31- Làm Gia Cát Lượng sau khi việc xẩy ra, có gì không thể?
Người ta luôn mong muốn mình thông minh, đồng thời mong sự thông minh của mình sẽ mang lại lợi ích cho sự nghiệp và tình yêu của mình. Cho nên, hy vọng mình trở thành nhân vật kiểu Gia Cát Lượng.
Tài năng lớn nhất của Gia Cát Lượng không phải là có thể xử lý tốt mọi cục diện lộn xộn ngay lúc đó, mà là ông rất có tài nhìn xa trông rộng. Trước khi chưa ra khỏi núi năm đó, chia ba thiên hạ đã dự đoán trước có một phần của ông. Từ đó về sau sự cố gắng suốt một đời của ông đều không vượt ra khỏi lời dự đoán này.
Gia Cát Lượng đã từng nói: "Bậc đại trượng phu, chí phải đặt ở nơi cao xa".
Trong hý kịch và tiểu thuyết xưa của Trung Quốc, người ta đã thần thoại hóa Gia Cát lượng là bậc thần tiên "trên biết thiên văn địa lý, dưới biết mọi việc nhỏ mọn". Nhiều người đều trăm phương nghìn kế bắt chước Gia Cát Lượng. Hai tỉnh Hồ Bắc và Hà Bắc, đều đang nịnh Gia Cát Lượng, giành nhau nói Gia Cát Lượng là người đồng hương của mình.
Do Gia Cát Lượng có thể bấm tay để tính toán, cho nên trong xã hội, hàng ngàn năm nay, những tiên sinh đoán mệnh cũng đều dựng cờ bát quái đi đây đi đó xưngn mình là "Khổng Minh tái thế".
Những năm gần đây ở các vùng phía Nam như Quảng Châu, Quảng Tay, Hồ Nam, Triết Giang, Giang Tô... những người tin đoán mệnh, tạo quẻ ngày càng nhiều.
Chúng ta có thể nhìn thấy: trên một sạp xem quẻ nhỏ thường có thể vây quanh vài chục, thậm chí vài trăm người đàn ông đàn bà thành kính.
Người ta đến gặp đoán mệnh tiên sinh, rốt cuộc là vì cái gì?
Bât kể là nam nữ trẻ già, phần nhiều đều hỏi mấy vấn đề dưới đây:
- Tiền đồ sự nghiệp của tôi như thế nào?
- Tình yêu và hôn nhân của tôi như thế nào?
- Tài vận của tôi như thế nào?
- Quan vận của tôi như thế nào?
Về cơ bản đều là nội dung của mấy mặt này. Mà mấy phương diện này lại hầu như đã khái quát được vận mệnh một đời của con người.
Con người không phải là thần thánh, ai cũng đều không biết được ngày mai của mình ra sao. Nhưng ở nơi sâu thẳm trong lòng của mỗi người, đều có một chỗ có vấn đề sâu sắc: ai cũng đều muốn biết tương lai của mình rốt cuộc sẽ như thế nào; ai cũng đều hy vọng ngày mai của mình tốt hơn hôm qua, tốt hơn hôm nay.
Song, ai cũng không phải là thần thánh. Vì vậy, người ta sẽ hỏi những người đoán mệnh, những người xưng là "Khổng Minh tái thế" chiêm bốc.
Hiện tượng này, có người luôn nói là mê tín. Còn chúng tôi cho rằng: Nó sở dĩ cấm mãi không thôi, vấn đề mấu chốt là ở chỗ nó đón được nh cầu tâm lý của người ta muốn biết ngày mai.
Vậy thì, người ta đều muốn làm Gia Cát Lượng, đều muốn dự đoán biết trước tương lai của mình. Song bản thân Gia Cát Lượng lại không biết được mình khi nào hưng vượng, khi nào suy bại, khi nào tử vong.
Sự tích một đời của ông được người đời sau khái quát lại bằng hai chữ "trí tuệ". Mà "trí tuệ" của Gia Cát Lượng, trong con mắt của Tào Tháo, trong con mắt của Tôn Quyền, không nghi ngờ gì chính là âm mưu.
Nói đến âm mưu của Gia Cát Lượng, không ai không nói "thất - không - trảm" (mất - bỏ không - chém). Việc này thật ra không phải nói Gia Cát Lượng có thể biết trước tương lai, chính là nói Gia Cát Lượng không tài nào biết trước tương lai, bất đắc dĩ mới phải dùng biện pháp "mất bò mới lo rào chuồng".
Từ đó ta thấy cách nói "Việc đã xong rồi mới là Gia Cát Lượng là có căn cứ.
