📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Lã Bất Vi

98 trả lời, 15.503 lượt xem — Trang 3 / 4
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-15 09:38:50ct.ly>
Bà con ơi, LBV quyển 2 (phần tiếp cho đến hết quyển)


Tả Đồ thấy vị Thái tử phi xinh đẹp này mặt mày rầu rĩ, dường như không mấy hứng thú với sự viếng thăm của mình nên cũng chào hỏi vài câu xã giao rồi đứng dậy cáo từ.
Doanh Trụ vẫn chưa tới, Hoa Dương phu nhân buồn rầu gọi con hầu Tiểu Song vào đánh cờ với mình. Hoa Dương phu nhân và Tiểu Song, tay cầm hộp gốm đựng cờ ngồi bên chiếc bàn con. Đen trước, trắng sau. Hoa Dương phu nhân dùng những ngón tay búp măng nõn nà của mình đã đặt một quân cờ vào bàn cờ. Tiểu Song không hề suy nghĩ cũng thêm vào một cây cờ. Hoa Dương phu nhân lại nhúm một cây, cánh tay dừng lại ở giữa. Suy nghĩ muốn đặt lại không đặt.
Tiểu Song nhìn thấy, trời chiều đã lọt qua song cửa, đem ánh sáng trắng như dải lụa lọt vào trong phòng. Ánh sáng loá mắt chia khuôn mặt Hoa Dương phu nhân làm hai phần sáng tối. Phần bị ánh sáng chiếu sáng làm hiện lên cơ thể đầy đặn, kiều diễm thoát tục khiến người ta có thể nảy sinh những dục vọng ve vãn. Phần không được chiếu sáng, tạo ra sự u buồn, ám ảnh đầy vẻ thấp thỏm mong ngóng. Nghĩ đến đây Tiểu Song lại nhìn thấy hình bóng bí hiểm của mình ra vào tướng phủ.
“Đi đi chứ!” Hoa Dương phu nhân không biết từ lúc nào đã đặt cây cờ trong tay của mình vào bàn cờ. Tiểu Song như vừa tỉnh giấc mơ lại đi một cây cờ. Khi bàn cờ đã đầy một nửa thì Hoa Dương quân tới. Hoa Dương quân đi thẳng vào vấn đề nói: “Thái tử phi, tôi có chuyện quan trọng cần bẩm báo”. Hoa Dương quân thấy Tiểu Song đang bốc những quân cờ vào hộp. Thu dọn xong, Tiểu Song lui ra.
Hoa Dương quân đem chuyện Tử Hề đi sứ nước Sở kể cho Hoa Dương phu nhân nghe.
Hoa Dương phu nhân nghe xong, hỉ mũi một cái nói: “Tên Phạm tướng quốc này thật là một lão tặc gian thần, chúng ta phải tương kế tựu kế”. Hoa Dương quân không rõ ý người chị xinh đẹp của mình như thế nào.
Hoa Dương phu nhân nói: “Vừa rồi chằng phải Phạm Thư nói để Dị Nhân đi làm con tin ở Hàm Đan hay sao? Chúng ta cũng sẽ lấy danh nghĩa Dị Nhân viết cho Khoảnh Tương Vương một bức thư, cầu khẩn ông ta cho Dị Nhân đi dự lễ mừng thọ của ông ấy. Đợi Dị Nhân đi tới nước Sở rồi, ta sẽ nói với An Quốc quân đợi hai vị công tử từ Sở trở về sẽ quyết định ai đến Hàm Đan làm con tin”.
Sở Khoảnh Tương Vương lại nhận được thư của Dị Nhân xin tham gia lễ mừng thọ, cười ngặt nghẽo, nói: “Đúng là mặt trời mọc ở đằng Tây, chiếu cung điện nước Tần đến chỗ ta. Chẳng lẽ các vương tôn nước Tần lại tranh nhau mang lễ vật đến mừng thọ quả nhân sao? Không từ chối người đến, ta sẽ phái một Tả Đồ tới nước Tần mời Dị Nhân”.
Hạ Cơ vì sắc đẹp sớm tàn phai bị An Quốc quân lạnh nhạt bỏ xó trong hậu cung không để mắt tới. Khi Tả Đồ của nước Sở đến mời con trai mình là Dị Nhân đến dự tiệc mừng thọ, hai mẹ con vẫn bị bịt tang trống, không biết rằng mọi người đang vì chuyện con tin mà ngấm ngầm bày mưu tính kế.
Hạ Cơ vốn là người con gái trong dân gian bị quân Tần bắt được khi đang vây thành của nước Trịnh, làm phục dịch trong hậu cung. Sau một lần được An Quốc quân sủng ái mà có thai. Ít lâu sau sinh hạ được bé trai một mắt cao một mắt thấp. Hạ Cơ sai cung nữ mời An Quốc quân tới xem mặt đứa con của ông ta, đặt cho nó một cái tên. Vị thái tử phong lưu này, đâu còn nhớ tới người cung nữ phục dịch có dáng người thô kệch, tướng mạo bình thường này. Khi có người nói với ông ta Hạ Cơ xinh con và mời ông tới xem, ông nghĩ mãi mới nhớ ra cái cô Hạ Cơ này. Phụ nữ sinh con thì có gì đáng xem? Hình dạng của đứa trẻ này chẳng có chút dị thường sao? Vậy thì gọi nó là Dị Nhân đi.
Cái tên mà Doanh Trụ tặng cho đứa con thứ bảy này là Dị Nhân. Hai mẹ con Dị Nhân sống ở trong hậu cung giữa các mĩ nữ như hai cây cỏ dại lay lắt trong ruộng, không có hương thơm, không được ai chú ý. Đơn độc lạnh lẽo, tự sinh tự diệt. Trong một cơ hội ngẫu nhiên gặp được Trần Cơ là vợ chính của Vũ An quân đến tứ ấp Trần nước Trịnh, hai người đồng hương chuyện trò rỉ rả. Trần Cơ rất thông cảm với cảnh ngộ của Hạ Cơ, về đến nhà kể hết với Bạch Khởi. Bạch Khởi kể khắp trong triều ngoài chợ nỗi bất bình của Hạ Cơ, còn lấy vị quân uý ở bên cạnh mình Chu Kiệm văn võ song toàn sang chỗ Hạ Cơ, làm Thái phó cho Dị Nhân.
Trong tình thương và sự đùm bọc của Hạ Cơ, Dị Nhân ngày một khôn lớn. Vậy mà đôi mắt bên cao bên thấp, không đều nhau của Dị Nhân đang trở về đường trung bình. Cái đôi mắt hơi lồi ra ấy long lanh có thần, vui như mắt rồng. Vầng trán cao rộng, sống mũi thẳng. Hạ Cơ ngắm con của mình càng thấy nó giống quân vương. Sự mong ngóng trông đợi của Hạ Cơ vào con trai Dị Nhân của mình đang từng ngày từng ngày trôi đi mất. Bà mãi về sau mới biết được tin cháu của vua Tần phải tới Hàm Đan làm con tin, bà âm thầm cầu khấn cho Dị Nhân, không muốn đứa con trai của mình sang nước khác làm con dê thí mạng. Bà nghe người ở trong cung nói với nhau, làm con tin sẽ gian khổ và nguy hiểm như thế nào. Bình thường có nhà không được về, một khi hai nước trở mặt giao chiến với nhau, con tin nếu nhẹ thì cũng bị mang ra làm trò đùa, nặng thì bị giam cầm giết chết. Thỉnh thoảng nghĩ tới đứa con có thể trở thành con tin, Hạ Cơ không rét mà cảm thấy run.
Càng nghĩ Hạ Cơ càng cảm thấy lo sợ. Khi Sở Khoảnh Tương Vương sai Tả Đồ tới mời Dị Nhân làm sứ thần tới Sính Đô dự lễ mừng thọ thị trong lòng bà thư thái hơn rất nhiều. Bà tháy An Quốc quân Doanh Trụ lúc này không thể phái một công tử của mình đi làm con tin. Việc này luôn làm Hạ Cơ không yên, làm việc gì cũng hỏng. Nghĩ đi nghĩ lại, bà thấy cần phải đến thỉnh cầu Doanh Trụ, nói rõ lợi hại, tuyệt đối không thể để Dị Nhân tới Hàm Đan làm con tin. Hạ Cơ biết, Doanh Trụ một năm ba trăm sáu mươi lăm ngày, giống như một cái rễ cây cắm trong phòng Hoa Dương phu nhân. Hạ Cơ nghĩ không sai, khi bà tới cung Loan Ô, Doanh Trụ đang ở đó. Trong một năm, Hạ Cơ không mấy khi tới đây. Ở đây vàng bạc rực rỡ, các trang trí sặc sỡ yêu kiều, tiếng đàn tiếng sáo dìu dặt. Có cả những lễ vật, điệu múa của người Hung Nô, Tiên Ti hoàn toàn tương phản với sự lạnh lẽo, vắng vẻ với nơi ở của Hạ Cơ. Ngày tháng trôi qua, Hạ Cơ từ lâu đã quen với cuộc sống như thế. Bà còn tự răn mình, nếu Doanh Trụ không quan tâm đến bà thì bà cũng phải chịu. Khi Hạ Cơ nhìn thấy Doanh Trụ thì vị An Quốc quân này đang hầm hầm giận dữ với hai người thiếp khác. Hạ Cơ mau chóng hiểu ra tất cả, hai người thiếp này cũng đến để thưa rằng con họ không thể đến thành Hàm Đan làm con tin.
Hạ Cơ thấy vị phu quân này tự mình không thể tuỳ tiện gặp mặt, thẹn quá hoá giận, đang nhiếc móc hai người thiếp kia: “Ta vẫn chưa nói để ai đi, các người nước mắt ngắn nước mắt dài đến đây khóc lóc làm gì? Con ngươi có bệnh, con ngươi yếu đuối, vậy thì để ai đến Hàm Đan? Để ta đi chắc? Ngày xưa Vũ vương cho phụ vương đi làm con tin, phụ vương không rơi một giọt nước mắt, uy phong lẫm liệt ra đi. Các ngươi là một lũ hám lợi tránh hại, không hề nghĩ cho non sông xã tắc. Mai này không còn nước Tần nữa, để ta xem các ngươi lấy gì mà sống! Hừm, vào lầu xanh bán thân cũng không xong.”
Hai người này bị Doanh Trụ mắng cho một trận, không nói được câu nào lủi thủi ra về. Hạ Cơ vội quỳ xuống thỉnh an Thái tử điện hạ. Mặc dù đã có sự chuẩn bị nhưng những lời nói vừa rồi của Doanh Trụ cũng khiến bà hoảng sợ, lắp ba lắp bắp, hơn nữa ở đây còn có Hoa Dương phu nhân.
Doanh Trụ lạnh nhạt nói: “Con mụ già đến đây làm gì, lại muốn ta lặp lại những lời vừa nãy hay sao?” Nước mắt Hạ Cơ trào ra, bà dường như nhìn thấy vẻ mặt mãn nguyện của Hoa Dương phu nhân hiện rõ trên mặt. Trước mặt Doanh Trụ, ý chí của bà bị tan đi như băng vậy.
Lúc Hạ Cơ trở về nghe tiếng ngọc đai đeo ở lưng giòn lạnh như tiếng giọt mưa.
Hoa Dương phu nhân thấy mọi người đã về cả rồi mà Doanh Trụ vẫn ngồi đó tức tối bèn tới vòng cánh tay nõn nà của mình quanh cổ Doanh Trụ, nũng nịu nói: “Thái tử điện hạ vẫn còn đang giận hay sao?”
Doanh Trụ nói: “Bọn thê thiếp khốn khiếp này chỉ biết nước mắt ngắn nước mắt dài làm ta thật khó xử, đau cả đầu”.
Hoa Dương phu nhân ngồi vào lòng Doanh Trụ nói: “Thái tử điện hạ dễ nổi giận thế, sau này làm Tần vương rồi, phải giải quyết trăm công nghìn việc, ngay như việc cử con tin sẽ rất nhiều, chàng không quyết mà cứ tức giận như thế thì sẽ tức đến chết được! Gặp nguy nan không sợ, gặp sự phiền não không giận, đó là đức tính của bậc quân vương!”
Chỉ một lời nói của Hoa Dương phu nhân đã khiến Doanh Trụ trút hết phiền não, mặt mày tươi tỉnh, vẫn là sự chăm sóc tỉ mỉ, lời nói thấu tình đạt lý của Hoa Dương phu nhân. Quả thực như thế, sau này làm Tần vương rồi, những việc khó khăn hơn việc cử con tin rất nhiều, chàng có thể tức giận mãi được không?
Doanh Trụ vuốt má Hoa Dương phu nhân hỏi: “Ái phi, chuyện đã đến mức này, nàng xem sai công tử nào đi Hàm Đan là tốt nhất?” Hoa Dương phu nhân nói: “Mấy hôm nay thiếp luôn nghĩ tới việc này cho Thái tử điện hạ. Thiếp vốn cho rằng nên để Tử Hề đi, sau đó nghĩ lại thấy việc đó không ổn. Như vậy sẽ đắc tội với bọn Phạm Thư, Đỗ Thương. Thiếp thấy nên xem một quẻ bói để xin ý thần linh ra sao. Ý nguyện của thần để ai đi thì người đó đi. Như vậy người đi cũng không thể thoái thác được, cũng không thể oán trách được Thái tử điện hạ”.
Doanh Trụ sung sướng nói: “Ái phi thật cao kiến”.
Hoa Dương phu nhân nói: “Việc này không thể chậm trễ, đợi Dị Nhân và Tử Hề ở nước Sở về, lập tức mời thấy bói bốc quẻ”.
Doanh Trụ nói: “Thiện tai!”
Hạ Cơ không nề hà hỏi Dị Nhân một câu: “Con trai, con hỏi chắc chưa?” “Hỏi chắc rồi, hoàn toàn chính xác. Thầy bói bốc quẻ ngày mai là hoàn toàn bịp bợm. Con vừa từ Sính Đô trở về, người mỏi rã rời, lại còn phải chạy đến chỗ thầy bói mù kia!” Dị Nhân oán giận nói, Hạ Cơ trách móc: “Con thật là không biết lý lẽ gì cả! Đây là một việc rất lớn! Lại là việc của con, hơn hai mốt tuổi rồi, đi một đoạn đường thì có nghĩa lý gì!”
Hạ Cơ vừa nói như vậy, Dị Nhân không lên tiếng nữa.
Dị Nhân sống trong cảnh mẹ mình bị lạnh nhạt, tính cách lập dị, lẻ loi cũng kèm theo tinh thần phản kháng không khuất phục số phận. Không giống như các công tử khác, luôn lấy lòng phụ thân, làm thân chó ngựa, tụ họp bè đảng. Dưới sự đốc thúc của Hạ Cơ, cùng với Chu Kiệm người thân cận của An Vũ quân Bạch Khởi học tập văn võ. Nhưng sự kiềm chế trong thời gian dài đã tạo nên tính cách nhấp nhổm không yên. Suy tính thiệt hơn. Phàm làm việc gì cũng ôm ấp hoài bão, muốn thử xem làm sao, ngộ nhỡ gặp khó khăn gian khổ thì lại trách trời oán người, xịt hết hơi.
Hạ Cơ gói lấy trăm lạng vàng đến chỗ thầy bói. Thầy bói sống trong nhà Chúc Từ bên cạnh cung Chương Đài. Vị thầy bói của vương thất này tướng mạo tinh anh, đôi mắt có thần, dường như có thể loé lên thể hiện ánh sáng của thần linh. Vị thầy bói này xưa nay không có qua lại gì với Hạ Cơ nhưng đều biết nhau.
Vừa thấy phu nhân thái tử thân tới Chúc Từ, thầy bói vội cúi đầu thi lễ.
Hạ Cơ nói: “Miễn lễ”.
Thầy bói khiêm nhường hỏi: “Muộn thế này Thái tử phi còn thân chinh đến đây, không biết có gì chỉ bảo?”
Hạ Cơ hỏi: “Việc bốc quẻ ngày mai do ông chủ trì phải không?”
Thầy bói nói: “Vâng”
Hạ Cơ nói: “Ông học thuật cao thâm, đoán được mệnh trời. Tôi và Dị Nhân cô độc lạnh lẽo, số mệnh nương tựa vào nhau. Nếu như Dị Nhân phải đến Hàm Đan xa xôi, đối với tôi khác nào trời tuyết thêm sương, chắc tôi không thể sống được. Hôm nay tôi mạo muội tới đây, chính là vì việc này. Xin ông bẩm báo với thần linh, đừng phái Dị Nhân tới Hàm Đan làm con tin. Đây là một trăm lạng vàng, xin ông vui lòng nhận cho. Nếu được như thế, mẹ con tôi sẽ không bao giờ quên”.
Hạ Cơ nói xong đặt túi vàng lên trên bàn.
Ông thầy bói là người thông minh, biết rõ thịnh tình của Hạ Cơ. Kết quả quẻ bói ngày mai, cho dù có phải là Dị Nhân hay không thì cũng không được nói là Dị Nhân. Nghĩ đến đây, ông hiểu ý nói: “Tôi đã hiểu dụng ý của Thái tử phi, xin hãy yên tâm mà về đi. Thần linh nhân từ, lấy thiện làm gốc, sẽ để cho Thái tử phi được toại ý”.
Hạ Cơ đẩy hai cánh cửa nặng chình chịch của nhà Chúc Từ bước ra, để lại phía sau không gian đen kịt và niềm hy vọng vô hạn. Chiều hôm sau, nghi lễ bốc quẻ được cử hành tại cung Chương Đài. Ánh mặt trời chênh chếch, bị làn khói hương quấn lấy lộ rõ màu trắng xanh. Các loại nhạc khi phát ra âm thanh réo rắt, mơ hồ không rõ như nồi canh đang hầm trên bếp. Tiếng mỡ lách chách chảy ra từ những miếng mai rùa, xương thú đang nướng trên than. Thỉnh thoảng lại vang lên những âm thanh phát ra do mai rùa, xương thú bị đốt nóng, truyền đi rất lâu trong cung điện rộng. Mùi khói lửa mang theo cái mùi tanh tanh, mọi người đứng đầy hai bên. Doanh Trụ và Hoa Dương phu nhân đã tới. Còn có một số quan sử mũ cao áo rộng, họ đều là các hoàng thân quốc thích, thầy bói, sứ uỷ có liên quan đến bốc quẻ và ngoại giao. Các thầy bói đeo mặt nạ, mặc áo lễ đang vây lại mỗi lúc một đông bên những vết nứt của mai rùa, xương thú bàn tán, phán xét.
Hạ Cơ cảm thấy tim mình đập thình thịch, dường như sắp bắn ra khỏi lồng ngực. Bà cảm thấy phía trước như có một làn sương mù bao phủ. Vị thầy bói đang ngồi trước bàn thờ lắc la lắc lư kia không phải là vị thầy bói hôm qua. Định thần lại, bà cảm thấy chính là ông ta. Bà buồn cười vì mình quá lo sợ mà nhìn ra như vậy.
Ánh lửa chiếu vào những người ngồi xung quanh đã nhạt đi, những vết nứt trên mai rùa xương thú càng rõ, càng tỉ mỉ. Kết quả chiêm bốc lập tức được công bố.
Thầy bói bỏ mặt nạ xuống và bắt đầu tiên đoán về những vết nứt kỳ quặc trên các mai rùa, xương thú.
Vào cái khoảnh khắc mà thầy bói bỏ mặt nạ ra, Hạ Cơ ngạc nhiên há hốc mồm, đó đâu phải là viên thầy bói cỏ thi mà là một gã gieo quẻ lạ hoắc. Hạ Cơ như vướng vào một mớ bòng bong, lơ mơ không hiểu: thế này là thế nào? Người đàn bà đáng thương ở chốn hậu cung này đâu có hay, chút ân huệ mà bà giành cho viên thầy bói cỏ thi ấy, nếu đem so với “chiêu” của những kẻ đã lão luyện ngón nghề đấu đá ở chốn cung đình như Phạm Thư và Đỗ Thương thì chỉ như trứng đem chọi với đá mà thôi. Ngay khi An Quốc quân tuyên bố việc chọn ai đi Hàm Đan làm con tin sẽ nhờ gieo bói cỏ thi quyết định, Phạm Thư đã nhắm ngay tới viên thầy bói ấy. Tối hôm ấy, khi Hạ Cơ đến điện thờ nhờ viên thầy bói, nhất cử nhất động, từng câu từng lời của hai người đã được một kẻ báo lại cho Phạm Thư không sót một chi tiết nhỏ. Sau đó, Phạm Thư sai hai thích khách bịt mặt, trói viên thầy bói đó lại đưa đến giam ở một hang núi thành Hàm Dương. Doanh Trụ thấy viên thầy bói mất tích liền sai Phạm Thư tìm một viên thầy bói khác để chủ trì nghi lễ vào ngày mai. Phạm Thư tìm về một thầy bói có thể hành sự theo ý mình và căn dặn hắn những điều cần nói, những việc cần làm.
Những việc này đối với Hạ Cơ vĩnh viễn là một điều bí mật không thể lường tới.
Viên thầy bói đằng hắng rồi cao giọng tuyên bố: “Dị Nhân là con tin!”
Nghe câu nói ấy, Hạ Cơ cảm thấy đau như xé ruột, ngất đi. Đám đông quần thần sau mấy giây lặng người giờ ồn ã những tiếng tranh cãi.
Viên thầy bói nhắc lại: “Dị Nhân là con tin!”
Hạ Cơ cảm thấy trời đấy xoay chuyển. Được Dị Nhân và Chu Kiệm dìu về tẩm cung. Sau một lát hồi tỉnh, Hạ Cơ nức nở than rằng: “Vũ An quân Bạch Khởi lại đang đi cầm quân, cả thành Hàm Dương này không có lấy nổi một ai giúp ta định đoạt cơ sự!”
Chu Kiệm nói: “Việc này còn mong định đoạt được gì nữa, vương mệnh như sơn, công tử Dị Nhân chỉ còn cách sang Triệu làm con tin thôi”.
Dị Nhân giọng đầy căm giận: “Thế ta không đi thì sao?”
Chu Kiệm nói: “Điều này mà còn phải hỏi sao, nặng thì bị chém, nhẹ thì bị giáng xuống làm thứ dân”.
Hạ Cơ và Dị Nhân đều lặng thinh không đáp. Lát sau một vị quan đại thần của Chiêu Tương Vương đến công bố chiếu lệnh của quốc vương: “Đại vương có lệnh, Tần vương tôn Dị Nhân sáng sớm mai lên đường sang Triệu, tối nay đến Trương Đài cung dự tiệc đưa tiễn”.
Viên quan đi rồi, Dị Nhân nói: “Bữa tiệc tối nay ta cũng chẳng muốn đi nữa”.
Hạ Cơ nói: “Con không đi là kháng mệnh bất kính”.
Chu Kiệm cũng nói: “Mẫu hậu nói rất phải. Công tử phải đi”.
Hạ Cơ rằng: “Dị Nhân con ta, xem ra con phải đi rồi. Mẹ không thể cùng con tới Chương Đài cung uống rượu, mẹ sẽ ở nhà thu xếp tư trang cho con!”
Dị Nhân nói: “Vội gì cơ chứ!”
Chu Kiệm nói: “Thái tử phi đại nhân, từ khi đại thần được Vũ An quân sai tới đây, thái tử phi và công tử đối đãi không bạc, bề tôi nguyện tri ân báo đáp. Công tử đại nhân cất bước tha hương, lành dữ khó lường, hoạ phúc đâu biết, một mình quạnh quẽ, vắng bóng người thân, công tử cần có một người bạn, dám xin thái tử phi cho kẻ hạ thần này được làm tên đánh ngựa hầu hạ công tử đến Hàm Đan”.
Hạ Cơ nghe Chu Kiệm nói mà trong lòng vô cùng xúc động.
Hạ Cơ cho Chu Kiệm về nhà từ biệt cha mẹ.
Dị Nhân bước ra từ Chương Đài cung, khoát tay gạt hai tên thái giám đang đỡ hai bên, liêu xiêu đi về. Bước vào phòng, nhìn thấy Hạ Cơ liền nói: “Mẫu hậu, nhi thần uống hơi nhiều! Quả là một lũ người không ra người, đầu to bụng phệ, hả hê với nỗi đau khổ của người khác! Đợi sau này nhi thần xưng vương, sẽ phanh thây xẻ thịt chúng ra, cho chúng không có chân mà đi, cho chúng chỉ là những bộ xương, những hũ mắm!”
Hạ Cơ thấy Dị Nhân đã say vội sai cung nữ dìu công tử về giường. Dị Nhân vừa đặt lưng xuống đã ngủ thiếp đi…
Khi Dị Nhân mở mắt ra đã thấy mình đang nằm trên chiếc xe ngựa do Chu Kiệm cầm cương. Trên xe có chất rương hòm, dao kiếm và cờ tiết. Trời cao đất rộng, chung quanh là một không gian hoang dã mênh mông. Mặt trời chiếu những tia nắng chói chang xuống con đường quanh co uốn khúc. Ngồi phía trước là Chu Kiệm, tay vung dây cương, phong thái thanh nhàn. Dị Nhân chợt giật mình, giọng rung lên theo tiếng lắc lư của xe: “Đây là đâu?”
Chu Kiệm đáp: “Chúng ta đang ở con đường lớn giữa Hàm Dương và Hàm Đan”.
Dị Nhân lại hỏi: “Nói vậy nghĩa là sáng nay các ngươi đã khiêng ta lên xe hay sao?”
Chu Kiệm đáp: “Đại vương có lệnh sáng sớm phải lên đường, không được chần chừ”.
Dị Nhân từ trên xe nhảy xuống, ghìm cương ngựa lại nói: “Chu Kiệm, ngươi đưa ta đến ẩn náu ở phong ấp của An Vũ quân, bọn chúng sẽ không tìm thấy ta! Ai muốn đến Hàm Đan thì đến!”
Chu Kiệm dừng xe an ủi: “Chứa chấp kẻ kháng chỉ tội cũng nặng như vậy, liệu Vũ An quân dám chăng? Nếu không đến Hàm Đan làm con tin hậu quả nghiêm trọng như thế nào, hạ thần đã nhiều lần thưa cùng công tử, nhẹ thì phế truất làm dân thường, nặng thì bị sát thân diệt tộc. Nếu đến Hàm Đan làm con tin, chịu qua được sóng gió này, chí ít công tử cũng còn có thể quay lại thành Hàm Dương, vẫn là Tần vương tôn. Nếu kịp chuyển mình theo thời thế, còn có thể được thăng tước thăng vị. Một bên là thân bại danh liệt, đại hoạ trước mắt, một bên là khổ tận cam lai, tiền đồ sáng lạn, đi theo hướng nào công tử hãy tự mình lựa chọn!”
Chu Kiệm nói thêm: “Đến nước Triệu rồi, chúng ta phải biết nắm lấy thời cơ. “Kinh Thi-Tiểu Nhã” đã nói: Trăm con sông nước cuộn sục sôi, ngàn vách đã cheo leo hiểm trở; vách cao thì tạo nên vực sâu, vực sâu thì lại có núi non. Thuỷ vô định hình, nhân vô định thế! Lợi hại là ở chỗ biết nắm bắt thiên thời địa lợi nhân hoà mà vận dụng cho mình”.
Dị Nhân lên xe, Chu Kiệm lại cho xe xuất phát hướng tới Hàm Đan xa xôi. Dị Nhân đã thấy lòng thanh thản đôi chút liền nói với Chu Kiệm: “Kể chuyện gì nghe đi, đi đường dài buồn quá”.
Chu Kiệm đáp: “Xin vâng, chúng ta đang trên đường sang Triệu, vậy kẻ hạ thần xin kể cho công tử nghe chuyện một con tin ở nước Triệu”.
Hồi ấy, sau khi Triệu Huệ Văn Vương băng hà chưa được bao lâu, Triệu Hiếu Thành Vương mới đăng cơ, tuổi còn nhỏ, chưa rành thế sự, việc triều đình nước Triệu do một tay Triệu thái hậu nắm giữ. Nước Tần chúng ta thấy đây là một cơ hội, Chiêu Tương Vương liền liên minh với nước Yến đánh nước Triệu. Triệu thái hậu nhận thấy Triệu quốc thế đơn lực mỏng, không thể chống chọi với liên minh Yến Tần nên cầu viện nước Tề. Tề vương đồng ý xuất binh nhưng có một yêu cầu rất khắc nghiệt, đó là con trai nhỏ của Triệu thái hậu là Trường An quân phải sang nước Tề làm con tin.
Trường An quân là bảo bối tâm can của Triệu thái hậu, được Thái hậu nhất mực thương yêu, Thái hậu dĩ nhiên không cho công tử sang Tề quốc làm con tin. Nguy cơ liên quan Tần Yến tấn công nước Triệu ngày càng nguy ngập, nước Triệu đã rơi vào tình thế cấp bách sinh tử tồn vong. Các văn võ bá quan thay nhau khuyên can Triệu thái hậu, hãy để Trường An quân sang nước Tề làm con tin, Tề quốc sẽ xuất binh sang cứu viện nước Triệu.
Triệu thái hậu không đồng ý, còn cao giọng tuyên bố: “Ai dám tiếp tục đến khuyên ta để Trường An quân đi làm con tin, ta sẽ nhổ vào mặt kẻ đó!”
Thấy thái hậu bảo thủ cố chấp như vậy, quần thần khiếp sợ không dám manh động nữa. Lần này có một viên quan tên Xúc Long, thấy quốc sự nguy cấp mà lòng đem lo lắng, quyết tâm sẽ đến khuyên can Triệu thái hậu. Người nhà đều khuyên ông đừng đi, có đi cũng chỉ chút lấy bẽ bàng, không cẩn thận thì giơ mặt cho Thái hậu phỉ nhổ.
Xúc Long nói: “Ta tự có cách chuyển thái hậu”. Triệu thái hậu đoán Xúc Long cũng chỉ đến vì việc đó nên nổi giận đùng đùng, cố ý chờ đợi. Xúc Long vào cung bộ dạng cung kính, khoan thai đến trước mắt thái hậu tạ tội mà rằng: “Chân lão thần bị đau, không đi nhanh được. Lâu lắm rồi không vào yết kiến thái hậu, biết mình có tội mà cũng chỉ tự dám nương tội cho mình. Có điều lòng hạ thần luôn lo lắng về sức khoẻ cho thái hậu, không hay thái hậu có được an khang, nên hôm nay muốn đến vấn an thái hậu”.
Triệu thái hậu trả lời: “Ta ngồi xe thì được, đi bộ thì không nổi”.
Xúc Long lại hỏi: “Thế thái hậu dùng bữa có được ngon miệng không?”
Thái hậu đáp: “Ta chỉ ăn cháo được thôi”.
Xúc Long liền tiếp lời, tâu với thái hậu dăm ba điều dưỡng sinh: “Trước đây lão thần cũng khẩu vị không tốt, ăn không ngon miệng, sau đó đã tự ép mình phải đi bộ luyện tập, mỗi ngày kiên trì đi vài dặm, ăn dần dần thấy ngon hơn, cơ thể cũng thấy dễ chịu hơn”.
Triệu thái hậu thấy Xúc Long không đả động đến chuyện Trường An quân, sắc mặt đã tươi vui trở lại nói: “Ta đâu thể đi xa được thế”.
Xúc Long đáp: “Lão thần có một đứa con trai, tên gọi Thư Kỳ, văn võ kém cỏi, thần thương yêu nó nhất, giờ thần tuổi đã cao, xin thái hậu khai ân cho nó làm chức vệ sĩ áo đen để bảo vệ vương cung”.
Triệu thái hậu rất nể mặt Xúc Long, đồng ý ngay rồi hỏi: “Thế con trai ngươi bao nhiêu tuổi rồi?”
Xúc Long đáp: “Mười lăm tuổi rồi, dẫu nó còn hơi nhỏ tuổi một chút nhưng thần vẫn mong thái hậu sẽ tiếp nhận nó trước khi nó được làm vệ sĩ, được như vậy lão thần dẫu có chết cũng không hối tiếc”.
Triệu thái hậu giễu cợt hỏi lại: “Bọn đàn ông các ngươi mà cũng yêu con trai mình thế sao?”
Xúc Long cũng đáp lại không kém: “Bọn đàn ông chúng thần còn yêu con trai mình hơn cả mẹ chúng”.
Triệu thái hậu cười nói: “Đã nói đến chuyện yêu thương con trai, thì đàn bà bọn ta phải hơn bọn đàn ông các ngươi”.
Xúc Long nói: “Cũng chưa hẳn là như vậy. Lão thần thấy Thái hậu yêu Yến hậu còn hơn cả Trường An quân”
Thái hậu phản bác: “Người nhầm rồi, ta yêu nhất vẫn là Trường An quân con trai ta!”
Xúc Long làm bộ nói: “Cha mẹ yêu thương con cái thì phải nhìn xa trông rộng cho chúng. Còn nhớ khi Yến hậu xuất giá, công chúa lên xe rồi mà thái hậu còn níu chân công chúa mà khóc, cứ nghĩ đến việc gả con tới nơi xa xôi là trong lòng lại buồn đau. Công chúa đi rồi, thái hậu ngày đêm thương nhớ, tâm tư vấn vương, chẳng phải thái hậu rất nhớ công chúa sao? Nhưng cứ mỗi khi cúng tế thì thái hậu vẫn khấn cho công chúa rằng, đừng bao giờ công chúa phải quay trở lại! Thế chẳng phải thái hậu đã nghĩ tới chuyện lâu dài cho công chúa đó sao, chẳng phải người sợ công chúa phạm vào điều gì thất thố mà bị người ta đuổi về hay sao? Thế chẳng phải thái hậu mong công chúa sẽ con đàn cháu đống để thay nhau kế nghiệp quân chủ nước Yến sao?”
Triệu thái hậu giọng quả quyết: “Đúng như vậy! Quả là ý ta”.
Xúc Long lại nói: “Thái hậu thử nghĩ xem. Từ ba đời trước cho tới nay, con cháu Triệu vương tại vị xưng hầu có được ai không?” “Không có!” “Chẳng riêng nước Trịêu, các nước chưa hầu khác cũng đang tính, liệu có còn có ai có thể duy trì gia tộc địa vị quý tộc ba đời không?” “Cũng không có!”
Xúc Long nhận thấy những điều mình nói đã thuyết phục được thái hậu, liền khảng khái nói liền một mạch: “Đây gọi là bản thân mình chịu hoạ trước mắt, con cháu mịnh chịu di hoạ sau này. Phàm là kẻ có chút địa vị đều tham vọng con cháu hậu duệ củng cố địa vị ấy. Ấy vậy mà tại làm sao không có ít con cháu các bậc quân vương đều không thể giữ vững địa vị do tổ tiên để lại? Lẽ nào đều do những kẻ hậu thế đều tài hèn sức mọn hay sao? Kỳ thực cũng đâu phải chỉ có vậy, mà là, địa vị tôn quý mà công lao không có, bổng lộc sung mãn mà thành tích thì không. Có địa vị tối cao, được đãi ngộ hậu hĩnh, lại gánh vác trọng trách về sự tồn vong của nước nhà, vậy nên nếu không có một chút công trạng nhỏ nhoi thì liệu có thể tồn tại được lâu không?”
Triệu thái hậu gật đầu đồng ý
Xúc Long nói tiếp: “Giờ đây thái hậu đã phong Trường An quân tước vị tối cao, lại ban cho thái tử đất đai màu mỡ, còn chưa để thái tử nắm giữ triều chính, nhưng lại không cho thái tử một cơ hội lập công với Triệu quốc. Ngộ nhỡ khi thái hậu trăm tuổi, Trường An quân thái tử không chút công lao, không chút nghiệp tích, vậy sẽ đâu có chỗ dựa để bảo trì cho địa vị của mình? Bởi vậy cho nên lão thần mới thấy thái hậu đối với Trường An quân không có được con mắt nhìn xa trông rộng như đối với Yến Hậu, yêu nam tử có phần kém nữ nhi!”
Lúc này Triệu thái hậu đã hoàn toàn tỉnh ngộ. Thế là thái hậu cho lệnh cho 100 cỗ xe đưa Trường An quân tới nước Tề làm con tin, nước Tề liền xuất binh ứng cứu. Và liên quân Tần Yến sau khi đã tiến đánh ba thành ấp, giờ đã phải rút quân khỏi nước Triệu.
Nghe xong câu chuyện, Dị Nhân thật lòng mà rằng: “Chu Kiệm, câu chuyện Xúc Long khiến Triệu thái hậu hồi tâm chuyển ý cũng làm động lòng người, khích lệ ta. Giờ ta đã không còn cảm thấy sợ hãi và bi quan quá mức chuyện đến Triệu làm con tin nữa”.
Khi những tia nắng bình minh còn đang náu mình yên ắng trong những bụi cỏ khẽ lay động bởi cơn gió cuối hạ, chiếc xe ngựa của Dị Nhân cuối cùng cũng đã lăn bánh vào mảnh đất nước Triệu. Màn đêm bao la giờ đã lùi hẳn về phía sau, vả cả thế gian sáng bừng lên theo những tia nắng bình minh từ những bụi cỏ. Hai bên đường có rất nhiều bờ sông, bờ ao, nơi những vì sao cuối cùng đang sắp tắt hẳn. Từng lớp sương mù đang dần tan loãng ra trên những cánh đồng, thửa ruộng trước buổi ban mai.
Qua màn sương mù, thấp thoáng xa xa một thành ấp nhỏ. Dị Nhân lên tiếng: “Đã bao ngày rong ruổi trên đường rồi, ta và ngươi lâu nay chỉ biết ăn gió nằm sương, thức ăn là cây, nhà là đệm cỏ, đợi lát nữa vào thành rồi, phải tìm một lữ điếm hảo hạng mà ăn một bữa, ngủ một giấc cho thoả lòng thoả dạ”.
Chu Kiệm nói: “Công tử Dị Nhân, mới đến nước Triệu, tình hình còn chưa rõ hay dở như thế nào. Vì sự an toàn của công tử, xin công tử hãy lên xe ngồi vào chỗ hạ thần, để hạ thần vào trong xe ngồi cầm cờ tiết”.
Cờ tiết là một vật trang sức nhỏ, chứng tỏ danh phận của kẻ cầm nó. Xe vừa vào trong thành, Dị Nhân đã nhìn thấy ngay một lữ điếm cờ xí bay rợp, hai người liền đánh ngựa rẽ vào. Chủ nhà dẫn cả hai vào một gian phòng sạch sẽ yên tĩnh. Chu Kiệm và Dị Nhân vội vã rửa chân tay và chuyển các rương hòm trên xe vào phòng. Dị Nhân, Chu Kiệm tay cầm cờ tiết và đao kiếm cảm thấy hơi ngập ngừng giữa thành trì nhỏ xa lạ không lấy gì làm phồn hoa này. Dẫu vậy, một quán rượu rất rộng ngay trước cửa lữ điếm vẫn khiến cả hai bụng đói cồn cào hơn.
Dị Nhân và Chu Kiệm bước vào, gọi một bàn đầy thức ăn và cơm, rượu. Dị Nhân nói, đây là lần đầu tiên họ có một bữa ăn thực sự suốt mười mấy ngày qua. Dị Nhân và Chu Kiệm, từng bát rượu đầy, lần lượt uống cạn.
Tấm cờ tiết mà họ đặt trên bàn đã thu hút sự chú ý của một khách ăn trong quán. Vị khách ăn này cũng ăn mặc theo kiểu người nước Tần, gương mặt hồng hào, đôi mắt ánh lên vẻ nhanh nhẹn. Người này chính là môn khách của Lã Bất Vi, tên gọi Dương Tử, cũng vừa từ Hàm Dương trở về. Lã Bất Vi phát một số môn khách đến kinh đô của các nước chư hầu lớn để thu thập tình hình kinh tế chính trị đồng thời với việc buôn bán, tiện cho Lã Bất Vi nắm bắt động thái các bên, cao tay phát triển công việc buôn bán của mình.
Nghe tiếng Dị Nhân gọi chủ quán mang rượu thịt tới, Dương Tử đoán ngay họ không phải là người ở đây, song cũng hoàn toàn không ngờ rằng đây là một Tần vương tôn đại danh lẫy lừng.
Một lát sau, Dương Tử tiến lại hỏi: “Hai vị đây không phải là người nước Triệu đúng không?”
Dị Nhân và Chu Kiệm e ngại sinh chuyện phiền phức vội cùng đồng thanh đáp gọn: “Đúng”
Dương Tử xoa xoa tay lên lá cờ tiết không muốn rời tay, hỏi: “Nhị vị công tử, các vị nhất định là vương công quý khách của nước chư hầu nào đó!”
Chu Kiệm thề thốt: “Không, chúng tôi là thương nhân nước Tần”
Dương Tử tự đắc ý, nói: “Thương nhân? Tôi không tin. Chỉ có hoàng thân quốc thích mới có thể cầm cờ tiết chu du thiên hạ”
Chu Kiệm giấu diếm nói: “Đây là chúng tôi mua lại từ một vị quan to ở Hàm Dương, chuẩn bị tới buôn bán ở Hàm Đan”
Nghe Chu Kiệm nói vậy, Dương Tử rất vui. Mỗi lần ra ngoài mua đồ cho Lã Bất Vi, Lã Bất Vi đều không chú ý, lá cờ tiết màu sắc đẹp đẽ, cán nhẵn này mà mang về thành Hàm Đan, nhất định Lã Bất Vi sẽ rất thích. Nghĩ đến đây, Dương Tử hỏi: “Xin hỏi các vị công tử, lá cờ này bán bao nhiêu tiền?”
Chu Kiệm trả lời: “Một nghìn đồng”
Dương Tử đáp: “Tôi mua”
Quân tử nhất ngôn, bốn ngựa khó đuổi. Chu Kiệm và Dị Nhân sau khi đưa mắt nhìn nhau, ngấm ngầm gật đầu với nhau: bán đi.
Dương Tử mua được cờ tiết, vui mừng ra khỏi quán rượu. Anh ta ngẩng đầu nhìn, mặt trời đã treo trên đỉnh đầu. Vị môn khách trẻ tuổi này tiếp tục cuộc hành trình. Túi hàng không nặng lắm được đeo sau gáy, tay cầm cờ tiết, một cảm giác phong lưu tôn quý cứ thế nảy sinh.
Ấp thành rất nhỏ, chẳng mấy chốc đã bị Dương Tử bỏ lại sau. Phía trước là một cánh rừng rậm rạp. Con đường nhỏ này, Dương Tử không hề xa lạ.
Anh biết, qua cánh rừng này, đi tiếp khoảng mười dặm nữa sẽ đến toà thành, con đường nhỏ này bị những cành lá xanh phủ đầy, nhấc chân lên bị những cành lá mắc vào chân. Giữa lúc ấy, Dương Tử bị vướng lảo đảo. Anh ta bực tức chửi đổng một câu: “Cái cành cây đáng chết này!” “Không phải cây đâu, người đấy!” Một kẻ náu sau một bụi rậm bỗng lao ra, khiến Dương Tử hồn siêu phách lạc.
Tay này cao to, tay cầm con dao sáng lạnh toát, sau lưng đeo một cái rọ có vài con rắn thò đầu ra.
Dương Tử run lẩy bẩy như chiếc lá bị quật đi quật lại trong gió nói: “Tôi không có tiền”. Người kia cười vẻ lạnh nhạt: “Chẳng lẽ Tần vương tôn nhà các ngươi lại không có tiền!” Dương Tử quay đầu lại hỏi: “Tần vương tôn? Tần vương tôn nào?”
Người kia nói: “Ngươi không cần giả ngây giả ngô nữa, ngươi chính là Dị Nhân, cháu của Chiêu Tương Vương đến Hàm Đan làm con tin!”
Dương Tử nói: “Ông khách hào phóng ơi, ông nhận lầm người rồi, tôi đúng không phải là Dị Nhân công tử của nước Tần!”
Người kia vung dao lên và nói: “Ngươi sắp chết rồi mà còn định giở trò lừa bịp ta ư? Công tử nước Tần là Tử Hề đã nói rõ cho ta biết, người mà trong tay cầm cờ tiết, đi trên con đường này đến thành Hàm Đan thì chính là Dị Nhân!”
Dương Tử nói: “Lá cờ này là do ta mua lại từ tay một vị công tử!”
Người kia hỏi: “Vậy thì ngươi không phải là Dị Nhân?”
Dương Tử trả lời: “Không phải”
Người kia bán tín bán nghi hỏi: “Ngươi không phải là Dị Nhân thì là ai?”
Dương Tử trả lời: “Là Dương Tử, môn khách trong thành Hàm Đan”
Người kia quyết chí đến cùng: “Môn khách? Chủ nhân của ngươi là ai?”
Dương Tử trả lời: “Lã Bất Vi”
Con dao trong tay người kia lập tứ rơi xuống đất, người đó lẩm bẩm “Lã Bất Vi?”
Dương Tử hỏi: “Sao, anh cũng biết ông ấy?”
Thực ra người mà chặn đường dùng dao đe doạ Dị Nhân trên chính là Hoàng Phủ Nghĩa. Phạm Tuy, Tử Hề, những người bạn đó đã đi dò la khắp nơi để tìm thích khách, họ gặp Hoàng Phủ Nghĩa, người chuyên dùng rắn để biểu diễn ở thành đô của nước Vệ, bọn họ biết Hoàng Phủ Nghĩa là người võ nghệ cao cường, là người có bản lĩnh, liền mời anh ta đến phủ Tướng quốc ở Hàm Dương, dùng tiền mua chuộc anh ta giết Dị Nhân. Lúc đầu Hoàng Phủ Nghĩa không đồng ý, Tử Hề nói giết Dị Nhân để hắn lên làm thái tử thống lĩnh quân đội tiến vào thành Bộc Dương giết Vệ Nguyên quân, lúc này Hoàng Phủ Nghĩa mới đồng ý làm hiệp khách thích sát Dị Nhân. Lúc rời khỏi thành Hàm Dương, Tử Hề cho Hoàng Phủ Nghĩa biết, Dị Nhân công tử trong tay cầm cờ tiết. Nhưng Hoàng Phủ Nghĩa không hề nghĩ rằng mình nhận nhầm Dương Tử là Dị Nhân. Anh ta nghe Dương Tử là môn khách của Lã Bất Vi, chợt anh cảm thấy rất nhớ người bạn kể từ khi từ biệt đến nay mười mấy năm chưa gặp, và muốn cùng Dương Tử đến Hàm Đan bái kiến Phú Thương. Nhưng chợt nhớ đến sự uỷ thác của Phạm Thư và Tử Hề, anh vẫn chưa lần ra tung tích của Dị Nhân mà đã đến Hàm Đan gặp bạn bè thì không xứng là một đại trượng phu.
Dương Tử thấy rằng vừa nói đến Lã Bất Vi mà thái độ của người này đã thay đổi khác thường, liền tiếp tục miêu tả khuếch đại Lã Bất Vi phát tài giàu có như thế nào.
Hoàng Phủ Nghĩa quyết định trước hết trở về đi tìm Dị Nhân, anh bèn hỏi Dương Tử địa chỉ của quán rượu vừa rồi và dung mạo của Dị Nhân.
Dương Tử miễn cưỡng trả lời: “Quán rượu đó nằm ngay giữa phố, nhưng còn hai vị công tử đó tôi cũng không biết ai là Dị Nhân! Dù sao một người có đôi mắt sáng, còn người kia hai mắt lồi ra như mắt cá vàng. Còn nữa, hai người này có chiều cao không bằng nhau”. Hoàng Phủ Nghĩa chắp tay cúi chào Dương Tử và nói: “Rất xin lỗi đã kinh động đến công tử. Tôi và Lã Bất Vi năm xưa đã từng là bạn của nhau, hiện giờ chịu uỷ thác của người khác, trượng nghĩa hành hiệp, không thể chối bỏ. Xin hãy về nói với chủ nhân của anh rằng, một ngày gần đây tôi sẽ đến Hàm Đan để thăm ông ấy.”
Dương Tử nói: “Dám hỏi tôn tính đại danh của hiệp khách?”
Hoàng Phủ Nghĩa trả lời: “Người biểu diễn rắn giang hồ”. Hoàng Phủ Nghĩa quay lại quán rượu trong thành, bằng ánh mắt của mình hòng tìm ra hai người có bộ dạng giống như Dương Tử miêu tả trong đám thực khách trong quán. Anh liếc mắt qua một lượt nhưng không phát hiện ra ai là người mà anh muốn tìm.
Trong thành ấp bé nhỏ này không có đến mấy quán rượu, nhà trọ, Hoàng Phủ Nghĩa đã bị Dương Tử lừa rồi, anh ta không nhìn thấy ai có đôi mắt sáng hay đôi mắt lồi ra như mắt cá vàng. Anh ta đành phải đến một con đường nhỏ trong rừng nơi mà anh vừa gặp Dương Tử để ngồi đợi.
Hoàng Phủ Nghĩa đã bỏ sót chi tiết Dị Nhân và Chu Kiệm cùng đi trên xe. Đúng lúc Hoàng Phủ Nghĩa dò xét ở dịch quán thì Dị Nhân và Chu Kiệm đang khoan thai đi ngắm hoa ở hai bên đường.
Hoàng Phủ Nghĩa khổ sở ngồi đợi tại một con đường nhỏ trong rừng, nhưng xe ngựa của Dị Nhân và Chu Kiệm lại khởi hành từ một con đường lớn đến thành Hàm Đan.
Hoàng Phủ Nghĩa giờ đây chỉ biết làm bạn với mấy chú rắn và qua đêm một cách phấp phỏng lo âu trên con đường trong rừng này. Sau tất cả những sự việc xảy ra, Hoàng Phủ Nghĩa không tìm được chút gì về manh mối của Dị Nhân, anh đành tự nhủ: “Chỉ có thể đến thành Hàm Đan mới tìm thấy”.
CHƯƠNG V
TÙNG ĐÀI PHONG UÝ
Triệu Hiếu Thành Vương trong sự tưởng tượng của Dị Nhân và Triệu Hiếu Thành trên thực tế khác hẳn rất nhiều. Dị Nhân đã từng nghe ông mình là Chiêu Tương Vương kể, sau khi Triệu Huệ Văn Vương chết đi, Triệu Hiếu Thành vương kế thừa sự nghiệp tiên tổ, nam chinh bắc chiến, vũ dũng hơn người, hùng tài đại lược, trị quốc hữu phương. Trong số bảy nước là Tề, Sở, Yên, Hàn, Triệu, Nguỵ và nước Tần, ngoài nước Tần ra nước Triệu được coi là có thế lực mạnh nhất. Như vậy trong con mắt của Dị Nhân đã hình thành nên một vị vua có tướng mạo đường đường cao ngạo.
Nhưng khi Dị Nhân và Chu Kiệm đến thành Hàm Đan, vào chầu vị quốc quân này, thì nhìn thấy một vị vua gày gò yếu đuối, thấp bé như một đứa trẻ mới lớn. Khuôn mặt bị che bởi chíêc mũ đế vương hầu như không còn một chút sinh khí.. Nhưng điều khiến Dị Nhân có ấn tượng nhất là những chiếc râu lưa thưa mà người đó đang đeo.
Triệu Hiếu Thành Vương nói trong hơi thở phều phào: “Dị Nhân công tử, trên đường đi thật vất vả!”
Dị Nhân cúi mình trả lời: “Đa tạ sự quan tâm của đại
📎 labatvi2t..g3850
Đăng nhập để trả lời
0
Ah, Chào Culong đi vắng mới dzìa

lã Bất Vi ( bất dịdh ) vẫn chờ Cu Long đấy chứ

Chác là nhờ mấy ngón tay thần của CuLong....thanh toán hết mấy chương của bạn Long dùm Ly luôn đi hén

Cảm ơn Culong nhiều lắm

Đi xa dzìa có mua quà cho mọi người khg dzậy, [:D]

Chúc Culong luôn dzui hén

Thân ái
Đăng nhập để trả lời
0
CuLong ơi!

Lúc trước bạn bận việc không đánh máy tiếp được, HTLĐ có theo dõi quyển 2 tính đánh máy cùng bạn, nhưng giờ bạn lại tiếp tục tham gia được, nên HTLĐ lại thôi. Tuy nhiên HTLĐ thấy hình như quyển 2 bạn đưa lên còn thiếu chương IV "Số phận khó lường" thì phải. Vì thấy bạn đưa chương III lên là tới chương V luôn, không thấy chương IV đâu hết nên HTLĐ hơi "théc méc" một chút đó mà. Không biết là chương này bạn đang đánh máy hay là bạn bị bỏ sót vậy?

Xem quyển 2 HTLĐ thấy bản gốc có hơi nhầm lẫn 1 chút: Có đến 2 chương V "Con tin Dị Nhân" và "Tùng đài phong uý". Rất mong ct.Ly xem lại dùm.

Thái Nhi ơi!

Bà con sắp thất nghiệp rồi nè (vì các truyện cần đánh máy đã gần xong hết rồi). Nếu Thái Nhi rảnh thì mau mau scan truyện lên cho bà con cùng đánh với nhé!

Thân!
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-15 09:51:42ct.ly>
HTLD à,
Thanks bạn nhé. CuLong sẽ kiểm tra lại phần của mình.
Sau đây là LBV tập 7 (từ đầu đến hết chương XV)



