📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Thú Tiêu Khiển

GIAI ĐIỆU PHÙ TRẦM

866 trả lời, 169.456 lượt xem — Trang 19 / 29
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 03.03.2014 21:12:09 bởi dzuylynh>
SongHuong:


NGÀY MAI CON VỀ THĂM MẸ

Ngày mai con về thăm mẹ
Đêm nay lòng gởi Câu Lâu
Thu Bồn mùa này sương trắng
Gió lùa xao xác biển dâu

Sông quê chập chờn giấc ngủ
Sóng xô bạc trắng mái đầu
Thương mẹ một đời lam lũ
Nón mê lệch rách trời chiều

Con qua một thời trai trẻ
Bước đời chưa hết triền đê
Khúc sông ngày thơ tắm gội
Dài hơn trải nghiệm xứ người

Chừng như đêm nay rất ngắn
Giục lòng sóng nước sông Thu
Ngày mai con về thăm mẹ
Đêm nay lòng gởi Câu Lâu

Huế 2/2014
Sông Hương
 




NGÀY MAI CON VỀ THĂM MẸ
thơ SôngHương|phổ nhạc & trình bày Dzuylynh
 
Cung Điệu Phù Trầm 
Đăng nhập để trả lời
0
dzuylynh:

SongHuong:


NGÀY MAI CON VỀ THĂM MẸ

Ngày mai con về thăm mẹ
Đêm nay lòng gởi Câu Lâu
Thu Bồn mùa này sương trắng
Gió lùa xao xác biển dâu

Sông quê chập chờn giấc ngủ
Sóng xô bạc trắng mái đầu
Thương mẹ một đời lam lũ
Nón mê lệch rách trời chiều

Con qua một thời trai trẻ
Bước đời chưa hết triền đê
Khúc sông ngày thơ tắm gội
Dài hơn trải nghiệm xứ người

Chừng như đêm nay rất ngắn
Giục lòng sóng nước sông Thu
Ngày mai con về thăm mẹ
Đêm nay lòng gởi Câu Lâu

Huế 2/2014
Sông Hương



https://app.box.com/s/04v67rfuya5zcqca2wg5
NGÀY MAI CON VỀ THĂM MẸ
thơ SôngHương|phổ nhạc & trình bày Dzuylynh
 

Cảm ơn nhạc sĩ, ca sĩ DzuyLynh về bản nhạc phổ thơ rất hay. Sâu lắng và êm đềm. Chúc anh có nhiều sáng tác mới để phục vụ bà con nhé.
Nén lòng tôi với tri âm
Nén thương nhớ gởi xa xăm một người
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 01.03.2014 15:31:11 bởi SongHuong>
 
Vừa vào quê thăm ông bà nội ra lại Huế. Mới chưa đến 1 tháng kể từ Tết Nguyên Đán mà sức khỏe của Bà có vẻ xuống nhiều. Chợt một chút lo lắng mơ hồ xa xăm.  

CHIỀU QUÊ 

Con về 
Quê mẹ chiều nay 
Lời ru 
Lắt lẻo hàng cau … chạnh buồn 

Mẹ già 
Gối mỏi chân run 
Mắt mờ năm tháng 
Bước chùng lo toan 

Lưng còng 
Gánh nhịp thời gian 
Tuổi già  
Như chiếc lá vàng…trong mưa 

Một đời 
Vất vả sơm trưa 
Áo nâu sờn vạt 
Muối dưa tảo tần 

Chiều quê 
Chân bước tần ngần 
Hàng cau xế bóng 
Ngả dần về đông 

Chợt nghe 
Xao xuyến trong lòng 
Mơ hồ đâu đó 
Một vòng nhân sinh 

Thu Bồn 2/2014 
Sông Hương 
Nén lòng tôi với tri âm
Nén thương nhớ gởi xa xăm một người
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 03.03.2014 21:21:35 bởi dzuylynh>
ANH HÙNG THỜI LY LỌAN _ PHÓNG VIÊN CHIẾN TRƯỜNG VNCH NGUYỄN CẦU

Phóng viên chiến trường Nguyễn Cầu Nguyễn Cầu được tin trong đài số 9 nói là cộng sản đang đi tìm tung tích tên phóng viên Mỹ Ngụy, anh bèn trốn về quê chờ đến thập niên 80 mới tìm cách vượt biên. Đến San Jose Nguyễn Cầu trở thành Thuyền nhân Video lo quay phim quan hôn tương tế để xây dựng lại cuộc đời.

 Lời nói đầu: Trong làng xóm San Jose thời gian qua đã có những vị ra đi, cộng đồng đều lưu ý. Ký giả Cao Sơn, thiếu tướng Bùi Thế Lân. Bây giờ đến lượt phóng viên Nguyễn Cầu đi trước, rồi ông Luơng văn Ngọ đi sau. Bốn năm trước, chúng tôi viết loạt bài về trận An Lộc, có một bài dành riêng cho Nguyễn Cầu, nay xin gửi quý  đọc lại, để biết Nguyễn Cầu là ai. Anh là người phóng viên nổi tiếng đã lọt vào An Lộc quay cuốn phim ông Thiệu bay ra mặt trận. San Jose sẽ tiễn đưa cả ông Cầu và ông Ngọ cuối tuần này.

Một tấc đường, một giải khăn tang. Bình Long máu đỏ, nhuộm cờ vàng
Tháng 4-1972, pháo cộng sản cường tập bắt đầu. Địch tấn công thế mạnh như vũ bão từ biên giới Cam Bốt đánh qua. Chiếm Lộc Ninh trong trận biển người có xe tăng ào ạt sau đại pháo. Sư đoàn 5 một sớm một chiều đã gãy mất một trung đoàn. Chiến binh bên ta, phần tử trận, mất tích, phần bị bắt và một số chạy về An Lộc. Cùng một lúc cộng quân đem 10,000 bộ đội có cả chính quy miền Bắc khóa chặt quốc lộ 13 ở phía Nam. 
Tại hội nghị Paris, Nguyễn Thị Bình tuyên bố ngày 15 tháng 4-1972 Mặt trận giải phóng miền Nam sẽ cắm cờ xanh đỏ tại An Lộc. Bình Long sẽ là thủ đô của của chính phủ cách mạng. Trong hoàn cảnh đó hơn 20 ngàn dân An Lộc ai cũng muốn chạy ra khỏi vòng vây. Từ Chân Thành cuối tháng 5-72 có một thanh niên thí mạng cùi nhất định tìm cách vào An Lộc. 
Đó là phóng viên chiến trường Nguyễn Cầu. Anh vừa thoát chết từ Bastogne , miền Trung giữa tháng 5-72. 
Vào sinh ra tử:
Ông Nguyễn Cầu hiện làm nghề quay phim quan hôn tang tế tại San Jose , năm nay 76 tuổi. Người quê Long Xuyên ngày xưa lên Saigon học hết tú tài rồi vào làm công chức bộ kinh tế. Cuộc đời tưởng chừng mãi mãi sáng vác ô đi, tối vác về. Nhưng một ngày bỗng nổi chí làm trai muốn giang hồ ngang dọc, bèn thi vào lớp phóng viên chiến trường do Mỹ đào tạo cho quân đội VNCH.
Khóa đặc biệt và duy nhất được bên thông tin Mỹ huấn luyện, phát lương và trang bị phương tiện. Vừa học nghề vừa học Anh ngữ hơn một năm dài. 25 khóa sinh tốt nghiệp ra trường chia nhau về các quân khu. Các chàng trai trẻ trở thành phóng viên cầm máy quay phim đi thu hình trên các mặt trận. Đó là năm 1962. Những anh này, lính không phải lính mà quan cũng không phải quan. Công chức cũng không phải, mà quân nhân cũng không đúng. Lúc thì mặc bộ binh, lúc thì mặc nhảy dù, lúc thì TQLC và cả quân phục biệt động quân. Đi theo đơn vị nào thì mặc theo binh đoàn đó. Mặc nhầm là bị bắn lộn như không. Không trang bị vũ khí, chỉ có giấy bút, máy quay phim, pin và phim phòng hờ. Trên ngực có bảng tên và dấu hiệu báo chí. Trong người có thẻ của Mỹ để được ưu tiên đi máy bay. Và cuộc đời của phóng viên Nguyễn Cầu lên đường từ 1962 cho đến khi thực sự đứt phim 1975.
Trải qua 13 năm chinh chiến, ông đã đi khắp các mặt trận toàn là thứ dữ. Đánh Hải Lăng với thủy quân lục chiến. Thời kỳ Lam Sơn 119 ông vào Hạ Lào với Nhẩy dù. Thoát chết ở đồi 30. Nguyễn Cầu cũng có dịp thử lửa Khe Sanh với biệt động quân. Vào Bastogue với sư đoàn 1, sang Cam bốt với quân đoàn 4. Bay khắp vùng trời với không quân và đặc biệt quay trận Hoàng Sa với hải quân. Sau cùng ông vào An Lộc với sư đoàn 5.


Photo courtesy: Hình trích từ email của chị Cẩm Bình gửi đến tòa soạn. Chưa biết tác giả.

 Từ Bastogne đến An Lộc:
Tháng 3-1972 Hà Nội chuyển quân vào Nam . Tháng 4 Bắc quân tổng tấn công trên 3 mặt trận. Hoả Tuyến, Cao Nguyên và Bình Long. Ngoài Trung, sư đoàn 3 bộ binh tan hàng. Lần đầu tiên căn cứ Caroll cấp trung đoàn phải đầu hàng. Cộng sản chiếm Cổ Thành Quảng Trị. Trong Nam , địch tràn ngập phòng tuyến Lộc Ninh. Sư đoàn 5 tổn thất một trung đoàn. Cùng một lúc, căn cứ Bastogne của trung đoàn 54 bị tràn ngập, sư đoàn 1 đưa 2 trung đội của trung đoàn 3 trực thăng vận vào thẳng căn cứ để thăm dò. Phi công trực thăng còn lắc đầu lạnh cẳng. Nhưng có lệnh thì cứ bay. Lính sư đoàn cam chịu phần số lặng lẽ lên tàu. Cần một phóng viên đem máy đi quay. Nguyễn Cầu chợt quên mất vợ 4 con ở Saigon , giơ tay nói với ông tướng để tôi đi. Phạm Hậu đứng khóc ở bãi đáp lúc tiễn đưa. Hậu nói với Cầu đây là thí quân. Ráng mà trở về. Đó là ngày 15 tháng 5-1972. Ấy thế rồi Nguyễn Cầu vào được Bastogne mà không phải là vào sinh ra tử. Thiếu úy Hiệp chỉ huy liên đội tiền phong vào mặt trận khi ra được lên trung úy. Phóng viên Nguyễn Cầu đem ra được những thước phim quay trực tiếp tại chiến trường. Anh sống những phút vinh quang khác biệt. Trực thăng bốc ngay về Giạ Lê, bộ tư lệnh sư đoàn của tướng Phú, gặp đại tướng Cao Văn Viên trong phái đoàn Saigon ra thăm đón chào khen ngợi. Ông cho phóng viên Nguyễn Cầu quá giang máy bay của tổng tham mưu trưởng mà đem phim về Saigon . Tại Tân Sơn Nhất, đại tá chánh văn phòng lái xe Jeep đưa thẳng đến đài truyền hình. Các chuyên viên sẵn sàng tráng phim, chắp nối để chiếu cấp kỳ. Cả tổng cục ai cũng bắt tay khen ngợi. Nguyễn Cầu cũng được khen bằng tưởng lục. Ngày nay ông cũng không còn nhớ là tưởng lục gì.
Một tuần sau, cuối tháng 5-73 phóng viên vác máy vào An Lộc.

 Nằm quan tài vào An Lộc
Ông già phóng viên chiến trường thời xa xưa bây giờ ngồi trong phòng làm việc bên những bộ máy quay phim tân kỳ của thế kỷ 21 tại San Jose mà nhớ lại chuyện cũ. Suốt một cuộc đời phóng viên ông đi với các sỹ quan cấp úy. Rồi các vị này thành tá, thành tướng. Nhưng phóng viên Nguyễn Cầu thì muôn đời cũng chỉ là phóng viên. Đi riết rồi chỗ nào cũng quen biết hết. Ông tư lệnh nào, ông tướng nào thấy anh phóng viên vác máy quay phim cồng kềnh xông xáo thu hình giữa khói lửa mịt mùng đều có cảm tình và hết lòng giúp đỡ.
Tháng 4-1972 ba ông phóng viên cùng khóa đều có mặt tại Chân Thành. Đây là trạm dừng chân an toàn nhất trên đường vào phòng tuyến An Lộc. Trung tướng Minh và bộ tư lệnh tiền phương của quân đoàn III đóng ở đây. Nguyễn Cầu tìm cách đi theo nhẩy dù để mở đường máu. Suốt tuần lễ, lính dù bị chặn đứng và thiệt hại nặng. Hoàn cảnh An Lộc giữa vòng vây oan nghiệt đã đành. Nhưng mặt trận đường 13 bên ngoài quả thực cũng hết sức gian khổ. Địch bám chốt bên trái và đại đơn vị đông đảo bên mặt. Pháo cường tập ngày đêm mà phòng không thì ác liệt vô cùng.
Nằm với mũ đỏ thì không biết bao giờ mới được vào bên trong để lấy hình ảnh cho Sài Gòn, Nguyễn Cầu xin với ông tư lệnh quân đoàn cho phép liều mạng đi theo trực thăng tiếp tế và tản thương. Tiếp tế giữa các trận pháo kích trên sân bay. Trực thăng bay là là rồi đạp hàng xuống. Nguyễn Cầu nằm vào trong một thùng gỗ tiếp tế để lính không quân đạp xuống. Chuyện tưởng như đùa mà hóa thật.
Anh em hỏi đi hỏi lại là có thực sự Cầu nằm trong quan tài mà vào An Lộc hay không. Thùng gỗ rớt nhẹ xuống sân bay, chẳng cần ai phá cũng đã rời ra từng mảng. Phóng viên Nguyễn Cầu cầm máy bò vào phòng tuyến và lập tức được đưa đến hầm chỉ huy. Anh trở thành phóng viên đầu tiên vào được An Lộc. Chuẩn tướng Lê Văn Hưng rất hài lòng bèn cho anh phóng viên liều mạng được nằm trên chiếc ghế bố duy nhất của ông trong đêm đầu tiên.
Thiên hạ vẫn thắc mắc về cái cách Nguyễn Cầu vào An Lộc, dù rằng thực sự anh đã vào. Đã sống với các đơn vị, đã ăn cơm dã chiến với Biệt cách Dù, đã đi theo các đại đội của sư đoản 5, nhưng cái lối vào bằng quan tài thì quá đặc biệt. Hỏi là có ai làm chứng được không. Nguyễn Cầu buồn rầu nói rằng có mấy bạn cùng khóa biết chuyện nhưng nay chúng nó chết hết cả rồi.
Chưa bao giờ họp khóa.
Cái khóa phóng viên chiến trường không tên, tốt nghiệp 25 người bây giờ đếm lại chỉ còn trên đầu ngón tay của một bàn tay. Trải qua 13 năm chinh chiến, phần lớn chết trận cả rồi. Mặt trận vùng I là nơi phóng viên bị chết nhiều nhất. Đỗ Văn Môn chết tại hỏa tuyến. Ngô Minh Liêm chết ở Đông Hà . Hồ Văn Đực tại đại lộ kinh hoàng. Riêng Trần Văn Nghĩa bị 18 viên đại liên xẻ dọc từ đầu xuống chân ở Quảng Trị. Lên cao nguyên thì Vũ Tiêu Giang chết ở Plei Me. Đặng Văn Thiện chết trận Ấp Bắc. Rồi đến Đức Cơ, Đồng Xoài nơi nào cũng có phóng viên chiến trường hy sinh. Trong trận Bastogne có Trần Văn Hiệt vào thay Nguyễn Cầu nhưng không bao giờ trở lại. Trong chuyến bay vào An Lộc cũng để thay thế Nguyễn Cầu thì Nguyễn Ngọc Bình chết trên trực thăng. Trần Văn Tuấn chết ở núi Bà Đen năm 68. Riêng có Nguyễn văn Giáo là nổi danh vì cùng nổ tung trên trực thăng với tướng Đỗ Cao Trí. Thái Khắc Chương mất tích năm 75 khi triệt thoái Pleiku.Trên khắp 4 vùng chiến thuật từ ngày ra trường đến khi bỏ máy, nơi nào cũng có xương máu của bạn cùng khóa.
Ông Cầu nói, nhiều quá, lâu quá không nhớ hết nhưng thật sự gần như cả khoá chẳng còn ai. Nghe nói còn một bạn vàng Nguyễn văn Lang ở Canada . Còn phần lớn chết trẻ. Không ai sống với tuổi già như ông. Khóa của ông ra đời năm 62 coi như không phải là khóa chính thức của quân trường. Khóa năm cha ba mẹ. Ông Cầu buồn rầu kể lại. Thủa nhỏ học Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên. Rồi qua Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Năm 1959 lên Saigon làm công chức bộ kinh tế rồi lập gia đình. Qua 60 thi nhập học khóa phóng viên. Học chữ học nghề hơn một năm dài. Rồi chuyển qua căn bản quân sự. Cả khóa qua Dục Mỹ học chiến tranh rừng núi xình lầy cùng với khóa 16 võ bị. Xong Dục Mỹ qua học nhẩy dù. Có bằng Dù rồi mới ra trường. Sau này gặp lại anh em khóa 16 võ bị có người đã lên đại tá nhưng phóng viên chiến trường thì suốt đời vẫn là phóng viên.
Hình ảnh quay được của Nguyễn Cầu và các bạn đưa về phía Mỹ thì AP xử dụng rất nhiều. Phe ta thì tổng cục chiến tranh chính trị và bộ thông tin Việt Nam khai thác. Những hình ảnh trên báo Tiền tuyến, Chiến sĩ Cộng Hòa và thời sự của Trung tâm điện ảnh quốc gia là xương máu của anh em. Tuy nhiên trên thực tế chiến công của phóng viên không được lưu tâm. Không có huy chương, không có thăng cấp dù là truy thăng. Đi khắp các mặt trận nhưng gần như tự quyết định lấy phần số của mình. Suốt bao năm qua anh em chưa bao giờ họp khoá.
Vào An Lộc
Vào được phòng tuyến An Lộc, phóng viên Nguyễn Cầu di chuyển từ hầm này qua hầm khác, từ đơn vị này qua đơn vị khác. Kết quả ông đã đem về những đoạn phim hết sức đặc biệt. Ngay sau trận pháo kích kinh hoàng nhất của địch vào bệnh viện tiểu khu và nhà thờ An Lộc, phóng viên đã quay được các xác chết của dân chúng, đàn bà, trẻ em và các ông bà già. Số tử vong cả ngàn người cùng với xác chết vương vãi bên ngoài đã được binh sĩ tập trung và chôn cất 3000 người tại chỗ.
Những bài báo của thông tín viên Sài Gòn viết lại hết sức thảm thương. Đặc biệt là những trẻ thơ sống sót bị thương bên cạnh xác cha mẹ.
Đoạn phim này về sau đưa ra chiếu đã là các chứng tích về những trận địa pháo của cộng sản. Nhưng đặc biệt hơn nữa, ngày nay cũng tại mồ tập thể này ở An Lộc, chính quyền cộng sản cho xây một tượng đài kỷ niệm với hàng chữ nguyên văn như sau :
Di tích Lịch sử và Văn hóa. Mộ 3000 người.
Nơi an nghỉ của đồng bào thị xã An lộc-Bình Long
bị bom Mỹ hủy diệt mùa hè năm 1972
Phần tài liệu của khu di tích phổ biến như thế này.
Ngày 6/12/1987 ngôi mộ tập thể này được nhà nước ghi nhận là di tích lịch sử ghi khắc tội ác của Mỹ Ngụy đối với nhân dân Bình Long.
Năm 1988 Chủ tịch nước phong cho Bình Long tước hiệu
Lực lượng vũ trang nhân dân Anh Hùng
Thêm một chuyện khác, cũng tại khu vực hàng ngàn người chết vì pháo kích, có câu chuyện của gia đình em gái nhỏ Nguyễn Thị Bình. Cả nhà em chạy từ Phước Long về An Lộc thì bố bị chết. Anh bị mất tích. Sau trận pháo kích vào nhà thờ đến lượt mẹ chết. Còn lại cô gái Nguyễn thị Bình 14 tuổi và 3 em nhỏ bây giờ luẩn quẩn theo chân anh phóng viên là người duy nhất không phải cầm súng chiến đấu. ....
Sau cùng Nguyễn Cầu bay ra bằng chuyến trực thăng đặc biệt để đưa phim về Saigon . Chị em bé Nguyễn thị Bình được đi theo. Cầu đem đám trẻ về nhà tạm trú.Tướng Lạc, tư lệnh Sư đoàn 9 đọc báo đã gọi cho Nguyễn Cầu, cảm thương hoàn cảnh các em nhỏ mồ côi, ông tư lệnh đã đón các em xuống Sa Đéc, gửi cho các bà Sơ trông nom. Sau này lại thêm người anh 17 tuổi mất tích trở về đoàn tụ với các em.
Đó là câu chuyện Nguyễn Cầu vào An Lộc.
Sau trận 72, anh chàng phóng viên nhiều may mắn đã có dịp vô tình ngồi trong chuyến tàu tiếp tế hải đảo lại quay được một phần của trận Hoàng Sa 74. Cuối cùng là đoạn phim anh quay trên cầu Tân Cảng vào những ngày cuối của tháng 4-1975. Sau khi cộng quân vào Saigon, khai thác các phim ảnh của VNCH để lại, chúng đã đi tìm Nguyễn Cầu, người có tên trong các bộ phim thời sự chiến tranh, trong đó có phim tình cờ quay được cảnh cộng sản pháo kích vào trường Tiểu học Cai Lậy.
Nguyễn Cầu được tin trong đài số 9 nói là cộng sản đang đi tìm tung tích tên phóng viên Mỹ Ngụy, anh bèn trốn về quê chờ đến thập niên 80 mới tìm cách vượt biên. Đến San Jose Nguyễn Cầu trở thành Thuyền nhân Video lo quay phim quan hôn tương tế để xây dựng lại cuộc đời.
13 năm cầm máy biết bao nhiêu hạnh ngộ, biết bao nhiêu gian truân. Người lính không có số quân, không có thẻ bài. Trận nào cũng đánh. Đeo trên người giây 3 chạc với pin và phim ảnh. Nón sắt che đầu và đôi khi nón sắt chỉ che máy hình. Hình ảnh có khi tỏ khi mờ. Khi rõ ràng, khi thì người cầm máy té lăn quay. Máy còn chạy mà người đã nằm xuống đất. Hình không quân từ trên trời. Hình hải quân dưới nước. Hỏi anh ở đơn vị nào, chẳng biết đơn vị nào là chính để trình diện. Khi Việt cộng vào cũng không biết ở loại nào mà khai báo.
Tôi viết về chuyện Nguyễn Cầu 76 tuổi ở San Jose nhưng không phải là ca tụng riêng một người. Tôi muốn tuyên dương cả khóa của ông. 25 người phóng viên chiến trường. Chết gần hết chẳng còn ai. Bây giờ gần như chỉ còn lại một ông già lãng tai. Trước đây rất trẻ trung đẹp trai, nhưng ngày nay vẻ đẹp chỉ còn là kỷ niệm. Ông kể chuyện nhưng cũng có chỗ nhớ chỗ quên. Sư đoàn nọ lẫn với sư đoàn kia, Tư lệnh này thành ra tư lệnh khác, nhưng có một điều này chắc chắn không sai. Cả khóa của ông thẩy đều anh hùng xông trận, nhưng suốt 13 năm chẳng anh nào bắn được một phát súng.

Giao Chỉ, San Jose .
5.2.2014
Cung Điệu Phù Trầm 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 03.03.2014 22:08:45 bởi dzuylynh>





https://app.box.com/s/pmb03ro11wnet2iwxwq6

 b ụ i   v à   h o a

thơ trần hải nhuận | nhạc & trình bày dzuylynh
 Album Tâm Ca Hư Không
 
( *kính tặng trưởng TâmNghĩa, trưởng NguyênNghi, trưởng MinhKhánh ĐCHT&ĐSSJ
*tặng cecile.marie.teresa.trưởngdiệuđạo.qúy huynhtrưởng&đòansinh GĐPT Âuchâu&thếgiới )

có phải không em hoa hương trên áo
hay bụi đường đã nhuốm tự chiêm bao
bụi và hoa cũng lần khân vướng mắc
ta cố giũ bao lần mà vẫn thế

lăn lóc trôi giữa năm dài tháng rộng
ngủ trong mê bên chiều hoang tội lỗi
trái tim ơi còn nhịp đập cuồng si
kịp về chưa rừng mưa khuya để gội

tung rải chi thêm cánh hoa huyễn mộng
lối đi về sinh diệt chon von
buồn vui chăng khi nói chuyện mất còn
phủi trôi đi cho hết sắc hương nồng

vẫn là em giữa chập chùng biểu hiện
tiếng kinh chiều động đến bến bờ không
ta chới với nhận ra mình hụt hẫng
để mất em ngược xuôi giữa dòng đời

tâmnhuậnminhvăn.sanjoseDec2013.Mar2014
Cung Điệu Phù Trầm 
Đăng nhập để trả lời
0
Cám ơn Dzuy Lynh đã đưa thông tin về sự ra đi của chú Cầu, một ngươi mà HB tình cờ đươc tiếp xúc và nghe chú ấy kể chuyện
Những người cầm máy đi giữa lằn tên mũi đạn quả là vô cùng gan dạ. Họ thật sự là những người yêu sự thật , yêu thiên nhiên, và dễ thích nghi vơi mọi tinh huóng ...
HB

Nhà tranh
Trang nhạcThơ giao lưu
Văn
Đăng nhập để trả lời
0
Ngõ nhớ
 
Em đi ngõ nhớ buồn tênh
Vắng em lá úa ngập trên lối mòn
Giậu mồng tơi hêt xanh non
Giàn hoa mướp cũng vắng con bướm vàng...!
 
