📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Trau Dồi Việt Ngữ

Tiếng Việt

36 trả lời, 11.670 lượt xem — Trang 1 / 2
Kính Thành Viên và Bạn

Kính Hoài Hương, Viên Việt Học

Sau đây là ý kiến cuả Hoài Hương về tiếng trau dồi và trau giồi trong lớp Hán Việt. Xin được phép ghi lại đây. Đa Tạ.

>>>>>>>>>>>>

Xin nêu ra vài thiển ý của HH về hai chữ <trau dồi> và <trau giồi>. Kính mong quý Thầy Bạn chỉ giáọ.

1) Nếu dựa theo các từ điển tiếng Việt hiện đại, thì <trau giồi> là dạng xưa của <trau dồi>. Trong các tự điển xưa đều ghi là <giồi> với nghĩa là “làm cho trau chuốt, đẹp đẽ”. Như vậy, <trau dồi> chỉ mới được dùng gần đây thôi.

Tiếc rằng, giồi/dồi không phải là một từ gốc Hán, nên không thể dựa theo luật chánh tả do hai Gs Bửu Cầm và Lê Ngọc Trụ đưa ra được.

[Theo 2 Gs này, hễ âm Bắc Kinh ghi với phụ âm /y/ thì tiếng Việt ghi với /d/

(*); thí dụ: yòng > dụng, yáng > dương, yù > dũ, ...],

và hễ âm Quảng Đông đọc là /k/ (**) thì tiếng Việt ghi với /gi/; thí dụ: kong > giảng, káo > giao, ...].

Giồi/dồi ở đây là một từ thuần Việt. Trong Thạch Sach và các Td xưa ghi chữ Nôm là <thủ + lỗi>, mượn âm <lỗi> của Hán Việt để ghi âm <giồi/dồi>.

2) Nếu chỉ dựa theo luật biến âm từ âm Hán Việt sang âm Nôm thì ghi là <trau dồi> có nhiều khả năng đúng hơn, theo thiển ý. Đó là vì có nhiều trường hợp L > d hơn là L > gi.

Nhân đây cũng xin nêu ra trường hợp chữ <dòng nước> và <giòng nước>. Vì chữ Nôm ghi <dòng> là <thuỷ + dụng>, nên ta ghi với /d/ thì đúng hơn.

Nhưng mà hình như HH đã lạm bàn rồi.

Kính,

HH

Ghi chú:

(*) HH thấy có ít nhất một ngoại lệ là hai chữ <giảo> 54AC, 9F69, âm Bắc Kinh đọc là <yạo>. Còn các trường hợp khác đều đúng.

(**) Hay âm Bắc Kinh đọc là /j/.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-04 19:57:23HongYen>
...

Kính Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích. Xin được ghi lại bài sau đây.

Đa tạ

&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;

....nếu ghi là "trao giồi/dồi" vì chữ "trao" nhất định là sai, phải "trau" như trong "trau chuốt" mới đúng.....

Còn "giồi" hay "dồi" thì dùng như là Hòai Hương nói, "giồi" là lối viết cổ thịnh hành trong tiền-bán thế-kỷ 20 và "dồi" là cách viết phổ biến hơn sau nầy. Chúng ta có thể thấy hiện tượng nầy trong:

giòng sông ---&gt; dòng sông
giòng dõi ---&gt; dòng dõi
giải khăn sô ---&gt; dải khăn sô
giồi ---&gt; dồi

Riêng tôi có khuynh hướng viết "trau dồi" vì chữ "dồi" này là một dị dạng hay biến dạng của chữ "nhồi". Mà như vậy thì "dồi" đúng hơn là "giồi".

Thân,

BICH
8/3/05


&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;
Đăng nhập để trả lời
0
Kính Frank Hai Phạm,

Xin đuợc phép ghi laị nơi đây.

Đa tạ

&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;

............

TD Lê Ngọc Trụ & Lê Văn Đức: trau giồi (không có trau dồi)

TD Nguyễn Như Ý: trau dồi ( không có trau giồi)

TD Tiếng Việt: trau dồi/giồi

TD Thanh Nghị: trau giồi (không có trau dồi)

Theo Lê Ngọc Trụ ( Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị ), giồi là biến âm "giùi", "giùi" là
biến âm "chùi", nghĩa "làm cho trơn bóng". Trong nghĩa này, "trau giồi" có vẻ đúng hơn
"trau dồi".

"giồi" cũng có nghĩa "nhồi" ( nỗi riêng lớp lớp sóng giồi ), nhưng nghĩa này không
thích hợp cho từ kép "trau giồi".


Theo thiển ý, hai nghĩa này có ngữ nguyên ( etylmology ) khác nhau.



Thân mến

Pham Frank Hai
Đăng nhập để trả lời
0
Copy từ PFH

Đa tạ

....

Theo tôi biết, cả trau giồi và trao dồi đều đúng. (Tu Dien Chinh Ta Tieng Viet, Hoang Phe )

Theo thiển ý, Trung Hoa là tên của nền văn hóa.

dân tộc Tàu (Hoa nghĩa là đẹp, magnificent, theo Wenlin), dùng như tỉnh từ chứ không phải là danh từ.

Chúng ta nói "nước Trung Hoa", "người Trung Hoa", "Trung Hoa Dân Quốc", "dân tộc Trung Hoa", "văn hóa Trung Hoa", chứ không nói "đi Trung Hoa"[:D])

Vả lại, cả Đài Loan và Trung Quốc Đại Lục đều tự nhận mình là người Trung Hoa.


Vậy "Đi Trung Hoa" là đi Trung Quốc Đại Lục hay đi Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc) ?


Hai
Đăng nhập để trả lời
0
...

Copy từ Bác Sĩ Vinh Yurong, Đài Loan

Đạ tạ

&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;

....

Từ Chùi--&gt;Giùi--&gt;Dồi cũng chỉ là một giả thuyết, không biết đúng sai thế nào. Trong truyện Thạch Sanh có câu: "Khó giàu vay mượn trau dồi, Quần đôi áo mớ phấn dồi điểm trang", trong này chữ (trau) DỒi được viết (Thủ+lỗi), đứng về phương diện biến âm của
chữ Nôm từ âm Hán thì từ âm L qua D rất thường thấy, do vậy theo tôi, tôi thiên về TRAU DỒI hơn là TRAU GIỒI.

Điều đáng để ý là trong câu này, chữ (phấn) DỒI cũng được viết giống y như TRAU DỒỊ Chữ DỒI sau này cũng có thể từ NHỒI mà ra, vì ta có NHÁC --&gt;DÁC, NHANH--&gt;DANH.

Vinh
Đăng nhập để trả lời
0
Post # 5

Copy từ Bác Sĩ Vinh Yurong, Đài Loan

Đạ tạ


&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;

Các thầy bạn thân mến

Giới thiệu 2 bài thơ xưa nhất về chùa Thiên Mụ ở Huế, do 1 nhàsư Tàu (Sư Thích Thạch Liêm) đến thăm vào năm 1695. Sư này sau này là thầy của Chúa Nguyễn Phúc Chụ Thơ ghi lại trong nhậy kýcủa sư khi đi thăm Đại Việt từQuảng Đông qua Thuận Hoá hoằng pháp từnăm 1695 đến 1696 trong sách Hải ngoại kỷ sự, cóxuất bản tại Taipei.

Kèm 2 bài thơ Việt do tôi dịch:

Bài số 1
Phạn vương cung khuyết Nguyễn vương khai
Ngọc điện chu môn sinh duyên đài
Nhất đại vinh quang dư thảo mộc
Thiên thu hoa vũ kết hương đài
Đình tiền vân ảnh sơn liên thuỷ
Hạm ngoại phàm phi khứ phục hồi
Vị thức trích tiên Thiên Mụ phú
Mộng du khả thị thử trung lai


Bài số 2
Đương niên vương khí xuất trung lưu
Bá nghiệp hoàn qui phạn bối tu
Thạch khuyết bất lưu Tần tuế nguyệt
Sắc thư thượng tải Hán Xuân thu
Hải triều sa giới tam thiên lý
Phong vũ chung minh bách bát châu
Phật hoả nhất kham thiêu bá tử
Toạ tiêu hàn nguyệt bất tri sầu
(Thích Thạch Liêm)

Bài số 1 dịch thơ:

Phật Tổ chùa đây chúa Nguyễn xây
Cửa son điện ngọc mọc rêu đầy
Cỏ cây vương dấu dòng vinh hiển
Hương án thờ ghi nghiệp đế dày
Sông núi ngoài sân mây lộn bóng
Đi về ngoài cổng cánh buồm bay
Chưa nghe huyền thoại bà Thiên Mụ
Mộng tưởng thì đây lại chốn này

Bài số 2 dịch thơ
Ở đây vương đế dấy từ lâu
Việc lớn làm nên bởi nghiệp tu
Năm tháng Tần xưa bia mất dấu
Xuân thu Hán cũ sách còn lưu
Câu kinh bay rộng ba ngàn dặm
Tiếng kệ vang xa trăm tám châu
Đốt củi bách tùng khêu lửa Phật
Nhìn trăng thanh thản suốt đêm thâu


Nguyễn Hữu Vinh dịch
(Bác Sĩ Vinh Yurong, Đài Bắc, Đài Loan)
Đăng nhập để trả lời
0
Copy

Anh Vinh,

Sao không chép cho bản chữ Hán?
Và xin bình giảng thêm cho mọi người thưởng thức.

DTK

&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;

Đa tạ
Đăng nhập để trả lời
0
Copy

Tue, 16 Aug 2005 01:38:00 -0000

Anh Kiệt và thầy bạn thân mến

Không biết vì sao nhiều lúc post chữ Việt và Tàu lên đây hay bị biền dạng nên xin quý vị vào link dưới đây xem, trong đó có chữ Tàu, giải thích và nhiều nữa:

http://www.khuongviet.com/kv-archive/KVso4/HTThachliem2.htm

HuuVinh

&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;

Đa tạ
Đăng nhập để trả lời
0
http://www.khuongviet.com/kv-archive/KVso4/HTThachliem2.htm



Hoà Thượng Thạch Liêm,
chúa Nguyễn Phúc Chu và chùa Thiên Mụ



Nguyễn Hữu Vinh



Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Dù trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung. Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ”. Cho đến bây giờ, chùa Thiên Mụ đã nổi tiếng từ lâu, ít ai không biết đến, dù chưa một lần được đến tận nơi để nhìn tận mắt. Tiếng chuông chùa và bóng tháp bảy tầng cao ngút đã đi vào lịch sử, văn học và cũng đã trở nên hai biểu tượng riêng của đất Huế. Nói đến chùa Thiên Mụ, từ phong cảnh, di tích lịch sử, huyền thoại, giai thoại văn học, ca dao, tục ngữ v.v, có thể mọi người có thể đều biết rõ, nhưng khi nói đến Hoà Thượng Thích Đại Sán (釋大汕), hiệu Thạch Liêm (石濂和尚), vị sư mà hiện giờ được phụng thờ như là vị tổ sư của chùa, thì rất ít ai biết tới, ngoại trừ những người nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam. Vị sư này là ai, gốc gác ở đâu, có công trạng gì đối với chùa mà được tôn thờ vinh dự như là vị sư tổ? Về danh hiệu của sư Thích Đại Sán, sách Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên (quyển 6, tờ 24) (2) viết rằng: “Thạch Liêm Hán Ông, người nhà Thanh, quê Chiết Giang. Thông minh đỉnh ngộ, tinh thông các môn chiêm tinh, luật tịch, lý số, thư pháp, hoạ vẻ, nhất là về môn thơ phú. Thời Minh mạt, nhà Thanh xâm chiếm Trung Quốc, Liêm giữ nghĩa không chịu làm tôi, bèn từ giã mẹ già, xuất gia đầu Phật, vân du khắp các nơi danh thắng…".

Sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên (quyển 8, trang 17) (2) chép việc trùng tu chùa Thiên Mụ vào năm 1714 có ghi “…Thời ấy Hoà Thượng ở Chiết Tây tên Đại Sán hiệu Thạch Liêm đem thiền đạo đến yết kiến, được chúa yêu mến, khi ông về nước được chúa tặng nhiều gỗ quý đem xây cất chùa (Trường Thọ), nay còn di tích…”. Nhiều người lầm tưởng sư Đại Sán là tổ sư và trụ trì chùa Thiên Mụ. Thật ra, sư chỉ ghé đến tại chùa Thiên Mụ trong một khoảng thời gian rất ngắn, để dưỡng bệnh trong lúc chờ đợi mùa gió thuận lợi để trở về Quảng Đông. Sư chưa bao giờ trụ trì chùa Thiên Mụ cả. Việc nhầm lẫn này có thể do người đời sau vì không biết rõ lai lịch của sư nên người ta viết nhầm địa vị và công lao của sư lên bài vị để thờ trong chùa. Bài vị của sư được viết như sau: "Tự Động Thượng, chánh tông nhị thập cửu thế, khai sơn Linh Mụ tự, thượng Thạch hạ Liêm huý Đại Sán lão tổ hoà thượng giác linh" (嗣洞上正宗二十九世開山靈姥寺上石下濂諱大汕老祖和尚覺靈).

Chùa Thiên Mụ trải qua nhiều đời, có gần 150 trăm năm trước khi sư Đại Sán đến chùa hoằng pháp chỉ trong 1 thời gian ngắn. Do vậy, sư không thể là lão tổ sư của chùa được. Căn cứ vào tên chùa trong bài vị, chúng ta nghi rằng sự nhầm lẫn này đã xảy ra vào thời hoặc sau đời Tự Đức. Vua Tự Đức không có con, nghĩ rằng mình phạm tội với trời nên xuống chiếu đổi chữ Thiên ra chữ Linh. Bảy năm sau, không thấy hiệu nghiệm gì, do đó vua Tự Đức lại cho đổi lại thành Thiên Mụ (3). Hiện giờ sư Đại Sán được tôn thờ như một vị tăng cang hay là sư tổ của chùa, có thể vì do sự nhầm lẫn đáng tiếc như đã nói ở trên. Theo sách “Eminent Chinese of the Ching Period” (4) thì "sư Đại Sán là người giúp đở đắc lực nhất cho Ngô Ỷ trong việc xuất bán sách. Sư Đại Sán giàu có, một phần là nhờ sự cung dưỡng của bọn Thượng Chi Tín và của bọn quan viên quản lý việc mua bán với nước An Nam. Y dùng của cải đó để giúp đỡ cho các văn nhân đương thời nên rất nổi tiếng".

Giáo sư Trần Kinh Hoà (Chen Ching Ho), một sử gia Việt nam, gốc Taiwan, đã từng giảng dạy tại các đại học như Sài Gòn, Huế, Hongkong và Soka University ở Tokyo trong sách “Thập Thất Thế Kỷ Quảng Nam Chi Tân Sử Liệu” (5) viết rằng: ”...khoảng giữa triều đại Khang Hy, ở xã hội vùng Lĩnh Nam và trên thi đàn, sư Thạch Liêm tiếng tăm lừng lẫy. Ngoài những kẻ có liên hệ với chùa Trường Thọ, còn có những bọn thương gia Tàu và Nhật chuyên đi lại buôn bán với Quảng Nam (chỉ Thuận Hoá của Đại Việt). Đọc sách của sư còn lưu truyền lại như Hải Ngoại Kỷ Sự (海外紀事)(6) và Ly Lục Đường Thi Tập (離六唐詩集) (7), chúng ta nhận thấy rõ vị sư này tự phụ, đắc ý tỏ ra ngoài mặt, quyết chẳng phải một nhà tu hành khiêm tốn... Đối với bọn trí thức thời bấy giờ, vì sư sinh sống xa xỉ, tính ương gàn tự thị, dua nịnh quan trường, lời lẻ kiêu căng, nên có nhiều người phiền trách và xem y như là yêu tăng…Các quan lại nghi ngờ y buôn lậu với An Nam. Cứ theo Hải Ngoại Kỷ Sự kể thì lúc khởi hành từ Quảng Đông đi Hội An thì :”…Tăng chúng đi theo hơn 50 người, hành lý cũng nhiều, thuyền chủ nhìn nhau chẳng biết sắp đặt cách nào…” Đoạn văn nầy chứng thực được hàng hoá Đại Sán đưa qua Đại Việt khá nhiều…. Kết quả chuyến du hành An Nam, chở về nhiều thuyền châu báu như tê giác, sừng voi, san hô, châu ngọc v.v. không phải là ít, khó lòng tránh khỏi sự kinh ngạc của giới nhân sĩ Lĩnh Nam. Do những lời đồn đại về buôn lậu vớí Quảng Nam (An Nam) nên đã gây ra mầm mống tai hoạ cho y sau này.... Sau cùng Đại Sán bị quan đương thời bắt giam và chết trên đường áp giải về quê” (5).

Ở đây, chúng ta không luận bàn về những nhận định về hành động và phẩm cách của sư ở Quảng Đông, mà chúng ta chỉ xem xét về sự liên hệ của sư đối với quốc chủ Đại Việt thời ấy là chúa Nguyễn Phúc Chu và Phật duyên với chùa Thiên Mụ.

Bắt đầu từ giữa thế kỷ 17, không những ở nước Đại Việt mà còn ở Trung Quốc, là thời loạn lạc triền miên. Ở Trung Quốc, nhà Thanh chiếm cứ đánh đuổi nhà Minh. Vua Thanh Thái Tổ diệt được nhà Minh và lên ngôi năm 1644. Từ đó, những phong trào phò Minh diệt Thanh xảy ra khắp nơi. Đấy là vào thời dân Tàu thờ nhà Minh tràn qua lánh nạn nhà Thanh ở Đại Việt ta, sinh ra lượt sóng di dân từ miền nam Trung Quốc sang. Cũng vào thời đó, chính là lúc Trịnh Nguyễn phân tranh. Ở đàng trong các chúa Nguyễn tìm cách củng cố đế nghiệp để chống chọi với Trịnh ở phương bắc. Các chúa Nguyễn ngoài việc lo chống cự với phương bắc, nhưng đồng thời cũng lo bành trướng thế lực vào phương nam. Thế nên các chúa Nguyễn đã rất khôn khéo trong việc sử dụng nguồn nhân lực và tài lực từ ngoài vào. Các chúa đã sử dụng các người gốc nhà Minh này để khai khẩn và sử dụng như những đạo tiền quân, vừa khai khẩn vừa chống chọi với Chân Lạp. Do đó sự thông thương giữa Trung Quốc và Đại Việt vào thời bấy giờ đã trở nên cấp bách và cần thiết, dù rằng đường bộ gặp sự cách trở vì thế lực của Trịnh và Lê ở đàng ngoài. Nhưng vì thế mà cảng Hội An đã trở thành một thương cảng quốc tế tấp nập để thông thương bằng đường biển với Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Dương, Ấn Độ v.v. Thế lực của các chúa Trịnh đã làm lu mờ vai trò của vua Lê đối với các chúa Nguyễn ở đàng trong. Nho giáo không còn đủ sức cứu giúp nhà Lê. Nho giáo suy đồi, nên nhu cầu Phật giáo càng ngày càng quan trọng. Trong bối cảnh luồng sóng thông thương từ Trung Quốc và Nhật Bản vào Đại Việt, Phật giáo Đại thừa (Mahayana) (8) cũng theo vết chân di dân đó bành trướng đến miền trung nước Đại Việt. Sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên (quyển 8, trang 17) chép việc trùng tu chùa Thiên Mụ vào năm 1714 có ghi: ”…sai người qua Tàu mua Kinh, Luật và Luận hơn 1000 quyển…”.

Đây cũng là kết quả rõ ràng nhất về việc Phật giáo Đại thừa bành trướng vào đàng trong, sau khi việc sư Đại Sán được mời đến Thuận Hoá và tạm trú một thời gian ở chùa Thiên Mụ. Sở dĩ sư Đại Sán nổi tiếng trong giới Phật giáo, được tôn sư cho tới bây giờ và được phụng thờ ở chùa Thiên Mụ chẳng phải hoàn toàn do tài đức hoằng pháp của sư đối với Đại Việt ta, nhưng vì sư có một người đệ tử tài ba, lỗi lạc và danh tiếng. Đó là Đại Việt quốc chủ chúa Nguyễn Phúc Chu. Chúa Nguyễn Phúc Chu là người có công lớn trong công việc đại trùng tu chùa Thiên Mụ, dựng bia, đúc chuông lớn, còn lưu truyền cho đến ngày nay. Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí (9) quyển Kinh Sư, phần Tự Quán chép rằng: “…Chùa Thiên Mụ ở ngoài kinh thành, trên gò núi xã An Ninh (bây giờ thuộc làng Xuân Hoà), nguyên trước có chùa Phật. Gia Long năm thứ 14 xây lại…Nay xét bản triều Thái Tổ Hoàng Đế (tức chúa Tiên Nguyễn Hoàng) Tân Sửu năm thứ 44 (tức năm 1601) xa giá đến viếng Hà Khê, thấy giữa đồng bằng nổi một gò đất cao như hình đầu rồng quay lại, nhìn thẳng ra sông, phía sau có hồ, cảnh trí đẹp đẽ, nhân hỏi chuyện, người địa phương bảo rằng: …gò này linh thiêng, tương truyền ngày xưa ban đêm có người trông thấy một vị tiên bà mặc áo đỏ quần lục ngồi trên gò nói rằng: “Sau này sẽ có vị chân chúa đến sửa lại chùa này, tụ linh khí để giữ long mạch cho được bền vững”, nói xong biến mất, nhân đó đặt tên là Thiên Mụ Tự…Thái Tông Hoàng Đế (tức chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần) Ất Tỵ năm thứ 17 (1665) sửa chữa lại, Hiển Tông Hoàng Đế Canh Dần năm thứ 19 (1710) đúc chuông lớn, năm Giáp Ngọ năm thứ 23 (1714) trùng tu chùa…”.