Trong cuộc sống, người ta thường thích "nổi lên trên", tranh làm Gia Cát Lượng trước khi việc xây ra, lại không muốn làm Gia Cát Lượng sau khi việc đã xẩy ra, cho rằng làm Gia Cát Lượng sau khi việc đã xẩy ra thì chẳng khác gì như "Mã sau Pháo" trong khi đánh cờ tướng.
Mà họ không biết rằng: Một người, hoặc một người có chí hướng, chỉ cần sinh mệnh của họ vẫn còn, dù rằng luôn luôn sai lầm, luôn luôn bị trắc trở, luôn luôn dấn thân vào cảnh khó khăn, chỉ cần họ sành sỏi làm Gia Cát Lượng sau khi việc đã xẩy ra, sẽ có một ngày có thể có được kết quả tốt hơn người khác.
Cạnh tranh xã hội ngày càng kịch liệt, nhiều nhà triết học không hẹn mà gặp đều từng nói: "Đời người chính là chiến trường". Trên chiến trường này mặc dù không có thuốc súng, không có súng gươm, không có thảm cảnh máu chảy thành sông, thây chất đầy đồng. Nhưng, xét theo sự căng thẳng của sinh tồn và sức ép mà tâm lý người ta phải chịu đựng, chiến tranh của hòa bình so với chiến tranh của luồng dao ánh kiếm càng kịch liệt hơn.
ở nước Mỹ, mỗi ngày đều có hơn 3 vạn xí nghiệp mới, công ty mới khai trương. Đồng thời trung bình mỗi ngày đều có 54.220 xí nghiệp cũ tuyên bố phá sản.
Theo tờ "Thời báo phố Wall" đưa tin: Những nhà xí nghiệp (doanh nghiệp) phá sản - tức những người bại trận trong cạnh tranh kịch liệt, có người đã chọn treo cổ, có người đã chọn nhảy lầu, có người đã chọn uống thuốc độc, có người đã chọn "giấu họ giấu tên", có người đã chọn bệnh viện tâm thần...
ở Thâm Quyến Trung Quốc, thường có hiện tượng như sau: Có người là tay không chiếm thiên hạ, trong một thời kỳ, có thể là "phú ông lưng dắt vạn quan". Song, trong nháy mắt rất có thể đã sẽ nợ nần chồng chất, bị đi ăn mày, lang thang đầu phố.
Đời người thất thường, trong "Hồng Lâu mộng" đã nói đi nói lại nhiều lần đạo lý này với mọi người.
Cạnh tranh trong bất cứ lúc nào nói đều đúng, nó là động lực thúc đẩy lịch sử nhân loại phát triển lên phía trước.
Không có cạnh tranh, loài người sẽ không thể có phát triển. Khi đối thủ bạn gặp lớn mạnh hơn bạn, bạn nên áp dụng sách lược như thế nào khiến cho sức mạnh của hai bên phát sinh biến đổi? Bạn nhắc nhở mình: Hãy thực thà làm Gia Cát Lượng sau khi việc xẩy ra phải không?
Nói chung, so sánh sức mạnh giữa các đối thủ là một quan hệ bên này tăng lên bên kia giảm xuống, một mất một còn, rất khó nói có thể thông qua đối thủ lớn mạnh để bảo hộ mình, phát triển mình, hai bên đối lập nếu muốn cả hai bên đều thắng hầu như là không có khả năng.
Nhưng, điều này cũng không phải là tuyệt đối không thể, trong lịch sử đã có cao thủ tỳ bà gảy ngược mà giành được thành công lớn như thế.
Thời Chiến quốc, nước Trung Sơn là một nước nhỏ nằm xen kẽ giữa các nước lớn. Tướng quốc của nước này là Tư Mã Hy là một nhà chính trị tương đối có tài và có tư tưởng mưu lược rất được Quốc vương của Trung Sơn tín nhiệm. Nhưng chính là một vị Tướng quốc ngay thẳng, giỏi giang, lại bị kẻ thù chính trị, sủng phi của Quốc vương là Âm Giản ghen ghét và công kích, bà ta thường ở bên Quốc vương nói xấu Tư Mã Hy, để công kích.
Tất cả mọi việc đó làm cho Tư Mã Hy thường rơi vào chỗ tiến thoái lưỡng nan, nếu như ngang nhiên đối đầu và thách thức với Âm Giản, thì rất có thể thất bại và mang tiếng xấu, hơn nữa có thể càng tăng thêm tính ngang ngạnh của bà ta; còn nếu như không tiến hành chống lại, thì Âm Giản sẽ xem hành động đó của Tư Mã Hy là yếu hèn có thể bắt nạt được, hơn nữa về chính trị có thể càng ra sức tiến công hơn, khiến cho nịnh thần gian thần sẽ có một ngày được thể.
