Diễn Đàn » Khoa Học Huyền Bí

Âm dương kinh

146 trả lời, 10.292 lượt xem — Trang 3 / 5
31- Làm Gia Cát Lượng sau khi việc xẩy ra, có gì không thể?

Người ta luôn mong muốn mình thông minh, đồng thời mong sự thông minh của mình sẽ mang lại lợi ích cho sự nghiệp và tình yêu của mình. Cho nên, hy vọng mình trở thành nhân vật kiểu Gia Cát Lượng.

Tài năng lớn nhất của Gia Cát Lượng không phải là có thể xử lý tốt mọi cục diện lộn xộn ngay lúc đó, mà là ông rất có tài nhìn xa trông rộng. Trước khi chưa ra khỏi núi năm đó, chia ba thiên hạ đã dự đoán trước có một phần của ông. Từ đó về sau sự cố gắng suốt một đời của ông đều không vượt ra khỏi lời dự đoán này.

Gia Cát Lượng đã từng nói: "Bậc đại trượng phu, chí phải đặt ở nơi cao xa".

Trong hý kịch và tiểu thuyết xưa của Trung Quốc, người ta đã thần thoại hóa Gia Cát lượng là bậc thần tiên "trên biết thiên văn địa lý, dưới biết mọi việc nhỏ mọn". Nhiều người đều trăm phương nghìn kế bắt chước Gia Cát Lượng. Hai tỉnh Hồ Bắc và Hà Bắc, đều đang nịnh Gia Cát Lượng, giành nhau nói Gia Cát Lượng là người đồng hương của mình.

Do Gia Cát Lượng có thể bấm tay để tính toán, cho nên trong xã hội, hàng ngàn năm nay, những tiên sinh đoán mệnh cũng đều dựng cờ bát quái đi đây đi đó xưngn mình là "Khổng Minh tái thế".

Những năm gần đây ở các vùng phía Nam như Quảng Châu, Quảng Tay, Hồ Nam, Triết Giang, Giang Tô... những người tin đoán mệnh, tạo quẻ ngày càng nhiều.

Chúng ta có thể nhìn thấy: trên một sạp xem quẻ nhỏ thường có thể vây quanh vài chục, thậm chí vài trăm người đàn ông đàn bà thành kính.
Người ta đến gặp đoán mệnh tiên sinh, rốt cuộc là vì cái gì?

Bât kể là nam nữ trẻ già, phần nhiều đều hỏi mấy vấn đề dưới đây:

- Tiền đồ sự nghiệp của tôi như thế nào?
- Tình yêu và hôn nhân của tôi như thế nào?
- Tài vận của tôi như thế nào?
- Quan vận của tôi như thế nào?

Về cơ bản đều là nội dung của mấy mặt này. Mà mấy phương diện này lại hầu như đã khái quát được vận mệnh một đời của con người.

Con người không phải là thần thánh, ai cũng đều không biết được ngày mai của mình ra sao. Nhưng ở nơi sâu thẳm trong lòng của mỗi người, đều có một chỗ có vấn đề sâu sắc: ai cũng đều muốn biết tương lai của mình rốt cuộc sẽ như thế nào; ai cũng đều hy vọng ngày mai của mình tốt hơn hôm qua, tốt hơn hôm nay.

Song, ai cũng không phải là thần thánh. Vì vậy, người ta sẽ hỏi những người đoán mệnh, những người xưng là "Khổng Minh tái thế" chiêm bốc.
Hiện tượng này, có người luôn nói là mê tín. Còn chúng tôi cho rằng: Nó sở dĩ cấm mãi không thôi, vấn đề mấu chốt là ở chỗ nó đón được nh cầu tâm lý của người ta muốn biết ngày mai.

Vậy thì, người ta đều muốn làm Gia Cát Lượng, đều muốn dự đoán biết trước tương lai của mình. Song bản thân Gia Cát Lượng lại không biết được mình khi nào hưng vượng, khi nào suy bại, khi nào tử vong.

Sự tích một đời của ông được người đời sau khái quát lại bằng hai chữ "trí tuệ". Mà "trí tuệ" của Gia Cát Lượng, trong con mắt của Tào Tháo, trong con mắt của Tôn Quyền, không nghi ngờ gì chính là âm mưu.

Nói đến âm mưu của Gia Cát Lượng, không ai không nói "thất - không - trảm" (mất - bỏ không - chém). Việc này thật ra không phải nói Gia Cát Lượng có thể biết trước tương lai, chính là nói Gia Cát Lượng không tài nào biết trước tương lai, bất đắc dĩ mới phải dùng biện pháp "mất bò mới lo rào chuồng".

Từ đó ta thấy cách nói "Việc đã xong rồi mới là Gia Cát Lượng là có căn cứ.

Trong cuộc sống, người ta thường thích "nổi lên trên", tranh làm Gia Cát Lượng trước khi việc xây ra, lại không muốn làm Gia Cát Lượng sau khi việc đã xẩy ra, cho rằng làm Gia Cát Lượng sau khi việc đã xẩy ra thì chẳng khác gì như "Mã sau Pháo" trong khi đánh cờ tướng.

Mà họ không biết rằng: Một người, hoặc một người có chí hướng, chỉ cần sinh mệnh của họ vẫn còn, dù rằng luôn luôn sai lầm, luôn luôn bị trắc trở, luôn luôn dấn thân vào cảnh khó khăn, chỉ cần họ sành sỏi làm Gia Cát Lượng sau khi việc đã xẩy ra, sẽ có một ngày có thể có được kết quả tốt hơn người khác.

Cạnh tranh xã hội ngày càng kịch liệt, nhiều nhà triết học không hẹn mà gặp đều từng nói: "Đời người chính là chiến trường". Trên chiến trường này mặc dù không có thuốc súng, không có súng gươm, không có thảm cảnh máu chảy thành sông, thây chất đầy đồng. Nhưng, xét theo sự căng thẳng của sinh tồn và sức ép mà tâm lý người ta phải chịu đựng, chiến tranh của hòa bình so với chiến tranh của luồng dao ánh kiếm càng kịch liệt hơn.

ở nước Mỹ, mỗi ngày đều có hơn 3 vạn xí nghiệp mới, công ty mới khai trương. Đồng thời trung bình mỗi ngày đều có 54.220 xí nghiệp cũ tuyên bố phá sản.

Theo tờ "Thời báo phố Wall" đưa tin: Những nhà xí nghiệp (doanh nghiệp) phá sản - tức những người bại trận trong cạnh tranh kịch liệt, có người đã chọn treo cổ, có người đã chọn nhảy lầu, có người đã chọn uống thuốc độc, có người đã chọn "giấu họ giấu tên", có người đã chọn bệnh viện tâm thần...

ở Thâm Quyến Trung Quốc, thường có hiện tượng như sau: Có người là tay không chiếm thiên hạ, trong một thời kỳ, có thể là "phú ông lưng dắt vạn quan". Song, trong nháy mắt rất có thể đã sẽ nợ nần chồng chất, bị đi ăn mày, lang thang đầu phố.

Đời người thất thường, trong "Hồng Lâu mộng" đã nói đi nói lại nhiều lần đạo lý này với mọi người.

Cạnh tranh trong bất cứ lúc nào nói đều đúng, nó là động lực thúc đẩy lịch sử nhân loại phát triển lên phía trước.

Không có cạnh tranh, loài người sẽ không thể có phát triển. Khi đối thủ bạn gặp lớn mạnh hơn bạn, bạn nên áp dụng sách lược như thế nào khiến cho sức mạnh của hai bên phát sinh biến đổi? Bạn nhắc nhở mình: Hãy thực thà làm Gia Cát Lượng sau khi việc xẩy ra phải không?

Nói chung, so sánh sức mạnh giữa các đối thủ là một quan hệ bên này tăng lên bên kia giảm xuống, một mất một còn, rất khó nói có thể thông qua đối thủ lớn mạnh để bảo hộ mình, phát triển mình, hai bên đối lập nếu muốn cả hai bên đều thắng hầu như là không có khả năng.

Nhưng, điều này cũng không phải là tuyệt đối không thể, trong lịch sử đã có cao thủ tỳ bà gảy ngược mà giành được thành công lớn như thế.
Thời Chiến quốc, nước Trung Sơn là một nước nhỏ nằm xen kẽ giữa các nước lớn. Tướng quốc của nước này là Tư Mã Hy là một nhà chính trị tương đối có tài và có tư tưởng mưu lược rất được Quốc vương của Trung Sơn tín nhiệm. Nhưng chính là một vị Tướng quốc ngay thẳng, giỏi giang, lại bị kẻ thù chính trị, sủng phi của Quốc vương là Âm Giản ghen ghét và công kích, bà ta thường ở bên Quốc vương nói xấu Tư Mã Hy, để công kích.

Tất cả mọi việc đó làm cho Tư Mã Hy thường rơi vào chỗ tiến thoái lưỡng nan, nếu như ngang nhiên đối đầu và thách thức với Âm Giản, thì rất có thể thất bại và mang tiếng xấu, hơn nữa có thể càng tăng thêm tính ngang ngạnh của bà ta; còn nếu như không tiến hành chống lại, thì Âm Giản sẽ xem hành động đó của Tư Mã Hy là yếu hèn có thể bắt nạt được, hơn nữa về chính trị có thể càng ra sức tiến công hơn, khiến cho nịnh thần gian thần sẽ có một ngày được thể.

Do đó, đối với địch thủ chính trị này chỉ có thể sử dụng mưu kế kỳ diệu, khéo chế ngự và hàng phục, mới có thể vừa giữ được vị trí Tướng quốc, lại có thể triệt tận gốc sự can thiệp và hoạt động phá hoại của địch thủ chính trị.

Về sau, Tư Mã Hy lại áp dụng cụ thể thêm một bước kế sách của nhà thông thái của nước Trung Sơn Điền Giản bày cho, dùng phương pháp "đạo dẫn" lén lút nhòm ngó đúng, lợi dụng thời cơ có lợi để đạt được và thực hiện mục đích chính trị đã định trước.

Một hôm, từ nước Triệu, một nước láng giềng cử đến một sứ giả. Lúc đó, nước Triệu là một trong bảy nước hùng mạnh thời Chiến quốc, đối với nước nhỏ như nước Trung Sơn này để xét, nước Triệu có thể ngạo nghễ sai bảo bất cứ lúc nào, cho nên trongn cuộc tiếp đãi sứ giả nước Triệu, không dám qua loa sơ suất một chút nào, Tướng quốc Tư Mã Hy càng phải theo sát vị sứ giả này không dời một bước. Trong bữa tiệc chiêu đãi sứ giả, Tư Mã Hy tùy tiện hỏi sứ giả của Triệu vương: "Nghe nói nước Triệu các ông có rất nhiều mỹ nữ giỏi âm nhạc, có phải như thế không?" Vị sứ giả này vừa nghe, lại quả quyết phủ nhận nói: "Không! Thực tế không phải như thế".

Nhưng lúc đó, Tư Mã Hy lại cố ý dằn giọng xuống, cố làm ra vẻ thần bí nói với sứ giả nước Triệu: "Nhưng ở nước Trung Sơn chúng tôi, lại có một mỹ nữ đủ để khiến cho triều đình và dân chúng, các vị có công lao hiển quý của quý quốc đều phải hết sức kinh ngạc, người đó chính là "ái phi" của Quốc vương nước Trung Sơn chúng tôi, tên bà là Âm Giản, người trông thật là giống các tiên nữ trên trời". Những lời nói này, sứ giả nước Triệu nghe xong hết sức cảm động trong lòng.

Sau khi về nước, liền vội vàng bẩm báo ngay với Triệu vương, Triệu vương vừa nghe, tuy chưa trông thấy người mỹ nữ này, lại như đã thèm muốn từ lâu, nóng lòng muốn giành về tay mình. Thế là, Triệu vương lại sai sứ giả đến nước Trung Sơn lần nữa, yêu cầu Quốc vương nước Trung Sơn đem mỹ nữ Âm Giản tặng cho Triệu vương, đồng thời yêu cầu phải hết sức nhanh chóng.

Theo lệ thông thường về chính trị giữa các nước lúc đó, mỹ nữ của hậu cung sẽ giống như vàng bạc châu báu, đều có thể làm quà tặng đáp lễ tặng cho người khác. Còn như nước mạnh, nước lớn như nước Triệu thế này, đưa ra yêu cầu đó đối với nước Trung Sơn nhỏ vừa là rất tự nhiên cũng không có gì quá mức. Mà Triệu vương, Quốc vương nước Trung Sơn và Âm Giản lại đều không biết nhau, việc này tất cả chính là cái chòng mưu kế của Tư Mã Hy đã bày đặt ra từ lâu mà thôi.

Đối với yêu cầu này, Quốc vương nước Trung Sơn thật là khó xử. Nếu đáp ứng yêu cầu của Triệu vương, đem Âm Giản ngoan ngoãn nhường cho người khác, đối với Tư Mã Hy để xét, liền có thể rất nhanh thoát khỏi cảnh khó khăn chính trị, vì địch thủ chính trị đã chuyển dịch mà không tồn tại nữa. Đây là phương án "loại một" Tư Mã Hy thi hành mưu kế, cũng là một trong những kết quả có thể chọn.

Song, mới đầu Quốc vương Trung Sơn lại vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của Triệu vương. Xét về tình lý, việc này cũng rất tự nhiên và hợp với tình lý, bởi vì ai cũng không thể đem người và vật mình thích dễ dàng chuyển nhượng cho người khác sở hữu được. Nhưng lại khiến cho "bách quan quần thần" của nước Trung Sơn hoảng loạn, bởi vì Triệu vương không được mỹ nữ, trong cơn thịnh nộ, rất có thể sẽ phải phát binh đi đánh Trung Sơn, sự việc tương tự như thế lúc đó có vô khối không thể kể hết.
Giữa nước này với nước nọ, vì tranh giành mỹ nữ, gấm vóc ngọc ngà mà dấy binh đánh lẫn nhau là chuyện rất bình thường. Một thời, trong triều ngoài dân trên dưới, cộng thêm quốc vương và các bà phi trong cung, đều cảm thấy bó tay hẳng có kế gì, không biết làm như thế nào mới có thể vượt qua khó khăn này. Mà sứ giả của Triệu vương thì ở lại nước Trung Sơn nóng lòng chờ đợi câu trả lời, mà còn thúc ép rất chặt, rất gấp.
Chính trong giờ phút có tính then chốt này, Tư Mã Hy lại hết sức trấn tĩnh nói với Quốc vương: "Hiện tại, thần có một biện pháp hay, vừa có thể từ chối yêu cầu của Triệu vương, lại có thể không làm cho Triệu vương tức giận mà bảo đảm chắc chắn an toàn của nước ta, không bị khổ của tai nạn chiến tranh". Quốc vương Trung Sơn vừa nghe như vớ được của báu, liền vội vàng nói với Tư Mã Hy: "Cái gì? Khanh lại có thể có được kế sách vạn toàn phải không?" Tư Mã Hy lại trả lời: "Quốc vương chẳng thà lập tức đem Âm Giản chính thức phong làm Vương hậu của Quốc vương quách đi, như vậy, vừa đem bẩm báo việc này với Triệu vương, từ chối yêu cầu của ông ta cũng không thể làm chho họ tức giận được, đồng thời cũng sẽ làm cho họ hết hy vọng, ngoài việc đó ra, chẳng có kế hay cách làm tốt nào nữa".

Quốc vương Trung Sơn vừa nghe lập tức tiếp nhận kiến nghị của ông ta. Chính là như vậy, nước Trung Sơn không những được bảo toàn, mà còn từ đó về sau, Âm Giản đối với Tướng Quốc Tư Mã giúp đỡ to lớn khiến mình được thăng đến địa vị vương hậu, đương nhiên cũng không đối địch nữa, mà còn mang ân mang huệ.

Trong quá trình thực thi mưu kế chế ngự, chế phục đối thủ chính trị Âm Giản, Tư Mã Hy chủ yếu áp dụng phương pháp dắt dẫn hướng phát triển mâu thuẫn nội bộ đối thủ chính trị chuyển dịch. Từ chỗ nhằm thẳng mũi nhọn vào ông ta, khéo léo mượn yêu cầu của sứ giả của Triệu vương mà dẫn dắt thành mâu thuẫn giữa Triệu vương, Qốc vương Trung Sơn và Âm Giản. Sách lược có tính mấu chốt này có ba bước: Bước thứ nhất là tiết lộ cho sứ giả của Triệu vương biết sắc đẹp và tài hoa của ái phi Âm Giản của Quốc vương Trung Sơn, khiến cho Triệu vương mắc mưu vào tròng, đó là dẫn dắt lần thứ nhất. Bước thứ hai là Triệu vương lại sai sứ giả khăng khăng đòi Âm Giản với Quốc vương Trung Sơn, mà còn đưa ra những lời nói cứng rắn, thúc ép rất căng thẳng, có thế như không đòi được đến tay thì phải đem quân sang đòi, làm tăng kích thích của mâu thuẫn nội bộ địch thủ chính trị, đó là dẫn dắt lần thứ hai; bước thứ ba là trong giờ phút then chốt Tư Mã Hy đã hiến kế giải nguy, vừa làm cho nước Trung Sơn bảo toàn Âm Giản được thăng lên ngôi vị Vương hậu, lại khiến cho Triệu vương không còn lý do xuất quân, mà còn làm cho hết hy vọng đòi Âm Giản. Còn Tư Mã Hy lại càng trở thành công thần đã cứu nguy làm cho nước Trung Sơn thoát khỏi cảnh khốn đốn, là người làm ơn làm phúc giúp cho Quốc vương và Vương hậu. Từ đó, về chính trị, về đạo nghĩa, về tâm lý đã giành được thắng lợi to lớn, sẽ chế ngự, chế phục đối thủ chính trị, đã thoát khỏi cảnh khốn đốn chính trị trước mặt sau lưng đều có kẻ đối địch, tiến thoái lưỡng nan của mình ở trong nước. Đó là dẫn dắt lần thứ ba, thhật là tuyệt diệu.

Xem tiếp 32- Phá vỡ quy luật tư duy ngôn ngữ




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
32- Phá vỡ quy luật tư duy ngôn ngữ

Nói đến tự mâu thuẫn nhau, mọi người ó thể dễ dàng nghĩ đến một câu chuyện trong sách "Hàm Phi tử".

Trước khi triển khai trình bày và phân tích phần này, chúng ta cần thiết phải ôn lại một chút câu chuyện này: Có một người nước Sở vừa bán ngọn giáo vừa bán lá chắn.

Ông ta khen lá chắn của ông nói: "Lá chắn của tôi rất cứng, không có vật gì có thể chọc thủng nó".

Tiếp theo lại khen cây giáo của ông: "Cây giáo của tôi rất sắc nhọn, bất kể vật gì đều có thể chọc thủng".

Có người hỏi ông ta nói: "Dùng cây giáo của ông chọc lá chắn của ông, sẽ như thế nào?" Người đó không có cách gì trả lời được.

Câu chuyện này lưu truyền đã mấy ngàn năm, nó cho người ta một gợi ý về ý nghĩa chung: Lá chắn chọc không thủng và cây giáo vật gì cũng đều chọc thủng là không thể đồng thời tồn tại.

Nhưng câu chuyện này phần nhiều được người ta dùng giải thích về triết học và về lôgic, khiến cho ý nghĩa của nó rạng rỡ hơn.
Đề chuyện này của chúng ta là nói tự mâu thuẫn nhau đem lại cho người ta hiệu quả hài hước. Điểm đứng của chúng ta là trên giao điểm của ngôn ngữ học và lôgic học.

Nói chung phù hợp với nguyên tắc lôgic, ngôn ngữ vận hành trên quỹ đạo bình thường là điều kiện tối thiểu mọi người có thể thuận lợi trao đổi tư tưởng, thực hiện qua lại với nhau, nhưng trong đó không tồn tại một chút giá trị hài hước nào.

Còn tự mâu thuẫn nhau về lôgic, lại có thể sản sinh hài hước thú vị. Bởi vì trong tình huống tự mâu thuẫn nhau, ngôn ngữ mất cân bằng, lôgic sai lạc, liền đó bí tắc về lôgic, ngôn ngữ bay bướm đem lại cho chúng ta vẻ kinh sợ, thú vị hài hước liền thai nghén từ trong đó.

Nguồnn chuyện cười tự mâu thuẫn nhau trong cuộc sống, thật có thể nói là đâu đâu cũng vớ được, ở đây chúng tôi xin trích ra vài chuyện:
Có một ông già năm nay đã hơn 60 tuổi, nghỉ hưu tại gia đình nhàn rỗi không có việc, một hôm đột nhiên tâm huyết dâng trào, muốn làm một chiếc ghế gỗ nhỏ cho đứa cháu gái.

Nhưng sự việc rất không may, người thợ mộc ông lão mời đến là người giữa chừng đổi nghề, lại không chịu chăm chú học nghề, nên công việc làm rất tồi.

Người thợ mộc làm mất một ngày ở nhà ông lão, vội vàng hoàn thành để đòi tiền công ở ông chủ.

Ông lão nói: "Công việc anh làm quá chậm".

Người thợ mộc nói: "Cụ không nghe nói làm việc chậm thì sẽ cẩn thận tỉ mỉ ư?"

Ông lão nói: "Việc anh làm không những chậm, điều quan trọng hơn là chất lượng quá kém, làm cho tôi đã phải thết đãi mất ba bữa ăn. Như thế này nhé! Sẽ đem chiếc ghế này cho anh bù tiền công nhé!"

Người thợ mộc ngừng làm việc, tranh luận: "Đừng xem người ta là thằng ngốc, vài đồng bạc tôi không cần, ai thèm lấy chiếc ghế này của cụ? Khe hở vừa to, ván lại xiên, bốn chân đều không bằng nhau, chẳng đáng tiền!"
Nếu là thầy giáo dạy học sinh tiểu học khẳng định nêu lên vấn đề như sau: Người thợ mộc là thông minh hay là ngu đần? Không nghi ngờ gì nữa, nếu trả lời thiên về một phía đều là không được điểm cao.

Nên trả lời như thế này: Người thợ mộc bề ngoài thông minh nhưng chứa đựng cái cốt lõi bên trong là ngu xuẩn.

Đương nhiên, sau khi các bạn đọc xem xong câu chuyện hài hước này, tôi nghĩ không có ai sẽ đi nghiên cứu sâu vấn đề này, nhưng vấn đề này khẳng định là có thể sinh ra trong vô thức của bạn.

Bởi vì chính là vẻ bề ngoài của người thợ mộc như là thông minh nhưng thực lại biện bạch ngu xuẩn, khiến cho vẻ mặt vui tươi của bạn sẽ hé mở. Trong câu chuyện hài hước này, điều mà chúng ta chăm chú không phải là ông già đối phó với người thợ mộc ra sao, mà là ông già nhìn thấy chiếc ghế tồi tệ này sẽ chán chường biết dường nào.

Điều chúng ta quan tâm là những lời nói của chính người thợ mộc, bởi vì nó sẽ tạo nên điểm tựa của hài hước, không có điểm tựa này toàn bộ sự hài hước sẽ đổ vỡ, nó có lẽ sẽ biến thành một mẩu chuyện nhỏ chứa đựng ý nghĩa giáo dục xã hội nào đó, mà không có một tí cảm giác hhài hước nào.

Sự hài hước do cách tự mâu thuẫn nhau tạo nên, nói chung đều có mùi vị trào phúng, nhưng không phải là nói loại hài hước này lùi xuống biến thành một thứ thuyết giáo nào đó; thuyết giáo làm cho người ta chán ngấy, hình thức khô khan tẻ ngắt của nó không thể mang lại cho người ta niềm vui mừng khoái chá. Điểm chống đỡ của loại hài hước này cũng sai lệch về lôgic.

Có hai ông bủn xỉn ở hai nhà hai phía Đông và Tây. Bình thường hai người đều sợ tốn kém rất ít đi lại với nhau. Một hôm, ông chủ nhà phía Đông Sai con sang nhà ở phía Tây mượn một chiếc búa.

"Xin lỗi, cho cháu mượn chiếc búa của nhà bác dùng một lát được không?"
"Cos thể được". Ông chủ nhà phía Tây trả lời, "Nhưng, cháu đóng đinh thép hay là đinh gỗ?"
"Đinh thép", cậu con trai nhà ông chủ phía Đông cứ thực thà trả lời.
"Ôi" vừa nghe lời này, người đó liền vội vàng đổi giọng "Thật là không may, cái búa của nhà tôi đã cho nhà khác mượn đem đi rồi".

Cậu con trai trở về. Ông chủ nhà phía Đông nghe xong đầu đuôi sự việc rất bực tức: "Đinh gỗ, đinh thép gì, rõ ràng là "buốt ruột" không muốn cho mượn búa, trên đời lại còn có kẻ bẩn bụng như thế?"

"Thế thì làm thế nào?" đứa con hỏi.

"Thôi! Thôi! Vẫnn là lấy cái búa của nhà mình ra để dùng thôi!"
Nhìn một cách riêng biệt, ông chủ nhà phía Đông trách ông chủ nhà phía Tây là không chê được, đồ bủn xỉn đương nhiên là phải bị người khác quở trách. Nhưng suy nghĩ một cách toàn diện lời nói của ông ta một chút, thì hài hước sẽ sinh ra.

Đồ bủn xỉn quở trách đồ bủn xỉn, nhận thức của mọi người đối với sự bần tiện của kẻ bủn xỉn bị phá vỡ, trạng thái bình thường, hoang đường xuất hiện.

Phẩm chất bủn xỉn của ông chủ nhà phía Đông tự bộc lộ và lòng bất mãn của ông ta đối với ông chủ nhà phía Tây bủn xỉn hầu như là hai thứ so sánh trắng đen, nổi bật lên màu sắc hài hước ở trong đó một cách mãnh liệt.

Quy luật hài hước của việc tự mâu thuẫn nhau, huyền bí sẽ ở chỗ phá vỡ quy luật tư duy của ngôn ngữ bình thường biến mất thông qua việc đi ngưọc lại quy luật bình thường để giành được hiệu quả hý kịch.




Xem tiếp

Chương Ba
Âm dương kinh "Dương dụng" âm mưu như thế nào?





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
Chương Ba

Âm dương kinh "Dương dụng" âm mưu như thế nào?

Lấy âm khắc dương, lấy nhu khắc cương
Lấy tĩnh chế động, lấy hằng ứng biến.


Đạo âm dương, bên căng bên trùng.

Thường thường người ta chỉ chú ý "Dương đạo" mà bỏ qua "Âm đạo". Theo quan điểm của "Kinh Dịch": "Một âm một dương mới thành đạo".
Bất kể là thời xưa hay là thời nay, bất kể là Trung Quốc hay là nước ngoài, bất kể là thời chiến tranh hay là thời hòa bình, bất kể là người dân thường sống ở nhà hay là phấn đấu trên "chính trường" hoặc lăn lộn trên "thương trường" đều không tách dời đạo của Âm, Dương.

Trước kia có một sự hiểu lầm, người ta cho rằng, dùng phương thức của "đường vòng" để làm một việc, bị gọi là con đường không chính đáng. Hoặc nói: "Người này đang thực hiện âm mưu, giở mánh khóe".

Chuyện lại phải nói lại là mỗi một người ngay thẳng chỉ cần họ dám thẳng thắn nhìn vào mình, sẽ có thể phát hiện trong cuộc sống thường ngày mình thường xuyên có thể giở một chút "âm mưu nhỏ", làm một chút "trò mèo". Mục đích của nó chẳng qua là để cho mình sống được tốt hơn một chút.

ở đây, chúng ta cần phải chỉnh lý danh nghĩa chính cho "âm mưu" - âm mưu kỳ thực không ngấm ngầm, âm mưu hoàn toàn có thể "dương dụng", từ đó làm cho hướng tư duy của người ta chuyển biến, phá bỏ những khuynh hướng sai lầm tuyệt đối hóa, cực đoan hóa lâu nay như "không đúng tức sai, không phải ta tức địch, không phải đẹp tức xấu, không thật tức giả", đối đãi với thế giới, đối đãi với người khác, đối đãi với mình một cách biện chứng.

1- Giả dại giả ngây tài tình

Trong tình huống bình thường, người ta đều tranh giành nhau tỏ rõ trí tuệ và tài năng của mình, lấy tinh khôn tài giỏi làm vẻ vang.

Song, thời đại đen tối "hôn quân bạo chúa", có lúc trí tuệ và ngay thẳng trở thành tội lỗi, người ta không thể không tự hủy bỏ tự chịu nhục nhã, giả điên giả dại.

Đây thật là bi kịch của lịch sử, điều đáng tiếc của loài người, thật là làm cho người ta không tài nào nói được đây là chỗ khôn khéo của loài người hay là chỗ đáng buồn.

Nhưng vì sự sinh tồn, thường cũng không thể không làm như thế được.
Vận dụng giả điên giả dại, điển hình nhất chính là dùng hình tượng giả điên giả dại để che giấu tài năng của mình, nhẫn nhục chịu đựng, dùng sách lược thoái để tiến, Cơ Tử thời nhà Thương là một ví dụ.
Thương Trụ vương là vua cuối thời nhà Thương, ông ta quen thói bạo ngược, hoang dâm vô độ, suốt ngày đêm chè chén vui chơi với Đát Kỷ là sủng phi của ông và bọn sủng thần quý tộc, sống cuộc sống hủ bại "rượu tầy hồ thịt tầy núi" "ăn uống thâu đêm". Ông ta thường ra ngoài đi săn du chơi, khiến cho đồng ruộng hoang vu, dân chúng không sống nổi.
Những năm cuối Trụ vương ngày càng thậm tệ, hình phạt nặng nề nghiêm ngặt, dâm loạn vô độ, từ chối những lời khuyên can che giấu khuyết điểm, đánh mạnh vào các trọng thần tôn thất, sát hại người trung thành lương thiện, dẫn đến tình thế đất nước nguy ngập, lòng người lối loạn. Thứ huynh của ông là Vi Tử nhiều lần khuyên can ông, ông căn bản không nghe. Để tránh tai họa, Vi Tử đã tức giận bỏ đi. Cơ Tử là chú ruột của Thương Trụ vương, ông ta với tư cách là Thái sư, nhìn thấy tình huống này nhưng cũng chịu bó tay. Một ông chú khác của Thương Trụ vương, Thiếu sư Tỷ Can cho rằng làm một viên đại thần không thể không bâst chấp cái chết để khuyên can.

Thế là, ông đã vất vả khuyên răn Trụ vương, khuyên liền ba ngày không dời, Trụ vương nổi nóng đem giết chết ông, lại còn moi tim của ông ra để xem, nói: "Tỷ Can tự cho mình là bậch Thánh, ta nghe nói tim của bậc thánh có bảy buồng, ta phải thử xem tim của ông ta có phải có bảy buồng không". Cơ Tử vô cùng sợ hãi, sợ Trụ vương tàn bạo giở ngón độc ác đối với mình. Thế là đã giả vờ điên, đầu tóc rũ rượi, nói năng lung tung, không có một chút vẻ tôn nghiêm của Thái sư, hoàn toàn giống như một người điên. Trụ vương thấy ông ta như thế, liền đem ông giam vào trong nhà lao.

Nước Chu vốn là một nước chư hầu của nhà Thương, khi Chu Văn vương ở ngôi đã dự định tiêu diệt nhà Thương, đã tiến hành nhiều việc chuẩn bị. Sau khi Chu Võ vương lên ngôi, chiêu nạp kẻ hiền người tài, dốc sức vì nước, làm cho đất nước hưng thịnh lên rất nhanh.

Lúc đó, ông thấy Thương Trụ vương làm nhiều điều ngang trái, khiến cho các đại thần và chư hầu phần nhiều đều ly khai ông ta, cảm thấy thời cơ diệt Thương đã chín muồi, liền bàn bạc với mưu thần Lã Thượng, rất nhanh chóng dẫn 3000 dũng sĩ, 45.000 giáp binh liên hợp với 800 quân chư hầu ồ ạt đi đánh dẹp Thương Trụ vương.

Trụ vương đem quân chống lại tại Mục Dã (nay là phía Nam huyện Kỳ tỉnh Hà Nam). Nhưng binh sĩ do căm giận Trụ vương cho nên đã quay giáo đánh lại. Thương Trụ vương thấy mọi người chống lại, người thần thì xa dời, thế lớn đã mất, chạy trốn về quốc đô Triều Ca (nay thuộc huyện Kỳ, Hà Nam) trèo lên Lộc Đài, mặc áo báu vào, rồi tự thiêu chết. Triều nhà Thương diệt vong, vương triều Tây Chu được thành lập. Lúc này, Chu Võ vương đã thả Cơ Tử từ trong nhà tù ra.

Cơ Tử là một nhà chính trị đầu tiên thời xưa ở Trung Quốc đã vận dụng kế giả điên giả dại.

Ông bản thân là Thái sư, nhưng lại không có cách gì khuyên Trụ vương thì hành chính sách lương thiện. Đối mặt với hành vi tàn bạo của Trụ vương, ông ta từ sợ hãi nẩy sinh ra kế bảo toàn mình, là thông qua việc giả điên để làm cho mình may thoát khỏi nạn. Khi Trụ vương lên ngôi không lâu, bắt đầu sử dụng đũa ngà voi, sau khi Cơ Tử trông thấy đã nói: "Dùng đũa ngà voi, thế thì nhất định không thể dùng các đồ đựng bằng đất sét nữa, mà là phải dùng cốc bằng tê ngọc. Dùng đũa ngà voi và cốc tê ngọc, cũng nhất định không thể ăn những thứ "trà thô cơm đạm", mặc những thứ "vải thô áo ngắn" và ở dưới mái nhà tranh được rồi. áo gấm chín tầng, đài cao phòng lớn, lấy đó làm tiêu chuẩn, trắng trợn theo đòi, thiên hạ không đủ để cung cấp. Cống phẩm quý lạ ở nơi xa xôi, việc chế tá xe ngựa, xây dựng cung thất, đều không có chỗ tận cùng. Bắt đầu từ đây, tôi e rằng ông ta phải bước đến con đường cùng".

Quả nhiên không ngoài dự định của Cơ Tử, Trụ vương nhanh chóng bắt xây dựng Lộc Đài, xây dựng "quỳnh thất ngọc môn" chứa chất ê hề các đồ quý hiếm ở trong đó, còn dân chúng thì chịu không hết khổ, lòng người ly tán.

Trụ vương còn thường xuyên ăn uống thâu đêm, uống tới mức choáng váng, say túy lúy, đến ngày tháng đều quên hết sạch sành sanh, không biết hôm đó là ngày nào tháng nào, liền hỏi người xung quanh, người xung quanh đều trả lời: "Không biết". Trụ vương liền sai người đi hỏi Cơ Tử.

Cơ Tử nghĩ một lát, trả lời nói: "Tôi uống say rồi, cũng không rõ hôm nay là ngày gì". Sau khi sứ giả đi, các đệ tử của ông hỏi Cơ Tử: "ngài biết hôm nay là ngày gì, vì sao lại nói không biết?" Cơ Tử nói: "Là chủ của thiên hạ, mà làm cho cả một nước chuyển dịch cả khái niệm của thời gian và ngày tháng, thiên hạ đã đến lúc nguy cấp rồi. Nhưng việc mà mọi người của một nước đều nói không biết, chỉ có một mình ta nói biết, thế thì ta há chẳng phải là cái nguy đang đến trước trước mắt rồi ư? Cho nên ta giả vờ mượn say rượu, cũng thoái thác nói không biết". Từ sự việc này có thể thấy Cơ Tử đề phòng Trụ vương có lòng nghi đối với mình, đã là phải mọi chỗ mọi nơi bo bo giữ mình.

Là một nhà chhính trị, Cơ Tử dựa vào tài chhính trị của mình, từ lâu đã nhạy bén từ việc nhỏ nhìn nhận ra Trụ vơng ắt sẽ đi vào con đường diệt vong. Nhưng không có sức xoay chuyển trời đất, lại thấy lòng son dạ sắt của Tỷ Can được đổi lại là một kết cục hết sức bi thảm. Cho nên, để bảo toàn mình, đã nghĩ ra kế hay giả điên giả dại, qua việc ngụy tang khéo léo, dùng cảnh tượng giả để mê hoặc Trụ vương, với mục đích là thực hiện thoát chết.

Trụ vương mặc dù đem Cơ Tử giam cầm lại, nhưng rốt cuộc không giết ông ta. Đây chính là chỗ thành công của ông mượn cái giả để che giấu cái thật thực thi kế này.

Không chỉ là các bầy tôi bình thường, mà ngay cả các con em hoàng gia, người được phong vương, cũng không thể không sử dụng phương pháp này để bảo toàn mình. Bắc Hải vương Lưu Mục thời Đông Hán ham đọc sách, coi trọng người hiền tài, xưa nay được Quang Vũ đế và Han Minh đế yêu thích. Khi đó, Tây Vực đi lại hữu nghị với vương triều Đông Hán, Thiện Thiện vương gửi con trai của mình đến Lạc Dương làm con tin.
Theo quy định, Bắc Hải vương cử sứ giả đến Kinh sư để chúc mừng. Trước khi sứ giả lên đường, Lưu Mục hỏi ông ta: "Nếu như Hoàng thượng hỏi đến ta, ông nói như thế nào?" Sứ giả nói: "Đại vương lòng trung hiếu thuận, nhân từ lương thiện, kính trọng người hiền, làm sao thần không cứ tình thực tâu lên?"

Lưu Mục nghe những lời này xong, liền nói: "Nếu ông cứ nói thật như thế, thì ta sẽ nguy mất. Đó đều là việc của ta thời nhỏ. Ông nếu vì ta tính liệu, thì chỉ có thể nói ta từ sau khi kế thừa vương vị, ý chí sút kém, chỉ thích vui chơi, nữ sắc và tiếng hát. Cứ như thế, ta mới có thể tránh được tai họa". Sứ giả liên tục nói vâng. Con em hoàng gia và cả những người được phong vương, nếu như có tiếng tăm tốt, uy vọng càng cao càn có thể làm cho Hoàng đế không yên tâm, bởi vì họ có khả năng uy hiếp ngôi vua của Hoàng đế.

Do vậy, Lưu Mục vì để làm cho Hoàng đế yên tâm, mới dùng kế mượn giả để che giấy cái thật, đây là biện pháp tốt nhất bảo toàn mình.
Quách Tử Nghi thời Đường công trạng lừng lẫy, nhưng cửa lớn của nhà ông thường xuyên mở, mặc cho mọi người vào ra, cũng không hỏi đến. Con em gia đình họ Quách cho rằng bất kể người sang hèn đều có thể vào trong nhà trong, sẽ có thể mở lòng gần gũi mà suồng sã.

Song Quách Tử Nghi lại nói: "Việc này, đạo lý ở trong đó làm sao các người hiểu được. Năm trăm con ngựa của ta hoàn toàn dựa vào quốc gia cung cấp cỏ, hưởng quan bổng có 1000 người, tiến lên không có chỗ đi, lùi lại lại không có căn cứ. Nếu như kín cổng cao tường, trong ngoài không thông, nếu như có người lấy cớ là vu tội, gán cho tội danh không phục, xử chém cả nhà, đến lúc đó thì hối lại không kịp. Hiện tại mở toanh hhêt cửa, dù có người muốn nghĩ đủ mọi lời gièm pha, cũng không có cơ hội nữa". Mọi người nghe xong, đều hoàn toàn bái phục.

Ban đầu, Quách Tử Nghi vốn là tránh xa tai họa, nhưng thật sự khôn khéo tài giỏi vẫn là Quách Tử Nghi.

Trong "Kinh Dịch", chúng ta có thể thấy một số chỗ sự tích có liên quan với Cơ Tử, còn Quách Tử Nghi thì là Đại tướng quân thanh danh hiển hách thời Đường. Các nhân vật lịch sử này cũng là người có học rộng rất biết bảo toàn mình.

Có một số người chính vì không sành xây dựng phát triển mì, kết quả khiến cho sự nghiệp, tình yêu, quan hệ cấp trên và dưới, quan hệ xóm giềng làm hỏng bét hết.

Quách Hoa là một học sinh giỏi tốt nghiệp tường Đại học Phúc Đán, Thượng Hải. Anh ta rất có may mắn được phân công làm việc trong cơ quan nhà nước, thầy giáo và bạn học đều kiêu hãnh vì anh ta, cho rằng tương lai tiền đồ của anh ta rất lớn, anh ta cũng vô cùng quý trọng phần công tác không dễ dàng kiếm được của mình, hàng ngày đi sớm về muộn, cố gắng chăm chỉ, trong thời gian ngắn đã mở ra cục diện.
Cấp trên của anh, chhủ nhiệm văn phòng rất khen ngợi đối với tài hoa và tinh thần làm việc của anh, nhiều lần đã biểu dương trong đại hội cơ quan. Anh cũng mang ơn mangn huệ đối với chủ nhiệm, trong lòng nghĩ: Có người lãnh đạo tốt như thế đánh giá cao mình, mình nhất định phải làm ra thành tích, hoàn toàn không phụ sự ưu ái của lãnh đạo đối với mình.

Một lần, anh cầm các giấy tờ, trước giờ làm việc đã đến trước văn phòng chủ nhiệm. Vừa bước vào cửa, không ngờ lại phát hiện ra chủ nhiệm và nữ nhân viên đánh máy của cơ quan cô Lý đang ôm hôn nhau, quan hệ không phải ở mức bình thường.

Ngay lúc đó, sau khi nhìn thấy, anh ta đã lòng dạ bối rối, vội vàng lui ra ngoài.

Việc này làm chấn động rất lớn đối với tư tưởng của anh, anh lại không biết mình phải làm như thế nào mới tốt. Từ đó, nhìn thấy chủ nhiệm cứ như là làm việc gì sai, trong lòng vẫn như rùng rợn, luôn cảm thấy chủ nhiệm sẽ hoài nghi mình nói lung tung ở bên ngoài, liền do ngay ngáy suốt ngày, hớt ha hớt hải.

Trong một lần họp mặt bạn bè với thầy giáo, tinh thần của anh giảm sút. Mọi người hỏi anh đã xẩy ra chuyện gì, hỏi thế nào anh đều không nói. Về sau, khi hội tiệc kết thúc, anh đem chuyện này nói riêng với thầy giáo của anh, hy vọng thầy giáo cho anh ý kiến.

Thầy giáo đã cho một kế hay chính là - giả vờ hồ đồ. Bởi vì:
Một là, chủ nhiệm là người lãnh đạo của anh, lại là người làm ơn. Là Quách Hoa, dù là đã nhìn thấy việc này cũng không nên tung tin ra ngoài. Thường thường làm như thế sẽ cung cấp "chỗ đuối của chủ nhiệm cho đối thủ chính trị và các đối thủ khác mở rộng sự việc, từ đó chôn vùi hết toàn bộ tiền đồ của chủ nhiệm.

Hai là, mặc dù chủ nhiệm là người đàn ông có vợ, nhưng vợ của ông đã ra nước ngoài, sang Nhật Bản đã 2 năm, tình cảm của hai người rốt cuộc ra sao, ai cũng đều không biết. Có thể chủ nhiệm vẫn giữ quan hệ vợ chồng danh nghĩa với người phụ nữ đã ra nước ngoài kia, nhưng cũng có lẽ đã không có quan hệ gì với người phụ nữ đó nữa.

Ba là, "Việc kia" của chủ nhiệm với nhân viên đánh máy chữ là cô Lý nếu như truyền ra, mọi người khẳng định có thể cho là một tin xấu của cơ quan, khẳng định có thể lấy việc này để phủ định công tác của chủ nhiệm, đồng thời có thể đuổi cô Lý đi khỏi cơ quan, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng.