Hiển Tông hoàng đế tức là Hiển Tông Hiếu Minh hoàng đế, đế hiệu của chúa Nguyễn Phúc Chu. Chúa Nguyễn Phúc Chu lên ngôi năm 1691, trẻ tuổi , tài ba xông xáo ra bắc vào nam, mở mang bờ cõi nhưng cũng rất tôn sùng đạo Phật. Do vậy chuyện mời sư học đạo cũng là chuyện tất nhiên. Chúa Nguyễn Phúc Chu nhân lúc sư Đại Sán còn ở Đại Việt đã quy y học đạo, tôn sư làm thầy. Nhân duyên này đã khiến chúa cho trùng tu lại chùa Thiên Mụ trong tinh thần nhớ ơn vị thầy mà mình đã quy y. Chúa đã cho khắc vào bia (10) những dòng chữ trịnh trọng như sau: “…Nhớ lại năm xưa, mời được Đường đầu đại sư, tên chữ là Đại Sán, hiệu Thạch Liêm. Ngài là bậc thầy, nguyện lực thâm sâu, lòng thương rộng lớn, y báo chánh báo vô biên, đạo thấu ba thừa, tu có tông chỉ như cây có gốc, nước có nguồn. Ngài được truyền tâm ấn ở đất Chiết Tây Trung Quốc…". Và những hàng chữ nhớ thương vô vàn: “…Thầy ta đã đi rồi, ta cứ hoài thương nhớ vị cao tăng, đã từng chống gậy vượt qua núi non, quan ải, dùng thuyền chở đạo, vượt biển, băng suối đi đến trời Nam, đem câu kinh kệ tuyệt diệu để ca tụng đạo mầu…”. Mối liên hệ giữa chúa Phúc Chu và sư Đại Sán khá mật thiết. Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên (q. 6, trang 24) còn ghi lại thi văn của sư, sau khi sư đã trở về lại Quảng Đông, gửi cho chúa để tỏ lòng thương nhớ. Những bài thi văn này trích trong hai tập sách của sư là Hải Ngoại Kỷ Sự và Ly Lục Đường Thi Tập vẫn còn lưu truyền cho tới ngày nay. Theo Tổng mục đề yếu Tứ Khố Toàn Thư (四庫全書) (tập hợp sách sử của vua Càn Long, hoàn thành năm 1782) (11), loại địa lý, mục 7 chép rằng" Hải Ngoại Kỷ Sự gồm 6 quyển do quốc triều Thích Đại Sán biên soạn. Tuần Phủ Chiết Giang tìm thấy đem dâng: "…Đại Sán là sư chùa Trường Thọ, tỉnh Quảng Đông. Mùa xuân năm Ất Hợi triều đại Khang Hy, Đại Việt Quốc Vương mời qua thuyết pháp, hơn một năm lại trở về. Sách chép những điều tai nghe mắt thấy, phong tục tập quán nước ấy. Tiên vương của nước Đại Việt là rể của nước An Nam (chỉ Nguyễn Hoàng) (12), chia cứ miền nam, xưng hiệu là Đại Việt. Đầu sách có bài tựa của Nguyễn Phúc Chu, dưới cuối đề tháng 5 năm Bính Tý, tức là Khang Hy năm thứ 35 vậy…".

Chính nhờ hai cuốn sách này, nhất là cuốn Hải Ngoại Kỷ Sự, chúng ta biết được một ít về con người và khúc phim lịch sử về cuộc hành trình của sư Đại Sán qua Thuận Hoá cùng mối liên hệ của sư đối với chúa Nguyễn Phúc Chu. Nhiều người lầm tưởng sư Đại Sán được chúa Nguyễn Phúc Chu mời sang. Nhưng thật ra, bắt đầu từ thời vua cha của chúa Phúc Chu là Anh Tông hoàng đế (tức chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn (Thái) 1687-1691) khi đang còn tại thế đã từng hạ lệnh cho Tạ Nguyên Thiều (謝元韶) qua Quảng Đông mời Đại Sán sang Đại Việt hoằng pháp. Bia của chúa Nguyễn Phúc Chu dựng tại chùa Quốc Ân, Huế, đời Lê Dụ Tông thứ 10 có viết: “Hoán Bích Thiền Sư Tạ Nguyên Thiều ở chùa Hà Trung (Thừa Thiên) vâng lệnh chúa Nghĩa sang Quảng Đông mời Đại Sán Hoà Thượng”.

Sách Đại Nam Nhất Thông Chí quyển Thừa Thiên, phần tăng lữ viết: “…Tạ Nguyên Thiều tên chữ là Hoán Bích, người gốc Triều Châu tỉnh Quảng Đông, nhà Thanh, xuất gia lúc 19 tuổi. Qua Đại Việt thời Thái Tông Hoàng Đế (tức chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần), đến Qui Ninh (Nay Quy Nhơn) xây chùa Di Đà, hoằng dương Phật pháp... Sau đó ra Thuận Hoá, xây chùa Quốc Ân. Tạ Nguyên Thiều vâng lệnh Anh Tông Hoàng Đế sang Quảng Đông mời cao tăng Thạch Liêm Hoà Thượng. Khi về lại Thuận Hoá, ra trụ trì chùa Hà Trung. Khi mất Hiển Tông Hoàng Đế tặng tên thuỵ là Hạnh Đoan Thiền Sư”. Trong bối cảnh lịch sử loạn ly của cả Trung Quốc và Đại Việt thời đó, với dòng người di dân gốc Minh sang, văn hoá chính trị của Đại Việt đã bị ảnh hưởng rất nhiều.

Nhưng tại sao vua Anh Tông cho Tạ Nguyên Thiều sang Trung Quốc tìm kiếm cao tăng, vì lý do chính trị hay là tôn giáo, chúng ta hiện tại khó tìm ra được nguyên do. Các chúa Nguyễn kế vị vua Anh Tông tiếp tục muốn tìm cách dùng ảnh hưởng của nhà Thanh để kềm chế vua Lê chúa Trịnh chăng? Điều này cũng có thể là một nguyên do, hay là do tôn giáo tính của người thời bấy giờ thúc đẩy . Nhưng Đại Sán, tức Thạch Liêm Hoà Thượng qua Thuận Hoá không phải là kết quả trực tiếp của chuyến đi của họ Tạ, mà là do nhân duyên của chúa Phúc Chu với sư. Trong bài Tự (tựa), do chúa đề tặng trên sách Hải Ngoại Kỷ Sự thì: “…Ta khi còn làm Thái Tử vẫn thường hay ngưỡng mộ thầy ta ở chùa Trường Thọ. Vua cha ta lúc trước đã gửi thư hai lần mời mà không được. Mùa thu năm Giáp Tuất ta muốn thọ Bồ Tát Giới nên nối chí vua cha, ta đưa người qua rước, may được Hoà Thượng nhận lời mời…” ).(長壽本師老和上余自居儲來積慕有年先王書聘至再弗顧甲戌秋欲受菩薩戒法繼志敦請果適我願

Trong Hải Ngoại Kỷ Sự quyển một, cũng có ghi hàng chữ như sau: “…Ngày mùng 4 tháng 8 năm Giáp Tuất, người nhà gõ cửa tin cho biết có khách là sứ giả nước Đại Việt đến. Sứ giả người tỉnh Phúc Kiến, tay nâng phong thư giấy vàng cung kính, sụp lạy dâng lên cùng với các lễ vật… thưa rằng “Đại Việt Quốc Vương từ lâu ngưỡng mộ Hoà Thượng. …Kể từ tiên vương (tức Nghĩa vương) đã có thư mời, đến nay nữa là ba lần cả thảy. Mời đến ba lần cũng đã thành tâm lắm vậy…”. Đối với sự ân cần mời rước, sư Đại Sán dĩ nhiên vui lòng tiếp nhận lời mời của chúa Nguyễn Phúc Chu. Câu văn trên giúp ta suy nghĩ rằng chuyện vị sư Tàu này qua Đại Việt, có thể do vấn đề tôn giáo hơn là chính trị. Cuộc hành trình đầy sóng gió và thú vị từ Quảng Đông đến Thuận Hoá đã được ghi lại trong tập Hải Ngoại Kỷ Sự tất cả những điều tai nghe mắt thấy trong lúc Đại Sán du hành vào đất Thuận Hoá. Sư từ Hoàng Phố tỉnh Quảng Đông, đáp thuyền buôn đi Hội An vào đêm treo đèn rằm tháng giêng năm Ất Hợi (Khang Hy thứ 34, tức ngày 27 tháng 2 năm 1695), khoảng hơn hai tuần lễ lênh đênh trên biển, thuyền đến Cù Lao Chàm ngoài cửa biển Hội An, rồi chuyển sang chiến thuyền của chúa Nguyễn Phúc Chu, đi thẳng vào đất Thuận Hoá vào ngày 29 tháng 1 năm Ất Hợi (ngày 13 tháng 3 năm 1695), ngụ tại chùa Thiền Lâm, Huế và làm quốc khách của chúa Phúc Chu. Đến ngày 28 tháng 6 năm đó (ngày 7 tháng 8 năm 1695) sư vào Hội An chuẩn bị đáp thuyền buôn trở về Quảng Đông, song bị đau nên phải lưu lại. Chúa Nguyễn Phúc Chu nghe tin bèn khẩn hoảng mời sư từ Hội An ra lại Thuận Hoá, tạm trú tại chùa Thiên Mụ từ ngày 16 tháng 10 (ngày 22 tháng 11 năm 1695) để dưỡng bệnh và hoằng pháp cho tới hạ tuần tháng 6 năm sau (1696) mới trở về lại Quảng Đông. Chúa Nguyễn Phúc Chu là vị vua tuổi trẻ, tài ba nhưng lại có lòng tu Phật, mong đem tâm Phật mà trị nước, quy y đầu Phật với sư. Trong bài Tự sách Hải Ngoại Kỷ Sự, chúa Phúc Chu viết: “…Đại Việt Quốc Vương Nguyễn Phúc Chu thọ Bồ Tát Giới pháp danh Hưng Long đãnh lễ, viết vào ngày tháng năm năm Bính Tý…” (丙子蒲月大越國王阮福週受菩薩戒弟子法名興龍頂禮).

