang ngủ, dĩ nhiên rồi, vì bọn bác tưởng còn mấy tiếng đồng hồ nữa con mới đến. Đây, con ăn đi.”
Bà lại gõ cái nồi một lần nữa, nó tự nhấc mình lên không trung, bay về phía Harry, rồi lật nghiêng, bà Weasley đẩy một cái tô tới ngay bên dưới cái nồi vừa đúng lúc để đón món súp hành đặc bốc khói đang chảy xuống.
“Bánh mì không con?”
“Cám ơn, bác Weasley.”
Bà vẫy cây đũa phép qua vai; một ổ bánh mì và một con dao cắt bành duyên dáng bay ào tới đáp xuống bàn ăn; khi ổ bánh mì đã tự cắt ra thành từng lát và cái nồi súp đã rớt xuống mặt lò, bà Weasley ngồi xuống đối diện với Harry.
“Vậy là con đã thuyết phục được thầy Horace Slughorn đi dạy lạ?”
Harry gật đầu, mồm miệng nó đang ngốn đầy súp nóng nên nó không thể nói được.
Bà Weasley nói:
“Thầy từng dạy cả bác trai Arthur và bác. Thầy đã dạy ở Hogwarts từ thời xưa lơ xưa lắc, bác nghĩ thầy bắt đầu dạy cùng thời với cụ Dumbledore. Con có thích thầy ấy không?”
Miệng Harry giờ đây lại ngốn đầy bánh mì, nó chỉ nhún vai và đung đưa cái đầu một cách vô thưởng vô phạt.
“Bác hiểu ý con,” bà Weasley nói, gật gù một cách khôn ngoan. “Dĩ nhiên khi nào thầy ấy muốn thành hấp dẫn thì cũng thành hấp dẫn, nhưng bác Arthur chẳng bao giờ ưa thầy ấy. Bộ Pháp thuật bây giờ bừa phứa bọn hot cưng của thầy ấy, chúng luôn luôn giỏi giang chuyện thằng quan tiến chức, nhưng chẳng bao giờ dành nhiều thì giờ cho bác Arthur – dường như chẳng hề nghĩ là bác ấy có đủ tham vọng trèo đèo. Thôi, chỉ là nói cho con biết, ngay cả  Thầy Slughorn cũng phạm sai lầm. Bác không biết Ron có viết thư cho con chưa – chuyện mới đây thôi – nhưng bác Arthur của con vừa được thăng chức!”
Quá rõ ràng là bà Weasley chỉ lăm le nổ ra tin sốt dẻo này.
Harry nuốt một họng đầy súp rất nóng và nghĩ rằng nó cảm giác được cổ họng mình đang phồng rộp lên. Nó thổi phều phều, nói:
“Tuyệt quá!”
“Con thiệt là dễ thương,” bà Weasley cười rạng rỡ, có lẽ tưởng nó ứa nước mắt vì mừng vui cảm động trước cái tin đó. “Ừ, ông Rufus Scrimgeour đã thiết lập thêm nhiều Sở mới để đáp ứng tình hình hiện tại, và bác Arthur hiện nay đnưgiáo sư đầu Sở Phát hiện và Tịch thu Bùa chú phòng chống và Vật thể Bảo vệ giả mạo. Đó là một công tác lớn lao, dưới quyền của bác ấy bây giờ có tới mười người báo cáo.”
“Chính xác thì…”
“Chà, con thấy đó, trong cơn hoảng hốt vì Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy, khắp nơi rộ lên bán đủ thứ kỳ cục, những thứ được coi là để bảo vệ chống lại Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy và bọn Tttt. Con có thể hình dung ra những thứ đó – như cái gọi là Độc dược bảo vệ thực ra là nước xốt pha thêm một chút mủ củ hạch, hay hướng dẫn phòng vệ tà ma thì lại làm văng mất vành tai người ta… Ôi, đại để là thủ phạm mấy vụ đó chỉ là những người như lão Mundungus Fletcher, những người chẳng bao giờ làm được một ngày công trung thực trong đời và đang thừa lúc mọi người quá hoảng sợ mà trục lợi. Thỉnh thoảng đó đây lại xuất hiện những thứ đáng kinh tởm. Hôm nọ bác Arthur tịch thu được một cái hộp Kính Mách lẻo đã ếm bùa mà gần như có thể chắc chắn là do một Tttt gài đặt. Vậy là, con hiểu chứ, đó là một công tác rất quan trọng, và bác nói với bác trai thiệt là ngu nếu không xử lý luôn mấy cái bu-gi ô tô và đám lò nướng bánh bằng điện cùng tất cả những thứ còn lại trong mớ rác rưởi của dân Muggle.”
Bà Weasley kết thúc bào diễn văn bằng một cái nhìn nghiêm nghị, như thể chính Harry là kẻ đề xuất rằng bỏ qua mấy cái bugi là tự nhiên thôi.
“Bác trai vẫn còn ở sở làm ạ?” Harry hỏi.
“Ừ, bác trai đang làm việc. Thực ra thì bác ấy về trễ một chut… bác trai nói sẽ về nhà vào khoảng nửa đêm…”
Bà quay lại nhìn cái đồng hồ to tướng đang ngồi chông chênh trên một đống vải trải giường trong giỏ đồ chờ đem giặt ở cuối cái bàn. Harry nhận ra cái đồng hồ ngay tức thì. Nó có chín cây kim, mỗi cây khắc tên của một người trong gia đình, và thường thường được treo trong phòng khách nhà Weasley, mặc dù vị trí hiện giờ của nó cho thấy là bà Weasley đã rinh nó đi khắp nhà với bà. Lúc này mỗi cây kim trong tổng cộng chín cây đều chỉ vào chữ nguy hiểm chết người.
“Dạo này nó cứ chỉ như vậy,” bà Weasley nói bằng một giọng tự nhiên không được thuyết phục lắm, “từ hồi Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy trở lại công khai. Bác cho là bây giờ ai cũng lâm vào cảnh nguy hiểm chết người… bác không nghĩ chỉ riêng gia đình mình… nhưng bác không biết ai khác nữa có cái đồng hồ giống như cái này, nên không thể kiểm tra được. Ô!”
Kêu lên một tiếng đột ngột, bà Weasley chỉ vào mặt đồng hồ. Cây kim ông Weasley đã chệch snag chữ đang đi lại.
“Ảnh sắp về nhà!”
Vừa đúng, chỉ một tí sau là có tiếng gõ cửa. Bà Weasley bật dậy vội vàng chạy ra cửa; một tay đặt lên núm cửa và áp sát mặt vào lớp gỗ, bà gọi khẽ:
“Arthur, anh đó hả?”
“Ừ,” giọng mệt mỏi của ông Arthur vang lên. “Nhưng nếu anh là một Tttt anh cũng nói vậy, cưng à. Hãy hỏi một câu nào đi!”
“Ôi, thiệt tình…”
“Molly!”
“Được rồi, được rồi… Tham vọng tha thiết nhất của anh là gì?”
“Tìm ra cách thức làm sao máy bay giữ được trên trời.”
Bà Weasley gật đầu và vặn núm cửa, nhưng rõ ràng là ông Weasley đang nắm chặt nó ở phía bên kia cửa, bởi vì cánh cửa vẫn đóng vững vàng.
“Molly! Anh phải hỏi em câu hỏi của em trước!”
“Anh Arthur, thiệt tình, chuyện này chỉ là trò ngốc…”
“Em muốn anh gọi em là gì khi chỉ có hai đứa mình với nhau?”
Thậm chí trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn lồng Harry cũng có thể thấy bà Weasley ngượng đỏ cả mặt; chính nó cũng bỗng nhiên cảm thấy ấm quanh tai và cổ, và nó hấp tấp húp súp sồn sột, khua muỗng trong tô thiệt to.
“Molly lắc lư,” một bà Weasley thẹn thùa thì thầm vào cái khe của kẹt cửa.
“Đúng,” ông Weasley nói. “Bây giờ thì em có thể để anh vô nhà.”
Bà Weasley mở cửa để hiện ra ông chồng của mình, một phù thủy gầy, hói, tóc đỏ hoe, đeo một cặp kính gọng sừng và mặc một cái áo choàng lữ hành dài và bụi bặm.
“Em vẫn không hiểu tại sao chúng ta cứ phải thông qua thủ tục đó mỗi lần anh trở về nhà,” bà Weasley nói, mặt bà vẫn còn hồng hồng khi giúp chồng cởi áo choàng. “Ý em nói là một Tttt vẫn có thể ép anh phun ra câu trả lời trước khi hắn giả dạng anh được mà.”
“Anh biết, em à, nhưng đó là thủ tục của Bộ, và anh phải làm gương. Mùi gì thơm quá… súp hành hả?” Ông Weasley khấp khởi hy vọng quay về phía cái bàn ăn và kêu lên, “Harry! Bọn bác cứ tưởng tới sáng mới được gặp con!”
Hai bác cháu bắt tay nhau, và ông Weasley ngồi phịch xuống một cái ghế bên cạnh Harry trong khi bà Weasley đặt một tô súp trước mặt ông.
“Cám ơn em, Molly. Thiệt là một đêm vất vả. Có một thằng điên  nào đó bắt đầu tung ra bán Mề-đay Biến-dạng. Chỉ cần đeo nó quanh cổ là mình có thể biến đổi ngoại hình theo ý muốn. Một trăm ngàn kiểu ngụy trang, giá chỉ có mười Galleon!”
“Mà thực ra sẽ có chuyện gì xảy ra nếu đeo nó vô?”
“Hầu hết trường hợp thì người ta chỉ biến đổi sang một màu cam hơi dị, nhưng có hai người đã nổi mụn cóc giống gai tua bạch tuộc khắp mình mẩy. Làm như thể bệnh viện Thánh Mungo còn thiếu việc để làm ấy!”
“Nghe giống như mấy cái thứ mà thằng Fred với thằng George thấy vui ấy,” bà Weasley ngập ngừng nói. “Anh có chắc là…”
“Dĩ nhiên anh chắc,” ông Weasley nói. “Mấy thằng nhóc sẽ không làm mấy thứ như thế, nhất là khi ai nấy đang khao khát tìm sự bảo vệ.”
“Vậy đó là lý do anh về trễ à, mấy cái Mề-đay Biến-dạng ấy?”
“Không, bọn anh đánh hơi ra một Bùa Phản thùng bậy bạ dưới chỗ Con voi và Lâu đài, nhưng hên là khi bọn anh tới nơi thì Đội Thi hành Luật Pháp thuật đã giải quyết xong vấn đề rồi…”
Harry ráng nhịn một cái ngáp dài sau bàn tay che miệng.
“Đi ngủ,” một bà Weasley không thể bị qua mắt nói ngay lập tức. “Bác đã dọn phòng của Fred và George cho con, nó sẽ là phòng riêng của con.”
“Ủa, hai anh đâu ạ?”
“Ôi, tụi nó ở dưới Hẻm Xéo, ngủ trong một căn phòng nhỏ ngay bên trên cái tiệm giỡn của tụi nó tại vì tụi nó bận lắm,” bà Weasley nói. “Bác phải nói là ban đầu bác không tán thành lắm, nhưng rồi tụi nó có vẻ cũng có một chút nhạy bén trong kinh doanh. Thôi, đi ngủ đi con, hòm xiểng của con ở trên phòng rồi.”
“Chúc bác ngủ ngon, bác Weasley,” Harry nói, đẩy lui cái ghế. Con Crookshanks nhảy xuống khỏi đùi nó và lỉnh ra khỏi phòng.
“Ngủ ngon, Harry,” ông Weasley nói.
Khi rời khỏi nàh bếp, Harry thấy bà Weasley liếc vào cái đồng hồ ngồi trong cái giỏ đồ giặt. Tất cả kim đồng hồ lại một lần nữa cùng chỉ vào chữ nguy hiểm chết người.
Phòng ngủ của Fred và George ở trên tầng thứ hai. Bà Weasley chĩa cây đũa phép lên một ngọn đèn đặt trên cái bàn cạnh giường ngủ, cái đèn bật sáng lên ngay tức thì, tràn ngập căn phòng một thứ ánh sáng vàng óng dễ chịu. Mặc dù một bình hoa to tướng đã được đặt trên bàn giấy trước một cái cửa sổ nhỏ, hương hoa vẫn không ngụy trang được một mùi hôi vướng vất trong phòng mà Harry nghi là mùi thuốc súng. Một phần khá lớn mặt bằng căn phòng được dành chỗ cho một số lượng khổng lồ những cái hộp giấy cạc tông dán kín và không ghi dấu hiệu gì hết. Nằm giữa đống hộp đó là cái rương của Harry. Căn phòng trông có vẻ như đã được tạm thời làm kho chứa.
Con Hedwig rúc lên mừng rỡ chào Harry từ chỗ nó đậu trên nóc tủ quần áo, rồi bay qua cửa sổ; Harry biết là nó đã chờ gặp lại Harry rồi mới đi săn mồi. Harry chúc bà Weasley ngủ ngon, rồi mặc quần áo ngủ vào, và trèo lên một cái giường. Có cái gì đó cưng cứng trong chiếc gối nó nằm. Nó mò mẫm bên trong gối và lôi ra được một cục kẹo tím-và-cam, mà nó nhận ra là kẹo ói. Tự mỉm cười một mình, Harry trở mình và ngủ ngay tức thì.
Mấy giây sau, (hay là Harry nghĩ như vậy), nó bị đánh thức bởi một thứ nghe như tiếng nổ của súng thần công khi cánh cửa mở bung ra. Ngồi bật dậy, nó nghe soàn soạt tiếng tấm màn bị kéo ra: ánh nắng chói chang dường như chọc mạnh vô hai mắt nó. Giơ một tay che mắt, Harry dùng tay kia mò mẫm tìm đôi mắt kính của nó một cách không mấy hy vọng.
“Cứi gì vựi?”
“Tụi này không dè bồ đã ở đây rồi!” Một giọng nói to và hào hứng vang lên, và Harry nhận được một cú đấm thình lình ngay trên đỉnh đầu.
“Ron, đừng đánh trò ấy!” Một giọng con gái đầy vẻ quở trách.
Bàn tay của Harry đã tìm được cặp kính, nó bèn đeo ngay vào, tuy nhiên ánh snagiáo sư vẫn chói lọi khiến nó đằng nào cũng chẳng thấy gì. Một cái bóng to thù lù và dài sọc đung đưa ngay trước mặt nó, nó chớp chớp mắt và Ron Weasley hiện rõ ra, đang nhe răng cười với nó.
“Có sao không?”
“Chưa bao giờ đã hơn vầy,” Harry nói, vừa xoa đỉnh đầu, vừa thụp trở xuống đống gối. “Còn bồ?”
“Không đến nỗi nào,” Ron đáp, kéo một cái thùng các tông tới gần và ngồi lên. “Bồ đến hồi nào? Má mới nói cho tụi này biết tức thì!”
“Khoảng một giờ sáng nay.”
“Mấy người Muggle ra sao? Họ đối xử với bồ OK không?”
0
“Vẫn như mọi khi,” Harry nói, trong khi Hermione ngồi ghé lên mép giường của nó. “Họ chẳng nói gì nhiều với mình, nhưng mình lại thích vậy hơn. Còn bồ thì sao, Hermione?”
“Ôi mình vẫn khỏe,” Hermione nói. Cô nàng chăm chú ngắm Harry như thể thằng này đang khó ở trong mình vì cái gì đó.
Harry nghĩ là nó biết đằng sau điều này là cái gì, và bởi vì nó chẳng có chút lòng dạ nào mà chuyện trò về cái chết của chú Sirius hay bất cứ một đề tài khốn khổ nào khác vào lúc này, nó nói:
“Mấy giờ rồi ta? Mình lỡ bữa điểm tâm rồi sao?”
“Đừng lo chuyện đó, má đang bưng lên cho bồ nguyên một khay, má cho là bồ bị suy dinh dưỡng,” Ron nói, hai mắt trợn dọc. “Vậy, có chuyện gì xảy ra hả?”
“Chẳng có gì nhiều. Thì mình lâu nay vẫn kẹt ở nhà dì dượng mình thôi, đúng chưa nào?”
“Thôi đi bồ!” Ron nói. “Bồ đi suốt với cụ Dumbledore mà!”
“Đâu có ly kỳ vậy! Cụ chỉ muốn mình giúp cụ thuyết phục một ông giáo già đừng nghỉ hưu nữa. Tên ổng là Horace Slughorn.”
“Ôi, tụi này cứ tưởng...” Ron nói, tỏ ra thất vọng. Hermione bèn nhá một tia mắt răn đe về phía Ron, và Ron đổi hướng một cái rẹt, “...tưởng tượng ra chuyện gì đại loại vậy.”
“Vậy hả?” Harry tức cười.
“Phải... phải rồi, bây giờ mụ Umbridge đã ra đi, thì rõ ràng chúng ta cần một giáo viên Phòng chống nghệ thuật hắc ám mới, đúng không? Vậy, ơ, ổng như thế nào?”
“Ổng trông hơi giống một con hải mã, và trước đây từng là giáo viên Chủ nhiệm Nhà Slytherin,” Harry nói. “Chuyện gì vậy Hermione?”
Hermione đang chăm chăm ngắm Harry như thể chờ đón những triệu chứng lạ có thể bộc lộ bất thình lình. Cô nàng vội vàng điều chỉnh lại nét mặt bằng một nụ cười chẳng thuyết phục lúc nào.
“Không, dĩ nhiên là không có gì! Vậy, ơ, Thầy Slughorn coi bộ có là một thầy giáo tốt không?”
“Ai mà biết,” Harry nói. “Nhưng chắc không thể tệ hơn mụ Umbridge được, đúng không?”
“Em biết có người còn tệ hơn mụ Umbridge,” một giọng nói vang lên từ phía cửa. Cô em gái của Ron lững thững đi vô phòng, vẻ mặt cáu kỉnh.
“Chào anh Harry.”
“Em mắc chứng gì vậy?” Ron hỏi.
“Bả chứ chứng gì!” Ginny nói rồi quăng mình ngồi xuống giường Harry một cái phịch. “Bả làm em phát điên.”
Hermione tỏ ra thông cảm:
“Bả lại làm cái gì nữa vậy?”
“Cái kiểu bả nói chuyện với em ấy – chị mà nghe thì tưởng em mới lên ba!”
“Chị biết,” Hermione hạ thấp giọng. “Bả quá tự phụ.”
Harry hết sức kinh ngạc khi nghe Hermione nói về bà Weasley như thế và không có gì đáng trách khi Ron giận dữ nói:
“Hai người không thể bỏ bả qua một bên chừng năm giây hay sao?”
Ginny cự lại:
“Ờ phải mà, bênh bả đi. Tụi này biết thừa là anh chưa thấy ớn bả mà.”
Lời chỉ trích này nếu dành cho má Ron thì dường như hơi nặng. Nên Harry bắt đầu cảm thấy dường như có cái gì đó mình chưa hiểu, nó hỏi:
“Mấy bồ đang nói về ai…?”
Nhưng câu hỏi chưa kịp hỏi xong thì đã được trả lời. Cánh cửa phòng ngủ lại mở rộng một lần nữa, và Harry theo phản xạ tự nhiên kéo chăn trải giường lên tới cằm mạnh đến nỗi cả Hermione và Ginny đều bị tuột xuống sàn.
Một phụ nữ trẻ đang đứng ngay ngưỡng cửa, một phụ nữ mà vẻ đẹp hớp hồn khiến cho căn phòng dường như thiếu không khí một cách lạ lùng. Nàng cao và yểu điệu với mái tóc dài màu vàng và dường như tỏa ra một vầng ánh sáng bạc lung linh. Để hoàn chỉnh hình ảnh hoàn hảo này, nàng bưng đến một cái khay chất đầy đồ điểm tâm.
“Arry. Cũn khá lâu mới gặp lại há?” Nàng nói bằng giọng cổ họng hơi khàn khàn.
Khi nàng lướt ra khỏi ngưỡng cửa đi về phía Harry, bà Weasley hiện ra, xàng xê theo sau bước chân nàng, trông đến khốn khổ.
“Không cần bưng khay lên đâu, tôi sắp tự xuống nhà bếp ăn mà.”
“Không có chi,” FLEUR DELACOUR nói, vừa đặt cái mâm lên đầu gối Harry rồi xà xuống hôn lên cả hai má nó. Harry cảm thấy chỗ mà môi cô nàng chạm tới nóng bừng lên. “Tôi vữn mong gặp lại cậu ấy. Cậu còn nhớ em gái của tôi không Gabrielle ấy? Em nó cứ nhắc mãi anh Arry Potter. Nó sẽ rớt mừng được gặp lại cậu đó.”
Harry rầu rĩ thốt lên:
“Ối… bạn ấy cũng ở đây à?”
“Không… không, chú ngốc ạ,” Fleur bật ra một tiếng cười ngân nga. “Ý tôi nói là vào mùa hè tới, khi tụi này… Nhưn mà cậu biết chưa?”
Đôi mắt to màu xanh lơ của cô nàng mở lớn nhìn bà Weasley với vẻ hờn trách, bà Weasley bèn nói:
“Chúng tôi chưa có đủ thì giờ để quây quần nói chuyện với Harry.”
Fleur bèn quay lại nhìn Harry, hất hất mái tóc ánh bạc khiến nó quất ngang mặt bà Weasley.
“Anh Bill và tôi sắp kết hôn!”
“Ồ,” Harry vô tư kêu lên. Nó không thể không nhận thấy tất cả mọi người, từ bà Weasley đến Ginny và Hermione đều tránh nhìn vào mắt nhau như thế nào.
“Chà. Ơ... Chúc mừng!”
Nàng lại sà xuống Harry và hôn nó.
“Lúc này anh Bill rứt bận, làm việc vất vã, và tôi chĩ làm việc bán thời gian ở Gringotts đễ luyện tiếng Anh, cho nên anh Bill đưa tôi về đơi đễ hiễu gia đình anh ấy rõ hơn. Tôi đã rất vui lúc nghe tin cậu sắp đến đơi... Ỡ đơi chẵng có gì nhiều đễ làm cã, trừ khi cậu thích nấu nướng và gà qué. Thôi... dùng bữa điễm tâm cũa cậu đi, Arry!”
Nói xong những lời này, nàng duyên dáng quay đi và dường như lướt nhẹ ra khỏi phòng, khẽ khàng đóng lại cánh cửa sau lưng mình.
Bà Weasley phát ra một âm thanh nghe như:
“Chà.”
“Má ghét bả,” Ginny khẽ nói.
“Má không ghét nó!” Bà Weasley thì thầm vẻ chịu đựng. “Má chỉ nghĩ là hai đứa nó hơi vội vàng đính ước, thế thôi.”
“Họ biết nhau cả năm trời rồi,” Ron nói, trông nó có vẻ choáng váng và vẫn còn đang nhìn đăm đăm cánh cửa đã đóng lại.
“Ối, một năm thì đâu có gì là lâu. Dĩ nhiên là má biết tại sao lại xảy ra như vậy. Chỉ tại tình hình bất an này với việc trở lại của Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy, mọi người cứ nghĩ có thể chết ngay vào ngày mai, cho nên họ hấp tấp trong đủ loại quyết định mà thường thì vẫn phải dành cho nhiều thời gian hơn. Lần trước khi hắn đang hùng mạnh cũng tương tự như vậy, thiên hạ lấy nhau tán loạn, cánh tả cũng lấy, cánh hữu cũng lấy, trung lập cũng lấy...”
“Kể cả ba và má,” Ginny ranh mãnh nói.
“Ừ thì, ba tụi mày và má được tạo ra là để cho nhau thì chờ đợi mà làm gì?” bà Weasley nói. “Trong khi đó, Bill và Fleur... hừm... hai đứa nó thì có điểm nào giống nhau hả? Bill là một loại người siêng năng thực tế, trong khi con đó là...”
“Một con bò cái,” Ginny gật đầu nói. “Nhưng anh Bill cũng chẳng được thực tế cho lắm. Ảnh là một Phá-nguyền-sư, đúng không, ảnh hơi bị khoái phiêu lưu, khoái cái đẹp huyền ảo... Con đoán đó là nguyên nhân ảnh mẹ con mẹ Nhớt.”
“Đừng có gọi nó như vậy, Ginny,” bà Weasley rầy ngay, trong khi Hermione và Harry phá ra cười. “Thôi, má đi lo công chuyện thì hơn... Harry, con ăn trứng đi kẻo nguội.”
Bà Weasley ra khỏi phòng, vẻ hốc hác vì lo lắng. Ron trông vẫn còn có vẻ lừ đừ; nó thử lúc lắc cái đầu như một con chó đang rũ nước khỏi vành tai.
Harry hỏi:
“Sống chung một nhà mà các bạn không quen được chị ấy sao?”
“Ôi, riết rồi quen thôi,” Ron nói. “Nhưng nếu như bà ấy cứ đột nhiên nổi khùng với mình, giống như kỳ đó...”
“Thiệt là thống thiết,” Hermione tức tối nói, rảo bước đi thật xa khỏi Ron, đến tận bức tường rồi quay lại khoanh tay nhìn Ron. Ginny hỏi Ron một cách ngờ vực:
“Anh đâu có thực lòng muốn bả ở chung mãi mãi hả?”
Khi Ron chỉ nhún vai đáp lại, Ginny nói:
“Chà, má sắp hành động để ngăn chặn vụ này, em dám cá bất cứ thứ gì luôn.”
“Bác gái sẽ thu xếp thế nào?” Harry hỏi.
“Má cứ cố mời cô Tonks đến ăn tối. Em nghĩ má đang hy vọng anh Bill sẽ phải lòng cô Tonks thay vì bà Nhớt. Em hy vọng ảnh sẽ thích cô Tonks, em thích cô Tonks trong gia đình mình hơn.”
“Ừ, như vậy hay à,” Ron chế nhạo. “Nghe đây nhé. Không thằng nào đầu óc sáng suốt mà lại phải lòng cô Tonks trong khi có Fleur quanh quẩn bên cạnh. Ý anh nói là cô Tonks trông cũng được khi cổ không làm những chuyện ngốc nghếch với đầu tóc và cái mũi của ấy, nhưng...”
“Cô ấy tỉ lần đẹp hơn con mẹ Nhớt,” Ginny nói.
Và Hermione từ góc phòng bổ sung.
“Và cô Tonks thông minh hơn, cô ấy là một Thần Sáng!”
“Fleur cũng đâu có ngu,” Harry nói. “Chị ấy đủ giỏi để vô chung kết cuộc Thi đấu Tam Pháp thuật mà.”
Hermione nói giọng chua chát:
“Thì bồ cũng đâu có ngu.”
Ginny hỏi giọng khinh miệt:
“Em đoán là anh khoái cái kiểu Nhớt gọi anh ‘Arry à’ lắm há?”
“Đâu có,” Harry nghĩ phải chi nãy giờ mình  đừng nói gì hết. “Anh chỉ muốn nói… Nhớt, tức là Fleur ấy…”
Ginny nói:
“Em thích có cô Tonks  trong gia đình mình hơn. Ít ra cô ấy là một người vui nhộn.”
“Dạo gần đây cô ấy chẳng còn là một người vui nhộn nữa.” Ron nói. “Mỗi lần anh gặp cô ấy, trông cô càng giống con ma khóc nhè Myrtle.”
“Không công bằng!” Hermione chen ngang nói nhanh. “Cô Tonks vẫn chưa hồi phục lại sau những gì đã xảy ra… Mấy bồ biết mà… Ý mình nói, chú ấy là bà con của cô ấy.”
Trái tim Harry chùng xuống. Họ lại nói tới chú Sirius. Nó cầm lên cây nĩa và bắt đầu xúc món trứng chiên vô miệng, hy vọng né tránh được những lời rủ rê tham gia vào phần này của cuộc chuyện trò.
“Cô Tonks và chú Sirius hồi ấy gần như không biết nhau,” Ron nói. “Chú Sirius bị giam trong ngục Azkaban một thời gian bằng nửa cuộc đời của cô Tonks, và trước đó gia đình họ chưa hề gặp gỡ nhau.”
“Đó không phải là nguyên nhân chính,” Hermione nói. “Cô Tonks nghĩ chú Sirius chết vì lỗi của cô ấy.”
“Làm sao mà cô ấy lại kết luận như vậy?” Harry buột miệng hỏi, bất chấp ý đồ của mình.
“Thì vầy, cô ấy đang chiến đấu với mụ Bellatrix Lestrange, đúng không? Mình nghĩ cô ấy cảm thấy là nếu cô ấy dứt điểm được mụ Bellatrix, thì mụ ta đâu có thể giết chú Sirius.”
“Tầm bậy!” Ron nói.
“Đó là mặc cảm tội lỗi của người sống sót.” Hermione nói. “Mình biết thầy Lupin đã cố gắng giải tỏa cho cô ấy, nhưng cô ấy vẫn cứ sa sút tinh thần. Cô ấy đang thực sự gặp khó khăn với kỹ năng biến hình của cô ấy.”
“Kỹ năng gì...?”
“Cô ấy không thể thay đổi hình dạng như cô ấy thường làm trước đây nữa,” Hermione giải thích. “Mình nghĩ sức mạnh của cô ấy bị chấn thương, hay bị sao sao đó.”
“Mình không hề biết là chuyện đó có thể xảy ra,” Harry nói.
“Mình cũng không dè,” Hermione nói. “Nhưng mình nghĩ nếu người ta thực sự suy nhược tinh thần...”
Cánh cửa lại mở ra và bà Weasley thò đầu vô. Bà thì thầm:
“Ginny, xuống bếp phụ má nấu bữa trưa.”
“Con đang nói chuyện với mọi người mà!” Ginny nói, vô cùng tức tối.
“Xuống ngay!” bà Weasley nói, và thụt đầu ra.
“Má chỉ muốn em có mặt để khỏi phải ở một mình với mụ Nhớt,” Ginny cấm cẳn. Nó hất mái tóc dài ra sau trong một điệu bộ nhái giống y như Fleur rồi nhảy tưng lên, băng ngang qua căn phòng với hai cánh tay giơ cao như một nữ diễn viên vũ ba lê.
“Mấy người cũng nên xuống nhà lẹ lên!” Cô bé nói khi đi ra khỏi phòng.
Harry bèn lợi dụng sự im lặng ngay lúc đó để ăn nhiều hơn. Hermione thì săm soi mấy cái hộp của Fred và George, mặc dù thỉnh thoảng cô nàng lại liếc chừng về phía Harry. Ron, lúc này đang ăn ké món bánh mì nướng của Harry, vẫn còn mơ màng chằm chằm nhìn ra cánh cửa.
“Cái gì đây?” cuối cùng, Hermione hỏi, vừa giơ lên một cái gì đó giống như một cái kính thiên văn nhỏ.
“Ai mà biết!” Ron nói. “Nhưng nếu anh Fred và George để nó lại đây, thì có lẽ nó chưa thật sẵn sàng để bày bán ở ngoài tiệm giỡn, thành ra hãy cẩn thận.”
“Má bồ nói cái tiệm làm ăn khấm khá lắm,” Harry nói. “Nói Fred và George thực sự có óc kinh doanh nhạy bén.”
“Ấy là nói bớt đi rồi,” Ron nói. “Họ đang kiếm ra bạc Galleon! Mình háo hức muốn coi cái tiệm đó lắm, tụi mình vẫn chưa đi Hẻm Xéo, bởi vì má nói ba phải đến đó để tăng cường an ninh, vì vậy ba bận việc ghê lắm, nhưng mà cái tiệm nghe có vẻ tuyệt vời.”
“Còn anh Percy ra sao?” Harry hỏi. Người con trai lớn thứ ba trong nhà Weasley đã rơi ra khỏi quỹ đạo của gia đình. “Anh ấy có nói chuyện lại với ba má bồ không?”
“Không,” Ron nói.
“Nhưng bây giờ đây anh ấy cũng đã biết là ba bồ đúng hết trong vụ Voldermort trở lại rồi...”
“Cụ Dumbledore nói người ta dex dàng tha thứ cho người khác vì đã sai hơn là đã đúng,” Hermione nói. “Mình nghe cụ nói vậy với má bồ, Ron à.”
“Nghe đúng kiểu mấy điều thông thái mà cụ Dumbledore vẫn hay nói,” Ron đáp.
“Thầy sắp dạy riêng mình niên học này,” Harry vui chuyện, nói.
Ron sặc miếng bánh mì nướng, còn Hermione thì há hốc miệng.
“Bồ kín tiếng dữ à!” Ron nói.
“Mình mới sực nhớ ra thôi,” Harry thành thật nói. “Thầy mới nói với mình hồi hôm trong cái chòi để chổi của nhà bồ.”
“Mèn ơi... Lớp riêng với cụ Dumbledore!” Ron nói, coi bộ hơi sững sờ. “Mình thắc mắc là không biết tại sao cụ...”
Giọng Ron nhỏ dần đi. Harry thấy Ron và Hermione trao đổi ánh mắt với nhau. Harry đặt dao và nĩa xuống, tim nó đập khá nhanh mặc dù chẳng làm gì ngoài việc ngồi im trên giường. Cụ Dumbledore nói nó phải làm việc đó... Tại sao không làm ngay bây giờ? Nó chăm chú ngó cái nĩa đang sáng óng lên trong ánh nắng tràn vào tận đùi nó, và nói:
“Mình không biết chính xác tại sao thầy lại mở lớp riêng cho mình, nhưng mình nghĩ chắc vì lời tiên tri.”
Cả Hermione lẫn Ron không nói gì. Harry có ấn tượng là cả hai đều sững sờ. Nó tiếp tục, vẫn nói với cái nĩa của mình.
“Mấy bồ biết đó, cái mà chúng đã cố gắng đánh cắp khỏi Bộ ấy.”
“Nhưng mà đâu có ai biết cái đó nói gì?” Hermione nói nhanh. “Nó bị bể rồi mà.”
0
“Mặc dù tờ Tiên tri nói...” Ron mới mở đầu câu thì Hermione đã “suỵt...”
“Tờ Tiên tri nói đúng,” Harry nói, với một cố gắng lớn ngước nhìn lên hai người bạn: Hermione dường như hoảng sợ và Ron hết sức kinh ngạc. “Trái cầu thủy tinh đã bể nát đó không phải là bản ghi duy nhất của lời tiên tri. Mình được nghe toàn bộ lời tiên tri trong văn phòng cụ Dumbledore, lời tiên tri là nhắm cho cụ, nên cụ có thể nói với mình. Từ những gì lời tiên tri nói...” Harry hít một hơi thở sâu, “thì có vẻ như mình là kẻ phải kết liễu Voldermort... ít nhất thì lời tiên tri nói một trong hai người không thể sống khi kẻ kia còn tồn tại.”
Ba người bạn đăm đăm nhìn nhau trong im lặng một hồi. Rồi một tiếng nổ đùng thiệt to và Hermione biến mất sau làn khói đen.
“Hermione!” Harry và Ron thét lên; cái khay đồ điểm tâm tuột xuống sàn bể loảng xoảng.
Hermione hiện trở ra trong làn khói, ho sù sụ, tay nắm chặt cái kính thiên văn và khoe một con mắt tím đen sáng rực.
“Mình véo nó và nó... nó thụi mình,” cô nàng vừa thở hổn hển vừa nói.
Và đúng y vậy, giờ thì tụi nó thấy một nắm tay nhỏ xíu trên một cái lò xo nhô ra từ đầu cái kính thiên văn.
“Đừng lo,” Ron nói, rõ ràng là đang cố gắng nín cười, “Má sẽ chỉnh lại cho, má rất giỏi chữa lành mấy thương tích lặt vặt...”
“Ôi, thôi, đừng bận tâm chuyện đó lúc này,” Hermione vội vàng nói. “Harry, ồ Harry...”
Cô  nàng lại ngồi xuống bên cạnh giường Harry.
“Lúc từ Bộ trở về, tụi này cũng thắc mắc... Rõ ràng, tụi này không muốn hỏi han gì bồ, nhưng từ những gì mà lão Lucius Malfoy nói về lời tiên tri, rằng nó nói về bồ và Voldermort ra sao, chà, tụi này cũng nghĩ dám là một chuyện gì đó giống như vậy... Ôi, Harry…” Cô nàng chăm chú nhìn Harry, rồi thì thầm, “Bồ có sợ không?”
“Bây giò thì không sợ bằng trước đây,” Harry nói. “Khi mới nghe nó lần đầu, mình... nhưng bây giờ, có vẻ như là mình đã luôn luôn biết rằng cuối cùng rồi mình sẽ phải đương đầu với hắn.”
“Khi tụi này nghe cụ Dumbledore đích thân đi đón bồ, tụi này cũng nghĩ có thể cụ sẽ nói với bồ điều gì đó hay chỉ cho bồ điều gì đó để đối phó với lời tiên tri,” Ron hăng hái nói. “vậy là coi như tụi này cũng đúng há? Cụ sẽ chẳng mở lớp dạy riêng cho bồ nếu cụ nghĩ bồ là đồ tiêu rồi; hơi đâu mà cụ phí sức... Cụ phải tin là bồ còn có thể làm được gì thì mới thế!”
“Đúng đó!” Hermione nói. “Mình thắc mắc là cụ sẽ dạy bồ môn gì, Harry nhỉ? Pháp thuật phòng vệ cao cấp chính hiệu, dám lắm... Hay phản nguyền hùng mạnh... Hay chống tà...”
Harry gần như không lắng nghe nữa. Một niềm ấm áp không liên quan gì tới ánh nawsg đang tỏa lan khắp người nó. Cơn tức thở ngột ngạt ở ngực nó dường như đã được khai thông. Nó biết Hermione và Ron bị sốc hơn là tụi nó biểu hiện ra ngoài, nhưng cái sự việc giản dị là tụi nó vẫn ở bên cạnh nó, nói với nó những lời an ủi hùng hồn, chứ không co lại tránh xa nó như thể nó bị bệnh truyền nhiễm hay gây nguy hiểm, đã là điều quí giá vô cùng mà nó không tài nào thổ lộ với hai đứa được.
“...và bùa lẩn tránh nói chung,” Hermione đúc kết lại. “Chà, ít ra thì bồ cũng được biết một lớp mà bồ sẽ học trong niên học tới, đó là trội hẳn một lớp so với Ron và mình. Mình đang thắc mắc không biết khi nào thì tụi mình có kết quả kỳ thi Pháp thuật thường đẳng?”
“Chắc không lâu nữa đâu. Gần cả tháng rồi còn gì!” Ron nói.
“Chờ đó,” Harry nói, khi sực nhớ lại một phần của cuộc nói chuyện tối hôm qua. “Mình nghĩ là cụ Dumbledore có nói kết quả kỳ thi của tụi mình sẽ được gởi bằng bưu cú tới trong ngày hôm nay.”
“Hôm nay?” Hermione rú lên. “Hôm nay? Nhưng tại sao bồ đã không… Ôi trời ơi… lẽ ra bồ nên nói…”
Cô nàng đứng phắt dậy.
“Mình phải đi coi coi có bưu cú nào đến chưa…”
Nhưng khi Harry xuống tới nhà dưới mười phút sau đó, ăn mặc chỉnh tề và bưng cái khay sạch trơn, nó nhận thấy Hermione ngồi bên cạnh cái bàn nhà bếp với vẻ kích động ghê gớm, trong khi bà Weasley đang cố làm giảm đi cái bề ngoài nửa như con gấu trúc của cô nàng.
“Nó chả thèm suy suyển đi chút nào,” bà Weasley đang nói một cách căng thẳng, bà đứng cao bên trên Hermione, tay cầm cây đũa phép và cuốn sách Trợ lý người chữa thương, mở ra chương ‘Bầm, Đứt, Trầy’. “Trước giờ cách này vẫn hiệu nghiệm mà, bác chẳng hiểu ra làm sao cả.”
“Sáng kiến cho một trò giỡn tức cười của anh Fred và George là bảo đảm sao cho vết bầm không phai được,” Ginny nói.
“Nhưng nó phải phai đi chứ!” Hermione kêu lên oai oái. “Chị không thể nào vác cái mặt như vầy đi quanh mãi được.”
“Không đâu, cháu yêu quí, chúng ta sẽ tìm ra thuốc giải độc, đừng lo,” bà Weasley dỗ dành.
“Anh Bill có kễ cho tôi nghe hai cậu Fred và George rớt vui tính,” Fleur nói, mỉm cười thanh thản.
“Ừ, vui đến nỗi tôi cười không thở được,” Hermione boppháp sư chát. Cô nàng đứng bật dậy, bắt đầu đi loanh quanh nhà bếp, văn vẹo mấy ngón tay vào nhau.
“Bác Weasley à, bác có chắc là sáng nay cú chưa tới không?”
“Đúng vậy con à, bác có để ý mà,” bà Weasley kiên nhẫn nói. “Nhưng mới chín giờ sáng mà, hãy còn khối thì giờ…”
“Con biết là con lộn tùm lum trong bài thi Cổ ngữ Runes,” Hermione luýnh quýnh lầm bầm. “Con chắc chắn là phạm ít nhất một lỗi dịch thuật nghiêm trọng. Và môn Phòng chống nghệ thuật hắc ám chẳng tốt chút nào cả. Con tưởng môn Biến hình khá tốt lúc ấy, nhưng coi lại…”
“Hermione à, bồ nín dùm cho, bồ không phải là người duy nhất hồi hộp,” Ron quát. “Và khi mà bồ đạt mười một điểm Xuất sắc Pháp thuật Thường đẳng…”
“Đừng, đừng, đừng!” Hermione nói, xua xua hai tay loạn xị lên. “Mình biết là mình hỏng hết mọi môn mà!”
“Nếu mình thi hỏng thì sao há?” Harry hỏi trỏng cả phòng, nhưng lại chính Hermione là người trả lời.
“Chúng ta sẽ thảo luận với giáo viên chủ nhiệm của mỗi Nhà về các lựa chọn, mình đã hỏi giáo sư McGonagall vào cuối học kỳ vừa rồi.”
Bao tử của Harry quặn thắt. Nó ước gì nó đã không ăn một bữa điểm tâm vĩ đại.
“Ỡ Beauxbaton,” Fleur nói một cách đắc chí, “chúng tôi có mợt cách làm khác. Tôi nghĩ cách đó tớt hơn. Chúng tôi mỡ kỳ thi vào năm thứ sáu, thay vì năm thứ năm, và lúc đó…”
Lời nói của Fleur chìm lỉm trong một tiếng rú. Hermione đang chỉ tay qua cửa sổ nhà bếp. Ba cái đốm đen đang hiện rõ dần trên nền trời, càng lúc càng to ra.
“Chúng nhất định là cú rồi!” Ron nói, giọng khàn khàn, nhảy phắt dậy, đến đứng bên cửa sổ với Hermione.
“Và có ba con cả thảy,” Harry nói, vội vàng đến đứng cạnh hai đứa kia.
“Mỗi đứa mình một con,” Hermione nói với giọng thì thào hãi hùng. “Ôi, không…, ôi… không… ôi, không…”
Cô nàng bấu chặt cứng cùi chỏ của cả Harry lẫn Ron.
Những con cú bay thẳng đến Hang Sóc, ba con cú hung xinh đẹp, khi bay thấp xuống trên con đường nhỏ dẫn lên ngôi nhà, thì thấy rõ mỗi con đều đang mang theo một cái phong bì to vuông vức.
“Ôi không,” Hermione ré lên.
Bà Weasley chen qua ba đứa và mở cửa sổ nhà bếp ra. Một, hai, ba, bọn cú bay vù qua cửa sổ và đáp xuống mặt bàn theo một hàng ngang thẳng tắp. Tất cả ba con cú đều giơ chân phải lên.
Harry di chuyển tới trước. Bức thư đề tên nó được buộc vào chân của con cú đứng ở giữa. Nó tháo bức thư ra bằng mấy ngón tay run rẩy. Bên trái nó, Ron đang cố gắng tháo gỡ cái kết quả của chính nó; và ở bên phải, bàn tay Hermione run đến nỗi cô nàng làm cho chính con cú đưa thư cũng phát run.
Không ai trong nhà bếp nói năng gì. Cuối cùng, Harry cũng xoay sở mở được cái phong bì. Nó xé toạc phong bì ra thiệt nhanh và mở tấm giấy da bên trong.
KẾT QUẢ PHÁP THUậT THƯỜNG ĐẲNG
            Điểm đậu:       Xuất sắc (XS)                          Điểm rớt:        Kém (K)
                                    Giỏi quá kỳ vọng (G)                                      Tồi dễ sợ (T)
Xoàng (X)                                                        Bết (B)
 
HARRY JAMES POTTER ĐÃ ĐẠT THÀNH TÍCH:
                                    Thiên văn học:                                                            X
                                    Chăm sóc sinh vật huyền bí:                           G
                                    Bùa ngải:                                                         G
                                    Phòng chống nghệ thuật hắc ám:                   XS
                                    Thần học:                                                        K
                                    Thảo dược học:                                               G
                                    Lịch sử Pháp thuật:                                        T
                                    Độc dược:                                                       G
                                    Biến hình:                                                        G
Harry đọc suốt tấm giấy da nhiều lần, hơi thở của nó trở nên hòa dịu hơn sau mỗi lần đọc. Vậy là ổn cả: nó vốn luôn biết là nó sẽ rớt môn Thần học, và nó đã chẳng hòng đậu nổi môn Lịch sử Pháp thuật, trong hoàn cảnh nó đã gục ngã nửa chừng trong kỳ thi. Nhưng nó đã đậu  tất cả các môn còn lại! Nó rà ngón tay dọc điểm số… Nó đã đậu môn Biến hình và môn Thảo dược học dễ dàng, nó thậm chí giỏi quá kỳ vọng ở môn Độc dược! Và khoái hơn cả là nó đạt được điểm “xuất sắc” môn Phòng chống nghệ thuật hắc ám.
Nó nhìn quanh. Hermione đang quay lưng lại và đầu cô nàng cúi xuống, nhưng Ron trông hớn hở ra mặt.
“Chỉ rớt môn Thần học và Lịch sử Pháp thuật, mà ai bận tâm tới mấy thứ đó chớ?” Ron vui vẻ nói với Harry. “Đây nè… đổi…”
Harry liếc xuống hạng của Ron: chẳng có cái “xuất sắc” nào cả…
“Biết bồ giỏi nhất môn Phòng chống nghệ thuật hắc ám mà,” Ron nói, vừa thoi một đấm vô vai Harry. “Tụi mình ngon lành, há?”
“Giỏi lắm!” bà Weasley nói một cách tự hào, xoa rối bù mái tóc của Ron. “Bảy chứng chỉ Pháp thuật Thường đẳng, vậy là nhiều hơn cả Fred và George cộng lại!”
“Hermione?” Ginny ngập ngừng gọi, vì Hermione vẫn không quay mặt lại. “Kết quả của chị ra sao?”
“Chị… không đến nỗi tệ,” Hermione nói nhỏ.
“Thôi mà, đừng giấu nữa!” Ron nói, rảo bước qua chỗ Hermione, hớt nhanh cái kết quả trong tay cô nàng. “Đúng… mười “xuất sắc” và một “giỏi quá kỳ vọng” môn Phòng chống nghệ thuật hắc ám,” nó ngó xuống Hermione, nửa khoái, nửa cáu.  “Bồ thất vọng thiệt ấy hả?”
Hermione lắc đầu, nhưng Harry bật cười.
“Này bây giờ tụi này là bậc Phù thủy Tận sức rồi nhé!” Ron toe toét cười. “Má ơi, còn xúc xích không?”
Harry nhìn lại kết quả của nó. Kết quả tốt như nó đã hy vọng. Nó chỉ hơi nhói đau khi cảm thấy tiếc là… Thế là kết thúc tham vọng trở thành Thần Sáng của nó. Nó đã không bảo đảm được điểm yêu cầu của môn Độc dược. Nó vẫn luôn biết là nó sẽ không đạt được, nhưng nó vẫn cảm thấy nặng nề trong gan ruột khi nhìn lại cái điểm G nhỏ màu đen.
Kể cũng quái dị, thực vậy, lại chính một Tttt cải trang là người đầu tiên nói với Harry rằng nó có thể trở thành một Thần Sáng giỏi, nhưng chẳng biết sao cái ý tưởng đó lại bám riết lấy nó, và nó chẳng hề mơ ước trở thành cái gì ngoài điều đó. Hơn nữa có vẻ như đó là một định mệnh chính xác của nó bởi vì nó đã nghe lời tiên tri cách đây mấy tuần lễ… một trong hai người không thể sống khi kẻ kia còn tồn tại... Vậy nếu như nó được gia nhập đội ngũ nhưng phù thủy được huấn luyện siêu đẳng để làm công việc tìm và diệt Voldermort, thì chẳng phải là nó sẽ được sống theo đúng lời tiên tri và tự giành cho mình một cơ hội tốt nhất để sống sót sao?
0
Chương 6
Khúc ngoặt của Draco
 
Harry vẫn ở lại trong khuôn khổ khu vườn của Hang Sóc suốt vài tuần lễ kế tiếp. Nó dành hầu hết ngày giờ để chơi bóng Quidditch hai-người-một-đội trong vườn cây ăn trái của gia đình Weasley (nó và Hermione đấu với Ron và Ginny; Hermione thì dở khiếp còn Ginny thì chơi giỏi, cho nên tụi nó cân sức cũng khá hợp lý), và buổi tối nó ăn tới ba phần bất cứ món gì bà  Weasley dọn ra trước mặt.
Đó đáng lẽ là kỳ nghỉ hè thanh bình, vui vẻ, nếu không có những câu chuyện về mất tích, tai nạn kỳ quái, thậm chí chết chóc bây giờ xuất hiện hầu như mỗi ngày trên tờ Tiên tri. Đôi khi Bill và ông Weasley đem tin tức về nhà trước khi báo kịp đăng. Bà Weasley đã không hài lòng chút nào khi lễ sinh nhật thứ mười sáu của Harry bị những cơn thủy triều rùng rợn mà thầy Remus Lupin mang tới bữa tiệc làm cho hỏng bét. Thầy Lupin dạo này trông hốc hác dữ tợn, mớ tóc nâu của thầy pha sọc dưa với mái tóc bạc, quần áo thì cáng te tua vá víu hơn bao giờ hết.
“Lại có thêm hai vụ giám ngục tấn công khác nữa,” thầy Lupin thông báo khi bà Weasley đưa cho thầy một miếng bánh sinh nhật to. “Và người ta tìm thấy xác Igor Karkaroff trong một căn chòi tuốt trên miền Bắc. Có Dấu hiệu Hắc ám ếm trên cái chòi – Hù, thành thật mà nói, tôi ngạc nhiên là hắn còn sống sót gần một năm trời sau khi ly khai bọn Tử thần thực tử; theo như tôi nhớ thì Regulus, em trai chú Sirius, chỉ xoay sở được có vài ngày.”