Do đó, đối với địch thủ chính trị này chỉ có thể sử dụng mưu kế kỳ diệu, khéo chế ngự và hàng phục, mới có thể vừa giữ được vị trí Tướng quốc, lại có thể triệt tận gốc sự can thiệp và hoạt động phá hoại của địch thủ chính trị.
Về sau, Tư Mã Hy lại áp dụng cụ thể thêm một bước kế sách của nhà thông thái của nước Trung Sơn Điền Giản bày cho, dùng phương pháp "đạo dẫn" lén lút nhòm ngó đúng, lợi dụng thời cơ có lợi để đạt được và thực hiện mục đích chính trị đã định trước.
Một hôm, từ nước Triệu, một nước láng giềng cử đến một sứ giả. Lúc đó, nước Triệu là một trong bảy nước hùng mạnh thời Chiến quốc, đối với nước nhỏ như nước Trung Sơn này để xét, nước Triệu có thể ngạo nghễ sai bảo bất cứ lúc nào, cho nên trongn cuộc tiếp đãi sứ giả nước Triệu, không dám qua loa sơ suất một chút nào, Tướng quốc Tư Mã Hy càng phải theo sát vị sứ giả này không dời một bước. Trong bữa tiệc chiêu đãi sứ giả, Tư Mã Hy tùy tiện hỏi sứ giả của Triệu vương: "Nghe nói nước Triệu các ông có rất nhiều mỹ nữ giỏi âm nhạc, có phải như thế không?" Vị sứ giả này vừa nghe, lại quả quyết phủ nhận nói: "Không! Thực tế không phải như thế".
Nhưng lúc đó, Tư Mã Hy lại cố ý dằn giọng xuống, cố làm ra vẻ thần bí nói với sứ giả nước Triệu: "Nhưng ở nước Trung Sơn chúng tôi, lại có một mỹ nữ đủ để khiến cho triều đình và dân chúng, các vị có công lao hiển quý của quý quốc đều phải hết sức kinh ngạc, người đó chính là "ái phi" của Quốc vương nước Trung Sơn chúng tôi, tên bà là Âm Giản, người trông thật là giống các tiên nữ trên trời". Những lời nói này, sứ giả nước Triệu nghe xong hết sức cảm động trong lòng.
Sau khi về nước, liền vội vàng bẩm báo ngay với Triệu vương, Triệu vương vừa nghe, tuy chưa trông thấy người mỹ nữ này, lại như đã thèm muốn từ lâu, nóng lòng muốn giành về tay mình. Thế là, Triệu vương lại sai sứ giả đến nước Trung Sơn lần nữa, yêu cầu Quốc vương nước Trung Sơn đem mỹ nữ Âm Giản tặng cho Triệu vương, đồng thời yêu cầu phải hết sức nhanh chóng.
Theo lệ thông thường về chính trị giữa các nước lúc đó, mỹ nữ của hậu cung sẽ giống như vàng bạc châu báu, đều có thể làm quà tặng đáp lễ tặng cho người khác. Còn như nước mạnh, nước lớn như nước Triệu thế này, đưa ra yêu cầu đó đối với nước Trung Sơn nhỏ vừa là rất tự nhiên cũng không có gì quá mức. Mà Triệu vương, Quốc vương nước Trung Sơn và Âm Giản lại đều không biết nhau, việc này tất cả chính là cái chòng mưu kế của Tư Mã Hy đã bày đặt ra từ lâu mà thôi.
Đối với yêu cầu này, Quốc vương nước Trung Sơn thật là khó xử. Nếu đáp ứng yêu cầu của Triệu vương, đem Âm Giản ngoan ngoãn nhường cho người khác, đối với Tư Mã Hy để xét, liền có thể rất nhanh thoát khỏi cảnh khó khăn chính trị, vì địch thủ chính trị đã chuyển dịch mà không tồn tại nữa. Đây là phương án "loại một" Tư Mã Hy thi hành mưu kế, cũng là một trong những kết quả có thể chọn.
Song, mới đầu Quốc vương Trung Sơn lại vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của Triệu vương. Xét về tình lý, việc này cũng rất tự nhiên và hợp với tình lý, bởi vì ai cũng không thể đem người và vật mình thích dễ dàng chuyển nhượng cho người khác sở hữu được. Nhưng lại khiến cho "bách quan quần thần" của nước Trung Sơn hoảng loạn, bởi vì Triệu vương không được mỹ nữ, trong cơn thịnh nộ, rất có thể sẽ phải phát binh đi đánh Trung Sơn, sự việc tương tự như thế lúc đó có vô khối không thể kể hết.