Bốn là, tình cảm của con người giống như sinh hoạt xã hội đều là rất phức tạp. Hiện tượng thật ra không thể nói lên bản chất. Chưa biết chừng giữa hai người họ không phải là quan hệ nam nữ không bình thường, mà là quan hệ tình yêu thật lòng yêu nhau. Chỉ là do thời cơ và điều kiện chưa đến, không tiện công khai mà thôi.

Tóm lại là thầy giáo yêu cầu Quách Hoa đối với việc này, không nên có thái độ "nửa úp nửa mở", mà phải có biểu hiện chứng tỏ "đều không nhìn thấy gì hết".

Quách Hoa cảm thấy có lý, đã tiếp nhận ý kiến của thầy giáo.
Trong công tác, anh ta vẫn như trước đây, cần làm gì thì làm việc ấy. Trong cơ quan trước nay cũng không có ai bàn tán vấn đề quan hệ của chủ nhiệm với cô Lý.

Sau khi sự việc xẩy ra, ban đầu chủ nhiệm đối với Quách Hoa có chút không thật tự nhiên, thậm chí mọi chỗ đều đề phòng, trong lời nói và hành động còn lộ ra vẻ ám hiệu cảnh cáo.

Nhưng Quách Hoa theo "mưu chước" thầy giáo bày ra cho anh ta, trong cố ý hay vô ý truyền đạt cho chủ nhiệm thông tin: "Ông cứ việc yên tâm, tôi tuyệt đối không làm hỏng việc của ông, cũng tuyệt đối không thể để cho người khác nắm được "chỗ đuối" của ông".

Do làm như thế, nên chủ nhiệm phát hiện Quách Hoa đích thực là một người không làm rối loạn phải trái, không thể làm hỏng việc lớn của mình, sẽ càng thêm tín nhiệm anh. Đồng thời còn đem nhiều công tác quan trọng của cơ quan ủy thác cho anh làm.

Sau một năm, chủ nhiệm và cô Lý chính thức tiến hành lễ kết hôn.

Việc này khiến cho tất cả mọi người ở cơ quan đều ngẩn người ra, cho rằng đây là "đánh chớp nhoáng", "đánh nhanh thắng nhanh". Mọi người xôn xao bàn tán: "Làm sao mà trước kia chưa hề nhìn thấy dấu hiệu gì?"
Thực ra, một năm trước chủ nhiệm đã ly hôn với vợ của ông ở Nhật Bản rồi. Nguyên nhân vì vợ ông ở Nhật Bản đã có một mối tình khác và đã lập lại gia đình.

Trong buổi hôn lễ, chủ niệm và cô Lý đều nâng ly tới tấp chúc rượu Quách Hoa và nói: "Anh thật là một người rất có ý kiến riêng, là người rất đáng tin cậy, chúng tôi thành thật cám ơn anh".

Không bao lâu, chủ nhiệm được đề bạt đảm nhiệm công tác lãnh đạo cơ quan cấp thành phố. Quách Hoa đã tiếp thay ca của chủ nhiệm, trở thành cán bộ lãnh đạo trẻ nhất trong cơ quan.

Thử nghĩ, nếu như lúc đó Quách Hoa đầu óc không bình tĩnh, đem việc mình trông thấy nói tung ra ngoài, thì có thể làm cho người ta thêm mắm thêm muối thêu dệt thêm, gây ra một trận sóng gió lớn, rất có thể chủ nhiệm sẽ mất hết uy tín, cô Lý cũng có thể bị làm cho hết sức lúng túng. Một cặp người yêu thật lòng yêu nhau có thể bị xã hội làm hại, thậm chí có thể bị làm cho tan nát.

Giả vờ mơ hồ hoặc nói là giả ngây ngô, ở mức độ rất lớn là biện pháp của người lương thiện xuất phát từ mục đích lương thiện dùng đối với người khác, đối với mình đều có ích lợi.

Có thể nói một cách khẳng định rằng, cách "giả vờ" này hoàn toàn không thể làm hại người khác và mình. Mà trong cuộc sống, người không "giả vờ" việc gì, rất có thể khắp nơi làm hại người khác, ngược lại cũng có nghĩa là làm hại mình.

Lý lẽ này rất đơn giản.

Trong "Thánh kinh" nói: "Nếu muốn người khác đối với bạn như thế nào, bạn sẽ nên đối với người khác như thế". Khổng Tử cũng nói: "Kỷ sở bất dục, vật thi vu nhân". (Việc gì mình không muốn, đừng thi hành với người khác).

Trong vở kịch nổi tiếng "Hamlet" của Shakespeare, vị Vương tử Đan Mạch, mang theo tư tưởng cao cả, có mục tiêu cao xa, nhưng khoảng cách giữa hiện thực và lý tưởng quá lớn.

Để thực hiện mục tiêu đã định, ông ta có thể giả ngây giả dại miệng nói những lời ngây ngô, hy sinh tình yêu và hạnh phúc của mình. Dùng dáng vẻ điên dại để làm đối thủ mất cảnh giác, bảo toàn mình.
Bạn đọc có lẽ rất ít người có thể hiểu rõ những lời ngây ngô kiểu Hamlet, chỉ có thể thông qua phiên dịch để đọc hiểu một đoạn bộc bạch nội tâm của ông ta.

Thực ra, những lời ngây ngô điên dại của ông trong tiếng Anh đều là những câu thơ tuyệt diệu.

Khoái Thông thời Tây Hán khi dưới trướng của Hàn Tín là người vạch ra mưu kế cho Hàn Tín.

Sau khi Hàn Tín đánh bại Hạng Võ, ông ta khuyên Hàn Tín làm phản cùng chia thiên hạ với Lưu Bang. Sau khi Hàn Tín bị Lã hậu giết hại vì tội mưu phản, Khoái Thông đã bắt đầu giả điên giả dại, suốt ngày nói mê nói sảng, khiến Lã hậu không rõ ông ta rốt cuộc là điên thật hay là điên giả, cuối cùng không giết ông ta.

Trong hoàn cảnh sinh tồn hiểm ác, giả điên giả dại như Cơ Tử, Khoái Thông và Hamlet như thế là rất cần thiết. Còn trong cuộc sống thường ngày, trong hoàn cảnh hòa bình người ta vì bảo toàn lợi ích của mình, vì không bị xã hội và người khác làm tổn hại, giả điên giả dại thích đáng, cũng vẫn là rất cần thiết.

Đương nhiên, "giả vờ" phải giả vờ thật giống, phải "giả vờ" đúng mức, không nên quá mức, phải nắm chắc mức độ.

Tổng công ty Thông Nhân thuộc khu khai thác Thiên Tân, trong một cuộc họp, Tổng giám đốc Lưu nổi cáu với giám đốc phụ trách tiêu thụ, cho rằng họ làm việc không đắc lực, tình hình hoàn thành nhiệm vụ quý một rất không tốt, còn tuyên bố: Nếu như cứ tiếp tục lại như thế, công ty sẽ phải cắt giảm nhân viên, một bộ phận nhân viên sẽ phải bị sa thải.

Thực ra, giám đốc tiêu thụ Vương Tân làm việc rất cố gắng. Ông dẫn đầu các nhân viên bộ phận tiêu thụ đã lợi dụng thời kỳ tết âm lịch tiến hành hoạt động tiêu thụ nhanh rầm rộ, mà còn tại các cơ quan truyền thông lớn ở Bắc Kinh đều tổ chức loan tin ầm ỹ lên, chỉ có điều là thị trường không đáp lại cho họ, khiến cho Tổng giám đốc Lưu rất sốt ruột.

Ngay lúc đó, Tổng giám đốc Lưu đã để cho mọi công nhân viên tham dự cuộc họp đều phát biểu ý kiến, tiến hành đánh giá đối với công tác của giám đốc tiêu thụ.

Cậu Triệu là một viên kiện tướng, thủ hạ của giám đốc tiêu thụ, đồng thời cũng là đồ đệ đắc lực của Tổng giám đốc Lưu. Khi đến lượt cậu ta nói, cậu ta cười nhạt một cái rồi nói: "Tất cả mọi việc của toàn thể công nhân viên chức công ty làm, cần phải đều là vì doanh thu. Tổng giám đốc Lưu trong vô vàn bận rộn, quan tâm đến công tác của bộ phận tiêu thụ, nói lên lãnh đạo coi trọng đối với công tác này. Tôi cho rằng mọi người đều rất cố gắng, cho nên tôi tin rằng tình huống sẽ tốt lên".

Trong trường hợp như thế, lời phát biểu của cậu ta sẽ thuộc về giả ngây giả ngẩn - Cậu ta vừa giữ được thể diện của Tổng giám đốc Lưu, khiến ông ta nghe thấy thì như là cậu ta đang ủng hộ Tổng giám đốc Lưu chỉnh đốn công tác của bộ phận tiêu thụ. Đồng thời, cũng không có lỗi với giám đốc tiêu thụ, để cho Vươngn Tân nghe, cảm thấy cậu ta là đang tiến hành bào chữa cho công tác của bộ phận tiêu thụ. Hai bên đều không mắc lỗi, lại đều nịnh hay cả hai bên.

Còn những người nhất thời đầu óc choáng váng, trong lời phát biểu, để nịnh hót cấp trên, nói ra lời không nhã nhặn, chỉ trích hoặc công kích giám đốc tiêu thụ, đặt mình vào vị trí rất bất lợi.

Tổng giám đốc Lưu phê bình bộ phận tiêu thụ là quyền của ông ta. Mục đích của ông, thật ra không phải muốn cất chức giám đốc bộ phận tiêu thụ, cũng không phải muốn xem ai có ý kiến đối với giám đốc bộ phận tiêu thụ thì sẽ đề bạt người đó, mà là muốn thông qua phê bình, xúc tiến công tác.

Bởi vì Tổng giám đốc Lưu và Vương Tân là bạn tri kỷ. Quan hệ của họ với nhau phải thân thiết rất nhiều so với quan hệ của họ với bất cứ công nhân viên chức nào.

Thông qua một lần phát biểu, khiến cho những người trong lòng bất mãn, thật ra không nịnh Tổng giám đốc Lưu, trái lại làm tổn hại Vương Tân. Mà một tháng sau, do bộ phận tiêu thụ thời kỳ trước đã làm phần lớn công việc, nên sản phẩm của công ty này chốc lát đã chiếm lĩnh thị trường một mức rất lớn. Tổng giám đốc Lưu vì việc này vô cùng phấn khởi, đã bày tiệc mừng công bộ phận tiêu thụ.

Tổng giám đốc Lưu nâng ly, vỗ vào vai Vươngn Tân, nói: "Lần đó tôi tính khí hơi nóng, trách nhầm anh, xin anh đừng nên để bụng". Còn Vương Tân lại nói: "Không sao, việc phê bình của lãnh đạo là sự thúc giục và khích lệ rất lớn đối với công việc của tôi". Tiếp đó lại dùng ánh mắt dịu dàng lướt nhìn qua các thuộc hạ của mình.

Những người ban đầu công kích Vương Tân trong hội nghị, đều đành phải cúi đầu xuống.
Còn cậu Triệu, lúc này lại yên dạ yên lòng nâng ly rượu lên, uống hết ly rượu này một cách thoải mái.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
2- Người tài bên ngoài xem ra có vẻ ngớ nghếch (đại trí nhược ngu)

Vì kế lớn cho nước cho vua, cũng vì bảo toàn mình, đôi khi đối với sự việc đã rõ rành rành lại không thể trực tiếp tỏ thái độ, nói hết cõi lòng, qua loa một chút, mơ hồ một chút lại là kế sách vẹn toàn, là hành động tài giỏi, khôn khéo.

Kỳ thực, đây cũng chính là ý "đại trí nhược ngu", "hồ đồ hiếm có" mà người ta thường nói.

Trí tuệ và tài năng của con người sẽ thể hiện ở chỗ bất cứ lúc nào đều có thể nắm chắc thế cục, nắm chắc mình, mà không phải là muốn nói gì thì nói nấy, muốn làm gì thì làm nấy.

Thiếu thao lược như thế, là rất khó hoàn thành việc lớn.

"Thao lược" cũng sẽ là cùng nghĩa với "âm mưu" mà chúng ta thường nói, bất kể là nhân vật lớn, hay là vai trò nhỏ, có một chút mưu lược vẫn mạnh hơn không có.

Trong cạnh tranh xã hội mạnh mẽ, hễ là người thành công đều là vì họ có trí tuệ và thao lược nhiều hơn so với người khác, mà không phải họ chỉ có tiền, có quyền.

Nếu như không có mưu lược, dù là có quyền, có tiền, cũng rất có thể lỡ mất. Còn người giỏi mưu kế, dù là không có lấy một thứ gì, cũng có thể thông qua cố gắng và phấn đấu một thời kỳ nhất định, giành được quyền lực, giành được tiền của.

Jeamson, Tổng giám đốc công ty á - thông Mỹ là một nhà triệu phú, ông đã từng nói: "Hỡi các nhà cạnh tranh, các bạn hãy nghe đây, xin đem tất cả tiền tài của tôi đem đi hết, xin đem tất cả nhà xưởng của tôi tịch thu hết, xin đem tất cả cỗ phiếu của tôi đều đổi thành tên của các bạn hêt, chỉ cần tôi vẫn đang còn động não được, các nhân viên dưới quyền của tôi vẫn trung thành với tôi, trong 3 năm, tất cả mọi thứ đã mất, tôi đều cos thể gọi chúng đã mất quay trở lại được!"

"Động não" mà Jeamson nói, chính là vận dụng mưu kế, trên thực tế chính là động lòng, dùng trí tuệ.

Các ví dụ như thế có rất nhiều, rất nhiều - Thời Tây Hán người tài như Trương Lượng, Trần Bình rất tinh thông đạo lý này, giữ nước giữ mình thì không thể có người bình thường nào sánh kịp.

Lưu Bang lập nên triều Hán, việc đầu tiên sau khi làm Hoàng đế chính là phong cho Lưu Doanh, con trai của ông với Lưu Trĩ làm Hoàng Thái tử, Lưu Trĩ đương nhiên lấy danh nghĩa chính tông Hoàng hậu ở ngôi cao. Nhưng khi thống lĩnh đại quân đi chinh phạt Đông, Tây, Lưu Bang người tham rượu hiếu sắc cũng không vì chiến tranh mà lãng quên mua vui tiêu khiển, hành cung Thành Cao có một loạt các tì thiếp xinh đẹp.

Như thế, nên có Lưu Hằng (chính là Hán Văn đế sau này) do Bạc Cơ sinh, Lưu Như ý do Thích ý sinh, Lưu Trường do Triệu Cơ sinh và Lưu Hữu, Lưu Khôi và Lưu Kiến do Gia Cơ sinh. Cộng thêm với Lưu Doanh, Lưu Phì, như vậy Lưu Bang có tất cả 8 người con trai.

Một ngày đầu thu năm 197 trước Công nguyên, Lưu Bang ngồi đoan trang trên ngai ở điện trước cung Vị Ương, các quan văn võ đứng xếp hàng ở hai bên, vẻ mặt căng thẳng lắng nghe Lưu Bang tuyên bố quyết định thay đổi Thái tử.

Lưu Bang vốn bắt đầu từ hành cung Thành Cao, đã yêu riêng Thích ý xinh đẹp thướt tha lại hay "tranh cường hiếu thắng", vẻ bề ngoài của Thích ý có thể sánh với Tây Thi, lại biết đàn biết hát, biết đọc sách, nói năng trôi chảy, lại sinh cho Lưu Bang một đứa con trai là Lưu Như ý, thế là liền sinh ra ý nghĩ không an phận muốn thay Lưu Như ý giành trưởng.

Trước kia, Lã hậu chưa kịp đi theo quân lính, ở lại Trường An, tình cảm với Lưu Bang đương nhiên là hẫng hờ, luôn không địch nổi thân thiết đáng yêu như Thích phi. Sau khi dựng nên triều Hán, Lưu Bang vẫn yêu Thích phi như xưa, Lã hậu cũng nhận ra điều đó, nhưng đành chịu vì sắc suy tình yêu sẽ dịu bớt, không thể tranh hơn, đành phải luôn luôn đề phòng, xem mẹ con Thích phi như cái gai ở trong mắt.

Bởi vì Lã hậu biết được rằng, một khi vị trí Hoàng hậu bị lật đổ thì hậu quả không thể tưởng tượng được.

Đúng khi Lưu Như ý lên 10 tuổi, Thích ý liền tăng nhanh tốc độ đoạt trưởng, bà ta ngày đêm chau mày sướt mướt trước mặt Lưu Bang, van xin Lưu Bang đổi lập Lưu Như ý làm Thái tử. Lưu Bang không khỏi mủi lòng, hơn nữa vì Lưu Doanh bẩm tính nhu nhược, không thông minh bằng Như ý , muốn đổi lập quách đi cho xong.

Lưu Bang tuy nhận lời hứa với Thích phi, nhưng vẫn phải họp các đại thần lại để cùng bàn. Bởi vì việc thay đổi Thái tử ở xã hội Trung Quốc sẽ gọi là lung lay quốc gia đến tận gốc rễ, do đó người ta nói chung đều không thể cẩu thả làm việc này được.

Mấy ngày nay, Lã hậu vốn có nhạy cảm chính trị đã đứng ngồi không yên, bà dự cảm thấy sẽ có việc gì xẩy ra. Giờ đây, thấy Hoàng thượng triệu tập các quan bàn việc, bèn lặng lẽ trốn vào dãy nhà ngang phía Đông điện trước cung Vị Ương dò la tin tức. Chỉ thấy Lưu Bang trịnh trọng nói: "Thái tử Lưu Doanh bẩm tính nhu nhược, tư chất bình thường, như thế làm sao có thể kế thừa nghiệp lớn? Triệu vương Như ý tuổi tuy nhỏ, lại rất thông minh, lời nói và làm việc rất giống ta, ta định phế bỏ Thái tử Doanh, lập Như ý làm Thái tử, các vị đại thần thấy như thế nào?"

Lã hậu nghe rõ rành rành, lòng bà đột nhiên thắt lại, chỉ cảm thấy mắt tối sầm, hai chân mềm nhũn, suýt nữa ngã lăn xuống đất. Cần biết rằng, Thái tử bị phế bỏ, thì địa vị Hoàng hậu của bà cũng sẽ ngừng, chưa biết chừng còn phải đưa vào lãnh cung! Lã hậu vừa bực vừa hận vừa sốt ruột, bà kiên trì tiếp để lắng nghe ý kiến của các đại thần.

Việc làm của Lưu Bang muốn lập Như ý làm Thái tử chắc chắn làm cho bách quan văn võ khiếp sợ, song những lời kể ra phần nhiều là những lời nói cũ rích, ý Lưu Bang muốn đổi lập Thái tử vẫn không thay đổi. Bỗng nhiên nghe thấy một tiếng kêu lớn: "Không được! Không... Không được!" mọi người nhìn, té ra là Ngự sử đại phu "nói lắp" Chu Xương. Người này rất thẳng thắn, dám nói dám làm, đã theo Lưu Bang vào sinh ra tử, một lòng trung thành, lời nói của ông đối với Lưu Bang là rất có trọng lượng. Do Chu Xương dám mạo phạm can gián thẳng ngay giữa triều đình, cộng thêm quần thần một mực phản đối, ý định đổi lập Thái tử của Lưu Bang đành tạm thời xóa bỏ.

Sau khi lui triều, Lã hậu khhông nén nổi kích động trong lòng, xông vào dãy nhà phía Đông, không giữ nổi vẻ tôn nghiêm của Hoàng hậu nữa, chạy thẳng đến trước mặt Chu Xương quỳ xuống, nói: "Ngự sử đại phu, hôm nay không có ngài, Thái tử nhất định không giữ nổi". Việc quỳ cám ơn của Lã hậu, làm cho Chu Xương chân tay luống cuống, vội vàng đáp lễ, nói:

"Thần can gián bệ hạ là vì việc công chứ không phải vì việc tư, làm sao dám xứng với lễ lớn này." nói xong bỏ đi.
Nhìn bóng của Chu Xương đã đi xa, Lã hậu đứng ngẩn người ra ở đó, trong lòng bà rộn lên, hôm nay đích thực là rất nguy hiểm, đây cũng là sự bắt đầu "đọ súng" chính diện của bà với Thích ý, trên miệng bà lộ ra vẻ cười nhạt khó mà nắm được, quyết định tiếp nhận thách thức của vận mệnh. Bà biết Lưu Bang chỉ là nhượng bộ tạm thời, hành động nêu lại sắc phong Lưu Như ý làm Hoàng Thái tử bất cứ lúc nào đều có thể bùng nổ. Bà muốn tìm được một biện pháp ổn thỏa.

Lã hậu tương đối có sự sáng suốt tự biết mình, bà biết mình trong việc tranh giành chính trị còn khó mà ứng phó tự nhiên được, thế là liền bắt đầu tìm người mưu kế, đầu tiên bà nghĩ đến Trương Lương đa mưu túc trí, bèn không ngại hỏi kế ông ta. Trương Lương biết rất rõ những việc lợi hại trong đó, không muốn nhúng tay vào việc trong gia đình Hoàng đế, không bằng lòng bày kế, chưa từng tỏ thái độ.

Lã hậu không nản lòng, lại cử anh trai mình là Lã Trạch mềm rắn đủ cả, làm việc với Trương Lương. Trương Lương chẳng còn cách nào hơn mới nói: "Việc thay đổi Thái tử chỉ dựa vào tranh luận ngoài cửa miệng là không xong, tôi cũng khó trực tiếp xuất đầu lộ diện. Như thế này nhé! Tôi tiến cử người khác thay tôi. Trên núi Chung Nan Thương có bốn vị lão nhân ẩn cư, danh tiếng rất lớn, Hoàng đế khinh thường vô lễ, từ chhối chiêu nạp mà chạy trốn vào trong núi, thề không làm bầy tôi của nhà Hán. Hoàng thượng trái lại càng tôn trọng họ. Nếu Thái tử có thể tự mình viết thư, không tiếc vàng bạc châu báu, mời họ làm tân khách của mình, luôn luôn đi theo mình vào triệu, cố ý để cho Hoàng thượng trông thấy, Hoàng thượng biết có bốn người này phò tá Thái tử, sẽ không thể đổi lập Thái tử nữa".

Lã Trạch sau khi được kế, về nói với Lã hậu, Lã hậu hết sức vui mừng, lập tức liền xếp đặt người chuyên đem thư của Thái tử và mang theo hàng loạt vàng ngọc gấm vóc leen đường đi mời "Thương sơn tứ hạo" gồm Đông Viên Công, Khởi Lý Quý, Hạ Hoàng Công, Giốc Lý tiên sinh, bốn ông già cuối cùng đã xuống núi.

"Bốn ông già núi Thương" không bao lâu đã tỏ rõ tác dụng.
Năm 196 trước công nguyên, Hoài Nam vương Anh Bố đóng giữ ở huyện Thọ, An Huy làm phản, Lưu Bang đang có bệnh có ý định để cho Hoàng Thái tử Lưu Doanh dẫn quân đi dẹp loạn. Lã hậu cho rằng sự việc quan trọng, liền đến tìm "bốn ông già" bàn bạc. Bốn người cảnh báo Lã hậu nói: "Việc đi dẹp loạn này bất kể thắng thua đều không có lợi cho Thái tử. Nếu như thắng thì có công lao gì? Hoàng Thái tử vị trí đã ở tột đỉnh của kẻ bầy tôi, không thể lại thăng quan được nữa. Nhưng nếu thua thì việc này thật là ghê gớm, khi Hoàng đế phải phế bỏ ông ta thì còn có cớ gì nữa". Lã hậu nghe xong, rất cho là đúng, liền đi gặp Lưu Bang, khóc lóc kể lể với ông ta việc dẹp loạn rất quan trọng đối với giang sơn nhà Hán, hơn nữa phải nói chỉ có Hoàng thượng thân chinh đi mới có thể đạt được thành công.

Lưu Bang vừa nghe, té ra là ông ta vốn quan trọng như thế, liền trong lòng đầy hớn hở, quyết định mang theo bệnh xuất chinh. Như vậy, Lã hậu không những tránh được nguy hiểm của việc Thái tử xuất chinh, mà cũng giành được thời gian khiến cho Lưu Bang hoãn thay Thái tử, mình sẽ trù liệu bí mật đối sách.

Năm 194 trước công nguyên, trong quá trình chinh phạt Anh Bố, Lưu Bang bị trúng một mũi tên. Về đến Trường An, bệnh tình trầm trọng, Thích phu nhân ngày đêm khóc lóc. Lưu Bang dự cảm được ở cõi trần gian không lâu nữa, bịn rịn không nỡ dứt Thích ý, lo lắng cho mẹ con Thích phi không phải là đối thủ của Lã hậu, liền sinh ra bụng dạ độc ác thực thi lại kế hoạch phế lập Thái tử.

nghị quần thần một lần nữa, lần này là Phụng thường Thúc Tôn Thông dẫn đầu đấu tranh trong triều đình, làm cho Lưu Bang lại không thể thực hiện được quyết tâm, thế là cụt hứng ra về.
Lã hậu thấy thời cơ đã đến, liền gọi Thái tử đến làm một bữa tiệc gia đình, mời "bốn ông lão" cùng dự. Sau khi Lưu Bang đến dự, nhìn thấy phía sau người Thái tử có bốn cụ già hơn 80 tuổi đầu tóc bạc phơ hầu hạ Lưu Doanh, trong lòng bất giác thấy lạ lùng, sau khi nghe xong bốn ông già tự báo họ tên, lại một lần kinh ngạ nữa, mắt trợn tròn chầm chậm nói: "Trẫm nhiều lần mời các vị, các vị lại trốn đi, con ta có tài đức gì, phiền bốn vị cùng giúp đỡ?" Bốn vị lão nhân ở núi Thương, dưới sự gợi ý trước của Lã hậu, trả lời nói: "Bệ hạ xem thường làm nhục người khác, chúng tôi không muốn làm quan, không bằng lòng chịu nhục, mới từ chối gặp mặt bệ hạ. Hoàng Thái tử trung hậu nhân hiếu, thiên hạ đều muốn dốc toàn lực để đóng góp cho Thái tử, cho nên chúng tôi bằng lòng hầu hạ ông sai bảo".

Lưu Bang sau khi nghe xong những lời này thở phào một cái, dặn dò nói: "Các ông phải chăm sóc Thái tử cẩn thận". Tiếp đó như vẻ lúng túng đã rút lui khỏi bữa tiệc gia đình.
Đến đây, ý nghĩ thay Thái tử của Lưu Bang đã hoàn toàn phai nhạt. Về đến hậu cung, Lưu Bang nói với Thích ý rằng: "Ta vốn quyết định lập Như ý làm Thái tử, trong triều không có người tán thành, bây giờ Lưu Doanh lại có "bốn ông già ở núi Thương" phò tá, vậy cánh đã đủ khó mà động đậy đến được. Xem ra Lã Trĩ sẽ trở thành người chủ của nàng rồi".
Không lâu, trong cung có Phù tỷ lang giữ ấn tín tên là Triệu Nghiêu, ông ta nhìn thấy rõ tâm tư của Lưu Bang lo lắng sự an toàn của mẹ con Thích phi, đã tính kế can giám Lưu Bang phong cho Lưu Như ý làm Triệu vương và dời kinh đô đến nước đó sớm hơn và phái một vị Tướng quốc cao quý mà cương cường đến bảo hộ ông ta. Lưu Bang bằng lòng, chọn phái Chu Xương và Lưu Như ý cùng đi đến đất phong, đồng thời tuyên chỉ Triệu nghiêu làm Ngự sử đại phu. Sắp xếp xong những việc này, Lưu Bang hình như một hòn đá đã rơi xuống đất. Lã hậu từng giờ từng phút chú ý động thái của Lưu Bang, từ lâu đã bố trí người tâm phúc ngấm ngầm đi điều tra, sau khi hỏi thăm ra là mưu kế của Triệu Nghiêu, cười nhạt nói: "Xem rồi sẽ ra sao!
Sóng gió cính trị củng cố dòng trưởng giữ ngôi là một màn hiểm ác nhất một đời của Lã hậu, do mưu mô và kế hoạch bí mật của Lã hậu, cuối cùng đã chuyển hiểm thành an. Thành công của Lã hậu, có người cho là sức mạnh của "bốn ông già núi Thương", song trên thực tế mời Trương Lương vạch ra kế sách vừa vào cuộc đã sôi nổi hẳn lên này lại là Lã hậu, vì thế Thích ý không tài nào đọ nổi.
Còn Trương Lương ở đây càng là có tác dụng có tính quyết định, cũng càng để cho người ta nhìn ra sự độc đáo và trí tuệ của ông. Ông ta đã nói gì, nghĩ kỹ một chút ông ta lại cũng không nói gì cả, không đặt mình vào trong dòng xoáy đấu tranh, nhưng lại là việc tỏ thái độ hết sức rõ ràng. Thật là trí tuệ của ông hết sức cao.
Lấp lửng nước đôi chính là "pha trò cười" mà người ta thường nói.
Lỗ Tấn đã từng kể một câu chuyện đùa nổi tiếng:
Nói là có một nhà sinh được một bé trai, phố phường hàng xóm xung quanh xôn xao đến chúc mừng.
Có người nói, đứa bé này sinh ra trắng trẻo bụ bẫm, tương lai nhất định có triển vọng, có thể làm quan to. Có người nói, đứa bé này thông minh lanh lợi, tương lại rất có tài văn, có thể viết những bài văn chương hay nhất thiên hạ. Có người nói, đứa bé này tinh thần sung mãn, tương lai nhất định sẽ phát tài to.
Mà có một người lại nói câu nói thực, nói đứa bé này tương lai sẽ chết.
Câu nói thật này của anh ta làm cho tất cả mọi người đều ngẩn người ra.
Thế là mọi người đều hết sức căm tức kết thành một khối đánh người đó một trận nên thân.
Ai ai cũng đều thích nghe lời nói tốt, ai ai cũng đều thích nói những lời nói tốt. Người nói những lời tốt được tán thưởng còn người không thức thời kia lại bị đánh đau.
Trong trường hợp như thế, người ta sẽ có thể cảm thấy, nói lời giả dối, nói lời nói suông hầu như có chút mất tôn nghiêm nhân cách, hơn nữa có thể lời nói không thật thốt ra tự đáy lòng.
Nhưng nói những lời nói thật quá dứt khoát, lại có thể chuốc lấy phiền phức, thậm chí có thể rước họa vào thân.
Làm thế nào bây giờ?
Thế là người ta liền bắt đầu nói đùa. Nói rằng: "Đứa bé này... ha ha ha..." "Đứa bé này... ha ha ha..." "Đứa bé này... ha ha ha ha ha ha...".
"Pha trò cười" thích đáng là rất cần thiết. Nhất là trước khi người ta đối với một số vấn đề còn chưa nhìn ra kết quả, không nên bộp chộp nói những lời có tính tuyệt đối, mà nên lấp lửng nước đôi, bình tĩnh xem xét sự phát triển của trạng thái sự việc.
Mao Trạch Đông đã từng nói: "Chưa điều tra, thì không có quyền phát ngôn". Tất cả mọi kết luận đều nên đưa ra sau khi tìm hiểu đầy đủ nguyên nhân và hậu quả, mà không phải là trong pát triển của nó.
Thường thường nhiều người không hiểu rõ những lý lẽ này, khi không nên đưa ra kết luận thì không nên kết luận, đem lời nói nói ra rất cứng nhắc, không có lấy một chút phần linh động.
- "Việc này, chắc như đinh đóng cọc, tuyệt đối không có vấn đề!"
- "Những thứ anh cần, trong vòng 10 ngày sẽ đưa đến 100%, xin anh yên tâm!"
- "Việc này đáng tin 100%!"
- "Con người tôi nói một là một hai là hai, thứ tư gặp mặt thì thứ tư sẽ gặp!"
- "Ngày 1 tháng 10 nhà máy chúng tôi nhất định có thể sản xuất ra loạt sản phẩm đầu tiên, nếu như nói mà không làm được, tôi sẽ không phải là người!"
..........
Những lời vỗ ngực, cam đoan giống như thế, trong cuộc sống từng giờ từng phút đều có thể gặp.
Còn bản thân bạn khi tâm tình hăng hái cũng có thể nói những lời có tính tuyệt đối này. Nhưng trên trời mây gió khôn lường, con người có phúc họa sớm tối, việc này xưa nay khó vẹn toàn - trong đời sống xã hội mọi tình huống ngoài ý muốn như thế đều có thể xẩy ra bất cứ lúc nào.
Do vậy, khi nói chuyện với người khác, nên lưu lại cho mình phần linh động đầy đủ, không nên mình đặt mình vào chỗ khó xử.
Ví dụ nói, bạn có kế hoạch nhà máy của bạn trong tháng 10 có thể sản xuất ra sản phẩm, nhưng khi nói việc này với người khác, thì nên xem xét đến vạn nhất trong quá trình sản xuất xuất hiện vấn đề thì làm thế nào? Không may kéo dài thời gian thì làm thế nào? Không may do các nguyên nhân như điện, kỹ thuật, tố chất công nhân v.v... nên đem lại phiền phức, các nhân tố bât lợi cho bạn thì làm thế nào?
Cho nên khi nói chuyện, phải nói: "Kế hoạch của chúng tôi tháng 10 có thể sản xuất ra loại sản phẩm đầu tiên, nếu như không có gì xuất hiện ngoài ý muốn là không có vấn đề. Nhưng, chúng tôi sẽ đem hết cố gắng lớn nhất của mình, để làm vừa lòng của bạn.
Khi nói chuyện với người khác hoặc khi đàm phán, hoặc khi kết giao bạn bè, xin hãy dùng nhiều những từ dưới đây:
- Mặc dù... nhưng mà...
- Hoặc là... hoặc là...
- Tuy rằng... nhưng...
- Có thể... song...




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
3- Dùng lòng dạ không đổi ứng phó với tình thế vạn biến

Thuật ứng biến là năng lực, bản lĩnh của con người biết nắm lấy thời cơ để quyết đoán.
Người ta khi rơi vào lúc nguy nan, cần phải tùy cơ ứng biến gặp khó khăn không sợ, đứng trước nguy nan không run, gan dạ hơn người, sức địch ngàn quân, giành thắng trong phút chốc, xoay chuyển thế cục, chuyển bại thành thắng.

Tính quyết đoán làm cho mâu thuẫn chuyển hóa, chỉ có kẻ trí dũng kiêm toàn, mới đủ để đảm đương.

Trong cuộc sống cũng có thể thường xuất hiện những chỗ đòi hỏi chúng ta phát huy thuật ứng biến, học thêm được vài kế sách đối với việc bảo hộ lợi ích của mình, đối với việc phát triển sự nghiệp của mình chỉ có ích mà không có hại.

Người ta thường thường lơ là học tập, với tâm lý tự co tự đại cho rằng "mọi việc trong thiên hạ tôi hoàn toàn đều hiểu rõ", kỳ thực người biết rõ hơn bạn phần nhiều lại là những nhân vật kiệt xuất có thành tựu cao trong sự nghiệp, những ông chủ sáng tạo kỳ tích trên thương trường, và cả những người "tinh thần đại chúng" thành tạo trong quan hệ nhân tế... họ đều là những người có mưu lược tương đối nhiều, xin chớ nên coi thường người khác.

Thuật ứng biến mà chúng tôi nêu ra ở đây bao gồm những thuật "quyền biến" như tốc độ nhanh, tùy cơ ưng biến, xử lý khôn khéo, quan sát nhanh nhạy, quyết đoán nhanh, dũng cảm nhanh nhẹn, tinh nhanh, ngụy thoạt, bí mật, cẩn thận không sơ hở, đối xử lịch sự tao nhã, tỉnh ngộ nhanh v.v.... là những phản ứng của người vừa có trí vừa có dũng đưa ra khi gặp nguy nan.
Xử trí vấn đề thắc mắc khó hiểu cần phải tinh ranh mà chóng vánh, hơi chần chừ một chút thì sinh ra họa khôn lường, khó mà giải quyết được.

Người xưa nói: "Gặp việc không quyết, không phải là người có trí; lâm nạn mà không quyết, không phải là kẻ dũng". Xử lý nạn lớn quý là ở chỗ mưu trí nhanh, việc ngàn cân treo sợi tóc, chốc lát vạn biến không thể chần chừ. Thời Ngụy, Nhĩ Chu Vinh xử trí vấn đề của Cát Vinh là một ví dụ có thể xứng đáng tinh ranh chóng vánh.

Nhĩ Chu Vinh là đại thần cuối thời Bắc Ngụy là người Khế Hồ. Ban đầu là Tù trưởng bộ lạc làm giàu bằng chăn nuôi. Khi Lục Trấn khởi nghĩa, ông tích cực "chiêu binh mãi mã", mở rộng thực lực, nhiều lần trấn áp khởi nghĩa của những người chăn thuê.

Năm 528, nhân cơ hội Hiếu Minh đế bị Hồ Thái hậu đầu độc chết, cử binh vào Lạc Dương, cướp lấy quyền lớn về quân chính, ủng hộ lập Hiếu Trang đế. Đem Thái hậu và Thiếu chúa dìm chết tại Hà Âm (nay là chỗ bờ sông Hoàng Hà phía Bắc Lạc Dương, Hà Nam) đã giết hơn 2000 người thuộc tôn thất và đại thần. Tiếp đó lại xuất binh trấn áp khởi nghĩa của Cát Vinh, bố trí tôn thất Đảng Vũ thao túng quyền lớn, kiêu căng bạo ngược tự buông thả, sau lại bị Hiếu Trang đế giết.
Cát Vinh là người dân tộc Tiên Ti, là thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Nông dân Hà Bắc cuối thời Bắc Ngụy. Năm 526, ông chém chết Chương Vũ vương Nguyên Dung, tự xưng Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Tề. Về sau ông thừa thắng đã giết chết Thống soái cao nhất của quân Ngụy là Nguyên Sâm, chiếm cứ mấy châu ở Hà Bắc có số dân mấy chục vạn người, thanh thế rất lớn.

Nhưng trong quá trình hành quân khởi nghĩa, ông ức hiếp nhân dân dân tộc Hán, lôi kéo bọn địa chủ cường hào, lại bất thình lình giết Đỗ Lạc Chu (thủ lĩnh khởi nghĩa nông dân Hà Bắc cuối thời Bắc Ngụy) dẫn ddến nội bộ quân khởi nghĩa không đoàn kết, đã định trước vận mệnh thất bại của ông.

Năm 528, Nhĩ Chu Vinh lợi dụng mâu thuẫn bên trong quân Cát Vinh, đánh lớn vào Cát Vinh tại Tương Châu (nay là phía Nam huyện Từ, Hà Bắc). Nhĩ Chu Vinh lợi dụng điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hòa, xung phong đi đầu binh sĩ làm một mạch cho xong, không tổn thất bao nhiêu binh lực, liền đánh tan toàn bộ bộ thuộc của Cát Vinh, Cát Vinh là thủ lĩnh của nghĩa quân cung bị bắt sống.

Cục diện lúc đó, đối với Nhĩ Chu Vinh là vô cùng tráng lệ: thủ lĩnh Cát Vinh đã biến thành cá nằm trong chậu, tai vạ khó tránh, mấy chục vạn binh mã nằm dưới tay Cát Vinh như rắn không đầu, còn quân của mình thì vui mừng phấn khởi mặt mày hớn hở, tiếng hò reo vang vút tầng mây, tiếng ngựa hí rung chuyển núi đồi. Song Cát Vinh lại mặt ủ mày ê, không biết là hối, là hận hay là sợ, không nói một lời, ngồi để chờ chêt. Mặc dù ông ta cũng đã từng có không chỉ một lần thắng lợi, thậm chí đã giết được cả Nguyên Sâm, Thống soái cao nhất của quân Ngụy, cũng đã từng có không chỉ một lần vui sướng, nhưng không ngờ tới ngày nay rơi vào tay kẻ thù, công lao trước kia đều vứt hết, việc sắp thành công lại bị hỏng.

Nhìn thấy vẻ chán nản và tuyệt vọng của Cát Vinh, lòng sĩ diện hão của Nhĩ Chu Vinh đã được thỏa mãn lớn nhất. Nhưng, ông ta không bị thắng lợi làm cho u mê đầu óc, ông đang suy nghĩ: Biểu hiện của Cát Vinh có thật hay không? Cát Vinh chưa đánh đến cùng đã đầu hàng, ở đây phải chăng là có gian trá? Phía sau lưng Cát Vinh còn mấy chục vạn binh mã, cùng lẫn vào trong quân của mình, nhỡ ra chúng cùng liều đến chết, từ trong đó dấy binh thì làm thế nào? Cứ như thế suy nghĩ...

Việc suy nghĩ này không phải không có lý. Bởi vì Cát Vinh quân nhiều thế lớn, một khi nhỡ xử lý không tốt, đuôi lớn không quẫy được, biến thành gánh nặng, nguy hại đến mình, lúc đó sẽ không dễ làm.

Thế là, Nhĩ Chu Vinh thừa cơ quyết kế, hạ lệnh các binh sĩ tướng lĩnh vốn thuộc Cát Vinh, mỗi người theo sở thích của mình, thân thuộc có thể đi theo, ai thích lưu lại cũng được, còn ai muốn về nhà cũng xong. Mệnh lệnh này quả là giành được sự tán thành của các tướng sĩ đầu hàng, thế là mọi người chạy đi báo tin cho nhau biết, biến khổ thành vui, biến buồn rầu thành cười vui.
Mọi người mặc dù cảm ơn mệnh lệnh của Nhĩ Chu Vinh, nhưng người muốn lưu lại đi theo Nhĩ Chu Vinh lại rất ít, mọi người đều muốn về nhà, trốn thoát chiến tranh. Một thời gian, bụi đất tung bay, tiếng người ồn ào, kẻ chạy người trốn, mấy chục vạn binh mã, một ngày tan hêt, giống như ở nơi đây không hề có chiến tranh xẩy ra.

Nhưng, Nhĩ Chu Vinh không thể dễ dàng bỏ qua những "chiến lợi phẩm" này. Đợi đến khi người ngựa chạy khỏi ngoài trăm dặm, Nhĩ Chu Vinh chia quân theo các đường áp lĩnh hàng binh, đem những hàng binh bỏ chạy này, lại từng người từng người thu nhận, tùy ý sắp đặt, biên chế vào trong quân, khiến cho mấy chục vạn người ngựa của Cát Vinh phân thành nhiều cánh quân nhỏ, rất khó trở thành một bộ phận hoàn chỉnh nữa, khả năng tụ tập mưu phản của họ sẽ rất bé.
Đối với một số tướng soái trong quân Cát Vinh, thì căn cứ theo nhu cầu và lượng tài phong chức vị. Như vậy, đại quân mấy chục vạn của Cát Vinh, đã bị Nhĩ Chu Vinh chỉnh đốn biên chế lại một cách yên lòng yênn dạ. Tiếp đó, Nhĩ Chu Vinh lại dùng xe tù đem Cát Vinh đưa đến Lạc Dương, chém đầu thị uy trước công chúng.

Nhĩ Chu Vinh dùng biện pháp phân tán và thu nhận chỉnh đốn lại đã triệt để khắc phục được mấy chục vạn binh mã của Cát Vinh, tránh được xung đột có thể xẩy ra, giảm bớt khả năng thuộc hạ cũ của Cát Vinh tụ tập mọi người dấy binh và đợi thời cơ trở lại.
Từ đó ta thấy, sự tinh ranh chóng vánh của Nhĩ Chu Vinh là một thủ đoạn quan trọng giành thắng Cát Vinh của ông ta.