“Ừ, thôi,” bà Weasley cau mày. “Có lẽ chúng ta nên nói về cái gì đó khác…”
“Chú có nghe về Florean Fortescue không, chú Remus?” Bill hỏi, nãy giờ bị Fleur chuốc rượu vang tới tấp. “Cái ông điều hành…”
“Tiệm kem ở Hẻm Xéo hả?” Harry chen ngang với một cảm giác trống tuột khó chịu trong hốc bao tử. “Hồi trước bác ấy hay cho em cà rem miễn phí. Có chuyện gì với bác ấy ạ?”
“Bị trục đi, căn cứ vào hiện trường cái tiệm của ông ấy.”
“Tại sao?” Ron hỏi, trong khi bà Weasley quắc mắt ngó Bill.
“Ai mà biết. Chắc là ông ấy phải chọc giận chúng kiểu gì đó. Ông Florean ấy là một người tốt.”
“Nói tới Hẻm Xéo,” ông Weasley nói, “hình như ông Ollivander cũng biến mất rồi.”
“Ông làm đũa phép ấy hả?” Ginny hỏi, vẻ sửng sốt.
“Chính ông đó. Cửa hàng trống rỗng. Không hề có dấu vết của một cuộc chiến đấu. Không ai biết liệu ông ta tự nguyện ra đi hay là bị bắt cóc.”
“Nhưng những cây đũa phép… người ta làm sao mà có đũa phép bây giờ?”
“Họ sẽ đặt những người khác làm,” thầy Lupin nói. “Nhưng Ollivander là người giỏi nhất, và nếu đối phương có được ông ấy thì việc đó chẳng hay ho gì cho chúng ta cả.”
Ngày hôm sau bữa tiệc trà sinh nhật hơi u ám này, thư gọi nhập học và danh mục sách giáo khoa của lũ trẻ được gởi tới từ trường Hogwarts. Phần của Harry có kèm thêm một sự ngạc nhiên: nó được chọn làm Đội trưởng Quidditch.
“Như vầy bồ sẽ có địa vị ngang hàng với Huynh trưởng!” Hermione reo lên vui vẻ. “Từ nay bồ có thể sử dụng phòng tắm đặc biệt, và mọi thứ!”
“Chà mình nhớ khi anh Charlie đeo một trong những cái này,” Ron nói, hân hoan xem xét cái huy hiệu. “Harry à, chuyện này thiệt hay đó, bồ là đội trưởng của mình… nếu bồ cho mình trở lại, mình cho là, hà hà…”
“Hừm, má không nghĩ là chúng ta có thể trì hoãn lâu thêm nữa chuyến đi mua sắm ở Hẻm Xéo nữa đâu, vì con cần sắm những thứ này.” Bà Weasley thở dài, ngó xuống cái danh mục sách giáo khoa của Ron. “Chúng ta sẽ đi vào ngày thứ bảy nếu như ba con không bị kẹt công việc một lần nữa. Má sẽ không tới đó mà không có ba các con đi cùng đâu.”
“Má à, má có thực sự nghĩ là Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy sẽ núp trong một kệ sách trong tiệm Flourish và Blotts không?” Ron cười khì.
“Chứ ông Fortescue và ông Ollivander chỉ đi nghỉ hề thôi, hả?” Bà Weasley phản công lại tức thì. “Nếu con nghĩ an ninh là chuyện giỡn chơi thì con có thể ở nhà và má sẽ tự đi mua mọi thứ dùm con…”
“Không, con muốn đi, con muốn xem cái tiệm giỡn của anh Fred và George.” Ron vội vã nói.
“Vậy thì cậu chỉ cần thắt đai an toàn những ý tưởng của cậu lại, cậu trẻ à, trước khi tôi quyết định là cậu còn quá non nớt không thể cùng đi với chúng tôi!” Bà Weasley giận dữ nói, chụp lấy cái đồng hồ của bà, tất cả chín cây kim đồng hồ đều chỉ vào chữ nguy hiểm chết người  -“và hãy liệu hồn cảnh giác như thế luôn trong cả chuyện trở về nhập học trường Hogwarts!”
Ron trợn mắt quay sang ngó Harry chòng chọc, trong khi mẹ nó hai tay bưng cái giỏ đồ cần giặt và cái đồng hồ ngồi chông chênh trên đó, đùng đùng đi ra khỏi phòng.
“Ôi trời… Ở đây giỡn một chút cũng không được nữa rồi…”
Nhưng Ron cũng cẩn thận không nói năng báng bổ về Voldermort trong mấy ngày kế đó. Ngày thứ bảy ló dạng mà không nổ ra thêm cơn giận nào của bà Weasley, mặc dù bà có vẻ rất căng thẳng trong bữa điểm tâm. Anh Bill sẽ ở nhà với Fleur (khiến Hermione và Ginny mừng húm). Anh chuyền ngang qua mặt bàn một bịch đầy tiền cho Harry.
“Phần của em đâu?” Ron đòi hỏi ngay lập tức, hai mắt mở to.
“Đây là tiền của Harry, ngốc ạ.” Anh Bill nói. “Harry, anh đã rút tiền trong kho của em ra dùm em, bởi vì dạo này công chúng muốn rút vàng ra khỏi nhà băng phải mất tới năm tiếng đồng hồ. Các yêu tinh nhà băng đã thắt chặt kiểm soát an ninh. Cách đây hai ngày Arkie Philport bị gắn một cái bùa Khảo sát trung thực… Thôi, cứ tin anh đi, cách này dễ hơn.”
“Cám ơn anh Bill,” Harry nói, nhét bịch vàng vô túi.
“Anh ới luôn luôn chu đáo,” Fleur vừa vuốt mũi Bill vừa rù rì một cách trìu mến. Ginny diễn kịch câm ói vô cái chén bột điểm tâm của nó đằng sau lưng Fleur. Harry mắc nghẹn miếng bánh bột bắp, còn Ron thì đấm thùm thụp lên lưng Harry.
Hôm đó là một ngày đầy mây ảm đạm. Một trong mấy cái xe của Bộ Pháp thuật, cái mà Harry từng đi trước đây, đang chờ ở trước sân khi họ vừa kéo áo choàng trùm kín người vừa nhô ra khỏi nhà.
“Thiệt hay là ba có thể kiếm cho tụi mình những thứ này một lần nữa,” Ron nói giọng tán dương, vươn duỗi một cách phè phỡn trong lúc chiếc xe chạy êm ru ra khỏi Hang Sóc, Bill và Fleur vẫy tay chào họ từ cửa sổ nhà bếp. Ron, Harry, Hermione và Ginny cũng nhau ngồi thoải mái ở băng ghế sau rộng rãi.
“Đừng có nhiễm thói quen đó, chẳng qua là vì Harry thôi,” ông Weasley nói vọng ra sau. Ông và bà Weasley ngồi ở băng ghế trước với tài xế của Bộ; Ghế hành khách ở hàng đầu đã được kéo ra thành một thứ giống như ghế sofa hai chỗ. “Harry được đặt ở tình trạng bảo vệ cao nhất. Rồi chúng ta sẽ còn có thêm bổ sung an ninh ở Hẻm Xéo.”
Harry không nói gì; nó không mê gì lắm chuyện mua sắm mà cứ bị một tiểu đoàn Thần Sáng vây quanh. Nó đã nhét tấm Áo khoác tàng hình vào cái ba lô của mình và cảm thấy rằng, nếu cụ Dumbledore nghĩ làm như vậy là tốt, thì Bộ Pháp thuật ắt cũng cho là tốt, mặc dù khi nghĩ như vậy, nó không biết chắc là Bộ có biết về tấm Áo khoác tàng hình của nó không.
Một thoáng sau, nhanh đến nỗi đáng ngạc nhiên, người lái xe mở miệng, lần đầu tiên, trong khi vẫn lái cho xe chậm lại trên đường Charing Cross rồi đậu ngay bên ngoài quán Cái Vạc Lủng:
“Đấy, quí vị đã đến nơi. Tôi sẽ chờ quí vị, có biết quí vị sẽ đi bao lâu không?”
“Tôi chắc chừng hai tiếng đồng hồ,” ông Weasley nói. “A, hay quá, ông ta kìa!”
Harry bắt chước ông Weasley thò đầu ra ngoài cửa sổ xe, tim nó nhảy thót lên. Chẳng thấy Thần Sáng nào canh gác bên ngoài quán cả, nhưng thay vào đó là bóng dáng khổng lồ với bộ râu đen của bác Hagrid, người giữ sân của trường Hogwarts. Bác mặc một cái áo khoác dài bằng da hải ly, cười toe toét khi thấy mặt Harry và hiển nhiên là khiến đám bộ hành Muggle kinh ngạc.
“Harry!” Bác kêu oang oang, vừa lướt nhanh tới cuốn Harry vào trong một cái ôm siết thân thương đến gãy xương, khi nó mới bước ra khỏi chiếc xe. “Buckbeak – tức là Whiterwings ấy - ừ, con phải gặp nó, Harry à, nó vui hết cỡ khi được trở về sống ngoài trời...”
“Nó vui là mừng rồi,” Harry nói, nhăn răng cười trong khi xoa nắn mấy khớp xương sườn của mình. “Tụi con đâu dè ’an ninh’ lại là bác!”
“Bác biết, giống như hồi xưa, đúng hông? Biết hông, Bộ Pháp thuật tính đặc phái một đám Thần Sáng, nhưng cụ Dumbledore nói bác làm được tất,” bác Hagrid nói một cách tự hào, ngực bác phồng lên, và hai ngón tay cái ngéo vào mép túi áo. “Nào, chúng ta đi... Xin mời đi trước thưa ông Arthur và bà Molly...”
Quán Cái Vạc Lủng hoàn toàn trống vắng, lần đầu tiên, theo trí nhớ của Harry. Chỉ có ông Tom chủ quán, người khô xác lại không răng, là người còn sót lại của đám đông ngày xưa. Ông ta ngước nhìn lên tràn trề hy vọng khi đám Harry bước vào quán, nhưng trước khi ông ta kịp mở miệng, bác Hagrid đã trịnh trọng nói:
“Bữa nay chỉ đi ngang qua thôi, ông Tom à, chắc ông hiểu rồi, công tác Hogwarts, ông biết đấy.”
Ông Tom gật đầu buồn bã và quay ra lau mấy cái ly; Harry, Hermione, bác Hagrid, và đám Weasley đi băng qua quán để ra một cái sân nhỏ lạnh lẽo ở đằng sau quán, nơi để mấy thùng rác. Bác Hagrid giơ cây dù hồng của bác lên và gõ một viên gạch nào đó trên tường, bức tường nứt ra ngay tức thì, tạo thành một cái cổng vòm mở ra một con đường lát gạch quanh co. Họ bước qua cổng và nhìn quanh.
Hẻm Xéo đã thay đổi. Những cửa hàng lộng lẫy sặc sỡ màu sắc trưng bày sách thần chú, nguyên liệu Độc dược và chảo vạc đã bị khuất tầm nhìn sau những áp phích vĩ đại của Bộ Pháp thuật giăng áng hết những mặt tiền cửa hàng. Hầu hết những áp phích tím thẫm âm u này in phiên bản phóng lớn của những lời khuyên an ninh trong tờ bướm Bộ Pháp thuật đã gởi đi khắp nơi suốt mùa hè; nhưng cũng có mấy tấm áp phích khác trưng ra những bức ảnh đen trắng cử động được của những Tử thần thực tử  được biết là đang đào tẩu. Mụ Bellatrix Lestrange đang nhếch môi cười khinh khỉnh ở mặt tiền một tiệm thuốc gần đó nhất. Một số cửa hàng đã bị đóng ván niêm phong, bao gồm tiệm kem của ông Florean Fortescue. Nhưng mặt khác, một số quầy hàng trông nhếch nhác lại mọc rộ lên dọc theo con đường. Cái quầy gần đó nhất, được dựng lên ngay bên ngoài nhà sách Flourish và Blotts, phía dưới một tấm vải bạt sọc rằn lem luốc, có một tấm bảng hiệu bằng giấy bồi gài ở phía trước:
Bùa Hộ mạng: chống Nười sói, Giám ngục, và Âm binh hiệu quả
Một pháp sư nhỏ thó vẻ tiều tụy đang lúc lắc một mớ những biểu tượng bằng bạc xâu thành chuỗi để mời khách qua đường.
“Một cái cho cô gái nhỏ của bà nhé?” Lão chào mời bà Weasley khi họ đi ngang, mắt lão liếc đểu Ginny. “Để bảo vệ cái cổ nõn nà của cô bé nhé?”
“Nếu tôi mà đang thi hành nhiệm vụ...” Ông Weasley trừng mặt giận dữ ngó lão ban bùa hộ mệnh.
“Ừ, nhưng đừng có đi bắt ai lúc này, anh yêu ạ, chúng ta đang vội,” bà Weasley nói, lo lắng tham khảo một cái danh sách những thứ cần mua sắm. “Má nghĩ chúng ta nên đến tiệm Bà Malkin’s trước tiên, Hermione muốn mua vài tấm áo chùng mới, áo chùng cũ đi học của Ron cũng đã ngắn hổng mắt cá nó quá nhiều rồi, và con cũng cần áo mới nữa, Harry à, con cũng lớn nhanh quá... Naod, mọi người, đi nào...”
“Molly à, mọi người cũng kéo đến tiệm Bà Malkin’s thì chẳng hợp lý  chút nào. Tại sao không để ba đứa nó tới đó cùng với bác Hagrid, còn chúng ta thì đi đến tiệm Flourish và Blotts để mua sách cho tất cả tụi nó?”
“Em không biết,” bà Weasley lo lắng nói, rõ ràng là bị giằng co giữa ước muốn mua sắm cho thiệt nhanh với mong muốn bám nhau thành một đoàn. “Bác Hagrid, bác nghĩ sao?...”
“Đừng sơ, chị Molly, tụi nó đi với tôi được mà,” bác Hagrid nói một cách dịu dàng, quơ quơ một bàn tay lông lá to bằng cái nắp thung rác. Bà Weasley có vẻ không được thuyết phục hoàn toàn, nhưng cũng cho phép xẻ đàn, rồi gấp  rút đi về phía tiệm Flourish và Blotts  cùng chồng và Ginny, trong khi Harry, Ron, Hermione và bác Hagrid đi về phía tiệm Bà Malkin’s.
Harry để ý thấy nhiều người đi ngang qua tụi nó cũng có cái vẻ lo âu, phiền muộn như bà Weasley, và không ai dừng chân trò chuyện nữa; những người mua sắm đi cùng nhau thành từng nhóm và bám nhau chặt chẽ, lăm lăm đi lo cho xong công việc của mình. Dường như chẳng có ai đi bát phố mua sắm một mình.
“Tất cả cùng vô đó thì hơi chạt một tí,” bác Hagrid nói, dừng chân bên ngoài tiệm Bà Malkin’s và cúi xuống dòm qua cửa sổ. “Bác đứng canh bên ngoài, được hông?”
Thế là Harry, Hermione và Ron cùng nhau đi vô cái tiệm nhỏ. Thoạt nhìn thì thấy có vẻ như tiệm vắng khách, nhưng ngay sau khi cánh cửa tiệm mở ra rồi khép lại sau lưng, chúng đã nghe một giọng nói quen thuộc phát ra từ sau một dãy giá treo áo chùng viền màu xanh lục và xanh lơ.
“...không còn con nít nữa, trong trường hợp mẹ không nhận ra, mẹ à. Con hoàn toàn đủ khả năng tự đi mua sắm một mình!”
Có tiếng tạc lưỡi nghe như gà mái cục tác và một giọng nói mà Harry nhận ra là giọng của bà Malkin, chủ tiệm.
“Ấy, cậu thân mến, mẹ của cậu hoàn toàn đúng đấy, chẳng ai trong chúng ta lại tính chuyện đi lang thang một mình vào thời buổi này nữa, cái đấy thì không liên quan gì đến chuyện còn con nít...”
“Để ý tới chỗ bà đâm cái kim gài ấy, được không?”
Một thằng tuổi mới lớn có gương mặt nhọn trắng nhợt nhạt và mái tóc vàng ánh trắng hiện ra đằng sau giá treo áo, nó mặc một bộ áo chung thanh lịch màu xanh lục sậm lấp lánh kim gài quanh lai và đường viền tay áo. Nó rảo bước đến tấm gương soi và tự ngắm nghía mình; chỉ tích tắc sau là nó nhận thấy Harry, Hermione và Ron trong gương, sau lưng nó. Đôi mắt xám của nó híp lại.
“Nếu mẹ thắc mắc cái mùi gì thum thủm, mẹ à, ấy là vì một con Máu bùn vừa bước vô tiệm,” Draco Malfoy nói.
“Tôi cho là không cần thiết phải dùng ngôn ngữ như thế,” bà Malkin nói, vội vàng bước ra từ phía sau giá treo quần áo, tay cầm một cuộn thước dây và một cây đũa phép. “Và tôi cũng không muốn có đũa phép chĩa ra trong tiệm của tôi!” Bà hấp tấp nói thêm, khi liếc về phía cửa và thấy cả Harry lẫn Ron đang đứng đó rút đũa phép ra chĩa về phía Malfoy.
Hermione đưng hơi khuất đằng sau hai đứa này, khẽ nói:
“Đừng, ôi xin đừng... thực lòng, chẳng đáng...”
“Chà, coi bộ chúng mày dám xài Pháp thuật ở ngoài trường ha,” Malfoy khinh khỉnh nói. “Ai làm bầm mắt mày thế, Hermione? Tao muốn gởi hoa tặng kẻ đó.”
“Thôi đủ rồi,” bà Malkin nói giọng sắc đanh, vừa ngoái nhìn ra sau để tìm sự hỗ trợ. “Thưa bà, xin vui lòng...”
Bà Narcissa Malfoy thong thả bước ra từ đằng sau giá treo áo.
“Dẹp mấy thứ đó đi!” Bà ta lạnh lùng nói với Harry và Ron. “Nếu chúng mày tấn công con trai tao một lần nữa, tao sẽ cam đoan đó sẽ là hành động cuối cùng trong đời chúng mày.”
“Thiệt hả?” Harry tiến tới trước một bước và đăm đăm nhìn vào gương mặt kiêu căng phẳng lì tuy tái nhợt nhưng vẫn giống y gương mặt của bà chị. Bây giờ Harry đã cao bằng bà ta. “Sắp kêu thêm vài tên Tử thần thực tử chí cốt đến thanh toán chúng tôi chứ gì?”
Bà Malkin rú lên và ép chặt trái tim.
“Thực tình, cậu không nên cáo buộc... nói thế là nguy hiểm... làm ơn cất đũa phép đi!”
Nhưng Harry chẳng chịu hạ thấp cây đũa phép của nó. Narcissa Malfoy mỉm cười khó chịu.
“Tao nhận thấy việc là một học trò cưng của lão Dumbledore đã khiến cho mày có ý thức sai lầm về sự an toàn, Harry Potter à. Nhưng lão Dumbledore đâu có thể lúc nào cũng có mặt để bảo vệ mày.”
Harry ngó quanh cái tiệm vẻ chế giễu:
“Chà... nhìn quanh coi... cụ không có mặt ở đây lúc này! Thế tại sao còn chưa ra tay? Biết đâu họ có thể kiếm ra một buồng giam đôi trong nhà ngục Azkaban cho bà và ông chồng chiến bại của bà!”
Malfoy làm một cử động tức giận về phía Harry, nhưng vấp té phải vạt áo chùng dài quá khổ mà nó đang mặc. Ron bật cười to.
“Mày dám nói năng như vậy với mẹ tao hả, thằng Potter?” Malfoy  gầm gừ.
“Không hề gì Draco,” Narcissa nói, quặp mấy ngón tay trắng gầy của mình lên vai thằng con. “Mẹ chờ coi thằng Potter sẽ sum họp với thằng chú Sirius yêu dấu của nó trước khi mẹ tái hợp với ba Lucius.”
Harry giơ cây đũa phép của nó cao hơn.
“Harry, đừng!” Hermione rên rỉ, chụp lấy cánh tay nó và cố gắng kéo xuôi xuống bên hông. “Hãy suy nghĩ... Bồ còn phải... Bồ sẽ bị rắc rối...”
0
Bà Malkin run cầm cập tại chỗ mất một lúc, rồi dường như quyết định phải hành động như thể không có chuyện gì đang xảy ra, với hy vọng là sẽ không xảy ra chuyện gì. Bà cúi xuống về phía Malfoy, nó vẫn đang trừng mắt nhìn Harry.
“Tôi cho là ống tay áo trái có thể được vén lên thêm một chút xíu nữa thôi, cậu à, hãy để tôi...”
“Ui!” Malfoy rống lên, vả bàn tay bà Malkin bật ra. “Để mắt tới chỗ bà găm kim vô chứ, mụ! Mẹ... con nghĩ con không muốn bộ đồ này nữa...”
Nó kéo tấm áo chùng qua khỏi đầu và quăng trả xuống sàn ngay chân bà Malkin.
“Con đúng đấy, Draco,” Narcissa nói, kèm một cái liếc miệt thị về phía Hermione. “Bây giờ mẹ đã biết loại cặn bã nào mua sắm ở tiệm này... Chúng ta sẽ sắm được đồ tốt hơn ở tiệm Twilfit và Tatting’s.”
Và nói thế xong, cả hai mẹ con rảo bước ra khỏi tiệm, Malfoy cố tình ra sức tông thiệt mạnh vô Ron trên đường đi ra cửa.
“Chà, thiệt tình!” Bà Malkin nói, gom mớ áo chùng rớt dưới sàn và rà đầu cây đũa phép của bà khắp áo như một cái máy hút bụi để phụi hết bụi bặm.
Bà bị hoang mang suốt buổi thử áo cho Ron và Harry, định bán cho Hermione áo chùng pháp sư thay vì áo thụng phù thủy, và cuối cùng khi bà cúi chào tiễn tụi nó ra khỏi tiệm, sắc mặt bà sáng lên niềm vui được nhìn thấy cái lưng của tụi nó.
“Sắm đủ thứ rồi hả?” Bác Hagrid hớn hở hỏi khi thấy tụi nó xuất hiện bên cạnh.
“Kể như đủ,” Harry nói. “Bác có thấy thằng Malfoy không?”
“Có,” bác Hagrid nói, chẳng bận tâm. “Nhưng tụi nó chẳng dám gây chuyện giữa Hẻm Xéo đâu, Harry. Đừng lo tới tụi đó.”
Harry, Ron và Hermione nhìn nhau, nhưng trước khi chúng có thể làm cho bác Hagrid nhận ra quan niệm của bác là sai lầm, ông bà Weasley và Ginny đã xuất hiện, người nào cũng tay xách nách mang những gói sách nặng ịch.
“Mọi người ổn cả chứ?” Bà Weasley nói. “Mua áo chùng chưa? Vậy tốt, chúng ta có thể ghé qua tiệm thuốc Apothecary và Eeylopháp sư trên đường đến tiệm của Fred và George – Nào, đi sát vô nhau...”
Cả Harry và Ron đều không mua chút nguyên liệu nào ở tiệm thuốc, vì nghĩ rằng chúng chẳng còn học môn Độc dược nữa, nhưng ở chợ Cú Eeylopháp sư, cả hai mua mấy hộp hạt cú to để làm quà cho Hedwig và Pigwidgeon. Kế đến, với bà Weasley kiểm tra cái đồng hồ của bà, chừng mỗi một hai phút một lần, mọi người đi tới dọc con đường để tìm tiệm Phù thỉ Wỉ Wái của Weasley, một tiệm giỡn do Fred và George điều hành.
“Chúng ta thực tình chẳng còn nhiều thời gian,” bà Weasley nói, “cho nên chúng ta chỉ tham quan ngắn gọn rồi trở về xe. Chúng ta phải đi sát vào nhau, kia là số chín mươi hai... chín mươi tư...”
“Chu choa!” Ron nói, dừng bước trên đường đi.
Nổi bật lên đám cửa hàng bị bao bọc bởi đám áp phích chán phèo, cửa hàng của Fred và George đập vô mắt người ta cảnh tượng giống như trình diễn pháo hoa. Khách bộ hành vô tình đi ngang đều ngoái đầu nhìn cửa hàng, và một số người có vẻ bị choáng váng đã thực sự dừng bước, ngẩn ngơ. Cửa sổ bày hàng bên trái làm hoa mắt người ta bằng đủ loại sản phẩm cứ chỏi dậy, nổ ra, lóe sáng, nảy tưng tưng, và gào rú; Harry bắt đầu nhòe nước mắt khi nhìn cửa hàng này. Cửa sổ bày hàng bên phải bị che bởi một tấm áp phích khổng lồ, màu tím giống như những tấm áp phích của Bộ Pháp thuật, nhưng được làm nổi bật lên những chữ màu vàng chớp nhá sau:
Tại sao Quí vị lại lo lắng về
Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy?
Quí vị nên lo lắng về
AI-CŨNG-KHÔNG-Ị
Cái cảm giác táo bón đang kìm kẹp đất nước
Harry bắt đầu cười lớn. Nó nghe một giọng ca cẩm yếu ớt bên cạnh và nhìn thấy bà Weasley đứng chết lặng dưới tấm áp phích. Môi bà mấp máy không thành tiếng khi cố đọc “AI-CŨNG-KHÔNG-Ị”
“Tụi nó sẽ bị ám sát ngay trên giường ngủ!” Bà thì thào.
“Không đời nào họ bị!” Ron nói, cũng giống như Harry, nó đang cười. “Cái này thiệt là thông minh!”
Và nó cùng Harry dẫn đầu cả đám vô tiệm. Khách hàng đông chật cửa tiệm; Harry không thể nhích tới gần mấy cái kệ để hàng. Nó trố mắt nhìn chung quanh, ngước lên mấy cái hộp chất cao đến trần nhà: đây là những hộp Quà vặt Cúp cua mà hai anh em đã hoàn thiện trong niên học cuối dở dang của họ ở trường Hogwarts; Harry nhận thấy kẹo Nuga Máu cam rất được ưa chuộng, chỉ còn lại mỗi một hộp bị móp trên kệ. Có những cái thùng đựng đầy những cây đũa phép bịp, những cây rẻ nhất khi vung vẩy chỉ biến thành gà cao su hay một đôi quần đùi, cây mắc tiền nhất thì nện lên đầu lên cổ những người thiếu cảnh giác, và mấy hộp viết lông ngỗng  được bày bán thành ba loại: Tự-bơm-mực, Tự-kiểm-tra-chính-tả, và Trả-lời-thông-minh. Có một chỗ hở trong đám đông, Harry bèn chen vô tiến về phía quầy tính tiền, nơi có một đám nhóc mười tuối loi choi hí hửng đứng xem một người gỗ nhỏ xíu đang từ từ leo lên cầu thang đến một bộ giá treo cổ, cả hai đều đặt trong một cái hộp có hàng chữ: Người treo cổ xài nhiều lần - Ếm đi kẻo hắn đánh đu!
“Bùa Mơ mộng độc quyền sáng chế...”
Hermione đã xoay sở chen tới được một chỗ trưng bày lớn gần quầy tính tiền và đang đọc thông tin trên nắp một cái hộp có vẽ một bức tranh màu sắc chói lọi của một chàng trẻ tuổi đẹp trai và một cô gái đẹp mê hồn đang đứng trên boong của một chiếc tàu cướp biển.
“Chỉ một câu thần chú đơn giản và quí vị sẽ đi vào ba mươi phút mơ mộng cự kỳ thực, chất lượn tuyệt vời, dễ dàng gắn với một buổi học trung bình ở trường và hầu như khó lộ tẩy (tác dụng phụ bao gồm hồn phi phách tan và nhỏ dãi chút đỉnh), không bán cho người dưới mười sáu tuổi.”
“Bồ biết đấy,” Hermione ngước lên nhìn Harry, nói, “đó thực sự là một trò ảo thuật phi thường!”
“Vì thế, Hermione à,” một giọng nói vang lên đằng sau hai đứa, “em có thể được một cái miễn phí.”
Một anh chàng Fred toe toét cười đang đứng trước mặt tui nó, mặc một bộ áo chùng màu đỏ tươi đối chọi một cách lộng lẫy với mái tóc hung rực rỡ.
“Khỏe không, Harry?” Hai người bắt tay nhau. “Và con mắt em sao vậy Hermione?”
“Cái kính thiên văn thụi của anh,” cô nàng nói một cách thảm não.
“Ối, anh quên béng mất mấy cái đó,” Fred nói. “Đây...”
Fred lấy trong túi ra một cái bình đưa cho Hermione; cô nàng thận trọng vặn mở cái nắp để lộ ra một chất đặc sệt màu vàng.
“Chỉ cần chấm chấm nhẹ lên vết bầm, nó sẽ biến mất trong vòng một tiếng đồng hồ,” Fred nói. “Bọn anh đã phải tìm ra một loại thuốc tẩy bầm đứng đắn. Bọn anh đã thử nghiệm hầu hết sản phẩm lên chính mình.”
Hermione tỏ ra lo lắng. “Thế có an toàn không?”
“Dĩ nhiên là an toàn,” Fred nói, giọng cam đoan. “Lại đây, Harry, anh dẫn em đi tham quan một vòng.”
Harry để mặc Hermione chấm chấm thuốc tẩy bầm lên con mắt đen thùi, đi theo Fred về phía sau của cửa hàng, nơi nó thấy một quầy toàn những trò mánh bằng dây thừng và lá bài.
“Mánh ảo thuật của dân Muggle!” Fred vui vẻ nói, lật tẩy chúng ra, “dành cho những người hâm mô kiểu ba anh, em biết đấy, ổng khoái đồ tác tạo của dân Muggle lắm. Không kiếm lời lớn, nhưng bọn anh đang làm ăn khấm khá, là hàng cực mới đó... Ô, George kìa...”
Người anh sinh đôi của Fred bắt tay Harry thật chặt.
“Đang tham quan hả? Đi ra đằng sau đi, Harry, đó mới là nơi tụi này kiếm tiền thực sự - cứ bỏ túi bất cứ thứ gì đi, nhóc, rồi sẽ phải nộp vô nhiều hơn bạc Galleon! ” Fred cảnh báo một thằng nhóc đang vội vã rút tay khỏi một cái bình có nhãn Dấu hiệu Hắc ám Ăn được – Chúng sẽ làm cho bất kỳ ai cũng phát bệnh!
George đẩy vẹt một tấm màn bên cạnh những trò mánh của dân Muggle ra và Harry thấy một căn phòng vắng khách hơn, tối hơn. Bao bì của những sản phẩm sắp hàng trên kệ coi ít hung hăng khiêu khích hơn.
“Bọn anh vừa mới phát triển mặt hàng nghiêm túc hơn này,” Fred nói. “Chuyện này xảy ra mới thiệt là tức cười...”
“Em không thể nào tin nổi đâu, là có bao nhiêu người, kể cả những người làm việc ở Bộ Pháp thuật, không thể nào ếm nổi một lá Bùa chắn cho tử tế,” George nói. “Dĩ nhiên, Harry à, tại họ đâu có được em dạy cho đâu.”
“Đúng vậy... À, thế này, bọn anh nghĩ mấy cái Nón chắn là một trò vui, em biết đấy, đội nón vô rồi thách thằng bạn ếm xì bùa mình, rồi ngó cái bộ mặt nó bị bùa dội ngược lại. Vậy mà Bộ Pháp thuật mua năm trăm cái phát cho tất cả các cộng tác viên hỗ trợ của Bộ! Và bọn anh còn tiếp tục nhận đơn đặt hàng hàng loạt!”
“Thành ra bọn anh mở rộng mặt hàng ra Áo khoác chắn, Găng tay chắn...”
“...Nghĩa là, chúng chẳng được tích sự gì lắm trong việc chống lại lời Nguyền Không thể tha thứ, nhưng xài được với mấy lời rủa xả, tà ma từ loại nhảm đến trung bình...”
“Và rồi bọn anh nghĩ bọn anh nên nhảy vô toàn bộ lĩnh vực Phòng chống nghệ thuật hắc ám, bởi vì đó quả là một mỏ vàng,” George nói tiếp một cách say sưa nhiệt thành. “Cái này hay. Này nhé, Bột tối hù ăn liền, bọn anh nhập khẩu từ Peru. Rất tiện lợi nếu em muốn chuồn nhanh.”
“Và Pháo đánh lạc hướng của bọn này vừa mới chạy khỏi kệ, coi nè,” Fred nói, chỉ vào một số vật thể như cái còi ô tô màu đen coi rất quái dị, mấy vật này quả thật đang cố gắng lủi nhanh khỏi tầm mắt. “Em chỉ cần bí mật thả một viên, nó sẽ chạy biến đi và nổ một cái đùng đã lỗ tai ở ngoài tầm mắt, đánh lạc hướng dùm em nếu em cần chiến thuật nghi binh.”
“Tiện dụng thật,” Harry nói, rất ấn tượng.
“Đây,” George nói, bắt được hai viên và quăng chúng cho Harry.
Một phù thủy trẻ có mái tóc vàng ngắn thò đầu qua bức màn; Harry thấy cô ta cũng mặc áo chùng đỏ tươi của nhân viên cửa hàng.
“Thưa ông Weasley và ông Weasley, có một khách hàng ngoài kia đang tìm một cái vạc giỡn.”
Harry thấy hơi kỳ cụ khi Fred và George được gọi là “ông Weasley”. Nhưng hai anh chàng coi đó là nề nếp kinh doanh.
“Tốt đấy, Verity, tôi ra liền.” George nói ngay, “Harry, em cứ tự tiện muốn lấy gì thì lấy, được chứ? Không tính tiền.”
“Em không làm vậy được!” Harry nói; nó đã móc cái túi tiền ra để trả cho mấy viên Pháo đánh lạc hướng.
“Ở đây em không cần trả tiền,” Fred kiên quyết, phủi vàng của Harry đi.
“Nhưng…”
“Em đã cho bọn anh vay món tiền khởi nghiệp, bọn anh không bao giờ quên,” George nghiêm nghị nói. “Cứ lấy bất cứ thứ gì em thích, chỉ cần nhớ nói với người ta nơi mà em kiếm ra mấy món hàng, nếu họ hỏi.”
George lướt nhanh qua bức màn để đi tiếp khách, Fred dẫn Harry trở lại gian chính của cửa hàng để tìm Hermione và Ginny vẫn còn đang mải mê ngắm Bùa Mơ mộng độc quyền sáng chế.
“Quí cô nương đã thấy sản phẩm đặc biệt Phù thủy tuyệt vời của chúng tôi chưa?” Fred hỏi. “Xin mời quí cô nương…”
Gần cửa sổ là một dãy những sản phẩm hồng thắm sắp xếp ngay ngắn mà một đám con gái háo hức đang xúm xít chung quanh, khúc khích cười có vẻ hứng chí lắm. Cả Hermione và Ginny đều muốn lùi lại, trông có vẻ lo lắng.
“Đây thưa các cô,” Fred nói, “loại yêu được hay nhất mà các cô không thể tìm thấy ở bất cứ đâu.”
Ginny nhướn một chân mày lên ngờ vực.
“Có hiệu lực không?” Nó hỏi.
“Chắc chắn là có hiệu lực, cho tới tối da hai mươi bốn giờ một lần xài, tùy theo trọng lượng của chàng trai được nói tới…”
“…và tùy sức hấp dẫn của cô gái,” George nói, tái xuất hiện bất ngờ bên cạnh bọn họ. “Nhưng bọn anh sẽ không bán món này cho cô em gái của mình đâu,” nó nói thêm, trở nên nghiêm trang đột ngột. “Không thể, khi mà cô bé đã có chừng năm chàng trai cùng ngấp nghé, theo như bọn anh nghe đồn…”
“Dù các anh nghe gì đi nữa từ miệng Ron thì đó cũng chỉ là chuyện dóc tổ,” Ginny bình tĩnh nói, chồm tới trước để lấy một bình nhỏ màu hồng ra khỏi kệ. “Cái gì đây?”
“Thuốc Cam đoan tan mụn trong mười giây,” Fred nói. “Hiệu nghiệm thần sầu trên mọi thứ từ nhọt đinh đến mụn trứng cá, nhưng đừng có đổi đề tài. Em có đang hẹn hò với một chàng trai tên là Dean Thomas hay không đấy?”
“Có,” Ginny nói. “Và lần cuối cùng em ngó thì nó chắc chắn chỉ là một thằng, không phải năm thằng. Mấy cái kia là gì?”
Cô nàng chỉ vào một số những trái banh bằng bông tròn màu hồng và tím, tất cả lăn tròn chung quanh đáy của một cái chuồng và phát ra tiếng kêu lanh lảnh.
0
“Bông Thoa Lùn,” George nói. “Bòng bòn xốp tí hon, bọn anh không nhân giống chúng kịp tốc độ tiêu thụ. Thế anh chàng Micheal Corner thì sao?”
“Em vứt nó vô thùng rác rồi, nó là thằng tồi,” Ginny nói, thò một ngón tay qua song chắn của cái chuồng và ngắm mấy con Bông Thoa Lùn bu chung quanh. “Mấy con này thiệt dễ thương.”
“Ừ, chúng hơi nhõng nhẽo,” Fred thừa nhận. “Nhưng em thay bạn trai có hơi lẹ, đúng không?”
Ginny quay lại nhìn ông anh, hai bàn tay cô bé chống nạnh. Có một cái quăc mắt kiể Bà-Weasley trên mặt cô bé mà Harry ngạc nhiên thấy Fred chẳng chùn bước chút nào.
“Mắc mớ gì tới anh hả? Và tôi sẽ cám ơn anh, nếu đừng có bịa thêm chuyện về tôi với hai người này nữa,” cô bé giận dữ nói thêm với Ron, anh chàng này vừa mới hiện ra bên cạnh George, hai tay vác đầy hàng hóa.
“Hết thảy ba Galleon, chín Sickle, một Knut,” Fred kiểm tra mấy cái hộp trong tay Ron và nói. “Nhả ra.”
“Em là em của anh mà!”
“Và đó là đồ của bọn anh mà em đang xoáy. Ba Galleon, chín Sickle. Anh sẽ bớt cho một Knut.”
“Nhưng mà em đâu có ba Galleon, chín Sickle!”
“Thì tốt hơn em nên trả những thứ đó lại, và phiền em để lại đúng kệ giùm.”
Ron làm rớt mấy cái hộp, chửi um lên, và làm một cử chỉ thô lỗ bằng tay về phía Fred, rủi thay lại bị bà Weasley bắt quả tang, bà đã chọn thiệt đúng lúc để xuất hiện.
“Nếu má thấy con làm như vậy lần nữa, má sẽ trù cho ngón tay con dính vô nhau,” bà đanh giọng nói.
“Má, con lấy một con Bông Thoa Lùn được không?” Ginny nói ngay.
“Con gì?” Bà Weasley hỏi, giộng cảnh giác.
“Coi nè, tụi nó dễ thương ghê...”
            Bà Weasley đi tới bên cạnh để ngắm mấy con Bông Thoa Lùn, và Harry, Ron cùng Hermione được một lúc nhìn ra cửa sổ mà không bị cản trở. Draco Malfoy đang một mình vội vã băng qua đường. Khi nó đi ngang qua tiệm Phù thỉ Wỉ Wái của Weasley, nó liếc nhìn lại một cái. Chớp mắt sau đó nó đã đi ra khỏi tầm nhìn từ khuôn cửa sổ và tụi nhỏ không còn thấy nó nữa.
“Không biết mẹ nó đâu ta?” Harry cau mày, nói.
“Coi bộ bả để tuột mắt khỏi nó rồi,” Ron nói.
“Nhưng mà tại sao?” Hermione hỏi.
Harry không nói gì; nó đang suy nghĩ dữ dội. Bà Narcissa Malfoy sẽ không đời nào tự nguyện để cho cậu quí tử ra khỏi tầm mắt của mình; ắt hẳn là Malfoy đã phải cố gắng dữ lắm mới vùng ra được khỏi sự túm chặt của bà mẹ.
Vì quá biết và quá tởm Malfoy, Harry chắc chắn nguyên nhân không hẳn là vô tư.
Nó liếc nhìn quanh. Bà Weasley và Ginny đang cúi xuống xem mấy con Bông Thoa Lùn. Ông Weasley thì kiểm tra một cách vui sướng một bộ bài Muggle có đánh dấu. Cả Fred và George đều đang phục vụ khách hàng. Bên ngoài lớp cửa kính, bác Hagrid đang đứng quay lưng lại, nhìn lên ngó xuống con đường.
“Chui vô đây, nhanh lên,” Harry nói, rút cái Áo khoác tàng hình ra khỏi ba lô.
“Ôi… mình không biết, Harry à,” Hermione nói, vừa hoang mang nhìn về phía bà Weasley.
“Thôi đi nào,” Ron nói.
Cô bé ngập ngừng thêm một giây, rồi chui xuống dưới tấm áo khoác cùng với Harry và Ron. Không ai để ý tụi nó tàng hình; họ còn mải mê với những sản phẩm của Fred và George. Harry, Ron và Hermione chen lấn đi ra cửa nhanh hết cỡ, nhưng vào cái lúc tụi nó ra tới mặt đường, thì Malfoy đã mất dạng, tài tình y như kiểu tụi nó vừa tàng hình vậy.
“Nó đi về hướng đó đó,” Harry thì thầm thật khẽ, để cho bác Hagrid đang ư ử ngân nga không nghe được. “Đi nào.”
Tụi nó vội vàng đi dọc theo con đường, ngó trái ngó phải, qua cửa cái cửa sổ của các cửa tiệm, cho đến khi Hermione chỉ về phía trước.
“Nó kìa, đúng không?” Cô bé thì thầm. “Quẹo trái nhé?”
“Quá ngạc nhiên,” Ron thì thầm.
Bởi vì chúng thấy Malfoy liếc nhìn quanh quât, rồi lẻn vào hẻm Knockturn, và mất dạng.
“Nhanh lên, kẻo tụi mình mất dấu nó,” Harry vừa nói vừa rảo bước nhanh hơn.
“Coi chừng chân tụi mình bị thấy!” Hermione lo lắng nói, khi tấm Áo khoác tàng hình đánh lật phật vô mắt cá chân của tụi nó; Cũng thiệt khó cho cả ba đứa nó giờ đây cùng trốn dưới một tấm áo khoác.
“Không sao,” Harry sốt ruột nói. “Chỉ cần đi gấp lên!”
Nhưng hẻm Knockturn, con đường ngang dành cho Nghệ thuật Hắc ám trông hoàn toàn vắng ngắt. Đi ngang qua cửa sổ nào tụi nó cũng ngó vô. Nhưng không một cửa hàng nào có vẻ có khách hàng cả. Harry nghĩ trong thời buổi nguy hiểm và mập mờ này mà mua, hay ít nhất bị nhìn thấy mua vũ khí Hắc ám, thì chẳng khác nào tự tố cáo mình.
Bỗng Hermione véo mạnh vô cánh tay của nó.
“Ui!”
“Suỵt! Nhìn kìa! Nó ở trong đó!” Cô bé thì thào vào tai Harry.
Tụi nó đã tới ngang cái cửa hàng duy nhất trong hẻm Knockturn mà Harry từng vào, tiệm Borgin và Burkes, một cửa hàng bán rất nhiều loại đồ vật hiểm độc. Ở đó, giữa những thùng đựng đầy đầu lâu và chai lọ cũ, Draco Malfoy đang đứng quay lưng về phía tụi nó, ở phía bên kia cái tủ lớn màu đen mà Harry đã từng trốn vô đó để tránh mặt Malfoy và cha nó. Căn cứ theo động tác cánh tay của Malfoy, thì suy ra thằng này đang nói năng sôi nổi lắm. Người chủ tiệm, ông Borgin, một người đàn ông gù lưng tôm, tóc bóng mướt đầu, đứng đối diện với Malfoy. Ông này đang đeo một vẻ mặt kỳ dị của căm hận trộn lẫn khiếp sợ.
“Giá mà tụi mình có thể nghe được những gì họ nói!” Hermione nói.
“Có thể chứ!” Ron hăm hở nói. “Chờ đó… cà chớn!”
Nó làm rớt thêm hai cái trong đám hộp mà nó vẫn đang cố ghị chặt trong lúc vụng về mò tìm cái hộp to nhất.
“Coi đây, Bành Trướng nhĩ!”
“Tuyệt vời!” Hermione nói, trong khi Ron tháo cuộn dây dài màu thịt tươi, và bắt đầu quăng về phía đãy của cánh cửa.
“Ôi, mình hy vọng cửa không bị ếm Bùa Tỉnh bơ.”
“Không,” Ron hí hửng nói. “Nghe đây!”
Tụi nó chụm đầu lại và chăm chú lắng nghe câu chuyện ở đầu dây bên kia, qua đó cái giọng của Malfoy nghe rõ mồn một, như thể một cái máy truyền thanh vừa được bật nút.
“…ông biết chữa cách nào không?”
“Có thể,” ông Borgin nói, bằng một cái giọng cho thấy ông chẳng tận tụy chút nào. “Tuy nhiên tôi cần phải thấy nó. Tại sao cậu không đem nó lại cửa hàng?”
“Tôi không thể,” Malfoy nói. “Nó phải được để yên. Tôi chỉ cần ông nói cho tôi biết cách chữa thôi.”
Harry thấy ông Borgin liếm môi một cách lo lắng.
“Chà, không nhing thấy nó, tôi đành phải nói là công việc sẽ rất khó khăn, có thể không làm được. Tôi không thể đảm bảo gì hết.”
“Không hả?” Malfoy nói, và Harry biết, chỉ căn cứ vào cái giọng nói, rằng Malfoy đang nhạo báng. “Có lẽ cái này sẽ khiến ông thêm tự tin.”
Malfoy nhích về phía ông Borgin và bị khuất mắt sau cái tủ. Harry, Ron, và Hermione nhích chân qua bên cạnh để cố nhìn thấy thằng này, nhưng chỉ thấy ông Borgin, vẻ mặt ông này đầy hoảng sợ.
“Hở ra cho ai biết,” Malfoy nói, “là có thưởng đẹp đấy. Ông biết Fenrir Greyback chứ? Ông ta là một người bạn của gia đình. Thỉnh thoảng ông ta sẽ ghé qua để biết chắc là ông dành hết tâm trí vô vấn đề đó.”
“Không cần phải…”
“Tôi sẽ quyết định chuyện đó,” Malfoy nói. “Thôi, tôi phải đi. Và đừng quên giữ kỹ cái đó, tôi sẽ cần đến nó.”
“Có lẽ cậu muốn lấy nó đi ngay bây giờ?”
“Không, dĩ nhiên tôi không lấy đi bây giờ được. Ông bé ngu ạ, trông tôi sẽ như thế nào khi mang theo cái đó xuống phố chớ? Chỉ đừng bán mất cái đó thôi.”
“Dĩ nhiên là không, thưa… Ngài.”
Ông Borgin cúi chào thật thấp, kiểu giống như Harry đã từng nhìn thấy ông ta chào Lucius Malfoy.
“Không nói một lời với ai đấy nhé, ông Borgin, kể cả mẹ tôi, hiểu không?”
“Đương nhiên, đương nhiên,” ông Borgin  lẩm bẩm, lại cúi chào một lẫn nữa.
Tiếp theo, chuông treo ở cửa kêu leng keng rất to khi Malfoy hiên ngang bước ra khỏi cửa hàng, trông có vẻ hết sức thỏa mãn với chính mình. Nó đi ngang qua, gần Harry, Ron và Hermione đến nỗi tụi nó cảm thấy tấm áo khoác một lần nữa xao động nhẹ quanh đầu gối. Bên trong cửa hàng, ông Borgin vẫn còn đứng sững chết lặng; nụ cười tiếp khách giả tạo của ông biến mất; trông ông lo lắng ra mặt.
“Chuyện này là về cái gì vậy?” Ron thì thầm, quấn lại cái Bành Trướng nhĩ.
“Không biết,” Harry nói, suy nghĩ muốn bể đầu. “Nó muốn chữa cái gì đó… và nó muốn giữ lại món gì đó trong tiệm… Mấy bồ có thấy nó chỉ cái gì khi bảo ‘cái đó’ không?”
“Không. Nó đứng khuất sau cái tủ to đùng ấy.”
“Hai đứa bồ ở đây,” Hermione nói nhỏ.
“Bồ định làm…?”
Nhưng Hermione đã chui ra ngoài tấm áo khoác. Cô nàng soi gương sửa sang tóc tai rồi bước vào cửa hàng, khiến cái chuông treo cửa lại kêu leng keng. Ron vội vàng quăng cái Bành Trướng nhĩ trở lại phía dưới cánh cửa và đưa cho Harry một đầu dây.
“Chào ông, một buổi sáng khủng khiếp, ông nhỉ?” Hermione rạng rỡ nói với ông Borgin, ông này  không trả lời, chỉ quẳng cho cô bé một cái nhìn ngờ vực. Ngâm nga một cách vui vẻ, Hermione thong thả dạo quanh đám hàng hóa bày biện lung tung.
“Cái vòng đeo cổ này có bán không?” Cô nàng hỏi, dừng chân bên cạnh một cái hộp có mặt trước bằng thủy tinh.
“Nếu cô có một ngàn lẻ một Galleon,” ông Borgin lạnh lùng đáp.
“Ồ… ơ… không, tôi không có nhiều tiền đến thế,” Hermione nói, tiếp tục bước. “Và… cái… ưm… cái đầu lâu… dễ thương này giá bao nhiêu?”
“Mười sáu Galleon.”
“Vậy là ông có thể bán nó? Nó không phải… giữ lại cho ai hết chứ?”
Ông Borgin liếc mắt nhìn cô bé. Harry có một cảm giác bực bội khi nó biết chính xác Hermione đang muốn cái gì. Hiển nhiên là Hermione cũng cảm thấy bị lộ tẩy bởi vì bỗng nhiên cô nàng tung hê cho gió cuốn đi sự thận trọng.
“Cái vật mà… ơ… anh chàng vừa mới ở đây ra – Draco Malfoy, ừ, anh ta là một người bạn của tôi, và tôi muốn kiếm cho anh ấy một món quà sinh nhật, nhưng nếu anh ấy đã đặt trước một món gì ở đây, thì hiển nhiên là tôi chẳng muốn tặng anh ta một món tương tự, cho nên… ưm…”
Theo ý Harry thì câu chuyện nghe chẳng xuôi tai chút nào, và dường như ông Borgin cũng nghĩ vậy.