Giữa nước này với nước nọ, vì tranh giành mỹ nữ, gấm vóc ngọc ngà mà dấy binh đánh lẫn nhau là chuyện rất bình thường. Một thời, trong triều ngoài dân trên dưới, cộng thêm quốc vương và các bà phi trong cung, đều cảm thấy bó tay hẳng có kế gì, không biết làm như thế nào mới có thể vượt qua khó khăn này. Mà sứ giả của Triệu vương thì ở lại nước Trung Sơn nóng lòng chờ đợi câu trả lời, mà còn thúc ép rất chặt, rất gấp.
Chính trong giờ phút có tính then chốt này, Tư Mã Hy lại hết sức trấn tĩnh nói với Quốc vương: "Hiện tại, thần có một biện pháp hay, vừa có thể từ chối yêu cầu của Triệu vương, lại có thể không làm cho Triệu vương tức giận mà bảo đảm chắc chắn an toàn của nước ta, không bị khổ của tai nạn chiến tranh". Quốc vương Trung Sơn vừa nghe như vớ được của báu, liền vội vàng nói với Tư Mã Hy: "Cái gì? Khanh lại có thể có được kế sách vạn toàn phải không?" Tư Mã Hy lại trả lời: "Quốc vương chẳng thà lập tức đem Âm Giản chính thức phong làm Vương hậu của Quốc vương quách đi, như vậy, vừa đem bẩm báo việc này với Triệu vương, từ chối yêu cầu của ông ta cũng không thể làm chho họ tức giận được, đồng thời cũng sẽ làm cho họ hết hy vọng, ngoài việc đó ra, chẳng có kế hay cách làm tốt nào nữa".
Quốc vương Trung Sơn vừa nghe lập tức tiếp nhận kiến nghị của ông ta. Chính là như vậy, nước Trung Sơn không những được bảo toàn, mà còn từ đó về sau, Âm Giản đối với Tướng Quốc Tư Mã giúp đỡ to lớn khiến mình được thăng đến địa vị vương hậu, đương nhiên cũng không đối địch nữa, mà còn mang ân mang huệ.
Trong quá trình thực thi mưu kế chế ngự, chế phục đối thủ chính trị Âm Giản, Tư Mã Hy chủ yếu áp dụng phương pháp dắt dẫn hướng phát triển mâu thuẫn nội bộ đối thủ chính trị chuyển dịch. Từ chỗ nhằm thẳng mũi nhọn vào ông ta, khéo léo mượn yêu cầu của sứ giả của Triệu vương mà dẫn dắt thành mâu thuẫn giữa Triệu vương, Qốc vương Trung Sơn và Âm Giản. Sách lược có tính mấu chốt này có ba bước: Bước thứ nhất là tiết lộ cho sứ giả của Triệu vương biết sắc đẹp và tài hoa của ái phi Âm Giản của Quốc vương Trung Sơn, khiến cho Triệu vương mắc mưu vào tròng, đó là dẫn dắt lần thứ nhất. Bước thứ hai là Triệu vương lại sai sứ giả khăng khăng đòi Âm Giản với Quốc vương Trung Sơn, mà còn đưa ra những lời nói cứng rắn, thúc ép rất căng thẳng, có thế như không đòi được đến tay thì phải đem quân sang đòi, làm tăng kích thích của mâu thuẫn nội bộ địch thủ chính trị, đó là dẫn dắt lần thứ hai; bước thứ ba là trong giờ phút then chốt Tư Mã Hy đã hiến kế giải nguy, vừa làm cho nước Trung Sơn bảo toàn Âm Giản được thăng lên ngôi vị Vương hậu, lại khiến cho Triệu vương không còn lý do xuất quân, mà còn làm cho hết hy vọng đòi Âm Giản. Còn Tư Mã Hy lại càng trở thành công thần đã cứu nguy làm cho nước Trung Sơn thoát khỏi cảnh khốn đốn, là người làm ơn làm phúc giúp cho Quốc vương và Vương hậu. Từ đó, về chính trị, về đạo nghĩa, về tâm lý đã giành được thắng lợi to lớn, sẽ chế ngự, chế phục đối thủ chính trị, đã thoát khỏi cảnh khốn đốn chính trị trước mặt sau lưng đều có kẻ đối địch, tiến thoái lưỡng nan của mình ở trong nước. Đó là dẫn dắt lần thứ ba, thhật là tuyệt diệu.