Phản ứng nhanh nhạy, đối với chiến tranh thời xưa có thể có tác dụng quyết định. Còn trong thương chiến của hoàn cảnh hòa bình, vẫn có thể có tác dụng quyết định. Đây chính là cái người ta thường nói nắm chắc thời cơ, tùy cơ ứng biến.

Lại phải nói rằng, tất cả mọi biến đổi là do xã hội và thị trường phát sinh biến đổi, mà đối sách của mình không thể không tiến hành điều chỉnh và biến đổi.

Vào lúc như thế, nhất định phải nhớ rằng: bất kể tình thế biến đổi như thế nào, lòng dạ của mình không thể thay đổi. Chính là cái gọi là: "Mặc cho gió dồn sóng vỗ, vững vàng ngồi câu giữa thuyền".

Nếu như trong biến đổi, mình cũng bị làm cho đầu óc rối mù không tìm ra hướng, thế thì chỉ có thể chôn vùi sự nghiệp và tiền đồ của mình.
Có người nói, thế giới ngày nay là thế giới tri thức bùng nổ. Mọi người ở bất cứ lúc nào bất cứ ở đâu đều đang biến đổi, nếu như ta không thay đổi mình sẽ có thể không đuổi kịp tình hình, sẽ có thể trở thành kẻ lạc ngũ của thời đại.

Câu nói này nghe ra rất có lý. Nhưng người biết đọc Âm kinh sẽ có thể phát hiện: câu nói này chỉ nói đúng một nửa - tức nói đúng về mặt "biến đổi", mà bỏ qua về mặt "không biến đổi".
Trung Quốc có câu cổ ngữ nói là: "Vạn biến bất ly kỳ tông" (Dù vạn biến cũng không tách rời "tông" của nó). Chữ "tông" ở đây kỳ thực chính là lòng dạ không đổi của con người.

Mỗi người, do sự ra đời của họ, sự từng trải của họ, học thức của họ và môi trường sống và địa vị của họ khác nhau, quyết định thái độ của họ đối với các mặt đời sống xã hội khác nhau.
Trong xã hội muôn màu muôn vẻ, bạn có thể thay đổi như thế này, bạn có thể thay đổi như thế kia. Bạn có thể thay đổi nhiều một chút, bạn có thể thay đổi ít một chút. Bạn có thể để cho mình trở thành những người theo đuổi cái mới, bạn có thể để cho mình trở thành kẻ bàng quan thờ ơ nhìn thế giới v.v... và v.v...

Nhưng, bất kể thay đổi ra sao, đều không nên đánh mất mình.
ở Trung Quốc, người ta đa số đều tin sự quản lý của Thánh hiền, đa số đều không thích nêu ra nghi vấn, không biết hỏi vấn đề "ta là ai" lắm.

Song vấn đề này đích thực tồn tại, đặc biệt là ngày nay phát triển nhanh chóng, mỗi người đều có thể dùng phương thức của mình để thay đổi mình, để điều chỉnh mình, để thích ứng với quan hệ của mình với xã hội và người khác. Xin hãy nhớ rằng: Nhất thiết phải dùng lòng dạ không đổi ứng phó với tình thế vạn biến.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
4- Trong lộn xộn, phải bình tĩnh

Từ cải cách mở cửa đến nay, TV màu và đồ điện Trường Hồng đã được đông đảo người tiêu dùng ưa chuộng. Nhưng khi người của Trường Hồng sáng nghiệp lúc ban đầu tình hình lại rất rối ren phức tạp.

Năm 1982, bộ Công nghiệp điện tử và bộ kinh tế đối ngoại Nhà nước đều phê chuẩn quyết định không nhập bóng hình mầu từ nước ngoài, thế là các địa phương như Tây An, Quảng Châu, Thâm Quyến, Bắc Kinh, Thượng Hải, Vũ Hán, Lan Châu, Nam Xương, Nam Kinh, Hàng Châu... đều tới tấp sửa soạn vốn để nhập dây truyền sản xuất bóng hình mầu. Việc này đã làm cho các dây truyền sản xuất bóng hình màu của các công ty lớn ở nước ngoài như Mashushita, Hitachi, ồ ạt vào thị trường Trung Quốc hàng loạt.

Song các loại máy thu hình màu nổi tiếng của nước ngoài cũng với thế mạnh chiếm lĩnh thị trường rộng lớn Trung Quốc. Trong tình hình này, máy thu hình màu Trung Quốc sản xuất, do tiền vốn và kỹ thuật của các nhà máy sản xuất tốt xấu lẫn lộn đã tạo nên cục diện hỗn loạn rầm rộ hẳn lên.

Trong hỗn loạn, người của Trường Hồng vẫn giữ được đầu óc bình tĩnh, ngay từ lúc bắt đầu đã nhằm đúng trình độ tiên tiến thế giới, phát triển công nghiệp dân tộc của Trung Quốc ở khởi điểm cao.

Do nguồn nhân lực của Trung Quốc hùng hậu, mức lương tương đối thấp, cho nên giá thành sản phẩm so với nước ngoài nhỏ hơn rất nhiều. Máy thu hình màu Trường Hồng (Cháng bóng) một khi ra đời sẽ với ưu thế chất lượng cao, giá thành hạ chiếm lĩnh thị trường rất nhanh chóng. Còn những xí nghiệp muốn thành công và có lợi ngay, đua nhau chen lên, do không hình thành được loạt lớn, cộng với chất lượng không đạt cao, trong cạnh tranh tới tấp bị thất bại, bị buộc phải đóng cửa ngừng sản xuất và chuyển đổi.

Tín điều của người Trường Hồng là: "Thị trường mãi mãi là đúng". Trước sản phẩm chất lượng tốt sản xuất loạt lớn giá thành hạ của họ, thị trường máy thu hình màu nước ngoài vốn chiếm lĩnh, dần dần thu hẹp. Từ đó làm cho máy thu hình màu sản xuất trong nước nắm được cơ hội, xây dựng hình tượng, giành được lòng người.

Thử nghĩ mà xem, nếu như trong thời kỳ hỗn loạn đó, các xí nghiệp máy thu hình Trung Quốc như Trường Hồng v.v... không thể bình tĩnh thừa thế xông lên, thế thì ngày nay trên thị trường Trung Quốc, rất có thể chính là máy thu hình màu nước ngoài đã nhất thống thiên hạ rồi.
Gặp hỗn loạn không hoảng sợ, giữ bình tĩnh xét thời cơ đích thực là trí tuệ quan trọng của đời người. Việc đó vừa cần phải có kinh nghiệm, lại cần phải có lòng can đảm và hiểu biết.
Ví dụ như thời Tam Quốc, hai nước Ngô Thục thường liên quân đánh nước Ngụy. Đây chính là chính sách "Liên Ngô kháng Tào" của Thục tướng Gia Cát Lượng.

Năm 208, Tào Tháo chiếm lĩnh Kinh Châu xong, thống soái mấy chục vạn quân thủy, bộ, chỉ huy quân xuống phía Nam, hòng một trận tiêu diệt Đông Ngô. Đông Ngô liên quân với Lưu Bị, cùng chống lại Tào Tháo.

Chu Du và Lỗ Túc xem xét tình thế, chỉ ra rằng Tào Tháo mạo hiểm dùng quân có bốn tai họa, đồng thời tự mình chỉ huy quân Ngô liên quân với Lưu Bị đại phá Tào Tháo tại Xích Bích, đây là trận đánh lớn ở Xích Bích lừng danh trong lịch sử: Sau khi cuộc đại chiến thắng lợi, Gia Cát Lượng liền thừa cơ chiếm lĩnh Kinh Châu và ích Châu, giúp Lưu Bị xây dựng nên chính quyền Thục Hán, đã hình thành thế chân vạc ba nước Ngụy, Thục, Ngô, bản thân ông cũng lập công được phong Thừa tướng. Năm 223, sau khi Lưu Bị chết, ông liền phò tá Lưu Thiền, chủ trì việc quân việc nước.

Mã Tốc là tướng của nước Thục được Gia Cát Lượng trọng dụng chuyển nhiệm làm Tham quân. Năm 229, Gia Cát Lượng khởi binh đánh Ngụy, mệnh lệnh Mã Tốc làm Tiên phong đốc thúc các quân, đánh nhau với tướng Ngụy Trương Đại tại Nhai Đình (nay là vùng đông nam Trang Lăng, tỉnh Cam Túc). Mã Tốc làm trái với sự điều khiển của Gia Cát Lượng, chỉ huy không thích đánh cuối cùng bị thua Trương Đại.

Kế hoạch khởi binh của Gia Cát Lượng bị phá hoại, buộc phải rút quân về Hán Trung, đem Mã Tốc giam vào ngục và chết ở trong ngục.

Mã Tốc thất bại ở Nhai Đình, Gia Cát Lượng rất bực. Nhưng quân Ngụy dưới sự chỉ huy của viên Đại tướng Tư - Mã ý, lại không bỏ đuổi đến cùng. Gia Cát Lượng xét đến cùng là một nhà chính trị, nhà quân sự hiếm có. Ông một mặt đem bắt giam Mã Tốc vào nhà ngục, để làm vang động quân uy, để giữ nghiêm kỷ luật quân đội, đồng thời lại bình tĩnh suy nghĩ cách đối phó.
Ông nghĩ, dùng binh lực của mình đón đánh Tư - Mã ý, không có chút hy vọng thắng, nếu như hoảng hốt chạy trốn, Tư - Mã ý nhất định sẽ tiếp tục đuổi giết, có khả năng bị bắt làm tù binh. Trong thế ngàn cân treo sợi tóc, suy đi nghĩ lại Gia Cát Lượng nhanh chóng đưa ra bố trí quân sự: vội vàng gọi Quan Hưng và Trương Bào lại dặn dò hai người họ đem sẵn 3000 quân tinh nhuệ, tung nhanh vào núi Võ Công, đồng thời la hét om sòm lên để hư trương thanh thế. Mệnh lệnh cho Trương Dực dẫn binh đến Tu Kiếm các, để chuẩn bị đường chạy. Mệnh lệnh cho Mã Đại, Khương Duy chặn hậu, phục ở giữa thung lũng núi để đề phòng việc bất trắc. Lại ra lệnh đem tất cả cờ xí ẩn náu hết, các quân chuẩn bị sẵn sàng giữ thành trì. Ra lệnh mở rộng cửa thành, không cần đóng kín, mỗi cửa thành dùng 20 quân sĩ, bỏ hết quân phục, ăn mặc thành những người dân thường, tay cầm dụng cụ, quét dọn đường phố. Những người khác thì đi ra đi vào không có chút biểu hiện căng thẳng nào.

Dặn dò xong, Gia Cát Lượng mình khoác áo choàng lông hạc, đầu đội khăn Hoa dương, tay cầm quạt lông hạc, dẫn hai tiểu đồng xách theo chiếc đàn đi lên thành lầu, ngồi tựa lan can, sau đó sai người đốt hương gảy đàn tỏ ra như không có việc gì xẩy ra, điềm nhiên như không. Quân tiên phong của Tư - Mã ý đuổi đến chân thành, lại không thấy một chút động tĩnh nào ở trong thành, chỉ thấy Gia Cát Lượng ngồi trên lầu thành gảy đàn ngắm cảnh cảm thấy rất khó hiểu, không biết trong bầu nậm của Gia Cát Lượng bán loại thuốc gì, không dám mạo hiểm tiến lên, liền tạm dừng lại, vội vàng báo với Tư - Mã ý.

Đại tướng quân Tư - Mã ý cho rằng đây là báo cáo láo, bèn ra lệnh cho ba quân nghỉ ngơi tại chỗ, còn mình thì cưỡi ngựa phi nhanh đến, phải xem tận nơi xem sao. Quả nhiên, Gia Cát Lượng đang ngồi trên thành lầu, nét mặt tươi cười rạng rỡ, đốt hương gảy đàn, tự nhiên nhàn nhã, căn bản không hề có vẻ gì sợ hãi hoang mang, lại trông thấy bên trái ông có một tiểu đồng tay nâng "bảo kiếm", bên phải có một tiểu đồng tay cầm "phất trần", giống như lúc bình thường ông ở nhà mình vậy.

Lại nhìn thấy bên trong và bên ngoài thành có hơn 20 người dân thường đang cúi đầu quét dọn, không nhanh không chậm như bên cạnh chẳng có ai, không có bầu không khí chiến đấu. Tư - Mã ý xem xong, lại hít thở một làn khí lạnh, cảm thấy trong thành khẳng định có quân quan trọng, Gia Cát Lượng ngồi trên thành là tiện chỉ huy, nếu như đánh vào, chưa biết chừng sẽ có thể trúng kế của Gia Cát Lượng, có tiến vào lại không có ra, cuối cùng thất bại. Nếu như dừng lại quan sát, chưa biết chừng lại có thể bị Gia Cát Lượng bao vây tiêu diệt, tử thương nặng nề. Gia Cát Lượng đa mưu đa trí, không thể không đề phòng được. Tư - Mã ý càng nghĩ càng sợ, liền vội vàng quất ngựa trở về trung quân, lập tức bảo hậu quân làm tiền quân, mà tiền quân làm hậu quân đổi đầu chuyển hướng, rút lui theo đường núi phía Bắc.

Đối với những người đứng tuổi và người già của Trung Quốc, kế sách "thất - không - trảm" của Gia Cát Lượng, mọi nhà mọi người đều biết. Còn đối với thanh thiếu niên sinh ra từ thời kỳ mới trở lại đây thì người biết không nhiều.

"Thất - không - trảm" đối với Gia Cát Lượng là mưu trí nhân sinh, mà đối với Tư - Mã ý, chính là âm mưu.

Nếu như Gia Cát Lượng không dùng mưu kế này, không những có thể toàn quân bị tiêu diệt gọn, mà còn tính mệnh của mình cũng khó bảo toàn, trở thành tù nhân của Tư - Mã ý.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
5- Tinh nhanh là mưu lược

Lúc nguy hiểm ập đến, tuyệt đối không nên sợ hãi, bạn càng sợ, thì hầu như sẽ càng làm cho bạn cảm thấy đáng sợ hơn.

Khắc phục sợ hãi trong lòng, mạnh dạn đối mặt, chiến thắng nguy hiểm mthì có thể chuyển nguy thành an. Điều đáng quý là chẳng những người lớn khi nguy cấp xử lý nguy biến không sợ, đến cả trẻ con cũng có thể khi nguy cấp có gan dạ có trí thức ứng phó với cục diện phức tạp.

Ví dụ thời Khang Hy nhà Thanh có một người đồng thời hoạt động mạnh cả trong chính giới và trong giới học thuật, tênn là Lý Quang Địa. Ông là người vạch ra mưu kế cho nhà Thanh bình định phản loạn Cảnh Tinh Trung, thu hồi Đài Loan, là một nhà mưu lược xuất sắc.

Lý Quang Địa sớm hiểu biết, sớm thông minh, ham học suy nghĩ sâu, nhanh trí hơn người. Năm lên 9 tuổi, đã không may rơi vào tay bọn cướp Lục lâm, nhưng ông vừa tinh nhanh ứng biến, vừa không khuất phục, cuối cùng lại thuyết phục được đối thủ, trở về nhà một cách an toàn.

Lúc đó, các gia đình nhà họ Lý ở quây quần lại với nhau, nhân đinh hưng vượng, người trong gia tộc làm quan ở ngoài không ít, mọi người đều nói: "phong thủy" nhà họ Lý tốt. Trong núi gần đó một thủ lĩnh "Lục lâm" hhọ Lý có biệt danh là "Lý đầu to", tụ tập trong tay mình có hàng trăm người. Ông ta đã nhắm trúng "mảnh đất phong thủy quý" này của họ Lý, dốc lòng muốnn chiếm làm của mình.

Một sáng tinh mơ, mọi người còn đang ngủ say, "Lý đầu to" dẫn một toán lâu la sát khí đằng đằng chiếm ngôi nhà thờ họ Lý. Cả họ Lý bị biến cố đột nhiên ập đến này làm cho khiếp sợ, nhất thời không biết nên làm như thế nào cho tốt. Ông trưởng tộc liền triệu tập tất cả mọi người lớn trong họ lại trên đám đất trống ở bên ngoài nhà thờ để thương lượng cách đối phó, Lý Quang Địa cũng theo người cha đến nơi này.

"Lý đầu to" vừa trông thấy Lý Quang Địa mặt mày thanh tú, tư chất thông minh, trong lòng bỗng nhiên nghĩ ra một cách nghĩ kỳ lạ: con trai của mình đã 8 tuổi, vẫn không thể nối tiếp mình làm giặc cướp được, nên để cho nó đi học. Nếu như có thể làm cho đứa trẻ ở ngay trước mắt mình này làm bạn với đứa con trai của mình đi hocj, thì tốt biết bao! Thế là đầu óc ông ta thoáng lên ý nghĩ phải bắt Lý Quang Địa nhận làm con nuôi. "Lý đầu to" mở cửa lớn nhà thờ, chỉ vào Lý Quang Địa hét to: "Này, mày lại đây!"

Mọi người cả họ Lý khiếp đến nỗi không ai dám thở mạnh, người cha lôi chặt lấy con trai. Lý Quang Địa đẩy tay cha ra bước vào trong nhà thờ một cách điềm tĩnh thản niên.

"Lý đầu to" nhìn thấy nó đi đến trong lòng vui sướng, liền cử người nói truyền lời ra ngoài: "Một chiếc bút khó viết thành hai chữ Lý, các anh nếu đồng ý đem đứa bé này tặng cho tôi làm con nuôi, tôi đem nó đi xa chạy cao bay, từ đây, chúng ta không động chạm đến nhau. Nếu như rượu mời không uống lại uống rượu phạt, thì đừng trách Lý mỗ ta là không khách sáo".

Người cha họ Lý ngẩng đầu lên mang theo vẻ luyến tiếc trong ánh mắt và chẳng còn biết làm sao được, nói: "Hãy hỏi thử thằng bé xem!"

Tình cảnh này bị Lý Quang Địa đang đứng tại cửa nhà thờ trông thấy rất rõ ràng. Thế là, nó ung dung nói to với người cha: "Cha ơi, tất cả nghe theo mệnh trời, cha sẽ đáp ứng ngay đi!" Để bảo toàn gia đình, người cha đắn đo nhiều lần, xong đành gật đầu bằng lòng.

Hôm ấy, "Lý đầu to" nói với Lý Quang Địa: "Chúng ta đã là quan hệ cha con rồi, bình thường phải dùng cha con để xưng hô". Ông ta nhìn thấy Lý Quang Địa không trả lời, liền trừng mắt nhìn Lý Quang Địa một cách dữ tợn nói: "Mày đã nghe thấy chưa?"

Lý Quang Địa bĩu môi nói: "Ông không phải là cha của tôi, tôi làm sao có thể gọi ông là cha được?"

"Lý đầu to" đột nhiên nổi giận: "Trong nghi thức nhận nuôi, chẳng phải đã làm lễ lớn rồi sao?"

Lý Quang Địa tiếp lời, nói: "Đó là tôi tuân theo lệnh của cha, thật ra không phải là xuất phát từ ý của tôi".

"Tao xem mày đang giở trò xảo trá, nói bướng!" nói xong, "Lý đầu to" mở đầu chính là một bàn tay nặng nề, đánh Lý Quang Địa chảy máu mồm máu mũi. "Lý đầu to" lại đem Lý Quang Địa nhốt lại hai ngày, nhưng Lý Quang Địa vẫn không chịu nghe theo.

"Lý đầu to" trong cơn thịnh nộ, đã nghĩ ra một ý định xấu. Ông ta ra lệnh cho người đem nhốt Lý Quang Địa vào trong một ngôi nhà trống, đóng chặt hết tất cả các cửa lại, dùng khói hun vào trong đó, tuyên bố nếu như Lý Quang Địa không xin dung thứ, thì sẽ hun cho đến chết. Lý Quang Địa quật cường trước sau đều không xin tha, bị khói xông một ngày một đêm. "Lý đầu to" dự tính Lý Quang Địa ắt đã chết chẳng còn nghi ngờ gì nữa, sai người mở cửa để xem thử.

Ai ngờ cửa phòng vừa mở, làn khói mù mịt xông ra xong, Lý Quang địa dui dụi mắt, lại lắc lư đứng dậy, đây thật là kỳ tích! "Lý đầu to" sợ đến nỗi một lúc lâu không nói ra lời. Vốn là, Lý Quang Địa tinh khôn đã phát hiện chỗ mặt đất gần mép cửa thấp hơn một chút, cửa thả xuống cũng có khe hở, đã nằm rạp xuống trên mặt đất, dùng miệng tựa sát khe hở ở mép cửa hít thở không khí từ từ. Khói nhẹ bay lên trên, nồng độ khói dưới mặt đất thấp, bên ngoài khe hở có thể trao đổi không khí, do đó Lý Quang Địa có thể may mắn còn sống sót lại trong đám khói dầy đặc đầy nhà.
"Lý đầu to" trong lòng nghĩ: Người may tự nhiên có tướng trời cho, thằng nhọc này thần thái không tầm thường nhất định là có Bồ Tát bảo hộ, trong bất thình lình thái độ mềm hẳn lại.

Lý Quang Địa nói: "Có trời cao bảo hộ, mệnh tôi không thể tuyệt! Ông có biết câu nói "chim sẻ bắt ve, bọ ngựa chực sẵn này chứ?"

"Câu nói đó như thế nào?" "Lý đầu to" trong lòng hơi sợ.

"Lưới trời lồng lộng, thưa nhưng khôn thoát, quân của triều đình khẳng định sẽ bủa thiên la địa võng đối với các ông, tôi xem ông chỉ là "châu chấu sau thu, nhảy nhót chẳng được mấy ngày". Ông thử nghĩ mà xem, từ xưa đâu có bọn người Lục lâm không bại?" Lý Quang Địa đã thấy "Lý đầu to" rơi vào suy nghĩ, tiếp tục nói: "Quân chính phủ nếu tóm được ông, tính mạng của cả nhà ông sẽ khó giữ nổi, con trai của ông cũng không thể thoát khỏi. Tôi chết đi, tôi còn có mấy em trai, gia đình họ Lý nhà tôi vẫn có thể tiếp tục hết đời này đến đời khác. Con trai của ông chết, đời sau của gia đình ông sẽ có thể chấm dứt, cho nên tôi khuyên ông phải nhanh chóng suy tính một ý khác!"

Những lời này của Lý Quang Địa làm cho "Lý đầu to" động lòng. "Lý đầu to" và vợ cùng bàn luận, chỉ nghe thấy vợ nói: "Mệnh của thằng bé này cứng rắn, tương lai khẳng định sẽ đại phú đại quáy. Chúng ta đã sống quá nửa đời người rồi, cần phải suy nghĩ con đường về sau cho con trai của chúng ta. Chúng ta đã sống nửa đời người của những ngày lo lắng, thấy con trai dần dần hiểu biết, chẳng lẽ vẫn muốn để cho nó tiếp tục sống những ngày này? Tôi thấy chi bằng đem Lý Quang Địa trả lại, đem con trai của chúng ta cũng giao phó cho gia đình nhà nó. Bảo toàn được con trai, thì tiếp tục được hương khói của nhà họ Lý ta, một khi chúng ta nhỡ có việc bất trắc, cũng không phải lo lắng gì nữa".

Lời nói của người vợ chính hợp với ý của "Lý đầu to". Thế là, ông ta sai người mời cha của Lý Quang Địa đến, đem hai đứa trẻ đều giao cho ông ta mang về.

Người ta trong cuộc sống, đều có thể gặp những tình huống khẩn cấp đột nhiên:

- Đang đi xe đạp trên đường phố đột nhiên xe đạp không phanh được. Phía trước chính là xe ôtô và dòng người, còn có cả trẻ con, người già, phụ nữ...

- Khi bạn mặc một bộ váy rất đẹp, cùng các bạn đi chơi ở ngoại thành, đột nhiên chiếc váy bị cành cây làm rách một mảng lớn...

- Khi bạn lái ôtô đang chạy trên đường phố, đột nhiên ở chỗ góc ngoặt chạy ra hai đứa trẻ đang đùa nghịch, sắp sửa chạm vào xe...

- Khi bạn tan ca đêm, đang vội vội vàng vàng đi về nhà, tại chỗ vắng không có đèn đường, đột nhiên mấy tên côn đồ chắn đường cướp giật ập đến...

- Khi bạn vừa mới có được một khoản tiền, mang túi đang đi đến ngân hàng, chuẩn bị gửi nó vào Ngân hàng, lúc này, mấy người lạ mặt chắn ngang đường đi của bạn...

- Khi bạn nghe chuông điện ở cửa reo, cho là người thân hoặc bạn bè của mình về nhà, nhưng vừa mở cửa, lại phát hiện người muốn đi vào đó mặt đầy sát khí, không hề có quan hệ gì với bạn...

Trên đời, ai cũng đều có thể gặp phải nguy hiểm như thế này hoặc như thế kia. Hễ một khi gặp các loại này, đại đa số người (nhất là các phụ nữ) sẽ rất sợ hãi, rất run sợ. Mà trong tình huống như thế, ngược lại chúng ta cần phải giữ bình tĩnh, có gan dạ có mưu trí - "mưu" nói ở đây cũng chính là "âm mưu".

Bởi vì, thông thường trong những tình huống này, dùng dương mưu là không được, dùng chính diện cũng không được, nhất là phụ nữ đối mặt với những nguy hiểm này, dựa vào sức của mình, bất kể như thế nào đều không thể chống chọi nổi đối thủ.

Việc này phải dốc hết dũng khí, đấu gan dạ, đấu mưu trí với đối thủ, mới có thể chuyển nguy thành an.

Năm 1988, trên báo Thanh niên Bắc Kinh đã đăngn một tin tức như sau:
Cả một dải gần "Khách sạn Bắc Kinh", trong mấy năm nay đã từng thường xẩy ra những sự việc nữ công nhân viên tan ca làm đêm bị người dùng dao rạch mặt trên đường phố vắng. Có một số người đã hoàn toàn bị hỏng hết mặt tạo nên đau khổ to lớn một đời của những người bị hại này, thậm chí có người bị hại sau khi bị hủy hoại mặt đã mất hết dũng khí tiếp tục sống, đã nhiều lần tự sát.

Cục Công An rất coi trọng đối với an này, đã từng tổ chức những cảnh sát có kinh nghiệm, nhiều lần tiến hành chinh sát và phá, nhưng trong mấy năm đều không thể triệt phá hẳn được án này. Khiến cho các công nhân viên làm ca ở khách sạn Bắc Kinh lo nơm nớp, ai cũng không muốn đi làm ca đêm, sợ vận đen sẽ rơi xuống đầu mình.

Tối ngày 23 tháng 9 năm 1998, cô Lợi làm ca đêm xong đi xe đạp về nhà, thời gian lúc đó đã là hơn 2 giờ đêm.

Đột nhiên, từ chỗ góc ngoặt vụt ra một chiếc xe đạp chạy đến. Người đi xe là một nam giới gầy gò, anh ta dùng xe đạp va ngã cô Lợi, sau đó rút ra một con dao nhọn, liền rạch lên mặt cô Lợi...

Cô Lợi vội vàng tránh sang một bên, ngây người ra một lát, trong đầu lập tức phán đoán ra: đây chính là tên ác ôn rạch hỏng mặt của nhiều bạn gái đây! Nếu như mình hôm nay nhát gan, thì kết cục của mình cũng giống như kết cục của các chị em khác. Mình không nên biểu hiện một chút mềm yếu nào trước mặt nó, mà nên đọ sức với nó, tìm cơ hội.

Thế là, cô Lợi từ mặt đất bò lên, cố ý giả vờ như không trông thấy hung khí của nó, mà nói: "Anh đã đụng em ngã, nếu anh muốn cần tiền, thì cầm ví tiền của em đi".

Lúc này, tên ác ôn kia đã thu cất con dao lại. Phát hiện cô Lợi thật ra chưa phát giác hành vi tội ác hòng rạch mặt của nó, liền yên tâm lại, nhận ví tiền cô Lợi đưa lại, đã móc ra mấy chục đồng tiền mặt từ trong ví, sau đó lại trả lại ví cho cô Lợi.

Lúc này, cô Lợi dùng sức đẩy mạnh chiếc xe đạp, chạy trốn sang đường phố lớn.

Ngay đêm đó, cô Lợi đã đem đầu mối quan trọng này báo với Cục Công an. Cục Công an căn cứ manh mối cô Lợi cung cấp, dùng máy vi tính vẽ ra tướng mạo của tên tội phạm, rải đi rộng khắp trên đường phố. Nhiều quần chúng đều phản ánh, thường xuyên có thể trông thấy con người này.
Với sự giúp đỡ mạnh mẽ của quần chúng, trưa ngày hôm sau, đã bắt được tên tội phạm để quy án.

Chúng ta chúc mừng cô Lợi đã tránh được vận rủi, đồng thời cũng khen ngợi cô Lợi có thể lâm nguy không sợ sệt.

Thử nghĩ, nếu như lúc nguy cơ, cô ta hoang mang bối rối, vốn không bị rạch mặt, do mình sợ hãi, mất hết dũng khí, không giỏi vật lộn với tên ác ôn, thế thì vận đen bị rạch hỏng mặt tất nhiên có thể rơi xuống đầu cô ta, hạnh phúc một đời của cô, cộng tác của cô, sự nghiệp của cô, tình yêu của cô... tất cả đều hết cách để nói nữa.

Đây là ví dụ chính diện. Ngoài ra, sẽ nêu lên thêm một ví dụ phản diện nữa:

Đúng 7 giờ ngày 30 tháng 12 năm 1998, Trần Húc Nhiên, người nữ chủ trì chương trình đài truyền hình Quảng Đôngn được người bảo mẫu của mình phát hiện ra thi thể ở trong phòng ở riêng của cô - nhà F tầng 31 tòa nhà lớn Tianchéng (Thiên Thành), số nhà 92 đường Long Khẩu tây, khu Thiên Hà thành phố Quảng Châu. Hiện trường phát hiện án chỉ có chiếc ví tiền của Trần Húc Nhiên không cánh mà bay, cảnh sát còn tìm thấy một con dao dính vết máu ở hiện trường.

Nhiều tòa báo đã đưa tin về hiện trường phát hiện án như sau: Hai bộ điện thoại di động trên chiếc bàn trong nhà (một bộ là Nuochia 8110 kiểu mới), một chiếc đồng hồ đeo tay "mác Bá tước" trị giá hơn 10.000 NDT, hai máy chụp ảnh cao cấp và hơn 1000 NDT tiền mặt trong ngăn kéo, còn có các đồ trang sức đắt tiền trong quầy trang điểm đều không động đến, két bảo hiểm bên trong đặt 7 tờ hợp đồng nhà, 100.000 NDT tiền mặt và mấy triệu đồng tiền gửi tiết kiệm, cũng không phát hiện dấu vết bị cạy; chìa khóa của 3 chiếc ôtô du lịch cao cấp bao gồm cả xe ôtô phóng nhanh màu trắng trong đó cũng không mất. Cách nói này, phía canh sát không chứng thực, cũng không phủ nhận.

Do người bị chết là người chủ trì chương trình tương đối nổi tiếng của đài truyền hình Quảng Đông, cho nên cái chết đến bất ngờ của cô không thể không gây nên sự chú ý và bàn tán của mọi người, cộng thêm tin truyền về đời sống tình cảm nhiều màu nhiều vẻ trước khi sống của cô đã có từ lâu, hầu như càng trùm lên trên vụ án này màu sắc lờ mờ khó biết rõ đầu đuôi câu chuyện.

- Có người cho rằng: Trần Húc Nhiên là bị giết vì tình...
- Có người cho rằng: Trầnn Húc Nhiên là do liên quan đến một số ông chủ lớn...
- Có người cho rằng: Trầnn Húc Nhiên là do duyên cớ của vị lãnh đạo cao cấp nào đó...
...........

Kỳ thực vụ án này rất đơn giản, làm cho những người mang đủ mọi loại tâm tình phán đoán nguyên nhân cái chết của Trần Húc Nhiên thất vọng.
Ngày 14 tháng 1 năm 1999, cơ quan cảnh sát Quảng Châu đã tuyên bố với các giới truyền thông đại chúng rằng: Kẻ nghi ngờ phạm tội sát hại Trần Húc Nhiên là Đinh Quốc Lễ đã bị bắt lúc 11 giờ trưa hôm đó.

Đinh Quốc Lễ là người thị trấn Quảng Thủy tỉnh Hồ Bắc, năm nay 25 tuổi. Anh ta không phải là kẻ tái phạm, vào chỗ ở của Trần Húc Nhiên trộm cướp và giết người là lần đầu tiên gây án của anh ta.
Đinh Quốc Lễ đã từng làm bảo an ở Tòa nhà lớn Tianchéng, tháng 10 năm 1998 bị đuổi, sau đó mãi không kiếm được việc làm. Ngày 29 tháng 12 năm 1998, do cuối năm sắp đến mà mình trong túi không có một đồng, cộng thêm bạn gái phẫu thuật đang cần tiền dùng, anh ta trong lòng mới sinh ra ý xấu, quyết định đến Tòa nhà lớn Tianchéng của các hộ ở "không giàu thì sang" để ăn trộm.

Hai giờ sáng ngày 30, anh ta đã cắt một đoạn dải ống nước phòn hỏa từ trong hộp phòng hỏa tầng thứ 33 (tầng nóc) tòa nhà lớn Tianchéng, buộc lên vật cố định của sân thượng, sau đó mình men theo dải ống nước trượt xuống. Lúc này anh ta vẫn chưa chọn được đối tượng gây án. Anh ta trượt qua nhà F tầng 32 không có người ở, lại trượt đến nhà F tầng 31 cũng chính là cửa sổ trước cửa nhà Trần Húc Nhiên. Anh ta biết nhà này có người, nhưng lúc này cửa sổ nhà F tầng 31 mở, lại không có ánh đèn, anh ta dự tính chủ nhà đã ngủ say, thế là đã từ cửa sổ đi vào nhà Trần Húc Nhiên.

Đinh Quốc Lễ vừa đứng ổn định, đúng lúc đụng phải Trần Húc Nhiên mò mẫm trong phòng rửa tay. Hai người đều giật mình. Đinh Quốc Lễ dùng dao gọt hoa quả dí vào phần ngực chỗ gần xương mỏ ác của Trần Húc Nhiên ép cô trở về phòng, Trần Húc Nhiên không chịu làm theo, hai người vật lộn nhau, trong lúc giàng co con dao nhẹ chọc bị thương phần ngực của Trần Húc Nhiên, cũng cứa bị thương ngón tay phải của Đinh Quốc Lễ.
Trong lúc đó Trần Húc Nhiên luôn luôn kêu to cứu mạng, nhưng người bảo mẫu cùng ở chung với cô trong phòng này lại không hề nghe thấy một tí gì. Đinh Quốc Lễ cố sức bóp chặt cổ của Trầnn Húc Nhiên, cho mãi đến khi cô ta hôn mê.

Lúc này Đinh Quốc Lễ hoảng hốt lo sợ, anh ta dốc hết sức bình sinh mới tìm thấy chiếc khóa cửa lớn của nhà Trần Húc Nhiên, chạy trốn ra ngoài. Anh ta đầu tiên muốn xóa hết hiện trường, thế là lên tầng nóc trước thu dải ống nước phòng hỏa lại, lúc đó mới phát hiện ra tay mình đang chảy máu. Anh ta thẹn quá hóa khùng, càng nghĩ càng không cam tâm uổng công uổng sức nhiều như thế, phải nếm không mùi hoảng sợ này. Anh ta quyết định trở lại nhà của Trần Húc Nhiên, rửa tay qua loa, lại nhìn xem có vật gì đáng lấy.

Anh ta vừa bước vào cửa, thì nhìn thấy Trần Húc Nhiên đã tỉnh lại, đang quay đi quay lại một cách hớt ha hớt hải trong phòng khách tối om. Hai người kêu la tương đối lớn tiếng, lại vật lộn nhau lần nữa.
Đinh Quốc Lễ nơm nớp lo sợ trước, anh ta xin Trần Húc Nhiên không nên kêu, tha cho anh ta, nhưng Trần Húc Nhiên phớt lờ, tiếp tục kêu la, đáng tiếc là không gọi tỉnh được người bảo mẫu. Đinh Quốc Lễ hoảng sợ đã tột cùng, liền nảy sinh ý xấu, bóp nghẹt cổ Trần Húc Nhiên đến cùng, cho đến lúc cô ta ngã xịu xuống đất, không còn nghe tiếng thở nữa...

Từ trong vụ án cái chết của nữ phát thanh viên truyền hình nổi tiếng Trần Húc Nhiên, chúng ta có thể thấy rằng: nếu như cô ta lúc đó giở một chút âm mưu, suy nghĩ và đưa ra một chút tính toán, dùng "kế hoãn binh" là hoàn toàn có thể bảo toàn được tính mạng. Hoặc là cô ta dùng tiền tài để cám dỗ tội phạm, cũng có thể đạt được mục đích "bị thiệt tài sản, tránh được tai họa".

Nhưng, cô ta đều không làm như thế, cho nên cô đã chết. Chết thê thảm như thế, làm cho mọi người vừa đồng tình vừa đáng tiếc, đồng thời lại ân hận sâu sắc cho cô.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
6- Trong việc dùng người có thể dùng một ít mưu toan

Trong sự hợp tác giữa người này với người khác, nhất là những người mình lập công ty, mình làm ông chủ, dùng người như thế nào là một vấn đề rất lớn.

"Cao Long" của Hàn Quốc là một tập đoàn xí nghiệp đa ngành có các công ty lớn về công nghiệp hóa dầu, xây dựng công trình, mậu dịch đối ngoại, vận tải, du lịch và dệt. Thân phận của chủ tịch Hội đồng quản trị Lý Đông Sán lại có một số điểm đặc biệt, vừa không phải là nhà doanh nghiệp đời thứ nhất dựa vào cố gắng gian khổ sáng tạo sự nghiệp của mình, cũng không phải là nhà doanh nghiệp đời thứ hai tiếp tục phát triển trên cơ sở sản nghiệp của đơì cha, mà là nằm giữa hai cái đó. Ông đã từng được người cha giúp đỡ, bỏ ra sự cố gắng của mình và dần dần giành được việc chung vốn kinh doanh của 2 người cha và chú và địa vị có thể tự lập, lại trải qua một cuộc đấu tranh quyền lực vừa phức tạp vừa khéo léo, tiếp nhận sự nghiệp của cha, chú và mình cùng sáng lập vào tay mình. Do đó giới kinh tế Hàn Quốc gọi ông là nhà doanh nghiệp "một đời rưỡi". Thực ra, con đường ông đi là một con đường kinh doanh gập ghềnh.

Ông sinh ra trong một gia đình địa chủ có 500 mẫu ruộng đất canh tác miền ấn Nhật tỉnh Khánh Thươngj Bắc, Hàn Quốc. Cha là Lý Nguyên Vạn, là một kẻ phóng đãng ngồi ăn núi lở, làm cho gia sản hết sạch sành sanh nhanh chóng nên ông sinh ra đã không được sống những ngày tốt đẹp. Khi ông học đến năm thứ 4 tiểu học, Lý Nguyên Vạn đột nhiên đem mảnh đất còn lại trong nhà bán nốt, chỉ một mình đi sang Nhật "lăn lộn trong thiên hạ", bỏ lại hai mẹ con ông ở lại không giữ nổi ngày ba bữa ăn. Lý Đông Sán dựa vào việc đi kéo xe thuê cho người ta học xong được tiểu học, sau đó đến hiệu bán tạp hóa của Phổ Hạng làm người học việc.

Năm ông 15 tuổi nhận được tin nhắn, cha và chú là Lý Nguyên Thiên dùng tiền làm thuê tiết kiệm lại được chung vốn với nhau mở "Hãng công nghệ Mặt trời mới mọc (Húc nhật)" sản xuất quảng cáo mũ, buôn bán khá, bảo ông đi sang Nhật Bản giúp việc. Lý Đông Sán mặc dù nhớ hận tuyệt tình của người cha, nhưng vẫn sang Nhật theo học buôn bán. Ông ta đã từ một chân chạy đến tham gia kinh doanh, còn làm cổ động của "Hãng công nghệ Mặt trời mới mọc". Ông không bỏ học tập, đã vào trường Đại học Hayainada học khoa kinh tế, không lâu Đại chiến thế giới thứ II kết thúc, sau khi Nhật Bản đầu hàng nền kinh tế bị đình trệ làm cho ba cha con chú cháu nhà họ Lý tan vốn. Lý Nguyên Thiên một mình ở lại Nhật Bản.

Lý Nguyên Vạn và Lý Đông Sán sau khi trở về Triều Tiên bỏ nghề buôn, làm chính trị. Lý Nguyên Vạn mặc dù kết bạn với không ít bạn bè thuộc giới chính trị, nhưng khi tranh cử ủy viên lập hiến vẫn bị thất bại, ông lại sang Nhật chung vốn với Lý Nguyên Thiên buôn bán. Lý Đông Sáng làm trưởng phòng bảo an tại cục Cảnh sát Đại Khưu, do tiền lương không nhiều, ông đã từ chức trưởng phòng đi lập xưởng dệt. Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, xưởng dệt của ông đành phải ngừng việc, vừa may gặp được Bộ trưởng Nội chính Nam Triều Tiên lánh nạn, sau khi được khuyên nhủ lại làm lại Trưởng phòng Cảnh sát. Chiến ranh Triều Tiên đã kích thích kinh tế Nhật Bản phục hồi, Lý Nguyên Vạn và Lý Nguyên Thiên cũng phát tài trong công việc "đặt hàng nhu cầu đặc biệt" của quân Mỹ, lập nên "Công ty sản vật Tam Khánh", làm việc mậu dịch xuất khẩu sợi nilông.
Năm 1954, Lý Đông Sán bỏ "cảnh phục", tại Hán Thành lập nên Văn phòng của Hãng buôn Khai Minh" và "Công ty sản vật Tam Khánh" trú tại Hán Thành. Ba cha con chú cháu nhà họ Lý lại bắt tay liên hợp với nhau một lần nữa trong việc buôn bán xuất, nhập khẩu sợi nilông. Việc buôn bán sợi nilông của Lý Đông Sán càng làm càng lớn, đến năm 1957 lập nên nhà máy nilông Hàn Quốc, muốn thu được lợi nhuận nhiều trong việc gia công sợi nilông. Không ngờ, khi mua sắm các thiết bị bị thương nhân Italia lừa, không những giá cao mà máy móc lại cũ kỹ, may mà sản phẩm còn có đường tiêu thụ, nên vẫn còn có thể kiếm được khoản lời nhỏ.

