📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Chát xình chát chát bùm - Azit Nêxin 🔒

54 trả lời, 189 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 08.02.2018 06:06:01 bởi casau>
 
Chát xình chát chát bùm
Tác giả: Azit Nêxin
Người dịch: Thái Hà
 
Cái kính

Một hôm, cách đây chừng bảy, tám tháng, có người bạn hỏi tôi:
- Tại sao anh không đeo kính?
- Làm sao tôi phải đeo?
- Tuổi anh bây giờ là phải đeo rồi chứ còn sao nữa! Không đeo, đến lúc mắt hỏng nặng, không nhìn thấy gì đâu!
Từ lúc người bạn đó ra về, mắt tôi tự dưng mờ hẳn. Nhìn gần nhìn xa đều không rõ nữa.
Lâu nay tôi vẫn thầm mong cho tóc chóng rụng, cho trán hói đi. Rồi đeo thêm chiếc kính vào cho ra dáng trí thức. Vì tôi cho như thế là dấu hiệu của một anh trí thức. Ngay như anh bán thịt bây giờ mà để trán hói và mang kính vào, tôi cho trông cũng không khác gì giáo sư đại học! Nhưng cái mơ ước ấy của tôi không thực hiện được, vì tóc tôi mỗi ngày một dày thêm. Thế thì ít ra tôi cũng nên sắm cái kính mà đeo vậy, để nhìn thấy tôi, người ta phải bảo: bác học đấy!
Vậy là tôi đi khám đốc tờ. Khám xong ông này bảo tôi:
- Anh bị cận thị! Một phảy bảy nhăm đi-ốp!
Theo đơn ông ta dặn, tôi sắm một cái kính.
Nhưng cứ động đeo vào là tôi thấy mặt mày sa sầm, buồn nôn không chịu được. Thậm chí có lần, nói vô phép các bạn, tôi nôn thật! Nôn thốc nôn tháo, nôn ra cả mật xanh mật vàng. Không đeo thì không nhìn thấy gì, mà đeo thì tuy nhìn thấy được, nhưng lại bị cảm giác buồn nôn. Thật đúng là khổ!
Một ông bạn khác thương hại bảo tôi:
- Tôi có thể giới thiệu với anh một bác sĩ giỏi. Anh hãy đến ông ta khám xem!
Ông bác sĩ này xem mắt tôi, rồi xem chiếc kính.
- Thằng cha lang băm nào cho anh đơn mua cái kính này thế? Có phải anh bị cận thị đâu!
- Thế thì tôi bị làm sao ạ?
- Viễn thị! Hai đi-ốp!
Tôi lại mua kính mới. Đeo chiếc kính này tôi không còn thấy chóng mặt buồn nôn nữa, nhưng lúc nào cũng bị chảy nước mắt. Đâm ra mắt tôi lúc nào cũng đỏ hoe như khóc ai vậy. Tôi bị cái cảm giác thương xót rất lạ. Cặp kính này chỉ có để đi đưa đám là hợp.
Một ông bạn thân tỏ vẻ ái ngại cho tôi:
- Thế này thì cậu đến mù mất! Cậu phải đi khám bệnh viện nhà nước xem sao! Ở đấy họ khám cẩn thận. Lại có giáo sư nhãn khoa nữa, chứ không như mấy ông bác sĩ tư!
Bệnh viện nhà nước quả là có khác thật: máy móc nhiều, mà dụng cụ cái gì cũng sáng nhoáng.
Tôi được một giáo sư khám. Tôi kể cho giáo sư nghe cái bất hạnh của tôi.
- Người thì bảo tôi là cận thị, người thì bảo là viễn thị.
Giáo sư giận lắm.
- Quân ngu! Anh không phải cận thị, cũng không phải viễn thị, mà là loạn thị.
Theo đơn của giáo sư, tôi mua đôi kính khác. Cặp kính này tôi đeo vừa lắm, trông cái gì cũng rõ. Phải mỗi tội cái gì bây giờ như cũng lùi hẳn ra xa. Mấy bức tường trong căn phòng tôi sống hàng chục năm nay, dường như bị lùi xa đến hàng ba chục thước. Tôi giơ tay chực bắt tay người quen, nhưng không sao với tới được. Định viết, giấy đã chạy khỏi tay đến hai thước. Nhìn vật gì cũng thấy bé tí xíu. Người thì chỉ bằng hạt đậu ván... Nhưng hại nhất là tôi không ăn uống gì được. Vì vừa ngồi vào bàn là đĩa thức ăn đã chạy đi xa hai chục thước rồi. Mùi xúp nóng bốc ngay dưới mũi, nhưng cứ cầm thìa chực múc, thì bát xúp đã ở cách xa hàng hai mét! Tôi không ăn uống cử động gì được nữa. Một anh bạn phải dắt tay tôi dẫn đến một bác sĩ khác tốt nghiệp ở Mỹ về. Khám xét cẩn thận xong ông ta bảo tôi:
- Đứa nào cho anh mua cái kính này đây? Đúng là đồ lang vườn dốt nát! Anh cứ kiện lên phòng công tố cho nó bỏ mẹ!
- Thôi! Cứ để thánh Ala trừng phạt hắn! - Tôi nói.
Tôi lại thay kính mới. Bây giờ mắt tôi nhìn cái gì cũng hóa hai. Nhà tôi đang bảy người, bỗng nhiên hóa thành mười bốn. Mỗi người lại có một người giống hệt mình. Thật tôi chưa bao giờ thấy chuyện lạ như vậy. Chả lẽ lại có những người giống nhau đến mức độ như thế hay sao? Vô lý quá! Nhìn xuống chân thì thấy bốn chiếc ủng, nhìn bàn tay thì thấy có mười ngón!
Tôi đến một ông bác sĩ khác. Ông này học ở Đức về.
- Ai bảo anh đeo kính này?
- Làm sao ạ?
- Sai chứ còn làm sao nữa!
Hóa ra một mắt tôi bị viễn, còn mắt kia thì cận. Vị danh y mới lại ghi cho tôi chiếc kính khác. Bây giờ tôi không phân biệt được sáng tối nữa.
Xung quanh tôi tôi như hũ nút.
- Đứa dốt nào ghi cho anh chiếc kính này vậy hả? Mắt anh hoàn toàn bình thường, có làm sao đâu?
- Nhưng tôi không nhìn thấy gì cả! Tôi cứ như bưng ấy!
- Thế là anh bị quáng gà thôi, chứ chẳng có làm sao hết!
Lại uống thuốc, lại tiêm, lại kính mới... Bây giờ các vật ở xa trông lại hóa gần. Chân đáng lẽ leo lên tàu thủy, thì lại bước ngay xuống biển... Vì tàu chưa cập bến, nhưng trông cứ như đã ngay sát bờ. Không còn viên bác sĩ nào trong tỉnh là tôi chưa mò đến! Ông này bảo mắt phải tôi cận, mắt trái viễn, thì ông khác nói ngược lại. Ông trước kêu loạn thị, thì ông sau phán là bị đục thủy tinh thể. Đeo kính của cái ông bảo tôi bị đục thủy tinh thể, nhìn cái gì cũng ra màu xanh cả. Có ông còn đoán tôi bị chứng mù màu. Nhìn phía trước, nhìn sang bên, nhìn xa nhìn gần, cái gì cũng biến thành hai, màu sắc lẫn hết. Đi trên đường thẳng mà tôi có cảm giác như bước xuống cầu thang, mỗi bậc cách nhau hàng bốn năm chục phân. Tôi cứ phải bước từng bước dài như lạc đà vậy.
Một lần, đang đi trên cầu, thế quái nào bước hụt một cái, ngã lăn ngay xuống dưới. Vì cứ tưởng những bậc cầu thấp hơn một mét. Cái gì cũng mờ mờ ảo ảo. Người ta đỡ tôi dậy.
- Cái kính của tôi đâu rồi? - Tôi hỏi.
Họ tìm thấy kính đưa cho tôi. Tôi đeo kính vào thì... Thánh Ala ơi!... Mọi vật bỗng trở nên sáng sủa rõ ràng quá! Vật nào đúng vật nấy, rõ mồn một! Rõ như chưa bao giờ tôi có thể nhìn rõ như vậy. Hay kính của người khác chăng? Không! Đích thị kính của tôi đây mà! Đúng gọng sừng to màu đen đây! Tôi sướng không làm sao tả được! Bây giờ thì đừng hòng tôi bước chân đến một anh bác sĩ mắt nào nhé! Tôi đã đọc được cả mấy dòng chữ nhỏ nhất trên báo và nhìn rõ cả tên chiếc tàu thủy đậu tít ngoài xa. Tôi đi về nhà, lòng vô cùng sung sướng.
- Kính của anh sao thế kia? - Vợ tôi hỏi.
- Làm sao?
Tôi bỏ kính ra xem. Ngón tay thò qua được cả lỗ gọng! Té ra mắt kính đã bị vỡ rơi mất rồi mà tôi không biết.
📎 cxccb|cxccb3
0
Đôi giày chật

Nếu lần đầu tiên bạn đến chơi nhà bố mẹ của cô gái mà bạn quyết định sẽ cưới, tôi khuyên bạn hãy đi đôi giày bé hơn chân mình độ hai - ba số. Bảo đảm chắc chắn sẽ thành công.
Phải, phải, nếu trong lúc đi hỏi vợ mà bạn mang giày chật, thì hãy coi như đám cưới của bạn và vị hôn thê đã được chấp thuận. Thậm chí nếu cô gái không đồng ý thì bố mẹ cô ta cũng sẽ bắt cô ta phải lấy bạn.
Tôi rút ra chân lý này từ cách đây nhiều năm, khi anh bạn Netzhet của tôi đang yêu. Chúng tôi, các bạn bè của anh ta, thực tâm thương xót cho anh chàng tội nghiệp. Anh ta xọp hẳn đi, bỏ cả công ăn việc làm.
Một hôm tôi hỏi anh ta:
- Thế cô gái có yêu cậu không?
- Còn phải nói!
- Thế thì cưới cô ta đi!
- Cưới đi ! Nói thì dễ lắm! Nhưng ai là người đến nhà bố mẹ Mêlikha để ăn hỏi cho tớ? Cậu biết rồi đấy, ở Stambul này tớ có mỗi một thân một mình, không họ hàng thân thích. Bố mẹ tớ đều sống ở Eczênum.
- Ôi dào, vớ vẩn! Bây giờ thời buổi khác rồi. Cậu cứ đến gặp trực tiếp bố mẹ cô gái và nói: “Chúng cháu yêu nhau, con gái bác cũng đồng ý. Cháu kính xin các bác cho chúng cháu được kết hôn với nhau”.
- Bạn ơi, chả lẽ cậu còn không hiểu tớ sao? Nói một câu cho gãy gọn tớ còn không biết nói nữa là! Phải nghe chính mình nói tớ cũng thấy khó chịu rồi. Thậm chí nếu bố mẹ cô ta đồng ý hay phản đối tớ cũng chưa chắc dám mở mồm. Giá bảo tớ có cái lưỡi dẻo như cậu kia, thì chẳng cần phải đắn đo, mà đã đến thẳng xin hỏi vợ ngay.
Netzhet gầy tọp hẳn đi trước mắt chúng tôi. Một hôm anh ta đến gặp tôi.
- Cậu hãy thương tớ với. - Anh ta van xin tôi - Chỉ mình cậu mới có thể cứu tớ. Chúng ta cùng đến nhà Mêlikha và cậu hãy nói chuyện với bố cô ấy, may ra ông ta đồng ý gả con gái cho tớ.
- Cậu điên à, Netzhet! Tớ thậm chí không quen biết gì bố mẹ cô ta, sao có thể đến được? Bố cô ta sẽ cầm gậy mà tống cổ chúng ta ra đường ấy chứ!
- Chúng ta cứ đi - Netzhet năn nỉ - Cậu hãy kể cho bố cô ấy chuyện gì thật buồn cười, làm ông già vui lên. Cái chính là làm sao cho ông già vui vẻ. Ông già mà đã cười thì coi như công việc của chúng ta trót lọt. Cậu hãy kể cho ông già nghe hết chuyện cười này đến chuyện khác.
- Tớ không làm được đâu, Netzhet ạ.
- Cậu phải làm được. Mêlikha đã ra tối hậu thư cho tớ. “Hoặc anh phải đến xin cưới em, hoặc chúng ta sẽ chia tay!”.
Tôi thử tìm cách can ngăn bạn tôi.
- Đừng vội, Netzhet. Cậu còn chưa hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Nghề nghiệp của cậu có thể nói là chưa có. Cậu là ai? Một anh làm báo quèn. Lương tháng chỉ có 60 lia [1] Làm sao cậu nuôi được gia đình?
- Bố của Mêlikha rất giàu - Netzhet đáp - Cậu tưởng tớ chỉ đơn giản muốn cưới vợ không thôi? Đó còn là cơ hội duy nhất để tớ được thành người. Tớ van cậu, hãy giúp tớ! Hãy đi cùng với tớ. Hôm nay là ngày bố mẹ cô ấy có nhà.
- Netzhet thân mến ơi, tớ không thể đi được.
- Hãy là bạn bè! Hạnh phúc của tớ tùy thuộc vào cậu đấy! Đừng phá hỏng nó!
Tôi thấy anh ta như sắp khóc đến nơi. Tôi đành đồng ý. Nhưng có một khó khăn: Đôi giày của tôi đã há cả mõm. Làm sao có thể đi ăn hỏi với bề ngoài như vậy được! Mà mua giày mới thì không có tiền. Tôi hỏi xin ứng trước tiền ở ông chủ tờ báo chúng tôi làm, nhưng ông ta kiếm cớ từ chối.
- Vừa hôm nọ anh đã xin ứng trước 10 lia rồi. Anh đang còn là con nợ của tôi đấy!
Đồ keo kiệt!
May sao ông tổng biên tập của chúng tôi là người rộng rãi hơn, ông cho tôi vay mười lăm lia cho đến kỳ lương.
Không để mất thời gian, tôi và Netzhet ra ngay chợ bán hàng nội địa, nơi có bán những đôi giày rẻ tiền nhất. Chúng tôi hỏi thì được biết: Giày cỡ số 37 giá 14 lia 75, còn cỡ từ 38 - 40 thì đắt hơn 10 lia. Tôi mang giày cỡ 38.
Chúng tôi hỏi người bán hàng:
- Tại sao giá lại chênh nhau nhiều thế?
Ông ta giải thích:
- Giày từ số 37 trở xuống được coi là giày trẻ con.
- Thật quá vô lý! - Tôi nổi cáu - Lấy của người ta thêm 10 lia chỉ vì chân nhỏ hơn người khác có một xăngtimet! Vậy tại sao tôi phải trả một đôi giày cỡ 38 bằng số tiền của một gã khổng lồ nào đó mang giày cỡ 46?
Chúng tôi không sao nói cho lão bán hàng đó hiểu ra cái sự vô lý ấy. Chúng tôi đến gặp ông phụ trách quầy bán giày đàn ông với hy vọng ông ấy hiểu được chúng tôi. Nhưng, than ôi, chúng tôi cũng không làm sao để ông này thông cảm cho. Khi đó chúng tôi đến gặp thẳng ông giám đốc cửa hàng. Ông này tuy hiểu điều chúng tôi phàn nàn, nhưng cũng không thể thay đổi gì được.
- Tôi không thể làm gì giúp các vị được. - Ông ta nói rất lịch sự - Giá đã quy định thế rồi!
Tôi không kìm được nữa và tuôn ra một tràng những lời lẽ phê phán đầy tức giận mà tôi còn nhớ bắt đầu bằng câu như thế này: “Mẹ kiếp tất cả những điều bất công vô lý!”
- Tôi xin cảnh cáo ông. - Ông giám đốc cửa hàng ngắt lời tôi - Ngay bây giờ chúng tôi sẽ lập biên bản.
Nói tóm lại, chúng tôi không đủ tiền mua đôi giày đúng cỡ chân tôi.
- Thôi, cứ lấy đại số 37 đi vậy! - Netzhet nói.
- Nhưng tôi không xỏ vừa.
- Hãy vì tình yêu của tôi, anh hãy cố xỏ đi!
- Trời ơi, Netzhet, nhưng đôi chân tôi nó không thông cảm - vì cái này hay vì cái nọ!
Làm sao bây giờ? Tôi thương hại Netzhet quá và dành mua đôi cỡ 37. Rồi sau đó phải lấy hết sức bình sinh cố xỏ chúng vào. Nếu không có sự trợ giúp của hai người bán hàng có lẽ cũng chịu. Họ phải cố gắng đến toát mồ hôi mới nhét được đôi giày vào chân tôi. Netzhet cũng mệt phờ người. Mồ hôi từ mũi anh ta chảy từng giọt. Sau khi buộc dây cho tôi xong, anh ta nói:
- Thôi được rồi, bây giờ anh đứng lên đi!
Được dìu hai bên nách, tôi từ từ đứng dậy khỏi ghế và thét lên như người bị dao cứa vào chân.
- Ái - ái! ...
Cầu thánh Ala cho các bạn đừng bị cái gì trói buộc tự do của đôi chân! Giây phút này tôi mới hiểu ra tự do của đôi chân đối với con người ta cũng quý giá không kém gì so với tự do báo chí, ngôn luận hay tín ngưỡng.
- Ngài cứ đi ít lâu là nó doãng ra ngay. - Người bán hàng nói với tôi.
- “Đi ít lâu!!”, nói thì dễ lắm! Bước một bước còn không nổi nữa là đi!
Netzhet phải dìu tôi bước ra ngoài. Áo sơ-mi của tôi ướt đầm mồ hôi.
- Cậu đã chuẩn bị những chuyện cười để kể cho bố Mêlikha chưa? - Anh ta hỏi.
Chúng tôi bước lên xe điện.
- Lạy Chúa, Netzhet, anh hãy tháo dùm đôi giày khỏi chân tôi với! - Tôi van xin anh ta.
- Cậu cố chịu một tí, đi một lúc nó doãng ra ngay ấy mà!
Tôi có cảm giác không phải đôi giày doãng ra, mà đôi chân tôi bị bóp chặt lại.
Tôi nhăn mặt vì đau đớn và rên rỉ:
- Cởi ra...!
Bao nhiêu hành khách trên xe điện đều quay lại nhìn tôi.
- Cởi ra... nhanh lên... Netzhet. Đến khi nào xuống xe tôi sẽ đi.
Hành khách, người lái tầu, người soát vé ái ngại cho tôi, xúm vào cố giúp tôi cởi đôi giày chết tiệt. Nhưng dù đã cố hết sức họ vẫn không làm sao cởi được. Đôi giày không chịu tuột ra.
Một hành khách góp ý:
- Phải cắt nó ra thôi, may ra mới cứu được anh chàng tội nghiệp!
- Ấy, không, không! Không đời nào. - Tôi ngăn họ ngay.
Tôi phải vất vả thế nào mới vay được số tiền đó! Hơn nữa, tôi vẫn còn hy vọng đi một thời gian nó sẽ doãng ra.
Vừa tập tễnh vừa kêu rên, tôi bước xuống tàu điện. Netzhet phải đỡ tôi. Tôi ngạc nhiên không biết tại sao tôi vẫn còn tập tễnh đi được. Còn Netzhet thì vẫn chỉ quan tâm đến một chuyện:
- Cậu đã nghĩ ra các chuyện cười chưa? Thế nào cậu cũng phải làm cho bố Mêlikha cười lên đấy nhé! Chỉ cần ông ta mỉm cười thì coi như mọi việc đã xong - chắc chắn ông ta sẽ gả con gái cho tớ. Cậu cứ kể cho ông ta nghe chuyện Khôtgia Naxrêđin ấy!
Chúng tôi đến nơi. Vào đến phòng khách, tôi ngồi phịch ngay xuống chiếc ghế sa lông và đưa hai tay ôm mặt.
- Các vị đến nhà tôi có việc gì vậy? - Bố Mêlikha hỏi.
Netzhet nhìn tôi với vẻ mặt như sắp khóc. Còn tôi thì như người bị cắt mất lưỡi. Những đau đớn mà tôi đang chịu đựng thật chẳng kém gì những đau đớn mà kẻ có tội phải chịu đựng dưới địa ngục. Đến mắt tôi cũng chảy mồ hôi. Cả người, cả tay và mặt nóng bừng. Tôi cảm thấy như mình đang lên cơn sốt. Giá đo nhiệt độ lúc này chắc phải đến 43°.
Netzhet nhìn tôi và hiểu rằng không thể chờ đợi gì ở tôi nữa. Thế là bỗng nhiên anh ta mở miệng nói, nói thao thao bất tuyệt không ai ngăn được! Tôi cứ ngồi mồ hôi toát đầm đìa, còn anh ta thì cố ra sức làm cho bố mẹ cô gái vui.
Mẹ cô gái hỏi tôi:
- Sao anh im lặng thế?
- Thưa bác, tính anh ấy nhút nhát lắm. - Netzhet đỡ lời cho tôi.
Tôi cứ ngồi cắn răng vì đau, hai tay nắm chặt, kẹp giữa hai đầu gối.
Người yêu của Netzhet bê khay cà phê bước vào phòng. Lạy Chúa tôi, sao có người xấu đâu mà xấu đến thế! Nhìn thấy cô ta tôi chỉ muốn cắm đầu bỏ chạy. Mong sao cho cậu bị từ chối, Netzhet! Chả lẽ bao nhiêu đau đớn tôi phải cố chịu vì cậu chỉ vì cô gái xấu xí như thế này?!
Netzhet cuối cùng cũng làm cho bố mẹ Mêlikha phải cười. Trong khi đó tôi gần như sắp bị ngất. Trước mắt tôi hiện ra những vòng tròn lửa. Theo tôi, thậm chí tôi đã khóc.
Cuối cùng Netzhet mới nói đến chuyện anh ta muốn cưới Mêlikha.
Ông bố mỉm cười có vẻ thân thiện.
- Chúng tôi sẽ suy nghĩ, cậu ạ.
- Cậu cứ tin vào điều tốt lành. - Bà mẹ nói thêm - Nếu đã là số phận thì khó tránh được.
- Thế còn cậu cũng chưa có vợ à? - Ông chủ nhà hỏi tôi.
Tôi cúi thấp đầu để họ không nhìn thấy những giọt nước mắt và lí nhí đáp:
- Vâng ạ!...
Đó là câu duy nhất tôi nói ra trong nhà họ.
Ra ngoài phố Netzhet bắt đầu trách mắng tôi:
- Thế cũng gọi là bạn bè! Sau chuyện này tớ chẳng còn muốn nhìn mặt cậu nữa! - Nói đoạn anh ta bỏ đi.
Còn lại một mình, tôi ngồi xuống vỉa hè cố tháo đôi giày ra khỏi chân, nhưng không tài nào tháo được. Đôi giày như dính liền vào chân tôi.
Tôi không nhớ làm cách nào tôi lết về được đến tòa soạn.
Vừa bước qua ngưỡng cửa, tôi nằm vật ngay xuống sàn và kêu to:
- Cứu tôi với, các bạn ơi!
Các bạn đồng nghiệp cũng không tài nào giúp tôi tháo được đôi giày.
- Phải cắt nó ra thôi. - Có ai đó bảo.
- Thì cắt đi! - Tôi rên rỉ.
Các đồng nghiệp của tôi người dùng dao gíp, người dùng dao cạo, người dùng kéo, xúm vào giúp tôi.
- Không được, phải gọi bác sĩ phẫu thuật mới được - Ông sửa mo-rat của chúng tôi nói - Ca này không phải đơn giản đâu!
Đôi giày như dính chặt vào da, đã bị rạch ra mà nó vẫn không rời khỏi chân tôi. Cuối cùng người ta phải cắt nó ra thành từng miếng nhỏ, lúc đó đôi chân tôi mới được giải thoát.
Tôi phải nằm trên giường mất ba ngày. Nhưng như thế vẫn chưa phải là hết. Từ trước đến nay tôi vẫn đi giày cỡ ba tám, vậy mà bây giờ xỏ vào đôi cỡ bốn mươi vẫn còn khó khăn. Vì đôi chân tôi, sau khi được giải phóng, trở nên to hẳn ra.
Đến ngày thứ tư bố mẹ Mêlikha đến gặp tôi và bảo:
- Vợ chồng tôi quyết định gả con gái cho anh.
Tôi luống cuống.
- Chúng tôi rất thích anh. - Hai vị khách nói tiếp - Chúng tôi chưa bao giờ gặp một thanh niên nào hiền lành và tử tế như anh. Khi anh ngồi ở nhà chúng tôi, chúng tôi thấy mồ hôi trên má anh chảy ròng ròng, còn mặt anh thì đỏ như gấc. Anh ngồi trên ghế mà không nói một lời nào, mặt cứ cúi gầm, tay thì không biết để vào đâu. Thời buổi bây giờ mà có người lịch sự nhã nhặn như anh thật là hiếm! Anh có thể làm vinh dự cho bất cứ gia đình quyền quý nào.
- Thế còn Netzhet ạ? Anh ấy là bạn tôi.
- Ôi, tôi xin anh đừng nói về anh ta! Một kẻ ba hoa khoác loác chưa từng thấy trên đời! Một gã bồng bột, xốc nổi: chúng tôi đoán ra ngay cái anh bạn Netzhet của anh. Anh ta không khi nào được nhìn thấy con Mêlikha nhà chúng tôi nữa!
- Nhưng hiện cháu chưa có ý định cưới vợ ạ.
- Anh cứ suy nghĩ đi, chúng tôi sẽ còn đến nữa.
Sau đó ông già cô gái thường xuyên ghé qua chỗ tôi và tâng bốc tôi lên tận mây xanh.
- Trong đời chúng tôi chưa bao giờ... người khiêm tốn, điềm đạm như thế... anh ngồi mặt đỏ dừ như gấc... anh không biết để tay vào đâu...
Đến một hôm không nhịn được nữa tôi lôi trong ngăn kéo ra những mảnh da giày bị cắt vụn và quăng xuống chân ông già:
- Tất cả là do cái này đây! Ông hãy gả con gái ông cho cái này này! Có giáo dục, khiêm tôn, tế nhị!...
Từ đó ông ta không đến nữa.
Tóm lại, các bạn chớ quên nếu có đi hỏi vợ thì hãy mang đôi giày thật chật. Tôi có thể chúc mừng trước các bạn!
------------------
[1] Lia: đơn vị tiền Thổ Nhĩ Kỳ.
0
Cánh cửa xe tắc-xi

Người lái xe vừa kêu xong tên bến cuối “Cuôctulusơ”, tôi đã bám ngay ở cửa xe. Nhưng giật mãi cánh cửa vẫn không mở. Tay nắm không tài nào xoay được. Người lái xe bảo:
- Vặn về bên trái!
Tôi vặn về bên trái. Tay nắm vẫn không xoay. Người lái xe lại hét to từ bên trong:
- Bên trái! Đã bảo bên trái cơ mà! Anh chưa bao giờ ở trong quân đội hay sao?
Tôi nghĩ, chả lẽ mình lại quên mất đâu là tay trái đâu là tay phải thật rồi sao? Đằng sau xe chúng tôi đã ùn lại một dòng xe: cả xe con, xe tải, xe chở khách. Cảnh sát giao thông huýt còi inh ỏi.
- Xoay sang trái đi!
Vẫn không mở được.
Người lái xe nhoài người ra mở cửa, và tôi chui lên xe. Ô-tô chuyển bánh. Người lái xe cáu thực sự: “Sao lại có người tối dạ đến thế được nhỉ! Đến giờ vẫn không phân biệt được đâu là bên trái, đâu là bên phải. Người nào cũng phải giải thích. Mà một việc quá đơn giản. Xoay sang trái một cái là xong!”
Không phải nói khoe, nhưng tôi được cái tính rất tốt nhịn. Một khi tôi đã sai thì mặc cho người ta chửi mắng tôi đến mấy, cũng không bao giờ tôi cãi lại một câu.
Anh lái xe tiếp tục lầu bầu:
- Không hiểu loại người đến cửa xe tắc-xi cũng không biết mở thì sống trên đời này làm gì nữa!
Mặt tôi đỏ bừng vì xấu hổ. Nhưng suy cho cùng, anh ta đúng, và hành khách ai cũng đồng tình với anh ta.
- Chẳng qua là do tính bừa bãi cẩu thả thôi anh ạ! - Một ông béo chêm vào - Cái dân ta cẩu thả lắm!
- Ôi, tôi ngán quá rồi! Có lẽ phải mở lớp riêng chuyên dạy cách mở cửa xe mất!
- Ồ không, anh bạn ơi, có dạy người ta những thành tựu văn minh cũng vô ích thôi. Kẻ nào sinh ra đã ngu rồi thì dạy mấy cũng chẳng làm hắn ta thông minh lên được đâu.
Đến quảng trường Êminhiô ông béo kia muốn xuống. Thì đây đến lượt ông ta cửa không mở được.
Lần này anh lái xe quát tháo với ông ta:
- Bên phải! Vặn tay nắm sang bên phải!
- Không mở được anh ạ.
- Ai bảo ông vặn sang trái? Đ. mẹ cái nhà ông “tẩm”! Ở ngoài thì vặn sang trái, còn ở trong phải vặn sang phải chứ!
- Nhưng cái tay nắm chết tiệt này không thể nào xoay được. Sang trái sang phải đều không được!
Anh lái xe lại phải nhoài người ra mở hộ. Ông béo cố lách người chui ra ngoài. Người lái xe lúc này đã cáu lắm, quay sang chửi tục liên mồm. Không đủ sức chịu đựng những cái đó, tôi bỏ ý định đến Cuôctulusơ, nhưng không dám xuống vì sợ không mở được cửa.
- Ngu như bò!...
- Bác tài ơi, tôi xuống đây...
Tôi cầm tay nắm xoay sang phải. Đội ơn thánh Ala, tôi đã ra được ngoài. Ban nãy tôi để ý cách người lái xe mở cửa quả không uổng công. Tôi chờ xe khác.
- Đi Cuôctulusơ à?
- Vâng.
Xe đỗ ngay trước mặt tôi. Không đợi người lái xe chửi, tôi thử xoay sang bên trái. Nhưng không xoay được. Tôi ấn mạnh hơn. Mạnh đến tê cả tay.
- Ấn lên trên! Ấn lên trên! - Người lái xe kêu to. Tôi kéo tay nắm lên trên, cửa mở ra. Anh lái xe bắt đầu càu nhàu:
- Dân Stambul toàn những đồ vô tích sự!
- Chỉ được cái nhong nhong suốt ngày ngoài đường!...
- Cửa xe tắc-xi cũng không biết mở thì đừng sống trên đời này làm gì nữa, cũng mang tiếng là người!...
Các bạn thử chịu đựng những câu nói mỉa mai châm chọc như vậy xem! Cả lái xe và hành khách đều cho là tôi có lỗi.
Đến Carakiô có người muốn xuống nhưng không mở được cửa.
- Kéo lên trên! - Anh tài xế không nói, mà quát lên.
- Nó không lên!
- Ấn vào!
- Ấn rồi, nhưng vẫn không lên.
Anh lái xe thò tay mở cửa, ông khách bước xuống, tôi cũng vội bước theo. Vì chỉ sợ lát nữa chính tôi không mở được cửa. Vậy là tôi xuống Carakiô. Vất vả lắm mới bắt được xe tắc-xi. Tôi xoay tay nắm sang trái, không được, sang phải, cũng không được. Kéo lên. - Ôi! Ấn xuống. - Chà! Không làm sao mở nổi. Tôi đã cầm chắc bị nghe chửi. Xoay tay nắm bốn phía đều vô hiệu.
- Đẩy mạnh! Đẩy thật mạnh!
- Về phía nào?
- Về phía phải đẩy chứ còn về phía nào! Thế anh không biết đẩy hay sao? Đẩy mạnh vào trong!
Từ bé tôi chưa thấy cửa tắc-xi nào phải đẩy vào trong để mở.
- Không đẩy cửa mà đẩy tay nắm!
À, đây rồi, may quá! Cửa đã mở! Còn anh lái xe? Bạn tưởng anh ta im lặng sao?
- Không người nào là không phải dạy...
- Không phải người, mà là lừa! - Ông khách ngồi ngay phía ngoài chêm vào.
- Cửa chưa đóng! - Anh lái xe quát to ngắt lời ông ta.
Ông khách mở cửa rộng hơn một chút rồi “sập” mạnh một cái - không được! Ông ta “sập” mạnh cái nữa - vẫn không được.
- Kéo mạnh vào! - Người bên cạnh nhắc ông ta.
Bốp! Xình! Xình!
- Nhẹ thôi, nhẹ thôi! - Anh lái xe mắng ngay - Không tôi phạt ông hai nhăm curusơ bây giờ!
Nhoài người ra đóng cửa, anh lái xe vẫn chưa thôi:
- Tuần nào cũng chữa cửa! Kiếm được bao nhiêu vào tiền chữa cửa hết! Không phải công việc nữa, mà đúng là cực hình! Ở nhà ông không có cửa hay sao? Cửa này giống như đồng hồ ấy, chỉ sập nhẹ một cái là đóng thôi!
Một hành khách muốn xuống bến Galataxarai. Cửa không mở được. Lại quát tháo, chửi mắng, lại sang phải, sang trái, lên trên, xuống dưới... Cuối cùng cửa cũng mở, và tôi lại theo ông khách bước xuống ngay.
- Xe đi Cuôctulusơ phải không?
- Phải, xin mời!
Nói “Xin mời” thì dễ, nhưng cứ thử lên xem! Tôi cầm lấy tay nắm. Nâng lên trên không được, kéo xuống dưới cũng không được, vặn sang trái, sang phải đều không ăn thua, đẩy vào trong cũng vậy...
Mẹ kiếp! Tôi cố hết sức. Đến đại lực sĩ Iuxup sống lại cũng không mở được cánh cửa này.
- Kéo về phía mình!
Chà! Hóa ra bí quyết là ở đỗ đó! Tất nhiên bác tài lập tức lên lớp cho tôi một bài. Nhưng không, tôi không thể nhịn được nữa:
- Này, người anh em. - Tôi bảo anh ta - Mỗi xe cấu tạo một khác, chúng tôi có lỗi gì trong chuyện đó? Loại thì vặn sang phải, loại vặn sang trái, loại kéo lên, loại ấn xuống, loại đẩy vào trong, loại thì kéo ra ngoài...
Anh tài xế điên tiết thực sự:
- Chả nhẽ những cái vặt vãnh như thế mà cũng không nắm được hay sao? Xe “Fort” thì tay nắm xoay sang bên trái, “Studebaker” thì xoay sang bên phải, “Sơvrrôlê” thì đẩy vào trong, “Khimanôp” thì kéo về phía mình, “Fiat” thì đầu tiên vặn sang phải rồi ấn mạnh, “Biuki” thì đơn giản nhất: Lúc đầu xoay sang trái, sau đó sang bên phải, rồi hơi kéo về phía mình một chút, sau đó hơi nâng lên một tí, rồi kéo thật mạnh xuống, sau đó lại hơi kéo về phía mình một chút, ấn nhẹ một cái rồi đẩy vào - thế là xong, cửa mở ngay...
Anh lái xe cứ liến thoắng kể tên các loại xe và cách mở cửa của từng loại. Nghe anh ta nói mới ngọt làm sao! Nhưng cuối bài diễn thuyết của mình anh ta vẫn mắng cho tôi mấy mắng:
- Chỉ có đồ ngu mới không biết những chuyện đơn giản như thế!
Có một ông khách cũng lên tiếng ủng hộ anh ta:
- Đúng là ngu quá sức! Cả thảy có độ hai ba chục loại ô-tô. Sống ở Stambul mà không thuộc nổi những chuyện như vậy thì đem mà vứt xuống biển cho rồi...
- Đúng thế! - Anh lái xe sung sướng họa theo - Người như thế chết quách đi, sống làm gì!
- Ngữ ấy chỉ đáng nhai rơm rạ...
Ông khách vừa lên tiếng mạt sát tôi xuống bến tắc-xi. Nhưng ông ta chưa kịp chui ra khỏi xe bỗng kêu váng lên:
- Ái - ái - ái! Ái - ái - ái!
- Cái gì thế? Làm sao vậy?
Cho chết. Đồ con lợn! Hắn bị cánh cửa kẹp ngón tay cái. Máu chảy ròng ròng, còn hắn thì cứ đứng và chửi:
- Cái cửa chó chết! Trong đời chưa bao giờ thấy cái cửa nào chết tiệt như vậy!
Trong khi hắn cứ đứng than vãn, người lái xe đã cho tăng hết ga và chúng tôi lao về phía Khacbie. Ở chỗ đó một ông khách muốn lên nhưng không sao mở được cửa. Cửa xe nặng như cửa pháo đài. Tôi nói không sai, giá như quốc vương Mechmet Phatikhơ, người hồi xưa cứ một tuần mở cửa thành phố một lần, có sống lại cũng không thể mở nổi.
- Ấn vào! Tôi bảo ông ấn hộ cái! - Người lái xe hét to.
- Ấn vào cái gì?
- Lần đầu tiên ông đi ô-tô hay sao? Ấn vào cái nút chứ còn ấn vào cái gì!
Các bạn có biết cái nút ấy nó nằm ở đâu không? Nếu không biết các bạn thử đoán xem. Nó nằm ở trong xe, sau tấm kính cửa sổ. Tôi ấn vào nút, còn ông khách ở ngoài ấn vào tay nắm, và cửa mở ra. Tôi từ từ nhảy xuống đường.
Tôi quyết định đoạn còn lại sẽ đi bộ.
Nhưng một chiếc xe ở đâu bỗng đỗ ngay bên cạnh tôi.
- Bác về đâu?
- Cuôctulusơ!
Tôi nhìn bác tài. Một người đứng tuổi. Tôi nghĩ bụng, chắc ông này không chửi bới. Trong xe có ba hành khách. Mọi chuyện đều tốt đẹp, nếu như... cửa mở được. Bây giờ tôi đã biết mỗi loại xe có cách mở riêng của nó. Nên trước khi sờ vào tay nắm tôi hỏi ngay:
- Xe mác gì đây bác?
- “De Soto”.
“De Soto” à? Lại xe này mở thế nào nhỉ? Không thấy cái tay nắm nào cả...
- Đẩy!
Tôi đẩy.
- Ấn!
Tôi ấn.
- Kéo! Kéo về phía mình! Xoay đi!
Tôi xoay rồi.
- Xoay mấy vòng?
- Hai.
- Không, xoay lại đi. Phải ba vòng cơ!...
Bác tài ra giúp tôi, nhưng chính bác ta cũng không mở được. Cuối cùng với sự hợp tác của tất cả - lái xe và các hành khách bên trong, - tôi thì ở ngoài, - chúng tôi mới mở được cửa. Nhưng bây giờ lại không đóng được. Tôi kéo, người lái xe kéo - không đóng! Thấy vậy tôi bèn lấy hết sức đóng thật mạnh làm cả cái xe rung ầm ầm.. Không biết ở chỗ nào nghe “sập”!
- Aha! Đóng được rồi! - Bác tài vui vẻ reo lên.
Chúng tôi bắt đầu lên đường. Ông tài không lúc nào ngơi mồm. Xe ô-tô của ông ta giá những năm chục ngàn lia, vậy mà trong vòng có một năm hành khách đã khéo biến nó thành mớ sắt vụn! Không ai có chút hiểu biết gì về cách lên xe, cách đóng mở cửa... Tháng nào cũng phải sửa... Và những lời kêu ca khác đại loại như vậy. May mà lần này những lời mắng nhiếc ấy không nhằm vào tôi.
Bến cuối cùng - Cuôctulusơ. Một hành khách định mở cửa. Lập tức tôi muốn khoe ngay những hiểu biết của mình:
- Đây là xe “De Soto” . Nhấc tay nắm lên rồi kéo về bên trái.
Hành khách thứ hai vội chạy đến giúp, tiếp đó là hành khách thứ ba. Đích thân bác tài vừa càu nhàu vừa ra mở hộ. Nhưng không ai mở được. Chúng tôi bắt đầu đẩy mạnh cửa từ phía bên kia - cũng không ăn thua gì. Chắc chúng tôi bị mắc kẹt trong xe mất. Bác tài hì hục toát mồ hôi, văng ra đủ mọi thứ tục tĩu nhất... Một số chúng tôi loay hoay với cánh bên phải, còn số khác thì cố nậy cánh bên trái. Nhưng cả hai cánh cứ như những cánh cửa có ma trong chuyện cổ tích - cố thế nào chúng cũng không chịu mở.
- Kéo nút ra! Ấn vào! Tì thật mạnh!
Phía sau chúng tôi ùn cả lại một dòng xe điện, xe ô-tô. Có tiếng còi cảnh sát giao thông. Bác tài phải đánh xe vào sát vỉa hè. Một ông khách nóng toát mồ hôi phải cởi áo vét. Một người lấy chân đá thình thịch vào cánh cửa. Một bà đi cùng xe với chúng tôi cứ hét toáng lên:
- Cứu tôi với! Cứu tôi với!
- Khẽ mồm chứ bà! Đừng làm người ta thêm hoang mang. Người ta lại tưởng chúng tôi bắt cóc bà.
Một viên cảnh sát chạy đến. Người bắt đầu xúm đông lại.
- Có chuyện gì thế?
- Cửa không mở được. Người trong xe không ra được. - Bà khách khóc thút thít, ông tài thì văng ra những lời lẽ tục tằn nhất chửi hành khách làm hỏng cả cửa, đám đông thì cứ ôm bụng cười...
- Có ai có rìu không?
- Rìu không mở được đâu. Phải dùng búa!
- Tốt nhất là gọi thợ đến...
Trời đã bắt đầu tối. Chúng tôi bị nhốt trong xe. Khán giả và những người tò mò mỗi lúc một đông. Cửa thì vẫn không mở được. Cả bên ngoài lẫn bên trong. Một anh lái xe khác mách nước cho bác tài của chúng tôi:
- Này, anh bạn, hãy cho xe đến Ênisekhia, ở đó có ông thợ tên là Yankô, ông ta mở được đấy! Hôm qua tôi chở khách đi Biúcđere cũng gặp chuyện như vậy. Vặn hết hơi cửa vẫn không mở. Đến năm hiệu sửa xe nhờ mở cũng không được, cuối cùng đến ông Yankô mới mở được đấy!
Nghe lời khuyên của anh ta, chúng tôi đến Ênisekhia tìm hiệu sửa chữa của ông Yankô. Tất nhiên ông đã về nhà. Người ta cho người đến nhà tìm ông. Chúng tôi thì sắp chết ngạt trong xe. Một giờ, có khi đã hai giờ trôi qua. Cuối cùng ông thợ đến. Ông loay hoay với cái cửa của chúng tôi một lúc rồi bảo:
- Các ông phải đến Taclabasư, ở đấy có ông thợ tên là Ybô, chuyên môn chữa khóa, ông ta sẽ mở được.
Chúng tôi đi tìm ông Ybô.
- Cái lẫy khóa bị rơi vào bánh răng. - Ông Ybô giải thích.
- Thế phải làm thế nào bây giờ?
- Bây giờ tối rồi, không làm được đâu. Để mai ban ngày xem may ra thì chữa được.
Nghe thấy thế chúng tôi ai nấy van nài:
- Ông Ybô, xin hãy cứu chúng tôi, bao nhiêu hy vọng chúng tôi đặt cả vào ông! Ông muốn lấy bao nhiêu chúng tôi cũng xin trả. Một trăm, hai trăm cũng được.
Bà khách lại bất đầu thút thít:
- Trời ơi! Làm sao bây giờ? Làm thế nào báo được cho chồng tôi biết bây giờ?
Cuối cùng ông Ybô cũng thương hại chúng tôi và bắt tay làm. Nhưng đến khoảng mười hai giờ đêm ông kiệt sức.
- Không được. Việc này mất thời gian lắm. Phải chui qua cửa sổ mà ra vậy!
Mọi người để bà khách ra đầu tiên. Bà này thò đầu qua cửa sổ, những người ở ngoài đường kéo bà ta ra. Có một ông khách béo quá đẩy thế nào cũng không qua lọt. Tiếp theo đến lượt tôi. Cuối cùng tôi lại được hít thở bầu không khí tự do! Sau đó chúng tôi lại bắt tay kéo ông béo. Người ta gọi cả tôi đến giúp một tay. Khi lôi được một nửa thì ông ta hoàn toàn bị mắc kẹt trong cửa sổ, kéo ra không được mà đẩy vào cũng không xong! Thành thử ông ta cứ nằm vắt người trên thành cửa sổ, nửa người trong xe, nửa người ở ngoài.
- Cố giúp tôi với! - Ông béo lạy van. Lúc này chúng tôi muốn đẩy ông trở lại cũng không được nữa.
Lát sau tôi cũng bỏ đi nên không biết sự việc cuối cùng kết thúc ra sao. Nhưng các bạn có thể dễ dàng đoán ra được, kể từ đó không bao giờ tôi dám đi ô-tô đến Cuôctulusơ nữa.
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.02.2018 22:37:13 bởi casau>
Chiếc đèn chùm năm vòi

