📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

TRUYỆN NGẮN

68 trả lời, 7.443 lượt xem — Trang 1 / 3



BÀI HÁT BIỆT LY

Phan Cao Toại

Căn phòng ấy có bốn người. Bốn người vô tội bị tử thần nhập vào bằng những bệnh thập tử nhất sinh. Nghề nghiệp của bốn người khác nhau. Tuổi tác khác nhau. Quê quán khác nhau. Họ gặp nhau tình cờ trong căn phòng cấp cứu hai mươi bốn mét vuông với máy móc lỉnh kỉnh, thuốc men đủ loại, những vũ khí của con người dùng chiến đấu chống thần chết.

Phía cửa đi vào, ngay bên trái là cô gái còn trẻ. Nhà cô ở làng hoa. Sáng sáng, không chồng cô thì em gái mang vào phòng những cánh hoa tươi. Hoa được chia đều cho bốn bình trên bốn đầu giường. Người đàn ông nằm đối diện với cô bị ung thư dạ dày. Khuôn mặt ông khi nào cũng thiểu não. Hễ ngủ thì thôi, chứ thức là ông rên. Rên ư ử cả ngày cho đến khi không còn sức để rên, ông thiếp đi. Vợ con vào thăm có phật ý gì là ông đuổi. Ông không đủ sức mạnh để quát lên như khi còn khỏe, nhưng vẻ nhăn nhó trên khuôn mặt xanh xao của ông, vợ con phải biết ý mà chuồn. Ðược cái ông rộng rãi. Người nhà thăm ông đồng quà tấm bánh, ông chia đều cho cả phòng. Ngay cả đối với tôi, bác sĩ điều trị cho căn phòng đặc biệt ấy nhiều khi cũng được dành phần. Ông bảo, căn phòng đó nhỏ như một gia đình, mọi người phải như anh em trong một nhà, vui buồn có nhau. Có hôm tôi đến, ông cầm tay tôi nở nụ cười khó nhọc chào tôi, than vãn: "Bao giờ ông giời mới dẫn tôi đi. Chờ lâu quá tiêu hết tiền hết của, khổ vợ, khổ con, phiền bệnh viện". Tôi cười không dám trả lời ông. Và tôi, người cứu chữa cho ông có phần xấu hổ vì sự bất lực của y học trước những căn bệnh hiểm nghèo.

Giường phía trong, bên trái là một cụ bà trên bảy mươi. Cụ bị liệt nửa người. Con cháu vào thăm, cụ vẫn tươi cười: "Thất thập là thọ lắm rồi, có "đi" cũng không ân hận". Cụ chăm chút lo toan, lặng lẽ chờ phút qui tiên. Người cuối cùng trong phòng là chị Lệ, đang bị xơ gan cổ trướng, có chồng là nhạc sĩ, anh Tôn Hoàng.

Những hôm trực đêm, tôi thường xuyên có mặt trong phòng này. Vào thời điểm đêm và ngày giao nhau, ánh hoàng hôn đỏ thẫm phía xa xa hiện qua cửa sổ căn phòng như một bức tranh tuyệt diệu của thiên nhiên. Tôi thường đứng bên cửa sổ ngắm những con chim sẻ bay vội vã vào các mái nhà, và những tán lá xanh trong khuôn viên bệnh viện đang chuyển thành mầu tím. Tôi muốn để bệnh nhân có chút thì giờ yên tĩnh bên thân nhân của họ. Thói quen ngắm trời chiều của tôi và những giây phút im lặng kia bị phá vỡ từ khi chị Lệ vào điều trị tại phòng này.

Tôi đang ngồi bên bàn đọc những sóng điện tim màu tím trên nền giấy ca rô trắng vừa đo cho chị, bỗng sau lưng có tiếng ai đang hát. Tiếng hát trầm đục lại bị nén xuống thành một âm thanh là lạ như được phát ra từ ống bơ rỉ. Tuy người hát cố rất nhỏ nhưng tôi cảm thấy rất khó chịu, nhồn nhột như cảm giác con mèo dùng bộ móng sắc nhọn cào lên da thịt, như một chiếc dùi thô thiển gõ lên mặt trống im lặng của căn phòng. Tôi quay lại. Một người đàn ông thấp đậm, tóc lốm đốm màu tro, ăn mặc xuyềnh xoàng trông rất cục mịch đang vừa hát vừa nhịp tay lên cửa sổ. Chị Lệ chau mày khi thấy tôi nhìn người đàn ông. Chị gượng cười, giới thiệu:

- Nhà em đấy, bác sĩ ạ.

Quả thật, tôi được coi là người dễ tính nhất bệnh viện nhưng vẫn bị dị ứng với tiếng hát của chồng chị. Với quyền hạn của người bác sĩ trực, tôi có thể nhắc nhở để "cảnh cáo" thậm chí có thể "mời" vị ấy ra để trả lại sự yên tĩnh cho phòng bệnh. Trong ba mươi phút ngắn ngủi người nhà được gần thân nhân, anh Tôn Hoàng đứng ngay phía đầu giường của vợ hát trọn ba mươi phút rồi trao tờ giấy chép nhạc cho chị. Chị mỉm cười, hàm ý cảm ơn rồi rướn mình nâng cánh tay khẳng khiu bỏ bài hát vào ngăn tủ đầu giường. Ðành rằng anh Hoàng chỉ hát cho một người nghe, tôi cảm thấy cần tìm cách vặn tắt chiếc đài biết đi kia. Người bệnh cần yên tĩnh cần sự chăm sóc dịu dàng thì anh Hoàng lại hát. Chướng quá!

Tôi đã nghe ý kiến phản ảnh của bệnh nhân trong căn phòng ấy. Người đàn ông khó tính mỗi lần tôi đi khám bệnh là than phiền về anh Hoàng bằng những lời lẽ cay độc:

- Nhờ bác làm ơn tống cổ cái anh chàng nhạc sĩ hấp hơi ấy. Không lẽ ông ta thi vị hóa bệnh tật, đau đớn thành tiếng hát. Thật là một anh chàng dở hơi!

Ông bày tỏ thái độ với tôi nhưng giọng rất nhỏ, vẻ khó chịu chỉ hiện ra bằng những rung động của các thớ cơ trên mặt. Còn cô hàng hoa thì mách lại với chồng. Anh chồng kéo tôi ra ngoài hành lang, nói với giọng đầy giận dữ:

- Thật không hiểu nổi! Người ốm cần thuốc men, cần đường sữa, cần cam, cần chuối chứ không ai cần nghe hát. Xin bác sĩ ra tay cho. Lão ấy vào đây là lên cơn tâm thần. Tôi người khỏe mạnh mà cũng không sao chịu được. Nói chi người ốm liệt giường.

Tôi hỏi thăm một số người quen bên hội văn nghệ, họ cũng không biết nhạc sĩ "Tôn Hoàng" là ai. Hay là, danh hiệu nhạc sĩ của anh là danh hiệu người nào đó vinh dự nghe anh hát rồi hứng lên phong bừa cho anh? Nếu đúng như vậy, nhạc sĩ Tôn Hoàng chiều nào cũng có một sáng tác mới, chẳng qua là anh nhạc sĩ rởm, đúng như lời than phiền của các bệnh nhân đã phải nghe anh hát?

Khi khám bệnh cho chị Lệ, tôi định tìm cách trao đổi với chị để chị nói lại với anh rằng, anh đừng... hát nữa. Nhưng tính tôi cả nể, nhiều lần định nói, lại thôi. Thấy tôi có lúc ngồi lâu bên chị, vẻ như lưỡng lự, đắn đo định nói điều gì mà không nói, chị Lệ ít nhiều hiểu ra câu chuyện. Chị nói với tôi rất chân thành:

- Anh nhà em tính khí vẫn vậy. Thích nhạc, thích hát lắm. Lúc trước, anh là anh chàng kỹ sư công binh lầm lì. Dạo ấy em là thanh niên xung phong trên đường 15B. Anh ấy quen em cũng vì một hôm Mỹ thả bom từ trường. Ðường tắc, xe ùn lại. Anh ấy được cử đến phá bom. Tiểu đội em cử em ra hát động viên anh ấy. Có hy sinh cho có đôi!

Nghe chị nói, tôi càng ngạc nhiên. Người kỹ sư công binh năm ấy vì sao hôm nay mang trên mình danh hiệu nhạc sĩ? Giữa công binh, vũ khí, cầu đường, những lĩnh vực của khoa học chính xác cách rất xa tính bay bổng, lãng mạn của âm nhạc, nếu không muốn nói trái ngược với âm nhạc. Tôi tò mò hỏi:

- Thế sao bây giờ anh ấy lại là nhạc sĩ?

Chị nở nụ cười kín đáo và tôi biết chị đang vui, đang trong cơn xúc động về sự hồi tưởng:

- Thế rồi, anh ấy "cảm" tiếng hát của em. Trong tiểu đoàn công binh của anh có một anh giỏi nhạc. Em đoán anh Hoàng đã học mót anh ấy. Một tuần lễ sau, các anh ấy đi vào phía trong, em chợt nhận được một lá thư. Mở ra, đó là một bản nhạc. Phía dưới, anh Hoàng ký tên mình, và tái bút dặn, bài hát ấy anh viết cho riêng em, mong em đừng cười và đừng cho bạn bè xem vì đó là bài hát đầu tiên trong đời của anh.

Em cũng biết chút ít về xướng âm liền nhẩm hát. Cách viết ấy rõ ràng của người không sành nhạc, khập khễnh lắm. Nhiều chỗ viết sai. Nhưng bài hát anh ấy viết cho em, em vẫn hát. Sau này, đã thành bài hát chung của cả tiểu đội. Nhân có một anh nhà thơ đi qua, tụi em mới biết anh ấy phổ thơ của một nhà thơ nước Nga. Thảo nào nghe hay và "mùi" đến thế. Giọng của em cũng nghe được cộng với ý thơ hay của nhà thơ Nga, hát lên nghe thích lắm: Em ơi đợi anh về. Mưa có rơi dầm dề. Ngày có dài lê thê. Thì em ơi cứ đợi.

Về sau, anh ấy vào sâu trong chiến trường, em vẫn nhận đều đặn những bài hát mới anh gửi cho em. Bài nào anh cũng dặn anh chỉ viết cho riêng em...

Và tôi, một người không ưa gì anh Tôn Hoàng với những bài hát không thể nào hiểu được của anh bỗng bùi ngùi, trân trọng quá khứ của anh. Tôi bắt đầu thông cảm với anh, tìm cách giải thích cho những bệnh nhân khác trong phòng để họ thông cảm với anh.

Anh Tôn Hoàng chiều nào cũng vào thăm vợ với những bài hát mới của mình. Anh viết rất khỏe, hình như sau ba mươi phút buổi chiều vào thăm vợ trong bệnh viện, thời gian còn lại anh dồn tâm lực cho những bài hát mới. Bài hát nào của anh cũng kèm theo những lời giải thích:

- Bài này tả cảnh quân đi. Anh sẽ thấy có bộ đội, thanh niên xung phong, xe tăng, xe tải. Tôi viết theo nhịp một (anh cười). Không phải một hai, một hai đi đều bước đâu nhé. Hành quân vào chiến trường mà đi một hai thì như duyệt binh. Nhịp một một, đi tự do mà. Bài này đệm gì cũng được.

Hôm sau, có bài hát mới, anh lại giải thích theo cách khác:

- Bài này viết về các cô gái thanh niên xung phong ở trọng điểm. Tả tiếng bom rơi tôi dùng nốt la. La... la... Là... la. Người hát phải có dàn nhạc có đàn giây để tạo tiếng rít...

Hôm sau nữa, cầm bài hát trong tay, anh lại giải thích:

- Bài này, tôi viết về tâm trạng một cô gái đang ngồi bên bờ suối, gửi lòng mình nhờ dòng nước mang đến người yêu. Rê mi... rê mi... rê mi... nghe như tiếng suối róc rách chảy. Bài này tiết tấu mềm mại, nhạc đệm phải có đàn violon kết hợp với bộ gõ Tây Nguyên.

Tôi và những người bệnh nhân trong phòng quen dần với sự có mặt và giọng hát của anh Hoàng. Người đàn ông khó tính nhất, từ chỗ ghét anh Hoàng, hễ thấy là muốn xúc đổ đi, đã mỉm cười khi nghe anh hát. Cô hàng hoa phía ngoài đề nghị anh hát to hơn để cô nằm xa nghe cho rõ.

Một chiều không thấy anh Hoàng vào thăm vợ. Tôi cũng lại trực đêm. Không thấy tiếng hát và dáng điệu nghệ sỹ khô khan của anh khi anh đưa tay bày tỏ cảm xúc. Một sự vắng lặng dâng tràn. Tôi vẫn đứng nhìn khung trời và hoàng hôn tím sẫm ngoài cửa sổ. Mọi ngày, anh Hoàng vẫn hát vào lúc này. Khi anh cất tiếng hát cũng là khi chim sẻ từng đôi trên ngọn phi lao ríu rít sà vào những tổ ấm của chúng dưới mái ngói của những ngôi nhà. Người phát hiện anh Hoàng vắng mặt là người đàn ông khó tính:

- Quái, cái lão hấp hơi hôm nay không thấy vào!

Cô gái làm nghề trồng hoa phía ngoài dành riêng một bông hồng rất đẹp chờ anh hát xong là cô sẽ tặng. Dạo này, theo đề nghị ấy lúc đầu cũng không dễ dàng gì, bởi như anh nói anh viết cho vui, viết cho riêng chị Lệ nên người khác nghe có thể thấy chẳng hay chút nào. Song anh Hoàng vẫn chấp nhận đề nghị của mọi người. Cũng như đối với tôi, anh giải thích rất kỹ về chủ đề bài hát, xuất xứ của bài hát, loại nhạc cụ gì đệm kèm theo với hy vọng khi nghe, mọi người cảm nhận thêm cái hay, cái đẹp. Cô hàng hoa đã nghe quen tiếng hát của anh Hoàng nên sự vắng mặt của anh làm cho cô chờ đợi. Cuối cùng cô phải hỏi chị Lệ sau một phút đắn đo:

- Chị Lệ ơi, sao hôm nay anh Hoàng không vào?

Tôi đoán mò, trả lời thay chị Lệ:

- Chắc anh ấy bận.

- Thế là bông hồng em để dành tặng cho nhạc sĩ sẽ héo mất thôi!

Tôi ngồi xuống cạnh giường chị Lệ. Người phụ nữ chưa đầy năm mươi tuổi teo tóp trong một tấm chăn mỏng, bụng như một chiếc trống lùm lên. Chị bùi ngùi:

- Chiều nay giỗ mẹ em. Anh ấy phải về dưới quê thắp hương cho mẹ...

Chị ngừng lại để lấy thêm sức vì chị quá yếu không thể nói một hồi dài:

- Em nghĩ mà thương anh Hoàng. Anh ấy vụng về lắm. Tụi em lại không con không cái, rủi em "đi", lấy ai chăm sóc...

Mắt chị rơm rớm:

- Không có bàn tay phụ nữ, không biết anh ấy sẽ sống ra sao. Em bảo sau khi em mất, anh tìm người khác người ta đỡ đần cho. Nhưng anh ấy cứ khăng khăng từ chối. Anh ấy là kỹ sư, giờ về mất sức nhưng kiếm tiền cũng khá. Mỗi tội không biết nấu ăn, đi chợ búa không biết mặc cả.