“Đia ra!” Ông ta đanh giọng quát. “Cút ngay!”
Hermione không đợi được bảo lần thứ hai, vội vã đi ra cửa với ông Borgin bám sát gót. Khi chuông treo cửa kêu leng keng lẫn nữa, ông Borgin đóng sập cánh cửa đằng sau lưng Hermione và treo lên tấm bảng thông báo tiệm đóng cửa.
“À há,” Ron nói, vừa quăng tấm áo khoác ra trùm lại Hermione, “cũng đáng công thử, nhưng mà bộ hơi bị lộ...”
“Ừ, lần sau bồ có thể chỉ bảo mình cách làm như thế nào, thưa Bậc thầy Bí ẩn!” Cô nàng cự lại ngay.
Ron và Hermione cự cãi lăng nhẵng suốt quãng đường trở lại tiệm Phù thỉ Wỉ Wái của Weasley, nơi hai đứa nó phải ngừng cãi lộn để tránh bị dò xét bởi một bà Weasley và một bác Hagrid đang lo lắng. Hai người này đã nhận ra sự vắng mặt của tụi nó. Khi đã trở vô tiệm rồi, Harry cởi phắt tấm Áo khoác tàng hình ra, giấu trong cái ba lô, và hợp sức với hai đứa kia khăng khăng nói rằng từ nãy giờ tụi nó ở suốt trong gian sau của cửa hàng, để đáp lại sự quở trách của bà Weasley, và phản pháo là bà có thể đã không nhìn ngó kỹ càng nên chẳng thấy tụi nó.
0
Chương 7
Câu lạc bộ Slug
 
Harry dành khá nhiều thì giờ của tuần lễ cuối kỳ nghỉ hè để nghiền ngẫm ý nghĩa hành vi của Malfoy ở hẻm Knockturn. Điều khiến nó bực mình nhất là cái vẻ mãn nguyện trên gương mặt Malfoy khi thằng này bước ra khỏi cửa hàng. Không có gì làm cho Malfoy vui đến thế lại có thể là tin lành. Tuy nhiên Harry hơi lấy làm buồn lòng rằng cả Ron lẫn Hermione đều dường như không được tò mò như nó về hoạt động của Malfoy; hay ít nhất là sau vài ngày tụi kia có vẻ đã phát chán bàn bạc về chuyện đó.
“Ừ, mình đã đồng ý ngay từ đầu là nó rất đáng nghi, Harry à,” Hermione nói hơi thiếu kiên nhẫn. Cô nàng đang ngồi trên bệ cửa sổ trong phòng của Fred và George với hai chân gác lên một trong mấy cái hộp giấy bồi và chỉ miễn cưỡng rời mắt khỏi cuons sách mới của mình, cuốn Dịch thuật chữ Rune cao cấp, để ngước nhìn lên. “Nhưng chẳng phải là tụi mình đã đồng ý là có thể có nhiều cách giải thích sao?”
“Có thể nó đã làm bể cái Bàn tay vẻ vang của nó.” Ron nói mơ hồ, trong khi cố gắng kéo thẳng lại cái đuôi chổi bị cong của mình. “Có nhớ cánh tay quắt queo mà Malfoy có không?”
“Nhưng khi nó nói, ‘Đừng quên giữ kỹ cái đó cho an toàn’ là nó nói về chuyện gì chứ?” Harry hỏi đến lần thứ mười mấy. “Mình nghe có vẻ như ông Borgin còn có một cái khác của cái đã bị bể, và Malfoy muốn cả hai.”
“Bồ tin vậy hả?” Ron nói, bây giờ nó đang cạo bùn đất khỏi cán chổi.
“Ừ, mình tin vậy,” Harry nói. Khi cả Ron và Hermione đều không trả lời, nó nói tiếp, “Cha của Malfoy đang ở trong ngục Azkaban. Mấy bồ không nghĩ là nó muốn trả thù sao?”
Ron ngẩng đầu lên, chớp chớp mắt.
“Malfoy, trả thù à? Nó thì có thể làm được gì?”
“Mình không biết, đó chính là vấn đề!” Harry nói, hết sức nản lòng. “Nhưng nó đang âm mưu gì đó và mình nghĩ tụi mình nên xem xét nghiêm túc chuyện đó. Cha của nó là một Tử thần thực tử và...”
Harry ngừng nói, mắt nó dán vào cửa sổ đằng sau Hermione, miệng nó há ra. Một ý tưởng đáng sửng sốt vừa nảy ra trong đầu nó.
“Harry?” Hermione kêu lên bằng giọng lo lắng. “Có chuyện gì vậy?”
“Cái thẹo của bồ phát nhức lại hả?” Ron hỏi, giọng căng thẳng.
“Nó là một Tử thần thực tử,” Harry chậm rãi nói. “Nó kế nghiệp cha nó làm một Tử thần thực tử!”
Mọi người im lặng, rồi Ron phá ra cười. “Malfoy ấy à? Nó mới mười sáu tuổi mà Harry! Bồ tưởng Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy để cho Malfoy gia nhập à?”
“Có vẻ như không phải vậy đâu, Harry,” Hermione nói bằng giọng cố kiềm chế. “Cái gì khiến bồ nghĩ...?”
“Trong tiệm bà Malkin. Bả không hề đụng tới nó, nhưng nó cứ kêu la rồi vùng cánh tay ra khỏi bả khi bả muốn xăn tay áo nó lên. Đó là cánh tay trái. Nó đã được xăm Dấu hiệu Hắc ám!”
Ron và Hermione nhìn nhau.
“Chà...” Ron nói, tỏ ra không hoàn toàn được thuyết phục.
“Minhg nghĩ nó chỉ muốn ra khỏi chỗ đó thôi, Harry à,” Hermione nói.
“Nó đã chỉ cho ông Borgin cái gì đó mà chúng ta không nhìn thấy được,” Harry cứ khăng khăng một cách bướng bỉnh. “ Cái gì đó đã khiến cho ông Borgin vô cùng khiếp sợ. Đó chính là Dấu hiệu, mình biết cái đó – nó đã tỏ cho ông Borgin biết là ông ta đang giao thiệp với ai, mấy bồ có thể thấy ông ấy ngán sợ nó như thế nào!”
Ron và Hermione trao đổi với nhau một cái nhìn nữa.
“Mình không chắc, Harry à…”
“Ừ, mình vẫn không cho là Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy chịu để cho Malfoy gia nhập...”
Bực mình, nhưng chắc chắn tin là mình đúng, Harry quơ lấy một đống áo chùng hôi hám đã mặc khi chơi Quidditch và bỏ ra khỏi phòng; bà Weasley đã khuyên răn tụi nó bao nhiêu ngày rồi là đừng để quần áo đên phút cuối mới đem giặt và xếp vô rương. Khi xuống hết cầu thang, nó đụng đầu Ginny, cô bé đang quay về phòng mình với một đống quần áo mới giặt xong.
“Em mà là anh thì em sẽ chẳng vô nhà bếp lúc này,” cô bé cảnh cáo Harry. “Chỗ nào cũng đầy Nhớt.”
“Anh sẽ cẩn thận để không bị trợt vô đó,” Harry mỉm cười.
Quả đúng vậy, khi Harry đi vô nhà bếp thì thấy ngay Fleur đang ngồi bên bàn, hào hứng nói về các kế hoạch đám cưới giữa nàng và Bill, trong khi bà Weasley không ngừng để mắt tới lũ măng tây đang tự gọt, trông bà cau có hết biết.
“...Anh Bill và con gần như đã quyết định chĩ hai phù dâu thơi, Ginny và Gabrielle trông xẽ rớt ngọt ngào với nhao. Con đang nghĩ đến chuyện cho hai em ấy mặc áo vàn nhạt – màu hồng dĩ nhiên là trông rất khũn khiếp với mái tóc cũa Ginny...”
“A, Harry!” bà Weasley nói to, cắt ngang bài độc thoại của Fleur. “Tốt, bác muốn giải thích về sự sắp đặt an ninh cho chuyến đi đến trường Hogwarts ngày mai. Chúng ta lại mượn được xe của Bộ Pháp thuật một lần nữa, và sẽ có các Thần Sáng chờ ở nhà ga...”
“Cô Tonks  có ở đó không, bác?” Harry hỏi, đưa cho bà Weasley quần áo chơi Quidditch của nó.
“Không, bác nghỉ là không, theo bác Arthur nói thì cô ấy được chốt ở đâu đó.”
“Cô ấy đã tự cữ mình đi, cái cô Tonks  ấy,” Fleur nói mơ màng, ngắm nghía chính hình bóng mê hoặc của mình trong đáy tách trà. “Nếu bác hõi thì con sẽ nói đó là một sai lầm lớn...”
“Được, cám ơn,” bà Weasley nói giọng gay gắt, ngắt lời Fleur một lần nữa. “Con nên chuẩn bị hành lý đi, Harry, bác muốn nếu có thể thì hòm xiểng đều phải sẵn sàng hết vào tối nay, để chúng ta sẽ không bị rối tinh beng vào phút chót như mọi năm.”
Và thật ra, cuộc khỏi hành của tụi nhỏ vào sáng sớm hôm sau suôn sẻ hơn mọi khi. Khi mấy chiếc xe của Bộ Pháp thuật lướt tới trước cửa Hang Sóc thì tụi nó đã đứng chờ sẵn, hòm xiểng sẵn sàng; con mèo của Hermione, Crookshanks, nằm an toàn trong cái rổ đi đường của nó; Hedwig, Pigwidgeon, con cú của Ron và con Bông Thoa Lùn mới sắm của Ginny, được đặt tên Arnold, đều ở trong chuồng.
“Au revoir, Arry,” Fleur nói giọng cổ họng, vừa hôn gió nó. Ron vội vã đi tới, có vẻ hy vọng, nhưng Ginny giơ cẳng ra ngáng Ron ngã lăn cù vô đám bụi dưới  chân Fleur. Nổi khùng lên với bộ mặt đỏ bừng và văng bụi tùm lum, anh chàng lên xe gấp khỏi cần nói lời chia tay.
Chẳng thấy bác Hag hớn hở chờ họ ở Nhà ga Ngã tư vua. Thay vào đó là hai Thần Sáng có bộ mặt khắc nghiệt đầy râu mặc quần áo Muggle màu đen tiến tới đón ngay khi mấy chiếc xe vừa dừng lại, và họ kẹp sát hông tất cả nhóm, hộ tống vô thẳng nhà ga mà chẳng nói lời nào.
“Lẹ, lẹ lên, băng qua rào chắn,” bà Weasley nói, dường như bà hơi bối rối vì cái hiệu quả khắc khổ này. “Harry nên đi trước, với...”
Bà nhìn một trong hai Thần Sáng một cách dò hỏi, người này nhẹ gật đầu, nắm lấy bắp tay trên của Harry, và cố gắng dẫn nó đi về phía hàng rào chắn giữa sân ga số chín và số mười.
 
“Em đi được mà, cám ơn,” Harry bực dọc nói, giật cánh tay mình ra khỏi nắm tay của vị Thần  Sáng. Nó đẩy cái xe hành lý của nó đâm thẳng vào hàng rào chắn vững chãi, lờ phắt đi người đồng hành im lặng, và một giây sau, nó nhận ra mình đang đứng trên sân ga chín ba phần tư, nơi tàu tốc hành Hogwarts đang nằm ợ ra hơi nước phả vào đám đông.
Hermione và gia đình Weasley nhập bọn với nó trong vòng vài giây sau. Không cần chờ tham vấn vị Thần Sáng mặt mày khắc khổ của mình, Harry ra dấu gọi Ron và Hermione theo nó đi ngược lên sân ga, tìm một toa tàu trống.
“Tụi này không thể đi cùng bồ, Harry à,” Hermione nói, tỏ vẻ xin lỗi. “Ron và mình sẽ phải đến toa tàu của Huynh trưởng trước tiên và rồi phải đi tuần tra hành lang tàu một tí.”
“Ờ phải, mình quên mất,” Harry nói.
“Tất cả các con nên lên tàu ngay, các con chỉ còn vài phút nữa là khởi hành,” bà Weasley nói, vừa tham khảo cái đồng hồ của bà. “Thôi, chúc con một học kỳ tốt đẹp, Ron...”
“Thưa bắc Weasley, con có thể nói vài lời với bác không?” Harry nói, quyết định luôn trong hoàn cảnh gấp gáp ấy.
“Dĩ nhiên,” ông Weasley nói, vẻ mặt hơi ngạc nhiên, nhưng dù vậy ông vẫn đi theo Harry ra xa khỏi tầm tai những người khác.
Harry đã suy nghĩ cặn kẽ và đã đi tới kết luận rằng, nếu nó cần nói với ai đó, thì người đó hẳn là ông Weasley; Trước tiên, bởi vì ông làm việc ở Bộ Pháp thuật và vì vậy là người ở vị trí tốt nhất để tiến hành những cuộc điều tra xa hơn, và thứ hai, bới vì nó nghĩ nếu ông Weasley nổi cơn thịnh nộ thì sẽ ít nguy hiểm hơn.
Nó có thể thấy bà Weasley và vị Thần Sáng với bộ mặt khắc khổ liếc theo bác cháu nó khi hai người đi tách ra.
“Khi tụi con ở Hẻm Xéo,” Harry bắt đầu nói, nhưng ông Weasley chặn đầu nó trước bằng một cái nhăn mặt.
“Có phải bác sắp được khám phá ra nơi mà con, Ron và Hermione đã biến mất trong khi lẽ ra các con phải ở gian sau cửa hàng của Fred và George không?”
“Làm sao bác...?”
“Harry à, con đang nói chuyện với một người đã nuôi lớn Fred và George.”
“Ơ... dạ, thôi thì, chúng con đã không ở gian sau...”
“Tốt lắm, vậy bây giờ, chúng ta hãy nghe nốt phần dỡ nhất.”
“Dạ, tụi con đi theo Draco Malfoy. Tụi con dùng tấm Áo khoác tàng hình.”
“Các con có lý do đặc biệt nào không, hay đó chỉ là cao hứng?”
“Bởi vì con nghĩ Malfoy đang âm mưu gì đó,” Harry nói, không đẻ ý vẻ mặt vừa bực bội vừa thích thú của ông Weasley. “Nó đã trốn má nó đi và con muốn biết tại sao.”
“Dĩ nhiên là con đã có lý do,” ông Weasley nói, nghe giọng nhẫn nại. “Thế con có tìm ra được tại sao không?”
“Nó đi vô tiệm Borgin và Burkes,” Harry nói, “xong bắt đầu trấn áp người đàn ông trong tiệm, ông Borgin, bắt ông ta sửa cho nó cái gì đó. Và nó nói là nó muốn ông Borgin giữ cho nó cái gì đó nữa. Nghe thì có vẻ như cái đó cùng là một thứ với cái mà nó muốn sửa chữa. Có vẻ như hai cái đó là một cặp. Và…”
Harry hít một hơi thở sâu.
“Còn nữa. Tụi con thấy Malfoy nhảy vọt ra cả dặm khi bà Malkin thử chạm vô cánh tay trái của nó. Con nghĩ nó đã được xăm Dấu hiệu Hắc ám. Con nghĩ nó được thế chỗ cha nó làm một Tử thần thực tử.”
Trông ông Weasley có vẻ sửng sốt. Một lát sau ông nói, “Harry à, bác không chắc là liệu Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy có cho phép một đứa trẻ mười sáu tuổi…”
“Có ai biết chắc Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy làm cái gì hay không làm cái gì đâu?” Harry hỏi một cách tức tối. “Bác Weasley, con xin lỗi, nhưng chuyện đó không đáng điều tra sao? Nếu Malfoy muốn sửa chữa cái gì đó, và nó phải đe dạo ông Borgin làm chuyện đó, thì chuyện đó có thể là cái gì đó Hắc ám và nguy hiểm, đúng không?”
“Thành thật  mà nói, bác không chắc, Harry à,” ông Weasley nói chậm rãi. “Con cũng hiểu, khi Lucius Malfoy bị bắt, chúng ta đã lục soát nhà hắn. Chúng ta đã lấy đi mọi thứ có thể là hung khí nguy hiểm.”
“Con nghĩ bác có thể đã bỏ sót cái gì đó,” Harry nói một cách bướng bỉnh.
“Ừ, có thể,” ông Weasley nói, nhưng Harry có thể thấy là ông Weasley chỉ nói cho vừa lòng nó mà thôi.
Một tiếng còi tàu vang lên sau lưng hai bác cháu; gần như mọi người đã lên tàu cả và cửa các toa đang đóng lại.
“Con nên lẹ lên đi!” ông Weasley nói, trong khi bà Weasley giúp nó nhấc hành lý lên tàu.
“Này, cưng, con sẽ về ăn lễ Noel với gia đình bác, đã thu xếp xong với cụ Dumbledore rồi, vậy là hai bác sẽ sớm gặp lại con thôi,” bà Weasley nói vói qua cửa sổ toa tàu trong khi Harry đóng sập cửa tàu lại sau lưng và chiếc xe lửa bắt đầu di chuyển. “Con nhớ tự chăm sóc mình và…”
Đoàn tàu bắt đầu tăng tốc.
“…học giỏi và…” bà Weasley chạy theo để kịp đoàn tàu.
“…bảo trọng!”
Harry vẫy tay cho đến khi đoàn tàu quẹo qua một khúc quanh và ông bà Weasley khuất dạng, rồi nó quay ra xem những đứa khá ở đâu. Nó đoán Ron và Hermione bị nhiệm vụ cầm chân trong toa tàu Huynh trưởng, nhưng Ginny thì đang ở trong hành lang cách nó một quãng ngắn, đang tán dóc với mấy đứa bạn. Nó đi về phía cô bé, kéo lê cái rương theo.
Đám học trò  trố mắt nhìn nó không ngượng ngùng khi nó đi đến gần. Chúng nó thậm chí áp mặt vào kính cửa sổ toa tàu  để ngó cho được nó. Nó đã lường trước một làn sóng những cái miệng há hốc và những cặp mắt nhìn trâng tráo mà nó sẽ phải chịu đựng trong suốt học kỳ này sau tất cả những sự rùm beng về “Kẻ được chọn” đăng trên Nhật báo Tiên Tri , nhưng nó chẳng thích thú gì lắm cái cảm giác đứng ở nơi đèn đuốc sáng trưng. Nó vỗ nhẹ lên vai Ginny.
“Kiếm thử một khoang tàu trống chứ hả?”
“Em thì không được, anh Harry à, em có hẹn gặp Dean,” Ginny rạng rỡ nói. “Gặp lại anh sau nhé.”
“Được,” Harry nói. Nó có một cảm giác nhói đau kỳ lạ khi Ginny bỏ đi, mái tóc dài màu hung đỏ của cô bé đung đưa sau lưng; Nó đã trở nên quá quen với sự hiện diện của cô bé trong kỳ nghỉ hè đến nỗi nó hầu như quên béng đi rằng Ginny giờ đây không còn lẵng nhẵng bám theo nó, Ron và Hermione khi ở trường nữa. Rồi nó chớp mắt nhìn quanh: Quanh nó là những cô gái bị tiếng tăm mê hoặc.
“Chào Harry!” Một giọng nói qurn thuộc vang lên sau lưng nó.
“Neville!” Harry reo lên nhẹ nhõm, khi quay lại nhìn thấy một cậu chàng mặt mày tròn trịa đang chen lấn để đến gần nó.
“Chào Harry,” một cô nàng tóc dài với đôi mắt to mơ huyền xuất hiện ngay sau lưng Neville.
“Chào Luna, em khỏe không?”
“Rất khỏe, cám ơn anh,” Luna nói. Cô nàng đang ép chặt một tạp chí vào ngực mình; những chữ to trên trang bìa thông báo rằng bên trong có một cặp Kính chiếu yêu.
“Tạp chí Kẻ Lý sự vẫn bán chạy chứ?” Harry hỏi, nó cảm thấy có một sự trìu mến với tờ tạp chí, và đã dành cho tờ tạp chí này một cuộc phỏng vấn độc quyền vào năm học trước.
“Ồ, số lượng phát hành tăng tốt,” Luna nói một cách sung sướng.
“Tụi mình kiếm chỗ ngồi đi,” Harry nói, và ba đứa cùng đi dọc đoàn tàu, băng qua những đoàn học sinh im lặng ngó theo chằm chằm. Cuối cùng cả ba tìm được một khoang còn trống, và Harry vội vã đi vào với vẻ biết ơn.
“Họ nhìn chòng chọc cả tụi này nữa!” Neville nói, ám chỉ chính nó và Luna. “Chỉ vì tụi này đi với bồ.”
“Họ ngó bồ bởi vì bồ cũng có mặt trong vụ xảy ra ở Bộ Pháp thuật,” Harry nói, trong lúc cố nhấc cái rương của nó để lên giá đỡ hành lý. “Cuộc phiêu lưu nho nhỏ của tụi mình được đăng khắp trên tờ Nhật báo Tiên Tri, chắc bồ đã xem rồi chứ?”
“Có, mình tưởng bà mình sẽ nổi giận vì tất cả những chuyện rùm beng công khai đó,” Neville nói, “nhưng hóa ra bà lại khoái thực sự. Nói rằng rốt cuộc mình đã bắt đầu sống theo gương ba mình. Bà đã mua cho mình một cây đũa phép mới, coi nè!”
Nó rút cây đũa phép ra và đưa cho Harry coi.
“Gỗ anh đào và lông kỳ lân,” nó nói giọng tự hào. “Mình nghĩ đó là một trong những cây đũa phép cuối cùng mà ông Olv bán ra, ông ấy biến mất tiêu vào ngày hôm sau – Ôi, quay lại đây Trevor!”
Và nó chui xuống dưới gầm ghế để thu hồi lại con cóc khi con vật này thực hiện một trong những nỗ lực trường kỳ tìm kiếm tự do cho mình.
“Năm nay anh có tiếp tục mở những buổi họp ĐQD nữa không, anh Harry?” Luna hỏi, cô nàng đang gỡ cặp kính chiếu yêu ra từ giữa tờ Tạp chí Kẻ Lý sự.
0
“Bây giờ tụi mình đã dẹp được mụ Umbridge rồi, đâu còn lý do gì nữa, hả?” Harry vừa nói vừa ngồi xuống. Neville cụng đầu vô cái ghế khi chui ra từ dưới gầm. Trông nó thất vọng ra mặt.
“Mình thích ĐQD lắm! Mình học được cả đống với bồ!”
“Em cũng khoái những buổi họp đó lắm,” Luna hồn nhiên nói. “Giống như có nhiều bạn vậy.”
Đây là một trong những điều không thoải mái nà Luna hay nói và khiến cho Harry có một cảm giác lẫn lộn loằng ngoằng giữa lòng thương hại với bối rối. Tuy nhiên, trước khi nó có thể trả lời, bên ngoài cửa khoang của tụi nó xảy ra một vụ ầm ĩ; một nhón học sinh năm thứ tư đang xầm xì và cười cợt với nhau bên kia lớp cửa kính toa tàu.
“Bồ hỏi ảnh đi!”
“Thôi, bồ ấy!”
“Tôi sẽ làm chuyện đó!”
Và một đứa trong đám đó, một đứa con gái vẻ mặt trơ trẽn có đôi mắt đen to, một cái cằm chìa tới trước, và mái tóc đen dài, đẩy cánh cửa to bước vô.
“Chào anh Harry, em là Romilda, Romilda Vance,” con bé nói to và dõng dạc. “Sao anh không qua ngồi chung với toa tụi em? Anh không cần phải ngồi với tụi kia.” Con bé nói thêm bằng giọng thì thào rất kịch, chỉ vào mông của Neville, lúc ấy lại vừa nhô ra từ dưới gầm ghế một lần nữa khi đang mò mẫm kiếm Trevor, và Luna – mắt đang đeo cặp Kính chiếu yêu miễn phí, khiến cho trông càng giống một con cú có nhiều màu thật khùng.
“Họ là bạn bè của tôi,” Harry lạnh lùng nói.
“Ồ,” con bé nói, có vẻ ngạc nhiên. “Thôi vậy.”
Và nó rút lui, kéo cánh cửa khoang tàu lại.
“Người ta cứ nghĩ anh phải có bạn bè bảnh hơn tụi này.” Luna nói, một lần nữa lại bộc lộ cái thói quen thành thực khiến người khác phải bối rối.
“Em cũng bảnh vậy,” Harry nói ngay. “Không ai trong đám đó có mặt trong vụ Bộ Pháp thuật. Họ đâu có chiến đấu cùng tôi đâu.”
“Anh nói vậy thiệt là tử tế,” Luna tươi cười. Rồi cô nàng đẩy cặp Kính chiếu yêu xa thêm trên sống mũi và bắt đầu đọc Tạp chí Kẻ Lý sự.
“Nhưng mà tụi này đâu có đối đầu với hắn,” Neville nói, hiện ra từ dưới gầm ghế cùng với bụi bặm và lông lá dính trên tóc, và một con Trevor nhẫn nhục trong tay. “Chỉ có bồ làm chuyện đó. Bồ nên nghe bà của mình nói về bồ. ‘Cậu Harry Potter ấy còn mạnh hơn toàn thể Bộ Pháp thuật gom lại!’ Bà sẵn sàng đánh đổi mọi thứ để có đứa cháu nội như bồ...”
Harry bật cười không thoải mái lắm và thay đổi đề tài, chuyển qua kết quả kỳ thi Thường đẳng Pháp thuật ngay khi có thể. Trong khi Neville đọc lại vanh vách thứ hạng của nó và thắc mắc liệu nó có được phép theo học lớp Biến hình bậc Phù thủy Tận sưc không, khi mà nó chỉ có mỗi một điểm ‘Chấp nhận được’, Harry ngắm Neville mà không thực sự lắng nghe.
Tuổi thơ của Neville cũng bị Voldermort đày đọa như tuổi thơ của Harry vậy, nhưng Neville không hề biết chút nữa thì số phận của nó chính là số phận của Harry. Lời Tiên tri có thể ứng với bất kỳ đứa nào trong hai đứa nó, thế nhưng vì những lý do bí hiểm của chính hắn, Voldermort đã chọn niềm tin rằng Harry là kẻ được ám chỉ trong lời Tiên tri.
Nếu Voldermort chọn Neville, thì tình huống sẽ là Neville ngồi đối diện Harry mang cái thẹo hình tia chớp và gánh nặng lời Tiên tri... Mà liệu có thể không nhỉ? Liệu mẹ của Neville có chết đi để cứu mạng nó, như mẹ Lily đã hy sinh cho Harry không? Chắc chắn bà sẽ hy sinh... Nhưng nếu bà không thể đứng án giữa con trai mình và Voldermort thì sao? Liệu có một ‘Kẻ được chọn’ không? Hay chỉ là một cái ghế trống ở chỗ hiện giờ Neville đang ngồi và một thằng Harry không bị thẹo được chính mẹ mình chứ không phải mẹ của Ron hôn tạm biệt.
“Bồ có sao không, Harry? Trông bồ tức cười quá,” Neville nói.
Harry mới mở miệng nói, “Xin lỗi... mình...”
“Anh bị Xì Tảo hả?” Luna nói đầy cảm thông, vừa ngắm Harry qua đôi kính màu nè bự chảng.
“Tôi... cái gì?”
“Xì Tảo... Nó vô hình. Nó bay xuyên qua lỗ tai anh làm cho đầu óc anh mờ mịt,” cô bé nói. “Em nghĩ em cảm thấy được có một con đang bay quanh quẩn ở đây.”
Cô nàng vỗ tay đen đét trong không khí, như thể đang đập mấy con sâu bướm khổng lồ vô hình. Harry và Neville đưa mắt nhìn nhau rồi vội vàng bắt luôn qua chuyện Quidditch.
Thời tiết bên ngoài cửa sổ đoàn tàu thay đổi thất thường y như suốt mùa hè vừa qua. Tàu đã chạy qua một vùng sương mù lạnh cóng kéo dài, rồi ra đến vùng nắng trong, mong manh. Chính lúc tàu đang chạy qua một trong những vùng  quang đãng  ấy, lúc mặt trời hầu như được nhìn thấy ngay trên đỉnh đầu, thì Ron và Hermione đi vô khoang tụi nó.
“Ước gì xe bán đồ ăn đẩy tới nhanh nhanh lên, mình đang chết đói đây.” Ron nói một cách tha thiết, ngồi thụp xuống cái ghế bên cạnh Harry và xoa xoa cái bụng của nó. “Chào Neville. Chào Luna. Biết gì không?” Nó quay ngang Harry nói thêm, “Malfoy không làm nhiệm vụ Huynh trưởng. Nó chỉ ngồi ì trong toa của nó với mấy đứa khác trong nhà Slytherin, tụi này thấy nó lúc đi ngang qua.”
Harry ngồi thẳng dây, chú ý ngay. Thật chẳng giống Malfoy chút nào nếu nó chịu bỏ qua cơ hội biểu diễn quyền hành Huynh trưởng, cái quyền mà nó đã khoái chí lạm dụng suốt năm học trước.
“Lúc mấy bồ thấy nó thì nó đang nó làm gì?”
“Bình thường,” Ron nói dửng dưng, biểu diễn một động tác thô lỗ bằng tay. “Chẳng giống nó gì hết, dúng không? Chà... nhưng vậy đó.” Nó lại làm động tác tay một lần nữa. “Nhưng tại sao nó lại không ra ngoài kia ăn hiếp bọn học sinh năm thứ nhất nhỉ?”
“Ai mà biết,” Harry nói nhưng đầu óc nó đang căng thẳng. Chẳng lẽ chuyện này không cho thấy Malfoy đang âm mưu những chuyện quan trọng hơn là chuyện hiếp đáp bọn học sinh đàn em hay sao?
“Có lẽ nó khoái Đội Thẩm tra hơn,” Hermione nói. “Có thể làm Huynh trưởng một thời gian nó trở nên thuần hơn một chút.”
“Mình không nghĩ vậy,” Harry nói. “Mình nghĩ nó...”
Nhưng trước khi nó có thể giải thích giả thuyết của mình, cánh cửa một lần nữa lại được mở ra và một nữ sinh năm thứ ba bước vào, gần như không thở nổi.
“Em được giao nhiệm vụ đưa mấy cái này cho Neville Longbottom và Harry P... Potter,” cô bé ấp úng nói, và khi bắt gặp náh mắt của Harry, mặt cô bé đỏ ửng lên. Cô bé đưa ra hai cuộn giấy da buộc bằng nơ tím, Harry và Neville nhận cái cuộn có đề tên mình, và cô bé luống cuống lui ra khỏi khoang tàu.
“Cái gì vậy?” Ron hỏi khi Harry tháo cuộn giấy gởi cho nó ra.
“Một thư mời,” Harry nói.
Harry,
Thầy sẽ vui mừng nếu trò cùng muốn ăn trưa với với thầy ở toa C.
Thân ái,
Gs H.E.F. Slughorn.
“Giáo sư Slughorn nào?” Neville hỏi, tỏ ra bối rối vì lời mời.
“Thầy giáo mới,” Harry nói. “Chà, mình nghĩ chắc là tụi mình phải đi thôi.”
“Nhưng mà thầy ấy cần mình để làm gì?” Neville lo lắng hỏi, trông như nó tưởng nó sắp bị cấm túc.
“Chả biết,” Harry nói, thật ra thì không hẳn như thế, mặc dù nó chẳng có bằng chứng gì để chứng minh là linh cảm của nó đúng. “Nghe đây,” nó nói thêm, thình lình bộ não nó phát ra một sáng kiến, “tụi mình chui xuống dưới cái Áo khoác tàng hình đi, như thế có thể quan sát được Malfoy suốt đường, coi nó đang âm mưu cái gì.”
Tuy nhiên, sáng kiến này không khả thi chút nào: không thể nào mặc Áo khoác tàng hình vượt qua được các hành lang đầy nhóc người đang nhong nhòng đợi cái xe đẩy bán đồ ăn trưa. Harry tiếc hùi hụi nhét cái Áo khoác tàng hình trở vô ba lô, vừa ngẫm nghĩ ý tưởng đó thiệt là hay, cho dù mặc cái Áo khoác tàng hình chỉ để tránh những cái nhìn chòng chọc. Những cái nhìn đó dường như đã gia tăng cường độ kể từ khi Harry đi trong hành lang tàu lần vừa rồi. Thỉnh thoảng bọn học sinh lại xô đẩy chen nhau dồn ra cửa khoang của mình để dòm Harry được kỹ hơn. Ngoại lệ duy nhất là Cho Chang, cô nàng xẹt ngay vô khoang của mình khi nhìn thấy Harry đi tới. Khi đi ngang qua cửa sổ, Harry thấy Cho làm như đang say sưa trò chuyện với cô bạn Marietta, cô nàng này đeo một bộ mặt trang điểm dày cui mà vẫn không làm mờ được mấy hột mụn vô duyên cứ nổi lên vằn vện khắp gương mặt. Khẽ mỉm cười vu vơ, Harry đi tới trước.
Khi hai đứa tới toa C, tụi nó thấy ngay tụi nó không phải là khách mời duy nhất của thầy Slughorn, mặc dù căn cứ vào sự đón chào sốt sắng của thầy Slughorn thì Harry đúng là người được mong đợi nhiệt tình nhất.
“Harry, chàng trai của ta!” Thầy Slughorn đứng phắt dậy khi nhìn thấy Harry khiến cho cái bụng phủ nhung của thầy dường như choán hết chỗ trong khoang tàu. Cái đầu hói bóng loáng và bộ râu bạc của thầy tỏa sáng rực rỡ trong ánh nắng như mấy cái nút bằng vàng của tấm áo chẽn thầy đang mặc.
“Mừng được gặp trò! Mừng được gặp trò! Và trò đây ắt hẳn là cậu Longbottom!”
Neville gật đầu, trông khiếp đảm. Theo động tác ra dấu của Thầy Slughorn, hai đứa nó ngồi xuống hai cái ghế duy nhất còn trống, gần cửa nhất. Harry đưa mắt nhìn quanh đám khách mời. Nó nhận ra một đứa cùng năm bên Nhà Slytherin, một thằng cao nhòng đen thui có hai gò má cao xương xẩu và đôi mắt xếch dài; Cũng có hai nam sinh năm thứ bảy mà Harry không biết, và bị nhét vô một góc kẹt bên cạnh Thầy Slughorn là một cô bé vẻ mặt băn khoăn không biết tại sao mình có mặt ở đây, ấy là Ginny.
“Nào, hai trò biết hết mọi người chứ?” Thầy Slughorn hỏi Harry và Neville. “Đây là Blaise Zabini cùng năm với các trò, tất nhiên...”
Zabini không hề tỏ một dấu hiệu nhận ra hay chào hỏi nào cả, và Harry lẫn Neville cũng tỉnh bơ: trên nguyên tắc, học sinh nhà Gryffindor và nhà Slytherin căm ghét lẫn nhau.
“Đây là Cormac McLaggen, có lẽ các trò đã từng gặp gỡ lẫn nhau...? Chưa à?”
McLaggen, một chàng trai to tướng tóc xoắn như dây kẽm gai, giơ một ban tay lên chào; Harry và Neville gật đầu đáp lễ anh ta.
“...và đây là Marcus Belby, thầy không biết liệu...?”
Belby, một anh chàng gầy gò vẻ mặt bồn chồn lo lắng, nhe ra một nụ cười sượng ngắt.
“...và cô nương xinh đẹp quyến rũ này nói với thầy là cô ấy biết các trò!”
Thầy Slughorn kết thúc.
Ginny làm điệu bộ nhăn mặt với Harry và Neville từ sau lưng Thầy Slughorn.
“Thôi bây giờ, đến phần thú vị nhất,” Thầy Slughorn nói một cách thân tình. “Một cơ hội để biết tất cả các trò kỹ hơn một chút. Đây, lấy một cái khăn ăn. Thầy đã gòi theo đồ ăn trưa. Còn cái xe đẩy, theo thầy nhớ, hơi bị nhiều Que Cam thảo, và hệ thống tiêu hóa èo uột của một ông già thì không kham nỗi những thứ như thế... Nếm món gà lôi không, Belby?”
Belby bắt đầu ăn và nhận một miếng trông có vẻ giống một nữa con chim trĩ nguội ngắt.
“Thầy vừa nói với chàng Marcus trẻ tuổi đây là thầy từng được hân hạnh dạy bác Damocles của cậu ấy,” Thầy Slughorn nói với Harry và Neville, lúc này đang chuyển quanh rổ bánh mì tròn. “Một pháp sư xuất chúng, xuất chúng, và huy chương Merlin được trao cho ông ta quả thực xứng đáng. Trò có thường gặp bác không, Marcus?”
Không may, Belby vừa mới ngoạm một miếng to gà lôi đầy cả họng; và để nhanh nhẩu đáp lại Thầy Slughorn, anh ta nuốt quá gấp, nên bị mắc nghẹn, đỏ tím cả mặt mũi.
“Hết tắc thở,” Thầy Slughorn bình tĩnh chĩa cây đũa phép vào Belby, cuống họng anh chàng này dường như được thông ngay tức thì.
“Không... không gặp bác thường lắm, không ạ,” Belby há hốc miệng vừa thở vừa nói, nước mắt ràn rụa.
“Chà, dĩ nhiên, thầy dám nói là ông ấy rất bận,” Thầy Slughorn nói, vừa nhìn Belby với vẻ chất vấn. “Thầy nghi ông ta đã phát minh ra thuốc Bả sói mà không đến nỗi phải lao động vất vả lắm!”
“Con nghĩ...” Belby nói, dường như không dám cắn thêm một miếng gà lôi nào nữa trước khi biết chắc là Thầy Slughorn đã nói chuyện xong với mình. “Ơ... Bác và ba con không thuận thảo với nhau lắm, thành ra, thầy hiểu cho, con thực sự cũng không biết nhiều...”
Giọng của Belby đuổi dần khi Thầy Slughorn tặng cho cậu ta một nụ cười lạnh nhạt và quay qua nói với McLaggen.
“Nào, trò, Cormac,” Thầy Slughorn nói, “thầy tình cờ được biết trò rất hay gặp bác Tiberius của trò, bởi vì ông ta có một bức hình rất tuyệt chụp hai bác cháu đi săn Heo đuôi cụt ở... để thầy nhớ coi... ở Norfolk đúng không?”
“Ồ, phải, vui lắm, đúng vậy ạ,” McLaggen nói. “Bác cháu con đi chung với Bertie Higgs và Rufus Scrimgeour – đương nhiên là chuyện này xảy ra trước khi ông ấy trở thành Bộ trưởng ạ.”
“A, trò cũng quen biết Bertie Higgs và Rufus nữa à?” Thầy Slughorn cười hớn hở, lúc này đang đưa một  cái khay bành ngọt mời quanh mọi người; chẳng biết làm sao mà Belby lại bị bỏ sót. “Thế, nói cho thầy biết...”
Đúng y như Harry đã nghi ngờ. Mọi người có mặt ở đây dường như bị mời đến bởi vì có liên hệ tới ai đó nổi tiếng hay có ảnh hưởng – mọi người ngoại trừ Ginny. Zabini, người bị tra vấn tiếp theo McLaggen, hóa ra có một bà mẹ là một phù thủy đẹp nổi tiếng (và theo như Harry vỡ lẽ thì bà ta đã lấy bảy đời chồng, mỗi ông chồng đều chết một cách bí ẩn và để lại cho bà ta cả đống vàng). Người tiếp theo là Neville: đây là mười phút rất khó chịu, bởi vì cha mẹ của Neville là những Thần Sáng nổi tiếng, đã bị Bellatrix Lestrange và hai đồng bọn Tử thần thực tử hành hạ đến mất trí. Vào cuối cuộc tra vấn Neville, Harry có cảm tưởng thầy còn đang cân nhắc việc đánh giá Neville, chưa chắc lắm là liệu nó có được chút tài hoa nào của cha mẹ nó không.
“Và bây giờ,” Thầy Slughorn, trịnh trọng xoay mình trên ghế với cái vẻ mặt của một “em-xi” sắp giới thiệu tiết mục ngôi sao của mình. “Harry Potter! Bắt đầu từ đâu nhỉ? Thầy có cảm tưởng lần mình gặp nhau hè rồi mới sơ sơ như gãi ngứa thôi!” Thầy ngắm nghía Harry một lát như thể nó là một miếng gà lôi đặc biệt to béo ngon lành, rồi nói, “giờ đây người ta gọi con là “Kẻ được chọn”!”
Harry không nói gì. Belby, McLaggen, và Zabini đều nìn nó chòng chọc.
“Dĩ nhiên,” Thầy Slughorn nói, quan sát Harry kỹ hơn, “Thiên hạ đồn đại bao nhiêu năm trời... Thầy còn nhớ khi... chà... sau cái đêm kinh khủng ấy... Lily... James... và con sống sót... và tiếng đồn rằng con ắt là có được những quyền năng phi thường...”
Zabini húng hắng ho, rõ ràng tỏ một sự ngờ vực tức cười. Một giọng nói giận dữ nổ ra ngay sau lưng Thầy Slughorn.
“Phải đó, Zabini, bởi vì anh quá tài hoa chứ gì... trong trò khoe mẽ...”
“Ôi, thôi mà!” Thầy Slughorn cười hì hà một cách thoải mái, ngoái đầu lại nhìn Ginny, cô nàng đang trừng mắt nhìn Zabini vòng qua cái bụng bự của Thầy Slughorn. “Trò hãy cẩn thận đấy, Blaise! Thầy đã nhìn thấy cô bé này hô ếm một Bùa Gậy Ba-Bị tuyệt vời nhất khi thầy đi ngang qua khoang của cô bé! Thầy sẽ không bao giờ đi gây hấn với cô ấy đâu!”
Zabini chỉ tỏ vẻ khinh thường.
“Tóm lại,” Thầy Slughorn nói, quay trở lại với Harry. “Dư luận như thế vào mùa hè. Dĩ nhiên, người ta không biết đâu mà tin, người ta biết tờ Tiên tri từng nhầm lẫn, in những điều không chính xác – nhưng dựa vào một số nhân chứng, thì có vẻ chắc chắn rằng đã xảy ra một biến cố khá ồn ào ở Bộ và rằng trò có mặt ngay trong cuộc!”
Harry không thấy có cách nào thoát ra được mà không phải nói dối trắng trợn, đành chỉ gật đầu mà không nói gì hết. Thầy Slughorn tười cười với nó.
“Khiêm tốn quá,  khiêm tốn quá, chẳng lạ gì mà cụ Dumbledore lại yêu quí đến thế - vậy là trò đã có mặt ở đó? Nhưng phần còn lại của câu chuyện... chấn động dư luận, dĩ nhiên rồi, người ta không biết nên tin vào cái gì... chẳng hạn như lời Tiên tri được thêu dệt...”
“Chúng con chẳng hề nghe thấy lời Tiên tri,” Neville nói, và khi nói điều đó thì nó đỏ ửng như gấc chín.
“Đúng vậy,” Ginny xác nhận một cách chắc chắn. “Cả anh Neville và con cũng có mặt ở đó, và tất cả chuyện nhảm nhí “Kẻ được chọn” ấy chỉ là chuyện bịa đặt của tờ Tiên tri  như mọi khi.”
“Cả hai trò đều có mặt ở đó à?” Thầy Slughorn nói giọng đầy thích thú, hết nhìn Ginny đến nhìn Neville, nhưng cả hai ngồi câm như hến trước nụ cười khích lệ của thầy.
“Chà... phải... đúng là tờ Tiên tri hay thổi phồng, dĩ nhiên...” Thầy Slughorn nói, nghe ra hơi thất vọng một tí. “Thầy nhớ Gwenog yêu dấu có nói với thầy (dĩ nhiên thầy muốn nói đến Gwenog Jones, Đội trưởng của Holyhead Harrypies)...”
Thầy lang thang vơ vẩn vào một chuỗi hồi tưởng dài lê thê, nhưng Harry có một cảm giác rõ rệt là Thầy Slughorn chưa xong với nó, và thầy chẳng thấy Neville và Ginny có chút nào thuyết phục cả.
0
Buổi trưa ấy tiếp tục kéo dài với nhiều giai thoại nữa về những pháp sư lừng lẫy mà Thầy Slughorn đã dạy dỗ, tất cả đều đã vui sướng gia nhập cái mà thầy gọi là “Câu lạc bộ Slug” ở trường Hogwarts. Harry nôn nóng muốn đi về, nhưng không biết làm thế nào cho đừng quá vô lễ. Cuối cùng, khi đoàn tàu lửa ra khỏi một đoạn đường dài mịt mù sương giá để vào một vùng đỏ ráng hoàng hôn, Thầy Slughorn nhìn quanh, hấp háy mắt trong ánh nắng chiều.
“Chu choa, trời gần tối rồi! Thầy không để ý là người ta đã thắp đèn lên! Tất cả các trò nên về thay áo chùng vô đi. McLaggen, trò nên ghé qua văn phòng thầy và mượn cuốn sách về Heo Đuôi cụt ấy. Harry, Blaise – cứ ghé bất cứ lúc nào các trò đi ngang qua. Trò cũng thế nhé, cô nương,” thầy nháy mắt với Ginny. “Thôi, các trò đi đi, các trò đi nhé!”
Khi đẩy Harry vào hành lang tối om, Zabini ném cho nó một cái nhìn kinh tởm và Harry đáp lại cả vốn lẫn lời. Nó, Ginny, và Neville đi theo Zabini về dọc theo hành lang đoàn tàu.
“Mình thiệt mừng là bữa ăn xong rồi,” Neville lầm bầm. “Người đâu mà kỳ quá, đúng không?”
“Ừ, thầy hơi kỳ,” Harry nói, mắt nó không rời Zabini. “Mà làm sao em lại mắc kẹt vô chỗ đó vậy Ginny?”
“Thầy nhìn thấy em ếm Zacharias Smith,” Ginny nói. “Anh có nhớ cái thằng ngốc của nhà Hufflepuff tham gia ĐQD không? Hắn cứ lẵng nhẵng đeo theo hỏi hoài chuyện gì đã xảy ra ở Bộ và cuối cùng hắn làm em bực mình quá nên em ếm xì bùa hắn luôn. Khi Thầy Slughorn đến em tưởng đâu em sắp bị cấm túc, nhưng thầy chỉ nghĩ là em ếm một cái bùa xịn ra trò và mời em ăn trưa! Khùng quá hả?”
“Dù sao lý do đó còn đỡ hơn là có một bà mẹ đẹp nổi tiếng,” Harry nói, vừa quắc mắt nhìn cái chẩm của Zabini, “hay có một ông bác...”
Nhưng nó chợt ngừng ngang. Một ý tưởng vừa nảy ra, tuy hơi táo bạo nhưng có khả năng là một sáng kiến tuyệt vời... Chỉ trong chừng một phút nữa Zabini sẽ đi vào toa tàu của đám học sinh năm thứ sáu nhà  Slytherin và Malfoy hẳn là đang ngồi trong đó, tưởng là nó không bị ai nghe lén ngoài đám bạn Slytherin... Nếu Harry có thể đi theo sau Zabini vào đó, không bị nhìn thấy, thì có gì mà nó không thể thấy hay nghe được? Đúng là cuộc hành trình cũng gần kết thúc – nhà ga Hogsmeade chỉ còn cách đó không đầy nửa tiếng đồng hồ, căn cứ vào cảnh vật hoang sơ đang lướt qua bên ngoài cửa sổ - nhưng vì không đứa bạn nào coi trọng sự nghi ngờ của Harry về âm mưu của Malfoy, nên chính nó cần phải tìm bằng cớ để chứng minh.
“Lát nữa mình sẽ gặp lại hai bạn,” Harry thì thầm thật nhỏ, vừa kéo cái Áo khoác tàng hình ra và tung nó lên để trùm kín mình.
“Nhưng mà bồ...?” Neville hỏi.
“Lát sau!” Harry  thì thầm, vừa nhanh chân vọt theo Zabini một cách hết sức lặng lẽ, mặc dù trong tiếng rầm rập của đoàn tàu lửa đang chạy thì sự cẩn trọng của nó hơi bị thừa.
Lúc này hành lang hầu như hoàn toàn trống vắng. Hầu như tất cả học trò đã trở lại toa tàu của mình để thay đồng phục của trường và thu thập hành trang cùng vật dụng cá nhân. Mặc dù nó bám sát Zabini hết mức, chỉ giữ khoảng cách sao cho không bị đụng vào người thằng này, Harry vẫn không đủ nhanh để kịp lẻn vô toa tàu khi Zabini mở cánh cửa. Lúc Zabini đang kéo sập cánh cửa thì Harry vội vã thò một chân vô để ngáng không cho cánh cửa đóng lại
“Cánh cửa này mắc dịch gì vậy?” Zabini giận dữ nói khi nó cố dập đi dập lại cánh cửa vô chân Harry.
Harry chụp cánh cửa và đẩy nó mở ra thật mạnh; Zabini vẫn nắm chặt cái núm cửa nên bị văng ra một bên và té lăn cù vào đùi của Gregory Goyle, và trong cảnh bát nháo tiếp theo đó, Harry xẹt nhanh vô trong khoang tàu, nhảy lên chỗ ngồi của Zabini lúc đó còn trống để tự đu người lên cái giá để hành lý. Cũng may là lúc đó Goyle và Zabini đang cự cãi nhau, khiến bao nhiêu cặp mắt đều hướng về phía tụi nó, bởi vì Harry khá chắc chắn là bàn chân và mắt cá nhân của nó đã bị hở ra khi vạt áo khoác bay lật lên; thực tình, trong một thoáng hoảng hốt, nó đã nghĩ rằng con mắt của Malfoy có ngó theo chiếc giầy thể thao của nó khi nó rút giò lên biến mất. Nhưng vừa lúc ấy Goyle đóng sập cánh cửa lại, xô Zabini ra; Zabini  đổ nhào xuống chỗ ngồi của mình, mặt mũi xù lên bặm trợn, Vincent Crabbe tiếp tục xem cuốn truyện tranh của mình, và Malfoy, cười khúc khích, lại nằm dài ra băng ghế hai chỗ, đầu đặt lên đùi của Pansy Parkinson. Harry nằm cuộn tròn một cách khốn khổ trong tấm Áo khoác tàng hình để bảo đảm là mỗi phân của thân thể nó đều được giấu kín, và nó ngó Pansy vuốt mái tóc vàng óng mượt của Malfoy ngược lên trán, vừa làm vừa mỉm cười tự mãn như thể bất cứ ai cũng thèm được ở vào vị trí của cô ả. Những cái lồng đèn đung đưa từ trên trần toa tàu phả ánh sáng rực rỡ lên khung cảnh: Harry thậm chí có thể đọc được từng chữ trong cuốn truyện tranh của Crabbe ở ngay phía dưới nó.
