📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Lã Bất Vi

98 trả lời, 15.504 lượt xem — Trang 4 / 4
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-25 12:38:30ct.ly>
LÃ BẤT VI
Quyển 8_ Chương 18_ BỊ TRỤC XUẤT KHỎI KINH THÀNH
Tiếp theo từ Đoạn 2_Trang 715 của sách_Thuộc trang 7 của file pdf


Từ trang 715 đến 757

Khi Lã Bất Vi bước vào trong điện thì liền ngửi thấy mùi thuốc sắc kỳ quái khó ngửi đang bay đầy trong điện. Trong phòng của Doanh Chính, các ngự y chân tay cuống quýt vây quanh giường bệnh của nhà vua. Lã Bất Vi hướng đôi mắt dịu dàng thắm thiết nơi má Doanh Chính. Khi ông nhìn thầy khuôn mặt xanh xao tiều tụy của Doanh Chính thì sự khó chịu dường như đã thành sự lo lắng trong ông. Lã Bất Vi bắt đầu hỏi thăm và an ủi Doanh Chính bằng những lời lẽ thành thật dễ lọt tai. Tuy Doanh Chính với thân thể suy nhược nhưng ánh mắt thì vẫn không lộ vẻ trống trãi hoảng hốt. Doanh Chính nhìn Lã Bất Vi bằng một anh mắt tràn đầy sức sống rồi sau đó lại nói với Lã Bất Vi bằng giọng nói không hài lòng mang tính chất vấn rằng: “Tướng quốc, người không nên nhân nhượng vô nguyên tắc mà tha thứ cho lũ điêu dân Đồn Lưu”. Lã Bất Vi nói: “Bệ hạ làm vua thiên hạ, chẳng gì bằng đức, chẳng gì bằng nghĩa, sau đó mới là thưởng phạt”. Doanh Chính cũng không lấy gì làm lạ bởi những lời thuyết giáo của Lã Bất Vi. Doanh Chính nói: “Quả nhân nhất định sẽ dùng hình pháp nghiêm khắc, áo đỏ tắc đường, nhà tù thành chợ để cai trị thiên hạ. Như thế thì dân thường áo vải mới nhìn thấy mà sợ, không dám phạm thượng làm loạn, gian đao giả dối”. Lã Bất Vi biết rằng nếu cứ thảo luận với Doanh Chính về việc “trọng đức trị” hay là “trọng hình phạt” thì khi lời qua tiếng lại, mâu thuãn giữa hai họ rồi sẽ chẳng khác nào lưỡi dao sắc thêm loáng. Lã Bất Vi dặn dò đám ngự y rồi cáo từ ra về.
Thứ mùi thuốc khiến người ta thấy buồn nôn đang bao phủ nơi điện Kỳ Niên kia ngày một đậm đặc. Khi các phương thuốc tốt của các ngự y kia chẳng có tác dụng gì đối với bệnh tình của Doanh Chính thì chính Doanh Chính và Lã Bất Vi đều bắt đầu thực sự lo lắng.
Lã Bất Vi thấy các ngự không còn cách gì khác để chữa trị bệnh tình của Doanh Chính thì cho treo bảng trọng thưởng ngàn vàng, trưng cầu thương phẩm danh y trong dân. Đám người xem thì chặc lưỡi nắc nỏm khen ngợi số tiền thường khả quan trước mặt mấy câu rồi lại gật gù đắc ý bước đi. Mấy ngày sau đo thì người xem tước biển to cũng thưa thớt đi. Đương lúc mấy viên quan lại canh biển mệt mỏi rũ rượi thì có một người xấu xí trên mặt bị vết dao sâu làm rúm ró lịa. Người này bước đến và không chút ngần ngừ tháo biển xuống.
Khi được dẫn đến trước Lã Bất Vi người này nhất mực tự tin nói rằng ông ta có thể trị được bệnh tật cho Tần vương. Lã Bất Vi hỏi tên họ lai lịch người đó thì ông ta trả lời rằng: “Người sơn dã không màng danh tiếng, các ngài cứ gọi tôi là Xú Y là được”. Lã Bất Vi nói: “Xú Y nếu ngươi không chữa khỏi bệnh cho đại vương được thì đó là tội khi quân đấy”. Xú Y nói: “Nếu không chữa khỏi bệnh cho Tần vương thì cho dù bị róc xương róc thịt, cho dù có bị đun sôi tôi cũng không trách”.
Khi Xú Y chẩn trị cho Doanh Chính thì đám ngự y xì mũi coi khinh ông ta và Lã Bất Vi đều mở to mắt hiếu kỳ quan sát. Người ngày ngoài việc cho những được thảo vào trong đỉnh đồng ninh như một tiền lệ quen thuộc xong rồi chắt ra một bát thuốc vàng khè tỏa ra mùi chát xít rồi dâng lên miệng vua, thì cũng không có một bí quyết bàng tay vàng nào cả. Nhưng sau khi Doanh Chính nhíu mày uống thuốc xong thì Xú Y bắt đầu phương pháp điều trị thứ hai. Những người xem tập trung quanh giường bệnh của Doanh Chính đều kinh ngạc đến đẫn đờ. Chỉ thấy Xú Y cúi sát xuống Doanh Chính và để Doanh Chính nằm xấp xuống rồi lấy mồm mút các máu mủ nơi các vết thương trên mông đít Doanh Chính. Doanh Chính bị mút ngứa ngáy thì không quen liền bật cười hì hì. Chỉ thấy Xú Y chùn chụt đầy môm màu mủ sau đó thì ông nhổ xuống một đồ đựng bằng gốm bên giường Doanh Chính. Khi Xú Y lại mút tiếp lần thứ hai thì trong phòng của Doanh Chính không ngớt những lời nắc nỏm khen ngợi. Điều mà mọi người khen ngợi không phải là kỹ thuật chữa trị của Xú Y mà là lòng trung thành của ông đối với Tần vương.
Dưới sự trị liệu tỉ mỉ và hầu hạ của Xú Y, bệnh hiểm của Doanh Chính đã có sự chuyển biến tốt như có phép thần vậy. Khoảng một tháng thì bệnh của Doanh Chính đã khỏi hẳn. Trong ngoài điện Kỳ Niên, khắp nơi đều truyền tụng câu chuyện về Xú Y. Y thuật tỉ mỉ mà khuôn mặt khác thường của Xú Y khiến cho những vương hầu quan tướng đều nảy sinh niềm thích thú khôn cùng.
Không những Xú Y có bộ mặt mà người thường không có mà ông ta còn có tính cách mà người thường không có. Ông ta trầm ặc ít nói, sâu sắc nhưng dễ hiểu và ông ta sợ gặp người khác. Ngay cả khi Doanh Chính tổ chức yến tiệc mừng công cho ông ta thì ông ta cũng từ chối khéo. Nhưng khi Doanh Chính muốn ông ta ở lại làm ngự y trong triều thì ông ta vui vẻ nhận lời.
Có một hôm, Xú Y bị Lã Bất Vi gọi đến phủ tướng quốc. Xú Y đối mặt với sự cảnh giới chặt chẽ trong phủ tướng quốc và khuôn mặt trầm mặc không dễ gì nói cười của Lã Bất Vi thì phỏng đoán rằng có lẽ xảy ra chuyện gì không hay với ông ta. Rất nhanh, Xú Y liền chú ý đến nụ cười hạn chế như thể một áng mây màu xuất hiện trong đám mấy đen trên mặt Lã Bất Vi.
Sau khi mời Xú Y ngồi xuống xong, Lã Bất Vi liền nói:
“Thần y, ngài chữa bệnh cho đại vương chúng tôi thật là công đức ngàn năm. Đến bây giờ ngài cũng nên nói ra lai lịch thật của ngài đi”.
Mặt Xú Y tựa như một tấm thép lạnh lùng và cũng không tỏ thái độ gì. Đối mặt với anh mắt kim đâm của Lã Bất Vi, ông ta trả lời một cách tự nhiên: “Tôi sinh ra ở Thảo Mãng hành nghề y thôn dã, không màng danh lợi. Tướng quốc biết tên tôi là Xú Y là đủ rồi”.
Nụ cười dường như bao hàm một ý khác trên khuôn mặt Lã Bất Vi cũng mất dần đi. Lã Bất Vi nói: “Được, nếu thần y không muốn lộ rõ lai lịch của mình thì ta sẽ mời người đến để kể ra bộ mặt vốn có của người”.
Lã Bất Vi nói xong thì Tư Không Mã bước ra từ phía sau bình phong. Tư Không Mã nắm tay trước ngực chào Xú Y rằng: “Triệu Hoảng đại ca, anh vẫn khỏe chứ!”.
Thì ra từ khi Xú Y gỡ biển vào cung thì Lã Bất Vi đã nghi ngờ mai danh ẩn tích của ông ta rồi. Đặc biệt là chất giọng đặc sệt Yên Triệu khiến ông phải cảnh giác. Có một hôm đưới ánh nắng chói chang, khuôn mặt của Xú Y khiến Lã Bất Vi sực nhớ đến một người. Lã Bất Vi cảm thấy người này giống hệt Triệu Hoảng, người này giống như Triệu Hoảng-người mà ông đã gặp ở Đào Hoa Dục sơn-Lã Bất Vi sợ mình nhìn nhầm thì đã tìm Tư Không Mã đến ngầm phân định phân biệt. Tư Không Mã nhìn không bao lâu thì khẳng định ngay Xú Y chính là Triệu Hoảng thoát chết trong trận Chường Bình. Nhưng tại sao hắn ta lại phải thay đổi dung mạo, phải giấu tên tuổi đến trị bệnh cho Doanh Chính thì không thể hiểu nổi. Tư Không Mã hoài nghi nói: “Hay là Triệu quốc sai đến làm thích khách, hãy bắt hắn lại tra hỏi và xử phạt nghiêm khắc”. Lã Bất Vi nói: “Hắn chữa khỏi bệnh cho đại vương, xem ra bệnh của đại vương đã khỏi hẳn rồi. Nếu giữa đường mà bắt hắn làm nhỡ việc trị bệnh cho đại vương thì lại làm làm việc nhỏ nhưng hậu quả khó lường”. Thế là, Lã Bất Vi liền ngầm sai người giám sát chặt chẽ hành tung của Xú Y.
Mấy hôm đầu chưa có dấu hiệu gì lộ ra nơi Xú Y. Các nếp như đi lại ăn ở đều theo mực thước, không có gì vượt ra khỏi pham vi quy định. Nhưng mấy hôm sau thì phát hiện ra cái đuôi áo của hắn. Những lúc không có ai hắn liền nhòm ngó đường đi xung quanh và phòng của Doanh Chính. Điều càng làm cho Lã Bất Vi lo sợ hơn cả là khi khám xét ngầm túi thuốc của Xú Y phát hiện có một thanh đoản kiếm được giấu trong đó. Lã Bất Vi nhận định: “Xú Y chắc chắn thích khách do Triệu quốc phái đến; Chính bởi vậy khi bệnh của Doanh Chính đã khỏi, Lã Bất Vi liền thẩm xét Xú Y.
Xú Y đích thực là Triệu Hoảng, sứ mệnh của hắn là hành thích Doanh Chính nhưng chỉ có điều hắn chưa tìm được cơ hội để hạ thủ thôi.
Triệu Hoảng thấy mình bị Tư Không Mã nhận ra. Sau giây phút sợ hãi ngắn ngủi thì hắn trấn tĩnh lại và nói: “Xa nhau dễ đến mấy năm rồi, hiền đệ vẫn có thể nhận ra đại ca mặt mang vết dao thật là không dễ”.
Trên miệng Tư Không Mã xuất hiện cái cười nhạt. Tư Không Mã hỏi: “Đại ca tốn công vô ích đến thành Hàm Dương sợ rằng không phải là để gặp mặt tôi”.
Triệu Hoảng nói: “Hiền đệ hỏi như thế khiến người ta thấy khó lý giải. Hiền đệ và tướng quốc đều biết rõ là do biểu to của mọi người gọi ta đến để cứu người bệnh tật, chữa bệnh cho đại vương mà”.
Lã Bất Vi lệnh cho người vứt túi thuốc của Triệu Hoảng xuống đất và hỏi:
“Trị bệnh cho đại vương chúng tôi sợ không dùng được thanh kiếm này”.
Triệu Hoảng thấy âm mưu của mình bị bại lộ thì vội xông đến giằng lấy thanh đoản kiếm, định đâm Lã Bất Vi và Tư Không Mã nhưng đã bị hai đại hán cao lớn xông đến trói chặt lại.
Tư Không Mã nói: “Đến nước này thì người nên nói thật đi”.
Triệu Hoảng cương quyết nói: “Việc đã đến nước này thì ta nói cho các ngươi biết vậy: Ta đến để hành thích Tần vương. Đừng thấy rằng Tần quốc các ngươi binh hùng mã mạnh, dang thịnh, Mong Ngao dẫn ba mươi ngìn đại quân đến tấn công Triệu quốc ta. Nhưng nhân dân Triệu quốc sẽ không bao giờ khuất phục Tần quốc đâu. Ta tự hủy khuôn mặt ta là để các người không nhận ra ta nhưng chỉ tiếc rằng chưa tìm được cơ hội để hạ thủ mà thôi. Tuy rằng ta không thành công nhưng các ngươi cần phải biết rõ rằng: Con cái Yên Triệu thì khó khuất phục lắm. Từ hôm ta đến thành Hàm Dương thì ta không thèm để ý đến sinh mạng mình nữa, cũng không thèm để ý đến hình phạt lăn trì của các người.
Thái độ coi thường cái chết của Triệu Hoảng dường như đã chấn động và cảm hóa Lã Bất Vi. Lã Bất Vi nói: “Triệu Hoảng, ta rất khâm phục lòng dũng cảm của người. Nhưng ngươi là kẻ lỗ mãng không biết thời thế. Đại Tần chúng ta từ khi khai quốc bắt đầu, quân thân đã có chí khí hào hùng thu gom thiên hạ, thâu tóm bốn bể. Đến đời Hiến Công, Thương Quản phò tá giúp việc về mặt đối nội thì xây dựng chế đố lập pháp, thực hiện canh tác. Chỉnh đốn kiện toàn kho vũ khí. Về mặt đối ngoại thì thu phục chư hầu, không tốn một chút sức lực nào mà đã thu tóm phục được bốn bể. Tần quốc ngày một cường thịnh, các chư hầu sợ hãi thì hợp tác với nhau và qua lại với nhau như một, đã từng nhiều lần dẫn hàng trăm vạn quân tấn công Tần quốc. Kết quả là thế nào! Tần quốc mở cửa khẩu nghênh địch, binh lính kiên dũng thiện chiến đánh cho quân chín nước đều tan thây nát thịt, máu chảy lềnh bềnh. Cho đến bây giờ Doanh Chính là vua, quốc thế ngày một phát triển đi lên, chấn hưng chính sách lâu dài mà trị vì trong thiên hạ. Tần vương thống nhất thiên hạ, thế lực mạnh lớn, kẻ nào dám ngăn trở. Triệu Hoảng, đại vương chúng ta đầy cát nhân, vốn có thiên tướng, âm mưu của ngươi sẽ không thể thực hiện được. Cho dù có thực hiện được thì các công tử điện hạ khác của Chương Tương Vương khi làm vua cũng sẽ vẫn quyết định sách lược tác chiến phía sau và sẽ quyết thắng vượt xa ngàn dặm. Cuối cùng sẽ tiêu diệt xong các nước chư hầu, khôi phục lại ngôi vị, đồng phục lục hợp. Lã Bất Vi ta nể người cáo công chữa bệnh cho đại vương, nể ngươi trung thành dũng cảm, nay cho người một lối thoát đó”.
Lã Bất Vi thấy Triệu Hoảng nghe xong lời ông ta nói vẻ hồ nghi ngửa cổ cười lớn mà rằng: “Hừ, ta không tin các người sẽ thả một người mưu hại Tần vương. Các ngươi nắm quyền sinh sát trong tay thì không cần phải vòng vo với ta nữa đâu!”.
Lã Bất Vi lệnh cho người đem phong truyền đến nới với Triệu Hoảng rằng: “Nói thế nào làm thế ấy đó là mỹ đức của người quân tử. Ta nói thả ngươi thì sẽ thả ngươi. Ngươi hãy cầm lấy giấy thông hành mà ta cấp phát sẽ không gặp cản trở gì tại Tần quốc và cũng như không có người gia hại ngươi. Nhưng ngươi phải chấp thuận với ta rằng không còn thù địch với Tần quốc nữa”.
Lã Bất Vi nói xong thì bảo mọi người thả Triệu Hoảng ra và đưa cho hắn phong truyền.
Triệu Hoảng nhận lấy phong truyền, giàn giụa nước mắt quỳ lạy mà rằng: “Tiểu nhân Triệu Hoảng xin được cảm tạ tấm lòng bao dung độ lượng và ơn không giết của tướng quốc. Về sau thần không thù địch với Tần quốc nữa và cũng không thù địch với các nước chư hầu khác. Thần sẽ làm một thầy lang thảo được không có xu hướng phát triển, giang hồ phiêu bạt sơn dã cho xong đời này”.
Khi Triệu Hoảng sắp đi, Lã Bất Vi còn lệnh cho người lấy ra một ít tiền vàng để hắn chi dùng. Sau khi Triệu Hoảng đi rồi thì Tư Không Mã nói: “Xú Y đi rồi, cần phải bẩm báo việc này cho đại vương biết”. Lã Bất Vi suy tính một lúc rồi nói: “Việc này không nhất thiết phải nói với đại vương. Một khi đại vương biết được chân tướng của chuyện này sẽ không vui và lại sinh nghi”
Vừa vào đến cửa Rạp Nguyệt, một trận tuyết nhỏ rắc đầy trời không nhanh không chậm. Trong thành Hàm Dương nóc nhà trắng xóa như miếng vá. Không khí trong lành và sảng khoái khiến tinh thần Doanh Chính phấn chấn hẳn lên sau khi sức khỏe đã được hồi phục. Triệu Cao thấy Doanh Chính đang có hứng thú thì nói: “Đại vương, long thể của ngài mạnh khỏe. Bây giờ đang là giai tiết đi săn”.
Triệu Cao dâng lời khuyên can thật đúng lúc đúng chỗ khiến Doanh Chính cũng hửng khởi nóng lòng muốn thử. Khi sắp xếp nhân viên tùy tùng thì Doanh Chính viết vào đó Xú Y. Lúc đó Doanh Chính mới sực nhớ ra đã mấy hôm liền không gặp vị ân nhân cứu mạng mình rồi thì liền vội sai người đi tìm khắp nới. Người về bẩm báo lại với Doanh Chính rằng phụng mệnh tướng quốc Xú Y đã đi khỏi điện Kỳ Niên, không biết là đi đâu.
Sau khi biết được như thế thì Doanh Chính đùng đùng giận dữ mà rằng: “Lã Bất Vi, trong mắt ngươi không có quả nhân nữa rồi chăng!”
Triệu Cao đứng bên cạnh lại thêm dầu thêm mỡ nói: “A, Lã tướng quốc không chỉ thiệm quyền trong triều đình mà lại còn can thiệp vào chuyện riêng của đại vương nữa!”
Các hoạn quan thấy Doanh Chính nghe Triệu Cao nói xong thì tức đến sắc mặt trắng bệch, môi nói: “Có ơn mà không báo đáp thì không phải là quân tử, Xú Y chữa khỏi bệnh cho quả nhân, quả nhân còn chưa trọng thưởng cho Xú Y sao lại dám thất lễ. Truyền chiếu chỉ của quả nhân, dán ảnh của Xú Y trên toàn quốc. Người nào biết được Xú Y ở đâu sẽ nhận thưởng; Ai đưa Xú Y đến điện Kỳ Niên sẽ nhận trọng thưởng”.
Hai cánh cửa điện màu đỏ thẳm nơi phòng ngủ của Triệu Cơ trong điện Chiêu Thanh được đóng mở một cách có quy luật theo bóng dáng ra vào tùy thích của Lao Ái. Lao Ái đã tạo ra sự vui vẻ không có giới hạn cho thái hậu trên người bà. Đồng thời bản thân Lao Ái cũng được nếm thưởng sự giàu có và vui vẻ nhục thể ra. Hắn được phong là Trường Tín Hầu-tước vị tương đương với tước vị của Lã Bất Vi. Ngoại trừ có đất Sơn Dương là phong ấp của hắn ra thì hắn lại đổi quận Hà Tây Thái Nguyên thành Lao Quốc và quy hoạch theo danh nghĩa của hắn và thế là Lao Ái trở nên hiển hách như nước sông trào dâng. Ngoài phủ đệ vẫn chưa tu sửa kịp thì ngựa xe, trang phục, quy cách sắp xếp bố trí đi lại cho Lao Ái đều chẳng kém gì Lã Bất Vi. Môn khách và gia đồng của hắn đã đến nghìn người mà hãy còn nhét đầy chỉ có tăng chứ không bớt. Khi Tư Mã Thiên lập truyện cho Lã Bất Vi đã từng than rằng Lao Ái giàu sang phú quý nhanh chóng quá. “Lao Ái thường xuyên theo sát thái hậu, được hậu thưởng. Mọi việc nhỏ trong triều đều thuộc về Lao Ái. Lao Ái có gia đồng đến hơn mấy nghìn người. Những hoạn quan xin nương nhờ phủ hắn cũng tính bằng ngìn”.
Chuyện Lao Ái vinh hoa phú quý khiến cho trong ngõ ngoài đường, hầu môn thân chủ khai sinh ra một câu chuyện kéo dài không ngớt. Nhặt được ngàn vàng không bằng chọn đúng một người bạn. Những tay lưu manh xó chợ Bình Tố và Lao Ái đã cùng vật vạ lang chạ đã phát đạt hẳn lên nhờ dựa vào quyền thế của Lao Ái. Mỗi khi xa nghi phô trương lòe loẹt của bọn họ đi qua đường phố thì các bà các chị lại chỉ chỉ trỏ trỏ nói cho con cháu họ biết rằng người ấy chính là vệ úy tứ có biết chút quyền thuật thường hay ra oai giúp Lao Ái đánh nahu, bây giờ trở thành vệ úy phụ trách cảnh giới trong hoàng cung, việc canh tuần trong cung vào ban đêm và các đồn vệ bộ hạ cửa cung đều do hắn nắm giữ. Người ấy là nội sử tứ, trước đây được ngồi bàn ghế mấy hôm ở trường tư thục, về sau sợ học vất vả mà bỏ dở học hành, giờ đây hắn trở thành bọn nhắm của Lao Ái, giúp Lao Ái bàn mưu định sách. Bây giờ nội sử tứ thăng tiến ghê lắm: về quân sự hành chính các khu vực xung quanh thành Hàm Dương đều do hắn quyết đoán. Người đó chính là tả dực kiệt đã từng là quân khua chiêng gõ trống mua vui, Lao Ái dùng sở trường của hắn cho hắn làm chủ quản bắn tên. Người ấy chính là Lệnh Tề. Hắn thấy sau khi Lao Ái trở thành hoạn quan thì vinh quy hiển đạt và hắn đi thiến thật. Lao Ái thưởng cho hắn một chức quan trung đại phu. Nhưng đừng xem thường vị khach suông bình thường chỉ huy uốn lưỡi này, hắn là quan tư vấn bên cạnh quân vương có thể bàn việc triều chính với Tần vương. Hắn chính là Nhan Tiết vốn là một tay cờ bạc. Nay hắn trở thành gia tướng của Lao Ái. Ngoài việc quản lý công việc gia đình ra thì hắn còn đi cùng Lao Ái đánh vài ván bạc cũng những viên quan phát đạt…
Khi những tiếng lúc lắc từ những chiếc xe sang trọng ấy mất dần nơi cuối phố thì những người dân thường hãy còn nhìn theo đám bụi đất bị bước chân người và bánh xe làm tugn lên mù mịt rồi lại không ngớt kể lại rằng. Cách đây không lâu vào một đêm đông gió bất lạnh giá thổi quét cành khô lá úa xòa xạc. Trên thành Hàm Dương xuất hiện một ngôi sao chổi trắng bệch. Chiếc đuôi dài của nó giống như một chiếc chổi và cứ chiếu sáng mãi trên bầu trời. Những người dân thường ưa truyền những tin vịt nơi đầu đường thành Hàm Dương thì nói bằng một vẻ kinh hoàng sợ hãi: Sự xuất hiện của ngôi sao thần bí này đoán trước sẽ có người xấu đến nhiễu loạn kỷ cương triều chính. Nhưng lúc đó lại không có ai liên hệ điềm đó với Lao Ái. Một năm sau đó khi đồng đảng bầy dê lũ chó của Lao Ái phản nghịch làm loạn bị tan vỡ và bị xử trảm, xé xác diệt tộc thì những người trước đây hay bàn luận về Lao Ái lo lắng. Họ sợ đồng đảng thì sẽ bị dây dưa nên bây giờ câm như hến.
Những tôi tớ và hoạn quan trong cung vua còn nhớ rất rõ rằng Lao Ái luôn chuyển động theo thái hậu như một chiếc bóng. Đó là vào một ngày thu mà từ đó về sau vây cánh của hắn thương xuyên ra vào cung Chương Đài. Tuy mùa đông với lá cây xào xạc và người đi đường ít ỏi đã đến nhưng ngựa xe áo gấm bỗng nhiên tăng nhiều khiến cho cung Chương Đài náo nhiệt hẳn lên. Có một dạo trong cung tắt nghẽn tất cả mọi cái đều đã khiến cho người ta phải rối ren hoa mắt. Nếu như thoạt đầu mới đến người ta không thể lần ra đầu mối mà sự mưu tính hại nhau không rõ nguồn cơn giữa các bè phái khiến cho họ thấy chán ngán mà phải lùi bước. Những tay hoạn quan già giỏi việc tìm tòi suy xét tâm lý nhà vua và phân loại đảng phái cho các quan đại thần thì tìm ra đầu mối một cách nhanh chóng trong quan hệ nhân sự hỗn tạp rối bời đó. Họ bắt tất cả phải nhất trí rằng trong triều đình chia làm ba phái: một phái là thế lực của Lã Bất Vi. Ông từng lấy danh nghĩa là tướng quốc và “trọng phu” đã một dạo nắm toàn bộ triều chính kỷ cương. Bây giờ tuy quyền lực bị phân tán nhưng lạc đà gầy vẫn to hơn ngựa và ông vẫn không phải dạng tầm thường. Một phái là thế lực của Lao Ái. Bọn chúng lấy thái hậu làm núi dựa và nắm giữ một bộ phần quyền lực rất lớn. Lũ người này là một bọn vô học, bọn chúng dám làm những điều vô lại, bí quá hóa liều nơi đầu chợ. Bọn chúng lòng tham vô đáy, trành giành quyền lợi không chút đắn đo. Có viên hoạn quan thiển cận hẹp hòi thì lại cho rằng lực lượng của bọn này giống như mặt trời mọc ở đằng đông vậy, khó mà ngăn cản. Một phái là lực lượng của Doanh Chính. Tuy Doanh Chính có tính cách chuyên quyền độc đoán và địa vị cao nhất do vì mới chấp chính không lâu. Khi còn chưa lên ngôi, Doanh Chính luôn không muốn lấy ra một bộ phận quyền lực của Lã Bất Vi và Lao Ái. Những hoạn quan am hiểu những việc bí mật cung triều này không chỉ hòa giải giữa các phái dễ như dao thái thịt của người đầu bếp giỏi mà còn lấy đó để phục vụ cho công tác thu gom tư liệu và tình báo để ngầm truyền đi hoặc bán cho các bạn bè thân thích các chư hầu lục quốc Quan Đông. Có sách sử đã vạch ra việc Ngụy quốc đã lợi dụng mâu thuẫn giữa Lã Bất Vi và Lao Ái trong triều thần như sau: Năm 239 trước Công nguyên có một lần đại quân Tần quốc tấn công ác liệt Ngụy quốc. Nước Ngụy thế yếu không còn chỗ nào bám víu. Cảnh Dẫn vương không còn cách nào thì sợ hãi không còn cách nào yên. Trong lúc cấp yếu sinh tử tồn vong ấy thì có người xin Khổng Thuận nước Ngụy chỉ giáo để lui giặc. Không Thuận là hậu duệ của Không Tử người nước Lỗ. Khổng Thuận được mọi người gọi là “Tử Thuận”. Tử Thuận nói: “Bề tôi chút kiến giải vụng về nhưng những người đang năm giữ chính quyền kia chưa chắc đà chịu nghe chi bằng tôi không nói thì hơn”. Thái độ lưỡng lự muốn nói lại thôi của Tử Thuận được Cảnh Dẫn vương biết được thì đích thân đến nơi Tử Thuận ở xin được chỉ bảo. Tử Thuận thấy vua một nước lại có thể khiêm tốn cung kính như vậy thì đã nói ra mưu lược của mình. “Nếu đại vương nghe theo kế của thân chịu mất một ít đất đai mà không làm ảnh hưởng đến nguyên khí của quốc gia. Mất một chút danh dự mà không tổn hại quốc sách. Như thế thì mối thù quốc nan khả giải sẽ được trả thôi!”. Cảnh Dẫn vương như bị rơi vào năm dặm sương mù không biết tại sao phải làm như vậy thì nói: “Mời tiên sinh hãy chỉ rõ”. Tử Thuận tiến thêm một bước trình bày sách lược của mình có Cảnh Dẫn nghe: “Hạ thần cho rằng: Bây giờ Lã Bất Vi và Lao Ái trong cung đình Tần quốc đanh tranh giành quyền lực, đại vương có nghe nói không? Hà gì đại vương không cắt bỏ một chút đất đai hối lộ cho Lao Ái. Như thế có thể tăng thêm thanh danh cho Lao Ái, ủng hộ Lao Ái trong khi Lã, Lao đấu đá nhau. Như thế thái hậu nước Tần cũng sẽ cảm ơn công đức của ngài và thực lòng liên kết hữu hảo với Ngụy quốc. Trước đây hai nước Ngụy Tần như chân với tay, đối xử tốt với nhau mà bây giờ Tần quốc tấn công chúng ta đều là do quỷ ý của Lã Bất Vi cả. Sự đấu đá lẫn nhau giữa Lã-Lao sẽ tạo cho đại vương một cơ hội để tận dụng khiến Tần vương không còn tín dụng Lã Bất Vi nữa, khiến các nước chư hầu phải xa lánh Lã Bất Vi, đó chẳng phải là báo thù rửa hận cho Ngụy quốc đó sao?”. Nghe Tử Thuận nói thế, Cảnh Dẫn sai người đến thành Hàm Dương hoạt động theo kế sách của Tử Thuận. Không lâu sau đó, trong phủ đệ của Lao Ái quả nhiên xuất hiện nhân vật thần bì nói giọng Đại Lương. Và ở tiền tuyến, quân Tần cũng nới lõng tấn công Ngụy quốc. Một thời gian sau, hai nước Tần-Ngụy lại bắt tay hòa hợp được một cách kỳ lạ… Và việc đó không gây vướng mắc gì trong triều Tần cả. Doanh Chính, Lao Ái, Lã Bất Vi vẫn bình yên vô sự. Bọn họ bằng mặt không bằng lòng kinh doanh triều chính.
Nếu không có cuộc phong ba do việc khơi đào kênh rạch và tu sửa phủ đệ phải tranh giành nhau đất đá phát sinh gấp gáp thì mâu thuẫn trong triều lại vẫn như mạch nước ngầm dưới đáy sông, ngầm thai nghén sự trào dâng – Còn trên mặt nước thì vẫn là sóng yên gió nhẹ, ca hát thanh bình.
Ngòi nổ là do việc Lao Ái muốn xây dựng mở rộng phủ để gây ra.
Khoảng thời gian Lao Ái chuyển vào cung Chường Tín rất ngắn ngủi. Thế mà chẳng khác nào như đã chơi chán một người đàn bà vậy. Lao Ái cảm thấy tòa nhà đẹp đẽ hoa lệ của mình bỗng nhiên trở nên xấu xí vô cùng. Từng đàn chim trĩ canh thấp thỏm không yên trên những ngọn cây và nóc lầu, những đôi cánh khi chúng bay đi bây lại đập vào nhau. Những chiếc lông cánh bị rụng rơi trên mặt đất giống như những chùm ánh sáng loang lổ rõ rệt. Xe kiệu ra vào đông vô kể giống như những đạp đá chi chít để lẩn với nhau.
Màu sơn đỏ rực trên những cánh cửa hành lang mái hiên đã bị nhạt dần sự diễm lệ của nó như ngọn đèn trước gió. Những nơi mà ánh mắt của Lao Ái đã từng đến đều để lại cho hắn những ấn tượng cũ rích hẹp hòi. Khi xây dựng thành Hàm Dương phồn hoa, Lao Ái luôn cảm thấy phủ đệ và thân phận hắn là không tương xứng. Thế là sau mấy lần xem xét hắn liền ngang nhiên quyết định sẽ xây dựng mở rộng tòa nhà của hắn. Sau khi thầy bói bấm đốt ngón tay tính toàn và đo đạc làm như có thật thì cuối cùng cũng đã động thổ xây dựng.
Vào một ngày hoàng đạo phong hòa nhật lệ, tòa nhà của Lao Ái được xây dựng mở rộng được sắp hàng lững thững trong quân thần triều hạ thì tiếng trống nhạc vang trời truyền ra toàn thành một tin tức kinh thiên động địa, tường thành phủ đệ của Lao Ái dài 500 trượng thế nhưng thể chế đã quy định rằng tường thành tòa nhà của con cháu Tần vương không được vượt quá 300 trượng. Như thế thì quy mô phủ đệ của Lao Ái cũng sắp ngang hàng với nhà vua rồi. Hành động tiếm việt rõ rằng của Lao Ái làm chấn động cả triều đình.
Trong ấn tượng của Doanh Chính thì khuôn mặt của Thanh quả phủ luôn thanh tú nho nhã, nói năng mềm mại uyển chuyển tựa như cơn gió nhẹ phảng phất mùi thơm thổi vào tai ông. Xưa nay Doanh Chính chưa bao giờ nhìn thấy sự xúc động phẩn nộ và bất an hiện ra trên mặt Thanh quả phụ như ngày hôm nay. Thanh quả phụ gặp Doanh Chính ở cung Chương Đài. Vừa gặp Doanh Chính chưa hàn huyên được bao lâu thì Thanh quả phụ liền hỏi thẳng Doanh Chính rằng: “Đại vương, ngài biết việc Trường Tín Hầu xây dựng mở rộng phủ đệ chưa?”.
Doanh Chính nói rằng ông biết, là do mẫu hậu đưa Tần Chưong đến. Thanh quả phụ hỏi: “Đại vương có viết dài bao nhiêu trong Tần Chương không?”. Doanh Chính nói rằng không viết. Thanh quả phụ nói: “Tường vây của phủ đệ Lao Ái dài 500 trượng”. Doanh Chính thất kinh nói là không có chuyện đó. Thanh quả phụ nói: “Trước đây tường thành phong ấp của em trai Trịnh Trạng Công-Cộng Thúc Đoạn vướt quá 300 trượng đã trở thành tai họa quốc gia. Đại vương, nếu bàng quan mặc kệ chuyện này sẽ gây ra tai họa đó”.
Doanh Chính cũng biết lịch sử làm loạn của Cộng Thúc Đoạn liền vội cho đòi gặp Lao Ái tại cung Chương Đài. Lao Ái dường như đã biết trước mọi việc. Khi đến gặp Tần vương hắn liền mang theo Tần Chương mà đã được duỵêt.
Doanh Chính thấy các thẻ tre của Tần Chương có ghi kích cỡ từong thành phủ đệ được xây dựng mở rộng của Lý Tư có viết rõ ràng là 500 trượng.
Doanh Chính xem xong thì không nói được gì nữa. Trên tấm Tần Chương có hai chữ chiếu lệnh “Chuẩn hành” do chính tay ông ký duyệt. Giờ đây Doanh Chính không thể hiểu rõ năm trăm trượng này đã có từ lúc Tần Chương được đưa đến mà không để ý hay là sau đó Lao Ái mới thêm vào.
Đang khi Doanh Chính còn đờ đẩn hoảng hốt thì Lao Ái thẳng thắn nói: “Đại vương, ngài nói lời vàng ý ngọc, nói thế nào là làm thế ấy. Chiếu chỉ không thể sớm ban tối sửa được ạ”.
Doanh Chính không thể phản bác lại điều lý đó mà cũng chỉ nói thêm rằng: “Đúng, đúng, chiếu chỉ của quả nhân không thể sớm ban tối sửa được”.
Doanh Chính chẳng tìm ra được lý do gì để níu giữ Lao Ái thì đành phải nhìn cái dáng đi cao lớn của hắn từ lớn chuyển dần sang nhỏ và khuất dần nơi cửa cung điện.
Khi Lao Ái chiếu kiến Doanh Chính thì Thanh quả phụ lánh vào bên trong. Lao Ái đi rồi, lúc đo Thanh quả phụ mới bước ra hầm hầm tức giận mà rằng: “Một hoạn quan hung hăng càn rỡ như vậy, nếu không chỉnh trị uy vua phép nước thì sẽ mất hết cả thôi!”.
Doanh Chính thông cảm sâu sắc nói: “Nếu để Lao Ái xây dựng mở rộng phủ đệ thì chẳng khác nào tổn hại đến uy phong của quả nhân, tiêu diệt ý chí của quả nhân vậy!”.
Thanh quả phụ đưa lời can gián mà rằng: “Theo ý của hạ thần thì hãy để Lã Bất Vi cắt cung cấp gạch ngói cho Lao Ái khiến hắn không thể làm gì tiến triển hơn được nửa”.
Doanh Chính nói: “Làm như vậy đi. Ngươi hãy đến phủ tướng quốc truyền đạt chiếu lệnh của quả nhân đi”.
Thanh quả phụ ngự xe đến phủ tướng quốc. Không đợi Thanh quả phụ nói hết nguồn cơn của sự việc, Lã Bất Vi đã không kìm được hầm hầm nổi giận mà rằng: “Phủ đệ của Lao Ái lại vượt cả một tướng quốc như ta, thật không thể chấp nhận được! Xin truyền đạt lại với đại vương rằng: Lã Bất Vi sẽ không cung cấp gạch đá cho Lao Ái nữa đâu!”.
Kiến trúc được nhà vua phê chuẩn sẽ được triều đình cung cấp gạch đá. Lã Bất Vi thấy Thanh quả phụ hài lòng đi rồi thì lập tức ban bố cáo thị trong cả nước. Để bảo đảm hoàn tất và tăng nhanh tiến độ thì công công trình đào kệnh khơi rạch Kinh Hà, gạch ngói gỗ đá của tất cả mọi nơi đều phải vận chuyển đến nơi thi công công trình Kinh Hà. Nếu làm trái sẽ nghiêm phạt không tha.
Tốc độ xây dựng tường thành không quản ngày đêm của Lao Ái đã dùng hết số vật liệu lần đầu được chuyển tới. Lao Ái cho gia tướng Nhan Tiêm đến phủ tướng quốc làm thủ tục nhận gạch ngói gỗ đá. Nhan Tiêm bẩm báo lại nội dung cáo thì mà Lã Bất Vi dán trên cổng thảnh cho Lao Ái biết và sau đó nói nếu hắn đến phủ tướng quốc nhất định sẽ chẳng giải quyết được chuyện gì. Lao Ái nhíu mày nói “Ta bảo ngươi đi thì ngươi hãy đi, đừng có lôi thôi dài dòng. Nếu kênh Kinh Hà của hắn không xây dựng thì cũng không thể để phủ đệ của Trường Tín Hầu ta bị đình công được”.
Nhan Tiêm đành phải đến phủ tướng quốc, hắn run lẩy bẩy nói với Lã Bất Vi rằng: “Trường Tín Hầu sai tối đến gặp tướng quốc xin cho vận chuyển vật liệu xây dựng đến”.
Nhan Tiên nói xong thì thấy Lã Bất Vi không chớp mắt nói: “Nhà ngươi có thấy cáo thị trên cổng thành không?”.
Nhan Tiêm nói có nhìn thấy – Lã Bất Vi liền mắng:
“Ngươi đã nhìn thấy rồi còn đến tìm bản tướng quốc xin vận chuyển vật liệu nữa!”.
Nhan Tiêm không được việc thì ủ rũ trở về phủ. Lao Ái nghe Nhan Tiêm kể xong thì đi xe thẳng đến phủ tướng quốc thở phì phì tức giận nói: “Lẽ nào ngài lại không biết Trường Tín Hầu này cũng ngang hàng với tướng quốc sao?”. Lã Bất Vi nhẹ nhàng bình tĩnh nói: “Việc quản hầu đại nhân xây dựng mở rộng phủ đệ bản quan không được biết. Để bảo đảm việc hoàn tất kênh Kinh Hà mới thông báo trong toàn quốc đó. Cũng giống như tục ngữ có nói rằng: kẻ không biết thì không bị trách”. Lao Ái nói: “Tướng quốc đã biết rồi thì xin giúp tôi hoàn thành công việc mà cho vận chuyển vật liệu xây dựng đến đi”. Lã Bất Vi nói: “Ta đã thông báo toàn thiên hạ rồi, không thể làm ngược lại được”. Lao Ái đưa ra Tần Chương và nói: “Lẽ nào phê chuẩn của Tần vương lại không bằng cái thị của ngài”. Lã Bất Vi nói: “Đại vương lại không nói rõ việc xây dựng kênh Kinh Hà và việc xây dựng phủ đệ của ngài cái nào trước, cái nào sau. Xin hãy đợi đê Kinh Hà hoàn tất nhật định sẽ vận chuyển gạch ngói gỗ đá đầy đủ đến cho quân hầu”. Lao Ái nói: “Lã Bất Vi chẳng phải là ngài đang làm khó tôi sao? Kênh Kinh Hà hoàn tất phải đợi đến bao giờ! Lẽ nào ngài lại nhẫn tâm nhìn công trình đang xây dựng dở của tôi như vậy? Lẽ nào lại để tôi phải nuôi không đám thợ kia?”. Lã Bất Vi thấy sắc mặt Lao Ái từ đỏ thành trằng rồi lại từ trắng thành xanh, bắp thịt trên mặt hắn dường như co giật. Ngón tay ngắn run lên và chọc vào mũi. Cái kiểu nhe nanh mài vuốt của Lao Ái đã để lại cho Lã Bất Vi môt ký ức ghi xướng khắc cốt. Không lâu sau thái độ trước khi mưu phản và bị tru di của hắn chẳng khác nào thái độ của hắn lúc này. Rồi rất nhanh, Lã Bất Vi liền nghe thấy tiếng gầm ghè phát ra từ cái mồm thâm tím và run run của hắn. “Lã Bất Vi, ngươi đừng có đắc ý vênh váo, sớm muộn thì ta cũng thu phục ngươi để người biết rằng Trường Tín Hầu này không phải là nắm bùn để cho người khác mặc ý vê đi vò lại”. Khi Lao Ái đi khỏi thì hắn còn nhổ một đống đờm bọt chẳng khác nào một cái bánh trước chân Lã Bất Vi. Một thời gian tương đối dài, mỗi khi dùng cơm thì Lã Bất Vi luôn cảm thấy buồn nôn.
Nếu dùng một từ “phẫn nộ” thì cũng không thể diễn đạt nổi tâm trạng của Lã Bất Vi trong giờ phút này. Sự bi ai thê thảm như một con chuột đói khát đang gặm nhắm lòng ông. Lúc đầu, Lao Ái no ấm đầy đủ dưới chân của Lã Bất Vi, rồi hắn không biết vô liêm sĩ lấy dương vật làm những động tác xấu xa bỉ ổi, rồi cái bộ dạn hàng tướng a dua lấy lòng cua hắn nữa chứ. Không có Lã Bất Vi này thì Lao Ái ngươi muốn trèo lên giường thái hậu chẳng phải là mơ tưỡng huyền hão đó sao? Thoắt một cái đã thay lòng dở mặt.
Lao Ái thật là quân lộn kiếp vong ơn bội nghĩa.
Sự tranh giành sâu sắc giữa Lã Bất Vi và Lao Ái chỉ là một màn mở đầu nho nhỏ.
Vào tiết xuân ấm hoa hoa nở thư shai, trong cung Chương Đài vật cũ người không, Lao Ái và Lã Bất Vi đều lần lượt bị Doanh Chính đưa xuống hoàng tuyền. Các hoạn quan và nỹ tỳ trong cung còn nhớ rất rõ các chi tiết lớn nhỏ xảy ra giữa Lã Bất Vi và Lao Ái. Mỗi khi họ đi qua phủ viện đã trở thành đống gạch hoang tàn của Lao Ái thị họ lại tới tấp kể chuyện xoay quanh việc hai người đã dâng phong nơi cung đình và việc xây dựng phủ đệ này. Những hoạn quan và nữ tỳ đó sẽ nói cho bạn biết: Lao Ái từ phủ tướng quốc về thì khó mà nuốt nỗi bực tức. Hắn không thể trợn mắt nhìn phủ đệ đang xây dựng của hắn bị dở dang. Hắn liền thuê mấy ngàn phu khuận dịch lên núi chặt củi dỡ đá, xây dựng lò nung gạch. Một tòa nhà phủ đệ khiến hắn cho một nửa Tần quốc chướng khi mịt mù, người ngã ngựa đổ. Lao Ái vô cùng mệt mỏi. Ban ngày thì chỉ huy trù hoạch ở phủ đệ. Đêm đến lại phải thỏa mãn thái hậu khiến hắn bị tiêu hao thể lực. Lã Bất Vi không thể để Lao Ái được lợi. Ông liền cho thu thuế chặt cây dỡ đá nung gạch của Lao Ái. Lao Ái thì không chịu nộp một chút thuế khóa nào. Thiếu nội Thanh Hiên Huệ nắm giữ tài chính trong triều, thì đương nhiên hành sự theo thái độ của Tần vương và tướng quốc, bà ta liền rút đi bổng lộc cấp phát cho Lao Ái. Lao Ái đã có thưởng tựa như núi vàng hang bạc của thái hậu và có thu nhập phong ấp thì hắn chẳng thèm nhòm ngó gì đến chút lương vụn vặt của triều đình. Hắn vẫn cứ làm theo cách của hắn, bất chấp tất cả xây dựng bằng xong phủ đệ sắc màu rực rỡ đó.
Thế là nơi đây trở thành khu phong cảnh để mọi người mở rộng tầm nhìn trong thành Hàm Dương. Vào hôm khi trời gần gới, ánh sáng như đang nhạt dần thì Doanh Chính ngồi trên xe cũ đi xem. Trong mắt Doanh Chính thì những lầu cao gác lớn, những mái hiên cong cong sáng sủa rõ ràng kia lại chẳng khác nào lũ hung thần gian ác trong cung điện mà lũ ma quỷ trong một cơn ác mộng. Sau khi xem xong phủ đệ của Lao Ái, Doanh Chính dường như đang bị kích động và luôn lo lắng sẽ phát sinh một tai họa khó lương nào đó. Doanh Chính đi lại đứng ngồi cũng thường hết sức cẩn thận như để phòng mọi bất trắc. Về sau Doanh Chính đập tan sự làm phản của Lao Ái nhân lúc hắn không ngờ đến. Mọi người trong cung đều nói, đã từ rất lâu ông trời đã ban cho đại vương một bí ẩn nào đó.
Truyền thuyết trong cung nói chung quy lại thì cũng chỉ là một thứ lịch sử thật giả lẫn lộn.
Các hoạn quan và nữ tỳ trong cung Chương Đài thấy từ khi xem phủ đệ của Lao Ái thì Doanh Chính thường lặng lẽ. Khi chiếc trướng trong phòng của Doanh Chính được mở ra thì các hoạn quan và nữ tỳ lại bắt đầu thì thào, đoán xem vị phi tần mỹ nữ nào đựoc nhà vua sủng ái. Nhưng một thời gian lâu sau họ thấy Triệu Cao từ trong trướng đi ra. Lúc đó mọi người mới vỡ lẽ rằng thứ mà đại vương hao tâm tổn sức không phải là nhục thể đàn bà mà lại là một thứ khác. Thứ gì vậy? Họ không thể đoán được, dường như đó là một sự huyền bí còn quan trọng hơn nhiều so với nhục thể đàn bà.
Doanh Chính bắt đầu xây dựng thế lực binh mã của mình mà chẳng ma quỷ nào biết được. Doanh Chính không nhớ rõ rằng mình đã gặp Sương Bình Quân và Sương Văn Quân trong đêm khuya dưới ánh nến dập dờn hay trong một buổi giữa trưa có ánh mặt trời chói chang.
Khi Triệu Cao dẫn hai thanh niên với khuôn mặt sáng sủa khôi ngô đến tẩm cung rèm đỏ trướng tím thì Doanh Chính vui vẻ xúc động khôn cùng. Triệu Cao quỳ xuống đất vái lạy mà rằng: “Thưa đại vương, đây là công tử Duẩn Hồ nước Sở và hiệp sĩ Hàn Hoành nước Hàn. Cả hai người đều trí dũng song toàn nguyện bỏ tuổi trẻ và tuổi xuân ra phục vụ đại vương”. Doanh Chính nói: “Quả nhân phong cho Duẩn Hồ làm Sương Bình Quân, Hàn Hoành làm Sương Văn Quân. Mỗi người dẫn năm nghìn cung kỵ tìm nơi bí mật không cho mọi người biết luyện tập võ nghệ, nghe và đợi sự điều khiển của quả nhân bất cứ lúc nào”.
Triệu Cao thấy Sương Bình Quân và Sương Văn Quân thề thốt thành khẩn trước Doanh Chính. Sau đó lại thấy Doanh Chính giống như dòng suối nóng nhìn hai thanh niên đó một cách sinh động và long lanh.