Xem tiếp 32- Phá vỡ quy luật tư duy ngôn ngữ
Người ta luôn mong muốn mình thông minh, đồng thời mong sự thông minh của mình sẽ mang lại lợi ích cho sự nghiệp và tình yêu của mình. Cho nên, hy vọng mình trở thành nhân vật kiểu Gia Cát Lượng.
Tài năng lớn nhất của Gia Cát Lượng không phải là có thể xử lý tốt mọi cục diện lộn xộn ngay lúc đó, mà là ông rất có tài nhìn xa trông rộng. Trước khi chưa ra khỏi núi năm đó, chia ba thiên hạ đã dự đoán trước có một phần của ông. Từ đó về sau sự cố gắng suốt một đời của ông đều không vượt ra khỏi lời dự đoán này.
Gia Cát Lượng đã từng nói: "Bậc đại trượng phu, chí phải đặt ở nơi cao xa".
Trong hý kịch và tiểu thuyết xưa của Trung Quốc, người ta đã thần thoại hóa Gia Cát lượng là bậc thần tiên "trên biết thiên văn địa lý, dưới biết mọi việc nhỏ mọn". Nhiều người đều trăm phương nghìn kế bắt chước Gia Cát Lượng. Hai tỉnh Hồ Bắc và Hà Bắc, đều đang nịnh Gia Cát Lượng, giành nhau nói Gia Cát Lượng là người đồng hương của mình.
Do Gia Cát Lượng có thể bấm tay để tính toán, cho nên trong xã hội, hàng ngàn năm nay, những tiên sinh đoán mệnh cũng đều dựng cờ bát quái đi đây đi đó xưngn mình là "Khổng Minh tái thế".
Những năm gần đây ở các vùng phía Nam như Quảng Châu, Quảng Tay, Hồ Nam, Triết Giang, Giang Tô... những người tin đoán mệnh, tạo quẻ ngày càng nhiều.
Chúng ta có thể nhìn thấy: trên một sạp xem quẻ nhỏ thường có thể vây quanh vài chục, thậm chí vài trăm người đàn ông đàn bà thành kính.
Người ta đến gặp đoán mệnh tiên sinh, rốt cuộc là vì cái gì?
Bât kể là nam nữ trẻ già, phần nhiều đều hỏi mấy vấn đề dưới đây:
- Tiền đồ sự nghiệp của tôi như thế nào?
- Tình yêu và hôn nhân của tôi như thế nào?
- Tài vận của tôi như thế nào?
- Quan vận của tôi như thế nào?
Về cơ bản đều là nội dung của mấy mặt này. Mà mấy phương diện này lại hầu như đã khái quát được vận mệnh một đời của con người.
Con người không phải là thần thánh, ai cũng đều không biết được ngày mai của mình ra sao. Nhưng ở nơi sâu thẳm trong lòng của mỗi người, đều có một chỗ có vấn đề sâu sắc: ai cũng đều muốn biết tương lai của mình rốt cuộc sẽ như thế nào; ai cũng đều hy vọng ngày mai của mình tốt hơn hôm qua, tốt hơn hôm nay.
Song, ai cũng không phải là thần thánh. Vì vậy, người ta sẽ hỏi những người đoán mệnh, những người xưng là "Khổng Minh tái thế" chiêm bốc.
Hiện tượng này, có người luôn nói là mê tín. Còn chúng tôi cho rằng: Nó sở dĩ cấm mãi không thôi, vấn đề mấu chốt là ở chỗ nó đón được nh cầu tâm lý của người ta muốn biết ngày mai.
Vậy thì, người ta đều muốn làm Gia Cát Lượng, đều muốn dự đoán biết trước tương lai của mình. Song bản thân Gia Cát Lượng lại không biết được mình khi nào hưng vượng, khi nào suy bại, khi nào tử vong.
Sự tích một đời của ông được người đời sau khái quát lại bằng hai chữ "trí tuệ". Mà "trí tuệ" của Gia Cát Lượng, trong con mắt của Tào Tháo, trong con mắt của Tôn Quyền, không nghi ngờ gì chính là âm mưu.
Nói đến âm mưu của Gia Cát Lượng, không ai không nói "thất - không - trảm" (mất - bỏ không - chém). Việc này thật ra không phải nói Gia Cát Lượng có thể biết trước tương lai, chính là nói Gia Cát Lượng không tài nào biết trước tương lai, bất đắc dĩ mới phải dùng biện pháp "mất bò mới lo rào chuồng".
Từ đó ta thấy cách nói "Việc đã xong rồi mới là Gia Cát Lượng là có căn cứ.