Nghinh Nguyên
 
Hãy giữ tình yêu sống trong ta
Dẫu cho tình đời có phôi pha
Mỗi ngày góp nhặt niềm vui mới
Trái tim nhân ái mãi không già....
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 29.03.2014 19:06:47 bởi thương yêu>
 

tháng Tư súng gác trên mồ
anh tim lạnh, em khăn sô trên đầu
dưới bầu trời đêm đầy sao
có sao Bắc Đẩu băng vào đại dương
 *
tháng Tư bồng con đi thăm
mộ anh đất mới, nén nhang chưa tàn
em ngồi lượm hạt cỏ hoang
nghe con bập bẹ gọi anh, nát lòng
 *
tháng Tư, gồng gánh bán buôn
có chi trong rổ chợ buồn chiều nay
tìm đường vượt biển đêm mai
trắng tay, trắng dã mặt mày mẹ con
*
tháng Tư, ra biển ngoái nhìn
quê hương bỏ lại, phận mình nổi trôi
đi mà đau một kiếp người
vái anh hai lạy, để rồi...lưu vong

đông hương
 
quê hương em là Huế
quê tim em là anh
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 30.03.2014 19:01:42 bởi dzuylynh>


(mời bấm lên ảnh để nghe bài hát)  
 https://app.box.com/s/m8wq10jdf9bc3g9cy7wh
 
 
HÃY NHẶT GIÙM CHA ( Chúc Thư Người Lính Mũ Xanh )
sángtác|trìnhbày dzuylynh | album ThángTư.Em.Nỗi buồn

- kính dâng Mẹ Việt-Nam -
- thân tặng hương linh mũxanhCaoxuânHuy -
( cho các con kh.duy-k.long-th.lan-ng.lan-trieuam-
cho tuổi trẻ ViệtNam quê nhà và Hải Ngọai tha hương )

hãy nhặt giùm cha chinh y, giày trận
súng, đạn, thẻ bài, nón sắt, ba lô
hãy lấp quân trang cho đầy huyệt mộ
thịt hộp, cá khô, gạo sấy, bản đồ

hãy nhặt giùm cha poncho, áo giáp
claymore, lựu đạn, hỏa pháo, lưỡi lê
con hãy đứng lên mà lau khô hạt lệ
chờ đợi một ngày sau sẽ có lúc trở về

hãy nhặt giùm cha cọng rơm ngọn rạ
bông lúa chín vàng và tiếng chim ca
linh khí non cha và hồn thiêng sông mẹ
để thương tiếc quê hương một thuở an hòa

hãy nhặt giùm cha tuổi thơ con đã mất
khi giặc hung tàn từ Bắc vô Nam
bao thịt nát xương tan, bao máu lệ chan hòa
ngày tổ quốc bi thương nhuộm màu tang trắng

hãy nhặt giùm cha mảnh dư đồ rách
là xương máu cha anh đã nhuộm thắm sử xanh
con gói lại chưng trên bàn thờ quốc tổ
để một sớm mùa xuân hồn cha sẽ trở về...

để lật lại từng trang... từng trang quân sử
để nuốt lệ tri ân những anh hùng vị quốc vong thân
con hãy nhặt cho cha những điêu tàn chứng tích
và thảm cảnh kinh hòang vào Tháng Tư Đen

hãy nhặt giùm cha ánh đuốc đất người
sau này con về thắp lại lửa quê hương
hãy khắc cốt ghi tâm nỗi hờn mất nước
để ngày kia cha có thác cũng ngậm cười...

dzuylynh. 29/3/1975-29/3/2014 _ 39 năm QuảngNam thất thủ  
Cung Điệu Phù Trầm 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 31.03.2014 01:31:10 bởi dzuylynh>


download
https://www.box.com/s/0sev85cdvf6pkceohs1j

Lâu, hôm nay em về thăm phố
Cuối tháng tư mây đen đan kín bầu trời
Chuyện quê hương nói hết một đời
Vẫn còn đó, nỗi đau của người viễn xứ...

( thơ Tóc Nâu )

CÒN ĐÓ NỖI ĐAU ...

Lâu lắm rồi em chưa về thăm phố
SàiGòn ơi ! Sao nỗi nhớ đục trùng khơi...

Cuối Tháng Tư mây đen đan kín bầu trời
Chuyện quê hương dẫu nói hết một đời
Vẫn còn đó nỗi đau người viễn xứ
Vẫn còn đó Nỗi Đau Người Viễn Xứ!

Lâu lắm rồi em chưa về thăm phố
Saigon mình trơ lại những mộ bia
Khắc ghi sâu tội ác kẻ vô thần
Cho thương tiếc, khổ đau, và bi hận!...

...Và hôm nay em trở về thăm phố
Hạt mưa buồn lâu qúa vẫn chưa khô
Vẫn còn đó Nỗi Đau Máu Đỏ Da Vàng
Vành tang trắng phủ quanh ngày Quốc Nạn!

Quê Hương ơi bao giờ hết điêu tàn?
Cho nỗi nhớ quặn đau năm tháng tha hương!
Đề đêm đêm thao thức đếm canh trường
Chờ cho đến mai này mùa Xuân trở lại
Chờ cho đến mai này mùa Xuân trở lại!
Cho ngày về Cờ Vàng rực rỡ tung bay
Tay cầm tay mừng vui nước mắt tuôn trào
Biết bao giờ? Hay chỉ còn đọng lại nỗi đau?!?
Biết bao giờ? Hay chỉ còn đọng lại nỗi đau?!?

Sẽ có ngày Sàigòn trở lại không lâu
Sẽ có ngày không còn đọng lại nỗi đau!
Để em tôi thôi buồn thôi nhớ
Và quê hương trở lại ngày xưa
Phải không em? phải không em?
Phải không! Phải không?
Cung Điệu Phù Trầm 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 31.03.2014 15:08:45 bởi SongHuong>
TỰ KHÚC ĐÊM
( Viết cho con )
Ba lại về viết thao thức vào đêm
Những con chữ ngã nghiêng mùa giông bão
Những con chữ tròn nỗi lo cơm áo
Và những điều không thể tỏ cùng ai

Đêm dùng dằng con chữ cứ phân hai
Nữa mơ hồ ngày mai con lạc lõng
Nữa mong manh giữa đời như bong bóng
Tự dối lòng … đêm bỗng hóa chông chênh

Tự khúc ru lòng ba viết vào đêm
Có dòng sông Thu bên bồi bên lỡ
Có bóng nội chiều còng lưng ngược gió
Ngóng con xa mờ tỏ phía chân trời

Tự khúc đêm ba không viết bằng lời
Ba con viết bằng nữa đời xa xứ
Giữa đục trong chẳng lệch dòng câu chữ
Lời nội giờ ….ba gởi lại cho con

Rồi mai này chân lội suối trèo non
Có thể đau nhưng đừng quên con nhé
Bàn chân ba cũng một thời trai trẻ
Để bây giờ …. Tự khúc gởi vào đêm
Huế cuối tháng 3/2014
Sông Hương


Nén lòng tôi với tri âm
Nén thương nhớ gởi xa xăm một người
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.04.2014 10:20:24 bởi vosan>
 
       

Midi file: 
https://app.box.com/s/dha1t6kpth991vcppxdi
📎 Nga_y gio__6
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 02.04.2014 20:32:41 bởi Phù vân>
1975-2014 THÁNG TƯ ĐEN 39: ĐỌC BÁO GIÙM BẠN
 



Kẻ Thù Trước Mặt Và Kẻ Thù Sau Lưng!


Dân oan biểu tình ngày 26/3/2014 tại SG

Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 192 (01-04-2014)
 
Trong cả hàng ngàn năm tồn tại, dân tộc Việt Nam luôn có một kẻ thù trước mặt, một kẻ thù hùng mạnh hằng nuôi mộng thôn tính dải đất hình chữ S để tiến xuống Đông Nam Á. Chính vì thế, lịch sử nước Việt chủ yếu là lịch sử chống ngoại xâm phương Bắc này. Công lao của các minh quân ái quốc, các anh hùng dân tộc chủ yếu là ý thức sắc bén về hiểm họa Đại Hán và hành động quyết liệt ngăn giặc Tàu chui qua Nam Quan ải và xâm nhập Bạch Đằng giang.
 
Sau chiến thắng của Mao đảng, các lân bang Trung Hoa như Mông Cổ, Mãn Châu, Tây Tạng, Hồi Hồi lần lượt bị thôn tính, và Việt Nam (lẫn Thái, Miến, Miên, Lào…) đều nằm trong kế hoạch bành trướng của Trung Nam Hải. Là một lãnh tụ chính trị ở miền Bắc lúc ấy, lẽ ra Hồ Chí Minh, kẻ từng viết “Dân ta phải biết sử ta. Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”, phải hiểu hơn ai hết về ý đồ tối tăm tàn độc của người Tàu, một ý đồ càng tàn độc và tối tăm hơn bởi “tinh thần cộng sản” (là tinh thần bá chủ thế giới).Trong cả hàng ngàn năm tồn tại, dân tộc Việt Nam luôn có một kẻ thù trước mặt, một kẻ thù hùng mạnh hằng nuôi mộng thôn tính dải đất hình chữ S để tiến xuống Đông Nam Á. Chính vì thế, lịch sử nước Việt chủ yếu là lịch sử chống ngoại xâm phương Bắc này. Công lao của các minh quân ái quốc, các anh hùng dân tộc chủ yếu là ý thức sắc bén về hiểm họa Đại Hán và hành động quyết liệt ngăn giặc Tàu chui qua Nam Quan ải và xâm nhập Bạch Đằng giang. 
 
Khốn nạn thay, chính Hồ Chí Minh lại là kẻ đầu tiên trong lịch sử dân tộc từ trên ngai vàng bước xuống mở toang cửa nước, ôm lấy kẻ thù, gọi nó là thầy là anh và rước nó vào giữa lòng đất Việt. (Trần Ích Tắc và Lê Chiêu Thống đã chỉ theo Tàu trong hoàn cảnh sợ bại trận và bị bại trận). Từ đó kẻ thù truyền kiếp của Dân tộc mặc sức tung hoành với sức mạnh tàn sát người Việt qua cuộc Cải cách ruộng đất (dưới sự điều khiển của cố vấn Tàu và bắt chước Thổ địa cải cách), tàn phá văn hóa dân Việt qua vụ Trăm hoa đua nở (học đòi Bách gia tranh minh của Mao chủ tịch), cướp đoạt sơn hà nước Việt qua Công hàm bán nước (tán thành Tuyên bố Chu Ân Lai), xâm nhập dần lãnh thổ Việt và trói buộc dần lãnh đạo Việt qua chương trình viện trợ người và của cho “cuộc chiến đánh Mỹ cứu nước” (vì Nga và Tàu, như lời thề của Lê Duẩn).
 
Sau 1975, kẻ thù trước mặt ngày càng sát mặt hơn nhờ hiệp định biên giới (1999) và hiệp định lãnh hải (2000) giao thêm rừng thêm biển của Tổ quốc cho nó. Chưa hết, đứa con hoang của Hồ Chí Minh (theo dư luận đồn đoán) là Nông Đức Mạnh, trong vai trò Tổng bí thư đảng, dù chưa tham khảo ý kiến các nhà khoa học, kinh tế, văn hóa, quân sự, năm 2008 đã tự tung tự tác ký kết với Tàu cộng một bản tuyên bố chung ghi rõ: “…Hai bên tăng cường hợp tác trong các dự án như: Bôxit Đắc Nông, các dự án thuộc khuôn khổ ‘Hai hành lang, một vành đai kinh tế’ và các dự án lớn khác….”. Đúng là cha nào con nấy! Được đà, Nguyễn Tấn Dũng, với vai trò thủ tướng Việt kiêm thái thú Tàu, cũng hùng hồn tuyên bố: “Bôxit là chủ trương lớn của đảng”!?! Một chủ trương nay gây thảm họa to lớn về kinh tế và môi trường, gây nguy cơ nghiêm trọng về quốc phòng và an ninh. Bắt chước các thủ trưởng của mình, lãnh đạo các tỉnh từ Nam chí Bắc (có lẽ cũng chưa bao giờ học lịch sử vì đa phần từ trên trâu nhảy xuống, chạy vào rừng, ôm lấy khẩu AK đi ra và leo lên ghế quyền lực) hồ hởi phấn khởi cho tặc Hán thuê mướn 300 ngàn hecta rừng đầu nguồn và rừng quốc phòng nửa thế kỷ; xây dựng phố thị thôn làng ở Hạ Long, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Đắc Nông, Bình Dương… thành những tô giới, biệt khu mà ngay nhà cầm quyền Việt cũng không thể xâm nhập; khai thác các loại mỏ ở Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Nghệ An, Lâm Đồng, Vĩnh Long, Bình Thuận… làm cho đất nước giờ cạn kiệt khoáng sản. Đặc biệt nhất, nhờ tình sâu nghĩa nặng biểu hiện qua “16 chữ vàng, 4 chữ tương, 4 chữ tốt”, qua “hội nghị Thành Đô 2” năm 2012 với sự hợp tác toàn diện (chưa từng có trong lịch sử nhân loại), kẻ thù của Dân tộc đã ung dung xây dựng cảng kinh tế Vũng Áng (huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh) từ năm 2006 và đang tiến hành xây dựng cảng kinh tế Cửa Việt (tỉnh Quảng Trị).
 
Theo tường thuật của các nhân chứng, “Kỳ Anh (Hà Tĩnh) đã được cầm quyền ĐCSVN bán cho Trung Quốc hơn 80 km2 thành khu căn cứ riêng mà chỉ có chức sắc Tỉnh ủy và Trung ương Đảng mới có thể được cho vào. Trung Quốc xây tường và nhà cao tầng dọc quốc lộ 1 từ Kỳ Anh đến Cẩm Xuyên hơn 20 km, chiếm hoàn toàn biển phía Đông quốc lộ 1, để làm gì cũng không ai được biết. Dân Kỳ Anh mất đất, không việc làm. Trai thì cờ bạc, đề đóm, chích choác ma túy. Gái thanh niên, trung niên cặp nón, ô… môi son, má phấn, mắt xanh mỏ đỏ vẫy gọi khách đi xe bắc Nam, công khai làm điếm vì không có việc làm. Đất ở, đất ruộng, cả mồ mả cha ông… nay ĐCS bán cho Tàu rồi. Được trai Tàu lấy làm vợ là mơ ước của gái Kỳ Anh ngày nay, vì đi làm điếm còn khổ hơn. Người Trung Quốc ở Kỳ Anh không cần theo luật CHXHCNVN là đi xe máy phải đội mũ bảo hiểm, còn được công an cười chào thân thiện. Người Kỳ Anh mà đi xe máy không đội mũ thì chỉ có đi theo ông Trịnh Xuân Tùng – Hà Nội thôi”. Tại cảng Cửa Việt hiện thời cũng xảy ra tình trạng tương tự. Rồi theo đánh giá của các chuyên gia, với những hiện tượng như thế, hai cảng kinh tế Vũng Áng lẫn Cửa Việt có nguy cơ trở thành cảng quân sự của Tàu cộng và cùng với căn cứ hải quân Du Lâm của Trung Quốc, dành cho tàu ngầm, nằm ở thành phố Tam Á, cực nam đảo Hải Nam (mối lo của các nước ASEAN), làm thành một tam giác chắn ngay cửa ngõ vịnh Bắc Bộ. “Theo bản đồ, từ Du Lâm đến Vũng Áng và Cửa Việt, có chiều dài đường chim bay khoảng 320-350 km, trong khi khoảng cách giữa Vũng Áng đến Cửa Việt theo quốc lộ 1A là 190 km. Ba đỉnh này tạo thành một tam giác; và với lực lượng hùng mạnh về tàu ngầm lẫn tàu chiến, Trung Quốc rất dễ dàng chia cắt hai miền của Việt Nam ở khu vực Vũng Áng và tỉnh Quảng Bình, kể cả đường bộ và đường biển. (Nên nhớ Quảng Bình, nơi nằm giữa Vũng Áng và Cửa Việt, là vùng đất hẹp nhất trên dải đất hình chữ S của Việt Nam, bề rộng chỉ hơn 40 km tính từ bờ biển đến biên giới Việt-Lào)”. (Trích Nguyễn Hữu Quý, Trung Quốc đang có âm mưu gì ở Hà Tĩnh và Quảng Trị?). Sở dĩ kẻ thù trước mặt của Dân tộc ngày càng sát mặt, sát nhà, sát cửa VN (mà trong lịch sử chưa từng có kể từ Ngô Quyền), đó chính là nhờ kẻ thù sau lưng Dân tộc. Gọi nó là kẻ thù sau lưng vì rất nhiều con Hồng cháu Lạc không hề để ý (bởi nó cũng từ bọc trứng Âu Cơ, cũng da vàng máu đỏ, cũng cháu Lạc con Hồng), vì nó luôn tự vỗ ngực “đem lại độc lập cho đất nước”, luôn tự tuyên bố “của dân, do dân và vì dân”, luôn tự khẳng định “đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc”, luôn tự cho mình “gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”. Gọi nó là kẻ thù sau lưng vì khi xuất hiện trước quốc dân, nó toàn nói những lời nồng nàn yêu nước, toàn hứa những điều tốt đẹp vĩ đại; vì khi xuất hiện trước quốc tế, nó toàn trình bày những chương trình phát triển, toàn báo cáo những thành tựu rực rỡ; vì khi ra tay đàn áp dân lành, nó toàn mặc thường phục, đeo khẩu trang, vì khi xử án bất công các nhà dân chủ, nó toàn gán tội hình sự, lỗi phá hoại. Gọi nó là kẻ thù sau lưng vì khi nhân dân trưng ra bằng cớ rành rành về sai lầm và tội ác, nó giả vờ nhỏ vài giọt nước mắt, nói ít lời xin lỗi, hứa kiểm điểm đôi điều; điêu ngoa hơn là trốn tránh trách nhiệm của mình, đổ vấy tội lỗi cho người khác, chuẩn bị đào thoát ra ngoại quốc; hay tàn độc hơn là thủ tiêu đồng lõa để bịt đầu mối, tố cáo ngược để giam cầm người vạch tội, dùng cả hệ thống truyền thông để đổi trắng thành đen, để tự tô son trát phấn là quang vinh, là vĩ đại… Tất cả đã khiến cho hàng triệu con dân Việt vẫn dửng dưng không thấy vấn đề, vẫn thản nhiên chẳng màng nguy hiểm.
 
Kẻ thù sau lưng đó, kể từ Hồ Chí Minh, đã tàn phá cơ cấu làng xã họ tộc làm giềng mối ngàn năm cho xã hội, đã tiêu hủy đạo đức gia phong làm nền tảng vạn thuở cho giống nòi; đã giết chết hàng vạn nông dân giỏi biết làm giàu cho đất nước, đã đày đọa hàng ngàn trí thức lớn biết tô bồi văn hóa Việt. Thế nhưng vẫn có những con người cho đấy là cuộc cách mạng xã hội long trời lở đất! Kẻ thù sau lưng đó đã lôi cả nửa nước vào cuộc thí nghiệm “xây dựng xã hội chủ nghĩa” đầy thất bại và điên khùng, vào cuộc trường chinh “đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào” đầy huyết lệ và vô nghĩa. Thế nhưng vẫn có những con người lấy làm vinh dự được “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Kẻ thù sau lưng đó đã khiến nửa nước còn lại phải sống trong lo âu vì pháo kích vào làng, vì mìn chôn giữa lộ, vì chất nổ trong rạp hát, vì đạn bắn giữa ngày xuân. Thế nhưng vẫn có những con người lấy làm đắc chí được tham gia vào “công cuộc giải phóng Dân tộc”!
 
Kẻ thù sau lưng đó đang nấp dưới một bản Hiến pháp mới gọi là “hình thành từ ý muốn nhân dân” nhưng đè bẹp mọi nhân quyền và dân quyền của đồng bào bằng những độc quyền và ưu quyền của đồng đảng; đang nấp dưới những bộ luật đầy mỵ dân và dối láo, từ Luật đất đai với nguyên tắc lường gạt: “Mọi tài nguyên đất nước đều thuộc về toàn dân”, Luật giáo dục với nguyên tắc phỉnh phờ: “Một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng”, Luật báo chí với nguyên tắc gian trá: “Báo chí là cơ quan ngôn luận của các tổ chức xã hội, là diễn đàn của nhân dân… Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận”…
 
Trong thực tế, kẻ thù sau lưng đó đang lấy từng mảng đất nước dâng cho kẻ thù trước mặt bất chấp sự phản đối của nhân dân như ở Hà Tĩnh và Ninh Thuận trong những ngày này; đang sách nhiễu, giam cầm, truy tố, đầu độc các công dân dám phản đối kẻ thù trước mặt như Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày, Nguyễn Xuân Nghĩa, Bùi Minh Hằng, Đinh Đăng Định hiện nay…, đang xóa bỏ ký ức, đục bia kỷ niệm, cấm cản truy điệu những công dân đã bị kẻ thù trước mặt sát hại trong các cuộc xâm lược một thời; đang tìm cách ru ngủ công dân bằng những giáo khoa sử thiếu sót, những lối nói tránh né, những thái độ bạc nhược, những lời lẽ tâng bốc tình hữu nghị đối với kẻ thù trước mặt, và với tình trạng dân Tàu được để cho vào nước tràn lan, có thể đang chuẩn bị cho kẻ thù trước mặt tiến hành kế hoạch sát nhập như Nga vừa làm tại vùng Crimea bên bờ Hắc Hải.
Việt ngữ có từ “chung lưng đấu cật” để chỉ thái độ đoàn kết hợp tác khi có khó khăn nhiều phía, kẻ thù nhiều mặt. Đây chính là lúc toàn thể người Việt trong và ngoài nước cùng nhau thực hiện điều đó. Hai kẻ thù khốn khiếp của Dân tộc đang chung tay đồng lõa xâm lăng bán nước, lẽ nào chúng ta chẳng chung lưng đấu cật đánh đuổi chúng đi ???

nguồn: Bán Nguyệt San TỰ DO NGÔN LUẬN

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.04.2014 09:26:28 bởi Phù vân>
NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA CHÚNG TA

* " VINH DANH "  CHIÊU ĐÃI VIÊN HÀNG KHÔNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT-NAM
* CHÁU HƯ BÁC CHỒN - DU HỌC SINH CHXHCNVN VÀ ĐỈNH CAO TRÍ TUỆ CỦA LÒAI ĐƯỢI : PHÁT HUY SÁNG KIẾN, CẢI TIẾN KỸ THUẬT ĂN CẮP VẶT !
 
Nhân chuyện báo chí trong và ngoài nước đăng tin cô tiếp viên trẻ đẹp của hàng không Việt Nam chuyển đồ ăn cắp.

Người Việt…. ăn cắp!
 
Kẻ bênh thì “Chỉ là môt thiểu số thôi chứ có biết bao nhiêu cái tốt của người Việt sao không thấy nói”. Người chống thì:“Cái gì cũng vừa vừa phải phải, chiếm 40% trong tổng số 100% về thành tích ăn cắp thì không biết nhục à?”. Chuyện qua chuyện lại và nổ lớn trên đài BBC, trên báo chí trong ngoài nước, trên các mạng cá nhân FaceBook suốt dạo này là vì….

Ngày 27/2 vừa qua, tự nhiên cái tờ báo “phải gió” Sankei (đứng hàng thứ 5 trong các đại nhật báo tại Nhật) lại đưa 2 bản tin đầy nhức nhối: cảnh sát Nhật phát lệnh bắt một tiếp viên hàng không Việt Nam vì nghi ngờ chuyển đồ ăn cắp. Trước khi vào chuyện xin tóm tắt về mẩu tin “phải gió” này.
 
Cuối năm ngoái, cảnh sát đã bắt giữ 4 thanh niên Việt Nam trạc tuổi hai mươi mấy đã “chôm” những mỹ phẩm nổi tiếng của Nhật như Shiseido và quần áo của hãng Uniqlo tại các cửa tiệm trong thành phố Tokyo. Theo lời khai thì những “hàng hóa” này đã được gửi đến nhà 1 phụ nữ Việt Nam 30 tuổi. Đầu năm nay, cảnh sát đã bắt giữ luôn người phụ nữ này vì sau những cuộc điều tra thì biết là người này đã đóng gói và gửi các đồ ăn cắp đến một khách sạn gần phi trường Narita, nơi các tiếp viên nghỉ tạm đợi chuyến trở về. Theo dõi một thời gian, cảnh sát đã thấy có những thùng hàng ghi tên địa chỉ người nhận là các tiếp viên hàng không, sau đó thì những thùng hàng trở thành thùng không được vứt tại các bãi rác, còn “nội dung” trong thùng thì “nằm gọn” trong hành lý của các tiếp viên. Vì là nhân viên phi hành đoàn nên sự kiểm soát hành lý không chặt chẽ, phần lớn chú ý vào ma túy, vũ khí nên các món hàng này trót lọt và định kỳ bay về “quê hương” yêu dấu. Hà Nội 36 phố phường là một trong những nơi trưng bày những loại hàng này nhiều nhất.
 
Một nhân viên ngoại giao người Nhật cho biết ông thấy những món hàng này còn để nguyên bảng giá, và ông này biết ngay là đồ ăn cắp, vì ở Nhật sau khi mua hàng, tất cả các bảng giá đều được tháo ra.
Mỹ phẩm Nhật Bản rất được người Việt yêu thích, năm 2013 Nhật đã xuất cảng sang Việt Nam 534 tấn hàng mỹ phẩm, tăng 5 lần so với 10 năm về trước và bị đánh thuế 10% nên những món hàng ăn cắp được nồng nhiệt chiếu cố vì giá…..quá bình dân.

Theo thống kê của sở Cảnh Sát thì năm 1998 cả tòan quốc có 247 vụ người VN ăn cắp, năm 2012 có 999 vụ, nửa năm đầu của năm 2013 có 401 vụ, chiếm 40% các vụ ăn cắp của toàn thể người ngoại quốc .

