Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Thần nhân và thần thoại Tây Phương.

54 trả lời, 11.311 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-02-09 17:59:32ĐạoCấy>
 
 
Thần nhân và Thần thoại Tây Phương.
Mặc Đỗ.
Kiến Văn – Trương Vĩnh Ký - Phát Hành
35 Nguyễn đình Chiểu – Saigon 3.
1974.
 
 
 
 
Lời nói đầu.
 
Dụng ý của người biên soạn sách này nhằm đáp ứng một nhu cầu của các bạn sinh viên khi bước vào văn học phương Tây. Những điển tích thường đầy rẫy trong các bài văn chương rất xa lạ đối với người bước vào văn học Tây phương bằng chuyển ngữ Việt. Nếu cố công tra hỏi trong các tự điển hay tham khảo những sách vở ngoại ngữ, sự tích những Junon, Jupiter, Prométhée hay Sisyphe đều được diễn giải đầy đủ. Tuy nhiên công việc đó nhiều khi vượt quá khả năng và phương tiện của số đông các bạn sinh viên hiện thời.
Ý định đầu tiên của người biên soạn là cung cấp một tập tự điển nhỏ về các điển tích La – Hy thường gặp trong văn chương Tây phương. Các bạn sinh viên mỗi khi bỡ ngỡ trước một điển cố nào về thần thoại Tây phương có thể tìm trong đó một lời giải đáp ngắn và đủ.
Hình thức hoàn toàn tự điển xét ra không thích hợp vì thần thoại La – Hy là một khối những tương quan khá chặt chẽ, các thần nhân và các sự việc ràng buộc với nhau, có đầu có đuôi. Nếu muốn ta có thể tách rời từng thần nhân, từng sự việc, nhưng làm như vậy cuốn sách sẽ nặng vì đề cập tới một thần nhân ta sẽ bắt buộc phải kể đến nhiều đến nhiều thần nhân khác và sẽ phải làm ngược lại khi kể đến các thần nhân khác đó.
Bởi thế người biên soạn đã theo thứ tự lớp lang của các sự việc. Cuốn sách nhờ đó sẽ dễ đọc hơn và không chỉ là một cuốn tự điển riêng để tre hỏi mỗi khi cần đến mà thôi.
Để tiện sự tra cứu, ở cuối cuốn sách có một bản liệt kê theo thứ tự abc hết thảy những nhân danh có nói tới trong sách kèm với số trang. Cần tra cứu về một nhân danh hay địa danh nào, người đọc sẽ tìm thấy lời giải đáp nơi trang sách đã chỉ.
Khi biên soạn, Pháp văn được dùng làm căn bản nên hết thảy các nhân danh, địa danh đều ghi theo gốc Pháp. Một bản liệt kê thứ hai lấy Anh văn làm gốc cũng được in ở cuối sách, theo thứ tự abc. Người đọc chỉ cần đối chiếu, rồi kiếm ở bản liệt kê thứ nhất.
Sách được chia làm ba phần: phần thứ nhất nói về sự tích các thần nhân; phần thứ hai kể các thần thoại liên quan đến các thần nhân đó; phần thứ ba kể những thần thoại liên quan nhiều hơn tới các thần nhân thuộc loại nhì hoặc chỉ có tính cách địa phương.
Sau hết, người biên soạn cần nhắc rằng tập sách này chỉ là một công việc thâu góp và biên soạn. Bởi vậy cần ghi ơn các tác giả Anh và Pháp đã khai phá sẵn khu rừng thần thoại La – Hy.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-02-10 18:18:03ĐạoCấy>
Phần thứ nhất.
 
CÁC THẦN NHÂN.
 

 
Khởi thủy.

 
 
Thần thoại La – Hy cho rằng khi khai thiên lập địa khởi thủy có ba vị thần linh: thần Hỗn Mang, nữ thần Đêm Tối và thần Ái Tình. Thần Hỗn Mang kết hợp với nữ thần Đêm Tối sinh ra thần Định Mệnh. Thần nhân nay đui hai mắt có toàn quyền thống trị, mỗi khi phán quyết một điều gì lại ghi trên một quyển sách bằng đồng. Các thần nhân sau nay có thể dùng quyền lực của mình để ngưng việc thi hành những phán quyết đó, nhưng không thể cưỡng lại được.
 
Titéa, nữ thần Trái Đất.
 

Nữ thần Titéa, xuất hiện sau thần Định Mệnh và đồng thời với Tartare là một vực thẳm u tối kế bên Trái Đất. Titéa sinh ra Uranus, rồi thần Biển Cả và những thần nhân khổng lồ và độc long Cyclopes. Những thần nhân này bị Uranus đạp xuống vực thẳm Tartare.
 
Uranus.
 
Uranus kết hợp với Titéa sinh ra đám anh em Titan, gồm có: ngoài Titan, thần Đại Dương, Téthys, Céus, Hypérion tức thần Mặt trời, Japet, Rhéa hay Cybèle, Thémis, Mnémosyne và Saturne tức Cronos. Sau đó Titéa lại sinh thêm Briarée và Gyas là hai thần nhân đại lực mỗi người có năm mươi đầu và một trăm tay.
Uranus đạp hết thảy các con xuống vực thẳm Tartare. Titéa tức giận chế ra một lưỡi hái và xúi dục các con trả thù. Saturne lãnh nhiệm vụ đó và chém Uranus bị thương. Máu của Uranus rơi xuống đất nẩy sinh ra ba nữ thần Đại Nộ ( les Furies ); một giọt máu rơi xuống biển sinh ra nữ thần Venus.
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Saturne.
 
Saturne kết hợp với Rhéa lên ngôi tự trị thay thế Uranus. Titan viện thứ bậc huynh trưởng của mình để đòi địa vị đó, nhưng Titéa đứng ra dàn xếp: Titan sẽ kế vị Saturne sau khi Saturne chết và Saturne không được quyền có con trai. Từ đó hễ sinh được con nào, bất kể trai hay gái, Saturne đều ăn thịt hết. Ba người con đầu là Vesta, Cérés và Pluton chịu số phận đó. Tới khi Rhéa sinh hạ Jupiter và Junon, Saturne ăn thịt Junon, còn Jupiter được Rhéa đánh tráo bằng một cục đá rồi đưa tới đảo Créte giao cho các nữ thần Nymphes ( Sơn tinh và Thủy tinh ) nuôi giúp. Tại đó Jupiter bú sữa của con dê cái Amalthée trong khi các tu sĩ của Cybèle thay nhau nhảy múa, ca hát để ngăn không cho tiếng khóc của Jupiter lọt tới tai Saturne. Sau nay Jupiter nhớ ơn con dê Amalthée nên đưa nó lên trời cùng hai con dê non của nó. Jupiter lại lấy một cái sừng của Amalthée tặng cho các nữ thần Nymphes. Cái sừng đó có hiệu lực thỏa mãn bất kỳ sự ước muốn nào nên được mệnh danh sừng vô tận ( corne d’abondance ).
Titan phát giác ra sự gian lận đó bèn cùng các con đứng ra đối địch với em, Saturne bị thua và bị giam ở một nơi. Khi đó Jupiter còn nhỏ và tìm tới ra mắt cha. Theo lời khuyên của Métis, con gái của Đại Dương, Jupiter kiếm cho cha một liều thuốc nôn mửa; Saturne mửa ra bốn người con đã ăn thịt khi trước. Jupiter cùng với bọn anh em, và được sự trợ giúp của các thần Cyclopes với những mũi tên sấm sét. Đứng ra tranh đấu kịch liệt với Titan và các con. Jupiter dùng sấm sét đánh tan phe Titan và đưa Saturne lên ngôi ngự trị trở lại. Nhưng Saturne e ngại sức lực của Jupiter lập kế hại con, Jupiter nổi giận đánh đuổi Saturne ra khỏi nhà Trời và ngự trị thay thế chỗ của Saturne.
Bị đuổi xuống hạ giới, trở thành một thường nhân, Saturne tìm tới trú ngụ tại Ý, trên lãnh thổ của vua Janus. Nơi này sau được đổi tên là Latium. Đền đáp sự tiếp đón nồng hậu của vua Janus, Saturne dạy ông ta biết nhìn tiền vận và hậu vận của mọi người, dạy cho dân chúng tại đó biết công việc canh tác, và khiến cho khu vực đó trở nên trù phú đến độ được mang tên thời hoàng kim. Về sau dân chúng La Mã nhớ công ơn Saturne hằng năm có mở hội gọi là les Saturnales. Nhờ được phồn thịnh như vậy dân chúng La Mã trở nên ăn chơi phóng túng vô độ. Tại La Mã người ta có lập đền thờ vua Janus – tượng hình bằng một pho tượng có hai mặt ngó ra hai hướng khác nhau, để ám chỉ sự thấu hiểu cả quá khứ lẫn tương lai – ngôi đền này chỉ được đóng kín cửa những khi thái bình thịnh trị. Nhưng trong vòng bảy thế kỷ, ngôi đền chỉ được đóng cửa có ba lần:  lần thứ nhất dưới thời vua Numa Pompilius ( 714 – 761 trước Công Nguyên ), lần thứ hai sau trận chiến tranh giữa Rome và Carthage ( 218 – 201 trước Công Nguyên ) và lần thứ ba dưới triều vua Auguste ( 63 trước CN – 14 sau CN ).
Ngày thứ Bảy trong Tây lịch ( Saturday ) là ngày kỷ niệm Saturne.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Cybèle hay Rhéa.
 
