Diễn Đàn » Khoa Học Huyền Bí

Âm dương kinh

146 trả lời, 10.295 lượt xem — Trang 2 / 5
30- Quà tặng tốt nhất là ca ngợi

Việc giáo dục chúng ta tiếp nhận từ nhỏ chính là luôn luôn nhắc mình phải khiêm nhường.
Thế là chúng ta nhầm tưởng rằng chùn lại mới là lễ phép, phải gắng hết sức không để phiền phức cho người khác.
Do đó, có ý kiến cho rằng người khác không tốt, cũng ngần ngại nói ra, đôi lúc nghe được lời khen ngợi của người khác lại sẽ cảm thấy không tự nhiên, càng không thể nói là có thể tiếp nhận một cách tự nhiên.
Bởi vì mình có cảm giác "không thoải mái" này, tự nhiên vận dụng cái lý lẽ "cái mình không muốn, đừng đùn cho người khá", dù cho trong lòng có chút cảm xúc, nhưng muốn mở miệng bày tỏ ra, đích thực cảm thấy có thể mang lại lúng túng khó xử cho mình và đối phương.

Thời gian càng dài, thật sự trở thành "miệng vàng khó mở".
Giữa người này với người khác chỉ có xoi mói, tìm vấn đề, nêu ý kiến, kiến nghị phê bình, thậm chí kiến nghị xung đột, thiếu những lời khen ngợi.

Một lần, ông Lưu đáp chuyến máy bay của Hàng không trong nước bay đến Thâm Quyến. Sau khi họ bước lên máy bay được thông báo máy bay sẽ phải chậm hai tiếng đồng hồ. Một lát tiếng oán trách của hành khách trong máy bay vang lên bốn phía. Ông nhìn thấy một nhân viên phục vụ vừa bưng trà giót nước, vừa tiếp nhận lời oán trách của nhiều hành khách, thử nghĩ xem người gian khổ nhất sẽ phải tính đến họ, vì thời gian làm việc chốc lát kéo dài gấp đôi.

Có một số hành khách nhìn trong ánh mắt của họ khẳng định cũng có đồng cảm, ông có thể nhhìn thấy từ trong ánh mắt đồng tình, lý giải của họ, nhưng lại không có một người có dũng khí đột phá trở ngại của mình, nói ra một lời khen ngợi cám ơn họ, bao gồm cả bản thân ông Lưu cũng luôn luôn đang "gắng gượng", cuối cùng ông tìm được một tờ "bảng điều tra ý kiến", viết lên trên đó "tôi cám ơn các bạn", sau đó vội vàng đem nó đưa cho một nhân viên phục vụ.

Quá trình đó gây nên sự căng thẳng và lúng túng vô cùng của ông Lưu. Làm sao ca ngợi người khác lại có thể có trở ngại tâm lý lớn như thế?
Trong công ty xí nghiệp, nhiều công nhân viên làm một công tác như nhau, đôi khi thật rất khó cảm thấy mình đã có cống hiến cho cơ quan đơn vị, giá trị tồn tại của mình thật chẳng qua là một chiếc đinh vít, có thể có mà cũng có thể không. Thời gian càng dài, khí thế càng lắng xuống.
Theo quan niệm truyền thống, chúng ta từ lâu đã quen với việc công nhân viên làm tốt công việc là bổn phận, không cần biểu dương, làm sai hỏng nhất định phải quở trách. Sự đồng cảm và lời khen ngợi cửa miệng có thể nâng cao sức gắn bó và cổ vũ khí thế của công nhân viên. Nhưng rất nhiều người chính là cảm thấy việc ca ngợi rất khó thông suốt.

Xem ra việc đột phá trở ngại tâm lý này vẫn cần có dũng khí nhất định. Khi bắt đầu có thể là rất ra công ra sức, rất không thoải mái.

Nhưng, nếu như chúng ta hãy nghĩ xem những người được khen ngợi, sẽ rất vui vẻ và thỏa mãn, tăng thêm lòng tự tin và tự tôn, có lẽ có thể cho chúng ta dũng khí quyết tâm để làm. Nhưng cuối cùng phải nên làm như thế nào mới có thể đúng mức? Nhân đây xin nêu lên bốn phương pháp tiến dần từng bước cung cấp cho mọi người.

1) Có thể khen ngợi qua ngôn ngữ thân thể

Thử dùng một ánh mắt tán thưởng, một cái gật đầu đồng ý, nhẹ vỗ một cái lên vai truyền đạt tình cảm của bạn, bày tỏ sự khen ngợi của bạn. Từ trong phản ứng tích cực của người khác tăng thêm dũng khí của mình, tin tưởng bạn rất nhanh sẽ có thể nói ra lời khen ngợi.

2) Thà khen ngợi những người, việc, vật mà anh ta quan tâm còn hơn trực tiếp khen ngợi anh ta.

Khi chúng ta nghe người ta nói "Ông X, ông thật là tài giỏi!", "Ông Y, ông thật là rất cừ!", nhiều lúc có thể khiến cho người ta nghe "da sởn vẩy ốc" lên, cảm thhấy mình e rằng mãi mãi không thể nói ra những lời đại loại như thế.

Không bằng, nhắm đúng vào việc người khác làm hoặc các biện pháp họ nghĩ ra, biểu dương khen ngợi tùy theo từng việc để xét, không những trong lòng người nói cũng thận trọng, thiết thực, mà người nhận cũng có thể nghe được yên dạ yên lòng.

3) Chọn phương thức bày tỏ đa dạng

Có lúc chỉ là ngôn ngữ thân thể hoặc ngôn ngữ diễn đạt vẫn chưa đủ, còn có thể lợi dụng các phương thức khác để làm tăng diễn đạt. Ví dụ như viết một cái thiếp, tặng một món quà nhỏ, cùng ăn cơm liên hoan, cùng đi một chuyến du lịch, tăng thêm cơ hội giao lưu với nhau.

4) Trong quá trình khen ngợi không nên quá khoe khoang, tỏ ra không tự nhiên.

Thực ra, ngoài cảm giác của mình không tự nhiên, có thể nhiều người được khen cũng cảm thấy không thực tế, thậm chí có thể nghi ngờ bị nịnh nọt, ngược lại gây cho người ta chán việc đó thật là được chẳng bù mất.
Chỉ cần có quyết tâm muốn cải tiến quan hệ nhân tế của mình, từng bước yêu cầu mình, tin tưởng rằng sự phản hồi bạn nhận được khi người khác được cổ vũ, nhất định sẽ làm tăng lòng tự tin của bạn.

>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>

Xem tiếp 31- Hãy cẩn thận với cái bẫy tuyển dụng người làm
Đăng nhập để trả lời
0
31- Hãy cẩn thận với cái bẫy tuyển dụng người làm

Các nhà mưu lược thời xưa, nhất là về phương diện chính trị và quân sự, để thắng địch thủ phần nhiều đều sẽ giăng bẫy cho đối thủ.

Hiện nay, về phương diện công việc thông báo mướn người làm, nhiều người cũng tìm trăm phương ngàn kế giăng bẫy cho người được gọi đến làm việc. Chúng tôi mong mọi người nên hết sức cẩn thận, không nên mắc vào tròng bị lừa.

Tục ngữ có câu: "Đạo cao một thước, ma cao một trượng". Xin hãy vận dụng mưu trí của bạn để giáng lại đòn mạnh mẽ đối với những kẻ chiêu mướn giả.

Để bảo vệ quyền hợp pháp của đông đảo người tìm việc làm, các giới truyền thôngn tin tức cũng thường xuyên đưa ra ánh sáng một số công ty tuyển dụng người giả, vạch trần các thủ thuật lừa đảo của họ.

Cơ quan công an và bộ phận giám sát lao động cũng dựa vào việc phát hiện của quần chúng, đã hủy bỏ từng điểm tuyển dụng người phi pháp, để những người tìm việc làm tránh được một phần tổn thất.

Mặc dù như vậy, tình huống vẫn không mấy lạc quan, kẻ tuyển dụng người phi pháp và một số công ty lừa vẫn không ngừng mọc lên.
Từ năm 1998 đến nay, Trung tâm phục vụ giới thiệu việc làm khu Tây Thành trong thời gian không đầy nửa tháng, liên tục nhận được đơn tố cáo của mười mấy người tìm việc làm bị lừa.

Có một công ty gọi là "Thương trường Trung Sơn" đã làm giả đủ mọi giấy tờ tuyển dụng người.

Trước tiên chọn mấy người ở một thị trường lao động, đem bổ nhiệm họ thành giám đốc các bộ phận của công ty.

Sau đó lại đến một thị trường lao động khác tuyển dụng nhân viên thông thường. Các giám đốc bộ phận, để không phụ lòng mong muốn của ông chủ mới đã làm việc hăng hái hết mức, tới tấp thuyết phục những người tìm việc không hiểu rỗ chân tướng vào công ty này.

Đồng thời với việc tuyển người làm, mỗi người phải nộp tiền chi phí trang phục 600 - 800NDT (nhân dân tệ). Để đánh lừa người tìm việc làm, ông chủ của công ty này mời một công ty may mặc đến đo người cho từng người được mướn, tuyên bố may trang phục làm việc, đánh lừa sự tín nhiệm của họ.

Được biết, người này đã lừa lấy được mười mấy vạn nhân dân tệ (tiền Trung Quốc), hôm trước đã bị cơ quan công an bắt.

Một công ty khác là "Mậu dịch khoa học Thuân Thông Thành, Bắc Kinh", giám đốc của nó trước tiên tuyển một nữ thanh niên làm thư ký của ông, sau đó để cho nữ thư ký đem các giấy tờ đến một thị trường lao động tuyền lái xe.

Sau khi tuyển chọn, Hà X. và hơn mười người nữa được tuyển dụng, đồng thời còn yêu cầu mỗi người nạp 2000 NDT tiền đặt cọc.

Ông giám đốc ra vẻ thông thạo nói: "Xe giao cho các anh, nếu các anh đánh xe đi, tôi đến đâu để tìm các anh". Có một số người được tuyển dụng có vẻ nghi ngờ đối với việc này, lúc đó không giao tiền.

Ngày hôm sau, giám đốc làm ra vẻ trịnh trọng đánh đến một chiếc xe bánh mì để mọi người chạy thử, sau khi thử xong, đòi những người được tuyển dụng giao tiền ngay tại chỗ, và nói tuần sau sẽ chạy loại xe chở hàng này.

Mọi người tin là thật, mỗi người giao nộp 2000 NDT. Ai ngờ rằng sáng thứ hai đi lấy xe thì người đã đi vắng, mọi người đều tịt không trả lời nổi, mới biết đã gặp phải tên bịp bợm.

Đúng lúc này, cô thư ký đi làm đến, mọi người vội vàng hỏi cô giám đốc đi đâu, cô thư ký lại không biết giám đốc đã bỏ chạy.

Sau một hồi căm phẫn, mọi người bắt đầu nghĩ ngợi lại, thủ đoạn lừa gạt của tên bịp bợm này thật ra không cao, đều là dùng cớ lấy tiền đặt cọc, chi phí may trang phục để lừa, nhưng lần nào cũng có kết quả, trăm phát trăm trúng, rốt cuộc nguyên nhân ở chỗ nào?

Các chuyên gia trong ngành cho rằng, người tìm việc thiếu ý thức tự bảo vệ và thị trường lao động nắm quy định không vững là nguyên nhân quan trọng.

...............

Ngoài ra sức đánh trả của cơ quan hành pháp có liên quan không đủ, cũng là một nguyên nhân nữa.

Tiện đây, chúng tôi kêu gọi các đoàn thể xã hội hãy quan tâm thiết thực đến những người chưa có việc làm, làm tốt công tác đào tạo và tìm nghề cho họ, các ngành có liên quan và cơ quan hành pháp cần phải nghiêm trị thẳng tay và tuyệt đối không nể quá hóa hỏng đối với những công ty lừa lợi dụng lỗ hổng của thị trường lao động làm tổn hại đến những người tìm việc làm.

Đồng thời cũng nhắc nhủ đông đảo người tìm việc làm trong quá trình tìm việc phải tăng cường ý thức tự bảo vệ, lau sáng mắt mình để tránh mắc vào tròng bị lừa.

>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>

Xem tiếp 32- Trong tâm lý nghĩ ra ý thắng người khác trước
Đăng nhập để trả lời
0
32- Trong tâm lý nghĩ ra ý thắng người khác trước

Có thể nghĩ ra trước người khác, làm trước người khác là một loại can đảm và sáng suốt tuyệt vời. Người có tính dự kiến cực mạnh, thường có thể cho người khác sự kỳ lạ vượt ngoài ý định.

Trong "Hán thư. Hạng Tịch chuyện" có câu: "Tiên phát chế nhân, hậu phát chế vu nhân" (trước nảy ra ý định thắng người khác, sau đó mới phát ra dùng sức mạnh để thắng người).

"Binh kinh bách tự" đặt chữ "tiên" (trước) lên hàng đầu. "Tiên" tức là trước tiên nẩy sinh ra ý thắng người. Nó cho rằng trong chiến tranh "nẩy ra ý thắng người trước" là rất quan trọng, ai nắm được bí quyết nẩy ra ý thắng người trước, người đó sẽ có thể nắm chắc được quyền chủ động. Cách "tiên phát chế nhân" (nẩy ra ý định thắng người trước) trong xã giao là chỉ mở ra thế tấn công trước lời nói và việc làm của đối phương, dùng thế mạnh buộc người khác phục tùng.

Dưới đây chúng ta sẽ kết hợp với một ví dụ thực để phân tích cụ thể:
Dahl Carnegie là nhà văn nổi tiếng Mỹ. Ông đã từng kể một đoạn từng trải của ông trong sách "Đời người tốt đẹp": Nhà Carnegie cách công viên rất gần, do vậy ông thường thường sau khi ăn cơm xong đã đem một con chó săn nhỏ tên là "Racer" đến công viên đi dạo chơi.

Đây là một công viên rừng, diện tích rất lớn, du khách đến không nhiều. Công viên có một quy định: người dắt chó đi chơi phải buộc xích chó và đeo giọ mõm. Khi mới đầu, Carnegie còn thường đeo các dụng cụ cho chó theo quy định, thời gian lâu về sau cũng đã thực hiện lỏng lẻo.

Một hôm, trong công viên ông gặp một viên cảnh sát cưỡi ngựa. Cảnh sát nói nghiêm khắc: "Vì sao ông để chó chạy đi chạy lại lung tung mà không buộc cho nó một cái xích? Chẳng lẽ ông không biết đây là vi phạm pháp luật ư?".

"Vâng, tôi hiểu", Carnegie trả lời, "nhưng tôi cho rằng nó không đến nỗi cắn người khác".

"Nhưng pháp luật bất biết ông cho rằng như thế nào? cảnh sát nói gay gắt, "Lần này tôi không truy cứu, giá như lần sau lại để tôi bắt được, ông sẽ phải đi đến quan tòa để nói chuyện".

Từ đó về sau, Carnegie đã làm theo quy định. Nhưng con chó nhỏ rất không thích ràng buộc. Trông thấy vẻ đáng thương của con chó, ông cảm thấy mủi lòng, không đeo rọ mõm lên cho nó nữa.

Một buổi trưa, ông đang chạy thi cùng con chó, vừa chạy qua một đám cây, vừa vặn gặp ngay viên cảnh sát kia đang cưỡi trên mình một con ngựa màu nâu hồng. Cảnh sát vẫy tay gọi ông đến. Chạy không thoát, Carnegie đành gượng đi lên phía trước.

Trong lòng ông nghĩ, lần này có thể bị gán tội rồi! Ông quyết định nẩy ra ý thắng người trước. Ông nói một cách hổ thẹn: "Thưa ông, lần này ông đã bắt được tôi. Tôi có tội, tuần trước ông đã cảnh cáo tôi".

Hầu như nằm ngoài ý định của Carnigie, "Nói khép lắm, nói khéo lắm". Viên cảnh sát trả lời nói, "tôi biết, khi không có người, ai cũng đều để cho chó nhỏ chạy đi chạy lại một cách thoải mái".

"Quả là không nén nổi "Carnegie nói, "nhưng đây là vi phạm pháp luật".
"ồ, đừng nói quá nghiêm trọng "cảnh sát nói một cách rất êm dịu, "như thế này nhé! Ông chỉ cần cho nó chạy qua ngọn đồi nhỏ, đến chỗ tôi không nhìn thấy nữa, sự việc sẽ cho qua".

Từ đó ta thấy, nghĩ ra ý định thắng người trước tiên thực tế là một sách lược chiếm ưu thế trong tâm lý của đối phương. Nói chung, trong tình trạng nào đó tâm lý của con người, chỉ có một loại chiếm ưu thế chủ yếu, các loại khác thì ở trong trạng thái phụ thuộc hoặc bị nén xuống.

Trong xã giao, nếu như chúng ta trước tiên dùng chủ động, thế thì quả quyết rằng, lời noíi việc làm của chúng ta sẽ gây được dấu ấn sâu sắc trong tâm lý của đối phương, xúc tiến sự hình thành tâm lý có lợi cho ta.
Carnigie mang chó săn nhỏ đi dạo ở công viên, không đeo rọ mõm lên cho nó đã vi phạm quy định có liên quan, bị cảnh sát phát hiện một lần nữa.

Nếu như Carnegie chỉ "ngồi im chờ chết", đội cảnh sát quở trách, tình thế sẽ phát triển theo hướng bất lợi cho mình. Carnegie đã không làm như thế, khi không tránh khỏi bị khiển trách, tự mình trước tiên nhận lỗi, biến tình thế đơn thuần tiếp nhận thành tình thế tiến công.

Lúc này, việc chiếm ưu thế chủ yếu trong tâm lý của viên cảnh sát là muốn dạy cho Carnegie một phen nên thân, nhưng do Carnegie đã dùng sách lược nghĩ ra ý thắng người khác trước, đem những lời cảnh sát muốn quở trách đối phương nói ra, do vậy ý nghĩ muốn khiển trách người khác trong tâm lý của cảnh sát bị nén xuống, cơn giận dữ cũng đã tan đi nhiều.



>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>
Xem tiếp 33- Buông lơi cảnh giới, vờ tha để bắt thật
Đăng nhập để trả lời
0
33- Buông lơi cảnh giới, vờ tha để bắt thật

Quan hệ giữa "bắt" và "tha" là biện chứng; nếu muốn "bắt" được vững chắc cần phải phóng túng thích đáng một chút. bằng không thì muốn bắt không được.

Kỹ xảo ứng xử vờ tha để bắt là chỉ trước thả sau thu, làm cho đối phương buông lơi cảnh giới bị mắc vào tròng, cuối cùng không còn cách nào chịu thua đầu hàng. "Bắt" là mục đích, "tha" là thủ đoạn, "tha không phải là buông trôi bỏ mặc mà có buông lơi có mục đích.

Đúng như trong "Tam thập lục kế" nói: "Cái gọi là "tha" không phải là thả nó, theo nó mà nới lỏng nó thôi, "cướp cùng chớ đuổi", cũng chính là cái ý đó. Đại khái việc không đuổi không phải là không theo, không cưỡng bức nó mà thôi". từ đó ta thấy, "tha" hoàn toàn không phải là mặc nó tự nhiên muốn làm gì thì làm, mà là ngấm ngầm kiếm chế đối phương, chỉ có như thế, mới có thể chờ dịp đạt được mục đích "bắt".

James Buchanan là Tổng thống thứ 15 của nước Mỹ, dựng nên cơ đồ từ luật sư. Một lần, một người vì huy hiếp sinh mệnh của người khác nên bị tố cáo. Do nguyên cáo nắm được nhiều chứng cứ, nên bị cáo dữ nhiều lành ít. Sau khi bị nhiều luật sư từ chối, bị cáo nhờ đến Buchanan.

Khi tòa án mở phiên tòa xét xử, Buchanan hỏi nguyên cáo: "Tôi nói, thưa ông, giá như ông là một người can đảm hơn một chút, không bị người khác uy hiếp làm cho sợ, tức là một người dũng cảm, thì ông có còn để tâm đến sự uy hiếp của bên đương sự của tôi không?"

"Thưa ông, tôi không có gì đáng sợ cả giống như bất cứ một người dũng cảm nào". Nguyên cáo trả lời.

Buchanan nói: "Vậy thì, khi bên đương sự của tôi uy hiếp ông, ông cũng không thể sợ hãi chứ?"

"Không thể, thưa ông".

"Ông không sợ ông ấy phải không?"

"Vâng, tôi không sợ".

"Thế thì, ông còn tố cáo điều gì nữa? Tôi đề nghị, bác bỏ nguyên cáo".

Tòa án đã lập tức kết thúc vụ án này.

Trước đông đảo công chúng, nguyên cáo đương nhiên không thể thừa nhận mình là một tên nhát gan, thế là Buchanan dùng phương pháp vờ tha để bắt, thông qua việc hỏi vặn đi vặn lại khó khăn, đã dẫn dắt đối phương đến kết luận phủ định mình.

>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>

Xem tiếp 34- Mánh khóe nhỏ, niềm vui lớn
Đăng nhập để trả lời
0
34- Mánh khóe nhỏ, niềm vui lớn

Người ta có thể thường xuyên phát hiện ra, mọi việc trong cuộc sống phần nhiều đều cần phải dùng một số sách lược vu hồi, nếu không thì không tài nào làm thành.

Ví dụ như, anh Lưu là một người vô cùng yêu cuộc sống yêu quý vợ. Anh công tác rất bận, mỗi tháng sau khi kiếm được tiền, mình xưa nay không giữ lại "tiền riêng" tất cả đều giao đủ mọi đồng cho vợ mình, do vợ căn cứ nhu cầu cuộc sống gia đình tùy ý tiêu pha.

Anh cho rằng: như thế rất tốt - làm người chồng là kiếm tiền, còn làm vợ là tiêu tiền, cuộc sống gia đình nhất định sẽ hạnh phúc rất mỹ mãn.
Nhưng, sau khi kết hôn một năm, anh đã phát hiện làm như thế, thật ra không làm cho vợ thích, thế là anh đã xét lại mình: Có phải là mình quá coi trọng sự nghiệp không? Có phải là việc trong gia đình mình làm quá ít không? Có phải là quan tâm đối với vợ không đầy đủ không?

Nghĩ như thế, anh đã quyết định: Bất kể từ nay về sau công tác bận rộn thế nào, cũng phải bớt ra một chút thời gian cùng lo liệu công việc gia đình với vợ.

Người vợ vô cùng sung sướng đối với thái độ này của anh, đã bố trí anh đảm nhận việc mua rau và thức ăn.

Hàng ngày sau khi tan tầm đi về, anh đã thuận tiện đi đến chợ bán rau và thức ăn, theo lời dặn của vợ, anh mua mọi thứ thực phẩm cần dùng của một ngày mang về, đồng thời nói giá từng loại với vợ.

Vợ hỏi: "Thịt lợn bao nhiều tiền một cân?" (1 cân = 0,5kg)

Anh Lưu trả lời: "Năm đồng tám hào" (tiền NDT).

Vợ lại hỏi: "Rau cải trắng bao nhiêu tiền một cân?"

Anh Lưu đáp: "Bảy hào một cân".
............

Anh Lưu cho rằng vợ sẽ khen anh, song vợ lại bĩu môi lên và nổi cáu lên.

Người vợ nói: "Anh mua rau và thịt cũng không biết bớt giá. Rau cải trắng thực ra chỉ năm hào đã có thể mua được một cân. Anh thật đần quá!"
Anh Lưu nghe vợ quở trách, trong lòng cảm thấy rất khó chịu.

Cần biết rằng, vì việc mua các thức ăn cho vợ, mình buổi trưa cũng đều không được nghỉ ngơi, phải hoàn thành sớm công việc buổi chiều, một lòng một dạ muốn sau khi tan tầm đi về đảm nhận bớt một vài việc gia đình cho vợ, làm cho vợ vui.

Người vợ nhìn thấy vẻ buồn rầu của anh, đã an ủi vài lời, cũng đã phải vội vàng đi thổi cơm.

Lúc này, anh Lưu trong lúc ăn không ngồi rồi, thuận tay giở quyển "Những chuyện vui của các nhân vật có trí tuệ thời xưa của Trung Quốc" trên giá sách xem, cảm thấy những nhân vật như Gia Cát Lượng, như Tào Tháo, như Lưu Bá Ôn, như Đông Phương Sóc... họ nhất cử nhất động đều chứa chan trí tuệ, trên thực tế đều là đấu trí khôn, giở mánh khóe với đối thủ, từ đó đạt được mục đích thắng đối thủ.

Anh cảm thấy: Giữa vợ chồng, sống hàng ngày ở nhà, mặc dù không phải là phải tạo ra mâu thuẫn, nhưng muốn có êm ấm, vui vẻ, cũng nên dùng một số mánh khóe nhỏ, có lẽ có thể thu được hiệu quả rất tốt.

Thế là, ngày hôm sau sau khi mua các thức ăn mang về, anh đã hớn hở đi đến trước mặt vợ.

Vợ hỏi: "Thịt lợn bao nhiêu tiền một cân?"

Anh Lưu trả lời: "Người ta đòi năm đồng rưỡi, anh đã mặc cả giá với anh ta một hồi lâu, cuối cùng bốn đồng rưỡi đã mua được".

Vợ nghe xong rất vui vẻ, lại hỏi: "Thế rau cải trắng bao nhiêu tiền một cân?"

Anh Lưu nhìn thấy vợ nét mặt vui vẻ, liền cố ý chơi trò úm, giả bộ thờ ơ như không, nhởn nhơ nói: "Cái anh chàng bán rau kia thật đần. Trên sạp rau bên cạnh đòi bán tám hào, anh ở bên sạp rau này cố ý nói rau của anh ta không ngon, anh ta đã bán cho anh bốn hào".

Người vợ nghe xong, vui sướng nhảy lên, kêu lên: "Ôi! Anh thật cừ! Xem ra, về việc mua các thứ anh giỏi hơn em rất nhiều!"

Lúc đó, hai vợ chồng rất vui vẻ, cùng hát với nhau, cùng nói chuyện đùa với nhau, cùng nhau làm cơm, cùng nhau ăn cơm. Việc đó khiến cho anh Lưu cảm thấy mình vô cùng vẻ vang, vô cùng tự hào.

Trong cuộc sống, một biện pháp nho nhỏ, đã có thể mang đến cho đối phương vui mừng rất lớn, còn vui mừng này lại có thể quay trở lại đền đáp cho mình, cớ sao mà không làm?

Thực ra, anh Lưu chẳng có thủ đoạn gì cao siêu, thịt hôm nay anh mua và giá của ngày hôm qua là như nhau, rau hôm nay mua, thậm chí còn đắt hơn hôm qua một hào - bởi vì vợ yêu quý gia đình, toàn tâm toàn ý xếp sắp cuộc sống, do đó cái giá của một hào bạc xét theo cô ta đều rất rõ ràng, rất tính toán. Anh Nam nếu như đem tình hình mua rau thực tế nói thực với vợ, khẳng định có thể mang đến cho hai người tâm tình không thoải mái.

Sống ở nhà cũng thế, đối xử bạn bè và người thân cũng thế, có thể giở một mánh khóe nho nhỏ, nhất định có thể đổi lại cho đối phương và bản thân mình niềm vui lớn.

Các bạn thử làm xem sao?

>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>..

Xem tiếp 35- Hãy cho đối phương một chút lợi
Đăng nhập để trả lời
0
35- Hãy cho đối phương một chút lợi

Tính tích cực sáng tạo của con người, ở mức độ rất lớn bắt nguồn từ việc theo đuổi đối với lợi ích.
Lập công ty, mở cửa hàng, xây dựng nhà máy... chỉ có một mục đích, chính là để kiếm tiền.

Dùng phương thức tư duy truyền thống suy nghĩ vấn đề, thường sẽ là càng nghĩ kiếm tiền, trái lại càng không kiếm nổi. Cho nên, trên thế giới mới có nhiều xí nghiệp phải đóng cửa, nhiều ông chủ đen đủi đến như thế, mới có nhiều người trong cạnh tranh thua trận đến như thế. "Định lấy cái gì của ai, cần phải cho họ một số cái gì trước" chính là cái lý này.

Biết rõ rành rành đối phương muốn áp đảo mình, lại cho đối phương một số chỗ lợi, để cho đối thủ được một chút lợi ích con con, mình cuối cùng giành được lợi lớn. Đây cũng là một thủ đoạn quan trọng của những người cao tay trong thương trường.

* * *


Hartley bất kể từ dáng vẻ bề ngoài, phương thức sống đến định thế tư duy cả đến khả năng bảo vệ lợi ích mình đã giành được, tất cả đều đủ để trở thành điển hình của ông chủ lớn ngành dầu mỏ Mỹ. Ông có bụng béo phệ, nét mặt hồng hào, là thành viên của câu lạc bộ các ông chủ lớn của ngành dầu mỏ Mỹ. Câu lạc bộ này đã tụ tập một tốp các "ông cụ non" ngông cuồng tự cao, ngăn cách hẳn với quản lý hiện đại, tranh biếm họa của Mỹ cũng vẽ như thế.

Tốp người này coi thường thuộc hạ, suốt ngày từ sáng đến tối dùng tiền của cổ đông tiêu phí thời gian ở bãi săn, thắng cảnh câu cá, bước vào phòng nhảy của mình lộng lẫy nguy nga, dùng tiền của công ty mua máy bay phản lực, dẫn chó đi khám thú y, cùng người tình đi Paris tìm vui thú. Hartley thậm chí còn tiêu tiền của công ty cải tiến máy bay phản lực để có thể đặt được piano của ông lên đó.

Tốp người này bất kể là tiêu khiển hay là đưa ra quyết sách kinh doanh đều phản ứng đần độn, động tác chậm chạp, kết cục đương nhiên tầm thường mà ngu xuẩn. Nhưng họ không bao giờ quên bốn việc: báo chi tiêu với công ty, hưởng thụ đặc quyền, địa vị danh vọng, một mình nắm hết mọi quyền hành. Tóm lại là họ xem lợi ích đã được của mình quan trọng hơn bất cứ cái gì.

Từ năm 1981 đến năm 1985, dưới làn sóng xung kích của cuộc cải cách quản lý hiện đại, các công ty dầu mỏ Mỹ đã từ 18 giảm xuống còn 15 công ty. Công ty của Hartley mặc dù kiêu hãnh được lọt lưới, nhưng kết quả kinh doanh kém cỏi hết mức, bị việc "mua thầu" tập kích là tất nhiên.
Năm 1980, Hartley gặp Pigens tại cuộc đấu bóng golf của các ông chủ dầu mỏ. Ông khoe với Pigens công ty của mình đứng vào hàng thứ 14 của Mỹ. Pigens trả lời nói: "Dự toán của ông là 700 triệu USD, dùng 2,2 vạn người; còn dự toán của công ty của tôi là 400 triệu USD, dùng 600 người. Chẳng lẽ ông từ trước đến nay chưa từng nghĩ người nổi ở trên việc, hiệu suất sẽ giảm chăng?" Hartley đang chuẩn bị đánh bóng tức giận đỏ mặt tía tai, ngớ người ra, đến nỗi bóng cũng đều đánh trật, từ đó ông xem Pigens là cái gai trong mắt, cái kim trong thịt, nhắc đến Pigens với các đồng nghiệp luôn bắt đầu bằng lời "Cái thằng gái điếm nuôi đó".

Trong cuộc họp nghiệp vụ của giới dầu mỏ, Pigens không nói một lời, Hartley đã thay đổi hướng ghế ngồi nhìn vào tường, mọi cử động đối với Pigens nhất loạt đều cười nhạt khinh bỉ. Ông nói việc bảo hộ lợi ích cổ đông của Pigens là việc "ngu xuẩn lớn xưa nay chưa từng nghe thấy, nói diễu câu của Pigens là hủy hoại thanh danh tốt đẹp của hết công ty tên cũ này đến công ty khác. Song song lo lắng liên miên, đứng ngồi không yên để đề phòng sự tập kích của Pigens.

Ông ra lệnh cho cố vấn pháp luật Sinde đi theo mình hơn 30 năm nay thu thập tình hình. Sinde có thể gọi là ngoan cố, bắt đầu từ ngày ngành dầu mỏ xuất hiện "mua thầu", ông ta đã xây dựng kho tư liệu, tồn trữ tất cả mọi tài liệu của những người đương sự, bao gồm các nhà ngân hàng, luật sư, những người đứng đầu cơ quan chứng khoán, chiến thuật về phương diện tài chính, khả năng về phương diện tư pháp, hồ sơ "mua thầu" và nghiên cứu phân tích của nó, sẵn sàng lúc nào cũng có thể cung cấp để xét hỏi. Nhận được lệnh của Hartley, ông ta lại nghiên cứu biện pháp phòng vệ.

Ngày 4 tháng 2 năm 1985 "Bản kê dạng thứ 13 của Pigens" công bố, nhưng thật ra chưa thật sự muốn tập kích Hartley, còn Hartley lại dùng chửi rủa kích động cơn thịnh nộ của Pigens.

Hartley về nhà nói với vợ: "Tôi sinh ra trong Đại chiến thế giới thứ I, là người may mắn còn sống trong Đại chiến thế giới thứ II. Hôm nay, tôi chuẩn bị tiếp nhận khó khăn trắc trở của Đại chiến thế giới thứ III. Một khi thất bại, tôi nhất định sẽ phóng lửa đốt cháy công ty thành tro tàn, cũng không để cho "tên gái điếm nuôi" kia được nó". Pigens xuất thân từ phần tử trí thức lần đầu tiên gặp nhà công thương nghiệp thô lỗ.

Khi bảo vệ lợi ích bản thân, Hartley lại có tinh tế trong thô lỗ, ông mời ngân hàng làm bạn liên mình, hẹn trước ba trung tâm luật sư làm cố vấn, chỉ định Sinde triệu tập hội nghị điện thoại toàn quốc, để những người thám thính khắp các nơi bàn tình hình và tiến hành phân tích.

Ông thẩm định vài "kế hoạch", bắt tay thay đổi giám đốc, quy định chương trình mới. Ông còn chuẩn bị sắn các phương án khác nhau: đọ sức ở tòa án, tranh đoạt quan hệ công cộng, cắt quyền ủy thác cổ đông. Lợi ích cá nhân đã làm cho tài năng trí lực của ông lại có dịp phát huy khác thường.

Ông dời tổng bộ phản kích đến Los Angeles, điều tên bịp bợm ra khỏi phố Wall, còn chuyển công ty đến Delaware đăng ký để có tầm nhìn xa trông rộng, chuẩn bị lá bùa cứu mệnh.

Cuối tháng 2 năm 1985, 13,6% cổ phiếu của công ty Hartley bị "kỵ sĩ ngựa đen" cướp đi, ông mặc dù đã hết sức chống lại, nhưng kết quả rất nhỏ, không có cách nào hơn đành ra lệnh cho quân tăng cường thăm dò.
Không bao lâu truyền lại nguồn tin: Ngân hàng công ty mình mở tài khoản là Ngân hàng an toàn Thái Bình Dương đã cấp cho Pigens nguồn vốn 54 triệu USD. Hartley lập tức chỉ trích đây là âm mưu lớn, "là ngân hàng được tôn trọng bề ngoài là giúp vốn xí nghiệp công nghiệp nhưng ngấm ngầm câu kết với tên bịp bợm, xúi giục hai bên tán sát nhau".
Ngày 12 tháng 3, ông không hề do dự đã đem ngân hàng mở tài khoản của mình đưa lên ghế bị cáo của tòa án. Về sau mặc dù việc tố cáo không thành, nhưng trong một khoảng thời gian lại thu nhận những điều tai nghe và mắt thấy khắp nơi có tác dụng "giết một người răn trăm họ".

Hartley một mặt sử dụng thủ đoạn pháp luật, một mặt sử dụng vũ khí tuyên truyền, ông đã viết một lá thư lời lẽ cứng rắn cho Thống đốc Ngân hàng Trung ương Mỹ quyền uy rất lớn, yêu cầu Thống đốc dùng biện pháp cấp bách kết thúc "làn sóng mua thầu cuồng nhiệt lạm dụng cho vay kích dậy uy hiếp kinh tế".

Ông sao chép lại lá thư này gửi đến giám đốc tất cả các ngân hàng mở tài khoản của Pigens, sao chép và gửi đến nghị sĩ Quốc hội. Để làm cho người nhận thư không đoán được ai gửi nên đặc biệt chú ý, ông không dùng phong bì của công ty mà dùng phong bì trống không, chi tiết trông có vẻ không nổi lắm nay lại sinh ra hiệu quả tâm lý không ngờ, các bức thư đều được những người nhận xem rất cẩn thận, thế tiến công tuyên truyền mạnh mẽ đã hình thành, Hartley đã phải dùng nó tạo nên cục diện "đợi ngày làm khốn đốn" đối với Pigens.

Pigens dao động, công khai bày tỏ "có thể thay đổi ý nguyện ban đầu của việc mua thầu". Mà Hartley lại từ chối một cách độc đoán, phải liều một trận một sống một còn.

Ngày 7 tháng 4 năm 1985, Hartley ở nhà giở tờ báo "Thời báo Newyork, vừa nhìn thấy tín hiệu tổng công kích của Pigens, ông lập tức bảo Sinde dùng tất cả các biện pháp đề xuất tố cáo với các tòa án của các thành phố mà công ty của Pigens đóng, tố cáo "Bản kê dạng thứ 13 của Pigens" đã dùng thủ đoạn lừa gạt, vi phạm "Luật chống trust" (Luật chống tổ chức lũng đoạn).

Thủ đoạn này làm cho Pigens lúng túng. Cùng một ngày của tháng 4 bị các tòa án các thành phố khác nhau yêu cầu đưa ra lý do khiếu nại. Trong khi Pigens tìm hết cách đối phó, Hartley bắt đầu cuộc chiến tranh giành cổ đông.

Ông ta chọn 700 người từ trong viên chức của công ty huấn luyện gấp, tay nắm tay dạy họ thay mặt công ty gọi điện thoại cho cổ đông, khi đến thăm từng nhà nói như thế nào, muốn các cổ đông phải hiểu rõ tình hình trước mặt không tốt có thể xuất hiện sau khi bị Pigens thôn tính, Hartley còn gọi điện cho những người đứng đầu cơ quan tiền tệ trong cổ đông, muốn họ phải đưa ra "sự lựa chọn đúng đắn", và nói: "Nếu như ông không bỏ phiếu tán thành, tôi sẽ thhu hồi toàn bộ tiền vốn từ trong tay ông".
Sau khi bố trí động tác bao vây chặt Pigens xong, Hartley đã kéo ngòi nổ của "quả bom nợ" xem cái chết như không: Công ty Unôkaul vay nợ mua thầu cổ phiếu của mình, mặc dù điều này về pháp luật không giải thích thế được, nhưng ông lại tuyên bố trước cả nước "Tôi và công ty tôi sẽ cùng chết với Pigens!"

Động tác được nghe những cái chưa hề nghe thấy này khiến cho giới công nghiệp, giới tài chính ngân hàng Mỹ kinh sợ, nhưng Hartley thì mặc kệ, ông ta thà để cho hành vi không vẻ vang của mình công bố với mọi người, để cho Tòa án cao cấp của bang Delaware khó nghĩ.

Ông ta biết đối phương ắt sẽ có thể tố cáo mình, Tòa án sơ thẩm, phúc thẩm cũng không dám bất chhấp lẽ phải trên đời bênh vực mình, một khi lá bùa cứu mệnh vô hiệu, ông sẽ làm người anh hùng của "xí nghiệp tự sát" Mỹ.

Ngày 13 tháng 5 đại hội cổ đông họp, Hartley mặc bộ complet lỗi thời đã lâu, chỗ cửa tay còn vá mụn vá, hai mắt đỏ ngầu đến cuộc họp. Ông không đề ra nổi phương án cải thiện kinh doanh, cũng không bác nổi phương án của Pigens, chỉ là chỉ trích máy bay riêng của Pigens nhiều hơn mình, tiền lương năm cao hơn mình, tỏ ra vẻ chán nản, thất vọng.
Khi đại hội cổ đông kết thúc, ông giật dây Sinde mặc bộ quần áo rách lên hội trường phao tin nói tòa án bang Delanare vừa mới nhận định Pigenss được kiện. Pigens không giấu nổi niềm vui sướng trong lòng dời khỏi hội trường. Thực ra đây là kế hoãn binh của Hartley, ông ta cần thhời gian để tăng sức ép đối với tòa án cấp cao.

Sau khi tan họp, Hartley "dùng người để dụ dỗ" đối với Pigens. Ông để cho các bạn của Pigens chuyển lời nói với Pigens rằng, Hartley vì bị kiện tụng đánh bại, chuẩn bị giương cờ trắng đầu hàng, xin mời đến đàm phán.
Pigens đã đến, Hartley thuận thheo ý của Pigens bàn bản thỏa thuận, chỉ trên giá chênh lệch 400 triệu USD không nhượng bộ, yêu cầu kéo sang ngày hôm sau sẽ bàn tiếp.

Lúc chia tay ông còn bày tỏ lời chúc mừng với Pigens, cám ơn ông ta không chỉ trích mình ngông cuồng tự kiêu.
Ngày hôm sau bàn tiếp, Hartley đã lật lọng, bắt ép Pigens phải về phòng thương lượng đối sách với người giúp việc. Để đề phòng nghe trộm, Pigens đành phải mở vòi nước trong buồng tắm, không ngừng kéo thùng nước của bô hố xí giật nước, thương lượng khẽ với người giúp việc. Kéo dài đến buổi tối, Hartley cuối cùng đã giành được thời gian hai ngày quý báu.

Sau hai ngày, ba ban ngân hàng, pháp luật và quan hệ công cộng của Hartley tới tấp tăng sức ép đối với chính quyền bang và ba quan tòa của Tòa án cao cấp thuộc bang Delaware, nhấn mạnh công ty Unôkaul là đăng ký hợp pháp của bang này, chính quyền bang có nghĩa vụ vận dụng pháp luật có lợi đối với xí nghiệp đứng về phía xí nghiệp của bang mình, giữ được công ty Unôkal sẽ có thể giữ được thanh danh của chính quyền bang, cũng giữ được nguồn thu nhập tài chính của bang mình.

Ngày thứ ba, Hartley đích thân ra tay, ông ta nói một cách uy hiếp đối với chính quyền bang là ba vị quan tòa của Tòa án cao cấp, một nửa của 500 công ty quan trọng toàn quốc đăng ký ở bang này, công ty Unôkaul giành thắng, họ đều sẽ rập khuôn pháp luật của bang này bảo vệ mình. Bằng không thì "quả bom nợ" của công ty Unôkaul ắt sẽ nổ, hơn 200 công ty cũng có thể xem xét đến nơi khác đăng ký.

Sức ép nặng nề khiến cho chính quyền bang và ba vị quan tòa kham không nổi, ngày 17 tháng 5 phải đưa ra "phán quyết ưu huệ" làm cho các bang khác cười chê".

Hartley đã thắng, nhưng thu được lợi không phải là công ty, mà chỉ là giữ được tất cả lợi ích cá nhân của ông ta. Không có lá bùa cứu mệnh ông ta không thể giảnh được phần thắng, nhưng có được lá bùa cứu mệnh ông ta không sử dụng kế "điệu hổ ly sơn", không đợi ngày làm khó đối với Pigens, dùng lợi để dụ ông ta, cũng thắng không nổi. Việc xong, được biết công ty Unôkaul có người tiết lộ, hiệu ứng lớn nhất của "quả bom nợ" là "khua rừng đánh động hổ", còn về có nổ ra hay không, chỉ có thể tính là một câu đánh đố!

Một khi chúng ta bước vào thị trường, chúng ta cũng có thể gặp tình huống tương tự Hartley.

Cho đối thủ một chút lợi ích, kỳ thực không phải là việc xấu.
Người ta thường thường trong so đo tính toán, mình chói chặt chân tay của mình. Một người có tài ba hơn người, không ở chỗ lợi ích trước mắt, hơn thế có thể vì lợi ích từ nay về sau lớn hơn, cố ý vứt bỏ lợi ích trước mắt.


>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>>

Xem tiep 36- Lời nói dối của vợ
Đăng nhập để trả lời
0
36- Lời nói dối của vợ

Trong giao thiệp giữa người này với người khác, đối đãi với đồng nghiệp, đối đãi với bạn bè... Vì quan hệ của cấp trên cấp dưới, vì tình hữu nghị lâu dì, thích đáng giở một chút mánh khóe nhỏ, nói dối một chút là rất cần thiết.

Dù rằng giữa vợ chồng, vì sự hài hòa và vui thích của sinh hoạt tính dục, nói dối sẽ càng cần thiết.

Ví như: Đôi khi, chỉ vẻn vẹn vì nhận thức của bạn đối với sinh hoạt tính dục không có chút căn cứ và cách nghĩ tự lừa mình dối người khác, sẽ có thể dẫn đến cảm giác lo sợ và khó chịu lâu dài, từ đó không thể nào nhận được niềm vui của vợ chồng thật sự.

Lời nói dối thứ nhất của vợ:

Em coi như không quan tâm cao trào có đạt được hay không, em chỉ thích quá trình làm tình.

"Đúng thế, đôi khi cao trào tính dục của vợ không phải không thể thiếu", Tiến sĩ Gelin nói: "Nhưng nếu sinh hoạt tính dục không có cao trào tính dục biến thành việc đương nhiên theo tập quán, thế thì không những không công bằng lắm đối với phụ nữ, hơn thế cuối cùng sẽ ảnh hưởng đến quan hệ vợ chồng".

"Một bệnh nhân của tôi hỏi: Vì sao tôi nhất định phải thích "làm tình"? Vì sao tôi đạt đến cao trào lại quan trọng như thế?" Đây là một phụ nữ quá quan tâm chồng có vui thích hay không? Nhưng thực tế cô ta rất không vui thích. Cô ta luôn tự dối mình lừa người khác, tuyên bố đối với mình "khoái cảm tính dục đối với tôi không có gì đáng kể".

Lời nói dối thứ hai của vợ:

Nếu như tôi có thân hình xinh đẹp, sinh hoạt vợ chồng của chúng tôi sẽ có thể tốt hơn nhiều.

Tiến sĩ Helen nói: "Nếu như bạn lo lắng về thân hình của mình, thì xin hãy nhớ rằng: Một đôi vợ chồng xinh đẹp nằm trên giường hoàn toàn không phải là siêu sao người mẫu trên phim ảnh. Nếu như bạn luôn luôn nghĩ "Cái bụng tôi béo quá"... thế thì bạn làm sao có thể "làm tình" được? Có được thân hình xinh đẹp đương nhiên là tốt, nhưng vợ chồng quan hệ hài hòa từ xưa đến nay đều không phải chỉ "làm tình" với thân thể, ngoài việc tiếp xúc về thân thể ra, còn có phản ứng hóa học về tình yêu, bạn không cần chỉ quan tâm đến một bộ phận nào đó của thân thể của mình.

Lời nói dối thứ ba của vợ:

Cao trào tính dục của tôi đến càng nhanh càng tốt.

Eli rất yêu chồng của cô. Năm ngoái có một dạo, Eli cảm thấy sinh hoạt vợ chồng của họ không tốt bằng trước kia. "Tôi bắt đầu lo lắng, cảm thấy Geore mất quá nhiều sức để tôi có thể đạt được cao trào, tôi có thể mất đi hứng thú làm tình, hoặc cảm thấy bản thân anh ta đã làm sai điều gì". Eli càng lo lắng, thì càng sẽ khó đạt được cao trào. Cô ta không thể khẳng định được cảm giác không đành lòng này rốt cuộc là đến từ người chồng hay là nghĩ phỏng chừng của bản thân cô ta.

Eli cuối cùng đã thổ lộ tâm tình với Geore, được biết Geore đối với sinh hoạt tình dục của họ căn bản chẳng có bất cứ điều gì không thỏa mãn. Eli đã tự tạo ra việc không nhẫn nại của Geore, còn đem việc đó xem là vấn đề giữa họ. "Trao đổi khiến tôi để Geore tin tôi yêu anh trở lại, cũng tin tưởng mình trở lại. Tôi không nên vội vã đưa ra kết luận".

Trong cuộc sống những người làm vợ cần phải hiểu rõ ràng: so với tiền tài, sự nghiệp, ăn, mặc, dùng, ở càng quan trọng hơn phải là sự hài hòa sinh hoạt tính dục của mình với chồng.

Vì mục tiêu quan trọng nhất này, các bạn nữ có thể biết giảo hoạt một chút, biết nói dối một chút, biết giở một chút âm mưu nhé!


Xem tiếp 37- Lời nói tốt đẹp mọi người đều thích nghe




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
37- Lời nói tốt đẹp mọi người đều thích nghe

Ai cũng không muốn mọi chỗ mọi nơi trong cuộc sống bị người khác khiển trách, ai cũng đều muốn nghe những lời tốt đẹp, không những phụ nữ như thế, mà cả nam giới cũng vậy.
Mao Trạch Đông đã từng nói với nhà báo Mỹ Snow: "Mọi người đều thích nghe những lời nói dễ nghe, thực hiện một chút sùng bái cá nhân thích đáng, là rất cần thiết".
Lời nói tốt đẹp người người đều thích nghe, việc này sẽ đòi hỏi chúng ta trong giao tiếp và đối xử, nói nhiều hơn một chút những lời tốt đẹp, bớt nói đi một chút những lời nói xấu, đối với ưu điểm và những chỗ mạnh của người khác ca ngợi thêm vài câu, bớt chỉ trích đi vài câu.

* * *


* Bạn học của bạn khi ăn tết hết sức phấn khởi mời bạn đến nhà chơi, đồng thời miệt mài làm mấy món ăn để bạn thưởng thức.
Bạn biết rõ ràng anh ta nghệ thuật nấu ăn không cao, mùi vị cũng không hợp khẩu vị của bạn lắm. Nhưng bạn không nên nói: "Anh làm loại thức ăn rất tồi, quá mặn". Hãy nghĩ một lát đổi một phương thức nói chuyện khác: bạn vờ rất hứng thú thưởng thức món ăn anh ta làm và nói: "Thật tuyệt! Không ngờ tay học trò như anh này lại có tài nghệ này, sau này nhất định sẽ là một người chồng kiểu mẫu!"
Bạn khích lệ như thế, không những không làm bạn học của bạn cụt hứng, mà còn làm cho anh ta xây dựng được lòng tin. Bởi vì trong việc này, đồ ăn ngon hay không thật ra không quan trọng, mà tình hữu nghị của hai người mới là điều quan trọng.
Lại ví dụ một người bạn khác của bạn mua một chiếc xe Xiali mới xuất xưởng, kéo bạn đi hóng mát ở đô thành - Chỉ cần là một người nam giới, ai cũng đều muốn có thành tựu, ai cũng đều hy vọng mình có thể làm nên một sự nghiệp, ai cũng đều mong mình kiếm được khoản tiền lớn, để bạn bè của mình, để người thân của mình, để thhầy giáo của mình, để các bạn học của mình vì anh ta mà tự hào.
Khi bạn ngồi trên chiếc xe của anh ta, nhìn anh ta ung dung tự đắc, tươi cười hớn hở, tuyệt đối không nên nói: "Chiếc xe này của bạn chỉ là loại xe con thấp cấp. Cái xe Santana của anh X so với xe của bạn ngồi thoải mái hơn nhiều". Hoặc nói: "Hiện nay người ta đều thích mua xe Fukang, bạn làm sao lại lạc hậu với trào lưu, sắm thẳng một chiếc xe Xiali lỗi thời?"
Bạn nên nói: "Anh bạn ơi! Thật chỉ có bạn! Không ngờ rằng trong một thời gian ngắn như thế, bạn đã có được chiếc xe của mình, so với phần lớn bạn bè của lớp ta bạn đều khá hơn". Hoặc nói: "Nhìn thấy bạn đã có xe, tôi thấy vui mừng thay cho bạn! Bánh mì sẽ có, tất cả mọi thứ đều sẽ có. Từ nay về sau, bạn sẽ phát triển khá, nhưng xin chớ có quên bạn học cũ nhé!"
Nói nhiều hơn một chút những lời tốt đẹp, nói nhiều hơn một chút những lời ca ngợi, mình thật ra chẳng mất cái gì, mà có thể cho đối phương sinh ra ấn tượng tốt rất lớn. Đồng thời có thể làm tăng thêm tình hữu nghị giữa hai bên.
Trong công tác, cho dù bạn gặp phải những người công tác không xứng đáng với chức trách, để làm cho người ta làm việc tốt, cũng không nên tùy tiện trách cứ họ, mà nên phát hiện chỗ mạnh chỗ yếu của họ, khen ngợi chỗ mạnh của họ, khích lệ họ khắc phục khó khăn, làm tốt công việc.
Có lẽ, đây là một chút âm mưu nho nhỏ của người làm lãnh đạo, nhưng xin nhớ rằng: đa số người khi bị quở trách đều có thể cảm thấy không thoải mái, nhưng cũng có một số người đặc biệt, xem quở trách như cơm bữa ở nhà, bị quở trách một trận, sau đó lập tức bỏ ngoài tai, mặc bạn nói đến rách mép vẫn cứ "ta làm theo ta".