“Sao, Zabini,” Malfoy nói, “lão Slughorn muốn gì?”
“Chỉ là toan kết bè tựu đám với những người có quen biết lớn,” Zabini nói, hày còn trừng mắt với Goyle. “Nhưng lão cũng chẳng kiếm được nhiều tay cho lắm.”
Thông tin này không có vẻ làm cho Malfoy hài lòng. “Mời thêm được đứa nào nữa?” Nó hạch hỏi.
“McLaggen của nhà Gryffindor,” Zabini nói.
“Ồ phải, bác nó làm lớn ở trong Bộ mà,” Malfoy nói.
“...một tay nào đó tên Belby, của nhà Ravenclaw.”
“Chẳng lẽ là nó, nó chỉ là một thằng đần độn!” Pansy nói.
“...và Longbottom, Potter với con nhỏ Weasley,” Zabini kết thúc.
Malfoy thình lình ngồi bật dậy, gạt bàn tay của Pansy qua một bên.
“Lão mời cả thằng Longbottom?”
“Ừ, tôi cho là vậy, bởi vì thằng Longbottom đã ở đó,” Zabini dửng dưng đáp.
“Lão Slughorn khoái thằng Longbottom ở chỗ nào?”
Zabini nhún vai.
“Potter, Potter quí báu, hiển nhiên là lão muốn ngắm “Kẻ được chọn”,” Malfoy khinh khỉnh nhạo báng, “nhưng cái con bé Weasley! Nó có gì đặc biệt chứ?”
“Nhiều chàng khoái con nhỏ đó lắm,” Pansy nói, kín đáo quan sát Malfoy để xem phản ứng của thằng này. “Ngay cả anh cũng nghĩ là con nhỏ xinh đẹp, đúng không, Blaise, ấy là tất cả chúng ta đều biết anh khó tính cỡ nào!”
“Tôi chẳng đời nào đụng tới một đứa thuộc nòi phản trắc bẩn thỉu như con đó, cho dù nó đẹp xấu thế nào đi nữa,” Zabini lạnh lùng nói, và Pansy tỏ vẻ hài lòng. Malfoy nằm ngả trở xuống đùi cô nàng và cho phép cô nàng tiếp tục vuốt ve mái tóc của nó.
“Chà, thật đáng tội nghiệp cho cái khẩu vị của lão Slughorn. Có lẽ lão hơi bị lẩm cẩm rồi. Thiệt là đáng xấu hổ. Cha tôi luôn nói rằng lão là một pháp sư giỏi vào thời của lão. Cha tôi xưa cũng là một trong những học trò cưng của lão. Có lẽ lão Slughorn chưa nghe nói là tôi đang ở trên tàu, hoặc là...”
“Tôi chẳng tin gì về lời mời đâu,” Zabini nói. “Khi tôi mới tới, lão có hỏi thăm tôi về cha của Nott. Hình như họ vốn là bạn cũ, nhưng khi lão nghe ông kia đã bị bắt ở Bộ thì lão tỏ vẻ không vui lắm, và Nott đâu có được mời, đúng không? Tôi không nghĩ lão Slughorn khoái Tử thần thực tử đâu.”
Malfoy có vẻ tức giận, nhưng cố nặn ra vỏn vẹn một tiếng cười khan không chút khôi hài.
“Hừ, ai hơi đâu bận tâm lão khoái cái gì? Lão là ai, một khi thời thế thay đổi? Chỉ là một thầy giáo già ngu xuẩn.” Malfoy ngáp rõ to. “Ý tôi là, có thể tôi chẳng còn ở trường Hogwarts vào năm tới nữa, thì cái chuyện một lão mập già vang-bóng-một-thời khoái hay không khoái tôi có nghĩa lý quái gì kia chứ?”
“Anh nói gì, có thể anh không đến trường Hogwarts vào niên học tới nữa à?” Pansy giận dỗi hỏi, ngừng vuốt tóc Malfoy tức thì.
“Ôi, ai biết trước được đâu,” Malfoy nói với một thoáng tự mãn. “Anh có thể... ơ.. chuyển sang những thứ khác lớn lao hơn và hay hơn.”
Nằm co quắp trong tấm Áo khoác tàng hình trên giá để hành lý, trái tim Harry bắt đầu đập nhanh. Liệu Ron và Hermione sẽ nói sao về chi tiết này? Crabbe và Goyle trố mắt nhìn Malfoy; dường như chúng chẳng có ý niệm mơ hồ nào về bất kỳ kế hoạch nào để chuyển sang những thứ lớn lao hơn và hay ho hơn. Ngay cả Zabini cũng để lọt một ánh mắt tò mò khiến vẻ mặt kiêu kỳ hơi bị mẻ phong độ mất một tí. Pansy tiếp tục chậm rãi vuốt tóc Malfoy, vẻ mặt sững sờ.
“Có phải anh định nói – Kẻ ấy?”
Malfoy nhún vai.
“Mẹ muốn anh học hành xong xuôi đã, nhưng đối với anh, anh chẳng thấy chuyện học quan trọng vào thời buổi này. Anh muốn nói, thử nghĩ xem... Khi Chúa tể Hắc ám lên ngôi, liệu ngài có bận tâm một kẻ nào đó có bao nhiêu chứng chỉ Pháp thuật Thường đẳng hay bằng Pháp thuật Tận sức không? Dĩ nhiên ngài sẽ không cần... Vấn đề là kẻ đó đã làm được việc gì cho ngài và đã chứng tỏ với ngài sự tận tụy cống hiến ra sao.”
“Và anh cho là anh có thể làm được điều gì đó cho ngài à?” Zabini hỏi giọng gay gắt. “Mười sáu tuổi và thậm chí chưa đậu hết các chứng chỉ?”
“Chẳng phải tôi vừa nói rồi đó sau? Có thể ngài chẳng bận tâm là tôi có đậu hết các chứng chỉ không. Có thể công việc mà ngài muốn tôi làm không phải là cái việc người ta cần có đủ chứng chỉ mới làm được” Malfoy nói khẽ.
Cả Crabbe và Goyle đều ngồi há hốc mồm ra như mấy cái máng xối hình đầu thú. Pansy đăm đăm ngó xuống Malfoy như thể cô nàng chưa từng bao giờ thấy cái gì gây kinh hoàng như thế.
“Tôi nhìn thấy trường Hogwarts rồi,” Malfoy nói khi chỉ ra ngoài cửa sổ tối hù rõ ràng muốn thêm gia vị cho cái hiệu quả mà nó vừa tạo ra. “Chúng ta nên mặc đồng phục vào.”
Harry mải chăm chú ngó Malfoy, nên không để ý Goyle đang vói  lấy cái rương của nó; khi thằng này lẳng cái rương xuống, cái rương đụng mạnh vào một bên đầu của Harry. Nó để vuột một tiếng kêu đau không kềm được, và Malfoy ngước nhìn lên cái giá để hành lý, cau mày.
Harry không ngán Malfoy, nhưng nó cũng chẳng thích thú gì lắm cái ý tưởng bị một đám Slytherin thù địch hát hiện trốn dưới tấm Áo khoác tàng hình. Nước mắt còn ứa ra và cái đầu còn đau buốt, Harry rút cây đ ra, cẩn thận không làm xáo trộn tấm áo khoác, và nín thở chờ đợi. May sao, Malfoy dường như quyết định là nó chỉ tưởng tượng ra tiếng kêu đó mà thôi; nó khác áo chùng vào như những đứa khác, khóa cái rương lại, và khi xe lửa giảm tốc độ chỉ còn trườn rề rề vô sân ga, nó thắt chặt quanh cổ tấm áo choàng lữ hành mới toanh.
Harry nhìn thấy hành lang toa tàu giờ lại đông đúc người và hy vọng Hermione và Ron sẽ đem giùm hành lý của nó lên sân ga; nó bị mắc kẹt tại chỗ cho đến khi toa tàu hoàn toàn trống vắng. Sau cùng, sau cái lắc lư cuối cùng, đoàn tàu lửa dừng hẳn lại. Goyle mở tung cánh cửa và cậy vào vai u thịt bắp mà chen lấn vô một đám học sinh năm thứ hai, huých đẩy chúng giạt qua một bên; Crabbe và Zabini đi theo.
“Em ra trước đi,” Malfoy bảo Pansy, cô ả đang giơ hai tay ra chờ đợi như thể hy vọng Malfoy sẽ nắm lấy tay ả. “Anh chỉ muốn kiểm tra lại một thứ.”
Pasny đi ra. Giờ đây chỉ còn lại Harry và Malfoy trong khoang tàu. Mọi người đang lũ lượt đi thành hàng dài và kéo xuống sân ga tối om. Malfoy đi tới cửa khoang và buông rèm cửa xuống, để người đi ngoài hành lang không thể dòm dỏ vào. Xong nó cúi xuống cái rương của nó mở ra một lần nữa.
Harry dòm xuống qua mép của giá để hành lý, tim nó càng đập mạnh hơn. Malfoy định giấu diếm Pansy cái gì? Liệu nó có sắp nhìn thấy cái vật bí mật đã bị hỏng cần thiết được sửa chữa không?
“Bất động toàn thân!”
Thình lình, Malfoy chĩa cây đũa phép của nó về phía Harry, khiến Harry bị tê liệt tức thì. Rồi như thể trong him quay chậm, Harry té lăn cù ra khỏi giá để hành lý, rớt xuống ngay chân Malfoy, rung chuyển cả sàn tàu, đau đớn thấu xương, Tấm Áo khoác tàng hình bị nó đè lên, cả thân hình nó lộ ra với hai chân co quắp lại trong tư thế quì mọp. Nó chẳng thể nhúc nhích được một cơ bắp nào; nó chỉ có thể trợn mắt ngó Malfoy đang ngoác miệng cười.
“Tao đoán đúng,” Malfoy hí hửng nói. “Tao nghe cái rương của Goyle đụng vô mày. Và tao nhớ đã thấy cái gì đó loáng thoáng trắng trên không trung sau khi Zabini trở lại...”
Cái nhìn của nó chần chừ một chút trên đôi giày thể thao của Harry.
“Mày chẳng hề nghe được bất cứ điều gì mà tao quan tâm đâu, Potter à. Nhưng nhân khi tao tóm được mày ở đây...”
Thế là nó đạp thật mạnh vô mặt Harry. Harry cảm giác cái mũi nó bị bể, máu xịt ra khắp nơi.
“Cú đó cho cha tao. Bây giờ, để coi...”
Malfoy kéo tấm Áo khoác tàng hình bị đè bên dưới thân hình bất động của Harry và quăng trùm lên Harry.
“Tao không tin là họ sẽ tìm ra mày trước khi tàu trở lại London,” nó nói khẽ. “Hẹn gặp lại sau, Potter nhé... hoặc khỏi gặp.”
Và cố ý bước giẫm lên mấy ngón tay của Harry, Malfoy đi ra khỏi toa tàu.
0
Chương 8
Thầy Snape đắc thắng
 
Harry không thể nhúc nhích một cơ bắp nào cả. Nó cứ nằm đó, bên dưới tấm Áo khoác tàng hình, cảm thấy máu từ mũi chảy ra, nóng và ướt, loang khắp mặt. Nó lắng nghe tiếng người nói và tiếng bước chân bên kia hành lang. Ý nghĩ ngay tức thì của nó là ai đó chắc chắn sẽ kiểm tra các toa tàu trước khi đoàn tàu lại khởi hành. Nhưng cũng ngay sau đó nó nản lòng nhận ra rằng cho dù có ai đó nhìn vào toa, họ cũng không thể nhìn thấy hay nghe thấy nó. Niềm hy vọng lớn nhất của nó là ai đó sẽ bước vào toa và đạp phải nó. Harry chưa bao giờ ghét Malfoy hơn cái lúc nó nằm cứng đơ ở đó, giống như một con rùa ngu xuẩn bị lật ngửa trên cái mai của mình, máu nhểu vào miệng há hốc đến phát  lợm. Nó đã tự dẫn xác vào một tình huống ngu hết chỗ nói... Và giờ đây những bước chân cuối cùng đang xa dần; mọi người đang kéo lê hành lý trên sân ga tối om phía bên ngoài; nó có thể nghe thấy những tiếng rương cạ mặt đường ràn rạt và tiếng người chuyện trò bép xép ỏm tỏi.
Ron và Hermione hẳn nghĩ là nó đã ra khỏi tàu mà không đợi tụi nó. Một khi đã vào trường Hogwarts rồi và ngồi vào chỗ của mình trong Đại sảnh đường, tụi nó sẽ ngó lên ngó xuống dãy bàn của nhà Gryffindor vài ba hút, và cuối cùng nhận ra nó không có mặt ở đó, thì lúc đó hẳn là nó đã vượt qua nửa quãng đường quay lại London.
Nó cố gắng tạo ra một âm thanh nào đó, thậm chí một tiếng rên ư ử, mà cũng không thể được. Rồi nó sực nhớ là một số pháp sư, như cụ Dumbledore chẳng hạn, có thể ếm bùa mà không cần hô thành tiếng, thế là nó thử triệu hồi cây đũa phép đã văng ra khỏi tay nó bằng cách nhẩm đi nhẩm lại trong đầu mấy tiếng “Lại đây đũa phép!” nhưng chẳng có gì xảy ra cả.
Nó tưởng nghe được tiếng rì rào của cây cối quanh hồ, và tiếng cú rúc vọng từ xa xa, nhưng chẳng có dấu hiệu gì là có ai đó kiểm tra các toa tàu hay thậm chí (nó hơi tự khinh mình về niềm hy vọng này) tiếng hô hoán hoảng loạn rằng Harry đã đi đâu mất rồi. Một cảm giác tuyệt vọng xâm chiếm khắp người nó khi nó tưởng tượng cảnh đoàn xe do vong mã kéo lăn bánh vô trường và tư một chiếc xe ngựa nào đó đang chở Malfoy vang tiếng cười rú dù đã được hãm bớt âm thanh, khi thằng này kể lại chuyện nó dần Harry nhừ tử cho Crabbe, Goyle, Zabini, và Pansy Parkinson nghe.
Đoàn tàu lửa bắt đầu lắc lư khiến Harry lăn qua một bên. Bây giờ nó ở tư thế có thể nhìn chăm chăm vào gầm ghế bụi bặm thay vì cái trần tàu. Sàn tàu bắt đầu rung chuyển khi đầu máy gầm lên khởi động. Đoàn tàu Tốc hành đang chuyển bánh ra đi mà không ai biết Harry vẫn còn ở trên tàu...
Bỗng nhiên nó cảm thấy tấm Áo khoác tàng hình bay ra khỏi người và một giọng nói vang lên:
“Chào Harry.”
Một ánh đèn đỏ nhá lên và cơ thể Harry hết đông cứng; nó đã có thể gượng ngồi lên trong một tư thế có nhân cách hơn, vội vàng dùng mu bàn tay lau máu tèm lem trên gương mặt bầm giậ, rồi ngẩng đầu nhìn cô Tonks , cô đang cầm tấm Áo khoác tàng hình mà cô mới giở lên khỏi người Harry.
“Chúng ta hải ra khỏi đây, nhanh lên,” cô nói khi cửa sổ tàu trở nên mịt mờ hơi nước và đoàn tàu bắt đầu tiến ra khỏi sân ga. “Nào, chúng ta sẽ nhảy ra khỏi tàu.”
Harry vội vã đi thoe cô Tonks  ra hành lang. Cô kéo cửa xe lửa mở ra và nhảy xuống cái sân ga dường như đnag trượt nhanh bên dưới hai người vì con tàu đang tăng tốc. Harry nhảy thoe cô Tonks , lảo đảo một tí khi chạm mặt đất, rồi đứng thẳng dậy vừa kịp lúc để thấy cái đầu máy hơi nước màu đỏ tía láng lẫy đã tăng tốc, quanh qua cua, và biến mất khỏi tầm nhìn.
Làn khí đêm lạnh lẽo làm dịu đi cơn đau nhói của cái mũi Harry. Cô Tonks  đang nhìn nó; nó cảm thấy bực tức và bối rối về cái sự nó đã được phát hiện trong một tư thế buồn cười. Cô Tonks  lặng lẽ trao lại nó tấm Áo khoác tàng hình.
“Ai làm?”
“Draco Malfoy,” Harry thốt lên cay đắng. “Cám ơn chị đã... ơ...”
“Không có chi,” căn cứ vào những gì Harry có thể nhìn thấy trong bóng tối, thì cô Tonks  vẫn đầu tóc bơ phờ, mặt mày ủ dột như cái hôm Harry gặ cô ở Hang Sóc. “Nếu em đứng yên thì tôi có thể sửa mũi cho em.”
Harry không nghĩ ý kiến đó hay lắm; nó đã có ý định đến khám mũi ở chỗ bà Pomfrey, bà sế bệnh thất của trường, người mà Harry tin tưởng một chút về Bùa Chữa thương, nhưng nói ra thì bất lịch sự, nó đành đứng ngay đơ nhắm mắt lại.
“Chữa lành chữa lặn,” cô Tonks  hô. Cái mũi của Harry nóng lên dễ sợ, rồi lạnh buốt. Nó giơ một bàn tay lên, cẩn thận rờ cái mũi. Dường như cái mũi đã lành.
“Cám ơn chị nhiều lắm!”
“Em nên khoác tấm áo đó lên, và chúng ta có thể đi bộ về trường,” cô Tonks  nói, vẫn không hề mỉm cười. Khi Harry đã tung tấm áo khoác trùm lên người, cô Tonks  vẫy cây đũa phép của mình; một sinh vật bốn chân óng ánh bạc trông rất cừ khôi hiện ra từ đầu đũa và phi vào đêm tối.
“Có phải đó là một Thần Hộ mệnh?” Harry hỏi, nó từng thấy cụ Dumbledore gởi thông điệp bằng cách tương tự.
“hải tôi đang nhắn tin về lâu đài là đã đón được em, kẻo người ta lo lắng. Thôi đi nào, chúng ta không nên nhởn nhơ.”
Cả hai tiến về hía con đường dẫn về tòa lâu đài.
“Làm sao chị kiếm ra em?”
“Tôi nhận thấy em chưa ra khỏi tàu và tôi biết em có tấm áo khoác đó. Tôi nghĩ óc thể em đang ấn nú vì một lý do nào đó. Khi nhìn thấy tấm rèm buông xuống ở cửa một toa tàu, tôi nghĩ mình nên kiểm tra.”
“À, mà chị làm gì ở đây vậy?” Harry hỏi.
“Hiện giờ tôi được cử gác ở nhà ga Hogsmeade, gọi là bảo vệ thêm cho trường,” cô Tonks  nói.
“Chỉ có mình chị chốt ở đây hay là...?”
“Không, Chân Nhồi bông, Savaga, và Dawlish cũng gác ở đây nữa.”
“Dawlish, có phải vị Thần Sáng đã bị cụ Dumbledore tấn công hồi năm ngoái không ạ?”
“Phải.”
Hai người lần bước đi trên con đường vắng vẻ tối om, men theo dấu của đoàn xe vừa mới chạy qua. Từ dưới tấm áo khoác, Harry liếc nhìn sang cô Tonks  đi bên cạnh. Năm ngoái cô háo hức tò mò (đến mức có lúc gây bực mình), cô dễ dàng há ra cười, cô hay nói tiếu lâm. Bây giờ cô dường như già hơn và nghiêm trang hơn nhiều, và có vẻ lầm lì quả quyết. Tất cả những thay đổi này có hải là hậu quả của chuyện xảy ra ở Bộ? Nó ngẫm nghĩ lại một cách khổ sở về việc Hermione đã đề nghị nó nên nói gì đó để an ủi cô Tonks  về việc chú Sirius; rằng đó không hề là lỗi của cô ấy, nhưng Harry không  thể nào mở miệng nói điều đó được. Nó chẳng hề trách cô về cái chết của chú Sirius; cô cũng chẳng có lỗi gì hơn những người khác (và càng ít lỗi hơn cả nó) nhưng nó không thích nói về chú Sirius nếu như nó có thể tránh được. Và thế là hai người cứ nặng nề bước đi bên nhau trong im lặng. Vạt áo choàng của cô Tonks quét loạt soạt phía sau họ.
Trước giờ vẫn đi đến trường bằng vong mã kéo, Harry đã chẳng bao giờ ước lượng được khoảng cách từ trường Hogwarts đến nhà ga Hogsmeade.  Cuối cùng, khi nhìn thấy mấy cây cột cao hia bên cổng trường, mỗi đỉnh cột có một con heo rừng có cánh, nó thở hào nhẹ nhõm. Nó lạnh, nó đói, và nó hăm hở bỏ lại sau lưng cái  cô Tonks ủ dột nó mới biết đến này. Nhưng khi đưa tay đẩy cánh cổng, tì nó nhận thấy cổng đã được khóa bằng xích.
“Mở ra!” Nó hô lên một cách tự tin, vừa chĩa cây đũa phép vào ổ khóa, nhưng chẳng có gì xảy ra cả.
“Thần chú đó không hiệu nghiệm đối với cái này,” cô Tonks nói. Đích thân cụ Dumbledore đã phù phép chúng.
Harry nhìn quanh.
“Em có thể trèo qua một bức tường,” nó đề nghị.
“Không, em không thể làm vậy,” cô Tonks nói dứt khoát. “Bùa phép chống-kẻ-đột-nhập được ếm lên tất cả các bức tường. Hè này an ninh đã được tăng cường gấp một trăm lần.”
“Vậy thì,” Harry nói, bắt đầu cảm thấy bực mình về cái sự chẳng giúp đỡ gì được của cô Tonks, “em coi như sẽ hải ngủ ở ngoài này chờ đến khi trời sáng.”
“Có người ra đón em vào,” cô Tonks nói, “Nhìn kìa.”
Một cái đèn lồng nhấp nhô cách tòa lâu đài không xa. Harry mừng rỡ được nhìn thấy ánh đèn đến nỗi cảm thấy nó có thể chịu đựng cả những lời phê bình khò khè của thầy Filch về sự lề mề của nó lẫn bài diễn văn thùng rỗng về việc tuân thủ giờ giấc của nó sẽ tiến triển nếu chịu khó áp dụng thường xuyên hình phạt kẹp ngón tay. Chỉ đến khi ánh đèn vàng sáng sủa chỉ còn cách hai người chừng ba thước, và Harry đã lột tấm Áo khoác tàng hình ra để lộ thân mình, nó mới nhận ra, cùng lúc với một nỗi căm ghét trào lên, cái mũi khoằm sáng bóng và mái tóc đen dài nhờn nhẫy của thầy Severus Snape.
“Ái chà chà,” Thầy Snape vừa cười khẩy châm chọc, vừa rút cây đũa phép ra gõ lên ổ khóa một lần, khiến cho sợi dây xích ngoằn ngoèo rút lại như con rắn thu mình, và cánh cổng mở ra kêu cọt kẹt. “Trò xuất hiện là tốt đấy, Potter, tuy nhiên hẳn là trò đã quyết định rằng mặc đồng phục sẽ giảm đi giá trị ngoại hình của trò chứ gì.”
“Con không thể thay đồ, con không có cái...” Harry vừa mới mở miệng nói, Thầy Snape đã ngắt lời nó.
“Không cần phải đợi đâu, cô Nymphadora à, Potter hoàn toàn... à... an toàn trong tay tôi.”
“Tôi tưởng bác Hagrid là người nhận thông báo,” cô Tonks nói, cau mày lại.
“Lão Hagrid trễ bữa tiệc khai trường, y như cậu Potter đây, cho nên tôi đã nhận thay. Và nhân tiện,” Thầy Snape nói, vừa đứng lùi lại để cho Harry đi ngang qua, “tôi thích xem Thần Hộ mệnh mới của cô.”
Thầy đóng sập cánh cánh cổng trước mặt cô Tonks một cái rầm và gõ cây đũa phép lên sợi dây xích một lần nữa, khiến nó vươn ra, kêu xủng xẻng, trở lại vị trí trước đó.
“Tôi nghĩ cô coi bộ khá hơn với con cũ,” Thầy Snape nói, sự ác ý trong giọng nói của thầy không thể nào nhầm lẫn được. “Con mới coi bộ yếu.”
Khi Thầy Snape quơ ngọn đèn lồng lên, Harry thoáng thấy vẻ king ngạc và giận dữ trên gương mặt cô Tonks. Rồi cô lại khuất chìm trong bóng tối một lần nữa.
“Tạm biệt cô Tonks,” Harry ngoái đầu chào vói lại khi nó bắt đầu đi về phía trường với Thầy Snape. “Cám ơn cô về... mọi thứ,”
“Hẹn gặp lại nhé, Harry”
Thầy Snape không nói gì trong một hay hai phút. Harry cảm thấy như thể cơ thể nó đang phát ra những luồng sóng căm ghét mạnh đến nỗi kể cũng lạ rằng Thầy Snape không cảm thấy bị chúng đốt cháy. Nó đã không ưa được Thầy Snape ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên, nhưng qua thái độ của thầy đối với chú Sirius, Thầy Snape đã tự đặt mình vào chỗ vượt quá xa cái khả năng tha thứ của Harry, mãi mãi  và bất di bất dịch. Bất chấp cụ Dumbledore nói gì đi nữa, Harry đã có thì giờ suy nghĩ suốt mùa hè, và đã kết luận rằng nhwnag khích bác ác độc của Thầy Snape với chú Sirius, về việc chú thì cứ ở nơi trú ẩn an toàn trong khi những người khác trong Hội Phượng hoàng hải ra ngoài chiến đấu với Voldermort, có lẽ đã là một yếu tố có tác động mạnh khiến chú Sirius lao vào Bộ cái đêm mà chú bị giết.
Harry bám vào lý giải này, bởi vì như thế nó có thể oán trách Thầy Snape, điều này khiến cho nó cảm thấy thỏa mãn, và cũng bởi vì nó biết rằng nếu có ai đó không thương tiếc cái chết của chú Sirius thì kẻ đó chính là người đàn ông đang rảo bước đi bên cạnh nó trong bóng tối.
 “Ta cho rằng nhà Gryffindor đáng bị trừ năm mươi điểm vầy sự đi trễ này,” Thầy Snape nói. “Và, để ta xem, trừ thêm hai mươi điểm vì bộ đồ Muggle trò đang mặc. Trò biết đấy, ta không tin bất cứ nhà nào lại bị điểm âm sớm như vậy vào đầu niên học: mọi người còn chưa bắt đầu món bánh nướng cơ mà. Có thể trò đã lập một kỷ lục đấy, Potter ạ.”
Cơn giận dữ căm ghét sôi sục bên trong người Harry và dường như cháy thành một ngọn lửa nóng đến trắng lóa, nhưng nó thà bị đông cứng trên suốt quảng đường quay trở lại London còn hơn là nói cho Thầy Snape biết tại sao nó đến trễ.
“Ta nghĩ là trò muốn làm một cú xuất hiện độc đáo, đúng không?” Thầy Snape tiế tục. “Và vì không có sẵn xe bay nên trò quyết định là nếu xuất hiện đột ngột giữa Đại sảnh đường giữa chừng bữa tiệc ắt là tạo được một hiệu quả đầy ấn tượng.”
Harry vẫn làm thinh, mặc dù nó tưởng như ngực nó có thể nổ tung. Nó biết Thầy Snape ra đón nó là nhằm vào việc này, được hành hạ châm chích nó trong mấy hút ấy mà không bị ai nghe thấy.
Hai thầy trò đi đến bậc thềm cuối cùng và cánh cửa trước khổng lồ bằng gỗ sồi mở ra một tiền sảnh mênh mông rợp bóng cờ, và tiếng nói cười, tiếng ly chén chạm nhau lanh canh bùng lên chào đón hai người đi qua cánh cửa thông để mở vô Đại sảnh đường. Harry tự hỏi là nó có thể chuồi trở vô trong tấm Áo khoác tàng hình, để bằng cách ấy đến được chỗ ngồi của nó ở dãy bàn nhà Gry mà không bị chú ý không (thiệt bất tiện là dãy bàn đó nằm ở tuốt  phía  cuối Đại sảnh đường).
Tuy nhiên dường như đọc được suy nghĩ của Harry, Thầy Snape nói, “Không mặc áo khoác. Trò cứ bước vào để mọi người thấy trò, ta chắc là trò muốn như vậy mà.”
Harry xoay người tại chỗ và dõng dạc đi thẳng qua cánh cửa mở rộng: gì cũng được miễn là thoát khỏi Thầy Snape. Đại sảnh đường với bốn dãy bàn dài cho học sinh bốn nhà và một bàn dành cho giáo ban đặt ở đầu sảnh, được trang hoàng như thường lệ với những ngọn nến lơ lửng giữa không trung khiến cho những cái dĩa bên dưới lấ lánh và sáng choang. Nhưng tất cả đều nhòe nhạt lung linh đối với Harry, nó bước nhanh đến nỗi khi đã qua khỏi dãy bàn của nhà Hufflepuff rồi mới bắt đầu bị mọi người trố mắt nhìn, và khi đám học trò đứng lên để nhìn nó cho kỹ, thì nó đã tìm ra Ron và Hermione. Nó bèn đi như chạy về phía băng ghế của hai đứa bạn và chen vô ngồi giữa hai đứa nó.
“Nãy giờ bồ ở đâu?... Trời ơi, bồ đã làm gì cái mặt của bồ vậy?” Ron nói, cũng lõ mắt nhìn Harry như mọi người xung quanh.
“Hả, cái mặt mình bị sao?” Harry nói, chụp lấy một cái muỗng và liếc nhìn cái bóng phản chiếu méo mó của chân dung nó.
“Mặt bồ bê bết máu!” Hermione nói. “Lại đây...”
Cô nàng giơ cây đũa phép lên, nói “Tẩy sạch!” và làm tiêu hết mấy vết máu khô.
“Cám ơn,” Harry nói, sờ sờ cái mặt giờ đây đã sạch sẽ của nó. “Cái mũi của mình trông thế nào?”
“Bình thường,” Hermione lo lắng nói. “Mà tại sao nó có thể không bình thường cơ chứ? Harry, có chuyện gì vậy? Tụi mình sợ quá!”
“Mình sẽ nói với mấy bồ sau,” Harry sẵng giọng. Nó thấy rất rõ là Ginny, Neville, Dean, và Seamus đang dỏng tai nghe ngóng; ngay cả Nick Suýt mất đầu, con ma của nhà Gryffindor, cũng lảng vảng gần băng ghế của tụi nó mà nghe lén.
“Nhưng…” Hermione nói.
“Lúc này không được, Hermione,” Harry rầu rĩ nói, bằng một giọng đầy ngụ ý. Nó hy vọng lắm lắm là người ta sẽ đoán rằng nó vừa dính líu vô chuyện gì đó anh hùng, nếu là chuyện đương đầu với hai tên Tử thần thực tử và một tên giám ngục thì càng hay. Tuy nhiên Malfoy sẽ loan truyền câu chuyện rộng rãi hết mức có thể, nhưng biết đâu câu chuyện ấy sẽ không tới tai quá nhiều người trong nhà Gryffindor.
Nó vói ngang qua Ron tính lấy hai cái đùi gà và một nắm khoai chiên, nhưng chưa kịp lấy thì chúng đã biến mất, và thay vô đó là món bánh nướng.
“Đằng nào thì bồ cũng đã lỡ buổi phân loại học sinh mới rồi,” Hermione nói, trong khi Ron thò tay lấy một miếng bánh ngọt sô cô la.
“Nón có nói gì hay ho không?” Harry hỏi, vừa lấy một miếng bánh trái cây tẩm mật.
“Thực ra thì cũng như mọi năm… khuyên nhủ chúng ta đoàn kết để đối phó với kẻ thù, đại khái như bồ đã biêt rồi đấy.”
“Thầy Dumbledore có nhắc gì tới Voldermort không?”
“Chưa, nhưng thầy luôn để dành bào diễn văn riêng của thầy đến cuối bữa tiệc mà. Chắc cũng không còn lâu nữa đâu.”
“Thầy Snape nói bác Hagrid đến dự tiệc trế…”
“Bồ đã gặp Thầy Snape hả? Chuyện ra sao?” Ron nói giữa những cái ngoạm như điên vô miếng bánh ngọt.
“Tình cờ chạm trán ổng,” Harry nói lảng đi.
“Bác Hagrid chỉ trễ vài phút,” Hermione nói. “Nhìn kìa, bác đang vẫy tay với bồ kìa, Harry.”
0
Harry ngước nhìn lên bàn dành cho giáo ban và nhe răng cười với bác Hagrid, bác ấy quả thực đang vẫy tay chào nó. Bác Hagrid chẳng bao giờ kềm chế được hoàn toàn cách xử sự của mình cho đàng hoàng đứng đắn như giáo sư McGonagall – giáo viên chủ nhiệm của nhà Gryffindor. Cái đầu của bà nhô lên tới đâu đó khoảng giữa vai và cùi chỏ của bác Hagrid, bởi vì hai người đang ngồi cạnh nhau, và giáo sư McGonagall tỏ vẻ không tán thành cái kiểu chào hỏi hơi bị nồng nhiệt này. Harry ngạc nhiên thấy giáo viên môn Chiêm tinh, cô Trelawney đang ngồi sát bên cạnh bác Hagrid; hiếm khi nào thấy bà rời khỏi cái phòng trên tháp, và Harry chưa bao giờ thấy bà trong những bữa tiệc khai trường trước đây. Trông bà vẫn quái dị như hồi nào tới giờ, lấp lánh những chuỗi đeo lòng thòng và khăn quàng dài lượt thượt, hai mắt được cặp kính khuếch đại cho đến kích thước khổng lồ. Vì luôn luôn coi giáo sư Trelawney như một loại thầy bói bịp, Harry đã sửng sốt khi khám phá ra vào cuối niên học trước, rằng chính bà là người đã phán ra lời Tiên tri đã trở thành nguyên nhân khiến Chúa tể Voldermort giết cha mẹ Harry và tấn công chính Harry. Sự hiểu biết này khiến nó các ít háo hức xun xoe quanh bà, và thiệt may phước, nam nay nó bỏ học môn Chiêm tinh. Hai con mắt như đèn hiệu của bà Trelawney đảo vòng về hướng Harry; nó vội vàng nhìn thác qua hướng bàn ăn nhà Slytherin. Draco Malfoy đang làm điệu bộ kịch câm diễn tả động tác đạp bể một cái mũi giữa tiếng vỗ tay hoan hô và tiếng cười khành khạch. Harry cụ mắt lại ngó cái bánh trái cây tẩm mật của nó, ruột gan lại sôi lên. Nó phải đánh đổi cái gì đây để được đấu tay đôi với Malfoy một phen…
“Thế giáo sư Slughorn muốn gì?” Hermione hỏi.
“Muốn biết thực sự thì chuyện gì đã xảy ra ở Bộ,” Harry nói.
“Ông ấy và tất cả mọi người ở đây,” Hermione khịt khịt mũi lại. “Thiên hạ tra vấn tụi này suốt hành trình trên tàu, đúng không Ron?”
“Ừ,” Ron nói. “Tất cả đều muốn biết liệu bồ có phải là “Kẻ được chọn”   không...”
“Cái đề tài đó được thảo luận rất nhiều, thậm chí trong giới ma,” Nick Suýt mất đầu chen ngang, vừa cúi cái đầu chỉ còn dính tòn teng về phía Harry khiến cho cái đầu lặc lìa một cách đe dọa trên nếp cổ áo. “Tôi thì được coi như một thứ có uy tín về vấn đề Potter; ai cũng biết chuyện chúng ta thân thiết với nhau. Tôi sẽ khẳng định với cộng đồng mà là tôi sẽ không quấy rầy cậu để dò la thông tin, tuy nhiên tôi nói với họ là ’Harry Potter biết cậu ấy có thể giãi bày tâm sự với tôi mà tin cậy tuyệt đối. Tôi thà chết chứ không phản bội lòng ton của cậu ấy’.”
“Nói vậy thì cũng huề tiền, bởi vì ông đã chết mất tiêu rồi còn đâu,” Ron nhận xét.
“Một lần nữa, cậu lại cho thấy sự nhạy bén của một cái rìu cùn,” Nick Suýt mất đầu nói bằng giọng bị xúc phạm ghê gớm, rồi ông trồi lên trên không trung và lướt về phía đầu kia của cái bàn nhà Gryffindor vừa đúng lúc cụ Dumbledore đứng dậy từ bàn ăn của giáo ban. TIếng nói tiếng cười đang vang khắp sảnh đường hầu như lắng xuống ngay tức thì.
“Chúc các trò buổi tối tuyệt vời nhất!” Cụ nói, miệng cười tươi, tay dang rộng như thể muốn ôm hết cả sảnh đường.
“Tay của thầy bị sao vậy?” Hermione há hốc miệng thắc mắc.
Cô bé không phải là người duy nhất để ý. Bàn tay phải của cụ Dumbledore đã bị thâm đen và có vẻ như đã chết vào cái đêm mà cụ đến đón Harry ở gia đình Dursley. Tiếng xì xào nổi lên hắp phòng; Cụ Dumbledore, suy diễn đúng những lời xì xào đó, chỉ mỉm cười và rũ ống tay áo màu vàng tía che phủ vết thương.
“Không có gì đáng lo lắng cả,” cụ ung dung nói. “Nào các học sinh mới, ta mừng đón các trò vào trường, và các học sinh cũ, ta mừng đón các trò trở lại trường! Một năm học với đầy đủ giáo dục về pháp thuật đang chờ đón các trò…”
“Bàn tay của thầy đã như vậy từ khi mình gặp thầy hồi mùa hè,” Harry thì thầm với Hermione. “Nhưng mình tưởng đâu giờ này thầy đã chữa lành cho nó rồi chứ… hay bà Pomfrey đáng ra đã phải chữa lành cho thầy rồi chứ.”
“Trông có vẻ như bàn tay đã chết,” Hermione nói, với một vẻ buồn nôn. “Nhưng có một số thương tích không thể chữa lành được… những lời nguyền xưa… và có những thứ thuốc độc không có thuốc giải…”
“…và thầy Filch, giám thị của chúng ta, đã nhờ tôi nói rằng có một sự cấm ngặt bất cứ món đồ chơi giỡn nào xuất xứ từ cửa hàng gọi là Phù thỉ Wỉ Wái của Wea.
Những ai muốn chơi cho đội Quidditch của các nhà nên ghi danh với giáo sư hướng dẫn của nhà mình như thông lệ. Chúng ta cũng đang tìm một nhà bình luận Quidditch mới, thủ tục như trên.
Năm học này, chúng ta hân hoan chào đón một thành viên mới trong giáo ban, Giáo sư Slughorn,” Thầy Slughorn đứng dậy, cái đầu hói của thầy sáng bóng lên trong ánh nến, cái bụng bự quá khổ của thầy đổ bóng xuống mặt bàn. “Đây là đồng nghiệp của tôi trước đây, ông đã đồng ý phục hồi vị trí cũ của mình là một bậc thầy Độc dược.”
“Độc dược à?”
“Độc dược?”
Tiếng hỏi vang nhau khắp sảnh đường vì người ta thắc mắc liệu mình có nghe đúng không.
“Độc dược hả?” Ron và Hermione nói cùng một lúc, cùng quay lại nhìn Harry chằm chằm. “Nhưng bồ nói là…”
“Đồng thời GIÁO SƯ Snape,” cụ Dumbledore cất giọng cao hơn để lời cụ át đi những tiếng xì xầm, “sẽ nhận dạy bộ môn Phòng chống nghệ thuật hắc ám.”
“Không!” Harry nói to đến nỗi nhiều cái đầu quay về phía nó. Nó chẳng bận tâm. Nó đang trừng trừng ngó lên bàn giáo ban, tức như bị bò đá. Làm sao mà Thầy Snape được giao cho bộ môn Phòng chống nghệ thuật hắc ám trong thời buổi này chứ? Chẳng phải ai cũng biết rằng cụ Dumbledore đã không tin tưởng giao cho thầy ấy công việc đó suốt bao nhiêu năm hay sao?
“Nhưng Harry à, bồ nói Thầy Slughorn sắp dạy môn Phòng chống nghệ thuật hắc ám cơ mà!” Hermione nói.
“Mình cứ tưởng vậy!” Harry nói, vắt óc nhớ lại có khi nào cụ Dumbledore đã nói với nó điều này không, nhưng bây giờ nghĩ lại, nó không thể nào nhớ ra cụ Dumbledore có từng nói với nó là Thầy Slughorn sẽ dạy cái  gì.
Thầy Snape, người ngồi ngay bên phải cụ Dumbledore, đã không buồn đứng dậy đáp lễ khi tên thầy được nêu lên; thầy chỉ giơ một bàn tay lên uể oải ghi nhận tiếng vỗ tay hoan hô vang lên từ bàn ăn của nhà Slytherin, tuy vậy, Harry chắc chắn là nó đã phát hiện ra cái vẻ đắc thắng trên gương mặt mà nó ghét cay ghét đắng.
“Chà, có một điều lành,” nó nói một cách hằn học, “Thầy Snape sẽ ra đi vào cuối năm học.”
“Ý bồ muốn nói gì?” Ron hỏi.
“Cái môn xúi quẩy. Không ai dạy môn đó mà ở lại trường qua một năm… Trên thực tế thầy Quirrell chết khi đang dạy… Về phần mình, mình sẽ cầu khấn cho có thêm một cái chết nữa…”
“Harry!” Hermione kêu lên, giọng sửng sốt và quở trách.
“Có thể thầy ấy chỉ cần quay lại dạy môn Độc dược vào cuối niên học,” Ron nói với giọng biết điều. “Có thể cái ông Slughorn đó sẽ không muốn ở lại dạy lâu dài. Như thầy Moody đâu có ở lại.”
Cụ Dumbledore đằng hắng. Harry, Ron và Hermione không phải là những đứa duy nhất đang nói chuyện; cả Đại sảnh đường đã nổ bùng ra tiếng chuyện trò râm ran về cái tin Thầy Snape cuối cùng đã đạt được tâm nguyện. Dường như không biết đến tính chất gây xúc động của cái tin mà cụ vừa phổ biến, cụ Dumbledore không nói gì thêm về việc bổ nhiệm nhân sự trong giáo ban, cụ chờ vài giây cho có sự im lặng hoàn toàn rồi tiếp tục nói.
“Giờ đây, như mọi người trong sảnh đường này đều biết, chúa tể Voldermort và đồ đệ hắn lại một lần nữa tung hoành công khai và đang tăng cường lực lượng.”
Sự im lặng dường như trở nên ngột gạt và căng thẳng khi cụ Dumbledore nói. Harry liếc sang Malfoy. Malfoy lúc ấy không nhìn cụ Dumbledore, mà đang dùng cây đũa phép khiến cái nĩa của nó bay lượn lờ giữa không trung, như thể nó thấy lời lẽ của vị hiệu trưởng chẳng đáng cho nó để lọt vào tai.
“Tôi không thể nhấn mạnh đầy đủ sự nguy hiểm của tình thế hiện nay, và cẩn trọng mà mỗi người trong chúng ta ở trường Hogwarts cần phải có để bảo đảm chúng ta được an toàn. Tòa lâu đài đã được củng cố phòng thủ Pháp thuật vững chắc trong mùa hè, chúng ta đã được bảo vệ bằng những cách thức mới và mạnh hơn, nhưng chúng ta vẫn phải đề phòng hết sức cẩn thận sự cẩu thả vô ý về phía học sinh và giáo ban. Vì vậy thầy khuyên các trò nên tôn trọng bất cứ giới hạn an ninh nào mà các thầy cô giáo có thể áp đặt lên các trò, cho dù các trò có thấy khó chịu thế nào đi nữa- đặc biệt, điều lệ nội qui các trò không được ra khỏi giường vào ban đêm. Thầy kêu gọi các trò, nếu nhận thấy bất cứ điều gì khác lạ hay đáng ngờ bên trong lẫn bên ngoài tòa lâu đài, các trò hãy báo ngay lập tức cho một người trong giáo ban. Thầy tin tưởng các trò luôn xử xự với ý thức cao nhất về sự an toàn của chính các trò và của những người khác.”
Đôi mắt xanh cụ Dumbledore lướt qua khắp đám học sinh trước khi cụ mỉm cười một lần nữa.
“Nhưng bây giờ, chăn êm nệm ấm đang chờ các trò, thoải mái và ấm áp như các trò có thể mơ ước, và thầy biết ưu tiên số một của các trò là được nghỉ ngơi thật tốt để chuẩn bị cho bài học ngày mai. Cho nên chúng ta hãy chúc nhau ngủ ngon. Píp píp!”
Cùng với âm thanh ràn rạt điếc tai như mọi khi là những băng ghế bị đẩy ra sau và hàng trăm học sinh bắt đầu rồng rắn kéo nhau ra khỏi Đại sảnh đường đi về phía phòng ngủ của chúng. Harry, chẳng việc gì phải vội đi cùng cái đám đông cứ trố mắt nhìn nó, cũng không cần đến gần Malfoy vừa đủ để cho phép nó kể lại câu chuyện đạp bể cái mũi, cứ cà rề lại phía sau, làm bộ cột lại dây giày, nhường cho hầu hết học sinh nhà Gryffindor kéo ra trước. Hermione đã lao đi trước để làm nhiệm vụ Huynh trưởng của mình là chăn dắt đàn em năm thứ nhất, nhưng Ron nán lại với Harry.
“Thực ra thì có chuyện gì với cái mũi của bồ?” Ron hỏi, khi hai đứa đã cách khá xa cái đám đông đang kéo nhau ra khỏi Đại sảnh đường, và ở ngoài tầm nghe ngóng của bất cứ ai.
Harry kể cho Ron nghe. Ron không phá ra cười là một bằng chứng hùng hồn cho tình bạn vĩ đại giữa tụi nó.
“Mình thấy Malfoy làm điệu bộ nhái cái gì đó liên quan đến cái mũi,” Ron rầu rầu nói.
“Ừ, mà thôi, hơi đâu mà bận tâm,” Harry cay đắng nói. “Chỉ cần nghe điều mà nó nói trước khi phát hiện ra mình ở đó...”
Harry những tưởng Ron sẽ sửng sốt trước lời khoác lác của Malfoy. Thế nhưng, với thái độ mà Harry cho là đơn thuần ngoan cố, Ron chẳng xúc động tì nào.
“Thôi đi, Harry, nó chỉ khoe mẽ với con nhỏ Parkinson… Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy giao cho nó cái thứ sứ mạng gì chứ?”
“Làm sao bồ biết chắc được là Voldermort không cần ai nằm vùng trong trường Hogwarts? Đó sẽ là chuyện đầu tiên...”
“Ta ước gì con đừng nói ra cái tên đó nữa, Harry à,” một giọng nói đang đến gần tụi nó từ phía sau. Harry ngoảnh lại nhìn và thấy bác Hagrid đang lắc đầu.
“Thầy Dumbledore nói đúng cái tên đó,” Harry bướng bỉnh nói.
“Ừ, thôi, đó là cụ Dumbledore mà, đúng hông?” Bác Hagrid nói với giọng bí ẩn. “Mà sao con đến trễ vậy, Harry? Bác lo quá.”
“Con bị mắc kẹt trên tàu lửa,” Harry nói. “Còn bác, sao cũng đến trễ?”
“Bác bận lo cho Grawp,” bác Hagrid vui vẻ nói. “Thỉnh thoảng lạc đường. Bây giờ nó đã có một ngôi nhà mới trên núi, cụ Dumbledore bố trí cho nó – một cái hang đẹp. Ở đó nó sung sướng hơn nhiều so với hồi ở trong rừng. Anh em bác đã chuyện trò tán dóc với nhau.”
“Vậy hả?” Harry nói, cố trành nhìn vào mắt Ron; lần cuối cùng nó gặp người em cùng mẹ khác cha của bác Hagrid thì đó là một người cục cằn có tài nhổ bật gốc cây, vốn từ vựng tổng cộng chừng năm từ, mà trong  số đó có hai từ ông ta không thể phát âm rõ ràng.
“Ờ phải, chú ấy thiệt là tiến bộ,” bác Hagrid nói giọng tự hào. “Tụi con sẽ ngạc nhiên cho coi. Bác đang nghĩ đến chuyện huấn luyện chú ấy làm trợ lý.”
Ron khịt mũi hơi to, nhưng xoay sở làm sao như thể đó chỉ là một cái nhảy mũi. Bây giờ ba bác cháu đang đứng bên cạnh cánh cửa chính bằng gỗ sồi.
“Thôi thì, hẹn gặp các con vào ngày mai, bài học đầu tiên bắt đầu ngay sau bữa ăn trưa. Các con tới sớm một tí để còn chào con Buck – ý là con Whiterwings!”
Giơ một bàn tay lên vui vẻ vẫy chào tạm biệt, bác Hagrid hướng ra cửa đi vòa bóng đêm. Harry và Ron nhìn nhau. Harry có thể nói Ron cũng đang trải qua cái cảm giác chùng xuống như chính nó.
“Bồ không theo lớp học Chăm sóc sinh vật huyền bí nữa, phải không?”
Ron lắc đầu. “Và bồ cũng không phải?
Harry lại lắc đầu một lẫn nữa. Nó không muốn nghĩ xem bác Hagrid sẽ nói gì khi nhận ra cả ba đứa học trò cưng đều bỏ môn học của bác.
0
Chương 9
Hoàng tử lai
 
Harry và Ron gặp lại Hermione trong phòng sinh hoạt chung trước bữa điểm tâm vào sáng hôm sau. Hy vọng kiếm được sự ủng hộ cho giả thuyết của mình, Harry kể ngay cho Hermione những gì nó đã nghe lóm Malfoy nói trên tàu tốc hành Hogwarts.
Nhưng trước khi Hermione có thể nói điều gì thì Ron đã xen vào: “Chẳng qua nó chỉ khoe mẽ với Parkinson thôi, đúng không?”
“Ơ,” Hermione nói không chắc chắn lắm, “mình không biết… Có vẻ như Malfoy tự làm cho mình có vẻ quan trọng hơn chính thực chất của nó… nhưng xạo chuyện đó thì hơi quá…”
“Đúng vậy,” Harry nói, nhưng nó cũng chẳng thể triển khai ý kiến xa hơn được, vì có quá nhiều người đang cố tình nghe ngóng nó chuyện trò, ấy là không kể đến cái sự cứ nhìn nó chòng chọc và che miệng thì thầm bàn tán về nó.