Trong cuộc sống, người ta thường thích "nổi lên trên", tranh làm Gia Cát Lượng trước khi việc xây ra, lại không muốn làm Gia Cát Lượng sau khi việc đã xẩy ra, cho rằng làm Gia Cát Lượng sau khi việc đã xẩy ra thì chẳng khác gì như "Mã sau Pháo" trong khi đánh cờ tướng.
Mà họ không biết rằng: Một người, hoặc một người có chí hướng, chỉ cần sinh mệnh của họ vẫn còn, dù rằng luôn luôn sai lầm, luôn luôn bị trắc trở, luôn luôn dấn thân vào cảnh khó khăn, chỉ cần họ sành sỏi làm Gia Cát Lượng sau khi việc đã xẩy ra, sẽ có một ngày có thể có được kết quả tốt hơn người khác.
Cạnh tranh xã hội ngày càng kịch liệt, nhiều nhà triết học không hẹn mà gặp đều từng nói: "Đời người chính là chiến trường". Trên chiến trường này mặc dù không có thuốc súng, không có súng gươm, không có thảm cảnh máu chảy thành sông, thây chất đầy đồng. Nhưng, xét theo sự căng thẳng của sinh tồn và sức ép mà tâm lý người ta phải chịu đựng, chiến tranh của hòa bình so với chiến tranh của luồng dao ánh kiếm càng kịch liệt hơn.
ở nước Mỹ, mỗi ngày đều có hơn 3 vạn xí nghiệp mới, công ty mới khai trương. Đồng thời trung bình mỗi ngày đều có 54.220 xí nghiệp cũ tuyên bố phá sản.
Theo tờ "Thời báo phố Wall" đưa tin: Những nhà xí nghiệp (doanh nghiệp) phá sản - tức những người bại trận trong cạnh tranh kịch liệt, có người đã chọn treo cổ, có người đã chọn nhảy lầu, có người đã chọn uống thuốc độc, có người đã chọn "giấu họ giấu tên", có người đã chọn bệnh viện tâm thần...
ở Thâm Quyến Trung Quốc, thường có hiện tượng như sau: Có người là tay không chiếm thiên hạ, trong một thời kỳ, có thể là "phú ông lưng dắt vạn quan". Song, trong nháy mắt rất có thể đã sẽ nợ nần chồng chất, bị đi ăn mày, lang thang đầu phố.
Đời người thất thường, trong "Hồng Lâu mộng" đã nói đi nói lại nhiều lần đạo lý này với mọi người.
Cạnh tranh trong bất cứ lúc nào nói đều đúng, nó là động lực thúc đẩy lịch sử nhân loại phát triển lên phía trước.
Không có cạnh tranh, loài người sẽ không thể có phát triển. Khi đối thủ bạn gặp lớn mạnh hơn bạn, bạn nên áp dụng sách lược như thế nào khiến cho sức mạnh của hai bên phát sinh biến đổi? Bạn nhắc nhở mình: Hãy thực thà làm Gia Cát Lượng sau khi việc xẩy ra phải không?
Nói chung, so sánh sức mạnh giữa các đối thủ là một quan hệ bên này tăng lên bên kia giảm xuống, một mất một còn, rất khó nói có thể thông qua đối thủ lớn mạnh để bảo hộ mình, phát triển mình, hai bên đối lập nếu muốn cả hai bên đều thắng hầu như là không có khả năng.
Nhưng, điều này cũng không phải là tuyệt đối không thể, trong lịch sử đã có cao thủ tỳ bà gảy ngược mà giành được thành công lớn như thế.
Thời Chiến quốc, nước Trung Sơn là một nước nhỏ nằm xen kẽ giữa các nước lớn. Tướng quốc của nước này là Tư Mã Hy là một nhà chính trị tương đối có tài và có tư tưởng mưu lược rất được Quốc vương của Trung Sơn tín nhiệm. Nhưng chính là một vị Tướng quốc ngay thẳng, giỏi giang, lại bị kẻ thù chính trị, sủng phi của Quốc vương là Âm Giản ghen ghét và công kích, bà ta thường ở bên Quốc vương nói xấu Tư Mã Hy, để công kích.
Tất cả mọi việc đó làm cho Tư Mã Hy thường rơi vào chỗ tiến thoái lưỡng nan, nếu như ngang nhiên đối đầu và thách thức với Âm Giản, thì rất có thể thất bại và mang tiếng xấu, hơn nữa có thể càng tăng thêm tính ngang ngạnh của bà ta; còn nếu như không tiến hành chống lại, thì Âm Giản sẽ xem hành động đó của Tư Mã Hy là yếu hèn có thể bắt nạt được, hơn nữa về chính trị có thể càng ra sức tiến công hơn, khiến cho nịnh thần gian thần sẽ có một ngày được thể.