Suy nghĩ một lúc Lã Bất Vi lại thấy suy nghĩ lúc nãy của mình hơi hoang đường, quả phụ Thanh dáng vẻ thanh tú, xinh đẹp một lần nữa lại xuất hiện trước mặt Lã Bất Vi. Không biết ai là người đẹp nhất, Lã Bất Vi cũng không thể xác định được. Sau cùng, Lã Bất Vi tự giải thích: “Sắc đẹp của hai người ngang nhau, ai đứng trước mặt mình thì người ấy là đẹp nhất”.
Bây giờ Triệu Cơ đang đứng ở trước mặt Lã Bất Vi.
Lúc chập choạng tối, Lã Bất Vi được một thị nữ ở chốn hậu cung của điện Chiêu Thanh mời đến. Triệu Cơ đang chờ đón Lã Bất Vi, ánh mắt đong đưa, tiệc rượu thơm lừng. Triệu Cơ nói với Lã Bất Vi, từ lúc quân Tần tiêu diệt được Đông Chu, đã muốn bày tiệc rượu, chúc mừng chiến công của tướng quốc. Lã Bất Vi nói với Triệu Cơ, ông ta cũng mong ngày mong đêm để được đến hậu cung thỉnh an Vương Hậu.
Triệu Cơ và Lã Bất Vi ngồi cách nhau một bức tường, hai người hàn huyên một cách miễn cưỡng, không biết là do lâu ngày họ không gặp mặt hay cả hai bên giờ đã sinh hoa phú quý, quyền cao chức trọng, thân phận đã hoàn toàn đổi thay, hoặc là đang có bao nhiêu gương mặt cứng nhắc của các thị nữ và các thái giám bên cạnh, nên cuộc nói chuyện của hai người gò bó, khách sáo, chẳng có vẻ gì thân thiết của cuộc hàn huyên giữa hai người từng là vợ chồng, có một đứa con.
Mỗi lần Lã Bất Vi gặp Triệu Cơ đều thấy Ung Chính ở xung quanh cô, nhưng lần này không thấy nó đâu bèn hỏi: “Thái tử điện hạ đâu rồi?” Khi ở chỗ đông người, Lã Bất Vi gọi Ung Chính là “đại công tử”, từ khi Dị Nhân lên ngôi, Triệu Cơ là Vương Hậu thì gọi thành thái tử, còn khi chỉ có ông ta và Triệu Cơ thì gọi là “con trai”. Triệu Cơ hiểu rõ, Lã Bất Vi bỏ đi ba chữ “của chúng ta”, không nói ra nhưng cả hai người đều hiểu rằng Lã Bất Vi nói: “con trai của chúng ta”.
Câu hỏi của Lã Bất Vi làm Triệu Cơ giật mình, cô chợt nghĩ cô và Lã Bất Vi tối nay phải hàn huyên những gì, làm những gì, nghĩ tới đó cô xua tay về phía cung nữ và thái giám nói: “các ngươi lui cả đi”.
Trong phòng chỉ còn lại có hai người, Triệu Cơ nói một cách phóng đãng: “Tướng quốc xem, nãy giờ chúng ta toàn nói chuyện cứng nhắc, vô vị, như thể người dưng nước lã gặp nhau?”
Lã Bất Vi bây giờ cũng không phải chịu gò bó nữa, đùa lại: “Vi thần đâu dám bừa bãi trước mặt thái hậu?”
Triệu Cơ hỏi lại: “Tướng quốc của ta, ngươi không dám bừa bãi, người còn muốn bừa bãi như thế nào nữa? ta nghĩ…”
Lã Bất Vi nói: “Như vậy Lã Bất Vi vẫn chưa đã khát”. Triệu Cơ nói tiếp: “Đêm nay ta nhất định phải xem tướng quốc bừa bãi như thế nào?”
“Đêm nay…” trong lòng Lã Bất Vi vừa kinh ngạc, vừa vui mừng hỏi: “Đại vương hôm nay đến chỗ Di Hồng hay chỗ các cung nữ khác rồi?”
Triệu Cơ nói: “Tướng quốc của ta, ngươi yên tâm đi, ta không để ngươi phải lo lắng như vậy đâu! Người cũng biết, đại vương ngoài Di Hồng còn có bao cũng nữ đẹp như hoa như ngọc, phải khoảng nửa tháng nữa mới sủng ái một lần, tức khoảng mồng một mồng hai đầu tháng mới đến chỗ ta, chỉ cần đại vương không nhìn thấy, thử hỏi có đứa nào gan chó dám nghi ngờ ta đường đường một vương phi, dám nghi ngờ ngươi là tướng quốc nước Tần?”
Rất nhanh chóng, hai người đã cuốn lấy nhau. Sau vài tiếng đồng hồ, cả hai đều mềm rũ xuống, Sau một lúc nghỉ ngơi, hai người hàn huyên tâm sự.
Triệu Cơ nói, để che mắt mọi người, tướng quốc có thể nhận làm thái phó cho Ung Chính, như vậy khi ra vào hậu cung sẽ không bị người khác đoán này đoán nọ, nói ngược nói xuôi. Lã Bất Vi nói, như vậy cũng tốt, con trai có mấy vị thái phó rồi, ta lại tiếp tục làm thái phó như vậy là bù vào cho đủ số lượng. Nhưng việc này phải bẩm với Tần vương, Triệu Cơ nói, đợi con trai lên làm Tần vương, giang sơn xã tắc này chẳng phải là của ta và nàng sao?
Triệu Cơ nói: “Mỗi lần đại vương không ở lại chỗ ta, ta sẽ báo cung nữ đưa chàng đến, chàng đến nhé”. Lã Bất Vi nói: “Như vậy không được năm rộng tháng dài, e rằng sẽ lộ mất mọi chuyện”. “Vậy phải làm thế nào?” Triệu Cơ hỏi. Lã Bất Vi trả lời: “Khi đại vương không có ở đây, nàng hãy treo một dải lụa dài màu xanh ở cửa nhỏ phía bên ngoài hậu cung, không cần có đèn nến làm gì, ta sẽ gõ ba tiếng ở phía ngoài phòng của nàng, nàng ra mở cửa là được rồi”.
Triệu Cơ bảo: “Vậy ngày nào thiếp cũng phải treo dải lụa ở khe cửa” Lã Bất Vi nói: “Như vậy không được, việc gì hăng hái quá cũng hoá dở, tốt quá hoá xấu. Lòng ham muốn của con người, ai cũng có, không có gì là sai cả. Dù là dân đen áo vải cho đến người quyền cao chức trọng hay bậc thánh hiền cũng đều có tai, mắt, miệng và dục. Nhưng không thể không kiềm chế những ham muốn đó Vương Phi, nàng không hy vọng Lã Bất Vi trở thành người có chí lớn dự tính được cả việc của trời đất, tiếng thơm lưu truyền muôn đời hay sao? Bậc thánh hiền tự kiềm chế mình tức là khống chế, bức ép bản thân. Để tai có thể không nghe, mắt không chán, miệng không được thoả mãn, dục không thừa thì đều phải tự kiềm chế. Nếu không sẽ bị hao tổn gân cốt, mạch máu sẽ bị ngưng trệ, bị cửu khuyết. Nếu ta mà yếu đuối như vậy, đừng nói là ta không thể giúp được vua Tần điều hành quốc sự mà ngay cả việc ở bên nàng cũng không được chấp nhận”.
Triệu Cơ vừa nũng nịu vừa trách mắng nói, thái phó chàng đừng lấy những điều lý luận của bậc tiên sinh trách móc đệ tử mà trách móc răn dạy ta, ta cứ muốn chàng phải đến.
Cứ thế cho đến những năm sau, cho dù xuân hạ thu đông, ở trên cửa nhỏ của hậu cung cung Chương Đài, ở một nơi không được người khác chú ý lắm, luôn phất phơ một dải lụa màu xanh, giống như đồng ruộng đầu xuân vừa nhú lên chồi biếc. Đương nhiên, ngoài Lã Bất Vi và Triệu Cơ, chẳng ai chú ý tới nó.
Việc Lã Bất Vi làm thái phó của Ung Chính đối với vua Tang Tương thì thuận lợi vô cùng. Còn đối với Lã Bất Vi và Triệu Cơ thì đúng là ý trời thuận với lòng người. Riêng với Ung Chính thì không như vậy, thậm chí có phần hơi ấm ức. Khi đứa trẻ mười mấy tuổi này bị Triệu Cơ dẫn vào gặp Lã Bất Vi, nó bèn dẩu cái môi đã lún phún lông tơ ra nói: “Thái phó nhiều giống như trâu ngựa rồi, còn cần thêm làm gì?”
Ung Chính dần lớn lên dưới ánh mắt yêu thương của Lã Bất Vi và nỗi nhớ thương không dứt của ông ta đối với nó. Mặc dù thời gian Ung Chính là Lã Bất Vi ở bên cạnh nhau không nhiều, mặc dù Ung Chính không biết gì về việc này hoặc biết không rõ lắm, nhưng lòng quan tâm của Lã Bất Vi với cốt nhục, với hậu duệ của mình thì sâu sắc như giếng khơi. Không giống với các ông bố bình thường khác, Lã Bất Vi không được đùa với con, không bế con trên vai mà trêu đùa hoặc dạy nó bi bô tập nói. Đương nhiên, một phần là do trên hình thức vua Tang Tương mới là cha của nó, Lã Bất Vi không thể hiện lòng yêu thương và quan tâm của mình một cách lộ liễu và thái quá, một phần nữa là Lã Bất Vi ít khi thể hiện điều gì. Thời gian ông ta ở bên cạnh con không nhiều, chỉ lúc nói không để ý, ông ta mới chăm chú nhìn vào gương mặt sắc nét của nó, tìm kiếm những đặc điểm riêng của mình trên cái sinh thể mà mình đã tạo ra. Còn Ung Chính, nó không hề biết Lã Bất Vi là cha nó, thỉnh thoảng phát hiện vị thái phó này nhìn chằm chằm vào mình mà không hề phát ra lời khen ngợi làm nó vui thích, hoặc biểu thị bất kỳ hành động yêu thương thân thiết nào. Ung Chính không thích bị Lã Bất Vi nhìn chằm chằm kiểu đó. Thậm chí còn cảm thấy nghi hoặc và ghét hành động này. Nó không hề biết rằng, qua ánh nhìn đó Lã Bất Vi đặt vào nó bao nhiêu kỳ vọng, mong nó khôn lớn thành người, trở thành một quân vương xuất sắc của nước Tần.
Nghi thức bái nhận thái phó của Ung Chính cũng được giản lược gần hết, chỉ làm qua lễ đệ tử, rồi khắc quan hệ tiên sinh đệ tử này trên Ngọc phủ, sau đó Lã Bất Vi hỏi Ung Chính đã đọc qua những cách pháp chế nào, rồi nói rằng phải nên tập trung vào bài vở ra sao.
Ung Chính cảm thấy chán ngắt những nghi thức gò bó này. Nghi thức vừa kết thúc, nó bèn chạy ra sàn lớn của điện Chiêu Thanh chơi. Tiết trời mùa thu se lạnh, gió thổi xào xạc hun hút, chỉ nghe tiếng chim kêu ve hót mà không thấy bóng dáng của chúng đâu. Ung Chính nhìn khắp nơi, chẳng có đứa trẻ nào tầm tuổi với nó, thỉnh thoảng có vài bóng dáng vội vã của những người trong cung đi ngang qua. Bỗng nhiên, trong lòng nó trào lên cảm giác cô đơn, trống trải, chơi với ai đây? Chơi cái gì?
Một loạt tiếng dế kêu rất vui tai làm Ung Chính thích thú, nó tìm nơi phát ra tiếng kêu, nhìn thấy ở gốc cây ở đằng sau sân lớn đứa con trai của Di Hồng đang chơi dế, Ung Chính tiến về phía ấy, nhìn thấy hai con dế to béo mập trong hộp gấm, đang hăng hái chọi nhau. Nó cũng có mấy con dế, nhưng không có con nào hùng dũng hăng hái như hai con này. Sau khi xem một lúc, Ung Chính nói với đứa bé kia: “em à, cho anh mượn chơi đi”. Mặc dù hai đứa là anh em cùng cha khác mẹ, nhưng do sống ở hai nơi khác nhau, lại do hai bà vú khác nhau nuôi dưỡng nên chẳng có vẻ gì là anh em thân thiết quyến luyến với nhau cả.
Đứa trẻ kia trông yếu đuối, gầy guộc, nó nói, đây là dế của nó, không cho mượn. Ung Chính lại hỏi mượn lần nữa, nó vẫn không cho. Ung Chính tức giận nói: “Ta là thái tử, phụ vương nói rằng mọi thứ trong thiên hạ đều là của ta, huống hồ là hai con dế của nhà ngươi”. Nói xong tiến lại giằng lấy, đứa kia đậy nắp hộp lại không cho. Hộp gốm để hở ra một ít, một con dế nhảy ra ngoài, nhảy được hai ba cái thì đến phía chân Ung Chính. Ung Chính nhìn thấy, tiến lên một bước dẫm bẹp con dế, con dế lập tức tan thịt nát xương.
Đứa kia kêu khóc ầm ĩ, lúc ấy Ung Chính mới cảm thấy trút được giận, mới buông tay ra, đứa kia vội vã đi nơi khác. Nhìn theo dáng của nó, Ung Chính lẩm bẩm một cách tức giận: “Ta không lấy được thứ mà ta thích chơi thì cũng không để ngươi giữ được”.
“Nói đúng lắm! Thái tử lẽ ra phải dẫm chết cả con dế kia” Một giọng eo éo cất lên từ phía sau
Ung Chính quay lại thấy một vị thái giám còn trẻ, có gương mặt của đứa trẻ con quen quen, hình như ta đã nhìn thấy ở hậu cung.
Vị thái giám trẻ này đã đứng ở bên cạnh được một lúc
Ung Chính cảm thấy lời nói của vị thái giám này rất dễ nghe, hơi có cảm tình với anh ta. Anh ta nói rằng, ở chỗ anh ta không những có nhiều dế biết nhảy, biết chọi mà còn có cả những tượng gốm được nặn với nhiều hình thù khác nhau kiếm gỗ, đao gỗ, bảo Ung Chính tới chỗ anh ta chơi. Vị thái giám trẻ này cũng ở trong cung. Ung Chính tới đó vừa nhìn đã thấy ở trên giá quả nhiên có những đồ chơi mà anh ta vừa nói, Ung Chính cảm thấy hứng thú với những đồ chơi ấy. Chơi dế một lúc lại quay ra nặn tượng gốm. Ung Chính chơi mãi cảm thấy không chán với những con hổ con báo và những con thú khác được nặn bằng gốm, nó đặt hổ và giữa và cho những con thú khác ở xung quanh bảo vệ nó.
Ung Chính nói hổ là vua của muôn loài, ta sẽ là hổ của muôn dân.
Sau mấy tiếng đồng hồ, vị quan thái giám trẻ tuổi đó nói với nó, thái tử điện hạ mau trở về, nếu không Vương Hậu tìm. Những đồ chơi này điện hạ thích, ngày mai thần sẽ đem đến cho điện hạ.
Ung Chính cảm thấy lưu luyến vị thái giám thân thiện hoà nhã này, bèn nói ngày mai ngươi hãy đến chỗ ta, bảo ta đọc sách, chơi với ta. Ung Chính thấy, sau khi nó nói như vậy, vẻ mặt của vị thái giám trẻ sáng bừng lên, nói, quả thật là tiểu nhân có nằm mơ cũng không thấy.
Đi một đoạn khá xa, Ung Chính mới nhớ ra là mình chưa kịp hỏi họ tên của vị thái giám ấy, thế là nó quay lại hỏi.
Vị quan thái giám đó cung kính trả lời nó, tiểu nhân họ Triệu, tên Cao, là người nước Triệu
Mưa dầm triền miên không dứt ba ngày ba đêm khiến cho Lã Bất Vi và các môn khách nô dịch của ông ta mặt mày ủ dột và lo lắng vô cùng. Sau ba ngày, tuy mưa đã ngớt nhưng nước lũ vẫn tràn ngập khắp nơi còn bầu trời thì đen kịt như sắp đổ mưa xuống. Bờ bên sông kinh đô cũng lầy lội khiến xe ngựa không thể nào qua lại được. Lã Bất Vi ngồi trên kiệu, các phu kiệu khênh dọc từ sông theo hướng từ Tây-Đông xem xét tình hình lũ lụt. Cái kiệu nhỏ rung lẩy bẩy như thể một mảng da cừu trôi lềnh bềnh giữa mênh mông biển nước đỏ ngầu. Hơi nước lạnh xô đến khiến người ta cảm thấy đây không phải là thời tiết đầu xuân mà là cái rét lạnh thấu xương của tiết đầu đông.
Vùng này là khu vực quan trọng, hồi còn là thương nhân không ít lần Lã Bất Vi đã qua lại đây. Ở đây đất đai màu mỡ, mưa thuận gió hoà, lúa ngô dồi dào, dân chúng đông đúc giàu có, lưu lại cho Lã Bất Vi những ấn tượng sâu đậm. Nhưng mấy năm gần đây, do mưa lũ quá nhiều, mấy con sông lại bị cải tạo, phần lớn đồng ruộng không có nước tưới biến thành ruộng hoang nứt nẻ. Đồng thời lại có những dòng sông hồng thuỷ dâng mạnh, tràn lên gây ngập, sông Kinh là một trong những dòng sông ấy. Sau khi Hồng thuỷ, nhà mục đất nũng, dân chúng không sống nổi, Lã Bất Vi vừa điều quân đi diệt Đông Chu trở về, lại nhận được cấp báo của quận Dương Kinh, cần triều đình cứu tế mười vạn thạch lương thực. Trước khi cho cứu tế, Lã Bất Vi không kể trăm dặm xa xôi, đích thân đi dọc sông Kinh để cho rõ ngọn ngành.
Màn kiệu của Lã Bất Vi được vén lên để nhìn cho rõ cảnh vật bên ngoài
Lã Bất Vi nhìn thấy ở phía trước có một đám người đang tụ tập, cúng tế cái gì đó, những tiếng rì rầm bì bõm nối tiếp nhau vọng lại. Tới gần đấy, Lã Bất Vi vừa xuống kiệu nhìn thấy thì vô cùng ngạc nhiên, một đám dân thường mặt mũi bẩn thỉu, tóc tai bù xù, quần áo bẩn thỉu đang cúng tế, cầu xin thần sông phù hộ. Bọn họ cung kính cúi sát mặt xuống mép nước, cầu nguyện, đốt hương, sau đó ném từng kiện, từng kiện lợn trâu, tơ lụa, lúa gạo xuống sông, nói là lễ vật dâng cho thần sông.
Lã Bất Vi ngăn lại nói: “Bớ bà con, làm gì có thần sông thần nước, các người làm như vậy là uổng phí toàn bộ trâu bò, tơ lụa, lúa ngô rồi”.
Lã Bất Vi không làm lộ ra thân phận của mình, đương nhiên, đám dân thường này không thể biết ông ta là tướng quốc của một nước, thế nên họ lờ đi như không hay biết gì đối với lời khuyên của Lã Bất Vi, tiếp tục ai làm việc nấy.
Nhìn thấy hàng loạt gia súc, vật phẩm bị ném xuống dòng sông đỏ ngầu, chảy cuồn cuộn, Lã Bất Vi tức giận bảo họ ngừng tay.
Một vị có vẻ vai vế trong đám ấy nói với Lã Bất Vi: “Đại nhân, mong ngài đừng nói những lời như vậy, nếu mạo phạm đến thần sông, thần nổi giận, dân chúng chúng tôi lại càng khổ gấp bội lần!”
Đám tuỳ tùng và thuộc hạ của Lã Bất Vi thấy thái độ của họ bất kính như vậy với tướng quốc đương triều thì tức giận vô cùng, định nói với họ là vị đại nhân vừa bước xuống kiệu là Lã Bất Vi, tướng quốc đương triều. Lã Bất Vi vội dùng ánh mắt và tay ngăn họ lại, rồi lệnh cho họ khởi kiệu quay về.
Khi về tới phủ ở thành Hàm Dương, Lã Bất Vi cảm thấy toàn thân mệt mỏi, đang muốn nghỉ ngơi. Tư Không Mã đến bái kiến, nói có một vị Lý Tư đến cầu kiến.
Lý Tư là ai? Lã Bất Vi im lặng một lúc rồi hỏi Tư Không Mã Lý Tư đó đến có việc gì? Tư Không Mã nói Lý Tư đến xin làm môn khách trong đám thủ hạ ở phủ tướng quốc. Lã Bất Vi nói: “Ta vừa từ quận Kinh Dương trở về, vô cùng mệt mỏi, ngươi hãy kiểm tra trước về võ nghệ tài đức của người này. Nếu chỉ là một người bình thường thì hãy cho lộ phí đi đường rồi cảm ơn anh ta. Nếu quả thực là người tài giỏi thì quyết phải giữ lại, ngày mai ta sẽ triệu kiến, suy nghĩ xem nên dùng vào việc gì”.
Tư Không Mã phụng mệnh quay đi. Lã Bất Vi vẫn cảm thấy chưa thoả đáng lắm muốn tự mình đi gặp mặt vị Lý Tư này. Tư Không Mã nói: “Sắc mặt tướng quốc đã mệt mỏi lắm rồi, học trò sẽ đi gặp trước”. Tư Không Mã nói tiếp: “Tướng quốc hãy yên tâm nghỉ ngơi, học trò tuy không phải là Bá Lạc tinh tường có thể nhận biết được ngọc tốt, nhưng cũng có thể nhận ra ai là bậc anh hùng, ai là kẻ thường thường bậc trung”. Lã Bất Vi nhắc đi nhắc lại không nên để một người có tài rời khỏi cổng phủ Lã mà đến nơi khác.
Tư Không Mã cáo từ bước ra, trong lòng nghĩ: “Trong phủ tướng quốc, môn khách có gần 3000 người mà vẫn còn cảm thấy thế mỏng lực ít, thật là lạ”.
Thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc, phong trào “đãi sĩ” rất mạnh. Chư hầu các nước và các quý tộc đương quyền nhìn xa trông rộng đều đem hết sức mình ra để lôi kéo nhân tài. Trong đó nổi danh nhất là “tứ công tử”: Mạnh Thường Quân ở nước Tề, Bình Nguyên Quân ở nước Triệu, Tín Lăng Quân ở nước Nguỵ và Xuân Giáp Quân ở nước Sở. Họ đều mở rộng cánh cửa quốc gia, chiêu hiền đãi sĩ ở một phạm vi. Lấy chế độ đãi ngộ hậu hĩnh, cung cấp cho một số lượng khách. Những thực khách này, không những trở thành chỗ dựa không những thế lực tư gia mà còn vạch định kế hoạch, chính sách cho việc trị quốc yên dân, trở thành “túi mưu trí” và “kho nhân tài”. Nước Tần thu phục nhân tài từ bên ngoài, đã mở cửa các nước chưa hầu từ quan đông trước. Từ thời Xuân Thu đã có một số lượng lớn trí sĩ bên ngoài nước Tần đến Quang Trung, được vua Tần coi là cánh tay đắc lực, phong cho quyền cao chức trọng. Như thời Mục Công, có người nước Sở tên Bạch Li Hề, người phương Tây do dự, thời Hiếu Công có người nước Vệ Công Tôn Ưng đều được Tần quốc trọng dụng, lập được công lớn. Nhưng phạm vi thu hút hiền tài phía bên ngoài của nước Tần tương đối hẹp, chủ yếu chỉ thu nạp các sĩ tử duy trì quan điểm Pháp Gia, bài trừ các sĩ tử theo các quan điểm khác. Bởi vì Pháp gia chủ trương canh tác chiến trận và ngu dân, điều này phù hợp với sách lược trị quốc của lịch sử các triều đại nước Tần. Họ cho rằng muốn nước mạnh binh cường thì phải quan tâm tới việc trồng trọt và đánh trận, không cần coi trọng các ngành nghề khác. Họ coi khinh người học hành, đặc biệt là Nho giáo, thậm chí còn loại trừ và đả kích những người này. Sau này Hàn Phi là một quý tộc của nước Hàn, khi tham gia vào triều chính của Tần quốc đã xếp nho sinh vào cùng một hạng với hiệp sĩ, nhà tung hoành, người đánh xe, nhà buôn, cho rằng họ là “năm loại sâu bọ” nguy hại đến quốc gia. Từ đó có thể thấy được kiểu nhìn phiến diện đã được lưu truyền từ rất lâu ở Tần quốc. Nói một cách nghiêm khắc thì nước Tần không có phong trào “đãi sĩ”. Lã Bất Vi là người đầu tiên trong lịch sử của nước Tần công nhận vị trí quan trọng của “giới sĩ tử”, là nhà chính trị đã mở cánh cửa nước Tần, chiêu hiền đãi sĩ với một số lượng lớn. Qua hàng nghìn năm, tên tuổi các môn khách dưới trướng của Lã Bất Vi về cơ bản đã bị mai một, không được người đời nhắc đến. Nhưng có một người tên tuổi đã được lưu truyền theo thời gian, được người sau biết rõ và quan tâm tới. Đó là Lý Tư.
Tư Không Mã đi ra từ chỗ của Lã Bất Vi, quay lại phòng bên trái của cổng chính phủ Tướng quốc chuyên dùng để đón tiếp những người đến cầu kiến.
Một người trẻ tuổi, dáng dấp phong trần, giản dị, lập tức đứng dậy thi lễ với Tư Không Mã. Anh ta chính là người Tề nước Sở, đồ đệ Lý Tư của tuần tự đại học vận gia.
Tư Không Mã nói không cần câu nệ, ngồi xuống đi. Nói xong tự mình ngồi xuống. Lúc này chỉ kịp nhìn quanh, bây giờ Tư Không Mã mới có đủ thời gian để xét kỹ lưỡng vị trẻ tuổi đến phủ Tướng quốc cầu chức này. Tư Không Mã nhìn Lý Tư một lượt từ đầu tới chân, sau đó dừng lại ở miếng ngọc dắt ở thắt lưng, hỏi: “Lý tiên sinh đeo loại ngọc gì vậy?”
Lý Tư trả lời: “Tiểu nhân gia cảnh bần hàn, chỉ là một loại ngọc được gọt giũa thô kệch”
Trong lúc Tư Không Mã và Lý Tư nói chuyện, Tư Không Mã cố ý để lộ chiếc trâm ngọc có viền hoa văn lấp lánh. Tư Không Mã muốn dùng lời lẽ, cử chỉ của mình để nói với Lý Tư tướng phủ có quyền chức làm loá mắt người khác, của cải danh tiếng vô cùng, không phải loại phàm phu tục tử có thể được nhận vào làm môn khách.
Lý Tư cũng nhìn ra được thần thái của Tư Không Mã
Tư Không Mã tự mãn, đắc ý nói: “Cá thích hồ sâu, chim bay ở những vùng rừng hoa cỏ màu mỡ, tài hoa hào kiệt ở sáu nước Quan Đông thì thích đến phủ Tướng quốc, phải xua như xua vịt, thế mà bây giờ đã đến 3000 người. Tiên sinh đã trăm dặm xa xôi trèo đèo lội suối tới đây, tất phải có học thức và võ nghệ siêu việt, không biết có thể cho tại hạ được thấy trước, tại hạ rất vui mừng”.
Lý Tư hiểu rất rõ ý của Tư Không Mã, phải thử trước với Tư Không Mã một lần, thế là nói thẳng: “Tại hạ lúc nhỏ từng theo học một đại hiệp võ lâm luyện tập kiếm thuật, vài năm sau cũng luyện được một chút về thân thủ. Sau này gặp được Bị Tư Thiên, bỏ võ mà theo văn, làm học trò của Tuần Tự, nghiên cứu “môn học về pháp luật” và “thuật đế vương”, ngày rộng tháng dài, từ đó bị gián đoạn. Cũng có thể là huyênh hoang, tự cảm thấy không phải là có năng khiếu về múa đao, múa kiếm, liền bỏ dở. Sau thời gian bỡ ngỡ liền tập lại, cũng chẳng phải là bản lĩnh gì lắm, chỉ là thuật Hoa Quyền mà thôi. Nhưng nói đến “môn học về pháp luật” và “thuật đế vương” thời gian tại hạ được nghiền ngẫm học tập rất nhiều, dám mong được cùng Tư Không Mã tiên sinh bàn bạc”.
Tư Không Mã biết rõ mình chỉ là người ngoài ngành của “môn học về pháp luật” và “thuật đế vương”, đối đáp vài câu thì được chứ nói chuyện cặn kẽ thì sẽ bị xấu mặt, hai môn này để đấy ngày mai tướng quốc nói chuyện với anh ta, còn mình sẽ thử anh ta môn trận kiếm thuật xem sao, thứ nhất anh ta có vẻ không phải là đối thủ của mình, thứ hai nếu tướng quốc hỏi đến kết quả kiểm tra Lý Tư như thế nào thì còn có thể trả lời được.
Tư Không Mã bảo nô dịch mang đến hai thanh kiếm đồng, Tư Không Mã và Lý Tư mỗi người một thanh, bắt đầu đọ sức, trong chốc lát mọi người chỉ thấy một thanh kiếm như con giao long múa dưới nước, còn thanh kia thì như gió giật long trời lở đất. Tiếng kiếm chạm vào nhau liên tiếp. Môn khách và nô dịch trong phủ quây lại xem rất đông, chỉ trỏ, bình luận về kiếm thuật của hai người. Qua mấy hiệp đấu, Tư Không Mã cảm thấy võ thuật của Lý Tư về cơ bản rất chắc chắn, nhưng phản xạ vẫn chưa nhanh nhạy, xem ra không phải là đối thủ của mình.
Lý Tư cũng nhìn ra nhược điểm này, anh ta đánh thêm mấy chiêu thức nữa, rồi thu kiếm về trước, chắp tay chịu thua, nói: “Lý Tư bái tài xin chịu thua”.
Thấy Lý Tư thực sự chịu thua, không huyênh hoang khoe tài khoe mẽ, không sợ mất mặt trước người khác nên rất có cảm tình, nói: “Kíêm thuật của Lý tiên sinh đúng như lời Lý tiên sinh nói, lại do lạ lẫm, nếu không kiếm pháp rất siêu việt, có thể so tài cùng thiên hạ. Nay tiên sinh mới đến Hàm Dương, cũng không thể để tiên sinh cảm thấy cô đơn nên Tư Không Mã này mới giúp tiên sinh chơi kiếm pháp, đao thuật. Ngày mai tướng quốc sẽ cùng với tiên sinh bàn tiếp về “môn học về pháp luật” và “thuật đế vương”. Lý Tư cáo từ nói: “Vậy ta không dám quấy nhiễu tướng phủ nữa, ngày mai ta sẽ đến để khấu kiến Tướng quốc đại nhân”.
Tư Không Mã hỏi: “Lý tiên sinh nghỉ chân ở quán trọ hay trạm dịch nào?”
Lý Tư trả lời: “Ở một quán trọ trong thành Hàm Dương, tên là Tân Khách Cửu”.
Sau khi Lý Tư đi rồi, Tư Không Mã quay trở về phòng của mình, chuẩn bị bẩm báo với Lã Bất Vi về tình hình mình và Lý Tư thi võ, lời lẽ thành thực của anh ta lúc xin chịu thua. Lúc này tiều phu chở củi đến cho phủ Tướng quốc, bởi vì người quản phú không có nhà nên người hầu mời Tư Không Mã đến kiểm tra. Sau khi xong việc, Tư Không Mã lo liệu nốt mấy việc lặt vặt trong phủ. Lúc định đi gặp Lã Bất Vi thì phát hiện không thấy cái trâm ngọc của mình nữa. Ông ta kiểm tra kỹ lại áo dài, lúc nhìn thấy phần dây buộc của chiếc trâm vẫn còn đoán là bị một vật gì đó cắt đứt đoạn dây nên rơi mất. Ông ta tìm kỹ khắp trong sân trước ngõ mà vẫn không tìm thấy. Tư Không Mã nghĩ ngày mai thử hỏi các môn khách, nô dịch trong phủ xem, cũng có thể là ai đó nhặt được.
Đúng lúc đó có một cậu bé thông minh lanh lợi đến gặp Tư Không Mã, nói là thư đồng của Lý Tư, phụng mệnh của chủ nhân đến đưa cho Tư Không Mã một lễ vật, có chỗ nào thất lễ mong đại nhân lượng thứ. Nói xong đứa trẻ đưa cho Tư Không Mã một gói nhỏ rồi cáo từ. Tư Không Mã cẩn thận mở ra, thấy bên trong chính là chiếc trâm ngọc bị mất của mình thì vô cùng kinh ngạc: tại sao Lý Tư lại có chiếc trâm của mình trong tay? bản thân Tư Không Mã thì ngồi cách anh ta, trừ lúc đọ kiếm ra thì hai người làm gì có lúc nào gần nhau? Tư Không Mã suy nghĩ một hồi rồi chợt hiểu ra, nhất định là trong lúc đọ kiếm anh ta đã dùng kiếm lấy mất chiếc trâm ngọc của mình, đúng là như vậy! Tư Không Mã không thể nghĩ rằng Lý Tư nhanh mắt nhanh tay lấy trâm ngọc của ông ta là tinh tuyệt kiếm pháp gì, nhưng trong lòng thì quả khâm phục tài năng của Lý Tư sát đất. Đa số môn khách khi đến lần đầu thì cố dùng lời khen nịnh để lấy lòng chủ nhân, khiến chính Tư Không Mã cảm thấy lời lẽ đó đi quá khả năng của ông, ông chỉ như cái cây mà không có quả. Còn vị Lý Tư này thì không nói không rằng thể hiện tài thao lược và mưu sách của mình hoàn toàn khác biệt. Tư Không Mã cảm thấy Lý Tư quả thật không phải là một con người bình thường mà chính là một kỳ tài trong thiên hạ.
Tư Không Mã không dám lơ là nhiệm vụ của mình, vội vàng thưa lại với Lã Bất Vi tất cả các sự kiện mà anh ta vừa chứng kiến và những điều anh ta nghĩ. Lã Bất Vi cũng cảm thấy Lý Tư kia không phải là người bình thường, vội vàng cùng Tư Không Mã đến quán trọ “Tân Khách Cửu”.
Lý Tư đang tập trung nghiên cứu sách pháp chế, nhìn thấy Tướng quốc đích thân đến tận nơi, quá kinh ngạc trước sự sủng ái đó vội đứng dậy thi lễ mời ngồi.
Sau khi Lã Bất Vi ngồi xuống, nói thẳng không rào đón gì: “Lý Tư tiên sinh có thể trở thành người trong môn hạ của ta không?”
Lý Tư trả lời một cách ý nhị: “Tiểu nhân là người Tề nước Sở, lúc trẻ cũng đã nhận một chức quan nhỏ không tên tuổi ở quận Thượng Tề. Gần đấy có một cái hố xí, mỗi khi tiểu nhân đi đại tiểu tiện đều thấy một lũ chuột đến đấy ăn và lấy đi, đang yên lành thì bị giật mình bởi người hoặc chó, vội quay đầu tháo chạy. Có lúc tiểu nhân lại thấy ở một kho lương thực kia, phát hiện lũ chuột ở đó tha hồ thoải mái mà không kinh động, không việc gì phải lo lắng khi người hoặc chó đến gần. Cũng giống như loài chuột kia, một con người có thể thành đạt hay không thì phải xem xét kỹ xem mình đang ở hoàn cảnh như thế nào”.
Lã Bất Vi vui mừng nói: “Lý tiên sinh thật khéo so sánh, như vậy có thể nói, tiên sinh muốn đến cái kho lương thực ở phủ Tướng quốc của ta rồi”.
Lý Tư trả lời: “Học trò nghe nói Tướng quốc là người cương nhu đúng lúc, là Bá Lạc dùng người. Lời văn của tướng quốc rõ ràng mà vẫn huyền bí, tài học thì tinh thông cả thiên hạ, mong rằng tướng quốc có thể mở rộng tấm lòng thu nạp học trò, nếu kiểm tra ngay tài học của học trò cũng có thể biết được đôi điều, học trò có tài viết văn nhanh”.
Lã Bất Vi xua tay nói: “Vậy Lý Tư hãy đến làm người của phủ Tướng quốc đi”
Ngay sau đó, Lã Bất Vi đã cử Lý Tư áp giải một vạn thạch lương thực cứu tế của triều đình đến Kinh Dương đồng thời phải dừng ngay việc ném các vật phẩm hi sinh xuống sông. Trước khi lên đường, Lã Bất Vi hỏi Lý Tư có thể làm tốt các công việc được giao không. Lý Tư trả lời một cách chắc chắn, mong tướng quốc yên tâm ở nhà chờ tin tốt lành.
Sau khi Lý Tư đi rồi, Tư Không Mã nói anh ta có thể phát hết lương thực cứu tế của triều đình đến tận tay dân chúng, nhưng đối với việc họ cúng tế thần sông thì e Lý Tư cũng phải bó tay. Tướng quốc cũng đã không có cách gì huống hồ là Lý Tư.
Lã Bất Vi nói: “Những việc ta không làm được không có nghĩa là Lý Tư cũng không làm được”.
Tư Không Mã nói: “Học trò và thừa tướng cùng chờ xem”.
Mười ngày sau, Lý Tư vui mừng trở về phụng mệnh, Lã Bất Vi hỏi: “Lương thực đã phát hết được tận tay dân chúng chưa?” Lý Tư trả lời: “Phát hết rồi!” Lã Bất Vi lại hỏi: “Họ đã thôi không ném các lễ vật xuống tế thần chưa?” Lý Tư trả lời: “Thôi vứt rồi”.
Lã Bất Vi nghe Lý Tư trả lời một cách đơn giản, trong lòng cũng không khỏi nghi ngờ. Việc làm dân chúng không ném đồ tế lễ xuống sông nữa, phải là một quá trình, nhưng Lý Tư dùng ba chữ đơn giản “thôi vứt rồi” để trả lời, không làm người khác tin được. Tư Không Mã ở bên cạnh cũng lắc đầu tỏ ý không thể tin được.
Lã Bất Vi không tiện tra hỏi trực tiếp, liền bảo Lý Tư về phòng nghỉ ngơi.
Lý Tư đi rồi, Lã Bất Vi liền cho gọi một nô dịch tên là Trịnh Sáo cùng đi Kim Dương với Lý Tư đến hỏi rõ ngọn ngành.
Trịnh Sáo đến, đằng sau còn có một người trông dáng vẻ như một nô dịch đi theo. Bởi vì Trịnh Sáo có vẻ lanh lợi, nhanh mồm nhanh miệng, nói chuyện ở cuối mỗi câu thường thêm những từ đệm nên Lã Bất Vi có ấn tượng với anh ta. Còn người nô dịch đi vào theo kia thì Lã Bất Vi thấy hoàn toàn lạ lẫm. Hơn 3000 người Lã Bất Vi làm sao có thể nhớ hết mặt mọi người.
Trịnh Sáo kể lại hết toàn bộ sự việc Lý Tư làm sao ngăn mọi người ven bờ sông Kinh thôi không ném của cải xuống sông nữa. Biết được đến ngày tế lễ, Lý Tư đến đó từ sớm, dân chúng ùn ùn chở đến trâu bò, lợn dê, lúa gạo. Lý Tư cũng đã dùng hết lời lẽ khuyên can họ không nên vứt những đồ tế lễ xuống sông như vậy. Nhưng họ phớt lờ nói: “Đại nhân làm sao biết được những đồ tế lễ này là vứt không xuống nước, đều là dâng cho thần sông hưởng thụ. Lý Tư nói với một ông lão có chòm râu dài, thần sông không thể hưởng thụ được con lợn này của ông . Ông lão không tin. Lý Tư lấy ra một sợi chỉ đỏ, buộc vào chân sau con lợn. Một con lợn béo trắng phau, buộc thêm một sợi chỉ đỏ vào chân, trông rất chói mắt. Sau đó Lý Tư nói: “Thưa bà con, sau khi bà con ném hết các đồ tế lễ xuống sông xin đừng đi vội, đợi thần sông sẽ đem hết các đồ tế lễ này trả lại cho bà con.” Vốn là Lý Tư đã thuê người giăng lưới sẵn ở dưới lòng sông. Khi dân chúng ném đồ lễ xuống, trôi nổi rồi bị mắc vào lưới kéo lên gần hết. Theo sự phân công của Lý Tư, những thứ này đều được đưa trả về cho bà con vừa tế lễ lúc nãy.
Trong đó ông già cũng nhận lại được con lợn có buộc chỉ đỏ ở chân của mình, dân chúng tin lời nói của Lý Tư là thật…
Những lời nói trầm bổng của Trịnh Sáo chỉ đơn giản là kể lại câu chuyện nhưng điều đó khiến Lã Bất Vi và Tư Không Mã bái phục mãi.
Lã Bất Vi tán thưởng nói: “Lý Tư quả thật đã đánh thắng trận bằng một phương pháp bất ngờ”.
Lã Bất Vi vừa nói xong, vị đi cùng Trịnh Sáo nói: “Những lời nói của tướng quốc quả là không chính xác! Việc này của Lý Tư chỉ là một chút tài mọn, mới chỉ giải quyết được phần ngọn của vấn đề!”
Những lời nói hỗn xược đó làm Lã Bất Vi tức giận hỏi: “Nhà ngươi là ai?”
Trịnh Sáo vội trả lời: “Đây là anh em thúc bá của tiểu nhân, tên là Trịnh Quốc, là người nước Hàn, làm nghề thuỷ nông, có tuyệt kỹ về trị thuỷ, muốn giúp Tần quốc cải tạo về kênh mương, trị thuỷ nạn đang hoành hành. Anh ấy đã đến Hàm Dương mấy ngày nay nhưng chưa có cơ hội tiếp kiến đại nhân, nay tiểu nhân mạo muội đưa tới gặp, mong tướng quốc đại xá”.
Mấy ngày này Lã Bất Vi đang đau đầu với thuỷ nạn ở sông Kinh không biết giải quyết bằng cách nào, nay gặp được Trịnh Quốc có kỹ năng trị thuỷ này trực tiếp đến cầu kiến xin được phục vụ cho Đại Tần thì nhẹ cả lòng, vui mừng hỏi: “Chỉ cần là ngươi mong muốn phục vụ nước Tần, tướng quốc nhất định hoan nghênh thu nạp. Trịnh Quốc, ngươi hãy đến vùng sông Kinh thị sát một lượt, sau đó lập ra một kế hoạch, nếu chấp nhận được lập tức cho thi công”.
Trịnh Quốc nói: “Tiểu nhân đã đến khu vực Quan Đông xem xét kỹ rồi, muốn trị được thuỷ nạn này, phải dãn nước sông Kinh chảy sang sông Lạc, từ chỗ úng của vùng này phải đào một con kênh dài ba trăm dặm, chảy ngang qua cao nguyên Hoạt Bắc. Như vậy ở sông Kinh nước sẽ không ngập lụt nữa, mà lại có thể tưới cho cả một vùng đất hoang khiến vùng đất này lại trở thành đồng ruộng tươi tốt, đúng là đẹp cả đôi đường”.
Lã Bất Vi cảm thấy quy hoạch trị thuỷ của Trịnh Quốc mạch lạc, rõ ràng, thiết thực và hoàn toàn có thể thực hiện được. Lã Bất Vi đồng ý phê chuẩn, cấp nhân công và lương thực cho kế hoạch này, để ông ta có thể nắm chắc kế hoạch thi công. Đồng thời Lã Bất Vi hạ lệnh phong Lý Tư làm giám công cũng lập tức tiến về vùng Kinh Dương.
Mùa xuân năm 247 trước Công nguyên, sông Lạc Thuỷ lững thững chảy y hệt người con gái đang độ tuổi thanh xuân mà không muốn lấy chồng. Thời tiết đang vào tháng tư, những cây bồ kết ngoài cung Chương Đài vẫn xanh thẳm. Mỗi năm vào độ xuân này, nó lại đâm lên lộc non xanh biếc hàm ý mùa xuân về, nhưng năm nay cành lá vẫn im lìm nhưng đang độ tiết thu.
Trong cái tiết giao mùa Xuân thu ấy, vua Trang Tương ốm bệnh không dạy được. Các thầy thuốc đã dùng thuốc tốt nhất để chữa trị, nhưng bệnh tình vẫn không có gì khởi sắc. Có thái y nói, bệnh này là do phong hàn xâm nhập, độc ứ lại trong cơ thể, có thái y khác lại nói do tì vị mất cân bằng, âm tiết đều quá đà. Vào tháng năm, bệnh tình của vua trầm trọng hơn. Vua lúc lạnh lúc nóng, không ăn uống gì, cả ngày lẫn đêm đều run lẩy bẩy trong chăn.
Lã Bất Vi bận ngập đầu vào công việc triều chính, chỉ có thể vào thăm vua vào những lúc khuya khoắt. Nhìn sắc mặt đức vua đầy vẻ tử khí, Lã Bất Vi thầm tính toán việc đức vua băng hà chỉ là việc nay mai. Đối với việc này, Lã Bất Vi rất vui mừng. Vua Trang Tương mất đi thì đương nhiên Triệu Cơ và cả giang sơn xã tắc sẽ thuộc về tay ông ta, Vương phi Triệu Cơ tài sắc song toàn sẽ không phải chia cho hai người đàn ông nữa, mà sẽ chỉ còn là một mình Lã Bất Vi độc quyền. Ung Chính được lên làm vua, thì chẳng phải chính là cốt nhục của Lã Bất Vi, chẳng phải là Lã Bất Vi đang thống lĩnh thiên hạ đó sao.
Những ý nghĩ thương hại đau buồn bỗng xuất hiện trong đầu Lã Bất Vi theo những tiếng rên khó nhọc của vua Trang Tương. Dẫu sao ông ta cũng cùng vua phải trải qua những ngày tháng khó nhọc đáng nhớ khi ở Hàm Đan. Ông ta được vinh quang như ngày hôm nay chính là nhờ vinh quan của Dị Nhân. Một vị quân vương có liên hệ chặt chẽ với ông ta như vậy, một tháng trước đây vẫn còn nói cười khoẻ mạnh, uy phong lấn át cả một vùng, các đại thần vẫn phải cúi rạp trước ông ta ở cung Chương Đài nghe ông ta ban triệu ban lịch. Nay chỉ trong nháy mắt đã sắp nhắm mắt xuôi tay, cưỡilạc vân du rồi, thật là làm người khác vô cùng thương xót.
Từ giường bệnh của vua Trang Tương trở về, Lã Bất Vi bắt đầu mưu tính đến một số việc sau khi vua chết. Bởi vì vua vẫn chưa trút hơi thở cuối cùng nên những việc này không thể tiến hành một cách trống giong cờ mở được. Tang lễ phải được tổ chức như thế nào? Ung Chính lên ngôi ra làm sao?
Kinh thành và các huyện đều phải tăng cường phòng thủ, phải đón tiếp các sứ thần của các nước chư hầu đến phúng viếng. Ông nghĩ rạch ròi mọi chuyện, rồi hạ lệnh cho Tư Không Mã, Lý Tư và các hạ thần môn khách tâm phúc, chuẩn bị sẵn mọi việc một cách lặng lẽ, âm thầm.
Sau đó Lã Bất Vi cảm thấy vẫn phải làm nốt hai việc có liên quan đến cái chết của nhà vua, nhưng hai việc này phải do đích thân Lã Bất Vi làm. Việc thứ nhất, ông ta phải mở một cửa hàng tơ lụa, phải treo biển bán hàng trước khi vua băng hà. Việc thứ hai, đưa Tử Hề về cung đích thân lo liệu việc tang cho đại vương.
Từ sau khi làm tể tướng cho vua Trang Tương, Lã Bất Vi không còn thời gian quan tâm tới việc buôn bán. Dương Tử và Triệu Khả Tín thay ông làm việc kinh doanh mặc dù cũng biết một số việc làm ăn buôn bán nhưng còn lâu mới được thành thạo, tính toán có lợi như Lã Bất Vi. Vì thế châu ngọc của ông ta tuy không mất đi nhưng cũng không làm cách nào để đầy lên được. Như vậy có lúc làm cho Lã Bất Vi cảm thấy một nguy cơ thiếu hụt về tài chính. Mặc dù bổng lộc của ông ta hưởng của triều đình không nhỏ, cũng phong ấp chục vạn hộ nhưng việc tiêu tốn của phủ tướng quốc cũng làm cho ông ta phải lo lắng. Chỉ nói đến 3000 môn khách, riêng tiền lương một năm đã là bao nhiêu rồi.
Lã Bất Vi cho người tìm Dương Tử đến, bảo ông ta lo liệu một số việc. Cái vị Dương Tử này lúc theo Lã Bất Vi ở Hàm Đan trước kia không phải là một mặt gầy guộc khắc khổ bây giờ gương mặt to béo núng nính mỡ.
Vừa nghe nói phải mở một cửa hàng tơ lụa, Dương Tử ngẩng khuôn mặt béo núc ních mỡ hỏi: “Tướng quốc, trong thành Hàm Dương đã có 12, 13 cửa hàng tơ lụa rồi, hoàn toàn có thể đáp ứng nhu cầu may mặc của người dân trong toàn thành rồi, chúng ta mở thêm chẳng khác nào thêm chân cho rắn, chắc chắn không được lợi lộc nhiều.
Lã Bất Vi không giải thích nỗi lo lắng của Dương Tử ại nói tiếp: “Người còn phải mua toàn bộ số vải xô trắng, tơ lụa trắng của các cửa hàng trong thành Hàm Dương này để đầu cơ tích trữ’.
Lã Bất Vi nói như vậy, Dương Tử lại càng rối lên, không biết giải thích như thế nào.
Lã Bất Vi hiểu được thái độ của ông ta, nói nhỏ: “Việc này ông không được nói ra, đại vương sắp băng hà rồi”.
Dương Tử kinh ngạc nói: “Mới nghe nói đại vương bị bệnh, lại nhanh đến thế sao?”
Lã Bất Vi nói tiếp: “Đại vương băng hà, cử hành quốc tang. Cả thành Hàm Dương này chỉ có một mình nhà ta có xô trắng, tơ lụa trắng, vật hiếm thì chắc trở nên quý, còn lo gì mà không kiếm được khoản tiền lớn?”
Dương Tử gật đầu nói: “Tướng quốc cao minh”.
Lã Bất Vi dặn dò: “Phải giữ mồm giữ miệng, nhất quyết không được lộ tin tức bệnh tình của đại vương ra ngoài. Tin tức chính là vàng đấy”.
Lã Bất Vi cảm thấy sự việc thứ hai còn khó khăn hơn sự việc trước.
Vua Trang Tương vừa cảm thấy thân thể mệt mỏi, Lã Bất Vi đã cho người đưa thư về Bình Ấp để Tử Hề thăm hỏi đại vương nhưng Tử Hề không chịu trở về, vẫn cứ ở lỳ tại cái thị trấn nhỏ ở Bình Ấp. Lã Bất Vi biết đối với việc mình không được lên làm thái tử trong lòng Tử Hề vẫn căm tức vua Trang Tương, oán hận Lã Bất Vi đến tận xương tuỷ. Sau khi Lã Bất Vi lên làm tướng quốc, cũng đã tự suy nghĩ về việc này, theo truyền thống của tổ tông, con trưởng vợ cả lên làm thái tử, vị trí thái tử kia đường đường chính chính là của Tử Hề. Lã Bất Vi vì mục đích của chính mình, vì ý định trước làm thương nhân sau lên làm quan, nên đã tìm mọi cách để Dị Nhân thay thế Tử Hề chính là việc bất đắc dĩ. Oan gia khó giả chứ không khó kết thúc. Kết quả là, trước khi vua Trang Tương băng hà, Tử Hề không chịu gặp phụ vương của mình một lần về tình về lý đều không thể chấp nhận được, người không rõ nội tình còn cho rằng tướng quốc chấp chính ta đây là kẻ gây sóng gió ngăn trở!
Lã Bất Vi cảm thấy rằng, muốn thúc đẩy sự việc này chắc chắn phải có một người thay ông ta đi hoà giả, người đó chính là Phạm Thư.
Xe của Lã Bất Vi đi đến cổng phủ của Phạm Thư vào lúc giữa trưa, cổng phủ đóng kín, rêu phong bám đầy bậc thềm, Lã Bất Vi bước từ trên xe xuống, dưới chân không xa là một lớp bụi dầy và lá rụng xơ xác. Điều này cho thấy cửa phủ rất ít người qua lại.
Người nô bộc của Lã Bất Vi đứng bẩm cửa hồi lâu mới thấy có tiếng đi từ phía trong ra.
Khi Lã Bất Vi vừa lên chức tướng quốc đã đến thăm hỏi, ông ta thì trong lòng lo ngay ngáy, cho rằng đó là lòng từ bi của con mèo trước khi ăn thịt chuột. Ông ta cảm thấy Lã Bất Vi thông tuệ như vậy thì việc đối phó với những người như ông và Tử Hề thì dễ như trở bàn tay. Lã Bất Vi nhận chức ngự sử, lại đến phủ thăm ông ta, chẳng qua chỉ là tiên lễ hậu binh, dùng lời hay ý đẹp để dụ nhà ngươi đứng yên một chỗ, sau đó chọn lúc thích hợp nhất sẽ đánh gọn một mẻ lưới cả ông ta vả Tử Hề, Đỗ Thương. Sau khi Lã Bất Vi đi khỏi, Phạm Thư luôn cảm thấy bất an và ra sức chờ đợi. Ông luôn cảm thấy rằng, một cảnh tượng máu chảy đầu rơi đang đợi ông ở phía trước. Ông ta cũng từng nghĩ cách rời khỏi Tần quốc, đến một nước chư hầu nào đó mà yên phận, nhưng nghĩ lại thì dự định của ông là hết sức hoang đường. Ông ta đã từng giúp vua Chiêu Tương mưu định sách lược, giết chóc khắp nơi, khiến cho các nước chư hầu rơi vào cảnh khốn nạn vô cùng. Ở đấy người ta căm thù ông đến tận xương tuỷ, bây giờ ông lại định đến đấy để kiếm bát cơm chỗ ở thì khác chi đâm đầu vào rọ? Hơn nữa, nếu Lã Bất Vi kia muốn mưu hại ông thì ông làm sao có thể đi khỏi thành Hàm Dương này?
Phạm Thư đóng chặt cửa, dấu biệt tung tích, trong lòng lúc nào cũng lo sợ chờ vận rủi giáng xuống đầu mình. Nhưng ngày qua ngày lại , thấm thoắt ba năm mà vẫn bình yên vô sự, chưa xảy ra chuyện gì. Có năm tết đến, Lã Bất Vi còn sai người đưa quà đến thăm hỏi. Những ngày gần đây, Phạm Thư mới dần tỉnh ngộ ra rằng Lã Bất Vi kia quả là người rộng rãi, không để ý đến quá khứ, đối đãi tử tế với người khác. Ông chắc chắn rằng những điều ông nghĩ là đúng nên trong lòng cũng thoải mái được đôi phần. Tử Hề cũng cho người đến qua mấy lượt, ông ta không còn sợ hãi, đóng kín cổng cao tường như trước, nhiệt tình khoản đãi sứ giả của Tử Hề sau đó bảo sứ giả mang về cho Tử Hề những vật phẩm cao cấp và những tin tức ở trong thành và của các quan mà ông biết được.
Hôm nay Lã Bất Vi lại đến, Phạm Thư không còn nghi ngờ và sợ hãi như trước. Hai người hàn huyên một lúc, Lã Bất Vi nói rõ ý định của cuộc viếng thăm lần này, nhờ Phạm Thư đến Bình Ấp mời Tử Hề về kinh thành thăm hỏi hầu hạ đại vương sắp về nơi chín suối.
Lòng tín nhiệm và nhiệt tình của Lã Bất Vi thực sự làm Phạm Thư xúc động, ông nhận lời Lã Bất Vi.
Xe của Phạm Thư chạy qua một chặng đường bụi bặm vô cùng đã đến được Bình Ấp, đúng vào buổi trưa mát mẻ. Trong vườn của công đường hoa tươi khoe sắc, chim hót líu lo. Loáng cái đã ba năm, nay hai người vốn xa cách nhau ngàn dặm được gặp lại, mừng mừng tủi tủi. Phạm Thư thấy Tử Hề vẫn mạnh khoẻ, không hề có dấu vết của sự ủ rũ, cảm thấy rất vui mừng. Tử Hề vui vẻ kể lại cuộc sống của mình ở Bình Ấp ba năm qua và cảm giác ở đây khíên cho Phạm Thư cảm thấy vô cùng mới mẻ. Tử Hề hỏi thế đại vương và Lã Bất Vi có gây khó khăn cho ông không? Phạm Thư trả lời, bọn họ ngồi trên đài cao còn lão phu chỉ sống qua ngày. Tử Hề nói vậy ta không phải lo lắng nữa rồi. Phạm Thư lại nói: “Đại vương bệnh tình trầm trọng, cũng sắp khuất núi rồi, người nên về chăm sóc và hầu hạ đại vương, cho phải nghĩa huynh đệ. Tử Hề nghe xong hừ một tiếng, gương mặt lộ rõ vẻ phẫn nộ.
Phạm Thư hiểu rõ nỗi ấm ức bị mất địa vị thái tử của Tử Hề. Nhưng ông ta nghĩ, mặc dù Dị Nhân đã tráo khướu thành vượn nhưng vẫn nên trở về, anh khoan dung một ít, em nhẫn nhục một ít, hai bên đều trung nghĩa nhún nhường thì mới là phải đạo.
Tử Hề thấy Phạm Thư dùng hết lời để khuyên bảo, gương mặt đượm vẻ già nua cằn cỗi thì vừa thấy xót xa vừa thấy kính trọng.
Tử Hề liền thay đổi ý định nói: nể mặt lão tướng quốc, ta sẽ về thành Hàm Dương xem sao. Ông ta chết rồi, cũng là gặp phải báo ứng. Ông ta còn sống thì quan hệ của ta với ông ta như nước với lửa, không bao giờ hàn gắn được.
Phạm Thư vội dùng tay run run ngăn Tử Hề lại, nhắc rằng, Đại công tử về đến kinh thành không được dùng những lời lẽ ngỗ ngược như vậy.
Vào đêm của hôm Phạm Thư đến Bình Ấp, ở Hàm Dương bầu trời cao rộng và trong xanh vô cùng, những ngôi sao hợp lại tạo nên dòng Ngân Hà sáng chói. Lúc nửa đêm, những tiếng khóc xé lòng từ cung Chương Đài được truyền đi từ khắp thôn cùng ngõ hẻm. Viên quan chuyên quản việc tang lễ trong cung đình đi khắp các ngõ ngách báo tin buồn, cái tin đó hoàn toàn không thích hợp với cái thời tiết đầu xuân ấm áp này. Văn võ bá quan cũng như các thường dân áo vải đều nhận được tin, họ đều biết được rằng vua Trang Tương đã trút hơi thở cuối cùng. Nhưng họ không thể biết được rằng, sáng sớm ngày mai mọi người sẽ mua tơ trắng, lụa trắng ở cửa hàng của Lã Bất Vi để làm quần áo tang, họ cũng không thể biết được rằng ngày mai trên đoạn đường gập ghềnh từ Bình Ấp về Hàm Dương có một cỗ xe tứ mã, trong đó một người đến phúng viếng mà vẫn đang mờ mắt vì tức giận.
📎 labatvi7t..chuongXV
Đăng nhập để trả lời
0
HTLD à,
CuLong đã kiểm tra lại rồi, chương IV CuLong để ở trang 4 trong topic này đấy. HTLD thử xem lại nhé.
Bye
Đăng nhập để trả lời
0
CuLong ơi!

Không biết có phải do HTLĐ hoa mắt hay không mà nãy giờ tìm hoài bên trang 4 cũng vẫn không tìm thấy chương 4 "Số phận khó lường" đâu hết. Bên trang 4 bạn đăng 2 lần, từ đầu quyển đến 1 đoạn giữa chương 3, rồi đến hết chương 3 đoạn "Đêm ấy, người con gái xuân sắc hoa nhường nguyệt thẹn trở thành vợ của Lã công tử hào hoa" là hết rồi. Bạn xem lại dùm HTLĐ nhé, nếu có làm phiền bạn thì mong đừng giận HTLĐ.

Thân!
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
Chào các hiệp sĩ

Các hiệp sĩ cứ gõ mang vào đi

Trước khi mang vào thư viện, là Ct.Ly sẽ đọc qua, rồi mới đem vào , nên Tulip đen cứ yên tâm

Với cái cách scan này , khó duyệt hơn là cách của sư phụ Thái Nhi, nhưng " Có còn hơn không " Phải khg các hiệp sĩ [8D][:D]

Chúc các hiệp sĩ nội công ngày càng thâm hậu, chớ hiệp sĩ hào hoa lúc này " ngã ngựa " rồi. Không giúp cho các hiệp sĩ nhiều ;

Tái sanh Duyên hành hạ quá, mà cũng chưa hoàn tất...hic hic

Chúc các hiệp sĩ luôn dzui

Thân ái
Đăng nhập để trả lời
0
HTLD à, CuLong không ngại phiền đâu. Nhưng mà chẳng lẽ CuLong bị ma ám hay sao mà rõ ràng có nhìn thấy chương IV ở trang 4 mà. CuLong đã kiểm tra đi kiểm tra lại rồi. Cảm phiền HTLD kiểm tra lại nhé.
Đăng nhập để trả lời
0
Hi CuLong!

Hìhì, sorry CuLong nhiều nhé vì mấy bữa nay cứ làm phiền CuLong về cái chương 4 hoài, thật không hiểu HTLĐ bị làm sao ấy mà chương 4 nó rành rành ra đấy vẫn không thấy. Đừng cười HTLĐ nhé, xấu hổ lắm! [:o]

Vì Hồng Giang có việc bận đột xuất không thể đánh máy chương 1 như đã đăng ký được nên đã chuyển giao chương 1 qua cho HTLĐ (vì thấy HTLĐ rảnh rỗi quá hay đi lung tung đó mà) [:D]

Hy vọng là sẽ sớm hoàn thành.

Thân!
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
QUYỂN 1


ĐÔI LỜI VỀ TÁC GIẢ


Hàn Diệu Kì là hội viên của Hiệp hội các nhà văn Trung Quốc. Ông sinh tháng 6 năm 1951 tại thị trấn Công Chủ Linh.
Năm 1975 tốt nghiệp khoa trung văn Học viện Sư phạm Tây Bình. Ông đã từng là thành phần trí thức, thương gia, sáng tác gia, biên tập viên, phóng viên, thư ký của Bí thư Ủy ban nhân dân thành phố, nhưng ông hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sáng tác những tác phẩm văn học mang tính ghi chép lại sự thực. Những tác phẩm nổi tiếng: tiểu thuyết “Nơi xa xưa”, những tác phẩm chuyên ngành “Diện mạo Mãn tộc đời Thanh”. Hiện nay ông giữ chức Phó chủ nhiệm Trung tâm sáng tác văn học tỉnh Cát Lâm, kiêm Tổng thư ký Hội liên hiệp hữu nghị thương – tác gia tỉnh Cát Lâm.


LỜI NÓI ĐẦU


Khi chúng ta dùng ngòi bút của mình để phủi đi những lớp bụi lịch sử trên con người Lã Bất Vi thì chúng ta không những bị thu hút bởi những biến cố thăng trầm rung động lòng người mà con người này đã trải qua, bởi một tình yêu sâu đậm mà còn bị những tư tưởng mới vượt xa hơn người của ông ta lôi vào vòng cuốn. Ví như Lã Bất Vi có khí phách của người anh hùng dám đương đầu với sóng gió. Ông ta và phụ thân của mình đều là thương nhân của nước Vệ. Có lần Lã Bất Vi hỏi cha: ”Làm ruộng thì số lời sẽ thu là bao nhiêu?”, cha ông ta trả lời : “Một trăm lần”; ông ta lại hỏi tiếp: “Lập một quốc vương thì có thể thu lợi là bao nhiêu?”. Lần này cha ông không biết trả lời sao. Ông ta nói với cha mình rằng : “Lập một quốc vương thì món lời đó sẽ không thể tính được”. Vậy mà trong cuộc chém giết nhau trên chiến trường và tranh giành nơi triều chính, thậm chí đôi lúc mạo hiểm cả tính mạng; nhưng Lã Bất Vi vẫn không hề tỏ ra run sợ, ông ta sẵn sàng đương đầu đón nhận những nguy hiểm đó. Và sau những nỗ lực, gian khổ, cuối cùng ông ta đã thành công. Ví như tư tưởng thiên hạ chi công của Lã Bất Vi trong cuốn “Lã Thị Xuân Thu. Qúy Công” có viết: “Thiên hạ giả, phi nhất nhân chi thiên hạ, thiên hạ chi thiên hạ dã. Âm dương chi hòa, bất tưởng nhất loại, cam lộ thời vũ, bất tư nhất vật; vạn dân chi chủ, bất a nhất nhân”. Câu nói này thật hay biết bao. Nó có nghĩa là: Thiên hạ không phải là thiên hạ của riêng ai, mà là thiên hạ của mọi người; khi âm dương kết hợp với nhau một cách tự nhiên thì những vật phẩm được sinh ra từ sự kết hợp đó sẽ không phải chỉ có duy nhất một loại; khí hậu mưa thuận gió hòa thì những sinh vật được hưởng những ưu đãi này cũng không phải chỉ có một loài: chủ của muôn dân cũng không phải chỉ có một người.
Lại ví như chủ trương mai táng của Lã Bất Vi.Ông ta bảo: “Ngày xưa vua Nghiêu sau khi mất đã được chôn cất tại Cốc Lâm, trên mộ trồng vô số cây: Vua Thuấn sau khi mất thì được chôn tại Kỉ Thị và vẫn cho mọi người buôn bán, họp chợ tại nơi đó ; vua Vũ thì được chôn tại Hội Kê, cũng không phải sử dụng đến nhân lực, vì vậy tiên vương cũng phải tiết kiệm trong việc chôn cất (Xem Lã Thị Xuân Thu. An Tử).
Có thể nói một cách không khoa trương rằng những tư tưởng tiến bộ của dân tộc Trung Hoa từ thời xa xưa đều có thể tìm thấy trong quỹ đạo khởi đầu trong thế giới tinh thần của Lã Bất Vi.
Tính cách chính là vận mệnh. Năm 246 trước CN, Tần Thủy Hoàng mới chỉ có mười tuổi đã lên kế vị. Lã Bất Vi nhiếp chính với danh nghĩa “Trọng phụ” và tướng quốc, và đã trở thành người cầm quyền sinh sát chính thức của nước Tần. Lúc này cũng chính là lúc nước Tần cầm quân đi thôn tính sáu nước và giành được thắng lợi liên tiếp. Trên một góc độ nào đó, thì chính Lã Bất Vi là người đã đặt nền móng cho sự thống nhất thiên hạ của nước Tần.
Mười một năm sau đó, Tần Thủy Hoàng chính thức lên nắm quyền. Lã Bất Vi bị cách chức, cuối cùng trên đường cùng uống thuốc độc tự kết liễu đời mình. Kết cục bị thảm của Lã Bất Vi là do hai mâu thuẫn gây ra. Thứ nhất là mâu thuẫn giữa cái tôi trong tính cách của ông ta. Mâu thuẫn giữa ông ta và Tần Thủy Hoàng là đối lập nhau. Trong cuốn “mười điều phê phán của Quách Mạt Nhược đã nêu ra mười nội dung: chú trọng việc dùng đức để trị hay dung hình phạt để trị? Quan thiên hạ hay gia thiên hạ, quân chủ chiêu hiền hay là quân chủ cực quyền, tôn sự trọng Nho giáo hay là đốt sách bài Nho v.v… Tần Thủy Hoàng không thể tha thứ cho những ai có ý chống đối với mình, mặc dù người đó là Lã Bất Vi – người cùng dòng máu với mình, người đã giúp ông ta xây dựng cơ nghiệp. Những mâu thuẫn: tiến thủ và trốn tránh, bác ái và nhỏ nhen, khôn khéo và thẳng thắn trong tính cách của Lã Bất Vi. Ví như, ông ta phải ghìm long để dâng người thiếp yêu của mình là Triệu Cơ cho Dị Nhân trở thành vua Nước Tần, nhưng tình yêu của Triệu Cơ đối với Lã Bất Vi vẫn còn nguyên vẹn. Sau khi hai người lén lút gặp nhau thì cái chủ trương kiềm chế và tâm lý phòng nguy hiểm đã khiến Lã Bất Vi phải rời xa chốn buồng the nơi hậu cung và tìm Lao Ái – tên giả hoạn quan để thay thế mình. Hành động rút lui đó của Lã Bất Vi không chỉ tạo ra một khoảng trống trong tâm hồn của Vương hậu mà còn tạo ra không gian quyền lực, rất nhanh Lao Ái đã tạo dựng cho mình thế lực chính trị trogn cung. Bị vây chặt giữa hai thế lực là Tần Thủy Hoàng và Lao Ái, Lã Bất Vi không còn sức chống chọi nữa. Con người nếu rơi vào cái mâu thuẫn nội tại của chính bản thân mình thì có thể coi như vô tội, đồng thời với việc tạo dựng và phân tích con người Lã Bất Vi, chúng ta có lý do để thông cảm với nhân vật đầy tính bi kịch này.

HÀN DIỆU KÌ
Trường Xuân tháng 12-2000

Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-16 08:38:22ct.ly>
Không sao đâu HTLD à, cứ vô tư thắc mắc đi. CuLong không ngại đâu.
Sau đây là LBV chương XVI (quyển 7). Hình như đường truyền bị chậm hay sao mà
CuLong upload mãi không nổi bà con ơi.