“Chỉ chỏ là thô lỗ,” Ron nạt một thằng bé đặc biệt xinh xắn của năm thứ nhất khi tụi nó nối đuôi nhau để chui qua cái lỗ chân dung. Thằng bé vừa che miệng rù rì cái gì đó với đứa bạn lập tức đỏ mặt tía tai cà té lọt qua khỏi cái lỗ trong cơn hoảng hốt.
Ron khúc khích cười. “Mình khoái làm đàn anh năm thứ sau quá. Và tụi mình sẽ có nhiều thì giờ rảnh hơn trong năm nay. Nguyên một lô tiết học trống để mình có thể chỉ cần ngồi đây mà xả hơi.”
“Chúng ta sẽ cần thời gian đó để nghiên cứu, Ron à!” Hermione nói, khi cả hai bắt đầu đi xuống hành lang.
“Ừ, nhưng không phải bữa nay,” Ron nói. “Mình tính bữa nay là một này nghỉ thẳng cẳng.”
“Khoan đã!” Hermione nói, vừa vung ra một cánh tay để chặn lại một học sinh năm thứ tư đang đi ngang qua, cậu này đang cố chen lấn Hermione để vượt lên trước, trong tay cầm chắc một cái đĩa màu xanh vỏ chanh.
“Dĩa Quăng răng nanh bị cấm, đưa nó đây.” Hermione nghiêm nghị nói với thằng nhỏ. Thằng nhỏ cáu kỉnh giao nộp cái dĩa quăng đang gầm gừ, rồi lách qua khỏi cánh tay Hermione, và nhập vào đám bạn của mình. Ron đợi nó đi khuất rồi mới giật mạnh cái dĩa ra khỏi tay Hermione.
“Xuất sắc, lâu nay mình vẫn muốn có một cái như vầy.”
Sự phản đối của Hermione bị nhấn chìm trong tiếng cười khúc khích rất to; Hiển nhiên Lavender Brown thấy lời bình của Ron rất ư thú vị. Cô ả tiếp tục cười khi đã đi ngang qua tụi nó, vừa liếc nhìn lại Ron. Ron trông có vẻ cũng hơi hài lòng với chính mình.
Tấm trần của Đại sảnh đường màu xanh trong êm ả và được điểm xuyết bằng những dải mây mỏng manh lãng đãng, tựa như những ô vuông trời được nhìn qua cửa sổ có chấn song. Trong khi tụi nó ăn cháo với trứng và thịt muối, Harry và Ron kể cho Hermione nghe về cuộc nói chuyện khiến tụi nó bối rối vào đêm hôm trước với bác Hag.
“Nhưng bác ấy đâu có thể cứ mong tụi mình tiếp tục học môn Chăm sóc sinh vật huyền bí được!” Hermione nói, có vẻ khổ tâm. “Mình muốn nói là, có hồi nào… đứa nào trong tụi minhg tỏ ra… mấy bồ biết đó… nhiệt tình đâu?”
“Ừ mà, vậy đó,” Ron nói, vừa nuốt nguyên một cái trứng chiên. “Tụi mình là những đứa đã gắng hết sức trong lớp tại vì tụi mình yêu mến bác Hag. Nhưng bác lại tưởng là tụi mình khoái cái môn nhảm nhí đó. Mấy bồ có nghĩ là có ai lại đi học môn đó ở cấp Pháp thuật tận sức không?”
Cả Harry lẫn Hermione đều không trả lời; Câu trả lời chẳng cần thiết. Tụi nó biết quá rõ rằng không ai vào năm thứ sáu lại muốn tiếp tục môn Chăm sóc sinh vật huyền bí. Tụi nó tránh ánh mắt của bác Hag và chỉ đáp lại cái vẫy tay chào nồng nhiệt của bác bằng một nửa nhiệt tình khi bác rời bàn ăn giáo ban khoảng mười phút sau đó.
Sau khi ăn xong, tụi nó vẫn ở lại trong lâu đài, chờ giáo sư McGonagall đi xuống từ bàn ăn của giáo ban. Việc phân phát thời khóa biểu năm nay hơi phức tạp hơn mọi năm, bởi vì giáo sư McGonagall trước tiên cần xác định rằng mọi người đã đạt được thứ hạng cần thiết trong kỳ thi Pháp thuật thường đẳng để tiếp tục theo học những môn họ chọn để thi Pháp thuật Tận sức.
Hermione nhanh chóng được thông qua với các môn Bùa phép, Phòng chống nghệ thuật hắc ám, Biến hình, Dược thảo học, Số học, Cổ ngữ Runes, và Độc dược, và phóng vọt đi đến tiết đầu tiên của lớp Runes Cổ đại mà không cần tốn thêm công sức gì nữa. Neville mất nhiều thì giờ hơn để sắp xếp đâu ra đó; gương mặt tròn quay của nó hết sức căng thẳng khi giáo sư McGonagall ngó xuống hồ sơ của nó và tham khảo kết quả Pháp thuật thường đẳng.
“Dược thảo học, tốt,” bà nói. “Giáo sư Sprout sẽ vui mừng gặp lại trò với điểm ‘Xuất sắc’ trong chứng chỉ Pháp thuật thường đẳng. Và trò đạt yêu cầu theo học tiếp lớp Phòng chống nghệ thuật hắc ám với điểm ‘Vượt quá kỳ vọng’. Nhưng có vấn đề ở môn Biến hình. Ta rất tiếc, Longbottom à, nhưng điểm ‘Chấp nhận được’ thực ra không đủ để tiếp tục học lớp này ở bậc Pháp thuật Tận sức. Ta chỉ sợ là con không thể theo kịp bài tập trong khóa học.”
Neville cúi gục đầu. Giáo sư McGonagall ngó nó qua cặp kính vuông của bà.
“Nhưng tại sao con muốn tiếp tục học môn Biến hình? Ta chưa bao giờ có cảm tưởng là con đặc biệt say mê môn học này.”
Neville tỏ vẻ khổ sở và lẩm bẩm cái gì đó rằng, “Bà nội muốn.”
“Hừm,” giáo sư McGonagall khụt khịt mũi. “Đã tới lúc bà nội của trò phải biết tự hào về đứa cháu mà bà ấy có, chứ không phải đứa cháu mà bà ấy nghĩ là bà ấy nên có – đặc biệt là sau những gì xảy ra ở Bộ.”
Neville đỏ mặt và chớp chớp mắt bối rối; trước đây giáo sư McGonagall chưa bao giờ thốt lời khen ngợi nào đối với nó.
“Ta rất tiếc, Longbottom à, nhưng ta không thể để cho trò vào học lớp Pháp thuật Tận sức của  ta. Tuy nhiên, ta thấy trò có điểm ‘Vượt quá kỳ vọng’ ở môn Bùa phép – tại sao trò không thử học lớp Bùa phép cấp Tận sức?”
“Bà nội con cho rằng Bùa phép là một sự lựa chọn dễ dãi,” Neville lại nói lí nhí.
“Hãy học môn Bùa phép,” giáo sư McGonagall nói, “và ta sẽ gởi cho chị Augusta một dòng nhắc chị rằng không thể chỉ vì chị thi rớt môn Bùa phép trong  kỳ thi Pháp thuật thường đẳng mà môn học ấy trở nên không đáng học một cách không cần thiết.”
Nhẹ mỉm cười với nét mặt rạng rỡ lên trong vẻ bán tín bán nghi của Neville, giáo sư McGonagall gõ nhẹ đầu cây đũa phép của bà lên cái thời khóa biểu còn để trống và đưa cho Neville, bây giờ cái thời khóa biểu đã đầy đủ chi tiết về các lớp học.
Giáo sư McGonagall tiếp đến làm việc với Parvati Patil, cô bé này trước tiên hỏi ngay là thầy Firenze, chàng nhân mã đẹp trai, có còn dạy môn Chiêm tinh không.
“Thầy ấy và giáo sư Trelawney cùng chia lớp dạy trong năm học này,” giáo sư McGonagall nói, trong giọng nói  của bà có ẩn ý không tán thành việc đó; ai cũng biết là bà coi thường môn Chiêm tinh. “Năm thứ sáu sẽ do giáo sư Trelawney dạy.”
Năm phút sau đó Parvati khởi hành đến lớp Chiêm tinh với vẻ hơi bị cụt hứng.
“Vậy là Potter, Potter...” giáo sư McGonagall lại nói, vừa tham khảo những ghi chép trong sổ tay của bà rồi quay qua nói với Harry. “Bùa phép, Phòng chống nghệ thuật hắc ám, Dược thảo học, Biến hình… tất cả đều tốt. Ta phải nói, ta hài lòng với điểm Biến hình của trò, Potter à, rất hài lòng. Nhưng tại sao trò không xin tiếp tục học môn Độc dược? Ta tưởng tham vọng của trò là trở thành một Tsg cơ mà?”
“Thưa giáo sư, đúng vậy. Nhưng cô đã nói với con là cần phải có điểm ‘Xuất sắc’ trong kỳ thi Pháp thuật thường đẳng.”
“Và trò cần điểm đó khi giáo sư Snape dạy bộ môn đó. Tuy nhiên, giáo sư Slughorn thì hoàn toàn vui vẻ chấp nhận học sinh vào lớp độc dược với điểm ‘Vượt quá kỳ vọng’ trong kỳ thi Pháp thuật thường đẳng. Vậy trò có muốn tiếp tục học môn độc dược không?”
“Dạ có,” Harry nói, “nhưng con đã không mua sách hay nguyên liệu hay bất cứ cái gì…”
“Ta giám chắc là giáo sư Slughorn có thể cho trò mượn một ít,” giáo sư McGonagall nói. “Rất tốt, Potter à, đây là thời khóa biểu của trò. À, nhân tiện, hai mươi ứng cử viên tràn trề hy vọng đã ghi danh vào đội bóng Quidditch của nhà Gryffindor. Ta sẽ chuyển danh sách cho trò đúng thời hạn để trò có thể lên lịch tuyển chọn khi nào rảnh rỗi.”
Vài phút sau, Ron cũng được thông qua những môn học tương tự như Harry, và cả hai cùng rời bàn ăn với nhau.
“Coi nè,” Ron khoái chí nói, vừa chăm chú xem cái thời khóa biểu của nó, “bây giờ tụi mình có ba tiết trống… và một tiếng trống sau giờ giải lao… và sau bữa ăn trưa… Xuất sắc.”
Tụi nó trở về phòng sinh hoạt chung trống vắng, ngoại trừ nửa tá học sinh năm thứ bảy, gồm cả Katie Bell, thành viên duy nhất còn sót lại của đội Quidditch nhà Gryffindor đầu tiên mà Harry gia nhập hồi năm thứ nhất.
“Chị đã nghĩ là em thể nào cũng được cái đó, giỏi lắm,” Katie gọi với qua, chỉ vào cái huy hiệu đội trưởng đeo trên ngực áo Harry. “Nhớ cho chị biết bao giờ em tuyển quân nhé!”
“Đừng giả nai đi,” Harry nói, “chị đâu cần thi tuyển nữa, em đã xem chị chơi suốt năm năm trời…”
“Em đừng bắt  đầu kiểu đó,” Katie nói giọng cảnh cáo. “Bởi vì em biết quá, còn có người giỏi hơn chị rất nhiều. Từ trước tới nay các đội bóng giỏi thường bị hỏng chỉ vì đội trưởng cứ giữ lại mấy gương mặt cũ, hay đưa bạn bè bồ bịch vô…”
Ron có vẻ hơi khó chịu và bắt đầu chơi với cái dĩa quăng có răng nanh mà Hermione đã tịch thu của một học sinh năm thứ tư. Cái dĩa bay vòng quanh căn phòng sinh hoạt chung và tìm cách táp cái khăn trải bàn.  Crookshanks dõi đôi mắt vàng khè theo cái đĩa và rít lên khi cái đĩa bay đến gần.
Một giờ sau tụi nó bất đắc dĩ rời khỏi căn phòng sinh hoạt chung tràn nắng ấm để đến lớp học Phòng chống nghệ thuật hắc ám ở dưới đó bốn lầu. Hermione đã đứng sắp hàng đợi bên ngoài, ôm đầy tay những cuốn sách nặng ịch và tỏ vẻ như bị ngược đãi.
“Tụi này bị giao quá nhiều bài tập tiếng Runes,” cô nàng lo lắng nói khi Harry và Ron nhập bọn. “Một bài luận văn dài ba tấc tám, hai bài dịch, và mình phải đọc hết mấy cuốn này vào thứ tư!”
“Đáng đời!” Ron ngáp.
“Bồ hãy đợi đấy,” cô nàng phẫn uất nói. “Mình cá là Thầy Snape cũng sẽ ra cả đống bài tập.”
Cánh cửa phòng học mở ra trong lúc Hermione đang nói, và Thầy Snape bước ra hành lang, gương mặt tai tái của thầy vẫn như từ trước đến giờ được khuôn trong hai bức rèm tóc đen nhờn bóng vuốt  tém qua hai bên má. Đám học sinh đang xếp hàng lập tức im lặng như tờ.
“Vào lớp,” thầy nói.
Harry nhìn quanh khi tụi nó bước vào phòng. Thầy Snape đã áp đặt cá tính thầy lên căn phòng; nó trở nên âm u hơn bình thường, vì các tấm màn đã được kéo lại để che cửa sổ, căn phòng chỉ được thắp sáng bằng ánh nến. Mấy bức tranh mới trang trí trên tường, nhiều bức vẻ cảnh người ta tỏ ra đau đớn, bày ra trắng trợn những vết thương ghê rợn và những phần cơ thể bị biến dạng một cách kỳ lạ. Không đứa học trò nào nói gì khi cả đám ngồi xuống, nhìn quanh những bức tranh rùng rợn tối tăm.
“Ta chưa yêu cầu các trò lấy sách ra,” Thầy Snape nói, vừa đóng cửa và di chuyển đến sau bàn giáo viên, đứng quay mặt về phía lớp học; Hermione vội vả nhét quyển Đối diện với Vô diện trở vô túi xách và nhét xuống gầm ghế. “Ta muốn nói đôi lời với các trò, và ta muốn các trò hết sức chăm chú lắng nghe.”
Đôi mắt đen của thầy đảo qua những gương mặt ngước lên của lũ học sinh, nấn ná lâu hơn chừng một phần giây trên gương mặt Harry so với mặt của những đứa khác.
“Tính đến nay các trò đã có năm giáo viên dạy bộ môn này, ta tin vậy.”
Ông tin vậy như thể ông không thấy tất cả họ đều đến rồi đi, ông Snape ạ, hy vọng ông sẽ là kẻ tiếp theo. Harry nghĩ một cách hằn học.
“Lẽ đương nhiên, tất cả những giáo sư này đều có phương pháp và ưu thế riêng. Trong bối cảnh rối rắm ấy ta sẽ rất ngạc nhiên nếu tất cả các trò xoay sở theo kịp bài vở lớp Pháp thuật Tận sức, đều là những bào vở cao cấp.”
Thầy Snape bắt đầu đi quanh phòng học, nói bằng một giọng nhỏ hơn; cả lớp phải ngỏng cổ lên để theo ông.
“Nghệ thuật hắc ám,” Thầy Snape nói, “là phong phú, đa dạng, luôn luôn biến đổi và bất diệt. Chiến đấu với Nghệ thuật hắc ám cũng giống như chiến đấu với một quái vật nhiều đầu, mà mỗi lần trên một cái cổ bị đứt đầu sẽ mọc lên ngay một cái đầu khác, dữ dội hơn, khôn ngoan hơn cái đầu trước. Các trò đang chiến đấu với cái đó, cái bất định, biến hóa, không thể tiêu diệt được.”
Harry ngó chằm chằm Thầy Snape. Chắc chắn việc coi Nghệ thuật hắc ám như một kẻ thù nguy hiểm là một chuyện, còn nói về Nghệ thuật hắc ám với một giọng trìu mến yêu thương, như Thầy Snape đang làm đây, lại là một chuyện khác.
“Sự phòng chống của các trò,” Thầy Snape nói tiếp, giọng lớn hơn một chút, “vì vậy phải linh hoạt và sáng tạo như chính cái nghệ thuật mà các trò muốn tiêu diệt. Những bức tranh này” – thầy chỉ vài bức tranh khi bước ngang qua - “trình bày khá đúng về những gì xảy ra cho những ai bị trúng phải, thí dụ, Lời nguyền Hành hạ,” (thầy vẫy một bàn tay về phía một phù thủy rõ ràng đang rên xiết trong thống khổ), “cảm nhận Nụ hôn Giám ngục,” (một pháp sư nằm co quắp, đôi mắt đờ đẫn, lún vô trong tường) “hay khiêu khích phải sự hung hăng của Âm binh,” (một vũng máu trên mặt đất).
“Vậy có ai từng nhìn thấy Âm binh chưa?” Parvati Patil cất lên giọng the thé. “Có đúng là có chúng không, có phải kẻ ấy đang sử dụng chúng không?”
“Chúa tể Hắc ám đã từng sử dụng Âm binh trong quá khứ,” Thầy Snape nói, “có nghĩa là các trò nên khôn ngoan mà nghĩ rằng ông ấy có thể sẽ sử dụng chúng trở lại. Bây giờ…”
Thầy lại bắt đầu đi vòng qua phía bên kia phòng học để trở lại ban giáo viên, và một lần nữa, lũ học trò ngó theo thầy bước đi, vạt áo choàng phồng lên phía sau lưng.
“…ta tin các trò là những người hoàn toàn mới mẻ trong việc sử dụng thần chú không lời. Vậy thuận lợi của thần chú không lời là gì?”
Bàn tay của Hermione giơ thẳng lên không trung. Thầy Snape thủng thẳng nhìn quanh xem còn ai nữa giơ tay, để biết chắc là chẳng còn sự lựa chọn nào khác, trước khi sẵng giọng bảo:
“Tốt lắm… Cô Granger?”
“Đối thủ của ta không có được sự báo trước về loại Pháp thuật mà ta sắp thực hiện,” Hermione nói, “điều này cho ta một phần giây ưu thế.”
“Một câu trả lời hầu như sao y từng lời trong cuốn sách Thần chú Căn bản, lớp 6,” Thầy Snape nói chẳng nương nhẹ chút nào (ở góc phòng, Malfoy cười khẩy), “nhưng đúng về căn bản. Phải, những pháp sư tiên tiến trong việc sử dụng pháp thuật mà không cần hô to thần chú đạt tới một trình độ đáng ngạc nhiên trong cách ếm bùa của họ. Không phải tất cả các pháp sư đều có thể làm được điều này, đương nhiên; Đó là vấn đề tập trung và sức mạnh trí tuệ mà một số…” ánh mắt lườm lườm của thầy lởn vởn một cách hiểm độc trên gương mặt Harry một lần nữa, “…một  số người không có.”
Harry biết Thầy Snape đang nghĩ đến những buổi học Bế Quan bí thuật thảm hại năm ngoái. Nó không chịu tránh cái nhìn, mà trừng mắt chiếu tướng lại Thầy Snape cho đến khi Thầy Snape quay mặt đi.
“Bây giờ các trò chia ra thành từng cặp,” Thầy Snape tiếp tục. “Mỗi người cố gắng ếm bùa người kia mà không nói. Người kia sẽ cố gắng hóa giải bùa phép cũng trong im lặng. Thực hiện.”
Mặc dù Thầy Snape không biết chuyện Harry đã từng dạy cho một nửa lớp (tất cả những ai là thành viên của ĐQD) cách thức thực hiện một Bùa chắn vào năm ngoái. Tuy nhiên, không ai trong số chúng từng ếm bùa mà không phát ra lời. Một số đáng kể vụ gian lận xảy ra; nhiều người chỉ thì thầm câu thần chú thay vì hô to lên.
Thành đặc tính rồi, chỉ mười phút sau khi thực tập, Hermione đã tìm được cách hóa giải Bùa Chân dẻo được Neville ếm lầm rầm trong miệng cô bé mà không cần thốt ra một lời nào, một kỳ công mà Hermione chắc chắn sẽ được bất cứ một giáo sư công bằng nào thưởng hai mươi điểm cho nhà Gryffindor, Harry cay đắng nghĩ, nhưng Thầy Snape cứ phớt lờ đi. Thầy lướt ngang qua giữa hai đứa nó trong lúc tụi nó đang thực tập, trông rất giống một con dơi khổng lồ như từ trước đến giờ, nấn ná xem Harry và Ron vất vả làm bài tập.
Ron, đứa được giao là kẻ ếm bùa Harry, tím bầm cả mặt mũi, môi mím chặt để tự ngăn mình lẩm nhẩm câu thần chú. Harry đã giơ cây đũa phép lên, sốt ruột để chờ đợi hóa giải một bùa phép không có vẻ gì sẽ xảy ra.
“Thảm quá, Weasley à,” Thầy Snape nói, sau một lúc quan sát. “Đây… để tôi chỉ cho trò…”
Thầy xoay cây đũa phép về phía Harry nhanh đến nỗi Harry phản ứng theo bản năng; bao nhiêu ý tưởng về thần chú không lời bay biến đâu mất, nó hét lên, “Tự vê!”
Bùa chắn của nó mạnh đến nỗi Thầy Snape bị tống một phát mất thăng bằng văng đụng vô một cái bàn. Cả lớp đều ngoảnh lại và giờ đây chăm chú nhìn Thầy Snape đứng thẳng dậy, sửa tư thế cho đàng hoàng, quắc mắt lên nói:
“Trò có nhớ là ta bảo trò thực hành bùa phép không lời hay không, hả Potter?”
“Có,” Harry cứng cỏi đáp.
“Thưa ngài, có.”
0
“Không cần gọi tôi là ‘ngài’, thưa giáo sư.” Mấy lời này tuột khỏi miệng Harry trước khi nó ý thức là mình đang nói gì. Nhiều đứa há hốc mồm kinh ngạc, trong đó có cả Hermione. Tuy nhiên, sau lưng Thầy Snape, Ron, Dean và Seamus nhe răng cười tán thưởng.
“Cấm túc, đêm thứ bảy, trong văn phòng ta,” Thầy Snape nói. “Ta không chấp nhận thói táo tợn của bất cứ ai, Potter à… cho dù đó là “Kẻ được chọn”.”
Một lát sau, khi đã được an toàn vào giờ ra chơi, Ron cười hể hả, “Hết sảy, Harry!”
“Thực tình là bồ không nên nói như vậy,” Hermione nói, cau mày với Ron. “Mắc cái gì mà bồ làm vậy hả?”
“Ổng tính ếm mình, nếu bồ đã không để ý thì mình nói cho mà biết!” Harry hầm hè nói. “Mình đã bị quá đủ trong những buổi học Bế Quan bí thuật rồi! Tại sao ổng không dùng một con chuột bạch chẳng hạn? Mà cụ Dumbledore đang chơi trò gì không biết mà cứ để cho ông ta dạy môn Phòng chống nghệ thuật hắc ám chứ? Mấy bồ có nghe ổng nói về Nghệ thuật hắc ám không? Ổng khoái nó. Tất cả cái mớ bất đinh, bất diệt…”
“Thôi,” Hermione nói, “Mình nghĩ thầy cũng hơi giống bồ một tí.”
“Giống mình?”
“Ừ, khi bồ nói với tụi này việc đương đầu với Voldermort nó như thế nào. Bồ đã nói rằng không thể chỉ dùng một mớ bùa mê ngải lú, bồ nói phải là chính mình với bộ óc của mình và gan dạ của mình – Đó, chẳng phải là những gì Thầy Snape nói sao? Rằng chính lòng can đảm và sự nhanh trí mwois thực sự là cốt lõi.”
Harry nguôi giận đột ngột khi thấy Hermione đã coi lời nói của nó đáng học thuộc lòng như chữ nghĩa trong sách Thần chú Căn bản, nó không thèm cãi lại nữa.
“Harry! Ê, Harry!”
Harry quay lại ngó; Jack Sloper, một trong những tấn thủ của đội bóng Quidditch nhà Gryffindor năm ngoái, đang vội vã chạy về phía nó, tay cầm một cuộn giấy da.
“Gởi bồ,” Sloper hổn hển nói. “Nghe nhé, mình nghe nói bồ là đội trưởng mới. Chừng nào bồ cho chơi thử để tuyển cầu thủ?”
“Mình cũng chưa biết,” Harry nói, nghĩ thầm là Sloper phải may mắn lắm mwois hòng được tuyển lại vô đội. “Mình sẽ cho bồ biết.”
“Ừ, phải. Mình hy vọng là sẽ diễn ra vào cuối tuần này…”
Nhưng Harry không còn lắng nghe nữa; nó vừa nhận ra nét chữ mảnh xiên xiên trên mảnh giấy da. Bỏ mặc Sloper đang nói giữa chừng câu, Harry vội vã đi cùng Ron và Hermione, vừa đi vừa mở cuộn giấy da ra lại.
Harry thân mến,
Thầy muốn bắt đầu những buổi học riêng cho con vào thứ bảy này. Con vui lòng đến văn phòng của thầy vào 8 giờ tối. Hy vọng con vui thích ngày đầu tiên trở lại trường.
Thân ái,
Albus Dumbledore
Tái bút: thầy khoái Nước chua.
“Thầy khoái Nước chua à?” Ron nói, nó đã đọc ké bức thư qua vai của Harry và coi bộ không hiểu.
“Đó là mật khẩu để vượt qua con thú đá canh gác bên ngoài văn phòng của thầy.” Harry nói nhỏ. “Ha! Thầy Snape sẽ chẳng vui nổi… Như vậy mình sẽ không thể đến buổi cấm túc!”
Harry, Ron và Hermione bỏ cả buổi ra chơi để suy đoán xem cụ Dumbledore sẽ dạy Harry môn gì. Ron nghĩ rất có thể là những bùa phép pháp thuật kỳ lạ mà bọn Tử thần thực tử không hề biết. Hermione nói những chuyện như vậy không hợp pháp, và cô bé nghĩ rất có thể cụ Dumbledore muốn dạy Harry pháp thuật phòng vệ cao cấp. Sau giờ ra chơi, Hermione đi vô lớp Số học trong khi Harry và Ron trở lại phòng sinh hoạt chung, ở đó tụi nó đau khổ làm bài tập của Thầy Snape. Bài tập này hóa ra phức tạp đến nỗi tụi nó vẫn chưa làm xong khi Hermione quay trở lại nhập bọn trong tiết trống sau buổi ăn trưa, (mặc dù vậy cô bé đã khiến tiến trình được tăng tốc đáng kể). Tụi nó chỉ làm xong bài khi chuông reo báo buổi học hai tiết Độc dược bắt đầu, và cả bọn giẫm trên lối đi quen thuộc xuống phòng học dưới tầng hầm, nơi vốn thuộc về Thầy Snape khá lâu.
Khi đi đến hành lang, tụi nó thấy chỉ có khoảng một tá học sinh tiếp tục môn độc dược ở cấp Tận sức. Crabbe và Goyle rõ ràng là đã không đạt được điểm hạng cần thiết trong kỳ thi Pháp thuật thường đẳng, nhưng có bốn học sinh nhà Slytherin vượt qua được, gồm cả Malfoy. Bốn đứa của nhà Ravenclaw  cũng có mặt ở đó, một đứa bên nhà Hufflepuff là Ernie Macmillan, Harry thích Ernie bất chấp bộ dạng khoe mẽ của chàng ta.
“Harry,” Ernie nói với vẻ trang trọng rất kịch, và đưa tay ra khi Harry đến gần, “chẳng có được cơ hội nói chuyện trong lớp Phòng chống nghệ thuật hắc ám hồi sáng này. Buổi học hay, theo tôi nghĩ, nhưng bùa chắn là món cũ rồi, dĩ nhiên là đối với bọn lính già ĐQD như chúng ta… và các bạn khỏe chứ, Ron… Hermione?”
Tụi nó chưa kịp nói tiếng “khỏe” thì cánh cửa phòng học ở tầng hầm đã mở ra, và cái bụng bự của Thầy Slughorn đi trước, dẫn thầy ra cửa. Khi mọi người đã lần lượt vô phòng, bộ ria hải mã vĩ đại của thầy bèn cong vảnh lên bên trên cái miệng cười toe toét, và thầy chào Harry và Zabini với sự nồng nhiệt đặc biệt.
Tầng hầm đã tràn đầy khí và mùi kỳ dị, hiếm khi nào như vậy. Harry, Ron, và Hermione hít hửi một cách thích thú khi tụi nó đi ngang qua một cái vạc tổ chảng đang sôi ục ục. Bốn đứa nhà Slytherin chọn một cái bàn ngồi chung với nhau, bốn đứa nhà Ravenclaw cũng vậy. Thành ra còn lại Harry, Ron, và Hermione ngồi chung một bàn với Ernie. Tụi nó chọn cái bàn gần cái vạc màu vàng kim nhất. Cái vạc ấy đang tỏa ra một trong những mùi hương quyến rũ nhất mà Harry từng được hít vào: chẳng biết bằng cách nào mùi hương ấy gợi nó nhớ đến bánh trái cây tẩm mật, mùi gỗ của cán chổi bay, và mùi hoa gì đó mà nó nghĩ có thể nó đã ngửi được khi ở trang trại Hang Sóc. Nó nhận thấy nó đang hít thở từ từ và thật sâu làn khói của chất thuốc đó dường như đang làm nó ngất ngây như say rượu. Khắp người nó tràn ngập cảm giác thỏa thuê; nó nhe răng cười với Ron, Ron cũng lờ đờ cười đáp lại nó.
“Xong rồi, xong rồi, xong rồi,” Thầy Slughorn nói, hình dáng đồ sộ của thầy dường như run rẩy qua những làn khí lung linh. “các trò lấy cân ra, và bộ đồ pha chế thuốc, đừng quên cuốn Chế tạo thuốc cao cấp…”
“Thưa thầy?” Harry giơ tay lên nói.
“Harry, gì đó con trai ta?”
“Con không có sách và cân hay bất cứ thứ gì cả - Ron cũng không – Chúng con không dè chúng con đủ điểm để lên cấp Tận sức, thầy hiểu…”
“A, phải rồi, giáo sư McGonagall đã lưu ý… đừng lo, con trai ta, đừng lo gì cả. Hôm nay con có thể dùng nguyên vật liệu pha chế lấy từ tủ dự trữ, và ta chắc là có thể cho các con mượn vài cái cân, và chúng ta có một cái kho nhỏ những sách cũ ở đây. Các con có thể mượn xài đỡ cho đến khi các con viết thư đặt mua sách ở tiệm Flourish và Blotts…”
 Thầy Slughorn rảo bước tới một cái tủ đặt ở góc phòng, sau một lúc lục lọi, thầy lại hiện ra với hai bản Chế tạo thuốc cao cấp của Libatius Borage trông hết sức te tua, thầy đưa cho Harry và Ron hai cuốn sách cùng với hai cái cân cũ xì.
“Bây giờ thì,” Thầy Slughorn nói, trở lại chỗ đứng trước lớp và hít hơi vào bộ ngực vốn đã phồng to rồi, đến nỗi mấy cái nút áo chẽn của thầy suýt đứt tung ra, “thầy đã chuẩn bị vài món thuốc cho các con nhìn qua một cái, cho vui vậy mà. Những thứ này là những thứ mà các con nên biết chế tạo sau khi hoàn tất bậc Tận sức. Các con ắt có nghe nói đến chúng. Ai có thể cho thầy biết cái này là cái gì.”
Thầy chỉ vào cái vạc gần bàn của đám Slytherin nhất. Harry hơi nhóng người lên một chút để xem cái chất lỏng trông giống như nước lã đun sôi bên trong vạc.
Bàn tay vốn thực hành quá ư thường xuyên của Hermione giơ lên không khí trước bất kỳ ai khác; Thầy Slughorn chỉ vô cô bé.
“Đó là Chân dược, một chất độc không màu, không mùi có thể buộc người uống nói ra sự thật,” Hermione đáp.
“Giỏi lắm, giỏi lắm!” Thầy Slughorn vui vẻ nói. “Bây giờ,” thầy tiếp tục, chỉ vào cái vạc gần bàn Ravenclaw nhất, “cái món này đây khá nổi tiếng… cũng được đề cao trong vài tờ rơi của Bộ dạo gần đây… Ai có thể…?”
Bàn tay Hermione lại một lần nữa giơ lên nhanh nhất.
“Thưa thầy, đó là Đa quả dịch,” cô bé nói.
Harry cũng đã nhận ra cái chất giống như bùn đang sủi tăm từ từ trong cái vạc thứ hai, nhưng nó không phật ý cái chuyện Hermione giành hết điểm trả lời câu hỏi; nói cho cùng, cô nàng là người đã thành công trong việc chế tạo ra món thuốc đó vào năm thầy Snape hai.
“Xuất sắc! Xuất sắc! Bây giờ, đến món này đây… được, nói đi con.” Thầy Slughorn, lúc này trông có vẻ hơi sửng sốt khi thấy bàn tay của Hermione lại một lần nữa vọt lên không trung.
“Đó là tình dược!”
“Đúng là nó. Nếu hỏi nữa thì có vẻ ngu thiệt,” Thầy Slughorn nói, tỏ ra có ấn tượng mãnh liệt, “nhưng thầy chắc là con có biết nó có tác dụng gì?”
“Đó là thứ thuốc tình yêu mạnh nhất trên đời!” Hermione nói.
“Rất đúng! Ta đoán rằng con đã nhận ra nó nhờ vẻ lấp lánh ngọc trai đặc biệt của nó?”
“Và làn hơi bốc lên theo hình xoắn trôn ốc đặc thù,” Hermione hăng hái nói, “và nó được coi là có mùi khác nhau đối với mỗi người tùy theo cái gì hấp dẫn chúng ta, và con thì ngửi thấy mùi cỏ mới cắt và mùi giấy da mới và…”
Nhưng cô bé hơi ửng hồng rồi bỏ lửng câu nói.
“Cho thầy biết tên con được không, con thân mến?” Thầy Slughorn hỏi, phớt lờ vẻ thẹn thùng của Hermione.
“Thưa thầy, Hermione Granger.”
“Granger? Granger? Có thể con có bà con họ hàng gì với Hecấm túcor Dagworth- Granger, người đã sáng lập Hội Dược sư phi thường nhất?”
“Dạ không, thưa thầy. Con không nghĩ vậy. Con sanh ra là Muggle, thầy biết đấy.”
Harry thấy Malfoy chồm tới gần Nott và thì thầm cái gì đó; cả hai khúc khích cười, nhưng Thầy Slughorn chẳng tỏ vẻ mất hứng; ngược lại, thầy cười tươi và nhìn từ Hermione sang Harry, người ngồi bên cạnh cô bé.
“À há! ‘Một trong những người bạn tốt nhất của con có gốc Muggle, và bạn ấy là học sinh giỏi nhất lứa tụi con!’ Thầy đoán rằng đây chính là người bạn mà con nói đến, phải không Harry?”
“Thưa thầy, phải ạ,” Harry nói.
“Hay, hay, hãy nhận hai mươi điểm cho nhà Gryffindor, cô Granger nhé,” Thầy Slughorn ân cần nói.
Malfoy trông có vẻ hơi giống như cái lần Hermione thoi một đấm vô mặt nó. Hermione quay qua Harry với vẻ mặt rạng rỡ và thì thầm, “Có thật là bồ đã nói với thầy rằng mình là học sinh giỏi nhất của lứa tụi mình không? Ôi, Harry!”
“Chà, có gì mà ấn tượng dữ dội về việc đó chứ?” Ron nói nhỏ, vì lý do gì đó anh chàng này hơi có vẻ khó chịu. “Bồ là học sinh giỏi nhất lứa tụi mình – mình cũng sẽ nói với thầy như vậy nếu thầy hỏi mình!”
Hermione mỉm cười nhưng làm một cử chỉ “suỵt”, để tụi nó có thể nghe điều Thầy Slughorn đang nói. Ron có vẻ hơi cáu kỉnh.
“Tình dược không thực sự tạo ra tình yêu, dĩ nhiên. Không thể nào chế tạo hay giả tạo tình yêu. Không, thuốc này sẽ chỉ gây ra sự mê đắm hay ám ảnh mãnh liệt. Nó có lẽ là thứ thuốc mạnh nhất và nguy hiểm nhất trong phòng này… Ừ, đúng vậy,” thầy nói, gật đầu một cách nghiêm trang về phía Malfoy và Nott, cả hai đứa này đang khủng khỉnh cười với vẻ ngờ vực. “Khi các con từng trải đời nhiều như thầy rồi, các con sẽ không đánh giá thấp sức mạnh của một tình yêu ám ảnh…”
“Và bây giờ,” Thầy Slughorn nói, “đã đến lúc chúng ta bắt đầu công việc.”
“Thưa thầy, thầy chưa nói cho chúng con biết cái gì trong cái vạc này,” Ernie Macmillan nói, vừa chỉ vào một cái vạc nhỏ màu đen đặt trên cái bàn của Thầy Slughorn. Cái chất thuốc trong vạc đang bắn tung tóe ra chung quanh một cách vui mắt; nó có màu của kim loại vàng nấu chảy ra, và những giọt to nhảy lăng quăng như cá vàng trên bề mặt, mặc dù không một giọt nào rơi ra ngoài vạc.
“À há,” Thầy Slughorn lại nói. Harry chắc chắn là Thầy Slughorn không hề quên món thuốc đó chút nào, nhưng thầy đã đợi cho có người hỏi mới nói để đạt tới hiệu quả gây xúc động mạnh. “Ừ. Món đó. Chà, cái món đó, thưa quí cô và quí cậu, là món độc dược nho nhỏ đáng tò mò nhất có tên là Phúc lạc dược. Thầy cá là...” thầy quay lại, mỉm cười, nhìn Hermione, cô nàng vừa để bật ra một tiếng kêu ngạc nhiên, “...con biết Phúc lạc dược có tác dụng gì chứ, Granger?”
“Đó là một chất lỏng may mắn,” Hermione xúc động nói. “Nó làm cho người ta may mắn!”
Cả lớp dường như ngồi thẳng lưng hơn một tí. Bây giờ tất cả những gì thuộc về Malfoy mà Harry có thể nhìn thấy là cái chẩm đầu bóng mượt tóc của nó, bởi vì cuối cùng nó đã phải dành nguyên vẹn sự chú ý cho Thầy Slughorn.
“Rất đúng, được thêm mười điểm nữa cho nhà Gryffindor. Đúng vậy, nó là một độc dược be bé tức cười,  Phúc lạc dược,” Thầy Slughorn nói. “Đòi hỏi hết sức khéo léo trong bào chế, và nếu dùng tầm bậy thì thiệt là tai họa. Tuy nhiên, nếu được bào chế đúng đắn, như món này ở đây, các con sẽ nhận thấy mọi nỗ lực của mình đều có chiều hướng thành công... ít nhất cho đến khi tác dụng của thuốc tan đi.”
“Vậy tại sao không uống nó hoài hoài, thưa thầy?” Terry  Boot háo hức hỏi.
“Bởi vì nếu uống quá liều, nó sẽ gây trạng thái chóng mặt, bồn chồn bất cẩn, và cả tin một cách nguy hiểm,” Thầy Slughorn nói. “Bổ quá hóa độc, con biết đấy… cực kỳ độc khi dùng số lượng lớn. Nhưng dùng từng tí chút và chỉ thỉnh thoảng thôi thì…”
“Thưa thầy, thầy có bao giờ dùng không ạ? ” Michael Corner hỏi với vẻ vô cùng quan tâm.
“Hai lần trong đời thầy,” Thầy Slughorn nói. “Một lần khi thầy hai mươi bốn tuổi, một lần khi thầy năm mươi bảy tuổi. Hai muỗng canh uống vào bữa điểm tâm. Hai ngày tuyệt vời.”
Thầy đăm đăm nhìn về cõi xa xôi nào đó mơ mộng. ầy có đóng kịch hay không, Harry nghĩ, nhưng quả là tác dụng tuyệt vời.
“Và đó,” Thầy Slughorn lại nói, hiển nhiên là đã trở lại mặt đất, “là cái mà thầy sẽ tặng như một phần thưởng cho buổi học này.”
Cả lớp im phăng phắc đến nỗi mỗi tiếng sủi bọt hay tiếng róc rách của các vạc thuốc chung quanh dường như được phóng đại lên gấp mười lần.
“Một chai nhỏ xíu Phúc lạc dược,” Thầy Slughorn nói, lấy từ trong túi ra một cái lọ thủy tinh tí hon có đóng nút bần trong miệng chai và giơ lên cho mọi  người cùng xem. “Đủ để may mắn trong mười hai tiếng đồng hồ. Từ sáng sớm đến khi trời tối, các con sẽ may mắn trong mọi cố gắng.”
“Bây giờ, thầy phải cho con lời khuyên là Phúc lạc dược là một chất bị cấm trong các cuộc thi đấu có tổ chức... những trận đấu thể thao chẳng hạn, những kỳ thi, hay những cuộc bầu cử. Như thế người giành được cái lọ be bé này sẽ chỉ dùng nó trong một ngày bình thường mà thôi... và chiêm nghiệm xem một ngày bình thường trở nên khác thường như thế nào!”
“Vậy thì,” Thầy Slughorn nói, thình lình nhanh nhảu hẳn lên, “làm thế nào các con giành được phần thưởng kỳ diệu này? À, bằng cách lật đến trang mười hai của cuốn Bào chế thuốc cao cấp. Chúng ta hãy còn hơn một tiếng đồng hồ một tí, vừa đủ thời gian để các con cố gắng một cách đúng đắn thử chế Liều thuốc của Tử thần sống. Thầy biết thuốc này hơi phức tạp hơn một tí so với những thứ các con thử chế trước đây, và thầy cũng không kỳ vọng bất cứ ai chế được một liều thuốc hoàn hảo. Tuy nhiên, người làm được tốt nhất sẽ giành được giải thưởng là chú bé May mắn này đây. Bắt đầu đi!”
Tiếng rào rào nổi lên khi mọi người kéo cái vạc về phía mình, và một số tiếng lanh canh vang lên khi tụi nó bắt đầu chất trọng lượng lên mấy cái cân, nhưng chẳng ai nói năng gì cả. Sự tập trung trong phòng gần như có thể sờ vào được. Harry nhìn thấy Malfoy nóng nảy lật khắp các trang sách của cuốn Bào chế thuốc cao cấp, không có gì rõ ràng hơn cái sự Malfoy thực sự muốn có một ngày may mắn. Harry cúi nhanh xuống cuốn sách tả tơi mà Thầy Slughorn cho nó mượn.
Nó bực mình nhận thấy chủ nhân trước đây của cuốn sách đã ghi nguệch ngoạc khắp các trang sách, đến nỗi lề sách cũng đen thui như phần có chữ in. Cúi xuống thấp hơn để cố giải đoán công thức pha chế (ngay cả ở phần này, chủ nhân trước đây cũng đã ghi chú và bôi xóa) Harry vội vã đi về phía cái tủ chứa nguyên liệu để tìm những thứ nó cần. Khi lao trở lại với cái vạc của nó, nó thấy Malfoy đang cố cắt rễ cây Nữ lang nhanh hết cỡ.
Mọi người không ngừng liếc chừng xung quanh coi nhưng người khác trong lớp đang làm gì; đây vừa là thuận lợi vừa là bất lợi đối với môn độc dược, ấy là khó mà giữ công việc của mình được kín đáo. Trong vòng mười phút, toàn bộ phòng học tràn ngập hơi nước màu xanh lơ. Hermione, dĩ nhiên, dường như tiến được xa nhất. Thuốc của cô nàng đã tương tự như một “chất lỏng màu nho xanh mịn màng” mà sách cho là đã đạt được tới giai đoan nửa đường lý tưởng.
Sau khi bằm xong mớ rễ thuốc của mình, Harry lại cúi thấp hơn xuống cuốn sách của nó. Thiệt là điên lên được, khi phải cố và giải đoán những hướng dẫn bên dưới tất cả những ghi chú ngu ngốc của vị chủ nhân trước đây, gã này vì lý do nào đó đã không đồng ý với yêu cầu xắt nhuyễn đậu An thần và đã viết lại hướng dẫn khác.
Nghiền nát bằng sống dao găm. Cho ra nhiều dịch hơn cắt.
“Thưa thầy, con nghĩ thầy có biết ông nội con, ông Abraxas Malfoy?”
Harry ngước nhìn lên; Thầy Slughorn đang đi ngang qua bàn của bọn Slytherin.
“Đúng,” Thầy Slughorn nói, không thèm nhìn Malfoy, “thầy rất thương tiếc khi nghe tin ông ấy mất, mặc dù dĩ nhiên điều đó không đến nỗi bất ngờ, bị bện đậu rồng vào cái tuổi của ông ấy…”
Và thầy bước đi. Harry lại cúi xuống cái vạc của mình, cười khoái trá. Nó có thể nói rằng Malfoy đã mong ước được đối xử như Harry hay Zabini; có thể Malfoy còn hy vọng được đối xử thiên vị cái kiểu mà nó đã biết đòi hỏi ở Thầy Snape. Có vẻ như Malfoy sẽ không thể trông cậy vào cái gì ngoài tài năng để giành được giải thưởng cái lọ Phúc lạc dược.
Đậu an thần tỏ ra là một thứ rất khó cắt. Harry quay sang hỏi Hermione.
“Mình có thể mượn con dao bạc của bồ không?”
Cô bé gật đầu một cách sốt ruột, không rời mắt khỏi cái món thuốc của mình, cái món đó đang chuyển sang màu tím thẫm, mặc dù theo như trong sách thì lúc này nó phải có màu tím hoa cà phơn phớt.
Harry nghiền đậu của nó bằng sống dao găm. Trước sự sửng sốt của nó, mớ đậu lập tức ứa ra nhiều dịch tới nỗi là nó phải ngạc nhiên là mớ đậu khô quắt queo ấy có thể chứa được từng ấy nước.
Vội vàng múc dịch đậu vô vạc, nó thấy, hết sức kinh ngạc, món thuốc của nó lập tức đổi ra đúng màu tím hoa cà phơn phớt như miêu tả trong sách giáo khoa.
Nỗi bực mình đối với chủ nhân trước của cuốn sách tan biến ngay tức thì, Harry bây giờ liếc tới dòng hướng dẫn thứ hai. Theo như cuốn sách, nó phải khuấy ngược chiều kim đồng hồ cho đến khí thuốc trở nên trong như nước. Còn theo lời thêm vào của vị chủ nhân trước, thì cứ sau bảy vòng khuấy ngược chiều kim đồng hồ, nó phải thêm vào một vòng khuấy theo chiều kim đồng hồ. Liệu vị chủ nhân trước có đúng đến hai lần không?
Harry khuấy ngược chiều kim đồng hồ, nín thở, rồi khuấy xuôi chiều kim đồng hồ một lần. Hiệu quả ngay tức thì. Món thuốc đổi màu hồng nhạt.
“Bồ làm cách nào mà được như vậy?” Hermione vặn hỏi, cô nàng đã đỏ mặt tía tai, và tóc thì càng lúc càng xù ra trong làn nước bốc lên từ cái vạc của mình; Món thuốc của Hermione vẫn tím ngắt.
“Thêm một vòng khuấy theo chiều kim đồng hồ…”
“Không, không, sách bảo ngược chiều kim đồng hồ mà!” Cô nàng cự nự lại.
Harry nhún vai và tiếp tục việc nó đang làm. Bảy lần khuấy ngược chiều kim đồng hồ, một lần khuấy xuôi chiều kim đồng hồ, nghỉ một chút… Bảy lần khuấy ngược chiều kim đồng hồ, một lần khuấy xuôi chiều kim đồng hồ…
Bên kia cái bàn, Ron đang lầm rầm nguyền rủa liên tu bất tận; món thuốc của nó trông giống như nước cam thảo. Harry liếc nhìn xung quanh. Trong tầm nhìn của nó thì không có món thuốc nào của đứa nào đổi sang màu lờn lợt như thuốc của nó. Nó cảm thấy phấn chấn, một cảm giác chắc chắn chưa từng có trước đây trong phòng học ở tầng hầm này.
“Và… Hết giờ!” Thầy Slughorn reo lên. “Vui lòng ngừng khuấy!”
Thầy Slughorn di chuyển chầm chậm giữa các bàn, dòm vô mấy cái vạc. Thầy không nhận xét gì cả, nhưng thỉnh thoảng khuấy món thuốc nào đó một cái, hay hửi một cái. Cuối cùng thầy đi tới cái bàn mà Harry, Ron, Hermione và Ernie đang ngồi. Thầy mỉm cười tội nghiệp cho cái chất đen xì như nhựa đường trong cái vạc của Ron. Thầy bỏ qua món pha chế màu xanh lam của Ernie. Món thuốc của Hermione khiến thầy gật gù chấp nhận. Kế đến thầy nhìn thấy món thuốc của Harry, và một vẻ sung sướng không tin được lan khắp gương mặt thầy.
“Người chiến thắng hoàn toàn!” Thầy reo lên với cả tầng hầm. “Xuất sắc, xuất sắc, Harry! Mèn ơi, rõ ràng là con được thừa hưởng tài năng của mẹ con. Lily, mẹ con là một tay khéo léo tinh xảo về Độc dược! Vậy thì, đây, thưởng cho con – một lọ Phúc lạc dược, như đã hứa, và sử dụng nó cho tốt!”
Harry nhẹ nhàng nhét cái lọ tí hon vào túi áo trong của nó, cảm thấy một sự kết hợp kỳ cục giữa niềm vui sướng trước cái vẻ giận dữ trên mặt mấy đứa nhà Slytherin và nỗi áy náy tội lỗi trước vẻ mặt thất vọng của Hermione. Ron thì có vẻ ngố ra.
“Bồ làm cách nào mà được hả?” Nó thì thào hỏi Harry khi tụi nó cùng rời khỏi tầng hầm.
“Mình cho là may mắn thôi,” Harry nói, bởi vì Malfoy có thể nghe lỏm.
Tuy nhiên, khi tụi nó đã ngồi gọn lỏn một cách an toàn ở bàn ăn nhà Gryffindor, Harry cảm thấy đủ an toàn để kể cho hai bạn nghe. Gương mặt Hermione trở nên đanh lại theo từng lời Harry nói ra.
“Bồ cho là mình gian lận hay sao chớ?” Nó kết thúc, bực mình vì cái vẻ mặt của Hermione.
“Này, cái đó đâu hẳn là thành tích của chính bồ, đúng không?” Cô bé đáp không nhân nhượng.