Giọng chị nhỏ dần. Tôi thông cảm với những lo toan của chị, tâm trạng của một người sắp vĩnh viễn chia ly người thân yêu của mình. Tôi cũng hiểu và thông cảm với hoàn cảnh của anh Hoàng về nỗi khắc khoải của người chồng sẽ không còn được bao lâu nữa bên vợ. Tiếng hát của anh cứ văng vẳng bên tai tôi, tiếng con chim trống sắp mất bạn nghe sao mà thương cảm thế.

Tôi nghỉ trực một ngày. Tôi ở nhà mà lòng dạ bồn chồn. Thông thường, có chút thời gian rảnh rỗi, tôi cùng vợ con đi chơi phố rồi cả nhà ghé vào một quán cơm bụi nào đó cho bà xã nhà tôi khỏi phải nấu nướng. Lần đầu tiên tôi nghỉ mà nằm lỳ ở nhà. Người tôi cứ nao nao. Vợ tôi tưởng tôi mệt ra chợ mua thức ăn rồi xuống bếp trổ tài nấu nướng. Cơm dọn ra, hai đứa con khen lấy khen để món giò hầm măng còn ngon hơn cả trong nhà hàng... Tôi ngồi vào mâm cơm, không thiết tha gì ăn uống mà vơ vẩn nghĩ về khoảnh khắc của đêm và ngày giao nhau, khung trời và hoàng hôn tím sẫm ngoài cửa sổ, về những cánh chim bay vội về tổ, về tiếng hát của anh Hoàng và nụ cười trên khuôn mặt chỉ còn da bọc xương của người vợ bất hạnh đang lắng nghe chồng hát. Lòng tôi cứ cồn lên những ý nghĩ vẩn vơ, mong sao cho chóng sáng.

Linh cảm của tôi đã không nhầm. Vừa đến cổng bệnh viện, anh Hoàng đã đứng đợi tôi ở đó. Mặt anh dại đi, mắt đờ đẫn như không có linh hồn, áo quần xộc xệch... Và với nhạy bén của người thầy thuốc, tôi đoán điều gì đã xảy ra. Tôi chạy tới ôm chầm lấy anh và không hỏi gì thêm...

Tôi dìu anh bước vào căn phòng quen thuộc. Vẫn bốn chiếc giường kê bốn góc. Vẫn cô gái làng hoa, người đàn ông và cụ già nằm đó. Tất cả đều im lặng. Chiếc giường trống trong cùng chỉ còn lại một màu trắng tang tóc. Trên chiếc bàn con, người nhà cô gái làng hoa vẫn cắm vào chiếc lọ quen thuộc một bông hồng mới nở. Khung trời màu xanh ngoài cửa sổ, từng đôi chim se sẻ đang ríu rít bay đi.

Tôi và anh Hoàng ngồi lại bên giường chị Lệ, y như lúc chị còn sống. Cả căn phòng không một âm thanh. Chợt anh Hoàng lên tiếng phá tan không khí lạnh lẽo đang băng giá cả căn phòng.

- Nhà tôi đi thanh thản lắm. Nhà tôi đưa tay cho tôi nắm, mơ màng nghe tiếng hát của tôi rồi dần dần đi vào giấc ngủ, như không hề có cuộc chia tay vĩnh viễn. Lúc ấy tôi đang hát cho nhà tôi nghe bài hát tôi mới viết.

Tôi nhìn anh. Trong mắt anh như còn đậm nét hình ảnh cuối cùng của người vợ thân yêu. Mãi sau, tôi mới dám đụng vào vết thương của anh, vết thương tôi tin chẳng bao giờ thành sẹo:

- Hình như bài hát hôm qua là bài hát cuối cùng anh viết cho chị?

Giọng anh trầm xuống:

- Không. Ðó không phải là bài hát cuối cùng. Bài hát cuối cùng tôi viết cách đây hai năm. Khi tôi biết tin nhà tôi lâm bệnh nặng. Tôi biết tai họa sẽ ập đến gia đình tôi. Vì thế tôi đã viết "bài hát biệt ly". Nhưng điều ân hận của tôi là tôi không đủ nghị lực để hát bài hát ấy cho nhà tôi nghe.

Anh đưa tay với chiếc ghi ta đã cũ, hàng ngày anh vẫn để bên giường của chị, so lại dây đàn và trên khuôn mặt đớn đau của anh, những nếp nhăn bỗng mờ đi khi anh lấy hết can đảm cất lên tiếng hát: "Em ơi đừng sợ lá thu rơi.

Ðừng vội tắt nụ cười. Em trong anh không bao giờ ly biệt.

Tình yêu của chúng mình như dòng sông chảy miết....

Tôi lặng đi trong tiếng hát. Anh Hoàng hát xong khi nào tôi cũng không hay. Trước đây, khi anh hát xong, dựng cây đàn ghi ta bên đầu giường của chị, anh nhận được bông hoa rất tươi của cô gái làng hoa, tiếng vỗ tay nhè nhẹ của người đàn ông khó tính, nụ cười yếu ớt của cụ già. Hôm nay, tất cả đều im lặng. Mãi đến khi cô gái làng hoa bật lên tiếng khóc, tâm tưởng của tôi mới trở về với hiện tại. Tôi xin anh Hoàng hát cho chúng tôi nghe một lần nữa, vì tôi biết anh sẽ không còn dịp trở lại căn phòng này. Lần này, anh hát to hơn, đầy xúc cảm đúng với giọng bình thường của người ca sĩ.

Tiếng hát của anh ngân lên. Những tia nắng ban mai chiếu xiên qua cửa, sưởi ấm căn phòng. Và tôi nhận ra, tiếng hát ấy chỉ có thể phát ra từ tấm lòng của một nghệ sĩ lớn. Anh Hoàng là một nhạc sĩ tài năng.

Ngoài kia, nắng trải vàng trên những lối đi và những đôi chim sẻ đang ríu rít chuyền cành.




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0
BẠN VIẾT CŨ

Nguyễn Khải

1

Khi ông già đó tới tòa báo lần thứ ba thì các nhân viên ở Ban Trị sự của báo đưa mắt nhìn nhau, có ý hỏi: nên nói với ông ấy như thế nào để ông khỏi đến nữa. Nhìn tướng ngoài ai cũng biết ông là một cán bộ Nhà nước đã nghỉ hưu, mặt mũi hiền lành, nhẫn nhục, nhìn ai cũng như hơi mỉm cười, cái cười làm quen, cầu thân của nhiều người già. Tất nhiên không phải là một người già của Hà Nội. Ông mặc cái áo dạ đen dài gần chấm gối, đã bạc đã cũ, quần ka-ki mầu xám và đi đôi giầy vải, đế cao su đen, luôn ôm bên người một cái cặp da căng phồng. Lần đầu hỏi, ông đến có việc gì, ông trả lời ấp úng: "Tôi chờ một người bạn". Những người như thế đến tòa báo chờ một ai đó cũng là thường, ngày nào chả có. Nên không ai hỏi thêm. Ông ta ngồi khoảng chừng một tiếng, nhìn ai cũng như có hơi quen biết, khẽ nghiêng đầu và cười mỉm, những người kia cũng gật đầu chào lại, vẻ mặt thản nhiên vì họ đâu có biết ông là ai. Lần thứ hai cách đó vài ngày, ông cũng vẫn chào mọi người rất lễ phép rồi ngồi vào cái ghế đẩu kê ở góc phòng khách. Nhân viên tòa báo tới mời ông ngồi ghế có lót bọc và rót một tách trà mới pha. Ông chỉ hơi nhổm người cảm ơn rồi vẫn ngồi nguyên chỗ cũ, vẫn nhìn chăm chú tất cả, những bức tranh treo trên tường và những nhân viên mặc sang trọng đang làm việc ở phòng bên qua lớp kính, nhìn chăm chú lắm, nếu không có nụ cười hiền lành thì cái sự chăm chú ấy là rất đáng ngờ. Lần này là lần thứ ba, mấy người của báo còn chưa biết xử trí ra sao thì một anh trong Ban Biên tập đi ngang qua biết chuyện liền bước vào nói với ông già rất lễ phép: "Thưa bác, bác đến báo đưa bài, hỏi bài hoặc cần gặp ai để cháu giúp?". Ông lão nhìn người hỏi rất thân thiết, nói nhỏ nhẹ: "Tôi chờ gặp mấy người quen cũ" - "Thưa bác, là những anh nào ạ?" - "Anh Vũ Tú Nam còn làm ở đây không?" - "Chắc đã lâu lắm bác không đến báo, chú Vũ Tú Nam từ lâu không làm ở báo nữa ạ" - "Thế anh Nguyễn Văn Bổng?" - "Bác Bổng cũng về hưu lâu rồi ạ. "Quả thật ông này chả hề biết một tí gì về Hội Nhà văn những năm gần đây. Là hội viên thì không phải rồi mà cũng không thể là người Hà Nội. Người Hà Nội đã là trí thức như gương mặt ông này, dẫu làm những nghề chả liên quan gì đến viết lách vẫn biết mọi sự đã xảy ra ở Hội Nhà văn, nhiều người con biết rành rẽ hơn các hội viên ở xa nữa. Ông này là ai nhỉ? Chưa kịp hỏi gì thêm thì người kia đã nói tiếp, thì thào, thủ thỉ, lại như có chút xúc động trong giọng nói thì phải. Anh nhà báo vừa nghe vừa đưa mắt nhìn qua cánh cửa sắt, hình như anh cũng đang chờ ai tới, lỡ bước vào hỏi một câu, không chừng phải ngồi với ông này cả giờ. "Cách đây đã mấy chục năm tôi còn là cộng tác viên của báo, thỉnh thoảng cũng có một truyện ngắn được đăng. Mỗi lần đến tòa soạn các anh ở báo coi như người trong nhà". Anh nhà báo cười gượng gạo, mắt vẫn đảo nhìn ra ngoài: "Cái năm ấy chắc bọn cháu còn đang học tiểu học". Ông già lại nói: "Một đời người nghĩ cũng nhanh, anh nhỉ? Chỉ mới đây thôi mà đã là một kiếp khác rồi". Người tiếp chuyện vẫn cười gượng ép, trả lời lấy lệ, mắt vẫn nhìn nhớn nhác nơi khác: "Vâng, vâng đúng thế". Người kia lại nói: "Cũng còn may đường phố này, cái nhà này tuy thay đổi nhưng vẫn là nó, nhìn từ xa tôi vẫn nhận được ra nó. Có điều cái nhà cũ thì thấp và tối, bây giờ thì cao hơn nhiều, nhìn vào đâu cũng sáng". Anh nhà báo đứng vội lên, cáo lỗi: "Cháu có việc phải ra ngoài, bác cứ ngồi đây chơi, có ai hỏi bác cứ bảo đợi cháu có việc, cháu là Nhật Vinh". Ông già cũng đứng lên theo, nắm lấy tay anh nhà báo, chắc cũng là nhà văn, nhà thơ gì đây, đã hiểu rõ nỗi lòng của ông, đã đưa tay ra để ông có cớ trả lời, có cớ ngồi lại, có cớ đến nữa.

2

Truyện ngắn đầu tiên anh viết năm anh mới 35 tuổi. Năm ấy anh là cán bộ tuyên huấn của nông trường Mộc Châu sau 15 năm là lính. Vợ anh là cô giáo dạy văn cấp 3 ở Hà Nội. Vợ chồng anh đã có hai con, một trai một gái, trai lên bảy, gái lên năm. Anh về Hà Nội học Nghị quyết của Trung ương và dự một số cuộc họp của Bộ Nông trường khoảng nửa tháng. Trong nửa tháng, ngày đi họp, tối về trông con gái đang lên sởi để bà ngoại được nghỉ, vừa đặt bút viết thử một truyện ngắn về một cặp vợ chồng ở nông trường. Mối tình của họ cũng gần giống như mối tình của vợ chồng anh hồi mới quen nhau thời còn đánh Pháp. Họ sống với nhau, thương yêu nhau, cãi cọ nhau, nuôi dạy con cái cũng giống hệt gia đình anh nhưng vui hơn, lắm chuyện hơn và có nhiều chuyện buồn hơn. Viết về người như viết về mình, lại có khoảng cách vừa phải để ngẫm nghĩ, để ngắm nghía nên anh viết rất nhanh, hơi văn tự nhiên, chân thật, có đoạn tự mình bật cười thành tiếng, có đoạn cũng muốn ứa nước mắt. Ðêm viết mấy trang cuối thì con bé đã hết sốt, mụn sởi đã mọc xuống chân, đòi ăn cháo và đêm ngủ rất ngoan nên cái mừng của người cha trông con đau sắp khỏi cộng với cái mừng của người viết đã lia bút tới phần kết khiến ngòi bút như bay trên trang giấy, nhìn không còn rõ nét chữ nữa. Vợ anh nằm ôm con trong chăn, lát lát lại mở choàng mắt, hỏi bằng cái giọng ngái ngủ: "Anh định viết hết đêm à?" - "ừ, viết cho xong để lây nhây sốt ruột lắm". Vợ cười khẽ sau lưng con: "Nói cứ như ông nhà văn thực thụ". Chồng cười nhưng vẫn không ngừng tay: "Biết đâu đấy! Cô đừng có cười mà rồi hối!" Giọng của vợ đã tỉnh hẳn nhưng vẫn là giọng đùa: "Thì bố em đã nói em có số lấy chồng là văn nhân mà".

Trước ngày về nông trường anh đèo con trai đến tòa báo Văn nghệ để gửi bài. Trong thư ghĩ rõ địa chỉ mà cả tháng sau vẫn chưa nhận được thư trả lời được hay chưa được. Tết được về Hà Nội một tuần ăn tết với vợ con, trời rất rét vẫn đèo con trai phía sau lượn lại trước tòa báo mà chưa quyết định được dứt khoát là nên vào hỏi hay không nên vào. Vì cũng sợ nếu nhà báo trả lời là chưa đăng được có phải mất vui cả mấy ngày tết không. Hy vọng thêm một ngày vẫn tốt hơn là thất vọng hoàn toàn. Thằng bé lên bảy, học lớp hai nhưng đã rất khôn, nó ngồi phía sau hỏi: "Tại sao bố không vào hỏi bài của bố? Bố sợ các bác ấy mắng à?". Anh không trả lời, nó lại hỏi: "Bố buồn à". Anh phì cười: "Hai con khỏe và ngoan là bố vui lắm". Rồi anh nói thêm, chắc thằng bé chưa thể hiểu: "Bố vui buồn vì các con chứ ai lại buồn vui vì cái chuyện văn chương vớ vẩn". Truyện ngắn ấy được tòa soạn xếp vào loạt truyện dự thi truyện ngắn hay của báo năm 60, khi kết thúc nó được Ban giám khảo tặng giải Nhì. Cô vợ bảo chồng: "Ðọc trên báo hay hơn đọc trên bản viết tay nhiều. Các bạn em phục anh lắm, không chừng anh thành nhà văn thật cũng nên". Anh chồng vênh bộ mặt đầy râu, nói tỉnh bơ: "Chồng nói không tin lại thích tin người ngoài".