Trong Ly Lục Đường, bài tựa của Đường Hóa Bằng viết rằng: “…Hoà thượng là đời thứ 29 dòng Tào Động, con của Trượng Nhân…”. Cho đến khi chúa Phúc Chu đại trùng tu chùa Thiên Mụ, chúa xưng là dòng Tào Động thứ 30 và khắc danh vào bia đá như sau (10): "…Chúa dựng chùa Thiên Mụ, Chúa Nguyễn Phúc Chu kế truyền chính tông phái Động Thượng đời thứ 30, pháp danh Hưng Long, hiệu Thiên Túng Đạo Nhân ghi văn bia và dựng bia bền vững ở chùa Thiên Mụ xứ Thuận Hoá…”. Trong suốt hơn một năm ở lại Thuận Hoá, hoạt động chính của sư Đại Sán là việc triệu tập tăng chúng toàn quốc, mở ba pháp đàn truyền giáo là trọng yếu. Việc ấy nhằm mục đích nhắm vào việc chấn hưng Phật giáo, thanh trừng những phần tử truỵ lạc và cũng để đáp lại lời than phiền của chúa Nguyễn Phúc Chu nêu lên về những tệ đoan trong giới Phật giáo thời ấy. Nhân dịp đó chúa cùng mẹ và con gái quy y, thọ Bồ Tát Giới và nhận pháp danh do sư đặt ra. Ngoài những hoạt động Phật pháp, có lẻ những điều giúp ích nhất cho chúa Nguyễn Phúc Chu là những điều chỉ vẽ, đề nghị liên quan đến việc trị nước trong những lần đôi bên đàm đạo với nhau. Cuối quyển hai của Hải Ngoại Kỷ Sự viết rằng "…Ta bèn đem những việc chính trị bàn luận mấy ngày nay, chép ra từng điều một, làm thành bản điều trần "Lập Quốc Chính Ước" (立國政約) gồm 18 điều, đều là những chuyện thương lính, yêu dân, thông thương lợi quốc, kỷ cương pháp độ, chép từng chi tiết rõ ràng. Vương đọc xong mừng rỡ, bảo Nội quan Chưởng Sự rằng "Pháp độ, dân tình nước ta đều chưa được đúng đắn, nay nhờ lão Hoà Thượng đem phép lễ Trung Quốc chỉ dạy, liệt kể 18 điều, nên khắc yết lên cửa phủ, hiểu dụ quan dân đều biết, và khắc 24 thẻ bài, chia loại rõ ràng. Hễ ai làm trái điều lệ, phạm phép, cho kẻ bị thiệt hại cầm thẻ bài đến kêu. Bất kể là quân dân, hoàng thân quốc thích đều theo pháp luật mà trị tội. Vĩnh viễn lấy đó làm quốc chánh vậy…". Thật đáng tiếc trong Hải Ngoại Kỷ Sự không thấy ghi lại nội dung bản "Lập Quốc Chính Ước" này! Ngoài ra, khi mớí đặt chân đến Thuận Hoá, sư dâng lên cho chúa bản điều trần "Điều trần về việc của nước Đại Việt (大越事宜)"có nội dung rõ ràng như sau:

1. Nên tiến cống nhà Thanh để chính danh

2. Đặt đồn thú để củng cố biên thuỳ

3. Thương yêu quân sĩ để cổ võ lòng trung dũng

4. Mở mang trường học để giáo dục nhân tài

tiếp....
Đăng nhập để trả lời
0
tiếp.....

Chúa Nguyễn Phúc Chu, đối với sư Đại Sán rất đổi kính trọng, tôn kính và dốc lòng học hỏi. Ngược lại, trên cương vị quốc khách Đại Sán dù có phần tự kiêu, tự đại, tự phụ, nhưng đối với chúa và các đại quan trong triều, sư Đại Sán vẫn có lòng thành và kính nể. Trong bản điều trần trên, sư viết "…Người xưa bảo rằng "Kẻ ngu nghĩ ngàn điều cũng có một điều được", tôi đã nhận lời mời của nhà vua đến đây, nếu biết mà không nói, ấy là phụ lòng vua, mà cũng tự phụ mình. Sau đây trích ra vài điều bày tỏ, tạm gọi là tỏ chút lòng thành…". Điều đặc biệt nên nhắc tới là trong Hải Ngoại Kỷ Sự, sư gọi chúa Nguyễn Phúc Chu là Quốc Vương, Đại Vương, Vương v.v, còn xưng nước ta là Đại Việt.

Trong bài Khải (啟), sư dâng lên cho chúa lúc mới đến Thuận Hoá có những câu: "…Quý Vương quốc từ xưa khai sáng Thuận Hoá, Thanh Hoá, tám trấn Tam Giang, hùng cứ bốn mươi bảy châu. Quý Đại Vương nối nghiệp đã có, Kiến Bình, Tân Bình bao la, thiên sơn vạn thuỷ…Nay kính, Đại Việt đức chúa điện hạ ngân an…". Việc xưng hô này cũng là một điều rất hiếm xảy ra đối với nhân sĩ Trung Quốc lúc xưa, khi mà họ đang còn gọi các nước vùng ven biên Trung Quốc là Rợ, Di, Man v.v. Đây cũng chính là một trong những "tội trạng" mà nhân sĩ Quảng Đông thời bấy giờ buột tội sư!. Trong bài khảo cứu về "Tiểu Sử của Thích Đại Sán", GS Trần Kinh Hoà dẫn chứng: "…Trong bài của Mậu Thuyên Tôn (về sự lược Thạch Liêm Hoà Thượng) có dẫn bài kể tội Đại Sán của Phan Thứ Canh gửi cho Đại Đương Sự tỉnh Việt (Quảng Đông) có câu như sau "…Xét lúc An nam Mạc thị (chỉ Mạc Đăng Dung) mới quy thuận, chỉ phong Đô Thống Sứ, nay Nguyễn Phúc Chu chưa xin phong, chưa chịu sắc mạng triều đình, sao được xưng là "Vương phủ", nghiễm nhiên ngang hàng với các thân vương Trung Quốc,…hay sao?…". Ảnh hưởng của sư đối với chúa Nguyễn Phúc Chu như thế nào, xem bài Tự trong Hải Ngoại Kỷ Sự, chúa viết “…Từ lúc đến vào mùa xuân năm Ất Hợi cho tới mùa hạ năm Bính Tý, được gần gũi cung dưỡng. Ngoài chuyện ngày đêm giảng dạy đạo lý, còn chỉ bảo cương kỷ luân thường. Từ chuyện to đến chuyện nhỏ đều vạch lối chỉ đường, phân tích rõ ràng mạch lạc, khác nào dẫn dắt người từ nơi tối tăm ra nơi ánh sáng, giúp ích cho ta trong công việc chính cương trị nước biết chừng nào…" (從乙亥春抵國迄丙子夏供養親近靡間晨夕禪論之餘大而綱常倫紀小而事物精粗莫不條分縷析理明詞暢若人從幽暗中挈諸青天皎日之上其為裨益政治實多).

Xem tổng quát những sự việc ghi chép trong sách Hải Ngoại Kỷ Sự, chẳng những sư Đại Sán được vua tôi quan dân Thuận Hoá nhiệt liệt hoan nghênh, những lời nói trong những cuộc đàm đạo với chúa, với các quan đại thần, cho đến phong tục, tập quán, tình hình sinh hoạt của dân chúng, kiến trúc của vương phủ, những hoạt động luyện tập quân lính, sự phong phú của tài nguyên thiên nhiên, khí hậu cay nghiệt, ngay đến cả tình trạng hoạt động của ngoại kiều (Hoa, Nhật), cũng như sự tấp nập của cảng Hội An thời đó, đều được đôi nét chấm phá ghi lại. Sách còn thu góp tất cả những bài thơ tức cảnh, thơ đối đáp, đề vịnh, rất phong phú gần cả 120 bài. Đặc biệt trong thời gian lưu lại chùa Thiên Mụ, sư có làm hai bài thơ tả cảnh chùa Thiên Mụ rất hay như sau:

tiếp....

http://www.khuongviet.com/kv-archive/KVso4/HTThachliem2.htm
Đăng nhập để trả lời
0
Bài số 1

Phạn vương cung khuyết Nguyễn vương khai
梵王宮闕阮王開

Ngọc điện chu môn sinh duyên đài
玉殿朱門生緣苔

Nhất đại vinh quang dư thảo mộc
一代榮光餘草木

Thiên thu hoa vũ (1) kết hương đài
千秋花雨結香臺

Đình tiền vân ảnh sơn liên thuỷ
庭前雲影山連水

Hạm ngoại phàm phi khứ phục hồi
檻外帆飛去復回

Vị thức trích tiên Thiên Mụ phú
未識謫仙天姥賦

Mộng du khả thị thử trung lai
夢遊可是此中來




Bài số 2

Đương niên vương khí xuất trung lưu
當年王氣出中流

Bá nghiệp hoàn qui phạn bối tu
霸業還歸梵貝修

Thạch khuyết bất lưu Tần tuế nguyệt
石闕不畱秦歲月

Sắc thư thượng tải Hán xuân thu
敕書尚載漢春秋

Hải triều (2) sa giới (3) tam thiên lý
海潮沙界三千里

Phong vũ (4) chung minh (5) bách bát châu
風雨鐘鳴百八州

Phật hoả nhất kham thiêu bá tử
佛火一龕燒栢子

Toạ tiêu hàn nguyệt bất tri sầu
坐消寒月不知愁




Bài số 1

Phật Tổ chùa đây chúa Nguyễn xây
Cửa son điện ngọc mọc rêu đầy
Cỏ cây vương dấu dòng vinh hiển
Hương án thờ ghi nghiệp đế dày
Sông núi ngoài sân mây lộn bóng
Đi về ngoài cổng cánh buồm bay
Chưa nghe huyền thoại bà Thiên Mụ
Mộng tưởng thì đây lại chốn này


Bài số 2
Ở đây vương đế dấy từ lâu
Việc lớn làm nên bởi nghiệp tu
Năm tháng Tần xưa bia mất dấu
Xuân thu Hán cũ sách còn lưu
Câu kinh bay rộng ba ngàn dặm
Tiếng kệ vang xa trăm tám châu
Đốt củi bách tùng khêu lửa Phật
Nhìn trăng thanh thản suốt đêm thâu



Bản dịch của Hữu Vinh


Chú thích (13):

1. Hoa vũ: Mưa hoa, nhiều hoa. Lấy ý danh từ Phật giáo: Hoa, chỉ một trong 6 loại dùng để cúng dường. Kinh Đại Nhật (大日經) viết: Hoa, gợi ý từ bi, là hạt nhân của lòng thanh tịnh. Chỉ việc cúng thờ.