“Nó chỉ làm theo những chỉ dẫn khác hơn những chỉ dẫn của chúng ta mà thôi” Ron nói, “Đâu có gì trầm trọng ghê gớm đâu? Nhưng nó dám liều và được thưởng.” Ron thở ra một hơi dài. “Lẽ ra Thầy Slughorn có thể đưa cho mình cuốn sách đó, nhưng mà hỡi ôi, mình đã nhận được cuốn sách chẳng có ma nào thèm viết gì vô hết ráo. Lại còn bị mửa vô nữa chứ, căn cứ vào vết tích trên trang năm mươi hai, nhưng…”
“Khoan đã,” một giọng nói vang lên sát bên tai trái của Harry và nó bắt được một thoáng bất ngờ của cái mùa như hương hoa mà nó đã ngửi thấy lúc ở dưới tầng hầm. Nó ngoảnh nhìn lại thì thấy Ginny đã đến nhập bọn với tụi nó.
“Em nghe có đúng không? Anh đã nhận lệnh từ cái gì đó của ai đó ghi trong một cuốn sách hả anh Harry?”
Trông cô bé sợ hãi và tức giận. Harry biết ngay là cô bé đang nghĩ gì.
“Không có gì đâu,” nó nói giọng cam đoan, hơi hạ thấp tông xuống. “Chẳng giống như… em biết đấy… cuốn nhật ký của Riddle đâu. Nó chỉ là một cuốn sách giáo khoa cũ có ghi chú của ai đó.”
“Nhưng anh lại làm theo những ghi chú đó à?”
“Anh chỉ thử vài mánh hướng dẫn ghi bên lề, thiệt tình, Ginny à, chẳng có gì buồn cười…”
“Ginny có lý,” Hermione nói, đầu ngẩng lên tức thì. “Chúng ta nên kiểm tra để biết chắc cuốn sách đó không có gì kỳ quái. Mình muốn nói là, tất cả những hướng dẫn tức cười ấy, ai biết đâu?”
“Hừ!” Harry nổi sùng lên khi Hermione rút cuốn sách Bào chế thuốc cao cấp ra khỏi túi xách của nó và giơ cây đũa phép của cô nàng lên.
“Tiết lộ cho riêng ta!” Hermione hô thần chú, gõ mạnh cây đũa phép lên bìa trước cuốn sách. Chẳng có gì đáng kể xảy ra cả. Cuốn sách chỉ đơn giản nằm ỳ ra đó, trông cũ kỹ, dơ hầy, và góc sách bị quăn quéo.
“Xong chưa?” Harry cáu kình hỏi. “Hay là mấy bồ muốn chờ xem coi nó có làm vài cú trả đủa?”
“Coi bộ ổn,” Hermione nói, vẫn trừng mắt nhìn cuốn sách với vẻ nghi ngờ. “Ý mình là nó quả thực có vẻ như... một cuốn sách giáo khoa mà thôi.”
“Tốt. Vậy cho mình lấy lại nó.” Harry nói, chộp lấy cuốn sách trên bàn, nhưng cuốn sách vuột khỏi tay nó, rớt xuống sàn, mở tanh banh. Chẳng có ai kahcs nhìn tới. Harry cúi xuống để thu hồi cuốn sách, và khi làm vậy, nó nhìn thấy ở tuốtcạnh dưới bìa sau của cuốn sách có khắc một hàng chữ cùng kiểu chữ viết tay nhỏ, ngoằn ngèo như chữ ghi những lời hướng dẫn bên trong – lời hướng dẫn đã giúp nó giành được giải thưởng là cái lọ Phúc lạc dược, lúc này đây đang được giấu an toàn bên trong một đôi vớ cất trong rương. Dòng chữ ghi:
Cuốn sách này là Tài sản của Hoàng tử Lai.
0
Chương 10
Ngôi nhà của Gaunt
 
Trong những buổi học đc tiếp theo trong tuần, Harry tiếp tục làm theo những hướng dẫn của vị Hoàng Tử lai ở chỗ nào chúng được ghi khác với hướng dẫn trong sách của Libatius Borage, với kết quả là đến buổi học thứ tư Thầy Slughorn đã hết sức khoái cái khả năng của Harry, nói rằng thầy hiếm khi được dạy học trò nào tài năng như vậy. Cả Ron lẫn Hermione đều không vui lắm về chuyện này. Mặc dù Harry đã đề nghị xài chung cuốn sách với hai đứa nó, nhưng Ron gặp nhiều khó khăn hơn Harry trong việc giải đoán chữ viết tay, mà nó không thể cứ bảo Harry đọc to lên giùm, nếu không muốn bị nghi ngờ. Trong khi đó, Hermione vẫn kiên quyết cày bừa với cái mà cô nàng gọi là hướng dẫn “chính qui”, nhưng càng lúc cô nàng càng tỏ ra nóng nảy khi những hướng dẫn chính quy này đưa tới kết quả tồi tệ hơn hướng dẫn của Hoàng tử.
Harry ngờ ngợ tự hỏi vị Hoàng Tử lai là ai. Mặc dù sô lượng bài tập mà tụi nó được giao đã khiến Harry không có thì giờ đọc hết toàn bộ quyển Chế tạo thuốc cao cấp, nó cũng đã lật sơ qua hết sách đủ để thấy là hầu như không có trang nào mà Hoàng tử không ghi chú thêm điều này điều nọ, mà không phải tất cả ghi chú đều liên quan đến việc bào chế thuốc. Thỉnh thoảng có những lời chỉ bảo về cái gì đó giống như bùa phép mà Hoàng tử đã tự mình sáng chế ra.
“Hay chính là Công chúa,” Hermione gắt gỏng nói, khi nghe lỏm Harry chỉ cho Ron xem mấy cái đó trong phòng sinh hoạt chung vào buổi chiều thứ bảy. “Rất có thể đó là một cô gái. Mình thấy nét chữ viết tay giống chữ viết của con gái hơn chữ của con trai.”
“Người đó được gọi là Hoàng Tử lai mà,” Harry nói. “Từ hồi nào giờ có bao nhiêu cô gái được gọi là Hoàng Tử?”
Hermione dường như không trả lời được câu hỏi này. Cô nàng chỉ càu nhàu và giật phắt lại bài luận văn của mình về “Những nguyên tắc của Tái vật chất hóa” ra khỏi tay Ron, anh chàng này đang cố thử đọc bài viết ngược từ dưới lên trên.
Harry ngó đồng hồ rồi vội vã nhét cuốn sách Chế tạo thuốc cao cấp cũ kỹ vô trong túi xách của nó.
“Năm phút nữa tám giờ, mình phải đi thôi, kẻo trễ buổi học với thầy Dumbledore.”
“Ối!” Hermione kêu lên ngạc nhiên, ngẩng đầu lên tức thì. “Chúc may mắn nha! Tụi này sẽ thức đợi, tụi này muốn nghe thầy dạy bồ môn gì!”
“Hy vọng buổi học OK,” Ron nói, và hai đứa nó ngó theo Harry chui qua cái lỗ chân dung mà đi.
Harry đi qua những hành lang vắng vẻ, tuy vậy nó cũng phải vội vã bước tránh ra sau một bức tượng khi giáo sư Trelawney xuất hiện ở một góc hành lang, lẩm bẩm một mình khi xào một bộ bài trông dơ hết chỗ nói, rồi vừa đi vừa xem.
“Hai bích: xung đột,” bà lẩm nhẩm khi đi ngang qua chỗ Harry cúi lom khom ẩn núp. “Bảy bích: một điềm xấu. Mười bích: Bạo tan. Bồi bích: Một chàng trai trẻ ngăm đen có thể bị rắc rối, một kẻ không ưa người chất vấn...”
Bỗng bà đứng sựng lại, ngay bên cạnh bức tượng Harry đang ẩn núp.
“Chà, điều đó không thể đúng được,” bà nói, vẻ khổ sở, và Harry nghe bà xào lại bộ bài một cách quyết liệt rồi lại tiếp tục bước đi, chẳng lưu lại gì phía sau ngoại trừ một hơi nhẹ rượu nâu vẫn dùng để nấu ăn. Harry chờ đến khi chắc chắn là bà đã đi khỏi mới vội vã bước tiếp cho đến khi tới được hành lang tầng thứ bảy, nơi có mỗi một bức tượng đá thú đứng dựa tường.
“Nước chua,” Harry nói, và bức tượng thú đá  nhảy qua một bên, bức tường đằng sau nhẹ nhàng tách ra làm hai, và một cái cầu thang xoắn bằng đá tự chuyển động lộ ra, Harry bèn bước lên cầu thang để được đưa theo những vòng tròn êm ái lên đến cánh cửa có cái búa gõ bằng đồng dẫn vào văn phòng cụ Dumbledore.
Harry gõ cửa.
“Vào đi,” cụ Dumbledore nói.
“Con chào thầy,” Harry nói khi bước vào văn phòng thầy hiệu trưởng.
“À, chào con, Harry. Ngồi xuống đi,” cụ Dumbledore mỉm cười nói, “thầy hy vọng con đã có một tuần lễ thú vị trong tuần đầu tiên quay lại trường?”
“Dạ, cám ơn thầy,” Harry nói.
“Ắt hẳn con bận lắm, đã bị nợ một buổi cấm túc rồi!”
“Ơ...,” Harry mới mở miệng nói lọng ngọng, nhưng cụ Dumbledore không tỏ vẻ nghiêm khắc lắm.
“Thầy vừa dàn xếp với giáo sư Snape để cho con chịu cấm túc vào thứ bảy tuần tới thay vì tối nay.”
“Dạ được,” Harry nói, trong đầu nó đang có nhiều vấn đề cấp bách hơn là vụ cấm túc với Thầy Snape, và giờ đây nó len lén nhìn quanh để xem có dấu hiệu nào về cái mà cụ Dumbledore dự định dạy nó vào tối hôm nay không. Văn phòng hình tròn này trông vẫn như từ trước tới giờ; những dụng cụ bàng bạc tinh xảo đặt trên mấy cái bàn cao khẳng khiu, nhả khói và kêu vo vo; chân dung của các vị hiệu trưởng tiền nhiệm ngủ gật trong các khung tranh và con chim Phượng hoàng lộng lẫy của cụ Dumbledore – con Fawkes – vẫn đậu trên nhành cây của nó phía sau cánh cửa, ngắm nhìn Harry với vẻ thích thú rạng rỡ. Thậm chí cảnh vật trông không có vẻ gì là cụ Dumbledore đã dọn dẹp chút đỉnh để có chỗ cho hai người cùng thực hành Pháp thuật.
“Vậy là, Harry,” cụ Dumbledore nói, bằng giọng bàn công việc, “thầy chắc rằng con mấy bữa nay đang thắc mắc thầy dự định làm gì với con trong những... thầy muốn tìm từ gì cho hay hơn... những buổi học này?”
“Dạ thưa thầy, phải ạ.”
“Thế này, thầy đã quyết định là đã đến lúc con cần biết một số thông tin, một khi con đã biết cái gì khiến Chúa tể Voldermort cố tìm cách giết con cách đây mười lăm năm,” cụ ngưng một lúc.
“Thầy nói vào cuối niên học vừa rồi rằng thầy sẽ nói với con mọi điều,” Harry nói. Khó mà không nhận thấy trong giọng nói của nó có một chút trách hờn. Rồi nó nói thêm ở cuois câu, “thưa thầy.”
“Và thầy đã làm như vậy,” cụ Dumbledore điềm tĩnh nói. “Thầy đã nói với con mọi điều thầy biết. Từ điểm này trở đi, chúng ta sẽ rời khỏi cái nền tảng chắc chắn của sự thật mà cùng nhau du hành băng qua những bãi lầy tăm tối của ký ức để tiến vào rừng rậm của những giả thuyết rối rắm nhất. Từ đây trở đi, Harry à, thầy có thể sai lầm khủng khiếp như Humphrey BelcHermione, người đã tin lúc bấy giờ là thời điểm chín mùi để làm ra vạc nấu phó mát.”
“Nhưng thầy tin là thầy đúng chứ?” Harry nói.
“Đương nhiên là thầy tin, nhưng như thầy đã chứng minh cho con thấy, thầy cũng phạm sai lầm như mọi người bình thường. Thực ra, bỏ quá cho thầy, do có trí thông minh hơn nhiều người, sai lầm của thầy do vậy càng lớn hơn nhiều.”
“Thưa thầy,” Harry ngập ngừng nói, “điều thầy sắp nói với con có liên quan gì tới lời Tiên tri không? Điều đó có giúp cho con... sống sót không?”
“Nó liên quan rất nhiều đến lời Tiên tri,” cụ Dumbledore nói, thản nhiên như thể Harry mới hỏi cụ về thời tiết những ngày sắp tới, “và thầy chắc chắn là hy vọng rằng nó sẽ giúp con sống sót.”
Cụ Dumbledore đứng dậy và đi vòng quanh cái bàn làm việc, ngang qua Harry, nó bồn chồn xoay mình trên ghế để nhìn theo cụ đang cúi xuống một cái tủ phía sau cánh cửa. Khi cụ Dumbledore đứng thẳng dậy, cụ cầm  một cái chậu nông quen thuộc bằng đá có mấy dấu khắc chạm kỳ quái quanh miệng. Cụ đặt cái Tưởng ký lên bàn trước mặt Harry.
“Trông con có vẻ lo lắng.”
Harry quả thực từ nãy giờ vẫn ngó chừng cái Tưởng ký với chút ngán sợ. Kinh nghiệm trước đây của nó với cái dụng cụ kỳ quái lưu trữ và tiết lộ suy nghĩ và ký ức ấy, là tuy có thu được thêm nhiều hiểu biết, nhưng cũng rất ư khó chịu. Lần cuối cùng nó mắc mứu với nội dung của cái chậu đó, là nó đã nhìn thấy quá nhiều so với ước mongcủa nó. Nhưng cụ Dumbledore đang mỉm cười.
“Lần này, con cùng vào Tưởng ký với thầy... và, bất thường hơn nữa, được phép hẳn hoi.”
“Thưa thầy, chúng ta đi đâu ạ?”
“Một chuyến du ngoạn xuống con đường mòn ký ức của Bob Ogden,” cụ Dumbledore nói, vừa lấy trong túi ra một cái chai bằng pha lê chứa một chất màu trắng ánh bạc có xoáy.
“Bob Ogden là ai ạ?”
“Ông ấy làm việc cho Bộ thi hành Luật Pháp thuật,” cụ Dumbledore nói. “Ông ấy mất cách đây ít lâu sau khi thầy tìm ra tung tích ông ấy và thuyết phục ông giãi bày những hồi ức cho thầy. Chúng ta sẽ tháp tùng ông ấy trong một vụ thăm viếng mà ông ấy đã thực hiện khi thi hành công vụ. Harry à, nếu con đứng…”
Nhưng cụ Dumbledore đang gặp khó khăn trong việc rút cái nút chai ra : bàn tay bị thương của cụ dường như cứng đơ và đau đớn lắm.
“Thưa thầy, cho phép con… ?”
“Không hề gì, Harry à…”
Cụ Dumbledore chĩa cây đũa phép của mình vào cái chai và cái nút bật ra ngay.
“Thưa thầy... làm sao mà bàn tay của thầy bị thương vậy?” Harry lại hỏi, vừa nhìn mấy ngón tay thâm đen với một cảm giác vừa sợ hãi vừa xót thương.
“Bây giờ không phải lúc kể câu chuyện đó rồi Harry à. Chưa đến lúc. Chúng ta có hẹn với Bob Ogden.”
Cụ Dumbledore rót cái chất óng ánh bạc trong chai vô cái Tưởng ký, cái chất ấy không ra lỏng mà cũng chẳng phải khí, vừa xoắn tít vừa lung linh hư ảo.
“Con vào trước đi,” cụ Dumbledore nói, ra dấu về phía cái chậu. Harry cúi khom tới trước, hít một hơi thở sâu, sâu, và nhúng cái mặt mình vô trong cái chất óng ánh bạc đó. Nó cảm thấy hai chân nó nhấc hổng khỏi sàn văn phòng; nó đang rơi, rơi xuyên qua bóng tối cuộn xoáy, và rồi, hết sức dột ngột, nó chớp mắt trong ánh nắng chói chang. Trước khi mắt nó quen lại với ánh sáng, cụ Dumbledore đã đáp xuống bên cạnh nó.
Hai thầy trò đang đứng trên một con đường ở thôn quê, hai bên đường là những giậu cây cao xum xuê, dưới vòm trời mùa hạ sáng trong và xanh như sắc hoa xin-đừng-quên-tôi. Đứng phía trước hai thầy trò, cách chừng ba thước, một người đàn ông lùn và mập đeo một cặp kính dày cui thật to khiến cho đôi mắt ông ta nhỏ lại như hai đốm mắt ruồi. Ông ta đang xem một cột gỗ chỉ đường được cắm nhô ra khỏi bụi cây gai ở phía tay trái của con đường. Harry biết đây hẳn là ông Ogden; ông ta là người duy nhất có mặt ở đấy, và ông ta cũng đang mặc cái kiểu quần áo kỳ cục mà các pháp sư ít kinh nghiệm thường chọn mặc để trông có vẻ giống Muggle: trong trường hợp này là một cái áo khoác thầy tu và một đôi ghệt bên ngoài một cái áo bơi một mảnh có sọc. Tuy nhiên trước khi Harry có đủ thì giờ để ghi nhận ngoại hình quái đản của ông, ông Ogden đã bắt đầu bước đi thật nhanh xuống con đường nhỏ.
Cụ Dumbledore và Harry đi theo. Khi họ đi ngang qua một tấm bảng gỗ chỉ đường, Harry nhìn lên hai mũi tên của cái bảng. Một cái chỉ ngược hướng con đường nó vừa đi qua có ghi: “Hangleton Lớn, 5 dặm”. Mũi tên kia chỉ theo sau lưng ông Ogden có ghi “Hangleton Nhỏ, 1 dặm”.
Hai thầy trò đi bộ qua một quãng đường ngắn mà không thấy gì cả ngoại trừ mấy giậu cây bên đường, bầu trời xanh trên đầu và cái dáng khoác áo thầy tu bảnh tẻng phía trước. Thế rồi con đường quanh qua bên trái và biến tướng, chạy xuống một sườn đồi rất dốc, khiến cho hai thầy trò bỗng đứng trước một cảnh trí bất ngờ của cả một thung lũng nằm phía trước. Harry nhìn thấy một ngôi làng, chắc chắn là làng Hangleton Nhỏ, nép mình giữa hai ngọn đồi cao, có thể thấy rõ cả nhà thờ và nghĩa địa của làng. Bên kia thung lũng, nằm trên sườn đồi đối diện, là một biệt thự xinh xắn, chung quanh có những thảm cỏ trải rộng xanh mượt như nhung.
Ông Ogden đã chuyển sang bước nhanh một cách bất đắc dĩ vì con đường chạy xuống quá dốc. Cụ Dumbledore sải dài bước chân hơn nữa, và Harry phải lật đật chạy theo cụ cho kịp. Nó nghĩ làng Hangleton Nhỏ ắt phải là đích đến cuối cùng của thầy trò nó và nó thắc mắc, như đã thắc mắc vào cái đêm thầy trò nó đi tìm Thầy Slughorn, là tại sao thầy trò họ lại phải tiếp cận từ một khoảng cách xa như vậy. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau nó khám phá ra rằng mình đã nhầm lẫn khi nghĩ rằng thầy trò nó đang đi đến ngôi làng. Con đường uốn cong về bên phải và khi vòng qua khúc quanh rồi, thầy trò nó mới kịp nhìn thấy một góc vạt áo thầy tu của ông Ogden biến mất trong một khaorng hở của giậu cây.
Cụ Dumbledore và Harry đi theo ông ta vào một con đường đất hẹp chạy giữa những hàng giậu cao hơn, dày hơn cả những hàng giậu thầy trò nó đã bỏ lại phía sau. Con đường khúc khủy, gồ ghề, lởm chỏm đá và đầy ổ gà, cũng chạy xuống dốc đồi như con đường lúc nãy, và dường như dẫn đến một lùm cây âm u lui xuống phía dưới một chút. Quả nhiên, con đường mòn chẳng mấy chốc mở ra một khu đất trồng cây, và cụ Dumbledore cùng Harry dừng lại phía sau ông Ogden, ông này đã đứng yên và rút ra cây đũa phép.
Mặc cho bầu trời không một áng mây, đám cây già trước mặt thầy trò Harry vẫn tỏa bóng râm âm u, sâu và mát, và chỉ cần vài giây mắt Harry đã phân biệt được một tòa nhà nửa  ẩn nửa hiện giữa những thân cây mọc lộn xộn. Đối với Harry, đây dường như là một địa điểm lạ lùng để chọn xây nhà, hoặc là một quyết định quái đản khi để cho lũ cây mọc um tùm chung quanh, che khuất tất cả ánh sáng và cảnh trí  của thung  lũng bên dưới. Nó thắc mắc là liệu có ai ở trong ngôi nhà đó không; mấy bức tường rêu phong và nhiều miếng ngói đã rớt khỏi mái nhà, có thể thấy những mảnh ngói vụn vung vãi đó đây. Cây tầm ma mọc khắp chung quanh, ngọn cây vươn tới tận cửa sổ, những cái cửa sổ nhỏ xíu và bám đầy bụi bặm. Tuy nhiên, vừa khi nó kết luận là chẳng ai có thể sống ở đó, thì một trong mấy cái cửa sổ mở tung ra kèm theo tiếng loảng xoảng, và một làn hơi nước hay khói bốc ra từ cái cửa sổ nhỏ đó, như thể có ai đó đang nấu nướng.
Ông Ogden lặng lẽ di chuyển về phía trước, và Harry thấy dường như ông hơi thận trọng. Khi bóng cây âm u đã che phủ lên người, ông ta lại dừng chân, đăm đăm nhìn vào cửa chính, trên cánh cửa đó ai đã đóng đinh một con rắn chết.
Chợt có tiếng sột soạt và một tiếng nổ giòn, rồi một người đàn ông mặc toàn giẻ rách rớt xuống từ trên một ngọn cây gần đó, đáp xuống trên đất trên hai chân ngay trước mặt ông Ogden. Ông Ogden nhảy lùi ra sau nhanh đến nỗi giẫm lên đuôi vạt áo khoác của chính mình và té bổ ngửa.
“Không ai mời ông.”
Người đàn ông đứng trước mặt họ có mái tóc dày bám đầy bụi đến nỗi khó mà nói được nó vốn màu gì. Răng hắn ta sún gần hết. Mắt hắn ta nhỏ, đen và ngó chòng chọc về hai hướng ngược nhau. Đáng ra trông thế phải vui nhộn, nhưng hắn lại không hề như vậy; kết quả thiệt là dễ sợ, và Harry chẳng trách gì ông Ogden phải lùi lại liên tiếp nhiều bước trước khi mở miệng nói được.
“Ơ... Xin chào. Tôi là nhân viên của Bộ Pháp thuật...”
“Không ai mời ông.”
“Ơ... Tôi xin lỗi... Tôi không hiểu ý ông,” ông Ogden nói, vẻ căng thẳng.
Harry nghĩ ông Ogden cực kỳ tối dạ; theo ý Harry thì người lạ mặt kia bày tỏ rất rõ ràng, đặc biệt khi hắn ta vung cây đũa phép trong một tay, còn tay kia thì nắm một con dao ngắn đẫm máu.
“Con hiểu hắn nói gì, ta chắc vậy, phỉa không Harry?” Cụ Dumbledore nói khẽ.
“Dạ, dĩ nhiên rồi,” Harry nói, hơi lúng túng. “Tại sao ông Ogden không thể hiểu...?”
Nhưng khi mắt Harry đụng phải con rawsn chết neo trên cánh cửa, nó bỗng hiểu ra.
“Hắn nói Xà ngữ?”
“Giỏi lắm,” cụ Dumbledore nói, vừa gật đầu, mỉm cười.
Gã đàn ông ăn mặc te tua lúc này đang tiến về phía ông Ogden, tay cầm dao, tay cầm cây đũa phép.
“Thế này nhé...” Ông Ogden bắt đầu nói, nhưng đã quá trễ: Một tiếng nổ to vang lên, và ông Ogden đã nằm quay lơ trên mặt đất, tay bụm chặt lấy mũi trong khi một dòng nước màu vàng nhơn nhớt lờm lợm xịt ra từ những kẽ ngón tay ông.
“Morfin!” Một giọng hét to vang lên.
Một lão già vội vã chạy ra khỏi căn nhà, đóng mạnh cánh cửa chính sau lưng, khiến cho con rắn chết lắc lư một cách đau khổ. Người này lùn hơn người xuất hiện trước đó và có một kích thước quái dị. Hai vai lão ta rất rộng và hai cánh tay rất dài, hợp với đôi mắt nâu sáng quắc, mái tóc ngắn rậm rì, và gương mặt nhăn nhúm, tạo cho lão ta cái dáng vẻ của một con khỉ già hùng mạnh. Lão già chạy ra và đứng lại bên cạnh cái gã cầm dao, lúc này gã đang sặc vì cười khi nhìn cảnh ông Ogden nằm trên mặt đất.
“Ở Bộ hả?” Lão già ngó xuống ông Ogden hỏi.
“Đúng!” Ông Ogden tức giận nói, vừa chấm chấm vết máu mủ trên mặt. “Và, tôi đoán, ông là ông Gaunt?”
“Đúng vậy,” lão Gaunt nói. “Nó đánh trúng mặt ông hả?”
“Phải, nó đánh!” Ông Ogden càu nhàu.
“Lẽ ra ông nên báo trước sự có mặt của ông chứ hả?” Lão Gaunt nói giọng công kích. “Đây là tư gia mà. Đâu có thể cứ bước đại vô đây mà không tính trước chuyện con trai tôi tự vệ.”
“Tự vệ lại cái gì hả trời?” Ông Ogden nói, vừa lồm cồm đứng dậy.
“Mấy người ưa kiếm chuyện. Bọn xâm nhập gia cư. Dân Muggle và đồ cặn bã.”
0
Cái mũi của ông Ogden vẫn còn đang xịt ra thành dòng cái chất vàng vàng như mủ, ông bèn chĩa cây đũa phép vào mũi mình, và dòng mủ đó ngừng ngay lập tức.
Lão Gaunt nói qua khóe miệng với Morfin.
“Đi vô nhà. Không được cãi.”
Lần này, do đã có chuẩn bị, Harry nhận ra Xà ngữ; thậm chí trong lúc nó vừa nghe hiểu điều lão già đang nói, nó vẫn nhận ra được tiếng rít khè khè quái gỡ, là thứ âm thanh duy nhất mà ông Ogden có thể nghe ra. Morfin dường như muốn cãi lại, nhưng cha gã đã quắc mắt đe dọa khiến gã phải thay đổi ý kiến, lếch thếch bỏ vào trong nhà, dáng đi tròng trành hết sức kỳ cục, và đóng sập cánh cửa lại sau lưng, khiến cho con rắn chết lại buồn bã đong đưa.
“Ông Gaunt à, tôi đến đây chính là để gặp con trai ông,” ông Ogden nói, vừa chùi vết mủ cuối cùng dính trên áo khoác. “Đó là Morfin, đúng không?”
“Ừ, đó là Morfin,” lão già đáp giọng dửng dưng. “Ông có thuần huyết không?” Lão ta hỏi, bỗng nhiên đâm hung hăng.
“Điều đó không quan trọng,” ông Ogden lạnh lùng nói, và Harry cảm thấy niềm kính trọng đối với ông Ogden tăng lên. Nhưng dường như lão Gaunt lại cảm thấy khác.
Lão ta lừ mắt nhìn vào mặt ông Ogden và lẩm bẩm, bằng cái giọng rõ ràng có thể coi là xúc phạm, “Giờ tôi lại nghĩ về chuyện đó đây, tôi đã từng thấy mấy cái mũi như mũi ông ở dưới làng kia.”
“Tôi không nghi ngờ chuyện đó, nếu con trai ông được thả lỏng để quậy người ta,” ông Ogden nói. “Có lẽ chúng ta có thể tiếp tục cuộc thảo luận bên trong nhà chứ hả?”
“Bên trong?”
“Vâng, thưa ông Gaunt. Tôi vừa mới nói với ông. Tôi đến đây về chuyện Morfin. Chúng tôi đã gởi một cú...”
“Tôi không xài cú,” lão Gaunt nói. “Tôi không mở thư.”
“Vậy thì ông khó lòng mà phàn nàn được là ông chẳng được báo trước về việc khách viếng thăm,” ông Ogden nói một cách chua chát. “Tôi đến đây vì một vụ vi phạm nghiêm trọng trong Luật Pháp thuật, vụ này xảy ra tại đây và sáng sớm ngày hôm nay...”
“Được rồi, được rồi, được rồi!” Lão Gaunt rống lên. “Vậy thì mời vô cai nhà thương điên của tôi, và nó sẽ cho ông biết tay!”
Ngôi nhà dường như gồm có ba phòng nhỏ xíu. Hai cánh cửa mở ra căn phòng chính, vừa dùng làm nhà bếp đồng thời là phòng khách. Morfin đang ngồi trên một cái ghế bành dơ không chịu nổi bên cạnh một ngọn lửa đang bốc khói, văn vẹo một con rắn còn sống nhăn giữa mấy ngón tay mập mạp và ư ử ngâm nga với con rắn bằng Xà ngữ:
Rít đi, rít đi, rắn nhí,
Trườn trên sàn
Mi hãy biết điều với Mòin
Nếu không hắn đóng đinh mày lên cửa.
            Có tiếng xô xtas ì xèo ở góc phòng bên cạnh cái cửa sổ mở, và Harry nhận ra là còn một người khác nữa trong phòng, một cô gái mặc một cái áo đầm tả tơi màu xám y như màu bức tường đá đầy bụi bặm sau lưng cô. Cô gái đang đứng bên cạnh một cái nồi đang bốc hơi trên một cái bếp đen thui cáu bẩn, và đang hục hặc với cái kệ chất nồi chảo trông hết sức nhớp nháp. Mái tóc của cô ta buông rũ xuống, xơ xác, và cô có một bộ mặt hơi nặng nề, bèn bẹt, tai tái. Đôi mắt của cô, cũng giống như mắt người anh, nhìn chòng chọc về hai hướng ngược nhau. Trông cô có vẻ sạch sẽ hơn hai người đàn ông một tí, nhưng Harry nghĩ nó chưa bao giờ trông thấy một người nào trông thảm hại đến như vậy.
“Con gái tôi, Merope,” lão Gaunt miễn cường giới thiệu, khi ông Ogden tò mò nhìn về phía cô gái.
“Chào cô,” ông Ogden  nói.
Cô gái không đáp lại, nhưng sợ sệt liếc cha mình một cái rồi quay lưng lại mọi người và tiếp tục khua khoắng đám nòi chảo trên cái kệ đằng sau lưng.
“Thế này, ông Gaunt à,” ông Ogden nói, “để đi thằng vào vấn đề, chúng tôi có lý do để tin là con trai ông, Morfin,  đã biểu diễn pháp thuật trước mặt một Muggle hồi khuya hôm qua.”
Một tiếng xoảng điếc lỗ tai vang lên. Merope vừa làm rớt một trong mấy cái nồi.
“Lượm nó lên!” Lão Gaunt gầm lên với cô gái. “Cứ thế, bừa bãi trên sàn như mấy tên Muggle bẩn thỉu, cây đũa phép của mày dùng để làm gì hả, cái đồ bịch rác vô tích sự?”
“Xin ông Gaunt!” Ông Ogden nói với giọng bị sốc, khi Merope, sau khi đã lượm cái nồi lên, hoảng sợ đến tím tái, lại buông tay để rớt cái nồi xuống một lần nữa, đã run rẫy rút cây đũa phép của cô ra khỏi túi, chỉ vào cái nồi, lầm bầm một câu thần chú líu ríu không ai nghe được, khiến cái nồi bay vọt ngang căn phòng, tông vô bức tường đối diện, bể làm hai.
Morfin phát ra một trận cười điên dại. Lão gaunt gào lên, “Gắn lại, đồ bị thịt vô dụng, gán nó lại!”
Merope luýnh quýnh trượt ngang căn phòng, nhưng trước khi cô ta kịp giơ cây đũa phép của mình lên, ông Ogden đã giơ cây đũa phép của ông lên và kiên quyết hô “Chữa lành”. Cái nồi tự liền lại tức thì.
Mất một lúc, lão Gaunt có vẻ như sắp quát vào mặt ông Ogden nhưng rồi dường như nghĩ lại: thay vì vậy, lão quay qua giễu cợt con gái của mình:
“hên cho mày là cái ông tử tế của Bộ đang ở đây, hả? Có thể ông ta sẽ đem mày thoát khỏi tay tao, có thể ông ta không chê thứ á phù thủy nhớp nhúa...”
Không nhìn ai mà cũng không cảm ơn ông Ogden, Merope lượm cái nồi lên, rồi đặt nó trở lại trên kệ bằng đôi tay run rẩy. Xong cô ta đứng thật yên lặng, lưng dựa vào bức tường giữa cái cửa sổ cáu bẩn và cái bếp lò, như thể cô chẳng mong ước gì hơn là lún vào trong bức tường đá đó mà biến mất cho rồi.
“Ông Gaunt à,” ông Ogden lại bắt đầu nói. “Như tôi đã nói: lý do việc thăm viếng của tôi là...”
“Tôi nghe ông nói lần đầu rồi!” lão Gaunt nạt ngang. “Vậy thì sao? Morfin tiện tay quay một tên Muggle một tí... vậy thì sao nào?”
“Morfin đã vi phạm Luật Pháp thuật,” ông Ogden nghiêm nghị nói.
“Morfin đã vi phạm Luật Pháp thuật,” lão Gaunt nhại lại giọng ông Ogden, làm cho nó trịnh trọng và ngân nga. Morfin lại cười khằng khặc. “Nó đã dạy cho tên Muggle bẩn thỉu một bài học, chuyện đó bây giờ là bất hợp pháp à?”
“Vâng,” ông Ogden nói. “Tôi e là như vậy.”
Ông rút từ túi áo trong ra một cuộn giấy da và mở ra.
“Vậy thì, cái gì đó, bản án của nó đó hả?” lão Gaunt nói, giọng cất cao giận dữ.
“Đây là trát đòi hầu tòa của Bộ...”
“Trát! Trát? Ông tưởng ông là ai mà dám ra trát đòi con trai tôi đi bất cứ đâu hả?”
“Tôi là Trưởng Đội Thi hành Luật Pháp thuật,” ông Ogden nói.
“Và ông tưởng bọn ta là đồ cặn bã hả?” Lão Gaunt gào lên, lúc này đã tiến tới trước mặt ông Ogden, chĩa một ngón tay có móng vàng khè vào ngực ông ta. “Đồ cặn bã chạy quắn đít lên khi Bộ ra lệnh à? Ông có biết ông đang nói chuyện với ai đây không, hả đồ Máu Bùn nhãi nhép bẩn thỉu?”
“Tôi có cảm giác là mình đang nói chuyện với ông Gaunt,” ông Ogden nói, có vẻ đề phòng, nhưng vẫn kiên quyết.
“Đúng vậy!” Lão Gaunt rống lên. Trong một thoáng, Harry đã tưởng lão Gaunt làm một động tác tay tục tĩu, nhưng nó kịp nhận ra lão ta chỉ giơ cho ông Ogden xem một chiếc nhẫn cẩn đá đen xấu xí mà lão đeo ở ngón tay giữa. Lão ta quơ quơ ngón tay đeo nhẫn trước mắt ông Ogden. “Thấy cái này không? Thấy không? Biết là cái gì không? Biết xuất xứ của nó không? Nó thuộc về gia đình tôi hàng thế kỷ rồi, gia đình chúng tôi lâu đời như thế đó, và hoàn toàn thuần huyết suốt từ xưa đến nay! Biết người ta từng ra giá với tôi bao nhiêu cho cái này không, với huy hiệu dòng họ Peverell khắc trên mặt đá đen?”
“Tôi không biết,” ông Ogden nói, chớp chớp mắt khi chiếc nhẫn được gí vô sát mũi ông chừng ba phân, “và chuyện đó đi lạc đề khá xa, ông Gaunt à. Con trai ông đã phạm...”
Hú lên một tiếng giận dữ, lão Gaunt chạy về phía cô con gái. Tzrong một nửa giây, Harry tưởng đâu lão ta sắp bóp họng Merope khi lão vung tay lên cổ họng cô ta; nhưng ngay sau đó, lão lôi cô ta về phía ông Ogden bằng một sợi dây chuyền vàng đeo quanh cổ cô.
“Thấy cái này không?” Lão ta gầm lên với Ogden, lắc lắc một cái mề đay vàng khá nặng vào mặt ông, trong khi Merope ú a ú ớ, miệng mồm há hốc ra để thở.
“Tôi thấy, tôi thấy!” ông Ogden vội vàng nói.
“Của Slytherin!” Lão Gaunt gào lên. “Của Salazar Slytherin! Chúng tôi là cháu chắt thừa kế chính thống của cụ, ông nói sao về chuyện này hả?”
“Ông Gaunt, con gái của ông kìa!” ông Ogden lo lắng nhắc chừng, nhưng lão Gaunt đã buông Merope ra; cô bèn lê lết tránh xa ông bố, quay trở lại cái góc của mình, xoa xoa cái cổ và hớp lấy hớp để không khí.
“Thế đấy!” Lão Gaunt nói giọng đắc thắng, như thể vừa chứng minh xong một điểm mấu chốt phức tạp vượt xa tất cả mọi tranh luận. “Ông liệu hồn đừng có mà đi nói chuyện với chúng tôi như thể chúng tôi là bùn đất dính dưới giày của ông! Hàng bao thế hệ thuần huyết, tất cả đầu là phù thủy… Tôi dám nói là nhiều hơn số ông tính ra!”
Và lão giẫm giẫm cái sàn chỗ ông Ogden đứng. Morfin lại cười sằng sặc. Merope không nói gì, chỉ co rúc bên cạnh cửa sổ, đầu cúi gục và gương mặt giấu trong mái tóc rũ xuống.
“Ông Gaunt à,” ông Ogden kiên trì nói, “tôi e là cả tổ tiên của ông lẫn tổ tiên tôi không liên quan gì tới vấn đề trước mắt. Tôi đến đây bởi vì Morfin, Morfin và người Muggle mà cậu ấy trù ẻo hồi khuya hôm qua. Theo thông tin của chúng tôi” – ông Ogden liếc nhìn xuống cuộn giấy da của mình - “thì Morfin đã ếm một bùa hay ngải lên người Muggle nói trên, khiến người đó phát ban vô cùng đau đớn.”
Morfin cười hinh hích.
“Im đi, con,” lão Gaunt  gầm gừ bằng Xà ngữ, và Morfin lại nín khe.
“Nếu nó có làm vậy thì đã sao nào?” lão Gaunt ngang ngược nói với ông Ogden, “Tôi đoán ông đã chùi dùm cái mặt dơ của tên Muggle đó rồi chứ, và cả trí nhớ của thằng đó để tống…”
“Đó đâu phải là vấn đề phải không ông Gaunt?” ông Ogden nói. “Đây là một cuộc tấn công không do khiêu khích trong một trường hợp không có sự phòng vệ…”
“Hừ, tôi đã thấy rõ ông là một kẻ khoái Muggle ngay từ lúc mới gặp ông,” lão Gaunt khinh khỉnh nói, và lại giẫm giẫm lên sàn nhà một lần nữa.
“Cuộc tranh luận này chẳng đưa chúng ta tới đâu cả,” ông Ogden quả quyết nói. “Có thể thấy rõ ràng qua thái độ của con trai ông là cậu ta không hề cảm thấy hối hận về hành động của mình.” Ông liếc xuống cuộn giấy da một lần nữa. “Morfin sẽ ra tòa vào ngày mười bốn tháng chín để trả lời về sự cáo buộc đã dùng pháp thuật trước mặt một Muggle và khiến cho Muggle đó bị tổn thương và đau khổ…”
Ông Ogden ngừng lại. Có tiếng vó ngựa lọc cọc, nhạc ngựa leng keng, và tiếng cười to vọng vào khuôn cửa sổ mở. Dường như con đường quanh co dẫn vào làng chạy rất sát chòm cây bao bọc ngôi nhà. Lão Gaunt đứng bất động, lắng nghe, hai mắt lão mở to. Morfin rít lên và quay mặt về phía phát ra âm thanh, có vẻ thèm thuồng. Merope ngẩng đầu lên. Harry thấy gương mặt cô ta trắng như bột.
“Chao ôi, một cảnh ngứa mắt gì đâu!” Giọng một cô gái vang lên, nghe rõ qua khung cửa sổ mở như thể cô ta đang đứng trong cùng một căn phòng với họ. “ba anh không thể cho dọn dẹp cái chòi nát đó sao, anh Tom?”
“Cái đó đâu phải của nhà anh,” giọng một chàng trai trẻ. “Mọi thứ bên kia thung lũng đều thuộc về gia đình anh, nhưng cái chòi đó thuộc về một lão bá vơ tên là Gaunt và con cái lão. Thằng con khùng lắm, chắc em có nghe mấy chuyện người ta đồn đãi trong làng…”
Cô gái phá ra cười. Tiếng nhạc ngựa leng keng và tiếng vó ngựa lộc cộc vang lên càng lúc càng to hơn. Morfin làm như thể muốn nhảy ra khỏi cái ghế bành nó đang ngồi.
“Ngồi yên!” Cha nó nói bằng Xà ngữ, giọng răn đe.
“Anh Tom à,” giọng cô gái lại vang lên, bây giờ nghe rõ đến nỗi hẳn là họ đang ở bên cạnh căn nhà, “có thể em nhầm – nhưng có ai đó đã đóng đinh một con rắn lên cửa, phải không?”
“Úi trời ơi, em nói đúng!” giọng chàng trai nói. “Chắc là thằng con trai, anh đã nói với em là thằng đó khùng mà. Đừng nhìn nó, Cecilia, cưng của anh.”
Tiếng nhạc ngựa leng keng và tiếng vó ngựa lộc cộc bây giờ lại nghe nhỏ dần.
“Cưng của anh,” Morfin thì thầm bằng Xà ngữ, nhìn cô em gái. “Hắn gọi con đó là “Cưng của anh”. Vậy là đằng nào đi nữa hắn cũng không thèm mày.”
Merope trắng nhợt đến nỗi Harry cảm thấy chắc là cô ta sắp xỉu.
“Chuyện gì hả?” Lão Gaunt nói sẵng giọng, cũng bằng Xà ngữ, hết nhìn con trai tới nhìn sang con gái. “Mày nói cái gì hả, Morfin?”
“Nó khoái ngó thằng Muggle đó,” Morfin nói, một vẻ đồi bại hiện ra trên gương mặt khi hắn nhìn chòng chọc cô em gái, cô ta tỏ ra khiếp sợ cực kỳ. “Luôn luôn ở trong vườn mỗi khi thằng ấy đi ngang, dòm hắn qua giậu cây, có không? Và tối hôm qua…”
Merope ngắc ngứ lắc đầu vẻ van xin, nhưng Morfin vẫn nói tiếp một cách tàn nhẫn, “đeo ở cửa sổ chờ hắn đánh xe ngựa về nhà, có không?”
“Đeo ở cửa sổ để ngóng một thằng Muggle à?” Lão Gaunt rít lên trong miệng.
Cả ba cha con nhà Gaunt hầu như quên béng sự có mặt của ông Ogden, ông này tỏ vẻ vừa ngơ ngáo vừa bực bội trước đợt rít khè và nghiến ngót mới mà ông không hiểu gì ráo.
“Có đúng không?” Lão Gaunt hỏi bằng một giọng lạnh băng, tiến một hai bước về phía cô con gái đang khiếp đảm. “Con gái của ta, dòng dõi thuần khiết của Salazar Slytherin – mà si mê một thằng Muggle máu bùn nhơ nhuốc à?”
Merope lắc đầu như điên, ép sát mình vào tường, dường như không thể thốt nên lời.
“Nhưng mà con trị hắn rồi, Bố!” Morfin cười khằng khặc. “Con đã trị hắn khi hắn đi ngang qua đây và hắn hết còn đẹp trai khi ban cua nổi khắp mình mẩy, há Merope?”
“Mày, đồ á phù thủy nhãi ranh gớm ghiếc, đồ phản bội huyết thống bẩn thỉu!” Lão Gaunt rống lên, mất hết bình tĩnh, và hai bàn tay lão siết quanh cổ họng cô con gái.
Cả Harry và ông Ogden cùng lúc hét lên: “Đừng!” Ông Ogden giơ cây đũa phép lên và hô, “Buông ra!”
Lão Gaunt bị văng ngược ra sau, cách xa cô con gái; lão ta vấp vào một cái ghế và té chỏng gọng. Rống lên một tiếng giận dữ, Morfin nhảy bọt ra khỏi ghế nhào vô ông Ogden, vung vẩy con dao đẫm máu trong tay và phóng bừa bãi bùa phép từ cây đũa phép của gã.
Ông Ogden chạy thí mạng. Cụ Dumbledore ra dấu rằng hai thầy trò cũng nên chạy theo và Harry vâng lời, tiếng gào thét của Merope còn vang vọng trong lỗ tai nó.
Ông Ogden chạy khỏi con đường mòn, hai tay vòng lên che đầu, và phóng ra con đường chính, đâm sầm vô một con ngựa nâu lông mượt do một chàng trẻ tuổi tóc đen đẹp trai cỡi. Cả chàng ta và cô gái xinh đẹp cỡi con ngựa xám bên cạnh đều phá ra cười ngặt nghẽo trước cảnh tượng ông Ogden đâm sầm vô hông con ngựa rồi lồm cồm đứng dậy chạy bán mạng ngược lên con đường, cái áo khoác thầy tu phất phơ che trùm từ đầu đến chân.
“Thầy nghĩ điều đó là đủ rồi, Harry à,” cụ Dumbledore nói. Cụ nắm lấy cùi chỏ Harry và kéo mạnh. Tích tắc sau, cả hai thầy trò lại bay vọt lên xuyên qua bóng tối một cách nhẹ tênh, cho đến khi cả hai đáp xuống, đứng đối diện nhau, trong văn phòng của cụ Dumbledore lúc này đã mờ tối.
“Cô gái ở trong cái chòi có bị chuyện gì không?” Harry hỏi ngay, trong khi cụ Dumbledore thắp thêm đèn bằng một cái phẩy nhẹ cây đũa phép. “Cai cô tên Merope, hay tên gì gì đó?”
“À, cô ta sống sót,” cụ Dumbledore nói, vừa ngồi xuống sau bàn làm việc và ra dấu cho Harry cũng ngồi xuống. “Ông Ogden độn thổ trở về Bộ và chỉ trong vòng mười lăm phút sau đã trở lại với quân tiếp viện. Morfin và cha nó cố gắng chống trả, nhưng cả hai bị chế ngự, bị đưa ra khỏi chòi, và sau đó bị Tòa án Pháp thuật kết án. Morfin, vì vốn có tiền án về tấn công Muggle, nên đã bị kêu án ba năm ở nhà ngục Azkaban. MarVoldermorto, kẻ đã gây thương tích cho ông Ogden và nhiều nhân viên khác của Bộ Pháp thuật thì bị tù sáu tháng.”
“MarVoldermorto à?” Harry ngạc nhiên lặp lại cái tên.
“Đúng vậy,” cụ Dumbledore nói, mỉm cười xác nhận. “Thầy hài lòng là con theo kịp câu chuyện.”
“Vậy lão già đó là…?”
“Ông ngoại của Voldermort, đúng vậy,” cụ Dumbledore nói. “MarVoldermorto cùng con trai Morfin và con gái Merope là hậu duệ cuối cùng của dòng họ Gaunt, một dòng họ pháp sư rất lâu đời nổi tiếng về tánh khí hung tợn và bất thường truyền qua nhiều thế hệ do tập quán kết hôn với bà con họ hàng. Thiếu hiểu biết cộng với kiểu cách quí tộc phô trương đưa tới hậu quả là của nả dòng họ đã bị hoang phí qua nhiều thế hệ trước khi MarVoldermorto chào đời. Như con thấy đấy, ông ta sống trong cảnh nghèo nàn dơ dáy, tánh khí thô lỗ, và cực kỳ kiêu căng tự đại, với vài di sản của dòng họ mà ông ta nâng niu như con trai mình, và hơn cả con giá mình.”
“Vậy Merope,” Harry chồm tới trước trên ghế của nó và nhìn đăm đăm cụ Dumbledore, “vậy Merope là… Thưa thầy, có phải điều đó có nghĩa cô ấy là… mẹ của Voldermort?”
“Đúng vậy,” cụ Dumbledore nói. “Và ngẫu nhiên chúng ta cũng đã thoáng thấy cha của Voldermort. Thầy không biết con có để ý hay không?”
“Có phải người Muggle mà Morfin đã tấn công không, thưa thầy? Người đàn ông cõi ngựa ấy?”
“Đúng vậy,” cụ Dumbledore nói, tươi cười. “Phải, đó là Tom Riddle cha, cậu Muggle đẹp trai thường cỡi ngựa ngang qua căn chòi của gia đình Gaunt, người mà Merope phải lòng si mê đắm đuối.”
“Và cuối cùng họ cưới nhau à?” Harry nói với vẻ không tin được, không thể tưởng tượng hai người không giống nhau chút nào ấy lại có thể yêu nhau.
“Thầy nghĩ con quên mất,” cụ Dumbledore nói, “rằng Merope là một phù thủy. Thầy không tin rằng quyền năng pháp thuật của cô ta có thể bộc lộ ưu thế tối đa khi còn bị cha mình khủng bố. Một khi MarVoldermorto và Morfin đã ở yên trong nhà tù Azkaban, một khi cô ta được tự do một mình lần đầu tiên trong đời, thì thầy tin chắc, cô ta có thể bung ra để cho khả năng của mình phát triển hết mức và âm mưu một kế hoạch thoát khỏi cuộc sống vô vọng mà cô ta đã phải chịu đựng suốt mười tám năm… Con có thể nghĩ ra biện pháp nào mà Merope có thể dùng để khiến Tom Riddle quên đi người bạn tình Muggle, và phải lòng cô ta không?”
“Lời nguyền Độc đoán?” Harry suy đoán. “Hay là Tình dược?”