Bình thường thì tôi không quan tâm vì thực ra, chuyện người Việt ăn cắp đã có lâu lắm rồi, chẳng có gì là mới lạ, con số phần trăm lúc đó cũng rất ư là khiêm nhượng khi so sánh với các nước bạn “láng giềng”, lần này thì thú thật: “lạnh mình” với con số 40% nên xin “góp với bao la” một chút về “Lịch sử ăn cắp của người Việt Tại Nhật”. Tôi không phải là nhà tâm lý học chuyên phân tích, tôi cũng không phải là kẻ “thẩm quyền” để luận tội bất cứ ai, tôi chỉ là một người bình thường nghĩ rất đơn giản: Ăn cắp là chuyện xấu, dứt khoát không nên và lẽ dĩ nhiên ăn cắp trong tình trạng không cần phải ăn cắp… như ở Nhật thì càng không tha thứ.
 
Kể từ khi người Việt được chấp thuận định cư (1981), người tị nạn từ các trại Đông Nam Á như Mã Lai, Hồng Kông, Thái Lan, hoặc đang tạm trú tại các trại tị nạn tại Nhật được chính phủ đưa vào 3 “trung tâm xúc tiến định cư” tại 3 địa điểm: Yamato (Kanagawa), Shinagawa (Tokyo), Himeji (Hyogo). Tại đây, mọi người sẽ qua một khóa huấn luyện tiếng Nhật, học cách hòa nhập vào đời sống Nhật, nhanh thì 6 tháng và lâu thì 1 năm. Sau khi học xong, trung tâm xúc tiến sẽ tìm công việc thích hợp và sẽ bắt đầu cuộc sống tự lập. Người Việt đã có mặt trên toàn nước Nhật.

Tệ nạn ăn cắp… bắt đầu từ đây.
 
Có 5 đối tượng mà “phe ta” thường nhắm tới:
1/ các máy pachinko
2/ các cửa hàng tạp hóa, quần áo, mỹ phẩm, đồ điện v.v… 
3/ các máy tự động bán nước ngọt, thuốc lá 
4/ các loại xe gắn máy, xe ủi, máy cày….
5/ móc túi
Đối tượng (1) thì chỉ một mình là đủ, còn (2), (3), (4) và (5) thì phải có người “hiệp lực” thế là những “nhóm” được thành hình “hoạt động” song song với “cá thể”

Tại các cửa hàng.
 
Ngoại trừ những trường hợp chôm cho riêng mình xài, còn những “hàng” lấy được sẽ qui tụ về một mối, rồi từ đó sẽ “chia sẻ” cho “đồng hương xung quanh”, “đồng bào ruột thịt ở quê nhà” hoặc “những nước bạn hữu nghị” với giá phải chăng.
Lấy một trường hợp điển hình cho dễ hiểu: giả thử một bao gạo 10 ký, giá thị trường 4000 Yen, sẽ có người thu mua với giá 2500-2800 yen, rồi người này để lại cho “đồng hương” với giá 3000. Hình thức “chia sẻ” này tại các chung cư qui tụ nhiều người Việt rất phổ biến. Camera, máy chụp hình, thuốc cao salonpas v.v… cũng được phân phối tương tự.

Chôm xe gắn máy.
 
Thuở đó, Việt Nam quê nhà ta Honda dream rất nổi tiếng, mua theo giá nhập cảng chính thức thì quá mắc, thôi thì ta mua chui vậy. Nơi cung cấp hàng 100% không đâu khác hơn là từ Nhật Bản. Cứ 2, 3 tên một nhóm, mướn một chiếc xe hộp xung quanh được bao phủ bằng bạt, không thể nhìn thấy bên trong có những gì, rong ruổi trên khắp nẻo đường, cứ thấy Honda dream thì dừng lại và hì hục đưa lên xe, còn những loại khác thì “có cho ông cũng đéo lấy” (quân ta dán miếng giấy có nội dung này trên một chiếc xe không phải dream mà người viết đã chứng kiến tận mắt). Ngoài ra, còn xe Harley cũng rất là ăn khách. Có một dạo nạn mất Harley tại Tokyo đã lên đến mức báo động. Bộ Cảnh sát nhập cuộc và bắt được không biết bao nhiêu nhóm hầu hết là “quân ta”.
 
Câu hỏi đặt ra, hàng độc này sẽ tuồn về Việt Nam hay đâu đó bằng cách nào?
 
Xin kể một trường hợp điển hình: “Quân ta” mướn một bãi, xung quang là rừng núi không có nhà cửa, rồi đặt một container hàng chình ình ngay dưới “các tàng cây xanh lá”. Ban đêm, các nhóm cứ rong ruổi khắp nơi, được hàng thì đem đến nơi đã được chỉ định, cất “hàng” vào “tủ”, xong nhiệm vụ, liên lạc với chủ xị: “bữa nay cho vô đó 2 con”, trưa hôm sau thì chủ xị đến check hẹn gặp nhau đâu đó thanh toán tiền nong, rồi “huy động” xe tải chở hàng về bãi khác. Tất cả hàng được “thồn” vào trong tận cùng của một container, còn phía ngoài toàn là “rác”, có nghĩa là những đồ phế thải như TV, tủ lạnh v.v…. Container đầy hàng đó sẽ được chuyển đến bến tàu để xuất cảng về Việt Nam, Hồng Kông…. dưới danh hiệu: hàng phế thải xuất cảng. Hải quan Nhật cũng chỉ kiểm tra cho có lệ, không lẽ phải moi từng thứ một, và hàng cứ thong dong vượt đại dương. Đã có “bỏ nhỏ” liên lạc trước nên khi thuyền cập bến quê nhà, sẽ có người chờ sẵn làm mọi thủ tục nhận lãnh đưa về nơi an toàn rồi phân phối đi khắp nơi.

Máy bán đồ tự động (Rút máy)
 
Đối với các máy tự động thì quân ta học được “kỹ xảo” nghe nói từ Trung Quốc. Dùng một giấy bạc 1000 yen cắt làm 3, xong nối lại bằng băng keo, một đầu có gắn một sợi giấy để kéo ra kéo vào. Ban đêm, quân ta tìm đến những máy tự động vắng người. “Mày canh, tao rút”, chia nhiệm vụ xong xuôi. “Tao” sẽ cho tờ giấy bạc vào nơi bỏ tiền và kéo ra kéo vào cho đến khi hiển thị số tiền trên máy, từ đó ta rút lại “đồ nghề” cất vào túi và bấm vào món hàng ta muốn lấy, chẳng hạn một lon coca giá là 120 yen, máy sẽ cho ra một lon coca cùng 880 tiền thối. Rồi ta cứ lập đi lập lại cho đến khi máy hết tiền thối. Xong 1 máy, đôi ta lại đi tìm con mồi khác. Cách đây vài chục năm, đã có một bài báo phân tích về “mánh mung” này sau khi bắt được mấy người Việt Nam đang “hành nghề”, cũng có một bài báo khác loan tin bắt được vài người Việt vì tội “rút máy”, nhưng không bắt lúc hành nghề mà phát giác lúc đương sự vào ngân hàng đổi từ tiền đồng sang tiền giấy, hình như là 500,000 vừa tiền 100, 10 yen (5000 miếng). Ngân hàng thấy khả nghi vì đổi quá nhiều, nên báo cho cảnh sát và câu chuyện bại lộ.
 
Các hãng bán nước, bán thuốc lá…. bằng máy tự động không những thiệt hại vì mất tiền, mất đồ mà còn mất tiền để thay toàn bộ máy, chứ nếu không thì lại có ngày lãnh đạn tiếp.

Pachinko.
 
Pachinko là một trò giải trí của Nhật hầu như người nào cũng đã nghe qua dầu chưa “thử” bao giờ. Nó là một chiếc máy, bên trong lồng kính được trang hoàng đủ kiểu trông rất bắt mắt. Trước hết, bạn phải bỏ tiền ra để mua những viên bi. Sau cho bi vào hộc bi và vặn cần, bi sẽ “tung bay” trong lồng máy. Nếu bi lọt vào lỗ trong lồng kính làm các đóa hoa nở rộ, thì bi sẽ tuôn ra nhiều hay ít tùy theo lỗ chính hay lỗ phụ. Nếu may mắn mà bạn thắng có nghĩa là “đả chỉ” (máy không còn bi để tuôn ra nữa) (1 máy giới hạn 5000 viên, có nơi vô hạn), bạn có thể dùng những phần bi thắng đổi bất cứ gì bạn muốn, vì trong tiệm Pachinko có chỗ đổi hàng giống ý như một siêu thị nhỏ, cái gì cũng có. Hoặc không muốn đồ thì có thể đổi bi thành tiền, nhưng không được đổi tiền trong tiệm, vì luật Nhật không cho phép, bạn sẽ nhận được một vài món tượng trưng như hộp nước hoa, rồi đem hộp này ra ngoài để đổi thành tiền tại một cái chái vừa nhỏ đủ cho việc đổi tiền được đặt ngay gần tiệm. Lẽ dĩ nhiên tiền bạn mua bi để chơi sẽ đắt hơn tiền bạn bán bi. (Thí dụ: 100 yen bạn mua được 25 viên, 1 viên là 4 đồng, nếu bạn bán lại chỉ được hơn 1 đồng chút xíu). Lẽ thường thì chơi trò này thì mang đầu máu nhiều hơn là thắng, vì chỉ là hình thức giải trí. Pachinko là kỹ nghệ chính phủ Nhật thu thuế nhiều nhất không thua gì thuốc lá, rượu bia. Tuy thế đối với….. quân ta, nhất là thầy của quân ta là Trung Quốc, “mày” có tinh vi tới đâu “tao” cũng có cách trị.
 
Nguyên tắc thắng là làm sao búng cho bi vào lỗ và hoa nở thì bi sẽ ào ra. Thế thì chỉ việc tìm cách chận không cho hoa đóng lại là xong thôi. Dễ quá mà. Đầu tiên các sư phụ dạy phải dùng đồ nghề là 2 miếng sắt mỏng, 1 miếng dùng để mở và 1 miếng dùng chặn không cho đóng vào. Lừa lúc không ai để ý, nhanh tay đút 2 cái cây vào khe hở dưới hộc đựng bi. Nếu set đúng thì bi ào ra như suối, chỉ vài phút là đèn đỏ báo động máy “thua”. Nhưng kiểu này phải cao tay lắm chứ không thì dễ bị lộ. Có bao nhiêu “dân chơi” đã bị múm vì trò này. Đến một dạo, có một loại máy mới ra đời, và máy chỉ có 1 lỗ. Nếu bi vào lỗ này thì coi như máy sẽ “thua” phải nhả hết phần đạn trong máy. Máy tên là “nhất phát” (Ippatsu 一発). “Mánh lới” dùng đồ nghề trở nên vô dụng. Không biết có ai dạy hay do quân ta nghĩ ra một phương pháp mới: “dùng nước miếng”, quân ta vừa chơi vừa nhai kẹo cao su để cho có nhiều nước miếng, cứ vài phút lại “nhổ” vào tay một bãi rồi trải đều lên dàn bi nằm trong hộc, khi viên bi búng lên dính nước miếng chạm điện sẽ chạy lung tung và xác xuất lọt vào lỗ rất cao và thế là máy K.O. Cứ một tiệm làm chừng vài máy xong ta đi tìm tiệm khác có máy tương tự.

Ở Kanto hết chỗ làm ăn vì tiệm đã đổi máy, quân ta di chuyển xuống Kansai hoặc đến tít cả miền Bắc nước Nhật để tìm loại máy tương tự. Mướn một chiếc xe và một người tài xế chở 4 “búng thủ” đi khắp nơi tìm tiệm. “Lương” của tài xế (cũng người Việt Nam) rất ư là hậu hĩnh, bao ăn bao uống, bao ở mà hầu như toàn là khách sạn trong vòng 1 tháng, nếu thắng lớn sẽ trên dưới 500,000 ngàn. Còn thu nhập của các “búng thủ” thì chắc phải thêm một số 0 nữa Trò “nước miếng” này đã bị lộ khiến Hiệp Hội Pachinko đổi toàn bộ các thiết kế khiến các dân chơi không dở trò được nữa.

Móc túi.
 
Có những toán móc túi chuyên nghiệp từ Việt Nam sang, cư ngụ tại các khách sạn nằm trước các nhà ga lớn hoặc có đường Shinkansen, rồi “len trong đám chợ đông người” dở trò móc túi. Quả thật, mấy tay này siêu thật. Chỉ một chuyến ra quân như vậy cũng tìm được vài chục cái ví, trừ hết chi phí, ăn chơi thoải mái còn đem về “quê” một số tiền khá lớn.
 
Theo thống kê của Sở Cảnh sát, những trò trên đây chỉ ở mức độ mà một nhà chuyên môn nói là một hiện tượng tự nhiên của xã hội. Nhưng kể từ năm 2000 trở đi, lúc số người Việt đến Nhật với tư cách nghiên cứu sinh, du học sinh càng ngày càng tăng thì những trò ăn cắp nhất là tại các cửa tiệm đã tăng lên và mấy năm gần đây đã lên đến mức 40%. Tính cách làm ăn sẽ qui mô hơn vì có sự tiếp tay của các người có điều kiện ra vào nước Nhật nhiều lần trong đó không ít là tiếp viên của hãng hàng không Việt Nam.
 
Tờ báo Sankei chỉ đề cập sơ qua về những hàng được Việt Nam mến chuộng là Shiseido, Uniqlo, nhưng thực ra danh sách dài lắm từ mỹ phẩm, thuốc tây, đồ điện. Bên nhà sẽ đặt hàng và bên này sẽ cung cấp và các ông các bà hay đi đi về về sẽ là người chuyển lại ăn hoa hồng. Tất cả đều giao thiệp trên email, skype v.v….
 
Hẳn quí vị còn nhớ vào cách đây gần 5 năm, ngày 17/12/2008, cảnh sát Nhật bắt quả tang phi công phụ Đặng Xuân Hợp khi toan tính đem mớ hàng ăn cắp về VN. Sau gần 3 tuần điều tra, ngày 9/1/2009, Đặng Xuân Hợp đã bị viện kiểm sát của Nhật khởi tố. Trong quá trình điều tra, ĐXHợp đã “thành khẩn” nhận tội và còn khai thêm: biết được job béo bở này qua sự .... giới thiệu của một cấp trên và không phải chỉ có mình mà hầu như tất cả các đồng nghiệp tôi đều “nhất trí” với job thơm phức này. Cũng theo lời khai thì ĐXHợp, ngoài vụ vận chuyển 27 món hàng trộm cắp từ sân bay Kansai về VN vào tháng 7-2008, Đặng Xuân Hợp từng vận chuyển khoảng 30 máy video cassette kỹ thuật số và một số hàng hóa khác về VN bằng đường hành lý xách tay vào cuối tháng 1-2008 và còn... nhiều nhiều nữa.

Từ lúc Nhật Bản có chế độ thâu nhận tu nghiệp sinh sang Nhật để học nghề, thì số người muốn đi rất nhiều, lý do chính là vì kinh tế, lẽ dĩ nhiên cũng có lý do là muốn học nghề. Để được một visa vào Nhật, những người này thường qua một cơ quan trung gian, cơ quan này sẽ giới thiệu cho một công ty Nhật và làm mọi thủ tục cần thiết. Ngoài thủ tục “đầu tiên”, nhiều người phải cầm nhà cầm cửa để bảo đảm mình sẽ quay về.
 
Sang đến Nhật làm việc với tư cách học nghề thì mức lương rất khiêm tốn, có tiện tặn lắm cũng chỉ đủ xài cho mình, vì thế dù biết sẽ bị mất số tiền thế chân, có nhiều trường hợp giữa đường đứt cánh, trốn ra ngoài làm việc hoặc tham gia vào các nhóm ăn cắp vì dù sao thu nhập cũng cao hơn so với tình trạng tu nghiệp sinh. Không bị bắt giữa chừng thì cố gắng ở càng lâu thì tiền càng nhiều, về nhà dư sức chuộc.
 
Còn du học sinh thì còn thê thảm hơn, qua những trung tâm môi giới quảng cáo rầm rộ bố láo bố lếu đầy dẫy tại Việt Nam nào là: đến Nhật vừa đi làm vừa đi học sỉu sỉu cũng kiếm trên 10 lá, nào là mùa hè, mùa đông nghỉ dài thì thu nhập trở thành gấp đôi, gấp ba. Thế là bố mẹ chạy đây chạy đó để con mình xuất dương du học, vừa học cho mình, vừa giúp cho gia đình. Nhưng sang đến nơi thì vỡ mộng, muốn tìm được số tiền như lời quảng cáo thì phải làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, về đến nhà thì đừ người sức đâu mà học rồi ngày đến trường cứ lần lần thưa thớt đưa đến tình trạng không tham dự đủ giờ học và sở nhập quốc sẽ không gia hạn cho ở tiếp. Thế là con đường tham gia vào các nhóm ăn cắp chỉ… thêm một bước là tới.
 
Trên đây chỉ là một mảng của chuyện xấu: chuyện ăn cắp (setto- 窃盗), còn nhiều mảng khác khá trầm trọng như việc buôn bán ma túy, nghiện ngập, kết hôn giả, làm hôn thú giả để nhập cảnh Nhật hoặc dùng bằng lái xe giả…. đang là tầm ngắm của sở cảnh sát và sở nhập quốc, vì nói ra thì quá dài, xin hẹn một dịp khác.
 
Một người bạn Nhật coi như trong gia đình khi đọc bài báo Sankei hỏi tôi: “Tại sao lại có tình trạng ăn cắp của người Việt như thế này?" Hơi quê, tôi định trả lời: Tại vì cửa hàng Nhật dễ ăn cắp quá, nhưng kịp ngưng lại vì nhớ lại trong một phiên tòa ở Việt Nam nghe nói vào năm ngoái, khi ông tòa tuyên án tử hình một bị cáo về tội cướp của rồi còn chặt tay nạn nhân, thì mẹ và chị bị cáo bù lu bù loa chửa đổng:“Ai biểu đeo vàng nhiều làm chi để nó nổi lòng tham, rồi bây giờ tử hình nó”
 
Thú thật tôi không biết trả lời sao, ngoại trừ điều tôi suy nghĩ: cách trồng người, dựng người của cái gọi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ta bây giờ đã như một chiếc xe lao xuống dốc không phanh.
 
Trước khi chấm dứt bài này, xin kể quí vị một câu chuyện vui không liên quan đến chuyện ăn cắp nhưng có dính dáng đến các tiếp viên hàng không Việt Nam.

Muốn gì cũng có.
 
Tôi biết có một người mà đã từng dịch cho anh ta khi anh ta gặp tai nạn xe cộ, đang sống ở Gunma, nơi người lao động, tu nghiệp khá nhiều. Vài năm trước tôi tình cờ gặp lại anh ấy. Nói chuyện chào hỏi xong, anh ấy hỏi tôi:
- Bác còn nhớ thịt chó không?
 
Sự thực thì lúc còn ở bên nhà tôi cũng có ăn, nhưng bây giờ thì thấy ghê ghê làm sao ấy. Nhưng tôi hỏi tới:
- Ông lấy đâu ra ở Nhật, mấy ông bắt chó rồi làm à?
 
- Không, thế thì bác quê quá, bây giờ bác muốn ăn gì chả có. Chó 7 món: chả chìa, nhựa mận, luộc, nướng, ninh xáo…. nóng hổi thơm phức bác ơi.
- Ông làm sao mà có?
 
- Bác chỉ cần cho nhà em biết trước 2 tuần, em sẽ nhờ mấy cô ấy mang sang.
- Cô nào?
 
- Mấy cô ở Hàng Không Việt Nam đấy.
À thì ra thế. Tôi còn được nghe là có một gia đình làm đám cưới cho con cần vài con heo quay sữa, trầu cau, bánh hỏi thịt quay ….. đều được cung cấp đầy đủ qua ngả này.
@ theo TheHy.


nguồn: email ônggiáo
Đăng nhập để trả lời
0
Qua bảy mươi năm đảng ta du nhập nền giáo dục xhcn ưu việt vào đất nước VN náy đã đào tạo nên những thế hệ cháu ngoan bác hồ, Nếu bác còn sông mà thât lòng yêu dân tộc đất nước VN này thì sẽ đau òng biêt bao ?
 Bác đi gặp Catmat lenin rồi năm điều bác dạy các học tró của Bác đão ngược lại hết. bắng chứng trong năm điếu ấy có "yêu tổ quốc, yêu đồng bào.....Thật thà dũng cảm", Thế mà cô bé Phương Uyên mới đem ra thực hành là bị váo tù, bị trù dập còn bị đuổi học, Em thấy quê nương biển đảo của ta bị tàu xâm chiếm , đồng bào ngư dân ta bị táu nò bắn giết ; từ trong sâu thẳm của tấm lòng khơi dậy niềm đau và em đau nên em đã thậy thà dũng cảm làm theo điều bác dạy đấy và em đã nhận được cái hậu quả đã làm theo điều bac dạy ! 
NN
Hãy giữ tình yêu sống trong ta
Dẫu cho tình đời có phôi pha
Mỗi ngày góp nhặt niềm vui mới
Trái tim nhân ái mãi không già....
Đăng nhập để trả lời
0



Giáp Ngọ 2014
 
kính chúc Quê Hương Việt Nam ngày mai không còn cộng sản

kính chúc bố lynh cùng các quý bạn, các quý khách xa gần, ẩn hiện của Giai Điệu Phù Trầm
một Giáp Ngọ đầy sức khỏe, niềm vui và vạn sự cát tường

[sm=40.gif] [sm=40.gif] [sm=40.gif]


Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 03.02.2014 12:39:05 bởi dzuylynh>



 
(xin bấm lên ảnh để nghe bài hát)       

MƯA XUÂN NGANG LŨNG HOA VÀNG
sáng tác | trình bày Dzuylynh
album Cánh Thiên Di
( tặng cecile.linhvũ.nghinhnguyên.senđất.dohop.càna.cátly.tócnâu.marie.thúylan.đônghương.saolinh.màuhoakhế.chiềubuồn )
 
đâu một nhành mai vàng đầu năm cũ ?
đâu người thôn nữ với nụ tầm xuân
ba mươi chín mùa qua sống đời luân lạc
biết đến bao giờ mới thấy xuân sang?

nghe giọt mưa ngang thung lũng hoa vàng
buổi sáng mồng ba chén trà trở nhạt
quạnh quẽ phương xa nhớ về quê nhà
Mẹ Việt Nam ơi ! biết đến bao giờ...

tuyết trắng trời Âu xuân chào lưu khách
đào hồng bắc Mỹ gió lạnh đầu đông
Canada buồn rừng phong xơ xác
thương những đứa con xa lâu qúa chưa về

đâu một vạt mưa đầu xuân quê cũ
đâu giàn thiên lý năm cánh đơm hoa
gần bốn mươi năm lữ khách xa nhà
biết đến bao giờ mới thấy xuân sang?

nghe vạt mưa ngang thung lũng hoa vàng
buổi sáng mồng ba tách cà phê đắng
khói thuốc ngổn ngang nỗi niềm cô quạnh
ngóng về quê mẹ trăm vạn sầu thương ...

mưa Xuân sáng mùng ba Tết Giáp Ngọ. San Jose CaliforniaFeb2.2014.dzuylynh

 
Cung Điệu Phù Trầm 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 03.02.2014 22:58:25 bởi dzuylynh>



(xin bấm lên ảnh để nghe bài hát)


 RU VỀ PHẬN NGƯỜI
 Lời Nguyễn Hải Hà | Nhạc & trình bày Dzuylynh
 ( cho Người da vàng lưu vong )

Ngày giá buốt... con tim mù
Lời thì thầm của tiếng mộng du
Ru về cuộc đời phận kiếp lưu vong
Ru lời thật thà ngày tháng long đong
Ru trầm mộng mị về giữa hư không tháng ngày...

Ngày nắng cháy... đôi vai trần
Người ngồi chờ từng tiếng nỉ non
Ru về phận người sỏi đá trông mong
Ru về tình người từ đáy sông khô
Bên lề cuộc trần còn ngóng mưa xa cuối nguồn...

Ta mang nặng tình sầu chờ dấu cưu mang
Qua trăm nghìn đèo rừng núi cheo leo
Đêm sâu vực thẳm ngồi nhìn bóng xuôi tay ngậm ngùi
Ngày hấp hối trăm năm về
Lời cỏ dại mọc nhánh từ tâm
Cho đời tủi nhục hạnh phúc mong manh
Cho đời bội bạc còn chút ăn năn
Mai còn gặp lại hỏi lòng còn nhớ những chuyến xe qua bụi mờ...

mùngbốntếtgiápngọ.feb32014.hảihàdzuylynh
 
Cung Điệu Phù Trầm 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.02.2014 19:59:19 bởi Phù vân>
CÂU CHUYỆN ĐẦU NĂM
Câu chuyện đầu xuân: Văn hóa Việt trong vận khí suy vong


Thụy My
Đầu năm, khi đất trời vào xuân, cũng là dịp để suy ngẫm lại những vấn đề về văn hóa. RFI đã phỏng vấn tiến sĩ Phạm Chí Dũng, cũng là một nhà văn đồng thời còn là người có nhiều bài viết phê bình về văn học nghệ thuật.
***
RFI : Thân chào tiến sĩ Phạm Chí Dũng, rất vui được tiếp chuyện anh nhân dịp xuân về. Trước hết anh có thể cho biết cảm xúc của anh trong bầu không khí đầu năm mới ?
Rất khó tả, nhưng rõ rệt nhất là thiếu hẳn hương sắc mùa xuân. Làm sao có thể vui nổi khi đây là cái Tết thứ ba liên tiếp tôi chứng kiến cảnh tượng hàng vài chục ngàn công nhân ở các khu công nghiệp, khu chế xuất không có đủ tiền mua vé tàu xe về quê ăn Tết. Với họ, đang xảy ra một nét văn hóa rất mới, có thể gọi là “văn hóa tết cấm trại”. Tức phỏng theo một điều lệnh trong quân đội, công nhân ở nguyên trong khu nhà trọ mà không dám bước ra đường vì chẳng có tiền. Mà như vậy thì còn gì là tết?
Không khí đường phố cũng uể oải và bải hoải. Chỉ sát Tết người dân mới có chút tiền để mua sắm, nhưng ở nhiều tụ điểm mai và đào vẫn ế chỏng chơ. Khách hàng đã và đang quay lưng với thị trường như một dạng văn hóa phủ nhận trong kinh doanh.
Đã đến lúc người dân không thể mặc định sắc màu của nền văn hóa dân tộc như những báo cáo tô hồng của chính phủ về nền kinh tế hay những nghị quyết của đảng về đường lối kiên định đi lên chủ nghĩa xã hội đến hết thế kỷ 21. Hiện tại được dẫn dắt bởi quá khứ, và tương lai lại được quyết định bởi những gì trong hiện tại.
Quá khứ đó, chúng ta thấy cái gì? Năm 2013 chứng kiến những trận hôi của vĩ đại chưa từng thấy ở một số địa phương, cuộc tranh cướp bánh sushi trong một nhà hàng ngay tại thủ đô, cho dù không thể cho rằng tất cả những người tranh giành đều đói khát và đất nước cũng chưa đến thời đói kém…
Những hiện tượng xã hội đó đang góp phần triệt tiêu nhanh chóng khẩu hiệu của đảng “xây dựng nền văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc”. Tương tự, điều lạ lùng là trong mấy năm gần đây, chẳng mấy cơ quan tuyên giáo và dân vận còn nhắc tới khẩu hiệu này. Vì sao vậy? Đơn giản là thực tiễn đã trở nên tồi tệ đến mức giới chức đảng lẫn chính quyền không thể cứ mãi tự ru ngủ mình và mị dân xã hội bằng những lý lẽ một chiều đã bị thực tế bào mòn đến tận chân gốc. Dù luôn bị ăn sâu tâm lý thành tích, ít nhất họ cũng phải tự rung động một nỗi xấu hổ tối thiểu nào đó chứ!