Mặc dù như vậy, công nghiệp dệt Hàn Quốc cùng ngành vẫn là cảm thấy uy hiếp lớn, thế là đã phịa ra và tung tin đồn là "Nilông sinh ra tĩnh điện, có hại cho cơ thể người", đánh vào Nhà máy nilông Hàn Quốc của ông. Lý Đông Sán tức khắc rơi vào trong nguy cơ sâu sắc, ông vội vàng thu gom tiền vốn của các hộ khách hàng bán lẻ, đổi tiền mặt của các nhà buôn tiềnn bí mật vào, tạm thời duy trì được vận hành của xí nghiệp. Nhưng thời gian kéo dài thì khó mà chống đỡ nổi, ông đành vay tạm tiền vốn của "công ty sản vật Tam Khánh" của hai người cha và chú. Sau nửa năm, giới khoa học dùng thực nghiệm chứng minh thuyết "tĩnh điện có hại" hoàn toàn thuộc chuyện vu vơ, Lý Đông Sán cũng điều tra được nội tình của tin đồn, nhà máy Nilông Hàn Quốc xem như đã thoát khỏi cảnh khó khăn, con đường tiêu thụ nhanh chóng tăng lên trở lại, nhưng ông lại ghi nhớ mãi việc lợi hại của mưu này của đối thủ.
Những trắc trở trong cuộc sống, những chèn ép trên thương trường làm cho Lý Đông Sán bắt đầu chín chắn, lão luyện và xảo quyệt lên, đồng thời có khả năng đối phó với thời cơ phát triểnn theo đó đến - Quỹ cho vay khai thác ở nước ngoài Mỹ (DLF) sẽ có khoản cho vay 2,8 triệu USD đầu tư vào ngành sợi hóa học Hàn Quốc. Cùng tranh giành khoản ngoại hối lớn này với ông có "Hãng dệt Kim Khưu" và "Hãng dệt Vĩnh Thuận".
Thực lực kinh tế của hãng trước và "Nhà máy nilông Hàn Quốc" xấp xỉ nhau, thực lực kinh tế của hãng sau nhỏ, nhưng có nhân vật có thế lực chính giới tương trợ, hình thành cục diện cạnh tranh hai hãng lớn kẹp một hãng bé. Cả ba bên đều muốn lấy mình làm chính, liên hợp với một bên đẩy một bên khác ra, sau vài cuộc đấm đá nhau công khai và ngấm ngầm, "Vĩnh Thuận" nhỏ bé đã lộ ra manh mối bị bắt buộc phải cộng tác với "Kim Khưu", Lý Đông Sán không chịu ngồi để chờ chết, dùng cha là Lý Nguyên Vạn tiến hành hoạt động hậu trường, mượn ảnh hưởng của ông ta đối với chính phủ Hàn Quốc và việc đi lại trước kia của mình với Bộ trưởng Tài chính, làm cho "Vĩnh Thuận" tới tấp nhận được gợi ý của phía chính phủ là "tốt nhất hợp tác với Nilông Hàn Quốc". Kết quả là 2 phiếu đấu với 1 phiếu, Lý Đông Sán nhận được khoản tiền vốn nước ngoài này, đã xây dựng "Nhà máy sợi dệt Polyester Hàn Quốc". Sau khi ông ta giành được hiệu quả kinh tế khả quan, thì bỏ rơi "Vĩnh Thuận". Lần đầu sử dụng kế "Mượn đường đánh Quắc" khiến ông ta đã nếm được vị ngọt.

Từ đó về sau, để nâng cao sức cạnh tranh, cũng để cho "nước phân không chảy sang ruộng người ngoài", Lý Đông Sán hợp nhất "xưởng Nilông Hàn Quốc" và "Nhà máy Polyester Hàn Quốc", liên hợp tiền vốn với cha và chú và thu hút vốn "Đông Loa" của Nhật Bản, vào năm 1972 thành lập Công ty xí nghiệp "Cao Long". Ba cha con chú cháu họ Lý chiếm 51% cổ phần của công ty, "Đông Loa" chiếm 49% cổ phần. Lý Nguyên Vạn đảm nhận chức Chủ tịch Hội đồng quản trị danh dự, Lý Nguyên Thiên nhận chức Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng quản công việc công ty, Lý Đông Sán nhận chức Tổng giám đốc đại diện công ty đối ngoại. "Cao Long" thành lập được hai năm, doanh lợi rất lớn, ba cha con chú cháu nhà họ Lý tranh giành lợi ích bắt đầu cọ sát với nhau.
Năm 1974 cổ phiếu của công ty Cao Long bắt đầu bán trên thị trường, sắp giành được lợi ích nhiều hơn khiến mâu thuẫn càng sâu sắc, càng công khai. Lý Nguyên Thiên dựa vào đại quyền nắm trong tay, chủ trương làm việc theo chương trình ban đầu. Lý Đông Sán thì cho mình kinh doanh có phương pháp, yêu cầu sửa đổi chương trình, chia xẻ quyền quản lý kinh doanh nhiều hơn.
Hai chú cháu không nhường nhau, do việc cãi cọ hàng ngày phát triển đến mức chửi nhau thậm tệ. Lý Nguyên Thiên biết sớm muộn phải chia vốn, bèn ra tay trước, mềm rắn đủ cả hết dụ dỗ đến uy hiếp "Đông Loa" đi theo mình, riêng mình mới có quyền kinh doanh "Ni lông Hàn Quốc" và "Polyester Hàn Quốc". "Đông Loa" nhận lời hứa riêng, Lý Nguyên Thiên liền ngã ván bài ra với Lý Đông Sán.
Lý Đông Sán biết kế sách người chú dùng là kế "mượn đường đánh Quắc", không đồng ý tuân theo sự chi phối và điều khiển, kiên quyết phản đối phân chia tài sản với lý do là: "Cạnh tranh với người ngoài, lực lượng của nhà mình nên hợp lại với nhau mà không nên chia ra. Nếu như phân chia tài sản, Cao Long từ đó có thể tan vỡ".

Lý Nguyên Vạn thì không bày tỏ rõ ràng đối với việc có nên phân chia tài sản hay không, chỉ thoái thác nói "tuổi nay đã cao, không muốn quản nhiều". Rõ ràng là ám chỉ người em là Lý Nguyên Thiên không nên quản lý việc quá nhiều.

"Đông Loa" hấy tình trạng như thế đành phải đánh giá lại thực lực của mỗi bên: Lý Nguyên Thiên và Lý Đông Sán, sau nhiều lần suy nghĩ, thu lại lời hứa trước kia với Lý Nguyên Thiên, đưa ra một cách hòa giải hai bên, đã đề xuất Lý Nguyên Thiên phụ trách sản xuất của Cao Long, còn Lý Đông Sán thì phụ trách thương vụ của Cao Long. Người chú đang cân nhắc, người cháu lại biểu thị phản đối, do vậy hình thành tình hình bị bế tắc và duy trì được một năm rưỡi.
"Đông Loa" tuy có quyền 49% cổ phiếu, nhưng không thể không thận trọng đối với ảnh hưởng tương đối lớn của Lý Nguyên Vạn trong chính giới Hàn Quốc, trong lòng suy nghĩ, ông ta đã muốn để cho con trai là là Lý Đông Sán quản lý Cao Long, nếu như có thể làm cho sự nghiệp của Cao Long phát triển, chính là đã bỏ thêm cho Lý Đông Sán một lá phiếu, sao vẫn không thể?
Đang lúc thái độ của "Đông Loa" xuất hiện sự chuyển biến tế nhị, em trai của Lý Đông Sán con rể của một nhân vật phái có thế lực nào đó trong chính đàn Hàn Quốc đến thăm "Đông Loa", làm tăng nhanh sự chuyển biến thái độ của họ, tiếp theo đó lại nghe được tin truyền của "Đông Loa" sẽ tiến cử Lý Nguyên Thiên làm người kế thừa của Cao Long".
"Đông Loa" cho rằng tin truyền là do Lý Nguyên Thiên đưa ra, cố ý đẩy mình lên lửa để nướng, thế là quyết tâm tẩy chay Lý Nguyên Thiên, ủng hộ Lý Đông Sán. Rõ ràng là người cháu đã dùng đến kế "mượn đường đánh Quắc" so với chú cao hơn một bước, Lý Nguyên Thiên rơi vào thế cô lập, năm 1976 đã rút lại vốn cổ phần, mang theo các người cốt cán của mình dời khỏi Cao Long.

Tốn mất 2 năm, cuối cùng Lý Đông Sán giành được quyền quản lý kinh doanh công ty Cao Long. Sau khi làm Chủ tịch Hội đồng quản trị, ông đã dày công sắp xếp, kinh doanh, cải cách chế độ nhân sự "Dùng người chỉ dùng người thân", cải thiện tiền lương và đãi ngộ phúc lợi của công nhân viên chức còn mở ra tiền lệ thuê mượn nữ công nhân suốt đời ở Hàn Quốc.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
7- Lấy âm khắc dương, lấy nhu khắc cương

Tất cả mọi sự vật trên thế giới, từ sinh vật đơn giản nhất đến ổ chức phức tạp nhất, một điều quan trọng bậc nhất chính là bảo tồn mình, chỉ có trước tiên bảo tồn mình, có sự tồn tại của mình, mới có thể bàn đến tất cả mọi cái khác được.
Dùng câu nói có tính triết học một chút chính là "tồn tại quyết định tất cả, tồn tại trước bản chất". Co nên, để bảo tồn mình, đặc biệt là khi liên quan đến tiền đồ, vận mệnh, sống chết tồn vong của mình, một người, một tổ chức, đó là biện pháp gì đều có thể nghĩ ra, thủ đoạn nào đều có thể dùng. Từ trong những việc làm của người xưa và tổ tiên, chúng ta sẽ hiểu ra không ít các đạo lý.
Các nhà chính trị phong kiến chủ trương quản lý quốc gia, phải nhắm đúng tình hình cụ thể, cương nhu đều dùng song song, không thể tuyệt đối hóa. Cương và nhu bồi bổ và xúc tiến lẫn nhau, quá cương dễ gãy, quá nhu thì vô dụng, cương nhu cùng giúp nhau, thì làm gì ở đâu đều thắng. Đây là quy luật bên trong của sự phát triển sự vật. Thời xưa quân vương "trị quốc yên bang" cần phải văn võ song song, đức hình đồng thời dùng, cương nhu giúp đỡ nhau, về vĩ mô thống trị nhân dân, khống chế thế cục toàn quốc. Cho nên thuật cương nhu là thuật thống trị cơ bản bảo đảm sự thống trị của họ.
Sách "Thập lục kinh" nêu lên: "Đạo làm người là phải có đủ cả cương nhu, chỉ cương không đủ đáng tin, chỉ nhu không đủ đáng tin cậy". Tuyển Bất Nghi thời Tây Hán nói: "Phàm là quan lại, quá cương dễ bị trắc trở, quá nhu thì sự việc làm không thành. Làm việc uy phải nên bố thí ân đức, sau đó mới có thể lập nên công trạng, truyền bá tiếng tăm. Sự vật có tính cương thì cứng rắn dễ bị tan vỡ, dễ tiến thủ mà khó giữ. Sự vật có tính nhu thì không sắc (cùn) mà có tính dai, dễ giữ lại thì khó (tiến) công. Cho nên cương (cứng rắn) quá dễ gãy, nhu quá thì bị bỏ, cương mạnh có lợi cho tiến công, nhu nhược có lợi cho việc giữ lại. Mỗi cái đều có chỗ mạnh chỗ yếu, cương nhu đều giúp nhau thì không có việc giì làm không thẳng được".
Song, giữa hai cái cương và nhu, cái nào cần trước. Đạo gia Lão Tử chủ trương "nhu nhược" thắng "cương cường". Thường Nghĩ trước lúc lâm chung đã di huấn lại cho Lão Tử, đã dạy ông xử sự quý là ở chỗ dùng nhu, và lấy cái lý "răng rụng lưỡi còn" để nói với Lão Tử, cho rằng nhu là cái gốc kiềm chế địch giành thắng, gặp việc dùng nhu để xử lý, thì mọi sự việc trong thiênn hạ đều có thể làm thành.
Thường Nghĩ bị ốm, Lão Tử đi đến hỏi thăm, nói: "Tiên sinh ốm nặng quá, có điều gì di huấn lại có thể nói với đệ tử được không?" Thường Nghĩ nói: "Ông không hỏi, ta cũng sẽ bảo ông. Ta đến quê hương thì xuống xe, ông có biết vì sao không?" Lão Tử nói: "Qua quê hương mà xuống xe, chẳng phải là nói không quên quê hương chăng?" Thường Nghĩ nói: "Ôi! Đúng thế! Qua cây cao mà cúi đầu đi tới, ông có biết vì sao không?" Lão Tử nói: "Qua cây cao mà cúi đầu đi tới, chẳng phải là nói phải kính trọng người già chăng?" Thường Nghĩ nói: "Ôi! Đúng thế".
Thường Nghĩ lại há to miệng chỉ cho Lão Tử nói: "Lưỡi của ta vẫn còn phải không?" Lão Tử nói: "Đúng ạ, lưỡi vẫn còn". "Răng của ta vẫn còn chứ?" Lão Tử nói: "Răng không còn ạ". Thường Nghĩ nói: "Ông có biêt đạo lý ở trong đó không? Lão Tử nói: "Lưỡi còn, đó là vì nó có tính nhu (mềm); răng rụng hết, đó chẳng phải là vì nó cứng rắn phải không?" Thường Nghĩ nói: "Ôi! Đúng thế. Đạo lý của sự vật trong thiên hạ hoàn toàn ở đó. Ta còn có điều gì lại nói với ông nữa đây".
Thúc Hướng cũng giữ quan điểm giống như thế, cho rằng "nhu" phải rắn chắc hơn "cương", "hai đối thủ tranh giành lợi mà kẻ "nhu" giành thắng".
Hàn Bình Tử hỏi Thúc Hướng: "Cương và nhu cái nào cứng rắn?" Thúc Hướng trả lời, nói: "Thần tuổi tác nay đã hơn tám mươi, răng đã rụng hết nhưng lưỡi vẫn còn, Lão Tử có câu nói: "Cái mềm nhất trong thiên hạ điều khiển cái cứng rắn nhất trong thiên hạ". Lại nói: "Con người lúc mới sinh mềm yếu, khi chết thì cứng lại. Cỏ cây vạn vật khi sống thì mềm yếu, khi chết thì khô đét". Từ đó ta thấy, cái mềm yếu là con đường sống, cái cứng rắn là con đường chết. Thần cho rằng phải biết nhu là cứng rắn hơn cương". Bình Tử nói: "Điều này có lý, nhưng khanh hành vi lúc bình thường là thích cương hay thích nhu?" Thúc Hướng nói: "Thần cũng chủ trương nhu, cần gì phải cương nữa?" Bình Tử nói: "Nhu phải chăng quá yếu mềm?" Thúc Hướng nói: "Người nhu bị bẻ cong nhưng không gãy, liêm khiết mà không thiếu, thế nào là mềm yếu? Đạo lý lên trời rất huyền diệu, tiến hành vận hành theo quy luật tự nhiên, cho nên nó mới đánh đâu thắng đó, hai quân đội đánh nhau mà kẻ mềm yếu thường giành thắng, hai đối thủ giành nhau mà kẻ yếu thường giành thắng.
Đại bá chủ Tề Hoàn công nêu lên hiện tượng tự nhiên và xã hội để thuyết minh gặp việc mà cứng rắn và gắt gao quá thì dễ hỏng việc. Hoàn công nói: "Kim loại cứng rắn dễ gãy, da cứng dễ rạn nứt, ông vua cứng rắn và gắt gao thì quốc gia diệt vong, người bầy tôi cứng rắn gắt gao thì bạn bè đoạn tuyệt, làm người cứng rắn gắt gao thì bất hòa với mọi người, bốn ngựa bất hòa (chỉ xe 4 ngựa kéo) thì chạy không dài, cha con bất hòa thì gia đạo lụn bại, anh em bất hòa thì không thể bền lâu, vợ chồng bất hòa thì trong nhà bất hạnh".
vì sao mềm yếu thắng cứng rắn? Quỷ Cốc tử lấy đạo lý lượng biến đến chất biến thuyết minh nó: "Nhu nhược (mềm yếu) thắng cương cường (cứng rắn) cho nên tích nhược có thể là cường; thẳng nhiều như cong, cho nên tích cong có thể là thẳng, ít thì được nhiều, cho nên tích cái không đủ có thể là dư".
Trong tự nhiên, nhu thắng cương, nêu mãi không bao giờ hết, nước mềm chất, nhưng có thể xuyên qua núi, dập tắt lửa.
Lão Tử cho rằng, nước chảy sở dĩ nó có thể xuyên qua núi, dập tắt lửa, bởi vì tính chất của nước rất mềm, chảy tuôn muôn dặm. Trong hiện tượng xã hội, vật nhỏ yếu có thể chiến thắng vật lớn mạnh, đâu đâu cũng có. Ví như nước nhỏ chiến thắng nước lớn, nước yếu chiến thắng nước mạnh, đây là một ví dụ: Việt vương Câu Tiễn chiến tranh với Ngô thất bại, nước tan người mất, bị khốn đốn ở Cối Kê, tức lộn ruột lộn gan lên, căm hờn tuôn ra như suối, tuyển luyện quân lính sau đó xin bản thân mình xem như kẻ bày tôi mà vợ xem như kẻ tỳ thiếp. Nhưng vẫn không quên nỗi nhục Cối Kê, quyết chí vươn lên hùng cường, mười năm sinh kế. Cuối cùng một trận đánh mà tóm được Phù Sai. Cho nên Lão Tử nói: "Nhu có thể khắc cương, nhược có thể thắng cường".
Khổng Tử đề xướng "Đạo của trung dung", giữ cho đúng ở giữa, không nghiêng sang trái không nghiêng sang phải, không cương không nhu, cương nhu đều có. Học thuyết này trở thành nguyên tắc xử sự của đời sau. Tuần Du, mưu thầnn của Tào Tháo, là một nhân vật trong cương có nhu, trong nhu có cương: "Tuần Du có trí phòng ngừa sâu xa kín đáo, từ khi Thái tổ đi chinh phạt, thường mưu tính kế hoạch trong phòng kín, người đương thời và đệ tử đều không biết những lời ông trình lên". Thái tổ mỗi lần khen nói: "Ông đạt đến trình độ bên ngoài như ngu bên trong đầy mưu trí, bên ngoài khiếp đảm bên trong dũng cảm; bên ngoài nhu nhược bên trong cứng rắn, không khoe mình, không kể lao khổ, trí tuệ có thể đuổi kịp, nhưng ngu thì không thể bì kịp, tuy rằng Nhan Tử và Ninh Vũ cũng không thể vượt qua".
Thời Tam Quốc, Viên Hoán vẻ bề ngoài như ôn hòa nhu nhược, nhưng khi ông gặp việc lớn, xử lý nguy nan, tuy Bôn Dục dũng cảm cũng không thể vượt ông ta. Khổng Tử đề xướng đạo nhân ái, nhưng tại cuộc gặp Tễ Lỗ, hăng hái dũng cảm giữa hai vua, đánh bại sự khiêu khích của nước Tề, giữ được uy nghiêm của Lỗ Vương, đây là ví dụ về dũng lấy cương giúp nhu. Lận Tương Như phụng mệnh đi sứ Tần, nộp ngọc quý về Triệu, không khuất phục trước uy vũ, song ông nhường xe với Liêm Pha, chiếu cố đến toàn cục, đạo nghĩa đều coi trọng, đây là ví dụ về nghĩa lấy nhu để giúp cương. Cho nên cương lấy nhu tương trợ, nhu lấy cương tương trợ, cương nhu cùng giúp lẫn nhau, mới có thể có lý, có tiết tháo, có lợi, trở thành nhân vật có bàn tay sắt về chính trị.
Song, xử lý quan hệ giữa người với người, các chính trị gia thời xưa phần nhiều quý nhu, coi trọng khoan (khoan dung), nhu có thể tiếp nhận được vật chất, khoan dung có thể được mọi người, đây là triết học xử thế của các chính trị gia phong kiến, họ bị bức ép giữa sự cường bạo của vua chúa và lời gièm pha của bọn gian thần, không thể không làm người như thế.

8- Không nên dễ dàng bộc lộ ý đồ chân thực
Rất nhiều việc trong xã hội làm cho người còn măng sữa, người ấu trĩ nói chung không thể tưởng tượng nổi, nhưng thực ra lại rất bình thường. Ví như về bản lĩnh có người thể hiện không có bản lĩnh, về ý đồ có người chính là không để cho người khác biết họ có ý đồ gì. Mà những người như thế chưa hẳn là thật sự không có tài năng, phải nói đây là một tài năng càng đặc biệt.
So sánh việc này một chút, những người thẳng thừng hùng hổ hăm dọa người, có thể đứng không vững, thậm chí khó mà giữ được mình, cũng rất khó nói đây là biểu hiện của tài năng và trí tuệ, còn về hoài bão lớn lao thì lại càng không thể bàn đến nữa.
Thời Hán Vũ đế, kinh tế phồn vinh, chính trị ổn định, thực lực quốc gia lớn mạnh, cộng thêm với tài ba lỗi lạc của bản thân ông không cam chịu cố giữ những luật lệ có sẵn của tổ tông. Thế là dưới sự chỉ huy của ông, chính sách đối nội, đối ngoại đã thay đổi rất nhiều. Song các Thừa tướng là trọng thần phụ chính, phần nhiều đều là dùng các hầu kế tự, Hán Vũ đế dạt dào chí lớn không thể vừa lòng, cho nên trong một đời ông đã giết hơn 10 Thừa tướng. Vào năm Nguyên Sóc thứ 5 (năm 124 trước công nguyên) Hán Vũ đế đã chọn trúng Công Tôn Hoằng, người không xuất thân từ quý tộc, làm Thừa tướng.
Vị Công Tôn Hoằng này không có nguồn gốc gia thế, trong tình huống Hán Vũ đế mắng giết đại thần, có thể giữ nổi vị trí Thừa tướng, suốt đời với chức này, có thể gọi là người biết sâu đạo làm Thừa tướng.
Công Tôn Hoằng là người Tiết, Tri Xuyên (nay là Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông), khi trẻ làm quan coi ngục, vì có tội bị bãi chức. Hơn 40 tuổi mới bắt đầu học tập thuyết Xuân Thu, 60 tuổi mới được gọi do có tài văn học, được làm Thái thường tiến sĩ.
Nhưng, khi phụng mệnh đi sứ Hung Nô về, không hợp ý của Hán Vũ đế, cho là ông không có năng lực, Công Tôn Hoằng đành cáo bệnh về quê. Đến khi 70 tuổi, ông lại một lần nữa ứng cử "hiền lương văn học" (người có tài về văn học) được Hán Vũ đế chọn là người đỗ đầu lại được làmm Thái thường tiến sĩ một lần nữa. Do dâng sớ nâng chỉ, trong một năm liền được thăng làm Tả nội sử. Không lâu, lại phải "thủ hiếu" 3 năm cho mẹ kế, khi trở lại lại nhận chức Nội sử, rất nhanh được thăng làm Ngự sử đại phu, được ngồi vào chức Phó Thừa tướng, năm đó là 74 tuổi.
Hai năm sau, ông được thăng làm Thừa tướng và được phong là Bình Tân hầu, mở ra tiền lệ Thừa tướng được phong chức Hầu. Công Tôn hoằng trong thời gian 6 năm (trừ đi 3 năm ông thủ hiếu (chịu tang) mẹ kế, thực tế chỉ có 3 năm) từ một nho sinh bình thường vinh dự được thăng làm Thừa tướng. Việc này cố nhiên là có cơ hội của ông, nhưng đương nhiên cũng có đạo làm quan của ông.
Trước hết, Công Tôn Hoằng rất giỏi dòm ngó suy tính được ý của ông vua, xưa nay không bộc lộ ý đồ chân thực của mình. "Mỗi lần hội nghị trong triều, bắt đầu trình bày các đầu mối công việc, khiến cho ông vua tự chọn, không hề chỉ trích ngay trước mặt và tranh luận ngay ở triều đình". Có việc không thể không bàn, ông thường xúi bẩy người khác tâu lên, mình từ bên cạnh quan sát khuynh hướng của ông vua, sau khi biết được khuynh hướng của ông vua, mình lại tâu lên những lời bàn việc đó, do vậy thường được lòng của ông vua. Khi bàn bạc việc nước với các công khanh, vốn ông đã tán thành ý kiến của mọi người, nhưng khi đến trước mặt vua, "đều làm ngược với lời hứa để thuận theo ý chỉ của vua". Công Tôn Hoằng cho rằng: "Bệnh của ông vua là không rộng rãi, bệnh của kẻ bầy tôi là không tiết kiệm". Cho nên tự ông thực hành tiết kiệm, mặc dù mình ở địa vị cao, nhưng vẫn "áo vải cơm rau", phu nhân tự mình làm việc, vẫn là dáng vẻ của một nho sinh nghèo. Sách sử gọi ông là "ông làm việc cẩn thận sâu sắc, khả năng biện luận có thừa, thhông thạo văn thư pháp lệnh và công việc chung, có duyên che giấu bằng Nho thuật", do đó được lòng Hán Vũ đế.
Hai là Công Tôn Hoằng giỏi phát hiện trong "quần thần" ai có lợi đối với mình, ai có hại đối với mình. Bất kể lợi hại, ông đều có thể chung sống ôn hòa và thân thiện với họ, nhưng trong lòng biết rõ họ có thể tạo nên uy hiếp đối với mình hay không, đối với người không có lợi cho mình, luôn có thể không lộ tiếng nói và sắc mặt trừ bỏ họ luôn. Chính vì như thế ông mới giành được tiếng là "nho nhã".
Ba là, Công Tôn Hoằng biết rất rõ tâm lý của ông vua và các bầy tôi, có thể dùng mưu lược người khác khó mà phát hiện, nhiều lần làm cho mình chuyển nguy thành an. Ví dụ như Chủ tước Đô úy Cấp ảm đã từng công kích ông trước Hán Vũ đế: "Công Tôn Hoằng ngôi vị ở Tam công, được hưởng lộc rất nhiều, song lại đắp chăn vải, việc này phải chăng là lừa bịp?" Khi Hán Vũ đế hỏi đến việc này, Công Tôn Hoẳng thật ra không né tránh. Trước tiên nói Cấp ảm thành bạn đồng liêu tốt nhất của mình, sau đó nói rõ đầu đuôi: "Là Tam công mà đắp chăn vải, quả thật là thần muốn thheo đuổi một chút thanh danh", liền nêu ra ví dụ Quảnn Trọng và Yến Tử tuy xa xỉ và tiết kiệm khác nhau, nhưng đều là mưu tính sự lớn mạnh cho quân vương, để ví mình là dốc lòng vào công việc. Sau đó nói: "Nay Tôn Công Hoằng thần đã ở chức vị là Ngự sử Đại phu mà lại đắp chăn vải chẳng khác những người từ Cửu Khanh trở xuống đến tận Hạ lại, đúng như lời Cấp ảm nói. Nay nếu như không có Cấp ảm thì làm sao Bệ hạ có thể nghe được những lời nói thực đó?" Vừa không có lỗi với Cấp ảm, lại làm cho Vũ đế vui lòng, đồng thời còn ngầm biểu thị Cấp ảm ghen người hiền, ghét người tài, có thể gọi là "một hòn đá ném được ba con chim". Từ đó ta thấy trí thuật của Công Tôn Hoằng rất sâu xa.
Sách sử gọi Công Tôn Hoằng "Tính cách đố kỵ, bên ngoài tỏ ra rộng rãi, bên trong thâm sâu. Giữa Chư Thưởng và Công Tôn Hoằng có chỗ rạn nứt không lớn lắm, mặc dù đã bộc lộ ra và giải quyết tốt đẹp, nhưng về sau lại đưa lỗi ra".
Bây giờ nêu ra ba ví dụ về việc hại Cấp ảm, Chủ Phụ Yển và Đổng Trọng Thư.
Cấp ảm tự Trường Nhụ, gia thế là Khanh đại phu. "Là người tính kiêu ngạo, thiếu lễ độ, trở mặt, không thể dung thứ lỗi lầm của người khác. Người hợp với mình thì đối đãi tốt, người không hợp thì không thèm nhìn mặt". Vì đi theo Hán Vũ đế từ rất sớm, nên Hán Vũ đế rất có cảm tình tốt đối với ông, coi kính trọng ông. Khi Công Tôn Hoằng làm Thừa tướng, ông làm Ngự sử Đại phu. Chính vì ông không thể khoan dung lỗi của người khác, cho nên ông rất có ác cảm đối với thái độ "giả vờ là có trí tuệ để nịnh lấy lòng vua" của Công Tôn Hoằng, đã nhiều lần công kích Công Tôn Hoằng. Cấp ảm là trọng thần tín nhiệm của Vũ đế, nếu muốn loại bỏ ông ta có thể không phải là một việc dễ dàng. Kinh qua suy nghĩ kỹ càng, Công Tôn Hoằng lấy việc "Trong giới bộ Hữu nội sử (Phù phong quận) có nhiều quý thần, tôn thất, khó quản lý nếu không có trọng thần thuần phác thì không thể phụ trách được" làm danh nghĩa, xin chỉ thị của Vũ đế để Cấp ảm đảm nhận chức này. Đây là "giương đông kích tây", về danh nghĩa là suy tôn, nhưng kỳ thực là hại ông ta.
Quả nhiên, Cấp ảm làm Hữu nội sử mới vài tháng liền "phạm pháp nhỏ, được tha nhưng bị cách chức quan. Thế là Cấp ảm về ẩn chốn điền viên mấy năm". Cho mãi đến khi Công Tôn Hoằng mất, mới trở lại làm quan, nhưng đã khác hẳn.
Chủ Phụ Yển là người Lâm Tri, nước Tề (nay nằm trong huyện ích Đô, Sơn Đông). Bằng việc dâng thư bàn công việc trúng ý Vũ đế, trong năm bốn lần thay đổi chức quan của ông, làm cho trong ngoài triều đều trố mắt nhìn, "các đại thần đều sợ cái miệng ông ta". Công Tôn Hoằng cũng phải chịu cái khó đó. Nhưng Chủ Phụ Yển là trung đại phu, vị trí ở trong triều, "sớm tối bên cạnh vua", Công Tôn Hoằng không có được cơ hội trả đũa. Về sau Chủ Phụ Yển nói đến Tề cương có hành vi dâm dật, Công Tôn Hoằng liền mượn cơ hội đó tiến cử Chủ Phụ Yển làm Tướng quốc nước Tề.
Trung đại phu là quan lương 600 thạch, Tướng quốc là 2000 thạch, lên vượt cấp, Chủ Phụ Yển thật là đắc ý. Đến nước Tề, "lần lượt triệu Côn Đệ và Tân Khách, phân tán 500 lạng vàng cho họ, quở trách nói: "Mới đầu khi ta nghèo, Côn Đệ không cho ta ăn mặc, Tân Khách không cho ta ở trong nhà, nay ta là Tướng quốc nước Tề, các ông đón ta có lẽ từ ngàn dặm. Ta và các ông tuyệt giao rồi, đừng vào lại cửa của Yển nữa!" Thật là một dáng vẻ thế lớn át người, không biết họa lớn sẽ bắt đầu đến ngay khi ông ta di chuyển nhận chức. Chủ Phụ Yển ra ngoài làm quan, chính là kế "giương đông kích tây" của Công Tôn Hoằng.
Bởi vì Chủ Phụ Yển ở bên cạnh Vũ đế, không tiện dâng lời, bây giờ Công Tôn Hoằng đã có cơ hội dâng lời. Về sau gặp Triệu vương dâng thư tố cáo Chủ Phụ Yển nhận vàng của chư hầu, Công Tôn Hoằng có thể có cơ hội trả đũa, lấy danh nghĩa là "Yển vốn là người xấu nhất, không chu diệt Yển thì không tạ được thiên hạ" đã buộc Vũ đế phải hạ lệnh giết cả họ nhà Chủ Phụ Yển.
Đổng Trọng Thư là nhà Nho lớn nổi tiếng, do ông kiến nghị "bãi bỏ" "bách gia", duy nhất tôn Nho thuật" được Hán Vũ đế bằng lòng, dùng tư tưởng Nho gia đã qua cải tạo làm tư tưởng thống trị, trở thành chính sách các đời về sau theo đuổi không đổi, cho nênn tiếng tăm rất lớn. Đổng Trọng Thư là người liêm trực, "tiến thoái, dung mạo, cử chỉ không lễ phép là không làm, các hhọc sĩ đều tôn ông là bậc thầy". Lúc bấy giờ là danh nho, con người như thế đương nhiên là coi thường những việc làm của Công Tôn Hoằng, không tránh có chỗ bàn tán. Có danh tiếng đương thời lại có bàn tán, Công Tôn Hoằng đương nhiên trong lòng hờn ghen, lòng trả đũa cũng sẽ sinh ra!
Lúc đó Giao Tây vương là anh của Vũ đế, vô cùng kiêu căng phóng túng, những người làm Tướng quốc ở chỗ ông ta phần nhiều đều bị ông ta tìm kế hãm hại, cho nên Tướng quốc ở đây là chức vụ vô cùng nguy hiểm. Đúng vào lúc ở đây đang thiếu, Công Tôn Hoằng liền tiến cử Đổng Trọng Thư bổ xung làm chức này. Lúc đó Đổng Trọng Thư cũng đang là Trung đại phu lương 600 thạch, vinh dự thăng lên chức Tướng quốc 2000 thạch, phải là một vẻ vang rất lớn. Nhưng Đổng Trọng Thư rốt cuộc không phải là Chủ Phụ Yển, đầu não của ông ta tương đối tỉnh táo và không lưu luyến với lợi lộc, nên cáo có bệnh xin về nhà để "sửa sang lại việc học và viết sách", có thể bảo toàn được mình và tránh được tai nạn.
Từ trên ta có thể thấy thủ đoạn của Công Tôn Hoằng mưu khử đối thủ chính trị. Ông ta thường cất nhắc và tôn sùng kẻ đối địch chính trị, việc này sẽ làm cho đối thủ chính trị kể cả những người ngoài đối thủ chính trị, cho rằng ông ta rất có gan dạ, không mang trong lòng oán hận nhỏ. Trên thực tế chính là ông tránh chỗ mạnh của đối thủ chính trị, làm cho nó trở nên yếu, sau đó nhân chỗ yếu đó mà trừ khử họ. Ông ta thật sự có thể gọi là một tay sành sỏi trên quan trường, là người có mưu trí trong đấu tranh chính trị, là người có trí lớnn mà tưởng như ngớ nghếch của kế giương đông kích tây, là người sử dụng thành thạo lấy tất nhiên làm ngẫu nhiên để tránh mà làm yếu đi.

* * *

Mỗi người làm việc đều có ý đồ chân thực của mình. Nhưng để ngăn ngừa kẻ khác thọc tay vào hoặc là đề phòng kẻ tiểu nhân phá hoại, không thể không đem ý đồ chân thực của mình che giấu đi.
Cho người khác bằng cảnh tượng giả, thật ra không phải là việc xấu, việc này với hữu nghị và tình yêu là hai khái niệm.
Dù trong nói chuyện yêu đương, một đôi trai gái yêu nhau, cũng đều có thể trăm phương ngàn kế che giấu cách nghĩ chân thực của mình, để giành chủ động, thử thăm dò đối phương.
Ví dụ như, bên nữ rõ ràng rất thích bên nam, lại cố ý nói: "Em ghét anh đến chết đi được!" Lại ví dụ như trong thời gian hẹn gặp đã nói rõ ràng đâu vào đấy, bên nam đã đến sớm một tiếng đồng hồ hoặc nửa tiếng đồng hồ, nhưng sau khi gặp bên nữ, lại nói: "Anh vừa mới đến, phải chăng đã đến muộn rồi?"
Còn về phía anh ta biết rằng, khi anh ta hết sức nóng lòng chờ đợi, cô ta đang nấp ở phía sau gốc cây, quan sát từng cử động của anh ta tỉ mỉ.
Nói chuyện yêu đương cần phải che giấu mình, các mặt khác của việc đối nhân xử thế cũng vẫn phải như thế. Người không biết che giấu mình, sẽ không thể sống rất tự nhiên.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
9- Hãy làm một lần "phạm lỗi" về lôgic

Trong nhiều tình huống chữ "vụng trộm" đều có liên quan với những hành vi xấu, ví dụ như tên trộm, trộm cắp, yêu nhau vụng trộm v.v... cho nên người ta đối với chữ "vụng trộm" thường không cung kính lắm.

Về lôgic học, nếu như đánh tráo khái niệm, đó là phạm "sai lầm" là hành vi ngôn ngữ "không vẻ vang". Nhưng từ khía cạnh hài hước đưa vào để bàn vấn đề này, thì có thể "sửa lại kết luận sai và rửa sạch hết oan uổng" cho "vụng trộm".

Bởi vì trong cuộc sống từng trải của chúng ta, không thiếu những ví dụ cố ý đánh tráo khái niệm, từ đó sinh ra thích thú hài hước. Đánh tráo khái niệm nguyên tắc hài hước này có liên quan với lôgic, nhưng thật ra phải học hiểu lôgic trước sau mới tạo hài hước.

hài hước là một phương pháp tư duy tình cảm, có một số người tính hài hước rất mạnh, không cần đi sâu nghiên cứu tỉ mỉ cũng có thể nắm được một cách tự phát. ở đây chúng ta chỉ là tiến hành thảo luận về lý thuyết đối với nguyên tắc này.

Khái niệm đánh tráo là biểu hiện đặc biệt của khái niệm trong hài hước. Trong diễn đạt ngôn ngữ thông thường của người ta, có một yêu cầu cơ bản là hàm nghĩa của khái niệm phải rõ ràng, quyết không thể mơ hồ, càng không thể chỉ đông nói tây.

Bằng không sẽ có thể biến thành nói năng lộn xộn, nghĩ một đàng làm một nẻo, đây là việc kiêng kỵ nhất của việc giao tiếp ngôn ngữ. Nhưng tư duy hài hước sẽ khác nhau, nó là cố ý "phạm lỗi", là biến đổi ngôn ngữ sinh ra sau khi tình cảm nhúng tay vào.

Trong hoàn cảnh nhất định, khái niệm đánh tráo đã biểu hiện sự tinh nhanh của ngôn ngữ.

Sau khi cuộc chiến tranh chống Nhật thắng lợi, Đại sư quốc họa nổi tiếng Trương Đại Thiên phải từ Thượng Hải trở về quê nhà Tứ Xuyên. Các học sinh của ông bày tiệc đưa tiễn ông, mời nhà nghệ thuật Kinh kịch nổi tiếng Mai Lan Phương và các bậc danh lưu xã hội cùng dự.

Bữa tiệc bắt đầu, Trương Đại Thiên chúc rượu Mai Lan Phương nói: "Mai tiên sinh, ông là quân tử, tôi là tiểu nhân. Tôi mời ông một cốc rượu trước".
Mai Lan Phương không rõ ý của ông, các quan khách khác cũng không hiểu sao cả.

Trương Đại Thiên miệng tươi cười giải thích nói: "Ông là quân tử - hát kịch thì miệng cử động, tôi là tiểu nhân - họa tranh thì tay cử động". Một câu nói gây được cả hội tiệc cười mãi không thôi.

Giữa những người quen thuộc nói một chuyện vui là việc bình thường. Nhưng chuyện cười mở đầu ra sao, là tục tĩu, là lịch sự, trong đó rất cần có học vấn.

Hài hước là sự biến hóa bên ngoài của trí tuệ, là sự bùng nổ của linh cảm. Kháng chiến thắng lợi, ai mà không vui? Từ ngàn dặm trở về quê nhà, ai mà không vui? Trương Đại Thiên vui vẻ thừa hứng đưa ra một câu "ông là quân tử, tôi là tiểu nhân", mọi người không biết "trong bầu đựng là loại thuốc gì" mà đều bị "đánh lừa". Hiệu quả của trò "lừa này rất tuyệt, không có trò "lừa" này, thì chẳng có hài hước đáng nói nữa. Bị "lừa" rồi thì phải hỏi rõ ràng, phải có giải thích rõ ràng, mọi người đều sinh ra tâm lý chờ đợi khát khao tìm kiếm.

Thế là, Trương Đại Thiên về ngôn ngữ đã giở một ngón: "ông là quân tử - hát kịch thì miệng cử động, tôi là tiểu nhân - họa tranh thì tay cử động".
Trương Đại Thiên cố ý đánh tráo khái niệm đem chữ "miệng cử động" giải thích thành hát kịch, đem chữ "tay cử động" giải thích thành họa tranh, có được sự câu kết ngầm ngầm này, câu nói trên của ông "ông là quân tử, tôi là tiểu nhân" liền được giải thích đầy đẻ.

Bởi vì Trương Đại Thiên đem nội dung của khái niệm im hơi lặng tiếng đã chuyển đổi ở mức độ lớn, cho nên chú ý tâm lý của mọi người cũng theo đó thay đổi đột nhiên, mọi người bị kinh hãi ngoài ý muốn, thu được phát hiện ngoài ý muốn. Việc "vụng trộm" này của Trương Đại Thiên tiên sinh làm rất ngấm ngầm, hành động rất nhanh nhẹn, bầu không khí hài hước tạo nên rất đậm đà.

Đúng như ở trên chúng ta đã nói khái niệm đánh tráo phải có thể hiện ra sự tinh nhanh, điêu toa kỳ diệu và tình thú, có thể làm cho mọi người sau khi tâm lý chờ đợi bị mất, đột nhiên giành được sự phát hiện và thỏa mãn bất ngờ.

Một lần, thầy giáo địa lý lên lớp bài địa lý, yêu cầu học sinh phải mang theo mô hình quả đất, nhưng có một học sinh không biết vì nguyên nhân gì không mang đến. Các học sinh khác tới tấp xoay mô hình quả đất để tìm vị trí địa lý thầy giáo nêu ra, cậu ta đành chịu ngồi. Thầy giáo muốn làm khó dễ cho cậu ta, đột nhiên gọi cậu ta đứng lên trả lời câu hỏi.
Thầy giáo hỏi: "Sông Amazon ở đâu?"

Cậu học sinh kia cúi đầu, không nói gì cả.

Thầy giáo hỏi: "Vì sao em không đem mô hình quả đất? Em chỉ cúi đầu suốt đang nhìn cái gì?"

Cậu học sinh kia trả lời nói: "Thưa thầy quả đất em mang đến rồi, nó đang đứng dưới chân em. Em đang cúi đầu tìm sông Amazon, nhưng nó lớn quá, em nhìn không thấy sông Amazon ở đâu?"

Cậu học sinh này thật là có chút hài hước. Cậu ta không mang mô hình quả đất, không tỏ ra lúng túng. Thầy giáo nêu câu hỏi, cậu ta không thể trả lời, cũng không tỏ ra căng thẳng. Thầy giáo muốn gây khó dễ cho cậu ta, cậu ta lại bất ngờ thắng thầy giáo.

Vũ khí mà cậu ta sử dụng chính là "khái niệm đánh tráo". Cậu ta đem "mô hình quả đất" đánh tráo thành "quả đất" khéo léo đem những câu hỏi của thầy giáo làm đệm lót hài hước của mình, đã thành công sáng tạo ra một chuyện hài hước.

Gặp sự việc này, có lẽ thầy giáo không thể quở trách lỗi cậu ta không mang mô hình quả đất nữa, đại khái còn có thể dí dỏm cho rằng: Cậu ta còn rất giỏi giang nữa, tôi dạy các học sinh xem quả đất từ mô hình quả đất, còn cậu ta lại đứng trên quả đất nhìn quả đất, tương lai chưa biết chừng sẽ có thể trở thành một nhà địa lý giàu tinh thần thực tiễn!

Khái niệm đánh tráo đã phá bỏ thường lệ cứng nhắc của vận hành lôgic, làm cho khái niệm phát sinh liên hệ trên mục nghĩa "như thật mà lại giả", giữa các khái niệm vốn không có liên quan, đã mở ra một đường thông, tạo nên kỳ thú của hài hước.






http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
Chương Bốn
Âm dương kinh vận dụng trong chính trị quân sự


Khi âm đến dương, dương là âm
Giả đến chỗ thật, thật cũng giả


"Mưu" chia thành âm mưu và dương mưu, không biết là bắt đầu từ niên đại nào, cũng không biết là xuất phát từ phát minh của người Trung Quốc hay là chuyên lợi của nước ngoài.