Trong tiệm cà phê tôi gặp một người thấp nhỏ, hơi đậm. Anh ta là ai tôi không biết.
Đó là thời kỳ khó khăn, tôi bị thất nghiệp, không kiếm đâu ra tiền. Để cố cầm cự cho qua ngày, vợ chồng tôi phải đem bán dần những đồ đạc không thật cần lắm. Ít lâu sau chẳng còn gì để bán, trong nhà chỉ còn toàn sách, mấy cái giường, vài cái xoong.
Khi chủ nhà đuổi chúng tôi ra khỏi nhà vì không có tiền trả, tôi gửi vợ con đến nhà bố vợ. Quan hệ giữa tôi và bố vợ vốn dĩ đã không êm đẹp lắm, nên tôi chỉ dám đếm thăm vợ con vào lúc mọi người trong nhà đã đi ngủ hết. Người ra mở cửa phải là vợ tôi - chúng tôi đã giao hẹn nhau như vậy.
Một hôm, vào lúc đêm khuya, tôi đến nhà bố vợ khẽ gõ vào cánh cửa. Chính ông bố vợ ra mở.
Thấy tôi ông không nói một câu, tắt phụt đèn rồi bỏ đi ngay. Trong bóng tối tôi bị vấp, ngã đè lên không biết vật gì. Hóa ra đó là một đống sách. Khó khăn lắm mới đứng dậy được, tôi bắt đầu men theo tường lần mò đi tiếp. Bỗng tôi nghe thấy tiếng nức nở, tôi mở cửa căn buồng có ánh đèn và nhìn thấy vợ tôi và ông bố vợ - vợ tôi đang khóc, mắt đỏ hoe.
- Bảo nó đem cái đống giấy lộn ấy đi, không có tao đốt hết đấy. - Bố vợ tôi dọa - Và chừng nào nó không kiếm nổi tiền nuôi vợ con thì đừng có vác mặt đến đây nữa!
Từ hôm đó suốt ngày tôi ngồi quán cà phê. Cái lão béo lùn giống tôi cũng đến đó từ sớm và ngồi lì cả ngày ở quán.
Một hôm mãi đến tối mới thấy lão ta đến. Trong tay lão ta cầm một cái đèn chùm năm vòi. Lão ta đặt cái đèn lên bàn và uống một tách cà phê. Từ đó lúc nào đến quán cà phê lão ta cũng xách theo cái đèn chùm. Lão đặt cái đèn lên bàn và ngồi đến tận tối mịt mới về.
Hôm sau tôi thấy một cái vòi đèn bị gãy. Sau đó lại gãy thêm hai cái nữa, và cả năm bóng đèn bị vỡ. Ba hôm sau nữa thì không còn một vòi, một bóng đèn nào. Chỉ còn lại mỗi cái khung bằng thép mạ đồng.
Bây giờ tôi và vợ tôi phải gặp nhau trong công viên, hai chúng tôi đứng nói chuyện. Quyết định của bố vợ tôi là không thể không chấp hành: chừng nào tôi chưa nuôi nổi con cái thì ông cấm tôi gặp cả con gái ông. Còn nếu tôi không kiếm được việc làm và không có tiền thì có thể ông sẽ bắt tôi làm đơn ly dị con gái ông.
Tôi chấp nhận làm bất cứ việc gì. Nhưng đi xin việc ở đâu cũng bị từ chối. Một hôm tôi gặp người bạn cũ và kể anh ta nghe về tình cảnh của tôi.
- Tôi sẵn sàng làm bất cứ việc gì, kể cả làm phu hồ trên công trường xây dựng. - Tôi nói.
Bạn tôi rất thông cảm.
- Nếu đã đến nước này thì anh hãy thử đi buôn xem. Lúc đầu buôn bán mấy thứ hàng xén thôi. Bán mấy đôi tất, khăn mùi xoa chẳng hạn - trước mắt là kiếm để tự nuôi mình đã. Ngày mai anh đến đây tôi sẽ cho anh năm trăm lia. Rồi anh bắt tay vào việc ngay đi!
Tôi ghi địa chỉ của anh và chúng tôi chia tay. Tôi chỉ muốn nhảy cẫng lên vì sung sướng. Thời buổi này liệu còn mấy ai cho anh được năm trăm lia?! Nghĩa là vẫn chưa phải đã hết những người tốt!
Buổi sáng, trước khi đến nhà người bạn, tôi ghé vào quán cà phê. Một lát sau người đàn ông có cái đèn chùm xuất hiện. Anh ta ngồi xuống gần tôi và đặt cái đèn lên bàn.
- Khỏe chứ? - Anh ta chào tôi.
- Cám ơn, còn anh? - Tôi hỏi, rồi làm như tình cờ nói tiếp - Xin lỗi vì tò mò nhé, nhưng tại sao lúc nào tôi cũng thấy anh mang cái đèn chùm theo vậy?
- Đây không phải đèn chùm, mà là một cực hình, một nỗi khổ của tôi đấy!
- Sao thế vậy? - Tôi ngạc nhiên.
- Chuyện dài lắm. - Anh ta nói - Không dễ gì xoay chuyển được tình thế khi nó đã trở thành tồi tệ. Cách đây không lâu tôi bị mất việc làm. Nhân tiện phải nói, ngay cả khi có việc làm gia đình tôi cũng khó khăn lắm mới xoay xỏa được để đủ sống. Chúng tôi không để dành được đồng nào. Hoàn cảnh có thể nói là cực kỳ bi đát. Tôi có vợ và hai con.
- Thế thì giống tôi. - Tôi buông một cầu buồn bã.
- Anh không hiểu được những nỗi khổ của chúng tôi đâu?
- Tôi cũng có những nỗi khổ giống hệt anh!
- Lúc đầu chúng tôi phải bán đi đồ đạc. Chúng tôi phân loại đồ đạc ra thành những thứ thật cần thiết - nghĩa là những thứ mà không có thì không thể sống được - và những thứ hoàn toàn không cần. Rồi bắt đầu bán từ những đồ đạc không cần. Ít lâu sau chúng tôi hiểu ra là chúng tôi chả cần thứ gì hết, và đem bán sạch!
- Hệt như hoàn cảnh của tôi rồi!
- Cuối cùng, khi chủ nhà tống cổ chúng tôi khỏi nhà thì chỉ còn lại mấy cái giường, sách vở và vài ba cái nồi niêu, bát đĩa.
- Và anh gửi vợ con đến nhà bố vợ phải không?
- Làm sao anh biết?
- Thì tôi cũng làm y như vậy!
- Phải, tôi gửi họ về nhà bố vợ. Ngay từ đầu quan hệ giữa tôi và bố vợ đã không được tốt đẹp lắm.
Có cảm tưởng như ông khách béo lùn kia đang kể về cuộc đời của chính tôi. Tôi nghe ông ta mà hết sức ngạc nhiên. Một đêm, ông ta đến nhà bố vợ. Người mở cửa lại chính là ông bố vợ. Thế là ông ta tắt ngay đèn. Ông thấp béo ngã ngay vào đống sách. Hệt như chuyện của tôi, không sai một chi tiết!
Thật không thể tưởng tượng được? Hay là ông ta nghe lỏm được chuyện của tôi, rồi nảy ra ý định chế giễu tôi?
- Tôi biết rồi, biết rồi, nói ngắn gọn thôi. - Tôi kêu lên - Đừng dài dòng nữa, anh kể về cái đèn chùm đi?
- Tôi kể đây... Một hôm tôi gặp anh bạn cũ.
- Và anh ta cho anh năm trăm lia?
- Phải! Nhưng sao anh biết? Tôi chưa hề kể cho ai nghe mà!
- Chuyện đó cũng xảy ra với tôi.
- Được, thế anh đã nhận năm trăm lia chưa?
- Rồi.
- Còn tôi thì chưa nhận, nhưng tôi sắp đi nhận. Thế sau đó thế nào?
- Khi tôi đến nhà người bạn, chân tôi như muốn khuỵu xuống vì đói. Hai ngày vừa qua tôi chỉ uống hai cốc nước trà. Người bạn cho tôi năm trăm lia. Tôi không muốn đem đi buôn hết ngay số tiền đó. Khi đi ngang qua một tiệm ăn, ánh mắt tôi dừng lại ở những món ăn bày trong tủ kính. Chân tôi bủn rủn. Phải vào ăn cái gì đã! Chỉ cần ba lia là có thể chén một bữa no nê! Nhưng tôi sợ phá tờ tiền chẵn. Chỉ cần phá lẻ ra là chúng sẽ tan biến ngay, và anh sẽ chẳng còn lại đồng nào hết!
Khi đi ngang một quán bán chả nướng, mùi chả thơm phức xộc vào mũi tôi. Không nhịn được, tôi bước vào, nhưng rồi lại vội vàng bước ra ngay. Lúc đầu phải kiếm tiền đã, rồi mới ăn sau! Ở một quầy bán bánh mì, mùi bánh mì mới ra lò làm đầu óc tôi ngây ngất. Hay là làm một cái vậy? Không, tôi không có quyền!
Tôi dừng lại trước một quầy bán bánh vòng.
Những chiếc bánh mì vòng của bác ta trông thật thơm ngon, ròn tan. Hay là mua một cái? Không! Tôi phải làm ra thật nhiều tiền và đưa vợ con trở về nhà đã.
Trời hôm đó nóng kinh khủng. Suýt nữa tôi đã xơi một cốc nước chanh đá. Nhưng may kiềm chế được:
“Rồi ông bố vợ sẽ thấy, với năm trăm lia này mình sẽ làm được những việc lớn lao như thế nào, lúc đó ông ta sẽ hối tiếc vì đã xử tệ với mình”, - tôi nghĩ thầm.
Tôi khát khô cả cổ, nhưng không muốn phá nát tờ tiền chẵn này, tôi không dám mua một cốc nước giá có mười xu. Không dám đi cả tàu điện, mà cứ cuốc bộ.
Cuối cùng tôi đến khu chợ có mái. Khi đi ngang qua khu bán các loại đá quý, vũ khí và đồ cổ, tôi thấy một đám đông đang tụ tập. Hóa ra đang có phiên bán đấu giá. Trời đã về chiều. Sáng sớm mai, tôi nghĩ bụng, mình sẽ buôn một ít đào, lê đem về đây bán. Lúc này tôi chưa có việc gì. Tất nhiên có thể rẽ vào quán cà phê, nhưng tốn tiền uống chè với cà phê làm gì! Tốt hơn hết là vào xem cách thức họ mua bán thế nào, cũng là giết thời gian nhân thể. Vì chưa bao giờ tôi bước chân vào khu này.
Tôi bước vào một gian phòng rộng. Có nhiều người đang ngồi trên những chiếc ghế nhựa. Tôi cũng ngồi xuống một chiếc. Người bán đấu giá rút từ trong cái bao to ra một chiếc máy ảnh và xướng thật to:
- Máy ảnh nhãn hiệu “Rô-lây-phờ-lếch”, ống kính hai phẩy rưỡi, gần như còn mới nguyên, đang hoạt động tốt, trị giá ba trăm lia. Ba trăm lia. Ai muốn mua? Ba trăm...
- Ba trăm mười! - Có người nào đó trong hàng ghế kêu to.
- Ngài kia đã trả ba trăm mười... Ba trăm mười, ba trăm mười... - Người bán đấu giá tuyên bố.
- Ba trăm mười lăm! - Có tiếng ai đó hô to.
Từ bốn phía bắt đầu nghe thấy những tiếng hô:
- Tôi trả ba trăm hai mươi!
- Bốn trăm năm mươi!
Im lặng. Người bán đấu giá tuyên bố:
- Máy ảnh “Rô-lây-phờ-lếch”, kèm ống kính phụ và giá đỡ ba chân, đã được bán với giá bốn trăm năm mươi lia!
Một khách mua đến gặp người bán đấu giá:
- Cho phép tôi xem qua cái máy ảnh.
Người bán đấu giá đưa cho ông ta cái máy ảnh. Người này xoay bốn phía ngắm nghía, rồi nói:
- Bốn trăm sáu mươi!
- Bốn trăm sáu mươi hai!
- Bốn trăm tám mươi!... Có ai trả hơn không?... Đã được b-á-á-n!
Người bán đấu giá gõ một tiếng búa. Viên trợ lý đưa chiếc máy ảnh, tờ hóa đơn cho chủ nhân mới của nó, ghi tên họ ông ta rồi nhận tiền.
Tiếp theo người bán đấu giá đặt trước mặt cái máy chữ.
- Máy chữ còn tốt, nhãn hiệu “Rơ-minh-tông”!.... Đặt giá sáu trăm lia! - Sáu trăm lia!
- Sáu trăm linh một!
- Sáu trăm mười!
- Sáu trăm năm mươi!...
Trong đời chưa bao giờ tôi được chứng kiến một cảnh tượng nào hồi hộp hơn. Giá được trả càng cao bao nhiêu thì không khí càng căng thẳng bấy nhiêu.
- Sáu trăm năm mươi nhăm!
- Sáu trăm tám mươi!
Tôi không ngồi yên được nữa, thỉnh thoảng lại phải đứng lên.
- Sáu trăm chín mươi!
- Bảy trăm!
- Bảy trăm mười!
Tôi bị lôi cuốn, kích động đến nỗi quên hết mọi chuyện, hét lên:
- Bảy trăm năm mươi!
Tiếng hét của tôi to quá khiến cả gian phòng bỗng lặng đi một lát.
Người bán đấu giá nhìn tôi, tuyên bố:
- Bảy trăm năm mươi! Ai trả hơn không? Đã bán với giá bảy-trăm-năm-m-ư-ơ-i!
Bỗng có giọng nói vang lên:
- Bảy trăm năm mốt!
Tôi thở phào!
Vì nếu không ai trả hơn tôi biết làm thế nào? Cả thảy trong người tôi có năm trăm lia!
Cuối cùng chiếc máy chữ được bán với giá bảy trăm tám mươi lia.
Sau đó người bán đấu giá đặt lên bàn cái đầu máy khâu quay tay. Nó được định giá năm trăm lia. Bị lây cái không khí cuồng nhiệt của đám đông tôi phải cố gắng lắm mới kìm được.
- Năm trăm mười!
- Năm trăm hai mươi!
- Năm trăm năm mươi!
- Năm trăm tám mươi!
- Sáu trăm!
Người cuối cùng kêu to là tôi. Mọi người ngoái lại nhìn tôi. Tôi như người bị phỏng nước sôi. Một người lạ mặt ngồi cạnh tôi bảo:
- Nó không đáng giá sáu trăm đâu!
- Việc gì đến ông? Tôi trả tiền chứ ông trả à! - Tôi cắt lời ông ta.
- Tôi là thợ cơ khí, tôi biết. - Ông ta nói.
- Tôi cũng hiểu biết về máy móc!
Chợt ông ta gào lên:
- Sáu trăm linh một!
Lần thứ hai tôi lại thoát nạn!
Đến lượt cái lọ hoa cổ. Cứ sau mỗi lần nghe con số mới tôi lại nhảy lên, và để ngăn mình không được nói tôi phải lấy hai tay bịt mồm lại.
Sau lọ hoa là đến bức tranh sơn dầu, rồi đến máy hút bụi.
Cuối cùng người bán đấu giá giơ cao cái đèn chùm:
- Đèn chùm năm vòi, còn tốt!... Giá bốn mươi lia!... Ai trả cao hơn? Bốn mươi lia!
- Bốn mươi mốt!
Có người bên trái kêu:
- Bốn mươi hai!
Người bên phải:
- Bốn mươi nhăm!
Người ngồi trước tôi:
- Bốn mươi tám!
Người ngồi sau tôi:
- Năm mươi!
Tôi không kìm được nữa, hét lên:
- Năm mươi mốt!
Không khí đã nóng bỏng đến độ tôi không làm chủ được mình nữa.
Người bên phải:
- Năm mươi ba!
Bên trái:
- Năm mươi nhăm!
Tôi:
- Sáu mươi!
Trời ơi, tôi đã cố hết sức kiềm chế mình, nhưng cái không khí ganh đua này mạnh hơn tôi.
- Bảy mươi!
- Bảy mươi mốt!
- Bảy mươi nhăm!
Mọi người đã bị quá kích động, bản thân tôi cũng không còn nhớ mình là ai, kêu lên:
- Tám mươi!
- Một trăm!
- Một trăm mười!
Bên trái:
- Một trăm năm mươi!
Tôi:
- Hai trăm!
Bên trái:
- Hai trăm năm mươi!
Tôi và hắn thi nhau kêu. Hắn cứ trả cao hơn một, thì tôi trả cao hẳn lên.
- Hai trăm năm mươi mốt!
- Hai trăm sáu mươi!
- Hai trăm sáu mốt!
- Hai trăm bảy mươi!
- Hai trăm bảy mốt!
Cứ sau mỗi con số mới tôi lại thầm khấn: “Lạy thánh Ala, cầu cho hắn trả cao hơn để cho cái đèn chùm thuộc về hắn”.
- Hai trăm chín mươi!
Nếu hắn trả “Hai trăm chín mốt”, - tôi sẽ không tố thêm một xu.
- Hai trăm chín mốt!
Tôi quên khuấy mất điều mình vừa nghĩ, kêu to:
- Ba trăm!
Cứ dần dần tăng lên, giá tiền đã vượt quá bốn trăm.
Cái gã cạnh tranh với tôi hét to:
- Bốn trăm linh một!
Tôi:
- Năm trăm!
Dường như lúc đó không phải tôi, mà là người nào khác kêu... Nếu hắn nói: “Năm trăm linh một?”, tôi thề sẽ im ngay. Vì tôi không còn hơn một xu nào! Và anh có biết không, dường như cái gã ấy biết trong túi tôi có bao nhiêu tiền.
- Thôi, bác hãy lấy đi cho may mắn! - Hắn nói.
Cả gian phòng im lặng. Người bán đấu giá:
- Đèn chùm năm vòi ... Giá năm trăm lia! Ai trả hơn không?
Khi anh ta nói: “Ai trả hơn không?” - Tôi nhìn khắp mọi người. Không có một người cao thượng nào lên tiếng cứu giúp tôi. Chỉ thấy có một người môi mấp máy, hay là tôi chỉ tưởng thư vậy thôi? Tôi khích lệ ông ta:
- Thưa ngài, hình như ngài muốn nói gì?
- Không, không có gì. - Ông ta đáp.
Thế là hết... Chà, lũ người bây giờ! Chẳng ai còn chút lương tâm gì! Khi bán những đồ vật khác, gã bán đấu giá còn cố ý dềnh dàng, nhưng lần này hắn vội vàng tuyên bố ngay:
- Đã bán, đã bán! - Rồi gõ một tiếng búa.
Rồi hắn chìa ngay cho tôi tờ hóa đơn, ghi tên và địa chỉ của tôi. Tôi thậm chí chưa kịp phản ứng hắn đã hoàn tất giấy tờ, nhận của tôi năm trăm lia và trao cái đèn cho tôi. Thằng cha ganh đua với tôi tiến đến gần tôi:
- Anh đã mua được đồ tốt! - Hắn nói.
- Làm sao anh biết nó là đồ tốt? - Tôi hỏi lại hắn.
- Vì tôi là chủ nhân cũ của nó.
- Chắc hẳn anh đang bị kẹt nên phải bán nó đi. Thật đáng tiếc! Nếu anh muốn, tôi để lại cho anh với giá bốn trăm chín mươi lia!
- Anh đã gặp may, tôi không muốn lấy đi của anh cái đồ giá trị như vậy! - Hắn đáp.
- Tôi hoàn toàn không cần đến nó, anh hãy đưa tôi bốn trăm thôi, và lấy nó đi. - Tôi nói.
Nhưng hắn lại nhắc lại là tôi đã gặp may, rồi bỏ đi.
- Này, thôi, tôi lấy ba trăm thôi. - Tôi kêu với theo, nhưng hắn thậm chí không ngoái đầu lại.
Tôi nghĩ, tôi đã mua cái đèn không phải đắt lắm, nhưng tôi cần quái gì cái đèn? Tôi mang nó đến dãy hàng bán các đèn bàn và đèn chùm.
- Anh định bán nó bao nhiêu? - Những người bán hàng hỏi.
- Chiếc đèn này rất đắt, nhưng tôi chỉ lấy sáu trăm thôi.
Đám con buôn cười rộ lên.
- Với giá ấy chúng tôi bán cho anh hẳn mười cái mới tinh, y hệt như cái của anh.
Tối đến tôi lại gặp vợ tôi ở công viên, cô ta bảo tôi:
- Bố bảo hoặc là phải ly dị, hoặc không thì phải đi chỗ khác. Anh phải kiếm việc làm ngay đi.
Tôi đưa cho vợ xem chiếc đèn chùm.
- Đừng lo. - Tôi an ủi cô ta - Điều đáng sợ nhất đã qua rồi. Anh sẽ thuê một căn nhà khiến bố phải lác mắt. Anh đã mua đèn chùm rồi, em xem này, đẹp không, năm vòi hẳn hoi.
Vợ tôi đang ngồi trên ghế đá đứng phắt dậy, nhìn tôi chằm chằm, rồi không nói không rằng, quay lưng bỏ chạy.
Từ hôm đó đi đâu tôi cũng xách theo cái đèn này. Vì chẳng có chỗ nào cất. Và cũng chẳng có ai muốn mua. Tôi cứ kéo lê cái đèn này đi khắp nơi. Kính và bóng đèn đã vỡ từ lâu, chỉ còn lại cái khung sắt. Tôi chỉ tiếc một điều: có năm trăm lia mà chưa kịp ăn một bữa thật ngon! Giá đã tiêu được dù chỉ mười xu thôi, tôi cũng cảm thấy đỡ đau đớn!
Tôi thương hại nhìn ông béo lùn. Đã đến lúc phải đến nhà người bạn hứa cho tôi năm trăm lia. Tôi bước ra khỏi quán cà phê. Dọc đường luôn nghĩ một điều: làm sao mà cái số kiếp nhà ông béo lùn này giống y chang cái số kiếp của tôi vậy.
Có thể các bạn cũng tò mò muốn biết điều đó? Vậy thì để tôi nói các bạn biết: con người thấp, hơi béo, đã mua ở cuộc bán đấu giá cái đèn giá năm trăm lia ấy, không phải ai khác, mà chính là tôi. Nhưng muốn để mọi người đừng cười cái sự ngu dốt của mình, tôi phải bịa rằng chuyện xảy ra với người khác, chứ không phải với tôi.
0
Chiếc gương kỳ diệu

Tại nhà Đavút Xôiuva, chủ hãng buôn các đồ nhập khẩu, có tổ chức một bữa cơm khách. Trong số những người được mời có giám đốc nhà băng “Labát” cùng người vợ trẻ và cô em to béo của ông ta; nhà chính khách Khanda Iatma, một trong những nhân vật “bảo thủ” hạng nhất của chúng ta, cùng đức phu nhân không có con của mình, nhà đại điền chủ kiêm thu tô Mêđêni cùng cô thư ký có đôi mắt hạt nhãn là nàng Ipêch; nhà buôn Hatgi Ôxman Baiua, một thương gia cỡ lớn của tỉnh Ađăng chúng tôi, cùng cô nhân tình là nàng Phưxtưca .
Từ chiếc máy thu thanh, tân khách bỗng nghe thấy một giọng phát thanh viên nói:
“Thưa quý vị thính giả! Đến đây chúng tôi xin tạm ngừng chương trình nhạc cổ điển Thổ Nhĩ Kỳ tôi nay. Bây giờ mời quý vị nghe buổi phát thanh thường kỳ ‘Những phát minh mới’. Thuyết trình buổi này là một chuyên gia nổi tiếng, kỹ sư Mếchki Makinétgi”.
Bà vợ trẻ của ngài giám đốc nhà băng “Labát” nhăn mặt:
- Sao tôi ghét giọng cái thằng cha này thế?
Nhà buôn Ôxman năn nỉ:
- Van bà! Xin bà cho phép chúng tôi được nghe cái mục tuần này. Tuần trước anh ta đã nói về cách làm bông bằng giấy đấy.
Trên máy thu thanh, kỹ sư Mếchki Makinétgi bắt đầu câu chuyện:
“Thưa quý vị! Trong lúc chúng tôi bắt đầu buổi phát thanh hàng tuần ‘Những phát minh mới’ này, thì tại thành phố ‘Nguyên tử’ ở bên Mỹ người ta cũng bắt đầu khánh thành một nhà máy nguyên tử mới, hoạt động theo chương trình ‘Nguyên tử phục vụ con người’. Từ nhà máy này, những tia sáng nguyên tử sẽ được phát đi khắp thế giới. Phát minh mới về năng lượng kỳ diệu làm chấn động toàn nhân loại. Khi tia sáng nguyên tử bắt đầu chiếu vào tấm gương soi ở bất kỳ nơi nào trên trái đất, thì lập tức tất cả những hình ảnh đã được soi vào gương, kể từ lúc nó được chế tạo đến nay, sẽ lần lượt tái hiện trên mặt gương.
Chẳng hạn, nếu ở nhà quý vị có một tấm gương mà quý vị đã dùng từ hai mươi năm nay, thì khi gặp tia sáng nguyên tử này chiếu vào hình ảnh của tất cả những người đã soi vào gương, từ hai mươi năm nay sẽ nối tiếp nhau xuất hiện lại trên mặt gương.
Các cuộc thí nghiệm đến nay đã hoàn tất và đã cho những kết quả mỹ mãn. Như vậy, nhờ phát minh mới này, quý vị có thể được sống lại tuổi thơ, được nhìn lại tuổi thiếu niên hay ôn lại những kỷ niệm thời yêu đương của mình.
Từ sau chín giờ sáng mai. Xin quý vị nhớ đứng ra trước gương!”

Bà vợ trẻ của viên giám đốc nhà băng Labát vỗ tay:
- Trời ơi! Tuyệt quá! Ở nhà tôi có chiếc gương đã soi từ hồi còn bé. Vậy là ngày mai tôi sẽ được xem lại cả một quãng đường đời của tôi.
Khách khứa rời phòng ăn sang phòng khách, tụm lại thành từng nhóm, bắt đầu bàn tán sôi nổi về cái phát minh mới kỳ diệu. Khanda Iatma, nhà chính khách bảo thủ hạng nhất, ghé vào tai nhà thu tô Mêđêni thì thầm:
- Ông bạn ơi! Thế thì cái phát minh mới này quả là kỳ diệu! Nó sẽ giúp ta nhớ lại nhiều sự kiện đã quên. Có một lần ở đồn cảnh sát tôi đã bị người ta nện cho một trận đòn nhừ tử, ông tha lỗi cho cách nói hơi thô tục của tôi... Lúc chuồn được khỏi đó, tôi lập tức đến ngay phòng giám định y khoa để xin giấy chứng nhận là bị đánh, rồi mang ra tòa kiện. Nhưng các ông ở tòa chẳng thèm xem xét kẻ nào đã đánh tôi, mà không hiểu thế nào họ còn kết luận là chính tôi đánh tôi mới tức chứ.
Nhà thu tô bảo:
- Nhưng mà bác Khanda ạ. Chuyện ấy có liên quan gì với chuyện cái gương?
- Ấy chết! Liên quan chứ ạ. Vì lúc tôi bị đánh, tôi nhìn thấy trên tường có treo chiếc gương. Bây giờ thì mọi việc sẽ được khám phá ra hết.
- Ừ phải - Mêđêni hưởng ứng - Còn tôi thì nhờ những chiếc gương thần kỳ này tôi sẽ phải vớ được ít nhất là bốn, năm vạn bạc.
- Làm thế nào mà vớ được?
- Có gì đâu! Ở nhà tôi có một chiếc tủ gương. Và chuyện tôi có một dạo dan díu với con gái lão Kediavi là cô ả Antưguyn thì chắc bác đã biết rồi.
- Chuyện ấy thì ai mà chẳng biết.
- Lão bố nhất định không chịu gả con gái cho tôi, còn cô ả thì cũng quên phắt ngay những tình cảm của mình. Nhưng giờ thì không xong với tôi đâu! Lão ta sẽ phải gả con gái cho tôi và tôi sẽ trở thành triệu phú cho mà coi.
- Nhưng ông định làm cách nào mới được chứ?
- Tôi và cô ả Antưguyn đã từng ân ái với nhau bao nhiêu lần ở nhà tôi, ngay trước cái tủ gương ấy. Sáng mai tất cả những cảnh yêu đương ấy sẽ sẽ diễn lại trong gương. Tôi sẽ mang cái gương ấy cho lão Kaliavi xem, ông hiểu chưa? Thế là lão ta sẽ phải gả con gái cho tôi, bằng không thì phải chuộc lại cái gương ấy.
- Thế nếu lão không chịu thì sao?
- Thì càng hay! Tôi sẽ mang cái gương ấy cho mọi người xem. Hay không kém gì xem hát ấy chứ! Và sẽ thu được ối tiền! Hoan hô những cái gương kỳ diệu...
Vợ nhà buôn hàng nhập khẩu to nhỏ với ả nhân tình của ngài Hátgi Ôxman là Phưxtưca:
- Tôi vẫn không sao có thể quên được.
- Chị bảo ai? Kaplan ấy à?
- Ừ, Kaplan ấy! Thế mà chàng thật chóng thay lòng đổi dạ. Nhưng thôi, ngài mai tôi sẽ đứng ra trước gương để được sống lại những giây phút ân ái với chàng.
- Tôi cũng phải trả thù lão già nhà tôi mới được! Tôi sẽ đưa gương cho hắn xem, để hắn thấy rằng hồi tôi mới quen hắn, tôi còn trẻ và xinh đẹp như thế nào. Vậy mà bây giờ hắn đã chán tôi rồi.
- Tất cả bọn đàn ông đều thế cả.
Khách khứa ai nấy đều sung sướng khi bàn về phát minh mới.
Cô nàng Phưxtưca luôn mồm nói:
- Ước gì chóng đến ngày mai nhỉ.
Cô em vợ béo nục nịch của viên giám đốc nhà băng phụ họa thêm:
- Vâng, ước gì chóng đến ngày mai ! Em thấy sốt ruột quá! Trời ơi, những kỷ niệm thời quá khứ của em! Tuổi thanh xuân của em.
Người thì ước mơ gặp được lại trong gương hình ảnh người mẹ đã khuất của mình, người thì muốn thấy lại thời thơ ấu.
Bỗng ngoài cửa sổ có tiếng chuông, rồi một vị khách xuất hiện. Đó là Sakháp Giêabétđin, một bác sĩ phụ khoa nổi tiếng. Mặt ông ta tái nhợt như người chết.
- Có chuyện gì vậy, bác sĩ? Anh bị ốm hay sao thế? - Vị chủ nhà hỏi.
Viên bác sĩ lắp bắp:
- Các vị không nghe nói gì cả à? Các vị không biết tin gì hay sao?
- Tin gì cơ, anh Sakháp? Có tin không hay à?
- Đài phát thanh vừa nói xong mà! Ngày mai, nhờ việc phát minh ra tia sáng nguyên tử nên tất cả các gương sẽ hiện lại toàn bộ những hình ảnh từ trước đến nay! Thế mà các vị không hay biết gì cả hay sao?
Mọi người bật cười ngạc nhiên:
- Thế thì tuyệt quá chứ sao, hả bác sĩ?
- Trời ơi! Té ra các vị mất trí cả rồi!
Đoạn ông ta kéo phái nam giới sang một phía.
- Cái phát minh mới này đúng là giết tôi. Trong phòng mổ của tôi, trước bàn mổ, chắc các vị cũng biết đấy, có một tấm gương lớn.
- Thế thì sao?
- Thế thì chết tôi chứ còn sao nữa! Các vị còn chưa hiểu hay sao? Tất cả những vụ phá thai, nạo thai và còn nhiều chuyện khác nữa sáng mai thế là vỡ lở hết...
Đám các ông lo lắng nhìn nhau.
- Ừ nhỉ, bỏ mẹ thật!
- Thế mà mình không nghĩ ra!
- Nếu thế thì ê mặt quá nhỉ!
- Thậm chí phải nói đó là tội ác mà bọn mình đã... Ấy chết, xin lỗi, nghĩa là tôi không có ý nói thế...
Nghe thấy các ông xì xào to nhỏ, đám các bà cũng đâm nhốn nháo. Bà vợ ông Đavút Xôiuva rên rỉ:
- Hạnh phúc gia đình tôi, cuộc sống êm ái hai chục năm nay của gia đình tôi thế là hết! Ngày mai chồng tôi sẽ biết hết mọi chuyện. Đầu tiên là chuyện với một tài xế của ông ấy, rồi sau là với một tài xế khác... Tất cả sẽ diễn ra trước gương...
Cô nàng Phưxtưca than thở:
- Thì ai mà ngờ được có ngày những cái gương kia lại làm vỡ lở mọi chuyện .
- Còn tôi thì sáng nào cũng lục túi, lấy cắp tiền trong ví của ông ấy... Sáng nào cũng thế... Lúc ông ấy còn đang ngủ... Đến bây giờ ông ấy vẫn chưa hay biết gì. Nhưng ngày mai thì thôi... ông ấy sẽ biết hết.
Ngài Hátgi Ôxman cứ lẩm bẩm một mình:
- Lẽ ra mình không nên dan díu với con hầu gái ấy. Mẹ kiếp! Đúng là ma dẫn lối quỷ đưa đường.
Những tiếng kêu “Trời” vang lên mỗi lúc một to. Sau đó không khí trong phòng lại im lìm như chết.
Bỗng giọng nói ồm ồm của bác sĩ Sakháp phá tan bầu không khí im lặng.
- Thưa các vị, chả lẽ các vị vẫn chưa tin rằng cái phát minh mới này, cái thứ gương kỳ diệu này sẽ làm tan vỡ hạnh phúc của chúng ta hay sao?
- Không, không... Đúng là cái gương này sẽ giết tất cả bọn ta!
Viên bác sỹ nói tiếp, dằn từng chữ:
- Thế là rõ rồi! Những chiếc gương bị tia sáng nguyên tử chiếu vào sẽ phá vỡ hết trật tự xã hội.
Khắp phòng lại nhao nhao cả lên:
- Đúng thế! Nhưng chúng ta biết làm thế nào được?
- Đối phó bằng cách nào bây giờ?
- Có cách gì cứu vãn được không nhỉ?
Ông bác sĩ tuyên bố:
- Chỉ có một cách thôi, là phải đập vỡ hết các tấm gương đi.
Ngài Mêđêni đế thêm:
- Thế chưa chắc. Phải nghiền vụn chúng ra mới được.
Cô thư ký có đôi mắt hạt nhãn, có giọng nói thỏ thẻ cũng lên tiếng:
- Phải cho vào cối mà giã thành bột ấy.
Rồi khách khứa giải tán, ai về nhà nấy.
Suốt đêm hôm ấy thành phố đâu đâu cũng vang lên tiếng kính vỡ. Người ta thi nhau bỏ gương vào cối mà giã.
Sáng ra những người phu hốt rác sửng sốt trước một cảnh tượng chưa từng thấy: khắp nơi chỗ nào cũng ngổn ngang những đống gương vỡ, phố xá thì tràn ngập bụi kính.
Đúng chín giờ sáng, giọng người phát thanh viên vang lên trong tiếng nhạc:
“Xin quý vị lưu ý: Loại gương soi tốt nhất thế giới là gương mang nhãn hiệu ‘Kỳ Diệu’. Dùng gương này quý vị có thể nhìn thấy hình ảnh của mình chỉ những lúc quý vị soi vào nó mà thôi! Xin quý vị nhớ cho nhãn hiệu của nó là ‘Kỳ Diệu’... Gương ‘Kỳ Diệu’...”
Trong vòng một ngày chủ hãng gương “Kỳ Diệu” đã trở thành triệu phú.
0
Ngôi nhà yên tĩnh

- Anh viết hay lắm! - Anh ta nói.
Như mọi nhà văn khác khi được người ta khen tôi đã định trả lời: “Cám ơn anh”, nhưng sau tôi nghĩ lại:
- Tôi có thể viết hay hơn nữa, phải cái nhà tôi không có những điều kiện thích hợp.
- Thế nhà anh làm sao?
- Nhà thì chật, mà gia đình thì đông người, ồn ào không chịu được! Mà viết truyện, như anh biết đấy, là kiểu lao động trí óc, nó đòi hỏi phải yên tĩnh. Đằng này, vừa mới lấy được cảm hứng thì thằng bé đã chạy đến mách thằng lớn: “Bố ơi, bố xem anh ấy làm gì con này!” Vừa giải quyết xong được hai đứa thì thằng nhỡ ngoạc mồm ra khóc. Dỗ xong thằng nhỡ thì đến lượt thằng út. Đấy là chưa kể những đứa lớn hơn chành chọe nhau suốt ngày. Khi đầu óc lúc nào cũng sôi lên như cái chảo ấy anh thử đi mà sáng tạo kiệt tác!
- Thế anh có bao nhiêu con? - Anh ta hỏi.
- Mười một đứa. - Tôi đáp.
Tôi nghĩ chắc anh ta sẽ nói: “Cầu Chúa phù hộ cho chúng!” Song đáp lại tôi chỉ nghe thấy một tiếng thốt rất thô bỉ: “Chu-s-s-s!” - như tiếng người ta bảo lừa dừng lại. Tôi hỏi:
- Anh bảo tôi đấy à?
Tức nghẹn thở. Thú thật, tôi đã định cho anh ta một cái tát.
- Không, tôi không bảo anh! - Anh ta đáp.
- Nhưng ngoài tôi với anh ra ở đây không còn ai khác.
- Cái tính đa nghi tệ hại! Người đa nghi lúc nào cũng tưởng người ta nói về mình. Cái xe ô-tô đang chạy bỗng kêu lên “tạch - tạch - tạch” anh ta cũng tưởng có ai bắn vào mình. Nhưng thôi, ta quay lại chuyện những đứa con của anh. Đối với người viết văn thì mười một đứa là quá nhiều đấy. Một đứa thôi cũng đã là nhiều rồi. Làm nhà văn lẽ ra không nên đẻ con. Vì nó lấy đi của anh rất nhiều thời gian.
- Nhưng, cứ cho rằng chuyện ấy không cần thời gian. Nuôi dạy con cái quả thật là việc khó...
- Làm anh nhà văn là không nên có con, anh cần hiểu điều đó. Đẻ một đống con thì ai cũng làm được, nhưng để viết một cuốn sách hay thì không phải ai cũng có thể.
- Nhưng biết làm sao khi tôi đã có mười một đứa rồi, thậm chí là mười một đứa rưỡi, vì một đứa nữa đang trong bụng mẹ.
- Thế giả sử anh sống một mình trong ngôi nhà, thì anh cần bao nhiêu thời gian để viết ra một kiệt tác?
- Trong đầu tôi có rất nhiều ý tưởng, vì thế nếu được sống một mình trong nhà, tôi có thể cứ hai tháng cho ra một cuốn sách hay.
- Xong! Tôi sẽ để anh sử dụng căn nhà của tôi trong sáu tháng.
Lúc đầu tôi cứ nghĩ anh ta nói đùa. Song khi anh ta lái xe đưa tôi về xem nhà của anh thì tôi mới tin là thật. Thậm chí đó không phải là nhà, mà là cả một cung điện mùa hè đồ sộ. Nhìn ngôi biệt thự lớn đó tôi phải sửng sốt.
- Mùa đông này chúng tôi sẽ về sống ở Nisantasư. - Anh ta nói - Chúng tôi sẽ ở đó đến tháng Năm. Vậy sáu tháng tới ngôi nhà này coi như của anh. Anh hãy tạo ra những kiệt tác cho chúng tôi xem. Ít ra bằng cách này coi như tôi cũng có chút đóng góp cho kho tàng văn học thế giới.
Tôi thực sự sửng sốt. Khi chúng tôi ra khỏi nhà, anh bảo:
- Tôi chỉ có một yêu cầu nhỏ với anh. Anh hãy nhớ là trong vườn tôi có một con becgiê, còn trong nhà treo một cái lồng nuôi một con hoàng yến.
- Tôi thích súc vật và chim muông lắm. - Tôi nói.
Sau đó anh bạn để lại cho tôi ngôi nhà và ra đi. Mọi chuyện cứ như trong mơ!
Lúc đầu tôi đi tham quan khắp ngôi vườn, sau đó đến ngôi nhà. Xung quanh tĩnh lặng đến nỗi tôi có cảm giác không chỉ nghe thấy, mà thậm chí còn sờ thấy sự yên tĩnh đó.
Tôi bước lên tầng trên cùng. Từ đây có thể nhìn ra một cánh rừng thông. Tôi ngồi vào bàn và nghĩ thầm: “Sống trong ngôi nhà thế này thì đến con lừa cũng có thể trở thành nhà thơ!”.
Với cảm giác đó tôi bắt tay vào viết. Tôi chưa kịp chạm ngòi bút vào giấy thì vang lên tiếng chuông. Ngôi nhà quá rộng, tôi cứ chạy hết phía này đến phía khác mà vẫn không biết tiếng chuông phát ra từ đâu. Tôi đã đi hết các phòng ở tầng trên mà không phát hiện ra vật gì có thể phát ra tiếng chuông ấy. Trong khi tiếng chuông vẫn reo không ngớt. Có lẽ đó là tiếng chuông điện thoại. Tôi lại chạy đi tìm khắp nơi, cuối cùng tìm ra chiếc điện thoại trên tầng ba. Tôi nhấc ống nghe lên nghe nhưng không có tiếng gì. Mà chuông thì vẫn reo. Có nghĩa là không phải chuông điện thoại. Hay là trong nhà còn có cái điện thoại khác?
Tôi lại chạy đi khắp các tầng, mãi cho đến lúc nhận ra đó là tiếng chuông cửa. Người đưa báo đến.
- Từ hôm nay không cần báo nữa. - Tôi bảo bác ta.
Tôi đóng cửa rồi lại ngồi vào bàn viết. Nhưng vừa cầm bút thì lại có tiếng chuông reo. Tôi chạy xuống dưới nhà. Ra mở cửa nhưng không có ai. Mà chuông vẫn cứ reo. Hóa ra đó là chuông ở cổng vườn phía sau nhà. Người mang sữa đến.
- Từ hôm nay thôi không cần sữa nữa nhé! - Tôi bảo người đưa sữa.
- Nhưng ông đã đặt mua sữa cả tuần rồi!
Người ta đã để cho tôi ở không mất tiền một ngôi nhà lớn suốt cả sáu tháng! Đương nhiên, tôi phải trả tiền sữa là đúng rồi!
Khi tôi vừa lên tầng hai, lại có chuông reo. Lúc đầu tôi chạy ra cửa chính, sau đó ra cổng sau. Đều không có ai! Không biết nhà này có bao nhiêu cửa đây?
Tôi cứ chạy từ cửa này đến cửa khác, đều không có ai. Hết các cửa rồi, mà chuông vẫn cứ réo! Quái quỷ, thế này thì phát điên mất! Thôi, chắc là bọn trẻ tinh nghịch đây. Trong khi tôi ra mở cửa chính thì chúng bấm chuông cửa sau. Để chộp tận tay bọn ranh con này, tôi bất thình lình mở cánh cổng vườn. Nhưng không có ai. Chắc chúng bỏ chạy rồi, lũ ôn con mất dạy! Hay có thể bây giờ là tiếng chuông điện thoại? Hóa ra đúng thật, cái điện thoại đang reo.
- Alô!
- Xin lỗi, tôi muốn nói chuyện với bà Nazan.
- Thưa ông, bà ấy không có nhà!
Tôi chưa kịp ngồi lại vào bàn thì lại “reng - reng!” Tiếng chuông! Lúc đầu tôi chạy đến máy điện thoại. Không phải! Tôi chạy ra cửa - hóa ra người đưa thư! Nhận thư xong, tôi lại lao lên gác. “Reng - reng - reng!” Tôi lại lao ra cửa. Không có ai! Chạy đến chỗ điện thoại. Không phải nó! Tôi cứ chạy lên chạy xuống một lúc cho đến khi nghe thấy tiếng “Cúc - cu! Cúc - cu! Cúc - cu!”.
Hóa ra đó là tiếng chuông đồng hồ treo tường. Trong phòng khách trên hai bức tường đối diện nhau có hai chiếc đồng hồ. Một cái thì kêu kiểu tiếng chuông, còn một cái thì kêu “cúc - cu, cúc - cu”. Khi cái đồng hồ dứt tiếng “cúc - cu” thì lại có chuông điện thoại.
- Bà Nazan không có nhà. Họ đã chuyển về Stambul rồi!
Người tôi ướt đầm mồ hôi vì phải chạy lên chạy xuống theo các tiếng chuông. Tôi đang đứng giữa phòng khách hoàn toàn lúng túng thì bỗng lại vang lên tiếng “Đanh... đanh... danh”.
Trời ơi, không biết trong nhà này có bao nhiêu cái chuông, bao nhiêu âm thanh, bao nhiêu đồng hồ nữa! Lần này là tiếng chuông đồng hồ treo ở cửa ra vào. Cứ chạy tới chạy lui mãi cuối cùng tôi mệt lử người! Lúc thì chuông cửa này, lúc chuông cửa khác, lúc lại điện thoại. Thật không sao phân biệt nổi cả một mớ các kiểu chuông và âm thanh ấy. Lúc tưởng là chuông cửa hóa ra lại là tiếng chuông xe đạp của một thằng bé đi ngang qua nhà.
Trời bắt đầu tối mà tôi chưa viết được chữ nào. Nhưng cứ lên gác, xuống gác, chạy đi chạy lại trong nhà xem các tiếng chuông ở đâu, có lẽ tôi đã đi được gần bốn chục cây số. Bạn cứ thử tưởng tượng xem, trên đời này có bao nhiêu người đưa hàng, từ người đưa hàng khô đến người đưa sữa... thì tất cả họ đều đã đến đây. Và người nào cũng bấm chuông gọi cửa! Còn cái điện thoại dễ chừng nó phải reo đến ba bốn chục lần!
Cuối cùng, hoàn toàn kiệt sức, tôi nằm vật ra giường như người chết rồi. Tôi nhủ thầm:
- Ngày đầu tiên bao giờ cũng vậy. Bây giờ mọi người đều đã biết trong nhà không còn ai. Ngày mai chắc sẽ không còn tiếng chuông nào nữa và tôi có thể bắt đầu viết kiệt tác của mình!
Khi tôi đã bắt đầu thiếp đi thì lại nghe thấy một âm thanh mới không giống với tất cả những âm thanh trước đó. Tiếng gì như tiếng rên. Với các tiếng chuông tôi đã có cách đối phó. Không ra mở cửa, không nhấc điện thoại - tự khắc chúng sẽ phải ngừng réo. Nhưng những âm thanh này mãi không chịu ngừng. Tôi kéo chăn chùm kín đầu không được. Nhét bông vào lỗ tai cũng không ăn thua. Không còn cách nào khác tôi đành dậy đi tìm xem những âm thanh đó ở đâu. Tôi đi hết buồng này sang buồng khác, cuối cùng ở buồng tắm tôi vấp phải con chó con. Nhìn thấy tôi, nó thôi không rên nữa và cọ cọ mõm vào chân tôi. Rõ rồi, hóa ra nó đói! Tôi đặt xuống trước mõm nó tất cả những gì tìm thấy trong nhà bếp.
Rồi lại lên giường nằm.
Những âm thanh đã chấm dứt. Nhưng tiếng đồng hồ thì không dừng lại - chúng phát ra tiếng chuông và tiếng “cúc - cu” theo đúng chu kỳ. Cả con chó cũng không chịu im. Thỉnh thoảng lại có chuông điện thoại. Đã bắt đầu nửa đêm. Trời, giá mà bắt được mấy cái đồng hồ và con chó này câm mồm! Chẳng còn cách nào, tôi bèn mang con chó con vào phòng ngủ. Nó thôi không kêu nữa, nhưng cứ khi tôi vừa nằm xuống là nó lại bắt đầu ăng ẳng. Tôi cố vuốt ve, van nài nó im lặng thì cái con trời đánh lại càng sủa tợn! Cuối cùng tôi đành cho nó lên giường nằm cùng nó mới chịu thôi.
Nhưng đúng lúc đó con bec-giê trong vườn bắt đầu sủa: “Gâu! Gâu! Gâu!”
Tôi sắp sửa phát điên! Không, không phải sắp sửa, mà tôi đã bị điên rồi. Tôi nhảy bổ khỏi giường chạy đến cửa sổ:
- Im ngay, con chó khốn nạn! Câm ng-a-a-y!
Con chó to im được một phút thì đến lượt con chó con bắt đầu ăng ẳng. Cứ thế tôi bị hành hạ đến tận sáng. Khi trời vừa bắt đầu sáng thì từ vườn vang lên tiếng cục tác và tiếng gà trống gáy. Song tôi đã quá mệt nên những âm thanh ấy không còn tác động gì đến tôi nữa... Khi tiếng con hoàng yến hót vang ngay trên tai tôi, tôi cầm lấy cái lồng chim cho vào buồng tắm khóa cửa lại. Tôi không biết tôi có chợp mắt được mười phút hay chưa, nhưng bỗng tỉnh dậy vì một âm thanh quen thuộc: “Đrr...r...!”. Các bạn có thể tưởng tượng tình trạng của tôi thế nào nếu tôi phải chui lên gác xép và trốn ở đó. Ở đây tôi bắt đầu tỉnh lại đôi chút. Không, ở ngôi nhà này tôi không thể viết được một dòng nào hết! Thật tình, ở với bọn trẻ con còn đỡ hơn. Chỉ cần quát với nó một câu: “Im lặng!” là nó còn biết sợ và không dám ầm ĩ nữa. Còn những con chó, những chiếc đồng hồ và những tiếng chuông này! Lẽ nào chúng hiểu được điều gì và biết sợ cái gì! Mà làm sao những người này sống được ở đây nhỉ? Vì chỉ để trả lời những tiếng chuông thôi cũng cần phải hàng tá người! Thế mà cũng gọi là ngôi nhà yên tĩnh! Tôi chỉ muốn đến gặp ngay cái người tỏ ra tốt bụng cho tôi mượn ngôi nhà yên tĩnh của mình mà nói với anh ta: “Xin vạn lần cảm ơn. Tốt nhất anh nên lấy một người hầu để phục vụ cho mấy con chim và chó của anh. Còn tôi tôi sẽ về nhà mình, với những đứa con của tôi”.
Khi tôi bước ra khỏi cổng, một người lạ mặt dừng tôi lại.
- Ông trông nom ngôi nhà này phải không?
Tôi thấy hơi chột dạ. Để thoát khỏi anh ta, tôi đáp:
- Phải!
- Người ta trả ông bao nhiêu?
- “Trả bao nhiêu” là thế nào?
- Này, ông nhớ đừng có nhận rẻ quá đấy nhé. Năm ngoái họ đã thuê một người trông nhà với giá năm trăm lia và cái ông này suýt bị phát điên. Vì người ta gọi ngôi nhà này là “ngôi nhà với các tiếng chuông”.
Như một cơn lốc, tôi chạy bổ vào phòng làm việc của người đã rủ lòng tốt với tôi.
- Tôi không nhận đâu! - Tôi nói.
- Tại sao?
- Vì ngôi nhà lớn quá! Và không có một bóng người. Ở đó quá yên tĩnh. Có thể nổ tung vì sự yên tĩnh của nó.
Anh ta nói:
- Tôi biết ngay mà. Anh đã quá quen với không khí ồn ào như cái chợ rồi nên rơi vào chỗ yên tĩnh anh không làm việc được!..
Rồi im lặng một lát, anh ta nói tiếp:
- Tôi biết bọn nhà văn các anh mà! Mồm thì kêu: “Giá có một cái góc yên tĩnh thì tôi còn viết được nhiều biết mấy!”, nhưng khi người ta cho cả một ngôi nhà yên tĩnh thì lại bắt đầu đổi giọng: “Chỗ này buồn quá, không sao viết được!” Chẳng qua trong đầu rỗng tuếch nên đếch viết được mà thôi!...
Tôi nhảy ngay ra ngoài đường - tránh xa cái nơi chết tiệt. Trên đường về nhà tôi thở phào nhẹ nhõm, nhưng bên tai vẫn còn văng vẳng những tiếng “Reng - reng - reng...!”
0
Nhỏ và đẹp

Tôi bắt được một cuốn sổ tay dưới gầm bàn trong nhà. Nhưng hỏi người nhà thì không ai nhận. Ai cũng bảo “không phải của tôi!” Cuốn sổ xinh xắn, bìa xanh, có hàng chữ nổi mạ bạc trông rất đẹp. Tôi mở ra xem là của ai. Vừa đọc trang đầu tôi đã thấy kinh ngạc. Ở đó có ghi tên, địa chỉ, số điện thoại của một ông to, rất to. Lật trang sau cũng lại ghi lần lượt tên, địa chỉ, số điện thoại của ba nhân vật khác rất có danh tiếng. Cứ thế tôi giở hết trang này đến trang khác và nỗi kinh ngạc của tôi mỗi lúc một tăng. Các bạn cứ nghĩ xem: trong nước có bao nhiêu nhà hoạt động chính trị tai to mặt lớn, bao nhiêu quan chức có thế lực, thì địa chỉ của tất cả các vị này đều được ghi vào sổ. Người kém vế nhất trong đó cũng là tổng giám đốc. Tôi lại còn để ý thêm một điều này nữa: các nhà hoạt động chính trị có tên trong sổ đều là những người hiện đang đương chức. Ai ở vào địa vị tôi mà chẳng phải ngạc nhiên? Đối với tôi, cuốn sổ ghi địa chỉ những người có thế lực chẳng khác gì một trái bom nổ chậm. Đúng là có kẻ nào thù hằn đã ném nó vào nhà tôi. Chưa hình dung được cuốn sổ ghi địa chỉ những nhân vật tiếng tăm này có thể gây cho tôi điều gì rủi ro. Nhưng có điều không nghi ngờ gì nữa là nó được ném vào gầm bàn tôi với ý đồ xấu xa. Tôi hoảng sợ vô cùng. Rất có thể, sắp có người bấm chuông gọi cửa ngay bây giờ, rồi bọn cảnh sát mặc thường phục sẽ ập vào nhà tôi và bảo:
“Đưa quyển sổ đây!” Còn tôi thì sẽ run như cầy sấy, hỏi lại: “Quyển sổ nào ạ?” Họ sẽ lục soát căn phòng tôi và tìm thấy ngay cuốn sổ dưới gầm bàn, như thể chính tay họ đặt vào đấy vậy.
Tôi biết chắc mọi việc sẽ xảy ra đúng như thế. Đứa khốn kiếp nào ném quyển sổ vào nhà tôi, hẳn đã đi báo cảnh sát! Rõ ràng là tôi đã sa vào cái bẫy hết sức nham hiểm rồi!
Bọn cảnh sát vớ được cuốn sổ sẽ hỏi ngay:
“Nào, nói đi! Anh ghi địa chỉ tất cả những quan chức lớn nhỏ vào đây để làm gì? Anh muốn lập hồ sơ theo dõi lý lịch cá nhân của họ à? Anh sửa soạn tống tiền họ chăng? Hay anh định mưu sát?”
Lạy Chúa? Lúc ấy tôi biết trả lời họ ra sao? Mà dù tôi có phân trần, thanh minh thế nào chăng nữa, chắc đâu họ đã tin tôi?
Thôi, tôi phải đem đốt ngay cuốn sổ rồi tung đám tàn ra cho gió cuốn đi thôi! Nhưng không biết đứa khốn nạn nào đã giăng bẫy đưa tôi vào tròng mới được cơ chứ? Tối hôm qua tôi có ba người bạn đến chơi. Nhưng những người này không đời nào chơi xỏ tôi như thế. Trong bọn họ thì một là giảng viên đại học, một người làm việc ở thư viện trường tổng hợp, còn người nữa là giáo viên văn học.
Tôi đang đút cuốn sổ vào lò sưởi nhà tắm để chuẩn bị đốt thì có chuông gọi cửa. Anh bạn Halit của tôi đến.
Tôi quen anh hai chục năm nay, anh làm việc ở thư viện trường Đại học tổng hợp, và là một trong ba người đã ngồi chơi ở nhà tôi tối hôm qua. Halit cũng đang hoảng hốt như tôi. Anh hỏi tôi:
- Sao trông anh tái nhợt đi thế?
Tôi cũng hỏi lại anh:
- Này, nhưng anh cũng làm sao vậy?
- Lạy Chúa, anh có thấy cuốn sổ tay tôi đánh rơi ở đây hôm qua không?
Tôi đưa cho anh quyển sổ.
- Quyển này phải không?
Anh nắm lấy tay tôi, reo lên:
- Giời đất ơi, đúng rồi! Thế mà tôi cứ tưởng đánh mất ở đâu, lo không tả được.
Tôi dẫn anh vào phòng làm việc.
- Còn tôi thì cũng được một mẻ hết hồn. - Tôi thú nhận - Anh hãy nói thật cho tôi biết, anh ghi từng ấy địa chỉ của những người có tai mắt để làm gì vậy?
Đến lượt anh ngạc nhiên:
- Ô hay! Thế chả nhẽ anh chưa có cuốn sổ ghi địa chỉ những người tên tuổi à?
- Ch-ư-a!
- Lạy Chúa, thế thì anh phải lập tức ghi ngay đi, rồi nhét nó vào túi ấy! Anh muốn biết tôi viết những cái địa chỉ ấy vào sổ để làm gì không? Đây này, tôi sẽ kể cho anh nghe. Anh chắc biết tôi vốn thích sưu tầm bút máy. Một số bút thì tôi mua, còn một số thì người ta cho, trong túi tôi có được đến mươi, mười lăm chiếc. Một hôm, tôi đến khách sạn thăm một nhà thơ Đức mới sang. Anh ta biết tôi thích chơi bút nên tặng tôi một chiếc. Vừa ra khỏi khách sạn là tôi rẽ ngay vào một góc phố vì không nhịn được. “Ta phải xem cái bút thế nào đã” - tôi tự nhủ. Chắc anh biết trong túi tôi lúc nào cũng có chiếc kính lúp. Tôi lấy kính ra soi cái ngòi và thấy nó có vẻ hơi thô. Tôi viết vào cuốn sổ mấy chữ tình cờ hiện trong óc: “Nhỏ và đẹp”. Thường tôi vẫn mang theo một tờ giấy ráp mịn hạt để mài ngòi bút. Cái ngòi này nếu về nhà tôi mài thêm tí nữa thì nét sẽ nhỏ và đẹp hơn. Tôi cầm lấy kính định xem lại cái ngòi một lần nữa, thì bỗng có ai nắm lấy hai vai:
- Anh đang làm gì vậy?
- Tôi ấy à? Tôi đang xem chiếc bút máy chứ có làm gì đâu.
- Thế đấy! Nghĩa là xem bút máy hả? Vậy chứ anh làm nghề ngỗng gì?
- Tôi ở trường đại học... - Tôi không kịp nói hết câu.
- Ái chà, nghĩa là giáo sư-ư-ư cơ đấy! Thưa ngài giáo sư, rất hận hạnh!... Chà!...
Một người trong bọn họ thụi cho tôi một quả vào sườn bên trái khiến tôi loạng choạng.
- Thôi, a-lê, đi!
- Đi-i-i!
Tôi bị đấm quả nữa vào sườn bên phải và đành phải bước. Biết làm sao được.
Chúng tôi đi về bóp. Tôi bị đẩy vào một căn phòng. Nhưng chờ mãi mà vẫn không thấy ai đến hết. Lát sau có một tay bước vào:
- Ngồi xuống đất ấy. - Lão ta nói.
- Tôi không ngồi thế được! - Tôi đáp.
- Cái gì? Không ngồi thế được hả? Ái chà! Ra cái điều ta đây là giáo sư kia đấy! Ghê chưa? Thôi, có gì trong túi bỏ hết ra đây.
Tôi đặt lên bàn tất cả mọi thứ trong người: mười bốn chiếc bút máy, hai quyển sách, cuốn sổ tay, hai tờ giấy ráp mịn hạt. Lão ta chỉ vào những chiếc bút:
- Đây là cái gì?
- Bút máy.
- Ra thế!... Nghĩa là bút máy đấy! Ái chà, giáo sư mà lại! Oai quá nhỉ?
Tôi không sao nói xen được một câu để giải thích cho lão ta hiểu rằng tôi không phải là giáo sư, mà chỉ là một nhân viên trông thư viện ở trường đại học thôi. Lão ta cầm lấy chiếc kính lúp:
- Còn đây là cái gì?
- Kính lúp!
- Ra kính lúp đấy! Chà, giáo sư! Chà...
Thêm ba người nữa đến. Họ cũng xúm vào xem đồ vật của tôi. Một người cầm tờ giấy ráp lên hỏi:
- Cái gì thế này?
- Giấy ráp.
- Giấy ráp gì mà lạ thế? Nhẵn như không ấy! Anh định bịp ai vậy hả?
- Đây là loại giấy ráp mịn hạt!
- Ra thế! Giấy ráp mịn hạt cơ đấy! Chà, giáo sư! Này, giáo sư này!
Vừa nói, lão vừa nện vào vai tôi một cái. Xem chừng sự việc đâm ra lôi thôi.
- Thưa các ông, - Tôi nói - chắc có sự hiểu lầm thế nào đây. Tôi không rõ tại sao các ông lại đưa tôi về đây, chứ tôi thì cả trường đại học ai cũng biết, nhà báo nào tôi cũng quen. Tôi không làm gì đáng để các ông đôi xử như vậy.
Một tay đang giở cuốn sổ của tôi ra xem, quát:
- Im ngay.
Bỗng mắt hắn sáng lên:
- Thế còn cái này là cái gì?
Hắn chỉ vào mấy chữ “Nhỏ và đẹp” tôi viết trong quyển sổ để thử chiếc bút máy người ta vừa cho.
- “Nhỏ và đẹp”. - Tôi nói.
- “Nhỏ và đẹp”? Hay nhỉ!
- Vâng, “Nhỏ và đẹp”.
- Thế là cái gì?
- Chẳng là cái gì cả.
- Chẳng là cái gì thì anh viết vào đây làm gì?
- Để tôi thử ngòi bút...
- Thế đấy! Được, nhưng sao anh không viết chữ gì khác mà lại chọn đúng chữ “nhỏ và đẹp”?
- Tôi không biết. - Tôi nói - Tự nhiên tôi nghĩ ra mấy chữ ấy, thế là tôi viết luôn vào...
- Thế đấy! “Nhỏ và đẹp”! Chà, giáo sư đấy! Chà... Chúng tôi sẽ cho anh biết thế nào là nhỏ và đẹp. Các ông nghe thấy hắn bảo gì chưa? Hắn bảo tự nhiên hắn nghĩ ra đấy! Thế sao tự nhiên anh không nghĩ ra chữ khác?
Một người trong bọn họ bước lại chỗ cô thư ký đánh máy. Họ bắt đầu lập biên bản. Tôi sợ vã mồ hôi. Biết đâu những chữ “nhỏ và đẹp” tôi tình cờ viết ra lại là mật mã của một tổ chức gián điệp thì nguy to! Mười bốn chiếc bút máy, cuốn sổ tay, chiếc kính lúp, hai quyển sách, tờ giấy ráp mịn hạt, “nhỏ và đẹp”! Ai mà chẳng phải nghi ngờ! Tôi bối rối không còn biết làm gì nữa. Trong lúc vẫn đang lập biên bản, một tay vẫn tiếp tục mở cuốn sổ của tôi ra xem. Bỗng hắn dừng lại ở một trang, sau đó đưa trang này cho cả bọn xem. Họ thì thầm gì với nhau một lúc, rồi tình thế bỗng nhiên thay đổi hẳn. Người vừa xem cuốn sổ của tôi đã chỉ cho cả bọn xem một chỗ ghi trong sổ.
- Xin lỗi ngài, - Lão ta quay lại hỏi tôi - người này đối với ngài là thế nào ạ?
- Đó là bạn học cũ của tôi. - Tôi đáp - Chúng tôi gặp nhau hôm kia. Anh ta đưa tôi đi ăn hiệu, cho tôi địa chỉ và tôi ghi vào đây.
Những điều tôi nói hoàn toàn đúng sự thật. Quả tình tôi đã gặp một người bạn xa nhau đã lâu. Tôi cũng không biết rằng anh ta là một tổng giám đốc.
Gã cảnh sát vẫn đang cầm cuốn sổ của tôi bỗng nở một nụ cười xun xoe bảo:
- Chết chửa! Thế ra ông tổng giám đốc lại là bạn thân của ngài?
- Đúng thế... Hồi còn đi học, chúng tôi thường trêu chọc anh ấy.
- Thật là hân hạnh quá! Ấy kìa, sao ngài không ngồi xuống? Ghế đây ạ! Xin mời ngài.
Sau đó, gã quay lại bọn kia:
- Ai bảo các anh dẫn ngài về đây hả?
Rồi quay lại phía tôi:
- Xin mời ngài!
Chúng tôi bước vào một căn phòng bày biện sang trọng, tôi đi trước, bọn họ theo sau. Họ mời tôi ngồi vào một chiếc ghế bành, một tay nói:
- Hôm nay nóng quá, ngài dùng một chút nước giải khát nhé?
- Ấy chết, xin các ông chớ bận tâm làm gì.
Tuy vậy nước giải khát vẫn được mang ra. Chúng tôi chỉ còn lại hai người trong phòng. Bọn kia kéo nhau ra ngoài cả.
Người đang tiếp chuyện tôi hỏi:
- Thưa ngài, ngài đến thăm chúng tôi có việc gì không? Ngài có cần gì không ạ?
Thánh Ala ơi! Thế là thế nào nhỉ? Tôi có cần gì không à? Chả nhẽ không phải chính họ đã vừa tóm cổ tôi mà lôi về đây hay sao?
Nhưng bây giờ, giữa lúc họ đang đối xử lịch sự với mình như thế, mà lại bảo rằng mình bị lôi cổ đến và bị đánh thượng cẳng tay hạ cẳng chân, thì xem ra không tiện. Vì thế nên tôi đáp:
- Tôi đến... chẳng qua để hỏi thăm sức khỏe các ông thôi.
- Ôi, thật quý hóa! Chúng tôi rất đội ơn ngài! Chúc ngài cũng được khỏe mạnh! Quả thật là vinh dự cho chúng tôi. Lạy Chúa! Được ngài đến thăm...
Tình thế không ngờ lại xoay chuyển một cách tốt đẹp như vậy. Nhưng dù sao tôi nghĩ cũng phải chuồn ngay kẻo nhỡ biết đâu sự việc lại trở nên rắc rối.
- Các ông cho phép tôi về! - Tôi nói.
Lão ta đứng lên tiễn tôi ra tận cửa. Tôi bước thật nhanh để mau mau thoát ra khỏi chốn này, không dám nghĩ đến chuyện đòi lại chiếc bút máy, cuốn sổ và chiếc kính, vì sợ phải nhắc đến chuyện hiểu lầm vừa xảy ra. Thôi, chả cần.
- Thưa ngài... thưa giáo sư! Ngài còn quên đồ đạc.
Một tên trong bọn bỗng chạy theo tôi, gọi. Hắn mang bút máy, tờ giấy ráp, cuốn sổ và kính lúp lại cho tôi.
- Thưa giáo sư, ngài là bạn ông tổng giám đốc thật đấy ạ? - Hắn hỏi.
- Đúng thế. - Tôi đáp - Nhưng sao ông lại hỏi vậy?
- À, chả là dạo này đang có mốt như thế. Ai thấy người sang cũng muốn quàng làm họ cả. Ngài hiểu chứ ạ? Để lúc nào có việc cần thì bảo: “Đây là bạn tôi!” Và thế là thoát. Mà chúng tôi thì làm sao biết được kẻ ấy có đúng là bạn thật hay không? Nhưng ngài thì đúng là bạn thật chứ ạ?
- Đúng, tôi là bạn thật.
Hắn chìa cho tôi mẩu giấy.
- Thưa ngài, tôi đã viết lai lịch của tôi ra đây. Là để phòng xa như vậy. Nếu ngài có dịp gặp ngài tổng giám đốc thì... e hèm...
Kể đến đây, Halit bảo tôi:
- Từ hôm ấy, cứ biết địa chỉ của ai trong số những bậc tai mắt của ta là tôi ghi ngay vào sổ. Đến lúc tưởng mất quyển sổ, tôi lo quá anh ạ! Có những địa chỉ này chẳng khác gì như được bảo hiểm tài sản và tính mạng vậy. Anh cũng nên có một cuốn sổ như thế mới được. Nhưng cần nhớ một điều là hễ có ai về hưu do sức khỏe hay bị cách chức thì phải lập tức xóa tên ngay khỏi sổ, nếu không thì có khi mang vạ vào thân đấy!... Thế thật anh không biết gì về những quyển sổ ghi địa chỉ những bậc có thế lực trên đời này à?
- Không.
- Vậy thì hỏng to rồi người anh em ạ! Bây giờ ai cũng phải giữ cái của này trong túi áo đề phòng khi bất trắc thì giở ra. Vì có ai biết được những điều gì sẽ xảy ra với mình lúc bước chân ra khỏi cửa? Ngày xưa thì có những tấm bùa hộ mệnh hay câu thần chú giúp người ta thoát khỏi ốm đau, tai họa. Bây giờ thì có sổ ghi địa chỉ thay cho những thứ ấy. Mà lại hiệu nghiệm hơn nhiều...
0
Chữ cái đầu tiên trong bảng chữ cái