Rhéa là em gái và cũng là vợ của Saturne tuy là con gái của Titéa, nữ thần của Trái đất, nhưng thường được coi chính thức là nữ thần của Trái đất dưới danh hiệu Cybèle để biểu dương cho sự phong nhiêu của thiên nhiên. Là mẹ của hấu hết các thần nhân nổi tiếng, Cybèle còn mang tên là Mẹ của các thần nhân. Bà Nội, vị nữ thần tốt lành hay Ops ( kho tàng ). Sau khi sinh ra Cybèle, Titéa đã bỏ phơi trong rừng, nhưng được các thú vật lo chăm sóc. Ban đầu dân ở Phrygie lập đền thờ Cybèle, sau tới dân ở đảo Crète, ở Hy Lạp, rồi sau cùng ở La Mã. Trên ngọn đồi Palatin, trong ngôi đền của thần Chiến Thắng, có một tảng đá không ra hình thù gì tượng trưng cho Cybèle và sự bền vững của Đế quốc La Mã. Nơi khác nữ thần Cybèle được tạc hình một người đàn bà vạm vỡ, ngồi trên một chiếc xe do bốn con sư tử kéo, tay cầm một cành cây hay một chiếc đai bằng gỗ Chéne, trên đầu có mang một chiếc vương miện hình một tòa thành. Cành Chéne biểu tượng cho món thực vật đầu tiên của loài người, tòa thành tượng trưng cho các đô thị mà Cybèle bảo trợ cho. Có pho tượng lại tả Cybèle tay cầm một chiếc chìa khóa ngụ ý nhắc tới kho tàng mà Trái đất mang trong bụng. Những tu sĩ coi đền thờ Cybèle ở Phrygie được gọi là Corybanthes và Galles, ở đảo Samothrace là Cabires, ở Créte là Curètes và Dactyles. Mỗi khi làm lễ họ theo nhau chạy quanh thần tượng theo nhịp và uốn éo người rất dẻo. Mỗi lần làm lễ cúng nữ thần Cybèle cũng rất là rộn ràng và sau đó bày ra những cuộc liên hoan rất ư phóng túng.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Jupiter hay Zeus.
 
Lên ngôi ngự trị, Jupiter giao biển cả cho Neptune, Địa ngục cho Pluton, còn mình chỉ giữ Thiên cung mà thôi. Jupiter cưới nữ thần Métis tức thần Lý trí. Nhưng rồi Jupiter cũng ăn thịt luôn vợ vì sợ rằng lời tiên tri của vợ sẽ thực hiện. Métis có một lần nói rằng Jupiter sẽ sinh ra một người con còn vũ dũng hơn cha nhiều. Sau đó Jupiter lại cưới nữ thần Thémis tức thần Công minh và là mẹ của Thời khắc; rồi nữ thần Eurynome, đẹp nhất trong đám Océanides là con gái của thần Đại Dương và nữ thần Téthys, Eurynome sau sinh ra ba nữ thần Duyên Dáng ( les trois Grâces ); rồi Cérès là em gái của Jupiter sau sinh ra Proserpine; rồi Mnémosyne tức nữ thần Trí Nhớ, sinh ra chin nữ thần Ly Tao ( Muses ); rồi nữ thần Latone, cũng là em gái của Jupiter, sinh ra Apollon và Diane, là những thần nhân xinh đẹp nhất; sau cùng tới Junon, cũng là em gái và  sẽ là vợ chánh thất, Junon sinh ra Hébé, Mars và Vulcain.
Jupiter phải đương đầu với cuộc giao tranh dữ dội với bọn Khổng Lồ, do Trái đất sinh ra. Đó là những quái nhân đuôi rắn có vảy. Các quái nhân này muốn trèo lên được ngọn núi Olympe phải chồng chất núi nọ lên núi kia, đem núi Ossa chồng lên núi Pélion. Hầu hết các thần nhân khác, kể cả Prométhée là con của Japet cũng hùa theo trợ giúp Jupiter, bọn Khổng Lồ bị thua, thần Encelade vũ dũng bị chon sống dưới núi Etna và từ đó vẫn còn lục đục ở dưới núi đó. Trái Đất muốn trả thù nên sinh ra một quái nhân còn ghê gớm hơn nhiều, đó thần Bão Táp đầu vươn tới các vì sao. Hai tay dang ra thấu tới hai đầu mỏm của Nhà Trời có mọc hàng trăm đầu rắn; hai bên đùi có cả ngàn con rắn độc dính chặt, mỗi khi chúng ngóc đầu lên lại phát ra những tiếng ghê rợn; mình mọc đầy lông cứng, còn mớ tóc dài buông xõa xuống vai luôn luôn được một cơn bão tố thổi tung lên. Khi các thần nhân trông thấy thần Bão táp lao mình lên ngọn núi Olympe đều hoảng sợ bỏ chạy hết, rồi trốn qua Ai Cập ẩn náu dưới hình thức các thú vật. Sau đó Jupiter bị bắt và giao cho một con rắn canh giữ. Nhưng thần Mercure khôn khéo đã giải cứu được Jupiter. Thần ngự trị ở núi Olympe khi đó bèn dùng sấm sét đánh tan thần Bão Táp và đẩy xuống vực Tartare.
Từ đó Jupiter ngự trị trên núi Olympe không còn bị phá rối nữa. Chỉ một lần Junon nổi giận vì tính háo sắc của Jupiter mưu toan xúi bẩy các thần nhân nổi lên chống lại Jupiter. Cuộc âm mưu đương tiến triển thì nữ thần dưới biển cả Thétis phát giác ra, Thétis đem Briarée với một trăm tay tới phò tá cho Jupiter khiến cho các thần nhân khác đành chịu im hơi. Jupiter trừng trị Junon bằng cách treo lơ lửng giửa Thiên cung và Trái đất bằng một sợi xích bằng vàng, hai chân còn đeo hai cái đe. Vulcain mon men tới bên mong giải cứu cho mẹ bị đạp nhào thẳng xuống đảo Lemnos, bị gãy hai chân và suốt đời bị què. Trên Thiên cung lại thái bình như cũ và Jupiter toàn quyền thống trị.
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-01 15:59:22ĐạoCấy>
Núi Olympe hay Thiên Cung.
 

 
Núi Olympe là nơi cư trú của các thần nhân. Theo tín ngưỡng của dân gian núi này, ở trên ngọn cao nhất trên dãy núi ở Hy Lạp. Đó là ngọn Olympe tại Thessalie. Vulcain có cất trên ngọn núi đó một thành phố ( la ville olympique ), đô thị này cao thấu tận trời. Jupiter ngồi trên một ngai vàng để cai trị cả hoàn vũ. Phụ tá Jupiter có một hội đồng mười hai thần nhân gồm toàn anh em, chị em gái hay con của Jupiter. Đó là Junon ngồi kế bên Jupiter; Nepturne : thần của các biển cả; Mercure con trai của Maia là con gái của thần khổng lồ Atlas; Appolon, Mars, Vulcain, Cérès, Minerve, Vesta, Diane và Vénus. Các thần nhân này thảo luận và định đoạt số phận của các thường nhân con cái của Prométhée. Những khi rỗi rãi, các thần nhân uống rượu nectar và dùng những món ăn trên thiên cung gọi là ambroisie
Đăng nhập để trả lời
0
Các nữ thần Van Nài ( les Prières ).
 
Ngự trị trên thiên Cung, Jupiter có toàn quyền chi phối các hiện tượng trong trời đất. Jupiter thấu suốt mọi sự việc và là vị thấn duy nhất có toàn quyền tự do chỉ bị hạn chế bởi Định mệnh. Quyền lực của Jupiter không những đối với không gian mà còn đối với loài người ở hạ giới. Các vua chúa ở hạ giới được sự bảo trợ của Jupiter, nhưng cũng như mọi dân chúng khác, phải chịu sự phán xét của Thiên cung. Những ai bị tội chỉ còn có cách là năn nỉ với những nữ thần Van Nài. Đó là những cô con gái tật nguyền của Jupiter, vốn ngoan ngoãn, luôn luôn phải lo chữa chạy những tai họa do Até, một cô chị chuyên môn làm ác và phá phách. Tóm lại Jupiter là biểu tượng của sức mạnh, công minh và tình thương.
Được tôn thờ ở toàn thể Hy lạp và La mã, đâu đâu cũng lập đền thờ. Ngôi đền chính được lập tại Elide, trên vùng núi Olympe. Dâng cúng Jupiter người ta dùng dê, cừu hay bò đực lông trắng hai sừng được nạm vàng, không bao giờ dâng cúng người. Có nơi chỉ dâng cúng bột, muối và trầm hương. Cây chéne là biểu tượng của Jupiter. Ở Elide trong rừng Dodone, những lời phán truyền của Jupiter được truyền qua tiếng xào xạc của những ngọn cây chéne. Loài vật được Jupiter ưa thích là chim đại bàng.
Ngày thứ năm là ngày của Jupiter.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-15 18:59:30ĐạoCấy>
Junon hay Héra.
 
 
Junon có đặc điểm là hai cánh tay rất trắng. bản tính kiêu ngạo và hay thù vặt, công việc chính của Junon là kiếm cách rửa hận với những cô vợ ở dưới trần thế của Jupiter cùng đám con cái của họ. Junon rất hay cáu kỉnh, núi Olympe thường vang tiếng la của Junon. Hết sức phản đối những thói tục buông thả, Junon lo săn sóc tới đám cưới của các con gái, đích thân đưa con gái tới phòng riêng và cũng trong nom cả mỗi khi có vụ sinh sản. Junon là biểu tượng sự thánh thiện giữa vợ chồng. Dựa vào quyền lực của Jupiter, Junon có toàn quyền thống trị, không khác gì Jupiter, trên các hiện tượng trong trời đất. Cuộc kết hợp giữa Jupiter và Junon là biểu tượng những cơn bão tố dưới trần thế và đồng thời cũng chứng minh sự phong phú của vũ trụ, Junon được thờ phụng tại các đô thị mà người cầm đầu chủ trương khắc khổ, chẳng hạn như Argos, Mycènes, Sparte và là thần nhân bản mệnh của La Mã.
Những khi dâng cúng dân gian dùng một con cừu non hay một con lợn cái. Không bao giờ dâng cúng bò cái vì trong thời chiến tranh giữa các thần nhân và bọn khổng lồ, Junon chạy trốn qua Ai Cập và đội lốt bò cái. Junon ưa nhất là loài công biết kêu.
Đăng nhập để trả lời
0
Minerve hay Athéné.
 