RFI
 : Những giá trị truyền thống của ông cha như « Giấy rách phải giữ lấy lề », « Một câu nhịn chín câu lành »…dường như đã bị thay bằng sự vô cảm, tâm lý mạnh được yếu thua. Ngày nào đọc báo cũng đều thấy những tin được gọi là « cướp, hiếp, giết », người ta sẵn sàng chà đạp lên nhau, thậm chí mạng người có thể bị mất đi vì những lý do rất nhỏ nhặt. Thưa anh, phải chăng đạo đức xã hội đang rơi xuống tận đáy ?
Khi xảy ra cái chết ở thẩm mỹ viện Cát Tường tại Hà Nội vào năm 2013, một quan chức cao cấp ngành y tế đã phải thốt lên rằng đạo đức và y đức đã xuống đến đáy. Nhưng tôi cho là tất cả vẫn chưa phải tồi tệ nhất. Cái tồi nhất nằm ở phía trước, ở thì tương lai đầy sương mù và dưới vực thẳm, mà chế độ này và phần lớn dân chúng vẫn chưa hình dung hết.
Phía trước ấy là một cuộc tha hóa vĩ đại của toàn bộ nền văn hóa. Tuân theo quy luật vật chất quyết định ý thức, kinh tế quyết định văn hóa và bất kỳ khi nào nền kinh tế lao vào hố sâu khủng hoảng, đời sống sẽ trở nên thiếu thốn và đói kém đến mức một bộ phận dân chúng sẵn sàng giết nhau để sinh nhai.
Lịch sử đã chứng minh hết sức cận kề ở một quốc gia đông dân nhất thế giới, chính là Trung Quốc trong thời Cách mạng văn hóa những năm 60 của thế kỷ trước. Khi đó có đến 30 triệu người bị chết không chỉ bởi vô số cuộc thanh trừng, mà còn bởi đất nước này đã rơi vào thảm trạng đói kém đến mức tại một số nơi người dân đã phải ăn nhau để cầm hơi. Đó chính là điều tồi tệ phi nhân tính nhất, mà một nền văn hóa suy đồi đến tận cùng có thể mang lại.
Năm 2013 đã trở nên một đặc tả khá kinh khủng, trên bức tranh khốn quẫn của nền văn hóa đang lao dốc và còn chưa tìm thấy đáy ở Việt Nam. Cùng với cái gọi là nền văn hóa tham nhũng chưa từng thấy ở đất nước này, khắp nơi trong xã hội đã diễn ra cảnh cha con giết nhau, vợ chồng giết nhau, thầy đánh trò và trò giết thầy, nạn cướp của và hiếp dâm nổi lên khắp nơi. Cường hào ác bá cũng hoàn hành tàn lộng và bất chấp đạo lý. Nhưng nghịch lý ghê gớm là kinh tế càng suy thoái, người giàu lại càng giàu. Không biết bao nhiêu quan chức đã ních đầy túi và chỉ còn chờ chực cơ hội biến khỏi tổ quốc nếu xảy ra động loạn…
Rồi một điều tất yếu phải xảy ra là khi luật pháp không còn là mái nhà che chở cho người dân, chính nhân dân đã phải làm thay luật pháp. Nạn tự xử đối với những kẻ trộm chó mèo diễn ra ở Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh… Ở Bắc Giang, khi vài người dân bị công an khởi tố bắt giam vì đánh chết cẩu tặc, đã có đến 800 người dân khác đồng ký tên vào một bản tuyên bố cùng nhận tội. Đó là cái gì? Một loại văn hóa phản kháng của người dân đang phát tiết ngay trong lòng chế độ “của dân, do dân và vì dân”.
Tố chất văn hóa phản kháng đó đã dẫn đến làn sóng chống người thi hành công vụ lan rộng một cách đầy tự phát và bạo lực ở nhiều nơi. Không hiếm cảnh thanh niên đi đường và những người dân “săn sóc” một cách đặc biệt đến hành vi của cảnh sát giao thông, bởi lực lượng cảnh sát bị xem là đối tượng tham nhũng nhất quốc gia này càng ngày càng mang ý nghĩa như một mồi lửa châm ngòi cho các cuộc xung đột tự phát và rất khó kềm chế.
RFI : Thưa anh đầu năm thường nói chuyện vui, nhưng bức tranh thực tế xã hội lại quá xám. Những cách hành xử của con người thường từ nền giáo dục mà người đó được hấp thụ. Vậy thì theo anh trách nhiệm của ngành giáo dục đối với nền văn hóa như thế nào ?
Đóng góp không nhỏ vào sự xuống cấp của nền văn hóa là thực trạng lầy lội và ô nhiễm nặng mùi của ngành giáo dục vẫn chưa hề được cải tạo. Tiên đề “Tiên học lễ, hậu học văn” từ ngàn đời nay đã từ lâu bị phần lớn trường học biến thành thảm trạng mà chúng ta nên nhận thức lại là “Tiên học phí, hậu học thêm”. Có lẽ mệnh đề này mới nói lên tất cả cái thực trạng quay quắt đến mức khốn cùng của môi trường giáo dục đào tạo và giới quan chức điều hành ngày nay.
Không khác gì thị trường bất động sản, vài năm gần đây người ta đã phải dùng đến cụm từ “bong bóng đại học” cho sự bùng nổ bội cung của hàng trăm trường đại học tư thục và dân lập từ Bắc chí Nam. Nhưng ngược lại với đà tăng tiến theo cấp số nhân về số lượng các trường đại học, cao đẳng và chương trình “đào tạo 20.000 tiến sĩ’ của nguyên Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Thiện Nhân và đời Bộ trưởng kế vị, chất lượng đào tạo còn lâu mới làm nên một nền văn hóa xứng tầm với Thái Lan. Ít nhất là về tỉ lệ công trình nghiên cứu được công bố trên đầu các tiến sĩ, cùng bài luận văn tả cảnh các cô giáo bỏ nghề và học sinh vùng cao phải bắt chuột ăn thay cơm.
Tình trạng xuống cấp toàn diện của giáo dục và văn hóa cũng khiến cho hiện tượng không có tác phẩm hay trong văn học nghệ thuật trong suốt nhiều năm qua trở nên rất dễ lý giải trong đời sống văn nghệ Việt Nam. Bất chấp các cuộc thi và trao giải thưởng đều đặn hàng năm của các hội đoàn văn học và nghệ thuật nhà nước, vẫn không có lấy vài ba tác phẩm trong lĩnh vực văn học, sân khấu, mỹ thuật, điện ảnh, âm nhạc… ghi dấu ấn cho một tinh thần hồi tâm thành khẩn.
Hầu như tất cả đều nhàn nhạt, nhòa nhạt và luôn đi sau hiện tồn nhức nhối của xã hội ít ra vài thập kỷ. Nhiều nhà văn và nhà viết kịch đủ lòng tự trọng không còn cầm nổi bút, bởi tâm trạng chán chường và thất vọng quá giới hạn cho phép. Chỉ còn một số người viết vì cơm áo gạo tiền, hoặc làm cái gọi là “sáng tạo” vì các đơn đặt hàng và giải thưởng từ Nhà nước. Không thể nói khác hơn, văn học nghệ thuật quốc doanh từ lâu nay đã mang trên mình thiên chức văn hóa cộng sinh.
RFI : Khái niệm « văn hóa cộng sinh » mà anh vừa đề cập, có lẽ không thể loại trừ giới quan chức, vì những lề thói đã ăn sâu vào họ ?
Văn hóa gia đình, văn hóa trường học và văn hóa cộng đồng là ba rường cột của một nền văn hóa. Nhưng một khi cả ba trụ cột ấy đều bị xâm hại một cách trầm kha, thì không còn gì có thể cứu vãn nổi một nền văn hóa chính trị. Nhất là khi nền văn hóa chính trị ấy lại bị ruỗng mục bởi thói vô cảm, vô trách nhiệm và quá đậm đặc tố chất lợi ích nhóm của giới quan chức.
Vì thế, chúng ta có thể coi văn hóa quan chức là thành tố thứ tư gây xâm hại đối với nền văn hóa Việt Nam đương đại, nhưng đặc biệt hơn cả lại là nhân tố cộng sinh ưu tú nhất. Giới quan chức đổ cho 70% doanh nghiệp chủ động đưa hối lộ, nhưng làm sao có thể lý giải sự mâu thuẫn không thể chấp nhận được, giữa tỉ lệ “chỉ có 1% công chức yếu kém” như báo cáo của chính quyền, với con số ít nhất 30% công chức “chủ động nhận hối lộ” trong những kết quả khảo sát về tham nhũng?
Một cuộc khủng hoảng văn hóa đang tăng tiến với gia tốc ngày càng gấp rút. Cuộc khủng hoảng ấy lại biến diễn sang cuộc khủng hoảng niềm tin của người dân đối với xã hội, của công dân đối với đất nước và cuối cùng là của người dân đối với chế độ. Những cuộc điều tra xã hội học đã cho thấy niềm tin của giới trẻ vào đảng và chế độ sa sút khủng khiếp, và trong giới trẻ giờ đây không còn cái gọi là lý tưởng nữa. Nếu có được một cuộc khảo sát độc lập, người ta tin chắc rằng chỉ còn không đầy 10% trong số lớp trẻ tin vào việc “nền văn hóa xã hội chủ nghĩa” có thể tôn tạo cho nền văn hóa dân tộc.
Ngược lại, một chủ nghĩa văn hóa phủ nhận đang hình thành và phát triển rất ghê gớm trong một số khá đông lớp trẻ ở Việt Nam.

RFI
 : Về « chủ nghĩa văn hóa phủ nhận » như anh nói, theo anh lớp trẻ đang phủ nhận những giá trị gì ?
Phủ nhận những giá trị tinh thần, phủ nhận những giá trị truyền thống, và phủ nhận với chính những thế hệ đi trước. Hiện tượng đó làm chúng ta nhớ lại thế hệ mất mát, nảy sinh ở châu Âu trong vài thập kỷ sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Cũng là suy thoái kinh tế trầm kha, cũng là cái nhìn về một tương lai mơ hồ, cũng là tâm trạng đầy bất an và dễ nổi loạn.
Nhưng ở Việt Nam, điều nguy hiểm hơn nhiều là cái tương lai như thế còn trở nên vô định bởi một nền chính trị hủ hóa, cố chấp và luôn có nguy cơ gây nên hiệu ứng hạ cánh cứng. Từ đó sẽ sinh đẻ vô số hậu quả trầm luân cho đời sống người dân, đặc biệt là dân nghèo.
Hơn bao giờ hết, đặc thù văn hóa Việt Nam được quyết định bởi nội lực nền kinh tế và kế sinh tồn của mỗi công dân. Trong giai đoạn “cất cánh” từ thời mở cửa kinh tế những năm 1990, chủ nghĩa kiếm tiền và đầu cơ thượng hạng đã phủ trùm lên cả xã hội, để sau đó vào thời kỳ suy thoái từ năm 2008 đến nay, điều được coi là “văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc” cũng bị suy mòn theo lý lịch không mấy trong sáng của đồng tiền.
Phía trước, màu đen khó che giấu của của nền kinh tế đang chờ đón một khoảng trống chân không văn hóa, nơi mà hố sâu bất bình đẳng xã hội sẽ sâu thẳm hơn bao giờ hết. Tâm lý chà đạp lẫn nhau sẽ thổi bùng lên ngọn lửa tranh đấu cực kỳ tàn khốc giữa các giai tầng và trong chính từng giai cấp, để cuối cùng bản thân nền văn hóa bị giẫm đạp đến kiệt sức.
Không thể lạc quan về nền văn hóa Việt trong năm 2014 và cả những năm sau đó, tôi cho rằng sự biến mất của một nền chính trị đương thời còn dễ được chấp nhận hơn rất nhiều, so với những mất mát của một nền văn hóa dân tộc mà người dân nước Việt có thể phải mất đến nửa thế kỷ để phục hồi nó.
Rất nhiều người như tôi vẫn ngày đêm dồn dập thổn thức trong lòng một câu hỏi đích đáng: Ai và những tác nhân nào đã khiến cho nền văn hóa dân tộc suy đồi và suy vong ghê gớm đến thế? Kẻ nào phải chịu trách nhiệm lịch sử về hậu quả quá đau đớn ấy?
RFI : Xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Phạm Chí Dũng đã dành thì giờ để tâm tình với thính giả RFI Việt ngữ trong những ngày đầu năm về những suy tư liên quan đến nền văn hóa Việt.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.02.2014 21:26:38 bởi dzuylynh>
TẾT VIỆT NAM THA HƯƠNG

Những hình ảnh Tết Việt tại San Jose  
 
 
Đi đến đâu, từ Lion Plaza cho đến Senter Rd, Grand Centery Mall cũng thấy một rừng hoa muôn màu, muôn sắc, chỗ nào cũng đông vui. Những người đi chợ Tết là tham dự vào một sinh hoạt truyền thống cho có không khí tết.

Cali Today News - Ngày Tết Nguyên Đán, một ngày quan trọng nhất trong năm của người Việt từ rất lâu đời. Đời sống người Việt đi đâu cũng nhớ đến ngày Tết. Mang theo truyền thống đó, người Việt đang định cư ở hải ngoại không quên “Ba Ngày Tết”.  
Tục ngữ Việt Nam có câu:
“Có hay không mùa đông mới biết
Giầu nghèo ba mươi Tết mới hay.”
 
Ngày tết quan trọng như vậy cho nên dù cho xa cách quê hương, tại San Jose vẫn ăn Tết, mà ăn Tết lớn, lớn hơn Việt Nam nhiều. Có người đi chợ Tết cho biết như vậy.
 
Bắt đầu ngày Tết, chuẩn bị Tết là ngày Ông Táo về trời, 23 tháng Chạp. Vẫn theo một tập quán của người xưa, chợ tết là không thể thiếu vắng trong dịp Tết nhứt.
 
“Anh Hai anh tính đi mô
Tôi đi chợ Tết mua khô cá thiều.”
 
Ở San Jose, khô cá thiều có quanh năm ở các chợ Việt Nam, hoa kiểng cũng có quanh năm không thiếu, nhưng đến Tết mà thiếu chợ Tết thì dường như người ta thấy “thiếu thiếu” một cái gì! Người Mỹ gốc Việt tổ chức chợ Tết nhiều ngày hơn, và giữ truyền thống  ăn Tết vui hơn trong nước.
 
“Anh về hái đậu trẩy cà
 Để em đi chợ kẻo mà lỡ phiên
Chợ lỡ phiên tốn công thiệt của
Miệng tiếng người cười rỡ sao nên
Lấy chồng phải gánh giang sơn
Chợ phiên còn lỡ, giang sơn còn gì ? “
 
Tại Lion Plaza, các khu thương mại, các chợ Việt Nam trong vùng đã bày bán các loại hoa Mai, Lan, Cúc, Trúc, các loại cây kiểng, các loại bánh mứt, trái cây, hầu hết là những thứ mà đồng hương chúng ta cần để chưng  trong 3 ngày Tết, tất cả đều có tại các gian hàng chợ hoa Tết. Chợ Tết đã bắt đầu một tuần trước Tết. Nơi nầy năm nào cũng vậy, pháo đã nổ vang trời, đường xe chật chội, bãi đậu xe kín không còn chỗ, khu vực ngả tư King Rd. và Tully Rd. vào những ngày nầy không còn chỗ chen chân. Trong bãi đậu xe, một khu vực dành cho chợ Tết với hàng vài chục gian hàng có mái che, hoặc bày ra trên mặt đất, có đủ mọi thứ: Nào cúc, đào hồng, mai vàng, mai trắng, lay-ơn, huệ, bánh tết, bánh chưng…v.v. Ăn Tết tại San Jose mà không đi chợ Tết là một thiếu sót lớn. Chị Lan Trần, chủ một gian hàng bán tranh Tết cho biết: “Tiền bán chưa chắc đủ trả tiền chỗ, nhưng ra đây buôn bán cho vui ba ngày Tết.” Chị là công nhân điện tử. Một người khác bán hoa đào cũng có cùng tâm trạng. Anh nói “Mỗi năm bày ra đây cho có không khí Tết.” Anh trồng các loại bông kiểng trong chậu, và bán thêm các loại hoa đào rừng.
 
Đi đến đâu, từ Lion Plaza cho đến Senter Rd, Grand Centery Mall cũng thấy một rừng hoa muôn màu, muôn sắc, chỗ nào cũng đông vui. Những người đi chợ Tết là tham dự vào một sinh hoạt truyền thống cho có không khí tết. Chị nói “Mua ở trong chợ cũng được, như mua ở đây vui hơn.” Hoa lay-ơn một bó $6 đồng. Một bó hoa đào $40, chậu cúc $13-$14 đồng, rẻ hơn trong chợ được vài đồng. Đi trong không gian đó, hoạ nhập vào không khí đó chúng ta sẽ thấy được Tết đã về.
 
Ngoài chợ Tết, các Hội Tết, Hội Hoa Xuân đồng loạt mở cửa vào ngày Mùng 2 Tết.
 
Ca dao Việt có ghi:
“Mồng một ăn Tết nhà cha,
Mồng hai nhà mẹ, mồng ba nhà thầy.”
“Cu kêu ba tiếng cu kêu 
Cho mau tới Tết dựng nêu ăn chè.”
 
Đêm Giao Thừa, các chùa đã mở cửa đón giao thừa, từ ngôi chùa nhỏ là Hồng Danh, cho đến ngôi chùa lớn như Đức Viên đều có lễ cúng Giao Thừa rộn ràng nhộn nhịp. Đến thăm Chùa Hồng Danh có khoảng hơn 20 Phật Tử cùng với hai vị sư Tỳ Kheo Thích Quảng Thường và Tỳ Kheo thích Quảng Lương cùng Phật tử dâng hương đọc kinh và đốt pháo. Cảnh chùa vắng vẻ như một ngôi chùa ở làng quê, tiếng pháo nổ xé tan màn đêm và chuẩn bị đón Chúa Xuân về. Có một chút mưa như rửa sạch bụi trần gian, xóa tan những nhọc nhằn của năm cũ.
 
Các Phật tử chùa Hồng Danh trong nghi thức cầu an đầu năm

 
Chùa Đức Viên đông hơn, tấp nập hơn. Đèn hoa sáng rực, người đi lại chen chúc nhau. Bên trong tiếng tụng kinh trầm trầm vang ra, bên ngoài, nơi cửa chính có 3 bàn thờ, đồng hương Phật tử thành kính đốt nhang vái lạy. Cảnh chùa ngày Tết rộn rả vui hơn ngày thường; tuy nhiên, năm nay ít tiếng pháo. Sau một thời kính, Sư Cô Đàm Nhật gửi lời chúc Tết và khuyến tu.
 
Nhiều Gia đình phật tử thắp hương để cầu mong cho gia đình và người thân trong đầu năm mới

Không Khí tấp nập của ngày đầu năm mới tại chùa Đức Viên, San Jose
 
Ngày Mùng Một Tết đón năm mới tại Điện Thờ Phật Mẫu.  Thứ Sáu Mùng Một Tết có lễ cúng đầu năm tại Điện Thờ. Hàng trăm đồng hương và tín đồ đã đến thăm Điện và dùng cơm đầu năm tại Điện Thờ.
 
Ngày Hai Tết, Hội Hoa Xuân tại Việt Nam Town, và Hội tết tại Fairgrounds đồng loạt mở cửa đón đồng bào du Xuân.  Thật đúng với câu “ngựa xe như nước, áo quần như nêm” cả hai nơi đều đông người du Xuân. Vì ngày thứ Bảy nắng ấm, trời trong nên mọi sự hanh thông. 
 
 
Tại Hội Hoa Xuân, Little Sài Gòn trên đường Story chật cứng ngưòi ra vô. Lễ chào cờ và cúng tổ tiên đã diễn ra lúc 11:00am trong sự chào đón của mọi người. Ở đây có 5 vị đại diện 5 tôn giáo lớn của VN là Công Giáo, Phật Giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo đến chúc Tết đồng hương. Có Thị trưởng San Jose ông Chuck Reed và Phó thị trưởng SJ bà Madison Nguyễn đến chúc Tết. Chương trình văn nghệ kéo dài đến 6:00pm mới chấm dứt.
 
Trong khi đó, tại Hội Tết Fairground Vietnamese Tet Festival củng nhộn nhịp không kém. Với 3 sân khấu lớn, và một sân khấu cổ nhạc đã thu hút người đến xem thật đông. Chương trình bắt đầu từ 10:00am ngày thứ Bảy Mùng 2 Tết Giáp Ngọ. Bên trong còn có các gian hàng của các văn phòng đại diện các tổ chức công quyền, y tế, thương mại đến trưng bày triển lãm. Có các chương trình tôn giáo, văn nghệ…v.v.
 
 
Nhìn tổng quát thì năm nay 2014, Giáp Ngọ, dân Việt tại San Jose ăn Tết lớn và tràn ngập không khí Tết. Có người nói là “Ăn Tết lớn hơn ở Việt Nam” Pháo nổ vang trời suốt 1 tuần lễ tại Lion Plaza, và 2 ngày tại Grand Centery Mall. 
 
Một du khách đến từ Toronto Canada cho biết cảm tưởng: “Ồ! Tết lớn quá. Ở Toronto chưa bao giờ có cái Tết nào lớn như thế. Ở San Jose nắng ấm, mai đào nở rộ pháo nổ vang trời còn hơn là ở Việt Nam. Vui thiệt là vui”.
 
Lê Bình   
Cung Điệu Phù Trầm 
Đăng nhập để trả lời
0
 
 
 
ở đây không phải Bụi và Hoa mà là Đàn và Hoa 
là tiếng hát hoà cùng tiếng đàn
là đóa hoa không bao giờ tàn
kính dâng cho đời, cho người 
với niềm vui, niềm tin và nguồn yêu thương vô tận cho quê hương Việt Nam
 
tt kính chúc mừng Sinh Nhật bố lynh - ca nhạc sĩ Dzuylynh -
 
[sm=40.gif] [sm=40.gif] [sm=40.gif]
 
Đăng nhập để trả lời
0
 
  Cà Na cũng có món quà nhỏ này mừng Sinh Nhật ông Tư., chùm ảnh của chú chim bồ câu mà Cà na "theo dõi ' ở Roma _Ý để
 chúc ông Tư tuổi mới vẫn vui khỏe và bình an . ![:)]
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CàNa
Đăng nhập để trả lời
0

Ngày nào trên quê hương?
 
Ngày nào trên quê hương tôi
Tia nắng sưởi ấm lòng người?
Ngày nào trên đồng ruộng xanh tươi
Dân nghèo tôi lại sống an vui?
Ngày nào trên non sông thương yêu
Gió tự do thoáng mát muôn chiều?
Bé thơ lại nở nụ cười
Mẹ già nói tiếng “Nước Tôi!”
 
Ngày nào trên đất Nam Quan
Dân Hùng Vương hát tiếng Hồng Bàng?
Ngày nào trên nước non ta
Sóng triều dâng đắp bồi phù sa?
Ngày nào trên quê hương đau thương
Ta cười vui giữa những vô thường?
Gót chân ta đùa với lá vàng
Vui vì ta gặp mộ cha anh?
 
Ôi những dòng chữ Việt
Trên bia đá yêu thương
Thân cha anh đã tàn
Bia đá đã là bụi mờ
Tưởng rằng không còn…
Vô thường cả một nước non…
Ôi dòng máu Việt
Năm xưa rời xa tim
Xa thân xác bùn lầy
Sương trắng còn đây
Máu Việt tìm về đâu
Hồn Việt đi về đâu?
 
Ngày nào trên dải đất cong
Tim Việt Nam vẫn còn trong lòng
Ngày nào trên sóng triều dâng
Nước bập bềnh nói tiếng Việt Nam?
Rồi thì em gặp anh
Tóc trắng bay nụ cười hiền lành
Nắm tay run mình cùng dỗ dành
Ta gặp ta…
quê hương này là ta…
 
dohop 7 tháng 3, 2014
 
Viết từ bữa sinh nhật CNS Duy Lynh đến nay mới xong... Kính chúc anh sức khỏe dẻo dai, bền bỉ, tinh thần khỏe mạnh nhé.
 