Chuẩn bị cho một chuyến đi bằng xe lửa, tôi quyết định không mang theo sách, báo gì hết. Tôi nghĩ, để cho đầu óc được nghỉ ngơi. Sẽ làm quen với những người cùng cupê. Tôi sẽ tâm sự với họ, và họ sẽ tâm sự với tôi. Cứ thế chẳng bao lâu tàu sẽ đến nơi.
Những tình bạn thoáng qua trên tàu hỏa này mới thú vị làm sao! Anh sẽ bước vào thế giới của những người xa lạ. Và trong lòng anh tự nhiên cảm thấy sung sướng tựa như anh vừa khám phá ra một đất nước chưa biết. Năm tiếng, mười tiếng, một ngày, hai ngày, anh và họ sẽ cởi mở tấm lòng cho nhau. Rồi đến một ga nào đó anh và họ sẽ chia tay và trong suốt cuộc đời anh không bao giờ gặp lại họ nữa. Thậm chí sau nhiều năm anh và họ chẳng biết tin tức gì về nhau. Khuôn mặt của những người quen tình cờ đó sẽ phai đi trong ký ức anh. Nhưng những câu chuyện tình cờ anh được nghe sẽ mãi mãi còn lại trong trí nhớ.
Lòng tràn trề hy vọng như thế tôi bước lên tàu hỏa. Trong cupê dành cho năm người chỉ có hai chúng tôi. Như thế càng tốt. Khi cupê vắng người ta càng dễ gần nhau hơn. Và những gì muốn kể người ta càng kể một cách tự nhiên, thoải mái hơn.
Cả hai chúng tôi ngồi gần cửa sổ, đối diện nhau. Người bạn đồng hành của tôi chạc năm nhăm, sáu mươi tuổi. Đó là một người đàn ông to béo, có cái bụng phệ. Thường thì những người béo vui tính hơn những người gầy. Có lẽ bởi vì khi họ cười, bụng và cằm của họ đều rung lên và điều đó có lợi cho họ. Con người ta cần phải có bụng, ít ra là để nó rung lên mỗi khi cười.
Bước vào cupê tôi lên tiếng chào ông béo. Đáp lại lời chào ông ta chỉ ậm ự một tiếng gì nghe không rõ. Tôi chưa kịp ngồi vào chỗ thì ông ta đã kẹp kính vào mũi và chúi đầu vào đọc báo. Cái mũi to như quả lê của ông ta dường như dính vào tờ báo: người ngồi trước mặt có thể tưởng ông ta đang ngửi tờ báo chứ không phải đọc.
Trong tay ông ta có chiếc bút máy. Trong khi đọc, thỉnh thoảng ông ta lại ghi ghi cái gì đó, có lẽ là đánh dấu những chỗ quan trọng. Cạnh chỗ ông ngồi là một chồng báo khoảng mười lăm ngày gần đây. Rõ ràng con người này thích đọc báo. Có lẽ ông ta là một nhà bác học, hay giáo sư gì đó. Mà cũng có thể là một nhà chính khách. Ông dí mũi vào tờ báo và ngửi ngửi cái không khí chính trị hiện nay.
Khi tàu chuyển bánh tôi nói to để bắt chuyện với ông:
- Chúc thượng lộ bình an!...
Không rời mũi khỏi tờ báo, ông lại ậm ự câu gì trong miệng nghe không rõ.
Tàu đỗ ở ga thứ nhất, rồi lại tiếp tục chuyển bánh. Chúng tôi đi qua ga thứ ba, rồi thứ tư. Trong cupê của chúng tôi vẫn im lặng. Cứ thế này thì chán quá! Mà đi ra ngoài thì tàu hỏa vừa đông vừa chật, không có chỗ mà len chân. Tốt nhất là cứ ngồi ở đây thôi. Hơn nữa tôi nghĩ làm như ông béo thế là đúng. Chuyện trò vớ vẩn có ích lợi gì? Người ta phải biết quý thời gian rỗi. Phải tranh thủ đọc cái gì đó. Làm quen trên đường cũng tốt thôi... nhưng hay ho gì những người lắm mồm. Nói toàn chuyện không đâu chỉ tổ làm anh mệt đầu. Biết đâu ông béo này đã từng bị tra tấn bởi những người bạn đường ba hoa vô tích sự ấy! Chỉ có một điều khiến tôi khó hiểu là không thấy ông béo giở sang trang khác. Lúc nào cũng chỉ thấy chúi mũi vào một chỗ trên trang báo.
Ngồi trước mặt tôi là một kiểu người như vậy, còn tàu thì cứ đều đều lắc lư. Tôi bất giác gà gật và thiu thiu ngủ lúc nào không hay.
Chợt tôi bừng tỉnh vì một cú hích nhẹ.
- Này, ông! Này, ông!
Ông béo giật giật tay áo vét tôi. Lúc đầu tôi cứ tưởng có tai nạn gì xảy ra với đoàn tàu, sau lại nghĩ hay tôi đã đi quá ga của mình? Tôi choàng dậy. Ông béo bảo tôi:
- Xin lỗi, tôi muốn hỏi ông một tí.
“Thế là cuối cùng ông ta cũng bắt chuyện!” - Tôi mừng rỡ.
- Xin ông cứ hỏi.
- Cái gì làm bệnh nhân sợ nhỉ?
Tôi nhìn vào mặt ông ta xem có phải ông ta đùa hay không? Nhưng không, không có vẻ gì như vậy cả!
- Cái gì làm bệnh nhân sợ ấy à? - Tôi hỏi lại.
- Phải.
- Bác sĩ.
Ông ta viết cái gì đó lên tờ báo, sau đó nói:
- Không đúng!
- Bệnh viện làm bệnh nhân sợ.
Ông ta lại viết viết lên tờ báo rồi lẩm bẩm:
- Không khớp!
- Sợ viện phí!
- Không! Chữ cái đầu tiên là “P”, chữ cái thứ hai là “H”. Tổng cộng có 9 chữ cái.
- Phẫu thuật!
- Chính xác!
Rồi ông ta lại vùi đầu vào tờ báo. Chúng tôi lại im lặng một lúc.
Sau đó ông ta lại lên tiếng:
- Xin lỗi, làm phiền ông một tí.
- Xin ông cứ nói.
- Khi mà trong nước dân số tăng thì cái gì sẽ tăng theo nhỉ?
- Số lượng các nghị sĩ!
Ông ậm à ậm ừ cái gì nghe không rõ.
- Số lượng nhà tù.
Ông ta lại ghi cái gì đó lên báo.
- Không hợp!
- Chợ đen!
- Chữ cái thứ hai là “H”, còn chữ cuối cùng là “U”
- Nhu cầu!
- Hừm... Đúng rồi!
Một lúc lâu chúng tôi lại im lặng. Sau đó ông ta bỗng nói:
- Sêlam Alâykum!
- Alâykum Sêlam! - Tôi đáp.
- Phải, đúng rồi! - Ông ta xác nhận.
- Cái gì đúng?
- Câu trả lời cho câu “Sêlam Alâykum”.
Cái ông béo này có lẽ bị điên, tôi nghĩ. Không chừng tí nữa ông ta còn lao vào bóp cổ mình. Còn ông ta lại quay sang tôi:
- Thưa ông, tôi cần hỏi ông một chút.
- Xin mời ông!
- Ông có thể nói cho tôi tên một nốt nhạc không?
- Đồ!
- Không đúng, ông ạ! Không phải nó!
- Rê!
- Không hợp!
- Mi!
- Không!
- Pha!
- Không đúng. Chữ đầu là “S”. Gồm 2 chữ cái...
- Si!
- Ôi, cám ơn. Tôi nghĩ suốt hai tiếng đồng hồ mà không nghĩ ra. May quá ông lại sành âm nhạc đến thế!
- Tôi cũng biết sơ sơ. Tôi còn biết thêm các nốt khác là nốt son, và la.
Rồi lại im lặng kéo dài.
- Ông này!
- Tôi nghe đây.
- Cái để tổ chức đấu vật gọi là gì nhỉ?
- Thảm.
- Ôi. Cám ơn! Tôi viết là “Chiếu”, thế mà cứ ngạc nhiên không biết tại sao nó không hợp.
Ông quăng tờ báo xuống và cầm lấy tờ khác. Rồi lại hỏi tôi:
- Cái gì từ trên trời rơi xuống nhỉ? Tôi viết là “Đá” nhưng không đúng.
- Mưa.
- Đúng rồi!... Ông đúng là giỏi thật!
Lại trôi qua một lúc nữa. Tàu đã đi qua vài ga. Ông béo hỏi:
- Ông này, “con lừa” tiếng Thổ Nhĩ Kỳ gọi là gì nhỉ?
- Isak!
- Xem này, đúng phóc!
- Hoàn toàn phải.
- Thế món ăn tiếng Ả Rập là gì?
- Món ăn nào?
- Chỉ đơn giản “món ăn” thôi.
- Chỉ đơn giản “món ăn” là một chuyện, nhưng nếu bên cạnh nó có món “compôt” lại là chuyện khác.
- Nó gồm 3 chữ cái!
- EKL
- Chính xác, có thế chứ!
Chúng tôi đến Angkara. Suốt cuộc hành trình ông béo bận với trò chơi “ô chữ” trên báo. Nhưng chữ nào ông cũng phải hỏi tôi.
- Ngày nào tôi cũng mua báo. - Ông thú nhận.
- Đọc báo là một việc tốt! - Tôi nói.
- Kh-ô-ô-n-g! - Ông nói - Tôi không đọc một chữ nào hết. Tôi mua báo chỉ để chơi “ô chữ”. Chừng nào chưa giải được hết các ô chữ thì tôi không tài nào yên tâm được. Một trò giải trí rất thích! Cho đến nay chưa có ô chữ nào mà tôi không giải được.
Tôi lấy chiếc va-li trên giá xuống. Tôi phải xuống ga, còn ông ta thì đi tiếp.
- Tạm biệt ông!
Ông béo ngẩng đầu.
- Chữ cái đầu tiên của bảng chữ cái là gì nhỉ! - Ông hỏi và nhìn tôi bằng cặp mắt đờ đẫn.
- “A”. - Tôi đáp.
- Đúng rồi, có thế chứ! - Ông reo lên một cách sung sướng.
0
Cái gì đây?

Các bạn đã bao giờ được chứng kiến một người bị phát bệnh điên như thế nào chưa? Tôi đã thấy rồi.
Ồ, đó là một người có học thức, có văn hóa, và có thần kinh vững phi thường. Con người đáng thương đó bị phát bệnh điên ngay trước mắt tôi.
Chuyện xảy ra cách đây hai năm. Một người bạn kéo vợ chồng tôi đến dự bữa ăn tối với những người muốn được làm quen với chúng tôi. Tôi không tài nào từ chối được trước sự nài nỉ của anh. Thế là chúng tôi có mặt tại đám khách khứa.
Tôi không thích những cuộc làm quen như vậy. Lần đầu tiên đến chỗ không quen tôi cảm thấy lúng túng thế nào ấy, và cái thái độ lạnh lùng của tôi thường ảnh hưởng đến tất cả những người xung quanh. Căn phòng nơi tôi đến lập tức biến thành một cái gì như cái tủ lạnh.
Vợ chồng chủ nhân mời chúng tôi hóa ra là những người dễ mến hiếm có. Họ hết sức tìm mọi cách làm chúng tôi vui.
Đến sau chúng tôi có một số khách nữa: hai phụ nữ và những người đàn ông. Bà chủ mến khách mời chúng tôi uống trước bữa ăn.
Những người khách đến tiếp theo làm không khí trong phòng khách bớt tẻ nhạt đi một chút. Nhưng một lúc sau chính họ cũng bị tác động bởi những làn hơi lạnh toát ra từ tôi và bắt đầu bị ướt. Mọi người ngồi cứng đơ, căng thẳng. Hai vị chủ nhà thỉnh thoảng lại quẳng cho chúng tôi một chủ đề nào đó với hy vọng cuộc trò chuyện chung làm tan bớt tảng băng xa lạ. Nhưng nói được dăm ba câu chúng tôi lại im lặng, và trong phòng khách lại bao trùm những khoảnh khắc im ắng nặng nề.
Thỉnh thoảng từ phòng bên cạnh vẳng lại giọng nói trẻ con lanh lảnh. Hai vợ chồng chủ nhà than phiền về cậu con trai của họ. Hóa ra đứa con trai của họ, - cầu thánh Ala ban phước cho cậu, - là một đứa trẻ rất ngỗ nghịch. Trong một thời gian ngắn trong nhà đã phải thay tới bốn cô nhũ mẫu; cô kiên nhẫn nhất cũng chịu được có sáu tháng, và lúc này trong buồng bên cạnh cậu bé đang hành hạ cô bảo mẫu đáng thương. Bố mẹ cậu bé đã quá mệt mỏi trước tính hiếu động quá mức của cậu con quý tử. Khi đề tài này đã cạn, chúng tôi lại im lặng.
Chủ nhà nói:
- Ta hãy chờ ông Fikri đến, ông ấy sẽ làm chúng ta cười đến vỡ bụng.
Cặp mắt một bà khách ánh lên vẻ sung sướng.
- Tôi vừa được nghe tin gì thế này? Ông Fikri sẽ đến à?
- Vâng, chúng tôi đang chờ ông ấy.
- Chao ôi, tuyệt quá! Chúng ta sẽ vui ngay lập tức.
Bà thứ hai kể:
- Một tối chúng tôi đến chơi nhà người quen. Ông Fikri cũng có mặt ở đó. Ông ta pha trò làm chúng tôi cười bò lăn, bò toài ra đất. Mọi người phải van xin: “Thôi đi, anh Fikri.... Hãy tha cho chúng tôi!... Không có chúng tôi vỡ bụng vì cười mất!...” Có một bà, nói vô phép các vị, sau khi cười rũ rượi một hồi đã để lại trên ghế một vũng nước nhỏ.
Thế là mọi người tranh nhau nói về ông Fikri: “Chà! anh ta thật là người vui tính!... Một người biết đùa!...”
Người ta hỏi tôi:
- Ngài có quen anh ta không?
- Không! - Tôi đáp.
- Ôi, thật dáng tiếc! Ngài nên làm quen, ngài sẽ thấy rất mừng!
Một lúc sau lại có thêm khách - các bà và các ông. Sau đó lại một người nữa, một quan chức bưu điện. Thế là chúng tôi cả thảy có mười bảy người. Mọi người tranh nhau ca tụng Fikri, thán phuc trước cái tài biết làm mọi người cười vui vẻ của ông ta.
Từ phòng bên tiếp tục vẳng lại giọng của cậu bé tinh nghịch, - cầu thánh Ala cho cậu khỏe mạnh!
Cửa bỗng mở. Mọi người đồng thanh vỗ tay reo:
- Fikri!...
- Fikri!...
Một người đàn ông béo mập bước vào và ngay lập tức gây được thiện cảm. Trông chỉ muốn đến gần và vỗ vỗ vào đôi má phúng phình của ông ta. Trông bề ngoài ông ta trạc bốn nhăm tuổi.
Tôi vốn thường có định kiến với những ai được người ta bốc lên đến tận cung mây, nhưng người đàn ông này đã chinh phục tôi ngay lập tức. Anh ta vừa bước vào là cái không khí lạnh nhạt giữa chúng tôi lập tức tan biến! Mọi người đều thấy vui vẻ và sung sướng.
Mỗi lời ông ta nói đều gây ra những trận cười.
Tôi thử cố chống lại cái không khí vui nhộn toát ra từ con người ấy. Thế nhưng cả tôi cũng bị tan ra, lúc đầu hơi nhếch môi, sau đó miệng cười rộng đến tận mang tai và cuối cùng là cười ha hả.
Điệu bộ ông ta không lăng xăng, bắng nhắng nên không làm mệt người khác, và đó là điểm tôi thích nhất ở ông ta.
Tôi quan sát ông ta chăm chú hơn. Ông ta nói chuyện rất giản dị. Nhưng mỗi câu nói đều gây cười.
Tôi hỏi người bạn cùng đi với chúng tôi.
- Cái ông Fikri là nhà sư phạm. - Bạn tôi đáp - Sống ở Thụy Sĩ bốn năm, nghiên cứu vấn đề giáo dục trẻ em. Sau đó sáu năm ở Mỹ làm cho Hội “Giáo dục trẻ nhỏ”. Tóm lại ông Fikri là chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục trẻ em. Ông đã giảng trên đài phát thanh về chủ đề này. Ông đã có nhiều công trình được in bằng tiếng Thổ, tiếng Pháp và tiếng Anh, và viết nhiều bài nghiên cứu cho các báo và tạp chí.
Mối quan tâm của tôi đối với ông Fikri càng lúc càng tăng. Trong đời tôi chưa từng gặp người nào như thế. Anh ta nói: “Cái bàn...” - chúng tôi cười, nói: “Cái cửa...” - chúng tôi lại cười. Trong phòng khách tràn ngập tiếng cười. Cười nhiều chúng tôi bắt đầu chảy nước mắt.
- Ai, anh làm chúng tôi mệt quá, anh Fikri! Thôi đi! Ha-ha-ha!...
- Tôi van anh, anh Fikri, đủ rồi! Hô-hô-hô!...
Người thì ôm bụng, người thì gập hẳn người lại, người thì ngã ra tấm thảm.
- He-he-he!
- Hi-hi-hi!
- Hư-hư-hư!
Tôi rất ngạc nhiên. - Không tin được! Chưa từng thấy!...
Nhưng điều làm tôi kinh ngạc nhất là nét mặt của Fikri vẫn hoàn toàn thản nhiên như không, không hề có một nét cười.
Lợi dụng phút cơn bão cười hơi ngớt đi, tôi lại gần ông ta.
- Từ đâu mà anh có được tính hài hước như thế, anh Fikri? Anh có bí quyết gì dạy chúng tôi với!
- Bí quyết rất đơn giản. - Ông Fikri đáp - Anh không được cáu giận. Không bao giờ. Tôi đã bốn tám tuổi, và cho đến hôm nay chưa hề cáu giận lấy một lần.
- Kỳ lạ thật! Chả lẽ anh không cáu giận bao giờ?
- Không!
- Nếu người ta xúc phạm anh?
- Cũng thế thôi. Ở trường phổ thông tôi có thể trêu tức bất cứ ai, nhưng không ai có thể trêu tức tôi. Người ta có chửi tôi tục tĩu thế nào tôi cũng không giận - tôi chỉ mỉm cười và bỏ đi. Tôi coi đó là sự vô giáo dục của họ.
Chúng tôi nói chuyện về giáo dục trẻ em. Bản thân tôi là người cha nên tất nhiên tôi bắt đầu than vãn về mấy đứa con của mình.
- Tôi hình dung ra, anh Fikri ạ, anh giáo dục con cái giỏi như thế nào!
- Rất tiếc.
- Sao? Thế phương pháp sư phạm của anh?...
- Tôi không có con.
- A.a.a... Vợ anh không sinh được?
- Tôi không có vợ.
Tôi lập tức thấy thất vọng. Một người không có vợ con làm sao có thể hiểu và giáo dục được trẻ con đây? Ôi, thật quá dễ khi anh dạy người khác: “Đứa trẻ phải giáo dục như thế này, thế này...”
Nói thực, thậm chí tôi còn cảm thấy hơi giận.
Ông Fikri lại tiếp tục pha trò. Nhưng tôi đã không thể cười được nữa. Tâm trạng tôi đã bị mất hứng.
Nhưng sự tiếc rẻ của tôi kéo dài không lâu.
Chúng tôi cũng không nhận ra mình lại bắt đầu cười hô hô từ lúc nào.
Suốt thời gian đó từ phòng bên cạnh không ngớt vẳng lại tiếng của cậu bé tinh nghịch.
Ông Fikri hỏi:
- Có chuyện gì ở bên phòng ấy thế?
Người ta giải thích cho ông ấy: Đứa trẻ hư quá, không cô bảo mẫu nào dỗ được.
- Ề-ề-ề! Không được ! - Ông Fikri tuyên bố - Vào giờ này trẻ con phải đi ngủ rồi. Còn nếu không đặt chúng ngủ, chúng sẽ ngồi thức cùng với người lớn.
Ông Fikri đọc một bài giảng dài về đề tài này. Sau đó ông ra lệnh:
- Dẫn đứa trẻ ra đây!
Bà chủ vội xua xua tay.
- Ấy không, anh Fikri! Anh không biết cái thằng con ngỗ ngược của chúng tôi đâu! Nó sẽ làm anh mệt bở hơi ra đấy!
Ngài Fikri bằng những luận điểm khoa học chứng minh sự sai lầm của những lời nói đó.
- Không bao giờ được để đứa trẻ ngồi một mình. Nó luôn cần được có hoạt động. Dẫn đứa trẻ ra đây!
Ông bố can thiệp:
- Anh chưa biết nó đâu!... Thằng quỷ con ấy sẽ làm hỏng hết buổi tối đấy!
- Không, cứ dẫn ra đây, dẫn ra đây. - Ông Fikri vẫn khăng khăng. Người mẹ nói:
- Tùy anh thôi. Nhưng tôi không chịu trách nhiệm đâu đấy nhé!...
Người ta dẫn cậu bé ra.
Đó là một cậu bé tinh nhanh, khoảng bốn tuổi, rất hiếu động, đôi mắt lanh lợi luôn luôn đảo khắp phía. Lúc đầu cậu ta hơi sợ khi nhìn thấy đám đông người lớn.
Ông Fikri khuyên:
- Cứ để cậu bé một mình. Đừng để ý gì đến cậu ta.
Rút trong vỏ thuốc lá ra tờ giấy mỏng ngăn hai hàng điếu thuốc, ông Fikri gấp chiếc thuyền nhỏ và đưa cho cậu bé. Cậu bé linh hoạt hẳn lên, hỏi:
- Cái gì đây?
- Cái thuyền. - Ông Fikri trả lời.
Cậu bé lại hỏi:
- Cái gì đây?
- Cái thuyền. Cháu thấy đấy, cái thuyền.
Bố cậu bé nói:
- Thế là anh bị với nói rồi, anh Fikri! Từ giờ đến sáng nó sẽ hỏi anh: “Cái gì đây, Cái gì đây?”. Nó sẽ làm anh mệt nhoài cho mà xem!
- Ở lứa tuổi này trẻ con đứa nào cũng vậy. - Fikri giải thích - Chúng hỏi không ngơi mồm. Đó là giai đoạn thiết lập mối quan hệ giữa chúng với thế giới xung quanh. Đứa trẻ nào hỏi càng nhiều thì trí tuệ nó càng cao. Phải nên mừng! Đối với các câu hỏi của chúng phải trả lời thật kiên nhẫn, bình tĩnh. Giáo dục trẻ là một công việc không dễ dàng, ở đây cần có nhẫn nại và nhẫn nại. Với mỗi câu hỏi cần trả lời một cách nghiêm túc, rõ ràng, tựa như trước mặt bạn là người lớn.
- Thôi được, để rồi xem. - Ông bố nói.
- Cái gì đây? - Đứa bé hỏi.
- Cái thuyền. - Ông Fikri nhắc lại - Nó bơi ở trên biển, thế này này: phựt - phựt - phựt...
Bản thân tôi cũng có bốn đứa con, vì thế tôi chú ý theo dõi thí nghiệm sư phạm đang được tiến hành trước mắt tôi.
Ông Fikri lại lấy giấy gập con sói, thằng người, ô-tô.
Cậu bé ngay lập tức quấn lấy ông.
Thậm chí tôi cũng phải thừa nhận:
- Thế mới gọi là khoa học! Xem kìa, họ nhanh chóng thân với nhau chưa!
- Đừng chú ý đến chúng tôi. - Ông Fikri yêu cầu - Cứ tiếp tục nói chuyện đi.
Chúng tôi chuyện trò với nhau, nhưng bao nhiêu chú ý vẫn dồn về họ.
- Cái gì đây?
- Con sói con.
- Cái gì đây?
- Cái này ấy à?... Đồng hồ.
Cậu bé chỉ tay vào cái núm đồng hồ của ông Fikri.
- Cái gì đây?
- Cái đồng hồ.
- Không, không, cái gì đây?
- Cái này ấy à? ... Cái này là cái người ta lên dây cót. Cái núm đồng hồ.
Cậu bé chỉ vào ấm samôva.
- Cái gì đây?
- Ấm samôva. Để người ta đun nước pha trà.
- Không, không. Cái gì đây?
- Cái van ấm.
- Cái gì đây?
- Cái này ấy à?... Cái này... là một bộ phận của ấm samôva...
Ông Fikri quay sang giải thích cho chúng tôi:
- Cần phải trả lời như thế đối với mỗi câu hỏi của đứa trẻ.
Cậu bé chỉ vào bộ ngực núc ních của một bà.
- Cái gì đây?
- Cái này ấy à?.... Hừm... Cái áo hở vai.
- Không, không, cái gì đây?
- Cái ngực.
Cậu bé chỉ vào cái nắp ấm samôva.
- Cái gì đây?
- Ấm samó va.
- Không, cái gì đây?
- Ta đã bảo với con là ấm samôvà mà!
- Cái gì đây?
- Lạy thánh Ala!... Một bộ phận của ấm samôva.
Ông Fikri quay sang chúng tôi:
- Trong bất cứ trường hợp nào cũng không được cáu. Trong giáo dục trẻ con tuyệt đối không được cáu.
- Cái gì đây?
- Cái này ấy à!... Cái chân.
Cậu bé chỉ vào đùi một bà.
- Không, không, cái gì đây?
- Cái vạt váy.
- Cái gì đây?
- Cái bắp chân.
- Cái gì đây?
- Cái bắp chân, con trai của ta, cái bắp chân. Phần này của chân gọi là bắp chân.
- Cái gì đây?
Máu dồn lên mặt ông Fikri, mặt ông lập tức trở thành đỏ tía.
- Cái bắp chân, bắp chân, bắp chân!... - Nhưng ông lập tức kìm lại - Không được cáu giận. Kiên trì, chỉ có kiên trì! Bất cứ trường hợp nào cũng không được giận dữ.
- Cái gì đây?
- Cái đồng hồ.
- Cái gì, cái gì đây?
- Cái đồng hồ mà, con ạ! Cái đồng hồ!
- Cái gì đây?
- Cái núm đồng hồ.
- Cái gì đây?
- Thôi nào, cháu chơi với cái thuyền một lúc đi.
- Cái gì đây?
- Cái bắp chân.
- Không, không, cái gì đây?
- Cái áo hở ngực.
- Cái gì đây?
- Bộ ngực.
Ông Fikri nhét vào tay cậu bé mấy cái đồ chơi gấp bằng giấy và chuyển sang ghế khác ngồi. Nhưng cậu bé lập tức chạy ngay đến chỗ ông, và giơ ngón tay bé xíu chỉ vào cái mũi to của một ông khách hỏi:
- Cái gì đây?
- Cái này ấy à? Cái mũi.
- Cái gì đây?
- Mũi. Mu-ũi m-u-ũ-i....Cháu hiểu chưa, cái mũi.
- Cái gì đây?
- Ta đã nói với con rồi, cái mũi... Cái mũi, bé ạ! Cái mũi!
- Không, không, cái gì đây?
- Ta đã nói rồi, cái bắp chân. Phần này của chân gọi là bắp chân. Bắp chân. Hiểu chưa?
- Cái gì đây?
- Đây là cái mũi.
- Cái gì đây?
- Mũi!
Cậu bé chỉ mãi không thôi vào cãi mũi.
- Cái gì đây?
- Mũi, mũi, mũi!
Ông Fikri nói với chúng tôi:
- Các anh không được cáu. Trong bất cứ trường hợp nào! Hãy kiên trì giải thích đến khi nào đứa trẻ hiểu mới thôi. Mười, một trăm, một nghìn lần! Cốt sao cho đứa trẻ hiểu.
Hình như cậu bé tinh quái nắm được ý những điều ông nói. Cậu cứ một mực chỉ vào cái mũi.
- Cái gì đây?
- Mũi! m-ũ-i! m-ũ-i!... m-ũ-i!
- Cái gì đây?
- Mũi, mũi, mũi, m-u-ũ-i!
- Cái gì đây?
- Mũi, mũi, mũi, m-u-ũ-i!
Bộ râu quai nón và lông mày ông Fikri bắt đầu giật giật.
- Cái gì đây?
Tôi nhìn thấy thần kinh ông Fikri đã căng hết mức. Hạ giọng, ông cố nói thật dịu dàng, van xin:
- Mũi, mũi, con ạ, mũi, bé ạ, mũi...
- Cái gì đây?
- Mũi, nhóc con ạ. Mũi, mũi, mũi.
- Cái gì đây?
- Mu-ũi... Nào nói đi: Mũi!
- Cái gì đây?
Ông Fikri thò ngón tay vào cổ áo và nới rộng nút cà vạt.
- Mũi, mũi, con trai ạ! Cái con nhìn thấy trên mặt bác này gọi là cái mũi.
- Cái gì đây?
Ông Fikri cởi áo vét.
- Mũi!
- Cái gì đây?
- Ta đã nói với con rồi, cái mũi!... Nghe rõ chưa, cái mũi!...
- Cái gì đây?
- A-a-a, thôi đủ rồi! Đây là cái mũi!...
- Cái gì đây?
- Mũi, ta đã nói rồi mà! Chà, cái thằng!... - Nhưng ông kìm lại được - Với trẻ con không được tỏ ra thô bạo. Các vị hiểu chứ? Không bao giờ!
- Cái gì đây?
Ông dài giọng một cách dịu dàng:
- C-á-i m-ũ-ui...
- Cái gì đây?
- Ôi!
- Cái gì đây?
- U-u-u... - Nhưng ông Fikri lại bình tĩnh lại được - Với trẻ con phải hết sức kiên nhẫn. Không được cáu. phải trả lời mỗi câu hỏi của chúng.
- Cái gì đây?
- Cái này ấy à?... Cái này là... đôi giày.
- Không, không, cái gì đây?
- Cái khóa kéo.
- Cái gì, cái gì đây?
- Đây là cái núm cầm của khóa kéo.
- Cái gì đây?
- Cái chân.
- Cái gì đây?
- Cái đùi - cái đùi của cô...
Ông Fikri đỏ mặt. Giọng khìn khịt, ông lại đổi sang ghế khác. Nhưng cậu bé không rời ông nửa bước.
- Cái gì đây?
- Cái chân.
- Không, không, cái gì đây?
- Kim đồng hồ... Ôi, cái thằng!
- Cái gì đây?
- Chà, cái thằng chậm hiểu! Ta đã bảo rồi, cái mũi!...
Bỗng con người vốn rất bình tĩnh, nhã nhặn nhảy bật dậy khỏi ghế và bắt đầu vò đầu bứt tai.
- Cái gì đây? - Cậu bé vẫn dai dẳng.
Và đến đây xảy ra một điều kỳ lạ nhất, ông Fikri bắt đầu chạy khắp phòng, vừa chạy vừa la to:
- Cái gì đây?! Cái gì đây?
Ông ta và cậu bé, hai người cứ thi nhau hỏi:
- Cái gì đây?
- Cái gì đây?
Cậu bé cho rằng bác Fikri muốn chơi trò chơi mới với nó nên cười như nắc nẻ.
- Cái gì đây? - Nó hỏi.
- Thằng ngu như bò! - Ông Fikri kêu lên - Bây giờ đã hiểu chưa?
Rồi đến lượt ông hỏi:
- Cái gì đây?
Bất ngờ cậu bé từ nãy đến giờ không nói gì ngoài mấy chữ “Cái gì đây”, bỗng thốt lên:
- Thằng ngu như bò!
Cả gian phòng chết lặng. Người ta vội lôi cậu bé ra ngay khỏi phòng.
Ông Fikri thì cứ tiếp tục đi đi lại lại khắp phòng miệng lẩm bẩm:
- Cái gì đây? Cái gì đây?
Chúng tôi cám ơn chủ nhà, chia tay nhau và ra về.
Sau này chúng tôi được biết ngài Fikri đã bị điên thực sự. Mấy tháng giời liền lúc nào miệng ông ta cũng lẩm bẩm như con vẹt: “Cái gì đây? Cái gì đây?...” Sau đó ông ta bình phục và đi sang Mỹ. Bây giờ ông ta đang giảng dạy sư phạm tại một trong các trường Tổng hợp ở đó.
0
Khi đứa trẻ khóc

- Thằng con trai tôi đúng là quý tử! - Anh khoe.
- Cầu Chúa cho cậu bé khỏe mạnh! - Tôi đáp.
Hai chúng tôi cùng làm một Sở và hàng ngày gặp nhau hai, ba lần. Và lần nào gặp nhau anh cũng khoe đứa con trai của mình:
- Đó không phải là đứa trẻ, mà là một kho trí tuệ! Nó hiếu động kinh khủng!
- Cầu thánh Ala che chở cho cậu bé!
- Không lúc nào chúng tôi được yên với nó!
- Cầu Chúa cho cậu bé mạnh khỏe!
Bản thân tôi là bố của bốn đứa con, nên tôi biết rõ sự lố bịch của các ông bố bà mẹ thích khoe con cái mình. Tuy thế tôi vẫn muốn được gặp cậu con trai của anh bạn Giavit của tôi. Vả lại, lần nào gặp anh cũng mời tôi đến nhà anh chơi.
Một thứ Bảy nọ, sau khi tan làm tôi ghé qua nhà anh. Khi cửa vừa mở thì một vật gì lăn huỳnh huỵch từ trên cầu thang xuống, lộn đi lộn lại mấy vòng, rồi rơi “bịch” một cái ngay trước chân tôi. Rồi một vật gì kỳ lạ nửa người nửa vật đứng dậy trước mặt tôi.
Giavit giới thiệu:
- Đây là con trai tôi. Thế nào?
- Khá lắm! - Tôi đáp.
Anh dẫn tôi vào phòng khách. Tôi được giới thiệu với vợ, bà mẹ vợ và cô em vợ anh. Chúng tôi ngồi vào bàn. Tôi đang cầm tách trà trong tay thì bỗng có vật gì rơi tõm vào tách nước. Nước trà nóng bắn vào tay, tôi chưa kịp kêu lên vì bỏng thì bị một vật gì chụp vào đầu. Tôi không hiểu chuyện gì xảy ra. Tôi cố gỡ không biết vật gì đang úp chụp vào đầu, thì vừa lúc bắt đầu một cuộc rượt đuổi toán loạn. Giavit và cả gia đình anh đang đuổi theo cậu bé. Vừa chạy khắp phòng cậu bé vừa làm những cú ngoặt bất ngờ khiến những người đuổi theo cậu đâm xầm vào nhau ngã lăn ra. Tiếp đến là cuộc đánh lộn. Những người trong nhà thỉnh thoảng lại vồ lấy nhau. Tôi tìm xem có chỗ nào trốn khỏi cảnh hỗn loạn này và nấp vào sau cánh cửa. Một việc làm rất kịp thời, vì trong lúc chạy khỏi bố mẹ, cậu bé gặp được cái gì là vớ cái ấy ném bừa bãi. Cuối cùng, bố mẹ, bà và dì cậu cũng dồn được cậu vào góc nhà. Lâm vào thế bí, cậu bé dùng mười ngón tay bấu vào mặt dì, là người ở gần cậu nhất, và nhanh như một con khỉ, nhảy phóc lên nóc tủ và bắt đầu ném tất cả những gì có trên đó xuống đầu những người bên dưới. Khi không còn gì để ném nữa, mẹ cậu van xin:
- Con yêu của mẹ, xuống đi con! Con xem, có bác đến chơi kìa! Kẻo bác sẽ bảo con là đứa trẻ không được dạy bảo.
Để đáp lại, cậu bé cứ nhổ nước bọt toèn toẹt xuống người mẹ. Bố cậu giận thực sự:
- Xuống đây ngay, thằng mất dạy!
Cậu trả lời ngay lập tức:
- Chính bố là đồ mất dạy!
Sau đó cậu bé dùng đến thứ vũ khí đã được thử nghiệm. Cậu bắt đầu đái vào người bố. Bố cậu chỉ còn biết nói:
- Được rồi, mày cứ ngồi đấy.
Mẹ cậu nhìn tôi với vẻ xin lỗi:
- Xin lỗi bác...
Chúng tôi lại ra bàn ngồi. Tôi lấy khăn tay lau chỗ nước chè dây vào quần. Không ngờ nước sôi làm cả chân tôi cũng bị bỏng hẳn một chỗ.
Giavit nháy mắt với tôi có vẻ mãn nguyện:
- Thế nào? Tôi kể với anh có đúng không? Tôi không hề phóng đại phải không?
- Trái lại!... Cậu bé lên mấy rồi?
- Cháu chưa được sáu tuổi.
- Cầu Chúa cho anh đủ kiên nhẫn.
Tôi khẽ liếc trộm cậu bé đang ngồi ngất ngưởng trên nóc tủ. Mớ tóc xoăn xòa xuống trán che kín cả mắt. Những tấm cửa kính trong buồng nơi chúng tôi ngồi trông như bị những viên đạn pháo bắn vào. Chiếc đèn chùm năm vòi chỉ còn lại một vòi và một bóng đèn. Cửa ra vào thì không còn tay nắm. Rõ ràng tất cả đều là do bàn tay cậu bé.
Giavit nói:
- Tôi thề là trên đời tôi chưa từng thấy thằng bé nào như thế này. Không biết anh có tin không, chứ từ bé đến giờ nó chưa hề khóc lấy một lần!
Cô em vợ khẳng định những lời bạn tôi vừa nói.
- Thằng bé nhà chúng em giỏi thật đấy. Không cái gì có thể làm nó khóc được. Hôm qua bác có biết xảy ra chuyện gì không? Nó lấy cái dìu nhét vào gầm tủ lạnh. Tất nhiên cái tủ lạnh để vào người nó. Lúc em về thấy thằng bé đang nằm bẹp dưới tủ lạnh. Trán bê bết máu. Vậy mà nó không kêu lấy một tiếng. Em phải gọi người gác cổng đến giúp, lôi mãi mới được nó ra.
Giavit nói:
- Tôi không biết sau này cho nó làm gì? Hay là cho nó vào lính?
Mẹ cậu bé nói:
- Ai cũng phải ngạc nhiên. Có ở đâu thấy đứa trẻ không hề khóc bao giờ? Ngày hôm kia nó đuổi nhau với con mèo suốt cả tiếng đồng hồ. Con mèo nhà em cứ trông thấy thằng bé là cắm đầu chạy. Thế là thằng bé đuổi theo nó, con mèo sợ quá nhảy từ ban công xuống vườn. Rồi sao bác biết không? Thằng bé cũng nhảy ngay theo con mèo... Mà ban công cao dễ phải đến bốn mét.
- Thế cháu không bị thương à? - Tôi hỏi.
- Chắc là có. - Mẹ cậu bé đáp - Chúng em không sao bắt được nó để xem. Nó tập tễnh mất mấy ngày, sau đó lại khỏi.
Đúng lúc đó vật gì nặng rơi ngay vào người tôi suýt làm tôi gãy cổ. Đó là cậu bé từ trên nóc tủ nhảy thẳng xuống đầu tôi, rồi cưỡi trên lưng tôi như cưỡi ngựa, miệng hét:
- Phóng!
Bố cậu bé nhảy ngay đến giáng cho cậu ta hai cái tát mạnh đến nỗi người lớn cũng khó mà đứng vững.
Nhưng cậu bé vẫn cười khanh khách như không có chuyện gì xảy ra.
Thú thật, lúc đầu tôi cứ tưởng bố mẹ cậu bé nuông chiều, không đánh đập, trừng phạt cậu bao giờ, nên cậu mới sinh ra “hỏng” như thế. Nhưng khi chứng kiến sau những cái tát nảy lửa như thế mà cậu bé vẫn tiếp tục ngang bướng như vậy, thì tôi biết rằng mình đã đoán nhầm. Giavit tóm lấy cậu bé, kẹp chặt giữa hai đùi, túm mớ tóc xoăn xòa xuống trán hất ngược lên. Khuôn mặt cậu bé tròn như củ khoai tây. Chỉ vào cái u trên đầu to bằng nắm tay, bố cậu nói:
- Tối hôm qua nó làm rơi cái lọ hoa vào đầu, anh xem, nó sưng to thế này đây.
Mẹ cậu chữa lại:
- Chỗ ấy không phải cái u của cái lọ hoa, mà của cái ấm samôva. Mà trong ấm samôva đang có nước sôi.
Bà cậu xen vào:
- Cái u của ấm samôva ở chỗ khác, sau gáy cơ! Còn cái u trên đầu ấy là do nó ngã từ cầu thang xuống đống đá!
Cậu bé giãy giụa trong đùi người bố. Giavit bảo vợ:
- Em mang cái lọ iốt lại đây. Nhân tiện bắt được nó, chúng ta phải xoa các vết bầm cho nó, trong khi nó chưa chạy mất.
Vợ anh mang chai iốt và bông đến. Khắp người cậu bé chỗ nào cũng có vết bầm, xước, thâm tím. Giavit đổ iốt vào bông rồi bắt đầu xoa vào những vết bầm, xước. Tôi nhăn mặt vì đau, tựa như chính mình đang bị bôi iốt vào các vết thương. Vậy mà cậu bé không hề nhăn mặt. Tôi thầm nghĩ là cậu bé này đã bị mất xúc giác.
Rồi muốn rút lui trong khi cái đầu còn nguyên vẹn, tôi đứng dậy cáo từ. Trong lúc tôi đi ra cửa cậu bé còn kịp hất đổ thêm vài đồ vật nữa.
Lúc chia tay tôi bất cẩn nói:
- Mời anh chị lúc nào đến nhà tôi chơi.
- Thứ Sáu chúng tôi sẽ đến. - Họ đáp.
Tôi đã thấy hơi lo trong bụng.
Về đến nhà tôi bảo những người trong nhà:
- Chuẩn bị nhé, thứ Sáu này một tai họa sẽ đến nhà ta đấy. Hãy cất hết tất cả những thứ gì có thể vỡ, gãy, hay chảy đi!
Ngày hôm sau tôi hỏi Giavit:
- Anh chị đem theo cháu đến chơi chứ?
- Ấy chết! Làm sao cho nó đi được!
Tôi mừng đến nỗi không để ý mình đã buột miệng thốt ra:
- Không, không! Chúng tôi sẽ giận đấy. Nhất định thế nào anh cũng phải cho cháu đến.
- Không được đâu cậu ạ, không đời nào tôi cho nó đến được. Mọi thứ trong nhà cậu sẽ bị lật nhào hết.
Nhưng cuối cùng anh ta vẫn dẫn theo cậu bé. Hóa ra lúc đi họ đã khóa trái cậu bé trong buồng tắm. Nhưng cậu bé trèo qua cửa sổ buồng tắm, theo ống máng tụt xuống sân và đuổi theo họ. Hơn nữa cậu còn lấy đá ném vào người bố.
Lúc bước vào phòng để quần áo cậu bé bị vấp ngã. Nhưng không đau lắm, chỉ xây xát nhẹ. Với vết xước như thế thì không nói gì một đứa trẻ khỏe mạnh như cậu ta, mà ngay đứa bé gầy yếu cũng chẳng khóc. Nhưng mẹ tôi vừa hét lên vừa chạy ngay đến cậu bé.
- Ôi, rõ khổ thân cháu!...
Cậu bé đâm bối rối.
Vợ tôi cũng kêu toáng cả nhà:
- Ôi, cháu bé!... Cháu có đau không?. Ai - ai - ai... Thật là không may... Có lẽ cháu bị trày da mất rồi.
Tôi cũng hùa theo họ:
- Làm sao lại xảy ra như vậy chứ! Cháu bị ngã như thế nào, cháu bé? Ai - ai - ai!
Cô người hầu chạy vào cũng kêu lên từ ngưỡng cửa:
- Bị ngã à? Có gãy chân không? Ôi - ôi - ôi! Tôi gọi bác sĩ nhé? Làm thế nào bây giờ?
Hai người phụ nữ đang ở chơi nhà tôi cũng chạy lại chỗ cậu bé. Những người phụ nữ xúm xít quanh cậu và tranh nhau nói những lời xót xa thương hại.
Lúc đầu cậu bé cứ nhìn họ một lúc với vẻ ngạc nhiên. Sau đó bỗng dưng môi dưới cậu rung rung, mặt hơi xị xuống, rồi cậu bắt đầu khóc gào lên. Và cứ thế là cậu khóc, không tài nào ngăn được.
- Người nào tự ngã, thì người ấy không khóc. - Chúng tôi bảo cậu bé.
- Đàn ông không bao giờ khóc!
- Không có chuyện gì xảy ra cả!
Nhưng tất cả đều vô ích. Cậu bé cứ khóc rống lên gần nửa tiếng đồng hồ. Bố và mẹ cậu cứ tròn mắt kinh ngạc. Mãi khi thôi khóc cậu bé mới đòi uống nước. Cô người hầu mang nước lại, cậu tuột tay làm rơi. Cái cốc vỡ tan. Những người phụ nữ lại nhao nhao hỏi:
- Cháu có bị đứt tay không?
- Cháu có đau không?
- Đem lọ iốt lại đây nào!
Thế là môi dưới cậu bé lại bắt đầu rung rung, mặt lại xị xuống, rồi cậu lại bắt đầu khóc rống lên. Lại khóc gần nửa giờ đồng hồ. Tối hôm ấy cậu khóc cả thảy bốn lần. Nhưng không làm đổ vỡ cái gì.
Bây giờ cứ mỗi lần gặp Giavit tôi lại hỏi thăm về con trai anh.
- Nó thôi không nghịch ngợm phá phách nữa, - Anh nói - khỏi hẳn rồi. Nhưng lúc nào cũng khóc.
Còn với một người bạn khác anh trách vợ chồng tôi:
- Họ làm hỏng mất thằng con trai tôi!
0
Đúng là thời buổi bây giờ...