Khi Triệu Cơ và Lao Ái ôm nhau nằm ngủ, bà ta có một cảm giác hạnh phúc như tuổi gấm hoa lại đang trở lại. Bà ta không còn là hoa vàng ngày mai, tư phong tàn tạ nữa mà là một thục nữ yểu điệu, móng tay bôi đầy nhũ đỏ, phong tình vui vẻ trong thành Hàm Dương. Lao Ái, một người nhỏ hơn bà ta mười tuổi đã mang đến cho thân thể bà ta một sức thanh xuân mãnh liệt bồng bột và cũng làm cho bụng bà ta phồng lên một cách kỳ kạ. Một điểm rõ rệt nhất mà ba ta cảm thấy trong sự khác biệt giữa Lã Bất Vi và Lao Ái là dù cho người thứ nhất có làm gì trên người bà ta đi nữa thì bụng của bà ta vẫn cứ phẳng lì như chiếc túi rỗng. Nhưng bây giờ cái cảm giác buồn nôn và thích của chua đã không có từ lâu lại xuất hiện khiến lòng dạ bà ta hoảng hốt rối bời. Một vị thái hậu không có phu quân mà lại mang thai, bà ta không có cách gì để che giấu hay sự giải thích hợp tình hợp lý nào đó. Và đây là một sự cực kỳ sỉ nhục không thể tha thứ đối với thanh danh của bà ta và gia tộc Doanh Thị. Một khi đã lộ ra việc đó thì hậu quả gây ra thật khôn lường. Bà ta như con kiến gặp hỏa hoạn vậy, khiếp sợ vô cùng. Dưới sự tính toán trù hoạch với Lao Ái và mấy người cung nữ của bà ta, một kế vẹn toàn đã ra đời. Không lâu sau trên đại đường trong điện Chiêu Thanh bỗng vang lên tiếng trống bao cho các hoạn quan và cung nữ biết phệ chúc đang xem bói. Kết quả xem bói tiên đoán rằng một ngày gần đây sẽ có hung vận giáng xuống điện Chiêu Thanh, thái hận cần phải đến cung Đại Trịnh ở Ung Thành đê lánh nạn. Thẻ trúc có khắc lời bói quẻ hào vẫn còn phản phất hương khói được đưa đến ngự án của Doanh Chính. Doanh Chính chuẩn bị cho thái hậu đến cung Đại Trịnh ở Ung Thành để tránh việc không lành.
Một buổi sáng nắng ráo và tiết cuối chạp đầu xuân một đôi nghi thức ô lọng phấp phới ra khỏi thành Hàm Dương đi về phía Ung Thành. Mọi ngươi trong thành Hàm Dương đều nói: Thái hậu đến đó để tránh điềm xấu.
Ung Thành đã từng là quốc đô, điều đó khiến cho nhân dân cả nước Tần đều một lòng hướng về và quỳ lạy bái phục. Tổ tiên của họ từ khi bật lên từ phương tây rồi lại thiên về phía đông. Đến đời Đức Công thì chính thức định đô ở đây. Mãi đến đời Hiên Công thì dời đô đến Lịch Dương. Ung Thành có gần 400 năm lịch sử. Sai khi định đô ở Hàm Dương những điển lễ như vua lên ngôi hay thờ cúng của đất nước đều cử hành tại Ung Thành. Đối với mảnh đất phát trường của tổ tông này, vua các triều đại nhà Tần đều đặc biệt lưu ý việc bảo vệ và tu sửa Ung Thành. Ngoài những binh lính bảo vệ các cung địch lo việc quét dọn ra thì trong Ung Thành không còn bóng dáng qua lại của họ nữa. Khí hậu tốt lành và không khí yên tĩnh ở đây giúp cho Triệu Cơ có thể chăm sóc chu đáo khối tinh huyết trong bụng bà ta. Triệu Cơ và Lao Ái, Nhan Tiêm và vài cung nữ thân tín khá thì ở nội điện bên trong. Rồi vào một buổi sáng trời đất sáng sủa, trong khi Triệu Cơ vượt cạn để mẹ tròn con vuông, thì đám tùy nhân bận bịu nhộn nhịp như thoi đưa nơi ngoại điện thì không biết việc sinh nở của thái hậu. Nửa năm đã trôi qua. Trong cung Đại Trịnh một dải xanh mướt yên ả, bách điểu ca hát. Sau khi than thể Triệu Cơ đã được hồi phục nguyên khí thì bà ta cho người bế công tử vui vẻ nhảy nhót tựa như cá chép của bà ta về Hàm Dương nhờ dân thường nuôi dưỡng rồi khởi giá hồi kinh. Đám tùy tùng mù tịt không biết gì theo xe thái hậu ra khỏi Ung Thành. Thấy cảnh sắc núi non thôn dã sáng bừng thì họ mới than lên rằng: Thái hậu đến Ung Thành lánh nạn nhoáng một cái đã nửa năm trôi qua.
Năm 238 cũng là năm thứ 9 đời Tần Thủy Hoàng trước Công nguyên là một năm những điềm xấu cực nhiều. Đến đây, thiên tướng đã lộ rõ. Trong “Tần Thủy Hoàng bản ký” có viết: “Cửu niên, tuệ tinh kiến, hoạc ưcách thiên” (Năm thứ 9 đời Tần Thủy Hoàng thấy sao chổi thường xuyên xuất hiện trên trời). Sao chổi chủ hung xuất hiện, có lúc lại lơ lửng giữa trời. Thứ ánh sáng trắng xóa đó không phải chỉ có một lần xuất hiện trên thành Hàm Dương.
Thần dân cư trú trong thành đã không còn thấy lạ cái thứ ánh sáng đó nữa. Sau khi họ ngẩng đầu lên nhìn một chập thì họ lại trở về cuộc sống hàng ngày với các nề nếp cũ. Thứ ánh sáng còn lại của ngôi sao đó cũng mất dần đi cùng với mùi tanh hôi của cuộc động loạn nơi thành Hàm Dương.
Năm đó thời gian mà thái hậu đi tránh điềm dữ lại là dịp cuối chạp, đầu xuân. Thần dân trong thành Ung Thành thì vẫn còn nhớ rất rõ: Khi xe của thái hậu đi về phía Ung Thành thì ánh sáng mờ mờ của ngôi sao chổi vẫn còn chưa xuất hiện. Khi ngôi sao thần bì khiến người ta phải lo lắng rối bời lấp lóe trên bầu trời. Trong bụng thái hậu giãy giụa một sinh mệnh mới. Sau khi đã tắm gội gột rửa những bụi bặm trên người thì thái hậu lại vào nội điện trong cung Đại Trịnh để ở. Sau cuộc vận loạn đó không lâu thì họ mới vỡ lẹ: Không phải thái hậu đi tránh họa mà họa bắt nguồn từ thái hậu, Lao Ái – kẻ ngồi ôm ấp thái hậu sau tấm màn che trong xe của thái hậu.
Trong của của thái hậu ngoài Lao Ái ra còn có một hài đồng ngoan ngoãn thông minh đó chính là Lao Lương – con trai của họ.
Trong thời gian nửa năm Lao Ái đợi thể lực của Triệu Cơ phục hồi sau khi sinh đẻ. Đối với đám binh lính, cung dịch, nữ tỳ ở ngoài điện cung Đại Trịnh thật là buồn chán và ngày thì dài dằng dặc. Thế nhưng thái hậu và Lao Ái thì vô cùng bận bịu và khẩn trương hồi hộp. Bọn vệ úy tứ tả dực kiệt, trung đại phu Lệnh Tề thì thường xuyên qua lại cung Đại Trịnh. Họ đang ấp ủ một cuộc binh biến cung đình trong tẩm cung sặc sụa mùi sữa. Bọn họ sẽ phế truất Doanh Chính và Lao Lương sẽ lên ngôi. Thái hậu và Lao Ái sẽ rủ rèm nhiếp chính. Họ nghiên cứu tỉ mỉ vô cùng, vị đại thần nào sẽ theo phía họ, tấn công cung Chương Đài bằng đường nào; bắt được Doanh Chính thì sẽ giết. Nếu giết thì sẽ lấy thủ cấp của vị vua trẻ đó ở đâu; Nếu giam thì sẽ giam ở ngục tối nào…
Lũ người tiểu nhân đắc chí đầu đường xó chợ đó trong thời khắc quan trọng của tiền đồ biết trước và có quan hệ đến tính mạng thì vẫn cứ không quên sử dụng nghiệp cũ, vui vẻ đấu gà chọi có một chập. Trò chơi mà Lao Ái thích thú là lục bác thi đỗ (đánh bạc), bạn bạc thiên kinh địa nghĩa của hắn là Nhan Tiêm. Mỗi con xúc xắc trên bàn cờ đều gian trá nguy hiểm, biến hóa khôn lường, nó cũng giống như những ẩn số và sự hung hiểm của chính biến trong kế sách của bọn chúng. Cũng chính ngay trong cuộc chơi ấy, Nhan Tiêm đã trở thành kẻ thù của Lao Ái, hắn đã tố cáo Lao Ái. Chính bởi nội điện cung Đại Chính không chỉ là phòng để của thái hậu mà còn là nơi quan trọng để bọn chúng bàn bạc quân cơ mật sự.
Lao Ái và Nhan Tiêm trong ván cờ này ít có người quan sát cho nên nguyên nhân tranh giành giữa hai người và rất nhiều chi tiết quan trọng khác đều không có bằng chứng gì. Và hơn 1.800 năm sau, giữa thế kỷ 16, một người triêu Thanh có tên gọi là Phùng Mộng Long đã viết cuốn “Đông Chu liệt quốc chí”, trong sách có một chi tiết miêu tả quá trình phát sinh vở kịch giữa Lao Ái và Nhan Tiêm như sau:
Lao Ái đánh bạc uống rượu với đám cận thần. Đến ngày thứ tư Lao Ái thua liên tiếp trung đại phu Nhan Tiêm. Khi Lao Ái uống rượu đã say thì nải nỉ Nhan Tiêm dánh bạc thêm. Nhan Tiêm cũng uống say nên không nghe. Lao Ái đến trước và bạt tai Nhan Tiêm. Nhan Tiêm không nhịn cũng giật mũ tua đỏ của Lao Ái xuống. Lao Ái vô cùng giận dữ trợn mắt mà mắng rằng: “Bây giờ ta là giả phụ của vua rồi đó! Ngươi nghèo hèn như thế sao lại dám chống đối với ta”. Nhan Tiêm sợ hai bỏ đi thì gặp đúng lúc Tần Vương Chính uống rượu ở phòng thái hậu trở về cung. Nhan Tiêm quý xuống khấu đầu khóc lóc thảm thiết xin được chết. Tần Vương Chính là một người có tâm cơ. Ông ta không nói gì nhưng cho người đưa Nhan Tiêm đến điện Kỳ Niên sau đó mới hỏi chuyện Nhan Tiêm. Nhan Tiêm kể một lượt chuyện Lao Ái bạt tai hắn và tự xưng là giả phụ. Thế là Tần vương nói: “Lao Ái giả làm hoạn quan, giả bị thiến, ngầm hầu hạ thái hậu, nay lại sinh hai đứa con nuôi dưỡng ở trong cung, không lâu nữa sẽ mưu phản Tần quốc”.
Về việc Nhan Tiêm tố cáo Lao Ái là một lịch sử có thực không có ai ngờ vực gì nữa. Nhưng nói là “Gặp đúng lúc Tần Vương Chính uống rượu ở phòng thái hậu trở về cung” là không hợp lý rồi. Nếu thế thì Doanh Chính sẽ biết ngay hai đứa con riêng của thái hậu. Không cần ai tố cáo thì âm mưu của Lao Ái cũng bị đập vỡ.
Chính trong cuộc khởi nghĩa Trần Thắng, Ngô Quảng ở Đại Trạch Hương bắt đầu nổ ra thì cũng là lúc xung quanh mộ Li Sơn Tần Thủy Hoàng cỏ mọc um tùm. Những người từng đi qua lại trong cung Chương Đài lại tụ tập trên đó họ đều cùng cất giọng nói rằng: Thủy Hoàng đế là một người trẻ tuổi nhưng từng trải, tâm cơ như giếng sâu. Quan điểm đó cũng được coi là chính xác.
Sau khi Doanh Chính nhận được mật báo từ Nhan Tiêm thì ông không luống cuống sợ hãi mà cũng không triệu tập các quần thần đến để bàn bạc mà ông bí mật tăng cường chuẩn bị để đối phó với tất cả các biến cố có thể xảy ra. Trước đây Doanh Chính có biết việc thái hậu và Lao Ái đã kết thành một đảng, nhưng ông không hề biết việc hai người thông gian đã sinh ra hai đứa con riêng và âm mưu lật đổ ngôi vị. Đầu tiên Doanh Chính sai Sương Bình Quân giả làm phệ chúc (thầy bói) đến Ung Thành xem xét kỹ lưỡng hai đứa con riêng của thái hậu đang giấu trong cung Đại Trịnh. Sau đó sẽ bắt bất ngờ trung đại phu Lệnh Tề và lôi hắn đến bên địa ông lấy lửa nướng đỏ. Dùng phương pháp “Thình quân nhâp ông” (mời ông vào lò than) là để dọa Lệnh Tề. Lệnh Tề sợ đến vãi đái liên khai hết các âm mưu của bọn chúng. Doanh Chính sợ Lã Bất Vi phối hợp tác chiến với Lao Ái thì liền phái Thanh quả phụ dẫn một đám quân úy để giup Lã Bất Vi sát hạch các khoản mục của quốc khố nhằm giám sát và khống chế Lã Bất Vi. Doanh Chính bí mật gặp Sương Bình Quân và Sương Văn Quân trong cung và yêu cầu bọn họ nghe và đợi sự điều khiển của mình. Doanh Chính lại phái Triệu Cao làm đại thần khâm sai đến vùng tiền tuyến tấn công Triệu quốc truyền lệnh cho Mộng Ngao đình chỉ tấn công, ở đó đợi lệnh, chuẩn bị thu quân về triều. Mộng Ngao hỏi Triệu Cao nguyên nhân nhưng Triệu Cao vẫn làm chỉ thị của Doanh Chính và nói là: có thể sẽ tấn công chư hầu khác để tránh lòng quân phấp phỏng dễ dẫn đến làm phản bất ngờ.
Sau khi Doanh Chính bố trí xong mọi việc một cách kỹ càng tỉ mỉ thì ông vẫn một mình đi đi lại lại trong điện lớn khoáng đạt nhưng lạnh giá lúc thì vội vã, lúc thì chậm rãi cứ giống như nhịp đập của tim ông vậy. Lúc này có một việc đại sự đang chờ, đó chính là hai ngày nữa sẽ là ngày ất dậu của tháng tư, ngày Doanh Chính tròn 20 tuổi. Theo quy định của thể chế triều Tần thì khi vua tròn 20 tuổi sẽ phải đến Ung Thành cử hành nghi thức lên ngôi, như thế mới thể hiện rằng quốc quân đã trưởng thành, có thể tự mình chấp chính. Nhưng bọn thái hậu và Lao Ái đã bàn mưu tính kế ở Ung Thành và nơi đó trở thành hang hùm miệng cọp rồi.
Doanh Chính suy nghĩ kỹ lưỡng xong thì cuối cùng ban bố chiếu lệnh. Ngày ất dậu tháng tư sẽ cử hành lễ lên ngôi ở cung Kỳ Niên Ung Thành.
Thành Hàm Dương chập tối ngày Kỷ Dậu tháng tư. Gió ác mạnh mẽ đập vào những mảnh ngói tự như vảy cá và các cành khô cứng của tùng bách cao chót vót. Những bông hoa tuyết rơi xuống bãi đất trống bên ngoài ngọ môn và phủ lên tụi đất mù trời và những vết máu đỏ thắm. Màn đêm còn chưa khép lại hẳn, trong khoảnh khắc đám mây muộn ló ra khỏi kẽ mây thì trên ngọn cây hay trên nóc một công trình kiến trúc nào đó trong thành Hàm Dương vẫn tích tóp từng tí một thứ quang cảnh loang lổ. Trừ Triệu Cơ bị nhốt trong cung ra thì những kẻ làm phản của Lao Ái đều bị chặt đầu và bị xe kéo cho tan thây nát thịt ở đây. Những thi thể chồng chất lên nhau bị tuyết ướt nửa tan nửa đông lâp lên trông bừa bãi như những viên đá ngổn ngang của một công trình kiến trúc nào đó. Trận làm phản chẳng ra đâu vào đâu này bị trấn áp một cách nhanh chóng. Cũng giống như những mảng tuyết bị rơi vào móng nóng vậy, nso cũng mất tăm mất tích một cách nhanh chóng. Cùng với sự thay đổi của thời gian, câu chuyện của Lao Ái đã trở thành hồi ức xa xăm và nhỏ bé trong nhiều người và nó trở thành thứ văn tự nhạt nhẽo trong điển tịch sử sách đời sau.
Sau khi Doanh Chính dẫn các văn võ bá quan quan trọng trong triều đến Ung Thành, Lao Ái tự thầy rằng hành vi xấu xa dâm loạn và mưu phản của mình và thái hậu đã bị phát hiện. Hắn lại thấy Tần vương Doanh Chính cử hành lễ lên ngôi thì biết sau khi Doanh Chính đích thân chấp chính thì sớm muộn cũng sẽ xử phạt mình, thế là hắn quyết tâm thừa lúc Hàm Dương trống vắng thì làm loạn. Vì hắn đã mưu tính từ trước nên các mắt mũi tay chân quan trọng trong và ngoài cũng như quân công Giới Trác, Sá Nhân, vệ úy đều bị hắn mua chuộc nên cũng có thế lực nhất định. Cái khó duy nhất là binh lính mà hắn nắm giữ và khống chế thì quá ít. Quản chế của Tần quốc vô cùng nghiêm mật. Từ sau hiến pháp Thương Ưởng đã thiết lập hệ thống chỉ huy thống nhất có lợi cho tác chiến. Và quyền chỉ huy lực lượng vũ trang hoàn toàn nằm trong tay nhà vua. Kể cả việc điều động tập trung lính huyện cũng phải có mệnh lệnh đóng dấu của nhà vua mới có tác dụng. Các võ tướng trong triều thì bình thường không cố định nắm giữ binh lính. Khi ra trận những người dẫn số lính trở lên phải có ủy nhiệm và hổ phù của nhà vua mới được điều binh. Hình dạng của hồ phù thì giống hổ chia làm hai nửa trái phải. Nửa trái giao cho chủ soái ra trận, nửa phải do vua nắm giữ. Khi ra trận trở về, chủ soái giao trả hổ phù và ra khỏi quân đội. Như thế, quân đội có thể trực tiếp khống chế trong tay nhà vua, bất cứ ai cũng khó có thể điều động lực lượng quân đội lớn. Khi Lao Ái mưu đồ phản loạn, cho dù hắn mua chuột không ít những người là tai mắt trụ cột để dẫn quân như vệ úy nhưng nhất định hắn cũng gặp phải những khó khăn. Nhưng việc đó Lao Ái cũng đã chuẩn bị phần nào. Từ lâu lắm đã làm ngọc ấn giả như ngọc ấn của Tần vương và thái hậu. Lao Ái giữ lệnh điều binh mà hắn làm giả điều động tập trung bộ phận vũ trang địa phương “Huyện tốt” (lính huyện) và quân đội bảo vệ thủ đô – “Vệ tốt” và các kỵ binh đồng thời lệnh cho họ tiến về Ung Thành, mục tiêu là cung Chương Đài-nơi đang tiến hành điển lễ. Tình thế xem ra vô cùng khẩn trương. Tùng, tùng, tùng… quân làm phản còn chưa ra khỏi Hàm Dương thì đã nghe thấy tiếng trống trận vọng đến. Lúc đó quân đội từ Ung Thành đến để trấn áp quân phản loạn đã sắp đến châu thành. Ngày đầu tiên Tần vương Doanh Chính đích thân chấp chính đã thể hiện tác phong thống trị cương nghị, quyết đoán của ông. Khi hay tin Hàm Dương phát sinh phản loạn thì ông liền không do dự hạ lệnh cho Sương Bình Quân và Sương Văn Quân dẫn quân trực tiếp xuất phát từ điện Kỳ Niên, ngày đêm tiến về Hàm Dương. Thế nên quân làm phản của Lao Ái còn chưa ra khỏi thành Hàm Dương thì đã gặp ngay phải quân Tần từ Ung Thành đến. Quân phản loạn Lao Ái chỉ là đạo quân ô hợp. Khi đại quân do Sương Bình Quân và Sương Văn Quân thống soái vừa đến thì bọn chúng đã bị đánh cho tơi bời tan tác. Trận chiến nhanh chóng kết thúc, quân phản loạn bị giết chết dễ đến mấy trăm người.
Đến đêm hôm xảy ra sự việc Lã Bất Vi mới biết được chân tương của sự việc. Việc ông không được nhà vua tín nhiệm và ông đã trở thành người ngoài cuộc khiến Lã Bất Vi vô cùng buồn bã thất vọng. Nhưng ông cũng lấy làm vui mừng vì ông chẳng phải tốn một chút sức lực nào mà cũng đã trừ được tận gốc một kỳ địch. Về sau Lã Bất Vi còn tiếp tục nghe thấy một số tin tức về kết cục của chuyện đó. Sau khi một số tay chân của Lao Ái chạy trốn vào đám dân đã bị tìm ra và xử tội chết. Ở cung Đại Trịnh, Doanh Chính tự tay cầm bảo kiếm chém chết hai đứa con riêng của Triệu Cơ đồng thời gam bà ta vĩnh viễn không cho trở Hàm Dương.
Bọn loạn thần tặc tử Trường Tín Hầu Lao Ái, vệ úy tứ, nội sử tức, tả dặc, trung đại phu Lệnh Tề bị tan xương nát thịt nơi đầu thành Hàm Dương một tháng sau mới được an táng. Trong đám người xem ồn ào ngựa xe tấp nấp, không ai có thể đoán được trong số đó có Lã Bất Vi. Mãi đến cuối tháng mọi việc dường như đã nguội lạnh vẳng vẻ thì Lã Bất Vi mới đến xmemặt mũi bọn người đã chết đó. Lã Bất Vi đi bằng một chiếc xe ngựa có lọng và đơn giản của môn khách đến xem. Ông không muốn mọi người biết đám đất trống ngoài ngọ môn. Như lúc này đây ông muốn đạm hóa chính mình. Ông hóa mình thành một làn sương nhẹ không bay ra kỏi hang núi hoặc một mạch nước ngầm dưới đáy sống để Doanh Chính và các văn võ ba quan quên hết đi những ngày tháng ấm áp của ông và Triệu Cơ và mối quan hệ khi Lao Ái từng là môn khách của ông. Trên khoảng đất trống vẫn còn sặc sụa mùi tanh, chiếc xe ngặng mang lọng giảm dần tốc độ, Lã Bất Vi nhẹ vén rèm xe để ánh mặt của mình đảo đi đảo lại trong đống thi thể đó. Cuối cùng ông dừng lại trước khuôn mặt ông cần tìm. Lã Bất Vi không chỉ một lần nghe người ta nói: người đã chết sau đó sẽ bị biến dạng. Câu nói này được nghiệm chứng thấy trên thi thể Lao Ái.
Có lẽ là do đau đớn và vật vã khi bị giết nên mắt mũi của Lao Ái bị biến dạng. Mấy cục thịt giống như cánh hoa mai vàng còn loang máu dính trên má hắn. Điều khiến Lã Bất Vi kinh ngạc vô cùng đó là hai con ruồi đầu đỏ to béo dang hút cái gì đó ở mấy cánh hoa mai kia. Giờ này trước kia cái sinh linh tùy tiện này vẫn còn trong kén chưa tỉnh lại!
Lã Bất Vi biết rằng mình đi ra với tâm trạng buồn vui lẫn lộn. tiếng ngựa xe lộc cộc khiến lòng ông chòng chành. Con người tiểu nhân tự cho là không ai bì kịp mình này lại thành ma dưới lưỡi đao của Tần vương và đó cũng là báo ứng.
Lã Bất Vi lại không biết rằng khi ông về phủ tướng quốc bằng một tâm trạng nhẹ nhõm, thì bi kịch của ông mới chính thức bắt đầu.
Đó là ngày hôm mai táng đống thi thể kia, Khương Khoái – người từng thi hành nhục hình cho Lao Ái đang đầm đìa mồ hôi quỳ trước mặt Doanh Chính. Doanh Chính vô cùng ngạc nhiên, một kẻ đáng phải thi hành nhục hình tại sao dương vật lại không mất một sợi lông mà lọt vào trong cung. Khương Khoái thấy Doanh Chính hỏi đến chuyện này, biết rằng không thể quanh co được thì bạt hồn vía vội kể lại rằng Lã Bất Vi, người trù hoạch nghĩ ra chuyện này.
Doanh Chính nghĩ xong thì bực tức đến nỗi gan mật muốn vỡ, liền không đợi các hạ thần ngăn lại liền dẫn người đến thẳng phủ tướng quốc. Lã Bất Vi thấy Doanh Chính đùng đùng giận dữ thì biết là việc không hay. Doanh Chính hỏi: “Trước đây việc thi hành nhục hình đối với Lao Ái là do ngươi chấp hành giám sát phải không?”. Lã Bất Vi trả lời phải. Doanh Chính hỏi: “Ngươi có nhìn thấy dương vật của hắn bị cắt xuống không?”. Lã Bất Vi biết rằng vũ khí để trì hoãn giờ đây là chống chế và nói dối, bèn nói là có nhìn thấy. Doanh Chính lại hỏi: “Sau khi cắt xuống thì để ở đâu?”. Lã Bất Vi nói: “Để trong quả nhỏ ở phía hiện điện Chiêu Thanh”. Doanh Chính nói: “Được, vậy ngươi hãy theo quả nhân đi xem”.
Điện Chiêu Thanh từ khi thái hậu đi khỏi thì phong cảnh hào hoa rực rỡ trước đây đã thay đổi, giờ đây cung điện trở nên lạnh lẽo thê lương, mạng nhện giăng đầy.
Đến hiên chếch của đại điện, Doanh Chính liền cho người lấy quả nhỏ có khắc tên Lao Ái từ trên mái hiên xuống. Khi quả nhỏ phủ đầy cát được mở ra thì thứ mà bốn con mắt của Lã Bất Vi và Doanh Chính nhìn thấy là nhánh cây khô của cây ô cựu. Doanh Chính liền giật lấy ném xuống đất và nói với Lã Bất Vi rằng: “Hừ, đây là dương vật mà nhà ngươi nhìn thấy phỏng! Khi quân phạm thượng!” Nói rồi. Doanh Chính liền phật tay mà đi.
Lã Bất Vi trở về phủ còn chưa hoàn hồn thì lại truyền đến một tin càng nặng nề hơn: Trinh Quốc ở công trình xây dựng kênh Kinh Hà là gian tế do Hàn quốc phái đến. Hắn đến là để thực hiện kế hoạch làm Tần bị suy bại của Hàn vương, đó là: Dùng phương pháp làm hao mòn và lãng phí vật chất của Tần quốc để gọt mỏng lực lượng của Tần quốc. Khi hắn đang ngầm vận chuyện gạch ngói gỗ đá về Hàn quốc thì bị quan hầu của Tần quốc kiểm tra và thu giữ. Bây giò Trịnh Quốc đã bị áp giải về Hàm Dương và bị nhốt trong ngục. Trịnh Quốc là do Trịnh Thược-là anh em con chú con bác của hắn cử đến. Lã Bất Vi không thể tin môn khách của minh. Về điểm này ký ức của Lã Bất Vi như hãy còn mới. Lã Bất Vi vội sai người đày tớ đi tìm tay môn khách này để hỏi rõ nguồn cơn. Đày tớ trở về nhanh chóng và nói rằng: “Không biết Trịnh Thược đã đi đâu”.
Nghe xong, Lã Bất Vi ngồi đờ đẩn trên sạp, một khoảng không chiếm cứ đầu ông ta. Một lúc sau ông mới nhìn rõ thứ vật dụng sáng màu trước mắt và cảm thấy thế giới lại chân thực trở lại. Khi ông nhìn thấy dải treo ấn tướng quốc ở trong tử thi thì lòng ông bỗng dâng lên một thứ tâm tư đau đớn bi thương. Thứ bảo vật khác lạ này là phấn đấu và tâm huyết trong hơn nửa đời người của ông và phải không biết bao nhiêu tiền bạc mới có thể đổi được nó.
Thế gian này có biết bao người thèm muốn nó và bất chấp mọi thủ đoạn để giành giật nó. Họ đã phải bỏ ra sự giàu sang, học thức, danh dự, lương tâm, quyền mưu, tình ruột thịt và kể cả sinh mệnh đẫm máu. Nhưng lại có bao nhiêu ngươi được toại nguyện đây. Lã Bất Vi ta được toại nguyện nơi Tần quốc rồi. Giờ đây ánh sáng sặc sỡ này, kim ấn nặng như đá này, rồi dải treo ấn mềm mại như nước, sặc sỡ như hoa này lẽ nào sẽ phải thay chủ thật? Cả thiên hạ, lớn nhỏ già trẻ đều biết sự thắng lợi lập quân của Lã Bất Vi ta mới khiến cho Dị Nhân đang gặp khó ở Hàm Đan mới trở thành Trang Tương Vương. Ở kinh đô của Dị Quốc ấy, Lã Bất Vi ta không chỉ khiến đời cha Doanh Chính thông thạo con đường hoàng quyền mà ta còn tạo ra xương thịt khí quan của chính bản thân người. Không có Lã Bất Vi ta thì còn cần nói giang sơn xã tắc của Doanh Chính mà ngay cả đến sinh mệnh nhục thể ngươi cũng không thể tồn tại. Tất cả những thứ đó, có cái thì kề sát bên ngươi, có cái thì ngươi đã nghe thấy phần nào. Ta nghĩ ngươi sẽ không vì việc của Trịnh Quốc và Lao Ái mà lảm cản trở và cũng không quên tình cốt nhục và công lao xương máu của ta bãi truất chức tướng quốc của ta.
Sau này kết cục của sự việc đã chứng minh rằng những điều mà Lã Bất Vi huyền tưởng về Doanh Chính vô cùng sai lầm.
Dự cảm không lành đến từ một lần Lã Bất Vi đi đái sau giấc ngủ trưa. Khi Lã Bất Vi vào nhà xí đi đái, ông nhìn thấy rõ rằng dóng nước nơi bụng dưới ông trước đây là màu trong vắt thì giờ đây lại trở nên vàng khè như một dòng rượu đỏ rớt trên mặt đất. Bỗng nhiên mọt con chồn sốc xông ra từ khe tường và nó đứng lại nhìn chỗ kín nhất của ông. Cái ánh mắt sáng sủa ấy lại giống như ánh sáng lòa của cao dao sắt lóe ra: Bộ lông màu vàng ấy còn trơn hơn cả lụa. Đang lúc Lã Bất Vi định giẫm nó một cái thì nó giống như một tia sáng khẽ rung mình rồi biến mất trong đám cỏ. Tiếp đó là thứ mùi thối trong mũi nó cũng nồng nặc lên cùng với sự biến mất của nó. Lã Bất Vi cho rằng đây là mùi của vận xấu đêm đến. Ông cảm thấy như mùi thối khiến người ta phải buồn nôn đó cứ quanh quẩn nơi cánh mũi của ông và xua cũng không hết. Khi Doanh Chính ra chiếu lệnh bãi truất chức tướng quốc của ông cũng là lúc ông nghe thấy tin đó trong cái mùi này.
Hai tên hoạn quan đến phủ tướng quốc đọc chiếu lệnh Lã Bất Vi đều biết. Giờ đây cái cười nịnh bợ của họ trước đây với ông được thay bằng bộ mặt lạnh nhạt, chỉ có giọng nói thì vẫn trơn tuột như trước đây: Bãi miến tướng vị của Lã Bất Vi. Hạn trong 10 ngày phải dời khỏi thành Hàm Dương trở về thực ấp Lạc Dương ở Hà Nam. Nghe xong chiếu lệnh, Lã Bất Vi lại phảng phất ngửi thấy mùi thôi sặc mũi đó.
Chiếu bãi tướng trong phủ gây ra gào khóc và hổn loạn là điều có thể nghĩ mà thấy được. Đầu tiên là vợ cả của ông – Hoàng Phủ Kiều khản cổ gào khóc như báo tang. Tiếp theo là mấy người thiếp của ông thì đờ đẩn khóc thút thít. Trong số môn khách có người thì buồn bã oán trách, có người thì muốn thay đổi cái thứ đang thu nạp họ ở cổng thành. Đám tôi tớ và nữ tỳ thì dường như đang đứng trong trận động đất không kịp trở tay đối mặt với sự ảm đạm của vận mệnh. Tư Không Mã và Lý Tư là hai môn khách thực sự có tài và nhất mực trung thành với Lã Bất Vi. Họ lặng lẽ không nói gì đứng bên cạnh Lã Bất Vi. Lúc này Lã Bất Vi mới nhớ câu nói: “Cây đổ thì đàn khỉ cũng tan” (Thầy bại thì tớ cũng cụp đuôi). Và thế là ông thật lòng thật ý để họ dời khỏi chốn này, đi tìm một cành cao khác. Lã Bất Vi nói: “Lý Tư, ta đã nhiều lần tiến cử học thức và thao lược của ngươi với đại vương. Đại vương vẫn còn rất hài lòng và lưu ý. Bây giờ ngươi hãy tìm đến hạ môn của Triệu Cao, tìm cơ hội đi dự thuyết với đại vương rồi nhất định sẽ có ngày vượt hẳn mọi người”. Nói rồi Lã Bất Vi quay lại đang chuẩn bị khuyên Tư Không Mã thì Tư Không Mã lại nói trước: “Tư Không Mã từ xưa tới nay không màng vinh hoa phú quý. Những năm tôi theo đại nhân đã được hưởng thụ và biết nhiều điều, như thế đã đủ rồi. Tôi nguyện theo đại nhân đến Lạc Dương, có chịu nhiều khó khăn gian khổ hơn nữa tôi cũng cam tâm tình nguyện”.
Nhìn nét mặt lưỡng lự của Lý Tư có thể thấy được lòng hắn đang cuộn sóng.
Lý Tư cân nhắc đắn do một hồi lâu rồi chọn con đường mà Lã Bất Vi đã chỉ cho hắn.
Nhìn bóng tay áo phần phật lay động của Lý Tư, Lã Bất Vi than dài một câu.
Tư Không Mã an ủi Lã Bất Vi mà rằng: “Đại nhân không nên thở vắng than dài. Bãi tướng là một kết cục rất đáng được chúc mừng rồi. Nếu không phải đại nhân mà là một người nào khác có dây dưa đến hai án của Lao Ái và Trịnh Quốc thì sợ rằng đầu lìa khỏi cổ, chu gia diệt tộc từ lâu rồi”.
Lời Tư Không Mã nói khiến Lã Bất Vi thấy trong lòng sáng ra: Đúng, đúng! Việc này nếu là người khác thì chu diệt gia tộc là chắc chắn rồi. Chỉ bãi tướng ta mà không lột tước là một sự khoan dung vô cùng lớn lao rồi. Nếu không xét tình cốt nhục và công đức lớn lao của ta với tiên vương thì Doanh Chính có làm như thế không?
Khi Lã Bất Vi nghĩ như thế thì sự đau khổ, tủi thân đều tan biến hết tựa như ngàn ánh mấy màu chiếu dọi làm tan đám sương mù. Nét mặt ông vui vẻ hẳn lên và bảo Tư Không Mã nhắc nhỏ gia nhân và đày tơ thu gom đồ đạc, chuẩn bị hành trang để về Lạc Dương.
Sẽ không có triều chính phức tạp và những quan hệ nhân sự rắc rối như tò vò đến dây dưa và quấy nhiễu ông nữa. Ông như người thoát được gánh nặng và ông có thể bình tâm lại việc gì cần làm trước khi dời khỏi Hàm Dương.
Thời gian ngắn ngủi tựa như cái bật ngón tay, Lã Bất Vi đến thành Hàm Dương đã mười mấy mùa thu rồi. Lúc ấy Doanh Chính vẫn còn là một đứa trẻ học nói i-a, nhoáng một cái giờ đây đã trở thành vua đích thân chấp chính rồi. Thật là “bạch câu quá khích, thệ thủy lưu niên” (thời gian trôi đi nhanh như ngựa con chạy qua khe cửa, như nước chảy…). Lại được bước vào cửa của quốc đô, không biết sẽ phải đợi đến năm nào tháng nào. Như vậy, Lã Bất Vi nghĩ đến việc đầu tiên cần phải trước khi dời kinh là phải yết kiến Doanh Chính. Ông sẽ nói chuyện về phương lược trị quốc và kiến giải về tinh ruột thịt từ đáy lòng mình.
Ngày trước Lã Bất Vi ra vào cung Chương Đài như sau phẳng đất. Giờ đây khi đối mặt với hai cánh cửa điệu sơn đỏ chót khép chặt thì ông lại có cảm giác lạ lẩm. Quân úy bảo vệ ở bên cửa sau khi nghe Lã Bất Vi giới thiệu xong thì vui vẻ kéo cánh cửa điện nặng chình chịch ra và lẩm bẩm vài câu với viên hoạn quan ở bên trong. Viên họan quan ló mặt ra nói: Bảo Lã Bất Vi đợi một chút, hắn sẽ đi bẩm báo đại vương. Trong khi đợi yết kiến, trong lòng Lã Bất Vi hồi hộp vô tận. Ông không rõ khi gặp Doanh Chính ông sẽ phải dùng phương thức và ngôn ngữ nào để nói cho Doanh Chính biết: “Ta là cha thân sinh của ngài đó”. Đây là cơ hội cuối cùng rồi, câu nói này như xương cá hóc trong cổ mà không thể nhổ ra được.
Vị hoạn quan đó lại ló mặt ra nói với Lã Bất Vi rằng: Đại vương nói rằng: “Lã Bất Vi sẽ vĩnh viễn không được yết kiến đại vương”. Lã Bất Vi nói: “Tôi sắp…”ông còn chưa nói hết thì hai cánh cửa đỏ rực đó bỗng đóng sầm lại và vĩnh viễn tình cha chân thành của ông chỉ giống như một đống cứt chó, không đáng một hào. Lã Bất Vi thấy cay mũi, nước mắt giàn giụa bước đi. Không ai biết con bằng cha; Lã Bất Vi biết đời này kiếp này sẽ không bao giờ được nhìn thấy Doanh Chính nữa. Những lời nói tự đáy lòng đó sẽ tan đi trong bụng theo năm dài tháng rộng.
Việc thứ hai là Lã Bất Vi phải đến Ung Thành để đánh một dấu chấm kết thúc tình yêu những ngọt những đắng những vui những buồn giữa ông và Triệu Cơ. Ông biết đó là một chặn đường rất xa xôi. Ông tìm ra thể trúc di chúc có khắc Triệu Khôi Tử “Cơ Nhi hạ giá Lã Bất Vi” (Gả Cơ Nhi cho Lã Bất Vi) của hai mươi năm trước và lên đường.
Cung Đại Trịnh tương cao hào sâu, khóa chặt một giấc mộng tàn đẹp đẽ nơi hậu cung. Khi Lã Bất Vi đến Ung Thành cũng là lúc mùa xuân đang khoe cái sắc xanh làm say lòng người nơi bờ sống ngọn liễu. Sau trận biến cô, ở đây vô cùng lạnh lẽo thê lương. Hoàng thành của ngày cũ từ lâu đã quen với sự cô đơn trong tháng rộng năm dài. Theo dòng nước chảy quanh cụng điện và những gợn sóng xanh biếc, Lã Bất Vi đã nhìn thấy cung Đại Trịnh đóng kín, dưới sự bao phủ của bóng cây có đám binh lính cầm kích gác cửa. Lã Bất Vi đi qua chiếc cầu rung rinh đến dưới cổng cung và nhét một lượng vàng vào tay tên lính canh cửa và đề nghị hắn cho Lã Bất Vi vào gặp thái hậu cung cấp một số thứ tiện dùng. Tên lính đó lại không nhận lễ vật Lã Bất Vi tặng mà bảo ông hãy tránh xa nơi thị phi này: “Ngài muốn gặp thái hậu bị cấm giam thì chẳng phải nói cái đầu của ngài sẽ rơi mà cả tôi cũng sẽ xuông âm tào địa phủ”. Nghe xong lời cảnh cáo của tên lính, Lã Bất Vi lại có cảm giác thê thảm đau xót bị cự tuyệt ở ngoài cung Chương Đài.
Cung Đại Trịnh đêm vắng lặng như tờ. Ánh trăng trắng bệch cắt ra dãy hành lang của các nóc lầu mông lung mờ nhạt và dường như ở đó đang tàng lâp một âm mưu và quỷ kế khó lường. Gió lùa nhẹ, bóng của tường cung điện và cây cối lúc tụ lúc dời. Ánh trăng vẫn không thay đổi, chiếu thứ anh sáng đẹp đẽ hắt ra từ các kẽ cây, rồi nhảy nhót không ngừng cùng với sự lay động của cây cối. Việc cũ giống như tiếng kêu của con dế nơi góc thành dai dẳng và rõ ràng đang rộn rã trong ký ức của ông. Lã Bất Vi nhớ đến khi vừa gặp Triệu Cơ ở đầu thành Hàm Đan, cà cái dáng tinh khiết nho nhã, mặt nóng hừng hực của ông. Ông nghĩ đến đêm đầu chung phòng với Triệu Cơ và rồi những tác tác khéo léo của Triệu Cơ đều tràn ngập những tiết tấu tựa như thiền nhạc mê người; ông nghĩ đến những đêm ở Hàm Đan; Ông nghĩ đến thứ tình cảm dần dần nhạt giữa ông và Triệu Cơ ở điện Chiêu Thanh… Lã Bất Vi rút ra một kết luận là: quá trình ông và Triệu Cơ trao cho nhau cả thể xác lẫn tinh thần giống như việc ăn đoạn quả dưa chuột, đến miếng cuối cùng cẳn phải núm dưa thì vị lại đắng. Nhưng ông lại không hối hân. Thứ chất nước thanh xuân của Triệu Cơ cuối cùng đã nuôi dưỡng nơi ông nhiều thứ. Bức tường cung điện cao quá đầu ông vẫn đứng sờ sờ. Bên trong không một tiếng động. Thái hậu Triệu Cơ lúc này đang làm gì? Giấc mộng đang đẹp? Khóc lóc thảm thiết? Nghĩ lại chuyện cũ? Lã Bất Vi không thể biết được. Lã Bất Vi đi lại thấp thỏm hồi lâu cảm thấy hai chân nặng nề khó nhấc, ông phải đi thôi. Lã Bất Vi lấy tấm thẻ trúc có khắc “Nhi Cơ hạ giá Lã Bất Vi” từ trong tay áo ra và ném vào phía trong tường cung điện. Lã Bất Vi tin chắc một điều là thái hậu Triệu Cơ có thể nhìn thấy nó được. Nếu Triệu Cơ biết được người đầu tiên làm cho bà ta biết thế nào là đàn ông, thế nào là người đàn bà đã đến nơi giam cầm nầy cũng đã đủ rồi.
Mưa xuân tầm tã khiến cho trên đường Lã Bất Vi phải dừng lại một ngày. Khi ông trở về phủ tướng quốc thì đúng ngày mà Doanh Chính hạn định cho ông rời khỏi Hàm Dương. Vì lúc sắp đi ông đã dặn lại rằng: Ông đi Ung Thành, có lẽ đường sẽ không được thuận lợi, sẽ phải cách quãng một ngày hoặc nửa ngày. Mọi người không phải đợi ông đến hôm đó thì cứ đi đừng để đại vương trách tội. Tư Không Mã đang lo lắng đợi ông về. Khi Lã Bất Vi và Tư Không Mã bàn bạc về việc: Ngày mai mấy giờ lên đường thì đội xe lọng lớn chở tài sản và thân quyến và đày tớ của Lã Bất Vi đang rồng rắn trên đường hướng về phía Lạc Dương.
Tư Không Mã rất hiểu việc lên đường từ lúc rất sớm của Lã Bất Vi. Ở thành Hàm Dương, ai mà không biết Lã Bất Vi quyền lực tiếng tăm lừng lẫy một thời. Lã Bất Vi không muốn mọi người nhìn thấy cảnh ông bị mất mũ chuồn, và sự thê thảm khi ông bị vua trục xuất khỏi kinh thành. Hai chiếc xe phổ thong. Một chiếc chở Lã Bất Vi và Tư Không Mã. Một chiếc chở bốn quân lính hộ tống nhưng thực ra là áp giải họ ra khỏi Hàm Dương trong ánh sáng mờ mờ ảo ảo. Không có nghi thức, không có người tiễn. Lã Bất Vi lên đường trong tư vị lạnh nhạt của thời thế.
Xe của Lã Bất Vi vừa ra khỏi cửa nam Hàm Dương thì đằng sau vọng lại tiếng gọi: “Lã đại nhân, xin hãy dừng bước”. Rõ ràng đó là chất giọng nhẹ nhàng ngọt ngào của phụ nữ, là ai nhỉ? Lã Bất Vi cho xe dừng lại, ông kinh ngạc vô cùng hỏi: “Thiếu nội địa nhân đến đây làm gì vậy?”. Thanh quả phụ phong thái như cũ, hai má hồng rực nói: “Lã đại nhân tôi và ngài đều là thươn gia, cũng là đồng liêu. Dù có thế nào thì cũng phải mở tiệc tiễn đưa đại nhân chứ”. Trong lòng Lã Bất Vi trào lên sự ấm áp. Thanh quả phụ thật là một người trọng tình trọng nghĩa, một nữ anh hùng làm việc tỉ mỉ kỹ lưỡng. Nếu Triệu Cơ giống bà ta thì vận mệnh của ta và thái hậu chắc đã khác rồi.
Tùy tùng của Thanh quả phụ để hộp thức ăn xuống đất và lấy thức ăn, mỹ tửu và thìa đũa ở trong ra. Thanh quả phụ rót đầy một ly cung kính đưa cho Lã Bất Vi. Lã Bất Vi đỡ lấy uống một ngụm hết sạch. Nơi miệng ông còn lại hơi cay, ông nói: “Đã lâu không được uống thứ rượu nào thơm như thế này rồi”.
Lã Bất Vi nghĩ, Thanh quả phụ là thiếu nội được Doanh Chính tín nhiệm, bà ta có thể ra vào tự do trong cung Chương Đài. Thế thì hãy nói những lời đã giữ trong lòng từ lâu cho ba ta hay và nhờ bà ta chuyển lên Doanh Chính.
Thế là Lã Bất Vi liền nói cho Thanh quả phụ rằng: “Tôi có ba câu thơ nhờ thiếu nội đại nhân hãy chuyển lên đại vương. Câu thứ nhất là phải trăm phương ngàn kế tiêu diệt lục quốc chư hầu. Câu thứ hai là Trịnh Quốc xây kênh mang đến cái lợi tươi tắn to lớn cho Quan Trung. Tuy đã hao tốn tài sản nhưng không nên giết hắn mà hãy để cho hắn xây dựng xong kênh rạch. Câu thứ ba là thái hậu ở Hàm Đan theo tiên vương sống gởi nhà người, kêu gọi đại vương, sức cùng lực kiệt, vô cùng vất vả, tôi đã đến đó rồi, xin đại vương hãy khoan dung độ lượng cho thái hậu”.
Thanh quả phụ ý vị sâu sắc nói: “Tôi hiểu”. Nói xong bà liền rút trong bụng ra một con dao bằng đồng thau tặng cho Lã Bất Vi và nói: “Lã đại nhân giàu sang một phương, ngài cũng gặp nhiều vô số kim ngân vàng bạc. Nào là kiếm Thái A, cờ Thúy Phương, trống Lịch Quy, ao a cảo, nào là đồ tê tượng, những thứ đó không cần phải nói. Tôi không có vật gì tốt hơn để tặng đại nhân. Con dao bằng đồng thau này là tiên vốn lúc tôi bắt đầu kinh doanh, về sau tôi không nỡ bán đi. Những lúc nhàn rỗi tôi thường lấy ra xoa xoa cho vui. Người thiết kế ra nó thật là một phong cách đặc biệt, độc đáo, am hiểu thế sự. Tôi và ngài đều là thương gia, vàng bạc hàng ức trong tay nhưng lý giải về tiền thì e rằng sẽ không thể bằng người thiết kế ra con dao này. Tại sao ông ta lại thiết kế tiền thành hình dao? Có phải muốn nhắc nhở mọi người rằng: tiền là con dao giết người.
Sự am hiểu sâu sắc và tinh tường của Thanh quả phụ về đồng tiền khiến Lã Bất Vi run lên như lá thu rơi và điều đó sẽ được giữ mãi trong lòng ông.
Con đường ngàn dặm từ Hàm Dương đến Lạc Dương là con đường giáng chức đầy sự đau khổ và thê thảm. Hai chiếc xe lăn đi chậm chạp bên đường. Mặt trời mọc lặn nghênh tiếp họ với sự cô đơn. Những bụi đất màu vàng trên đường và cánh đồng bị gió nhào đến cướp đi rồi vô tình để rớt trên nóc xe của Lã Bất Vi, có khi lại giống như ánh mặt trời úa vàng. Hoa núi cỏ dại bên đường không hiểu tâm tình hành nhân và cảnh đời thay đổi nên cứ xanh đỏ tím vàng men theo con đường ngoằn nghoèo chạy thẳng đến nơi chân trời. Đàn nhạn bay về phía nam và lúc thì biến thành chữ “nhân” lúc lai biến thành chữ “nhất”. Những lữ hành gia dũng cảm này kêu lên bằng tiếng kêu thê thảm và bóng của chúng như những cái mỏ neo in lên những bờ ruộng dài rộng.