CHƯƠNG XVI

QUẦN THẦN GIAO TRANH

Âm thanh hùng hồn vang vọng trong mái nhà rộng lớn, âm thanh này vang vọng từ trong cung Chương Đài ra đến bên ngoài, nó cũng tác động đến nội tâm đang dao động của Doanh Chính.
Từ hôm nay, Doanh Chính chính thức kế vị ngôi vua. Đại lễ được tiến hành sau lễ tang của vua Trang Tương ít hôm. Doanh Chính được Lã Bất Vi và Triệu Cơ dẫn đến đại đường. Trên đầu nó hôm nay không phải là chuỗi ngọc đong đưa mọi hôm mà là một vành khăn tang. Văn võ đại thần đều mặc tang phục. Lễ lên ngôi của Doanh Chính vẫn được tiến hành theo nghi thức truyền thống, chỉ không có các sắc màu sặc sỡ của quần áo vàng bạc lễ chào mừng. Dưới sự chỉ huy của Lã Bất Vi, Doanh Chính thực hiện đúng các nghi thức, vái lạy trời đất. Đối lập hoàn toàn với thần thái của Doanh Chính là vẻ mặt đầy sức sống của Lã Bất Vi.
Sau khi hoàn thành các nghi thức, quan nghi trượng cao giọng ban bố thánh chỉ của Doanh Chính: Tần vương chiếu lệnh, phong cho văn tín hần Lã Bất Vi là Trọng phụ.
Lệnh được ban ra, dưới triều các quan thi nhau bàn tán. Các đại thần đều biết rằng, Tần vương của họ vừa mới 13 tuổi, vẫn là một đứa trẻ chưa thông hiểu thế sự, đại lễ lên ngôi và chiếu lệnh của vua Tần đều do Lã Bất Vi đứng sau rèm thao túng. Nhưng họ không hiểu, Lã Bất Vi tự đội cho mình vòng nguyệt quế trọng phụ là với dụng ý gì.
Dụng ý của Lã Bất Vi rất sâu sắc, trọng phụ không phải là chức quan, cũng không phải là tước danh càng không phải là cách gọi họ hàng thân thuộc. Chữ “trọng” nghĩa là thứ hai, tức là người cha thứ hai, hay là chú cũng được. Ý của Lã Bất Vi là ám chỉ mình sinh ra Doanh Chính, đồng thời cũng thể hiện được quan hệ của ông ta và Dị Nhân – cha Doanh Chính là quan hệ đặc biệt. Đồng thời “trọng phụ” cũng là tên hiệu của Quản Trọng thời Tề Hoàn Công. Quản Trọng cũng là tướng quốc của nước Tề, tài giỏi vô cùng, giúp cho nước Tề dân giàu nước mạnh, Tề Hoàn Công trở thành một trong ngũ bái thời Xuân Thu, Tề Hoàn Công tôn trọng mọi kế sách của Quản Trọng, việc triều chính của nước Tề hoàn toàn giao cho Quản Trọng, không hề can thiệp một chút nào. Lúc ấy Quản Trọng được gọi là “trọng phụ”. Lã Bất Vi lấy tên gọi này, không những mong Doanh Chính thừa nhận ông ta là cha nó mà còn ngầm ý với văn võ bá quan, Lã Bất Vi sẽ xử lý được việc triều chính giống như Quản Trọng mà không cần Tần Cương trao quyền.
Doanh Chính đặt lại bút mực và ngọc tỷ trên ngự án, thấy đám triều thần tụ tập ở dưới đang bàn bạc thì cảm thấy rất thích thú. Nó nắm chắc tay cầm của ngự sàng đến nỗi tay cầm trở nên trơn bóng và ấm. Mãu hậu Triệu Cơ cũng ngồi ngay bên cạnh nó, chỉ cách nó trong gang tấc. Nó nhìn chằm chằm vào gương mặt đỏ hồng của mẫu hậu như bị thôi miên, nó đã nhận ra mùi hương phát ra từ phía nào. Đó chính là gương mặt của mẫu hậu. Nó không hề biết rằng, để mẫu hậu có gương mặt đẹp như vậy thì thường xuyên phải xoa bóp bằng các loại quả nước. Đôi mày lá răm, đôi môi hồng như đá thạch lựu, đôi mắt long lanh như hồ nước xuân. Doanh Chính nhìn đi nhìn lại, cảm thấy có một gương mặt nào đó giống hệt gương mặt của mẫu hậu, nó nhớ ra rồi, đó chính là gương mặt của quả phụ Thanh. Đúng rồi, nó đã từng hứa một khi được lên ngôi vua, nó sẽ mời quả phụ Thanh tham dự vào việc triều chính. Bây giờ nó đã trở thành Tần vương, không thể nuốt lời được.
Nghĩ tới đây, Doanh Chính nhìn khắp một lượt các đại thần đang thì thầm to nhỏ ở phía dưới, nói to bằng một giọng trẻ con: “Các khanh không được huyên náo, quả nhân muốn ban chiếu lệnh”. Doanh Chính thấy giọng nói đầy uy lực của nó đã nhanh chóng có hiệu lực, cung Chương Đài bỗng nhiên trở nên yên lặng. Triệu Cơ và Lã Bất Vi đang ngổi ở hai bên nó, cũng quay mặt lại, đầy vẻ kinh ngạc.
Doanh Chính đứng dậy, đặt tay lên ngự án nói rõ ràng: “Truyền chiếu lệnh của quả nhân, cho gọi quả phụ Thanh vào triều, tham dự quốc chính”.
Lời nói của Doanh Chính giống như hắt mộtbát nước vào chảo mỡ đang sôi, gây phản ứng mạnh mẽ hơn cả câu lúc nãy: Tần vương chiếu lệnh, phong văn tín hầu Lã Bất Vi làm trọng phụ.
Lã Bất Vi và Triệu Cơ cũng cảm thấy kinh ngạc vô cùng. Trước đó không hề có sự sắp xếp nào để Doanh Chính công bố thánh chỉ này, hơn nữa từ thuở khai thiên lập địa, chưa có người phụ nữ nào được tham dự triều chính, luận đàm việc nước. Khổng Phụ Tử từng nói: “Tiểu nhân và đàn bà đều khó dậy!” Một khi quả phụ Thanh có thể ngang hàng với bá quan văn võ ra vào cung Chương Đài, há chẳng phải vua chẳng ra vua, tưóng chẳng ra tướng, phá bỏ kỷ cương triều chính luân thường đạo lý hay sao?
Nghĩ tới đây, Lã Bất Vi vội nói: “Thưa các bá quan văn võ, lời của đại vương vừa nói chỉ là nói đùa, không nên tin là thật”.
Doanh Chính nói với Lã Bất Vi: “Tướng quốc đấy không phải là lời nói đùa của quả nhân mà là quả nhân không muốn nuốt lời”.
Lã Bất Vi nhận thấy nếu cứ đôi co với Doanh Chính về chuyện của quả phụ Thanh thì thật là mất thể diện nên ông ta liền thay lời vua tuyên bố: “Bãi triều”
Doanh Chính bực bội trở về tẩm cung. Triệu Cao đã đứng bên cạnh, Doanh Chính hỏi: “Triệu Cao, ngươi nói xem trọng phụ nghĩa là như thế nào?”
Triệu Cao trả lời: “Khởi bẩm đại vương, trọng phụ có nghĩa là người cha thứ hai”.
Doanh Chính nghe xong nổi trận lôi đình: “Cái gì? Lã Bất Vi đó đã làm tướng quốc và thái phó cho quả nhân rồi còn chưa đủ hay sao , lại còn muốn làm cha của quả nhân. Thật là không biết trời cao đất dày!”
Triệu Cao sợ Doanh Chính tức giận, vội chữa lại: “Trọng phụ có nghĩa là cha tiên vương và tướng quốc đã từng đồng cam cộng khổ ở Hàm Đan, ngang vai với nhau. Nếu nhìn từ điềm này, tướng quốc cũng được coi là…” nói tới chỗ này, nghỉ một lát, quan sát sắc diện của Doanh Chính nói tiếp: “Tướng quốc cũng có thể coi là chú của đại vương”.
Doanh Chính hừ một tiếng nói với Triệu Cao: “Triệu Cao, nhanh chóng mài nghiên mực đợi quả nhân ban chiếu”.
Triệu Cao vâng một tiếng, vừa mài mực vừa suy nghĩ, đại vương vừa thiết triều trở về nay lại định ra chỉ gì?
Nghiên mực đã mài xong, Triệu Cao im lặng chờ đợi, Doanh Chính hứng khởi nói: “Viết, mau viết, truyền quả phụ Thanh vào thành Hàm Dương, nhập triều tham dự quốc chính!”
Bởi vì Triệu Cao đi theo Doanh Chính, lúc thiết triều ban nãy Triệu Cao đứng ngoài theo dõi hết những diễn biến trong triều, trong lòng nghĩ: “Tướng quốc chỉ cho những lời nói đó là nói đùa trẻ con, viết cũng chẳng có tác dụng gì!”
Doanh Chính thấy Triệu Cao không động bút vội hỏi: “Triệu Cao, tại sao không viết?”
Triệu Cao nói: “Lúc nãy, lúc nãy tướng quốc đã nói, đó chỉ là trò đùa trẻ con!”
Doanh Chính mắng: “Hồ đồ, chẳng nhẽ ngươi cũng đã trở thành kẻ nịnh bợ xum xoe với tướng quốc rồi sao, quả nhân bảo ngươi viết thì ngươi viết, quả nhân muốn làm việc gì thì đừng mong ai ngăn cản được!”
Triệu Cao sợ xanh mặt, cúi rạp đầu xuống chân Doanh Chính, dập đầu nói: “Tiểu nhân đáng chết, tiểu nhân đáng chết”
Doanh Chính bình tĩnh trở lại nói: “Mau đứng dậy”
Triệu Cao nhanh chóng viết xong, nhưng anh ta biết ngọc tỷ ở bên cạnh thái hậu Triệu Cơ, không có chiếu lệnh của ấn chỉ thì chẳng khác chi tờ giấy trắng. Triệu Cao thừa biết nhưng vẫn cố hỏi: “Đại vương, ngài đóng ngọc tỉ lên đi”
Chỉ là một câu nói nhưng như là dội một gáo nước lạnh vào Doanh Chính. Nó biết rõ ràng, mẫu hậu giữ ngọc tỉ không bao giờ có thể đưa cho nó để đóng dấu tên. Nghĩ tới đó, Doanh Chính ngồi im trên giường, không nói một lời.
Triệu Cao vội khuyên nhủ: “Đại vương không nên buồn bực, phải kiên nhẫn. Tục ngữ nói làm cô dâu nhiều năm rồi cũng thành vợ. Chẳng bao lâu nữa đại vương cũng sẽ được đeo kiếm giữ ấn, ngọc tỉ sẽ nằm trong tay đại vương”.
Nghe Triệu Cao nói vậy, Doanh Chính thấy nhẹ nhõm được vài phần.
Một lúc sau, có một người đàn ông trung niên, là thương nhân nước Nguỵ đến cầu kiến, nói là thuộc hạ của quả phụ Thanh. Nói rằng chủ nhân ông ta luôn luôn ghi nhớ ân đức của Chiêu Tương Vương với mình, luôn coi nước Tần là tổ quốc của mình. Bây giờ nghe nói Doanh Chính lên ngôi, vốn dĩ chủ nhân của anh ta muốn tự tay dâng lễ chúc mừng. Tiếc rằng công việc kinh doanh buôn bán bận rộn, nênchủ nhân không đến triều kiến đại vương được, nói xong dâng lễ đồ mừng lên.
Triệu Cao sợ Doanh Chính lại nghĩ ra chuyện này chuyện nọ, nhất thời hứng khởi, đưa chiếu lệnh lúc nãy cho vị thương nhân nước Nguỵ đem về, quả phụ Thanh đến thật, thì đúng là cả hai bên đều khó xử, chủ và khách đều bối rối khó mà chu toàn được.
Nghĩ vậy Triệu Cao vộ bảo vị thương nhân nước Nguỵ: “Đại vương của chúng ta cũng không bao giờ quên được chủ nhân của các ngươi, nay nhờ ngươi nhắn với quả phụ Thanh, là đại nhân mời bà ta đến thành Hàm Dương, đại vương nhà chúng ta nhất định sẽ hậu đãi”.
Doanh Chính nói: “Nếu quả phụ Thanh đến, quả nhân nhất định khoản đãi”
Tiết xuân ở Hàm Dương ngày dài đêm ngắn, màn đêm thực sự buông xuống vào khoảng canh ba. Sau canh ba, hậu cung điện Chiêu Thanh tối om, như ở trong một chiếc lọ đậy kín. Triệu Cơ nằm trên giường, hai mắt mở thao láo, không hề muốn ngủ, trằn trọc không yên. Thỉnh thoảng bà ta lại căng tai ra, chú ý động tĩnh phía bên ngoài. Bà ta đã treo một dải lụa xanh ở bên ngoài khung cửa, Lã Bất Vi đi ngang qua vài lần nhất định sẽ nhìn thấy. Bà ta đã bảo hết các tì nữ trong cung ra ngoài. Trong cả tẩm cung chỉ có một mình bà ta.
Đột nhiên có ba tiếng gõ nhẹ nhưng dứt khoát lên cột nhà.
“Đến rồi” Triệu Cơ ngồi dậy, mở cửa nhỏ. Cái thân hình mà bà ta quen thuộc nhẹ nhàng đi vào trong mà không nói một lời nào.
Giữa hai người đã không còn khoảng cách.
Rất lâu sau đó, họ nói đến chuyện Doanh Chính lên ngôi hôm nay.
Triệu Cơ ấm ức nói: “Thằng nhỏ Doanh Chính này, vừa lên ngôi đã giở trò rồi, định đưa quả phụ Thanh vào triều tham gia việc triều chính thì có phải là đần độn không? Thiếp nghĩ, chàng chẳng cần phải đứng giữa sa trường mà khoa chân múa tay, cứ đoàng hoàng trực tiếp lên làm Tần vương là xong”.
Lã Bất Vi vội ngăn lại: “Như vậy không được”
Triệu Cơ trách: “Các người có phải là nam nhi đại trượng phu đội trời đạp đất ở đời không? Chỉ mới một câu nói mà đã sợ xanh cả mặt”.
Lã Bất Vi nói: “Câu nói này không phải là vừa, ta lên làm Tần vương là việc ngu ngốc, thân bại danh liệt, hại nước hại dân.”
Triệu Cơ đáp: “Đấy chỉ là người sợ đến sởn tóc gáy thôi”.
Lã Bất Vi cười nói: “Người đẹp của ta, đây quyết không phải là ta sợ đến sởn tóc gáy. Nàng thử nghĩ xem. Giang sơn xã tắc của Tần quốc là do họ Doanh truyền từ đời này sang đời khác, thiên hạ đều biết. Ta làm Tần vương, thay đổi họ vua không chỉ tổ tông tôn hầu nhà họ Doanh không thể chấp nhận được mà các nước chư hầu cũng sẽ can thiệp vào. Như vậy ta đã thành kẻ mà cả thiên hạ này chống lại ta, là kẻ loạn thần tặc tử cướp nước hại dân”.
“Ta sẽ chết mà không có chỗ chôn! Còn bây giờ con trai ta lên làm Tần vương, bề ngoài thì vẫn là giang sơn xã tắc của họ Doanh nhưng trên thực tế chẳng phải là của họ Lã sao. Cũng giống như nàng, bên ngoài thì là Vương phi của Tần vương Trang Tương, là người đàn bà goá còn trên thực tế lại là thê thiếp của tướng quốc Lã Bất Vi đó sao?”
Triệu Cơ ôm chặt Lã Bất Vi rồi nói: “Chàng đúng là thương nhân, lắm mưu nhiều chước!”
Ở bên ngoài sân cung đình, tiết trời mùa hè nóng nực. Tề là con của Di Hồng giờ đã cao ngang cái bàn, đang chơi nhảy dây dưới một gốc cây. Xem ra nó đã chơi rất lâu rồi, gương mặt đỏ như người say rượu.
Bỗng có tiếng của Di Hồng gọi: “Tề à, về ăn cơm!”
Tề không có ý định dừng tay, vẫn tiếp tục nhảy.
Di Hồng lại phải tìm đến gốc cây nói: “Tề à, về phòng ăn cơm đi!”
Tiếng của Di Hồng làm đứt đoạn mất hứng thú của Tề, nó không nhảy nữa nói: “Con đã là người lớn rồi, lúc nào cũng Tề à Tề à như gọi một con mèo con, thật là khó nghe”.
Di Hồng nghĩ ngợi một lúc vui mừng bảo: “Được, con trai ta thành người lớn rồi vậy gọi là Thành Tề nhé. Kỳ thực Thành Tề năm nay đã 14 tuổi rồi. Doanh Chính là anh cùng cha khác mẹ với nó nhưng trông chắc chắn nhanh nhẹn khoẻ mạnh, còn Tề thì gày còm ốm yếu, như thể không có cơm ăn. Sau khi vua Trang Tương chết được hai năm, Di Hồng đã dồn hết sức để chăm sóc đứa con trai độc nhất của mình, vốn dĩ có thể sai một đứa thị nữ đi gọi Tề về ăn cơm nhưng bà vẫn tự đi gọi lấy. Bà biết khi Doanh Chính lên làm Tần vương thì nó khó có thể đối xử tốt với đứa em này. Mấy hôm nay Di Hồng đang mưu tính một việc là xin phong ấp cho Thành Tề.
Trời hôm nay vô cùng nắng, trên trời không có lấy một gợn mây. Gần tối trời vẫn sáng, Di Hồng cảm thấy trong lòng vui vẻ, Thành Tề đã dùng cơm tối xong, còn bà ta đi trang điểm lại, đi xin về việc phong ấp cho con trai.
Di Hồng biết rõ, Doanh Chính bên ngoài thì là Tần vương nhưng mọi chuyện đại sự bên trong đều do tướng quốc Lã Bất Vi quyết định. Bà nghe các quan trong cung nói, mỗi lần lâm triều, Lã Bất Vi đều ngồi bên cạnh Doanh Chính. Lã Bất Vi nói “truyền chỉ” thì Doanh Chính cũng nói “truyền chỉ”; Lã Bất Vi nói “chuẩn tấu” thì Doanh Chính cũng nói “chuẩn tấu”. Lã Bất Vi tuy không phải là văn võ song toàn nhưng ông ta lại là người nắm giữ việc triều đình rất chặt chẽ. Những tướng võ thiện chiến luôn sẵn sàng bảo vệ ông ta: “Mông Ngạo Vương Tiễn, nội sử Đằng Lý Tín, còn những môn khách mà ông ta tín nhiệm cũng là những nhân tài đa mưu túc trí như Lý Tư, Tư Không Mã. Không chỉ ở nước Tần mà ở các nước chư hầu cũng biết rõ ở thành Hàm Dương này, Lã Bất Vi là người có sức mạnh thét gió gọi mây, một lời của ông ta có sức mạnh ngàn vàng”.
Di Hồng đến cầu kiến, ông ta ngồi trên chiếc ghế có nhiều hoa văn, chăm chú nghe hết những lời của bà ta, nói với bà ta rằng Thành Tề còn nhỏ chưa cai quản được ấp phong. Hơn nữa, tước vị bổng lộc mà triều đình ban cho mẹ con bà đã có thể sống dư dật rồi.
Di Hồng nói, con của bà đã lớn rồi, bây giờ được gọi là Thành Tề rồi. Mẹ con bà ấy mẹ goá con côi, cuộc sống khó khăn mong tướng quốc đại nhân giúp đỡ. Nếu được phong ấp, nhất định mẹ con bà ta sẽ cai quản tốt.
Lã Bất Vi nói những đất để phong ấp đã ban thưởng hết rồi, không còn phần nào dư nữa.
Di Hồng liền nói: “Nghe nói tướng quốc đang định thôn tính năm thành của nước Triệu, bổ sung nó vào bản đồ của Tần quốc”.
Lã Bất Vi đang định mưu tính chuyện đó, không ngờ người vợ goá của vua Trang Tương lại rõ tin tức như vậy. Lã Bất Vi nói: năm thành đó ở giữa nước Triệu và nước Yên, tình hình thay đổi, giao tranh liên tục xảy ra, các ngươi mẹ yếu con yếu có gan đi đến nơi đó không?
Di Hồng tuy là phận nữ nhi nhưng cũng không chịu thua cánh mày râu. Nghe Lã Bất Vi nói như vậy liền nói: chỉ lo rằng tướng quốc không lấy được năm thành đó về.
Nếu là người khác có những lời bất kính như vậy thì Lã Bất Vi đã cho một bài học. Nhưng tiếc rằng đây là thê thiếp của vua Trang Tương.
Di Hồng nói tiếp, nếu tướng quốc có thể lấy được năm thành trì đó về, phong ấp hết cho mẹ con bà thì mẹ con bà cũng dám nhận.
Lã Bất Vi nghĩ trong lòng, chỉ là một con tiện thiếp của Triệu Hiến Thành mà dám coi khinh người khác. Nghĩ tới đây, tức giận nói: nếu ta không lấy được năm thành trì đó về bản đồ Tần quốc, chức tướng quốc ta nhường lại cho ngươi. Lã Bất Vi nói xong cũng cảm thấy mình hơi quá lời, nhưng một lời nói ra tứ mã nan truy. Bây giờ xem ra chỉ còn một cách nghĩ ra trăm phương ngàn kế để lấy được năm thành đó về thì mới đáng mặt tướng quốc, thực hiện được lời nói của mình.
Mấy ngày nay Lã Bất Vi không ra khỏi cửa, dồn sức để suy nghĩ, sau cùng ông ta đã nghĩ ra được một cẩm nang diệu kế.
Triệu Yên là hai nước láng giềng, gần đây mới chuyển thành thù địch của nhau. Trong trận giao tranh, quân Yên đã bị thiệt hại vô số. Quân Yên bị rơi xuống nước nhiều không kể xiết chỉ còn cách cúi đầu nhục nhã xin cầu hoà. Sau này nước Yên trở thành cái bàn đạp để nước Triệu đi xâm chiếm các nước khác.
Lã Bất Vi quyết định phải ly gián quan hệ của hai nước Triệu Yên. Từ nước Yên theo hai hướng Nam và Bắc thành thế gọng kìm kẹp chặt nước Triệu.
Nước Triệu thuận theo sẽ phải giao nộp năm thành, nếu không sẽ phải giết hết quân Triệu đang chiếm cứ ở đó. Sau đó để con tiện thiếp Di Hồng biết những gì ta đã nói là làm.
Lã Bất Vi nghĩ trước nghĩ sau quyết định cử Tề Trạch là lão thần đã giúp vua Chiêu, vua Hiếu Văn, vua Trang Tương đến nước Yên làm thuyết khách.
Lần làm thuyết khách cuối cùng của Tề Trạch là vào một ngày hè nóng ẩm giữa tháng bảy. Ông được Lã Bất Vi đưa ra tận ngoài thành Hàm Dương, rồi đem theo lệnh và nô dịch của Lã Bất Vi, đi về phía Bắc, đến kinh đô nước Yên. Qua cửa sổ của xe, ông nhìn thấy bầu trời xanh ngăn ngắt, trong xe thì nóng nực vô cùng, ai nấy đều đẫm mồ hôi. Trong thời tiết như vậy, cuối cùng hai chiếc xe chở Tề Trạch và nô dịch cũng đến được kinh đô nước Yên.
Vua Yên thấy Lã Bất Vi cử sứ thần đến nước Yên thì không rõ lý do gì nhưng cũng vui vẻ tiếp đón, mở tiệc tẩy trần khoản đãi.
Sau khi xem thư của Lã Bất Vi, vua Yên đã rõ ý đồ của chuyến đi này.
Thấy dáng vẻ suy tư chần chừ của vua Yên, Tế Trạch nói đại vương Văn tín hầu của Tần quốc cử ta ngàn dặm xa xôi tới đây, thực chất là giúp cho nước Yên. Quý quốc và Triệu quốc đều là những quốc gia ngang nhau, tại sao phải chịu nhục cho nước Triệu đè đầu cưỡi cổ, chỉ huy việc. Ta nghe nói trước kia nước Triệu đã giết không biết bao nhiêu binh sĩ nước Yên. Quý quốc không báo thù lại còn nhận giặc làm cha, lại liên kết với nước Triệu, lúc thì đánh Tần, lúc thì tấn công nước Sở. Kết quả là các thành trì ấy đều thuộc về nước Triệu. Quý quốc thì chỉ hao binh tổn tướng, gây thù chuốc oán với các nước chưa hầu. Tôi không hiểu nổi đại vương phải làm thế là vì cái gì?
Gương mặt của vua Yên lúc trắng lúc đỏ xấu hổ nói: Không phải là đại nhân can tâm tình nguyện làm trâu làm ngựa cho nước Triệu mà là do nước Yên thế đơn độc, quân lại mỏng, chống lại nước Triệu thì cũng như trứng chống lại đá. Tình thế như vậy e không thể không cúi đầu. Nếu có người giúp đỡ quả nhân, nước Yên sẽ phải quyết chiến với quân Triệu.
Nhân cơ hội đó, Tế Trạch nói: “Đại vương, nếu ngài muốn đi ngủ thì tôi sẽ chuẩn bị gối cho ngài.Văn tín hầu lần này cử tôi đến là muốn giúp đại vương giải mối hận này. Tần Yên hợp binh đánh lại nước Triệu, cướp lại địa bàn ở phần sông của nước Triệu, lợi ích cả hai bên cùng hưởng”.
Vua Yên sợ nước Tần nuốt lời nên vẫn im lặng, Tế Trạch biết được suy nghĩ của ông ta nói: “Đại vương lo Tần quốc chúng tôi nói không giữ lời đúng không? Đại vương à, Tần quốc chúng tôi từ đại vương đến dân thường nói lời đều giữ lấy lời. Nếu đại vương vẫn không tin, chúng tôi sẽ cử một vị đại tướng đến nước Yên làm con tin”.
Vua Yên chỉ chờ câu nói này của Tế Trạch, vội trả lời: “Được, được. Vậy cử ai tới?”
Tế Trạch nói: “Xin đại vương lựa chọn!”
Vua Yên như thể đã chuẩn bị trước từ lâu buột miệng nói ngay: “Trương Đừơng”
Trương Đường là phó tướng của Mông Ngao, anh dũng thiện chiến, đã cùng vua Chiêu Tương Vương chinh chiến bao lần, vào sinh ra tử, công tích dày như núi, uy hiếp các nước chư hầu. Vua Yên nghĩ rằng, để Tương Đường đến nước Yên, uy danh của ông ta sẽ làm các nước chư hầu khiếp sợ, còn Tần quốc vì sợ mất một vị tướng tài mà không dám nuốt lời. Đó là việc có lợi thế cả đôi đường.
Tế Trạch đáp ứng lời yêu cầu của vua Yên nhưng cũng đề nghị nước Yên cử một người đến Tần quốc làm con tin. Để biểu thị tấm chân tình của mình, vua Yên đã cử ngay thái tử Đan đến nước Tần.
Tế Trạch vội cử một thụôc hạ tâm phúc về thành Hàm Dương mời Lã Bất Vi và Trương Đường đến nước Yên. Từ sau khi Tế Trạch đi Lã Bất Vi thấp thỏm không yên, nay nhận được tin báo vội cử Tư Không Mã đến phủ của lão tướng Trương Đường mời vị lão tướng này đến nước Yên.
Tư Không Mã đi rồi, Lã Bất Vi nghĩ chỉ cần Trương Đường đến nước Yên thì năm thành trì kia nếu quân Triệu không giao cho nước Tần thì nước Tần cũng cướp lấy. Đến lúc đó, không những bản đồ của Tần quốc được mở rộng mà Di Hồng cũng phải thấy rằng Lã Bất Vi là bậc đại trượng phu, nói lời chắc như đinh đóng cột.
Tư Không Mã nhanh chóng trở về, nhìn thấy khuôn mặt dài thuỗn cùng vẻ thất thần của ông ta Lã Bất Vi cũng đoán được sự việc không được như ý muốn. Tư Không Mã nói với Lã Bất Vi Trương Đường không thể phụng mệnh.
Từ lúc Lã Bất Vi lên làm tướng quốc chưa gặp phải sự chống đối nào, ông ta không hề nghĩ rằng Trương Đường dám chống lại ông ta.
Lã Bất Vi hỏi Tư Không Mã: “Hà cớ gì mà Trương Đường không muốn đi?”
Tư Không Mã trả lời: “Trương Đường nói ông ta đã nhiều lần dẫn quân đi đánh nước Triệu, quân sĩ nước Triệu căm hận ông ta đến tận xương tuỷ. Vua Triệu đã từng ban thưởng cho ai lấy được đầu ông ta. Đường từ thành Hàm Dương đến kinh đô nước Yên gần với nước Triệu. Trương Đường sợ trên đường sẽ bị hành thích, khó bảo toàn tính mạng.”
Lã Bất Vi nghe xong tức giận vô cùng, nói: “Lấy đâu ra cái lý ấy, ở một quốc gia quan văn không tham của, quan võ không tham sống thì mới ổn định được thiên hạ. Trương Đường là đại tướng của Tần quốc lại ham sống sợ chết, gan nhỏ như gan chuột! Ngươi hãy đến phủ của ông ta một lần nữa nói, đại vương có lệnh nếu ông ta kháng lệnh sẽ bãi quan, bãi chức đuổi về quê làm dân thường”.
Tư Không Mã đi rồi, Lã Bất Vi đứng ngồi không yên, trong lòng như có lửa đốt. Mấy môn khách nhìn thấy Lã Bất Vi nghiến răng nghiến lợi, đầu tóc dựng ngược như râu mèo.
Lã Bất Vi không phải đợi lâu, Tư Không Mã rầu rầu trở về nói: Trương Đường vẫn kiến quyết nói một câu. Ông ta không thể đi. Ông ta tuôi cao rồi, không màng đến danh lợi bổng lộc, trở thành thứ dân lại càng thanh thản.
Lã Bất Vi bình tĩnh lại nghĩ, đúng là không thể bãi quan bãi chức của Trương Đường. Nếu như vậy, một là Lã Bất Vi bất tài, chỉ một mình Trương Đường mà không làm gì nổi. Hai là, những lão tướng trong triều sẽ thay ông ta bất bình như vậy sẽ tạo ra một tình thế cưỡi lên lưng hổ rồi khó xuống. Còn cách gì nữa đây? Lã Bất Vi hạ lệnh cho các môn khách và tôi tớ lui ra rồi bản thân lại vắt óc tìm ra kế hay.
Lã Bất Vi vừa ra lệnh, đám môn khách và tôi tớ tự nhiên lác đác lui ra tựa như lá thu rụng.
Lã Bất Vi dường như đang niệm kinh ngồi im trên sạp suy nghĩ. Bỗng nhiên Lã Bất Vi mở to mắt và bị giật mình bởi một tay môn khách đang đứng khoanh tay cạnh cửa. Lã Bất Vi cho rằng mình bị hoa mắt chính bởi vì hồi nãy ông đã kêu đám môn khách và tôi tớ lui ra, kẻ nào lại dám không nghe lệnh, vẫn đứng trơ trơ ở đây.
Lã Bất Vi định thần lại nhìn thì quả nhiên có một người đang đứng ở đó. Vì khoảng cách hơi xa nên Lã Bất Vi không nhìn rõ mặt mũi người đó thì liền trách mắng: “Ta bảo các người lui ra, mi điếc à?”
“Quân vương đang chưa biết làm thế nào về chuyện tướng quân Trương Đường, làm sao tôi có thể dửng dưng mà lui ra được?” Tay môn khách đang nói độ hăm hai, hăm ba tuổi xem ra cũng không kém phần khéo léo và nho nhã.
Lã Bất Vi nhìn cử chỉ và lời nói của người đó thì nhận ra đó chính là tiểu môn khách Cam La ở trong phủ của mình. Cam La là cháu của lão tướng quốc Cam Mậu, sau khi cha chết, đến đời Cam La thì gia sản cũng đã suy yếu. Qua tiến cử của Thái Trạch, Cam La mới đến phủ làm một chức quan nhỏ gọi là “tiểu thứ tử” - một chức vị không ra ngô ra khoai xen lẫn với đám môn khách. Lã Bất Vi không ấn tượng với người này lắm mà chỉ biết rằng ngoài việc Cam La ê a đọc sách ra, nếu không nghịch ngợm cùng đám trẻ con thì cũng trèo cây chọc tổ chim hái quả bồ kết.
Trẻ con nói chuyện người lớn, Lã Bất Vi lấy làm thích thú thì bình tĩnh nói: “Tiểu Cam La, ta đang nghĩ cách, ngươi mau ra ngoài chơi đi”.
Cam La khoác lác không ngượng mà rằng: “Tướng quốc đang nghĩ chuyện gì chứ? Chẳng phải là việc để tướng quân Trương Đường đi sứ nước Yên hay sao? Chỉ là một việc nhỏ chẳng đáng kể gì lại khiến ngài khó xử thế sao? Ngài xem, anh cả Tư Không của tôi chỉ là đồ giá áo túi cơm thôi. Đi đến mấy bận mà chẳng được việc gì. Nếu là tôi đi thì lão tướng quân Trương Đường nhất định đi sứ nước Yên thôi”.
Lã Bất Vi ôm bụng cười mà rằng: “Tiểu Cam La, nhà ngươi nói mạnh như vậy không sợ gió to cướp đi cái lưỡi của mi à. Chuyện người lớn bọn ta còn chưa làm được huống hồ là một đứa nhãi con như nhà ngươi!”
Cam La không chịu nói: “Tướng quốc, ngài không nên nhìn người trong khe cửa mà nhìn sai người. Chắc ngài đã từng nghe chuyện Hạng Thác lúc bảy tuổi đã làm thầy của đại thánh nhân Khổng Khâu, còn tôi thì đã 22 tuổi rồi. Làm sao ngài biết là tôi không thể khuyên tướng quân Trương Đường đi sứ nước Yên?”
Lã Bất Vi cảm thấy tranh cãi với một đứa trẻ ranh thì thật vô ích liền thủng thẳng nói: “Nếu thế thì nhà ngươi hãy đến phủ của Trương Đường xem”
Cam La hỏi: “Nếu tôi làm được việc đó thì tướng quốc thưởng gì nào?”
Lã Bất Vi không ngần ngừ nói: “Phong ngươi làm thượng khanh”
Cam La nghe xong thì mặt mày rạng rỡ hẳn lên
Cam La nhớ rằng khi mình còn rất nhỏ đã từng gặp Trương Đường một lần. Ấn tượng cũng đã mờ nhạt như giấc mộng xa xôi vậy. Ấn tượng cũng đã mờ nhạt như một giấc mộng xa xôi vậy. Trong tưởng tượng của Cam La, lão tướng quân Trương Đường đã qua đi cái năm tháng “tai sóng” rồi. Một đời trên yên ngựa rong ruổi giữa chốn sa trường, yên thân đã làm cho Trương Đường nghiên ngả, chòng chành thành một thân già lụ khụ rồi. Nhưng khi gặp tướng quân Trương Đường, Cam La vô cùng kinh ngạc bởi thân thể tráng kiện của ông. Tướng quân Trương Đường lưng không cong, vai không gù, đang ngồi trong phòng khách tiếp chuyện Cam La.
Trương Đường nói: “Bạch Câu quá khích, lâm mục thành âm, thoáng một cái tiểu Cam La sắp trở thành người lớn rồi. Không biết bây giờ ngươi định chơi ngón nghề gì đây?”
Cam La nói đầy vẻ nghiêm túc: “Tôi đâu được thanh thản như lão tướng quân. Một việc quan trọng sinh tử đang giày xé lòng tôi khiến tôi ăn không ngon, ngủ chẳng yên”
Trương Đường cười sảng khoái mà rằng: “Nhãi ranh như ngươi có việc gì to tát mà liên hệ đến việc sinh tử cơ chứ?”
Cam La vẫn nói với vẻ nghiêm túc: “Lời lão tướng quân nói rất đúng. Khi tôi còn rất nhỏ thì đã làm môn khách dưới trướng Lã tướng quốc rồi, hết thảy đều được hầu hạ, cơm bưng nước rót, không chút bận tâm, không chút lo lắng thì đương nhiên không có việc gì to tát can hệ đến sinh tử rồi. Mà tôi chỉ thấy buồn lo không yên về tai hoạ sắp giáng xuống đầu lão tướng quân đó thôi.”
Trương Đường không lấy làm ngạc nhiên mà rằng: “Nhãi ranh, muốn thứ gì ở lão phu cứ việc nói rõ, đừng có khoa trương thanh thế hòng hù doạ lão phu”
Cam La nghiêm mặt hỏi: “Lão tướng quân, công lao của ngài so với Vũ An quân Bạch Khởi thì công lao của ai lớn hơn?”
Trương Đường chịu nhận lép vế mà rằng: “Vũ An quân Bạch Khởi thống soái ngàn vạn binh mã, đánh đâu thắng đó. Nói là Bạch Khởi lập nên một nửa giang sơn quả là chẳng phải khoa trương. Cho dù Bạch Khởi đã bị Ứng hầu Phạm Thư xử tội chết đã nhiều năm nay nhưng người nước Tần đều biết công lao của Bạch Khởi. Lão phu đâu dám đánh giá công lao trước mặt Bạch Khởi chứ”.
Cam La biết rõ nhưng vẫn hỏi: “Lão tướng quân biết rằng công lao của mình không bằng Bạch Khởi chứ?”
Trương Đường thẳng thắn: “Đương nhiên là biết”
Cam La nói tiếp: “Thế tôi xin hỏi thêm lão tướng quân, Ưng hầu Phạm Thư so với Văn tín hầu Lã Bất Vi ai là người có quyền cao quýêt đoán hơn?”
Trương Đường suy nghĩ giây lát mà rằng: “Không phải nhà ngươi làm môn khách trong Lã phủ, lão phu cũng phải nói thật lòng. Ưng hầu Phạm Thư đâu có thể bì bằng Văn tín hầu Lã Bất Vi chứ”
Cam La nhấn mạnh ngữ khí hỏi vặn lại: “Lão tướng quân vẫn biết rõ quyền hành của Lã Bất Vi là rất lớn chứ?”
Trương Đường vẫn đáp lại là: “Đương nhiên biểt rõ”.
Giọng Cam La cũng đanh sắc mà rằng: “Điều gì lão tướng quân cũng đều đã rõ thì sao bây giờ lại hồ đồ đến bước chẳng còn thuốc gì cứu vãn nổi? Giống như năm nào, Ưng hầu Phạm Thư lệnh cho An Vũ quân Bạch Khởi đem quân đánh nước Triệu, Bạch Khởi cậy công kiêu ngạo bỏ lời Phạm Thư ngoài tai không chịu xuất quân mà làm theo cách của mình bất chấp mọi người vẫn cứ ở lại thành Hàm Dương. Kết quả ra sao? Bạch Khởi bị đuổi khỏi quốc đô, sau đó Phạm Thư lại sai người giết chết Bạch Khởi. Một đời danh tướng lại nát thây nơi tây thành Hàm Dương! Giờ đây Văn tín hầu Lã Bất Vi đã mấy lần sai người mời ngài đi sứ nước Yên, ngài lại cự tuyệt không tuân mệnh, không biết giờ đây lão tướng quân xuống hoàng tuyền ở chốn nào đây?”
Lời Cam La nói khiến Trương Đường bừng tỉnh giấc mộng, Trương Đường thở dài và hỏi Cam La: “Há Văn tín hầu Lã Bất Vi sai ngươi đến đây sao?”
Cam La nói: “Văn tín hầu Lã Bất Vi hành sự thi lệnh chỉ có một hai bận chứ đâu có năm lần bảy lượt được.Tôi chả là không nỡ thấy lão tướng quân lại dẫm vào vết bánh xe đổ của Bạch Khởi nên mới đến đây nói vậy thôi”.
Những lời Cam La nói khiến Trương Đường sợ hãi tái nhợt mặt mày.
Trương Đường ngồi trên sạp mà như đang ngồi trên thảm gai thì liền rướn người thi lễ Cam La mà rằng: “Tiểu thứ tử, nhà ngươi hãy cứu giúp lão phu phen này”.
Cam La nhẹ nhàng nói: “Lão tướng quân, ngài không nên hoang mang quá. Ngài hãy đến chỗ Văn tín hầu cúi đầu nhận tội và đồng ý đi sứ nước Yên là có thể biến dữ thành lành rồi”.
Trương Đường mời Cam La ngắm cảnh thưởng hoa, vui chơi thoả thích trong phủ của mình rồi ông phanh ngực lộ cánh tự mang roi đi thẳng đến phủ tướng quốc.
Lã Bất Vi thấy tướng quân Trương Đường cúi đầu nhận tội thì vội đỡ ông dậy và hỏi: “Lão tướng quân, sao lại đổi ý muốn đi sứ Yên quốc?”
Trương Đường nói vẻ ngượng ngùng: “Tục ngữ có câu Hữu chi bất tại niên cao, vô chí không hoạt bách tuế! Chính lời tiểu thứ tử của tướng quốc nói làm tôi hiểu ra điều đó.
Lã Bất Vi không tin lắm, hỏi rằng: “Một đứa trẻ ranh miệng còn hơi sữa đi khua môi múa mép lại có thể làm lão tướng quân động lòng ư?”
Trương Đường nói: “Lời tiểu thứ tử thấu tình đạt lý khiến tôi phải tâm phục khẩu phục”.
Điều đó khiến Lã Bất Vi thực sự bất ngờ. Tư Không Mã mấy lần mang chiếu của tướng quốc đến gặp nhưng Trương Đường không đả động. Mấy lời của tiểu Cam La lại khiến Trương Đường thay đổi đến nỗi tối tăm trời đất. Xem ra vị tiểu thứ tử đây tài hoa có phần khác người đấy. Chính ta cũng không phát hiện ra mà chỉ có hắn là thứ tầm thường vô dụng thật là có mắt như không.
Lã Bất Vi đang thầm trách mình thì Trương Đường hỏi: “Tướng quốc đại nhân khi nào tôi lên đường đi Yên quốc?”
Lã Bất Vi nói: “Đương nhiên là nên đi sớm không nên muộn rồi”.
Trương Đường vừa đi không được bao lâu thì Cam La cũng mừng rỡ quay về. Cam La nói với Lã Bất Vi rằng: “Tướng quốc đại nhân, hôm nào mời đại nhân ban chiếu phong thần làm thượng khanh nhé”.
Thế là Lã Bất Vi có phần phân vân khó xử. Không phong cho Cam La làm thượng khanh ư? Chính ta đã hứa rằng nếu Cam La thuyết phục được Trương Đường đi sứ Yên quốc thì sẽ phong làm thượng khanh. Đường đường là tướng quốc của một nước làm sao có thể nuốt lời được? Phong cho Cam La làm thượng khanh ư? Chỉ có mỗi việc thuyết phục Trương Đường đi sứ nước Yên e rằng công lao hơi ít, không đủ để ban chức thượng khanh. Biết làm sao đây…
Cam La thấy Lã Bất Vi lặng yên không nói thì liền nói: “Tướng quốc đại nhân, ngài không cần phải khó xử như vậy đâu. Ngài cứ phong tôi làm thượng khanh đi, tôi làm chơi mấy hôm rồi trả lại ngài thôi”.
Lã Bất Vi thấy Cam La khéo léođáng yêu, lại có thể thuyết phục được Trương Đường đi sứ nước Yên thì chứng tỏ rằng năng lực phân tích giải quyết vấn đề của Cam La không phải là hạng thường. Bản thân mình là tướng quốc và là chủ nhân thì phải nên khen thưởng, đề bạt, tạo cơ hội cho Cam La lập công dựng nghiệp.
Nghĩ đến đó, Lã Bất Vi liền hoà nhã thân thiện nói với Cam La rằng: “Chức thượng khanh không đơn thuần chỉ tốn mấy thứ nước bọt là lấy được. Thế này vậy, ngươi hãy giúp ta lấy năm thành trì Hà Gian của nước Triệu, khi đó ta sẽ phong cho ngươi làm thượng khanh”.
Cam La làm bộ người lớn nói: “Thần xin nghe sai khiến của quân hầu”.
Lã Bất Vi nói: “ngày mai ngươi hãy đến đây, ta sẽ có kế truyền đạt cho nhà ngươi”.
Cam La sảng khoái vui vẻ nhận lời rồi quay trở về chỗ ăn chỗ ở của các môn khách. Lã Bất Vi nhìn cái bóng vui mừng nhảy nhót của Cam La mà than rằng: “Thật là trẻ con!”
Trong mắt Trương Đường thì hết thảy mọi người trong phủ từ thê thiếp đến tôi tớ đều nhìn ông bằng con mắt buồn đau và lo lắng. Trương Đường biết những người này đều vã mồ hôi về việc ông đi sứ nước Yên. Uyển Cơ vợ ông thì khóc cả ngày, mặt mày ủ ê. Trương Đường cũng biết chuyến đi này lành ít dữ nhiều. Nhưng nếu không đi thì việc Lã Bất Vi trong tay một đống quyền hành sẽ khiến ông phải chết dễ dàng giống như giẫm chết một con kiến vậy. Còn nếu làm thành chuyến đi sứ Yên quốc này thì không chỉ có thể biến nguy thành hoà mà còn có thể được thăng quan tiến chức.
Trong phủ, không khí tang thương u uất vẫn ngày một nặng nề. Trong khi Trương Đường đang tỉ mỉ căn dặn Uyển Cơ thì tiền xe binh mã cũng đã chuẩn bị xong một cách nhanh chóng.
Buổi sáng hôm lên đường, trời bắt đầu mưa rả rích. Gió thu ào ào thỉnh thoảng lại tốc rèm mưa lên. Trong không khí thấm đượm sự u ám mịt mù khiến người ta cảm thấy xơ xác tiêu điều. Trương Đường không nỡ nhìn đám tôi tớ con cháu và Uyển Cơ nước mắt đầy mặt xen lẫn nước mưa đang đứng cạnh cửa, ông giật lấy chiếc roi từ người điều khiển và vụt thật mạnh vào mông con ngựa một cái, chiếc xe lắc mạnh và lao đi trong mưa. Khi gần đến cổng thành thì thấy tiếng trống phách dập dồn vọng lại đến đinh tai nhức óc. Trương Đường vén rèm xe bị mưa làm ướt lên thì thấy lố nhố những đầu đội mũ vẫn còn ánh lên vệt nước ở một chỗ sáng sủa không xa về phía trước, thương kích cờ quạt thì dày đặc tựa như cây khô không lá.
Đội xe của Trương Đường còn chưa đi đựơc bao xa thì bị chặn lại. Trương Đường liền sai người đi thăm dò thì liền biết ngay đội quân ấy là do Cam La chỉ huy đến tiễn biệt, ông vừa bực vừa buồn cười. Thật là trẻ con, muốn làm gì là làm. Cam La huy động nhiều người tham gia nghi thức này khiến ầm ĩ cả thành. Trương Đường vốn chọn một ngày mưa gió như vậy để lên đường là vì không muốn cho ai biết để tránh cho nước Triệu biết trước được tin này.
Một lát sau, Cam La liền đến cạnh xe của Trương Đường nói với ông rằng: “Trên đường đi lão tướng quân phải nổi trống giong cờ để tuyên truyền cho hết thảy lớn bé già trẻ được biết. Nhưng hãy đi chầm chậm. Khi đến gần biên giới của nước Triệu thì lão tướng quân hãy dừng chân đón nghe tin tức của tôi”.
Trương Đường không còn dám khinh thường Cam La nữa, ông vội hỏi: “Tiểu thứ tử, nhà ngươi lại có cẩm nang diệu kế gì chăng?”
Cam La nói: “Tôi làm theo kế của Văn tín hầu Lã Bất Vi đại nhân đó, lão tướng quân không nên hỏi nhiều. Tôi đi trước đến Hàm Đan đây”. Nói rồi, Cam La không để Trương Đường kịp hỏi han thêm gì bèn trèo lên xe của mình và khuất dần trong mưa gió mịt mù.
Mấy hôm sau đã bắn ra một tin mới trong thành Hàm Đan là: Tần quốc phái một đứa trẻ 22 tuổi đi sứ Triệu quốc.
Hiếu Thành vương nước Triệu lúc ấy đã qua đời, con trai Hiếu Thành vương là Triệu Uyển lên kế vị lấy hiệu là Điếu Tương Vương. Điếu Tương Vương biết Cam Mậu – cha của Cam La đã từng làm tới chức tả thừa tướng dưới thời của Tần Võ Vương và cũng là môn khách dưới trướng Lã Bất Vi thì không dám chậm trễ làm lễ trọng thể nghinh tiếp Cam La ở Tùng Đài.
Xưa nay Cam La chưa từng thấy trường hợp nào phô trương náo nhiệt như thế. Cam La và Điếu Tướng Vương cùng ngồi dưới triều. Cam La chỉ thấy hai bên triều, bá quan văn võ đều đứng như rừng mọc, thương kích dàn thành trận thì trong lòng không khỏi hồi hộp. Cam La nhớ đến lời Lã Bất Vi đã nhắc nhở; nhà ngươi hãy tỏ rõ phong độ của sứ thần một nước lớn và hãy lấy phong thái ngồi cao nhìn xuống mà nói chuyện với Triệu vương. Đã có trăm ngàn đạo quân hùng mạnh của Tần quốc hậu thuẫn cho ngươi rồi. Điếu Tương Vương sẽ không dám đụng đến một sợi lông của nhà ngươi đâu.
Nghĩ đến đây, Cam La liền trấn tĩnh lại hỏi: “Đại vương, ngài có nghe chuyện thái tử Đan nước Yên đi sứ Tần quốc chúng tôi không?”
Điếu Tương Vương gật đầu nói: “Có nghe nói”
Cam La lại hỏi: “Tần quốc chúng tôi cũng phái lão tướng Trương Đường đi sứ Yên quốc, đã lên đường đi từ lâu. Việc đó đại vương có biết không?”
Điếu Tương Vương nói: “Có biết!”
Cam La nói tiếp: “Thái tử Đan đi sứ Tần quốc biểu thị sự hoà hảo giữa Tần quốc và Yên quốc; Trương Đường đi sứ Yên quốc biểu thị sự hoà hảo giữa Yên quốc và Tần quốc. Yên Tần liên minh, Triệu quốc ở giữa Yên quốc và Tần quốc e rằng sẽ nguy khốn đó.”
Điếu Tương Vương không hiểu bèn hỏi: “Yên Tần liên minh thì làm sao Triệu quốc chúng tôi lại nguy hiểm chứ”
Cam La nói ngay: “Thưa điện hạ, thế ngay cả việc Tần Yên liên quân tấn công Triệu quốc ngài cũng không nhận ra ư?”
Điếu Tương Vương lòng nặng trĩu sợ hãi hỏi: “Chúng tôi đâu có đắc tội với Tần quốc, tại sao Tần quốc lại liên minh với Yên quốc tấn công chúng tôi chứ?”
Cam La nói: “Bệ hạ nói rất phải. Nguyên nhân Tần quốc đánh Triệu quốc là do Văn tín hầu Lã Bất Vi muốn có năm thành trì ở Hà Gian của Triệu quốc đó”.
Điếu Tương Vương biết rằng, Triệu quốc không thể chống đỡ được liên minh Tần Yên mạnh như con thú dữ và dòng thác lũ thì ngồi đỡ đầu trên ngai vàng.
Cam La thừa thế nói: “Bệ hạ, ngài không nên lo lắng về chuyện này. Tôi có một kế giải nguy giúp ngài”.
Điếu Tương Vương vội vàng nói: “Nói mau đi!”
“Theo ý tôi, chi bằng bệ hạ cứ dâng năm toà thành trì ở Hà Gian cho Văn tín hầu Lã Bất Vi làm phong ấp của ông ấy. Sau đó ngài hãy đề nghị Lã Bất Vi cắt đứt liên minh với Yên quốc. Một khi Yên quốc mất đi cách tay phải hỗ trợ đắc lực là Tần quốc thì ngài có thể tấn công Yên quốc được rồi. Tôi thấy Yên quốc nhỏ bé nhất định sẽ không chịu nổi một đòn đâu. Bệ hạ có được đâu phải chỉ có năm toà thành trì”. Cam La nói một cách xúc tích.
Đíêu Tương Vương đổi buồn thành vui, vỗ tay khen hay: “Xin sứ thần Cam La chuyển lời cho Văn tín hầu Lã Bất Vi rằng quả nhân tình nguyện dân năm thành trì ở Hà Gian”.
Cam La hỏi: “Chỉ nói suông vậy thì lấy gì làm bằng chứng?” Điếu Tương Vương liền sai người mang bản đồ của năm toà thành trì Hà Gian đến, đóng lên ngọc tỉ và giao cho Cam La.
Cam La như vớ được vàng, giấu ngay bản đồ và rời khỏi Hàm Đan. Khi đến giáp ranh giữa Tần và Triệu thì Cam La thấy Trương Đường cắm trại đợi tin. Khi Cam La kể xong quá trình giành được năm toà thành trì ở Hà Gian thì lão Trương Đường mừng rơi nước mắt không ngớt lời ngợi khen Cam La rằng: “Tiểu thứ tử thật đúng là thần đồng!”
Cam La xua tay mà rằng: “Việc này đều do Văn tín hầu Lã Bất Vi đã đoán trước được sự việc như thần vậy. Tôi chẳng qua chỉ làm theo kế đó thôi. Chúng ta mau trở về thành Hàm Dương để tướng quốc nhận được tin vui mừng sớm.
Sông Kinh Hà trước mắt đã thay đổi bộ mặt cũ. Khắp chốn mọi nơi trên bờ sông đều chất đầy gỗ đá. Còn như con đường ở giữa thì lại ngoằn nghèo chật chội như ruột rắn. Dân phu đông như kiến, mồ hôi họ ướt đầm như mưa đang đào kênh khắp kinh thành. Con sông vốn ngoằn nghèo không ra thể thống trước đây giờ đã được gọt cho thẳng. Con kênh rộng rãi thẳng tắp đã dần hiện ra mô hình của nó.
Xe của Lã Bất Vi đến bên bờ sông Kinh Hà, trời đã về trưa. Đá và ngô được chuyển đến đây không ngớt nhưng đã bị hao đi một lượng vật tư lớn. Cũng không biết bị Trịnh Quốc đảm nhiệm công trình thuỷ lợi từ nước Hàn tới sửa kênh rạch thành thứ quỷ quái gì rồi. Tay môn khách Trịnh Thược thường hay ba hoa chích choè về tay thân thích họ hàng này, Lã Bất Vi phải đích thân đến xem sự thể ra sao. Hơn nữa, tiến độ biên soạn bộ “Lã thị xuân thu” do các môn khách biên soạn cũng bị trì trệ, nội dung thể loại cũng bị lộn xộn rối tung cả lên.
Lã Bất Vi thấy tiến độ công trình đào kênh khơi rạch rõ ràng thì rất lấy làm vui vẻ, cho người đi tìm Trịnh Quốc và Lý Tư đến. Gò má của Trịnh Quốc và Lý Tư đều bị nắng làm cho cháy đỏ, vừa nhìn thì đã biết họ luôn làm tiên phong. Lã Bất Vi cùng Trịnh Quốc và Lý Tư ngồi xuống. Lã Bất Vi lắng nghe vị giám sát công trình thuỷ lợi từ Hàn quốc đến tường thuật kế hoạch xây dựng quy mô và tiến độ thi công thì gật đầu khen ngợi không ngớt. Cuối cùng Trịnh Quốc nói: “Con kênh này có lợi trước mắt, nó là tiếng vang để lại cho đời sau, là cái kế hàng năm, lấy chất lượng làm hàng đầu. Xin tướng quốc đại nhân hãy tăng thêm việc chuyển đá và số lượng dân phu để tăng tiến độ thi công. Lã Bất Vi lần lượt đồng ý rồi căn dặn Lý Tư và Trịnh Quốc phải về Hàm Dương để tham gia biên soạn “Lã thị xuân thu”. Trịnh Quốc lưu luyến nói, Lý xá nhân đây là vị anh tài trị quốc, lao động không phân biệt chủ tớ nhọc nhằn, quản lý mọi việc đều rất rõ ràng mạch lạc.
Lã Bất Vi ven theo bờ sông quan sát một lượt rồi cùng Lý Tư ngồi cùng một xe trở về Hàm Dương. Ở trên xe, Lã Bất Vi lại hỏi Lý Tư về tình hình đào kênh khơi rạch, Lý Tư đều trả lời rõ ràng đâu vào đấy cả. Đợi Lã Bất Vi nói ấn tượng về Trịnh Quốc của mình xong, Lý Tư muốn nói lại những băn khoăn lo lắng. Lã Bất Vi liền nói: “Lý xá nhân, đây là chúng ta đang nói chuyện tầm phào chứ không phải đang đọc văn Tân cho đại vương nghe nên không cần phải cắt gọt câu chữ, cân nhắc nhiều bề”. Lúc đó Lý Tư mới nói: Trịnh Quốc đúng là am hiểu kỹ thuật đào kênh khơi rạch, chỉ có điều kế hoạch thiếu kiện toàn nên vật liệu lãng phí hơi nhiều.
Lã Bất Vi ra chiều suy nghĩ mà rằng: À ra vậy!
Đường đất Hà Sáo không rắn chặt. Bánh xe như bị xoáy vào trong đất. Một lúc rất lâu xe của Lã Bất Vi mới đến được đoạn đường đất cứng. Bốn con ngựa cùng nương rộng vó cứ cắc cắc cắc phi như bay vậy. Lã Bất Vi cũng ngủ thiếp đi theo sự lắc lư của bánh xe. Cái kế sinh nhai của một vị tướng quốc là một ngày trăm phương ngàn kế khiến Lã Bất Vi bị mệt mỏi ghê gớm. Mọi việc lớn nhỏ trong triều không việc nào không cần đến sự quyết đoán của ông. Lã Bất Vi nuôi kế hoạch thống nhất thiên hạ bằng cả tâm huyết của mình. Ông cho quân thám thính tình hình quân đội của sáu nước chư hầu ở Quan Đông giống như đèn kéo quân trở về Hàm Dương vậy. Quân thám thính báo cáo quân cơ cho Lã Bất Vi. Lã Bất Vi phân tích tỉ mỉ những tin tức này mà không dám để lộ một động thái nào rồi sau đó mới dùng kế dùng binh. Việc chọn dùng khảo sát của bá quan văn võ cũng phải toàn tâm toàn ý sao cho dùng đúng điểm mạnh, tránh dùng điểm yếu. Những người chí khí trung thần, những người có thành tích xuất sắc rõ ràng thì thăng quan tiến chức; những kẻ tiểu nhân xảo quyệt thì không thể để chúng đắc ý được. Chỉ có như thế thì nhân tài của triều điìh mới trong sạch và liêm khiết được. Còn cả việc ăn mặc và sinh hoạt của trăm dân nữa cũng không được khinh suất. Một khi có hạn hán lũ lụt dưới các quận huyện thì không chỉ làm cho ông ta phải thấp thỏm lo lắng mà ông còn phải điều lương thực đến để cứu tế. Còn cả sự hoạt động của cung Chương Đài cũng do ông điều khiển. Tuy rằng xưa nay ông chưa hề so đo những việc cỏn con như hạt thóc hạt vừng nhưng việc chi tiêu, việc tế lễ đình đám trong cung, việc bảo vệ phòng thủ chung quanh ông cũng luôn phải chú ý đến… Những việc đó cũng như ngàn vạn nút sợi, cũng giống như những mắt lưới đang chụp lấy ông. Nhưng Lã Bất Vi cũng không luống cuống đến độ cẩu thả bừa bãi mà ông thường nắm bắt mấu chốt một cách nghiêm túc có căn cứ.
Lã Bất Vi cảm thấy dường như đường bị ách lại. Khi xe dừng lại thì nghe thấy tiếng binh khí va chạm vào nhau và tiếng người ngựa huyên náo vây chặt lấy. Lã Bất Vi mở đôi mắt hãy còn ngái ngủ nhập nhèm nhìn xem thì thấy xe của mình đang bị một đội quân tiến về phía trước ngăn lại. Mấy chục chiếc xe và đến vài nghìn binh lính của cả hai bên bị nhuộm nhoạm vào nhau, người này chen vào người kia, cứ giống như cháo bị nấu quá lửa vậy. Lã Bất Vi nhìn vào màu cờ và đồ án phía đối phương thì mới biết đó là đội quân hộ giác của công tử Thành Tề.
Lã Bất Vi cảm thấy Thành Tề là em vua một nước mà không xuống xe thi lễ thì thật là thất lễ. Thế là Lã Bất Vi sai Lý Tư vén rèm xe lên rồi điều chỉnh cho chân mình đứng vững trên thành xe một cách ngay ngắn. Lã Bất Vi lại ra lệnh cho một môn khách truyền đạt lại mệnh lệnh của mình rằng: “Người xe ngựa đều không được nhốn nháo tranh đường. Ai ở chỗ đấy, không được huyên náo nghe điều phái của tướng quốc đại nhân Lã Bất Vi”. Mệnh lệnh vừa chấm dứt thì người ngựa đều im bặt không động đậy cả thảy như thể bị đông cứng lại.
Lã Bất Vi đến cạnh chiếc xe không có màu sơn cất giọng nói: “Tuỳ tùng và ngựa xe của phủ tướng quốc nhất loạt tránh vào lề đường để đội xe của công tử Thanh Kiều qua”. Mệnh lệnh vừa ngớt thì ngựa xe của tướng quốc nhất tề tránh sang một bên, đường đi đã trở lại trật tự và yên ắng.
Đội quân của Thành Tề đi qua xong thì dừng lại rất lâu mà không tiến về phía trước mà cũng không đến chào các vị khanh tướng. Lã Bất Vi đã rõ, đó là Thành Tề đang đợi Lã Bất Vi đến bái kiến. Lã Bất Vi nghĩ: “Ta vừa là bậc tướng quốc lại vừa là bậc cha chú ngươi. Ta xuống xe dẹp đường cho ngươi, cũng là nhân nghĩa rồi. Nếu ngươi không sai người đến đáp lễ thì ai người đó đi vậy”.
Vẫn một hồi im ắng rất lâu thì quả nhiên có một vị là thái bác của Thành Tề đi đến thi lễ với Lã Bất Vi xong và nói: “Công tử Thành Tề sai tôi đến cám ơn và hỏi thăm tướng quốc đại nhân”.
Lã Bất Vi nói: “Ta cũng chúc phúc và hỏi thăm công tử Thành Tề. Chẳng hay công tử huy động nhiều người là thế nào vậy?”
Thái bác của Thành Tề trả lời lại rằng: Tử Hề điện hạ tổ chức đại hội mùa thu ở Bình Ấp. Đại lễ có không ít cảnh đẹp và thú vui vô cùng náo nhiệt và có mời công tử chúng tôi đến tiêu khiển.
Lã Bất Vi nghĩ: “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng. Con người Tử Hề bụng dạ phản trắc, xấu xa, rồi không biết sẽ làm cho công tử Thành Tề có ý đồ xấu gì đây? Sau này sẽ càng phải chú ý tới động tĩnh của Bình Ấp mới được”. Tuy Lã Bất Vi tính toán như vậy nhưng miệng thì lại nói: “Chúc công tử Thành Tề thuận buồm xuôi gió, vui chơi vui vẻ thoải mái ở Bình Ấp’.
Lã Bất Vi và Lý Tư vừa về đến thành Hàm Dương thì Cam La và Trương Đường cũng mặt mày rạng rỡ chiến thắng trở về. Cam La dâng bản đồ năm toà thành ở Hà Giang cho Lã Bất Vi. Trương Đường thì ở bên cạnh thêm cành thêm lá tô vẽ việc Cam La mưu trí dũng cảm, không tốn một chút hơi sức nào mà giành được năm toà thành Hà Gian. Kỳ thực Trương Đường đâu biết được đó là do Lã Bất Vi quyết định sách lược tác chiến ở phía sau mà quyết thắng vượt ngàn dặm. Lã Bất Vi thì tươi cười rạng rỡ khen ngợi Cam La rồi truyền lệnh làm lễ mừng công thắng lợi chúc mừng thượng khanh Cam La trong phủ Tướng quốc.
Di Hồng hay tin năm toà thành ở Hà Gian của nước Triệu đã về tay nước Tần thì vui mừng khôn xiết. Lúc trước Lã Bất Vi có ngoa miệng rằng: “chỉ cần mẹ con Thành Tề có dũng khí thì chờ đến khi chiếm được thành ấp ở Hà Gian sẽ lấy hai thành làm phong ấp của Thành Tề. Di Hồng thấy con trai của mình đã ngày càng khôn lớn, lại là em vua thì càng phải có nhiều phong ấp hơn để mở rộng địa bàn, nuôi dưỡng bản lĩnh, đợi khi Lã Bất Vi tuổi ngày càng cao hoặc có mệnh hệ gì thì sẽ để con mình làm tướng quốc. Hai con trai của Dị Nhân Trang Tương Vương một đứa làm vua, một đứa làm tướng quốc cùng hỗ trợ bổ sung cho nhau thì sẽ vô địch thiên hạ. Bà ta cũng được thoả lòng nơi chín suối.
Sáng hôm ấy, Di Hồng trang điểm xong xuôi thì ngồi xe vua lên thẳng phủ tướng quốc. Vừa thấy Di Hồng – di thiếp của tiên vương đến, Lã Bất Vi liền hiểu ngay mục đích của bà ta thì long trọng tiếp đón. Lã Bất Vi vừa nói chuyện với Di Hồng vừa nghĩ cách trả lời sao với vị di thiếp này của tiên vương. Lã Bất Vi luôn có cảm tình với người cung nữ bên cạn Hiếu Thành Vương nước Triệu, có mối tình thâm với Dị Nhân và cũng từng vào sinh ra tử đến từ thành Hàm Dương này. Nhưng khi Di Hồng khuyên nhủ với Lã Bất Vi về chuyện Dị Nhân trước đây thu nhập và giúp đỡ bà ta thì mối cảm tình ấy cũng dần dần bị nhạt mất đi. Lã Bất Vi biết điều đó nhưng cũng mặc kệ. Nếu không phải là chuyện từ Kinh Hà về Hàm Dương, Lã Bất Vi được biết chuyện công tử Thành Tề đến tham dự lễ hội mùa thu của Tử Hề thì chắc rằng ông sẽ không ngần ngừ vạch ra hai thành trên bản đồ cho Thành Tề làm phong ấp của mình. Nhưng trên đường thấy cảnh Thành Tề đến Bình Ấp làm Lã Bất Vi phải cảnh giác. Tướng không thuộc dòng dõi vua còn chưa muốn trao huống hồ một người là chú vua, một người làm em vua. Lã Bất Vi nhớ lại chuyện Công Thúc Đoạn – em trai Trịnh Võ Công lấy phong ấp Kinh Địa làm cứ điểm rồi phát động phản loạn. Lúc đầu Võ Khương - vợ Trịnh Võ Công muốn xin Hổ Lao làm phong ấp cho con trai út. Trịnh Võ Công đã thấy từng chân tơ kẽ tóc, đã thấy được ý đồ của Công Thúc Đoạn thì nói với mẹ mình rằng: Không được, vì Hổ Lao là cửa ải trọng yếu, ấp của Trịnh Võ Công chỉ làm theo mệnh lệnh. Nếu lúc đó Trịnh Võ Công nể tình anh em ruột thịt mà thưởng Hổ Lao cho Công Thúc Đoạn thì Công Thúc Đoạn sẽ trở thành nguy hiểm và tạo phản thì chẳng phải đã bị bình định một cách dễ dàng rồi sao. Lã Bất Vi liên hệ chuyện đó đến chuyện năm thành Hà Gian. Địa phận năm thành thì ở giữa Yên và Triệu, là cửa khẩu quân sự quan trọng. Một khi quân của Thành Tề đã đông mạnh thì Tần vương cũng ở ngoài tầm tay rồi, không thể khống chế nổi. Nếu như hắn phản Tần và phối hợp tác chiến với Yên Triệu thì chẳng khác nào như Tề Trọng từng nói: “Cỏ mọc lan khó bề cuốc dỡ”.
Nghĩ đến đây, Lã Bất Vi không lạnh mà run liền nói với Di Hồng là: “Việc triều chính đại sự đều do Thái hậu quyết định. Coi như việc phong thưởng cho hoàng thân quốc thích cũng phải thông qua Thái Hậu”.
Lã Bất Vi thấy Di Hồng nghe xong thì đôi mắt vốn trong suốt bỗng mờ đi.
Di Hồng không biết là Lã Bất Vi chỉ qua loa cho xong với mình hay việc này nhất thiết phải do thái hậu quýêt định. Trương Tương Vương qua đời đã bấy lâu nay, tuy bà không tham gia việc triều chính, nhưng kẻ ra người vào trong cung đến những tin tức trong triều đều không ngừng truyền đến. Rồi cả từ trong những lời qua tiếng vào của cung nữ hoạn quan tạp dịch, Di Hồng cũng nắm được một số cơ quan trọng yếu. Bà cảm thấy như chuyện cho Thành Tề hai thành Hà Gian làm phong ấp thì tướng quốc Lã Bất Vi quyết định được. Nhưng Lã Bất Vi bảo phải bẩm tấu với Thái hậu thì có lẽ đúng như thế thật. Ta cũng không liệt vào hàng tiền đường nên cũng không rõ chuyện đấy lắm. Nếu tướng quốc đại nhân bảo ta đi hỏi thái hậu thì ta đi vậy. Thái hậu thì có gì ghê gớm lắm đâu, chẳng phải thái hậu ăn nằm với Trang Tương Vương sớm hơn ta mấy hôm đó sao? Nếu ta nhanh chân đến trước thì chẳng phải đã là chính thất, chẳng phải đã là Thái hậu rồi soa? Hừm…
Khi sắp sửa đi, Di Hồng không kiêu ngạo cũng không tự ti nói với Lã Bất Vi rằng: “Lã đại nhân đã bảo tôi đi bẩm tấu Thái hậu thì tôi sẽ về cung Chiêu Thanh gặp người chị em Triệu Cơ xem Triệu Cơ sẽ trả lời ra sao!”
Di Hồng đi rồi, Lã Bất Vi sợ Triệu Cơ không hiểu mối nguy hiểm khuất tất trong chuyện này. Nếu thật đã nhận lời giao hai thành Hà Gian cho Thành Tề làm phong ấp thì khó lòng thu lại mệnh lệnh đã ban, gieo xuống mầm hoạ. Bây giờ nhất định ông phải đi tìm Triệu Cơ nói rõ tình hình, không thể chấp nhận lời thỉnh cầu của Di Hồng được. Lã Bất Vi lệnh cho đầy tớ dắt ngựa đến, bản thân không mang tuỳ tùng theo rồi đi thẳng tới điện Chiêu Thanh như một làn khói vậy.
Vào đến điện Chiêu Thanh, Lã Bất Vi đi thẳng đến phòng ngủ của Triệu Cơ. Khi Lã Bất Vi đi thẳng đến cửa nhỏ thì nhìn thấy một dải lụa xanh bay phấp phới nơi mí cửa. Lúc ấy, Lã Bất Vi mới nhớ ra, dễ đến năm bảy hôm không suồng sã cùng Triệu Cơ cho thoả dục vọng rồi. Những ngày đó, Lã Bất Vi bận túi bụi không có lấy một chút thảnh thơi nào nên không mảy may nghĩ đến chuyện cụng đầu, cùng chung chăn gối với Triệu Cơ. Nhìn thấy dải lụa xanh, Lã Bất Vi mới thấy một tình cảm mãnh liệt đang dâng trào.
Triệu Cơ trang điểm thật tươi tắn trẻ trung, đang nói chuyện cùng các cung nữ bỗng nghe thấy ba tiếng choang choang ngoài cột hành lang thì đôi mắt hổ phách của Triệu Cơ bỗng sáng rực lên, trong lòng mừng rỡ nói: “Tướng quốc đã đến!”
Triệu Cơ đứng dậy trước gương đồng, ngắm nghía lại dung nhan rồi nó với các cung nữ: “Các ngươi lui ra”
Lã Bất Vi vào phòng ngồi xuống sạp, còn chưa lấy lại được nhịp thở bình thường thì Triệu Cơ đã sà vào lòng Lã Bất Vi nũng nịu nói: “mấy ngày này ngài đi đâu để thiếp nhớ chết đi đuợc. Thiếp cho người đến phủ tướng quốc tìm nhưng cũng chẳng thấy đâu.”
Lã Bất Vi âu yếm Triệu Cơ một lát rồi đẩy Triệu Cơ ra khỏi lòng nói: “Có việc quan trọng không thể làm nhỡ”. Sau đó Lã Bất Vi đem chuyện Di Hồng, Thành Tề muốn xin hai thành Hà Gian làm phong ấp và lý do không thể chấp thuận cho Triệu Cơ nghe, sau đó dặn dò Triệu Cơ tỉ mỉ. Triệu Cơ nói: Thiếp chẳng phải là đứa trẻ năm ba tuổi mà phải để ngài dăn dò năm bảy bận. Lã Bất Vi nói: Ta đã nói với Di Hồng là việc này do Thái hậu quyết định, nàng hãy tìm lý do chính đáng để từ chối bà ta.
Triệu Cơ nói: “Ai dà, giờ đây thiếp còn lòng nào mà đi cắt gọt chuyện đó với ngài nữa, ngài mau thay quần áo lên giường cho thoả tình đi thôi”.
Lã Bất Vi nhìn ra ngoài cửa, mặt trời chiều đang tàn dần, bầu trời giống như một dải lụa màu rực rỡ ánh sáng. Có cái gì đó khó nói làm sao. Trời vẫn còn sớm quá, không tận dụng được hết các hứng thú. Triệu Cơ nói với vẻ đầy dâm dục, người ta đang trong cơn thèm thuồng thì ăn thịt lúc nào mà chẳng ngon. Nói rồi liền nhào vào như dòng thủy triều cuốn lấy Lã Bất Vi.
Di Hồng cũng ở trong điện Chiêu Thanh. Triệu Cơ ở phía Đông, Di Hồng ở phía Tây, ở giữa có cách một cái sân đình. Di Hồng ở phủ tướng quốc về thì nghỉ ngơi trong phòng mình một lát rồi đến cung phía Đông để gặp Triệu Cơ. Di Hồng cảm thấy việc xin hai thành cho Thành Tề phong ấp việc mười đã chắc chín.
Di Hồng vừa đi đến cửa nhỏ cung Đông thì bị các cung nữ chặn lại. Cung nữ nói với Di Hồng rằng: “Thái hậu đã dặn rằng đang làm việc triều chính cùng Lã tướng quốc, bất kể người nào cũng không được phép quấy rầy. Di Hồng chấp vấn lại: “Ta đường đường là vợ tiên vương, muốn gặp thái hậu một chút mà khó như lên trời vậy sao?” Cung nữ canh cửa nét mặt xấu hổ vội quỳ sụp xuống tạ tội nói rằng đó là ý của thái hậu. Di Hồng coi như không có ai vừa xông vào trong vừa nói: ta gặp thái hậu cũng để bàn việc triều chính. Cung nữ cũng không biết Triệu Cơ và Lã Bất Vi đang quấn quýt trên sạp, lại thấy Di Hồng cũng là vợ của thiên vương liền không ngăn cản ráo riết nữa mà cứ để cho Di Hồng đi vào.
Ngày thường, trong hành lang thông đến phòng ngủ của Triệu Cơ ở trong cung thì tấp nập các cung nữ ra ra vào vào, váy áo sặc sỡ nhưng hôm nay thì trống vắng không còn một bóng nào. Di Hồng cảm thấy rất kỳ quặc. Di Hồng đến trước cửa phòng ngủ của Triệu Cơ lấy tay đẩy cửa nhưng cửa đóng then cài. Bà ta bèn nghiêng người lắng nghe thấy bên trong hình như có tiếng động song lại im bặt. Bà ta gọi liền mấy câu “Thái hậu” nhưng không nghe thấy trả lời mà chỉ thấy gió lùa trống trải qua hành lang phát ra những âm thanh như đang nức nở nghẹn ngào.
Di Hồng quay người về được mấy bước thì bỗng loé lên ý nghĩ: “Hay là Triệu Cơ và Lã Bất Vi đang dâm loạn ở bên trong?” Ý nghĩ đó vừa loé lên trong đầu khiến cho tim Di Hồng đập rộn rã, hồi hộp vô cùng. Di Hồng lấy lại bình tĩnh và nghĩ: “Nếu Triệu Cơ và Lã Bất Vi quả thật là như thế thì thật là tàn nhẫn, không có tình người, phải trời tru đất diệt”.
Lòng hiếu kỳ thúc giục Di Hồng nấp sau một chiếc cột to phía hành lang chăm chú nhìn về phía cửa phòng ngủ của Triệu Cơ. Ánh mặt trời nóng sáng đã dần dần chuyển sang màu vàng cam. Di Hồng đứng đến nỗi lưng mỏi vai đau. Cánh sửa sơn điêu khắc hoa lá trong mắt Di Hồng có lúc thấy xuất hiện dáng người. Cuối cùng thì cánh cửa kia cũng được mở ra. Cùng với tiếng động cọt kẹt của cánh cửa, Di Hồng nhìn thấy dáng người khôi ngô của Lã Bất Vi lộ ra, tiếp theo đó là gương mặt phờ phạc nhưng đầy no đủ của Triệu Cơ. Nhìn mái tóc rối bù của Triệu Cơ, Di Hồng đã tưởng tượng ra cảnh mây mưa của hai ngươi. Di Hồng nghe thấy Triệu Cơ nói với Lã Bất Vi bằng một giọng kìm nén: “Ngày mai chàng lại đến nữa nhé!”
Lã Bất Vi nghiên ngó nhìn tứ phía sau đó thì đi ra, như không có chuyện gì. Di Hồng vội nấp vào phía sau cột hành lang trong lòng cảm khái muôn phần nói: “Ban ngày ban mặt, trong tưởng tượng của mọi người thì người là một vị quân tử đạo mạo khiêm tốn lễ độ, nhưng ở đằng sau mọi người lại làm trò mờ ám của bọn hạ lưu hèn mạt”. Di Hồng khám phá ra bí mật này xong thì vừa phấn khởi vừa ghen ghét. Thế là bà có thể năm chuôi việc giữa Triệu Cơ và tướng quốc rồi và điều đó đủ ép bọn họ lấy hai thành Hà Gian cho Thành Tề phong ấp. Nhưng trong lòng Di Hồng lại trào lên sự cô liêu, buồn bã. Từ khi Trang Tương Vương băng hà, bản thân bà đã cô quả chăn đơn gối lạnh. Còn như thái hậu tuổi đã toan về già nhưng lòng ham muốn vẫn được đền đáp. Thấy bóng Lã Bất Vi đã xa dần thì Di Hồng cũng trơ trọi trở về phòng ngủ của mình.
Khi trời đã tối thì Di Hồng bèn tìm đễn chỗ Triệu Cơ. Hàn huyên chưa được bao lâu thì Di Hồng liền ngầm bắn tin với Triệu Cơ rằng: “Lúc chiều em đến tìm thái hậu, em gọi cửa rất lâu mà không thấy mở cửa. Đêm qua vất vả nỗi gì mà buổi trưa ngủ say như đá chùn vậy?” Di Hồng hỏi rồi đưa mắt nhìn Triệu Cơ.
Triệu Cơ nghe ra ngụ ý của Di Hồng nhưng lại bịa chuyện nói với Di Hồng rằng: “Bạn gái ngốc ngếch của ta ơi, một người thông minh như em sao lại trở nên ngu ngốc thế. Buổi chiều ta bơi thuyền trong ngự hoa viên mà, có ở trong phòng ngủ đâu. Dù em có gõ cửa đến sấm vang chớp giật thì cũng không có ai mở cửa đâu!”
Trong lòng Di Hồng thầm rủa rằng: “Hễ kéo váy lên là không nhận, thật là con đàn bà ghê tởm. Rõ ràng là mình nhìn thấy mái tóc rối bù của nhà ngươi sau khi chung đụng với Lã Bất Vi mà còn nói dối ta”. Di Hồng biết không thể nói toạc ra chuyện này được. Mà cho dù có nói ra thì Triệu Cơ cũng chối đây đẩy. Còn Di Hồng thì cũng không thể ấn hai người xuống giường để mọi người tận mắt chứng kiến.
Di Hồng ba phải mà rằng: “Thái hậu nằm mơ hay sao, bơi thuyền du ngoạn chẳng phải là chuyện của mấy hôm về trước đó sao?”
“Hứ, chuyện đùa! Từ chuyện lớn như chuyện ngoại giao nội vụ đến chuyện nhỏ như chuyện sinh hoạt hàng ngày, việc lớn việc nhỏ nào ta cũng đều để quan thái sử ghi lại, có thể kiểm tra đối chiếu”. Triệu Cơ không để Di Hồng vặn vẹo lôi thôi, liền hỏi thẳng vấn đề: “Này em, có chuyện gì, nói thẳng ra đi, đừng vòng vèo lôi thôi nữa”.
Thế là Di Hồng liền đưa ra việc muốn xin hai thành Hà Gian cho Thành Tề làm phong ấp. Vì Lã Bất Vi đã cảnh giác chuyện này trước đó nên Triệu Cơ đã tìm được lý do để nói cho xong chuyện với Di Hồng, Triệu Cơ vờ vĩnh nói: “Khi Cam La lấy được năm toà thành ấp của nước Triệu làm địa phận của Tần quốc thì ta cũng mừng thầm định lấy một hai thành để công tử Thành Tề làm phong ấp. Nhưng khi thảo luận với tướng quốc thì thấy rất nhiều vấn đề nan giải. Chúng ta liên minh với nước Yên thì lợi ích giành được đều phải chia đều. Dự tính sẽ chia cho nước Yên hai thành, thưởng hai thành cho Cam La còn lại một thành thì làm phong ấp của Lã Bất Vi.
Di Hồng nghe xong thì biết ngay đó là do Triệu Cơ và Lã Bất Vi đã bàn bạc từ trước, trước khi việc xảy ra thì đã bố trí một cái bẫy sẵn để bà ta mắc vào. Triệu Cơ nói ra mấy lý do khiến Di Hồng không còn nói được vào đâu nữa. Hai nước Tần Yên đồng tâm hiệp lực, nước Yên được chia hai thành là hoàn toàn hợp lý. Cam La thuyết phục được Trương Đường rồi lại đích thân đến Hàm Đan, vừa vất vả vừa có công lớn đựơc thưởng hai thành là chính đáng. Tướng quốc Lã Bất Vi hoạch định kế sách bên trong, được một thành làm phong ấp cũng không phải là lừa dối, cưỡng đoạt của cải hay quyền lợi nào cả.
Di Hồng đứng dậy nói lạnh nhạt: “Làm phiền thái hậu quá!” rồi đứng dậy ra về. Di Hồng về đến phòng mình thì ngồi buồn, trong lòng cảm thấy Thành Tề là công tử của tiên vương mà đến hai thành làm phong ấp không được thì bức người quá đáng. Bà từ cung điện Tùng Đài ở Hàm Đan đến. Trong thành Hàm Dương còn chẳng có ai thân thích thì nói gì đến chuyện trong đám vương hầu quan tương lại có người tri kỷ hiểu lòng bà. Nhưng Di Hồng cũng không cam lòng nhẫn nhục để người khác ăn hiếp mình.
Di Hồng nghĩ đi nghĩ lại và thấy có một cách có thể trả thù Lã Bất Vi và Triệu Cơ.
Trong mắt Di Hồng thì từ hồi lang cửu khúc, đài ca vũ tạ trong cung đến từng nhành cây chiếc lá, trăng mờ sao thưa tất cả đều rất thắm thiết dịu dàng. Nhưng từ hôm phát hiện ra Lã Bất Vi và Triệu Cơ thông dâm thì Di Hồng thấy tất cả đều giống như cảnh trí trong câu chuyện vậy, đầy sự thấp thỏm hồi hộp và dường như sắp xảy ra điều gì đó. Bây giờ bà cần phải thực hiện kế hoạch báo thù. Tất cả mọi vật trong điện Chiêu Thanh đều phủ lên một bóng đen đáng sợ.
Đã rất lâu Di Hồng không đến cung Chương Đài rồi. Sáng hôm ấy, Di Hồng cho cung nữ giăng lưới bắt hai con chim nhỏ nhốt vào trong chiếc lồng đẹp đẽ rồi bà đến gặp Tần vương Doanh Chính. Người ta thường nói: “Xa cách lâu ngày, khi gặp lau mắt mà nhìn”. Di Hồng ngẫm một lúc thấy cũng đã rất lâu không gặp Doanh Chính, có lẽ Doanh Chính đã rất cao lớn rồi. Từ xa bà nhìn thấy hình dáng và khuôn mặt của Doanh Chính thì giật mình. Dáng hình Tần vương giống Lã Bất Vi quá, hai người như thể một mẻ gạch được đúc ra từ một khuôn vậy. Như thế thì Triệu Cơ và Lã Bất Vi thông gian xong thì mới có Doanh Chính.
Doanh Chính đang ngồi trên bệ rồng sơn hoa trong điện lớn, thấy Di Hồng mang đến hai con chim nhỏ linh hoạt ngoan ngoãn thì người không chút động đậy, nói: “Cảm ơn dì!”, sau đó gọi Triệu Cao nhận lấy lồng chim rồi không nói gì thêm. Di Hồng hỏi: “Đại vương không thích sao?”
Doanh Chính nghiêm mặt nói: “Thích”
Di Hồng nói: “Thích thì chơi đi!”
Triệu Cao tự mình tiếp lời: “Đại vương sắp sửa tự mình chấp chính rồi, hàng ngày đều phải đọc bộ luật nên không được hứng thú lắm với các loại tiêu khiển trò chơi”.
Di Hồng đưa mắt nói: “Gần đây tướng quốc Lã Bất Vi có một thú tiêu khiển mới thật muôn hình muôn vẻ, ý vị tuyệt vời. Nhưng tướng quốc không cho người thường cái phúc được thấy, ta đã thấy nhiều lần rồi. Nhiều hơn nữa là tướng quốc thường vui đùa với thái hậu. Thái hậu luôn nói rằng, trò chơi của tướng quốc làm thái hậu thấy vui vẻ thoải mái.
Doanh Chính cảm thấy rất mới mẻ liền hỏi rằng: “Trò chơi gì vậy, nói cho quả nhân nghe xem”
Di Hồng nói: “Loại trò chơi này là một nghệ thuật mới, dăm ba câu không thể nói rõ được. Thế này vậy: xin đại vương hãy hỏi tướng quốc hoặc khi tướng quốc và thái hậu đùa vui, đại vương hãy đến tận nơi tai nghe mắt thấy là rõ ngay thôi”.
Doanh Chính bật cười - điều này khiến Triệu Cao và Di Hồng đều cảm thấy thoải mái. Vì Doanh Chính không dễ nói cười mà luôn làm mặt lạnh. Các hoạn quan và cung nữ trong cung Chương Đài đều nói: mặt mày đại vương lúc nào cũng như mây đen dày đặc vậy.
Di Hồng thấy Doanh Chính vui vẻ thì nói năng cũng tự nhiên hơn: “Đại vương tuy sắp lên ngôi nhưng trước mắt thái hậu vẫn chỉ là một đứa trẻ. Có trò gì vui thì phải để con ruột của mình được mở rộng tầm nhìn chứ”.
Doanh Chính không lấy làm lạ nói: “Quả nhân nhất định sẽ thấy được”.
Lúc sắp đi khỏi, Di Hồng nói: “Trò chơi mới của Lã Bất Vi đại vương đừng nói với người khác là ta nói đấy”.
Triệu Cao tiễn Di Hồng ra khỏi điện, khi trở vào lại thấy khuôn mặt của Doanh Chính u ám lạnh lùng. Triệu Cao biết rằng đại vương ngày một khôn lớn và rất muốn được tự mình chấp chính. Doanh Chính là người chủ kiến sâu xa. Mọi việc lớn nhỏ trong triều đều có ý kiến của chính Tần vương, Nhưng cốt cán trong triều thì lại do Triệu Cơ và Lã Bất Vi nắm giữ. Doanh Chính chẳng qua chỉ là vật trang trí hoặc là cái tai bị điếc vậy. Mỗi khi lên triều, Doanh Chính đều áo quần chỉnh tể ngồi nghiêm chỉnh sau ngự án chẳng khác nào gỗ đá, mặc cho Lã Bất Vi ngồi bên cạnh chỉ huy. Chất giọng hùng hồn của Lã Bất Vi khiến Doanh Chính nghe như có một lưỡi kiếm sắc đang đâm vào tim phổi. Nào là “Tần vương dạy rằng”, đó chẳng phải là cách của Lã Bất Vi đó sao. Có những việc Doanh Chính không hề được biết mà mãi đến khi ban chiếu thì Doanh Chính mới được nghe nói. Gần đây các triều thần đều bàn luận xôn xao, lời lẽ kịch liệt hoặc chỉ qua loa cho xong chuyện, chỉ trích Lã Bất Vi bổ nhiệm công trình thuỷ lợi Hàn quốc dẫn kênh khỏi rạch đã dùng nhiều đá và phu dịch quá, dân lao động bị hao mòn sức lực của cải. Doanh Chính phái Triệu Cao đến nơi thi công ở sông Kinh Hà xem xét tỉ mỉ. Triệu Cao trở về báo cáo lại cho Doanh Chính rằng: vấn đề các đại thần phản ánh là chính xác, xin đại vương định đoạt. Doanh Chính cho Triệu Cao truyền lệnh cho Đô Tư Không – viên giám sát quản lý công trình địa phương hạn chế tiết kiệm việc dỡ đá. Đô Tư Không vội thỉnh thi Lã Bất Vi. Lã Bất Vi nói: Cứ dỡ và vận chuyển như bình thường. Đô Tư Không nói đó là chỉ thị của đại vương. Lã Bất Vi nói: “Nó chỉ là một đứa trẻ thì biết cái gì, xây đập mà không dùng đá thì dùng người đắp lên chắc?”
Hôm đó, trước khi vào triều Doanh Chính nói với Lã Bất Vi ở trong điện gần cung Chương Đài rằng: Quả nhân nghe nói nguyên liệu dùng cho việc đào kênh Kinh Hà lãng phí vô cùng nhiều, việc này tướng quốc phải xem xét xử lý mới được. Lã Bất Vi nói: đó chỉ là lời đồn đại mà thôi, xin đại vương chơ có cả tin. Doanh Chính nói: Quả nhân đã sai người đi xem xét rồi, chuyện đó là có thật. Lã Bất Vi nói: Là người nào đi, để người đó nói xem, một trượng đất dùng bao nhiêu đá, thế nào là lãng phí? thế nào là tiết kiệm? Ta cũng đến nơi thi công kênh Kinh Hà rồi, sao không phát hiện thấy lãng phí gạch ngói gỗ đá chứ? Cuộc đối thoại giữa vua tôi lời nói tuy nhẹ nhàng, rành mạch, rõ ràng nhưng cả hai đều cảm thấy rằng trong lời lẽ của đối phương có chứa đựng một sự cứng nhắc nào đó. Khi hai bên đều lời qua tiếng lại, ai nấy đều dùng ánh mặt để biết được sự thay đổi trong thái độ phía đối phương.
Lã Bất Vi thấy trong mắt Doanh Chính có sự sắc sảo lạ thường của một người đang độ thành niên, những đám ria đen xung quanh miệng đã thấy thấp thoáng, vùng trên hai lông mày trông lạnh lùng uy nghiêm dường như bị đông cứng lại không có sự thay đổi gì. Trong lòng Lã Bất Vi bỗng loé lên một ý nghĩ: Doanh Chính sắp thành người lớn rồi, ngày đích thân chấp chính không còn xa nữa. Doanh Chính cũng nhận thấy Lã Bất Vi mỗi lần nói chuyện với mình thì không vâng vâng dạ dạ cẩn trọng như các hạ thần khác mà luôn ngẩng đầu hất hàm sai khiến. Doanh Chính thấy trong ánh mắt sâu thẳm của Lã Bất Vi mình không phải là một vị quân vương cao quý mà chỉ là một cây cỏ tầm thường hoặc chỉ là một thứ đồ bình thường không có gì lạ cả. Một cuộc nói chuyện lúng túng khó xử, không nồng nàn, không nhạt nhẽo giữa Lã Bất Vi và Doanh Chính đã kết thúc. Tíêp theo đó, Doanh Chính đi vào triều đường và ngồi trước ngự án như cũ, rồi giống như các bá quan văn võ lắng nghe giọng nói hùng hồn của Lã Bất Vi lặp đi lặp lại là: “Đại vương dạy rằng”…
Triệu Cao khẽ khàng rón rén bước đi như thể sợ giẫm chết kíên vậy. Trong cung Chương Đài, Triệu Cao hơn mọi người một bậc đó là hắn suy ngẫm tìm tòi tâm lý của Doanh Chính và đáp lại những sở thích của Doanh Chính. Triệu Cao giống như một cái bóng mập mờ ra ra vào vào theo sát Doanh Chính. Dạo này “cái bóng” đó có lúc lại di động theo Lã Bất Vi. Doanh Chính giao cho Triệu Cao một nhiệm vụ mới đó là xem lúc nào vị tướng quốc này đến cung Chiêu Thanh gặp thái hậu. Chính bởi vì hôm nghe Di Hồng nói Lã Bất Vi và Triệu Cơ có một trò chơi mới thì Doanh Chính quyết tâm đi xem xem sao. Doanh Chính thấy rằng mình là vua của một nước thì những thứ gì ngon mình phải ăn trước. Một trò chơi tuyệt diệu mà hắn lại không hay biết gì thì điều đó không những đáng tiếc mà còn là sỉ nhục nữa.
Doanh Chính nói với Triệu Cao rằng hắn phải tìm mọi cách để thưởng thức thú vui này. Một hôm, vào lúc chập chọang tối, cũng là khi ánh mặt trời sắp tắt thì Triệu Cao cùng bộ mặt thần bí báo cáo cho Doanh Chính rằng: Chính mắt Triệu Cao nhìn thấy dáng bộ lặng lẽ bí mật của Lã Bất Vi lọt vào cung Chiêu Thanh, chắc là chơi cái thú vui đó. Doanh Chính và Triệu Cao rảo bước đến thẳng phòng Triệu Cơ trong điện Chiêu Thanh. Khi vào trong điện, Triệu Cao đợi bên ngoài cửa còn Doanh Chính thì một mình đi thẳng vào phòng Triệu Cơ.
Doanh Chính đến trước cửa và đẩy một cái nhưng cửa đã cài then, bên trong dường như có tíêng động. Doanh Chính bực bội vô cùng: lẽ nào mẫu hậu có thú vui tuyệt diệu thật mà lại giấu diếm con ruột vốn là vua một nước? Doanh Chính lùi ra phía sau rồi lao mạnh vào phòng. Cánh cửa “cọt kẹt” một tiếng rồi bật ra. Bốn vành môi đang chụm vào nhau. Triệu Cơ và Lã Bất Vi đang hôn nhau, bỗng nhiên bị quấy rầy thì rời ra, cả hai không hẹn cùng nói: “Là ngươi…”. Doanh Chính tuổi đã 16, 17, Doanh Chính dần dần hiểu được sự đời, bắt gặp cảnh này thì Doanh Chính thấy có gì bí ẩn trong đó. Thế là Doanh Chính đùng đùng nổi giận hỏi hai người: “Thì ra các ngươi…”
Triệu Cơ vội đậy điệm nói: “Vai tướng quốc bị cái dằm đâm, ta lấy răng để nhổ cái dằm ra”
Doanh Chính dùng mũi hừ một cái rồi bực tức đi ra.
Lã Bất Vi tim đập rộn rã nói: “Sao nó lại xông vào đây? Sau này khi chúng ta gặp nhau như thế thì phải tuyệt đối tránh xa tầm mắt của đám quan lại và cung nữ mới được’.
Triệu Cơ chải lại mái tóc của mình và nói như không có chuyện gì xảy ra: “Một đứa trẻ như nó thì biết cái gì? Chỉ như nhìn thấy sợi tơ nhện, dấu chân ngựa thì con ta chưa thể phát hiện được chuyện này đâu”
Lã Bất Vi nói: “Nó không còn là một đứa trẻ nữa đâu’
Triệu Cơ kéo Lã Bất Vi lại rồi đi cài chặt cửa lại.
Hôm sau Lã Bất Vi nghĩ lại chuyện trên giường cùng Triệu Cơ hôm qua thì cảm thấy ngượng ngạo, không còn tự nhiên thoải mái như trước đây nữa. Lã Bất Vi luôn cảm thấy như có một đôi mắt đen nhánh như hổ nhìn muốn nuốt chửng chuyện phòng the của mình vậy.
Lã Bất Vi biết rằng Doanh Chính cũng đã lón rồi. Không biết tại sao đứa trẻ này hình như có sự thù địch nào đó đối với ông. Ông tự cảnh giác với mình rằng: về sau bất kể là bàn việc triều chính hay hò hẹn với thái hậu thì đều phải đặc biệt cẩn thận hơn. Có một số việc cũng phải tiến hành nhanh chóng, ngày Doanh Chính lên ngôi đích thân chấp chính không còn xa nữa.
Lã Bất Vi cho người tìm Tư Không Mã đến mà rằng: viên quan quận Lũng Tây vừa qua đời, nhà ngươi mau đến bổ nhiệm đi. Nhà ngươi không thể làm môn khách dưới quyền ta mãi được mà cũng cần phải thăng quan tiến chức chống đỡ một khoảng trời đất của mình mới được. Tướng một nước như ta cũng phải có một số người tâm đầu ý hợp, tài ba xuất chúng trong châu quận địa phương. Tư Không Mã nói: trấn giữ một quận, quyền lớn trong tay, sinh thời phú quý phát đạt, khi chết thì con cháu đời đời được tận hưởng vinh hoa phú quý. Nhưng thần sợ bản thân không có cách gì trấn giữ quận, đến khi về già triều đình cho khảo sát tính toán, thần sợ rằng sẽ không hoàn thành thuế má quy định. Lã Bất Vi cười sảng khoái mà rằng: “Nhà ngươi hãy cố mà làm đi. Nếu không hoàn thành đựơc thuế má quy định thì ta sẽ nghĩ cách giúp nhà ngươi’.
Khi Tư Không Mã cáo từ về thì Lã Bất Vi lại cho người tìm Lý Tư đến hỏi về tiến độ biên soạn “Lã thị xuân thu”. Lý Tư tường trình lại cho Lã Bất Vi rằng: các môn khách đang ngày đêm khởi thảo, chỉnh lý, khắc vẽ và đến nay đã đến phần cuối rồi. Lã Bất Vi nói: được, đóng thành quyền xong rồi mang đến đây.
📎 labatvi7chuongXVI
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-17 08:14:32ct.ly>
HTLD thân mến ơi.
CuLong gõ gần hết quyển 7 rồi, còn 5 trang nữa nhưng lại bận việc quá mà CuLong muốn hoàn thành cho xong tác phẩm. Vậy HTLD đang rỗi thì phiền bạn gõ nốt giùm CuLong được không?
Trăm sự nhờ bạn, vạn sự cám ơn bạn trứơc.[:D][:D][:D]
Thanhks