** Bà giám đốc của một công ty nọ, tinh khôn và giỏi giang, lớp cán bộ dưới quyền làm việc thông thạo, trí dũng song toàn. Nhưng trước đây không lâu, một trợ lý của bà điều đến chỗ khác, người kế nhiệm là một nữ sinh viên mới tốt nghiệp.
Cô nữ sinh viên mới đến này làm việc qua loa cẩu thả, một số tư liệu thường không qua chỉnh lý đã đưa lên trên, các văn kiện trên bàn làm việc lộn xộn ngổn ngang, bà giám đốc đã phê bình cô nhiều lần. Cô ta vẫn tất cả đều như cũ. Bà giám đốc quyết định thay đổi sách lược khác. Sau đó, bà đã tỉ mỉ phát hiện ưu điểm của cô sinh viên này, đồng thời sau khi phát hiện ưu điểm liền lập tức khen ngợi cô ta luôn.
Biện pháp này quả nhiên có hiệu quả, cô gái này dần dần trở nên có ngăn nắp, cũng không cẩu thả như trước nữa, sau một tháng, công tác của cô cơ bản có thể làm cho bà giám đốc hài lòng.
Làm một người lãnh đạo, khiển trách và phê bình mặc dù đều là do lỗi và khuyết điểm của người dưới quyền gây nên, nhưng khiển trách nặng nhẹ và hình thức khiển trách phải khác nhau, cần phải theo từng người từng việc khác nhau.
Có viên chức do nguyên nhân của bản thân, thường thiếu hăng hái, thiếu nhiệt tình, không có chí tiến thủ, đối với bất cứ việc gì cũng đều không hứng thú. Trong trường hợp này, chỉ trích chẳng những chẳng giúp được gì với công việc, đôi khi còn có thể làm cho họ càng đi tới tiêu cực, than thân trách phận, cả đến gục hẳn. Lúc này, biện pháp tốt nhất điều động được tính chủ động và tính tích cực làm việc của họ dậy chính là đem chỉ trích ẩn chứa trong khích lệ.
Ví dụ như viên chức của bạn thích đánh cờ, bạn có thể lấy công tác tiến hành so sánh với đánh cờ, mượn đó kích dậy hứng thú của viên chức đó đối với công tác, điều động tính tích cực của họ dậy. Bởi vì họ hiểu được khi đánh cờ, do sơ suất một nước cờ sẽ có thể bị thua cả ván, do đó họ cũng sẽ có thể cẩn thận đối với một lần công tác của mình, như vậy, tinh thần trách nhiệm của họ cũng được điều động dậy.
"Nhìn khách mà làm món ăn", "món ăn" bạn làm cần phải hợp khẩu vị của "người khách", nếu không thì không thể thu được hiệu quả lý tưởng.

Xem tiếp 38- Nói lời linh hoạt, làm việc linh hoạt




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
38- Nói lời linh hoạt, làm việc linh hoạt

Người ta do ý chí và bẩm tính quyết định, thường thích nói khoác, nói lời đoạn tuyệt, đặc biệt là những nam giới tràn đầy chí lớn. Họ vì tỏ ra mình vượt hơn hẳn người khác, luôn dùng hình thức tỏ rõ quyết tâm, đối với người thân, đối với bạn bè, đối với bạn gái, thậm chí đối với đối thủ cạnh tranh của mình, ba hoa khoác lác tưởng chừng như nhất thiên hạ.
Thực ra, họ không hiểu rõ: Hát hay không bằng nói hay; nói hay không bằng nghe hay - Khi bạ đâu nói đấy bạn thường có thể để lộ ý đồ chân thực của mình cho đối thủ. Hoặc nói, bản thân bạn có thể đạt được mục tiêu, cũng có thể do bạn tiết lộ bí mật trước, nên gặp cản trở của người khác, làm cho bạn nửa đường bỏ dở.
Những ví dụ như thế, từ xưa đến nay nêu không bao giờ hết.
Muốn làm việc gì, hoàn toàn không cần nói trước điều gì. Ngậm miệng ăn tiền, trong lòng đã nắm chắc.
Bởi vì sự thực thắng hùng biện. Sau khi bạn làm nên một việc gì, không cần bạn phải nói ra điều gì, sự thực tự nhiên sẽ nói giúp bạn.
Những người bản thân xuất thân không hiển hách lắm, vì sao có thể trong thình lình từng bước từng bước leo lên đỉnh cao của quyền lực?
Những người vốn dĩ tiền vốn không hùng hậu lắm, vì sao có thể trong thị trường chiến thắng đối thủ mạnh hơn mình? Lộn đi lộn lại vài vòng liền đã trở thành ông chủ lớn khiến người ta ngưỡng mộ?
Khi người ta truy hỏi những vấn đề này, khi các nhà báo phỏng vấn những người thành công này, khi ống kính nhằm đúng vào những danh lưu đương thời này, mọi người đều cho rằng những người này tài ba không ai giỏi bằng sẽ nói ra những bí quyết. Nhưng họ phần nhiều đều thờ ơ cười, nói: "Thành công không có bí quyết gì, chỉ chẳng qua là thực thà làm việc thôi".
Hoặc với giọng giễu cợt nói với mọi người: "Tôi chẳng qua chỉ là mèo mù vớ được cá rán thôi".
Chẳng lẽ những người thành công thật sự không có bí quyết gì chăng?
Thực ra không phải như thế, từ xưa đến nay, bất kể làm việc ì chỉ cần là người thành công đều là người vừa biết vận dụng "dương mưu", lại giỏi vận dụng "âm mưu". Âm dương đều đầy đủ mới có thể thành công.
Dưới đây xin nêu ra một ví dụ:
Thời xưa, có ba thư sinh lên kinh đi dự thi, nhưng họ đều không chắc, không biết ai có thể trúng, ai bị trượt.
Giữa đường, họ đến một ngôi miếu thờ, mời một vị lão hòa thượng dự đoán tiền đồ cho họ.
Vị lão hòa thượng này nhìn họ tỉ mỉ hồi lâu, liền lim dim mắt lại, bấm đốt ngón tay một lúc, sau đó quay về hướng ba người họ giơ ra một đầu ngón tay, nói: "Đây chính là kết quả thi của các bạn".
Sau khi ba thư sinh này đi khỏi, một tiểu hòa thượng đứng bên cạnh rất khó hiểu liền hỏi: "Thưa sư phụ, Người giơ ra một đầu ngón tay là ý nghĩa gì, chẳng lẽ là nói một người trong ba người họ được trúng phải không? Một khi kết quả không phải như vậy thì làm thế nào?"
Lão hòa thượng vuốt râu cười ha ha, nói: "Yên tâm nhé, tất cả đều trong tay ta".
Qua một thời gian, sau khi ba vị tú tài này thi xong, lại đến nơi đây, tặng rất nhiều quà hậu hĩnh cho Lão hòa thượng, đồng thời ca ngợi Lão hòa thượng tính toán như thần.
Còn Lão hòa thượng chỉ ha ha cười to, tịnh không hề hỏi kết quả thi của họ.
Sau khi ba vị tú tài này đi khỏi, tiểu hòa thượng càng lần không ra manh mối, hỏi: "Sư phụ ơi! Người làm sao đến kết quả thi của họ đều không hỏi, đã nhận quà biếu của họ?"
Lão hòa thượng xoa lên chiếc đầu trọc của tiểu hòa thượng nói: "Ta không cần phải hỏi họ. Kết quả thi của họ, đã được ta đoán trúng từ trước, bất kể biến đổi ra sao, cũng đều không vượt khỏi tính toán như thần của ta".
Tiểu hòa thượng không biết Lão hòa thượng là ra làm sao liền cầu xin Lão hòa thượng giải thích rõ cho ông.
Lúc này, Lão hòa thượng lại giơ ra một đầu ngón tay, nói với tiểu hòa thượng: "Đầu ngón tay này của ta, sẽ bao quát tất cả mọi tình huống thi của ba người họ vào đây, không cần biết kết quả. Ông xem, nếu như trong ba người họ có một người thi trúng, ta cũng đoán đúng; nếu như trong ba người họ có hai người thi trúng, có một người trượt, ta cũng đoán đúng; nếu như cả ba người họ đều thi trúng, ta cũng đoán đúng - bởi vì một đầu ngón tay này chính là ý cùng được trúng".
Tiểu hòa thượng đối với trí tuệ của Lão hòa thượng, khâm phục sát đất.
Trong cuộc sống, chúng ta cũng có thể thường xuyên gặp phải nhiều việc đòi hỏi mình phải đưa ra sự lựa chọn, phán đoán, xin đừng nên nói dứt khoát, nói toạc ra hết, có thể học tập vị Lão hòa thượng này một chiêu.

Xem tiếp 39- Giả vờ phải giả vờ thật giống




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
39- Giả vờ phải giả vờ thật giống

Theo quan điểm của Carl Jung: Mỗi một người trong cuộc sống, khi họ đối mặt với xã hội và đối mặt với người khác đều mang bộ mặt nhân cách - bằng không thì không có cách tồn tại.
Cái gọi là thẳng thắn thật thà chỉ là tương đối thôi, trên đời này không có người thẳng thắn thật thà tuyệt đối.
Ví dụ nói: Trong một gia đình, do nguyên nhân công tác, xã giao, trong một khoảng thời gian người vợ ngẫu nhiên xuất hiện hiện tượng yêu đương ngoài giá thú, thậm chí phát triển đến mức có quan hệ bất chính với nam giới khác, mà cô ta lại không muốn ly hôn với chồng của mình, càng không muốn phá tan gia đình này.
Về sau, cô ta cảm thấy mình làm như vậy rất có lỗi với chồng, đã lặng lẽ ngừng quan hệ không chính đáng với người nam giới đó.
Những việc như thế trong cuộc sống thường có thể xuất hiện.
Không những là bên nữ, bên nam cũng có thể xuất hiện. Vì thế, ở các thành phố lớn trong cả nước như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Thiên Tân, Thâm Quyến, Vũ Hán, Trùng Khánh... những năm gần đây trên các báo đều thảo luận rộng rãi đề tài này.
Có người cho rằng: Người vợ sinh ra yê đương ngoài giá thú nên thành thực với chồng, đem quá trình trải qua đó của mình cứ thực nói với chồng, để xin chồng tha thứ.
Cũng có người cho rằng: Người vợ sinh ra yêu đường ngoài giá thú, nên đem việc này giấu đi, giữ kín ở trong bụng, mãi mãi không nói với chồng.
Cũng có người cho rằng: nam giới phần nhiều đều là bụng dạ nhỏ nhen. Trong lúc đối mặt với sự xám hối của vợ, không những không thể tha thứ lỗi lầm của vợ, trái lại có thể căm ghét vợ. Từ đó mang lại bóng đen trùm lên cuộc sống của gia đình.
Lại có người cho rằng: Nếu như việc này bị chồng biết được - có một số người chồng trẻ tuổi rất có thể không có lý trí có thể dùng hành vi bạo lực đối với ngưoừi nam giới kia, gây nên sự kiện đổ máu. Hoặc là để tìm được sự cân bằng tâm lý, mình cũng yêu đương ngoài giá thú ở bênngoài, từ đó làm cho gia đình đi đến tan vỡ...
Nên đối xử với những vấn đề này ra sao?
Chúng tôi cho rằng: Là người vợ bản thân mình đã nhận thức được chỗ sai của mình, đồng thời ở nơi sâu kín trong lòng cô ta lúc nào cũng chịu đựng đau khổ như nung như nấu. Thế thì cô ta bất kể như thế nào không thể nói đến việc này với chồng. Chỉ có thái độ như thế mới là thái độ có trách nhiệm đối với chính cô ta, đối với chồng của cô và đối với gia đình cô.
Bởi vì một đau khổ trong cuộc sống, một chia thành hai, hai bên nam nữ gánh vác trở thành hai đau khổ. Bạn hoàn toàn không cần thiết đem đau khổ của bạn trút lên đầu người khác - "biết chính là phải gánh vác".
Bạn nên dùng sách lược lừa dối làm giấu giếm", nhất thiết không nên vì thành thực của mình mà làm tổn thương đối phương, cuối cùng thương tổn chính bạn.
Tóm lại, mục đích vận dụng mưu lược chính là để bảo hộ mình, phát triển mình mà không làm cho mình bị thương tổn.
Trong vấn đề mấu chốt bảo toàn mình này, giữa vợ chồng là như thế, giữa bạn bè cũng như thế, cấp dưới sử dụng mưu kế đối với cấp trên để ứng phó với mọi cục diện phức tạp, cũng là hiện tượng thường có.
Nhà văn học, nhà thư họa thời Minh là Đường Dần, tự Bá Hổ. Đường Dần tên tuổi ngang với Chúc Doãn Minh, Từ Chinh Khanh, Văn Thủy Minh gọi là "bốn tài tử trong Ngô". Về chuyện văn thơ phong lưu một đời của ông đều có truyền thuyết, nhưng vị tài tử Giang Nam này, không những có thể viết sách giỏi thư họa, điều hiếm có là ông có thể vận dụng mưu kế bảo toàn mình trong đấu tranh chính trị hiểm ác.
Khi Minh Thái tổ phân phong các vương, con thứ 17 là Ninh vương phong ở Đại Ninh. Trong các con của Thái tổ, Yến vương là người giỏi mưu nhất, còn Ninh vương là thiện chiến nhất.
Khi Yến vương khởi binh dẹp nạn, dùng kế dời Ninh vương đến Bắc Bình, đem Đại Ninh cấp cho Đóa Nhan tam vệ. Về sau lại dời Ninh vương đến Giang Tây. Đến năm Minh Hiếu tông Hoằng Trị, Chu Thần Hào kế thừa ngôi Ninh vương.
Thời Võ Tông, Ninh vương thấy Hoàng đế suốt ngày chìm đắm trong vui chơi không quản lý triều chính, bèn cho rằng có cơ hội có thể lợi dụng, muốn mưu toan vượt ra khỏi quy định. Ông trước tiên thông qua hối lộ với hoạn quan Lưu Cẩn, khôi phục hộ vệ vốn đã bị cướp đoạt mất. Nhưng sau khi Lưu Cẩn bị đổ, hộ vệ lại bị thủ tiêu. Thế là, ông lại câu kết với Tiền Ninh là thân tín bên cạnh Hoàng đế, cuối cùng lại khôi phục lại hộ vệ.
Khi ấy các thuật sĩ Lý Tự Khiên và Lý Nhật Phương nói xằng rằng ông có tướng mạo khác thường, được làm Thiên tử Thiên tử. Lại nói phía Đông Nam thành Nam Xương có khí Thiên tử. Ninh vương vốn là một người có dã tâm, việc này sẽ càng khiến cho dã tâm của ông ta bành trướng nhanh chóng. Ông đặc biệt dựng lên một tòa Thư viện Dương Xuân tại phía Đông Nam thành, đồng thời dùng nhiều tiền của chiêu mộ nhân tài khắp nơi, dự định phát triển thế lực của mình, chuẩn bị cho việc khởi binh chiếm đoạt ngôi Hoàng đế.
Lúc này, Ninh vương vốn nghe tài danh của Đường Bá Hổ từ lâu, đặc biệt cử người mang nhiều vàng bạc đi Tô Châu biếu quà và mời ông ta. Đường Dần cho rằng vị Ninh vương này là mến mộ người có tài, là hiền vương “trọng người hiền tài, chịu cúi mình trước kẻ sĩ”, cho nên đã vui vẻ đi. Sau khi đến Nam Xương, Ninh vương dùng nhà khách riêng để ông ở, đối đãi như “thượng khách”.
Nhưng, Đường Dần sau khi ở Nam Xương được nửa năm dần dần cảm thấy tình hình không đúng. Ninh vương thường xuyên cưỡng đoạt nhà cửa, ruộng vườn, con cái của dân chúng, nuôi dưỡng một toán kẻ cướp cướp bóc trên giang hồ. Các viên quan địa phương nơi đó không ai dám quản lý, mặc sức ông ta làm xằng làm bậy. Đường Dần tận mắt nhìn thấy mọi việc làm của ông ta đều là những việc bất chấp pháp luật, cho nên dự định ông ta sau này ắt có thể âm mưu phản bội.
Do vậy ông cảm thấy phủ Ninh vương là một nơi chết chóc, cần phải tìm cách thoát thân. Nhưng làm thế nào có thể thoát thân được?
Đường Bá Hổ đã áp dụng một kế hay trong cẩm nang - giả vờ điên rồ.
Từ đó, ông ăn uống hàng ngày đều khác thường. Ninh vương Chu Thần Hào sai người đưa các thứ cho ông, ông giả vờ phát điên, mượn say rượu, trước mặt cởi hết quần áo, thân thể trần truồng, khiến cho người ta không có cách gì đến gần. Hơn thế còn gào khóc vô cớ, nhặt các vật bẩn thỉu để ăn. Lại còn vờ bộ điên vì tình, hễ nhìn thấy phụ nữ thì đuổi theo. Sau khi Ninh vương biết, liền nói: “Ai bảo Đường Dần là một hiền tài? Ông ta chẳng qua là một người điên rồ mà thôi? liền đuổi ông khỏi vương phủ. Như vậy, Đường Dần đã an toàn trở về Tô Châu quê hương ông.
Về sau, tháng 6 năm thứ 14 Minh Võ tông Chính Đức (năm 1519), Ninh vương quả nhiên phát động phản loạn. Ông lấy danh nghĩa mừng sinh nhật, mở tiệc lừa dụ các quan viên địa phương vào phủ, sau đó đem toàn bộ các viên quan không theo ông làm loạn đều giết hết, đồng thời tự mình dẫn đoàn thuyền đi đánh chiếm An Khánh.
Lúc đó, Tuần phủ Đô ngự sử triều Minh là Vương Thủ Nhân và Tri phủ Cát An vội vàng phái quân đến tiễu trừ. Vương Thủ Nhân trước tiên đánh vào Nam Xương, sào huyệt cũ của ông ta, không bao lâu bắt được Chu Thần Hào, đã bình định xong cuộc phản loạn.
Sau vụ Ninh vương, những người gọi là danh sĩ được ông ta đem đồ lễ mời làm thượng khách, đều bị liệt vào là nghịch đảng, không một người nào thoát được. Chỉ có Đường Dần vì đã trông thấy trước, sớm giả vờ điên đã thoát thân, cho nên không bị liên lụy. Ông làm nhà tại lũy Đào Hoa, Tô Châu để ở, sống trọn đời ở quê hương.
Đường Dần dùng kế, thoát thân bình an đã bảo toàn được tính mạng và thanh danh của mình, tỏ rõ ông vừa có tầm nhìn xa vừa có mưu kế. Còn Ninh vương ngu xuẩn lại tưởng thật cho rằng ông ta chỉ chẳng qua là một thư sinh điên cuồng. Mục đích của Đường Dần dùng kế này muốn đạt được đã hoàn toàn thực hiện được. Đây chính là chỗ tuyệt vời của việc ông dùng kế này.
Đường Dần là một người rất thông tuệ mà có tài năng, một đời ông, vẻ bề ngoài ngông cuồng thoải mái, ăn chơi phóng đãng, không chịu ràng buộc của lễ tục, trên thực tế nỗi không toại chí về chính trị và nỗi buồn khổ có tài mà không được thi thố luôn luôn ứ đọng trong đáy lòng.
Thời trẻ, ông và Trương Linh, một thư sinh đồng hương không câu nệ gì, uống rượu li bì phóng đãng, không theo sự nghiệp khoa cử. Nhờ có Chúc Doãn Minh khuyên, đã thi đậu đầu cuộc thi hương, tức đậu Giải nguyên. Về sau do liên quan vụ án khoa trường bị vào tù, từ đó đã chôn vùi tiền đồ chính trị một đời. Được Ninh vương đem lễ hậu đến mời, ban đầu ông cho rằng những ngày mình có tài năng mà không được thi thố, oán hận suốt đời có thể kết thúc, có thể có cơ hội đem thi thố tài chính trị của mình.
Nhưng ông xét đến cùng là một người tinh nhanh sắc xảo hơn người, sau khi ở Nam Xương tận mắt nhìn thấy tất cả mọi việc làm của Ninh vương, rất nhanh chóng phán đoán ra Ninh vương sẽ có chí khác. Còn ông đã từng trải qua vụ án khoa trường, nhất quyết không muốn lại bị cuốn vào trong một cuộc phản loạn lần nữa.
Do vậy, ông đành phải dùng kế thoát thân, bảo toàn bản thân mình. Khi ông giả vờ điên, nhất định phải làm ra mọi cử động mà người bình thường không thể làm ra nổi, như vậy mới có thể làm cho Ninh vương phủ cả trên lẫn dưới đều tin ông là điên thật, mà không thể có lòng nghi ngờ gì đối với ông.
Ông biết nếu như lúc đó ông đòi từ chức về quê, Ninh vương quyết không thể đáp ứng, mà còn nếu làm không tốt ngược lại rất có thể làm cho Ninh vương có lòng nghi ngờ đối với mình, thậm chí có thể rước họa vào thân. Cho nên ông dùng mưu kế để thoát thân, việc này ngay lúc đó không những hoàn toàn đã đạt được mục đích, mà còn sau khi cuộc phản loạn của Ninh vương bị dập tắt, cũng bảo toàn được mình không bị liên lụy. Từ đó ta thấy, Đường Dần đầu óc tỉnh táo, khéo léo thực thi thuật giấu kín chính trị bằng cảnh tượng giả tạo để mê hoặc, cũng không thua kém nhà chính trị lão luyện một chút nào.

Xem tiếp 40- Biết vứt bỏ





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
40- Biết vứt bỏ

Phần đông những người thành đạt sự nghiệp, tự nhiên dưới tay họ luôn phải có một loạt những người cốt cán đắc lực một lòng trung thành để sai khiến.
Nhưng, đã là người dưới quyền thì nên cúi đầu vểnh tai ra nghe theo chỉ huy, bao gồm có lúc phải hy sinh lợi ích của chính mình.
Người ta có một chỗ sai lầm, luôn hy vọng mình làm ông chủ, mình vượt hẳn người khác, mình đứng ở độ cao của lãnh đạo, điều khiển người khác.
Điều này tốt hay không tốt?
Người có chí lớn, nói chung không có gì không tốt.
Nhưng, trong thực tế đại bộ phận người thật ra không có đủ tài năng và cơ hội làm lãnh đạo. Cho nên, bằng lòng với số phận cũng không có gì không tốt.
Bằng lòng làm người trợ thủ của người khác, giúp người khác hoàn thành sự nghiệp lớn không chắc là vị trí thích đáng nhất một đời của bạn.
Trong “Kinh Dịch” đã chuyên nói quan hệ của thời cơ và vị trí. Thật ra không phải là nói vị trí càng cao thì càng tốt.
Ví dụ: Trong quẻ Càn, hào dương thứ tư “Hoặc dược (diệu) tại uyên, lợi kiến đại nhân”, đây chính là nói: rồng trong vực sâu bất cứ lúc nào cũng đều có khả năng bay lên trên.
Đến hào thứ 5 dương: “Phi long tại thiên, lợi kiến đại nhân”. Đây có nghĩa là: Rồng đã bay lên đến trời.
Nhưng, không nên cho rằng rồng lại bay lên trên nữa là tốt hơn. Đến hào thứ 5 dương, chính là “Cang long hữu hối” rồi. Điều này nói lên rằng: Rồng bay đến chỗ cao nhất thật ra không tốt, bất cứ lúc nào cũng đều có nguy hiểm, hơn nữa rất không tốt.
Đây chính là tư tưởng rất có phép biện chứng.
Giống như Viên Thế Khải trong lịch sử Trung Quốc đã được làm Tổng thống, vẫn lại muốn lên nữa làm Hoàng đế, kết quả gặp phải lời lên án của nhân dân cả nước Trung Quốc, đã đi đời nhà ma.
Lại ví dụ như Lâm Bưu trong những năm tháng chiến tranh đã xác lập được công lớn, giành được lời khen “Tướng quân thường thăngns”. Sau khi thành lập nước, chức quan của ông ta cứ thăng lên mãi, thăng đến chức Phó chủ tịch Trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc.
Đáng lẽ ông ta nên biết đã đủ. Nhưng ông lại có dã tâm lớn hơn, kết quả là đã rơi vào một kết cục thất bại mà mang tiếng xấu - Leo càng cao, ngã càng đau.
Do vậy, mỗi người chúng ta đều nên căn cứ sự từng trải, quá trình học, năng lực và cả cơ hội của mình để xếp sắp cho mình con đường đời tốt nhất, phải giống như trong “Kinh Dịch” đã nói như nhìn mình một cách biện chứng, nhất thiết không nên làm những việc mà năng lực của mình không đạt tới.
Khiêng kiệu thổi kèn có gì không tốt? Thay người khác lấy giang sơn, có gì không tốt?
Gia Cát Lượng trong lịch sử có “hùng tài đại lược”, ông thật sự đã tìm được vị trí đời người của mình. Nếu như lúc ban đầu ông không cam tâm tình nguyện làm nhân vật quan trọng số 2, mà lại đi tranh giành vị trí nhân vật quan trọng số 1 với Lưu Bị, như thế thì, chẳng những ông không thể đượclưu danh trong sử xanh, thực hiện lý tưởng cao xa, tolớn của mình, mà còn rất có khả năng vừa ra khỏi lều tranh đã có thể bị Trơng Phi và Quan Công chặt đầu rồi.
Lại ví dụ như “Khai quốc nguyên huân” của triều Minh là Lưu Bá Ôn, tương tự có trí tuệ của Gia Cát Lượng. Nếu như ông ta không phải là một lòng trung thành đi giành giang sơn cho Chu Nguyên Chương thì không thể đượclịch sử ca tụng - Mặc dù Chu Nguyên Chương xuất thân từ bần hàn, không có học vấn, thậm chí đã từng là kẻ ăn mày, nhưng chỉ cần bạn nhận định mình là người cốt cán giành lại thiên hạ cho ông ta, sẽ có thể phát huy đầy đủ tài trí thông minh của bản thân bạn, thực hiện được lý tưởng đời của bạn.
Làm lãnh tụ có chỗ tốt của việc làm lãnh tụ, làm kẻ dưới quyền cũng có chỗ tốt của việc làm kẻ dưới quyền, tất cả hoàn toàn phải căn cứ tình hình để định.
Nhưng cam tâm tình nguyện làm kẻ dưới quyền là cần phải có tố chất tâm lý tương đối tốt. Có lúc vì lợi ích của cấp trên, hy sinh quyền lợi của mình cũng nên không tiếc. Nếu bạn là một “con tốt”, cấp trên muốn vận dụng kế sách “bỏ tốt để giữ xe”, bạn sẽ tính sao?

Xem tiếp 41- Thỏ khôn xây ba tổ




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
41- Thỏ khôn xây ba tổ

Địa vị và tình cảnh sống của con người trong đời sống xã hội không ngừng biến đổi, có một số biến đổi có thể dự kiến, mình có thể làm chủ, nhưng nhiều biến đổi thật ra không phải như vậy.
Do đó người ta phải nên tính toán trước, chuẩn bị thêm nhiều cách.
Bây giờ nêu lên một ví dụ mọi người đều rất quen thuộc:
Thời Chiến quốc, Điền Văn nước Tề kế thừa đất phong Tiết Thành của cha ông là Điền Anh, phong là Mạnh Thường Quân. Mạnh Thường Quân hiếu khách, “thu hút tâm khách các nước chư hầu và những người có tội chạy trốn”. “Thực khách” rất đông ắt sẽ truyền việc đó đi, thanh danh của Mạnh Thường Quân đã truyền đi khắp xa gần.
Tần Chiêu vương nghe nói Mạnh Thường Quân có tài đức, liền mời ông về nước Tần bổ nhiệm làm Thừa tướng. Bản thân là Thừa tướng nước Tần, đối với Mạnh Thường Quân để xét phải là một việc tốt. Nhưng người ở ngoài vào nước Tần nắm chính quyền khó tránh khỏi bị người khác ghen tỵ, cũng dễ dàng gây nên lòng nghi kỵ của đức vua.
Do đó, khi có người nói với Tần Chiêu vương: “Mạnh Thường Quân là người tài đức, nhưng lại là người dân tộc Tề, nay làm Thừa tướng nước Tần, ắt sẽ lo cho Tề trước mà lo cho Tần sau, thì nước Tần nguy mất!” Tần Chiêu vương liền thay đổi ý định, không những không mời làm Thừa tướng, trái lại đem giam Mạnh Thường Quân lại, “mưu đồ muốn giết ông”.
Mạnh Thường Quân lâm vào cảnh nguy nan, không thể không tìm cách thoát thân. Nghĩ đi nghĩlại, cho rằng có thể điều khiển ý chí của Tần Chiêu vương, không ai bằng Hạnh phi được Tần Chiêu vương cưng chiều. Nhưng các quà biếu Hạnh phi đều coi không ra gì, chỉ cần một chiếc áo lông cáo trắng. Chiếc áo lông cáo trắng này vốn là vật thiên hạ có một không hai, Mạnh Thường Quân khi vào nước Tần đã đem chiếc áo lông cáo trắng dâng cho Tần Chiêu vương, lúc này làm thế nào mới có lại một chiếc? Trong tình huống không biết làm sao được, trong các “môn hạ”, của ông có một thực khách “có thể làm kẻ trộm” lén vào trong phòng cất giữ đồ đạ trong cung Tần, ăn trộm chiếc áo lông cáo trắng ra dâng cho Hạnh phi, quả nhiên được Tần Chiêu vương tha tội cho trở về nước Tề.
Mạnh Thường Quân sợ Tần Chiêu vương hối lại, đã vội vàng dẫn các thực khách chuồn nhanh, đến nửa đêm thì đến cửa quan Hàm Cốc. Nước Tần quy định: gà gáy mở cửa quan, mặt trời lặn đóng cửa quan. Nửa đêm đến, thời gian dời khỏi cửa quan hãy còn sớm, nếu Tần Chiêu vương sai người đuổi theo đến, Mạnh Thường Quân vẫn khó tránh khỏi nguy nan, vì thế vô cùng lo lắng.
Lúc đó trong các môn đệ có một vị thực khách có “tài làm gà gáy”, liền bắt chước gà gáy, tức khắc làm cho các con gà của nhà dân trong cửa quan cũng theo gáy theo. Các lính canh cửa quan cho rằng trời sắp sáng liền mở cửa quan thả người ra, Mạnh Thường Quân có thể ra được cửa quan, vội vội vàng vàng đi khỏi. Mạnh Thường Quân đi thời gian chưa được ăn một bữa cơm, bọn lính Tần Chiêu vương phải đi đuổi theo, nhưng đã theo không kịp nữa.
Mạnh Thường Quân lần này ra đi, chủ yếu là tránh họa, phải nói đó cũng là “thượng kế”, lúc đó ông không có ý gây chiến với nước Tần.
Sau khi Mạnh Thường Quân về nước, nước Tề bổ nhiệm ông làm Thừa tướng, chủ trì việc chính trị.
Song, danh tiếng của Mạnh Thường Quân quá lớn, Tề vương với sự gièm pha của người khác luôn luôn nghi ngờ ông. Hai nước Tần và Sở cũng ghen tỵ danh tiếng tài đức của Mạnh Thường Quân, dùng kế ly gián quan hệ của Mạnh Thường Quân với Tề vương. Vì vậy, Tề vương “cho rằng danh tiếng của Mạnh Thường Quân cao hơn vua nên lộng quyền ở nước Tề”, Mạnh Thường Quân ở vào tình huống tương đối không hay.
Môn hạ của Mạnh Thường Quân có một vị “thực khách” tên là Phùng Hoan, biết rất rõ Mạnh Thường Quân đang như “một cây to vẫy gọi gió, dây đàn căng dễ đứt”, tích cực vạch ra con đường tháo lui cho Mạnh Thường Quân.
Trước tiên, Phùng Hoan vin cớ khi Mạnh Thường Quân cho ông ta đi đến đất phong Tiết Thành thu tiền lãi cho vay, đã áp dụng biệnpháp “Đối với người mắc hoạn nạn có thể cho thêm thời gian, đối với những người nghèo không trả được tiền lãi thì thu giấy của họ đốt đi” đã mua được lòng người cho Mạnh Thường Quân.
Như vậy, khi Tề vương gặp tai họa của Điền Giáp, đã nghi ngờ là do Mạnh Thường Quân xúi giục, Mạnh Thường Quân để tránh nạn khi chạy ra đất phong Tiết Thành, “đi chưa đầy trăm dặm, dân chúng đã già trẻ dắt nhau, ra đón ông ở giữa đường”. Tiết Thành đã trở thành nơi an thân của Mạnh Thường Quân.
Tiếp đó, Mạnh Thường Quân trốn về Tiết Thành, mặc dù có sự ủng hộ của dân Tiết Thành, nhưng Tiết Thành nhỏ hẹp chỉ có thể an thân, không thể lập mệnh được. Cho nên Phùng Hoan nói với Mạnh Thường Quân rằng: “Thỏ khôn phải xây ba tổ, nó mới được thoát chết! Nay ngài chỉ mới có một tổ, chưa thể kê cao gối để nằm nghỉ ngơi được. Xin cho đào thêm hai tổ cho ngài”. Thế là, Phùng Hoan đã đi xe đến nước Tần (có thuyết nói là đến nước Ngụy) du thuyết Tần vương, khiến Tần vương phái “xe mười chiếc, vàng 1200 dật (1 dật bằng 20 hoặc 24 lạng Trung Quốc) để đón Mạnh Thường Quân”.
Sau đó, Phùng Hoan trước khi sứ Tần chưa ra đi đã đi gấp về đến nước Tề để du thuyết Tề vương, làm cho Tề vương “triệu Mạnh Thường Quân về khôi phục lại chức Thừa tướng của ông, còn cấp cho ông đất của thành cũ, lại tăng thêm hàng nghìn hộ dân”. Lúc này, Phùng Hoan nói với Mạnh Thường Quân rằng: “Ba tổ đã hoàn thành, Ngài chắc chắn sẽ kê cao gối được rồi”.
Tiếp đó, Tề vương lại muốn bỏ Mạnh Thường Quân, Mạnh Thường Quân lo ngại họa đến mình, bèn đi sang nước Ngụy. Ngụy Chiêu vương dùng làm Thừa tướng, về sau liên hợp với ba nước Tần, Triệu, Yên cùng đánh phá nước Tề, Tề vương bị chết ở bên ngoài, Tề Tương vương lên ngôi, “sợ Mạnh Thường Quân và liên hợp, thân thiện trở lại với Mạnh Thường Quân”. Trong cuộc cạnh tranh của các nước, “Mạnh Thường Quân trung lập với chư hầu, không phụ thuộc” lại “là Thừa tướng mấy chục năm, không có một tí họa nào” chính là có sáchlược “thỏ khôn xây ba tổ” này giúp sức. Sách lược này trong “tẩu vi thượng kế” (chạy trốn là kế trên hết) không thể tính là “thượng sách”, nhưng phù hợp với điều quan trọng “đứng trong cứng rắn, thuận theo hành hiểm”, nắm quyền chủ động của chiến tranh.
Tục ngữ nói: “Người ta không thể treo cổ chết trên một cây”.
Trong cuộc sống, thêm một người bạn thêm một con đường là rất có đạo lý.
Trong ca khúc lưu hành cũng hát:
Làm quen bạn mới
Không quên bạn cũ.
Hãy để chúng ta là bạn bè
Bạn nhiều thêm đường dễ bước.
..............

Xem tiếp 42- “Âm mưu” nhỏ trong đời sống vợ chồng




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
42- “Âm mưu” nhỏ trong đời sống vợ chồng

Nếu bạn là một người con rể, để được lòng bố vợ thường làm một chút “trò quỷ” “mượn hoa dâng bụt” sẽ rất cần biết.
Cũng như thế, nếu bạn là một người con dâu, muốn làm vừa lòng mẹ chồng cũng phải thường xuyên suy nghĩ, vận dụng một số “âm mưu ngụy kế”.
Bởi vì con người là sống trong tâm tình nhất định. Đôi lúc, để làm cho tâm tình đối phương vui vẻ, đánh lừa đối phương cũng là rất cần thiết.
Bí quyết tuyệt vời của cuộc sống rất nhiều, sẽ phải xem bạn có biết vận dụng hay không.
Vì sao có một số người có thể xử lý quan hệ vợ chồng, quan hệ mẹ chồng nàng dâu, quan hệ bố vợ con rể, quan hệ xóm giềng, quan hệ chị em dâu v.v... rất hòa hợp, mà có người lại suốt ngày đều rơi vào trong đủ mọi mâu thuẫn?
Mặc dù quan hệ vợ chồng của họ rất tốt, nhưng quan hệ ngoài vợ chồng nếu xử lý không tốt khẳng định sẽ ngược lại ảnh hưởng đến gia đình nhỏ của họ, thậm chí có thể tạo nên bi kịch.
Nói chung, những ngày lễ ngày tết, cần phải đến thăm cả hai nhà. Phương án lý tưởng nhất đương nhiên là đem phân đều thời gian cho ba nhà, tức nhà bên chồng 2 ngày, nhà bên vợ 2 ngày, nhà hai vợ chồng ở 2 ngày, còn một ngày dư cơ động (hai vợ chồng phân biệt từng người gặp bạn bè, đồng nghiệp của mỗi người).
Nhưng đây không những là không hiện thực, hai vợ chồng cũng không nhất định thật thích.
Bởi vì chồng và vợ, ai cũng đều muốn đem thời gian đến nhà đối phương “rút ngắn” để có được thời gian nhiều hơn lưu lại cho hai người hoặc một mình tha hồ “bay nhảy”.
Cho nên, trong những ngày lễ tết, vốn là những ngày hết sức vui vẻ, nhưng cũng có khả năng xuất hiện “chiến tranh” về sắp xếp.
Ví dụ ăn bữa ăn đêm giao thừa ở nhà ai, ngủ thêm hai đêm ở nhà ai, đều khó tránh trở thành một cuộc so bì ngấm ngầm giữa hai vợ chồng.
Muốn làm tròn lòng hiếu thảo, đồng thời còn muốn ở riêng, như thế sẽ có thể làm cho 7 ngày nghỉ ăn Tết tỏ ra vô cùng quý báu, cực kỳ ngắn ngủi.
Chẳng lẽ nếu vì đi đến nhà ai ăn tết, hai vợ chồng lại làm om sòm lên không vui vẻ.
Cho nên, nếu như không có khả năng cả nhà cùng đi chơi, cũng phải xác định không để đến nỗi quá mệt mỏi rồi sau khi đi làm lại phải xin nghỉ ốm, thế thì tốt nhất là vui vẻ đi đến nhà này nhà kia, chỉ là trước khi đi, hai người tốt nhất là phải thương lượng tốt với nhau kế hay để tìm cách thoát thân.
Dưới đây sẽ giới thiệu vài “âm mưu” nhỏ.
* Thuật phòng thân của nữ ở nhà nam giới
ã Cảnh ngộ có thể gặp phải:
Bạn không thích bộ quần áo mẹ chồng tặng, mà chồng bạn lại bắt bạn mặc để cho mẹ chồng xem.
Đối sách: Chiến thuật “ai binh” (Ví dụ thật).
Chồng: Ơ! Chiếc nhẫn mẹ cho em vì sao em không đeo?
Vợ: Chẳng phải là em không thích đeo, nhưng anh nói xem đeo chiếc nhẫn đó phải chăng cần phải thay chiếc đồng hồ đeo tay khác? Lại phải mặc kèm với chiếc áo len casơmia màu xanh nhạt? Cái ví cũng phải thay cái khác chứ?
Chồng: Theo việc của em nhiều đến thế mà em lại như thế kia thì chiếc nhẫn cũng bán không nổi.
Vợ: Ăn mặc khéo đều phải như thế. Bằng không thì từ đầu đến chân tùy ý mặc, càng tự nhiên; không thì từ đầu đến chân lại phải ăn mặc đẹp, sang trọng.
Chồng: Thôi được, thôi được, thật là phiền phức. Nhẫn thì thôi không cần em đeo nữa, em cứ “tự nhiên” như thế cũng tốt rồi.
* Thuật phòng thân của nam giới khi ở nhà phía nữ giới
ã Cảnh ngộ 1 có thể gặp:
Ông bố vợ và các chú lớn, chú nhỏ và các con rể khác ở xung quanh uống rượu quá mức còn bạn thì không biết uống rượu như thế.
Cách đối phó:
Để đề phòng trước ông già và các người khác đều uống thuốc giải rượu, trước khi ngồi vào mâm phải tranh thủ đi vào bếp ăn vài miếng giăm bông (chân giò xông khói) hoặc thịt bò.
Đừng nói là “không thể uống”, phải nói “không thường xuyên uống”.
Đừng nói “uống thả cửa”, phải nói “uống cho vui thôi”.
Uống đến lúc sắp sửa phân biệt không rõ ai là ông già, ai là chàng rể thì phải ngừng.
ã Cảnh ngộ 2 có thể gặp:
Quà biếu của các chàng rể khác đều sang trọng hơn quà bạn biếu.
Cách đối phó:
Khuyên mình nói tình cảm sâu nặng hay nhạt nhẽo không phải là có thể so sánh ra được.
Trên bàn đánh bài thua thêm vài ván.
Mang đủ “tiền mặt” để phòng bị một khi cần thiết.
Xem có thể mời bố vợ đi ra ngoài ăn một bữa, hoặc chọn một ngày nào đó dẫn cả bố mẹ vợ đi chơi, mua một quà gì đó biếu các cụ.
Điều quan trọng nhất là, quà biếu của người khác dù nhiều đến mấy, cũng không thể “đánh tráo” được vị trí bạn là con rể cả (hoặc thứ hai, thứ ba v.v...).
Phải làm cho các cụ biết, bạn là người đối xử với vợ tốt nhất trong mấy người con rể.
ã Người nhà chồng ở quê đến.
Bạn là con gái của gia đình con một, tìm được một anh chàng ở vùng khác làm chồng.
Bạn và mẹ bạn đều rất vui mừng anh ta ở rể, nhưng bà con thân thích ở vùng khác của chồng bạn thường khi ăn tết kéo hàng đàn đến Bắc Kinh để chơi, ăn ngủ tại nhà bạn. Bạn có rất nhiều ý kiến, nhưng lại không tiện nói ra. Bạn nên làm thế nào?
Khuyên bạn nên nói gia đình nhà bạn chỉ có một mình bạn là con gái mà không phải đông người.
Mặc dù bà con thân thích nhà họ đến, nhưng bạn cũng không cần phải đi đến nhà mẹ chồng ở nơi khác ăn tết, để tránh nỗi khổi tâm phải chịu phân ly của mẹ bạn trong lúc các gia đình khác đoàn tụ.
Gia đình các bạn đã thúc đẩy chi phí du lịch của thủ đô bằng hành động thực tế là dân thành phố tốt một trăm phần trăm.
Bảo chồng bạn - con rể của mẹ bạn miệng nói cứ dẻo kẹo, thường xuyên ngọt ngào nói: “Mẹ ạ! Những người ở đơn vị chúng con đều nói, con dâu lấy người như thế nào là xếp vào việc thứ hai, nhưng tìm mẹ vợ thì nhất định phải tìm người “thông tình đại lý” như mẹ”, nói xong lại kèm thêm một nụ cười “nịnh nọt”.
Hai vợ chồng bạn cần phải bằng hành động thực tế giảm bớt một số gánh vác cho mẹ bạn. Ví dụ như có thể giành được thời gian làm các việc vặt, thì không nên để cho mẹ bạn thu dọn nhà cửa; có thể ăn ở bên ngoài được thì không nên để cho bà già phải làm cơm.
Thỉnh thoảng “giở một chút trò tâm lý” thích đáng: di ra ngoài chơi một ngày, mua chút đồ vật gì đó tặng cho mẹ bạn, nhưng nói là mẹ chồng bạn mua cho; mua chút đồ vật gì đó biếu mẹ chồng, nói là của mẹ bạn gửi biếu. Chỉ cần quan hệ của hai bà hòa dịu, thì các bạn thích làm gì thì làm.
Đề nghị bạn sang năm bạn sẽ đến nhà mẹ chồng ăn tết, đồng thời mang theo cả cha mẹ bạn ở Bắc Kinh.
* Chi tiêu nhiều tiền cho nhà ai?
Bất kể nói như thế nào, cuối cùng đây là một vấn đề nhạy cảm. Về vấn đề chi tiêu bao nhiêu tiền cho cha mẹ hai bên, đại thể có thể gặp mấy tình huống như sau:
1) Hai vợ chồng đã bàn và quyết định một số tiền, nhưng một trong hai người hiềm số tiền này quá nhiều hoặc quá ít.
2) Không kê ra bản liệt kê tường tận trước, cảm thấy cần cái gì thì mua cái đó.
3) Kế hoạch không đuổi kịp biến đổi, một bên đột nhiên phải “kêu toáng lên”.
Cách đối phó:
1) Nếu hiềm số tiền “chính sách” cho ra ít, có thể bù tiền riêng của mình vào (nếu như không “cẩn thận” có trường hợp như thế), sau đó nói với cha mẹ “đây là hai con biếu cha (mẹ)”.
2) Nếu như không kê ra bản kê tường tận trước, cảm thấy cần gì mua nấy, thường là một nhà “nhu cầu” nhiều, một nhà “được” ít. Gặp tình huống này, lấy mức chênh lệch về số tiền không thể gây ra nghiêng ngả về tâm lý làm giới hạn.
Các nguyên tắc cao nhất:
1) Nếu như hai vợ chồng bình thường ở nhà một bên, thì lấy việc cho nhà này “số tiền lớn” làm chuẩn.
2) Nếu hai vợ chồng bình thường ở riêng, thì lấy việc hai bên “tương đương” làm chuẩn.
3) Nếu như điều kiện kinh tế hai bên cha mẹ tương đương thì theo nguyên tắc 1 và nguyên tắc 2 nêu trên để tiến hành.
4) Nếu như điều kiện kinh tế hai bên cha mẹ sai khác nhau tương đối lớn, thì lấy nguyên tắc để hai bên đều có thể ăn một cái tết tốt làm chuẩn, tức là giàu thì có thể cho ít một chút, còn không giàu lắm thì cho nhiều một chút.
Mục đích cuối cùng:
Ăn tết là hoạt động của gia đình, mục đích cuối cùng là người nhà hai bên đều vui vẻ. Bất kể là vợ hay chồng, bạn đều phải xem mình là người nhà của haib ên. Đã là người nhà mà một năm mới ăn tết một lần, quá so đo tính toán phải chăng là có chút “ấy” quá?
* Chồng có “tiệc tùng” thì cứ để cho đi
Những ngày lễ tết, việc tiệc tùng ăn uống của chồng có thể rất nhiều. Anh ta có thể vừa muốn dẫn vợ đi cùng, lại muốn làm một số hoạt động riêng của nam giới, ví dụ như đánh bài, đánh cờ.
Lúc này người vợ cũng rất mâu thuẫn: vừa không muốn để anh ta đi, lại cảm thấy không đồng ý thì không thích hợp lắm.
Cách đối phó:
1) Cứ thanh thản để anh ta đi, đồng thời cảm ơn anh ta ngày tết ngày lễ lớn cho bạn một cơ hội lớn để tỏ ra lòng khoan dung rộng rãi của bạn trước “bạn bè đàng điếm ăn chơi” của anh ta.
2) Cũng phải sắp xếp một chút “tiết mục” cho ngày này của chính bạn, sao ta không thể cũng kiếm vài bạn gái tụ tập nhau một chút ư? Hoặc cùng họ đi dạo phố, xem phim, hoặc mời họ đến đây để “chén” một chầu.
3) Là phụ nữ chức nghiệp, thời gian sống riêng một mình là rất hiếm có, thế thì có thể để mình hưởng thụ vẻ yên tĩnh một hôm nhé!
Đương nhiên, để dự phòng trước các ông chồng “thù tạc” với nhau đến lúc say mềm mới về nhà, ở đây còn chuẩn bị riêng cho các bà vợ mấy biện pháp tương đối “ác độc”:
1) Nếu như bạn không quản làm một vị “khách không mời mà đến”, thế thì tốt nhất là dẫn anh ta cùng đi.
2) Trước khi anh ta ra đi, nhắc lại chuyện say rượu tết năm ngoái của anh ta cho anh ta nghe.
3) Bảo với anh ta khi bạn bền bỉ săn sóc anh ta uống rượu say thì trong lòng bạn chỉ có căm ghét.
* Người vợ mua đồ đạc thiếu suy nghĩ kỹ
So sánh với nhiệt tình ăn uống tiệc tùng của chồng, thì “chứng trạng ngày lễ tế” phổ biến của vợ là: chi tiêu bồng bột: chen vào đám đông ôm ra hàng đống các thứ hàng giảm giá, vui mừng đến nỗi nhặt toàn các thứ hàng thật rẻ, nhưng còn chưa về đến nhà đã bắt đầu hối hận, những hàng mua về càng là về nhà thì chỉ nhét vào trong tủ cũng không thèm lấy ra xem nữa.
Dưới đây cung cấp cho bạn vài cách để tham khảo:
1) “Thỏ khôn xây ba tổ” - trên người nếu mang nhiều tiền mặt, sẽ nguy hiểm giống như buộc vào một quả bom, phải nhanh chóng đi mua nhà, cổ phiếu, phiếu công trái (trái phiếu) hoặc gửi tiết kiệm.
2) Tỏ ra là “người nhẫn nại” - Phải nhanh chóng tránh khỏi chỗ trả tiền, trước hóa đơn mua hàng của vợ, bạn có thể đột nhiên đau bụng phải đi đến nhà vệ sinh thời gian rất lâu; bạn còn có thể nhận điện thoại quan trọng của thủ trưởng công ty (bằng điện thoại di động), để cho cô ta tự mình trả tiền. Không nên ngượng ngùng, nhất định phải tránh “nóng nảy” mà dùng “nhẫn nại”.
3) Tiến hành phá hoại - tưởng tượng hành động mua hàng hóa của cô ta là kẻ thù của bạn, cho nên cô ta vừa mới “nông nổi bộp chộp”, bạn đã ở bên cạnh thì thầm nói: “Cái này quá lỗi thời”, “cái kia chẳng có mùi mè gì”, “không thích hợp với em” để làm tan rã hứng thú mua hàng của cô ta. Nhưng đừng có quên, xin chớ nói đến chữ “đắt”.
Mấy cách này phải sử dụng xen kẽ, hơn nữa phải linh hoạt”, cuối cùng cứ cho là cô ta không dỗi “bỏ đi”, cũng có thể vừa mắng bạn là “anh chàng bủn xỉn”, “không có nhân cách”, vừa tìm bạn bè tiếp tục đi mua những thứ không cần thiết.
..................
Có một số bạn trẻ cho rằng: đã kết hôn, đã thành gia đình thì mọi việc đều xong xuôi tốt đẹp.
Thực ra không phải như vậy. Đó chỉ là sự bắt đầu của đời sống vợ chồng.
Sau khi thành lập gia đình, một người đàn ông với một người đàn bà hàng ngày cùng ở gần nhau: một ngày, hai ngày, một tháng, hai tháng, một năm, hai năm, tám năm, mười năm...
Vợ chồng chung sống với nhau là một môn học vấn rất lớn. Chỗ cần phải vận dụng mưu kế cũng rất nhiều, hy vọng các bạn hãy suy nghĩ nhiều hơn, làm cho cuộc sống của bạn vui vẻ hạnh phúc.