“Giỏi lắm. Về phần thầy thì thầy thiên về giả thuyết cô ta đã dùng một loại tình dược. Thầy chắc rằng như vậy sẽ lãng mạn hơn đối với cô ta, và thầy không nghĩ cô ta gặp khó khăn lắm trong việc mời Riddle một ly nước, vào một ngày nóng bức nào đó, khi Riddle đang cỡi ngựa về nhà một mình. Dù trường hợp nào xảy ra đi chăng nữa, thì chỉ trong vài tháng sau cái cảnh mà chúng ta vừa chứng kiến, ngôi làng Hangleton Nhỏ được thưởng thức một vụ xì căng đan khủng khiếp. Con có thể tưởng tượng thiên hạ đàm tiếu như thế nào khi con trai ông điền chủ trốn đi xây tổ uyên ương với Merope, con gái một kẻ bá vơ. Nhưng cái vụ tai tiếng chấn động cả làng ấy chẳng có nghĩa lý gì đối với MarVoldermorto. Ông ta từ  nhà ngục Azkaban trở về, những mong thấy cô con gái của mình ngoan ngoãn chờ mình về với bữa ăn nóng dọn sẵn trên bàn. Nhưng thay vì vậy ông ta chỉ nhìn thấy một lớp bụi dày ba phân phủ trên bức thư vĩnh biệt giải thích việc cô con gái đã làm.
Từ tất cả những gì mà thầy có thể khám phá ra, thì kể từ lúc đó trở đi, ông ta không bao giờ nhắc tới sự tồn tại của cô con gái nữa. Cơn khủng hoảng về sự bỏ trốn của cô con gái có lẽ đã góp phần làm cho ông ta chết sớm – hoặc cũng có thể ông ta chết vì không biết tự nấu ăn cho mình. Nhà ngục Azkaban đã làm cho MarVoldermorto thực sự suy yếu, và ông ta đã không sống được cho đến lúc nhìn thấy Morfin trở về căn chòi.”
“Còn Merope? Cô ấy… cô ấy cũng chết sớm, phải không ạ? Chẳng phải là Voldermort được nuôi lớn lên trong một viện mồ côi sao?”
“Thực ra, đúng như vậy,” cụ Dumbledore nói. “Ở đây chúng ta phải giả thiết một số thứ, mặc dù thầy nghĩ cũng không khó khăn lắm để loại trừ dần nhằm biết được điều gì đã xảy ra. Con thấy đó, trong vòng vài tháng trốn đi xây tổ uyên ương với nhau, Tom Riddle lại tái xuất hiện ở ngôi nhà trong trang trại ở làng Hangleton Nhỏ mà không dắt vợ cùng về. Chuyện đồn đại lan nhanh khắp trong vùng là anh ta nói gì đó về “bùa mê ngải lú” và bị  “hớp hồn”. Điều anh ta muốn nói, thầy đoán chắc, là việc anh ta đã trải qua cơn mê ám rồi tỉnh ra, tuy nhiên thầy dám nói là anh ta không muốn nói thẳng ra những từ đó vì sợ bị coi là điên. Tuy nhiên, khi dân làng nghe anh ta nói thế, họ cũng đoán được là Merope đã dối gạt Tom Riddle, đã giả vờ như sắp có con, và vì vậy mà anh ta đã phải cưới cô ta.”
“Nhưng cô ấy có con thực mà.”
“Ấy là mãi một năm sau khi họ cưới nhau. Tom Riddle đã bỏ rơi vợ khi cô ấy đang có mang.”
“Có chuyện gì trục trặc à?” Harry hỏi. “Tại sao tình dược hết hiệu nghiệm?”
“Lại suy đoán nữa thôi,” cụ Dumbledore nói, “nhưng thầy tin là Merope, kẻ yêu chồng tha thiết, không thể chịu đựng hơn nữa cảnh nô dịch chồng bằng phương tiện pháp thuật. Thầy tin là cô ta đã tự nguyện ngưng cho chồng uống tình dược. Có thể, vốn mê muội, cô ta đã tin rằng giờ đây anh ta hẳn là  đã đáp lại tình yêu của cô. Có thể cô ta nghĩ anh ta sẽ ở lại vì đứa con. Nếu vậy thì cô đã tính toán sai lầm trong cả hai trường hợp. Anh ta đã bỏ rơi cô ta, không bao giờ gặp lại cô ta, và không bao giờ bận tâm tìm hiểu coi con trai mình ra sao.”
Bầu trời bên ngoài đã đen như mực và những ngọn đèn trong văn phòng cụ Dumbledore dường như chiếu sáng rạng rỡ hơn trước đó.
“Thầy nghĩ hôm nay như vậy là đủ rồi, Harry à,” cụ Dumbledore nói, sau một lúc im lặng.
“Dạ, thưa thầy,” Har nói.
Nó đứng lên, nhưng chưa rời phòng.
“Thưa thầy… biết tất cả những điều này về quá khứ của Vol có quan trọng không?”
“Thầy nghĩ là rất quan trọng,” cụ Dumbledore nói.
“Và nó… có liên quan gì đến lời Tiên tri không ạ?”
“Nó có mọi thứ liên quan đến lời Tiên tri.”
“Dạ,” Harry bối rối, nhưng cũng tin vậy.
Harry quay lưng bước đi, chợt một câu hỏi nảy ra, nó bèn quay lại.
“Thưa thầy, con có được phép kể cho Ron và Hermione mọi điều mà thầy vừa nói với con không?”
Cụ Dumbledore cân nhắc ngó nó một lúc, rồi nói, “Được, thầy nghĩ cậu Weasley và cô Granger đã chứng tỏ là những người đáng tin cậy. Nhưng Harry à, thầy muốn đề nghị con hãy yêu cầu các trò ấy đừng kể lại cho bất kỳ ai khác nghe bất cứ điều gì về chuyện này. Sẽ chẳng hay ho gì nếu tin đồn lan ra là thầy biết được hay đoán được nhiều ít thế nào những bí mật của Chúa tể Voldermort.”
“Thưa thầy, không đâu. Con sẽ bảo đảm là chỉ có Ron và Hermione thôi ạ. Chúc thầy ngủ ngon.”
Nó lại quay lưng đi, và khi gần như đã ở ngưỡng cửa thì nón thấy cái vật đó. Nằm trên một trong mấy cái bàn nho nhỏ cao cẳng khẳng khiu bị đặt lên quá nhiều thứ dụng cụ bằng bạc, là một chiếc nhẫn vàng cẩn mặt đá đen to, nứt nẻ, xấu xí.
“Thưa thầy,” Harry nói, vừa trố mắt nhìn chiếc nhẫn. “Cái nhẫn đó…”
“Sao?” Cụ Dumbledore nói.
“Thầy đã đeo nó khi chúng ta đến thăm giáo sư Slughorn đêm đó.”
“Đúng vậy,” cụ Dumbledore đồng ý.
“Nhưng chẳng phải… Thưa thầy, không phải đó cũng là chiếc nhẫn mà lão MarVoldermorto Gaunt đã đưa cho ông Ogden xem à?”
Cụ Dumbledore cúi đầu. “Chính chiếc nhẫn đó.”
“Nhưng mà làm sao…? Lâu nay thầy vẫn có nó sao?”
“Không, thầy chỉ mới thu được nó gần đây thôi,” cụ Dumbledore nói. “Thực ra thì chỉ vài ngày trước khi thầy đến đón con ở nhà dì dượng con.”
“Thưa thầy, vậy là vào khỏang thời gian thầy bị thương ở tay, phải không ạ?”
“Ừ, vào khoảng đó Harry à.”
Harry ngập ngừng. Cụ Dumbledore đang mỉm cười.
“Thưa thầy, chính xác là làm thế nào mà…?”
“Trễ quá rồi Harry à! Con nên nghe câu chuyện này vào lúc khác. Chúc con ngủ ngon.”
“Dạ, chúc thầy ngủ ngon.”
0
Chương 11
Trợ thủ Hermione
 
Như Hermione đã tiên đoán, những tiết trống của năm thứ sáu không phải là những giờ xả hơi sung sướng như Ron tưởng, mà là thời gian để gồng mình làm cho kịp cả núi bài tập mà tụi nó bị giao về nhà làm. Tụi nó không chỉ học như thể ngày nào cũng có tiết kiểm tra, mà chính những buổi học cũng trở nên căng thẳng hơn trước. Harry hầu như không hiểu tới một nửa những gì giáo sư McGonagall nói với tụi nó vào những ngày này; ngay cả Hermione cũng phải một hai lần xin cô nhắc lại lời hướng dẫn. Khó tin nhưng có thật, và khiến Hermione thêm ấm ức, ấy là môn Độc dược đã trở thành môn Harry học giỏi nhất, nhờ vị Hoàng Tử lai.
Thầy cô bây giờ đòi hỏi học trò phải dùng thần chú không lời không chỉ trong môn Phòng chống nghệ thuật hắc ám, mà cả trong môn Bùa phép và Biến hình. Harry thường ngó qua mấy đứa bạn cùng lớp trong phòng sinh hoạt chung hay vào giờ ăn, thấy mặt mày tụi nó tím tái và căng thắng như thể xài quá liều Ai-không-ị; nhưng Harry cũng hiểu đó là do tụi nó đã phải vật vã để có một câu thần chú linh nghiệm mà không cần phải niệm ra miệng oang oang. Cho nên ra khỏi lâu đài đến nhà kiếng quả là được xả hơi; tụi nhỏ phải xử lý những thứ cây cỏ nguy hiểm hơn bao giờ hết trong môn Dược thảo, nhưng ít nhất thì tụi nó còn được phép chửi bậy vung vít nếu con Vòi độc bất ngờ vồ chúng từ đằng sau.
Một hậu quả của khối bài làm khổng lồ và những giờ thực tập muốn điên món thần chú không lời là Harry, Ron và Hermione cho tới giờ vẫn chưa có thì giờ đi thăm bác Hagrid. Bác ấy đã còn đến ăn ở bàn của giáo ban – một dấu hiệu chẳng lành; và có vài dịp tụi nó đi ngang qua bác trong hành lang hay ngoài sân trường, thật khó hiểu, bác đã làm như không để ý thấy tụi nó hoặc không nghe tụi nó chào.
“Tụi mình phải đi và giải thích thôi,” Hermione nói, khi cô nàng ngước lên nhìn cái ghế khổng lồ bỏ trống của bác Hagrid ở bàn ăn giáo ban vào bữa điểm tâm ngày thứ bảy tuần sau đó.
“Tụi mình có buổi kiểm tra chọn đội tuyển Quidditch sáng nay mà!” Ron nói. “Và tụi mình còn phải thực tập cái bùa Rót nước của thầy Flitwick! Với lại, giải thích cái gì? Làm thế nào mà tụi mình có thể nói với bác là tụi mình ghét cái môn vớ vẩn của bác chớ?”
“Tụi mình đâu có ghét!” Hermione nói.
“Nói về phần mình thôi, mình không đời nào quên được mấy con Đuôi nổ.” Ron rầu rĩ nói. “Và bây giờ mình nói cho bồ biết, tụi mình khó mà thoát lắm. Bồ chưa nghe bác ấy triền miên nói về chú em óc bã đậu của bác ấy đấy thôi. Tụi mình sẽ phải dạy Grawp cách cột dây giày nếu ở lại lớp học ấy.”
“Mình ghét cái việc tránh nói chuyện với bác Hagrid,” Hermione nói, tỏ ra buồn giận hết sức.
“Tụi mình sẽ đi thăm bác ấy sau buổi tập Quidditch,” Harry cam kết với cô bé. Nó cũng đang nhớ bác Hagrid, mặc dù cũng giống như Ron, nó nghĩ rằng tụi nó sướng hơn nhiều nếu không có Grawp chen vô đời. “Nhưng việc thi tuyển có thể kéo dài hết buổi sáng, số người xin vô đội tuyển đông lắm.” Harry cảm thấy hơi lo lắng về việc đương đầu với cuộc thử thách đầu tiên của chức Đội trưởng. “Mình chẳng biết tại sao đội bỗng nhiên nổi tiếng như vậy.”
“Ôi, thôi mà, Harry,” Hermione nói, đột ngột mất kiên nhẫn. “Không phải đội Quidditch nổi tiếng, mà chính là bồ! Bồ chưa bao giờ hấp dẫn hơn lúc này, và thành thật mà nói, cũng chưa bao giờ hợp thời trang hơn lúc này.”
Ron thồn vào miệng một miếng cá tổ chảng. Hermione để dành cho nó một cái nhìn khinh bỉ trước khi quay trở lại với Harry.
“Bây giờ mọi người đều biết bồ đã nói sự thật, đúng không? Cả cái thế giới Pháp thuậth đã phải thừa nhận là bồ nói đúng về vụ Voldermort trở lại và rằng bồ đã thực sự chiến đấu với hắn hai lần trong hai năm qua và đều thoát chết cả hai lần. Và giờ đây họ gọi bồ là “Kẻ được chọn”... Thôi, đừng giả nai nữa, chẳng lẽ bồ không hiểu tại sao người ta khoái bồ à?”
Harry nhận thấy Đại sảnh đường sao mà bỗng nhiên nóng bức quá, cho dù trên trần trông vẫn có vẻ mưa và mát.
“Và bồ đã trải qua tất cả sự ngược đãi của Bộ khi họ tìm cách biến bồ thành một kẻ dở hơi và nói láo. Bồ vẫn còn có thể thấy vết tích trên mu bàn tay bồ, chỗ mà cái mụ ác độc ấy đã bắt bồ phải viết lên bằng chính máu bồ, nhưng dù vậy bồ vẫn quyết trung thành với câu chuyện của bồ...”
“Bồ vẫn còn có thể thấy chỗ mà những bộ óc đó túm lấy mình ở Bộ, nhìn nè,” Ron nói, lật lật ống tay áo nó lên.
“Và nó cũng chẳng đau đớn gì nên bồ mới cao thêm ba tấc nội trong một mùa hè,” Hermione nói nốt, phớt lờ Ron.
“Mình thuộc loại mình dây mà,” Ron nói tưng tửng.
Bọn bưu cú đến, bay sà xuống qua những khung cửa sổ bị mưa tạt, rảy lên mọi người những giọt nước mưa tí ti. Hầu hết mọi người đều nhận được nhiều thư hơn mọi khi; các bậc phụ huynh lo lắng rõ ràng là muốn nghe tin về con cái ở trường và đổi lại muốn báo tin cho chúng biết ở nhà mọi việc vẫn tốt đẹp. Harry chẳng nhận được thư từ gì kể từ ngày khai trường; Người duy nhất thường viết thư cho nó giờ đây đã chết và mặc dù nó từng hy vọng thầy Lupin sẽ thỉnh thoảng viết thư cho nó, nhưng cho tới giờ thì nó hoàn toàn thất vọng. Vì vậy giờ đây nó hết sức ngạc nhiên khi thấy con Hedwig trắng như tuyết lượn vòng vòng trong đám cú xám và cú nâu. Hedwig đáp xuống trước mặt nó, mang theo một gói to vuông vức.  Chỉ tích tắc sau, một gói y chang như vậy đáp xuống ngay trước mặt Ron, xiểng liểng bên dưới con cú tí hon đã kiệt sức của nó, con Pigwidgeon.
“A!” Harry nói, vừa mở cái gói ra, để lộ một bản mới toanh của cuốn Chế tạo thuốc cao cấp vừa được nhà sách Flourish và Blotts gởi tới.
“Thế là tốt,” Hermione vui hẳn lên. “Bây giờ bồ có thể trả lại cuốn sách ghi chú nhăng nhít kia.”
“Bồ điên sao?” Harry nói. “Mình sẽ giữ lại nó! Này nhé, mình đã tính kỹ rồi...”
Nó rút bản cũ xì của cuốn Chế tạo thuốc cao cấp ra khỏi túi xách và dùng cây đũa phép của nó gõ lên sách, đồng thời lầm rầm “Rời rớt ra!” Cái bìa rời ra ngay. Nó cũng làm y như vậy với cuốn sách mới toanh (Hermione trông như bị xúc phạm). Xong nó đổi hai cái bìa lại với nhau, rồi gõ đũa phép lên từng cuốn, nói “Sửa lại!”
Thế là bản của Hoàng tử nằm đó, ngụy trang thành một cuốn sách mới bóc tem, còn bản của nhà sách Flourish và Blotts nằm kia, trông rõ là đồ xài qua rồi.
“Mình sẽ trả lại Thầy Slughorn cuốn sách mới, thầy không thể phàn nàn, nó giá chín Galleon chứ bộ.”
Hermione mím chặt môi lại, tỏ vẻ tức giận và không thể chấp nhận được, nhưng cô nàng đã bị con cú thứ ba đáp xuống ngay trước mặt thu hút sự chú ý. Con cú này mang đến tờ Nhật báo Tiên Tri   ra ngày hôm đó. Cô nàng vội vàng mở báo ra và liếc qua trang nhất.
“Có ai mình quen bị chết không?” Ron hổi bằng cái giọng tuyệt đối vô tư; Mỗi lần Hermione mở báo ra nó đều hỏi cùng một câu hỏi đó.
“Không, nhưng có thêm nhiều vụ giám ngục tấn công,” Hermione nói. “Và một vụ bắt giữ.”
“Xuất sắc, ai vậy?” Harry nói, nghĩ ngay đến mụ Bellatrix Lestrange.
“Stan Shunpike,” Hermione nói.
“Stan Shunpike, người soát vé trên phương tiện vận chuyển Pháp thuậth phổ biến, Xe buýt Hiệp sĩ – đã bị bắt vì tình nghi liên quan đến hoạt động Tử thần thực tử. Ông Shunpike, 21 tuổi, đã bị câu lưu vào khuya hôm qua sau một cuộc lục soát bất ngờ tại tư gia ông ta ở Clapham...”
“Stan Shunpike mà là một Tử thần thực tử à?” Harry nói, vừa nhớ lại chàng trai trẻ mặt đầy tàn nhang mà nó đã gặp cách đây ba năm. “Không đời nào!”
“Có thể anh ta bị ếm phải lời nguyền Độc đoán,” Ron nói ra vẻ biết điều. “Mình đâu có biết được.”
“Coi bộ không phải vậy,” Hermione nói, cô nàng vẫn tiếp tục đọc báo. “Bài báo này nói Shunpike bị bắt khi anh ta bị nghe lỏm đang nói về những kế hoạch bí mật của bọn Tử thần thực tử trong một quán nhậu,” cô nàng ngẩng đầu lên với nét mặt băn khoăn. “Nếu bị ếm lời nguyền Độc đoán thì anh ta khó mà có thể đi loanh quanh tán dóc về kế hoạch của bọn chúng, đúng không?”
“Nghe có vẻ như anh ta chỉ làm ra vẻ ta đây hiểu biết nhiều,” Ron nói. “Có phải anh ta là kẻ đã tuyên bố sẽ làm Thủ tướng Bộ Pháp thuật khi anh ta cố tan tỉnh mấy cô tiên nhí đó không?”
“Ừ, chính anh ta,” Harry nói. “Mình không biết họ đang diễn trò gì mà lại nhắm vô Stan.”
“Có lẽ họ đang muốn làm ra vẻ như thể họ đang làm gì đó,” Hermione nói, cau mày lại. “Người ta đang hoảng sợ mà... Mấy bồ có biết là cha me hai chị em sanh đôi Patil muốn đem con về nhà không? Và Eloise Midgen thì đã nghỉ học. Cha của nó đã đến đón nó về tối hôm qua.”
“Cái gì!” Ron nói, trợn tròn mắt nhìn Hermione. “Nhưng trường Hogwarts mới gọi là an toàn hơn ở nhà họ, nhất định an toàn hơn! Chúng mình có Thần Sáng bảo vệ, rồi tất cả những bùa chú bảo vệ đặc biệt, và chúng mình còn có thầy Dumbledore nữa!”
“Mình không nghĩ là tụi mình luôn luôn có thầy bên cạnh,” Hermione nói rất nhỏ, liếc nhìn qua đầu tờ Nhật báo Tiên Tri   về hướng bàn ăn giáo viên. “Mấy bồ không để ý sao? Cả tuần nay chỗ ngồi của thầy thường xuyên để trống như ghế của bác Hagrid.”
Harry và Ron nhìn lên dãy bàn của giáo ban. Chiếc ghế của thầy hiệu trưởng quả thật để trống. Bây giờ Harry mới sực nghĩ ra, nó đã không gặp lại thầy Dumbledore kể từ buổi học riêng cách đây một tuần lễ.
“Mình nghĩ thầy đã rời khỏi trường để đi làm gì đó cho Hội,” Hermione nói rất nhỏ. “Ý mình nói là... tình hình có vẻ nghiêm trọng, đúng không?”
Harry và Ron không trả lời, nhưng Harry biết là cả ba đứa tụi nó đều đang suy nghĩ giống nhau. Đã xảy ra một sự cố khủng khiếp vào ngày hôm trước, khi người ta gọi Hannah Abbott ra khỏi lớp Dược thảo để báo tin là mẹ của nó đã chết khi được phát hiện ra. Từ bữa đó tụi nó đã không nhìn thấy Hannah nữa.
Khi rời khỏi bàn nhà Gryffindor khoảng năm phút sau để đi ra sân đấu Quidditch, tụi nó đi ngang qua Lavender Brown và Parvarti Patil. Nhớ lại điều Hermione vừa nói về chuyện cha mẹ hai chị em sinh đôi Patil muốn các con rời khỏi trường Hogwarts, Harry không ngạc nhiên khi nhìn hai cô bạn chí thân đang thủ thỉ với nhau, có vẻ buồn rầu lắm. Cái khiến nó ngạc nhiên là khi Ron đi ngang tầm hai cô nàng, Parvati bỗng nhiên huých cùi chỏ Lavender một cái, cô nàng này quay đầu lại và nở một nụ cười toe toét với Ron. Ron chớp chớp mắt với cô nàng, rồi đáp lại bằng một nụ cười ngượng ngập. Bước chân của cậu chàng bỗng nhiên trở nên khệnh khạng. Harry rnagiáo sư nhịn cười, khi chợt nhớ lại là Ron cũng đã từng nín cười khi nghe chuyện Malfoy đạp bể mũi Harry; Tuy nhiên, Hermione tỏ vẻ lạnh lùng và đi tách xa tụi nó suốt con đường đến sân vận động qua màn mưa phùn lạnh lẽo mịt mờ, rồi bỏ đi tìm một chỗ trên khán đài mà không thèm chúc Ron may mắn.
Như Harry đã dự đoán, buổi tập thử để chọn đội tuyển đã kéo dài gần hết buổi sáng. Dường như một nửa học sinh của nhà Gryffindor có mặt, từ những học sinh năm thứ nhất lo âu nắm chặt một mớ những cây chổi bay cũ dễ sợ của trường, đến đám đàn anh năm thứ bảy, có một anh chàng đô con, mái tóc thô xoắn như dây kẽm gai mà Harry nhận ra ngay từ trên tàu lửa Tốc hành Hogwarts.
“Tụi mình đã gặp nhau trên tàu, trong toa của lão Sluggy,” anh chàng nói một cách tự tin, trong lúc bước ra khỏi đám đông để bắt tay Harry. “Mình là Cormac McLaggen, Thủ môn.”
“Năm ngoái anh không dự cuộc tuyển chọn thì phải?” Harry hỏi, lưu ý đến bề ngang của McLaggen và nghĩ anh chàng này có thể phòng chắn đến ba cọc gôn mà không cần phải di chuyển.
“Mình nằm bệnh thất trong lúc có cuộc thi chọn,” McLaggen nói, với vẻ hơi nổ. “Ăn hết nửa ký trứng Cà nhỏng trong một vụ cá cược.”
“Hay,” Harry nói. “Thôi... anh đợi ở đây nhé...“ Nó chỉ về phía rìa của sân đấu, gần chỗ Hermione đang ngồi. Nó nghĩ nó vừa nháng thấy một thoáng bực mình lướt qua gương mặt McLaggen và nó tự hỏi liệu McLaggen có đang trông chờ được đối xử ưu tiên bởi vì cả hai đứa nó đều là học trò cưng của “lão Sluggy” không. Harry quyết định bắt đầu bằng bài kiểm tra cơ bản, yêu cầu tất cả ứng viên vào đội tuyển chia thành những nhóm mười người bay quanh sân đấu một vòng. Đây là một quyết định hay: nhóm 10 người đầu tiên gồm những học sinh năm thứ nhất, và không còn gì rõ ràng hơn cái việc là chúng chưa từng bay bao giờ. Chỉ có mỗi một thằng nhóc là xoay sở trụ lại được trên cán chổi lâu hơn vài giây, và thằng bé ngạc nhiên đến nỗi đâm ngay vào một trong mấy cái cọc gôn.
Nhóm thứ hai gồm mười cô gái ngốc nghếch mà Harry chưa từng gặp bao giờ, mấy cô bé này chỉ đổ ra cười khúc khích và níu chặt lấy nhau kho Harry thổi còi. Trong số này có Romilda Vane. Khi Harry bảo các cô rời khỏi sân đấu, các cô đi ra với vẻ không phấn khởi lắm, rồi ra chỗ ngồi trên khán đài để vặn hỏi ý kiến của người khác.
Nhóm thứ ba thì mới bay được nửa vòng đã té dồn cục. Nhóm thứ tư thì hầu hết ra sân mà không có chổi bay. Nhóm thứ năm hóa ra lại là học sinh bên nhà Hufflepuff.
“Nếu ở đây có ai không phải học sinh nhà Gryffindor,” Harry gào lên, nó bắt đầu bực mình thực sự, “thì làm ơn rời khỏi sân đấu giùm!”
Tạm ngưng một lát, rồi hai thằng nhóc nhà Ravenclaw vừa chạy như điên ra khỏi sân đấu vừa rú lên cười.
Sau hai tiếng đồng hồ, nhiều lời kêu ca, và nhiều cơn thịnh nộ, một vụ tai nạn chổi bay hiệu Sao chổi Hai sáu chục và nhiều cái răng mẻ, Harry kiếm được cho mình ba Truy thủ là Katie Bell, người trở lại đội tuyển sau một cuộc tập thử xuất sắc; một khám phá mới là Demelza Robin, người đặc biệt giỏi luồn lách tránh mấy trái Bludger; và Ginny Weasley, người đã bay trội hơn tất cả những đối thủ khác và ghi cho mình mười bảy điểm vô gôn. Tuy hài lòng với sự tuyển chọn của mình, Harry vẫn phải tự mình gào thét với nhiều kẻ phàn nàn đến khản cả giọng và bây giờ đang không khổ chịu đựng một trận chiến với những ứng viên Tấn thủ bị loại.
“Đó là quyết định cuối cùng của tôi và nếu bạn không chịu tránh ra cho các ứng viên Thủ môn thì tôi sẽ ếm xì bùa cho mà coi,” nó rống lên.
Không người nào trong hai Tấn thủ mà nó chọn có được sự xuất sắc của cựu Tấn thủ Fred và George, nhưng nó vẫn tưong đối hài lòng với hai đứa sau: Jimmy Peakes, một thằng lùn năm thứ ba có bộ ngực rộng, thằng này xoay sở sao đó mà làm nổi lên hawnrm một cục u bự bằng cái trứng ngay sau chẩm đầu của Harry bằng một cú đấm Bludger tàn bạo; và Ritchie Coote, người trông yếu ớt như cỏ, nhưng nhắm rất ư trúng đích. Hai đứa mới tuyển này giờ đây nhập vô bọn Katie, Demelza và Ginny trên khán đài để xem cuộc tuyển chọn thành viên cuối cùng của đội.
Harry đã thận trọng chừa cuộc tuyển chọn thủ môn đến lúc cuối cùng, hy vọng lúc đó sân vận động đã vơi bớt người đi và những người có liên quan trong cuộc tuyển chọn cũng đã  bớt phần nào áp lực. Nhưng thiệt không may, nguyên đám ứng cử viên bị loại và một số người nữa đã kéo xuống sau bữa điểm tâm kéo dài, giờ đây tất cả nhập vô đám đông, khiến cho lượng khán giả càng đông hơn bao giờ hết. Khi mỗi thủ môn bay lên cột gôn, đám đông rống lên, kẻ hoan hô, kẻ đả đảo, cùng điếc tai như nhau. Harry liếc về phía Ron. Ron luôn luôn có vấn đề căng thẳng thần kinh; Harry đã hy vọng là nhờ thắng được trận chung kết hồi năm ngoái mà Ron khỏi được chứng lo hoảng đó, nhưng dường như chẳng ăn thua gì: Ron đang chuyển sang màu xanh tái mét mong manh.
Không ai trong số năm ứng viên đầu tiên cứu được cột gôn quá hai phen. Đáp lại sự thất vọng ghê gớm của Harry, Cormac McLaggen đã cứu được bốn trong năm trái phạt đền. Tuy nhiên, trái cuối cùng, anh ta vọt về hướng hoàn toàn ngược lại; đám đông phá ra cười nhạo báng và McLaggen trở lại mặt đất đứng nghiến răng.
Ron có vẻ như sắp ngất khi trèo lên cây chổi bay Quét sạch Mười một.
“May mắn nhé!” Một tiếng kêu vang lên từ khán đài. Harry ngoái nhìn lại, tưởng sẽ thấy Hermione, nhưng hóa ra là Lavender Brown. Harry thiệt tình muốn giấy mặt vô hai bàn tay, như cô nàng sẽ làm thế một lát sau, tuy nhiên vì nghĩ mình là đội trưởng, mình nên tỏ ra dày dạn hơn, thế là nó quay lại xem Ron tập tử.
Nhưng nó chẳng cần lo lắng: Ron cứu được một hơi một, hai, ba, bốn, năm trái phạt đền. Sướng quá, và khó khăn lắm mới không hùa theo đám đông hoan hô rần rần, Harry quay lại nói với  McLaggen rằng, thiệt là không may, Ron đã đánh bại anh ta, nhưng nó nhận thấy ngay gương mặt McLaggen lúc ấy đỏ au và chỉ cách mặt nó có vài phân. Nó vội vã lùi lại.
“Em gái nó đã không chơi hết sức,” McLaggen hằm hè nói. Một mạch máu nổi cộm trên thái dương của anh chàng phập phồng y như mạch máu trên vầng trán của dượng Vernon mà Harry thường được chiêm ngưỡng. “Con nhỏ để cho anh nó phá bóng dễ ợt.”
“Tầm bậy,” Harry lạnh lùng nói. “Đó là trái mà Ron sém nữa bắt hụt.”
McLaggen dấn một bước tiến gần Harry hơn, lần này Harry đứng yên tại chỗ.
“Cho tôi thử một lần nữa.”
“Không,” Harry nói. “Anh đã thử rồi. Anh đã cứu được bốn trái. Ron cứu được năm. Ron là thủ môn, nó thắng một cách công bằng và rõ ràng. Tránh ra.”
Nó thoáng nghĩ McLaggen có thể thụi nó lắm, nhưng anh chàng chỉ làm mình nguôi giận bằng cái nhăn mặt cực kỳ xấu xí rồi hầm hầm bỏ đi, gầm gừ điều gì đó nghe như hăm dọa trời xanh.
Harry quay lại thấy đội tuyển mới của nó đang nhìn nó tươi cười.
“Giỏi lắm,” nó khào khào nói. “Các bạn bay hay lắm…”
“Bồ chơi thiệt xuất sắc, Ron à!”
0
Lần này thì đúng là Hermione đang từ khán đài chạy về phía tụi nó; Harry nhìn thấy Lavender đi ra khỏi sân đấu, taqy nắm tay Parvati, trên mặt có một vẻ hơi quạu. Ron trông có vẻ cực kỳ hài lòng với chính mình và thậm chí còn có vẻ cao hơn bình thường khi nó nhe răng cười với cả đội và với Hermione.
Sau khi định giờ cho buổi tập dượt toàn đội lần thứ nhất vào thứ năm tới, Harry, Ron và Hermione tạm biệt những người khác trong đội và đi về phía căn chòi của bác Hagrid. Một mặt trời ướt lem nhem đang cố gắng ngoi ra khỏi những đám mây và cuối cùng trời cũng đã tạnh mưa phùn. Harry cảm thấy đói cực kỳ; nó hy vọng ở nhà bác Hagrid có cái gì đó để ăn.
“Mình cứ tưởng sắp để vuột trái phạt đền thứ tư chứ,” Ron đang vui vẻ nói. “Một cú sút quỹ quyệt của Demelza, mấy bồ có nhận thấy không, nó hơi xoáy một chút…”
“Có, có chứ, bồ đã chơi tuyệt cú mèo,” Hermione nói, có vẻ khoái.
“Đằng nào thì mình cũng giỏi hơn McLaggen,” Ron nói bằng một giọng vô cũng thảo mãn. “Mấy bồ có tháy anh ta nhào ra hướng tầm bậy khi chụp trái thứ năm không? Trông như thể anh ta bị Khiến…”
Harry ngạc nhiên khi thấy Hermione ửng đỏ cả mặt  khi nghe những lời này. Ron chẳng để ý gì cả; nó quá bận miêu tả với từng chi tiết trìu mến về những trái phạt đền khác của nó.
Con bằng mã Buckbeak bị cột phía trước căn chòi của bác Hagrid. Nó mổ mổ cái mỏ sắc như dao lam kh thấy bọn Harry. Nó mổ mổ cái mỏ sắc như dao lam khi thấy bọn Harry đến gần và nó xoay cái đầu khổng lồ về phía tụi nhỏ.
“Ô, ghê quá,” Hermione lo sợ nói. “Nó cũng hơi dễ sợ, đúng không?”
“Dỗ nó đi, bồ đã từng cỡi nó mà, phải không?” Ron nói. Harry bước tới trước và cúi thấp chào con bằng mã, mắt nó nhìn mắt con vật chăm chăm không hề chớp. Sau vài giây, Buckbeak cũng khuỵu chân xuống chào đáp lại.
“Mày khỏe không?” Harry hỏi bằng giọng nhỏ nhẹ, vừa di chuyển tới trước để vuốt ve cái đầu phủ lông vũ của con bằng mã. “Nhớ chú ấy hả? Nhưng mày ở đây với bác Hagrid cũng ổn hả?”
“Ôi!” một giọng nói to vang lên.
Bác Hagrid đang rảo bước đi nhanh quanh góc căn chòi của bác, đeo một cái tạp dề bông to tổ chảng và xách một bịch khoai tây. Con chó săn vĩ đại của bác, con Fang, quấn quít bên chân bác; Con Fang phát sủa inh lên và phóng vọt tới trước.
“Tránh xa con chó! Nếu không nó táp mất ngón tay ràng chịu... Ủa. Thì ra tụi bay.”
Fang đang nhảy chồm chồm lên Hermione và Ron, tìm cách liếm vành tai tụi nó. Bác Hagrid đứng lại nhìn tụi nó chừng một phần giây, rồi quay lưng và sải chân bước nhanh vô trong căn chòi, đóng sầm cánh cửa lại sau lưng.
“Ôi thôi!” Hermione nói, có vẻ xúc động mạnh.
“Đừng lo chuyện đó,” Harry nói giọng quả quyết. Nó đi tới cánh cửa và gõ thiệt mạnh. “Bác Hagrid! Mở cửa ra, tụi con muốn nói chuyện với bác!”
Chẳng nghe động tĩnh gì bên trong.
“Nếu bác không mở cửa ra, tụi con sẽ tông sập cửa!” Harry nói, vừa rút cây đũa phép ra.
“Harry!” Hermione nói, nghe hơi hoảng. “Bồ không thể…”
“Có chứ, mình dư sức!” Harry nói. “Đứng lùi lại...”
Nhưng trước khi nó nói thêm được điều gì thì cánh cửa đã lại mở tung ra như Harry thừa biết là nó nhất định sẽ phải mở, và bác Hagrid đứng đó, bất chấp đang đeo tạp dề bông, trừng mắt ngó xuống nó, đầy vẻ đe dọa.
“Ta là một giáo viên!” Bác gầm lên với Harry. “Một giáo viên, Potter à! Sao cậu dám đe dọa phá sập cửa nhà ta hả !”
“Dạ xin lỗi, thưa ngài,” Harry nói, nhấn mạnh vào mấy chữ cuối trong khi nhét cây đũa phép vô trong tấm áo chùng.
Bác Hagrid có vẻ choáng váng. “Từ lúc nào trò bày đặt gọi ta là ‘ngài’ hả ?”
“Từ lúc nào thày bày đặt gọi con là ‘Potter’ hả ?”
“Ôi, thôi, lanh quá trời,” bác Hagrid càu nhàu. “Rất là vui. Vậy là con lanh hơn bác hả ? Được thôi, vô đây vậy, đồ nhóc con bội nghĩa…“
Lầu bầu gì đó nghe không rõ, bác đứng qua một bên để cho tụi nó bước vào. Hermione vội rón rén bước theo sau Harry, có vẻ hơi sợ.
“Sao?” Bác Hagrid gắt gỏng hỏi, khi Harry, Ron và Hermione ngồi xuống quanh cái bàn gỗ vĩ đại, con Fang lập tức nằm gác đầu lên gối Harry và nhễu dãi tèm lem tấm áo chùng của nó.
“Chuyện gì đây ? Thương hại bác hả ? Cho rằng bác cô đơn hay gì gì hả ?”
“Đâu có,” Harry nói ngay. “Tụi con muốn gặp bác.”
“Tụi con nhớ bác !” Hermione run run nói.
“Nhớ bác hả?” Bác Hagrid khụt khịt mũi. “Ờ, được.”
Bác bước uỳnh uỵch khắp căn chòi, pha trà trong cái ấm đồng vĩ đại, lẩm nhẩm luôn miệng. Cuối cũng bác dằn xuống bàn trước mặt tụi nó ba cái tách bự bằng cái xô chứa một thứ nước trà màu nâu gụ và một cái dĩa bánh cứng như đá. Harry đói đến nỗi thèm ăn ngay cả món bánh bác Hagrid làm, nên nó lấy ngay một cái.
“Bác Hagrid à,” Hermione rụt rè nói, sau khi bác Hagrid cùng ngồi xuống bàn với tụi nó và bắt đầu gọt vỏ khoai tây với một vẻ thô bạo khiến tụi nó có cảm tưởng là mỗi củ khoai tây đã làm điều gì đó rất ư tầm bậy đối với bác. “Bác biết cho, tụi con thiệt tình muốn học tiếp môn Chăm sóc sinh vật huyền bí.”
Bác Hagrid khịt mũi một cái nữa rõ to. Harry có phần tin là mấy con ma xó đã nhập vô mấy củ khoai tây, và thâm tâm nó mừng là tụi nó không bị ở lại ăn tối…
“Thiệt mà !” Hermione nói. “Nhưng tụi con chẳng đứa nào sắp xếp được thời khóa biểu!”
“Ừ. Được thôi,” bác Hagrid lại nói.
Có một tiếng gì lép nhép rất buồn cười khiến tụi nó quay đầu lại nhìn: Hermione ré lên một tiếng nho nhỏ, và Ron nhảy vọt ra khỏi chỗ ngồi và lật đật đi vòng qua cái bàn tránh xa cái thùng gỗ khổng lồ đặt nơi góc chòi mà bây giờ tụi nó mới để ý tới. Cái thùng đó đầy nhóc một thứ gì giống như những con gioig dài ba tấc, nhớt nhợt, trắng bệch, và loi ngoi quằn quại.
“Cái gì vậy, bác Hagrid?” Harry hỏi, cố gắng làm ra vẻ hứng thú hơn là ghê tởm, nhưng đồng thời lại bỏ cái bánh đá của nó xuống.
“Chỉ là mấy con gioig khổng lồ,” bác Hagrid nói.
“Mấy con đó lớn lên thành…?” Ron hỏi, coi bộ còn sờ sợ.
“Chúng không lớn lên thành cái gì hết,” bác Hagrid nói. “Bác sắp đem nó nuôi Aragog.”
À hết sức bất ngờ bác òa ra khóc.
“Bác Hagrid!” Hermione kêu lên, đứng phắt dậy, vội vã chạy một vòng dài quanh cái bàn để tránh cái thùng giòi, đến bên bác Hagrid, vòng tay qua đôi vai đang run run của bác. “Có chuyện gì vậy bác?”
“Chuyện… nó…” Bác Hagrid nức nở, đôi mắt đen nâu của bác ràn rụa nước mắt trong khi bác lau mặt bằng cái tạp dề bông. “Chẳng là… Aragog… bác nghĩ nó đang hấp hối… Nó đã bệnh suốt màu hè rồi nó khá lên… bác không biết bác sẽ làm gì nếu nó… bác và nó đã bầu bạn với nó biết bao lâu…”
Hermione vỗ nhẹ vai bác Hagrid, có vẻ như hoàn toàn mất hết lời lẽ để nói. Harry biết cảm giác của cô bé, Nó đã từng biết bác Hagrid đưa gấu nhồi bông cho một con rồng nhí hung hăng chơi, từng thấy ác ngâm nga hát cho những con bọ cạp khổng lồ có vòi độc và càng bén, từng cố gắng dỗ dành người em khác cha khổng lồ cục súc, nhưng đây có lẽ là điều khó hiểu nhất trong những nỗi đam mê quái vật của bác: con nhện khổng lồ biết nói, Aragog, con vật sống sâu tuốt trong Rừng Cấm, con vật mà Ron và Harry đã thoát được trong đường tơ kẽ tóc hồi bốn năm trước.
“Có… có chuyện gì tụi con có thể giúp được không?” Hermione nói, phớt lờ những cái nhăn mặt và lắc đầu như điên của Ron.
“Bác nghĩ là không, Hermione à,” bác Hagrid thổn thức, cố gắng ngăn dòng nước mắt tuôn như lũ của bác. “Nghĩ coi, bầy còn lại… gia đình của Aragog… bây giờ nó bệnh, tụi nó giở chứng… hơi cứng đầu…”
“Dạ, con nghĩ tụi con có biết chút chút mặt đó của tụi nó rồi,” Ron nói nhỏ.
“…Bác nghĩ ngoài bác ra không ai an toàn đến được gần bầy đó lúc này,” bác Hagrid nói nốt, hỉ mũi thiệt mạnh vô cái tạp dề rồi ngước nhìn lên. “Nhưng cũng cám ơn con đã có lòng, Hermione à… Điều đó an ủi dữ lắm…”
Sau đó, không khí nhẹ đi đáng kể, bởi vì mặc dù cả Harry và Ron đều không tỏ vẻ sốt sắng đem lũ giòi khổng lồ đi nuôi một con nhện khổng lồ khát máu, bác Hagrid dường như vẫn coi là tụi nó có thiện chí làm chuyện đó, và bác trở lại là con người bình thường của chính bác.
“À, bác vẫn biết là tụi bay khó mà nhét bác vô đâu trong cái thời khóa biểu của tụi bay,” bác nói mộc mạc, vừa rót thêm trà cho tụi nó. “Ngay cả nếu như tụi bay có xin xài phép Đổi giờ đi nữa…”
“Tụi con không thể làm vậy được nữa,” Hermione nói. “Tụi con đã làm tan nát hết toàn bộ kho dự trữ phép Đổi giờ của Bộ Pháp thuật lúc tụi con ở đó hồi mùa hè. Chuyện đó có đăng trên Nhật báo Tiên Tri.”
“Ờ, vậy thì,” bác Hagrid nói, “tụi bay chẳng còn cách nào… Bác thiệt là tiếc bác đã… tụi bay biết… bác đã lo lắng quá về Aragog… và bác cứ thắc mắc không biết giáo sư Grubbly-Plank có dạy qua…”
Về chuyện này cả ba đứa tụi nó tuyên bố dứt khoát và láo toét rằng giáo sư Grubbly-Plank, người đã dạy thay bác Hagrid mấy buổi, là một giáo viên khủng khiếp, kết quả là vào lúc bác Hagrid vẫy tay tiễn tụi nó ra khỏi căn chòi vào lúc hoàng hôn, bác đã tỏ ra rất hồ hởi phấn khởi.
“Mình đang đói chết đi được,” Harry nói, khi cánh cửa đã đóng sau lưng và tụi nó vội vã chạy băng qua sân trường tối om và hoang vắng; nó đã đầu hàng cái bánh đá sau khi nghe một tiếng rắc xui xẻo vang lên từ một trong những cái răng hàm của nó.
“Và tối nay mình còn phải cấm túc với Thầy Snape nữa, mình chẳng có thì giờ đâu để ăn tối…”
Khi về đến tòa lâu đài, tụi nó bắt gặp Cormac McLaggen đi vào Đại sảnh đường. Anh chàng cố gắng hai lần mới qua được cửa; lần thứ nhất anh ta bị đẩy bật ra ngoài. Ron cứ ngoác miệng ra cười hả hê và rảo bước đi theo sau anh ta vào sảnh đường, nhưng Harry nắm cánh tay Hermione và giữ cô bé lại.
“Chuyện gì?” Hermione hỏi giọng thủ thế.
“Nếu bồ hỏi mình,” Harry nói nhỏ, “McLaggen trông có vẻ như bị Khiến hồi sáng này. Và lúc đó anh ta đứng ngay phía trước chỗ bồ ngồi.”
Hermione đỏ mặt.
“Ừ, thì thôi vậy. Mình đã làm chuyện đó,” cô bé thì thầm, “nhưng lẽ ra bồ nên nghe cái cách anh ta nói về Ron và Ginny! Với lại, anh ta có tánh khí cà chớn, bồ thấy anh ta phản ứng như thế nào khi không được tuyển rồi đó… Bồ đâu có muốn có một người như vậy trong đội tuyển của bồ đâu.”
“Không,” Harry nói. “Không, mình cho đúng là thế thật. Nhưng như vậy là không trung thực, phải không, Hermione?”
“Thôi, im đi,” Hermione nạt ngang khi thấy Harry cười điệu.
“Hai bồ đang làm gì vậy?” Ron hỏi, xuất hiện trở lại nơi khung cửa vào Đại sảnh đường, trông có vẻ nghi ngờ.
“Không có gì hết,” Harry và Hermione cùng nói, và hai đứa vội vã đi theo Ron.
Mùi thịt bò nướng làm bao tử Harry quặn đau vì đói, nhưng tụi nó còn chưa kịp bước chân tới cái bàn ăn của nhà Gryffindor thì giáo sư Slughorn đã hiện ra trước mặt, chắn ngang đường đi. 
“Harry, Harry, đúng chóc người mà thầy đang hy vọng gặp!” Thầy thân mật nói oang oang, vừa vuốt vuốt hai chót ria hải mã và ểnh ểnh cái bụng bự tổ chảng. “Thầy đã hy vọng gặp được con trước bữa ăn chiều! Con thấy sao nếu thay vì ăn bữa ciều này, con qua phòng thầy ăn tối. Thầy mở một bữa tiệc nho nhỏ, chỉ có vài ngôi sao đang lên. McLaggen sẽ đến và Zabini, cô Melinda Bobbin quyến rũ – thầy không biết con có biết cô ta không? Gia đình cô bé làm chủ hàng loạt các tiệm bào chế thuốc... và, dĩ nhiên, thầy rất hy vọng cô Granger sẽ dành cho thầy cái hân hạnh được đón tiếp.”
Thầy Slughorn khẽ nghiêng mình chào Hermione khi kết thúc câu nói. Làm như thể Ron chẳng hề có mặt ở đó; Thầy Slughorn chẳng buồn ngó tới nó.
“Thưa thầy, con không thể đến được.” Harry nói ngay. “Con bị cấm túc với Thầy Snape.”
“Ối con ơi!” Thầy Slughorn nói, mặt thầy xịu xuống một cách khôi hài. “Con ơi con, thầy trông mong vào con lắm lắm, Harry à! Được rồi, thê này, thầy sẽ chỉ phải nói một lời với Thầy Snape và giải thích tình huống. Thầy tin là thầy sẽ có thể thuyết phục thầy ấy hoãn lại cái vụ cấm túc cho con. Ừ, thầy sẽ gặp lại hai con sau nhé!” Nói rồi thầy lăng xăng đi ra khỏi Đại sảnh đường.
“Thầy ấy đừng có hòng mà thuyết phục được Thầy Snape,” Harry nói, ngay khi Thầy Slughorn đã đi đủ xa để không còn nghe được điều nó nói. “Vụ cấm túc này đã được hoãn một lần; Thầy Snape chịu hoãn vì thầy Dumbledore, nhưng thầy ấy sẽ chẳng đời nào làm điều đó vì bất cứ ai khác.”
“Ôi, mình ước gì bồ có thể đi dự tiệc, mình không muốn đi một mình!” Hermione nói một cách lo lắng; Harry biết là cô nàng đang nghĩ đến McLaggen.
“Mình chắc là bồ sẽ không lẻ loi đâu. Ginny có lẽ cũng được mời,” Ron ngắt ngang, nó dường như không lấy làm hân hạnh được Thầy Slughorn lờ tịt đi.
0
Sau bữa ăn tối tụi nó trở về tháp Gryffindor. Căn phòng sinh hoạt chung đông đúc, bởi vì giờ này hầu hết mọi người đều đã ăn tối xong, nhưng tụi nó cũng kiếm được một cái bàn trống và ngồi xuống; Ron, mặt ủ mày ê từ lúc gặp Thầy Slughorn đến giờ, ngồi khoanh tay ngước mặt nhìn lên trần nhà. Hermione với lấy tờ báo Tiên tri Buổi chiều ai đó bỏ lại trên một cái ghế.
“Có gì mới không?” Harry hỏi.
“Thực ra không...” Hermione dã mở tờ báo ra và liếc vào trang trong. “Ôi, xem này, ba của bồ trên báo nè, Ron... Bác không sao cả...” cô bé nhanh nhẩu nói thêm, bởi vì Ron dáo dác nhìn quanh cảnh giác. “Báo chỉ nói là bác ấy vừa đến thăm nhà Malfoy. ’Cuộc lục soá nơi cư trú của Tử thần thực tử lần thứ hai này dường như không đưa tới kết quả nào. Ông Arthur Weasley của SỞ Dò tìm và Tịch thu Bùa chú phòng vệ giả mạo nói là đội của ông hành động dựa trên một chỉ điểm đáng tin cậy.”
“Ừ, cảnh báo của mình đó!” Harry nói. “Mình đã nói với bác ấy ở Nhà ga Ngã tư vua về vụ Malfoy và cái món đồ mà nó cố gắng ép ông Borgin sửa chữa! Chà, nếu cái đó không có ở nhà nó, thì ắt là nó đã đem theo cái đó vô trường Hogwarts...”
“Nhưng làm sao mà nó làm được chứ, Harry?” Hermione nói, vừa đặt tờ báo xuống với vẻ ngạc nhiên. “Tất cả chúng ta đều bị lục soát khi đến trường, đúng không?”
“Mấy bồ bị lục soát hả?” Harry hỏi, giật mình sửng sốt. “Mình đâu có bị!”