 
Sau khi ăn thịt bà vợ đầu tiên Métis, Jupiter bị nhức đầu không sao chịu nổi. Jupiter bèn sai con là Vulcain lấy búa táng một cú thật mạnh lên đầu. Cái sọ hé mở và nữ thần Minerve vụt nhảy ra trên đầu có mang mũ sắt, tay cầm thương, lanh lẹ hung tợn như tia chớp mà nữ thần này là biểu tượng.
Minerve là nữ thần rất mực thông minh, một nữ thần vừa hiếu chiến vừa chủ hòa, vì chỉ có sau khi chiến thắng mới có hòa bình. Nữ thần của chiến tranh, Minerve ưa tham gia những cuộc tính toán khó khăn và khuyến khích các bậc anh dũng phải có một tấm lòng can đảm biết bình tĩnh và suy xét. Nữ thần của hòa bình, Minerve bảo trợ các thù công nghiệp và công việc canh tác, đàn bà dệt vải được Minerve chỉ vẽ cho, các nhà thủ công và nghệ sĩ đủ mọi ngành, các công nhân về trí óc, các triết gia thi sĩ, các nàh hung biện đều được sự bảo trợ của Minerve. Với tư cách này Minerve là biểu tượng chân xác nhất của dân tộc Hy Lạp ưa hoạt động, khéo léo và nghệ sĩ một cách sâu sắc. Dân thành Athénes dựng tại khu Acropole một đền thờ nữ thần đồng trinh Minerve, tức là đền Parthenon, cứ bốn năm một lần lại bày ra cuộc tế lễ tưng bừng ( les Panathénées ).
Minerve còn mang tên Pallas, do tên một tướng khổng lồ mà Minerve giết chết khi chạy tới cứu Jupiter. Minerve là con gái yêu nhất của Jupiter. Trên ngực Minerve có đeo tấm égide ( danh từ Hy Lạp có nghĩa là con dê cái ) làm bằng da của con dê Amalthée, chỗ khuy có gắn cái đầu con sứa Gorgone, chung quanh có rắn quấn. Có nơi lại cho rằng égide là một tấm mộc bên trên có bao bằng da con dê Amalthée nhưng ở chỗ núm có gắn đầu con sứa Gorgone. Apollon, Jupiter và Minerve thường dùng tấm mộc đó để làm cho dân gian khiếp sợ và để báo mỗi khi sắp có bão tố.
Loài chim riêng của Minerve là con cú. Người ta cho rằng loài chim này tốt vì con mắt nó thấu suốt được đêm tối, cũng như óc thông minh thấu suốt được sự u ẩn của sự vật.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Apollon hay Phœbus.
 
Apollon  là anh em sinh đôi với Diane, và là con trai của Jupiter và Latone, con gái của Céus. Apollon sinh ra tại đảo Délos. Hòn đảo này do thần Nepturne vì cảm thương con gái của Céus bị Junon hạ lệnh cho nữ thần Trái Đất xua đuổi cho nên khiến nổi lên ở giữa biển Egée. Vừa lọt lòng ra Apollon  đã dùng mũi tên giết chết con rắn Python do bà vợ hay nghen của Jupiter sai tới ám hại Latone. Da con rắn dùng để bọc hòn đá trên đó bà đồng tiên tri ( pythonisse ) ở Delphes ngồi để giải những lời sấm ký. Để kỷ công tài vũ dũng của Apollon trên núi Parnasse, dân chúng thành Delphes cứ bốn năm lại mở hội một lần gọi là Jeux Pythiques.
Apollon xinh trai nhất trong số các thần nhân, nên được coi như vị thần linh của ánh sáng. Trước khi được về nhà Trời, Apollon bị một thời kỳ đày ải dưới hạ giới. Apollon dùng tên bắn bọn Cyclopes mà Apollon cho rằng đã có tội gây nên sấm sét để Jupiter dùng đánh con trai Apollon là Esculape. Về ở ẩn ở Thessalie, Apollon coi bầy thú vật cho vua Admète cho tới khi Jupiter phục hồi chức vị cho và sai Apollon phụ trách gieo rắc ánh sáng trên khắp mặt địa cầu.
Apollon thật ra không phải thần Mặt Trời. Thần Mặt Trời là một trong số anh em Titan tên là Hypérion. Apollon chỉ là một thần nhân đánh xe cho Hypérion. Ở nhiệm vụ này Apollon mang tên Phœbus, tức là ánh sáng chói lọi. Thần linh của ánh sáng và sức nóng, Apollon đem sức sống cho mọi sinh vật, giúp cho trái cây ương chin, lúa mì trổ bông; nhưng vì sức nóng, Apollon cũng làm cho mọi vật bị khô cháy, những mũi tên của Apollon cũng làm chết người được. Do đó Apollon cũng còn là vị thần linh của sự chết, của quân đội, lúc nào cũng vũ dũng và chiến thắng. Trái lại Apollon cũng tiêu diệt những chướng khí khiến cho không khí được trong lành. Cha của thần y dược Esculape, Apollon cũng giữ vai một danh y. Apollon không những làm cho thân thể được thanh sạch mà còn làm tan biến được những u ám trong tâm hồn, đem cái đẹp tới trước các thần nhân; những kẻ can phạm biết hối cãi đến cầu khẩn nơi thần Apollon; Apollon cũng làm dịu bớt những nỗi thắc mắc trong tư tưởng con người và khiến cho tính tình của con người trở nên hòa dịu hơn. Apollon cũng là thần nhân của ca nhạc, của âm điệu, của những nguồn cảm hứng. Apollon cầm đầu những nữ thần Ly Tao giáng mộng cho các nữ tu ở Délos, Ténédos, Claros, Patare, Cumes. La Mã trên ngọn núi Palatin, tại đó vua Auguste cho xây một tòa đền để dâng cúng vị thần linh mà nhà vua thờ cúng đặc biệt. Nhưng ở Delphes ngôi đền thờ Apollon đẹp nhất, lịch sự nhất, là được nổi tiếng hơn cả. Muốn lập một đô thị, một ấp mới, người ta lại cầu khấn tới Apollon, để được soi sáng khi thiết lập những luật lệ. Tại Hy Lạp, Apollon tham gia hầu hết mọi công việc liên quan tới công chúng.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-17 17:59:49ĐạoCấy>
Các nữ thần Ly Tao ( les Muses )
 
 
Các nữ thần Ly Tao do Apollon cầm đầu ban hợp xướng đều là con gái của Jupiter và Mnémosyne. Các nữ thần này hoặc ở trên núi Olympe ở Thessalie hay ở trên núi Piérus ở Macédoine ( do đó có thêm tên ( les Piérides ) hoặc trên núi Hélicon tại xứ Asera ở Béotie, hoặc trên núi Pinde ở giữa Epire và Thessalie, hoặc trong vùng Phocide trên hai mỏm núi Parnasse. Suối Hippocrène ở gần núi Hélicon, được dâng cúng cho các nữ thần Ly Tao. Suối Hippocrène do con ngựa có cánh Pégase, sinh ra do máu của con sứa Gorgone dùng móng đạp vào sườn núi Hélicon khiến con suối bật ra. Con ngựa Pégase thường chở trên lưng các thi sĩ và đưa họ đến tận trời. Pégase ăn cỏ quanh quẩn ở bên bờ suối Hippocrène, hay suối Castalie ở gần núi Parnase hoặc trên bờ song Permesse bắt nguồn từ trong lòng núi Hélicon. Các nữ thần Ly Tao gồm có tám vị và chủ trì hết mọi thứ nghệ thuật do trí não, không phân biệt riêng mỗi vị cho một môn nghệ thuật. Mãi sau này, từ thế kỷ thứ XVII, người ta mới căn cứ vào ý nghĩa các tên Hy Lạp để đặt định cho mỗi vị một bộ môn nghệ thuật riêng.
Clio ( nàng nổi danh ) là nữ thần của môn Sử học. Nữ thần này được biểu tượng tay trái mang cuốn sách với hàng chữ Thucydide, là tên một sử gia Hy Lạp thế kỷ thứ V trước Công Nguyên.
Euterpe ( nàng say người ) là nữ thần của âm nhạc. Nữ thần này được biểu tượng tay mặt cầm hai ống tiêu.
Thalie ( bông hoa tươi vui ) là nữ thần của hài kịch. Nữ thần này rất dễ nhận với chiếc mặt nạ cười nhăn cầm trên ty hay mang trên đầu.
Melpomène ( nàng đang hát ) là nữ thần của bi kịch. Thường thường nữ thần mang trên tay mặt nạ bi thảm của Hercule.
Terpsíchore (nàng ưa nghe hợp xướng ) là nữ thần của môn vũ.
Erato ( nàng đang yêu ) là nữ thần của ngành thi ca bi thiết.
Terpsíchose và Erato đều mang trên tay một cây đàn ly tao, nhưng Terpsíchose bao giờ cũng ngồi, còn Erato thì thường đứng như sẵn sàng nhảy múa trong một dáng điệu say mê.
Polymníe hay Polyhymníe ( nàng có nhiều bản ca ) không có nhiệm vụ rõ rệt. Thường hay bị lẫn với mẹ là nữ thần Mnémosyne, nữ thần của trí nhớ, được biểu tượng bằng một dáng điệu suy tư.
Uranie ( nàng trên trời ) là nữ thần của thiên văn học hay chiêm tinh học, được biểu tượng tay cầm trái cầu.
Calliope ( nàng xinh đẹp ) là nữ thần oai nghi và nhiều uy tín nhất trong đám chín nữ thần Ly Tao, chủ trì loại thi ca trường thiên oai hùng và sự hùng biện. Các thi sĩ thường thích khẩn cầu nữ thần để được cảm hứng. Nữ thần này được biểu tượng một tay cầm chiếc kèn đồng và tay kia mang một bài thơ trường thiên.
Những khi các nữ thần Ly Tao cùng going ( rong ) chơi, thần Apollon với tư cách người lãnh đạo các nữ thần ( Musagète ), đầu mang một vòng lá chiến thắng, tay cầm cây đàn ly tao, đi dẫn đầu mở đường.
Đăng nhập để trả lời
0
Mars hay Arès.
 