2. Hải triều: do chữ Hải Triều Âm (海潮音), chỉ tiếng tụng kinh lớn như sóng biển ỳ ầm

3. Sa giới: chỉ số nhiều, nhiều như cát sông Hằng.

4. Phong vũ: Lấy từ tên kinh "Chỉ phong vũ kinh" (止風雨經), chỉ việc tụng kinh

5. Chung minh: Lấy từ chữ "Chung phạn (鐘梵)". Trong Tính Linh tập (性靈) có câu: "Kinh phạn đoạn nhi diệc tục", chỉ việc kiên trì kinh kệ.



Cuộc hội ngộ giữa chúa Nguyễn Phúc Chu và sư Đại Sán, được ghi lại trong Hải Ngoại Kỷ Sự đã để lại trong lịch sử bang giao Trung Việt một đề tài đặc biệt, kỳ thú và hấp dẫn. GS Trần Kinh Hoà trong sách "Thập Thất Thế Kỷ Quảng Nam Chi Tân Sử Liệu" viết rằng: "…Cuộc đời của Đại Sán ly kỳ biến ảo, về già lại bị tù tội. Tuy thái độ, hành vi của y khá khen nhưng chê cũng nhiều. Song chúng ta nhận thấy, y có một nhân cách phóng đãng, không chịu bị gò bó. Thực như bài đề yếu Hải Ngoại Kỷ Sự trong Bút Ký Tiểu Thuyết Đại Quan Bản đã viết: "…Tuy có những tiếng tăm không ngờ, nhưng ông vẫn là một người mượn cớ để lánh đời, muốn mượn văn chương để tỏ chí mình, điều đó thực rõ như ban ngày vậy…". Chuyện du hành qua Quảng Nam Đại Sán đã làm cho vua tôi chúa Nguyễn cảm mến và long trọng cung dưỡng, cho đến thái độ thành thực của Đại Sán đối với họ, dù rằng những ghi chép trong sách có phần tô vẽ ít nhiều, đôi khi bộc lộ kiêu căng, nhưng cũng có thể được xem như là một trang phụ, thú vị trên lịch sử quan hệ Trung Việt. Sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên quyển 6 trang 24 chép rằng: "… Vào triều Minh Mạng, vua sai Trương Hiếu Hợp đi sứ sang Trung Quốc, có ghé lại Quảng Đông đến thăm chùa (Trường Thọ). Các tăng trong chùa vẫn còn nhắc lại chuyện sư Thạch Liêm…”, đó là một chứng cớ rõ ràng".

Hiển nhiên, sư Đại Sán có ảnh hưởng không nhỏ đối với chúa Nguyễn Phúc Chu trong công việc chấn chỉnh triều cương, chấn hưng và truyền bá Phật giáo. Nhưng xét lại những lời lẽ và những việc làm ghi trong sách Hải Ngoại Kỷ Sự, sư Đại Sán chỉ có thể được xem như là một cố vấn được chúa Nguyễn Phúc Chu trọng dụng và kính nể, chứ không đáng được để tôn thờ như là một vị tổ sư của chùa Thiên Mụ. Đây hẳn là một sự nhầm lẫn đáng tiếc! Xem sách Đại Nam Nhất Thống Chí, sách được tu bổ sau các sách Đại Nam Thực Lục, cũng chỉ ghi lại công lao hoằng pháp của sư Tạ Nguyên Thiều (Hạnh Đoan Thiền Sư) mà thôi.

tiếp...

http://www.khuongviet.com/kv-archive/KVso4/HTThachliem2.htm
Đăng nhập để trả lời
0
....

Phụ Lục: Photocopy bài Tự (Tựa) của chúa Nguyễn Phúc Chu viết ở phần đầu sách Hải Ngoại Kỷ Sự", có đóng dấu ấn triện của chúa.

tiếp...

http://www.khuongviet.com/kv-archive/KVso4/HTThachliem2.htm

📎 123
Đăng nhập để trả lời
0
tiếp...

http://www.khuongviet.com/kv-archive/KVso4/HTThachliem2.htm

📎 3456
Đăng nhập để trả lời
0
tiếp...

Tham Khảo:



1. "Ô Châu Cận Lục", Dương Văn An, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1997

2. "Material on the Sino-Vietnamese relations in the DAI NAM THUC LUC (Veritable Record of Vietnam", Wen-Tang Shiu, Academia Sinica, Taipei, Taiwan, 2000 (Tóm lược sự liên hệ giữa Việt nam và Trung Quốc trong Đại Nam Thực Lục)

3. "Huế, vài nét cố đô", Mai Ưng, nhà xuất bản Hội Nhà Văn Công Ty Quản Lý Di Tích Huế, 1991

4. "Eminent Chinese of the Ching Period”, Arthur W. Hummel ,Taipei, 1991, SMC Publishing Inc.

5. "Thập Thất Thế Kỷ Quảng Nam Chi Tân Sử Liệu", Chen Chinh Ho, nhà xuất bản Trung Hoa Tùng Thư, 1960 (十七世紀廣南之新史料,陳荊和著)

6. "Hải Ngoại Kỷ Sự", Thích Đại Sán, nhà xuất bản Tân Văn Phong, Taipei, 1997 (海外紀事 六卷 / (清)大汕厂翁撰),臺北市新文豐出版公司, 1997[民86] )

7. "Ly Lục Đường Tập", Thích Đại Sán, Bắc Kinh Xuất Bản Xã, Bắc Kinh, 2000(離六堂集 十二卷 / (清)釋大汕撰,北京市北京出版社, 2000[民89] )

8. "Buddhism in Vietnam", Le Manh That, Budden Gyoshi,. http://www.quangduc.com

9. "Đại Nam Nhất Thống Chí", Cao Xuân Dục, Đời Duy Tân thứ 3, 1910, Hội Nghiên Cứu Indochina, Tokyo, 1941

10. "Bia chùa Thiên Mụ của chúa Nguyễn Phúc Chu", Thích Giới Hương dịch, Thích Trí Tựu cung cấp, 1994

11. "Khâm Định Tứ Khố Toàn Thư Đề Yếu", Vua Càn Long, 1782, Academia Sinica, Taipei, Taiwan (欽定四庫全書提要 一百十四卷, 解題一卷, 補遺一卷, 附錄三卷 / (清)乾隆47年(1782),中央研究院 ,台北,台灣)

12. "Việt Nam Khai Quốc Chí Truyện", Nguyễn Bảng Trọng, Chen Ching Hao khảo đính, Ecole Francais d'Extreme Orient, Học Sinh Thư Cục xuất bản xã, Taipei, 1992 (越南開國志傳,法國遠東學院,台灣學生書局出版,1986,台北,台灣)

13. "Phật Học Đại Từ Điển", Phật Quang Văn Hoá Xuất Bản Xã, Taipei, Taiwan (佛學大辭典,佛光文化出版社,台北,台灣)


http://www.khuongviet.com/kv-archive/KVso4/HTThachliem2.htm
Đăng nhập để trả lời
0
.

Giáo Sư Đặng Thế Kiệt, Paris


Đa tạ

....

Vấn đề viết đúng chính tả tiếng Việt


Đây là một vấn đề then chốt trong tiếng Việt. Nhưng ngày nay vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng vì tiếng nước ta chưa có một bộ tư./từ điển làm tiêu chuẩn (do một Hàn Lâm viện đề ra chẳng hạn).


Một quyển sách nghiên cứu công phu về vấn đề này là cuốn "Viê.t-ngữ chánh-tả tự vị" của GS Lê Ngọc Trụ. Ông cũng là tác giả cuốn "Tầm nguyên tự điển Việt Nam". Những công trình này vẫn chưa được tiếp nối đúng mức.

GS Lê Ngọc Trụ đã đề ra Nguyên-tắc chánh-tả sau đây ("Việt-ngữ chánh-tả tự vị", trang XIV).


"Có bốn phương pháp chánh tả:

- theo giọng đọc, đọc sao thì viết vậy;

- theo phương pháp phân biệt, để tránh sự lầm lẫn;

- theo sự quen dùng, viết theo phần đông, hoặc theo các nhà văn tên tuổi;

- và theo tự nguyên, vì tiếng đó đã chuyển gốc nơi một tiếng khác.



"Bốn lối này bổ cứu lẫn nhau, bởi ta không thể dùng hẳn một lối nào, nếu chẳng phát âm "được đúng. Song lối theo tự nguyên hợp lý hơn, khi ta phát âm sai; nó giúp ta giải thích được "lý do chánh tả và hiểu dược nguồn gốc, nghĩa lý rành rẽ mỗi tiếng."

Ngoài ra, phải biết rằng "tự nguyên không phải là suy đoán khơi khơi mà được, đó là kết quả của những công trình nghiên cứu chi ly" (Ọ BLOCH, Petit Robert).

Trở lại hai chữ Dồi/Giồi. Theo "Viê.t-ngữ chánh-tả tự vị", trang 145, đó là hai chữ Nôm khác nhau.



Dồi (chữ Nôm) có nhiều nghĩa:

1. dồn, nhét vào cho đầỵ Thí dụ: dồi nhét, dồi súng, dồi vào.

2. món ăn ruột nhồi thịt. Thí dụ: khúc dồi.

3. dư nhiều. Thí dụ: dồi dào.

4. (tương đương với "nhồi") quăng lên cao. Nghĩa rộng: khen tặng hết cách. Thí dụ: dồi lên, dồi tiền, dồi trái cầu, dồi võng, khen dồi, sóng dồi.



Giồi (chữ Nôm) (tương đương với "giùi", "chùi") có nhiều nghĩa:

1. trau tria, làm cho trơn bóng. Thí dụ: giồi bóng, giồi chuỗi, giồi giũa, giồi mài, giồi phấn, giồi ván, trau giồị

2. nghĩa rộng: sửa lỗi. Thí dụ: giồi lỗi.

3. tiếng đôi: giồi giội.



Đăng nhập để trả lời
0
GS Đặng Thế Kiệt
Vấn đề viết đúng chính tả tiếng Việt


GS Nguyễn Ngọc Bích

Đa tạ Giáo Sư

&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;

Cám ôn anh Đặng Thế Kiệt đã nhắc đến bốn nguyên-tắc của Ộ Lê Ngọc Trụ trong "Viet-ngu chanh-ta tu-vi" và "Tam nguyen tuđien VN." Khổ nỗi, cứ theo Ộ Trụ thì cũng vẫn còn nhiều cái khó xử:

1/ Nếu ta theo cách phát âm đề mà ghi (đọc sao viết vậy) thí "chính tả" (nhu anh Kiet viet) đúng hay "chánh-tả" như Ộ Trụ viết? Cách nào đúng hơn?

Sở dỉ ở đây có vấn đề là vì những nguyên-tắc của Ộ Trụ không bao hàm vấn đề phát âm địa-phương khác nhau.

2/ Nguyên-tắc phân-biệt để tránh sự lầm lẫn là có lý. Tỷ như "con cuốc" và "cái cuốc" so với "quốc-gia và quốc-ca". Song nói thế, chính là ta đã đi ngược nguyên-tắc trên đâỵ.