Do đó, đối với địch thủ chính trị này chỉ có thể sử dụng mưu kế kỳ diệu, khéo chế ngự và hàng phục, mới có thể vừa giữ được vị trí Tướng quốc, lại có thể triệt tận gốc sự can thiệp và hoạt động phá hoại của địch thủ chính trị.
Về sau, Tư Mã Hy lại áp dụng cụ thể thêm một bước kế sách của nhà thông thái của nước Trung Sơn Điền Giản bày cho, dùng phương pháp "đạo dẫn" lén lút nhòm ngó đúng, lợi dụng thời cơ có lợi để đạt được và thực hiện mục đích chính trị đã định trước.
Một hôm, từ nước Triệu, một nước láng giềng cử đến một sứ giả. Lúc đó, nước Triệu là một trong bảy nước hùng mạnh thời Chiến quốc, đối với nước nhỏ như nước Trung Sơn này để xét, nước Triệu có thể ngạo nghễ sai bảo bất cứ lúc nào, cho nên trongn cuộc tiếp đãi sứ giả nước Triệu, không dám qua loa sơ suất một chút nào, Tướng quốc Tư Mã Hy càng phải theo sát vị sứ giả này không dời một bước. Trong bữa tiệc chiêu đãi sứ giả, Tư Mã Hy tùy tiện hỏi sứ giả của Triệu vương: "Nghe nói nước Triệu các ông có rất nhiều mỹ nữ giỏi âm nhạc, có phải như thế không?" Vị sứ giả này vừa nghe, lại quả quyết phủ nhận nói: "Không! Thực tế không phải như thế".
Nhưng lúc đó, Tư Mã Hy lại cố ý dằn giọng xuống, cố làm ra vẻ thần bí nói với sứ giả nước Triệu: "Nhưng ở nước Trung Sơn chúng tôi, lại có một mỹ nữ đủ để khiến cho triều đình và dân chúng, các vị có công lao hiển quý của quý quốc đều phải hết sức kinh ngạc, người đó chính là "ái phi" của Quốc vương nước Trung Sơn chúng tôi, tên bà là Âm Giản, người trông thật là giống các tiên nữ trên trời". Những lời nói này, sứ giả nước Triệu nghe xong hết sức cảm động trong lòng.
Sau khi về nước, liền vội vàng bẩm báo ngay với Triệu vương, Triệu vương vừa nghe, tuy chưa trông thấy người mỹ nữ này, lại như đã thèm muốn từ lâu, nóng lòng muốn giành về tay mình. Thế là, Triệu vương lại sai sứ giả đến nước Trung Sơn lần nữa, yêu cầu Quốc vương nước Trung Sơn đem mỹ nữ Âm Giản tặng cho Triệu vương, đồng thời yêu cầu phải hết sức nhanh chóng.
Theo lệ thông thường về chính trị giữa các nước lúc đó, mỹ nữ của hậu cung sẽ giống như vàng bạc châu báu, đều có thể làm quà tặng đáp lễ tặng cho người khác. Còn như nước mạnh, nước lớn như nước Triệu thế này, đưa ra yêu cầu đó đối với nước Trung Sơn nhỏ vừa là rất tự nhiên cũng không có gì quá mức. Mà Triệu vương, Quốc vương nước Trung Sơn và Âm Giản lại đều không biết nhau, việc này tất cả chính là cái chòng mưu kế của Tư Mã Hy đã bày đặt ra từ lâu mà thôi.
Đối với yêu cầu này, Quốc vương nước Trung Sơn thật là khó xử. Nếu đáp ứng yêu cầu của Triệu vương, đem Âm Giản ngoan ngoãn nhường cho người khác, đối với Tư Mã Hy để xét, liền có thể rất nhanh thoát khỏi cảnh khó khăn chính trị, vì địch thủ chính trị đã chuyển dịch mà không tồn tại nữa. Đây là phương án "loại một" Tư Mã Hy thi hành mưu kế, cũng là một trong những kết quả có thể chọn.
Song, mới đầu Quốc vương Trung Sơn lại vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của Triệu vương. Xét về tình lý, việc này cũng rất tự nhiên và hợp với tình lý, bởi vì ai cũng không thể đem người và vật mình thích dễ dàng chuyển nhượng cho người khác sở hữu được. Nhưng lại khiến cho "bách quan quần thần" của nước Trung Sơn hoảng loạn, bởi vì Triệu vương không được mỹ nữ, trong cơn thịnh nộ, rất có thể sẽ phải phát binh đi đánh Trung Sơn, sự việc tương tự như thế lúc đó có vô khối không thể kể hết.