Xem tiếp 43- Của người phúc ta và lấy giả làm thật




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
43- Của người phúc ta và lấy giả làm thật


Mưu lược là sản phẩm của trí tuệ, bất cứ lúc nào bất cứ ở đâu đều có thể vận dụng.
Thế kỷ 17, 18 trở lại đây, nước Đức (Deutsch) luôn luôn rơi vào cục diện phong kiến cắt cứ chia năm xẻ bảy.
Năm 1862, Wilhelm I, quốc vương Preussen (Phổ) bổ nhiệm Bismarck làm Thủ tướng. Bismarck quyết tâm thông qua chiến tranh thống nhất nước Đức.
Ông vừa lên làm việc đã công khai tuyên bố: “Tương lai của Đức không phải là ý nghĩa tự do của Prussen (Phổ) mà ở chỗ cường quyền”. “Sự thống nhất của Đức không phải dựa vào lời nói xuông, mà dựa vào sắt thép và máu để thực hiện”. Bismarck vì cô lập Austria (áo) đã áp dụng sách lược ngoại giao “Định lấy cái gì của ai, thì phải cho họ một số cái đó trước”.
Cuối năm 1863, Preussen xẩy ra chiến tranh với Đan Mạch, Bismarck đã lôi kéo nước áo. Hành động này của Bismarck bắn một mũi tên được ba đích:
Một là, liên hợp với nước áo là để cô lập áo, một khi Preussen quay sang đánh nhau với áo, Đan Mạch sẽ không thể xuất quân viện trợ áo, Preussen (Phổ) cũng sẽ không cần phải lo liệu trước để phòng xa.
Hai là, trên chiến trường Đan Mạch, Bismarck sẽ nắm rõ được tình hình quân đội của áo, từ đó đặt cơ sở cho việc chiến thắng đối phương khi đánh nhau với áo.
Ba là, đem Holstein phân cho Austria (áo) là để tạo ra cái cớ đánh nhau với Austria. Cuộc chiến tranh với Đan Mạch vừa mới kết thúc, Bismarck lập tức sắp đặt ra đánh nhau với Austria.
Về ngoại giao điều quan trọng nhất là phải tranh thủ nước Pháp giữ trung lập trong chiến tranh, vì đó Bismarck lại sử dụng mánh khóe ngoại giao “của người phúc ta”, nhiều lần ám thị với nước Pháp: sau khi cuộc chiến tranh này kết thúc, Phổ (Preussen) sẽ đồng ý cắt phần lãnh thổ nhất định ở châu Âu làm bồi thường cho nước Pháp.
Giải quyết ổn thỏa với Pháp xong, Bismarck lại kết thành đồng minh “công thủ” với ý (Italia) vốn là thù địch với áo (Austria), chuẩn bị tấn công áo (Austria) một nước ở phía Nam, một nước ở phía Bắc.
Tháng 6 năm 1866, Phổ mượn cớ Nghị viện Holstein do áo quản hạt đơn phương thảo luận vấn đề tương lai của vùng đất này, đã phá hoại hiệp nghị vốn có của Phổ, bèn hạ lệnh đưa quân vào Holstein, cuộc chiến tranh Phổ áo bùng nổ.
Do Phổ đã rắp tâm từ lâu, quân áo không chịu nổi một đòn. Bismarck xem xét đến nước Pháp hoàn toàn không mong muốn nhìn thấy một nước Đức (Deutsch) thống nhất lớn mạnh lên bên cạnh mình, do đó cuộc chiến tranh giữa Phổ và Pháp là không thể tránh.
Vì vậy, hiện tại không thể làm yếu nước áo quá mức, chiến tranh kéo dài tiếp, nước Pháp có thể thọc tay vào. Giữ cho nước áo một chút thể diện, khi chiến tranh Phổ - Pháp lần sau nước áo sẽ có thể giữ trung lập.
Nhưng các tướng lĩnh bị thắng lợi làm mê muội đầu óc kiên quyết đòi tiêu diệt nước áo. Bismarck phải chạy đến chỗ Wilhelm I trình bày nhiều lần, cả đến phải khóc rơi nước mắt, cuối cùng đưa ra đơn xin từ chức, Quốc vương đành phải hạ lệnh đình chiến.
Bước sau đó, phải là vấn đề đối phó với Pháp ra sao.
Trong chiến tranh Phổ - áo, những lời hứa của Bismarck đối với quân Pháp bây giờ lại không nhắc đến một lời nữa, Bismarck còn cố ý tiết lộ đòi hỏi lãnh thổ của Pháp với các nước Anh, Nga, ý, nói nước Pháp có dã tâm đối với lãnh thổ của châu Âu, các nước cần phải cảnh giác nước Pháp, khiến Pháp rơi vào thế cô lập về ngoại giao.
Đồng thời, Phổ cũng ngấm ngầm làm tốt việc chuẩn bị chiến tranh, ngày 19 tháng 7 năm 1870 đã phát động chiến tranh đối với Pháp, cuối cùng Pháp bị bại trận đã quét sạch trở ngại cuối cùng trên con đường thống nhất.
Năm 1871, Bismarck cuối cùng đã được thỏa nguyện là đã bước lên chức Tể tướng đầu tiên của đế quốc Đức thôngs nhất.
Việc vận dụng của mưu lược cần phải căn cứ thời gian, địa điểm, đối tượng, tiến hành linh hoạt.
Trong “Hồng lâu mộng” đã từng nói:
Khi giả làm thật, thật cũng là giả
Cái không ở chỗ có, thì cái có vẫn là không.
Lấy cái giả làm lẫn với cái thật, có khi không phải là một kế hay.
Ví dụ: Thế kỷ thứ nhất của công nguyên, vương vị của Xrilanca truyền đến tay Ache.
Ache là một Vương tử phóng đãng đắm chìm trong tửu sắc, từng sống một cuộc sống xa hoa dâm giật.
Một lần, khi ông ta đi thị sát các nơi ở ngoài cung, gặp một người có tướng mạo rất giống ông ta, người này tên là Xubo.
Ache đem ông ta về cung, còn đón cả vợ của ông ta về kinh, phân cho ông ta nhiệm vụ chấp hành bảo vệ cửa cung.
Ache có vẻ chán ngấy đối với cuộc sống trong cung, ông nghĩ ra một trò đùa giỡn, để cho Xubo đóng vai Quốc vương ngồi trên ngôi vương vị, còn mình thì đứng ở cửa làm vệ sĩ.
Giữa họ với nhau không còn chuyện gì không bàn đến. Ache nghe nói vợ của Xubo xinh đẹp tuyệt vời, liền nẩy ra ý muốn bất chính.
Một hôm, ông sai Xubo đi công tác ra tỉnh ngoài, còn mình mặc bộ quần áo bình thường lén chuồn vào nhà Xubo.
Không ngờ, Xubo vì trắc trở đột nhiên trở về đô thành, ông ta đứng ngoài song cửa nhìn thấy Ache và vợ đang thì thầm chuyện riêng rất thân thiết, thực tế không nén nổi cơn giận trong lòng, ông ta thật sự muốn xông vào giết chết họ.
Nhưng bình tĩnh nghĩ lại, lại quay người đến trước phòng gọi to vợ mở cửa.
Ache đang chờ đợi niềm vui vụng trộm trong phòng, bị việc đột nhiên đến như thế khiếp sợ đến hồn vía bay đi hết, hoảng hốt vượt qua cửa sổ trốn về trong cung.
Ngày hôm sau, Xubo vờ như không có việc gì xẩy ra, vẫn trở về trong cung như cũ. Quốc vương cho rằng Xubo không phát hiện đối với việc kia, nên đối với Xubo vẫn như trước đây. Ache lại để Xubo biểu diễn lại trò chơi đổi vị trí với nhau trước kia.
Thời gian lên triều vừa đến, quần thần đều đến cung, hai gối quỳ dưới bệ ngọc của Quốc vương tung hô “vạn tuế”.
Ache đóng vai vệ sĩ đứng ở cửa vui sướng cười mãi. Xubo thấy thời cơ đã đến, liền lấy vẻ oai nghiêm của “Quốc vương” đập bàn đứng dậy chỉ vào Ache nói: “Tên nô tài to gan kia, lại dám phóng túng như thế? Bay đâu, chém đầu nó để bêu ra cho dân chúng đều biết!”
Một viên võ tướng xông đến, giơ đao lên chém, đầu tên “vệ sĩ” liền rơi xuống đất. Xubo chẳng những đã trừ hại cho dân, cũng đã báo thù cho mình, và đã làm Quốc vương.

Xem tiếp 44- Cương nhu đều có




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
44- Cương nhu đều có

Nếu như bạn là một người quản lý hành chính, phải làm được lệnh ban ra phải thi hành, chỉ huy đã định phải giữ vẻ oai nghiêm nhất định.
Đạo lý rất giản đơn, về lãnh đạo, về nghiệp vụ chỉ huy không có sức răn đe khiến cho đối phương và cấp dưới cảm thấy sợ sệt, là không dễ làm tròn trách nhiệm với công việc.
Chỉ là có tác dụng thúc đẩy của một vẻ mặt hiền hòa, một hồi những lời lẽ đẹp và hay, có thể nói là rất có hạn.
Đương nhiên, oai nghiêm cũng không có nghĩa là dùng những lời cay độc, chua ngoa chửi mắng, suốt ngày vênh mặt dậy đời.
Chỉ là khi làm việc đối đãi với cấp dưới lệnh ban ra là phải theo, nói một là một, hai là hai. Phát hiện ra sai lầm của cấp dưới, quyết không nuông chiều, lập tức chỉ ra và giới hạn thời gian sửa chữa, không cho phép cò kè mặc cả, phải để cho cấp dưới sinh ra lòng kính nể, mới có thể làm cho bạn oai phong lẫm liệt, trong giới thương mại “thiên quân vạn mã” xung phong vào trận, chỉ huy thành thạo như thường.
Nhưng, chỉ có oai nghiêm là không xong, còn phải có đầy tình người. Dưới đây là một câu chuyện nhỏ về nhà cự phách ngành điện thoại Mỹ - Fulađô, tổng giám đốc công ty điện thoại Mixigenbel.
Một đêm khuya giá lạnh, trên một con đường không phải là phồn hoa lắm của Newyork đã hầu như không có xe cộ chạy nữa.
Lúc này từ trong đường hầm của trung tâm phố chui ra một người ăn mặc ngay ngắn. Một người khách qua đường bên đường rất nghi ngờ, anh ta đi lên phía trước muốn nhìn xem ai, vừa nhìn đã hoảng hốt lên, anh ta nhận ra người vừa chui ra đó lại là Fulađô tiếng tăm lừng lấy!
Vốn Fulađô là vì có hai công nhân đường dây đang thi công khẩn cấp trong đường ngầm, nên ông ta đặc biệt đi đến để thăm hỏi.
Fulađô được gọi là “bạn tốt của mười vạn người”, ông ta đều giữ được quan hệ tốt đẹp với đồng nghiệp, cấp dưới, khách hàng, thậm chí cả đối thủ cạnh tranh của ông, nhà cự phách doanh nghiệp này sẵn có tình người phong phú, sự nghiệp chói lọi như mặt trời ở giữa trời cao.
Với tư cách là lãnh đạo của xí nghiệp, muốn thực hiện được ý đồ của mình cần phải giành được sự khai thông với cấp dưới, mà tình người phong phú chính là chiếc cầu nối của sự khai thông.
Nó có thể giúp cho cả trên lẫn dưới tìm được những điểm chung, đồng thời về tâm lý tăng cường được nhận thức chung này, từ đó xóa bỏ được ngăn cách, rút ngắn khoảng cách.
Có nhiều người ở chức cao, có thể nhớ được tên của cấp dưới chỉ nhìn thấy một vài lần, khi đi trong thang điện hoặc gặp ở cổng, ngoài cái gật đầu cười tủm ra, còn gọi tên của cấp dưới, có thể làm cho cấp dưới bỗng nhiên được chiều chuộng mà cảm thấy kinh ngạc không ngờ tới.
Cấp trên muốn giành được sự mến phục từ đáy lòng của cấp dưới, nhất định phải đồng thời thực thi “ân” và “oai”.
Cái gọi là “ân” thì không ngoài những lời lẽ thân thiết. Và đãi ngộ hậu, đặc biệt là lời nói.
Phải nhớ tên họ của cấp dưới, hàng ngày buổi sáng khi chào hỏi nhau, nếu như gọi tên của cấp dưới một cách thân thiết lại thêm một nụ cười nữa, thì hiệu suất công tác ngày hôm đó của người cấp dưới này nhất định sẽ nâng lên rất nhiều, vì anh ta sẽ cảm thấy thủ trưởng nhớ mình, mình phải làm tốt công việc!
Đối xử với cấp dưới, còn phải quan tâm đến đời sống của họ, lắng nghe những lo lắng của họ, việc ăn ở của họ đều phải suy nghĩ chu đáo.
Cái gọi là “oai” chính là phải có mệnh lệnh và phê bình. Nhất định phải có lệnh thì làm, hễ cấm thì ngừng. Không thể trước sau đều khách sáo, vì giữ ấn tượng nhã nhặn khiêm tốn của mình, mà ngại ngùng khiển trách thẳng những điều sai trái. Cần phải lấy ra vẻ oai nghiêm của người cấp trên để cho cấp dưới biết sự phán đoán của bạn là đungs đắn, cần phải chấp hành một cách hoàn toàn.
Oai nghiêm của cấp trên còn ở chỗ bố trí công việc và giao nhiệm vụ đối với cấp dưới. Một mặt phải dám phóng tay để cấp dưới làm, không nên mình bao hết thiên hạ, một mặt khi giao nhiệm vụ phải yêu cầu rõ ràng, thời gian nào hoàn thành, đạt đến tiêu chuẩn gì. Sau khi bố trí, còn cần phải kiểm tra tình hình hoàn thành của cấp dưới.
ân và oai thực thi song song, mới có thể điều khiển tốt được cấp dưới, phát huy được tài năng của họ.
Mashushita cho rằng, nhà kinh doanh đối với cấp dưới cần phải như bàn tay của người mẹ hiền cầm chắc cây kiếm sắc của thần Chung Quỳ (1), hàng ngày quan tâm gấp bội, khi phạm sai lầm thì trừng phạt răn đe nghiêm, cùng thực thi ân và oai, khoan dung và nghiêm khắc đều dùng, như thế mới có thể điều khiển thành công được.
Đối với cấp dưới và viên chức phải điều khiển như thế nào? Phải nghiêm khắc hay là khoan dung? Là cương hay là nhu? Kinh nghiệm của Mashushita là cần phải dùng bàn tay của người mẹ hiền cầm chắc cây kiếm của thần Chung Quỳ. Cũng có nghĩa là lòng dạ khoan dung, nhưng khi xử lý thì phải nghiêm khắc, quả đoán tuyệt đối không thể nhẹ tay.
Bàn tay của người mẹ hiền, tấm lòng của người mẹ hiền, mỗi nhà kinh doanh đều cần phải có. Đối với cấp dưới và nhân viên của mình phải bảo hộ và quan tâm chăm sóc. Bởi vì họ là người cùng đường của bạn, thậm chí là chỗ nương tựa của bạn. Hơn nữa, cũng chỉ có như vậy, mới có thể đoàn kết được họ, đạt đượcmục tiêu.
Nhưng đồng thời vẫn phải nghiêm khắc. Sự nghiêm khắc dựa trên đặc tính cơ bản của loài người.
Mashushita cho rằng, có một số người không cần sự giám đốc và quở mắng của người khác, đã có thể làm tốt mọi công việc một cách tự phát và tự giác, không có sai lầm nào.
Nhưng đại đa số người đều là thích an nhàn ngại lao động, thích chọn công việcnhẹ, kiếm việc tiện lợi, chỉ có khi có người khác theo sau đôn đốc, cho họ sức ép mới có thể làm việc một cách cẩn thận. Đối với loại người này, thì chỉcó thể là quản giáo nghiêm ngặt hơn, một phút một giây cũng không buông lỏng được.
Mashushita cho rằng, nhà kinh doanh về quản lý khoan dung và nghiêm ngặt khéo léo là vô cùng quan trọng. Đặc biệt là đứng trước nguyên tắc và quy định càng nên không chút nhân nhượng, hết sức nghiêm ngặt. Đối với những người vi phạm quy định thì nên giơ “kiếm của Chung Quỳ” lên chém bỏ một cách kiên quyết, tuyệt đối không nuông chiều.
Mashushita nói: “Cấp trên phải xây dựng nên vẻ oai nghiêm, mới có thể làm cho cấp dưới làm việc cẩn thận. Đương nhiên, bình thường vẫn phải dùng phươngn thức ôn hòa, thương lượng dẫn dắt cấp dưới làm việc một cách tự động tự phát. Khi cấp dưới mắc sai lầm, thì phải lập tức đưa ra sự sửa chữa nghiêm khắc, đồng thời dẫn dắt tích cực thêm một bước họ bước theo con đường đúng đắn, tuyệt đối không thể qua loa xong chuyện. Cho nên một người cấp trên nếu đối với cấp dưới dung túng quá mức, trật tự ở nơi làm việc không thể duy trì, cũng không bồi dưỡng ra nổi nhân tài. Nói cách khách, phải hình thành dư luận làm cho nhân viên kính nể trưởng phòng, trưởng phòng kính nể chủ nhiệm, chủ nhiệm kính nể bộ trưởng, bộ trưởng kính nể quần chúng xã hội. Mọi người đều có thể nghiêm ngặt kiềm chế mình như thế, mới có thể xây dựng chế độ làm việc hoàn chỉnh, công việc cũng mới có thể tiến triển thuận lợi. Nếu như quá chiếu cố “nhân tình thế sự”, trái lại sẽ tạo nên thiếu sót của xã hội”.
Sự nghiêm ngặt của pháp luật Mỹ đã để lại cho Mashushita ấn tượng sâu sắc. Ví dụ như phá hoại nghiêm trọng trị an của xã hội, có khi phải phán án tù 90 năm (?). Điều này hầu như không thể hiểu được. Nhưng vung roi lên đánh tới tập lại tương đối nhẹ. Những “phạm nhân” trong thời gian ở trại giam do huấn luyện và hối lỗi, biểu hiện tốt có thể tạm tha khỏi nhà tù.
Những người được ra khỏi tù này, thường thường hấp thu uy nghiêm của pháp luật nên có thể rất giữ khuôn phép.
“Bất kể là dùng người hoặc huấn luyện nhân tài, đều phải một tay như cây kiếm của thần Chung Quỳ, một tay kia lại như mẹ hiền, làm được khoan dung và nghiêm ngặt khéo léo, mới có thể được sự tôn kính của cấp dưới”. Mashushita đã nói như thế.
Khi công việc của nhân viên biểu hiện dần dần xấu đi, người chủ quản nhạy bén cần phải tìm nguyên nhân phát sinh hiện tượng này. Nếu như không phải những nhân tố có liên quan với công việc tạo nên, thế thì rất có thể là vấn đề của cá nhân nhân viên đang quấy nhiễu công việc của họ.
Có một số người chủ quản đối với hiện tượng này không phải dùng “đây không phải là trách nhiệm của tôi”, mà coi thường nó, chính là khuyên răn một cách nghiêm khắc nhân viên phấn chấn lên, bằng không mình sẽ cuốn vào rải lối đi. Cũng có một số người chủ quản một mực quy kết nhân viên mà không nhằm đúng trọng tâm của vấn đề.
Bất kể như thế nào, nếu như người chủ quản mong muốn nhân viên quan tâm và ăn ý với công ty, như thế thì người chủ quản trước tiên phải quan tâm đến vấn đề của nhân viên.
Do đó, các phương thức xử lý nói trên có thể nói là rất dễ làm, nhưng không tài nào cải thiện được biểu hiện của nhân viên. Phương pháp tương đối hợp lý nên là thảo luận với nhân viên, tìm cách giúp họ nhìn thẳng vào vấn đề, xử lý vấn đề, tiến tới cải thiện hiệu suất và thành tích công tác.
Những năm gần đây, một số công ty của Mỹ đã vào nền nếp mà cố gắng vượt lên hàng đầu tới tấp thành lập “kế hoạch phối hợp giúp đỡ công nhân viên chức”, mục đích là làm cho công nhân viên yên tâm đến tâm lý vấn đề cá nhân và gia đình của họ.
Bất kể công ty của bạn có chế độ quản lý này hay không, quan tâm đến tâm lý của công nhân viên lành mạnh đã trở thành một khâu quan trọng trong xu thế quản lý hiện đại. Muốn làm tốt công tác tâm lý này, người quản lý trước hết phải nói chuyện trực tiếp với nhân viên. Khi nói chuyện phải chú ý các nguyên tắc sau đây:
1) Về thời gian, chọn mấy ngày đầu trong một tuần lễ, chứ không phải là chọn mấy ngày sau gần cuối tuần, chọn vào buổi sáng mà không phải trước lúc tan tầm.
2) Chọn địa điểm để cho nhân viên cảm thấy có chút việc riêng tư, ví dụ quán cà phê yên tĩnh ở gần văn phòng, vườn hoa có thể đi dạo hoặc phòng họp trong công ty, để làm cho quá trình nói chuyện trực tiếp không bị quấy rầy, để cho nhân viên nhẹ nhàng thoải mái liến thoắng nói ra.
3) Sử dụng ngôn ngữ tỏ vẻ quan tâm như “tôi” mà không phải “anh”. Ví dụ: “Tôi cảm thấy sốt ruột không yên đối với sự việc ngoài ý muốn anh gây nên”, mà không nói “Anh sốt ruột không yên như thế, đến nỗi gây nên nhiều sự việc ngoài ý muốn”; “Tôi cảm thấy bực đối với việc phớt lờ mệnh lệnh của anh”, mà không nói “Anh dùng phương thức phớt lờ mệnh lệnh để chọc tức tôi”; “Tôi muốn nói chuyện với anh”, mà không nói: “Anh đến gặp tôi để nói chuyện”.
4) Chú ý lắng nghe mà không đưa ra bất cứ kiến nghị hoặc phán đoán nào, ngoài ra phải giữ bí mật nội dung của cuộc nói chuyện. Sau cuộc nói chuyện không thảo luận chi tiết nào với các đồng nghiệp khác.
5) Biết hạn chế của mình không có cách nào giải quyết được những vấn đề của nhân viên, nên giành cho sự trợ giúp của chuyên gia.
Sau khi trao đổi trực tiếp với nhân viên, nếu như phát hiện nhân viên có khuynh hướng của hành vi không tốt, thì phải tìm cách chuyển đến chuyên gia tâm lý của công ty mời riêng, hoặc cung cấp cơ hội chữa trị tâm lý, nhường cho nhân viên tự lựa chọn.
Còn về một số hành vi như thế nào cần chuyên gia giúp đỡ?
1) Dễ tức giận, buồn rầu hoặc hoảng sợ.
2) Cảm thấy cô đơn, uất ức hậm hực, tâm tư không ổn định.
3) Nát rượu hoặc hút hít thuốc.
4) Bạn bè thân thiết qua đời, cảm giác bị sức ép lớn.
5) Không tài nào tập trung tinh thần, dễ buồn ngủ.
6) Có cách nghĩ tự sát.
7) Có buồn phiền vì thể trọng béo.
8) Thiếu tự tin, sợ xấu hổ, cảm thấy bi quan đối với công tác, đối với mình hoặc đối với thế giới này.
9) Quan hệ nhân tế không tốt.
10) Thiếu dục vọng khích lệ mình.
11) Khó khăn lúng túng của gia đình và kinh tế.
Cuối cùng, sau khi đem nhân viên có vấn đề cá nhân chuyển cho chuyên gia tâm lý, người chủ quản cũng nên chịu trách nhiệm theo dõi đến cùng. Trong thời gian khoảng hai tuần lễ sau khi nói chuyện trực tiếp lần đầu tiên, người chủ quan cần phải nối thông một lần nữa với nhân viên, cổ vũ nhân viên nói qua cách suy nghĩ, cảm giác và ý kiến của mình, thậm chí kiến nghị biện pháp giải quyết vấn đề.
Nói chung, công nhân viên hiện đại trong tình huống kỹ thuật công nghiệp hiện đại, đã đối mặt với sức ép lớn hơn.
Do đó, việc bảo hộ lao động và bảo hiểm y tế phụ trách sức khỏe thân thể đã không có cách nào bảo đảm an toàn sức khỏe và “tinh thần” của công nhân viên, người quản lý nếu muốn làm cho công nhân viên toàn tâm lao vào công tác, để nâng cao sức sản xuất, thì cần nhận thức và giải quyết chủ động vấn đề cá nhân của công nhân viên. Đó sẽ là sách lược lợi dụng nguồn nhân lực có hiệu quả, cũng là bí quyết thúc đầy công nhân viên tăng cường lực hướng về công ty.


========================================

(1) Theo truyền thuyết là thần trừ ma tà, dân gian xưa thường treo tranh vẽ ở cửa để trừ ma trừ tà. (ND)


Xem tiếp
Chương Hai
Âm dương kinh dùng trong nhân sinh





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
Chương Hai


Âm dương kinh dùng trong nhân sinh


Âm mưu dương dụng, lấy nghịch làm thuận
Dương mưu âm thi, lấy thuận làm nghịch


Trong xã hội hiện đại, việc đi lại giữa người này với ngườikia, do khoa học kỹ thuật và thông tin phát triển nhanh chóng, từ đó làm cho mối quan hệ với nhau trở nên vô cùng tế nhị.
Bất kể xã hội biến đổi như thế nào, thời đại phát triển ra sao, con người là “chúa tể của muôn loài”, ai cũng đều có chí lớn và nguyện vọng trội hơn người, dốc sức xây dựng một sự nghiệp.
Có người trong cạnh tranh đã thành công, trở thành anh hùng; nhưng có người lại bị thất bại thảm hại, tìm không ra hướng đi.
Thực ra, mỗi người đều có “mưu kế hay” riêng, “cách sống” riêng của họ, mấu chốt là ở chỗ xem mình điều động tiềm năng của mình, phát hiện và phát huy ưu thế của mình, giương cao cái mạnh, tránh cái yếu như thế nào, từ đó đạt được mục đích không đánh mà thắng.
Cuộc sống giống như đi đường, nếu muốn đi nhanh phải là chân trái ở trước, chân phải ở sau; nếu muốn chân phải ở trước, chân trái sẽ phải ở sau, hai chân đều muốn đi trước, thế thì có thể tưởng tượng ra được, tốc độ đi về phía trước ngượclại chậm thêm - người sẽ không trở thành người nữa mà trở thành con thỏ nhảy nhót.
Việc này sẽ giống như việc thở của con người: nếu muốn sống thì phải có thở ra, có hít vào, chỉ thở ra mà không hít vào, hoặc chỉ hít vào mà không thở ra, con người đều không thể sinh tồn được.
Kinh nghiệm của cuộc sống cũng là như thế, người ta không thể cả một đời luôn là hớn hở đắc ý, thuận buồm xuôi gió, nhất định sẽ có gập ghềnh, nhất định sẽ có thất bại và lúng túng khó xử. Là bậc đại trượng phu thì nên xem mọi việc sai lầm của đời người lạnh nhạt một chút, chính là cái gọi là đại trượng phu biết co biết duỗi.
Bất kể là nam giới hay là nữ giới, bất kể họ có phát ngôn hoặc tuyên bố hay không, ở nơi sâu thẳm trong lòng họ, đều là tìm trăm phương ngàn kế muốn làm cho cuộc đời của mình đẹp hơn.

Cái đẹp có thể có nhiều phương thức.
Nam giới có thể thông qua sức mạnh của mình, thông qua sự nghiệp của mình v.v... để đạt được mục đích đẹp. Nữ giới cũng như thế - họ đơn giản nhất là vận dụng tướng mạo, khí phách, tu dưỡng v.v... đẹp có thể làm cho con người tâm tình vui vẻ, việc này không nói cũng hiểu.
Chúng ta sẽ dùng cái “đẹp” để thảo luận vấnn đề. Có một số người vì sao suốt một đời sống ảm đạm. Thật ra không phải là Thượng đế không công bằng đối với họ - họ thậm chí họ có đôi má và vẻ bề ngoài xuất chúng, song vì sao họ sáng tạo không nổi cuộc đời sáng lạn?
Đó là vì: họ không phải là “người có chí” của cuộc sống, không biết vận dụng mưu trí để làm phong phú đời người - nam giới trở thành kẻ rượu chè ăn uống bê tha, cái xác không hồn; nữ giới trở thành lọ hoa và bày biện rút hết linh hồn, không tài nào biết được giá trị đời người của mình.
Chúng tôi muốn nói với bạn đọc là, ngoài những vĩ nhân hiển quý xưa nay trong và ngoài nước, xét theo những người bình thường phổ biến, nữ giới đa số không để ý đến vẻ bề ngoài của nam giới, mà chú trọng là sự tinh nhanh tháo vát, vẻ dí dỏm và năng lực sáng tạo của nam giới. Còn nam giới chú trọng về nữ giới, cũng không chỉ là đôi má đẹp. Bởi vì trong cái nhìn của nam giới, nữ giới không phải vì xinh đẹp mà đáng yêu hoàn toàn ngược lại, họ vì đáng yêu mà xinh đẹp.

Thế thì, trong đời sống hiện thực, những nam giới và nữ giới bình thường, làm thế nào “đạt tiêu chuẩn”?
Chỉ có một câu trả lời: Dám dùng âm mưu và dương mưu, đồng thời giỏi về đạo âm dương, mới có thể làm cho cuộc đời của mình phong phú lên, sáng lạn lên và đẹp lên.

1. Muốn chiếm đoạt, phải đem cho trước

Bạn đã từng câu cá chưa? Phàm những người từng có kinh nghiệm câu cá, đều có thể hiểu được một điều thường thức tối thiểu: Nếu muốn dẫn cá từ đáy nước vào trong chiếc giỏ của mình, trước hết phải chuẩn bị tốt mồi câu, phải dụ cá dưới nước đến ăn mồi câu, từ đó mới có thể đạt được mục đích của mình.
Đó chính là trong đời sống người ta thường nói: Kẻ muốn chiếm tiện lợi lớn, trước tiên phải nếm chút thiệt thòi nhỏ.
Để đạt được mục đích đã định, trong đời sống xã hội và cạnh tranh chốn thương trường, người ta bảo vệlợi ích của mình, và nghĩ cách giành lấy lợi ích của đối phương (bao gồm chiếm lĩnh thị trường của đối phương, đoạt lấy ưu thế của đối phương), mình sẽ phải nhường một bước trước, hoặc nhường ba bước trước, thậm chí nhường năm bước trước - Cho đối phương một số chỗ tốt và lợi ích trước, sau đó chờ đợi thời cơ chín muồi, không những có thể giành lại những cái mình mất, mà còn có thể giành lại những cái mình mất, mà còn có thể đoạt lấy càng nhiều thứ hơn.
Thời Xuân Thu Chiến quốc, nhà tư tưởng lớn Lão Tử đã từng nói: “Tương dục nhược chi, tất cố cường chi; tương dục phế chi, tất hồi hưng chi; tương dục đoạt chi, tất cố dữ chi”.
(ý nói: Muốn làm suy yếu nó, ắt tạm thời tăng cường nó; muốn phế bỏ nó, ắt tạm thời phất nó lên; muốn chiếm đoạt nó, ắt tạm thời đem cho nó).
Tương truyền khi Lão Tử đi qua cửa quan Hàm Cốc, cho người khác ăn bánh, phân cho họ mỗi người một chiếc để ăn, còn dư lại một chiếc, Lão Tử muốn ăn, nhưng ngượng trực tiếp cầm để ăn. Để tỏ lòng khiêm nhường, nhường cho bạn trước, bạn ngượng không nhận đẩy nhường lại cho Lão Tử, trong tình huống đối phương nhường lại, Lão Tử liền “danh chính ngôn thuận” ăn chiếc bánh này. Từ đó đưa ra kết luận nói “tương dục đoạt chi, tất cố dữ chi” (muốn chiếm đoạt, ắt tạm thời đem cho”.
Cuối thế kỷ 19, trên tờ “Thân báo” xuất bản tại Thượng Hải đã đăng câu chuyện dầu hỏa của Mỹ đã đánh vào thị trường Trung Quốc thế nào:
Trung Quốc do ảnh hưởng của xã hội tự cấp tự túc mấy ngàn năm, khiến cho người Trung Quốc nói chung đều thiếu ý thức trao đổi hàng hóa. Mọi người thời đó ban đêm đều dùng dầu đậu nành để thắp đèn, còn Mỹ có một anh chàng tên là Henry đến Trung Quốc bán đèn bão, nhưng không có một nhà nào dùng “trò chơi nước ngoài” chụp đèn bằng pha lê đó của anh ta. Trong tình huống không còn cách nào, anh ta đã không thể đem những chiếc đèn bão này dùng tàu thủy chở về Newyork nữa, do đó đã đưa ra quyết tâm đem tặng không cho người Trung Quốc thuộc tô giới Thượng Hải mỗi nhà một chiếc đèn bão, lại còn biếu không một lít dầu hỏa nữa (loại dầu này là dầu mỏ khai thác từ dưới đất tinh luyện nên). Người Trung Quốc lúc đó không biết dầu hỏa là gì, càng không biết có thể từ lòng đất rút dầu lên để thắp đèn, chỉ vui vì được chiếm không sự tiện lợi. Không dùng thì bỏ phí mà dùng thì cũng không mất gì.
Thế là, mọi người bèn thử dùng đèn bão dầu hỏa để chiếu sáng. Cảm thấy quả nhiên so với đèn dầu đậu nạnh của Trung Quốc vừa sáng lại vừa chống gió chống mưa, nên đã được phổ biến mở rộng.
Henry hàng ngày đem thêm dầu đến tận cửa cho những người Trung Quốc dùng đèn bão, khiến cho những người Trung Quốc dùng dầu đậu nành từ chỗ không thèm nhìn ngó đến tiến hành dùng thử một cách hiếu kỳ. Henry liền nắm lấy đặc điểm người ta thích chiếm tiện lợi nhỏ, đã đem tất cả đèn bão và dầu hỏa đều cho không đi hết.
Tiếp theo, anh ta lập tức từ Mỹ vận chuyển đến số lượng lớn dầu hỏa, bắt đầu bán cho những người sử dụng đèn bão ở Trung Quốc. Trong thời gian nửa năm, dầu hỏa đã chiếm lĩnh được thị trường ở Thượng Hải. Mọi người cũng lấy việc dùng đèn bão chiếu sáng làm mốt. Sau một năm chiếc đèn nhỏ dùng dầu đậu nành truyền thống Trung Quốc đã bị đẩy ra khỏi các khu phố của Thượng Hải. Henry do vậy đã phát tài to, trở thành vua bán dầu mỏ thời đầu của Mỹ.
Trong cuộc sống hàng ngày, các ví dụ giống Henry như thế có rất nhiều. Người thành công thường là những người sau khi bị trắc trở, đã lợi dụng tâm lý của mọi người thích chiếm tiện lợi, muốn chiếm đoạt trước tiên phải đem cho, từ đó đạt được mục đích cuối cùng của mình.

Thời xưa cũng có một ví dụ như thế này.

Cuối thời Xuân Thu, Trí Bá là một trong bốn vị khanh của nước Tấn, dựa vào uy danh và thế lực của ông đã đòi đất với Ngụy Tuyên tử, Ngụy Tuyên tử nghe theo lời của Nhiệm Đăng đã “cắt đất giao cho ông ta”. Lại đòi đất đối với Hàn Khang tử, Hàn Khang tử cũng không dám không cho. Nhưng khi Trí Bá đòi đất đối với Triệu Tương tử, lại bị từ chối. Trí Bá cả giận, liền bức hiếp hai nước Hàn Ngụy bao vây Triệu Tương tử tại Tấn Dương (nay là vùng Tây nam Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây), dẫn nước vào trong thành. Triệu Tương tử lợi dụng mâu thuẫn hai nước Hàn, Ngụy với Trí Bá, đang đêm cử Trương Mạnh Đàm ra khỏi thành, thương thuyết với hai nước Hàn Ngụy, ba nước thông mưu với nhau cùng đánh Trí Bá, Trí Bá thua và bị giết, vùng đất của ông ta cũng bị ba nước chia nhau. Cái đó gọi là chiếm đoạt của người tráilại bị người đoạt loại. Lại ví dụ như Tấn Hiến công tăng ngọc quý cho Ngu rồi lại diệt Ngu tức là ví dụ “cho nó Trái lại chiếm đoạt nó”. Tấn Hiến công dự định mượn đường từ nước Ngu đi đánh nước Ngụy, liền dùng ngọc quý của vùng Thùy Cức và xe bốn ngựa của vùng Khuất Sản đem tặng cho nước Ngu. Ngu vương trông thấy ngọc quý và tuấn mã, yêu thích không nỡ bỏ, bất chấp sự phản đối của Cung Chi Kỳ và những người khác, đã chấp nhận ý kiến của Tấn Hiến công. Do đó quân Tấn đã đi qua nước Ngu đi đánh nước Quắc, không tổn hao binh lực bao nhiêu, liền đánh được nước Quắc. Quân Tấn hội sư tại nước Ngu, nước Ngu không hề chuẩn bị, cũng không có năng lực chống lại sự tấn công của quân Tấn, rất nhanh chóng bị quân Tấn đánh phá, Ngu vương cũng bị bắt sống. Việc đó gọi là “cho nó để rồi lấy lại nó”.

Xã hội là do mọi người dựa vào quan hệ lợi ích kết thành. Mỗi người đều sẽ đứng trên lập trường lợi ích của mình để đánh giá cuộc sống, do đó người khéo xử sự sẽ phải nên xét thời cơ không nên so đo tính toán.
Phàm là những người biết chơi cờ, đều hiểu đạo lý “thí tốt giữ xe”. Đây là một loại trí tuệ, cũng là kinh nghiệm sống truyền thống của người Trung Quốc. Nhưng, nói đi lại phải nói lại, người ta cũng không thể mưu kế tính được hết thế thì quá thông minh, như thế, trái lại có thể buộc cả mình vào trong đó. Cái gọi là “trộm gà không được lại mất nắm gạo” chính là cái lý này.

Đạo của âm dương, khi căng khi trùng, vừa thuận vừa nghịch, bồi bổ và xúc tiến lẫn nhau.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
2. Trước giúp tăng thêm vẻ ngạo mạn, sau ra tay diệt mạnh

Trong thị trường hoặc trong chiến tranh, khi sức mạnh của đối thủ lớn mạnh hơn hẳn sức mạnh của mình, hoặc nói khi thực lực cạnh tranh của đối thủ so với mình lớn hơn rất nhiều, nếu muốn thắng đối thủ, thì có thể để cho nó hưng thịnh lên trước, phát triển lên trước, đây chính là điều kiện tạo cho nó đi theo hướng phản diện.
Ví dụ nói, có thể cố ý trao cho nó nhiều quyền lực để đối thủ chiếm được tiện lợi rất lớn, để cho nhược điểm nhân tính của đối thủ bộc lộ ra đầy đủ - nó tất nhiên sẽ hống hách lộng quyền, làm xằng làm bậy, tưởng chừng như nhất thiên hạ, đầu óc choáng váng, đợi đến lúc mọi mưu mẹo của nó dùng hết, bạn sẽ thừa cơ xuất kích, lúc cần ra tay thì ra tay, thu địa bàn của nó về tay mình.
Bậc đại trượng phu phải nên lòng dạ rộng mở, xem thiên hạ là của mình.
Henry Ford, người sáng lập Công ty ôtô Ford của Mỹ, sau chiến tranh thế giới lần thứ I chỉ là một người thợ sửa chữa cơ khí con con. Để sáng lập công ty ôtô Ford, ông ta có ý thức nâng đỡ hơn hai mươi xưởng xe hơi cỡ nhỏ, trước khi mình chưa phát đạt, tiến hành hợp tác nhượng lợi với những xưởng này, một khi thời cơ của mình chín muồi, liền lợi dụng uy lực của thị trường, thu mua toàn bộ mười mấy xưởng nhỏ này vào tay mình, chỉ một lần hành động trở thành tập đoàn xí nghiệp chế tạo ôtô lớn nhất nước Mỹ, thậm chí cả trên thế giới.
Ví dụ như thế, trên thương trường đâu đâu cũng có, kinh nghiệm thành công của nhiều công ty xuyên quốc gia đều là như thế.
Đây chính là nói, những người nhìn xa biết rộng có thể nhìn thấy rõ tương lai, để cho người khác phát triển, để cho người khác phát tài, cuối cùng tất cả những cái người khác sáng tạo ra, có thể quy về mình toàn bộ.
Trong lịch sử, thời Tây Hán Hoắc Quang nắm quyền lớn trong triều đình, mà còn có quyền cao mấy triều liền. Thời Hán Vũ đế, ông nhận chức Phụng xa Đô úy, thời Hán Chiêu đế ông làm Đại tư mã tướng quân, được phong Bác Lục hầu, phò tá Chiêu đế thơ ấu chấp chính. Sau khi Hán Tuyên đế lên ngôi, liền cảm thấy họ Hoắc quyền lực quá lớn, tạo thành uy hiếp đối với mình, bèn muốn tiêu diệt lực lượng của họ Hoắc. Thế là Hán Tuyên đế ráo riết phong hầu, thăng quan tiến tước đối với gia tộc họ Hoắc. Đây chính là làm cho họ Hoắc xa hoa dâm dật, tự cao tự đại, không coi các bạn đồng liêu ra gì nữa. Sau khi Hoắc Quang chết, gia đình họ Hoắc càng thêm ngang ngược bất chấp pháp luật, lợi dụng Ngự y Thuần Vu Diễn đầu độc chết Hứa Hoàng hậu. Hán Tuyên đế bèn quyết tâm tiêu diệt họ Hoắc, tới tập điều thân thuộc của họ đi nơi khác, làm yếu quyền hành sau này, đồng thời mượn cớ Hoắc Vũ vin vào bệnh không lên triều, mưu đồ làm loạn, thực hành đánh dẹp, bắt bớ ráo riết, bắt giữ xử lý từng người một. Cả nhà họ Hoắc bị lục soát và chém giết, kết cục rất bi thảm.
Để cho đối thủ phát triển, thật ra không phải là mình không phát triển, mà là trong phát triển, mình ngấm ngầm nắm chắc phương hướng, tìm kiếm cơ hội, sáng tạo cơ hội, cuối cùng đạt được mục đích thắng đối thủ.

3. Trước mở, sau khép

Chúng ta nên làm một người lương thiện thẳng thắn.
Nhưng, đối với những kẻ dãn tâm trắng trợn, những kẻ rắp tâm hủy diệt bạn, nếu như theo dương kinh, thì cần phải đối chọi quyết liệt, một bước không nhường. Mà việc đó trên thực tế là đấu dũng, không phải đấu mưu, rất có thể khi tranh đấu với đối thủ cái bạn mất vẫn phải nhiều hơn so với lúc đầu, kết cục còn bi thảm hơn so với dự tính.
Đấu tranh cần phải chú trọng sách lược, đấu tranh cũng là một môn nghệ thuật.
Mao Trạch Đông một đời chỉ nói đấu tranh, hơn nữa thường xuyên nói đến nghệ thuật đấu tranh. Vì vậy có thể nói như sau: họ dùng cương, ta dùng nhu, thì có thể lấy nhu khắc cương; họ dùng dương ta dùng âm, thì có thể lấy âm khắc dương, lấy âm thắng dương. Trong "Kinh Dịch" truyền thống của Trung Quốc đâu đâu cũng toát lên tư tưởng của phép biện chứng này.
Đối với những người muốn đặt bạn vào chỗ chết, sách lược cần áp dụng là đối với họ trước dùng lời lẽ khiêm nhường hết sức lễ độ, nhường trước một bước, tranh thủ đạo nghĩa, gọi là "trước lễ sau binhh", "trước quân tử, sau tiểu nhân". Cố ý làm tăng vẻ ngạo mạn của đối phương, để anh ta ung dung tự đắc công kích khắp nơi, bốn phía bị thù địch, đợi đến khi anh ta bị khó khăn, ta sẽ hành động.
Ví dụ, nước Ngô sau khi đánh thắng nước Việt, ngang tàng đắc chí, chuẩn bị phát động chiến tranh đối với nước Tề. Việt vương liền phụ họa, xúi giục nước Ngô đánh Tề. Mục đích là ở chỗ: Dâng cho nước Ngô bằng lợi ích vật chất nhất định, khiến cho Ngô vương vui sướng, đồng thời kính cẩn lễ phép với Ngô vương, xúi giục Ngô vương thân chinh dẫn quân đội tấn công nước Tề. Nếu như nước Ngô đánh nhưng không thắng, lực lượng của nước Ngô liền bị suy yếu. Nếu như đánh thắng, Ngô vương khẳng định cho mình là nhất thiên hạ, thừa thắng đánh nước Tấn mạnh hơn, quả đúng như vậy, lực lượng bên trong của nước Ngô trống rỗng, nước Việt bèn có thể thừa cơ có chỗ hổng đột nhập vào, đem quân sang Ngô. Thực tiễn về sau đã chứng tỏ: Chủ trương "trước mở sau khép của nước Việt là đúng đắn. Việt vương Câu Tiễn thừa thời cơ nước Ngô đánh nước Tấn, đã thân chinh dẫn 3000 dũng sĩ đánh nước Ngô, cuối cùng tiêu diệt nước Ngô.
Napoleon Đaij đế của nước Pháp, ở châu Âu thậm chí cả thế giới là đại anh hùng rất tài giỏi, là phái đại tạo phản. Bọn vua chúa phong kiến châu Âu lúc đó, để bảo vệ lợi ích của họ đã nhao nhao chỉ trích Napoleon là tên ác ôn, là tên phá hoại điên rồ, là tên quỷ dữ, đồng thời đã tổ chức thành Liên quân châu Âu, tiến hành đánh dẹp Napoleon. Dưới sức ép to lớn, napoleon cầm đầu quân đội của mình đã phải nhân nhượng nhiều lần. Khi tình huống phát triển đến giai đoạn nhất định, nội bộ Liên quân châu Âu do vấn đề về lợi ích đã gây nên biến đổi, hơn nữa bị phản đối phổ biến của nhân dân các nước châu Âu, lúc này, Napoleon phát động phản kích, chỉ một lần hành động đã đập tan được sự tấn công của địch, giành được thắng lợi cuối cùng.
Người ta nếu muốn giành được thành công lớn về sự nghiệp, thì nên bằng lòng chịu thiệt, thậm chí bằng lòng chịu thiệt mà không dám kêu, không nên so đo tính toán quá nhiều, vì mục tiêu cao xa, vì lý tưởng cao hơn người khác, chắc chắn thiết tưực bắt tay làm từ hiện tại, bắt tay làm từ việc chịu thiệt.

4- Trước nhường lợi, sau được lợi

Hễ đến những ngày nghỉ lễ nghỉ tết, các cửa hàng buôn bán lớn đều có thể đưa ra chiêu bài "bán nhường lợi" nhanh, tìm trăm phương ngàn kế thu hút mọi người đến đây, khiến người ta cam tâm tình nguyện móc tiền từ trong túi ra để mua.
Nhường lợi, kỳ thực là trước nhường cho bạn được lợi nhỏ, còn cuối cùng nhà buôn giành được khoản lợi lớn.
Cái gọi là "không nỡ rời con, sao bắt được sói" chính là cái lẽ này.
Trong buổi liên hoan văn nghệ đón Tết năm 1999, Ngưu Quần và Phùng Củng trong câu chuyện khôi hài lại thêm một câu:
Không nỡ rời con, sao bắt được sói,
Không nỡ rời con dâu, sao bắt được lưu manh.
Câu nói này phải chăng có chút hơi tục, nhưng nó vẫn nói cho mọi người biết đạo lý của việc "trước nhường sau được".
Thời Tây Hán, tộc người Thiền Vu yếu mà tộc người Đông Hồ mạnh, Môtu của tộc người Thiền Vu giết cha là Touman tự lập quân chủ. Đông Hồ nghe nói Môtu lập thành quân chủ, bèn cử người đến bảo Môtu: "Muốn được ngựa thiên lý thời Touman". Quần thần đều nói đây là ngựa quý của Hung Nô không thể cho, nhưng Môtu lại nói không thể vì một con ngựa mà ảnh hưởng đến quan hệ với nước láng giềng, đã đem ngựa dâng cho. Không lâu, Đông Hồ lại sai người đến đòi lấy Vu thị Hoàng hậu, các đại thần đều rất phẫn nộ, cho rằng hành động này của Đông Hồ là rất vô lễ, đòi đánh Đông Hồ, nhưng lần này Môtu lại nói không nên vì một người đàn bà mà ảnh hưởng đến quan hệ với nước láng giềng, lại đem Vu thị dâng cho Đông Hồ. Vốn là giữa Đông Hồ với Hung Nô có khoảng đất hoang hơn 1000 dặm, hai nước mỗi nước ở một bên. Đông Hồ nói: "Mảnh đất này là đất hoang, ta muốn chiếm nó". Các đại thần nói: "Mảnh đất này vốn chính là đất hoang, cho họ cũng được, không cho họ cũng được. Lần này Môtu nổi giận lên đùng đùng nói: "Đất đai là căn bản của quốc gia, làm sao có thể cho người khác?" đồng thời đem những người nói có thể cho chém đầu hết. Sau đó Môtu mặc giáp đội khôi lên ngựa, dẫn quân đi đánh Đông Hồ. Lúc mới đầu Đông Hô coi thường Môtu, cũng không chuẩn bị bố trí phòng ngự, khi đại quân của Môtu kéo đến, Đông Hồ trở tay không kịp, không lâu bị đại quân của Môtu diệt ngay tức khắc.
Người ta nên biết vứt bỏ, nên dám vứt bỏ, đồng thời lại phải sành vứt bỏ.
Những năm gần đây các bài ca lưu hành hát: "Dám liều bỏ mới có thể thắng".
Song, chỉ dựa vào dám liều, ở thời đại ngày nay, hầu như là khả năng thắng rất nhỏ. Đại bộ phận những người hoàn thành sự nghiệp đều là xử lý mình ở "điệu thấp", xử lý sự nghiệp của mình ở "điệu thập", mà còn ngấm ngầm vứt bỏ tất cả những cái nên vứt bỏ, từ đó dành ra thời gian và tinh lực tiến quân vào mục tiêu lớn hơn, cao hơn, đây chính là mưu kế tuyệt vời của những người biết đọc Âm kinh.
Chỉ biết đọc Dương kinh, thường chỉ có thể khích lệ cái dũng thất phu của con người, mà cần phải cùng đọc cả Âm kinh và Dương kinh, mới có thể hoàn thành sự nghiệp, mở mang thịnh vượng.