______________


CHƯƠNG XVII

LAO ÁI ĐƯỢC SỦNG ÁI


Sấm dậy đất bằng. Một ngày mùa hè năm 239 trước công nguyên, một tin tức mới được loan báo ở thành Hàm Dương. Ai có thể thêm hoặc bớt một chữ trong “Lã thị xuân thu” do các môn khách biên soạn cho Lã Bất Vi sẽ được hưởng ngàn vàng. Nghe nói mấy vạn tấm thư và hàng ngàn vạn vàng ấy được đặt sáng loáng trước cổng thành Hàm Dương.
Ngàn vạn lượng vàng thật khiến người ta bị mê hoặc! Cả thành giống như nước nồi cần sôi bùng lên vậy. Mọi người bàn luận xôn xao, bảo cho nhau biết. Ước vọng phát tài khiến cho nhiều người phải xúc động đến độ nước mắt phải tuôn trào. Thêm bớt một chữ sẽ được ngàn vàng thật là một chuyện dễ dàng mà trên trời hay dưới đất đều khó mà tìm thấy. Lại cũng có người lắc đầu không tin. Thêm bớt một chữ nào phải như Ngu Công dời núi, Tinh Vệ lấp bể, nào phải cực nhọc chân tay mà được thưởng ngàn vàng? Tai nghe là hư, mắt thấy là thực. Mọi người hết thảy già trẻ gái trai, ngựa xe ồn ào đến thẳng kinh thành chẳng khác nào đi chợ, đi hội.
Mặt trời trên đầu mọi người rọi những tia nắng như kim châm đốt lên da thịt người xem. Trước cổng thành, đầu người xúm xít chen nhau. Những tấm thẻ gỗ và những mảnh trúc trắng muốt được bện vào nhau bởi những sợi dây gai hay dây cao su được treo trên cổng thành; nào là ngàn vạn lượng vàng sáng loáng cũng được xếp ở cạnh bên. Mọi người nghiền ngẫm từng câu chữ một toàn văn “Lã thị xuân thu”. “Lã thị xuân thu” chia thành 8 cột, 6 luận và 12 ký, tổng cộgn 160 thiên, dài dằng dặc khoảng hai mươi vạn từ. Toàn thư bao gồm các chủ trương và học thuyết các phái thời đại tiên Tần. Mà khi tuyên dương các chủ trương này, giữa các dòng chữ, các thiên trang sách cũng xuất hiện các bó hoa lửa tư tưởng và triết học phong phú và kỳ lạ rực rỡ giống như “trăm hoa đua nở” vậy.
Trong nhiều thiên có xen cả những điếu cố lịch sử và chuyện ngụ ngôn làm cho các loại lý luận đều tỏ ra rất sinh động. Cho dù “Lã thị xuân thu” nhặt nhạnh tất cả các thuyết trong “Chu tử bách gia” nhưng toàn thư đều xoay quanh và giải thích thuyết minh trọng tâm về thống nhất và trị vì thiên hạ. Vì thế người đời sau gọi sách này là “Tạp gia đế vương học”.
Mọi người kề vai sát gót vừa đọc vừa cắt gọt nội dung trong sách. Trong số độc giả, vừa có người làm quan trọng vọng, cũng có người là áo vải dân thường, còn có cả những khanh sĩ học giả đến từ lục quốc Quan Đông nữa.
Dưới cổng thành, môn khách của Lã Bất Vi đứng sắp hàng ngay ngắn, Lý Tư cũng đứng trong đám đó. Quần chúng đối diện thì không ngừng chen trước lấn sau. Mùi mồ hôi chua lòm của nam giới và mùi phấn son của phụ nữ trộn lẫn vào nhau. Cái mùi xoa cũng không hết đó khiến cho Lý Tư cảm thấy nghẹt thở. Lý Tư nhìn không dời mắt những người xem hồ hởi tấm tâm trên đầu mũi để nắm bắt ý định trên mặt người xem và đoán xem ai có thể tăng giảm đựơc chữ nào trong “Lã thị xuân thu”. Trước khi bày chữ treo giải thưởng, Lý Tư có phần lo lắng phân trần với Lã Bất Vi rằng: “Lã thị xuân thu” tuy sâu rộng, câu chữ cắt gọt nhưng vẫn chưa đạt được đến mức câu chữ không sai sót một tí nào, không lọt một chữ nào. Nếu ai đó có thể thêm bớt được vài chữ thì ngàn vạn lượng vàng của chúng ta chẳng phải là đi đứt không? Lã Bất Vi nói: trước tác ta đã thẩm định, lửa lò đã xanh, lời vàng ngọc sẽ không có thể có ai thêm bớt được chữ nào đâu. Lúc đó Lý Tư không nói gì, trong lòng nghĩ: Lã Bất Vi có quá tự tin chăng?
Ngày đầu tiên trôi qua, trong đám người xem không ai có thể thêm bớt đựơc chữ nào. Ngày hôm sau qua đi, ngàn vàng khiến người ta phải động lòng vẫn giữ nguyên treo trên cửa thành. Ngày thứ ba, ngày thứ tư rồi ngày thứ năm… Lý Tư và các môn khách đều nhất loạt đợi đã một tháng, đợi đến khi không có ai dừng bước lại xem mà cũng không có ai thay đổi nổi một chữ trong “Lã thị xuân thu”.
Thời điểm đó, Lã Bất Vi dùng phương pháp đó để công bố “Lã thị xuân thu” là rất phí tổn tâm sức. Doanh Chính rồi chẳng mấy nữa là lên ngôi và trở thành Tần vương như đúng với danh nghĩa. Lã Bất Vi biết rằng: nể quyền thế của ông thì bất kể là khách của lục quốc Quan Đông hay là khanh sĩ Tần quốc, ai cũng đều không dám thêm bớt một chữ nào trong trước tác của Lã Bất Vi, muốn được để Tần vương sắp lên ngôi đích thân chấp chính thấy đựơc quyền uy của mình. Đồng thời cũng đủ để chứng minh những phương lược đại chính do ông chế định, không có ai đưa ra dị nghị là đã được lòng dân rồi. Doanh Chính nhà ngươi không những cùng một huyết thống mà cả trên phương diện cầm quyền trị nước cũng thường xuyên bổ trợ cho nhau đấy.
Chính sau khi “Lã thị xuân thu” được treo trên cổng thành một tháng thì có một người đang chăm chú đọc bộ sách này ở chính đường của điện Kỳ Niên - người đó chính là Doanh Chính.
Doanh Chính đọc sách rất nghiêm túc, dựa bàn mà đọc, có lúc thì lại trầm bổng réo rắt đọc to lên. Triệu Cao tay cầm sách nín thở đứng một bên. Có chương Doanh Chính chỉ xem một lượt, có chương thì lại đọc đến năm bảy bận không chán. Hơn thế nữa, có chương thì phải đối chiếu và xem lại những chương trước đó làm Triệu Cao phải tìm lại những chương trước, điều đó khiến cho Triệu Cao bận bịu tối tăm mặt mũi.
Triệu Cao nhìn thái độ trên mặt Doanh Chính thì biết được Doanh Chính thích chương nào mục nào, ghét chương nào mục nào. Bỗng nhiên Doanh Chính vỗ bàn khen hay khiến Triệu Cao phải giật mình.
Doanh Chính không kìm đựơc nói: “Triệu Cao, ngươi hãy xem đoạn này, Lã Bất Vi nói trúng ý quả nhân quá: “Nay nhà Chu diệt vong mà thiên tử đã tuyệt. Loạn ở chỗ không có thiên tử, không có thiên tử thì kẻ mạnh ức hiếp kẻ yếu, kẻ đông giày xéo kẻ cô quả, dẫn quân tàn sát lẫn nhau, không thể bình yên. Triều này chỉ đến đây thôi.” Sau khi Chu bị diệt vong, lại không có thiên tử. Mà không có thiên tử sẽ khiến thiên hạ không được bình yên. Trăm dân chịu đựng nỗi khổ cực của quân cường bạo. Nhất thiết phải có thiên tử. Ai là người làm thiên tử đây?
Triệu Cao tiếp lời: “Không nói cũng đã rõ, đại Tần diệt Chu là hùng mạnh nhất, đương nhiên sẽ do đại vương lên thay ngôi, đấy cũng là ý của Lã Bất Vi đó’.
Doanh Chính nói: “Nói có lý đấy”. Nói rồi Doanh Chính lại im lìm đọc tiếp. Cứ thể đọc, trên miệng Doanh Chính lại xuất hiện mấy nét cười mỉa mai. Doanh Chính nói: “Bây giờ Lã tướng quốc lại chỉ gà mắng chó răn đe quả nhân đây”.
Triệu Cao cẩn trọng nói: “Lã tướng quốc không dám to gan thế đâu, hay là đại vương hiểu lầm rồi?”
Doanh Chính hừm mũi một cái mà rằng: “Quả nhân biết từng chân tơ kẽ tóc lại không thấy được dụng ý về điểm này của hắn sao? Hắn nói rõ rằng: liền chủ vất vả cốt ở việc tìm người mà nhàn ở việc trị sự. Sau đó lại kể một câu chuyện lịch sử với ý đồ khác”.
Triệu Cao cảm thấy mới mẻ kỳ lại thì hỏi: “Trong Lã thị xuân thu cũng có chuyện ạ?”
Doanh Chính nói: “Ngươi hãy nghe xem, không phải là chuyện thì là cái gì? Nước Tề có một hiền nhân tên Bách Quách Tao. Người này sống bằng nghề đan lưới, đốn củi, dệt vải nhưng vẫn không có cách gì nuôi được mẹ mình. Có một hôm, Bách Quách Tao xin gặp tướng quốc Yến Anh của nước Tề xin Yến Anh bố thí cho mình. Lúc đó Yến Anh không biết Bách Quách Tao nhưng các môn khách của Yến Anh thì biết rõ người này, họ liền nói với Yến Anh là Bách Quách Tao là một quân tử chân chính nổi tiếng của Tề quốc. Những câu chuyện bất nghĩa với thiên tử, bất hữu với chư hầu dù có lợi cho người này thì hắn cũng không làm. Yến Anh nghe mọi người nói vậy thì cho người hầu mang lương thực và tiền bạc đến. Bách Quách Tao chủ nhiệm lương thực mang về cho mẹ già. Mấy năm sau đó, Yến Anh bị Tề vương hiềm nghi thất sủng mà đành phải đi khỏi quốc đô. Trên đường đi, qua nhà Bách Quách Tao, Yến Anh rẽ vào giã từ. Bách Quách Tao đang tắm gội vội ăn mặc chỉnh tề tiếp đón Yến Anh vào nhà và hỏi rằng: Tiên sinh chuẩn bị đi đâu vậy? Yến Anh trả lời rằng: Tề vương hoài nghi ta, không tín nhiệm ta nên ta đành phải trốn đi vậy. Bách Quách Tao không chút động lòng nói: Thế thì tiên sinh cứ trốn đi thôi, tốt mình tốt người. Yến Anh vốn nghĩ Bách Quách Tao sẽ dùng những lời lẽ nhiệt tình hơn để an ủi ông ấy, thậm chí sẽ thu nạp ông ấy mà không hề nghĩ rằng đó là những lời lẽ lạnh nhạt, vô tình khiến ông đau lòng vô cùng, thế rồi Yến Anh đành lòng bỏ đi. Lòng ông nguội lạnh mà than với chính mình rằng: A, Yến Anh ta có kết cục như ngày hôm nay thật đáng kiếp! Ai bảo ta có mắt như đui, ta không phân biệt đựơc tốt xấu lại đi kết bạn với một kẻ vong ơn phụ nghĩa. Yến Anh đi rồi, Bách Quách Tao nói với bạn thân rằng: Tôi từng vì ngưỡng mộ Yến tiên sinh, vì người mà xin được giúp đỡ, tục ngữ có câu: Mang ơn của người bằng giọt nước thì phải đáp trả lại như suối chảy vậy. Bây giờ Yến tiên sinh bị hiềm nghi, gánh hoạ lớn, phải chịu oan ức, tôi sẽ lấy cái chết để chứng minh cho lòng trong sạch của ông ấy.
Thế rồi Bách Quách Tao ăn mặc chỉnh tề, ông nhờ bạn lấy kiếm và hòm tre cho mình và cùng vào cung xin gặp Tề vương. Quân gác cửa không cho ông vào, ông nói với binh lính rằng: Yến Anh là hiền nhân của nước Tề, hiền nhân bị đi đày thì chứng tỏ rằng chính trị quốc gia không hiền minh. Như thế các chư hầu khác sẽ đến tấn công, nếu cho các chư hầu khác làm bề tôi thì chẳng bằng chết còn hơn. Ta sẽ lấy cái này để thay cho Yến Anh rửa sạch cái oan không rõ ràng kia.
Bách Quách Tao dặn bạn mình rằng: sau khi tôi chết, xin hãy để đầu tôi vào chiếc hòm tre rồi gửi cho Tề vương. Nói rồi ông tự vẫn và chết. Bách Quách Tao chết rồi thì bạn của ông bèn cắt lấy đầu của ông ta đem đến cho Tề vương. Bạn của ông ta lại nghĩ: Bách Quách Tao vì nước mà chết thì ta cũng vì Bách Quách Tao mà chết. Nói rồi ông ta liền chặt đầu tự sát.
Tề vương nghe xong hai câu chuyện đó thì sợ hãi liền cho người đi tìm Yến Anh về và phục chức cho Yến Anh. Khi Yến Anh về đến thành thì mới biết được nghĩa cử của Bách Quách Tao. Yến Anh hận mình không phân biệt được trắng đen, nói ta có mắt như đui không biết người của Thái Sơn thì nước mất nhà tan cũng đáng đời.
Triệu Cao nghe xong liền nói: “Lã tướng quân muốn so sánh mình thành những bậc hiền tướng nghĩa sẽ như Yến Anh và Bách Quách Tao đây”.
Doanh Chính chẳng bảo đúng sai lại chúi đầu vào đọc “Lã thị xuân thu”. Đột nhiên Doanh Chính như con mãnh thú đang lên cơn điên loạn hất hết sách vở trên án xuống đất. Cái âm thanh đó vô cùng gay gắt trong điện lớn vốn yên ả và rộng rãi khíên cho người ta hoảng sợ. Doanh Chính đùng đùng nổi giận mà rằng: “Thật là ăn nói hồ đồ. Nào là hưng vong quốc, kế tuyệt tự, cử dật dan! Phải trừ hết xấu xa, phải trừ từng cái cây ngọn cỏ của lục quốc chư hầu!”
Triệu Cao vừa thu gom những thẻ tre rơi vãi trên sàn vừa nghĩ: “Đại vương nói một là một, bảo thủ cố chấp. Một khi đại vương đã đích thân chấp chính thì rồi sẽ không hoà thuận được với Lã Bất Vi”
Trong ánh mắt không mấy để ý của dân chúng ở kinh thành Hàm Dương thì một cung điện nguy nga sừng sững cuối cùng đã hoàn tất. Đó chính là cung Hàm Dương nổi tiếng. Trong “thất quốc khảo” có chép lại rằng: “Tần vương mặc triều phục thết khách, tiếp kiến sứ giả nước Yên tại cung Hàm Dương… Tần chưa trị vì thiên hạ đã thu cung Hàm Dương”.
Cung điện mới đón chủ mới của nói. Người chủ mới chính là Tần vương Doanh Chính. Doanh Chính đã bắt đầu xử lý triều chính trong cung Hàm Dương. Doanh Chính là một vị quân vương cần mẫn. Hàng ngày khi ánh ban mai đậu sát phía cửa thì cũng là lúc xe của Doanh Chính leng keng xuất hiện trong cung Hàm Dương. Doanh Chính vô cùng ngưỡng mộ và lưu luyến cung điện mới này. Mỗi khi Doanh Chính bước vào cung điện thì luôn cảm thấy tinh thần sảng khoái nhẹ nhõm vô cùng. Bách điện điệp hiên, khí sạch mây lành – đó là những sinh linh nhất mực đáng yêu trong mắt Doanh Chính. Nào là lâu đài bát ngát, cửa ngọc đinh vàng, trúc tùng xanh ngắt, thuý liễu đào tơ, nào là chuông ngói rộn ràng, thềm đỏ lung lay rộn rã…Những âm thanh và cảnh trí đó khiến Doanh Chính phải say sưa ngất ngây.
Doanh Chính cảm thấy cung Hàm Dương của mình giống như thiên cung điện ngọc vậy. Khi Doanh Chính lên triều, nắng sớm ấm áp chiếu lên mái ngói thủy tinh bóng loáng, ánh nghiêng trong sân đình rộng rãi dần dần chuyển sang màu vàng nhạt. Những hành lang gấp khúc lượn quanh vốn sặc sỡ xanh đỏ thì hiện ra dáng vẻ rộng thoáng của mình. Trên thềm đỏ, trước chính điện được bày sẵn một đôi đỉnh đồng và cũng bao trùm lên đó cái không khí trang nghiêm cung kính. Trong cái âm thanh có tiết tấu của những ống trúc, của cầm và sắc, Doanh Chính ngẩng cao đầu khoan thai bước lên đài điện và ngồi lên ngai vua. Doanh Chính cảm thấy thần thái vui vẻ vì không chỉ cung điện mới to lớn vĩ đại mà điều quan trọng hơn cả là bên cạnh Doanh Chính không có Lã Bất Vi ngồi ở đó nữa. Lúc đó Lã Bất Vi cũng giống như những tam công cửu khanh kia-đều là những người dưới bệ rồng cả.
Những điều được tai nghe mắt thấy ở trong cung, những điều được dạy bảo của tổ tiên, những thuyết giáo về đạo làm vua trong sách cổ đều giúp Doanh Chính thiết lập hoàn thành tư tưởng thống lĩnh thiên hạ. Doanh Chính bắt đầu lên ngôi thì sẽ chinh phạt nước Triệu.
Doanh Chính sẽ tập trung binh lực lương thực, điều binh khiển tướng, sai Mông Ngao làm đại tướng quân, Trương Đường làm phó tướng thống soái mười vạn binh mã tiến về Hàm Đan.
Cho dù Lã Bất Vi là cha đẻ của Doanh Chính hay là người gánh vác cương vị là tướng của một nước thì ông cũng đều dốc toàn tâm toàn lực ủng hộ Doanh Chính. Thấy Doanh Chính tài giỏi xốc vác thì Lã Bất Vi vừa vui mừng thanh thản lại vừa thấy buồn bã. Lã Bất Vi và Triệu Cơ thấy Doanh Chính trưởng thành thì dồn vào Doanh Chính sự yêu mến và lòng hy vọng vô hạn. Họ hy vọng Doanh Chính trở thành một vị hoàng đế thông hiểu văn thao võ lược. Lã Bất Vi thấy Doanh Chính dám nghĩ dám làm, mạnh mẽ vang dội thấy làm vui mừng vô cùng. Nhưng chuyện “Nhất ngôn đường” thì Doanh Chính không hề tham khảo sự khuyên can của Lã Bất Vi và tất cả các triều thần trong bất cứ việc gì - điều đó khiến Lã Bất Vi có phần thất vọng. Ông sâu sắc cảm nhận được sự đau khổ và lạnh nhạt khi cán trôi tuột khỏi tay ông. Ông thấy các văn thần võ tướng, khi gặp ông trong mắt họ không còn sự kính nể, rụt rè như trước đây nữa mà lạnh nhạt như nước lã vậy. Phủ ông ở tuy vẫn có xe lọng tứ mã ra ra vào vào nhưng cảnh tấp nập đã mất đi rồi.
Doanh Chính ban chiếu xuống các quận, huyện, trưng thu thóc lúa, đồng thời đích thân sát hạch kết quả thượng kế. Thượng kế là một phương pháp sau khi khảo hạch các quan lại, huyện lệnh và quận thư nộp thúê và lương thực cho triều đình thì viết các con số, thời gian, họ tên vào các thẻ trúc đựơc làm từ gỗ trúc. Loại thẻ này được gọi là chất. Sau khi viết xong thì xẻ chất từ một thành hai, triều đình giữ chất phải, quan lại giữ chất trái để làm bằng chứng. Khi khảo hạch đối chất.
Từng chiếc xe tứ mã chất đầy những miếng chất nặng trĩu tiến vào thành Hàm Dương nhộn nhịp tựa như thoi đưa.
Xung quanh bàn ngự án chất đầy những tấm chất đã được trải ra hoặc vẫn đang cuộn lại toả ra mùi thơm của gỗ trúc. Doanh Chính thức dậy từ tờ mờ và lên điện rất sớm để xem các chất. Doanh Chính xem rất tỉ mỉ như sợ bỏ sót cái gì vậy. Doanh Chính cứ thế xem nhưng nhíu mày lại, nén cái bực tức trong lòng thành một khối lạnh như băng tuyết.
Doanh Chính gọi Quốc Chính Giám – viên quan phụ trách việc khảo hạch các quan đến bên ngự án nghiêm giọng mà rằng: “Tư Không Mã quận thư quận Lăng Tây và Khổng Khác quận thư quận Kiểm Trung mỗi người còn thíêu ba vạn thạch thóc lúa, nhà ngươi mau truyền lệnh cho Lã tướng quốc, bảo họ trong vòng 100ngày phải giao đi số lượng nếu không ta sẽ cho bãi chức làm thường dân”.
Quốc ChínH Giám không dám chậm trễ vội đến ngay phủ tướng quốc truyền đạt chủ ý của Doanh Chính cho Lã Bất Vi hay. Lã Bất Vi biết rằng Doanh Chính rất để tâm đến việc trưng thu thóc lúa ở các quận. Và ông cũng biết Doanh Chính đang sát hạch kết quả thượng kế nhưng không rõ con số cụ thể của ba mươi quận trong cả nước. Hai viện quận thủ không nộp đủ lương thực đúng hạn lại có một người là Tư Không Mã điều đó thật bất ngờ đối với ông.
Dù sau khi Quốc Chính Giám đi khỏi, trời mưa dầm dề nhưng Lã Bất Vi vẫn phái một tay môn khách lên đường đến Lũng Tây mời Tư Không Mã về Hàm Dương để bàn việc. Tư Không Mã biết Tần vương bực bội, không vừa ý mình thì ngay tối hôm đó thúc ngựa xuất phát từ Lũng Tây vượt núi nhấp nhô, đi dưới ánh sao lờ mờ để đến kịp Hàm Dương vào lúc rạng sáng.
Xa nhau dễ hơn nửa năm, Lã Bất Vi thấy vẻ bình thản trên mặt Tư Không Mã thì nhíu mày lại. Hai bên gò má thì lõm lại như thể một mảnh thịt bị xêu đi vậy. Trong mắt Lã Bất Vi không còn vẻ thoải mái nhẹ nhàng như trước đây nữa mà là đôi mắt ngổn ngang trăm mối tơ lòng. Lã Bất Vi hỏi Tư Không Mã mấy câu xen lẫn sự trách móc rằng tại sao không giao đủ số lương thực mà triều đình đã trưng thu. Tư Không Mã kêu khổ không ngớt mà rằng: Lũng Tây là một quận nhỏ, đất hẹp đất mỏng, năm ngoái lại gặp hạn hán. Số lương thực mà hiện nay ông ta giao nộp đã cùng kiệt rồi. Kể cả bây giờ có gõ xương hút tuỷ dân thường thì e rằng cũng không có lấy mấy hạt thóc lúa nữa đâu.
Lã Bất Vi nghe xong thì thở ngắn than dài mà rằng: Thế thì cũng không thể trách tội nhà ngươi được. Tư Không Mã nói: tướng quốc đại nhân, ngài cũng không phải khó dễ gì với tôi đâu, tôi tính từ chức quan quay về thành Hàm Dương làm môn khách cho ngài. Lã Bất Vi nói: Lúc này người trở về đen đủi như vậy không chỉ tổn hại đến danh dự của người mà sau cũng khó mà vận dụng đựơc. Tư Không Mã nói: nếu để đại vương cắt chức thì thà từ chức còn hơn. Đằng nào ba vạch thạch lương đó tôi cũng không có cách nào nộp cho đủ được. Lã Bất Vi không chấp thuận dự tính của Tư Không Mã nói: Tư Không Mã, nhà ngươi theo ta từng đấy năm. Ngươi cũng biết ta từ một tiểu thương bần hàn đến khi trở thành đại gia bạc triệu dắt lưng. Cũng có lúc ta nhớ lại chuyện cũ, tổng kết, khấu triệt những sai lầm. Ngoài những cảm khái chua ngọt đắng cay hữu nhân sinh ra thì điều quan trọng hơn cả là phải biết quy nạp và nắm bắt lấy những mạch lý phát triển của sự vật. Nếu nhìn từ góc độ kinh doanh thì ta là một người thành công, thế thì bí quyết của ta là “Trí, dũng, nhân, cường”. Trí tức là phải biết quyền biến, mưu lược. Dũng là phải biết quyết đoán, dám nhận những lỗi lầm lớn của thiên hạ. Nhân tức là phải có lòng từ bi bác ái. Cường tức là phải biết kiên cường bất khuất, hiển định không lay chuyển. Con người ta thường đến bước đường cùng mới dám liều mình và trở thành người thành đạt tài cao. Có lần ta đi thuyền trên dòng Hoàng Hà thấy những bức thông suốt không vật cản trở, sóng yên gió lặng, con thuyền bình thản yên ả. Nhưng một khi núi lở, nham thạch trào lên thì con nước mênh mông sẽ trào lên ngàn trượng sáng to gió lớn trước bức tường đá ngăn trở nó đến mức rầm rộ long trời lở đất. Sự phấn đấu của con người ta cũng như dòng nước vậy! Những lời nói của Lã Bất Vi khiến Tư Không Mã cảm thấy thấm thía và lòng ông cuộn sóng. Nhưng cảm động chỉ là cảm động còn ba vạn thạch lương thực thì lấy ở đâu ra.
Đúng vậy, ba vạn thạch thóc lúa thì biết lấy ở đâu? Tư Không Mã thấy Lã Bất Vi chậm rãi đi đi lại lại với vẻ mặt đầy nghiêm túc, tiếng cân đai như gió mát lướt trên mặt nước. Lã Bất Vi vẫn cứ đi đi lại lại nhưng ông bỗng quay lại trịnh trọng nói: Nhà ngươi hãy mua ngay ba vạn thạch lương thực mà nộp triều đình đi! Tư Không Mã cười khổ mà rằng: Phải cần tới mấy trăm lượng vàng mà có róc xương cái thân tôi đây cũng không đủ.
Lã Bất Vi cười: Ta biết ngươi khó khăn về vật chất. Số tiền này ta sẽ trả thay ngươi. Tư Không Mã sợ hãi mà rằng: Dùng tiền mua lương thực cho đủ con số thì chẳng là cướp công đòi thưởng, lừa gạt bề trên ư?
Sự xuất thân của Lã Bất Vi khiến ông có đầy đủ sự tinh tế của một thương nhân và tác phong làm những việc có tính chất thiết thực. Lã Bất Vi bảo với Tư Không Mã rằng ông có thể sắp xếp mọi chuyện một cách êm thấm tuyệt đối không để sai sót sơ suất một chút nào. Trong thành Hàm Dương có một người tên gọi là Tây Môn Dã và cũng là bạn thân giao với mình. Tư Không Mã hãy cải trang thành nhà buôn, sau khi chất lúa lên xe thì không được mang thẳng đến triều đình ngay mà phải mang về Lũng Tây trước, sau đó hãy mang về Hàm Dương. Như thế người khác sẽ không nghi ngờ gì cả. Ở đây ta sẽ dặn dò Tây Môn Dã, ai đến hỏi dò kể cả Tần vương đến truy hỏi thì cũng không làm gì đựơc với người đã bán cho quân thủ quận Lũng Tây – Tư Không Mã ba vạn thạch thóc lúa bao giờ.
Nghe Lã Bất Vi nói xong, Tư Không Mã thấy thư thái nhẹ nhõm hẳn. Tư Không Mã nói: Khi Lã đại nhân treo ấn làm quan mà vẫn kinh doanh buôn bán như cũ thì tôi cũng chẳng lấy làm lạ. Mà tôi chỉ nghĩ rằng: quyền cao chức trọng như vậy thì gom góp tài sản làm gì? giờ đây thấy không có tiền thì làm quan cũng khó. Lã Bất Vi dặn Tư Không Mã phải làm việc này cho kín kẽ, không được để xảy ra bất trắc hay sơ suất nhỏ nào. Tư Không Mã nói: Nộp đủ số lương thực triều đình trưng thu lần này xong, xin Lã đại nhân dành cho một chức quan ở Hàm Dương. Lã Bất Vi nói: Theo như ta được biết thì đại vương đang tìm một vị quan thiếu nội để thay người giữ ngân khố, đến lúc đó ta sẽ tiến cử.
Tư Không Mã làm theo sự sắp xếp của Lã Bất Vi thì nhanh chóng nộp đủ cho triều đình ba vạn thạch thóc lúa.
Buổi sáng hôm đó, Hoạn Giả lệnh trong cung Hàm Dương đến phủ tướng quốc nói với Lã Bất Vi rằng: Đại vương cần gặp, hãy tiến cung ngay. Lã Bất Vi hỏi Hoạn Giả Lệnh là chuyện gì nhưng Hoạn Giả Lệnh nói là không biết. Trên đường đến cung Hàm Dương, Lã Bất Vi ngồi suy tính trên xe: Là chuyện gì vậy? Là chuyện này? Lã Bất Vi lắc đầu tự nhủ với mình rằng: cũng không phải. Hay là chuyện Tư Không Mã mua lương thực để bù vào số lương thực mà triều đình trưng thu? Khi Lã Bất Vi nghĩ đến chuyện đó thì thấy lòng mình lay động, trước ngực áo dịn đầy mồ hôi. Sợ thì chẳng giải quyết được gì. Cho dù có là chuyện đó thì cũng phải bản lĩnh cứng rắn mà đối phó lại thôi.
Vào đến chính điện Hàm Dương, Lã Bất Vi thấy Doanh Chính đang ngồi trên ngai vàng vẻ mặt thờ ơ. Khi còn chưa đứng vững dưới bệ rồng thì Doanh Chính đã hỏi trước: “Lã tướng quốc, có người tố cáo ngươi cùng Tư Không Mã - quận thư quận Lũng Tây mua lương thực bù số thiếu, chẳng hay việc đó có thật hay không?”
Vì trên đường đã chuẩn bị tâm lý đầy đủ nên Lã Bất Vi đối đáp nhanh như cháo chảy: “Trưng thu lương thực ở các quận huyện là việc do đại vương quyết định. Mỗi quận đã nộp được bao nhiêu, thiếu bao nhiêu hạ thần tuyệt nhiên không biết. Thần không thể hiểu tại sao lại cùng Tư Không Mã mua lương thực để bù số thiếu. Nếu đã có người tố cáo, nay xin đại vương minh xét.”
Doanh Chính nói: “Nếu đã có người tố cáo thì quả nhân đã xem xét. Nhưng ta không tin rằng tướng quốc thông minh tuyệt đỉnh, thông hiểu luật phát, sẽ khônghàm hồ làm những chuyện như vậy. Quả nhân muốn tìm chủ hiệu buôm Tây Môn Dã để truy hỏi thì chân tướng sẽ lộ rõ. Chỉ có Tây Môn Dã nói thì mới có thể tin là thật và mới có thể rửa được nỗi oan cho Lã tướng quốc”.
Nghe Doanh Chính nói vậy thì Lã Bất Vi hà nhẹ một hơi: Ông mở mắt to hơn, nhìn xa hơn để nhìn rõ bộ mặt thật của đứa con của chính mình. Doanh Chính không còn là một đứa trẻ ngây thơ và đơn thuần nữa. Nó đã trở thành người đa mưu túc trí rồi. Là một vị vua thì kế sách của nó phải sâu như giếng khơi khó lòng mà đo đếm được, kể cả bậc bề tôi hay chư hầu thì cũng không thể nắm bắt đựơc. Doanh Chính đang từng bước một tiến đến phương diện này. Dụng ý lúc nãy nó nói thì vô cùng sâu sắc: một là cho tìm Tây Môn Dã đến để đối chất trước triều đường, nó phải chứng thực rằng Lã Bất Vi đã làm điều phi pháp. Lã Bất Vi này sẽ không thể chối cãi được nữa đành phải bó tay chịu trói. Hai là một khi chuyện này đã không thể tra ra là thật hoặc tra ra cho rõ đầu mối, nói năng không căn cứ thì Doanh Chính vẫn có chỗ để thoái thác rằng đó là muốn rửa sạch nỗi oan không rõ nguồn cơn cho Lã Bất Vi. Ba là để cho Lã Bất Vi thấy được cái oai là Tần vương vẫn dám vuốt má hổ của “trọng phụ” đó. Nếu kế này Doanh Chính xử cho người khác thì Lã Bất Vi sẽ vui vẻ hưởng ứng, sẽ phục sát đất con trai mình. Chỉ tiếc rằng sự sắc bén của mưu kế đó lại nhằm vào chính mình. Về mặt tình cảm thì Lã Bất Vi khó mà chấp nhận được mưu kế này.
Doanh Chính thấy Lã Bất Vi trầm ngâm suy nghĩ thì không còn nghi ngờ nữa mà rằng: “Tây Môn Dã đã ở ngoài điện, mời Lã tướng quốc hãy lui vào trong điện đã”.
Lã Bất Vi đành phải đứng vào sau trướng trong điện theo dõi tình hình trên triều đường. Khi cái bóng béo tốt đầy đặn của Tây Môn Dã từng bước từng bước một theo sau quan nghi trương xuất hiện thì Lã Bất Vi cảm thấy sợ hãi. Nếu Tây Môn Dã cứ nói như trên thực tế thì Lã Bất Vi và Tư Không Mã sẽ gặp phải phiền phức và nỗi bất hạnh vô cùng lớn thậm chí còn lã tai hoạ. Lã Bất Vi bất an theo dõi từng bước của Tây Môn Dã.
Dường như từ khi sinh đến nay đây là lần đầu tiên Tây Môn Dã yết kiến nhà vua nên rất hoang mang sợ hãi, tay chân không biết để vào đâu. Khi quỳ lạy trước ngai vua, thân hình Tây Môn Dã bỗng run lên. Khi trả lời Doanh Chính thì Tây Môn Dã nói không đâu vào đâu cả. Nhưng ý mà Tây Môn Dã muốn nói thì Lã Bất Vi nghe được rất rõ ràng mạch lạc. Bất kể Doanh Chính truy hỏi và doạ dẫm thế nào thì Tây Môn Dã cũng trả lời hết sức cứng rắn rằng: Tây Môn Dã không biết Tư Không Mã là người nơi nào nên thực không có chuyện bán cho Tư Không Mã ba vạn thạch lương thực.
Sau khi Tây Môn Dã được viên quan nghi trượng dẫn ra khỏi điện thì Lã Bất Vi sợ hãi đến nỗi mình mẩy đẫm đầy mồ hôi mới đựoc như thoá tkhỏi gánh nặng bước ra.
Doanh Chính nhìn Lã Bất Vi một lượt mà rằng: “Đã không chứng minh được lời tố cáo tướng quốc là thật, vậy lời cáo buộc là không có căn cứ chăng? Tướng quốc và vị quan quận thủ Tây Lũng đó đều là người trung thành làm tròn chức vụ của quả nhân”.
Nhân đó Lã Bất Vi nói thên rằng: “Tư Không Mã, quận thủ quận Lũng Tây vốn trước là môn hạ của hạ quan, người này vốn rất trung thần, xuất sắc siêu việt. Chẳng phải là đại vương đang cần tìm quan thiếu nội đó sao? Thần trộm cho rằng Tư Không Mã có thể đảm nhiệm được chức vụ này”.
Doanh Chính nói một cách nuối tiếc: “Sao tướng quốc không nói sớm? Chức quan thiếu nội đó đã có người đảm nhiệm rồi”.
Lã Bất Vi không kìm được hỏi: “là ai vậy?”
“người thiếu nội này cũng là chỗ quen biết cũ với tướng quốc, nhưng chốc nữa gặp nhau hẳn tướng quốc cũng sẽ ngạc nhiên”.
Là ai nhỉ? Lã Bất Vi ngầm suy đoán xem đó là ai?
Khi vị thiếu nội này bước ra thì Lã Bất Vi không dám tin vào mắt mình nữa: người đó chính là Thanh quả phụ Ba Thục
📎 labatvi7chuongXVII
Đăng nhập để trả lời
0
Chào CuLong!

Tất nhiên là được rồi. HTLĐ đang đánh máy Quyển 1 do Hồng Giang nhờ, nhưng sẽ ưu tiên gõ dùm CuLong trước, vì cũng chỉ có 5 trang thôi mà. Đừng cám ơn HTLĐ nhiều thế, ngại lắm! Sau này nhớ dắt HTLĐ đi ăn 1 ly kem là được rồi! [8D] hìhì...

HTLĐ phục tài đánh máy nhanh của CuLong thật đấy! Loáng cái là xong mấy quyển rồi! Còn HTLĐ thì ngồi gõ như gà mổ thóc, chẳng biết khi nào mới xong nữa [:D]

Thân!
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
HTLD à,
CuLong cũng muốn mời HTLD lắm nhưng lực bất tòng tâm vì CuLong ở ngoài Bắc và HTLD ở trong Nam. Kẻ Nam người Bắc đến gặp nhau cũng khó, CuLong muốn bắt chước CT.Ly gửi hình kem cho HTLD nhưng không có hình.
Thông cảm cho CuLong nhé.
Thanks
Đăng nhập để trả lời
0
Tiện thể HTLD cho CuLong hỏi, làm cách nào để đuợc phong là Hiệp sĩ giống HTLD vậy? CuLong tham gia bao lâu rồi mà vẫn chỉ là bạn đọc, buồn quá đi mất.[:(]
Đăng nhập để trả lời
0
Cáo lỗi, cáo lỗi! Tiêu chuẩn Hiệp sĩ của Thư quán là... như CuLong vậy đóa[:D]. Xin chúc mừng!
Đăng nhập để trả lời
0
[8D] HTLĐ đâu có biết gì đâu. Đọc thư của CuLong xong, HTLĐ giật mình, mới lật đật chạy lên xem thử như thế nào thì đúng là mình đã được phong Hiệp Sĩ rồi! Còn thật tình đầu đuôi như thế nào thì HTLĐ bó tay, thật sự là không biết. Chắc tại ct.Ly với lại Thái Nhi thấy HTLĐ tội nghiệp quá, cứ chạy ra chạy vô diễn đàn hoài nên an ủi HTLĐ đó mà. Chứ HTLĐ thấy mình đâu có tích cực bằng CuLong đâu, đóng góp cũng chẳng được nhiều.