3/ Nguyên-tắc thứ ba (theo số đông hay theo các nhà văn tên tuổi) chính thật không còn là nguyên-tắc nữạ. Vì sao? Vì Nhất Linh vẫn viết "Giòng sông Thanh Thủy" và Nhã Ca vẫn viết "Giải khăn sô cho Hụệ". Vậy theo ai? Theo những nha văn nổi tiếng này hay theo đa-số ngày nay viết "dòng" và "dải"?

Chính vì lý do này mà Ộ Hòang Phế đã theo nguyên-tắc ghi cả hai ("dồi" và "giồi") rồi đánh giá: lối này hay lối khác được đa-số ủng-hộ hơn.

4/ Nguyên-tắc thứ tư (tầm nguyên, chủ-yếu là theo tiếng Hán-Việt) nhiều khi cũng không vững nữạ. Thứ nhất là vì Ộ Lê Ngọc Trụ chỉ biết chữ Hán và Hán-Việt thôi, không biết các tiếng Đông-Nam-Á khác ảnh-hưởng đến tiếng Việt.

Lấy tỷ dụ: khi "hoa" (Hán-Việt) đọc thanh "huê" như trong "huê dạng" hay "Hoá " (HV) đọc thanh "Huế " thì đó có lẻ là ảnh-hưởng của tiếng Chàm chứ không phải như một vài người viết, cho là Pháp đọc sai hay đọc trại chữ "Hóa " thành "Huế ."

Rồi nguyên-tắc tầm nguyên sẽ bảo ta phải viết "sử dụng" như ở ngoài Bắc và ở trong nước viết lúc này, nhưng theo đa-số ở miền Nam trước kia và nhất là nếu theo cách đọc, cách phát âm (nguyen-tac ) thì "xử dụng" xem có lý hơn. Theo ai giờ?

Thành thử v/d chính/chánh-tả Việt-ngữ xem ra còn rắc rối lắm, chưa giải-quyết được ngay đâụ. V/d giải-quyết cũng không nằm ở trong một Hàn Lâm Viện nào cả mà nằm trong những đề nghị hữu lý.

Nếu mình hữu lý thì mình sẽ thuyết phục được người khác và lâu ngày sẽ có người theọ. Theo thiển-ý của tôi là như vậỵ. Nước Anh, nước Mỹ, nườc Đức không có hàn-lâm-viện nào quyết định cho họ cả, nhưng họ vẫn có một nền chính-tả khá vững vàng. Trái lại, có những nước có hàn-lâm-viện như Pháp, như Y-pha-nho song vẫn phải chấp nhận những cách viết khác nhau, như "hinojo" hay "jinojo" cho cái "đầu gối," chẳng hạn.

Vài hàng để chia xẻ (hay sẻ) với các anh chị. Mong là tôi không làm cho các anh chị thêm rối trí!

Thân,

BICH
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-12 19:10:23HongYen>
Đặng Thế Kiệt xin tiếp tục thảo luận với thầy Nguyễn Ngọc Bích (NNB)



Nếu ngày hôm nay, người Việt còn phải bàn cãi về vấn đề chánh tả, chung chung một cách khá mơ hồ, đó là vì chúng ta chưa có một (hay hai hay ba) cuốn từ điển khả dĩ có đủ thẩm quyền làm tiêu chuẩn cho mọi người tuân theọ. Cuốn từ điển này, do một Hàn Lâm viện biên tập hay do các học giả viết thành, không phải là điều quan trọng nhất. Điều quan trọng nhất, là nó có đủ uy tín để được coi là tiêu chuẩn hay không. Ở Pháp có Hàn Lâm Viện, nhưng chính những cuốn Larousse hay Robert được lấy làm tiêu chuẩn. Ở Hoa Kỳ hay Anh quốc hẳn cũng tương tự như vậỵ.



Có lẽ đây chính là cơ sở cho vấn đề chính tả. Ngoài ra, 4 phương pháp của GS Lê Ngọc Trụ chẳng qua những cách suy luận, phân tích, tra cứu, v.v. để giúp người Việt viết trúng chính tả trong khi chưa có một hay nhiều tự điển đầy đủ tiêu chuẩn. Những phương pháp này cũng giúp cho những nhà biên tập sau này (hy vọng thế) làm nên một cuốn tự điển tiêu chuẩn.



Sau đây, xin xét từng điểm do thầy NNB nêu ra.



NNB 1/ Nếu ta theo cách phát âm để mà ghi (đọc sao viết vậy) thì "chính tả" (như anh Kiệt viết) đúng hay "chánh-tả" như ông Tru viết? Cách nào đúng hơn?

Sở dĩ ở đây có vấn đề là vì những nguyên tắc của ông Trụ không bao hàm vấn đề phát âm đia phương khác nhau.



GS LNT (Lê Ngọc Trụ) đã ghi rõ "Bốn lối này bổ cứu lẫn nhau, bởi ta không thể dùng hẳn một lối nào".

Trong trường hợp "chính/chánh" ta có thể áp dụng quy tắc thứ ba của GS LNT: "theo sự quen dùng, viết theo phần đông". Người Việt ngày nay đa số chấp nhận hai cách viết/đọc chính/chánh. Trong hai cách viết này, không có cách nào sai chính/chánh tả cả.



NNB 2/ Nguyên tắc phân biệt để tránh sự lầm lẫn là có lý. Tỷ nhụ "con cuốc" và "cái cuốc" so với "quốc-gia, quoc-ca". Song nói thế, chính là ta đạ đi ngược nguyên tắc #1 trên đây.



Các phương pháp của GS LNT bổ túc cho nhau trên đường tìm ra cách viết đúng, dùng cách này chưa ổn, thì tìm theo cách kia, đâu có gì là trái nghịch nhau? Theo thiển ý, trong thí dụ cuốc/quốc, phương pháp thứ ba của GS LNT cũng áp dụng được.



NNB 3/ Nguyên-tắc thứ ba (theo số đông hay theo các nhà văn tên tuổi) chính thật không còn là nguyên-tắc nữạ. Vi sao? Vì Nhất Linh vẫn viết "Giòng Sông Thanh Thủy" và Nhã Ca vẫn viết "Giải khăn sô cho Huệ". Vậy theo ai? Theo những nhà văn nổi tiếng nầy hay theo đa-số ngày nay viết "dòng" và "dải"?

Chính vì lý do này mà ông Hòang Phế đã theo nguyên-tắc ghi cả hai ("dồi" và "giồi") rồi đánh giá: lối này hay lối khác được đa-số ủng-hộ hơn.



Có lẽ GS LNT có nhiều tin cậy nơi những văn hàọ. Nhưng dù sao, GS cũng đã nói nên "theo số đông". Khi số đông chấp nhận cách viết nào, thì nó trở thành tiêu chuẩn. Ngay cả trong vài trường hợp, may là không nhiều, số đông lầm, nhưng đã thành lệ và đành chấp nhận làm tiêu chuẩn mà thôị.



NNB 4/ Nguyên-tắc thứ tư (tầm nguyên, chủ-yếu là theo tiếng Hán-Việt) nhiều khi cũng không vững nữạ. Thứ nhất là vì ông Lê Ngọc Trụ chỉ biết chữ Hán và Hán-Việt thôi, không biết các tiếng Đông-Nam-Á khác ảnh-hưởng đến tiếng Việt. Lấy tỷ dụ: khi "hoa" (Hán-Việt) đọc thành "huê" như trong "huê dạng" hay "Hoá " (HV) đọc thành "Huế " thì đó có lẻ là ảnh-hưởng của tiếng Chàm chứ không phải như một vài người viết, cho là Pháp đọc sai hay đoc trại chữ "Hoá " thành "Huế ."

Rồi nguyên-tắc tầm nguyên sẽ bảo ta phải viết "sử dụng" như ở ngòai Bắc và ở trong nước viết lúc nầy, nhưng theo đa-số ở miền Nam trước kia và nhất là nếu theo cách đọc, cách phát âm (nguyên-tắc #1) thì "xử dụng" xem có lý hơn. Theo ai giờ?



Ông Lê Ngọc Trụ biết rằng chữ Việt chỉ mượn Hán hơn 50%, ngoài ra tiếng Việt còn bắt nguồn từ nhiều ngôn ngữ khác (Mã Lai, Mường, Thái, Ấn Độ, v.v.). Như đã trích dẫn câu nói của ông Bloch: tìm được tự nguyên là kết quả của những nghiên cứu sâu xa, của nhiều chuyên gia ngôn ngữ, không phải chuyện phỏng đoán, bàn luận sơ sàị.



Một ngày nào đó, người Việt biết tập đại thành những kết quả rút từ những phương pháp đề ra ở trên, cùng những đề nghị hữu lý như thầy Bích nói, dần dần được đa số chấp nhận, thì ta đã có một cuốn từ điển làm tiêu chuẩn rồi, phải không các thầy, các bạn?



Giáo Sư Đặng Thế Kiệt, Paris
Đăng nhập để trả lời
0
.

Ý kiến cuả Phạm Frank Hải

Đa tạ

&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;

Chào các bạn HV

Ý kiến Anh ĐTK, Hàn Lâm Viện định chuẩn chính tả, rất xác đáng, nhưng giải pháp này
có thề không khả thị Trong tình trạng phân hoá hiện tại giữa người Việt trong và ngoài nước, giả sử Hàn Lâm Viện được thành lập đi nữa, có thề nói, với một xác suất cao, nó sẽ không được mọi người công nhận, và vấn đề chuẩn chính tả sẽ không bao giờ được giải quyết thỏa đáng.

Chúng ta phải đợi đến bao giờ?

Tôi đề nghị một giải pháp, tuy không hoàn hảo, nhưng khả thi: dùng nhu liệu software) kiểm soát chính tả miễn phí, vớí từ vựng tùy theo setting người sử du.ng. Người sử dụng có thể thêm, bớt, thay đổi từ vựng này theo ý riêng ( dồi, giồi, chính, chánh, hoa, huê, hoàn, huờn, quí, quới, lý, lí, ... ). Lúc đó không còn vấn đề phán đoán đúng sai do những "thẩm quyền" quyết định nữạ Chính tả tự thân chỉ là qui ước, nên chúng ta không thể nào giải quyết đúng hay sai trong chính tà. Trong tình trạng này, cùng một bài viết, nếu đăng trong nước người viết có thể dùng từ vựng phổ biến trong nước (qua các tự
điển trong nước), nếu đăng ngoài nước có thể dùng tự điển trước 1975 ở miền Nam.