(Phần ĐOẠN KẾT được Ct.Ly đánh nằm trên bài này)
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
Cảm ơn Chí Hải nhiều nhé

Ms ơi, bây giờ đến việc của MS rồi đó
Đăng nhập để trả lời
0
Bây giờ thì danh sách thế nào rồi ạ? Mình chẳng thể nào nhận biết đâu là có người nhận rồi và đâu là chưa. Vậy có thể phân công cho mình chương nào mà mọi ngừoi chưa nhận đánh không ạ?
Đang... ngứa tay chân sau khi hoàn thành... ở bền Đại tá Nguyễn Thành Luân đây ! ha ha !

Nếu chẳng một phen sương thắm lạnh
Hoa mai sao dễ tỏa mùi hương
Đăng nhập để trả lời
0
HTLĐ xin tổng kết lại "tình hình" đánh máy truyện "Lã Bất Vi" cho đến thời điểm hiện tại nhé:

- Quyển 1 - 2: bạn sonzin đã nhận.
- Quyển 3: bạn glacier đang type.
- Quyển 4: bạn Hoa Tulip đen đã type xong.
- Quyển 5 - 6: bạn Canary đã type xong.
- Quyển 7 - 8: bạn LOng3ta đã nhận.

Tất cả đều đã có người nhận type rồi. Nếu Mãi Yêu Hoài Nhé muốn type truyện này thì có thể liên hệ với các bạn đã nhận type nhưng chưa thấy đăng bài để có thể share ra cùng type cho nhanh. Vậy nhé!