 
Mars là con của Jupiter với Junon. Người ta cho rằng Junon sinh ra Mars sau khi nghe lời nữ thần của mùa xuân Flore hít hương một bông thơm mọc tại cánh đồng Achaïe.
Mars là thần của chiến tranh, man rợ và hung hãn, ưa thích các vùng hoang dại ở miền bắc Hy Lạp, chẳng hạn như vùng Thrace, nơi thường có nhiều bão tố. Mars ưa chuyện chém giết đổ máu. Mars không giống như những thần nhân khác chỉ đứng về phe này hay phe kia; ngồi trên một chiếc xe ngựa, Mars tham dự một cách hung hãn các cuộc giao tranh; tiếng la hét vang lừng át cả tiếng hàng vạn người; đứng bên Mars – Bellone – vừa là em vừa là vợ của Mars, đầu tóc rũ rượi, mắt tóe lửa, vút trong không khí cây roi da vấy máu. Chiếc xe đi đến đâu reo rắc sự khủng khiếp chết chóc.
Người Hy Lạp không hề tôn sùng vị thần linh tàn ác và ngu độn, chính các thần nhân cũng thấy đáng ghê tởm. Dân Hy Lạp một phần nữa không tôn thờ Mars vì thấy tính cách thần nhân này trái ngược với bản chất ham nghệ thuật của họ. Trái lại, người La Mã lại chuộng và coi Mars như một thần nhân cao quí nhất, thần bản mệnh của cả quốc gia, cha đẻ của Romulus và Rémus . Ngay từ thời Numa Pompilius đã có lập đền thờ, có những tu sĩ chuyên trong coi ngôi đền tàng trữ mười hai tấm khiên ( anciles ). Tục truyền rằng một trong mười hai tấm đó rớt từ trên trời xuống, để khỏi bị đánh cắp người ta chế thêm mười một tầm giống hệt cùng để thờ một nơi. Các tu sĩ trông coi ngôi đền thờ đó mệnh danh là Salines. Mars vốn ưa những cuộc thao diễn tại đấu trường nên mỗi khi có bày ra những cuộc thịnh diễn như vậy đều có thiết lập ban thờ và các đầu trường đó được gọi là đấu trường của Mars ( champ de Mars ). Mỗi khi có chiến trận người ta cũng cầu cúng Mars và mỗi khi chiến thắng cũng dâng cúng nữa. Khác với Apollon, thần linh của sự chiến thắng, cầu Mars không hẳn là chắc chắn sẽ thắng.
Loài vật dâng cúng cho Mars là con chó sói, một loài vật hung ác và ưa đánh nhau. Người Sabin thờ thần Mars dưới biểu tượng một mũi giáo và mệnh danh thần linh này là Quirinus ( do chữ Hy Lạp cổ Quiris là mũi giáo ). Dân La Mã còn có tên là Quirites cũng nguyên do từ đó. Romulus con trai của Mars cũng có tên Quirinus. Trong niên lịch của người La Mã, tháng đầu năm mang tên Mars vì Mars được coi như vị thần linh chủ về các trận mưa bão đầu mùa và độ cho công việc cày bừa, đồng áng.
 Ngày thứ ba trong tuần là ngày của Mars.
Đăng nhập để trả lời
0
Mối tình vụng trộm của Mars và Vénus.
 
 
Mars và Vénus chia sẻ một mối tình vụng trộm. Sợ sáng ra Phœbus bắt gặp hai người với nhau. Mars vẫn đặt Alectryon đứng canh. Alectryon là đày tớ tin yêu nhất của Mars. Nhưng một bữa Alectryon ngủ quên mất, Phœbus bắt gặp chạy đi báo cho Vulcain, chồng của Vénus. Vulcain choàng lên đôi cặp một tấm lưới vô hình, rồi cho mời hết thảy chư thần ở núi Olympe tới chứng kiến. Mars cáu tiết biến Alectryon thành con gà trống. Từ đó mỗi khi ban mai khi mặt trời lấp ló là con gà Alectryon lên tiếng gáy báo hiệu
Đăng nhập để trả lời
0
Vénus hay Aphrodite.
 
 
Khi Uranus bị Saturne chém, máu rơi xuống biển nảy sinh ra Vénus. Từ dưới nước có nhuộm máu ngoi lên, Vénus trắng trẻo hồng hào được Zéphyre lấy một mảnh vỏ trai hứng lấy rồi đưa tới đảo Chypre giao cho các nữ thần Thời Khắc ( les Heures ) nuôi dưỡng và giáo dục trước khi đem lên núi Olympe.
Chư thần khi trông thấy Vénus đều trầm trồ khen ngợi và bầu cho là nữ thần của sắc đẹp. Để thưởng công cho Vulcain đã ra sức rèn đúc những mũi tên sấm sét cùng là chiếc ngai vàng và tòa lâu đài cho mình, Jupiter cho Vulcain lấy Vénus làm vợ. Vénus mang một  vòng đai trong đó chứa đựng những vẻ tốt đẹp say người của tuổi trẻ, vòng đai đó ai mang trên người cũng được trẻ đẹp như vậy. Tuy là thần cầm đầu cho ái tình, các trò vui chơi, mọi thứ duyên dáng cùng các cuộc vui đùa, Vénus cũng có khi nổi giận và giữ mãi thù hận; nếu bị đối xử lạnh nhạt Vénus trả thù một cách tàn nhẫn. Con của Vénus là Cupidon hay Eros do mối tình vụng trộm với Mars cũng đồng tính tình vừa dễ thương vừa tàn nhẫn như Vénus. Eros con của Vénus khác với thần Ái Tình thời khởi thủy, nên để phân biệt người ta thường gọi con trai Vénus là Cupidon. Khi hay tin Vénus sinh hạ Cupidon, Jupiter muốn tránh những tai họa sau này do vị thần của ái tình sẽ gây ra nên tìm cách sát hại đi, nhưng Vénus đem giấu kỹ trong rừng để cho các thú dữ cho Cupidon bú. Lớn lên vị thần dũng mãnh và luôn luôn tươi trẻ này chỉ thích dùng tên bắn thủng tim các thường nhân, để rồi Vénus tiếp tục đem những rối loạn do sự si mê làm tiêu tan mọi tinh thần trong tâm hồn thường nhân.
Tại Hy Lạp và La Mã, Vénus là thần linh được thờ phụng nhiều nhất. Đâu đâu người ta cũng lập đền và tạc tượng thờ nữ thần Vénus, ở Paphos, ở Cnide, ở Cythére cũng như ở Lesbos. Thường thường người ta dâng cúng Vénus nhang trầm và những thứ dầu thơm, cũng có khi họ dâng cúng một con heo, một con dê đực hay một con thỏ. Bông hường, trái táo, trái lựu, trái sim, chim anh nga, chim sẻ và nhất là chim cu là những vật thường dâng cúng Vénus.
 Ngày thứ sáu trong tuần là ngày của Vénus.
Đăng nhập để trả lời
0
Các nữ thần duyên dáng ( les Grâces ).
 
 
Con gái của Vénus, ba nữ thần duyên dáng: Aglaé ( nàng sáng chói ), Thalie ( nàng tươi xinh ) và Euphrosyne ( nàng tâm hồn sung sướng ),có nhiệm vụ chủ trì những lời lẽ dịu dàng, sự hòa nhã, những ân đức, lòng biết ơn, sự vui vẻ trong đám tiệc, sự điều hòa trong đám hội cũng là những gì rạng rỡ vui mắt. Ba nàng bao phủ lên người Vénus vẻ nhịp nhàng cân đối, một cái gì vượt lên hẳn bên trên sắc đẹp. Ngọn bút của họa sĩ, mũi dùi của nhà điêu khắc nhờ sự trợ giúp của ba nàng mới có những đường nét uyển chuyển làm mê con mắt. Trên môi, trong dáng điệu, cử chỉ của nhà hùng biện được sự giúp dập của ba nàng nên mới có vẻ trang trọng xác tín khiến cho cử tọa phải thán phục. Người Hy Lạp sùng bái ba nàng rất nhiều, luôn luôn họ nhắc nhở và mỗi khi lên tiếng ca ngợi cũng đưa ba nàng ra trước nhất. Vì là nữ thần chủ trì sự giao thiệp ở ngoài xã hội, đền thờ ba nàng thường lập nên ở các nơi công cộng.
Tại Elis, một đô thị trên đảo Péloponése, có một bộ ba pho tượng ba nữ thần duyên dáng khắc bằng gỗ. Mặt, tay chân bằng đá trắng, mình choàng mỗi nàng một tấm áo bằng vàng y, một nàng tay cầm một bông hường, nàng thứ hai một con xúc xắc, nàng thứ ba một cành sim. Nhiều khi thường nhân thờ cúng ba nàng với các nữ thần Thời Khắc, có khi chung với các thần linh khác. Ba nữ thần duyên dáng thích hợp hết sức với dân tộc Hy lạp vốn ham chuộng vẻ đẹp và nghệ thuật. Dân La Mã không thờ các nữ thần duyên dáng.
Đăng nhập để trả lời
0
Mercure hay Hermés.
 