Chắc CuLong cũng sắp được "lên chức" rồi đó, đừng buồn nha!

Thân!
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
Thái Nhi à, CuLong cảm ơn Thái Nhi nhé nhưng vẫn có chút thắc mắc phiền Thái Nhi chỉ giùm với: Tiêu chuẩn như thế nào thì là hiệp sĩ? và tiêu chuẩn như thế nào thì được tăng số sao lên? [:D]

HTLD à, phần CuLong nhờ bạn đã gõ giúp sắp xong chưa vậy? CuLong dạo này bận nên chỉ dám thỉnh thoảng lướt qua thư quán cho đỡ nhớ thôi chứ không thể type được. HTLD giúp nhé. THANKS
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-20 05:37:10Hoa Tulip đen>
Xin chúc mừng Hiệp Sĩ CuLong nha! Bây giờ hết buồn rồi nhé! [8D]
Phần CuLong nhờ HTLĐ đã hoàn thành xong rồi đây! Vì thứ 7 và CN phải đi ăn đám cưới ở xa nên sáng nay mới xong được, chậm quá phải không? Mong là CuLong và mọi người không trách!

Quyển 7 - Chương XVII (tiếp theo)

Từ khi Chiêu Tương Vương qua đời đến nay cũng đã mười năm có dư nhưng những nét già nua nơi Thanh quả phụ vẫn còn chưa rõ, vẫn là cái dáng thướt tha nền nã, tưới tắn lạ thường. Lã Bất Vi thầm khen rằng: “Thật là một mỹ nhân phi tử!”
Quả phụ Thanh Hiều Huệ đáp lễ rồi cất giọng ấm áp dịu dàng hàn huyên cùng Lã Bất Vi mấy câu. Thanh Hiền Huệ lần lượt hỏi thăm Lã Bất Vi từng chuyện một đồng thời mời Lã Bất Vi về sau hãy dìu dắt cho bà nhiều hơn. Những lời Thanh Hiền Huệ nói rất đúng mức khiến người ta cảm thầy chủ khách đều rất hoà hợp. Chính bởi quốc vương đang ngồi trên triều; nên nói thừa một câu lại là thô lỗ thất lễ, ít nói một câu lại hoá ra là tự cao tự ti.
Cho dù như thế nhưng Lã Bất Vi vẫn cứ cau mày lại rồi thầm kêu khổ không ngớt “Từ thuở khai thiên lập địa đến nay có triều đại nào lại có đàn bà con gái thương triều giải quyết việc triều chính không? Tần vương thật là độc đoán chuyên quyền đã thực hiện hứa hẹn của Lã Bất Vi mười năm về trước. Nếu ta làm vua thì sẽ mời Thanh quả phụ nhập triều tham chính. Hừ, điều đó thật là khác kiểu, mất cả quốc thể và sẽ làm cho các nước chư hầu phải phì cười thôi”.
Doanh Chính thấy vẻ lo lắng của Lã Bất Vi thì nói: “Vị tân thiếu nội này của quả nhân chỉ giải quyết việc triều chính chứ không vào chầu triều”.
Không giống với tất cả các hoàng hậu phi tử đó là ngoài chuyện mê mẩn si mê việc giường chiếu ra, Triệu Cơ còn đặc biệt thích mình giống như một con mèo mềm mại dựa vào vòm ngựa nóng hổi của nam giới nghe kể chuyện. Những chuyện trong sách tạp lục, những truyền thuyết ít được biết đến, những “chuyện mò” trong xó xỉnh hoặc những chuyện kể về người thật việc thật trong triều mà thú vị đều có thể khiến Triệu Cơ vui vẻ sảng khoái và phát ra tiếng cười giống như chuông bạc reo vậy. Các cung nữ và hoạn quan ở bên cạnh Triệu Cơ thì ru rú trong cung, những việc được nghe thấy nhìn thấy không nhiều. Hai vành môi không mấy khi hé ra ấy ngoại trừ lúc ăn uống phát ra một loại âm thanh kiểu lầy lội ra thì rất ít khi động đậy. Chỉ có Lã Bất Vi người đàn ông thanh tú đó mới có thể làm cho Triệu Cơ được thoả mãn trên cả hai phương diện này.
Mỗi khi nghe thấy nơi cột phía hành lang phát ra ba tiếng gõ lanh lảnh thì sự thích thú mãnh liệt lại trào dâng trong Triệu Cơ giống như có một con rắn đang bò loạn xạ trong cơ thể vậy. Và thế là cả hai loại âm thanh đẹp đẽ kì diệu lại trở thành chương nhạc mà làm Triệu Cơ phải ngây ngất say sưa cả đêm. Loại âm thanh thứ nhất đó là tiếng kêu kin kít phát ra từ chiếc sạp khi Lã Bất Vi duỗi ra trên người Triệu Cơ. Thứ âm thanh thứ hai là giọng kể chuyện đầy cuốn hút của Lã Bất Vi, sau khi hai người đã qua cơn “mưa to gió lớn” và cùng thư giãn một cách thoải mái. Là một phụ nữ dục tính mạnh nên dường như Triệu Cơ có một sự ham muốn lâu dài tưởng chừng như đang thèm khát đối với thứ âm thanh kỳ diệu đó.
Trừ số ít những cung nữ thân tín gác cửa bất động ra thì đa số các đầy tớ trong cung Chiêu Thanh nếu không phải là hờ hững thì cũng cảm thấy kỳ lạ bởi thứ âm thanh được phát ra từ phòng của Triệu Cơ. Viên quan tuần đêm thì không dám ghé sát vào cánh cửa lắng nghe cái thứ âm thanh như có như không và khiến hắn phải sợ hãi đó. Gần đây thứ cảm giác sợ hãi của viên quan tuần đêm này đã tiêu tan rồi. Chính bởi trong phòng Thái hậu không còn phát ra thứ tiếng động kỳ quái đó nữa. Trên khuôn mặt Triệu Cơ đã bắt đầu xuất hiện sự u phiền cùng với sự mất đi thứ âm thanh đó. Mấy người cung nữ thân cận kia thì biết ngay là vì mấy đêm nay Lã Bất Vi không đến; cuối cùng Triệu Cơ không chịu được nữa liền sai cung nữ đi tìm Lã Bất Vi nói là ta có việc cần bàn. Cung nữ đi rồi nhanh chóng trở về nếu không bẩm lại là tướng quốc không có trong phủ thì cũng bẩm lại là tướng quốc có việc bận. Triệu Cơ liền nổi giận lôi đình mắng chửi các cung nữ một chập như hát hay. Triệu Cơ không kìm được mấy lần đã định ra khỏi cung tự mình đến phủ tướng quốc. Nhưng Triệu Cơ sợ mất thể thống, gây chuyện thị phi nên đành thôi không đi nữa.
Vào một buổi sáng trong xanh, Triệu Cơ bắt đầu thực hiện diệu kế mà phải mất một đêm Triệu Cơ mới có thể nghĩ ra. Triệu Cơ đưa cho một cung nữ một dải lụa xanh và hẹp, rồi bảo cung nữ đó đem đến cho Lã Bất Vi. Cung nữ đó rụt rè nói: “Thế tướng quốc hỏi có ý gì thì sao ạ?” Triệu Cơ nói: “Ngươi còn lôi thôi cái gì, cứ đưa cho tướng quốc là ông ấy biết rõ như lòng bàn tay thôi”. Triệu Cơ tâm trang thấp thỏm không yên đợi chờ. Rồi Triệu Cơ nhanh chóng nhìn thấy cung nữ trở về cùng bộ mặt hớn hở. Mấy lần trước các cung nữ từ phủ tướng quốc trở về thì đều ủ rũ mặt mày, nói năng ấp a ấp úng. Thấy thái độ của người cung nữ thay đổi thì Triệu Cơ biết ngay rằng sự mong muốn sớm hôm đó của mình đang từng bước đến gần. Quả nhiên người cung nữ đó hớn hở bẩm báo lại rằng: Lã tướng quốc nói ngài sẽ đến ngay lập tức.
Triệu Cơ không hiểu nổi mình nữa. Tại sao lại nảy sinh tâm trạng hồi hộp hoảng loạn giống như một thiếu nữ hẹn hò yêu đương lần đầu vào giờ phút này. Triệu Cơ cuộn lại búi tóc rồi đưa ánh mắt vừa mừng vừa trách móc ra phía hành lang dài hun hút và dừng lại trên hai cánh cửa cung điện được sơn đỏ chót. Rồi bỗng nhiên cánh cửa cung điện trong tầm mắt của Triệu Cơ được mở ra và tiếp theo đó liền xuất hiện một thân hình khôi ngô. Chính là cái thân hình khôi ngô ấy đã biết bao lần khiến Triệu Cơ gần như nghẹt thở. Triệu Cơ cảm thấy mắt mình ươn ướt và dường như có mấy con bọ đang động đậy trên khuôn mặt bà ta. Triệu Cơ biết đó chính là nước mắt của mình đang lăn xuống.
Lã Bất Vi đi đến ngồi đối diện vối Triệu Cơ. Triệu Cơ thấy Lã Bất Vi dường như bị gầy đi, khuôn mặt thì cứng rắn và lạnh lùng như viên đá vậy. Đợi cho các cung nữ và hoạn quan đã lui ra hết thì Triệu Cơ bắt đầu trách móc. Triệu Cơ trách Lã Bất Vi đã ghét bà ta già rồi, trách Lã Bất Vi sợ con trai họ phát hiện họ tư thông.
Lã Bất Vi không nói gì ngồi nghe Triệu Cơ kể lể không ngớt, có lúc lại cười khổ hoặc mồm thì ấp úng ngập ngừng. Lã Bất Vi thứa nhận thầm rằng Triệu Cơ hiểu rõ thế giới nội tâm của ông ta. Từ khi Doanh Chính trẻ tuổi ấy tự mình nắm quyền chấp chính thì Lã Bất Vi luôn cảm thấy vị hoàng đế mới này luôn giám sát và đề phòng mình mọi nơi mọi lúc. Mỗi đợt có chiếu của bệ hạ, Lã Bất Vi đếu không dám cẩu thả trễ như sợ người ta nắm lấy một cái chóp nào đấy. Còn như việc loạn dâm nơi hậu cung thì thật là một tội ác đại nghịch về nhân đạo, một tội ác trời chu đất diệt. Còn như Triệu Cơ của ngày hôm nay, đối với Lã Bất Vi thì bà ta dường như là một cái bánh không nhân mà người ta đã nhai rất lâu không còn thơm tho mới mẻ gì nữa.
Triệu Cơ oán trách một chập rồi lại mỉm cười, liếc mắt đưa tình nói: “Tướng quốc này, hôm nay ngài hãy qua đêm ở điện Chiên Thanh nhé”. Lã Bất Vi không muốn làm Triệu Cơ thất vọng. Sự qua lại và cảm tình của Lã Bất Vi với Triệu Cơ giống như sông Vị Thuỷ đầu đông làm ông ta bị đông kết lại. Sự níu giữ của Triệu Cơ hôm nay Lã Bất Vi không thể chối từ. Triệu Cơ đề nghị Lã Bất Vi kể chuyện cho bà ta nghe. Lã Bất Vi kể chuyện của chính mình cho Triệu Cơ nghe bằng một giọng buồn rầu. Triệu Cơ không để ý lắm cảm xúc trên gương mặt Lã Bất Vi, cái mà Triệu Cơ cầm đó là thân thể và những câu chuyện của Lã Bất Vi.
Đêm hôm đó các âm thanh kỳ diệu lâu lắm không gặp, lại được phát ra từ phòng thái hậu. Thứ âm thanh đó bị các cung nữ thân cận của Triệu Cơ nghe thấy. Thế là họ liền tưởng tượng ra cái cảnh đôi nam nữ thân thể trần truồng đang quần nhau trên giường. Sự dễ chịu vui vẻ của thái hậu bù đắp lại những thiếu sót đáng tiếc của những cung nữ này.
Triệu Cơ cảm thấy lần này rất khó chịu khi ân ái với Lã Bất Vi. Động tác cảu Triệu Cơ và Lã Bất Vi trước đây hoà hợp chẳng khác nào nước chảy.
Vậy mà hôm nay những cử động đờ đẫn của Lã Bất Vi đã khiến Triệu Cơ cảm thấy chẳng khác nào củi ướt không đun được vậy. Dù không thoả mãn nhưng điều đó càng kích thích dục vọng nóng hổi nơi Triệu Cơ. Lúc chia tay Triệu Cơ đề nghị ngày hôm sau Lã Bất Vi lại đến. Lã Bất Vi nói ngày mai ông ta phải đến Hán Quận xem xét tình hình nước, e rằng không về kịp. Triệu Cơ bảo ngày kia. Lã Bất Vi nói không rõ đại vương có chú ý gì không; Triệu Cơ nói: Thế thì ngày kia ngài nhất định phải đến. Lã Bất Vi nói là không dám chắc. Triệu Cơ nặng mặt nói: Nếu tướng quốc không đến thì ta sẽ đến phủ và qua đêm ở đó. Lã Bất Vi thấy Triệu Cơ muốn giở trò, thì vội vã nói: Ngày kia sẽ đến, ngày kia sẽ đến. Lúc đó Triệu Cơ mới cười vui vẻ mà rằng: tướng quốc nhớ để ý những điều tai nghe mắt thấy và mang về những chuyện hay nhé.
Qua lại với Triệu Cơ một đêm, Lã Bất Vi quay cuồng đầu óc, thở hồng hộc và vô cùng mệt mỏi. Khi về đến phủ ông liền vật ra giường trong phòng sách mà ngủ. Chẳng mấy chốc đã đến ngày kia rồi, Lã Bất Vi không muốn thất hứa làm Triệu Cơ buồn. Trời nhá nhem tối ông ta lại như có thần sai quỷ khiến luồn qua tiền đình của điện Chiêu Thanh trần ngập ánh trắng rồi như một cái bóng, ông lọt vào phòng của Triệu Cơ. Triệu Cơ toàn thân trắng nõn và nằm duyên dáng trên giường chờ đợi. Lã Bất Vi không kịp nới rộng quần áo mà lao đến như một mũi tên. Đang lúc ông ta và Triệu Cơ quần nhau đến độ trời đất tối sầm lại thì cửa phòng bỗng loảng xoảng bật ra. Doanh Chính dẫn một đội quân hầm hầm sát khí xông vào cất giọng nói: “Mau giải tên dâm loạn này đi!” Lã Bất Vi sợ đến mức hồn bay phách lạc rồi ngã đến “uỵch” một cái xuống giường.
Lã Bất Vi mở mắt thì nhìn thấy ánh trăng sáng trắng trải rộng nơi thư phòng của ông. Tiếng hò hét cảu người này kẻ kia bên ngoài khiến ông bừng tỉnh cơn ác mộng. Ông ta thấy quần áo lót đều đầm đìa mồ hôi lạnh toát dính vào người.
Lã Bất Vi liền bò dậy, vừa ngồi xuống giường thì Lý Tư bước vào bẩm báo nói: “Có người tự xưng là Lao Ái, không cho làm môn khách của quân hầu không được”.
Lã Bất Vi hỏi: “Người này có tài gì?”
Lý Tư trả lời: “Người này nói là có kỹ thuật tuyệt vời”.
Lã Bất Vi hỏi lại: “Kỹ thuật tuyệt vời đến mức nào?”
Lý Tư đáp: “Lao Ái nói nhất định quân hầu phải đích thân xem không thì hắn nhất định không thể hiện tuyệt kỹ đó”.
Nghe Lý Tư nói thế, Lã Bất Vi đành phải ra khỏi thư phòng đến gặp Lao Ái người có kỹ thuật tuyệt vời.
Đã có một đám người tập trung ở tiền đình cách thư phòng một khoảng không xa. Lã Bất Vi biết những người này đều là đầy tớ và môn khách của mình cả. Trong đám đông có một thanh niên cao lớn thô kệch, mặt mày đen xì đang nói thao thao bất tuyệt về tài của mình. Lã Bất Vi nghĩ: người này chính là Lao Ái đây.
Thấy Lã Bất Vi đến, đám đông vội tránh ra. Lý Tư bảo Lao Ái rằng: đó chính là tướng quốc Lã Bất Vi.
Lã Bất Vi thấy Lao Ái quỳ xuống một cách hết sức lo sợ rồi dập đầu thình thịch ba cái liền. Trên bộ ngực rộng lớn của hắn dính đầy cỏ đất.
Lã Bất Vi nói: “Lao Ái, mau đứng dậy đi. Hãy biểu diễn tuyệt kỹ của ngươi cho mọi người xem đi”.
Lao Ái đứng dậy nói: “Xin tướng quốc cho người đem một bánh xe đến”.
Người ta khiêng đến một bánh xe và đặt dưới chân Lao Ái. Chỉ thấy Lao Ái cởi phăng đai quần phơi ra dương vật đen sì của hắn. Mấy đầy tớ gái trong đám đông liền hét toáng lên và quay đầu chạy mất.
Lý Tư luống cuống sợ hãi mắng rằng: “Lao Ái, nhà ngươi định làm gì vậy?”
Lao Ái mạnh mẽ nói: “Tôi biểu diễn tuyệt kỹ cho quân hầu xem đó”.
Lã Bất Vi lấy tay ra hiệu cho Lý Tư để Lý Tư không ngăn cản Lao Ái nữa, Lao Ái nhổ nước bọt vào hai bàn tay và khéo léo gẩy đi gẩy lại dương vật. Vừa gẩy mồm hắn vừa nói “ự, ự, ự” trong giây lát, dương vật của hắn cương cứng lên giống như củ cải nổi trong nước hay chày cán bột vậy. Hắn dựng bánh xe lên rồi kẹp dương vật vào trục bánh xe rồi lắc người lấy đà. Dương vật của Lao Ái đẩy bánh xe dần dần lăn về phía trước. Người xem xung quanh đều trợn mắt há mồm, kinh ngạc kêu lên không ngớt.
Khi Lao Ái biểu diễn xong và mặc quần vào, Lý Tư không thèm nhìn mà rằng: “Lao Ái, thứ tuyệt kỹ gì vậy? Thật là một trò bẩn thỉu!”
Lao Ái nháy mắt nói bằng vẻ mặt không vui rằng: “Hừm, Lý sá nhân, sao lại có thể nói như vậy được. Ngài nói đó không phải là tuyệt kỹ thì ngài hãy lôi cái của ngài ra xem nó có thể đẩy bánh xe đi về phía trước được không?”
Lý Tư nói: “Cái thứ tuyệt kỹ ấy của ngươi không có đất dùng đâu. Nhà ngươi hãy mau đi đi”.
Nghe Lý Tư nói vậy thì Lao Ái cuống quýt đến độ mặt xanh nanh vàng vội cầu cứu Lã Bất Vi rằng: “Quân hầu đại nhân, xin ngài hãy thương lấy tôi. Tôi sống nhờ vào sự tiếp tế của bạn bè, sớm tối không biết ra sao, ăn bữa nào biết bữa đấy. Ngài cho tôi làm gì trong phủ đều được, gánh nước, quét sân, bổ củi hầu bếp, đổ phân, tôi đều không xoi mói bắt bẻ!” Hắn thấy Lã Bất Vi trầm ngâm không nói gì thì ngồi bệt xuống đất nói cùn: “Nếu ngài không nhận tôi thì tôi cứ ngồi đây không đi đâu sất”.
Lã Bất Vi bảo Lý Tư: “hãy thu nạp Lao Ái, cho hắn thay quần áo sạch đi”.
Màn đêm buông xuống điện Chiêu Thanh như một cơn dông làm mờ nhạt hết thảy các hành lang, mái hiên trong cung điện. Đến khi bước đến cửa Lã Bất Vi mới ý thức được rằng ngày hôm nay đã quá mất một ngày mà Triệu Cơ hẹn với ông. May mà mình đã đến không thì vị thái hậu này rất có thể sẽ vì lợi mất khôn mà đến thẳng phủ tướng quốc. Đến chỗ thái hậu thì là chuyện dễ dàng đối với Lã Bất Vi, có nhắm mắt ông ta cũng không sai nửa bước.
Phía trước chính là cây cột hành lang. Khi Lã Bất Vi nghĩ đến đấy thì đã đến trước cột hành lang rồi.
Màn đêm dày đặc quá, ông không thể nhìn rõ những vật thể đứng sát xít kia. Ông đưa tay sờ vào thân cột trơn bóng. Ông lấy ngón trỏ búng liền ba cái lảnh lót rồi tiếng kéo then cửa vọng ra từ phòng, Triệu Cơ xuất hiện. Lã Bất Vi cứ thế đi thẳng vào vòng tay ấm áp của người đàn bà ấy… Sau cuộc lao động thể lực năng nhọc, Triệu Cơ lại bắt đầu quấn lấy Lã Bất Vi đòi ông ta kể những câu chuyện mới và thú vị. Thế rồi Lã Bất Vi kể cho Triệu Cơ nghe về chuyện Lao Ái. Lã Bất Vi kể nguyên si như thế. Có một thanh niên tên gọi Lao Ái, dương vật hắn đặc biệt to và có thể đẩy cho bánh xe đi. Hắn đã cậy vào tuyệt kỹ này mà trở thành xá nhân của ta. Triệu Cơ liền chất vấn: ngoài lừa già ngựa già ra thì cái thứ đó của con người ta cũng không thể quý đến mức như vậy được. Lã Bất Vi nói: đó là những điều chính mắt ông ta nhìn thấy, ở ngay trong phủ của ông ta. Triệu Cơ nói: tai nghe là hư, mắt thấy là thực. Lã Bất Vi nói: Chuyện đó không có cách gì cho thái hậu xem là có thực. Triệu Cơ nói: Cũng tại tướng quốc độc ác nữa cơ, ngài lại bày ra câu chuyện đó khiến thiếp phải thèm mắt, phải nao lòng.
Màn đêm đã nhạt dần, ánh ban mai rực hồng rớt xuống điện Chiêu Thanh. Lúc đó Lã Bất Vi và Triệu Cơ mới nhìn rõ mặt mũi của nhau. Triệu Cơ vừa chậm rãi mặc áo váy vừa bảo Lã Bất Vi đêm mai lại đến. Lã Bất Vi ngập ngừng: Không dám chắc. Triệu Cơ nói như van vỉ: Tướng quốc tốt bụng của thiếp, đêm mai ngài nhất định phải đến nhé. Lã Bất Vi nói: để xem vậy.
Bước chân hoàng hôn tiến về trời đêm thật là chậm chạp. Từ khi Triệu Cơ sai cung nữ mang dải lụa xanh đến cho Lã Bất Vi thì bà ta luôn ngóng nhìn khoảng không lúc mặt trời lặn. Đám mây giống như bày ngựa hồng kia không chịu nhạt đi màu sắc của nó mà vẫn cứ vàng chói rất lâu. Không biết sẽ bao lâu nữa trời tây mới sẫm lại. Rồi tấm màn đèn kia cũng dường như bị ngâm trong một ao mực vậy và cứ thế đen dần đi. Triệu Cơ lại đợi chờ. Tất cả mọi âm thanh trong đêm đen thanh tĩnh vắng lặng đều rất ồn ào.
Bà ta nghe thấy tiếng giày quan của Lã Bất Vi quét trên mặt đất từ nơi rất xa. Cái âm thanh “soàn soạt” ấy cuối cùng cũng đã vang lên tiếp theo đó là ba tiếng kêu nơi cột hành lang.
“Đến rồi!” Triệu Cơ xúc động vô cùng mà thầm than.
Tiếng bước chân từ xa đến gần tiến vào trong phòng. Mượn ánh trăng mờ mờ Triệu Cơ thấy cái bóng dáng thường xuyên xuất hiện trên giường của bà ta hôm nay dường như phình ra nhưng lại loạng choạng va đụng chẳng khác nào con rối mất đầu. Triệu Cơ nũng nịu hỏi rằng: “Tướng quốc của thiếp, hôm nay ngài thèm rượu ư?”
Triệu Cơ đợi Lã Bất Vi trả lời nhưng cái khối đen đó lại chẳng nói năng gì mà mò mẫm đến bên giường bắt đầu đè lên người Triệu Cơ luôn. Hắn ưỡn mông ra một cách mạnh mẽ và đẹp đẽ khiến Triệu Cơ thấy phần dưới bụng mình vô cùng đau đớn tưởng chừng như bị toạc ra. Lã Bất Vi sao thế nhỉ? Là do hứng rượu chăng? Ngày trước thì tuần tự từng bước, hôm nay lại chẳng khác nào dân đói khát ấy, “loảng xoảng” vài cái đã đến ngay nước này rồi. Lòng hăng hái và sự dẻo dai của tướng quốc thật bền bỉ, đã mấy tiếng đồng hồ trôi qua mà vẫn chưa bỏ cuộc giữa chừng. Bao nhiêu năm nay Triệu Cơ chưa bao giờ có được khoái cảm và thoả mãn giống như đêm nay. Bà ta khen không ngớt rằng: “Tướng quốc của thiếp, ngài cải lão hoàn đồng rồi ư, đã chẳng khác nào một thanh niên tràn đầy huyết khí rồi đó!”
Sau khi ông ta dùng hết sức lực để “dời non lấp bể” xong thì liền ngồi dậy sột soạt mặc quần áo. Triệu Cơ thấy lạ. Đêm hôm khuya khoắt thế này Lã Bất Vi còn đi làm gì nữa? Ngày thường sau khi qua cơn “cuộn trào dữ dội” Lã Bất Vi còn hứng thú vuốt ve bà ta. Triệu Cơ bằng cảm nhận mò tìm vị trí của tay Lã Bất Vi. Bà ta tìm thấy rồi. Trong khoảnh khắc bà ta nắm lấy tay Lã Bất Vi thì bỗng cuống cuồng sợ hãi. Đó không phải là tay của Lã Bất Vi. Tay của Lã Bất Vi nhẵn nhụi mỡ màng, nhu cương tương tế; còn cái tay này thì vô cùng to và thô ráp như đá mài vậy.
Triệu Cơ bình tĩnh đi châm đèn dầu. Trong chùm tia sáng đó Triệu Cơ nhìn thấy một gã đàn ông lạ mặt nhưng mạnh mẽ đang sợ hãi quỳ trước mặt mình.
Người đàn ông đó rập đầu như tế sao nói “Tiểu nhân mạo phạm thái hậu, tội đáng chết!”
Triệu Cơ hỏi: “Người là ai, tai sao lại vào đây?”
Người đàn ông kia thì run lẩy bẩy trả lời rằng: “Tiểu nhân là Lao Ái, tất cả việc này đều do tướng quốc Lã Bất Vi sắp đặt cả”.
Triệu Cơ như tỉnh mộng nhủ thầm rằng: “Lã Bất Vi cũng khéo hiểu ý người, trước khi tháo thoát còn tìm cho gã trai lơ Lao Ái. Lao Ái tấn công nhạy bén mạnh gấp mấy lần ông ta”. Vì vừa nãy Lao Ái đem đến cho Triệu Cơ dư vị mà từ trước đến nay bà ta chưa được nếm bao giờ nên Triệu Cơ cũng có chút cảm tình với hắn ta nên nói: “Mau đứng dậy đi, thái hậu không trách ngươi. Nhà ngươi vào bằng cách nào vậy?”
Lao Ái trả lời: “Lã tướng quốc dùng xe của ông ta đưa tôi vào đây. Khi đến ngoài cổng điện, tướng quốc bảo tôi rằng sau khi vào thì búng ba cái ở cột hành lang thứ tư và sau đó cứ đi thẳng vào. Tôi tốn nhiều công sức mới mò được vào phòng thái hậu”.
Triệu Cơ lại hỏi: “Thế thì Lã Bất Vi đang đợi ngoài cung điện ư?”
Lao Ái đáp: “Thưa vâng. Lã tướng quốc nói: đêm đầu ông ấy sẽ giúp tôi quen đường, sau này tướng quốc không đến nữa. Tướng quốc đã sắp đặt xong tất cả, chỉ cần sau khi trời tối đi xe của ông ấy là tôi có thể vào được”.
Lao Ái nói vậy Triệu Cơ thấy lòng mình ấm lại vì cảm ơn ân đức Lã Bất Vi. Nhưng đang lúc có Lao Ái trước mặt nên bà ta không nói gì. Cho dù bà ta nói: “Thái hậu không trách ngươi” nhưng trong lòng Lao Ái vẫn còn run sợ tay hắn đầm đìa mồ hôi. Trong ánh đèn nhảy nhót hắn nhìn thấy khuôn mặt lay động bất đồng của Triệu Cơ.
Triệu Cơ nói: “Đêm nay không nên ở đây lâu quá – Lã tướng quốc đang đợi người ở ngoài. Sau này hàng đêm thì đến đây”. Lao Ái như mở cờ trong bụng nói: “Chỉ cần làm thái hậu được vui thì cho dù xương nát thịt tan tôi cũng cam lòng”.
Triệu Cơ lại dặn dò: “Lao Ái, sau này ngươi ra vào điện Chiêu Thanh phải đặc biệt cẩn thận, không được để người khác biết”.
Lao Ái mạnh dạn hẳn, hắn không nói năng vói bộ dạng run lẩy bẩy như lúc nãy nữa. Lao Ái đáp lại: “Lã tướng quốc đã sắp đặt mọi chuyện kín kẽ cả rồi. Tôi ngồi trong xe của ông ấy nếu bị người ta bắt gặp cũng không quan trọng mà họ vẫn cho rằng người ngồi trong xe là Lã tướng quốc”.
Triệu Cơ nghe xong thì gật đầu hài lòng.
Sau khi Lã Bất Vi tìm được người thay thế thì rất ít khi đến điện Chiêu Thanh. Mấy hôm đầu, mỗi khi rạng sáng Lao Ái từ điện Chiêu Thanh trở về cùng bộ mặt mệt mỏi thì Lã Bất Vi đều cho gọi Lao Ái đến hỏi thăm tình hình. Còn Lao Ái thì sướng rơn trả lời: “Thái hậu rất hài lòng”.
Mấy hôm về sau Lã Bất Vi không hỏi thêm gì chuyện đó nữa. Một là do Triệu Cơ phóng túng dâm lạc, bình yên vô sự, không cần đến sự lo lắng của ông ta; Hai là gần đây những việc trong triều vô cùng phức tạp. Trịnh Quốc phô trương công trình thuỷ lợi dẫn kênh Kinh Hà ngày một lớn, lượng đá cần dùng ngày càng nhiều và không ngừng sai người đi giục triều đình phải cung ứng đầy đủ. Lã Bất Vi phái Trịnh Thược làm đặc sứ đến các quận điều động thúc giục. Trên tiền tuyến quân sự tấn công nước Triệu, quân Tần gặp trở ngại, tiến triển không nhiều, chí khí binh sĩ bị nhụt. Lã Bất Vi kiến nghị Doanh Chính phái Thành Tề làm phó tướng ra tiền tuyến đôn đốc binh lính, hưng chấn chí sĩ. Doanh Chính ban chiếu chuẩn hành. Cho dù Di Hồng kéo dài một vài ngày làm sự trả giá để đòi lấy phong ấp nhưng cuối cùng Thành Tề vẫn đến kịp tiền tuyến. Em trai của Tần Vương mặc giáp cầm gươm xuất hiện trong lúc quân hai bên ở thế giằng co khiến tướng sĩ Tần quốc nhận được sự cổ vũ khích...

(Hết quyển 7 - mời các bạn xem tiếp quyển 8)
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
Hoan hô HTLD, cám ơn HTLD
Mong rằng từ giờ chúng ta sẽ nâng thêm một bậc mới trong mối quan hệ nhé, là bạn tốt được không HTLD?
Bye
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-20 09:48:54Hoa Tulip đen>
Tất nhiên là được rồi CuLong ah, vì tất cả anh chị em trong đại gia đình Thư quán đều là bạn tốt của nhau hết mà. Mong được CuLong hỗ trợ nhiều hơn.[:)]

Quyển 1 (tiếp theo)
PHẦN THỨ NHẤT
THƯƠNG BÁ


CHƯƠNG THỨ NHẤT
QUYỀN UY SỤP ĐỔ


Một trận mưa không to nhưng không dày và dai dẳng xuốn cả vùng Cảo Kinh – kinh đô của triều nhà Chu. Trận mưa mang đến cho mùa xuân 770 trước CN một không khí ẩm ướt.
Một thời gian dài trước đó thời tiết lạnh khô đến lạ kỳ.
Trận mưa kéo dài suốt mười ngày, đúng như dự toán của ông thầy cúng. Mặc dù vậy, trong các ngôi đền, chùa vẫn mù mịt khói hương, người dâng cúng lễ vật và những người cầu mưa đều vui mừng nhìn ra giá ngoài và ê a hát lên bài cầu chúc.
Trong cung Hổ Tước, nơi mà thường xuyên được Chu Vương cho sửa sang và quét vôi, những tên lính hầu và đám cung nữ luôn luôn thấy vị Thiên tử Tây Chu này đi đi lại lại. Ông ta thường cáu giận với các triều thần trong triều vì những chuyện không đâu vào đâu, buổi tối cũng không lui tới thẩm cung của các phi tần. Tiếng chuông treo trên mái hiên phát ra những âm thanh trong trẻo cũng không làm ông ta thích thú mà trái lại ông ta cảm thấy rất chói tai, bèn sai người tháo hết những cái chuông đó xuống. Vị Thiên tứ ngũ tuần này biết rằng, tâm tính khó chịu này cũng một phần là tại thời tiết. Dưới bầu trời nắng như thiêu, không có lấy một gợn mây nào ông ta mong ước có một mỹ nhân cùng với mưa xuân bay xuống. Ông ta cũng chẳng muốn quan tâm đến công việc ruộng đồng, trồng hạt. Đống kê, thóc trong kho lương thực của vị Thiên tử họ Chu cũng đủ để nuôi đám hậu duệ cháu chắt mấy đời và đám phi tần, mỹ nhân của ông ta. Hơn nữa ông ta cũng đã khoán mức thuế phải đóng hàng năm cho các chư hầu, riêng chỗ đó cũng đủ cho việc chi tiêu, ăn mặc trong vương thất. Mặc dù như vậy, Chu U Vương vần mong chờ mưa xuống, không hiểu tại lý do gì. Thậm chí ông ta còn cho vời rất nhiều thầy cúng danh tiếng đến điện ở cung Hổ Tước để xem bói. Những thầy mo mặt vẽ chằng các hoa văn, họ đem đốt những mai rùa, xương thú còn dính nguyên máu tươi trên những đống than, làm phát ra những tiếng lốp bốp, sau khi nhìn thấy những vết rạn nứt ở phía trên những vật đó thì thiên cơ cho Chu U Vương sẽ tiết lộ.
Trận mưa dai dẳng đó đã quét sạch bụi bẩn trên những mái hiên rong rêu trên tường, trên những thềm lan chạm ngọc đồng thời cũng tăng them nhiều màu sắc, dáng vẻ cho những cây liễu, cây mai trong ngự hoa viên của Thiên tử. Mùa xuân đã hiện diện trong tất cả các sự vật. Chu U Vương cũng hiểu rỏ rằng, mùa xuân trong ông ta chính là do một người con gái mời vào cung không lâu đem lại. Đột nhiên, Chu U Vương cảm thấy tinh thần phấn chấn, trong lòng sảng khoái và thoải mái như bầu trời sau cơn mưa, trong mát và thoáng đãng. Mấy tên thái giám hầu hạ bên cạnh cũng thấy ngạc nhiên. Một Thiên tử thường ngày rầu rủ ủ dột giờ đây dường như đã lột xác thành con người hoàn khác. Ông ta đứng lên đi lại, động tác mạnh mẽ khiến cho chiếc vương miện trên đầu hết nghiêng bên này rồi ngả bên kia.
Một ngày, ông ta cùng với người con gái mới đến hân lạc trong thẩm cung, ông ta cởi từng lớp quần áo trên người nàng, để lộ ra một thân thể trắng muốt như ngọc và họ bắt đầu cuộc vần vũ mây mưa. Đây vừa là “sở trường” vừa là sở thích của Chu U Vương. Cô gái sau một hồi run rẩy như bị co giật mới thì thầm với Chu Vương: nàng tên Bao Tự, mới 17 xuân xanh. Chu U Vương nhận thấy rằng “nghệ thuật” chăn gối của Ba Tự quả không tồi, nàng như được trời phú cho cái tài nghệ này, bèn chỉ báo cho nàng chút ít. Thân hỉnh của ông ta như con rắn, lúc thì quấn quanh lúc thì lật đi lật lại, để cho nàng biết được lạc thú của chuyện gối chăn mà từ trước tới nay nàng chưa từng được biết.
Lúc Chu U Vương ôm Bao Tự vào lòng, ông ta để ý tới đôi mắt long lanh và làn môi mọng như trái anh đào của nàng. Từ đó trở đi, đôi mắt và làn môi đó lúc nào cũng quanh quẩn trong đầu Chu Vương.
Nhiều năm sau đó, sau khi Chu U Vương bị giết chết tại Ly Sơn, Bao Tự trở thành món đồ chơi trong tay của Tây Nhung Vương thì cũng là lúc trên các đường phố, ngõ ngách ở Cảo Kinh bắt đầu lưu truyền những truyền thuyết kì lạ về Bao Tự.
Ngày trước, vào thời suy vi thuộc nhà Hạ, có hai con rồng thần đáp xuống cung điện của Thiên tử nhà Hạ và cứ quấn ở trên hai cái cột đó không rời “Chúng ta là hai vị tiên vương của nước Bao”. Vua nhà Hạ lung túng chẳng biết làm sao, vội mới thầy cúng đến để xin chỉ thị của Thượng Đế là giết, đuổi đi hay mời ở lại. Kết quả của những lần xin đầu đều không được, bèn cầu xin tiếp. Thượng Đế phán phải xin rồng thần ban cho nước bọt, đồng thời phải cất cẩn thận chỗ nước bọt đó, có như vậy mới gặp được sự lành. Hạ Vương bèn sai trải ngọc và lụa dưới cái cột trong cung, viết những lời khấn lên các thẻ tre, quì xuống cầu xin: “Kính xin rồng thần hãy ban cho nước bọt, kính xin rồng thần ban cho nước bọt”.
Hai con rồng thần đó chấp nhận lời thỉnh cầu của Hạ Vương, sau khi để lại nước bọt của mình thì bay đi mất. Hạ Vương sai người đựng chỗ nước bọt vào một cái hộp gỗ. Sau khi nhà Hạ bị diệt vong, cái hộp này được truyền đến đời Chu - Trải qua ba đời nhưng không có một vị thiên tử nào dám mở ra xem. Đến cuối triều vua Chu Lệ, cũng chính là thời ông của Chu U Vương, ông này bèn sai người cho mở chiếc hộp đó ra, và không ngờ chỗ nước bọt đó tràn ngập khắp trong cung, không có cách nào dọn sạch được. Lúc đó Chu Lệ Vương đang ôm ấp phi tử trong lòng, thấy vậy bèn sai lệnh cho nàng ra sức gọi nước bọt. Đám nước bọt đó bỗng nhiên biến thành một con thằn lằn màu đen, bò vào hậu cung của Chu Lệ Vương. Trong hậu cung có một cung nữ rất trẻ, nàng ta dẫm phải bãi nước bọt đó; sau khi trưởng thành, mặc dù không cưới gả cho ai tự nhiên mang thai, sau đó sinh được một bé gái. Cung nữ này rất khiếp sợ bèn đem vứt đứa bé gái đó đi, vào thời Chu Tuyên Vương, có một đứa bé gái hát bài ca dao: “ Cung nỏ bằng gỗ cây dâu, mũi tên bằng gỗ ki, tiêu diệt sạch nhà Chu”. Sau khi Chu Tuyên Vương nghe được, ông ta hoang mang hết sức, bèn sai người đi khắp nơi dò hỏi, cuối cùng đã bắt được đôi vợ chồng bán cung nỏ làm bằng gỗ dâu, mụi tên bằng gỗ ki và chuẩn bị hành hình. Đôi vợ chồng nọ tìm đủ lý do để gỡ tội, họ kể trên đường họ gặp đứa bé gái do cung nữ nọ vứt bỏ. Nghe thấy tiếng nó khóc rất tội nghiệp bèn nhặt về nuôi. Đôi vợ chồng nọ đem đứa bé chạy đến nước Bao. Mười mấy năm qua đi, đứa bé nọ giờ đã trở thành một tuyệt sắc giai nhân. Sau này khi người nước Bao đắc tội với Chu U Vương, sợ bị nước Chu thôn tính nên đã xin cô gái nọ cống nộp cho nước Chu để tạ tội. Bởi vì cô gái đó lớn lên ở nước Bao nên gọi là Bao Tự. Bao Tự là kết quả của câu chuyện hoang đường: thần rồng hiện hình, chỉ có thể có trong những điển tích của Sầu thời Tần.
Thực ra Bao Tự có nguồn gốc thật của mình. Nàng chính là con gái của một vị đại phu nước Bao, gia cảnh bình thường, là con nhà gia giáo, giỏi đàn hát múa ca. Năm thứ hai đời Chu U Vương; ba châu: Kinh Hà, Vị Hà, Lạc Hà bị động đất, trên đường đi chạy nạn nàng đã bị lạc mất người thân, trở thành nô lệ, sau khi kẻ dưới của Chu U Vương là Quắc Thạch Phụ mua về. Tên này vốn là một tên bợm quan, suốt ngày chỉ lo cách lấy lòng Chu U Vương nên khi thấy Bao Tự tài sắc vẹn toàn, trong những ngày cuối của đợt mưa xuân đó đã dâng Bao Tự cho Chu U Vương. Bao Tự vốn là cô gái xuất thân từ gia đình gia giáo, những ước muốn của nàng thật thanh cao, Chu U Vương cũng rất biết cách lấy lòng nàng. Bên cạnh thẩm cung của chính cung hoàng hậu bỗng xuất hiện một tòa nhà to đẹp đàng hoàng, đặc biệt Chu U Vương còn cho vời những người văn hay chữ tốt đến để đặt tên cho tòa cung đó và lấy tên là Phụng Minh Các. Cùng với toà cung đó là vô vàn đồ bày biện quý giá, đám kẻ hầu người hạ nhanh nhẹn và một ban nhạc với đàn, trống, ai nấy đều áo quần súng sính. Bao Tự như bị đính chặt vào hậu cung. Trước Phụng minh Các, Chu U Vương còn cho trồng vô số loài hoa như mẫu đơn, hoa hồng, hoa cúc, mai vàng, để cùng người đẹp thưởng hoa.
Một người con gái vào cung được sủng ái như vậy khiến cho bao kẻ thầm ghen tức và cũng từ đó trở thành trung tâm của những câu chuyện kì quái. Kể từ sau ngày người con gái đa tình ấy vào cung thì hình ảnh của nàng lúc nào cũng quanh quẩn trong đầu Chu U Vương. Cả ngày lẫn đêm lúc nào Chu U Vương cũng ở lại Phụng Minh Các, điều này khiến cho chính cung hoàng hậu – Thân Hậu và vô vàn các phi tần khác không tránh khỏi sự cô đơn lẻ bóng. Trong cảnh vắng vẻ đó luôn luôn nảy sinh những âm mưu độc ác và những nguy hiểm rình rập xung quanh Bao Tự.
Chính cung hoàng hậu – Thân Hậu lúc đó chưa đầy ba mươi tuổi, bà ta là chị gái của quốc quân nước chư hầu – Thân Hầu. Bà có hàng lông mày thanh tú nhỏ nhắn, đôi mắt dịu dàng, đẹp nhưng lẳng lơ; thân hình thướt tha, mềm mại như cành liễu trước gió. Dung mạo của bà so với đám phi tần trong cung như con hạc lạc giữa bầy gà. Nhưng tính nhân hậu ở bà lại có phần trội hơn nhan sắc. Lúc vào cung bà mới mười hai tuổi, chỉ là một nàng hầu, do cần cù chăm chỉ nên được cho giữ chức Thế phụ, cai quản việc dâu tằm trong cung, không lâu sau được chọn làm cửu tần của Chu Vương. Thiếp, phụ, Tần đều là những kẻ lao động trong cung, cũng là người danh chính ngôn thuận được cùng qua đêm với Thiên tử. Trong “Lễ ký. Hôn nghĩa” có chép: “Ngày xưa, sau Thiên tử lập sáu cung, ba Đại phu, chín Tần, hai mươi bảy Thế phụ, tám mươi mốt Ngự Thế”. Thân Hậu được làm phi tần mới có nhiều cơ hội gần gũi Chu U Vương, sau khi được sủng ái thì sinh hạ được thái tử Nghi Hữu và được lập làm hoàng hậu.
Sau khi trở thành chính cung hoàng hậu, Thân Hậu càng tỏ rõ sự hiền đức và càng cần cù cố gắng. Chu U Vương thì bỏ bê công việc triều chính, thậm chí càng ngày càng đam mê tửu sắc, không để ý, quan tâm đến việc học hành của Nghi Hữu. Thân Hậu mời một thầy văn, một thầy võ vào cung dạy thái tử học. Thầy dạy võ tên là Tản Nghi Quảng, tính tình tuy hiền lành nhưng khí phách rất cương trực, về tài kếim thuật hay võ thuật có thể nói vô địch thiên hạ. Thầy dạy văn tên Kế Nhiên, tài học uyên thâm, tính tình khảng khí trung thực. Kế Nhiên hơn Thân Hậu hai tuổi nên được bà coi như huynh trưởng và là người tâm phúc của mình. Mặc dù được hai vị thầy giỏi ở bên ngày đêm dạy bảo nhưng Thân Hậu vẫn thường lui tới để giám sát việc học hành của Thái tử, thậm chí mỗi lần Nghi Hữu học xong trở về, Thân Hậu đích thân kiểm tra những bài mà Thái tử đã học. Do hay phải lật giở những cuốn sách bằng tre nên đôi tay của Thân Hậu bị tre đâm chảy cả máu. Nghi Hữu thông minh nhân hậu, phong thái đĩnh đạc, thêm vào đó ngày ngày được hai thầy và Thân Hậu kèm cặp nên phẩm chất, văn chương, binh kiếm… tiến bộ rõ rệt. Mỗi lần Chu U Vương đến thăm, Nghi Hữu lại nhanh trí đọc cho phụ vương nghe một bài văn, múa một bài kiếm, Chu U Vương vui đến mỗi lớn tiếng cười to. Tiếng cười của Chu U Vương vang vọng khắp trong điện, khiến cho những vị đại thần đang khoanh tay ngồi đợi lệnh và đám cung nữ nhìn nhau ngơ ngác, cùng ngước mắt nhìn cái gia đình gồm ba con người chí cao vô thượng này.
Kể từ ngày Bao Tự vào cung thì chẳng thấy bóng dáng và tiếng cười của Chu U Vương bên cạnh hai mẹ con Thân Hậu đâu nữa. Lúc đầu Vương Hậu tỏ ra vô cùng khó chịu, oán hận Chu U Vương bội phần, suốt ngày than ngắn thở dài không thiết ăn uống, thân hình tiều tuỵ. Dần dần về sau, nhờ những lời an ủi khuyên bảo hết lời của Kế Nhiên nên Thân Hậu cũng quen dần với sự lạnh nhạt, cô đơn. Nhưng Thân Hậu lại lo rằng Chu U Vương quá sa đà vào khoái lạc thâu đêm suốt sáng như vậy, không những ảnh hưởng đến long thể mà còn buông lỏng kỷ cương, khiến cho cơ đồ mà tiên vương tạo dựng sẽ sớm muộn tiêu tan. Mỗi lần nghĩ đến điều này, lòng bà nóng như lửa đốt. Có lúc ba tháng không được gặp mặt Chu U Vương, hoặc nếu có gặp được thì lại bị Bao Tự và đám vũ nữ trong cung mê hoặc đến hồn xiêu phách lạc, tinh thần mệt mỏi nên không còn tâm trí và hứng thú để nghe những lời chỉ giáo của Thân Hậu, nào là đạo trị quốc, dưỡng sinh… Thời gian trong cung Hổ Tước cứ lặng lẽ, vô tình trôi đi nhanh chóng. Thấm thoắt Nghi Hữu giờ đây đã tròn mười sáu tuổi, ngày mai, ngày 18 tháng 5 sẽ là sinh nhật của Thái tử. Thân Hậu muốn tổ chức lễ sinh nhật của Thái tử thật to, thật long trọng, có lẽ chỉ có lần sinh nhật này hai mẹ con nàng mới có dịp đoàn tụ với Chu U Vương và cũng là cơ hội để khiến cho Chu U Vương hồi tâm chuyển ý.
Trong một buổi sớm tràn đầy hy vọng và niềm hứng khởi như vậy, Thân Hậu cũng dậy sớm hơn so với mọi ngày. Sau khi trang điểm một cách rất kỹ càng, bà bắt đầu sai người đi trang trí. Buổi sớm ban mai vẫn chưa sáng tỏ; chỉ nhìn thấy bóng người lờ mờ, lay động đang chăng đèn kết hoa, bày biện, dọn dẹp. Nghi Hữu hôm nay cũng quần áo xúng xính, phong thái mạnh mẽ, đĩnh đạc, đến vấn an mẫu hậu từ rất sớm. Sau khi mọi thứ đều được chuẩn bị tươm tất, Thân Hậu đích thân đến mời Chu U Vương. Đến cung Hổ Tước thì được biết Chu U Vương ở chỗ Bao Tự tại Phụng Minh Các. Thân Hậu đến Phụng Minh Các thì gặp hai tên lính gác đang canh giữ trước chính điện, thấy bà đến chúng bèn chặn lại không cho vào. Thân Hậu thẹn quá hoá giận, một tên lính gác quèn quả là mắt không tròng, không còn nhận ra được một vị mẫu nhi thiên hạ nữa! Tên lính gác mặt nhỏ thó vội quỳ xuống, nói như muốn khóc: “Khởi bẩm hoàng hậu nương nương, xin hãy tha tội cho chúng thần, Thiên tử đã có chỉ không cho bất cứ ai vào nếu kháng lệnh sẽ bị xử trảm, bất cứ người đó là ai, xin nương nương hãy giữ gìn hai cái đầu của chúng thần mà lui bước!”
Thân Hậu sau khi suy nghĩ một lát mới bảo: “Vậy thì được thôi, hãy vào bẩm với Thiên tử điện hạ rằng hôm nay là sinh nhật của Thái tử, lễ mừng đã chuẩn bị xong, mời thánh giá đến tham dự”.
Tên lính gác nọ cao giọng truyền những lời của hoàng hậu tới thái giám của Phụng Minh Các. Sau một hồi lâu, thái giám lại truyền đạt ý chỉ của Thiên tử tới Hoàng hậu: “Bẩm Vương hậu nương nương! Hoàng thượng bảo hiện Hoàng thượng không được rảnh rỗi, mời Hoàng hậu nương nương và Thái tử cứ tiến hành buổi lễ!”
Vương hậu giận tím mặt, nước mắt tuôn rơi. Bà hiểu rõ tính cách bảo thủ cố chấp, nóng lạnh thất thường của Chu U Vương, nếu làm không theo ý ông ta thì tất sẽ có kết quả chẳng tốt đẹp gì.
Mặt trời đã lên tới nóc lầu Phụng Minh Các, ánh nắng chiếu vào nóc lầu toả ra những tia xanh vàng rực rỡ, còn Thân Hậu thì mặt mày ủ dột. Một cung nữ đứng bên cạnh đi lên trước để dìu bà nhưng bị bà từ chối, đứng được một lúc, bà quay gót lui ra. Vừa đi bà vừa nói một mình: “Thật khiến người ta khó lòng tha thứ”.
“Vương hậu nương nương tại sao lại phải cam chịu rút lui như vậy chứ?” Một giọng nói chua cay từ phía sau Thân Hậu vọng lại.
Thân Hậu quay lại, hoá ra là phu nhân Tề Dư. Vị này vốn là nàng hầu hạng thấp của nước Tề, mồm mép nhanh nhảu, tư chất thông minh, hồi trước hay giở trò vặt để thu hút sự chú ý của Chu U Vương. Kể từ hồi Bao Tự vào cung thì hoàn cảnh của nàng ta cũng không khác gì Thân Hậu, một mình một bóng, phòng đơn gối chiếc. Thân Hậu thấy mặt nàng ta lột đầy vẻ ghen tuông, thật không ngờ được rằng sau khi Tề Dư bị đối xử lạnh nhạt lại trở nên thù hận, tức tối lồng lộn điên cuồng đến như vậy.
Thân Hậu vội dừng bước, thân mật nắm tay nàng ta nói: “Đại Vương sủng ái Bao Tự, chúng ta làm gì được Đại Vương cơ chứ?”
Tề Dư tức tối: “Chúng ta không làm gì Đại Vương, nhưng phải nghĩ cách để trị cái con tiểu yêu tinh kia chứ! Nói xấu nó, mắng nó, mời thầy bỏ bùa, dùng âm khí để bắn chết nó, dùng thuốc độc để đầu độc, làm cho nó khó ăn khó ở, ăn không ngon ngủ không yên, phát mủ chảy máu, khiến cho nó đau đớn, nói năng linh tinh rồi sẽ chết!”
Thân Hậu cười nói: “Tề phu nhân cũng chỉ nói cho bõ tức thôi, có giỏi thì làm thật cho ta xem xem”.
Đôi mắt Tề Dư đưa đi đưa lại, giảo hoạt nói: “Đúng thật, đúng thật! Cũng chỉ là lời nói chút lưỡi đầu môi, nói thì ai mà chẳng nói được. Thôi chẳng bàn đến chuyện này nữa. Hôm nay là sinh nhật của Thái tử, em cũng đến để cùng chị chung vui, em cũng có món quà xin chúc mừng!”
Thân Hậu đứng một mình ở hành lang hậu cung đang mải suy nghĩ thì bị một cung nữ va phải. Mấy ngày nay, tâm tư của Thân Hậu đang mải nghĩ về chuyện của Chu U Vương và Bao Tự, nên lúc đi lại hay làm việc gì đều không để tâm.
Bị va mạnh bà như chợt tỉnh giấc mộng, nhìn kỹ hoá ra con hầu tên Quyên Chi mới vào Phụng Minh Các. Đứa cung nữ mặt vẫn còn nét ngây thơ này vội vàng giấu bó rau dại đang ôm trong lòng, nhưng không ngờ dải váy bị tụt nên bó rau rơi hết xuống đất. Quyên Chi biết đã đụng phải thánh giá của Hoàng hậu nên vội quỳ xuống tạ tội. Thân Hậu nhặt bó rau dại đó lên, đó là rau hao tử tên là hương chi bồng. Hồi nhỏ lúc còn ở quê nhà bà cũng thường nhìn thấy loại rau này ở vùng sơn dã, từng khóm từng khóm một, mọc khắp cả vùng núi, khi ra hoa trông rất rực rỡ, hương thơm bay khắp nơi. Nhưng lá và cành của loại hoa này vô cùng độc, nếu dùng nước ngâm cành hoặc lá cây này trộn với thức ăn thì sau khi chuột ăn phải lập tức chết ngay. Thân Hậu trả lại những thứ đó cho Quyên Chi nói: “Bọn trẻ các ngươi đều không biết được loại rau này rất độc, đừng đem nó ra làm trò chơi”.
Quyên Chi đỡ lấy bó rau vội vàng nói mấy tiếng “tạ ơn Vương hậu nương nương” rồi đứng dậy đi tiếp.
Khi Thân Hậu về đến cung thì thấy Nghi Hữu đùng đùng nổi giận cùng thầy Kế Nhiên kể cho bà nghe một chuyện mà mọi người trong cung đều đang bàn luận. Nước Tần dùng vũ lực để cướp mất lúa mạch của nước Bao, nay nước Bao quyết định tấn công nước Tần. Để rút ngắn đường đi nên phải mượn đường đi qua Phong Cảo. Tướng quân của nước Bao hết sức lo sợ vội đến Phong Cảo, nhưng không gặp được Chu U Vương bèn cống đến hàng trăm lượng vàng, 10 con ngựa tốt, châu lụa 10 thếp, mỹ nữ 10 cô cho Quắc Thạch Phụ. Quắc Thạch Phụ vốn biết Bao Tự đến từ nước Bao nên đã nhận món lễ vật đó và nhận lời. Hai mươi vạn quân của nước Bao, chiến xa thì chắc ngựa chiến thì sung mãn hùng hùng hổ hổ tiến qua Phong Cao, đến thành Bình Dương của nước Tần sớm hơn hai ngày. Trong thành Bình Dương chỉ có một vạn quân binh. Tần Vương cũng không ngờ rằng quân nước Bao tiến đến thần tốc như vậy, đợi đến khi quân tiếp viện không quản ngày đêm đến được thành Bình Dương và sau khi thành Bình Dương bị công phá thì vội ôm của cải, lương thực gái đẹp chạy ra khỏi thành Bình Dương.
Thân Hậu nghe xong, bán tín bán nghi hỏi lại: “Chuyện này có thật sao?”
Kế Nhiên miêu tả sinh động: “Hai mươi vạn đại quân của nước Bao khí thế hừng hực, khi đi qua Phong Cảo thì bụi bay mù trời, phủ dầy cả các mái ngói của thái miếu. Dân trong thành chen chúc nhau người đông như nêm đứng hai bên đường xem cảnh náo nhiệt.”
Nghi Hữu nói: “Quả đúng như vậy”. Thân Hậu nghe xong rất đỗi lo sợ: “Nếu quả thật Quắc Thạch Phụ cho giặc đi qua thì quả là đã vượt quá quyền hạn của ông ta mà làm càn rồi!”
Kế Nhiên khẳng khái bẩm: “Khởi bẩm Vương hậu nương nương, không chỉ có như vậy mà nguy hại hơn là việc cấu kết với vua Tần sẽ gây hoạ lớn cho nước Chu ta!” Nghi Hữu tiếp: “Việc này có lẽ phụ vương cũng chưa biết!”
Trong lúc ba người còn đang bình phẩm việc cho nước Bao mượn đường thì tên thái giám thường hầu ạh bên cạnh Chu U Vương sấp sấp ngửa ngửa đến gặp Thân Hậu, mời thái tử Nghi Hữu và Kế Nhiên vào triều nghị sự. Hoá ra, nước Tần bị lâm vào thế bất lợi, sau khi biết rằng nước Chu cho nước Bao mượn đường thì Tần Vương trong lúc tức giận đã phái hai mươi vạn quân bao vây chặt Phong Cảo, bắt Chu U Vương phải bồi thường tổn thất với hàng nghìn lượng châu báu.
Khi Quắc Thạch Phụ mặt cắt không còn hột máu bẩm báo với Chu U Vương rằng quân Tần đã bao vây chặt Phong Cảo thì Chu U Vương đang ở trong Phụng Minh Các cùng Bao Tự hát múa hưởng lạc. Sau khi nghe bẩm báo, Chu U Vương tưởng như sấm đánh bên tai, sợ quá toàn thân toát cả mồ hôi. Ông ta vội vàng đẩy người đẹp như tiên giáng thế ra, bắt bọn thái giám và lính hầu dìu mình lên thành để nhìn xuống phía dưới. Ông ta nhìn thấy quân Tần đông như nêm, bụi bay mù trời, rợp cả trời cờ Tần, áo giáp sáng loáng, bài binh bố trận, chiến xa san sát. Chu U Vương căm phẫn nói: “lại một phen làm loạm nữa rồi!”
Vị Thiên tử của Chu triều này vẫn không biết trên núi Ly Sơn đang dành cho ông ta một nơi yên nghỉ ngàn thu. Còn lúc này ông ta đang khoa chân múa tay đạo diễn một màn kịch sử diệt vong “quyền lực bá vương như mặt trời gác non tây”.
Vào khoảng thế kỷ thứ 11 trước CN, Chu Vũ Vương Cơ tiêu diệt Thương Trụ lập nên triều Chu, sau đó nối tiếp nhau các đời Vũ Vương, Thành Vương, Khang Vương, Chiêu Vương, Mục Vương, Công Vương, Ý Vương, Hiếu Vương, Di Vương, Lệ Vương, Tuyên Vương, U Vương, tổng cộng mười hai đời. Hồi đó toàn bộ ruộng đất và nô lệ trên cả nước đều thuộc về quyền sở hữu của thiên tử Chu.
Đúng như trong cuốn “Thư Kinh. Bắc Sơn” có viết rằng: “Ruộng đất trong khắp thiên hạ, không đâu là không thuộc đất của vua; còn ở những vùng duyên hải là thuộc quyền cai quản của Vương thần”. Thiên tử Chu phân cho tầng lớp quý tộc dưới mình những người có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ thân thuộc với thiên tử các vùng khác nhau của mọi miền đất nước. Những người này được gọi là chư hầu; các chư hầu lại cử những người có quan hệ huếyt thống hoặc họ hàng thân thích đến cai quản các vùng đất được phân, những người này được gọi là Khanh hoặc Đại phu; những Khanh hoặc Đại phu lại tiếp tục phân đất cho những người có quan hệ huyết thống hoặc họ hàng thân thích đến cai quản các vùng được phân, những người này được gọi là Sĩ hoặc Gia thần… Cái kết cấu xã hội thời Chu về chế độ phân chức vị, phân đất đai này cũng giống như một mô hình của Kim tự tháp. Chu Vương là người cao nhất có quyền uy tối cao, chỉ cần ban bố mệnh lệnh cho các Chư hầu thực hiện, vênh mặt hất hàm sai khiến, có quyền lực vô song. Lễ nhạc, chinh phạt chỉ cần Chu Vương nói một tiếng là đâu vào đấy. Các Chư hầu có nghĩa vụ là ngoan ngoãn vâng lời, phục tùng mệnh lệnh. Khi Chu Di Vương lâm bệnh, thì các Chư hầu phải tổ chức buổi tế lễ tại nước mình cai trị, cầu cho Chu Vương tai qua nạn khỏi. Nếu các Chư hầu có điều gì bất cẩn thì sẽ bị Thiên tử Chu trừng phạt nghiêm khắc. Tề Ai Hầu chỉ biết suốt ngày săn bắn, du ngoạn, hoang dâm, không hiểu lễ pháp, Chu Di Vương liền cho triệu tập các Chư hầu lại, lôi Tề Ai Hầu ra ném vào đỉnh dầu ngay trước mặt các đại thần, bọn Chư hầu thất kinh khiếp đảm, mặt trắng bệch cắt không còn giọt máu. Nhưng đến cuối thời Chu, đặc biệt là thời Chu U Vương mà chúng ta vừa nói đến ở trên, sau khi ông ta bị giết hại thì chín cái đỉnh cửu đỉnh bị đổ theo, miếu tổ tông cũng hoang vắng, vương quyền sụp đổ, hữu danh vô thực. Hàng trăm các Chư hầu lớn bé đều không thèm quan tâm đến Thiên tử nữa. Họ bắt đầu tranh giành nhau, chém giết lẫn nhau. Theo sự ghi chép cúa cuốn “Xuân Thu”, trong vòng hai trăm bốn hai năm có bốn trăm tám ba cuộc chiến tranh giữa các Chư hầu, có năm trăm linh bốn cuộc họp liên kết đồng minh của triều đình.
Lã Bất Vi được sinh ra giữa lúc vương quyền của Tây Chu phát triển lên đến đỉnh điểm và bắt đầu chuyển sang xã hội chính trị đa trị: Xuân thu chiến quốc.

