Chương 13
Riddle bí ẩn
Kattie được chuyển qua bệnh viện Thánh Mungo chuyên Điều trị thương tích và Bệnh tật pháp thuật vào ngày hôm sau, vào lúc đó thì tin cô bé bị ếm ma thuật đã lan ra khắp trường, mặc dù chi tiết khá rối rắm và ngoại trừ Harry, Ron, Hermione, Leanne, có vẻ không ai biết rằng bản thân Katie không phải là mục tiêu được nhắm tới.
“Ôi, dĩ nhiên Malfoy thì biết chứ,” Harry nói với Ron và Hermione, hai đứa này cứ tiếp tục chính sách mới của tụi nó là giả điếc mỗi khi Harry nhắc tới lý thuyết Malfoy-là-một-Tử-thần-thực-tử.
Harry đã lo lắng không biết cụ Dumbledore có từ đâu đó trở về đúng hẹn cho buổi học tối thứ hai không, nhưng bởi vì chẳng nhận được thông báo nào hoãn lại, nên nó tự trình diện trước văn phòng cụ Dumbledore vào lúc tám giờ đúng, gõ cửa, và được mời vào. Kia cụ Dumbledore ngồi đó, trông mệt mỏi khác thường; bàn tay của cụ vẫn cháy khô đen đúa như lâu nay, nhưng cụ mỉm cười khi ra dấu cho Harry ngồi xuống. Cái chậu tưởng Ký lại được đặt trên bàn, hắt những đốm sáng óng ánh bạc lên trần.
“Con đã khá bận rộn trong thời gian thầy đi vắng,” cụ Dumbledore nói. “Ta tin là con đã chứng kiến tai nạn của Katie.”
“Dạ, thưa thầy. Bạn ấy sao rồi ạ?”
“Vẫn chưa được khỏe lắm, mặc dù trò ấy khá may mắn. Trò ấy dường như chỉ chạm nhẹ vào xâu chuỗi với một diện tích da rất nhỏ bị tiếp xúc; có một cái lỗ nhỏ xíu trên găng tay trò ấy. Nếu trò ấy mà đeo xâu chuỗi ấy vô, thậm chí nếu trò ấy cầm xâu chuỗi mà không đeo găng tay, thì trò ấy đã chết rồi, có thể ngay lập tức. May thay giáo sư Snape đã hành động kịp thời để ngăn chặn không cho bùa ếm đó phát tán nhanh chóng...”
“Sao lại ông ấy?” Harry hỏi ngay. “Sao không phải là bà Pomfrey?”
“Láo xược,” một giọng nói nhỏ vang lên từ một trong những bức chân dung trên tường, và cụ Phineas Nigellus Black, ông cố tổ của chú Sirius, ngóc đầu lên khỏi hai cánh tay, hình như vẫn được cụ coi như cái gối kê đầu để ngủ. “Ta không đời nào cho phép một học sinh hỏi vặn vẹo trong trường Hogwarts thời mà ta còn điều hành.”
“Vâng, cám ơn cụ Phineas,” cụ Dumbledore dỗ yên. “Giáo sư Snape biết nhiều hơn bà Pomfrey về Nghệ thuật hắc ám, Harry à. Dù sao đi nữa thì nhân viên bệnh viện Thánh Mungo đang gửi tường trình hàng giờ cho thầy, và thầy hy cọng Katie sẽ sớm bình phục hoàn toàn.”
“Thưa thầy, thầy đi đâu hồi cuối tuần rồi ạ?” Harry hỏi, bất chấp một cảm giác mạnh mẽ là có thể nó đang liều mạng, một cảm giác dường như được cụ Phineas Nigellus chia sẻ, cụ huýt gió khe khẽ.
“Bây giờ thì thầy không tiện nói,” cụ Dumbledore nói. “Tuy nhiên, khi nào đúng lúc thì thầy sẽ nói cho con biết.”
“Thầy sẽ nói hả?” Harry hấp tấp nói.
“Ừ, thầy định vậy,” cụ Dumbledore nói, vừa rút trong túi áo ra một cái chai mới chứa những ký ức lóng lánh bạc và mở nút chai bằng một cái gõ của cây đũa phép.
“Thưa thầy,” Harry lại ngập ngừng nói, “con đã gặp lão Mundungus ở Hogsmeade.”
“À phải, thầy đã biết về việc Mundungus nhẹ tay nẫng tài sản thừa kế của con,” cụ Dumbledore nói, hơi cau mày. “Lão ta đã lặn mất tiêu từ lúc con bắt quả tang lão bên ngoài quán Ba Cây chổi; Thầy nghĩ lão sợ giáp mặt thầy. Tuy nhiên, con có thể yên tâm là lão sẽ không thể nào ăn cắp thêm bất cứ cái gì nữa trong tài sản trước đây của chú Sirius.”
“Lão già lai ghẻ lở ấy ăn cắp của gia truyền của dòng họ Black à?” Cụ Phineas Nigellus nói, cụ điên tiết lên, và chuồn ra khỏi cái khung tranh của mình, chắc chắn là để về thăm cái chân dung của cụ ở số mười hai đường Grimmauld.
“Thưa thầy,” Harry nói, sau một khoảng ngắn nín thinh. “Giáo sư McGonagall có nói với thầy điều con đã thưa với cô ấy sau khi Katie bị thương không? Về Draco Malfoy ấy ạ?”
“Có, cô ấy có nói với thầy về sự nghi ngờ của con,” Cụ Dumbledore nói.
“Và thầy có...?”
“Thầy sẽ tiến hành những biện pháp thích đáng để điều tra bất cứ ai có nhúng tay vào tai nạn của Katie,” cụ Dumbledore nói. “Nhưng điều thầy bận tâm lúc này, Harry à, là bài học của chúng ta.”