3

Trong mười năm hầu như năm nào anh cũng có một hoặc hai truyện ngắn đăng trên báo. Tên anh đã được chờ đợi trong giới văn của Hà Nội và những người yêu thích văn học trong ngành giáo dục. Các con lớn dần lên, nghĩ là đã đến lúc nhàn nào ngờ vợ anh mỗi năm một yếu đi vì chứng bệnh nan y của phụ nữ. Dẫu đau yếu chị vẫn không bỏ dạy, vẫn chăm lo mọi việc để người chồng đỡ phải đi về nhiều lần Mộc Châu - Hà Nội. Anh đã ngoài bốn chục tuổi, thuở trẻ anh có đủ thứ bệnh, toàn là những bệnh do chiến tranh để lại. Càng có tuổi các bệnh cũ như mất dần, mười năm không ốm một ngày nào, không đi bệnh viện một lần nào, vào bệnh viện chỉ để trông vợ ốm với con đau. ở nông trường thì việc Nhà nước, việc nhiều người ít, làm đủ mọi việc, không còn thì giờ ngồi ăn ngồi thở. Về nhà thì việc gia đình, vợ vừa bận vừa ốm đau, những công việc lớn trong nhà đều phải đợi người đàn ông về thu xếp. Giọi nhà, quét vôi, làm lại đường dây điện, làm gác xép cho con lớn có chỗ ngồi học, khách đến có chỗ ngủ qua đêm. Ðường từ Mộc Châu về Hà Nội có lần đi xe của nông trường, nhiều lần chỉ đi xe đạp, cái xe không chắn bùn, không chắn xích, không chuông, không cả phanh, trần trụi, gày guộc như ông già cởi truồng, đèo lặc lè phía sau nào gạo, nào ngô, đỗ, khoai đã xắt mỏng phơi khô, phía trước thì các bị cói lớn nhỏ nhét đầy cà mèn đựng mỡ, thịt rừng đã sấy khô, măng khô và cả ớt đã nghiền thành bột phơi khô. Phần của anh có một ít, phần mua lại của anh em một ít, Hà Nội cái gì chả có nhưng đắt; đặc sản của rừng lại càng đắt. Tất cả những nông nỗi ấy, những tính toán ấy đều vào truyện của anh cả. Những nhân vật của anh người nào cũng vất vả, cũng có bao nhiêu lo nghĩ, toàn những lo vặt vãnh của đời thường nhưng không ai buồn, không có ai mất lòng tin vào ngày mai, cái buồn cái khổ và bao nhiêu hy vọng hư có thực có như chảy vào, thấm vào mỗi trang giấy viết, thấp thoáng giữa những dòng chữ, trong từng con chữ nên câu văn, chữ dùng chả có gì là đặc sắc, là hiếm quý mà vẫn quyễn rũ người đọc. Ðọc chuyện của người mà như được nhìn lại đời mình, lại là một cái nhìn đã tỉnh táo, đã vượt khỏi cái bề bộn, vật vã của mỗi ngày để nhìn được xa hơn, cao hơn, nhẹ nhõm hơn.

4

Trong 17 năm anh viết được khoảng hai chục truyện ngắn và bút ký. Truyện đầu tiên anh viết trong một đêm có tiếng nói mê của con lớn, tiếng khóc u ơ của đứa nhỏ và cái giọng ngái ngủ của vợ lát lát lại giục anh ngừng viết để vào nằm với hai con. Mười tám năm sau, năm 78 anh viết truyện ngắn "Tiễn con đi xa", chưa nghĩ tới chuyện gác bút không dè lại là cái truyện ngắn cuối cùng. Anh vẫn ngồi viết trong gian nhà cũ, trên cái bàn mộc kê giữa hai cái giường đôi. Cái bàn đã trở lại mặt mộc của tấm ván ép hai góc bàn mép ván đã bật khỏi đinh đóng vênh cong lên. Vẫn là đồ đạc cũ, không thêm một cái gì. Chỉ có thêm cái bàn thờ đóng ở phía trên bàn viết, đặt ba tấm hình lồng trong khung kính, hình giữa là mẹ vợ, hình bên trái là vợ, hình bên phải là con trai. Ba thế hệ đều buồn bã chứng kiến người đàn ông tóc đã bạc sớm sống lủi thủi trong gian nhà trở nên quá rộng, nấu một soong cơm nhỏ, kho một niêu cá nhỏ và ngồi ăn một mình, ngủ một mình và đêm viết một mình. Anh vẫn ngồi viết tới khuya bên cái giường trống vẫn chưa buông màn, không có tiếng động nào ngoài tiếng ngòi bút sắt cạo soàn soạt lên mặt trang giấy xấu.

Năm 70 con trai anh 17 tuổi, vừa tốt nghiệp trung học phổ thông nhưng không thi vào đại học mà muốn tòng quân làm nghĩa vụ người trai thời chiến. Nhà con trai một, thằng bé lại tháo vát và học giỏi, đã có thể thay bố làm ông chủ nhỏ của gia đình. Ði rồi về lại học cũng chả sao. Chỉ sợ có đi mà không thể về thì cái phần còn lại của gia đình sẽ phải sống như thế nào? Mẹ nó nói thế rồi khóc. Người bố cũng nghĩ thế nhưng anh đã là người lính thời đánh Pháp, anh lại còn là người viết, anh sẽ còn dám viết gì tiếp nếu anh không ủng hộ một nguyện vọng rất đẹp của lứa tuổi nó khi đất nước còn chưa dứt tiếng súng? Nên anh đã nói, hãy để con tự quyết định, nó có danh dự của nó, của thế hệ nó, không một ai có quyền ngăn cản, kể cả bố mẹ. Thằng bé lên đường đầu năm 71, qua thư gửi nó đã có mặt ở nhiều chiến trường, tới tháng 3 năm 1975 thì nó hy sinh ở Plây Cu. Tin thằng bé hy sinh mãi cuối năm 1975 gia đình mới biết. Mẹ nó đã không còn đủ nghị lực để chống chọi với bệnh tật của mình, nằm liệt khoảng hai tháng rồi mất giữa năm 1976. Bà ngoại nó mất vào cuối năm mới 70 tuổi. Cuối năm 1977 con gái đi lấy chồng. Hai đứa yêu nhau từ những năm còn học ở trường trung cấp sư phạm. Khi chúng nó xin với anh được làm hôn lễ vào cuối năm, cũng là cưới chạy vì mẹ chồng đang đau nặng, khó mà sống qua được vụ rét, anh cũng giận. Nhà đang có bao nhiêu là chuyện buồn mà con gái chỉ nghĩ đến cái vui riêng của nó sao? Nghĩ thoáng thế rồi lại tự nhủ, mình là người viết văn, dẫu viết nghiệp dư vẫn là người viết, thì không thể nghĩ nông cạn như mọi ông bố khác được. Mỗi lứa tuổi đều có cái vui cái buồn riêng, không hoàn toàn giống nhau. Những buồn vui của tuổi trẻ đều hướng về tương lai, hướng về đoạn đời còn lại của chúng nó. Con gái chọn chồng còn quan trọng hơn đứa trẻ chọn cửa để sinh ra. Chọn cửa sinh là ông giời chọn, hay giở cũng chỉ trong khoảng mươi lăm năm. Còn chọn chồng là tự mình chọn, hay dở phải chịu suốt một đời người. Mình buồn rồi mình chết, không sao cả. Buộc con gái phải buồn theo mình để lỡ mất vận may, ai sẽ san sẻ với nó những cái đau khổ sau này? Lúc đầu cả hai đứa đều có vẻ sợ vì mặt bố trở nên ngỡ ngàng, căng thẳng. Tự chúng cũng cảm thấy có lỗi vì đã nói cái chuyện riêng của chúng nó vào cái lúc rất không nên nói. Nhưng chỉ một lúc sau các nếp nhăn trên mặt người bố như dãn dần ra, ông nhìn hai đứa rất âu yếm rồi nói nhỏ: "Bố bằng lòng. Còn một tháng nữa, phải không? Chỉ tiếc nếu mẹ còn sống thì chúng mày cũng đỡ vất vả".

Anh đã viết đúng như thế, không thêm bớt một tí gì, nghĩ là một chuyện buồn nhưng lại không hẳn là buồn, một nhà phê bình đã viết thế. Người sống vẫn phải tiếp tục sống với những công việc của hôm nay, của ngày mai. Trong cái vui lấp ló nhiều cái buồn vì chiến tranh vừa kết thúc, vết thương chưa kịp kín miệng nhưng những người còn sống buộc phải cười, phải vui với cái đang tới.

5

Khoảng vài ngày sau, ông già mang cặp, bạn viết lâu năm của báo, lại lò dò đến. Lần này không đợi ai hỏi, ông đến trước một nhân viên của báo nói thầm thì: "Xin chị tha lỗi, tôi muốn được gặp anh Nhật Vinh. "Một lát sau Nhật Vinh từ trên lầu chạy xuống, thấy ông già đang ngồi chờ ở phòng khách, anh hỏi mừng rỡ như họ đã quen nhau từ lâu: "Bác chờ cháu đã lâu chưa?". Ông lão đứng dậy: "Thưa, tôi cũng vừa tới, tôi đến để chào anh, ngày mai tôi về dưới tỉnh". Nhật Vinh nói: "Sáng nay cháu rỗi, hai bác cháu ta ra quán uống ly rượu chia tay". Nhật Vinh gọi hai ly cô nhắc Pháp và một đĩa gỏi ngó sen. Ông già hớp một chút rượu vẫn cầm ly trên tay, lòng mắt đã bạc nhìn mông lung ra phía đường. Nhà báo trẻ hỏi: "Lần này bác có gửi cho báo truyện mới nào không?". Ông già đặt ly rượu nói ngậm ngùi: "Tôi viết không được nữa anh ạ. Xưa kia tôi sống vội vã, căng thẳng với rất nhiều dự tính, nhiều hy vọng, chả là mọi sự mới chỉ bắt đầu. Có ý tưởng gì hay là viết được ra liền, câu chữ đuổi nhau ở đầu ngòi bút, ngăn không nổi, chữ nào cũng tươi, cũng xanh như mới được dùng lần đầu... Còn bây giờ, tôi hoàn toàn tự thả lỏng, dập dềnh nửa thức nửa ngủ, trôi theo con theo cháu, không phải lo bất cứ việc gì, cũng không hy vọng cho riêng mình bất cứ cái gì. Ðã nghĩ người không còn gì để lo, không còn việc gì để làm, rỗi rãi cả ngày cả tháng thì ngồi viết bao lâu cũng được, ngồi viết cả năm, cả nhiều năm cũng vẫn được. Nào ngờ không còn chữ để viết, chúng đã trốn đâu mất sạch. Chỉ viết được đoạn mở đầu, chuyện nào cũng chỉ viết được vài dòng mở đầu. Sao thế nhỉ? Mãi lâu về sau tôi mới hiểu, khi mình không còn gì để buồn, để lo, để hy vọng nữa thì chữ nghĩa cũng héo dần, chết dần. Bây giờ thì chúng đã chết cả loạt rồi, chúng chết trước tôi mới đau chứ!".

Khi Nhật Vinh hỏi, hai bác cháu còn cơ hội gặp nhau lần nữa không, thì ông già nhấp nháy nhìn anh, trong mắt như có ngấn nước: "Chắc là không bao giờ. Tôi đã ngoài bẩy chục rồi, dẫu còn sống cũng khó có việc buộc được tôi lên Hà Nội lần nữa. Tờ báo của các anh ấy mà, nó gói ghém nhiều đời người nhiều đời văn lắm đấy. Những đời văn thăng trầm, vất vả của một cái nghiệp làm người. Không có những cuộc đời ấy đổ vào cho báo làm sao nó sống được tới tận hôm nay.

Ông lão đã đi được một lúc nhà báo trẻ mới chợt nhớ anh chưa từng hỏi tên ông ta. Ông ta tên gì nhỉ, có bút danh là gì nhỉ, đã viết những truyện ngắn nào nhỉ? Vì anh không hỏi nên ông già cũng không nói. Một bạn viết có một lai lịch hơi đặc biệt đã chạm vào tay nhưng anh đã không nắm giữ lấy nên ông ta lại lặng lẽ chuồi đi vào cõi vô danh.

Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0

CÔ DÂU TRONG THUNG
Hải Miên

Đưa tay vặn ngọn đèn dầu xuống thật nhỏ, chị Nụ sẽ sàng nằm xuống chiếc giường tôi. Dù sẽ sàng, chiếc giường tre cũ vẫn kêu lên cọt kẹt.
- Cái giường này đã già lão quá rồi, Gỗ nhỉ? Ngày trước mẹ bảo mẹ đã sinh chị ra trên chiếc giường này. Cả em cũng khóc chào đời ở đây. Những vệt thâm đen trên vạt giường là do nước đái của hai chị em mình để lại đấy.
- Thế còn cái giường em đang nằm đây?
- Tự tay bố hạ tre, đóng năm em lên 10. Bố nói con trai lớn phải ngủ riêng, không được nằm chung với mẹ và chị gái. Bố đóng giường em dài hơn chiếc giường bên này cả đoạn vì bố bảo nhìn giò biết em sẽ cao lắm. Em có nhận thấy không?
- Có, nhưng em cứ tưởng khúc tre dài, bố tiếc không muốn cưa đi.
Chị Nụ bật cười, tôi cũng cười rúc rích như chị em nhà chuột cắn lúa trong đêm tối.
- Hai đứa mày không lo mà đi ngủ, khuya rồi - giọng anh tôi ngái ngủ. Tiếp theo là tiếng nói nhẹ nhàng và xa cách của chị dâu:
- Mai cả nhà phải dậy sớm để dỡ đám khoai trên đồi, trưa ở lại luôn. Cô Nụ nhớ nấu cơm sớm và dỡ theo cho chúng tôi.
Chỉ nghe tiếng chị Nụ trả lời khẽ: "Vâng", rồi tất cả chìm vào yên lặng. Hình như chị Nụ không ngủ được, lâu lâu lại nghe tiếng chị trở mình, tiếng thở dài cố nén.
- Gỗ, em còn thức không?
Tôi nắm lấy bàn tay 20 tuổi khô gầy của chị đang rờ nhẹ trên mặt mình, áp vào má. Bàn tay chị có mùi mặn mặn, tôi sực nhớ lúc chiều chị đã muối một vại cà bát và hai chum nhỏ cà pháo. Chị Nụ lại thở dài.
- Gỗ này, chắc chị phải đi lấy chồng.
Cố lắm tôi mới không kêu lên thảng thốt mà cũng thầm thì như chị:
- Nhưng chị mù loà...
- Chị cũng biết vậy - tiếng chị buồn và cam chịu - Nhưng chị không đến nỗi vô dụng. Chắc cũng có người đàn ông kém vẹn toàn nào đó muốn lấy chị làm vợ chứ, em có nghĩ vậy không?
Đột nhiên chị im lặng giây lâu. Tôi quờ tay lên mặt chị chạm phải hai dòng nước mắt chứa chan.
Gia đình tôi đã bao đời sống ở nông trang này, quây quần trong thung cùng hơn 50 nóc nhà khác. Bị chắn chung quanh bởi đồi, núi và một con dốc cao chót vót, những ngọn gió trong thung thường quanh quẩn khắp lượt các cửa nhà, những bàn chân trẻ con hiếu động cũng dừng lại trước vách núi và con dốc chắn. Nhưng chúng tôi không hoàn toàn bị cô lập. Phía bên kia con dốc là đường dẫn xuống chợ, xuống phố phường, cửa hiệu náo nhiệt tưng bừng.
Chợ năm ngày một phiên. Với bọn trẻ con, xuống chợ là một phần thưởng năm chúng lên 10 tuổi, khi chúng có thể gánh đỡ bố mẹ hai mủng khoai, bắp cải hoặc lúa gạo. Rồi từ đó mỗi năm một lần, chúng lại được theo bố mẹ, ông bà hoặc anh em xuống chợ một lần vào dịp Tết. Để chuẩn bị cho đi chợ Tết, chúng phải để dành tiền xu quanh năm, nhịn thèm tất thảy đến mức nhìn những quả thông, quả ớt hay trái cà chúng đều thấy có hình que kem mát lạnh và viên kẹo mút ngọt lịm. Chúng dành tiền đi chợ Tết mua bong bóng, kẹp tóc, dép mới.
Tôi đã đi chợ Tết bốn lần. Chị Nụ 20 tuổi chưa được đi chợ Tết lần nào bởi quãng đường đó xa xôi và lạ lẫm đối với một người mù như chị. Những người lớn ở nông trang chúng tôi vừa tự hào vừa tự ti về cái làng nhỏ của mình nên nhiều đời các cuộc hôn nhân chỉ chăng đèn kết hoa từ cửa nhà này sang cửa nhà khác ngay trong làng. Đến lứa của anh Cả, chị Nụ tôi thì các bậc cha mẹ đã phải nhờ đến ông mai bà mối cưỡi ngựa vượt qua thung, đi đến các làng khác để kén dâu tìm rể mặc dù điều đó trái với tục lệ của nông trang. Chị dâu tôi bây giờ cũng do một ông bà mối dẫn về từ một làng rất xa...
Gia đình chúng tôi cũng từng vững chãi như mọi nhà khác trong làng, thời mà mỗi bữa ăn chị Nụ phải dọn ra mâm đủ sáu đôi đũa, sáu cái bát cho ông nội, bố mẹ và ba anh em. Thời đó nhà tôi có ông nội trông nhà, hạ tre ngồi đan thúng mủng, giần sàng và vót đũa dưới bóng mát của cây mít trước ngõ, có bố để anh cả theo sau đuôi trâu tập cày, có mẹ để bày chị Nụ nấu cơm, may vá và tôi còn cố trợn mắt trợn mũi nhai nuốt thật nhanh mỗi bữa hai bát cơm chan canh để tối được mẹ cho sờ tí.
Ngày qua tháng lại, mắt bọn trẻ con chúng tôi xa dần, xa dần mặt đất thì những người già cứ mỗi ngày còng xuống gần hơn với đất, cho đến khi nằm hẳn xuống ngủ một giấc muôn đời. Ông nội tôi thở hơi cuối cùng khi mẹ đang hối hả đào hố trồng xuống sau vườn một cây ăn trái lâu năm. Đây là tục lệ của riêng người trong thung. Khi trong nhà có một người lớn tuổi về với đất thì người đàn bà của gia đình đó phải trồng xuống một loại cây lâu năm kịp trước khi người kia im hơi tắt tiếng. Linh hồn của người chết sẽ không chịu vùi sâu dưới ba tấc đất cùng thể xác của họ mà thoát ra, nhập vào thân cây ấy trong vườn nhà. Với những người trẻ, linh hồn sẽ bay đi nương vào một cây trên rừng. Hằng năm vào ngày mồng một Tết, chúng tôi có lễ thăm cây. Trước hết là thăm cây trong vườn nhà và sau đó toả lên rừng.
Giờ ông nội đã trú ẩn trong cây mít trước ngõ, bố tôi ở cây xoài sau nhà và mẹ tôi ở cây xoan cạnh bờ mương. Mỗi khi buồn, chị Nụ hay ra tựa lưng vào gốc cây xoan, một chốc lại lẳng lặng quay vào, không muốn để ai nhìn thấy. Nhưng tôi biết bí mật của chị. Tôi còn biết từ dạo nhà có chị dâu, chị rất hay lén ra dựa gốc xoan...
Tôi không chắc trong hai người, anh cả và chị Nụ, ai là người háo hức đón cô dâu mới hơn bởi anh luôn giữ vẻ mặt căng thẳng, lạnh lùng. Sau ngày đón cô dâu một thời gian cũng vậy. Chị Nụ vốn tính trầm lặng nhưng khi có chị dâu, chị bỗng trở nên hoạt bát và nói nhiều. Tuần đầu chị Nụ là bạn trò chuyện duy nhất của chị dâu. Chị kể rất nhiều về những người trong nhà, nhất là anh cả. Chị nói cho chị dâu biết về linh hồn của ông nội ẩn trong cây mít, bố ở ngoài cây xoài, mẹ nương cây xoan. Chị dâu rất ngạc nhiên, hồ nghi: "Ở làng chúng tôi không có tục lệ như vậy".
Một cách chậm chạp nhưng anh cả ngày một đổi khác. Sau mỗi đêm ngủ dậy anh thường nói với chị em tôi, nhất là chị Nụ, những điều mới mẻ, lạ lùng. Nói một lèo, trơn tru, chặt chẽ. Chúng tôi vẫn yêu quý anh nhưng ngày một e ngại anh mình. Chị dâu chưa bao giờ rầy la hay tỏ ý không hài lòng về hai đứa em. Đến bữa ăn, chị dâu luôn ngồi ở đầu nồi, nhận lấy việc xới cơm cho cả nhà, và cả tôi lẫn chị Nụ, không ai bảo ai nhưng đều hết sức e dè khi đưa bát cho chị dâu xới bát cơm thứ ba. Rồi dần dà, dù đói dù no, chúng tôi luôn dừng ở bát thứ hai. Tội nhất là chị Nụ. Trước đây tôi là người gắp thức ăn cho chị trong mỗi bữa cơm, nhưng về sau này tôi thực thi nhiệm vụ của mình hết sức e dè, tiết kiệm. Chị dâu ít nói. Chị dâu xoay chuyển nếp sống của cả nhà theo ý riêng của chị bằng một uy lực vô hình.
Nắm lấy tay tôi, quơ quơ cây gậy trên con đường làng nhỏ hẹp, lẫn lộn phân trâu phân ngựa, chị Nụ bảo: "Gỗ, em đi tới nhà bà Duyên với chị. Có em, chị vững tâm hơn". Bà Duyên chuyên làm nghề mai mối ở làng tôi. Bà dẻo miệng, có thể ghép duyên giữa một anh trai thọt chân với cô gái đẹp người tốt nết nhất làng mà không ai trách móc được bà. Giúp chị Nụ nhảy qua một con suối cạn và hẹp xong, tôi hỏi:
- Việc này sao chị không nhờ anh cả đi giúp cho đỡ khổ?
Chị cười, vẫn nụ cười và giọng nói cam chịu:
- Đúng ra là phải như vậy, con gái mọi nhà khác đều để mẹ đi lo việc này. Ở nhà mình thì anh cả đi là phải lẽ nhất. Chỉ có hạng con gái không ra gì, không biết xấu hổ thì mới tự đi nhờ người kiếm chồng cho mình. Nhưng phận chị mù loà, có đáng gì mà chảnh choẹ, người ta sinh ghét thêm.
Từ nhà bà mối Duyên trở về, chị bảo tôi khoan về thẳng nhà mà ngồi nghỉ chân bên lòng suối cạn một lúc. Hai chị em vục chân trong làn nước mát lạnh, trong veo, thấy rõ từng con cá bé bằng đầu tăm trong suối bơi dạt theo nước chảy. Chị vốc nước lên vã vào mặt, cho chảy ròng ròng xuống cổ, ướt cả ngực áo và tạt nước lên rửa chân tay. Tôi nhận ra chị Nụ của mình không hèn kém chút nào như đôi mắt mù của chị. Chân tay chị thon thả, trắng ngần và đẹp đẽ hơn của chị dâu tôi nhiều. Hái một chiếc lá sơn to gấp lại như chiếc phễu, tôi vớt được con cá suối nhỏ bằng đầu đũa, bảo chị khum tay lại rồi thả chú cá vào lòng bàn tay chị. Giơ cao bàn tay chụm lại, chị yên lặng để cho dòng nước tuôn theo những kẽ tay xuống suối. Khi cảm thấy được con cá búng trong lòng bàn tay, chị cúi người trả con cá nhỏ về với suối: "Nếu như chị không mù, chị đã có thể bơi xa như chú cá nhỏ kia rồi...".
Không ngờ mọi việc tiến triển nhanh thế. Khi bà mối Duyên đến nhà báo cho biết đã có một đám bên kia núi chịu cưới chị Duyên cho con trai họ, với điều kiện nhà gái không đòi hỏi tiệc tùng, lễ vật thì đúng vào bữa cơm tối, có anh cả và chị dâu cùng nghe.
Anh chị hơi ngạc nhiên nhưng không tỏ ý gì đặc biệt. Chị dâu nhẹ nhàng:
- Mừng cho cô có nơi có chốn để nương tựa. So tuổi thì cô cũng hơi cứng rồi.
Anh cả hỏi kỹ hơn về gia đình đằng trai và bản thân người chồng sắp cưới của chị Nụ. Bà mối Duyên trả lời qua loa, bảo:
- Bên mình đừng đòi hỏi quá. Phận cô Nụ mù loà, có người chịu cưới cho là may lắm. Tôi phải trổ hết tài khéo của một bà mối giàu kinh nghiệm ra mới xong đấy.
Tối đó, chị Nụ không ngủ được. Chị quay sang tôi:
- Gỗ này, không biết mai sau đời chị thế nào nhỉ? Có được như chị dâu nhà mình không?
Tôi chưa biết nói sao thì chị đã tiếp:
- Chắc là không. Chẳng biết xứ ấy nó ra làm sao? Đã bao giờ em thả trâu sang tận xứ ấy chưa, có giống như ở đây không?
Tôi chưa bao giờ biết xứ ấy cả, mà cả làng tôi cũng chưa chắc ai đã một lần đặt chân đến. Một làng ở sau núi? Sau ngọn núi cao dựng đứng vây bọc thung này, còn có một làng nào đó sinh sống ư? Hiểm trở, heo hút đến thế kia mà.
Ngồi dậy uống một hớp nước để trong chiếc ấm đất ở dưới nhà, ngay cạnh đầu giường, chị nài nỉ tôi:
- Hai hôm nữa tới phiên chợ, em dẫn chị đi chợ với nghe, Gỗ. Chị đi không được mau nhưng chị sẽ cố, miễn là em chịu đi chậm lại một chút. Chưa bao giờ chị được biết chợ cả, chị thèm lắm. Hồi xưa, mẹ có hứa sẽ đưa chị xuống chợ một lần cho biết, nhưng mẹ không kịp...
Tối hôm sau chị Nụ xin anh cả cho tôi dẫn chị đi chợ, chị dâu sang nhà bác họ dạm đổi đỗ giống. Anh cả vào buồng một lúc, quay ra nhét vào tay chị Nụ mấy tờ bạc:
- Em cầm lấy, xuống chợ muốn mua gì thì bảo thằng Gỗ nó dẫn đi mua. Anh thấy hôm chị nhập dâu về nhà mình, trên đầu chị giắt nhiều những thứ gì lóng lánh, trông đẹp lắm. - Ngập ngừng một lúc, anh cúi đầu thở dài - Lẽ ra anh phải cho em nhiều hơn, nhưng chị em có thai. Sắp tới sinh em bé, hao tốn lắm.
Rồi anh vuốt vuốt mấy sợi tóc xoà xuống trán, còn vướng tro bếp của chị Nụ, nghẹn ngào:
- Lẽ ra anh phải đưa em xuống chợ huyện nhiều lần rồi mới phải. Suốt mấy năm qua, từ khi...
Để lẩn tránh phút yếu lòng, anh quả quyết đứng dậy, vớ lấy bó đuốc giắt sau chái bếp, gắp than bỏ vào rồi thổi bùng lên:
- Anh đi đón chị về. Mới mưa đường trơn lại đang có mang.
Dù không nói ra và vẫn giữ nét mặt phẳng lặng, hiền dịu vốn có của một người mù, nhưng tôi biết chị Nụ đang hồi hộp và lo sợ lắm. Lâu nay mọi việc nhà chị đều chu toàn, dù có hơi chậm chạp, là nhờ chị đã quen với mọi ngóc ngách và những trật tự không bao giờ thay đổi của các đồ vật trong nhà. Nay chị sắp sửa về một nơi xa hút, bước chân vào một ngôi nhà hoàn toàn xa lạ, phải mất bao nhiêu tháng chị mới quen được với những ngóc ngách và vị trí đồ vật? Biết có ai trong nhà ấy tốt bụng, thương chị mù loà để cầm tay dẫn chị từng li từng tí như ngày xưa mẹ đã chỉ dạy cho chị hay không?
Sáng ấy hầu như cả thung ngưng làm việc, nhất là các bà và đám trẻ con. Họ đứng chật sân, giẫm nát cả đám cải con mới xoè ba lá sau giếng nước, chờ đợi đến ngộp thở người đàn ông sẽ đến lấy chị Nụ mù loà của tôi về làm vợ. Chị Nụ chân mang giày mới, đầu do chị dâu bới chải cầu kỳ, dắt những món trâm cài lấp lánh mà chị đã mua ở phiên chợ hôm đi với tôi, ngồi ngay đơ trên chiếc chõng tre của chị. Bên cạnh là tay nải quần áo, toàn đồ cũ, để chị mang theo, có một bộ mới duy nhất vừa may thì chị đang mặc trên người. Khi nghe đám con nít chạy như bay ngoài đầu dốc vào, cấp báo "Chú rể tới rồi, chú rể tới rồi!" chị kêu tôi lại khẽ khàng:
- Gỗ này, tí nữa em đừng bỏ ra ngoài đó theo đám trẻ con mà hãy ngồi đây với chị. Em cố nhìn qua kẹt cửa xem chú rể là người như thế nào, tả thật tỉ mỉ cho chị nghe với. Tỉ mỉ hơn ngày em tả chị dâu nữa. Gỗ, em là đôi mắt của chị.
Nói đến đó chị nghĩ tới ngày mai hay sao mà hai dòng nước mắt đổ xuống chứa chan.
Đoàn nhà trai đã vào đến ngõ. Chẳng đông đúc, rầm rộ như những đám cưới khác. Đi theo chú rể chỉ có hai người đàn ông đã đến tuổi đổ dốc, một người dắt ngựa, một người bưng quả trầu cau bé xíu, ngả màu héo hon, nằm lọt trong khay trà rượu. Cả hai người đàn ông đều có dáng vẻ thảm hại do những gì họ mang lên trên người, mặt gầy choắt và đặc biệt đôi mắt mí sụp vằn lên những tia hung ác. Tôi lo sợ cho chị mình. Con ngựa trắng đang cõng chú rể trên lưng cũng lộ vẻ già nua, đói kém. Lông nó ngả màu khói như những đám cỏ nắng táp trên đồi.
- Chú rể của chị đã xuống ngựa, có vẻ cao hơn anh cả nhà mình. Chú rể mặc đồ mới, trông chững chạc, đường hoàng lắm.
- Sao chị nghe ngoài sân ồn lên ghê thế? Có gì không ổn hả em?
- Các bà đang trầm trồ về chú ngựa tuyệt đẹp của chú rể đấy. Úi chà, chú rể có dáng đi thẳng và đẹp lắm chị ạ.
Chị nghiêng tai về phía tôi, sốt ruột:
- Em tả cho chị nghe về nét mặt của người ấy đi. Hiền hay dữ? Có hiền như bố không?
- Mặt anh ấy vuông chữ điền, lông mày rậm và đen, mắt sâu, trông tình cảm lắm...
- Gỗ, sao chị nghe ngoài sân xôn xao ghê vậy?
- Em đoán anh ấy là người nhân hậu, chị à.
Rồi tôi còn huyên thuyên một lúc nữa, nhưng nước mắt tôi đã lưng tròng. Tội nghiệp chị Nụ của tôi! Anh rể mặc áo mới, rộng thùng thình, đoán là áo mượn. Đầu tóc anh xù lên như một tổ quạ và luôn tay đưa khăn lên chấm nước dãi liên tục đổ xuống hai bên mép. Đầu anh ngoẹo sang một bên, dựa hẳn vào vai trái. Chắc chắn anh là người bị ngớ ngẩn, đần độn. Khổ thân chị tôi biết bao! Họ còn nói một thứ tiếng mà không ai ở thung chúng tôi hiểu được. Họ khác ngôn ngữ với chúng tôi! Nếu không có bà mối Duyên thông dịch thì hai bên đàng trai đàng gái đã như hai kẻ điếc trò chuyện với nhau.
Bỏ chị Nụ ngồi lại trong nhà, tôi lao ra sân, vẹt đám các bà bu quanh để núp sau lưng anh cả. Tôi năn nỉ:
- Anh cả ơi, anh đừng gả chị Nụ cho họ. Chị ấy chết mất! Có gì khổ lắm, mai em sẽ dẫn chị Nụ xuống phố chợ đi xin ăn. Còn hơn...
Anh cả ngập ngừng, lưỡng lự, nét mặt anh tỏ vẻ kinh tởm khi nhìn thấy chú rể, con ngựa và hai người đàn ông đi họ. Nhưng rồi anh bắt gặp ánh mắt của người chị dâu...
Tự tay tôi nắm dây mũi của con trâu già dắt ra khỏi chuồng. Con trâu mẹ này do bố mẹ chúng tôi để lại, đã đẻ cho anh cả ba con nghé đực, giờ anh chia con trâu mẹ cho chị Nụ đi lấy chồng, coi như của hồi môn. Một tay gạt nước mắt, tôi đỡ chị Nụ lên lưng trâu, dưới có lót tấm chăn cho chị đi đường xa đỡ mỏi người. Lúc tôi khoác tay nải quần áo của chị lên cặp sừng cong vút của con trâu mẹ, chị quờ tay nắm lấy tay tôi, cúi đầu xuống cho má chị áp vào mái đầu khét nắng của tôi.
- Em đừng lo nhiều cho chị, Gỗ ạ. Dù họ có như vậy, anh ta có như vậy, chị vẫn tin là chị có thể sống được ở nhà người ta. Chắc dù sao họ cũng thương một kẻ mù loà như chị mà không đòi hỏi quá khắt khe. Em có nghĩ vậy không?
Hoá ra chị Nụ biết hết. Và chị cam chịu đón nhận cái phận hẩm hiu mà số phận đã dành cho một cô gái mù như chị.
- Em ở lại ngoan, đừng giận anh cả, đừng oán chị dâu, Gỗ nhé. Thực ra chị dâu không xấu gì với chị em mình đâu.
Người đàn ông bên họ nhà trai cất giọng the thé xổ ra từng hồi. Tôi đoán là ông ta giục lên đường.
Vẫn giữ nét mặt phẳng lặng của một người mù và nét dịu hiền vốn có, chị Nụ kéo mạnh dây mũi, thúc vào lưng con trâu mẹ. Con trâu mang chị đi được một quãng rồi cứ quay đầu trở lui. Tôi chạy theo gọi: "Chị Nụ, chị Nụ nhớ về thăm em!". Chị quay đầu lại, nghẹn ngào: "Em cố lớn nhanh băng núi vượt đèo lên thăm chị, Gỗ nhé. Xa quá thế này, chắc chẳng khi nào họ dẫn chị về lại nhà mình nữa đâu".
Tôi leo lên gốc thị cụt ngọn ở đầu thung, ngóng theo bóng đoàn người mang chị Nụ tôi đi mỗi lúc một xa dần. Trước là chú rể cưỡi con ngựa trắng xỉn màu, sau là chị tôi ngồi nhỏ bé trên lưng trâu, hai bên hai người đàn ông loắt choắt. Rồi cứ khuất dần, khuất dần, cho đến khi tôi chỉ còn nhìn thấy một chấm đỏ xa mù, đó là tay nải áo quần của chị tôi đu đưa trên cặp sừng cong vút của con trâu mẹ...