5- Nếu muốn duỗi cần phải co trước

Bẩm sinh của con người chính là trước co sau duỗi.
Không co thì không thể có duỗi, hình thái của con người nằm trong bụng mẹ là co cuộn người lại. Vì sự sinh trưởng sau khi ra đời, người ta cần phải trước hết phải co lại sau đó mới có thể ruỗi ra.
Đạo lý này rất giản đơn. Cây cỏ trước khi nẩy mầm là co cuộn thân lại.
Trong cuộc sống, trong sự nghiệp, khi một người ở trong kỳ thấp trào, hoặc trong thất bại, hoặc khó khăn, hoặc trong nghịch cảnh, thì cần phải vận dụng trí tuệ "co lại". Nếu như trong lúc như thế một mực nhấn mạnh "duỗi", việc đó tất nhiên có thể đến tính mạng của mình cũng đều không giữ nổi, thì còn có tư cách gì đến nói đến sự nghiệp nói đến tình yêu, nói đến lý tưởng, nói đến tương lai nữa?
Thời Đường Huyền Tông, Ngụy Tri Cổ và Diêu Sùng đều làm việc trong triều, địa vị ngang nhau.Ngụy Tri Cổ vốn là do Diêu sùng tiến cử. Hai con trai của Diêu Sùng ở Lạc Dương không làm ăn lương thiện, còn muốn dựa vào quan hệ cũ để nhờ Ngụy Tri Cổ. Ngụy Tri Cổ không những không giúp, trái lại đem tình hình đó báo cáo với Huyền tông, nhưng những việc này đều được Diêu Sùng biết cả.
Một hôm, Huyền tông triệu kiến Diêu Sùng, hỏi đến tình hình của hai con ông, Diêu Sùng đã suy đoán được ý của Huyền tông, liền nói: "Hai con của thần phân công điều khiển và quản lý ở Đông đô, nhưng chúng là người có lòng riêng tư tương đối nặng mà rất ít sợ, chắc rằng chúng khẳng định thường làm phiền Ngụy Tri Cổ".
Huyền tông vốn cho rằng Diêu Sùng sẽ bao che con cái của mình, không ngờ tới ông có thể chân thành thẳng có một không hai đến như thế.
Thế là lại hỏi ông ta làm thế nào có thể khẳng định như thế, Diêu Sùng nói: "Ngụy Tri Cổ là do thần tiến cử. Con trai thần đương nhiên có thể lợi dụng việc tiến cử của thần mà đến xin Ngụy Tri Cổ giúp".
Huyền tông cho rằng Diêu Sùng nói có lý, liền muốn trách mắng Ngụy Tri Cổ, nhưng lúc này Diêu Sùng lại hết sức bảo vệ Ngụy Tri Cổ, nói: "Hành vi của con thần bất chính, có nợ ơn lớn của bệ hạ, quở trách Tri Cổ, các đại thần ở bên ngoài ắt cho rằng bệ hạ vị nể riêng tư với thần".
Huyền Tông không quở trách Ngụy Tri Cổ, nhưng không bao lâu đã giáng ông xuống làm Công bộ Thượng thư. Diêu Sùng chỉ là nói những điều hay cho người khác mà đạt được mục đích của mình, sự tài giỏi khôn khéo của thủ đoạn của ông không thể không làm cho người ta khâm phục.
Tập đoàn Haile của Thanh Đảo, lúc mới đầu sáng nghiệp chẳng qua chỉ là một xưởng nhỏ có trên dưới một trăm người, tiền vốn cũng không quá một hai chục vạn. Tổng giám đốc của họ vì đi tìm sự phát triển công nghiệp dân tộc, đành phải cầu xin xưởng lắp ráp máy lạnh Haile của Đức, trở thành công ty con của người ta ở Trung Quốc, hoặc nói lúc đó họ cam tâm tình nguyện "cúi đầu dựa vào kẻ giàu sang".
Theo cách nói của những người Haile "cần phải làm con cháu thì phải làm con cháu, mà lại còn phải làm một cách ngoan ngoãn". Trải qua hơn mười năm nằm gai nếm mật, phấn đấu gian khổ những người Haile đã từ "con cháu" trở thành "ông" - hiện tại họ đã hoàn toàn thoát khỏi sự khống chế của xưởng máy lạnh Đức, tiền vốn đã phat triển đến vài trăm triệu (NDT), không những sản xuất máy lạnh, còn sản xuất bộ điều hòa không khí, TV màu, máy vi tính và các thiết bị điện dùng trong gia đình khác, trở thành lá cờ của công nghiệp dân tộc.
Trongn "Tây sương ký" của Vương Thực Phủ, Hồng nương đã từng có một đoạn lời hát cho Lão phu nhân:
Khi phải nhường người khác thì nên nhường,
........
Chúng ta đối nhân xử thế, cũng nên cương nhu đều có, xử lý khéo léo.
Thời Tam quốc những người xưng hùng nổi dậy như ong vỡ tổ, anh hùng không ngừng xuất hiện. Lưu Bị mang hoài bão lớn, nhưng trước khi ông được thế, đành phải ăn nhờ ở gửi, nhờ vả vào trong đại doanh của Tào Tháo.
Một lần, Tào Tháo uống rượu luận anh hùng, bàn luận nói, trên đời ngày nay người thật sự có thể hoàn thành nghiệp lớn chỉ có Tào Mạnh Đức và Lưu Huyền Đưcs thôi. Lưu Bị vừa nghe câu nói này bỗng nhiên khiếp sợ đến run bắn người lên, để rơi cả đũa xuống đất, chính lúc đó trên trời lóe chớp và kèm tiếng sấm vang, vội vàng giấu nỗi kinh hoàng của mình...
"Co lại" là trí tuệ của đời người.
Thường thường người ta đều có thể làm được "ruỗi ra", nhưng rất khó làm được "co lại" giống như Lưu Bị. Đồng thời "co" cũng là để bảo vệ mình vượt qua chỗ khó khăn, từ đó giành được nhu cầu phát triển từ nay về sau.
Việc này sẽ dây dưa đến vấn đề "thể hiện" truyền thống của người Trung Quốc.
Quan niệm "thể diện" của người Trung Quốc đã có từ lâu. Bắt đầu từ Khổng Tử đã hay nói đến thể diện. Có một số người thậm chí vì thể diện, có thể vứt bỏ hạnh phúc một đời của mình. Đặc biệt là xã hội phong kiến, yêu cầu đối với đông đảo phụ nữ càng là như vậy. Đó là cái gọi là "Chết đói là việc nhỏ, thất tiết là việc lớn". Hầu như người ta cần phải một đời sống vì thể diện.
Trung Quốc ó câu cổ ngữ: "Người cần mặt, cây cần vỏ". Nếu như đến sự nghiệp đều không thể giữ được đến tính mệnh đều bị uy hiếp, thế mà vẫn cần thể diện thì có tác dụng gì?
Thể diện là thiết kế cho đời người, hoặc nói thể diện cũng chính là quan niệm đạo đức.
Người ta sống như thế nào, cũng đều là việc thế cả. ít thì năm sáu mươi năm, nhiều thì tám chín mươi năm. Con người hiện đại cần phải có cách sống hiện đại, không thể cái này cũng quan tâm, cái kia cũng quan tâm. Cái này cũng không bỏ ra được, cái kia cũng không bỏ được, đến cuối cùng tất nhiên một việc không thành.
Biết chọn hay bỏ, trên thực tế chính là biết sống.





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
6- Phát sinh ra thế thắng người sau, vẫn có thể xem là mưu cao

Người ta xuất phát từ lòng tự tôn hoặc xuất phát từ thể diện, thường đều dễ muốn hơn người giành phần thắng.
Hơn hai ngàn năm trước Khổng Tử đã từng nói: Đời người có điều khuyên lớn: sai lầm người trẻ tuổi thường dễ phạm nhất chính là "đấu dũng". Trong thời đại cạnh tranh, người ta đặc biệt dễ dàng để lộ ra dũng khí, hào khí và dã tâm của mình.
Những thứ này đều là dương kinh, còn âm kinh bảo cho người ta: phát sinh thế thắng người sau cũng vẫn có thể xem là một mưu cao.
Trong chuyện "Thủy Hử", Lâm Xung là giáo đầu tám mươi vạn quân cấm vệ, bị những loại như Cao Cầu vu cáo hãm hại, bị rơi vào nghịch cảnh, trên đường bị giải đến nhà tù, đến nhà bạn cũ là Sài Tiến. Sài Tiến là người nổi tiếng trên đời bởi trọng nghĩa khinh tài, giao thiệp rộng rãi với các hào kiệt trong thiên hạ. Trong trang ấp của ông đã nuôi hàng loạt "thực khách", ông đã ngưỡng mộ Lâm Xung từ lâu, đồng thời đón Lâm Xung đến trang ấp của ông, đối đãi như khách quý. Cách làm đó của ông đã làm cho Hồng giáo đầu vô cùng bực tưc, do đó đã luôn luôn khiêu khích, muốn đọ võ với Lâm Xung, muốn đưa Lâm Xung vào chỗ chết. Mà Lâm Xung lúc đó trên mặt bị khắc chữ, toàn thân đầy vết thương, tỏ ra mình không dám đọ võ, việc này sẽ càng làm cho Hồng giáo đầu kiêu căng hết sức.
Dưới sự chủ trì của Sài Tiến, bằng phương thức đánh đố, Lâm Xung bị bức triển khai một trận đấu võ với Hồng giáo đầu. Trong cuộc đọ võ, Lâm Xung nhường nhiều lần, Hồng giáo đầu thì tấn công mãi. Lâm Xung liên tục hét "chơi đi, chơi đi...", khi mưu mẹo của Hồng giáo đầu sử dụng hết, Lâm Xung dùng một cây thương nhè nhẹ cất lên với thế "bốn lạng nhổ bật ngàn cân" đã đánh ngã Hồng giáo đầu lăn xuống đất".
Phát sinh thế thắng người sau, càng có thể phát huy mưu trí và sức mạnh của con người.
Tăng Quốc Phann là một đao phủ trấn áp phong trào Thái Bình thiên quốc. Nhưng khi ông ta mới thành lập Tương quân bóp chết Thái Bình Thiên quốc, lại liên tiếp thất bại, khiến cho Từ Hy Thái hậu và bọn quý tộc ở cung vua ở Bắc Kinh hết sức bất mãn, thậm chí có người công khai đề xuất phải giết Tăng Quốc Phan, muốn lấy đầu của Tăng Quốc Phan để tạ ơn vương triều Đại Thanh.
Trong tình huống cực kỳ khó khăn, trên tờ biểu của Tăng Quốc Phan tâu lên Hoàng thượng chỉ có thể viết: Thần cúc cung tận tụy, nhưng càng đánh càng thua.
Song, ông ta biết những điều này tâu lên, tất nhiên là có thể chuốc lấy họa chết. Thế là liền đổi lại: Thần cúc cung tận tụy nhưng càng thua càng đánh - "càng đánh càng thua" và "càng thua càng đánh", số chữ giống nhau, chỉ là đảo lộn lại một chút vị trí, thì ý tứ đã hoàn toàn khác. Điều này vừa thuyết minh rõ tình hình chiến đấu ở tiền tuyến, không nói dối Hoàng đế, lại bày tỏ được quyết tâm của Tăng Quốc Phan.
Sự thực quả nhiên cũng như thế, dưới sự đánh dẹp không ngừng của Tăng Quốc Phan và Tương quân, phong trào Thái Bình Thiên quốc rầm rầm rộ rộ, cuối cùng đã bị trấn áp.
Đối nhân xử thế "ra tay trước là mạnh", cố nhiên có mặt tốt, nhưng đồng thời cũng có mặt bất lợi.
Cần phải nhớ: Bọ ngựa bắt ve, không dè chim sử đứng sau. (ý nói: Vì hám lợi trước mắt mà quên họa sau lưng). Bạn cho rằng bạn là người tài giỏi, nhưng rừng trong thiên hạ bao lam chim gì đều có thể có. Những người tài năng lớn hơn bạn vẫn nhiều, có người chỉ là cơ hội chưa đến mà thôi.
Cho nên, cuộc sống cũng vậy, sự nghiệp cũng vậy đều cần phải "nhìn trước một chút" là hay nhất. Khổng Tử nói: "Suy nghĩ thật kỹ rồi mới làm", không nên cho rằng khắp nơi đều là vàng bạc châu báu, thò tay ra muộn, sẽ có thể bị người khác nhặt hết, sẽ có thể không có phần của mình.
Người khác xử sự là những người trước nhường cho người khác phát tài, sau đó đem những người phát tài và toàn bộ của cải quy về của mình. Cơ hội luôn luôn có, chỉ là cơ hội của một số người ở trước, cơ hội của một số người ở sau. Còn người muốn thành công thì nên thà để cho cơ hội của mình ở sau, mà không nên đi tranh giành cái gì với người khác.
"Tôn Tử binh phháp" có nói: "người không đánh mà làm khuất phục quân của nó là thượng sách". Ai có thể trong cuộc sống, trong sự nghiệp không đánh mà thắng, người đó chính là anh hùng đời nay.
Trung Quốc có câu cổ ngữ nói là "Ra khỏi nước mới nhìn thấy hai cổ chân"; phương Tây cũng có câu tục ngữ có ý tương tự, nói là: "Ai cười sau cùng thì người đó cười hay nhất".
Chúng ta nên lĩnh hội sâu sắc hàm ý của những câu nói đầy trí tuệ này, dùng nó để chỉ đạo lời nói và việc làm của chúng ta, nhất thiết không nên cười trước lúc không đáng cười, ra tay ra trước lúc không đáng ra tay. Hai việc này của bạn một khi bị người khác nhìn ra, thì sẽ không thể có được trò gì nữa, việc còn lại chính là mình phải đứng ở dưới sàn diễn, nhìn người khác biểu diễn các trò trên vũ đài thời đại.
Người xưa nói: "Chỉ có đức mới động được đến trời, chỉ có khoan dung mới dung nạp được mọi người". Khi chung sống với mọi người đương nhiên nên có độ lượng nhất định, quan tâm đại cục, nhìn xa, giá như một việc nhỏ cỏn con đều phải tính toán so đo, lòng dạ hẹp hòi, không khoan dung nổi người khác, ắt sẽ có thể gây nên sự ngờ vực của người khác, dẫn đến bị hãm hại mà không thể tự bảo toàn. Nếu muốn bảo toàn được mình, thực hiện hoài bão lớn của mình, thì phải biết không bị quấy rầy vì việc nhỏ, không động lòng vì lợi nhỏ, không làm tổn hại lâu dài vì cái trước mắt, khhông vì cái tạm thời mà hại từ nay về sau. Biết kết hợp tính kiên định của nguyên tắc với tính linh hoạt của sách lược, tính toán từ lâu dài, tính toán từ toàn cục, co duỗi vừa phải, tiến thoái như thường.
Như vậy, sẽ có thể tránh được rất nhiều phiền phức không cần thiết, cũng có thể giảm bớt tai nạn của mình, tự bảo toàn trong điều kiện môi trường phức tạp, phát triển trong hoạt động chính trị xã hội không ngừng biến chuyển.
Thời Tam Quốc, Tào Phi ngụy trang mình, từ bỏ bảo đảm chắc chắn được ngôi Thái tử của mình.
Trong lịch sử gọi là Tào Tháo dự định "phế Phi lập Thực". Tào Phi được biết ngôi Thái tử của mình khó giữ được liền cầu kế của môn khách Giả Hủ. Môn Khách liền nói với Tào Phi: "Mong tướng quân hãy tôn trọng đức độ đúng mức, tăng cường tu dưỡng của bậc đại trượng phu, không từ khó nhọc, không ngại oán hờn, siêng năng chịu khó, làm tốt đạo làm con, chỉ như thế mà thôi".
Tào Phi nghe theo lời chỉ giáo, liền ngấm ngầm hạ quyết tâm rèn luyện ý chí của mình. Một hôm, Tào Tháo hỏi Giả Hủ những việc có liên quan đến việc phế, lập, Môn Khách không nói không rằng, Tào Tháo cảm thấy chẳng hiểu già cả, bèn lại hỏi: "Ta và ông nói chuyện, vì sao ông không trả lời?" môn Khách nói: "Thần đang nghĩ về cha con của Viên Bản Sơ và Lưu Cảnh Thăng". Tào Tháo cười to. Viên Bản Sơ và Lưu Cảnh Thăng đều bỏ con trưởng lập con thứ, cho nên anh em hai nhà Viên và Lưu tàn sát lẫn nhau, bị người khác tiêu diệt.
Không lâu, Tào Tháo đưa quân đi đánh trận, Tào Phi và Tào Thực đều đứng ở bên đường tiễn đưa. Tào Thực ca ngợi công lao của Tào Tháo, xuất khẩu thành chương, mọi người đứng hai bên nhìn chăm chú, Tào Tháo cũng rất vui sướng. Tào Phi đứng một bên lại tỏ ra kém cỏi, buồn bã như mất đi cái gì, Ngô Chất ghé vào tai nói thầm: "Vương nên làm cái gì, chảy nước mắt cũng được". Khi chia tay, Tào Phi chảy nước mắt mãi không thôi, quỳ xuống đất vái, quyến luyến không rời. Tào Tháo cũng vì thế cảm động. Từ đó các đại thần cho rằng, Tào Thực tuy có tài hoa, nhưng lòng thành không bằng Tào Phi. Tào Thực đã thích sao làm vậy, không trau chuốt cho mình, còn Tào Phi dùng cách chống đỡ, cố ý làm khác người để che đậy mình, cung nữ hai bên đầu khen ngợi ông ta, cho nên cuối cùng Tào Tháo đã thay đổi ý nghĩ "phss Phi lập Thực", tiếp tục xác định Tào Phi là Thái từ.
Tào Phi đã được lập, các quan hai bên đều chúc mừng Biện phu nhân, đòi Biện phu nhân phải mang bạc nén của nhà ra để thưởng cho mọi người. Nhưng Biện phu nhân lại nói: "Đại vương cho rằng Tào Phi lớn tuổi nên lập nó làm Thái tử. Đối với ta, chỉ cần không quở trách ta không giáo dục tốt Tào Phi thì là việc vui rồi, đâu có lý do gì để thưởng cho mọi người?" Sau khi Tào Tháo biết, rất phấn khởi. Ông tỏ vẻ khoe khoang Biện phu nhân nói: "Giận không đổi sắc mặt, vui không mất lề tiết, là việc khó làm nhất. Nhưng, Biện phu nhân lại làm được, thật là không giản đơn". Tào Phi lấy việc cố ý làm khác người để che đậy mình, được Tào Tháo và mọi người khen ngợi, từ đó giữ vững được địa vị Thái tử của mình, có thể nói là một kế sách tự bảo toàn thành công.
Đôi khi, vì mục tiêu cao hơn, hoặc để giành được lợi ích lớn hơn, chịu ép dạ cầu toàn thật ra không phải là để mất nhân cách, mà là tỏ ra sức mạnh nhân cách của con người ở tầng thứ cao hơn.


7- Khi nào co lại, khi nào thò ra

Một đời của con người giống như dòng sông Hoàng Hà, không thể chảy thẳng về phía trước, thông thẳng ra biển cả, tất nhiên phải dựa theo địa thế, địa mạo, cong queo ngoặt đi ngoặt lại. Khi bạn ngồi lên máy bay nhìn xuống, sẽ có thể phát hiện, sông Hoàng Hà vốn giống như một đoạn ruột của con người. Tự nhiên sẽ có thể làm cho người ta lĩnh hội được tính quanh co và phức tạp của cuộc sống.
Nói chung, khi người ta rơi vào trong nghịch cảnh, hoặc nói khi đen đủi thì nên ép dạ cầu toàn, cất đi sự sắc sảo. Đây chính là công năng của sự co lại. Từ đó lấy sự co lại để tìm cách duỗi ra, chờ đợi thời cơ sáng tạo lại vẻ huy hoàng của sinh mệnh.
Thời Cách mạng tháng Mười Nga, Xô viết vừa mới giành được chính quyền, nước Đức đã có khuynh hướng xâm lược sang phía Đông. Rất nhiều người chủ trương tổ chức quân đội tuyên chiến với nước Đức, còn Lênin lại không đồng ý làm như thế, đặc biệt phái người sang Đức tiến hành hòa giải, ký kết điều ước bất lợi đối với Xô viết.
Đây là một việc thỏa hiệp, hành động này thật ra không tỏ rõ lập trường cách mạng của Lênin và Bônsơvich không kiên định, mà là trước kẻ thù lớn mạnh, buộc phải làm như vậy. Bằng không thì chính quyền cách mạng vừa sinh ra sẽ bị đánh đổ nhanh chóng.
Một quốc gia là như thế, một cá nhân cũng là như thế. Khi tình thế phát triển bất lợi cho mình, cần phải chọn sách lược ép dạ cầu toàn, bền bỉ chờ đợi thời cơ, nhất thiết không nên nóng vội.
Người xưa nói: "Việc nhỏ trong lòng không chịu nổi, sẽ làm rối loạn mưu lớn". Mỗi người đều cần phải có mục tiêu và lý tưởng đời người của mình, để đạt được những mục tiêu và lý tưởng này, cam chịu vắng lặng, cam chịu bị khinh bỉ, thậm chí bằng lòng bị xã hội và người thân hiểu lầm, đều nên không hề luyến tiếc.
Van Gogh, một trong những nhà danh họa vĩ đại nhất trên thế giới, khi sống đã chịu hết mọi đau khổ, không có tiếng tăm gì, đến cuộc sống cũng đều không có cách gì bảo đảm. Ông dùng tinh lực suốt cả cuộc đời đã vẽ được hơn hai ngàn bức tranh, nhưng chỉ bán ra được vẻn vẹn một bức, cuối cùng dưới sức ép của cả cuộc sống và tinh thần, ông đã tự sát.
Nhưng, sau mấy chục năm trôi qua, nghệ thuật của ông lại được nhân dân các nước trên thế giới xem là tác phẩm nghệ thuật quý giá. Trong cửa hàng bán đấu giá nghệ thuật những năm 80 ở London, tác phẩm "Hoa hướng dương" của ông, bán được giá cao nhất trong tác phẩm nghệ thuật thế giới.
Thời đại chúng ta đang sống, do sự phát triển nhanh chóng của sự nghiệp khoa học kỹ thuật và thông tin, khiến cho nhịp sống không ngừng tăng nhanh, rất nhiều người đã sinh ra tâm tình xốc nổi bộp chộp, chỉ biết lăn lộn, tiến thủ, phát triển mà bỏ qua tác dụng của việc "co lại". Đây là một nguy hiểm lớn của việc đối nhân xử thế và theo đuổi mọi sự nghiệp.
Trước tác kinh điển của văn hóa cổ đại Trung Quốc "Chu Dịch" nêu lên tư tưởng "tiềm long vật dụng" (Rồng ẩn không phát huy tác dụng). Tức dưới điều kiện nhất định, chờ đợi thời cơ, ngóc đầu trở lại.
Khổng Tử trong "hệ từ hạ", thì lấy loài "sâu đo" bò làm ví dụ so sánh với rồng rắn "ngủ đông, giải thích thêm" tiềm long vật dụng" là gì. Ông nói: "Việc co lại của con sâu đo cũng là để đi đến duỗi ra; giấc ngủ mùa đông của rồng rắn, cũng là để bảo tồn thân thể". Chu Hy đời nhà Tống thì phát huy tư tưởng này thêm một bước, cho rằng "co lại, duỗi ra, tăng lên và giảm xuống" là "cái lý muôn thuở không đổi". Ông chỉ rõ, khi thời cơ chưa đến, phải "rút lui để tự thuần dưỡng, cùng trốn với thời gian", phải học được "tuân dưỡng thời hối" tức là ẩn cư chờ đợi.
Phùng Mộng Long thời Minh trong tác phẩm "Trí nang" của ông, cho rằng con người giống như động vật, khi tình thế của nó bất lợi,, nên tạm thời rút lui, "lấy co lại làm duỗi ra", bằng không thì sẽ đổ ngã, thậm chí diệt vong. Ông nói: Trí là nguồn gốc của thuật, thuật là sự chuyển hóa của trí. Nếu như một người không có trí mà nói thuật, thì anh ta sẽ có thể giống như bù nhìn, trước biến đổi thất thường chỉ biết cười khì, lại chẳng có ích gì với công việc, xét đến cùng không thể thành công sự nghiệp. Ngược lại, nếu như một người không có thuật mà nói trí, thế thì anh ta sẽ giống như người lái thuyền tự khoe khoang mái chèo bơi như gió, bất kể bến cảng đường đi hiểm trở thế nào anh ta đều có thể đi qua. Nhưng trên thực tế, thật sự gặp phải ghềnh hiểm sóng dữ, anh ta liền bó tay vô kế, kêu trời la đất, chạy thuyền như thế không lật thuyền mất mạng thì đó mới là điều lạ! Con sâu đo biết co cuộn thân mình, loài chim dữ biết ẩn náu trong đất, con rắn có thể tự mình cắn vào rốn và hành vi chỉ ra vết thương cho người ta xem của con trăn, đều là sự biểu hiện của thuật. Động vật đều có trí tuệ như thế, lấy đó để bảo toàn thân thể của mình, chẳng lẽ loài người chúng ta lại không bằng động vật?
Đương nhiên không phải như thế.
Con người cần biết bảo vệ mình để đợi thời gian phát triển mình.
Thuở xưa, Lý Nhĩ (Lão Tử) hóa thành người Hồ, người Vũ đánh trần cả nước nên cởi áo, Khổng Ni đọ tài săn bắn, Tản Nghi Sinh (thời Chu) đưa hối lộ, Trọng Ung cắt tóc xăm mình, cởi trần coi là trang điểm, những người không hiểu đạo lý ở trong đó nói: "Trí tuệ của bậc Thánh hiền cũng có lúc dùng cạn". Những người hiểu biết nguyên do của nó lại nói: "Thuật của Thánh hiền xưa nay cũng chưa có lúc nào nghèo nàn".
Hiền hòa nhưng không thuận theo gọi là giả vờ lấy lệ; ẩn náu mà không hiện rõ gọi là kế mưu. Trong lòng có quỷ kế nhưng không liều lĩnh sỗ sàng gọi là quyền mưu hiếm thấy. Không biết ôn hòa, làm việc luôn có thể gặp trở ngại, không thể thuận lợi trôi chảy. Không biết ẩn giấu, liền có thể làm lộ mình ra hết, bốn phía bị thù ghét, việc gì làm cũng không thành. Không biết dùng quỷ kế, thì khó tránh gặp phải vận đen. Cho nên nói, thuật làm cho con người trở nên thần thánh, trí thì làm cho lý trí của con người được kiềm chế.
Thuật co duỗi của Phùng Mộng Long nói, thông tục dễ hiểu, kết hợp cổ kim, kết hợp lý và việc, có sức thuyết phục nhất định. Quan sát theo suốt lịch sử, rất nhiều nhân vật lịch sử, nếu muốn hoàn thành sự nghiệp của mình, thực hiện lý tưởng của mình, khi cần thiết phần nhiều đều sử dụng thuật co duỗi, để bảo tồn mình, chờ đợi thời cơ, để mong thời cơ trở lại hoặc làm lại cái khác. Đồng thời lịch sử cũng chỉ rõ, biết sử dụng khéo thuật co duỗi, cần co thì co, cần duỗi thì duỗi, nắm chắc và vận dụng tương đối tốt phép biện chứng co duỗi là con đường quan trọng của nhiều nhân vật lịch sử thành công.
Không nên tranh hơn kém của một ngày với người khác cũng là kỹ xảo "co lại".
Cơ quan thực hành chế độ viên chức, anh A về lực học là đại học chính quy, về tài hoa cũng vào hàng nhất nhì ở cơ quan; về tuổi tác đang ở độ sung sức, nhưng mỗi lần đề bạt đều không có phần của anh ta, mà những người năng lực so với anh ta kém, trình độ thấp hơn anh ta, vào cơ quan cũng muộn hơn anh ta, lại từng người từng người đã trở thành cấp trên và lãnh đạo của anh ta.
Nguyên nhân tại đâu?
Nguyên nhân của nó chính là ở chỗ: Anh A chỉ biết để lộ tài hoa, cho rằng mình cái này cũng mạnh hơn người khác, cái kia cũng có khả năng hơn người khác, mọi chỗ mọi nơi biểu hiện ra một tình thế tiến thủ, từ đó khiến cho một số người sinh ra ác cảm, cho rằng anh ta mặc dù có năng lực, cũng có tài cán, nhưng không khiêm tốn, quá kiêu căng, không xem ai ra gì. Mỗi lần khảo sát cán bộ, người ta đều có ý kiến này.
Còn những người khéo che giấu sự sắc xảo, khéo xử lý quan hệ nhân tế, lại được đông đảo mọi người đánh giá tốt.
Ông B đã từng cho anh A làm trợ lý, sau khi được đề bạt lên cương vị lãnh đạo, khi lần đầu tiên lên báo cáo đã mỉm cười khiêm tốn nói với các đồng chí của cơ quan: "Tôi, con người này năng lực công tác có hạn, sức học cũng không cao, chỉ là sự bồi dưỡng của tổ chức và tín nhiệm của các đồng chí đã cho tôi đứng ở vị trí này...", vừa khéo léo lại dễ nghe, khiến cho mọi người bất kể là phục ông ta hay không phục ông ta đều đành phải thừa nhận sự thật trước mắt.
Cho nên, năng lực của con người cần phải nhiều mặt. Đối xử với mọi người, cũng là một loại năng lực, hơn nữa thậm chí so với năng lực nghiệp vụ của bạn còn quan trọng hơn.
Khi một người đang ở thời kỳ đang lên cần phải che giấu sự sắc xảo của mình, còn khi anh ta ở vào lúc tình huống bất lợi, càng nên biết nhẫn nại.
Tục ngữ nói: Trên đầu chữ "tâm" có một con dao, muôn việc "nhẫn" là thượng sách.
Người không biết nhẫn, trong cuộc sống không thể sinh tồn. Khi sinh tồn khó khăn cần phải nhẫn nại, khi gặp trắc trở cần phải nhẫn nại, khi tình yêu thất bại vẫn cần phải nhẫn nại.
"Nhẫn" là một loại trí tuệ, "nhẫn" cũng là một biểu hiện của "co lại".
Trong lịch sử có không ít nhân vật khi đấu tranh của họ thất lợi, để bảo toàn mình, luôn giả vờ chết nằm xuống, chịu đau hy sinh, kiềm chế mình không lộ thanh sắc, lấy đó làm cho đối thủ mất cảnh giác, thừa thời cơ chuồn khỏi.
Như Lưu Tú đối với Lưu Huyền là một điểnn hình của kiểu co duỗi này.
Năm cuối tân triều Vương Mãng, đã nổ ra một cuộc khởi nghĩa nông dân quy mô lớn, hai anh em Lưu Diễn và Lưu Tú người Thái Dương, Nam Dương (nay là miền Tây Nam Tảo Dương tỉnh Hồ Bắc) thừa cơ khởi binh, lấy việc xây dựng lại triều Hán làm khẩu hiệu, "chiêu binh mãi mã". Về sau gia nhập Lục Lâm quân. Lưu Huyền là người cùng họ, mới đầu vào Bình Lâm binh, được tôn là Cánh Thủy tướng quân, về sau cũng nhập vào Lục Lâm quân. Năm 23 sau công nguyên xưng Đế, niên hiệu là Cánh Thủy. Sau khi tân triều Vương mãng bị diệt vong, ông dời đô đến Trường An, rất nhanh liền phản bội khởi nghĩa. Quay giáo lại giết hại tướng lĩnh quân Nông dân. Anh trai của Lưu Tú là Lưu Diễn liền bị Lưu Huyền giết.
Theo lẽ thường tình, Lưu Tú khẳng định không thể tha thứ Lưu Huyền, nhất định phải tìm ông ta để tính nợ, để báo thù giết anh. Nhưng, Lưu Tú lại có cách suy nghĩ của mình. Ông ta không những không tìm Lưu Huyền tính nợ, trái lại bề ngoài lại ung dung thản nhiên như không có việc đó. Khi lên chầu Lưu Huyền, vẫn là vẻ mặt vui vẻ, ăn nói nhũn nhặn, căn bản đã không chủ động nhắc đến việc anh bị giết. Ông ta không mặc đồ tang, không cử hành tang lễ, nói năng ăn uống vẫn như bình thường. Chẳng lẽ ông ta không chút buồn rầu đối với sự thật Lưu Huyền giết hại anh trai của mình? Thực ra không phải là việc như thế.
Anh trai vốn là bậc công thần, vì tranh quyền bị giết, trong lòng ông ta đương nhiên là căm giận bất bình, ông buồn rầu vì anh mình, mặc dù ban ngày bề ngoài ra vẻ lạnh nhạt như thường, nhưng ban đêm lại thường nước mắt chảy đầm đìa trên gối. Ông nhất định phải hoàn thành sự nghiệp anh ông chưa hoàn thành. Nhưng trước mắt xét cho cùng ông là bề dưới của Lưu Huyền. Nếu như ông ta không thể kiềm chế, chất vấn Lưu Huyền, rất có khả năng sẽ bị giết hại, kết cục sẽ giống như anh ông. Như thế thì còn có ý đồ to lớn gì đáng nói nữa? Mục đích báo thù cho anh lại làm thế nào có thể thực hiện? Huống hồ mình cũng là bậc công thần.
Trong trận đánh lớn ở Côn Dương, ông dẫn 13 kỵ đột phá vòng vây cứu viện đã lập được kỳ công. Lưu Huyền biết rất rõ điều đó. Lúc này, nếu như trình bày một chút lịch sử vẻ vang, hoặc có thể nịnh Lưu Huyền, tăng cường mức độ tin tưởng của ông ta đối với mình. Nhưng Lưu Tú lại không nhắc đến một lời tự có mưu cao của ông ta.
Lưu Huyền thấy Lưu Tú khoan hồng đại lượng như thế, lương tri phát hiện cảm thấy hết sức xấu hổ, liền lệnh cho Lưu Tú làm Phá lỗ đại tướng quân, phong Vũ Tín hầu. Năm 23 sau công Nguyên, Lưu Tú đến vùng Hà Bắc hoạt động, đã phế bỏ sự thống trị khắc nghiệt của Vương Mãng, thả tù nhân, giành được lòng dân. Ông lấy việc khôi phục chế độ nhà Hán làm khẩu hiệu đã giành được sự ủng hộ của quan lại và địa chủ ở nơi đó, thế lực ngày càng lớn mạnh. Lưu Tú cảm thấy thời cơ thực hiện ý đồ to lớn của mình đã đến, liền cắt đứt quan hệ với Lưu Huyền. Trấn áp và thu nạp biên chế quân khởi nghĩa nông dân Đồng Mã, lực lượng không ngừng lớn mạnh, trải qua đấu tranh lâu dài, cuối cùng đánh bại Lưu Huyền giành được thiên hạ.
Năm 25 sau công nguyên, Lưu Tú xứng Đế định đô tại Lạc Dương, xây dựng nên chính quyền Đông Hán. Đến năm 37 công nguyên thống nhất toàn Trung Quốc. Trong thời gian 32 năm tại ngôi, ông trước sau đã 9 lần ban bố mệnh lệnh giải phóng nô tỳ và cấm sát hại nô tỳ. Đồng thời nhiều lần xuống chiếu thư miễn tù nhân, cho làm thứ dân, giảm nhẹ tô thuế lao dịch, phát chẩn cứu tế, khởi công xây dựng thủy lợi. Tinh giản hơn 400 huyện, tinh giản quan lại, tiết kiệm chi tiêu, kiềm chế cường hào, củng cố tập quyền trung ương, có tác dụng tích cực đối với việc ổn định và phồn vinh kinh tế xã hội.





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-02 09:07:21tieuboingoan>
8- Lòng thương xót dùng cho ta

Nietzsche cho rằng: Con người là động vật thương xót.
Lòng thương xót mọi người đều có. Khi mình rơi vào nghịch cảnh, vận dụng một cách đầy đủ lòng thương xót của đối phương, khiến cho đối phương không đến nỗi làm hại mình, cũng là sách lược nhân sinh cực kỳ quan trọng.
Đây đương nhiên là một cảnh tượng giả tạm chịu đựng để giữ toàn cục, mục đích của nó chính là ở chỗ, nắm chặt lấy tâm lý "nhân từ" của đối phương, làm ra bộ dạng đáng thương, ăn nói khép nép, lấy đó để giành được sự tín nhiệm của đối phương, bảo toàn mình, từ đó từ nay về sau phát triển mình.
Thời Xuân Thu, Việt vương Câu Tiễn sau khi lên ngôi không lâu (năm 496 trước CN - 465 trước CN, ở ngôi), trong một trận đánh tại Phù Tiêu (nay là phía Tây Nam Ngô Truyện, Giang tô) bị quân Ngô phản kích, toán quân tiên phong bị đại bại, lui về núi Cối Kê (nay là Thiệu Hưng, Triết Giang) để bảo toàn, nhưng cuối cùng bị đánh bại. Từ đó, nước Việt là nước phụ thuộc của nước Ngô.
Việt vương Câu Tiễn thua trận bị bắt làm tù binh và làm con tin tại nước Ngô. Con người ở nước Ngô dấn sâu vào chốn nguy, đương nhiên là lành ít dữ nhiều, làm không khéo sẽ có họa bị giết, bị nỗi đau mất nước. Nhưng suy nghĩ đến lợi ích của cả nước Việt, để báo thù rửa nhục, ông cam tâm làm nô lệ ở nước Ngô, chịu nhẫn nhục để cầu sống để chờ ngày trở về nước Việt sớm, làm phấn chấn lại lòng dân, làm nước giàu dân mạnh để tiêu diệt nước Ngô. ở nước Ngô, ông chẳng còn một chút uy phong của quốc vương nữa, mà là "mình cầm binh khí lại đi tắm ngựa cho vua Ngô". Ông không phàn nàn, mà ban đêm đem ngựa đi tắm sạch sẽ, để nịnh Ngô vương Phù Sai.
Ông vốn là vua của một nước lại đi tắm ngựa cho người khác, sao có thể bằng lòng được? Nhưng nghĩ đến nỗi nhục của đất nước, vẻ tôn nghiêm của nhân cách thì không suy nghĩ nữa. Khi Ngô vương mắc bệnh nặng, ông hầu hạ thuốc thang bên cạnh và còn tự mình nếm phân. Câu Tiễn sở dĩ phải làm như thế, chẳng qua là muốn lợi dụng lòng thiện vờ của Ngô vương Phù Sai, giành được lòng đồng tình của ông ta. Mẹo này của Câu Tiễn rất có hiệu quả đặc biệt.
Thời gian về sau, Ngô vương Phù Sai còn thật sự đồng tình với Câu Tiễn, không để cho ông ta làm con tin ở nước Ngô nữa, mà quyết định thả Câu Tiễn về nước. Để lừa Ngô vương Phù Sai thêm bước nữa, trước lúc chia tay ông ta đã tỏ ra khôngn nỡ xa rời với Ngô vương Phù Sai, nước mắt chảy đầy mặt, cảm tạ lòng nhân đức của Ngô vương.
Nhưng, ông ta vừa đạp chân lên đất nước, liền phục hồi lại bộ mặt ban đầu, như thả hổ về rừng, ông ta thề phải báo thù rửa nhục, khôi phục địa vị độc lập của nước Việt.
Thế là ông nằm gai nếm mật, rèn luyện ý thức của mình, mười năm sinh sôi nhân khẩu, tích tụ vật chất, làm cho nước giàu dân mạnh, luyện binh diễn tập, tăng cường quốc phòng.
Về sau, Ngô vương đưa quân lên phía Bắc, đại hội chư hầu tại Hoàng Trì (nay là Tây nam Phong Khưu, Hà Nam) giành liên minh với nước Tấn. Việt vương Câu Tiễn cho rằng thời cơ đã đến, liền lúc trống vắng tập kích vào nước Ngô, Ngô vương Phù Sai bị buộc phải điều quân trở về, xin giảng hòa với nước Việt. Nhưng Việt vương Câu Tiễn quyết chí diệt Ngô, đã từ chối giảng hòa.
Năm 473 trước công nguyên, quân Việt tấn công vây thành Cô Tô (nay là Tô Châu, Giang Tô), Ngô vương Phù Sai tự vẫn chết, nước Ngô lớn mạnh một thời đã diệt vong, Việt vương Câu Tiễn đã thực hiện được nguyện vọng báo thù rửa nhục cho đất nước. Thuật co duỗi của Việt vương được Hàn Phi đánh giá rất tốt, Hàn Phi nói: "Câu Tiễn vào làm "hoạn" (quan) ở Ngô, mình cầm binh khí mà đi tắm ngựa cho Ngô vương, cho nên có thể giết Phù Sai ở Cô Tô".
Đương nhiên, trong cuộc sống hiện thực, quan hệ giữa người này với người khác thật ra chẳng phải đều là quan hệ một mất một còn như Ngô vương Phù Sai và Câu Tiễn, mà là nằm trong quan hệ phức tạp và tế nhị. Cũng chính là đều nằm trong "mâu thuẫn thuộc nội bộ nhân dân" như Mao Trạch Đông từng nói.
Nhưng làm thế nào để xử lý tốt những mâu thuẫn này là cần có học vấn lớn.
Tập đoàn "Kiện Lực Bảo" và tập đoàn "Hoa Hưng" đều là những công ty chế đồ uống sớm nhất của Trung Quốc. Mới đầu, quy mô sản xuất và mức chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm của hai công ty cơ bản ngang nhau, đôi lúc Thiệu Hưng còn cao hơn Kiện Lực Bảo.
Công ty Kiện Lực Bảo đã tổng kết đến nơi đến chốn những kinh nghiệm thành công của Coca - Cola Mỹ, khẩu hiệu đề ra là "nằm gai nếm mật", "thầm lặng đi lên phía trước". Khi công ty Hoa Hưng chúc mừng rộng rãi mình chiếm được khoảng 70% thị trường Quảng Đông và rùm beng đưa tin, thì Kiện Lực Bảo đã chọn phương châm "co lại", im hơi lặng tiếng, tiến quân vào các vùng rộng lớn như Thượng Hải, Thiên Tân, Bắc Kinh và 11 tỉnh ở Giang Nam, dùng biện pháp vu hồi mạnh mẽ, bao vây mạnh mẽ, và chiếm lĩnh mạnh mẽ. Trong vòng hai năm đã đánh một trận "vươn mình", từ đó bỏ xa công ty Hoa Hưng lại phía nam.
Hơn mười năm trôi qua, những người tiêu dùng Trung Quốc hiện nay nhắc đến Kiện Lực Bảo, hầu như có rất ít người không biết. Hơn nữa, trong các ngành thể thao, văn nghệ và giáo dục, hhọ tiến hành đầu tư rộng rãi, đã thu được hiệu ích xã hội và hiệu ích kinh tế to lớn, đã biến một xưởng nhỏ giá trị sản lượng năm chỉ có vài vạn nhân dân tệ trở thành công ty tập đoàn có giá trị sản lượng năm hàng tỷ nhân dân tệ.
Còn công ty Hoa Hưng năm đó lại không còn cách nào hơn đành đóng cửa. Những thanh niên hiện nay, nhắc đến Hoa Hưng hầu như không có ai biết đây làm cái gì, cũng không thể có người nào quan tâm đến việc này nữa.
Nhật Bản có một nhà tâm lý học đã từng nói: "Chỉ cần là người có trách nhiệm, có lòng sự nghiệp, mức độ nhẫn nại của họ có bao nhiêu, thì thành tích của họ từ nay về sau sẽ có bấy nhiêu.
Cho nên, chúng tôi xin khuyên mọi người đang sống trong môi trường cạnh tranh thị trường ngày càng quyết liệt, nhất thiết chớ nên quên "co lại" là đạo lý để "duỗi ra". Những người chỉ nghĩ đến "ruỗi ra", cuối cùng ruỗi ra cũng chẳng dài.

9- Có chỗ không có khả năng, mới có thể có chỗ có khả năng
Một quan điểm quan trọng của triết học Lão Trang ở Trung Quốc là: Có chỗ không có khả năng, mới có thể có chỗ có khả năng.
Con người không phải là thần thánh.
Con người không có thể là vô địch toàn năng hết thảy mọi việc đều làm được. Hoặc là bạn có chỗ mạnh ở phương diện này, tất nhiên sẽ có thể có chỗ yếu ở phương diện kia. Bạn chỗ này cũng muốn nắm, chỗ kia cũng muốn cần, đến cùng khẳng định không được một cái gì.
Gia Cát Lượng là một nhà quân sự kiệt xuất trong lịch sử Trung Quốc, nhưng ông trước nay lại không thể làm cho ngọn thương thành chiếc gậy, trước mặt Quan Công và Trương Phi võ nghệ cao cường, bất kể ông khổ luyện ra sao, cũng không thể sử dụng đại đao tự nhiên như là Quan Công.
Nhưng, ông lại có thể chỉ huy được "thiên quan vạn mã" vật lộn với kẻ địch, từ đó giành được thắng lợi. Còn Trơng Phi mặc dù có tài năng rất lớn, cũng không thể tay cầm quạt lông ngỗng phe phẩy đạo diễn được trò diễn của "kế thành trống".
Người ta cần phải phát huy chỗ mạnh tránh chỗ yếu, nhưng trước tiên cần phải biết đâu là chỗ yếu của mình, đâu là chỗ mạnh của mình, tuyệt đối không thể dùng chỗ yếu của mình đi so đọ với chỗ mạnh của người khác, mà cần phải tìm hiểu đầy đủ mình, trên đại bộ phận vấn đề không có triển vọng để đạt được mục đích có triển vọng trên hạng mục đã chọn.
Năm 1901, thủ lĩnh phái Dương vụ Lý Hồng Chương bị bệnh nặng, khi lâm chung, ông tiến cử Viên Thế Khải kế vị Tổng đốc trực lệ kiêm Bắc Dương đại thần của mình. Năm 1903, chính phủ Thanh thành lập Sở Luyện binh, bổ nhiệm Viên Thế Khải là Hội biện đại thần, chủ trì huấn luyện quân mới, mở rộng biên chế "Quân thường trực Bắc Dương" thành sáu Trấn, ông liền trở thành thủ lĩnh cao nhất của quân phiệt Bắc Dương. Năm 1907, ông lại được điều làm Quân cơ đại thần và Thượng thư bộ Ngoại vụ. Tất cả những việc này đã gây nên sự ghen tỵ của một số người trong nội bộ triều Thanh. Năm 1908, Nhiếp chính vương Đái Phong bái chức của Viên Thế Khải, bảo ông ta về nhà dưỡng bệnh, đồng thời sai Vũ Biền "đi bảo vệ bên mình" - Về chính trị, Viên Thế Khải ở vào thế yếu kém, nhưng ông ta không nản lòng, không cam chịu thụt lùi, mà là thừa cơ tích trữ lực lượng để mong có ngày trở lại.
Viên Thế Khải biết rất rõ, Vũ Biền theo mình về, trên thực tế là triều đình sai về giám thị ông ta, hoàn toàn không phải "đi bảo vệ bên mình" gì cả. Do đó, ông ta liền đặc biệt khoản đãi Vũ Biền, bình thường hàng ngày dùng cá lớn thịt ngon, gặp ngày lễ, ngày tết thì lại ban thưởng nhiều thêm, đã cho Vũ Biền nhiều cái lợi.
Tục ngữ nói: "Đã ăn các thứ của người thì dẻo mỏ, lấy các thứ của người rồi thì nhẹ tay". Vũ Biền khi báo cáo tung tích của Viên Thế Khải lên cấp trên, đã không thể nói thiếu vài lời hay, nói ông ta nào là an tâm với cuộc sống ẩn cư, nào là cảm kích "đại đức đại ân" của triều đình, để khiến triều đình lơ là cảnh giác đối với ông ta.
Nhưng Viên Thế khải cảm thấy như thế vẫn chưa đủ, để che đậy mình thêm một bước nữa, ông ta còn uống rượu làm thơ, cầm cần câu câu cá, không gò bó tự do thoải mái để tỏ ra giấu kín. Đồng thời còn in tập "Khuê đường xướng họa tập" lần lượt tặng cho các bạn thân ở Bắc Kinh, cố ý che giấu mình trong phạm vi lớn hơn, đánh lạc sự chú ý của triều đình.
Trên thực tế, ông ta lại một phút một giây cũng không xa dời chính trị.
Ông và Khánh thân vương Dịch Khuông, các tướng lĩnh của quân Bắc Dương và Công sứ Anh Jordan, trước sau giữ liên lạc liên tục không ngừng. Từ Thế Xương và Dương Độ thì thường xuyên thông báo tin tức cho ông ta.
Con trai lớn của ông Viên Khắc Định là Tham nghị viện của Bộ Nông Công Thương, đã tìm hiểu kịp thời tình hình Bắc Kinh và bẩm báo về cho cha. Nhà ông có phòng điện báo, ông đã lợi dụng phòng điện báo để thông điện qua lại với Đốc Phủ các tỉnh - Bên cạnh ông còn có hàng loạt người dưới quyền và khách của nhà Thanh.
Khi ấy, chính cục của triều đình không ổn định, thiên hạ cũng không thái bình, việc đó đã cung cấp thời cơ tốt nhất cho Viên Thế Khải quay trở lại lần nữa. Cho nên, Viên Thế Khải uống rượu làm thơ, ngồi thuyền câu cá, chỉ là đánh lừa kẻ đối địch về chính trị, dụng tâm chính trị của ông ta lại là lấy co lại để mong duỗi ra.
Năm 1911, Cách mạng Tân Hội do Tôn Trung Sơn lãnh đạo đã bùng nổ tại Vũ Xương, Viên Thế Khải cũng không im hơi lặng tiếng được nữa. Dưới sự thôi thúc điều khiển của công sứ Anh Mỹ, Chính phủ nhà Thanh lại bổ nhiệm lại Viên Thế Khải làm Nội các Đổng lý đại thần, kiêm Tổng đốc Hồ Quảng. Từ đó, ông ta thi thố thủ đoạn hai mặt phản cách mạng, vừa dụ phái cách mạng thỏa hiệp đàm phán hòa bình, vừa bắt bí vua Thanh thoái vị, liền chiếm lấy chức vị Đại tổng thống Trung Hoa dân quốc, xây dựng Chính phủ quân phiệt Bắc Dương đại biểu lợiích của giai cấp Đại địa chủ, Đại mại bản tại Bắc Kinh.
Tháng 12 năm 1915, chính thức tuyên bố khôi phục Đế chế, đổi niên hiệu Trung Hoa dân quốc năm thứ 5 thành "Hồng Hiến nguyên niên", nhưng vì các tỉnh tuyên bố độc lập, buộc phải tuyên bố thủ tiêu Đế chế vào ngày 22 tháng 3 năm 1916. Ngày 6 tháng 6 cùng năm đó, đã lo sợ và chết trong tiếng hô đánh dẹp của nhân dân toàn Trung Quốc.
Mặc dù ông ta dùng co lại để duỗi ra, đã giành được địa vị chính trị, nhưng vì ông ta đứng trên lập trường phản lịch sử phản nhân dân, nên cuối cùng bị lịch sử đào thải và bị nhân dân vứt bỏ.
Che giấu ý đồ chân thực của mình là mưu kế quen dùng của các nhà chính trị. Đối với dân chúng bình thường, xử sự với người khác không thể mang lòng ác ý, nhưng cũng cần phải có sự che giấu cần thiét.
Theo lý luận của Canh Jung: Mỗi người khi họ bước vào xã hội, chính là mang theo bộ mặt nhân cách. Ai nếu không đeo bộ mặt, thì người đó sẽ không có cách nào tồn tại được.
Thường thường những thanh niên từng trải cuộc đời chưa sâu, không hiểu rõ những đạo lý này, trong cuộc sống họ luôn mắc sai lầm trắc trở, luôn dễ sa vào cạm bẫy người khác bày đặt ra.
Một người ngay thẳng, không nên cũng không cần thiết đặt cạm bẫy cho người khác.
Nhưng, để mình có thể sống một cách tốt đẹp, cũng cần phải học vài chiêu để phòng mình rơi vào cạm bẫy của người khác đặt ra.
ở trong cơ quan, có một số người khéo lôi bè kéo cánh mà bạn là một người ngay thẳng, thì không nên tham gia vào trong các bè cánh.
Bạn thường thường có thể gặp những người quan tâm đến bạn, hỏi han bạn: "Ông bí thư X trong công tác như thế nào?", "Ông cục trưởng Y hầu như đối với ông M có cách nhìn...".
Đại loại các việc như thế, hầu như hàng ngày đều có thể gặp. Đối mặt với tất cả những việc này, bạn nhất thiết phải coi chừng. Sách lược dùng nên là: "Tôi thấy ông bí thư X năng ưực làm việc không tốt". Hoặc nói: "Tôi thực tế không biết ông cục trưởng Y đối với ông M có đánh giá gì không, nhưng tôi cảm thấy hai ông ấy phối hợp công tác rất tốt". Điều đó sẽ bảo toàn được mình, trong cuộc đấu tranh bè phái lại nằm vào vị trí trung lập có lợi.
Bất kể là rơi vào trong mâu thuẫn hay là trong tiêu điểm của đấu tranh, bạn nhất thiết phải giữ được đầu óc bình tĩnh. Thà hỏi gì đều không biết, thà giả vờ mơ hồ cũng còn hay hơn vốn đã mơ hồ lại vờ thông minh.
Nhà danh họa lớn của triều Thanh Trịnh Bản Kiều có một câu danh ngôn: "Mơ hồ hiếm có".
Đây chính là nói, kỳ thực con người là thông minh lanh lợi, nhưng đối mặt với mâu thuẫn của xã hội, nếu muốn bảo toàn mình không giả vờ mơ hồ không được.