Cho đến ngày nay, từ "âm mưu" chắc chắn là mang ý chê bai rất lớn.
Khổng Tử, bậc thầy của nhân nghĩa, ngàn thu, tấm gương của đạo làm người muôn đời của Trung Quốc, từ trước đến nay đã không thích từ "âm" này. Ông đem "nữ nhân", "tiểu nhân", "gian tặc" đều quy về phạm trù thuộc "âm". Trung Quốc từ Khổng Tử về sau hơn hai ngàn năm nay, thanh danh của từ "âm" này rất xấu.

Song, Lão Tử lại rất suy tôn chữ "âm".
Trong "Đạo đức kinh", ông đã từng nhiều lần nhấn mạnh: "Dĩ âm khắc dương", "Dĩ nhu khắc cương", "Dĩ tĩnh chế động", "thị nhược thủ thư" (tỏ ra yếu đuối để giữ mình phái yếu) v.v...

Theo lão Tử và Đạo gia, nhu, tĩnh, nhược, thư v.v... đều thuộc phạm trù của "âm". Từ đó ta thấy, "âm" thật ra không đáng xấu.

Thực ra, theo triết học truyền thống Trung Quốc: "Nhất âm nhất dương vi chi đạo" (Một âm một dương tạo thành đạo).
"Âm" và "Dương" vốn không có cái gọi là chê khen, nên âm thì âm, nên dương thì dương.

Đạo lý nên dẫn ra, về binh pháp chính là: đạo của văn võ, một bên căng một bên trùng. Khi làm học vấn, viết văn chương chính là văn dã xen kẽ, nhã tục cùng thưởng thức.

Không có độc nhất vô song.
Không phải chỉ có người Trung Quốc giỏi vận dụng mưu lược - hoặc gọi là âm mưu, hoặc gọi là dương mưu - mà mọi ngườii của các nước trên thế giới,, bất kể chủng tộc như thế nào, bất kể lịch sử như thế nào cũng đều tinh thông lẽ này.

Ví như Napoléon, Coolidge, Kemal, Roosevelt, Marshall, Churchill, De Gaulle, Sukarno, Mitterand, Nixon, Margaret Thatcher...
Những nhân vật này đã từng ảnh hướng thế giới, đều là những cao thủ vận dụng mánh khóe.

Từ đó ta thấy, "mưu" không kể là âm hay dương, chỉ là lúc mới đầu đặt tên cho nó, đem nó gọi là "âm mưu", cho nên mới làm cho thanh danh của nó không tốt.

ở đây, chúng ta tạm thời không thảo luận vấn đề này. Nếu như nói "âm mưu" nghe không hay, vậy thì chúng ta sẽ dùng "âm mưu dương dụng" để thảo luận vấn đề. Hoặc là nói, âm mưu dương mưu cùng dùng, cần biết chỉ có như thế mới có thể hoàn thành sự nghiệp lớn. Đặc biệt là trong hoạt động chính trị quân sự từ xưa đến nay, biểu hiện ra rất nổi bật.
ở đây, có thể giới thiệu với các bạn đọc một số ví dụ nổi tiếng. Hoặc bạn thông qua sự tích của họ có thể học được một ít mưu mẹo làm cho thông minh hơn!

1- Trong phạm vi cai quản của mình

Tháng 7 năm 1888, Wilhelm III kế ngôi, năm đó mới 29 tuổi.
Trước đó, ông rất kính trọng lão thần Bismarck, chính mấy tuần trước khi ông lên ngôi, ông còn dự bữa tiệc sinh nhật của Bismarck 73 tuổi, và trong lời chúc rượu khen ngợi nói: " Bismarck là người cầm cờ mà 46 triệu trái tim trung thành của nước Đức đang hướng về". "Thủ tướng cần phải lãnh đạo chúng ta, chúng ta sẽ đi theo ông". Nhưng Wilhelm II lên ngôi mới được 1 tháng, đã nói với mọi người xung quanh: "Ta giành cho cụ già đó 6 tháng thở hơi, sau đó tự ta chấp chính".
Bismarck không muốn rút lui khỏi vũ đài chính trị, tháng 3 năm 1890 ông tuyên bố lại pháp lệnh của Nội các Preussen (Phổ) năm 1852, quy định vua và quan viên liên bang đi lại phải thông qua Thủ tướng. Ông còn tự ý tiếp kiến lãnh tụ Đảng trung ương. Wlhelm II hết sức bực mình.
Tối 14 tháng 3, Hoàng đế sai người mang đến đưa cho Bismarck một thư tay, thông báo cho ông biết sáng hôm sau Hoàng đế sẽ đến chỗ Thủ tướng cùng bàn việc với ông. Khi thư tay đưa đến, Bismarck đã đi ngủ.
Cho nên, sáng sớm hôm sau khi Hoàng đế đến phủ Thủ tướng, ông vẫn còn đang nằm trong mơ. Ông vội vàng dậy mặc quần áo, lúng ta lúng túng. Lời trách hỏi của Hoàng đế đối với ông tuôn ra súng liên thanh không ngớt, cuối cùng đòi ông phải thu hồi pháp lệnh của Nội các năm 1852.

Ngày 17 tháng 3, Wilhelm II sai người chuyển lời cho Bismarck, hoặc là thu hồi pháp lệnh của Nội các, hoặc là đưa ra đơn xin từ chức. Đến tối không thấy có hồi âm, Hoàng đế lại nhờ người đi hỏi, vì sao đơn xin từ chức vẫn không đưa vào cung?

Cuối cùng ngày 18 tháng 3, Bismarck đã đưa đến Hoàng đế đơn xin từ chức chính thức. Wilhelm II cuối cùng đã vứt bỏ Bismarck.
Từ đó, ông đã sửa đổi chính sách của Bismarck chỉ chú trọng tranh bá ở đại lục châu Âu, sang chú trọng "chính sách thế giới", muốn xây dựng nước Đức thành "đế quốc thế giới", tích cực lao vào tranh đoạt phân chia lại thế giới.

Để xây dựng nước Đức thành một cường quốc công nghiệp và quân sự, ra sức mở rộng ra nước ngoài, ông ráo riết mở rộng hải quân, chỉ trong vòng vài năm đã trở thành cường quốc hải quân thứ hai chỉ đứng sau nước Anh, làm tốt việc chuẩn bị phát động đại chiến thế giới.

2- Quan tâm đến người cấp dưới

Trong lịch sử, nhiều nguyên thủ quốc gia có thể đem hành vi chính trị của mình tách riêng hẳn với hành vi đời sống hàng ngày một cách đúng đẵn, hhọ giỏi diễn xuất thân phận nguyên thủ trên vũ đài chính trị, cũng giỏi xuất hiện với thân phận của người bình thường trong cuộc sống, từ đó giành được khuất phục, ủng hộ và yêu mến của những người bên dưới.
Sa hoàng Nga Petros I trong xử lý vấn đề chính trị là cay nghiệt khắt khe; khi xét hhỏi và phán quyết phạm nhân, Petros I khiến chho thủ đô của nước Nga bao phủ trong mưa máu của việc giết hàng loạt trong cả thời kỳ dài, nhưng Petros I trong cuộc sống đời thường lại thường biểu hiện ra một tính cách rất gần với người thường.

Khi vợ của một người bạn của Petros I mất, Petros I đã viết thư cho người bạn này, khuyên ông ta bớt buồn, giữ gìn sức khỏe.

Khi mẹ của một người bạn khác mất, Petros I trong thư nói: "Nghe nói ông vì mẹ mất nên rất đau buồn. Vì Thượng đế, xin ông hãy bớt buồn chú ý giữ gìn sức khỏe, bởi vì ông đã có tuổi rồi, hơn nữa từ lâu đã có bệnh".
Petros I hết sức quan tâm đối với nhiều đại thần, quan viên và bạn bè của ông, có khi ông tỏ ra không yên tâm vì bệnh tình của một số người, có khi dặn dò ngự y cung đình chữa bệnh cho con trai của một người nào đó, có khi bày tỏ lời an ủi đối với quả phụ của một người nào đó.

3- Ngồi không ngư ông đắc lợi

Trong Đại chiến thế giới lần thứ I, hai tập đoàn quân sự lớn ở châu Âu - các nước hiệp ước và các nước đồng minh, trong chiến tranh hai bên đều phải trả giá rất nặng nề. Còn nước Mỹ ở bên bờ kia Đại Tây dương thì ngồi vững chắc trên đài câu cá.

Từ lúc mở đầu cuộc đại chiến, nước Mỹ đã tuyên bố trung lập, tổng thống Wilson cho rằng, bất cứ một bên giao chiến nào giành được toàn thắng đều là không lợi đối với nước Mỹ, nước Mỹ thà bằng lòng để cho châu Âu phân chia thành hai tập đoàn không đội trời chung.
"Nếu như phía các nước hiệp ước thắng, có nghĩa là phần lớn lục địa châu Âu là nước Nga thống trị, còn nước Đức thắng cuối cùng sẽ trở thành tai họa của chúng tôi".

Điều diệu kỳ nhất là dưới danh nghĩa "trung lập", tiến hành mậu dịch với cả hai bên giao chiến, như thế, không những có thể kiếm được khoản lợi nhuận lớn, mà hai bên giao chiến bên nào cũng không có cách nào thắng triệt để đối phương.

Đợi lúc hai tập đoàn quân sự lớn châu Âu cả hai đều bại và tổn thương, sẽ là lúc nước Mỹ ngồi không ngư ông đắc lợi.
Đến năm 1917, Wilson nhìn thấy nước Đức sắp sửa không chống nổi, liền đưa quân sang châu Âu, san xẻ thành quả thắng lợi.



4- Giương đông kích tây

Năm 1789, Napoléon xuất quân đi đánh Ai Cập. Ông ta lo lắng sẽ bị hạm đội của nước Anh chặn đánh tại Địa Trung Hải, bèn lợi dụng đủ mọi thủ đoạn tung ra tình báo giả, nói Hạm đội Địa Trung Hải của nước Pháp sẽ tiến vào Đại Tây dương, đổ bộ ở Ireland.

Năm 1787, đích thực có một cánh Hạm đội Pháp mưu toan tiến sang Ireland, khiến cho người Anh bị một trận hoảng sợ.

Lần này, Nelson vị chỉ huy hạm đội Hải quân Anh sợ Napoléon có thể lén đến sân sau của họ thật, liền vội vàng điều động hạm đội đến Gibraltar, chuẩn bị chặn đánh Hạm đội Pháp đi qua eo biển.
Chính lúc này, Napoléon thừa cơ xuất phát từ quân cảng Toulon đưa Hạm đội đến thẳng Ai Cập. Nelson phát hiện bị trúng kế, lập tức giương buồm đuổi thẳng theo, chưa phát hiện ra hình tung Hạm đội Pháp, lại đuổi đến thành Constaintine, đã đuổi hụt. Hạm đội Pháp đã đổ bộ thành công lên cảng Alexandria, Ai Cập tiến chiếm Ai Cập.

5- Tỏ ra giả để che thật

Ngày 9 tháng 11 năm 1799, Napoléon phát động chính biến tháng sương mù thành lập chính quyền chấp chính do Napoléon đứng đầu. Mùa xuân năm sau, quân đội các nước đồng minh chống Pháp của châu Âu, từ mấy hướng khác nhau tiến công vào nước Pháp.

Cánh đại quân 10 vạn của áo giáp sát biên giới Pháp đã tạo nên uy hiếp nghiêm trọng nhất đối với nước Pháp. Napoléon biết rất chắc rằng, dùng lực lượng của mình rất khó chống lại được Đồng minh chống Pháp, thế là ông ta đã đạo diễn một trò "giả ẩn thật".

Một mặt, Napoléon bí mật xây dựng nhanh chóng một quân đoàn dự bị có thực lực hùng hậu.

Mặt khác, ông ta cho bộ máy tuyên truyền hoạt động, thổi phồng mình đã tổ chức và xây dựng một đội quân dự bị lớn mạnh, bộ đội của ông sẽ lại tập kết tại một địa điểm nào đó, và quyết định vào ngày nào đó sẽ tự mình đến đó kiểm duyệt bộ đội.

Các nước đồng minh chống Pháp xôn xao cử hàng loạt gián điệp đến chỗ gọi là hiện trường duyệt binh để thu thập tình báo thực năng lực tác chiến của quân đội dự bị.
Kết quả họ nìn thấy là mấy đoàn tân binh vừa mới chiêu mộ về. Lưa thưa, trang phục không chỉnh tề, trang bị chẳng có gì, phần nhiều là những người già yếu bệnh tật.

Các nước đồng minh châu Âu cho rằng Napoléon đang hư trương thanh thế, tăng thhêm lòng dũng cảm cho nước Pháp, mục đích cuối cùng chẳng qua là mong cho quân nội áo nghe tin đã khiếp đảm, không dám tiến công vào đất nước Pháp.

Thế là quân áo liền chia quân đi xuống phía Nam, một cánh quân nhanh chóng bao vây và tấn công thành Genova lúc đó vẫn do nước Pháp khống chế, một cánh quân khác tích cực chuẩn bị tiến công vào đất nước Pháp.
Đúng lúc các tướng soái quân áo đang mang tham vọng của mình, Napoléon đột nhiên tự mình dẫn đầu mấy vạn đại quân dũng mãnh, đi vòn qua Thụy Sĩ, vượt qua hai đèo Saint Bernard lớn, nhỏ của dãy núi Alps, đột nhiên xuất hiện ở phía sau quân áo một cách bất ngờ, giống như quân từ trên trời xuống, quân áo đột ngột không kịp đề phòng, đã nhanh chóng tan rã. Napoléon nhân cơ hội tốt thừa thắng tiến lên, sát miền nam nước áo, buộc Hoàng đế áo phải ký hòa ước, chỉ một hành động đã đập tan Đồng minh chống Pháp.

6- Cơ động thần tốc

Goethe nói: "Napoléon một đời giống như một vị thần có bước chân lớn, đi từ chiếnn dịch này đến chiến dịch khác, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác". Hegel ca ngợi Napoléon là "thế giới linh hồn cưỡi trên lưng ngựa".
Napoléon cho rằng sự vận động chính xác và nhanh chóng của một đội quân lớn là thủ đoạn quan trọng xác định hình thế có lợi và bảo đảm chắc chắn lực lượng ưu thế của chiến dịch.
Những chiến dịch Napoléon chỉ huy, thường lấy ít thắng nhiều, một trong những nguyên nhân quan trọng của nó là nhanh chóng cơ động di chuyển quân đội. Napoléon có câu danh ngôn: "Hành quân chính là chiến tranh".
Chiến dịch Ulm năm 1805, Napoléon chính là đã dựa vào hành quân cơ động và thần tốc để giành thắng.
Trước lúc này, Napoléon đang đang ở doanh trại Boulogne (Bulônhhơ) tập kết đại quân chuẩn bị tiến công đất nước Anh.

Khi ông tin chắc rằng kế hoạch này không thể thực hiện, mà lại đang đối mặt với cục diện Liên quân chống Pháp trên đại lục đang tập kết, sắp tiến công vào ông, bèn thay đổi phương diện tác chiến, hạ lệnh cho 17 vạn đại quân dùng tốc độ hành quân nhanh chóng đúng hạn phải đến được vùng Reims (Rems).

Sau khi chiến đấu kết thúc, binh sĩ của Napoléon đồng thanh ca ngợi đối với thắng lợi của trận chiến đấu này: "Hoàng đế đã phát minh ra một phương pháp tác chiến mới, cái ông lợi dụng là đôi chân của chúng ta mà không phải là lưỡi lê của chúng ta".
Chiến dịch Marengo năm 1800, Napoléon dẫn đại quân vượt qua đường hẻm Saint Bernard hiểm yếu của dãy núi Alps, đột nhiên ở phía sau quân địch một cách bất ngờ, vừa mở đầu liền đã xác lập được ưu thế và quyền chủ động của chiến dịch.
Thống soái quân địch là Melaz cho rằng sự hiểm yếu của dãy núi Alps có thể tạo thành phòng tuyến thiên nhiên, Napoléon lại cho rằng,, chỉ cần chỗ sơn dương (dê rừng) có thể bước tới, thì quân đội sẽ có cách đi qua.
Napoléon cho rằng, muốn thực hiện cơ động nhanh chóng, quân đội phải có thể khắc phục được tất cả mọi khó khăn, mà yếu tố đầu tiên của binh sĩ là chịu đựng được mọi mệt mỏi và cực khổ một cách bền bỉ bất khuâts.

7- Đan xen và vu hồi

Napoléon nhấn mạnh rằng, tại địa điểm và thời gian tất yếu tập trung binh lực trong cùng một thời gian, cùng một địa điểm chiếm ưu thế hơn quân địch tiến hành chiến đấu, "phía quân đông ắt giành thắng". Giai đoạn I chiến dịch Italia, quân đội của Napoléon và Liên quân là 3 vạn đối địch 8 vạn; về tổng thể là ở thế kém.

Sau khi chiến tranh bắt đầu, Napoléon cầm quân thông qua đan xen và vu hồi, dùng hành động quân sự nhanh chóng và liên tục đã giáng những đòn liên tiếp cho quân địch, mỗi lần đều tạo nên ưu thế của phía mình và thế kém của phía địch.

Hành động quân sự xuất sắc của Napoléon giữa hai cánh quân địch lần lượt đang uy hiếp thủ đô Iurino và Milano của họ, gần như bắt quân địch mỗi bên phải tự rút để giữ thủ đô của mình, phân tách liên quân.
Tiếp đó, Napoléon liền tập trung binh lực chiếm ưu thế lần lượt tiến hành bao vây và tiêu diệt quân địch, do đó trong vòng một tháng, đã kết thúc một cách thắng lợi chiến dịch Italia thuộc giai đoạn I.

8- Tiến công giành thắng

Để tiêu diệt sinh lực của quân địch, giành được thắng lợi của chiến dịch và chiến đấu, Napoléon chủ yếu dùng phương thức chiến đấu chủ động mà kiên quyết để tiến công.
Engels cho rằng, giống như Alexandros, Hanibal và Caesar, Napoléon cũng là một thống soái đặc biệt thích tấn công.

Napoléon bản thân cũng cho rằng cách nghĩ của ông ta giống như Friedrich, một người luôn nên ra tay tấn công trước. Khi ông còn là một sĩ quan trẻ đã để lộ tài hoa ở chiến dịch Toulon (Tulông) đã nhận định phàm là những người ở lại trong chiến hào, nhất định có thể bị đánh bại. Ông coi đó là một điều công lý trong nghệ thuật chiến tranh.

Chúng ta hãy xem mấy chục chiến dịch Napoléon một đời chỉ huy, ngoài chiến dịch Leipzig năm 1813 là phòng ngự thuần túy ra, còn lại hầu như đều là đánh tấn công. Napoléon cho rằng, kiên quyết tấn công phải nên đánh nhanh thắng nhanh, vì thế cần phải có tinh thần dám mạo hiểm và quyết làm đến cùng. Chiến dịch Austerlitz lừng danh chính là một ví dụ điển hình.

Napoléon rất giỏi vận dụng đội quân dự bị. Ông đã chỉ ra rõ ràng rằng, toàn bộ nghệ thuật chiến tranh chính là sau phòng ngự hợp lý mà thận trọng lại tiếp theo nó là baừng sự tấn công chớp nhoáng và táo bạo.
Trong chiến dịch Toulon, sau hai ngày nã pháo dữ dội, quân đội của những người phái Cộng hòa mà Napoléon cũng ở trong đó mở đợt tấn công mãnh liệt vào căn cứ Toulon của những người phái Bảo hoàng chiếm giữ, qua chiến đấu ác liệt, những người phái Cộng hòa thấy sắp thất bại đến nơi. Trong giờ phút then chốt này, Napoléon đã dẫn đội quân dự bị lại xông lên, từ đó giành được thắng lợi.
Chiến dịch Ekmou năm 1809, đứng trước sự tấn công của hơn 6 vạn bộ đội chủ lực của quân áo đối với nước Pháp, Napoléon ra lệnh cho bộ đội của Nguyên soái Dawu dẫn đầu đang tích cực đã ngăn chặn thành công tấn công của quân địch, Napoléon đồng thời dẫn 4 vạn quân nhanh chóng kịp đến nơi đó, với sự phối hợp với Dawu đã phản công mạnh mẽ vào quân áo, do đó giành được toàn thắng.

9- Lợi dụng độ khác biệt tương phản

Trong cuộc vận động bầu cử năm 1840, người ứng cử Tổng thống của Đảng Whigs Mỹ (tiền thân của đảng Cộng hòa) là William Harrison. Để hạ thấp ông ta, một nhà báo của tờ báo Đảng Dân chủ chế giễu nói: "Cho ông ta một thùng rượu táo loại mạnh, phát cho ông ta mỗi năm 2000 USD tiền lương, tôi bảo đảm rằng, ông ta sẽ một đời ngồi bên cạnh chiếc lò sưởi trong ngôi nhà gỗ nhỏ của ông để học triết học đạo đức.

Để Đảng Whigs phản kích đối phương đã mất rất nhiều tâm sức mãi mới đưa ra được một "tương kế tựu kế". Trên tác phẩm của mình họ viết, in ra hình đầu của Harrison và một thùng rượu, một ngôi nhà gỗ nhỏ, có ý làm nổi bật Harrison là một người chất phác đơn thuần, một người bình thường ngồi trong một ngôi nhà gỗ nhỏ uống rượu táo loại mạnh. Đồng thời còn công kích người ứng cử của Đảng Dân chủ là Van Buren "kiểu quý tộc", nói ông ta uể oải ở trong phủ Tổng thống, dùng loại nước hoa cổ lỗ nhẹ nhàng lau các ngón tay, đang nhắp rượu sâm banh từ trong bộ làm lạnh bằng bạc giót vào trong chiếc ly trạm hoa nhập khẩu.

Kết quả là cuộc sống bình dân giản dị chất phác của Harrison vừa khéo hình thành sự đối chiếu rõ ràng dứt khoát với vẻ hào nhoáng bề ngoài xa xỉ đến tột độ của Van Buren, cuối cùng làm cho Đảng Whigs đã giành thắng của cuộc vận động tranh cử lần này.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
10- Lợi dụng chỗ trống

Ngày 4 tháng 3 năm 1841, Harrison tuyên thệ nhận chức Tổng thống Mỹ, vì tại lễ nhận chức bị cảm lạnh nên chuyển thành bệnh viêm phổi, nhận chức được một tháng sau thì tạ thế. Văn phòng Quốc vụ khanh thông báo cho Phó Tổng thống Tyler mời ông chấp hành chức vụ Tổng thống.
Lúc đó, hiến pháp của nước Mỹ chỉ quy định: "Nếu khi Tổng thống bị miễn chức, chết, từ chức hoặc mất năng lực điều hành quyền lực và trách nhiệm của Tổng thống, thì chức vụ Tổng thống nên do Phó Tổng thống chấp hành".

Còn về lúc đó Phó Tổng thống là chính thức kế nhiệm làm Tổng thống, hay là với thân phận Phó Tổng thống thực hành chức quyền của Tổng thống, hiến pháp thật ra chưa nói rõ ràng.

Tyler không biết là xuất phát từ cố ý hoặc vô ý, ông ta tuyên bố mình chính chức kế nhiệm Tổng thống Mỹ. Khi đó, dư luận Mỹ chỉ trích Tyler cố tình giải thích sai hiến Pháp.

Nhưng, do điều khoản có liên quan của hiến pháp mơ hồ, Quốc hội đối với Tyler tuyên bố kế nhiệm Tổng thống chưa đưa ra ý kiến khác nhau, thế là việc làm này của Tyler trở thành hành vi hợp pháp.

Về sau, nước Mỹ lại có 7 vị Tổng thống chết trong nhiệm kỳ, Phó Tổng thống đều lấy Tyler làm ví dụ kế nhiệm Tổng thống. Lệ này kéo dài suốt hơn 120 năm, mãi đến bản dự án sửa đổi hiến pháp năm 1967 điều khoản thứ 25 mới quy định rõ bằng lời văn: "Nếu khi Tổng thống miễn chức, qua đời hoặc từ chức, do Phó Tổng thống kế nhiệm Tổng thống".

11- Tỏ ra là người chất phác

Khi Lincoln và Douglass tranh cử Tổng thống, Douglass tỏ ra rất tin tưởng, tưởng như nhất thiên hạ. Ông ta đã thuê một con tàu hào nhoáng, và đặt một cỗ súng chào trên toa cuối cùng, đến mỗi ga thì bắn súng chào và cử nhạc.

Sau đó, ông ngồi trên chiếc xe 6 ngựa kéo đi đến trung tâm thành phố thị trấn phát biểu diễn thuyết. ở phía trước có những chàng trai vạm vỡ cưỡi tuấn mã mở đường, Douglass hò hét: "Tôi muốn Lincoln, người quê mùa này ngửi thử mùi quý tộc của tôi".

Lincoln không có tài riêng, ông mua vé ngồi tàu, đến mỗi ga, ngồi trên chiếc xe ngựa kéo dùng cày ruộng mượn từ các bạn.

Trong diễn thuyết, ông thường nói: "Thượng nghị sĩ Douglass là người nổi tiếng thế giới, là một nhân vật lớn, ông ta có tiền cũng có thế, có khuôn mặt tròn tròn, béo đẫy, đã từng giữ các chức quan về bưu điện, đất đai, nội các, ngoại giao v.v... Ngược lại, không có ai cho rằng tôi có thể làm Tổng thống. Có người viết thư cho tôi, hỏi tôi có bao nhiêu tài sản. Tôi chỉ có một người vợ và một đứa con trai, đều là của không đáng giá. Ngoài ra, còn thuê một gian văn phòng vừa cũ vừa nát, trong phòng chỉ có 1 chiếc bàn giá trị 2,50 USD; 3 chiếc ghế giá trị 1,00 USD. ở góc tường còn có một giá sách lớn, sách trên giá đáng được mỗi người đọc. Tôi, bản thân vừa nghèo lại vừa gầy, mặt rất dài, không thể béo đẫy, thực tế tôi chẳng có gì đáng dựa, duy nhất đáng dựa là các bạn".

Diễn thuyết của Lincoln giành được lòng của đông đảo dân chúng, hình tượng người vô sản của ông đã giành được đồng tình và ủng hộ của đông đảo cử tri.
Đối với người yếu, người ta đều sinh ra tâm lý bảo vệ, ủng hộ và yêu mến mạnh mẽ.

Lincoln dùng bộ mặt hoàn toàn mới cùng hít thở vận mệnh chung với dân chúng, tự nhiên chiếm được ưu thế tuyệt đối về đạo nghĩa so với Douglass sặc mùi quý tộc và hùng hổ hăm dọa người.
Cuối cùng, Lincoln tự xưng là khó mà làm được Tổng thống đã làm Tổng thống, còn Douglass mang niềm tin tất thắng, căn bản không thèm quan tâm đến Lincoln thì đã thua cuộc.

12- Đôla thay thế súng đạn

Tháng 11 năm 1908, William Horward Taft người thuộc Đảng Cộng hòa được bầu làm Tổng thống Mỹ thứ 27. Khi đó, các nước Anh, Đức, Pháp là ba nước chủ yếu xuất khẩu tiền vốn, những nước này có hàng loạt đầu tư ở nước ngoài thu được khoản lợi nhuận lớn. Nước Mỹ là nước đế quốc mới nổi dậy, bức thiết cần vốn xuất khẩu.

Do đó, năm 1912 Taft chính thức lấy "ngoại giao đồng đôla" làm chính sách bành trướng đối ngoại của ông. Taft giải thích nói, "ngoại giao đồng vàng" chính là "lấy đồng Đôla thay thế súng đạn", mở rộng thương vụ đối ngoại của Mỹ, Chính phủ Mỹ "Dốc toàn lực ủng hộ tất cả xí nghiệp hợp pháp và hữu ích của Mỹ kiều ở nước ngoài".
Ông còn tuyên bố, sự thâm nhập kinh tế của Mỹ là "một loại viện trợ đặc biệt và lực lượng ổn định" đối với các nước không phát triển.
Tư bản Mỹ vừa bắt đầu đã ùa vào châu Mỹ La tinh, đến năm 1913, tổng kim ngạch đầu tư ở đó của Mỹ đã đạt đến 12.000 tỷ USD.
Đến năm 1914, đầu tư của Mỹ ở Trung Quốc đạt đến 59029 triệu USD. Chính là dưới khẩu hiệu viện trợ này, Mỹ đã tăng cường khống chế đối với những nước này.

13- Lấy cúi lụy để cầu phát triển

Sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất kết thúc, nước Đức vì thua trận nên rơi vào cảnh khó mặc người xâu xé.
Tháng 6 năm 1920 Stresemann nhận nhiệm vụ trước nguy nan, đứng ra nhận chức Chủ tịch ủy ban Ngoại giao của Quốc hội, từ năm 1923 đến năm 1929 làm Bộ trưởng Ngoại giao, ở giữa chừng còn từng đảm nhiệm Thủ tướng. Đứng trước thời cuộc, ông tỉnh táo nhận thức được, nước Đức bị ràng buộc bởi "Hiệp ước Versailles" (Véc xây), không có khả năng dùng chính sách tranh giành cứng rắn đối với các nước thắng trận, trong mấy năm hoạt động ngoại giao dần dần hình thành mưu lược ngoại giao "dùng thế lực của một nước chống lại thế lực của một nước khác".
Phương châm cụ thể là, lợi dụng đầy đủ các mâu thuẫn giữa các cường quốc sau chiến tranh và giữa họ với Liên Xô, dùng cúi lụy để cầu phát triển, lấy thoái làm tiến, tìm được sự sinh tồn và phát triển trong việc cân bằng hai loại mâu thuẫn này, giành được lợi ích lớn nhất của nước Đức.
Khi đó Anh, Pháp đối lập gay gắt với Liên Xô là tình thế cơ bản của cách cục chính trị ở châu Âu, nước Đức quyết định lợi dụng mâu thuẫn này cắt đứt sự phụ thuộc đối với các cường quốc phương Tây.

Năm 1922 nước Đức ký kết với Liên Xô "Hiệp ước Rabaro với mục đích xây dựng quan hệ hữu nghị bình đẳng, năm 1925 ký kết với Liên Xô "Hiệp định mậu dịch", năm sau lại ký "Hiệp ước hữu nghị trung lập Đức Xô".
Anh và Pháp hết sức kinh sợ, phút chốc điều chỉnh chính sách đối với Đức, bức thiết hy vọng dùng cho địa vị bình đẳng làm cái mồi để lôi kéo nước Đức gia nhập Liên minh Quốc tế, ngăn chặn Đức Xô nhích gần nhau. Stresemann lấy việc hữu nghị với Liên Xô để làm Anh Pháp kinh sợ, vừa không ký kết liên minh với Liên Xô, cũng không làm đội đột kích của Pháp, việc mưu cầu là địa vị và lợi ích của mình.

Như thế, nước Đức không những gia nhập Liên minh Quốc tế, mà còn được hưởng địa vị nước thường trực Liên minh Quốc tế.

Stresemann còn lợi dụng sự bất đồng về chính sách đối với nước Đức của Anh Mỹ với Pháp, ép buộc Pháp tiếp nhận 'kế hoạch Daweis" lấy việc nâng đỡ nước Đức phục hưng kinh tế làm hạt nhân do Mỹ đề ra. Kinh tế nước Đức đã thực hiện cất cánh với tốc độ nhanh, đã đặt nền móng vững chắc trở thành cường quốc quân sự sau này.

14- Lợi dụng thu thập con tem

Trong các Tổng thống Mỹ, chỉ có Franklin D.Roorevelt (Tổng thống nhiệm kỳ thứ 32) thích chơi tem. Ông không những thích thu thập tem, mà còn đem việc thu thập tem làm thủ đoạn giành được nhiều phiếu bầu khi tranh cử Tổng thống.

Danh vọng của Roorevelt trong giới thu thập tem rất cao, do đó đã giành được một lượng lớn phiếu bầu của những người thích chơi tem. Tem của ông chủ yếu bắt nguồn từ Quốc vụ viện của nước Mỹ.
Trong nhiều năm, phòng thu phát của Quốc vụ viện Mỹ theo thường lệ đem những con tem dán trên phong bì thư phân phát cho con cái của các nhân viên công tác tại Quốc vụ viện, về sau Roorevelt ra lệnh, tất cả thư tín gửi cho Quốc vụ viện cần phải đưa đến văn phòng của ông trước, để ông chọn lựa, ông sẽ chỉnh lý và phân loại.

Một lần, khi bộ tham mưu của ông mô phỏng cách đánh phản kích của Mỹ đối với Nhật Bản, nêu lên địa điểm phản kích phải tại quần đảo Solomon, một viên sĩ quan quay mô hình Quả đất lớn đặt bên bàn làm việc của Roorevelt đến vị trí của quần đảo Solomon nói: "Thưa Tổng thống, tôi báo với Tổng thống biết quần đảo Solomon ở chỗ nào". "Không cần", Roorevelt trả lời. "Đừng quên tôi là một người thu thập tem".




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
15- Im hơi lặng tiếng

Tháng 5 năm 1940, Churchill ra nhận chức Thủ tướng nước Anh thời chiến, là một người phái cứng rắn nổi tiếng chủ trương chế tài Hitler xâm lược. Do sự dung túng và nhượng bộ của Thủ tướng Chamberlain, đầu sỏ phái mơn chớn đối với Hitler, đưa đến việc Hitler "được đàng chân lân đàng đầu", nước Pháp đã tan rã nhanh chóng.

Lúc này, dư luận xã hhội của nước Anh tán thành Churchill đứng ra lập Nội các, nhưng đảng viên đảng Bảo thủ không hoan nghênh Churchill, do vậy bản thhân Churchill không thể để lộ tài sắc sảo ra, không thể để lộ quá mức ý đồ ham muốn ngôi báu Thủ tướng của ông.
Churchill từng nhiều lần tuyên bố trước mọi người, trong thời kỳ chiến tranh ông muốn ra làm đại thần để phục vụ tổ quốc trong điều kiện bất kỳ ai đảm nhận thủ tướng.
Khi Thủ tướng Chamberlain trước các nhân vật tai to mặt lớn đảng Bảo thủ, trước lúc từ chức kiến nghị Halifax ra nhậm chức Thủ tướng mới, Churchill giữ im hơi lặng tiếng. Mà dư luận xã hội lúc đó yêu cầu mạnh mẽ Churchill ra nhậm chức Thủ tướng, Halifax biết rõ hướng của lòng dân, bày tỏ mình không thích hợp làm Thủ tướng. Quốc vương Anh buộc phải giao quyền cho Churchill tổ chức Chính phủ mới.

16- Ký kết hiến chương


Từ ngày 9 - 12 tháng 8 năm 1941, Tổng thống Mỹ Roorevelt và Thủ tướng Anh Churchill riêng biệt ngồi trên chiến hạm đã bí mật tiến hành gặp nhau bàn chiến sự lần thứ nhất trên mặt biển bán đảo Achixia thuộc Newfoundland.
Nước Mỹ lúc đó còn chưa chính thức cuốn vào chiến tranh, đang tiến hành đàm phán bí mật với Nhật Bản, thì chiến tranh Xô - Đức đã đánh được hơn 1 tháng, không ai biết được Liên Xô rút cuộc có thể giữ vững được bao lâu.
Trong tình huống này, hai bên Anh Mỹ đã ký kết "Hiến chương Đại Tây Dương nổi tiếng". Hiến chương này trình bày tôn chỉ hòa bình của hai nước, tuyên bố hai nước đều không có ý bành trướng lãnh thổ, tôn trọng quyền lợi của nhân dân các nước lựa chọn hình thức chính phủ của mình, và mong muốn nhìn thấy các dân tộc có chủ quyền và tự trị.
Khôi phục chủ quyền và tự trị của nó; hai nước hy vọng nhân dân các nước trên thế giới hữu nghị hợp tác, thực hiện tiêu chuẩn lao động và bảo đảm xã hội công bằng, được hưởng tự do, khỏi phải sợ hãi, khỏi phải thiếu thốn, và tự do vận chuyển trên biển, phản đối sử dụng vũ lực v.v...
Thoạt nhìn, hiến chương này hiện ra rất trừu tượng trống rỗng, có người đã bình luận như sau: "Hiến chương Đại Tây Dương" là một con voi to, nó giống như một cái cây, giống như một bức tường, một sợi thừng, cứ như nhìn người mù này đang sờ vào nơi nào trên mình nó".
Roorevelt lúc đó cần, chính là một thứ trơn nhẵn khó mà nắm được, về sau sẽ có thể căn cứ sự thay đổi của tình hình và nhu cầu lợi ích của nước Mỹ, làm cho những nguyên tắc này cụ thể hóa.

17- Lợi dụng cảnh tượng giả

Ngày 7 tháng 12 năm 1941, Nhật Bản bắt đầu tập kích bất thình lình Trân Châu Cảng (Pearl Harbar) giành được thành công chưa từng có, chỉ một hành động đã phá tan lực lượng hải quân của Mỹ trên Thái Bình dương.
Hành động quân sự quy mô lớn như thế của Nhật Bản rất khó tránh khỏi con mắt của cơ quan tình báo Mỹ. Nhưng hàng loạt động tác giả trước khi đánh của Nhật Bản cũng đích thực làm được việc không sơ hở chút nào.
Một năm trước khi chuẩn bị chiến tranh Nhật Bản đã tiến hành đàm phán với Mỹ, người Mỹ còn cho là thực sự Nhật Bản không dám đánh nước Mỹ.
Để tạo nên cảnh tượng giả hải quân Nhật Bản chưa dời hải phận Nhật Bản, Tư lệnh Hạm đội liên hợp Nhật Bản Yamamoto yêu cầu bộ phận tình báo bịa ra tình báo giả, tạo nên ấn tượng Nhật Bản trong thời kỳ sắp tới tiến hành chiến tranh với Liên Xô. Để làm được như thật sự có việc đó, Nhật Bản đã đem đội quân Quan Đông ở Đông bắc Trung Quốc tăng từ 11 sư đoàn lên đến 29 sư đoàn.
Trước sau ngày 15 tháng 11, khi chiến hạm chở máy bay dời căn cứ huấn luyện cùng với các chiến hạm đi theo chạy đến chỗ giấu tập kết, để làm cho sự thhay đổi này không gây nên sự chú ý của gián điệp phía địch, Yamamoto ra lệnh đưa mấy trăm chiếc máy bay tương tự vào đậu tại căn cứ huấn luyện, mà vẫn bình thường giữ thông tin vô tuyến tới tấp giữa bộ Tư lệnh Hạm đội liên hợp với các căn cứ huấn luyện.
Không những như thế, Yamamoto còn đặc biệt chú ý phái một chiếc tàu làm bia đến phía quần đảo Tây Nam, thhu phát điện báo giả mô phỏng hoạt động của binh lính Hàng không mẫu hạm. Lính hải quân ở lại trên biển của Nhật Bản và không quân cơ sở trên bờ của quần đảo Kyusyu cũng tiến hành hàng loạt thông tin vô tuyến giả, về tổng thể đã hình thành cảnh tượng giả Hạm đội Nhật Bản chưa dời lãnh hải Nhật Bản.
Mấy ngày trước sự kiện Trân Châu Cảng, Chính phủ Nhật Bản đặc biệt tổ chức mấy trăm học viên của trường Hải quân đổi đai mũ mang dòng chữ "Hải quân đế quốc Đại Nhật Bản" và đi dạo chơi các khu phố Tokyo.
Liền ba ngày, những học viên này được phép hoạt động tự do, còn các tòa báo nhân cơ hội đã phát đi không ít tin tức, ám chỉ các thủy binh này là thuộc binh lính chủ lực Hạm đội liên hợp Nhật Bản. Lúc đó, sĩ quan Hải quân Mỹ đóng ở Nhật Bản tin cho là thật, báo cáo với cấp trên nói, Nhật Bản trong thời kỳ sắp tới không thể có hành động tập kích, bởi vì trong thành phố Tokyo có hàng ngàn hàng vạn binh lính và sĩ quan Hải quân đang đi tìm thú vui.
Dưới sự che đậy của hàng loạt cảnh tượng giả, bộ đội tập kích Trân Châu cảng của Nhật Bản bắt đầu bí mật tập kết. Các chiến hạm dời khỏi cảng thời gian xen kẽ nhau, với đường chạy khác nhau, lặng lẽ chạy về đảo Takushukamaru vịnh Tankan ở phương Bắc hẻo lánh, giữa các chiến hạm thực hiện im lặng vô tuyến nghiêm ngặt.
Ngày 22 tháng 11 đã hoàn thành việc tập kết, ngày 26 tháng 11 trước tảng sáng theo giờ đã định tàu khởi hành. 7 giờ 40 phút ngày 7 tháng 12, lượt máy bay đầu tiên bắt đầu ném bom, quân Mỹ còn đang ngủ say, có sĩ quan trực ban còn cho là máy bay của mình đang tiến hành diễn tập, kết quả Hạm đội Thái Bình dương của Mỹ hầu như tất cả đề chìm nghỉm, Hải quân Nhật Bản phút chốc giành được quyền chủ động của chiến trường Thái Bình dương, làm cho nó có ưu thế của Hải quân đối với việc cướp đoạt châu á.

18- Lợi dụng mức độ nổi tiếng

De Graulle do kiên trì cuộc đấu tranh chống lại, sau khi chiến tranh chống phát xít thắng lợi đã được nhậm chức Chủ tịch Chính phủ lâm thời Pháp về sau lại được mời làm Thủ tướng và Tổng thống.
Eisenhower có thể thắng đối thủ tranh cử, ra nhậm chức Tổng thống nước Mỹ thuận lợi, một nhân tố quan trọng trong đó là trong thời kỳ Đại chiến thế giới lần thứ II, ông đã từng đảm nhận chức Tư lệnh tối cao Liên quân châu Âu, được một bộ phận tương đối đông xem là anh hùng chống phát xít.
Còn Peron của Achentina trong cuộc tổng tuyển cử toàn quốc, ông sở dĩ có thể hạ bệ nguyên Tổng thống Farayl do mình thay chân cũng là do khi ông làm Bộ trươngr bộ Lao động đã áp dụng lập trường chống Mỹ và đủ mọi biện pháp làm tăng phúc lợi lao động, từ đó giành được sự ủng hộ của công nhân và các tầng lớp xã hội.
Về sau, những người nắm quyền Chính phủ đem ông bỏ tù, dẫn đến công nhân đã tổ chức một lần biểu tình thị uy quy mô lớn, những người cầm quyền buộc phải tha ông.
Như vậy, làm cho danh vọng của Peron ở Achentina đã đạt đến trình độ chưa từng có, cuối cùng chỉ sau mấy tháng, nhân dân đã đẩy ông lên ngôi Tổng thống. Sanko Bufu Nhật Bản ra nhậm chức Thủ tướng là dựa vào thanh danh "liêm khiết" của ông trong dân chúng.
Lúc đó, chính quyền Tanaka Kadoei vì bị chỉ trích là chính quyền tiền bạc nên bị đổ, ý dân trong xã hội nghiêng về sự "liêm khiết" của Sanko Bufa, nên có ấn tượng tốt. Thế là, ông ta đã thuận lợi nhận quyền bính từ trong tay Tanaka Kadoei.