Tôi đã ngoài bốn mươi, đến giờ vẫn chưa lấy vợ, và không có vẻ gì là đến lúc nào đó tôi sẽ lấy vợ. Người ta nói người không có vợ chẳng khác gì cây không có quả. Nhưng dù sao không thể coi tôi là cái cây không có quả, vì tôi có những đứa cháu. Bao nhiêu tình thương tôi dành cho những đứa con của các anh em tôi. Ông anh tôi là một công chức quèn, có cuộc sống khá chật vật. Trong ngân sách chi tiêu của gia đình anh ấy không bao giờ có các mục như giải trí, du lịch hay tiệc tùng. Anh ấy không đi xem phim, xem hát, cũng không đi tắm biển. Hai vợ chồng anh ấy chỉ có thú vui duy nhất là đẻ con, mỗi năm một.
Người em giữa thì công việc làm ăn bình thường, vì nó chỉ học đến lớp bảy. Nó lấy vợ đã mười lăm năm nay. Có hai con.
Tôi còn một đứa em út. Nó học tối dạ và vất vả lắm mới hết lớp bốn. Chính vì nguyên nhân đó mà nó rất giàu. Hai vợ chồng nó ăn chơi xả láng không thiếu thứ gì. Tôi chỉ ngạc nhiên không hiểu sao giữa tất cả bấy nhiêu thứ giải trí như thế hai vợ chồng nó vẫn tìm được thời gian để đẻ con.
Chúng tôi có bốn anh em, và cả bốn anh em như kẻ thù của nhau. Những đứa em không bằng lòng với ông anh cả vì ông đã biến vợ mình thành “cái máy đẻ”. Còn anh ấy thì trả lời vui: “Tổ quốc cần có đàn ông”. Tôi bị gọi là “Cái cây không có quả”. Nhưng tôi nhìn những cái quả của họ: một đứa thì giống như quả đào sâu, đứa khác thì giống quả lê ủng, đứa thứ ba thì như quả dưa héo... Nhưng tôi rất yêu những đứa cháu của mình. Và chúng cũng quý tôi. Hôm qua chúng ở chơi nhà tôi suốt một ngày. Tám đứa. Đứa lớn nhất mười hai tuổi, bé nhất ba tuổi.
Thằng Altan lên chín lục hết đống sách của tôi rồi nói:
- Bác ơi, sao bác có nhiều sách thế mà chẳng có cuốn nào để đọc?
Tính đến lứa tuổi của nó, tôi bảo:
- Sao lại chẳng có cuốn nào? Đây này, “Rôbixơn”, “Juyn vecnơ ở xứ sở những con thiên nga trắng...”
Bọn trẻ cười khanh khách. Thằng Altan nói:
- Bác hãy giữ lấy những cuốn đó cho bác. Thế bác có cuốn “Những bước chân đẫm máu”, “Những bài học tình yêu”, hay ít nhất là “Bách khoa toàn thư tình dục” không?
Tôi không có cuốn nào như vậy cả. Con bé Phatôx mười một tuổi đúng là một con quỷ con. Nó hỏi luôn mồm không lúc nào nghỉ. Nó muốn biết tất cả. Đúng là tôi không phải là người bố thật, nhưng tôi cũng hiểu đôi chút về giáo dục trẻ con. Trong hầu hết các cuốn sách viết về cách giáo dục trẻ con đều có nói: “Trẻ con trong quá trình tiếp xúc trực tiếp với thế giới bên ngoài ngày càng muốn biết nhiều hơn về những gì xung quanh và thường xuyên hỏi người lớn. Cần phải trả lời tất cả những câu hỏi của trẻ con và kiên nhẫn giải thích cho chúng tất cả”.
Theo đúng những nguyên tắc giáo dục mà sách nói, khi những đứa cháu tôi hỏi bất cứ vấn đề gì tôi đều cố gắng trả lời chúng như thể trước mắt tôi là người lớn chứ không phải trẻ con. Con quỷ con Phatôx chỉ cho tôi một chỗ trong tờ báo và hỏi:
- Bác ơi, “thụ tinh nhân tạo” là gì hả bác? Trong báo viết như thế.
Tôi cựa quậy trên ghế không biết trả lời thế nào. Nhưng theo các nguyên tắc sư phạm tôi phải giải thích cặn kẽ tất cả những gì trẻ con hỏi.
- Đó là, - Tôi bắt đầu - nói thế nào cho cháu hiểu nhỉ?... Ví dụ như những đứa trẻ...
Mấy đứa cháu xúm lại chỗ tôi. Chúng chằm chằm nhìn vào miệng tôi.
- Những đứa trẻ làm sao ạ? - Chúng hỏi.
- Muốn có những đứa trẻ thì cần có cái gì? Cần có bố và mẹ.
- Sao nữa ạ?
- Còn nếu một người mẹ nào đó muốn tự mình làm ra đứa con... Nếu bà mẹ đó không tìm được người bố để cùng làm ra đứa con... Thì lúc đó...
Tôi toát cả mồ hôi. May sao thằng Erol xen vào cắt ngang và đã cứu tôi.
- Bác ơi, thế còn “trong tư thế không đẹp mắt” là gì hả bác? Đây này, báo viết là: “Cảnh sát đã bắt quả tang đôi nam nữ đang trong tư thế không đẹp mắt...”
Tôi không biết các tác giả sách giáo khoa sư phạm sẽ trả lời thế nào câu hỏi này. Họ viết rằng tùy theo lứa tuổi của đứa trẻ mà bố mẹ cần phải tìm hình thức giải thích phù hợp, nhưng nhất định phải nói sự thật...
- “Trong tư thế không đẹp mắt”, - Tôi ấp úng - nghĩa là khi người ta làm phiền người khác, la hét, làm ồn...
Bây giờ lại đến lượt con bé Ilđưz:
- Bác ơi, ở đây viết là: “Hắn ta đã dụ dỗ một thiếu nữ”. Thế là gì hả bác?
- Thôi, chúng ta đi chơi đi! - Tôi nói.
- Không, bác kể đi, kể đi! - Mấy đứa trẻ khăng khăng.
- Thế nghĩa là, nghĩa là... Nếu như người ta lấy mất của cô gái một thứ rất quý giá...
- Thế thì hôm qua cháu cũng bị chúng nó lấy mất! ... - Con Ilđưz kêu lên.
- Im ngay! - Tôi ngắt lời con bé! - Cháu không biết ngượng à!
Thằng Aiđưn còn đi xa hơn:
- Bác ơi, thế những đứa trẻ lấy ở đâu ra hả bác?
Tôi đã định chuyển đề tài, nhưng vừa lúc thằng Altan kịp nói chêm vào:
- Người ta tìm thấy chúng ở ngoài phố, phải không bác?
- Có một vài đứa trẻ thôi, chứ không phải tất cả cháu ạ!
- Các thiên thần mang chúng trên đôi cánh của mình, phải không ạ? - Con Ilđưz hỏi.
Tất cả bọn chúng cười ồ lên. Thằng cháu chín tuổi của tôi nói:
- Bác ơi, may mà bác không lấy vợ.
Tôi đỏ mặt.
- Tại sao?
- Còn tại sao nữa? - Thằng bé đáp - Cho đến bây giờ bác vẫn không biết các đứa trẻ từ đâu ra? Bác không biết “trong tư thế không đẹp mắt” là gì. Bác không biết một tí gì cả. Thế mà cũng đòi làm người lớn!...
Rồi bọn chúng ôm nhau cười lăn cười bò. Tôi cúi gầm mặt bước ra khỏi phòng.
0
Hào phóng

Các báo đưa tin:
“Phạm tội chỉ vì năm curusơ [1]! Tên Rukhi đã cầm dao đâm vào bụng người bán vé xe điện!”
Một hành vi quá sức điên rồ. Ai nấy đều phẫn nộ.
- Quân dã man!
- Đồ thú vật!...
- Cầm dao đâm người chỉ vì năm curusơl...
Người ta nhổ vào ảnh tên Rukhi đăng trên báo.
- Đồ dã thú! Tội nghiệp cái ông bán vé xe điện, không biết sống chết ra sao!
Nhưng không ai biết được nguyên nhân sâu xa của cái tội ác ấy.
Các bạn chắc sẽ hỏi: “Hay người bán vé xe điện có lỗi gì chăng?”
Xin thưa ngay là hoàn toàn không!
Tôi không đồng ý với các báo. Tội ác được thực hiện không phải vì năm curusơ. Năm curusơ chỉ là cái cớ bên ngoài mà ta biết được.
Xin các bạn hãy tự phán xét.
Hôm đó là thứ Bảy. Rukhi được lĩnh lương. Cả chỗ tiền lương ấy cũng không đủ trả dù chỉ một nửa số nợ. Y về nhà trong lòng buồn bã. Y ngó vào bếp. Vợ y đang bật diêm để châm bếp ga.
- Con mẹ đàn bà hoang phí! - Rukhi quát lên - Chỉ vì cô mà cuộc sống suốt đời chật vật. Phải tiết kiệm diêm chứ! Hay cô là bà triệu phú thích chơi trò bắn pháo hoa? Một bên bếp đang cháy kia, việc gì phải dùng diêm. Dí mảnh giấy vào rồi châm vào bếp thứ hai là được rồi!
Mãi Rukhi không nguôi giận. Trạng thái tâm hồn y đã bị mất cân bằng. Y quay ra buồng.
Đứa con gái chín tuổi đang ngồi làm bài.
- Cái gì thế này? Mày lại xé vở phải không?
- Bố ơi, con bị dây giọt mực vào vở.
- Mày lại bắt chước mẹ mày hả?... Bừa bãi, hoang phí hệt như mẹ mày!... Các người chỉ muốn hại ta...
Thằng con trai ở cửa hàng về, lấy dao cắt sợi dây buộc hàng.
- Cái gia đình gì thế này không biết! - Rukhi lại nổi cáu - Không ai biết coi trọng cái gì cả! Hay lắm!... Cứ cắt đi, cứ xé đi, cứ phá hết đi! Để xem cuối cùng sẽ thế nào? Chả lẽ cởi một sợi dây cũng khó khăn thế hay sao? Đến lúc cần buộc cái gì là lại ra cửa hàng, xì tiền ra mua! Bây giờ mình mới hiểu tại sao cái nhà này suốt đời thiếu tiền! Toàn một lũ ăn tàn phá hại!... Một lũ vung tiền qua cửa sổ!...
Y giận quá, bỏ cả cơm không ăn. Y ra khỏi nhà, đóng sầm cửa lại.
Trên phố y gặp một người bạn. Hóa ra anh ta cũng chưa ăn cơm. Hai người rủ nhau vào một tiệm ăn. Bữa ăn hết bảy lia hai mươi nhăm curusơ. Cả hai cùng móc ví một lúc.
- Xin anh đừng bận tâm, để tôi trả! - Rukhi nói. Người bạn phản đối:
- Không đời nào! Tôi sẽ trả.
- Anh mà trả thì tôi thề, tôi sẽ giận đấy!
- A, tôi không để anh trả đâu! Trừ phi anh bước qua xác tôi!... Bao nhiêu lâu mới gặp nhau!... Không, không, tôi không cho phép đâu!
Chỉ thêm chút nữa là có thể họ sẽ cãi nhau to. Cuối cùng nhờ cương quyết hơn, Rukhi dành được quyền trả tiền. Y đưa cho anh hầu bàn tờ mười lia. Anh này mang cái khay tiền thừa lại - hai lia rưỡi và bảy mươi nhăm curusơ tiền lẻ.
Phải cho anh ta bao nhiêu tiền puốc-boa nhỉ? Bảy mươi nhăm curusơ thì ít quá, hai lia rưỡi thì lại nhiều quá. Đưa tay cầm số tiền thừa, Rukhi do dự một giây, sau đó cầm hai đồng hai mươi nhăm curusơ ở khay lên. Anh hầu bàn cảm ơn. Họ rời tiệm ăn bước ra ngoài. Rukhi thấy bứt rứt trong người.
“Trời ơi, đồ con lừa! - Y tự nguyền rủa mình - Tại sao lại không ăn cơm ở nhà cơ chứ? Được, cứ cho là không ăn cơm nhà đi. Nhưng có thể mua ngoài phố một cặp bánh mì vòng ăn tạm cũng được cơ mà. Mà mình không làm thế cũng được thôi. Nhưng vậy thì tại sao lại không tự cho phép mình ăn một bữa cơm? Hơn nữa, lại còn đi trả tiền cho một gã gần như là người lạ này. Còn tay hầu bàn đã được mười phần trăm tiền dịch vụ rồi, mình lại còn cho thêm hắn hai trăm bảy mươi nhăm curusơ nữa. Đúng là đồ con lừa, con lừa! Không biết đến bao giờ mi mới thành người được?!”
Những ý nghĩ buồn bã cứ luẩn quẩn trong đầu y.
Y chia tay với người bạn.
Đến đầu phố y lại gặp người quen khác.
- Ô, anh Rukhi, anh đi đâu đấy?
- À, đi loanh quanh thôi.
- Đến Emigrian ở ngoại ô uống trà đi!
- Đi thì đi!
- Ta gọi tắc-xi đi.
Tại Emigrian cạnh quán trà họ xuống tắc-xi, hai người cùng móc ví một lúc.
- Để tôi trả.
- Ấy không, anh cho phép tôi. Không tôi sẽ giận đấy!
- Không đời nào, để tôi trả.
- Tôi sẽ giận anh suốt đời đấy. Vì đây là ý của tôi!
- Anh cứ thử trả đi, tôi thề từ giờ sẽ không chơi với anh nữa!
Rukhi cuối cùng lại là người cương quyết hơn.
- Hết bao nhiêu đây, bác tài? - Y hỏi người lái xe tắc-xi.
- Các ngài cho bao nhiêu thì cho.
Rukhi không chờ câu trả lời như vậy. Đưa bao nhiêu bây giờ đây? Có lẽ tốt hơn cứ để bác ta tự lấy. Y đưa cho người lái xe tờ giấy bạc năm mươi lia. Người lái xe trả lại y hai mươi bảy lia rưỡi. Rukhi dúi vào tay bác ta thêm năm lia nữa.
Vào quán trà họ gọi một ấm samôva.
“Trời ơi, đồ con lừa! Con lừa! - Rukhi lại tự rủa mình - Không, mi không thể thành người được. Tại sao lại đến khu Emigrian này làm gì cơ chứ? Cứ ngồi nhà có phải hơn không? Mi cần cái xã hội thượng lưu này lắm hay sao?! Đồ ngu! Sao không để gã này trả tiền xe tắc-xi? Ừ, thôi, mi trả cũng được, nhưng sao tự nhiên mi lại cho phép gã lái xe xỏ mũi? Thằng đểu, hắn xơi ngon hai mươi hai lia rưỡi. Thế mà mi, một con lừa đần độn, lại còn cho hắn thêm năm lia nữa!”
Y uống trà mà thấy đắng như thuốc độc. Gần tối khi chuẩn bị đứng dậy, cả hai cùng một lúc đưa tay sờ ví.
- Xin phép anh, để tôi trả! Anh làm ơn đi!
- Tôi xin anh, hãy cho tôi niềm vui này!
- Không đời nào!
- Hãy nhường tôi đi, tôi van anh đấy. Vì thánh Ala!... Để tôi trả!...
Rukhi bướng bỉnh hơn và cuối cùng y thuyết phục được người bạn.
- Hết bao nhiêu tiền đây, chú? - Y hỏi cậu hầu bàn.
- Ba lia rưỡi ạ!
Rukhi ném lên bàn tờ năm lia.
- Không cần trả lại.
Họ bước ra khỏi quán trà.
“Trời ơi, đồ con lừa! - Rukhi tự rủa thầm trong bụng - Đồ con lợn ngu ngốc! Ai lại đi uống trà những ba lia rưỡi bao giờ! Thà ngồi nhà cũng uống no được cái thứ nước thổ tả này! Vào đây uống trà cũng được, nhưng lẽ ra phải để người ta trả tiền chứ. Lại còn không lấy tiền thừa nữa! Con lừa! Con lừa! Con chó còn có thể trở thành người hơn là mi!”
Họ lại lên tắc-xi. Về đến thành phố hai người lại bắt đầu tranh nhau xem ai trả tiền. Lần này Rukhi cũng lại thắng và được trả tiền.
“Ôi trời! Con lừa! Con lừa!...” - Y luôn mồm nguyền rủa mình.
Rukhi chia tay với người bạn, trong lòng đau khổ vì sự ngu ngốc của mình. Trên đường đến Galatasaray y lại gặp một người bạn nữa. Thậm chí không phải bạn, mà chỉ là một người quen sơ mà y không nhớ cả tên. Hai người được giới thiệu làm quen với nhau tại một bữa tiệc nào đó. Họ chỉ gặp nhau và chào nhau một câu thế thôi.
- Ô... xin chào!
- Chào anh!
- Anh đi đâu vậy?
- Dạo chơi loanh quanh thôi.
- Tôi đề nghị thế này. Ta vào quán bia làm một chầu đi! Đến quán “Passage” ấy!
Họ rẽ vào quán “Passage”, gọi mỗi người một vại bia. Rồi lại gọi tiếp. Rồi lại tiếp nữa.
Người bạn của Rukhi gọi hầu bàn.
- Cho hai ly vôtka, một đĩa salat, một món gì nóng. Có cá ômar sốt không? Tóm lại, cho đồ nhậu gì thật ngon ấy!
Cuối cùng thanh toán - sáu mươi bốn lia.
- Để tôi trả. - Rukhi nói.
- Không đời nào!
- Nhưng tôi chiêu đãi mà.
- Tôi không cho phép đâu, anh bạn! Tôi là người mời anh.
- Cứ để tôi. Bao nhiêu lâu mới gặp lại...
Cuối cùng Rukhi trả tiền. Y đưa người hầu bàn một tờ năm mươi lia và hai tờ mười lia.
- Không cần trả lại đâu!
Gần nửa đêm họ mới rời quán “Passage”.
“Trời ơi! Con lừa, con lừa! - Rukhi bực tức nguyền rủa mình - Khi nào mi mới khôn lên được. Không ngồi nhà mà uống được! Còn nếu đã vào quán uống thì hãy để cho người nào mời mi trả tiền chứ! Không, lại tranh lấy trả cơ! Mà thế vẫn còn chưa đủ! Còn ‘boa’ cho tên hầu bàn những sáu lia”.
Hai người chia tay nhau.
Trong lòng Rukhi như có tảng đá đè. Đã đến lúc phải về nhà. Y bước lên tàu điện, trong bụng vẫn không ngớt nguyền rủa mình:
“Con lừa, con lừa, con lừa! Ngày hôm nay đã bao nhiêu lần mi làm chuyện ngu ngốc rồi! Đây đúng là bài học tốt cho mi nhớ suốt đời!”
Đúng, từ bây giờ trở đi y phải tiết kiệm từng xu mới được!
- Mua vé nào! ... Hành khách nhớ mua vé đi!
Rukhi đưa cho người bán vé hai mươi nhăm curusơ. Hay là chỉ có hai đồng mười curusơ nhỉ? Y cũng không nhớ nữa. Đã đến bến của y.
Rukhi quay lại bảo người bán vé:
- Bác trả lại tiền thừa đi.
- Tiền thừa nào?
- Tôi đưa bác hai mươi nhăm curusơ.
- Ông nhầm rồi... Ông đưa tôi hai đồng mười curusơ.
- Đồ lừa đảo! Định bịp ai đấy hả?!
- Ông nói gì thế!... Ông đưa tôi đúng hai mươi curusơ.
- Không đúng!
- Tôi nói điêu tôi chết. Tôi thề với ông đấy!
Rukhi rút trong túi ra con dao gíp, mở lưỡi ra và đâm một nhát vào bụng người soát vé.
Tên tuổi Rukhi được đưa lên các báo.
---------------
[1] Curusơ: đơn vị tiền Thổ Nhĩ Kỳ. 1 curusơ = 1/100 lia.
0
Cậu cho bao nhiêu thì cho!

Bốn năm nay chàng chưa đi xe tắc-xi. Nhưng hôm nay chàng phải đi. Đơn giản là cần phải như thế. Vì chàng đang đi cùng cô gái mà chàng sắp cưới.
Trong số những chiếc tắc-xi đậu ở bãi họ chọn cái cũ nhất. Dễ hiểu là xe càng mới bao nhiêu thì tài xế càng dễ “chém” hành khách bấy nhiêu.
May cho họ, bác tài cũng là người đứng tuổi. Tất nhiên một người lái xe có kinh nghiệm thái độ với khách cũng khác.
Họ ngồi vào xe. Bác tài bật đồng hồ cây số. Chàng khẽ liếc nhìn cái máy đếm tiền: 60 - 65 - 70 - 75 ...
- Thời tiết hôm nay đẹp quá, cậu nhỉ?
- À... vâng... phải... rất đẹp....
105 - 110 - 120 ... Tíc tắc, tíc tắc, tíc tắc. Chiếc đồng hồ liên tục kêu.
Cô gái hỏi:
- Có chuyện gì vậy? Trông anh đăm chiêu quá!
- Kh-ô-ô-ng... Không có gì! Thật mà! Anh thề là hoàn toàn không có chuyện gì.
Tíc tắc, tíc tắc...
- Nhưng sao anh có vẻ căng thẳng thế?
- Anh không biết. Hi-hi! Trái lại là đằng khác. Anh rất vui. Hi-hi!
355, tíc tắc, 360, tíc tắc...
- Bác tài, chúng tôi xuống đây.
Giấu không cho cô gái biết, chàng liếc nhanh đồng hồ đếm tiền: 395 curusơ [1]. Chàng nhẩm ngay trong đầu. Thôi, cứ cho là bốn lia. Mình sẽ trả gấp đôi là tám lia [1]. Khách mà đi cùng với bạn gái bao giờ cũng bị quát nhiều hơn. Không sao, cứ cho hẳn là mười lia đi!
- Tôi phải trả bao nhiêu đây, bác tài?
- Cậu cho bao nhiêu thì cho.
- Thế không được. Bác cứ cho biết hết bao nhiêu?
- Ôi, thưa cậu, đây là cái xe, chứ không phải ngựa, cũng không phải lạc đà, cậu cho bao nhiêu tôi xin bấy nhiêu.
- Kh-ô-ô-ng! Để cả tôi lẫn bác không ai phải áy náy.
- Thôi, cậu cứ cho bao nhiêu cũng được. Tôi không có chê nhiều, chê ít gì cả.
- Lạy thánh Ala! Nhưng làm sao tôi biết, với bác bao nhiêu là nhiều, bao nhiêu là ít?
- Tôi sẽ không nói đâu. Cậu thấy trả được bao nhiêu thì cậu trả bấy nhiêu.
Không ngờ trên đời lại còn có những người tốt như thế, dễ dãi, không đòi hỏi, ăn nói lại nhẹ nhàng, lịch sự! Nếu trả cho bác ta mười lia liệu có ít không nhỉ? Với đoạn đường như thế? Không, có lẽ phải trả nhiều hơn. Cùng đoạn đường như thế này mà đi tắc-xi tuyến cũng đã hết sáu lia rưỡi rồi.
- Thôi, ông bác à, bác đừng làm tôi khó xử nữa. Xin bác cứ nói thẳng cho tôi biết bác muốn bao nhiêu?
- Cậu đừng băn khoăn làm gì. Cậu thấy cần trả bao nhiêu cậu cứ trả. Tôi không phải người tham lam. Chả lẽ tôi lại dám chê “ít quá” hay sao. Cậu cho được bao nhiêu thì cũng là cám ơn cậu.
- Thôi được, nhưng chả lẽ không có biểu giá à? Làm sao tôi biết tôi phải trả bao nhiêu?
- Cậu ơi, cậu cũng là con người mà. Chúng ta đã đi đoạn đường khá dài. Cậu cứ trả bao nhiêu mà cậu thấy là phải.
Chàng sợ không phải là trả ít quá, mà sợ là đoán nhầm và trả nhiều quá. Được rồi. Đã thế thì mình làm theo ý mình. Chàng rút trong ví ra một đồng mười lia và hai lia rưỡi nữa, rồi đưa cho bác tài:
- Đây, bác cầm lấy!
Bác tài vung vung đồng tiền trong tay:
- Thế này là thế nào?
- Mười hai lia rưỡi.
- Cái gì, cậu điên à? - Bác tài kêu lên - Vào thời gian khuya khoắt thế này?
Cô gái nói:
- Cách đây hai hôm chúng tôi cũng đi quãng đường đúng như thế này chỉ hết có bảy lia rưỡi.
Bác tài ném tiền vào mặt chàng thanh niên.
- Cầm lấy mà uống nước trà!
Tiền rơi xuống đất giữa chỗ người lái xe và chàng thanh niên đứng.
- Thật là xấu hổ! Phải biết ngượng trước mặt bạn gái chứ!
Chàng thanh niên đưa thêm hai lia rưỡi nữa.
Gã tài xế gân cổ hét lên:
- Cái gì? Anh định bố thí cho ăn mày chắc? Đây không thèm! Phải có lương tâm chứ! Mình tưởng hắn là người lịch sự nên bảo hắn “Cậu cho bao nhiêu thì cho”. Vậy mà hắn...
Để bắt gã tài xế im mồm, chàng thanh niên sẵn sàng dốc hết cả ví tiền cho gã. Gã đã sỉ nhục chàng ngay trước mặt người bạn gái! Chàng rút thêm tờ năm lia nữa. Nhưng gã tài xế vẫn nói oang oang:
- Xem kìa, hắn dẫn bạn gái lên xe ngồi, mình cứ tưởng hắn là người lịch sự tử tế! Hóa ra chỉ được cái mẽ ngoài!... Khi tôi nói “Cho bao nhiêu thì cho” thì như thế không có nghĩa là tôi xin của bố thí! Tôi đòi số tiền tôi được hưởng, hiểu chưa?
Nếu gã tài xế không thèm cầm tiền mà bỏ đi thì sao đây? Chàng trai bèn rút thêm ra năm lia nữa, rồi nhặt những đồng tiền vương vãi dưới đất đưa cả cho gã lái xe.
Gã này cầm tiền. Rồi mở khóa cho xe nổ. Chiếc xe đã lăn bánh mà gã lái xe vẫn còn tiếp tục lải nhải:
- Tất nhiên là lỗi ở mình. Lẽ ra không nên cho loại người này lên xe! Mình nói với hắn như với một người quý phái lịch sự: “Cậu cho bao nhiêu thì cho”. Thế mà hắn còn định giở trò đểu với mình. Con người bây giờ không còn chút lịch sự, tử tế gì.
Chàng trai và cô gái đi về phía sòng bạc ngoại ô. Chàng cảm thấy mình thật đau khổ. Trong đầu chàng vẫn văng vẳng những lời lẽ thô bỉ của tay lái xe. Giá chàng đưa cho hắn nhiều hơn! Giá chàng đưa đúng số cần phải đưa!
- Phong cảnh ở đây đẹp quá, anh nhỉ? - Cô gái khẽ lên tiếng!
- Cái gì?
- Em bảo: “phong cảnh ở đây đẹp quá”!
- Cô nói đi, cô cần bao nhiêu?
- Em không hiểu!...
- Tại sao cô không nói thẳng ra cô muốn bao nhiêu tiền?
Cô gái quay phắt người, rồi không thèm ngoái lại, chạy băng băng xuống chân đồi. Cô cứ cắm đầu cắm cổ chạy thật nhanh.
Và mọi chuyện thế là chấm hết.
------------------
[1] Đơn vị tiền Thổ Nhĩ Kỳ: 1 lia = 100 curusơ.
0
Tự nhiên mang vạ

Thoạt tiên tôi muốn giới thiệu qua với các bạn về ông Sađi. Đó là típ người như người ta thường nói là “quan tám cũng ừ, quan tư cũng gật”, nghĩa là không bao giờ có chính kiến gì cả. Ông Sađi của chúng ta đúng là kiểu mẫu điển hình của loại người như vậy.
Nếu bạn hỏi ông ta nước ta có bao nhiêu đảng phái, ông thậm chí không trả lời “Tôi không biết”, mà chỉ khẽ nhún vai hoặc hơi nhếch môi, ý bảo tôi không quan tâm những chuyện như vậy.
Ông là con người nghiêm túc và có giáo dục. Ông chỉ hơn tôi chục tuổi, nhưng nhìn bề ngoài có thể tưởng ông vào tuổi bố tôi. Khi nói chuyện với ông, gần như phải cậy mồm ra ông mới chịu nói. Còn thông thường là im lặng.
Ông sống cùng vợ và con gái ở khu Icherenkiô, trong một ngôi nhà lớn do bố ông để lại. Mong muốn tìm cho con gái mình một vị hôn thê xứng đáng nên ông không cho thuê một buồng nào trong ngôi biệt thự rất nhiều buồng của mình.
Tôi và ông sáng nào cũng gặp nhau - nếu không ở trên tàu điện ngoại ô, thì chắc chắn ở chuyến tàu thủy khởi hành vào lúc chín giờ sáng.
Nửa tháng qua tôi bị ốm và không ra khỏi nhà. Lần đầu tiên sau thời gian ốm tôi đi làm. Tôi và ông Sađi xuống tàu điện và cùng ra bến đón tàu thủy - Lúc đó có một người đi ngang qua hỏi:
- Thời tiết hôm nay thế nào, ông Sađi?
Rồi không cần đợi trả lời, anh ta cứ đi tiếp. Chúng tôi theo bậc thang bước xuống. Một người quen khác của chúng tôi đuổi kịp chúng tôi:
- Chào ông Sađi! - Anh ta nói.
Ông Sađi đáp:
- Chào anh!
- Thời tiết thế nào, ông Sadi? - Anh bạn quen hỏi, rồi lại đi ngay. Tôi nhìn ông Sađi. Mặt ông trở nên xanh tái.
Từ phía sau lại vang lên những tiếng hỏi:
- Thời tiết thế nào, ông Sađi?
Ông Sađi tức lắm, nhưng cố không để lộ điều đó.
Chúng tôi bước lên tàu thủy và tìm chỗ ngồi ở khoang dưới. Một người ngồi cạnh lên tiếng chào:
- Chào ông Sađi!
Tôi nhìn người đó. Đó là một người đàn ông có tuổi, ăn mặc lịch sự.
Ông Sađi đáp:
- Chào ông.
- Ông khỏe không?
- Cám ơn ông, nhờ Trời tôi vẫn bình thường.
- Rất sung sướng... cầu Trời cho ông được khỏe mạnh. Thế thời tiết thế nào, ông Sađi?
Ông Sađi đứng bật dậy như người phải bỏng. Ông lấy cái mũ để trên giá xuống và leo lên trên boong. Như một người bạn cũ của ông, tôi cũng đứng dậy và đi theo ông.
Trên boong chúng tôi đứng cạnh nhau. Tôi nhận thấy ông Sađi tức giận lắm, nhưng sợ làm ông giận thêm nên tôi không dám hỏi có chuyện gì.
Cho đến bến tàu hai chúng tôi vẫn im lặng. Trong lúc rời khỏi tàu thủy lại có vài người khác hỏi ông bạn tôi:
- Thời tiết thế nào, ông Sađi?
Tôi cũng bắt đầu thấy nóng mặt. Tôi định can thiệp, nhưng chưa hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện ra sao. Tôi cảm thấy tức giận hộ con người đứng đắn này. Ông ta không làm gì đáng để bị chọc tức cả. Chúng tôi lại cùng nhau đi vào đường hầm.
- Có chuyện gì xảy ra với ông vậy, ông Sađi? - Tôi hỏi - Tại sao ai cũng hỏi ông về thời tiết thế?
Ông đưa mắt nhìn tôi ngờ vực và nói:
- Thế anh không biết chuyện gì sao?
- Không, tôi không biết gì cả.
- Để tôi về trên tàu thủy tôi sẽ kể cho anh.
Đến cuối đường hầm chúng tôi chia tay.
Tôi rất háo hức chờ nghe ông Sađi kể chuyện. Chắc hẳn trong thời gian nửa tháng tôi bị ốm đã xảy ra chuyện gì với ông. Cả ngày hôm đó tôi cứ nghĩ về ông. Cuối cùng, buổi chiều chúng tôi gặp nhau ở bến phà Kađưkây.
- Chúng ta hãy bỏ qua chuyến tàu thủy này. - Ông đề nghị.
Tôi đoán ông sợ lên cái chuyến tàu thủy mà ông hay gặp người quen, vì thể nào họ cũng lại xúm vào trêu chọc ông.
Tại bến tàu có những chiếc thuyền con đi bán cá tươi. Ông Sađi mua cân rưỡi cá kamxa. Chúng tôi đi bộ một đoạn trên bến tàu. Sau đó lên chiếc tàu thủy khởi hành lúc tám giờ mười. Chiếc túi giấy bóng đựng cá trơn ướt, và ông Sađi phải nắm chặt sợ nó rơi mất. Chúng tôi bước xuống tàu.
- Thế anh chưa biết chuyện gì thật sao? - Ông hỏi.
Vừa lúc đó có giọng ai đó hỏi:
- Thời tiết thế nào, ông Sađi?
Ông Sađi lặng lẽ đứng dậy. Chúng tôi đi xuống dưới, tiến về phía đuôi tàu. Ông tựa vào lan can tàu, còn tôi ngồi xuống ghế băng. Ông Sađi tay nắm chặt túi cá, nhìn xuống phía tôi ngồi.
- Anh nhớ phải cẩn thận nếu có người nào hỏi anh về thời tiết. - Ông bắt đầu - Phải tránh xa hắn ta. Hắn có hỏi anh “Thời tiết thế nào?”, thì anh cứ im đừng nói gì, mặc kệ hắn hỏi. Vì đã xảy ra thế này: bắt đầu từ chuyện thời tiết, anh bị cuốn vào câu chuyện và cuối cùng gặp tai họa. Thoạt tiên khi hắn nói về thời tiết, tất nhiên anh không thấy có gì nguy hiểm trong chuyện ấy cả. Sau đó từ thời tiết hắn chuyển sang chuyện mưa. Rồi từ mưa chuyển sang chuyện đất đai. Cứ thế hết chuyện này sang chuyện khác, hắn kéo anh vào câu chuyện nguy hiểm lúc nào không hay!... Cách đây mấy hôm... - chính xác là cách đây mười ngày, như mọi hôm, tôi lên tàu điện ở Erenkiô. Có một người lạ bước lên và ngồi cạnh tôi. Khoảng hai phút chúng tôi im lặng không nói gì. Sau đó hắn ta nói:
- Thời tiết hôm nay ảm đạm quá!
Nói chung tôi không thích những người hay quấy rầy. Tôi im lặng không nói gì. Mấy phút sau hắn lại lên tiếng:
- Trời u ám quá ông nhỉ?
Cứ im lặng mãi e bất lịch sự nên tôi đành phải đáp:
- Phải!
Tôi thề có thánh Ala nếu tôi nói thêm câu gì khác thì thánh vật tôi chết. Thế là hắn lại nói:
- Nhưng xem ra năm nay có vẻ thiếu mưa.
Tôi thấy người này có vẻ muốn tìm người nói chuyện. Tôi vẫn im lặng. Không đợi tôi trả lời, hắn lại nói:
- Ông thấy có phải năm nay có vẻ thiếu mưa không?
Tôi thề tôi sẽ chết ngay trên con tàu này nếu tôi nói điêu, tôi lại trả lời:
- Phải!
Vì tôi không thể trả lời “Không!” được. Hắn nói năm nay trời có vẻ thiếu mưa. Còn tôi không thể trả lời: “Không, có lẽ năm nay sẽ có mưa” được. Trời có mưa hay không làm sao tôi biết được!
Thế là hắn quay sang nói chuyện nước:
- Nước năm nay thiếu mất!... Tình hình thật tồi tệ.
Tôi cứ lặng thinh không nói một câu.
- Ông bảo có đúng năm nay thiếu nước không?
- Phải! - Tôi đáp.
- Nếu thiếu nước thì sẽ mất mùa. Năm nay thế nào cũng đến mất mùa thôi. Nghe nói cả vùng Anatôlia này sẽ khô hạn.
Tôi thề là tôi không nói một câu nào cả.
- Đúng vậy không, hả ông? - Hắn hỏi.
- Phải! - Tôi đáp.
- Ta lại phải nhập lúa mì của nước ngoài thôi! - Tôi im lặng.
- Có đúng là rồi ta lại phải nhập lúa mì không?
Chả lẽ tôi là bộ trưởng thương mại sao? Việc phải mua cái gì đâu có liên quan gì đến tôi?
- Chúng ta sẽ phải nhập thôi, đúng không? - Hắn vẫn lải nhải.
- Phải. - Tôi đáp.
- Điều hành đất nước như thế thì hỏng bét. - Hắn nói - Chính phủ này không điều hành được rồi!
Bắt đầu từ chuyện thời tiết rồi kéo sang đến chuyện chính phủ! Ai có thể nghĩ rằng từ chuyện thời tiết tự dưng quay sang chuyện “chính phủ”?
- Chính phủ này không điều hành được, ông thấy có phải không?
Chuyện đã chuyển sang đề tài chính phủ tất nhiên tôi không thể nào trả lời “Phải” được! Bảo là chuyện thời tiết hay mưa gió còn có thể được. Nhưng quay sang đề tài chính phủ thì quá xa rồi! Tôi không nói một lời nào. Nhưng bất ngờ hắn huých mạnh khuỷu tay vào mạng sườn tôi một cái khiến tôi buột mồm đáp:
- Phải!
Tôi biết làm gì được nữa! Nếu tôi không trả lời hắn sẽ huých tôi một cái nữa ngay.
Còn hắn vẫn tiếp tục:
- Cuộc sống thì ngày càng đắt đỏ. Ông bảo thế thì dân nghèo sống làm sao được?
Tất nhiên, tôi không phủ nhận rằng tôi có thể trả lời rằng hắn nói sai, rằng sinh hoạt không những không đắt đỏ, mà còn có phần rẻ hơn. Nhưng trả lời như vậy thì tôi sẽ bị cuốn vào cuộc cãi vã với hắn ba tiếng đồng hồ liền không dứt. Để thoát khỏi hắn, tôi đành đáp:
- Phải!
- Chúng ta sắp rơi vào thảm họa đến nơi!
Không! Hắn đã đi quá giới hạn rồi! Tôi vờ làm ra vẻ không nghe thấy hắn nói gì.
- Ông bảo có đúng không?
Tôi lại im lặng. Hắn lại thúc vào mạng sườn tôi một cái. Tôi bật người dậy vì đau.
- Có đúng không hả ông?
- Phải!
Nếu tôi không trả lời “Phải!” hắn sẽ cho tôi một quả vào mũi và còn tiếp tục chất vấn tôi. Tôi chỉ mong sao tàu chóng đến bến để tôi thoát khỏi tên khó chịu này!
Còn hắn thì vẫn tiếp tục cái giọng ấy. Hắn nói sang những chuyện khủng khiếp khác mà tôi không dám nhắc lại ở đây. Đã mấy lần tôi định trả lời “Không!”, nhưng rồi lại sợ như thế thì đến tối cũng không dứt ra được với hắn. Hắn cứ liên tục, liên tục nói, rồi lại quay sang tôi hỏi:
- Có đúng vậy không hả ông?
Nếu tôi không trả lời thì hắn huých tôi mạnh đến nỗi tôi phải bắn sang một bên. Sau đó hắn ấn tôi vào sát thành tàu đến nỗi tôi không còn chuồn đi đâu được nữa. Chỉ có cách nhảy qua cửa sổ!
Còn hắn thì vẫn liên tục than thở, rồi thỉnh thoảng lại đập vào đầu gối tôi và hỏi:
- Có đúng không hả ông?
Tôi vừa xoa cái đầu gối bị đau vừa đáp:
- Phải!
Sau đó hắn còn nắm lấy vai tôi lắc mạnh và hỏi:
- Phải thế không ông?
Tôi lại phải đáp:
- Phải!
Thà hắn cứ đè tôi xuống đất mà nện cho một trận còn hơn! Sau một hồi nhận được những cú huých, cú đấm, cú đạp, tôi thở phào nhẹ nhõm khi tàu đến ga Khaiđanpasơ.
Ra đến sân ga gã vừa nói chuyện với tôi biến mất trong đám đông. Sợ lại gặp lại hắn, tôi cứ cắm đầu cắm cổ đi.
Tôi vừa đang mong đi nhanh cho tới bến tàu thủy thì bỗng một bàn tay ai vỗ mạnh vào vai tôi ba lần. Tôi quay lại - thì ra là người cảnh sát.
- Mời ông theo tôi về đồn! - Anh ta nói.
Vừa nghe nói đến từ “đồn” đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Trong đời chưa lần nào tôi phải ra cả. Nhưng biết làm sao được? Tôi phải đi theo anh ta. Tôi bước vào đồn và nhìn thấy gã vừa nói chuyện với tôi ban nãy trên tàu điện đã ngồi ở đó và cười một cách nham hiểm. Cả hai hành khách ngồi đối diện với chúng tôi trên toa ban nãy cũng có mặt ở đây.
May quá, tôi nghĩ, hai ông khách này chứng kiến gã kia đã quấy nhiễu tôi suốt dọc đường và bây giờ họ đến đây để kiện về hắn ta.
Tôi nói với ngài thanh tra:
- Tôi xin nói ngay với ngài là tôi không có khiếu nại ai cả.
- Phải, nhưng có người khiếu nại ông. Đây, ông này đã buộc tội ông! - Ông thanh tra nói.
Ô la la! Chính hắn ép người ta phải trả lời “Phải!”, vậy mà bây giờ hắn còn đi buộc tội người ta! Anh đã nghe chuyện ngược đời như vậy bao giờ chưa?
- Đúng, - Gã kia nói - và hai vị này làm chứng. Ông ta đã nói những điều khó tưởng tượng nổi.
Rồi hắn kể lại chi tiết mọi chuyện cho ngài thanh tra, và tất cả những gì hắn nói với tôi trên toa tầu hắn đổ hết là tôi nói.
- Tất cả những điều đó là anh ta nói, chứ không phải tôi. - Tôi cãi.
Những người làm chứng khẳng định:
- Phải, anh này nói, còn ông này lúc nào cũng trả lời “Phải!”
- Tôi cố tình nói ra những điều ấy cốt để kiểm tra ông ta. - Gã kia nói.
Hóa ra chỉ vì tôi trả lời hắn “Phải”, mà người có lỗi là tôi, chứ không phải hắn!
Ông Sađi chuyển gói cá sang tay khác.
- Thế sau đó thế nào? - Tôi hỏi.
- Sau đó họ lấy lời khai của chúng tôi. Và sẽ có phiên tòa xử.
- Nhưng tại sao gã kia lại đi tố giác ông nhỉ?
- Khi ra khỏi đồn tôi cũng hỏi hắn như vậy. Và hắn trả lời sao anh có biết không? Hắn bảo: “Vì tôi thấy ông cứ trả lời ‘Phải!’, ‘Phải!’ có vẻ miễn cưỡng, nên tôi sợ ông sẽ đi báo tôi với cảnh sát, thành thử tôi phải đi báo cảnh sát trước ông!”. Tôi bảo hắn: “Tại sao đã sợ như thế mà anh không giữ miệng, còn đi leo lẻo đủ mọi thứ chuyện làm gì?”. “Tôi không giữ mồm được. - Hắn đáp - Tôi bị cái bệnh thích nói mà không làm sao chữa được!”
Vì thế, lạy Chúa, anh hãy nên cẩn thận. Thời buổi bây giờ người ta không kiềm chế được. Người nào cũng muốn tìm một người để thổ lộ tâm can. Nhưng anh ta không thể ra giữa quảng trường mà nói bô bô được. Anh ta sẽ tìm một người để trút bầu tâm sự... Và bao giờ cũng bắt đầu bằng chuyện thời tiết. Vì thế gặp người như vậy anh phải tránh xa ngay. Nếu không anh sẽ rơi vào hoàn cảnh giống như tôi.
Tôi phá lên cười rũ rượi. Sau đó nén cơn cười, tôi cất tiếng hỏi:
- Thời tiết thế nào, ông Sađi?
Tôi chưa kịp nói hết câu thì ông Sađi đã chụp cái túi cá vào đầu tôi. Tôi gỡ túi cá ra khỏi đầu và ngẩng lên nhìn, nhưng không còn thấy bóng dáng ông Sađi đâu nữa.
0
Đất nước này nguy đến nơi!

Trong quán cà phê bất thình lình vang lên một tiếng “Bốp!!!”. Mọi thứ âm thanh khác - tiếng người nói chuyện, tiếng dao đĩa va vào nhau, tiếng quân bài gõ xuống bàn - tất thảy đều ngừng bặt. Bao nhiêu cặp mắt đều đổ dồn về phía vừa vang lên tiếng tát.
Người vừa bị tát là một người đàn ông to béo khỏe mạnh. Trái lại, kẻ vừa tát ông ta lại là một gã thấp bé, gày còm. Trên má của người đàn ông cao lớn còn hằn rõ năm vết ngón tay. Chẳng cần suy luận cũng đoán ra ngay ai là người vừa tát ông ta.
Trong quán cà phê ai ai cũng chắc mẩm trong bụng: Thế nào người đàn ông to béo kia cũng cho cái gã thấp bé chỉ đến ngực ông ta một trận no đòn. Nhưng lại xảy ra một chuyện không ai ngờ.
- Tôi sẽ kiện anh ra tòa! - Người đàn ông to béo quát to.
Mọi người xung quanh nín thở.
Người đàn ông to béo nhìn khắp các bàn.
- Các vị đều nhìn rõ cả đấy nhé! - Nói đoạn ông ta quay về phía người đàn ông vừa làm nhục mình - Nào, đi về đồn cảnh sát với tôi!
Người đàn ông thấp bé xua xua tay như muốn đuổi một con ruồi đang quấy nhiễu, và lầm bầm một tiếng gì không rõ.
- Pxu-xum!
Người đàn ông bị tát chạy ra phố. Mọi người lại quay sang tiếp tục chơi bài. Quán cà phê lại tràn ngập những tiếng ồn quen thuộc.
Một lúc sau người đàn ông to béo quay về, dẫn theo một viên cảnh sát. Đưa ngón tay chỉ vào người đàn ông thấp bé, ông ta bảo:
- Chính gã này! - Rồi lại đưa mắt lướt qua các bàn - Họ đều nhìn thấy.
Viên cảnh sát ra lệnh cho người đàn ông thấp nhỏ và bốn người đàn ông khác ngồi bàn gần nhất về đồn cảnh sát.
Tại đồn, người đàn ông to béo vừa đưa tay xoa má vừa nói với giọng tức giận:
- Thưa ngài thanh tra, tôi muốn kiện ra tòa gã côn đồ này! Hắn đã đánh tôi. Còn đây là những người làm chứng.
Viên thanh tra sau khi kiểm tra chứng minh thư của bên nguyên, bên bị và những người làm chứng, đọc to tên họ và địa chỉ của từng người cho một viên cảnh sát ngồi sau máy chữ đánh máy.
Người đàn ông to béo khẳng định ông ta không hề quen biết người đàn ông thấp bé đã đánh ông ta.
Mấy người làm chứng đều nhất loạt khai:
- Chúng tôi không nhìn thấy gì cả!
Người đàn ông nguyên đơn cau mặt:
- Có lẽ các ông không nghe thấy cả tiếng tát chắc?
Phải. Họ không nhìn thấy và không nghe thấy gì hết.
Người đàn ông thấp bé bước lại gần bàn ngài thanh tra.
- Tôi không phủ nhận hành động của mình. - Ông ta nói giọng buồn rầu - Phải, tôi đã tát người này.
Ngài thanh tra nhìn ông ta.
- Vì cái gì? Các ông cãi nhau à? Hay ông ta xúc phạm ông?
- Không. Tôi thậm chí không quen biết ông ta.
- Hừm... Vậy ông hãy kể lại đầu đuôi xem tại sao lại xảy ra như vậy?
Người đàn ông thấp bé bắt đầu kể:
- Tối hôm qua đi làm về, tôi được biết nhà tôi bị cắt điện - chúng tôi ở thuê nhà của một chủ nhà. Cả buổi tối nhà tôi không có điện, đến khi đi nằm tôi thao tức đến tận sáng. Không sao ngủ được. Đã hai năm nay mẹ tôi bị ốm nặng. Bà bị đau dạ dày. Một thời gian bác sĩ kê cho bà một loại thuốc khiến cơn đau đã đỡ. Nhưng loại thuốc đó bây giờ khan hiếm, tìm mua ở đâu cũng không có. Buổi sáng thức dậy, tôi không tài nào nhúc nhích được cánh tay. Cả một bả vai và cánh tay trái như bị tê cứng. Đã ba tháng nay cửa sổ nhà tôi bị vỡ kính mà không sao thay được, vì kính bây giờ cũng đang khan hiếm. Nghe nói nước ngoài không cung cấp kính cửa sổ cho nước ta nữa. Chúng tôi phải lấy ga trải giường bịt tạm các ô cửa sổ. Nhưng ban đêm gió vẫn lùa vào phòng. Nửa đêm thức dậy, xin lỗi vì kể chi tiết, tôi phải đi vệ sinh. Nhưng té ra chủ nhà đã khóa mất nước. Ngoài trời thì mưa như trút , còn vòi nước thì không chảy lấy một giọt. Tôi quay về buồng. Những người trong nhà thì đang rét run cầm cập. Người ta không phát cho chúng tôi phiếu mua than. Cuối mùa hè chúng tôi đã mua một ít củi dự trữ, nhưng củi đã hết từ lâu. Bây giờ đang mùa đông, không sao kiếm được củi nữa. Người đưa thư mang báo đến. Sáng nào trước khi đi làm tôi cũng liếc qua tờ báo. Vừa mở báo ra đã thấy ngay mấy cái tít: “Cuộc thi hoa hậu!” “Đội bóng Galatasarai sẽ vô địch quốc gia!” “Ba trăm tấn cà phê bị mục ở kho hải quan!” “Tàu thủy Abôđin Đaver bị đâm vào cọc và không chạy được nữa!”. Tôi chỉ muốn mau mau rời khỏi nhà.
Vừa ra đến cửa tôi chạm trán ngay với viên tùy phái của tòa án và luật sư của chủ nhà chúng tôi. Chúng tôi nợ tiền nhà ông ta và ông ta đưa chúng tôi ra tòa. Đối với tôi thật là một cực hình khi các nhân viên tòa án đến nhà tôi để tịch biên tài sản. Nhưng họ không tìm được trong nhà vật gì có giá trị, khiến tôi thấy ngượng chín cả mặt. Viên luật sư ra lệnh:
- Ít nhất cũng tịch thu cái ghế xích đu này vậy!
Sau khi lật tấm chăn phủ trên cái phản gỗ mà họ tưởng là ghế xích đu lên, ông ta nhìn thấy những cái hòm đựng đường được phủ bởi những miếng giẻ và quần áo rách. Lúc đó viên luật sư bèn ra lệnh:
- Cái đài!
Tôi nghĩ bụng: “Cho các ông tha cái của nợ mà các ông gọi là cái đài ấy đi. Một năm nó phải sửa mất đến mười tháng. Mình thì phải nai lưng ra làm, còn nó thì ngốn tiền của mình. Không biết chừng chỉ vì cái đài này mà mình bị khuynh gia bại sản!”
Lúc tôi ra khỏi nhà, vợ tôi bảo:
- Anh nhớ là con gái nó không đi học đâu đấy!
- Tại sao?
- Thầy giáo thể dục yêu cầu phải có đồng phục thể thao và giầy ba ta trắng. Ông ấy đã báo trước nếu không có đồng phục sẽ không cho vào lớp. Phải làm sao bây giờ?
Tôi khoát tay:
- Được rồi, được rồi!
Vợ tôi lại kêu với theo:
- Này, nhà hết dầu ăn rồi đấy nhé!
Tôi cắm đầu chạy thẳng ra phố. Đã bị muộn giờ làm. Tôi nghĩ: “Đã thế hôm nay không đến cơ quan nữa!”. Trời vẫn mưa như trút. Phố tôi tàu điện không còn chạy nữa. Còn ô-tô buýt tuyến thì rất thưa, cứ nửa tiếng mới có một chuyến. Mà cũng khó chen chân nổi, vì có người còn phải treo lơ lửng trên bậc lên xuống. Tắc-xi thì cũng chỉ phóng qua thôi, vì lúc nào cũng chật khách trên xe. Đôi giày của tôi đã bong đế, nước cứ lép nhép dưới chân. Mà mưa thì vẫn trút xuống không lúc nào ngớt. Khắp người tôi ướt như chuột. Hai hàm răng đánh vào nhau lập cập vì rét. Bỗng có một thằng nhóc đến gần tôi.
- Xin lỗi bác!
Tôi tưởng nó hỏi tôi giờ. Nhưng thằng ôn con lại hỏi:
- Bác có biết đội tuyển của ta đá kết quả bao nhiêu không ạ?
Ôi lạy trời! Tôi còn bụng dạ đâu mà để ý đến bóng đá nữa cơ chứ! Tôi thất thểu lê bước trên hè phố, và bỗng nhìn thấy một quán cà phê. Tôi bước vào. Nước từ người tôi chảy như suối. Tôi gọi một tách trà. Đang ngồi thì ông này tiến lại ngồi vào bàn tôi và bắt đầu đọc báo. Trong đầu tôi đang chen chúc bao nhiêu ý nghĩ chán chường, buồn thảm. Làm sao sống được đây? Chuyện gì sẽ xảy ra nữa? Kết cục rồi sẽ ra sao? Bỗng cái nhà ông cùng bàn quăng toẹt tờ báo xuống bàn và thốt lên:
“Thật là tồi tệ - Đất nước này nguy đến nơi!”
Tôi cứ nghĩ trước mặt tôi là một người cảnh ngộ cũng bi đát như tôi.
“Thưa ông, ông có chuyện gì vậy? - Tôi hỏi - Xin lỗi vì tò mò, nhưng tôi thấy hình như ông đang gặp chuyện buồn phiền?”
“Chứ gì nữa! - Ông ấy đáp với giọng đầy tức giận - Cả nước mà không có lấy một trọng tài bóng đá nào ra hồn!”
Thưa ngài cảnh sát, tôi không biết lúc đó điều gì đã xảy ra với tôi. Tôi thề là đến bây giờ tôi vẫn không tin nổi. Trong đời tôi, ngay đến một con ruồi tôi cũng chưa dám đánh. Vậy mà... Có thể nghĩ rằng trong người tôi dường như có một cái máy bí mật nào đó, tôi, giống như một người máy điện tử, bỗng nhiên bật khỏi ghế và tát ông này một cái. Và Đấng Ala dường như đã ban cho cái tát của tôi một sức mạnh chưa từng có. Tôi hoàn toàn thú nhận tội của mình. Phải, tôi đã đánh ông ta, nhưng hoàn toàn không cố ý! Thú thật, tôi không hề định làm như vậy. Tất cả đã xảy ra ngoài ý muốn của tôi. Ngay sau đó tôi bừng tỉnh lại. Giá mà ngài biết được, thưa ngài thanh tra, lúc đó tôi sợ hãi biết chừng nào! Tôi thầm nghĩ “Chết cha rồi! Cái ông lực lưỡng này sẽ bẻ gãy xương mình ra mất!” Nhưng tôi nghĩ được thế thì đã quá muộn rồi.
Ông thanh tra đưa mắt nhìn sang cái ông bị đánh và nói rít qua hàm răng:
- Thôi, giảng hòa đi!
Ông to béo không chịu:
- Tôi không muốn!
Ông thanh tra bèn quay sang nói với viên cảnh sát đang đánh máy chữ:
- Viết đi!... “Người đàn ông bị đánh đã lớn tiếng tuyên bố giữa quán cà phê rằng đất nước ta sắp nguy đến nơi...” - Rồi ông nhìn chằm chằm vào ông to béo - Nào, có muốn giảng hòa hay không thì bảo? Mau lên!
Ông to béo đưa tay xoa xoa má, thở dài đáp:
- Tôi đồng ý, thưa ngài thanh tra. Giảng hòa!
0
Đã xui lại càng xui

Hắn đã đến tất cả các văn phòng giới thiệu việc làm. Mỗi khi đọc được trên báo mẩu thông báo “Cần tuyển nhân viên”, “Cần tuyển công nhân” là hắn phóng như bay đến. Và nếu người ta nói với hắn: “Anh cứ để lại địa chỉ, có gì chúng tôi sẽ gọi”, rồi ghi lại địa chỉ của hắn vào cuốn lịch bàn, thì hắn hiểu rằng không có hy vọng gì cả.
Chiều nào cũng vậy, vừa về đến nhà câu hỏi đầu tiên của vợ hắn cũng là:
- Anh tìm được việc chưa?
Vào thời kỳ đó tìm được việc làm còn khó hơn cả việc bắt được tiền đánh rơi giữa đường.
- Trong đời tôi chưa thấy ai ngu ngốc, kém cỏi, đáng thương như anh!
Thường vợ hắn bắt đầu trận mắng té tát vào mặt hắn bằng câu như thế.
Để bắt vợ im lặng, hắn phải tìm cách nói dối:
- Có người bạn đã hứa rồi, anh ấy bảo: “Ngày mai đến, nhất định tớ sẽ thu xếp cho cậu”.
- Thu xếp cái gì?
- Việc làm chứ còn gì nữa, em yêu! (Vợ hắn vô tình đã biến hắn thành kẻ nói dối).
- Nhưng việc gì?
- Một việc rất tốt, chỉ có thể nói là tuyệt vời!
- Được rồi, nhưng cụ thể là việc gì?
- Đó là một công việc bằng chân, nhưng ngồi một chỗ?
- Sao lại có việc bằng chân mà lại ngồi một chỗ?
- Tất nhiên là có chứ! Anh sẽ làm việc đạp máy khâu.
- Thế lương tháng bao nhiêu?
- Ba trăm lia!
Rồi liên tục mấy giờ đồng hồ liền là những câu hỏi và những lời nói dối như thế.
Ngày hôm sau vợ hắn lại hỏi khi hắn về nhà buổi tối:
- Thế nào. Anh đã bắt đầu làm việc chưa?
- Anh đến rồi!... Thật đen quá! Hóa ra vợ anh ấy chết, thành ra anh ấy không đến. Người ta bảo thứ tư anh ấy mới đến.
Rồi các thứ tư, thứ năm cứ trôi qua, còn những câu chuyện bịa đặt thì không bao giờ dứt.
Đến một hôm vợ hắn ra tối hậu thư cho hắn:
- Đồ vô tích sự! Chỉ quen cái thói ăn không ngồi rồi! Nếu ngày mai không tìm được việc làm thì chớ có vác mặt về nhà!
Ngày hôm đó hắn để lại địa chỉ ở bốn năm chỗ. Khi hắn về nhà vợ hắn không ra mở cửa.
- Mình ơi, có tin tốt lành đây! Anh tìm được việc làm rồi, anh đã bắt đầu làm rồi, anh đang làm việc rồi.
Chỉ mãi khi đó cánh cửa mới mở ra.
Hắn sung sướng kể cho vợ nghe về công việc mới của mình, hắn nói dối một cách thành thực đến nỗi chính hắn cũng tin vào chuyện đó.
- Thôi được rồi, anh ngủ sớm đi, kẻo sáng mai đi làm muộn. - Vợ hắn nói.
Sáng hôm sau mới tờ mờ vợ hắn đã đánh thức hắn dậy để đi làm. Suốt ngày hắn lang thang trên phố, vào các công viện, đến các văn phòng giới thiệu việc làm, nơi may ra có chút hy vọng nào kiếm việc làm. Buổi chiều về nhà, như tất cả các ông chồng làm việc khác, hắn cũng tỏ ra hách dịch với vợ, quát tháo mắng mỏ.
Cuộc sống tràn đầy hy vọng như thế đã kéo dài hai mươi nhăm ngày. Nhưng khi gần đến ngày lĩnh lương hắn bắt đầu lo lắng. Hắn tự nhủ: “Mình phải kiếm được ba trăm lia”. Vợ hắn đêm nào cũng mơ đến chuyện sẽ tiêu số tiền đó như thế nào. Hắn nói với vợ:
- Em hãy đưa mấy đứa về nhà mẹ chơi mấy hôm. Ngày mồng một em quay về đây anh sẽ đưa lương cho em!
Vợ hắn ngoan ngoãn làm theo lời hắn, dẫn con về nhà mẹ. Còn hắn đã quyết định, hắn phải đi ăn cắp. Hắn đã nhằm một ngôi nhà có thể lẻn vào lúc ban đêm.
Đêm cuối cùng của tháng!... Từ buổi chiều hắn đã lảng vảng gần ngôi nhà mà hắn có ý định vào ăn trộm. Tại tầng hai ngôi nhà, nơi hắn sẽ nhảy vào, đèn đã tắt. Một lúc sau xuất hiện những người sống ở tầng này. May mắn làm sao người chủ căn hộ đã đi khỏi nhà. Bây giờ hắn có thể yên tâm chui vào nhà. Hắn loanh quanh một lúc nữa cạnh ngôi nhà. Không có ai. Hắn nhảy qua cái hàng rào thấp của khu vườn. Đưa tay nắm chấn song cửa sổ, hắn leo lên tầng hai theo ống máng nước. Trèo lên ban công không khó khăn gì. Thật là may! Cửa ban công mở. Bước vào nhà, hắn thấy can đảm hơn. Hắn bật đèn và nhìn xung quanh buồng. Hắn không ngờ đi ăn trộm lại dễ dàng như thế.
Trên nóc tủ buýp-phê có những cái chén quý đặt trên những cái tách mạ vàng. Hắn đưa tay sờ chiếc áo vét treo trên mắc áo. Khi mở chiếc ví dày lôi trong túi áo vét ra mắt hắn hoa lên: ở đó có những xấp tiền toàn tờ một trăm, năm mươi lia. Hắn rút ngăn kéo đầu giường ngủ ra. Lại những xấp tiền mới tinh như vừa in xong. Nhìn đến chỗ nào cũng thấy toàn tiền là tiền.
Hắn rút trong ví ra ba trăm lia. Rồi đi vào phòng làm việc. Hắn viết giấy để lại:
“Kính gửi ngài!
Tôi vào nhà Ngài để ăn trộm. Tôi lấy tạm của Ngài ba trăm lia, số tiền mà tôi đang cần. Xin Ngài cứ yên tâm, khi nào có tiền tôi sẽ đem trả lại Ngài. Gửi Ngài lời chào trân trọng”.
Hắn đặt mẩu giấy lên trên bàn. Rồi bình tĩnh rời khỏi ngôi nhà theo con đường hắn đã lẻn vào ban nãy. Hắn sẽ còn một tháng nữa được sống yên ổn, không phải nghe những lời trách móc, mắng mỏ. Lần đầu tiên sau nhiều tháng nay hắn sẽ được ngủ ngon giấc.
Khi về đến nhà hắn thấy trong nhà có đèn sáng. Nghĩa là vợ hắn đã về. Hắn sẽ quẳng ba trăm lia xuống trước mặt vợ hắn, quát tháo một vài câu để chứng tỏ cái “tôi” đàn ông của hắn.
Hắn lấy chìa khóa ra mở cửa. Đột nhiên có hai nòng súng chĩa thẳng vào ngực hắn:
- Giơ tay lên!
Một trong hai người có vũ khí nói và cười nhạt:
- Này, mày thật là con người trơ trẽn. Bọn tao đã lục soát nhà mày một hai giờ liền mà không thấy thứ gì có thể lấy! Người ta lúc nào cũng phải có vài thứ đồ vật gì đáng giá trong nhà để phòng khi kẻ trộm đến chứ!
Sau đó bọn chúng khám người hắn, lấy ba trăm lia, rồi đi. Còn hắn thì từ đó cho đến lúc trời sáng cứ ngồi nghĩ ra lời nói dối mới để trả lời vợ hắn. Sáng sớm có tiếng gõ cửa. Vợ hắn về! Hắn run run, ra mở cửa và nhìn thấy trước mặt hai viên cảnh sát và hai tên trộm bị còng tay - chính là hai tên đêm qua đã lấy đi của hắn ba trăm lia. Mắt hắn bỗng sáng lên sung sướng. Nghĩa là, người ta đã bắt được mấy tên trộm!
Một viên cảnh sát chìa cho hắn xem ba tờ giấy bạc một trăm lia mới toanh.
- Đây là tiền của anh phải không?
Hắn hơi chột dạ. Vì chính hắn cũng đi ăn trộm số tiền này! Muốn cứu giúp hai tên trộm đáng thương này, hắn định nói: “Không, không phải tiền của tôi”. Nhưng viên cảnh sát đã nói trước:
- Hai tên trộm tái phạm này đã thú nhận đêm qua chúng lẻn vào nhà anh và dùng vũ lực cướp của anh ba trăm lia này!
Không nên khước từ hạnh phúc của mình.
- Phải, đó là tiền của tôi ! - Hắn nói.
Viên cảnh sát hỏi:
- Anh lấy ở đâu số tiền này?
Hắn tái mặt. Chả lẽ họ đã biết chuyện hắn... đi ăn trộm hay sao?
- Tại sao các ông hỏi thế? - Hắn lắp bắp.
- Chúng tôi hỏi thế vì đây là tiền giả. - Viên cảnh sát đáp.
Hắn lảo đảo.
- Thôi, hãy đi với chúng tôi về đồn! - Viên cảnh sát nói.
0
Cơn ác mộng