Còn sau đây HTLĐ xin đăng lại 1 phần Quyển 3 mà bạn glacier đã type và Quyển 4 vào luôn trong đây để các bạn tiện theo dõi.
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
Sonzin à,

Mình xem thấy bạn đã nhận type quyển 1,2 của Lã Bất Vi rồi nhưng chưa thấy bạn đưa lên. Bạn đã đánh đến đâu rồi? Để mình share với bạn nhé. Mình type quyển 2 được không?

Reply cho mình sớm nhé.

Thân.
Trích đoạn: Hoa Tulip đen

HTLĐ xin tổng kết lại "tình hình" đánh máy truyện "Lã Bất Vi" cho đến thời điểm hiện tại nhé:

- Quyển 1 - 2: bạn sonzin đã nhận.
- Quyển 3: bạn glacier đang type.
- Quyển 4: bạn Hoa Tulip đen đã type xong.
- Quyển 5 - 6: bạn Canary đã type xong.
- Quyển 7 - 8: bạn LOng3ta đã nhận.

Tất cả đều đã có người nhận type rồi. Nếu Mãi Yêu Hoài Nhé muốn type truyện này thì có thể liên hệ với các bạn đã nhận type nhưng chưa thấy đăng bài để có thể share ra cùng type cho nhanh. Vậy nhé!

Còn sau đây HTLĐ xin đăng lại 1 phần Quyển 3 mà bạn glacier đã type và Quyển 4 vào luôn trong đây để các bạn tiện theo dõi.

Đăng nhập để trả lời
0
Sonzin à,
Không thấy bạn phản hồi lại thông tin gì cả. Mình đang rỗi rãi. Vậy không ý kiến có nghĩa là đồng ý nghe. Mình sẽ type phần 2 của Lã Bất Vi. OK?[:D]
Đăng nhập để trả lời
0
Thấy các bạn vừa hoàn tất xong truyện Ván bài lật ngửa, nên rảnh rổi

Nhưng truyện này Lã Bất Vi khg biết ngã ngũ ra sao?? Vì CtLy từ lâu khg có theo dõi

Để Ct.Ly đi ( lượm lặt ) tin tức , xong sẽ thông báo cho các bạn nhé

Chúc các bạn nội lực luôn thâm hậu, vui vẻ, an lành

Thân ái
Đăng nhập để trả lời
0
Quyển 3

Bạn glacier đánh máy

CHƯƠNG 5
TÙNG ĐÀI PHONG ÚY


Triệu Hiếu Thành Vương trong sự tưởng tượng của Dị Nhân và Triệu Hiếu Thành trên thực tế khác nhau rất nhiều. Dị Nhân đã từng nghe ông mình là Chiêu Tương vương kể, sau khi Triệu Huệ Văn vương chết đi, Triệu Hiếu Thành vương kế thừa cơ nghiệp tiên tổ, nam chinh bắc chiến, vũ dũng hơn người, hùng tài đại lược, trị quốc hữu phương. Trong số bảy nước là Tề, Sở, Yên, Hán, Triệu, Ngụy và nước Tần, ngòai nước Tần ra nước Triệu được coi là có thế lực lớn mạnh nhất. Như vậy, trong con mắt của Dị Nhân đã hình thành nên một vị vua có tướng mạo đường đường cao ngạo.
Nhưng khi Dị Nhân và Chu Kiệm đến Hàm Đan vào chầu vị quốc quân này, thì nhìn thấy một người gày gò yếu đuối thấp bé như một đứa trẻ mới lớn. Khuôn mặt bị che bởi chiếc mũ đế vương hầu như không còn một chút sinh khí. Nhưng điều khiến Dị Nhân có "ấn tượng" nhất là những chiếc râu lưa thưa mà người đó đang đeo.
Triệu Hiếu Thành vương nói trong hơi thở thều thào: "Dị Nhân công tử, trên đường đi thật vất vả!"
Dị Nhân cúi mình trả lời: " Đa tạ sự quan tâm của đại vương. Ông nội thần là Chiêu Tương vương và bố thần là An Quốc quân gửi lời hỏi thăm đại vương!".
Triệu Hiếu Thành vương nói: "Ta và Chiêu Tương vương giao tình đã lâu, công tử đến đây không cần phải đa lễ. Hai người chủ tớ các ngươi xa rời quê hương, e rằng phải chịu nhiều cô tủi, ta ban cho các người một tên hầu để mà sai bảo".
Triệu Hiếu Thành vương vừa nói hết câu, từ trong trướng bước ra một người có thân hình cao to vạm vỡ, người này bước ra trước mặt Dị Nhân cúi chào lễ phép, nói: "Tại hạ là Công Tôn Càn, nguyện đi theo công tử, nghe theo sự sai bảo của công tử!".
Dị Nhân và Chu Kiệm đều hiểu rõ từ giờ trở đi bên cạnh họ sẽ luôn có một người theo sát. Đó là người do Triệu Hiếu Thành vương phái đến.
Sau khi tiếp kiến, Công Tôn Càn đưa Dị Nhân và Chu Kiệm đến ở một thôn nhỏ. Cư dân ở đây chủ yếu là người nghèo với đủ hạng người trong xã hội: sĩ, nông, công, thương. Đường đất thì khúc khuỷu quanh co, mùi nước bẩn và nước gạo do dân hắt ra, dính kết cáu bẩn trên đường, không khỏi làm cho người ta có cảm giác buồn nôn.
Dị Nhân nhìn thấy hai căn buồng của mình và Chu Kiệm, đồ đạc bày biện đơn sơ, trên góc tường có mấy con nhện đang giăng tơ. Điều này làm anh ta sực nhớ đến cảnh màn che trướng rủ huy hoàng ở Hàm Dương. Trên khuôn mặt lộ rõ sự chua xót.
Nơi đây không xa so với tùng đài của Triệu Hiếu Thành vương. Đó là nơi lầu ngọc, gác tía, vườn uyển. Ánh sáng tỏa ra bao trùm cảnh vật xung quanh.
Thêm vào đó tiếng đàn hát của các nhạc công và vũ nữ lại vang rất xa. Dị Nhân nhìn thấy sự nguy nga tráng lệ, giàu sang đó, trong lòng như có tảng đá đè nặng, vô cùng khó chịu.
Dị Nhân nhìn rất lâu về phí tùng đài, một cơn gió lạnh thổi qua làm anh ta trở nên trầm mặc...


*
* *

Lã Bất Vi dửng dưng đối với tin tức của Dương Tử khiến Dương Tử cảm thấy vô cùng khó nghĩ. Dương Tử vốn có ý muốn khoa trương việc bạn của Lã Bất Vi và Tần vương tôn đến Hàm Đan để làm Lã Bất Vi ngạc nhiên. Nếu là trước kia thể nào Lã Bất Vi cũng sẽ rất quan tâm. Nhưng hôm nay sau khi nghe Dương Tử thuật lại, lòng như không để ý, chỉ nói vài tiếng "Hãy đi sắp xếp chỗ nghỉ đi".
Dương Tử đi hỏi mấy người tôi tớ vì sao Lã tiên sinh lại có tâm trạng không vui như vậy. Họ đều lắc đầu nói không biết. Dương Tử lại đi hỏi các môn khách, đa số họ đều nói không rõ. Chỉ có vài người biết. Lã Bất Vi không vui vì chuyện mua bán lương thực với Triệu Khôi Tử, chỉ sợ nếu hàng lọt vào tay quan phủ thì mình sẽ bị kết tội đồng đảng với Triệu Khôi Tử.
Dương Tử nói với mấy người môn khách: "Vậy các vị cứ để Lã tiên sinh u uất buồn rầu vậy sao? Nếu để lâu ngày e sẽ sinh bệnh mất. Các vị phải nghĩ cách gì để Lã tiên sinh giải sầu đi?"
Trong môn khách có một người rất chăm chú lắng nghe những lời của Dương Tử. Đó là Tư Không Mã. Người này rất giỏi về kiếm thuật và quyền thuật. Từ khi trở thành môn hạ của Lã Bất Vi vẫn chưa được chủ nhân chú ý đến, vì vậy cuộc sống trôi qua rất tẻ nhạt. Tựa như anh hùng không có đất dụng võ. Mặc dù chủ nhân không sai bảo làm những việc như đốt nhà cướp của hay xông pha nơi hiểm nguy nhưng trong lòng người ấy luôn cảm thấy không vui.
Giờ đây những lời nói của Dương Tử như phần nào thức tỉnh Tư Không Mã. Anh ta tự nghĩ phải tìm mọi cách để chủ nhân vui lòng như vậy mới lấy được sự quan tâm chú ý và thiện cảm của chủ nhân. Từ đó tài năng của mình mới được sử dụng. Trong đầu nghĩ ra mọi cách để Lã Bất Vi giải sầu và cuối cùng cũng tìm ra một diệu kế. Anh ta bắt đầu thực hiện để đưa dự định của mình thành hiện thực.
Kỹ viện của Lạc Dương luôn luôn náo nhiệt, bên ngoài nhà được trang trí cầu kỳ, dọc hành lang có treo vài lồng chim, bên trong lồng mấy chú vẹt không ngừng nhảy nhót, khi có người đến lại hót lảnh lót "Có khách! Có khách!". Khách đến kỹ viện đều là các đại thương nhân, vui chơi qua đêm suốt sáng.
Lần đầu tiên Tư Không Mã tới đây, bước chân dường như không theo ý muốn. Suốt dọc hành lang dài, mùi son phấn thoảng ra nồng nàn, tiếng cười đùa, những cái liếc nhìn của các cô gái làm Tư Không Mã trở nên bối rối, cảm thấy cổ họng mình như khát khô, nhịp im cũng đập mạnh hơn.
Người chủ kỹ viện bước lại gần và hỏi: "Công tử muốn tìm người như thế nào?". Tư Không Mã lúc này đã lấy lại được dáng vẻ bình thường, liền trả lời: "Người đó phải là tuyệt đại giai nhân". Người chủ nói: "Nghe khẩu khí của vị công tử này quả thật là không hề thấp". Rồi ông ta dẫn Tư Không Mã bước vào một nơi, gọi là "Lầu Uyên Ương". Ở đấy có một cô gái đang ngồi chải đầu. Người chủ kỹ viện hỏi Tư Không Mã: "Công tử, ngài hài lòng không?". Nhưng chỉ thấy Tư Không Mã lắc đầu.
Người chủ lại dẫn đến một nơi là "Loan Phượng Gác". Ở đó có một cô gái rất xinh, và lại hỏi: "Công tử, cô này thì sao?". Tư Không Mã vẫn chỉ lắc đầu.
Ông ta lại đưa đến nơi có tên là "Ngọc Thành Cư", rồi chỉ cô gái có nhan sắc tuyệt vời và hỏi "Công tử, ngài có vừa ý không?". Tư Không Mã lại lắc đầu.
Ông ta vô cùng ngạc nhiên, nói: "Những cô gái đẹp nhất chỗ tôi đều không làm ngài hài lòng. Vậy e rằng chỗ chúng tôi không thể đáp ứng được yêu cầu của công tử".
Tư Không Mã hỏi ông ta: "Quả thực ở đây không còn ai đẹp hơn nữa sao?".
Ông ta do dự một lúc mới nói: "Không dám giấu công tử, ở đây còn một vị nếu nói về nhan sắc thì quả thật là ngiêng nước nghiêng thành, chỉ e công tử không thể bỏ ra một món tiền lớn như vậy".
Tư Không Mã không ngần ngại nói: "Nếu ta hài lòng thì giá cả chẳng là gì". Ông ta đưa Tư Không Mã đến một nơi, vừa đẩy cửa đã nhìn thấy một tuyệt thế giai nhân. Đúng là chim sa cá lặn, khiến người ta phải mê mẩn.
Ông chủ hỏi Tư Không Mã: "Công tử, vị này thế nào? Có thể gọi là tuyệt thế giai nhân chưa?". Tư Không Mã mãi mới cất lên lời: "Đáng lắm, đáng lắm!". Người chủ lại nói: "Một đêm là mười lạng vàng". Tư Không Mã trả lời: "Không hề đắt, không hế đắt".
Sau khi trở về Lã phủ, Tư Không Mã tự nhủ "Mình đến kỹ viện lần đầu mà đã được gặp một trang quốc sắc thiên hương. Lã tiên sinh dù trong lòng có buồn phiền gì nếu gặp vị cô nương này cũng sẽ quên hết".
Dương Tử nói với mấy vị môn khách: "Tư Không Mã đừng có mà dối trời gạt đất, ở thành Hàm Dương này làm gì có ai đẹp đến mức Lã tiên sinh phải động lòng". Tư Không Mã thì nói có, Dương Tử lại nói không có. Hai bên cứ thế đôi co, lời qua tiếng lại, làm kinh động đến Lã Bất Vi.
Lã Bất Vi truyền hỏi: "Rốt cuộc xảy ra chuyện gì? Vì sao lại ồn ào vậy?".
Tư Không Mã liền đem đầu đuôi câu chuyện kể lại một lượt. Lã Bất Vi nghe xong khẽ mỉm cười nói: "E rằng ở thành Hàm Dương chẳng có người con gái nào làm ta có thể động lòng được!".
Tư Không Mã nói một cách quả quyết: "Lã đại nhân, ngài chỉ cần gặp vị công nương đó, nếu không có một chút động lòng thì ngài phạt tôi điều gì tôi cũng cam chịu".
Mọi người đều nói: "Nếu Lã tiên sinh gặp cô nương đó mà chẳng có chút tình cảm gì thì ngài phải thua mười lạng vàng". Tư Không Mã lại nói: "Nếu Lã đại nhân động lòng thì sao?". Mọi người trả lời: "Vậy chúng tôi sẽ thua ngài mười lạng vàng". Tư Không Mã nhìn Lã Bất Vi rồi nói: "Lã đại nhân, người có dám đánh cược không?".
Mọi người đều tranh nhau nói: "Lã đại nhân đánh cược với hắn ta đi, thua chúng tôi sẽ trả mười lạng vàng".
Cái chuyện này trăm người nói có, vạn người nói không, đã làm cho Lã Bất Vi cảm thấy hứng thú. Ông nghĩ: "Chuyện chơi ấy mà, hà tất phải nghiêm túc. Cứ đi vào phòng điếm thử xem để mở rộng tầm mắt, giải trí một lát".
Dưới sự tiền hô hậu ủng của Tư Không Mã và Dương Tử, Lã Bất Vi đi rất nhanh vào cửa lớn của nhà điếm.
Nhìn thấy tuyệt đại giai nhân, không biết Lã Bất Vi sẽ thế nào? Lạnh nhạt, thờ ơ chăng? Hay là vừa nhìn thấy đã ngưỡng mộ ngay? Trái tim thổn thức chăng? Hay là hồn bay phách lạc? Trong đầu Tư Không Mã vừa đi vừa nghĩ, chẳng mấy chốc Lạc Dương Cốc đã đưa Lã Bất Vi tới trước cửa "Dao Trì Đài", đẩy cửa vén rèm nói: "Tiểu thư, có khách quý tới thăm đây này".
Lã Bất Vi bước vào, những người khác đều ở bên ngoài. Cô gái làng chơi mà Lã Bất Vi vừa nhìn thấy không phải ai khác, chính là Thiên Kim Tiểu Thư Triệu Cơ của Triệu Khôi Tử. Triệu Cơ cũng nhận ra Lã Bất Vi, bèn lao vào lòng ông khóc rưng rức.
Lã Bất Vi hỏi cô vì sao lại đến nông nỗi này, Triệu Cơ nức nở nói với ông, các ngày mà quan phủ tới nhà cô tịch thu tài sản, cô đang nhảy dây chơi đùa ở phía sau vườn hoa. Nhìn thấy đại họa từ đâu ập tới gia đình, cô bèn trèo qua tường phía sau vườn hoa chạy trống, chuẩn bị đến cậy nhờ nhà chú ở dưới quê. Vừa mới tới đó, do cũng bị liên lụy tới bố mẹ nên chú ấy cũng bị thu nhà, không biết đã trốn đi đâu rồi. Triệu Cơ lang thang phiêu bạt. Đúng lúc gặp phải Lạc Dương Cốc về quê để chiêu dụ gái điếm, thấy Triệu Cơ có nhan sắc xinh đẹp, liền kèm ép đưa về đây.
Lã Bất Vi an ủi Triệu Cơ: "Tiểu thư, tất cả đều rất đau thương. Ta và nhĩ phụ là bạn cùng làm ăn buôn bán, không thể nhìn thấy nàng gặp hoạn nạn, ô nhục và không cứu. Ta cần phải chuộc thân cho nàng".
Lã Bất Vi quay người đi ra. Tới cửa ngoài, ông nhìn thấy Lạc Dương Cốc và các môn khách của ông vẫn ngồi yên ở đó thì thầm nói chuyện. Nhìn thấy Lã Bất Vi đi ra, họ cười đùa hỏi: "Sao rồi, đã nếm hàng tươi mát chưa?".
Lã Bất Vi không thèm đếm xỉa gì tới những lời đùa cợt vừa rồi, thẳng thắn hỏi Lạc Dương Cốc: "Người con gái này từ đâu mà tới?".
Lạc Dương Cốc nghênh bộ mặt trắng dã nói: "Tôi nói với Lã đại nhân, chúng ta đến đây là để mua vui tìm khoái lạc, chứ không phải đến để tìm người làm cơ thiếp, hà tất phải hỏi tới gốc gác vậy!".
Lã Bất Vi không cò kè với Lạc Dương Cốc chuyện này, ông hỏi thẳng vào vấn đề: "Bao nhiêu tiền?".
Lạc Dương Cốc vui vẻ nói: "Cô tiểu thư này lần đầu tiên tiếp khách, hoa tươi nước ngọt của hoàng hoa khuê nữ với đào mềm táo nát khiến người ta cảm thấy như là chín rữa thì dư vị không thể giống nhau được, vì vậy giá tiền cũng không thể giống nhau!".
Lã Bất Vi không kỳ kèo, nói: "Hai trăm lượng, thế nào?".
Lạc Dương Cốc cười: "Lã đại thương nhân, ông là người giàu đừng chế giễu chúng tôi phận nghèo!". Tư Không Mã đứng ở bên cạnh đã sớm biết được những suy nghĩ của Lã Bất Vi, anh ta nói: "Lạc Dương tiên sinh, Lã đại nhân nhà chúng tôi không đùa với ông đâu, ý của Lã đại nhân muốn mua vị nữ điếm này về phủ!".
Lã Bất Vi phụ họa nói: "Ý của tôi chính là như vậy, hai trăm lượng nhiều hay ít?".
Lạc Dương Cốc nịnh bợ nói: "Không ít, không ít, thực sự là không ít!".
Triệu Cơ cùng với Lã Bất Vi trở về phủ lúc trời đã gần trưa, cô đi vào từ cửa chính. Bọn người hầu của Lã phủ đang nhặt rau ở trong bếp, thấy Lã Bất Vi đường hoàng dẫn một cô gái mặt hoa da phấn đi vào, họ cho rằng đó là thiếp ông mua về. Khi thấy cô ăn mặc trang điểm xanh, đỏ và trong tay ôm một chiếc đàn thì họ cho rằng là ưu nữ đến phủ để đàn ca nhảy múa. Một lát sau, những người đi cùng Lã Bất Vi đến nhà điếm, mới nói rõ hết mọi chuyện về Triệu Cơ, bọn nha dịch mới biết được đây là một gái điếm được Lã đại nhân bỏ ra hai trăm lượng vàng để chuộc thân. Khi mọi người trên dưới trong phủ ngắm nghía soi mói Triệu Cơ, trong ánh mắt họ đầy sự khinh miệt. Hoàng Phủ Kiều không hiểu nổi dụng ý của chồng, cũng nói: "Trong nhà con gái có đầy ra, sao lại phải đến nhà điếm để vui chơi cơ chứ!".
Khi Triệu Cơ ở nhà, cô như viên minh châu của Triệu Khôi Tử. Cô có thiên tính thích sự náo nhiệt, vô tư, nhất là trong hoàn cảnh sung túc cô lại càng phát huy được thiên tính của mình. Hàng ngày, cô đánh đàn nhảy múa, nhanh nhẹn tháo vát. Có lúc thì xem sách, lúc lại ngâm vài câu thơ. Con gái Hàm Đan trong bảy nước, nổi danh nhẹ nhàng quyến rũ. Vào những ngày đẹp trời, những cô gái đó đong đưa lên phố, từng cô từng cô liếc mắt đưa tình với đàn ông. Thậm chí, có người còn sánh vai sát lưng, phóng đãng hình hài. Tới đêm khuya, trong các nhà quan lại giàu sang, từ trong các cửa sổ biết bao nhiêu lời ong tiếng ve được bay ra. Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng. Triệu Cơ sống trong nhung lụa quần áo trang sức của Hàm Đan cũng đã phủ lên cái thói quen không tốt của rất nhiều bụi phấn và tiền bạc.
Mới đến Lã phủ, Triệu Cơ sống trong sự dèm pha chỉ trích của mọi người, vẫn còn nhiều thứ lạ lẫm và mất tự nhiên. Vài ngày sau những thói quen ở kỹ viện lại trở lại trong cô. Cô mặc những chiếc áo màu sắc diêm dúa, vẽ mi kẹp tóc, cái miệng nhỏ xinh xinh thường ngâm ngợi những đoạn trong Kinh thi. Hàng ngày vào buổi sáng, cô đều dạo một khúc đàn, khúc đàn đó như dòng nước quanh co chảy vào từng ngóc ngách của Lã phủ. Cô chủ động bắt chuyện với mọi người, nhiều lúc còn dốc sức giúp họ làm một số việc. Nhưng các nha dịch và môn khách thường cho rằng, cô gái đến từ nhà điếm, toàn thân đầy bùn nhơ bẩn thỉu, họ sợ sẽ bị lây nhiễm vào họ. Họ diễn tả lại sự nhiệt tình và giả tạo của cô. Không biết những chuyện đó Triệu Cơ quả thực không biết, hay là không để ý tới, mà cô vẫn cứ tỏ ra khinh thường.
Tư Không Mã tỏ vẻ bất bình trước sự đối xử không công bằng đối với Triệu Cơ, anh ta thường nói trước mặt mọi người: "Người ta vừa mới tới đây, từ trước tới giờ chưa từng tiếp khách!". Tư Không Mã rất khâm phục kỹ năng chơi đàn thuần thục của Triệu Cơ, vào mỗi buổi sáng Triệu Cơ lại dạo bản nhạc đó một lúc, anh ta đều đứng ở gần hoặc đứng ở một góc nào đó có thể nghe được âm thanh của tiếng đàn; anh tập trung toàn bộ tinh thần để thưởng thức những âm vang trong trẻo của nó. Vào một buổi sớm, anh không nghe thấy những âm thanh trong trẻo của tiếng đàn đó nữa. Anh thầm đoán rằng, có chuyện gì xảy ra với Triệu Cơ chăng? Nếu không, sao tiếng đàn đó tới giờ này vẫn chưa vang lên. Anh tìm tới chỗ Triệu Cơ mới biết chiếc đàn yêu dấu của cô đã hỏng. Anh vội vàng chạy lên cửa hàng đàn trên phố ôm về cho Triệu Cơ một cây đàn trúc mới tinh. Cô cười rất duyên dáng để lộ hai hàm răng trắng rồi bắt đầu so phím đàn thử qua một dạo, tiếng đàn đầy ắp sự tình tứ. Sau đó, Triệu Cơ ngẩng đầu lên hỏi: "Anh thấy sao?".
Tư Không Mã nhìn chăm chú vào khuôn mặt của Triệu Cơ. Triệu Cơ thấy trong đôi mắt của anh tràn đầy sự ấm áp. Kỳ thực, cô đã sớm để ý tới cái ánh mắt đặc biệt hàm chứa biết bao nội dung đó. Trong vô vàn những ánh mắt dồn vào cô ở Lã phủ, cô nhận thấy ánh mắt của Tư Không Mã thật ấm áp dễ chịu; cô thầm cảm ơn ân đức của Tư Không Mã. Nếu như không phải là anh ấy phát hiện ra cô ở nhà điếm, thì e rằng cô cũng sớm phải trần trụi rên rỉ dưới thân thể của một người đàn ông nào đó.
Do thân phận đặc biệt của Triệu Cơ, Lã Bất Vi chỉ cho cô làm những việc bình thường của người ở như cho ngựa ăn, hái rau, giặt quần áo. May mà ngựa trong phủ không nhiều, hơn nữa quần áo chỉ mặc qua hai lần là vứt bỏ. Cuộc sống này cũng chẳng lấy gì làm vất vả cho lắm, nó dễ như trở bàn tay. Mỗi lần cần phải giặt giũ, Tư Không Mã đã sớm ra giếng gánh nước về cho cô, ra chuồng ngựa tháo áo ra và mang về. Khi những chiếc áo ngựa mới đó được tạm thời nhúng xuống nước thì trong chậu không chỉ có đôi bàn tay nõn nà mềm mại mà còn có cả đôi bàn tay thô ráp của anh ra sức mài sát những chiếc áo đó. Có một ngày, cũng trong những giờ phút ấy, Tư Không Mã nói với Triệu Cơ: "Tôi nghe thấy rằng ở ngoại thành Hàm Đan, có một vị Thích Phu tinh thông âm luật, nếu như Triệu Cơ đến đó xin học thì năng khiếu đàn hát ca múa của cô sẽ bay lên như diều gặp gió".
Triệu Cơ tìm tới Lã Bất Vi để xin ông cho cô đến chỗ Thích Phu ở ngoại thành Hàm Đan học thêm về âm luật. Lã Bất Vi nói với cô là phải đi sớm về sớm.
Ngoại thành Hàm Đan, liễu rủ quanh hồ, ong bay bướm lượn khiến cho Triệu Cơ rất vui vẻ. Cơn gió xuân ấm áp thổi nhẹ chiếc váy cô mặc, chiếc khuyên tai như cũng được lắc lư theo. Đi đã mệt, cô ôm đàn ngồi xuống nơi bờ ruộng mà thở. Mặt trời đã nhô lên, hình dáng thon thả của cô như được mặt trời vẽ trên nền cỏ. Không có chuyện gì. Cô dạo một khúc "Bội phong - Tĩnh nữ". Đây là khúc nhạc mà cô thuộc và yêu thích nhất, nhưng chơi được vài đoạn, cô không thể tập trung được nữa. Cô biết rõ rằng, bởi vì hình ảnh của Tư Không Mã luôn ẩn hiện trong đầu cô, khiến cô không thể chuyên tâm để chơi đàn nữa.
"Triệu Cơ!". Có người ở phía sau gọi cô. Cô cho rằng đó là Tư Không Mã. Cô quay đầu lại nhìn, thật là kinh ngạc, đó chính là lão gia Triệu Thành.
Hơn một tháng nay không gặp, con người ông tiều tụy gầy yếu đi rất nhiều, giống như một viên ngói xám sau khi bị vỡ. Lúc này Triệu Cơ cảm thấy sống mũi mình cay cay, nước mắt cô trào ra, cô nói: "Chú, chú vẫn còn sống!".
Triệu Thành cũng rơm rớm nước mắt nói: "Chín phần chết, một phần sống".
Triệu Cơ liền hỏi: "Cha cháu vẫn còn chứ?".
Triệu Thành khóc không thành tiếng: "Lão gia, ông ấy...".
Triệu Cơ hỏi: "Cha cháu, ông ấy không còn ở trên trần thế nữa có phải không?".
Triệu Thành gật đầu, nói: "Đêm đó, lão gia dẫn chúng tôi xông vào biên ấp của Hàn Triệu, bị lính gác bắt và giết. Nhân lúc màn đêm dày đặc, chú bị thương giả vờ chết mới thoát được thân. Lão gia dường như linh cảm được chuyến buôn này sẽ xảy ra thảm họa, mang tờ hợp đồng gán nợ được ông và Lã Bất Vi ký ra, đồng thời khắc lên trên vài lời dặn dò, đề phòng bất trắc".
Triệu Thành nói xong, run lẩy bẩy lấy từ trong túi đeo ở phía sau lưng tờ gán nợ, đưa cho Triệu Cơ, cô chỉ thấy dưới những nét chữ hằn lên, có khắc một hàng chữ nhỏ rõ: "Cơ nhi gán cho Lã Bất Vi".
Triệu Cơ xem xong lời dặn dò của cha, cô xúc động khóc nức nở.
Triệu Thành nói: "Ta lẩn trốn về Hàm Đan, nghe ngóng tin tức của cháu khắp nơi. Biết rằng sau khi cháu đã được Lã Bất Vi chuộc ra khỏi nhà điếm, ta liền len lén ở bên ngoài cổng của Lã phủ đợi cháu. Nhưng mãi mà vẫn không có cơ hội. Chú cũng là tội phạm truy sát của quan phủ, không dám tới Lã phủ lúc thanh thiên bạch nhật, cũng không dám gặp gỡ cháu trên đường phố. Hôm nay đi theo cháu ra ngoại thành, đem tờ gán nợ dặn dò của cha cháu đưa tận tay cho cháu, đó cũng là tâm nguyện cuối cùng".
Triệu Cơ hỏi: "Đại thúc, sau này chú định ẩn thân ở đâu?".
Triệu Thành bi thương nói: "Từ nay về sau chú không thể ở nước Triệu được nữa. Nếu như lưu lại ở mảnh đấy này, một ngày nào đó bị người ta phát hiện, sẽ bị tống giam vào ngục hoặc bị giáng xuống làm nô tỳ. Thiên hạ rộng lớn, chú sẽ chu du các nước, tùy cơ xin chút cơm thừa canh cặn của những vị quan lại, nhà buôn giàu có để sống qua ngày".
Triệu Cơ lập tức ôm chầm lấy Triệu Thành, đau xót nói: "Đại thúc, cháu bây giờ chẳng còn người thân nào nữa, chú hãy tính giúp cho thân phận cháu gái bé nhỏ này đi. Chia tay lần nay, có lẽ phải sang thế giới bên kia mới gặp được nhau mất!".
Triệu Thành nói: "Chú đã đến lúc như ngọn đèn hết dầu rồi, đối với tất cả mọi thứ cũng chỉ biết nghe và chấp nhận mà thôi. Mà cháu như một bông hoa chưa nở, ngày tháng còn dài ở phía trước. Lã Bất Vi của cải giàu có, là người có đạo đức, cháu theo ông ta cũng được coi như là cả đời được nhờ cậy. Chỉ là cơ thiếp của người ta nên có những chuyện cháu nên nhẫn nhịn. Bỉ Ngạn Vân, người vợ trẻ nhiều năm mong muốn được làm mẹ chồng. Ngày này qua tháng khác, vị trí trong phủ cũng sẽ ổn định, rồi cũng có ngày được mở mặt thôi".
Triệu Thành nói xong, gạt nước mắt chia tay với Triệu Cơ.
Đối với việc đột nhiên sắp trở thành cơ thiếp của Lã Bất Vi, Triệu Cơ cảm thấy không biết làm thế nào. Cô đã không còn tâm trí nào để đi đến chỗ Thích Phu nữa, mà chỉ biết cầm tấm di chúc gán nợ, lòng cô nặng trĩu quay trở về Lã phủ.
Hai nước Tần và Hàn đứng đối mặt với nhau như cung đã căng, nỏ đã kéo, chỉ cần có va chạm là sẽ có chiến tranh, điều này không chỉ mang tới cho Triệu Hiếu Thành vương cái hứng thú đứng xa xem lửa cháy, mà còn cũng khiến ông nắm chắc cơ hội để chuẩn bị vũ khí và tăng thêm quân sĩ.
Sau một bữa sáng cơm no rượu say, Triệu Hiếu Thành vương tìm tới Bình Nguyên quân Triệu Thắng, để vị tướng quốc lâu năm này chiêu mộ mười vạn quân lính.
Triệu Thắng nói: "Đại vương, người nước Triệu có thừa, chiêu mộ mười vạn quân dễ như trở bàn tay, chỉ có điều là khó khăn trong vấn đề ngựa và bính giáp".
Triệu Hiếu Thành vương lắc tấm thân vạm vỡ nói: "Từ dân gian hoặc mua của các nước chư hầu khác".
Triệu Thắng cười và nói: "Đại vương của thần, trong thương khố của quốc gia đã cạn kiệt mất ngân lượng rồi".
Triệu Hiếu Thành vương nói: "Vậy thì hãy đi tịch thu của những nhà giàu có!".
Triệu Thắng không chần chừ nói: "Triệu Hiếu Thành vương đường đường là một nước chư hầu lớn mà lại đi thu tiền bạc của bách tính dân đen, đây không phải là chỗ dựa của dân, như vậy chẳng bị chư hầu thiên hạ chê cười hay sao?".
Triệu Hiếu Thành vương nói: "Mượn chiêu bài mũ áo chỉnh tề, viết rõ là mượn tiền".
Triệu Thắng nói: "Vua đi mượn tiền của dân, trong lòng ai mà chẳng không rõ, đây là thịt bao tử đãi chó, có đi mà không có về. Đặc biệt là bọn thương nhân, nhìn thấy lợi là quên nghĩa, gian giảo cực độ, e rằng rất khó tiến phụng tiền của".
Triệu Hiếu Thành vương phẫn nộ bất bình nói: "Thương nhân của Quan đông sáu nước buôn bán kiếm chác rất nhiều trên đất của quả nhân, tất cả họ đều giàu nứt đố đổ vách, lẽ nào lại không chịu bỏ ra một ít tiền hay sao? Nước Vệ có người tên là Lã Bất Vi, chẳng phải là buôn bán ngọc bích ở Hàm Đan rất giàu có hay sao? Có rất nhiều quân thần nói với quả nhân rằng, vị Lã Bất Vi này bình thường vẫn nói, lấy Triệu quốc làm nước, coi Triệu vương là tôn, coi việc làm cho nước Triệu giàu có làm nhiệm vụ của mình. Lẽ nào lại là nói dối, treo đầu dê bán thịt chó, một cái lông cũng không chịu nhổ ra sao?".
Triệu Thắng nói: "Việc này tôi cũng không rõ lắm. Ngộ nhỡ có ngày nào đó chúng ta bị đuổi ra khỏi cửa, lúc đó cũng chẳng còn chỗ nào mà dung thân nữa, cái uy của vua tôi e rằng cũng chẳng còn!".
Triệu Hiếu Thành vương tràn đầy tự tin nói: "Ngày mai tuyên ông ta đến Tùng Đài, quả nhân muốn đích thân nói chuyện với ông ta, nhân tiện cũng muốn xem xem gã thương nhân tới từ nước Vệ này người ngợm ra sao!".
Triệu Thắng nói: "Đại vương triệu kiến, Lã Bất Vi không thể không tới, nhưng trong lòng ắt có sự chuẩn bị, có thể chúng ta sẽ gặp phải tay rắn mặt đấy!".
Triệu Hiếu Thành vương nói: "Quả nhân không tin, một tên thương nhân oắt con lại dám coi thường sự tôn nghiêm của quả nhân sao!".
Triệu Thắng đành phải nói: "Vậy thì ngày mai đại vương hãy thử xem sao!".
Sự vui vẻ của Triệu Cơ và hứng thú đánh bạc trong nhà điếm, cũng không làm giảm đi sự lo âu phiền muộn trong lòng Lã Bất Vi.
Có môn khách nói với Lã Bất Vi rằng: Tư Không Mã và Triệu Cơ có tư tình với nhau. Lã Bất Vi nghe xong vẫn chưa có phản ứng gì. Trước đây ông chưa từng có sự nghi ngờ gì đối với người môn khách hiểu biết, trung thành và anh dũng này. Lần này, anh ta lại vắt óc nghĩ ra trò đánh bạc ở nhà điếm, đã mang lại cho Lã Bất Vi biết bao nhiêu là niềm vui và sự thoải mái, là người rất được lòng Lã Bất Vi. Hơn nữa, anh ta chưa từng bị chao đảo trước dung nhan yêu kiều của Triệu Cơ, và cũng chưa thể nguôi ngoai được mối tình với con một người bạn của anh ta. Vì vậy, tuy có người đàm tiếu về việc tư tình giữa Triệu Cơ và Tư Không Mã thế này thế khác, ông vẫn chỉ cười mà thôi.
Hôm đó, Lã Bất Vi đang xem cuốn "Kế nhiên" trong thư phòng, Tư Không Mã dẫn Tư Qua người hầu bên cạnh Triệu Hiếu Thành vương tới, nói Lã Bất Vi đến Tùng Đài nghe đại vương Triệu triệu kiến. Lã Bất Vi hỏi vị Tư Qua này, đại vương sao lại triệu kiến ta. Tư Qua nói, đại vương muốn nói chuyện với ông.
Một người được thua không quản như Lã Bất Vi cũng có chút băn khoăn khó hiểu. Lã Bất Vi đến nước Triệu đã hơn mười năm rồi, vất vả trầy trật quan hệ buôn bán với những khanh tướng trong triều. Bởi vì ông có một mục tiêu xa hơn, đó chính là thăng quan tiến úy. Dùng tiền tài để bước lên bậc thềm triều đình. Một số quan sứ quan trọng của nước Triệu hoặc thân hoặc sơ hoặc sớm hoặc muộn cũng đều có chút quan hệ qua lại với ông. Bao gồm cả một số quan thần có địa vị cao như tướng quốc Triệu Thắng, thượng khanh Lân Tương Như, đại tướng quân Triệu Xa, Liêm Pha. Có người thì Lã Bất Vi tặng ngọc bội đến tận phủ, có người thì Lã Bất Vi dâng lễ chúc thọ. Còn một số người ông ngồi đấu cờ với họ... Nhưng từ trước tới giờ ông chưa từng gặp Triệu Hiếu Thành vương. Mong mỏi được yết kiến vị quân vương này là nguyện vọng mãnh liệt kể từ khi ông đặt chân đến Hàm Đan. Ông muốn được tiếp kiến vị quân vương này, muốn được vị quân vương này hiểu mình, đồng cảm với mình. Thế nhưng, ông vẫn chưa có được cơ hội. Tuy ông và Triệu Hiếu Thành vương cùng ở tại trong thành Hàm Đan, nhưng đối với ông, Triệu Hiếu Thành vương giống như đám mây ở cuối chân trời, có thể nhìn mà không thể tới được, như vết rêu hằn trong giếng sâu thẳm mà không thể đo được.
Cái thời khắc quý báu làm thay đổi cuộc đời của Lã Bất Vi, đến một cách rất tự nhiên, nó giống như một trận mưa trong ngày xuân, hay một cơn gió tự nhiên vậy. Ông đã từng tưởng tượng cái dáng vẻ phê duyệt tấu chương của Triệu Hiếu Thành vương, và cũng từng tưởng tượng những hành động, những trò tiêu khiển trong cuộc sống thường nhật của vị quân vương này, nhưng trong đầu ông từ trước tới giờ hình tượng đó chưa từng hiện ra một cách cụ thể.
Một vị vua hàng ngày bận rộn tìm một thương nhân để nói chuyện cũng chính là nói chuyện phiếm. Thật không thể tưởng tượng nổi. Không thể, quyết không thể. Vậy thì, tìm ông ta để làm gì cơ chứ? Không lẽ là chuyện ông và Triệu Khôi Tử buôn lương thực sang nước Hàn? Không thể. Nếu là chuyện này, thì quan phủ đã sai quân lính tới bắt giam ông vào ngục rồi. Vậy thì là chuyện gì đây?
Lã Bất Vi nghĩ mãi mà vẫn không tìm ra lời giải.
Còn nhớ rõ lúc ông mới đến nước Vệ làm môn khách chỗ đại phu Vệ Hằng, khi cùng Vệ Hằng vào cung, ông bị giữ lại ở ngoài cửa cung, ông đang tính kế để được gặp Vệ Nguyên quân. Ý nguyện của ông không được đền đáp. Trong một khoảng thời gian dài, ông đã từng tiếc rẻ vì những điều đó. Còn bây giờ, ông không thể tính toán được điều gì, Vệ Nguyên quân, một vị vua nhỏ bé của một nước cỏn con. Hôm nay, Lã Bất Vi, ông sẽ tới gặp Triệu Hiếu Thành vương, một vị quân vương của một nước lớn mạnh.
Lã Bất Vi tự nhủ trong lòng, phải mặc bộ quần áo đẹp nhất, ngồi trên chiếc xe sang trọng nhất tới Tùng Đài. Gặp quốc quân phải lịch sự trang nhã, không kiêu ngạo, không tự ti, thong dong, đối đáp trôi chảy.
Lã Bất Vi trông thấy môn khách và những người phục dịch của Triệu Hiếu Thành vương đang bận rộn, ra ra vào vào chuẩn bị cho ông ta.
Triệu Hiếu Thành vương cũng đang thúc giục bọn sai dịch và cung nữ quét rửa trong ngoài điện sạch như mới, thay mới các tấm vải phủ bàn. Ông ta với tư cách là vua của một nước, là bộ mặt của quốc gia, đang cố hết sức biểu thị sự giàu có, hưng thịnh của vương cung. Ông ta biết rằng, cái mà thương nhân coi trọng chính là sự giàu có của một người. Ông ta không thể để Lã Bất Vi coi thường quốc gia này, cho rằng ông ta nghèo nàn thiếu thốn.
Sau khi dọn dẹp xong, Triệu Hiếu Thành vương đi quanh điện, vừa ý gật đầu.
Trong điện chính của Tùng Thái, cột kèo đòn nóc được chạm khắc tinh vi, toàn một màu sơn đỏ bắt mắt. Bậc nhà được dát vàng ngọc. Các vòng ngọc bích được xếp chồng lên nhau, kê vàng ở giữa, được trang sức bằng các hạt minh châu và lông chim trĩ, bên trên xếp chín con rồng vàng, miệng ngậm chuông vàng long lanh, rủ xuống những tua màu sắc rực rỡ. Xen vào đó là những màu xanh tím, vàng bạc. Mỗi khi ngọn gió thổi tới bay nhấp nháy, chiếu rọi vào trong điện, tiếng chuông khánh leng keng. Hai bên ngự án (bàn vua thường dùng) đã mắc những tấm bình phong bằng gỗ được chạm khắc những hình thù sặc sỡ, được chạm khắc tinh tế sắc sảo giống như con nhện giăng tơ. Trên chiếc giường của vua phủ một tấm da hổ có vằn sặc sỡ, người ngồi trên đó giống như ngồi giữa bãi cỏ rậm rạp. Bên trên đặt bốn viên ngọc, lung linh óng ánh. Trên cánh cửa sở khảm lưu li xanh, óng ánh trong suốt, từ trong có thể nhìn thấy lông mày và tóc của người đi đường. Trên các cột kèo đều khắc hình rồng bay phượng múa... Triệu Hiếu Thành vương thấy rằng, để cho Lã Bất Vi vào trong cung điện như thế, thì sẽ làm tiêu tan đi cái vẻ kiêu ngạo của các phú thương.
Lúc này, vị thái giám có chức sự cất tiếng lanh lảnh: "Thương nhân Lã Bất Vi nước Vệ kiến giá!".
Triệu Hiếu Thành vương vội tới vén vạt áo quỳ ngồi ở chính giữa ngự sạp, đợi Lã Bất Vi tới. Sau lưng ông ta có các cung nữ cầm quạt lông quạt, mấy vị văn thần võ tướng chắp tay đứng chầu ở dưới. Lát sau, qua tấm kính khảm trên cánh cửa, Triệu Hiếu Thành vương đã nhìn thấy Lã Bất Vi ngồi trên chiếc xe lớn hoa lệ, xe dừng trước điện, Lã Bất Vi cùng hai môn khách xuống xe đi vào điện.
Vào điện, Lã Bất Vi thi lễ nói: "Quả dân nước nhỏ Lã Bất Vi khấu kiến đại vương!".
Triệu Hiếu Thành vương ban cho Lã Bất Vi ngồi dưới điện. Cái đầu tiên đập vào mắt ông là đôi giày của Lã Bất Vi, nó làm ông kinh ngạc. Đó là một đôi giày được thêu bằng bông mềm, miệng giày viền vàng, đầu và giữa thêu hình phượng rắn năm sắc, vàng ngọc đan xen. "Chỉ đôi giày này cũng đáng giá 200 lạng vàng!", Triệu Hiếu Thành vương cảm khái tự nói trong lòng: "Mình là vua một nước, vậy mà đôi giày mình đi cũng không đáng giá như vậy!".
Triệu Hiếu Thành vương ngắm Lã Bất Vi một lượt từ trên xuống dưới, bây giờ ông mới bắt đầu tin, ngồi trước mặt ông là một vị thương gia tướng mạo đường đường, giàu có ức vạn.
Sau mấy lời thăm hỏi chẳng lấy gì làm mặn mà, Triệu Hiếu Thành vương hỏi Lã Bất Vi: "Quý thương đi nam về bắc, học rộng biết nhiều, thông thuộc công việc các nước, tất có sự nghiền ngẫm về thế lớn trong thiên hạ, kiến giải thấu đáo, quả nhân xin nghe theo". Nghe xong những lời này của Triệu Hiếu Thành vương, Lã Bất Vi nghĩ "Vị quốc quân này triệu mình đến, vốn không phải là nghe mình bàn luận về việc lớn trong thiên hạ". Nghĩ đến đây, Lã Bất Vi cung kính nói: "Đại vương buông màn ngồi trong, quyết định thắng lợi ngoài ngàn dặm, biết rõ thế lớn trong thiên hạ như nắm trong lòng bàn tay, tiểu nhân đâu dám mạo phạm trước mặt đại vương!".
Triệu Hiếu Thành vương lại nói: "Quả nhân muốn nghe".
Lã Bất Vi nói: "Đại vương coi trọng tiểu nhân như thế, tiểu nhân cũng đành phải mạo muội nói thiển kiến của mình. Thiên hạ Vũ vương diệt Thương, Chu công đông chinh, thực hiện tông pháp phân phong, chư hầu không dưới hai nghìn nước. Khi Vũ vương duyệt binh, vẫn có một nghìn tám trăm chư hầu.
Trong mấy trăm năm, các nước chư hầu này giết hại thôn tính lẫn nhau. Đến khi Khổng phu tử san định lại "Xuân Thu", chư hầu chỉ còn lại mấy chục nước. Các nước mạnh chẳng qua chỉ có: Tề, Sở, Yên, Hàn, Triệu, Tần, Ngụy. Cho đến các nước nhỏ như Tống, Lỗ, Trịnh, Vệ, Doanh, Chu, Khởi, Thái, Đàm... đều là loại lép xịt lung lay sắp đổ, không thể giữ được lâu dài. Sau thời Xuân Thu, nước Ngụy kế thừa nền móng của nước Tấn. Đến khi Ngụy Huệ vương dời đô về Đại Lương, thế nước ngày một hưng thịnh. Tiếp đó, nước Tề thay cũ đổi mới, không ngừng phát triển, trở thành đối thủ cạnh tranh nghiệp bá với nước Ngụy. Năm Triệu Túc hầu thứ tám, hai nước Tề Ngụy đại chiến ở Mã Lăng, Tôn Tẫn dùng kế đánh cho quân Ngụy đại bại không còn mảnh giáp, từ đó, nước Ngụy không bao giờ phục hưng được nữa. Sau trận Mã Lăng, Tề Uy vương cũng bắt đầu hội họp chư hầu, triều thiên tử, thay nước Ngụy xưng bá. Nước Tần sau biến pháp Thương Ưởng, thế nước ngày một mạnh, cùng tranh chấp với nước Tề. Do nước Tề và nước Yên kéo dài, vắt kiệt sức nước, do đó không thể xưng vương xưng bá với chư hầu được nữa. Nước Tần nhân hai nước Tế nước Yên đánh nhau, nước Tề suy yếu mà tập trung lực lượng đối phó với một nước lớn khác là nước Sở. Đại tướng quân nước Tần là Bạch Khởi dẫn quân đánh thẳng vào Sính Đô, quân Sở thua tan tác, buộc phải rời bỏ thủ đô.
Khi các nước lớn Ngụy, Sở, Tề đang suy yếu, tiên tổ của đại vương Triệu Vũ Linh vương đề xướng mặc quần áo người Hồ, cưỡi ngựa bắn cung, nước ngày một thịnh, đạt thế quân bình với nước Tần".
Triệu Hiếu Thành vương nghe rất say sưa, ông không ngờ rằng, một thương nhân buôn ngọc lại có thể phân tích thấu đáo về sự hưng thịnh suy vong của các nước chư hầu.
Triệu Hiếu Thành vương cao hứng nói: "Theo ý của quý thương thì ai có thể thâu tóm thiên hạ?".
Lã Bất Vi khoan thai nói: "Đưa ra điều thần cơ diệu toán này có lẽ phải phiền tới các thầy bói mới được".
Triệu Hiếu Thành vương hỏi: "Vậy thì, quý thương muốn ai xưng vương thiên hạ?".
Lã Bất Vi không chút suy nghĩ nói: "Đại vương, điều này không phải nói cũng biết. Tiểu nhân lấy nước Triệu là nước của mình, coi đại vương là bậc tôn kính nhất, lấy sự hưng thịnh của nước Triệu làm nhiệm vụ của mình. Nhất thống thiên hạ, chẳng mong đại vương thì còn ai? Đó chính là niềm hy vọng của tiểu nhân!".
Triệu Hiếu Thành vương bật cười khoan khoái, tấm thân mỏng của ông lắc lư như sắp đổ. Sau cơn ho, nói: "Quả nhân muốn rèn quân luyện tướng, chỉ vì trong bụng còn e dè!".
Nghe câu này của Triệu Hiếu Thành vương, Lã Bất Vi chợt bừng tỉnh. "Ông ta đã hiểu sai bụng mình, mình đâu có ý như vậy. Ông ta muốn mình hào phóng, cống hiến cho nước Triệu. Xem ra nếu không tốn kém một chút, thì hôm nay sẽ phải xấu hổ rời khỏi Tùng Đài. Đơi Triệu Hiếu Thành vương nói số tiền ra thì khó mà mặc cả lại được, chi bằng mình chủ động nói trước. Đây cũng coi như là đi đánh bạc vậy! Sau này nước Triệu hùng mạnh, thống nhất thiên hạ, Triệu Hiếu Thành vương không thể tiêu không số tiền của một thương nhân; ông ta sẽ phải nhớ tới lúc này, sẽ phải phong quan tước cho mình; nhưng nếu như nước Triệu suy vong, tài sản hao tán thì số tiền này cũng coi như cho quạ ăn. Cho dù bị mất, thì mình cũng phải thưởng trước cho vị vua này một chút". Nghĩ đến đây, Lã Bất Vi nói: "Đại vương có cần tiền của tiểu nhân không?".
Triệu Hiếu Thành vương vội nói: "Có chứ, có chứ! Quả nhân lần đầu gặp quý thương, đã biết quý thương là bậc hào hiệp chuộng nghĩa!". Lã Bất Vi lại nói: "Tiểu nhân thân là thương nhân, thương nhân lấy lợi làm đầu. Đại vương cần chút tiền nhỏ của tiểu nhân, là vay mượn hay dâng tặng".
Câu hỏi này của Lã Bất Vi làm cho Triệu Hiếu Thành vương cảm phục trong lòng: "Lợi hại thay một thương nhân, hùng hổ hăm dọa!". Triệu Hiếu Thành vương cũng không hàm hồ, khôn ngoan nói: "Quý thương là bậc hào hiệp trượng nghĩa, lẽ nào lại nói đến chuyện vay mượn!". Lã Bất Vi phản ứng nhanh nhẹn nói: "Tiểu nhân có ý dâng tặng, nhưng sợ đại vương chê ít!".
Triệu Hiếu Thành vương lại cười, nói lấp lửng: "Được rồi, thương nhân các ông thông minh lanh lợi không ai bằng, quả nhân xin nghe theo, không quanh co với ông nữa. Ông cho quả nhân mượn trước một vạn lạng vàng".
Một vạn lạng, một con số không nhiều, không ít. "Đại vương đã nói vay mượn, vậy thì đến bao giờ thì trả?".
Triệu Hiếu Thành vương nói: "Ngắn thì nay mai, xa thì không biết đến bao giờ".
Lã Bất Vi nói: "Tuân mệnh".
Triệu Hiếu Thành vương hỏi: "Quý thương đến nước Triệu đã được bao nhiêu năm rồi?".
Lã Bất Vi nói: "Đã hơn mười năm".
"Đã có tước vị gì chưa?".
"Nói ra sợ đại vương chê cười, chỉ là chức thứ sử tầm thường mà thôi!"
"Ngay đại phu cũng chưa được sao?" Triệu Hiếu Thành vương quay người sang bên trái, nói với quan quản lý việc thăng giáng quan chức nói: "Phong cho Lã Bất Vi chức đại phu thất đẳng". Trong tước vị của nước Triệu, giữa cao cấp và thấp cấp, phía trên có lục đẳng, theo thứ tự là quân, tước hiệu cao nhất, nắm giữ việc hành chính phong đất, sưu thuế, như con trưởng Huệ Văn vương là An Dương quân, đại tướng Triệu Xa là Mã Phục quân; Nhị đẳng phong làm hầu, được phong đất, như cha con của lại tử Lý Đồng được phong làm Lý hầu; Thượng khanh, bổng lộc cao nhất, đồng thời là danh hiệu vinh dự, như Lân Tương Như, Liêm Pha; Khách khanh là khanh vị của người dị quốc sống ở nước Triệu, như Đông Lí Tử; Ngũ đại phu, tước hiệu cao nhất; Thượng đại phu là một quan tương đối cao.
Đại phu tuy chỉ là tước thất đẳng, nhưng Lã Bất Vi rất có hy vọng bước vào thế giới quý tộc của nước Triệu. Do vậy, Lã Bất Vi cảm động rưng rưng nói với Triệu Hiếu Thành vương: "Tạ ơn đại vương!".
* * *
Khi Dị Nhân trở thành một thành viên đích thực trong dân chúng thành Hàm Đan, ban đầu anh ta còn an tâm chấp nhận một cuộc sống như vậy. Mọi người có thể nhìn thấy một vị công tử có khẩu âm vùng Tần, chạy đi chạy lại trong cái ngõ nhỏ, có lúc thì đến giếng múc nước, đi chợ mua kê, khi gặp người đi đường thì luôn chủ động chào hỏi. Điều không giống với mọi người ở vị công tử này là sáng nghe gà gáy đã thức dậy luyện võ, luyện tập kiếm pháp. Mọi người đều cảm thấy kỳ lạ nghi hoặc hay là một vị kiếm khách du hiệp đến một nơi phàm phu tục tử như ngõ nhỏ này. Qua mấy hôm, họ mới biết con người quái dị có đôi mắt lồi ấy là tôn vương nước Tần.
Mấy hôm nay, Dị Nhân thấy lòng thư thả, hành động thoải mái, điều này là bởi hôm trên đường đến Hàm Đan anh ta được nghe Chu Kiệm kể câu chuyện Thái hậu Triệu - Xúc Long thuyết, câu chuyện này đã có tác dụng khích lệ anh ta trong một thời gian ngắn. Không lâu sau, thói xấu thâm căn cố đế của các công tử nhà giàu đã phơi bày ra hết, như: chí cao, tài mọn, suy tính hơn thiệt, sáng nắng chiều mưa, ham đồ an dật... Những thói xấu này, bắt đầu càng ngày càng lộ rõ thân phận của một con tin ở Hàm Dương, Dị Nhân tuy không phải là một vương tôn được yêu chiều, nhưng cũng được ăn sơn hào hải vị, mặc lụa là gấm vóc, có nô tỳ sai khiến, có xe lọng rước bước. Nay làm con tin ở nước người thì không thể so với ngày xưa được. Tuy Chu Kiệm vừa là thái phó vừa là gia tướng nhưng cũng phải nhịn ăn nhịn mặc để chi tiêu trong hai lạng bạc được chi viện từ Hàm Dương. Dị Nhân thường phải nghiến răng nhắm mắt ăn mấy thứ cơm đạm canh nhạt. Nơi ở tuy không phải là chướng khí mù mịt, bốn bề gió lọt, nhưng nếu đem so với hoa đường đại ốc ở Hàm Dương thì đúng là một nơi lạnh lẽo nương mình. Đi chợ ra phố đều phải lấy đôi chân thay xe, gặp hôm trời mưa tầm tã thì Dị Nhân phải đặt đội bàn chân mình lên những đám bùn nhão nhoét. Điều làm Dị Nhân bực nhất là cái tên mặt to phè Công Tôn Càn đi theo anh ta như hình theo bóng, khi đi ra ngoài Dị Nhân luôn bị trong tầm giám sát của ông ta. Có lúc Dị Nhân và Chu Kiệm có điều gì bí mật muốn nói với nhau thì đều phải tìm cơ hội như đi ăn trộm, ăn cướp. Điều làm Dị Nhân khó chịu nữa là cuộc sống làm con tin này không biết ngày kết thúc, có khi là nửa năm, một năm, cũng có khi là mấy độ xuân thu, thậm chí là mấy chục năm. Sự chờ đợi không biết tương lai bắt đầu giày vò Dị Nhân khi lẫn trong đường phố đông đúc, náo nhiệt, nhìn thấy những quan lại, phú hào thê ôm, thiếp ấp, hô hào sai khiến nô tỳ ngạo nghễ qua phố, Dị Nhân vừa cảm thấy ngưỡng mộ, vừa thấy đố kị. Liên tưởng đến cuộc sống vương tôn náo nhiệt ở thành Hàm Dương, một cảm giác đau khổ giày vò làm anh ta không thiết sống nữa. Sau đó, anh ta không muốn đi ra ngoài để phải chứng kiến những cảnh làm mình buồn rầu, thấy kém cỏi không bằng người, nối tiếc ngày xưa đó mà ở dịt trong phòng. Ngày trước, anh ta chưa đến hai mươi tuổi, huyết khí phương cương, vui thú với việc kết bạn kết bè. Như hôm nay, hoàn cảnh cô đơn, vắng lạnh tạo ra một khoảng trống to lớn cho tuổi thanh xuân sôi sục của anh ta. Anh ta bắt đầu thèm khát nữ giới một cách điên cuồng. Có một hôm, anh ta lấy hết hai đồng bạc trong hòm ra đi kỹ viện, như đói như khát tìm các kỹ nữ dốc hết dục vọng, ham muốn mà anh ta phải kìm nén bao lâu nay. Chu Kiệm hết lời khuyên can, dùng những lời nhủ: "Chơi bời mất nết", "Thành công là do cần kiệm, thất bại là do xa xỉ" để ngăn can những hành vi dâm dật mất tự chủ của Dị Nhân.
Dị Nhân ra chợ mua về một con chó cái chỉ biết lắc cổ vẫy đuôi, còn đặt cho nó một cái tên mỹ miều: "Thuyền Quyên". Hàng ngày mỗi buổi chiều, Dị Nhân uể oải dắt "Thuyền Quyên" ra bãi cỏ trước cửa chơi. Chu Kiệm và Công Tôn Càn không hứng thú với việc này, ngồi ngáp dài nhìn cảnh Dị Nhân dắt chó đi dạo.
Chính khi Dị Nhân hàng ngày dắt chó đi dạo ở bãi cỏ, anh ta và Chu Kiệm phát hiện thấy một chú chó khoẻ mạnh hoạt bát cùng hai vị công tử cũng đến nơi đây.
Vị công tử này nhìn trẻ và tuấn tú hơn Dị Nhân, sau khi đến thì luôn chuyên tâm học võ luyện kiếm. Con chó luôn ngồi im như đá bên cạnh, chăm chú nhìn chủ múa những chiêu, những động tác rắn rỏi mạnh mẽ. Người này, hàng ngày dù mưa hay nắng đều đến đây luyện đao mấy giờ liền, sau đó gọi chú chó cùng ra về.
Vị công tử đó là thái tử Đan nước Yên, cũng đang làm con tin ở nước Triệu. Anh ta là con cả của Yến Vương Hỷ, một quân tử hiệp nghĩa, có chí hướng lớn, chịu khó chịu khổ. Khi còn phò tá ở nước Triệu, anh ta đã vất cả gây dựng cơ nghiệp và tỏ ra là một con người sắt đá không gì lay chuyển nổi, rất nhiều người có học can tâm tình nguyện đi theo anh ta, chịu sự sai bảo của anh ta, dù có phải đi vào chỗ chết cũng không hề hối tiếc.
Tần Thủy Hoàng có một người em cùng cha khác mẹ, tên Kiều, chính là con của Di Hồng, được phong làm Trường An quân, sau này làm phản, đầu hàng Triệu. Đồng đảng của anh ta là một đại tướng quân dưới quyền - Phàn Ô Kỳ. Sau khi việc dấy binh làm phản của Kiều thất bại, Phàn Ô Kỳ phải chạy trốn khỏi Tần. Tần Thủy Hoàng đã treo thưởng hàng nghìn lạng bạc lấy đầu anh ta.
Phàn Ô Kỳ chạy đến chỗ thái tử Đan, thái tử Đan đối đãi với anh ta rất tốt, xây cho một "cung Phàn" hoa lệ. Sau đó, thái tử Đan đạo diễn vở bi kịch nổi tiếng "Kinh Kha hành thích Tần vương", cần cái đầu của Phàn Ô Kỳ và mưu đồ của Đô Cang Thỉ mới lấy được tín nhiệm của Tần Thủy Hoàng. Thái tử Đan không nhẫn tâm cho Phàn Ô Kỳ biết việc này, sợ khó dễ cho Phàn Ô Kỳ.
Nhưng Phàn Ô Kỳ đã nghe được việc này, để báo đáp ân tình của thái tử Đan, Phàn Ô Kỳ đã cắt cổ tự vẫn, hiến đầu của mình. Nhưng sau này việc hành thích Tần Thủy Hoàng không thành công, làm người ta cảm thấy đúng là "Mưu sự tại nhân, hành sự tại thiên".
Tư Mã Thiên, một người quý mực như vàng cũng đã dùng rất nhiều bút mực để miêu ta vị thái tử nước Yên này.
Thái tử Đan, trước đây đã từng bị giữ làm con tin ở nước Triệu, mà Doanh Chính lại sinh ra ở nước Triệu, khi nhỏ anh ta và Đan chơi rất vui vẻ với nhau. Đến lúc Doanh Chính được lập làm Tần vương, đúng lúc Đan lại bị giữ làm con tin ở nước Tần, Tần vương đối đãi với thái tử Đan không được tốt, do vậy thái tử Đan ôm mối hận trốn về nước. Sau khi về nước, thái tử Đan tìm cách báo thù Tần vương, nhưng nước nhỏ, lực lại không đủ. Sau này nước Tầan thường xuyên xuất binh đến vùng Thái Hành Sơn về phía Đông, công phá nước Tề, Sở và Tam Tấn, thôn tính chủ hầu, sắp đánh đến nước Yên. Quần thần nước Yên đều sợ tai họa chiến tranh, thái tử Đan càng lo lắng việc này, liền thỉnh giáo thái phó của ông ta là Cúc Vũ. Cúc Vũ đáp: "Đất đai của nước Tần đã rộng khắp thiên hạ, uy hiếp các nước Hàn, Ngụy, Triệu. Phía Bắc nước Tần có cửa khẩu quan trọng, vững chắc Cam Truyền, Cốc Khẩu; phía Nam là đồng ruộng màu mỡ lên lưu vực Kinh, Vị, chiếm một vùng phì nhiêu của vùng Ba, Hàn; phía bên phải là vùng núi cao Lũng, Thục; phía bên trái là thiên hiểm Quan, Hào; dân đông, binh sĩ dũng mãnh, binh khí, áo giáp lại càng hoàn mỹ. Nếu họ muốn mở rộng ra bên ngoài thì vùng nước Yên của chúng ta từ Trường Thành về phía nam, Dịch Thủy về phía Bắc thì càng không thể bảo đảm an toàn. Làm sao có thể vì mối hận bị làm nhục mà định hành thích Tần vương được?".
Thái Tử Đan nói: "Vậy thì nên làm thế nào mới được?".
Cúc Vũ đáp: "Hy vọng dùng kế sách lâu dài thôi".
Qua một thời gian, xảy ra việc tương quan nước Tần - Phàn Ô Kỳ đắc tội với Tần vương, chạy sang nước Yên. Thái tử Đan thu nạp ông ta và còn cho ông ta chỗ ở. Cúc Vũ can gián: "Không thể được. Tần vương bạo ngược như vậy, luôn có mối thù với nước Yên, luôn muốn gây chiến với nước Yên, huống hồ nay lại nghe tin tướng quân Phàn lại được thu nạp ở đây, khác nào đổ thêm dầu vào lửa, thả thịt trên đường hổ, nhất định xảy ra tai họa. Cứ coi như có các tài năng như Quản Trọng, Yến Anh cũng không thể nghĩ cách giúp chúng ta được. Mong Thái tử mau gửi tướng quân Phàn sang Hung Nô, để dẹp trừ cớ xâm lược Yên của Tần. Đồng thời hy vọng trước tiên kết mối bang giao với Tam Tần ở phía tây, liên hợp với Tần, Sở ở phía Nam, liên lạc với Hung Nô ở phía bắc, sau đó mới có thể nghĩ cách đối phó với nước Tần được".
Thái tử Đan nói: "Kế hoạch của thái phó, bỏ phí thời gian, kéo dài quá lâu, lòng ta rất rối loạn, sợ rằng một khắc cũng không đợi được nữa. Huống hồ không chỉ có vậy, tướng quân Phàn khi chạy vào ngõ cụt, đến dựa vào nơi ta, ta không thể vì sự uy hiếp của Tần mà hy sinh người bạn mà ta thấy tâm đầu ý hợp, đáng thương, xua đuổi anh đến Hung Nô. Đây chính là lúc ta dùng ngươi tác sự, hy vọng thái phó thay ta suy nghĩ lại một chút!".
Cúc Vũ nói: "Làm việc nguy hiểm thì cầu bình an, tạo họa thì lại cầu hạnh phúc, kế hoạch nông cạn sẽ càng làm khắc sâu thêm sự căm hận với nước Tần, để kết giao với một người bạn tri âm mới mà bất chấp đại họa của nước nhà, điều này có thể nói là càng tạo tai họa lớn. Thậm chí một nước hung mãnh, dữ tợn như một con diều hâu như nước Tần, một khi hậu quả đó ra sao chẳng nhẽ còn phải nói ra ư? Nước Yên có một người là Điền tiên sinh, ông vốn trí tuệ hơn người lại dũng cảm, có thể thương lượng". Thái tử Đan nói: "Hy vọng nhân sự giới thiệu của thái phó có thể kết giao với Điền tiên sinh, được không?". Vũ nói: "Được". Thái phó cáo từ lui ra, liền đi gặp Điền tiên sinh, nói: "Thái tử điện hạ muốn bàn bạc chuyện quốc gia đại sự với tiên sinh". Điền tiên sinh nói: "Tuân lệnh", liền đi gặp thái tử. Thái tử điện hạ ra nghênh tiếp, đi giật lùi dẫn đường ở phía trước, lại quỳ xuống trải chiếu. Sau khi Điền tiên sinh ngồi xuống, thái tử Đan đứng lên thỉnh giáo Điền tiên sinh: "Hai nước Yên, Tần như nước với lửa không thể hợp tác, mong tiên sinh lưu ý!". Điền tiên sinh nói: "Tôi nghe nói ngựa tốt khi thể lực dồi dào có thể đi nghìn dặm, đợi đến khi nó yếu mệt, thì ngựa tồi cũng có thể vượt lên trước được. Nay thái tử điện hạ biết được là những sự tích lúc rực rỡ nhất của Điền Quang thần, chắc không biết sức lực của thần đã tiêu hao hết rồi. Tuy thần hiện giờ không dám tham gia mưu kế việc nước, nhưng người bạn tốt của thần là Kinh Kha có thể giúp được". Thái tử Đan nói: "Mong cậy ở sự giúp đỡ của tiên sinh, có thể kết giao với Kinh Kha?". Điền Quang nói "Được". Liền đứng dậy cáo từ. Thái tử tiễn ra ngoài, trịnh trọng nói: "Những điều ta và tiên sinh bàn bạc đều là quốc gia đại sự, xin tiên sinh đừng để lộ ra ngoài". Điền Quan cúi người vâng lệnh.
Điền Quang đi gặp Kinh Kha nói: "Tôi và tiên sinh tình cảm sâu nặng, người nước Yên đều biết. Hôm nay thái tử điện hạ nghe nói về những chiến công khi tôi còn khoẻ mạnh nhưng không biết được giờ đây ta không còn được như xưa nữa. Được thái tử tin tưởng đề cử ta nói: "Hai nước Yên, Tề như nước với lửa không thể sống chung", mong tiên sinh chú ý. Ta nghĩ rằng tiên sinh cũng không phải người ngoài, đã giới thiệu tiên sinh với thái tử điện hạ rồi. Mong tiên sinh vào cung bái kiến thái tử", lại nói thêm: "Người trung nghĩa không muốn để người khác nghi ngờ. Hôm nay thái tử nói với tôi: "Những điều ta và tiên sinh bàn bạc là quốc gia đại sự, không thể để lộ ra ngoài". Đây là thái tử không tin tôi. Như vậy theo lời mà làm khiến cho thái tử nghi ngờ thì không còn là môn khách nữa".
Điền Quang muốn tự sát để thúc giục Kinh Kha bèn nói "Mong tiên sinh khi đi gặp thái tử, thì nói Điền Quang đã chết". Kinh Kha vội vào bái kiến thái tử đồng thời truyền đạt lại lời Điền Quang. Thái tử lạy vái, quỳ hai đầu gối xuống lê đi, khóc lóc một hồi, lúc sau mới nói "Ta nói với Điền Quang tiên sinh không được để lộ đại sự. Nay Điền Quang lại tự sát để chứng minh không để lộ bí mật, chẳng nhẽ đây có thể là ý của ta sao?".
Đợi Kinh Kha ngồi xuống, thái tử Đan nói: "Điền tiên sinh không biết sự bất tài của ta, khiến ta được gặp tiên sinh, đây quả là do trời thương cho nước Yên, không nỡ bỏ rơi hậu duệ của người. Nay người Tề tham lợi, tham vọng khôn lường, không thu hết đất đai thiên hạ, không khiến quốc vương trong thiên hạ xưng thần, chừng đó họ chưa thỏa mãn dã tâm. Nay nước Tần bắt Hàn vương làm tù binh, chiếm hết đất đai của họ, lại hưng binh tiến lên phía nam, tấn công nước Sở, tiến lên bắt uy hiếp nước Triệu, nếu nước Sở thất bại, thì họa đó sẽ giáng lên đầu nước Yên. Nước Yên vốn nhỏ lại yếu, đã nhiều lần gặp phải họa chiến tranh, nay nếu đem tất cả sức lực quân Yên ra cũng không chống trọi được nổi quân Tần. Các nước chư hầu đều khiếp sợ Tần quốc, không dám liên kết chống Tần. Theo chủ kiến của ta, cho rằng nếu có được dũng sĩ trong thiên hạ, cử đến Tần quốc, đưa ra món lợi lớn để lôi cuốn Tần vương, khơi dậy lòng tham của hắn, lúc đó có thể ép buộc hắn, khiến hắn trả lại toàn bộ đất đai đã chiếm cho chư hầu, như Tào Mục ép buộc Tề Hoàn Công, thế thì quá tốt; vạn nhất việc không thành, cũng có thể nhân cơ hành thích hắn. Các đại tướng của Tần đang cầm quân ngoài thành, mà trong thành lại có chuyện hỗn loạn như vậy, quân thần với nhau sẽ có những nghi kỵ. Thừa cơ, các nước chư hầu có thể liên kết lại, thế thì việc đánh bại nước Tần nhất định thành công rồi. Đây là mong muốn lớn nhất của ta. Xong không biết nên nhờ cậy ai đi, xinh Kinh khanh để tâm giúp".
Một lúc lâu sau Kinh Kha mới nói: "Đây là quốc gia đại sự, hạ thần bất tài, e rằng không dám đảm nhiệm". Thái tử Đan tiến lên dập đầu kiên quyết thỉnh cầu Kinh Kha không nên từ chối, lúc đó Kinh Kha mới đồng ý. Bèn phong Kinh Kha làm thượng khanh, mời Kinh Kha ở trong phòng sang trọng. Thái tử Đan ngày ngày thăm hỏi, cấp cho ngựa tốt, dê, bò, cùng vàng bạc châu báu, có lúc lại tặng cho xe ngựa, mỹ nữ, hết sức đáp ứng mong muốn của Kinh Kha, để làm hài lòng Kinh Kha.
Rất lâu sau, Kinh Kha vẫn không có dấu hiệu sang Tần. Lúc này đại tướng Tần là Vương công phá nước Triệu, bắt Triệu vương làm tù binh, chiếm toàn bộ đất đai Triệu quốc. Lại tiến quân lên phía bắc chiếm lĩnh địa bàn. Đến biên giới phía Nam nước Yên. Thái tử Đan vô cùng lo lắng, bèn thỉnh cầu.
"Quân Tần sắp qua Dị Thủy, vẫn muốn đợi tiên sinh lâu hơn, nhưng e rằng không đợi được". Kinh Kha nói: "Chính là thái tử điện hạ không nói câu này, thần cũng đang chuẩn bị bái kiến ngài. Nếu bây giờ đi ngay cũng không có điều gì khiến Tần vương tin, thế thì vẫn không có cách tiếp cận Tần vương. Thế chỉ còn Phàn tướng quân, Tần vương muốn bắt ông ấy, treo thưởng nghìn lạng vàng, vạn lương thực. Nếu thật có được đầu của Phàn tướng quân và bản đồ của nơi hiểm yếu nhất của nước Yên, đem dâng cho Tần vương, Tần vương nhất định sẽ vui mừng gặp thần, lúc đó thần mới có cách thực hiện sứ mệnh". "Thái tử Đan ta, không đành lòng vì lợi riêng mà làm tổn thương ông ta được, mong tiên sinh nghĩ cách khác cho". Kinh Kha biết thái tử Đan không nhẫn tâm, bèn tự mình đi gặp Phàn tướng quân, nói: "Nước Tần đối xử với tướng quân có thể nói là quá tàn nhẫn! Tất cả gia tộc của ngài đều bị giết hoặc bắt làm nô lệ. Nay nghe nói treo thưởng nghìn lạng vàng và vạn lương thực để mua lấy đầu tướng quân, ngài định làm thế nào?". Phàn Ô Kỳ ngẩng đầu thở dài, khóc nói: "Phàn Ô Kỳ ta mỗi lần nghĩ đến chuyện này, thường đau như cắt thịt, chỉ hiềm chưa có cách gì!". Kinh Kha nói: "Giờ tôi có một cách, có thể giải cứu nước Yên khỏi nguy khốn, báo thù cho tướng quân, ngài cho rằng nên làm thế nào?". Phàn Ô Kỳ liền tiến lên trước nói: "Làm thế nào?". Kinh Kha nói: "Mong có được đầu của tướng quân đến Tần dâng cho Tần vương, Tần vương sẽ vui mừng tiếp kiến tôi. Lúc đó tôi sẽ dùng tay trái nắm lấy hắn, tay phải cầm dao đâm vào ngực. Như vậy báo thù cho tướng quân, lại rửa được mối nhục bị uy hiếp của nước Yên. Tướng quân có ý kiến gì không?". Phàn Ô Kỳ nắm chặt cánh tay mình, tiến lên nói: "Đây chính là việc tôi ngày đêm cắn răng, thắt ruột dằn vặt suy nghĩ, không ngờ hôm nay mới được nghe cao kiến của ngài". Nói đoạn liền tự sát.
Thái tử biết tin, vội chạy đến, ôm lấy xác khóc lóc thảm thiết. Cực chẳng đã chỉ còn biết gói đầu Phàn Ô Kỳ, đặt vào trong tráp. Thế là thái tử Đan nhờ cậy thanh kiếm ngắn tốt nhất thiên hạ, được đoản kiếm của người Từ phu nhân nước Triệu, đem bạc trắng mua về, gọi thợ đem độc dược truyền vào đoản kiếm. Dùng người thử kiếm, chỉ cần rách thịt, chảy một chút máu là không ai thoát chết. Thế là chuẩn bị xong hành trang cho Kinh Kha lên đường. Nước Yên có một võ sĩ tên là Tần Vũ Vương, đã ba mươi tuổi, giết người không ai dám kêu oán. Thái tử Đan liền bảo Tần Vũ Vương làm phó sứ, Kinh Kha đợi thêm một người bạn, muốn đi cùng luôn. Nhưng nói người đó ở rất xa, chưa đến kịp, Kinh Kha liền chuẩn bị hành trang thay cho bạn, qua vài hôm vẫn không đi. Thái tử Đan nghi Kinh Kha trì hoãn, nghi ngờ Kinh Kha sinh phản trắc, liền giục Kinh Kha "Thời gian đã gấp gáp lắm rồi, chẳng nhẽ Kinh khanh vẫn còn biện pháp gì khác chăng? Ta nghĩ nên để Tần Vũ Vương đi trước". Kinh Kha tức giận, trách thái tử Đan: "Sao thái tử điện hạ làm vậy! Đi rồi không hoàn thành việc lớn, trở lại là tên tiểu nhân vô dụng ư? Huống hồ chỉ cầm theo một thanh đoản kiếm xông vào nước Tần tai họa khó lường. Thần sở dĩ vẫn chưa đi là do còn đợi một người bạn đến, cùng đi. Nếu nay thái tử trách thần chậm trễ, vậy thì thần từ biệt đi đây, đi luôn cũng được". Nói đoạn lên đường. Thái tử Đan cùng mấy binh khách biết việc này, đều mặc áo trắng, đội mũ trắng đến tiễn đưa. Đến bờ Dị Thủy, qua sông là đã vào biên giới Tần. Lúc này Kinh Kha vỗ tay hát, hát khúc "biến uy" thê lương, những người đưa tiễn thảy đều nước mắt chứa chan. Kinh Kha lại tiến lên trước hát "gió vù vù a...a sông Dị Thủy lạnh, tráng sĩ một đi không trở lại!". Lại hát một khúc "Vũ thanh" bi tráng, mọi người ánh mắt đầy phẫn nộ, căm hờn, thế là Kinh Kha lên đường, không ngoảnh đầu lại. Kinh Kha đến Tần, cầm theo lễ vật giá trị ngàn vàng, đút lót cho bọn trọng thần của Tần vương là Mông Gia, thứ tử Mông Gia báo trước với Tần vương: "Yên vương quả thật đã khiếp sợ uy danh của đại vương, không dám xuất binh chống lại quân đội Tần, muốn đem toàn bộ đất nước thần phục Tần vương, xếp vào hàng các nước chư hầu của Tần, cống nạp như một quận huyện để cúng tế tông miếu tiên vương. Do tâm lý lo sợ không dám đích thân đến tâu trình, đã chặt đầu Phàn Ô Kỳ, mang theo bản đồ Đốc Kháng nước Yên, đặt trong mai rùa, gói ghém cẩn thận. Yên vương đích thân đến trước cung đình bái kiến, cử sứ giả đến trước bẩm báo đại vương. Đợi lệnh của đại vương. Tần vương nghe xong hết sức vui mừng, bèn mặc triều phục, thiết yến tiệc cửu tân, triệu kiến sứ giả tại Hoặc Dương Cung. Kinh Kha bưng chiếc tráp đựng đầu Phàn Ô Kỳ. Tần Vũ Vương bê chiếc tráp đựng bản đồ, hai người một trước một sau tiến vào. Đến trước điện, Tần Vũ Vương sợ đến nỗi biến sắc, toàn thân run bắn, quần thần cảm thấy kỳ lạ. Kinh Kha quay đầu nhìn Tần Vũ Vương cười rồi tiến lên trước tạ tội: "Anh ta là người chuyên bắt thú hoang ở miền bắc, từ trước đến giờ chưa bao giờ nhìn thấy thiên tử, cho nên trong lòng hết sức sợ hãi. Mong đại vương khoan dung tha thứ để anh ta hoàn thành sứ mạng sứ giả". Tần vương nói Kinh Kha: "Đem bản đồ trên tay Vũ Vương dâng đến". Kinh Kha bèn lấy bản đồ trình lên. Tần vương mở bản đồ ra xem, mở đến trang cuối thì lộ ra đoản kiếm Kinh Kha. Kinh Kha bèn nắm chặt tay áo Tần vương, tay kia cầm đoản kiếm đâm vào Tần vương, chưa đâm trúng người Tần vương, Tần vương thất kinh, cố gắng bật dậy, ống tay áo bị xé toạc. Tần vương muốn rút kiếm, kiếm rất dài, bèn dùng một tay nắm chặt đầu kiếm. Lúc này trong lòng hết sức hoảng sợ, kiếm lại rất chặt, nên không thể rút ngay ra được. Kinh Kha nhanh chóng đuổi kịp Tần vương, Tần vương chạy quanh cột trụ để tránh, quần thần đều hết sức kinh hoàng, do sự việc quá bất ngờ, ngoài sức tưởng tượng nên hoàn toàn mất bình tĩnh. Theo lệnh Tần vương quần thần không được đem theo vũ khí vào trong điện. Những vệ binh mang binh khí đều xếp hàng dưới điện, không có lệnh quốc vương không dám lên điện. Đang trong lúc nguy khốn không kịp hạ lệnh cho vệ binh, nên Kinh Kha mới kịp đuổi theo Tần vương.
Quần thần đang lúc hoảng hốt, tay không vũ khí đối phó với Kinh Kha. Lúc này, quan ngự y Hạ Vô Trở dùng gói thuốc đang cầm trên tay đến tấn công Kinh Kha. Tần vương đang chạy quanh cột trụ tránh, hoảng hốt không biết nên làm thế nào. Quần thần xung quanh hét to: "Đại vương, quay kiếm lại!". Lúc này Tần vương mới quay kiếm ra sau, rút ra đánh.