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0
truyện ngắn :XIN DỪNG GÕ CỬA
tác giả:Xuân Thiều

Thực ra, Hảo không điên như lũ trẻ mất dạy ở khu gia đình tập thể K.42 thường trêu. Gặp anh, chúng xì xào "Trung tá điên, Hảo điên". Có đứa còn giả vờ cúi đầu chào anh kính cẩn: "cháu chào chú Hiển". Và cả bọn cười phá ra cười. Ðấy là cách nói lái, Hảo điên thành Hiển đao. Cả khu K42 đều biết, trung tá Hảo không hiểu vì lý do gì, mà về hưu lúc mới 43 tuổi. Từ một sĩ quan nhanh nhẹn hoạt bát và vui tính, anh bỗng hóa như người mất hồn, im lặng, nhẫn nhục. Thường chỉ tủm tỉm cười. Gặp ai tủm tỉm đã đành, ngồi một mình cũng vậy. Chị Phúc, vợ anh hốt hoảng chạy thầy chạy thuốc hết đông, tây y lại sang cả bệnh viện tâm thần ở Trâu Qùy. Người ta đều bảo, anh bị một cú sốc gì đó về tâm lý, lên tổn thương thần kinh, một dạng tâm thần phân liệt. Ðến một lúc nào đấy, sẽ khỏi thôi. Ðến lúc nào đấy là bao giờ hở trời, chị Phúc than vãn. Một cú sốc về tâm lý, chị cũng linh cảm vậy, nhưng không biết ngọn nguồn. Anh Hảo không hay đem chuyện ở đơn vị tâm sự với vợ con. Chỉ biết trước lúc về hưu một thời gian, anh có đổi tính đổi nết, hay cáu gắt vớ vẩn. Cáu gắt đấy rồi lại bần thần đấy. Cứ ngồi ngẩn mặt ra, nhìn chăm chăm vào một điểm mơ hồ nào đó ngoài cửa sổ. Ngoài ấy chỉ có mấy cây đu đủ. Sau nữa là bức tường nhem nhuốc của dãy nhà khách. Chẳng có gì đáng để chiêm ngưỡng. Vào thời kỳ đó, anh có chứng giật mình. Ai gọi giật giọng, anh giật mình, mặt cứ tái ngoét. Ðặc biệt, anh sợ tiếng gõ cửa. Ðang đêm, nghe tiếng cộc cộc gõ cửa, anh tung chăn choàng dậy, thở hổn hển, không lên tiếng đã đành, còn có vẻ sợ sệt, thu nhỏ mình lại sau tấm màn gió. Chị Phúc đã treo một tấm biển phía ngoài: "Xin đừng gõ cửa, cứ gọi tên người nhà". Hàng xóm đã quen, ai đến có việc gì cũng chỉ gọi khẽ. Chỉ mấy người khách xa, vô tình mới làm cho anh Hảo hốt hoảng. Sau mỗi lúc giật mình hốt hoảng, anh trằn trọc, không ngủ được. Về hưu, bệnh giật mình của anh càng nặng, trở thành ngớ ngẩn lúc nào không biết. Chị Phúc đã tìm đến bộ tư lệnh quân chủng, nơi anh làm việc. Phòng cán bộ tiếp chị lịch sự, tử tế, nhưng chị không moi được điều chị cần biết. Họ bảo, về hưu là do nguyện vọng của anh, lá đơn có chữ ký của anh sờ sờ trước mắt chị. Chẳng ai ép anh về hưu. Cũng chẳng làm gì có chuyện cú sốc về tinh thần. Cán bộ trong phòng quân lực, nơi anh làm việc, đều nói anh sống hòa thuận với đồng sự, chẳng bao giờ xích mích. Cán bộ đơn vị rủ nhau tới thăm anh, cho quà, khuyên chị đưa anh vào viện. Chị chỉ còn một cách thắp hương lên bàn thờ khấn vái tổ tiên phù hộ cho chóng đến cái lúc nào đấy. Chị Phúc buồn. Nói đáng tội, anh Hảo tuy bị tâm thần nhưng hiền khô, không đập phá, không đi lang thang, không quát nạt vợ con, không cà khịa với ai, kể cả với đám trẻ con hư đốn thường chạy theo anh trêu chọc. Chỉ cười tủm tỉm. Nhiều khi thấy anh cười cười như vậy, cũng đâm sợ. Anh vẫn lao động bình thường, chăm luống rau, nấu cám lợn, quét nhà quét sân, giặt giũ quần áo, đọc sách. Chỉ có điều là hầu như trí nhớ của anh lặn đi đâu, bà dì ruột anh đến thăm, anh lơ láo, cụ hỏi ai, khiến bà dì đứng khóc tu tu.Vẫn đọc sách đấy, nhưng không nhớ. Ðọc Tam Quốc đến tập 5 rồi quay lại đọc tập 3. Quá khứ đối với anh là một cõi u minh, suốt mấy năm, chẳng lúc nào anh nhớ được một chút kỷ niệm. Nói cho đúng hơn, anh nhớ được trong thời gian rất ngắn, từ sáng đến chiều chẳng hạn. Những việc mới xảy ra hôm qua, anh quên biến hoặc nhớ, cũng nhớ láng máng y như người bình thường nhớ một chuyện xa xưa lắm. Một hôm chị Phúc trước lúc đi làm, dặn anh bảo thằng Hiếu đi chợ mua su hào. Thằng Hiếu đi học về, vất cặp ra giường, anh ấn tiền vào tay nó, nhưng không thể nào nhớ ra tên củ su hào. Anh lấy que vẽ ra đất một cái hình bầu dục có mấy sợi dâu.Thằng bé lên mười một tuổi gật gật đầu ra vẻ hiểu ý, chạy ra chợ mua về một túm hành. Lại có hôm, cô hàng xóm gửi thằng bé một tuổi nhờ anh trông hộ. Thằng bé đang ngủ chợt tỉnh dậy khóc. Chị Phúc bảo anh bế nó dậy, xi đái. Thằng bé cứ ưỡn lên khóc không chịu đái, nhưng đũng quần anh lại ướt lũng nhũng. Chị Phúc đành lắc đầu, thở dài, đại loại thế. Nhìn vào mắt anh, dễ nhận ra vẻ ngớ ngẩn, lạc hồn lạc vía đi đâu.

Một buổi chiều, vào lúc tan tầm, một chiếc commăngca mang biển đỏ đỗ xịch trước nhà chị Phúc. Dân khu tập thể thường có nết tò mò, trẻ con xúm đen xúm đỏ, người lớn ngấp nghé lảng vảng. Không ai để ý đến thiếu tá Cần phó phòng bảo vệ của quân chủng anh làm việc trước kia, người ta tròn mắt ra nhìn một thiếu phụ xinh đẹp, quần áo sang trọng môi son má phấn, nước hoa ngoại thơm lừng, tay xách ví đầm, chân đi giầy cao gót. Thiếu tá Cần giới thiệu với chị Phúc, từ ngoài cửa. Rằng chị khách là Việt kiều ở Canada về tìm đến đơn vị xin gặp anh Hảo, anh Phan Nhân Hảo. Ðơn vị đã nói rõ với chị về hoàn cảnh của anh, song chị thiết tha đòi được gặp. Cần đã xin xe đơn vị đưa chị về đến tận nhà. Thiếu phụ Việt kiều nghiêng đầu lễ phép chào chị Phúc, làm chị bối rối. Càng bối rối hơn là khi khách vào nhà, nhà cửa tuềnh toàng, bộ xa lông bằng gỗ nan cũ kỹ làm nơi tiếp khách ấm chén còn cáu bẩn. Anh Hảo buông cuốn "Hồng Lâu Mộng" ra, vừa lúc Cần đi tới vui vẻ chào "thủ trưởng". Không biết, Hảo có nhận ra người cùng đơn vị cũ không, vẫn bắt tay, bàn tay lỏng lẻo. Thiếu phụ không ngồi, đứng trân trân nhìn anh Hảo từ đầu tới chân, nét mặt xúc động. Bỏ cặp kính râm ra, thiếu phụ thốt lên.

- Anh Hảo đấy ư? Anh có còn nhận ra em nữa không?

Ðôi mắt chớp chớp, dường như Hảo cố nhớ, nhưng làm sao có thể nhớ ra, khi đầu óc còn chìm đắm trong cõi u muội. Anh lắc đầu.

- Em là Hường đây! Huỳnh Thị Mỹ Hường ở Khang Xuyên!

Giá là người tỉnh táo, khi thiếu phụ nhắc lại như thế, ắt phải reo lên. Mà anh vẫn nhìn bằng cặp mắt vô hình. Lại lắc đầu.

Bỗng dưng thiếu phụ chạy đến nắm tay anh rân rấn nước mắt:

- Trời ơi! Sao anh đến nông nỗi này? Anh là ân nhân của em, đã cứu sống em, cho em được làm người, mà anh thì thân tàn ma dại. Sau giải phóng, biết anh còn sống, em đã về Huế tìm anh. Ðến Mang Cá, người ta bảo anh chuyển ra Bắc rồi. Miền Bắc rộng lớn thế, biết tìm anh ở đâu. Cuối năm 1978, có người bảo lãnh, vợ chồng em mới sang cư trú ở Canada. Sang nơi đất khách quê người, em vẫn giữ một lời nguyền, nhất định phải gặp được anh, để tạ ơn tái sinh. Bây giờ, gặp được anh rồi, em mừng khôn xiết. Dẫu anh bệnh tật, dẫu anh không còn nhớ ra em, cũng xin anh nhận cho em mấy lạy đền ơn. Người thiếu phụ chợt quỳ sụp xuống nền xi măng trước mặt anh, vừa lạy vừa khóc nấc lên, khiến mọi người bàng hoàng. Một không khí im lặng thiêng liêng bao trùm lên gian nhà. Không ai hiểu gì cả, mà cảm thấy có một nỗi niềm sâu nặng trong trái tim người khách lạ. Những khuôn mặt tò mò ngoài chấn song cửa cũng trở lên nghiêm trang. Chị Phúc cầm cái ấm định đi pha trà, mà đứng chôn chân tại chỗ, tay run run, rơm rớm nước mắt. Còn cái Hằng, con gái lớn của chị đang học lớp 11 thút thít thành tiếng. Chị Phúc chạy tới đỡ thiếu phụ:

- Em xin chị! Em xin chị! Mời chị ngồi ...