(Còn tiếp)
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
Quyển 1 (tiếp theo)

Khổng Tử người nước Lỗ, đã từng chu du khắp vùng núi nước Tần khi đi du ngoạn nhìn những đám mây lơ lửng đã có bài văn rằng: “Thiên hạ hữu đạo, tắc lễ nhạc chinh phạt tự Thiên tử xuất; Thiên hạ vô đạo, tắc lễ nhạc chinh phạt tự Chu hầu xuất. Tự Chu hầu xuất, cái thập thế hy bất thất hĩ; tự Đại phu xuất, ngũ thế hy bất thất hĩ; bồi thần chấp quốc mệnh, tam thế hy bất thất hĩ. Thiên hạ hữu đạo, tắc thứ nhân bất nghị”. Vị thánh nhân nhìn xa trông rộng này nói thật sâu xa, nếu chúng ta đi sâu vào giải thích thì câu trên có nghĩa: “Ví như thiên hạ thái bình thì những việc như lễ, nhạc, hiệu lệnh chinh phạt… đề do Thiên tử quyết định; nếu như thiên hạ hỗn loạn thì việc lễ, nhạc, chinh phạt là quyết định bởi các Chư hầu. Khi Chư hầu quyết định việc lễ, nhạc, chinh phạt thì đến khoảng đời thứ mười rất hiếm có người kế tiếp; nếu những việc đó do Đại phu quyết định thì rất hiếm truyền được đến đời thứ năm. Nếu như Gia thần của Đại phu nắm quyền lực quốc gia thì rất ít truyền được đến đời thứ ba. Thiên hạ thái bình, quyền uy không còn nằm trong tay của Đại phu, nếu như vậy, thì nhiều người sẽ không bàn tán xôn xao”. Chúng ta hãy lấy luận đoán này trong cuốn “Luận ngữ, Lý Thị” của Khổng Tử để phân tích cục diện của Xuân thu chiến quốc, thì quả là Khổng Tử đã thật sự thấy trước được đặc trưng phát triển của thời đại. Vậy mà sự phát triển này lại đi ngược với những lý tưởng chính trị của vị đại thánh nhân này. Lễ, nhạc, bị bại hoại. Kì lân (1) con vật được tôn quý như vậy cũng bị mọi người tranh nhau săn bắn, Khổng Tử cũng không thể làm gì được chỉ biết than dài: “Cái đạo của chúng ta hỏng thật rồi!”
Chu U Vương từ đầu thành trở về đại đường trong cung Hổ Tước. Mặt ông ta hầm hầm, cáu giận với bá quan văn võ dưới điện, quăng hết những bản tấu nghiên, bút… xuống đất, bọn cung nữ đứng sau đứa nào đứa nấy thất kinh biến sắc. Sau một lúc im lặng, Chu U Vương lo sợ đảo mắt khắp cả quần thần dưới điện, cuối cùng mới cất lời: “Tần Vương quả là một kẻ vong ân bội nghĩa! Quả nhân đối đãi với anh ta không còn gì đáng chê trách, giúp anh ta liên minh các chư hầu, hơn một trăm quốc quân chọn hắn làm minh chủ; thanh minh tổ chức tế lễ cũng mời hắn đến tham dự; mỗi lần quả nhân ban thưởng đều không quên phần của hắn; mùa thu khi đi săn bắn còn mời hắn ngồi trên chiến xa của quả nhân… Nhưng tên loạn thần tặc tử này lại lấy oán đền ơn, dấy binh thảo phạt quả nhân!”
Quắc Thạch Phụ quỳ xuống bẩm: “Lời của Đại Vương thật có lý, hiện nay việc cấp thiết trước tiên là phải điều binh để bảo vệ xung quanh Cảo Kinh, đánh tan quân Tần để bảo vệ sự an toàn của xã tắc”.
Kế Nhiên cướp lời: “Quân binh trong thành Cảo Kinh chưa đầy mười vạn, nếu đánh một trận lớn với quân Tần thì như trứng chọi với đá thôi. Bây giờ chỉ còn cách tới núi Li Sơn đốt lửa báo động, gõ chiêng đánh trống để triệu tập các Chư hầu lại, kêu họ phái binh tới cứu giá!”
Đối với một tên vua không bao giờ quan tâm đến việc triều chính như Chu U Vương như vậy nhưng khi ra lệnh thực hiện biện pháp của vị đại thần học sĩ cũng không lấy gì làm khó khăn lắm, vội phái binh tướng đến Li Sơn trước. Chu U Vương thấy các triều thần của mình hành quân thần tốc như dòng chảy xiết liền tưởng tượng khi đến nơi sẽ có hàng nghìn vạn quân tướng đứng hai bên những con đường nhỏ uốn lượn như rắn để nghênh đón thánh giá lên Li Sơn.
Ngọn núi Li Sơn cao chót vót, cỏ cây um tùm, đá núi lởm chởm. Trên đỉnh núi cao tít có mấy chục cái nồi, đặt mấy chục cái trống lớn. Đây là di tích để lại từ đời Chu Lệ Vương; hồi đó bởi vì Tây Nhung rất hùng hậu, nhiều lần đánh phá Cảo Kinh nên ông cho xây dựng những thiết bị này để tiện cho việc triệu tập các Chư hầu xung quanh. Mỗi khi có việc quân cấp bách bèn cho đốt phân sói trong những cái nồi đó; khói bốc tận lên cung mây, các nước Chư hầu thấy vậy liền xuất binh tướng cứu. Rồi lại đánh chiêng đánh trống nhằm giục quân nhanh đến.
Số quân sĩ mà Chu U Vương phái đi đã lên đến núi Li Sơn, châm lửa đốt cháy những đống phân sói trong nồi, một mùi tanh và khai toả khắp sơn cốc, những cột khói cao to lượn lờ bay lên. Tiếp đó là tiếng trống vang trời động đất. Các Chư hầu ở gần Cảo Kinh nhìn thấy tín hiệu trên núi Li Sơn biết là Thiên tử đang gặp nguy hiểm, nên vội vã xuất quân. Nước Sở điều năm vạn quân, nước Trịnh bảy vạn, nước Tề ba vạn, nước Hoạt năm vạn, nước Ngu năm vạn, Thân quốc mười vạn. Thống soái của Thân quốc chính là Thân hầu, em của Thân Hậu. Hàng mấy trăm nghìn quân tướng của các nước Chư hầu rầm rộ kéo đến. Những vị tướng soái tinh nhuệ này khi giáp chiến với quân Tần thì liền hạ lệnh cho quân sĩ bài binh bố trận. Trống trận âm vang, tiếng ngựa chiến hí ầm trời, tiếng kêu la của các tướng sĩ dội lên tận trời xanh. Nhìn qua đã thấy quân Tần nhuệ khí giảm đi rõ rệt, thế trận hỗn loạn. Cướp lấy thời cơ này, tất cả các tướng quân của các nước Chư hầu đồng loạt hạ lệnh tấn công, hàng vạn quan, mà như hổ đói vồ mồi tiến đánh quân Tần. Lúc đó thế trận quân Tần rối loạn, xác chết như rạ trên chiến trường. Cuộc chiến đẫm máu giữa hai bên diễn ra trong vòng ba canh giờ thì kết thúc, sự thất bại nặng nề của quân Tần đã bắt đầu chấm hết cho cuộc chiến.
Trong lúc bại trận quân Tần đang lặng lẽ thu dọn chiến trận rút khỏi Cảo Kinh thì cũng là lúc trong cung Hổ Tước Chu U Vương đang cho bày tiệc thưởng công chiến thắng. Sau khi Chu U Vương hớn hở ban thưởng cho các Chư hầu và những triều thần có công thì những tiếng hô “Kính chúc quốc vương vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!”, vang lên như sấm dậy. Lần đầu tiên được chứng kiến cảnh tượng huy hoàng như vậy, Bao Tự không cầm nổi nước mắt, sau lúc phấn chấn nàng phải đứng dậy múa hát bài “Văn Vương hữu thanh”. Tiếp nối những lời dạo đầu tưởng như đứt hơi khản tiếng của Quắc Thạch Phụ thì hàng trăm vũ nữ đẹp như tiên nga bắt đầu xuất hiện hai bên chính điện.
Bao Tự lộng lẫy và diễm lệ bước ra khỏi bàn tiệc tiến dần đến đại sảnh, nàng đứng giữa đám vũ nữ quả thật như hạc đứng giữa bầy gà, trong tiếng đàn nhạc như đinh tai nhức óc thì vang lên tiếng hát:

Văn Vương hữu thanh,
Duật tuấn hữu thanh,
Duật cầu quyết ninh,
Văn Vương chủng tai!

Văn Vương thọ mệnh,
Hữu thử võ công,
Kí phạt vu sùng,
Tác ấp vu phong,
Văn Vương chủng tai! (2)


Vào lúc này lựa chọn bài hát ca ngợi Văn Vương diệt xong Sùng dời đô đến Phong, Võ Vương sau khi dẹp yên Trụ thì định đô tại Cảo, hai việc lớn này thật là quá hợp. Thêm vào đó là sự biểu diễn uyển chuyển của Bao Tự trong điện không ngớt lời ca ngợi, tán thưởng. Nàng Bao Tự kiều diễm biết rằng những lời tán thưởng đó đều dành cho nàng nên điệu múa lại càng uyển chuyển, khuôn mặt càng thêm phần rạng rỡ.
Sau khi màn hát múa kết thúc, Thân Hầu vốn đã đứng ngồi không yên nay lập tức đứng dậy nói để các quần thần nghe thấy: “Khởi bẩm Đại Vương, trong buổi lễ long trọng mừng chiến thắng này, thần được Đại Vương ban tặng nên thấy vui mừng hết sức. Thần nghe nói, thưởng phạt phải phân minh, có như vậy mới cai trị đất nước một cách anh minh được. Lần này quân Tần dấy binh làm loạn, vây phá Cảo Kinh, đó là do triều đình ta đã cho nước Bao mượn đường. Theo thần được biết đây hoàn toàn không phải là thánh ý của Đại Vương, mà có kẻ mạo giả thánh chỉ! Đối với những kẻ to gan không coi Đại Vương ra gì như vậy cần phải nghiêm trị, để tránh hậu hoạ về sau!”
Những việc như Chu U Vương sủng ái Bao Tự, lạnh nhạt với Thân hoàng hậu, Quắc Thạch Phụ lạm dụng quyền thế cho nước Bao mượn đường… Thân Hầu trong cung cũng đều biết hết, sau lần xả thân cứu giá lần này, ông bèn ở lại cung Thân Hậu nghỉ ngơi và ông ta cũng được biết qua lời kể của hoàng hậu.
Con người nhanh trí như Quắc Thạch Phụ đã hiểu được ngầm ý của Thân Hầu nên vội đứng lên cùng đối chất với Thân Hầu: “Thân quốc quân, tiểu nhân không hiểu ngài nói ra những điều này là có ý gì? Lẽ nào ngài lại có ý muốn trách sự quyết đoán anh minh của Đại Vương sao?”
Ý tứ sâu xa của Quắc Thạch Phụ chính là muốn nói việc cho nước Bao mượn đường là thánh ý của Chu U Vương, những lời nói gian trá, hoàn toàn bịa đặt này đã khiến cho toàn thể triều thần xôn xao bàn tán.
“Nhà ngươi đã giả truyền thánh chỉ!” – Thân Hầu mặt đỏ tía tai quát lớn. “Nhà ngươi có chứng cứ gì cho là Đại Vương không ban thánh chỉ này?” – Quắc Thạch Phụ thản nhiên hỏi lại.
Cuộc tranh cãi giữa hai vị đại thần làm Chu U Vương như bị rơi vào đám sương mù, ông ta lẩm bẩm một mình: “Quả nhân nhận lời chuyện này từ bao giờ chứ?”
Quắc Thạch Phụ nhìn thấy vẻ mặt ngơ ngác của Chu U Vương nên đã nhân cơ hội đó tiếp: “Khởi bẩm Đại Vương, hôm đó lúc Đại Vương cùng phi tử Bao Tự đang ngắm hoa mai ở trong Ngự hoa viên, hạ thần đã dẫn quốc quân của Bao quốc đến yết kiến Đại Vương nhưng Đại Vương không tiếp, người hỏi thần có việc gì. Thần thưa, quân binh nước Bao muốn mượn đường qua Cảo Kinh của ta. Đại Vương bảo thì cứ cho họ mượn là xong!”
Quắc Thạch Phụ nói xong,bèn đưa mắt nhìn Bao Tự cầu xin sự cứu viện, Bao Tự hiểu ý, cũng thêm vào: “Đại Vương người quên rồi sao, đúng là có chuyện ấy. Lúc đó thiếp còn nói đùa một câu rằng không thể cho mượn không được mà phải trả tiền mua đường”.
Chu U Vương đã nói như vậy thì Thân Hầu cũng không tranh luận thêm nữa. Nhưng trong lòng Thân Hầu hiểu rõ Quắc Thạch Phụ và Bao Tự đã thông đồng với nhau, lừa gạt Thiên tử nhằm che đậy những sai trái. Bản nhạc thứ hai bắt đầu cất lên nhưng Thân Hầu không còn hứng thú gì nữa bèn cáo từ, đến thẩm cung của chị gái nghỉ ngơi. Thân Hầu thấy chị gái mặt mày ủ dột, khí sắc kém tươi bèn bảo ngày mai khi khởi quân về nước sẽ xin cho Thân Hậu về cố quốc để giải phiền cho khuây khoả. Thân Hậu bảo việc này phải xin ý của Đại Vương. Nhưng Kế Nhiên đứng bên cạnh nhắc hoàng hậu rằng, năm ngày nữa sẽ là tết trùng cửu (ngày 9 tháng 9), Đại Vương phải đi tế lễ. Mỗi lần như vậy, hoàng hậu nương nương cũng phải đi cùng.
Trước lúc Thân Hầu và chị gái mình chia tay, Thân Hậu vẫn lưu luyến không muốn rời, dặn dò em trai đợi khi nào cùng Đại Vương cúng tế xong sẽ về Thân quốc để giải phiền tĩnh dưỡng. Thân Hầu để ý thấy rằng tuy nói những lời này nhưng trên nét mặt chị gái mình đang giấu một nỗi buồn mà từ trước tới nay Thân Hầu chưa thấy bao giờ, thật kỳ lạ và khó hiểu. Nhưng cuối cùng Thân Hầu cũng hiểu ra cái điều mà chị gái mình đang thiếu.
Cái bụng Bao Tự mỗi ngày một lớn và cuối cùng đã sắp đến ngày khai hoa kết quả. Trước khi đứa bé được ra đời thì tin không biết từ đâu đưa đến rằng: Chu U Vương đã nhận lời với Bao Tự, nếu sinh con trai sẽ lập đứa bé làm Thái tử. Lời đồn đại như vậy truyền đi mọi nơi và đến tai Thân Hầu và nó như tiếng sét ngang tai Thân Hậu và Nghi Hữu. Nghi Hữu như con kiến bị ném vào mồi lửa, nóng lòng muốn đi tìm Thân Hầu để cùng bàn bạc đối sách. Những tin đồn nhảm rác rưởi đó khiến cho Thân Hậu đau đớn vô cùng, ngày ngày than khóc. Kế Nhiên không tin lắm vào lời đồn này, ông nói với Thân Hậu và Nghi Hữu rằng, Bao Tự sinh con trai hay con gái giờ đây vẫn còn chưa rõ, làm sao có căn cứ gì để nói đến việc lập Thái tử. Hơn nữa, việc lập Nghi Hữu làm Thái tử, Đại Vương đã tuyên chiếu khắp thiên hạ. Thiên tử đại Chu, nhất ngôn cửu đỉnh, làm sao có thể sớm ra lệnh tối lại bãi bỏ được? Huống hồ Nghi Hữu giữ gìn phép tắc, chuyên tâm học hành, văn thao võ lược, khoan hậu yêu dân, phàm những ai đã từng tiếp xúc với Thái tử đều phải kính nể, phế cũ lập mới, có cái gì làm căn cứ.
Cho dù câu nào của Kế Nhiên cũng đều có lý, vô cùng sắc sảo nhưng Thân Hậu vẫn cảm thấy không yên tâm, tư tưởng không tập trung, bà muốn yết kiến Chu U Vương để hỏi rõ nguồn cơn.
Hôm nay, Thân Hậu lấy tất cả vàng bạc chấu báu, đồ tế nhuyễn cất từ trong rương ra. Trong đó vẫn còn hai xếp lụa màu mà bà thích nhất. Khi bà vuốt lại tấm lụa mát như ngọc ấy, một ý nghĩ bỗng hiện ra. Bà sai cung nữ mang hai xếp lụa này đến Phụng Minh Các, bà muốn đem tấm lụa quý mang từ nước Tề này tặng cho Bao Tự, có lẽ như vậy sẽ biết thêm chút gì đấy.
Thân Hậu đến Phụng Minh Các thì đã có cung nữ thông báo cho Bao Tự biết. Bao Tự đi đến hành lễ với Thân Hậu, bảo cung nữ nhận lấy chỗ lụa. Mới trò chuyện được vài câu thì Bao Tự lãnh đạm hỏi hoàng hậu nương nương có gì dặn dò. Thân Hậu thấy thái độ không có gì mặn mà của Bao Tự bèn đứng dậy ra về.
Không lâu sau, trong cung có tin đồn rằng Bao Tự đã dùng chỗ lụa đó để may áo cho ngựa của Thiên tử. Thân Hậu bèn sai một cung nữ thân tín nhất đi nghe ngóng, khi đến chuồng ngựa của Phụng Minh Các quả thấy đúng như vậy.
Lúc này, Thân Hậu mới hiểu rõ rằng bà đang bị xúc phạm ghê gớm. Đường đường những tấm lụa mà một vị mẫu nghi thiên hạ ban thưởng lẽ nào chỉ đáng may áo cho ngựa sao? Mấy đêm rồi Thân Hậu thức trắng không ngủ, tự nhốt mình trong tẩm cung, nước mắt ròng ròng. Nghi Hữu cũng đã biết rõ ngọn nguồn của sự việc thông qua đám cung nữ. Sau những đêm trằn trọc không ngủ cuối cùng anh ta cũng nghĩ ra cách để rửa nhục cho mẫu hậu.
Tiếng gà gáy sáng đổ dồn và ý nghĩ muốn báo thù Bao Tự đã làm cho Nghi Hữu giật mình tỉnh giấc. Nghi Hữu bắt đầu chuẩn bị để “ra trận”. Anh ta chân tay rối loạn ngắt hết những bông hoa trong vườn của Phụng Minh Các, hành động của anh ta cũng làm cho lũ ong, bướm giật mình ngơ ngác, những cánh hoa bay lả tả khắp nơi.
Đám cung nữ trong Phụng Minh Các ra ngăn anh ta lại, chúng bảo vườn hoa này là do Đại Vương sai trồng để nương nương Bao Tự thưởng ngoạn. Đám cung nữ đi theo Nghi Hữu cũng không chịu lép vế bảo rằng chính hoàng hậu múôn ngắt bỏ hết chỗ hoa này đi, ai dám ngăn cản. Từ trong phòng Bao Tự đã chứng kiến hết đầu đuôi sự việc, nàng xuất hiện, trông giống như một đoá hoa vĩ đại đang nở trong vườn hoa trước Phụng Minh Các.
Bao Tự bước ra với cái bụng vượt mặt, lớn tiếng: “Kẻ nào dám làm loạn vậy? Trong mắt các ngươi còn có Bao nương nương này hay không?”
Nghi Hữu từ chỗ nấp giữa những cây hoa bước ra, thấy Bao Tự huênh hoang như vậy, mắt anh ta long lên lòng sọc. Vừa nghe thấy bà ta xưng là “nương nương”, bèn chạy nhanh đến nắm tóc bà ta đồng thời thượng cẳng chân hạ cẳng tay, mắng mỏ: “Con tiện nhân này, ngươi chỉ là một đại phu vô danh tiểu tốt vậy mà dám lộng xưng “nương nương”, thật là không biết xấu hổ! Hôm nay bổn Thái tử đến dạy cho ngươi một bài học!”
Cung nữ của hai phe biết rằng Bao Tự đang mang thai rồng, sợ gây ra chuyện không hay, vạn nhất có gì sai sót thì không biết làm sao, vội đồng tâm hiệp lực kéo Nghi Hữu ra. Nghi Hữu đã trút được mối hận trong lòng, khoát tay ra hiệu cùng đám hơn chục cung nữ nghênh ngang bỏ đi.
Bao Tự nhìn thấy cảnh tượng hoa rụng lả tả trên mặt đất, lại còn đầu tóc bù xù bất giác bật oà lên khóc.
Chu U Vương đã lâu không lên triều, hôm nay đột nhiên đến cung Hổ Tước lật giở đống tấu chương cao như núi, sau khi rời cung thì lại gặp Bao Tự đầu tóc rối bời, nước mắt lã chã đòi Đại Vương cứu lấy mạng mình và đứa trẻ trong bụng. Sau khi biết được nguồn cơn sự việc, Chu U Vương cáu giận đùng đùng, mắng Nghi Hữu là đồ súc sinh ngỗ ngược.
Tiếp đó Bao Tự lại thêm thắt bịa đặt: “Thái tử mồm vẫn chưa hết hơi sữa, hành động vô lễ , thô bạo đối với thần thiếp có lẽ là do chủ ý của Vương hậu nương nương và quốc cữu!”
Chu U Vương hạ chỉ phạt Nghi Hữu ba mươi roi, cho đến nước Thân đóng cửa tự suy nghĩ về hành động của mình; Thái học sĩ Kế Nhiên dạy dỗ không nghiêm khắc phạt bãi bỏ chức quan giáng xuống làm thứ dân. Hoàng hậu sau khi cầu xin U Vương niệm tình tha thứ, nhưng bị ông ta lớn tiếng quát mắng, chỉ còn biết đau xót nhìn thấy con trai của mình bị đánh đến trầy da róc thịt rồi bị đưa đến nước Thân mà thôi.
Mấy ngày nay Bao Tự lúc nào cũng cản thấy da thịt ngứa ngáy khó chịu, nàng ta cũng không để ý lắm, cho rằng đó là do nàng đang mang thai; còn Chu U Vương thì nhẹ nhàng xoa xoa giùm nàng. Mấy ngày sau, Bao Tự phát hiện thấy toàn người rộp đỏ, có vài chỗ có nốt nổi lên, sau khi châm cho vỡ thì thấy có nước mủ màu vàng đục chảy ra. Chu U Vương vội cho truyền ngự y đến. Sau khi ngự y khám xong, bảo đây không phải là bệnh lâu ngày khó chữa, chỉ là do khi tắm gội nước độc ngấm vào gây ra bệnh, chỉ cần dùng một ít cao tán là có thể trị khỏi. Chu U Vương cho người kiểm tra lại chỗ hoa cỏ thơm dùng cho Bao Tự khi nàng tắm thì phát hiện trong đó có rất nhiều hoa hương chi bồng độc, bèn cho gọi bốn đứa cung nữ hay hầu hạ Bao Tự lúc tắm lại, tra khảo nghiêm khắc, nếu không khai thành thật sẽ bị xẻ thịt nấu nhừ. Bốn đứa cung nữ này nói chắc như đinh đóng cột, đều nhận là không làm. Bao Tự bảo Chu U Vương, bốn đứa cung nữ này không có gan to như vậy đâu, e là do người ấy làm. Chu U Vương hỏi người đó là ai, Bao Tự nói rằng do Thân Hậu gây ra.
Chu U Vương nổi giận lôi đình cho gọi Thân Hậu đến cung Hổ Tước để điều tra sự tình, Thân Hậu nói bà không hề hay biết gì về chuyện này. Chu U Vương hỏi có phải chính Thân Hậu làm việc này không, Thân Hậu oan ức quá bèn bật oà lên khóc, bà còn thề với trời xanh rằng nếu có ý xấu với Bao Tự thì trời chu đất diệt, chết không yên thân. Bởi vì Chu U Vương chưa có bằng chứng xác thực gì, nên sau khi páhn “đợi ta làm sáng tỏ sự việc rồi sẽ hỏi tiếp” bèn rũ áo bỏ đi.
Chu U Vương trở lại Phụng Minh Các, ngọt ngào an ủi Bao Tự, nói nhất định sẽ tìm ra kẻ nào đã hại nàng, sẽ chặt chân cắt tay, mổ ruột moi tim nó ra để báo thù rửa chục cho nàng. Sau đó ông ta cho gọi quan trấn phủ, quan coi sự việc trong hoàng cung và quan cai quản lũ binh lính bảo vệ bên cạnh Chu Vương lại, bắt họ phải nghiêm khắc tra xét tất cả đám phi tần, cung nữ, thái giám và bọn tạp dịch trong cung.
Chuyện vừa xảy ra với Bao Tự cũng làm Thân Hậu được an ủi đôi chút. Nhưng khi nghĩ đến sự tra khảo ghê gớm của Chu U Vương thì niềm vui nho nhỏ mà bà vừa cảm thấy đã bị nỗi sợ làm tan biến đi. Bây giờ trong lòng bà chỉ còn nỗi lo sợ. Bà ngồi một mình trong thẩm cung để lục lại trí nhớ của mình. Bà nhớ lại cảnh tượng ngày hôm sinh nhật Thái tử, bà đến Phụng Minh Các mời Đại Vương thì đụng phải Quyên Chi. Thân Hậu chỉ nhớ nàng hầu đó tên Quyên Chi còn mặt mũi hay thân thế của Quyên Chi thì bà cũng không được rõ. Thân Hậu đoán việc này mười phần thì có đến tám, chín phần là do con hầu đó làm. Nhưng đứa cung nữ vô danh đó thì có thù hằn gì với Bao Tự cơ chứ? Hay là có người sai nó đi làm chuyện này mà lại dám cưỡi lên đầu hổ? Thân Hậu quyết định đi tìm con hầu đó để hỏi cho ra nhẽ.
Con hầu Quyên Chi này là họ hàng xa của Tề Dư. Trước kia vốn ở Tề quốc trồng sen, sau được Tề Dư tiến cử vào cung làm việc. Thân Hậu đoán quả không sai, chỗ hương chi bồng đó là do nàng bỏ vào. Nhưng điều Thân Hậu không ngờ tới đây chính là do Tề Dư chỉ thị.
Khi thấy Quyên Chi mặt mày thanh tú, trong lòng hoàng hậu thấy hơi buồn, bà thầm khen: “Con bé này quả là xinh đẹp” Quyên Chi vẫn quỳ bên dưới đợi sự cho phép của Thân Hậu. Vương hậu sau khi quan sát Quyên Chi một lượt mới hỏi: “Nhà ngươi là Quyên Chi, cung nữ trong Phụng Minh Các ư?”
Quyên Chi gật đầu. Hai mắt Thân Hậu nhìn chằm chằm vào Quyên Chi hỏi: “Bây giờ trong cung xảy ra chuyện chắc ngươi cũng biết rồi chứ, phi tử Bao Tự bị nước độc của những cành hương chi bồng đó làm cho phồng rộp cả da rồi”.
Lúc bấy giờ Quyên Chi cũn đã nhớ lại chuyện hôm nàng giấu bó hương chi bồng thì đụng phải Thân Hậu, bị bà phát hiện. Nàng cho rằng Thân Hậu đã biết việc nàng làm, việc đã đến nước này thì e rằng cũng như giấy không bọc được lửa. Nghĩ đến đây, nàng không thấy cần phải giấu giếm gì nữa: “Chẳng phải hoàng hậu đến hỏi ai đã cho chỗ lá độc đó vào trong chậu nước tắm của phi tử Bao Tự ư? Khởi bẩm hoàng hậu nương nương, việc này là do Quyên Chi làm, quả thật là do Quyên Chi gây ra!”. “Ai đã sai ngươi làm như vậy?”. “Dạ bẩm không ai sai nô tỳ cả, là nô tỳ can tâm tình nguyện làm”. “Nhà ngươi với Bao Tự chẳng có thù oán gì, tại sao lại hại cô ta cơ chứ?”. “Bao Tự đã dùng tài sắc của mình để mê hoặc lừa dối Đại Vương, làm mất cả kỷ cương xã tắc, lòng dân oán hờn! Nô tỳ nghĩ rằng mọi người và cả Vương Hậu nương nương nữa có lẽ rất căm hận bà ta!”
Mấy câu nói này của Quyên Chi công thêm sự nói năng lưu loát, đứng trước nguy hiểm mà không run sợ đã khiến cho bà cảm thấy mến phục nàng. Thân Hậu bảo: “Bình thân. Đứng dậy nói đi”.
Quyên Chi đứng dậy, mặt nghiêm nghị: “Việc đã đến nước này, muốn chém muốn giết xin tuỳ ý Đại Vương và Vương hậu nương nương!”
Vương hậu cười rất tươi bảo: “Nhà ngươi hãy lui ra đi, việc này chớ nên nói với ai vội”.
Khi Quyên Chi lui ra thì cũng là lúc nàng ý thức được rằng sẽ có máy chém và vạc dầu hay tương tự như vậy đang chờ để róc thịt róc xương nàng. Khi nghĩ đến đây toàn thân nàng bất giác run rẩy. Tội chết chắc không thể tha được. Nhưng nghĩ đến xác thịt của mình bị đày đoạ trước khi chết nàng cảm thấy vô cùng sợ hãi, nàng muốn tự nàng kết thúc vận mệnh một cách nhẹ nhàng. Nghĩ vậy, nàng bèn đi về phía cái giếng gần chuồng ngựa của Phụng Minh Các. Tận mắt nàng chứng kiến một tên thái giám vì phạm tội mà nhảy xuống giếng tự tử, khi được vớt lên, sắc mặt nhợt nhạt như đang ngủ say, chẳng có chút gì đau khổ cả.
Khi Quyên Chi quyết định đi thẳng tới cái giếng đó, nàng dường như ngửi thấy mùi của những cây thực vật mục nát xung quanh giếng, nhìn thấy mảnh trời xanh nho nhỏ trong lòng giếng. Quyên Chi nghe thấy sau lưng có tiếng người gọi nàng, âm thanh đó lúc rõ lúc không, phảng phất bên tai giống như trong ảo mộng. Nàng quay đầu lại nhìn thì thấy một người đàn ông thân hình vạm vỡ như chiếc đỉnh, đã lớn tuổi đi về phía nàng. Nàng biết người ấy, ông ta là Lã Nhượng, là người canh cửa tại Thủ Cung của Phụng Minh Các. Mỗi lần Quyên Chi ra khỏi cung đều thấy ánh mắt thân thiện của người đàn ông có thân hình như con gấu ấy chào nàng, nhưng không hề nói một lời nào.
Lã Nhượng hoảng hốt bảo Quyên Chi: “Hiện nay trong và ngoài cung đang lan truyền rằgn Quyên Chi là người bỏ những cành lá độc đó vào trong nước tắm của Bao Tự, lát nữa Đại Vương sẽ cho người đến bắt cháu, cháu mau chạy trốn đi!”
Bỏ trốn? Điều này Quyên Chi vẫn chưa nghĩ đến. Chạy như thế nào đây? Chạy đi đâu? Ánh mắt Quyên Chi hướng về phía Lã Nhượng như muốn dò hỏi.
Lã Nhượng bảo ông ta có chìa khoá của cửa hậu trong cung, bây giờ muốn để nàng chạy trốn. Ông còn dặn sau đó hãy đến thẳng nước Thân, Thân Hầu và Thái tử Nghi Hữu sẽ giúp nàng ẩn giấu tung tích.
Khi Quyên Chi đã ra đến ngoài vẫn thấy Lã Nhượng đứng chôn chân nhìn ra phía nàng. Nàng chấn chỉnh lại xiêm áo, quỳ xuống đất hướng về phía Lã Nhượng khấu đầu ba cái rồi đi theo con đường quanh co trước mắt, chẳng mấy chốc bóng nàng đã mất hút phía xa.
Nhiều năm sau đó, sau khi nhân vật chính của cuốn sách này – Lã Bất Vi - trở thành một vị tể tướng quyền lực vô biên tiếng tăm muôn trượng, ông ta thường quỳ trước tấm gia phả bằng lụa vàng treo trên bức tường phía nam trong phủ Tể tướng. Nếu lấy đời ông ta làm mốc tính ngược lên trên mười một đời sẽ tìm thấy một vị tổ tiên từng canh giữ cửa Thủ cung cho Bao Tự, vị tổ tiên này chính là Lã Nhượng. Lúc đó Lã Bất Vi liên tưởng đến người cha của ông ta, Lã Hâm đã từng làm người gác cửa Thủ Cung nước Vệ. Ông ta lờ mờ hiểu được rằng lịch sử giàu sang của gia tộc Lã Thị có một chút dư vị của quy luật luân hồi.
Vị tổ tiên tốt bụng, giúp người lúc hoạn nạn của Lã Bất Vi sau khi giúp cho Quyên Chi chạy trốn, lại khoá cửa lại như cũ. Lã Nhượng biết rõ rằng một trận trừng phạt kinh thiên động địa sẽ diễn ra trong bốn bức tường của cung điện nguy nga tráng lệ này.
Sau khi Quyên Chi đi khỏi, Thân Hậu luôn luôn nghĩ tới và cảm thấy nếu để cho người cung nữ dũng cảm phi phàm này trở thành hồn ma dưới lưỡi đao của Đại Vương thì thật là đáng tiếc và có tội. Bà quyết định sai cung nữ sang mời Tề Dư để cùng bàn bạc làm thế nào để cứu Quyên Chi. Con hầu trở lại rất nhan, lúc trở về mặt cắt không còn hột máu kể lại với Thân Hậu. Quyên Chi bỏ trốn thoát tội, nhưng Tề Dư bị Đại Vương trừng phạt, bà ta bị ném vào chảo dầu nấu chín.
Sau khi cung nữ lui ra, bỗng nhiên bà nhớ tới một câu mà thái học sĩ Kế Nhiên dạy Thái tử Nghi Hữu học bài: “Kinh tâm động phách”(3).
Dưới bầu trời thu xanh thăm thẳm, từng đàn chim nhạn bay từ bắc sang nam, sau những tiếng kêu thê lương những thân chim như những chiếc mỏ neo từ từ hạ xuống hai bên đường từ Cảo Kinh đến Li Sơn. Đội ngũ cúng tế với lọng, cờ quạt rực rỡ của Chu U Vương cũng đang đi về nơi cần đến.
Từ trước tới nay chưa bao giờ thấy có mặt Bao Tự tại buổi tế lễ trùng dương hàng năm, bà ta luôn mong ngày này để có dịp tham dự vào không khí náo nhiệt. Một số đại thần khuyên Chu Vương, Bao Tự bụng đang mang thai, nên sắc khí không được trong sạch e sợ sẽ làm ô ếu đến các đấng thần linh. Hơn nữa không đem theo Thân Hậu đi cùng cũng là đã làm trái với lễ nghi. Quắc Thạch Phụ đỡ lời: lễ, nhạc chinh phạt đều do Thiên tử quyết định; những lời, những việc mà Đại Vương đã nói và làm đều là những điển lễ mà vạn dân phải tuân theo. Trước khi khởi hành, Chu Vương ban chiếu, cho Bao Tự đi cùng thánh giá đến lễ tổ ở Li Sơn còn Thân Hậu ở hậu cung muốn làm gì thì làm.
Thân Hậu thấy Chu Vương chỉ mang theo Bao Tự đến Li Sơn, bỏ mặc mình ở lại thì trong lòng sốt ruột không yên. Sau khi Chu Vương khởi hành, bà quyết định đến Thân quốc, chỗ của Thân Hầu nghỉ ngơi, đồng thời thăm Thái tử Nghi Hữu. Sau khi chuẩn bị chu tất bèn cho người đi sửa soạn chiếc kiệu long phụng có người khiêng chuyên dùng cho hoàng hậu; đến lúc đó mới hay chiếc kiệu đó đã dành cho Bao Tự đi Li Sơn rồi, bà đành phải ngồi kiệu do xe ngựa kéo dành cho đám phi tần. Đoàn người của Thân Hậu rầm rập tiến đến cửa thành của Thân quốc, một cung nữ đến báo cho tên lính coi giữ cổng thành. Ngày trước Thân Hậu đi đâu đều dùng kiệu long phụng, như vậy mới xứng đáng với thân phận của bà. Lần này bọn coi thành thấy đâu không phải là kiệu long phụng mà kiệu sơn đỏ dành cho bọn phi tần nên người ngồi trên kiệu kia nhất định không phải là hoàng hậu nương nương, nên chúng không cho đi qua, Đám cung nữ cũng cãi lý với bọn lính gác, Thân Hậu thấy vậy bèn vén rèm kiệu lên, hé mặt ra hỏi có chuyện gì: Lẽ nào chúng ta giả mạo không thành ư? Bọn lính lúc đó mới nhận ra đúng là hoàng hậu nương nương tôn quý nên vội cúi chào nhường đường.
Khi Thân Hậu đến phủ Thân Hầu thì thấy Thân Hầu đang cùng đám văn võ quan bàn vịêc khai hoang trồng trọt. Hồi đó là “đất đai trên khắp thiên hạ đều là đất của vua”, ruộng đất trên toàn quốc được phân thành những ô vuông giống như chữ “tinh” (nghĩa là giếng), ruộng đất này đều thuộc quyền sở hữu của Chu Vương, Chu Vương phân cho các Chư hầu, mỗi năm họ phải nộp một khoản thuế nhất định. Cùng với sự nâng cao về năng lực sản xuất, đặc biệt là việc sử dụng những dụng cụ làm bằng sắt trong việc cày ruộng và trồng trọt, một số chư hầu đã bí mật khai hoang để thêm ruộng, vì vậy ngoài những thửa ruộng chữ “điền” thì bắt đầu xuất hiện một số lượng lớn “tư điền” (ruộng riêng). Lúc mới đầu, Chu Vương không chấp nhận “tư điền”. Nhưng về sau “tư điền” càng ngày càng nhiều, Chu Vương chẳng còn cách nào khác đành phải thu thuế đất, điều này chứng tỏ trên thực tế đã chấp nhận sự tồn tại của “tư điền”, như vậy, cơ sở kinh tế của triều Chu - chế độ “tỉnh điền” - bắt đầu bị tan vỡ. Số lượng “tư điền” mà các chư hầu có thường thường trở thành một loại tượng trưng cho uy vọng và thực lực của người đó.
Chiếc xe chở Thân Hậu dừng hẳn, Thân Hậu được đám cung nữ dìu xuống xe. Vừa xuống xe đã thấy Thân Hầu và toàn bộ gia quyến quỳ đón trước cửa phủ tự bao giờ, tiếp đó là những tiếng hô: “Chúc Vương hậu nương nương thiên tuế!”
Những vết thương trên người Nghi Hữu đã lành, cậu ta chạy lại sà vào lòng Thân Hậu. Hai mẹ con ôm nhau mà khóc, nhiều người đứng xung quanh cũng không khỏi ngậm ngùi. Thân Hầu dìu Thân Hậu vào trong phòng khách, đuổi hết bọn lâu la ra ngoài, hai chị em cùng nhỏ to chuyện trò. Lát sau một cô ra bái kiến Vương hậu, Thân Hậu giật bắn mình, đây không phải là cung nữ Quyên Chi sao? Nếu che giấu tội nhân mà Chu U Vương đang cho cáo thị thì sẽ bị chu di chín đời. Thân Hậu cố hết sức lấy lại bình tĩnh, vui vẻ hoà nhã trò chuyện cùng Quyên Chi. Quyên Chi kể lại rằng nàng thoát thân được là do Lã Nhượng – người trông coi cổng cugn đã giúp nàng. Sau khi Quyên Chi lui ra, Thân Hậu lo sợ nói với em trai, nếu Đại Vương biết chúng ta giấu Quyên Chi ở đây thì toàn gia tộc e khó tránh khỏi tội chết. Thân Hầu đáp, Quyên Chi là một cô gái hiệp nghĩa, đã trừng trị được Bao Tự, mặc dù chưa giết được con yêu nữ ấy nhưng cũng đã thay chúng ta rửa hận. Lúc cô ấy gặp khó khăn xin đến nương nhờ lẽ nào chúng ta không giúp. Em đã để cô ta ở ngôi nhà phụ, không ai có thể biết được.
Ánh nắng mùa thu không đủ rực rỡ nhưng khi chiếu vào những bộ trang phục điểm vàng dát bạc của Thân Hậu cũng làm cho bộ trang phục sáng lấp lánh. Ở trong phủ của Thân Hầu, lánh xa những phiền toái, lo âu nơi Cảo Kinh, bà cảm thấy lòng nhẹ nhõm, khoan khoái hẳn, bà cảm thấy lòng mình như đứa trẻ, không phải lo lắng gì. Thấy bảo hôm nay Thân Hầu muốn đến chỗ khai khẩn đất hoang ở núi Nam Sơn phía ngoài thành để thị sát, bà cũng muốn đi để tận mắt thưởng thức cảnh mùa thu ở nơi xa xôi đó xem sao.
Đi ra khỏi thành về phía Nam, ở nơi dưới chân núi có tên là Lạc Phụng Pha có hàng trăm người và nô lệ của Thân Hầu đang chặt cành, phát bụi, cày ruộng một cách miệt mài. Những con người khai phá này quần áo lam lũ, đầm đìa mồ hôi, khi bọn họ biết trong đám quý tộc xa xa kia có Thân Hậu nương nương và tướng quân Thân quốc thì họ hân hoan nhảy nhót, không ngừng giơ những bàn tay còn dính đầy bùn đất lên vẫy vẫy.
Thân Hậu sau khi chứng kiến sự nồng nhiệt tiếp đón của bọn họ, bắt đầu đi thưởng ngoạn cảnh sắc nơi vùng núi xanh biếc dưới ánh nắng trong trẻo. Thân Hậu dừng chân bên cạnh một dòng suối nhỏ, nước suối trong như ngọc, nghe tiếng nước róc rách chảy lòng bà cảmt hấy nhẹ nhõm khoan khoái vô cùng.
Lúc đó có tên quân uý giám sát việc thi công quỳ bẩm với Thân Hậu và Thân Hầu, rằng trong lúc đào đất mọi người phát hiện được vô số ngọc thạch. Thật là ngoài mong muốn khiến cho hai chị em Thân Hậu vui đến nỗi cứ hoa chân múa tay. Họ cũng không còn để ý đến cảnh đẹp xung quanh mà chạy nhanh đến chỗ ngọc thạch được xếp từng đống từng đống. Những viên ngọc thạch thật đẹp mỗi viên một màu sắc, ánh sáng của chúng làm cho người ta loá cả mắt. Chúng được xếp thành từng đống từng đống. Thân Hầu ra lệnh tiếp tục đào, cuối cùng phát hiện đây là một cánh đồng ngọc thạch sâu và dài.
Thân Hầu lập tức sai người về giết lợn mổ dê làm vật tế lễ, bày tiệc rượu cúng trời và tổ chức buổi lễ khai thác ngọc thạch.
Đây quả là một món của cải kếch sù ngoài sự tưởng tượng!
Tại Tây Chu, ngọc được dùng để làm đồ tế lễ, tín vật, đồ trang sức và tiền tệ, được mọi người rất coi trọng, đồng thời có giá rất cao. Trong “Chu Lễ. Xuân Cung. Đại Tông Bá” có ghi lại rằng: “Ngọc được chế biến thành sáu loại, để cúng tế bốn phương trời đất: Màu xanh lam dùng để tế trời, màu vàng nhạt dùng để tế đất, màu xanh da trời để tế phía Đông, màu đỏ để tế phía Nam, màu trắng để tế phía Tây, màu vàng đậm để tế phía Bắc”. Đồng thời, việc dùng ngọc cúng tế này chỉ phục vụ cho chế độ đẳng cấp, “Ngọc được coi như sáu điều may mắn, để phân biệt các nước láng giềng, Vua dùng ngọc khuê, Công dùng ngọc hoàn, Hầu dùng ngọc tín, Bá dùng cung khuê, Tử dùng cốc bích, Nam dùng bạc bích”. Ngoài ra ngọc còn được tầng lớp quý tộc coi như tín vật dùng cho việc cưới hỏi, điều động quân sự… Ngọc dùng vật trang trí thì công dụng lại càng rộng rãi. Trong cuốn “Lễ kí. Ngọc Tảo” có viết: “Quân tử ngày xưa phải đeo ngọc trên mình… Nếu không có biến cố gì thì ngọc bất ly thân”.
Có thể thấy rằng hồi đó việc đeo ngọc được mọi người, đặc biệt là tầng lớp quý tộc hết sức coi trọng. Hồi đó, trên các lễ vật phải có hai miếng ngọc tương đồng với nhau, hai bên trái phải của phần eo, mỗi bên đeo một miếng. Mỗi miếng ngọc đều được đeo bởi sợi dây gai. Trên đầu dây đeo miếng ngọc hình bán cung, gọi là Hoành (tức viên ngọc nằm ngang), hai bên đầu của Hoành mỗi bên treo miếng ngọc tròn, màu xanh, gọi là Hoàng (vòng ngọc hình bán cung), ở giữa dây xâu hai miếng ngọc, gọi là Xung Nha. Đeo dây ngọc này vào khi bước đi thì miếng ngọc Hoàng và Xung Nha sẽ đập vào nhau, phát ra những âm thanh trong trẻo, tượng trưng cho sự phú quý và nho nhã.
Khi Thân Hậu trần đầy hứng khởi cầm những viên ngọc thạch lên xem thì trong đầu bà hiện lên những hình ảnh vừa đep vừa quý phái gắn liền với ngọc.
Sau này rất lâu, Lã Bất Vi mạo hiểm ca tính mạng để bắt đầu nghề kinh doanh châu ngọc. Địa điểm đầu tiên ông ta mua hàng chính là cánh đồng ngọc Lạc Phụng Pha này. Chỉ có điều là bấy giờ nơi đây không phải vùng đất hoang vu nữa mà đã trở thành một thị trấn buôn bán nhỏ có quán xá, nhà trọ tương đối sầm uất. Khi Lã Bất Vi mua những miếng ngọc được chạm trổ tỉ mỉ với những hình dáng muôn hình vạn trạng thì cũng đã được nghe những truyền thuyết xa xưa về việc khai khẩn cánh đồng ngọc này. Nhưng ông ta không tin vào câu chuyện rằng Vương hậu nương nương dùng những ngón tay như búp măng của mình xoa xoa vào những viên ngọc thạch vẫn còn dính bùn đất, và ông ta cho rằng đó là sự hư cấu của người đời sau.
Khi Thân Hầu đang cùng với đám quần thần bàn bạc tìm cách mở rộng vùng đất kinh doanh thì tại cung vua ở Lỳ Sơn, Chu U Vương và Bao Tự vui mừng khôn siết khi nghe thấy tiếng khóc to khoẻ của một đứa trẻ mới chào đời. Một buổi chiều tà, sau một tháng tế tổ, Bao Tự đã sinh hạ được một bé trai đặt tên là Bá Phục. Đây là kết quả mong đợi của những cuộc mây mưa thâu đêm suốt sáng giữa Chu U Vương và Bao Tự.
Vào một ngày sau khi trở về kinh thành, Quắc Thạch Phụ nói với Chu U Vương: “Khởi bẩm Đại Vương, thần có một điều không rõ khiến thần băn khoăn bấy lâu nay. Bao Tự nương nương tuy sinh hạ được quý tử nhưng làm sao mà vẫn không vui, đến một nụ cười cũng chẳng có”.
Chu U Vương nghe xong như sực tỉnh nói: “May mà ái khanh nhắc nhở quả nhân mới phát hiện ra, hà cớ gì mà Bao Tự chẳng cười. Từ ngày vào cung đến nay, ta chưa bao giờ thấy nụ cười của nàng cả”. Quắc Thạch Phụ lắc đầu nói: “Thật là kỳ lạ”. Chu U Vương lập tức khởi giá đến Phụng Minh Các, hỏi với giọng điệu đầy nghi ngờ: “Ái cơ, vì sao mà từ trước tới nay quả nhân chưa bao giờ thấy nàng cười?” Bao Tự trả lời: “Thần thiếp không thích cười, từ xưa đến nay chưa bao giờ cười cả”. Chu U Vương thề thốt: “Quả nhân sẽ làm cho nàng cười”. Bao Tự nói: “Thần thiếp e rằng Hoàng thượng không đủ bản lĩnh thôi”.
Chu U Vương nghe nói Bao Tự thích nghe âm thanh của vải lụa bị xé liền lệnh cho Tổng thái giám đem một trăm cuộn vải lụa vào cung, sai cung nữ xé từng cuộn. Khi nghe thấy âm thanh vừa trong vừa giòn, Bao Tự rất chăm chú. Chu U Vương thăm dò sắc mặt của Bao Tự nhưng vẫn không thấy nàng cười. Chu U Vương lại gọi đến mười người lùn bảo họ kể chuyện cười với những động tác kỳ quái, họ làm trò suốt một ngày một đêm, Chu U Vương, Quắc Thạch Phụ và các thái giám cung nữ đều ôm bụng cười ngật ngưỡng nhưng Bao Tự vẫn không hề hé môi, vẻ mặt vẫn bình thản. Chu U Vương lại gọi một gánh xiếc đến biểu diễn. Các chú hề với những động tác nhào lộn trên không trung rất sống động khiến cho mọi người vô cùng thích thú nhưng Bao Tự vẫn không hề cười.
Chu U Vương nghĩ mãi không ra cách nào, bèn ra cáo thị khắp trong ngoài cung: ai có thể làm cho Bao Tự cười sẽ được thưởng một trăm lạng vàng. Cáo thị đã được ban ra vài ngày nhưng không ai dám đến. Quắc Thạch Phụ nghĩ nát óc cuối cùng cũng tìm ra một cách, liền nói với Chu U Vương: “Đại Vương hãy cùng với Bao Tự nương nương di giá đến Li Sơn, đốt khói phân sói lên, các nước chư hầu lân cận ắt sẽ nghĩ Kinh đô có biến động lập tức phái quân đến Li Sơn tiếp viện. Khi quân đến nhưng không có chuyện gì xảy ra, Bao Tự chắc chắn sẽ cười”.
Chu U Vương nghe xong liền nhìn chằm chằm vào mặt Quắc Thạch Phụ đang đầy những nếp nhăn trên trán, Chu U Vương kinh ngạc đến lạ lùng: làm sao vị cận thần này lại có thể nghĩ ra được một cách thông minh, một diệu kế tuyệt vời đến vậy. Quắc Thạch Phụ bị vua nhìn chằm chằm luống cuống, líu lưỡi nói: “Đại Vương, điều này…”. Chu U Vương mặt mày rạng rỡ nói: “Tuyệt quá, tuyệt quá!”
Ngay đêm đó Chu U Vương cùng với Bao Tự đến Li Sơn, sai người đốt ba mươi đống khói phân sói. Ngay lập tức ánh lửa ngút trời, cả một vùng trời được soi sáng như dải lụa hồng rực rỡ. Các nước chư hầu lân cận cho rằng kinh thành xảy ra chuyện bất trắc liền lập tức điều binh khiển tướng vượt ngày, vượt đêm vội đến Li Sơn. Nhưng chỉ thấy Li Sơn bốn bề im ắng, không hề biến động. Trong cung của Chu U Vương đèn thắp sáng, ca hát vui vẻ., Chu U Vương và Bao Tự lấy rượu làm vui. Quắc Thạch Phụ đứng dựa lan can ở mái hiên lầu hai nói với xuống: “Các vị Quốc Vương chắc hẳn rất kinh ngạc vì không có biến động nào cả. Đây chỉ là do Đại Vương uống rượu nổi hứng phái các vị đến để làm trò tiêu khiển”.
Các vị chư hầu đứng dưới cung của Chu U Vương đưa mắt nhìn nhau đầy bất lực bàn tán xôn xao. Thân Hầu bực tức nói: “Đây chẳng phải là trêu đùa hạ thần đó sao!”
Bao Tự nhờ ánh sáng của ngọn nến thấy các vị chư hầu kinh hồn bất định, đi đi lại lại bất giác đã bật lên tiếng cười. Chu U Vương vui mừng khôn xiết nói: “Nụ cười của nàng thật vô cùng tuyệt diệu!” Đêm hôm đó Chu U Vương và Bao Tự ở lại cung Li Sơn. Nằm trên giường Chu U Vương hài lòng nói với Bao Tự: “Ái cơ, cuối cùng ta đã làm cho nàng cười rồi”. Bao Tự nói: “Đại Vương có thể hàng ngày điều khiển các nước chư hầu đến giúp thiếp cười không? Dù cho như vậy thần thiếp cũng không cười nữa đâu”.
Chu U Vương lúng túng nói: “Như vậy là từ giờ trở đi Ái cơ không bao giờ cười nữa hay sao?” Bao Tự nhân cơ hội nói: “Chỉ có một chuyện khiến cho thần thiếp vui đến suốt đời thôi, không biết Đại Vương có bằng lòng không?” Chu U Vương nói: “Nàng cứ nói đi đừng ngại”. Bao Tự nói: “Lập Bá Phục làm thái tử”. Chu U Vương tiếp lời: “Ta cũng có ý như vậy, thằng Nghi Hữu ngang ngược bất hiếu phải sớm phế truất”.
Ngày hôm sau, Chu U Vương khởi giá hồi cung, tại cung Hổ Tước Chu Vương tuyên bố phế trưởng lập thứ, phong Bao Tự làm Hoàng hậu, lập Bá Phục làm thái tử. Trước biến sự này rất nhiều đại thần trình tấu can gián. Tin tức này truyền đến Thân quốc, trước sự khóc lóc kêu than của mẹ con Nghi Hữu, Thân Hầu lại tỏ ra bình tĩnh. Một mặt Thân Hầu trình tấu chống lại chuyện này: “Tích Kiệt vì cưng chiều Muội Hỉ nên nước Hạ bị diệt vong, vua Trụ vì Đát Kỉ nên mất Thương. Đại Vương nay vì Bao Tự mà phế trưởng lập thứ vừa trái với đạo nghĩa vợ chồng lại làm tổn thương tới tình cảm cha con. Nếu không lấy chuyện của Kiệt, Trụ làm bài học cho hôm nay, thì việc bị diệt vong như Hạ, Thương không phải là chuyện sau này. Mong Đại Vương thu lại lệnh truyền để tránh hoạ diệt vong về sau”. Mặt khác Thân Hầu chuẩn bị binh giáp, liên lạc với các nước chư hầu để đề phòng bất trắc.
Chu U Vương xem xong tấu chương của Thân Hầu vô cùng bực tức. Quắc Thạch Phụ nhân cơ hội đó nói: “Việc Đại Vương đưa Thái tử đi đày, Thân Hầu đã ôm mối hận từ lâu. Nay lại nghe tin Thân Hậu và Thái tử bị phế truất nên có ý làm phản vì vậy mà ông ta mới to gan đánh đồng Đại Vương với Hạ Kiệt, Thương Trụ, bôi nhọ thanh danh của Đại Vương”.
Chu U Vương nghe xong lập tức phái quân đánh dẹp Thân Hầu.
Do sớm chuẩn bị từ trước Thân Hầu liên kết với quân đội nước Tăng và các nước phương Tây nhanh chóng hành động trước, tấn công vào kinh thành. Quân của Thân Hầu thế như chẻ tre không gì chặn được mau chóng tiến vào chân thành. Chu U Vương phải chạy về Li Sơn, lệnh cho quân phóng hoả nhưng quân cứu viện đến lác đác không đáng kể. Quân đội của các nước phương Tây mau chóng chiếm gọn kinh thành, giết chết Chu U Vương ở Li Sơn, vơ vét của cải và bắt Bao Tự đi.
Khi khói lửa còn chưa tan hết, Thái tử Nghi Hữu lên ngôi Hoàng đế với hiệu Chu Bình Vương, năm đó là năm 770 trước CN.
Phụng Minh Các ngày xưa đàn hát náo nhiệt nay bỗng trở thành phế cung xơ xác tiêu điều. Người gác cổng Lã Nhượng mấy ngày nay co rúm lại trong góc cung, kinh hoàng khiếp sợ lắng nghe tiếng va đập của đao kiếm và tiếng chân ngựa trong và ngoài cung Hổ Tước. Ngày Chu Bình Vương lên ngôi rất nhiều người thấy cánh cửa Phụng Minh Các vẫn mở rộng, có một người dáng già nua, lụ khụ vừa nhặt lá khô vừa lẩm bẩm nói: “Thay triều đổi đại rồi”. Đó chính là Lã Nhượng.
Hôm sau khi đang quét sân, Lã Nhượng thấy cạnh đống lá của cây bông có một đôi giày có thêu hình đầu con chim phượng. Lã Nhượng ngẩng đầu lên nhìn, thì ra là Quyên Chi trong bộ quần áo đẹp tuyệt vời, lúc ấy người cung nữ này đã trở thành một vị quốc sắc thiên hương. Sau lưng Quyên Chi là tốp cung nữ rất mực cung kính. Lã Nhượng nói: “Đây không phải là Quyên Chi đó sao?” Các cung nữ nói: “Đối với Hoàng hậu nương nương không được chỉ đích danh”. Việc Quyên Chi trở thành vợ của Nghi Hữu khiến cho Lã Nhượng vui mừng khôn xiết, liền vội vàng quỳ lạy. Quyên Chi nói để tạ ơn cứu mạng Đại Vương ân chuẩn cho Lã Nhượng không phải gác cổng Phụng Minh Các nữa mà theo Thân Hầu làm quan ở Thân quốc.
Lã Nhượng cưỡi ngựa cùng Thân Hầu thắng trận trở về. Cùng đi với Lã Nhượng là thái phó Kế Nhiên. Khi đoàn người đi đến dốc Lạc Phượng, Kế Nhiên nói với Thân Hầu: “Hãy để thần ở lại đây, vừa để thay quốc vương quản lý Ngọc Điền, vừa để trước thư lập thuyết”. Thân Hầu ân chuẩn.
Khi đoàn người tiến vào cổng thành, Lã Nhượng nói với Thân Hầu: “Thần vô cùng cảm tạ ân điển của Đại Vương đối với thần nhưng thần đã nhiều tuổi rồi, mong Đại Vương cho phép thần được làm việc cũ: gác cổng thành cho Người”. Thân Hầu gật đầu ân chuẩn.
Kể từ đó vị quan gác cổng không ham vinh hoa phú quý, cam chịu cuộc sống thanh bần và hai cánh cổng thành màu đỏ tươi trở thành mục tiêu chú ý của người dân Thân quốc.
Nhiều năm trôi qua.
Vào năm thứ hai, khi vua Tần Doanh Chính chính thức chấp chính, Lã Bất Vi bị bãi chức quan Tể tướng, bị duổi khỏi Hàm Dương quay về An Dương sống những ngày tháng cuối đời. Vào buổi chiều hôm ảm đạm, Lã Bất Vi đặt chân đến khu mộ hoang thấp thoáng trong đám cỏ khô tìm được tấm bia đá khắc ngay ngắn dòng chữ “Lã Nhượng chi mộ”. Lã Bất Vi quỳ lạy, hai tay ôm chặt tấm bia đá, nhìn nay nhớ xưa, nước mắt giàn giụa, than thở về cuộc đời chinh thương chua ngọt đắng cay, sóng gió của mình…

(1)Kì lân: ngày xưa được coi là điềm lành.
(2) Dịch văn: Danh tiếng Đại Vương vang bay xa, ân đức như cồn vang bốn bể, muốn tìm nơi an cư lạc nghiệp, cuối cùng đã xây dựng thành công Chu bang. A! Văn Vương thật quả vua anh minh! Văn Vương vâng theo thiên mệnh, đánh đông dẹp bắc trăm trận thắng, diệt gọn Sùng bang gậy nghiệp lớn, dời đô đến Phong, ban chức tước. A! Văn Vương quả thật vua anh minh!
(3) Giải nghĩa: “Kinh tâm động phách”: Sợ đến lòng, động đến phách ý nói rất sợ hãi, rất xúc động.

Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
Sorry mọi người nhé, vì bận công việc nên phần này type hơi lâu một chút! Mong mọi người thông cảm! [8D]

Quyển 1 (tiếp theo)

CHƯƠNG II
BỎ QUAN TÒNG THƯƠNG


Giữa trưa hè trời xanh trong không một áng mây, Lã Bất Vi là công tử trong một gia đình có cha làm nghề gác cổng ở thành Bộc Dương, như trút được gánh nặng khi học xong khoá cuối cùng ở trường tư thục, hành lý nặng trĩu thư tịch rời khỏi nhà sư phụ Bá Hạ. Nghiệp học hành mười năm gian khổ cuối cùng đã hoàn thành mĩ mãn, con đường tiến thân của Lã Bất Vi như được trải thảm hoa. Công tử họ Lã đón ánh nắng mặt trời, tràn đầy tin tưởng về tương lai.
Bá Hạ là một người thầy có óc kinh luân, dạy hỗ học trò không biết mệt mỏi. Thầy Bá Hạ đặt niềm hy vọng rất lớn vào Lã Bất Vi – người học trò ông thương yêu nhất.
Lã Bất Vi quay đầu lại, cúi chào nói: “Thầy không phải tiễn con nữa, gia phụ bảo hai ba hôm nữa sẽ mở tiệc rượu để cảm tạ công ơn dạy dỗ của thầy”.
Thầy Bá Hạ nhẹ nhàng nói: “Bất Vi này, về nói với lệnh tôn đại nhân đừng có lãng phí”.
Bất Vi vui vẻ bước đi, bước chân khoan thai nhẹ nhàng. Chàng năm nay mười chín tuổi, to cao khoẻ mạnh, đôi mắt sáng sắc ẩn dưới đôi lông mày lưỡi mác đen và rậm, cánh mũi to tròn chỉ có điều nhân trung hơi dài. Theo thuyết tướng số, con người này phúc hoạ luôn đi liền nhau, vinh quang đấy mà cũng cay đắng đấy. Quanh cằm Bất Vi lún phún ria mép, biểu hiện của sự trưởng thành. Lã Bất Vi là một chàng trai khôi ngô tuấn tú.
Trường học của thầy Bá Hạ cách thành Bộc Dương không xa, chỉ qua con sông Bộc Dương xanh biếc hiền hoà là tới. Vì vậy Lã Bất Vi có thể nhanh chóng vào thành, hoà mình vào những con đường phồn hoa náo nhiệt. Rẽ vào một góc đường, Lã Bất Vi thấy rất nhiều người tụ tập. họ ghé tai thì thầm với nhau dường như là đang bàn luận về một vấn đề gì hiếm lạ kỳ quái!
Mười năm nay Lã Bất Vi không hề biết chuyện ngoài xã hội, chỉ toàn tâm toàn ý đọc sách thánh hiền. Mặc dù hàng ngày đều đi qua đường ngang ngõ dọc nhưng không hề dừng chân quan sát tò mò hỏi han. Ngày hôm nay việc học đã xong, nên cũng muốn nghe ngóng chuyện hiếu kỳ, bèn thẳng tiến hoà vào đám người đông vui nhộn nhịp. Rất nhanh Lã Bất Vi đã hiểu ra mọi chuyện.
Vào một đêm sáng trăng, một con rắn độc đã cắn chết công tử Nộ Khiên. Con rắn đó thân dài mười trượng, vằn đen trắng, trườn nhanh thoăn thoắt, dưới ánh nến và gươm của hàng trăm quân lính nó lẩn mất không thấy tăm hơi. Vua Vệ Nguyên Quân trong những ngày đau thương buồn bã đã mời thầy mo đến xem bói và đem kết quả dán ở ngoài cổng thành: con rắn này chính là do yêu ma biến hoá thành, hiện vẫn đang ẩn nấp trong thành Bộc Dương, mong rằng quần chúng nhân dân chú ý cảnh giác và tìm bắt.
Lệnh thư của vua ban bố chưa được bao lâu thì trong cung lại truyền ra một cách lý giải khác. Có người nói con rắn đó là do An Li Vương của nước Nguỵ thả ra với ý đồ để nó cắn chết Vệ Nguyên Quân, nhưng kết quả lại không như ý muốn. Nguyên do là vào năm thứ 31 đời Vệ Hoài Quân, quốc vương đến nước Nguỵ triều cống. An Li Vương đã tống giam Hoài Quân vào ngục rồi giết chết, đưa con rể của mình là Vệ Nguyên Quân lên làm quốc vương. An Li Vương muốn biến một huệyn nhỏ của nước nGuỵ thành nơi nuôi ngựa nhưng Vệ Nguyên Quân không chấp thuận, vì vậy An Li Vương muốn trả thù đứa con rể vong ơn bội nghĩa này. Lại có người nói con rắn là do mẹ của Quân Giác thả ra. Nguyên nhân là vì bà này phát hiện thấy Hoàng thượng ngày càng thân thiết với công tử Nộ Khiên và xa lánh thái tử Quân Giác, bà lo một ngày nào đó Hoàng thượng sẽ phế truất Quân Giác, lập Nộ Khiên làm Thái tử. Nhưng rốt cuộc con rắn kia do ai thả ra thì không ai rõ cả. Trong cung của Vệ Nguyên Quân luôn được bảo vệ chặt chẽ còn ngoài cung khắp đường cùng ngõ hẻm luôn có đội quân đi tuần tra bất kể ngày đêm. Khi nào tìm con rắn không chân này họ thường xoi mói vào những người dân qua lại.
Lã Bất Vi thấy khi mọi người bàn luận về chuyện này luôn lộ rõ vẻ ưu tư lo sợ trên gương mặt họ. Chàng mang theo hình ảnh con rắn kia về nhà. Phụ thân của Lã Bất Vi là Lã Hâm đỡ hành lý cho con, vui mừng kể với con trai rằng ông đã nhờ một người làm cho quan đại phu Vệ Hoành xin vị trí môn khách trong phủ. Lã Bất Vi biết quan đại phu Vệ Hoành là chỗ thân thích với vua Vệ Nguyên Quân, nếu được Vệ Hoành mến mộ thì có thể đi cùng với vị đại phu này vào triều yết kiến, nắm bắt cơ hội này để trổ tài văn thao võ lược, khiến vua nể phục ắt sẽ được phong hầu phong tướng. Lã Bất Vi đắc ý kể với cha về những điều biết được qua mười năm học tập vất vả và những ý tưởng lớn lao trong tương lai. Lã Hâm liên tục gật đầu say sưa lắng nghe từng lời nói của đứa con trai độc nhất. Sau đó chàng kể cho cha nghe về chuyện con rắn, người cha nói rắn không cắn đến nhà ta thì quan tâm đến nó làm gi, chi bằng ta dắt con đến bái kiến đại phu Vệ Hoành.
Lã Bất Vi mãi mãi không quên cảnh tượng huy hoàng khi lần đầu tiên đến bái kiến Vệ Hoành. Khi cha dắt chàng vào trong phòng khách của nhà đại phu, Vệ Hoành với mũ cao đai rộng đang cùng với các môn khách bàn luận chuyện kim cổ. Những chiến đàn sắt được bầy khắp phòng và tiếng của Vệ Hoành cao đàm khoát luận khiến cho chàng có cảm giác bị kìm nén. Sau khi Vệ Hoành ca ngợi một hồi về tài năng của chàng, liền tiện thể hỏi luôn một số điển cố về “Thi Kinh”, “Quốc Ngữ”, chàng đều đối đáp trôi chảy. Vệ Hoành vui vẻ cười nói: nhân tài này có thể lập nên cơ đồ. Lã Bất Vi thấy cha và các vị môn khách đều cùng cười với đại phu.
Khi cha của Lã Bất Vi cáo từ ra về, Vệ Hoành nói: lát nữa ta sẽ vào triều yết kiến Hoàng thượng, để Bất Vi đi cùng ta. Lã Hâm vội khấu đầu tạ ơn.
Sau khi Lã Hâm đi khỏi, Vệ Hoành lại tiếp tục tán chuyện với các vị môn khách và sai chàng làm một số việc vặt như lấy sách, gọi người hầu. Điều này khiến cho chàng có cơ hội được đi lại trong phủ của đại phu, tận mắt chứng kiến sự xa hoa lãng phí của cuộc sống vương giả, làm cho chàng liên tưởng đến gia cảnh nghèo khó địa vị thấp, ít bổng lộc của cha chàng. Điều đó làm dịu đi cảm giác kiềm nén, nhưng lại như có đám mây phủ lên tâm tưởng của chàng. Khi được đối mặt với cung điện nguy nga tráng lệ của Hoàng thượng thì chàng vô cùng sửng sốt, chợt hiểu ra thế nào là sự tôn nghiêm và phú quý thực sự. Các vị hạ thần và môn khách khác đều theo vua Vệ Nguyên Quân vào cung điện, vì Lã Bất Vi là người mới nên đứng đợi ở ngoài cửa cung. Chàng phóng tầm mắt qua cánh cửa rộng mở vào tới khu vườn của Vương cung. Bên trong là những lầu son gác tía. Ở một khoảng đất trống rộng lớn có một đàn tuấn mã kháoc những chiếc áo màu muôn tía nghìn hồng, thỉnh thoảng chúng lại phát ra tiếng phì phì trong mũi. Bên cạnh là những chiếc xe lọng vàng của Hoàng thượng, của các đại phu, ngoài ra còn có chiếc xe mui của người Hậu Kì xinh đẹp, tất cả đều được vẽ vời cầu kỳ. Hai bên cổng thành là những võ sĩ thân đeo kiếm đầy vẻ cương nghị. Các thái giám, cung nữ đi lại như mắc cửi, thỉnh thoảng lại nghe thấy những tiếng cười lanh lảnh của họ.
Lã Bất Vi than thở nói: “Đại trượng phu phải được hưởng cuộc sống vinh hoa phú quý như vậy”.
Bóng của mái hiên ngoài hành lang ngày càng dài ra, mặt trời đang lặn dần. Lã Bất Vi đã đợi khá lâu mới thấy Vệ Hoành và các môn khách chuyện trò vui vẻ từ cung đi ra.
Câu chuyện về rắn độc cắn chết công tử Nộ Khiên lam đi rất nhanh, chẳng mấy chốc đã đến thành Bộc Dương. Trong lúc lòng người đang lo lắng hoang mang thì có hai gia đình hàng xóm ở phía đông và tây trong một ngõ hẻm rất sâu của thành Bộc Dương lại đón nhận tin vui thật đáng chúc mừng. Cụ ông họ Tống trong gia tộc họ Tống ở phía đông làm lễ mừng thọ tròn bảy mươi tuổi. Công tử Bất Vi trong gia đình họ Lã ở phía tây hoàn thành nghiệp học hành, trở thành môn khách trong phủ của đại phu.
Cụ ông họ Tống là Tống Nhưng tước vị không cao, chỉ là quan bát phẩm nhưng vì có cửa hàng tơ lụa ở thành Bộc Dương làm ăn rất phát đạt nên kiến được nhiều tiền trở thành người giàu có nhất vùng. Tống Nhưng ở vào tuổi xưa nay hiếm lại giàu có nên cũng muốn tổ chức linh đình. Sáng sớm cổng nhà Tống gia đã chăng đèn kết hoa, giết lợn mổ dê và dựng một bàn tiệc lớn ở ngoài cửa, đoàn nhạc công chơi không biết mệt mỏi, làm cho cả ngõ nhỏ nhộn nhịp vui vẻ hẳn lên.
So với nhà họ Tống thì lễ chúc mừng của nhà họ Lã lại có phần trầm lặng và tẻ nhạt hơn. Lã Hâm lòng đầy hoan hỉ tổ chức vài mâm rượu cho con trai mình, mời bạn bè tụ tập để họ thấy con trai ông là một nhân tài đã trở thành môn khách trong phủ của quan đại phu.
Lã Bất Vi đứng trước phòng khách lịch sự lễ phép nghênh đón các vị khách đến. Đúng hẹn, bạn bè người thân đã đông đủ, chỉ thiếu mỗi sư phụ Bá Hạ. Chàng lưỡng lự một hồi bèn ra cửa đứng ngóng. Chàng vừa ra cửa thì thấy khách của gia đình họ Tống ra vào nhộn nhịp, xe ngựa kiệu võng choán hết cả ngõ; trước cửa nhà họ, người tấp nập khiến hoa cả mắt. Các vị khách đến chúc mừng nhà họ Tống đa phần là các quan thần có thân phận cao quý, các nho sĩ và thương gia, họ không đi xe thì cũng cưỡi ngựa. Sau khi họ vào nhà Tống gia thì đều để xe ngựa chặn kín trước cửa nhà họ Lã, khiến cho con đường to như vậy mà không còn một chỗ đứng. Bọn súc vật lại còn thi nhau bậy ra hết lượt này đến lượt khác, mùi tanh khai đậm đặc của nước giải bao bọc lấy chàng. Chàng nghĩ đến thầy Bá Hạ khi đến đây sẽ không khỏi khó chịu. Trong lú Lã Bất Vi đang trông ngóng thì một con ngựa lắc đầu vẫy đuôi, sau khi thả ra một nhát rắm rất kêu liền ị ra một đống phân lớn ngay trước bậc thềm của nhà chàng. Chàng vô cùng khó chịu liền với cây gậy ở trên mái nhà quật vào mông con ngựa. Con ngựa bị đánh bất ngờ giật mình hí lên một tiếng rồi lồng lên chạy như điên, phi qua con đường đầy xe và người. Người và ngựa trước cổng nhà họ Lã và họ Tống nháo nhác tạo thành một mớ hỗn độn. Con ngựa ban nãy hùng hổ vọt lên phía trước, phóng qua bàn tiệc và hội nhạc công. Lúc này gậy gỗ loạn xạ, người ngã ngựa đổ. Chiếc xe điểm vàng quý giá đặt trước cửa để dành riêng cho ông cụ Tống Nhưng ngồi bị đè bẹp rúm ró bởi chân ngựa và người.
Cảnh hỗn loạn này sớm được những người canh cổng của gia đình họ Tống nhìn thấy, họ vội vàng hốt hoảng vào báo với chủ nhân. Tống Nhưng đang cùng với bè bạn chén tạc chén thù, nghe người hầu bẩm báo vội nói với quản gia đây là do Lã Bất Vi cố tình gây ra, phải phạt tiền. Sau khi người quản gia hoa chân múa tay chỉ trích Lã Bất Vi một hồi liền đòi phạt năm trăm lượng vàng. Lã Bất Vi dùng lý để cãi, nói là đuổi súc vật trong phạm vi đất nhà mình không phải là phạm pháp nên không thể bị phạt. Trong lúc chàng và quản gia nhà họ Tống đang đỏ mặt tía tai tranh luận thì khách khứa của hai nhà cũng tham gia, ai cũng thi nhau nói phía mình có lý. Lã Bất Vi thấy đối phương ngang ngược vô lý nên yêu cầu chờ trưởng Châu Bá đại nhân đến giải quyết.
Người quản gia dương dương tự đắc nói, đây là do công tử nói đấy nhá. Châu Bá đại nhân đang cùng với đại gia của chúng tôi uống rượu trong nhà, mời công tử vào.
Lã Bất Vi phẫn nộ bừng bừng tiến vào phòng khách tìm Châu Bá đang say bí tỉ. Châu Bá mắt lờ đờ sau khi nghe xong lời biện bạch của Lã Bất Vi và quản gia liền phán quyết: “Phạt Lã Bất Vi 500 lượng vàng”.
Lã Bất Vi không phục lại tranh luận với Châu Bá đại nhân, lúc này Tống Nhưng đang ngồi bên bàn rượu đứng lên hoà giải nói: “Lã Bất Vi gia đình nghèo hèn, quả thật là không có số tiền lớn như vậy, hãy để Bất Vi đến cửa hàng tơ lụa của ta làm một tháng coi như là hoà”.
Châu Bá lè nhè nói: “Tội nặng phạt nhẹ, thật lương thiện tốt bụng”.
Lã Bất Vi đang tủi thân vì oan ức thì thấy một gương mặt thanh tú ngồi ở mâm rượu khác. Chàng nhận ra đó là Vệ Hoành liền chạy lại nhờ vị hoàng thân quốc thích này lấy lại công bằng cho mình. Vệ Hoành đã ngà ngà say, thờ ơ nói: “Phán quyết của Châu Bá rất sáng suốt không thể thay đổi”.
Chàng đứng ngây ra ở đó không hiểu chuyện gì đang xảy ra, hôm qua còn khen mình là nhân tài có thể dựng nên cơ đồ mà sao hôm nay lại lạnh nhạt thờ ơ như vậy.
Cha của Lã Bất Vi sau khi biết môi chuyện thấy việc đi làm công một tháng vẫn hơn là nộp năm trăm lượng vàng. Nếu nộp năm trăm lượng vàng thì đem đầu của bốn người trong gia đình cân lên cũng không đủ, chi bằng đi làm công một tháng. Lã Hâm còn nói với con, gia đình còn phải tiêu một khoản lớn: vua Vệ Nguyên Quân hạ chỉ Thiên thần sắp đến thàng Bộc Dương nên mỗi nhà phải xây Thần đường để đón tiếp.
Lã Bất Vi cũng đành bó tay không còn cách nào khác.
Cửa hàng tơ lụa của Tống Nhưng nằm ở đoạn đường phồn hoa náo nhiệt nhất của thành Bộc Dương, mặt ngoài của cửa hàng trải dài và tráng lệ, tổng cộng có mười mấy người làm công cho cửa hàng, họ luôn luôn bận bịu.
Lã Bất Vi làm ở cửa hàng tơ lụa là chuyện bất ngờ nên có phần lúng túng, đo vải tính sổ không thạo, có lúc còn rối loạn lung tung. May mà trong cửa hàng có một người tên là Vương Khuê rất thông minh lanh lợi thạo về buôn bán đã giúp đỡ chàng không ít. Đến đây mua vải đa số là phụ nữ đầy mùi son phấn, chàng không dám nhìn thẳng vào họ.
Đột nhiên ở một nơi cách cửa hàng không xa có một đám đông tụ tập hò hét rất to. Lã Bất Vi dõi nhìn thì thấy tại nơi buôn bán súc vật và nô lệ có một người con gái bị cắm cọc tiêu bằng cỏ đang bị mọi người xét nét bình phẩm từ đầu đến chân. Vương Khuê và một vài người làm công khác dừng việc bán hàng, thích thú hoà vào đám đông. Hồi lâu mới quay lại, họ hết lời khen ngợi: “Tuyệt sắc giai nhân, thật là nghiêng nước nghiêng thành”, bảo Lã Bất Vi ra xem để mở rộng tầm mắt. Chàng thấy một người nô lệ là phụ nữ chẳng có gì đáng xem. Vương Khuê lại tiếp tục khen ngợi: “Nói về tướng mạo thì tất cả phụ nữ trong thành Bộc Dương này không ai sánh bằng. Chỉ mỗi tội thời vận không tốt, số phận long đong phải bán thân làm nô lệ. Không biết sẽ bọ ai mua về sử dụng và làm nhục đây”.
Nghe vậy, chàng rời khỏi cửa hàng tiến về phía đám đông. Trông thấy trước đầu gối của người nô lệ nữ dựng một tấm thẻ tre viết dòng chữ: “Giá của người nô lệ tuyệt hảo này là mười lạng vàng”. Chàng thấy người con gái đó dáng vẻ duyên dáng nhưng mặt mũi bẩn thỉu tóc tai bù xù, giữa hai lông mày có một cái chấm màu đỏ to bằng đầu ngón tay. Mọi người đều bảo cô ta xinh đẹp, xinh đẹp ở điểm nào cơ chứ. Chàng ngắm kỹ, qua lớp bụi bẩn quả thật vẫn giấu một gương mặt thanh tú, người con gái này quả là có một khuôn mặt rất đẹp. Chàng ngắm đi ngắm lại bỗng dưng nảy sinh tâm tình thương hoa tiếc ngọc, thở vắn than dài: “Con gái nhà ai lại rơi vào cảnh đáng thương như vậy”.
Khi Lã Bất Vi quay về cửa hàng, Vương Khuê hỉ hả cười hỏi: “Thế nào?”. Chàng trả lời: “Rất tuyệt! Rất tuyệt!”. Những người làm công trêu đùa nói: “Lã Bất Vi mua cô gái này về… làm vợ hay thiếp đi”.
Chàng châm biếm lại; “Để làm vợ hay thiếp các anh thì có”.
Không biết tự lúc nào đoàn người tụ tập lúc nãy đã tản hết. Lã Bất Vi lại chợt nghĩ tới cô gái nô lệ khi nhìn thấy một gương mặt thiếu nữ được trang điểm rực rỡ, không biết giờ đây cô ta đang bị rao bán nơi góc phố nào, hoặc giả đã rơi vào tay bậc nho tướng giàu sang nào…
Lã Bất Vi đóng chặt cửa hiệu, kết thúc một ngày buôn bán bình thường như bao ngày khác, rảo bước về nhà với một tâm trạng phấn chấn. Con đường nhấp nhô sáng rực trong ánh hồng của buổi chiều tà. Những làn khói toả lên từ mái bếp của các ngôi nhà loang ra, quyện lấy bầu không gian đang dần thẫm màu, lơ lửng như mơ ảo. Trước cửa nhiều nhà đã chất đầy gỗ, gạch, có nhà đang hối hả xếp gỗ, vọng lại những tiếng lách cách vui tai. Lã Bất Vi biết, mọi người đều tuân theo chiếu lệnh của Vệ Nguyên Quân, chuẩn bị xây điện rước thần.
Về tới nhà, qua bờ rào nhìn vào phía trong, Lã Bất Vi cũng thấy ngổn ngang những cột gỗ, hai bên là hàng đống gạch. Cha Lã Bất Vi cho hay, ngày mai nhà chàng sẽ động thổ xây điện rước thần. Chàng để ý, từ phía Tây Viện Tống Gia cũng đang vọng lại tiếng cưa gỗ hối hả, và trong ánh sáng chiều tà nhập nhoạng lờ mờ những dáng người đang kéo gỗ dựng cột.
Ăn cơm xong thì trờ đã tối, mặc dù ngày mai đã là ngày động thổ, cha chàng vẫn cần phải nghỉ ngơi sau một ngày đã quá bận rộn mệt mỏi, nên Lã Bất Vi một mình cứ ra ra vào vào để tính toán trước công việc. Khi đi ngang qua một đống gỗ, chợt nhìn thấy một bụi cỏ đang nằm ở giữa trông rất vướng mắt, sợ sẽ ảnh hưởng đến việc xâu dựng của ngày mai, Lã Bất Vi liền cúi xuống giật bụi cỏ lên. Đúng lúc đó, Lã Bất Vi nhìn thấy lờ mờ hình dáng của một người con gái đứng bật dậy, sau đó, vẫn cái hình dáng lờ mờ ấy lại quỳ thụp xuống, giọng khản đặc cầu xin: “Công tử, xin hãy cứu tôi!”. Không biết là bởi lạnh hay đói mà cái hình hài cứ không ngớt run lên bần bật.
Lã Bất Vi cầm cây đèn dầu ra, cái đầu tiên đập vào mắt chàng là vết dấu đỏ rõ nét giữa hai hàng lông mày của cô gái. Tim chàng thót lại: đây chẳng phải là cô gái nô lệ bị buộc cỏ đem bán sáng nay sao? Tại sao cô ta lại đến đây lúc nửa đêm?
Chàng đưa cô gái vào trong nhà kho chứa lương thực và đồ đạc linh tinh hỏi han sự tình. Cô gái nước mắt lã chã kể cho Lã Bất Vi hay, gia đình cô vốn là bồi thần cảu đại phu nước Tấn, cha cô là Hoàng Phủ Hồ, cô là Hoàng Phủ Kiều và một người anh trai là Hoàng Phủ Thượng Nghĩa. Mùa hè năm ngoái, Vệ Nguyên Quân dẫn mười vạn đại quân tiến công nước Tấn, khi đi qua nhà cô đã giết chết cha cô và bắt cô cùng người anh trai. Nửa đường anh trai cô tháo chạy được, còn cô bị đem về, tặng cho một vị tướng quân lập nhiều công trạng để làm nô lệ. Người này rất ghét kẻ nô lệ suốt ngày khóc lóc vì cảnh nhà tan cửa nát nên ngày hôm sau đã đem bán cô lấy mười dật vàng cho một thương nhân giàu có trong thành tên là Phàn Bình. Cha của Phàn Bình mắc bạo bệnh mà chết, muốn được mai táng cùng hai người con trai và hai người con gái, Hoàng Phủ Kiều chính là một trong hai người con gái được mua về để đem chôn cùng. Hoàng Phủ Kiều không cam tâm vùi chôn sinh mạng tuổi trẻ của mình vĩnh viễn hầu hạ cái xác khô của kẻ có tiền kia, và thế là nhân lúc tên gia đinh giữ cô đi vệ sinh, cô đã bỏ trốn ra ngoài.
Lã Bất Vi an ủi Hoàng Phủ Kiều đôi câu, đoạn lẻn vào nhà mang một bát cơm ra, để Hoàng Phủ Kiều ăn một chút cho ấm bụng rồi mới bàn cách giải cứu cô ra sao. Chàng thấy cô gái ăn ngấu nghiến. Thân hình mảnh mai của cô dưới ánh đèn dầu, in lên trên bức tường. Hoàng Phủ Kiều có lẽ bị nhịn đói rất lâu rồi nên chả mấy chốc, thức ăn đã hết sạch.
Cô gái ngước đôi mắt lấp lánh, ánh mắt ấm áp khẽ nói: “Xin hỏi, vị đại ca tên họ là gì?”
Lã Bất Vi nói tên mình cho Hoàng Phủ Kiều.
Hoàng Phủ Kiều liền đứng dậy cáo từ: “Ơn sâu của Lã công tử, kẻ hèn mọn này sẽ mãi mãi khắc lòng tạc dạ, sau này có dịp, nhất định sẽ báo đáp!”
Lã Bất Vi hỏi: “Hoàng Phủ cô nương định đi đâu bây giờ?”
Hoàng Phủ Kiều đáp: “Tôi không thể làm phiền gây liên luỵ đến công tử nữa. Tôi phải đi tìm anh trai của tôi, hai anh em gặp nhau sẽ báo thù cho cha tôi!”
Lã Bất Vi nói: “Sau khi cô bỏ trốn, nhà Phàn Bình quyết không bỏ qua đâu, nếu chúng không báo quan dán cáo thị thì cũng sẽ sai người đi bắt. Cô một thân con gái yếu ớt thế này, lại đang là kẻ mang tội, e là còn chưa tìm được anh trai thì đã bị bắt rồi!”
Hoàng Phủ Kiều đáp: “Tôi đã sa vào bước đường cùng rồi, cũng đành phải vậy!”
Lã Bất Vi nói: “Cứ htử nghĩ kỹ xem, không lẽ hết cách rồi sao?”
Hoàng Phủ Kiều nói: “Bây giờ chỉ còn cách lấy mười dật vàng đến nhà họ Phan chuộc tôi thì mới yên chuyện, đổi được tự do cho tôi. Nhưng mà…”
Lã Bất Vi nói: “Hoàng Phủ cô nương, cô cứ tạm lánh trong nhà kho này đã, đợi tôi suy nghĩ thêm, ngày mai ta bàn tiếp”.
Hoàng Phủ Kiều cảm động dập đầu cảm tạ rồi nép mình nơi góc tường đợi ngày mai.
Ánh trăng sáng soi tỏ Lã Bất Vi đang trằn trọc trên giường. Cứ nghĩ đến cô gái Hoàng Phủ Kiều đang nằm trong nhà kho kia, người đã khiến chàng hành động như một bậc anh hùng trượng nghĩa sẵn sàng ra tay cứu giúp kẻ gặp nguy khốn là lòng chàng lại dậy lên một cảm giác tự hào. Chàng thậm chí còn tưởng tượng ra viễn cảnh tươi đẹp sau khi Hoàng Phủ Kiều đã được chàng cứu, khi ấy có thể nàng sẽ được tự do không một chút sợ sệt đi khắp bốn phương để tìm anh trai mình, cũng có thể sẽ gửi gắm đời mình cho chính chàng để cùng chàng kết tóc xe tơ, mà cũng có thể nàng sẽ trở thành thê thiếp cho một bậc thương gia và mang vàng bạc tới trứơc cửa nhà chàng xin cảm tạ… Nhưng, khi cái viễn cảnh về một hạnh phúc xa xôi làm rung động lòng người ấy vỡ tan thì Lã Bất Vi lòng đầy lo lắng khi phải đối mặt trước câu hỏi tìm đâu cho được mười dật vàng. Chính chàng cũng biết, ngoài số tiền dùng để xây điện rước thần ra thì nhà chàng gần như không còn tiền nữa. Cha chàng ngày nào cũng run rẩy sờ soạng mười dật vàng giấu trong chiếc rương nhỏ, đây là món tiền dàng dụm cuối cùng phòng lúc ông cụ trăm tuổi. Cha chàng không thể hào phóng mở hầu bao chỉ để giải cứu một cô gái nô lệ cho chàng, thậm chí ông cụ hẳn còn cho rằng hành động của chàng là to gan và hoang đường. Lã Bất Vi nghĩ đến đôi ba người họ hàng nghèo của mình, nghĩ đến sư phụ Bá Hạ nghĩ đến đôi ba người anh em làm trong cửa hàng tơ lụa mà chàng mới quen…
Mặt trời đỏ ối nhô lên từ phương đông, tiếng rìu đẽo gỗ từ nhà họ Tống bên cạnh vang lên nghe tựa một bản nhạc. Lã Bất Vi vội vã bật dậy đến nhà kho, Hoàng Phủ Kiều vẫn đang ngủ say sưa. Chàng lấy vài manh áo khẽ đắp lên người cô.
Lã Bất Vi trầm tư nghĩ ngợi hồi lâu trong nhà kho. Chàng không hay biết giờ đây vừng đông nhô cao đang toả những tia nắng chói chang và phủ sáng lấp lánh lên số phận của Hoàng Phủ Kiều…
Lã Bất Vi là người đầu tiên đến cửa hiệu tơ lụa, chàng vừa vẩy nước quét nhà vừa quan sát mọi người đang lục đục kéo đến. Lã Bất Vi để mắt tìm Vương Khuê. Mới gặp chàng đã có cảm giác đây là con người có thể gửi gắm tâm sự được. Đợi Vương Khuê đến, chàng sẽ đem chuyện mượn tiền nói với anh ta xem sao. Rất nhiều người đã tụ tập trò chuyện trước quầy mà vẫn chưa thấy bóng Vương Khuê. Lã Bất Vi đang nghĩ không biết có nên đợi nữa không hay đi tìm chỗ khác. Đúng lúc chàng đang do dự, chợt một bà lão trông rất chậm chạp cầm theo một mảnh gấm màu nho tới nói: ‘Hôm qua tôi mua mười thước gấm ở đây, về nhà thử đo lại trước khi đem may áo thì thấy thiếu một thước, mong anh bù lại cho tôi”. Lã Bất Vi hỏi bà lão rằng bà mua gấm do ai bán, bà lão nhìn quanh rồi nói: “Là cái anh đứng sát anh đấy, mắt to, trông rất nhanh nhẹn. Sao hôm nay không thấy anh ta nhỉ?”
Lã Bất Vi biết đó là Vương Khuê. Chàng lại nói: “Quả thực có việc này sao?”
Bà lão thề thốt nói: “Tôi ngần này tuổi đầu mà lại có thể đi lừa gạt vì một thước gấm hay sao?”
Lã Bất Vi nghĩ, thấy lời bà lão cũng có lý, lại nhìn đôi mắt hiền hậu của bà, quả không giống với loại người đi lừa bịp. Chàng liền giữ lại mảnh gấm màu nho trong tay bà lão rồi đo lại đầy đủ mười thước mới đưa cho bà.
Bà lão vừa đi thì Vương Khuê miệng thở hổn hển chạy đến. Lã Bất Vi kéo anh ta qua một bên, hạ giọng hỏi: “Sao huynh lại bán gấm thiếu cho người ta?”
Vương Khuê giật thót người, hỏi lại: “Sao đệ biết?” Lã Bất Vi lại nói:
“Nói thật đi, có phải có một bà lão mua mười thước gấm màu nho và huynh đã đo thiếu một thước không?”
Vương Khuê bất đắc dĩ phải nhận: “Đúng vậy?”
Lã Bất Vi đưa lại mảnh gấm đã gấp lại cho Vương Khuê xem, Vương Khuê vội hỏi với giọng hỏi lo lắng: “Thế đệ đã nói cho ông chủ chưa?”
Lã Bất Vi lắc đầu. Vương Khuê vỗ vai chàng nói thế mới là tình nghĩa huynh đệ, mời chàng buổi trưa đi uống rượu. Lã Bất Vi quả thực đang muốn nói với Vương Khuê mượn tạm mười dật vàng, nhưng chàng lại nghĩ, đem chuyện này ra nói khi mình vừa bắt “thóp” được bạn thì cứ như là chàng lợi dụng bạn vậy. Lã Bất Vi im lặng hồi lâu, đắn đo không biết phải mở miệng ra sao với Vương Khuê. Cứ mấy lần định nói, rồi lại không thốt nên lời. Sau cùng, chàng quyết định đi vay tiền ở chỗ khác.
Người làm ở hiệu tơ lụa luân phiên nhau đi ăn cơm trưa. Lã Bất Vi đang định đi ra thì Vương Khuê kéo chàng bắt đi uống rượu, Lã Bất Vi nói mình có việc phải đi. Vương Khuê nói uống với nhau đôi ba chén đâu mất nhiều thời gian, uống xong Lã Bất Vi đi cũng chưa muộn.
Lã Bất Vi lần đầu tiên được đến tiệm ăn ngào ngạt hương vị các món ăn như thế này. Chàng không hiểu sao cứ có cảm giác hơi xa hoa. Vương Khuê khoản đãi chàng rất thịnh tình. Anh ta ra sức nài Lã Bất Vi uống thoải mái, còn nói đây là loại rượu ngon hảo hạng. Vương Khuê uống mặt đỏ tía tai, tâm sự rất cởi mở với Lã Bất Vi rằng, đã là buôn bán thì phải có thủ đoạn để kiếm lợi cho mình. Bán lụa mỗi lần chỉ cần đo thiếu đôi ba tấc thì dần dần cũng được một món lớn. Lã Bất Viừa nghe vừa thầm nghĩ: “Quả đúng như người ta vẫn nói, vi thương bất gian bất vi thương”.
Vương Khuê thao thao một mạch về kinh nghiệm buôn bán của anh ta rồi hỏi Lã Bất Vi hôm nay dường như có tâm sự gì đang lo lắng. Lã Bất Vi thở dài, Vương Khuê sa sầm nét mặt nói: “Lã Bất Vi, huynh đã coi đệ như bạn tâm giao, có chuyện gì nếu đệ không cho huynh biết, thì chứng tỏ đệ không thật lòng, đệ mau nói ra đi, nếu huynh không ra tay giúp đỡ thì huynh không phải kẻ trượng nghĩa”. Lã Bất Vi đành kể lại cho Vương Khuê chuyện chàng muốn cứu Hoàng Phủ Kiều nhưng đang lực bất tòng tâm.
Vương Khuê nghe xong, chân thành nói: “Ai da, đệ đã mắc vào chuyện hồng nhan, việc này huynh có thể giúp”.
Vương Khuê nói đoạn rảo bước về nhà mang đến cho mười dật vàng, nói với Lã Bất Vi: “Khi nào có trả hết cũng được, nếu không có thì trả dần ít một, hà tất phải bận tâm!”
Lã Bất Vi lao như bay về nhà, chạy thẳng đến nhà kho, định gọi Hoàng Phủ Kiều cùng chàng đến nhà Phàn Bình giao tiền chuộc thân. Nhưng chàng tìm khắp nơi trong nhà kho mà không thấy bóng Hoàng Phủ Kiều. Lã Bất Vi biết chuyện này không tiện dò hỏi cha chàng nên quyết định một mình mang tiền chuộc đến phủ họ Phàn, sau đó sẽ tìm Hoàng Phủ Kiều.
Phàn phủ chìm trong không khí tang thương, Lã Bất Vi gặp Phàn Bình nói: “Có một nô lệ tên là Hoàng Phủ Kiều bỏ trốn, nhờ tôi đem mười dật vàng chuộc thân trao cho đại nhân”. Phàn Bình vốn đang sai người đi tìm Hoàng Phủ Kiều mà chưa thấy tăm hơi gì, nay nghe người thay cô ta mang tiền chuộc đến, nghĩ rằng mua đâu chả được một nô lệ khác đem mai táng cùng cha nên nhận lấy mườu dật vàng của Lã Bất Vi và trao lại cho chàng tờ khế ước bán thân của Hoàng Phủ Kiều viết trên tấm trúc.
Lã Bất Vi trở về nhà lúc trời nhập nhoạng tối, cứ nhìn đăm đăm vào cánh cửa nhà kho trầm tư suy nghĩ: “Hoàng Phủ Kiều có thể đi đâu được cơ chứ?”
Cha Lã Bất Vi đang chỉ bảo đám thợ xây điện rước thần, thấy Lã Bất Vi cứ thẫn thờ nhìn vào nhà kho liền gọi chàng lại dặn dò: “Bất Vi, sau này nhà ta sẽ có các vị thần bảo vệ. Sáng nay, cha đã phát hiện một kẻ nô lệ bỏ trốn trong nhà kho, cha đã đuổi đi rồi!”
Lã Bất Vi vờ như không để ý lơ đãng hỏi lại: “Không biết cô ta đi đâu nhỉ?”
Lã Hâm nói: “Ai mà biết được”.
Lúc trưa nay khi về đến nhà, Lã Bất Vi để ý thấy trước cửa nhà họ Tống có mấy cỗ xe trông rất sang trọng với những con tuấn mã phủ đệm rực rỡ, lại còn có cả một đội kỵ binh oai vệ. Chàng dò hỏi mới biết, thì ra điện rước thần của nhà họ Tống xây rất đẹp, có người đã bẩm báo với Vệ Nguyên Quân, Vệ Nguyên Quân rất khen ngợi, họm nay ngự giá đến Tống gia ngự lãm ban thưởng.
Lúc này Lã Bất Vi mới để ý, khoảng đất phía Tây Bắc Tống gia đã được dựng một toà lầu rường cột chạm trổ sơn son thiếp vàng cao vút tới tận trời xanh.
Lã Bất Vi chưa từng được thấy long nhan Vệ Nguyên Quân nên đứng nấp sau cánh cửa nhà chờ đợi. Một lát sau, chàng nghe thấy tiếng nhạc vang lên rộn rã, rồi tiếng hô “vạn tuế” rền vang. Lã Bất Vi nghĩ: “Có lẽ Quốc vương chuẩn bị hồi cung”. Chàng liền thò đầu ra nhìn về phía cổng nhà Tống gia. Ngay lúc ấy, chàng chỉ kịp nhìn thấy một người chừng tuổi trung niên đầu đội vương miện đính chuỗi ngọc, tư thế uy phong bước ra.
Lã Bất Vi đoán chừng, đây hẳn là Vệ Nguyên Quân.
Chuỗi ngọc đính trên vương miện khiến Lã Bất Vi kông nhìn rõ mặt Vệ Nguyên Quân. Mũ mạo rữc rỡ của quân vương được gọi là “diên”, vốn là chiếc mũ hình ống tròn được cách điệu. “Diên” trước cao sau thấp, hơi nghiêng về phía trước thể hiện cái tư thế của bậc quân vương đứng từ trên cao mà nhìn xuống thiên hạ. Bên ngoài quan diên là màu đen, bên trong màu hồng ngọc. Phần trước của diên được trang điểm bởi những dây tua mảnh màu sắc sặc sỡ được đính bởi những viên ngọc trân châu lóng lánh, gọi là “chuỗi ngọc”. Thiên tử có mười hai chuỗi ngọc, mỗi chuỗi có mười hai viên ngọc, tổng cộng là một trăm bốn bốn viên. Đây là mũ mạo từ thời Châu Thiên tử quen đội. Rồi lễ nhạc bị băng hoại nhiều nhưng các bậc quân vương vẫn cứ mô phỏng kiểu mũ ấy, có khác chăng chỉ là số lượng những viên ngọc. Những viên ngọc rực rỡ sắc màu buông phía trước diên ấy không chỉ là lối phục sức của bậc hào hoa mà còn thể hiện cho sắc thái thần bí và vẻ tôn nghiêm của bậc quân vương. Khi tiếp kiến các hạ thần, quốc vương có thể quan sát thần thái của họ qua những khe hở giữa các chuỗi ngọc nhưng kẻ hạ thần thì không thể nhìn rõ thái độ của nhà vua.
Khi chiếc mũ miện đính các chuỗi ngọc lúc lắc của Vệ Nguyên Quân cùng đoàn vệ binh rầm rộ đã khuất nơi cuối phố, Lã Bất Vi run lên thầm nghĩ: “Tiền bạc có thể đem lại cho con người ta thật nhiều thứ!”
Chẳng mấy chốc một tháng vui vẻ ở cửa hiện tơ lụa đã trôi qua, Lã Bất Vi lại phải quay trở về chỗ đại phu Vệ Hoành tiếp tục làm môn khách. Chàng hoàn toàn không ngờ rằng, chàng bị cấm cửa. Môn dịch của Vệ Hoành lạnh lùng cho chàng hay, Vê đại phu nói chàng đã đánh ngựa trước cửa phủ Tống Kỳ làm kinh động phủ nội, hành vi thất lễ, nếu chàng tiếp tục làm môn khách ở đây sẽ làm tổn hại đến danh tiếng của Vệ đại phu, nay chàng hãy tìm nơi chốn khác.
Lã Bất Vi đâu ngờ cảnh ngộ u ám này của đời mình, lảo đảo đi về nhà. Cái tin này khiến Lã Hâm vô cùng đau đớn, nước mắt cứ thế giàn giụa trên gương mặt in hằn bao sóng gió cuộc đời của ông.
Lã Bất Vi an ủi cha: Cha à, đừng đau lòng nữa, trời đã cho con sinh mạng ắt chẳng bạc đãi con. Vệ Hoành từ chúng ta nhưng đâu thể tuyệt đường của cha con ta. Muốn làm bồi thần môn khách mong hưởng bổng lộc chứ không vì tiền bạc ở cái thành Hàm Dương rộng lớn này thì ông trời quyết không th6ẻ tuyệt đường của con người ta!
Ánh trăng sáng và bóng cây rợp bao trùm đình viện nơi Lã Bất Vi đang ngồi suy ngẫm day dứt. Những sự việc xảy ra trong một tháng nay mang lại cho chàng biết bao cảm xúc. Đánh ngựa làm kinh động ư, tại sao không phạt chàng tiền công một tháng thôi? Hay là tại bởi vì Tống gia có tiền, có thế, kết giao với các bậc quyền quý, đến Vệ Hoành đại phu và Châu Bác đều đến Tống gia ăn cơm chúc thọ; Vệ Nguyên Quân hà tất lại ngự giá đến Tống gia, làm rạng danh tổ tiên, được hưởng lộc triều đình, đây chẳng phải là vì Tống gia có tiền nên mới xây điện rước thần mái cao thân lượn, khắc phượng chạm rồng, sơn dầu dát bạc đấy sao! Lã gia nhà ta nếu lưng dắt vạn quan thì cũng có thể xâu được điện rước thần mang màu sắc hoàng gia như thế, Vệ Nguyên Quân khi ấy lại cũng sẽ chẳng ngự giá đến Lã gia sao! Hoàng Phủ Kiều đi về đâu không rõ, sao chẳng thấy chút tăm hơi? Hay nàng vẫn mang nỗi xấu hổ trong lòng, nếu ta cũng giàu có như Tống gia thì đừng nói là mười dật vàng, đến một trăm dật vàng cũng dễ như trở bàn tay, cũng sẽ chẳng đến nỗi bỏ lỡ thời cơ mà dễ dàng kết giao được với Hoàng Phủ Kiều! Tiền bạc có thể làm cho con người ta được tôn quý, hiển vinh, tiền bạc có thể mua được tước vị, tiếng tăm, tiền bạc có thể trải ra con đường tiến thân đầy những gấm hoa dẫu cho con người ta đang ở trong cũng lầy đen tối… Người khác, trước là mưu cầu quan chức, tước vị, sau dựa vào quan tước để tranh điền ấp, bổng lộc, rồi tích tụ tiền của, giàu có vang danh. Ta lại muốn đi một con đường ngược lại, làm kẻ buôn bán, tích luỹ bạc tiền, sau đó mới tranh quan đoạt tước, phong hầu bái tướng.
Hoài bão về tiền đồ mà chàng tự vẽ nên khiến cho Lã Bất Vi háo hức đến không ngủ được. Sáng sớm hôm sau, Lã Bất Vi điềm tĩnh nói với cha rằng hôm nay chàng rỗi rãi nên muốn đi thăm sư phụ Bá Hạ. Chàng muốn tạm thời không để người cha già đang rất khổ tâm lại thêm một lần nữa phải nhọc lòng suy nghĩ bởi những toan tính được mất chỉ vì những ý tưởng còn rất mơ hồ, mung lung của chàng. Lắng nghe một câu từ miệng người quân tử hơn cả đọc sách cả mười năm. Lã Bất Vi vừa đi vừa phỏng đoán không biết Bá Hạ tiên sinh sẽ tỏ thái độ ra sao trước sự lựa chọn của chàng.
Đã một tháng Lã Bất Vi mới lại đặt chân đến chốn này, gia cảnh Bá Hạ tiên sinh vẫn vậy, nhà nhỏ dậu thưa, bụi gai che cửa sổ. Tất cả cảnh vật nơi đây đều mang lại cho Lã Bất Vi một cảm giác rất đỗi thân quen. Thấy chàng đến, Bá Hạ mừng rỡ ra đón. Rồi, một bình trà đặc, hai thầy trò ngồi trên đất, Lã Bất Vi rủ rỉ tâm sự với thầy về ý tưởng từ bỏ con đường mưu cầu quan tước để dấn thân vào chốn buôn bán, thương nhân.
Bá Hạ chăm chú nghe, nghe xong, ông trầm ngâm hồi lâu rồi nói: “Bất Vi, ta rất khâm phục cốt cách và hoài bão biết nhìn xa trông rộng của con”.
Lã Bất Vi vội vàng đứng dậy, khẽ cúi người lo lắng nói: “Thầy nói vậy, con quả xấu hổ vô cùng”.
Bá Hạ vẩy tay ra hiệu cho Lã Bất Vi ngồi xuống, rồi cất giọng chân tình nói: “Bất Vi, đừng vì lễ nghi khách khí thầy trò. Suy nghĩ của con quả thực là cờ cao một nước hơn người , hợp thời thuận thế. Con cũng biết Khổng Khâu tiên sinh vốn là quan đại thần nước Lỗ từ thời hơn hai trăm năm về trước, trước đây ta vô cùng bái phục văn chương đạo đức của ông ta. Đặc biệt là khi nghiền ngẫm tập “Luận ngữ”, mỗi câu mỗi chữ trong đó đều soi rạng thứ ánh sáng hiền triết, đều là những danh ngôn chí lý. Nhưng bỗng gần đây, khi đọc những trước tác cảu Khổng tiên sinh, ngẫm nghĩ suy tư thì tình cảm sùng bái của ta dành cho ông ấy đã bị dao động, nói cách khác, ta nhận thấy, không phải tất cả những lời của Khổng tiên sinh đều là những chân lý bất di bất dịch. Ví như, Khổng Tử nói, bậc quân tử trượng nghĩa còn kẻ tiểu nhân hám lợi; bậc quân tử lo việc đạo nghĩa chứ không vì bần hàn mà bận tâm. Ta không cho là như vậy. Cớ sao có thể nói mưu cầu lợi ích vật chất, tránh cảnh cơ cực bần cùng tất thảy đều là bụng dạ, suy nghĩ của kẻ tiểu nhân? Không có bạc tiền, nghèo hèn khốn khó mà nói đến đạo, đến nghĩa há chẳng phải viễn vông sao? Ta có vừa được nghe một câu nói của Quản Trọng, vốn từng làm đến chức thượng khanh cho Tề Hoàn Công, rằng: “Gạo đầy kho mới hiểu lễ tiết, áo ấm thân mới thấu nhục vinh”. Đó quả là một lời răn dạy sâu sắc mà mới mẻ, người d6an chỉ có thể hiểu được lễ tiết là gì khi họ đã được ăn no, chỉ có thể biết cái gì là vinh, cái gì là nhục khi họ đã được mặc ấm. Cho nên quân tử phong lưu thì dễ lòng hành đức, tiểu nhân no đủ thì dốc sức dốc công. Bậc quân tử khi đã rương cao hòm đầy thì có thể thi ân hành đức, còn kẻ bình dân khi đã có chút của dư thừa thì có thể thêm sức cần lao. Cũng giống như nơi nước sâu mới có cá lội, chốn núi cao mới có thú về, có giàu sang mới tính được chuyện nhân nghĩa. Kẻ giàu có tiền có thế, dang tiếng càng bay xa, mất tiền mất thế, môn khách cũng sẽ đều quay gót bỏ đi, bởi vậy đã có người nói rằng: thiên hạ nô nức, khi còn lợi, thiên hạ quạnh hiu, lợi chẳng còn. Ôi, bậc quân vương nghìn cỗ xe, kẻ chư hầu vạn mái nhà, bậc khanh tướng trăm phòng thất chẳng vẫn sợ bần hàn sao, trách chi được kẻ thất phu với đôi gian nhà chật?”
Từng lời của Bá Hạ thâm thuý diệu kỳ, khiến Lã Bất Vi mở mắt bao điều, chàng vội nói: “Những lời rao giảng của tiên sinh khiến cho đệ tử thấy được những việc chưa từng thấy, nghe được những điều chưa từng nghe.Xin tiên sinh chậm rãi từng lời để đệ tử chắp bút ghi lại, treo nơi đầu giường, bên cạnh án thư mà răn dạy bản thân”.
Bá Hạ cười lớn mà rằng: “Ấy, hà tất phải câu nệ như vậy. Hôm nay con tới, ta rất vui mừng; Con muốn thay đổi sự lựa chọn về sự nghiệp của mình, quả là điều trọng đại. Thế nên ta mới góp nhặt đôi câu, nhiều lời một chút, vị tất đã khúc chiết chỉn chu, có chăng chỉ là bàn bạc cùng con để con tham khảo”.
Lã Bất Vi vô cùng thành tâm nói: “Không, từng câu từng lời của tiên sinh đều là lời khuyên quý báu, khiến cho tâm tư mơ hồ cảu con như được rạng soi”.
Bá Hạ nói tiếp: “Nếu quả thực như vậy, thì thầy sẽ lại có đôi lời dông dài cùng con. Tử Hạ là một trong những đệ tử xuất sắc nhất trong số bảy hai đệ tử của Khổng Tử. Tử Hạ có một học trò rất nổi tiếng, tên là Lý Khôi.
Nguỵ Vương Nguỵ Văn Hầu chiêu mộ nhân tài, đã phong cho Lý Khôi làm tể tướng. Trong thời gian chấp chính, Lý Khôi đã thực thi biện pháp tấc đất tấc vàng, phá bỏ ranh giới canh điền, phát triển điền canh thuỷ lợi, thậm chí còn tính toán giúp Nguỵ Văn Hầu. Có một lần Lý Khôi đã tính toán cho Nguỵ Vương xem về một mảnh đất vuông vức rộng trăm lý, có chín vạn hecta ruộng, nếu trừ đi diện tích rừng núi, hà trạch, thành ấp, làng mạc thì thực tế diện tích canh tác chỉ còn được sáu vạn mẫu. Nếu lúc thuận thời, cần cù canh tác, mỗi mẫu tăng sản ba đấu thì sáu vạn hecta cũng tăng được một trăm tám mươi thạch. Nguỵ Vương vốn là bậc hiền minh rất nghe theo lời Lý Khôi, tiếp thu kế sách hoa màu: quốc cường dân phú của ông, Nguỵ quốc nhờ vậy nhanh chóng cường thịnh. Hay chuyện Sở Vương tin dùng Ngô Khởi, Tần Hiếu Vương tín nhiệm Thương Ương, những nước chư hầu này đã thực thi biến pháp, tích của tụ tài, trở nên cường thịnh, từng bước hoàn thành bá nghiệp. Thời thay đổi, sách lược trị quốc của các bậc quân vương cũng phải thay đổi, thế gọi là thức thời vậy. Thời thượng cổ thiên vị đạo đức, trung cổ xem trọng trí mưu, cận kim phát huy vũ lực và đương thời trọng thị kinh tế. Thời nhà Thuấn, có bộ lạc Miêu không chịu khuất phục, tướng Vũ xin chinh phạt, Thuấn nói: làm vậy không được, chúng ta không dùng đức trị người mà nay lại dùng lực, há chẳng phải bất đạo hay sao? Suốt ba năm, vừa thuyết giáo, vừa răn đe, người Miêu mới khuất phục. Bất Vi, con xem, Thuấn phái quân tay cầm rìu cầm khiên nhưng lại cùng người Miêu ca hát, thế người Miêu mới khuất phục, thật diệu kỳ biết bao, dùng đạo cảm hoá lòng người thời ấy quả có sức mạnh vô biên. Đến thời cận đại thì sao? Có một lần, nước Tề toan tiến công nước Lỗ, Lỗ Vương liền phái Tử Cống - một môn sinh xuất sắc của Khổng Tử đi thuyết giáo, hòng dùng đạo đức mà cảm hoá nước Tề bãi binh hoà hiếu. Tử Cống lý lẽ sắc sảo tới nước Tề diễn thuyết một hồi, người nước Tề nghe xong liền cười mà rằng: “Tử Cống tiên sinh, không phải tiên sinh nói lời vô lý, nhưng cái chúng ta cần là đất đai chứ không phải những lời căn vẻ bùi tai”. Và, quân đội nước Tề tấn công nước Lỗ, khuyếch trương biên giới đến cánh cửa thành nước Tề có năm trăm mét. Bất Vi, thử so sánh mà xem, thời thượng cổ, dùng đạo đức đi giáo hoá đã hàng phục được cả một bộ lạc, đến thời cận đại, lại dùng đạo đức đi thuyết giáo thì suýt dẫn đến hoạ diệt vong cho cả một quốc gia! Thời thế nay, chư hầu đua tiếng, mưu đồ thôn tính đối phương, độc dựng cơ hồ, theo ta, gốc rễ là kinh tế hưng thịnh, nước phú quân mạnh”.
Sau một hồi thao thao bất tuyệt, Bá Hạ ngừng lời, chậm rãi nhấp trà.
Lã Bất Vi nói: “Trước kia nghe kẻ bình dân quê mùa nói: Lời châu ngọc không kén chọn sang hèn; vẫn cho là lời phi lý. Giờ mới thấy, lời kẻ tiện nhân cũng đâu kém sâu xa”. “Chính vì vậy nên ta ủng hộ hoài bão của con, Bất Vi ạ! Hãy can đảm lên!”
“Có sự khích lệ của thầy, con thấy mình vững vàng biết bao!”. Lúc chia tay, Bá Hạ tháo chiếc vòng ngọc khắc rồng chạm phượng đang đeo trên mình trao cho Bất Vi, chân tình nói: “Rồi đây con đặt chân vào chốn thương trường. đi Nam về Bắc, thầy trò thật chẳng dễ gặp mặt nhau, con hãy giữ miếng ngọc bội này bên mình nhé! Có thể nó sẽ giúp con nhớ đến ta!”
Lã Bất Vi lưu luyến từ biệt Bá Hạ. Trên đường trở về nhà, chàng đã biết nên thổ lộ với cha chàng ra sao về những toan tính của mình.
Về tới nhà, chàng thấy cha đang một mình với chén rượu, thẫn thờ. Bất Vi không biết cha đang uống rượu mừng vì điện rước thần đã hoàn tất, hay đang uống rượu giải sầu vì chuyện chàng đã bị khước từ cho làm môn khách ở nhà Vệ Hoành. Bất Vi nghĩ, bất luận là cha đang uống rượu gì thì bây giờ chàng vẫn phải nói cho ông hay về ý tưởng của chàng.
Nghĩ vậy, Bất Vi ngồi xuống giường, rót đầy chén rượu cho cha. Rồi chàng kể hết một mạch cho cha những diễn biến trong lòng cháng một tháng nay, ý nghĩ của Bá Hạ tiên sinh và ý tưởng rời bỏ con đường mưu cầu tước vị, dấn thân vào chốn thương trường của mình.
Lã Bất Vi nói xong, nhìn cha không chớp mắt.
Thoạt tiên chàng thấy cha tỏ ra vô cùng kinh ngạc, sau đó lại hết sức bối rối. Chén rượu trong tay ông nghiêng đi khiến rượu tràn xuống. Nhưng rồi Lã Hâm cầm chén rượu ngay lại, đôi mắt ưu tư nhìn Bất Vi nói: “Những lời của con cũng có đạo lý. Nhưng việc này có can hệ đến tương lai của đời con và sự hưng suy của Lã gia, bởi vậy hãy để cha suy nghĩ rồi sẽ trả lời con”.
Suốt đêm, Lã Bất Vi cảm thấy mình như rơi vào trạng thái mơ màng, mung lung. Sớm hôm sau tỉnh dậy, đầu tiên đập vào mắt chàng là một thỏi vàng sáng chói được đặt nơi đầu giường. Lòng chàng rộn lên vì sung sướng: cha chàng đã đồng ý. Cha chàng bước tới, đặt tay nắm chặt vai Bất Vi nói: “Đây là số tiền mà ta và mẹ con dành dụm để lo chuyện hậu sự, con hãy dùng nó!”
Lã Bất Vi cầm lấy thỏi vàng, trông nó tựa chiếc khánh đá. Thỏi vàng ánh lên muôn ngàn tia sáng lấp lánh, như làm hiển hiện trước mặt chàng một không gian rực rỡ tựa gấm hoa. Chàng nhủ thầm: “Có tiền rồi, trước tiên ta phải trả mười dật vàng cho Vương Khuê”.

(còn tiếp)
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
Quyển 1 (tiếp theo)

*
* *

Một kẻ tha hương lòng mang hy vọng làm giàu đang xuôi thuyền trở lại cố hương.
Kẻ đó chính là Lã Bất Vi.
Chàng đã đem đổi thỏi vàng thành một nghìn tiền xu tới vùng sơn cước nước Lỗ mua trái đào nước, mua nửa đồng một cân, về Bộc Dương có thể bán được ba đồng, rất có lời lãi. Một thuyền chất đầy những trái đào tươi toả hương thơm ngọt cả lòng người. Lã Bất Vi đang ngược dòng, chỉ còn hai ngày đường nữa là chàng sẽ về tới nhà.
Sông rộng nước lặng, chỉ có tiếng mái chèo hối hả. Ông lão chèo thuyền vừa khua mái chèo vừa khen ngợi Lã Bất Vi, rằng chàng là con nhà giàu có mà chịu thương thịu khó. Lã Bất Vi cay đắng không biết nên khóc hay cười, hỏi ông lão tại sao có thể biết được chàng là con cái nhà có của. Ông lão bảo chàng mặc đồ xa hoa, chỉ riêng đôi ủng chàng đi cũng đáng giá trăm đồng. Lã Bất Vi nói, lão bá tuổi cao mắt kém rồi, đôi ủng này đâu phải đồ quý, chẳng qua cũng chỉ là thứ rách nát tầm thường, có chăng chỉ là màu sắc hoa văn trông vừa mắt chứ chẳng đáng giá là bao.
Lã Bất Vi từ trong khoang ngắm nhìn con thuyền chở hàng của mình đang xuôi mái rẽ sóng trên dòng Bộc Dương. Hai bên bờ sông núi cao trùng điệp, rừng xanh mênh mông. Tình cờ thay có một người con gái xiêm y rực rỡ đang ngắt lá đùa cành. Lã Bất Vi tức cảnh sinh tình, ý thơ dào dạt, cất giọng trầm bổng ngâm bài “Cô gái hái sắn dây”.

Hỡi cô hái rau
Một ngày không gặp
Ba tháng xa nhau
Hỡi cô hái rau
Một ngày không gặp
Ba năm xa nhau
Hỡi cô hái rau
Một ngày không gặp
Mùa thu xa nhau.


Trong giây lát, Lã Bất Vi bỗng chợt nhớ tới Hoàng Phủ Kiều, cô gái nô lệ mà chàng đã từng phải đi mượn bạn số tiền chuộc cô. Giờ đây không biết cô đang lưu lạc phương nào, nương thân nhờ ai, hơi người con gái dễ khiến lòng người xao động! Cái vết dấu đỏ hằn lên giữa hai hàng lông mày như một ký ức khó quên lưu lại trong lòng người. Bắt đầu nghiệp thương nhân từ những trái đào, ta sẽ phải tích tiểu thành đại, kiến tha lâu ắt đầy tổ, rồi tiền bạc ắt sẽ như dòng nước này chảy về Lã Bất Vi ta. Ta phải đi tìm Hoàng Phủ Kiều để thổ lộ lòng ta với người con gái xinh tươi tựa hoa nguyệt này. Dẫu cho không tìm được nàng, ta cũng sẽ phải cưới một người con gái tài sắc vẹn toàn làm vợ, rồi ta sẽ mua thêm một, hai nô thiếp xinh đẹp, lễ phép, dịu dàng làm bầu bạn, cuộc sống ngát hương, phong lưu hạnh phúc.
Hoàng hôn buông xuống bao phủ một màu xanh mênh mang lên núi đồi đen sẫm.
Trời chẳng mấy chốc tối hẳn. Thuyền neo bờ, Lã Bất Vi cùng ông lão chèo thuyền ăn cơm tối trong khoang thuyền. Quãng nửa đêm, tiếng sấm ì ầm chợt vang lên, dội xuống mặt sông. Lã Bất Vi bừng tỉnh, thấy trời đang trút mưa ào ào. Chàng nghiêng tai lắng nghe tiếng nước vỗ mỗi lúc một to, biết rằng mưa đang lúc một dữ dội trong đêm. Trời sáng, Lã Bất Vi cũng chỉ đành ngồi nhìn không chớp mắt vào màn mưa trắng xoá đến tận buổi trưa mà chưa hề có ý dứt. Lã Bất Vi vội giục ông lão chèo thuyền khởi hành nhưng ông lão nhìn dòng nước chảy xiết đục ngầu nói, đỉnh lũ ở thượng nguồn quá mạnh, thuyền không xuôi nổi, Lã Bất Vi lấy hai trái đào từ sọt lên nhìn, đào đã nhũn do bị nóng. Chàng hiểu, nếu nhỡ nhàng ở đây chờ đợi hai ngày thì cả thuyền đào tươi của chàng e là nẫu như cháo mất.
Lòng chàng nóng như lửa đốt, khẩn khoản xin ông lão khởi hành mặc trời mưa. Ông lão cho chàng hay ông chưa bao giờ chèo thuyền giữa lúc nước cuộn dữ dội như thế này, nếu mạo hiểm lên đường thì đừng có nói là đào chứ đến cả hai con người trên thuyền này cũng làm mồi cho hà bá. Sau buổi trưa, mưa to hơn, dòng nước cuộn sóng gầm lên nghe như tiếng trâu rống. Sau một ngày một đêm đợi chờ trong mưa, Lã Bất Vi như đứng trên đống lửa ngồi trên đống than. Chàng muốn lên bờ bán tống bán tháo số đào nhưng hỏi ông lão chèo thuyền mới biết thị trấn gần nhất cũng cách đây đến ba mươi dặm. Đường thì trơn, ngựa khó đi. Hy vọng bán đào của chàng cũng tan như bong bóng.
Lại thêm một ngày trôi qua, sau cơn mưa trời sáng dần, mây tan trời quang. Chàng thấy ông lão chèo thuyền đang trút sạch đống đào nhũn nhoét đầy khoang của chàng xuống sông, nhẹ nhàng thoải mái như đấy là một đống phân thải vậy. Và rồi sau đó con thuyền lướt đi tựa như chiếc lá trôi.
Lã Bất Vi bắt đầu lê những bước chân nặng nề trên mặt đường đầy bùn nước hướng về phía Bộc Dương. Lòng trĩu nặng buồn đau, chàng thấy con đường như dài thêm. Mãi đến lúc chiều tà, Lã Bất Vi mới đến một thị trấn nhỏ có bóng người. Tìm một lữ điếm, ăn một chút lót dạ, chàng hỏi thăm và biết Bộc Dương còn cách đây chừng chín mươi dặm đường, thân thể rã rời, chàng cũng chỉ còn cách trú chân ở đây một đêm, đợi sáng mai lên đường sớm. Chỉ kịp đặt lưng xuống giường, Lã Bất Vi ngủ say một mạch, sáng hôm sau lúc mặt trời đã lên cao ba con sào mới tỉnh giấc. Chàng sờ khắp người, chỉ còn sót lại vài đồng bạc. Bất Vi sợ toát mồ hôi, lấy gì để trả tiền ăn ngủ đây? Chẳng lẽ đào tẩu ư? Chàng khẽ gạt bức mành nhìn ra, chủ tiệm cùng đám gia nhân đang bận rộn làm việc. Giá có đào tẩu mà bị tóm lại thì chắc hết chốn dung thân, cầm chắc bị dẫn lên quan phủ. Đã đến nước này thôi thì đành mặt dạn mày dày mà đi tìm chủ tiệm xin khất nợ.
Chủ tiệm cười khẩy nói, khất nợ ư? Thế ngươi không trả thì ta biết tìm ngươi ở đâu? Chủ tiệm lướt ánh mắt khinh thị nhìn từ đầu xuống chân Lã Bất Vi một lượt bảo, nói không đủ tiền thì lột đôi ủng dưới chân ra mà trả. Lã Bất Vi đành tháo ủng trước con mắt của bao nhiêu kẻ vây quanh, vội vã bước đi, ngậm đắng nuốt cay trước ánh mắt giễu cợt cảu những con người xa lạ.
Lã Bất Vi thất thểu tới bờ sông Bộc Dương, ấp điền nơi chàng sống đã hiện ra trước mắt, chàng cảm thấy hai chân rã rời. Sông Bộc Dương chảy uốn lượn theo thành ấp, vừa là mạch đường thuỷ vận, vừa là nơi người dân trong thành ra giặt giũ tắm rửa. Vào những ngày nóng nực, khắp bờ sông rộn rã tiếng hồ đập quần áo, tấp nập những cánh buồm và râm ran tiếng cười nói. Giờ đây, trước mắt chàng là mấy cô gái má thắm môi hồng, váy dài lướt thướt đang đuổi nhau nô đùa trên bãi cát. Lã Bất Vi sợ người khác trông thấy cái bộ dạng thảm hại của chàng, vội vàng ẩn mình trong đám rau khao tử um tùm bên bờ sông. Chàng cảm thấy hai bàn chân rát như phải bỏng, liền nằm xuống bãi cỏ nhìn lên bầu trời. Lã Bất Vi khẽ ngước đầu lên, trên kia, những đám mây trắng nhẹ nhàng trôi, lúc thì chụm lại, lúc lại tản ra, tựa hồ như cuộc đời phiêu du của con người. Chàng từ chỗ là một môn khách của nhà Vệ Hoành đại phu tiền đồ sáng lạn bỗng chốc trở thành một tay buôn đào đắc ý tiền nhiều để rồi cuối cùng chỉ trong nháy mắt trở thành một kẻ khốn nạn bần cùng gục ngã. Người cha già vì chàng mà dốc cạn hầu bao với bao kỳ vọng về chàng, dõi theo từng bước chàng đi và mong ngày khải hoàn, vậy mà chàng đã làm tiêu tan hy vọng của cha, đã bỏ sông bỏ bể số tiền mà cha mẹ chàng dành dụm, chàng còn phụ những lời răn dạy chí tình của Bá Hạ tiên sinh và trở thành trò cười cho Tống Kỳ, cho đám bè bạn, anh em ở tiệm tơ lụa. Đường đường một đại trượng phu sống nhục nhã với đời chẳng bằng chết đi hay sao. Nghĩ quẩn quanh một hồi, Lã Bất Vi quyết định nhảy xuống sông tự vẫn, đặt dấu chấm hết cho cuộc đời mình - một chàng trai mới mười tám tuổi. Dòng sông êm ả trôi, siêu nhiên thoát tục, rồi linh hồn chàng cũng sẽ dạt trôi nơi chân trời, tìm đến với sự giải thoát và bình yên.
Lã Bất Vi biết lòng mình đã quyết, chàng cố sức lê đôi chân giờ đã rã rời không còn muốn nghe theo sự điều khiển của chàng nữa khó nhọc bước tới bên bờ sông. Đúng vào lúc chàng đang cúi nhìn những gợn sóng lăn tăn và những xoáy nước trên mặt sông để tìm nơi trẫm mình, bỗng chàng nghe thấy có tiếng ai tựa như tiếng chuông ngân đang gọi tên chàng. Bất Vi ngỡ là mình đang mơ. Chàng hướng mắt về phía tiếng gọi, và đập vào mắt chàng là một vết dấu đỏ xinh xắn đến nao lòng. Là Hoàng Phủ Kiều, chính là Hoàng Phủ Kiều, đích xác là Hoàng Phủ Kiều!
Bất Vi nhìn thấy Hoàng Phủ Kiều mặc một chiếc váy mới tinh, hoa văn sặc sỡ, gương mặt nàng hồng hào, tràn trề sức sống, chàng không còn nhận ra đó là cô gái nô lệ hôm nào phải lánh nạn trong kho thóc ở nhà chàng nữa. Lã Bất Vi vội hỏi Hoàng Phủ Kiều về những chuyện đã xảy ra sau khi nàng rời khỏi nhà chàng. Hoàng Phủ Kiều nhìn Bất Vi hồi lâu, ánh mắt như nói bao điều, rồi kể, sau khi rời khỏi nhà chàng, nàng đã đi khắp nơi để tìm anh trai, sau đó, nàng được một người tốt bụng tên là Phùng Quân Úy cứu giúp và nàng đã nhận ông làm nghĩa phụ. Khi Phùng tiên sinh mang mười dật vàng đến nhà Phàn Bình định chuộc thân cho nàng mới được người ta cho hay đã có một người trả tiền chuộc cho Hoàng Phủ Kiều rồi. Nàng đoán người đó hẳn là Lã công tử. Hai ngày trước đây đến nhà chàng hỏi thăm mới hay Lã công tử đã đi buôn bán đào rồi.
Lã Bất Vi xấu hổ kể lại cho Hoàng Phủ Kiều nghe chuyện buôn bán đào của mình, đoạn nói: “Buôn bán đến trắng tay, lòng như lửa đốt, chẳng thà chết đi còn hơn!” Hoàng Phủ Kiều vội nói: “Sao Lã công tử lại nói năng hồ đồ đến vậy! Như thiếp phận gái liễu yếu đào tơ, lâm vào cảnh ngàn cân treo sợi tóc mà vẫn chẳng nghĩ đến cái chết. Buôn bán lỗ lãi là lẽ tự nhiên, đâu có gì là lạ? Công tử đợi ở đây một lát, thiếp đi sẽ quay lại ngay!”
Một lát sau, Hoàng Phủ Kiều ung dung ngồi trên một chiếc xe ngựa lớn quay lại, từ trên xe bước xuống, tay ôm một bộ quần áo với mũ, giày mới tinh trao cho Lã Bất Vi, còn có hai mươi dật vàng, mười dật là trả lại cho chàng tiền chuộc thân của nàng, còn mười dật là chút bù đắp cho số tiền lỗ vì buôn đào lần này của Lã Bất Vi. Lã Bất Vi hỏi: “Nàng mang những thứ này đi, nghĩa phụ của nàng có biết không?” Hoàng Phủ Kiều vô cùng tự hào nói: “Thiếp đã kể cho nghĩa phụ nghe về nhân cách của công tử cùng việc buôn bán rủi ro lần này, nghĩa phụ rất ngưỡng mộ chàng, lại còn chuẩn bị tiệc mời chàng đến nữa!”
Lã Bất Vi vội xua tay nói: “Đâu dán, đâu dám!”
Trước khi chia tay Hoàng Phủ Kiều cho biết nơi nàng đang ở. Lã Bất Vi tháo chiếc vòng ngọc khắc hình rồng bay mà chàng mang bên mình tặng Phủ Kiều. Nhìn theo bóng Hoàng Phủ Kiều cùng chiếc xe ngựa thong dong theo con đường uốn lượn khuất dần, Lã Bất Vi cứ ngỡ ngàng không tin nổi số mệnh con người ta lại có thể đổi thay không ngờ đến vậy.
Lã Bất Vi quần áo chỉnh tề, tay cầm hai mươi dật vàng gặp lại cha trong tư thế ngẩng cao đầu. Lã Hâm nghĩ rằng con trai trận đầu đã thắng lợi, nhẹ nhàng kiếm được nhiều tiền đến vậy nên mừng vui khôn xiết, không ngớt hỏi han. Không muốn để cha phải bận tâm, không an lòng, Bất Vi không đả động đến câu chuyện buôn đào thất bại thảm hại của mình thay vào đó, chàng thêm thắt đôi câu, nào là chàng đã thắng lớn một cách bất ngờ ra sao, nào là chàng đã mã đáo thành công thế nào, những lời chàng nói khiến cho gương mặt người cha rạng ngời niềm hạnh phúc.
Bất Vi cầm mười dật vàng đến hiệu tơ lụa tìm Vương Khuê trả nợ bạn. Vương Khuê hỏi chàng lần này đi buôn đào hẳn là phát tài lớn, Bất Vi lắc đầu kể lại sự tình cho bạn nghe. Vương Khuê hỏi thế sau này chàng định tính toán ra sao, Bất Vi nói chàng cũng chưa nghĩ được gì cả. Vương Khuê động viên Bất Vi đừng nản lòng thối chí, rằng vạn sự khởi đầu nan, và khuyên bạn một cách là mở một cửa hiệu tơ lụa ở gần hiệu này; đầu tiên thì làm ít vốn, thuê một gian cửa hàng, hai người giúp việc, một người thu mua hàng, một người đảm trách việc bán hàng, Bất Vi làm chủ hiệu. Cửa hiệu này bán giá bao nhiêu thì hiệu cảu Bất Vi cũng bán ngần ấy, cầm chắc có lãi mà lại không rủi ro gì. Bất Vi nói có lẽ cũng phải thử xem sao.
Lòng tràn đầy niềm tin, Bất Vi chạy ngược chạy xuôi, lo liệu sắp đặt, và chỉ sau vài ngày, hiệu tơ lụa của chàng đã treo biển đón khách. Mặc dù hai cửa hiệu chẳng khác gì nhau chỉ cách nhau có vài bước chân, cửa hiệu cảu Bất Vi vẫn nhộn nhịp. Vương Khuê còn bí mật giới thiệu khách hàng cho bên cửa hiệu của chàng, giúp cho việc làm ăn của chàng trở nên phát đạt.
Nhưng vài ngày sau, cửa hiệu của Lã Bất Vi bỗng vắng tanh vắng ngắt. Nguyên do là vì cửa hiệu bên kia bán giá rẻ hơn bên chàng. Vương Khuê cho chàng hay, Tống Kỳ thấy chàng ăn nên làm ra nên cố tình ép giá, hòng khiến Bất Vi lâm cảnh lụn bại. Vương Khuê khuyên Bất Vi hãy tính nước cờ khác, bởi lẽ chàng tiền ít vốn mỏng, sẽ không ép giá lại nổi với Tống Kỳ.
Lã Bất Vi đâu dễ nhún nhường, Tống Kỳ muốn ép chàng nhưng sẽ ép không nổi. Làm ăn ở đây khó bề vượt mặt hắn ta thì chàng sẽ đi tứ phương làm ăn, sẽ bán hàng ngay nơi thôn quê chợ làng vậy. Thế là, Bất Vi cùng hai gia nhân vai vác tơ lục, leo lên một gò đất cao, quan sát bốn phía, hễ thấy ai cũng lập tức mời chào, hễ có cơ hội làm ăn là chụp lấy không bỏ sót. Năm ấy, chính Mạnh Kha đã gọi loại hoạt động buôn bán này là “lũng đoạn” và ghi chép lại trong cuốn “Mạch Tử - Công Tôn thiên”. Buôn bán kiểu này lãi ít mà vất vả, quanh năm dầm dãi nắng mưa, chịu sương chịu gió, vậy mà Lã Bất Vi cùng hai gia nhân vẫn kiên trì thức khuya dậy sớm vác lụa trên vai in từng bước chân trên những bờ ruộng dọc ngang khúc khuỷu.