 
Mercure là con của Jupiter và Maia, con gái của thần khổng lồ Atlas. Mercure là thần của lúc hoàng hôn, các quyền phép của Mercure đều do đặc tính đó. Mercure là vị thần báo hiệu sự xuất hiện của các thần linh khác. Chẳng hạn như buổi mai Mercure báo hiệu sự xuất hiện của Phœbus, của Jupiter. Mercure giúp đỡ các thần linh khác về mọi phương diện, trong những công việc trên Thiên cung hay dưới hạ giới, việc đứng đắn cũng  như việc ám muội. Mercure là vị thần linh có nhiều liên quan tới mọi hoạt động thầm kín hay công nhiên của mọi thần linh khác. Thần linh của lúc hoàng hôn buổi sang, Mercure tiêu biểu cho những hoạt động và những công nghệ của thế gian: Mercure chủ trì những công việc thương mại cùng là mọi thứ ngôn ngữ dùng làm mối dây liên lạc giữa loài người. Mercure cũng là vị thần linh chủ trì sự hùng biện và các cuộc du hành. Các đường xá được dâng cúng cho Mercure. Tại mỗi ngã ba đường đều có trồng những cây cột bên trên có tạc hình thần Hermès, mặt hướng về từng ngã đường, mỗi góc đường có một cây cột như vậy. Mercure luôn luôn qua lại trên những cánh đồng để phù trợ cho thường nhân. Các người mục đồng thờ Mercure cho nên các bức tượng nhiều khi miêu tả Mercure vác trên vai một con cừu. Mercure sáng chế ra cây đàn Ly tao đầu tiên bằng mai một con rùa. Mercure cầm đầu cho các ngành nghệ thuật. Tới gần dân gian để dạy cho họ những môn luyện tập có mục đích làm tăng thêm sự mềm dẻo, sự duyên dáng  và vẻ đẹp của thân thể, sự hiện diện của Mercure nhận thấy ở khắp nơi.
Chủ trì lúc hoàng hôn buổi chiều, Mercure lại là thần hộ mệnh của đám trộm cắp vốn hay chờ lúc nhá nhem mới hành động. Mercure chờ đón những linh hồn các thường nhân  chết để đưa dẫn tới Địa phủ, cũng như đôi khi Mercure lại đưa dẫn các linh hồn từ cõi u mê lên cõi tưng bừng ánh sáng. Chuyên chủ sự giao thông không ngừng, Mercure có mang cánh ở hai cổ chân, trên hai vai và trên chiếc mũ ( pétase ), đặc biệt dùng cho những kẻ lữ hành. Trên chiếc đũa thần ( caducée) Mercure luôn luôn cầm trên tay, cũng có mọc đôi cánh. Một bữa Mercure trông thấy hai con rắn đang đánh nhau, bèn bắt lấy và quấn trên chiếc đũa. Hai con rắn lập tức trở nên hiền từ, thôi không cắn nhau nữa và cứ quấn quanh chiếc đũa mãi. Chiếc đũa Caducée được coi như biểu tượng của hòa bình.
Tuy rằng giúp ích rất nhiều cho các thần nhân khác, nhất là Jupiter, Mercure cũng rất thích lỡm các thần linh những vố khá đau, Mercure lấy của người này chiếc chĩa ba, người kia chiếc đai lưng, của người nọ cây kiếm hay chiếc búa thợ rèn. Jupiter thấy vậy nổi giận bèn đuổi Mercure ra khỏi nhà trời, Mercure bèn đi tìm Apollon hồi đó cũng bị xua đuổi khỏi núi Olympe. Không bỏ được tính xấu, Mercure lấy trộm mất bầy cừu của Apollon rồi phải đem cây đàn ly tao ra đền cho Apollon. Việc dâng cúng Mercure có đặc điểm chỉ cúng lưỡi các sinh vật ( bò hay gà trống ) coi như tượng trưng cho sự hùng biện. Mercure được đặc biệt thờ cúng tại đảo Créte là nơi thủy tổ của các nhà buôn và trên núi Cyllène, tại Arcadie, mà thế gian coi như nơi chôn nhau cắt rốn của Mercure.
Ngày thứ tư trong tuần là ngày của thần Mercure.
Đăng nhập để trả lời
0
Vulcain hay Hépahistos.
 
 
Con của Jupiter và Junon. Mới sinh ra Vulcain đã bị thọt một chân, Junon thấy con xấu xí quá nổi giận liệng xuống hạ giới. Đây là một truyền thuyết khác ( xem đoạn về Jupiter ở trên ) kẻ thì cho rằng Vulcain rơi xuống đảo Lemnos, kẻ thì lại nói Vulcain rơi xuống biển, được Thétis, con gái của Nérée cháu của thần Đại Dương, đem về nuôi trong vòng chín năm. Sau thời gian đó, nhờ được Bacchus nói giúp, Jupiter cho gọi Vulcain trở về Olympe và gả Vénus cho.
Thần linh của lửa, Vulcain thọt chân vì biểu tượng cho tia chớp lóe gẫy khúc và ngọn lửa chập chờn. Bản tính Vulcai dễ dàng, luôn luôn sẵn lòng giúp đỡ. Thờ kỳ mà Hébé ngưng công việc, trong khi chưa có ai thay thế, Vulcain xin thay chân rót rượu Nectar cho chư thần tại bàn tiệc ở nhà trời. Thi sĩ Hy Lạp Homère có nói tới trận cười của chư thần khi trông thấy Vulcain khập khiễng bưng bình rượu đi rót quanh bàn tiệc. Trong các thần nhân, Vulcain siêng năng công việc nhất. Lò rèn của Vulcain được lập ngay tại Olympe. Chính tay Vulcain tạo ra chiếc xe của thần Mặt trời, chiếc khiên của Achille, ngai vàng và chiếc gậy của Jupiter, cả tòa thành Olympe toàn bằng đồng và thép rất chắc chắn, cũng do tay Vulcain đúc nên. Sau này lò rèn của Vulcain được dời về đảo Lemnos, và sau nữa dưới lòng núi Etna, tại đây có các thần Cyclopes giúp sức, Vulcain chế tạo mọi món trang sức cho các nữ thần cùng những đồ nhật dụng cho các thần linh cũng như cho các thường nhân. Vulcain rất thương loài người và dạy cho họ các đúc thép, đúc đồng, cùng chế tạo vật dụng bằng bạc và bằng vàng; sau đó lại biết chế ra những món đồ mỹ thuật nữa. Vulcain còn tái tạo nên những pho tượng sống như thật; tia sáng lóe trong lò lửa của Vulcain đã hóa thành linh hồn của Pandore, người đàn bà đầu tiên.
 Dâng cúng cho Vulcain, các sinh vật đều được hỏa thiêu và cháy tiêu tan hết. Thế gian mở hội vào tháng tám để kỷ công Vulcain. Ngày hội này bao giờ cũng giữa mùa nóng bức nhất. Dân thành Athénes có bày ra những cuộc chạy đua để kỷ niệm Vulcain, đặt tên là Lampadophorie. Trong các cuộc đua này các tay đua hoặc là chạy bộ hoặc cỡi ngựa, tay cầm một ngọn đuốc thi nhau chạy phóng tới đích. Người nào tới đích mà ngọn đuốc vẫn cháy thì được giải; nếu bị đuốc tắt thì phải trao cây đuốc cho người khác và không được dự đua nữa. Những ngày hội này cũng có nơi dâng cúng cả Minever và Prométhée, cũng như Vulcain là thần nhân của lửa.
Đăng nhập để trả lời
0
Vesta.
 
 
Trưởng nữ của Saturne và Rhéa, chủ trì ngọn lửa đốt tại mỗi tư gia hay tại công quán ( prytanée ) của mỗi đô thị. Sauk hi Saturne uống liều thuốc mửa do Jupiter đem tới và mửa ra Vesta, nữ thần này không lấy chồng và nguyện giữ mãi đồng trinh. Vesta biểu tượng cho sự yên vui, bền vững của các gia đình. Vesta chủ trì sự an lạc cho các gia đình và các tập thể trong dân gian. Nhân các vụ dâng cúng, người ta bao giờ cũng khấn tới vesta đầu tiên và khi lễ tạ. Bất kỳ có một dịp cúng lễ nào, ở nơi công cộng hay ở tư gia, bao giờ cũng bắt đầu bằng việc dâng rượu cho nữ thần Vesta. Nữ thần Vesta phù trợ cho những người khẩn cầu, cũng như khách tới chơi nhà. Mỗi khi cất lời thề thốt người ta cũng nhân danh nữ thần Vesta. Mặc dầu dân gian thờ cúng nữ thần Vesta rất nhiều nhưng rất ít đền thờ được thiết lập riêng để dành cho nữ thần này. Tại La Mã có một nghi thức rất đặc biệt do môt tu sĩ trưởng và những nữ tu sĩ, gọi là les Vestales, hành lễ với nhiệm vụ là luôn luôn giữ cho đều ngọn lửa trong một ngôi đền hình trái cầu do vua Numa Pompilius cho dựng lên. Ngọn lửa trong ngôi đền này được coi như thiêng liêng nếu đề tàn lụi sẽ tai hại cho cả dân tộc. Nếu chẳng may ngọn lửa bị tắt chỉ còn có một cách là dùng gương thu ánh sáng mặt trời để nhóm lại. Tượng thờ thần Vesta không có nhiều vì ban sơ ngọn lửa thắp trên bàn thờ được dân gian coi như tiêu biểu cho vị nữ thần này rồi. Ngay ở La Mã cũng không có mấy nơi biết hình tượng của nữ thần Vesta ra sao.
Những nữ tu Vestales được chọn trong số những cô gái đồng trinh từ sáu đến mười tuổi, không bị tật nguyện gì, cha mẹ là người tự do khi sinh cô gái. Dưới sự cai quản của một vị đại tu sĩ, các nữ tu Vestales phải nguyện giữ đồng trinh và được cử trong coi ngọn lửa để không bao giờ bị tắt. nếu lửa tắt các nữ tu sẽ bị phạt roi; nếu không giữ được lời nguyền sẽ bị chôn sống. Thời gian nhiệm vụ từ hai mươi đến ba mươi năm; sau đó họ có thể không tu nữa và cũng có thể đi lấy chồng. Vì sự nghiêm trọng  của nhiệm vụ họ giữ, các nữ tu Vestales được tôn quý và có nhiều đặc quyền; tại các cuộc lễ nơi công cộng các nữ tu đi diễu có các cảnh lại ( licteurs ) mang phủ việt dẫn đầu; nếu một cô ra phố mà tình cờ gặp một tội nhân đang bị đưa đi hành hình, tội nhân sẽ được tha chỉ vì đã được dàn mặt một nữ tu Vestales; ngay sinh thờ người cha; các nữ tu  có quyền định đoạt về tài sản riêng của mình, đặc quyền này hiếm có thời đế quốc La Mã.
Dòng tu Vestales kéo dài mười một thế kỷ, trong khoảng thời gian đó chỉ có hai mươi nữ tu bị chôn sống mà thôi.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Thémis.
 