Tiếng đàn trong đêm khuya
'Từng từng' tiếng vọng từ đâu?
Ễnh ương, ếch nhái, giếng sâu cũng màng.
Quỷ ma cũng phải bàng hoàng
Đánh rơi mặt nạ... rõ ràng quỷ ma!
Đàn ơi đừng lặng tiếng nha
Vững vàng từng nốt dân ta khải hoàn
Bầu trời tia nắng hân hoan....
 
 
📎 thoP1028649sml
Hoa tím học trò
Đời là
Bốn  mùa thương và nhớ
Nghịch ngợm
Góp nhặt dịch thành thơ (Từ Tiếng Anh) 
Repost – Kho Thơ Lưu Trữ của dohop
Đăng nhập để trả lời
0
Nợ Đời một nửa, còn một nửa nợ ơn em
 
 
Phạm Tín An Ninh
(Viết cho em và những người vợ lính trung hậu)

Thời còn đi học, lang thang từ Nha Trang đến Sài Gòn, dù con nhà nghèo, học tàm tạm, và nhan sắc dưới trung bình, tôi cũng đã mang tiếng đào hoa. Cho nên có muốn kéo dài thêm cái đời học trò để được mơ mộng đủ thứ chuyện dưới biển trên trời thiên hạ cũng đâu có cho. Rồi có phải thuộc giòng hào kiệt gì đâu, tôi cũng xếp bút nghiên theo việc kiếm cung. Nói kiếm cung cho nó vẻ văn chương và lãng mạn, chứ thực ra tôi vào lính, mà lại là thứ lính hạng bét thì làm gì có kiếm với cung. Có phải lính tàu bay tàu thủy gì đâu, mà là lính đi bộ. Lúc băng rừng lội suối, mặc bộ đồ trận hôi hám cả tuần không tắm, tôi ghét cay ghét đắng cái ông nào là tác giả cái câu “Bộ Binh là nữ hoàng của chiến trường” mà tôi đã đọc được ngay từ khi mới vào quân trường, đếm bước một hai để hát bài “đường trường xa”. Khổ thì khổ vậy, chứ mấy cô gái bé bỏng hậu phương lại mê lính trong mấy bản nhạc của ông Nhật Trường. Vì “nếu em không là người yêu của lính, ai thương nhớ em chiều rừng hành quân, ai băng gió sương cho em đợi chờ, và giữa chốn muôn trùng ai viết tên em lên tay súng ? .. ”. Nhờ vậy, trong mấy năm đóng quân dọc đường số 1, nơi nào tôi cũng để lại vài mối tình con. Tôi nghĩ đời lính như vậy mà vui, thì thôi chớ tính chuyện vợ con làm gì cho nó vướng chân vướng cẳng. Hơn nữa tôi cũng hiên ngang với đám con gái lắm, thì làm gì có chuyện “chết trong mắt em”. Vậy rồi trời xuôi đất khiến thế nào, sau mấy năm đánh đấm ở Quảng Đức, Ban Mê Thuột rồi Bình Định, Phú Yên, đơn vị tôi được mấy cái tàu há mồm chở vào bỏ xuống bãi biển Nha Trang vào lúc đường phố mới lên đèn. Tôi thấy lòng lâng lâng sung sướng vì không khí yên bình của thành phố biển, mà cũng vì tưởng mình đã được trở về với những “hang động tuổi thơ” của ông Nguyễn Xuân Hoàng. Nào ngờ, khi còn mải mê với mộng mị, tôi bị đánh thức lúc nửa đêm cùng đơn vị leo lên một đoàn xe mấy chục chiếc để tiếp tục “hát khúc quân hành”.
 
Đoàn xe ra khỏi thành phố, qua Ty Thông Tin, ra quốc lộ 1, trực chỉ hướng bắc. Tôi lại mừng thầm, nghĩ là sẽ được về dưỡng quân ở huấn khu Dục Mỹ. Nhưng tôi đã “ước tính tình hình” sai bét. Đoàn xe dừng lại tại bùng binh, ngã ba Ninh Hòa. Một tiểu đoàn lính đổ xuống cái thị trấn còn đang say ngủ. Đại đội tôi nhận lệnh vào đóng quân trong sân vận động. Sáng hôm sau tôi rủ mấy thằng bạn, quần áo chỉnh tề, ra phía trước “thăm dân cho biết sự tình”.
 
Thấy một ngôi nhà mở cửa, bọn tôi bước vào làm quen. Chủ nhà là một cô gái nho nhỏ dễ thương, mời đón mấy thằng lính trời ơi đất hởi mà miệng vui cười, e thẹn nhìn tôi bằng cặp mắt nai tơ. Vậy mà thằng lính ngang tàng như tôi lại chết trong đôi mắt ấy. Bắt đầu từ một chuyện tình cờ như vậy đó, mà tôi trở thành chú rể của Ninh Hòa hơn một năm sau. Trường Trần Bình Trọng cũng vừa có một cô học trò bỏ trường, bỏ lớp, bỏ bạn bè và bỏ cả đội múa ”Trăng Mường Luông ”.
 
Bây giờ cứ mỗi lần đọc bài thơ của ông nhà thơ Quan Dương, người Ninh Hòa, là tôi nhìn thấy có tôi trong đó :
Hồi nhỏ tôi rất anh hùng
Một mình dám nhảy cái đùng xuống sông
Bơi nghiêng, bơi ngửa giữa dòng
Hiên ngang trấn giữ một vùng tuổi thơ
Lớn lên trở chứng ngu khờ
Mắt em nào phải bến bờ sông sâu?
Cớ sao chưa kịp lộn nhào
Đành chịu chết đuối, thiệt đau đúng là…

 
Nàng làm vợ lính đúng tám năm. Tám năm khốn khổ lo âu. Vì lúc nào cũng có thể trở thành góa phụ. Đã vậy đứng ở Ninh Hòa lúc nào nàng cũng nhìn thấy hòn núi Vọng Phu sừng sững cuối chân trời! Nhưng rồi nàng không trở thành góa phụ mà lại trở thành tù phụ. Cơn sóng bất ngờ phủ xuống miền Nam, cuốn nàng theo cùng những người có chung số phận. Thân phận bọt bèo với một đàn con dại, cô học trò Trần Bình Trọng bé nhỏ ngày nào bây giờ phải một mình chống chọi với phong ba.
 
Riêng tôi, một thằng lính bất ngờ thua trận thì chuyện tù đày nào có than chi. Chỉ tội nghiệp cho “người tình bé nhỏ” ngày xưa. Tôi tự trách mình, giá mà ngày đó tôi đừng ra khỏi cái sân vận động, không gặp nàng, thì biết đâu nàng chẳng tìm lại một cố nhân nào đó – mà tôi thường nghe nàng nhắc đến với lòng ngưỡng mộ – bây gìờ đã là một ông quan hải quân, sẽ đưa nàng xuống tàu ra khơi đi tìm vùng đất hứa.
 
Rồi nàng bỗng dưng trở thành con cò lặn lội bờ sông của ông Trần Tế Xương, để nuôi đủ sáu con với một chồng – ông chồng gần tám năm biền biệt ở các trại tù Lào Cai, Yên Bái.
 
Tôi còn nhớ lúc ở trong tù, tôi may mắn nằm bên cạnh nhà thơ lớn Tô Thùy Yên. Tôi rất quý anh vì anh là một người tù có tư cách. Thấy tôi dốt nát mà cũng thích thơ văn, anh làm tặng tôi một bài thơ khá dài và hay lắm. Nhưng lúc bị cai tù kiểm tra, tôi nhát gan nên bỏ cả bài thơ vào miệng nhai nát rồi nuốt vào cái dạ dày đang đói. Vì vậy tôi không còn nhớ hết mà chỉ thuộc lòng mấy câu viết về nàng:
Tám năm áo rách bao nhiêu lượt
Em vá chồng lên những nỗi niềm
Từ thuở anh đi nhà tróc nóc
Con thơ đâu còn biết vui cười
Cô gái Ninh Hòa, thương quá đỗi
Một mình chèo chống giữa phong ba

 
Ra khỏi trại tù, dường như tôi chỉ đem về cho nàng thêm những đắng cay. Với một người chồng còn mang đầy những vết thương cả trên thể xác lẫn tâm hồn, cùng một đàn con thơ dại, giữa một xã hội chất chồng thù hận, nàng biết xoay xở làm sao ? Cuối cùng, nàng phải cùng chồng con, đem sanh mạng đánh một canh bạc cuối cùng.
 
Có lẽ ông trời không phụ lòng nàng. Chuyến đi vội vã, chuẩn bị chưa xong, rồi cũng đến được bến bờ. Trong lúc bao nhiêu người tìm cách tận hưởng hạnh phúc của một điều tưởng chừng may mắn nhất của con người, hoặc ít ra cũng ngơi nghỉ để hoàn hồn từ cõi chết, nàng lại tiếp tục làm kiếp con cò trong một vùng băng tuyết mênh mông, lo lắng cho con, để cho chồng học thêm vài ba chữ và vác ngà voi chạy đủ thứ chuyện bao đồng.
 
Bây giờ những đứa con đã trưởng thành. Nàng chiều chồng để cho mỗi đứa tự chọn đất nước nào nó thích mà dung thân. Mỗi đứa một phương trời. Nàng lại là một hậu phương cho các con đi vào trận mới. Ngôi nhà trở nên trống vắng. Cuối cùng nàng cũng chì còn có tôi, người lính thất trận năm nào, đã mang đến cho nàng biết bao là hệ lụy. Dư âm cuồng nộ của những cơn dông bão năm nào dường như vẫn còn đâu đó trong giấc ngủ của riêng nàng.
 
Tuổi sắp già, mà tôi còn mang nhiều món nợ. Biết làm sao trả cho xong. Nợ núi sông, nợ máu xương bè bạn. Mà khổ thay, tôi thì cứ mãi là thằng lính hèn mọn, bạc tình. Và tôi còn nợ nàng, nợ Ninh Hòa. Mảnh đất hiền hòa đã cho tôi một người vợ chung tình, cùng tôi qua bao cuộc biển dâu.
 
 


Phạm Tín An Ninh
 
Đăng nhập để trả lời
0
 
 
 
 
* * *
 
 
Bảo Tàng Của Người Lính Bị Bỏ Quên


Tác giả: Phương Hoa


Bài trích từ báo xuân Việt Báo Tết Giáp Ngọ 2014

Năm 1965, cậu bé Dann 10 tuổi của thành phố cổ Marysville có người bạn lớn đi lính sang Việt Nam chiến đấu. Nhận thư bạn lớn từ chiến trường Dĩ An, cậu bé 10 tuổi xúc động, bắt đầu sưu tập kỷ vật về Việt Nam để làm... bảo tàng. 50 năm sau, Bảo Tàng từ nhà để xe của Dann, nay đã thành một công viên bảo tàng, quốc kỳ người lính Việt Nam Cộng Hoà được trân trọng. Tác giả bài viết là nhà giáo Phương Hoa của thành phố cổ Marysville, California.

* * *


Trước đây có người hỏi điều gì đã khiến chúng tôi dọn đến Marysville, tôi trả lời có ba lí do. Thứ nhất, là đi theo "tiếng gọi" của... việc làm (move for job), một cái job toàn thời gian mà "cô giáo già" như tôi không dễ gì kiếm được ở những nơi khác. Kế đến, Marysville là thành phố "Oldest & Smallest," cổ nhất và nhỏ nhất Californiatổng dân số chỉ hơn mười hai nghìn ngườinên khá yên tỉnh. Và điều hấp dẫn chúng tôi nhất, là cánh đồng lúa dọc hai bên xa lộ chạy vào trung tâm thành phố. Nhưng giờ đây nếu ai có hỏi, tôi sẽ thêm vào, trên mảnh đất nhỏ này còn có một nơi mà mỗi lần ghé qua là mỗi lần tim tôi thổn thức. Đó là Nhà Bảo Tàng Chiến Tranh Việt Nam, một nhà bảo tàng có tầm cỡ ở Bắc Cali nhưng người sáng lập lại là cậu bé mười tuổi.

Nhớ lại lần đầu tiên tôi đến Maysville nộp đơn xin việc. "Cái nhà" của tôi dạo này mắt mũi hơi kém nên khi nào chạy trên xa lộ tôi dành lấy phần lái xe "cho chắc ăn." Không lái xe, nhưng ông ấy lại là người "lái tài xế," ngồi bên cạnh điều khiển cái GPS, chỉ đường cho tôi chạy. Tôi nào phải là tài xế cự phách gì, chạy trên đường cao tốc tôi chỉ chăm chú "ôm cần lái," chả dám nửa mắt nhìn vào cái "cục nợ" rắc rối ấy. Cho nên nếu ông không đi cùng, thì có... cho kẹo tôi cũng chẳng dám chạy xa một mình.

Theo "lệnh" của cái GPS, từ FreeWay 5 rẽ qua 99 rồi nhập vào xa lộ 70, tôi bỗng bàng hoàng xúc động khi nhìn thấy cánh đồng lúa bao la chín vàng rực rỡ dọc hai bên đường. Trong phút chốc, tôi tưởng mình đang chạy xe trên Quốc Lộ I, ngan qua cánh đồng lúa bên quê nhà. Không biết động lực nào từ trong tiềm thức thúc đẩy, tự nhiên tôi quẹo xe một cái rẹt, tấp vào lề đường rồi mở cửa bước xuống.

Nhà tôi có lẽ cùng tâm trạng, chẳng nói lời nào ông cũng bước xuống theo. Trước mắt chúng tôi là cánh đồng lúa bạt ngàn, từ hai bên xa lộ chạy tít tắp đến tận phía rừng cây. Trời đã gần trưa. Mặt trời đang xòe tay trọn vẹn phủ trùm ánh sáng rực rỡ chói chang lên trên cánh đồng, nhưng bầu không khí lại mát rười rượi, thơm lừng mùi lúa chín. Ôi! Hương lúa ngọt ngào. Những vé lúa no tròn óng ả gặp vài cơn gió thổi qua mơn man làm chúng lắc lư như đang cười nắc nẻ, hài lòng với sự sung mãn của tuổi chín muồi. Gió đi rồi, chúng lại oằn xuống cúi đầu như chào đón chúng tôi, những người khách có gốc gác đồng nội không mời mà đến. Tôi nhắm mắt, hít một hơi dài để tận hưởng mùi hương lúa mà ngỡ mình đang đứng trên mảnh đất của quê hương...

Tôi chợt hình dung ra tôi của ngày xưa, của thời kỳ đất nước thanh bình. Con bé mặc áo tím quần đen đầu đội thúng xôi nếp quạ với lon muối đậu phụng rang, chân đất chạy lúp xúp theo sau mẹ. Mẹ tôi gánh cái ấm đất lớn đầy nước cây "dúi dẻ" và nồi chè bánh canh rau đắng, thức ăn nửa buổi cho thợ gặt ruộng lúa của ngọai tôi. Đứng trên bờ, tôi thích thú nhìn bà con tay liềm tay hái, thi nhau thoăn thoắt cắt từng nạm lúa quằn tay rồi bó thành từng bó gọn gàng, trong khi miệng vẫn nói cười rôm rả. Tôi hình dung ra ngọai tôi đang khúm lúa chia công cho bà con. Lúc nào ngọai cũng chừa một đống lúa lớn hơn để người ta chọn. Sau khi họ chọn rồi, ngoại còn đùa thêm cho một mớ nữa. Vậy mà sau mùa gặt, cái lẫm lúa của ngoại vẫn đầy, vẫn cao lên tận nóc nhà. Mỗi khi cần xay gạo để ăn hoặc bán chi tiêu, ngọai phải bắt cái ghế cao cho tôi trèo vào xúc lúa giúp ngoại.

Tôi cũng hình dung ra thời kỳ chiến tranh tàn phá quê tôi. Hình dung ra cái cảnh ngoại tôi nước mắt chảy dài, đau đứt ruột nhìn lại lần cuối ngôi nhà ngói đỏ ba gian hai chái với dãy nhà ngan nhiều phòng mà bà và ông ngọai đã dày công tạo dựng, nhìn lại cái lẫm lúa tràn đầy trước khi ôm có mỗi cái hộp "Phú Ý" chứa đựng gia phả dòng họ nhà chồng, phía của ông tôi, một thân một mình chạy thoát khỏi ngôi làng bị chiếm vì cả gia đình đã trốn đi từ trước. Băng qua cánh đồng lúa, chạy khỏi những thửa ruộng nhà, khi lội qua cái đầm nước chảy, ngoại bị cuốn trôi. Dù tính mạng đang trong tình trạng thập phần nguy hiểm, ngoại vừa lặn hụp vừa bơi chỉ một tay, còn tay kia vẫn giữ khư khư cái hộp Phú Ý trên đầu cho khỏi ướt. Rất may có một người đi câu nhìn thấy chạy đến cứu giúp. Cuối cùng ngọai cũng mang được cái hộp ra thành phố để giao lại cho ông tôi.

Ngọai đã thành công trong chuyến "vượt biên" đầy nguy hiểm ấy, nhưng vì quá hãi hùng và bị nhiễm nước, ngọai mắc bệnh thương hàn sau đó và qua đời ở tuổi mới sáu mươi. Ngọai đã vĩnh viễn ra đi, nhưng gia phả họ Nguyễn thì còn đầy đủ đến tận bây giờ cho con cháu đời sau tường lãm. Mỗi lần đám giỗ họ, công trạng của nàng dâu là ngoại tôi đều được mọi người nhắc nhở, vinh danh.

- Lúa chín đều và đẹp như vầy chắc là thu họach sẽ cao lắm.

Nhà tôi đột nhiên lên tiếng, phá tan bầu không khí thiêng liêng đó của tôi. Tôi vội quẹt nhanh dòng lệ vừa trào ra trên khóe mắt rồi vội vã lên xe.

Xa lộ lúc này xe cộ chạy qua nườm nượp. Tôi lại là một tên "chết nhát" nên chẳng dám nhào ra. Đợi một hồi không thấy khá chút nào, tôi đành phải chạy từ từ dọc theo lề freeway chờ cơ hội. Tôi chạy một quãng khá xa, vẫn chưa ra được đến đường. Bỗng có tiếng "quéo...quéo..." ở đàng sau, tôi nhìn lên kính chiếu hậu và hoảng hồn thấy chiếc xe cảnh sát đang chớp đèn sáng lóe rượt đến. Chết cha rồi! Tôi đã chạy trong lề đường quá lâu, chuyến này chắc không tránh khỏi bị "ăn ticket." Tôi dừng lại, hạ cửa kính xuống. Chuẩn bị tư thế để ký biên bản phạt.

Nhưng "còn nước còn tát". Tôi bèn "mếu máo" với người cảnh sát, rằng đây là lần đầu tiên tôi đến Marysville để nộp đơn xin việc. Chạy ngang đây thấy cánh đồng lúa chín này rất giống cánh đồng quê tôi. Không cầm lòng được, tôi dừng lại ngắm một chút cho thỏa lòng mong nhớ. Không ngờ bây giờ xe cộ quá đông, tôi chưa dám chạy ra. Tôi chỉ nói cầu may. Thật bất ngờ, nghe tôi nói xong, ngài cảnh sát gật gù vẻ cảm động. Ông trở lại chiếc xe cảnh sát, lái ra lằn đường bên phải, cố tình "cản trở lưu thông," ép xe cộ vẹt sang lane trái, và vẫy tay cho tôi chạy. Chúng tôi mừng quá xá! Ai nói mấy ông cò là những người khô khan tình cảm chứ? Ngày đầu đến đây, người cảnh sát thân thiện, nhân từ này đã cộng thêm một điểm tốt nữa cho việc chúng tôi dời về miền đất mới.

Đến mùa khai thuế, tôi lên mạng lục lọi và tìm thấy tổ chức "AARP Foundation Tax-Aid" ở Yuba đang giúp khai thuế miễn phí cho công dân từ 60 tuổi trở lên và những người có mức thu nhập giới hạn. Tổ chức này có chi nhánh khắp các tiểu bang. Tất cả thiện nguyện viên đều được huấn luyện kỹ càng không thua gì những chuyên viên khai thuế thực thụ. Tôi yên tâm gọi làm hẹn và chuẩn bị giấy tờ để đem đi.


Họp mặt Viết Về Nước Mỹ 2013, Phương Hoa nhận giải Danh Dự từ tác giả Bồ Tùng Ma đại diện Ban Tuyển Chọn Chung Kết.


Đúng hẹn, chúng tôi đến trung tâm và được một bà tên Mary Webb giúp. Sau khi xem giấy tờ, bà hỏi:

- Anh chị là người Việt Nam hả?

- Vâng! Sao bà đoán được? Bà có quen người Việt Nam nào không? Nhà tôi hỏi.

- "Oh yeah!" Bà cười. -Tôi và chồng tôi đều ở trong binh chủng Không Quân và đã từng phục vụ ở Việt Nam từ năm 70 đến 71.

- Ồ! Thú vị thật! Ông nói. -Tôi cũng từng là một chiến sĩ Không Quân, phục vụ tại phi trường Tân Sơn Nhất và phi trường Nha Trang cho đến 1975.

- "Really?" Bà Mary kêu lên, vẻ hớn hở như vừa gặp lại "cố nhân."

Rồi bà vừa làm việc vừa trò chuyện với chúng tôi. Ngày đó bà phục vụ ở phi trường Tân Sơn Nhất, còn chồng bà, ông Austin Webb, làm cố vấn cho Không Quân Việt Nam Cộng Hòa ở phi trường Bình Thủy. Ông ấy không bị bắt buột sang Việt Nam, nhưng vì vợ phục vụ bên đó nên ông tình nguyện đi theo. Bà Mary còn kể ngày đó bà có một người bạn Việt Nam rất thân tên Man (sau này tôi biết chị tên Mẫn). Sau chiến tranh thì mất liên lạc nhưng bất ngờ mấy chục năm sau hai người gặp lại trên đất Mỹ. -Chúng tôi mừng rỡ ôm nhau khóc! Chị ấy ở tận bên Utah, nhưng cũng đã đến thành phố này thăm tôi. Bà nói với giọng xúc động.

- Quả đất đúng thật tròn! Tôi nói, chúc mừng bà và người đồng hương mà tôi chưa hề quen. Lòng ngưỡng mộ tình bạn thâm sâu của họ, tôi thầm nghĩ sau này thế nào cũng phải tìm cách để làm quen với chị tên "Man" này mới được. Nhờ bà Mary giới thiệu, chúng tôi giờ đã quen nhau, chị Mẫn quả là một người bạn tuyệt vời, đáng để bà Mary nhớ đến hàng mấy chục năm.

Nhắc đến người bạn Việt Nam, bà Mary như sực nhớ ra, cho tay vào cái túi xách bên cạnh lấy ra một tấm danh thiếp màu xanh lá cây: - Này! Anh chị mới dọn đến đây mà có đi thăm "Nhà Bảo Tàng Chiến Tranh Việt Nam" chưa? Tôi trả lời chưa, bà nhét tấm danh thiếp vào tay tôi: - Anh chị cũng nên đi thăm! Đây là một nhà bảo tàng chiến tranh rất lớn mà người sáng lập Dann Spear, đã bắt đầu khi còn là một cậu bé. Tôi hiện cũng là thành viên trong ban Hội Đồng của nhà bảo tàng.

Bà Mary cho biết, hiện nhà bảo tàng đang có kế họach mở rộng thêm và kêu gọi mọi người hãy tiếp tay, đem tặng những kỷ vật chiến tranh, bất cứ cuộc chiến tranh nào mà Hoa Kỳ đã và đang tham gia, để giúp cho tài sản của nhà bảo tàng ngày càng thêm dồi dào phong phú.

- Có lẽ mình nên đến thăm và tặng chiếc xích lô cho nhà bảo tàng. Ông nhà tôi nói trên đường về. -Kỷ vật này nếu được trưng bày trong nhà bảo tàng sẽ có giá trị hơn là để ở nhà mình.

- Chiếc xích lô à? Tôi chợt nhớ đến chiếc xích lô hình mẫu bé tí có gắng hai lá cờ đang được ông nhà tôi trân trọng chưng trong tủ kính phòng khách nhà tôi.

Chiếc xích lô này do một bà khách Mỹ tên Hellen tặng khi chúng tôi còn tiệm nail. Bà là khách ruột rất thân, có việc gì cũng kể chúng tôi nghe. Mỗi năm đến ngày lễ Tạ Ơn, tôi làm cho bà chả giò, bà tặng chúng tôi ổ bánh mì chanh ngon tuyệt bà tự làm lấy bằng những trái chanh tươi trong vườn. Bà thường kể về Alan, người con trai độc nhất của bà từng tham chiến Việt Nam. Về sự bất mãn chán chường của anh sau khi trở về Mỹ. Bà nói ngày đó Alan và đồng đội của anh trở về đã không được chào đón như những anh hùng. Họ bị hất hủi, xem thường, vì ảnh hưởng bỡi những sự "làm rùm beng không đúng" của báo chí về cuộc chiến. Từ đó anh sống khép kín, thường tìm quên trong men rượu. Anh sống đời độc thân cho đến một ngày anh bị tai nạn xe và qua đời. Có lần bà Hellen nói:


- Hồi thời chiến tranh Việt Nam, tôi thật ghét cái bọn "ngồi mát ăn bát vàng" và bọn nhà báo tung tin "không đầu không đuôi" trong khi con tôi đang dấn thân vào súng đạn. Thằng Allan nói bọn chúng chỉ giỏi khua môi múa mỏ ở bên này chứ thật ra chúng chả biết cái đếch gì. Ai có đến Việt Nam, sống cùng người dân, và chiến đấu cùng những người lính Việt Nam Cộng Hòa thì mới biết rõ sự tình, mới biết cuộc chiến này có ý nghĩa ra sao. "Cuộc chiến mà chúng con không được quyền chiến đấu cho tới cùng để thắng mẹ ạ," Alan nó nói vậy đấy!

Alan đã nói đúng. Tôi cũng từng nghe rất nhiều cựu chiến binh Việt Nam tôi quen nói như thế.