Quyển 3 còn tiếp

Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
Quyển 4

Hoa Tulip đen đánh máy

Dị Nhân không thèm để ý nói: “Hừm, loại người như Công Tôn Càn làm sao có thể giúp được chúng ta, nếu là Lã Bất Vi thì còn tạm được. Tình cờ gặp nhau, thoạt cái đã tặng cho chúng ta mười dật, thật là người hào hoa”.
Chu Kiểm nói: “Theo tiểu nhân quan sát vị thương nhân này khinh nghĩa trọng lợi. Lã Bất Vi này không thể vô cớ lấy ra mười dật vàng đưa cho điện hạ”.
Dị Nhân hỏi: “Theo cách nghĩ của người, Lã Bất Vi tặng bạc là có ý đồ gì? Không thể có. Chúng ta không quyền không thế, không tiền không hạng. Ông ta không thể đòi chúng ta được cái gì. Chúng ta lại không phải là con gái lá ngọc cành vàng, có sắc đẹp gì để mê hoặc ông ta”. Chu Kiểm nói: “Ông ta có mưu đồ gì đó, tôi vẫn chưa đoán ra. Nói tóm lại thuộc hạ thấy hành vi của Lã Bất Vi làm người ta cảm thấy kỳ quặc”.
Dị Nhân nói: “Có gì kỳ quặc ở đây. Giúp đỡ vị con Tần Vương rất đàng hoàng rõ ràng!”.
Chu Kiểm nói: “Công tử điện hạ hãy xem, chưa biết chừng mấy hôm nữa Lã Bất Vi đến tìm”.
Chu Kiểm không nói nữa.
Ba hôm sau, vào buổi sáng, ánh mặt trời chói chang, Lã Bất Vi trang điểm trông giàu có hào hoa đến. Đi theo sau ông ta là Dương Tử đang gánh trên vai vài thứ đồ và một số người phục dịch. Đáng lẽ ông ta nên ngồi xe đến nhưng tại sao lại đi bộ đến? Thứ nhất, đường tới Liêu Cảng khúc khuỷu, chật hẹp, gồ ghề xe chạy khó. Thứ hai, nếu đi bộ biểu thị lòng tôn kính của mình đối với Dị Nhân.
Dị Nhân sống ở Liêu Cảng mấy tháng nay chẳng có lấy vương hầu tướng nho nhã như vậy tới gặp ông ta.Cả đoàn tiền hô hậu ứng mũ áo chỉnh tề, người đầy phong độ khiến Công Tôn Càn cảm thấy vừa kinh ngạc vừa thấy kỳ lạ. Mở cửa phòng trọ của Dị Nhân, Dương Tử lấy ra dĩnh vàng đã chuẩn bị trước nhét vào tay béo mập của Công Tôn Càn, sau đó nói với Công Tôn Càn, chúng tôi là gia đình đại nhân Lã Bất Vi đến bái kiến Dị Nhân Tần Vương. Công Tôn Càn cũng biết trong thành Hàm Đan này có một người giàu có tên là Lã Bất Vi chỉ có điều chưa được gặp mặt. Hôm nay tận mắt trông thấy quả nhiên khí độ bất phàm. Ông ta nhận dĩnh vàng, gặp Lã Bất Vi một thương nhân trong thành Hàm Đan, không thể có âm mưu quỷ kế gì với Dị Nhân nên mới Lã Bất Vi và tùy tùng vào.
Khi Lã Bất Vi và đoàn tùy tùng đã vào trong phòng trọ chật hẹp, Dị Nhân nhìn Chu Kiểm bằng con mắt lồi ra đầy kinh ngạc về lời dự báo phục lăn ra đất tính toán như thần: “Qua mấy ngày ắt hẳn Lã Bất Vi sẽ đến tìm”.
Hai bên ngồi ổn định xong, Dị Nhân nói với Lã Bất Vi: “Nhà tôi chật hẹp, phòng trống không tiện để quý thương và các chư vị đây dừng bước”.
Lã Bất Vi vội đáp: “Công tử điện hạ, không hề gì. Tôi có thể làm cho ngôi nhà chật của công tử trở nên to, sáng sủa lên!”
Dị Nhân có chút phản cảm trước giọng điệu có vẻ thương người bần cùng tự cho mình là nhất của Lã Bất Vi, không tự ti mà cũng không tự cao cung kính đáp lại Lã Bất Vi một câu: “Quý thương, xin người sửa sang nhà mình sáng rộng trước đã sau đó hãy làm rạng rỡ nhà người khác!”
Lã Bất Vi không dị nghị gì về thái độ của Dị Nhân. Nói: “Công tử điện hạ, ai chẳng muốn làm rạng rỡ cửa nhà mình! Làm rạng rỡ cửa nhà tiện nhân thì phải làm rạng rỡ cửa nhà công tử trước đã!”
Dị Nhân vẫn chưa nghe rõ câu nói của Lã Bất Vi nói: “Tôi không hiểu quý thương định nói gì?”
Lã Bất Vi chậm rãi thuật lại rõ ràng câu nói vừa rồi: “Tôi là ai, ai không muốn làm rạng rỡ cửa nhà mình! Làm rạng rỡ cửa nhà bề tôi thì phải đợi làm sáng rộng cửa nhà công tử trước”.
Dị Nhân đã hiểu câu nói với hàm ý sâu xa của Lã Bất Vi, biết Lã Bất Vi là người rất có lai lịch vội cúi xuống đáp một lễ nói: “Lời quý thương tôi nghe mà như chưa nghe, cảm thấy hết sức mới mẻ, nhưng lại cảm thấy mơ hồ xin quý thương giải thích rõ hơn”.
Lã Bất Vi nói: “Cửa nhà công tử điện hạ đầu tiên phải làm sáng rộng”.
Dị Nhân hỏi: “Thế nào gọi là sáng rộng?”
Lã Bất Vi rằn từng tiếng: “Xưng vua ở mặt Nam đầu tiên là Tần Vương, kế đó làm bá chủ thiên hạ!”
Dị Nhân cười nói: “Quý thương buộc ta phải nói thẳng, nghe câu nói đấy của ngươi ta nghe như người điên nói mơ. Ta tuy là con cháu Tần Vương nhưng như hổ thất thế, hiện nay lâm vào thế túng quẫn chẳng khác gì người dân áo vải, bị giam lỏng ở Liêu Cảng, người là dao ta là cá, chẳng khác gì gặp nguy tới nơi! Làm sao có thể ngồi ở mặt Nam xưng vương xưng đế?”
Lã Bất Vi nói tiếp: “Tôi nghe nói bố của công tử điện hạ Chiêu Vương tuổi đã ngoại thất tuần, đã bước vào tuổi già, lệnh tôn đại nhân An Quốc kế vị trở thàng Tần Vương. An Quốc có hai mươi ba vị công tử nhưng vẫn chưa lập người kế vị. Như vậy lập người nào làm thái tử thì ngay trong chớp mắt. Tôi còn nghe nói, phi tần sinh hai mươi ba vị công tử, danh chính ngôn thuận của An Quốc chỉ có phu nhân Hoa Dương được ân sủng – Còn lại các vị phi tần kia bao gồm Hạ Cơ mẹ của công tử điện hạ cũng đều bị bỏ mặc sang một bên. Lập ai làm thái tử lời của phu nhân Hoa Dương đáng giá nghìn vàng mà Hoa Dương phu nhân lại không có con để lập vậy điện hạ nên nắm lấy cơ hội nghìn năm có một này, kích sủng đòi lập kế vị, mưu sự nghiệp lớn!”
Dị Nhân đành bó tay nói: “Quý thương chỉ biết một mà không biết hai. Anh em chúng tôi cả thảy 23 người trước có Tử Hề , sau có Xú Báo, ta ở giữa, không thể độc chiếm sự trung ái của vua cha Quốc An, hơn nữa do mẹ không được sủng ái lại bị đi tha hương nơi đất khách quê người, vội đến ôm chân phật thì cũng chỉ là bỏ nhiều công sức mà thành công chẳng bao nhiêu mà thôi.
Lã Bất Vi trong lòng sốt sắng nói: “Công tử điện hạ không nên bi quan thất vọng như vậy, tiện nhân nguyện hiến nghìn vàng để kinh doanh ngôi kế vị của công tử. Người nên mở rộng giao lưu với các chư hầu và những người giàu có chức quyền, thể hiện nhân đức. Tiện nhận chấp nhận mọi rủi ro hành trang vào Tần, dùng trăm phương nghìn kế để nói với vua An Quốc và phu nhân Hoa Dương lập người làm người kế vị”.
Dị Nhân nghe Lã Bất Vi nói vậy vui mừng khôn xiết. Cảm kích nói: “Thượng đế có mắt gặp được ân chủ! Một khi mưu hoạch của ta đạt được như ý nhất định có thưởng. Ta làm vương nước Tần thiên hạ này ta với quý thương mỗi người một nửa!”
Nô bộc hoạn quan rón rén đi lại giữa các điện như sợ giẫm chết kiến. Một khi có cơn gió nhẹ lướt qua, thổi quần áo người trong cung Triệu Hiếu Thành Vương phát ra tiếng kêu, bọn họ vội thu lại guồng tơ lụa đang bay sau đó mới từ từ ngó đông nhìn tây.
Những nô bộc hoạn quan này đều biết gần đây Triệu Hiếu Thành Vương đều cảm thấy đau nhói đối với bất cứ tiếng động nhỏ nào. Hai hôm trước có một vị truyền tin do bước đi quá mạnh không cẩn thận va vào đỉnh lớn trước cửa điện làm vung lên tiếng kêu một hồi lâu, Triệu Hiếu Thành Vương nói vị truyền tin này đi lại thất lễ làm nhục liệt tổ liệt tông cuối cùng bị đem đi xử cực hình. Bọn nô bộc hoạn quan run sợ nhìn người truyền tin bị đánh đến mức máu thịt nát như hồ, còn lại một chút hơi thở bị ném ra ngoài tường. Tuy nhiên, các nô bộc hoạn quan thường xuyên nghe thấy tiếng gầm thét như sấm của Triệu Hiếu Thành Vương ở chính điện to tới mức vọng ra cả trong cung và ngoài cung.
“Bốn mươi vạn quân của quả nhân chết thảm quá!”
“Để quả nhân xa giá thân chinh tiến vào thành Thành Dương quyết một phen với con rùa Chiêu Vương này”. “Thượng đế mở mắt, hưng ngã Triệu Thị”.
*
* *
Triệu Quát dẫn đầu bốn mươi vạn quân, thua trận ở Trường Bình, tất cả bị chôn sống khiến Triệu Hiếu Thành Vương cảm thấy đó là nạn khủng khiếp nhất. Đương lúc buồn như cha mẹ chết bỗng nhiên nghĩ tới Dị Nhân con cháu Tần Vương đến thành Hàm Đan này. Ông muốn túm lấy hắn để hả giận, muốn phanh thây hắn thành năm bảy mảnh. Ông muốn thân xác hắn phải nát thành vạn đoạn!
Triệu Hiếu Thành Vương không muốn để Dị Nhân chết một cách dễ dàng, ông muốn dày vò Dị Nhân để rửa bớt đi mối thù hận đang hừng hực trong con người ông, bớt đi lòng căm phẫn của quân dân nước Triệu.
Triệu Hiếu Thành Vương đang lập kế hoạch giết chết Dị Nhân. Đầu tiên bị vua Bình nguyên Triệu Thắng phản đối – Vua Bình nguyên Triệu Thắng nói: “Hai nước giao chiến, nước Triệu chúng ta không thể lấy việc trừng phạt Dị Nhân cháu Tần Vương để bù đắp cho thất bại ở Trường Bình”.
Lận Tướng Như cũng nói: “Đại Vương cũng không nên trị quốc bằng tính đàn bà. Nếu trên người Dị Nhân có hề hấn gì thì nhất định bị thiên hạ, chư hầu chê cười”.
Triệu Hiếu Thành Vương định bụng tự hành động, đầu tiên cứ tóm Dị Nhân lại đã.
Triệu Bảo vua Bình Dương khuyên trong tiếng khóc: “Đại Vương hạ thần có một câu phải nói, nếu nói ra chắc sẽ đắc tội với Đại Vương thậm chí còn có nguy cơ bị chém đầu. Nhưng vì giang sơn xã tắc nước Triệu như ở cổ không thể không nói ra. Vì dân thì người chủ không thể vạn sự đều biết, phải lắng nghe mới tỏ. Trước khi cuộc chiến Trường Bình xảy ra, nếu Đại Vương chịu thu nạp ý kiến của mọi người, không dùng Triệu Quát làm đại tướng quân của thống quân thì sao có hoạ lớn như thế này!”
Triệu Bảo vua Bình Dương đã chạm đến vết đau của ông ta, Triệu Hiếu Thành Vương thẹn quá hóa giận, suýt nữa phát bực nhưng vẫn chưa tìm ra lời để ngắt. Triệu Bảo – vua Bình Dương nói quá chính xác nên khó có thể biện giải được. Vì vậy, chiếc cằm dài của Triệu Hiếu Thành Vương đã co lại, đành nói: “Vậy thì bốn mươi vạn quân Triệu chết chúng ta phải khoanh tay nhìn sao?”
Vua Bình Dương Triệu Bảo nói: “Sao lại có thể khoanh tay ngồi nhìn? Đại Vương vừa hay có thể nhân cơ hội này đi đến gặp người dân, thương xót người áo vải, lung lạc lòng ngườicổ vũ lòng người, chấn uy quân!”
Vua Bình Nguyên - Triệu Thắng, Lận Tướng Như cũng phụ họa theo nói không nên cáu giận với Dị Nhân mà nên biến bi thương thành lực lượng, quần thần trên dưới đồng tâm hiệp lực, nằm gai nếm mật, mở mày mở mặt với chư hầu, báo thù rửa hận với nước Tần hùng mạnh.
Văn thần võ tướng nhất tề nói, nói đến khi Triệu Hiếu Thành Vương hồi tâm chuyển ý, thu nạp ý kiến của mọi người. Chỉ dặn dò phải chú ý giám sát cháu Tần Vương – Dị Nhân, sau đó an ủi thân quyến, gia quyến các tướng sĩ chết trận, ban thưởng cho các đại thần, tướng, khách liêu có công với nước.
Khi Triệu Hiếu Thành Vương làm việc này, nghĩ tới Lã Bất Vi hiến tặng năm trăm dật vàng. Nếu như Lã Bất Vi không làm thân với Dị Nhân, nếu như không có cảnh u ám của nước Triệu sau cuộc chiến ở Trường Bình thì Triệu Hiếu Thành Vương đã đến phủ Lã Bất Vi. Ông ta thường xuyên mời Triệu Hiếu Thành Vương đến phủ của ông để khuất tôn (lời nói khách sáo) dạy bảo. Thực ra trong thâm tâm đối với vị vua này có phần khinh miệt. Cho dù như vậy, Lã Bất Vi vẫn nhận lễ của các quần thần phủ phục kính cẩn chờ đợi trước cửa phủ.
Triệu Hiếu Thành Vương trong đám đông người vây quanh cũng đã bước vào trong sân. Lã Bất Vi lần trước từ trên đài ngắm nhìn thấy quạt tròn, quạt lông và quạt hè, màu sắc sáng bóng làm từ các bông hoa kia, nhất loạt trở thành quạt màu trắng, phía sau Triệu Hiếu Thành Vương lộ ra vẻ uy nghiêm của một vị vua.
Lã Bất Vi trông thấy vị quốc quân bây giờ tiếp cận dễ dàng, che dấu khuôn mặt không còn ngồi cao nhìn xuống theo tháng ngày, vênh mặt hất hàm sai khiến mà là thái độ ảm đạm tang tóc. Triệu Cơ vốn từ xưa tới nay chưa gặp Triệu Hiếu Thành Vương nghe nói có vua nước Triệu đến nhà, có phần hiếu kỳ khiến cô lấy can đảm đến chào Triệu Hiếu Thành Vương. Khi Triệu Hiếu Thành Vương biết cô gái đẹp như hoa như ngọc đang đứng trước mặt kia là thiếp của Lã Bất Vi mới lấy gần đây, rất tán thưởng nói: “Diễm phúc của quý thương không ít”. Lã Bất Vi nói: “Các thê thiếp nô bộc trong nhà tiểu nhân đều là cặn bã xấu xí làm sao có thể so sánh được với người đẹp trong hậu cung Đại Vương, chẳng qua chỉ là cành cây bại lá mà thôi.
Triệu Hiếu Thành Vương nói: “Quý thương quá lời!”
Lã Bất Vi dẫn Triệu Hiếu Thành Vương vào phòng khách.
Triệu Hiếu Thành Vương trông thấy linh đàng che màn trắng bèn hỏi: “Chẳng hay quý thương cũng có con cháu nằm trong số những người không may bị chết thảm trong chiến dịch Trường Bình sao?”
Lã Bất Vi chuyển sắc mặt bi thương nói: “Không phải con cháu của tiểu nhân mà chỉ là một môn khách mà thôi”.
Triệu Hiếu Thành Vương cảm động nói: “Quý thương quả là một người quân tử đa tình đa nghĩa, đối với một môn khách không thân không thích cũng có sự hậu lễ như vậy, thật đáng để quả nhân động lòng!”
Lã Bất Vi nói: “Bình thường tiểu nhân cũng ít quan tâm đến những môn khách này, cũng chẳng có hoài bão gì về lễ hiền hạ sĩ này nhưng khi gặp nạn mới nghĩ tới họ. Xem ra, những người tôn quý thường mất đi tình cảm đời thường của con người”.
Triệu Hiếu Thành Vương đương nhiên có thể nghe thấy hàm ý chỉ bên ngoài của Lã Bất Vi, má hơi đỏ lên giả câm giả điếc nói: “Quý thương không phải quá tự trách mình như vậy, sau này có nhiều tiền thưởng và bổng lộc là được”.
Sau khi đã ngồi ở phòng khách, Triệu Hiếu Thành Vương nói: “Quý thương là người nước khác, lâu nay đem sự vinh suy thành bại của nước Triệu để trong tim, khiến quả nhân rất cảm động, xin ban thưởng cho quý nhân áo sợi vàng nam, nữ mỗi thứ một chiếc”.
Triệu Hiếu Thành Vương vừa nói xong, đã có cô hầu mang hai chiếc áo sợi vàng dâng lên, lại có hai cô hầu khác lần lượt dở hai chiếc áo này ra.
Lã Bất Vi và Triệu Cơ trông thấy hai chiếc áo sợi vàng như khổng tước đang nhảy múa trước mắt với ánh sáng màu tím đỏ.
Triệu Cơ từ xưa tới nay chưa từng trông thấy cái áo nào đẹp hoa lệ như vậy, trố mắt há miệng một hồi, mới tay múa chân nhảy nói: “Ây ha, chiếc áo gấm như giáng trời này nô bộc từ khi sinh ra tới nay lần đầu tiên trông thấy, nếu mặc vào sẽ giống như tiên nữ xuống trần đẹp hết chỗ nói!”
Triệu Hiếu Thành Vương hứng khởi nói: “Nghe nói Triệu Cơ tư nghệ song toàn, vậy hãy mặc áo kim sa này vào và múa cho quả nhân xem!”
Đây đúng là lúc Triệu Cơ mong mà không được. Cô không đợi Lã Bất Vi ra hiệu vội mặc áo kim sa do Triệu Hiếu Thành Vương ban thưởng, múa như chim bay lượn. Triệu Hiếu Thành Vương ngợi không hết lời.
Lã Bất Vi ngồi bên cạnh nghĩ: “Cho dù Triệu Cơ thích chu du thiên hạ, nhưng khi có lệnh của vua một nước không thể từ chối. Nhưng Triệu Hiếu Thành Vương đang ở thế sống chết tồn vong của nước nhà làm sao có thể yên lòng ngồi thưởng thức ca múa”. Lã Bất Vi thấy liệt vào nhóm đại thần hai bên của Triệu Hiếu Thành Vương như vua Bình Nguyên Triệu Thắng, Bình Dương Triệu Bảo và Thượng Lư Lận Tướng Như cũng hai đường lông mày giao nhau, tâm trạng đại khái cũng giống với Lã Bất Vi.
Triệu Cơ múa xong một khúc, Triệu Hiếu Thành Vương vẫn còn phấn chấn nói: “Ca vũ của Triệu Cơ đáng được phong tới cấp đỉnh điểm khiến người xem không biết chán. Chỉ tiếc nước nhà vẫn chưa hết tang, hôm nào đến Tòng Đài để trình diễn cho quả nhân xem”.
Triệu Cơ đáp lễ tạ ơn Triệu Hiếu Thành Vương.
Triệu Hiếu Thành Vương rất mực cảm kích nói với Lã Bất Vi: “Đêm trước cuộc chiến Trường Bình, quý thương cật lực thuyết phục quả nhân không dùng Triệu Quát làm đại tướng quân, quả nhân đã bỏ ngoài tai mới gây ra mối hận ngàn đời này! Bây giờ gặp mặt quý thương thật là không còn chỗ nào che mặt”.
Triệu Hiếu Thành Vương có thể tự lòng nói ra những lời nói này đó là điều Lã Bất Vi không ngờ tới. Bất giác Lã Bất Vi cảm thấy vị vua này có chút đáng thương, cũng có phần đáng kính.
Triệu Hiếu Thành Vương rất thành khẩn nói: “Năm đó Lương Huệ Vương hỏi Mạnh Hà phương lược trị quốc. Ông ta nói với Mạnh Hà, ta cũng là người trong một nước, phải tận tâm với nước, trong sông có hung thì phải di dân sang bờ đông sông, trồng ngũ cốc trong sông, bờ đông có hung cũng vậy. Chính trị của một nước không như quả nhân nghĩ. Dân của nước láng giềng tăng lên không ít, dân của quả nhân không tăng nhiều, cớ là sao vậy? Bởi vì Lương Huệ Vương xâm lược ồ ạt, Mạnh Hà liền lấy cuộc chiến để bàn luận với Lương Huệ Vương làm thế nào để thực thi vương đạo phú quốc cường binh, để Lương Huệ Quốc lợi nhiều thiệt ít. Quý thương có tài kinh thiên động địa như có Mạnh Hà tại thế, quả nhân nguyện nghe theo phương lược trị quốc phúc dân cảu quý thương”.
Nghe xong câu nói của Triệu Hiếu Thành Vương, trong lòng Lã Bất Vi trào lên một vị đắng cay chua xót quá độ. Sự việc xảy ra như ngày hôm nay những lời nói của người đã không còn tác dụng nữa. Trận Trường Bình, nước Triệu mất mát quá nhiều. Khó có thể khôi phục lại được địa vị và song song cùng tiến với nước Tần. Hơn nữa, Lã Bất Vi đã đổi môn đình, dốc một lòng với Dị Nhân cháu Tần Vương, còn có thể cùng người mưu lược trị quốc gì nữa đây? Lã Bất Vi nghĩ ở chỗ Triệu Hiếu Thành Vương vẫn còn năm trăm dật vàng của ông, đang tìm cách nói với ông ta về vấn đề uy tín, nhắc nhở vị quốc vương này không được quên chuyện này.
Lã Bất Vi nói: “Tiểu nhân kiến thức hẹp hòi, nay bàn chuyện sách lược trị quốc với Đại Vương chẳng khác gì múa rìu qua mắt thợ, nhưng Đại Vương cứ tự tar1ch móc, lễ hiền hạ sĩ tiểu nhân nếu không dốc lòng thì đã phụ lòng Đại Vương. Triệu Hiếu Thành Vương nói: “Quả nhân xin kính cẩn nghiêng mình lắng nghe”.
Lã Bất Vi hỏi: “Đại Vương có biết Thượng Anh không?”
Triệu Hiếu Thành Vương gật gật đầu nói: “Chẳng phải là Công Tôn Anh giúp Tần Hiếu Công biến pháp đồ cương sao? Điều đó quả nhân biết, thiên hạ, chư hầu đều đã nghe”.
Lã Bất Vi nói: “Thượng Anh đã từng học luật pháp với người dân nước Lỗ, chủ trương được phân định theo pháp lệnh của nhà nước, sau đó theo tên pháp định để xét xem người khác là đúng hay sai để mà thưởng phạt. Trước khi ông ta ban bố luật pháp do ông ta chế định ở nước Tần e rằng người dân không tin đã cho dựng một cây gỗ dài ba trượng ở Nam môn trong quốc đô, hiểu dụ mọi người nếu ai có thể mang gậy này từ cửa Nam sang cửa Bắc sẽ thưởng mười lạng vàng. Khi dựng gậy có rất nhiều người vây quanh xem, đem gậy này chuyển từ cửa Nam sang cửa Bắc, nói không phí sức thổi bụi đó chỉ là lời nói khoác, nhưng đó chẳng có gì là khó. Để hoàn thành việc nhẹ mà dễ như vậy để lĩnh thưởng mười lạng vàng đó chẳng như bắt được tiền sao? Mọi người đều cảm thấy ngạc nhiên, bán tín bán nghi, không dám động vào. Thượng Anh thấy không có ai động vào gậy gỗ, lại nói, người có thể mang sang cửa Bắc sẽ được thưởng 50 lạng vàng. Lúc này, rốt cuộc có một người đầy dũng khí quyết tâm thử xem. Khi anh ta chuyển gậy gỗ từ cửa Nam sang cửa Bắc, Thượng Anh lập tức thưởng cho anh ta 50 lạng biểu thị uy tín. Chuyện này nhanh chóng truyền khắp đô quốc rồi truyền đi khắp nước Tần. Mọi người thấy Thượng Anh nói lời giữ lấy lời, thi nhau tuân theo pháp lệnh mà ông ta ban bố. Nước Tần chẳng mấy chốc cường thịnh trở lại!”. Triệu Hiếu Thành Vương nghe xong, ngẫm nghĩ nói: “Quả nhân hiểu rồi”. Do dây ngọc trên mũ vua che lấp nên Lã Bất Vi không thấy được chính xác biểu hiện trên mặt của Triệu Hiếu Thành Vương nên rất khó phán đoán vị quốc quân này hiểu gì.
Hoàng Phủ Kiều mặt như lửa định cãi với Lã Bất Vi về công lý. Hoàng Phủ Kiều bây giờ đã nhớ lại cảm thấy vận mệnh mười mấy năm trước nay đã xoay chuyển ngay bên hồ Bộc Dương xanh thẳm. Từ khi gặp Lã Bất Vi buôn đào bị lỗ, cô đã quyết tâm sống chết lấy ông ta. Sau này Lã Bất Vi là bánh xe, cô là nan hoa, Lã Bất Vi là mặt trời, cô là tia sáng. Lã Bất Vi là miếu thờ, thị là am thờ. Cô theo Lã Bất Vi từ Bộc Dương của Vệ Quốc về Dương Tước nước Hán rồi thành Hàm Đan nước Triệu, Lã Bất Vi có xảo thuật làm cho tài sản của ông ngày một tích đầy như núi. Cô cũng từ một nô bộc biến thành một phu nhân nhất phẩm đường đường chính chính. Mấy năm nay, cô dường như xa lạ hơn với Lã Bất Vi. Một là cô có cảm giác Lã Bất Vi không còn giống như trước đây say mê con đường làm giàu nữa, thường kết huynh đệ với những vị quan to, rất có hứng thú với những việc triều chính. Hai là từ khi có con tiểu yêu Triệu Cơ đến Lã Bất Vi đã lạnh nhạt với người vợ kết tóc xe tơ này.
Lúc nãy khi Triệu Hiếu Thành Vương đến phủ, đúng lúc cô cùng hai người hầu đến hiệu tơ lục trên phố để mua lụa. Khi về đến phủ, Triệu Hiếu Thành Vương đã khởi giá về cung. Rất nhiều đầy tớ hối hả kể chuyện cho cô nghe cảnh Triệu Hiếu Thành Vương tới phủ. Đến đoạn cô nghe thấy Triệu Cơ mặc áo kim sa múa ca trước mọi người thì lòng như lửa đốt. Hoàng Phủ Kiều tức giận đùng đùng đi tìm Lã Bất Vi. Chất vấn hỏi: “Nghe nói Triệu Hiếu Thành Vương đến phủ có ban thưởng hai chiếc áo kim sa””
Lã Bất Vi thấy thái độ của Hoàng Phủ Kiều, ông trả lời: “Đúng, vừa rồi Đại Vương có ban thưởng hai chiếc áo kim sa nam, nữ mỗi loại một chiếc”.
Hoàng Phủ Kiều nói: “Đại Vương thưởng cho ai?”
Lã Bất Vi trả lời chung chung để tránh vợ gặng hỏi áo kim sa của con gái thì ban tặng cho ai: “Thưởng cho chúng ta”.
Hoàng Phủ Kiều bĩu môi nói: “Thưởng cho chúng ta? Nói như vậy có nghĩa là hai chiếc áo kim sa này của tất cả mọi người trong phủ này thay nhau mặc đúng không?”
Lã Bất Vi nói: “Ấy, sao nàng có thể nói như vậy, thưởng cho chúng ta, chính là ta và thê thiếp của ta”.
Hoàng Phủ Kiều vặn lại: “Thê thiếp của chàng là ai?”
Lã Bất Vi cười: “Còn phải hỏi nữa sao, Hoàng Phủ Kiều!”
Hoàng Phủ Kiều nói: “Đương nhiên là như vậy, tại sao mình Triệu Cơ hưởng món quà thưởng đó, mặc chiếc áo kim sa đó”.
Lã Bất Vi nói: “Phu nhân nhầm rồi, vừa nãy nàng không có nhà nên đưa cho Triệu Cơ cất giữ hộ mà thôi”.
Hoàng Phủ Kiều nói: “Vậy thì Triệu Cơ cất giữ trước một ngày, có lợi hơn một chút, sau này thiếp và Triệu Cơ sẽ thay phiên nhau mỗi người mặc một hôm”.
Hoàng Phủ Kiều còn nói: “Bảo Triệu Cơ ngày mai cầm sang cho thiếp”. Khi Hoàng Phủ Kiều rời khỏi phòng của Lã Bất Vi, đám tùy tùng nói: “Phu nhân không cần nóng vội, Triệu Cơ mang đến thì phu nhân cũng không thể mặc”.
“Vì sao?”
“Triệu Hiếu Thành Vương đã ban chiếu trong thời gian cả nước cử hành để tang bốn mươi vạn quân Triệu không được mặc quần áo mới màu sắc loè loẹt. Nếu không sẽ xử tội khi quân.” Hoàng Phủ Kiều mới sực nhớ lại, vừa nãy đi trên đường đã nhìn thấy toàn là trang phục màu trắng, cũng may mình cũng mặc bộ trang phục tao nhã nếu không mất hai đôi chân rồi cũng nên. Hai con mắt của cô xoay hoay một lúc, một chủ ý tuyệt diệu vụt lên trong đầu. Phủ Kiều lại hỏi đầy tớ một câu: “Thật chứ?”
Đầy tớ nói: “Thật, dán ở các tường trên đường phố, chính mắt con đã trông thấy”.
Hôm sau Hoàng Phủ Kiều cho đầy tớ đi gọi Triệu Cơ lại. Triệu Cơ không mặc chiếc áo kim sa đó, Hoàng Phủ Kiều nghĩ thầm: “Đây nhất định là Lã Bất Vi đã truyền lời của mình cho Triệu Cơ rồi đây”. Triệu Cơ mặc một chiếc váy hoa màu tím xanh, Hoàng Phủ Kiều hiểu Triệu Cơ không biết chiếu lệnh của Triệu Hiếu Thành Vương về việc cấm mặc quần áo xanh đỏ.
Hoàng Phủ Kiều nắm lấy tay của Triệu Cơ, tỏ thái độ không để bụng nói: “Muội tử, tất cả đều do tính chị chẳng ra gì, luôn làm cho chị em có hiềm khích để cho người ở chê cười, để lão gia phải bận tâm”.
Triệu Cơ cảm thấy như mặt trời mọc đằng tây, Hoàng Phủ Kiều từ xưa tới nay chưa bao giờ nhiệt tình với mình như vậy.
Hoàng Phủ Kiều nói tiếp: “Hôm qua khi ta đi phố mua được một chút lụa may áo cũng mang về một ít cho muội, muội hãy cầm hai mảnh đi”. Hoàng Phủ Kiều nói xong để đầy tớ cầm một mảnh lụa màu ánh bày lên trên giường. Mảnh vải tốt này làm Triệu Cơ động lòng, khiến cô có chút bối rối, sự nhiệt tình của Hoàng Phủ Kiều khiến Triệu Cơ thấy từ chối cũng không xong.
Triệu Cơ vẫn đứng yên ở đó, Hoàng Phủ Kiều nói: “Em à, đừng ngại gì, tiêu tiền thì vẫn lấy ở chỗ Lã đại nhân, ta chỉ giúp em mang về mà thôi”. Thấy Hoàng Phủ Kiều chủ động bỏ qua những hiềm khích trước đây, lời nói cũng thực lòng, Triệu Cơ nói: “Cảm ơn chị Hoàng Phổ” rồi cầm lấy, ngay tức thì đã chọn được hai mảnh lụa màu tươi sáng.
Hoàng Phủ Kiều giữ cho Triệu Cơ ngồi chơi một lúc, nói chuyện Triệu Hiếu Thành Vương ban tặng áo kim sa. Hoàng Phủ Kiều hết lời khen ngợi: “Việc này đã truyền đi khắp thành Hàm Đan này rồi, những người ác khẩu đều nói, Triệu Cơ thật may mắn, tuổi còn trẻ mà đã đạt được ân điển của Đại Vương, cũng có không ít người nói việc này là Triệu Cơ không giữ thể diện, tự nói dối để lừa người. Em bảo những kẻ này có đáng ghét không?”
Triệu Cơ bất bình nói: “Ai nói khoác để lừa người, chẳng có Triệu Hiếu Thành Vương ban thưởng áo kim sa sao?”
“Ta cũng nói như vậy nhưng những người đó đều nói: các em có áo kim sa mặc vào cho ta thưởng thức với! Để được tận mắt thấy tai nghe. Hoàng Phủ Kiều dùng con mắt khiến người ta không đoán chắc được nhìn Triệu Cơ nói tiếp: “Áo kim sa nếu ở trong tay ta, ta sẽ mặc để đi đi lại lại để cho bọn người đó lác mắt!”
Triệu Cơ nói: “Đúng! Lát nữa em sẽ mặc áo kim sa diễu ra phố để chặn đứng những lời bàn ra tán vào đó”. Triệu Cơ nói xong đứng dậy định về. Hoàng Phủ Kiều nhắc nhở nói: “Em à, đừng quên tấm lụa của em”.
Từ Liêu Cảng quay về, Lã Bất Vi bắt đầu bí mật hành động lập kế vị Dị Nhân phản Tần. Ông đưa trước trăm dật vàng cho Dị Nhân, sau đó ra tay, kết bạn rộng khắp. Mỗi lần trong thành Hàm Đan các Vương hầu tướng quốc, công tử vương tôn có tiệc vui, ngày lễ ông đều mang quà đến chúc mừng. Chư hầu các nước hoặc những nhân vật đứng đầu mỗi khi đến nước Triệu ông đều đến quán trọ chào hỏi hoặc mời họ đến dự tiệc rượu.
Dị Nhân theo lời của Lã Bất Vi đặc biệt ân điển với Công Tôn Càn và Yến thái tử Đan, khiến hai người xa Dị Nhân gần đây cũng thân thiện với ông ta hơn. Phàm là chư hầu các nước hoặc bậc thân thích vương công đến yết kiến Yến thái tử Đan, thái tử Đan đều gọi Dị Nhân vào cung luận, nói hàng xóm của ông ta, cháu Tần Vương này hiền đức nhân nghĩa thế nào, hào hoa xuất chúng thế nào, khi cần thiết thái tử Đan còn thu hút đông đảo mọi người khiến Dị Nhân kết thân được với không ít bạn mới. Công Tôn Càn người phụ trách có sứ mệnh đặc biệt ở quán trọ này, tuy luôn bám theo sau nhưng cũng có việc chẳng thèm để ý, xưa nay chẳng có chút đề phòng với Dị Nhân.
Lã Bất Vi sắp đặt mọi chuyện trong thành Hàm Đan một cách có trật tự chặt chẽ, vừa định chuẩn bị vào Thành Dương gặp vua An Quốc và phu nhân Hoa Dương thì Triệu Cơ bị quan phủ bắt giam cầm. Lã Bất Vi vào ngục để hỏi rõ đầu đuôi.
Dương Tử bước trước Lã Bất Vi leo lên bậc nhà giam dưới ánh mặt trời le lói đẩy cửa kêu kẽo kẹt, một mùi gỗ từ cánh cửa mục nát tỏa ra. Lã Bất Vi bước vào hai bên trái phải dựng lên cột gỗ kiên cố bị mọt gặm nhấm, bên trong đứng ngồi một đám phạm nhân. Rồi tiếng khóc hỗn lộn không phân rõ, liền đó Lã Bất Vi cảm thấy rùng rợn trước tiếng khóc đó. Ông sợ nghe thấy tiếng kêu nhỏ nhẹ mà ngọt ngào của người quen thuộc. Lã Bất Vi tìm thấy cai ngục hỏi ở đây có giam người phụ nữ tên Triệu Cơ không. Cai ngục nói với Lã Bất Vi là vừa bị đưa vào. Lã Bất Vi lại hỏi vì sao bị đưa vào ngục. Cai ngục nói dám to gan giữa thanh thiên bạch nhật mặc áo sặc sỡ lượn trên đường phố chống lại chiếu lệnh nghiêm cấm mặc áo xanh đỏ trong thời gian quốc tang của Triệu Hiếu Thành Vương.
Lã Bất Vi cuối cùng đã tỉnh mộng, người con gái mảnh mai gặp nạn vào nhà lao. Trông thấy trước cửa ngục đều có hộ vệ coi ngục khắc bằng gỗ, bằng nhựa trong tay cầm dao sáng giống người phụ nữ béo đến mức mông trắng bệch ra. Cai ngục nhìn Lã Bất Vi bằng con mắt ti hí hỏi: “Người con gái như ngọc như ngà thế kia là như thế nào với đại nhân”
Lã Bất Vi đáp: “Thiếp!”
Cai ngục luyến tiếc nói: “Mất đi đôi chân đẹp của mỹ nhân cũng như nấu thịt cúng mười lần cũng chẳng thấy hương vị gì”.
Lã Bất Vi không muốn đôi co được mất với tên cai ngục mà cảm thấy căng thẳng nhất là chẳng nhìn thấy Triệu Cơ đâu. Dương Tử hiểu tâm trạng của Lã Bất Vi, dúi vào tay tên cai ngục một đồng bạc cầu khẩn: “Chúng ta đều muốn tận mắt trông thấy Triệu Cơ”
Cai ngục nói: “Chỉ có thể đứng ngoài song, không được nói chuyện quá lâu”. Tên cai ngục dẫn Lã Bất Vi đến buồng giam Triệu Cơ. Triệu Cơ trông thấy Lã Bất Vi đến, khóc không thành tiếng: “Lã đại nhân mau cứu thiếp!”
Lã Bất Vi ngắm nhìn Triệu Cơ, chưa đầy nửa ngày, khuôn mặt yêu kiều của nàng đã trở nên tiều tụy nhiều, mép tóc có hai sợi cỏ đong đưa như chếic kim thoa cài đầu. Triệu Cơ tuy vai mình không ngớt co giật vẫn tỉ tê thuật lại quá trình bị vào ngục của mình cho Lã Bất Vi. Lã Bất Vi tức thì rõ được nguyên căn sự việc. Ông biết lúc này có chỉ trích hay oán trách cũng vô tích sự, ông an ủi Triệu Cơ mấy câu rồi ra khỏi nhà ngục đi tìm Tư Khấu, đại nhân người có toàn quyền nắm việc sống chết của phạm nhân.
Tư Khấu đại nhân tuy chưa từng gặp mặt Lã Bất Vi nhưng nghe tiếng Lã Bất Vi giàu có trong thành Hàm Đan thì ai ai cũng rõ. Lã Bất Vi khiêm nhường nói, có chút tiền nhỏ sao dám nhận là giàu. Tư Khấu đại nhân thoạt nhìn đã biết ngay sự tình, Lã Bất Vi tới đây là việc của Triệu Cơ. Lã Bất Vi gật đầu nói phải, xin Tư Khấu đại nhân rộng lòng thả Triệu Cơ ra, ân đức này sẽ mãi ghi tạc trong lòng. Tư Khấu đại nhân xin lỗi nói, không phải bổn quan không nể mặt quý thương, nhưng việc này không thể giúp được. Một là Đại Vương đã năm lần bảy lượt nói việc quốc tang không thể xem như trò đùa, kẻ chống lại phải trừng phạt nghiêm minh. Hai là, việc của Triệu Cơ đã chuyển đến Tòng Đài, chưa biết chừng Đại Vương vì việc này mà nổi trận lôi đình.
Lã Bất Vi cảm thấy Tư Khấu đại nhân nói hợp tình hợp lý. Ông đành phải đi tìm Triệu Hiếu Thành Vương nghĩ rằng tối qua vị quốc quân này đã tới phủ để ban thưởng cho ông, Lã Bất Vi vì chuyện của Triệu Cơ nên niềm tin tăng lên gấp bội. Trong ngoài Tòng Đài, nhất loạt nghiêm túc cung kính, khắp nơi cờ tang bay phấp phới giống như trong một giấc mơ ảm đạm. Lã Bất Vi đi vào dường như đang đi qua cây ngọc cành quỳnh.
Triệu Hiếu Thành Vương trông thấy Lã Bất Vi đến khấu lạy ở đại điện thì biết được mục đích đến của Lã Bất Vi, buồn rười rượi nói: “Một người con gái như hoa như ngọc vậy, không có đôi chân thì chỉ như cửu đỉnh không chân, phượng hoàng không cánh, kỳ lân không vảy, bảo vật mất đi cái đẹp của nó đáng tiếc! Đáng tiếc!”
Lã Bất Vi phụ hoạ ngay theo: “Đúng vậy! Đúng vậy!”
Triệu Hiếu Thành Vương lại nói tiếp: “Quả nhân nghe nói việc này thì trong lòng thấy không yên, lo thay cho Triệu Cơ”.
Lã Bất Vi cảm ơn đại đức nói: “Đại Vương không chỉ là vị quốc quân nhân ái, người cha khaon dung. Như vậy xem ra thiếp của tiểu nhân – Triệu Cơ có thể hoá hiểm thành bình an rồi!”
Triệu Hiếu Thành Vương nói: “Quả nhân làm sao không muốn nghĩ như vậy. Tuy nhiên, quả nhân chuyển lệnh cho Tư Khấu ra lệnh cho hắn thả Triệu Cơ đang bị giam cầm kia. Một thời gian sau, Tư Khấu đến khấu đầu đại nhân, rất nhiều tướng quân và cai ngục nghe nói miễn tội cho Triệu Cơ đều kháng mệnh không phục. Họ nói bốn mươi vạn quân chết ở Trường Bình, trời đất cũng thương, quỷ thần cũng rơi lệ. Chỉ một người con gái nhỏ bé lại dám bất cung bất kính với linh hồn bốn mươi vạn quân, phải làm theo luật pháp. Ngươi đoán xem vị tướng quân và cai ngục này nói như thế nào? Họ nói Lã Bất Vi có tiền thì để họ mang đi một ít đến an ủi gia quyến người chết. Ý dân không thể xem thường, thổ khí không thể lừa, ngươi bảo quả nhân có cách gì!”
Lã Bất Vi vừa nghe, đây là Triệu Hiếu Thành Vương định nhân cớ này để tống tiền ông, trong lòng tức như lửa nhưng không dám phát ra đành phải mềm dẻo nói: “Đại Vương, cho tiểu nhân nói thẳng kẻ không biết thì không có tội. Thiếp tôi thực sự không trông thấy chiếu lệnh của Đại Vương. Nàng định khoe chiếc áo kim sa do Đại Vương ban cho cũng là cung kính với Đại Vương! Đại Vương không quên chứ, hôm qua Đại Vương đến nhà tiểu nhân đích thân bảo thiếp mặc áo kim sa sặc sỡ này ca hát đó sao. Vậy thì có thể nói Đại Vương đã bất cung với linh hồn của bốn mươi vạn tướng sĩ? Cũng phải xử Đại Vương theo luật sao?”
Mặt Triệu Hiếu Thành Vương trầm xuống, chối nói: “Hình không tới đại phu, lễ không xuống dân đen, hơn nữa quả nhân là vua một nước! Thứ hai trong nhà ngoài nhà cũng có sự khác biệt”.
Lã Bất Vi thấy ý đồ của Triệu Hiếu Thành Vương, không tránh khỏi có chút lo sợ, nghĩ bụng: “Tranh luận phải trái với Triệu Hiếu Thành Vương thì chẳng phải là đào đất trên đầu Thái tuế sao. Cho dù nói thế nào Triệu Cơ vẫn là kháng lại chiếu lệnh. Một khi Triệu Hiếu Thành Vương lật mặt vô tình đừng nói chặt đôi chân Triệu Cơ mà có thể bị chặt đầu cắt lưỡi. Nghĩ tới đây, lưng Lã Bất Vi toát mồ hôi, trách mình đây không phải là vì lợi mất khôn quên đi tất cả sao? Triệu Hiếu Thành Vương thấy Lã Bất Vi ngẫm nghĩ một hồi không nói gặng hỏi một câu: “Quý thương, khanh xem nên làm thế nào thì tốt?”
Lã Bất Vi nói: “Vậy phiền Đại Vương nói với cai ngục một tiếng, Lã Bất Vi nguyện an ủi thân quyến tướng sĩ chết trận đến để chuộc tội cho Triệu Cơ”.
Triệu Hiếu Thành Vương vui mừng hỏi: “Quý thương bỏ ra bao nhiêu tiền?”
Lã Bất Vi đáp: “Tiểu nhân nguyện hiến năm trăm dật vàng”.
Triệu Hiếu Thành Vương vội nói: “Được! Được!”
Lã Bất Vi nói: “Quân tử nhất ngôn”.
Triệu Hiếu Thành Vương nói: “Vậy năm trăm dật vàng…”.
Lã Bất Vi nói rõ ràng: “Trước cuộc chiến Trường Bình, Đại Vương có vay tiểu nhân năm trăm dật vàng, như vậy sẽ không phải trả nữa, dùng nó để đi an ủi thân quyến các tướng sĩ chết trận”.
Triệu Hiếu Thành Vương khổ não nói: “Rốt cuộc quả nhân tính chẳng qua các khanh quá xảo trá điệu toa”. Lã Bất Vi ngồi trên xe tới ngục đón Triệu Cơ, nhưng lại không cho cô ngồi xe. Lã Bất Vi muốn trừng phạt và dạy cho nàng một bài học. Khi Triệu Cơ thể xác tâm hồn thoải mái chạy lại, bám vào thành xe định bước lên xe, Lã Bất Vi ngồi trên xe gỡ tay cô ra nói: “Thiếp yêu của ta, vì đôi chân của nàng đã tiêu tốn năm trăm dật vàng, không chạy thì lãng phí quá”.
Phải một thời gian dài, Hoàng Phủ Kiều vui mừng nói với môn khách và đày tớ: “Mọi người phải cách xa Triệu Cơ một chút, chạm vào con nhà lá ngọc cành vàng thì đền không nổi. Một đôi chân năm trăm dật vàng!”
*
* *
Tư Không Mã nhìn qua cửa xe thấy lá rơi như bóng của neo sắt, nghiêng nghiêng rớt xuống. Anh ta biết đã vào thu. Bốn tuần nay anh ta có một áo ấm dày, tuy nhiên trong lòng vẫn như cánh đồng trơ trụi, lạnh lẽo và trống trải.
Tư Không Mã được Triệu Hoảng coi là ân nhân cứu mạng mà được về nhà. Song thân của Triệu Hoảng vừa trông thấy con trai mình có thể trở về lành lặn sau trận bốn mươi vạn quân bị chôn sống dường như đang nằm mơ. Đợi nghe Triệu Hoảng kể hết quá trình chín chết một sống, song thân lập tức dập đầu bái tạ Tư Không Mã nhận làm binh. Mọi người đều cố giữ Tư Không Mã ở lại vài ngày, để báo tạ công ơn. Bữa sáng là cơm ngon rượu ngọt, bữa chiều là rượu ngọt cơm ngon, áo mặc bên ngoài là áo lụa áo bông, áo mặc bên trong cũng là áo bông áo lụa.
Thấy Tư Không Mã thường trầm ngâm suy nghĩ, Triệu Hoảng và bố mẹ cho rằng Tư Không Mã vẫn còn cảm thấy bi thương trước bốn mươi vạn quân lính bị chôn sống liền an ủi nói: “Tướng lĩnh sống chết tại mệnh, từ xưa tới nay đã vậy”. Kỳ thực những điều Tư Không Mã lo nghĩ chẳng liên quan gì đến bốn mươi vạn quân nước Triệu bị chôn đó. Điều Tư Không Mã nghĩ ngày suy đêm đó là làm sao phụng mệnh Lã Bất Vi, Triệu Quát chết rồi, nhưng gái trai trong thành Hàm Đan đều biết hắn chết vì một mũi tên của quân Tần. Trước lúc đó, mình đã làm gì? Giết nhầm một vị phó tướng, nói như vậy với Lã Bất Vi, mọi người sẽ cho rằng đây chỉ là một lời nói khoác! Bôn mươi vạn quân đã về nơi suối vàng. Ngươi – Tư Không Mã dựa vào mệnh to phúc lớn tạo hoá lớn thoát khỏi cái chết? Phải chăng ngươi không theo Triệu Quát đi Trường Bình, tham sống sợ chết nửa đường tháo binh…
Tư Không Mã quay về lại sợ Lã Bất Vi và môn khách nghi ngờ hắn. Nếu như không phải giữ sứ mệnh đặc biệt theo quân tới Trường Bình thì đã rời khỏi nhà Triệu Hoảng từ lâu rồi, hà tất phải ở đây để mọi người dùng chín binh bát lễ hầu hạ. Những lời từ đáy lòng biết nói cùng ai đây? Có thể nói với Triệu Hoảng tôi đến Trường Bình là định giết chết Triệu Quát sao. Triệu Quát là chú họ xa với Triệu Hoảng.
Một hôm Triệu Hoảng vui mừng nói với Tư Không Mã: “Tư Không đại ca, chúng ta đi tạ ơn Khương Đào Hoa Dương”. Tư Không Mã phút chốc không hiểu hỏi: “Ai là Khương Đào Hoa Dương? Chúng ta vì sao phải đi cảm tạ Khương Đào Hoa Dương?”
Triệu Hoảng cười nói: “Tư Không đại ca đúng là đồ vô ơn bội nghĩa! Anh quên rồi sao, khi ở biên giới nước Triệu có một cô gái tên Khương Đào Hoa đã cho chúng ta ăn, đổi quần áo cho chúng ta!”
Triệu Hoảng nói như vậy, Tư Không Mã mới nghĩ lại mình và Triệu Hoảng bị thương đã gặp cô gái đó ở trong thôn trang gần biên giới Tần Triệu. Một cô gái chỉnh tề đoan trang, có đôi mắt sáng hiền hòa.
Tư Không Mã nói: “Chúng ta nên báo đáp cẩn thận vị cô nương đầy nhiệt tình này, chỉ tiếc đường xa, nơi đó lại là biên giới của Triệu, Tần…”. Triệu Hoảng nói: “Lần này tôi và anh không phải đi bộ. Anh chưa trông thấy những con ngựa trong chuồng nhà tôi à? Biên giới Tần, Triệu sợ gì? Ở đó cũng chẳng có quân Tần sống, cho dù có gặp phải chúng ta mặc áo vải chứ không phải quân lính mặc áo giáp làm gì ta”. Triệu Hoảng nói xong bèn kéo Tư Không Mã đến trước chuồng ngựa, đã có hai con ngựa được dắt từ trong ra buộc ở cọc ngựa. Hai con ngựa này béo chắc khỏe, từ trên xuống dưới một màu đen như than đang đạp bốn móng như võ sĩ khỏe mạnh.
Tư Không Mã khen: “Ngựa đẹp thật!”
Tư Không Mã và Triệu Hoảng nhảy lên ngựa cầm roi vàng nhỏ mềm khởi trình lên đường.
Long Mã Thần Cẩu, dùng bốn móng như bay, gõ gấp gáp xuống đường. Những miếng đất nhỏ bị giẫm nát thành bột cùng với nó là lớp bụi màu vàng bay lên.
Bọn họ ra đi từ sáng sớm. Ngựa không dừng bước lao như tên bay, đến hoàng hôn đã tới được nhà Khương Đào Hoa.
Đẩy cửa ra, từ trong bước ra một bà lão vừa nhìn nét trên khuôn mặt cũng biết đó là mẹ của Khương Đào Hoa. Giữa hàng lông mày của bà Khương đầy những nếp nhăn. Bà vẫn còn chìm trong nỗi đau khi mất chồng.
Bà Khương để Tư Không Mã và Triệu Hoảng vào nhà nói với họ Khương Đào Hoa đi bái sư tập võ, sắp về rồi. Điều này làm cho Tư Không Mã và Triệu Hoảng cảm thấy hết sức ngạc nhiên.
Chẳng bao lâu Khương Đào Hoa với bộ quân trang về, trông thấy Tư Không Mã và Triệu Hoảng, đầu tiên cảm thấy rất kỳ lạ, tiếp đó chợt nhận ra họ là ai.
Triệu Hoảng vui tới mức không nhịn được nói: “Sĩ biệt ba ngày nay nhìn bằng con mắt khác. Khương Đào Hoa hôm nay đã là hiệp phong sĩ cốt, khí thế hiên ngang”.
Tư Không Mã nói: “Đào Hoa cô nương, có thể biểu diễn vài chiêu để chúng tôi - vị khách từ nơi xa đến thưởng thức được không?”
Khương Đào Hoa vẫn đôi mắt trong sáng thanh tú mà hiền hòa chớp chớp ánh mắt e lệ, nói: “Đó không phải là góp chút tài hèn đức mọn!”
Triệu Hoảng hứng khởi, khích lệ nói: “Không sao, chúng ta bảo đảm không chê cười cô. Vị Tư Không đại ca này là người võ nghệ siêu quần, để anh ta chỉ đạo cho”.
Khương Đào Hoa nói: “Vậy thì cung kính chẳng bằng tuân mệnh”. Nói rồi cầm kiếm múa. Nhảy múa khua chém, đưa dao như rắn, hất dao nổi gió. Chỉ nhìn thấy mắt Tư Không Mã và Triệu Hoảng hoa lên, không chớp mắt. Triệu Hoảng tay múa chân đạp vỗ tay cổ vũ.
Khương Đào Hoa diễn tập xong một bộ đao pháp, Tư Không Mã nói: “Đào Hoa cô nương, cô đã mệt cả ngày rồi, mau ngồi nghỉ đi”.
Triệu Hoảng nói: “Tư Không đại ca, xin cho mấy lời bình luận”.
Tư Không Mã nói: “Đào Hoa cô nương, tập võ bao lâu rồi?”
Khương Đào Hoa đáp: “Hơn một năm rồi”.
Triệu Hoảng nói: “Lần trước chúng tôi đến vẫn chưa nhận ra, lúc đó phải cẩn thận sợ không khéo lại bị nếm mùi khổ”.
Tư Không Mã nói: “Một người con gái sau một năm luyện được thế này, không thể nói là giản đơn, xuất chúng nhưng cũng là tạo hóa tạo ra không phải người nào cũng có thể. Ở đây ngoài Đào Hoa cô nương khắc khổ tập luyện e rằng chỉ còn danh sư hướng dẫn”.
Khương Đào Hoa tự hào nói: “Tư Không đại ca, anh nói đúng sư phụ tôi là con cháu hậu duệ nước Tề mưu gia tôn binh, tên Tôn Áo. Sư phụ công danh thanh đạm ẩn dật nơi núi rừng. Nếu các anh muốn tôi có thể dẫn các anh tới bái kiến”.
Tư Không Mã luyến tiếc nói: “Đáng tiếc Đào Hoa cô nương, một cô gái yểu đệiu, anh hùng không có đất dụng võ!”
Khương Đào Hoa nói: “Tư Không đại ca, lời nói này là sai rồi! Trước đây cha và các đại ca múa súng vung dao tầm sư học võ. Tôi cũng theo tới, tai nghe mắt nhìn, chơi đùa theo. Từ khi cha và các đại ca bị giết ở Trường Bình, ta quyết chí báo thù rửa hận cho họ, đối với việc tập võ không dám sao nhãng. Tinh thông võ nghệ để giết quan nhà Tần, giết lính nhà Tần”. Chí hướng của Khương Đào Hoa khiến Tư Không Mã và Triệu Hoảng cảm động. Thấy Tư Không Mã và Triệu Hoảng mang nhiều lễ phẩm quý giá như vậy đến thăm cô, Khương Đào Hoa có phần thấy áy náy.
Triệu Hoảng vừa lấy trong túi đeo bên mình ngựa ra vật phẩm vừa nói: “Đây là 30 dật vàng có thể làm nhà dựng vườn; đây là lụa là gấm vóc có thể may áo may lĩnh; đây là phấn sáp dùng trang điểm, người cầu hôn sẽ liên tục không ngớt…” Một câu nói làm Khương Đào Hoa hai má ửng hồng, làm lạ hỏi: “Triệu đại ca, anh lảm nhảm cái gì đấy?”
Triệu Hoảng cũng phát hiện câu cuối của mình nói lung tung, tự trách nói: “Nói lảm nhảm, nói lảm nhảm!”
Lão Khương dùng cơm rượu đầy đủ để khoản đãi Tư Không Mã và Triệu Hoảng. Tư Không Mã thấy Triệu Hoảng cứ lúng túng, không để tâm đến rượu ngon canh ngọt mà cứ trân trân nhìn mặt ngọc da trắng và hai chỗ thịt gồ lên phía trước ngực của Khương Đào Hoa Dương, nghĩ bụng: “Thằng tiểu tử này đã chọn Khương Đào Hoa nhà người ta rồi”.
Uống xong rượu, Tư Không Mã thấy Triệu Hoảng cũng không đến phòng bà Khương xin phép hai người ra về mà có ý lưu luyến không muốn rời, nói chuyện trên trời dưới biển với Khương Đào Hoa Dương. Lúc nằm trên giường muốn ngủ nhưng không ngủ được, Tư Không Mã hỏi Triệu Hoảng: “Ngươi có phải đã chọn được Khương Đào Hoa rồi phải không, định lấy con người ta làm thiếp sao?”
Triệu Hoảng nói: “Cũng có ý đó”.
Tư Không Mã nói: “Bây giờ không được, chúng ta là đến để tạ ơn. Một khi nhắc tới chuyện này như là mưu đồ không chính đáng. Ngày mai đến sơn lâm bái kiến sư phụ của Khương Đào Hoa. Đơi mấy ngày xem thái độ của Khương Đào Hoa ra sao?”
Cũng giống như tất cả các vương tôn nản lòng, Dị Nhân để có được người bạn như Lã Bất Vi - vị thương gia giàu có này như vòng hào quang từ từ nâng lên trước quán trọ Liêu Cảng chiếu sáng bên trong cũng như bên ngoài lòng y. Sự hào hoa trượng nghĩa của Lã Bất Vi khiến y cảm động. Lã Bất Vi nhìn xa trông rộng khiến y khâm phục, Lã Bất Vi tài giỏi khiến y thấy đường tiền cảnh rạng rỡ phản Tần lập kế vị. Một khi rảnh rỗi, y liền nghĩ ngay đến cảnh tượng lúc được làm thái tử, thậm chí trở thành Tần Vương. Có khi trong lúc say, y nghĩ nếu như có một ngày y thực sự được lập làm kế vị phải luận công ban thưởng. Phải phong thưởng Lã Bất Vi thành tướng quốc hiển hách. Còn có một đày tớ Chu Kiểm, một lòng trung thành, vì y đã phải lo lắng, chịu khổ sở cũng phải phong hầu bái tướng. Thế hệ này vẫn còn con cháu của y đều có thể hưởng vinh hoa phú quý bất tận… Cũng chưa biết khi nào Lã Bất Vi mới đích thân sang Tần, kết quả đến Thành Dương thế nào? Vừa nghĩ tới đây, y lại cảm thấy một khung cảnh như hoa như gấm, một ảo tưởng hão huyền hiện ra. Có lúc y cũng do dự, một vị thiên tướng đặt nhiệm vụ lớn vào người này, có lúc lo lắng, có lúc như kiến ngồi trên nồi nóng.
Điều Dị Nhân quan tâm và mong ngóng nhiều nhất là Lã Bất Vi đi Thành Dương.
Thực ra, tâm trạng của Lã Bất Vi khi đến nước Tần còn căng thẳng hơn Dị Nhân.
Lã Bất Vi đợi Triệu Cơ về phủ bình an vô sự xong rồi hỏi lại chuyện cô mặc áo kim sa bị giam vào ngục ra sao, trong lòng đã hiểu được tám chín phần, cũng chỉ là việc ghen tuông, tranh giành giữa thê thiếp, ở nhà nào mà chả có! Là một đại trượng phu thì nên để việc to hóa nhỏ, việc nhỏ hoá không, giữ vai trò hoà giải.
Lã Bất Vi thấy trước khi đi phải dặn dò khách môn thê thiếp một lượt. Ông cảm thấy không tiện phân minh cuộc giành giật giữa Hoàng Phủ Kiều và Triệu Cơ. Ông nói với Triệu Cơ: “ Phủ Lã chúng ta được xem như là một đại gia lớn, người đông, lời ra tiếng vào, sau này cũng phải để tâm, ngủ cũng phải canh chừng. Thiếp là tiểu giả cũng nên chịu khổ một chút, chịu nhục để gánh vác trọng trách”. Lã Bất Vi đến bên Hoàng Phủ Kiều nói: “Ta tuy sang Tần, nàng là chính thiếp, là chủ gia đình, nên xử việc quang minh để mọi người phục theo”. Lã Bất Vi nói hết những gì cần nói rồi đến Liêu Cảng từ biệt Dị Nhân. Dị Nhân tìm bộ quần áo mà y và Chu Kiểm đã từng mặc đưa cho Lã Bất Vi nói: “Ngươi tới nước Tần, lành ít dữ nhiều, hãy mặc bộ quần áo này để tránh điều bất trắc và mới có thể vào được nơi cần vào.
Lã Bất Vi nói với Dị Nhân: “Cuộc chiến vừa qua, phong vận biến ảo khôn lường, Công tử điện hạ phải thận trọng, quyết không thể hồ đồ giương oai. Thần nhanh chóng đi rồi về, xin công tử điện hạ ngồi yên chờ tin lành”. Lã Bất Vi cầm phục sức vương tôn nước Tần mà Dị Nhân tặng cho trở về phủ. Ông chọn bốn con tuấn mã, lại đóng thêm đinh cho ngựa chuẩn bị đầy đủ những vật dụng, tiền bạc, ngày hôm sau gà vừa gáy sáng, Lã Bất Vi liền cùng Dương Tử lên đường.
Chỉ ở hai đêm trọ, Tư Không Mã cảm thấy ở chỗ Khương Đào Hoa thật buồn tẻ. Nhưng Triệu Hoảng do yêu quý Khương Đào Hoa nên lúc nào cũng vui mừng, trong lòng rất thoải mái, Tư Không Mã cảm thấy mệt mỏi rã rời. Có lúc trong người nguội lạnh, mệt mỏi, kiên quyết dừng lại giữa đường, không chịu đi, để Triệu Hoảng một mình đi cùng Khương Đào Hoa đến chỗ thầy dạy võ, để cho Triệu Hoảng và Khương Đào Hoa có cơ hội gần gũi. Họ cũng để tùy ý Tư Không Mã chứ không bắt ép phải đi theo. Tư Không Mã nhàn tản ngắm mây, trêu bọ ngựa, ngủ… đợi Triệu Hoảng và Khương Đào Hoa trở về, lại tiếp tục xuống núi cùng họ. Sáng nay, Triệu Hoảng và Khương Đào Hoa vừa đi được không lâu, Tư Không Mã thấy đói cồn cào bèn hái một quả dại nuốt chửng. Vừa có chút cảm giác vị đắng bỗng nghe thấy phía trước có tiếng binh khí, tiếng ngựa phi và tiếng người la hét, liền bật dậy, nắm chặt chuôi dao. Rất nhanh Khương Đào Hoa xuất hiện trước mặt Không Mã cùng với tiếng xào xạc của lau khao tử. Khương Đào Hoa thở hổn hển nói: “Tư Không đại ca, đi mau”. Tư Không Mã nói: “Đừng vội, nói từ từ”. Khương Đào Hoa cuống quýt: “Vừa nãy, tôi và Triệu Hoảng nhìn thấy một chiếc xe, người ngồi trên là Vương hầu của Tần Quốc, muốn giết chết. Không ngờ, thủ hạ của hắn ta thân thủ phi phàm, đánh một chập. Đại ca mau đi trợ chiến!”
Không Mã vội cùng Khương Đào Hoa đuổi theo. Nhìn thấy đằng xa một khu đất rộng rãi, ba người đang giao đấu quyết liệt. Tư Không Mã rút dao, xông lên trước, vừa định ra tay, bỗng ngây người há hốc mồm, người mặc sắc phục Tần vương tôn đó chẳng phải Lã Bất Vi sao? Tư Không Mã liền định thần, rõ ràng đích thị là Lã Bất Vi. Liền lớn tiếng hô: “Ngừng tay, mau ngừng tay!”. Hai bên giao đấu, bị tiếng hét của Không Mã khiến cho ngừng tay. Không Mã đặt dao xuống đất, quỳ bái trước mặt Lã Bất Vi, tạ lỗi nói: “Lã đại nhân, đã làm kinh động đến ngài!”. Lã Bất Vi nhìn thấy Không Mã, chợt bừng tỉnh hỏi: “Sao lại là ngươi? Sao ngươi lại ở đây?”. Tư Không Mã thở dài: “Chuyện dài lắm”. Triệu Hoảng và Khương Đào Hoa thấy vậy, đoán rằng Tư Không Mã và Lã Bất Vi có quan hệ rất thân mật. Sau khi nghe Tư Không Mã giới thiệu mới biết Lã Bất Vi là chủ của Không Mã, Không Mã là môn khách của Lã Bất Vi, vội vàng quỳ bái tạ tội.
Tư Không Mã hỏi Lã Bất Vi sao lại mặc sắc phục của Tần vương tôn mà đến đây. Sau khi Lã Bất Vi biết rõ thân phận của Triệu Hoảng và Khương Đào Hoa, cảm thấy không tiện trả lời Tư Không Mã trước mặt bọn họ. Lã Bất Vi nói lấp: “Ngươi hãy kể về ngươi trước đi”. Tư Không Mã thấy Triệu Hoảng ở đó cũng không tiện nói thật. Lại là Triệu Hoảng nhanh mồm nói: “Tôi và Tư Không Mã đều là có mệnh lớn, nếu không đã trở thành quỷ từ lâu rồi”. Triệu Hoảng và Khương Đào Hoa vừa nhìn thấy chủ nhân của Không Mã thì cũng không lên núi luyện tập nữa, trở về lều cỏ của Khương gia hâm rượu uống. Nhân lúc Triệu Hoảng và Khương Đào Hoa đều không có mặt, Lã Bất Vi kể cho Không Mã nghe chuyện mình đi Tần để lập kế hoạch cho Dị Nhân lên ngôi. Tư Không Mã hỏi: “Lã đại nhân, nói như vậy, từ nay về sau vận mệnh của chúng ta có quan hệ nơi Tần vương tôn Dị Nhân ư?”. Lã Bất Vi nói: “Đúng vậy. Tư Không Mã nay về sau chúng ta tập trung giúp sức cho Dị Nhân. Nhục cùng nhục, vinh cùng vinh. Con át chủ bài của chúng ta coi như đặt nơi Dị Nhân”. Tư Không Mã nói: “Tiểu nhân đã hiểu được ý đồ của Lã đại nhân. Đã thế, thì để tiểu nhân bảo vệ đại nhân đến Hoặc Dương”. Lã Bất Vi nói: “Ta và Dương Tử đến Hoặc Dương, dự tính cũng không có chuyện gì, chỉ là trong thành Hàm Đan xáo động không dứt, khiến ta lo lắng không yên”. Tư Không Mã nghe xong hiểu ra nói: “Thế tiểu nhân về Hàm Đan?”. Lã Bất Vi nói: “Ý ta cũng là như vậy. Sau khi ngươi về Hàm Đan, chủ yếu là đến chỗ Dị Nhân bảo vệ ông ta, đề phòng bất trắc. Có vài chuyện đợi ta trở về rồi hãy hay”.