CHƯƠNG III
HÀNH TRÌNH TỚI HUNG NÔ


Lã Bất Vi cùng hai gia nhân chờ đón từng người qua lại trên khắp mọi nẻo đường để bán lụa. Giờ đã là mùa thu. Những thửa ruộng sau mùa gặt giờ chỉ còn trơ ra những gốc rạ. Chưa có sương rơi, vẫn còn có thể trông thấy sắc màu xanh non của vài sợi cỏ ngọn cây lưa thưa giữa những khoảng đất rộng trên những thửa ruộng. Những cơn gió thu xào xạc cuốn theo từng đợt lá vàng rơi. Vài gốc cây khô trụi lá gầy guộc bất lực nhìn sắc trời cuối thu âm vang tiếng lá rụng mang theo hơi mùa đông tới.
Trời se lạnh, Lã Bất Vi nhóm lửa sưởi ấm, hâm nóng vài ngụm rượu để uống cho huyết mạch lưu thông, người ấm áp lên. Thời gian này, rất ít ai đi về vùng ruộng đồng ngoài thành ấp vì sợ cái lạnh tê người nơi đồng không hoang vắng ấy. Và chuyện làm ăn kiểu “lũng đoạn” của Lã Bất Vi cũng lắng nhạt đi tựa như sự tiêu điều của thời tiết vậy.
Một hôm, Lã Bất Vi tình cờ gặp người biểu diễn rắn cưỡi một con ngựa, lưng đeo kiếm. Không biết tại bởi đã quá mệt hay do quần áo mặc trên mình quá mỏng mà vừa nhìn thấy đống lửa trước mặt Lã Bất Vi, anh ta liền nhảy xuống ngựa, co mình sưởi ấm.
Lã Bất Vi nhận thấy đó là một chàng trai nhiều hơn mình dăm tuổi, dáng vẻ cương nghị, trầm tĩnh. Anh ta không hề bắt chuyện với Lã Bất Vi và hai gia nhân mà ngồi sưởi ấm một lát rồi tháo bầu rượu đeo bên sườn ra, định hớp vài ngụm. Lã Bất Vi liền giữ tay anh ta lại, đoạn đưa cho anh ta một ly rượu đã được hâm nóng, nói: “Uống rượu lạnh hại tỳ sinh bệnh, uống rượu ấm này đi”.
Người biểu diễn rắn không từ chối, cũng chẳng cám ơn, cầm lấy ly rượu tu ừng ực hai ngụm, chùi mép rồi đưa lại chiếc ly cho Lã Bất Vi.
Lã Bất Vi cảm thấy thật kỳ lạ, không lẽ người này bị câm hay sao?
Chợt con ngựa đứng bên cạnh hý lên một tiếng dài. Lúc này Lã Bất Vi mới để ý, con ngựa của người biểu diễn rắn là thuộc giống long mã mặt sư tử. Con tuấn mã lông đỏ thẫm có điểm những đốm đen đang lúc lắc cái bờm trông tựa một tấm lụa đỏ. Bốn chân cao, khoẻ đứng tựa hồ còn vững hơn cả bốn cột chống nhà. Toàn thân nó láng bóng như bôi mỡ. Mặc dù phải thồ theo xe đựng mấy con rắn nhưng bốn chiếc móng ngựa như đá chôn xuống đất, vững vàng không nhúc nhích.
Lã Bất Vi không ngớt miệng khen: “Con ngựa tuyệt quá! Con ngựa tuyệt quá!”
Hai gia nhân cũng nói: “Ở Bộc Dương chưa bao giờ được thấy một con tuấn mã to khoẻ như thế này, đến con ngựa dùng để kéo xe vàng cho Vệ Nguyên Quân e là cũng không sánh kịp!” Lã Bất Vi tò mò hỏi người biểu diển rắn: “Con ngựa quý này là giống ở đâu vậy?” Người biểu diễn rắn rốt cục cũng mở miệng: “Hồ Địa”. Lã Bất Vi hỏi tiếp: “Đó chẳng phải là quốc gia của người Hung Nô ở phương bắc đó sao?” Người biểu diễn rắn gật đầu. Lã Bất Vi lại hỏi: “Anh đến đó rồi ư?” Anh ta lại gật đầu. Lã Bất Vi nghe nói, ở nước Triệu, kể từ khi Triệu Võ Linh đề xướng: “Hồ phục kỳ lạ”, ở thành Hàm Đan nơi đâu cũng thấy người mặc trang phục của người Hồ, học cưỡi ngựa bắn cung. Bởi vậy, ở đó, ngựa và trang phục của người Hồ rất đắt.
Đã có người đến Hồ Địa mang theo lục là ngọc trân châu vốn rất rẻ đổi lấy ngựa tốt, quần áo bằng da thú đem về bán rất đắt trong thàng, kiếm lãi kếch xù. Lã Bất Vi cũng từng có ý tưởng này trong đầu nhưng ngặt nỗi đường sá không thuộc, ngôn ngữ không thông nên đành nhìn mà nuối tiếc. Người biểu diễn rắn đã từng đi tới quốc gia Hung Nô đang đứng trước mặt chàng đây chợt trở nên đầy lôi cuốn với Lã Bất Vi. Lã Bất Vi đến gần hơn một chút, thân mật hỏi: “Xin hỏi vị đại ca, nghe nói mười thước lụa như chúng tôi đang bán đây có thể đổi được mười mấy con ngựa của người Hồ có đúng không?” Người biểu diễn rắn đáp: “Đúng. Người Hồ đặc biệt thích lụa.” Lã Bất Vi lại hâm nóng thêm một ly rượu mời người biểu diễn rắn uống.
Lã Bất Vi thấy ánh mắt lạnh lùng của anh ta giờ đã trở nên ấm áp hơn đôi chút. Cũng có thể là sự nhiệt tình của chàng đã làm anh ta cảm động. Chợt, người biểu diễn rắn lên tiếng trước: “Ba người các anh can đảm, nhiệt huyết ở đây dầm mưa dãi nắng kếim chẳng nổi vài đồng. Chi bằng các anh mang vải lụa của mình tới chỗ người Hung Nô, cầm chắc đổi được 180 con ngựa tốt đem về Hàm Dương bán thì có thể kiếm được bằng với số lãi các anh kiếm ở đây 18 năm!” Lã Bất Vi vội đỡ lời nói tiếp: “Chúng tôi đâu phải không muốn như vậy! Hiềm nỗi núi cao, đường xa, lại không biết lối, ngôn ngữ chẳng thông, bởi vậy không dám mạo hiểm lên đường”.
Nói xong câu này, Lã Bất Vi nhìn chằm chằm, quan sát sắc mặt của người biểu diễn rắn, đoạn thăm dò tiếp: “Nếu mà được một người đã từng đi tới Hung Nô dẫn đường cho chúng tôi thì quả thực chẳng còn gì bằng!” Người biểu diễn rắn nhận thấy ý bóng gió trong lời nói của Bất Vi, do dự một lát rồi nói: “Như thế này vậy, ta sẽ đưa các anh đi một chuyến”.
Lã Bất Vi không giấu nỗi vui mừng hỏi: “Thật sao?”
Người biều diễn rắn đứng dậy, đập đập vào chiếc áo cho bụi đất bay xuống, nói: “Sáng ngày kia hẹn gặp tại đây, anh phải có một con ngựa để cưỡi và thồ hàng”. Nói rồi nhảy lên ngựa, lao vút đi.
Con người đến tên cũng không để lại mà nhận lời giúp đỡ một cách dễ dàng đến vậy khiến cho Lã Bất Vi vừa cảm thấy ngạc nhiên, vừa có cảm giác nghi hoặc. Nhưng rồi chàng nghĩ anh ta trông thật thà, nghĩa hiệp hẳn sẽ không đến nỗi hứa hươu hứa vượn, lời nói gió bay.
Về tới nhà, Lã Bất Vi kiểm tra lại toàn bộ số hàng, còn bảy trăm thước lụa, mua vào thêm ba trăm thước là vừa đủ một nghìn thước. Có việc vào thành mua ngựa là khiến chàng đau đầu một chút bởi lẽ chàng chưa hề cưỡi ngựa, nhìn thấy những con tuấn mã to khoẻ hung dữ mà phát run. Bất Vi cưỡi thử vài con, sau cùng cũng mua được một con có vẻ ngoan ngoãn vâng lời và dắt về nhà.
Ngay tối hôm ấy, Lã Bất Vi tìm đến nhà Phùng Quân Úy để từ biệt Hoàng Phủ Kiều. Kể từ lần chia tay trước nên bờ sông Bộc Dương, chàng và Hoàng Phủ Kiều mới gặp lại nhau một lần. Đó là vào ngày đầu tiên Lã Bất Vi đi buôn bán tơ lụa, chàng đã cắt ra một mảnh vải bông hình lá nho đẹp nhất tốt nhất và mua thêm một chiếc thoa cài đầu bằng vàng mang đến trước cửa nhà Phùng Quân Úy, vội vàng gặp rồi vội vàng chia tay với Hoàng Phủ Kiều.
Lần đầu tiên Lã Bất Vi nhìn thấy Phùng Quân Úy, vị lão tướng đã bao phen mặc giáp cầm gươm nam chinh bắc phạt với phong thái cởi mở, râu dài, nét mặt đôn hậu. Phùng Quân Úy vui mừng nói: “Con gái nuôi của ta thường nhắc đến công tử, ngợi ca công tử, hôm nay được gặp mặt quả là bậc hào hoa phong nhã, khí khái hơn người. Lần trước công tử đi mua đào từ vùng sơn cước trở về, lão phu vốn định bày tiệc tiếp công tử, tiếc một nỗi là phải tháp tùng Tể tướng đại nhân đi tuần thị vùng biên ải nên lỡ mất, quả thựa đáng tiếc. Hôm nay nhất định lão phu phải bày mâm đãi công tử!” Nói đoạn, không cần biết Lã Bất Vi có đồng ý hay không, liền sai quản gia chuẩn bị rượu thịt. Lã Bất Vi mặc dù vừa dùng bữa xong nhưng thấy lão Quân Úy chân thành nhiệt tình đến vậy nên chẳng tiện nói lời từ chối.
Lã Bất Vi cùng lão Quân Úy thưởng thức những món ngon vật lạ bên Hoàng Phủ Kiều đi tới đi lui tiếp rượu hầu thịt, chàng đã có một buổi tối đầy mãn nguyện.
Sáng sớm ngày hôm sau, một con ngựa tắm mình trong ánh nắng ban mai mang trên lưng chàng thanh niên ôm mộng tới Hung Nô quyết liều mình một phen, chẳng mấy chốc đã ra khỏi thành Bộc Dương.
Lã Bất Vi vừa phi ngựa tới điểm hẹn vừa nghĩ: “Không có lẽ nào anh ta lại không tới!”, chỉ đến khi chàng nhìn thấy từ xa bóng một người đang dắt ngựa đứng đợi ở đó, chàng mới trút được gánh nặng âu lo trong lòng.
Lã Bất Vi cùng người biểu diễn rắn trèo đèo vượt suối, ngày đi đêm nghỉ. Tới mỗi thành ấp, người biểu diễn rắn lại dựng rạp mời gọi người xem xiếc rắn đi thu tiền. Người biểu diễn rắn thâm trầm ít nói, biểu diễn xong quay về lữ điếm cũng không chuyện trò gì cùng Lã Bất Vi, mà một mình tới khoảng đất trống để đi quyền múa kiếm. Lã Bất Vi đã mấy lần hỏi quý tính đại danh của anh ta song anh ta đều cười nhạt mà rằng, công tử cứ gọi tôi là người biểu diễn rắn. Thấy anh ta nói vậy, Lã Bất Vi cũng không hỏi thêm nữa. Người biểu diễn rắn này kiệm lời nhưng rất hào phóng, anh ta thường lấy tiền biểu diễn để trả chi phí ăn ngủ dọc đường, điều này khiến Lã Bất Vi trong lòng áy náy.
Cuối cùng, hôm đó, Lã Bất Vi theo người biểu diễn rắn đến vùng biên giới gió thổi lồng lộng, có đồng cỏ rộng trải dài tít tắp. Người biểu diễn rắn thở phào thốt lên: “Đến rồi!”
Khi Lã Bất Vi cùng người biểu diễn rắn đặt chân lên mảnh đất hàn bắc, đi nghìn dặm chưa thấy bóng người. Là tác giả mà tài mọn, tôi không có cách nào miêu tả cho bạn đọc bức tranh sinh động về cuộc sống của dân tộc du mục Hung Nô này. May thay, đã có nhà sử học, nhà văn học Tư Mã Thiên, đành trích đôi lời thần diệu của ông để miêu tả phong tục, sinh hoạt của người Hung Nô thời bất giờ hầu bạn đọc.
Thuỷ tổ Hung Nô là hậu duệ họ Hạ Hậu, gọi là Thuần Duy. Trước thời Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, có Sơn Tuấn, Hiển Doãn, Hồn Châu… sinh sống ở Bắc Nam, di chuyển theo sự chăn nuôi gia súc. Số lượng gia súc của họ phần lớn là ngựa, bò, dê, một số gia súc đặc thù như lạc đà, lừa… Họ tìm đến những nơi có nước và cỏ, do vậy thường xuyên di chuyển. Không có thành quách và nơi ở cũng như vùng đất nông nghiệp nhất định, nhưng cũng có những khu đất không có văn tự thư tịch, dùng ngôn ngữ làm ước thúc. Trẻ con biết cưỡi dê, bắn chim thú, lớn một chút có thể săn bắn cáo, thỏ làm thức ăn. Đàn ông của họ đều biết bắn cung, cưỡi ngựa. Tập tục của họ là: bình thường vô sự, thì theo đàn gia súc, lấy việc săn bắn để duy trì cuộc sống; gặp tình hình nguy cấp, mọi người đều tập luyện binh sĩ, dàn trận, đi xâm lược người khác là thiên tính của họ. Binh khí mà họ thường dùng là cung tên, binh khí ngắn là dao kiếm, mâu, thuẫn. Khi tác chiến, nếu thuận lợi thì tiến công, không lợi thì rút lui, bỏ chạy không cho là nhục. Chỉ cốt có lợi, không để ý đến lễ tiết. Từ vua cho đến thường dân, ai cũng ăn thịt súc vật mặc áo da thú, khoác chăn lông. Thanh niên khoẻ mạnh được ăn thức ăn ngon, người già ăn những thức dư thừa. Họ coi trọng trai tráng khoẻ mạnh, coi thường người già cả yếu đuối. Bố chết, con có thể lấy mẹ kế làm vợ; anh em chết, anh em của người đó có thể lấy vợ cảu người chết làm vợ mình. Tập tục của họ là mỗi người đều có tên, không kiêng kị, lại không có họ và chữ…
Phóng tầm mắt ra xa trên bình nguyệ trải rộng bao la, Lã Bất Vi thấy có những túp lều nho nhỏ tựa như những hạt đậu được vãi ra tứ phía. Hai con ngựa phi lên phía trước mặt cho từng đợt gió táp, những túp lều nhỏ mỗi lúc một rõ nét và trở nên to hơn. Lã Bất Vi nhìn rõ trước mặt chàng có năm túp lều vải, trong đó một lều trướng cao và to hơn hẳn những lều khác, trên vải lều có hình hoạ đẹp đẽ, trên đỉnh lều, một lá cờ đỏ thắm viền xanh đang tung bay trong gió. Lã Bất Vi và người biểu diễn rắn nhảy xuống ngựa, mở túi ra, dùng một thứ mực đen đựng trong túi xoa lên mặt. Người Hung Nô quy định, sứ thần và khách thương người Hán nếu không theo phong tục mà bôi đen lên mặt sẽ không được phép vào nhà họ.
Người biểu diễn rắn cho Lã Bất Vi hay, lều trướng lớn trước mặt là của Hữu Cốc Lãi Vương quan tước tương tự như Tể tướng cảu nước Vệ và bảo Lã Bất Vi cùng anh ta vào triều kiến ông ta. Người biểu diễn rắn bảo Lã Bất Vi đừng sợ, đã có anh ta nói giúp chàng.
Hai bên cửa lều là hai tên lính lưng dắt dao, sau khi bẩm báo, Lã Bất Vi và người biểu diễn rắn được đưa vào trong. Khi tấm dạ trên cửa buông cũng là lúc mùi tanh khét ở đâu hầm hập bao lấy Lã Bất Vi, trong giây lát, Bất Vi cảm thấy lạnh toát sống lưng.
Đây là lần đầu tiên đến Hung Nô. Trước mặt chàng giờ là một toán người đang ngồi trên một tấm thảm dạ, ở giữa là một người trông rất cao lớn vạm vỡ mình khoác da thú, hai bên là một vài vị quan thần và thê thiếp. Lã Bất Vi nghĩ, người này hẳn là Hữu Cốc Lãi Vương rồi.
Người biểu diễn rắn quỳ lạy Hữu Cốc Lãi Vương theo nghi lễ của người Hung Nô, Lã Bất Vi cũng làm theo, quỳ xuống thảm. Lã Bất Vi nghe thấy người biểu diễn rắn dùng một thứ ngôn ngữ lai tạo giữa tiếng Hồ và tiếng Hán rất khó nói để bẩ, với Hữu Cốc Lãi Vương về mục đích chuyến đi của họ. Sau đó, người đã dùng tiếng Hồ trò chuyện cùng vị thủ lĩnh của người Hung Nô. Hai người nói chuyện say sưa, Hửu Cốc Lãi Vương cười phá lên khoái trá.
Lã Bất Vi và người biểu diễn rắn được một trưởng bộc có bộ râu quai nón đưa ra khỏi lều. Người biểu diễn rắn cho hay, chuyện làm ăn đã bàn bạc xong mười thước lụa sẽ đổi một con ngựa. Lã Bất Vi giao một nghìn thước lụa cho vị trưởng bộc này. Đổi lại chàng sẽ được nhốt trên một bãi đất bao quanh bởi hàng rào gỗ, trong đó những con ngựa đang hý vang ầm ĩ như một dàn đồng ca, màu lông sặc sỡ như một bức tranh dưới hoàng hôn tuyệt đẹp. Vị trưởng bộc mời Lã Bất Vi và người biểu diễn rắn kiểm tra những con ngựa.
Lã Bất Vi đếm nhanh, nhưng cứ đếm chưa được hơn mười con thì lại bị những con khác nhảy nhót xung quanh làm hoa cả mắt, đếm không nổi. Người biểu diễn rắn nói, không cần phải đếm, hơn vài con thiếu vài con cũng chẳng sao, trâu ngựa đối với người Hung Nô cũng chỉ như gà vịt đối với chúng ta mà thôi.
Bên cạnh chuồng ngựa có độc một chiếc lều, bên trong có giường đệm, thức ăn và bếp lửa. Vị trưởng bộc nói, nơi này được chuẩn bị cho những thương gia người Hán tới Hung Nô. Người biểu diễn rắn nói: “Sáng mai phải đưa hết số ngựa này đi, về đến chợ ở thành Hàm Dương rồi, chúng chỉ cần hý mấy tiếng thôi là lập tức đã biến thành tiền trong túi Lã đại thương gia rồi!”
Đây là cấu nói dài nhất, hài hước nhất mà người biểu diễn rắn thần bí, khó hiểu nói với Lã Bất Vi trên suốt chặng đường dài nghìn dặm mà hai người cùng đi bên nhau. Trên mảnh đất hoang vu giữa cái lạnh tê tái của trời đất Lã Bất Vi chợt nghĩ: vận mệnh con người, chớp mắt vạn biến. Việc mà mới đây thôi còn tưởng là chỉ biết nhìn mà tiếc, không với tay nổi thì trong chốc lát, tựa hồ như trăm nghìn đoá sen chợt nở bừng trước mắt ta! Nửa tháng trước đây, chuyện đổi lụa lấy ngựa đối với ta vẫn còn rất lờ mờ, không rõ nét, vậy mà bây giờ thì sao? Ôi, một món tiền lớn đã ở gần trong tầm tay rồi, thật dễ như trở bàn tay vậy!
Ở nơi thảo nguyên mênh mang, khoáng đạt này, màn đêm buông xuống nhanh hơn ở thành Bộc Dương. Khi mặt trời vừa lặn, trời vẫn còn hơi sáng, nhưng rồi sau đó, rất nhanh, ánh hoàng hôn lẫn sắc thần bí ùa xuống bao phủ bốn xung quanh những túp lều. Từng cơn gió tây thổi rào rào, tựa hồ như những cô thiếu nữ xấu hổ, chỉ khẽ làm lay động cỏ cây vàng khô bên ngoài lều trướng, tạo nên những âm thanh trống trải và xa xôi.
Lúc đi ngủ, người biểu diễn rắn thái độ rất lạ ra hiệu cho Lã Bất Vi rằng, đêm ở đất Hung Nô này có thể có những hiểm nguy khó lường, và anh ta thì thầm: “Chúng ta mặc áo vào nhưng phải nằm dưới gầm giường”. Sau này Lã Bất Vi nhớ lại, đêm ấy, chàng đã bị đánh thức. Có hai vệt lửa quét sáng trong lều rồi tắt ngay. Sau đó chàng nghe thầy có tiếng Hung Nô loáng thoáng chen lẫn tiếng gió. Chàng nín thở hồi lâu, rồi một cánh tay kéo chàng ra khỏi gầm giường.
Trong bóng tối đen như mực, Lã Bất Vi nghe thấy giọng nói run run của người biểu diễn rắn: “Có người muốn giết chúng ta, chúng ta phải đi mau thôi”. Bên ngoài lều tối mù mịt. Dưới ánh sao yếu ớt, Lã Bất Vi nhìn thấy một lưỡi dao trắng đang lay động trông như một con rắn, thanh kiếm sắc trong tay người biểu diễn rắn càng làm cho chàng cảm thấy dường như sắp có một trận quyết tử diễn ra. Đằng xa, có hai quầng lửa soi sáng cả một khoảng tối. Hai kẻ Hung Nô tay cầm đuốc, tay cầm dao tìm kiếm. Người biểu diễn rắn nhẹ nhàng không một tiếng động tiến lại sau lưng chúng, chỉ kịp nghe thấy hai tiếng kêu khô khốc “Ai a”, “Ai a”, rồi hai bó đuốc rơi xuống đất. Lã Bất Vi kinh hãi nghĩ: “Có lẽ anh ta đã giết chết cả hai tên rồi”. Người biểu diễn rắn đang lật giở quần áo của hai tên Hung Nô đã hồn lìa khỏi xác, Lã Bất Vi vội vàng lao tới nói: “Tìm gì vậy? Chúng ta mau chạy thôi!” “Tù và” Người biểu diễn rắn có lẽ đã tìm thấy, đứng dậy nói với Lã Bất Vi: “Công tử cưỡi ngựa của tôi, tôi cưỡi ngựa trong chuồng, mau!” Lã Bất Vi dắt con ngựa màu đỏ thẫm đang buộc ngoài lều, người biểu diễn rắn mở cửa chuồng ngựa, phóng mình nhảy lên lưng con ngựa lao ra trước, nói với Lã Bất Vi: “Chạy nhanh theo tôi, kiểu gì cũng phải ghìm được cương ngựa cho chắc!”
Hai con ngựa lao đi trong đêm tối. Người biểu diễn rắn thổi tù và, những tiếng “tu… tu… tu…” giục gọi hơn một trăm con ngựa trong chuồng cùng lao ra vùn vụt. Lã Bất Vi nắm chặt bờm ngựa, người tung lên tung xuống. Lúc đầu chàng còn nghe thấy tiếng gió thổi vun vút, sau đó chỉ còn tiếng vó ngựa rầm rập tựa tiếng gió thét mưa gào làm rung chuyển mặt đất. Màn đêm dày đặc vùng hàn bắc dần lùi lại sau lưng họ…
Hai cánh cửa lớn hai thành Hàm Dương của nước Triệu vốn đã bị thời gian làm cho phai màu đỏ thẫm, giờ trước dòng cuộn chảy của hơn một trăm con ngựa tiền hô hậu ủng dường như đã trở nên chật chội. Bụi cuốn dưới vó ngựa tựa như một lớp mây mù dày đặc phủ trên nóc nhà. Lã Bất Vi và người biểu diễn rắn đang gò mình trên lưng ngựa trong lớp gió bụi như đang cưỡi mây vờn sương vậy. Mọi người nhìn thấy một đội quân người ngựa lao tới vùn vụt như giông bão kéo đến trước cơn mưa đều vội vàng nhường đường. Hàm Đan là đô thành nổi tiếng từ thời Xuân Thu Chiến Quốc. Theo sự giải thích của chú giả Trương Yến trong cuốn “Hán thư” thì Hàm, là tên núi; Đơn, nghĩa là tận cùng. Bởi lẽ núi Hàm cao vô cùng tận cho nên được gọi là Hàm Đơn. Thành bắt nguồn từ ấp, bởi vậy thêm chữ ấp vào chữ “Đơn” thành chữ “Đan”. Mảnh đất người đông vật nhiều này, phố phường chằng chịt, xóm ngõ giăng giăng. Đi men theo các đường phố dọc ngang, hai bên đường lần lượt hiện ra rất nhiều nơi buôn bán, nào là các cửa hiệu cờ bay phấp phới, nào là các quán trà, tiệm ăn, tiệm rượu. Cách một đoạn phố lại xuất hiện một lầu các cao vút có vọng lâu với rường cột chạm trổ, thoáng nhìn biết ngay là một nhà dòng dõi trâm anh thế phiệt. Trên phố người đi lại như mắc cửi, thỉnh thoảng lại có xe ngựa lộng lẫy của một bậc vương hầu khanh tướng nào đó hoặc những chiếc xe có đính tua cờ của các tiểu thư đi qua, quả là “xe ngọc ngà của bậc vương hầu tấp nập lại qua, dây cương vàng của bậc khanh tướng rộn ràng lui tới”. Còn có biết bao thiếu nữ xinh đẹp, cổ đeo vòng ngọc, xiêm áo thanh thoát, gương mặt thắm hồng. Ngoài ra còn có một vài người mặc trang phục của người Hung Nô, đây là vết tích của chủ trương “Hồ phục kỳ lạ” do Triệu Linh Vương từng khởi xướng. Ngồi trên lưng ngựa, Lã Bất Vi không biết nên nhìn ngắm gì trước biết bao cảnh đẹp của một đô thành phồn hoa thịnh vượng như thế này. Khi chàng và người biểu diễn rắn dẫn đoàn ngựa tiến vào cổng chợ, Bất Vi càng cảm thấy hoa mắt trước bao nhiêu là thứ đẹp. Được bày bán có ngọc trân châu, lụa là gấm vóc, rồi giày da, đồ gốm, dao găm, xe ngựa. Người bán người mua chen chúc, tiếng mời gọi vang lên rộn ràng. Người đi không có chỗ vòng lại, ngựa xe chẳng có chỗ quay đầu.
Hơn một trăm con ngựa của Lã Bất Vi chả mấy chốc bán hết. Bất Vi cùng người biểu diễn rắn tìm một nhà trọ loại hảo hạng để nghỉ ngơi, tính ra được lãi trọn hai trăm dật vàng. Lã Bất Vi chia đôi số vàng đưa cho người biểu diễn rắn một nửa, anh ta nói đưa cho anh ta quá nhiều, anh ta lại chẳng phải bỏ vốn nên kiên quyết không nhận. Lã Bất Vi cau mày nói, nếu đại ca từ chối không nhận, hẳn là chê kẻ tiểu đệ đền ơn không xứng chăng? Lần này đi lên vùng đất của người Hồ ở miền Bắc, may mà có đại ca dẫn đường chỉ lối, chuyển nguy thành an, nếu không, đừng có nói là hai trăm dật vàng chứ đến hai mươi dật cũng không kiếm nổi. Tiểu đệ nhận một trăm dật, cũng cảm thấy hổ thẹn vô cùng! Người biểu diễn rắn thấy Lã Bất Vi không phải hạng người tham lam gian xảo nên cũng không từ chối nữa!
Lã Bất Vi dặn chủ quán cẩn thận làm mấy món ăn thơm phức, mua một hũ rượu, muốn cùng người biểu diễn rắn nâng ly chúc mừng, uống cho thoả sức. Rượu thịt đã được mấy hồi, Lã Bất Vi và người biểu diễn rắn đều đã ngà ngà say. Lã Bất Vi không úp mở nói thẳng những lời bấy lâu nay vẫn giấu trong lòng: “Huynh đệ sống chết có nhau đã được hơn một tháng. Đệ thấy huynh là bậc quân tử hiệp nghĩa, trung dũng, đệ cũng chẳng phải kẻ tiểu nhân tham tiền vô đạo, huynh đệ chúng ta cũng coi như là duyên phận trời ban, tâm đầu ý hợp. Nhưng, quý tính đại danh, xuất xứ lai lịch của đại huynh ra sao, đối với đệ vẫn là điều bí ẩn, điều này khiến cho tiểu đệ suy nghĩ, day dứt”. Người biểu diễn rắn vẫn lặng thinh không nói. Lã Bất Vi hỏi: “Huynh tên họ là gì?” Người biểu diễn rắn đáp: “Người biểu diễn rắn”. Lã Bất Vi nổi giận: “Đệ không hiểu, tại sao huynh lại phải giấu kín tên họ của mình?” Người biểu diễn rắn đỏ mặt tía tai nói: “Bởi vì ta là kẻ đã thả rắn trong cung của Vệ Nguyên Quân cắn chết công tử Nộ Khiên, có lẽ Vệ Nguyên Quân giờ đang sai thích khách đến các nước chư hầu truy bắt ta!”
Thì ra vụ án mạng mà dân chúng đang bàn tán xôn xao xảy ra ngay chốn hoàng cung lại do người biểu diễn rắn thâm trầm ít nói đang đứng trước mặt chàng đây gây ra. Lã Bất Vi hỏi: “Huynh và Vệ Nguyên Quân có thù oán gì?” Người biểu diễn rắn nói:”Kể ra thì dài lắm! Công tử có biết cũng chẳng để làm gì! Lời của bậc quân vương mới đáng giá nghìn vàng, quân vương đâu có thể là kẻ gian xảo, vô đạo, cạn nghĩa được! Tôi có một bảo vật, có thể sẽ giúp ích cho việc buôn bán của công tử. Ớ phía tây bắc nước Tề có một thái ấp nhỏ, nhà tôi ở đó. Trong vườn tử có một cây thân cong, dưới cây này có chôn bảo vật đó, công tử hãy đi đào lấy nó”. Người biểu diễn rắn nói xong, vòng tay chào từ biệt Lã Bất Vi. Lã Bất Vi lưu luyến rơi lệ hỏi: “Đại huynh đi thế này, chẳng biết về phương nào, huynh đệ còn có cơ họi gặp lại không?” Người biểu diễn rắn cảm động mà rằng: “Bốn bể là nhà, giang hồ phiêu bạt. Bao giờ được gặp lại nhau, còn phải xem chúng ta có duyên phận không đã!” Lã Bất Vi tiễn người biểu diễn rắn ra cửa lữ điếm, nhìn theo cái bóng đơn độc cho đến khi đã chìm vào dòng người qua lại mới quay gót về phòng. Lòng chàng chợt cảm thấy hơi hối hận, nếu chàng không cố tình căn vặn tên họ thân thế của người biểu diễn rắn thì anh ta hẳn sẽ không bất đắc dĩ mà nói chuyện thả rắn cắn chết công tử Nộ Khiên. Có lẽ anh ta thấy hối hận vì đã nói ra, sợ bị sát hại, vội vàng bỏ đi. Lã Bất Vi tự quyết với lòng rằng, rồi sẽ có một ngày, chàng sẽ trở thành một thương gia ở cái thành Hàm Đan này.
Về tới nhà, Lã Bất Vi đem câu chuyện chàng mạo hiểm đi đến Hồ Đại bắc hàn làm ăn kể cho cha mẹ nghe, không quên thêm đôi ba chi tiết cho sinh động. Hai vị song thân nghe mà giật mình kinh sợ. Nghe xong, cả hai nhìn Lã Bất Vi với một ánh mắt lạ lùng. Có lẽ nào chàng trai râu ria đã mọc lởm chởm đầy mặt kia lại là con trai của họ? Đây chính là đứa con đã bất chấp hiểm nguy, đùa giỡn cái chết đến tận vùng Hồ Địa của họ đó sao? Ánh mắt hiền từ không rời khỏi khuôn mặt, niềm tự hào dâng tràn trong lòng họ: “Đây đích thực là con trai Lã Bất Vi của chúng ta rồi!” Tiếc là họ không được gặp mặt người biểu diễn rắn tốt bụng ấy.
Bảo vật của người biểu diễn rắn rốt cục là cái gì? Chắc chắn nó phải kích thích sự tò mò ghê gớm nên mới khiến cho Lã Bất Vi quyết băng ngàn dặm đường đến nơi thành ấp nước Tề. Khi đến nơi rồi, họ cảm thấy đây là một mảnh đất thần bí. Khi đã đặt chân vào vườn tử, Lã Bất Vi không lập tức chạy tới gốc cây thân cong để đào bới tìm kiếm mà đưa mắt nhìn khắp quang cảnh đổ nát, từng đống gạch ngói ngổn ngang - hậu quả cảu ngọn lửa chiến. Lã Bất Vi cản thấy, nơi đây, khi loạn lạc chưa xảy ra, cũng là nơi ở của một gia đình giàu sang có địa vị. Giữa cảnh hoang tàn này, có mấy con chim lông cánh sặc sỡ nhìn thấy Lã Bất Vi tới liền cất giọng hót vang khắp nơi rồi bay đi. Lã Bất Vi dõi nhìn đàn chim dần bay xa, thầm nghĩ: “Chủ nhân ngôi nhà nay liệu có được bình an vô sự như những con chim này không, có tìm được nơi khác nương thân không?” Nghĩ đến đây, chợt Lã Bất Vi đoán rằng, nhất định trong đó chủ nhân của ngôi nhà này có một người là người ấy!
Lã Bất Vi là người đầu tiên xắn tay áo dùng chiếc xẻng sắt sắc nhọn đào xuống lớp đất sét mềm dưới gốc cây tử thân cong, lòng chàng chợt run lên hồi hộp: một lát nữa thôi, ở đây sẽ lộ ra ngọc ngà châu báu, hay tiền đồng tiền bạc, hay là vô số tơ lụa?...
Lã Bất Vi thấy mấy người cùng đến với mình thi nhau đào bới. Lộ dưới lớp đất đầu tiên là mấy cái hộp miệng nhỏ bụng phìng to, miệng bịt bằng da thú. Lã Bất Vi bóc miếng da thú, lấy ở trong ra một quyển sách. Bên trong mấy cái hộp còn lại cũng đều là những thẻ tre. Lã Bất Vi sai người nhấc những cái hộp để sang một bên, tiếp tục đào bới sâu rộng dưới tán cây tử cành lá lưa thưa. Đất bùn ẩm ướt dưới gốc cây chất dần thành gò. Chẳng có gì ngoài những con giun đỏ hỏn. Mọi người mồ hôi đầm đìa, có người ngồi thở hổn hển.
Lã Bất Vi ngồi nghỉ tại đó, trong lòng nghĩ: “Hay là chúng ta đào không đúng chỗ?” Ông căng mắt nhìn xung quanh chỉ có chỗ này có mấy cây tử và chỉ có cây này chếch ngọn. Hay là đào chưa tới nơi? Người biểu diễn rắn nói với mình, đây là vật quý mình có thể dùng cả đời không hết, nó nhất định có giá trị rất lớn. Là vật có giá trị như vậy, ông ta càng không thể chôn một cách qua loa đại khái được. Huống hồ, ở đây lại không có người canh giữ, nên phải chôn thật sâu. Tục ngữ nói, đào sâu ba thốn, bây giờ cũng không còn kém bao nhiêu nữa! Nghĩ đến đây, Lã Bất Vi lại ra lệnh cho mọi người đào tiếp. Càng đào xuống dưới, lượng nước trong đất càng lớn, giày cũng bị nước ướt sũng. Đào một chập nữa, chân của mọi người đều sũng dưới bùn đất. Nhìn thấy đất bùn đen nhão, Lã Bất Vi nghĩ: người biểu diễn rắn này có lừa dối mình không? Xem anh ta xương cốt cứng cỏi, mi mắt ngay ngắn. Không thể giảo quyệt đưa mình chui vào bẫy. Anh ta có thể hứng lên mà nói vậy thôi, lấy câu chuyện làm quà. Hai người không quen biết gặp nhau, người ta dựa vào cái gì mà tặng những thứ quý giá cho mình.
Lã Bất Vi nghĩ đi nghĩ lại, cho rằng người biểu diễn rắn chỉ thuận miệng nói ra mà thôi. Ông nhìn những người phía trước mình mẩy đầy đất và mồ hôi, giống như những con rắn vừa chui ở trong hang ra, bị người biểu diễn rắn làm trò chơi.
Lã Bất Vi nghĩ đến đây, vung tay nói: “Đừng đào nữa”. Mấy người từ trong hố đất sâu rộng mệt mỏi chui lên. Chàng bảo mọi người nghỉ ngơi một lát, sau đó về Bộc Dương. Lã Bất Vi ngồi đó hết sức chán ngán, thò tay vào trong hộp lấy ra một tấm thẻ tre tiện tay lật xem, giở đi giở lại. Lã Bất Vi như bừng tỉnh: “Người biểu diễn rắn nói muốn tặng mình vật quý vô giá dùng cả đời không hết, chính là bộ sách này đây!”
Bộ sách này có tên là “Kế Nhiên”. Lã Bất Vi nhớ khi còn đi học nghe thầy giáo giảng qua. Kế Nhiên… bảy thiên, Phạm Lãi mới dùng năm thiên đã khiến cho người nước Việt hưng thịnh, xưng bá Trung Nguyên. Sau này Phạm Lãi từ quan đi buôn, vận dụng sách “Kế Nhiên” trở thành người giàu có ức triệu. Mãi về sau này, Lã Bất Vi hết lòng hâm mộ quyển sách này, nhưng chưa được đọc qua. Không ngờ, hôm nay vô tình lại được nó ở đây.
Người soạn sách “Kế Nhiên” chính là Kế Nhiên trong “Ý LÂM” của Mã Thông viết: Kế Nhiên, người Khâu Bồ Thượng đất Thái, họ Tân Thị, tự văn Tử, vốn là công tử nước Tấn. Sau nam du xuống nước Việt, Phạm Lãi theo học. “Kế Nhiên” là một bộ trước tác bao quát muôn vật, kế sách dân giàu nước mạnh. Tư Mã Thiên trong “Sử Ký Hoá Thực Liệt Truyện” viết: Trước kia Việt vương Câu Tiễn bị khốn trên núi Hội Kê mới sử dụng Phạm Lãi, Kế Nhiên. Kế Nhiên nói: “Biết sẽ đánh nhau thì phải chuẩn bị chiến tranh, biết mùa vụ của hàng hoá và nhu cầu của mọi người mới được coi là biết hàng hoá. Nắm vững quan hệ giữa mùa vụ với nhu cầu, tình hình cung cấp và nhu cầu hàng hoá trong thiên hạ thì có thể thấy được rõ ràng. Năm ở hành “Kim” thì được mùa, ở hành “Thuỷ” thì mất mùa, ở hành “Mộc” sẽ mất mùa, khó khăn, ở hành “Hỏa” sẽ khô hạn. Khi trời hạn thì phải chuẩn bị thuyền, khi ngập lụt phải lo chuẩn bị xe. Đây là nắm vững đạo biến hoá của vạn vật. Thông thường cứ sáu năm một lần được mùa, sáu năm một lần hạn hán, mười hai năm có nạn đói lớn. Thóc gạo bán ra mỗi đấu giá hai mươi tiền, nông dân chịu thiệt; mỗi đấu giá chín mươi tiền, người làm nghề thủ công, buôn bán sẽ chịu thiệt. Người làm nghề công thương bị tổn thất, ruộng sẽ bỏ hoang, không ai đi khai khẩn. Đo đó giá ngũ cốc cao nhất cũng không được quá tám mươi tiền, thấp nhất không thể dưới ba mươi tiền, như vậy công, nông, thương đều có lợi. Giá ngũ cốc bán ra cũng có sự điều chỉnh với giá các mặt hàng khác. Thu thuế chặt chẽ và cung cấp thị trường đều không thể thiếu. Đây là đạo lý trị quốc. Ngay như tích luỹ hàng hoá, cần phải tích trữ chắc chắn, có thể để được lâu dài, để tiêu thụ, mới không lo lỗ vốn. Trong buôn bán, hàng hoá dễ hư hỏng thì không nên tích trữ chờ giá. Nghiên cứu hàng hoá dư thừa hay thiếu thốn thì biết được xu hướng gái cả của hàng hoá. Giá cao đến đỉnh điểm thì sẽ hạ, giá thấp đến kịch điểm thì sẽ tăng. Khi giá cả tăng đến điểm cao nhất thì phải đem hàng hoá tích trữ ra bán ngay, khi giá hành thấp nhất thì phải nhanh chóng thu mua vào. Phải để cho đồng tiền chu chuyển giống như dòng nước chảy không ngừng.” Việt Vương Câu Tiễn theo sách lược của Kế Nhiên thực thi trong mười năm, đất nước cường thịnh, dùng tiền bạc đi mua quân sĩ, các chiến sĩ xung phong lâm trận, không sợ tên đạn, giống như khi khát muốn uống nước, Việt Vương rút cục đã báo được thù, tiêu diệt nước Ngô hùng mạnh. Sau đó lại dẫn quân lên phía bắc vào Trung Nguyên, thị uy chư hầu, xưng là một trong ngũ bá thời Xuân Thu.
Sau khi Phạm Lãi giúp nước Việt rửa sạch mối nhục ở núi Hội Khê, thở dài nói: “Sách lược của Kế Nhiên có bảy điều, nước Việt mới dùng năm điều đã báo được thù. Sách lược đó trong trị quốc rất hữu hiệu, ta phải dùng nó trị gia”. Vậy là làm một chiếc thuyền nhỏ vượt sông lớn, thay tên đổi họ. Đến nước Tề, tự gọi là: “Xích Di Từ Bì”; đến đào ấp gọi là “Chu Công”. Chu Công cho rằng đào ấp là trung tâm của thiên hạ, thông với các nước chư hầu, là yếu địa trong giao dịch hàng hoá, ông liền đặt mua sản nghiệp, tích trữ hàng hoá, tuỳ cơ ứng biến, không khắt khe với mọi người - Sở dĩ giỏi về kinh doanh sản nghiệp, biết dùng người tài, lại nắm vững thời cơ. Trong mười chín năm, ba lần kiếm được cả ngàn vàng, hai lần phân tán tài sản cho bạn bè khó…

Hết quyển 1 - mời các bạn xem tiếp quyển 2
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
Ct.Ly và Thái Nhi ơi,

Vậy là Quyển 1 HTLĐ đã type xong rồi, ct.Ly từ từ đưa vào thư viện đi nha.

Thân,
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-01 08:05:32Mọt Sách>
Bravo Hoatuylipden nhé! tặng cho bạn một bông tulip đen nè:




📎 tulip|Black%20Pa..%20Tulip


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
Các bạn ơi! ms đưa truyện lã bất vi vào thư viện rồi, nhưng phát hiện ra quyển 8 vẫn chưa đánh máy xong. Bạn ly thien nga mới gõ đến trang 715 của quyển 8 dòng:"Lã Bất Vi bắt đầu hỏi thăm và an ủi Doanh Chính bằng những lời lẽ thành thật dễ lọt tai."

Vậy bạn nào rảnh gõ nốt dùm được không? cám ơn nhiều, cũng sắp xong rồi mờ [:D]


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
vậy để CtLy ra tay vậy
Chứ kêu các hiệp sĩ hoài..kì quá

Vậy MS ráng chờ nhé
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-24 12:18:35ct.ly>
Thôi để quyển 8 cho H gõ vậy. Ông anh đi làm việc khác đi. Đại loại đi... pha cà phê hoặc là... nấu cháo lòng cho bà con hiệp sĩ bồi dưỡng sau nhiều.... ngày không ngủ (chứ ko phải đêm à nghe) nhé. hì hì hì ! H tải về rồi, sẽ giao trong thời gian ngắn nhất có thể vậy. Bắt đầu từ chương 18 BỊ TRỤC XUẤT KHỎI KINH THÀNH phải không? Được !


* * * * * * * *

Chí Hải Gõ tới đâu rồi

Cần Hiệp Sĩ Hào Hoa gõ phụ khg???

Cho tin nhắn nhé

Thân thương
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-24 12:19:51ct.ly>
Lã Bất Vi

Trang 758 đến 764

Đoạn kết

Đó là điều Lã Bất Vi không hề ngờ tới. Phong ấp Lạc Dương kết đèn giăng hoa, khua chiêng gõ chóng nghênh đón Lã Bất Vi. Phủ đệ ở đây chẳng khác nào phủ đệ ở Hàm Dương – hào hoa khí thế, trong chiếc sân rộng thoáng có một cỗ xe tư mã. Các gia quyến thân thuộc và đầy tớ vẫn ăn mặc diêm dúa như cũ, ngẩng đầu sải bước ra ra vào vào; đại điện, chính thất, tẩm thất, thư phòng, nhà bếp, tất cả đều có cửa màu sơn đỏ, một mảng nhẵn bóng....
Việc Lã Bất Vi di cư đến phong ấp Lạc Dương đã trở thành một tin tức mới quan trọng cuối đời chiến quốc.
Trong sự bận bịu bởi những cuộc gặp gở, nói chuyện vui vẻ và trù hoạch mưu lược, Lã Bất Vi thấy mình không bị bỏ phế lại không và những ngày tháng cô đơn. Các hào kiệt trong vùng đến thăm hỏi ông như đèn kéo quân. Lã Bất Vi phi thường bàn luận với họ việc làm sao để lãnh địa của ông được thịnh vượng giàu sang. Những việc như cầu trời tế đất, hồi hoa mẫu đơn quốc sắc thiên hương hay những việc hiếu hỉ, ông đều là nhân vật chủ chốt không thể thiếu được. Trong những cuộc tiêu khiển thể diện đó tâm trạng vui vẻ nơi ông lại xuất hiện như đài hoa mẫu đơn.
Chiêu hiền nạp sĩ, Lã Bất Vi có thể đẹp ngang với Mạnh Thường Quân nước Tề, Bình Nguyên Quân nước Triệu, Tín Lang Quân nước Ngụy, Xuân Thân Quân nước Sở. Sau khi ông đến Lạc Dương thì Lạc Dương lại trở thành Thánh điện của nhiều, trung tâm văn nhân học tri. Người đến Lạc Dương không ngớt. Ông đều khiêm tốn lễ phép tiếp nhận họ. Những môn khách mới và cũ thì tập trung lại hoặc là phân tích nói chuyện vui vẻ kết cấu và cách thức thời sự và đưa ra kế sách cho ông học là biên soạn sách vở, cả công ban đức cho ông
Điểu khiến người ta phải vô cùng xúc động đó là chư hầu sau nước Quan Đông đều sai những nhân vật thần bí đến gặp Lã Bất Vi . Có người thì lòng vòng hỏi ông về hư thực động tĩnh của Tần Quốc . Có người thì chân thành ban thưởng ngàn vàng mời ông Hàm mưu khách khanh. Một người lão luyện như ông thì không dễ dàng gì chấp thuận cả. Ông luôn thỏa đáng đúng mức để không làm gì hại đến mọi người và cũng không làm hại đến sự đền đáp của Tần Quốc đối với ông. Cho dù như thế nhưng các chư hầu vẫn không cam lòng và vẫn sai người đến. Họ mang tâm lý gặp may chờ đợi một điều gì đó ngoài lòng mong đợi.
Con dao bằng đồng thau của Thanh quả phụ lúc nào cũng được cất trong túi áo Lã Bất Vi. Điều đó khiến ông mang bên mình một tình cảm quý mến thơm thảo và cũng chan hòa hứng thú về đồng tiền của ông .Nhưng ông có một sự lưu luyến bẩm đối với kinh doanh. Ông vẫn mở mấy cửa hàng châu báu ở các nơi và làm ăn vẫn phát đạt như cũ. Có lúc ông gọi Dương Tử, Triệu Khả Tiến đến bên. Và tình hình, con số, màu sắc, hoa văn sản phẩm là những chủ đề mà ông nói đến lúc đó.
Một gánh thê thiếp khiến con cái của Lã Bất VI thành đàn thành đống. Một thời gian những người con này dường như đã trở thành nguồn suối trong niềm vui gia đình của ông và họ cũng là trung tâm của sự chú ý. Đặc biệt là đối với mấy vị công tử , ông dồn vào họ lòng yêu thương và niềm hy vọng vô hạn. Ai đã đủ tuổi trưởng thành ông liền cho họ ra ngoài va chạm và học hỏi thể hiện. Ai chưa đến tuổi trưởng thành thì ông cho theo bên người mà ân cần dạy bảo kiến thức cho họ, để họ tiếp thu kiến thức và rèn luyện bản lĩnh. Những đứa còn nhỏ chưa biết gì thì ông mời thầy kiến thức phong phú đức cao vọng trọng về dạy vỡ lòng cho họ.
Những tin tốt lành không ngừng được truyền đến, điều đó làm Lã Bất Vi vô cùng mừng rỡ và phấn khích. Doanh Chính đích thân dẫn đại quân , thể như chẻ tre đã đánh đến chân thành Hàm Đan .... Lý Tư được tín nhiệm nhất mực đã trở thành thành viên phải kể đầu tiên trong phủ Tần Vương .... du thuyết của Đệ Tiều người nước Tề đã khiến cho Doanh Chính hồi tâm chuyển ý đón Thái hậu Triệu Cơ về ở, điện Chiêu Thanh cung Cam Tuyền ...Trịnh Quốc người giám sát công trình thủy lợi của nước Hàn đã không bị giết và cuối cùng đã hoàn thành xong công trình khai kênh Kinh Hà và được Tần Vượng thưởng danh là Trịnh Quốc Cừ (« Cừ » có nghĩa là kênh mương) . Dòng kênh tựa như một dòng ngọc đang từ nơi xa xôi ngọt ngào chảy vào lòng Lã Bất Vi....
Trong thời gian dài, sự trầm tư mặc tưởng đã trở thành một bộ phận và đặc trưng tính cách trong nội dung cuộc sống của Lã Bất Vi. Ông thường ngồi buồn trong thư phòng tập trung tinh thần để nghĩ ngợi. Bỗng nhiên ông để ánh mắt hướng vào một hang trống nơi phong cảnh mờ nhạt phía ngoài cửa hoặc của một nơi nào khác. Đối với một người già sáu mươi mấy tuổi thường để lòng mình trôi nổi trong những chuyện cũ hoặc niềm mơ ước thì mọi người cũng không lấy làm ngạc nhiên và xoi mói bắt bẻ. Trên khuôn mặt đầy những nếp nhăn tựa như mạng nhện của ông tràn đầy sự an tường và tôn kính. Ông đang nghĩ đến hoàn cảnh của ông, tương lai của ông . Ông đang nghĩ đến con cái ông, sự nghiệp của ông.
Một hôm, bỗng nhiên Lã Bất Vi dường như sực nhớ đến một việc gì đó, đại để như có họa lớn sắp giáng xuống. Ông tìm Tư Không Mã đến rồi hoảng hốt luống cuống mà rằng :
«Mau, mau giải tán các môn khách đi, truyền thư đến lục quốc chư hầu, ta không tiếp nhận sứ thần của họ nữa ; hãy bán đi một số tuấn mã và xe lọng, không rời nhà đi xa, chúng ta sẽ đi bộ cũng xong; đóng cửa không tiếp khách, để cho sân của chúng ta vắng vẻ đi. Ngươi mau làm nhanh việc này, không thể coi thường được ».
Tư Không Mã cho rằng thần kinh Lã Bất Vi xuất hiện sự rối loạn nào đó thì hỏi :
« Thưa đại nhân , ngài làm sao vậy ? »
Lã Bất Vi sợ hãi nói :
«Tư Không Mã , người thử nghĩ xem chúng ta ở đây phát đạt, khách đến đầy cửa, lại liên lạc với các chư hầu, bàn luận thế thời, chính trị. Như thế Đại vương sẽ nghi ngờ chúng ta sẽ khôi phục địa vị ! Ta biết rất rõ Đại vương của chúng ta . Nhất định ngài sẽ không cho phép nơi đây trở thành một loại trung tâm cùa thế lực đâu ! »
Những điều Lã Bất Vi nói quả không sai. Chỉ tiếc rằng ông nhận ra điều đó hơi muộn. Còn chưa để cho Tư không Mã biến những điều ông nhắc nhở dặn dò thành sự thật thì vào một buổi trưa hè nóng ẩm ngột ngạt có hai viên họan quan mặt mũi đầm đìa mồ hôi từ Hàm Dương đến Lạc Dương tuyên bố chiếu lệnh của Doanh Chính đối với ông :
«Ngươi có công lao gì đối với Tần Quốc mà được phong ấp Hà Nam, Thực Ấp mười vạn hộ ! Ngươi có máu mủ gì với Tần Vương mà xưng là trọng phụ » Ngươi hãy mau cùng gia quyến thân thuộc dời đến đất Thục đi !.
Hoạn quan vừa đọc xong, Lã Bất Vi liền ngồi lặng đi dưới đất như bị sấm sét đánh trên đầu vậy. Doanh Chính muốn đầy gia đình ông đến đất Thục xa xôi hẻo lánh.
Ở đó rừng sâu núi cao, đường đi ách tắc, sói hổ chạy tứ tung, chướng khí mịt mùng. Tấm thân già nua cằn cọc của ông đến đó ở nhà lợp cỏ, cơm rau toàn là gạo lứt, rau lê, lá đậu, lòng không được vui, chí không được bày tỏ, cơ thể không được hoạt động, ốm không được cứu chữa. Cũng chẳng được bao nhiêu ngày là sẽ dằn vật mà chết. Những tội phạm áo đỏ bị đày đến đó được mấy người sống sót. Cả gia quyền thân thuộc cũng chuyển đến đó, không chỉ ông sẽ bị phơi thây ngoài đồng mà vợ quý con yêu của ông cũng sẽ trở thành oan hồn. Cho dù ông tìm ra lối thoát thì Doanh Chính cũng sẽ không để ông được thở chút hơi tàn mà nhất định sẽ tìm một cách khác đưa ông vào chỗ chết và còn chết nhanh hơn. Chung quy lại là chết, chi bằng chết ở đây lại có thể đỡ phải chịu cảnh sức cùng lực kiệt và sự đau khổ chòng chành nghiêng ngả của sự đày ải, và lại có thể để vợ quý con yêu không phải chịu sự dây dưa đi đày.
Lã Bất Vi nghĩ đi, nghĩ lại mấy ngày đêm và ông đã quyết định dùng phương thức tự vẫn để chấm dứt sinh mệnh của mình. Vào một đêm yên ả sao thưa, trên thư án trong thư phòng của Lã Bất Vi được để lên đó cuốn « Lã thị xuân thu ».
Lã Bất Vi uống một cốc rượu độc mà ông đã chuẩn bị từ lâu. Khuôn mặt ông bình tĩnh để thuốc trong bụng ông ngấm vào gan ruột. Đang khi đau đớn vô cùng và ngã xuống đất thì bị một vật gì sắc đâm vào. Ông nằm lại và nhìn – thì ra đó chính là con dao mà Thanh quả phụ đã tặng cho ông. Trong cơn rên rỉ co giật cuối cùng, Lã Bất Vi đã hiểu rõ một sự thực rằng : Ông đã dùng tiền vàng của chính mình giết chết mình. Lúc đó ông hoảng hốt nhận ra mọi đau khổ đã qua, linh hồn và biết bao chuyện ân oán khác đều ra khỏi cơ thể ông ? Ông cảm nhận được sự nhẹ nhỏm, như mình mọc cánh thành tiên rồi bay về cỏi phiêu diêu.
Mấy hôm sau, dưới núi Bắc Mang Lạc Dương theo sự chỉ dẫn của một vị thuật sĩ giang hồ trầm mặc ít nói, ở một nơi oai phong hướng dương có mạch nước chảy ra xuất hiện một gò đất vàng mới tinh. Trên đầu gò hoàng thổ nhô lên một bia mộ có khắc năm chữ sơ sài : « Lã Bất Vi chi mộ » ( Mộ của Lã Bất Vi).
Mùa đông năm 240 trước Công nguyên, trên con đường đông kết lại như sắt từ Hàm Dương về phía Bình Dương. Một đoàn người ngựa xa kỵ chật chội chen chúc, cờ rồng phần phật đang hăng hái tiến phía về phía trước, Tần Vương Doanh Chính đang ngồi trên xa ngự tứ mã, chuỗi ngọc trên mũ vua hình đầu báo trâm anh như lửa ; trên chiến mãnh bào màu tím có phủ giáp trụ tựa như vảy cá, nụ cười mừng vui thanh thản dường như đông cứng lại trên mặt Doanh Chính . Vì vừa rồi quân hầu đến báo : Tần Tướng quân Hoan Ỷ đã đánh thắng thành Binh Dương của nước Triệu. Đang khi Doanh Chính mừng vui hớn hở ngắm nghía ngôi thành trì đó thì có ba đóm đen xuất hiện trong tầm nhìn của ông . Trên đống tuyết trắng xóa, bất cứ một vật thế khác màu nào đó đều hướng vào mắt. Doanh Chính chẳng bao lâu đã rõ mọi chuyện. Ba đóm đen đó chính là ba người đang cưỡi ngựa. Trong chốc lát, ba con ngựa đã lao đến trước xa ngự của Doanh Chính. Ba người đó nhanh nhẹn nhảy xuống ngựa. Doanh Chính định thần nhìn kỹ thì ra hai quân úy của Tấn Quốc đang kẹp một thường dân. Quân úy quỳ trước Doanh Chính bẩm báo :
« Đại Vương , đây là người ngài treo bảng cần tìm ».
Doanh Chính rất lạnh lùng với điều đó, ông tự nghĩ thầm rằng : « Quả nhân treo bảng tìm người bao giờ ?
Người bị hai quân úy kẹp vào giữa có hai vết dao nổi bật trên mặt. Doanh Chính thất kinh:
“Ồ! Đây chẳng phải là Xú Y mà ta phải trọng thưởng đó sao”.
Người có vết dao trên mặt chính là Xú Y Triệu Hoảng.
Doanh Chính nói:
“Ngươi là ân nhân cứu mệnh của ta mà ta còn chưa báo đáp. Năm năm nay ta tự hỏi lòng thấy hổ thẹn. Mau lên xe đi cùng với ta”
Đợi Xú Y Triệu Hoảng lên xe xong, Doanh Chính lại hỏi :
« Xú Y, lúc ấy sao ngài chưa từ biệt mà bỏ đã đi rồi ?.
Thế là Triệu Hoảng kể cho Doanh Chính nghe câu chuyện chân thực do Lã Bất Vi đạo diễn. Doanh Chính nghe xong thì trầm mặc hơi lâu. Ông cho tìm Triệu Cao đến rồi, nói :
«Hoạn giả lệnh, bây giờ ngươi làm thay ta một việc. Hãy đến trước mộ Lã Bất Vi dưới núi Bắc Mang, Lạc Dương tưới rượu giúp ta. Nhưng không được để ai biết là ta sai ngươi đi ».
Một người làm việc cần mẫn như Triệu Cao lúc đó thấy trong đôi mắt rực sáng, long lanh khí phách xưa nay của Doanh Chính là một khoảng mờ tối, ưu tư .

HẾT
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 4 » »»