Harry cảm thấy hơi bực mình về chuyện này: nếu buổi học của thầy trò nó quan trọng như thế, tại sao buổi học thứ nhì lại cách xa buổi học thứ nhất dữ vậy? Tuy nhiên, nó không nói gì thêm về Draco Malfoy, mà chỉ ngồi nhìn khi cụ Dumbledore rót cái ký ức mới vào trong cái Tưởng Ký, và bưng cái chậu đá giữa hai bàn tay với những ngón tay rất dài, cụ bắt đầu xoay cái chậu đá một lần nữa.
“Thầy biết chắc con vẫn nhớ rằng chúng ta đã rời câu chuyện về thuở ban đầu của Chúa tể Voldermort ở chỗ chàng Muggle trẻ tuổi đẹp trai Tom Riddle đã bỏ rơi cô vợ phù thủy Merope, để trở về nhà mình ở làng Hangleton Nhỏ. Merope bị bỏ lại một mình ở London, bụng mang dạ chửa đứa bé sau này sẽ trở thành Chúa tể Voldermort.”
“Thưa thầy, làm sao thầy biết là cô ấy ở London?”
“Bởi vì có chứng cớ của ông Caractacus Burke,” cụ Dumbledore nói, “ông này, do một ngẫu nhiên kỳ lạ, đã giúp thành lập chính cái tiệm xuất xứ của xâu chuỗi mà chúng ta vừa thảo luận.”
Cụ sàng đãi nội dung của cái Tưởng Ký như Harry đã từng thấy cụ sàng đãi trước đây, rất giống cách những người thợ mỏ vàng sàng đãi quặng để tìm vàng. Dâng lên trên cái khối óng ánh bạc đang xoay tít là một người đàn ông từ từ xoay vòng vòng trong cái Tưởng Ký, ban đầu bạc trắng như ma nhưng rắn chắc hơn dần, với một mái tóc phủ kín cả mắt.
“Vâng, chúng tôi có được nó trong một trường hợp lạ lùng. Một phù thủy trẻ đem nó đến trước lễ Noel, ôi, cách đây nhiều năm rồi. Cô ta nói cô ta cần vàng ghê lắm, chà, điều đó rất hiển nhiên. Cô ta ăn mặc rách rưới và coi bộ chẳng bao lâu nữa... sẽ có em bé. Cô ta nói sợi dây chuyền là của dòng họ Slytherin. Ối, lúc nào tôi cũng nghe những câu chuyện tương tự như vậy, “Ôi, đây là di vật của dòng họ Merlin, đây là cái bình trà cưng của ngài.” Nhưng khi tôi nhìn kỹ nó, thì nó có dấu hiệu của Ngài Slytherin hẳn hoi, và chỉ cần vài phép bùa chú đơn giản là tôi biết được đồ thật. Dĩ nhiên điều đó khiến nó vô giá. Cô ta lại dường như không biết chút gì giá cả của vật đó. Vui vẻ mà nhận mười Galleon đánh đổi vật đó. Món hời nhất mà tôi từng mua!”
Cụ Dumbledore lắc cái chậu Tưởng Ký một cái thiệt mạnh và ông Caractacus Burke lặn trở xuống mớ ký ức xoay tít, chỗ mà ông ta đã từ đó hiện ra.
“Ông ta chỉ trả cô ấy mười Galleon thôi à?” Harry phẫn nộ nói.
“Ông Caractacus Burke không nổi tiếng lắm về tính hào phóng,” cụ Dumbledore nói. “Vậy là chúng ta biết, lúc gần sanh, Merope đã một mình ở London và cần vàng ghê gớm, cần đến nỗi phải bán đi tài sản có giá trị duy nhất, sợi dây chuyền vốn là một trong những di sản gia truyền quý báu của Marvolo.”
“Nhưng cô ta có thể phù phép mà!” Harry sốt ruột nói. “Cô ta có thể tự kiếm đồ ăn và mọi thứ cho mình bằng Pháp thuật, đúng không ạ?”
“À,” cụ Dumbledore nói, “có lẽ cô ta có thể làm vậy. Nhưng thầy tin – và một lần nữa thầy chỉ đoán mà thôi, nhưng thầy tin là thầy đúng – rằng khi bị chồng bỏ, Merope đã thôi dùng Pháp thuật. Thầy nghĩ cô ta không muốn là phù thủy nữa. Dĩ nhiên, cũng có thể tình yêu không được đáp lại của cô ta và nỗi tuyệt vọng kèm theo đã làm cạn kiệt sức mạnh của cô; điều đó có thể xảy ra lắm. Đằng nào đi nữa, như con sắp sửa thấy đây, Merope từ chối giơ cây đũa phép lên, cho dù để cứu chính mạng sống của mình.”
“Cô ta thậm chí không sống vì đứa con mình sao?”
Cụ Dumbledore nhướn chân mày lên, “Con còn có thể cảm thấy thương xót Chúa tể Voldermort ư?”
“Không,” Harry nói nhanh, “nhưng cô ta có thể lựa chọn, đúng không, chẳng giống như mẹ của con....”
“Mẹ của con cũng có quyền lựa chọn,” cụ Dumbledore nhẹ nhàng nói. “Đúng vậy, Merope Riddle đã chọn cái chết bất chấp đứa con trai đang cần đến cô ta, nhưng đừng phán xét cô ta khắc nghiệt quá, Harry à. Cô ta đã suy yếu đi rất nhiều vì nỗi đau khổ kéo dài và cô ta chưa bao giờ có được lòng can đảm như mẹ con. Và bây giờ nếu con chịu đứng yên...”