CHƯƠNG IX
Đi Hoặc Dương


Gió thu xào xạc, kèm theo bụi cát ngoài hang núi, liên tục thổi vào cửa sổ xe ngựa Lã Bất Vi. Lã Bất Vi cuộn mình trên chiếu, nửa thức nửa ngủ lắng nghe tiếng gió từng trận từng trận thổi từ xa đến. Lã Bất Vi cùng Dương Tử đi về phía tây, sương lạnh gió bùng, vô cùng vất vả, cuối cùng cũng đi được vào lãnh thổ nước Tần. Vừ thấy thế giới của Tần quốc, Lã Bất Vi thêm phần phấn chấn. Mở rộng cửa sổ, nhìn ra xa Lã Bất Vi muốn ngắm xem cảnh tượng ánh sáng trên núi nước Tần chói lọi, phong thổ dân tình so với sáu nước láng giềng có gì khác biệt. Có sách sử ký đã miêu tả những cảm xúc của Lã Bất Vi trên đường đi như vậy. Vừa vào biên giới nước Tần, Lã Bất Vi liền nhận ra ở đây có rất nhiều khác biệt về phong thổ dân tình với các nước khác. Xe ngựa của Lã Bất Vi chạy chầm chậm dưới chân núi Hoa, đi vào con đường Bình Thư của Hoặc Dương. Bên phải là dãy Hoa Sơn sừng sững, bên trái là sông Hoàng Hà chảy xiết về hướng đông, cửa Hàn Cốc như một chiếc nút chai không chế con đường vào Tần. Nhìn về hướng tây, 800 dặm Tần Châu một dải hoang sơ. Dải núi phía nam cây cối um tùm những bạch đàn, tùng, trúc, trên bình nguyên trồng lúa, đại mạch… Giữa những vòm lá tiếng gà chó râm ran, trong nông trang kênh, mương có trật tự. Dù Lã Bất Vi là một thương nhân cũng có thể nhận thấy được Tần quốc là nơi đất đai phì nhiêu, sản vật phong phú. Trên đường đi, người dân Tần mà Bất Vi gặp đều giữ gìn được phong tục tốt, đối với việc nuôi trồng vô cùng cẩn thận, điều này khác hẳn với quê hương Bộc Dương của mình và Hàm Đan nơi đã từng đi qua. Người Tần không phù hoa như dân các nước khác, cũng không có nhiều người bỏ nghề nông theo nghề buôn, mà an phận cố thủ trồng lúa làm kế mưu sinh. Chỉ quan sát từ cách ăn mặc, người Tần cũng không như người nước Vệ, Triệu mặc lông thú, gấm nhẹ, mọi người mặc giản dị. Một Lã Bất Vi từ Hàm Đan phồn hoa, đô hộ đến, càng đến gần Hoặc Dương, cảm giác càng sâu sắc. Suốt dặm đường đến đây khiến ông càng có thêm cơ sở cho niềm tin tất thắng…
Trong bụi đường mù mịt, Lã Bất Vi nhìn thấy từ đằng xa hai mái vòm cung điện huy hoàng rực rỡ. Ông biết đó chính là cung Chương Đài nổi tiếng. Theo con đường càng rộng dần, những mái hiên nhà chạm trổ đã hiện ra ngày một rõ. Qua cầu Vị Thủy, liền vào đến Hoặc Dương. Lã Bất Vi cho ngựa chạy chậm, nhìn qua cửa sổ xe quan sát các cửa hiệu buôn bán hai bên phố. Xe ngựa của Lã Bất Vi đi xuyên qua dòng người xe đông đúc một cách khó khăn. Trong lòng Lã Bất Vi thốt lên: “Thành Hoặc Dương thật là một thủ đô phồn hoa, thịnh vượng! Thành Hàm Đan so với nó thật là một trời một vực”. Lã Bất Vi tìm đến một quán trọ tốt, nghỉ một đêm. Hôm sau đem theo tiền bạc, châu báu đi bái kiến Hoa Dương Quân. Vừa nghe ngóng đã biết được nơi ở của vị quốc cựu quyền uy lừng lẫy này. Theo sự chỉ đường, Lã Bất Vi và Dương Tử đã nhanh chóng đến được cung Hoa Dương. Lã Bất Vi vừa đến cổng toà cung điện xa hoa này, quân lính gác cửa mắt rất tinh, vừa nhìn đã nhận ra phục sức Tần vương tôn mà Lã Bất Vi mặc, trong lòng nghi ngờ “Ba mươi công tử con An Quốc Quân tôi đều biết hết, còn người quần áo đầy bụi đường này là ai?”. Lã Bất Vi tiến lên trước nói: “Chúng tôi từ Hàm Đan đến, có việc muốn gặp Hoa Dương Quân”. Quân lính thấy trang phục Lã Bất Vi mặc không dám chậm trễ, vội đi vào bẩm báo. Hoa Dương Quân tướng mạo tuấn tú đang tụ tập cùng các môn khách, ván cờ đang đến lúc then chốt, không để ý đến tên lính vào bẩm báo. Tên lính lại lên giọng bẩm báo: “Bẩm bên ngoài có một người mặc quần áo Tần vương tôn từ Hàm Đan đến”. Hoa Dương Quân quát tên lính: “Khốn nạn! Có mắt mà không có tròng, kẻ mặc quần áo Tần vương tôn, lại đến từ Hàm Đan thì có thể là ai? Đó không phải là Dị Nhân sao?”. Tên lính nói: “Dị Nhân thì tiểu nhân biết, người này chắc chắn không phải Dị Nhân”. Hoa Dương Quân cảm thấy lạ, chắc chắn là ông anh phong lưu dễ thành bản tính, An Quốc Quân ở ngoài còn có đến hai mươi tư, hai mươi nhăm người con sao? Bèn nói: “Đi, ta đi cùng ngươi xem”. Hoa Dương Quân ra đến cửa nhìn, quả đúng không phải Dị Nhân. Lã Bất Vi đoán rằng người đi cùng tên lính ra đây là Hoa Dương Quân rồi. Lã Bất Vi nói với Hoa: “Tôi là thương nhân buôn châu ngọc từ Hàm Đan tên là Lã Bất Vi, Tần công tử Dị Nhân nhờ tôi đến quý phủ, có chuyện muốn nói với Hoa Dương Quân”. Nghe thấy Lã Bất Vi nói vậy, Hoa Dương Quân liền mời vào phủ, đến phòng khách. Hoa Dương Quân thăm dò tình hình Dị Nhân, Lã Bất Vi nói: “Dị Nhân điện hạ ở Hàm Đan nhân hậu yêu người, ôn văn luyện võ, kết giao chư hầu, tạo dựng uy tín nơi các nước lân bang, được gọi là người quân tử nhân đức vẹn toàn”. Hoa Dương Quân kinh ngạc nói: “Ra là như vậy! Ta vẫn tưởng rằng sau cuộc chiến Trường Bình, Triệu Hiếu Thành Vương sẽ tức giận ông ta, ông ta sẽ phải sống những ngày khốn khó”. Lã Bất Vi nói tiếp: “Tuy vậy Dị Nhân điện hạ vẫn luôn tưởng nhớ người thân trong Hoặc Dương, đặc biệt là phu nhân An Quốc Quân, Hoa Dương còn nhớ mong nhiều hơn. Lần này nhờ tôi đến đây, còn đưa rất nhiều lễ vật cho Dương Quân”. Lã Bất Vi vừa nói xong, Dương Tử đem lễ vật bày ra trên án của Dương Quân. Hoa Dương Quân khen: “Tên Dị Nhân này, ở Hàm Đan mấy ngày, không chỉ hiểu biết lên nhiều lại còn biết thấu tình đạt lý nữa!”. Hàn huyên một hồi, Hoa Dương Quân hỏi: “Lã tiên sinh, Dị Nhân nhờ tiên sinh đến đây có việc muốn nói với ta, xin hỏi là việc gì vậy?”. Lã Bất Vi đưa mắt nhìn tên hầu đứng cạnh án, liếc nhìn Hoa Dương Quân có ý bảo họ ở đây không tiện nói. Hoa Dương Quân khoát tay nói: “Lã tiên sinh nói đi không có gì ngại cả”. Lã Bất Vi nói một cách trịnh trọng: “Tiểu nhân từ Hàm Đan đến chính là vì Hoa Dương Quân diệt trừ hoạ nạn!”. Hoa Dương Quân cười điềm nhiên nói: “Lã tiên sinh đừng nói quá, Hoa Dương Quân ta có hoạ gì chẳng nhẽ lại không tự biết sao? Ta là người bộc trực, thích nói thẳng. Quý thương gia nếu có việc gì thì cứ nói ra hết, hà tất phải quá thận trọng như thế”. Lã Bất Vi nói: “Hoa Dương Quân không biết mình đang lún sâu trong hố hoạ, đó chính là hoạ càng trầm trọng vậy”. Hoa Dương Quân xúc động nói: “Chẳng nhẽ thật thế?”. Lã Bất Vi nói: “Tiểu nhân sao dám bịa chuyện trước mặt Hoa Dương Quân đây?”. Hoa Dương Quân nói: “Thế thì được, mời quý khách nói xem ta có hoạ gì?”. Lã Bất Vi hỏi: “Hoa Dương Quân có bao nhiêu thê thiếp?”. Hoa Dương Quân đáp: “Chính thiếp một người, thứ thiếp ba người, thế phụ hai người, hầu thiếp mười người, cộng cả thảy mười sáu người”. Lã Bất Vi nói: “Danh chính ngôn thuận ngài có mười sáu người. Thế theo ngài biết, trong hai mươi ba người con của An Quốc Quân phi thiếp tổng cộng bao nhiêu người?”. Hoa Dương Quân trả lời: “Nhiều nhất cũng bảy, tám người”. Lã Bất Vi nói tiếp: “Thế tiểu nhân lại xin hỏi Hoa Dương Quân, thành phủ Hoa Dương có bao nhiêu trĩ (tường cao một trượng, dài ba trượng thời xưa). Hoa Dương Quân đáp: “Hai trăm trĩ”. Lã Bất Vi hỏi: “Hai mươi ba người con của An Quốc Quân, tường thành phong ấp dài nhất là bao nhiêu?”. Hoa Dương Quân đáp: “Không quá trăm trĩ”. Lã Bất Vi hỏi: “Hai mươi ba người con của An Quốc Quân, có người nào bái quân phong hầu không?”. Hoa Dương Quân đáp: “Không có ai bái quân phong hầu”. Sau khi hỏi han một hồi, Lã Bất Vi nói khái quát lại: “Mỹ phi, thành ấp và quyền thế của Hoa Dương Quân, cả ba này đều là hoạ của ngài đó!”. Nghe Lã Bất Vi nói vậy, Hoa Dương Quân như trút được gánh nặng, thở phào một cái, điềm nhiên nói: “Cầu được nhiều mỹ sắc, muốn thành ấp lớn rộng, mong quyền thế càng cao, là việc thường tình của con người, sao lại gọi là hoạ!”. Lã Bất Vi nói: “Những điều Hoa Dương Quân nói rất phải, mong muốn những thứ đó là việc thường tình. Thế hai mươi ba người con của An Quốc Quân, có ai là người không cần nhiều người đẹp, muốn sự to lớn của thành ấp, không ham quyền cao chức trọng? Tuy nhiên, lại có người nào sánh kịp Hoa Dương Quân ngài! Điều này là sao?”. Hoa Dương Quân bị hỏi đến nỗi mệt không buồn nói. Lã Bất Vi nói: “Tha lỗi cho tiểu nhân nói thẳng. Trừ phi chị của ngài, phu nhân Hoa Dương độc chiếm được sự sủng ái và tin tưởng của An Quốc Quân, ân trạch đến ngài. Như ngạn ngữ nói: sao đi theo trăng, đó là mượn danh người tốt mà được thơm lây. Sau khi An Quốc Quân nghìn thu, con trai ông ấy có quyền thế trong taycó thể bỏ qua ngai không? Một khi Hoa Dương phu nhân già cả tiều tụy, không được sủng ái, ngài sẽ dựa vào điều gì để nắm giữ mỹ sắc, thành ấp và quyền thế đây? Những thứ đó đều sẽ biến mất, trọng tắc thế nào Hoa Dương Quân chẳng nhẽ không rõ hơn tôi sao?”. Những lời nói sắc sảo của Lã Bất Vi làm rung động cả Hoa Dương Quân. Hoa Dương Quân lúc đầu ngồi nghe chăm chú, tiếp đó gật đầu tán đồng, cuối cùng ngồi ngây trên ghế, không rét mà run. Hồi lâu mới nói: “Lời quý thương gia nói có lý. Thế thì làm sao mới khiến ta chuyển hoạ thành phúc đây?”. Thế là Lã Bất Vi đem trình bày kế hoạch lập Dị Nhân làm thái tử, cuối cùng nhấn mạnh: “Hoa Dương phu nhân nhận Dị Nhân làm con nuôi, một khi Dị Nhân trở thành Tần Vương, thì Hoa Dương phu nhân trở thành quốc mẫu, Hoa Dương Quân ngài sẽ là quốc cựu, họ tộc Hoa Dương liệu có còn hoạ gì nữa đây?”. Hoa Dương Quân hỏi: “Quý thương muôn thực hiện một kế hoạch đại nghiệp lớn như vậy, có cơ sở thắng lợi không?”. Lã Bất Vi nói: “Quan trọng là xem ý của chị ngài Hoa Dương phu nhân”.
Dưới ánh sáng bóng như men, tất cả cảnh vật trong thẩm cung Hoa Dương phu nhân đều biểu hiện lên rõ mồn một. Cảnh gây sự chú ý nhất chính là trên gương, An Quốc Quân và Hoa Dương phu nhân không một mảnh vải che thân. Cho dù mặt trời đã lên cao ba sào, nhưng vị thái tử này cùng ái phi vẫn như hai con rắn lột xác, quấn chặt lấy nhau. Doanh Trụ tỉnh dậy trước tiên, cả đêm mây mưa với Hoa Dương, khiến anh ta sung sướng đến mệt nhoài. Ánh mắt tình tứ phóng đãng quét khắp cơ thể Hoa Dương phu nhân, trong lòng tán thưởng tự nhủ: “Thật tuyệt, những chỗ cần nở đều nở…”. Thưởng thức một hồi, anh ta vắt chiếc chăn đang phủ trên chân, đắp lên người Hoa Dương phu nhân và mình. Sau đó lại như con đỉa bám hút trên làn da. Động tác của Doanh Trụ làm Hoa Dương phu nhân tỉnh giấc, ngáp một cái nói: “Ôi, trời sáng rồi, dậy đi”. Doanh Trụ nói: “Không vội, ngủ cùng ta một lúc nữa”. Hoa Dương phu nhân nói vẻ không vui: “Khi ngủ cần thiếp, lời thiếp nói đều biến thành gió thổi qua tai rồi”. Doanh Trụ nói: “Ôi, ái phi của ta, sao nàng lại nói thế. Đừng nói lời nàng nói mà chỉ cần nàng thở nhẹ thôi cũng khiến ta xoay đầu chuyển hướng!”. Hoa Dương phu nhân hỏi: “Thiếp xin cho Hoa Dương Quân Kinh Thành mà đoạt được của nước Sở để làm phong ấp đã lâu rồi? Cứ như bọt biển vậy, chẳng có chút tin tức gì!”. Doanh Trụ nói: “Nước Tần có bao nhiêu thành ấp, không giữ chặt Kinh Thành không được? Có bao nhiêu công tử đang nhìn vào”.
Hoa Dương phu nhân nói: “Mảnh đất đẹp như vậy, ai không thèm. Thiếp đã nói với chàng rồi, Hoa Dương Quân không cần ấp nào khác, chỉ cần Kinh Thành thôi!”. Doanh Trụ nói: “Ta biết rồi”. Hoa Dương phu nhân nói: “Thế đợi đến lúc nào mới đến tay?”. Doanh Trụ nói: “Chốc nữa dậy, ta đến chỗ phụ vương một lần nữa cầu xin cho Hoa Dương Quân”. Hoa Dương phu nhân dậy, sau khi cung nữ chải đầu vấn tóc xong đột nhiên kêu đau đầu chóng mặt, chân tay rã rời. Doanh Trụ cho gọi ngự y đến xem mạch, nói là trúng phong hàn, kê đơn bốc thuốc. Cung nữ bê đến một bát nước quả vải, Hoa Dương phu nhân không uống nổi. Doanh Trụ lại đích thân bê đến trước mặt, trìu mến nhẹ nhàng nói: “Uống một chút đi, không uống gì không chịu được đâu”. Hoa Dương phu nhân bực bội gạt tay áo, chiếc cốc nước vải bằng hổ phách trên tay Doanh Trụ rơi xuống đất, vỡ vụn. Hoa Dương phu nhân nói trong lòng phiền muộn, bảo các cung nữ đều lui ra. Có cung nữ sợ run bắn không dám bước, Doanh Trụ hét: “Các ngươi đều điếc hết hay sao, phu nhân chẳng bảo các ngươi lui ra hết ư?”. Mấy cung nữ vội như gió cuốn, lui ra ngoài. Hoa Dương phu nhân nói với Doanh Trụ: “Thái tử điện hạ cũng không cần phải ở đây, để một mình thiếp yên tĩnh”. Doanh Trụ nói: “Phu nhân tĩnh dưỡng một chút đi, ta đến chỗ phụ vương cầu xin cho Hoa Dương Quân Kinh Thành phong ấp”. Hoa Dương phu nhân sở dĩ được sự sủng ái của thái tử An Quốc Quân, trong cung có toàn quyền không ai sánh kịp, ngoài sắc thái phương phi, vẻ đẹp mĩ miều còn do nàng và Tuyên thái hậu quyền trọng một thời của nước Tần, đều là thành viên gia tộc Mễ Thị nước Sở. Tuyên thái hậu là một người phụ nữ nắm quyền lực và phóng đãng nhất trong lịch sử Trung Quốc cổ đại. Bà là hậu duệ của quý tộc nước Sở, lấy Tần Huệ Văn Vương, trở thành một người không mấy nổi bật trong đám phi tử. Huệ Văn Vương, chính là người đã cho xé xác Thương Ương. Tuy ông hết sức căn ghét Thương Ương nhưng cũng hết sức tán đồng biến pháp “phú quốc cường binh” của Thương Ương. Sau khi Tần Hiếu Công chết, ông tiếp tục như cha mình dốc sức tiến hành biến pháp cải cách chính trị, không giống như biện pháp vô hiệu của các nước chư hầu bấy giờ. Huệ Văn Vương năm 337 trước công nguyên lên ngôi vua. Hai mươi bảy năm sau nhường ngôi. Trong thời kỳ này liên tiếp cải cách chính trị của Tần Hiếu Công. Ngoài việc chiếm lĩnh và khai khẩn ngày càng nhiều các vùng đất, còn chú trọng thu hút sự văn minh tiên tiến của các nước láng giềng, cải biến những tập tục lạc hậu vốn có của nước Tần. Trước khi có biến pháp Thương Ương nước Tần là nước bế quan tỏa cảng, nghèo nàn lạc hậu, bị các nước chư hầu ở Trung Nguyên gọi là “Nhung Địch”. Sau khi thực hiện biến pháp Thương Ương, nước Tần dần trở nên cường thịnh. Pháp lệnh tiến bộ của nó đã thu hút các trí thức đương thời, “kẻ sĩ” môn đồ bách gia đều muốn đến Tần, nước Tần cũng mở rộng cửa chiêu hiền nạp sĩ, có một loạt các nhà quân sự, chính trị, tư tưởng, lữ thuyết, văn học cùng những kẻ lưu manh, lừa đảo… vàng thau lẫn lộn đều tụ tập đến Hoặc Dương. Trong đó không ít người chân tài thực học, văn thao võ lược, đóng góp nhiều cho sự hưng thịnh của nước Tần. Như khoa học Trương Nghi, phục Hoàng Hanh nhân vật đại biểu cho Mặc gia. Các trường phái “Sĩ” có đầy đủ kiến thức và tư tưởng tiên tiến, như một làn gió mới trong lành thổi khắp 800 dặm Tần Châu. Trong sự văn minh tiên tiến mang màu sắc phương đông này, sự lạc hậu bảo thủ vốn có của nước Tần đã dần bị thay đổi và biến mất. Do Tần Hiếu Công Huệ Văn Vương cùng các quốc vương thúc đẩy chỉ đạo trào lưu cải cách, Tuyên thái hậu và người thân trong gia tộc là Hoa Dương phu nhân cũng đương nhiên trở thành nhân vật tiên phong. Trong cuộc sống nơi hậu cung buồn tẻ của Mễ Bát Tử, Doanh Trắc là một trong ba người con bà sinh ra, đã đặt nền móng vững chắc cho ngôi vị chính cung vương phi cho bà. Vũ Vương do Huệ Văn Vương chính cung phi tử sinh ra đã chết sớm, theo tông pháp nước Tần, ngôi vua do Doanh Trắc, con trai cả do Mễ Bát Tử sinh ra sẽ kế thừa, ông chính là cha đẻ của Dị Nhân, Tần Chiêu Tương Vương nổi tiếng.Năm 325 trước CN, Tuyên thái hậu bế đứa con, vừa đầy 10 tuổi lên điện, bà hiểu rõ mình đã đối mặt với thời kỳ hạnh phúc nắm quyền thế trong tay. Rất nhiều nhà sử gia khi nói đến chuyện Tuyên thái hậu buông rèm chấp chính, trị nước an dân thường ví với Lã hậu, Võ Tắv Thiên, cho rằng bọn họ là khởi đầu tạo dựng sự nghiệp của tổ tông, kỳ thực đối với ngôi vị nữ vương, Tuyên thái hậu sớm đã đăng quang.
Nghĩa Cừ, là một nhánh dân tộc du mục phía tây nước Tần, dân tộc này tuy lạc hậu hơn Tần, nhưng do sự thiện chiến mà từ lâu đã có thể trở thành thù địch của nước Tần. Thời Hiếu Công, Huệ Văn Vương, Võ Vương đều đã gặp nhiều tổn thất trước sự tiến công của quân đội Nghĩa Cừ. Đến khi Chiêu Vương kế vị, Tuyên thái hậu chấp chính, khi vua Nghĩa Cừ đến thủ đô Tần quốc là Hoặc Dương triều kiến Chiêu Vương mới lên ngôi, Tuyên thái hậu vẫn đầy sức sống đã cấu kết với Nghĩa Cừ vương. Cũng có thể những năm tháng dài là quả phụ trong thâm cung đã khiến Tuyên thái hậu thèm một hơi hướng đàn ông, hoặc là Nghĩa Cừ vương tuấn tú khôi ngô quả thực đã thu hút thiếu phụ xinh đẹp này, đôi tình nhân dị tộc này công khai thông dâm trong thời gian dài hơn ba mươi năm, sinh được hai con trai. Trong thời gian đó, Nghĩa Cừ vương mải mê hạnh phúc cũng dần mất đi dã tâm đánh Tần, còn Tuyên thái hậu sau khi thỏa mãn cũng không hề có ý phòng thủ với Nghĩa Cừ vương. Do vậy trong ba mươi năm, nước Tần và Nghĩa Cừ không xảy ra chuyện gì.
Đến năm 272 trước Công nguyên, Tuyên thái hậu đã bảy mươi tuổi, Nghĩa Cừ vương không ham muốn tấn công Tần, cũng không phòng ngừa với Tần nữa. Nhân cơ hội Nghĩa Cừ không đề phòng, Tuyên thái hậu bất ngờ phát động tấn công dân tộc của người tình, kết quả một Nghĩa Cừ hùng mạnh trong nháy mắt bị đánh bại, quân Nghĩa Cừ đã từng uy hiếp sự an nguy bốn phía của Tần quốc cuối cùng đã bị tan rã dưới kế mĩ nhân của Tuyên thái hậu, khiến người ta kinh sợ.
Có một lần, sứ thần nước Hàn đến Tần quốc cầu viện. Lúc đó Tuyên thái hậu vẫn còn đang buông rèm nghe chính sự, trực tiếp đàm phán với sứ thần nước ngoài, đây là điều rất hãn hữu. Càng ngạc nhiên hơn nữa, trong khi đàm phán, Tuyên thái hậu điềm nhiên lấy ví dụ so sánh từ việc chăn gối của mình để mặc cả với sứ thần nước Hàn.
“Ta và tiên vương khi ân ái, tiên vương đem cả cơ thể mình đè lên người ta, ta không hề cảm thấy nặng. Thế là tại sao?”. Bà tự chất vấn nói, sắc mặt không chút ngượng ngùng: “Đó là bởi vì có lợi cho ta, ta cảm thấy toàn thân rất dễ chịu”. Sứ thần nước Hàn trợn mắt, há hốc mồm, không nói được câu nào, không biết vị thái hậu này định nói gì. Nhưng mà Tuyên thái hậu nói tiếp: “Khi tiên vương không ân ái với ta thì đó chính là một cái chân nặng nề đè lên người ta, ta cảm thấy không thể chịu nổi”. Nói đến đây sứ thần nước Hàn hoàn toàn hiểu rõ: Nếu không có lợi cho nước Tần, nước Tần sẽ không cứu viện nước Hàn. Cuộc thương thuyết này kết quả ra sao không cần phải nói.
Thái hậu cuối cùng cũng hiên ngang tuyên bố với sứ giả nước ngoài về cảm xúc tình yêu của mình. Những lời lẽ này quá là hạ lưu thấp hèn chăng? Hay để khai thông trước? Nhưng kết quả đàm phán thì nước Tần vẫn chiếm ưu thế.
Vị Tuyên thái hậu phong lưu mà bạo gan này cũng là một bà lão sống lâu. Mãi cho đến năm 42 Tần Chiêu Vương Dị Nhân đến Hàm Đan làm con tin, mới lưu luyến từ giã trần thế. Đến lúc sắp chết, vị thái hậu phong lưu một đời vẫn còn tơ tưởng không quên được người đàn ông được bà sủng ái tên là Nguỵ Sửu phu. Khi sắp lìa cõi đời, bà còn có một nguyện vọng là muốn Ngụy Sửu phu phải được tuẫn táng theo mình, lúc này nước Tần đã sớm phá bỏ tục lệ này, điều này đã khiến Chiêu Vương thấy rất khó xử. Nguỵ Sửu phu cũng cảm thấy rất sợ hãi, đang không biết làm thế nào để giải nguy cho mình, thì đại thần Dung Nhuế thông minh đã nghĩ ra một kế giải vây.
Dung Nhuế rất cung kính hỏi nhỏ bên tai Thái hậu: “Thái hậu có cho rằng người ta sau khi chết còn có cảm giác không?”. “Đương nhiên là…”. Thái hậu cố lấy sức thều thào nói tiếp: “… không có cảm giác rồi”.
“Thái hậu anh minh”, Dung Nhuế vội tiếp lời “Với sự minh mẫn của Thái hậu như vậy, đã biết rõ là người chết không có cảm giác gì, thì hà tất để người mà Thái hậu thương yêu phải đi hầu một cái xác không hồn?”
Hơn nữa, thấy Thái hậu không có phản ứng gì, Dung Nhuế lại nói tiếp nhưng lời nói này rất khó nghe: “Nếu người chết còn có tri giác, thì nỗi tức giận xưa tiên vương tích tụ bao ngày đối với Thái hậu không nhỏ. Sau khi Thái hậu băng hà, thái hậu cần phải cẩn thận, tiên vương sẽ tìm thái hậu để tính sổ, lúc đấy hối hận cũng không kịp, đâu còn có cơ hội để ân ái cùng Ngụy Sửu phu đây?”
Thái tử, Quý phi và các đại thần đứng bên giường Thái hậu nghe những câu nghịch tai của Dung Nhuế nói với Thái hậu mà khiếp đảm, không biết là Thái hậu có phẫn nộ không, không chắc tính mệnh của Dung Nhuế vì thế mà đi đời, không khí trở nên nặng nề. “Được…” chỉ nghe được một từ phát ra từ miệng Thái hậu đã kiệt sức, rốt cuộc thì từ “được” lá có ý gì? Dung Nhuế nói đúng hay không còn cách nào đành phải tùy ý các khanh mà làm đây?
Thái hậu cuối cùng cũng phải từ bỏ ước muốn đem theo Ngụy Sửu phu tuẫn táng cùng với mình, thở dài buồn rầu. Ngụy Sửu phu đáng thương cuối cùng được cứu sống, mọi người ở đấy cũng thấy nhẹ nhõm.
Hoa Dương phu nhân lớn lên dưới sự dạy dỗ của vị Thái hậu phong lưu, mạnh mẽ này. Có chỗ dựa như vậy, thêm vào đó lại là thiếu nữ trẻ trung, xinh đẹp rất có thể sẽ thừa hưởng những tính cách và tiểu kế của Thái hậu.
Lúc này Hoa Dương phu nhân cùng với Cương Tài Phán vừa đi đến cửa Loan Minh Các đứng dựa vào cột hành lang, ngước mắt nhìn như đang trông đợi điều gì. Đúng thật, Hoa Dương phu nhân đang đợi một cỗ xe. Một cỗ xe phủ rèm sang trọng được bốn con ngựa kéo, lộc cộc tiến vào hậu cung, dừng lại trước cửa Loan Minh Các.
Hoa Dương Quân từ trên xe bước xuống, rồi vén màn mời bà thầy mo xem bệnh xuống xe dẫn vào trong Loan Minh Các, Hoa Dương Quân giới thiệu với Hoa Dương phu nhân bà thầy mo này: “Chị, vị này là một thương gia đến từ Hàm Đan, tên là Lã Bất Vi”.
Thì ra, Hoa Dương Quân nghe Lã Bất Vi giảng một lượt, đứng ngồi không yên, cảm thấy quyền lợi của mình và chị mình sắp bị đe doạ, hắn vội đến Loan Minh Các dụng ý đưa Lã Bất Vi đến Hoặc Dương và những lo lắng của mình nói với Hoa Dương phu nhân, dường như Hoa Dương phu nhân không tin tưởng lắm. Hoa Dương Quân nói với chị, nếu chị nghe những lời Lã Bất Vi nói thì chị sẽ thấy những lời tiên đoán của ông ta thật kỳ diệu.
Hoa Dương phu nhân nói: “Vậy thì ngày mai ngươi hãy mời ông ta vào đây gặp ta”. Cung cấm trong triều rất nghiêm ngặt, những kẻ bình thường quyết không thể tuỳ tiện vào hậu cung được. Thế là, Hoa Dương Quân cùng với Hoa Dương phu nhân bàn mưu kế, Hoa Dương phu nhân gải vờ bệnh, sau đó Hoa Dương Quân dùng cỗ xe ngựa có phủ rèm của Hoa Dương phu nhân đưa Lã Bất Vi mặc giả nữ vào cung Loan Minh Các.
Lã Bất Vi không bỏ lỡ thời cơ cống hiến một số đồ lễ mang từ Hàm Đan cho Hoa Dương phu nhân, sau đó dùng lời lẽ nịnh bợ thêm mắm thêm muối vào là Dị Nhân phải tằn tiện thế nào ở Hàm Đan để dành tiền mua lễ vật biếu Hoa Dương phu nhân, nào là Dị Nhân sống nhân nghĩa, đều được các chư hầu khen ngợi.
Vì vậy, Hoa Dương phu nhân cũng có ấn tượng tốt với Dị Nhân. Nhưng Hoa Dương phu nhân đối với chuyện này không hứng thú lắm liền chuyển đề tài nói: “Ta nghe Hoa Dương Quân nói, ngươi rất lo lắng cho vận mệnh trong tương lai của chị em ta phải không?”. Lã Bất Vi đáp: “Vâng, thưa phu nhân”.
Hoa Dương phu nhân hỏi: “Lo lắng chuyện gì?”
Lã Bất Vi không giống như kẻ du thuyết bình thường, không khoa môi múa mép, ví von úp úp mở mở mà nói thẳng thừng: “Tôi lo có ngày phu nhân sẽ già, tiền tài và quyền lực của chị em phu nhân cũng sẽ không còn”.
Hoa Dương phu nhân vẫn chưa rõ hỏi: “Tại làm sao lại như vậy?”
LÃ BấT VI nói: “Tất cả đều dựa vào tài mạo sắc đẹp của phu nhân đã mê hoặc An Quốc Quân”.
Hoa Dương phu nhân gật đầu: “Đúng vậy”.
Lã Bất Vi nói: “Tôi nghĩ, phu nhân cũng hiểu rõ một đạo lý là những kẻ ham sắc, thì khi sắc đẹp phai tàn, thì tình cũng phai nhạt theo, một khi An Quốc Quân không còn sủng ái phu nhân nữa, thì phu nhân và gia tộc có còn trụ vững ở nước Tần này không?”
Hoa Dương phu nhân hỏi lại: “Đại Vương làm sao lại không sủng ái ta nữa?”
Lã Bất Vi hỏi: “Hoa Dương phu nhân có phải là vị phi tử đầu tiên của An Quốc Quân không?”
Hoa Dương phu nhân đáp: “Không phải”.
Lã Bất Vi hỏi: “An Quốc Quân có còn qua đêm ở chỗ phi tử thứ nhất nữa không?”
Hoa Dương phu nhân đáp: “Không hề đến nữa rồi”.
“Còn sủng ái cô ta không?”
“Rất lạnh nhạt với cô ta”.
“Vậy xin hỏi phu nhân là vì lẽ gì?”
“Cái này…”.
“Điều đó thì quá rõ rồi phải không, cô ta đã già rồi, phu nhân xinh đẹp, trẻ trung hơn cô ta, vì vậy An Quốc Quân không sủng ái cô ta mà lại sủng ái phu nhân. Vậy thì phu nhân có đảm bảo rằng mình sẽ trường sinh bất lão, trẻ mãi không già không?”
Hoa Dương phu nhân nghe lời nói vang dội, có sức thuyết phục như vậy cũng phải gật đầu suy nghĩ.
Hoa Dương Quân thừa cơ nói: “Lời của Lã Bất Vi thật chính xác, đúng là những lời vàng ngọc giúp chị em ta giải họa tạo phúc. Thưa chị, một khi chị đã già, thì số mệnh của chúng ta cũng không lường được. Bây giờ nhân lúc Đại Vương sủng ái một mình chị, còn nghe lời chị, chị hãy chọn một trong hai mươi ba hoàng tử nhận làm con nuôi khuyên An Quốc Quân lập thái tử. Có như vậy khi Đại Vương băng hà, chi em chúng ta quyền cao không ai bì. Sau khi Đại Vương nàgn thu, thì người làm vua là con trai trung hiếu của chị, chẳng phải lúc ấy quyền của chúng ta càng thêm vững chắc sao? Nếu chị nhân lúc Đại Vương sủng ái làm thành công chuyện này thì hưởng phúc mãi mãi, ngược lại đợi đến khi sắc tàn tình phai, sức suy lực kiệt, Đại Vương không ngó ngàng gì đến thì còn thực hiện được theo ý nguyện của chị được không?”
Hoa Dương phu nhân nói: “Nghe hai vị nói cũng có lý, rất có sức thuyết phục, đã khiến ta như tỉnh cơn mê, vậy không biết là vị hoàng tử nào?”
Hoa Dương phu nhân vẫn chưa nói hết, Hoa Dương Quân vội vàng ngắt lời: “Còn do dự gì nữa, Dị Nhân rất thích hợp”.
Lã Bất Vi nói: “Dị Nhân luôn một lòng tưởng nhớ đến Đại Vương và phu nhân, Dị Nhân tự biết mình không phải là con trưởng, mẹ là Hạ Cơ cũng không được Đại Vương sủng ái, rất muốn được nương nhờ ở cửa phu nhân, tình nguyện được làm con trai của phu nhân, để tương lai được một chỗ đứng trong triều. Phu nhân hãy nhân cơ hội này khuyên Đại Vương lập Dị Nhân làm thái tử, sau này có thể giải trừ được nỗi lo của chị em phu nhân rồi”. Hoa Dương phu nhân nói chắc như đinh đóng cột: “Được”.
*
* *
Tư Không Mã tâm tư ngổn ngang đứng một lúc ở đại môn Lã phủ. Mọi người đều cho rằng chàng đã chết ở Trường Bình, sao hôm nay lại hồi sinh quay về đây được? Còn Triệu Cơ tối hôm trước khi sắp ra đi, vui vầy cùng chàng một đêm, còn bao nuối tiếc. Nàng sẽ dõi ánh mắt trông chờ chàng không? Nắng thu không gay gắt như ánh nắng mùa hạ, làn gió thu như đang vuốt lên khuôn mặt đỏ gay của chàng Tư Không Mã. Chàng đẩy cánh cửa vẫn đỏ tươi như trước đây, mang theo cả cái bóng và luồng gió hiu hiu vào theo.
Tư Không Mã nhìn một lượt gian phòng, lối đi, giếng nước, mọi nơi với ánh mắt thân quen ấm áp. Mọi thứ vẫn như cũ, mấy bụi dâu trước đây râm ran tiếng ve, nay đã thưa thớt. Những chiếc lá dâu màu vàng rơi lả tả. Tư Không Mã nghĩ đến đây tự hỏi, đây chính là “phiêu linh” sao? Mấy môn khách và bọn nô bộc đi từ trong đình ra, lúc đầu không ai để ý đến con người từ chỗ phiêu linh trở về.
Bỗng nhiên, từ Tiền Đình phát ra tiếng hét thất thanh của người nào đó “Có ma”. Nghe thấy tiếng kêu này, mọi người đổ xô ra sân, sững sờ khi trông thấy Tư Không Mã đứng dưới cổng.
Anh ta chẳng phải đã chết rồi sao. Lã Bất Vi vừa lập ban thờ cho anh ta, làm sao anh ta lại có thể xuất hiện được? “Đúng là ma, có ma”. Mọi người lần lượt kêu lên rồi chạy vào trong nhà trốn, sợ sệt giương mắt nhìn Tư Không Mã. Tư Không Mã cảm thấy rất kinh ngạc, sau đó hiểu ra, liền tiến lên một bước, cười lớn nói: “Làm gì có ma quỷ nào. Tôi là Tư Không Mã đây!”
Có người nói: “Không đúng, ngươi không phải là Tư Không Mã, là ma”. Để phòng “ma” đột nhiên xông đến, rất nhiều người vác cung, kiếm, gậy gộc ra. Không rõ tiếng ai hét lên: “Hãy dùng tên bắn chết con ma này đi”. Tư Không Mã vội nhảy tránh vào cái hốc ở cửa kêu lên: “Đừng bắn, đừng bắn”.
Triệu Cơ ở sau vườn, nghe có người hô lên có quỷ, liền chạy ra. Diện mạo và xiêm y nàng mặc vẫn đẹp như trước. Nàng thướt tha trong làn gió thu nhè nhẹ, hỏi xong mới biết là đã xảy ra chuyện gì. Nàng nghĩ lại, trứoc khi Lã Bất Vi đi Hoặc Dương đã dặn: “Mọi việc đều cần phải thận trọng, khi ngủ cũng cần phải mở một mắt”. Nàng thấy chuyện này thật lạ, giữa thanh thiên bạch nhật làm sao lại có quỷ được đây? Nếu đúng là có ma, thì trốn cũng không thoát được,sợ cũng chẳng ích gì, nghĩ vậy nàng liền kêu lên: “Ai là ma thì hãy ra đi, ta muốn hỏi ngươi, đừng sợ, chúng ta sẽ không hại ngươi đâu!”
Tư Không Mã vừa nghe thấy tiếng của Triệu Cơ, vô cùng cảm động liền nhảy ra, ngẩng cao đầu nói: “Triệu Cơ, ta không phải là ma, ta là Tư Không Mã”. Triệu Cơ lại hỏi: “Ngươi là Tư Không Mã ư? Chẳng phải Tư Không Mã đã bị quân Tần giết chết ở Trường Bình rồi sao?”
Thế là Tư Không Mã cất cao giọng kể lại việc chàng ở Trường Bình làm thế nào thoát chết, cùng với Triệu Hoảng đi tạ ơn Khương Đào Hoa ra sao, rồi làm sao gặp được Lã Bất Vi và Dương Tử. Triệu Cơ nghe xong thấy hợp tình hợp lý. Nàng đã nghe nói: “Ma thì không có bóng, chỉ có người mới có bóng”. Nàng liền bảo Tư Không Mã: “Nếu ngươi nói ngươi là Tư Không Mã, là người thì phải có bóng, ngươi qua đây ta xem”. Tư Không Mã tiến lại, trông thấy rõ cái bóng của mình dài ra rõ ràng trên mặt đất. Mọi người hồi hộp thò đầu ra nhìn theo cái bóng của Tư Không Mã di động trên mặt đất. Triệu Cơ mạnh dạn tiến lại gần, nhìn cái bóng di chuyển theo Tư Không Mã để phán đoán là người hay là ma.
Nàng nhìn rõ cái bóng đem của Tư Không Mã in trên nền đất, sau đó nhìn rõ khuôn mặt quen thuộc, đôi mắt đã từng nhìn nàng chan chứa tình cảm. Chàng làm sao là ma được, chàng nhất định là Tư Không Mã rồi!
Tư Không Mã nói: “Triệu Cơ, ta không phải là Tư Không Mã sao? Ta là Tư Không Mã, tất cả những gì xảy ra trước đây ta đều nhớ rất rõ”. Triệu Cơ hỏi: “Vậy ta hỏi ngươi, cái đêm trước khi ngươi đi Trường Bình ngươi đã ở đâu, làm gì?”. Tư Không Mã có phần xấu hổ nói: “Triệu Cơ, nàng đừng hỏi nữa, có những chuyện tình cảm thật khó nói ra”.
Câu nói này đã chứng minh Tư Không Mã nhớ tất cả những gì xảy ra trong đêm đó. Triệu Cơ xúc động, nghẹn ngào nói: “Mọi người hãy ra đi, Không Mã đại ca của chúng ta đã trở về rồi”.
Sau khi gặp lại mọi người trong Lã phủ, Tư Không Mã liền đến Liêu Cảng gặp Dị Nhân. Tư Không Mã nhìn kỹ Dị Nhân một lượt, nghĩ đúng là người không thể nhìn tướng mạo xét đoán, nước biển cũng không thể dùng đấu để đong. Người này hai hàng lông mày không tập trung, mắt thì lồi đúng là Tần vương tôn rồi, Lã Bất Vi đã dặn chàng, phải bảo vệ người này. Dị Nhân và Chu Kiểm thấy Tư Không Mã đến thì rất vui mừng, nét mặt tỏ vẻ hân hoan, hơn nữa cũng đỡ cảm thấy cô đơn. Sau lần Dị Nhân bị làm nhục, không dám ra ngoài sợ lại gặp phải phiền phức mới. Bọn họ chỉ mỗi một việc là chơi cờ, lúc đầu là hai người, sau đó là ba người, có lúc gọi cả Công Tôn Càn đến làm vài ván, hai người “giết nhau”, hai người ở ngoài xem “chiến”. Kỳ thực Tư Không Mã không có hứng thú cờ vây nhưng vì ở nhà trọ cả ngày lại không có trò gì để tiêu khiển, đành phải làm thân phận phục vụ Dị Nhân chơi cờ, chàng cố tập tính nhẫn nại, điều binh khiển tướng để hạ đối phương. Công Tôn Càn từ trước đều ăn hối lộ, không chỉ không lạnh nhạt như trước mà có lúc còn cùng bọn Dị Nhân tụ tập bày trò tiêu khiển. Nhưng đại cục, ông ta biết mình cần phải có lập trường kiên định, phương hướng rõ ràng như thế nào. Nếu Dị Nhân ngươi muốn chạy trốn, thì ta cũng không thể làm ngơ, phải tùy cơ quyết đoán, phải bẩm báo, phải ngăn cản. Trong thời khắc then chốt nếu cần cũng phải dồn người đến chỗ chết.