Cho đến cuối năm 2009 thì bà Hellen đã quá già, sức khỏe kém lại chuẩn bị đi mổ thận. Mấy ngày trước khi vào bệnh viện Kaiser, bà nhờ người y tá chăm sóc đặt biệt chở đến rồi đẩy vào tiệm tôi trên chiếc xe lăn. Trông bà rất yếu, thở hổn hển từ ống dưỡng khí được gắn vào mũi. Tôi nhìn bà và chợt sững sờ. Trên đôi bàn tay run rẩy của bà là một chiếc xích lô nhỏ xíu có gắng hai lá cờ, cờ Mỹ và cờ Việt Nam Cộng Hòa. Hai lá cờ giấy đã cũ sờn theo năm tháng với nhiều nếp gấp nhăn nheo. Lá cờ vàng ba sọc đỏ đã bạc màu bên góc trái và có một đường rách, nhưng được dán lại cẩn thận bằng miếng băng keo.

- Tôi sắp phải đi mổ thận, không biết lành dữ ra sao. Bà nói một cách khó nhọc. Những đường gân xanh trên cổ bà xê dịch liên hồi như thể muốn tách rời khỏi làn da tái mét. Bà đưa chiếc xích lô tí hon cho tôi:

- Chiếc "Pedi-cap" này là kỷ vật của thằng Alan để lại. Nó đã rất yêu quí và giữ gìn cẩn thận món đồ này cho đến ngày nó mất. Tôi sợ khi giải phẩu nếu lỡ có bề gì, đồ đạc của tôi bị đem bán "Estate sale" và nó sẽ lưu lạc. Bà dừng lại một lát để thở rồi nói tiếp: -Mới đầu tôi không biết phải làm gì với nó, nhưng rồi nhớ đến anh chị, tôi nghĩ anh chị là những người thích hợp nhất để tôi tặng lại món quà này. Làm ơn thay tôi giữ nó!


Bảng danh hiệu bảo tàng và Công viên có chiến cụ cũ kéo về từ VN.


Tôi đỡ lấy kỷ vật từ tay bà Hellen, rồi đứng mân mê lá cờ vàng cũ rách. Kỷ niệm nào từ chiếc xích lô nhỏ màu xanh có chiếc đệm đỏ này đã làm cho người cựu quân nhân Mỹ tên Alan trân quí nó đến như vậy nhỉ. Tôi còn tần ngần chưa dám hỏi thì bà Hellen đã nói:

- Đây là món quà từ người bạn Việt Nam rất thân với Alan. Anh ta đến Mỹ theo diện Humanitarian Offensive (HO), và bọn họ tình cờ gặp lại nhau. Chiếc "Pedi-cap" này anh ta mang theo từ Việt Nam, khi gặp lại Alan thì tặng cho nó. Nhưng anh ta đã chết sau đó vài năm vì bệnh họan do ở tù quá lâu trên rừng. Ngày Alan còn sống, tôi đến thăm nhiều lần bắt gặp nó ngồi lặng ngắm cái vật này bằng đôi mắt thật buồn. Do vậy mà tôi cất giữ nó bao nhiêu năm nay. Nhưng giờ thì tôi không được nữa rồi...

Bà nghẹn ngào, dừng lại nửa chừng. Tôi cũng rưng rưng. Trong tôi dâng lên một nỗi bồi hồi khó tả. Người HO đó, một sĩ quan của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa xưa, khi rời bỏ quê hương đã mang theo chiếc xích lô. Có phải vì nó từng chuyên chở những nhọc nhằn, ngan trái, và bất hạnh của anh sau cuộc chiến? Hay anh muốn chở hết đi tất cả những đau khổ của đồng bào mình? Hoặc là anh muốn luôn nhìn thấy nó để nhớ lại thời kỳ, "Đầu đường Thiếu Tá vá xe/Cuối đường Đại Úy bán chè đậu đen" để cố gắng vươn lên? Chiếc xích lô chỉ là vật vô tri, nhưng khi tặng cho Alan người bạn Mỹ đã từng cùng chung chiến tuyến, anh đã làm cho nó trở nên có hồn và đầy ý nghĩa với hai lá cờ Mỹ, Việt. Và Alan, người bạn Mỹ của anh đã trân quí, gìn giữ cho đến tận cuối đời. Điều này cũng có nghĩa, Alan đã rất trân quí cái tình bạn, tình đồng đội và đồng minh từ cuộc chiến cho tự do mà anh và anh ấy đã từng tham gia.

- Xin bà hãy yên tâm. Tôi nói với bà Hellen. - Chúng tôi nhất định giữ kỹ món đồ này.

Và ông nhà tôi đã chưng chiếc xích lô trong tiệm từ đó cho đến khi chúng tôi bán tiệm mới mang về nhà. Nhớ đến đây tôi bèn nói với ông ấy:

- Phải rồi! Chúng ta nên đem nó tặng cho Nhà Bảo Tàng. Cất ở nhà mình cứ dọn nhà tới lui hoài có khi bị gãy hay thất lạc thì uổng công bà Hellen đã gửi gắm.

Về đến nhà, ông ấy lấy ngay chiếc xích lô ra lau bụi bặm. Đã hơn bốn năm rồi, từ ngày bà Hellen đem tặng và không bao giờ trở lại gặp chúng tôi lần nữa. Bà sống một mình không có người thân nên chúng tôi chẳng biết hỏi thăm ai về tình trạng của bà. Chiếc xích lô sau khi được lau xong nhìn sáng sủa, nhưng hai lá cờ giấy thì quá cũ kỹ. Tôi nói:

- Trước đây vì muốn giữ tình trạng nguyên thủy của món quà nên mình để y như vậy. Nhưng bây giờ đem đến Nhà Bảo Tàng nó sẽ ở đó thiên thu. Phải thay hai lá cờ vải mới bền lâu được. Cờ Mỹ rách người ta có thể thay lá khác, nhưng cờ vàng sau này rách đi thì làm sao?

Nhà tôi đồng ý. Tôi đến Walmart mua một lá cờ Mỹ bằng vải đem về. Nhưng lá cờ vàng không biết kiếm đâu ra. Thành phố chúng tôi ở chẳng có một cửa hiệu cửa hàng nào của người Việt cả. Ông ấy nói muốn mua cờ vàng ba sọc đỏ chỉ có nước đi San Jose hoặc là xuống Nam Cali, nhưng mình cần lá cờ bằng vải nhỏ xíu như thế này thì những nơi ấy cũng không dễ gì có bán. Cuối cùng, tôi quyết định phải tự tay may lá cờ này mới được. Nói là làm, chúng tôi rảo đi tìm mua vải. Nhưng kiếm hết từ Walmart đến Joann Fabrics chúng tôi cũng không tìm ra màu vàng và đỏ đúng màu cờ Việt Nam. Cuối cùng, tôi phải mua hai cuộn ruy-băng satin vàng và đỏ lọai lớn, dù chỉ cần có một đọan.

Về nhà, tôi ủi thẳng những nếp gấp của ruy-băng rồi hì hục cắt may. Tôi trưng dụng luôn ông xã làm thợ phụ, "lệnh" ổng chạy tới chạy lui, hết lấy kéo đến cầm bàn ũi, phụ lượt dính những sọc đỏ vào hai mặt của lá cờ. Đến khuya thì tác phẩm của chúng tôi cũng hoàn thành, lá cờ vàng ba sọc đỏ nhỏ xíu nhưng đẹp rực rỡ, sáng chói. Ông ấy thích quá đem gắn ngay vào chiếc xích lô và lấy máy hình ra chụp.

Qua những thông tin và tài liệu từ bà Mary, tôi tìm hiểu và biết thêm về lịch sử nhà bảo tàng trước khi đến viếng. Việc cậu bé tên Dann hình thành Nhà Bảo Tàng Chiến Tranh Việt Nam đã được cộng đồng Marysville và những vùng lân cận biết đến rộng rãi. Cậu bé thu thập kỷ vật và bắt đầu trưng bày bộ sưu tập về chiến tranh Việt Nam trong garage nhà cậu từ năm 1966. Lúc nào có dịp, là cậu "khăn gói" mang nó đi triển lãm khắp nơi, từ những bữa tiệc sinh nhật, họp mặt gia đình, đến club. Tấm lòng của cậu bé đến tai nhiều người, nhiều hội đoàn, và cậu được mời dự cuộc họp thường niên của các cựu chiến binh phi công Hoa Kỳ thời Đệ Nhị Thế Chiến. Tại cuộc họp mặt này, Dann được cựu tướng Không Quân nổi tiếng "Tex" Hill, một trong những con cọp bay "Flying Tigers" xuất sắc trong Thế Chiến thứ II, tặng một bức hình của ông với lời ghi chú, "Tặng Dann, người bạn nhỏ của tôi. Hy vọng tấm hình này sẽ làm phong phú thêm cho nhà bảo tàng tương lai của bạn." Điều này cũng là một động lực rất lớn giúp cậu bé hoàn thành ước nguyện.

Khởi đầu, nó là một nhà bảo tàng tư nhân "tí hon" của cậu bé Dann. Năm 1977, Dann bắt đầu mang bộ sưu tập của mình đi xa hơn, lúc này cậu thu thập được khá nhiều kỷ vật của những chiến binh từ Việt Nam trở về, đem triển lãm tại các lễ hội truyền thống, hội chợ, triển lãm súng, căn cứ quân sự, cùng nhiều nhà bảo tàng chiến tranh khác.

Về sau Dann Spear và vợ, Roberta, đã tự vay tiền để xây dựng lớn thêm trên khu đất nhà của họ, không quyên góp hoặc nhận bất cứ ngân khỏan tài trợ nào từ hội đoàn hay chính phủ. Và đến năm 1985, mười năm sau chiến tranh Việt Nam, nhà bảo tàng trong mơ ước của cậu bé Dann được chính thức khánh thành ra mắt công chúng với bài nói chuyện của thiếu tướng Donald Mattson, giám đốc Viện Bảo Tàng Quân Đội Tiểu Bang California, người cũng đã từng tham chiến Việt Nam.

Điều đặc biệt, nhà bảo tàng tuyệt đối không hề thu lệ phí vào cửa. Mỗi khi có ai hỏi về việc này, Dann trả lời, "Đây là nhà bảo tàng của các cựu chiến binh và của các bạn, bạn không phải trả tiền!"

Đến nay thì nhà bảo tàng đã được phát triển rất qui mô, tiếp nhận gần sáu chục nghìn kỷ vật, kể cả những kỷ vật từ các cuộc chiến khác quân đội Mỹ tham gia, như Thế Chiến thứ I, thứ II, Nội Chiến, Triều Tiên, Iraq, Afghanistan... và xây một gian phòng hơn 6000 square feet dành riêng làm thư viện. Nhà Bảo Tàng giờ đây chính thức trở thành tổ chức bất vụ lợi, là di sản văn hóa của Bắc Cali, quản trị bởi một Ban Hội Đồng mà Dann Spear là giám đốc, được phép nhận quyên góp, gây quĩ để mở mang.

Nhà Bảo Tàng Chiến Tranh Việt Nam Marysville được xem là "Nhà bảo tàng của những chiến sĩ bị bỏ quên" (Museum of the Forgotten Warriors). Báo giới địa phương đã khen ngợi giám đốc Dann Spear, "Hình thành nhà bảo tàng này, Dann đã trả lại tên tuổi và mặt mũi cho các cựu chiến binh Việt Nam, những người đã từng bị bỏ quên sau cuộc chiến."

Cuối tuần, chúng tôi rủ ông bạn hàng xóm tên Wayne, cũng là cựu chiến binh VN, đi thăm nhà bảo tàng. Nghe ông nói ở đó có bàn ghế picnic cho khách tham quan, tôi làm chả giò, cơm chiên, nướng một ít xúc xích, và mang theo trái cây, thức uống cho bữa trưa.

Nhà Bảo Tàng tọa lạc trên một khu đất rộng, thuộc vùng ngoại ô phía đông thành phố Marysville. Tấm bảng "VIETNAM-MUSEUM" trước cửa thì nhỏ, đơn giản, nhưng những chiếc Thiếc Giáp, Trực Thăng, Súng Cối, những chiến cụ khổng lồ đã từng một thời "khạc ra lửa, mửa ra khói" cùng với quân đội Việt Nam Cộng Hòa, đang nằm "an dưỡng" trong sân, xung quanh là những lá cờ Mỹ to đùng và cờ binh chủng đủ màu giăng khắp mọi nơi, đã nói lên tầm vóc to lớn của nhà bảo tàng.


Cậu bé Dann sáng lập nhà bảo tàng năm xưa nay là ông mặt đỏ 60 tuổi, nhận kỷ vật từ tác giả Phương Hoa trao tặng.


Chúng tôi vừa đến cửa thì một người đàn ông ra chào đón rất niềm nỡ. Ông cho biết là hướng dẫn viên của nhà bảo tàng, tên Richard Sawyer, cũng là cựu chiến binh phục vụ tại Việt Nam từ năm 70-71. Ông nói "Tôi ở đây thường xuyên vì nó là cái nhà thứ hai của tôi!" Ông nhà tôi tỏ ý muốn gặp giám đốc Dann để tặng món quà. Thực ra thì tặng quà đâu cần phải gặp giám đốc, nhưng tôi vì tò mò muốn biết mặt "cậu bé Dann" rất nổi tiếng này ra sao nên đã dặn trước nhà tôi là "Không gặp ông Dann không về!" Trong khi chờ đợi gặp giám đốc, chúng tôi được ông Richard đưa đi tham quan khu vực Nhà Bảo Tàng Việt Nam. Ông bạn Wayne đã quá quen thuộc với nơi này nên ông ra thư viện để đọc sách.

Ông Richard cho biết, tất cả các phòng phía trước là Nhà Bảo Tàng Chiến Tranh Việt Nam nguyên thủy lúc khởi đầu. Những gian kế tiếp trưng bày kỷ vật của các cuộc chiến khác mà Hoa Kỳ tham gia. Theo chân ông Richard vào gian phòng đầu tiên, tôi bỗng lặng người khi nhìn thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ, cờ Việt Nam Cộng Hòa, thật lớn được lộng trong khung kính song song với lá cờ Mỹ đồng kích cỡ, và được đặt trang trọng trên kệ dãy tủ kính cao tận trần nhà. Bên trái khung ảnh treo cái phù hiệu tròn lớn có khắc hình một quân nhân bồng súng và bên phải treo chiếc áo giáp với hai mẫu tự "MP," nhìn có vẻ như là chúng đang "hộ vệ" cho hai lá đại kỳ Việt Mỹ. Bên dưới khung hình đứng một hàng dài các cô gái búp bê xinh đẹp mặc áo dài đủ màu sắc, kiểu eo thon truyền thống Việt Nam ngày trước, nhiều cô đầu trần với những mái tóc đen dài bện thành hình con rết và vài cô đội nón lá nghiêng nghiêng. Một sự trưng bày trang trí độc đáo như nhắn nhủ với người xem, chiến tranh đã từng nhẫn tâm dày xéo trên đất nước của các cô gái mỹ miều này.

Tôi vừa đi vừa căng mắt nhìn dán vào những món đồ trong tủ kính, vừa chú ý đến những lời thuyết minh lưu loát của ông Richard, như thể những kỷ vật là của chính ông. Mỗi kỷ vật đều có sự tích riêng, từ món nhỏ nhất là chiếc huy hiệu, biểu tượng, sắc áo, màu cờ của các binh chủng Việt, Mỹ, cái vỏ chai bia Saigòn cao nghệu có hình cờ vàng ba sọc đỏ, đến bài báo tiếng Việt với bản tin "Chiến Thắng Quảng Ngãi" đăng tin "Liên Quân Việt Mỹ đã mở cuộc hành quân và đại thắng," tất cả nói lên tấm lòng và lời nhắn gửi của các cựu chiến binh Việt Nam đã cất công mang về và gìn giữ chúng.

- Xem kìa! Nhà tôi bỗng kéo tay tôi, chỉ vào tấm hình một vị tướng Mỹ đeo sao có mấy hàng chữ đề tặng kề bên. -Đây là tướng William Westmoreland, vị tướng chỉ huy quân sự cuộc chiến Việt Nam ngày xưa!

Tôi bước lại gần, chưa kịp đọc những lời đề tặng thì nghe có tiếng người nói từ đàng sau:

"Yeah!" Tướng Westmoreland là "The Best," người có biệt danh "đánh đâu thắng đó," và ông đã từng nhiều lần đấu tranh đòi cung cấp thêm vũ khí đạn được cho các bạn đó!

Chúng tôi quay ra thấy một cựu quân nhân Mỹ đang cười toe, chỉ tay vào bức hình của ông tướng rồi đưa ngón cái làm dấu "number one!" À, thì ra là "lính cũ" của ông tướng. Richard giới thiệu đó là Don Schrader, người từng là cố vấn cho "Lực Lượng Đặc Biệt" tại nhiều căn cứ "MACV" khác nhau ở Việt Nam năm 65-66. Ông Don nói giám đốc Dann đang đợi ở văn phòng và kêu chúng tôi đi theo ông.

Một người đàn ông Á Châu bước ra khi chúng tôi vào. Giám đốc Dann ngồi trước một cái bàn dài chất ngổn ngan đầy những kỷ vật. Ông nói người đàn ông vừa rồi là người Hmong, đem tặng những kỷ vật từ cuộc chiến Việt Nam mà ông ấy từng tham dự. "Cậu bé Dann" mà tôi muốn gặp là một người đàn ông cao lớn, mặt đỏ hồng như tượng ngài Quan Công, nhưng nhìn rất hiền lành thân thiện. Tôi kể chuyện bà Mary giới thiệu, ông tỏ ra vui lắm. Nhà tôi lấy chiếc xích lô ra và nói:

- Đây là kỷ vật rất đặc biệt từ một cựu chiến binh Việt Nam, chúng tôi xin tặng lại cho nhà bảo tàng.

Ông Dann tròn mắt trầm trồ:

- Ô! "Excellent!" Chiếc "Pedi-cap" thật là tuyệt mỹ! Vừa rối rít cám ơn, ông vừa lấy ra tấm "note" nhỏ để chúng tôi đề tặng. Rồi ông kêu tôi trao kỷ vật tận tay ông và đưa máy hình cho nhà tôi chụp mấy tấm. - Chúng tôi phải luôn luôn chứng minh đó là món quà tặng thật sự. Ông nói.

"An vị" chiếc xích lô vào chỗ thâu nhận kỷ vật xong, ông Dann đích thân đưa chúng tôi trở lại xem nốt các phòng trưng bày về cuộc chiến Việt Nam. Đi ngan một dãy "Mannequin" người mẫu mặc quân phục, tôi chợt nhớ lại những gì bà Mary kể bèn hỏi ông Dann:

- Tôi nghe bà Mary nói ông đã bắt đầu cái ý tưởng thành lập nhà bảo tàng này lúc ông còn rất nhỏ, ông có thể kể chi tiết cho chúng tôi nghe được không?

Mặt người giám đốc vốn đã hồng hào giờ lại sáng tươi: -Theo tôi! Ông nói, và dẫn chúng tôi lại trước một chiếc tủ kính: -Năm 1965, khi tôi mười tuổi, tôi có viết thư cho một người bạn lớn tên Bill Buchroeder, thuộc đại đội I Bộ Binh đóng quân ở Dĩ An bên Việt Nam. Anh đang học cấp ba cùng trường với tôi thì bị tổng động viên và đưa sang Việt Nam đánh giặc. Bill đã hồi âm cho tôi từ chiến trường Việt Nam sau một trận đánh, và lá thư anh viết trên mặt sau của mảnh giấy chỉ dẫn cách xử dụng mìn "Claymore" đã làm tôi xúc động. Ông ngừng lại rồi mỉm cười, vẻ hãnh diện: -Và tôi chợt nảy ra ý định sưu tập những kỷ vật chiến tranh Việt Nam từ đó. Lá thư "lịch sử" này là một trong những kỷ vật đầu tiên của bộ sưu tập, của nhà bảo tàng này!

Nhìn mảnh giấy cũ kỹ, ố vàng trong khung kính với những dòng chữ nghuệch ngoạc mà tôi thấy nao lòng. Người quân nhân Mỹ tên Bill Buchroeder ấy đã cố gắng hồi âm, gửi lòng mình từ trận tuyến nửa vòng trái đất Việt Nam về cho người bạn nhỏ của mình trên một mảnh giấy loại, mà không kịp chờ về thành phố để có giấy bút đàng hoàng. Anh làm sao ngờ được, hành động nhỏ nhưng đầy tình cảm này đã tạo một ý tưởng lớn cho cậu bé Dann.


Hành lang tưởng niệm tử sĩ được bao quanh bằng hàng ngàn thẻ bài của những người lính đã gục ngã.


Ông Dann bỗng nhìn qua bên trái và nói, giọng đầy cảm xúc:

- Anh chị xem này! Ông chỉ vào một ống thủy tinh nhỏ chỉ bằng ngón tay út. -Tuýp đất này là của một cựu chiến binh tặng. Anh nói đó là kỷ vật quan trọng anh đem từ Nam về cất giữ mấy chục năm qua.

Tôi cảm thấy cổ mình nghèn nghẹn. Nam là tên gọi thân thương mà các cựu chiến binh Hoa Kỳ tôi quen biết thường dùng mỗi khi họ nhắc đến Việt Nam. Người lính này ắt hẳn đã có những kỷ niệm khó quên đối với Nam nên mới trân trọng nhúm đất đến như vậy. Kỷ niệm nào nằm trong tuýp đất màu nâu bé xíu đó hả anh? Có phải nó được trộn lẫn với máu và nước mắt của anh? Của bạn anh? Của những người lính Việt Nam Cộng Hòa anh dũng sát cánh chiến đấu cùng anh mà anh nể phục? Hay của đồng bào tôi, những người dân vô tội bị thương vì đạn bom mà anh đã từng cứu giúp? Có phải đó là nơi anh đã từng hò hẹn yêu thương một người con gái Việt Nam dịu hiền? Hay là nó chứa đựng sự đau lòng của anh vì nhiệm vụ chưa hoàn thành mà đành phải rời bỏ cái quê hương bé nhỏ nửa vời để giao miền đất tự do cho phương Bắc? Dù bất cứ đó là những kỷ niệm gì, cũng xin anh cho tôi được chia xẻ, được cám ơn anh. Không biết giờ này anh ở đâu. Ước gì tôi được gặp anh để bắt tay anh và nói một lời cám ơn sâu sắc. Nhìn thấy nhúm đất này tôi như thấy cả quê hương Việt Nam của tôi. Anh chỉ sống ở đó một thời gian ngắn mà khi rời xa anh còn lưu luyến đến thế này. Còn tôi, tôi đã được sinh ra và lớn lên ở đó với muôn vàn kỷ niệm. Anh biết là tôi đau lòng như thế nào khi rời bỏ nó, đúng không anh?

Đang miên man suy nghĩ, tôi giật mình nghe tiếng nhà tôi:

- Kìa! Đây là phù hiệu binh chủng Không Quân của tôi! ông nói với ông Dann, chỉ vào cái phù hiệu rồng bay "Tổ Quốc Không Gian" được đóng khung treo trong tủ kính, xung quanh quây quần bỡi nhiều huy chương và phù hiệu của các binh chủng quân lực Việt Nam Cộng Hòa. -Tôi đã phục vụ trong Không Quân cho đến ngày nền Cộng Hòa của chúng tôi bị mất. - Vậy sao? Ông Dann hỏi như reo lên: Thế anh có còn giữ được hình ảnh gì không? Chúng tôi cần sưu tầm thêm kỷ vật và hình ảnh của những người lính Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi có không nhiều lắm những kỷ vật về các chiến sĩ đồng minh từng chiến đấu chung với quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Tôi cười và góp lời:

- Tôi còn giữ được vài tấm hình ông ấy mặc quân phục, chụp ở phi trường Nha Trang và Tân Sơn Nhất. Nhưng hồi đó ông ấy chỉ là một chuyên viên vô tuyến phi cơ. Ổng đâu có cấp bậc cao, đâu phải "quan quyền" chi mà đem hình ảnh đến đây để chưng, mắc cỡ chết!

"So what?" -Vậy thì đã sao? Ông Dann nhướng mày: -Không có lính thì làm sao có quan? Chúng tôi tôn trọng và vinh danh hết thảy các ban ngành, các cấp bậc. Tất cả mọi người trong quân đội đều liên quan với nhau như một guồng máy, thiếu một bộ phận máy sẽ không chạy được.Nếu anh chị copy và tặngcho viện bảo tàng vài tấm hình, chúng tôi sẽ quí lắm!

Nhà tôi hứa khi về sẽ sao lại vài tấm và gửi cho ông. Dạo hết khắp các phòng trưng bày về cuộc chiến Việt Nam thì ông Dann đưa chúng tôi ra phía sau. Chúng tôi bước theo, tưởng ông sẽ cho xem tòa nhà kế tiếp. Nhưng ra khỏi cửa sau đến khoảng trống giữa hai tòa nhà, ông dừng lại. Tôi nhìn sang bên trái thấy nhiều dãy thẻ bài kim khí, những thẻ bài trắng không tên, được treo dày đặc sát vách tường từ tòa nhà bên này vòng quanh qua tòa nhà bên kia thành hình chữ U. Chính giữa là cái bục xi măng thấp, trên đặt đôi giày bốt, một lá cờ Mỹ cắm rũ cạnh khẩu súng trường dựng đứng, bên trên là chiếc nón sắt, và một vòng hoa rực rỡ được treo trên thân của khẩu súng trường. Ông Dann bỗng đứng nghiêm, quay mặt về phía vòng hoa và đưa tay lên trán chào kiểu nhà binh. Nhà tôi cũng làm y như vậy. Riêng tôi thì đứng cúi đầu mặc niệm, lòng thầm nghĩ không biết có bao nhiêu thẻ bài ở đây nhỉ.