10- Phải giỏi làm "tiêu tan nghi ngờ"

Việc tìm hiểu và hiểu nhau giữa người này với người khác là rất không dễ dàng, có lúc rõ ràng là không có thể.
Ví dụ giữa vua và bề tôi chính là như thế, Tục ngữ nói: "Làm bạn với vua như làm bạn với hổ", chính là cái ý này. Bị người khác hoài nghi, quan hệ sẽ khó xử, sự việc sẽ khó làm, bị Hoàng đế hoài nghi, nghi kỵ, việc đó sẽ có nguy hiểm đến tính mệnh, có họa "sát thân".
Cho nên, chỉ cần còn muốn đi lại chung sống với nhau, thì phải loại bỏ kịp thời và khéo léo hoài nghi của người khác. Nghĩa là dùng lời nói và hành động nào đó, biểu thị mình trong lòng không có chí lớn, không có triển vọng, để làm tiêu tan lòng nghi ngờ của người đang nghi kỵ, tránh bị sát hại.
Ví như Tiêu Hà đối với Hán Cao tổ chính là dùng cách làm "tiêu tan nghi ngờ" này, để mong được sự thông cảm của ông chủ, bảo toàn được mình.
Trong chiến tranh Hán Sở, Hán Cao tổ Lưu Bang tự mình dẫn quân đi đánh Hạng Vũ, còn Tiêu Hà lại với thân phận thừa tướng ở lại giữ Quan Trung để vận tải quân lính và lương thực cho tiền tuyến. Hán Cao tổ Lưu Bang thật ra không hoàn toàn tin đối với Tiêu Hà, mình đưa quân đi đánh nhau không khỏi lo sợ Tiêu Hà làm phản. Quan Trung một khi lung lay, thì thế lớn của thiên hạ cũng đã mất, rất là nguy hiểm, do đó Lưu Bang để nắm vững được Tiêu Hà đã mấy lần sai người đem tặng cho Tiêu Hà hàng loạt lớn bạc nén, hỏi thăm Tiêu hà, đồng thời cũng là ngấm ngầm tiến hành phòng ngừa.
Tiêu Hà biết được dụng ý của Hán Cao tổ Lưu Bang. Ông biết rất rõ mình, ông không thể làm phản. Nhưng, Lưu Bang đã có chút không tín nhiệm đối với mình, thì phải nghĩ cách xóa bỏ mối lo ngại của Hán Cao tổ Lưu Bang.
Bào Sinh hiến kế nói: "Vì việc suy xét dài lâu của ông, ông nên đem con em có thể làm lính đánh trận được của mình đưa đến cho Chúa công, để họ cùng đi đánh trận với Chúa công, như thế, Chúa công sẽ có thể yên tâm".
Trên thực tế đây là đem con em của mình giao cho Lưu Bang làm con tin, làm bảo đảm của danh dự và tín dụng, chỉ chẳng qua là hình thức biểu hiện của nó càng có đạo lý chính diện mà thôi. Tiêu Hà cảm thấy có lý liền đem con em của mình đưa ra tiền tuyến tham gia chiến đấu, Hán Cao tổ Lưu Bang như được uống một viên thuốc an thần, rất vui vẻ.
Do mọi người đồng tâm hiệp lực, cuối cùng Lưu Bang chung cuộc đã đánh bại Hạng Vũ, lập nên vương triều Tây Hán vào năm 202 trước công nguyên.
Tây Hán thành lập chưa lâu, thì Trần Hy phát động phản loạn. Hán Cao tổ Lưu Bang tự mình dẫn quân đến Hàm Đan để dẹp phản loạn. Đồng thời, Hàn Tín lại mưu phản ở Quan Trung. Lã hậu nghe thheo mưu kế của Tiêu Hà giết Hàn Tín. Sau khi Lưu Bang nghe được tin này, càng sợ Tiêu Hà khởi binh, liền lập tức mời Tiêu Hà làm Tướng quốc, phong thêm 5000 hộ, lệnh tốt 500 người đều là bảo vệ Tướng quốc. Nhiều người đến chúc mừng ông. Nhưng Trầnn Bình nói một cách độc đáo rằng: "Ngày nay Hoàng thượng đang chinh chiến ở bên ngoài, mà ông lại ngồi giữ trong cung, nắm quyền lớn. Hoàng thượng sở dĩ phongn thêm cho ông, trên thực tế là sợ ông có hai lòng, là hoài nghi ông; phái quân sĩ cho ôngn cũng không phải là sủng ái ông, mà là đề phòng ông. Theo ý kiến của tôi, ông không nên tiếp nhận phần phong thêm này, ngược lại, lại nên lấy của riêng của nhà mình ra để ủng hộ cho quân đội ở tiền tuyến".
Tiêu Hà nghe theo mưu kế của Trần Bình, cứ như thế mà làm, Hán Cao tổ Lưu Bang quả nhiên không có lòng nghi ngờ nữ, rất vui vẻ. Ông dẫn quân toànn lực xuất kích, cuối cùng đã dẹp yên lần phản loạn này.
Không bao lâu, Hoài Nam vương Anh Bố lại khởi binh phản loạn. Hán Cao tổ Lưu Bang dự định trước khi tự mình dẫn quân đi đánh dẹp, liền mấy lần sai người đến hỏi thăm Tiêu Hà xem đời sống và sức khỏe ra sao, Tiêu Hà trả lời rất dứt khoát: cũng giống như khi đánh dẹp Trần Hy phản loạn, không tiếc sức lực ủng hộ Hoàng thượng xuất quân.
Nhưng có người lại nói với Tiêu Hà: "Ông làm như thế, cách ngày "chu di tam tộc" không xa nữa. Bởi vì ông là Tướng quốc, công cao hàng đầu không thể tăng hơn. Ông ở Quan Trung mười mấy năm, rất được lòng dân, dân chúng đều muốn quy thuộc về ông. Hoàng thượng sở dĩ mấy lần sai người đến hỏi thăm ông, trên thực tế là sợ ông thừa cơ dáy binh ở Quang Trung. Theo tôi, ông nên chi ra một ít tiền của mua một số ruộng đất, biểu thị mình muốn yên ổn không mốn bấp bênh, như thế Hoàng thượng sẽ có thể yên tâm".
Tiêu Hà cảm thấy đây là một kế hay, liền thật sự bận rộn mua ruộng đất. Hoàng thượng cũng thật sự đã yên tâm.
Về sau, Tiêu Hà nói với Hoàng thượng: "Tâu bệ hạ, trong rừng thượng ở ngoại thành Tràng An có rất nhiều chỗ đất trống, chúng ta cần phải để cho dân chúng đến khai khẩn trồng cây, nếu không thì những chỗ này cũng chỉ là sào huyệt của chim muông!" Hoàng thượng nổi giận nói: "Tướng quốc đã thu nhiều tiền của của người buôn bán, nay lại muốn thu rừng ngự của ta, thật là vô lý!" Thế là bèn ra lệnh bắt Tiêu Hà giam vào ngục. Mấy ngày sau, Vươngn Vệ úy hầu hạ Hoàng thượng, liền lên hỏi: "Tướng quốc rút cuộc phạm phải tộilớn gì, mà bệ hạ bắt giam ông ta?". Hoàng thượng nói: "Thời xưa, Lý Tư khi làm Thừa tướng, có gì hay thì quy cho chủ, có gì xấu thì tự nhận. Nhưng ngày nay Tướng quốc lại vìi thu được nhiều tiền của người buôn bán lại đòi rừng ngự của ta, lấy đó để mua chuộc lòng dân, đương nhiên ta không thể chịu nổi, cho nên mới giam ông ta lại". Vương Vệ úy nói tiếp: "Thưa bệ hạ, Tướng quốc thật sự có thể vìi dân xin đất, là việc thuộc phận sự của ông ta. Vì sao bệ hạ hoài nghi ông ta là nhận tiền của của người buôn bán? Thử nghĩ lại xem, Bệ hạ ở Sở mấy năm, khi Trần Hy, Anh Bố mưu phản, Bệ hạ tự mình dẫn quân ra tiền tuyến, còn Tướng quốc ở lại giữ Quan Trung. Nếu như lúc đó Tướng quốc ở Quan Trung thật sự mưu phản, như thế thì Quan Tây cũng rất khó thu được. Nhưng Tướng quốc lại trước sau đều nhất trí với bệ hạ, đánh dẹp phản loạn đã lập được công lao lớn. Lúc đó thời có tốt như thế, ông ta không mưu phản chẳng lẽ hiện nay ông ta lại có thể mưu phản chăng? Bệ hạ có lý do gì hoài nghi Tướng quốc nữa?"
Lưu Bang đã nghe và hiểu những ý tứ trong đó, liền nhanh chóng miễn tội cho Tiêu Hà và thả ông ra.
Tiêu Hà tuổi cao, nhưng lại một mực kính cẩn, sau khi được thả ra liền đi chân trần cúi sát đầu xuống đất lạy tạ Lưu Bang. Lưu Bang nhìn thấy Tiêu Hà làm như vậy liền nói: "Tướng quốc, ta miễn lễ, Tướng quốc Vì dân xin đất, nhưng ta chưa cho phép, ta chẳng qua chỉ là người chủ thuộc loại Kiệt Trụ, mà Tướng quốc ông là hiền tướng chân chính, cho nên ta mới đem giam ông. Ta cần phải đem việc này công bố trước mọi người để dân chúng đều biết lỗi của ta!".
Lưu Bang nói những câu này nghe rất hay, ông ta muốn nói như thế nào thì nói như thế, thật ra không xác thực cũng không có khả năng thật sự nhận sai lầm với Tiêu Hà.
Mọi người đều có lòng nghi hoặc, chỉ là người làm vua, nếu như có lòng nghi hoặc đối với đại thần, như thế thì đại thần sẽ có khả năng chuốc lấy họa "sát thân". Người dân bình thường trong cuộc sống hàng ngày, việc qua lại giữa người này với người khác, cũng sẽ thường xuyên làm cho đối phương sinh ra lòng hoài nghi, nếu như không kịp thời loại bỏ nghi hoặc thì sẽ bị mất tình hữu nghị.
Sinh ra nghi hoặc là hiện tượng bình thường.
Ông Trình là giám đốc của nhà máy Chế tạo máy công cụ Đại Hoa Quảng Châu là người rất ngay thẳng, công tá rất cố gắng. Để tiếnn hành đổi mới kỹ thuật, ông không nề gian khổ, tự mình đến các nước như Mỹ, Canada, Italia, Pháp để khảo sát, cuối cùng đã nhập vào Trung Quốc dây chuyển sản xuất máy công cụ hiện đại hóa đầu tiên.
Ông đã liền hai năm không ăn tết âm lịch ở nhà. Thường và ngày lễ, ngày tết không nghỉ ngơi, ngày đêm bôn ba, làm việc quên mình.
Tinh thần "làm việc nhiệt tình" của giám đốc Trình được nhiều người ca ngợi, cũng làm cho một số ít người sinh ra hoài nghi, nghi ngờ mục đích đi ra nước ngoài của ông không trong sáng, hoài nghi ông ta dùng tiền của công, hoài nghi ông ta có tiền gửi ở Ngân hàng nước ngoài, hoài nghi ông ta lợi dụng cải tiến kỹ thuật để tham ô, để nhận hối lộ và ăn tiền hoa hồng.
Một thời gian trong nhà máy từ trên xuống dưới bàn tán xôn xao. Những lời bàn tán này sau khi đến tai giám đốc Trình, ông luôn phẩy tay nói: "Quá vô vị! Toàn là bịa đặt!" Những người tốt bụng khuyên ông nên giải thích, nhưng ông lại nói: "Không cần phải giải thích, vàng thật không sợ luyện trong lửa. "Bè lũ bốn tên" đã bỏ lỡ biết bao nhiêu thời gian của Trung Quốc, chúng ta nhất định phải cố gắng gấp bội, đoạt lại thời gian đã mất. Tôi là một người đứng đầu của một nhà máy, đâu có thời gian đi tranh cãi với những người đó?"
Giám đốc Trình không thèm để ý những lời đồn đại này, chỉ chú ý đến việc xung phong lên phía trước, nhưng sân sau của ông đã bị "cháy", "vấn đề" của ông càng truyền đi càng khó hiểu.
Bí thư đảng ủy tự mình lập tổ điều tra, điều tra sát thực tế "vấn đề" của ông ta. ủy ban kỷ luật của cấp trên cũng đưa người xuống điều tra những "vấn đề" của ông ta, đồng thời triệu ông ta từ nước ngoài về, cách ly để kiểm tra.
Cho mãi đến lúc này, ông ta mới nhận thức được: một lòng một dạ làm việc, mà không đi giải thích hoài nghi với mọi người, là sai lầm lớn nhất mình phạm phải.
Đương nhiên, trải qua tổ chức hơn một năm kiểm tra xác minh, giám đốc Trình đều không có vấn đề gì. Không những không có sai lầm, mà còn vì nhập dây chuyền tự động này đã tiết kiệm được một số lượng lớn ngoại tệ cho quốc gia.
Việc này cũng cho mọi người một gợi ý: bất kể bạn làm công tác gì, nhất thiết không nên quên rằng, thật ra bạn không phải là một người cô lập, mà là người nằm trong các loại mâu thuẫn của xã hội. Bạn không thể quá tự nhiên lịch sử, bạn cũng không thể chọn "chiến thuật con đà điểu", khi gặp người khác hoài nghi bạn, khi bị tổn hại và hiểu lầm, cần phải đầu óc tỉnh táo, cần giành một phần tinh lực để tiến hành giải thích và dẫn dắt. Bằng không thì, bạn sẽ bị làm cho tới mức hết sức lúng túng. Cũng có thể bị nỗi oan ức không sao bày tỏ được giống như giám đốc Trình, đã phải sống 427 ngày đêm trong nhà giam.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
11- Làm con cháu có gì không tốt

Tinh thần biết co biết duỗi, tinh thần bằng lòng làm con cháu lúc mới đầu sáng lập để phát triển xí nghiệp của tập đoàn Haile Thanh đảo, đối với một người muốn hoàn thành sự nghiệp lớn đều có thể noi theo.
Mỗi nười lúc nhỏ của họ đều từng trải qua làm con cháu.
Có người không bằng lòng làm con cháu, cho rằng làm con cháu không tốt. Còn chúng tôi cho rằng "đối nhân xử sự", ngẫu nhiên làm con cháu thì có gì không tốt?
Khi làm con cháu, mỗi khi đến ngày lễ ngày tế, gặp người lớn thì cúi đầu chào, lần lượt đi đến từng nhà để nói những lời tốt đẹp, chúc người lớn mạnh khỏe sống lâu, chúc mọi người tốt đẹp hạnh phúc, chúc mừng phát tài.
Mọi người lớn nghe xong những lời tốt đẹp này đều vui vẻ cười khà khà, thi nhau móc ví tiền cho con cháu. Con cháu thật ra không mất gì, nhưng lại được rất nhiều. Dùng tiền này để mua một số thứ ăn ngon, đồ chơi đẹp và dùng cho mình, vui thú biết bao nhiêu!
Nhưng, người ta một khi đã lớn lên, sẽ có một số đã mất gốc. Sự việc giản đơn như thế lại không muốn làm nữa. Đây có lẽ là "thể diện" của con người đang gây tác dụng.
Kỳ thực, thể diện lại có thể đáng bao nhiêu tiền?
Những người giỏi và khéo xử sự đều biết, khi cần làm con cháu thì cần phải làm con cháu, hơn nữa nhất định phải làm đến nơi đến chốn. Để làm cho "những người lớn" trước mắt thực lực hùng hậu hơn mình vui vẻ thoải mái mở rộng cửa thuận tiện cho con đường thành công của mình.
Mọi người đều muốn làm "ông lớn", nhưng "ông lớn" cũng không phải dễ làm như thế.
Bởi vì một khi làm "ông lớn" liền trở thành cái đích mọi người đều ngắm, cây to sẽ có thể dễ hứng gió, lợn béo sẽ có thể bị giết mổ.
Trong "Hồng Lâu Mộng" của Tào Tuyết Cần, Vương Hy Phượng có một câu nói rất sâu sắc: "Gia đỉnh nhỏ đều nói cái khó của mình, nhưng ai có thể biết gia đình lớn này của chúng tôi, lớn có chỗ khó của lớn chứ". ở đây, Vương Hy Phượng đã nói ra cái không dễ làm "ông lớn"
Kỳ thực, quả là như thế.
Một xí nghiệp lớn mạnh lên, sẽ có thể bị nhièu xí nghiệp cùng ngành coi là đối tượng đánh dẹp chung. Một người trở thành người nổi tiếng, mỗi một cử động của anh ta, bao gồm cả việc riêng tư cá nhân, đều có thể trở thành đề tài mọi người bàn tán.
Từ đó ta thấy, vẫn là làm con cháu tốt hơn, vừa có thể khoe tài khắp nơi, không có bất kỳ nguy hiểm nào, không tạo nên bất kể cảm giác uy hiếp nào cho "mọi người lớn", lại có thể rất nhẹ nhàng bảo toàn được mình, trong bât thình lình hoàn thành sứ mệnh quyết tâm sắt đá của mình.
Trong chuyện "Ngụ ngôn Aesopos" nổi tiếng của Hy Lạp có một câu chuyện như sau:
Sư tử là vua của bách thú hưởng thụ đặc quyền cao nhất, nó ở mọi lúc mọi nơi đều nhận được lời ca tụng của cáo, thỏ, con công, con sóc, lạc đà, ngựa vằn... Hàng ngày nó dương dương tự đắc, vui vẻ thoải mái.
Một hôm, con khỉ đến bên mình nó, nói với nó: "Thưa Đại vương tôn kính, con muốn ra sức phục vụ Ngài, loại bỏ ưu sầu cho Ngài, làm cho Ngài vui vẻ".
Sư tử nghe xong rất vui vẻ, cười nói: "Con khỉ nhỏ này, mày có thể làm được những gì cho đại vương?" Con khỉ nhảy nhót nói: "Con thấy Đại vương suốt ngày lao tâm khổ tứ, đầu óc nhất định luôn luôn phát ngứa, xin cho phép con dùng móng vuốt khéo kéo của con gãi ngứa cho Đại vương, để giải mệt mỏi của Đại vương".
Sư tử nghe xong ha ha cười to, liền để cho khỉ trèo lên lưng mình để gãi ngứa cho mình.
Con khỉ nhẹ nhàng gãi gãi lông bờm của sư tử, một cái, hai cái, ba cái, bốn cái, năm cái... sư tử cảm thấy rất dễ chịu, vừa cười vừa ngủ say.
Lúc này, khỉ đã gãi rách cả xương đầu của sư tử, dùng móng vuốt khều óc ở bên trong ra làm bữa trưa để ăn; một lần, hai lần, ba lần, bốn lần, năm lần... càng ăn càng hăng hái.
Khi sư tử cảm thấy đau khó chịu, đã không còn sức lực ngăn chặn khỉ được nữa đành chịu chết.
Làm Đại vương có chỗ tốt của việc làm Đại vương. Đồng thời, càng có chỗ xấu của việc làm Đại vương. Còn làm con cháu ngoài quan hệ về thể diện ra, về cơ bản không có gì xấu chỉ có chỗ tốt.
Đối nhân xử sự, thì nên học được cách nhìn vấn đề một cách biện chứng, biết mưu kế cao biết co biết duỗi. Khi làm "ông lớn" thì phải việc đáng làm thì làm, làm tốt "ông lớn" cho thật ra trò. Còn khi cần làm "con cháu", càng phải nên làm con cháu tốt một cách thành thật.
Nói chung, làm "ông lớn" tốt thì không khó, nhưngn muốn làm con cháu tốt, lại là một việc rất không dễ dàng.


12- Khôi hài rí rỏm sẽ ra sao?

Khi chúng ta trở lại với trạng thái tự nhiên ban đầu, sẽ có thể bộc lộ ra cảm giác hài hước nhiều hơn.
Cảm giác nhẹ nhõm mà rí rỏm mang lại là nhu cầu bức thiết của xã hội nhịp điệu nhanh này của chungs ta.
Trong xã hội hiện đại rí rỏm được đón nhận khác thường, được các nhân sĩ đủ các trường phái ngành nghề yêu thích. Nghiên cứu sâu nguyên nhân "rí rỏm" "bán chạy", chúng ta có thể nhận được gợi ý từ trong một câu nói của Lâm Ngữ Đường, ông nói: "Rí rỏm là một trạng thái tâm lý".
Chúng ta thường thường theo đuổi một vẻ siêu thoát ung dung lạc quan, để làm cho cuộc sống khô cứng, giả tạo trở về với trạng thái tự nhiên, từ đó nhận được giới hạn đời người tự nhiên thoái mái.
Con người hiện đại đều muốn lạc quan và siêu thoát, cho nên thích nhập bọn với "rí rỏm".
Rí rỏm đòi hỏi người sáng tạo nó phải đối đãi với mình bằng tâm trạng nhẹ nhõm và siêu thoát, luôn luôn giữ được tâm trạng lạc quan có thể châm biếm mình, châm biếm việc đời, từ đó tạo nên bầu không khí khôi hài nhẹ nhàng, thú vị.
Trong ứng xử hàng ngày, quá tự tôn và gò bó, đều có thể khiến cho cảnh tượng rơi vào lúng tung khó xử. Bầu không khí không thể điều hòa, xuất hiện cảnh tẻ ngắt và tình hình căng thẳng, việc ứng xử sẽ gặp thất bại. Rí rỏm là chất bôi trơn của việc qua lại, không thể coi thường được.

* * *

Tác giả sách "Tập án chinh thám Formos" nổi tiếng thế giới Conan Doyle, một lần gọi một chiếc xe ngựa cho tuê tại Paris, ông trước tiên ném các túi hành lý vào trong xe, sau đó trèo lên.
Nhưng còn chưa đợi ông ta mở miệng nói, người đánh xe liền hỏi: "Conan Doyle tiên sinh, Ngài chuẩn bị đi đến đâu?"
"Ông quen tôi?" nhà văn hỏi với vẻ hơi kinh ngạc.
"Không, từ trước đến nay chưa từng gặp Ngài".
"Vậy thì ông làm sao biết tôi là Conan Doyle?"
"Việc này", người đánh xe nói "Tôi đọc được tin tức Ngài đi nghỉ ở phía Nam nước Pháp ở trên báo, nhìn thấy ngài bước xuống từ trên một chuyến tàu hỏa chạy từ Mac-xây tới. Tôi chú ý đến nước da đen thủi của Ngài, điều này nói lên rằng Ngài đã ở nơi ánh nắng đầy đủ ít nhất cũng phải hơn một tuần lễ. Từ nước, mực thấm trên ngón tay giữa ở bàn tay bên phải của Ngài tôi đã suy đoán, Ngài là một nhà văn.
Ngoài ra, Ngài còn có ánh mắt nhạy bén của bác sĩ ngoại khoa, và còn mặc trang phục kiểu Anh. Tôi cho rằng Ngài khẳng định là Conan Doyle!"
Conan Doyle hết sức kinh ngạc nói: "Ông đã có thể từ trong tất cả những quan sát tỉ mỉ này nhận ra tôi, thế thì chính ông chẳng kém gì Formose!"
"Lại còn có", người đánh xe nói, "còn có một tiêu chí nho nhỏ".
"Tiêu chí gì?"
"Trên túi hành lý đã viết tên của Ngài".
Người đánh xe và Conan Doyle đều là những người rất vui. Khi Conan Doyle vừa bước lên xe ngựa, người đánh xe đã từ tên trên túi hành lý của ông biết được người lên xe là người như thế nào, nhưng người đánh xe thật ra chưa nói toạc ra, ông ta muốn "đoán thử một chút" để tỏ ra tài phán đoán của mình.
Ông ta cố ý đạo diễn một màn kịch, tự mình sắm vai chính để làm cho nhà văn lớn Conan Doyle cũng đành phải khen ngợi năng lực quan sát phi thường của ông ta.
Cuối cùng, người đánh xe đã nói ra gốc tích: Tôi nhận ra Ngài là từ trên túi hành lý của Ngài.
Conan Doyle thật ra chưa đến nỗi ca ngợi lung tung, ông giật nẩy mình lên, câu khen ngợi kia của ông là do vô ý mà nói thôi, bởi vì khi ngồi trên xe ngựa như thế này là cần phải có chút "không đứng đắn".
Mặc dù ông là nhà văn lớn tầm cỡ thế giới, nhưng trong trường hợp phi chính thức trên chiếc xe ngựa cho thuê này, lời nói của ông là không thể bị ghi chép vào sử sách, thế thì đưa ra một chút khôi hài rí rỏm thì có hại gì đâu?




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
13- Đẩy thuyền trôi theo dòng, theo tình thế suy lý

Trong cuộc sống nhất là trên thương trường, đối mặt với thế tấn công của đối phương, không tiến hành chống đối chính diện, mà là thuận theo đối phương, dắt mũi nó đi, hãm họ rơi vào thế bị động, ép họ vào khuôn khổ.
"Đẩy thuyền trôi theo dòng" (hay là "nhờ gió bẻ măng") là một phương pháp "tương kế tựu kế", nghĩa là để đạt được mục đích nhất định, thuận theo một tình thế nào đó tiến sát, để thực hiện nguyện vọng của mình.
Điểm mấu chốt của "đẩy thuyền trôi heo dòng" là phải tìm ra loại "dòng nước" có thể đẩy được thuyền, nghĩa là một điều kiện nào đó có thể lợi dụng cho mình, sau đó mới đưa ra suy luận.

* * *


* Cô Lý đòi đồ vật của bạn trai, xin cái này, đòi cái kia không bao giờ thôi. Cô Giang là bạn đồng nghiệp, nhìn không quen liền khuyên cô ta: "Lý này, mày đòi bạn trai những đồ hàng cao cấp như thế, không sợ người ta nói mày là một "cô gái đắt tiền ư?"
Cô Lý nói một cách có lý chính đáng và có khí thế rằng: "Mình còn nhớ một danh nhân từng nói: "sinh mệnh thật đáng quý, giá tình yêu càng cao, tình yêu đương nhiên phải dùng giá đắt mới có thể đổi được".
Cô Giang nói: "Đúng thế". Trong thơ của Bùi Đa Phỉ có câu "tình yêu giá càng cao", nhưng nó chỉ là sức mạnh tinh thần, giá trị luân lý mà tình yêu có, chứ không phải là giá trị vật chất. Nếu như bạn nhất định muốn xuyên tạc nó là giá hàng hóa, thế thì bạn không những đã khinh rẻ tình yêu thiêng liêng, cũng đã hạ thấp chính bản thân bạn".
Cô Giang vốn không đồng ý ý kiến của cô Lý, nhưng cô ta trước tiên lại trả lời "đúng thế", nhìn bề ngoài là đã khẳng định đối phương, nhưng thực ra không phải.
Nhưng việc khẳng định này, đã sáng tạo ra một tình thế có lợi về phía cô Giang, đã phá tan tâm lý chống lại của đối phương, đặt cơ sở thành công cho việc thuyết phục cô Giang.
Tiếp đó, cô Giang đã phân tích ý nghĩa đúng đắn của câu thơ "tình yêu giá càng cao" này cho cô Lý, nhân đà chỉ ra, nếu như theo sự hiểu của cô Lý như thế là khinh rẻ đối với tình yêu và hạ thấp đối với chính mình, cô Giang đã làm sáng tỏ, sửa chữa sự hiểu lầm của cô Lý đối với câu thơ này và cả quan niệm tình yêu không đúng đắn của coo.

* Thời kỳ chiến tranh Nam - Bắc ở Mỹ, thuộc hạ của Lincohn có một vị tướng, tin thắng từ tiền tuyến gửi về thường quá tóm tắt, không thể dựa vào đó để nghiên cứu và phán đoán tình hình quân sự, thường thường thiếu giá trị của bản tin chiến sự ở mặt trận.
Do đó, Tổng thống Lincohn hạ lệnh, phàm là bản tin chiến sự cần phải nói tường tận.
Vị tướng này đọc mệnh lệnh, trong lòng không vui lắm, liền gửi một bức điện báo cho Lincohn, điện báo viết: "Vừa mới thu được 6 con trâu mẹ, xử lý như thế nào? Xin cho chỉ thị".
Lincohn xem xong bức điện báo, biết ông ta hơi bực tức, vốn muốn phê bình ông ta một trận, nhưng chuyển ý nén tâm trạng muốn quở trách lại, lập tức gửi điện trả lời: "Vắt sữa trây ngay".
Vị tướng kia đọc bức điện báo rĩ rỏm này, một cơn bực tức cũng lập tức tan biến mất, đương nhiên các bản tin chiến sự sau này cũng sẽ tỉ mỉ hơn.
Sách lược "Đẩy thuyền xuôi dòng" của Lincohn, làm cho vị tướng kia đã sửa chữa sai lầm. Biện pháp của Lincohn xử lý việc này rất có thể làm khuôn mẫu cho chúng ta.
Trong công tác, trong cuộc sống của chúng ta, thhường có thể phát sinh vấn đề quan hệ nhân tế khiến người ta bó tay. Nếu như xử lý thỏa đáng thì đều vui vẻ cả, nếu xử lý không thỏa đáng thì có thể phát sinh trở ngại quan hệ nhân tế, tất nhiên ảnh hưởng lớn đến việc tiến hành thuận lợi công việc.
Lincohn phê bình bản tin chiến sự của vị tớng thuộc hạ quá đơn giản, dẫn đến việc không vui của vị tướng, giữa hai người sinh ra "bãi đá ngầm", "bãi đá ngầm" này ắt sẽ không lợi cho việc chỉ huy tác chiến từ nay về sau. mà vị tướng này lại còn hơi nổi cáu - đến việc bắt được trâu mẹ, cũng phát một bức điện báo xin chỉ thị.
Lincohn nhận ra vẻ bực dọc ở trong đó, nhưng không đổ thêm dầu vào lửa, mà là đưa ra biện pháp xử lý hài hước, thuận theo ý tứ của đối phương, đáp lại một bức điện "Vắt sữa trâu ngay".
Bức điện báo của vị tướng là khhông có ý nghĩa, không thú vị, chỉ chẳng qua là ông tiết ra nỗi bất mãn của ông đối với việc phê bình. Bức điện của Lincohn phát đi lại là thú vị, ông thuận theo tình thế đáp lại, đã làm nổ tan "bãi đá ngầm" đặt ra giữa hai người một cách hết sức nhẹ nhàng.
Kế sách "đẩy thuyền trôi thheo dòng" là khéo léo mượn sức của phía đối địch làm sức của phía mình, là chiến thuật mượn địch để thắng. Đối mặt với thế tấn công, không tiến hành chống đỡ chính diện, mà là thuận theo đối phương, dắt mũi đối phương đi, hãm nó và địa vị bị động, buộc nó vào khuôn phép.
Việc mấu chốt từ "thuận theo" đến "đẩy" là phải nắm được chuôi lời nói của đối phương, thuận thế suy lý tỏ rõ sức mạnh phản bác không thể chối cãi được.
"Đẩy thuyền trôi theo dòng" làm cho quan hệ nhân tế xuất hiện một trạng thái "thuận hướng", so với trạng thái "ngược hướng", nó càng có lợi cho việc hóa giải mâu thuẫn giữa hai bên.

14- Đã sai phải sai cho đúng mức độ

Việc đã sai cứ mặc cho sai là cách đánh vu hồi, mượn sai suy sai, dùng một kết luận sai lầm rõ rệt, để cho đối phương cảm thấy hoang đường đáng cười, đồng thời đưa ra phủ định của mình.
Trong ứng xử hàng ngày, phát hiện sai lầm của người khác, có thể lập tức bới móc ra, chỉ ra chân tướng, uốn nắn sai lầm trong lời nói và hành động của đối phương, đây là trừ bỏ cái bừa bãi, trở về với cái đúng trong xã giao, thuộc tính cách thông thường.
Trong ứng xử hàng ngày, còn có một loại biến cách có tính tạm thời, tức lấy sai làm đúng, đã sai thì cứ để sai. Việc đã sai thì cứ để sai là một phương thức nói chuyện đặc biệt, nó không phải là thủ đoạn tiêu cực ứng phó với môi trường ngôn ngữ, mà là có giá trị riêng biệt không thể thay thế.

* * *


* Có một nam giới bị què chân vào bệnh viện, nói với y tá: "Đề nghị xếp cho tôi vào phòng bệnh hạng ba, bởi vì tôi là một người độc thân nghèo".
Y tá hỏi: "Không có ai có thể giúp anh được ư?"
Người bệnh trả lời: "Không. Tôi chỉ có một chị gái, chị ấy là nữ tu sĩ, cũng rất nghèo".
Y tá nghe xong, nói một cách bực tức: "Nữ tu sĩ giầu cực, bởi vì chị ta kết hôn với thượng đế!"
Người bệnh nói: "Thôi được, chị xếp cho tôi ở phòng bệnh hạng nhất nhé, sau này đem hóa đơn thanh toán gửi cho chồng chị tôi cũng được".
Quan điểm của người y tá rõ ràng là sai. Người bệnh nếu như nói đạo lý một cách thông thường, e rằng không thể có hiệu quả.
Người bệnh đã dùng sách lược "đã sai thì cho sai một thể" phản bác đối phương, anh ta vẻ bề ngoài thuận theo ý nguyện của chị, thừa nhận đối phương nói có lý, đó là lấy cái sai, đồng thời lấy nó làm tiền đề, nêu lên một yêu cầu - đem hóa đơn thanh toán gửi cho anh rể tôi, đây là cứ để cho sai.
Hóa đơn thanh toán là chẳng có cách nào gửi được, người y tá không thể không thừa nhận lời mình nói là sai lầm.

* Có một lần, diễn viên hài Mã Quý đến biểu diễn tại thành phố Hoàng Thạch tỉnh Hà Bắc. Trước khi anh biểu diễn có một diễn viên nói nhầm "thành phố Hoàng thạch" thành "Huyện Hoàng Thạch", đã gây nên một trận cười la ó om sòm.
Lúc này, Mã Quý lên sàn diễn, anh vừa mở miệng đã nói: "Hôm nay, chúng tôi có may mắn đến tỉnh Hoàng Thạch biểu diễn...
Đúng lúc mọi người đang thì thào, Mã Quý giải thích nói: "Vừa rồi, một diễn viên của chúng tôi đã nói thành phố Hoàng Thạch thành Huyện, đã giảm mất một cấp. ở đây tôi nói thành tỉnh, đã nâng lên một cấp. Như vậy một cấp. Như vậy một giảm một nâng; ha ha! Thế là bằng!"
Vài câu nói đã gây được cả hội trường cười ầm lên.
Mã Quý đã tinh nhanh khôn khéo gỡ cho người diễn viên nói sai một từ trên sàn diễn, làm cho buổi diễn đã tiến hành thuận lợi.
Có một số trường hợp, có một số lúc, đối phương nói sai lời, do không tiện hoặc không cần chỉ ra, tạm thời thừa nhận họ là đúng, thuận theo ý sai này nói tiếp, làm tiếp trong tình huống không lộ lời nói hoặc sắc mặt khiến cho sự việc được giải quyết trọn vẹn, từ đó cũng uốn nắn được sai lầm của đối phương.
Do đó, cách "Việc đã sai cứ để mặc cho sai" trong giao tiếp ngôn ngữ và hoạt động xã hội có công hiệu riêng biệt.

15- Một tên hai đích

Xem xét thời cơ, nhanh chóng nhìn thấu suốt hoàn cảnh và tâm lý đối phương, đồng thời có năng lực diễn đạt ngôn ngữ cao siêu, mới có thể "tấu lên" những âm ở ngoài dây đàn.
Một tên hai đích là chỉ nói ở chỗ này, mà ý ở chỗ kia, nói chuyện đồng thời liên quan dính dáng hai bên. Là một phương pháp ứng xử khi xử lý một sự việc, có thể nhất cử lưỡng tiện.

* * *

Thời Hán Vũ đế, có một người tên là Trương Thang, người này rất có tài năng, từ một quan lại nhỏ ở một địa phương thăng đến Phó Tể tướng của triều Hán.
Một lần, Trương Thang giải quyết một vụ án lớn, thẩm lý xong, ông đã trình lên Hán Vũ đế phê duyệt.
Hán Vũ đế cho rằng vụ án này thẩm lý không đủ hoàn thiện, yêu cầu ông xử lý lại lần nữa.
Trương Thang thấy Hán Vũ đế không đồng ý quan điểm của mình, tạm thời không bàn về bản án nữa, mà là tạ tội với Hán Vũ đế trước, nói: "Tâu Hoàng thượng, ý kiến của Ngài rất đúng, thần nhất định giải quyết theo ý kiến của Hoàng thượng. Thực ra, mới đầu một thuộc hạ của thần, cũng đã từng nêu dị nghị gần đúng với ý kiến của Hoàng thượng, đáng tiếc là thần ngu muội không có năng lực, lại không thu nhận ý kiến của ông ta, cho nên bản án này mới thẩm lý không lý tưởng lắm, thực tế là thần phải đảm nhận toàn bộ trách nhiệm này, xin Hoàng thượng thứ tội".
Qua mấy ngày, hồ sơ bản án được trình lên một lần nữa. Hán Vũ đế rất vui mừng, lập tức đã phê chuẩn kết quả thẩm lý, hơn thế đã tán thưởng Trương Thang rất nhiều.
Lúc đó, Trương Thang vẫn không quên nêu ra thuộc hạ của mình. Ông nói: "Đây không phải là công lao của thần, chính là dưới sự chỉ đạo của Hoàng thượng, thần đã thu nhận ý kiến của người thuộc hạ đó, mới thu nhận được thành tích tốt, mong Hoàng thượng minh xét chỉ bảo".
Lời nói khéo léo của Trương Thang, vừa hòa giải được bất mãn của Hán Vũ đế do mình thẩm án không tốt gây nên, đồng thời, cũng không quên mượn cơ hội này lấy được lòng của thuộc hạ của mình, thật có thể gọi là "một tên hai đích".
Hán Vũ đế là một ông vua sáng suốt, bộ hạ của ông làm quan phải là dễ dàng một chút. Nhưng nếu không có năng ưực xử lý quan hệ nhân tế cao siêu, thế thì cũng không thể "một bước lên mây" được.
Trương Thang là một người linh hoạt, bất kể là cấp trên hay cấp dưới, ông ta đều hết sức làm tốt quan hệ với họ, luôn luôn giành được sự thông cảm của họ. Ví dụ này sẽ có thể nhìn ra cách đối nhân xử thế của ông.

* Trước kia khi hướng dẫn học sinh sửa bài văn, thầy giáo Tăng mặc dù đã giảng rất nhiều danh nhân, danh ngôn và viết nhiều chuyện, nhiều lần nhấn mạnh tính quan trọng của việc sửa đổi, nhưng tính tích cực của việc sửa văn chương của học sinh vẫn chưa cao.
Lần này khi giảng bài "Bàn về việc sửa văn chương", ông đã thiết kế một lời vào đầu như sau:
"Mọi người thường viết văn chương, nhưng văn chương là gì? Trong quyển "Từ hải" cũ nói: Việc hội họa, màu xanh và đỏ gọi là văn, màu đỏ và trắng gọi là chương, mặt của con người có xanh, có đỏ cũng có trắng, ta có thể thấy mặt của mỗi người chính là một bài "văn chương" trời sinh ra. (Cười) Xưa nay trong và ngoài nước nhiều bạn gái đều là rất chú trọng "sửa chữa văn chương"! (cười to) Bạn xem nhé: Hàng ngày sáng dậy họ chải chuốt trang điểm, soi gương, dùng kem làm trắng da bôi đi bôi lại nhiều lần, lại dùng son bôi cao cấp, sáp bôi môi dày công "tô điểm", lại còn dùng bút kẻ lông mày chuyên dùng sửa chữa lông mày tỉ mỉ, thậm chí dấu chấm câu cũng không chút mơ hồ - cần phải dùng dao phẫu thuật sửa "mắt một mí" (dấu ngoặc đơn) thành mắt hai mí" (dấu ngoặc kép) mới được! (cười và vỗ tay) Các bạn thấy đấy, đây là thái độ thật sự nghiêm túc, trách nhiệm cao biết nhường nào!"
"Mỗi người chúng ta đều có văn chương của mình, nếu muốn làm cho văn chương tài ba hơn người, không bỏ ra một chút công phu về mặt sửa chữa, liệu có được không?" (cười)...
Trong lời vào đầu này, thầy giáo Tăng đã miêu tả tình hình trang điểm của "phái nữ" một cách có thanh có sắc, thực ra thì từng câu liên quan với việc sửa chữa văn chương, lời ở chỗ này nhưng ý ở chỗ khác - thông qua việc bàn luận về trang điểm nhan sắc, đã nhấn mạnh tính quan trọng của việc sửa chữa văn chương.
"Một tên" có thể bắn được "hai đích", mấu chốt là chọn tốt "mũi tên" này - Vừa phải không có cảm giác làm gượng gạo, lại không phải có ý khoe khoang, nịnh hót.
Việc dùng từ chọn câu trong câu chuyện, cũng phải chú ý có thể chiếu cố đến tình cảm nhiều mặt, đặt đến sự cân bằng tâm lý bên này bên kia.
Đồng thời, việc tu dưỡng nhân cách, tu dưỡng ngôn ngữ tốt, cũng là mấu chốt vận dụng thành công cách này.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
16- Điều hòa sự mất cân bằng như thế nào?

Đời người có đối kháng, mới có thể điều hòa trạng thái mất cân bằng của quan hệ giữa người với người một cách tốt hơn.
Trong việc qua lại giữa người này với người khác, mọi người luôn chú ý nói những lời hay, lời đẹp, việc này đương nhiên không thể chê trách được. Nhưng việc giao tiếp giữa người với người là phức tạp, thường phân thành hai loại hấp dẫn giữa người với người và đối kháng giữa người với người.
Người ta nếu chỉ coi trọng nghệ thuật nói "hay", chỉ có thể thích ứng với việc qua lại hấp dẫn giữa người với người, có lúc lại có thể vì xuất hiện công kích không ngờ tới hoặc từ chối ngang ngược nên làm cho viêcj qua lại thất bại.
Do đó, chúng ta còn phải chú trọng nghiên cứu thảo luận việc qua lại đối kháng giữa người này với người khác, bồi dưỡng bản lính xử lý đối kháng giữa người với người. Cần đối xử dịu dàng thì đối xử dịu dàng, cần đối xử gay gắt thì gay gắt.
Trong "Tả truyện" nói: "Sư trực vi tráng, khúc vi chí", ý nói là vì chính nghĩa mà chiến đấu, lý do đúng đắn thì nói có khí thế, ngược lại đuối lý thì nói năng khí thế giảm sút.
Đối chọi quyết liệt là phương pháp phản bác trực tiếp, là bóc trần sai lầm và hoang đường của đối phương một cách không khoan nhượng. Phương pháp này dứt khoát gọn gàng, có thể tăng cường sức đả kích của ngôn ngữ.

* * *


Sau cơn sóng gió Bắc Kinh năm 1989, một số nước phương Tây thực hành "trừng phạt" đối với Trung Quốc. Một nhà báo Tân Hoa xã thường trú tại Paris Pháp, vốn đang chuẩn bị tham gia hoạt động biểu diễn thời trang Paris, bị một công ty thời trang nào đó lấy "nguyên nhân chính trị" thủ tiêu, từ chối phát phiếu mời cho nhà báo Trung Quốc.
Nhà báo Trung Quốc đó đối mặt với việc làm gây khó dễ của người Pháp đã nêu ra câu hỏi đối với chuyên viên báo chí chủ quản việc này. Đối phương trả lời nói: "Lần này nhất luật không mời các nhà báo Trung Quốc, đây là một quyết định chính trị của công ty này".
"Quyết định chính trị gì?" nhà báo này đã biết còn vờ hỏi. Đối phương đã giới thiệu nguyên nhân cho anh.
Sau khi nhà báo đó nghe xong, phản bác nói: "Quý công ty tuyên truyền rùm beng như thế, đương nhiên tôi cũng có tai nghe, nhưng tôi không rõ, việc này với việc đưa tin biểu diễn thời trang có dính dáng gì? Có quan hệ gì đối với mấy nhà báo Trung Quốc thông thường chúng tôi? Thêm nữa, chúng tôi đều là hội viên Hiệp hội nhà báo thuộc Tổng hội ngành thời trang, có quyền chính đáng xem biểu diễn. Các ông làm như thế, không thể không nói là làm trở ngại việc tiến hành đưa tin bình thường của chúng tôi. Quý quốc một mực tuyên bố bảo đảm tin tức tự do, cách làm này của các bạn đang là can thiệp tin tức tự do..."
Một loạt lời đưa ra khiến đối phương hết lời chối cãi, đành nói: "Tôi chỉ có thể nói với ông rằng, quyết định này không phải là do Vụ báo chí đưa ra, nó đến từ ban lãnh đạo cấp cao nhất của công ty.
Nhìn thấy đối phương muốn đóng cửa trốn tránh, nhà báo đó đã đưa ra quan điểm càng rõ ràng hơn: "Thế thì tốt, xin chuyển tới những người đưa ra quyết định này, xem xét sự việc chớ nên có tầm nhìn thiển cận như thế, như thế có thể làm tổn hại thanh danh của quý công ty ở Trung Quốc. Ngoài ra, tôi còn muốn nói một câu nữa: Xin đừng quên rằng, các bạn là công ty thời trang, là một xí nghiệp, không phải là văn phòng tranh cử của một chính đảng nào đó!"
Lời "kích cáo" lời lẽ nghiêm khắc của nhà báo đó có lý, có sức mạnh đã gây được hiệu quả rất tốt.
Mấy ngày sau, đối phương cảm thấy sự việc không thỏa đáng, liền phát bổ xung giấy mời cho nhà báo Trung Quốc, đồng thời đưa ra lời xin lỗi kín đáo.
Đối đãi với việc gây khó dễ này, ngoài việc chhông chọi quyết liệt ra, không còn cách lựa chọn nào khác.
Vận dụng phương pháp đấu tranh quyết liệt, mấu chốt là nắm chắc chỗ hiểm yếu của đối phương, không sợ lâm nguy, phải lấy lý để thuyết phục người, mà không phải giở uy phong, cũng không phải đanh đá chửi mắng người khác ngoài đường phố.

17- Nhận đá ném lại người

Mỉa mai lại là phản ứng đưa ra để chế giễu đối với quan điểm sai lầm của đối phương, là trước tiên để đối phương ra tay trước, sau đó phản kích lại làm đối phương phải khuất phục. Xét từ đặc điểm diễn đạt là "dùng thế lực chống lại thế lực", "nhận đá ném lại người".
Cách mỉa mai lại là một loại sách lược dùng phương thức như nhau phản kích lại đối thủ khi người ta bị chỉ trích vô lý, nhạo báng và cười chê hoặc chế giễu của đối phương.
Trong việc qua lại của mọi người, luôn tìm cách chung sống hòa thuận với nhau, tránh làm tổn hại đến tình cảm của đối phương.
Nhưng, có một số lúc do đối phương đột nhiên đưa ra lời nói và hành động không hữu nghị, tạo nên tổn hại không cần thiết cho chúng ta. Lúc này, để giữ vẻ tôn nghiêm của mình, sẽ phải đưa ra chống trả lại một cách quả đoán và kiên quyết.

* * *


* Một dược sĩ bào chế thuốc đi đến một hiệu bán sách ở lân cận, lấy một quyển sách từ trên giá sách xuống, hhỏi: "Quyển sách này có hay không?"
Người bán sách trả lời: "Không biết, chưa đọc qua".
Dược sĩ nói: "Làm sao ông có thể bán sách mà mình đều chưa từng đọc qua?"
Người bán sách đáp: "Chẳng lẽ ông đều có thể uống thử các loại thuốc trong hiệu thuốc của ông một lần?"
Người bán sách hỏi như vậy, liền vạch trần ra tính vô lý của việc hỏi vặn một cách sắc bén, có thể gọi là có cách mỉa mai. Dược sĩ chắc lẽ là một người thích gây rắc rối, lần này lại gặp phải một phen cụt hứng.