Anh Hảo từ nãy giờ vẫn đứng, đôi mắt anh chợt sáng hẳn lên, dường như cái màn sương mù u ám trong đầu anh đang dạt trôi, anh đang cố gắng phục hồi lại trí nhớ.

Khi đã ngồi đối diện với thiếu phụ, anh Hảo nở một nụ cười.

- Sao cô Hường biết được địa chỉ đơn vị cũ của tôi mà tìm đến?

Thiếu phụ đang lau nước mắt, mừng quýnh:

- Anh nhớ ra tên em rồi ư? Trời ơi! Còn em không bao giờ quên cái tên Phan Nhân Hảo. Lúc chia tay anh hồi năm 69 ấy, em vẫn nhắc với anh rằng Phan Nhân Hảo nghĩa là một người họ Phan tốt bụng, em còn nhớ quê anh ở ngoại thành Hà Nội, có đúng không?

Chẳng biết Hảo có thật hiểu hay chỉ theo thói quen mà gật đầu. Chị Phúc đáp thay chồng:

- Vâng đúng đấy ạ! Quê nhà em ở Gia Lâm.

Thiếu phụ nói tiếp:

- Chuyện tìm tung tích anh dài lắm. Năm 82, em về nước, trở lại Khang Xuyên viếng mộ cha mẹ, thăm họ hàng, rồi lại lên Huế đến trại lính Mang Cá hỏi tin anh. Người ta bảo bây giờ đấy là bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Trị Thiên, không ai biết anh cả. Buồn quá, trở lại Sài Gòn. Tình cờ gặp anh Tốn. Anh có nhớ anh Tốn thợ may ở chợ Quán, Khang Xuyên nữa không? Anh ta khoe từng làm bí thư chi bộ thời chiến tranh, sau bị bắt quân dịch. Hồi thất trận 1975, anh Tốn đã bị chính đơn vị anh bắt. Anh còn giao cho anh Tốn phụ trách đám tù binh ở Cửa Thuận. Hồi này anh ấy lãnh đạo một công ty buôn bán đồ may mặc với nước ngoài ở Sài Gòn, giàu có và sang trọng lắm. Trước ở Khang Xuyên, quả thật anh Tốn rất mê em, tán tỉnh em mãi, nhưng em không thể... yêu được bởi em đã có người yêu, bây giờ chính là chồng em. Dù sao gặp anh Tốn, một người làng, em cũng mừng. Nói chuyện loanh quanh một lúc, hóa ra anh Tốn biết địa chỉ của anh. Nghe nói anh Tốn cũng xin địa chỉ của anh ở nhà O Thẻo, Khang Xuyên. Hình như hồi anh ra Bắc, anh vẫn viết thư thăm hỏi O Thẻo luôn. Biết được địa chỉ của anh, nhưng em không còn thời gian để ra Hà Nội nữa. Vé máy bay sang Thailand em đã cầm trong tay. Về Canada em viết thư liền cho anh. Không có hồi âm. Em lại viết thư thứ hai, thứ ba.Vẫn không có hồi âm. Lần này về Sài Gòn em chưa ghé vào anh Tốn. Thực tình em ngại. Bây giờ ai cũng có gia đình riêng cả, con cái đã lớn, vậy mà gặp em, anh vẫn gợi chuyện hồi xưa. Tính nết anh Tốn chắc anh còn lạ gì, hiếu sắc và sấn sổ...

Anh Hảo lắng nghe chăm chú, có lúc anh cau mày lại cố tập trung trí nhớ. Và dường như câu chuyện dông dài của thiếu phụ tạo thành những mắt xích móc nối với nhau một cách hợp lý, khiến anh tìm được mã số đang cởi mở những u uẩn lưu cữu của mình lâu nay. Anh lẩm bẩm:

- Tốn! Tốn! Tốn! A, nhớ ra rồi, thằng đểu! Thằng mặt...! Anh gầm lên một từ rất tục với khuôn mặt tím rịm và đôi mắt bốc lửa. Mọi người sửng sốt và ngượng. Trong im lặng, không ai dám nhìn vào mặt nhau. Chị Phúc phá tan sự im lặng bằng cách mời khách uống nước. Cái Hằng ý tứ đặt trước mặt bố cốc nước đun sôi. Anh Hảo uống ừng ực. Chất nước lạnh làm anh tỉnh lại, chợt nhận ra mình đã quá lời.

- Tôi xin lỗi cô! Bởi tôi giận quá! Nói cho đúng hơn là hiểu ra nỗi giận của mình.

- Không có gì đâu anh! - Thiếu phụ đỡ lời nhưng trong lòng cũng vỡ ra một ước đoán, chắc tay Tốn có quan hệ tới cuộc đời anh.

Anh Hảo trở lại hoạt bát, nụ cười trên môi cố xóa đi cái ấn tượng tục tĩu anh vừa gây ra. Anh kêu lên:

- ấy, tôi quên mất... - Anh giới thiệu vợ và các con bằng một lối nói vui và chuyển sang thăm hỏi Mỹ Hường về chồng con, về đời sống ở nước ngoài. Lại hỏi về làng Khang Xuyên và người đàn bà tên là O Thẻo nào đấy. Câu chuyện giữa hai người sôi nổi, chân tình. Nét mặt anh biến đổi theo tình cảm của câu chuyện, không ai có thể nghĩ rằng anh mắc bệnh tâm thần. Cái nhìn đờ đẫn vô hồn mới ban nãy thôi, biến đâu mất. Giờ đây cặp mắt dậy thần sắc, sáng lunglinh. Chị Phúc và hai đứa con, cái Hằng và thằng Hiếu nhìn nhau, vui mừng và ngạc nhiên. Dẫu còn nửa tin nửa ngờ, nhưng họ đều cảm nhận được sự thay đổi đột ngột trong trạng thái, tâm lý và tình cảm của anh Hảo.

Chuyện trò một lúc, Hảo mới nhận ra sự có mặt của Cần. Với vị khách là Việt kiều ở Canada về tìm gặp một cán bộ đã nghỉ hưu mấy năm nay, thay vì ghi hộ địa chỉ nhà riêng, đơn vị lại cho xe, cho phó phòng bảo vệ đi cùng, hẳn không phải vì xã giao. Anh nhìn Cần như lần đầu tiên mới gặp nhau. Rồi cảm ơn Cần đã đưa khách quý đến, nhất thiết gia đình phải lưu khách lại. Nhờ Cần chuyển lời cảm ơn thủ trưởng đơn vị. Hiểu ý Cần xin phép về. Chiếc máy ghi âm bé xíu nhưng cực nhạy trong túi áo Cần, dù sao cũng được việc.

Dân khu tập thể K42 bàn tán xôn xao về chuyện người khách Việt kiều sang trọng tới thăm nhà Hảo "điên" và ở lại qua đêm. Sáng hôm sau, ăn uống xong, vợ chồng Hảo cho gọi xích lô, tiễn chân khách ra đến ngoài đường phố. Người thì bảo, đấy là người tình cũ của Hảo hồi chiến đấu trong Nam. Ðáng khen thay là chị Phúc chẳng hề ghen tuông, lại tiếp đãi nồng hậu. Vào tay tôi mà xem, không quại cho mấy gậy cũng tống cổ ra khỏi nhà và xích chân ông chồng lại. Bậy nào! Người khác cãi, chỉ bạn bè thôi. Nhưng trò đời, khi giàu có sang trọng, người ta nổi máu nhân đức, nghe bạn bị tâm thần, phải tới thăm cho quà. Chẳng phải quà nhỏ đâu, không đến ngàn "đô" cứ cổ tôi mà chặt! Chỉ có vài người đứng ngoài chấn song cửa sổ hôm đó mới biết sự thật. Người khách lặn lội từ nước ngoài về, tìm anh Hảo để tạ ơn đã cứu sống chị, thì chịu. Ðến ngay như chị Phúc cũng không biết. Ðêm có khách lưu lại, anh Hảo cho thằng Hiếu sơ tán sang hàng xóm, cái Hằng chung giường với khách. Còn anh vào phòng sau. Có dễ gần bốn năm, vợ chồng mới lại nằm chung.

Da thịt tuổi bốn mươi của chị Phúc như được hồi sinh. Chị đã vuốt ve anh, ôm hôn anh. Và chị cũng thực sự sung sướng mãn nguyện trong vòng tay anh, vòng tay vẫn xiết chặt như hồi mới cưới nhau.

Vậy mà khi thủ thỉ hỏi anh về chuyện người khách nằm giường ngoài, thì anh tặc lưỡi. Ðể tâm làm gì, hồi chiến tranh, cái sống cái chết cách nhau một sợi tóc, chuyện cứu sống nhau là bình thường. Và chị chẳng gạn hỏi, chẳng nỡ làm phiền anh. Bởi trong lòng chị đang oà vỡ một niềm vui quá lớn, bỗng nhiên chồng chị trở lại bình thường như có phép màu.

Dân khu tập thể cũng ngạc nhiên không kém chị. Người ta thấy anh vui vẻ hoạt bát như xưa. Gặp anh, lời chào hỏi đã khác, nhìn vào mắt anh càng hoàn toàn khác. Dấu hiệu đầu tiên ai cũng dễ thấy là anh lại chạy thể dục buổi sáng. Ngày xưa, dẫu trời rét căm căm , anh vẫn không bỏ thói quen, không chạy ra đường cũng chạy quanh sân. Từ lúc vướng bệnh, anh nằm co ở nhà. Mấy hôm nay, anh trở về nếp cũ. Tinh mơ đã nghe chạy thậm thịch ngoài đường. Ðám trẻ con rồng rắn chạy theo anh. Làm một thôi trở về sân, mặt mũi hơn hớn, anh lao vào đá bóng cùng tụi nhỏ. Hoặc làm trọng tài trận đấu. Còi toe toe. Chú Hảo ơi! Bác Hảo ơi! Cấm đứa nào dám lếu láo gọi: "Hiển đao" như trước.

Người ta thêu dệt đồn đại. Rằng chị Việt kiều nọ tặng anh một loại thuốc quý hiếm, uống vài viên là dây thần kinh săn lại như tơ se. Rằng trò nhân ngãi với nhau là thế, xáp được mặt nhau là bách bệnh tiêu tán, vạn bệnh tiêu trừ. Rằng có khi đấy là nàng tiên giáng thế chăng? ¡n ở hiền lành như vợ chồng anh Hảo ắt phải động đến thiên tào v.v.. Chuyện cứ tán nhăng tán cuội, nhưng anh Hảo khỏi bệnh là có thật.

ở Bộ Tư lệnh quân chủng, đơn vị cũ của Hảo, cái tin Hảo khỏi bệnh cũng được các sĩ quan chào xáo. Cũng chỉ một chốc thôi ai hơi đâu mãi chuyện về anh sĩ quan về hưu. Riêng thiếu tá Cần phó phòng bảo vệ thì thực sự băn khoăn. Toàn bộ câu chuyện về hưu của trung tá Hảo, anh đều biết tường tận, giờ đây thêm diễn biến mới, buộc anh phải suy xét. Ðóng chặt cửa phòng nghiệp vụ, anh mở cuộn băng ghi âm nghe lại. Cái giọng gầm lên chửi tục của Hảo nghe như có sự bùng nổ. Có thể chính lúc đó, anh mới nhận ra kẻ làm hại mình là Tốn. Thiếu tá Cần lục tìm hồ sơ mang ký hiệu Y8. Anh đọc lại lá thư tố giác viết năm 1982 của một người tự xưng là Lê Huy Tốn. Ðịa chỉ không cụ thể, chỉ nói là cán bộ hiện công tác tại thành phố Hồ Chí Minh. Lá thư kể khá chi tiết về mối quan hệ giữa Hảo và Mỹ Hường, một tên chỉ điểm địch trong chiến tranh. Và lưu ý đơn vị theo dõi hành tung của họ hiện nay. Chứng cứ có thể nằm trong bức thư của Mỹ Hường từ Canada gửi về. Quả thật, sáu tháng liền sau đó, Quân bưu đơn vị lần lượt nạp cho phòng bảo vệ ba bức thư của Mỹ Hường gửi cho Phan Nhân Hảo. Nội dung ba bức thư không có thông tin gì đáng nghi vấn, toàn chuyện thăm hỏi trách móc sao không có hồi âm. Soi kính lúp, dùng thuốc hóa học kiểm tra vẫn không thấy chữ chìm chữ nổi gì cả. Hồi đó, còn là thượng úy trợ lý, Cần đã áy náy, giữ thư riêng lại là phạm pháp. Song đại tá Lê Hớn, phó chủ nhiệm chính trị kiêm trưởng phòng bảo vệ đã lý sự nghe ra có vẻ xuôi tai, thư riêng liên quan đến an ninh quốc phòng, thì không còn riêng nữa. Phải giữ lại để tiếp tục nghiên cứu theo dõi. Bây giờ, đại tá Lê Hớn đã về hưu tận trong Quảng Ngãi, nhưng ba bức thư còn lại đây . Cùng với ba bức thư là biên bản cuộc đối thoại giữa đại tá Lê Hớn và trung tá Phan Nhân Hảo, lúc đó là phó phòng quân lực . Biên bản này do chính tay Cần chép lại dựa trên cuốn băng ghi âm, hiện còn cất giữ trong hộp chống ẩm.

"...

- Anh có quen ai là Hường không?

- Không, cái tên đó không nhớ.

- Ðể tôi nhắc lại anh. Hồi năm 1969 lúc anh còn là trung úy chỉ huy đội trinh sát an ninh, có lần nào đấy anh nhận nhiệm vụ thủ tiêu một con gián điệp ở Khang Xuyên tên là Huỳnh Thị Mỹ Hường.

- à, tôi nhớ ra rồi, vâng có một cô gái tên là Mỹ Hường. Chuyện đã quá lâu.

- Mười ba năm, kể cũng dài, nhưng tôi tưởng anh phải nhớ chứ?

- Nhớ sao hết được? Có chuyện gì vậy anh?

- Cũng là chuyện cũ thôi. Chúng tôi muốn biết, sao hồi đó anh không giết mà tha cho nó. Lại không báo cáo cho tổ chức biết?

(Im lặng một chút, rồi có tiếng cười của Phan Nhân Hảo).

- Ai moi chuyện cũ ra để ton hót với các anh thế? Chỉ làm rối chuyện lên thôi.

- Anh Hảo ạ! Anh nên nhớ đây là cuộc nói chuyện nghiêm chỉnh giữa người có trách nhiệm và đương sự. Anh không nên giễu cợt. Nghiệp vụ đòi hỏi chúng tôi phải biết hết mọi việc, dẫu cũ thế, chứ cũ nữa cũng phải tìm hiểu. Vậy là anh công nhận sự việc chứ?

- Vâng, thưa đại tá, đúng như thế!

- Anh có thể giải thích kỹ hơn không?