19- Cuộc tiến quân vào muối ăn

Gandhi được gọi là "Mahatma", trong cuộc đấu tranh lãnh đạo nhân dân ấn Độ thoát khỏi chủ nghĩa thực dân Anh, ông đã sáng tạo một phương thức đặc biệt, tức triển khai phong trào phi bạo lực bất hợp tác.
Gandhi cho rằng, ấn Độ phải độc lập, nhưng các cuộc đấu tranh vũ trang dân tộc từ trước đến nay lại bị trấn áp tàn khóc của Anh.
Do vậy, ông chủ trương cuộc đấu tranh chống Anh chỉ có thể dùng phươngn thức đấu tranh hòa bình. Gọi là "phi bạo lực" tức là không dùng chống lại bằng vũ lực. Nội dung "không hợp tác" bao gồm: Người ấn Độ từ chối công chức và tước vị của bọn thực dân Anh ban tặng, không tham gia bất cứ cuộc mít tinh nào của chính phủ thực dân. Không tiếp nhận giáo dục của nước Anh, dẫn các con cái từ các trường công lập về, tự lập ra các trường tư để thay thế. Không mua hàng của anh, tự mình dệt vải lụa, sử dụng vải trong nước. Người ấn Độ không gửi tiền vào "Ngân hàng Anh quốc" không mua công trái của nước Anh v.v...
Năm 1930, nhà đương cục thực dân Anh đã định ra "Luật chuyên doanh muối ăn", khống chế nghiêm ngặt việc sản xuất muối ăn, tùy tiện nâng cao giá muối ăn và thuế muối, gây nên bất mãn rất lớn của nhân dân ấn Độ.
Một hôm tháng 3 năm đó, Gandhi hơn 60 tuổi, mình để trần đã dẫn dắt các tín đồ "phong trào phi bạo lực, bất hợp tác" của ông, đến một "Tu đạo viên" thuộc thành Ahmadabad phía Tây Bắc ấn Độ, trước cửa viện nhìn về hướng biển lớn Tây Nam, giơ chiếc gậy trúc trong tay lên tuyên thệ: "Trừ phi nhà đương cục thực dân Anh sửa đổi Luật chuyên doanh muối ăn, ấn Độ giành được tự do, bằng không thì, chúng ta quyết không về nơi đây nữa!"
Họ suốt ngày đêm lặn lội đường xa, trải qua muôn vàn gian khổ, đi bộ đến bờ biển, dùng nước biển để nấu muối. Mỗi lúc đến một thôn trang, họ đều mở đại hội quần chúng, kêu gọi người dân trong thôn tham gia "phong trào phi bạo động bất hợp tác".
Các nhà báo các nước bám sát để phỏng vấn, đem các ảnh chụp và tin tức phát về các nơi trên thế giới. Gandhi đã đi bộ liền 24 ngày mới đến được thôn trang Dandi bên bờ biển. Lúc này, đội ngũ đi theo ông đã có hàng ngàn người. Ngay đêm hôm đó họ tuyệt thực để khấn cầu.
Trưa ngày hôm sauy, Gandhi liền dẫn nhiều tín đồ ra bờ biển tắm, sau đó bắt đầu dùng nước biển nấu muối. Họ không sợ gió thổi nắng thiêu, lưng mỏi chân đau, kiên trì suốt ba tuần lễ liền. Các tờ báo đã đưa tin rộng rãi cuộc "tiến quân vào muối ăn" của Gandhi, các miền duyên hải toàn ấn Độ cũng đều triển khai phong trào tự chế muối ăn.
Đồng thời với việc này, thành phố và nông thôn các nơi khắp cả nước tiến hành biểu tình thị uy, bãi công, bãi khóa, một cuộc đấu tranh chống Anh mang tính quần chúng trong toàn quốc bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Cuộc đấu tranh phi bạo lực, không hợp tác này của Gandhi, tuy gặp phải sự trấn áp của nhà đương cục thực dân Anh, nhưng cuộc đấu tranh nổ ra liên tiếp đã thức tỉnh dân chúng, cuộc đấu tranh quần chúng nổi lên mạnh mẽ cuối cùng đã buộc nhà đương cục thực dân Anh chuyển giao chính quyền một cách hòa bình vào tháng 6 năm 1947.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
20- Luật "chính phủ nhị nguyên"

Tháng 7 năm 1918, để duy trì sự thống trị thực dân đối với ấn Độ, Chính phủ Anh đã đưa ra quy định, ấn Độ ở thực hành "Chính phủ nhị nguyên" trong một số tỉnh, nghĩa là: trong cơ quan chính phủ địa phương, một số bộ ngành hành chính không quan trọng lắm như Y tế bảo vệ sức khỏe, Giáo dục quốc dân v.v... giao cho người ấn Độ Hội nghị lập pháp bầu ra đảm nhiệm Bộ trưởng, còn các bộ quan trọng như Cảnh sát, Tư pháp, Tài chính vẫn do Tổng đốc tỉnh bổ nhiệm người Anh làm Bộ trưởng, Hội nghị lập pháp các tỉnh thì hoàn toàn theo lệnh Tổng đốc tỉnh do người Anh đảm nhận.
Người Anh hy vọng dùng việc đó để lung lạc các nhân vật tầng lớp trên của ấn Độ, tạo nên một ấn tượng trả chính quyền cho ấn Độ, lấy việc đó để hòa hoãn mâu thuẫn với ấn Độ, làm yếu phong trào giải phóng dân tộc ngày càng cao trong đất nước ấn Độ.
Sự thật chứng tỏ, phương thức thống trị kiểu "nhị nguyên" này đích thực gây được tác dụng nhất định.

21- ít quản những việc không đâu vào đâu

Năm 1924, Coolidge là người ứng cử Tổng thống của Đảng Cộng hòa, trúng cử của ông là "Chính phủ ít quản những việc không đâu vào đâu là chính phủ tốt nhất", ông theo đuổi "chủ nghĩa chính phủ nhỏ", ông tán tụng chính phủ Liên bang phải "quản lý theo tự nhiên" (vô vi nhi trị), sự việc quản càng ít càng tốt. Nếu như việc không thể không quản được thì chỉ có thể thông qua pháp lệnh với số lượng cố gắng ít mà tính linh động cố gắng lớn nhất, dành cho việc phục vụ xã hội ở giới hạn thấp nhất.
Ông co rằng, nếu như đem quyền lực và sự nghiệp xã hội giao cho giới xí nghiệp nhiều hơn thì có thể "quốc thái dân an, thiên hạ thái bình".
Vì vậy, ông còn tán tụng thuyết "tự trị địa phương" và "cá nhân trên hết". Ông nói: "Một xã hội sẽ có thể gặp nguy hiểm càng lớn, nếu như nó không pải là đem càng nhiều quyền lực để lại cho xã hội (cơ sở), để cho họ gánh vác trách nhiệm giải quyết mọi vấn đề. Nếu như đem quyền lực giao cho chính phủ trung ương, có nhiều vấn đề là chính phủ trung ương có thể tìm hiểu đầy đủ và có thể gánh vác tiến hành xử lý một cách thoải mái.
Tập tục địa phương của nước Mỹ là mạnh mẽ như thế, chủng tộc và tín ngưỡng là phức tạp như thế, lực lượng của chính phủ Liên bang trên thực tế lại là mỏng manh như thế, biện pháp hữu hiệu có thể áp dụng là cực kỳ có hạn.
Do đó, cách làm sáng suốt nhất là gắng hết khả năng đem càng nhiều nhân lực, vật lực và tiền của lưu lại cho nhà đương cục địa phương, để họ gánh vác trách nhiệm để giải quyết vấn đề của mình.
Đối với các xí nghiệp lớn, ông nhấn mạnh buông tay không quản là "nguyên tắc cơ bản nhất", chính phủ Liên bang không nên dùng chính trị để tấn công kinh tế, nguy cơ kinh tế và tranh chấp thợ và chủ có thể do quy luật kinh tế và việc tự điều chỉnh của xí nghiệp giải quyết.
Ông bày tỏ chính phủ không nên đi phản đối mạnh mẽ các trust (tơ-rớt), bởi vì như thế sẽ trở thành một sự xâm phạm đối với tài sản cá nhân. Ông tán tụng chính phủ Mỹ cần phải bớt thu thuế và giảm bớt chi tiêu, để tránh tổn hại tài sản của cá nhân.
Trong nhiệm kỳ ông đã phê chuẩn một số pháp lệnh khuyến khích tư nhân đầu tư đối với công nghiệp mới, trong đó bao gồm giảm thuế suất thuế lợi tức. Trong thời kỳ Coolidge chấp chính, kinh tế nước Mỹ đã có phát triển nhanh chóng. Lịch sử gọi là sự "phồn vinh Coolidge".

22- Chí công vô tư

Người lập công dựng nước, Tổng thống nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ - nước Cộng hòa của giai cấp tư sản đầu tiên khu vực Trung Đông là Kemal được nhân dân Thổ Nhĩ kỳ tôn xưng là Quốc phụ (Atatiirk).
Ông được hưởng danh dự cao cả như thhế trong nhân dân cả nước là có liên quan chặt chẽ với việc ông không lấy quyền để mưu việc riêng, chí công vô tư.
Keaml chấp chính 15 năm, không hề để lại kỷ lục làm dụng quyền lực, làm theo cảm tình cá nhân trái pháp luật.
Ông rất chú ý những lời nói việc làm bó buộc người thân và nhân viên làm việc bên mình, rất khó chịu đối với ý đồ của vợ là Latifer can thiệp vào công việc chính trị của quốc gia, việc này đã trở thành nguyên nhân chủ yếu họ ly hôn nhau. Một thư ký làm việc bên cạnh ông cả thời gian dài vì nhận quà biếu bị cách chức.
Ông chén ghét việc a dua nịnh hót của những người xung quanh, có một lần khi đi thăm các địa phương, một vị Thị trưởng chỉ biết nịnh hót chiêu đãi ông, Kematl cuối cùng không chịu nổi liền lớn tiếng quở trách nói: "Hãy nhìn lên mặt Thánh Ala, ngồi xuống! Ông là một người đứng hầu, hay là Thị trưởng của thành phố này?"

23- Tôn trọng ý dân

Tổng thống nước Thổ Nhĩ Kỳ Kemal trong thời gian chấp chính, chỉ cần điều kiện sức khỏe cho phép, hàng năm đều phải tốn nhiều thời gian đi đến các nơi ở ngoài thị sát, tìm hiểu tình dân. Ông nhấn mạnh phải nói thật lòng, phải báo cáo điều vui lại phải báo cáo cả điều lo lắng.
Trong cuộc tuyển cử thị chính năm 1930, Đảng Phản đối, đảng Tự do từng giành được một vài thắng lợi, thành viên của họ ở địa phương cá biệt thậm chí được bầu làm Thị trưởng.
Không lâu đảng Tự do giải tán, đối với những người lấy thân phận đảng viên đảng Tự do trúng cử làm thế nào? Kemal khi thị sát tại một thành phố cảng ở Hắc Hải, Thị trưởng thành phố này vốn là người đảng Tự do không có mặt tại buổi đón tiếp.
Sau khi Kemal phát hiện ra liền cho mời ông ta đến, thẳng thắn và chân thành nói: "Ông là người nhân dân chọn bầu ra, cần phải tiếp tục làm tốt chức Thị trưởng của ông, không nên phụ lòng tín nhiệm của nhân dân!"




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
24- Lợi dụng phu nhân

Reorevelt trước khi nhậm chức Tổng thống, tháng 5 năm 1933 đã từng phát sinh một lần sự kiện 2,5 vạn quân nhân đưa thư thỉnh nguyện đòi cải thiện đãi ngộ sinh hoạt, Tổng thống đương thời Herbert C.Hoover đã phái quân đội đi trấn áp tàn khốc.
Sau khi Roosevelt chấp chính, Washington lại xuất hiện đoàn thỉnh nguyện của quân nhân giải ngũ, họ rêu rao không đạt được mục đích quyết không thôi, yêu cầu trả nợ máu.
Roosevelt phái trợ thủ của mình là Louis House cùng đi với phu nhân tổng thống là Eleanor đến thăm nơi trú quân của các quân nhân giải ngũ.
Eleanor một mình xuống xe, trong nước bùn đến mắt cá chân đi tới chỗ những người quân nhân giải ngũ. Các quân nhân giải ngũ rất cảm động, vội vàng cử hai người đến dìu Tổng thống phu nhân lại.
Eleanor lắng nghe yêu cầu của họ, thăm hỏi nỗi đau khổ của họ, còn cùng ca hát với họ. Một vấn đề vô cùng bó tay đã giải quyết một cách thuận lợi.
Roosevelt vừa thay đổi cách làm theo thói quen, đã cảm hóa quân nhân giải ngũ, làm cho sự kiện lặng hẳn xuống.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
25- Lợi dụng nhà báo

Năm 1933, Roosevelt nhậm chức Tổng thống Mỹ, ông lên nắm chính quyền vừa lúc gặp ngay nguy cơ kinh tế lớn của Mỹ, tâm trạng dân chúng ảm đạm cần phải an ủi và khích lệ.
Ông lợi dụng đầy đủ công cụ truyền bá, ngoài việc định kỳ thông qua phát thanh tiến hành buổi "Nói chuyện bên lò sưởi" chho mọi người cảm giác thân thiết, ông còn giữ quan hệ tốt với giới báo chí, tận mọi khả năng làm ảnh hưởng dư luận, để giới báo chí phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu chính trị của mình.
Trong buổi chiêu đãi các nhà báo, ông dùng cách nói đùa và gọi thẳng tên người và thái độ bình dị gần người, truyền cảm mạnh mẽ đến các nhà báo. Trong buổi chiêu đãi nhà báo thường phát ra những trận cười vang lên.
Roosevelt không những dành cho nhà báo thu tập tin tức thuận tiện, ông còn thông qua việc xây dựng quan hệ tốt với nhà báo, giành được sự đồng tình và ủng hộ của họ, từ đó thông qua nhà báo để giành dư luận tốt hơn, giành được lòng người ủng hộ và yêu mến chính phủ.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
26- Nói chuyện bên lò sưởi

Con đường hữu hiệu nối thông với nhân dân cả nước của Roosevelt khi đang trị vì chính là buổi phát thanh "Nói chuyện bên lò sưởi" của ông.
Tiết mục nói chuyện khác với bình thường này, trước tiên là do Giám đốc cơ quan đại diện của Công ty phát thanh Columbia tại Washington là Becher buột miệng nói ra.
Lúc đó, ba công ty Phát thanh lớn của nước Mỹ lắp đặt thiết bị bá âm ở ngay trước lò sưởi trên tường trong phòng tiếp đãi khách nước ngoài trong Nhà trắng, Roosevelt nói với các nhân viên làm việc ở các thiêt bị này, ông mong muốn nói thân thiết hơn một chút, sẽ giống như những chuyện thường trong nhà vf với hàng xóm. Trước khi truyền diễn thuyết đi cũng không cần xen vào phô trương kiểu cách. Becher liền nói, thế thì gọi là "nói chuyện bên lò sưởi" là được. Roosevelt gật đầu tỏ vẻ vừa ý, từ đó trở thành tên gọi chính thức.
"Nói chuyện bên lò sưởi" của Roosevelt khác thường, vừa không thuyết giáo nghiêm túc, cũng không có biện bạch nguây nguẩy, ông giống như ngồi kề nhau tâm sợ với bạn thân. Những lời nói năng có duyên dễ nhe đó của ông làm cho trong lòng người nghe dấy lên niềm tin, dần dần loại bỏ được tâm tư tình cảm cô độc, làm nguồn động viên tư tưởng hiệu quả rất tốt cho việc nước Mỹ tham chiến sau này.

27- Dùng nhân tài vượt khung

Trước Đại chiến thế iới lần thứ II, chế độ dùng người của quân đội Mỹ chú trọng lai lịch, hiện tượng căn cứ lai lịch xếp cấp bậc rất nghiêm trọng.
Lúc đó, tuổi trung bình của thượng úy đạt tới 43 tuổi, còn có trung úy 47 tuổi.
Do lai lịch là căn cứ duy nhất để thăng chức đã kìm nén hàng loạt sĩ quan trẻ có tài, khiến cho tinh thần bộ đội không phấn khởi. Đứng trước nguy cơ chiến tranh, chính phủ Mỹ quyết tâm cải cách chế độ thăng chức không hợp lý của quân đội, chỉnh đốn đội ngũ sĩ quan.
Tổng thống Roosevelt đã phá khung dùng Chuẩn tướng Lục quân Marschall có tinh thần cải cách đảm nhiệm Tổng tham mưu trưoửng quân đội Mỹ.
Việc đầu tiên sau khi Marshall lên nhậm chức là thực hành chế độ sĩ quan mới, áp dụng các biện pháp quyết đoán, loại bỏ chế độ cũ lấy lai lịch làm tiêu chuẩn dùng người. Thông qua chế độ dùng người mới, một lần đã phá khung đề bạt 4088 sĩ quan trẻ, trong đó có Eisenhower, Clark và Paton sau này trở thành những tướng lĩnh nổi tiếng.
Eisenhower chỉ trong thời gian 4 năm, đã từ một Thiếu tướng tham mưu, trở thành Thượng tướng 5 sao thuộc quân hàm cao nhất của quân Mỹ, thống soái 3 triệu quân Mỹ.
Paton là Tư lệnh quân Mỹ một mình đảm đương một chiến trường tác chiến tại châu Phi, làm cho quân Đức nghe tiếng đã khiếp đảm, cả đến danh tướng quân Đức là Rommel có tên gọi là "Con cáo sa mạc" cũng bị thua trận dưới tay của ông ta.
Chiến tích vẻ vang của những người này, đều phản ánh sự tài giỏi về việc dùng người của Marshall. Do chiến công nổi bật của Marshall, năm 1943 Quốc hội Mỹ dự định phong cho ông quân hàm cao nhất trước nay chưa từng có trong lịch sử nước Mỹ - Nguyên soái Lục quân, nhưng Marshall không đồng ý. Để tỏ lòng kính trọng đối với công lao và nhân cách của Marshall, từ đó quân Mỹ không đặt ra quân hàm Nguyên soái nữa.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
28- Trước lục địa, sau hải dương

Sau khi bọn phát xít Đức lên cầm quyền, đã định ra một kế hoạch xưng bá thế giới "Trước lục địa, sau hải dương" to lớn.
Nhưng nước Đức nằm trong bao vây của mấy nước lớn xung quanh, nó cần phải đánh phá từng mảng, tránh đi theo vết xe đổ của việc đánh trận tuyến phía Tây Đại chiến thế giới lần thứ I.
Hitler có khứu giác chính trị hết sức nhạy cảm đã xảo quyệt lợi dụng tâm lý sợ Cộng sản chống Liên Xô và mưu đồ dẫn tai họa về phía Đông của những người thống trị Anh, Pháp, vừa lên nắm quyền liền giương lên ngọn cờ "chống Cộng sản, chống Liên Xô" đã thành công thi thố trò lừa bịp "giương đông kích tây".
Hitler nói: "Tôi ắt phải cùng đọ sức với chủ nghĩa tư bản, mượn bóng ma của chủ nghĩa Bônsơvich để ngăn cản thế lực của hệ thống Versailles, làm cho họ tin rằng nước Đức đích thực là dinh lũy cuối cùng phòng ngừa "tai họa đỏ". Đây là biện pháp duy nhất vượt qua giai đoạn khẩn cấp, tiêu diệt hệ thống Versaille và chỉnh đốn lại quân bị".
Việc "giương đông" của Hitler là để che chở cho việc "kích tây".
Thực ra, sức chú ý chủ yếu của phát xít Đức trước tiên đặt tại Tây Âu. Nó chỉ có chiếm lĩnh được Tây Âu, dựa vào thực lực kinh tế, tài nguyên và địa vị chiến lược có lợi của Tây Âu mới có thể đặt nền móng cho việc bành trướng sang phía Đông và bành trướng ra hải ngoại.
Hitler mỗi khi áp dụng một biện pháp tăng cường quân bị chuẩn bị chiến tranh, mỗi khi xé đi một trang "Hòa ước Versaille" đều phải kêu to lên một hồi đối phó "uy hiếp của chủ nghĩa Bônsơvich", tìm mọi cách dẫn sự chú ý của các nước phương Tây ra khỏi bản thân mình. Trò hề này của Hitler rất "linh nghiệm" trong các nước phương Tây.
Họ xem bọn phát xít là lực lượng đột kích trấn áp cách mạng châu Âu và tấn công Liên Xô, không những khoan nhượng hành vi xâm lược của Hitler, mà còn không ngừng cho nước Đức vay tiền, vũ khí và tài nguyên, làm khao thưởng đối với việc chống Cộng sản của Hitler.
Biện pháp "dùng bánh bao nhân thịt đánh chó" của các nước phương Tây, làm cho bọn phát xít càng nuôi càng khỏe, cuối cùng, sau khi Hitler có "binh tinh lương đủ", trước tiên đã đánh thốc vào các nước phương Tây.

29- Khiêm tốn tiếp nhận can gián

Roosevelt là một nhà chính trị hiện thực sáng suốt, đối với những kiến nghị của người dưới quyền trình bày với ông, mặc dù mới đầu không lý giải, có bất đồng, nhưng chỉ cần phù hợp lợi ích quốc gia, có luận chứng khoa học, ông đều có thể tiếp nhận.
Ngày 1 hngs 9 năm 1939, Marshall nhận thức Tổng tham mưu trưởng Lục quân quân đội Mỹ, đứng trước sự ngạo mạn quá trớn của Hitler, Marshall cảm thấy sâu sắc sự bạc nhược của quân lực Mỹ. Ông đưa ra một kế hoạch tăng cường quân bị tốn gần 700 triệu USD, nhưng không được ủng hộ của mọi người.
Thế là, ông cùng với Bộ trưởng Tài chính Moganso đi đến Nhà trắng, thỉnh cầu Roosevelt được trao quyền cần thiết hoặc phê chuẩn đối với kế hoạch tăng cường quân bị này.
Tổng thống mới đầu cảm thấyy Marshhall có ý nghĩ viển vông, trong tình huống chủ nghĩa cô lập thịnh hành là mọi người ghét chiến tranh, tiến hành tăng cường quân bị, Quốc hội không thể phê chuẩn.
Marshall với lời lẽ bình tĩnh, đã trình bày tình hình quốc tế và thủ đoạn bảo vệ an toàn quốc gia của Mỹ không đủ. Ông nói đến chiến tranh châu Âu và sự uy hiếp của Nhật Bản.
Ông chỉ ra một cách rõ ràng và cụ thể tình trạng kém cỏi về các mặt binh lính, vũ khí, trang bị và tinh thần binh sĩ của quân đội Mỹ. Marshall càng nói càng kích động, hết sức khuyên Tổng thống có hành động ngay.
Cuối cùng ông nói: "Nếu như Tổng thống không lập tức hành động, tôi rất khó tưởng tượng, đất nước này sau này sẽ có thể gặp vận rủi ra sao".
Tổng thống gật gật đầu, tỏ ý cuộc gặp đến đây kết thúc, và nói: "Cám ơn ông, Tướng quân".
Khi Marshall bước ra khỏi cửa, Roosevelt lại cất cao giọng nói: "Đúng rồi, Tướng quân, ngày mai ông lại đến gặp tôi, đem tất cả những thứ ông cần ghi ra một tờ giấy cho tôi".
Hai ngày sau, Roosevelt đem kế hoạch của Marshall đệ trình lên Quốc hội, ông yêu cầu rút ra một khoản 900 triệu USD cho mục đích này.

30- Khoan dung đại lượng
Ngày 11 tháng 5 năm 1940, giữa lúc nước Pháp bị Hitler tập kích chớp nhoáng đến nước nguy, Liên quân Anh - Pháp luống cuống chạy tan tác, Churchill trong lâm nguy nhận lệnh tổ chức Nội các thời chiến. Trong 5 thành viên Bộ trưởng của Nội các thời chiến, có 2 vị là người thuộc Công đảng.
Giữa Công đảng và đảng Bảo thủ của Churchill luôn luôn đấu tranh kịch liệt, bản thân Churchill cũng rất phản đối những cương lĩnh chính sách có màu sắc chủ nghĩa xã hội nhất định của Công đảng, cộng thêm Công đảng lại là đối thủ chính trị của đảng Bảo thủ, do đó hai bên thường xuyên công kích trách cứ lẫn nhau trong Nghị viện.
Song kẻ thù lớn đang ở trước mắt, Churchill cảm thấy cần phải bỏ bớt mối hiềm nghi trước, tăng cường hợp tác với Công đảng, đặc biệt là sự hợp tác của Nội các 5 người thời chiến tốt hay xấu có quan hệ đến việc tồn vong của quốc gia.
Đúng như ông đã nói: "Nếu như chúng ta không thể đánh thắng cuộc chiến tranh này, người cần phải được đưa đến núi Tower (núi Tower là nơi nước Anh thời trung thế kỷ giam cầm các tù phạm xử tử" chém đầu, sẽ chỉ có thể là 5 người này".
Để đoàn kết chống kẻ thù, Churchill đã để cho lãnh tụ Công đảng Attlee đảm nhận chức Đại thần giữ ấn vua có trách nhiệm quan trọng trong Nội các thời chiến.
Ngoài ra, một đối thủ chính trị khác của đảng Bảo thủ, trong đảng Tự do cũng có một loạt người được vào trong Nội các. Đối với một số nhân vật quan trọng trong chính phủ trước của Đảng Bảo thủ, Churchill cũng không dựa vào ân oán cá nhân để quyết định thân sơ.
Trong chính giới và công chúng lúc đó, có rất nhiều người yêu cầu tiến hành trừng phạt đối với những người tiến hành chính sách thỏa hiẹep cầu an trong Nội các trước, những người này khi chấp chính cũng đã từng làm đối với bản thân Churchill.
Song, những việc Churchill sau khi lên nắm quyền nghĩ đến không phải là báo thù. Ông nói với mọi người: "Nếu như muốn lấy hiện tại xét xử quá khứ, thế thì sẽ có thể đánh mất tương lai".
Ông yêu cầu mọi người xuất phát từ cục diện lớn, tất cả phục tùng lợi ích của nước Anh, lấy lợi ích của cuộc đấu tranh chống phát xít làm trọng, đoàn kết tất cả mọi người có thể đoàn kết.
Có thể nói, nước Anh sau này có thể đứng được ở chỗ không bị thua trong cuộc đọ sức với Hitler, trên chừng mực rất lớn nên quy công chho Churchill, một người có lòng khoan dung đại lượng.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0

31- Khéo ví dụ

Cuối năm 1940, nước Anh anh dũng chống lại cuộc xâm lược của nước Đức phát xít, nước Mỹ đáp ứng cho nước Anh bằng viện trợ quân sự khổng lồ, nhưng lúc đó nước Anh đã không có khả năng tài chính "mua bằng tiền mặt".
Churchill lại một lần nữa gửi điện cho Roosevelt nhấn mạnh khó khăn kinh tế của nước Anh. Ông nói: "Tôi không tin rằng chính phủ Mỹ và nhân dân Mỹ cho rằng, đem súng đạn và hàng hóa hô khảng khái đáp ứng viện trợ chúng tôi chỉ hạn chế trong việc cần phaỉ thanh toán ngay mới có thhể cung cúng là phù hợp với nguyên tắc chỉ đạo hành động của họ..."
Chính là bức điện báo dài đến hàng vạn chữ này đưa đến chỗ Roosevelt hạ quyết tâm, sau khi thảo luận thương lượng thời gian dài với bộ Tài chính, Quốc vụ viên và các bên có liên quan của nước Mỹ mới đưa ra "pháp lệnh cho thuê" nổi tiếng.
Ngày 17 tháng 12 năm 1940, trong buổi chiêu đãi các nhà báo, Roosevelt dùng ví dụ thông tục để thuyết minh ý tưởng của ông. Ông nói: "Giá như hàng xóm của tôi cháy nhà, ở ngoài bốn năm trăm thước Anh (1 ft = 30,48cm) tôi có một đoạn dây ống nước tưới vườn hoa, nếu như để cho người hàng xóm lấy để nối vào vòi nước, tôi đã có thể giúp ông ta dập tắt lửa. Tôi làm như thế nào? Tôi luôn không thể trước khi cứu hỏa đã nói với anh ta: "Ông bạn này, cái ống này là tôi phải mua 15USD, ông phải trả tiền theo giá". Như thế tôi nên làm như thế nào đây? Tôi không cần 15USD, tôi cần ông ta sau khi dập tắt lửa trả lại tôi đoạn ống nước, chính là như thế. Nếu như lửa dập tắt, ống nước vẫn tốt, không hư hỏng, thế thì ông ta sẽ có thể cám ơn lia lịa, trả lại vật nguyên xi. Nhưng, giả thiết lắp ráp bị làm hỏng - làm một số lỗ, chúng ta cũng không cần nói khách sáo, sẽ nói với ông ta: "Tôi rất vui cung cấp cho ông đoạn ống nước này, bây giờ nó bị làm hỏng, không thể dùng lại". Ông ta nói: "Tất cả bao nhiêu thước Anh". Tôi nói với ông ta: "Một trăm năm mươi thước Anh". Ông ta nói: "Được, tôi sẽ theo đó để đền không sai chút nào". Bây giờ tôi cần về là một đoạn ống nước tưới vườn có thể dùng, tôi sẽ không bị thiệt".
Tiếp đó, Roosevelt nói quay về chuyện chính: "Nói cách khác, nếu như bạn mượn ra một lượng vũ khí nhất định, sau chiến tranh được trả lại, nếu như súng đạn hoàn hảo như trước, không có hư hỏng, bạn sẽ không thiệt; nếu như chúng bị hư hỏng, hoặc cũ kỹ, hoặc thẳng thắn là bị mất mát, chỉ cần người mượn nhận bồi thường, theo tôi xét thì bạn sẽ không thiệt.
Tiếp đó, Roosevelt nói quay về chuyện chính: "Nói cách khác, nếu như bạn mượn ra một lượng vũ khí nhất định, sau chiến tranh được trả lại, nếu như súng đạn hoàn hảo như trước, không có hư hỏng, bạn sẽ không thiệt; nếu như chúng bị hư hỏng, hoặc cũ kỹ, hoặc thẳng thắn là bị mất mát, chỉ cần người mượn nhận bồi thường, theo tôi xét thì bạn sẽ không thiệt".
Những lời nói rõ ràng dễ hiểu này của Roosevelt, làm cho mọi người ngồi xungn quanh kinh ngạc.
Ngày 8 tháng 3 năm 1941, Thượng viện với 60 phiếu/31 phiếu, Hạ viện với 317 phiếu/71 phiếu lần lượt thông qua "Pháp lệnh cho thuê". Churchill cuối cùng đã thở phào nhẹ nhõm.

32- Giáng trả khéo léo

Ngày 21 tháng 5 năm 1941, chiếc tàu vận tải Robin More của Mỹ trên đường đi từ Newyork đến Cape Town bị tàu ngầm Đức bắn chìm.
Sự kiện này xẩy ra không bao lâu, bộ trưởng Hải quân Mỹ Knox nhân cơ hội đưa ra chủ trương hải quân Mỹ hộ tống. Phái cô lập trong Quốc hội lập tức đưa ra phản ứng mạnh mẽ. Họ chỉ trích nói, hộ tống chính là tuyên chiến, sẽ dẫn đến chiến tranh toàn diện với nước Đức. Phái cô lập Fesch thậm chí muốn vạch tội Knox, hai bênn đấu tranh rất kịch liệt.
Đúng lúc hai bên đang đấu tranh giằng co, ngày 4 tháng 9 năm 1941, tàu ngầm Đức bắn chìm tàu khu trúc Green của nước Anh, Roosevelt cho rằng đây là thời cơ tốt giáng trả phái cô lập.
Ngày thứ hai sau khi sự kiện xẩy ra, Roosevelt tiến hành một cuộc họp báo. Ông nói: "Nếu như không để ý tới lần tấn công này thì giống như một người làm cha, con cái của ông ta trên đường đi học bị bọn côn đồ nấp trong lùm cây bắn, mặc dù không bắn trúng, ông ta lại không thể không nghe không hỏi được, ông ta cần phải đi tìm kiếm trong các lùm cây này, tóm bắt những tên côn đồ này, tiêu diệt chúng".
Ngày 11 tháng 9, Roosevelt ra lệnh cho quân hạm Mỹ "hễ nhìn thấy là đánh" đối với quân hạm của Đức. Ông lại dùng ví dụ nói: "Khi rắn đuôi kêu làm ra bộ muốn cắn bạn, thì không thể đợi nó cắn rồi bạn mới giẫm chết nó".
Hai ngày sau, ông lại ra lệnh tiến hành hộ tống toàn diện đối với tàu thuyền Mỹ trên tuyến hàng hải từ Bắc Mỹ đến Iceland.

33- Sút cú bóng cuối cùng

Trong Đại chiến thế giới II, Tổng thống Roosevelt đã định ra cho nước Mỹ một nguyên tắc chiến lược: Để cho Liên Xô và nước Anh kéo chặt Hitler ở châu Âu, để cho Trung Quốc kéo chặt Nhật Bản ở châu á, khi hai bên đều sức cùng lực kiệt, nước Mỹ sẽ bước vào cuộc.
Tháng 1 năm 1943 trong lúc nói chuyện với con trai ông, Roosevelt đã đem ý đồ của nước Mỹ bày tỏ ra rất rõ ràng. Ông nói: "Trước mắt chúng ta biết được chỉ có hai điểm, người Trung Quốc đang giết người Nhật Bản còn người Nga đang giết người Đức. Việc trang bị và năng lực của Hải Lục quân của chúng ta còn chưa đầy đủ và trước khi giúp đỡ họ, chúng ta cần phải làm cho họ có thể tiếp tục nhiệm vụ trước mắt này. Cho nên, ta có thể tìm cách tặng cho họ số vật chất gấp hàng trăm hàng ngàn lần trước kia họ nhận được từ chúng ta... Con có thể xem nó (chiến tranh) là một trận bóng đã kiểu Anh, chúng ta sẽ giống như đội dự bị, trước tiên hãy ngồi trên ghế xem người ta... Khi trận bóng tiến hành đến lúc đội viên tiên phong của chúng ta sắp mệt lử, chúng ta sẽ nên sút cú bóng cuối cùng, để quyết định thắng lợi toàn cuộc".




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
34- Người gần gũi không có nhu cầu

Roosevelt có cảm tình rất sâu sắc với Hopkins, trợ lý Tổng thống của ông. Hopkins là người tin cẩn của Roosevelt, người ta gọi là "Quốc vụ khanh siêu cấp". Ông ta thường đem sứ mệnh quan trọng của Roosevelt đi thăm Liên Xô và nước Anh, theo Roosevelt tham gia hội nghị quốc tế.
Mặc dù không có quan hàm chính thức, nhưng quyền thế của ông ta chỉ sau Roosevelt, trở thành nhân vật khét tiếng của Nhà trắng, ngay cả Stalin, Churchill đều tiếp đãi ông giống như đón nguyên thủ quốc gia.
Có người hỏi Roosevelt: "Vì sao Ngài cần để Hopkins gần gũi Ngài như thế?" Roosevelt trả lời nói: "Khi có ngày bạn trở thành Tổng thống Mỹ, bạn có thể hiểu rõ làm Tổng thống là một nghề cô độc biết mấy, hầu như mỗi một người bước vào cửa đều có yêu cầu đối với bạn.
Do vậy, bạn sẽ có thể cảm thấy, bạn là người cần đến một người như Hopkins bao nhiêu, ông ta ngoài việc hiến công hiến sức cho bạn, không có bất cứ nhu cầu nào khác".

35- Dùng người thích đáng

Hopkins là người tin cẩn, nhân vật hạt nhân nhóm chuyên gia cố vấn, nhân vật "Quốc vụ khanh siêu cấp". Ông thường mang theo sứ mệnh quan trọng của Roosevelt đi thăm Liên Xô và nước Anh, theo Roosevelt tham gia hội nghị quốc tế.
Ông mặc dù không có hàm quan chính thức, nhưng quyền thế của ông chỉ đứng sau Roosevelt, đây cũng là một đặc sắc lớn của Roosevelt dùng người.
Roosevelt muốn do mình trực tiếp nắm quyền ngoại giao, đã đem Hopkins và một số người lập thành một "bộ ngoại giao tư nhân", có thể triển khai hoạt động ngoại giao thỏa lòng vừa ý.
Ngày 22 tháng 6 năm 1941, nước Đức phát động tấn công bất ngờ đối với Liên Xô, Roosevelt có ý liên hợp Liên Xô và nước Anh chống phát xít, nhưng lại không biết Liên Xô có thể chống lại cuộc tấn công của bọn phát xít được hay không, phải chăng có thể như người Đức nói: Liên Xô giống như một cánh cửa vỡ, vừa đạp đã đổ.
Do đó, Roosevelt liền cử Hopkins bí mật đến Liên Xô, đưa cho "thượng phương bảo kiếm: Ông ta yêu cầu Stalin tín nhiệm Hopkins giống như tín nhiệm bản thân ông.
Hopkins lưu lại 3 ngày tại Liên Xô, hội kiến hai lần với Stalin, đã tiến hành hội đàm 7 tiếng đồng hồ. Khi bàn đến vấn đề cung ứng, Stalin nói rất cần pháo cao xạ, máy bay némm bom, xăng máy bay, nhất là rất cần nhôm chế tạo máy bay.
Việc đó khiến cho Hopkins cảm thấy được quyết tâm chống bọn Quốc xã của Stalin rất lớn, mà còn tràn ngập niềm tin. Ông báo cáo lại ngay với Roosevelt, đã nói ý kiến của mình, làm cho các nước phương Tây như Anh, Mỹ tăng cường mạnh mẽ lòng tin đối với Liên Xô, từ đó quyết định ra sức viện trợ Liên Xô.

36- Giữ một khoảng cách

De Gaulle cho rằng, làm một người nguyên thủ trong công tác và đời sống hàng ngày, cần phải giữ một khoảng cách nhất định với đồng nghiệp và cấp dưới của họ, làm cho những người đồng nghiệp và cấp dưới không có cách nào quen thuộc, gần gũi bản thân người nguyên thủ được, từ đó tự nhiên hình thành một hình tượng tâm lý nhân vật nguyên thủ cao hơn những người khác.
De Gaulle cho rằng, để làm được điều này, người nguyên thủ cần phải mang theo một cảm giác thần bí nào đó.
Ông nói: "Không có cảm giác thần bí thì không thể nói đến uy vong, bởi vì đối với một người quá quen thuộc thì không thể sinh ra sự tôn kính. Tất cả mọi tôn giáo đều có bàn thờ, còn bất cứ ai trong con mắt người phục vụ bên cạnh họ đều không phải là một anh hùng. Do vậy, bất kể là vận trù quy hoạch hay là cử chỉ và xử lý mọi việc, đều cần có một số cái khiến người khác suy đoán không ra, khiến họ cảm thấy mê hoặc, kích động và gây nên sự hiếu kỳ và chú ý của họ".
"Cảm giác thần bí" này của De Gaulle trên thực tế là ảnh hưởng còn rớt lại của phương pháp "thần thánh hóa nguyên thủ" và "sùng bái cá nhân" của rất nhiều nhân vật nguyên thủ đã từng dùng từ trước trong mấy ngàn năm trở lại đây.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
37- Thực hành thuật cân bằng

Metternich đã từng nhận chức Ngoại giao đại thần và Thủ tướng áo trong 40 năm là một Đại sư ngoại giao về thế thăng bằng nổi tiếng.
Ông dựa vào sức phán đoán nhạy bén và tài ngoại giao xuất chúng của mình, dùng thủ đoạn ngoại giao đa biến đã bắt nối khép léo giữa các nước lớn, chia rẽ lôi kéo, ra sức giữ "cân bằng thực lực" ở châu Âu, từ đó bảo vệ được lợi ích an toàn của nước áo.
Năm 1809, nước áo là nước thành viên chủ yếu của Liên minh chống Pháp bị nước Pháp đánh bại, phải cắt đất bồi thường, thậm chí có nguy cơ mất nước.
Metternich một mặt dùng biện pháp liên hôn Hoàng gia để điều hòa quan hệ với nước Pháp, ông tự mình chắp mối xe duyên cho cuộc hôn nhân của Marie Louise, công chúa nước áo với Napoléon, từ đó đã hòa hoãn được tình thế nguy cấp của quốc gia.
Mặt khác, ông lại ngầm liên hệ với nước Nga Sa hoàng, một nước lớn ở phương Đông. Ông nhìn thấy nước Pháp và nước Nga Sa hoàng có xung đột lợi hại, liền áp dụng thủ đoạn hai mặt thúc đẩy cuộc tranh đấu Pháp - Nga, một mặt nói dối tích cực ủng hộ nước Pháp, cử ra hơn 3 vạn quân áo; một mặt lại bí mật bảo đảm với nước Nga "cố gắng ủng hộ ít nhất cho nước Pháp, cố gắng tiến quân sang nước Nga ít nhất và phải cố hết khả năng tạo nên tổn hại ít nhất".
Như thế, nước áo lấy lòng cả hai bên, tránh được sự xâm hại đến từ hai bên Pháp và Nga.
Năm 1812, Napoléon đi đánh Nga bị thất bại, nước Pháp đã suy yếu ghê gớm. Trong sự so sánh mạnh yếu của lực lượng quốc tế mới, Metternich lại bày ra kế mới.
Metternich cho rằng nước Pháp đã ngã một keo không dậy được nữa, lại làm suy yếu nước Pháp sẽ có thể phá hoại cân bằng thực lực của đại lục và sẽ mở đường cho nước Nga xây dựng bá quyền.
Ông cho rằng thực lực của nước Pháp cần phải giữ trong giới hạn vừa có thể chống chọi được nước Nga lại không dẫn đến hình thành uy hiếp quá lớn đối với nước áo.
Để đạt được mục đích này lại không mắc lỗi với nước Anh và nước Nga, Metternich giả vờ nói là trung lập, đồng thời đi đến thỏa thuận mặc cả hậu trường với các nước Liên minh chống Pháp: do ông ta làm người điều đình giữa nước Pháp với Liên minh chống Pháp, tranh thủ đi đến thỏa hiệp; nếu như điều đình thất bại, nước áo sẽ gia nhập Liên minh chống Pháp lần thứ 6.
Ngày 22 tháng 6 năm 1813, Metternich đích thân đến Paris, hết sức khuyên Napoléon thỏa hiệp, nhưng không thành công.
Thế là, nước áo đã tham gia Lien minh chống Pháp, nhưng trong hàng loạt hành động quân sự về sau, nước áo thật ra không đưa ra được cống hiến quan trọng nào.
Sau khi nước Pháp chiến bại, lực lượng của nước Nga và Preussen (nước Phổ) bắt đầu bành trướng, Metternich lôi kéo Anh, Pháp ký kết Đồng minh bí mật ba nước vào tháng 1 năm 1815, Nga và Phổ không thể không có chỗ thu lại bớt. Nhưng liên hợp Anh, Pháp đối kháng với Nga, Phổ cũng chỉ là kẻ quyền biến của Metternich.
Tháng 9 năm 1815, phong trào dân tộc châu Âu lên cao, Metternich lại dựng lên "Liên minh thần thánh" với Nga và Phổ, cùng chung trấn áp bão táp cách mạng chống lại chuyên chế phong kiến châu Âu. Trong nội bộ Liên minh, Metternich lo lắng sự bành trướng thế lực của Nga, lại trước sau lôi kéo nước Anh và nước Pháp vào Đồng minh. Nước áo nhất thời đã trở thành trung tâm chính trị của xã hội châu Âu, dấn mình vào trong các nước mạnh châu Âu.