Đài phát thanh Istambun đã chấm dứt chương trình phát thanh. Nghĩa là lại hết một ngày cũ và bắt đầu một ngày mới. Đêm nay tôi có bao nhiêu việc phải làm: phải viết xong hai truyện ngắn, một bài châm biếm và trả lời thư yêu cầu của một tạp chí. Những thứ này sáng mai là họ lấy. Ngoài ra còn phải đọc ba tạp chí do nhà bưu điện đưa đến và một cuốn sách mỏng nữa. Nhưng cuối cùng tôi chỉ viết xong có mỗi một truyện ngắn. Vì hôm nay tôi thấy trong người mệt mỏi quá.
Tôi đã sắp sẵn một xếp giấy để viết truyện ngắn thứ hai, nhưng ý tưởng bay đi đâu hết cả. Tôi giở lại cuốn sổ tay, hy vọng có thể tìm ra một ý nào đó trong mẩu ghi chép cũ, nhưng cũng chẳng ăn thua. Không có ý nào có thể phát triển thành truyện ngắn được.
Tôi bỗng cảm thấy đói. Cái bệnh tôi nó như vậy. Nghĩa là cứ khi nào không viết lách gì được, là y như lại nghĩ đến chuyện ăn uống hay chuyện linh tinh gì đó. Tôi leo lên gác. Trong nhà im lặng như tờ. Mọi người đã ngủ cả.
Tôi mò xuống bếp. Cơm canh đã nguội ngắt. Ai mà đi hâm được?... Cuối cùng tôi kiếm được đĩa cá sacđin, mấy quả cà chua, một ít mỡ và dăm miếng dưa.
Sau đó tôi quay về bàn làm việc, ngồi bóp trán suy nghĩ. “Mình buồn ngủ hay sao thế này?” Tôi nghĩ vậy, và dần dần thiếp đi thật. Tôi lại còn nằm mơ nữa. Tôi mơ thấy hình như tôi lạc đến một nước nào xa lạ. Tôi không biết đích xác đấy là nước nào. Tôi bước vào một gian phòng rộng mênh mông. Không hiểu các bạn thế nào, chứ tôi thì tôi tin rằng những cái gì thấy trong mơ thì không bao giờ có thực cả.
Xung quanh chiếc bàn dài kê ở giữa phòng có nhiều người ngồi. Tôi đến đây với một trọng trách. Tôi không biết chính xác tôi đang ở đâu và mọi người đang làm gì ở đây, nhưng không dám hỏi, vì sợ người ta cười, bảo tôi là anh ngố, không biết cả chỗ mình đang ở là chỗ nào nữa! Vì thế tôi cứ phải xem mọi vật xung quanh mà cố tự phán đoán lấy. Có lẽ tôi đang ở bên châu Mỹ, nhưng có thể tôi đang ở châu Âu cũng nên...
Người ta đang hội đàm. Đại biểu nước tôi chỉ có độc mình tôi. Trông người nào cũng bệ vệ.
- Rất hân hạnh được đón tiếp ngài! - Một vị đại biểu nói với tôi.
- Cám ơn các vị! - Tôi đáp.
- Ngài cho chúng tôi được biết tình hình đất nước ngài chứ?
Tôi run quá, nhưng rồi cũng tự động viên: “Có gì mà run! Đây chỉ là mơ thôi mà!” Nhưng mơ thì mơ, chứ nhỡ ra...
- Vâng. Tôi sẵn sàng kể cho các vị nghe những gì tôi biết.
- Nước ngài đang ở trong tình trạng chậm tiến có phải không? - Người ta hỏi.
Tôi bỗng thấy ngột thở. Lạy thánh Ala! Tôi biết trả lời với họ thế nào bây giờ? Nếu tôi bảo: “Vâng. Tôi ở nước chậm tiến đến!” thì có nghĩa là tôi tự thóa mạ nước tôi trước quan khách quốc tế. Và theo luật hình, như thế tôi sẽ bị ghép vào tội làm nhục quốc thể. Nhưng nếu bảo: “Không phải. Sao lại chậm tiến? Nước tôi tiến ghê gớm ấy chứ lại!” thì hóa ra tôi nói dối! Nhưng mà thôi. Thà nói dối còn hơn bị kết tội khinh quốc. Nói dối thì chẳng có tội gì cả.
Tôi bèn hét lên:
- Ai bảo các ngài thế? Đó là điều bịa đặt và xuyên tạc, thưa các vị! Xin các vị chớ quên rằng chúng tôi có rất nhiều kẻ thù. Chúng luôn luôn tìm cách nói xấu chúng tôi.
Mọi người há hốc mồm kinh ngạc.
- Nghĩa là chúng tôi đã nhận được những thông tin không chính xác? - Một người nào đó nói, nhấn mạnh từng chữ.
- Vâng, tất nhiên rồi.
- Chúng tôi hiểu. Các ngài là dân tộc rất tự trọng nên khi người ta gọi các ngài là “chậm tiến” thì các ngài tức giận. Nếu vậy, chúng tôi sẽ không dùng cái tên ấy nữa mà sẽ thay bằng mấy chữ “chậm phát triển”. Như vậy, chắc ngài thấy ổn chứ?
- Không! Như thế cũng không được! Chúng tôi không phải những người chậm phát triển, mà trái lại, chúng tôi là những người rất, rất chi là phát triển!
Một lần nữa, mọi người lại sửng sốt, quay sang xì xào với nhau.
- Thế hiện nay ở nước các ngài còn nhiều thành phố chưa có điện phải không?
Nếu tôi bảo còn, thì rõ ràng tôi tự bôi nhọ nước tôi. Chà! Quỷ bắt tất cả các người đi!
- Không! Ở nước chúng tôi, từ các thành phố lớn cho đến các làng mạc xa xôi hẻo lánh, nơi nào cũng có điện hết!
- Hoan hô!... Hoan hô!... Tuyệt thật!
- Nhưng nghe nói giá điện bên nước các ngài đắt lắm thì phải? Bao nhiêu một ki-lô oát nhỉ?
- Cái gì? Điện ấy à? Điện bên chúng tôi đắt ấy à? Nhưng bên nước tôi điện có mất tiền đâu!... Không mất tí nào cả! Lại còn mất tiền điện nữa có mà chết!
- Tuyệt quá nhỉ!... Trứ danh thật!
Tôi hả hê lắm: tôi đã khéo giới thiệu nước tôi với quan khách quốc tế. Ước gì báo chí đăng lại lời phát biểu của tôi để đồng bào nước tôi thấy được tôi đã biết cách tuyên truyền có lợi cho đất nước như thế nào!
- Người ta đồn rằng tiền nhà bên nước ngài rất cao. Nhà cửa thì khan hiếm... Một người dân trung lưu phải mất đến nửa số thu nhập vào tiền nhà. Phải thế không?
Một tiếng nói bên trong thúc giục tôi: “Nói đi! Nói hết sự thật đi!” Tôi bảo nó: “Tôi sợ lắm! Mọi người sẽ phản đối tôi”. Giọng nói vẫn năn nỉ: “Sợ gì! Đây chỉ là mơ thôi mà! Họ có thấy giấc mơ của anh đâu. Họ có biết đâu những điều anh nói! Cứ nói hết sự thật đi”.
Mồ hôi tôi vã ra như tắm. Tôi lấy khăn lau trán, rồi cười lớn:
- Ha-ha-ha... Té ra các vị hình dung nước tôi như vậy đấy! Tôi không thể phát biểu gì thêm về chuyện này. Chỉ cầu Thánh Ala cho cái bọn độc mồm độc miệng chết quách đi cho rồi! Dân nước tôi không hề biết thế nào là nhà cửa khó khăn cả! Các vị nghe rõ chưa? Cũng như ở tất cả các nước văn minh, chúng tôi được sống trong những ngôi nhà rất đẹp, tiện nghi đầy đủ, mà chỉ mất có mười phần trăm thu nhập thôi.
- Thế còn các công chức?
- Các công chức thì được phân nhà tùy theo số người trong gia đình. Nói chung là họ được ở rất rộng rãi, và tiền nhà phải trả rất ít, ít đến mức gần như là được cho không.
- Nghe nói bên nước Ngài, những người chủ nhà không cho các gia đình có con thuê nhà có phải không?
- Ha-ha-ha... Láo toét! Ai nói với các vị thế? Bên chúng tôi người thuê nhà thậm chí không biết mặt mũi chủ nhà là ai cả. Chỉ biết mỗi cái gọi là Hội đồng nhà cửa thuộc Tòa thị chính thôi! Khi nào cần nhà, người ta chỉ việc đến đó mà nói đại khái như: “Tôi cần một căn hộ năm buồng. Nhà tắm có lát gạch men xanh, chứ màu hồng thì không thích hợp. Vì màu hồng ảnh hưởng đến thần kinh vợ tôi”.
- Chà! Nước thế mới gọi là nước chứ! - Các vị đại biểu trầm trồ thán phục - Hoan hô!... Hoan hô nước ngài!
Tôi được thể càng ra sức khoe khoang tâng bốc nước tôi.
- Nhưng nghe đâu đời sống bên nước ngài khó khăn lắm thì phải. Những người lương thấp sống rất thiếu thốn. Ngay tầng lớp trung lưu cũng thế.
- Lại còn chuyện thế nữa kia đấy! Thưa các vị, các vị nhớ cho rằng dân tôi mà sống khó khăn thiếu thốn, thì đó chỉ là theo giọng lưỡi báo chí nước ngoài mà thôi. Đồng bào tôi rất nhân đạo, nên hết sức thông cảm với mọi người nghèo khổ. Dân nước tôi không hề biết đến khó khăn về đời sống, và nói chung họ không biết đến bất cứ khó khăn gì! Cầu thánh Ala cho đồng bào tôi đừng bao giờ biết đến chuyện đó! Còn tầng lớp trung lưu ở nước tôi sống hết sức hạnh phúc. Họ có nhờ tôi chuyển đến các vị lời chào đặc biệt. Họ còn dặn tôi khi đến đây phải cải chính các tin đồn nhảm mà các vị nghe phải.
- Thế còn các vấn đề như nạn thất nghiệp, điều kiện lao động vất vả và lương công nhân thấp kém thì sao?
- Trời ơi các vị! - Tôi kêu lên - Các vị muốn tin ai? Tôi hay những lời đồn nhảm nhí linh tinh?
- Tất nhiên chúng tôi tin ngài.
- Nếu vậy các vị hãy nghe đây. Trước hết tôi xin nói về công nhân. Công nhân bên nước chúng tôi sống rất sung sướng, các vị có hiểu không? Tôi không biết có nước nào công nhân được hưởng lương cao như công nhân nước tôi không? Tôi chắc là không! Không có nước nào cả! Lương công nhân nước tôi cao đến nỗi họ không biết tiêu gì cho hết. Tôi xin tiết lộ với các vị một điều bí mật: Nếu người công nhân của nước chúng tôi tích lại tiền thừa của mình, thì chỉ trong một tháng anh ta có thể xây được cả một nhà máy! Nhưng anh ta cần nhà máy làm quái gì? Cái gì anh ta cũng có đủ rồi.
- Chà! Chà!... Thế mới gọi là nước chứ?
Ôi! Giá hãng thông tin quốc gia biết được chuyện tôi ca tụng nước tôi và đưa tin cho tất cả mọi người biết về giấc mơ này của tôi thì hay biết chừng nào!
- Thế vấn đề giáo dục ở bên nước ngài ra sao? Người ta bảo tám mươi phần trăm dân số nước ngài còn mù chữ có đúng không?
- Bậy, ở nước tôi ai cũng biết đọc biết viết hết! Mà còn biết nhiều đến nỗi người ta chán không muốn đọc muốn viết nữa. Tôi đố các vị tìm thấy ở nước tôi một người nào mù chữ đấy! Các giáo sư, các nhà báo, nhà văn của chúng tôi hoặc là làm nghề viết, hoặc là làm nghề đọc. Số người làm được cả hai nghề tuy không nhiều lắm, nhưng văn sĩ và độc giả ở bên tôi cứ gọi là vô thiên lủng! Trường học ở nước tôi nhiều đến nỗi muốn làm đường sá thì phải phá bớt trường đi mới có chỗ mà làm. Còn giáo viên thì không đếm xiết được! Đi đâu cũng gặp toàn giáo viên là giáo viên.
- Thế sao bảo các ngài phải xin nước ngoài viện trợ cho các tấm lều bạt để làm lớp học?
- Ha ha! Đó là chúng tôi nói đùa thế thôi! Vì không muốn để các nước khác biết sự hùng mạnh của chúng tôi nên chúng tôi phải vờ làm ra vẻ thiếu trường học.
- Tôi thấy hình như không phải thế! - Một vị đại biểu đứng phắt dậy - Tôi có đọc báo của các ngài. Trong những bài châm biếm của ngài, tôi thấy ngài luôn luôn kêu về nạn thiếu trường sở và thiếu giáo viên.
Tôi cười lớn:
- Ha ha ha! Thế mà các ngài cũng tin là thật ư? Tôi viết thế chẳng qua muốn tạo ra cái chuyện trái ngược mà thôi! Vì dân chúng tôi rất thích những chuyện ngược đời. Nếu viết rằng mọi chuyện đều tốt đẹp cả thì họ lại không thích. Vì thế, muốn tạo ra những chuyện trái ngược, tôi phải viết rằng nước tôi thiếu trường học... có thế họ mới mua báo. Nhưng đó là cách tuyên truyền trong nước thôi, còn tuyên truyền ra nước ngoài thì lại khác...
- Nghe nói bên nước ngài đường sá mở mang cũng chậm lắm thì phải. Những con đường hiện có thì rất tồi.
Tôi đã ngán ba hoa lắm rồi, nên đứng dậy bảo:
- Thôi đủ rồi, tôi phải đi đây.
- Đi đâu? Ngài không thể đi đâu cả, vì ngài đang nằm mơ kia mà.
Nghĩa là họ cũng biết đấy là một giấc mơ!
- Thôi, các ngài buông ra để tôi đi.
- Nhưng ngài định đi đâu?
- Về nước tôi chứ còn đi đâu?
Tôi định tiến ra cửa, nhưng bị mọi người chặn lại, dồn vào góc phòng.
- Buông tôi ra! - Tôi hét lên.
- Ngài đang nằm mơ. Ngài không thể đi đâu cả.
Các bạn đã từng gặp những cơn ác mộng nên chắc biết: trong cơn mộng mị, lúc sợ quá bạn định bỏ chạy, nhưng chân bỗng ríu lại, muốn hét lên thật to, nhưng tiếng tự nhiên mất hẳn. Lúc này chính tôi cũng đang ở trong tình trạng như thế. Tôi muốn bỏ chạy mà chân không sao cử động nổi.
- Chúng tôi muốn hỏi ngài một câu nữa. - Một người khác đứng dậy bảo - Ở nước ngài có tự do hay không.
Sợ quá, tự nhiên tôi nói không thành tiếng nữa.
- Hừm... hừm... hừm... - Tôi cứ ú a ú ớ. Tiếng nói bị tắc trong họng.
- Ngài nói đi chứ! Ở nước ngài có tự do hay không?
Tôi tự khích lệ: “Có quái gì mà sợ! Dù sao đây cũng chỉ là mơ thôi. Ta chẳng sợ ai hết”. Nhưng sao tôi vẫn thấy run quá. Giọng nói bên trong lại thì thầm giục tôi: “Đúng rồi! Đây chỉ là giấc mơ thôi!”.
- Nói đi, nói đi! Có tự do ở nước ngài hay không? - Mọi người lại nhao nhao giục tôi.
Cuối cùng tôi cũng lấy lại được tiếng nói. Tôi lắp ba lắp bắp:
- Có!... Có nhiều... Nhiều lắm...
- Mọi thứ tự do đều có chứ?
- Các ngài muốn hỏi những thứ tự do gì?
- Tự do báo chí chẳng hạn?
- Ồ, cái đó tất nhiên là có rồi! Tự do gì chúng tôi cũng có hết! Chúng tôi có đủ các thứ tự do. Cả tự do báo chí nữa! Muốn bao nhiêu cũng có. Nhưng thôi, các ngài cho tôi đi đi.
- Nghĩa là ở nước ngài có đủ các thứ tự do?
- Tôi đã trả lời rồi mà: Có đủ hết.
- Tốt lắm! Nhưng nghe nói luật báo chí cũ ở nước ngài vẫn còn có hiệu lực. Thế thì đó là cái tự do gì?
Đến phải biến thành hơi nước thì mới thoát khỏi tay họ được! Trong giấc mơ, người ta thường hay bay. Tôi giang hai tay như đôi cách định bay, nhưng bị cái gì như cục chì giữ chân lại, không sao rời khỏi mặt đất được. Chắc tại tôi ăn no quá nên nặng bụng chứ không thì tôi đã bay bổng như chim rồi.
- Thế nào? Có đúng là luật báo chí cũ vẫn còn hiệu lực không? Ngài trả lời đi.
- Ừ, đúng là vẫn còn cái luật đấy! Nhưng việc gì đến các ông nào! Cái luật ấy còn, nhưng chúng tôi không áp dụng... Cũng như chúng tôi vẫn còn giữ những khẩu đại bác mà Phatich đã chiếm lại Istambun, nhưng chúng không bắn được nữa. Thế thì sao? Chả lẽ cũng phải phá đi à? Sở dĩ chúng tôi cố ý không thay luật báo chí phản dân chủ cũ, chẳng qua là muốn để nhắc nhở mọi người rằng họ đã từng phải sống một thời kỳ nghẹt thở như thế đấy! Nhưng bây giờ chúng tôi đã có tự do báo chí và nhiều thứ tự do khác nữa. Tự do ở nước chúng tôi nhiều đến mức người ta không biết dùng chúng làm gì nữa.
- Thế còn tình hình kinh tế? Nghe nói ngân sách của các ngài bị thiếu hụt nhiều phải không? Xin ngài cho biết ý kiến về vấn đề này.
Tôi lại bắt đầu vã mồ hôi. Biết trả lời thế nào bây giờ đây, lạy thánh Ala?
- Chả nhẽ tôi cứ mơ mãi, không bao giờ tỉnh lại hay sao? - Tôi kêu lên tuyệt vọng.
- Nếu ngài không nói thật thì không bao giờ ngài tỉnh lại được đâu.
Nhưng nói thật thì tôi lại mang tội nói xấu tổ quốc mất! Ôi, sao mà khó xử thế này hả Trời?
- Tình hình kinh tế nước tôi không đến nỗi tồi tệ như các ngài tưởng đâu. Ý tôi muốn nói... rất tốt đẹp, rất rực rỡ. Rực rỡ đến nỗi có thể làm người ta lóa mắt!... Còn ngân sách thì lúc nào cũng rất thăng bằng.
Tôi còn định nói nhiều nữa, nhưng bị mọi người ngắt lời:
- Thôi được rồi! - Một vị ngồi dự nói - Chúng tôi mời ngài đến đây cốt để ngài cho biết rõ sự thật, để nếu thấy cần thiết, thì tổ chức quốc tế sẽ giúp đỡ các ngài. Chẳng hạn như cấp vốn, hoặc cho các ngài vay tiền... Nhưng vì tất cả mọi thứ ở nước ngài đều tốt đẹp cả, nên chúng tôi thấy không cần phải giúp đỡ gì nữa. Thôi, xin chúc ngài mọi sự may mắn... Tạm biệt ngài!
Đến lúc này tôi mới chợt tỉnh và hiểu ra rằng hóa ra người ta phái tôi đến đây là để xin viện trợ của nước ngoài.
- Tốt quá! Nhưng sao các ngài không cho tôi biết trước! Nếu biết trước, có phải tôi đã tuyên truyền nước tôi theo cách khác rồi không?
- Thôi, xin chào ngài!
Tôi khóc nức lên vì đau xót. Thì các bạn cứ nghĩ xem. Giá tôi dám nói hết sự thật, thì có phải nước tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các nước khác rồi không? Thế nhưng tôi lại sợ nói thật thì sẽ bị kết tội nói xấu quốc gia. Thế là tôi đã bỏ lỡ một dịp may hiếm có.
Tiếng khóc làm tôi bừng tỉnh. Trời vẫn chưa sáng.
Tôi bật đèn lên. Đúng là trong mơ tôi đã khóc thật. Tôi lau những giọt nước mắt, rồi ghi ngay lại cơn ác mộng này.
Chả lẽ đêm cứ tối mãi và trời không bao giờ sáng được hay sao?
0
Một đêm khủng khiếp

Làm sao tôi có thể ngờ được rằng có ngày nào đó tôi lại bị ra hầu tòa bởi các Quốc vương và Hoàng đế? Các bạn hẳn đã nghe nói về Quốc vương Ai Cập Faruk, người đã bị chính thần dân nước mình đuổi ra khỏi vương quốc? Bà vợ của Quốc vương không sinh được cho ông những đứa con trai, thế là bà bị ông ruồng bỏ. Sau đó, Quốc vương Iran phế truất hoàng hậu của mình cũng chỉ vì lý do như vậy.
Nhân chuyện đó tôi bèn viết một bài châm biếm về số phận các bà hoàng đôi khi cũng hẩm hiu như thế nào. Vì tôi còn viết về đề tài gì được nữa? Viết về những vấn đề trong nước thì không được rồi, còn viết về những đồng bào của tôi thì chắc chắn chẳng bao giờ được in! Dù tôi có viết về cái gì đi nữa cũng sẽ bị đưa ra tòa ngay? Chính vì thế tôi đành phải viết về các hoàng hậu, quận chúa nước khác.
Vậy mà ai ngờ cả hai bà hoàng kiện tôi ra tòa. Các vị đại sứ của họ ở Ăngcara gửi công hàm cho Bộ Ngoại giao nước tôi cực lực phản đối, tuyên bố rằng bài báo của tôi có thể là nguyên nhân khiến quan hệ giữa nước tôi và nước họ xấu đi. Thế là vụ việc được khởi tố và tôi bị đưa ra tòa xét xử.
- Anh đã xúc phạm đến Quốc vương và Hoàng hậu!
- Không, tôi không xúc phạm!
- Anh xúc phạm!
- Tôi không xúc phạm!
Chúng tôi mặc cả với nhau rất lâu tại tòa, cuối cùng tôi đành chấp nhận sáu tháng tù. (Tôi rất muốn biết người dân Ai Cập có biết tin tôi bị ngồi tù chỉ vì vị cựu Hoàng đế của họ hay không?)
Câu chuyện tôi kể cho các bạn dưới đây xảy ra đúng vào thời gian tôi bị ngồi tù đó.
Tình cảnh trong tù của tôi thật là bi đát. Dù có xoay xỏa cách nào tôi cũng không có một xu, không có ai đến thăm và gửi quà cho tôi. Nhưng bị tù như tôi người ta chỉ giễu cợt!
Thậm chí nhiều người còn ghen tức vì tôi chỉ bị có sáu tháng. Bởi có người bị kết án đến hai mươi, ba mươi năm. Vì thế họ bảo tôi:
- Sáu tháng? Có thế mà cũng ca cẩm! Anh cứ xoay người sang trái, rồi xoay sang phải là hết sáu tháng ngay!
Mà đúng thế thật, vì khi ngồi tù, mỗi lần trở mình xoay người anh sẽ làm thật chậm rãi. Quay sang phải là mùa hè, quay sang trái đã là mùa đông. Bởi bốn mùa trong tù còn có thể trôi qua theo cách nào khác được nữa?
Mọi chuyện kể ra cũng không sao, duy chỉ có điều là không có tiền mua chè và thuốc lá. Thỉnh thoảng Hội chữ thập đỏ cũng vào phân phát thức ăn. Và anh cứ việc cầm thìa đi theo anh Chữ thập đỏ. Nhưng ở ngoài vợ con đang đói. Chữ thập đỏ không thể cứu trợ họ được. “Cho thế mới đáng đời, lão già ngu ngốc. - Tôi thầm trách mình - Tự dưng dính dáng vào mấy bà hoàng, bà chúa?”
Bỗng tôi nghe được tin: nếu tôi xin lỗi, người ta sẽ trả tự do cho tôi. Tôi suy nghĩ: Không! Chuyện đã đến nước này thì cứ mặc kệ, tôi sẽ không xin lỗi gì hết! Tôi cương quyết ngồi tù hết thời hạn. Đấy, các bạn thấy tôi dũng cảm, kiên cường thế đấy? Nhưng thời buổi này người ta đâu có coi lòng dũng cảm ra cái quái gì? Thôi, đừng có nghĩ vớ vẩn nữa, mà phải tìm cách làm việc: phải viết báo, rồi gửi người quen đưa đến các báo và tạp chí. Thế là tôi bắt đầu bí mật viết báo. Các bài báo của tôi không ký tên, nhưng qua giọng văn người ta vẫn nhận ra tác giả là tôi, thế nên một hôm ông giám ngục cho gọi tôi đến. Ông ta là người tốt, đã có hai đứa con: con trai đang học trung học, còn con gái học ở Đại học tổng hợp. Ông ta bảo các bài báo của tôi có thể khiến ông ta bị liên lụy - có thể ông sẽ bị đổi về một tỉnh lẻ, và như thế việc học hành của mấy đứa con sẽ bị dở dang...
- Anh hãy thương mấy đứa con tôi! - Ông ta van xin tôi.
Lạy thánh Ala! Tôi biết thương ai đây: con tôi hay con ông giám ngục? Thôi được, tôi sẽ thương mấy đứa con ông ấy, nhưng còn mấy đứa con tôi thì ai thương đây? Phải thú thật rằng tôi vẫn phải thương mấy đứa con tôi trước, vì thế tôi vẫn tiếp tục viết. Thế là người ta bắt đầu tìm cách ngăn chặn các mối liên hệ của tôi với bên ngoài. Nhưng ngăn chặn cách mấy thì các bài báo của tôi vẫn tiếp tục xuất hiện. Các vị sếp tòa, tất nhiên, bắt đầu điều tra. Một vị thẩm phán đến gặp tôi, và với nụ cười dịu dàng, ông ta hỏi tôi làm cách nào chuyển được các bài báo ra ngoài. Tôi bèn hỏi lại ông ta, thế làm cách nào mà dao găm và hêrôin vẫn tuồn được vào trong tù? Bởi nếu đám tù nhân có cách nhận được hêrôin và vũ khí thì tôi cũng có cách chuyển các bài báo ra ngoài...
Vị thẩm phán cười rất hồn nhiên, còn tôi thì bị nhốt vào biệt khám. Đối với dân nghiện ma túy thì các phòng giam chung hơi thiếu, nhưng vì chỉ có mình tôi viết báo, nên chọn một phòng riêng cho tôi không thành vấn đề.
Người ta chỉ cho phép tôi ra ngoài vào những ngày thăm viếng, còn sau đó lại khóa chặt phòng lại. Với lại, cũng chẳng có ai thăm viếng tôi, hoặc giả có thăm viếng thì cũng toàn đến tay không. Mà các bạn biết đấy, suốt ngày thui thủi một mình không có người nói chuyện nặng nề biết chừng nào! Nhất là đối với người thích nói chuyện như tôi. Suốt ngày cứ đi đi lại lại trong buồng, xin ra ngoài đi vệ sinh, rồi lại bị nhốt trở lại...
Thời gian như ngừng trôi. Tiền không có, không có gì hết. Hát mãi rồi cũng chán. Gào mãi rồi cũng khản cổ. Ước gì người ta đưa thêm một người nữa vào buồng tôi... Cho dù là tên ăn thịt người cũng được... Thậm chí một con quỷ dữ cũng được. Tôi đồng ý hết. Miễn sao có người để nói dăm ba câu. Cứ tối tối viên cai ngục đi kiểm tra biệt khám. Tôi gợi chuyện với hắn, nhưng hắn không bắt chuyện. Hắn cứ im lặng quan sát buồng giam, im lặng đóng cửa, gài then sắt kêu loảng xoảng, rồi im lặng bỏ đi.
Tôi phải sống đơn độc như thế đúng năm tháng, còn một tháng nữa thì mãn hạn tù. Đúng ngày hôm đó tôi được người đến thăm. Anh ta mang cho tôi không biết bao nhiêu thứ: Nào thuốc lá, nào nho, nào dưa hấu, dưa bở, rồi lại cả bơ, pho mát, cà chua và mứt quả nữa. Căn buồng của tôi bỗng chốc biến thành một cửa hàng thực phẩm. Tôi chén một bữa thỏa thuê, nhét làn thức ăn vào gầm giường, rồi khoan khoái ngồi nghỉ. Chỗ thức ăn ấy chắc cũng đủ cho tôi cả tháng. Bây giờ chỉ cần có người để nói chuyện...
Đêm đến. Trong buồng bắt đầu lạnh. Tôi ngồi xuống tấm phản, choàng chăn dạ lên vai và bắt đầu làm thơ. Bỗng có tiếng khóa kêu lách cách, tiếng cửa sắt mở rin rít và có hai người bước vào. Một trong số đó là viên cai ngục.
- Tên này sẽ ở đây! - Viên cai ngục buông sõng một câu bảo tôi rồi bỏ đi ngay.
Vậy là cuối cùng tôi không phải sống một mình! Tôi hạnh phúc quá!
- Mời anh ngồi !... - Tôi nói và bắt đầu quan sát gã mới đến.
Trời ơi!... Người ngợm hắn trông mới kinh khủng làm sao! Ngắn ngủn, lùn tì, béo mập, trông như người vuông, lúc hắn đi người cứ lắc lư như con bò mộng vừa ăn quá no. Hắn hoàn toàn không có cổ. Cái đầu vuông như mọc thẳng từ thân người. Cặp mắt ti hí, lười biếng đảo đi đảo lại rồi nhìn chằm chằm vào tôi.
- Chào anh bạn, mong cho thời hạn của bạn chóng hết? - Tôi lên tiếng.
- Cầu thánh Ala! - Giọng hắn vừa ồm ồm, vừa rè rè.
“Lạy trời, may quá! Hắn biết nói, nghĩa là dù sao vẫn là người!”
- Ngồi đi! - Tôi mời hắn lần nữa - Thế bạn bị vào đây vì tội gì vậy?
- Tớ “thịt” một thằng lợn! - Hắn đáp, đoạn nhìn tôi với ánh mắt khiến tôi gai hết người.
- Thế... tên bạn là gì?
- Benli Tatgi.
- Đừng buồn, ông Tatgi!
- Đừng gọi tớ là “ông”, tớ cáu đấy!
- Thôi được, anh Tatgi!
- Đừng gọi tớ là “anh”, tớ điên tiết đấy...
- Thế chuyện xảy ra ở đâu?
- Ở nhà thương điên...
“Càng ngày càng gay go hơn...” - Tôi lại bắt đầu thấy lạnh xương sống.
- Vào thời gian nào?
- Chập tối nay... Tớ bóp cổ nó, thế là bị tóm vào đây.
- Ai - ai - ai!...
- “Ai - ai - ai” cái gì?...
- À không, ấy là tớ muốn nói mọi chuyện thế là tốt! Cầu thánh Ala cho cậu lúc nào cũng gặp may!
Chúng tôi im lặng. Tôi khẽ nhìn trộm hắn, bụng nghĩ thầm:
“Chết rồi! Nguy cho mình rồi... Làm cách nào cho hắn vui vẻ lên một tí đây?...”
- Nhưng nguyên do là tại làm sao?
- Hôm nay ở nhà thương điên là ngày thăm viếng. Thằng lợn ấy được người nhà tiếp tế cho một tảng xúc xích. Hắn nhét ngay xuống dưới gối. Cứ hễ trông thấy thằng nào nhét cái gì xuống dưới gối hay gầm giường là tớ nổi máu điên. Có ai tiếp tế cái gì phải bỏ ra cho mọi người cùng ăn chứ! Thế là đang lúc hắn ngủ, tớ bóp cổ hắn!
- Ông Tatgi này, ông làm thế là đúng lắm! À này, ông ăn nho không? Có cả bơ và xúc xích đấy...
- Tớ đã nói rồi, đừng gọi tớ là “ông”, tớ điên tiết đấy...
Chúng tôi lại im lặng. “Ôi lạy thánh Ala, con phải cư xử thế nào bây giờ?...”
- Nghĩa là, chuyện xảy ra ở nhà thương điên?
- Phải.
- Kể cũng ngạc nhiên đấy?
- Ngạc nhiên cái gì?
- Vì tớ thấy cậu là người hoàn toàn bình thường. Sao lại phải vào nhà thương điên nhỉ?
- Lúc đầu tớ bị giam ở trại này. Ở đây tớ đã giết một thằng, thế là bị đưa vào nhà thương điên.
- Ai - ai - ai!... Thật là bất công! Thế cậu giết thằng cha ấy vì... lý do gì?
- Tớ bị quẳng vào một căn buồng, bị cùm chân... Sau đó người ta tống thằng cha ấy vào cùng buồng tớ. Có lần người ta mang đến cho hắn một hộp mứt. Tớ theo dõi, thấy hắn nhét ngay vào gầm giường. Cứ nhìn thấy cảnh ấy là tớ sôi máu. Có ai đem tiếp tế cái gì phải bỏ ra cho mọi người cùng ăn! Vậy là đêm đến, lúc hắn vừa ngủ, tớ “thịt” luôn.
- Ông Tatgi, ông làm thế là rất đúng! Cầu thánh Ala...
- Đã bao lần tớ nói rồi: đừng gọi tớ là “ông”, kẻo tớ lại điên lên đấy?
Tôi vội vàng lôi ngay lọ mứt trong làn ra đưa mời hắn.
- Cậu nếm thử đi!
Chúng tôi lại im lặng. Tim tôi bắt đầu đập thình thịch. Nếu tôi gọi người tới cứu chắc chắn hắn sẽ thịt tôi trước khi người ta kịp đến.
- Sao người ta lại có thể tống vào xà lim một người như cậu nhỉ? Thật không tưởng tượng được...
- Tớ giết một thằng trong khám nên mới bị vào xà lim.
- Chuyện thế nào?
- Chả thế nào cả...
- Nghĩa là cậu đã làm đúng! Cầu thánh Ala cho cậu sức lực để tiếp tục các việc công bằng! A, mà xin lỗi hỏi cậu một câu, thế vì chuyện gì mà cậu giết thằng cha ấy?
- Vào ngày thăm viếng người nhà mang đến cho hắn một quả dưa hấu. Hắn...
- Nhét ngay vào gầm giường?
- Sao cậu biết?
- A không... Ấy là tớ đoán vậy thôi...
- Ban đêm khi hắn ngủ, tớ cho hắn “tiêu” luôn!
Tôi vội vàng lôi ngay dưa hấu và dưa bở trong làn ra.
- Xin mời cậu cứ tự nhiên. Cậu ăn cả hai thứ đi đừng khách sáo... Thử nghĩ coi, cuộc đời thật là bất công!... Một người tử tế như cậu mà lại bị vào tù! Làm sao lại có chuyện như thế được nhỉ?
- Ở ngoài tớ giết một thằng, rồi bị người ta tống giam. Tớ với hắn sống chung một buồng. Và dưới gầm giường của hắn...
- Rồi chờ đến khi hắn ngủ, cậu đã... “thịt” hắn?
- Nhưng sao cậu biết?
- À, vô tình thôi... Cậu đừng để ý...
Trời ơi, làm sao tôi sống được đến sáng mai với gã ăn thịt người này đây? Chắc chắn người ta cố tình đưa thằng điên này vào buồng tôi để hắn kết liễu đời tôi đây...
- Mời cậu ăn hết đi, đừng để thừa làm gì...
Suốt năm tháng mọi người đến thăm tôi đều đến tay không. Vừa đúng hôm nay mới có người tiếp tế thì lại... Tôi đã định ăn dè cho hết tháng cuối cùng trước khi được thả...
Cả đêm hôm trước tôi đã thức ngồi viết báo nên bây giờ mắt díp lại. Nhưng nếu tôi thiếp đi thằng cha kia sẽ thịt tôi ngay... Nếu hắn tấn công tôi thì biết làm sao bây giờ đây? Tôi sẽ lấy cái làn chụp vào đầu hắn, sau đó chùm thêm cái chăn vào... Rồi chúng tôi sẽ quần nhau cho đến sáng... Không, tôi làm sao đủ sức cầm cự với hắn đến sáng được!...
Tôi bèn đưa cái chăn cho hắn:
- Cậu đi ngủ đi!
- Tớ không buồn ngủ, cậu cứ “giấc” đi!
Hắn không ngủ - thế này thì nguy to rồi... Tôi hơi ngả lưng xuống và bắt đầu đề phòng mọi chuyện.
- Tổng cộng tớ “thịt” có bốn thằng, thế mà bị tống vào tù! Trong chiến tranh người ta giết hàng nghìn người mà chẳng ai kết tội ai... Đằng này vẻn vẹn có bốn mống... thế mà cũng bị tống vào tù!
Chúng tôi im lặng. Sau đó hắn hạ giọng hỏi tôi:
- Thế cậu vì làm sao?
- Tớ ấy à?... - Một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu tôi... “Không! Nhất định phải thoát ra khỏi tình huống này”. - À phải... Tớ... tớ “thịt” một thằng...
- Vì chuyện gì?
- Chẳng vì chuyện gì cả... Thích lên là tớ “thịt”, có thế thôi...
- Chỉ đơn giản có thế thôi?
- Sao lại đơn giản có thế? Lúc đầu tớ “thịt” bố của hắn... Thằng con lợn này xông vào cứu, thế là tớ “thịt” luôn cả hai đứa...
Đôi mắt hum húp của Benli Tatgi bắt đầu mở to.
- Thế bố hắn vì tội gì?
- Chả vì tội gì cả... Tớ đang điên tiết và nghĩ là phải “thịt” một thằng cha nào đó, thế là tớ “thịt”!
- Chỉ thế thôi?
- À quên: lúc đầu tớ “thịt” mụ già - tức là mẹ của thằng thanh niên kia... Sau đó đành phải cho nốt lão chồng mụ về chầu giời...
- Thế cậu giết mụ già vì lý do gì?
- Tớ không nhớ nữa... Chuyện xảy ra lâu quá rồi...
- Thế tổng cộng cậu “thịt” bao nhiêu người?
- Khoảng mười lăm, hai mươi gì đấy...
- Lạy thánh Ala, thế thì cậu làm cả cuộc chiến tranh rồi còn gì!
Benli Tatgi lùi dần vào góc phòng để tránh xa tôi. Từ đó cho đến khi trời sáng, cố chống lại cơn buồn ngủ, tôi cứ ngồi bịa thêm những chi tiết mới.
Khi trời vừa rạng, Benli Tatgi lấy hai nắm tay đấm đấm vào cửa sắt. Viên coi ngục đến. Hai người thì thầm với nhau điều gì đó, rồi tôi thấy viên cai ngục dẫn hắn đi.
Tới lúc đó tôi mới thở phào nhẹ nhõm.
0
Điệp viên OX-13

Y là một điệp viên cỡ thượng thặng. Tên tuổi của y ngay từ khi y còn sống, đã được ghi vào lịch sử tình báo thế giới. Quãng năm dài hoạt động của y ở phương Đông đã cướp đi của y nhiều sức lực, nhưng không vì thế mà trông y mất đi vẻ điển trai rắn rỏi. Nhà nước đặt toàn bộ hy vọng vào người điệp viên OX-13 của mình, coi y là niềm tự hào của ngành tình báo quốc gia.
Một ngày nọ, OX-13 được phái sang Thổ Nhĩ Kỳ để thực hiện một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng.
Trước khi đi hoạt động ở một nước nào, công việc đầu tiên của OX-13, tất nhiên là phải học tiếng nói của nước ấy. Năng khiếu ngoại ngữ của y quả là có một không hai. Kinh nghiệm cho y thấy rằng, học ngoại ngữ tốt nhất là học ở trên giường, nên OX-13 quyết định cưới một người vợ bản xứ để hoàn thiện thêm tiếng Thổ của mình. Việc chọn một cô gái thích hợp với y không phải là một điều khó khăn. Ngay cả cái điều kiện hóc búa mà bố mẹ vợ đưa ra, bắt chàng rể tương lai phải theo đạo Hồi, y cũng vượt qua một cách dễ dàng. Vốn là một người có tư tưởng dễ dãi và bình đẳng đối với các vấn đề tôn giáo, nên y dũng cảm chịu đựng một phẫu thuật khá nguy hiểm cho một người vào lứa tuổi y, để đang là Risa Vêlinh y có thể biến thành Rêsát Vêli.
Chỉ sau chưa đầy hai, ba tháng tiếng Thổ của OX-13 đã có thể coi là tuyệt hảo.
Vậy là cuối cùng, y đã tự thiết lập xong cho mình một vị trí vững chắc trên đất nước xa lạ và tạo được những điều kiện hết sức thuận lợi để hoàn thành xứ mạng mà người ta giao phó cho y ở xứ sở này. Nhưng chính vào lúc đó, trong cuộc đời y đã xảy ra một biến cố bất ngờ. Chắc các bạn cũng biết, nhiều khi ở một môi trường mới mẻ hay một hoàn cảnh xa lạ có thể làm cho con người ta bỗng thay đổi hẳn. Đối với OX-13 cũng vậy. Việc chuyển theo đạo Hồi, việc cưới vợ Thổ, và việc chung sống với những người Thổ, tất cả những cái đó đã tác động mạnh tới y, đến mức làm trái tim đá, ý chí sắt và thần kinh thép của y đột nhiên trở thành mềm yếu. Chuyện đó thoạt nghe có vẻ khó tin, nhưng sự thực hoàn toàn đúng như vậy. Có thể, cái bầu không khí ấm áp, chân thành bao bọc xung quanh Rêsát Vêli đã làm lòng y trở nên hiền dịu. Trách nhiệm của ngành tình báo bắt đầu làm y thấy nặng nề khó chịu: y cảm thấy chán ghét cái công việc lén lút chống lại những con người dễ thương và tốt bụng ấy. Y tự nhủ sẽ đến đầu thú tại cơ quan phản gián Thổ Nhĩ Kỳ, sẽ thú nhận hết mọi chuyện với họ, rồi muốn ra sao thì ra!... Y đã chuẩn bị tất cả với ước vọng duy nhất là làm sao thoát khỏi cái trò chơi mà y đang vướng vào, để được sống yên ổn hạnh phúc trong cái tổ ấm gia đình, bên cạnh người vợ yêu và những con người trung thực đáng mến.
Thế là y quyết định đi thực hiện ý định đó.
Rêsát Vêli bước vào một tòa nhà lớn. Chẳng hề đắn đo, y gõ cửa căn phòng đầu tiên mà y gặp, rồi đứng ngay tại ngưỡng cửa, y báo ngay cho một viên chức ở đó biết rằng: Y, Rêsát Vêli hay Risa Vêlinh, hay OX-13, chính là gián điệp của nước ấy, và được phái sang đây để tiến hành một nhiệm vụ đặc biệt.
Danh tiếng của đại cường quốc quả là có một tác động kỳ lạ đối với người viên chức nọ; vừa nghe đến cái tên ấy, anh ta không còn chú ý gì đến hai tiếng “gián điệp” nữa, mà đứng phắt dậy, cúi rạp người trước Rêsát Vêlinh, kính cẩn tự giới thiệu tên tuổi và chức vụ của mình.
- Rất hân hạnh được quen biết ngài! Xin mời ngài ngồi! - Anh ta nhắc lại với giọng đầy xúc động.
Không! Rêsát Vêli quả là không nhầm khi nghĩ về cái dân tộc đáng quý này! Ngay cả đối với tên gián điệp họ vẫn tiếp đón với nụ cười niềm nở! Y rút thuốc lá ra mời người viên chức, đoạn ngồi xuống ghế và bắt đầu nói.
- Tôi là điệp viên OX-13. Tôi được phái sang đây với mật danh là Risa...
- Thưa, chúng tôi có thể giúp gì cho ngài? - Người viên chức nhã nhặn ngắt lời y - Ngài cần gì ở chúng tôi ạ?
Rê sát Vêli chưng hửng:
- Nhưng tôi là... gián điệp mà! - Y do dự kéo dài giọng.
- À, tốt lắm!... - Nhân viên nọ suy nghĩ - Chắc ngài muốn làm việc cho chúng tôi phải không ạ? - Rồi không đợi trả lời, anh ta nở một nụ cười đon đả nói tiếp - Vậy xin mời ngài lên tầng thứ hai, phòng số 228 ạ.
Tại phòng số 228, người ta nghe Rêsát Vêli một cách hết sức chăm chú, rồi cuối cùng hỏi y:
- Thế nhiệm vụ của ngài là gì?
- Đặt mìn gây các vụ nổ ngầm. - Rêsát Vêli đáp.
- Bộ phận của chúng tôi hiện nay đã được bổ sung đầy đủ. Trong thời gian tới chắc cũng chưa có chỗ khuyết. Nên rất tiếc chúng tôi không thể bố trí cho ngài việc gì được.
Nhà tình báo nổi tiếng, vốn là người hết sức bình tĩnh, nghe thấy thế bỗng cảm thấy thần kinh của mình không còn được bình thường nữa. Y nói như hét:
- Nhưng tôi đã nói với các ngài rằng tôi là một điệp viên! Một tên gián điệp...
- Tuyệt lắm! Nhưng ngài muốn chúng tôi che chở ngài ư?
- Nhưng tôi là một điệp viên nước ngoài! Chả nhẽ ở đây không có ai giải quyết vấn đề của tôi cả hay sao? - Rồi bằng một giọng run run, Rêsát Vêli nói tiếp.
- Tôi sẽ khai hết tất cả các điều bí mật!
- Á à! Thế thì lại là chuyện khác! Nếu vậy xin ngài quá bộ leo lên một tầng nữa, sau đó rẽ tay phải, rồi đi theo hành lang đến văn phòng cuối cùng. Ở đó người ta phụ trách các vấn đề nổ mìn.
Rêsát Vêli leo lên tầng ba.
- Thưa ngài, tôi là nhân viên tình báo...
Viên quan chức ngồi ở bàn thậm chí không thèm ngẩng đầu lên.
- Ai bảo ông đến đây?
- Không ai cả, tự tôi đến...
Viên quan chức tức giận rời mắt khỏi đống giấy tờ:
- Tôi hỏi, ai chỉ cho ông đến phòng tôi?
- Ở phòng 228 người ta cho tôi biết là các ngài phụ trách vấn đề nổ mìn.
- Vâng, đúng rồi! Nhưng nổ mìn cũng có nhiều cách khác nhàu.
- Tôi chuyên về phá cầu.
- Đấy, ông thấy chưa? Nếu thế thì lại không thuộc bộ phận chúng tôi! Mìn là mìn, mà cầu là cầu chứ!...
- Thế thì tôi phải đến gặp ai ạ?
- Gặp ai ấy à? - Viên quan chức suy nghĩ một lát rồi đáp - À, phải rồi! Ông hãy lên tầng bốn, ở đó họ sẽ chỉ dẫn cho.
Khoảng mười phút sau, Rêsát Vêli đã ngồi trong một căn phòng khác và đang trình bày. Người ta nghe y rất chăm chú rồi hỏi y:
- Ngài chuyên làm nổ các loại cầu gì?
Nghe hỏi thế Rêsát Vêli cảm thấy như chính mình cũng sắp nổ tung.
- Sao? Chả nhẽ các ngài cũng không biết có những loại cầu gì nữa hay sao?
- Chúng tôi biết. Cầu thì có cầu đá, cầu bê-tông, cầu gỗ... Nhưng mỗi loại cầu chúng tôi có bộ phận nghiên cứu riêng.
- Nếu vậy, tôi chuyên về cầu bê-tông. - Rêsát Vêli thú nhận.
- Nếu thế thì ngài nhầm chỗ rồi. Ngài phải lên tầng năm, phòng số 501 cơ! Ở đó họ phụ trách vấn đề của ngài.
Sau khi nghe Rêsát Vêli trình bày, viên quan chức phòng 501 suy nghĩ một lát rồi cầm lấy máy điện thoại.
- Bẩm ngài!... Có một người đến chỗ chúng tôi tự xưng là điệp viên và biết làm nổ các cầu bê-tông. Xin ngài cho biết phải xử trí với anh ta như thế nào ạ? Dạ... dạ! Bẩm vâng ạ. - Và với vẻ hài lòng, anh ta quay sang Rêsát Vêli, lúc này bỗng thấy hy vọng là chuyện của mình sẽ được giải quyết - Tốt nhất là ngài hãy làm theo lời khuyên của cấp trên chúng tôi và hãy tìm gặp ngài Hasim.
Ngài Hasim chăm chú lắng nghe từ đầu đến cuối câu chuyện của Rêsát Vêli rồi hỏi:
- Xin lỗi ngài, ngài có thể cho biết ngài phá nổ cầu bằng phương pháp gì không ạ?
Rêsát Vêli nóng bừng mặt.
- Nhưng... bằng phương pháp nào thì các ngài cần gì phải biết?
- Xin ngài bình tĩnh...! E hèm! Ngài bảo ngài là một điệp viên mà ngài lại dễ xúc động quá! E... hèm... Chắc ngài cũng biết rằng ở chỗ chúng tôi người nào thần kinh không vững thì không thể làm việc được... Tại sao tôi hỏi ngài như thế? Là vì đặt thuốc nổ có dây cháy chậm rồi châm ngòi là một chuyện, còn gài mìn giờ hoặc mìn điều khiển theo cự ly lại là chuyện khác! Mỗi cách chúng tôi có bộ phận phụ trách riêng...
- Tôi có thể sử dụng cả hai cách! - Rêsát Vêli cáu tiết quát - Tôi là điệp viên! Các ngài có hiểu không? Một điệp viên ngoại hạng! Tôi biết làm tất cả! Các ngài rõ chưa?
- Nếu vậy, đó không phải là vấn đề chúng tôi phụ trách! Xin mời ngài xuống tầng một phòng thứ ba bên phải cơ ạ.
Tuy đã gần như tuyệt vọng, nhưng Rêsát Vêli vẫn kể lại từ đầu đến cuối. Giọng y đã uể oải, chán nản. Viên quan chức của phòng ba, bên phải, tầng một, vừa nghe y nói, vừa đổi chân luôn luôn, ra chừng khó chịu. Y đã đứng lên mặc áo măng-tô, chốc chốc lại liếc nhìn đồng hồ.
- Tốt lắm, ông bạn thân mến ạ! Mọi việc đã rõ cả rồi. Nhưng sao ông đến muộn quá vậy? Giờ làm việc hết mất rồi! Văn phòng đã đóng cửa. Mà chuyện của ông lại rất quan trọng và đòi hỏi mất nhiều thời gian!...
- Nhưng có phải lỗi tại tôi đâu! Suốt ngày tôi cứ bị người ta đuổi đi hết phòng này sang phòng khác.
- Ồ, ông bạn ạ! Tôi rất hiểu. Nhưng ông cũng phải hiểu cho tôi chứ! Là hết giờ làm việc mất rồi.
Rêsát Vêli há hốc mồm. Nhưng viên quan chức đã bước ra phía cửa.
- Thôi, xin lỗi ông bạn! Ngày mai thế nào ông cũng đến nhé! Nhưng nhớ đến sớm một chút đấy.
Rêsát Vêli tức là Risa Vêlinh, cũng tức là điệp viên trứ danh OX-13, vừa mệt mỏi lê bước trên phố vừa miên man suy nghĩ: “Thế là rút cục ta không thoát khỏi cái trò chơi quái gở này... Lại phải tiếp tục cái công việc quái gở này... Và hơn nữa, lại ở cái đất nước cũng hết sức quái gở này!...”
0
Cách tìm thủ phạm