“Chúng ta sẽ đi đâu?” Harry hỏi, khi cụ Dumbledore đến đứng cạnh nó trước cái bàn.
“Lần này,” cụ Dumbledore nói, “chúng ta sẽ đi vào ký ức của thầy. Thầy nghĩ con sẽ thấy ký ức của thầy phong phú, chi tiết và chính xác mỹ mãn. Mời con đi trước, Harry...”
Harry cúi xuống cái Tưởng Ký; mặt nó chạm vào bề mặt mát lạnh của ký ức và rồi nó rơi xuyên qua bóng tối một lần nữa... Vài giây sau, chân nó chạm mặt đất cứng; nó mwor mắt ra và thấy nó với cụ Dumbledore đang đứng trên một đường phố London cổ kính và khá náo nhiệt.
“Thầy kia kìa,” cụ Dumbledore hớn hở nói, vừa chỉ về phía trước nơi một dáng người cao đang băng qua đường trước chiếc xe ngựa kéo chở sữa.
Chòm râu và mái tóc dài của chàng trai Albus Dumbledore trẻ tuổi này màu nâu vàng. Sau khi qua tới lề đường mà hai thầy trò nó đang đứng, cậu ta rảo bước đi dọc theo lề đường, thu hút những cái liếc mắt tò mò nhờ bộ đồ nhung màu mận được may cắt đỏm dáng mà cậu ta đang mặc.
“Thưa thầy bộ đồ đẹp quá,” Harry buột miệng nói không kềm lại được, nhưng cụ Dumbledore chỉ chắt lưỡi khoái trá đi theo hình bóng trẻ tuổi của mình cách một khoảng ngắn, cuối cùng ngàng qua hai cánh cổng sắt để vào một khoảnh sân trống trải phía trước một tòa nhà vuông vức khá kiên cố có hàng rào song sắt cao bao quanh. Thầy Dumbledore trẻ leo lên những bậc thềm dẫn đến cửa chính và gõ một lần. Chỉ một hai tích tác sau, cánh cửa được một cô gái chếch nhác đeo tạp dề mở ra.
“Chào cô. Tôi có hẹn với bà Cole, người mà theo tôi nghĩ là quản lý ở đây?”
“À,” cô gái nói, trông rõ vẻ bối rối vì bộ dnagj kỳ cục của thầy Dumbledore. “Ưm... chỉ chút xíu... BÀ COLE!” Cô ta ngoái đầu ra sau rống lên.
Harry nghe một giọng nói ở xa quát to điều gì đó để đáp trả. Cô gái quay lại thầy Dumbledore nói: “Mời vào, bà ấy ra ngay.”
Thầy Dumbledore trẻ bước vào một hành lang lát gạch đen trắng; toàn cảnh nơi ấy trông sơ sài nhưng sạch như li như lau. Harry và cụ Dumbledore đi theo. Trước khi cánh cửa đóng lại sau lưng họ, một người đàn bà da bọc xương vẻ mặt phiền muộn lật đật đi về phía họ. Bà ta có một gương mặt sắc cạnh có vẻ lo âu nhiều hơn là ác độc, bà ta vừa đi về phía thầy Dumbledore vừa ngoái đầu ra sau nói với một người giúp việc đeo tạp dề khác.
“...và đem i-ốt lên lầu cho Martha, Billy Stubbs cứ gỡ ghẻ của nó và Eric Whalley thì rỉ mủ ra khắp khăn trải giường – bệnh trái rạ trên hết mọi thứ,” bà ta không nói với người nào cụ thể, và rồi bà gặp phải thầy Dumbledore và bà đứng lặng người giữa lối đi, có vẻ kinh ngạc như thể thấy một con hươu cao cổ vừa mới bước qua ngưỡng cửa nhà bà.
“Chào bà,” thầy Dumbledore nói, giơ một bàn tay ra. Bà Cole chỉ há hốc mồm.
“Tên tôi là Albus Dumbledore. Tôi đã gửi cho bà một lá thư xin được gặp và bà đã tử tế mời tôi đến đây vào ngày hôm nay.”
Bà Cole chớp mắt. Dường như quyết định rằng thầy Dumbledore không phải là một ảo giác, bà nói giọng yếu ớt, “À phải. Thôi... thôi thì... Anh nên đi vào phòng của tôi. Vâng.”
Bà dẫn thầy Dumbledore vào một căn phòng nhỏ có vẻ như nửa là phòng khách nửa là phòng làm việc. Nó cũng sơ sài như hành lang và bàn này ghế nọ không đồng bộ. Bà mời thầy Dumbledore ngồi xuống một cái ghế ọp ẹp và tự bà cũng ngồi xuống phía sau một cái bàn làm việc bừa bộn lộn xộn, trố mắt nhìn thầy lo lắng.
“Tôi đến đây, như tôi đã viết cho bà trong lá thư, để thảo luận về Tom Riddle và thu xếp tương lai cho cậu bé,” thầy Dumbledore nói.
“Ông là thân nhân của nó à?” Bà Cole hỏi.
“Không, tôi là một giáo viên,” thầy Dumbledore nói. “Tôi đến đây để đề nghị Tom vào học ở trường của tôi.”
“Vậy trường của ông là trường gì?”
“Tên trường là Hogwarts,” thầy Dumbledore nói.
“Và vì sao ông lại quan tâm đến Tom?”
“Chúng tôi tin là cậu bé có những phẩm chất mà chúng tôi đang tìm kiếm.”
“Có phải ý ông nói là nó xin được học bổng? Nó làm sao mà xin được? Nó chưa bao giờ nộp đơn xin cái nào.”