“Ừ không, dĩ nhiên là bồ không bị, mình quên là bồ đến trễ... Thì vậy đó, thầy Filch rà khắp tất cả tụi này bằng phép Dò tìm bí mật khi tụi này vừa bước chân vào tiền sảnh. Bất cứ vật thể Hắc ám nào cũng sẽ bị tìm thấy, bằng chứng là Crabbe có một cái đầu lâu teo tóp bị tịch thu. Thành ra bồ thấy đó, Malfoy không thể nào đem vào trường cái gì nguy hiểm!”
Lúng túng mấtmột lúc, Harry ngắm Ginny đùa chơi với con Bông Thoa Arnold một hồi trước khi tìm được lối thoát khỏi thế bí.
“Vậy thì ai đó đã gửi cho nó bằng bưu cú,” Harry nói. “Má nó hay ai đó.”
“Tất cả bưu cú cũng bị kiểm tra,” Hermione nói. “Thầy Filch đã nói với tụi mình như thế khi thầy rà cái phép Dò tìm bí mật bất cứ nơi nào thầy có thể rà được.”
Thực sự cứng họng phen này, Harry không kiếm ra được lời nào để nói. Dường như chẳng có cách nào mà Malfoy có thể đem một vật thể Hắc ám nguy hiểm vô trường được. Nó nhìn sang Ron với chút hy vọng, anh chàng này vẫn đang ngồi khoanh tay, chăm chú nhìn sang Lavender Brown.
“Bồ có thể nghĩ xem Malfoy có cách nào...?”
“Ôi, dẹp đi, Harry,” Ron nói.
“Nghe đây, đâu phải lỗi mình đâu nếu Thầy Slughorn mời Hermione và mình tới bữa tiệc nhảm nhí của ổng, tụi này đâu có muốn đi, bồ biết mà!” Harry nói, cơn sùng bố nổ ra.
“Ừ, bởi vì tôi chẳng được mời tới bữa tiệc nào hết,” Ron nói, lại đứng dậy, “Rôi nghĩ tôi sẽ đi ngủ.”
Nó đùng đùng đi về phía cửa vào phòng ngủ nam, bỏ mặc Harry và Hermione trố mắt nhìn theo.
“Harry ơi!” Truy thủ mới Demelza Robin bỗng nhiên xuất hiện bên vai nó. “Mình đem cho bồ một lời nhắn nè.”
“Của giáo sư Slughorn hả?” Harry hỏi, ngồi thẳng dậy tràn trề hy vọng.
“Không... của giáo sư Snape,” Demelza nói. Trái tim Harry tụt xuống. “Thầy nói là bồ phải đến văn phòng thầy vào lúc tám giờ rưỡi tối nay để cấm túc... ơ... bất kể bồ nhận được bao nhiêu lời mời mọc tiệc tùng. Và thầy muốn bồ biết là bồ sẽ phải lựa mấy con Nhu trùng thúi ra khỏi đám trung lành, để dùng trong môn Độc dược và...  thầy nói khỏi cần đem theo găng tay bảo hộ.”
“Được,” Harry nói gọn. “Cảm ơn nhiều nhé, Demelza.”
 
0
Chương 12
Bạc và Ngọc
 
Cụ Dumbledore đang ở đâu và cụ đang làm gì? Harry chỉ thoáng thấy thầy hiệu trưởng có vài lần trong mấy tuần lễ sau đó. Cụ hiếm khi xuất hiện trong những bữa ăn, và Harry chắc chắn Hermione đúng khi cho rằng cụ đã rời khỏi trường nhiều lần liên tiếp và mỗi lần kéo dài trong nhiều ngày. Có phải cụ Dumbledore đã quên những buổi học mà cụ dự định dạy riêng Harry? Cụ Dumbledore đã nói rằng những buổi học ấy sẽ đưa tới điều gì đó liên quan tới lời tiên tri; Harry khi ấy đã cảm thấy được bảo bọc, được an ủi... và giờ đây nó cảm thấy hơi bị bỏ rơi.
Khoảng giữa tháng mười là thời điểm chuyến du ngoạn đầu tiên đến làng Hogsmeade của học sinh Hogwarts trong niên học. Harry đã băn khoăn liệu những chuyến đi này có còn được phép không, trong bối cảnh những biện pháp an ninh quanh trường ngày càng thêm chặt chẽ, nhưng nó vui mừng thấy là tụi nó cứ việc đi; được ra khỏi tòa lâu đài vài tiếng đồng hồ luôn luôn là điều hay.
Harry thức sớm vào buổi sáng ngày đi du ngoạn, một buổi sáng xem ra bão bùng mưa gió, và giết thời giờ trong khi chờ đến bữa điểm tâm bằng cách đọc cuốn Bào chế thuốc cao cấp. Nó ít khi nào nằm nướng trên giường đọc sách giáo khoa; một loại hành vi mà như Ron phát biểu rất ư đúng, là không đứng đắn đối với tất cả mọi người, ngoại trừ Hermione, cô nàng này đơn giản là khác người ở chỗ đó. Tuy nhiên Harry cảm thấy rằng cuốn Bào chế thuốc cao cấp của Hoàng Tử lai khó có thể coi là một cuốn sách giáo khoa. Harry càng nghiền ngẫm cuốn sách, càng nhận ra có nhiều điều trong đó không chỉ là những gợi ý rất tiện lợi và những mánh pha chế thuốc nhan khiến nó có được uy tín sáng chói trong mắt Thầy Slughorn; mà còn có những bùa ngải hay thần chú nho nhỏ có vẻ hoang đường được ghi bên lề sách mà Harry chắc rằng chính Hoàng tử tự phát minh ra, căn cứ vào nét gạch xóa và sửa chữa.
Harry đã thử vài bùa chú tự chế của Hoàng tử. Có một cái bùa khiến cho móng chân mọc nhanh phát sợ (nó đã thử ếm Crabà Béoe trong hành lang, được kết quả thú vị); một phép tà ma làm dính lưỡi vô vòm họng (nó đã xài tới hai lần trên thầy Argus Filch lúc thầy không để ý), và được quần chúng tán thưởng; và, có lẽ thần chú đắc dụng hơn hết thảy là Bịt tai – một thần chú làm ù tai bất cứ ai ở gần bằng một âm thanh vo vo không thể nhận biết được, để cho tụi nó có thể nói chuyện lâu trong lớp mà không bị nghe lỏm. Người duy nhất không thấy những bùa chú này thú vị là Hermione, từ đầu đến cuối cô nàng giữ vững vẻ mặt kiên quyết không tán thành và không chịu nói chuyện nếu Harry xài tới thần chú Bịt tai lên bất cứ ai xung quanh.
Ngồi dậy trên giường, Harry lật cuốn sách nghiêng sang một bên để nghiên cứu kỹ hơn những ghi chú, hướng dẫn về một thần chú có vẻ đã gây rắc rồi cho Hoàng Tử. Có nhiều dấu gạch xóa và sửa chữa, nhưng cuối cùng, bị dồn nhét vô góc trang, là mấy chữ ghi ẩu:
Khinh thân (kptl)
Trong khi gió và mưa đá không ngừng quật rầm rầm lên cửa sổ, và Neville ngáy như sấm, Harry đăm đăm nhìn mấy mẫu tự trong ngoặc đơn. Kptl... ắt là viết tắt của chữ ’không phát thành lời’. Harry không chắc nó có thể thực hiện được thần chú đặc biệt này không; nó vẫn còn gặp khốn đốn với thần chú không lời, một điều mà Thầy Snape cứ hở ra là chỉ trích trong mỗi buổi học Phòng chống nghệ thuật hắc ám. Nhưng mặt khác, cho đến giờ Hoàng Tử lai đã chứng tỏ là một thầy giáo có hiệu quả hơn Thầy Snape rất nhiều.
Không nhắm cây đũa phép của nó vô cái gì cụ thể, mà chỉ phất nhẹ lên một cái, nó nói thầm trong đầu Khinh thân.
“Aaaaaaaaa!”
Một tia sáng nhá lên và căn phòng vang đầy âm thanh: mọi người bị đánh thức bởi tiếng rú mà Ron vừa thốt ra. Harry làm văng đi cuốn Bào chế thuốc cao cấp trong cơn hoảng hốt; Ron treo lủng lẳng giữa không trung trong tư thế đầu chúc xuống cẳng chỏng lên như thể bị một cái móc vô hình kéo nó lên bằng mắt cá chân.
“Xin lỗi!” Harry hét, trong khi Dean và Seamus rống lên cười, và Neville lồm cồm bò dậy trên sàn sau khi té ra khỏi giường. “Chờ đó... mình sẽ thả bồ xuống...”
Nó mò tìm lại cuốn sách thuốc và vội vã lật khắp các trang trong cơn hoảng hốt, cố gắng tìm đúng trang vừa rồi, cuối cùng tìm ra và suy đoán cái chữ ri rí không đọc nổi ghi bên dưới câu thần chú: vừa vái quỷ thần cho đúng đó là câu trừ tà, Harry vừa nghĩ Phóng thân! bằng tất cả sức mạnh của nó. Một tia sáng nữa lại nhá lên, và Ron rớt xuống thành một đống trên giường.
“Xin lỗi,” Harry lặp lại một cách yếu ớt, trong khi Dean và Seamus tiếp tục cười rống lên.
“Ngày mai,” Ron nói bằng một giọng ráng nhịn, “mình muốn bồ để đồng hồ báo thức gọi mình dậy hơn là làm thế này.”
Vào lúc tụi nó đã ăn mặc chỉnh tề, quấn quanh mình nhiều lớp áo len đan tay của bà Weasley và đem theo áo khoác, khăn quàng cổ cùng găng tay, cơn hoảng hồn của Ron đã qua đi và nó quyết định là câu thần chú mới của Harry có tính giải trí rất ư cao; thật ra, nó đã lập tức mua vui cho Hermione bằng câu chuyện đó khi tụi nó ngồi vô bàn ăn điểm tâm.
“...và một tia sáng khác nhá lên và mình lại rớt xuống giường!” Ron nhe răng cười, vừa tự lấy cho mình món xúc xích.
Hermione chẳng nứt ra được một nụ cười trong suốt câu chuyện tiếu lâm, và giờ đây lại quay bộ mặt quở trách lạnh tanh về phía Harry.
“Có phải đó là một câu thần chú khác nữa trong cuốn sách độc dược của bồ không?” Cô nàng hỏi.
Harry cau mày nhìn Hermione.
“Bồ luôn luôn nhảy tới kết luận dở nhất chứ gì?”
“Mà phải không?”
“Thì… ừ, phải, nhưng mà sao?”
“Vậy là bồ đã quyết định làm thử bùa phép viết tay bí ẩn để xem chuyện gì xảy ra?”
“Nếu nó được viết tay thì có làm sao đâu?” Harry nói, không thích trả lời phần còn lại của câu hỏi.
“Bởi vì có thể nó  không được Bộ Pháp thuật công nhận,” Hermione nói.  Khi Ron và Harry trợn tròn mắt, cô nàng nói thêm. “Và cũng bởi vì mình bắt đầu nghĩ tính cách của vị Hoàng Tử này hơi láu cá.”
Cả Harry và Ron đều thét lên không cho Hermione nói nữa.
“Một trò vui thôi mà!” Ron nói, vừa trút ngược chai tương cà chua lên cái xúc xích. “Chỉ là trò nghịch ngợm mua vui thôi mà Hermione à!”
“Treo ngược người ta lên bằng mắt cá chân à?” Hermione nói. “Ai lại bỏ thì giờ và công sức để nghĩ ra những bùa chú như vậy chứ?”
“Anh Fred và George,” Ron nhún vai nói. “Đó là kiểu chơi của mấy ảnh. Và ơ…”
“Ba mình,” Harry nói. Nó chỉ mới sực nghĩ ra.
“Cái gì?” Ron và Hermione cùng nói.
“Ba mình đã từng xài thần chú này,” Harry nói. “Mình… Thầy Lupin có kể mình nghe.”
Phần cuối câu nói này không đúng; Thực ra, Harry đã nhìn thấy cha nó dùng thần chú này ếm Thầy Snape, nhưng nó chưa bao giờ nói với Ron và Hermione về chuyến du ngoạn đặc biệt ấy trong cái chậu Tưởng Ký. Tự nhiên giờ đây nó bỗng nghĩ đến một điều kỳ diệu có thể là sự thật. Biết đâu vị Hoàng Tử Lai đó có thể là…?
“Có thể ba của bồ đã từng xài nó, Harry à,” Hermione nói, “nhưng bác ấy không phải là người duy nhất. Chúng ta từng thấy cả đống người xài nó, ấy là nhắc lại kẻo bồ quên. Treo người ta lủng lẳng trên không trung. Làm cho họ trôi lờ lững, mê ngủ, vô dụng.”
Harry đăm đăm nhìn Hermione. Lòng nặng trĩu, nó cũng nhớ lại hành vi của bọn Tử thần thực tử ở trận Cúp thế giới Quidditch. Ron đỡ gạt cho nó.
“Chuyện đó khác,” Ron hùng hổ nói. “Chúng lạm dụng bùa phép. Harry và ba nó chỉ đùa cho vui. Bồ không thích Hoàng Tử lai, Hermione à,” nó nói thêm, nghiêm nghị chĩa một thỏi xúc xích vào cô bé, “bởi vì người đó giỏi hơn bồ môn độc dược…”
“Chuyện đó không mắc mớ gì chuyện này!” Hermione nói, hai má ửng đỏ. “Mình chỉ cho rằng thực hiện bùa phép khi bản thân thậm chí còn không biết bùa phép ấy dùng để làm gì thì thiệt là vô trách nhiệm, và đừng nói tới ‘Hoàng tử’ như thể đó là danh hiệu của hắn, mình dám cá đó chỉ là một hỗn danh ngu ngốc, và theo mình, hắn chẳng có vẻ gì là người tử tế lắm!”
“Mình không hiểu bồ suy diễn điều đó từ đâu ra,” Harry nóng nảy nói. “Nếu người đó là một mầm non Tử thần thực tử thì y đã chẳng khoe khoang việc y mang dòng máu ‘lai’, đúng không?”
Ngay cả khi nói như vậy, Harry vẫn nhớ ra là cha nó thuần huyết, nhưng nó gạt bỏ ý tưởng đó ra khỏi đầu; nó sẽ nghĩ về chuyện đó sau…
“Bọn Tử thần thực tử không thể nào thuần huyết hết. Chẳng còn mấy pháp sư thuần huyết trên đời nữa,” Hermione bướng bỉnh nói. “Mình cho là hầu hết bọn chúng đã lai nhưng làm bộ thuần huyết. Chúng chỉ ghét kẻ thuần Muggle thôi, nên chúng sẽ vui mừng để cho bồ và Ron nhập bọn.”
“Không đời nào có chuyện chúng để cho mình làm một Tử thần thực tử!” Ron nói giọng căm phẫn, một miếng xúc xích văng ra khỏi cái nĩa mà nãy giờ nó dứ dứ vô mặt Hermione, miếng xúc xích văng trúng đầu Ernie Macmillan. “Cả nhà mình đều là những kẻ phản bội huyết thống cả! Đối với bọn Tử thần thực tử thì điều đó cũng xấu xa ngang với kẻ thuần Muggle!”
“Và chúng muốn kết nạp mình đấy chứ,” Harry mỉa mai. “Tụi này sẽ là bồ bịch chí cốt nếu lăm lăm khử mình.”
Câu này làm Ron bật cười; ngay cả Harry cũng nở nụ cười bất đắc dĩ, và Ginny xuất hiện làm thay đổi đề tài câu chuyện.
“Anh Harry nè, em được giao nhiệm vụ đưa cho anh cái này.”
Đó là một cuộn giấy da có ghi tên Harry trên đó bằng nét chữ mảnh xiên xiên quen thuộc.
“Cám ơn, Ginny… buổi học tiếp theo với thầy Dumbledore!” Harry nói với Ron và Hermione, vừa mở cuộn giấy da và đọc nhanh nội dung bên trong. “Tối thứ hai!” Nó bỗng nhiên cảm thấy thư thái vui vẻ. “Muốn đi với bọn anh đến làng Hogsmeade không, Ginny?”
“Em sẽ đi với anh Dean… có thể sẽ gặp các anh ở đó,” cô bé trả lời, vừa bước đi vừa vẫy tay chào tụi nó.
Thầy Filch đang đứng ở cửa chính bằng gỗ sồi như thông lệ, kiểm tra tên họ những người được phép đi chơi làng Hogsmeade. Thủ tục lâu lắc hơn bình thường vì thầy Filch kiểm tra mỗi người bằng phép Dò tìm bí mật của thầy.
“Nếu tụi con lén đem đồ hắc ám RA thì có vấn đề gì?” Ron nói và ngó cái phép Dò tìm bí mật thon dài với vẻ ngán ngẩm. “Rõ ràng là thầy nên kiểm tra cái mà tụi con đem VÔ mới phải chứ?”
Má của nó bèn được rà thêm vài cái nữa bằng Phép dò, và khi cả bọn đã bước ra ngoài trời mưa gió lạnh tê rồi nó vẫn còn nhăn nhó.
Cuộc đi bộ đến làng Hogsmeade chẳng thú vị gì cả. Harry quấn khăn quàng cổ quanh phần dưới khuôn mặt; phần mặt lộ ra chẳng mấy chốc nhức buốt và tê dại. Con đường đến làng đông đúc bọn học sinh cúi gập người đi ngược gió rét buốt. Hơn một lần Harry tự hỏi giá mà tụi nó cứ ở trong pháp sưhc ấm áp thì có phải hay hơn không, và khi rốt cuộc tới được làng Hogsmeade và nhìn thấy tiệm Giỡn Zonko đã bị đóng ván niêm phong, thì Harry càng tin chắc rằng chuyến đi chơi này sẽ chẳng vui thú gì. Ron chỉ bằng bàn tay đeo găng dày cui, về phía tiệm Công tước Mật, thiệt phước đức là tiệm mở cửa, và Harry cùng Hermione lếch thếch theo chân Ron vô cái tiệm bánh kẹo đông đúc.
“Cám ơn quỷ thần,” Ron rùng mình khi tụi nó được bao bọc trong không khí ấm áp thơm mùi kẹo ú.
“Harry, con trai của ta!” Một giọng nói oang oang vang lên đằng sau tụi nó.
“Thôi rồi,” Harry lầm bầm. Ba đứa tụi nó quay lại thì thấy giáo sư Slughorn. Thầy đang đội một cái nón da lông thú vĩ đại và một cái áo khoác ngoài cũng có cổ lật bằng da lông thú đúng điệu với cái nón, thầy cầm một bịch to kẹo khóm trong, và chiếm hết ít nhất một phần tư chỗ trong tiệm kẹo.
“Harry, tính tới nay con đã bỏ lỡ hết ba buổi tiệc  nhỏ của thầy!” Thầy Slughorn nói, thân mật thụi nhẹ lên ngực nó. “Không được đâu, con trai ơi, thầy đã quyết định mời cho được con! Cô Granger đây thích những buổi tối đó lắm, phải không con gái?”
“Dạ,” Hermione nói, vô phương cứu bồ. “Những buổi đó thiệt tình...”
“Vậy sao con không cùng đi hả, Harry?” Thầy Slughorn vặn hỏi.
“Dạ, thưa thầy, con phải luyện tập Quidditch,” Harry nói, quả thực nó đã cố tình lên lịch luyện tập đúng cái ngày mà Thầy Slughorn gởi cho nó cái thiệp mời nho nhỏ buộc nơ tím. Chiến lược này khiến cho Ron không bị ra rìa, và tụi nó thường được bữa no cười với Ginny, tưởng tượng ra cảnh Hermione bị nhốt chung phòng với McLaggen và Zabini.
“Ừ, thầy đương nhiên mong con thắng trận đấu đầu tiên sau tất cả những luyện tập vất vả ấy chớ!” Thầy Slughorn nói. “Nhưng một chút giải lao chẳng chết ai cả. Thôi thì tối thứ hai nhé, không lẽ con muốn luyện tập trong thời tiết này...”
“Thưa thầy, con không thể, con có... ơ... hẹn với giáo sư Dumbledore vào buổi tối đó.”
“Lại xui xẻo nữa!” Thầy Slughorn đột ngột la lên. “À, thôi... con không xù thầy mãi được đâu nhé, Harry!”
Và phẩy tay một cái điệu nghệ, thầy ì ạch đi ra khỏi tiệm, chẳng để mắt tới Ron như thể nó chỉ là một mớ kẹo dán bày trên quầy.
“Mình không thể tin là bồ lại lách được một bữa tiệc nữa,” Hermione lắc đầu nói. “Bồ biết không, mấy bữa tiệc đó cũng không đến nỗi nào... đôi khi họ cũng nhộn lắm...” Nhưng cô bé chợt nhìn thấy vẻ mặt của Ron. “Ô, nhìn kìa... họ có viết đường thượng hạng... mấy cây viết đó ngậm được mấy tiếng đồng hồ lận!”
Mừng là Hermione đã đổi đề tài, Harry bèn làm ra vẻ khoái mấy cây viết đường cực lớn loại mới đó hơn cả bình thường, nhưng Ron vẫn tiếp tục ủ dột và chỉ nhún vai khi Hermione hỏi nó muốn đi đâu nữa.
“Tụi mình đi tới quán Ba cây chổi đi,” Hả nói. “Ở đó sẽ ấm áp.”
Tụi nó lại quấn khăn quàng quanh mặt và rời khỏi tiệm bánh kẹo. Sau cái ấm áp ngọt ngào của tiệm kẹo Công tước Mật thì ngọn gió rét mướt chẳng khác gì lưỡi dao cứa vào mặt tụi nó. Đường phố không tấp nập lắm; chẳng mấy ai lê la tán dóc, ai cũng vội vã tiến về nơi họ muốn đến. Ngoại trừ hai người đàn ông chỉ ở phía trước tụi nó một chút, đứng ngay bên ngoài tiệm Ba cây chổi. Một người rất cao và ốm; liếc qua hai tròng mắt kính ròng ròng nước mưa, Harry nhận ra đó là người pha rượu làm việc trong một quán rượu khác ở làng Hogsmeade, quán Đầu heo. Khi Harry, Ron và Hermione đến gần hơn, người pha rượu kéo chặt tấm áo khoác quanh cổ rồi bước đi, bỏ lại người đàn ông lùn hơn lóng ngóng với cái gì đó trong tay. Tụi nó chỉ còn cách ông ta chừng mấy bước chân thì Harry nhận ra ông ta là ai.
“Mundungus!”
Người đàn ông thấp bè bè, chân vòng kiềng, tóc dài vàng hoe rối bời ấy giật mình làm rớt một cái vali cổ xưa, khiến nó bật mở ra, làm rớt ra những thứ trông như thể toàn bộ hàng hóa của một tiệm bán đồ lạc son.
“Ủa, chào Arry,” lão Mundungus FletcHermione nói, với bộ tịch vả lả hết sức đang ngờ. “Thôi, đừng để tui làm mất thì giờ cậu.”
Và lão bắt đầu quơ quào trên mặt đất để thu hồi những thứ vốn chứa trong cái vali cổ với vẻ lật đật của người muốn bỏ đi ngay.
“Bác bán những thứ này hả?” Harry hỏi, vừa quan sát lão Mundungus chộp vội những món đồ tạp pín lù trông phát gớm lăn lóc trên mặt đất.
“Ờ, vâng, phải vơ vét kiếm sống thôi,” lão Mundungus nói. “Đưa giùm cái đó!”
Ron đã cúi xuống và lượm lên một cái gì đó bằng bạc.
“Khoan đã,” Ron nói chậm rãi. “Cái này trông quen quen...”
“Cám ơn cậu!” Lão Mundungus nói, giật cái cốc bạc ra khỏi tay Ron và nhét nó trở vô cái vali. “Thôi, hẹn gặp lại sau nhe... Ối!”
Harry đã kẹp cổ họng lão Mundungus tấn lão vào bức tường quán rượu. Giữ chặt lão bằng một tay, Harry rút cây đũa phép của nó ra.
“Harry!” Hermione ré lên.
“Lão hôi của ở nhà chú Sirius hả,” Harry nói, nó ép lão Mundungus sát đến nỗi mũi nó gần chamk mũi lão, và nó hít phải cái mùi khó chịu của thuốc lá và rượu. “Cái đó có khắc huy hiệu của dòng họ Black.”
“Tui... đâu có... cái gì...?” Lão Mundungus lắp bắp, lão từ từ tím tái đi.
“Lão đã làm gì hả, trở lại ngôi nhà vào cái đêm chú ấy chết để vơ vét của nả nơi ấy hả?” Harry gầm gừ.
“Tui... đâu có...”
“Đưa nó cho tôi!”
0
“Harry, bồ không nên!” Hermione kêu lên the thé, trong khi lão Mundungus bắt đầu tái nhợt đi.
Một tiếng nổ đùng và Harry cảm thấy hai tya nó bị hất ra khỏi cổ họng lão Mundungus. Thở hổn hển và lắp ba lắp bắp, lão Mundungus chụp cái vali rớt dưới đất, rồi – CẠCH – lão đã độn thổ.
Harry chửi thề khản giọng, xoay vòng vòng tại chỗ để tìm xem lão Mundungus đã biến đi đâu.
“TRỞ LẠI ĐÂY, QUÂN ĂN CẮP...!”
“Chẳng ích gì đâu, Harry,” cô Tonks đột ngột xuất hiện, mái tóc xù của cô ướt nhẹp nước mưa. “Lão Mundungus có lẽ bây giờ đã đến London rồi. Kêu gào chẳng ăn thua gì đâu.”
“Lão chôm đồ của chú Sirius! Lão chôm!”
“Ừ, nhưng dù vậy,” cô Tonks nói, có vẻ hoàn toàn không bận tâm về cái thông tin đó, “em không nên đứng trong mưa lạnh như vầy.”
Cô nhìn tụi nó đi qua cánh cửa của quán Ba Cây chổi. Khi nó đã ở trong quán rồi, Harry lại òa ra, “Lão chôm đồ của chú Sirius!”
“Mình biết, Harry à, nhưng làm ơn đừng có la to, người ta đang nhìn kìa,” Hermione thì thầm. “Ngồi xuống đi, mình đi lấy cho bồ ly nước nhé.”
Harry vẫn còn tức xì khói khi Hermione trở lại bàn tụi nó vài phút sau đó mang theo ba chai bia bơ.
“Hội không thể kiểm soát được lão Mundungus sao?” Harry vặn hỏi hai đứa kia bằng giọng thì thào uất ức. “Chẳng lẽ cứ thứ gì không dán chặt xuống đất là họ không ngăn nổi lão ăn cắp mỗi khi lão đến Tổng hành dinh  à?”
“Suỵt!” Hermione tha thiết nói, vừa nhìn quanh để biết chắc là không có ai đang lắng nghe; Có một cặp chiến tướng ngồi gần đó đang ngó Harry chằm chằm coi bộ thích thú lắm và Zabini đang thơ thẩn đứng dựa cột cách đó không xa.“Harry à, mình cúng bức mình lắm, mình biết đồ lão ăn cắp chính là đồ của bồ...”
Harry mở nắp chai bia bơ; nó nhất thời quên béng đi chuyện nó là chủ nhân ông của số mười hai đường Grimmauld.
“Ừ, đồ của mình!” Nó nói. “Hèn gì lão chẳng vui vẻ gì khi thấy mình! Được, mình sẽ kể cho thầy Dumbledore biết chuyện gì đang xảy ra, chỉ có thầy mới dọa được lão Mundungus.”
“Ý hay đó,” Hermione thì thầm, rõ ràng mừng là Harry đang bình tĩnh lại. “Ron, bồ ngó cái gì mà đăm đắm vậy?”
“Đâu có,” Ron nói, vội vàng rời mắt khỏi quầy rượu, nhưng Harry biết tỏng cậu chàng đang cố gắng đá lông nheo với người phụ nữ pha rượu có thân hình nảy nở quyến rũ, bà Rosmerta, lâu nay cậu chàng hằng ấp ủ chút lả lướt với bà ta.
“Mình đoán chừng “Đâu có” đang ra sau quán lấy thêm rượu mạnh,” Hermione chua chát nói.
Ron phớt lờ câu chế giễu này, hớp từng ngụm bia bơ trong sự im lặng mà hiển nhiên là cậu chàng cho là đứng đắn. Harry thì đang nghĩ đến chú Sirius, và chú đã ghét cay ghét đắng mấy cái cốc bạc ấy như thế nào. Hermione gõ gó mấy ngón tay trên mặt bàn, mắt cô nàng cứ chấp chới phóng từ Ron đến quầy rượu. Đúng lúc Harry uống cạn chai bia bơ của nó, Hermione nói, “tụi mình kể như choi đã rồi, vậy trở về trường chứ?”
Hai đứa kia gật đầu. Chuyến đi chơi này chả vui gì hết và tụi nó càng nấn ná chơi lâu thì thời tiết càng xấu thêm. Một lần nữa tụi nó kéo áo khoác choàng quanh người cho chặt, quấn lại khăn quàng cổ, đeo găng tay vào, rồi đi theo Katie Bell và một cô bạn ra khỏi quán, đi ngược lên Đường Chính. Trong lúc cả đám lê bước ngược dốc con đường trở về trường Hogwarts trong cơn mưa lạnh buốt, Harry nghĩ vơ vẩn đến Ginny. Tụi nó đã không gặp Ginny, Harry thầm nghĩ, chắc hẳn vì cô bé và Dean đang hú hí ấm cúng trong quán trà của bà Puddifoot, nơi những lứa đôi hạnh phúc thường lui tới. Lòng buồn bực nó cúi đầu tránh ngọn mưa tuyết quất xoáy vào người và lê bước đi tiếp.
Chỉ một lát sau Harry bắt đầu nhận thấy giọng của Katie Bell và cô bạn theo chiều gió bay tới tai nó càng lúc càng to hơn và gay gắt hơn. Harry nheo mắt nhìn hình thù mờ mờ của hai người đó. Hai cô gái đang cãi nhau về vật gì đó mà Katie đang cầm trong tay. “Không mắc mớ gì tới bồ, Leanne à!” Harry nghe Katie nói.
Tụi nó đi tới một khúc quanh của con đường, cơn mưa tuyết trở nên nhanh và dày làm mờ kính của Harry. Vừa lúc nó giơ bàn tay đeo găng lên chùi kính, Leanne chụp lấy cái gói mà Katie đang cầm; Katie giật trở lại và cái gói rớt xuống mặt đường.
Lập tức Katie bốc lên không trung, không phải cái kiểu treo giò lơ lửng buồn cười như Ron đã bị, mà được nhấc bổng lên một cách duyên dáng, hai tay giang ra như thể cô nàng sắp bay. Nhưng có cái gì đó không ổn, cái gì đó kỳ quái... Tóc Katie bị luồng gió mạnh quất bay quanh mình, nhưng hai mắt cô giá nhắm nghiền và gwong mặt thì hoàn toàn không biểu lộ cảm xúc gì cả. Harry, Ron, Hermione và Leanne đều đã ngừng bước đứng nhìn.
Thế rồi, khi cách mặt đất gần hai thước, Katie phát ra một tiếng gào khủng khiếp. Hai mắt cô mở bừng ra, nhưng cho dù cái mà cô đang nhìn thấy là cái gì, hay cô đang cảm thấy cái gì đi chăng nữa, thì rõ ràng cía đó cũng đang gây cho cô nỗi đau đớn khủng khiếp. Katie cứ gào thét rồi gào thét; Leanne cũng bắt đầu gào lên rồi chụp lấy cổ chân Katie, cố gnawgiáo sư kéo cô trở xuống mặt đất. Harry, Ron và Hermione chạy nhòa tới trước để giúp sức, nhưng ngay khi tụi nó hè nhau nắm lấy chân Katie, cô rớt luôn xuống đầu tụi nó. Harry và Ron tìm cách đỡ Katie nhưng cô quằn quại dữ quá nên tụi nó khó có thể giữ được. Tụi nó đành hạ Katie xuống đất từ từ. Cô nằm trên mặt đất vật vã gào la, dường như chẳng nhận ra đứa nào trong đám tụi nó.
Harry nhìn quanh; quang cảnh dường như hoang vắng.
“Ở yên đó!” Nó hét to trong tiếng gió hú để bảo những đứa khác, “Mình đi kêu cứu!”
Nó bắt đầu phóng chạy về trường; nó chưa từng nhìn thấy ai có cử chỉ như cử chỉ vừa rồi của Katie và nó không thể nghĩ ra nguyên nhân là cái gì; nó húc vô một khúc quanh của con đường và đâm sầm vô một cái gì tựa như một con gấu vĩ đại đứng trên hai chân sau.
“Bác Hagrid!” Nó thở hổn hển, loi ngoi ra khỏi giậu cây mà nó đã té vô.
“Harry!” Bác Hagrid kêu lên, băng tuyết bám trên chân mày và bộ râu của bác, và bác đang mặc cái áo khoác to, lùi xùi bằng da hải ly. “Vừa mới đi thăm Grawp, chú nó lúc này khá đến nỗi con sẽ...”
“Bác Hagrid, ở đằng kia có người bị thương, hay bị ếm, hay bị gì đó...”
“Cái gì?” Bác Hagrid nói, cúi xuống thấp để nghe Harry nói trong tiếng gió rú gào.
“Có người bị ếm!” Harry rống lên.
“Ếm hả? Ai bị ếm... không phải Ron chứ? Hay Hermione?”
“Không, không phải tụi nó, mà là Katie Bell... lối này...”
Hai bác cháu cùng chạy ngược lại theo con đường. Chẳng mấy chốc họ đã nhìn thấy một nhóm người vây quanh Katie, cô gái vẫn còn vật vã và gào thét trên mặt đất; Ron, Hermione và Leanne đều đang cố gắng dỗ yên cô.
“Lùi ra!” Bác Hagrid la lên. “Để bác coi con bé!”
“Nó bị cái gì đó!” Leanne nức nở. “Con không biết cái gì...”
Bác Hagrid trợn mắt ngó Katie chừng một giây, rồi không nói một lời, bác cúi xuống, quắp katie trong tay, và chạy về phía tòa lâu đài. Trong vòng vài giây tiếng gào thét thảm thiết của Katie xa dần rồi tắt lịm, chỉ còn lại tiếng gầm rú của gió.
Hermione vội đi tới vòng tay ôm cô bạn của Katie, cô này đang khóc nức nở.
“Bồ là Leanne hả?”
Cô gái gật đầu.
“Chuyện đã xảy ra thình lình hay là...?”
“Chuyện xảy ra khi cái gói đó bị xé ra,” Leanne thổn thức, vừa chỉ vào một cái gói giấy nâu nằm trên mặt đất lúc này đã sũng nước và bị xé mở ra để lộ ra ánh lấp lánh màu xanh biếc. Ron cúi xuống, tay nó vừa giơ ra, nhưng Harry chụp tay nó lại và kéo nó lùi ra sau.
“Đừng đụng tới!”
Nó ngồi thụp xuống. Có thể thấy một chuỗi đeo cổ bằng ngọc lộng lẫy thò ra khỏi lớp giấy.
“Mình đã từng nhìn thấy cái này trước đây,” Harry  nói, chăm chú nhìn vật ấy. “Nó đã được trưng bày trong tiệm Borgin và Burkes cách nay khá lâu. Cái nhãn có ghi là nó đã bị ếm bùa. Ắt hẳn là Katie đã đụng vào nó.” Harry ngước lên nhìn Leanne, cô bé đã bắt đầu run bần bật không sao kiềm chế được, “Làm sao mà Katie lại có vật này?”
“Ôi, đó là lý do tụi này gây gỗ với nhau. Nó vô nhà vệ sinh trong quán Ba Cây chổi rồi trở lại cầm theo cía này nói rằng đó là một món quà bất ngờ dành cho ai đó ở trường Hogwarts mà nó phải trao lại. Khi nói vậy trông nó rất buồn cười... Ôi không, Ooi không, mình cá là nó đã bị ếm Bùa Độc đoán, vậy mà mình không nhận thấy!”
Leanne lại run lẩy bẩy, nức nở trở lại. Hermione vỗ nhè nhẹ vào vai cô bạn.
“Bạn ấy có nói là ai đã đưa cái này cho bạn ấy không, Leanne?”
“Không... Nó không chịu nói... và mình nói nó ngu quá và bảo nó đừng đem cái đó vô trường, nhưng nó chẳng chịu nghe và... và rồi mình thử giật cái đó ra khỏi tay nó... và... và...”
Leanne rống lên một tiếng khóc tuyệt vọng.
“Tụi mình nên trở về trường thôi,” Hermione nói, cánh tay nó vẫn vòng quanh vai Leanne. “Tụi mình sẽ biết được bạn ấy giờ ra sao. Đi thôi...”
Harry ngập ngừng một chút, rồi rút tấm khăn quàng cổ đang quấn quanh mặt nó ra và, phớt lờ cái miệng há hốc của Ron, nó cẩn thận trùm lên chuỗi ngọc và lượm lên.
“Tụi mình cần đưa cho bà Pomfrey coi cái này,” nó nói.
Khi đi theo Hermione và Leanne ngược lên con đường về trường, Harry suy nghĩ dữ dội. Tụi nó vừa mới đi vào sân trường thì nó mở miệng nói ngay, không thể giữ riêng trong đầu suy nghĩ ấy lâu hơn nữa.
“Malfoy biết về chuỗi ngọc này. Trong một dịp cách đây bốn năm ở tiệm Borgin và Burkes, trong lúc ẩn núp để tránh mặt cha con nó, mình đã nhìn thấy nó ngắm nghía cái này kỹ lắm. Cái này là cái mà nó mua vào cái ngày tụi mình theo dõi nó! Nó nhớ ra cái này và trở lại để mua!”
“Mình... mình không biết, Harry à,” Ron ngập ngừng nói. “Cả đống người đi tới tiệm Borgin và Burkes... và chẳng phải cô gái kia nói rằng Katie nhận nó trong phòng vệ sinh nữ sao?”
“Bạn ấy nói Katie cầm theo cái này khi trở lại từ nhà vệ sinh, không nhất thiết Katie nhận cái này ngay trong nhà vệ sinh...”
“Cô McGonagall kìa!” Ron cảnh báo.
Harry ngước nhìn lên. Quả đúng, giáo sư McGonagall đang vội vã bước xuống những bực thềm đá đi xuyên qua mưa tuyết để đón tụi nó.
“Bác Hagrid nói bốn trò đã thấy những gì xảy ra cho Katie Bell... Mời các trò lên văn phòng của tôi ngay tức thì! Trò đang cầm vật gì đó, Potter?”
“Cái vật mà bạn ấy đã chạm vô,” Harry nói.
“Úy mèn ơi,” giáo sư McGonagall nói, có vẻ lo sợ khi nhận chuỗi hạt từ tay Harry. “Khỏi, khỏi, thầy Filch à, chúng nó đi cùng tôi!” Bà vội vã nói thêm khi thầy Filch hăm hở bước lệt sệt ngang qua tiền sảnh với cái Phép Dò bí mật của thầy giơ cao. “Hãy đem xâu chuỗi này đưa giáo sư Snape ngay tức thì, nhưng phải tuyệt đối không đụng tới nó, cứ quấn nó trong cái khăn quàng cổ!”
Harry và mấy đứa kia đi theo giáo sư McGonagall lên cầu thang vô văn phòng bà. Những cánh cửa sổ bị mưa tuyết tạt vào đang kêu lạch xạch trong khung, và căn phòng lạnh lẽo bất chấp tiếng lửa reo trong lò sưởi. Giáo sư McGonagall đóng cửa và lướt vòng qua bàn làm việc của bà để đối diện Harry, Ron, Hermione, và cô bé Leanne vẫn còn thổn thức.
“Thế nào?” bà nói ngay. “Chuyện gì đã xảy ra?”
Ngắc nga ngắc ngứ va phải ngừng lại nhiều lần để ráng nín khóc, Leanne kể cho giáo sư McGonagall nghe Katie đã vô nhà vệ sinh trong quán Ba Cây chổi và trở ra cầm theo một cái gói không rõ gốc tích, Katie đã tỏ ra hơi kỳ quái như thế nào, và tụi nó đã cãi nhau ra sao về việc dại dột nhận lời giao những đồ vật mình không biết rõ, cuộc cãi vã lên tới đỉnh điểm khi xảy ra giành giật cái gói đồ, khiến nó bị rách toạc ra. Kể tới đây, Leanne quá xúc động, không cond nghe được thêm tiếng nào của cô bé nữa.
“Được rồi,” giáo sư McGonagall nói, giọng ân cần. “Trò đi lên bệnh thất đi, Leanne, và xin bà Pomfrey     cho thuốc gì đó mà an thần.”
Khi Leanne đã ra khỏi phòng, giáo sư McGonagall quay sang Harry, Ron và Hermione.
“Chuyện gì xảy ra khi Katie chạm vào xâu chuỗi?”
“Bạn ấy bay lên không trung,” Harry nói, trước khi Ron hay Hermione có thể mở miệng, “và rồi gào thét, rồi rớt xuống. Thưa cô, con có thể gặp giáo sư Dumbledore được không ạ?”
“Thầy hiệu trưởng đi vắng đến thứ hai, Potter à,” giáo sư McGonagall nói, vẻ mặt ngạc nhiên.
“Đi vắng à?” Harry lặp lại một cách tức tối.
“Phải, đi vắng, Potter à!” Giáo sư McGonagall nói giọng đanh lại. “Nhưng nếu con muốn nói bất cứ điều gì về sự khủng khiếp này thì con có thể nói với ta, ta chắc chắn như vậy!”
Harry ngập ngừng một thoáng. Giáo sư McGonagall không làm cho người ta tự tin lắm; Cụ Dumbledore tuy nghiêm nghị về nhiều mặt, nhưng vẫn không tỏ ra coi thường một giả thuyết cho dù hoang đường thế nào đi chăng nữa. Tuy nhiên đây là một vấn đề sỗng chết và không phải là lúc lo ngại bị cười nhạo.
“Thưa giáo sư, con nghĩ Draco Malfoy đưa cho Katie chuỗi hạt đó.”
Bên này nó, Ron xoa xoa cái mũi bối rối; bên kia nó, Hermione nhấp nhổm như thể cô nàng muốn tự mình nhích ra xa Harry một chút.
“Đó là một lời cáo buộc rất nghiêm trọng, Potter à,” giáo sư McGonagall nói, sau khi lặng đi vì sửng sốt. “Con có bằng chứng nào không?”
“Dạ, không, nhưng,” Harry đáp, và nó kể cho bà nghe về việc đi theo Malfoy đến tiệm Borgin và Burkes với cuộc đối thoại giữa Malfoy và ông Borgin mà tụi nó nghe lỏm được.
Khi nó nói xong, giáo sư McGonagall có vẻ hơi lúng túng.
“Malfoy đem cái gì đó đến tiệm Borgin và Burkes để sửa chữa à?”
“Thưa cô không phải, nó chỉ muốn ông Borgin chỉ cho cách sửa chữa vật ấy thôi, nó không đem theo vật ấy. Nhưng đó không phải điểm mấu chốt, vấn đề là cùng lúc đó nó mua một cái gì đó, và con tin cái đó là xâu chuỗi...”
“Con đã nhìn thấy Malfoy rời khỏi tiệm với một xâu chuỗi tương tự à?”
“Thưa cô không phải, nó bảo ông Borgin giữ cái đó lại trong tiệm cho nó...”
“Nhưng Harry à,” Hermione chen vào, “ông Borgin đã hỏi nó có muốn đem cái đó đi không, và Malfoy nói là không...”
“Bởi vì nó không muốn đụng đến cái đó, rõ ràng quá mà!” Harry tức giận nói.
“Chính xác nó nói là “Tôi mà đem cái đó xuống phố thì trông như thế nào?”” Hermione nói.
“Ôi, Ron,” Hermione kêu lên chán nản, “cái đó sẽ được gói ghém kỹ lưỡng, như thế nó sẽ không phải đụng vô, và cũng dễ dàng giấu bên trong áo khoác, để không ai nhìn thấy cái đó! Mình nghĩ cái mà Malfoy muốn gửi lại tiệm Borgin và Burkes rất ồn ào hoặc rất cồng kềnh, một cái gì đó nó biết là sẽ thu hút sự chú ý nếu nó mang xuống phố - và dẫu thế nào đi nữa,” Hermione nói tiếp, giọng to hơn, trước khi Harry có thể chen vào, “mình đã hỏi ông Borgin về xâu chuỗi, các bạn không nhớ sao? Khi mình đi vô tiệm để thử tìm hiểu xem Malfoy đã nhờ ông Borgin giữ lại cho nó cái gì, mình đã nhìn thấy xâu chuỗi ở đó. Và ông Borgin chỉ nói giá cả, ông không hề nói là nó đã được bán rồi hay gì gì...”
“Ôi, bồ rất ư lộ liễu, ông ta nhận ra ngay trong vòng năm giây là bồ đang âm mưu gì đó, dĩ nhiên ông ta không nói cho bồ biết... Với lại, Malfoy có thể yêu cầu gởi món đồ đó cho nó bởi vì...”
“Thôi đủ rồi!” Giáo sư McGonagall nói, vẻ giận dữ, khi Hermione mở miệng toan phản đối. “Potter à, tôi cám ơn trò đã kể cho tôi nghe điều này, nhưng chúng ta không thể cáo buộc Malfoy chỉ vì cậu ta đã vô một cửa hàng nơi có lẽ đã bán ra xâu chuỗi ấy. Điều tương tự có thể xảy ra cho hàng trăm người...”
“...con tính nói vậy đó...” Ron lẩm bẩm.
“...và trong trường hợp nào đi nữa, chúng ta cũng đã áp dụng những biện pháp an ninh rất nghiêm ngặt ở đây trong niên học này. Tôi không tin là xâu chuỗi có thể được đem vô trường mà không ai biết...”
“Nhưng...”
“...và hơn nữa,” giáo sư McGonagall nói, với cái vẻ dứt khoát đáng sợ, “Malfoy không có mặt trong làng Hogsmeade ngày hôm nay.”
Harry há hốc mồm nhìn giáo sư, xì hơi ra.
“Thưa cô, làm sao cô biết được?”
“Bởi vì trò ấy bị ct ở chỗ tôi. Trò ấy đã không làm xong bài tập biến hình hai lần liên tiếp. Thôi thế, cám ơn trò đã kể cho tôi nghe về sự nghi ngờ của trò, Potter à,” bà nói khi đi ngang qua tụi nó, “nhưng tôi cần lên bệnh thất để thăm Katie Bell. Mong các trò hưởng một ngày tốt đẹp.”
Bà mở cửa văn phòng. Tụi nó không có lựa chọn nào khác hơn là lần lwotj đi ngang qua bà mà không được nói thêm lời nào.
Harry rất giận hai đứa bạn đã về phe giáo sư McGonagall; dù vậy, nó cảm thấy phải dằn lòng để tham gia cuộc tranh luận khi tụi nó bắt đầu cãi nhau về việc đã xảy ra.
“Vậy bồ đoán xem Katie được bảo phải giao xâu chuỗi cho ai?” Ron hỏi, khi tụi nó trên cầu thang lên pháp sưhc.
“Quỷ thần nào biết được,” Hermione nói. “Nhưng cho dù đó là ai thì cũng khó lòng thoát được. Không ai có thể mở cái gói đó ra mà không chạm vào xâu chuỗi.”
“Rất nhiều người có thể là mục tiêu,” Harry nói. “Cụ Dumbledore chẳng hạn – bọn Tử thần thực tử chỉ mong khử cụ, cụ chắc phải là một trong những mục tiêu đầu tiên của tụi nó. Hay Thầy Slughorn... Cụ Dumbledore cho là Voldermort thực sự mong muốn chiêu nạp thầy và chúng không thể hài lòng nổi khi thầy về phe với cụ.  Hay là...”
“Hay là bồ,” Hermione nói, có vẻ bồn chồn.
“Không lẽ nào,” Harry nói, “nếu gửi cho mình thì Katie chỉ cần quay lại trên đường và đưa nó cho mình, đúng không? Malfoy theo sau chị ấy suốt quãng đường từ quán Ba Cây chổi đi ra. Trao cái gói quà đó ở bên ngoài trường Hogwarts nghe có lý hơn nhiều, khi mà thầy Filch rà soát hết thảy mọi người đi ra đi vào trường. Mình thắc mắc tại sao Malfoy lại bảo Katie đem cái gói đó vô tòa lâu đài?”
“Harry, Malfoy không có mặt ở Hogsmeade!” Hermione nói, giẫm chân vì tức tối.
“Vậy thì nó phải nhờ tới một kẻ đồng lõa,” Harry nói. “Crabà Béoe hay Goyle... hay, thử nghĩ xem, một tên Tử thần thực tử nào đó, nếu bây giờ nó đã gia nhập bọn chúng thì nó có cả khối đồng bọn chí cốt hơn cả Crabbe và Goyle.”
Ron và Hermione đưa mắt nhìn nhau, ngụ ý rõ ràng: vô phương cãi nhau với thằng này.
“Súp Đăng quang,” Hermione hô lên dứt khoát khi tụi nó đi tới chỗ Bà Béo.
Bức chân dung lẳng qua một bên để cho chúng chui vô pháp sưhc. Căn phòng đầy nhóc và bốc mùi quần áo ướt: nhiều người dường như vừa từ Hogsmeade trở về sớm vì thời tiết xấu quá. Tuy nhiên, chẳng nghe ai xì xầm sợ hãi hay suy đoán gì: rõ ràng là cái tin về chuyện xui xẻo của Katie chưa kịp lan truyền.
“Thực ra, nếu bồ chịu dừng lại và suy nghĩ về chuyện đó, bồ sẽ thấy cuộc tấn công cũng không khôn khéo lắm,” Ron nói, vừa làm một điều không bình thường là tống một nhóc năm thứ nhất ra khỏi cái ghế bành êm ái cạnh lò sưởi để tự mình ngồi xuống. “Chuyện trù ếm còn chưa vô được tới tòa lâu đài. Bồ không thể gọi đó là một trò có hiệu quả.”
“Bồ nói đúng,” Hermione nói, vừa đá Ron ra khỏi cái ghế bành để nhường trở lại cho thằng nhóc năm thứ nhất. “Vụ đó không được tính toán kỹ cho lắm.”
“Nhưng Malfoy trở thành một trong những nhà mưu tính vĩ đại nhất thế giới từ hồi nào hè?” Harry hỏi.
Cả Ron lẫn Hermione đều không trả lời nó.
0
«« « 1 2 3 » »»