Các viên chức cảnh sát của nước Panacôrigia đang thực tập tại khóa huấn luyện của Cục Điều tra Liên bang Mỹ. Tháng cuối cùng của đợt huấn luyện sáu tháng này dành để thực tập sử dụng một thành tựu mới nhất của khoa học hình sự, gọi là “máy phát hiện nói dối”. Ngài Hari Oenxơ, giảng viên của lớp học, nói với sáu viên cảnh sát Panacôrigia đang lắng nghe ông một cách hết sức chăm chú:
- Thưa các ông! Đề tài buổi học hôm nay của chúng ta là “Máy phát hiện nói dối”, một công cụ hỗ trợ đắc lực cho cảnh sát trong việc điều tra, phát hiện. Chiếc máy do các nhà khoa học Mỹ sáng chế này sẽ làm cho công việc của chúng ta nhẹ đi rất nhiều. Chẳng hạn, có mười người chúng ta tình nghi là thủ phạm gây ra tội ác. Khi gắn chiếc máy này vào lần lượt từng người và tiến hành hỏi cung, máy sẽ phát hiện được những lời khai dối trá, và do đó giúp chúng ta tìm đúng thủ phạm.
Ngài Hari Oenxơn ra lệnh mang “Máy phát hiện nói dối” đến và nói tiếp:
- Như các ông thấy đấy, chiếc máy nhỏ này gồm có bốn đồng hồ kiểm tra. Bây giờ chúng ta sẽ tiến hành thí nghiệm chiếc máy này với một phạm nhân.
Người ta dẫn một người đàn ông cao khoảng 1m92, ăn mặc hết sức sang trọng vào phòng, cho ngồi vào một chiếc ghế. Giảng viên Hari Oenxơn giải thích:
- Một cái đồng hồ ta sẽ cắm vào rốn phạm nhân, cái thứ hai nối vào tim, cái thứ ba vào đầu, và cái thứ tư vào xương cụt. Ta đã biết rằng những phản ứng của con người được biểu hiện rõ nhất là ở bốn điểm đó. Nếu phạm nhân khai không đúng, thì vùng rốn của y sẽ có mồ hôi toát ra và máy sẽ phát hiện ngay lập tức, vì nó có khả năng phản ứng rất nhạy đối với bất kỳ hiện tượng chảy mồ hôi mà mắt thường không nhìn thấy được. Đồng thời kim của đồng hồ đo tim sẽ nhảy lên, kim máy đo não sẽ vạch ra một đường vòng cung, còn chuông của máy nối với xương cụt sẽ reo khi phạm nhân bị kích thích mạnh. Bằng cách đó ta có thể kết luận chính xác kẻ bị tình nghi có tội hay vô tội.
Thưa các ông! Bây giờ ta bắt đầu tiến hành thí nghiệm. Tội nhân mà chúng ta sẽ dùng để thử chiếc “Máy phát hiện nói dối” này là Fera Puasinô, một công dân Mỹ gốc Ý. Bố đẻ ra cụ cố ông ta, bị kết án vì tội ăn cướp tàu biển, tội đồng lõa với các âm mưu của bọn cướp và tội cưỡng bức ba đồng bọn của mình ngồi lên một cọc nhọn, sau đó đã chạy sang Mỹ và được công lý và pháp luật ở đây che chở. Con người hăng hái ấy, sau khi đã giết tám người bạn cùng đi tìm vàng với mình và sau đó bị hạ sát bởi tay người bạn thứ mười, có để lại một người con trai, tức ông nội ngài Fera Puasinô của chúng ta đây, khiến cảnh sát Mỹ vẫn còn có việc làm. Fera Puasinô phạm tội ác đầu tiên năm 13 tuổi trong một vụ ăn cướp nhà dây thép. Sau khi bị giam hai năm ở trại cải huấn, bị cáo tham gia hoạt động trong các đảng cướp Ancapôn và Đilinghe, mở một sòng bạc, rồi sau chuyển sang hoạt động một mình, trở thành thủ lĩnh của một băng cướp có mạng lưới tay chân rải khắp bang Chicagô. Tính đến nay Fera Puasinô đã bắt cóc bốn trẻ em và 20 phụ nữ, ăn cướp gần 100 nhà băng, buôn hàng lậu, gây ra hai vụ án mạng, chuyên buôn bán các phụ nữ da trắng. Trở về già, lúc đã mệt mỏi vì các hoạt động, làm ăn bất chính và sau khi đã nghỉ ngơi bốn năm ở trại giam Xing Xing, Fera Puasinô bước vào con đường làm ăn lương thiện và trở thành một trong những nhà kinh doanh nổi tiếng ở Mỹ. Ông có hẳn văn phòng riêng ở phố Uôn, làm chủ một tờ báo và ba tạp chí, làm giám đốc hãng chế tạo thép từ sắt tây và là hội viên của bốn công ty khác. Ngoài ra ông còn có cổ phần trong nhà băng mà trước đây ông đã từng ăn cướp.
Một cảnh sát Panacôrigia hỏi ngài Hari Oenxơn:
- Thế bây giờ ông Fera Puasinô bị kết tội gì?
Ngài Hari Oenxơ đáp:
- Ông ta phạm tội đã phóng ô-tô với tốc độ 121 cây số giờ ở đoạn đường cấm phóng nhanh quá 120 cây số giờ.
Các cảnh sát Panacôrigia háo hức đợi nghe thuật lại một tội ác rùng rợn, nghe nói đến cái tội quá nhỏ nhặt thì đưa mắt nhìn nhau chưng hửng. Ngài Hari Oenxơ lại nói tiếp:
- Cảnh sát không tìm được thủ phạm, nên chúng tôi cho bắt tất cả những người bị tình nghi đến đây. Nhờ chiếc máy này người ta xác minh được là họ không có tội. Bây giờ chúng tôi sẽ làm thí nghiệm cuối cùng với ngài Fera Puasinô này.
Nói đoạn, giảng viên cắm phích cắm vào ổ điện, bật công tắc rồi quay sang hỏi bị cáo:
- Ông Fera Puasinô! Hôm thứ Năm, 19 tháng Ba, hồi 14 giờ 31 phút 13 giây, ngồi sau tay lái chiếc “Rôn Roixơ” màu xám, bên cạnh cô nhân tình thứ mười bốn của mình là Ala, trong bộ quần áo thể thao màu xanh da trời, với chiếc cà vạt đỏ chấm trắng mà hiện ông đang thắt đây, trên đoạn đường số 159, ông đã phóng với tốc độ bị cấm là 121 kilômét giờ, có đúng không?
- Không!
Khi Fera Puasinô trả lời “không”, thì lập tức kim của máy đo rốn nhảy lên, kim máy đo tim vạch ra một đường cong, kim máy đo não vạch ra một đường ký hiệu và chuông của máy nối với xương cụt reo vang. Ngài Hari Oenxơn quay lại nói với các cảnh sát Panacôrigia:
- Đấy, các ông thấy không? Fera Puasinô nói dối và máy đã phát hiện ra sự dối trá của ông ta.
Tất cả cảnh sát Panacôrigia đồng thanh bảo:
- Máy này mang sang nước chúng tôi sẽ mất hiệu nghiệm ngay! Hơn nữa các phương pháp điều tra cổ truyền của dân tộc chúng tôi còn tốt hơn cái máy này nhiều!
- Không thể thế được! - Ngài Hari Oenxơn nói.
- Máy này dùng ở bất cứ nước nào cũng đều hữu hiệu như nhau hết!
- Nhưng ở nước chúng tôi nhất định nó sẽ mất công hiệu! - Các cảnh sát Panacôrigia vẫn khăng khăng cãi.
Thái độ quả quyết của họ khiến ngài Hari Oenxơn nổi máu tò mò. Ngài bèn xin Cục Điều tra Liên bang cho nghỉ phép và lên đường sang Panacôrigia. Tại Cục An ninh Quốc gia Panacôrigia, người ta dẫn một người đến trước mặt ngài Hari Oenxơn. Đúng như cách ngài Hari Oenxơn đưa Fera Puasinô ra giới thiệu với họ, cảnh sát Panacôrigia cũng đưa một tội phạm của mình ra giới thiệu với nhà chuyên gia Mỹ:
- Tên này biệt hiệu là “Sói” Hakiđiki, hắn đã giết vợ, mẹ vợ, em vợ và hai người hàng xóm. Đây là lời tự thú của hắn...
Ngài Hari Oenxơn chăm chú đọc lời khai của kẻ sát nhân. Quả thực y thú nhận giết năm mạng người. Chính tay y đã ký vào bản tự thú.
Các cảnh sát Panacôrigia nói với ông bạn người Mỹ:
- Bây giờ ông hãy dùng cái máy hỏi cung của ông để thử xem hắn khai thế nào?
Ngài Hari Oenxơn bật máy, rồi hỏi phạm nhân:
- Có đúng anh là “Sói” Hakiđiki đã đâm chết vợ, mẹ vợ, em vợ và hai người láng giềng không?
- Không!
Ồ lạ quá! Mấy cái kim đồng hồ không cái nào nhúc nhích. Chuông cũng chẳng thấy kêu.
- Đ..u..ú..ng! - Ngài Hari Oen xơn kéo dài giọng - Quả thật sang nước các ông chiếc máy này không còn công hiệu nữa. Nhưng tại sao vậy nhỉ?
Một cảnh sát Panacôrigia đáp:
- Vì giá sinh hoạt đắt đỏ, dân chúng tôi phải thắt bụng chặt quá, nên rốn của họ không thể toát mồ hôi được nữa. Còn tại sao tim không thể đập mạnh hơn được, thì cũng dễ hiểu thôi: dân chúng đã quá quen với ý nghĩ là bất cứ lúc nào cũng có thể được ăn bánh ô-tô, tàu điện, hay thậm chí đang ngồi trên tàu, trên xe cũng có thể được về chầu giời, vì đường xá vừa hẹp lại vừa xấu, nên chả còn cái gì có thể khiến họ sợ. Các câu hỏi của ông đối với họ thì có mùi gì! Họ đâu có thèm hồi hộp! Bây giờ tôi sẽ giải thích tại sao cái máy đo não lại không hoạt động được! Vì người ta nói dối nhau nhiều quá, nói dối nhau suốt ngày, vợ dối chồng, chồng dối vợ, người bán nói dối người mua, người mua đánh lừa người bán, người thuê nhà nói dối chủ nhà, rồi chủ nhà lại dối người thuê nhà, nghĩa là nói dối nhau tuốt tuồn tuột, người nọ lừa người kia, thành thử có nói dối thêm một lần nữa trước cái máy của ông thì họ cũng trơ ra... Còn cái xương cụt của họ thì khỏi cần nói! Cứ xô đẩy chen lấn nhau để vào sân vận động, cứ ngồi ê đít xem đá bóng, cứ đấm đá nhau túi bụi để chen vào rạp hát, cứ nhấp nha nhấp nhổm trên ghế băng các công sở để chờ xin việc hết ngày này qua ngày khác, nên xương cụt của họ đã mất hết cảm giác, không còn có phản ứng gì nữa. Nhất là lại đối với những kích thích nhẹ như thế!
Nghe xong những lời giải thích, ngài Hari Oenxơn quay sang hỏi “Sói” Hakiđiki:
- Vừa nãy anh quả quyết rằng anh không có tội. Thế sao trong tờ khai anh lại thú nhận là đã giết năm người, mà lại còn ký tên hẳn hoi?
“Sói” Hakiđiki đáp:
- Cứ để người ta hỏi cung ông xem ông có khai không nào!
Ngài Hari Oenxơ hỏi mấy viên cảnh sát:
- Làm sao các ông tóm được hắn?
- Có gì đâu! - Các cảnh sát trả lời - Người ta báo cho chúng tôi biết rằng một ngôi nhà nọ, trước đó một tuần có năm người bị giết. Nửa tháng sau khi nhận được tin, chúng tôi lập tức cho người đến điều tra ngay. Lục soát qua loa một hồi, chúng tôi tìm được ngay những cái xác thối rữa trên nền nhà. Nhưng hung thủ đã không còn ở đấy. Bởi vì có năm người bị giết, nên chắc chắn phải có người giết họ. Chúng tôi ra thông cáo: “Yêu cầu kẻ nào giết người đến ngay Sở cảnh sát”. Nhưng vẫn không thấy hắn đến. Cho đăng báo “truy nã hung thủ” nhưng vẫn không tìm ra. Chúng tôi lại cho dán yết thị khắp nơi: “Ai tìm được hung thủ sẽ được trọng thưởng”, nhưng cũng chẳng ăn thua gì.
“Chúng tôi đã thi hành mọi biện pháp có thể thi hành rồi! Bây giờ thì đừng có ai trách chúng tôi nữa nhé!” - Chúng tôi bảo như vậy, rồi ra lệnh tóm cổ tất cả những tên nào hơi có vẻ giống thủ phạm. Trong số đó cố nhiên là phải có kẻ giết người. Vì hắn có chạy đằng trời! Sau đó chúng tôi tiến hành hỏi cung theo phương pháp riêng của chúng tôi. Cuộc hỏi cung chưa kết thúc, nhưng đến hôm nay đã có mười tên thú nhận là đã can tội giết người. Tên này là một trong số đó.
Ngài Hari Oenxơn tròn xoe mắt.
- Các ông có thể thử phương pháp của các ông với tôi có được không? - Ngài hỏi.
- Tất nhiên là được chứ! - Các cảnh sát trả lời.
- Xin ngài chờ một phút. Xin mời ngài! Đây là tám phòng tra khảo của chúng tôi.
Ngài Hari Oenxơ bước vào căn phòng đầu tiên người ta chỉ. Mười phút sau, từ căn phòng đó vọng ra những tiếng la hét, van xin, khóc lóc, rên rỉ ầm ĩ, xen lẫn những tiếng Rắc! Bốp! Chát! Rồi người ta thấy ngài Hari Oenxơn lao ra khỏi phòng như một mũi tên, miệng kêu váng:
- Thôi, khỏi cần vào các phòng khác!
Nhân viên của Cục Điều tra Liên bang Mỹ vừa thú nhận rằng chính ông là tên “Sói” Hakiđiki đã đâm chết năm người, và đã ký tên vào bản tự thú.
Các cảnh sát nói với nhà chuyên gia Mỹ:
- Thế là chúng tôi đã tìm được 11 tên giết người. Ông chính là tên thứ mười một!
... Khi chia tay với ngài Hari Oenxơn, các cảnh sát Panacôrigia nói với ông:
- Tìm thủ phạm đối với chúng tôi không khó. Cái khó là làm sao tìm được tội để gán cho họ. Giá các ông phát minh được loại máy có thể giúp chúng tôi tìm cho mỗi thủ phạm, dù chỉ một tội gì đó, thì hay quá.
0
Vụ lộn xộn trong quán rượu

Đến bây giờ tôi vẫn không sao quên được chuyện xảy ra với tôi trong quán rượu Hacđen.
Quán này đã bị dỡ đi từ lâu, và ở đó người ta đã xây một vườn hoa cho trẻ con chơi, nhưng trí nhớ của tôi không hiểu sao cứ quay về với kỷ niệm cũ ấy.
Chuyện xảy ra vào quãng gần sáng. Tôi đang ngồi trong quán đối diện với một cô gái người Hung có khuôn mặt nhỏ múp míp như búp bê. Hồi đó trong các quán nhậu ở Stambul hay gặp nhiều con gái Hung. Trên bàn trước mặt mỗi chúng tôi có đặt một bát rượu “bôn” rõ to, loại rượu này bây giờ thường đựng trong những cốc vại, nhưng thời đó người ta uống chúng bằng những cái bát to gần bằng cái chậu. Và mỗi bát rượu như vậy, như tôi còn nhớ, giá khoảng mười lia.
Lúc đó tôi còn là một sinh viên mới hai mươi tuổi, tôi rất sợ bị mất tiền thì ê cả mặt, nên lúc nào cũng phải thò tay vào túi quần xem lại.
Tôi mời cô bạn gái của tôi nhảy. Nhưng nhảy với cô ta tôi chẳng thấy hứng thú chút nào. Người cô ta gầy đét như que củi, và cao đến mức loại thấp người như tôi chỉ đứng đến ngực cô ta. Trở lại bàn chúng tôi lại tiếp tục trò chuyện, nếu như có thể gọi đó là cuộc trò chuyện. Vì cô ta cứ liến thoắng bằng thứ tiếng Pháp giả cầy của mình, còn tôi thì bằng thứ tiếng Anh giả cầy. - Phải khó khăn lắm chúng tôi mới hiểu được nhau.
Tất nhiên tôi có thể ngồi ngậm miệng cũng chả sao, nhưng tôi nghĩ làm như thế không được lịch sự. Vì con người khác con vật chẳng qua cũng ở chỗ biết nói.
Vậy là giữa lúc chúng tôi đang toát mồ hôi ra để cố hiểu nhau thì trong quán xảy ra một chuyện khác thường.
Đầu tiên chiếc đèn chùm tự nhiên rơi đánh “xoảng” một cái xuống sàn. Giá không có mấy chiếc đèn mờ ở bốn gốc tường thì cả gian phòng sẽ tối như bưng. Những cuộc ẩu đả dữ dội diễn ra ở mấy chỗ khác nhau. Bàn con và ghế đẩu cứ bay vèo vèo qua đầu. Ngay chính giữa phòng một đám rất đông đứng tụ lại, sau đó tản ra thành từng nhóm nhỏ tiếp tục đánh nhau.
Tôi chưa kịp hiểu đầu đuôi câu chuyện ra sao đã thấy một bàn tay mạnh như gọng kìm siết chặt lấy gáy và ấn đầu tôi vào bát rượu. Tôi thấy mình như một con gà bị túm chặt cánh, sắp ngạt thở đến nơi. Phải khó khăn lắm tôi mới thoát ra được. Nhưng hai chân tôi bỗng chổng vó lên trời, và chính tôi cũng không ngờ, tôi ngồi ngay vào bát rượu.
Có nhiều tiếng còi hét inh ỏi. Tiếp đó là tiếng chân người chạy thình thịch. Rồi có người túm tay tôi lôi đi. Trong phòng tối om, nên ra đến ngoài đường có ánh đèn sáng tôi mới nhận ra đó là cảnh sát. Sau đó người ta lôi từ trong quán ra vài thanh nhiên nữa. Rồi bắt tất cả đứng xếp thành một hàng. Té ra chúng tôi có sáu người, còn cảnh sát khoảng mươi mười lăm người.
Một lúc sau người chủ quán bước ra áo quần rách tả tơi.
- Chính bọn chúng đấy! - Lão ta nói - Tôi đã gọi điện cho ngài Muamme.
Cảnh sát xếp hàng hai giải chúng tôi về đồn. Ở đó một viên cảnh sát báo cáo với thanh tra cảnh sát:
- Chúng tôi đã giải bọn côn đồ đến.
- Ngài Muamme sẽ đích thân tra hỏi chúng. Tôi vừa hân hạnh được ngài gọi điện báo cho biết như vậy. - Viên thanh tra nói.
Chúng tôi bị tống lên xe cảnh sát và đưa đi. Tất cả năm người bạn bất hạnh của tôi cứ như bất được của, ngồi trên xe họ hát vang như trên đường ra ngoại ô chơi.
Chúng tôi bị dẫn lên một căn phòng rộng trên tầng hai trong Sở cảnh sát. Có hai người đã chờ sẵn ở đó. Một người là chính tay chủ quán nọ, đã kịp thay quần áo, đang ngồi ở xa lông nhai thuốc lá. Người kia là giám đốc sở thì phải. Hai mắt ông ta ánh lên như tia chớp, hệt như thần Zớt đang nổi giận. Sau này chúng tôi mới được biết, đó chính là ngài Muamme. Vừa nhìn thấy ngài tôi đã thấy bủn rủn cả người. Nhưng năm anh bạn của tôi thì dường như chẳng coi ngài ra cái gì. Một anh cứ thản nhiên nhai kẹo cao su chóp chép. Anh thứ ba cứ mấp máy môi khẽ hát câu gì trông rất xấc láo.
- Tụi chúng đây phải không? - Ngài giám đốc hỏi.
- Vâng. - Lão chủ quán đáp - Chúng đã đập phá làm gãy hết cả bàn ghế trong quán. Làm bị thương hai cô gái. Còn tôi bị chúng đánh thâm tím cả mặt.
Bản chất học trò đã ăn sâu vào máu thịt tôi từ bé, nên tôi không sao bỏ được cái thói quen học trò. Lần này cũng vậy, vừa nghe nói đến đó tôi giơ ngón tay trỏ lên ra ý xin được trả lời.
Ngài Muamme quay tít dùi cui trên không một cách đe dọa rồi quật đánh “bốp” một cái xuống bàn...
- Không được nói chuyện! - Ngài gầm lên.
Sau đó ngài bắt đầu hỏi cung từ anh chàng nhai kẹo cao su.
- Nhổ cái thứ tởm lợm ấy ra! Anh đang đứng ở đâu?
Anh chàng này vẫn thản nhiên nhai kẹo cao su như không có chuyện gì xảy ra. Chỉ có đôi mắt hơi nheo lại tỏ ý khinh tất cả mọi cái và mọi người. Ngài Muamme điên tiết:
- Hừm, được, chờ đấy, ta sẽ bẻ gãy hết xương sống chúng bay. Ta sẽ làm chúng bay phải ân hận vì đã sinh ra trên đời này, đồ quái thai, lũ mất dạy!
Một anh cười hô hố, còn mấy anh kia tiếp tục cười khẩy. Ngài Muamme hỏi từng người và dùng những lời lẽ tục tằn nhất để chửi rủa tất cả. Nhưng chả ai buồn động đậy. Khi ngài đến gần tôi, chân tôi như muốn khuỵu...
Ngài Muamme quay sang lão chủ quán bảo:
- Trông biết ngay một lũ con nhà không cha mẹ. Ông cứ nhìn chúng xem! Trong không ra hồn người. Một lũ bụi đời. - Đoạn ông quay sang tôi nói thêm - Họa chăng có thằng này trông còn có vẻ có giáo dục một tí.
Rồi ông dáng cho tôi hai cái tát và nhổ vào mặt tôi một cái.
- Thằng này ít ra trông còn có vẻ biết sợ. - Ngài Muamme nói tiếp - Có cảm tưởng dù sao cha mẹ nó còn biết dạy nó đôi chút.
Sau đó ông lại quay sang chửi bới, thóa mạ tất cả chúng tôi.
- Lũ chó đẻ, đồ quái thai! - Ông quát to đến nỗi cửa kính rung ầm ầm. Ngài chửi một thôi một hồi, dùng hết tất cả những lời lẽ tục tằn thô lỗ nhất. Tôi lại giơ ngón tay trỏ, nhưng vừa định nói “Thưa...” thì ngài đã lại rít lên: “Không nói chuyện!”.
Rồi ngài chồm tới chỗ anh chàng đang cười khẩy:
- Ông thử nhìn cái thằng mặt thớt này coi! Đừng có trông mong chút gì tử tế ở nó! Thế mà cứ bảo “Thanh niên là niềm hy vọng của đất nước!”.
Sau khi nhìn khắp lượt bằng cặp mắt trấn áp, ngài tiến đến gần cậu thanh niên nhai kẹo cao su:
- Tên mày là gì?
- Mêtin.
- Họ?
Anh chàng nói họ của mình.
- Thế tên bố là gì?
Nghe anh chàng trả lời xong, mặt ngài Muamme bỗng ngẩn ra:
- Thế ông bố đáng kính của cậu làm gì? - Ngài hỏi giọng đã đổi hẳn.
- Thế ông không biết bố tôi làm gì à? - Cậu thanh niên bắt đầu phản công.
- Tôi biết... tôi biết... Tất nhiên... tôi biết... Chà... chà... Sao cậu lại đi giao du với tụi đầu đường xó chợ này? - Ngài giám đốc nói với giọng khuyên răn - Người ta đã nói: “Gần mực thì đen...” - Ngài nói thêm rồi quay sang lão chủ quán bảo:
- Sao ông lại dẫn cậu ấy về đây?
- Dạ... thưa... tôi không có kêu ca phàn nàn gì về cậu này cả... Cậu ngồi rất ngoan, không có hành động gì xấu cả. Tôi không có khiếu nại gì về cậu ấy cả.
- Lần sau phải chú ý hơn nhé. - Ngài Muamme quở trách - Không có khiếu nại gì, nhưng do lỗi của ông mà cậu ta bị giải đến đây. Thật xấu hổ. Bây giờ chúng ta biết xin lỗi cậu ấy ra sao?
- Thề có thánh Ala, tôi không dẫn cậu ấy đến đây. Chẳng qua vì thiện chí cậu ấy tự nguyện đến thôi. - Lão chủ quán ấp úng nói.
- Tôi không có nói xấu gì về cậu cả - Ngài Muamme quay sang bảo cậu thanh niên đang nhai kẹo cao su - Hoàn toàn không. Vì thế mong cậu đừng giận, đừng nghĩ những lời tôi vừa nói là ám chỉ cậu... Sao cậu cứ đứng mãi thế. Xin mời cậu ngồi xuống đây. Xin cậu cứ coi như ở nhà vậy. Còn thằng này tên gì? - Đoạn ông quay sang cậu thanh niên đang khe khẽ hát.
- Erơgin.
- Bố là ai?
Nghe thấy tên bố cậu ta, sắc mặt ngài Muamme thay đổi ngay. Một mắt ngài cứ giật giật. Ngài quăng ngay cái dùi cui đi, rồi cứ lấy hài tay vỗ vào đầu gối:
- Chà, chà... Làm sao tôi không đoán ra ngay cậu là con nhà ai nhỉ? Lẽ ra tôi phải biết ngay. Xin mời cậu ngồi... Mong cậu tha lỗi cho... Thề có thánh Ala, những lời tôi chửi lúc nãy hoàn toàn không nhằm vào cậu...
Lão chủ quán ngồi mặt tái nhợt không còn hột máu và lẩm bẩm câu gì nghe không rõ.
Ngài Muamme lại quay sang hỏi một trong mấy anh chàng cứ đứng cười nhạt.
- Còn cậu... cậu là con ai?
- Ông vừa bảo tôi là đồ chó đẻ. Nghĩa là tôi là con của chó!
- Ai! Tôi bảo ấy ạ? Đâu có! Mà nếu tôi có nói thế thì cũng không phải tôi nói với cậu.
- Nhưng tôi là đồ chó đẻ. - Anh chàng thanh niên say khướt tỏ ra rất ngông nghênh.
Ngài Muamme phải lôi lão chủ quán ra làm người làm chứng.
- Thề có thánh Ala, ông hãy làm chứng là tôi không nói cậu ấy như vậy đi!
- Tôi cũng không nói gì xấu về cậu ấy cả. - Lão chủ quán cũng vội vàng thanh minh.
- Phải, phải... chẳng qua tôi chỉ nói chung chung thôi, chứ không ám chỉ cụ thể ai.
Ngài Muamme cứ lần lượt hỏi cụ thể từng thanh niên một, rồi sau khi biết bố họ là ai, giữ chức vụ gì, ngài thay đổi hẳn thái độ, tươi cười niềm nở mời từng người ngồi.
Tôi hiểu rằng chỉ có tôi là kẻ giơ đầu chịu báng. Vì những câu chửi của ngài Muamme phải nhằm vào ai chứ? Nên chỉ còn tôi là người mà ngài có thể trút hết cơn giận giữ và đổ hết tội vào đầu tôi để tháo thân. Như thế sự việc sẽ kết thúc ở đó. Còn mấy thanh niên có những ông bố có thế lực kia tất nhiên ngài sợ không dám đụng đến.
Khi đến lượt tôi, tôi đã định nói bừa tên một người có thế lực nào đó. Nhưng nói tên ai bây giờ? Vả lại, ngài Muamme đã bảo rằng dù sao tôi cũng còn là con nhà có giáo dục. Nhưng nếu lời bịa đặt của tôi bị bại lộ thì sao? Tôi đưa mắt liếc trộm anh chàng đang nhai kẹo cao su. Anh này nháy mắt ra hiệu gì đó với tôi, nhưng tôi không hiểu ý anh.
Vậy là hy vọng cuối cùng của ngài Muamme đặt hết vào tôi. Ngài rít răng hỏi tôi, nhưng để phòng xa, miệng vẫn cười:
- Còn cậu, cậu là con ai?
- Anh ấy cùng hội với chúng tôi. - Bất ngờ một thanh niên lên tiếng trả lời thay tôi.
Rồi cậu nhai kẹo cao su cũng ủng hộ luôn:
- Đúng, anh ấy cùng hội với chúng tôi.
Cuối cùng bao nhiêu tức giận ngài Muamme đành trút hết vào đầu gã chủ quán.
- Hừm! Đồ súc sinh vô lại! Đồ con lừa! - Ngài gào lên với lão ta. Một trận chửi rủa trút vào đầu gã chủ quán - Cho mở những cái quán như thế làm gì? Chả lẽ ông không tìm được việc gì tử tế đứng đắn hơn là đi vu không cho những thanh niên vô tội này sao?
Mấy thanh niên say đến nỗi định gây lộn xộn ngay trong sở cảnh sát.
- Chúng ta là đồ chó đẻ! - Họ đồng thanh gào to.
- Xin lỗi, tôi không có nói như vậy. - Ngài giám đốc quay sang họ phân trần - Nếu tôi có chửi ai thì chỉ chửi cái lão xỏ lá này thôi... - Ngài chỉ vào lão chủ quán.
Biết rằng mọi việc thế là hỏng bét, sợi chỉ cuối cùng đã đứt, lão chủ quán gật đầu thú nhận:
- Tất nhiên, tất nhiên, ngài chửi như thế là chỉ chửi tôi thôi. Tôi có lỗi vì đã không kính trọng mấy vị trẻ tuổi này...
Rồi lão ta và ngài giám đốc, hai người tranh nhau xin lỗi, trong khi năm anh chàng kia cứ ra sức gào lên:
- Bọn ta là đồ chó đẻ! Bọn ta là đồ chó đẻ!
- Tôi là đồ chó đẻ! Tôi là đồ chó đẻ! - Lão chủ quán ra sức gào to hơn để át đi.
Ngài giám đốc sở nghiêm mặt nhìn gã và bảo:
- Đêm nay ông phải mời các cậu ấy ăn nhậu thỏa thích. Hết bao nhiêu tôi sẽ thanh toán.
- Ấy chết, sao lại thế ạ! Tôi xin chịu một nửa chi phí... Chỉ mong các cậu ấy tối nào cũng đến... - Lão chủ quán lắp bắp.
Mãi lúc đó mấy chàng thanh niên mới chịu thôi không gào nữa. Trước khi thả họ, ngài giám đốc bắt tay từng người. Người thì ngài nhờ chuyển lời hỏi thăm kính cẩn đến cụ thân sinh, người thì được ngài bảo: “Tôi xin hôn tay ông cụ thân sinh đáng kính của cậu”, người được ngài nói: “Thề có thánh Ala, tôi không hề nói gì xấu về cậu. Đây là tôi nói cái thằng mặt lợn ngu ngốc kia!”.
Khi đến lượt tôi, ngài đặt tay lên vai tôi bảo:
- Ta biết anh không phải cùng hội với họ, nhưng nhờ mấy thằng đầu đường xó chợ ấy anh đã thoát thân một cách quá rẻ. Nhìn mặt anh, ta biết ngay anh là con nhà tử tế. Anh đừng tưởng lừa được ta. Thôi, cút ngay khỏi đây!
0
Quan hệ hữu nghị

(Phòng họp của Hội đồng Bộ trưởng Quốc gia Tôracanxi: Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao, Đại tướng Tổng tư lệnh, Bộ trưởng các vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng, và nhiều vị khách).
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Kính thưa ngài Thủ tướng, kết thúc bản báo cáo, tôi muốn nhấn mạnh một tình hình đặc biệt nghiêm trọng là vua Hôpantômôla đang tiếp tục các hoạt động khiêu khích chống chúng ta. Tôi vừa được tin cho biết ông ta đang điều quân về các vùng gần biên giới nước ta. Không còn nghi ngờ gì nữa, kẻ thù vĩnh viễn của chúng ta, vua Hôpantômôla, đang có âm mưu đen tối đối với chúng ta.
Thủ tướng:
- A! Đồ con lợn! Hắn lại dám dòm ngó nước ta à?!
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Vâng, hắn định dòm ngó nước ta.
Thủ tướng:
- Cầu thánh Ala cho hắn mù đi!
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Cầu Đức Ala cho hắn mù đi!
Thủ tướng:
- Thế ta đã có biện pháp nào đối phó chưa? Ông Tổng tư lệnh có thể cho biết ý kiến chăng?
Đại tướng Tổng tư lệnh:
- Chúng tôi đã cho củng cố hệ thông phòng thủ dọc biên giới rồi ạ!
- Tốt! Còn làm gì nữa?
Tổng tư lệnh:
- Đồng thời kéo quân đội ở hậu phương lên biên giới ạ!
- Tốt! Còn gì nữa không?
Đại tướng Tổng tư lệnh:
- Ngoài ra còn động viên thêm hai lứa tuổi nữa ạ!
Thủ tướng:
- Hay lắm! Còn các biện pháp ngoại giao thì sao nhỉ?
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Dạ, thưa ngài Thủ tướng, ngài cho phép tôi báo cáo. Chúng tôi đang khẩn cấp tìm mọi biện pháp ứng phó. Vua Hôpantômôla...
Thủ tướng:
- Cầu Chúa cho hắn bị sụp đổ!
Bộ trưởng các vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng:
- A-m-e-n! Xin thánh Insalác cho lão ta chóng về chầu trời! A-men!
Thủ tướng:
- Ông định nói gì về cái thằng xỏ lá ấy thì nói nốt đi!
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Dạ, thưa Thủ tướng, ba ngày nữa sẽ là ngày vua Hôpantômôla tròn tám mươi tư tuổi.
Thủ tướng:
- Chà! Sao cái thằng già sống dai thế! Hắn không bao giờ nghẻo được chắc?
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Theo ý tôi, để giữ đúng thủ tục ngoại giao, ta nên gửi cho hắn ta một bức điện mừng. Tôi đưa ra đề nghị như thế, xin Thủ tướng kính mến, ngài cho biết ý kiến.
Thủ tướng:
- Hay lắm! Làm như vậy là rất kịp thời!
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Nội dung bức điện đã thảo xong, tôi xin đọc cho Thủ tướng nghe (đọc): “Kính gửi Quốc vương Mađragan Đệ Tứ, Quốc vương nước Hôpantômôla. Nhân dịp kỷ niệm lần thứ tám mươi tư ngày sinh hạnh phúc của Quốc vương...”
Thủ tướng:
- Ngày ra đời bất hạnh thì đúng hơn!
Bộ trưởng các vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng:
- Đúng đấy ạ!
Bộ trưởng Ngoại giao (đọc tiếp):
- “Nhân danh cá nhân và thay mặt cho quốc gia Tôracanxi mà tôi là Thủ tướng, tôi xin chúc mừng Quốc vương nhân sự kiện vui mừng đối với cả hai nước anh em chúng ta này...”
Thủ tướng:
- Thêm mấy chữ “tự đáy lòng” thì hay hơn.
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Dạ (đọc tiếp)... “Tự đáy lòng tôi xin chúc mừng Quốc vương và nhân dân Hôpantômôla...”
Thủ tướng:
- Nên nói thêm là “nhân dân Hôpantômôla anh em”.
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Dạ, vâng! (đọc tiếp)... “nhân dân Hapantômôla anh em được hạnh phúc muôn đời. Nhân dịp này xin Quốc vương nhận lấy ở tôi những tình cảm tôn kính chân thành nhất. Phôxica. Thủ tướng quốc gia Tôracanxi”.
Thủ tướng:
- Tuyệt lắm! Đã soát lại các lỗi chính tả chưa?
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Dạ, tôi đã đưa thằng con trai tôi soát lại rồi ạ. Nó thi môn ngữ pháp khá lắm.
Thủ tướng:
- Các dấu chấm phẩy đúng cả đấy chứ?
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Dạ, đúng cả ạ! Xin ngài yên tâm.
Thủ tướng:
- Được, đưa tôi ký (ký). Thế nào, ông thấy mấy biện pháp như thế đã đủ chưa?
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Đủ để đánh quỵ vua Hôpantômôla ấy ạ?
Thủ tướng:
- Phải nói là “tên vua khốn kiếp”.
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Dạ, vâng, theo tôi, chúng ta đã chuẩn bị xong những biện pháp cần thiết để đối phó với tên vua khốn kiếp ấy!
Thủ tướng:
- Tốt lắm! Tôi rất sung sướng được nghe ông nói như thế!
* * * * *
(Phòng đại nghị thuộc Hoàng cung nước Hôpantômôla. Vua, Bộ trưởng Ngoại giao, Bộ trưởng Quốc phòng, Bộ trưởng các vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng và nhiều vị khác).
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Tâu Hoàng thượng, như đã có lần thần tâu với Hoàng thượng, nước Tôracanxi đang ráo riết tăng cường lực lượng quân sự. Tin tức về chính sách thù địch của Thủ tướng Tôracanxi đã được xác nhận.
Vua Hôpantômôla:
- A! Quân phản bội! Đồ quái thai nuôi bằng sữa lừa thối!
Bộ trưởng các vấn đề về tôn giáo và tín ngưỡng:
- Tâu Hoàng thượng, đúng thế ạ!
Vua:
- Ông bảo gì?
Bộ trưởng các vấn đề về tôn giáo và tín ngưỡng:
- Tâu Hoàng thượng, thần muốn nói đúng như ý Hoàng thượng vừa nói ạ!
Vua:
- Thế ta đã có biện pháp gì chưa?
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Hoàng thượng cho thần được báo cáo: Trước hết, thần đã thảo xong thư trả lời điện mừng của Thủ tướng Tôracanxi nhân dịp Hoàng thượng thọ tám mươi tư tuổi. Hoàng thượng cho phép thần đọc...
Vua:
- Được!
Bộ trưởng Ngoại giao (đọc):
- “Kính gửi ngài Phôxica, Thủ tướng quốc gia Tôracanxi. Tôi hết sức cảm động vì bức điện của ngài chúc mừng tôi nhân ngày sinh nhật...”
Vua:
- Nên thêm mấy chữ “khả ái”!
Bộ trưởng Ngoại giao (đọc):
- “... vì bức điện khả ái của ngài chúc mừng tôi nhân ngày sinh nhật. Hai nước chúng ta...”
Vua:
- Nên nói thêm là “hai nước anh em”.
Bộ trưởng Ngoại giao:
- “... hai nước anh em chúng ta từ lâu đã gắn bó với nhau bởi mối tình hữu nghị keo sơn và do cùng chung số phận. Tôi hy vọng rằng trong tương lai sẽ không có gì có thể làm vẩn đục được tình anh em trong sáng giữa hai nước chúng ta. Nhân dịp hết sức may mắn này tôi lấy làm hân hạnh bày tỏ với ngài, và qua ngài, với nhân dân Tôracanxi, mà ngài là đại diện xuất chúng, lòng biết ơn của tôi”.
Vua:
- “Lòng biết ơn sâu sắc”. Phải thêm mấy chữ “sâu sắc” vào! Lòng biết ơn là bao giờ cũng phải “sâu sắc!”
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Tâu Hoàng thượng, hai tuần nữa là đến kỷ niệm hai mươi năm quốc gia Tôracanxi được giải phóng...
Vua:
- Giá nó đừng bao giờ được giải phóng còn hơn!
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Nhân dịp này thần đã thảo một bức điện mừng, tâu Hoàng thượng!
Vua:
- Thế à? Hay lắm! Trong bức điện, tất nhiên khanh có nói đến những tình cảm “chân thành” của ta, và “công lao to lớn đóng góp cho sự nghiệp hòa bình” của những thằng đểu Tôracanxi chứ?
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Tâu Hoàng thượng, tất nhiên ạ!
Vua:
- Khanh đọc cho ta nghe doạn cuối xem nào!
Bộ trưởng Ngoại giao (đọc):
- “Nhân dịp kỷ niệm ngày giải phóng nước Tôracanxi anh em, xin ngài Phôxica rất đỗi kính mến hãy nhận lấy ở tôi và dân tộc tôi những tình cảm chân thành vô hạn...”
Vua:
- Thôi, được rồi! Hừm! Cái thằng Phôxica khốn kiếp ấy mà rơi vào tay ta thì ta thề sẽ lột da nó ngay lập tức!
Bộ trưởng các vấn đề về tôn giáo và tín ngưỡng:
- Cầu Đức Ala anh minh cho hắn rơi vào tay Hoàng thượng để Hoàng thượng lột da hắn. Tất cả những anh em cùng chung tôn giáo chúng thần xin cầu nguyện như thế.
Vua:
- Tốt! Các khanh cứ tiếp tục cầu nguyện đi! Bây giờ Bộ trưởng Quốc phòng, đến lượt khanh cho ý kiến.
Bộ trưởng Quốc phòng:
- Tâu Hoàng thượng, thần đã cho lau chùi và bôi mỡ lại súng ống. Hoãn lại tất cả các chuyến nghỉ phép. Suốt tám tháng nay quân đội vẫn trong tình trạng báo động khẩn cấp và đang chờ...
Vua:
- Chờ cái gì?
Bộ trưởng Quốc phòng:
- Tâu Hoàng thượng, chờ lệnh Hoàng thượng ạ!
Vua:
- Tốt lắm! Cứ để họ chờ!
* * * * *
(Phòng họp của Hội đồng Bộ trưởng Quốc gia Tôracanxi: Thủ tướng. Bộ trưởng Ngoại giao. Bộ trưởng Nội vụ. Đại tướng Tổng tư lệnh và các vị khác).
Thủ tướng:
- Có tin tức gì về kẻ thù của chúng ta không?
Đại tướng Tổng tư lệnh:
- Thưa Thủ tướng, rất tiếc là chưa có tin tức gì đáng mừng cả. Vua Hôpantômôla lại vừa ra lệnh động viên ba lứa tuổi.
Thủ tướng:
- Hừm! Đồ súc sinh khốn nạn! Ta mà bắt được hắn thì ta phải moi gan hắn ra mới được!
Bộ trưởng các vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng:
- Insalac! Amen!
Thủ tướng:
- Thôi được. Thế các ông đã có biện pháp gì chưa?
Đại tướng Tổng tư lệnh:
- Dạ, chúng tôi đã có dự định...
Thủ tướng:
- Tôi không hỏi các biện pháp quân sự. Những chuyên gia quân sự các ông tất nhiên phải lo tất cả mọi chuyện đó rồi! Tôi hỏi các biện pháp ngoại giao kia!
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Thưa Thủ tướng, quan hệ giữa hai nước ta với nước họ quả là quan hệ đặc biệt thân thiện. Như ngài đã biết, riêng trong tháng trước, ta và họ đã trao đổi với nhau tất cả chín thông điệp ngoại giao tất cả.
Thủ tướng:
- Rất tốt!
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Mới đây ta lại vừa gửi điện mừng nhân lễ thành hôn của con trai vua Hôpantômôla.
Thủ tướng:
- Tốt lắm! Còn gì nữa?
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Và một bức điện nữa nhân kỷ niệm ngày vua Hôpantômôla đăng quang.
Thủ tướng:
- Tốt! Ước gì cái ngai vàng của con chó già ấy đổ mẹ nó đi, cho nó vỡ sọ ra!
Bộ trưởng các vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng:
- Amen!
Thủ tướng:
- Thôi được rồi. Thế sắp tới ông còn định làm gì nữa không?
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Thưa Thủ tướng, tôi đang nghĩ, nhưng chưa tìm được cớ gì cả.
Thủ tướng:
- Đáng lẽ ông phải tìm được rồi mới phải! Nhiệm vụ chính của Bộ Ngoại giao các ông là phải luôn luôn tìm được những cớ mới.
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Dạ thưa Thủ tướng, tất nhiên là như thế. Nhưng xin Thủ tướng lưu ý cho là từ hôm ấy đến nay tôi đã tìm được khá nhiều cớ hay đấy chứ, phải không ạ?
Thủ tướng:
- Nhưng kẻ thù của chúng ta có chịu ngồi yên đâu! Mới vừa đây thôi, nhân ngày bà nhạc tôi mất, lão vua Hôpantômôla đã gửi cho tôi một bức điện chia buồn. Hắn đã khéo kiếm cớ để tỏ tình thân thiện. Cái thằng chó đẻ ấy không từ cả cái chết của bà nhạc tôi để sử dụng vào các mục đích chính trị của hắn.
Đại tướng Tổng tư lệnh:
- Và vào đúng hôm hắn gửi cho ngài bức điện ấy, thì ba chiếc máy bay của vua Hôpantômôla đã xâm phạm địa phận ta.
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Còn đúng hôm ta gửi cho vua Hôpantômôla điện mừng nhân dịp sinh nhật đứa cháu nội hắn, thì quân lính của hắn đã tóm gọn toán biệt kích của ta.
Thủ tướng:
- Lần cuối cùng ta gửi cho vua Hôpantômôla thông điệp tỏ tình thân thiện là khi nào nhỉ?
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Thưa, cách đây chưa đầy hai tuần ạ!
Thủ tướng:
- Ồ, thế thì không được! Lâu quá không có thông điệp hữu nghị như thế là không nên. Có thể gây ra những mối nghi ngờ. Bộ Ngoại giao các ông ngủ gật cả rồi hay sao vậy? Phải tìm ra một cớ gì để gửi điện đi chứ! Nào, các ông! Ta hãy cùng suy nghĩ xem có cớ gì không nào? Tỉ dụ như là...
Đại tướng Tổng tư lệnh (đi đi lại lại):
- Tỉ dụ như là... tỉ dụ như là... tỉ dụ như là...
Bộ trưởng Ngoại giao (vỗ vỗ lòng bàn tay)!
- Tỉ dụ như là... tỉ dụ như là... tỉ dụ như là... Tỉ dụ như là... tỉ dụ như là... tỉ dụ như là..
Thủ tướng:
- À, tôi nghĩ ra rồi! Nhân dịp kỷ niệm một năm ngày ký hiệp định thương mại giữa ta và vương quốc Hôpantômôla!
Bộ trưởng Ngoại thương:
- Nhưng thưa Thủ tướng, mới có tám tháng chứ đã được một năm đâu ạ!
Thủ tướng:
- Ô, việc quái gì!... Thì ta nói là nhân dịp kỷ niệm tám tháng ngày ký hiệp định thương mại, chúng tôi xin bày tỏ tình cảm chân thành của chúng tôi, vân vân...
Đại tướng Tổng tư lệnh:
- Đồng thời ta phải tung thêm xe tăng lên biên giới...
Thủ tướng:
- Tất nhiên rồi! Gửi điện xong là phải tung xe tăng và các đơn vị dự trữ khác lên biên giới ngay! Chà! Chỉ mong sao tóm được tên vua Hôpantômôla để ta xé xác hắn ra, đồ súc sinh hèn mạt! Nhưng thôi, ta vẫn cứ phải gửi thêm cho hắn một bức điện nữa. Các ông tìm cớ đi! Cớ, cớ, cớ...!
Tất cả (đi đi lại lại):
- Cớ, cớ, cớ...
Bộ trưởng Canh nông:
- À! Tôi nghĩ ra rồi! Vương quốc Hôpantômôla vừa bị một trận hạn hán khủng khiếp. Mãi tuần vừa rồi mới có mưa!
Thủ tướng:
- Lạy giời cho mưa làm lụt mẹ cả nước chúng nó cho chúng nó chết hết đi! Cho cả thằng vua bỉ ổi ấy trôi luôn đi cho rồi!
Bộ trưởng Canh nông:
- Chúng ta nên gửi điện mừng nhân dịp trận mưa cứu tinh này...
Thủ tướng:
- Đúng, đúng! Ông viết đi!: “Kính gửi Quốc vương Hôpantômôla Mađragan Đệ Tứ. Tôi xin bày tỏ với Quốc vương lòng sung sướng vô hạn của chúng tôi khi được tin, sau một thời gian hạn hán kéo dài, nhưng trận mưa vàng bạc đã bắt đầu rơi trên mảnh đất châu báu Hôpantômôla anh em thân thiết. Nhân dịp này xin Quốc vương nhận lấy...”
* * * * *
(Phòng đại nghị của Hoàng cung nước Hôpantômôla. Vua, Bộ trưởng Ngoại giao, Bộ trưởng Canh nông, Bộ trưởng Quốc phòng và các vị khác).
Bộ trưởng Quốc phòng:
- Tâu Hoàng thượng, tin tức mà thần đã báo cáo với Hoàng thượng đều là đúng sự thật. Nó ăn khớp với những tin tức mà tình báo của ta ở Tôracanxi gửi về. Không nghi ngờ một chút nào nữa, Thủ tướng Tôracanxi đang xúc tiến những âm mưu rất nham hiểm chống lại chúng ta.
Vua:
- Chà! Đồ nhãi ranh! Cầu Chúa cho ta tóm cổ được cái thằng chó đẻ này! Ta thề sẽ không làm vua Hôpantômôla Mađragan Đệ Tứ nữa, nếu ta không làm cho mẹ nó phải rơi nước mắt! Thế các ông định đối phó ra sao?
Bộ trưởng Quốc phòng:
- Tâu Hoàng thượng! Cách phòng thủ tốt nhất là tấn công. Nên chúng ta phải đề phòng trước cuộc tấn công của chúng...
Vua:
- Ta muốn hỏi các biện pháp ngoại giao kia!
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Tâu Hoàng thượng! Chúng thần đang suy nghĩ ạ!
Vua:
- Suy nghĩ ư?
Tất cả đồng thanh:
- Tâu Hoàng thượng vâng, đang suy nghĩ ạ! Nào chúng ta thử suy nghĩ xem nào...
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Tâu Hoàng thượng, thần đã nghĩ xong phần chính của bức thư rồi ạ!
Vua:
- Khanh đọc ta nghe xem nào...
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Tâu Hoàng thượng, vâng! (đọc thuộc lòng): “Thưa ngài Thủ tướng Phôxica kính mến! Nhân dịp... gì đó, nhân danh cá nhân và thay mặt muôn dân Hôpantômôla, một lần nữa tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất của tôi đối với nhân dân Tôracanxi anh em chí thiết vì tấm lòng hào hiệp đáng quý, và nhân dịp này...”
Vua:
- Dịp này là dịp gì? Phải tìm ra cớ mới được chứ!
Tất cả đồng thanh:
- Cớ, cớ, cớ...
Vua:
- Ông Bộ trưởng Ngoại giao thử nghĩ ra một cớ gì cho hợp xem nào! Nhân dịp gì được nhĩ? Hay là nhân dịp năm mới có được không!
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Nhân dịp năm mới ta đã có điện mừng rồi, tâu Hoàng thượng! Rồi nhân dịp đứa con trai út của Thủ tướng mọc răng, rồi cả dịp Quốc khánh nữa, ta cũng đều có gửi diện. Nói chung là ta sử dụng hết mọi cớ rồi, tâu Hoàng thượng!
Vua:
- Chà! không biết bao giờ ta mới tóm cổ được cái thằng đểu cáng ấy! Tại sao các âm mưu của ta cứ bị thất bại và cái thằng chó chết ấy cứ sống nhăn răng ra thế nhỉ? Ông Bộ trưởng Ngoại giao đâu rồi? Tìm cớ nhanh lên chứ, không ta cách chức ông bây giờ! .
Bộ trưởng Canh nông:
- Thần nghĩ ra kế rồi, tâu Hoàng thượng! Theo tin tức mà Bộ thần vừa nhận được thì vụ dưa chuột đầu tiên trong năm ở Tôracanxi đã bắt đầu chín. Nhân dịp này Thủ tướng Tôracanxi đã đọc một bài diễn văn quan trọng...
Bộ trưởng Ngoại giao:
- Thế thì ta có thể gửi điện mừng được rồi!
Vua:
- Điện thế nào, thử đọc ta nghe!
Bộ trưởng Ngoại giao:
- “Thưa ngài Phôxica, Thủ tướng Tôracanxi kính mến! Nhân dịp ở nước Tôracanxi anh em và thân thiết, đất nước đã gắn bó với chúng tôi bởi số phận lịch sử chung, những cánh đồng dưa chuột đầu tiên đã bắt đầu chín, tôi lấy làm vô cùng hân hạnh được gửi tới ngài Thủ tướng kính mến mà ngài là đại diện xứng đáng nhất, những lời chúc mừng chân thành và nồng nhiệt...”
Vua:
- Sau khi gửi bức điện này đi, phải ra lệnh cho quân lính tấn công ngay lập tức!
Bộ truởng Quốc phòng:
- Dạ, tâu Hoàng thượng. Nhưng thần lo không khéo chúng ta lại bị tấn công trước!
Vừa lúc đó có những tiếng nổ rất lớn: Ùng! Oàng! Ùng! Oàng!
Vua:
- Quái! Tiếng gì thế nhỉ?
Bộ trưởng Quốc phòng:
- Tâu Hoàng thượng, không kịp rồi. Bọn chúng đã bắt đầu tấn công! Vừa rồi là tiếng súng của bọn chúng đấy ạ!
Vua:
- Mẹ chúng nó chứ!
- Điện!... Điện!... Gửi điện ngay!
Bộ trưởng Ngoại giao:
- “Tôi xin thông báo... để ngài biết rằng tôi lấy làm vô cùng xúc động... khi được tin quân lính của ngài... đã bắt đầu tấn công chúng tôi. Nhân dịp này, xin ngài hãy nhận lấy ở chúng tôi lòng biết... biết... ơn... ơn... ơn... sâu... sắc... nhất...”.
0
Secmenđi sinh ngày nào?