 
Con của Trời và Đất, nữ thần Thémis  lấy Jupiter sinh ra các nữ thần Thời Khắc và ba nữ thần Se Tơ ( les Parques ). Ngồi gần ngai vàng của Jupiter, Thémis tượng trưng cho Luật pháp. Thémis tham dự các cuộc tranh luận của chư thần, làm cố vấn cho chư thần trong các dịp đó. Thémis thường chủ tọa các cuộc hội họp của thường nhân, những thỏa thuận được ký kết giữa thường nhân đều được sự bảo trợ của Thémis. Thémis được tạc tượng một tay cầm cân và một tay cầm kiếm, đôi khi mắt lại che kín để biểu lộ sự ngay thẳng công minh của phán quan.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Các nữ thần Thời Khắc.
 
 
Các nữ thần thời khắc này là con của Jupiter và Thémis. Chủ trì thời tiết và khí hậu, các nữ thần Thời Khắc chịu chi phối của Jupiter và Junon hai vị chủ tể của các hiện tượng trong trời đất. Các nữ thần này có nhiệm vụ mở hay đóng cửa nhà Trời cho các đám mây đi ra hay trở vô sau khi trút xuống hạ giới những trận mưa đem lại sự phong nhiêu. Các nữ thần còn chủ trì sự thay mùa, sự khai hoa hay kết trái của cây cối. Trông coi về sự sinh trưởng của vạn vật, các nữ thần này coi như thần hộ mệnh cho tuổi trẻ: Bacchus và Mercure khi mới sơ sinh đều được các nữ thần Thời Khắc nuôi nấng. Đồng thời với sự chủ trì mưa thuận gió hòa, thời tiết đổi thay và khai hoa kết trái các nữ thần còn chủ trì điều hòa các luật lệ, các thói tục tốt đẹp cũng như hòa bình an lạc.
Ban sơ chỉ có ba nữ thần Thời Khắc: mùa Xuân, mùa Hạ và mùa Đông, sau đó thêm mùa Thu. Về sau bốn nữ thần này được coi như chủ trì riêng về bốn mùa. Khi người Hy Lạp biết chia mỗi ngày thành mười hai giờ, họ liền tạo thêm mười hai nữ thần Thời Khắc nữa, mệnh danh mười hai chị em ( les douze Sœurs ), mỗi nữ thần xinh tươi một vẻ nhưng luôn luôn giữ mãi sự tươi trẻ, mái tóc dài lan tỏa một mùi hương vĩnh viễn. Cùng với những nữ thần Duyên Dáng, Hébé và Vénus mười hai chị em cùng nhảy múa theo nhịp của các nàng Ly Tao.
Mỗi năm khi có trái đầu mùa, dân gian lại dâng cúng các nữ thần Thời Khắc. Sự tôn sung này chỉ do người Hy Lạp, một dân tộc biết ưa chuộng nghệ thuật và các đẹp duyên dáng. Ở La Mã không có sự thờ cúng những nữ thần này.
Đăng nhập để trả lời
0
Các nữ thần Se Tơ ( les Parques )
 
 
Cũng ở gần các nữ thần Thời Khắc trên núi Olympe bát ngát có ba chị em nữ thần Se Tơ. Ba nữ thần này cũng là con của Jupiter và Thémis. Nhiệm vụ của ba chị em chủ trì sự điều hòa trên thế giới và cầm vận mệnh của thường nhân. Ba nữ thần trông coi cuốn sách bằng đồng trên đó thần Định Mệnh đã ghi những phán quyết. Nhiệm vụ ba nữ thần không riêng trông coi về  các thường nhân trên thế gian, mà còn hết thảy mọi sinh vật khác. Ba nàng thuộc làu vận mạng của hết thảy, cũng như gốc tích và ngày sinh. Mỗi khi đến giờ lâm tử các nàng cứ y theo số mệnh mà cắt đứt cuộc sống. Công việc thường nhật của ba nàng là ngồi se những sợi tơ biểu tượng cho các đời sống. Những đời sống dài lâu và hoan lạc được se bằng sợi tơ và kim tuyến. Những đời sống ngắn ngủi và đau khổ được se bằng các sợi len màu đen. Những đời sống lẫn lộn cả vui buồn được se bằng những sợi len màu đen và màu trắng. Nàng Clotho se chỉ, tay cầm guồng chỉ dài từ trên Thiên cung xuống tận Hạ giới; nàng Lachésis cầm vận mệnh các thường nhân và thay suốt; và nàng Atropos, mang chiếc kéo cương quyết thẳng tay cắt đúng chỗ. Nàng thứ nhất trên đầu có một vòng sao, mình bận chiếc áo màu da trời; nàng thứ hai bận chiếc áo màu hồng, các vì sao lấp lánh trên áo; nàng thứ ba lớn tuổi hơn hết bận áo đen u tối.
Có nơi tượng hình ba nàng là ba bà già khắc khổ; trên đầu đội mũ miện tượng trưng cho quyền hành, vòng miện là những chùm len đan có lẫn những bông Thủy tiên. Thế gian dâng cúng các nàng những con cừu non, giống như dâng cúng các nàng Đại Nộ.
Đăng nhập để trả lời
0
Iris.
 
 
Iris là một vị thần linh lâu đời ngang với các thần linh lâu đời nhất. Cha của nữ thần Iris là thần Thaumas: con của Trái Đất và Biển cả, mẹ là nữ thần Electre: con của thần Đại Dương và thần Téthys. Giữ nhiệm vụ liên lạc, giao thông giữa các thần linh, nhất là thần vương Jupiter và nữ thần Junon, Iris luôn xê dịch đem lời phán truyền của nhà Trời tới cho nhân gian. Khi cần đến Iris lại lặn sâu xuống đáy biển để liên lạc với các thần nhân dưới Thủy cung. Đặc điểm của nữ thần Iris là không chỉ đem lời phán truyền đi mà còn biết tìm lời khuyến dụ, dạy dỗ và cũng che chở cho dân gian có dịp tiếp xúc với nữ thần. Trên Thiên cung, công việc của Iris là lo làm giường cho Jupiter và Junon. Nữ thần Junon rất thương Iris vì được săn sóc chu đáo và bao giờ cũng được Iris đem về những tin tốt lành.
Một nhiệm vụ quan trọng nữa của Iris là chạy đi cắt trên đầu các thường nhân, đàn ông hay đàn bà, sợi tóc định mệnh đem về cho Proserpine mỗi khi thường nhân đó tự ý hủy hoại mạng sống của họ trước giờ đã định. Thường thường công việc cắt sợi tóc của những người đến số chết là do Proserpine, có cắt được sợi tóc định mệnh đem tới cho Pluton ( là chống của Proserpine ) thì thường nhân đó mới được nhận vào Địa phủ. Proserpine chỉ làm công việc đó với những thường nhân chen chúc ở cửa Địa phủ, nhưng đối với những thường nhân quá vội vã, tự ý đoản mệnh. Proserpine không hay biết, cho nên mới cần sự trợ giúp của Iris.
Iris là nữ thần đồng trinh, chuyên bay lượn trong không trung cho nên trên vai có mang đôi cánh với đủ màu sắc của cầu vồng để đem tin tức từ trên Thiên cung xuống cho Hạ giới. Dân gian còn có nơi tin rằng cầu vồng là vòng đai giữ mái tóc của Iris, hoặc đó là vết chân lung linh của nữ thần cũng có nơi tin rằng cầu vồng là biểu tượng của Iris.
Đăng nhập để trả lời
0
Cérés hay Déméter.
 