- Sao lại không? Chuyện hơi dài và không nên hiểu một cách giản đơn. Anh ở quân chủng này đã lâu, chắc hồi 1969 anh ở Hà Nội hoặc sơ tán về vùng quê nào đó, còn tôi ở phía nam Huế, một vùng chiến trường quá gian khổ và ác liệt, nhất là sau Mậu Thân. ở căn cứ trên rừng lính chúng tôi ăn mỗi ngày một lạng gạo chia làm hai bữa nấu lẫn với môn thục. Chậu cháo màu xanh nhễu nhão ấy, chắc chắn heo nhà tôi bây giờ cũng lấy mõm hất đi. Sống cầm hơi như thế để gây dựng lại cơ sở coi như đã mất trắng. Khang Xuyên xưa là một xã hoàn toàn giải phóng, nơi chúng tôi quen thân, sà vào đâu dân cũng nuôi, vậy mà lúc đó... (im lặng một lát để nén xúc động) cán bộ, đảng viên, du kích, người bị giết, kẻ bị bắt, số khác hoặc chạy lên Huế, vô Ðà Nẵng, Sài Gòn hoặc nhảy lên rừng, xin ra Bắc. Trật tự xã hội nằm trong tay kẻ địch. Còn hơn các xã khác mất trắng, Khang Xuyên vẫn trụ lại được ba đảng viên sống hợp pháp do anh Tốn thợ may ngoài chợ làm bí thư. Chúng tôi đã cử về Khang Xuyên một tổ ba người do thiếu úy Lân phụ trách, họ đào hầm bí mật lớn ngay trong vườn nhà O Thẻo, một đảng viên ngoài năm mươi tuổi góa chồng, con gái đã đi ở riêng. Người đàn bà mù chữ ấy thật nhân hậu, tốt bụng và cực kỳ dũng cảm. Ðêm thứ ba, xảy ra sự cố. Lúc trời tối mịt. O Thẻo mở hầm cho tổ của Lân lên. Ðang ăn cơm thì những họng súng AR15 của địch chĩa tới. Nhanh như chớp, Lân ném cả bát cơm vào mặt tên đứng gần nhất và hô anh em chạy. Súng nổ. Hai đồng đội của anh bị giết tại chỗ, máu lẫn với cơm. Chỉ Lân chạy thoát. Tất nhiên O Thẻo bị bắt. Thực ra O Thẻo bị chúng bắt từ ngoài vườn, lúc O đứng gác cho anh em ăn cơm. Bị tra tấn hành hạ dã man nhưng O chỉ một mực khai rằng, thấy mấy người lính giải phóng vô nhà xin ăn cơm, thương họ mà cho ăn. Thế thôi. Không khai báo những đảng viên hợp pháp khác. O bị đày ra Côn Ðảo, sau giải phóng miền Nam, mới trở về. Lân chạy thoát, một ngày nằm giữa ruộng nước lúa đang thì, đỉa bám đầy lưng, bụng rỗng, đêm hôm sau, chờ tới khuya mới mò vô làng, tìm Tốn, nhưng không gặp. Tốn tạm lánh đi nơi khác phòng O Thẻo khai báo. Lại tìm đến ông Quán, một đảng viên già bị bệnh tê thấp. Nắm xong tình hình, đánh một bụng cơm no căng, Lân một mình một bóng mò về căn cứ báo cáo. Cú thất bại ấy làm đội trinh sát an ninh chúng tôi đau điếng. Vẫn quyết tâm trở lại Khang Xuyên. Dân Khang Xuyên không thể phản bội cách mạng, trước sự o ép của địch, họ đành nín thở chờ thời cơ đó thôi. Phải tạo thời cơ cho họ. Nhưng trước khi trở lại Khang Xuyên, phải biết nguyên nhân vụ thất bại vừa rồi. Ðịch hú họa tập kích hoặc có chỉ điểm? Trường hợp thứ hai thì phải tiêu diệt tên chỉ điểm đã.





- Anh có thể nói ngắn hơn được không? Ði thẳng vào vấn đề chúng tôi cần biết!

- Muốn hiểu kỹ, đừng ngại nghe kỹ anh ạ! Bởi anh ở quân chủng này lâu, e không biết nhiều về trinh sát anh ninh. Thực chất công việc của chúng tôi hồi đó là tiêu diệt bọn ác ôn, gián điệp. Chúng tôi đều qua lớp vũ thuật cả. Qua 5 năm làm trinh sát an ninh, riêng tôi... (Phan Nhân Hảo xòa ngửa hai bàn tay ra) tự tay tôi đã giết không kém một tá ác ôn, gián điệp. Ðang đêm đột nhập vào nhà đối tượng, lấy danh nghĩa cách mạng "mời đi học", thế là cho đi luôn. Không nổ súng, nổ súng bị lộ. Không dùng lưỡi lê, dao găm, sẽ có vết máu. Có thể dùng chiếc gậy ngắn bằng dùi trống đánh một phát vào chỗ hiểm sau gáy, đối tượng uỵch, ngáp mấy cái là tắt. Nhưng mang gậy cũng lích kích. Chỉ bằng hai bàn tay này thôi. Bấy giờ tôi mới ngoài hai mươi tuổi khỏe như trâu mộng, hai bàn tay cứ như hai gọng kìm. Cầm chéo hai tai chó trên cổ áo sơ mi của đối tượng mà xiết chặt, giỏi lắm chỉ hai phút sau là đối tượng nghẹo đầu, nước dãi ộc ra. Ðàn bà còn dễ hơn, chỉ tay không bóp cổ cũng chóng vánh. Giết xong, vùi luôn và ngụy trang chỗ vùi, coi như đất bằng. Ðến ngay như chúng tôi cũng không thể nhớ nổi tên ác ôn nọ bị thủ tiêu nằm nơi đâu cho thật chính xác. Trường hợp phải giết để cảnh cáo, chúng tôi giết tại nhà đối tượng, bên cạnh xác là lời tuyên án. Công việc của chúng tôi để lại những ấn tượng không vui, nếu không gọi đó là những ám ảnh khủng khiếp. Ðấy là tiếng ằng ặc của người bị bóp cổ, là cái mùi nước dãi ộc ra trước lúc tắt thở cái mùi hoi hoi tởm lợm rửa tay bằng xà phòng thơm lá chanh ba ngày sau chưa phai. Ðấy là thứ tiếng phát ra từ dưới huyệt sau khi đã vùi xong, một loại nấc khan trầm và rè như cóc ho. Ðấy là nỗi day dứt không hiểu những cặp mắt lồi ra như ngạc nhiên trước cái chết của mình, có cặp mắt nào thực sự nói điều oan ức không? Chính những ấn tượng không vui ấy cùng với sự thanh thản trong lòng khi trả lại tự do cho cô Mỹ Hường, tôi đã quyết định xin chuyển sang lính đặc công. Bận độc một chiếp xilip, bôi nhọ nồi hoặc pin đèn khắp người, tiểu liên, thủ pháo trong tay, luồn vào tận giường ngủ thằng Mỹ mà chơi nhau, hoàn toàn yên trí những kẻ bị giết kia chỉ được sám hối lúc về cõi chúa.

- Anh vừa nói tới Mỹ Hường. Hẳn là các anh phát hiện ra chính nó là chỉ điểm của địch ở Khang Xuyên.

- Không phải chúng tôi phát hiện. Huyện ủy thông báo dựa trên báo cáo của cơ sở, nghĩa là của chi bộ Khang Xuyên.

- Và anh đã phản đối?

- Trái lại, tôi rất mừng. Tìm được tên chỉ điểm mà diệt, chúng tôi sẽ cho quân về "lún" lại ở Khang Xuyên ngon lành. Tuy thế, tôi vẫn thận trọng. Mỹ Hường là ai, tôi không biết. Nhưng tay Lân biết. Ðấy là một cô học sinh thi trượt tú tài về bán tạp hóa với mẹ ở chợ Quán. Bố cô là công chức bưu điện trong Sài Gòn. Nghe đâu, cô từng tham gia phong trào học sinh ở Huế. Hồi Khang Xuyên còn là vùng giải phóng, ở Huế về, cô cũng sinh hoạt thanh niên. Theo Lân đấy là một cô gái xinh đẹp duyên dáng. Thời xinh đẹp duyên dáng cũng dẹp, đã làm chỉ điểm là phải đền tội. Trước lúc quyết định hành sự, tôi còn cử Lân luôn về Khang Xuyên gặp Tốn thẩm tra lại. Tốn cung cấp thêm một số chi tiết. Rằng, người ta thấy Mỹ Hường mấy lần nói chuyện với bọn cố vấn Mỹ bằng tiếng Anh. Mỹ Hường có quan hệ mật thiết với tên thiếu tá quận trưởng, nghe đâu anh em con dì con già gì đấy. Rằng trước đêm xảy ra vụ đột kích ở nhà O Thẻo, buổi chiều Mỹ Hường có tới chơi nhà O nói chuyện lai rai, lại còn đi nghiêng ngó ngoài vườn. Ngần nấy chi tiết cũng chưa khẳng định được tội ác, nhưng có thông báo của huyện của chúng tôi vẫn hành sự. Thành lập một tổ công tác ba người tôi trực tiếp chỉ huy. Thêm thiếu úy Lân, thổ công ở Khang Xuyên và chuẩn úy Nẫm, người Tày Cao Bằng, một cây đẹp trai, da trắng và môi đỏ chót như môi con gái. Ðêm ấy, tôi còn nhớ, trời nhờ nhờ, chừng như trăng mười bảy, mười tám gì đó bị mây che phủ.

Chúng tôi luồn về Khang Xuyên an toàn, móc với Tốn và chính Tốn dẫn chúng tôi tới nhà đối tượng. Sau đó Tốn lánh mặt. Nguyên tắc hoạt động bí mật ở vùng tạm chiếm, Tốn lánh mặt là phải. Gõ cửa. Tôi đã gõ cửa nhà đối tượng nhiều lần. "Cộc, cộc, cộc" cái tiếng của ngón tay gõ vào ván gỗ nghe đùng đục là mệnh lệnh giết người . Cũng là một ám ảnh dai dẳng. Thú thật với anh, mãi gần đây mỗi khi nghe ai gõ cửa nhà mình, tôi vẫn còn giật mình, cảm thấy ớn lạnh.

- Anh kể dông dài quá đây! Anh nói ngắn gọn vì sao anh không giết tên chỉ điểm ấy, hoặc thấy nó xinh đẹp duyên dáng hoặc vì có ý nghĩ gì đó vừa nảy sinh?

- Theo tôi, giết đúng đối tượng là hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu bức thiết, trái lại, giết sai đối tượng là phạm tội giết người. Tôi không muốn là kẻ giết người vô căn cứ.

(Im lặng một lúc).

- Nghĩa là anh không công nhận Mỹ Hường là chỉ điểm.

- Ðúng thế

- Lý do?

- Giản đơn thôi. Những tên ác ôn; gián điệp, chỉ điểm đều có khuôn mặt khác, thái độ khác, giọng điệu khác, hành động khác với cô gái này. "Mời đi học", ba tiếng ấy không có tên phản động nào không hiểu. Phải xạ ngay lập tức. Hoặc run lẩy bẩy, mặt đổ chàm. Hoặc đỏ mặt lên phản đối gay gắt. Có đứa làm ầm lên buộc chúng tôi phải dí súng vào lưng. Có đứa mắt trước mắt sau, chực tẩu thoát. "Mời đi học" là cục vôi giơ ra trước mắt con đỉa. Cô gái này vui vẻ, hớn hở nữa là khác. Lại hỏi đi bao lâu, mang chăn màn đã đành, chỉ tiếc không kịp sắm cái võng, chắc học "trên xanh" phải không mấy anh? ở trên xanh, em có khối đứa bạn. Bà mẹ lo cuống, cô an ủi. Một tháng ăn nhằm gì mẹ, ai hỏi mẹ phải nói thác là con vô Sài Gòn nghe.

- Chắc anh chưa gặp những đứa gián điệp cao tay, hớn hở vui vẻ chỉ là bền ngoài nhưng nó đã nhẩm tính cách khác trong bụng.

- Chẳng có cách gì khác, khi đang đêm, một cô gái tay không bị ba anh lính trinh sát an ninh, tiểu liên, súng ngắn áp giải. Có là bay đàng trời! Ðiều băn khoăn của chúng tôi lúc đó không phải là cô gái đào tẩu hoặc hạ thủ chúng tôi, mà ở chỗ khác. Dường như cả ba anh em chúng tôi đều linh cảm rằng cô gái này vô tội. Giá lúc đó, tôi gân lên một chút thì Lân và Nẫm phải im re, chỉ có chấp hành. Chậc, chiến tranh là thế, cứ lệnh mà làm, ai hơi đâu phân giải rằng oan hoặc không, dẫu giết nhầm một người cũng không hề tai hại đến sự nghiệp chung.

- Và anh đã phóng thích cho con chỉ điểm?