38- Biện chứng âm dương, dùng cả hai tay

Phép biện chứng là bản tính vốn có của văn minh Trung Hoa, nó cũng thể hiện trong việc quản lý quốc gia và quản lý nhân sự. "Kinh Dịch" đã tràn ngập tư tưởng biện chứng âm dương. Cho đến ngày nay đọc lại vẫn lóe lên ánh sáng của trí tuệ.
Phép biện chứng vận dụng vào trong các lĩnh vực khác nhau, mỗi lĩnh vực đều có hình thức biểu hiện khác nhau. Trị quốc (quản lý đất nước) thì văn võ dùng song song; trị dân thì khoan (khoan dung) mãnh (mạnh mẽ) giúp lẫn nhau; trị chính (chính sự) thì vương bá pha trộn, trị lễ thì cùng thi hành theo Nho Pháp, trị pháp (pháp chế) thì thưởng phạt cùng phối hợp; trị quân (quân đội) thì đều nêu cao cả đức và uy; trị địch (kẻ thù) thì thả bắt đều phải nghiên cứu; trị loạn thì nhúng vào nước sôi hoặc vỗ về an ủi đều dùng; trị đạo (trộm cướp), thì hình phạt và thủ đoạn đều có; trị sự (quản lý công việc) thì cương nhu đều giúp lẫn nhau.
Thuật cương nhu dùng trong ngoại giao biểu hiện là văn võ song song. Văn và võ vốn xưa nay là hai cột trụ lớn quản lý đất nước làm cho dân chúng có cuộc sống an định (trị quốc an bang), không thể thiếu một trong hai cái được.
Văn trị võ công (thành tích văn hóa giáo dục và thành tựu về quân sự) bổ xung lẫn nhau, võ công tách khỏi văn trị, dốc hết binh lực đi gây chiến, bên ngoài mạnh bên trong yếu, quốc gia tất nhiên khó mà củng cố và giữ được lâu bền; văn trị tách khỏi võ công, thể chất yếu đuổi, không chịu nổi một trận đánh, quốc gia sẽ mất bức thành che chắn.
Khổng Tử am hiểu sâu sắc lẽ đó. Trước giờ phút hội minh Tề Lỗ, ông đã nêu ra tư tưởng: "Người có văn sự tất phải có võ sẵn, người có võ sự tất phải có văn sẵn", chủ trương văn võ không thể tách rời nhau, đã phản ánh những nhận xét thâm thúy quan hệ biện chứng của Khổng Tử đối với "văn trị võ công".
"Sử ký. Khổng Tử thế gia tập 17" đã miêu tả Khổng Tử thành một người toàn tài "văn có thể trị quốc, võ có thể an bang". Trong cuộc hội ngộ Tề Lõ, Khổng Tử đã thi thố "văn tài võ lược", làm khuất phục nước Tề lớn mạnh, không những bảo vệ được vẻ tôn nghiêm của Lỗ hầu, còn buộc nước Tề phải trả lại phần lãnh thổ đã xâm chiếm, chỉ một hành động mà đã nâng cao được uy thế của nước Lỗ.
Trong thời gian Khổng Tử chấp chính nước Lỗ, nước Lỗ đang trong lúc nguy cơ dồn dập bốn bề rối ren. Khổng Tử văn võ dùng song song, một tay nắm lễ chế, khiến dân chúng chú trọng lễ nghĩa, biết liêm xỉ, duy trì và phát huy đạo trị quốc của Chu công; một tay nắm pháp chế, lập kỷ cương, giết Thiếu Chính Mão, làm cho nước Lỗ một thời xuất hiện hiện tượng lại nổi lên.
Trong vấn đề quan hệ văn và võ, lịch sử nhân loại đã trải qua một quá trình phát triển từ phân chia đến hợp lại rồi từ hợp lại đến phân chia. Xã hội loài người ở thời kỳ mông muội, văn và võ không tài nào có thể phân chia, thủ lĩnh bộ lạ cầm đầu dân chúng sản xuât, săn bắt, tác chiến, thông thường đều là lãnh tụ trí dũng song toàn của bộ lạc đó.
Cùng với loài người bước vào xã hội văn minh lấy chế độ tư hữu làm cơ sở, văn và võ dần dẫn phân ly. Quan văn không thạo võ, thậm chí coi thường võ; quan võ không thạo văn, thậm chí không biết một chữ, người toàn tài văn võ đều kiêm toàn thật sự, rất có học vấn và bản lĩnh thật là hiếm hoi.
"Trị quốc an bang" như thế nào, giữa văn và võ ai quan trọng nhất, thường là quan văn dựa vào văn, quan võ dựa vào võ, bên nào cũng cho mình hơn, khó mà kết luận được. Đến hiện nay, do văn hóa khoa học phát triển nhanh chóng, văn và võ có xu hướng hòa hợp thành một trở lại, trở thành một bộ phận tạo thành bộ máy nhà nước một cách hữu cơ. Xét về tố chất thành viên của bộ đội, có thể đem dũng, trí và học hòa thành một khối hay không đã trở thành tiêu chí quan trọng để cân nhắc chỉ huy các cấp có đạt tiêu chuẩn hay không.
Tóm lại, văn và võ là phân ly hay là hòa hợp, thường do thời đại khác nhau mà có khác, xét về nghĩa rộng đều là phép mầu làm cho nước giàu quân mạnh không thể tách rời trong chốc lát ddược. "Văn trị võ công" hai bên hợp với nhau càng tốt đẹp, là đặc điểm chung của thời kỳ toàn thịnh các thời đại. Hơn hai ngàn năm trước, tư tưởng văn võ không tách rời nhau mà Khổng Tử chủ trương, đến nay vẫn lóe lên ánh sáng chân lý.
Trước khi làm một việc, người ta luôn có thể hỏi: "Cần phải trước lễ sau binh".
Trên thực tế việc này là đang vận dụng phép biện chứng. Lễ là nhu, binh là cương, cương nhu giúp lẫn nhau, mới có thể làm thành sự việc.
Ví như bạn là một người lãnh đạo, nếu như bạn suốt ngày lầm lầm sắc mặt, nghiêm túc với cấp dưới, như thế thì cấp dưới của bạn rất có thể do sợ bạn, mà không dám tiếp cận bạn, có một số kiến nghị và ý kiến rất hay, đều không thể nói với bạn, làm cho bạn trở thành cô độc. Dù cho bạn tài năng rất lớn, cũng không thể sáng tạo ra được thành tích kỳ diệu.
Nhưng, nếu tương tự bạn là một lãnh đạo, bình dị gần gũi người quá mức, suốt ngày gặp ai đều cười ha ha, không có một chút uy nghiêm, như thế, bạn tương tự có thể cũng làm một việc không thành.
Bởi vì trong con mắt của cấp dưới, bạn không có một chút tôn nghiêm, mệnh lệnh và chỉ thị bạn ban ra xét theo cấp dưới sẽ giống như trò chơi trẻ con, không được họ coi trọng.
Học được phép biện chứng, mới có thể trở thành lãnh đạo theo ý nghĩa chân chính - tứ là người lãnh đạo như thế nhất định là phải ân uy đều dùng, cương nhu đều có.
Nên giết gà để dọa khỉ, cứ phải giết gà để cho khỉ xem; nên ba lần đến lều tranh thì ba lần phải đến lều tranh (ý nói đến cầu Gia Cát Lượng của Lưu Bị) - lãnh đạo chính là lãnh đạo.

39- Coi chừng cái chòng bày ra khéo léo

Khéo léo bày ra cái tròng, tức là khéo léo bày ra mưu kế, làm cho đối phương bị lừa mắc vào tròng, xem hiện tượng làm bản chất, tin cho là thật, sau đó khuất phục đối phương. Đây là một phương pháp ly gián. Phương pháp cụ thể khéo léo bày ra cái tròng cũng có rất nhiều.

Dưới đây nêu lên tóm tắt một số ví dụ trong lịch sử, cung cấp cho bạn đọc tham khảo.

1) Thuật lừa phỉnh

Cái gị là lừa phỉnh, tức là nhân lúc Quốc vương vui vẻ lừa phỉnh đối phương đi đến dâng lời can gián, làm cho Quốc vương chán ghét. Thế là liền thừa cơ hội hãm hại đối phương.
Cuối thời nhà Tần, Triệu Cao vì mình giết người quá nhiều, sợ Lý Tư vạch ra, liền dùng kế lừa phỉnh. Triệu Cao nói với Lý Tư: "Hiện nay vùng Quan Đông trộm cướp nổi lên, mà Thiên tử không cử quân đi dẹp. Ngược lại lại xây dựng mạnh mẽ cung A Phòng, Thừa tướng vì sao không dâng lên một lời khuyên gián?" Lý Tư nói: "Thiên tử không lên triều, ở trong cung kín, không gặp được Ngài".
Triệu Cao nói: "Không sao, đợi khi Thiên tử có dịp thuận tiện, tôi sẽ bảo ông". Đợi khi Tần Nhij thế vui vẻ, Triệu Cao liền sai người đến thông báo cho Lý Tư biết Thiên tử có dịp thuận tiện, Lý Tư liền vào cung dâng lời khuyên gián, mà còn lập đi lập lại như thế mãi. Tần Nhị thế rất bực mình, Triệu Cao liền thừa cơ hội nói bịa đặt cha con Lý Tư thông đồng với bọn cướp, Tần Nhị thế tin cho là thật, liền đem Lý Tư và cả gia tộc giết sạch.

2) Thuật dụ vạch tội

Cái gọi là dụ vạch tội, tức là trước được Quốc vương đồng ý, phá lệ cũ bãi bỏ một biện pháp lớn nào đó, dụ đối thủ chính trị đến can thiệp vào, từ đó để đổi lấy sự đồng tình của Quốc vương, đạt được mục đích công kích đối thủ chính trị.
Thời Hán Nguyên đế, Thạch Hiện để củng cố vị trí của mình, mật tấu riêng với Nguyên đế, kiến nghị để thuận tiện cho việc tâu trình nên mở cửa cung ban đêm, Nguyên đế ưng thuận.
Thạch Hiện mấy lần ra vào cửa cung về đêm khuya, liền có người nói với Nguyên đế, Nguyên đế lại chỉ đưa ra một cái cười. Thạch Hiện lại thừa cơ hội nói: "Bệ hạ sủng ái vi thần, quần thần đều rất ghen tỵ, giành mưu hãm hại, may nhờ Bệ hạ sáng suốt, không khiển trách nghiêm khắc. Từ nay về sau thần sẽ lui về chức cũ, để tránh có người nhìn lấm lét".
Nguyên đế nghe xong càng rủ lòng thương hại, nếu lại có tấu trình vạch tội Thạch Hiện, nhất luật không để ý nữa.

3) Thuật dụ gián

Dụ giám tức là đem gái đẹp tặng cho Quốc vương nước thù địch làm vui, khiến cho ông ta chểnh mảng chính sự, từ đó các trung thần của ông ta sẽ tất nhiên thấy lạ bỏ đi, đạt được mục đích làm tan rã đánh vào nước địch.
Tề hầu từ sau khi Khoái Giáp Cốc tạ thế, Yến Anh bị ốm chết, đang buồn trong triều thiếu người thì được biết Khổng Tử làm Tể tướng nước Lỗ, nước Lỗ hưng thịnh, cảm thấy lo lắng: "Nước Lỗ sau khi cường thịnh tất sẽ xưng bá chiếm đất, mà nước Tề lại là nước láng giềng của họ, họa binh đao e rằng phải làm hại đến nước Tề ta trước, làm thế nào bây giờ?"
Đại phu Lê Di liền hiến kế nói: "Thần nghe nói một nước sau khi quản lý yên ổn ắt sẽ sinh ra kiêu căng nhàn hạ. Xin đem những cô gái trang điểm lộng lẫy tặng cho Lỗ vương, sau khi Lỗ vương tiếp nhận nhất định sẽ chìm đắm trong nữ sắc, lười biếng công việc chính sự. Từ đó xa lánh Khổng Tử, Khổng Tử chịu không nổi, tất nhiên sẽ dời nước Lỗ đi sang nước khác. Nếu quả nhiên như thế thì chúa công sẽ có thể tha hồ kê cao gối mà nghỉ ngơi rồi". Tề hầu thực hiện kế của ông ta, Lỗ vương quả nhiên trúng kế, Khổng Tử dâng lời khuyên ngăn đều không nghe.
Khổng Tử không chịu nổi, buồn rầu thở dài, liền thay đổi trang phục xa dời nước Lỗ. Tử Lộ và Nhiễm Hữu cũng bỏ quan cùng đi theo Khổng Tử. Từ đó về sau, nước Lỗ bèn lại suy sụp.

4) Thuật dụ xem xét

Dụ xem xét tức là biết nội tình của đối phương, nhưng lại không nói rõ ra, dụ làm cho người cầm quyền tự mình đi xem xét để biết, từ đó dẫn đến nghi ngờ. Khiến cho người cầm quyền không dùng đối phhương, thậm chí làm hại thêm đối phương.
Thời Tống Nhân tông, Vương Tăng và Lã Di Giản làm Tể tướng, Thịnh Độ và Tống Thụ, Thái Tề cùng tham tri chính sự, ở đây Vương Tăng có quan hệ tốt với Thái Tề, Lã Di Giản có quan hệ tốt với Tống Thụ, duy nhất có Thịnh Độ là không được hai Tể tướng sủng ái.
Một hôm, hai ông Vương Tăng và Lã Di Giản đồng thời muốn từ chức Tể tướng, Nhân tông không biết rõ tình hình nội bộ, liền hỏi Thịnh Độ, Thịnh Độ nói: "Người tâm phúc của hai người họ, kẻ hạ thần không rõ. Nhưng, xin bệ hạ cứ hỏi hai người họ, ai có thể thay thế thì có thể biết nội tình của họ". Nhân tông hỏi hai Tể tướng Vương và Lã, Vương Tăng tiến cử Thái Tề, Lã Di Giản tiến cử Tống Thụ.
Nhân tông liền đem bãi chức quan của cả bốn người này, duy nhất để lại Thịnh Độ và thăng chức cho ông lên Khu mật viện tri sự.

5) Thuật phán vấn

Phản vấn tức là cố ý ngược với ý họ mà hỏi đối phương, làm cho bộ mặt chân thực của họ hoàn toàn lộ ra, sau đó trừng trị họ.
Lưu Diệp giỏi ứng biến. Ngụy đế dự định tấn công nước Thục, triều thần trong ngoài đều nói không thể. Lưu Diệp khi cùng ở bên Hoàng đế thì nói có thể, nhưng khi cùng ở chỗ với triều thần thì lại nói không thể. Trung lãnh quân Dương Ký kiên quyết phản đối tấn công nước Thục, mỗi lần gặp Lưu Diệp, Lưu Diệp cũng nói không thể.
Không lâu, Dương Ký đi theo Hoàng đế vi hành tại đất Thiên Uyên, Hoàng đế lại nói đến việc tấn công nước Thục, Dương Ký vẫn phản đối. Hoàng đế không cho là đúng, nói: "Ông là một thư sinh, không hiểu việc dùng binh!" Dương Ký nói: "Bệ hạ nói rất đúng, nhưng bệ hạ đề bạt thần trên lục quân, thần có lời tâm sự không dám không nói ra. ý kiến của thần không thể dùng, nhưng Thị trung Lưu Diệp lại cũng thường nói không thể tấn công Thục".
Hoàng đế nói: "Nhưng ông ta lại nói với quả nhân có thể tấn công". Dương Ký kiến nghị tìm Lưu Diệp lại để hỏi, Lưu Diệp sau khi đến lại không nói một lời. Sau đó, Lưu Diệp một mình gặp Hoàng thượng nói: "Tấn công Thục là mưu lược lớn, sau khi thần biết thường lo lắng mình tiết lộ trong lúc ngủ say, làm sao dám nói với người khác! Kế dùng binh, quý là ở chỗ biết giả vờ, việc quân chưa làm không thể tiết lộ. Mà bệ hạ lại đem nó nói toạc ra hết, thần e rằng nước Thục đã biết".
Hoàng đế liền cám ơn Lưu Diệp, Lưu Diệp lại quở trách Dương Ký nói: "Người câu cá khi câu được con cá to, phải thả lỏng tay để cho con cá bơi lội tung tăng, sau đó mới có thể dần dần kiềm chế nó, bắt được nó. Mà cái uy của ông vua, đâu chỉ vì một con cá to. Ông là một người bầy tôi thẳng thắn, song phương pháp làm không thích đáng, không thể không suy nghĩ kỹ được!"
Dương Ký cũng cảm ơn Lưu Diệp. Đối với Lưu Diệp thường giữ đặc điểm hai đầu, đã từng có người nói với Hoàng đế Lưu Diệp đối với Hoàng thượng không tận trung, lời nói và hành động của ông ta chỉ là để lấy lòng Hoàng thượng, đồng thời hiến kế nói, nếu không tin, có thể dùng ý ngược lại nói chuyện trực tiếp với Lưu Diệp để thử xem. Hoàng đế dùng cách phản vấn để thử, quả nhiên thử ra sự xảo trá của Lưu Diệp, sau đó liền xa lánh Lưu Diệp. Lưu Diệp do vậy đã phát điên, suốt ngày buồn rầu mà chết.

6) Thuật bày tròng

Bày tròng tức là mượn một cảnh tượng làm cho đối phương biểu diễn hành vi không hợp lý nào đó, từ đó gây nên phẫn nộ của người thứ ba, đạt được mục tiêu làm hại thêm đối phương.
Thời nhà Thương, mẹ kế của Hiếu Kỷ có nhiều kế xảo quyệt, nhân lúc người chồng ngồi trên đài ngắm cảnh, đã hẹn con trai của vợ trước đi dạo chơi vườn hoa, bà ta liền giấu ong trong tay áo, gợi cho con trai của vợ trước đến kéo tay áo lên để bắt ong, lôi lôi kéo kéo.
Lúc này, bà ta liền cố ý làm ra bộ chân tay luống cuống, kinh sợ mãi không thôi, để cho người chồng ngồi trên đài từ xa xa nhìn thấy sinh ra hiểu lầm, cho là con trai đang đùa nghịch mẹ kế. Người chồng trong cơn tức giận không hỏi rõ đầu đuôi, đã đánh con trai thậm tệ, buộc con trai phải bỏ trốn đi nơi xa xôi.
Sủng phi của Hiến công nước Tấn thời Xuân Thu là Li Cơ hãm hại Thân Sinh cũng là dùng thủ đoạn naỳ.

7) Thuật xung kích

Xung kích tức là nhân lúc A đang dâm loạn trong phòng, dụ B đến chỗ A lấy đồ vật, do đó A hận B gây nên mâu thuẫn.
Hạ Kim Quế trong "Hồng Lâu mộng" nhân lúc Tiết Bàn câu kết với Bảo Thiềm trò chuyện, sai Hương Lăng đi vào trong phòng lấy chiếc khăn mặt, Hương Lăng vừa đi vào thì bắt gặp, không tránh kịp, thẹn chín cả mặt. Tiết Bàn và Bảo Thiềm đều cho là Hương Lăng cố ý phá quấy, liền cùng đuổi đánh Hương Lăng.

8) Thuật nghiệm chứng

Nghiệm chứng tức là cố ý biểu hiện ra một hành vi, để đối phương bắt được báo cáo cho người khác biết, đợi khi người được phái đến nghiệm chứng, lại khôi phục lại trạng thái bình thường, thuyết minh thật ra không có việc đó.
Thời Tam Quốc, Tào Tháo thường bị người chú xoi mói nên bị đánh bị chửi.
Một hôm, khi người chú đi đến chỗ ông, ông giả vờ bị ngất xỉu, người chú hoảng hốt lo sợ, chạy đi báo cho cha Tào Tháo biết. Nhưng đến khi cha Tào Tháo chạy vội đến, ông ta lại vui chơi như thường, không hề có một chút bệnh trạng nào. Người cha hỏi đây là duyên cớ làm sao. Tào Tháo liền nhân dịp tố khổ nói ông chú đã chia rẽ như thế nào, lâu nay bị đánh là đều do vu khống. Cha ông rất tin không nghi ngờ gì nữa, thế là bèn không tin những lời chú ông nói nữa.
...........
Cố nhiên, các mánh khóe không chỉ có ngần nấy loại, những mánh khóe nổi tiếng xưa nay có hàng ngàn hàng vạn, khi người ta vận dụng nó cũng phải phân biệt vận dụng dành cho theo từng người, từng nơi và từng lúc.
Vận dụng mưu kế một cách đúng chỗ, có thể làm cho cuộc sống của chúng ta trở nên phong phú, có thể làm cho sự nghiệp của chúng ta trở nên hưng vượng phát đạt.
- Chỉ cần là ở chỗ có thiện ý là được.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0






40- Nhắm vào chỗ lớn, làm nên việc lớn

Sự việc trên thế giới là phức tạp.
Muốn làm nên việc lớn, các biến số gặp phải sẽ càng nhiều. Nhiều sự việc đều có đặc điểm không thể ngờ tới, có chỗ mạo hiểm không thể tránh. Không dám mạo hiểm, mọi việc cần phải hoàn toàn không có sai sót mới làm, bảo hiểm như thế thì chắc chắn, nhưng cũng có thể đã để mất cơ hội, việc có thể thành, ngược lại có khả năng là những việc nhỏ.
Có câu nói là: "Nhát gan không thể làm tướng quân, sợ chết cũng phải gặp Diêm vương".

Những người làm nên việc, lập nên nghiệp, không thể không chú ý đến điều này. Hãy đem Gia Cát Lượng được mọi người tin phục nhất ra để xét, sẽ có những bài học đáng được tổng kết.

Gia Cát Lượng sau khi thu phục mạnh Hoạch củng cố miền Tây Nam, bèn theo phương châm chiến lược đã định trong kế sách Long Trung, bắt đầu lên phía Bắc đánh Trung Nguyên. Đại quân đi đến Miện Dương, thám mã về báo, Đô đốc quân Ngụy là Hạ Hầu Mậu "điều quân mã các lộ Quan Đông đến để chống địch".

Lúc này, danh tướng xuất thân từ nhà binh là Ngụy Diên nêu lên với Gia Cát Lượng một kiến nghị khiến người ta tỉnh ngộ:

"Hạ Hầu Mậu là công tử bột, nhu nhược vô mưu. Diên này muốn được 5 ngàn tinh binh, chọn đường ra Bao Trung, men theo phía Đông Tần lĩnh, thẳng khe Tý Ngọ lao lên phía Bắc. Không đầy mười ngày có thể đến được Tràng An. Hạ Hầu Mậu nếu nghe tin tôi đột nhiên đến, ắt sẽ bỏ thành nhằm về phía Hoành Môn, Để Các chạy trốn. Tôi sẽ từ phía Đông đánh vào, Thừa tướng có thể thúc đại quân từ đường Tà Cốc tiến lên: Làm như thế thì từ Hàm Dương về phía Tây, chỉ một trận là có thể định được".
Nhưng thật đáng tiếc, Gia Cát Lượng lại cho rằng chủ ý của Ngụy Diên "không phải là kế vẹn toàn", do đó đã cố chấp quyết định "từ Lũng Hữu chọn con đường lớn bằng phẳng, tiến quân đúng phép".

Lúc đó, quân Thục từ Hán Trung bắc tiến đến Trung Nguyên cần phải thông qua vài trăm dặm núi cao khe hiểm.

Vì điều kiện địa hình có hạn chế, chỉ có hai hướng có thể dùng để chọn: Một là ra Tần Lĩnh vào Quan Trung. Hướng này có ba đường tức là đường Tý Ngọ, đường Thảng Lạc và đường Bảo Tà. Ba đườn này đều là khe dài đường hiểm, mang lại rất nhiều khó khăn cho hành động quân sự, đặc biệt là hành động binh đoàn lớn. Nói một cách tương đối, đường Tý Ngọ nằm phía Đông dãy Tần Lĩnh cách Tràng An gần nhất. Căn cứ giới thiệu của "Binh yếu địa chí", phía nam khe gọi là Ngọ, phía bắc khe gọi là Tý, bắt đầu từ Thạch Tuyền về phía Bắc đến phía Nam Tràng An khoảng hơn một trăm dặm, chiều dài khe là 600 dặm.

Một hướng khác lại là từ hán Trung qua Bình Dương quan, Võ Hưng, Kỳ Sơn đến Thiên Thủy. Đường tuy xa, nhưng tương đối bằng phẳng.
Kiến nghị của Ngụy Diên, đối với các mặt như tình hình địch, đường xa, phương án tác chiến, diên biến chiến dịch, đều tiến hành phân tích tương đối sát hợp với thực tế, phải nói là tương đối có hiểu biết.

Giá như Gia Cát Lượng có thể tiếp nhận và lấy đó làm tư tưởng chỉ đạo quân sự cho việc tiến lên phía bắc tác chiến, có thể sẽ thực hiện được mục đích chiếm đoạt Tràng An và thu phục Tam Tần một cách nhanh chóng.

Tính đúng đắn của kiến nghị của Ngụy Diên, chủ yếu biểu hiện tại mấy mặt dưới đây.

Trước hết là tác chiến ở vùng núi rừng phải phần nhiều dùng kỳ binh (quân đánh úp), bao gồm hành động quân sự bât ngờ như tập kích đột ngột, phục kích đánh thắng bất ngờ về mặt chỉ huy quân sự là một quy tắc chung. Bất kể đồng bằng, miền núi hoặc sông ngòi, đầm hồ đều phải kiên trì dùng "kỳ binh" để giành thắng. Điều này tại vùng rừng núi lại càng quan trọng. Đó là do hạn chế của địa hình phức tạp, không lợi cho đại binh đoàn triển khai tác chiến chính quy, mà thích hợp nhất cho cánh quân nhỏ, lực lượng tác chiến đặc chủng hoạt động. Còn cần phải nhìn thấy, đối với người tấn công để xét, núi cao đèo dốc vừa là trở ngại ảnh hưởng hành động quân sự, lại là tấm màn chắn che giấu hành động quân sự. Những vị tướng thích đánh thắng bất ngờ, luôn thích dưới sự yểm hộ của bức màn chắn này xoáy vào chỗ sơ hở của địch, tạo nên sự chênh lệch thời gian và không gian khi đối phương tác chiến phòng thủ. Hán Trung và Tần Xuyên là do núi non trùng điệp của dải núi Tần Lĩnh ngăn cách, thích hợp cho "thủ" mà không thích hợp cho "công". Quân Thục muốn lên phía Bắc đến Tần Xuyên nếu không dùng tập kích bất ngờ thì khó mà thắng được. Ngụy Diên chính là căn cứ tình hình thực tế này nêu lên kiến nghị tập kích bất ngờ tự mình "dẫn 5000 tinh binh", "men theo phía Đông Tần Lĩnh, thẳng khe Tý Ngọ lao lên phía Bắc". Nhưng Gia Cát Lượng lại từ chối không tiếp nhận kiến nghị đúng đắn này, ngược lại lại dùng cách đi vòng quanh lớn, từ Hán Trung đi về phía Tây, ra Kỳ Sơn dẫn 10 vạn quân tiến hành "diễu hành vũ trang lớn" trong rừng rậm núi cao. Bày ra tư thế tác chiến chính quy này không những mục tiêu lớn, khó mà đạt được đánh bất ngờ, mà còn làm mệt mỏi quân tướng, tất nhiên tạo nên lực lượng hậu bị của mình không đủ.

Kiên nghị này của Ngụy Diên không chỉ là kế sách kỳ lạ, đồng thời còn là một mưu lược "kỳ chính" (đánh úp và chính quy, chính diện) đều dùng, cùng tỏa sáng. Trong binh pháp thời xưa, "kỳ" và "chính" là hai cách dùng binh trái ngược nhau nhưng hỗ trợ lẫn nhau, nếu như chỉ dùng một cách tất nhiên hình thành thế lẻ loi, cô đơn, chỉ có dùng cả hai cách song song mới có thể thu được hiệu quả hai bên phối hợp nhau càng tốt đẹp.

Tôn Tử nói: "Phàm chiến giả, dĩ chính hợp, dĩ kỳ thắng". Hợp nói ở đây là chỉ hội hợp, giao chiến. ý của câu này là: Phần nhiều dùng binh tác chiến, nói chung đều là dùng "chính binh" hợp chiến, dùng "kỳ binh" giành thắng.
Năm 718 trước công nguyên, nước Trịnh tấn công nước Vệ, nước Yên xuất quân cứu viện, chiến đấu với quân nước Trịnh tại Bắc Chế (nay nằm trong huyện Huỳnh tỉnh Hà Nam).

Quân Trịnh xếp sắp quân sĩ ở trước mặt quân Yên, ngoài ra dùng một bộ phận binh lực khác đánh úp sườn phía sau của nó. Khi quân Yên chỉ chú ý phòng bị phía trước, phía sau lưng lại bị tập kích bất ngờ của quân Trịnh, kết quả bị thua to.

Tương tự, trong kiến nghị của Ngụy Diên, một mặt nêu lên mình dẫn 5000 tinh binh từ khe Tú Ngọ đột kích quân Ngụy phòng ngự vùng trung tâm Tràng An, một mặt lại nhấn mạnh Thừa tướng có thể thúc đại quân từ đường Tà Cốc tiến lên", như thế sẽ hình thành thế tiến công "kỳ chính" phối hợp với nhau. Theo tư tưởng dùng binh của Tôn Tử về "kỳ chính", trong tình huống "kỳ chính" đều dùng song song với nhau, "chính binh" chủ yếu là thu hút kẻ địch biểu lộ ra trước địch, để che chở tính đột nhiên của hành động "kỳ binh" (quân đánh úp).

Gia Cát Lượng trong "đối sách Long Trung" đã nêu lên việc chiếm đoạt Tần Xuyên làm phương hướng chủ yếu xuất kích chiến lược, thống nhất Hoa Hạ, không chút ngi ngờ là kinh nghiệm lịch sử noi gương Lưu Bang đem binh ra Quan Trung tranh đoạt thiên hạ với Hạng Võ.

Lúc bấy giờ, Đại tướng của Lưu Bang là Hàn Tín dùng kế "công khai sửa chữa đường sàn, ngấm ngầm vượt Trần Thương", từ Hán Trung đánh vào Quan Trung, một trận đã bình định được Tam Tần. Mục đích của việc "công khai sửa chữa đường sàn, chính là ở chỗ tỏ rõ tình thế ra trước địch, thu hút sự chú ý của quân địch, cũng coi như là một loại dùng "chính".

còn khi kẻ địch tập trung chú ý vào con đường sàn cũ thông đến Quan Trung, thì Hàn Tín lại dẫn quân ngấm ngầm theo đường nhỏ vòng đến Trần Thương (nay là miền Đông huyện Bảo Kê tỉnh Thiểm Tây) gây nên cuộc tập kích bất ngờ, làm cho kẻ địch không kịp trở tay.

Cần phải thừa nhận, nếu không có việc "công khai sửa chữa đường sàn" là không thể giành được công lao "ngấm ngầm vượt qua Trần Thương". Ngụy Diên kiến nghị Gia Cát Lượng dẫn đại quân "từ Tà Cốc tiến ra", cũng là có ý thu hút sức chú ý của kẻ địch lại, để bảo đảm cho ông ta từ khe Tý Ngọ bất ngờ đánh ra giành thắng lợi.

Nhưng đáng tiếc là Gia Cát Lượng lại xem kiến nghị của Ngụy Diên là "kế nguy hiểm", kiên trì đem quân ra Kỳ Sơn, từ đó hình thành thế đánh về một phía.

Kiến nghị của Ngụy Diên, còn bao hàm quan hệ biện chứng kỳ với hiểm (bất ngờ với hiểm) và hiểm với di (hiểm và bình yên). Một bộ sử chiến tranh sinh động đã chứng tỏ, không có bất ngờ thì không nguy hiểm. Dùng binh bất ngờ bản thân đã mang ý nghĩa dám đảm nhận mạo hiểm, xông vào chỗ khó.

Song, phép biện chứng quân sự chính là như thế, chỗ cửa vào địa ngục cũng là cửa lớn đi tới thiên đường, trong nhiều trường hợp, những chỗ nguy hiểm kỳ thực cũng chính là chỗ không dự đoán của đối thủ, chính là "góc chết" của tư duy phán đoán của tướng lĩnh phía địch.

Do đó, từ ý nghĩa này để xét, trong nguy hiểm lớn nhất, thường thường bao hàm nhân tố an toàn và thành công nhiều nhất; người ta cho rằng thời gian, địa điểm không thể giành thắng thường là con đường bằng phẳng có thể đi tới thắng lợi.

Cái gọi là "trên chỗ vách đá cheo leo an toàn nhất" không phải là không có lý.

Bởi vì tại chỗ đối phương không ngờ đến rất có khả năng tránh được cạnh tranh, tránh được nguy hiểm.

Trong thương chiến hiện đại chúng ta nhìn thấy đã quá nhiều. Khổng Minh dùng binh luôn luôn cẩn thận, khi quyết định sách lược chỉ nhìn thấy mặt nguy hiểm của kiến nghị của Ngụy Diên, lại bỏ qua một mặt khác trong nguy hiểm có bình yên, trong nguy hại có lợi.

Do đó cũng nói rõ một đạo lý, tướng soái quá cẩn thận mặc dù mọi chỗ suy nghĩ rất chu đáo, nhưng thường vì không dám mạo hiểm cần thiết nên khó mà sáng tạo được công tích phi thường.

Gia Cát Lượng sáu lần ra Kỳ Sơn, mặc dù về chiến thuật giành được một số thắng lợi, nhưng do về tư tưởng chỉ đạo tác chiến chung áp dụng sách lược cẩn thận và bảo thủ, cho nên cuối cùng không giành được thành công lớn.

Ngoài ra, về tính đúng đắn của kiến nghị này của Ngụy Diên, vẫn có thể được phản chứng từ trong một đoạn lời của Tư Mã ý.

Theo trong "Tam Quốc diễn nghĩa" nói, về sau khi Tư Mã ý đem quân đến chống quân Thục, đã từng nói với tướng tiên phong Trương Cáp: "Gia Cát lượng xưa nay cẩn thận, không dám tạo nên hành động tồi. Nếu là ta dùng binh, trước hết từ khe Tý Ngọ tiến quân đánh giành Tràng An, thì sớm được nhiều thời gian. Ông ta không phải là vô mưu, nhưng sợ có sai sót không làm mạo hiểm".

Tác giả thông qua lời nói của Tư Mã ý, một lần nữa nói lên do Gia Cát Lượng quá cẩn thận, đã tạo nên thất sách về chỉ đạo quân Thục tác chiến.
Ngụy Diên kiến nghị từ đường Tý Ngọ xuất quân đánh úp thẳng chiếm Tràng An, trong lịch sử đích thực có việc đó.

Trong sách "Ngụy lược" nói: "Hạ Hầu Mậu là An tây tướng quân, trấn giữ Tràng An. Gia Cát Lượng bàn kế với các thuộc hạ tại Nam Trịnh, Ngụy Diên nói: "Nghe nói Hạ Hầu Mậu còn trẻ, là con rể chúa thượng (con rể của Tào Tháo), nhát gan mà vô mưu. Nay gia snhư Diên dẫn năm ngàn tinh binh, kèm lương năm ngàn, đi thẳng từ Bao Trung ra, men thheo phía Đông Tần Lĩnh, thẳng khe Tý Ngọ lên phía Bắc, không quá 10 ngày có thể đến Tràng An. Mậu nghe Diên đột nhiên đến, ắt sẽ lên thuyền chạy trốn. Trong Tràng An chỉ còn có Ngự sử và Kinh Triệu Thái thú. Lương hực của Hoành Môn, Để Các và dân sơ tản đầy đủ để ăn. So với việc tuỵ hợp ở phía Đông vẫn cần khoảng 20 ngày, còn Thừa tướng sẽ từ phía Tà Cốc đánh tới. Chắc chắn là đầy đủ mà lại đạt. Như vậy, thì chỉ một trận đã có thể bình định được cả vùng từ Hàm Dương về phía Tây". Gia Cát Lượng cho việc này có phần nguy hại, không bằng đi theo đường bằng phẳng, có thể lấy được Lũng Hữu, hoàn toàn đánh được mà lại không có gì lo lắng, cho nên không dùng kế của Diên". Có không ít nhà nghiên cứu lịch sử đều từ trong tác chiến Kỳ Sơn nhìn ra chỗ thiếu sót về cách dùng binh của Gia Cát lượng - Mặc dù ông là người "đa mưu túc trí", tài thao lược đầy người. Nhưng về chỉ đạo dùng binh thường vì tính cách cẩn thận nên kiên trì sách lược bảo thủ.

Đối với việc này lời bình luận của Trần Thọ trong "Tam quốc chí" càng là thành khẩn tha thiết: "(Lượng) là người chủ soái quân đội nhà Hán, nhưng dùng mưu bất nờ là không giỏi; xử lý việc liên quan đến con người giỏi về mưu lược dùng binh".

Tác giả của "Tam Quốc diễn nghĩa" mặc dù muốn đem Khổng Minh miêu tả thành người hoàn mỹ, đặc biệt là về trí mưu thao lược, hòng dựng Gia Cát Lượng thành hóa thân của trí tuệ, nhưng giống như một số sự thực lịch sử quan trọng Gia Cát Lượng sáu lần ra Kỳ Sơn không giành đưọc tiến thủ gì cả như thế, cũng không thể làm trái ngược được.

Do đó, Khổng Minh dưới ngòi bút của La Quán Trung cũng tất nhiên là một hình tượng nhân vật nói chung thì tốt chỉ có khuyết điểm nhỏ thôi (ngọc đẹp có vết).

Muốn thành sự đòi hỏi phải có đủ mọi tố chất, dám mạo hiểm là một trong những yếu tố ắt khống thể thiếu.


41- Giương cờ lớn, làm da hổ

"Kéo cờ lớn làm da hổ bao hàm ý mình hăm dọa người khác", câu nói này của Lỗ Tấn tiên sinh là mọi người đều biết ở đây của chúng ta cũng hầu như hoàn toàn thành lời có ý chê.

Thực ra, trong đấu tranh chính trị, trong đời sống xã hội, đây là một hiện tượng rất phổ biến, là thủ đoạn rất có hiệu quả. Đây cũng là vận dụng thuyết Tuân Tử gọi là "thiện giả vu vật dã".

Cái này cũng gọi là mượn danh giúp đỡ, tức là mạo danh dùng một loại cờ hiệu nào đó, để kêu gọi các lực lượng phản đối, khiến họ quy thuận về mình, từ đó tiến hành phân hóa và làm tan rã, đập tan từng bộ phận. Nhìn lại lịch sử kẻ âm mưu khi lòng người chưa theo, lực lượng chưa đủ, phần nhiều đều dùng cách này, mượn để làm mạnh mình, thực hiện âm mưu của mình.

1) Tôn vương

Thời Xuân Thu Chiến quốc, các chư hầu tranh bá, tranh chấp liên miên không ngừng, tai nạn chiến tranh dồn dập, nhân dân không được sống yên ổn.

Lúc đó, Chu Thiên tử quyền lực suy yếu không đủ sức thống trị, nhưng địa vị cao nhất của ông ta, thì ai cũng không dám công khai phản đối.
Không chỉ như vậy, một quốc quân mới lên ngôi, cũng phải được Chu Thiên tử thừa nhận. Tề Hoàn công dẫn đầu nêu lên khẩu hiệu "tôn vương".
Khẩu hiệu này và những hành động dưới khẩu hiệu này có tác dụng tích cực không nhỏ đối với nước Tèe thôn tính các nước nhỏ yếu và mở rộng lãnh thổ.

Lại như cuối thời Đông - Hán, các "quần hùng" đánh lẫn nhau, tai họa chiến tranh không ngừng diễn ra, đặc điểm nổi bật của nó là dùng Thiên tử làm chiêu bài, lấy danh nghĩa của Thiên tử, làm việc thực của mình, đem danh nghĩa của Thiên tử làm công cụ thực hiện mục đích của mình.
Đổng Trác sau khi vào Lạc Dương không lâu, liền phế bỏ Thiếu đế, bức ép Hán Hiến đế để ra lệnh cho các nước chư hầu. Bởi vì lấy danh nghĩa của Hán Hiến đế để ra lệnh, các nước chư hầu không dám không phục tùng.
Về sau, Tào Tháo lại lợi dụng tờ trình hữu danh vô thực này để ra lệnh cho các chư hầu, lịch sử gọi là ông ta "cưỡng ép Thiên tử để lệnh cho chư hầu". Ông lại thông qua thủ đoạn nhất định buộc Hán Hiến đế phong cho ông là Đại tướng quân, ngôi vị trên các đại thần, không những địa vị của mình cao hơn tất cả mọi quan lại, mà hành động của mình cũng danh chính ngôn thuận, các đại thần mặc dù trong lòng có chỗ không phục, nhưng về hành đồng lại không dám tự tiện làm bừa, đành phải nghe theo sự điều khiển của ông.
Như vậy, Tào Tháo liền chiếm được ưu thế rất lớn về chính trị. Việc này đã có tác dụng không thể xem thường đối với việc sau này nắm được quyền lớn và dựng lên nước Ngụy.

Xưa và nay cũng cùng một lý cả.
Tập đoàn Haile của Thanh Đảo, thời kỳ đầu cải cách mở cửa, thông qua một báo cáo khoa học nhận được từ trường Đại học Tế Nam được biết: Kỹ thuật tủ lạnh của Trung Quốc lạc hậu ít nhất 30 năm so với Mỹ, Pháp và Nhật Bản, mà họ chỉ dựa vào mấy nhà xưởng nhỏ lại dựng lên một sản nghiệp tủ lạnh. Đối với việc đó, nhiều người cho rằng làm như thế là hết sức mù quáng, một số cán bộ đối với việc này cũng mất lòng tin. Lại thêm có một số người nói: "Chúng tôi chính là đã dốc hết sức làm cả một đời, vẫn cách người ta một khoảng cách còn khá xa".
Lúc này, cấp trên cũng có người nêu lên: Xuống ngựa thôi, đem tiền vốn tập trung xây mấy lò nung gạch.

Nhưng Chủ tịch Hội đồng quản trị lại kinh qua phân tích cẩn thận chu đáo, cho rằng không những không thể xuống ngựa, mà còn phải trong thời gian ngắn nhất đuổi kịp trình độ tiên tiến thế giới.

Biện pháo mà họ áp dụng là: Hiện nay tôi không bằng anh, tôi bằng lòng làm đứa cháu, ngoan ngoãn vái lập trước cửa của anh, làm đồ đệ cho anh; một khi, đến một lúc tôi có năng lực vượt anh, thì lập tức xây dựng cái mới.

Họ chọn đúng con đường liên hợp với Tập đoàn Haile Đức. Trải qua 7 năm phấn đấu gian khổ, cuối cùng đã làm cho mình bắt đầu "đủ lông đủ cánh", sau đó tự mình lập công ty khác đã bước lên con đường chấn hưng xí nghiệp dân tộc Trung Quốc.