“À, tên của cậu bé đã được ghi sẵn trong trường từ khi mới được sinh ra...”
“Ai ghi danh cho nó? Cha mẹ nó à?”
Chắc chắn bà Cole là một người đàn bà sắc sảo phiền phức. Dường như thầy Dumbledore cũng nghĩ như vậy, bởi vì giwof đây Harry thấy thầy rút nhẹ cây đũa phép ra khỏi túi của bộ đồ nhung đồng thời cầm lên một tờ giấy trắng bóc trên bàn của bà Cole.
“Đây,” thầy Dumbledore nói, vẫy cây đũa phép một cái khi thầy đưa miếng giấy cho bà Cole, “tôi nghĩ cái này sẽ khiến cho mọi thứ được rõ ràng.”
Mắt bà Cole lé đi rồi ngay lại khi bà chăm chú nhìn vào tờ giấy trắng một hồi.
“Có vẻ hoàn toàn hợp lệ,” bà nói vẻ yên tâm, đưa lại tờ giấy. Kế đến bà ngó thấy một chai rượu gin và hai cái ly mà chắc chắn là không hề tồn tại trước đó vài giây.
“Ơ... cho phép tôi được mời anh một ly rượu gin nhé?” bà nói bằng một giọng cực kỳ tao nhã.
“Cám ơn bà nhiều lắm,” thầy Dumbledore nói, tươi cười.
Bà Cole chẳng mấy chốc đã tỏ rõ bà không phải tay mơ về chuyện uống rượu gin. Rót cho cả hai người những ly rượu đầy ắp, bà uống một hơi cạn ly của bà. Chép môi sảng khaois một cách thẳng thắn, bà mỉm cười với thầy Dumbledore lần đầu tiên, và thầy không chần chừ gì mà không tận dụng ngay cơ hội thuận lợi này.
“Tôi đang tự hỏi liệu bà có thể kể cho tôi nghe tiểu sử của tom Riddle không? Tôi nghĩ cấu ấy chào đời ở viện mồ côi này thì phải?”
“Đúng vậy,” bà Cole nói, tự rót thêm rượu gin cho mình. “Tôi nhớ chuyện đó rõ như bất cứ chuyện nào khác, bởi vì tôi cũng chỉ mới bắt đầu làm việc ở đây vào lúc đo. Đêm giao thừa lạnh thấu xương, anh biết đấy, tuyết rơi dữ lắm. Đêm quái quỉ. Và cô gái ấy, không lớn tuổi hơn tôi lắm vào lúc đó, lê lết bước lên bực thềm cửa chính. Ôi, cô ta chẳng phải người đầu tiên. Chúng tôi đưa cô vào, và trong vòng một giờ đồng hồ sau cô ấy sanh ra đứa bé.”
Bà Cole gật gù một cách đầy ấn tượng và làm thêm một ngụm gin thiệt to nữa.
“Cô ấy có nói điều gì trước khi chết không?” Thầy Dumbledore hỏi. “Điều gì về cha của đứa bé chẳng hạn?”
“À, có đấy, như vẫn thường xảy ra,” bà Cole nói, lúc này bà ta dường như đang cao hứng, với ly rượu gin trong tay và một thính giả háo hức muốn nghe bà kể chuyện. “Tôi nhớ cô ấy nói với tôi: “tôi hy vọng bé giống cha bé” và tôi không nói dối đâu nhé, cô ấy hy vọng như thế là đúng, bởi vì cô ấy xấu ơi là xấu – và rồi cô ấy bảo tôi đặt tên cho bé là Tom, theo tên ba của bé, và Marvolo, theo tên bố cô ta –vâng, tôi biết, tên buồn cười nhỉ? Chúng tôi đã thắc mắc phải chăng cô ấy đến từ một gánh xiếc – và cô ấy nói họ của đứa bé kia là Riddle. Và cô ấy chết ngay sau đó, không thốt thêm lời nào.”
“Thế là chúng tôi đặt tên cho đứa bé ý như lời cô ấy dặn, dường như điều đó quan trọng đối với cô gái tội nghiệp ấy, nhưng chẳng thấy Tom hay Marvolo hay bất cứ Riddle nào đó đến đây tìm đứa bé, cũng chẳng có thân nhân nào cả, thành ra đứa bé ở lại viện mồ côi, và đã ở đây từ bấy đến giờ.”
Gần như lơ đãng, bà Cole lại tự chuốc cho mình một ly rượu gin đầy ắp khác. Hai đốm hồng hồng đã hiện trên đôi gò má cao của bà. Rồi bà nói, “Nó là một thằng bé lạ lắm.”
“Vâng,” thầy Dumbledore nói. “Tôi tin là cậu ấy có thể khác thường.”
“Hồi còn sơ sinh nó cũng đã lạ rồi. Nó hầu như không khóc bao giờ, ông hiểu chứ. Và rồi, khi lớn thêm một tí, nó... kỳ quái lắm.”
“Kỳ quái như thế nào?” Thầy Dumbledore nhã nhặn hỏi.
“Chà, nó...”
Nhưng bà Cole chợt ghìm lại, và ánh mắt dò hỏi qua ly rượu gin của bà về phía thầy Dumbledore không mơ hồ hay vớ vẩn chút nào.
“Ông nói là chắc chắn nó được nhận vô trường của ông hả?”
“Chắc chắn,” thầy Dumbledore nói.
“Và không có điều gì tôi nói ra có thể thay đổi điều đó chứ?”
“Không,” thaayd Dumbledore nói.
“Dù gì đi nữa ông cũng đem thằng bé đi chứ?”
“Dù gì đi nữa,” thầy Dumbledore trang nghiêm lặp lại.