Chúng ta có thể dùng phương pháp thống kê văn bản qua tần số sử dụng để xác định cách dùng "chuẩn" và không "chuẩn", chứ không phải "đúng" và "sai". Chúng ta không cần nhờ các "văn hào" nào để dạy ta cách viết nào đúng, cách viết nào saị. Sự định chuẩn sẽ thành hình sau một thời gian sử du.ng. Tần số này lấy ở đâu rả Chính nhu liệu sẽ làm công việc nàỵ Mỗi lần dùng software (cày đặt trên server), là mỗi lần software sẽ tính tần số sử dụng cho mỗi cách viết. Cứ mỗi năm, chúng ta lại công bố tần số của mỗi chữ đề quyết định cách viết nào đã trở thành chuẩn (tỉ dụ 80%), cách viết nào vẫn còn trong tình trạng "quá độ" ( tỉ dụ dưới 40%).

Trong nhiều năm nếu chúng ta không thấy thay đổi nào trong tần số, chúng ta có thể xác
định đó là những cách viết khác nhau cho cùng một khái niệm.

Tôi đã bắt đầu làm việc nàỵ Đã soạn xong kho từ vựng trong nước (dùng Đại Tự Điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý và Tự Điển Tiếng Việt của Hoàng Phê ). Hiện đang xúc tiến kho từ vựng dùng Tự Điển Lê Ngọc Trụ và Lê Văn Đức. Software sẽ ra mắt trên diễn đàn HV này một ngày không xạ.

Thân mến,

Hải
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-07 07:39:42HongYen>
.

Hoài Hương, VVH

Đa tạ.

&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;

Kính thưa quý vị và anh Hải,

Sáng kiến của anh Hải về việc dùng software để tính tần số, sử dụng của một từ là rất hay và khả thi. Tuy nhiên, có vài điểm HH chưa hiểu lắm, nên xin hỏi lại, đồng thời xin nêu ra một vài điểm cần thảo luận.

1) Mục đích của software là để soạn một cuốn “Từ điển chính tả” (chuẩn) hay là Từ điển về nghiã của từ, hay là cả hai?

2) Có phải dữ kiện chính mà software dùng để thống kê là những sự lựa chọn từ (từ vựng) và cách viết (chính tả) của người sử dụng? Nếu quả như vậy thì e là không hữu hiệu lắm, vì thiếu mất đi hai parameters rất quan trọng là niên đại và ngữ âm địa phương.

Thí dụ, về khía cạnh phương ngữ, một người miền Nam có thể chọn “nhơn” thay vì “nhân”, “sanh” thay vì “sinh”. Và nếu chúng ta có nhiều người sử dụng là người miền Nam hơn thì cũng không thể kết luận “nhơn”, “sanh” là chuẩn hơn.

Ngoài ra, dùng từ nguyên để xác định chính tả của một từ, tuy là một công việc khó khăn và là việc của các nhà chuyên môn, nhưng rất cần thiết. Có lẽ không nên dựa vào sự ưa chuộng của đa số người dùng (popularity) mà quyết định cách viết nào là “chuẩn”.

Ngoài ra, HH cũng e rằng sẽ không có nhiều người dùng software kiểm soát chính tả, dù là miễn phí (chính HH không bao giờ dùng đến chúng cả, khi gặp một từ không chắc thì tra từ điển thôi).

HH đang nghĩ tại sao chúng ta không dùng các tác phẩm văn học Việt Nam có sẵn trên mạng Internet làm dữ kiện, nhập nó vào software để tính tần số xuất hiện của một từ? Mỗi tác phẩm đều có đặc tính về niên đại và địa phương. Một tp ở trước TK 19 sẽ dùng &lt;trau giồi &gt; thay vì &lt;trau dồi&gt;. Về mặt nghĩa của từ, hai chữ “bát ngát” trong Truyện Kiều có nghĩa khác với “bát ngát” mà ta dùng ngày nay. Về mặt phương ngữ, tp của Nguyễn Tuân chắc chắn có nhiều từ / cách viết khác với tp của Hồ Biểu Chánh, v.v… Chúng ta nên dùng nhiều tp lớn từ xưa Ġến nay Ġể có một kho từ vựng bao giờ, cả từ cổ, từ hiện đại, và cách viết (chính tả) xưa và nay.

Xin tạm có vài ý kiến như vậy. Tại vì HH chưa hiểu rõ software của anh Hải lắm nên có thể đã nói… tầm bậy. :-)

HH
Đăng nhập để trả lời
0
....


Phạm Frank Hải

Đa tạ


&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;


Xin trả lời HH từng câu hỏi

1) Mục đích của software là để soạn một cuốn “Từ điển chính tả” (chuẩn) hay là Từ điển về nghiã của từ, hay là cả hai?

Mục đích của software chỉ dùng để kiểm soát chính tả, tương tự như spell checker trong MS Office. Software không giúp người sử dụng trong việc tìm ngữ nghĩa, nhưng trong software sẽ phải có một mô hình về ngữ nghĩa ( semantic model ) để phân biệt tần số từ kép:

Tỉ dụ: "giồi" có thể coi như chuẩn trong "trau giồi", nhưng lại không chuẩn trong "giồi mài kinh sử"


2) Có phải dữ kiện chính mà software dùng để thống kê là những sự lựa chọn từ (từ vựng) và cách viết (chính tả) của người sử dụng? Nếu quả như vậy thì e là không hữu hiệu lắm, vì thiếu mất đi hai parameters rất quan trọng là niên đại và ngữ âm địa phương.

Thí dụ: về khía cạnh phương ngữ, một người miền Nam có thể chọn “nhơn” thay vì “nhân”, “sanh” thay vì “sinh”. Và nếu chúng ta có nhiều người sử dụng là người miền Nam hơn thì cũng không thể kết luận “nhơn”, “sanh” là chuẩn hơn.



Đúng vậy. Tần số sẽ dựa vào cách viết của người sử dụng software. Tôi muốn hết sức tránh vấn đề xác định từ nguyên, niên đại, etc. Nhiều lý do:

(1) Không có một tài liệu "thẩm quyền" nào xác định niên đại, từ nguyên tất cả các chữ trong tiếng Việt

(2) Mục đích software hết sức né tránh vấn đề "thẩm quyền" xác định đúng/sai bằng bất cứ lý do nào ngoài tần số sử dụng.

Tuy nhiên, giả sử có minh chứng từ nguyên cho cách viết nào đó với tính thuyết phục cao và được nhiều người công nhận (như "sử dụng" đúng hơn "xử dụng", theo từ nguyên tiếng Hán), tần số sử dụng cách viết ấy sẽ cao hơn và nó sẽ mặc nhiên trở thành chuẩn. Điều quan trọng là nó trở thành chuẩn vì nhiều người sử dụng nó chứ không phải vì Gs X, Tiến sĩ Y bảo nó như vậy là đúng hay sai. Vấn đề cách dùng chữ Nam, chữ Bắc tôi nghĩ đã trở thành quá khứ. Thật sự đang có sự chuẩn hóa trong tiếng Việt.

Ngày nay, đọc một bài viết, chúng ta rất khó đoán người viết là người Bắc hay Nam. Một số người viết muốn giữ bản sắc địa phương (điều này không có gì đáng trách), hay họ muốn phản ánh chính xác cách nói người địa phương trong văn chương, dùng "nhơn" thay vì "nhân", "sanh" thay vì "sinh", "huê" thay vì "hoa", "quới" thay vì "quí".

Những từ này, theo định nghĩa chuẩn = tần số sử dụng cao, đương nhiên sẽ được xem như không chuẩn. Chính những người sử dụng những từ này muốn văn phong họ có bản sắc địa phương, ta không thể "phụ lòng" họ bằng cách cho những từ ấy mang áo chuẩn!


HH đang nghĩ tại sao chúng ta không dùng các tác phẩm văn học Việt Nam có sẵn trên mạng Internet làm dữ kiện, nhập nó vào software để tính tần số xuất hiện của một từ?

Mỗi tác phẩm đều có đặc tính về niên đại và địa phương. Một tp ở trước TK 19 sẽ dùng &lt;trau giồii&gt;
thay vì &lt;trau dồi&gt;.

Về mặt nghĩa của từ, hai chữ “bát ngát” trong Truyện Kiều có nghĩa khác với “bát ngát” mà ta dùng ngày nay. Về mặt phương ngữ, tp của Nguyễn Tuân chắc chắn có nhiều từ / cách viết khác với tp của Hồ Biểu Chánh, v.v…

Chúng ta nên dùng nhiều tp lớn từ xưa đến nay để có một kho từ vựng bao gồm cả từ cổ, từ hiện đại, và cách viết (chính tả) xưa và nay.

Tôi đã làm việc này, góp nhặt hơn 500 văn bản, với ý định dùng chúng làm văn khố để đo tần số sử dụng, nhưng sau cùng quyết định thay đổi đường hướng, bỏ không dùng. Lý do:

(1) Cách viết và cách hiểu mỗi từ là phản ánh cách sử dụng ngôn ngữ trong đời sống xã hội hiện đại. Chúng ta không thể dùng cách viết của Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Tuân đề làm tiêu chuẩn cách viết hiện đại. Hồ Biểu Chánh (1884-1946) là nhà văn tiền phong. Cách dùng chữ của HBC phản ánh đời sông người Việt miền Nam trong thời tiếng Việt đang thời phôi thai. Nguyễn Tuân (1910-1987) là nhà văn tài hoa tiền chiến, trong thời tiếng Việt đang trên đường phát triển. Cách dùng chữ NT quá cổ, quá bay bướm, không thể nào dùng nó làm mực thước cho cách viết hiện đại ( đã có người phê bình: nếu ai cũng viết theo lối NT, tiếng Việt sẽ bị hư mất ).

(2) Chữ viết chuẩn chính tả không có nghĩa là nó phải xuất hiện trong các tác phầm văn chương( Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Thơ Mới... ). Kho từ vựng chuẩn chỉ bảo đảm nó có nhiều người sử dụng. Như đã nói, software không quan tâm về mặt ngữ nghĩa.

(3) Nếu chữ viết là phản ánh cách sử dụng ngôn ngữ đời sống, ghi nhận tiếng nói hiện đại, chúng ta phải dùng những tài liệu truyền thông hiện đại, như báo chí, những bài viết, xã luận có liên hệ mật thiết với đời sống hiện đại để làm văn khố đo tần số sử dụng. Những văn bản trên Intenet, hầu hết được tạo ra vì giá trị văn chương của nó hơn là giá trị hiện thực trong việc sử dụng ngôn ngữ, nên chúng ta không thể dùng chúng để đo tần số sử dụng. Giả sử trong 500 văn bản được chọn, 80% là văn bản thơ văn tiền chiến ( Tự Lực Văn Đoàn, Thơ Mới ). Nếu ta thấy "giời" xuất hiện nhiều hơn "trời", ta có thể nói "giời" là chuẩn còn "trời" là không chuẩn?

Thân mến,

Hải
Đăng nhập để trả lời
0
.....