- Ở đây có tất cả là 6,297 thẻ bài, mỗi tấm thẻ tượng trưng cho một chiến sĩ Hoa Kỳ đã hy sinh ở Iraq và Afghanistan. Ông Dann chợt lên tiếng như đọc được ý nghĩ của tôi, làm tôi giật cả mình. Ông kể, đài Tưởng Niệm này được khánh thành hồi tháng 10 năm 2011, cùng lúc với lễ "Đổ Đất Thánh," đất cát vàng nâu từ Iraq được rắc ở trung tâm đài cho linh hồn những quân nhân tử trận Iraq, và đá dăm màu xám từ Afghanistan đổ viền xung quanh dành cho anh linh tử sĩ hy sinh Afghanistan. Rồi ông nhìn chúng tôi: - Anh chị đã biết, cái giá chúng ta phải trả cho tự do là quá đắt. Trong mấy tháng trời, tôi cứ suy nghĩ phải làm một cái gì đó thật đặt biệt để vinh danh các chiến sĩ đã bỏ mình vì sự tự do của chúng ta, và tôi đã nghĩ ra ý tưởng thành lập đài tưởng niệm này. Anh chị có tin không? Ông chỉ tay vào những sợi dây: -Các phi công và chiến sĩ Không Quân từ phi trường Beale Airforce Base đã giúp treo số thẻ bài này, và mặc dù những sợi dây được gắn sẵn mấy nghìn tấm thẻ quá dài, chật vật lắm, nhưng họ làm rất cẩn thận, tỏ lòng tôn kính những linh hồn. Họ đã giữ kỹ, không hề để cho tấm thẻ bài nào chạm xuống đất lấy một lần! "Amazing!"

Tôi có cảm giác như mình sắp khóc trước tấm lòng yêu nước và biết ơn những tử sĩ hy sinh vì tự do của ông Dann. Tôi càng cảm động hơn về sự tôn kính đối với số thẻ bài tượng trưng cho các linh hồn chiến sĩ từ nhóm phi công làm thiện nguyện. Quả là những tấm lòng thật đáng ngưỡng mộ!

Chúng tôi đang chăm chú nghe ông Dann nói, đột nhiên có những âm thanh "leng keng" xào xạt phát ra từ những tấm thẻ bài, đồng thời nhiều ánh sáng nhấp nháy như những vì sao hiện ra dưới đất. Tôi còn sững sờ nhìn chăm chăm vào những ánh sao "lấp lánh giữa ban ngày" đó thì ông Dann reo lên:

- Ô kìa! Anh chị may mắn quá, đã đến đúng thời điểm! Không biết có phải linh hồn của các chiến sĩ đang chào đón chúng ta chăng? Hiện tượng này xảy ra lần đầu tiên trong ngày lễ khánh thành đài tưởng niệm. Về sau lâu lâu mới có một lần vào thời điểm khác nhau, những thẻ bài này rung động, nhấp nháy như ánh sao vậy đó. Ông rùng mình, đưa cánh tay ra: -Xem đây này! Mỗi lần như thế là chân lông tôi dựng đứng cả lên! Rồi ông nhìn lên trời: -Anh chị thấy đó. Trời lặng im không chút gió, vách tường của hai khu nhà cao vòi vọi, những tấm thẻ bài này được treo chỉ đến một nửa chiều cao của vách tường, bên trên có mái nhà nhô ra. Dù có mặt trời thì cũng không thể nào rọi vào chúng được huống chi là giờ này không thấy mặt trời đâu cả. Đây là một điều thật thần kỳ không hiểu nổi!

Tôi cũng rùng mình dựng chân lông. Tấm lòng của ông Dann hình như đã được linh hồn các tử sĩ nhận biết. Có phải họ đã cho thấy hiện tượng này để "vinh danh" ông Dann với chúng tôi chăng?Nhà tôi lật đật đưa máy hình lên bấm một cái. Tuy những ánh sao đó xuất hiện cả trên nền cát của hai bên, nhưng vì vội vàng ông ấy chỉ chụp được một phía và vẫn thấy rất rõ những ánh sao, phía bên phải hơi bị tối.


Và bên trong khu trưng bầy kỷ vật thời chiến.


Vẫn còn bàng hoàng, tôi nói với ông Dann chúng tôi sẽ tự đi xem tiếp những phòng trưng bày khác sau khi ăn trưa. Tôi đem thức ăn bày ra ở bàn picnic rồi nhờ ông bạn Wayne vào mời ông Dann, ông Don, ông Richard ra để "thử món chả giò Việt Nam" với chúng tôi. Và tôi rất mừng vì các ông ấy nhận lời, tuy họ rất bận vì khách tham quan và người hiến tặng ra vô nườm nượp.

Chúng tôi vừa ăn vừa chuyện trò vui vẻ. Ông Dann làm thanh tra về ngành xây dựng, "Encroachment Inspector," chuyên xem xét những việc xây dựng xâm lấn đất đai trái phép. Thời gian rảnh ông dành trọn cho nhà bảo tàng. Ông cho biết khi chiến tranh Việt Nam bắt đầu, tuổi ông còn quá nhỏ để tham gia, nhưng từ những tin tức của bạn bè lớn tuổi học cùng trường, Việt Nam đã là nỗi ám ảnh của ông.

Ông Dann cũng kể nhiều điều thú vị về việc thành lập nhà bảo tàng: -Tôi biết có nhiều kỷ vật chiến tranh Việt Nam giá trị đã bị bỏ quên đâu đó, trong nhà xe, trên gát, hay lẫn lộn trong đống hỗn tạp ở nhà kho, và rồi lâu ngày người ta sẽ quên chúng đi, thật là uổng phí! Theo ông, nhờ những kỷ vật này, những chiến binh Hoa Kỳ từng chiến đấu và chết cho cuộc chiến Việt Nam sẽ không bao giờ bị quên lãng như họ đã từng bị lãng quên trước đây. Ông nói điều làm ông đau lòng nhất là sau cuộc chiến, những chiến binh Hoa Kỳ đã trở về trong cô độc, không có người cảm thông cho sự khổ nhọc và hiểm nguy họ đã từng đương đầu. Ông thở dài: -Cuộc chiến đã chấm dứt từ lâu nhưng tôi có thể thấy niềm đau vẫn còn hiện rõ trong mắt các cựu chiến binh, và tôi biết vết thương trong lòng họ vẫn chưa lành hẳn!

Nhà Bảo Tàng được mở cửa vào tất cả các ngày thứ Bảy và các tối thứ Năm trong tháng, cộng với những ngày lễ lớn. "Nhưng ban quản trị cũng thường sắp xếp lịch để mở cửa cho những cuộc tham quan cả nhóm bất cứ lúc nào nếu họ gọi," ông Dann cho biết. Khi tôi nói sẽ viết một bài giới thiệu nhà bảo tàng với cộng đồng Việt Nam, ông tỏ vẻ vui, nói sẽ cung cấp bất cứ thông tin mà tôi muốn biết. Ông đã làm thế thật. Trong bài này có nhiều chi tiết tôi phải email hỏi lại ông vì ngày hôm đó tôi không ghi chép kịp. Ông còn cho tôi vài tấm hình vì hình chúng tôi chụp cũng giống y chang nhưng không được đẹp lắm. Tôi nói đùa sẽ mời ông đến cộng đồng Việt Nam của tôi cho ông thuyết trình, hầu quảng bá thêm về nhà bảo tàng, khuyến khích cộng đồng tặng thêm kỷ vậy thì ông cười, "Đó cũng là một ý hay!"

Sau đó ông Don Schrader đưa chúng tôi vào thư viện, mở "Slide" cho xem số hình ảnh ông thu thập ở Việt Nam thời gian 65-66. Tôi ngạc nhiên đến lặng người khi nhìn lại quang cảnh núi đồi sông nước của Việt Nam thân yêu ngày xưa, sông Cửu Long, bãi biển Vũng Tàu, Nha Trang, miền đất đỏ Pleiku, bến cảng Vũng Rô, Sông Hương và cầu Tràng Tiền Huế... Những hình ảnh đẹp nguyên thủy khi chiến tranh chưa tàn phá mà từ lâu tôi đã ngỡ không bao giờ nhìn thấy nữa, giờ lại được xem qua tay một người Mỹ.

Chúng tôi còn đi xem các phòng trưng bày nhiều cuộc chiến khác mà Mỹ đã tham gia. Có những kỷ vật cổ nhất, lâu đời nhất như tấm chăn mà cụ cố của Đại Tá Galbraith đã dùng khi ông bị quân Anh bắt cầm tù trong cuộc chiến tranh Cách Mạng (Revolutional War) hồi Thế Kỷ thứ 18, đến viên gạch lấy từ tòa nhà mà quân đội Mỹ chiếm được trong một trận chiến săn lùng quân nổi dậy Taliban sau sự kiện 9-11 được Thượng Sĩ Roscoe Presley từ Afghanistan gửi về cho ông Dann, và những kỷ vật gần đây nhất là hình ảnh thư từ của các chiến binh Hoa Kỳ từ Iraq và Afghanistan gửi về. Quả thật nơi này có quá nhiều thứ, nhiều điều để xem, để nghiền ngẫm. Cuối cùng chúng tôi cũng phải ra về trong luyến tiếc. Nhà tôi từ đó mỗi khi nói chuyện với bạn bè đều khuyến khích họ đi thăm Nhà Bảo Tàng này.

Cậu bé Dann đã bắt đầu trang sử cuộc đời bằng một ý tưởng độc đáo. Việc chẳng dễ chút nào, nhưng nhờ vào ý chí lẫn niềm đam mê, cậu đã cùng với nó lớn lên và hoàn thành xuất sắc viết nên trang sử đó. Nhà Bảo Tàng Chiến Tranh Việt Nam Marysville là di sản văn hóa vô giá, là chứng cứ sống thực để minh họa cho những gì các sử gia ghi lại về cuộc chiến giữa Quốc Gia, Cộng Sản của người Việt và đồng minh Mỹ thời Việt Nam Cộng Hòa tự do, cũng như các cuộc chiến tranh khác của Hoa Kỳ. Nó là bản di chúc bằng vật thể các chiến binh để lại, chẳng những nhắc nhở giới trẻ Mỹ noi gương những chiến binh anh hùng của họ, mà còn giúp các thế hệ kế tiếp người Mỹ gốc nước ngoài hiểu biết về cội nguồn, về vì sao ông cha họ lại lưu lạc đến đất nước này.

Địa chỉ Vietnam Museum:
5865 A Road, Marysville, CA 95901-
Phone: (530) 742-3090

Phương Hoa
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 09.03.2014 16:42:11 bởi Phù vân>
ĐỌC BÁO GIÙM BẠN

 
Người nông dân xứ Sierra Leone và trí thức nước CHXHCN Việt Nam



Đầu tuần này, ngày 5 tháng 3, 2014, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon thăm viếng Cộng Hòa Sierra Leone nhân dịp các lực lượng Liên Hiệp Quốc làm lễ chính thức chấm dứt các hoạt động bảo vệ hòa bình ở quốc gia này.
 

Cali Today News - Phát biểu tại buổi lễ, TTK LHQ Ban Ki-moon cho rằng “Sierra Leone đại diện một trong những trường hợp phục hồi sau chiến tranh thành công nhất trong thế giới về bảo vệ và kiến tạo hòa bình”. Ông cũng ca ngợi nhân dân Sierra Leone đã can đảm vươn lên từ điêu tàn đổ nát để có một quốc gia ổn định như hôm nay và nhắc nhở các quốc gia đã từng bị chiến tranh tàn phá nên học bài học Sierra Leone.
 
Lời phát biểu của TTK Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon làm sáng lên trong ký ức tôi hình ảnh anh nông dân Ismail Darramy, nụ cười chiến thắng của anh và thiên anh hùng ca dân chủ anh viết lên bằng đôi tay đẫm máu của mình.
 
Nhớ lại mười hai năm trước, khi đọc xong bản tin về ngày bầu cử tự do đầu tiên sau cuộc chiến tranh dài tại Cộng hòa Sierra Leone trong đó có nhắc đến trường hợp của anh nông dân Ismail Darramy, tôi vội vã vào Internet tìm tấm hình của anh, tải xuống máy, cất giữ kỹ lưỡng và thỉnh thoảng lại lấy ra xem. Tấm hình anh dùng chân phải để kẹp lá phiếu bỏ vào thùng trong buổi sáng đẹp trời ngày 14 tháng 2 năm 2002 trên quê hương Sierra Leone chưa phai mùi súng đạn của anh sẽ không bao giờ phai đi trong ý thức tôi. Tôi đã viết một bài ngắn về anh vào năm 2006 và hôm nay tôi lại muốn viết thêm.
 
Anh không phải là Albert Lutuli, Nelson Mandela, Desmond Tutu hay Kofi Annan tên tuổi của Châu Phi. Anh Ismail Darramy chỉ là một nông dân bình thường và trước tháng 2, 2002, có lẽ ngoài gia đình anh, không ai biết đến anh. Nhưng nụ cười của anh, hai cánh tay cụt của anh, bàn chân trái kẹp lá phiếu của anh xuất hiện trên mặt báo đã trở thành biểu tượng cho khát vọng tự do dân chủ của những ai đang tranh đấu cho một trong những quyền căn bản của con người: quyền bầu cử tự do.
 
Anh Ismail Darramy tươi cười là phải. Hôm đó là ngày anh đi bỏ phiếu để bầu nên một chính phủ dân chủ đầu tiên cho quê hương anh sau một cuộc nội chiến đẫm máu kéo dài suốt 11 năm. Nụ cười của anh đúng nghĩa là nụ cười chiến thắng. Vâng, anh Darramy cuối cùng đã chiến thắng trước súng đạn của quân phản loạn được mệnh danh là Mặt trận Đoàn kết Cách mạng Sierra Leone (RUF). Không có chiến thắng nào mà không phải hy sinh. Anh Ismail Darramy đã hy sinh cả hai bàn tay, không phải ngoài mặt trận mà trong phòng bỏ phiếu. Trong cuộc bầu phiếu cưỡng bách và gian lận lần trước, anh đã nhất định không bỏ phiếu cho quân phiến loạn RUF. Chúng đã trả thù bằng cách chặt đứt cả hai bàn tay của anh. Vì không có hai tay, anh đã phải dùng chân để bỏ phiếu.
 
                         
 Ismail Darramy
 
Anh chịu đựng đớn đau, vợ con anh đói khổ khi anh không còn tay để canh tác cũng chỉ vì một lá phiếu. Thế nhưng, xin đừng hỏi anh Ismail Darramy định nghĩa dân chủ là gì, đa nguyên là gì, thế nào là các nguyên tắc phân quyền trong một xã hội pháp trị. Anh Ismail chắc sẽ vô cùng lúng túng. Dân chủ đối với anh Ismail Darramy là quyền tự nhiên mà bất cứ một con người cũng phải có, như con nai được uống nước bên bờ suối, con cá được lội tung tăng dưới sông, con sâu đo mình trên cọng lá xanh, con chim hót trên cành. Bình thường và đơn giản như thế đó.
 
Thế kỷ hai mươi là thế kỷ của nhiều thảm họa nhân loại nhưng đồng thời cũng là thế kỷ đánh dấu khả năng của con người có thể vượt qua thảm họa bằng con đường dân chủ. Năm 1974, chỉ có 41 nước trong số 150 quốc gia trên thế giới theo chế độ dân chủ, phần lớn là các quốc gia kỹ nghệ tân tiến Châu Âu. Năm 1990, ba phần năm tổng số quốc gia trên thế giới theo chế độ dân chủ. Từ anh chăn cừu trên thảo nguyên Mông Cổ cho đến người thợ mỏ da đen ở Nam Phi đều đã có quyền chọn lựa người lãnh đạo của mình. Và ngày nay, dân chủ đã trở thành một hiện tượng toàn cầu (a global phenomenon) như Giáo sư Larry Diamond của viện Hoover nhấn mạnh.
 
Đọc bảng liệt kê thể chế chính trị của các quốc gia trên thế giới tôi cảm thấy vui buồn lần lộn. Thật vui mừng khi biết trong danh sách các quốc gia theo thể chế dân chủ phân quyền có những nước cách đây không lâu còn rên siết dưới gót độc tài như Congo, Botswana, Nigeria, Zambia, Ethiopia, Nicaragua, Guinea và Serria Leone, quê hương của anh Ismail Darramy, nhưng cũng buồn thay, trong bản liệt kê, một góc nhỏ như tách rời khỏi cộng đồng nhân loại, ghi tên những quốc gia đang bị cai trị bởi một đảng độc tài, trong đó có Việt Nam.
 
Sierra Leone giống Việt Nam vì đều chịu đựng một trăm năm dưới ách thực dân và nhiều năm trong chiến tranh tàn phá.
 
Cho đến đầu thế kỷ 17, Sierra Leone, quốc gia Tây Phi, chỉ là trạm dừng chân của những tay buôn nô lệ. Thủ đô Freetown là nơi những người nô lệ được trả tự do từ châu Âu và châu Mỹ chọn làm quê hương. Vừa bước qua khỏi chế độ nô lệ, dân Sierra Leone lại phải chịu đựng hơn 100 năm dưới ách thực dân Anh cho đến khi được trao trả độc lập vào năm 1961. Được độc lập không bao lâu, quốc gia lạc hậu về mọi mặt này lại lâm vào nội chiến dài 11 năm với hàng trăm ngàn người bị chết.
 
Năm 1999, lịch sử Sierra Leone bước vào một bước ngoặt quan trọng. Với sự can thiệp mạnh mẽ của Liên Hiệp Quốc, nền hòa bình được tái lập và một chính phủ dân sự được bầu lên. Từ một nước bị xem như chậm tiến nhất thế giới, từ năm 2002, Sierra Leone đã chập chững bước đi trên con đường dân chủ hóa và đã đạt được những bước đầy khích lệ không ngờ.
 
Việt Nam cũng chịu đựng không kém gì Sierra Leone. Trong gần 100 năm dưới ách thực dân, hàng ngàn người Việt Nam không phải chỉ bị mất hai tay nhưng còn bị mất cả đầu chỉ vì dám nói lên tiếng nói thật của lương tâm họ. Nhưng cho đến nay, sau nhiều thế kỷ đấu tranh bằng xương máu, người dân Việt vẫn chưa có cái quyền tối thiểu mà anh Ismail Darramy và phần lớn nhân loại đang có. Ước mơ độc lập tự do của bao thế hệ Việt Nam vẫn còn là mơ ước.
 
Sierra Leone khác Việt Nam vì Sierra Leone đang cố gắng xây dựng căn nhà dân chủ và Việt Nam còn chìm đắm trong chế đọc độc tài.
 
Theo báo cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ, ngoài một số các hiện tượng tiêu cực còn tồn đọng, về nhân quyền, chính phủ Sierra Leone không hề vi phạm một hành động giết người, bắt cóc hay mất tích vì các lý do chính trị. Về tự do báo chí, chính phủ tôn trọng quyền tự do ngôn luận, không có nạn sửa đổi nội dung tác phẩm, bỏ tù tác giả, kiểm duyệt sách báo, ngoại trừ các báo tự kiểm duyệt để phù hợp với luật pháp hay quan điểm riêng của họ. Các bài bình luận chính trị trên các báo đều do chủ bút hay các cây bút bình luận chủ lực đích thân viết chứ không nhận bản sao từ ban tư tưởng trung ương.
 
Mặc dù kỹ thuật, kinh nghiệm nghề nghiệp và tinh thần báo chí của các nhà báo còn thấp, tại thủ đô Freetown cũng đã có 36 tờ báo, phần lớn là báo độc lập, tư doanh hay cơ quan ngôn luận của các đảng phái chính trị. Báo chí có khuynh hướng phê bình các chính sách của nhà nước nhưng không có báo nào bị đóng cửa vì lý do chống đối nhà nước. Vì trình độ đọc chữ còn thấp nên các đài phát thanh vẫn còn đóng vai trò quan trọng trong truyền thông đại chúng nhưng là những tiếng nói tự do, độc lập chứ không phải chỉ là cái loa của đảng cầm quyền. Luật pháp Sierra Leone tôn trọng quyền tự do hội họp và trong tổng quát, nhà nước tôn trọng quyền đó của người dân. Các cuộc biểu tình do các đảng phái đối lập tổ chức để phản đối một số chính sách của chính phủ thỉnh thoảng vẫn xảy ra nhưng không phải vì thế mà chính phủ lại mang đại pháo xe tăng ra ngăn chặn. Suốt năm 2005 có 11 người biểu tình bị bắt nhưng không phải vì chính kiến bất đồng mà vì cản trở lưu thông công cộng. Khoảng 60% dân Sierra Leone theo đạo Hồi nhưng các tôn giáo khác như Tin Lành, Anh Giáo v.v… có ảnh hưởng quan trọng trong 40% còn lại.
 
Cũng theo báo cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ, chính phủ Sierra Leone nói chung tôn trọng quyền tự do tôn giáo và tự do hành đạo. Các xung đột tôn giáo trong một nước mà nhiều nơi còn sinh hoạt theo tập quán riêng của từng bộ lạc, hẳn nhiên khó mà tránh khỏi nhưng phần lớn các xung đột tôn giáo đều được giải quyết bởi một hội đồng liên tôn gồm đại diện các tôn giáo tại địa phương chứ không có bàn tay nhà nước dính vào. Người dân Sierra Leone đi lại trong nước không cần giấy phép, trình báo hay kê khai hộ khẩu khi ở lại đêm. Những người dân Sierra Leone lưu lạc khắp năm châu trong thời chiến được quyền tự do hồi hương và chọn lựa nơi cư trú chứ không bị chỉ định cư trú và không phải đút lót cho các viên chức nhà nước khi mua nhà cửa. Cuộc bầu cử tự do lần đầu tiên năm 2002 dưới sự giám sát quốc tế được xem như công bằng và trong sạch. Vào năm 2004, các chức vụ cấp địa phương cũng đã được bầu bán một cách tự do chứ không còn do nhà nước trung ương chỉ định như trước nữa.
 
Sierra Leone còn rất lâu để trở thành một nước cường thịnh hay xây dựng cho họ một căn nhà dân chủ ổn định nhưng ít nhất họ đã đặt được những viên đá cần thiết làm nền móng cho một cơ chế chính trị nơi đó quyền của con người được luật pháp bảo vệ, một nền kinh tế có khả năng kích thích sản xuất, nâng cao đời sống, và một xã hội nơi các thế hệ măng mon của Sierra Leon sẽ trưởng thành trong hy vọng. Họ có được điều đó nhờ sự giúp đỡ tận tình của các nước dân chủ qua trung gian của Liên Hiệp Quốc về kinh tế cũng như về quân sự nhưng chắc chắn phần chính vẫn nhờ vào những người như anh Ismail Darramy.
 
Sierra Leone không có bốn ngàn năm văn hiến, không có những thời đại hiển hách Lý Trần, phá Tống bình Chiêm, Rạch Gầm Xoài Mút. Người dân xứ Sierra Leone không có nhiều quá khứ. Lịch sử của đất nước họ là một chuỗi ngày buồn. Tổ tiên họ là những nô lệ được trả tự do nhưng không có một nơi để trở về. Thậm chí, trong số 400 người đầu tiên đến Sierra Leone vào năm 1787, có 70 người là gái bán dâm lưu lạc. Theo tài liệu của Ngân hàng Thế giới, trong số 6 triệu người dân Sierra Leone chỉ có 29% dân số trên 15 tuổi là biết đọc biết viết và chỉ có 44% trẻ em trong tuổi đi học đã có cơ hội đến trường.


Thế nhưng tại sao Sierra Leone có dân chủ mà Việt Nam thì chưa?
 
Nhiều lý do nhưng tôi nghĩ một trong những lý do Việt Nam chưa có dân chủ, không phải vì tỉ lệ người dân biết đọc và viết tại Việt Nam thấp hơn con số 29% hay số học sinh ghi danh đi học ít hơn con số 44% của Sierra Leone, mà trái lại vì thành phần trí thức, định nghĩa một cách tổng quát là thành phần khoa bảng, có trình độ học vấn cao, ưu tú về các lãnh vực thuộc khoa học nhân văn, trong xã hội Việt Nam quá đông. Việt Nam ngày nay không còn là đất nước ra ngõ gặp anh hùng mà bước ra ngõ nếu không chạm mặt tiến sĩ thì cũng đụng đầu thạc sĩ.
 
"CSVN ký kết hầu hết các công ước quốc tế nhưng thưa ông Hà Kim Ngọc, đã thực hiện được một điều nào trong các công ước quốc tế nhân quyền gồm quyền tự do bầu cử, ứng cử, phát biểu, hội họp, đi lại, tín ngưỡng, bình đẳng trước pháp luật, thành lập công đoàn chưa?"
 
Trước khi viết về thành phần trí thức này tôi xin dừng lại ở đây để xin lỗi và cám ơn những trí thức, những văn nghệ sĩ Việt Nam chân chính, bằng trí tuệ của mình đang công khai hay âm thầm truyền bá các giá trị tốt đẹp của tự do, dân chủ, nhân bản và văn minh nhân loại trong điều kiện và hoàn cảnh riêng của họ. Trong giờ phút này, tôi thật sự tin, ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam, trái tim của những trí thức, những nhà văn, nhà thơ, nhà báo chân chính đó vẫn nhịp chung nhau một nhịp khát khao, vẫn nghĩ đến nhau dù đang đi trên nhiều ngả đường khác nhau và tuy không nói ra, trong tâm thức, họ vẫn hẹn nhau chung một nẻo về cũng như cùng hướng đến một bình minh dân tộc.
 
Tuy nhiên, thành thật mà nói lực lượng trí thức và văn nghệ sĩ Việt Nam chân chính còn quá ít để kéo nổi con tàu cách mạng với những toa sét rỉ và chất đầy quá khứ. Trong khi đó, đại đa số trí thức Việt Nam vẫn còn cong lưng phục vụ cho giới lãnh đạo đảng CS, vẫn còn nặng ơn mưa móc của Đảng mà thờ ơ trước những chịu đựng của đất nước. Thành phần này, chẳng những không đóng góp được gì vào việc làm thăng tiến xã hội, thúc đẩy nhanh hơn cuộc cách mạng tự do và nhân bản, giúp đưa dân tộc chúng ta vượt qua những bế tắc tư tưởng và chính trị để hội nhập vào dòng thác tiến bộ của nhân loại, mà với khả năng bồi bút họ đã trở thành bức tường chắn ngang tiến hình đó.
 