Riddle bí ẩn
Kattie được chuyển qua bệnh viện Thánh Mungo chuyên Điều trị thương tích và Bệnh tật pháp thuật vào ngày hôm sau, vào lúc đó thì tin cô bé bị ếm ma thuật đã lan ra khắp trường, mặc dù chi tiết khá rối rắm và ngoại trừ Harry, Ron, Hermione, Leanne, có vẻ không ai biết rằng bản thân Katie không phải là mục tiêu được nhắm tới.
“Ôi, dĩ nhiên Malfoy thì biết chứ,” Harry nói với Ron và Hermione, hai đứa này cứ tiếp tục chính sách mới của tụi nó là giả điếc mỗi khi Harry nhắc tới lý thuyết Malfoy-là-một-Tử-thần-thực-tử.
Harry đã lo lắng không biết cụ Dumbledore có từ đâu đó trở về đúng hẹn cho buổi học tối thứ hai không, nhưng bởi vì chẳng nhận được thông báo nào hoãn lại, nên nó tự trình diện trước văn phòng cụ Dumbledore vào lúc tám giờ đúng, gõ cửa, và được mời vào. Kia cụ Dumbledore ngồi đó, trông mệt mỏi khác thường; bàn tay của cụ vẫn cháy khô đen đúa như lâu nay, nhưng cụ mỉm cười khi ra dấu cho Harry ngồi xuống. Cái chậu tưởng Ký lại được đặt trên bàn, hắt những đốm sáng óng ánh bạc lên trần.
“Con đã khá bận rộn trong thời gian thầy đi vắng,” cụ Dumbledore nói. “Ta tin là con đã chứng kiến tai nạn của Katie.”
“Dạ, thưa thầy. Bạn ấy sao rồi ạ?”
“Vẫn chưa được khỏe lắm, mặc dù trò ấy khá may mắn. Trò ấy dường như chỉ chạm nhẹ vào xâu chuỗi với một diện tích da rất nhỏ bị tiếp xúc; có một cái lỗ nhỏ xíu trên găng tay trò ấy. Nếu trò ấy mà đeo xâu chuỗi ấy vô, thậm chí nếu trò ấy cầm xâu chuỗi mà không đeo găng tay, thì trò ấy đã chết rồi, có thể ngay lập tức. May thay giáo sư Snape đã hành động kịp thời để ngăn chặn không cho bùa ếm đó phát tán nhanh chóng...”
“Sao lại ông ấy?” Harry hỏi ngay. “Sao không phải là bà Pomfrey?”
“Láo xược,” một giọng nói nhỏ vang lên từ một trong những bức chân dung trên tường, và cụ Phineas Nigellus Black, ông cố tổ của chú Sirius, ngóc đầu lên khỏi hai cánh tay, hình như vẫn được cụ coi như cái gối kê đầu để ngủ. “Ta không đời nào cho phép một học sinh hỏi vặn vẹo trong trường Hogwarts thời mà ta còn điều hành.”
“Vâng, cám ơn cụ Phineas,” cụ Dumbledore dỗ yên. “Giáo sư Snape biết nhiều hơn bà Pomfrey về Nghệ thuật hắc ám, Harry à. Dù sao đi nữa thì nhân viên bệnh viện Thánh Mungo đang gửi tường trình hàng giờ cho thầy, và thầy hy cọng Katie sẽ sớm bình phục hoàn toàn.”
“Thưa thầy, thầy đi đâu hồi cuối tuần rồi ạ?” Harry hỏi, bất chấp một cảm giác mạnh mẽ là có thể nó đang liều mạng, một cảm giác dường như được cụ Phineas Nigellus chia sẻ, cụ huýt gió khe khẽ.
“Bây giờ thì thầy không tiện nói,” cụ Dumbledore nói. “Tuy nhiên, khi nào đúng lúc thì thầy sẽ nói cho con biết.”
“Thầy sẽ nói hả?” Harry hấp tấp nói.
“Ừ, thầy định vậy,” cụ Dumbledore nói, vừa rút trong túi áo ra một cái chai mới chứa những ký ức lóng lánh bạc và mở nút chai bằng một cái gõ của cây đũa phép.
“Thưa thầy,” Harry lại ngập ngừng nói, “con đã gặp lão Mundungus ở Hogsmeade.”
“À phải, thầy đã biết về việc Mundungus nhẹ tay nẫng tài sản thừa kế của con,” cụ Dumbledore nói, hơi cau mày. “Lão ta đã lặn mất tiêu từ lúc con bắt quả tang lão bên ngoài quán Ba Cây chổi; Thầy nghĩ lão sợ giáp mặt thầy. Tuy nhiên, con có thể yên tâm là lão sẽ không thể nào ăn cắp thêm bất cứ cái gì nữa trong tài sản trước đây của chú Sirius.”
“Lão già lai ghẻ lở ấy ăn cắp của gia truyền của dòng họ Black à?” Cụ Phineas Nigellus nói, cụ điên tiết lên, và chuồn ra khỏi cái khung tranh của mình, chắc chắn là để về thăm cái chân dung của cụ ở số mười hai đường Grimmauld.
“Thưa thầy,” Harry nói, sau một khoảng ngắn nín thinh. “Giáo sư McGonagall có nói với thầy điều con đã thưa với cô ấy sau khi Katie bị thương không? Về Draco Malfoy ấy ạ?”
“Có, cô ấy có nói với thầy về sự nghi ngờ của con,” Cụ Dumbledore nói.
“Và thầy có...?”
“Thầy sẽ tiến hành những biện pháp thích đáng để điều tra bất cứ ai có nhúng tay vào tai nạn của Katie,” cụ Dumbledore nói. “Nhưng điều thầy bận tâm lúc này, Harry à, là bài học của chúng ta.”