* Một lần, nhà hóa học Pháp Basde đi Paris thham dự hội nghị học thuật, nhân viên phục vụ khách sạn thấy ông ăn mặc bình thường, hành lý mang theo cũng giản dị, liền rất lạnh nhạt đối với ông, xếp ông vào một căn phòng nhỏ hẻo lánh vừa bẩn vừa ẩm thấp.
Sau đó, nhân viên phục vụ khi biết được ông chính là nhà hóa học tiếng tăm lừng lẫy giáo sư Basde, liền vội vàng chạy đến mặt mày hớn hở vui vẻ xin lỗi nói: "Tôi vốn cho rằng sự xa hoa của khách trọ là phải tỷ lệ thuận với hành lý họ mang theo, cho nên đã nhận nhầm Ngài, thật xin lỗi..."
"Không, tôi cho rằng, một người bày ra vẻ xa hoa là cũng tỷ lệ thuận với sự vô tri của họ". Basde không đợi anh ta nói xong, lập tức chen vào một câu. Nhân viên phục vụ vừa nghe đã chẳng còn lời nào đối đáp lại nữa.
Dùng áo mũ để chọn người, thói tục đó thật đáng căm ghét, Basde quyết không cho loại người này vẻ mặt vui vẻ. Ông tiếp nhận câu chuyện của nhân viên phục vụ, giáng lại một đòn, phương pháp này rất có hiệu quả, chốc lát đụng vào chỗ hiểm yếu của đối phương, vừa giáo dục được đối phương, vừa giữ được vẻ tôn nghiêm của mình.
Mỉa mai lại được xem là một phương pháp ứng cấp, phải nắm tốt thời cơ phản kích, làm được kịp thời chuẩn xác, ngay tức khắc tịt không trả lời lại được hoặc chần chừ lờ khờ, đều có nghĩa là thất bại, hơn nữa phải không ngã về một bên nào, nắm chắc thực chất, đánh trúng chỗ hiểm. Đồng thời còn phải nắm vững đúng mức, nhất thiết không được có tính kích thích quá mạnh, sức đả kích quá lớn.

18- Khéo léo đặt tròng cho đối phương

Muốn lấy nó ắt phải cho nó trước, đây vẫn là chân lý vĩnh hằng.
Đặt tròng là thông qua mồi dữ nhất định, để cho sự phát triển của tình hình mở ra tình cảnh xấu, tạo nên mất khả năng mong đợi, lấy đó làm cho người ta phải phì cười. Để khiến nó mất khả năng, trước hết để cho người ta đi mong đợi, sự mong đợi này là một cái bẫy.
Mình đều muốn để cho người khác rơi vào tròng, nhưng lại không có ai có thể tự chui vào tròng, do đó nắm chắc mồi dữ nhất định là cần thiết. Cái mồi dử này chính là lời nói có ý nghĩa lừa dối. Việc đặt mồi nhử phải khéo léo. Xin hãy xem các ví dụ dưới đây.

* ở ngay cổng chợ có một anh chàng gầy từ nông thôn đến, giơ lên một con vịt hét ầm lên: "Con vịt này của tôi là loại sản phẩm mới của xuất khẩu chuyển sang bán trong nước, chất thịt nhẵn mịn, còn chứa mấy chục loại Aminoaxit có ích đối với cơ thể con người, bao gồm cả chữa bách bệnh. Mua nhanh lên, hôm nay tôi đã bán hơn 200 con rồi, chỉ còn có 3 con này nữa thôi!".
"Này", lúc này một người đứng tuổi gọi anh ta, "Có thật anh đã bán 200 con rồi phải không?"
"Việc đó khỏi phải nói!" bán vịt không hề mơ hồ.
"Thế thì tốt, bây giờ anh sẽ nạp thuế của 200 con vịt này nhé, tôi là người của Sở thuế".
Mấu chốt của việc đặt tròng là ở chỗ thông qua mồi dử của ngôn ngữ, làm cho đối phương sinh ra tưởng lầm. Nếu như việc trước tiên đã lộ tẩy, để đối phương nhìn thấy dụng ý của bạn, thế thì sẽ không nhạy nữa. Trước hết phải dấu kín ý thật của mình, dùng cảnh tượng giả để lừa đối phương, việc này sẽ phải thi thố một chút chiến thuật tâm lý.
Trong câu chuyện này, anh chàng gầy muốn bán vịt đi rất nhanh, thế là anh ta đã làm một "quảng cáo" giả dối, nhân viên thuế vụ chính là lợi dụng tâm lý anh ta muốn bán vịt nhanh, đã hỏi vặn một câu, để cho chính anh ta chứng thực lại lần nữa lời mình đã nói.
Đây rõ ràng là mồi dử, hầu như phóng ra một quả hỏa mù, anh chàng gầy vốn tưởng là người mua, thế là vui không kiềm chế nổi đã buột miệng nói: "Việc đó thì khỏi phải nói!"
Đến đây, anh chàng gầy đã hoàn toàn rơi vào cái tròng, không thể chạy thoát nữa. Đợi nhân viên thuế vụ lật con bài tẩy: "Bây giờ anh sẽ phải nạp thuế của 200 con vịt này nhé, tôi là người Sở thuế". Anh chàng gầy đành chịu bó tay.
Cấu tứ của câu chuyện này là khép dùng ý nguyện của người bán vịt đang nóng vội muốn bán hàng, làm cho anh ta sinh ra tưởng lầm. Sự mong đợi và thất lạc của anh vừa khéo là hạt nhân của sự hài hước của nó.
Trong câu chuyện này, người bán vịt là hoàn toàn bị động, anh ta không có đủ trí tuệ để chống lại một đòn, do đó, câu chuyện vẫn thiếu việc xẩy ra bất ngờ. Có lẽ câu chuyện dưới đây có thể bù lại chỗ thiếu sót của phương diện này.

* Một ngày nghỉ, nhà đại văn hào Anh Dickens đến bờ sông câu cá. Không lâu, có một người lạ đến hỏi:
"Ông đang câu cá phải không?"
Dickens hậm hực trả lời:
"Đúng thế! Câu nửa ngày mà không thấy một con cá. Hôm qua cũng chính chỗ này, tôi câu được 15 con!"
"Như thế ư?" người lạ lại hỏi, "Ông phải biết, nơi đây cấm câu cá! Tôi là người chuyên phụ trách trông coi".
Người lạ nói xong, liền rút từ trong túi ra một quyển sổ, muốn phạt tiền đối với Dickens. Thấy tình huống này, Dickens vội vàng trả lời:
"Ông có biết tôi là ai không? Tôi chính là nhà văn Dickens, do đó ông không thể phạt tiền tôi được, vừa rồi tôi nói là câu chuyện hư cấu, mà chuyện hư cấu chính là sự nghiệp của nhà văn".
Câu chuyện này cũng giống như câu chuyện ở trên, đều là dùng phương pháp đặt ra cái tròng để đạt được hiệu quả hài hước. Chỗ khác nhau là trong câu chuyện này, người sa vào tròng là Dickens, thật ra không hoàn toàn bị động, sau khi ông rơi vào "tròng", ông lại đưa ra một kế "ve sầu thoát xác" làm cho mình vượt ra khỏi.
Xét về hình thức của nó, sự hài hước của cách bày đặt ra cái tròng tạo ra đều đơn giản hơn sự hài hước của các hình thức khác. Nhưng xét từ toàn thể, sự hài hước này, tình tiết của câu chuyện có trắc trở nhất định, tình thế đột nhiên đổi hai lần, việc thúc đẩy câu chuyện so với chuyện trước sinh động hơn.
Bày ra cái tròng là để dụ đối phương mắc câu, việc dụ càng khéo léo thì càn buồn cười.

* Chu Cổ Dân rất có học vấn, cũng hay nói đùa.
Một hôm, ông đến chơi một gia đình nhà họ Thang, ông họ Thang nói với ông ta rằng: "Bình thường nghe người ta nói ông rất có biện pháp. Bây giờ tôi ngồi ở trong nhà, ông có thể nghĩ ra một cách làm cho tôi đi ra ngoài nhà được không?"
Chu Cổ Dân giả vờ gãi gãi đầu, nói: "ở bên ngoài gió to, hơi lạnh, ông đương nhiên không thể đi ra; giá như ông đầu tiên đứng ở ngoài, tôi có thể có biện pháp làm cho ông đi vào trong nhà!"
Ông họ Thang trong lòng nghĩ, chân là mọc trên người mình, mình đứng ở ngoài nhà ông ta nói gì mình cũng không động đậy xem ông ta có thể làm thế nào để mình đi vào trong nhà.
Thế làm liền đi ra bên ngoài nhà đứng, rồi nói với Chu Cổ Dân: "Được rồi! Bây giờ tôi đã đứng ở ngoài nhà, xem ông làm thế nào để tôi đi vào trong nhà nào!"
Chu Cổ Dân vỗ tay cười to nói: "Tôi đây chẳng phải đã làm chho ông đứng ở bên ngoài nhà đó phải không!"
Thời cơ hài hước rất khó nắm chắc, chúng ta có thể dùng việc đi săn làm ví dụ, con vật định săn xuất hiện ở trước mặt bạn, không phải là mỗi con vật đều có thể để cho bạn săn bắt được.
Do vậy phải chủ động xuất kích, không thể "ôm gốc cây đợi thỏ" (tức há miệng chờ sung). Phải thả ra một ít mồi dử, bày ra một số cái tròng, dẫn dắt vật săn vào tròng.
Nhân vật nhanh nhạy giống như Chu Cổ Dân như thế ó thể gọi là một tay săn giỏi. Ông ta dùng cái "lùi" của mình làm mồi dử dẫn đối phương rơi vào tròng, ông ta thoái thác nói gió to trời lạnh, muốn chuyển đổi vị trí với đối phương. Ông ta lùi trước một bước, để đối phương cho rằng ông ta nhát gan, tài này vẫn đánh lừa được đối phương. Đợi đến lúc ông ta "lật bài tẩy" cuối cùng, gỗ đã đóng thành thuyền, ông đã giành được thắng lợi đấu trí.
Tính hài hước của loại chuyện này ở chỗ khi một bên rơi vào cái tròng ngôn ngữ của một bên khác, vẫn không hề biết, khi người chủ động nói ra ý đồ chân thật, tình thế đột nhiên sinh ra kịch tính đảo ngược, ngôn ngữ đã thành cái tròng ma biến hóa khôn lường, vui tai vui mắt.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
19- Đánh chính là không đánh, không đánh chính là đánh

Hài hước là quá trình tâm lý dầy công thiết kế, thông qua dẫn dắt và chuyển đổi hữu hiệu, bạn có thể trong bất chợt đột nhiên đối mặt với vô lý, không nhịn được cười, hiện rõ trí tuệ của bạn một cách đầy đủ.
Người ta thường nói: "Dùng lý lẽ của người đó, trị lại người đó", đây là một phương pháp hay để thắng, nó có cái hay cùng một hiệu quả với câu chuyện "Mời ông vào hũ".
Theo "Tư trị thông giám" ghi chép, thời Võ Tắc Thiên triều nhà Chu, có người kiện Chu Hưng, Võ Tắc Thiên hạ lệnh Lai Tuấn Thần thẩm lý vụ án này.
Lai Tuấn Thần giả ý cùng uống rượu với Chu Hưng, hỏi Chu Hưng: "Bức cung tốt nhất dùng hình phạt gì?"
Chu Hưng nói: "Chỉ cần đem phạm nhân cho vào trong một cái hũ to, đặt lên trên giá dùng lửa củi đốt, thì cái gì cũng đều nhận".
Lai Tuấn Thần theo cách của Chu Hưng chuẩn bị sẵn hũ xung quanh đốt lửa củi lên, nói: "Có lệnh trong cung đòi tôi phải thẩm vấn ông anh, mời ông anh vào hũ cho".
Chu Hưng vừa nhìn thấy phát khiếp lên, đành phải nhận tội.
Cách dùng hoang dường tạo ra trong hài hước, cực kỳ giống với câu chuyện trên. Nhưng mọi người đọc câu chuyện "Mời ông vào hũ" trên đây, hoàn toàn không thể sinh ra cảm giác hài hước. Nguyên nhân của nó tại đâu?
Xin hãy xem tiếp câu chuyện hài hước dưới đây:
Voltaire có một thằng nhỏ theo hầu bên mình rất trung thực, nhưng cậu ta hơi lười nhác.
Một hôm, Voltaire nói với cậu ta: "Rousaive, đem đôi giầy của ta lại đây". Cậu nhỏ vội vàng ân cần mang đôi giầy đến. Voltaire vừa nhìn thấy liền ngẩn người ra: Giầy vẫn dính bám đầy bùn đất lúc đi ra ngoài hôm qua. Ông hỏi: "Cậu làm sao buổi sáng quên đánh giầy?"
"Không cần, thưa Ngài". Rousaive bình tĩnh trả lời: "Trên đường bùn đất lầy lội, hai giờ sau giầy của ngài chẳng phải lại cũng bẩn như hiện tại ư?"
Voltaire mỉm cười rồi đi giầy vào, không nói một lời đi ra khỏi cửa. Cậu nhỏ chạy đuổi theo sau ông ta: "Ngài hãy đi chậm một chút! Chiếc chìa khóa đâu?"
"Chìa khóa ư?"
"Vâng, chìa khóa trên tủ ăn. Tôi còn phải ăn cơm trưa".
"Anh bạn của tôi ơi! Ăn cơm trưa nào? Hai giờ sau chẳng phải bạn cũng sẽ đói như bây giờ phải không?" Voltaire nói.
Đọc xong câu chuyện này, chúng ta nhất định có thể buồn cười. Nó không giống như câu chuyện "Mời ông vào hũ" kia cho người ta một cảm giác nghiêm khắc, nó đem đến cho người ta là vẻ nhẹ nhõm - Bạn thấy đấy, thằng nhỏ không lau giầy kịp thời, Voltaire không trừng phạt cậu ta, mà là khi cậu ta cần chìa khóa trên tủ ăn, dùng phương pháp lấy sai trị sai, đã nhắc nhở cái hoang đường trong suy lý của thằng nhỏ, do đó dẫn đến hài hước.
Đến đây, chúng ta đã có thể hiểu rõ trong câu chuyện "Mời ông vào hũ" không chứa nhân tố hài hước.
Bởi vì nó không có thành phần hoang đường, hoàn toàn là một tấn trò chính thống, vẻ "nghiêm túc" chiếm tỷ trọng rất lớn, nói là người ác có ác báo, mở ra kết cục nhục nhã của kẻ ác tự mình nhận kết quả của nó, hoàn toàn khác với câu chuyện hài hước "Đôi giầy của Voltaire" này.
Xét về tâm lý học, hài hước là một quá trình tâm lý dày công thiết kế, nó thông qua sự dẫn dắt và chuyển đổi hữu hiệu, làm cho người ta trong bất chợt đột nhiên đối mặt với việc hoang đường, sinh ra hiệu quả tình cảm không nhịn được cười.

* Khưu Tuấn một lần đến chùa miếu ở Hàng Châu thăm một vị hòa thượng. Vị hòa thượng này đoán ông ta không giống như một nhân vật có thế có tiền, không thèm hỏi han, đối với ông ta rất ngạo mạn.
Đúng vào lúc đó, ở trước cửa miếu đã vang lên một trận tiếng quát tháo, có một con em của viên Châu tướng mang theo một toán đầy tớ, tiền hô hậu ủng đến lễ Phật. Vị hòa thượng này liền thay đổi bộ mặt tự mình đi xuống bậc thềm chắp tay khom người đi lên phía trước đón tiếp cung kính.
Khưu Tuấn trông thấy rất không hài lòng, đợi khi con em của viên Châu tướng vừa đi khỏi đã hỏi vị hòa thượng: "Ông đối với tôi lạnh nhạt như thế, đối với những người kia lại vì sao lại ân cần đến như thế?"
Vị hòa thượng leo lẻo cãi lại: "a-di-đà-phật, thưa thí chủ, ông hiểu lầm rồi! Ông không biết trong kinh Phật nói "có chính là không, không chính là có". Vừa rồi tôi "tiếp là không tiếp, không tiếp là tiếp đấy!"
Khưu Tuấn nghe xong cơn tức giận bốc lên liền giật lấy cây "thiền trượng" từ trong tay hòa thượng, đã đập cho ông ta mấy cái nên thân, nói: "Hòa thượng chớ trách, nói như thế thì đánh là không đánh, không đánh là đánh".
Chỗ đáng cười của chuyện hài hước này ở chỗ sự hoang đường của việc luận đoán "tiếp là không tiếp, không tiếp là tiếp" của vị hòa thượng, sự hài hước liền bắt đầu từ chỗ này.
Luận đoán "đánh là không đánh, không đánh là đánh" của Khưu Tuấn cũng hoang đường tương tự, nhưng ông ta là dùng phương pháp suy luận của vị hòa thượng, lấy hoang đường để trị hoang đường, khiến cho cảm giác hài hước lại càng sâu sắc thêm một nấc nữa.

20- Cố ý tạo nên hiểu nhầm xuyên tạc

Thế giới tràn ngập hiểu nhầm, dày công xây dựng nên việc hiểu nhầm, tạo nên một thế giới ngôn ngữ đủ màu sắc.
Có thể nói là thế giới hài hước là do hiểu nhầm tạo nên. Nhìn một cách tuyệt đối một chút, không có hiểu nhầm sẽ không có hài hước. Hiểu nhầm là sự chuyển hướng của ngữ nghĩa, từ ngữ từ nghĩa A bị giải thích nhầm thành nghĩa B, dẫn đến ngữ nghĩa chuyển dịch, hình thành một tình cảnh đối thoại hài hước.
Từ ngữ có thể sinh ra nghĩa khác nnhau là chiếc cầu nối sinh ra tình cảnh này. Sự thiếu sót về nhận thức, sự không đủ của tri thức, lại có thể dẫn đến hiểu nhầm, đương nhiên cũng có cố ý hiểu nhầm.
Sự hài hước do cách hiểu nhầm tạo nên, phần nhiều là sự khiếm khuyết của trí tuệ chế giễu, do đó người chủ trong loại hài hước này phần nhiều là người có khiếm khuyết về nhân cách hoặc là trẻ con.

* Có một sinh viên Họ viện Y thi cuối năm không đủ điểm. Khi thi lại, để cho anh ta một cơ hội thi đạt, thầy giáo đã nêu ra một vấn đề vô cùng đơn giản:
Tác giả sách "Bản thảo cương mục" là ai?
Ai ngờ cậu sinh viên này nghe xong chẳng có phản ứng gì. Thầy giáo liền bực tức quát:
"Lý Thời Trân, anh từng nghe thấy chưa?"
Cậu sinh viên nghe xong, vội vàng ba chân bốn cẳng chạy mất, thầy giáo sửng sốt gọi cậu ta lại, nói: "Này! Anh vì sao bỏ chạy?"
"Chẳng phải thầy đã gọi tên một sinh viên khác sau đó rồi phải không?" Cậu sinh viên trả lời.
"Lý Thời Trân", ý của từ này vốn là rất rõ ràng, nhưng ở đây lại thành một từ sinh ra nghĩa khác, khả năng nó sinh ra giải thích khác là cậu sinh viên này lúc bình thường học rất kém, đến tri thức cơ bản nhất - tác giả của sách "Bản thảo cương mục" là Lý Thời Trân đều không biết.
Mọi người đối với cậu sinh viên này là vừa "cười" lại vừa "chê", trong tấn "kỷ kịch" này cậu ta chẳng có thông minh nhanh trí nào đáng nói, mà là do sai lầm trở thành hài hước.

* Thầy giáo hỏi một học sinh ngủ gật trên lớp: "Em có nhận thức được khuyết điểm của việc ngủ trên lớp không?"
"Nhận thức được - Khuyết điểm là không thoải mái như ngủ trên giường".
Trẻ con là ngây thơ, cho nên hiểu nhầm dẫn đến càng làm cho người ta buồn cười. Học sinh ngủ trên lớp, thầy giáo phê bình cậu ta, cậu ta vẫn không cảm thấy.
Theo chúng tôi, câu hỏi quở trách kia của thầy giáo, chẳng phải là có chứa vài phần phê bình phải không? Thầy giáo để cho cậu ta chỉ ra khuyết điểm của việc ngủ, chính là để cho cậu ta nhận thức được lỗi lầm của việc ngủ, nhưng cậu học sinh "một mực không tỉnh ngộ", ngược lại hiểu nhầm nghĩa của từ "khuyết điểm", thầy giáo nói ở chỗ này, cậu ta lại trả lời ở chỗ khác.

* Một người khách vùng khác đang đi đường vội vàng, bỗng nhiên nhìn thấy một người nông dân đánh xe lại. Ông ta hỏi người nông dân:
"Xin hỏi đi đến thôn Mễ Lai còn xa không?"
"Nửa giờ nữa thì đến".
"Tôi có thể đáp xe của ông được không?"
"Xin mời lên xe!"
Nửa giờ đã trôi qua, người khách vùng khác có vẻ không yên tâm hỏi:
"Xin hỏi, hiện tại còn cách thôn mễ Lai bao xa?"
"Đại thể phải mất một giờ".
"Sao? Ông vừa rồi chẳng phải nói chỉ cần nửa giờ phải không? Đã đi một hồi lâu rồi, sao vẫn còn phải đi một giờ nữa?"
"Bởi vì chúng ta đi là ngược hướng".
Trong câu chuyện này, sự hài hước đã bắt đầu từ trong từng câu hỏi và câu trả lời mới đầu của người khách vùng khác với người nông dân: người khách vùng khác hỏi: "Đến thôn Mễ Lai còn bao xa?" Người nông dân đáp: "Nửa giờ thì đến".
Lúc này ngữ nghĩa phát sinh thiên dịch, trả lời "Nửa giờ thì đến", đương nhiên là chỉ đi cùng hướng, nhưng người nông dân đánh xe là chạy ngược hướng với thôn Mễ Lai. Người khách vùng khác không xem xét đến nhân tố này, đã lên xe.
Còn người nông dân lại hiểu việc xa gần của vấn đề và đáp xe là hai chuyện khác nhau, thế là nghĩ một đàng làm một nẻo; đợi khi phát hiện phương hướng không đúng, người khách vùng khác thật là có cái khổ mà khó nói.
Sáng tạo hài hước cần phải nắm bắt được chuyện đùa, phải cần có kinh nghiệm của trí tuệ, hiểu hài hước cần phải có kinh nghiệm trí tuệ của người tiếp nhận.
Câu chuyện này lợi dụng tính không chặt chẽ của ngữ nghĩa của lời trả lời và hành động của người trả lời, cố ý thiết kế ra một việc nhầm lẫn, đây là trí tuệ của ngôn ngữ, cũng là trí tuệ của cuộc sống.
Trong một số loại hài hước này, có loại thật không nhất định có nội dung tư tưởng gì, mà là thuần túy bằng cách hiểu nhầm tạo nên hài hước, có thể nói là đang chơi hài hước.

* Có một đôi vợ chồng tình cảm không tốt, mỗi người đều có ngoại tình. Một hôm, hai vợ chồng đang ngủ, người vợ đột nhiên trong mơ la lên một cách kinh hoàng: "Trời ơi! Anh chạy đi nhanh, chồng em về rồi!"
Người chồng liền bừng tỉnh, vội vàng đi giày vào, nói: "Hỏng rồi! Anh sẽ chạy ngay!" Noi xong, nhanh như cắt đã chạy trốn.
Vợ chồng mỗi người trong lòng đều ẩn náu ý đồ không thể nói với người khác được là tiền đề sinh ra hiểu nhầm, câu nói mà người vợ kêu lên một cách kinh hoàng đó, là thuốc kích thích sinh ra hiểu nhầm.
Lời nói của người vợ trong mơ vốn là "nhầm", người chồng lại lấy "nhầm" làm "thật", cho nên lại "nhầm" thêm, đã đưa ra phán đoán sai lầm: "Hỏng rồi! Anh sẽ chạy ngay!" đồng thời chọn hành động sai lầm: chạy trốn. Đã nhầm lại nhầm thêm, đã sáng tạo ra tình cảnh đối thoại đặc biệt. Để cho bạn đọc cảm thấy kinh hãi ngoài ý muốn, tự nhiên không nhịn được cười.
Hiểu nhầm cũng thường xẩy ra ở các nhân vật thiếu suy xét và sức phán đoán trong câu chuyện, hiểu lời của người khác một cách máy móc, cho nên "đẩy thuyền xuôi dòng", sinh ra chuyện cười.

* Một vị khách ngồi bên cạnh chiếc bàn của một khách sạn cao cấp, lấy khăn ăn buộc lên cổ.
Giám đốc rất có ác cảm, liền gọi một chiêu đãi viên (nhân viên phục vụ bàn) đến, nói: "Cô phải làm cho vị thân sĩ này hiểu được rằng, trong khách sạn của chúng ta, làm như thế là không cho phép. Nhưng phải nói những lời cố gắng êm dịu một chút".
Cô chiêu đãi viên nhẹ nhàng đến trước bàn ăn của vị khách kia, hỏi một cách lễ phép: "Thưa ông, ông là cạo râu hay là cắt tóc?"
Cô chiêu đãi viên đã sinh ra hiểu nhầm đối với "lệnh" của giám đốc, ý của giám đốc là bảo cô chiêu đãi viên đến nói một cách êm dịu với người khách không nên đem khăn ăn buộc lên cổ.
có hai nhân tố dẫn đến chiêu đãi viên sinh ra hiểu nhầm: Một là quán tính trong tư duy của cô ta, mình không suy nghĩ, phán đoán đối với "lệnh" của giám đốc; hai là vị khách đã đem chiếc khăn ăn buộc lên cổ rồi.
Giám đốc nói: phải "êm dịu" một chút, thế thì tốt, thuận theo tình hình để làm: "Ông là cạo râu hay là cắt tóc?" - Bởi vì bất kể là cạo râu hay là cắt tóc đều phải buộc khăn quàng vào cổ. Nhiệm vụ giám đốc giao cho không hoàn thành, ngược lại đã sai càng sai.
Trong thế giới ngôn ngữ rộng lớn, hiểu nhầm có nhiều kiểu nhiều dạng, nhưng chỉ có những hiểu nhầm qua dầy công tạo ra mới có giá trị hài hước.
Bằng không tùy ý nói ra, nhiều nhất cũng chỉ sinh ra hiệu quả khôi hài thôi. Điều này sẽ đòi hỏi chúng ta trong nói năng hàng ngày, phải khéo dùng hiểu nhầm thi thố sự tinh nhanh về ngôn ngữ đạt được hiệu quả hài hước.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-02 09:20:55tieuboingoan>
21- Vận dụng chiến thuật đánh thọc sườn

Chân lý vì so sánh mà hai bên hợp với nhau càng tốt đẹp, còn hiểu nhầm do thổi phồng nên càng thêm hoang đường.
Phương pháp lấy hiểu nhầm đáp lại hiểu nhầm có công năng trêu đùa và công năng phản kích. Nhưng hài hước là giúp chúng ta điều tiết quan hệ nhân tế, hòa hoãn các mâu thuẫn, nó cần tránh xung đột trực tiếp và chính diện, do đó công năng trêu đùa càng thích hợp với hài hước.
Công năng chủ yếu của phương pháp lấy hiểu nhầm đáp lại hiểu nhầm là dùng để trêu đùa, đôi khi cũng diễn đạt chế giễu nhẹ nhàng:
Cục trưởng giáo dục đến một trường học thị sát, nhìn thấy trong lớp học có một mô hình quả Địa cầu, liền hỏi cậu Tom: "Em thử nói xem, mô hình quả Địa cầu này vì sao lại nghiêng 23,5o?"
Cậu Tom trả lời một cách sợ hãi: "Không phải em làm nghiêng nó!"
Cục trưởng lắc đầu, quay sang hỏi cậu Jack. Cậu Jack hai tay mở ra, nói: "Ngài cũng nhìn thấy, em vừa mới đi vào!"
Cục trưởng hỏi thầy giáo một cách nghi ngờ là sự thể làm sao?
Thầy giáo với vẻ xin lỗi: "Không thể trách chúng nó được, mô hình quả Địa cầu này khi mua về đã là như thế rồi".
Ông Hiệu trưởng nhìn thấy vẻ mặt của ngài Cục trưởng ngày càng không đẹp mắt, vội vàng giải thích: "Nói ra hơi hổ thẹn, vì kinh phí của nhà trường có hạn, chúng tôi mua là hàng hạ giá".
Mô hình quả Địa cầu nghiêng 23,5o là chế tác phù hợp khoa học, phù hợp thực tế khách quan. Câu hỏi nêu lên của Cục trưởng, làm cho cậu Tom và cậu Jack hoảng sợ, không biết Cục trưởng đang kiểm tra kiến thức địa lý của họ hay là muốn truy vấn ai đã phá hoại của công (làm nghiên mô hình quả Địa cầu), việc hiểu nhầm này nói lên khiếm khuyết tri thức của họ, đó là hiểu nhầm lần thứ nhất.
Thầy giáo không đưa ra được giải thích đúng đắn, ngược lại lại bao che lung tung cho học sinh, đây là hiểu nhầm lần thứ hai. Việc gỡ tội của ngài Hiệu trưởng càng là biểu hiện ngu muội hơn, đó là hiểu nhầm lần thứ ba.
Câu chuyện này có tên là "Làm hại con em người ta", có thể gọi là không gì thỏa đáng hơn nữa.
Khi từ chối yêu cầu của người khác, từ chối trực tiếp sẽ dẫn đến căng thẳng tâm lý không cần thiết. Nếu như dùng phương pháp lấy hiểu nhầm đáp lại hiểu nhầm, để cho đối phương thấm nhuần chỗ không thỏa đáng của yêu cầu của họ, có thể so với từ chối chính diện càng có sức thuyết phục hơn.

* Cha mẹ sau khi đi khỏi nhà, hai anh em ai cũng không muốn làm công việc nhà. Anh để cho em đi làm việc, liền nói với em: "Khi cha mẹ về, em sẽ nói anh bị ốm nằm trên giường suốt, không thể bước xuống đất".
Em trả lời nói: "Anh sẽ nói với cha mẹ, em giúp anh đi mời bác sĩ, tạm biệt!"
Cha mẹ vừa ra khỏi cửa, thì anh đã ốm là rất hoang đường rồi; còn em thì thoái thác đi mời bác sĩ chho anh, sẽ càng hoang đường hơn. Họ đều rất lười biếng, lại đưa ra những lời hoang đường hòng lẩn tránh làm công việc ở nhà, do đó rất đáng cười.
Dùng phương pháp lấy hiểu nhầm đáp lại hiểu nhầm để trả lời lời nói rất dịu dàng, có thể giữ lại cho đối phương chỗ trống, tránh được xung đột do đối chọi chính diện mang lại.
Những cái vốn đã rất hoang đường, kinh qua phát triển, hoang đường được phóng đại, chẳng lẽ không phải càng đáng cười hơn sao?
Lấy hiểu nhầm đáp lại hiểu nhầm, nói chung dùng vào chỗ giữa những người tương đối thân cận dùng để pha trò và từ chối.

* Hồi xưa, có hai người thông minh và một người đần kết bạn đồng hành đến một nơi rất xa để lễ Thánh.
Không ngờ, đi được nửa đường thì lương thực thiếu, chỉ còn lại một ít bột mì, chỉ đủ làm một chiếc bánh mì. Hai người thông minh đều là người xảo quyệt, cho nên rất có thể nói cùng một ý.
Họ nói: "Chỉ thừa một cái bánh mì, mà cái anh chàng đần này lại rất giỏi ăn như thế, chúng ta phải tìm cách lấy chiếc bánh mì vào tay mình mới xong".
Thế là đợi người đần kia hòa trộn bột xong làm thành chiếc bánh mì vừa đặt lên lò nướng, hai người thông minh liền nói với anh ta: "Bọn ta chỉ còn có một chiếc bánh mì thế này, nếu ba người ăn rõ ràng là thiếu. Cho nên chúng tôi đã nghĩ ra một cách là, bây giờ mọi người đều đi ngủ, ai nằm mơ thấy giấc mơ đẹp, thì chiếc bánh mì này sẽ thuộc về người đó".
Ba người đều đồng ý cách này.
Sau khi hai người thông minh đều tin chắc là người đần kia đã ngủ say, liền lặng lẽ bàn với nhau việc nằm mơ. Một người nói: "Đến lúc đó tôi muốn nói nằm mơ thhấy hai sứ giả nhà trời dẫn tôi bước vào cổng của Thiên quốc, đến trước mặt Thượng đế".
Một người khác nói: "Tôi muốn nói nằm mơ thấy hai tên ma quỷ, dẫn tôi đi vào một vết đất nứt, đi suốt mãi đến tận Địa phủ".
Hai người đều cảm thấy giấc mơ thông minh giống như thế, thì anh chàng đần kia là không thể nghĩ ra.
Nhưng những lời bàn tán của hai người bọn họ đều bị anh chàng đần nghe thấy hết. Anh ta lặng lẽ ngồi dậy, lấy chiếc bánh mì kia từ trong lò nướng ra, chốc lát đã ăn hết sạch, sau đó lại lên giường ngủ tiếp.
Chưa đầy một lúc, trời sáng, hai anh bạn kia lại gọi anh ta. Anh ta làm bộ giả vờ như vừa bị họ đánh thức dậy, mắt ngái ngủ nói: "Ai gọi tôi đấy?"
Hai người kia đáp: "Chúng tôi, bạn của anh đây".
"Ôi, các anh bạn thân mến! Các bạn làm sao lại trở về?"
"Có việc gì? Chúng tôi cũng chẳng đi đâu cả!"
Anh chàng đần nói một cách chậm chạp: "Vừa rồi tôi nằm mơ thấy hai sứ giả nhà trời dẫn anh vào Thiên quốc, còn hai tên ma quỷ lại dẫn anh đi xuống Địa phủ, nhưng thật không ngờ hai anh lại có thể từ Thiên quốc và Địa ngục trở về, tôi đã đem chiếc bánh mì kia ăn hết cả rồi".
Trong chuyện hài hước bất kể là ở Trung Quốc hay là ở nước ngoài đều có chuyện của người thông minh và người đần tương tự. Trong loại chuyện này bao hàm phép biện chứng, người thông minh trên thực tế là kẻ ngu xuẩn, còn người đần trên thực tế lại là người thông minh. Lần lượt đặt cho họ cái tên danh không đúng thực, trên thực tế có mùi vị châm biếm.
Hai người thông minh nghĩ ra một kế dựa vào giấc mơ đẹp để chia bánh mì, cho rằng cách này là tuyệt diệu, bởi vì họ tự cảm thấy mình cao hơn người khác một cái đầu, ai ngờ rằng thông minh ngược lại bị nhầm của thông minh, người đần đã ra tay trước, ăn hết bánh mì, còn giả vờ mơ màng, "u mê không tỉnh", miệng còn thốt ra "những lời hoang đường".
Người đần thực ra thì "dương dương tự đắc", người thông minh thì tự làm khó mình, có khổ mà khó nói nên lời.
Người ta trong cuộc sống thường có tình huống như thế này, trăm phương ngàn kế vạch ra được một việc, sau khi tất cả mọi việc đều xong xuôi nhìn lại thấy: người khác vốn không phải dùng vạch kế hoạch, đã làm ngay trước mắt họ từ lâu.

22- Vận dụng nguyên lý đợi chờ tâm lý

Trong cơ chế tâm lý hài hước có một nguyên lý gọi là nguyên lý không thống nhất.
Nó mách bảo cho chúng ta: Đặc điểm kết cấu của hài hước là bước ngoặt tâm tư tình cảm bất ngờ của người.
Chỉ cần dẫn dắt một cách đầy đủ sức tưởng tượng và đợi chờ tâm lý của người tam sau đó đột nhiên chuyển đổi kết quả, sẽ có thể gây nên tiếng cười.

* Một ông chủ xuất bản Pháp muốn được sự ca ngợi của một nhà văn nổi tiếng, để nâng cao giá trị bản thân mình. Ông nghĩ, muốn có được ấn tượng tốt của một nhân vật lớn, cần phải ca ngợi họ.
Hôm ấy, ông đến thăm một nhà văn lớn. Ông nhìn thấy trên giá sách của nhà văn đang bày một bài viết bình luận tiểu thuyết của Balzac, liền nói:
"Ô, thưa Tiên sinh, Ngài lại đang bình luận Balzac. Đúng vậy, nhiều năm nay những người thật sự hiểu tác phẩm của Balzac, tính đi tính lại cũng chỉ có hai người".
Nhà văn vừa nghe đã hiểu ngay ý đồ của ông chủ xuất bản, liền để cho ông ta vẫn tiếp tục nói. "Hai người này, một người trong đó là ông. Nhưng còn một người nữa? Ông nói, ông ta nên là ai?"
Nhà văn nói: "Người đó đương nhiên là chính Balzac".
Ông chủ xuất bản ngay tức khắc giống như một quả bóng xì hơi, giận dỗi bỏ đi.
Ông chủ xuất bản muốn tìm được sự ca ngợi của nhà văn nổi tiếng, cho nên đến nhà thăm. Còn nhà văn, có người bàn luận tác phẩm với ông ta, đương nhiên cũng có thể chịu khó tiếp.
Nói đi nói lại, ông chủ xuất bản dần dần thu hẹp vòng vây của đầu câu chuyện, đem những người hiểu tác phẩm của Balzac trong thế gian xác định là hhai người. Một người đương nhiên ông phải tặng cho nhà văn rồi, còn một người nữa, ông dự bị cho mình. Nhưng mình lại nói ra, thế thì không phải là người có tu dưỡng, vả lại những cái mình bằng lòng không nhất định là được nhà văn tán thưởng, vẫn là gợi ý nhà văn nói ra.
Đến đây, ông chủ xuất bản một mực theo thiết kế và cách nghĩ riêng của mình, chuẩn bị một tình cảm - ông đang mong đợi lời tán thưởng của nhà văn, để nhà văn chỉ ra ông là người hiểu tác phẩm của Balzac.
Nhà văn cũng rất "ý tứ", ông thật ra không từ chối lời của đối phương, bởi vì như thế quá làm cho người khác cụt hứng.
Nhưng ông cố ý coi thường "ý ở ngoài lời" của đối phương, một câu trả lời làm cho sự chờ mong của đối phương bị lộn nhào hết, chỉ có câu trả lời là, một người khác hiểu Balzac là chhính Balzac.
Thế là hai bên chẳng còn trò gì để diễn nữa, đành giải tán. Ông chủ xuất bản muốn mượn danh nghĩa của nhà văn để kiếm một khoản tiền nhỏ, nhưng mưu kế dự kiến không thành, thất bại quay về. Nhà văn giành thắng dễ dàng, vui mừng đắc ý.
Câu chuyện hài hước sau đây cũng có liên quan với Balzac, nhưng trong sự hài hước này, ông ta không giống trong ví dụ trước chỉ là một vật trang trí nhỏ, ông đã trở thành vai chính trong câu chuyện, "cơ quan" của sự hài là do ông điều khiển.
Balzac nói với bạn bè, ông có thể dựa vào bút tích của một người phán đoán được tính cách của người đó, dự kiến tương lai của người đó.
Một hôm, một ông già đem đến một quyển vở bài tập của một học sinh nhỏ, hỏi nhà văn: "Xin ông cho tôi biêt, đứa trẻ này có triển vọng không?"
Balzac giở đi giở lại quyển vở bài tập rất tỉ mỉ, sau đó nói: "Cụ là người thân của đứa trẻ?"
"Chẳng phải là gì cả, ông có thể cứ nói thật."
"Thế thì tốt", nhà văn nói, "Chẳng giấu gì cụ, đứa bé này là người tính nết lông bông, phản ứng chậm chạp, nó ắt chẳng làm nên việc gì".
"Nhưng, đại sư thân mến! Làm sao ông không nhận ra được bút tích của mình? Đây là chữ ông viết khi nhỏ đấy!"
Trong câu chuyện, Balzac tự nhận mình có thể dựa vào but tích của một người, phán đoán ra cá tính của người này, cách nói này có xác thực hay không, chúng tôi chưa tiến hành khảo cứu, cũng không có ham thích khảo cứu việc này. Nhưng tôi nghĩ, những người rất thích Balzac, khẳng định mong muốn việc này không xác thực, bởi vì thần tượng mà họ sùng bái - nhà văn lớn, ngài Balzac đã bị một vố đau, tự xưng có thể đoán bút tích, lại đến quyển vở bài tập mình viết khi nhỏ đều không nhìn ra.
Ông già kia thật là người giỏi bày ra được mưu kế, ông ta cố ý để cho Balzac làm trò cười cho thiên hạ xem, mục đích ông ta làm như vậy, e rằng là muốn làm giảm bớt sự ngông cuồng của Balzac.
"Ngông cuồng" là bệnh chung của các danh nhân, nhất là những người thiếu niên đắc chí. Người già không phục, bày ra một cái bẫy cho người có trí tuệ lớn, để đối phương ngoan ngoãn nhảy vào trong đó, để tỏ ra mình cao hơn người khác một cái đầu. Lần này Balzac đã thất bại, mình làm mình chịu, không ai gánh chịu trách nhiệm cho ông ta, đành chuốc lấy hậu quả.
Điều bất ngờ là một loại tư duy nghịch hướng. Có nhiều sự việc thheo tư duy thuận hướng sẽ phải bước vào ngõ cụt, tư duy xử lý sự việc không chuyển biến cũng phải bị thiệt. Nếu bạn không tin, thế thì hãy xem câu chuyện dưới đây:
Trên chiếc tàu nhanh chạy về Geneve, nhân viên trên tàu đang kiểm tra vé. Một ông luống cuống tìm chiếc vé tàu của mình, ông lật tung hết tất cả các túi áo, cuối cùng đã tìm thấy. Ông ta lẩm bẩm nói: "Cám ơn Thượng đế, nói chung thì cũng đã tìm thấy".
"Tìm không thấy thì cũng chẳng sao", một thân sĩ ngồi bên cạnh nói, "tôi đã từng đến Geneve 20 lần, đều khhông mua vé tàu".
Lời ông nói vừa khéo bị nhân viên trên tàu đứng bên cạnh nghe được, do đó sau khi tàu đến ga Geneve, vị thân sĩ này bị dẫn đến chỗ tạm giam, bị thẩm vấn gắt gao.
"Ông từng nói, ông đã từng 20 lần đến Geneve không có vé tàu?"
"Đúng thế, tôi đã từng nói".
"Ông biết, đây là phạm pháp?"
"Không, tôi không cho là như thế".
"Vậy thì, ông giải thích như thế nào với quan tòa đi tàu không có vé là chính đáng?"
"Rất đơn giản, tôi lái xe ôtô đến!"
Vị thân sĩ này rất tự nhiên lịch sự, ăn chơi phóng đãng, nhưng lại tỏ ra rất kín đáo. Bạn thấy đấy, nhân viên phục vụ trên tàu dẫn ông ta đến chỗ tạm giam, lại tra hỏi ông ta một hồi, ông ta đều không cáu. Chẳng phải ông ta đang chơi trò kín đáo đấy ư? Lầm lầm sắc mặt suốt ngày trầm lặng như mây đen che khuất mặt trời là kín đáo giả.
Trong kín đáo có chút hài hước thú vị, mới là bản chất của kín đáo. Đối phương hỏi ra sao, vị thân sĩ đã trả lời thực như thế, nhìn thấy đã "cùng đường bí lối" rồi, chúng ta thấy toát mồ hôi thay cho ông ta. Đối phương tiến dần từng bước một, còn vị thân sĩ lại lùi dần từng bước, vòng bao vây ngày càng thu hẹp, lập tức sắp gần tới chỗ đường cùng. Đột nhiên gặp đường vòng quay lại từ khó khăn chuyển thành thuận lợi, nói ra một câu trả lời cuối cùng, thế là "chân tướng" lộ ra trước thiên hạ.
Tính tháo vát của hài hước biểu hiện rất xuất sắc trên con người thân sĩ. Khi "cùng đường bí lối", ông nhanh chóng liên tưởng, từ việc ngồi ôtô nghĩ đến lái ôtô, từ việc ngồi tàu hỏa cần phải mua vé tàu, liên tưởng đến mình lái xe ôtô không phải mua vé; dựa trên liên tưởng này nhanh chóng điều chỉnh cách suy nghĩ của mình.
Hài hước còn có tác dụng ứng cấp, ứng cấp là biểu hiện đột xuất nhất của trí tuệ con người trong thời gian rất ngắn chiến thắng khó khăn, giải thoát tình cảnh túng quẫn. ứng cấp không những cần tháo vát mà còn cần nhanh trí.
Vị thân sĩ có thể chuyển "nguy" thành "an", nói lên năng lực ứng cấp của ông rất mạnh. Khả năng liên tưởng và năng lực ứng cấp của vị thân sĩ đã tỏ ra tính nhanh nhạy, tháo vát của hài hước.

23- Cố ý giải thích sai lệch

Trong sai lệch có đúng đắn, "giải thích" phải có chứng cứ mới nhìn thấy tinh nhanh tháo vát; sai lệch phải có "lý" mới nhìn thấy hài hước. Cách cố tình giải thích sai lệch là một trong những phương pháp biết rõ ngữ nghĩa đúng mà cố ý giải thích khác đi, cố ý tạo ra hài hước.
Cố ý giải thích sai lệch đương nhiên là không hợp lôgic, nhưng phải trong sai lệch có đúng đắn mới nhìn thấy sự tinh nhanh tháo vát. Nó là người thiết kế hài hước cố ý nhận thức và hiểu sự việc từ nghĩa khác, khiến khái niệm nó chỉ ra tách rời với khái niệm nó giải thích, từ đó tạo nên hiệu quả hài hước.

* * *

Thủ tướng Anh Wilson trong một lần tranh cử, diễn thuyết vừa đến nửa chừng, có một phần tử gây rối la to làm gián đoạn: "Cứt chó! Rác rưởi!"
Rõ ràng ý của người này là "bớt những lời nói xuông" hoặc "đừng nói lếu nói láo". Nhưng Wilson phớt lờ ý của anh ta, chỉ đáp lại một cái cười, nói một cách vỗ về: "Thưa ông, tôi sắp nói đến ngay vấn đề bẩn thỉu ông nhắc đến".
Tên gây rối đó chốc lát đã câm bặt.
ở đây đã vận dụng tính chhất nhiều nghĩa của từ ngữ để tạo ra hài hước. "Cứt chó" và "rác rưởi" có thể ví với "lời nói xuông và lời bỏ đi", cũng có thể mượn để chỉ "vấn đề bẩn thỉu", Wilson căn cứ hoàn cảnh đặc biệt riêng của mình lúc đó đang tiến hành diễn thuyết tranh cử, đã giải thích khác đối với các từ cứt chó và rác rưởi", khiến cho sự công kích của đối phương hụt hẫng.
Hài hước có tính chất súc tích, tuốt gươm giương nỏ quá mức, sẽ không thể sinh ra hài hước được.
Một câu nói của phần tử gây rối, thật là sặc mùi thuốc súng: nếu như "giao chiến" với anh ta, triển khai đấu đá bằng "luồng dao ánh kiếm" thì "ngọn lửa chiến tranh" sẽ thui chụi hết hài hước, mà dễ dàng đưa đến "đánh nhau" lại là biểu hiện không có đủ trí tuệ. Hài hước bao hàm trí sáng suốt nhìn thấy được tương lai xa, chói ngời màu sắc rung động lòng người.
Wilson đã giải thích khác từ ngữ, hài hước giành thắng, để giành thắng trong tranh cử đã bước một nước cờ cao. Cố ý giải thích sai lệch, không những chỉ loanh quanh trên tính chất nhiều nghĩa của từ ngữ, đôi khi còn có thể lợi dụng phương thức suy lý để khéo léo giải thích.

* Có một vị "học giả", trên thực tế là một người vô công rồi nghề, xun xoe.
Một hhôm, ông ta mua được 6 con chim sẻ mang từ Trung Quốc đến, quyết định dùng chúng đi nịnh Quốc vương.
Theo tập quán của quốc gia này, 7 là số tốt đẹp nhất. Nếu như đem đi tặng 6 con, Quốc vương có lẽ không vui, một khi ông ta nổi giận có thể sẽ phiền phức.
Nhưng chim sử Trung Quốc chỉ có 6 con, làm thế nào bây giờ? Ông ta suy nghĩ hồi lâu, quyết định cho lẫn vào một con chim sẻ của nước đó để cho đủ 7 con dâng lên Quốc vương.
Quốc vương vừa nhìn thấy, quả nhiên rất vui vẻ. Ông đã lần lượt xem tỉ mỉ từng con một thưởng ngoạn một lượt, đột nhiên phát hiện có một con chim sẻ trong nước lẫn vào trong đó, liền nổi giận, trách hỏi ông ta:
"Đây là cớ làm sao? Phải chăng ông tự cậy học rộng biết nhiều, lừa dối ta học ít không biết gì?
Vị :học giả" này vừa nghe xong, biết mình đã xông vào họa lớn, khiếp sợ phát run len. Đột nhiên, ông ta nghĩ ra được một lý do liền vội vàng nói với Quốc vương: "Thưa bệ hạ! Con chim sẻ trong nước này là một phiên dịch".
nói ông này là một học giả, thật ra không quá lời. Học vấn mà ông ta nghiên cứu là thứ học vấn xun xoe nịnh hót. Nghiên cứu đi nghiên cứu lại, mặc dù đối với nền văn hóa khoa học của nhân loại chẳng có chút giúp ích gì, nhưng đối với mình lại có thể đánh lừa để được "tước cao lộc dầy", chho nên bắt tay làm rất hăng hái.
Cổ ngữ Trung Quốc nói "Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa", nhưng thiên thời lại không toại lòng người lắm. Muốn dâng 7 con chim sẻ Trung Quốc, lại vẻn vẹn chỉ có 6 con, đành đánh lẫn vào 1 con chim sẻ trong nước cho đủ số.
Quốc vương, ngoài một số ít bị hàng ngàn người chỉ trích, hàng vạn người chửi ra, phần nhiều đều là vĩ đại sáng suốt, hàng giả đâu có thể che giấu nổi đôi mắt vàng ngọc của ông? Thế là, "long nhan" nổi giận, ông ta phải hỏi đến tội "khi quân", không khéo còn phải dính líu tụ tập bè đảng, tiêu diệt chín họ.
Vị "học giả" thật là oan uổng, ông đem biếu là hàng giả, nhưng là lòng "thành". Ông kêu oan khuất, đó là biểu hiện của kẻ "nhược phu" không có năng lực, làm như thế chẳng phải đã hoài phí cả một bụng đầy học vấn ư?
Có câu nói là: lòng thành tất tinh. Dựa vào một tấm lòng trung thành đối với Quốc vương, ông ta chỉ nhíu lông mày một cái đã bày ra kế: "Tâu bệ hạ, con chim sẻ trong nước này là một phiên dịch".
Vị học giả đã lợi dụng tư duy suy lý đã giải thích khác khéo léo - người ta đi ra nước ngoài cần có phiên dịch, thế thì chim sẻ cũng không ngoại lệ, con chim sẻ trong nước kia chính là một phiên dịch. Trong đúng đắn có ẩn chứa sai lệch, trong sai lệch có đúng đắn, vài phần đúng đắn, vài phần hoang đường.
Quốc vương không phải là học giả, ông ta không coi trọng trình bày khoa học và suy lý nghiêm ngặt, cái ông ta thích là sự luồn cúi của thần dân, lòng trung thành và tinh nhanh của học giả, khẳng định đã làm cho ông ta vừa ý rồi.
Có được lần "khải hoàn" này, vị học giả nhất định sẽ thừa thắng tiến lên, học vấn cũng chắc chắn càng làm càng lớn mạnh.
Cố ý giải thích sai lệch, còn có thể giúp người ta xử lý thuận lợi sự kiện quẫn bách xẩy ra ngoài ý muốn.