Hoài Hương, VVH

Đa tạ

&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;

Cảm ơn anh Hải rất nhiều đã giảng giải tường tận.,

Xin lỗi anh, HH đã đi hơi quá xa chủ đề vì đang nghĩ đến việc dùng các văn bản vào những mục đích xa xôi khác, trong đó có "ngữ nghĩa" và lịch sử ngữ âm tiếng Việt.

Còn nếu chỉ là một software để check chính tả thì vấn đề đã được đơn giản hoá rất nhiều, nhất là đặc tính niên đại/lịch đại không còn là một yếu tố phụ thuộc nữa, mà tất nhiên phải dùng những từ ngữ hiện đạị.

Tuy nhiên, HH vẫn chưa thể hình dung được cái algorithm và cách dùng của software này ra sao [HH hơi chậm hiểu!]

Sẽ đợi software này ra đời vậỵ

Và cũng xin có thêm thắc mắc là anh đã có database của một số từ điển tiếng Việt, nhưng có cả phần nghĩa của các mục từ chứ? Nếu mà như vậy, thì tức là không bao lâu nữa ta sẽ có một vài quyển từ điển tiếng Việt on-line. Hay quá!

HH
Đăng nhập để trả lời
0
Hoài Hương

Đa tạ

&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;

bài tếu về thông dịch:

&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;
....

Ở Huế thủa nọ có một viên quan thực dân tự cho mình là thông thạo tiếng Việt. Một ông giáo ta lấy cớ đang viết một luận văn, bằng tiếng Pháp về tục ngữ, ca dao Việt Nam, đến nhờ ngài dịch hộ hai câu thơ sau đây ra thơ Pháp:

"Gió đưa cành trúc la đà
"Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương"


Không ngờ, vị quan tây này nói tiếng Việt thì tàm tạm, nhưng còn lâu mới có thể hiểu hết cái diệu vợi và tinh tế trong tiếng Việt. Bởi thế, khi dịch, ví chỗ nào, ngài lại lấy từ điển ra tra rồi dịch nguyên xị Ví như: "cành trúc" dịch là "roi tre", "la đà" là "con la và con lạc đà', "Thiên Mụ" là "vợ trời", " canh gà" là "canh thịt gà" và "Thọ xương" dịch là "khúc xương nấu kỹ". Cuối cùng ngài hì hục, ghép chữ vần thành một bài thơ đem tặng ông giáọ.

Đọc xong, ông giáo nảy ra một ý ngồ ngộ, đem "bài thơ" tiếng Pháp này nhờ một tay thông ngôn dịch ra thành một bài thơ tiếng Việt. Rất trung thành với nguyên bản Pháp văn, lại cũng giàu tâm hồn nghệ sĩ, anh thông ngôn đã dịch thành một bài lục bát sau đây :

"Roi tre vun vút vung ra
Lũ lạc đà với lũ la chạy cuồng.
Vợ trời gióng một hồi chuông
Gọi về ăn bát canh xương gà tầu"

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-11 00:46:58HongYen>
Dương Ngọc Yến

Trưởng Lớp
Đa tạ

&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;

Hế lô , Hoài Hương, Dr Phan Lâm, anh Phú Nhuận,bạn Mai Anh và bằng hữu thân mến. Và kính chào Thầy, Yến cũng thuộc loại "học trò dốt nhưng chăm".

Thiệt tình trò Yến không hiểu "canh gà Thọ Xương" nghĩa là gì ? Đoán mò là canh là unit đo thời khắc 5 canh ban đêm. Một giấc ngủ thẳng giấc ban đêm là "năm canh dài" như tiếng ầu ơ "gió mùa thu, mẹ ru con ngủ ơ ơ năm canh dài....". Gà thì trời sáng có gà trống gáy O O ở làng Thọ Xương .....


hìhì Yến đoán thôi nhen. Tùy theo mặt chữ Hán, Canh là chim hoàng anh, Canh là làm ruộng, Canh là gắng sức, Canh là lúa, Canh là sửa đổi canh cải..... Còn thêm những chữ không có trong Tự Điển HV như canh chừng, lo canh cánh, canh chua, bánh canh :-))....Còn Canh mà đi với chữ gà thì......đích thị là canh gà, là chicken soup chớ còn gì nữa ! Thảo nào mà
ông dân biểu không bé cái lầm sao được !

canh = làm ruộng


Thân mến chúc Thầy Trò vui khoẻ
thân mến,
ngocyen
Đăng nhập để trả lời
0
Nghiêm Nhuận

Đa tạ

&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;

Hồi còn ở Việt Nam tôi nhớ tất cả có bốn câu thơ chứ không phải chỉ có hai:

Gió đưa cành trúc la đà
Hồi (1) chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương
Dặt dìu khói tỏa đồi nương
Nhịp cầu An Thái mặt gương Tây Hồ


(1) Chữ này có người bảo là "Hồi" có người bảo là "Tiếng". Riêng tôi thì nhớ là trong cuốn sách tôi đọc viết là "Hồi".

Mới đây tôi có hỏi một anh bạn trẻ người Huế chính tông Tây Hồ có phải là một trong những hồ sen trong thành nội không thì anh ta giải thích cho tôi nghe rằng thực sự bốn câu thơ này xuất xứ từ miền bắc. Theo anh ta giải thích thì câu thứ nhì nguyên thủy là

Hồi chuông Yên Tử canh gà Thọ Cương

Ngôi chùa trên núi Yên Tử là nơi các vị vua nhà Trần sau khi truyền ngôi lại cho người kế vị đều về đó tụ Thọ Cương là tên một cái gò ở gần núi Yên Tử. Làng An Thái và Tây Hồ đều ở miền bắc còn Thọ Xương là một làng ở gần chùa Thiên Mu.. Tôi không phải người Huế nên không biết đúng hay saị Có bà con cô bác anh chị em nào người Huế làm ơn nói rõ cho tôi biết vớị

NPN
Đăng nhập để trả lời
0
Minh Quách

Cựu nữ sinh Trương Vương

Kỹ Sư Hóa Học Cal.

Đa tạ

&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;


Đây là bài ca dao về Hồ Tây tôi mới đọc được năm ngoái:


Gió đưa cành trúc la đà,

Tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ Xương

Mịt mù khói tỏa ngàn sương

Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.




Tiếng chuông chùa Trấn Võ ngân lên rồi chìm sau đủ thứ âm thanh khác: tiếng gà gáy sáng, tiếng chày giã dó làng Yên Thái...

Đọan này trích trong bài "Nếu Không Mất Ngủ" (ddi'nh ke`m) co' le~ dda~ dduoc dda(ng trong nguyet san Văn Học.


Minh
Đăng nhập để trả lời
0
Dr. Phan Quốc Lâm

Đa tạ

&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;

Cô Yến, Anh Lê

Chữ canh là chữ nôm , nên không có mặt chữ Hán.

Canh là đơn vị đo lường thời gian vào ban đêm thôị. Một đêm chia là 5 canh, canh 1 cho đến canh 5.

Canh gà ám chỉ lúc trời sắp hừng sáng lúc gà bắt đầu gáy...


Phan Quốc Lâm
Đăng nhập để trả lời
0
Hoài Hương, VVH

Đa tạ

&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;

Các ban,

Không những chỉ CANH &#26356; = thời khắc mà chữ CANH = soup
cũng là một từ Han Viet luon nữạ
Nó là chữ &#32697; (Ư7Fb9).

TD Thieu Chuu : Canh, mon ăn nước. Ddiều canh: nêm món canh
cho vừa ăn.

Trong các bản Nôm hay dùng chữ này (kén cá chọn canh).

HH
Đăng nhập để trả lời
0
Nghiêm Nhuận

Đa tạ

&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;

Đọc bàii của Minh tôii mớ'i nhớ' ra là chùa Trấ'n Võ trên núii Yên Tử là nơi các vị vua nhà Trần tu hành chứ' không phải la` chùaa Yên Tử. Điệu này chắc phảii bắt đầu uống thuốc bổ óc qua'. Ca'm o+n Minh.

NPN
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-08-12 19:21:02HongYen>
Lê Bắc

Nhà Văn

Đa tạ

&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;

Chắc bác Nhuận phải uống thêm vài viên nữa quá, bác bảo ca dao nói về các quan cảnh chung quanh Hồ Tây, do đó làm sao mà Yên Tử, Hồ Tây có nghe được tiếng chuông chùa Trấn Võ trên núi Yên Tử (núi Yên Tử thuộc vùng Quảng Ninh, gần vịnh Hạ Long).

Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngân sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Há»"

thì:
- Đền Trấn Võ: ở ngay đầu đường Cổ Ngự, cạnh Hồ Tâỵ. Nơi ấy có một pho tượng rất lớn.
- Huyện Thọ Xương: xưa thành Thăng Long chia ra làm hai huyện: Thọ Xương và Vĩnh Thuận. Đất huyện Thọ Xương nay nằm trong vùng đất của một số quận như Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Ba Đình.
- Làng Yên Thái: ở phía bắc Tây Hồ, làng làm giấy vì thế mới có tiếng chày giã bột gỗ dó để làm giấy.
- Hồ Tây: nằm ở phía Tây Bắc của thành Thăng Long.



Lê Bắc
Đăng nhập để trả lời
0
Lê Bắc
Đền Trấn Võ: ở ngay lầu Vọng Các Ngư, cạnh Há Tâỵ Nơi ấy có một pho tượng rất lớn.


Thưa quý vị,
Pho tượng đồng đen này được an trí ở chùa Quan Thánh. Chùa này tọa lạc trên đường
Quan Thánh cạnh Hồ Tây và hồ Trúc Bạch. Còn chùa Trấn Quốc và chùa Trấn Bắc nhỏ
hơn, một nằm trên đường Cổ Ngự (sau đổi tên là đuờng Thanh Niên) và một nằm giữa
hồ Trúc Bạch trên một hòn đảo nhỏ giữa hồ. Nơi đây, vào triều Lê có lập hành cung
để vua Lê, chúa Trịnh ngự dự. Các cung phi, thị nữ, thường giả làm dân thường bán hàng
trong những hàng quán dựng ở bờ hồ. Mỗi lần thuyền ngự bơi qua, lại ghé vào mua bán
mặc cả om-sòm lấy thế làm vui .

Trong bài Chùa Trấn Bắc , Bà Huyện Thanh Quan đã viết :

Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu,
Khách du qua dó trạnh lòng dau
Mấy toà sen rớt mùi hương ngự
Năm thức mây phong nếp áo chầu
Sóng lớp phế hưng coi dã rộn
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau
Người xưa cảnh cũ nào đâu tá,
Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu


Vài hàng thô thiển xin được đóng góp cùng quý vị .

Trân trọng,

Lưu Trung Khảo

&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;

Đa tạ

Lưu Trung Khảo
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»