Harry cảm thấy hơi bực mình về chuyện này: nếu buổi học của thầy trò nó quan trọng như thế, tại sao buổi học thứ nhì lại cách xa buổi học thứ nhất dữ vậy? Tuy nhiên, nó không nói gì thêm về Draco Malfoy, mà chỉ ngồi nhìn khi cụ Dumbledore rót cái ký ức mới vào trong cái Tưởng Ký, và bưng cái chậu đá giữa hai bàn tay với những ngón tay rất dài, cụ bắt đầu xoay cái chậu đá một lần nữa.
“Thầy biết chắc con vẫn nhớ rằng chúng ta đã rời câu chuyện về thuở ban đầu của Chúa tể Voldermort ở chỗ chàng Muggle trẻ tuổi đẹp trai Tom Riddle đã bỏ rơi cô vợ phù thủy Merope, để trở về nhà mình ở làng Hangleton Nhỏ. Merope bị bỏ lại một mình ở London, bụng mang dạ chửa đứa bé sau này sẽ trở thành Chúa tể Voldermort.”
“Thưa thầy, làm sao thầy biết là cô ấy ở London?”
“Bởi vì có chứng cớ của ông Caractacus Burke,” cụ Dumbledore nói, “ông này, do một ngẫu nhiên kỳ lạ, đã giúp thành lập chính cái tiệm xuất xứ của xâu chuỗi mà chúng ta vừa thảo luận.”
Cụ sàng đãi nội dung của cái Tưởng Ký như Harry đã từng thấy cụ sàng đãi trước đây, rất giống cách những người thợ mỏ vàng sàng đãi quặng để tìm vàng. Dâng lên trên cái khối óng ánh bạc đang xoay tít là một người đàn ông từ từ xoay vòng vòng trong cái Tưởng Ký, ban đầu bạc trắng như ma nhưng rắn chắc hơn dần, với một mái tóc phủ kín cả mắt.
“Vâng, chúng tôi có được nó trong một trường hợp lạ lùng. Một phù thủy trẻ đem nó đến trước lễ Noel, ôi, cách đây nhiều năm rồi. Cô ta nói cô ta cần vàng ghê lắm, chà, điều đó rất hiển nhiên. Cô ta ăn mặc rách rưới và coi bộ chẳng bao lâu nữa... sẽ có em bé. Cô ta nói sợi dây chuyền là của dòng họ Slytherin. Ối, lúc nào tôi cũng nghe những câu chuyện tương tự như vậy, “Ôi, đây là di vật của dòng họ Merlin, đây là cái bình trà cưng của ngài.” Nhưng khi tôi nhìn kỹ nó, thì nó có dấu hiệu của Ngài Slytherin hẳn hoi, và chỉ cần vài phép bùa chú đơn giản là tôi biết được đồ thật. Dĩ nhiên điều đó khiến nó vô giá. Cô ta lại dường như không biết chút gì giá cả của vật đó. Vui vẻ mà nhận mười Galleon đánh đổi vật đó. Món hời nhất mà tôi từng mua!”
Cụ Dumbledore lắc cái chậu Tưởng Ký một cái thiệt mạnh và ông Caractacus Burke lặn trở xuống mớ ký ức xoay tít, chỗ mà ông ta đã từ đó hiện ra.
“Ông ta chỉ trả cô ấy mười Galleon thôi à?” Harry phẫn nộ nói.
“Ông Caractacus Burke không nổi tiếng lắm về tính hào phóng,” cụ Dumbledore nói. “Vậy là chúng ta biết, lúc gần sanh, Merope đã một mình ở London và cần vàng ghê gớm, cần đến nỗi phải bán đi tài sản có giá trị duy nhất, sợi dây chuyền vốn là một trong những di sản gia truyền quý báu của Marvolo.”
“Nhưng cô ta có thể phù phép mà!” Harry sốt ruột nói. “Cô ta có thể tự kiếm đồ ăn và mọi thứ cho mình bằng Pháp thuật, đúng không ạ?”
“À,” cụ Dumbledore nói, “có lẽ cô ta có thể làm vậy. Nhưng thầy tin – và một lần nữa thầy chỉ đoán mà thôi, nhưng thầy tin là thầy đúng – rằng khi bị chồng bỏ, Merope đã thôi dùng Pháp thuật. Thầy nghĩ cô ta không muốn là phù thủy nữa. Dĩ nhiên, cũng có thể tình yêu không được đáp lại của cô ta và nỗi tuyệt vọng kèm theo đã làm cạn kiệt sức mạnh của cô; điều đó có thể xảy ra lắm. Đằng nào đi nữa, như con sắp sửa thấy đây, Merope từ chối giơ cây đũa phép lên, cho dù để cứu chính mạng sống của mình.”
“Cô ta thậm chí không sống vì đứa con mình sao?”
Cụ Dumbledore nhướn chân mày lên, “Con còn có thể cảm thấy thương xót Chúa tể Voldermort ư?”
“Không,” Harry nói nhanh, “nhưng cô ta có thể lựa chọn, đúng không, chẳng giống như mẹ của con....”
“Mẹ của con cũng có quyền lựa chọn,” cụ Dumbledore nhẹ nhàng nói. “Đúng vậy, Merope Riddle đã chọn cái chết bất chấp đứa con trai đang cần đến cô ta, nhưng đừng phán xét cô ta khắc nghiệt quá, Harry à. Cô ta đã suy yếu đi rất nhiều vì nỗi đau khổ kéo dài và cô ta chưa bao giờ có được lòng can đảm như mẹ con. Và bây giờ nếu con chịu đứng yên...”