- Người ấy là một nhà đại bác học.
- Thế ông ta có phát minh gì không?
- Rõ thật cái anh này! Dĩ nhiên là phải có chứ! Đúng là thời buổi bây giờ, không nói gì đến hạng dân thường, mà ngay cả những người có học cũng chẳng có anh nào quan tâm gì đến khoa học cả! Nhà bác học này có cống hiến rất lớn cho nền lịch sử văn học nước nhà đấy, vì ông ta đã tìm ra một ngày quan trọng.
- Ngày gì thế vậy?
- Chắc anh có nghe nói đến một nhà thơ ở thế kỷ thứ 15 tên là Secmenđi chứ?
- Không, tôi chưa nghe nói bao giờ.
- Secmenđi để lại cho hậu thế một tập thơ lớn. Tên tuổi của ông được nhắc đến trong nhiều tập thi tuyển.
- Vậy thì sao?
- Chả là thế này: tất cả các tài liệu về văn học sử đâu như đều nói Secmenđi sinh ngày mồng 4 tháng Năm. Nhưng vị giáo sư nọ đã bác bỏ hoàn toàn ý kiến đó.
- Bác bỏ bằng cách nào?
- Bằng cách viết hẳn một cuốn sách dày sáu trăm trang.
- Và trong sáu trăm trang ấy ông ta đã chứng minh được quan điểm của mình?
- Ồ, đâu có! Giải quyết một vấn đề phức tạp như vậy anh tưởng dễ lắm đấy! Đó mới chỉ là tập mở đầu thôi. Trong tập này giáo sư mới chỉ khẳng định rằng Secmenđi không phải sinh ngày mồng 4 tháng Năm.
- Rồi sau đó?
- Sau đó, sang tập hai, tập ba, mà có khi cả tập bốn nữa cũng nên, giáo sư mới dùng mọi lý lẽ để chứng minh rằng, cái ngày mồng 4 tháng Năm ấy là sai. Tiếp đến, sang tập năm và tập sáu, ông mới cho biết ngày sinh chính xác của Secmenđi.
- Thế sẽ có bao nhiêu tập tất cả?
- Hiện giờ cũng chưa biết sẽ có bao nhiêu tập tất cả.
- Thế đến bao giờ giáo sư mới viết xong các tập kia?
- Nếu thánh Ala cho giáo sư sống thêm mười lăm, hai mươi năm nữa, thì ông sẽ hoàn thành tập hai. Năm nay giáo sư đã hơn sáu chục tuổi rồi.
- Nói dại mồm, nếu nhỡ chẳng may giáo sư... tịch đi.
- Thì các nhà bác học khác sẽ tiếp tục công trình của giáo sư, ngay từ chỗ ông ta dừng lai.
- Anh cho phép tôi hỏi một câu: Quả thật anh bắt đầu làm cho tôi thấy tò mò. Lúc này, hình như anh có nói Secmenđi không phải sinh ngày mồng 4 tháng Năm. Thế thì ông ta sinh ngày nào?
- Đó chính là vấn đề mấu chốt cần phải xác minh để làm sáng tỏ lịch sử văn học nước nhà. Secmenđi sinh không phải ngày mồng 4 tháng Năm, mà vào đêm mồng 3 rạng ngày mồng 4. Nhưng sự kiện này lại xảy ra trước mười hai giờ đêm, nên ngày sinh của ông tất phải coi là ngày mồng 3, chứ không phải ngày mồng 4. Tất cả các nhà nghiên cứu văn học sử đã bị nhầm chính là ở chỗ này.
- Và toàn bộ công trình phát minh của giáo sư cũng chỉ là ở chỗ đó?
- Thế theo anh, tìm ra được ngày sinh của một nhà thơ cổ hãy còn ít hay sao?
- Không phải, nhưng tôi không hiểu tại sao giáo sư không thể nói vắn tắt điều đó trong vài dòng, mà phải tốn công viết hàng mấy trăm trang giấy?
- Anh nói chán quá! Nếu viết vài dòng, thì một bác học như giáo sư, còn gì là bác học nữa? Còn có gì là người khác thường nữa? Những nhà bác học, sở dĩ là bác học, bởi vì họ biết cách trình bày thế nào để những điều hết sức dễ hiểu trở thành những cái rất khó hiểu, như kiểu đánh đố vậy. Chỉ có vài dòng thôi, nhưng họ biết cách kéo ra thành vài trăm trang. Cái khác nhau giữa những nhà bác học và những người không phải bác học chính là ở chỗ đó.
- Nếu vậy thì làm sao anh biết được nhà thơ Secmenđi không phải sinh ngày mồng 4, mà vào ngày mồng 3 tháng Năm? Anh đọc cuốn sách ấy rồi ư?
- Anh hỏi kỳ quá! Ai mà hiểu nổi những cái viết trong sách của nhà bác học được! Khoa học nó thâm thúy lắm, chứ đâu phải...
- Tôi biết, nhưng chính vì thế tôi mới hỏi, tại sao anh lại biết được ngày sinh của Secmenđi.
- Thực ra tôi biết không phải là vì tôi đọc sách của giáo sư, mà chính là vì giáo sư nói với tôi... Với lại, nói chung những tác phẩm như vậy người ta viết ra không phải để cho mọi người đọc...
- Thế thì người ta in làm gì?
- Anh thật chả hiểu cóc khô gì về khoa học cả! Này nhé, tôi giả dụ có một tác phẩm nào đó được in ra, được người ta tranh nhau mua, tranh nhau đọc, ai đọc cũng đều hiểu cả, thì thử hỏi như thế nó còn quái gì là giá trị nữa? Ấy thế cho nên các nhà khoa học mới mong cho tác phẩm của họ in ra thà cứ nằm mốc trên giá sách cho bụi bám còn hơn là được mọi người tranh nhau đọc, hay thậm chí không ai đọc cả, hoặc chỉ có cuốn sách nào viết rất khó hiểu, hay thậm chí không ai hiểu nổi, mới làm tăng uy tín của tác giả mà thôi.
- Thú thật anh làm tôi rất ngạc nhiên.
- Có gì mà ngạc nhiên! Anh tưởng viết để không ai hiểu được dễ lắm đấy phỏng? Anh có thấy từ nãy đến giờ tôi với anh nói chuyện với nhau đã hơn một tiếng đồng hồ rồi, mà chúng mình vẫn cứ hiểu nhau một cách dễ dàng không? Bây giờ tôi với anh hãy thử nói chuyện với nhau thế nào để không ai hiểu ai độ dăm phút thôi, xem có dễ không nào?
- Úi, thế thì khó lắm!
- Không phải là khó, mà nói thẳng ra là không thể được. Hơn nữa, đây không phải là chuyện ngồi tán phét với nhau dăm ba phút, mà là viết hàng trăm sách, mà lại viết nhăng viết cuội. Nếu không thì lại giống như cái anh loạn trí, thích nói lảm nhảm hàng mấy giờ, có khi mấy ngày liền, những chuyện chẳng ra đâu vào đâu cả. Nhưng những người này thì chẳng bao giờ trở thành bác học được! Vậy thì cái khác nhau giữa nhà bác học và anh mất trí là ở chỗ nào? Nhà bác học có thể viết một cuốn sách hàng mấy trăm trang mà người đọc chẳng hiểu gì sốt, chỉ thấy như bị lạc vào một khu rừng rậm ấy. Nhưng có điều là trong sách của họ, không thể tìm được lấy một lỗi ngữ pháp hay đặt câu nào cả, hay cảm thấy có câu nào gọi là lủng củng hay thiếu lô gích cả. Còn như anh mất trí thì nói câu trước câu sau là đã lẫn lộn rồi. Dễ hiểu thôi: vì anh ta mất trí mà lại!
- Tôi muốn hỏi anh một điều: nhưng làm thế nào giáo sư chứng minh được là Secmenđi sinh không phải ngày mồng 4 tháng Năm, mà là đêm mồng 3 rạng ngày mồng 4?
- Nhưng giáo sư có chứng minh điều gì như vậy đâu! Trong một bài thơ đăng trong một tuyển tập thơ của mình, Secmenđi có viết:
“Tôi chào đời
Là chào hôm qua và cả hôm nay”

Như thế là rõ quá rồi còn gì? Chào hôm qua và cả hôm nay là lúc nào? Là nửa đêm: Dạng thức của động từ “chào” ở đây chỉ một hành động chưa kết thúc, mà còn tiếp tục kéo dài sang cả thời tương lai. Nghĩa là Secmenđi ra trước lúc nửa đêm một chút, vào khoảng kém 5 hay kém 3 phút gì đó thì đến nửa đêm. Như vậy có thể suy ra ngày sinh của ông không phải là ngày mồng 4, mà là ngày mồng 3.
- Cứ cho là đúng như thế đi, nhưng tôi vẫn không hiểu tất cả những cái đó cuối cùng để làm gì?
- Để làm gì ư? Này nhé, nói ví thử bây giờ có một nhà bác học nào đó viết một cuốn sách ba tập và nói rằng Secmenđi sinh vào lúc 23 giờ 30 phút ngày mồng 3 tháng Năm. Nhưng một nhà bác học khác lại bác bỏ ý kiến của ông ta và bảo rằng: “Không đúng, Secmenđi sinh vào hồi 23 giờ 35 phút, chứ không phải là 23 giờ 30 phút” và lại viết một cuốn sách dày những năm tập để chứng minh được chính xác cả ngày sinh lẫn nơi sinh của nhà thơ Secmenđi.
- Nói anh tha lỗi, chứ thật tình tôi vẫn chưa hiểu gì cả. Ừ thì cứ cho là Secmenđi sinh không phải mồng 4 tháng Năm, mà là mồng 3, không phải vào hồi 23 giờ 30 phút, mà là 23 giờ 35 phút đi. Nhưng biết được như thế để rồi cuối cùng rút ra cái gì?
- Anh nên nhớ rằng người ta soạn ra được lịch sử văn học cũng chính là từ những cái chi tiết ấy đấy. Một người bảo “mồng 3 tháng Năm”, người kia bảo “Không phải, mồng 4 chứ!” Thế là nổ ra tranh cãi. Và người nào viết được cuốn sách dày hơn và khó hiểu hơn là chứng tỏ người đó uyên bác hơn.
- Tôi không hiểu vậy thì lợi ích thực sự của cuộc tranh cãi ấy là ở chỗ nào?
- Trời ơi! Cái anh này mới thật là tối dạ! Anh không biết rằng chính nhờ những cuộc cãi vã ấy mà nhiều người mới trở thành giáo sư và bác học hay sao? Đó là cách không tốn mấy công sức mà vẫn có danh vọng, sống êm thấm mà vẫn được mọi người kính nể. Tên tuổi lại còn được lưu truyền hậu thế nữa chứ! Nói của đáng tội, chứ ví thử không có họ thì làm sao chúng ta biết được sự thật như Secmenđi sinh vào ngày nào, giờ nào? Hay làm sao ta hiểu được nhiều chân lý vĩ đại khác nữa! Cứ gọi là suốt đời ta cứ sống trong cảnh u mê tăm tối thôi! Loài người có tiến bộ được cũng chính là theo cách đó cả. Nghĩa là có một nhà bác học nào đó đưa ra tư tưởng mới. Lập tức một nhà bác học khác lắc đầu phê phán, ý nói: “Không đúng, không đúng”. Thế là nổ ra một cuộc tranh cãi sôi nổi. Vị thứ ba bỗng xen vào bảo: “Cả hai ông đều sai tuốt”. Và khoa học cứ thế mà ngày càng tiến lên mãi.
- Trời ơi, anh nói chí lý quá! Đúng là chỉ cần chịu khó suy nghĩ một chút là hiểu được ngay rằng, nếu không có các nhà bác học thì làm sao chúng ta phát hiện ra được chân lý. Té ra bấy lâu nay chúng ta vẫn sống trong cảnh u mê tăm tối mà không biết. Phải rồi, giá không có các nhà bác học thì có lẽ chúng ta chẳng biết cóc khô gì hết. Thậm chí đến nhà thơ Secmenđi sinh ngày nào có lẽ chúng ta cũng chẳng biết nữa. Mà cứ tưởng ông sinh ngày mồng 4 tháng Năm mất! Đúng là không thể sống mãi trong sự ngu dốt như vậy được. Tôi không thể hình dung nổi chúng ta sẽ làm được cái gì nếu không có các nhà bác học?!
0
Tại sao nước ta chậm phát triển?

Được sự tài trợ của Quỹ từ thiện Mỹ “Đzatơ”, một nhóm chuyên gia kinh tế nổi tiếng của Mỹ chia nhau đi các nước chậm phát triển để điều tra xem tại sao các nước này lại chậm phát triển. Lúc đầu người ta gọi chuyến đi của họ là “Cuộc khảo sát các nước lạc hậu”. Nhưng sau, xét thấy hai chữ “lạc hậu” có thể mang ý nghĩa xúc phạm, nên để phù hợp với đường lối quốc tế mới, và tranh thủ cảm tình của dân chúng các nước này, người ta thay nó bằng mấy chữ “chậm phát triển”.
Theo sự phân công của Quỹ, ông Trândơ Uity, giáo sư kinh tế, được phái sang nước Thổ Nhĩ Kỳ. Để giảm nhẹ nhiệm vụ được giao cho giáo sư, người ta tìm sẵn cho ông một người ở Thổ Nhĩ Kỳ để khi sang đó, ông chỉ việc tìm cách gặp gỡ, tiếp xúc, đặng thu lượm tin tức. Người ấy tức là ngài Xưtcư, một trong những nhân vật có uy tín nhất trong lĩnh vực nói trên.
Khoảng hai, ba tháng sau khi đã hoàn thành sứ mạng của Quỹ Đzatơ tại các nước chậm phát triển, tất cả các chuyên gia và các giáo sư đều đã trở về Mỹ. Duy giáo sư Trândơ Uity, đi nghiên cứu nước Thổ Nhĩ Kỳ, là vẫn không thấy trở về, mà lại cũng không có tí tin tức gì.
Sợ rằng có thể giáo sư bị ốm, Quỹ Đzatơ nhờ giới cầm quyền ở Thổ cho biết địa chỉ của ông, và ngày 26 tháng Tư đã gửi cho ông một bức thư. Ngay sau đó quỹ đã nhận được thư phúc đáp của giáo sư. Quỹ lại gửi tiếp cho giáo sư một lá thư nữa và cũng nhận được thư trả lời ngay. Một cuộc trao đổi thư từ thế là được thiết lập giữa Quỹ và giáo sư. Sắp tới những bức thư này sẽ được in thành một cuốn sách gồm ba tập, và theo như người ta dự đoán, những tập thư này có thể trở thành một tác phẩm bán chạy nhất không phải chỉ ở Mỹ, mà ở khấp thế giới.
Một người Mỹ lãnh việc xuất bản những tập thư này vốn là người bạn cũ của tôi. Ông muốn biết ý kiến của tôi về việc này nên đã gửi cho tôi xem bản thảo. Về phần tôi, xét thấy cũng là điều bổ ích, tôi muốn công bố ra đây một vài bức thư trong số đó để các độc giả cùng đọc.

Ngày 14 tháng Tư năm 1958.
Ông Trândơ Uity thân mến,
Tất cả mọi thành viên trong Tiểu ban nghiên cứu các nước chậm phát triển, trừ có ông, đều đã trở về nước. Chúng tôi rất lo lắng vì đã bốn tháng nay không nhận được tin tức gì của ông.
Chờ thư ông.
Gửi ông lời chào trân trọng.

Ngày 18 tháng Tư năm 1958.
Thưa các ngài,
Xin cảm ơn các ngài về bức thư ngày 14 tháng Tư 1958. Tôi rất buồn vì cho đến bây giờ chưa thể cung cấp cho các ngài tin tức gì. Suốt bốn tháng trời nay tôi không sao tiếp xúc được với những nhân vật có thể cung cấp những tin tức cần thiết chỉ vì vướng những ngày hội.
Tự thấy chưa được phép trở về nước khi chưa hoàn thành nhiệm vụ mà Quỹ Đzatơ giao phó, nên tôi quyết định ở lại đây cho đến tận bây giờ. Tôi hy vọng có thể gặp được ngài Xưtcư và các đồng nghiệp của ông ta trong một ngày gần đây.
Người cộng sự trung thành của các ngài.

Ngày 1 tháng Năm năm 1958.
Gửi ông Trândơ Uity,
Chúng tôi hy vọng là đã không hiểu nhầm khi nghĩ rằng ông cố ý nói đùa, vì không có ở nước nào mà hội hè lại kéo dài suốt bốn tháng trời được. Vậy chúng tôi mong rằng chậm nhất là sang tháng Năm này ông sẽ gặp được ngài Xưtcư và các đồng nghiệp của ông ta để hoàn tất công việc nghiên cứu, và trong thời gian ngắn nhất có thể trở về nước với bản phúc trình đầy đủ về vấn đề tại sao Thổ Nhĩ Kỳ vẫn là một nước chậm phát triển.
Gửi ông lời chào thành thực.

Ngày 5 tháng Năm năm 1958.
Thưa các ngài,
Vào ngày 1 tháng Năm, tức là ngày các ngài viết thư cho tôi, tôi vẫn đang tiếp tục đi tìm ông Xưtcư. Nhưng vì Mồng một tháng Năm là ngày Hội mùa xuân của Thổ Nhĩ Kỳ nên tôi không tài nào tìm được ông ta. Nhưng nhất định thế nào tôi cũng đạt được mục đích. Tôi hy vọng sẽ gặp được ông ta vào một ngày nào đó không phải ngày hội.
Trong bức thư trước tôi không nói rằng hội hè ở đây kéo dài suốt bốn tháng. Tôi chỉ muốn nói rằng suốt bốn tháng trời tôi không tài nào gặp được ngài Xưtcư vì vướng những ngày hội. Xin các ngài lưu ý cho sự khác nhau giữa hai cách nói. Tôi vẫn chưa mất hy vọng và cho rằng có thể gặp được ngài Xưtcư và các bạn của ông ta vào ngày 6 tháng Năm này.
Đồng sự trung thành của các ngài.
Trândơ Uity

Ngày 18 tháng Năm năm 1958.
Ông Trândơ Uity thân mến,
Bức thư ông báo cho biết ngày 6 tháng Năm chắc chắn ông sẽ gặp được ngài Xưtcư làm chúng tôi hết sức vui mừng.
Nhưng từ đó đến nay không nhận được thêm tin tức gì của ông, chúng tôi lại bắt đầu thất vọng. Chúng tôi nóng lòng chờ thư trả lời của ông.
Quỹ Dzattf

Ngày 2 tháng Sáu năm 1958.
Các ngài kính mến,
Quả thực tôi có báo cáo cho các ngài biết rằng tôi hy vọng gặp được ngài Xưtcư vào ngày 6 tháng Năm. Nhưng hôm ấy lúc tôi đến chỗ ông ta, thì ông ta đã đi mất, vì ngày 6 tháng Năm ở Thổ Nhĩ Kỳ là ngày Hưdưa Iliat
[1], nên không thể gặp ai ở nhà hay ở sở cả.
Tôi có để lại cho ông ta tấm danh thiếp và báo để ông ta biết tôi sẽ lại thăm ông ta vào ngày 15 tháng Năm. Nhưng ông Xưtcư gọi điện cho tôi đề nghị hoãn sang ngày khác, vì ngày 15 tháng Năm là “Ngày tưởng nhớ các anh hùng phi công tử trận” và vào ngày đó ông phải đọc một bài diễn văn quan trọng. Sáng 19 tháng Năm, tôi lại gọi điện cho ông Xưtcư để thỏa thuận thời gian gặp nhau, nhưng vì 19 tháng Năm là “Ngày hội thể thao và thanh niên” nên cuộc gặp của chúng tôi lại hoãn sang ngày khác. Mong các ngài tin rằng tôi không hề dám lơ là trách nhiệm được giao phó và luôn luôn bám sát dấu vết của ông Xưtcư. Tôi vẫn hy vọng chắc chắn sẽ gặp được ông ta vào một ngày không phải ngày hội trong tháng Sáu này.
Đồng sự trung thành của các ngài.
Trânđơ Uity

Ngày 27 tháng Sáu năm 1958.
Ông Uity thân mến,
Chúng tôi đã nhận được tin mừng ông báo cho biết rằng chắc chắn ông sẽ gặp được ngài Xưtcư nội trong tháng Sáu này. Nhưng vì tháng Sáu sắp hết mà vẫn không nhận được tin gì mới của ông, nên tất cả chúng tôi, những đồng nghiệp của ông, lại lấy làm thất vọng. Chúng tôi đề nghị ông nếu thấy không thể gặp được ngài Xưtcư thì hãy tiếp xúc với những người khác để lấy các tin tức cần thiết. Chờ thư ông.
Gửi ông lời chào trân trọng.
Qũy Dzattf

Ngày 18 tháng Bảy năm 1958.
Thưa các ngài,
Sở dĩ tôi đã chậm phúc đáp là muốn chờ một tin vui để báo cho các ngài. Tôi xin nói ngay để các ngài biết rằng tôi sẽ không từ bỏ quyết tâm gặp bằng được ngài Xưtcư và các bạn bè của ông ta, dù rằng trong vòng vài ngày tới có thể tôi vẫn chưa thực hiện được điều đó. Hôm qua tôi lại đến chỗ ông Xưtcư, nhưng rất tiếc vẫn không gặp, vì từ ngày 14 tháng Bảy là bắt đầu “Hội đất”. Còn bắt đầu từ ngày hôm kia là ngày Cuốc-ban Bai-ram
[2].
Hội này kéo dài bốn ngày, tức là đến ngày 20 tháng Bảy, và trong thời gian này tìm gặp ông Xưtcư thì thật là bất tiện. Ngày Mồng một tháng Bảy, tức là hôm tôi nhận được thư của các ngài, chúng tôi đã suýt gặp được nhau, nhưng rất tiếc Mồng một tháng Bảy lại là ngày hội Cabôta
[3], nên cuối cùng lại không gặp được.
Xin các ngài đừng nghĩ là tôi không nỗ lực trong việc tìm gặp bằng được ngài Xưtcư. Mới hôm qua tôi lại tìm đến nhà ông ta. Nhưng khi biết rằng ngày 17 tháng Bảy là ngày hội tôn giáo Asura, nên tôi lại không dám quấy rầy ông.
Các ngài có khuyên tôi nếu thấy không thể gặp được ngài Xưtcư và các đồng nghiệp của ông ta, thì tìm gặp các nhân vật khác để thu thập tin tức. Thú thực là không phải tôi không nghĩ đến chuyện đó. Nhưng vì suốt tám tháng trời nay tôi theo đuổi ông Xưtcư, nên bây giờ, nếu tôi từ bỏ ý định tìm gặp ông ta vào đúng lúc tôi cho rằng các hội hè hầu như đã vãn, thì toàn bộ công sức của tôi coi như là uổng phí. Với lại, xin các ngài chớ quên rằng đi tìm một nhân vật mới để làm quen ở xứ sở này cũng phải mất đến tám tháng.
Vì vậy tôi quyết định bằng bất cứ giá nào cũng phải tiếp tục tìm gặp bằng được ngài Xưtcư vào một ngày nào đó không phải ngày hội. Hy vọng từ nay đến cuối tháng có thể báo cho các ngài biết tin vui.
Trâdơ Uity

Ngày 2 tháng 9 năm 1958.
Thưa các ngài,
Tôi xin thông báo vắn tắt cho các ngài biết công việc tôi đã làm trong hai tháng qua.
Như tôi đã nói trong một lá thư trước, ngày 23 tháng Bảy tôi có đến chỗ ông Xưtcư. Nhưng vì 23 tháng Bảy là ngày Kỷ niệm công bố bản hiến pháp đầu tiên, nên cho đến tận bữa ăn trưa tôi vẫn không gặp được ông Xưtcư ở công sở. Để khỏi mất thời gian vô ích, sau bữa ăn tôi gọi điện cho ông ta. Ngày 24 tháng Bảy là ngày Hiệp ước Lôdana
[4].
Người ta cho tôi biết là ông Xưtcư mắc bận đi dự lễ kỷ niệm. Không để mất hy vọng, tôi quyết định tốt nhất là đến gặp ông ta tại nhà. Và tuần đầu tháng Tám, tôi có đến nhà ông ta vào một buổi tối. Nhưng người ta cho tôi biết ông đã đi dự dạ hội Hồ-trăn-tử. Ở nước ông Xưtcư người ta trồng nhiều Hồ-trăn-tử nên mỗi năm một lần lại có dạ hội Hồ-trăn-tử. Ngày hôm sau chúng tôi cũng không gặp được nhau vì trùng vào sinh nhật của bà Xưtcư. Không thất vọng, ba ngày sau tôi lại đến tìm ông ta. Nhưng hôm đó chúng tôi cũng không kịp nói chuyện gì cả, vì ông Xưtcư vội đi đến một ngôi chùa mà ông thuê người ta cầu siêu cho vị thân sinh đã quá cố của ông. Ngày 30 tháng Tám lại là ngày Hội chiến thắng, nên tất nhiên tôi cũng không gặp ông ta ở công sở. Hôm qua, lúc tôi đến chỗ ông ta, thì được bảo là ông đã đi dự lễ kỷ niệm Ngày giải phóng Idơmia, tổ chức vào ngày 9 tháng Chín. Đợi khi nào ông ở Idơmia về, tôi sẽ tìm cách gặp ông ta ngay. Xin cam đoan với các ngài là không ngày nào tôi để mất hút bóng ông ta.
Gửi các ngài lời chào kính trọng.
Trândơ Uity

Ngày 8 tháng 10 năm 1958.
Gửi ông Uity,
Quỹ Đzatơ quyết định ngừng việc tìm hiểu nguyên nhân chậm phát triển của đất nước mà ông đang ở. Vậy xin cám ơn ông đã có nhiều nỗ lực và yêu cầu ông trở về nước để tiếp tục những công việc bình thường.
Quỹ Đzatơ

Ngày 16 tháng 10 năm 1958.
Thưa các ngài,
Qua bức thư cuối cùng của các ngài tôi hiểu rằng Quỹ Đzatơ quyết định ngừng việc đài thọ cho việc nghiên cứu ở nước này. Nhưng vì không muốn để công sức tôi đã bỏ ra suốt gần một năm nay phải uổng phí, nên tôi quyết định sẽ sử dụng tài chính của riêng cá nhân tôi để tiếp tục công việc và sẽ nỗ lực đến giọt máu cuối cùng để gặp cho được ngài Xưtcư và các đồng nghiệp của ông. Vấn đề là ở chỗ, chính bản thân tôi giờ đây cũng rất muốn giải đáp được câu hỏi tại sao nước này chậm phát triển, và bằng bất cứ giá nào tôi cũng phải giải đáp cho được câu hỏi đó.
Tuy các ngài đã có thư yêu cầu tôi như vậy, tôi vẫn xin phép được trình bày vắn tắt với các ngài về công việc tôi đã làm ở đây, vì mấy tháng vừa qua tôi vẫn không chịu ngồi im. Mặc dù ngày 15 tháng Chín tôi không gặp được ngài Xưtcư vì vướng vào ngày kỷ niệm Bacbarốt
[5]. Nhưng tôi được thông báo cho biết là đến 27 tháng Chín tôi sẽ được yết kiến ngài Xưtcư tại nơi làm việc. Nhưng té ra 27 tháng Chín lại là ngày Hội tiếng Thổ Nhĩ Kỳ. Bao nhiêu hy vọng đành lại phải chuyển sang tháng Mười. Hôm mồng 6 tháng Mười, chúng tôi lại hụt mất cuộc gặp nhau, chỉ vì hôm đó là ngày Kỷ niệm giải phóng Stambul. Ba hôm sau tôi đến sở của ông Xưtcư thì được biết ông bận kỷ niệm ngày cưới nên không đến sở.
Từ 28 tháng Mười là bắt đầu 3 ngày Hội Cộng hòa. Trong những ngày hội dân tộc này mà đi quấy rầy người khác tất nhiên là một điều ngu ngốc. Đành lại phải chờ đến tháng Mười một. Trong những ngày tới tôi hy vọng sẽ bắt được ông Xưtcư vào giữa hai ngày hội và sẽ trao đổi với ông vấn đề tại sao nước ông ta lại chậm phát triển như vậy.
Gửi các ngài lời chào trân trọng
Trândơ Uity

Ngày 2 tháng Mười một năm 1958.
Ông Uity thân mến,
Từ lâu Quỹ Đzatơ đã thôi đài thọ cho nhiệm vụ nghiên cứu các nước chậm phát triển. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn muốn biết tại sao đất nước mà ông đang ở lại là nước chậm phát triển, và chúng tôi sẽ rất biết ơn ông nếu ông tiếp tục cho chúng tôi biết kết quả những cuộc điều tra của ông.
Gửi ông lời chào kính trọng.
Quỹ Đzatơ

Ngày 18 tháng Mười một năm 1958.
Thưa các ngài,
Tôi xin thông báo vắn tắt để các ngài biết về những nỗ lực của tôi trong thời gian qua.
Ngày 10 tháng Mười một là ngày Quốc tang
[6]
Chờ cho không khí đau buồn đã dịu, ba ngày sau, tức là ngày 13 tháng Mười một, tôi có đến chỗ ông Xưtcư. Nhưng người ta cho tôi biết ông đã đi Aneara dự lễ kỷ niệm ngày rời thủ đô về thành phố này. Một tuần sau thì ông về, nhưng tôi vẫn không gặp được, vì ông đi xem đá bóng. Hôm sau lại là ngày hội Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế. Hội này kết thúc thì lại bắt đầu tháng diệt ruồi. Chương trình hoạt động của năm 1958 coi như kết thúc. Sang năm mới, tôi hy vọng có nhiều khả năng gặp được ông Xưtcư. Dù khó khăn thế nào tôi cũng quyết gặp được ông vào một ngày nào đó không có hội hè, mít tinh kỷ niệm, hay đá bóng đá banh gì cả, và nhất định cuối cùng sẽ tìm hiểu được nguyên nhân tại sao nước ông ta chậm phát triển.
Trândơ Uity trung thành của các ngài.

Ngày 28 tháng Hai năm 1959.
Kính gửi ông Uity,
Sau bức thư cuối cùng với nhiều hy vọng và hứa hẹn của ông, chúng tôi không nhận được thêm của ông tin tức gì nữa. Chúng tôi rất lo lắng trước sự im lặng của ông
Quỹ Đzatơ

Ngày 10 tháng Ba năm 1959.
Thưa các ngài,
Năm 1959 đối với tôi là một năm đầy hy vọng. Trong năm nay, nếu thánh Ala phù hộ thì tôi có cơ hội gặp được ngài Xưtcư. Tôi muốn chia sẻ với các ngài niềm hy vọng này. Ngày 1 tháng Giêng tôi không thể đến chỗ ngài Xưtcư được vì là năm mới. Hôm sau tôi cũng không dám quấy rầy ông, vì vướng lễ Đêm Thánh sinh. Tiếp đó là ngày Kỷ niệm chiến thắng Inêniu.
Tôi thấy làm phiền ông ta trong những ngày này thì thật là không tiện, nên đành trông mong vào tháng Hai. Ngày 4 tháng Hai là ngày lễ Dâng thánh và ngài Xưtcư phải đi lễ. Sau khi xem kỹ lại lịch và biết rằng ngày 16 tháng Hai không có hội hè hay lễ bái gì cả, tôi lại chứa chan hy vọng. Nhưng thật không may, đúng ngày đó ngài Xưtcư lại được mời đi dự tiệc tại trường học mà trước đây ngài đã từng học. Ngày 22 tháng Hai là ngày Thiên khải của thánh Môhamét. Tôi định ngày mai sẽ lại chơi ngài Xưtcư, nhưng lại nhớ ra mai lại bắt đầu tháng ăn chay. Nếu có tin tức gì mới tôi sẽ báo cho các ngài biết ngay.
Trândơ Uity

Ngày 24 tháng Tư năm 1959.
Thưa các ngài,
Trong suốt hai năm qua tôi không thể tìm được ngày nào không phải ngày hội để nói chuyện với ngài Xưtcư và các đồng nghiệp của ông ta. Ngày 12 tháng Tư, khi chấm dứt Tháng ăn chay thì lại bắt đầu Tuần ăn thịt. Đợi vài ngày cho ngài Xưtcư hồi sức sau Tháng ăn chay, tôi đến thăm ông ta, nhưng người ta cho tôi biết hôm ấy là ngày 23 tháng Tư, tức là ngày Hội trẻ con. Ngày mai tôi sẽ từ giã xứ sở này.
Trândơ Uity


Sau khi giáo sư Trândơ Uity về nước, Quỹ Đzatơ có yêu cầu ông trình bầy những kết qủa điều tra của mình, nhưng giáo sư nói:
- Thưa các vị, mặc dù đã tốn khá nhiều thời gian và công sức, nhưng tôi không sao tiếp xúc được với một nhân vật nào ở xứ sở này cả, vì những ngày hội hè ở đây quá nhiều. Vì thế tôi không thể tìm hiểu được nguyên nhân tại sao nước này chậm phát triển. Tôi không thể nói gì về vấn đề này cả. Tôi chỉ có thể nói rằng chính bản thân tôi giờ đây cũng đang khao khát muốn biết tại sao nước này chậm phát triển.
Bị chú: Tôi đã viết thư cho ông bạn nhà in Mỹ, người đã có nhã ý cho tôi đọc bản thảo tập thư mà tôi vừa công bố cho các bạn xem mấy bức, và khuyên ông ta cho in ngay tập thư đó. Không hiểu liệu ông bạn nhà in đáng kính có thực hiện lời khuyên của tôi hay không?
-----------------
[1] Tên một vị thánh.
[2] Cuốc-ban Bai-ram - một ngày lễ của đạo Hồi.
[3] Hội Cabôta - Dưới triều vua Ôxman, nước Thổ bị các đế quốc lân cận tước mất quyền xây dựng các chiến thuyền chạy dọc bờ biển, về sau nhờ cuộc đấu tranh giải phóng Dân tộc, Thổ đã giành lại được quyền này.
[4] Ngày Lôdana - Ngày 24 tháng Bảy năm 1624 tại Lôdana (Thụy Sĩ) Thổ Nhĩ Kỳ đã ký với các quốc gia Antata một bản hòa ước và một bản công ước về việc sử dụng các eo biển Bắc Hải.
[5] Bacbarôt (1473-1566). Một tư lệnh hải quân nổi tiếng dưới triều vua Ôxman.
[6] Ngày 10 tháng Mười một năm 1938 là ngày từ trần của Mustapha Kêman Atachiuc, người sáng lập và là Tổng thống đầu tiên của nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ.
0
Người phụ nữ xã hội

Ai bảo rằng người phụ nữ tham gia công tác xã hội là nguyên nhân làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, là người ấy hoàn toàn nói bậy! Tôi có thể lấy ngay cuộc sống êm ấm của chính gia đình tôi đây để chứng minh.
Hồi ấy, do kết quả của sự nhập cảng dân chủ vào nước ta và nhờ chiến dịch vận động tranh cử rùm beng khắp nơi, mà việc bầu nghị sĩ bỗng trở nên dễ dàng hơn, nhưng sinh hoạt thì lại đâm khó khăn hơn, tôi buộc lòng phải cưới cô vợ có công ăn việc làm.
Vợ tôi là một viên chức hết sức mẫn cán. Những lúc rảnh rỗi, không có việc gì đan lát, nàng thường thích gây gổ cãi lộn với những bạn đồng sự. Tôi thì làm việc ban đêm ở một tòa soạn.
Vào đúng cái hôm chúng tôi quyết định cưới nhau, vợ tôi được nhà băng cho nghỉ bù. Tuy thức suốt đêm làm việc, nhưng ngày hôm đó tôi vẫn không sao ngủ được. Chúng tôi đến phòng khai giá thú để đăng ký kết hôn. Ngay tối hôm ấy, để người vợ yêu ở lại một mình trong căn buồng ấm cúng, tôi đến tòa soan làm việc. Sáng hôm sau, lúc trở về tổ ấm, tôi thấy mảnh giấy của vợ gài trên cửa buồng ngủ:
“Chồng yêu của em!
Em đến nhà băng đây. Hôn đôi mắt nhỏ của anh”.

Tôi đọc mảnh giấy của vợ mà cảm động đến rơi lệ.
Sau đó tôi leo lên giường làm một giấc đến tận chiều. Khi tỉnh dậy, vợ tôi vẫn chưa đi làm về. Sợ đến tòa soạn trễ, tôi cũng viết cho vợ một mẩu giấy và gài vào đúng chỗ đó:
“Con mèo nhỏ của anh!
Anh đi làm đây. Vì đã trễ giờ rồi! Hôn đôi má thơm tho của em!”

Sáng hôm sau chúng tôi vẫn không gặp được nhau. Nhưng người vợ chung tình của tôi không quên để lại một lá thư nồng nàn âu yếm, với những lời lẽ ngắn gọn, cô đọng như mệnh lệnh của viên chỉ huy dũng cảm trước giờ tấn công.
“Anh bé bỏng của em!
Em đi đây. Hôn anh một ngàn, ngàn, ngàn cái!”

Tôi lại viết trả lời ngay:
“Em bé bỏng của anh!
Anh đã nhận được thư em. Cám ơn em nhiều nhiều. Hôn đôi môi ngọt ngào của em.
Chồng của em: Haxan Kaphađan”

Từ đó chúng tôi bắt đầu ôm nhau và hôn nhau qua các bức thư. Ba tháng sau, kể từ ngày chúng tôi cưới nhau, trong một bức thư để lại cho tôi vẫn ở chỗ cũ trên cửa buồng ngủ, vợ tôi viết:
“Anh thân yêu!
Cám ơn anh một ngàn lần vì đã gửi thư cho em. Em vẫn khỏe và mong anh cũng khỏe như thế. Em xin báo ngay để anh biết tin mừng là chúng ta sắp có con. Em cảm thấy hình như em hơi có mang. Nhưng không sao cả đâu, anh đừng lo lắng gì cả! Bác sĩ bảo rằng đã đến tháng thứ tám. Em rất muốn đứa con của chúng ta lớn lên sẽ thành một công dân có ích cho xã hội. Nhưng muốn vậy chúng ta phải sát cánh cùng nhau làm việc thật hăng say hơn nữa, anh nhé! Anh nhớ viết thư cho em luôn đấy. Em chờ.
Pakidê Kaphađan riêng của mình anh”.

Như bất cứ ông bố nào, tôi sung sướng vô hạn khi nhận được tin đó. Tôi lập tức viết thư trả lời vợ dán lên cửa buồng ngủ:
“Nàng tiên của anh.
Anh sung sướng không sao tả xiết. Anh đã mua tặng em cái trâm gài đầu. Em cứ lật gối lên sẽ thấy. Hôn em nghìn, nghìn, nghìn lần”.

Tất nhiên, vợ chồng sống với nhau lâu dần cũng quen đi, và ngọn lửa yêu đương nồng đượm ban đầu cũng dần dần nguội lạnh.
Chúng tôi đã quen với cuộc sống gia đình, nên cũng bắt đầu ít quan tâm đến nhau hơn. Thậm chí chúng tôi quên cả viết thư cho nhau, hoặc viết rồi nhưng quên không gài lên cửa. Mấy năm sau thì chuyện thư từ thôi hẳn. Nhưng căn cứ vào những chiếc bít tất hay những cái quần áo lót của vợ tôi để vương vãi trên bàn ăn hay trên mặt rađiô mà lần nào dọn buồng tôi cũng nhặt được, tôi biết rằng vợ tôi vẫn thường xuyên đảo về nhà.
Cuộc sống hạnh phúc của gia đình chúng tôi cứ trôi qua nhiều năm như thế.
Một hôm đi làm về, thấy người mệt mỏi, tôi rẽ vào rạp xem phim. Ở trong rạp, tôi đã gặp một chuyện hết sức bất ngờ. Tôi đang ngồi thì có một phụ nữ ăn mặc rất đứng đắn tự nhiên ôm choàng lấy cổ tôi mà kêu:
- Ôi, anh yêu, anh thương, anh quý của em!
- Ấy... ấy!... Xin lỗi bà! - Tôi hoảng quá, nói lắp ba lắp bắp - Tôi là người đã có gia đình rồi. Tôi là bố của một gia đình. Xin bà buông tay ra. Tôi không thích những chuyện lả lơi như vậy.
Người đàn bà nói:
- Anh không nhận ra em ư? Chao ôi! Thật là xấu hổ! Em là Pakidê Kaphađan, vợ anh đây mà!
Tôi ngượng quá, đỏ dử cả mặt.
- Nghĩa là... bà... À... em là... cô vợ Pakidê yêu quý của anh đấy à? Xin lỗi em, thế mà anh không nhận ra, từ ngày không gặp em đến giờ em lớn ra nhiều quá.
Vợ tôi chỉ vào ba đứa trẻ ngồi xếp hàng thong dong từ bé đến lớn, một đứa gái và hai đứa trai bảo tôi:
- Con chúng mình đây!
Tôi làm điệu bộ của một ông bố, âu yếm nắm tay mấy đứa trẻ và bảo chúng:
- Rất hân hạnh được làm quen!
Nhưng phải tảng lờ đi như không nghe thấy câu đứa con gái yêu của tôi nói thầm vào tai mẹ nó:
- Mẹ chả có mắt nhìn người gì cả! Mẹ không chọn cho chúng con một người bố nào đẹp hơn hay sao?
Đoạn nó chỉ vào một người đàn ông trông rất bảnh bao ngồi bên cạnh bảo tôi:
- Đây là bác cháu.
Đã bao nhiêu năm trôi qua mà cuộc sống gia đình của chúng tôi vẫn hòa thuận, êm ấm, không có điều gì phàn nàn cả. Nói ví thử, giá tôi không lấy một người vợ có công ăn việc làm, thì suốt ngày chúng tôi sẽ mắng chửi nhau mất. Đằng này, lấy nhau đã từng ấy năm trời, mà giữa chúng tôi vẫn không hề xảy ra chuyện gì có thể làm tổn hại đến hạnh phúc gia đình. Và bởi vì không sao tìm được thời gian để gặp nhau, nên giữa hai vợ chồng tôi cũng chẳng bao giờ xảy ra chuyện xích mích cãi cọ. Chúng tôi sống êm ấm, bình lặng, không hề giận hờn, cũng chẳng bao giờ đánh đập nhau.
Tấm gương của gia đình tôi há chẳng phải là bằng chứng hùng hồn cho việc người phụ nữ tham gia công tác xã hội là hoàn toàn không có hại gì đến hạnh phúc gia đình hay sao?
0
Rất tiếc là không xong rồi...

- Muốn gì thì muốn, chúng tôi cũng cứ cưới vợ cho anh! - Mọi người xúm vào bảo tôi vậy.
Tôi giẫy nảy lên, làm ra bộ không thích. Nhưng kỳ thực trong thâm tâm không có gì phản đối cả.
- Cô này nết na chăm chỉ lắm! - Họ tìm cách thuyết phục tôi.
Cô gái mà điều trước tiên được khen lại là nết na chăm chỉ, thì ắt là nhan sắc không ra gì rồi! Chắc thế nào cũng có khuyết tật gì đó.
- Nết na hay không tôi cũng không cần lắm. Cốt nhất là làm sao mặt mũi phải dễ coi một tí, để nếu không phải suốt ngày, thì ít ra đôi lúc có thể ngắm được. - Tôi rụt rè bảo họ.
- Cô ấy đi với anh thì xứng đôi lắm rồi! - Họ nói cốt để tôi yên lòng.
Nhưng chính đó lại là điều tôi sợ nhất...
- Cô ấy là người có học thức. Tiếp xúc với cô ấy thế nào anh cũng thấy hợp ngay!
Điểm này thì tôi thích. Một cô có học thức! Phải nói rằng học thức dù sao cũng là một nét hấp dẫn đấy chứ! Các bạn cứ đọc các mẩu rao vặt kết hôn trên báo thì biết đấy. Từ anh thợ mới học nghề quét vôi cho đến nhà hoạt động xã hội có tên tuổi, có ai là người không muốn kiếm một cô vợ có học thức đâu nào!
- Mẹ cô ta là người Đức, còn bố là người Thổ.
- A! Điểm này cũng hay đấy!
Giống vật lai cũng giống như người lai, bao giờ cũng có những phẩm chất tốt lắm nhé! Tôi chợt nhớ đến phu nhân Phôn Sađrestainơ trong truyện ngắn trứ danh của Hôme Saiphettin. Đó là một phụ nữ có thân hình rắn rỏi. Sáng nào cũng vậy, ở chợ về, mình mặc bộ quần áo thể thao, tay xách làn, bà vừa đi vừa nện gót giày cộp... cộp... cộp... trông rất oai vệ.
- Cô ta nói được cả tiếng Đức, tiếng Pháp lẫn tiếng Ý!
Tôi thầm nghĩ: nếu săn được con chim này thì thật cũng bõ công chờ đợi hơn bốn chục năm giời! Người ta nói thế mà đúng: chỉ có kẻ nào biết nhẫn nhục chờ đợi mới đạt được ý nguyện.
Bà mối chính trong chuyện này là Mađơmoaden Eleptơra, năm mươi chín tuổi, người gầy đét như con cá mắm.
- Cô này rất xinh, thuộc loại tơré giôli [1] đấy! - Mađơmoaden Êleptơra nói - Người cao, thon thả... trông tơré cuyntivê [2], mà lại dòng dõi con nhà quý phái nhé!
- Bà Êleptơra này. - Tôi bảo - Thế bà đã nói cho cô ấy biết rằng tôi đã ngoại tứ tuần chưa?
- Nói rồi! Cô ấy bảo đàn ông cứ phải cái tầm ngoài bốn mươi mới có thể gọi là đàn ông được!
- Thế bà có bảo với cô ấy là vóc người tôi thấp bé không?
- Có. Nhưng cô ấy bảo được cái chắc anh thông minh!
- Nhưng bà đã kể cho cô ấy biết tôi chỉ là một nhà báo quèn, lương tháng không hơn gì mấy cô thợ đan bít tất, tức là chỉ có năm mươi lia một tuần, mà với điều kiện là phải làm vừa lòng ông chủ đấy! Bà đã kể cho cô ta biết điều ấy chưa?
- Rồi! Kể hết rồi! Cô ấy có những ba cái nhà cơ! Đồ đạc đủ hết, chẳng thiếu thứ gì!
Nếu vậy thì được. Không có sau lại bảo không nói trước! Đã biết thế rồi mà cứ lao vào, sau này khổ thì đừng có trách! Đúng là cô ả muốn chuốc nợ vào thân, mà tôi thì hoàn toàn có khả năng làm cô ta được toại nguyện.
Nói thật ra thì tôi cũng chẳng quan tâm mấy đến tất cả những chuyện này, nhưng chết nỗi một ông bạn tôi cứ thiết tha muốn tôi lấy vợ.
- Thôi, cưới quách đi cho rồi cậu ạ! Cho đời nó dễ chịu. - Anh ta thuyết phục tôi - Và cũng để bọn tớ khỏi lo lắng về cậu nữa! Lo mãi cho cậu tụi tớ cũng phát ngán lên rồi!
- Sao cậu lại nói thế? - Tôi bảo anh ta - Cậu tưởng thời buổi bây giờ, một người con gái như thế... Chắc đâu cô ta đã chịu lấy một thằng như tôi!
- Thôi, đừng có nói vớ vẩn! Đã bao năm cậu không được biết hạnh phúc là gì, thì bây giờ hạnh phúc tự đến với cậu. Chuyện ấy là thường chứ!
Tôi đắn đo suy nghĩ mãi, rồi cuối cùng đành liều gật đầu, mặc cho mọi sự đời đến đâu thì đến.
Theo sắp đặt, người con gái mà số phận đã định cho tôi sẽ lấy làm vợ, sẽ đi cùng Mađơmoaden Êleptơra đến sở chúng tôi. Người bạn tôi sẽ phải có mặt ở đó để đón họ.
Ngày hẹn đã tới. Phải người nào đã từng nếm mùi cuộc sống độc thân mới hiểu rõ cuộc sống gia đình có ý nghĩa như thế nào. Từ ngày hôm trước tôi đã phải lấy chiếc áo sơ-mi trắng ra giặt, rồi phơi lên ban công cho khô. Nhưng ác một cái là hôm sau trời mưa tầm tã suốt đến tận chiều. Áo rút từ trên dây xuống mà nước từ trên hai ống tay vẫn còn chảy tong tỏng. Tôi còn hai cái áo nữa, nhưng một cái thì bẩn quá, cái kia thì nhàu nát. À, thôi được, không sao! Tôi quyết định vắt thật khô... Lấy hồ phết cổ và hai ống tay, rồi cắm bàn là là cho thật nóng... Áo may sẵn cái nào cũng thế, mặt trong cổ bao giờ cũng rộng hơn mặt ngoài, là thế nào cũng không thẳng được! Hóa ra tôi để quên bàn là trên quần. Tôi chạy vội đến nhấc ra, nhưng nó đã kịp làm cháy một miếng tướng ở đầu gối... Chà! Cái cảnh sống độc thân đáng nguyền rủa này! Thôi, muốn gì thì muốn tôi cũng phải lấy cô gái này thôi!
Rút cuộc tôi đành phải mặc cái áo hãy còn ẩm, vác cái bộ mặt xây xước như bộ que tính có khía nấc, hãy còn rớm máu vì cạo vội, mà ra đi.
Muộn mất rồi! Tôi nhảy đại lên một chiếc tắc-xi, phóng như bay đến sở. Vừa đến nơi, anh bạn tôi đã nhảy bổ ra, ghé sát vào tai tôi bảo:
- Cậu chết dấp ở đâu đấy? Để người ta chờ hơn một tiếng đồng hồ rồi!
- Thế nào?... Trông xài được chứ hả?
Anh bạn tôi mặt không còn thần sắc.
- Cứ vào xem thì khắc biết!
Tôi hồi hộp quá! Ngay cả lúc sắp bước vào phòng thi hay thậm chí lúc sắp bị đưa ra tòa án tối cao, tôi cũng không thấy hồi hộp như thế... Mađơmoaden Êleptơra đây rồi! Và trên chiếc ghế bên cạnh bà ta là ... Chao ôi!... Một sinh vật kỳ dị! Nó đưa mắt nhìn tôi có vẻ sợ sệt. Tôi ngoảnh vội sang phía người bạn, nhưng anh ta đã quay mặt vào tường. Thế là hết người cầu cứu.
- Rất hân hạnh được gặp ông!
- Xin lỗi vì đã làm cô phải chờ!
Hai ánh mắt chúng tôi chợt gặp nhau... Trời ơi! Tôi muốn bê lấy cái bàn mà đập vào đầu Mađơmoaden Êleptơra một cái! Tôi tuy khù khờ thật, nhưng đâu đến nỗi để... Cái người đàn bà mà bà ta định giới thiệu làm vợ tôi này chỉ có thể dùng vào một việc thích hợp nhất là đem nhốt vào một cái lều, rồi đứng ngoài cửa mà kêu:
- Vào xem đi! Vào xem đi! Kỳ quan thứ tám của thế giới đây!
- Một quái vật kinh dị chưa từng có đây! Nói đúng hay sai vào xem sẽ rõ!
Thoạt tiên có thể mang y đi trưng bày ở các chợ phiên hay các đám hội, sau đó mang đi trưng bảy ở các tỉnh, rồi dẫn đi khắp vùng Anatôli. Rồi can đảm nữa thì làm một vòng quanh Châu Âu, Châu Mỹ, cho các nước người ta biết hệ động vật của nước ta còn thêm loại gì.
Chúng tôi bắt tay nhau.
- Cô có được khỏe không ạ?
- Méc-xì [3]! Còn ông?
Đột nhiên Mađơmoaden Êleptơra to giọng hỏi tôi:
- Ông thấy cô ta thế nào?
- Bà Êleptơra ạ, bà có nghe nói ở Stambul người ta mới mở một vườn bách thú không? - Tôi hỏi.
- Không! - Bà mối buông một tiếng cộc lốc.
Người con gái mà bà ta muốn sẽ làm tôi sung sướng, trông chả khác gì một con ngựa thồ nòi Hung Gia Lợi mà trước kia trong pháo binh người ta vẫn dùng để kéo những cỗ pháo nặng. Khi duyệt binh thì nó sùi cả bọt mép ra. Nói của đáng tội, giống ngựa thồ dù sao còn có ưu điểm là nó biết im lặng. Chứ đằng này vị hôn thê của tôi không lúc nào ngơi mồm. Y nói liến thoắng át hết cả chúng tôi. Những câu y nói không ai hiểu gì cả, vì cái miệng y, giống như kim địa bàn, lúc nào cũng muốn bật lên phía trên. Tuy vậy, để câu chuyện khỏi bị dứt quãng, thỉnh thoảng tôi lại phải đáp lại những câu y hỏi, mặc dù thực tình tôi không sao hiểu nổi y muốn hỏi gì. Nhưng bất cứ hoàn cảnh nào đều có lối thoát của nó. Nên tôi cứ nhìn mắt y mà trả lời “vâng” hoặc “không”. Vì nhìn mắt bao giờ người ta cũng đoán được phần nào ý nghĩ. Nhưng đôi mí to mọng úp sụp mắt y trông thật dễ sợ. Y nhìn chúng tôi một cách lấm lét, như anh chủ hiệu tạp hóa giấu hàng lậu trong quầy bán trộm vào những hôm Chủ nhật.
Nói tóm lại, đấng tạo hóa chí tôn khi nặn ra kẻ tôi đòi đáng thương này đã tỏ ra vô cùng sành sỏi về các kỳ hình quái dạng! Thánh Ala muốn gì, là điều ấy được thực hiện.
Người ta bảo y biết bốn thứ tiếng! Chao ôi, lời đồn sao quá điêu ngoa! Có một hồi, đứng bán ở quầy, y cũng bập bẹ được dăm ba câu tiếng Pháp. Nhưng sau ít khách người ta không mướn y nữa. Người ta bảo mẹ y là người Đức. Cả chuyện này cũng đã sai lạc ít nhiều. Không phải mẹ y, mà bà hàng xóm ở cạnh nhà y cách đây mười năm, là người Đức. Rồi, hẳn các bạn còn nhớ, người ta bảo y có ba căn nhà. Té ra không phải ba căn nhà, mà là một căn nhà có ba buồng. Mà bây giờ cũng đã bị cầm rồi. Ấy là chưa kể tám anh chị em y cùng chui rúc vào đó...
Mađơmoaden Êleptơra hỏi lại tôi lần nữa:
- Thế nào? Anh có ưng cô ta không? Bằng lòng nhé?
Nếu vì lịch sự tôi bảo bằng lòng, thì sẽ hết đường rút lui. Người ta sẽ thít lấy cổ tôi mà bắt làm lễ cưới ngay. Vì thế tôi cứ ậm à ậm ừ...
- Bà biết đấy... về những vấn đề như thế này thì... Có phải thế không ạ?... Trước hết người đàn ông phải... đúng không ạ? Người phụ nữ trong chuyện này thì... Vâ...â...ng! Còn về phần tôi... nhất định là tôi sẽ... thưa chuyện với bà sau...
Tôi liếc người con gái đáng thương: đôi mắt cô ta dán chặt vào tôi. Không khí bỗng trở nên nặng nề.
- Trời hôm nay đẹp quá!
Tôi vội chộp ngay lời cô ta như vớ phải cọc.
- Vâng, thưa cô. Trời hôm nay thật là tuyệt! Năm nay...
Gì chứ đề cập đến chuyện thời tiết thì tôi có thể nói cả tuần liền không nghỉ!
Nhưng bỗng tôi cảm thấy có một cái gì đau nhói ở trong lòng. Các bạn cứ nghĩ xem: người con gái xấu xí ấy muốn lấy chồng mà tôi lại là niềm hy vọng cuối cùng của cô ta... Nói ra sợ các bạn không tin, chứ quả thật mắt tôi lúc ấy bỗng rớm lệ. Nhưng tôi phải vội vàng quyệt ngay nước mắt, vì sợ cô ta lại tưởng đó là dấu hiệu của bệnh già.
“Mi hãy hãy cưới người đàn bà đó làm vợ đi! - Tôi tự nhủ thầm như vậy - Dù sao đây cũng không phải là hành động điên rồ đầu tiên của mi cơ mà! Hãy lấy cô ta đi rồi hãy cứ là một thằng ngốc như từ trước đến nay mi vẫn là như thế. Hãy tự hy sinh thêm một lần nữa để cứu lấy người đàn bà khốn nạn này!...”
- Năm nay thời tiết không giống như năm ngoái...
- Vâng, đúng ạ!
Tôi nhìn người đàn bà: Chẳng giấu gì các bạn, trong lúc nhìn như thế, tôi tự hỏi: không biết sau khi cưới nhau, người ta còn phải làm gì nữa? Gì chứ việc tôi phải hôn y là cái chắc rồi! Với những ý nghĩ hết sức thiện chí ấy, tôi bắt đầu quan sát kỹ khuôn mặt y, cố tìm xem có chỗ nào khả dĩ có thể đặt môi vào được. Nhưng... hỡi ôi!... Không một mi-li-mét vuông nào là không có nốt sần hay mụn trứng cá. Vẫn với một động cơ đầy thiện chí như thế, tôi lại quan sát các chỗ trên đôi cánh tay và mái tóc y. Nhưng than ôi, cũng chẳng thấy một khu vực nào nhẵn nhụi.
“Đó chẳng qua là do tâm hồn mi quá thơ mộng và óc tưởng tượng của mi quá phong phú đấy thôi! - Tôi tự bảo mình như vậy - Mi cứ nhìn khuôn mặt này rồi lại tưởng ra khuôn mặt khác!”
Rút cuộc là buổi gặp mặt hôm ấy chúng tôi cứ loanh quanh suốt hai tiếng đồng hồ về chuyện thời tiết. Khi Mađơmoaden Êleptơra và y đứng dậy ra về, tôi còn để ý thấy chân trái của y ngắn hơn chân phải đến năm sáu đốt. Nhưng bây giờ thì cái chân thọt của y chỉ khiến tôi càng thêm thương y mà thôi!
Khi cánh cửa vừa đóng lại sau lưng các vị khách, bạn tôi hỏi:
- Cậu thấy cô ta thế nào?
- Tôi sẽ cưới người con gái này. - Tôi đáp.
- Cậu điên à!... - Anh bạn tôi quát lên.
- Tôi không thể tìm được người đàn bà nào khá hơn thế đâu! Nhất định tôi sẽ cưới cô ta!
Buổi tối, Mađơmoaden Êleptơra đến nhà tôi.
- Tôi bằng lòng cưới đấy! - Tôi bảo bà ta.
- Cưới ai? - Bà ta hỏi.
- Còn ai nữa! Người con gái mà bà dẫn đến ấy!
- Ồ, rất tiếc là không xong rồi!... Cô ấy lại chê anh!
----------------
[1] Tiếng Pháp, nghĩa là “rất xinh”.
[2] Tiếng Pháp, nghĩa là “rất có văn hóa”.
[3] Tiếng Pháp, nghĩa là “Cám ơn!”
0
May tôi là người có giáo dục

- Ái, đồ mất dạy!...
Tôi không hiểu tại sao bỗng dưng người phụ nữ này lại chửi tôi. Tôi đã định hỏi: “Xin lỗi tôi đã làm điều gì không phải với bà?” nhưng rồi lại thôi.
- Lại còn nhìn nữa! May tôi là người có giáo dục, chứ không tôi đã cho anh biết tay.
Chiếc xe buýt chật ních khách. Mọi người đổ dồn nhìn chúng tôi. Tôi quyết định tốt nhất là im lặng. Nhưng người phụ nữ vẫn không chịu thôi:
- Đồ đểu cáng!... Đồ thô lỗ!... Tất nhiên loại người như hắn làm sao có giáo dục được! Trông biết ngay là loại con nhà như thế nào!...
Chừng hai lần tôi định mở mồm nói: “Thưa bà, xin bà hãy bình tĩnh!”. Nhưng tôi lại nhịn.
- Muốn vả cho cái tát vào mõm anh! Giá tôi không phải người có giáo dục, tôi đã cho anh biết.
Có những lời trách mắng:
- Thật xấu hổ! Chả lẽ có thể làm chuyện đó với phụ nữ?
- Thế hắn làm gì vậy?
- Chắc là cấu véo người ta.
- Hay là hắn dẫm lên chân bà ấy?
- Biết đâu được, có thể hắn sờ soạng cũng nên.
Giá ô-tô buýt dừng lại, tôi sẽ nhảy xuống ngay. Còn người phụ nữ thì cứ tiếp tục liến thoắng như bắn liên thanh:
- Đồ không biết ngượng! Không biết lịch sự là gì! Mà làm sao hắn biết danh dự người đàn bà là thế nào! Tiếc là học thức không cho phép. Nếu không mình đã cho hắn bài học!...
Thật là tai vạ! Giá bảo tôi có làm chuyện gì cơ. Đằng này tôi đứng không nhúc nhích, một ngón tay cũng không đụng vào bà ta. Mà giả dụ có đụng phải đi nữa thì bà ta cũng phải hiểu rằng không phải lỗi tại tôi chứ! Ô-tô đông thế này cơ mà!
- Đồ dâm đãng hèn hạ! May cho hắn gặp phải mình là người có giáo dục. Nếu không thì cứ gọi là...
Tôi vã cả mồ hôi.
- Bọn đê tiện này cố tình lên những xe buýt đông người... May cho hắn, mình là người đàn bà có giáo dục.
Tôi cảm thấy không thể nào nhịn được nữa. Ở địa vị tôi có đến đá cũng phải nổ tung chứ đừng nói.
- May cho mi, ta là người có giáo dục. Nếu không ta đã rạch mồm mi rách đến tận tai.
Trong đám đông không một ai lên tiếng bênh vực tôi. Ai cũng đứng về phía bà ta:
- Chắc hắn ta lại giở trò sờ soạng!
- Dù gì đi nữa bà ta cũng đúng!
- Thật quá đáng! Phải biết mức độ chứ!
Lẽ ra cuối cùng phải thôi đi, nhưng người phụ nữ kia vẫn càng chu chéo dữ hơn. Bà ta cứ hét lên:
- Ái, đồ đểu! Ái, đồ đê tiện! Nếu mày thèm muốn đến thế thì tao sẽ chỉ cho mày cái chỗ để đến đó mà... Mày hiểu chưa? Mình xin thề, nếu quả mình là người không có giáo dục, nhất định mình sẽ...
Thế này thì không thể chịu được nữa rồi! Tôi dùng khuỷu tay rẽ mấy người bên cạnh, tiến sát đến người phụ nữ và nắm lấy tay bà ta:
- Thưa bà, - Tôi nói - xin bà làm ơn nói rõ cho tôi biết, tôi đã làm gì bà?
Người phụ nữ bỗng cười sằng sặc.
- Ới mọi người ơi! Hãy nhìn cái lão đầu hói đáng thương này xem này! Lão ta cũng tự cho mình là đàn ông đấy! Nhà ông ở đâu ra thế hả? Nhà ông mà cũng đòi là đàn ông à? Chả lẽ ta nói về nhà ông ư? Thật đúng là vô duyên! Hãy xéo cùng với cái ghẻ lở của nhà ông đi! Không ai nói gì về nhà ông cả. Ta nói là nói chàng thanh niên cao to đẹp trai kia chứ! Đồ vô duyên!
Chiếc ô-tô buýt dừng lại trên quảng trường Takxin. Tôi không nhớ tôi đã nhảy xuống xe như thế nào. Người phụ nữ nọ thì vẫn tiếp tục lải nhải:
- Lão khọm già vô duyên! Hắn lại dám nghĩ là mình nói về hắn... Tiếc mình là người có giáo dục, chứ không mình đã cho lão một trận!
Thật không còn gì tồi tệ hơn lứa tuổi của tôi. Đến cả phụ nữ cũng không thèm chửi nữa...
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.02.2018 15:31:40 bởi casau>
Chát-xình-chát-chát-bùm!