Giữa nước này với nước nọ, vì tranh giành mỹ nữ, gấm vóc ngọc ngà mà dấy binh đánh lẫn nhau là chuyện rất bình thường. Một thời, trong triều ngoài dân trên dưới, cộng thêm quốc vương và các bà phi trong cung, đều cảm thấy bó tay hẳng có kế gì, không biết làm như thế nào mới có thể vượt qua khó khăn này. Mà sứ giả của Triệu vương thì ở lại nước Trung Sơn nóng lòng chờ đợi câu trả lời, mà còn thúc ép rất chặt, rất gấp.
Chính trong giờ phút có tính then chốt này, Tư Mã Hy lại hết sức trấn tĩnh nói với Quốc vương: "Hiện tại, thần có một biện pháp hay, vừa có thể từ chối yêu cầu của Triệu vương, lại có thể không làm cho Triệu vương tức giận mà bảo đảm chắc chắn an toàn của nước ta, không bị khổ của tai nạn chiến tranh". Quốc vương Trung Sơn vừa nghe như vớ được của báu, liền vội vàng nói với Tư Mã Hy: "Cái gì? Khanh lại có thể có được kế sách vạn toàn phải không?" Tư Mã Hy lại trả lời: "Quốc vương chẳng thà lập tức đem Âm Giản chính thức phong làm Vương hậu của Quốc vương quách đi, như vậy, vừa đem bẩm báo việc này với Triệu vương, từ chối yêu cầu của ông ta cũng không thể làm chho họ tức giận được, đồng thời cũng sẽ làm cho họ hết hy vọng, ngoài việc đó ra, chẳng có kế hay cách làm tốt nào nữa".
Quốc vương Trung Sơn vừa nghe lập tức tiếp nhận kiến nghị của ông ta. Chính là như vậy, nước Trung Sơn không những được bảo toàn, mà còn từ đó về sau, Âm Giản đối với Tướng Quốc Tư Mã giúp đỡ to lớn khiến mình được thăng đến địa vị vương hậu, đương nhiên cũng không đối địch nữa, mà còn mang ân mang huệ.
Trong quá trình thực thi mưu kế chế ngự, chế phục đối thủ chính trị Âm Giản, Tư Mã Hy chủ yếu áp dụng phương pháp dắt dẫn hướng phát triển mâu thuẫn nội bộ đối thủ chính trị chuyển dịch. Từ chỗ nhằm thẳng mũi nhọn vào ông ta, khéo léo mượn yêu cầu của sứ giả của Triệu vương mà dẫn dắt thành mâu thuẫn giữa Triệu vương, Qốc vương Trung Sơn và Âm Giản. Sách lược có tính mấu chốt này có ba bước: Bước thứ nhất là tiết lộ cho sứ giả của Triệu vương biết sắc đẹp và tài hoa của ái phi Âm Giản của Quốc vương Trung Sơn, khiến cho Triệu vương mắc mưu vào tròng, đó là dẫn dắt lần thứ nhất. Bước thứ hai là Triệu vương lại sai sứ giả khăng khăng đòi Âm Giản với Quốc vương Trung Sơn, mà còn đưa ra những lời nói cứng rắn, thúc ép rất căng thẳng, có thế như không đòi được đến tay thì phải đem quân sang đòi, làm tăng kích thích của mâu thuẫn nội bộ địch thủ chính trị, đó là dẫn dắt lần thứ hai; bước thứ ba là trong giờ phút then chốt Tư Mã Hy đã hiến kế giải nguy, vừa làm cho nước Trung Sơn bảo toàn Âm Giản được thăng lên ngôi vị Vương hậu, lại khiến cho Triệu vương không còn lý do xuất quân, mà còn làm cho hết hy vọng đòi Âm Giản. Còn Tư Mã Hy lại càng trở thành công thần đã cứu nguy làm cho nước Trung Sơn thoát khỏi cảnh khốn đốn, là người làm ơn làm phúc giúp cho Quốc vương và Vương hậu. Từ đó, về chính trị, về đạo nghĩa, về tâm lý đã giành được thắng lợi to lớn, sẽ chế ngự, chế phục đối thủ chính trị, đã thoát khỏi cảnh khốn đốn chính trị trước mặt sau lưng đều có kẻ đối địch, tiến thoái lưỡng nan của mình ở trong nước. Đó là dẫn dắt lần thứ ba, thhật là tuyệt diệu.
Xem tiếp 32- Phá vỡ quy luật tư duy ngôn ngữ