Trước mắt, Haile không những có khả năng sản xuất tủ điện lạnh bậc nhất thế giới, mà còn có thể sản xuất máy thu hình và máy vi tính, sản phẩm bán ra các nước trên thế giới, trở thành xí nghiệp hàng đầu của ngành điện khí Trung Quốc.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
2) Mượn danh nghĩa người khác

Trong đấu tranh, vay mượn một danh nghĩa nào đó, ra lệnh cho bốn phương, danh chính ngôn thuận, mượn danh nghĩa người khác để thực hành âm mưu của mình, từ đó đạt được mục đích của mình.
Thời Tây Hán, Giả Nghị, Tiều Thố và Chủ Phụ Yển chủ trương làm yếu quyền lực của các phiên trấn, Hán Cảnh đế đã nghe theo kiến nghị của họ, quả nhiên đã làm yếu một số quyền lực của phiên trấn chư hầu, các phiên trấn chư hầu bị làm yếu quyền lực này đều cảm thấy rất kinh động. Trong căm giận bất bình liền đem bực tức đổ lên đầu Tiều Thố.
Lúc đó, Ngô vương phát binh đi giết quan binh nhà Hán trước. Rất nhanh, sáu nước khác cũng tiếp tục cử binh tấn công nhà Hán. Bảy nước này cùng chung mưu phản đều tiến hành với danh nghĩa giết chêt Tiều Thố.
Ngô vương Lưu Tỵ gửi thư chho các nước chư hầu, tức đã mượn danh nghĩa đó.
Trong thư gửi cho Hán Hiến đế, ông viết: "ngày nay, Hán thất có một tên tặc thần, ông ta chính là Tiều Thố. Ông ta chẳng có công gì với thiên hạ, nhưng lại chiếm đoạt lãnh thổ của các nước chư hầu, và cử quan lại quản chế chư hầu, đây thật là điều sỉ nhục của các chư hầu. Đồng thời, Tiều Thố cũng không dùng lễ tiết của quân hầu để trọng thị những người ruột thịt họ Lưu, hoàn toàn dùng những kẻ gian trá, để tiện giết sạch công thần của các vị tiên đế ta, đây là uy hiếp lớn nhất đối với Hán thất ta. Hiện nay, bệ hạ ốm đau nhiều, không thể kiểm tra đối với những tình huống cụ thể này, cần phải cử quân đi trừng phạt Tiều Thố, bình định thiên hạ, xin Hoàng thượng hãy thẩm tra".
Khi Ngô Thừa tướng Viên ang đến, Hán Cảnh đế hỏi đến việc liên quân 7 nước, nhưng Viên Ang nói: "Thưa bệ hạ, xin hãy nghe thần nói, hai nước Ngô Sở đã từng cùng viết thư nói, tặc thần Tiều Thố của các chư hầu, do đó kích dậy phản loạn của các chư hầu. Họ sở dĩ cùng hò hét khẩu hiệu giết Tiều Thố, mục đích chỉ ở chỗ thu hồi đất cũ mà thôi. Theo ý thần, nên lập tức chém Tiều Thố, khôi phục quyền lực cần có của bảy nước, trả lại lãnh thổ vốn có của họ, như thế, thì có thể tránh đổ máu mà đạt được mục đích loại bỏ chiến tranh".
Hán Cảnh đế đã quả thật nghe theo kiến nghị của ông, giết chết Tiều Thố, lấy đó để tạ tội 7 nước.
Nhưng sau khi Tiều Thố bị giết, bảy nước không bãi binh, mà là từng bước ép chặt, có ý để thoán nghịch. Đến lúc này, Hán Cảnh đế mới biết đã mắc lừa, trong tình huống bất đắc dĩ, mới phái Chu á Phu dẫn binh đi đánh dẹp.
Trải qua thời gian dài đánh dẹp, liên quân bảy nước mới bị đánh bại, phản loạn mới bị dẹp xong. Nhưng Tiều Thố là người lo xa cho quốc gia, trái lại bị cướp đi tính mạng, thực tế khiến người ta bất bình. Đây cũng nói lên kế "mượn danh nghĩa người khác" là một kế có sức mạnh.
Nhà máy chế tạo ôtô Thượng Hải, trước kia chỉ có thể chế tạo ôtô kiểu Volga nhập từ Liên Xô cũ, loại ôtô này vừa nặng nề lại vừa tốn hao nhiều nhiên liệu, mà chu kỳ sản xuất dài, giá thành sản xuất cao.
Những năm 80 về sau, họ nhằm trúng thị trường ôtô thế giới, chi khoản tiền lớn tiến hành liên doanh với nhà máy chế tạo ôtô "Đại chúng" Đức - mang tên là Liên hợp chế tạo xe du lịch Sangtana, trên thực tế chỉ là vận chuyển các chi tiết của người khác về, mình tiến hành lắp ráp mà thôi.
Đây chính là kế "mượn danh nghĩa Sangtana, từng bước một giảm bớt lượng nhập khẩu các cụm và chi tiết, từ đó làm cho tỷ lệ sản xuất trong nước của Sangtana từ 0,5% phát triển đến 12%, lại từ 12% phát triển đến 27%... trải qua hơn mười năm cố gắng, cuối cùng làm cho loại xe du lịch Sangtana này trở thành xe du lịch Trung Quốc.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
3) Mượn lời người khác

Thời xưa có người mượn thiên tai, niệm thần chú mê tín để tạo ra dư luận, hoặc làm việc thoán nghịch. Hoặc ám chỉ đối địch chính trị để thực hành ý chí của mình. Để cướp ngôi, Vương Mãng đã từng sử dụng cách mượn lời người khác.

Vương Mãng sai người khác bịa ra một câu chuyện như sau: Nói Lã Hưng đình trưởng trong một đêm mơ thấy nhiều chiêm bao. Trong mơ, mang máng như có người nói với ông ta: "Ta là sứ giả nhà trời, trời bảo ta đến nói cho đình trưởng biết, Hoàng đế đang nhiếp chính phải là thiên tử, mà không phải bất cứ người nào khác. Nếu như không tin lời của ta, thì các ngươi có thể vào trong đình để xem thử, trong đình đã xuất hhiện một cái giếng mới toanh!".

Đình trưởng nửa tin nửa ngờ, chạy đến đình xem, quả nhiên có một giếng mới, sâu xuống dưới đất có đến trăm trường.

Đình trường liền càng tin không chút nghi ngờ đối với sự việc này. Vương Mãng lại sai người vẽ một bức tranh bùa bằng đồng, ở trên viết 8 chữ "Thiên cáo đế phù, hiến giả phong hầu", sau đó đặt ở trước một tảng đá nơi dễ nhìn thấy.

Đồng thời, Vương Mãng còn sai người làm một tấm biển bằng đồng hai mặt, một bên viết "Thiên đế hành tỉ kim quĩ đồ", một bên khác viết "Xích đế tỉ mỗ truyền dữ Hoàng đế Kim sách thư". "Mỗ giả" ở đây tức là Cao Hoàng đế. Viết Vương Mãng tức là Thiên tử, vẽ trên tranh cũng là Vương Mãng đang đội chiếc mũ Hoàng đế ngồi trên vị trí của Thiên tử, và định hiệu của thiên hạ gọi là "Tân".

Sau khi Vương Mãng thoán quyền thành công, định quốc hiệu chính là Tân. Vương Mãng cướp ngôi thành công cố nhiên có nhiều nhân tố, nhưng việc vận dụng thành công thủ đoạn mượn lời người khác của ông, không thể không nói là một mặt dư luận quan trọng của nó.

Thủ đoạn mượn lời người khác, trong lịch sử còn có rất nhiều ví dụ.

Trong hiện thực, kế "mượn lời người khác" cũng được vận dụng rộng rãi, nhấ là trong việc tuyên truyền quảng cáo.

Ví dụ, Khổng Tử là một "văn nhân" nổi tiếng nhất, cho nên mọi người ở quê hương Khồng Tử, trong cuộc cạnh tranh rượu trắng, tới tấp đặt ra các tên "Khổng phủ gia tửu", "Khổng Tử yến tửu", "Khổng lâm tửu" v.v...

Lại như trong việc tiêu thụ chè, các vùng sản xuất tới tấp giở lại lịch sử, tìm mọi cách đem loại chè mình sản xuất ra cùng liên hệ với các danh nhân văn hóa thời xưa: có chè Đông Pha, có chè Thái Bạch, có chè Thiền Tông, có chè Tuyết Cần và còn nhiều nữa...

Mượn lời người khác có thể làm cho mình nâng cao được giá trị bản thân, đồng thời có thể làm cho hàng hóa của mình học đòi làm sang, giàu hàm lượng có văn hóa để đạt được mục đích bán chạy hàng.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
42- Liên hợp là để chống chọi

Người Trung Quốc chú trọng đạo đức nhân nghĩa, còn người Mỹ thì có một tín điều trong sự nghiệp: "Khi tôi không bằng anh, biện pháp tốt nhất là bước vào cửa của anh; khi tôi cảm thấy tôi có khả năng chiến thắng anh, thì nhất định thừa cơ đưa ra kế chống chọi với anh".
Trong "Hồng Lâu mộng" Tào Tuyết Cần mượn miệng của Tiểu Hồng nói với mọi người :Ngàn dặn dựng lều dài, thiên hạ không có bữa tiệc nào không tan".
Đúng thế, trên thế giới không có người bạn vĩnh cửu, chỉ có lợi ích vĩnh cửu.
Tất cả mọi cái người ta tranh cướp nhau, xét đến cùng đều là có liên quan với lợi ích của họ. Đây là chân lý của một nhà triết học vĩ đại đưa ra. Đừng mong muốn giải quyết bất cứ mọi vấn đề một cách chỉ khó nhọc một lần, an nhàn mãi mãi được.
Đã vậy, địch và bạn sẽ đều có thể nằm trong sự biến động không ngừng. Chỉ cần trước mắt có lợi đối với mình, thì không thể không tiến hành tranh giành nó, bạn bè tạm thời cũng là bạn bè, cũng cần phải lợi dụng.
Có lúc biết rõ rằng sau này phải mỗi người đi một nẻo, thậm chí trở thành kẻ địch cũng phải liên hợp với họ.
Không nói cũng đủ hiểu, lúc này nhất định có nhiệm vụ đối thủ càng lớn mạnh, càng quan trọng.
Ví như:
Thời kỳ cuối nhà Tùy, khởi nghĩa nông dân nổi lên rầm rộ, tất cả có đến vài trăm cánh quân khởi nghĩa, có tính chất đại biểu, ở vùng biên giới phía Bắc có Lý Quỹ, Tiết Cử, Lương Sư Đô, Quách Tử Hòa, Lưu Vũ Chu, Ly Khai Đạo; ở vùng lưu vực Hoàng Hà có Lý Uyên, Vương Thế Xung, Lý Mật, Đậu Kiến Đức, Mạnh Hải Công, Từ Viên Lang; ở vùng Giang Tây có Thẩm Pháp Hưng, Lâm Sĩ Hoằng, Tiêu Tiển; vùng giữa Giang Hoài có Đỗ Phục Uy, Lý Tử Thông, Vũ Văn Hóa. Giữa các đội quân khởi nghĩa nông dân với nhau đều có mưu toan tiêu diệt lực lượng lân cận mình, để làm lớn mạnh mình.
Trong các cuộc đấu tranh kịch liệt này, ai có thể vận dụng chiến thuật chiến lược đúng đắn, đồng thời làm tốt công tác phân hóa chính trị, thì người đó sẽ có thể chiếm ưu thế, từ đó giành được thắng lợi.
Trong chiến tranh thống nhất, cha con Lý Uyên chính là đã thực hành phân hóa làm tan rã đối với quân khởi nghĩa nông dân, đánh tan từng bộ phận, từ đó thống nhất thiên hạ, dựng nên chính quyền Lý Đường.
Lý Uyên vốn là Thái thú Thái Nguyên của nhà Tùy, xuất thân từ địa chủ quý tộc. Thừa cơ hội khởi nghĩa nông dân khắp nơi trong toàn quốc, ông ta đã lãnh đạo bộ phận khởi nghĩa ở Thái Nguyên, trước tiên nhận được sự hưởng ứng của các hào kiệt Sơn Tây, đã giành được càng nhiều sự ủng hộ của các nhân sĩ thuộc tầng lớp địa chủ, chỉ trong hai tuần đã triệu tập được hàng vạn quân đội và quyết kế tây tiến về Quan Trung.
Nhưng, hai vấn đề hiện thực bày ra trước mắt:
Một là tộc Đột Quyết lớn mạnh đã nhiều lần xâm chiếm Thái Nguyên, đây là một trở ngại lớn của việc Tây tiến.
Hai là Lý Uyên đã từng dẫn quân trấn áp khởi nghĩa nông dân.
Là địch thủ với nông dân, bây giờ nên đối xử với khởi nghĩa nông dân ra sao?
Trước tiên, Lý Uyên sai Lưu Văn Tĩnh đi Đột Quyết xưng thần với Đột Quyết, trong giới hạn lớn nhất tranh thủ được thỏa hiệp với Đột Quyế để tránh đối kháng trực tiếp với Đột Quyết.
Đối xử với khởi nghĩa nông dân, Lý Uyên lại dùng thủ đoạn lôi kéo nhẹ nhàng, lập quan hệ hữu hảo với Lý Mật, đồng thời suy tôn Lý Mật làm chủ, mục đích của ông ta là bảo tồn mình trong kẽ trống của khởi nghĩa nông dân, để cầu phát triển mở rộng thêm một bước nữa.
Kế này quả nhiên đã sinh ra hiệu quả lý tưởng:
Một là, Lý Uyên tiến quân về phía Tây được Lý Mật ủng hộ, đồng thời làm cho quân của Lý Mật chặn đứng quân nhà Tùy ở phía Đông, tiện lợi cho mình Tây tiến.
Hai là, Đột Quyết bởi vì Lý Uyên xưng thần với họ, nên không tiến hành đề phòng quá nhiều, ngừng hẳn việc xâm phạm và quấy nhiễu đối với Thái Nguyên, từ đó làm cho Lý Uyên có thể tập trung binh lực tiến thẳng về phía Tây.
Ba là, sau khi Lý Uyên tiến vào Quan Trung, biên chế lại nhiều cánh quân khởi nghĩa, trong thời gian rất ngắn liền có được 9 vạn tinh binh, lực lượng quân sự đã tăng lên mạnh mẽ, tiếp tục Tây tiến và chiếm lĩnh Tràng An.
Sau khi tiến vào Quan Trung, các quần hùng Sơn Đông tranh giành lẫn nhau, tàn sát lẫn nhau.
Thế là, Lý Uyên liền vạch ra kế hoạch đánh lực lượng cắt cứ của một vùng Tây Bắc, để củng cố và mở rộng địa bàn thống trị.
Trước tiên đánh Tiết Cử chiếm cứ một vùng Lan Châu và Thiên Thủy. Tiết Cử thì mưu đồ liên hợp với Lương Sư Đô, đồng thời câu kết với Đột Quyết cùng chống lại Lý Uyên. Nhưng mưu đồ này thật ra chưa được thực hiện. Lý Uyên sai người dùng vàng lụa hậu hĩnh hối lộ Đột Quyết, tách rời liên minh giữa họ với nhau, và lợi dụng mâu thuẫn của Tiết Cử với Lý Quỹ, gửi thư kết thân thiện với Lý Quỹ, cô lập Tiết Quỹ, cuối cùng chỉ một trận đã tiêu diệt Tiết Cử.
Sau khi Tiết Cử đầu hàng, mũi nhọn của Lý Uyên liền chỉ vào Lý Quỹ cắt cứ một vùng Hà Tây Vũ Uy. Trước là kết thân với Thổ Cốc Huy để cô lập Lý Quỹ, tiếp đó là lợi dụng mâu thuẫn nội bộ Lý Quỹ, lôi kéo An Tu Nhân và An Hưng Quý, sau cùng là phát động chính biến vào tháng 5 năm 619.
Kết quả là, thế lực Lý Quỹ bị tiêu diệt, Lý Uyên đã chiếm lấy Hà Tây.
Đúng lúc Lý Uyên tấn công Lý Quỹ, Lưu Vũ Chu lại câu kết với Đột Quyết tiến công Thái Nguyên vào tháng 3 năm 619, nhưng kết quả ngược lại lại kết thúc bằng thắng lợi của Lý Uyên.
Thắng lợi này, chủ yếu quy công về Lý Thế Dân giỏi dùng binh. Đươngn nhiên Lý Uyên sử dụng thủ đoạn có hiệu quả tách rời liên minh của họ cũng là nhân tố không thể xem thường.
Sau khi Đột Quyết bại trận, lại quay trở lại cùng với quân Đường của Lý Uyên đánh Lưu Vũ Chu. ảo tưởng phá diệt xong, Lưu Vũ Chu và Tống Kim Cương muốn chạy trốn thoát khỏi Đột Quyết, nhưng lại bị Đột Quyết bắt giữ, kết quả là Tống Kim Cương bị chém ngang lưng, Lưu Vũ Chu bị chém đầu, việc này đương nhiên là có lợi đối với Lý Đường (chính quyền Lý Đường).
Đến đây, sự uy hiếp sau lưng và phía sườn của Lý Đường về cơ bản được loại bỏ, hành động quân sự của tuyến Tây Bắc cũng liền tạm thời kết thúc một giai đoạn, mũi nhọn tiến công của Lý Đường bèn quay sang vùng rộng lớn của phía Đông.
Trong thời gian hai, ba năm từ năm 618 Lý Mật thất bại đến khi quân Lý Đường đông tiến, tình hình chiến tranh nông dân của phía đông và phía nam đã có biến đổi rất lớn.
Trong quá trình thôn tính, đến đây chỉ còn lại ba lực lượng lớn nhất của Vương Thế Xung ở Sơn Đông, Đậu Kiến Đức ở Hà Nam, Đỗ Phục Uy ở phương Nam. Xét về lực lượng tổng hòa của 3 lực lượng này là mạnh hơn Lý Đường, nhưng bất kỳ một cánh nào của 3 nhóm quân này đều không đuổi kịp Lý Đường.
Nếu như ba lực lượng này thống nhất hành động đối phó với Lý Đường thì việc ai thắng ai thua rất khó đoán trước, nhưng trên thực tế giữa họ với nhau không những phân tán, mà còn ở trong trạng thái đối địch nhau. Ví dụ như Vương Thế Xung tiến công Lê Dương của Đậu Kiến Đức, Đậu Kiến Đức thì tiến công Ân Châu của Vương Thế Xung.
Trước khi Lý Đường còn chưa đông tiến, Lý Uyên đã sai người du thuyết đến phương đông hoạt động, đem bộ phận cũ của Lý Mật và quân khởi nghĩa chống Tùy trước kia (như Vương Bạc) lôi kéo lại.
Đặc biệt quan trọng là Đỗ Phục Uy của Giang Nam đã tiếp nhận phong hiệu của Lý Đường, hợp tác với Lý Đường, đồng thời năm 621 đã phái binh hiệp trợ với Lý Đường. Đây là một thắng lợi rất lớn về chính trị của Lý Đường. Cộng với La Nghệ của Đậu Kiến Đức ở mặt bắc, chiếm giữ tại U Châu, cũng đã hàng Đường từ trước.
Như vậy, Đậu Kiến Đức và Vương Thế Xung liền bị bao vây hai mặt của Lý Đường. Hơn nữa Đỗ Phục Uy hợp tác với Lý Đường, khiến cho tình thế bao vây của Lý Đường đối với họ liền thật sự hình thành.
Tháng 7 năm 620, Lý Đường ổn định tình thế Tây Bắc xong, liền do Lý Thế Dân thống soái đại quân tiến công Vương Thế Xung, Vương Thế Xung tự biết mình không địch nổi, liền cầu cứu Đậu Kiến Đức. Tháng 3 năm 621, Đậu Kiến Đức sau khi đánh bại Mạnh Hải Công, tự mình dẫn 10 vạn quân viện trợ Vương Thế Xung.
Lý Đường cử Lý Thế Dân đi đến Hổ Lao, dựa vào chỗ hiểm chống địch, ngăn chặn Đậu Kiến Đức tây tiến.
Quả nhiên, quân của Đậu Kiến Đức bị chỗ hiểm yếu của Hổ Lao ngăn cản, không thể thuận lợi tây tiến, rơi vào cảnh tiến thoái lưỡng nan.
Trong tháng 5, quân Lý Đường dử quân của Đậu Kiến Đức đến quyết chiến. Đậu Kiến Đức trúng kế, toàn quân đều huy động ra, dàn trận từ Bản Chử ra Trung Khẩu, phía Bắc đến Hoàng Hà, phía Tây sát sông Tị Thủy, phía Nam nối liền với Thước Sơn, dài đến 20 dặm.
Lý Thế Dân đứng trên chỗ cao quan sát thế trận của Đậu Kiến Đức. Lý Thế Dân "án binh bất động", dưỡng sức chờ đánh quân địch khi đã mỏi mệt, chỉ dùng một bộ phận binh lực thu hút toàn bộ quân của Đậu Kiến Đức. Mãi đến giữa trưa, quân của Đậu "binh sĩ đói mệt, đều ngồi thành hàng, lại tranh giành nước uống", thế trận lộn xộn, Lý Thế Dân nhìn thấy đã là thời cơ quyết chiến, liền ra lệnh quân "khinh kỵ" vượt qua sông Tị Thủy, tiến công quân của Đậu Kiến Đức. Lúc đó, Đậu Kiến Đức và lũ bầy tôi đang tụ hợp, vội vã dẫn quân ứng chiến, thế trận càng lộn xộn nhiều hơn.
Lý Thế Dân dẫn bộ đội tinh nhuệ thọc vào trận địa quân của Đậu Kiến Đức, thay đổi cờ, quân của Đậu càng hỗn loạn, nhanh chóng rút chạy tán loạn. Lý Thế Dân đuổi giết đến 30 dặm, bắt sống được hơn 5 vạn tên, Đậu Kiến Đức bị thương, bị bắt sống và bị giết tại Tràng An. Vương Thế Xung chẳng bao lâu cũng đầu hàng, đến đây, chiến tranh thống nhất căn bản kết thúc.
Thông qua những việc này chúng ta thấy, thắng lợi của Lý Đường không phải là việc ngẫu nhiên mà có.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
43- Đặt bẫy cho đối thủ

Đặt bẫy chính là dùng đủ mọi thủ đoạn lừa gạt dụ đối thủ đến, rơi vào bẫy mình đã bày ra sẵn, sau đó tiến hành bắt và giết.
Thời kỳ kháng chiến, cuộc chiến đấu của sư 115 Bát Lộ quân tại Bình Hình quan chính là thuộc loại này.
Một đặc điểm quan trọng của phương pháp này, không phải là đi giao phong chính diện với đối thủ, mà là dử đối thủ mắc mưu, tự chui vào lưới, ít tốn sức lực mà thành công lớn.
Trong thương chiến hiện đại, có thể vận dụng đầy đủ chiến thuật này, tất nhiên sẽ giành được hiệu quả đánh thắng bất ngờ. Ví dụ như thế có rất nhiều.
Ví như Công ty Medal của Mỹ, Công ty Chính Đại của Thái Lan, Công ty Toyota của Nhật Bản v.v... ở đây sẽ không nêu ra từng việc một nữa.
Muốn học cách vận dụng mưu lược, vẫn là thử xem người xưa đã làm như thế nào.
Trong chiến tranh và đấu tranh chính trị thời xưa, ví dụ sử dụng phương pháp này có rất nhiều:

1) Dụ sát

Dụ sát, tức là tìm một cái cớ hoặc lý do, dụ địch đến sau đó bắt và giết đi.
Năm 207 trước công nguyên, Triệu Cao, Thừa tướng nước Tần muốn cướp ngôi Hoàng đế, nhưng không dám trực tiếp thoán nghịch, do đó đã áp dụng biện pháp quá độ, trước giết Tần Nhị thế (Hồ Hợi), lập Vương tử Anh làm vương, sau đó lại giết Vương Tử Anh, thực hiện thoán nghịch.
Nhưng, dụng ý của Triệu Cao đã bị Vương Tử Anh khám phá, Vương Tử Anh không muốn là ma, lièn nói: "Thừa tướng Triệu Cao giết Nhị thế là để cướp ngôi, nhưng lại sợ quần thần phản đối, không giữ nổi mình, liền nói dối là lập thần làm vương. Nhưng thần biết Triệu Cao có bí mật hẹn riêng với nước Sở, nói là diệt xong tông thất nhà Tần, sau đó họ lần lượt xưng vương ở Quan Trung. Đây chính là bộ mặt thật của ông ta. Hiện nay sai người đến mời thần đi đến miếu, là muốn giết thần ngay trong miếu. Do vậy, thần cố ý nói bị ốm không đi. Ông ta ắt sẽ đến, thần có bắt và giết ông ta ngay tại chỗ, để bảo đảm an toàn cho Tần thất". Triệu Cao sai người đến mời Vương Tử Anh, nhưng Vương Tử Anh giả vờ ốm không đi. Triệu Cao nén không nổi, quả nhiên tự mình đến mời, vừa nhìn thấy mặt liền hỏi: "Tông miếu là việc trọng, Vương làm sao không đi?"
Vương Tử Anh căn bản không trả lời, nhưng người dưới quyền liền tóm lấy Triệu Cao, giết chết ngay.
Tiếp đó, Vương Tử Anh lại chu diệt cả ba họ của Tiệu Cao. Chính biến cung đình mà Triệu Cao vạch ra, lại kết thúc bằng cái chết của chính mình. Thủ đoạn và tâm tư của hai bên là như nhau, nhưng Vương Tử Anh đã cao hơn một nước cờ, chính là đã chuẩn bị đầy đủ hơn.

2) Dụ tạ ơn

Dụ tạ ơn là tặng cho đối phương món quà rất hậu trước, khiến cho đối phương đến thăm lại và cám ơn, ta thừa cơ bắt lấy nó và giết chết.
Tổ Đình là Thượng thư Hữu nghị sạ Bắc Tề, có quyền lực rất lớn ở trong triều, nhưng lại ghét cay ghét đắng Hàm Dương vươngn Hộc Luật Quang, muốn đánh ngã ông ta. Thế là Tổ Đình liền nghĩ ra một kế ly gián.
Trước tiên, ông ta đã tạo ra một lời đồn: "Bách Thăng bay lên trời, Minh Nguyệt chiếu Tràng An". Lại nói: "Núi cao không ủi tự đổ, cây sồi không đỡ tự đứng lên". Ra lệnh cho mưu sĩ đem những lời đồn đại này truyền đến đất Nghiệp, dạy cho trẻ con, đứng bên đường ca hát. Tổ Đình còn thêm cho những lời đồn này hai câu: "Ông già mù lưng đeo chiếc rìu lớn, bà già lắm điều không được nói".
Sau đó, ông ta sai người anh vợ của mình là Trịnh Đạo bẩm tâu với Hoàng thượng. Hoàng đế không hiểu rõ ý thật sự của tin bịa này, liền tìm Tổ Đình đến, nhờ ông ta giúp đỡ để giải thích.
Tổ Đình nhân cơ hội giải thích nói: "Tin đồn này không thể xem nhẹ đấy, ý của Bách thăng chính là Hộc, ông già mù nói là thần, là chỉ thần cùng lo lắng với Quốc vương, không tiếc sức mình. Bà già lắm điều hầu như là chỉ Lục thị trong nữ tỳ. Gia đình Hộc Luật có nhiều đời là đại tướng, Minh Nguyệt tiếng tăm lẫy lừng Quan Tây, Phong Lạc uy danh lưu hành ở Đột Quyết, nữ làm Hoàng hậu, nam lấy công chúa, lời đồn đáng sợ, Hoàng thượng đáng phải suy nghĩ mà làm!"
Hoàng đế vốn đã có chút hoài nghi Hộc Luật Quang, nghe Tổ Đình giải thích như thế, càng thêm hoài nghi hơn, thế là bèn quyết định ra tay trị người khác trước, trừng trị Luật Quang đến mất mạng. Hoàng thượng chuẩn bị triệu Quang vào triều, nhưng lại sợ ông ta khám phá ra kế sách không đến.
Thế là, Tổ Đình lại hiến kế: "Trước tiên ban cho Hộc Luật Quang một con tuấn mã, và truyền tin nói: "ngày mai Hoàng thượng sẽ đi du chơi ở Đông Sơn, Hàm Dương vương có thể cưỡi tuấn mã cùng đi theo". Như thế, Hộc Luật Quang khẳng định sẽ đến để tạ ơn, ông ta vừa đến, liền có thể bắt ông ta đem giết".
Hoàng thượng nghe theo sự sắp đặt của Tổ Đình, Hộc Luật Quang quả nhiên đến tạ ơn, Tổ Đình liền bắt và giết ngay ông ta. Cách dụ tạ ơn của Tổ Đình, đã thành công.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
3) Dụ đến chúc mừng

Dụ đến chúc mừng là tổ chức đại hội chúc mừng dụ địch thủ chính trị đến chúc mừng, từ đó đem giết họ.
Khi Hán Cao tổ Lưu Bang đem quân đi đánh Trần Hy, Hàn Tín muốn dấy binh mưu phản. Lã Hậu bí mật lập mưu với Tiêu hà làm thế nào để chế ngự Hànn Tín, ngăn chặn mưu phản của Hàn Tín.
Họ giả vờ nói có người từ tiền tuyến về nói Trần Hy đã bị bắt và bị giết chết, các chư hầu và quần thần đang chúc mừng thắng lợi của việc đi đánh.
Tướng quốc Tiêu Hà cố ý nói dối với Hàn Tín: "Mặc dù ông có bệnh, nhưng cũng nên miễn cưỡng đến chúc mừng để chiếu cố đến cảnh tượng". Hàn Tín tin cho là thật, quả nhiên vào triều chúc mừng, lã Hậu liền nhân cơ hội bắt Hàn Tín và chém tại cung Trường Lạc, giết cả ba họ của ông.


4) Dùng lời lẽ hay mời đến

Dùng lời lẽ hay mời đến là tỏ ý tốt đẹp với đối phương mời họ đến, sau đó đem giết họ.
Năm 835, Lý Huấn đời Đường sau khi phát động chính biến thất bại, Trịnh Chú trả lại Phong Tường. Cừu Sĩ Lương lệnh cho Giám quân Phong Tường Trương Trọng Thanh bắt Trịnh Chú. Trương Trọng Thanh hoảng sợ không biết làm thế nào.
áp nha Lý Thúc Hòa hiến kế nói: "Trương công nên dùng lời lẽ hay mời Chú, để ông ta đến, sau đó đuổi lính đi theo ông ta ra ngoài, có thể để ông ngồi vào chỗ rồi hãy bắt. Như thế Trịnh Chú khó mà trốn thoát!" Trương Trọng Thanh đã nghe theo kế này. Trước tiên dùng lời lẽ hay mời Trịnh Chú đến, ngầm bố trí quân mai phục để chờ Trịnh Chú.
Trịnh Chú được những người lính đi theo vây quanh đã đến thăm. Lý Thúc Hòa giữ những người lính đi theo lại ở bên ngoài, chỉ giành Trịnh Chú một mình đi vào, cùng hàn huyên và nhấp nháp trà với Trương Trọng Thanh.
Đột nhiên, Lý Thúc Hòa rút dao ra đâm thẳng vào Trịnh Chú, Trịnh Chú còn chưa kịp đưa ra phản ưng gì, đã bị đâm chết. Lý Thúc Hòa đóng chặt cửa lớn lại, giết chết tất cả bọn lính đi theo Trịnh Chú. Kế dùng lời lẽ hay mời đến của Trương Trọng Thanh đã thành công.

5) Tụ hội

Tụ hội là lợi dụng việc tụ hội tầng lớp trên, quét một mẻ hết sạch kẻ địch.
Mâu thuẫn giữa Thành-Cát-Tư-Hãn với Kuokuochu tương đối lớn, Thành-Cát-Tư-Hãn một lòng muốn trừ bỏ ông ta. Do đó, Thành-Cát-Tư-Hãn bày ra tiệc lớn, mời Kuokuochu đến dự. Kuokuochu nhận lời mời đến, Thành-Cát-Tư-Hãn ra lệnh cho dũng sĩ đọ tài với Kuokuochu, bảo dũng sĩ ngầm đem giết hại ông ta.
Sau đó, Thành-Cát-Tư-Hãn tuyên bố tội trạng của ông ta: "Kuokuochu gây chia rẽ, đánh anh em của ta, làm nhiều việc xấu, lẽ trời không tha thứ".
Tiếp đó, liền tiến hành tàn sát và biên chế lại quân đội của Kuokuochu. Thành-Cát-Tư-Hãn tiêu diệt Kuokuochu, củng cố sự thống trị của mình đối với Mông Cổ.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
6) Dụ bắt

Dụ bắt là tán thành một mưu kế nào đó của đối phương, dùng kế của họ để đánh lại họ (tương kế tựu kế), rồi đem bắt họ.
Thời nhà Ngụy, Đặng Ngôn giết Vương Khang, tự lập làm Thứ sử, triều đình đã mấy lần cử binh chinh phạt, đều không thành công trở về. Không còn cách nào, triều đình đã mời Thổ Cốc Huy giúp sức.
Thế là, Vũ Văn Thái cử Giáp Huy đi dụ bắt Đặng Ngôn. Sau khi Giáp Huy nhận lệnh đã dẫn một đoàn 50 người đến phủ Thứ sử, đã vào ở trong một nhà khách. Đặng Ngôn biết được số người đến rất ít, đã không có điều gì đáng nghi nữa.
Giáp Ngôn sai người đến khuyên nhủ Đặng Ngôn quy thuận triều đình, Đặng Ngôn đương nhiên không theo, từ chối không nhận lệnh. Giáp Huy lại sai người đến nói, đồng ý lưu Đặng Ngôn ở lại đây, Đặng Ngôn liền đổi giận thành vui, tin tưởng Giáp Huy là chân thành, liền đến nhà khách gặp mặt với ông ta.
Còn Giáo Huy đã có mưu kín từ lâu, bèn đem Đặng Ngôn trói lại, sau đó tuyên bố trước dân chúng nói bắt Đặng Ngôn là ý chỉ của Hoàng đế.
Để ngăn chặn gây rối loạn trong thành, Giáp Huy lại nói: "Đại quân của triều đình lập tức sẽ đến". Như vậy, trong thành mới không dám động tĩnh. Giáp Ngôn đã dùng kế dụ bắt, đã bắt được Đặng Ngôn thành công đưa đến Tràng An.

7) Công nhiên hứa hẹn

Công khai hứa hẹn tức là trước đáp ứng yêu cầu của kẻ địch, tạm thời làm ổn định kẻ địch, sau đó dụ kẻ địch đến giết đi.
Lưu Bang đi đánh Trần Hy, mượn quân của Lương, nhưng Lương vương là Bành Việt lại nói có bệnh không đi.
Lưu Bang rất bực tức, đúng dịp có người nói vu là ông ta tạo phản, Lưu Bang dùng phương thức đanh bất ngờ, bắt Bành Việt, sau đó đem giam ông ta tại Lạc Dương, tha cho làm thứ dân bị đi đầy tại đất Thục, vừa khéo gặp Lã hậu từ Tràng An về, Bành Việt xin gặp lã hậu, nước mắt đầm đìa, tự nói là không có tội, mong được đầy ở Xương ấp.
lã hậu đồng ý trước mặt, lại đi tiếp về phía đông, đến Lạc Dương, gặp Lưu Bang nói: "Bành Việt là một dũng sĩ, chuyển ông ta vào đất Thục, tự lưu lại họa ngầm, chi bằng nhanh chóng giết ông ta đi".
Thế là, cho người tố cáo lên Bành Việt mưu làm phản, thêu dệt thành tội, chém Bành Việt và cả ba họ của hông.

8) Giả đi du chơi

Giả đi du chơi tức là giả mượn đi du chơi thị sát, dụ kẻ địch ra khỏi cửa đón, từ đó sẽ bắt lấy nó.
Đại tướng Hàn Tín chinh chiến tài giỏi, nước phong cũng lớn nhất (tức nước Sở), thật là làm cho Lưu Bang phải kiêng dè.
Năm thứ 6 đời Hán, có người dâng thư tố cáo Hàn Tín mưu phản. Cao đế (tức Hán Cao tổ) hỏi các tướng mưu kế, mọi người đều nói phải xuất quân tấn công, nhưng Trần Bình lại nói: "Hiện nay chúng ta, quân không tinh nhuệ như Sở, tướng không mạnh bằng Sở, xuất quân đánh chiếm, thực khó giành thắng được".
Hán Cao tổ hỏi kế sẽ phải đưa ra như thế nào, Trần Bình trả lời nói: "Thời xưa, Thiên tử dùng phương thức đi tuần thú, hội kiến chư hầu. Ngày nay, phương Nam có một nơi gọi là Vân Mộng, bệ hạ có thể mượn danh nghĩa đi chơi Vân Mộng, để các chư hầu đều tụ hội tại Trần. Nước Trần ở phía Tây nước Sở giáp giới với nước Sở, Hàn Tín biết bệ hạ đi du chơi, khẳng định phải ra đón tiếp. Lúc đó sẽ có thể đem ông ta bắt sống, việc này chỉ cần một võ sĩ thì có thể bắt được ông ta thôi".
Hán Cao tổ cảm thấy kế này có thể dùng, bèn thông cáo cho chư hầu tụ hội tại Tràn, nói: "Ta sẽ nam du đến Vân Mộng". Rât nhiều đại thần đều đi theo, đến Trần Hàn Tín đến đón tiếp. Lưu Bang đã tổ chức võ sĩ từ trước, vừa thấy Hàn Tín lập tức bắt ngay và trói lại.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
9) Dụ điều đi khỏi cương vị

Dụ điều đi khỏi cương vị, chính là điều động họ dời khỏi chỗ làm việc, dụ đến giữa đường thì bắt giết.
Thời Đường Hiến tông, triều binh dấy binh đánh Vương Biện nhưng lại sợ hai châu Biểu và Vận nhân cơ hội tấn công, do đó đã dùng kế dụ điều khỏi cương vị. Trước tiên đề bạt Vương Biện làm Thứ sử Kinh Châu, sai người thúc giục ông ta đi nhận nhiệm vụ.
Vương Biện tin cho là thật, lên đường ngay, xuất phát từ Nghi Châu, người ngựa đi theo cũng cùng xuất phát. Đi vào đất Từ Châu đã không còn là phạm vi thế lực của Vương Biện nữa, ông ta thế cô lực mỏng. Hoạn quan hộ tống đột nhiên trở mặt, cất bỏ hết bộ mặt vui cười, liền bắt ông ta, sau đó đem chém ngang lưng tại Đông thị.
Sử dụng kế dụ đi khỏi cương vị, dùng binh ít, hiệu quả tốt.

10) Ngầm giết

Ngầm giết tức là đối với công thần, khó giết hại công khai, để ngăn chặn dư luận xôn xao, có thể sai người, ngầm tiến hành giết hại, để loại bỏ những người đối lập.
Thời nhà đường, Lý Phụ Quốc thường làm ngược với Hoàng thượng. Khi Đại tông là Thái tử nghe nên rất bực.
Đại tông lên ngôi, Phụ Quốc lại lập công, việc đó lại không tiện công khai giết ông ta, do đó bí mật cử người giết, nhưng chặt đầu ông ta đem quăng xuống cống rãnh, chặt đôi cánh tay phải của ông ta đem đến tế Thái lăng.
Tất cả mọi việc này đều lặng lẽ tiến hành, ai cũng không biết. Sau đó, Đại tông lại giả vờ nhân từ, xuống chiếu truy bắt hung thủ, tiến hành an ủi đối với gia đình để tỏ ra thương xót, sau đó làm một cái đầu bằng gỗ để chôn cất, vẫn tặng Lý Phụ Quốc là Thái phó.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
11) Xuống chiếu gọi

Xuống chiếu gọi tức là xuống chiếu triệu kiến đối thủ chính trị, sau đó bắt và giết. Câu chuyện Khang Hy bắt Ngao Bái mà mọi người đều biết, ở đây không miêu tả thêm nữa, chẳng qua cách dùng chính là phương pháp này.

12) Giả lệnh để giết

Chính là giả tạo ra mệnh lệnh của Hoàng đế, dụ đối thủ chính trị đến và giết họ.
Cuối thời Đông Tấn, Hoàn Huyền cướp ngôi, dời Tấn đế vào Tầm Âm, Hoàn Tu đã nối giáo cho giặc. Lưu Dụ tạo giả chiếu lệnh của Hoàng đế đã giết Hoàn Huyền.
Vì vậy, họ trước tiên đã tiến hành bố trí chu đáo. Lưu Nghị tập hợp 27 "nghĩa đồ", 110 người bằng lòng đi theo, vào giờ bính Thìn, đợi khi cửa thành mở, Hà Vô Kỵ mặc chiếu phục đứng đầu đọc chiếu, "nghĩa đồ" cùng nhau chạy ùa vào và kêu to lên.
Bọn quan lại luống cuống, lao nhao tản đi. Họ liền nhân cơ hội giết chết Hoàn Tu. Lưu Dụ còn khóc nức nở mãi không thôi và cấp tiền chôn cất hậu hĩnh. Mạnh Sưởng thì khuyên Hoàn Hoằng đi săn, khi trời còn chưa sáng, Mạnh Sưởng cùng năm, sáu mươi tráng sĩ, nhân cửa thành mở đã vào. Hoànn Hoằng còn chưa rõ đầu đuôi, liền bị chém chết.
Sau khi nghĩa quân bắt đầu vào thành, Lưu Dụ trèo lên thành nói to: "Chúng tôi mang theo mật chiếu tiêu diệt dị đảng, tên phản tặc đã bị giết, thủ cấp của nó đã làm mồi cho chim rồi. Các vị chẳng lẽ không muốn làm bầy tôi cho Đại Tấn?" Địch quân tin đây là thật liền rút lui, không dám dùng vũ lực.

13) Dịch dụ

Dịch dụ chính là lợi dụng quân đồng minh của kẻ địch hoặc bạn thân của kẻ địch để dụ và giết kẻ địch.
Thời nhà Minh, Sĩ quan Châu Quy Thuận là Sầm Chương là người rất có mưu trí. Điền Châu Sầm Mãnh lại là con rể của ông ta.
Sầm mãnh phạm pháp luật, người ta đã tâu rõ tội trạng của ông ta, Hoàng đế xuống chiếu bắt Sầm Mãnh và tuyên bố ai bắt được sẽ được thưởng vật chất và chức quan.
Đô ngự sử Diêu Mạc định xuất quân đi đánh, nhưng lại sợ hai người họ Sầm hợp mưu với nhau, liền hỏi Đô chỉ huy sứ Thẩm Hy Nghi về đối sách. Thẩm biết thuộc hạ là Triệu Thần có quan hệ tốt với Chương, liền tìm Triệu Thần đến, nói: "Nghe nói con gái của Sầm Chương bị thất sủng, Sầm Chương rất hận con rể là Sầm Mãnh, ta muốn để cho Sầm Chương đi đánh Sầm Mãnh có được không?" Triệu Thần đã tiến cử mưu kế của mình.
Ngày hôm sau, Triệu Thần gặp Sầm Chương, hai người cùng ngồi uống rượu. Triệu Thần nói: "Quân môn phụng chỉ đi đánh Điền Châu, mà ông là bố vợ của Sầm Mãnh, quân môn sẽ dùng lính trấn an đến tập kích ông. Tôi không bảo với ông, ông ắt sẽ chết không nghi ngờ gì nữa, tôi nói với ông, thì ông cũng sẽ chết".
Hai người cùng khóc một hồi. Sầm Chương lập tức phái người đi đến chỗ "quân môn", trình bày rõ những tội trạng trải qua của Sầm Mãnh mưu phản, và tự nguyện đi bắt Sầm Mãnh. Thẩm Hy Nghi đồng ý. Thế là cử người đi đánh Sầm Mãnh. Con trai của Sầm Mãnh bị chết trận, thua to. Sầm Chương đã dụ Sầm Mãnh đến Quy Thuận.
Trong lúc uống rượu, Chương nói: "Lính triều đình bắt ông rất gấp, tôi không thể che chở cho ông được!" Sầm Mãnh kêu to: "Ta đã mắc vào tròng của tên giặc già ông rồi!" Thế là liền uống thuốc độc chết. Sầm Chương đã chém thủ cấp ông ta đem đến quân môn.
Hành vi của Sầm Chương bị các tướng bêu diễu. Sầm Chương hậm hực, cuối cùng học đạo với đạo sĩ Hoàng quan.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 4 5 » »»