 
Cérés là con gái cùa Saturne và Rhéa, là nữ thần chủ trì những đất đai có canh tác. Tức là nữ thần của nông nghiệp. Kết hợp với anh trai là Jupiter, Cérés sinh ra Plutus: thần linh của sự phong nhiêu trù phú. Thần linh này được nhân gian tượng hình một ông già đui hai mắt. Ban đầu thần linh này có hai con mắt rất sáng, nhưng vì tuyên ngôn rằng chỉ trợ giúp cho những con người tốt lành cho nên bị Jupiter làm đui hai con mắt. Thần vương làm như vậy vỉ cho rằng các thường nhân có đức tốt sẽ được hậu đãi quá mức nếu có thêm nhiều tiền của. Từ khi Plutus bị đui hai mắt, thần linh này không nhìn thấy rõ những thường nhân đạo đức nữa và bị bọn vô lại bao quanh giành mất bao nhiêu giầu sang phú quý của những người đạo đức đáng lẽ Plutus hậu đãi.
Cérés lại có với Jupiter một con gái là Proserpine. Proserpin còn có tên Perséphone hay Coré. Pluton thần chủ trì Địa phủ, không kiếm được một nữ thần chịu lấy và ở dưới Âm cung nên quyết tâm cướp lấy cô cháu gái Proserpine đem về làm vợ. Một bữa Proserpine đang vui chơi cùng với các nữ thần Nymphes, đương hái hoa dưới thung lũng Etna, vỏ trái đất bỗng nứt rạn mạnh mở lối cho chiếc xe ngựa của Pluton chạy ra. Hoảng hốt các nữ thần Nymphes chạy tán loạn, Pluton bắt lấy Proserpine ôm ngang lưng nhảy lên xe chạy tuốt vô lòng đất.
Được tin này  Cérés rất đỗi thương đau. Đau đớn quá, Cérés bỏ Thiên cung, tay cầm đuốc chạy cùng khắp trái đất hỏi tin tức của con gái. Các thần linh đều lặng thinh không cho biết vị nào đã cướp Proserpine. Khi đi ngang xứ Altique, nhà vua trị vì ở Eleusis tiếp đãi hết sức nồng hậu. Nữ thần thông cảm lòng tốt của nhà vua nên dạy cho hoàng tử Triptolème, khi đó còn nhỏ tuổi nghệ thuật cày bừa ruộng đất. Khi qua xứ Lycie, người dân nơi đó hung ác, thấy nữ thần sắp uống nước ở suối bèn làm vẩn đục nước suối, Cèrès nổi giận bèn biến chúng thành một bầy ếch. Sau bao lâu tìm kiếm, Cérés, không ngớt đau khổ quay về Sicile. Khi đó nữ thần Aréthuse cảm thương vì nỗi thất vọng không thể an ủi nổi cùa Cèrès, mới tìm lời úp mở cho hay rằng Proserpine đã bị Pluton cướp mất. Cérés đem sự tình tâu bày với Jupiter, Jupiter mủi lòng trước cảnh đau khổ, tiều tụy của bà mẹ, mới truyền phán rằng Pluton phải thả Proserpine ra nếu nữ thần chưa ăn uống một món gì ở Âm cung. Không may cô vợ mới của Pluton đã ăn sáu hột lựu, do đó phải bày ra biện pháp dung hòa. Từ nay Proserpine sẽ ở sáu tháng dưới Địa phủ và sáu tháng trên mặt đất.
Câu chuyện của Proserpine có thể coi như một bài ngụ ngôn mô tả vòng sanh tồn của hạt lúa: mùa Hạ sống trên mặt đất ở giữa cánh đồng, tới màu Đông lại chui xuống đất để sang Xuân lại trổ ngoi lên mặt đất.
Dân gian có bày ra hai kỳ hội để kỷ công Cérés, nữ thần của đất đai được khai thác.
Cérés có đặt ra cho dân gian phép hôn thú nên được coi như nữ thần lập pháp ( Cérés Thesmophore ), kỳ hội mở vào tháng Một dương lịch sau khi gieo mạ được gọi là Thesmophories. Nhân lễ này dân gian cúng hiến heo sống với ngụ ý trừ các tác hại mà loài vật này đã gây ra cho các sản vật do nhà nông sản xuất. Nơi làm lễ được chăng nhiều tràng lá. Dân gian không trưng bông vào những dịp này để ghi nhớ vụ Proserpine đi hái bông bị Pluton bắt đem đi. Riêng có bông anh túc ( cây thuốc phiện ) là được dâng cúng cho Cérés vì loài cây này mọc lẫn với cây lúa, và dân gian còn truyền tụng rằng trong cơn đau đớn quá Cérés có nhai mấy bông anh túc để cho đỡ đau. Nhiếu mệnh phụ La Mã bận toàn đồ trắng trong ngày lễ.
Nghi lễ Eleusinies khởi sự từ Eleusis tới miền nam Hy Lạp, truyền sang tới La Mã là một nghi lễ thần bí hết sức huy hoàng. Có hai thứ lễ: tiểu lễ vào mùa Xuân, khi Proserpine từ dưới Âm cung trở về mặt đất và đại lễ cuối tháng chín, khi Proserpin sửa soạn trở lại Diêm cung.Những nghi lễ này không thiết lập công khai. Các đại gia đình Hy Lạp ngay từ thuở ban sơ đã được biết cách thức dâng cúng ra sao. Không ai có quyền học lại một khi đã dự lễ, bởi vậy trong dân gian chỉ biết lễ đó mà không thấy truyền tụng những chi tiết. Những ai được ân sủng tham dự lễ sẽ hưởng được nhiều ơn huệ.
Đăng nhập để trả lời
0
Bacchus hay Dionysos.
 
 
Dionysos thần linh chủ trì việc cất rượu là con trai Jupiter và công chúa Sémélé, con gái vua Cadmus sáng lập ra triều đại Thèbes ở Béotie. Không do một thần nhân sinh ra, Bacchus tuy vậy vẫn được coi như một thần nhân do một sự tích ly kỳ, Junon vốn tính ghen và mất rất nhiều tâm cơ để đối phó với những mối tình vương vãi của Jupiter. Công chúa Sémélé bị chết trong khi còn mang thai Bacchus cũng chỉ vì lòng ghen của Junon. Biết chuyện Sémélé đi lại với Jupiter, Junon cải trang thành Béroé, vú nuôi của Sémélé, và khuyên Sémélé nên nài nỉ Jupiter tỏ lộ cho mình thấy rõ quyền uy và tất cả vẻ huy hoàng lộng lẫy của một thần vương như thế nào. Jupiter hết lời khuyên can người yêu đừng nài nỉ một chuyện dại dột như vậy nhưng Sémélé nhất định không nghe. Jupiter lại lỡ hứa với Sémélé là không bao giờ làm trái ý nàng công chúa nếu công chúa có lời yêu cầu. Bị trói buộc bởi lời hứa đó, Jupiter đành xuất hiện với trọn vẹn hào quang cùng với những tia sấm sét của vị chủ tể nơi Thiên cung. Tòa lâu đài hạ giới bùng cháy lên bởi sức nóng quá độ và nàng công chúa biến thành than. Bacchus khi đó còn là một bào thai được Jupiter cứu sống và nhét vô trong bắp đùi chờ đủ ngày đủ tháng sẽ cho ra đời. Do đó Bacchus hóa ra được sinh hạ do một thần nhân và trở thành một thần nhân thật sự.
Bacchus được các nữ thần Thời Khắc và các nữ thần Sơn Thủy nuôi dưỡng tại Nysa, một đô thị ở Ấn Độ, xa hẳng núi Olympe và Junon. Tại đó Bacchus được thần Siléne, sinh ra các vị thần nửa người nửa dê, hoang dã Satyres và các nữ thần Ly Tao dạy dỗ. Siléne, mà dân gian truyển thuyết là cha nuôi của Bacchus, là con của Mercure hay của Pan với một nữ thần Sơn Thủy hay nữ thần Trái Đất. Siléne được tượng hình là một ông già xấu xí, ngắn ngủn, tóc hói, mũi cong, bụng phệ, luôn luôn say rượu. Siléne thường cưỡi trên lưng một con lừa gần muốn khuỵu vì sức nặng của Siléne, hoặc chống một cây gậy bằng một khúc cây nho trên đầu có một trái thông gọi là thyrse. Cũng có khi Siléne vịn vai bầy Satyres bao chung quanh. Những khi rất hiếm có lão thần Siléne tỉnh táo lại là một nhà hiền triết. Siléne luôn bên cạnh Bacchus mỗi khi Bacchus du hành qua những quốc gia chạy dài một giải từ Ấn Độ tới Hy Lạp, có khi Bacchus còn ghé qua Ai Cập. Theo sau là một đám đông thường nhân: đàn ông và đàn bà, mỗi người chống một cây gậy thyrse hoặc đánh trống inh ỏi, chung quanh có các nữ thần Sơn Thủy, các Satyres và thần Pan. Bacchus hoan hỉ bước đi, tới đâu thu phục dân gian ở đó và dạy cho họ cách trồng và sử dụng trái nho để cất rượu. Bacchus rất vui tính nhưng dễ nóng giận, nếu thường nhân nào không chịu thần phục dưới quyền lực của thần nhân này sẽ bị tai hại rất nặng. Một ông vua ở Thèbes tên là Penthée bị chính bà mẹ và các bà dì của mình xé tan từng mảnh vì không chịu tham dự những cuộc uống rượu say sưa mừng thần Rượu. Một vị vua khác ở Thrace tên là Tycurge bị mù mắt vì kiếm cách ngăn cấm những cuốc tế lễ thần bí do các nữ thần Bacchantes hay Ménades thiết lập. Ba cô con gái của Minée trị vì tại Orchomène ở Béotie vì coi thường cúng lễ mà mấy cô cho rằng kỳ lạ quá, không chịu bỏ khung cửi tới dự, đều bị biến thành con dơi.
Đi tới đâu Bacchus cũng ra oai tác phúc. Vì lẽ đó có nơi thần nhân này được nhân gian tượng hình với hai cái sừng trên đầu hay dưới hình thù một con bò mộng. Nhưng thường thường Bacchus được tượng hình một thanh niên trẻ tuổi và khỏe mạnh đẹp trai, tóc dài thành từng lọn cong chảy xuống vai, trên đầu có quấn một vòng miện bằng một cành lá nho. Thần tượng này được tôn thờ ở các miền châu Á và coi như thần linh của các vụ cuồng ẩm, của những trận thác loạn do rượu. Dân La Mã cũng tôn thờ một thần tượng tương tự và có bày ra những cuộc tế lễ mệnh danh là Bacchanales, gồm những trò buông thả kỳ lạ, đôi khi còn xảy ra cả tội ác. Bacchus đối với dân Hy Lạp không chủ trì những cuộc hoan lạc như vậy, nhất là dân vùng Altique coi Bacchus là thần nhân cao quý, sự tôn thờ không có kèm những nghi lễ thác loạn. Nhân những đại lễ Dionysies ( lễ mừng thần Dionysos ) sau khoảng thế kỷ thứ VII trước Công Nguyên, có tuyên đọc những bài thơ kỷ công vị thần chiến thắng và mệnh danh là những bài dithyrambe. Sau đó các công đức của Bacchus được đem soạn thành một vở tuồng mang tên là Tiếng hát của con dê. Tên vở tuồng này nguyên do ở ngụ ý đem con vật này dâng cúng cho Bacchus vì nó vốn hay tàn phá các gốc nho. Theo truyền thuyết ca kịch vốn được bày ra từ thời dân Altique dâng cúng Bacchus, vì sau khi cúng lễ mọi người cùng nhau vào tiệm ăn uống và trao đổi ý kiến, những câu chuyện trao đổi đó sau trở thành hài kịch. Theo truyền thuyết ở Hy Lạp, Bacchus là vị thần linh nhỏ tuổi, sinh sau nhất trong số các thần linh. Bacchus ảnh hưởng rất nặng tới nền văn hóa Hy Lạp. Sau khi có Bacchus, nền âm nhạc, ca vũ, điêu khắc và hội họa đều chịu ảnh hưởng mới mẻ hẳn. Từ đó các ngành nghệ thuật mới mang một tính cách hứng khởi, say mê đặc biệt thuở nay chưa hề có, ý hẳn các nghệ sĩ được thêm hứng khởi nhờ nơi chất men của rượu nho.
Bacchus còn được mệnh danh là Liber, vì rượu khiến cho tâm thần sảng khoái, hết cả lo nghĩ, như được tự do, giải thoát. Cũng có nơi lại mệnh danh Bacchus là Evan, vì nhân những trận cuồng ẩm, các nàng Bacchantes thường xõa tóc chạy cùng đường và la: Evohé, Evohé.
 