Chơi cờ đến nỗi chán ngán rồi, Tư Không Mã cùng với Chu Kiểm lần lượt ra phố xem quang cảnh mọi người mua bán tấp nập, không khí nhộn nhịp khiến họ không muốn quay về. Chu Kiểm là người có tâm kế, không phải có thú nhàn tản mà đi ra phố, mà muốn bỏ ít tiền lẻ ra để lấy tiếng tăm. Trông thấy những kẻ nghèo khó, ăn mặc rách rưới chìa tay xin cứu giúp, ông liền cho ít tiền rồi tuyên truyền “Công tử Dị Nhân của chúng ta không thể cầm lòng trước cảnh ngộ khó khăn của dân nước Triệu. Nếu gặp phải thương binh què chân gãy tay, Chu Kiểm nói với họ rất kẳhng khái: “Vài đồng lẻ này, cũng không làm được việc gì lớn, nhưng cũng coi là thành ý của ta và công tử Dị Nhân đối với công lao bảo vệ tổ quốc của các ngươi. Không lâu tiếng tăm của Dị Nhân nào là nhân đức thương người lan truyền khắp xóm trên ngõ dưới ở thành Hàm Đan, thậm chí mỗi ngày đều có kẻ ăn mày nghèo khó đến quán trọ cầu xin Dị Nhân giúp đỡ. Lúc đầu Dị Nhân lấy làm lạ, sau đó mới biết là Chu Kiểm giúp hắn ta tạo hồng phúc.
Tư Không Mã không giống Chu Kiểm, chàng luôn ở trong nhà toàn tâm toàn ý bảo vệ Dị Nhân. Đặc biệt là khi đánh cờ chàng cũng không rời mắt khỏi thanh kiếm treo trên tường. Khi đi ra phố, chàng chỉ thích xem trò tiêu khiển, chỗ mà người tập trung nhiều nhất diễn trò nhảy múa, chọi gà, chàng xem trăm lần cũng không thấy chán. Chàng thích nhất là xem chọi gà, hai chú gà mặc áo sặc sỡ, giương những cái cưa sắc nhọn khi nghe tiếng hô, chúng nhảy khỏi vòng tay chủ xông ra quyết liệt. Rất nhanh chúng đã phân thắng bại. Mày đá tao tao đá mày, mấy con bị thua lông lá tả tơi, máu chảy ròng ròng. Cuối cùng cũng có một con thắng trận. Tư Không Mã cảm thấy rất giống binh sĩ trong những trận đấu. Kẻ thua thì căm hận, còn kẻ thắng lại ăn mừng khi dồn đối thủ đến chỗ chết.
Mấy hôm nay, có một người làm trò ảo thuật dạy rắn trên phố khiến Tư Không Mã bị hút hồn, xem mãi không chán. Đã xem đến ba lần mà chàng cũng không chú ý đến bộ mặt của người huấn luyện rắn. Chàng chỉ để ý đến những con rắn ngóc đầu ngoe nguẩy trên cổ, lên vai, lên tay chủ nhân. Người huấn luyện rắn như một khúc nam châm hút chặt lấy những con rắn, trườn lên người anh ta mà không hề rơi xuống. Có lúc lại cho những con rắn dài hơn một mét bò vào trong cổ họng, chỉ thò một đoạn đuôi ngắn ở ngoài, sau đó lại từ từ lòi ra khỏi miệng. Sự trình diễn của anh luôn làm người xem phải trầm trồ thán phục. Càng khiến Tư Không Mã khâm phục hơn là người huấn luyện rắn này không giống với những thuật sĩ trên giang hồ, sau khi diễn một bài rất ngoạn mục, thì xin tiền, bán thuốc, còn người này sau khi diễn xong, mồ hôi nhễ nhại, thì thu dọn sạch sẽ rồi đi. Xem ra, anh ta không phải là giàu có gì, thậm chí có thể nói là bần hàn. Sau khi xem đến hai lượt, Tư Không Mã mới chú ý dưới chiếc nón rách tả tơi là khuôn mặt gầy dãi dầu sương gió.
Về đến nhà trọ, Tư Không Mã không ngớt ca ngợi tài nghệ của người luyện rắn với Dị Nhân, Chu Kiểm và Công Tôn Càn. Đối với một Chu Kiểm không có hứng thú gì lắm với trò này cho nên ông ta chỉ nghe mà thôi. Còn Dị Nhân thì có vẻ rất ngưỡng mộ, muốn tận mắt chứng kiến, nhưng chỉ sợ ra cửa không được xem đã lại gặp chuyện rắc rối đến thân.
Tư Không Mã rất hiếm khi quay về Lã phủ, một là chàng không muống giáp mặt Triệu Cơ. Sống ở đây, chỉ có đôi chút khó chịu, ấy là cứ đến tối, khi nằm trên giường, Dị Nhân và Chu Kiểm lại đòi anh ta kể chuyện, làm phiền mãi không thôi. Chỉ đến khi Tư Không Mã đã khô rát cả họng, mắt díp lại thì họ mới buông tha. Mấy hôm nay, họ không hay kể chuyện cho nhau nghe nữa mà thường nhắc tới việc Lã Bất Vi tại sao mãi chưa thấy về. Không hiểu ông ta có bình an đến được Hoặc Dương hay không, ông ta có gặp được chị em Hoa Dương như dự tính không, không biết nước Tần có cho ông ta là gián điệp, thích khách nước Triệu phái tới mà bắt giam không, không biết ông ta có đem được tin mừng gì về không?
Màn đên tịch mịch, lũ dế quanh tường xướng lên những tiếng ca râm ran, Tư Không Mã lặng lẽ trôi vào giấc ngủ, có một con rắn từ khe song cửa thở lửa phì phì, từ từ bò vào. Có lẽ hôm nay xem người ta biểu diễn rắn nhiều quá cho nên ngay cả khi nằm mơ cũng thấy rắn. công tử điện hạ rắn đã trườn tới mép chăn gần đầu Tư Không Mã, anh ta đã cảm thấy lạnh gáy, lúc này mới biết không phải là mình nằm mơ. Tư Không Mã chộp lấy con rắn quay mạnh mấy vòng rồi ném xuống đất. Theo bản năng anh ta nhìn ra ngoài cửa sổ, lại một con rắn nữa đang bò vào. Bỗng có bóng người vọt qua. Tư Không Mã theo phản xạ nhảy xuống giường, với thanh kiếm treo trên tường, nói nhỏ với Chu Kiểm: “Không xong rồi, dậy mau, có thích khách!”
Tư Không Mã và Chu Kiểm rút gươm xô cửa xông ra, cũng vừa lúc tên thích khách xông tới. Người này đội chiếc nón tre, che kín gần khuôn mặt. Nhớ lại con rắn vừa bò vào trong phòng thì biết thích khách là kẻ hay biểu diễn trò rắn ở chợ.
Tư Không Mã cùng Chu Kiểm vừa giao đấu với thích khách vừa hỏi: “Ngươi là ai, tại sao đến hành thích bọn ta?”. Tên thích khách vừa đánh lại vừa trả lời: “Ta al2 thích khách nước Tần!”
Mới chỉ vài hiệp tên thích khách đã bị Tư Không Mã đâm trúng tay trái và gục xúông. Tư Không Mã cùng Chu Kiểm ghì chặt thích khách, nói với Dị Nhân lúc này cũng đã bừng tỉnh: “Công tử điện hạ, có thích khách, mau lấy dây thừng trói hắn lại”. Ba người trói chặt tên này lại giải vào phòng trong. Dưới ánh sáng trắng của ngọn đèn, Tư Không Mã nhìn rõ bộ mặt của tên thích khách, đúng là tên biểu diễn rắn. Thấy vết thương trên tay hắn vẫn đang chảy máu, Tư Không Mã xé một mảnh vải ở tấm chăn băng vết thương cho hắn. Tư Không Mã hỏi: “Ngươi là ai?”. “Thích khách nước Tần”. “Ai phái ngươi tới?”. “…”. “Tại sao muốn giết bọn ta?”. “…”. “Ngươi tên là gì? Tại sao không nói? Nếu không nói ta sẽ giết ngươi!”
Mặc dù họ đã dùng mọi cách chất vấn, đe dọa nhưng tên thích khách chỉ nói: “Ta là thích khách nước Tần”, sau đó thì mặc kệ, mặt lộ vẻ bất cần, coi cái chết như không. Dị Nhân chủ trương đem tên này giết quách đi. Chu Kiểm lại nói cần phải làm rõ chân tướng của hắn sau đó giết cũng chưa muộn. Ý của Tư Không Mã là đợi Lã Bất Vi về rồi quyết định. Ba người bọn họ bàn đi bàn lại, quyết định giấu hắn vào một chỗ ít người biết trong Lã phủ, đợi Lã Bất Vi về rồi xử lý tiếp. Để không gây sự chú ý của mọi người, họ nhét giẻ vào mồm hắn, đưa tới Lã phủ. Vừa mới ra đến cổng, gặp Công Tôn Càn từ trong tẩm thất ra, mắt nhắm mắt mở hỏi: “Đêm hôm khuya khoắt thế này, sao mọi người cứ ra ra vào vào thế?”
Tư Không Mã nói: “Săn được con chó hoang, mang sang Lã phủ, ngày mai nhắm rượu”.
Chiếc xe lọc cọc chạy trên con đường nhỏ, tên thích khách giãy giụa trong chiếc bao tải. Tư Không Mã và Chu Kiểm túm chặt miệng túi, mọi sự cố gắng của tên thích khách đều vô ích. Tư Không Mã và Chu Kiểm bàn bạc trên xe, đến Lã phủ sẽ nhờ Triệu Cơ giúp đỡ.
Một hồi lâu mới đến Lã phủ, tên sai dịch thấy Tư Không Mã liền mở cửa cho xe đi vào, miệng lẩm bẩm: “Đêm khuya thế này, chở cái gì thế?”. Anh ta hỏi xong cũng không nhìn vào trong xe mà vội đi đóng cổng.
Tư Không Mã cho xe dừng lại ở một chỗ vắng vẻ, rón rén đến dưới cửa sổ của phòng Triệu Cơ, gõ nhẹ nhưng gấp gáp.
Một lát, bên trong mới có tiếng: “Ai đấy?”. Tư Không Mã đã nghe thấy giọng sợ hãi của Triệu Cơ. “Tôi. Tư Không Mã đây”. “Có chuyện gì để sáng mai hãy nói”. “Gấp lắm. Phu nhân ra ngay, việc này quan hệ đến tính mạng!”. “Để đến mai đi”. “Không được, sẽ hỏng việc mất. Lã đại nhân về sẽ lấy cái đầu của chúng ta!”. Tư Không Mã dường như nghe thấy tiếng mặc quần áo lột xột, lát sau Triệu Cơ vén rèm bước ra. Tư Không Mã thở phào nói: “Phu nhân nghĩ tôi là quỷ chắc?”. Triệu Cơ hỏi: “Thật có chuyện gì sao?”
Tư Không Mã đem những việc vừa xảy ra nói qua cho Triệu Cơ nghe, nhờ Triệu Cơ tìm cho một cái nhà kho, đem tên thích khách giam vào trong, đợi Lã Bất Vi về để truy ra ngọn nguồn.
Triệu Cơ biết rõ việc Lã Bất Vi muốn lập Dị Nhân làm thế tử, liền tìm cho Tư Không Mã một gian nhà kho chứa lương thực đã cũ ở phía bắc sau sân, nhốt tên thích khách vào trong khóa lại.
Tư Không Mã dặn: “Tên này bị thương, phu nhân cần đắp thuốc cho hắn và cho hắn ăn, đừng để hắn chết đói”. Triệu Cơ gật đầu nói: “Được rồi”. Tư Không Mã lại nói: “Mọi việc phải cẩn thận, đừng để người khác chú ý. Tôi thỉnh thoảng sẽ qua đây giúp phu nhân”. Triệu Cơ nói: “Ngươi ở hẳn đây, ta sợ”. Tư Không Mã nói: “Không sao, chúng tôi trói hắn rất chặt, sẽ không có sơ sẩy gì đâu”.
Hôm sau, Triệu Cơ mang thuốc và một chút thức ăn vào trong nhà kho, ánh sáng lờ mờ bên trong khiến người ta cảm thấy ngạt thở. Lúc đầu, Triệu Cơ không dám tới gần hắn, chỉ đứng một bên len lén nhìn anh ta. Chỉ khi thấy hai tay anh ta bị trói ngược, co rúm lại nơi góc tường, Triệu Cơ biết chắc rằng anh ta không thể làm hại mình mới tiến tới trước mặt anh ta xoa thuốc và bón cơm.
Anh ta không hề từ chối.
Mọi việc kết thúc, hai người cùng nhìn nhau một lúc nhưng không hề tỏ thái độ gì. Ngày hôm sau, hôm sau nữa cũng như vậy. Ngày thứ tư, như mọi khi Triệu Cơ vừa xoa thuốc và cho hắn ăn xong, vừa toan đi thì anh ta nói: “Nếu có thể, phiền cô hãy cho tôi một tấm chăn, ban đêm tôi lạnh quá không ngủ được”.
Triệu Cơ động lòng trắc ẩn, hôm sau mang đến cho anh ta một chiếc chăn. Cô rất lấy làm lạ, không biết anh ta đến từ đâu, tại sao anh ta lại muốn giết Dị Nhân. Triệu Cơ đem những điều này ra hỏi anh ta, ngoài câu: “Tôi là thích khách nước Tần” ra, anh ta không nói gì nữa.
Chẳng bao lâu, những việc làm của Triệu Cơ đã bị Hoàng Phủ Kiều phát hiện.
Từ khi Triệu Cơ ra khỏi nhà giam, những thành kiến của cô ta với cô ngày càng tăng. Cho rằng Triệu Cơ không chỉ cướp đi lòng sủng ái, mà còn làm bại hoại của cải của gia đình. Lã Bất Vi không có nhà, nhất cử nhất động của Triệu Cơ đều bị Hoàng Phủ Kiều giám sát chặt chẽ. Cho tới một hôm, Hoàng Phủ Kiều thấy Triệu Cơ lén lén lút lút đem cơm về phía bắc sân, sau đó sợ hãi đi về phía nhà kho kia. Cô ta cảm thấy rất kỳ quặc, đợi sau khi Triệu Cơ đi khỏi mới lặng lẽ đến điều tra. Thấy cửa nhà kho đã khoá, cô ta liền dòm qua cửa sổ. Khi lờ mờ thấy một người đàn ông nằm đắp chăn ở góc tường, cô ta sướng quá suýt chết ngất. Cuối cùng cô ta đã tóm được cái đuôi của Triệu Cơ. Cái con yêu tinh này, dám nhân lúc Lã Bất Vi đi vắng đã nuôi một kẻ lang thang để vụng trộm tình cảm, tội không thể tha thức được.
Cảnh tượng trước mắt đã kích thích trí tưởng tượng của Hoàng Phủ Kiều. Cô ta muốn đi ra phố gào to cho mọi người biết, cho cái phủ này biết. Không, phải cho tất cả mọi người trong thành Hàm Đan này biết, xem cái con bé Triệu Cơ bề ngoài thì đạo mạo mà bên trong lại xấu xa đồi bại, làm băng hoại cả thuần phong mỹ tục này.
Cô ta định bù lu bù loa lên, nhưng lại thấy hành động như vậy là thiếu suy nghĩ, tục ngữ có câu: “Bắt trộm bắt tang vật, bắt gian bắt cả đôi”. Bây giờ vẫn chưa bắt được quả tang, Triệu Cơ lại chối cãi thì làm thế nào? Hơn nữa, Lã Bất Vi lại không tận mắt nhìn thấy. Cô ta cần phải để Lã Bất Vi thấy cảnh Triệu Cơ và tên nghiệt chủng đó hoan lạc, cho Lã Bất Vi mất hết thể diện, và cuối cùng phải dằn lòng đuổi con yêu tinh này ra khỏi cửa…
Mỗi tối Hoàng Phủ Kiều lại nằm trên giường như chiếc bánh trong nồi, lăn bên nọ lại lật bên kia chịu sự dày vò của thời gian. Trong lòng cô ngày đêm cầu khẩn: “Lã đại nhân, ngài mau về đi”.
Mùa thu đem cái lạnh phủ đầy dòng sông Vị Thủy, cuối cùng thì cái lạnh lẽo, thê lương đã kề gần An Quốc Quân Doanh Trụ. Vị công tử tuổi đã gần năm mươi này bị mắc chứng hen suyễn, cứ đến giữa thu bệnh của ông ta lại trầm trọng.
Đờm kết đặc trong cổ, ông ta khò khè khạc nhổ vào trong chiếc bình trên tay người nữ tì. Dù vậy ông ta vẫn lọm khọm cùng với người cha già nua ốm yếu Chiêu Tương Vương của mình xử lý triều chính. Với tinh lực không lấy gì làm dồi dào, ngày đêm cùng với phụ thân phê đọc đến tấu chương của các đại thần và hỏi han không ngớt. Hai năm trước, Chiêu Tương Vương còn khoẻ, ông đã không cho Doanh Trụ tham chính. Vị thái tử này như một đôi giày rách bị bỏ xó. Bây giờ không thể như thế được nữa. Chiêu Tương Vương không thể cưỡng được tuổi già. Ông ta không chỉ cần con trai gánh vác, nhắc nhở lập kế hoạch mà còn phải chỉ bảo, dạy dỗ Doanh Trụ nếu như muốn cai quản giang sơn nước Tần. Vậy nên, thời giờ Doanh Trụ và Hoa Dương ôm ấp bên nhau không được nhiều như trước nữa. Hôm nay liều thuốc tiêu viêm của thái y có vẻ như rất có hiệu quả. Cái họng của ông ta trở nên thông thoáng như ruộng hoang sau khi được nhổ sạch cỏ. Buổi triều hôm nay bãi sớm, ông như con thú đói vồ vập lấy Hoa Dương phu nhân.
Giờ đây, cái mà Hoa Dương phu nhân cần không phải chỉ là sự khoái lạc được sinh ra sau khi được thoả mãn dục vọng từ một người đàn ông, nó là niềm hạnh phúc bột phát trong chốc lát. Cái cô cần là hạnh phúc ổn định vĩnh hằng. Đó chính là việc khiến An Quốc Quân đồng ý lập Dị Nhân làm thái tử. Lúc này, ở nơi Hàm Đan xa xôi như Dị Nhân hay ở gần kề bên cạnh như Hoa Dương phu nhân, hay đứng ngồi không yên ở trong phủ như Hoa Dương Quân, và đang ở trong nhà khách như Lã Bất Vi đều đang tưởng tượng tới thái độ, cử chỉ của Doanh Trụ trước vấn đề này, chờ đợi một lời nói sẽ quyết định lịch sử của ông ta. Đây là việc lớn quyết định đến sự hưng thịnh, suy vong cũng như sự sống còn của họ.
Theo bước chân gấp gáp của Doanh Trụ đi về phía lầu loan ô, tâm trạng của Hoa Dương phu nhân cũng bồn chồn lo lắng. Cô ta cùng với Doanh Trụ làm tình với nhau một cách suồng sã, như những buổi sáng với buổi chiều mà cô ta đã trải qua. Cô luôn tỏ ra thành thạo, đón tiếp ông không hề vồn vã. Hôm nay, Hoa Dương phu nhân lại cảm thấy căng thẳng, ngoài những chiêu thức của đàn bà như chiều chuộng, ngọt ngào hay hờn dỗi ra, liệu còn có cách gì hữu hiệu hơn để khiến Doanh Trụ dễ dàng chấp nhận lập Dị Nhân làm thái tử hay không?
An Quốc Quân vừa vào đến cung của Hoa Dương phu nhân đã vội hỏi: “Người đẹp của ta, hòn ngọc của ta, đêm qua nàng đã mơ thấy gì?”. “Điện hạ, thần thiếp nằm mơ thấy khí sáng đầy trời, tống tử nương nương cho thần thiếp một đứa con”. Hoa Dương nói. “Đứa con? Không lẽ nàng đã có thai, nàng sẽ sinh hạ cho ta hoàng tử thứ hai mươi tư?”. An Quốc Quân vui vẻ nói. “Không phải đứa bé mà là một thiếu niên tinh anh”. Hoa Dương giải thích. An Quốc Quân nói: “Chẳng cần biết bà ấy tặng nàng cái gì, để ta tặng cho nàng một chút ấm áp”.
Thế là hai đôi giày quăng xuống dưới chân giường. Những cảm giác ngây ngất, đê mê, vờn vũ mây mưa. Trời đất tương hợp, càn khôn tương giao.
Đêm nay, Hoa Dương có việc muốn cầu xin An Quốc Quân nên hết sức chiều chuộng, còn vị thái tử đa tình thì muốn thử loại thuốc hồi xuân xem có linh diệu đến mức nào, và quả thực ông rất sung mãn.
“Điện hạ, đôi chim uyên ương kia vui say quấn quýt, tình cảm dạt dào, nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang! Sự ân sủng của điện hạ đối với thần thiếp, thiếp xin nguyện kiếp sau làm trâu ngựa cũng khó đền đáp hết được”. Hoa Dương thăm dò tình cảm của thái tử đối với mình sâu đậm đến mức nào. “Không cần đợi đến kiếp sau! Kiếp này không có nàng ta cũng sẽ chẳng còn thiết sống nữa”. Thái tử nói.
Sau cơn “mưa gió” lần thứ hai, Hoa Dương lòng yêu của thái tử chưa thoả, bèn nũng nịu nói: “Điện hạ ân chuẩn cho thần thiếp một việc, thần thiếp sẽ khiến cho điện hạ được thoả mãn!”. “Được! Mọi yêu cầu của nàng ta đều đồng ý!”. Thái tử nói. “Điện hạ, thần thiếp vô tài vô đức, được sung vào hậu cung, may mắn được hầu hạ điện hạ. Bất hạnh không có con, thần thiếp thấy trong các hoàng tử duy có Dị Nhân hiếu đức nhất, năm năm trước xin đi làm con tin nước Triệu. Năm năm qua, giải nguy cứu nạn được tấm biểu “Hiền đức ân công”, cứu giúp dân chúng, được nhân dân tôn kính; kết giao với bổn công tử các nước, chiêu nạp môn khách hơn ngàn người. Tân khách các nước ngợi khen không ngớt, nếu nhận nó làm đích tử thần thiếp cũng được nhờ”. Thái tử đương lúc vui say, vội vã đồng ý.
Hoa Dương phu nhân tiếp luôn: “Hôm nay điện hạ ân chuẩn, ngày mai lại nghe lời các cung phi khác, e rằng sẽ quên những lời đêm nay”. Thái tử nói: “Phu nhân chưa tin, nguyện khắc Phù làm thề”
Thái tử nói xong bèn lấy ngọc Phù sai người khắc bốn chữ “Đích tự bị nhân”, sau đó chia làm hai phần. Thái tử và Hoa Dương mỗi người giữ một nửa, lấy vật đó làm tin.
Tử Hề đờ đẫn đứng trên thềm cửa sơn đỏ của phủ đệ, gió thu thổi mạnh làm xoã tóc và vén tung tà áo làm anh ta cảm thấy cái lạnh như cắt vào xương thịt. Một ngày, anh ta thấy khuôn mặt của mình hiện ra đôi chút đặc điểm giống phụ thân An Quốc Quân. Trên khuôn mặt tròn trịa có cài mũi đẹp bằng, đôi mắt to ánh sáng không bao giờ tập trung đầy đủ trên con ngươi. Khi nhìn lên hầu như không có sinh khí, những hình tượng này khiến người ta cảm thấy đây là người không có tài năng, ủy mị. Kỳ thực không phải như vậy, anh ta là một công tử mạnh mẽ hiếu thắng, dũng cảm, có chí tiến thủ.
Tử Hề cho rằng tự mình từ sớm đã mang trọng trách của thiên hạ đặt lên vai trở thành thiên tử. Anh ta là đích trưởng lại không giống lũ công tử khuyển mã khác, một lũ chỉ là những bình cơm, túi rượu không có chút học thức, tài năng gì. Vậy mà phụ thân An Quốc Quân còn tù mù không rõ, cho hai mươi ba vị công tử trơ mắt ra nhìn ngôi vị thiên tử. Không ai ngờ được rằng, bỗng nhiên lại đưa cái tên Dị Nhân làm con tin ở Hàm Đan xa xôi lên ngôi vị thế tử. Thật là gà chiếm được tổ phượng! Cá nằm ổ rồng! Dị Nhân đến nước Triệu thoắt đã được mấy năm, phụ thân có biết bao người trong cung từ lâu đã quên mất anh ta. Chỉ khi đến ngày lễ ngày tết, lúc đi săn hoạ hoằn có ai nhắc đến, những câu đại loại như “Dị Nhân đi đã được ba năm rồi”, “Anh ta mà có mười mũi tên thế nào cũng bắn được một con nai”, “Công tử ở Hàm Đan có tin tức gì về không?”. Hoặc như nhìn thấy bộ mặt lạnh lẽo của Hạ Cơ, mọi người mới ý thức được rằng vị thái tử phi bị thất sủng này còn có một công tử ở nước Triệu. Mọi người trong cung khi nhớ tới khuôn mặt của Dị Nhân đều cảm thấy lờ mờ như một làn sương mỏng, có thể nói người ta đã nhanh chóng quên đi vị công tử đi làm khách ở nơi đất khách quê người này. Vậy mà Tử Hề lúc nào cũng nhớ đến diện mạo của người em cùng cha khác mẹ ấy, nó không phải là tình cảm anh em mà là cảm giác bản năng. Dị Nhân sẽ trở thành trở ngại và đối thủ cạnh tranh ngôi vị thế tử của mình. Tử Hề mời thầy bói xóc quẻ đoán về việc lập thiên tử. Thầy bói nói cho Tử Hề biết rằng anh ta muốn làm thế tử rất gian nan. Tử Hề hỏi thầy bói nguyên nhân từ đâu. Thầy bói chỉ nói bốn chữ “Ngư mục hồn chu”. Tử Hề đã nghĩ ra, đôi mắt của Dị Nhân chẳng phải giống như mắt con cá lồi ra bên ngoài hay sao? Tử Hề thăm hỏi biết được rằng cái tên biểu diễn rắn Hoàng Phủ Nghĩa đã đến Hàm Đan được mấy ngày. Tử Hề hy vọng chờ đợi, giờ xem ra, cái tên Hoàng Phủ Nghĩa ấy nếu chưa động thủ thì cũng không thành công. Dị Nhân đúng là hưng vượng phát đạt, nếu không Lã Bất Vi đã chẳng vượt ngàn dặm xa xôi tới Hoặc Dương để lo cho hắn làm thiên tử.
Tin tức đầu tiên được truyền ra từ trong phòng Ngự Thiện của An Quốc Quân. An Quốc Quân và Hoa Dương phu nhân mở tiệc mời Lã Bất Vi, phái gia tướng xuống nha bếp chuẩn bị, đồng thời dặn nhà bếp phải làm thật thịnh soạn. Nhà bếp hỏi khoản đãi ai, gia tướng nói là Lã Bất Vi. Bọn nhà bếp nói: đó chẳng phải là tên thương nhân gian trá nước Vệ hay sao! Gia tướng nói: Không thể đối đãi với Lã Bất Vi tùy tiện được, ông ấy là đường đường chính chính là Thái phó; một khi Dị Nhân làm Tần Vương, thầy giáo của vị thái tử sẽ nắm trong tay đại quyền. Gia tướng đã nói tất cả dự tính của quá trình Lã Bất Vi đến Hoặc Dương mưu tính ngôi vị thiên tử cho Dị Nhân phác hoạ ra.
Chẳng bao lâu, Phạm Tuy cũng nhận được tin này từ người hầu gái Tiểu Song của Hoa Dương phu nhân.
Với Tử Hề việc này khác nào trời long đất lở, khiến anh ta trở tay không kịp đối mặt với sự ảm đạm tăm tối của số phận. Anh ta hận Dị Nhân, hận Lã Bất Vi, hận Hoa Dương phu nhân và Hoa Dương Quân, thậm chí cả người cha Doanh Trụ của anh ta. Anh ta không đang tâm trơ mắt nhìn cái ngôi vị thiên tử đáng lẽ thuộc về anh ta lại bị người khác cướp đi như thế, anh ta muốn tranh giành, giành lại những gì đã mất. Thà làm ngọc nát còn hơn ngói lành.
Trong gió thu xào xạc, Tử Hề giống như chiếc lá chao liệng bay về phía phủ tướng quốc. Anh muốn cùng Phạm Tuy, Đỗ Thương nghĩ ra kế sách cứu vãn tình thế, không thể để Dị Nhân dễ dàng ngồi vào ngôi vị thiên tử cao quý kia.
Tử Hề nghiến răng nghiến lợi nói: “Tôi muốn bỏ tiền ra thu thập thích khách, một người không được hai người, hai người không được ba người, phái họ tới Hàm Đan. Để có một ngày Dị Nhân sẽ chết dưới đao kiếm!”
Phạm Tuy nói: “Phái thích khách cũng không phải kế vẹn toàn. Một là thích khách hành động ở nước ngoài không thuận lợi; nếu là loại tham sống sợ chết thì sẽ cuỗm đi số tiền của ngài mà không hẹn ngày trở lại, hai là Lã Bất Vi không phải loại tầm thường. Ông ta cũng đã thu mua không ít giáp sĩ võ nghệ cao cường bảo vệ Dị Nhân.
Đỗ Thương nói bằng một giọng lạnh tanh: “Vậy thì chúng ta đành ôm gối chịu chết hay sao?”
Ông ta và Tử Hề nhìn Phạm Tuy với ánh mắt trông đợi. Phạm Tuy thở dài ngao ngán nói: “Khó lắm!”. Vị lão tướng quốc lắm mưu nhiều kế này lúc này cảm thấy không có kế sách gì khả thi. Ở nước Tần, tướng quốc không có nhiều quyền lực thực tế, quyền binh đều do quốc quân chi phối, không giống như sáu nước Quan Đông, xuất hiện hiện tượng quyền lực trong tay tướng quốc hoặc tướng quốc khanh đại phu chiếm vương thất. Ở nước Tần chỉ có hai lần ngoại lệ, một là khi Tần Hiếu Công thực hiện biến pháp Thương Ương tương đối nới tay, cho ông ấy nhiều quyền lực, lần thứ hai Lã Bất Vi sau này do Tần Vương Doanh Chính còn nhỏ mà nhiếp chính,, nhưng kết cục của hai người đều hết sức bi thương, một người bị ngũ mã phanh thây, một người bị đày đọa tuyệt thực mà chết. Đỗ Thương đó cho dù Phạm Tuy là tướng quốc nhưng trước những việc trọng đại, ông thường không có giải pháp nào.
Ba người trầm ngâm hồi lâu, Phạm Tuy mới nói: “Tôi có cách này, đó là nước đặt Lã Bất Vi vào chỗ chết, cắt đứt liên lạc giữa Dị Nhân ở Hàm Đan với Hoặc Dương”. Tử Hề nói: “Trước tiên phải nhổ hết lông cánh của nó, một cây thì chẳng thành rừng, một mình Dị Nhân cũng khó làm gì được”. Đỗ Thương hỏi: “Cụ thể làm thế nào?”. Tử Hề nói: “Thủ hạ của tôi nuôi mấy thích khách giỏi, cử tên nào đi cũng được”.
Phạm Tuy lắc đầu: “Kế của tôi là dùng binh không đổ máu. Lã Bất Vi đang ở chỗ Hoa Dương Quân, đã là thượng khách của chi em họ. Đi đâu thì tiền hô hậu ủng, ở thì có trọng binh bảo vệ, không dễ tiếp cận. Trong phủ tôi có vị quan cẩu sĩ chuyên huấn luyện chó, có hai con chó to lớn rất dũng mãnh, hiểu tính người. Tôi muốn tạo một người nộm, thân hình, quần áo giống Lã Bất Vi, để vị cẩu sĩ này dạy hai con chó đó. Sau đó thả nó đi cắn chết Lã Bất Vi. Như vậy chỉ có thể nói là chó dại cắn chết người, không ai có thể nghi ngờ, truy cứu”.
Tử Hề nghe nói trong phủ Phạm Tuy có hai con chó dữ, to như con ngựa, răng sắc như gươm, dũng mãnh vô cùng, có thể đuổi chó đuổi hổ. Nhưng Tử Hề cảm thấy hai con chó này không dễ gì vào được phủ Hoa Dương Quân.
Phạm Tuy nghe Tử Hề nói xong nỗi lo lắng của mình, cười nói: “Đến phủ Hoa Dương Quân không phải việc của hai con chó. Tôi sẽ mời Lã Bất Vi đến phủ của tôi, trong tiệc rượu nhân lúc Lã Bất Vi nửa tỉnh nửa say không đề phòng sẽ thả hai con chó ra”. Tử Hề hỏi: “Tướng quốc có thể mời được Lã Bất Vi sao?”
Đỗ Thương nói: “Dự tiệc trong phủ tướng quốc chẳng phải là vinh dự lớn lắm sao? Sợ rằng ông ta cầu mà không được”.
Phạm Tuy nói: “Tôi vẫn chưa từng gặp vị phú thương này, tôi muốn đích thân tới chỗ Hoa Dương Quân mới. Tôi nói, quý thương ở Hàm Đan chăm sóc thái tử điện hạ chúng tôi, vì việc lập tự mà lo lắng vất vả, công lao hơn núi, tôi với tư cách là tướng quốc nước Tần xin đước đáp tạ ngài. Tôi nghĩ Lã Bất Vi không có lý do gì để từ chối, nhất định sẽ đến”. Tử Hề nói: “Tướng quốc phải chú ý cách ăn mặc của ông ta để dụng hai con chó”. Đỗ Thương nói: “Công tử điện hạ, chút việc nhỏ này công tử chớ nên lao tâm khổ tứ. Tướng một nước, làm sao không rõ chuyện này!”
Phạm Tuy để tên quan giảo sĩ giả làm người hầu, cùng đến phủ Hoa Dương Quân mời Lã Bất Vi. Khi Phạm Tuy nhìn thấy Lã Bất Vi trong phòng khách Hoa Dương Quân, bất giác run lên lạnh toát: Tướng mạo kỳ vĩ, khuôn mặt rộng ngay ngắn, sáng, đôi mắt thông thái, sáng sủa hữu thần; mũi thẳng miệng vuông, bộ râu ngắn được tỉa tót ngay ngắn lộ vẻ trang nhã. Đầu cài trâm, mặc áo tím, thắt đai ngọc.
Ngắm nhìn qua Lã Bất Vi, Phạm Tuy nghĩ: “Người này tướng mạo phi phàm, cần phải giết chết hắn!”
Sau khi đã đả thông danh tính, nói chuyện với nhau một lúc, Phạm Tuy liền nói rõ ý của mình. Lã Bất Vi không chút do dự, vui vẻ đồng ý.
Phạm Tuy hỏi “Không biết quý thương lưu lại Hoặc Dương bao lâu, tôi muốn chọn ngày tốt tiễn hành quý thương”.
Lã Bất Vi trả lời: “Tôi làm nghề buôn bán đã mười mấy năm cũng có thể nói là đã đi khắp chân trời góc bể, chân đã đặt khắp đất Thần Châu. Nhưng đây là lần đầu tới Hoặc Dương. Phố xá, phong thổ, nhân tình ở đây đã khiến tôi mở mang tầm mắt. Tôi muốn ở lại đây nửa tháng, tụ tập bạn bè, mua bán ít ngọc!”
Phạm Tuy nói: “Vậy thì tốt quá! Quý thương với nước Tần mà nói công lao to lớn, tôi muốn mời quý thương đến tệ phủ ăn bữa cơm, uống ly rượu nhạt, cũng coi là Phạm Tuy có phúc ba đời!”
Lã Bất Vi nói: “Tướng quốc khách khí quá rồi!”. Phạm Tuy nói: “Vậy thì buổi trưa bảy hôm nữa, tôi tiễn hành quý thương”. Lã Bất Vi nói: “Đa tạ!”. Phạm Tuy nói: “Quân tử nhất ngôn, bảy ngày nữa tôi đến phủ Hoa Dương Quân đón Lã đại nhân”. Lã Bất Vi nói: “Không dám làm phiền tướng quốc đại nhân, hôm đó tôi sẽ tự đến”.
Phạm Tuy về rồi, lập tức phối hợp hành động với tên quan cẩu sĩ. Cho dù thế nào, ông cũng phải giúp Tử Hề đạt ý. Từ thuở khai thiên lập địa, con trưởng luôn làm người thừa tự. Thằng con đầu hoẵng mắt chuột của Hạ Cơ kia văn không xuất chúng, võ trói gà không chặt, Lã Bất Vi và Hoa Dương phu nhân khua môi múa mép mà được ngôi thiên tử, như vậy khác nào trò đùa! Đạo trời ở đâu? Tông pháp tổ tiên ở đâu? Trước hết Phạm Tuy gọi người làm một người cỏ, gầy béo cao thấp giống như Lã Bất Vi, mọi thứ từ ăn mặc, cử chỉ đều y hệt như của Lã Bất Vi. Lại đem người cỏ này đặt đúng vào chỗ mà Lã Bất Vi cần phải ngồi khi diễn ra yến tiệc. Sau đó lấy hai miếng thịt dụ hai con chó đã để đói một ngày mắt đỏ như máu ra. Trong ánh mắt hoang dại của hai con chó, để hai miếng thịt ở giữa ngực người cỏ kia, hai con chó bỏ qua tất cả xông lên, xô đổ người cỏ, cắn áo và bó cỏ lấy ra hai miếng thịt, ăn sống nuốt tươi.
Phạm Tuy và người huấn luyện chó cho luyện đi luyện lại năm ngày liền. Sau đó chỉ cần dắt hai con cho ra, nhìn thấy hình dáng người nộm Lã Bất Vi là xông tới xé rách ngực, dùng hàm răng nhọn sắc tìm kiếm thức ăn.
Phạm Tuy mời Tử Hề và Đỗ Thương vào trong phủ, xem màn biểu diễn của hai con chó với hình nộm Lã Bất Vi, hai người hết sức hài lòng, miệng khen không ngớt: “Tuyệt diệu! Tuyệt diệu!”. Buổi sáng của ngày thứ bảy, trong phòng khách Phạm Tuy đã chuẩn bị mười mấy bàn sơn hào hải vị, lại còn mời đến các nhạc sư thổi sáo, ca múa, để cho tiếng sáo trúc động lòng người hoà với hương vị thức ăn. Trong khi chờ đợi với vẻ lo lắng bồn chồn, Phạm Tuy trông thấy một chiếc xe lớn màu vàng đã đi vào phủ tướng quốc, bằng cái giọng run run tự nói với mình: “Đến rồi!”
Xe dừng ở cửa phòng khách, Hoa Dương Quân và Dương Tử bước xuống, Phạm Tuy vội vàng chạy tới nghênh tiếp và chờ đợi sự xuất hiện của Lã Bất Vi. Một lát sau, tay chăn ngựa mới đánh xe đi và cho xe dẹp sát vào một bên.
Phạm Tuy buồn rầu hỏi: “Lã đại nhân Lã Bất Vi đâu?”. Dương Tử cung kính nói: “Lã đại nhân nhà chúng tôi do có việc buôn bán quan trọng ở Hàm Đan nên ông lập tức phải trở về giải quyết, có thể hôm qua đã về đến nước Triệu rồi. Do không kịp tới chào tướng quốc đại nhân, nên sai tôi thay mắt đến tạ lỗi”.
Phạm Tuy chửi thầm trong bụng: “Gã già buôn bán gian giảo này, trong lòng chắc có sự đề phòng!”. Nhưng trên khuôn mặt ông ta vẫn lộ vẻ tiếc rẻ, ông nói dối lòng mình rằng: “Tôi sớm tối mong được ngồi ăn chung bàn, kề gối nói chuyện với Lã tiên sinh và chưa từng nghĩ rằng chỉ vì sự ra đi của Lã tiên sinh mà đã mất hết hy vọng đâu! Tiếc quá! Tiếc quá!”
Hai con chó dữ sau năm ngày bị xích phí công vô ích chẳng thèm đoái hoài tới chuyện gì cứ nằm bò ở trong chuồng.
Trong khi Phạm Tuy đang khổ sở như người câm ăn phải thuốc đắng cùng với Hoa Dương Quân và Dương Tử đùn đẩy nhau uống rượu, thì Lã Bất Vi đang vội vàng tiến đến Hàm Đan. Ông hiểu rất rõ rằng, quyền lợi sẽ khiến cho cha con, huynh đệ phản trắc và không tránh khỏi sự chia đàn xẻ nghé, nên ông đã bí mật sớm trốn khỏi Hoặc Dương. Dương Tử được giữ ở lại để khiến cho người khác tưởng rằng Lã Bất Vi vẫn còn ở nước Tần. Cái hôm mà Phạm Tuy tới mời, trong đầu ông đã có ý nghĩ là cần phải dời khỏi Hoặc Dương trước. Đây chẳng phải là ông có biệt tài biết trước mọi chuyện, hiểu rõ được âm mưu đen tối của bọn Phạm Tuy, mà là giống như đã làm xong những lời ông đã từng cảnh báo với Triệu Cơ, bất kể chuyện gì cũng cần phải thận trọng kể cả khi ngủ cũng nên đề phòng.
Mưu kế của Phạm Tuy không thực hiện được. Tử Hề giống như con chó sủa nhầm một trận. Nhìn thấy vẻ buồn rầu thiểu não của ông ta và Đỗ Thương, Phạm Tuy tự tin nói: ‘Thua keo này ta bày keo khác vậy!”. “Còn có kế gì nữa?”. Tử Hề và Đỗ Thương cố gắng lấy lại tinh thần hỏi. “Mượn dao giết người!”. Phạm Tuy nói với vẻ đầy sát khí. “Mượn dao của ai cơ?”. “Dao cảu Triệu Hiếu Thành Vương”.
Phạm Tuy thấy Tử Hề và Đỗ Thương vẫn chưa hiểu được ý tứ của ông, liền giải thích: “Dị Nhân và Lã Bất Vi đều ở Hàm Đan, chúng ta chẳng có cách nào. Vậy thì, cứ để cho Triệu Hiếu Thành Vương đưa bọn họ vào chỗ chết”.
“Triệu Hiếu Thành Vương liệu có dám làm không?”
Phạm Tuy nói: “Vậy nên, chúng ta phải đi thuyết phục ông ta. Đỗ Thương, ông là lão tướng quốc, từng 3 lầnđi xứ nước Triệu, vốn có mối giao hảo với Triệu Hiếu Thành Vương, thành bại, lợi hại ắt phải nói rõ cho Triệu Hiếu Thành Vương biết. Ông ta sẽ làm thịt Dị Nhân và Lã Bất Vi chẳng khác gì nướng con chim nhỏ ở trong lò vậy”.
Đỗ Thương trù trừ nói: “Ta vốn có chút quan hệ qua lại với Triệu Hiếu Thành Vương, chỉ sợ nước Tần chúng ta vừa đánh nước Triệu, giết bao nhiêu binh sĩ của họ. Tôi đi, nhẹ thì sẽ bị đối xử lạnh nhạt, nặng thì có thể sẽ bị mọi thù hận đối với Tần quốc trút tất lên đầu”.
Phạm Tuy nói: “Ông là thày dạy của công tử, không quyền không chức, Triệu Hiếu Thành Vương sẽ chẳng có cớ gì oán hận ông cả! Giả sử ông là tướng quân phát lệnh của Tần Vương chỉ huy thiên binh vạn mã, thì tới Hàm Đan, chẳng khác gì tự chui đầu vào rọ”.
Đỗ Thương nói: “Tướng quốc nói rất phải, tôi đi họ sẽ không giết tôi”.
Phạm Tuy nói: “Còn như phải khua môi múa mép như thế nào để Triệu Hiếu Thành Vương động lòng, chắc lão tướng quốc là bậc thầy trong việc này!”