“Chúng ta sẽ đi đâu?” Harry hỏi, khi cụ Dumbledore đến đứng cạnh nó trước cái bàn.
“Lần này,” cụ Dumbledore nói, “chúng ta sẽ đi vào ký ức của thầy. Thầy nghĩ con sẽ thấy ký ức của thầy phong phú, chi tiết và chính xác mỹ mãn. Mời con đi trước, Harry...”
Harry cúi xuống cái Tưởng Ký; mặt nó chạm vào bề mặt mát lạnh của ký ức và rồi nó rơi xuyên qua bóng tối một lần nữa... Vài giây sau, chân nó chạm mặt đất cứng; nó mwor mắt ra và thấy nó với cụ Dumbledore đang đứng trên một đường phố London cổ kính và khá náo nhiệt.
“Thầy kia kìa,” cụ Dumbledore hớn hở nói, vừa chỉ về phía trước nơi một dáng người cao đang băng qua đường trước chiếc xe ngựa kéo chở sữa.
Chòm râu và mái tóc dài của chàng trai Albus Dumbledore trẻ tuổi này màu nâu vàng. Sau khi qua tới lề đường mà hai thầy trò nó đang đứng, cậu ta rảo bước đi dọc theo lề đường, thu hút những cái liếc mắt tò mò nhờ bộ đồ nhung màu mận được may cắt đỏm dáng mà cậu ta đang mặc.
“Thưa thầy bộ đồ đẹp quá,” Harry buột miệng nói không kềm lại được, nhưng cụ Dumbledore chỉ chắt lưỡi khoái trá đi theo hình bóng trẻ tuổi của mình cách một khoảng ngắn, cuối cùng ngàng qua hai cánh cổng sắt để vào một khoảnh sân trống trải phía trước một tòa nhà vuông vức khá kiên cố có hàng rào song sắt cao bao quanh. Thầy Dumbledore trẻ leo lên những bậc thềm dẫn đến cửa chính và gõ một lần. Chỉ một hai tích tác sau, cánh cửa được một cô gái chếch nhác đeo tạp dề mở ra.
“Chào cô. Tôi có hẹn với bà Cole, người mà theo tôi nghĩ là quản lý ở đây?”
“À,” cô gái nói, trông rõ vẻ bối rối vì bộ dnagj kỳ cục của thầy Dumbledore. “Ưm... chỉ chút xíu... BÀ COLE!” Cô ta ngoái đầu ra sau rống lên.
Harry nghe một giọng nói ở xa quát to điều gì đó để đáp trả. Cô gái quay lại thầy Dumbledore nói: “Mời vào, bà ấy ra ngay.”
Thầy Dumbledore trẻ bước vào một hành lang lát gạch đen trắng; toàn cảnh nơi ấy trông sơ sài nhưng sạch như li như lau. Harry và cụ Dumbledore đi theo. Trước khi cánh cửa đóng lại sau lưng họ, một người đàn bà da bọc xương vẻ mặt phiền muộn lật đật đi về phía họ. Bà ta có một gương mặt sắc cạnh có vẻ lo âu nhiều hơn là ác độc, bà ta vừa đi về phía thầy Dumbledore vừa ngoái đầu ra sau nói với một người giúp việc đeo tạp dề khác.
“...và đem i-ốt lên lầu cho Martha, Billy Stubbs cứ gỡ ghẻ của nó và Eric Whalley thì rỉ mủ ra khắp khăn trải giường – bệnh trái rạ trên hết mọi thứ,” bà ta không nói với người nào cụ thể, và rồi bà gặp phải thầy Dumbledore và bà đứng lặng người giữa lối đi, có vẻ kinh ngạc như thể thấy một con hươu cao cổ vừa mới bước qua ngưỡng cửa nhà bà.
“Chào bà,” thầy Dumbledore nói, giơ một bàn tay ra. Bà Cole chỉ há hốc mồm.
“Tên tôi là Albus Dumbledore. Tôi đã gửi cho bà một lá thư xin được gặp và bà đã tử tế mời tôi đến đây vào ngày hôm nay.”
Bà Cole chớp mắt. Dường như quyết định rằng thầy Dumbledore không phải là một ảo giác, bà nói giọng yếu ớt, “À phải. Thôi... thôi thì... Anh nên đi vào phòng của tôi. Vâng.”
Bà dẫn thầy Dumbledore vào một căn phòng nhỏ có vẻ như nửa là phòng khách nửa là phòng làm việc. Nó cũng sơ sài như hành lang và bàn này ghế nọ không đồng bộ. Bà mời thầy Dumbledore ngồi xuống một cái ghế ọp ẹp và tự bà cũng ngồi xuống phía sau một cái bàn làm việc bừa bộn lộn xộn, trố mắt nhìn thầy lo lắng.
“Tôi đến đây, như tôi đã viết cho bà trong lá thư, để thảo luận về Tom Riddle và thu xếp tương lai cho cậu bé,” thầy Dumbledore nói.
“Ông là thân nhân của nó à?” Bà Cole hỏi.
“Không, tôi là một giáo viên,” thầy Dumbledore nói. “Tôi đến đây để đề nghị Tom vào học ở trường của tôi.”
“Vậy trường của ông là trường gì?”
“Tên trường là Hogwarts,” thầy Dumbledore nói.
“Và vì sao ông lại quan tâm đến Tom?”
“Chúng tôi tin là cậu bé có những phẩm chất mà chúng tôi đang tìm kiếm.”
“Có phải ý ông nói là nó xin được học bổng? Nó làm sao mà xin được? Nó chưa bao giờ nộp đơn xin cái nào.”