Tôi rút ra được một bài học thấm thía: con người ta làm bất cứ việc gì cũng phải đúng lúc và phù hợp với lứa tuổi của mình. Nếu không sẽ chỉ làm trò cười cho thiên hạ. Người ta nói quả không sai: kẻ nào đến bốn mươi tuổi mới phát rồ thì kẻ ấy chẳng được yên ổn trên đời này. Nếu anh cứ nhất định muốn phát rồ, thì hãy làm điều đó ở tuổi hai mươi, hay cùng lắm là ở tuổi ba mươi. Đằng này tôi, - cầu Trời cho các bạn không nhìn thấy cảnh ấy - lại phát rồ vào cái tuổi năm mươi tám. Và nếu hôm nay tôi đang phải ở nhà thương điên thì tôi phải tự trách mình chứ không thể trách ai khác. Tôi đã bị trừng phạt đích đáng vì cái tội phát rồ không đúng lúc của mình.
Cầu Thánh Ala tránh cho những đứa con của Người khỏi bị lầm đường lạc lối! Tôi có một đứa con trai đang học năm cuối trường Đại học Kỹ thuật, và một đứa con gái chỉ vì xinh đẹp nên không sao bắt nó học hết phổ thông. Nó đã có chồng, và tôi đã có hai đứa cháu ngoại.
Lạy Thánh Ala, tôi chưa kịp mở mắt thì như con mèo con bị mù, người cha quá cố của tôi đã bắt tôi phải lệ thuộc ông, không cho tôi có dịp quan sát xung quanh. Và cứ thế tiếp diễn. Nghĩa là, các bạn biết đấy, từ mười tám đến năm mươi tám tuổi có thể nói tôi chưa sống trên đời này.
Đến khi nào về già các bạn sẽ tin. Ở lứa tuổi tôi các bà bắt đầu dè bỉu những cô gái ăn mặc những bộ quần áo tắm quá hở hang. Bạn đừng tin họ. Những người già không thể khách quan được. Bản thân họ không thể làm gì được nên họ ghen tức mà bĩu môi dè bỉu những người trẻ. Tôi biết rất rõ rằng nếu như những bà già kia tin chắc là họ còn có thể khiến ai đó thích, thì họ có thể dám đi ra bãi biển mà không mặc cả quần áo tắm nữa kia! Còn về cánh đàn ông, thì vào chạc tuổi tôi, họ... Nhưng thôi, để tôi kể lại cho các bạn đầu đuôi câu chuyện tôi đã phát rồ và phải vào nhà thương điên như thế nào. Các bạn thấy đấy, tôi không hề nói năng nhảm nhí chút nào, tôi đang suy luận một cách bình thường. Tôi viết câu không thua gì Esat Macmut [1]. Tôi nói năng còn khúc chiết và lôgích hơn nhiều ông nghị sĩ nữa là đằng khác! Thế nhưng tôi vẫn đang phải nằm trong nhà thương điên. Tất cả chỉ vì “Chát-xình-chát-chát-bùm!”...
Kẻ tôi tớ của các vị đây là một luật sư. Chắc các vị còn nhớ ngày xưa từng có một trường luật chứ? Và tôi đã tốt nghiệp chính cái trường luật ấy - hơn nữa còn tốt nghiệp loại “ưu”. Tôi tuy là luật sư thật, nhưng không bao giờ tôi đi cãi cho những con “sói” khét tiếng, những kẻ sẵn sàng giết cả mẹ, vợ, chị, con gái và hàng chục họ hàng thân thích khác. Tôi cũng không làm những vụ ly dị, tranh chấp trong gia đình, hay tất cả những trò lừa đảo trong buôn bán. Đã vài năm nay tôi làm tư vấn pháp lý cho một cơ quan nhà nước.
Tất cả những người bạn cùng học với tôi trước đây đều đã trở thành ông này ông nọ. Mỗi lần bước vào văn phòng của họ tôi không giấu nổi vẻ ngạc nhiên của mình. Không, lạy Chúa, tôi không ghen tỵ với ai cả, nhưng khi nhìn thấy những cô nữ thư ký trẻ trung xinh đẹp của họ tôi không thể nào không liếm môi thèm. Như tôi đã nói, tôi đã bỏ lỡ mất thời cơ, tôi đã không làm đúng lúc cái việc cần làm, nên bây giờ tôi nhìn người khác mà...
Cuối cùng tôi không nhịn được nữa. Tôi cho đăng báo một mẩu thông báo: “Văn phòng luật sư cần tuyển một nữ thư ký với đồng lương hậu hĩnh”. Tôi nghe nói số phụ nữ trên thế giới này nhiều hơn đàn ông. Nhưng nhiều hơn bao nhiêu thì tôi không hiểu rõ. Tất cả những ai đến xin làm thư ký đều ngắm nghía tôi như thể họ chuẩn bị mua nhà. Rồi họ đặt cho tôi một lô câu hỏi, cứ như thể không phải tôi thuê họ, mà là họ muốn thuê tôi. Và sau cuộc hỏi cung như thế họ bỏ đi, ném lại cho tôi một câu:
- Để tôi suy nghĩ đã rồi sẽ trả lời sau.
Tôi không nhớ có khi nào tôi phải tốn nhiều nước bọt đến như vậy không? Đồng thời tôi cảm thấy rất sợ hãi... Đến ngày thứ ba kể từ khi đăng thông báo có một cô gái bước vào văn phòng tôi. Không phải là cô gái, mà là một viên kẹo ngon lành! Khoan, để tôi mô tả cô ta thì các bạn sẽ hình dung được. Trên vai cô ta khoác một chiếc túi xắc như kiểu túi các sĩ quan thường đeo trong các lễ duyệt binh, chỉ có điều là nó to gấp đôi. Chiếc váy cô ta mặc nhìn không sao phân biệt được đâu là trên đâu là dưới. Phía dưới chiếc váy hở hang ấy là cặp đùi nõn nà khêu gợi, như muốn bảo: “Hãy ăn chúng em đi!” Đôi bàn chân thon nhỏ đi giày cao gót, mái tóc dày dài tới vai...
“Trời ơi, xin Đấng Tạo hóa hãy ban cho con sức lực!” Tôi tự nhủ thầm. Suýt nữa thì tôi trở thành nạn nhân của tình yêu khi nàng vừa lắc mông vừa đi đến bàn tôi.
- Ông cần tuyển nữ thư ký ạ? - Nàng hỏi.
Tôi không nói được một lời nào. Tôi chỉ nhớ tim tôi đập dồn dập như cái bễ lò rèn. Nàng ngồi xuống trước mặt tôi.
- Em tên là Birxen, - Nàng bắt đầu - 21 tuổi, cao 1m62, cân nặng 57 kg. Ham thích duy nhất của em là nhảy. Em mê nhảy kinh khủng. Mục đích của đời em là trở thành minh tinh màn bạc. Trong các loài hoa em thích nhất hoa lan, còn nước hoa em thích “Origan”. Mối tình cuối cùng của em là một thủy thủ Mỹ.
Vừa kể cho tôi nghe mẩu lý lịch ngắn gọn đó nàng vừa chóp chép nhai kẹo cao su. Thấy tôi im lặng, nàng hỏi:
- Thế nào, ông thấy có được không ạ?
Tôi khẽ liếc mắt nhìn: chiếc váy hở hang của nàng không che hết được những phần kín đáo nhất của cơ thể. Thu hết can đảm, mãi tôi mới nói được mấy chữ:
- Rất... được!
- Em xin ba trăm lia một tháng.
Số tiền đó bằng gần cả số lương của tôi. Nhưng không sao. Đối với một cô nàng như thế không thể tiếc tiền.
Vậy là tôi đã làm quen với “Chát-xình-chát-chát-bùm” như thế đó. Tên thật của nàng là Birxen. Nhưng tôi gọi nàng là “Chát-xình-chát-chát-bùm”. Tại sao ư? Là bởi vì ngay ngày đầu tiên, và ngay từ giây phút đầu tiên nàng không lúc nào ngơi miệng lặp đi lặp lại mấy chữ:
- Chát-xình-chát-chát-bùm!... Chát-xình-chát-chát-bùm!...
Vừa nói nàng vừa giật giật người nhảy.
Công việc tất nhiên là bỏ bễ. Chúng tôi cùng ăn trưa và ăn tối với nhau. Thứ sáu nàng hỏi:
- Chủ nhật chúng ta sẽ đi chơi đâu ạ?
- Tuy cô thích đi đâu ta sẽ đi đấy. - Tôi đáp.
- Vậy thì ta ra ngoại ô đi.
Thế là chúng tôi ra ngoại ô, đi lên đảo, vào vườn cây. Tất cả mọi chuyện đều tốt, nhưng đối với tôi những chuyến đi chơi như thế chẳng có ý nghĩa gì. Vì tôi vẫn sợ không dám đụng đến nàng. Còn nếu nàng vô tình chạm vào người tôi thì tôi giật bắn như bị điện giật.
Không những thế, mỗi lần nàng lại tìm được một chàng trai trẻ nào đó và họ bắt đầu ôm nhau nhảy: Chát-xình-chát-chát-bùm!... Chát-xình-chát-chát-bùm!... Họ nhảy hàng giờ đồng hồ! Cứ làm như thể tôi cho nàng ăn, uống, mặc và dẫn nàng đi chơi, lại còn nhét vào túi nàng ba trăm lia mỗi tháng, chỉ cốt để nàng đú đởn với người khác. Một hôm có một thằng mất dạy nhìn thấy chúng tôi trong quán đã hỏi đểu:
- Đây là con gái của bố đấy ạ? Hay quá! Hoan hô!
Tôi bắt đầu cạo râu một ngày hai lần. Mặc những chiếc sơ-mi hồ cứng, quần là thẳng nếp, ngày nào cũng thay com-lê, trên túi ngực còn cắm bông hoa... Vợ tôi hỏi:
- Ông làm sao thế?
- Chẳng làm sao cả, thời buổi bây giờ phải thế. - Tôi đánh trông lảng.
Tôi bắt đầu điên tiết vì chuyện nàng thư ký xinh đẹp của tôi vẫn tiếp tục lao vào nhảy với bất kỳ gã trai nào. Cuối cùng tôi phải bảo thẳng với nàng là tôi ghen. Bỗng nhiên nàng thay đổi hẳn thái độ! Nàng đến gần tôi, ngồi lên đùi tôi, nâng cằm tôi lên và nói:
- Ông già ngu ngốc ơi, ông chẳng hiểu gì cả! Giá ông biết nhảy có phải tốt không?
Đó là cử chỉ âu yếm lớn nhất trong đời mà tôi nhận được. Một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu tôi: tôi sẽ bí mật học nhảy giấu nàng, tôi sẽ cho nàng một bất ngờ lớn! Đến lúc đó sẽ không còn kẻ nào có thể giằng nàng ra khỏi vòng tay của tôi: Nhưng vào cái tuổi tôi tôi không thể đến lớp học nhảy được! Đành phải kín đáo quan sát chân và tay những kẻ mà trong tiệm ăn hay quán bar nàng thường bỏ mặc tôi một mình ra nhảy với chúng. So với những điệu nhảy ngày nay thì những điệu nhảy vào thời tôi chẳng qua chỉ là những bước đi của ngỗng...
Tôi về nhà, khóa trái cửa buồng và bắt đầu nhảy. Vừa nhảy miệng vừa đánh nhịp: “Chát-xình-chát-chát-bùm!... Chát-xình-chát-chát-bùm..
Tôi ôm cái gối mà tưởng tượng như đang ôm cô bạn nhảy. Vừa nhảy tôi vừa nhìn vào gương tủ quần áo. “Chát-xình-chát-chát-bùm!... Chát-xình-chát-chát-bùm!...”
Bị kích động quá tôi dậm chân mỗi lúc một manh hơn. Những nhà sống ở tầng dưới tưởng tôi ra hiệu bảo họ đừng làm ồn, nên im lặng ngay. Nhưng sau đó, khi tiếng dậm chân và những âm thanh lạ taivang lên mỗi lúc một mạnh hơn, thì họ lên gác để xem có chuyện gì. Nghe ồn ào vợ tôi, con gái, con trai, con rể và những đứa cháu cũng thay nhau nhòm qua lỗ khóa buồng tôi.
- Trời ơi, ông già hóa điên rồi! - Họ hoảng sợ.
Vợ tôi nói:
- Mấy ngày gần đây tao đã thấy ngờ ngợ trước những hành vi của ông ấy. Tao đã để ý thấy có những dấu hiệu...
Tôi vẫn tiếp tục công việc của mình: Chát-xình-chát-chát-bùm!... Chát-xình-chát-chát-bùm!... Người nhà tôi thi nhau khóc.
- Tao không dám vào đâu, tao sợ lắm. - Vợ tơi nói.
- Con cũng không dám vào đâu. - Con gái tôi bảo.
- Phải đi báo cảnh sát thôi. - Con rể tôi bỗng nghĩ ra.
Khi ba viên cảnh sát phá cửa xông vào buồng tôi thì tôi chỉ mặc độc bộ quần áo lót bó sát người, hai tay ôm gối, đang nhún nhảy trước gương, miệng đánh nhịp: “Chát-xình-chát-chát-bùm!... Chát-xình-chát-chát-bùm!...” Mấy người cảnh sát xông vào ôm chặt lấy tôi, đè tôi ngã xuống đất, trói lại quẳng lên ô-tô và đưa thẳng vào nhà thương điên.
Lúc đầu tôi định nói: các vị ơi, tôi không điên đâu, chẳng qua tôi đang học nhảy thôi! - Nhưng sau tôi nghĩ, nói thế còn chết hơn. Người ta sẽ bảo: lão già ngu, hơn sáu mươi tuổi đầu còn đi làm trò hề chỉ vì đứa con gái. Tốt hơn hết là tôi không nói gì cả. Cứ để họ nghĩ là tôi bị điên thật, ít ra họ còn thương xót tôi. Quyết định như vậy nên tôi cứ tiếp tục giả vờ điên. Tại đồn cảnh sát trước mặt bác sĩ tôi cứ vừa dậm chân vừa bắt nhịp: “Chát-xình-chát-chát-bùm!... Chát-xình-chát-chát-bùm!...” Các bác sĩ tất nhiên lập tức tìm ra ngay một cái tên Pháp-La tinh nào đó để đặt cho cái bệnh của tôi.
Thế là đã hơn một tháng nay tôi nằm trong nhà thương điên. Dần dần tôi ít hát hơn câu: “Chát-xình-chát-chát-bùm!” Sắp tới tôi sẽ làm ra vẻ trí khôn đã trở lại với tôi và người ta sẽ cho tôi ra viện. Quả thực trí khôn đã trở lại với tôi, nhưng đã quá muộn...
Các bạn trẻ, xin các bạn hãy nghe lời khuyên của tôi! Hãy làm tất cả mọi việc cho đúng lúc! Thậm chí muốn điên cũng phải cho đúng tuổi. Hãy điên ở những năm còn trẻ tuổi. Nếu không sẽ chỉ làm trò cười cho thiên hạ như tôi. Không việc gì phải kiềm chế những ham muốn, hãy chơi bời trong khi còn đủ sức lực. Vậy hãy cùng nhau hô to:
Chát-xình-chát-chát-bùm!... Chát-xình-chát-chát-bùm!...
---------------
[1] Nhà văn hiện đại Thổ Nhĩ Kỳ.
0
Phải hét thật to

Ngoài phố hai người đang đánh nhau - một người thì im lặng, một người thì ra sức hét thật to. Một đám đông những kẻ vô công rồi nghề bâu xung quanh. Có một người nói:
- Trong lúc đánh nhau cái chính là phải hét thật to!
Tôi ngoảnh lại để nhìn con người am hiểu ấy. Trước mắt tôi là một gã còm nhỏm còm nhom.
- Qua kinh nghiệm bản thân, tôi biết. - Anh ta kết thúc nhận xét của mình.
Chúng tôi lách ra khỏi đám đông đang vây quanh cuộc đánh nhau và cùng sóng đôi đi. Anh bạn đồng hành của tôi kể:
Có một hồi tôi làm việc ở một thị trấn nhỏ trong tỉnh nọ, nhưng đến kỳ nghỉ phép thì tôi về Stambul. Mỗi năm tôi để dành được hơn hai nghìn. Vào ngày nghỉ phép cuối cùng tôi quen được một cô gái rất xinh. Nhưng thời gian để đi chơi, tán tỉnh không còn nữa, nên tôi đi vào đề ngay. Tôi hỏi cô ta: “Cô có muốn lấy tôi không?” Lập tức chẳng đắn đo, cô ta ôm choàng lấy cổ tôi đáp: “Trời ơi, anh thân yêu, cả đời em chỉ ước mơ có anh!”.
Để chứng tỏ cho cô ta thấy trong người tôi không có dị tật gì, tôi rủ cô ta ra bãi biển. Chúng tôi vào thay quần áo, phòng tôi và phòng cô ta bên cạnh nhau. Sau khi thay xong, tôi bước ra thì không thấy cô ta đâu. Tôi ngó hết phòng này đến phòng khác đều không thấy. Cùng với vợ chưa cưới tiền bạc của tôi cũng ... bốc hơi luôn. Bây giờ đi tìm cô ta, tôi nghĩ, thì về nhà sẽ muộn. Cơ quan không ai người ta chờ tôi cả, tôi sẽ bị mất việc.
Số tiền lẻ còn lại trong ví chỉ đủ đi được nửa đường. Tôi xuống một ga xép, bụng đói lả, trong túi không còn đủ tiền để mua chiếc bánh mì vòng. Mà trước mắt còn đi bộ hai ngày nữa. Làm thế nào để sống được hai ngày nữa bây giờ. Chẳng biết làm gì, tôi đành thất thểu lên đường, hướng về thị trấn của mình. Tôi cứ cắm đầu đi, đường dài vô tận, trời nắng như đổ lửa. Vừa đói vừa mệt, hai chân tôi lảo đảo như muốn khuỵu, mắt bắt đầu nảy đom đóm. Bốn bề xung quanh không có một ngọn cây nào. Trong khi đó cả đói cả mệt đã làm tôi kiệt sức.
Tôi cố lê bước. Bỗng nhìn thấy ở đằng xa một cái cây không biết là lê hay táo. “Cây gì thì cây, tôi nghĩ, cùng lắm thì cũng nhai lá”. Khoảng cách chỉ độ trăm bước mà sao tôi thấy xa đến hàng trăm kilômét. Cuối cùng tôi cũng lê được đến nơi, hóa ra là cây mận. Quả của nó dường như bị héo quắt đi vì nắng. Chỉ có một lớp vỏ mỏng dính bao quanh hột. Hơn nữa cũng chẳng có nhiều, nên chỉ một loáng tôi đã thanh toán xong hết cả. Gần đấy có một dòng nước nhỏ, tôi nằm xuống làm ngay một tợp. Nhưng nước có vị gì đăng đắng. Uống no nê xong, lạy thánh Ala, cơn khát đã hết, tôi lại tiếp tục lên đường. Nửa giờ sau tôi đến một ngôi làng.
Cạnh quán cà phê có vòi phun nước, mấy ông già đang ngồi. Một người trong số họ niềm nở bảo tôi: “Xin chào người khách bộ hành! Chẳng hay ông muốn uống nước sạch và mát không?” “Cám ơn các bác, tôi vừa uống ở dòng sông bên kia rồi”. Ông già nhìn tôi lộ rõ vẻ kinh ngạc: “Con sông nào? Chả lẽ bụng ông không tốt hay sao? Nước con sông ấy là nước chữa bệnh đấy, nó có tác dụng tẩy ruột rất tốt, dù cho ông lấy nút chai bịt lại nó vẫn bị bật ra, sức nó mạnh lắm!”
Tôi chưa kịp nghe nói hết câu thì đã thấy bụng sôi ùng ục, chỉ còn biết thều thào hai chữ “Ala”, rồi rẽ vào bụi cây gần đó. Vừa đi vừa tụt quần.
Sau đó, trong lúc đi trên đường và khi đã vào đến làng, cứ mười phút, mười lăm phút tôi lại phải nghỉ để làm cái “việc” ấy.
Tôi cố lê chân đi tiếp. Cuối cùng đến một quả đồi, dưới chân đồi lại bắt đầu một làng khác. Tôi thấy trên một bãi đất rộng người ngồi chật ních. Có tiếng kèn đồng vang lên.
Sau đó cả đám đông quay về phía tôi. Tôi vừa đứng vừa dậm chân, chỉ muốn lại chạy vào một bụi cây, nhưng mọi người đã vây quanh lấy tôi và hô to: “Nhiệt liệt chào nhà vô địch đáng kính!” Họ kính cẩn đỡ tôi dẫn đi và mọi người đồng thanh hô lớn: “Nhà vô địch... Đại lực sĩ!...”.
Đúng lúc tôi lại bắt đầu... mót ! Không cần giữ ý gì nữa, tôi bảo họ “xin lỗi” rồi ôm bụng chạy vào sân nhà thờ.
Cả làng đã tập trung trên một bãi rộng. Lúc tôi trở lại có hai người tiến lại gần tôi và trịnh trọng tuyên bố: “Người thắng cuộc sẽ được một con bê!”.
Tôi nhìn họ mà không hiểu gì hết. Trong lúc đó ở rìa bãi người ta đã đốt lửa và đang nướng cừu. Mùi thịt nướng làm tôi ứa nước miếng.
“Thưa lực sĩ, khi nào ngài cho bắt đầu?”
“Sao? Tục lệ của các bác là như vậy à? - Tôi hỏi - Nghĩa là người nào đến làng các bác thì phải đấu vật à?” - “Ôi, sao ngài lại giễu cợt chúng tôi thế, thưa nhà vô địch? Chả lẽ chúng tôi không mời ngài đến hôm nay hay sao?”
Trời đất ơi! Thật là trớ trêu! Nếu tôi thú thật tôi chẳng phải là nhà vô địch gì hết, thì họ sẽ không cho tôi ăn! Còn vật nhau thì có thể thắng, mà cũng có thể thua ... Cứ cầm cự một lúc, cùng lắm thì nằm bò ra vậy, cốt sao được người ta cho phép!...
Đầu tiên tôi từ chối: “Nhưng tôi không có quần áo...” Vừa nói đến đây bụng tôi lại sôi lên ùng ục, tôi lại ôm bụng chạy...
Khi trở lại tôi thấy người ta đã mang ra cả đống quần áo võ sĩ vật cho tôi chọn. Mấy con cừu lúc đó đã vàng ươm trông thật hấp dẫn...
“Tại sao nhà vô địch cứ chốc chốc lại chạy ra sau thế nhỉ?” Tôi nghe thấy tiếng xì xào trong đám đông. “Có lẽ để bôi mỡ...” “Nhưng đô vật quái gì mà còm nhom như con muỗi thế?...”. “Người ngợm thế thì vật quái gì được!...”. “Này, đừng nói thế, võ sĩ đâu chỉ căn cứ vào bề ngoài...”.
Tôi mặc thử một bộ, rộng thùng thình không còn trông thấy người đâu. Bộ thứ hai tuy cũng rộng, nhưng dù sao vẫn còn giữ được, không bị tụt. Tôi chẳng đắn đo gì thêm.
Trống bắt đầu thúc, kèn rúc to hơn. Và liền đó tôi nhìn thấy đối thủ của mình: Chao ôi, sao hắn to con làm vậy! Tôi đứng chỉ cao hơn đầu gối của hắn một tí...
Trước đây tôi đã vài lần được xem đấu vật và tôi biết các võ sĩ có quyền hét thật to để tự trấn an và uy hiếp tinh thần đối phương. Tôi còn biết làm gì được? Tôi cố làm bộ mặt thật dữ tợn, vỗ tay vào đùi đen đét và ra sức gào thật to đến đau quặn cả bụng. Tôi thấy đối thủ của tôi hơi lùi lại. Tôi cứ tiến thì anh ta lại lùi. Thành thử chúng tôi cứ đi vòng quanh bãi, nhưng không tiến sát hẳn vào nhau.
“Coi chừng đây!!!”. Tôi hét vỡ cả giọng, vừa hét vừa vỗ vào hông kêu đen đét.
“Kìa, xem kìa, đô vật của chúng ta sợ rồi, đang chạy cuống cả lên kia!”, “Chứ sao! Hắn ta mà tóm được tay thì cứ gọi là bẻ gẫy ngay! Úi giời, trông tay hắn ta kìa! Vỗ đùi mới khiếp làm sao! Đúng là đại lực sĩ!”.
Thực ra tôi chỉ muốn tiến gần đối thủ để nói thầm với anh ta rằng: “Anh đừng để ý tiếng la hét của tôi. Anh cứ ôm lấy tôi đi, tôi sẽ tự ngã ra đất. Vì tôi biết tôi không thể nào địch với anh được...” Nhưng anh chàng càng thấy tôi tiến gần thì càng giật lùi để tránh. “Coi ch-ư-ư-ừ-ng!!”, tôi lại gào lên và nhận thấy vẻ kinh hoàng trên mặt anh ta. Vừa lúc đó luýnh quýnh thế nào tôi va phải mạng sườn anh ta suýt ngã bổ chửng. “Này, anh bạn...” tôi chỉ kịp nói khẽ với anh ta mấy câu.
Nhưng anh ta đã run cầm cập, rồi chính anh ta lắp bắp nói nhỏ với tôi: “Thưa nhà vô địch kính mến. Xin ngài đừng làm nhục tôi trước dân làng. Oai danh của ngài lừng lẫy... Xin ngài đừng làm tôi bị què quặt. Tôi không thể địch được với ngài, nhưng ở đây tôi là người khỏe nhất, nên mọi người bắt tôi phải ra đấu...”.
Bị va mạnh, bụng tôi lại bắt đầu sôi ùng ục. “Thôi được, anh nằm xuống đi”, tôi khẽ rít lên rồi lại ra sức hét thật to: “Ta sẽ bẻ g-ẫ-ẫ-ẫ-y x-ư-ư-ơ-ơ-n-g!” Anh chàng sợ quá nằm ngay xuống, tôi lập tức ngã bịch lên người anh ta, rồi chồm dậy ngay, khó khăn lắm tôi mới “nhịn” được cho đến khi vào tới sân nhà thờ...
Tôi quay lại, người lảo đảo vì kiệt sức. Anh chàng đối thủ hôn tay tôi, không biết từ đâu người ta dắt đến một con bê non. Mọi người mang rượu đến chúc mừng tôi. Tôi uống xong một cốc cảm thấy người khỏe hơn một chút. Tôi đưa mắt liếc xem chỗ người ta nướng thịt cừu ra sao...
Chúng tôi chưa kịp ngồi vào chiếu thì trên đồi bỗng xuất hiện bóng một người cưỡi ngựa. Một phút sau anh ta đã phóng đến chỗ tôi: không phải người thường nữa, mà là một người khổng lồ!
“Sao, chưa thi đấu gì mà các vị đã đánh chén thế này?” - “Cuộc thi kết thúc rồi”. - “Sao lại kết thúc rồi? Chả lẽ không phải các vị mời tôi đến hay sao. Tôi là nhà vô địch vật Iuxup Akiôpu đây!”
Tôi cảm thấy đau nhói trong tim. “Xin lỗi các vị, tôi ra đây một phút...” Nhưng anh chàng đối thủ ban nãy vừa hôn tay tôi đã kịp túm lấy cổ áo tôi lôi xềnh xệch, lấy chân đá túi bụi vào người tôi.
Tôi cứ ôm bụng lạy van người ta thả tôi ra, dù chỉ một phút thôi. Mãi sau tôi vùng thoát được, nhưng không kịp chạy vào sân nhà thờ nữa.
Vì thế tôi mới bảo khi đánh nhau, cái chính là phải làm đối phương sợ, phải hét thật to... Còn nếu hét cũng không ăn thua, thì tốt nhất là ngồi im lặng trong bụi cây, chớ thò mặt ra ngoài!...
0
Cho một tách trà đặc nhé!

Ở những người cùng thế hệ với tôi, nghĩa là những người sinh ra vào cuộc Đại thế chiến thứ nhất và lớn lên đúng vào cuộc Đại thế chiến thứ hai, thì trừ một vài trường hợp rất hãn hữu, còn thì tôi cam đoan anh nào cũng có một thói lập dị nào đó mà thậm chí đối với nhiều anh, nó còn trở thành một thứ nghiện nữa là đằng khác. Tôi dám đánh cuộc là phần đông những anh nào hễ cứ vừa đi ngoài đường vừa lẩm bẩm nói hay mỉm cười một mình, hay vừa đi vừa nháy mắt hay nhún vai, thì đều là trạc tuổi tôi cả.
Riêng về phần tôi, cái thứ nghiện đó là nước trà. Ngày nào mà chưa uống đủ hai ba chục chén là tôi không chịu được. Tất nhiên, sở dĩ tôi chỉ kể ra một cái thói hư dễ tha thứ nhất trong những thói hư của tôi, chẳng qua là vì tôi độ lượng với mình mà thôi, chứ đối với chính bản thân tôi, chưa chắc tôi đã dám thú nhận.
Cái bệnh nghiện nước trà của tôi phát sinh là do một hoàn cảnh như thế này. Bấy giờ là vào những năm chiến tranh thế giới thứ nhất, thời kỳ mà tìm được một mẩu bánh bì khô là đã quý lắm rồi. Một hôm, khi tôi mới được độ chín tháng, không biết ông bố tôi kiếm được ở đâu một ống bơ nước trà to đại. Ông thả vào đấy mấy cái vỏ bánh mì khô, ngoáy lên rồi cho tôi uống. Thế là vi trùng nghiện nhiễm vào máu tôi ngay từ khi mới lọt lòng.
Thật không ngờ cái sự nghiện nước trà ấy đã khiến tôi nhiều phen khốn khổ, nhất là những lần tôi phải đi xa. Nhưng khổ nhục nhất phải nói là cái lần tôi có việc phải dừng chân tại một tỉnh nọ, mà tôi không muốn nói tên ra đây.
Sáng hôm ấy, vì phải đi tiếp đến một nơi xa bằng ô-tô buýt nên tôi dậy rất sớm. Ở khách sạn ai cũng biết tôi là người nghiện chè, nên sáng nào họ cũng mang đến cho tôi một lúc mấy tách. Bởi thế nên trước khi ra khỏi buồng, tôi đã kịp tợp hết bốn tách.
Trong câu chuyện của tôi có đôi chỗ có thể làm các bạn khó chịu vì nó không được văn minh cho lắm, nên tôi phải nói trước. Chắc các bạn đã biết, nước trà có công dụng rất tốt là vì, nói vô phép các bạn, nó rất lợi tiểu. Cứ cho vào bốn tách thì thế nào cũng phải cho ra một tách.
Sợ nhỡ ô-tô, nên cứ để nguyên bốn tách ở trong bụng, tôi lao vội xuống dưới nhà. Nói của đáng tội bốn tách đối với tôi thì vẫn chưa mùi mẽ gì, vì tôi đã quen rồi.
Ông chủ khách sạn là một con người vui tính và tốt bụng mà tôi mới quen biết. Khi tôi xuống đến dưới nhà, ông bảo tôi:
- Từ giờ đến lúc xe chạy hãy còn thời gian, mời ông xơi tách trà đã!
Tôi uống với ông ta tách thứ năm.
- Tôi biết ông thích uống nước trà lắm. - Ông ta nói - Vậy mời ông xơi thêm tách nữa!
Nước trà của ông ta rất ngon, nên không nói chắc các bạn cũng biết là tôi không thể từ chối nổi. Thế là thành sáu tách tất cả. Sáu tách đối với tôi thì cũng chưa lấy gì làm nhiều lắm, nhưng dù sao cũng cần phải ra ngoài một chút. Tôi đã định xin phép, nhưng thấy chủ nhân cứ thao thao bất tuyệt nên không dám ngắt lời. Vừa lúc đó thì có bà trạc trung tuần bước vào.
- Thưa ngài, tôi là người hôm qua được hầu chuyện ngài qua điện thoại đấy ạ! - Bà ta tự giới thiệu.
- Ồ, rất hân hạnh được gặp bà.
Người đàn bà ấy hóa ra vừa là nhà thơ, nhà viết truyện ngắn, nhà viết tiểu thuyết kiêm nhà viết kịch. Bà ta đã đưa tặng tôi bốn tác phẩm của mình.
- Xin lỗi, bà dùng trà hay cà phê ạ? - Tôi hỏi.
- Xin ông nước trà ạ!
Không hiểu sao, tôi cảm thấy nếu chỉ gọi nước trà cho mình bà ta thôi thì thật là bất lịch sự. Nên tôi lại phải uống với bà ta một tách nữa là thành bảy tách.
Sau tách thứ bảy, tôi đã bắt đầu thấy hơi khó chịu, tuy chưa đến mức độ khó chịu lắm. Nhưng lẽ nào vừa làm quen với một người phụ nữ đã vội đứng dậy xin phép đi ra. Đã mấy lần tôi định nói: “Xin lỗi bà, tôi chạy về buồng một phút, tôi để quên một thứ ở đấy” hoặc “Xin phép bà, tôi chạy ra chỗ máy điện thọai một phút”. Nhưng bà khách đang cơn cao hứng bàn luận về thơ ca nên tôi không sao nói xen được câu nào.
- Cuộc sống ở đây mới buồn làm sao! - Cuối cùng bà ta thở dài nói.
- Vâng, nhất là lúc này tôi lại càng thấy buồn... - Tôi đáp.
- Nhưng ngài còn có thể trút bỏ nỗi buồn của mình.
- Đấy là bà tưởng vậy thôi, chứ giá mà tôi có thể trút bỏ nỗi buồn này...
- Thế cái gì làm ngài khó chịu ạ?
- Đó là cái ước muốn không thực hiện được... Tôi thấy khó diễn đạt quá...
- Vâng, ngài nói đúng. Không thể bất cứ tình cảm nào ta cũng có thể diễn đạt thành lời được, vì ngôn ngữ của chúng ta nghèo nàn quá!
- Dạ không. Kể ra diễn đạt thì cũng có thể diễn đạt được, nhưng tôi cứ cảm thấy khó nói thế nào ấy...
Bà khách hơi tỏ vẻ ngạc nhiên.
- A! Thế ra ngài...
Nhưng bà ta chưa kịp nói hết câu thì vừa lúc có ba người đàn ông tiến lại phía chúng tôi. Một đã có tuổi, còn hai người trạc trung niên. Đó là ông bác sĩ của tỉnh và ông luật sư.
Họ vừa mới biết tin là tôi đang ở đây.
- Rất hân hạnh được làm quen với các ông.
Các vị khách mới này cũng cần phải tiếp đãi. Nhưng ngoài trà và cà phê ra thì không còn cái gì khác. Vì thế tôi sẽ lại phải cùng uống với họ.
- Ồ, không đời nào! - Ông bác sĩ tuyên bố - Ngài là khách của chúng tôi thì chúng tôi phải đãi ngài chứ! - Rồi ông quay sang bảo người hầu bàn - Cho năm tách trà nhé!
Tách thứ tám đã cạn mà tôi vẫn chưa tìm được cớ gì để ra ngoài một lát. Lúc này tôi đã thấy khó chịu thực sự rồi chứ không còn nói đùa nữa. Nhưng vừa làm quen với họ xong, chả lẽ... Hơn nữa, cả ba vị khách này đều là những người có tư tưởng tiến bộ cả.
- Theo ý ngài thì có cách gì để giảm nhẹ gánh nặng của dân chúng không ạ? - Viên luật sư hỏi.
Trời ơi! Làm sao tôi có thể nghĩ đến chuyện giảm nhẹ gánh nặng cho người khác, trong khi chính tôi đang cần phải trút bỏ gánh nặng trong người!
- Tôi thấy cần phải đi ra ngoài...
- Ngài định nói gì ạ? - Ông bác sĩ không hiểu.
- A! Chắc là ngài muốn nói phải đi ra khỏi biên giới nước ta. - Ông luật sư trả lời thay tôi - Phải, chúng ta phải cử thanh niên đi du học nước ngoài thật nhiều mới được, vì có nhiều cái chúng ta cần phải học hỏi ở họ lắm!
Nói vô phép các bạn, lúc này tôi đã... buồn... cứng cả người, không thể chịu được nữa. Thôi kệ! Chả lịch sự thì đừng! Tôi nghĩ thầm như vậy rồi bảo họ:
- Xin lỗi các vị một phút...
Nhưng tôi chưa kịp đứng lên thì một nhân vật mới đã xuất hiện. Đó là một thương gia trẻ mà tôi mới quen cách đây hai hôm. Ông này đối với tôi cũng có rất nhiều cảm tình thân thiện.
- Ô-tô sẽ khởi hành từ trạm giao thông. - Ông ta báo cho chúng tôi biết.
Tôi vội vàng đứng dậy, định tìm cách chuồn khỏi họ một phút. Nhưng không kịp. Ông thương gia đã kẹp chặt một bên nách tôi, còn nách bên kia là ông luật sư. Tôi không nỡ xúc phạm đến cử chỉ thân thiết của họ, nên đành chịu cứng. Có hai người xốc nách hai bên, tôi bước ra khỏi khách sạn như một tên tội phạm. Tám chén nước trà cứ ùng ục trong bụng, may mà có hai người đỡ hai bên, chứ không thì có lẽ tôi không đi nổi.
- Ngài khó chịu à?
- Vâng, hơi khó chịu.
- Ngài làm sao thế?
- Tôi cũng không biết nữa. Nhưng tôi thấy trong người hơi khó chịu, y như có cái gì nó...
- ... Đè nặng trong người phải không ạ?
- Vâng, hình như thế.
- Thì tình cảnh nước nhà thế này ai mà không thấy đau lòng?!
Chúng tôi đi hết một quảng trường, rồi lại vượt qua hai dãy phố. Trời! Tôi chỉ mong sao đến trạm cho nhanh! Đến đó rồi, thì có ngượng đến mấy cũng mặc, tôi phải chạy đi tìm ngay cái chỗ cần thiết.
Nhưng không ngờ, trạm to thế mà cái chỗ tôi cần tìm thì lại không có.
- Ngài uống trà hay cà phê ạ?
- Không, cám ơn! Tôi không uống gì đâu!
- Ấy chết! Sao lại thế ạ! Muốn gì thì ngài cũng phải uống với chúng tôi một chén đã!
Người ta mang trà đến. Tôi uống vội vàng hết ngụm này đến ngụm khác để tranh thủ thời gian. Cứ mỗi ngụm tôi lại thấy bụng đau nhói, uống hết tách thứ chín tôi bắt đầu thấy người vã mồ hôi. Nhưng có khi ra mồ hôi thế lại hóa hay, vì có thể tôi sẽ cảm thấy dễ chịu hơn. Thấy mặt tôi lấm tấm hồ môi, viên luật sư hỏi:
- Ngài khó chịu à?
- Vâng, tôi thấy khó chịu lắm!
- Tôi có thuốc đây! Uống vào sẽ hết ra mồ hôi ngay!
- Ấy thôi! Tôi không uống thuốc đâu!
Nhưng người thư ký vẫn mang đến cho tôi mấy viên thuốc và một cốc nước. Mọi người đồng thanh bảo:
- Ngài uống đi ạ!
Giá như được lựa chọn, thì có lẽ tôi xin nuốt ngay một tấm bọt biển hay một tờ giấy thấm còn hơn! Mọi người gần như phải dùng vũ lực ép tôi uống mấy viên thuốc và cốc nước.
- Tôi không chịu nổi nữa đâu! - Uống nốt cốc nước tôi bảo họ - Tôi phải đi ra ngoài đây!...
- Ngài vẫn thấy khó chịu ạ?
- Tôi khó chịu lắm!
Tôi lảo đảo đứng dậy, định đi ra, thì có một người bước vào nói:
- Ô-tô sắp chạy. Xin mời các vị lên xe cho!
Tình trạng mỗi lúc một nguy ngập: gần hai chục vị trí thức của tỉnh mà tôi mới quen biết ra tiễn tôi. Người nào cũng tranh nhau nói, tranh nhau kể. Làm thế nào tôi thoát khỏi tay họ được! Chúng tôi đã đến trạm giao thông. Nhưng té ra người ta chưa bơm lốp xe. Viên thư ký trạm cũng là một anh chàng sính chuyện văn chương. Anh ta nói:
- Tất nhiên là ngài không biết chúng tôi, nhưng chúng tôi thì biết ngài rất rõ. Trong khi chờ bơm xe, xin mời ngài uống với chúng tôi chén trà đã!
- Cám ơn anh, tôi vừa uống xong!
- Ấy chết! Xin ngài đừng từ chối!
Chao ôi! Thử hỏi trên đời này còn có cực hình nào hơn thế nữa! Uống hết tách thứ mười, tình trạng tôi đã hoàn toàn nguy kịch: tim tôi đập mạnh, tai ù lên. Tôi không còn nghĩ gì đến chuyện xấu hổ nữa. Tôi phải hỏi thẳng họ xem nhà vệ sinh ở đâu đế tôi chạy đi mới được.
- Chỗ đi tiểu ở đâu nhỉ? - Tôi nhăn nhó hỏi. Nhà vệ sinh ấy ạ?
- Phải.
- Ở sân nhà thờ lớn kia ạ! Cách đây khá xa.
Đúng lúc đó người tài xế đã bơm xong lốp xe bước vào:
- Xin mời các vị lên ô-tô cho!
Cái bộ dạng của tôi lúc này đã thảm hại lắm, ấy thế mà tôi vẫn phải cố gượng cười với những người đi tiễn thì không biết trông nó ra làm sao? Tôi phải cố nhếch mép làm một nụ cười méo xẹo. Ô-tô bắt đầu chuyển bánh. Chúng tôi vẫy tay chào nhau.
Đi được một lúc thì tôi cảm thấy dễ chịu hơn. Có lẽ những cái xóc ô-tô đã làm cho cái bụng đầy nước của tôi nó xẹp đi chăng? Xe cứ tiếp tục chạy.
- Bao giờ thì đến nơi nhỉ?
- Khoảng hai tiếng rưỡi nữa.
Kể ra, cứ ngồi nguyên một chỗ như thế thì cũng chưa sao, tôi thấy vẫn còn có thể chịu được. Đi chừng một tiếng rưỡi đồng hồ thì ô-tô bắt đầu tiến vào một thị trấn và dừng lại trước một quán cà phê.
Tôi vội nhảy ngay xuống, hai tay ôm lấy bụng. Đưa mắt nhìn xung quanh, tôi hy vọng tìm được một nơi nào khuất vắng. Nhưng chết rồi, lại có bốn người nào tiến lại phía tôi mỉm cười!
- Chào bác ạ! Xin giới thiệu, chúng tôi là những giáo viên ở đây. Chúng tôi được người ta gọi điện báo cho biết là bác sẽ đến đây.
Chắc các bạn đã hình dụng tình cảnh thảm hại của tôi lúc này. Tôi trả lời họ mà mặt thì nhăn nhó:
- Rất hân hạnh!
- Ô-tô còn đỗ ở đây chừng dăm mười phút. Vậy mời bác vào xơi nước đã!
Nghe nói đến “nước”, tôi bủn rủn cả chân tay. Người ta kéo tôi vào tiệm cà phê.
- Tôi không muốn uống trà đâu!
- Nếu vậy bác xơi cà phê nhé?
- Không, cà phê cũng chịu thôi!
- Thế thì bác phải uống một chút gì, chứ không thì thật tủi cho chúng tôi!
Rồi họ vẫn cứ mang trà đến. Nhưng trà nào có ra trà! Uống xong tách thứ mười một, bụng tôi đau quặn.
- Ở đây nhà đi tiểu ở chỗ nào nhỉ? - Tôi đành hỏi thẳng. Bỗng có tiếng người tài xế kêu to:
- Yêu cầu hành khách lên xe thôi!
- Nhà vệ sinh ấy ạ? Ở trường học đằng kia cơ ạ! - Một vị giáo viên nói rồi chỉ tay về phía tít ngọn đồi trước mặt. Nhưng tôi còn hơi sức đâu mà leo lên được đến đấy!
- Yêu cầu hành khách lên xe! - Người tài xế lại giục một lần nữa.
- Không có ai quan tâm gì đến khó khăn của chúng tôi cả. - Một giáo viên nói.
- Vâng. - Tôi đáp - Chẳng ai muốn lâm vào tình cảnh của những người khác làm gì. Mỗi người có nỗi khổ riêng của mình.
- Không biết tình trạng này kéo dài đến bao giờ nữa?!
Chân tôi lúc này muốn khuỵu xuống.
- Tôi chỉ mong sao chóng đến khách sạn thôi. Đến đó tôi sẽ dễ chịu ngay!...
Mọi người không hiểu tôi muốn nói gì, nhưng vẫn cười ầm lên, vì tưởng tôi khôi hài.
Tôi lên ô-tô ngồi.
- Chúc bác lên đường bình an!
Thế là lần này chúng tôi không kịp trò chuyện gì với nhau. Thôi được, để đến lúc về vậy.
Nhờ những cái xóc của ô-tô nên tôi lại thấy dễ chịu hơn. Hay là nói với tài xế cho xe dừng lại? Không biết có nên không nhỉ. Trong xe có đến năm sáu chục hành khách, cả đàn bà trẻ con. Mọi người sẽ tập trung nhìn tôi mà cười mất! Lúc ấy thì biết chui vào đâu! Thôi, tốt nhất là cứ quên đi, đừng nghĩ đến nữa thì sẽ thấy dễ chịu thôi! Tôi nghĩ thầm như vậy.
Đúng lúc đó, có một chú bé bỗng kêu lên:
- Mẹ ơi! Con muốn đi tè!
- Cố nhịn đi một tí con!
Một hành khách kêu to bảo tài xế:
- Bác tài ời! Cho xe dừng lại một chút nhé! Có người muốn đi tiểu!
- Phải tính trước từ ở nhà chứ! - Người tài xế càu nhàu - Cứ mỗi người dừng lại một tí thì kiếp nào mới đến nơi được!
Tôi đang mừng thầm, nghe nói thế lại cụt hứng. Lại phải cố bóp bụng mà chịu vậy.
Ba tiếng rưỡi sau, chúng tôi mới đến nơi. Mọi người xuống xe. Khách sạn đã ở ngay trước mặt. Tôi chạy vội ngay về phía đó. Nhưng có ba thanh niên bỗng chặn tôi lại. Cùng đi với họ có hai đại biểu của phái đối lập.
- Chúng tôi đang họp hội nghị.
Té ra cả hai vị đại biểu này đều quá tha thiết muốn gặp tôi, nên đáng lẽ phải đi sớm, nhưng họ đã nán lại đến tận chiều để chờ gặp tôi. Biết làm thế nào bây giờ?
- Xin lỗi các vị một phút đã...
- Xin ngài để sau hẵng hay, chúng đôi đang đợi ngài.
Chúng tôi bước vào một căn phòng đầy người ngồi. Hội nghị chưa khai mạc.
- Mang trà lại đây nhé!
Tôi uống tách thứ mười hai. Có người hỏi:
- Không biết đến bao giờ mới chấm dứt thủ tục này?
- Xin lỗi, ở đây có nhà vệ sinh không ạ?
- Sao ngài lại hỏi thế ạ?
- À, tôi chỉ hỏi thế thôi!...
- Mang thêm trà nhé!
- Thôi cám ơn, tôi đủ rồi!
- Đủ là thế nào ạ! Chúng tôi được biết là ngài thích uống trà lắm mà!
Tôi lại uống tiếp tách thứ mười ba.
- Ngài bảo đến bao giờ liệu mới chấm dứt cái trò này?
- Riêng về phần tôi thì tôi thấy thật là nhục nhã!
- Trà gì mà loãng thế? Bảo pha đặc vào nhé! Này anh bạn! Cho thêm nước trà nhé! Mà thật đặc vào!
Tôi lại cạn chén thứ mười bốn.
- Thật không chịu nổi được nữa!
- Vâng, đúng là như vậy! Thì ngài bảo nỗ lực đến hết sức mình mà vẫn không đạt được nguyện vọng, thì ai còn đủ kiên nhẫn mà chịu đựng nữa?!
- Xin lỗi các vị, tôi đến khách sạn một chút rồi sẽ quay lại ngay!
Tôi muốn chạy, nhưng không chạy nổi nữa, mà phải khom người đi ra ngoài.
- Rất hân hạnh được gặp ngài. Tôi là chánh văn phòng thị chính. Ngài Tỉnh trưởng của chúng tôi hỏi thăm ngài từ sáng.
Chúng tôi vừa nói chuyện vừa đi về phía khách sạn.
- Xin mời ngài vào ạ! Đây là Tòa thị chính.
- Xin mời ngài xơi nước!
- Cám ơn ông, tôi không uống được nước trà.
- Ồ, thưa ngài, một chén thì có hề gì đâu ạ!
Thế là lại thêm chén thứ mười lăm.
- Ngài xơi thêm chén nữa ạ!
- Thôi đủ rồi ạ, cám ơn ông...
Có tiếng chuông điện thọai. Viên giám đốc cầm lấy ống nghe.
- Bẩm ngài, vâng. Đang ở đây ạ! Vừa mới đến xong ạ!
Đoạn ông quay sang bảo tôi:
- Ngài Tỉnh trưởng đang chờ ngài.
- Thôi để xin phép ông lúc khác...
- Ồ không được. Ngài là khách của chúng tôi. Chúng tôi không để ngài đi đâu cả!
Chúng tôi bước vào buồng làm việc của ông Tỉnh trưởng.
- Xin mời ngài xơi nước.
- Thú thật với ngài là tôi không uống được nước trà. Uống vào là tôi bị sặc ngay.
- Dù sao cũng mời ngài xơi một chén. Chả lẽ khách đến chơi mà đến một ngụm nước cũng không có.
- Cám ơn ngài, nhưng tôi không thể uống được!
- Ấy, không được! Có vội gì thì ngài cũng phải xơi một chén!
Uống hết chén thứ mười sáu, tôi bỗng cười phá lên như điên. Viên Tỉnh trưởng và chánh văn phòng tòa thị chính thì vẫn đang bàn luận về tình hình đất nước.
- Thưa ngài, quả thực với cung cách làm ăn hiện nay thì đáng cười thật!
- Tôi cảm thấy bị tức lắm.
- Vâng, quả là cái lề lối mòn cũ nó làm cho ngài khó chịu, nhưng bây giờ chắc ngài đã thấy dễ chịu hơn...
- Ôi lạy Chúa. Tôi không biết! Tôi thấy mỗi lúc một tức...!
Về đến khách sạn, tôi lăng ngay chiếc cặp vào góc nhà và hỏi người gác cửa:
- Chỗ đi tiểu ở đâu?
- Thưa, ngài cần thuê phòng một người chứ ạ?
- Một trăm người cũng được! Nhưng chỗ đi tiểu ở đâu?
Anh ta chìa cho tôi ba tờ khai.
- Trước hết xin ngài điền vào ba tờ khai đã!
- Anh muốn viết gì vào đấy thì viết, nhưng nhà đi tiểu ở đâu?
- Thưa ngài, đã có lệnh của cảnh sát, ai không có đủ giấy tờ thì không được thuê buồng ạ!
Tôi đặt trước mặt anh ta tờ giấy khai sinh và bảo:
- Đây, anh giữ lấy làm kỷ niệm! Anh nói ngay cho tôi, nhà đi tiểu ở chỗ nào?
- Thưa, ngài từ đâu đến ạ?
- Tôi van anh!
- Ngài sẽ ở lại mấy ngày và sau đó đi đâu ạ?
Phải cố sức lắm tôi mới bật được cánh cửa và leo lên cầu thang.
Ở phía cuối hành lang, tôi nhìn thấy một cánh cửa có ghi số: 00. Tôi đập cửa, nhưng hóa ra cửa bị khóa từ trong.
Tôi mở cánh cửa bên cạnh. Đó là phòng ngủ. Nhưng thôi cũng đành! Vì tôi không thể nhịn thêm một phút nào nữa.
Ôi! Thật là nhẹ nhõm! Người nào chưa từng phải chịu đựng như tôi, thì không thể hiểu thế nào là hạnh phúc! Tôi thanh thản bước xuống cầu thang. Tầng dưới là tiệm cà phê. Tôi khoan khái ngả người xuống một chiếc ghế và dõng dạc gọi người hầu bàn:
- Ê, hầu bàn! Cho một tách trà nhé! Thật đặc vào!
0
«« « 1 2 » »»