PHẦN THỨ HAI
QUYỀN MƯU

CHƯƠNG X
Thành Công Trong Việc Lập Thái Tử


Từ khi trở thành tỳ thiếp của Lã Bất Vi, Triệu Cơ đã cảm thấy Lã Bất Vi là một mảnh trời của mình, hàng ngày cô cùng sống ăn ở với các môn khách, nha dịch của phủ Lã dưới mảnh trời này. Bây giờ Lã Bất Vi đi Hoặc Dương mãi vẫn không về, cô cảm thấy thế giới như muốn sụp đổ. Hàng ngày cô vẫn đưa cơm, cung cấp thuốc men bông băng cho tên thích khách ở trong kho lương, phục hồi lại sức khoẻ và khí sắc cho hắn, hắn vẫn dùng bộ mặt trầm mặc khó hiểu để báo đáp lại sự chăm sóc của Triệu Cơ đối với hắn. Hàng ngày Tư Không Mã đến đó vài lần với dáng vẻ hấp tấp vội vàng. Ông ta chỉ để ý tới sợi dây trói tên thích khách. Sau khi đến, ông ta vòng ngay ra phía sau lưng tên thích khách để quan sát. Nói chung, ông ta không nói chuyện với Triệu Cơ, mà chỉ chào cô bằng ánh mắt. Triệu Cơ thấy khó xử, khi chỉ có cô và Tư Không Mã mỗi lần từ trong kho lương đi ra.
Triệu Cơ vẫn mong ngóng Lã Bất Vi trở về.
Hoàng Phủ Kiều lại càng nóng lòng chờ đợi Lã Bất Vi. Khi Lã Bất Vi không có nhà, cô ta đã trở thành một phần của Lã phủ. Chuyện lớn chuyện nhỏ đều do cô giải quyết. Từ chuyện ăn ở đi lại của hàng trăm con người đến việc buôn bán lời lỗ của cửa hàng Chu Bảo, tất cả đếu dồn lên đôi vai cô. Cô càng không thể coi nhẹ số lần Triệu Cơ đến kho lương. Cô biết rất rõ Triệu Cơ thường đi trước lúc hoàng hôn, và ở lại đó khoảng một canh giờ. Hoàng Phủ Kiều nghĩ, trừ thời gian nới rộng đai ở chiếc áo rộng ra, hai người chỉ có thể giao hoan với nhau trong thời gian ngắn. Cô thường đến bên ngoài cổng phủ, mon men phía đắng xa để theo dõi. Cô hận là không thể bay tới Hoặc Dương để đón Lã Bất Vi trở về, để ông tận mắt nhìn thấy ái thiếp của ông đang cùng một kẻ dâm đãng biểu diễn một màn kịch xấu xa trong kho lương. Cô lo lắng, người đàn ông dâm đãng kia sẽ có ngày không cánh mà bay và màn kịch xấu xa sẽ khép lại. Như vậy, cô sẽ rất tiếc để mất đi một cơ hội hiếm có xử lý Triệu Cơ.
Trong phòng khách của Dị Nhân, ván cờ hóc búa vẫn đang bày ra trên bàn. Nhưng Dị Nhân, Tư Không Mã và Chu Kiểm không còn tâm trí đâu mà đi bày binh bố trận ở phía sau màn trướng, cái mà đã từng đem lại niềm vui khôn nguôi cho họ. Họ vẫn ngồi đấu cờ, nhưng thậm chí lại lơ đãng, thay phiên nhau đi sai nước cờ, làm lỡ nhiều cơ hội chiến thắng. Đôi lúc, ngay cả người sáng suốt trong việc bày binh bố trận như Công Tôn Càn cũng phải thò cái mặt trắng bệch ra mà hỏi: “Ấy, sao quân cờ này lại bày ở chỗ như vậy?”
Họ đâu còn tâm trí nào mà chơi cờ nữa. Chuyến đi Hoặc Dương của Lã Bất Vi có can hệ tới sự hưng suy hoạ phúc của họ và ngay cả tính mệnh người thân của họ nữa. Bây giờ tin tức từ nơi xa xôi, ai mà đoán biết được. Gã thích khách thần bí kia vẫn bị nhốt ở kho lương phủ họ Lã, ngộ nhỡ hắn chạy thoát thì chẳng phải là hoạ từ trong nhà mà ra sao? Bọn họ đều nằm dưới con mắt của Triệu Hiếu Thành Vương. Vị quân vương này có đại quyền sinh sát, chẳng biết có ngày trở chứng thì sẽ chẳng đặt họ vào chỗ chết có khác gì dẫm chết một con kiến đâu!
Khi Công Tôn Càn không có ở bên cạnh, ba người bọn họ lại đoán già đoán non kết quả có thể chuyến đi Hoặc Dương của Lã Bất Vi.
Tư Không Mã dường như chỉ hỏi đi hỏi lại câu: “Điện hạ, nói xem Lã đại nhân có thể gặp được phụ vương An Quốc Quân và Hoa Dương phu nhân của ngài không?”
Dị Nhân lại cứ vừa đi vừa lẩm bẩm: “Quan trọng là xem Hoa Dương phu nhân nói thế nào với phụ vương của tôi?”
Điều mà Chu Kiểm quan tâm nhất là khi nào Lã Bất Vi trở về Hàm Đan. Gặp được Lã Bất Vi thì tất cả đều sẽ sáng tỏ. Càng nói càng bế tắc, lời càng bế tắc thì trong lòng càng rối rắm giống như ngọn lửa bùng cháy trong cái oi bức nóng nực. Lúc này, mọi chuyện trên trời dưới biển đều được mang ra nói, nói rồi chẳng hiểu sao lại quay trở lại vấn đề đi Hoặc Dương của Lã Bất Vi.
Dị Nhân và Tư Không Mã cùng đồng thanh nói: “Vẫn là Chu Kiểm nói đúng, đợi Lã Bất Vi trở về, chân tướng mọi việc sẽ sáng như ban ngày”.
Khi trời vừa tối Lã Bất Vi về tới thành Hàm Đan. Chiều tà, những tia sáng cuối cùng đang bao phủ lên cái không gian trầm mặc quạnh quẽ, ánh sáng yếu ớt giống như đang quét lên nóc nhà Tòng Đài nổi trội. Nước sông Phủ Dương sau một hồi quanh co uốn lượn vòng vèo qua cung vua Triệu mới chảy ra ngoài. Khi trời sáng, những làn sóng xanh biếc phản chiếu trên khu lầu các trên mặt nước của cung vua; lúc này giống như một mạch nước óng ánh chảy trên những cánh hoa đào vậy.
Việc lớn của Lã Bất Vi đã hoàn thành. Tuy có đôi chút vất vả nhưng trong lòng ông cảm thấy thoải mái và không có chút mệt mỏi nào. Ông phấn chấn đánh chiếc xe phủ đầy bụi đất chạy băng băng trên đường phố Hàm Đan. Ông nghĩ, sau khi về phủ nghỉ ngơi, ông sẽ lập tức tới chỗ ở của Dị Nhân và đem đến cho họ những tin tức tốt đẹp này, rồi cùng họ vạch kế hoạch tấu trình. Con đường từ Hoặc Dương tới Hàm Đan vắng vẻ cô quạnh càng khiến cho ông có cơ hội để suy nghĩ sâu xa hơn và chuyên tâm hơn rằng: “Làm sao có thể mua chuộc tên gác cổng thành, làm sao có thể mang tiền ra khỏi quán Chu Bảo của ông để vận chuyển về Hoặc Dương một cách bình an vô sự …”. Những chuyện này làm ông suy nghĩ rất nhiều, có những cái nằm trong tầm tay của ông, nhưng có những cái ông nghĩ mãi mà không có cách nào giải quyết. Dù có nói thế nào đi chăng nữa thì việc bắt buộc phải thành công, đầu tiên là làm cho Dị Nhân được lập thành thế tử.
Người đầu tiên nhìn thấy Lã Bất Vi trở về là Hoàng Phủ Kiều. Ngày nào Hoàng Phủ Kiều cũng đều ra ngoài để xem xét vài lần. Hoàng hôn của ngày hôm nay, trong ánh sáng yếu ớt cô nhìn thấy một cỗ xe đang lúc lắc chạy lại, cô đoán chắc đây là Lã lão gia của nhà cô đã trở về. Khi chiếc xe tới gần, lời suy đoán của cô quả không sai.
Hoàng Phủ Kiều vui vẻ đón Lã Bất Vi vào phủ, mọi người cùng các nha dịch cùng vây quanh ông để hỏi han. Ông nói với mọi người rất mệt và cần được nghỉ ngơi, ngày mai sẽ kể lại tỉ mỉ. Mọi người nghe thấy Lã Bất Vi hạ lệnh liền dần dần rút ra. Kỳ thực Lã Bất Vi muốn có thời gian trau chuốt lại câu chuyện rồi sẽ đi đến chỗ Dị Nhân ở. Hoàng Phủ Kiều thấy lúc này đúng là thời gian Triệu Cơ tới kho lương. Cần phải bắt được đôi gian dâm này. Để kiểm chứng xem Triệu Cơ có đến đó hay không, Hoàng Phủ Kiều nói với một nữ tỳ: “Mau đến chỗ Triệu Cơ, bảo cô ta tới đây”. Hoàng Phủ Kiều thấy Lã Bất Vi được các nữ tỳ nâng đỡ, cô mau chóng rửa mặt, súc miệng, thay áo.
Một lát sau, vị nữ tỳ quay lại báo với Hoàng Phủ Kiều: “Triệu Cơ không có nhà, dường như vừa mới đi, tôi nói với nữ tỳ của cô ấy là lão gia đã về rồi”.
Thấy Lã Bất Vi đã thu xếp ổn thỏa, Hoàng Phủ Kiều dặn dò nha dịch và nữ tỳ: “Các ngươi hãy lui trước đi”. Thấy Lã Bất Vi muốn đi, Hoàng Phủ Kiều ty biết nhưng vẫn cố hỏi: “Lão gia, vừa mới về sao không nghỉ ngơi cho khỏe đã”. Lã Bất Vi nói: “Bây giờ ta cần phải tới chỗ Dị Nhân”. Hoàng Phủ Kiều nói: “Xảy ra chuyện rồi, bây giờ xin ông đừng đi”.
Lã Bất Vi cho rằng đã xảy ra chuyện với Dị Nhân, liền hỏi: “Dị Nhân làm sao?”. Hoàng Phủ Kiều cười nhạt và nói: “Dị Nhân chẳng làm sao cả”. Sự lo lắng của Lã Bất Vi đã vơi đi phân nửa, ông bình tĩnh hỏi: “Thế ai bị làm sao?”. Hoàng Phủ Kiều kín đáo liếc nhìn sang Lã Bất Vi, đằng hắng giọng và nói: “Xảy ra chuyện với ai ư? Chính là với lão gia ấy!”
Lã Bất Vi cho rằng Hoàng Phủ Kiều đùa mình, nhẹ nhàng hỏi: “Tay chân ta đều lành lặn, có chuyện gì đâu?”. Hoàng Phủ Kiều nghiêm trọng: “Đi, thiếp dẫn lão gia đi xem xem có chuyện gì xảy ra!”. Lã Bất Vi có việc nóng lòng muốn đi, ông chau mày khó chịu với cách nói lấp lửng của Hoàng Phủ Kiều, ông trách mắng nói: “Đừng nói lấp lửng nữa, có chuyện gì thì mau nói ra đi!”
Hoàng Phủ Kiều thấy Lã Bất Vi bắt đầu nổi cáu, liền nói: “Thời gian vừa rồi ông tới Hoặc Dương, Triệu Cơ đang chăm sóc cho một gã đàn ông!”. Lã Bất Vi vừa nghe xong đã cảm thấy mừng, chính điều này lại làm cho Hoàng Phủ Kiều lo lắng. Lã Bất Vi nói: “Trước khi đi ta đã dặn nàng cần sống tốt và hoà thuận với mọi người. Vì sao khi ta mới về, nàng đã đổ tiếng xấu cho người ta vậy?” Hoàng Phủ Kiều nói: “Thiếp đổ tiếng xấu cho cô ta? Trăm nghe không bằng một thấy, lão gia hãy đi cùng thiếp tới đó xem là rõ liền”.
Nhìn thấy vẻ mặt giống như thật của Hoàng Phủ Kiều, Lã Bất Vi như chăm chú hẳn lên. Ông giống như chiếc đuôi bám theo sau Hoàng Phủ Kiều, chần chừ đi về phía kho lương. Tới trước kho, Hoàng Phủ Kiều ranh mãnh bò lên trên cửa sổ nhìn quanh một lượt, cô nhìn thấy Triệu Cơ đang cho gã đàn ông ấy ăn, cô nghĩ: “Con tiểu yêu tinh và gã đàn ông khốn khiếp này! Đúng là của báu trời cho, ngay cả ăn cơm gã ta cũng không cần phải động tay!”. Hoàng Phủ Kiều đẩy cửa bước vào, Lã Bất Vi cũng bước vào theo. Triệu Cơ nhìn thấy họ, cô sợ hãi đứng bật dậy.
Trong kho tối lờ mờ, phải một lát sau Lã Bất Vi và Hoàng Phủ Kiều mới nhìn rõ được đôi mắt của tên thích khách. Trong chớp mắt Lã Bất Vi kinh ngạc nói: “Ngươi không phải là Hoàng Phủ Nghĩa cùng ta đi tới đất Hồ buôn ngựa sao?”
Hoàng Phủ Kiều đúng là không tin được vào mắt mình nữa, cô chạy ào tới và gọi to: “Anh!”. Sau đó nước mắt cô rơi lã chã.
Lã Bất Vi và Hoàng Phủ Kiều cúi xuống đỡ Hoàng Phủ Nghĩa đang ngồi bệt ở dưới đất đứng dậy.
Lã Bất Vi nhìn thấy Hoàng Phủ Nghĩa bị trói chặt tay ra đằng sau; vết thương rất nhiều, liền hỏi vì sao lại có chuyện này. Hoàng Phủ Nghĩa liền nói ra Tần công tử Tử Hề xúi giục anh ta tới giết Dị Nhân như thế nào và bị Tư Không Mã cùng Chu Kiểm chém và trói anh ta ra sao.
Lã Bất Vi cởi trói cho Hoàng Phủ Nghĩa. Hoàng Phủ Nghĩa hỏi Lã Bất Vi vì sao lại gặp được em gái anh ta. Lã Bất Vi cười khà khà rồi nói: “Khi dòng nước lớn dồn tới miếu Long Vương, chẳng ai còn nhà cửa người thân gì cả. Em gái của cậu và người nuôi cậu ăn là Triệu Cơ, một người là vợ còn một người là thiếp của ta”. Hoàng Phủ Nghĩa nói trong nước mắt: “May mà được một người tốt bụng như Triệu Cơ chăm sóc thuốc men, nếu không tôi đã chết vì đói rét rồi”. Lã Bất Vi liếc nhìn Hoàng Phủ Kiều, ý của ông là muốn trách móc cô sao vẫn dè chừng với Triệu Cơ, Triệu Cơ đã cứu anh trai của cô mà cô vẫn chưa biết sao. Hoàng Phủ Kiều cũng cảm thấy xấu hổ và có lỗi với Triệu Cơ, hai chị em sẽ kề vai sát cánh phục vụ Lã Bất Vi. Lã Bất Vi nói với Hoàng Phủ Nghĩa: “Hoàng Phủ đại ca, oan cho anh quá, Dị Nhân điện hạ là Tần Vương tôn mà ta dốc lòng giúp đỡ, Tư Không Mã là môn khách của ta, Chu Kiểm là nha dịch của Dị Nhân. Anh hãy xem tất cả đều là thân thiết đấy nhé”.
Hoàng Phủ Nghĩa được dìu về phòng khách của Lã phủ, Lã Bất Vi nói với anh ta: “Huynh hãy ở đây nghỉ ngơi tĩnh dưỡng, ta đến chỗ Dị Nhân rồi sẽ quay lại”.
Lã Bất Vi tới chỗ của Dị Nhân, Công Tôn Càn cũng không ngăn cản ông mà chỉ hỏi: “Lã tiên sinh, muộn như thế này rồi, ngài còn đến chỗ điện hạ làm gì?”
Lã Bất Vi nói: “Buổi tối ta muốn đánh vài ván cờ với họ cho vui”.
Công Tôn Càn nói: “Ông vào đi, họ đang ở trong đó cả đấy”
Nhìn Lã Bất Vi vui vẻ bước vào, Dị Nhân, Tư Không Mã, Chu Kiểm liền đoán ngay ra chuyến đi Hoặc Dương của Lã Bất Vi đã được đền đáp. Quả nhiên là như vậy, ba người vui mừng nhảy cẫng lên. Lã Bất Vi liền xua xua tay nói: “Mọi người không nên vui mừng mà tiết lộ ra, chúng ta phải chuẩn bị cho tốt để sớm tẩu rời Triệu. Nhưng Dị Nhân điện hạ là con tin, hai nước Tần Triệu sau chiến tranh, mối thù không đội trời chung. Quần thần nước Triệu sẽ rất chú trọng đối với điện hạ, và sẽ không dễ dàng bỏ qua chuyện này đâu. Huống hồ Dị Nhân điện hạ lại muốn dứt bỏ danh con tin để về nước! Từ nay về sau, mọi người ắt phải đề cao cảnh giác, tìm mọi phương cách, hễ có điều kiện thuận lợi là phải lập tức rời khỏi Hàm Đan”.
Tư Không Mã nói: “Lã Bất Vi nói rất đúng, chúng ta đang ở trong hoàn cảnh nguy nan, chỉ cần sơ xuất là khó tránh khỏi cái chết. Mấy hôm trước có tên thích khách tới, nhưng chẳng rõ là ai xúi giục hắn?”. Tiếp đó họ nói với Lã Bất Vi, vào một buổi tối mấy hôm trước, họ bắt được một tên thích khách rắn muốn tới hành thích Dị Nhân điện hạ, bây giờ đang nhốt hắn ở trong kho lương. Lã Bất Vi đem những gì mình vừa chứng kiến nói cho mọi người nghe, nghe xong tất cả đều kinh sợ trước sự hiểm ác này.
Dị Nhân căm phẫn nói: “Tên Tử Hề oắt con, đúng là lòng dạ lang sói, muốn giết cả anh em ruột thịt của mình, chẳng phải là quá thâm độc sao?”
Lã Bất Vi nói: “Vì thế, thái tử điện hạ cần phải thận trọng trong mọi hoàn cảnh, phòng hoạ khi chưa xảy ra, bất luận là ở Hàm Đan hay ở Hoặc Dương, thái tử điện hạ đều sẽ không được thuận buồm xuôi gió đâu!”
Tư Không Mã cảm khái nói: “Dị Nhân điện hạ có thể nói là như đang ở trong bụi cây có gai, hiểm hoạ như được sinh ra ở bên trong vậy!”
Lã Bất Vi nói: “Chỉ cần chúng ta dốc lòng phò giúp là có thể đưa Dị Nhân tới ngai vàng của Tần Vương!”
Lã Bất Vi trở về phủ, trời đã khuya, anh em Hoàng Phủ vẫn ngồi ôn nghèo kể khổ, không ngừng than ngắn thở dài. Lã Bất Vi sau khi chào họ, liền đi về phòng Triệu Cơ.
Sự cô đơn quạnh quẽ của Triệu Cơ trong sự chờ đợi kéo dài: cô đang mơ màng, sau khi trăng lên Lã Bất Vi chưa về, nhưng hôm nay sớm muộn gì ông ấy cũng sẽ đến chỗ cô. Trong giấc mơ, cô cảm thấy như có một luồng khí nóng đang chảy dài trên thân thể cô và chảy vào nơi chăn đơn gối chiếc cảu cô, không đợi cô kịp tỉnh trở lại, từng động tác thành thục của Lã Bất Vi đã đâu vào đấy cả rồi. Trong cơn khoái lạc, cô sung sướng nói: “Ai dà, giống như mãnh hổ dưới chân núi vậy!”. Lã Bất Vi hiểu rằng, vì việc lập Dị Nhân làm thái tử mà ông phải vất vả bôn ba, làm ảnh hưởng đến truyền thống nối dõi tông đường, ông không muốn mất đi thời cơ liền đến bên Triệu Cơ để hoàn thành sứ mệnh này và cũng là để tạo niềm vui cho mình.
Qua vài ngày sống trong hoan lạc để thực hiện sứ mệnh nối dõi tông đường, Lã Bất Vi sờ lên bụng của Triệu Cơ hỏi: “Tạo hoá đã bao nhiêu lần ban phát rất đầy đủ, chẳng lẽ ngõ vắng lại không có người sao?”
Triệu Cơ ôm chặt Lã Bất Vi nói: “Mấy hôm nay thiếp cảm thấy khó ở, thích ăn đồ chua, sợ rằng là có rồi!”
Lã Bất Vi vui mừng hỏi: ‘Thật không?”
Triệu Cơ nói: “Thiếp chưa từng trải qua việc sinh nở, nếu muốn biết, hãy đi hỏi một người từng trải, cô ta nói đúng, thì chắc chắn sẽ đúng!”
Lã Bất Vi nói: ‘Một chữ hỉ đến, thì Lã Bất Vi ta coi như là có tam hỉ lâm môn rồi”.
Triệu Cơ không hiểu bèn hỏi: “Tam hỉ nào cơ?”
Lã Bất Vi hỏi: ‘Chuyến đi Hoặc Dương đã giúp Dị Nhân được lập thế tử có phải là một việc vui không?”
“Là một việc vui”.
Lã Bất Vi lại hỏi: “Gặp được Hoàng Phủ Nghĩa cùng em gái lâu ngày không gặp trùng phùng có phải là một việc vui không?”
“Là một việc vui”.
“Thêm vào đó ái thiếp lại có tin vui, vậy là mấy tin vui rồi?”
“Là ba việc. Nhưng Lã đại nhân còn quên một chuyện vui”. Lã Bất Vi kinh ngạc hỏi: “Còn việc gì vui nữa?”
Triệu Cơ nói: “Thiếp và chị Hoàng Phủ bỏ hiềm khích trước đây, hoà thuận trở lại, thê thiếp hoà hợp, không phải là một việc vui sao?”
Lã Bất Vi tán thành: “Là một việc vui, là một việc vui!”
Triệu Cơ nói: “Vây là tứ hỉ lâm môn!”
Lã Bất Vi khen: “Ái thiếp còn nhiều trò hơn ta!”
*
* *
Khi Đỗ Thương triệu kiến Triệu Hiếu Thành Vương với thái độ cung kính bất đắc dĩ, Triệu Hiếu Thành Vương nhận thấy năm tháng đã để lại những vết tích tàn khốc trên thân thể của tướng quốc nhà Tần, một anh vũ phi phàm đương thời. Đỗ Thương ngồi rất gần Ngự toạ nên Triệu Hiếu Thành Vương có thể nhìn thấy rất rõ những nếp nhăn chằng chịt trên khuôn mặt ông và bộ râu lơ thơ ở dưới cằm, bộ lễ đường sặc sỡ khoác lên tấm thân gầy gò, giống như cặp vú lép kẹp của bà lão. Triệu Hiếu Thành Vương còn nhớ, có một năm Đỗ Thương làm tướng quốc đi sứ nước Triệu, lúc đó rất khôi ngô, cao lớn. Khi đó Triệu Hiếu Thành Vương còn là thái tử, thi nhấc nồi với ông ta, một cái nồi nặng 180 kg, Đỗ Thương nắm chặt lấy nồi, nhẹ nhàng nhấc bổng qua đầu. Bây giờ, chiếc nồi đó, chỉ cần xoay nó thôi, e rằng lực bất tòng tâm rồi.
Nghĩ đến chuyện bốn mươi vạn quân sĩ đầu hàng bị chôn sống tại Trường Bình, Triệu Hiếu Thành Vương căm giận quần thần nước Tần như kẻ địch. Mặc dù biết rằng Đỗ Thương không còn ở chức tướng quốc, rút khỏi triều đường từ lâu nhưng Triệu Hiếu Thành Vương vẫn nói móc: “Ông bạn già, nước Tần đánh thắng trận, Chiêu Tương Vương chắc thưởng cho ông không ít?”
Đỗ Thương khiêm tốn nói: “Tiểu nhân không còn ở đương vị, không can dự vào việc triều chính, chiến trận vô công, Chiêu Tương Vương làm sao lại thưởng cho tiểu nhân được! Ở Hoặc Dương, thần không còn duyên phận với bổng lộc nữa rồi, chỉ còn cách đến Hàm Đan xin Đại Vương cho quà bố thí!”
Triệu Hiếu Thành Vương thở hắt một cái nói: “Quả nhân dựa vào cái gì để ban thưởng cho nhà ngươi?”
Đỗ Thương nói: “Tiểu nhân đem việc quân cơ của nước Tần báo cáo với Đại Vương, Đại Vương lẽ nào lại không ban thưởng cho tiểu nhân?”
Vừa nghe thấy Đỗ Thương có việc quân cơ định báo cáo, Triệu Hiếu Thành Vương cho cung nữ và triều thần thường lui ra, chỉ để lại mấy trọng thần ruột như Bình Dương Triệu Bảo, Bình Nguyên Triệu Thắng và Thượng khanh Lận Tương Như.
Triệu Hiếu Thành Vương nói: “Đỗ Thương, giờ ngươi có thể yên tâm mạnh dạn bẩm báo với quả nhân”.
Đỗ Thương hỏi: “Gần đây, An Quốc Quân lập thái tử, các vị có biết không?”
Triệu Hiếu Thành Vương và mấy vị đại thần đều lắc đầu, hỏi: “Có phải là con trưởng của ông ta, Tử Hề không?”
Đỗ Thương nói: “Nếu là lập Tử Hề thì còn tốt cho nước Triệu. Tôi làm Thái bác, tôi biết Tử Hề là con người rộng lượng, nhân hậu, nghiêng về nước Triệu. Ông ta đã mấy lần kiến nghị với Chiêu Tương Vương – An Quốc Quân , cùng nước Triệu biến gươm đao thành ngọc thạch, bắt tay liên minh, thôn tính các chư hầu, cùng hưởng thiên hạ. Theo chủ trương của ông ấy thì bốn mươi vạn quân đầu hàng ở Trường Bình không giết một ai cả, trả tất lại cho nước Triệu. Nhưng lời nói của ông ta như gió thổi qua tai, có ai nghe đâu!”
Triệu Hiếu Thành Vương hỏi: “ Theo tổ chế của các nước chư hầu thì phải lập con trưởng. Không lập Tử Hề thì lập ai bây giờ?”
Đỗ Thương nói: “Lập một kẻ dưới mi mắt của Đại Vương – Dị Nhân!”
“Vậy sao?”. Triệu Hiếu Thành Vương và mấy vị đại thần đều cảm thấy có chút hổ thẹn về tầm nhìn nông cạn của mình.
Đỗ Thương nói: “Dị Nhân ở Triệu quốc bị ngược đãi, lạnh nhạt, có sự thù hận sâu đậm với quần thần nước Triệu, thề rằng một khi ông ta trở về nước Tần kế vị thì sẽ lập tức tấn công Hàm Đan, báo thù rửa hận”. Tiếp đó, Đỗ Thương thêm mắm, thêm muối kể về quá trình Lã Bất Vi chạy về Hoặc Dương thực hiện kế hoạch như thế nào.
Triệu Hiếu Thành Vương và mấy vị đại thần cảm thấy vô cùng bất ngờ trước những hành vi của Lã Bất Vi.
Triệu Hiếu Thành Vương như tỉnh mộng: “Những điều lão tướng quốc vừa nói có phải là đều tận mắt thấy tai nghe không?”
Đỗ Thương nói: “Đương nhiên là tiểu nhân mắt thấy tai nghe, không sai một ly. Hoa Dương còn khắc Ngọc Phù cho An Quốc Quân, lan truyền khắp thành Hoặc Dương, ầm ĩ khắp nơi, ai mà chẳng biết! Chư vị vẫn còn bị nút lỗ tai rồi?”
Triệu Hiếu Thành Vương nói không vui: “Không ngờ Lã Bất Vi là kẻ ăn cây này rào cây nọ, nối giáo cho giặc!”
Đỗ Thương nói: “Có lẽ họ đang kế hoạch trốn chạy về Tần, xin Đại Vương đừng để sơ sẩy. Theo tiểu nhân, đại nhân phải mạnh tay trước, giết Dị Nhân, Lã Bất Vi để diệt hậu hoạ, tránh nuôi hổ để hoạ về sau, hối cũng đã muộn!”
Triệu Hiếu Thành Vương rất cảm kích Đỗ Thương từ xa ngàn dặm tới, lại đem việc quan trọng báo cho nước Triệu nên ban thưởng hậu hĩnh cho Đỗ Thương.
Sau khi Đỗ Thương đi, Triệu Hiếu Thành Vương và các đại thần bàn bạc cách đối phó với việc Lã Bất Vi giúp Dị Nhân trở thành Vương hầu. Người thì nói, lời của Đỗ Thương thật hư thế nào khó biết được, cũng có thể là kế của nước Tần; người thì nói giờ bắt luôn Dị Nhân và Lã Bất Vi, giam cầm cẩn mật, dùng đòn tra khảo, khơi rõ ngọn nguồn, rồi dùng thiên đao vạn quạ mổ thịt róc xương; kẻ thì cho rằng hiện giờ không nên manh động, nên làm thế nào thì phải đợi đến khi mọi việc sáng tỏ. Có người nói, trứoc tiên phải giam cầm cẩn mật Dị Nhân, găm hàng đợi giá, ép Tần Vương. Người thế này, người thế nọ, mỗi người một ý, không đi đến nhất trí.
Từ khi Triệu Hiếu Thành Vương không nghe lời can gián của quần thần, độc đoán truyền lệnh cửa Triệu Quát làm Đại tướng quân, việc này làm quân Triệu thất bại thảm hại, tự thấy hối hận cũng đã muộn. Từ đó về sau, làm việc gì đều lắng nghe ý kiến của quần thần, không tự ý ban chiếu thư quyết đoán. Quần thần mỗi người một ý, có lúc, hai ý kiến đối lập nhau không ai chịu ai. Có đại thần, sau khi thao thao bất tuyệt, thêm một câu: “Xin Đại Vương quyết đoán”.
Triệu Hiếu Thành Vương thấy như có ngàn vạn con ruồi đang bay vo ve trong đầu, các quần thần tranh cãi đỏ mặt tía tai, đều biến thành hài, nhảy nhót trước mắt ông. Triệu Hiếu Thành Vương xua xua tay: “Được rồi, các khanh người nào nói cũng có lý, để trẫm suy nghĩ kỹ rồi quyết định!”
Triệu Hiếu Thành Vương nhìn thấy có một số đại thần vẻ mặt dường như lộ vẻ tức giận, vừa đi vừa thì thầm bàn tán gì đó.
Dưới ánh trăng nhợt nhạt, Lận Tương Như thấy bóng mình càng trở nên mỏng manh, từ Đại điện bước ra, ông thấy mình như một miếng lụa lướt trên chiếc xe người kéo. Sau cuộc chiến Trường Bình, tinh thần, sức lực giảm sút, làm việc gì cũng thấy rõ là lực bất tòng tâm. Đêm thường trằn trọc khó ngủ, nhớ đến đại tướng quân Liêm Pha từng cúi đầu nhận tội trước ông. Từ đó về sau, họ - một văn một võ, cùng kính cùng nhường. Triều đình trên dưới, vạn người đều một lòng cùng phụ tá Triệu Huệ Văn Vương. Nước Tần nhìn mà sợ, mười năm liền không dám động đến một cái lông của nước Triệu. Bây giờ ư? Sau trận chiến Trường Bình, Triệu quốc như nước sông chảy xuôi, ngày càng sa sút, như núi tuyết tan ra dưới gió xuân. Đại Vương cũng không giống như tiên vương Triệu Huệ Văn Vương, có con mắt dùng người, hiểu rõ đến chân tơ kẽ tóc, mà lúc thì một mình một ý đoán, không nghe lời can gián của các quần thần bên dưới, lúc thì hoà tâm mà không thành rộng lượng mà quả đoán …
Lận Tương Như về đến phủ, cảm thấy ngàn ngẩm trăm chiều, bất giác buông tiếng thở dài. Gia tướng Lận Bửu thấy rất kỳ lạ, Thượng khanh đại nhân từ triều đường trở về, sao lại ủ rũ như vậy, bèn hỏi: “Thượng khanh đại nhân, sao vậy?”
Lận Tương Như đành nói: “Cái tên thương nhân Lã Bất Vi người nước Vệ, đến Hoặc Dương hoạt động, An Quốc Quân đã lập Dị Nhân làm Vương hầu. Họ rất có thể múôn chạy trốn về nước Tần, đại thần thì mồm năm miệng mười, tranh luận cả buổi chiều, Đại Vương cũng chưa quyết định nên dùng cách gì để đối phó với Dị Nhân và Lã Bất Vi”.
Lận Bửu làm ra vẻ không quan tâm đến lời Lận Tương Như nói, không hỏi thêm gì nữa, mà cẩn trọng bưng trà lên cho Lận Tương Như. Bận rộn một hồi, Lận Bửu tìm cơ hội, chạy một mạch đến phủ đệ của Lã Bất Vi.
Lã Bất Vi đang nói khô cả họng để khuyên nhủ Hoàng Phủ Nghĩa lưu lại, cùng họ hiệp lực phò giúp Dị Nhân, sôi nổi mưu đồ một nghiệp lớn. Hoàng Phủ Nghĩa cương quyết nói: Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy. Tôi đã đồng ý hứa với Tử Hề, bây giờ không có cách gỉ làm được, cũng lại không có mặt mũi nào mà gặp ông ta. Ông và Thái tử điện hạ Dị Nhân sắp quay về Hoặc Dương, tôi làm sao dám sáng Tần chiều Sở, chân đứng hai thuyền? Một bầy tôi không phục vụ hai chủ, các ông làm việc của các ông, Tử Hề làm việc của Tử Hề, cứ để tôi phiêu bạt giang hồ, cầm kiếm viễn du. Một khi Dị Nhân được làm vua Tần, đánh dẹp Vệ nguyên quân, giải oan báo thù cho gia tộc Hoàng Phủ chúng tôi. Bất luận Lã Bất Vi dùng lời lẽ gì để can ngăn, Hoàng Phủ Kiều vẫn khóc lóc thảm thiết không muốn chia tay với anh trai, còn Hoàng Phủ Nghĩa vẫn quyết tâm ra đi.
Lần ly biệt này có thể trở thành vĩnh viễn, Lã Bất Vi cho Hoàng Phủ Nghĩa rất nhiều tiền bạc; Hoàng Phủ Kiều lưu luyến không rời, tiễn anh trai ra khỏi thành Hàm Đan.
Lã Bất Vi thấy Lận Bửu dáng vẻ vội vàng, biết là tất có việc cần thông báo, nhưng không vội hỏi, mà đưa hai đồ bằng ngọc thượng hảo cho Lận Bửu: “Tôi đi một chuyến đến Hoặc Dương cũng chưa gặp được đồ cổ nào quý hiếm, chỉ có hai đồ bằng ngọc này còn có chút khác thường, liền mua về dâng cho gia tướng, xin nhận cho”. Kỳ thực, hai vật bằng ngọc đó là của nhà Lã Bất Vi, vì muốn lấy lòng Lận Bửu, Lã Bất Vi bèn bịa ra câu chuyện đó.
Lận Bửu thấy Lã Bất Vi đi Hoặc Dương mà còn nhớ đến mình, cảm kích vô cùng, nhận lấy hai vật bằng ngọc rồi vội kể lại một lượt những lời của Lận Tương Như. Lã Bất Vi vừa nghe xong, vừa kinh ngạc, vừa sợ hãi nhưng cố gắng trấn tĩnh ngay làm như không có việc gì, nói với Lận Bửu: “Đại Vương sao lại nghe gió là mưa? Dị Nhân đang định an cư lập nghiệp ở nước Triệu, sao lại có thể bỏ trốn về Hoặc Dương được?”. Lận Bửu đi rồi, Lã Bất Vi nghĩ mãi, không biết Triệu Hiếu Thành Vương lấy tin ở đâu, nhưng nghĩ mãi cũng không giải thích nổi việc ấy. Triệu Hiếu Thành Vương biết được ý định trốn về Tần, giam chặt họ lại thì công toi hết. Giờ phải tạo một hiện tượng giả để bịt mắt Triệu Hiếu Thành Vương. Nghĩ đi nghĩ lại, Lã Bất Vi thấy nên xây ngay một quán trọ sang ở chỗ Dị Nhân để mọi người thấy rằng Dị Nhân định an cư lập nghiệp lâu dài ở Hàm Đan. Ngoài ra còn bảo Dị Nhân đi kỹ viện vui chơi, để tạo hình ảnh một con người vô tài chí, một hỗn thế ma vương tiêu tiền như rác, để Triệu Hiếu Thành Vương cảm thấy Dị Nhân không chỉ không có tương lai làm vua nước Tần, cũng không thể tạo nên nguy hiểm gì cho nước Triệu. Nghĩ như vậy, Lã Bất Vi đến ngay chỗ Dị Nhân ở, nhưng lại thấy không được, giờ Triệu Hiếu Thành Vương đã chú ý đến họ, nếu ra vào quán trọ nơi Dị Nhân ở thì nhất định sẽ làm mọi người càng nghi ngờ họ lòng dạ khó lường. Lã Bất Vi bèn gọi Dương Tử mới từ Hoặc Dương trở về, đến quán trọ của Dị Nhân, nhân lúc Công Tôn Càn không chú ý, đem ý của ông nói với Dị Nhân, bảo Dị Nhân ngày mai khua chiêng gõ trống đến kỹ viện.
Trong dòng người qua lại nhộn nhịp, Chu Kiểm và Tư Không Mã gào thét dọn đường cho Dị Nhân: “Xin bà con nhường đường một chút, cháu Tần Vương – Dị Nhân muốn đi qua. Mọi người xin nhường một chút!”. Dị Nhân quần áo chỉnh tề lắc la lắc lư hướng chỗ ít người bước tới. Ông ta không còn lo sợ bị bao vây và làm nhục trên phô như trước đây. Chu Kiểm mạo danh làm kẻ bố thí, tạo ra ảnh hưởng rộng lớn. Hầu như ai cũng biết có một người cháu Tần Vương – Dị Nhân lạc thiện hảo thí, cùng chung vui buồn với người Hàm Đan. Sự thù hận của họ đối với Dị Nhân dần tan biến hết. Hơn nữa, theo thời gian, hồi ức u ám về cuộc binh chiến ở Trường Bình cũng càng ngày càng mờ nhạt dần trong lòng người dân thành Hàm Đan.
Dị Nhân tinh thần vui vẻ thảnh thơi, Lã Bất Vi nghĩ ra cách làm tê liệt Triệu Hiếu Thành Vương, đối với ông ta mà nói thì đúng là “khi rét cho than”. Nghĩ đến nơi sắp đến trước mắt, vật dưới đũng quần ông ta bất ngờ cứng lên, ông ta vui vẻ nghĩ: “Nơi làm xẹp nó tốt nhất là kỹ viện đây”.
Kiến trúc của kỹ viện đầy hương khí son phấn, nằm cao chót vót ở một góc phố náo nhiệt. Cửa sổ, cửa chính đều sơn màu xanh đỏ lòe loẹt không giống mọi người, những trận cười hả hê chốc chốc lại vọng ra từ trong các lầu. Trên dây phơi ở mái hiên lầu hai, quần áo lót màu sặc sỡ đang tung bay theo gió, làm mê hoặc các khách đi đường.
Đến trước kỹ viện, Dị Nhân không bước vào ngay, chần chừ một hồi. Ông ta nhìn thấy hai chữ “Kỹ lư” được viết rất rõ, liền nghĩ đến Tề cảnh Công. Khi ông ta còn rất nhỏ, đã nghe ông nội Chiêu Tương Vương và cha An Quốc Quân có lúc đàm luận, nói rằng vị quốc quân đầu óc nhanh nhạy này của nước Tề biết dùng da thịt của nữ nhân để vơ vét của cải, làm giàu.
Một đám kỹ nữ mặt này tươi cười, cười cười nói nói bâu lấy Dị Nhân, Dị Nhân ngẩng đầu lên nhìn thì thấy ở hành lang gác hai có một cô gái xinh xắn đang chớp chớp mắt đưa tình với mình. Ánh mắt lâu ngày không được gặp đó làm Dị Nhân rạo rực, vật dưới đũng quần một lần nữa lại động đậy. Ông ta quay lại rút ra mấy lạng bạc lẻ, đưa cho Chu Kiểm và Tư Không Mã: “Các ngươi ra phố chơi hoặc tìm một kỹ nữ vui chơi cũng được”.
Chu Kiểm không có hứng thú với việc dùng tiền chơi ngọc nên đi ra phố. Tư Không Mã nhìn thấy vẻ thẹn thùng của các kỹ nữ cũng thấy rạo rực, bèn cùng Dị Nhân bước vào kỹ lư. Bước vào hàng lang rộng lớn, Tư Không Mã lớn tiếng gọi: “Tổng quản kỹ lư đâu rồi?”
Lạc Dương Cốc nghe thấy vội chạy đến nói anh ta là tổng quản kỹ lư, hỏi hai vị đại nhân có gì dặn dò?
Tư Không Mã tự cho mình là hơn người nói: “Ngươi có biết ông ấy là ai không?”
Lạc Dương Cốc lắc đầu.
“Nói ra ngươi sẽ đứng không vững cho mà coi! Nói cho ngươi biết, vị này là Dị Nhân, cháu của Tần Vương! Mau tìm cho ông ấy một cô trông khá khẩm vào, đừng có đưa mấy cô sứt môi lồi rốn để bịp bọn ta đấy!”. Tư Không Mã vênh mặt, hất hàm nói.
Lạc Dương Cốc chỉ nghe nói Dị Nhân con tin nước Tần sống ở thành Hàm Đan, nhưng từ trước đến giờ chưa từng gặp mặt. Vừa thấy cái người mặt mũi quái dị trước mặt là Dị Nhân, liền cúi người hành lễ nói: “Lạc Dương có mắt không nhận ra Kim Ngọc tướng, xin Dị Nhân điện hạ trị tội! Tiểu nhân xin đảm bảo tìm cho hai vị hai nàng đẹp như hoa, như ngọc để Dị Nhân điện hạ và vị đại nhân này vui chơi tràn trề!”
Dị Nhân được đưa đến một gian phòng xa hoa tràn đầy tiêu hương phấn khí, một mỹ nữ lướt đến trước mặt ông ta. Dị Nhân như người khát được nước, hấp tấp xé y phục của người kỹ nữ, vồ vập như mãnh hổ trên cơ thể nhẵn mịn như cá …
Mấy lần đầu, Dị Nhân cảm thấy phấn chấn tươi mới, mấy ngày sau lại thấy rằng mỹ sắc trong kỹ viện chẳng qua cũng chỉ như vậy thôi. Ông ta muốn thay đổi khẩu vị, tìm một kỹ nữ biết hát múa Ba Thục Tần Phong. Lạc Dương Cốc nói, hiện giờ chưa có một kỹ nữ nào biết hát múa những bài hát của Tần, nhưng sau hai ngày, đảm bảo sẽ tìm được một mỹ nữ giỏi ca vũ nước Tần, nhất định sẽ làm Dị Nhân điện hạ vừa ý.
Hai ngày sau, khi Dị Nhân đến, Lạc Dương Cốc nói với Dị Nhân là theo yêu cầu của điện hạ, cuối cùng đã thoả nguyện tìm được một mỹ nữ đẹp như tiên. Dị Nhân được đưa đến một căn phòng, có tên gọi: “Duyệt Linh các”. Đẩy cửa vào, đã thấy một cô gái diễm lệ tuổi cập kê kính cẩn chờ đợi ở đó. Thấy Dị Nhân bước vào, khởi thân thi lễ, sau đó đi nhẹ như lướt đến đóng chặt cửa lại. Dị Nhân thấy nhất cử nhất động của cô đều nhẹ nhàng, uyển chuyển, không giống người thường.
Cô gái nhoẻn miệng cười, lộ ra hai hàm răng trắng như thạch nói: “Tiện dân tên gọi Di Hồng, xin hầu hạ công tử điện hạ. Nghe Lạc Dương Cốc nói, công tử điện hạ có tâm hướng về ca vũ nước Tần. Di Hồng xin ngâm một khúc: “Tần Phong- Kiêm Hà” để mua vui cho điện hạ”. Di Hồng nói xong, cất giọng ngọt ngào lưu loát:
Lau sậy xanh xanh
Giọt sương long lanh
Ôi người con gái
Giữa dòng mong manh.

Ngược theo dòng nước
Con đường trắc trở
Ngược theo dòng nước
Giữa dòng bơ vơ.

Lau sậy thê thê
Khí thu sắc ghê
Ôi người con gái
Ven dòng sông quê.

Ngược theo dòng nước
Con đường lên cao
Ngược theo dòng nước
Đá ngầm nhô cao.

Giọng nói quê hương trầm bổng réo rắt, ca từ tình chân ý thật, Dị Nhân như được trở về bên bờ sông Vị xa cách đã lâu, Chương đài nội cung. Tiếng đọc rung động đến tận tâm can, những tôi tớ cười tươi như được mùa, khuôn mặt hiền hậu thân thương của mẹ - Hạ Cơ, những thức ăn đủ các phong vị, những bạn bè quyền quý tẩu khuyển đấu kê … những kỷ niệm, mộng tưởng về quê hương tràn trề trong đầu Dị Nhân, bất giác Dị Nhân buột tiếng than: “Có nhà khó về, có mộng khó vẹn …”
Nghe thấy Dị Nhân nói như vậy, tiếng hát Di Hồng bỗng im bặt: “Tiện dân ca bài “Tần Phong – Kiêm Hà” đã khơi dậy nỗi buồn nhớ quê hương của điện hạ, thất lễ, thất lễ!”
Cử chỉ của Di Hồng thanh thoát, uyển chuyển, nho nhã, xuất thân không phải là người hầu hạ nơi tướng phủ, thì cũng là gia đình nho sĩ.
Khi chú gà trống cất tiếng gáy báo hiệu bình minh, Dị Nhân mới rời kỹ lư.
Ông ta cảm thấy lời ca của Di Hồng như còn văng vẳng bên tai … Những ái ân nồng thắm trên chiếc giường êm ái đó còn như hiện ra mồn một trước mắt. Sau này được làm Tần Vương, tìm được một kỹ cơ như vậy cũng coi là mãn nguyện lắm rồi. Tiếc là lần đầu gặp mặt, chỉ chú ý đến việc chăn gối trên giường mà không kịp thổ lộ tâm tình …
Bến đò Chương Yên thông qua dòng sông Phủ Dương, đem rất nhiều hàng hoá và truyền thuyết đến thành Hàm Đan cách xa hai trăm dặm. Bến đò bị che khuất sau đám cây sum suê um tùm, tiếng chim sẻ hót líu lo trong đám lá xanh biếc, dưới bóng cây um tùm, dòng nước róc rách trôi. Bến đò rộng hơn mười trượng, cũng được coi là một bến cảng lớn. Ven bờ được đắp bởi những phiến đá sần sùi một màu, những đám rêu xanh đã kết gắn các phiến đá với nhau một cách tự nhiên. Dọc theo bến cảng là các nhà trọ, quán rượu. Đây là một thị trấn nhỏ phồn hoa và lâu đời.
Dương Tử vuốt mồ hôi lấm tấm trên trán, chỉ huy một số phu dịch dỡ những tấm gỗ dựng nhà từ xe kéo vào bến cảng. Những vật liệu này là mua để dựng nhà trọ cho Dị Nhân, lát nữa sẽ được chuyển đến Hàm Đan.
Dương Tử thấy những tấm gỗ nằm lung tung khắp bến cảng, xa xa có tàu sắp cập bến và những vật đó có thể ảnh hưởng đến đường đi lại của người xe.
Lúc đó, Lạc Dương Cốc hô hào sai khiến mười mấy người phu khuân vác đang hướng về phía bến cảng. Mỗi người phu khuân vác đều vác một hòm gai lớn nặng chình chịch, bên trong là những hoa tiêu thượng hảo, tường vách ở các phòng trong kỹ lư đều được trát bằng bùn tiêu, như vậy trong phòng luôn tràn ngập mùi hương quyến rũ. Để loại hương thơm này luôn đậm đà, tươi mới, bùn tiêu trát tường mỗi năm được thay một lần. Thấy những tấm gỗ chắn đường đi, Lạc Dương Cốc cất tiếng chửi: ‘Thằng nào có mắt không tròng, vứt gỗ lung tung ra thế này?”
Trước khi đi, Lã Bất Vi đã dặn Dương Tử, trên đường phải tạo dư luận làm mọi người đều biết rằng Dị Nhân đang dựng một nhà nghỉ thượng hạng chính thức làm ăn, định cư ở Hàm Đan. Do vậy, nhìn thấy có người, Dương Tử bèn hoà nhã bẩm thưa: “Xin lỗi đại ca, những vật này là để vận chuyển về Hàm Đan xây nhà trọ cho Vương tôn nhà Tần – Dị Nhân điện hạ”.
Lạc Dương Cốc khinh khỉnh nói: “Đừng có lấy Vương tôn Tần Vương ra dọa người nhé! Người xây nhà cho Dị Nhân, còn những hoa tiêu này của bọn ta cũng là dùng để trát tường phòng cho Dị Nhân ở kỹ lư đấy!”
Dương Tử biết mấy ngày nay Dị Nhân thường chỉ biết đến kỹ lư, trong bụng nghĩ: “Chắc người này là hầu hạ Dị Nhân ở đó”. Nghĩ như vậy, ông liền hỏi Lạc Dương Cốc: “Đại ca đã gặp Dị Nhân chưa?”
Lạc Dương Cốc nói: “Hà, gặp rồi, đến mỹ nhân được ông ta yêu mến – Di Hồng lai lịch thế nào ta còn biết nữa là”.
Dương Tử vui vẻ hỏi: “Lai lịch như thế nào?”
Lạc Dương Cốc nói: ‘Thiên cơ không thể tiết lộ được”.
Dương Tử thấy lời Lạc Dương Cốc có gì ẩn chứa, muốn hỏi rõ ngọn nguồn, liền cúi đầu khom lưng nói với Lạc Dương Cốc: “Đại ca, chúng ta đều là phục vụ cho Dị Nhân điện hạ, cùng là người một nhà. Xem ra, còn phải đợi thuyền một lúc, xin mời đại ca một chầu rượu”.
Lạc Dương Cốc thấy Dương Tử khom lưng uốn gối, trong lòng hả hê, sung sướng, dặn dò mấy người phu đợi ở bến cảng xong liền theo Dương Tử bước vào một tửu lầu cách đó không xa. Dương Tử gọi rất nhiều thức nhắm, và một bình rượu quế, cung cung kính kính rót rượu cho Lạc Dương Cốc: “Đại ca thật là thần thông quảng đại, đến lai lịch kỹ nữ hầu hạ Tần Dị Nhân cũng biết! Vừa rồi đại ca rủa tôi rất đúng, coi như tôi có mắt không tròng!”
Sau một tuần rượu, thấy Lạc Dương Cốc có vẻ ngà ngà say, Dương Tử liền hỏi: “Đại ca, kỹ nữ hầu hạ Dị Nhân mà đại ca vừa nói tên là gì?”
“Di Hồng”, Lạc Dương Cốc đáp.
Dương Tử lại hỏi: “Lai lịch của cô ta như thế nào?”
Lạc Dương Cốc định nói rồi lại thôi.
Dương Tử lại truy hỏi: “Đại ca, anh biết thật hay không biết? Không biết thì thôi! Đừng có gạt tiểu đệ!”
Lạc Dương Cốc nói không vui: “Tiểu đệ, em nói gì vậy? Nói cho em biết, cô Di Hồng đó là một mỹ nữ được Triệu Vương sủng ái đấy!”
Dương Tử vừa nghe xong, tim thắt lại, cảm thấy sự việc này rất kỳ lạ, không thể như vậy được, là quân vương một nước, Triệu Hiếu Thành Vương làm sao lại có thể đưa ái thê của mình đến kỹ lư bán thân được!
Lạc Dương Cốc lắp bắp nói không nên lời.
Dương Tử nói: “Lời nói của đại ca thật là kỳ lạ”.
Lạc Dương Cốc nhìn quanh bốn phía, hạ thấp giọng nói: “Đại ca sẽ nói thật với tiểu đệ, nhưng tiểu đệ phải thề với trời đất rằng sẽ không tiết lộ việc này với bất cứ ai!”
Dương Tử nói: “Tiểu đệ cũng là một quân tử không biết nuốt lời; dám xin đảm bảo bằng mạng sống của mình nếu tiết lộ với kẻ khác thì sẽ bị sét đánh giữa trời quang, lửa thiêu nơi đất rộng, người không tha, vật cũng không tha …”
Lạc Dương Cốc nói: “Được rồi! Được rồi! Nói cho tiểu đệ biết, cái cô Di Hồng đó là Triệu Vương cử đến giám sát Dị Nhân đấy!”
Dương Tử sợ giật cả mình, bát rượu trên tay suýt nữa rơi xuống đất, vội hỏi: ‘Đại ca, sao đại ca biết?”
Lạc Dương Cốc nói: “Ta đường đường là tổng quản kỹ lư, nắm rõ mọi việc ở đó như lòng bàn tay!”
Dương Tử nghe thấy Lạc Dương Cốc là tổng quản kỹ lư thì biết lời ông ta nói quyết không thể là nói khoác được.
Về đến Hàm Đan, Dương Tử để người khác trông nom đống vật lịêu đó chuyển về chỗ Dị Nhân, mình ông ta quay về Lã phủ, báo cáo tin nghe được từ chỗ Lạc Dương Cốc cho Lã Bất Vi. Lã Bất Vi cũng hơi thất kinh, sợ rằng Dị Nhân đã tiết lộ kế hoạch của họ cho Di Hồng. Như vậy, Triệu Hiếu Thành Vương mà biết thì mọi việc coi như xong. Ông ta vội vàng sai người dắt ngựa đóng xe, cùng Dương Tử lập tức đến ngay quán trọ nơi Dị Nhân ở. Vào tệ quán, Lã Bất Vi nói một câu với Công Tôn Càn đang ngồi ung dung sưởi nắng ở trên thềm: “Bàn chuyện xây tệ quán với Dị Nhân”, rồi chạy thẳng tới chỗ ở của Dị Nhân.
Vừa may, lúc đó Dị Nhân có nhà. Lã Bất Vi nói cho Dị Nhân tin tức mà Dương Tử nghe được, Dị Nhân sợ hãi. Lã Bất Vi hỏi: “Điện hạ nói gì với cô ta rồi?”
Dị Nhân dương dương tự đắc nói: “Cô nàng Dị Nhân đúng là xinh đẹp tới mức hoa nhường nguyệt thẹn, chim sa cá lặn, làm người ta hồn bay phách lạc. Nhưng khi cô ta hỏi tôi Triệu Vương có tốt không, lúc nào trở về Tần, Lã Bất Vi có phải đang mưu đồ đưa ngài về nước làm Thái tử … Tôi liền cảnh giác, kế hoạch của chúng ta làm sao có thể đem tiết lộ với một nữ nhi hồng trần được. Nhưng tôi không nghĩ rằng, cô ta là thiếp của Triệu Vương!”
Nghe Dị Nhân nói như vậy, Lã Bất Vi mới chuyển lo thành mừng, như trút được một tảng đá khỏi tim vậy, nói: “Điện hạ đúng là thực hư khó lường”.
Dị Nhân nói: “May mà Dương Tử đem một tin quan trọng như vậy về báo cho chúng ta, từ nay về sau tôi sẽ tránh xa ả Di Hồng đó!”
Lã Bất Vi nói: “Không! Nếu điện hạ làm như vậy sẽ càng dễ làm người khác cảnh giác và nghi ngờ. Chi bằng tương kế tựu kế, làm Di Hồng tin rằng điện hạ một lòng hướng về nước Triệu, yêu quý Hàm Đan, để che mắt Triệu Hiếu Thành Vương”.
Dị Nhân nói: “Vậy thì cứ làm theo kế hoạch của Thái bá vậy!”
Lã Bất Vi thấy tệ quán của Dị Nhân đổ nát, gạch ngói xếp đống. Thợ thuê đến thi nhau bỏ về, anh chửi tôi cãi, hiện ra một cảnh tượng hỗn loạn. Lã Bất Vi nghĩ: “Hay là đưa Dị Nhân về phủ đệ của mình ở, ở đó đầy đủ, thoải mái, nhưng việc này phải được Triệu Hiếu Thành Vương phê chuẩn”. Nghĩ đến đây, Lã Bất Vi lắc lắc đầu, bỏ đi dự định này.
Lã Bất Vi về đến phủ, Triệu Cơ bảo ông ta rằng vừa rồi có hai quan sai của Tòng Đài tới, Triệu Hiếu Thành Vương cho triệu Lã Bất Vi lên điện, kiến giá.
Lã Bất Vi vội hỏi: “Hai quan sai đó nói chuyện gì?”
Triệu Cơ lắc lắc đầu, Lã Bất Vi lẩm bẩm: “Là việc gì nhỉ?”
Triệu Cơ lo lắng hỏi: “Hay là Triệu Vương đã có bằng chứng gì, muốn hỏi tội đại nhân?”
“Ai mà biết được? Dân gian có nói, là phúc thì không phải là hoạ, là hoạ thì tránh cũng không được. Bất luận là hoạ thiên tửu địa, hay là biển lửa, ta cũng phải đi. Nếu thấy một hồi lâu ta không quay lại thì nàng hãy bảo Dị Nhân là ta bị Triệu Hiếu Thành Vương triệu vào điện”.
Chiếc xe chạy qua các ngõ phố, Lã Bất Vi ngồi trên xe suy nghĩ trả lời các loại chất vấn của Triệu Hiếu Thành Vương như thế nào. Ông ta đoán tám, chín phần là về việc ông ta giúp Dị Nhân lập thế tử.
Chiếc xe dừng trước cửa Tòng Đài, Lã Bất Vi vừa xuống xe nhìn thì đã thấy kinh ngạc, hai lần trước đến, một bên cửa có một quân sĩ khoác đao, hôm nay lại bốn người, đều cầm khiên đao. Bước vào, Lã Bất Vi thấy phía trước điện ngày thường có người qua lại, hôm nay lại vắng lặng không người. Các cửa cũng có binh sĩ đứng, đây là điều chưa từng có. Lã Bất Vi thấy không khí trong cung thiếu vẻ thâm nghiêm thì tim đập chân run: Hay là Triệu Hiếu Thành Vương thật là muốn hỏi tội mình sao?
Lã Bất Vi bước vào, thấy quang cảnh càng khác thường. Triệu Hiếu Thành Vương ngồi trên đường, sau lưng không phải là các cung nữ cầm quạt mà là những lực sĩ cầm đao. Lã Bất Vi run lẩy bẩy quỳ lạy Triệu Hiếu Thành Vương.
Triệu Hiếu Thành Vương kéo vạt áo ngồi thẳng lên, nhìn Lã Bất Vi hồi lâu không lên tiếng. Ông đặc biệt bày bố một quang cảnh sát khí để đe doạ tên thương nhân này, kỳ thực Triệu Hiếu Thành Vương như đứng trong màn sương năm dặm nhìn không rõ diện mạo thật của Lã Bất Vi. Di Hồng về báo cáo nói rằng cô ta không hề phát hiện ra Dị Nhân có lòng thù ghét Triệu Vương và mưu đồ chạy trốn về Tần; Lã Bất Vi lại mua gỗ về xây quán tệ cho Dị Nhân, đây là một hành động định để Dị Nhân cư trú lâu dài ở Hàm Đan; Công Tôn Càn cũng nói rằng Lã Bất Vi không hay thường đến gặp Dị Nhân, dù đến thì cũng là để chơi cờ chứ không có việc gì khác …
Lần này Triệu Hiếu Thành Vương quyết định “lễ trước binh sau” phải truy hỏi la ra ngọn nguồn.
Hồi lâu sau, Triệu Hiếu Thành Vương cất tiếng hỏi: “Quý thương dạo này bận lắm phải không?”
“Dạ, bận lắm ạ”.
Triệu Hiếu Thành Vương vẫn giữ giọng dửng dưng: “Bận gì vậy? Có thể cho quả nhân biết một chút không?”
Lã Bất Vi liếc mắt nhìn trộm, rồi nói: “Dạ, cách đây không lâu, đi Hoặc Dương một chuyến, chạy đông chạy tây về việc Vương tôn Dị Nhân có thể trở thành Vương hầu”.
Triệu Hiếu Thành Vương nói: “Quý thương không an phận thủ thường làm ăn mà lo chuyện thiên hạ, tham dự vào việc triều chính nước Tần làm gì?”
Lã Bất Vi đáp: “Đại Vương chỉ biết một ma không biết hai. Tiểu nhân đến Hoặc Dương vì Dị Nhân cũng là để làm ăn. Người ta thường nói, thêm một người bạn thêm một đường đi, thêm một kẻ thù thêm một bức tường. Sau này một khi ông ta làm Tần Vương, một quân vương mà phải sống cuộc sống cơ hàn, đói rét thì cũng đáng thương. Thần nghĩ anh ta không ở Hàm Đan một năm, hai năm nên sửa lại nơi ở cho anh ta”.
“Nói như vậy thương nhân còn có một tấm lòng phổ độ thiên hạ, thương kẻ nghèo khó, cô độc!”
Lã Bất Vi nói: “Tiểu nhân giúp Dị Nhân làm thế tử, đối với Đại Vương cũng có điểm tốt!”
Triệu Hiếu Thành Vương châm biếm: “Thương nhân các người đều biết vương bà bán dưa, tự bán tự khoa! Dị Nhân mà làm vương hầu thì có lợi gì cho quả nhân?”
Lã Bất Vi nói: “Đại Vương thử nghĩ xem, Dị Nhân là một ma vương hỗn thế, ham chơi, một khi làm quân vương, không giống như Chiêu Tương Vương văn võ song toàn, hừng hực hùng tâm, chiêu binh mãi võ, không ngừng tấn công vào thành quách nước Triệu, thôn tính đất đai của nước Triệu; còn nữa, ông ta làm con tin ở nước Triệu, sẽ nhớ đến ân tình sâu nặng của Đại Vương đối với ông ta, cũng có thể gần gũi với nước Triệu, mong cùng Đại Vương kết minh để cùng đối phó với chư hầu thiên hạ”.
Triệu Hiếu Thành Vương cảm thấy Lã Bất Vi nói rất có lý, liên tưởng đến tình hình Di Hồng và Công Tôn Càn báo cáo với mình, thấy rằng lời Đỗ Thương chỉ là khuếch đại sự việc, mê hoặc tâm thần. Dị Nhân có về Tần làm Vương hầu, thì cũng làm gì có việc căm hận nước Triệu, mưu đồ bỏ trốn về Tần, chắc gì ở chỗ Chiêu Tương Vương lại không chịu cảnh chim lồng cá chậu, đến đây để khiêu chiến! Nghĩ đến đây, ông mới thay đổi thái độ, thân thiện hỏi Lã Bất Vi: “Việc xây dựng quán xá mới tiến hành tới đâu rồi?”
Lã Bất Vi nhân cơ hội này trả lời: “Bẩm Đại Vương, đang tiến hành xây dựng ngày đêm không nghỉ. Có một việc nhỏ tiểu nhân muốn thỉnh cầu cho Dị Nhân, mong Đại Vương ân chuẩn”.
“Chuyện gì?”
“Hiện tại chỗ ở của Dị Nhân không ngừng bị xuống cấp, anh ta muốn đến ở trong phủ của tiểu nhân vài ngày, đợi tới khi quán xá mới được sửa xong thì lại chuyển về”.
Triệu Hiếu Thành Vương nghĩ: “Tuy rằng Dị Nhân không có ý định trốn chạy về nước Tần, nhưng cũng không thể sơ suất được. Phải quản nghiêm như quản phạm nhân, không thể để điều gì sai sót xảy ra”.
Lã Bất Vi nói: “Vì việc này Dị Nhân có cần phải đích thân tới tiếp kiến Đại Vương không?”
Triệu Hiếu Thành Vương nói: “Vậy thế này nhá, Dị Nhân tạm thời tới ở chỗ quý thương cũng được. Nhưng thứ nhất là phải có Công Tôn Càn đi cùng; thứ hai là khi quán xá mới xây dựng xong, Dị Nhân lập tứ phải chuyển về ngay”.
Lã Bất Vi cảm tạ ân đức của Triệu Hiếu Thành Vương nói: “Tiểu nhân thay mặt Dị Nhân cảm ơn Đại Vương!"

Hết Quyển 4
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 4 » »»