 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Pan.
 
 
Pan trong ngôn ngữ Hy Lạp có nghĩa là tất cả. Có người giải thích rằng nguyên do tên của vị thần linh này là ở danh từ Hy Lạp đó, và kể rằng Mercure khi đem về nhà Trời thứ thần linh đầu người nhưng mình dê, lại có sừng , có móng có lông như dê thật đã khiến cho tất cả các vị thần linh có mặt phải cả cười. Không ai biết rõ nguồn gốc của thần Pan. Thần linh này được coi như môt thứ thần linh của vùng thôn dã, nhất là vùng Arcadie được nhân dân tôn thờ nhiều lắm. Pan chủ trì các cánh rừng và các đồng cỏ, che chở cho bầy thú được đông đảo, sinh sản mau chóng. Pan cũng là vị thần linh của các tổ ong và các con sông, tóm lại một số ngành cung cấp thực phẩm cho dân gian ngoài lúa mì. Pan cũng là vị thần linh chủ trì cho các nhà săn bắn. Trong khi rình mò dã thú, Pan cũng luôn thể rình mò các nữ thần Sơn Thủy, ở bên sau các khe đá, các bụi bờ. Thần linh của âm nhạc, Pan có sáng chế ra thứ tiêu bảy ống. Nguồn gốc của ống tiêu này là do chuyện Syrinx, nữ thần Sơn Thủy tại Arcadie, một bữa bị Pan đeo sát quá phải nài xin với cha là thần sông Ladon biến mình thành một cây sậy. Để ghi nhớ mối tình với Syrinx, Pan bèn nhổ cây sậy và chế ra ống tiêu Syrinx.
Cũng như hầu hết các thần linh ở vùng hoang dã, Pan ưa trêu chọc khách qua đường khiến cho họ phải hoảng sợ nhất là các bộ hành lạc trong rừng. Khi dân Gaulois, do Brennus đưa dẫn, kéo qua vùng Phocide để tới cướp phá đền thờ Delphes, chính thần Pan đã khiến họ phải ngưng lại bằng cách làm cho họ thất kinh. Danh từ tiếng Pháp panique ( sự kinh hoàng ) có nguyên do từ đó. Giọng nói của Pan líu lo. Pan thường đi theo trong đám đông ồn ào xúm quanh thần Bacchus. Hồi chiến tranh giữa anh em Titan, Pan bày ra cách thổi những vỏ ốc vương vãi trên biển, tiếng kêu phát ra kinh khủng tới nỗi anh em Titan phải bỏ chạy: đó cũng là nguồn gốc của việc dùng vỏ ốc ( conque ) làm tù và.
Sử gia Hy Lạp Plutarque ( 45 – 125 sau Công Nguyên ) có ghi dưới thời Tibére ( con nuôi của Auguste ) thuyền trưởng Thamus, khi ở giữa khu quần đảo của biển Egée, bỗng nghe thấy có tiếng ba lần gọi tên Thamus. Lần thứ ba, Thamus đáp lại, tiếng nói bí mật ra lệnh khi thuyền tới một nơi nọ phải la lớn: “ Pan đã chết “. Khi đi đến nơi đã hẹn, Thamus liền la lên: “ Pan đã chết “. Lập tức ở tứ phía nổi lên tiếng than vãn rên rỉ. Không riêng gí Thamus, các thủy thủ có mặt đền chứng nhận có nghe thấy như vậy. Nghe tin lạ lùng đó dân chúng ở La Mã đều đồn đại đi, không hiểu ý nghĩa câu chuyện ra sao hết.
Khởi sự Arcadie,sự thờ cúng thần Pan, sau đó lan tràn ra khắp Hy Lạp. Vì ngọn núi Lycée được dâng cúng cho Pan nên các cuộc tế lễ được mệnh danh là Lycéennes. Khi lan tràn tới La Mã sự thờ cúng thần Pan được dân gian lập chung với thần Faune ( Điền Dã ). Người La Mã gọi những buổi lễ đó là Lupercales ( do chữ Hy Lạp Lycéennes, nhưng có thêm ngụ ý đả động tới chó sói, loài thú hay kiếm ăn trong các rừng rú ở vùng Arcadie ) Dân gian dâng cúng thần Pan: bò cái, dê đực, cừu non, sữa và mật ong.
Dưới thờ đế quốc La Mã, các nhà triết học khắc kỷ đưa thần Pan lên ngôi tối cao coi như biểu tượng cho sức mạnh khai sáng ra vũ trụ.
Đăng nhập để trả lời
0
Egipan.
 
 
Thần Pan vì có móng như chân dê, chân cừu, còn được dân gian mệnh danh là Egipan có nghĩa là con dê Pan. Danh từ này còn chỉ cả những thần linh nhỏ ở điền dã, mình có lông, có sừng và có râu như râu dê. Những thần linh Egipans nhảy nhót trên những ngọn núi đá hay trên ngọn đồi, ưa trêu chọc dân quê hay khách qua đường rồi lẩn trốn trong hốc đá.
Đăng nhập để trả lời
0
Satyre hay Silène
 
 
Những thần linh nhỏ Satyres hay Silène cũng giống như  các thần Egipans, nhưng nhỏ hơn và tính chất vừa quỷ quái vừa hoang đàng. Trẻ tuổi mệnh danh là Satyres trở về già thì được mệnh danh là Silènes. Các thần linh này chuyên trêu chọc những nữ thần Sơn Thủy, rượt theo làm cho khiếp sợ rồi cười. Được tiếng quỳ quái như vậy nên các chú chăn chiên ở trong núi nể sợ lắm, có trái cây đầu mùa hay sinh vật ngon lành họ đều đem dâng cúng. Khi trở về già các thần linh này sinh nghiện rượu, vì vậy được mang tên vị thần tục tĩu hay theo Bacchus. Trở về già các thần linh Silènes hay say sưa rồi cũng chết như những thường nhân.
Đăng nhập để trả lời
0
Terme.
 
 
Thần linh này đặc biệt cùa dân La Mã, chủ trì trông coi các cột chôn làm mức phân ranh giới giữa các ruộng đất. khi vua Tarquin le Superbe ( Tarquin oai nghiêm ) định xây một ngôi đền thờ Jupiter trên ngọn đồi Capitole, bao nhiêu tượng các thần linh ở trên đó đều được hạ xuống, thần linh Terme một mình cưỡng lại hết mọi phương kế do mọi người đề ra, không để cho dời pho tượng của mình đi chỗ khác. Cùng kế mọi người phải để pho tượng đó ở lại trong đền, toàn thề các thày giải triệu kết luận rằng đế quốc La Mã sẽ vì thế vĩnh cửu không hết.
Ban sơ hình tượng của thần linh này chỉ là một phiến đá không đục chạm. Sau đó, người ta tạc thành hình một cây cột đầu người, không có tay chân, để tượng trưng cho sự vĩnh cửu của thần linh này. Dân gian dâng cúng cho thần Terme bằng sữa , mật ong, trái cây và tràng hoa hay lá.
Đăng nhập để trả lời
0
Priape.
 
 
Con của Vénus và Bacchus, thần Priape chủ trì sự phong nhiêu, sinh sản trong vũ trụ. Thường dân gian hay lẫn vị thần này với Pan. Thần nhân này thô tục và xấu xí nên dân Hy Lạp không mấy ai thờ cúng, ngoại trừ những chú chăn chiên hay chăn dê cùng những người nuôi ong. Trái lại ở La Mã, các đại địa chủ chuyên thờ cúng thần Priape để thần trông coi bảo vệ ruộng đất cho họ. tượng thần Priape được dựng lên ở giữa vườn, phần nhiều tượng bán thần, đầu có sừng như sừng dê, tai như tai dê cái, tay cầm một cây chùy miệng cười nhăn nhúm. Để gây thêm vẻ dữ tợn, người ta còn sơn lên tượng một thứ sơn màu đỏ chóe.
Đăng nhập để trả lời
0
Faunes hay Sylvains.
 
 
Các thần Faunes và Sylvains là đặc biệt của dân gian Ý, tính cách cũng giống như các thần điền dã Egipans và Satyres của dân gian Hy Lạp. Không xấu xí và thô tục như các thần Satyres, nhất là không tàn ác bằng, các thần Faunes chủ trì về nông nghiệp còn thần Sylvains thì ưa vùng rừng núi, các thần Sylvains ưa trêu chọc những khách qua rừng, khiến cho những trẻ nhỏ nghịch bẻ cành ở các cây cối trong rừng phài khiếp sợ.
Thủy tổ của các thần Faunes là Faunus mà dân gian cho là cháu của Saturne và có công trong việc gầy dựng nền văn minh ở Latium, đem những phép tắc cùng những sự dâng lễ làm dịu bớt những thói tục thô sơ của thổ dân. Sylvains, cũng vẫn theo truyền thuyết trong dân gian là con trai của Faunus. Chủ trì vùng rừng núi, Sylvains phù trợ cho cây cối mau lớn và bầy thú sinh sản mau lẹ. Sylvains cũng che chở cho chúng chống với các thú dữ, nhất là đám sói răng dài và nhọn ưa ăn thịt cừu. Faunus cũng như Sylvains rất ưa âm nhạc và vũ điệu. Mặc dầu có đôi chút khác biệt giữa các thần Faunus và Sylvains, dân gian thường lẫn lộn hai loại thần linh này. Cũng như các thần Satyres, các thần Faunus và Sylvains cũng chết như thường nhân, nhưng sau một thời gian tuổi già rất dài lâu.
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»