* Một nữ diễn viên bước lên sân khấu để hát trong ánh sáng chiếu rọi vào người, hát xong cúi chào, nhưng chưa đi được vài bước đã bị dây điện của microfone quấn ngã, thân hình xinh đẹp với dáng bộ bối rối lúc đó hình thành cảnh tượng phản mạnh mẽ, mọi người xem có người cười, người than thở cũng có người làm ầm lên.
Nữ diễn viên này trong luống cuống sinh ra nhanh trí, liền đứng dậy cầm lấy ống nói (microfone) để nói: "Tôi thật sự bị ngã vì nhiệt tình của mọi người!" Bỗng chốc, tiếng ốn ào đã biến thành tiếng cười và tiếng vỗ tay.
Sự việc ngẫu nhiên xẩy ra giống như "trò cười cho thiên hạ" như thế này, ai cũng đều không thể ngờ tới. Bởi vì nó là việc "gây thêm rắc rối" rất khó dự đoán trước được. Nó có thể làm cho người trong cuộc rất khó xử.
Lúc này, gặp lúc khó khăn không hoang mang, ung dung trấn tính được xem là yếu tố đầu tiên, nếu không thì tất cả đều rối tung rối mù. Mặc dù như thế, "việc xấu" cũng vẫn là xuất hiện, làm thế nào để cứu vãn thể diện? Việc này cần phải bù thêm vào một "việc đẹp". Việc "đẹp" này là gì đây? Chính là cái đẹp hài hước của ngôn ngữ giải thích thheo một cách khác mang lại một cách bất ngờ. Nữ diễn viên đã lấy việc "đẹp" bù vào việc "xấu" thật đáng noi theo.
Cố ý giải thích sai lệch, cần "giải thích" phải có căn cứ, sai lệch cũng phải có lý, từ trong đó phải thấy được có phần nhanh trí tháo vát, không phải là ba hoa nông cạn.

* Thầy giáo: "Anh có thể nêu lên ví dụ giải thích một chút lừa dối là gì được không?"
Học sinh: "Thưa thầy, nếu như thầy không cho em thông qua thì chính là lừa dối".
Thầy giáo: "Tại sao?"
Học sinhh: "Căn cứ pháp luật hiện có ở Trung Quốc, người tiến hành lừa dối chính là lợi dụng sự vô tri của người khác khiến họ bị tổn hại".
Giải thích của người học sinh đối với "lừa dối" thật rất mới mẻ, mà còn có "lý" có "căn cứ", anh ta dựa theo sự trùng hợp trên mặt chữ đã đưa ra giải thích độc đáo.

* Người cha: "Vừa mới thi, làm sao con đã được một điểm "0" rồi?"
Con trai: "Thầy giáo nói, tất cả chúng tôi đều phải bắt đầu từ "0".
Thi được điểm "0" vốn đã rất chán nản, lại còn bị cha trách hỏi, việc này chắc chắn là lại bày ra trước mặt con trai một đề thi.
Câu nói của người cha hiếm thấy để cho người ta không thể trả lời, nhưng "chó cùng dứt giậu" cũng vẫn có thể xem là cách tốt. Đúng, đổi một "đường" khá. Giải thích theo cách khác, vừa trả lời lấy lệ câu hỏi của cha, vừa biểu hiện quyết tâm của mình sau này phải làm lại. Nếu là người cha này có bản lĩnh của "Bá Lạc xem tướng ngựa" (phân biệt nhân tài), hoặc còn có thể phát hiện ra con trai của mình đích thực còn có chút tài biện bạch nữa!




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
24- Cố ý vi phạm lẽ thường tình

"Lôgic" có trái ngược với thường lệ, thế là sinh ra lý lẽ không đứng đắn, nguồn tài liệu hài hước lại nẩy nở ra trong lý lẽ không đứng đắn.

Có một diễn viên hài kể một câu chuyện như sau: Hai người A và B gặp nhau, vừa gặp mà đã như quen nhau từ lâu, tay bắt mặt mừng, thăm hỏi ân cần. Chờ sau khi hai người rất thân thiết một hồi xong, đột nhiên phát hiện đối phương lại là người xa lạ, thế là hai người đều cùng hỏi xem: "Xin hỏi quý danh quý tính?"

Làm nguồn tài liệu trong chuyện hài, câu chuyện này giàu cảm giác hài hước. Vậy thì cảm giác hài hước của nó tạo nên như thế nào đây? Rõ ràng là nó đem đổi vị trí thứ tự trước sau bình thường của sự việc, vi phạm lẽ thường tình.

Trong cuộc sống hàng ngày, người ta thường trước quen biết nhau, rồi sau mới thân thiết với nhau, còn hai người A và B trong câu chuyện đều còn chưa biết "quý danh quý tính" của nhau đã vội vàng hỏi thăm, nói chuyện vui, việc đó đã đảo lộn quy luật thông thường quen biết của mọi người, không hài hòa với lôgic bình thường của mọi người, do đó cảm giác hài hước liền sinh ra đúng lúc.

Giấc mơ là không thể tạo ra tiếp tục được, nằm mơ thấy bạn bè mời anh ta đi uống rượu xem kịch. Mọi người ngồi vào bàn tiệc, rượu cũng đã giót đầy đủ, các món ăn cũng đã bưng lên, kịch cũng đã mở màn, nhưng anh ta lại bị người vợ làm tỉnh giấc. Thế là anh ta đã mắng cho một trận nên thân.

Người vợ nói: "Thôi đừng chửi nữa, anh vẫn cần nhanh chóng ngủ đi! Có khả năng bây giờ kịch mới diễn đến nửa chừng thôi!"

Đại khái người này là một người mê kịch, anh ta luyến tiếc vở kịch hay kia trong mơ; anh ta cũng có thể là một kẻ háu rượu, không bỏ nổi bàn tiệc trong mơ.

Nhưng giấc mơ đẹp chưa trọn vẹn, đã bị người vợ phá mất, làm sao mà anh ta chẳng phát cáu?
Người này cũng đủ ngốc, cảnh trong mơ đâu có thể thành sự thật? Dù cho giấc mơ tiếp tục xẩy ra tiếp, cái mà anh ta thưởng thức cũng chẳng qua như trăng dưới nước, hoa trong gương, cái mà mình nhấm nháp cũng chẳng qua như chiếc bánh vẽ không thể làm cho đỡ đói.

Nhưng, câu chuyện này phát triển đến đây vẫn chưa có mùi vị hài hước bao nhiêu, nhạo báng chung chung người ngốc thì là mất đạo đức.

Câu trả lời của vợ anh ta có tác dụng làm nổi bật nét chính cho câu chuyện này. Cô ta cho mơ là thhật, làm cho chồng tiếp tục thực hiện giấc mơ, tìm lại niềm vui vừa mới thúc đẩy trong giấc mơ, hiện ra hết sức vô lý, hết sức hài hước.
Mặt trời mãi mãi chói lọi rực rỡ, bố lửa hừng hực, chưa từng có giây phút ảm đạm và lạnh ngắt, nhưng một người Ireland lại có cách nhìn như sau:
Trong quầy "bar" của khách hạn Hilton, truyền hình đang truyền tình hình thực tế của nhà du hành vũ trụ Mỹ đổ bộ lên Mặt trăng. Một người Mỹ nói với người Ireland của ông ta rằng: "Ông xem kìa, chàng trai người Mỹ tài quá!"

Người Ireland không coi là đúng, nói: "Việc này ra gì, người Ireland chúng tôi không lâu nữa sẽ phải sai người đổ bộ lên Mặt Trời".
Người Mỹ vô cùng kinh ngạc nói: "Mặt trời nóng như thế, người ta làm sao có thể lên đó được?'

Người Ireland nói: "Chúng tôi đợi đến lúc trời tối mới đi chứ!"
Hiếu thắng muốn hơn người khác là tiêu chí của một người sức sống mạnh mẽ, còn người gần đất xa trời chỉ có thể sống yên phận.
Người Ireland này rất không coi là đúng đắn đối với hành động vĩ đại đổ bộ lên Mặt trăng của người Mỹ, ông ta muốn trổ tài so đọ cao thấp, thế là nẩy ra ý tưởng đổ bộ lên Mặt trời kỳ lạ.

Đối mặt với câu hhỏi "Mặt trời nóng như thế, người ta làm thế nào có thể lên được?" của người Mỹ, lôgic chứa đựng trong câu trả lời của người Ireland là: Mặt trời ban ngày chói lọi rực rỡ là rất nóng, đến đêm tối, thế giới một mảng tối om om, mặt trời sẽ có thể trở nên lạnh, cho nên đợi đến lúc trời tối mới sẽ đổ bộ lên Mặt trời.

"Lôgic" này rõ ràng là có trái ngược với lẽ thường tình, lý lẽ mà ông ta khai thác không phù hợp với quy luật tư duy thông thường, cái lý mà ông ta đào bới là lý xiên xẹo, chất liệu hài hước đã nẩy sinh ra trong cái lý xiên xẹo.

Việc thao tác các dụng cụ hàng ngày nếu như vi phạm lẽ thường tình, tương tự cũng có thể gây nên trò cười:

Trời rất nóng. Một phụ nữ đã chi hai hào bạc mua một chiếc quạt giấy trong quán hàng bày bên đường.

Một giờ sau, cô ta cầm một chiếc quạt giấy tả tơi lại, chất vấn người bán hàng: "Quạt chị bán làm sao không dùng được như thế này?"

Người bán hàng vừa nhìn, ung dung thản nhiên như không, hỏi lại cô ta: "Chị dùng như thế nào?"
Người phụ nữ rất kinh ngạc: Chẳng lẽ đến cái quạt đều không biết dùng? Thật là đâu có cái lý đó! Rồi chị nói: "Hãy cầm lấy chiếc quạt quạt đi! Còn hỏi dùng như thế nào?"

"Ôi thôi!" cô bán hàng cố làm ra vẻ kinh ngạc, nói: "Bà chị ơi! Loại quạt rẻ tiền này không thể dùng như thế! Chị phải là cầm chắc chiếc quạt, để cho đầu mình lắc đi lắc lại trước cái quạt mới đúng".

Vi phạm lẽ thường tình, giải thích xuyên tạc khác đi, thật đáng nực cười.







http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
25- Nằm ngoài ý định và nằm trong tình ý

Có câu nói "không trùng hợp không thành sách", nói sáng tác nghệ thuật không tách dời cách trùng hợp.

Chúng ta có thể nói không trùng hợp không thành hài hước. Trùng hợp có thể sinh ra kết quả có tính hý kịch nhất, nó sở dĩ có thể làm cho người ta phì cười, là vì nó thường tạo nên tình cảnh hý kịch nằm ngoài ý định lại nằm trong tình lý.

"Nằm ngoài ý định" có thể tạo nên mạo hiểm của tình tiết, gây nên sự kỳ lạ của người đọc, nhưng đây lại không phải là cố tạo nên sự khác thường, dẫn đến khiến cho người đọc xuất hiện "trật bánh" về nhận thức, không đạt được hiệu quả hài hước định trước.
Vì thế, sẽ cần phải làm cho tình tiết hài hước từ "nằm ngoài ý định" chuyển hóa thành nằm "trong tình lý".
Cái gọi là "tình lý" chính là quy luật chung phát triển của sự vật. Nếu như tính đặc biệt của hài hước xây dựng trên quy luật chung này, cũng chính là người tạo ra hài hước là dùng cấu tứ nghệ thuật mới lạ, sáng tạo để gợi ra quy luật phổ biến của sự vật, như thế thì xung đột mâu thuẫn của hài hước sẽ có thể thực hiện được lạ mà không giả.

Cho nên, quan hệ của "nằm ngoài ý định" và "nằm trong tình lý" chính là sự thống nhất của cấu từ kỳ diệu của hài hước và quy luật chung của sự vật, sự thống nhất của tính mới lạ, tính sáng tạo của xung đột mâu thuẫn và tính khách quan.

Chỉ cần đem thống nhất một cách hữu cơ hai cái này lại với nhau, mới có thể khiến cho người thưởng thức tha hồ mà cười.

* Có hài hước là do sự trùng hợp ngôn ngữ tạo nên:
Một hôm, một người Yemen nhà ở nông thôn nhận được lá thư của anh trai từ Mỹ gửi về, trong thư nói anh trai của anh ta ở Mỹ kiếm được rất nhiều tiền, muốn anh ta sang Mỹ.

Người Yemen này liền bán ruộng đất của mình, đến nước Mỹ gặp anh trai mình. Ngày đầu tiên gặp nhau, anh ta hỏi anh trai: "Em không biết nói tiếng Anh, nếu có người nói chuyện với em, em phải làm như thế nào?"

Người anh nói với anh ta: "Chú trả lời Yes là được".
Sau đó, anh ta liền lên phố đi dạo chơi, vào một câu lạc bộ, lúc này một người tập quyền Anh, chạy lại nói với anh ta bằng tiếng Anh: "Ông có muốn đọ sức với tôi một chút không?"
Anh ta trả lời: "Yes".
Thế là người tập quyền Anh đã giáng cho anh một trận nên thân.

Ngày hôm sau, người anh trai nói với anh ta: "Nếu lại có người nói chuyện với chú, chú sẽ nói với họ No".
Anh ta lại đến chỗ người tập quyền Anh, người tập quyền Anh thấy anh ta đã hỏi: "Hôm qua anh đánh như thế đã đủ chưa?"

Anh ta trả lời: "No".
Thế là, người tập quyền Anh lại đánh anh ta một trận nữa.
Từ đó về sau, người Yemen này cũng không mốn ở lại nước Mỹ nữa. Không bao lâu đã quay trở về nhà ở Yemen. Sau khi về nhà anh ta nói với vợ: "Anh ở đó bị đánh, bởi vì anh đã nói Yes và No".

Một người Yemen không quản đường dài vạn dặm đến nước Mỹ, lại bị đối đãi như thế, thật quả là đáng buồn. Câu chuyện này hoàn toàn xây dựng trên nhân tố trùng hợp.

"Yes", từ này không phải là vạn năng, người anh trai lại xem nó là từ dùng vạn năng dạy cho em trai, để anh ta bất kể gặp tình huống gì đều nói "Yes", đương nhiên, như thế cũng không nhất định xẩy ra việc gì rối ren.,
Sự trùng khớp của sự việc ở chỗ, lời hỏi căn bản không thể dùng "Yes" để trả lời, người Yemen lại một mực sử dụng "Yes", do đó đã sinh ra sự việc không vui.
Sau khi người anh biết được đầu đuôi sự việc, lại sửa chứa quá mức đi đến một cực đoan khác, do đó bi kịch liền diễn lại một cách không tránh khỏi.

* Lại có hài hước do tình cảnh trùng khớp tạo nên
Donald đến khách sạn làm thủ tục thuê phòng. Không ngờ tới, ông ta vừa rời khỏi bàn phục vuj đã nổi trận lôi đình lên. Ông ta la hét đối với nhân viên phục vụ xách hành lý.
"Các anh cứ việc xem tôi là một thằng nhóc từ vùng đất hoang trũng ở Ireland đến! Tôi hoàn toàn không thể trả giá cao được, ở một phòng rộng bằng cái cũi bát như thế này, ngoài một chiếc ghế xếp ra chẳng còn có cái gì khác!"

Nhân viên phục vụ nói: "Xin mời vào, đây là thang máy".

Donald từ vùng sơn dã hoang vắng đến, cho nên anh ta có cảm giác tự ti, sợ người ta coi thường anh, nên luôn tìm cách giả vờ, cố làm ra vẻ thô tục và vô tri một chút.
Nhưng sau khi làm xong thủ tục, lập tức bước vào chiếc thang máy - sự việc trùng hợp này, anh ta vẫn bộc lộ ra sự nông cạn của mình.
Anh ta tưởng nhầm chiếc thang máy là phòng ở bố trí cho anh ta, nên cảm thấy mình bị làm nhục, cảm giác tự ti biến thành ngông cuồng mù quáng - anh ta lại nêu lên không trả tiền thuê phòng cao.

Phòng ở và thang máy tương tự nhau về tình cảnh, đẫ dẫn đến đoạn đối thoại này, đương nhiên sự việc trùng hợp này là lấy sự không hiểu biết về phương diện này của Donald làm tiền đề, anh ta không phải là một người đã từng nhìn thấy cảnh tượng lớn này, mùi vị hài hước tạo nên từ đó đương nhiên hiện ra đậm đà hơn.

26- Am hiểu tường tận chân tướng

Một Giám đốc câu lạc bộ nói: "Là người đàm phán, khi cần thiết phải thực thi phương pháp "xa thân gần đánh", đột phá cá nhân, cuối cùng giành thắng lợi".
Michael kinh doanh một câu lạc bộ, làm ăn cũng gọi là khấm khá, chỉ có điều là phạm vi phục vụ rất hẹp, hầu như những người đến đây đều là các chàng trai và các cô gái. Gần đây, ông luôn nghĩ phải mở rộng phạm vi kinh doanh và phục vụ.

Trước tiên là mở rộng một bộ phận địa điểm và hạng mục cung cấp cho thiếu niên, nhi đồng vui chơi, nhất là hai hạng mục chơi trò chơi và bơi lội các trẻ em tương đối thích.

Hai là có thể mở một số gian vui chơi cho người già tiêu khiển và giết thời giờ.

Đương nhiên, muốn mở rộng phạm vi kinh doanh, các việc khác đều tương đối đơn giản, hạng mục hiện tại phải nắm chắc thời gian là xây dựng một bể bơi. Hơn nữa, tốt nhất là có thể xây xong trước ngày Quốc tế thiếu nhi "mồng Một tháng Sáu", để chính thức mở cửa vào ngày 1 tháng 6, sau đó dùng một vài hình thức miễn phí hoặc ưu đãi thu hút khách bốn phương đến. Hoặc là liên hợp với Quỹ thiếu niên, nhi đồng hoặc Trung tâm hoạt động thiếu niên nhi đồng tổ chức một cuộc thi bơi, làm một quảng cáo sống cho Câu lạc bộ của Michael.

Michael biết, muốn xây dựng một bể bơi ở Los Angeles là không khó lắm, hơn nữa yêu cầu của Michael cũng không cao lắm, chỉ cần quy cách lớn nhỏ không vượt quá phạm vi.

Theo diện tích mảnh đất Michael hiện có: dài 100m, rộng 60m xây dựng thành hai bộ phận, hai bên mỗi bên rộng 30m, lần lượt xây dựng theo chiều sâu trung bình là 1,1m và 1,4m, để có thể thuận tiện cho nhi đồng ở độ tuổi khác nhau.
Sau nữa là phải có thiết bị lọc nước nóng, sau đó yêu cầu hoàn thành và nghiệm thu trước ngày 30 tháng 5. Không có yêu cầu đặc biệt gì khác nữa.

Cuối cùng, đem công trình này khoán cho người nào?
Để có chỗ trống chọn lựa nhất định, Michael đầu tiên nêu ra quảng cáo mời thầu.

Kết quả là ngày hôm sau đã có ba nhà thầu đến đấu thầu. Mục đích của Michael, đương nhiên là muốn đem công trình này giao khoán cho người đưa ra giá thấp nhất.

Nhưng, sau khi ông xem qua đơn thầu của cả ba nhà thầu, phát hiện đơn thầu của ba nhà thầu cung cấp đều không hoàn toàn giống nhau, thiết bị nước nóng, thiết bị lọc đất cát, thiết bị bơm nước, thiết kế, trang trí và các điều khoản phụ của mỗi nhà thầu cung cấp đều không giống nhau.

Nhà thầu Mark Twain báo giá tuy thấp chỉ có 95.000 USD, nhưng thiết bị nước nóng, thiết bị bơm nước đều là thiết bị máy móc kiểu cũ công suất thấp, thiết kế trang trí cũng cực kỳ đơn giản.

Còn thiết bị máy móc của Piter là tốt nhất hiện nay, hiệu suất thay đổi nước nóng rất cao, nói chung cũng không thể xuất hiện sự cố gì.

Nhưng báo giá của ông ta là 120.000 USD, còn báo giá của Green cao đến mức kỳ lạ, ông ta đòi đến 120.000 USD, chỉ là có thể trả tiền theo từng kỳ.

Thời gian trả tiền theo kỳ hạn là ba năm, bắt đầu từ ngày 1 tháng 6 năm đó, ngày 1 tháng 6 mỗi năm trả 40.000 USD. Điều đáng kể nhất là thiết bị nước nóng, bơm nước và lưới lọc mà Green cung cấp không những là tiên tiến nhất mà còn sau khi hoàn thành còn phục vụ theo dõi 8 năm liền.

Ngoài ra, thiết kế và trang trí của Green hhết sức mới lạ, các ghế dài ngồi nghỉ ở xung quanh bể bơi làm thành mô hình các động vật các nhi đồng yêu thích nhất.

Đột nhiên, việc tuyển chọn đã trở nên phức tạp như thế, muốn xây dựng một bể bơi như thế đòi hỏi phải suy xét thận trọng, biện pháp tốt nhất là vật đẹp giá rẻ, vừa kinh tế vừa thực dụng, vừa mới lạ vừa đặc biệt.
Michael suy tính kỹ càng, nên thương lượng với 3 vị này ra sao?

Cuối cùng, ông quyết định triệu tập một cuộc cạnh tranh, để cho 3 nhà thầu trực tiếp gặp mặt, cạnh tranh công khai.

Michael mời ba nhà thầu đến nhà mình. Người thứ nhất là Mark Twain là vào lúc 9 giờ sáng, người thứ hai là Piter hẹn vào lúc 9 giờ 15 phút, người thứ ba là Green thì hẹn vào lúc 9 giờ 30 phút.
Trước tiên là tiếp họ tại phòng khách, cùng bàn bạc với họ điều kiện của mỗi bên, đồng thời cùng để cho những nhà thầu xây dựng này xem xét lẫn nhau, so sánh với nhau nên sinh ra ý thức cạnh tranh rất mạnh mẽ, đồng thời hiểu rõ luôn luôn có khả năng sự việc trái ngược với nguyện vọng.

Sau đó, vào lúc 10 giờ, Michael lại lần lượt hẹn ba ông đến thư phòng để bàn tỉ mỉ, Michael để cho Mark Twain trên cơ sở nguyên giá thay đổi thiết bị tiên tiến.
Còn Mark Twain vốn chính là người hiểu tỏ tường đầu đuôi sự việc, ông đã tìm hiểu được ý nghĩ đấu thầu của hai nhà cạnh tranh khác từ trước.
Ông nói với Michael rằng Green trong tay túng thiếu, khó có thể hoàn thành sớm, e rằng trước 30 tháng 5 khó có thể hoàn thành công trình, còn Piter thì đang nằm bên bờ phá sản.


Đương nhiên, Mark Twain còn đáp ứng làm một ít nhượng bộ đồng thời đồng ý đổi dùng lưới lọc tiên tiến nhất, cũng dự định đem loại ống chất dẻo cung cấp theo đơn thầu ban đầu đổi thành ống đồng. Hơn nữa đáp ứng sau khi làm xong còn phục vụ theo dõi liền 8 năm, thanh toán tiền theo từng kỳ có thể xem xét và tiến hành thương lượng thêm một bước, nhưng phải có điều kiện: trả tiền phân 2 năm, tổng báo giá mỗi năm từ 50.000 USD tăng lên đến 100.000 USD.

Về sau Piter và Green cũng đều làm một số nhượng bộ, Piter đồng ý giảm giá 20.000 USD, kết toán là 100.000 USD.

Green cũng đồng ý hạ giá đến 105.000 USD. Nhưng vẫn phân 3 năm trả tiền, mỗi năm trả 35.000 USD, họ cũng tương tự đều tuyên truyền ưu thế của công ty mình, nhấn mạnh và nhắc nhở Michael rằng, nếu Michael tiếp nhận nhà thầu khác, có thể sẽ mang lại phiêu liêu mạo hiểm cho mình.

Bất kể như thế nào, những người cạnh tranh đều đã làm việc nhượng bộ, đồng thời Michael cũng thông qua các nhà thầu điều tra được những xung đột lẫn nhau này của họ, học được một số kiến thức có liên quan đến bơi lội, tìm hiểu được bể bơi chiều sâu xem ra rất đơn giản, lại chứa đựng nhiều nguy hiểm như thế.

Bây giờ, Michael cần phải so sánh phân tích thêm một bước sự hơn kém của cả ba nhà thầu này.

Mark Twain và Piter đều đòi giá là 100.000 USD, mặc dù thiết bị nước nóng và thiết bị bơm nước của Piter tiên tiến hơn của Mark Twain, nhưng tình hình tài chính của công ty Piter gần đây không phồn thịnh, đích thực có nguy cơ phá sản, tiếp nhận công ty Piter sẽ có nghĩa là phải xông vào mạo hiểm, huống hồ công ty Mark Twain còn có thể cung cấp phục vụ theo sau khi bán và có thể thanh toán tiền theo thời kỳ nữa?
Đương nhiên, ông ta có thể hy vọng thêm một bước để công ty Mark Twain làm như thế.

Cho nên, khi đàm phán vòng thứ ba, Michael đã mời ông Mark Twain đến, đã nói cách suy nghĩ của mình, đã nói ưu thế của công ty Mark Twain so với các công ty của Piter và Green, tương tự cũng bày tỏ ý nguyện của mình muốn hợp tác với công ty của ông Mark Twain. Chỉ có điều mong muốn công ty của Mark Twain khi thiết kế trang trí có thể nên có đổi mới, mình muốn chi thêm giá 5.000 USD, tức sẽ trả tiền thanh toán là 105.000 USD, mà số tiền 5.000 USD chi thêm sẽ trả tiền trong năm đầu tiên.

Dù công ty Mark Twain nếu tiếp nhận điều kiện của Michael nêu, về mặt kỹ thuật có khó khăn nhất định, nhưng về kinh tế dục vọng do lợi nhuận quyến rũ và xem xét đến cạnh tranh là kịch liệt như thế, hình thế luôn là có lợi đối với khách hàng Michael cho nên cuối cùng đã đồng ý ký hợp đồng với Michael, chính thức thỏa thuận.

Cạnh tranh khiến cho các nhà thầu nhượng bộ dễ dàng, việc này chắc chắn mang lại lợi ích rất lớn cho khách hàng Michael.

Là người đàm phán, bạn có muốn biết chuyện của Michael của công ty Manhaton đã giành được một thành công của đàm phán không?

Công ty Manhaton là một xí nghiệp cỡ trung sản xuất thiết bị toàn bộ.

ở đây có hai nhân vật quan trọng: Phó tổng giám đốc phụ trách thiết kế kỹ thuật là Janna Michael và Phó tổng giám đốc phụ trách kinh tiêu là Jan Rock.

Công ty Manhaton đã bắt đầu tung vào thị trường một thiết bị mới gọi là kiểu "781". Công năng cụ thể của thiết bị kiểu "781" ra sao, ở đây không có liên quan nhiều đến câu chuyện.

Thiết bị kiểu "781" là do bộ phận nghiên cứu chế thử của Michael phụ trách khai thác, bộ phận này còn phụ trách kiểm nghiệm và quản lý chất lượng.

Công việc của Rock là chuyển bán thiết bị kiểu "781" và các sản phẩm khác của công ty Manhaton sản xuất. Ông còn phụ trách công tác bảo hành sửa chữa thiết bị sau khi bán ra.

Khi Michael đồng ý thiết bị kiểu "781" có thể đem ra thị trường, Michael quy định tốc độ làm việc của kiểu "781" không được vượt quá 1300 đơn vị trong một giờ, bộ phận của Michael còn đang tiếp tục cố gắng để làm cho năng lực tải ra của kiểu "781" tăng thêm gấp đôi.
Nhưng, điều mà Michael rất kinh ngạc là, khách hàng khi sử dụng thiết bị kiểu "781" đã vượt qua khá nhiều năng lực làm việc định mức của loại thiết bị này. Với phụ tải này, thiết bị kiểu "781" hầu như vẫn vận hành tốt, nhưng cũng có máy đã bị loại ra.

Michael đã tinh tường phát hiện ra mọi vấn đề.
Thế là, Michael đã trách hỏi Rock - Rock chẳng những không đảm bảo tình hình vận hành sau này, mà cũng không nhấn mạnh với khách dùng tốc độ vận chuyển của thiết bị "781" không được vượt quá 1300 đơn vị trong một giờ.

Rock cho rằng, muốn giành được ưu thế trong cạnh tranh, thì phải phát huy đầy đủ tiềm năng của loại máy mới này. Việc này không chỉ là để bán chạy thiết bị "781" làm "tiên phong mở đường", mà còn vì có thể bán chạy tất cả mọi sản phẩm của công ty Manhaton tốt hơn nữa, huống chi tỉ lệ báo sửa chữa sự cố của loại máy này vẫn chưa rơi vào chỗ xấu nhất!

Rock bằng lòng đảm nhận trách nhiệm cho việc đó. Nhưng Michael suy xét từ hiện thực, ý thức được một khi sản phẩm phát sinh sự cố một cách phổ biến, sẽ có thể làm mất thanh danh của Michael, hơn thế đương nhiên có tổn thất đến hình tượng và thanh danh đẹp đẽ của công ty Manhaton.

Cuối cùng, Tổng giám đốc công ty Manhaton đã nói với Michael và Rock với ý nghĩa sâu xa rằng: "Tôi mong muốn hai ông giải quyết vấn đề một cách hòa bình". Điều đó có nghĩa là, chỉ có thông qua đàm phán để giải quyết vấn đề này.

Theo sự sắp đặt trước, Michael và Rock mang theo nhân viên phụ trách của mỗi bên chuẩn bị sau một tuần lễ tiến hành hội đàm để "giải quyết vấn đề".

Michael cầm chắc ý định, nhất thiết trong một tuần lễ chuẩn bị đầy đủ, làm tốt chuẩn bị cân bằng tâm lý.
Một tuần lễ sau, Michael thật ra không vừa bắt đầu đã chỉ trích đối phương.

Ngược lại, Michael trước khi ngồi vào bàn làm việc, đã sa vào trạng thái suy nghĩ. Michael đang tiến hành xét lại mình, nhớ lại quan hệ của mình với bộ phận tiêu thụ.

Michael biết quan hệ của họ không được tốt lắm, mà Michael phải thừa nhận, mình phải có một phần trách nhiệm đối với việc đó. Michael chho rằng, bộ phận tiêu thụ cố nhiên là một bộ phận hợp thành ắt không thể thiếu được của công ty, nhưng Michael lại cảm thấy mình phải cao hơn Rock một bậc. Làm ra kiệt tác kiểu "781" như thế đòi hỏi phải nát óc nghiên cứu tìm tòi và thiết kế khéo léo tuyệt vời biết bao!
Đã là như thế, bộ phận tiêu thụ biết được những gì?
Sản phẩm chính xác vì sao đến chỗ Rock đã xẩy ra khuyết tật?

Michael không biết được những huyền bí trong đó.
Mặc dù Michael đã xem xét cẩn thận những tình huống này, nhưng ông thật ra không giấu nổi tình cảm của mình, tức là lòng tự tôn và chí lớn giống như Rock.

Trong ngành này, Michael đã có danh dự tương đối lớn, Michael không muốn để cho bộ phận tiêu thụ vì hoàn thành chỉ tiêu tiêu thụ mà làm bại hoại danh dự của mình. Mặc dù nói điều đó ra rất khó nói, nhưng thực tế chính là như thế. Làm thế nào? Ông đã sa vào đấu tranh tư tưởng kịch liệt!

Michael đã dùng đủ thời gian tiến hành xét lại đối với tình cảm bên trong con người mình, tiếp đó ông lại chú ý đến đối thủ đàm phán của mình - Rock.

Rock là một người đứng đắn, tinh lực dồi dào, tính tình cởi mở, rất được mọi người thích. Bất kể nói như thế nào, Rock là một người quản lý tiêu thụ tinh khôn, là một nhà quản lý tốt, hơn nữa Rock chí lớn tràn ngập trong lòng. Công lao to lớn của Rock, Michael đều nhìn thấy.

Michael biết, Rock lòng đầy hy vọng trèo lên đến chức vụ cao nhất của công ty.

Mọi người đều biết, Rock luôn vắt óc nghĩ thầm quan tâm đến tình hình làm việc của Michael, dốc hết toàn lực làm hợp với ý thích của Michael và những người dưới quyền ông ta.

Trước khi đàm phán, Michael lại đã tiến hành sắp xếp rất tốt. Michael gọi người giúp việc của mình là Kent Haile đến, chỉ thị cho Kent đi tiến hành điều tra nghiên cứu một lần.

Haile nhận lệnh đã cố hết sức điều tra rõ tình hình tiêu thụ ở một số khu vực đặc biệt của công ty Manhaton những năm gần đây: những người nào là khách hàng lớn nhất, quan hệ qua lại với khách hàng như thế nào, tỷ lệ báo sửa chữa của các khách hàng tăng giảm v.v...

Michael lòng buồn rười rượi suy nghĩ: "Hiện thực của cả thế cục rốt cuộc sẽ ra sao?" Bởi vì lần đàm phán này bất kể đạt được thỏa thuận gì, đều quyết không thể chỉ có lợi cho một bộ phận nào. Phải làm cho Tổng giám đốc tin rằng, chỉ có chiếu cố đến toàn cục mới là kế sách vẹn toàn. Cách làm khác vừa không thể làm cho mình vẻ vang thêm, cũng không thể làm cho Rock mát mặt.

Song, Michael phải thay đổi hiện trạng, đồng thời việc thay đổi hiện trạng là không thể thoái thác được. Bằng không thì hậu quả sẽ không thể tưởng tượng được, một điểm lớn nhất là cực kỳ bất lợi đối với mình.

Bởi vì hiện trạng là các nhân viên bán hàng cho phép khách hàng sử dụng thiết bị với tố độ vận chuyển cao hơn, như thế có lợi đối với Rock.
Khi Haile đã hoàn thành việc điều tra nghiên cứu, Michael đã triệu tập các cốt cnsn thuộc bộ phận của mình lại, cùng nghiên cứu những tài liệu do Haile đưa ra. Họ đã tiến hành "thảo luận cao hứng" đối với các vấn đề, mặc dù có một số kiến nghị không sát thực tế, vu vơ hoang đường, nhưng Michael đã dần dần nghĩ ra một kế hoạch.

Thế là, Michael đã thực thi mưu kế trước chịu lỗi thay cho người khác, để công ty Manhaton bay bổng lên. Sau đó, cùng Haile phân làm hai đường, bí mật ra quân. Ông ta để cho Haile thử làm "người phát ngôn ma", nếu lên những phản bác Rock có thể sẽ đưa ra, rồi phân tích từng cái một, tìm ra kế sách đối phó kịp thời.
Trải qua một loạt dày công xếp sắp, Michael cuối cùng đã đạt được mục đích dự định trước trong đàm phán.
Là người đàm phán, phải giữ được cảm giác thầm bí của mình, bằng không sẽ lộ ra chân tướng quá sớm, bạn sẽ phải trả ra giá rất lớn.

Ví dụ dưới đây có thể càng chứng minh điều này thêm một bước nữa.
Một ngân hàng vùng Deczase có một khách hàng rất khó đối phó, ông chính là một kỹ sư kỹ thuật. Vị kỹ sư này trong thời gian kinh tế thịnh vượng đã từng có một thời gian lẫy lừng chói lọi, nhưng về sau do kinh tế tiêu điều, nên công ty tư vấn ông kinh doanh đã bị đóng cửa.
Do trước kia, ông luôn giữ quan hệ tốt với ngân hàng, do đó ngân hàng cũng luôn cho rằng công ty của ông kinh doanh là một công ty xí nghiệp rất tốt đẹp.
Song, do đủ mọi nhân tố, ngân hàng lại không muốn cho ông vay tiền quá nhiều. Còn vị kỹ sư này lại hy vọng đợi thời cơ trở lại, trăm phương ngàn kế mong muốn ngân hàng giúp đỡ, tranh thủ đồng tình của ngân hàng.

Qua một thời gian, vị kỹ sư này đã tìm ra được kế, dứt khoát thực thi kế "vây Ngụy cứu Triệu" (tức bao vây đối thủ, buộc đối thủ phải rút lui), dựng đứng chuyện, buộc đối phương phải đi vào khuôn khổ.
Thế là, vị kỹ sư này dùng thế lực làm suy yếu đối phương trước, đồng thời điều động bộ phận kế toán chỉnh lý sẵn mấy việc ứng phó.
Rõ ràng ngân hàng có một số việc trở tay không kịp. Trưởng ngành ngân hàng lập tức đã gọi điện thoại xin lỗi.

Nhưng, vị kỹ sư này lại cho rằng năng lực làm việc của ngân hàng quá tồi, thủ tục làm việc quá chậm, dẫn đến kế hoạch mua sản phẩm nước ngoài của công ty này kéo dài nên bị tổn thất rất lớn. Hãy xem kế liên hoàn của vị kỹ sư đầy mưu kế này tuyệt vời biết bao!

Lại còn một việc, vì nhân viên ngân hàng sơ suất nhất thời, khiến cho một khoản tiền vốn dĩ nên nhập vào tài khoản cá nhân của vị kỹ sư này, lại nhập vào tài khoản của một công ty khác. Vì vậy, vị kỹ sư này đang vắt óc nghĩ thầm, tìm không ra cớ, do đó đã dựng đứng chuyện càng thêm trắng trợn, đồng thời đem đủ mọi "tội trạng" mà ngân hàng đã mắc phải trước kia đều nêu lên tất cả, đòi ngân hàng phải xem tình hình để thu xếp. Ra oai như thế với người khác thật là ghê gớm! Thật là Chư Bát Giới thua trận, lại đổ vấy cho người khác!

Sau hai tuần lễ, vị kỹ sư cảm thấy thời gian đã đến liền vội vàng "khua chiêng thu quân", lập tức thu xếp hành lý trở về "đại bản doanh".
Lúc này, sau khi đã phạm nhiều sai lầm như thế, vị giám đốc ngân hàng này đã đưa ra dự tính xấu nhất, chuẩn bị tiếp nhận tất cả mọi phê bình và trừng phạt nghiêm khắc.
Cũng lúc này, vị kỹ sư lại gọi điện thoại đến, tỏ ra không hề để ý, đồng thời hỏi đối phương một cách nhẹ nhàng: "Đối với khoản vay tư nhân hai năm trở lên nên tính toán như thế nào?"
Vị giám đốc kia đang nơm nớp lo sợ, nhưng nghe được giọng nói của vị kỹ sư thật ra không gay gắt, liền thở phào nhẹ nhõm, đem cách tính lãi nói ra một cách tỉ mỉ.

"Khoản vay này phải chăng là phương thức có lợi nhất trên thị trường chung?"

"Đương nhiên!" giám đốc nhanh chóng trả lời.
"Theo tôi biết, đây là một phương thức vay có lợi nhất hiện nay". Vị giám đốc này luống cuống, sinh ra sợ lại mắc tội với vị khách hàng khó đối phó này.
Vị kỹ sư này rất mong muốn khôi phục quan hệ trước kia với ngân hàng, và yêu cầu giám đốc ngân hàng để ông ta nhận được một khoản vay tư nhân. Kết quả là giám đốc ngân hàng làm việc theo điều lệ.
Nhưng, tình hình về sau lại phát sinh chuyển biến. Bởi vì vị kỹ sư này nhất thời sai sót khiến cho giám đôc ngân hàng đã thủ tiêu khoản vay cho ông ta, rốt cuộc ông ta đã mắc phải sai lầm gì? Thật đáng tiếc! Thông minh trái lại bị sai lầm của thông minh.

Vốn là, vị kỹ sư này đã tiếp nhận chiêu đãi bữa cơm rưa của giám đốc ngân hàng vào ngày lễ Noen, sau khi uống rượu say, đã hiện rõ nguyên hình, còn bày ra một bộ dạng rất đắc ý.
Lúc đó, vị giám đốc này thật ra không nói gì nhiều, nhưng trong lòng ông ta lại căm giận đến cực độ, ông ta đưa ra quyết tâm "ăn miếng trả miếng".
Thế là ngày hôm sau đã tuyên bố thủ tiêu khoản cho vị kỹ sư này vay. Hãy xem! Một tiệc "Hồng Mông yến", lại đốt cháy Lầu Khánh Công. Vị giám đốc này từ đây chốc lát đã xoay chuyển cục chiến, giành được thắng lợi.

Dễ dàng nhận thấy, trong đàm phán muốn giành được thành công, phải nghiêm ngặt đề phòng bại lộ chân tướng, càng không thể biểu hiện ra tư thế của người thắng quá sớm, cần phải để cho đối phương cảm thấy anh ta là người thắng mới đúng.
Phó viện trưởng Học viện Thương mại thuộc Đạihọc Bon nước Đức, giáo sư Weigerna nói: Nếu bạn đi mua sắm quần áo, bạn nhìn thấy một chiếc quần áo kiểu mới lạ, mốt đặc biệt, bạn mặc thử vào người cảm thấy nó vừa vặn có thể làm nổi bật dáng người một cách hữu hiệu, khiến cho hình tượng bạn càng thêm sức quyến rũ, nhưng theo người ta nói loại quần áo này dễ phai màu, dễ tạo nên nếp nhăn.

Một chiếc quần áo khác, kiểu mốt kém một chút, màu sắc không tươi tắn như thế, nhưng nó là sản phẩm nổi tiếng thật sự, chất liệu tốt, may lịch sự, dùng lâu bền.

Đứng trước hai chiếc quần áo giá cả như nhau, có lẽ bạn có thể chọn cái trước mà không chọn cái sau.
Đó là vì sao?

Là người đàm phán, cần phải chú ý sức ảnh hưởng của phong cách.
Một vị danh sư hài kịch nói với các đồ đệ:

"Tiếng nói điệu cười, giơ tay tung chân nhất thời của một người đều có thể phản ánh ra phẩm hạnh tu dưỡng phong cách của anh ta. Ngược lại, việc bình phẩm lung tung của người khác cũng có thể ảnh hưởng đến phong cách của anh ta".

"Có một số người mặc dù nói năng không nhiều, nhưng chúng ta đều thích cùng ở lại với anh ta, vì anh ta làm cho bạn cảm thấy thoải mái nhẹ nhõm; có người gặp người khác liền ăn nói đĩnh đạc, mặt mày hớn hở, để ấn tượng cho người ta là chỉ được mẽ bề ngoài, luôn không muốn đến gần họ. Có cán bộ nhân viên công ty chân thành đoàn kết, công ty làm việc sôi nổi, họ tôn trọng lãnh đạo công ty của họ, bằng lòng người trước kẻ sau đua nhau hiến công hiến sức; có công ty, cán bộ nhân viên làm việc không tích cực, cãi cọ lăng nhăng lẫn nhau, lòng người lyt án, dẫn đếnn công việc không có tài nào phát triển được. Từ đó ta thấy, việc tu dưỡng phong cách là bắt buộc phải làm".

Một quan chức ngoại giao kiêm thầy giáo hướng dẫn nghiên cứu sinh chuyên ngành quan hệ quốc tế noí:
"Đôi lúc chúng ta đích thực cảm thấy rằng, có một loại người bất kể xuất hiện ở chỗ nào, mọi người đều chú ý đến anh ta, dù họ không nói không rằng, chỉ đứng hoặc ngồi như thế, cũng mang lại cho người khác một cảm giác đặc biệt và ấn tượng sâu sắc, thậm chí còn có thể khiến cho người ta sinh ra lòng tín nhiệm đối với anh ta hoàn toàn.
"Chu Ân Lai, vĩ nhân của Trung Quốc chính là một người có phong cách lãnh tụ như thế. Chỉ cần là trường hợp Thủ tướng Chu Ân Lai xuất hiện, mỗi người đều cảm thấy vẻ uy nghiêm thấu lộ ra từ trong sức quyến rũ vô hình và hình tượng của ông. Những lời nói dí dỏm hài hước, nụ cười hiền hòa thân thiết, lời thăm hỏi ân cần của Thủ tướng Chu Ân Lai đều khiến cho mọi người hết sức cảm động. Còn phong cách hình tượng của lãnh tụ vĩ đại Mao Trạch Đông càng là phong độ lãnh tụ trời sinh, chính là một số người nước ngoài cũng xôn xao tán thưởng".

Phong cách và dáng vẻ bề ngoài đẹp phải chăng thực tế không có dính líu nhiều với nhau. Mấu chốt là bạn có thể thông qua sự biểu lộ trên mặt, ngôn ngữ động tác hình thể của bạn phô bày ra phong cách mê người của bạn hay không. Cái thật sự làm lay động lòng người chính là phong cách mà không phải là vẻ đẹp bề ngoài.

Trong đời sống thực tế, có người nói năng lộ vẻ tuổi xuân phơi phới, ý lạ tuôn trào, nói theo thao bất tuyệt, không vội vàng hấp tấp, tỏ ra tài cán và phong cách hơn người, giành được sự yêu thích và coi trọng của người nghe; có người quẫn bách không yên, nói năng loạn xạ, đực người ra như tượng, chân tay luống cuống không biết đặt như thế nào, thường làm cho mọi người thất vọng lớn.

Vì sao lại có sự sai khác lớn như thế?
Nhà tâm lý học nổi tiếng thế giới Freud cho rằng:
Mỗi người đều có một hình tượng mình lý tưởng, đây chính là "cái tôi lý tướng" mà tâm lý học nói. "Cái tôi lý tưởng" thường là ý nghĩ viển vông. Mặc dù những người trên bàn đàm phán đến từ các nơi khác nhau, trưởng thành trong hoàn cảnh khác nhau, mỗi người có hình tượng mình khác nhau, nhưng có lẽ họ đều có một số điểm chung, dáng vẻ xinh đẹp, tình cảm phong phú, tư duy nhanh nhạy, nói năng lưu loát v.v..., hơn nữa đều mong muốn lưu lại cho đối pương thân thiết lương thiện, thông minh thẳng thắn, tài học uyên bác. Nhưng bất kể những "cái tôi lý tưởng" này hoàn hảo bao nhiêu, đều phải thông qua tiếng nói điệu cười, cử chỉ lời nói việc làm của mình, tranh thủ đem nó phát huy đến mức hết sức tường tận thấu triệt. Vậy thì, người đàm phán làm thế nào mới có thể thể hiện ra phong cách riêng này? Nói một cách thông tục là có thể thông qua động tác thân thể của chúng ta để thể hiện, như tư thế đứng hoặc tư thế ngồi, tư thế đi đường, nói chuyện lên bổng xuống chìm hoặc khôi hài dí dỏm, mức độ chăm chú nói chuyện với người khác v.v... Tất cả những việc này, không phải là bắt chước vụng về, kiểu cách mất tự nhiên, nó vừa hùa theo mà lại vừa tràn ngập nhanh trí, từ đó thấu lộ ra cảm giác quyền uy, có thể sinh ra một sức quyến rũ vô hình, từng giọt từng giọt dốc vào lòng đối phương, lúc này không danh tiếng thắng danh tiếng, làm cho người ta khâm phục".

Cựu Quốc vụ khanh Mỹ Baker cho rằng: "Một phương diện quan trọng của đàm phán chính là tự tin. Tự tin là cơ sở, nó là hạt nhân định vị tâm tình của người đàm phán, đối với việc có thể phát huy tác dụng được hay không trên bàn đàm phán là hết sức quan trọng. Khi hai bên đàm phán ngồi vào bàn đám phán, đối mặt với nhau, cùng chăm chú nhìn nhau, có lẽ vì hoàn cảnh thay đổi hoặc lo lắng nhiệm vụ có hoàn thành được hay không hoặc ít hoặc nhiều khó tránh khỏi không tự nhiên. Nhưng nó có thể làm cho sự chú ý của bạn tập trung cao độ, suy nghĩ cẩn thận chắc chắn, nhưng căng thẳng quá mức thường có thể ảnh hưởng phát huy, làm cho ý tứ của mình không thể diễn đạt được hoàn toàn. Vì vậy, tiến hành tự điều chỉnh khống chế, nhấn mạnh tự tin sẽ vô cùng quan trọng. Lúc này đòi hỏi người đàm phán nhìn rõ đầy đủ ưu thế của phía mình, giữ được đầu óc tỉnh táo, tuyệt đối không được mơ hồ. Theo đó, dáng không tự nhiên có thể dần dần mất, người đàm phán cần chú ý luôn luôn điều chỉnh đốt âm điệu, tiết tấu và biểu lộ tình cảm phối hợp động tác của mình, phát huy mình một cách tự nhiên theo ý muốn, để đặt cơ sở đàm phán tốt.
Một vị bộ trưởng kinh tế ngoại thương Trung Quốc cho rằng:

- Trong đàm phán, bước làm vững chắc, bày tỏ tự tin đầy đủ, đối đáp ung dung, động tác tự nhiên theo ý muốn của bạn... tất cả mọi việc này, đều có thể khiến đối phương cảm thấy đàm phán với bạn thật là một việc hưởng thụ. Vì vậy, anh ta sẽ có thể nói với mình rằng: "Tôi nhất định phải hết sức cẩn thận tỉ mỉ, tránh tái mặt". Vì vậy, việc đàm phán của bạn chẳng phải đã thành công quá nửa không?
- Là người đàm phán, không nên bị hư danh dọa mình, cần phải dốc hết dũng khí, tự cường tự tin, đồng thời tiếp đến cùng.
- Là người đàn phán, phải vận dụng linh hoạt độ nổi tiếng, nắm chắc mấu chốt và lập trường của độ nổi tiếng, phải nhìn thấu thực chất đàm phán, nắm chắc thời cơ đấu tranh một cách có lợi, giành được đàm phán thắng lợi.

Về lý luận "đàm phán học" nói:
- Mọi người đều là cá thể hữu cơ của toàn xã hội, chỉ có đem cá thể hòa vào trong cả xã hội, mới có thể nhận thức được mình. Năng lực của một người và đối nhân xử sự thường có liên quan với đánh giá, nếu đánh giá cao năng lực của họ tương đối cao. Cho nên, chúng ta ngồi vào bàn đàm phán, một bên là Chủ tịch Hội đồng quản trị, là Tổng giám đốc, còn mình chỉ là một người trợ lý, hoặc là một người quản lý bộ môn, hình tượng cá thể trong lòng sẽ có thể lu mờ, tự thẹn tự khinh, xấu hổ không xứng.
- Là người đàm phán, điều đáng nhắc nhủ là, đối phương là Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc quả là có năng lực, nhưng bạn nên biết rằng, năng lực của họ chưa hẳn thể hiện trên phương diện đàm phán. Về mặt kinh doanh của công ty có lẽ rất có đặc điểm hoặc đối với sản xuất và nghiệp vụ của công ty rất thông thạo, chỉ chẳng qua là quan tâm đối với đàm phán thôi. Cho nên, trước khi chưa làm rõ hư thực không tìm hiểu đối phương không nên tự coi nhẹ mình.
- Bất cứ lúc nào, đều không nên bị hư danh làm chìm ngập. Đúng thế, người ta thường bị hư danh dọa dẫm, mê say. Nhưng, cần phải nhắc nhở là: hư danh của đối phương chỉ là hổ giấy, ngoài mạnh trong yếu.
- Bạn đã từng tiến hành nhiều lần đàm phán, đã tích lũy được kinh nghiệm phong phú, về cơ bản đều là giành được thành công ngay bước đầu, lãnh đạo coi trọng, đồng nghiệp đánh giá cao. Nhưng, mỗi khi gặp một lần đàm phán, bạn nhất thiết phải cảnh giác với mình, bồi bổ thêm mình, nhất thiết phải quên đi những thành công bạn đã có, quên đi tất cả mọi lời đánh giá tốt. Bởi vì nếu bạn hý hửng đắc ý, một khi thất bại, sự coi trọng và biểu dương của lãnh đạo đối với bạn kỳ thực là lời khuyên răn đối với bạn, thế thì phải càng cố gắng hơn, thận trọng phòng ngừa sự xói mòn bằng thuốc phiện.