“À, tên của cậu bé đã được ghi sẵn trong trường từ khi mới được sinh ra...”
“Ai ghi danh cho nó? Cha mẹ nó à?”
Chắc chắn bà Cole là một người đàn bà sắc sảo phiền phức. Dường như thầy Dumbledore cũng nghĩ như vậy, bởi vì giwof đây Harry thấy thầy rút nhẹ cây đũa phép ra khỏi túi của bộ đồ nhung đồng thời cầm lên một tờ giấy trắng bóc trên bàn của bà Cole.
“Đây,” thầy Dumbledore nói, vẫy cây đũa phép một cái khi thầy đưa miếng giấy cho bà Cole, “tôi nghĩ cái này sẽ khiến cho mọi thứ được rõ ràng.”
Mắt bà Cole lé đi rồi ngay lại khi bà chăm chú nhìn vào tờ giấy trắng một hồi.
“Có vẻ hoàn toàn hợp lệ,” bà nói vẻ yên tâm, đưa lại tờ giấy. Kế đến bà ngó thấy một chai rượu gin và hai cái ly mà chắc chắn là không hề tồn tại trước đó vài giây.
“Ơ... cho phép tôi được mời anh một ly rượu gin nhé?” bà nói bằng một giọng cực kỳ tao nhã.
“Cám ơn bà nhiều lắm,” thầy Dumbledore nói, tươi cười.
Bà Cole chẳng mấy chốc đã tỏ rõ bà không phải tay mơ về chuyện uống rượu gin. Rót cho cả hai người những ly rượu đầy ắp, bà uống một hơi cạn ly của bà. Chép môi sảng khaois một cách thẳng thắn, bà mỉm cười với thầy Dumbledore lần đầu tiên, và thầy không chần chừ gì mà không tận dụng ngay cơ hội thuận lợi này.
“Tôi đang tự hỏi liệu bà có thể kể cho tôi nghe tiểu sử của tom Riddle không? Tôi nghĩ cấu ấy chào đời ở viện mồ côi này thì phải?”
“Đúng vậy,” bà Cole nói, tự rót thêm rượu gin cho mình. “Tôi nhớ chuyện đó rõ như bất cứ chuyện nào khác, bởi vì tôi cũng chỉ mới bắt đầu làm việc ở đây vào lúc đo. Đêm giao thừa lạnh thấu xương, anh biết đấy, tuyết rơi dữ lắm. Đêm quái quỉ. Và cô gái ấy, không lớn tuổi hơn tôi lắm vào lúc đó, lê lết bước lên bực thềm cửa chính. Ôi, cô ta chẳng phải người đầu tiên. Chúng tôi đưa cô vào, và trong vòng một giờ đồng hồ sau cô ấy sanh ra đứa bé.”
Bà Cole gật gù một cách đầy ấn tượng và làm thêm một ngụm gin thiệt to nữa.
“Cô ấy có nói điều gì trước khi chết không?” Thầy Dumbledore hỏi. “Điều gì về cha của đứa bé chẳng hạn?”
“À, có đấy, như vẫn thường xảy ra,” bà Cole nói, lúc này bà ta dường như đang cao hứng, với ly rượu gin trong tay và một thính giả háo hức muốn nghe bà kể chuyện. “Tôi nhớ cô ấy nói với tôi: “tôi hy vọng bé giống cha bé” và tôi không nói dối đâu nhé, cô ấy hy vọng như thế là đúng, bởi vì cô ấy xấu ơi là xấu – và rồi cô ấy bảo tôi đặt tên cho bé là Tom, theo tên ba của bé, và Marvolo, theo tên bố cô ta –vâng, tôi biết, tên buồn cười nhỉ? Chúng tôi đã thắc mắc phải chăng cô ấy đến từ một gánh xiếc – và cô ấy nói họ của đứa bé kia là Riddle. Và cô ấy chết ngay sau đó, không thốt thêm lời nào.”
“Thế là chúng tôi đặt tên cho đứa bé ý như lời cô ấy dặn, dường như điều đó quan trọng đối với cô gái tội nghiệp ấy, nhưng chẳng thấy Tom hay Marvolo hay bất cứ Riddle nào đó đến đây tìm đứa bé, cũng chẳng có thân nhân nào cả, thành ra đứa bé ở lại viện mồ côi, và đã ở đây từ bấy đến giờ.”
Gần như lơ đãng, bà Cole lại tự chuốc cho mình một ly rượu gin đầy ắp khác. Hai đốm hồng hồng đã hiện trên đôi gò má cao của bà. Rồi bà nói, “Nó là một thằng bé lạ lắm.”
“Vâng,” thầy Dumbledore nói. “Tôi tin là cậu ấy có thể khác thường.”
“Hồi còn sơ sinh nó cũng đã lạ rồi. Nó hầu như không khóc bao giờ, ông hiểu chứ. Và rồi, khi lớn thêm một tí, nó... kỳ quái lắm.”
“Kỳ quái như thế nào?” Thầy Dumbledore nhã nhặn hỏi.
“Chà, nó...”
Nhưng bà Cole chợt ghìm lại, và ánh mắt dò hỏi qua ly rượu gin của bà về phía thầy Dumbledore không mơ hồ hay vớ vẩn chút nào.
“Ông nói là chắc chắn nó được nhận vô trường của ông hả?”
“Chắc chắn,” thầy Dumbledore nói.
“Và không có điều gì tôi nói ra có thể thay đổi điều đó chứ?”
“Không,” thaayd Dumbledore nói.
“Dù gì đi nữa ông cũng đem thằng bé đi chứ?”
“Dù gì đi nữa,” thầy Dumbledore trang nghiêm lặp lại.