Đọc bài báo tố tham nhũng nhưng chính là để nịnh Đảng một cách vụng về của bà Tôn Nữ Thị Ninh viết vài năm trước: “Cần có một cơ chế “đối trọng” (phương Tây gọi cơ chế này là checks and balances). Đối trọng của ta là trong phạm vi chế độ, là sự kiểm tra giám sát của các đoàn thể quần chúng, chứ không phải là đối trọng về chính trị. Quốc hội có vai trò, tư pháp cũng phải độc lập, đoàn thể phải vào cuộc, nếu không hệ thống chính trị của ta sẽ không có cơ chế tự điều tiết.”
 
Hẳn nhiên, tiếp cận nhiều với sinh hoạt chính trị dân chủ Âu Châu trước đây, bà Ninh biết rõ khái niệm kiểm soát và cân bằng (checks and balances) để chỉ sự kiểm soát lẫn nhau và giữ sự cân bằng giữa các ngành trong các chế độ dân chủ pháp trị. Nguyên tắc này ra đời nhằm giới hạn quyền hành của ngành hành pháp thường rất dễ bị lạm dụng. Sự đối trọng giữa các ngành trong cơ chế chính trị chỉ hữu hiệu khi các ngành đó có được sự độc lập về quyền hạn và trách nhiệm. Xin hỏi bà, tại Việt Nam, làm thế nào để có sự đối trọng khi toàn bộ sinh hoạt không chỉ trong kinh tế, chính trị mà cả văn hóa, tư tưởng, giáo dục, xã hội chỉ đạo bởi một đảng duy nhất là đảng Cộng sản?
 
Mới đây, giống bà Ninh năm nọ, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Kim Ngọc lại một lần nữa phát biểu tại phiên họp Định kỳ Phổ quát (UPR) tại Geneva: “Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy tất cả các quyền và tự do cơ bản của con người, coi đó là nguyên tắc cơ bản của các chiến lược và chính sách phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.”
 
Là một quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc và là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, lãnh đạo CSVN không thể không công nhận công ước quốc tế quan trọng hàng đầu và có tính cách chủ đạo về quyền cơ bản của con người là Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (Universal Declaration Of Human Rights) được công bố vào năm 1948 cùng với hai công ước liên hệ là Công ước Quốc tế về Những quyền Dân sự và Chính trị (International Covenant On Civil And Political Rights, International Covenant On Economic, Social And Cultural Rights) được công bố năm 1966 và Công ước Quốc tế về Những quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (International Covenant On Economic, Social And Cultural Rights).
 
CSVN ký kết hầu hết các công ước quốc tế nhưng thưa ông Hà Kim Ngọc, đã thực hiện được một điều nào trong các công ước quốc tế nhân quyền gồm quyền tự do bầu cử, ứng cử, phát biểu, hội họp, đi lại, tín ngưỡng, bình đẳng trước pháp luật, thành lập công đoàn chưa?
 
Trên rất nhiều bài viết, các dư luận viên cao cấp của chế độ suốt ngày ra rả “Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi việc thực hiện tự do tôn giáo là một biểu hiện cụ thể của vấn đề nhân quyền.”
 
Nhưng tự do tôn giáo là gì?
 
Điều 18 của Tuyên ngôn Toàn thế giới về Nhân Quyền của Liên Hợp Quốc (The universal Declaration of Human Rights) quy định rằng “Mọi người đều có quyền tự do suy nghĩ, ý thức và tôn giáo, kể cả tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng, và tự do thể hiện tôn giáo hoặc tín ngưỡng dưới hình thức truyền bá, thực hành, thờ phụng hoặc lễ tiết, với tư cách cá nhân hay tập thể, công khai hay riêng tư.” (Everyone has the right to freedom of thought, conscience and religion; this right includes freedom to change his religion or belief, and freedom, either alone or in community with others and in public or private, to manifest his religion or belief in teaching, practice, worship and observance.)
 
Tự do tôn giáo trong tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hiệp Quốc là một trong những quyền căn bản không chỉ xác định trong niềm tin riêng tư thầm kín mà còn bằng hành vi công cộng. Quyền đó không chỉ giới hạn trong mỗi cá nhân mà thể hiện cả bên ngoài cộng đồng xã hội. Một tín đồ có quyền tham gia bất cứ một tông phái hay giáo hội nào, đi lễ tại bất cứ nhà thờ nào, chùa nào, thăm viếng hay đảnh lễ bất cứ lãnh đạo tôn giáo nào theo sự chọn lựa tự do của tín đồ đó.
 
Pháp lệnh về tín ngưỡng tôn giáo nói riêng hay các luật pháp tại Việt Nam đều do lãnh đạo đảng CS viết ra. Những luật pháp này thực chất chỉ là một công cụ để cai trị nhân dân chứ không phải là những quy định do chính người dân chấp nhận và tuân hành.
 
Điều 88 trong bộ luật Hình sự của CSVN ngày nay là di sản của điều 58 thuộc bộ luật Hình sự Liên Xô (RSFSR Penal Code). Khi công bố luật Hình sự Liên Xô lần đầu vào năm 1927, điều 58 chỉ nhắm vào thành phần “phản cách mạng”, tuy nhiên trong giai đoạn “Thanh trừng Vĩ đại” (Great Purge) từ 1934 đến 1939, Stalin đã thêm vào khoản quy định các tội “phản quốc” và “âm mưu phản nghịch” vì tên đồ tể này cần lý do để xử bắn Karl Radek, Yuri Piatakov, Grigory Sokolnikov và nhiều đồng chí khác của y.
 
Thật buồn khi giới trí thức Việt Nam như Tôn Nữ Thị Ninh, Hà Kim Ngọc và nhiều “tiến sĩ”, “thạc sĩ” khác, thích nói những về những điều lẽ ra họ không nên nói nhưng lại im lặng trước những sự kiện đáng nói.
Trong suốt dòng lịch sử, trí thức luôn đóng một vai trò quan trọng đối với sự thịnh suy của dân tộc. Câu “sĩ, nông, công, thương” trong đó sĩ đứng hàng đầu không phải tự nhiên mà có. Sự kính trọng đó bắt nguồn từ những gắn bó của giới trí thức với đại đa số quần chúng và những giá trị mà họ đã dùng để dẫn dắt quần chúng.
 
Trong thời kỳ Pháp thuộc dù máy chém đang đợi, Côn Đảo đang chờ nhiều trí thức Việt Nam bằng trí tuệ và lòng yêu nước đã dấy lên Phong trào Duy Tân lịch sử. Miền Trung, năm 1905, Phó bảng Phan Châu Trinh đã cùng với hai tân tiến sĩ khoa 1904, Tiến sĩ Trần Quý Cáp và Tiến sĩ Huỳnh Thúc Kháng, khăn gói lên đường đi khắp nước để vừa tìm bạn cùng chí hướng và vừa phổ biến tinh thần “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Miền Nam có Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quý Anh, Nguyễn Hiệt Chi, Trần Lệ Chất, Ngô Văn Nhượng hưởng ứng và lập ra các cơ sở Liên Thành. Miền Bắc có Lương Văn Can, Nguyễn Văn Vĩnh, Dương Bá Trạc đồng lòng và cùng dấy lên phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục. Những trí thức đó, phần lớn chỉ mới ngoài 30 tuổi, đã sống và đã chết một cách tuyệt vời như ngọn lúa Việt Nam.
 
Tiếc thay, đa phần trong giới trí thức ngày nay bị cuốn hút quá sâu vào bộ máy công danh và quyền lực để làm mất đi tác phong tư cách của một người trí thức, lẽ ra phải có tinh thần phê phán, khao khát mở mang trí tuệ, biết vui niềm vui của dân tộc và cũng biết đau cái đau, biết nhục cái nhục của dân tộc mình. Không ít trí thức trẻ có cơ hội học tập ở nước ngoài, được làm quen với môi trường dân chủ, được sinh hoạt trong không khí tự trị đại học, nhưng khi về nước họ lại giống như những con ngựa chở rau ra tỉnh, chấp nhận bị bịt tai, che mắt để phục vụ cho tầng lớp lãnh đạo độc tài vừa thối nát mà cũng vừa dốt nát.
 
Với một đội ngũ trí thức đông gấp 5 lần Thái Lan, 6 lần Mã Lai mà đất nước vẫn chìm đắm trong độc tài đảng trị thì đội ngũ đó không phải là niềm hãnh diện mà là một nỗi bất hạnh cho đất nước Việt Nam.
 
Trần Trung Đạo
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 10.03.2014 06:01:22 bởi Phù vân>
ĐIỂM BÁO TRONG NƯỚC

  MỪNG NGÀY PHỤ NỮ HẢ HÊ
CHỊ EM BỒI DƯỠNG TRỨNG KÊ VỚI ...DÒI ![:@]

Phát hiện thức ăn có dòi, 800 công nhân bỏ làm
 
Ngày 8/3, trong bữa ăn trưa, nhiều công nhân Công ty THHH Yak-Jin Sài Gòn (khu công nghiệp Bắc Đồng Phú, xã Tiến Hưng, thị xã Đồng Xoài, Bình Phước) phát hiện có dòi và trứng dòi trong lòng đỏ trứng gà. Sau khi phát hiện, công nhân báo lên Ban giám đốc công ty yêu cầu giải quyết vụ việc và sau đó bỏ làm ra về.

 Nhiều công nhân cho biết: Sau khi tan ca, hơn 800 công nhân tập trung tại nhà ăn của công ty chuẩn bị dùng cơm trưa. Khi thức ăn được đưa ra nhiều công nhân phát hiện trong trứng có nhiều dòi và dòi bò trên món trứng kho tàu.

 
Chị V.T.H.H - người trực tiếp phát hiện dòi và báo lên Ban giám đốc công ty cho biết: “Đây là lần thứ 2 công nhân phát hiện trong thức ăn có dòi. Trước đó, ngày 5/3, khi ăn được nửa phần cơm, nhiều công nhân phát hiện trong món thịt gà kho có dòi. Sau buổi ăn trưa hôm đó, nhiều công nhân có triệu chứng đau bụng, buồn nôn, chóng mặt và được đưa xuống phòng y tế của công ty để theo dõi. Do bị nặng hơn nên tôi và 2 công nhân khác được chuyển sang cấp cứu tại Bệnh viện Thánh Tâm (xã Tiến Hưng, thị xã Đồng Xoài)”.
 
Công nhân bức xúc báo cáo Ban giám đốc yêu cầu giải quyết vụ việc
 
Các công nhân cho biết thức ăn do một đơn vị chế biến ở Bình Dương cung cấp. Trong nhiều ngày nay, công nhân cảm nhận thức ăn không đảm bảo, sợ bị đuổi việc nên không ai dám phản ánh. Lần này, sau khi báo cáo lên ban giám đốc, hơn 800 công nhân đề nghị công ty cho nghỉ làm buổi chiều, đồng thời phải thay đổi nhà ăn đảm bảo vệ sinh, an toàn. Đại diện công ty cũng hứa sẽ thay đổi nhà ăn và trong thời gian đó công nhân phải tự đưa cơm ở nhà đi ăn.
 
Theo Nguoilaodong


Đăng nhập để trả lời
0
Chúng Tôi Không Là Việt Kiều

Ts. Nguyễn Đình Thắng


Năm ngoái, một cô du sinh Việt Nam theo học chương trình tiến sĩ ở Hoa Kỳ phỏng vấn tôi cho luận án của cô ấy với đề tài: Cách nào để chính quyền Việt Nam đến với Việt kiều ở Mỹ.

“Trước hết hãy ngưng gọi chúng tôi là Việt kiều,” tôi trả lời.

Thấy cô ấy lúng túng, tôi giải thích: “Chúng tôi là công dân Mỹ gốc Việt, không phải công dân của Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.”

Chính quyền Việt Nam muốn xem người Việt ở hải ngoại là công dân Việt mang “hộ chiếu” nước ngoài.

Cứ xem thái độ của Ông Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang của họ thì rõ. Khi gặp Tổng Thống Mỹ Barack Obama ở Toà Bạch Ốc hồi tháng 7 năm ngoái, Ông Sang cảm ơn chính phủ Mỹ đã chăm lo cho các người Việt ở Hoa Kỳ. Đây là lời cám ơn không đúng cương vị. Chính phủ Mỹ lo cho dân Mỹ là việc đương nhiên; hà cớ gì Ông Sang cảm ơn nếu không là muốn nhận vơ chúng tôi là dân của ông ấy?

Nhận vơ như vậy không ổn, vì nhiều lý do.



Trước hết, rất nhiều người chưa hề một ngày là công dân của nhà nước cộng sản Việt Nam: những người ngoài Bắc di cư vào Nam trước khi đảng cộng sản lập ra Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, và những người trong Nam bỏ nước ra đi trước khi đảng cộng sản ấy xâm chiếm miền Nam.

Kế đến là những người bỏ nước đi tị nạn. Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc, tị nạn có nghĩa từ bỏ sự bảo vệ của chế độ cầm quyền ở quốc gia nguyên quán. Theo nguyên tắc này, khi chúng ta đang xin hay còn mang quy chế tị nạn mà đặt chân về Việt Nam, dù chỉ để thăm gia đình, thì xem như tự đặt mình trở lại dưới sự bảo vệ của chế độ cầm quyền và sẽ tự động mất tư cách tị nạn. Pháp áp dụng đúng nguyên tắc này trong khi một số quốc gia khác thì nhân nhượng hơn.

Dù không thuộc các thành phần trên, một khi giơ tay tuyên thệ nhập quốc tịch Hoa Kỳ, mỗi người trong chúng tôi đã chính thức từ bỏ quốc tịch Việt Nam. Trước luật pháp Hoa Kỳ, chúng tôi là công dân Mỹ chứ không là công dân của Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Cô sinh viên tiến sĩ xem chừng hiểu ra câu trả lời: “Chúng tôi không là Việt kiều. Chúng tôi là người Mỹ gốc Việt,.”

Tôi giải thích thêm: “Cái gốc Việt ấy cho phép chúng tôi lên tiếng về các vi phạm nhân quyền và một số vấn đế khác nữa ở Việt Nam. Chúng tôi có thân nhân bị đàn áp. Chúng tôi có tài sản bị cưỡng chiếm. Đó là những vấn đề quyền lợi của công dân Mỹ, khi bị xâm phạm thì chính quyền Mỹ có nhiệm vụ can thiệp. Hơn nữa, chúng tôi có sự hiểu biết sâu sắc về hiện tình xã hội Việt Nam để giúp cho sự can thiệp ấy đạt hiệu quả.”

Nói đi thì cũng phải nói lại. Khi nhà nước cộng sản Việt Nam nhận vơ thì lỗi của họ chỉ có phân nửa. Phân nửa còn lại là lỗi của chúng ta.

Gần đây, cộng đồng Việt ở vùng Hoa Thịnh Đốn xôn xao về cuộc phỏng vấn video của một người Việt bị chặn ở phi trường, không được nhập cảnh, khi về thăm nhà ở Việt Nam. Cuộc tranh luận đã bỏ sót một yếu tố quan trọng: Cả hai phía của cuộc tranh luận đứng trên cương vị Việt kiều hay trên cương vị công dân Mỹ?

Khi công dân Mỹ bị gây khó dễ ở phi trường, thì người ấy dứt khoát đòi liên lạc với toà lãnh sự Mỹ ở Việt Nam; nếu bị công an câu lưu “làm việc” thì người ấy tuyệt nhiên không hợp tác cho đến khi đã nói chuyện được với toà lãnh sự Mỹ; nếu bị tống tiền, chèn ép bởi giới chức chính quyền Việt Nam thì cũng báo ngay cho toà lãnh sự Mỹ. Khi về lại Hoa Kỳ thì nạn nhân phải báo động ngay với Bộ Ngoại Giao.

Chính quyền Mỹ có nhiệm vụ bảo vệ công dân Mỹ. Khi nhận được nhiều báo cáo từ các công dân Mỹ bị sách nhiễu, thì chính quyền Mỹ sẽ phải đặt vấn đề với phía Việt Nam.

Nhà nước Việt Nam có dám đối xử tệ với những công dân Mỹ khác đâu, mà chỉ sách nhiễu người Mỹ gốc Việt. Chẳng qua chúng ta cho phép họ làm vậy. Lỗi ấy là của chúng ta.

Thành ra, muốn khẳng định “chúng tôi không là Việt kiều” với nhà nước Việt Nam thì trước hết chúng ta phải tự nhủ và nhắc nhở lẫn nhau: “Chúng ta không là Việt kiều”. Khi người người trong chúng ta ý thức điều này và hành xử đúng cương vị thìnhà nước Việt Nam sẽ phải thay đổi theo. Tôi tin là vậy.

Ghi chú: Dưới đây là một số hướng dẫn để công dân Mỹ chuẩn bị đề phòng trở ngại khi ở Việt Nam. Nguồn: Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. 


~~~~~~



Safety Tips for U.S. Citizens Traveling to Vietnam




Prior to the Trip



It is encouraged that all U.S. citizens traveling or residing in Vietnam to sign up for Smart Traveler Enrollment Program with the U.S Citizen Services unit. The information you supply will allow the U.S. Government to communicate with you and assist you in case of an emergency. Enrollment is not required but is strongly recommended. You may enroll in this program online using the State Department's secure online travel website at https://step.state.gov/step/.



If You Get Arrested



If you are arrested, you should ask the authorities to notify a U.S. Consul. Consuls cannot get you out of jail (when you are in a foreign country, you are subject to its laws). However, they can work to protect your legitimate interests and ensure that you are not discriminated against. They can provide you with a list of local attorneys, visit you, inform you generally about local laws, and contact your family and friends. Consular officers can transfer money, food, and clothing to the prison authorities from your family and friends. They can try to obtain relief if you are held under inhumane or unhealthy conditions.



What To Expect

The first thing that an American citizen detained by the authorities in Vietnam must understand is that the Vietnamese system of justice, and even the concept of justice, differ greatly from the concept and administration of justice in the United States. The U.S. Embassy in Hanoi and the U.S. Consulate General in Ho Chi Minh City will do all that it can to ensure that an American citizen accused of a crime in Vietnam receives all the protection and benefits afforded a detainee under Vietnamese law, but it will not be able to guarantee any of the protections and guarantees that have come to be expected under American law.


An American should not expect that s/he will be subjected to brutal interrogations, or sentenced without some legal representation. Instead, s/he can expect to receive treatment according to carefully considered procedural law and that the progress of his legal situation will be monitored by the Embassy and/or the Consulate.

An Embassy or Consulate consular officer is guaranteed access to detained Americans and will help them to understand their situations as well as possible. However, consular officers cannot investigate crimes, provide legal advice or represent American citizens in court, serve as official interpreters or translators, or pay legal, medical, or other fees for American citizens.


Notification and Access

A 1994 agreement between the United States and Vietnam provides for immediate notification of and reciprocal access within 96 hours to each other's detained citizens. Bearers of U.S. passports who enter Vietnam with a Vietnamese visa, including those of Vietnamese origin, are regarded as U.S. citizens by the U.S. Government for purposes of notification and access. Therefore, U.S. citizens are encouraged to carry photocopies of passport data and photo pages with them at all times so that, if questioned by Vietnamese officials, proof of U.S. citizenship is readily available.


According to the 1994 agreement, U.S. citizens, including dual nationals, have the right to consular access if they were admitted into Vietnam as a U.S. citizen with their U.S. passport, and should insist upon contact with the U.S. Embassy or the U.S. Consulate General.


Additionally, based on the Vienna Convention on Consular Relations, bilateral agreements with certain countries, and customary international law, if you are arrested in Vietnam, you have the option to request that the police, prison officials, or other authorities alert the nearest U.S. embassy or consulate of your arrest, and to have communications from you forwarded to the nearest U.S. embassy or consulate.



Emergency Contact Information



The U.S. Citizen Services Unit provides emergency services to U.S. citizens in the event of an emergency such as arrest, missing persons, destitution and/or other critical situations. To contact the U.S. Citizen Services Unit during normal business hours (8:00 a.m. - 5:00 p.m.) regarding an emergency involving a U.S. citizen, please call the embassy at (04) 3850-5000 within Vietnam or 011-84-4-3850-5000 from the United States. To contact the U.S. Citizen Services Unit after hours, please call the Embassy Duty telephone at 090-340-1991 within Vietnam or 011-84-90-340-1991 from the United States.


The local equivalents to the "911" line in Vietnam are 113 for police, 114 for fire, and 115 for ambulance.


United States Citizen Services
Consular Section
Rose Garden Building 
Second Floor, 170 Ngoc Khanh Street

Hanoi, Vietnam

Mailing Address: 7 Lang Ha Street, Hanoi, Vietnam
Email: [email=acshanoi@state.gov]acshanoi@state.gov[/email] 
Telephone: (84-4) 3850-5000 (GMT +7h)



Contact Information of U.S. Embassy and Consulate in Vietnam


U.S. Embassy in Hanoi
170 Ngoc Khanh
Ba Dinh District
Hanoi, Vietnam

Telephone: (84-4) 3850-5000
Emergency Telephone: (84-4) 3850-5000 or (04) 3850-5000/3850-5105
Fax: (84-4) 3850-5010
E-mail: [email=acshanoi@state.gov]acshanoi@state.gov[/email]


U.S. Consulate General in Ho Chi Minh City
4 Le Duan, District 1
Ho Chi Minh City, Vietnam

Telephone: (84-8) 3520-4200
Emergency Telephone: (84-8) 3520-4200
Fax: (84-8) 3520-4244
E-mail: [email=acshcmc@state.gov]acshcmc@state.gov[/email]


Source: U.S. Department of State
 
Đăng nhập để trả lời
0


Cho Ngày Quốc Hận 30 tháng 4


Anh hỏi em sao không về thăm mẹ
Ngày lìa đời mẹ nhắm mắt không yên
Vắng bóng em nên mẹ chết ưu phiền
Vầng tang trắng thiếu đứa con gái út

Em hỏi anh vì sao em bỏ nước?
Tại vì sao mẫu tử phải chia lìa
Tại vì sao chồng vợ phải phân chia
Ngàn người chết biển đông trong rừng thẳm

Em hỏi anh hơn ba mươi năm lẻ
Quê hương mình dân chúng vẫn điêu linh
Có phải chăng vì bọn cướp hồ tinh
Đội lớp người nhưng lòng lang dạ sói

"Độc lập tự do" sao người dân tê tái
Hiếp đáp người, đàn áp bắt dân oan
Sống xa hoa mặc dân khổ kêu than
Tiền đầy tuí tham quan tư bản đỏ

Biển Việt Nam, Nam Quan, Bản Giốc
Sao cắt dâng Tàu cuí mặt cong lưng
Cô gái thanh xuân nước mắt rưng rưng
Vì manh aó bán thân lìa cha mẹ

Trẻ thất học lang thang trên đường phố
Kiếm mưu sinh trong đống rác vĩa hè
Những đêm đông áo rách không đủ che
Nằm giá lạnh co ro trời có thấu

Ai đã bảo là "cơm no áo ấm"
Lời mị dân xảo trá thật điêu ngoa
Người dân oan cay đắng lệ chan hoà
Ai tàn nhẫn bắt người còn cướp đất

Người nông dân cày ruộng thiếu cơm ăn
Nơi thành thị kẻ vung tiền như rác
Ai đã bảo "giàu nghèo cùng san sẻ"
Nhưng càng ngày hố ngăn cách càng xa

Dù xa quê nhưng em luôn khắc khoải
Vui sướng gì khi đất nước lầm than
Nước người ta ăn, mặc quá dư tràn
Lòng đau xót thương dân mình đói rách

Ba mươi tháng Tư anh ơi còn nhớ?
Ngày đau buồn ta quấn chiếc khăn tang
Giận ai kia hèn nhát đã đầu hàng
Để mất nước ta lầm than viễn xứ

Ba mươi tháng Tư Việt Nam Quốc Hận!
Ngày kinh hoàng rúng động cả năm châu
Lũ tham tàn không tồn tại được lâu
Anh hãy đợi một ngày em trở lại

Em sẽ về khi quê hương bừng sáng
Ngày tự do dân chủ sẽ không xa
Tuổi trẻ Việt Nam bất khuất thiết tha
Sẽ dựng lại một mùa xuân mầu nhiệm

Sao Linh
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.03.2014 18:34:59 bởi thiên thanh>



 
(xin bấm lên ảnh để nghe bài hát)
   https://app.box.com/shared/8h5ghrvc3h6ed89x5c5b

 ĐƯỜNG VỀ 
thơ Teresa ánhBích . nhạc & trình bày Dzuylynh 
album Góc nhỏ giáo đường 

Những cơn mưa hôm nay 
Rơi thấm lạnh bờ vai 
Ướt đôi chân mỏi mòn 
Quạnh hiu bên cuộc đời 
Niềm đau và hạnh phúc 
Cay đắng lẫn ngọt ngào ... 

Nắng rơi bên kia sông 
Giông tố có dần qua ? 
Ngã nghiêng giữa dòng đời 
Hằn sâu thân nhọc nhằn 
Nợ gian trần cưu mang 
Xin cho chút bình an ! 

Cuộc sống là trang sách 
Hôm qua ...rồi hôm nay ... 
Khi ánh hào quang tỏa 
Lồng trang Kinh nhiệm màu 
Ngày mai là trang mới 
Ngàn sau còn tinh khôi ... 

Chuông giáo đường ngân nga 
Thánh Lễ chiều Misa 
Giữa đất trời xa lạ 
Tha hương buồn viễn xứ 
Ân sủng Ngài ban xuống 
Bài ca Thánh êm đềm ... 

Sợi nắng chiều có hanh ! 
Sương đêm về lành lạnh 
Con gió nhẹ lay lắt ... 
Chiếc lá xanh lìa cành 
Dù mầm xanh vẫn xanh 
Dù đời em vắng anh ! 
Nhưng tiếng Ngài đã gọi ! 
Con từ bỏ thân mình ... 

Mỗi bước chân nhỏ nhoi 
Gieo Tin Mừng muôn lối 
Tình yêu ơn cứu rỗi 
Yêu tha nhân yêu người ... 

Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần ...Amen ! 
Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần ... Amen ! 
Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần ... Amen ! 


Mary Goretti Church 2010
Đăng nhập để trả lời
0