Hội trưởng hội Thương mại Quốc tế Pháp Sarrai nói:
- Muốn trở thành một chuyên gia đàm phán thành công, không những phải vứt bỏ hư danh, luôn luôn kiểm lại mình, xem năng lực của mình có phù hợp với danh tiếng hay không, đồng thời còn phải nhìn xa trông rộng, phải hiểu được quy luật lịch sử "người sau hơn kẻ trước", chỉ có như thế mới có thể trở thành một chuyên gia đàm phán chịu được thử thách.
- Là người đàm phán, cần phải nghĩ ra kế hay trong lúc nguy ngập, không ngừng xuất hiện. Trong nguy nan sinh kế là năng lực của tố chất tâm lý vận dụng trí thông minh không bao giờ hết để ứng biến. Bởi vì sự vật luôn không ngừng phát sinh biến đổi, đàm phán giữa người với người, giữa công ty với công ty hoặc giữa người với công ty cũng là trạng thái động biến đổi theo thời gian. Cho nên người ta sẽ cần phải thường xuyên điều chỉnh tâm lý của mình để thích ứng với cục thế thay đổi. Đặc biệt là khi đàm phán đạt đến lúc mấu chốt, càng cần phải nghĩ ra kế hay trong lúc nguy cấp, để ứng phó với tình huống mới, vấn đề mới. Hơn nữa, trong cả quá trình đàm phán, cũng không thể thường là một vẻ mặt, một giọng điệu, mà phải nhiều màu nhiều vẻ. Đây là tố chất cơ bản và điều cần có của người đàm phán thay đổi.

- Trong đàm phán do sự thay đổi của thời gian và trường hợp vượt ngoài ý định, lúc này đầu óc sẽ phải sinh kế, đồng thời nhằm đúng sự việc đột phát tiến hành xử lý một cách linh hoạt cụ thể.

Một quan chức Liên hợp quốc trong hồi ký đã biết:
- Nói chung, người ta đứng trước trường hợp bỡ ngỡ khó tránh luôn có vẻ lạnh nhạt ở mức độ khác nhau, hoặc khi gặp cấp trên nghiêm khắc lại có thể khó tránh có sự gò bó ở mức độ khác nhau, nhưng những việc này sẽ dần dần tự mất đi theo thời gian chuyển dịch. Nhưng trong đàm phán, cũng chính là nói trong thời gian đàm phán có hạn, nếu như bạn có trở ngại tâm lý, cảm giác tự ti nghiêm trọng, vừa mới mở miệng nói đã nói năng lộn xộn, mồ hôi nhễ nhãi đầy mặt, thì khẳng định bạn sẽ thua đối phương trong đàm phán. Trạng thái tâm lý này khiến bạn tự ti tự khinh rẻ, mất lòng tự tin. Cho dù bạn có nhân phẩm tốt, tri thức nhiều, năng động, có trí sáng tạo, nhưng đều có thể vì thiếu tinh lực mà liên tiếp thất lợi. Vậy thì, làm thế nào mới có thể làm được trấn tĩnh tự nhiên trong đàm phán? Nói một cách ngắn gọn chính là phải không ngừng tăng cường tu dưỡng tâm lý, luôn luôn giữ trạng thái tâm lý lạc quan; tham gia hoạt động xã hội nhiều hơn, không ngừng tổng kết thực tiễn, như thế, trong đàm phán bạn sẽ có thể thích ứng hoàn cảnh, tăng cường lòng tin, làm tăng mạnh năng lực chống dồn nén tâm lý, có thể giành được thành công trong đàm phán.

Hễ nhắc đến đàm phán, trong đầu óc của chúng ta đã có thể nổi lên câu chữ kiểu "tranh luận kịch liệt", đã có thể nổi lên trường hợp "Gia Cát Lượng khẩu chiến quần Nho". Do đó, đàm phán là chiến trường khói súng mù mịt. Đã là một trận chiến đấu, đương nhiên sẽ phải nói chiến thuật chiến lược.
ở đây sẽ bàn đến vấn đề chiến thuật:
Trên tờ "Tin tức hàng ngày" Đức đăng tin:
Một lần, một nhà triệu phú người Đức muốn mua một loạt máy bay trực thăng, dùng trong ngành du lịch.

Ông đặt kế hoạch phải mua 40 chiếc, mà ít nhất phải mua được 20 chiếc. Thoạt đầu, nhà triệu phú này tự mình đứng ra đàm phán với Hãng chế tạo máy bay, nhưng sự việc đi ngược lại với ý muốn, làm thế nào cũng đều không thành.
Cuối cùng làm cho nhà triệu phú này bỗng trở nên giận dữ, quở trách các nhân viên công tác của nhà máy chế tạo máy bay một trận lớn, phất tay áo bỏ đi.
Song, sự cám dỗ của lợi nhuận khiến ông ta thèm thuồng đứng ngồi không yên, cầm điện thoại lên không phân biệt ngày đêm gọi không ngừng.

Thế là, liền tìm được một người đại lý, người này tính khí ôn hòa, thay ông ta tiếp tục đàm phán với Hãng chế tạo máy bay.
Dựa theo lòng mình, nhà triệu phú này đã nói lộ chân tướng với người đại lý: "Chỉ cần có thể mua được 20 chiếc máy bay cũng đã xem là tốt rồi".
Kết quả đàm phán làm cho nhà triệu phú này hết sức kinh ngạc: người đại lý này lại đã mua được toàn bộ 40 chiếc máy bay! Lòng kính trọng tự nhiên nảy sinh, nhà triệu phú hỏi dò người đại lý bí mật thành công.
"Rất đơn giản, chẳng có gì bí mật đáng nói. Mỗi lần khi đàm phán rơi vào chỗ bí tắc, tôi đã nói thẳng khích đối phương: "Các ông mong muốn đàm phán với tôi hay là mong muốn đàm phán với ông chủ của tôi?" Kết quả là đối phương đành phải ngoan ngoãn nói: "Thôi được, thôi được! Tất cả đều làm theo ý của ông!"

Chủ biên tờ báo "Tin tức hàng ngày" bình luận nói:
"Đây là một chiến thuật đùa giỡn rất đặc sắc, tứ đục nước béo cò".
Muốn sử dụng chiến thuật này, về lý luận để nói, cần phải có hai người đàm phán, mà hai người đàm phán không đồng thời xuất hiện trong cùng một cuộc đàm phán buôn bán, trong đó ảnh hưởng không tốt của một người để lại cho đối phương tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến cách nhìn đối với một người khác.
Trong ví dụ trên, nhà triệu phú chính là "ngư ông", tác dụng của ông ta ở chỗ kích thích đối phương sinh ra phản ứng "người này không dễ nói chuyện", "gặp phải người này thật là đen đủi đến tám đời". Lúc này, người đại lý cũng chính là một vũng "nước đục", đối phương là con "cá to" này vừa nhìn thấy nước, lại không thể như cá gặp nước chăng?
Nói cho cùng, nhiệm vụ của "ngư ông" chỉ là cần phải bằng lời nói, hành động của mình làm cho đối phương sinh ra ác cảm "thật chẳng muốn nói chuyện tiếp với người này nữa", công việc tiếp theo lại là "một vũng nước đục" rồi, tức người đại lý dùng một bộ mặt mới tiếp tục đàm phán với đối phương - cá".
Nhưng, ở đây có một tiền đề: trong cuộc đàm phán này đối phương - con cá này cũng rất muốn đạt được một hiệp nghị "nước trong" nào đó.

Đối phương - con cá to này - vốn muốn nổi lên mặt nước hít thở một chút không khí trong lành, nó cảm thấy không khí dưới đáy nước ngột ngạt khó thở, mà lên mặt nước thì tự do tự tại, vênh vang tự đắc một hồi.
Cho nên, không thể vì yêu cầu "không hợp lý" của "ngư ông" mà bỏ đàm phán hoặc hợp tác, mà bằng lòng thay đổi một phương thức đàm phán khác hoặc toàn bộ kíp người đàm phán khác đề bàn tiếp, đi đến thỏa thuận hợp tác.
Trong cuộc đàm phán này, phía "cá" chiếm lĩnh chiến trường chính, về bề ngoài tỏ ra là địa vị chủ đạo, từ trong tâm lý không muốn giao chiến với "ngư ông", hầu như hơi sợ, chỉ muốn giao chiến với người đại lý, người đại lý lại lấy "ngư ông" làm hậu thuẫn, bắt buộc phía "cá" phải theo sự chi phối.

"Ngư ông" lợi dụng mâu thuẫn về tâm lý của phía "cá", cuối cùng giành được thành công, mò được "cá" trong "nước đục".
Chiến thuật "đục nước béo cò" một khi khởi động, hai người phải hợp tác chặt chẽ, phối hợp thống nhất.
Có thể nói, người đàm phán thứ hai "nước đục" chính là phải lợi dụng ấn tượng không tốt của đối phương - "con cá to này" sinh ra đối với người đàm phán thứ nhất - "ngư ông", đồng thời lấy đó là khởi điểm mở ra một giới hạn mới của một cõi riêng.

Đương nhiên, nếu như người đàm phán thứ nhất "ngư ông" biểu diễn không thành công, người đàm phán thứ hai - "nước đục" chỉ có thể phí công tốn sức.

Một vị Tổng thống trong hồi ký đã nêu kiến nghị với bạn đọc:
"Là người đàm phán phải tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng như thế nào? Hai cách thăm dò "ve sầu thoát sác" và "tiện tay dắt dê" này có thể giúp bạn vượt qua chỗ khó.
Trong đàm phán, để nắm vững một cách xác đáng, chuẩn xác hơn tư tưởng, thái độ, tính cách, hứng thú của đối phương để điều chỉnh kịp thời lời nói việc làm của mình, đạt được mục đích nâng cao hiệu suất thành công của đàm phán, thường thường cần phải tiến hành trước cuộc "chinh thám hỏa lực" ngụy trang, đây chính là thuật thăm dò "ve sầu thoát xác".
Nó bao gồm hhai loại: "thuận tay dắt dê" và "ve sầu thoát xác":

Thủ đoạn thăm dò thường dùng là thuận tay dắt dê. Thông qua những lời hỏi khéo léo, trong trao đổi tìm hiểu sự huyền bí tâm lý của đối phương, nắm rõ động thái tư tưởng của đối phương. Loại thăm dò này trước tiên phải tìm được đề chuyện xác đáng nhất, tự nhiên nhất, "đẩy thuyền theo dòng" mới có thể đạt được mục đích của mình.
Nếu như không có chuyện để nói, không có đề để bàn, thì có thể hiện ra bắt chước bừa, lợn lành chữa thành lợn què trong nghệ thuật và kỹ xảo đàm phán.

Hai là phải dùng phương thức trao đổi xác đáng nhất, tự nhiên nhất.
ở đây có một ví dụ:

Cậu Trương yêu cô Lưu công tác cùng một phòng ban: Cô Lưu người rất xinh, nhưng cậu Trương không biết cô Lưu có yêu mình hay không.
Thế là cậu Trương dùng tiểu thuyết để bắt chuyện:
"Cô đã xem tác phẩm văn học này, thích nhất nhân vật nam giới nào trong chuyện?"
"Tôi thích nhất Uông Thế Dân", cô Lưu đáp.

"Vì sao nào?" cậu Trương nhân đà hỏi thêm.

"Bởi vì Uông Thế Dân rất cần cù, chí sự nghiệp rất mạnh, có tài năng quản lý, tri thức lại uyên bác, là người đứng đắn, biết thông cảm và mến người khác, đặc biệt là tôn trọng phụ nữ..."
"ừ. Nếu như tôi cũng có những ưu điểm này của Uông Thế Dân, cô có thích không?"
"Đương nhiên thích".
Cậu Trương thông qua việc thăm dò này, đã hoàn toàn khỏi phải dùng hỏi rõ ràng cô Lưu nữa, đã biết được tiêu chuẩn cô Lưu chọn bạn trai.
Hơn nữa, cậu Trương biết cô ta thật ra không ruồng bỏ mình cùng đi với cô, đối với các phương diện như địa vị hiện có và dáng vẻ bề ngoài của cô mình cũng rất thích.

Thế là, cậu Trương đã chịu khó bù đắp những chỗ thiếu sót, đồng thời mạnh dạn, tự tin đi lại với cô Lưu, chẳng mấy chốc đã xác định được quan hệ yêu đương.


Cậu Trương chọn đề tài thăm dò xác đáng, khéo kéo, lời hỏi tự nhiên, đúng mức, nắm chắc tính tương tự của nhân vật nam trong tiểu thuyết với mình, đạt được mục đích một cách thành công.
Một nhà ngoại giao nổi tiếng ở Liên hợp quốc, trong hồi ký của ông viết:
- Thăm dò có thể dùng thuật ve sầu thoát xác.

Tức thông qua hành vi chủ động của mình phát ra thông tin quan sát phản ứng của đối phương. Đưa một điếu thuốc, giót một chén nước, mời một chỗ ngồi, mời xem phim một lần, hợp tác một việc với đối phương v.v..., đều có thể thăm dò được thái độ của đối phương. Ví dụ, bạn có chút hiểu lầm hoặc trục trặc với đối phương đàm phán ở lần đàm phán trước, nhưng hiện tại đã thay đổi ý nghĩ. Để thăm dò thái độ của đối phương ra sao, bạn có thể chọn một cơ hội thích đáng, đưa ra tư thái rõ ràng, nếu như đối phương cho ra phản ứng thiện ý, thì nói lên rằng anh ta không có so đo tính toán, bạn cũng có thể thành thật với họ, mở lại đàm phán. Nếu như đáp ứng của đối phương không sảng khoái lắm, nói năng úp mở, sẽ nói lên rằng anh ta vẫn còn tính toán, bạn nên theo chiều hướng tự phê bình một cách tự mình hiểu, với tư thế cao tìm được sự thông cảm và tin tưởng của đối phương. Nếu như thái độ của đối phương là từ chối, thì nói lên rằng đối phương còn hận, lúc này, tốt nhất là tạm dừng đàm phán.
- Là người đàm phán, cần phải biết chọn thuật dùng "nhu" giành thắng.
Thuật dùng nhu giành thắng vốn là do "binh gia" đưa ra, cũng là một trong những phương pháp thường dùng trong khẩu chiến. Quan hệ giữa nhu và cương (mềm và cứng rắn) là một loại quan hệ biện chứng thống nhất, đối lập. Sự vật cứng rắn thường dễ gãy, dễ vỡ, không có tính dai (dẻo dai); sự vật mềm dẻo thường có thể tùy cơ ứng biến, có tính dai.
Đàm phán là một trận đối kháng tranh luận kịch liệt, trong nhiều lúc nhiều nơi, nếu như một mực lấy cứng rắn chọi cứng rắn, nhuệ khí bộc lộ ra hết, thường có thể tạo nên hậu quả hai bên đều chịu tổn thương, cũng không đạt được mục đích thuyết phục đối phương. Một người biết đàm phán luôn hết sức tránh xung đột chính diện trong điều kiện không lợi, mềm hóa nhuệ khí, đối chọi khéo léo, dùng nhu khắc cương, dùng nhu kiềm chế mạnh, cuối cùng giành được thành công.

- Là người đàm phán, thi hành thuật dùng "nhu thắng" như thế nào?
Dùng thủ đoạn của "nhu" quấn quít chặt lấy đối phương, từ đó cảm động đối phương, thuyết phục đối phương.

Bài dân ca Trung Quốc hát rằng:

Vào rừng trông thấy song quấn cây,
Ra rừng lại thấy cây quấn song.
Cây chết song sống, chết vẫn quấn,
Song chết cây sống quấn đến sống.


Cho nên, bất kể "mềm quấn rắn mài" ra sao, nhưng luôn phải dựa vào tinh thần bền bỉ bất khuất đánh lâu dài, trong "mềm quấn rắm mài" tìm thời cơ, không tranh công lao nhất thời mà tranh đối phương xoay chuyển lại. Dưới đây chính là một ví dụ rất hay.

Lý Minh mê việc tạo rừng phủ xanh đồi núi, đã nhận thầu một khoảnh rừng hoang, nhưng khi bàn bạc với vợ không nhận được sự đồng ý của vợ là Tuyết Mai.

Lý Minh sau khi lên núi đã gặp khó khăn, bảo vợ giúp đỡ, nhưng vợ vì chồng không trưng cầu ý kiến của mình đã quyết định bừa nên đắn đo tính toán, khôngn thèm dòm ngó đến.

Lý Minh không còn lời nào để nói nữa, đành phải mời trưởng thôn đến nói giúp.
Hai người đến trước Tuyết Mai, trưởng thôn trước tiên phê bình chồng: "Lý Minh này, anh cũng là, việc lớn như thế này mà anh cũng không bàn bạc với Tuyết Mai một chút! Cha là trời, mẹ là đất, vợ là Ngọc hoàng thượng đế, anh chân thành thẳng thắn, Tuyết Mai nhất định sẽ ủng hộ".
Tuyết Mai nói: "Mọi phiền phức bản thân anh ấy gây ra mình tự giải quyết, bảo tôi có cách gì giúp đỡ?
Trưởng thôn nói: "Tuyết Mai ơi! Cô nên yên tâm, Lý Minh là một người thông minh..."
"Còn nói thông minh? Có ai không chửi anh ta là "thằng ngốc làm bừa", những người có chút đầu óc cũng không thể đem tiền rải lên chỗ núi hoang!"
Trưởng thôn nói: "Tối hôm qua tôi đã tính thay Lý Minh, theo anh ấy làm như thế, lâm trường là không thể thua lỗ. Có câu: Qua cơn gió lớn mới biết cây cứng mềm, có đi đường xa mới biết sức ngựa".

Lúc này, Lý Minh cũng lên tiếng, nói: "Tuyết Mai, em nói có lẽ đúng. Nhưng anh lấy tiền đi không phải là đi đánh bạc, đi chơi gái điếm, mà là đi làm xanh đồi hoang, đem lại hạnh phú cho nhân dân, việc này còn vượt xa việc sửa cầu sửa đường của các bậc tiền bối. Huống hồ thiên hạ hưng vong mọi người đều có trách nhiệm chứ?"
Trưởng thôn cũng nói một cách kích động: "Tuyết Mai, cô nên nghe lời tôi, ủng hộ Lý Minh, tôi ủng hộ anh ấy từ đáy lòng. Tôi kiến nghị cô và Lý Minh cùng lên núi, vợ chồng một lòng, rơm rạ cũng biến thành vàng, hai bạn chỉ cần kết thành một sợi thừng, nhất định sẽ thành công".

"Ôi!" Tuyết Mai thở dài một cái, cuối cùng nói: "Trước đây làm sao tôi đã lấy anh, một con người như thế này! Thật là làm cho người ta dở khóc dở cười!"

Rút cuộc người vợ đã bị thuyết phục, đem tất cả hành lý và đồ dùng sinh hoạt chuẩn bị đầy đủ, ngày hôm sau đã cùng với Lý Minh lên núi.
ở trên, trưởng thôn và Lý Minh thuyết phục Tuyết Mai chính là dùng thuật "nhu thắng".
Họ đã tìm được chỗ đột phá từ trong tư tưởng của Tuyết Mai chủ yếu lo lắng làm lâm trường lỗ vốn, "cắt thuốc đúng bệnh" tiền hành thuyết phục, lời lẽ êm dịu khéo léo, trong êm dịu lý lẽ rõ ràng, rất chân thành đủ để cảm hóa lòng người cuối cùng sáng tỏ trong lòng đạt được mục đích định sẵn.

Đã dùng phương pháp này thì giọng nói và thái độ trước hết phải tương đối êm dịu, còn nội dung diễn đạt trong đó lại có thành phần tương đối cưng rắn.

Dùng "mềm quấn rắn mài" càng nên chú ý dùng nhiều lời tỏ ra cung kính, giọng nói êm dịu khéo léo, lấy "mềm mỏng" tranh thủ lòng người, tạo nên tình thế biện luận có lợi cho mình; lại phải sử dụng thích đáng những câu hỏi ngược lại.

Cũng có nghĩa là cần phải trong mềm mại ẩn sắc nhọn, nhưng ẩn mà không lộ liễu. Là phương pháp sắc nhọn ẩn trong mềm mại, mấu chốt là ở chỗ sắc nhọn của bạn, cái sắc nhọn này không nên quá cứng, mà phải thật sự chọc trúng chỗ hiểm yếu của đối phương, chọc mà không tránh được, tránh mà không chọc.

Là người đàm phán, trong việc chọn cách "mềm quấn rắn mài", ẩn sắc nhọn trong mềm mỏng thực thi lập đi lập lại nhiều lần, lại phải làm thế nào để nắm vững thuật từ chối êm dịu khéo léo?
Hoạt động đàm phán giống như nhiều hoạt động xã giao, có nhu cầu được người khác lý giải và hợp tác, nhưng đồng thời cũng có thể thường gặp tình huống người khác nêu ra yêu cầu đối với mình.

Từ việc nâng cao trình độ đi lại giữa người này với người khác để xét, nếu như ai cũng đều có thể rời làm theo ý người, thế thì đây đương nhiên là việc đều vui vẻ lớn.

Nhưng trong cuộc sống hiện thực tràn ngập mọi quan hệ lợi ích, quan hệ mâu thuẫn, quan hệ kiềm chế, thật ra lại không hoàn toàn như thế.
Bởi vì việc này ở trong đó có phân biệt hợp lý và không hợp lý, hợp tình và không hợp tình, có thể làm được và không thể làm được.
Nếu như tùy tiện hứa lung tung với người khác, thì bạn sẽ dẫn lửa tự thiêu, gây ra đủ mọi phiền phức.

Quốc vụ khanh Mỹ, Tiến sĩ Kitsinger trong tác phẩm đã viết:
"Bất cứ hoạt động xã giao nào bao gồm cả đàm phán kinh tế mậu dịch trong đó, để đạt được hiệu quả bình đẳng cùng có lợi, không phải là cứ một mực tùy tiện hứa lung tung. Trên thực tế, quá trình đàm phán chính là một quá trình lấy hiệp thương làm thủ đoạn, lấy cùng có lợi làm mục đích thông qua hoạt động của hai bên, cùng có từ chối, cùng có hứa hẹn, cuối cùng đạt được nhận thức chung. Một người đàm phán tài giỏi, phải khéo nắm chắc kỹ xảo từ chối "không", lại phải linh hoạt vận dụng hiệu quả từ chối "không".
Trong đàm phán, giá như những yêu cầu đối phương nêu lên vượt quá mức độ phía mình có thể đồng ý, cãi chày cãi cối, không còn cách nào hơn, thế thì để làm cho đối phương thật sự ý thức được khả năng uổng công tính toán, có thể bày ra trước đối phương một lá chắn, tức tỏ ra mình thực tế "lực bất tòng tâm", thương nhưng đành chịu (không giúp được), từ đó làm cho đối phương vứt bỏ những điều làm rầy ra đó, đồng thời thông cảm với những điều từ chối của mình.

Lá chắn mà chúng tôi nói ở đây là có thể nhấn mạnh từ hai phương diện khác nhau.
Trước tiên, một số điều kiện tất yếu nào đó mà tự mình không thể thỏa mãn được yêu cầu của đối phương, như lực lượng kỹ thuật, hạn chế quyền lực, tiền vốn v.v...

Hai là, lá chắn chính là hạn chế của xã hội như pháp luật, chế độ, kỷ luật, lệ thường, tình thế v.v...

Giám đốc tiêu thụ của một công ty tập đoàn đồ điện gia đình đàm phán với giám đốc một cửa hàng đồ điện về việc bán buôn TV màu và phục vụ sau khi bán.

Khi đàm phán đến điều khoản giá cả, giám đốc tiêu thụ của công ty đồ điện gia đình nêu lên để đối phương khi bán buôn đồng thời ưu đãi thêm một loạt tủ lạnh.
Giám đốc cửa hàng đồ điện qua suy nghĩ cẩn thận, cảm thấy không nên nhập thêm tủ lạnh nữa, liền nói với giám đốc tiêu thụ:

"Cám ơn sự giới thiệu và quan tâm của ông, nhưng chúng tôi đã ký hợp đồng bán buôn tủ lạnh với công ty đồ điện gia đình khác rồi. Hiện tại nguồn hàng đã có đủ, hàng tồn kho cũng đã đủ. Nếu như muốn nhập thêm hàng nữa thì, một là tiền vốn quay vòng của chúng tôi có hạn, hai là chúng tôi đã đặt ra một điều quy định: phàm là đặt hàng vượt quá dự toán, phải tập thể lãnh đạo thảo luận. Hiện tại hai giám đốc khác đã đi công tác xa, thật là không phải. Xin lỗi, chúng tôi từ nay về sau nếu cần ký hợp đồng nữa, nhất định sẽ liên hệ với quý công ty".
Trong ví dụ này, giám đốc cửa hàng đồ điện vừa nêu ra lá chắn tự mình không có quyền một mình quyết định được; hễ là đặt hàng vượt quá dự toán phải cả tập thể lãnh đạo thảo luận, cũng đã nêu ra những giới hạn khách quan như hàng tồn còn nhiều, tiền vốn không đủ, lãnh đạo đi công tác ở ngoài, từ đó đã chặn được một cách có hiệu quả sự vương vấn thêm một bước của đối phương.

Dù đối phương vẫn còn vương vấn chưa rõ, truy hỏi:
"Hợp đồng của các ông ký với công ty nào?"
"Giá hàng nhập vào là bao nhiêu?"
Giám đốc cửa hàng có thể bắt chước làm theo, ung dung dựng lên tấm lá chắn, ví như trả lời:

"Xin lỗi, theo quy định chế độ của công ty là phải từ chối điều bí mật, tôi là một giám đốc không thể dẫn đầu vi phạm được!"

Đứng trước một số yêu cầu của đối phương trong đàm phán nêu ra mình cho là không hợp lý hoặc hành vi quá mức, hoặc khiêu khích bới lông tìm vết, tốt nhất không nên phản bác nói thẳng ra ngay, càng không cần nổi cáu lên, tranh luận kịch liẹt, có thể thông qua biện pháo dử để đạt được mục đích từ chối.

Biện pháo thao tác cụ thể là: trước hết không trả lời lại ngay, mà là nói bóng nói gió đưa ra một số vấn đề đã kinh qua suy nghĩ dẫn đối phương tự mâu thuẫn.

Một nhân viên bán chào hàng điện cơ bàn việc mua bán máy điện với giám đốc một côngn ty, vị giám đốc công ty này cầm sách thuyết minh sản phẩm lên xem, đột nhiên nổi giận:

"Chất lượng của loại máy điện kiểu HL của công ty các bạn bán ra chất lượng quá kém! Lần trước suýt nữa thì tôi bị bỏng tay!

Nhân viên bán hàng nghe xong không biện luận với đối phương, mà mỉm cười nói với vị giám đốc này:

"Thưa ngài giám đốc, nếu thật như thế, thì tôi không những phải xin lỗi ngài, mà còn phải để ngài trả lại hàng".

Tiếp đó anh ta bắt đầu nói liên hồi:

"Đương nhiên, bất cứ máy điện nào khi làm việc đều có phát nhiệt ở mức độ nhất định, chỉ là phát nhiệt không nên vượt quá tiêu chuẩn của Hội kỹ thuật điện toàn quốc quy định, Ngài nói có phải không?"

"Đúng thế".

Nhân viên bán hàng hỏi tiếp:

"Theo tiêu chuẩn kỹ thuật nhà nước, nhiệt độ của máy điện có thể cao 50C so với nhiệt độ trong phòng; có phải thế không?"

Giám đốc nói: "Đúng vậy, nhưng nhiệt độ máy điện của các bạn quá cao, lúc đó tôi sờ vào xuýt nữa thì làm bỏng tay tôi!"

Nhân viên bán hàng nói: "Thế thì thật xin lỗi. Nhưng tôi muốn xin hỏi một chút, nhiệt độ phân xưởng của các bạn cao hơn nhiệt độ ngoài trời bao nhiêu?"
"Khoảng 7,50C"

Nhân viên bán hàng đã rõ, cười nói: "Thế thì đúng rồi, nhiệt độ ngoài trời 350C, cộng thêm hai lần nhiệt độ tăng 7,50C tổng cộng là 500C, xin hỏi nếu tay của ngài đem đặt vào trong nước có nhiệt độ 500C, liệu có thể bị bỏng không?"

Giám đốc chẳng còn gì để nói đối đáp lại.

Nhân viên bánn hàng nói: "Vậy thì ngài giám đốc có còn ý kiến nào khác đối với máy điện kiểu HL của chúng tôi không?"
Giám đốc nói: "Không, chúng tôi sẽ mua thêm 3 chiếc nữa nhé!"

Khi một số yêu cầu của người ta bị đối phương từ chối, luôn sẽ cảm thấy khắp người vẫn không được tự nhiên. Là một bên phải ngỏ lời từ chối, nếu như muốn giành việc từ chối cho đối phương, thì nên khẳng định một bộ phận, từ chối một bộ phận.

Nói chung, trước tiên dùng giọng đồng tình để bày tỏ ý tứ để phòng ngừa phát sinh tâm lý đối kháng trong tiéep xúc và đàm phán.

Là một người đàm phán, biết người biết mặt lại phải biết lòng, trước tiên từ trong ý kiến của đối phương tìm ra một số nội dung không phải là thực chất mà hai bên đều không thể phản đối, dùng góc độ thích hợp này đưa ra lời đánh giá khẳng định, trình bày ra những chỗ chung trong đó, bày tỏ sự hiểu biết và tôn trọng đối với đối phương.

Sau đó, đối với nội dung mà hai bên đánh giá không thống nhất sẽ dịu dàng khéo léo kích dậy sự đồng tình của đối phương.

Như vậy, do đối phương đã giành được sự thỏa mãn tâm lý được tôn trọng, được hiểu biết trước, khoảng cách về tâm lý hai bên sẽ xích lại gần, về sau khi bị từ chối sẽ cảm thấy đối thủ của họ là tương đối thấu tình đạt lý. Từ đó, hai bên có thể dắt tay nhau cùng đi qua lịch trình đàm phán.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
27- Lấy thoái làm tiến

Lý Ngao, nhà văn nổi tiếng Đài Loan, trong những bài viết của ông thường chuyên môn bác bỏ Tưởng Giới Thạch. Bởi vì Tưởng Giới Thạch thường nói mình từ nhỏ đã theo Tôn Trung Sơn làm cách mạng.

Lý Ngao đưa ra dẫn chứng Tưởng Giới Thạch khi Tôn Trung Sơn gặp nhiều lúc khó khăn đã thoát ly phe cách mạng, từ đó làm cho người đời nhìn thấy một Tưởng Giới Thạch khác.

ở đây, chúng tôi chỉ nói riêng vấn đề mưu lược, đem việc "chạy trốn" của Tưởng Giới Thạch cố ý tạm nói là mưu kế nhân sinh mà ông ta vận dụng.
Bởi vì, tất cả mọi việc làm của ông ta đều là cố ý để làm.

Trong thời gian 6 năm, từ năm 1918, Tưởng Giới Thạch lầnn đầu tiên từ chức chủ nhiệm tác chiến bộ Tư lệnh "quân Việt viện Mân" (quân Quảng Đông Quảng Tây viện trợ Phúc Kiến), đến tháng 4 năm 1924 ông ta chính thức nhận chức Hiệu trưởng trường Quân sự Hoàng Phố, ông ta đã dùng đủ mọi cớ từ chức rồi lại phục chức, tất cả đến 13 lần, đây là trò bịp thường dùng lấy thoái làm tiến, nâng cao địa vị, mưu giành quyền lực.
Lúc đó, Tưởng Giới Thạch sử dụng trò bịp này thường áp dụng ba khúc nhạc như sau:

Trước hết, trình bày việc bị bức từ chức của mình là bị "tiểu nhân ghen ghét" và "chèn ép", quảng cáo mình tính cách cương trực, giận thói đời, mình tham gia cách mạng không vì theo đuổi địa vị cá nhân, cho nên khi ý kiến không hợp quyết không "luyến chuồng", để giành được sự đồng tình và tán thưởng của Tôn Trung Sơn.

Sau đó, lại nhằm trúng thời cuộc, nêu lên đủ mọi kiến nghị về phương diện quân sự với Tôn Trung Sơn, tỏ ra mình tuy từ chức, nhưng vẫn quan tâm "những việc lớn trong đảng", khiến Tôn Trung Sơn càng cảm thấy tài của ông ta đáng quý.

Xuối cùng, thì bày tỏ muốnn cố gắng gượng làm, đem cá nhân tất cả đều không quản, phục tùng mệnh lệnh của Tôn Trung Sơn trở lại công tác trong quân đội, còn bày tỏ tốt nhất là không đảm nhận bất cứ chức vụ gì, chỉ mong được ở bên cạnh Tôn Trung Sơn "tham gia đánh giá việc quân sự" khiến Tôn Trung Sơn mới cho rằng Tưởng Giới Thạch đối với ông là hoàn toàn trung thành.

Xin nêu ví dụ để xét, tháng 3 năm 1918 Tưởng Giới Thạch sau khi được Tôn Trung Sơn cử nhận chức chủ nhiệm tác chiến "quân Việt viện Mân", tương đối được Trần Quýnh Minh, Đặng Trọng Nguyên tín nhiệm, nhưng Tưởng Giới Thạch cảm thấy là một người xứ khác đặt mình trong quân địa phương đoàn là người Việt, làm việc lực cản rất lớn, khó mà có triển vọng.
Thế là, ngày 31 tháng 7, đã viết đơn từ chức gửi cho Trần Quýnh Minh "phẩy tay áo ra đi", Mặc dù Trần Quýnh và Đặng Trọng Nguyên nhiều lần viết thư mời ở lại, nhưng Tưởng Giới Thạch tất thảy đều bỏ mặc.
Ngày 23 tháng 8, khi ông đến chỗ ở của Tôn Trung Sơn yết kiến Tôn Trung Sơn trình bày lý do từ chức của mình, không nói tình hình công tác bị cản trở, khó có triển vọng, lại nói là vì Trần Quýnh Minh dung túng những người dưới quyền bêu diễu Tôn Trung Sơn nên làm cho mình bực mới xin từ chức.

Mãi đến ngày 18 tháng 9, sau khi quân Việt giành được tình thế có lợi trên chiến trường Phúc Kiến, đánh chiếm được thành phố Chương Châu căn cứ địa của quân Bắc Dương tại Mân Nam, Tưởng Giới Thạch mới lại trở lại quân Việt, đồng thời thăng chức Tư lệnh chi đội 2.

Ngày 27 tháng 9 năm 1919, Tưởng Giới Thạch lại từ chức Tư lệnh chi đội 2 quân Việt, đầu tiên nói là đi sang Nhật Bản, sau đó lấy lý do dưỡng bệnh, ở lánh tại Thượng Hải và đảo Cổ Lãng (kích sóng).

Trong quân Việt đột nhiên đến rồi lại đột nhiên đi, du ngoạn sông núi, về thực chất lại đang thi thố thuật giành quyền "lấy thoái làm tiến" của ông ta.

Bởi vì ông nhìn thấy, sau khi quân Việt mở rộng thành hai quân đoàn, Trần Quýnh Minh không ngừng đào tạo thế lực riêng của mình, mà mình bằng lòng làm Tư lệnh chi đội, hoàn toàn là "may quần áo cưới cho người khác".

Mãi đến ngày 30 tháng 9 năm 1920, bọn quân phiệt Quế hệ đóng trên đất Quảng Châu xuất hiện thế tan vỡ, quân Việt thắng lợi trông thấy, Tôn Trung Sơn lại bổ nhiệm Tưởng Giới Thạch làm Tổng tham mưu trưởng quân đoàn số 2 quân Việt đã nâng cao thêm một nấc địa vị của Tưởng Giới Thạch, ông mới từ Thượng Hải lên đường ra mặt trận Việt Đông.

Xem tiếp 28- Bình an là phúc




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
28- Bình an là phúc

Một đời người, ai cũng đều muốn bình an, thuận lợi.
Trong Dạ hội văn nghệ đón xuân năm 1999, bài hát "Thường về thăm nhà" của Trần Hồng và Thái Quốc Khánh trong thời gian rất ngắn đã truyền khắp cả nước Trung Quốc.

Đây là do nguyên nhân gì?

Đây là vì bài hát này mang phong cách thông tục, mộc mạc, nắm bắt được tâm lý của dân chúng Trung Quốc.
Thường về thăm nhà, về thăm nhà,
Dù là giúp mẹ rửa bát rửa đũa
Bà già chẳng mong con cái cống hiến nhiều cho gia đình,
Chẳng phải một đời chẳng dễ dàng, chính chỉ mong một cuộc đoàn viên.

Thường về thăm nhà, về thăm nhà,
Dù là đấm lưng, bóp vai cho cha.
Ông già chẳng mong con cái cống hiến nhiều cho gia đình,
Chẳng phải một đời chẳng dễ dàng, chính chỉ mong một cuộc đoàn viên.
...........
Người Trung Quốc từ xưa đến nay, đã có tình tiết "đoàn viên".
Bất kể bạn đời người giàu sang hiển đạt bao nhiêu, bất kể bạn đời người gian nan gập ghềnh bao nhiêu, người thân của bạn đều mong muốn bạn được sống bình an và đoàn viên.

Trong bài thư "Thủy điều ca đầu" của Tô Đông Pha nhà Đại văn hào thời Tống viết:
........
Đời người có vui buồn, ly hợp,
Mặt trăng có tỏ mờ tròn khuyết,
Xưa việc này đã khó vẹn toàn.
Chỉ mong người "trường cửu"
Ngàn dặn cùng thuyền quyền.
Mà tình cảm này, trong thơ của Tương Cửu Linh, nhà thơ thời nhà Đường, càng biểu hiện đầy đủ.
.............
Trăng sáng mọc trên biển,
Cùng lúc ở chân trời.
Lý Bạch, nhà thơ lớn thời Đường cũng có những câu thơ tương tự:
Trăng sáng ló Thiên sơn,
Mênh mang mây giữa biển.
.......
Tràng An suốt một đêm,
Vang tiếng chầy đập áo.
.......
Ngửng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi xuống nhớ quê hương.
.......
Tình tiết đoàn viên không những là chất dính kết gắn bó người thân, hơn nữa cũng là chất xúc tác hy vọng người thân một đời bình an, sự nghiệp thành công.

Thơ cũng vậy, ca cũng vậy, sao lại không phải là kết tinh của trí tuệ được?
Do đó, ở chỗ không dùng đến kế thì cảm động nhất là có sức mạnh làm rung động lòng người nhất.

Xem tiếp 29- Sống trong gian khổ, chết trong yên vui




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
29- Sống trong gian khổ, chết trong yên vui

Muốn đoàn viên, muốn bình an, nguyện vọng tốt đẹp này không có gì đáng chê trách.

Nhưng, thường thường đời người vận mệnh khôn lường, phần nhiều đều có gập ghềnh, nhất là về sự nghiệp, nhiều bậc đại trượng phu, nhiều trang nam tử có hoài bão lớn, lại một đời người gập ghềnh chẳng làm nên việc gì.

Nghịch cảnh, nên là người người đều có thể gặp.

Không nên ngây thơ cho rằng, mình một đời thì sẽ bình an, không thể gặp bất cứ khó khăn và phiền phức gì, mà phải nghĩ nhiều về cảnh ngộ xấu, hy vọng mình có thể tôi luyện trong nghịch cảnh hoặc trong sóng to gió lớn - trí tuệ và kinh nghiệm của con người đều là nẩy sinh từ trong khó khăn và bất hạnh.

Mạnh Tử từng nói: "Sống trong gian khổ, chết trong yên vui.
Mỗi người chỉ có trong nghịch cảnh và vận đen, để cho sinh mệnh của mình tiếp nhận khảo nghiệm: chỉ có dũng cảm đối mặt với khó khăn, đón nhận thách thức, mới có thể tăng tài cán.

Dân chúng Trung Quốc xưa nay đều nói: "Nhíu lông mày, bày ra kế".
Vì sao phải nhíu lông mày? Bởi vì gặp khó khăn đòi hỏi bạn phải dùng trí tuệ để giải quyết. Bạn không giải quyết khó khăn, khó khăn sẽ nuốt chửng bạn.

Người ta khi phấn khởi, chỉ biết vui mừng hởi lòng hởi dạ, hoàn toàn không thể nhíu lông mày. Sở dĩ nhíu lông mày là do sự nghiệp, tình yêu, cuộc sống... của bạn xuất hiện nguy cơ, đòi hỏi bạn phải giải quyết. Chỉ có những lúc như vậy, bạn mới có thể vận dụng trí tuệ một cách theo tiềm thức, từ đó giải quyết những vấn đề khó khăn.

Vì sao phải vận dụng trí tuệ một cách theo tiềm thức?

Hãy thử nghĩ xem, bạn đã có thể trong cuộc sống hàng ngày chuyên chịu khó đào sâu suy nghĩ, vận dụng trí tuệ một cách có ý thức để làm công việc của bạn được tốt hơn không?

Freud từng nói: Trí năng của con người, tuyệt đại đa số nằm trong trạng thái tiềm ý thức hoặc vô ý thức. Đó là một biển lớn rất sâu, cho đến hiện nay, sự tìm hiểu của người ta đối với nó quá ít, thậm chí nhiều người vẫn không thừa nhận sự tồn tại của nó. Nếu như như thế, giống những người thiên tài như Da Vinci, như Michelangelo, như Beethoven, như Johann Strauss... như những tác phẩm của các bậc thiên tài như thế, thì không có cách nào hiểu nổi.

Giáo sư nổi tiếng người Mỹ Stephen K. Kovy thông qua mấy chục năm nghiên cứu đã báo cáo với mọi người rằng: "Trí năng của con người, cho đến tận ngày nay, chỉ mới khai thác 12% - 15%. Dù cho thiên tài như Shakespeare, Goethe như thế, nhiều nhất cũng mới khai thác được 20%. Ngoài ra cơ hơn 80% trí lực, thật ra chưa được coi trọng và khai thác". Đồng thời khuyên người ta: "Nếu muốn khai thác phần trí lực này, biện pháp hữu hiệu nhất chính là khi người ta rơi vào trong nghịch cảnh và khó khăn, dùng ý chí "kích hoạt" nó".

Do đó, chúng ta nói: Hy vọng sống một đời bình an, thật ra không phải là sai.

Nhưng chúng ta càng muốn rằng: Một người nếu muốn hoàn thành một sự nghiệp, thì phải dũng cảm tiếp nhận thách thức, không sợ bản thân mình rơi vào trong nghịch cảnh, thậm chí không sợ mình lâm vào chỗ chết.
Người xưa nói: "Đặt mình vào chỗ chết mà sau lại sống". Điều đó sẽ khiến cho người ta càng có ý thức "đặt" mình vào những nơi có thể kích hoạt trí lực của mình, vận dụng mưu kế của mình.

Bằng không thì, bạn nhất định là một đời tầm thường.

Xem tiếp 30- Thử thay đổi sinh hoạt tư duy




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
30- Thử thay đổi sinh hoạt tư duy

Người ta trong cuộc sống thường khi suy nghĩ vấn đề phần nhiều đều sành theo một đường lối nghĩ xuôi chiều - tức gọi là tư duy theo hướng dọc.

Nhưng, phương thức tư duy thông thường này, lại thường có thể làm cho sự nghiệp tình yêu, gia đình, hôn nhân... của mình không thể theo ý nguyện con người.

Đó là nguyên nhân gì?

Đó là vì, rất nhiều người không hiểu cái hay của tư duy ngược hướng. Carnegie đã từng nói: "Thực ra, người ta chỉ cần hơi thay đổi một phương thức tư duy một chút, thì sẽ giành được hiệu quả tốt hơn nhiều so với dự tính".

Đổi một sinh hoạt tư duy - hoặc khi nói "âm mưu" đồng thời biết dùng một chút âm mưu. Âm dương cùng cứu giúp, nhất định sẽ làm cho sự nghiệp và đời người của bạn giành được vẻ vang.

Do sự phân công xã hội và quan hệ giữa người với người, sẽ có thể hình đủ mọi "vai".

Điều này sẽ giống như là một sàn diễn: Bạn kết hôn, bạn có vợ, có con cái, bạn sẽ phải diễn tốt vai người chồng và người cha; bạn lấy người ta, bạn đã có chồng, bạn sẽ sắm vai người vợ tốt. Nếu bạn có cháu thì bạn phải diễn tốt vai người ông hoặc người bà.

Trong một nhà máy, có giám đốc, có chủ nhiệm phòng ban, có thư ký, cũng có người quét dọn, những người này đều là các "vai".

Người bình thường suy nghĩ vấn đề, thường là: "Tôi đã làm ngành nghề này, thì sẽ làm tốt ngành nghề đó". "Tôi đã đảm đang vai này, thì không nên trông nom đến vai khác.

Suy nghĩ như thế có tốt hay không?

ở thời đại "làm một nghề, yêu một nghề", tinh thần này là rất đáng ca ngợi.

Nhưng sau cải cách mở cửa, xã hội đã phát sinh biến đổi rất lớn, cơ chế cạnh tranh đã đi vào các lĩnh vực. Mỗi một "vai" bất cứ lúc nào đều có thể phát sinh thay đổi.

Do đó, người ta cũng không thể quá cố chấp, khư khư giữ cái cũ, mà nên suy nghĩ lại một chút: mình có thể đổi một vai khác.

Tục ngữ co câu: "Cây dịch chuyển thì chết, người dịch chuyển thì sống". Chỉ có trong lưu động, chỉ có trong so sánh, con người mới có thể phát hiện ra chỗ mạnh chỗ yếu của mình, biết mình thích hợp làm việc gì, không thích hợp làm việc gì, từ đó phát huy chỗ mạnh tránh chỗ yếu, thiết kế tương lai của mình.

Thời kỳ phồn thịnh nước Anh đế quốc có một Nữ hoàng tên là Victoria, khi bà 21 tuổi phụng mệnh kết hôn với Công tước Albate cùng tuổi với bà.
Đương nhiên, theo chế độ của nước Anh, Nữ hoàng là vua của một nước, còn chồng của bà lại không có một địa vị chính trị nào.

Một lần, Nữ hoàng và ông chồng sinh ra chuyện không vui, hai người nổi giận cãi nhau, trong cơn thịnh nộ Albeta giam mình ở trong phòng, tránh không ra ngoài.

Trong đêm hai người lạnh nhạt với nhau, Nữ hoàng Victoria muốn ngủ, bất đắc dĩ phải gõ cửa phòng.

"Ai đấy?" Albate hỏi.

"Tôi là Nữ hoàng đây!" Victoria trả lời.

Nhưng, trong phòng lại không có tiếng đáp lại, cửa phòng vẫn khóa chặt không mở ra. Qua một lúc, Nữ hoàng lại gõ cửa lần nữa.

"Ai đấy?"

"Tôi là Nữ hoàng đây!" Víctoria nâng cao giọng trả lời, nhưng bênn trong cửa phòng vẫn không đáp lại.

Nữ hoàng Victoria đã gõ cửa ba lần, đều được xơi món "chè đóng cửa", không thấy cửa phòng mở. Cuối cùng, Nữ hoàng đành phải thay đổi thái độ, lại gõ cửa lại lần nữa.
"Ai đấy?"

"Tôi là vợ thân mến của anh đây, Albate ạ".

Lúc này, Albate mới mở cửa phòng.

Nói chung, nam giới luôn không thích vẻ ngạo mạn của nửa bên kia cao hơn họ, mạnh hơn họ; cho nên trong lời nói, nếu có thể giành cho nam giới một chút "tôn nghiêm" và "thể diện", phải nên biết giảm bớt xung đột, làm cho việc gắn bó với nhau càng thêm vui vẻ.

Nữ hoàng là nguyên thủ cao nhất trong quốc gia, nhưng về đến gia đình, phải nên đổi lại vai trò, trở thành người "vợ tốt" của chồng mình.

Nếu như Nữ hoàng không đổi vai trong gia đình hoặc không tìm đúng vị trí của mình, thế thì tình yêu của bà, gia đình của bà khẳng định là nát bét, là không thể giành được hạnh phúc.

Đổi vai, đổi vị trí suy nghĩ, thường có thể nhận được hiệu quả tốt không ngờ tới.

Chúng ta đem việc suy nghĩ theo hướng dọc xuôi chiều, nếu xem là "dương mưu", thế thì việc suy nghĩ theo hướng ngược sẽ phải là "âm mưu". Đổi vai chính là một loại của "âm mưu".

Vương X. sinh ra ở Đại Tây Bắc, vợ rất hiền hòa. Vương X công tác ở ngoài một lòng một dạ lao vào sự nghiệp, về đến nhà, vợ đem nước rửa mặt, chuẩn bị cơm nước đầy đủ, mọi việc trong nhà nhất loạt không để cho anh ta phải bận tậm. Có khi công việc không thuận lợi, hoặc cơm nước không hợp khẩu vị, Vương X còn thường xuyên nổi cáu với vợ. Theo anh, người nam giới phải lao vào sự nghiệp ở ngoài, còn nữ giới ở nhà trông coi việc nhà, hầu hạ chồng là sự việc là lẽ rất chính đáng.

Một lần, nhà vợ có việc, vợ phải đi về mất hơn một tháng, nhà máy của Vương X lại đúng lúc được nghỉ, thế là anh đã ở nhà làm mọi việc nhà.
Lúc bình thường, những việc xem ra rất dễ dàng, nhưng bắt tay làm lại không giản đơn như thế. Lại phải quét nhà, lại phải lau chùi bàn ghế, lại phải làm cơm, lại phải rửa bát đũa, lại phải giặt quần áo, lại phải chăm sóc con cái, lại phải cho lợn ăn, lại phải... bận rộn đến mức làm cho anh đầu óc rối mù, chú ý cái trước thì mất cái sau, để ý đến cái bên trái thì mất cái bên phải, tìm không ra hướng.

Lúc này, anh ta mới nghĩ đếnn bấy nhiêu năm nay, vợ làm thế nào mà làm được gọn gàng ngăn nắp?

Đổi vai như thế để suy nghĩ, mới cảm thấy trên con người của mình đang tồn tại "chủ nghĩ đại nam tử" tương đối nghiêm trọng. Còn việc phàn nàn, quở trách đối với vợ trước kia đều là hoàn toàn không nên.

Người ta sống ở nhà và làm việc trong xã hội là một đạo lý. Luôn thích men theo một luồng suy nghĩ tư duy theo hướng thuận (xuôi chiều) như thế, thường có thể dẫn mình vào chỗ sai lầm.

Khi người ta đi vào tư duy ngược hướng, thì có thể thử đặt mình vào địa vị thay đối phương để suy nghĩ. Đồng thời cũng có thể phát hiện ra nhược điểm của mình, uốn nắn hành vi của mình, làm cho mình không dẫn đến phạm sai làm.



Xem tiếp 31- Làm Gia Cát Lượng sau khi việc xẩy ra, có gì




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 4 5 » »»