- Sự việc không giản đơn như thế. Ðiều băn khoăn ấy đeo đẳng chúng tôi suốt chặng đường dài hàng chục kilômét cho đến lúc chúng tôi gặp tai họa. Một trận pháo bất chợt chụp đúng đội hình hành tiến chúng tôi lúc vừa mớm đến chân đồi Thắm. Vùng giáp ranh là tuyến bắn chặn thường xuyên của địch. Dứt pháo, trong khói đạn mờ mịt là một vùng đồi sim im lặng hoàn toàn. Rồi có tiếng rên, lại có tiếng khóc. Thôi, chết tôi rồi, Nẫm bị thương khá nặng vào bụng. Lân bị một mảnh pháo vào sọ, chết ngay. Cô gái khóc vì quá sợ, nhưng cũng nhanh tay băng bó vết thương cho Nẫm và giúp tôi đào huyệt. Khi vùi Lân, cô gái khóc ròng. Lại tiếp tục lên đường, bây giờ trời đã mửng sáng . Tôi bí mật tháo hết đạn trong băng và trao cả hai khẩu AK, hai chiếc bồng nhỏ của Lân và Nẫm cho Mỹ Hường, tôi cõng Nẫm ì ạch mãi mới tới cửa rừng, mới chặt cây mắc võng làm cáng, Mỹ Hường vai trước, tôi vai sau chúng tôi khiêng được Nẫm đến một trạm xá đội vận tải, mệt muốn chết. Ðến đây, Mỹ Hường gặp một bạn gái làm y tá vốn là học sinh cũ ở Huế lên. Hai chị em cứ tíu tít mãi, không chịu rời nhau. Tôi quyết định nghỉ một đêm ở trạm xá lấy lại sức. Sáng dậy, ăn uống xong, xin một nắm cơm vắt, lại lên đường. Bây giờ chỉ còn Mỹ Hường và tôi. Ði đâu? Rừng Trường Sơn mênh mông bạt ngàn. Mỹ Hường hỏi, đường còn xa nữa không anh Hảo? Cũng còn xa xa, tôi đáp vu vơ. Lớp học có đông không anh? Ðông. Tôi đáp vu vơ. Cô gái hỏi chuyện luôn miệng, còn tôi đáp cho có lời đáp, trong lòng đang ngổn ngang một cách xử sự. Khó mà tin cô gái này là chỉ điểm, nó đã tìm cách đào tẩu. Suốt một chặng đường dài thiếu gì cơ. Có sự u uẩn nào đây chăng? Báo cáo của chi bộ Khang Xuyên do tay Tốn làm bí thư, chưa có bằng cớ xác đáng. Cũng có khi chẳng vì thù oán, khử được một tên chỉ điểm, há chẳng phải là thành tích của chi bộ trong công tác an ninh hay sao? Tôi không muốn bàn tay mình dính máu người lương thiện. Sẽ phải trả tự do cho Mỹ Hường. Nhưng để quyết định của tôi đảm bảo chính xác, tôi phải thẩm tra lại một lần cuối. Dừng chân bên bờ suối vắng, rửa ráy tay chân xong, chúng tôi ngồi nghỉ. Bây giờ tôi mới ngắm kỹ cô ta, quả là một cô gái đẹp duyên dáng. Tôi gợi chuyện cô, giọng nói và nét mặt dung dị, nhưng thực chất là thẩm vấn. Hỏi từ cha mẹ họ hàng, anh em, đến đời tư của cô, quan hệ của cô trên Huế, dưới Khang Xuyên. Rồi xoay sang chuyện liên quan đến vụ địch tập kích vào nhà O Thẻo. Mỹ Hường nói, cả làng gọi O Thẻo, còn cô đúng ra phải gọi thím. Ông nội cô và bố chồng O Thẻo là anh em ruột. Hôm đó, cô đang ở Huế về nhà mới nghe chuyện, chỉ biết hỡi ôi. Người ta nói hai người lính giải phóng bị bắn chết trong nhà, lính ông Thiệu còn đem trói vào gốc cau, suốt nửa ngày hôm sau, mới cho chôn. Rõ quân thất đức. Biết thím Thẻo bị tống nhà lao, mà chưa kịp đi thăm. Vậy là lời khai của Mỹ Hường (tôi tạm gọi lời khai) hoàn toàn khác với lời tố cáo của tay Tốn. Tuy đã hai năm rõ mười, tôi càng làm mặt nghiêm, nhìn thẳng vào mắt Mỹ Hường mà bảo, rằng có kẻ cho chúng tôi biết cô đã nhúng tay vào vụ thảm sát đó, cô đã chỉ điểm cho lính ngụy cô nghĩ sao? Mỹ Hường đang vui vẻ hơn hớn chợt tái mét mặt, rồi khóc oà. Trời ơi, sao người ta có thể vu oan giá họa cho cô như thế. Dì ruột cô lâm bệnh phải nằm nhà thương Huế, mẹ cô bảo phải lên thăm nuôi gì cả tuần lễ, nào cô có biết nếp tẻ gì về việc giết người giải phóng ở nhà thím Thẻo. Mà sao cô nỡ làm hại bộ đội giải phóng, còn làm hại cả thím Thẻo của cô được. Cô không thể thất nhân thất đức như thế! Tôi nói thẳng với Mỹ Hường rằng, không phải chúng tôi dẫn cô đi học, chẳng có lớp học nào cả, chúng tôi được lệnh dẫn cô đi hỏi tội. Ðang khóc, bỗng cô lau nước mắt, môi run run, cô ném vào mặt tôi một cái nhìn thách thức: vậy thì anh bắn em đi! Không, tôi không thích bắn cô, nếu giết cô, tôi đã hành động lúc còn dưới trảng cát vắng vẻ, hoặc dưới giáp ranh từ đêm hôm qua. Tôi không tin cô là chỉ điểm là gián điệp. Tôi sẽ trả lại tự do cho cô với một điều kiện:

(Có tiếng cười của đại tá Lê Hớn)

- Anh chớ vội nghĩ về tôi như thế. Bây giờ tôi mới 26 tuổi, chưa vợ, khỏe mạnh, chẳng đến nỗi xấu, lại con trai Hà Nội, có bằng đại học, tôi có thể bộc lộ tình yêu với cô ta, mà không thấy ngượng. Cũng như mọi người trẻ trai, nhìn khuôn mặt thanh tú, đôi môi thật duyên, chiếc cổ trắng ngần và bầu ngực nở nang của Mỹ Hường, cũng có phút chốc con thú đàn ông trong người tôi trỗi dậy. Hoặc tán tỉnh, hoặc cưỡng đoạt hoặc khêu gợi cô ta hiến dâng, bề nào cũng được. Chỉ hai người mà rừng quá vắng. Có điều tôi biết chắc chắn, sau khi thỏa mãn với người con gái này, nhất thiết tôi phải bóp chết cô ta. Như vậy tôi sẽ được nhiều bề. Vừa thỏa mãn, vừa có chiến công, vừa không lo sợ hậu quả. Nhưng lại mất một điều quan trọng, ấy là tự làm mất mình. Nhờ trời, tôi không bao giờ chịu đánh mất mình. Bởi thế, điều kiện của tôi đề ra cho Mỹ Hường là phải giấu tung tích đi, cấm không được lai vãng về Khang Xuyên. Cô muốn sống ở Ðà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ gì cũng mặc, nhưng sự có mặt của cô ở Khang Xuyên sẽ bất lợi cho cô và cho cả tôi. Cô gật đầu. Tôi lại dẫn cô tiếp một chặng đường đến cao điểm Eo Gió. ở đây đã nhìn thấy quốc lộ số 1, chỉ cần hai tiếng đồng hồ đi bộ là có thể vẫy xe ô tô. Chúng tôi chia tay. Nấn ná ngập ngừng một chút, rồi cô gái ôm chầm lấy tôi, khóc thút thít. Quả thật lúc đó trái tim trai trẻ của tôi đập loạn nhịp, cảm giác như hụt hơi. Không để cho sự xúc động trì níu, tôi nhẹ nhàng gỡ tay cô gái. Hãy can đảm lên, chúc mọi sự bằng an và giữ trọn lời hứa. Sau này, có lúc nào đấy chợt nhớ lại, tôi gọi đó là cuộc chia tay màu xanh.

- Thôi được, cứ cho rằng anh tin việc làm của mình là đúng, sao không báo cáo cho tổ chức biết sự thật?

- Thực ra không ai ký lệnh cho tôi giết cô gái ấy, huyện ủy chỉ thông báo cho biết tình hình. Ðồng chí phụ trách an ninh huyện giao cho đội trưởng trinh sát an ninh là tôi xem xét. Nghĩa là tôi có quyền quyết định số phận của đối tượng. Tôi đã phóng thích cô gái, bởi tin việc làm của tôi đúng, bởi tin vào sự thành thật và trong trắng của cô gái. Còn lúc bấy giờ mà báo cáo đúng sự thật thì câu chuyện trở nên vô cùng phức tạp. Chắc không ai tin tôi, bởi nhân chứng duy nhất còn lại là chuẩn úy Nẫm cũng đã chết ở trạm xá vận tải, vì vết thương quá nặng. Ðã không tin thì người ta bẻ hành bẻ tỏi tôi đủ điều. Bị kỷ luật thải hồi là may, còn hơn đón nhận cái chết. Mượn bàn tay kẻ địch để loại bỏ một người bị nghi ngờ là một cách giết người đó sạch sẽ nhất. Tôi rất am hiểu chuyện đó.

- Vậy là anh cũng sợ chết?

- Tôi sợ cái chết phi lý nhàm chán, nhưng không sợ cái chết có mục đích cống hiến. Như đã trình bày, sau vụ Mỹ Hường cùng với những ám ảnh nghề nghiệp, tôi nhất quyết chuyển sang bộ đội đặc công. Anh xem lý lịch tôi chắc biết, ba năm làm đại đội trưởng đặc công tôi đã có ba bằng dũng sĩ và hai huân chương. Khi lên cán bộ tiểu đoàn, tôi mới chuyển sang bộ binh. Năm 1975, tôi là đại úy tiểu đoàn trưởng bộ binh tấn công vô Huế, truy kích địch xuống tận cửa biển Thuận An. Trong đám tù binh tóm được tình cờ tôi nhận ra Tốn. Hắn khai là bị bắt quân dịch ngay sau khi chi bộ Khang Xuyên đổ bể, nghĩa là người đảng viên già cuối cùng tên là Quán cũng bị địch bắt nốt. Bí thư chi bộ gì mà chịu cầm súng cho địch từ bấy đến giờ. Dù sao gặp lại hắn trong tư thế tù binh bị bắt, tôi cũng thêm an tâm về việc trả lại tự do cho Mỹ Hường. Hắn cứ bám lấy tôi, nhưng tôi tránh. Chúng tôi không nhắc gì đến Mỹ Hường cả.

- Anh có gặp Mỹ Hường lần nào hoặc có biết tin gì về cô ta không?

- Hồi ở Huế tôi có về lại Khang Xuyên thăm O Thẻo, O có cho biết Mỹ Hường đã có chồng con trong Sài Gòn, bố mẹ cô đều mất cả. Chỉ biết thế thôi, chứ tôi không tìm cách liên hệ, chẳng để làm gì cả.

- Anh có gặp Tốn không?

- Tốn đi cải tạo, có lần hắn đi tìm tôi ở Mang Cá, năn nỉ xin tôi chứng nhận cho hắn có làm bí thư chi bộ Khang Xuyên, thêm nữa trong thời gian đi quân dịch vẫn móc nối với quân giải phóng. Hắn gãi đầu gãi tai, nháy mắt tinh quái với tôi rằng sẽ không quên ơn. Chẳng đời nào tôi hạ bút ký xằng xịt như thế, tôi nén giận, bảo hắn tìm mấy ông đảng viên cũ ở Khang Xuyên hoặc huyện ủy mà xin. Hắn kỳ kèo mãi, tôi mới nổi nóng đuổi hắn đi.

- Chuyện anh kể đã dài, cứ hẵng biết thế! Dù sao cũng là ý kiến riêng anh - Phải đợi tổ chức xem xét, kết luận. Ta tạm dừng ở đây".

Ðọc lại hồ sơ vụ Y8, thiếu tá Cần ngồi thừ người. Sự việc không có gì khó hiểu, vậy mà hồi đó phòng bảo vệ do đại tá Lê Hớn chủ trì không thể kết luận được. Lá thư ký tên Lê Huy Tốn rõ ràng là nặc danh, địa chỉ không có, và lời lẽ chỉ gọi là để đơn vị lưu ý, nhưng lưu ý một vấn đề chính trị nguy hiểm, quả là chết người. Phải chăng Tốn chỉ là Tốn? Mà một người như Tốn làm sao tin cậy được? Vụ Y8 không kết luận, hồ sơ nằm im trong tủ "mật", nhưng nghi án về Hảo cứ treo đấy. Không đề bạt được trưởng phòng, đến niên hạn thăng quân hàm đại tá lại kẹt. Ðại tá Lê Hớn gọi Phan Nhân Hảo lên, kiên trì thuyết phục, kể cả mớm cung, yêu cầu Hảo viết lại hoặc viết bổ sung thêm về quan hệ giữa anh và Mỹ Hường. Hảo phản ứng, không có gì phải nói lại, nói thêm. Ðại tá Lê Hớn đánh bài ngửa, nếu sự việc còn mù mờ không kết luận được thì việc đề nghị thăng quân hàm cho anh là khó. Tốt nhất, anh làm đơn xin về hưu. Sẵn sàng Hảo lấy giấy bút viết nhoay nhoáy, ký rẹt một chữ. Thế là xong, đại tá Lê Hớn thở phào. Coi như ông hoàn thành nhiệm vụ, xứng đáng nhận thêm một bậc lương nữa, trước khi nghỉ hưu. Lê Hớn mang theo cái thở phào về chăm mảnh vườn của mình trong quê đã vài năm nay. Còn hồ sơ vụ Y8 vẫn nằm mốc meo trong tủ "mật". Cán bộ thay thế lúc này đến mới toanh, không ai biết kỹ vụ Y8, ngoài thiếu tá Cần. Lòng đầy băn khoăn thiếu tá bèn trình bày với các thủ trưởng của mình. Các thủ trưởng nghe chăm chú, cuối cùng đều nói giống nhau. Rằng chuyện cũ bới lại làm gì, thôi dẹp. Muốn kết luận vụ này, không thể đơn giản. Nếu gọi là để trả lại danh dự cho anh Hảo, thì có ai làm mất danh dự anh đâu. Dù sao, anh đã về hưu lâu lâu, với lại nghe tin khỏi bệnh là mừng. Thế nhé! Hai chữ "thế nhé" có nghĩa là chỉ thị cấp trên, vậy mà thiếu tá Cần không sao giải tỏa được sự ấm ức trong lòng. Chẳng nhẽ để anh Hảo chịu tiếng oan, dẫu không ai biết chuyện ngoài một cán bộ có trách nhiệm, thì chính tâm tư anh cũng đau đớn, làm sao thanh thản được. Lương tâm cắn rứt, thiếu tá Cần quyết định đến thăm Hảo, nói cho anh biết sự thật, chỉ mong anh thông cảm giùm. Một buổi sáng chủ nhật, Cần đạp xe đi, trong chiếc túi vải treo đầu ghi đông có một chai cuốc lủi nửa lít, mươi gói lạc rang mua ngoài quán nước. Anh em gặp nhau có cái mà lai rai, tâm sự.

Hôm đó, Hảo ở nhà một mình. Chị Phúc ra chợ, hai đứa con đều đi học thêm ngoài giờ. Anh đóng cửa, nằm đọc lại Tam Quốc. "Cộc, cộc, cộc", tiếng gõ cửa đột ngột làm anh giật bắn mình, ngồi choàng dậy, cuốn sách rơi xuống đất. "Cộc, cộc, cộc", tiếng gõ cửa gấp hơn mạnh hơn. Tim đập loạn xạ, mồ hôi rịn ra trên trán, Hảo thở hổn hển, mắt chợt hoa lên trong một đám mây mù bao phủ trước mặt.

- "Cộc, cộc, cộc", có ai ở nhà không? Anh Hảo ơi, anh Hảo!

Hảo vẫn ngồi đờ đẫn như người lạc vía.

- Anh Hảo ơi, ngủ à? Cần đến chơi đây mà!

"Cộc, cộc, cộc" - thiếu tá Cần, tay xách túi vải, đang hớn hở gõ cửa mạnh hơn chợt nghe một tiếng gầm:

- Cút mẹ mày đi! Tiên sư cha mày!

Cần vội lùi ra, ngơ ngác chưa kịp hiểu tiếng gầm là có thật hay nghe nhầm, thì cánh cửa xịch mở. Phan Nhân Hảo nét mặt hoang dại, mắt đỏ ngầu, tay lăm lăm chiếc then cài cửa. Chiếc then cửa vung lên trong một tiếng hét, y như lúc xung phong. Miệng ú ớ, mặt tái mét. Cần kịp né tránh và cóc cò chạy. Cây đủ đủ trước hiên bị phạt cụt ngọn, ở đấy nhựa đùn lên trắng hếu. Mấy bác hàng xóm chạy tới giữ Hảo lại, dìu anh vô nhà, trong lúc anh vẫn thở hổn hển, chẳng nói chẳng rằng. Khi hoàn hồn, thiếu tá Cần, tuy chưa hiểu đầu cua tai nheo ra sao, vẫn phải nhờ mấy đứa trẻ vác hộ xe đạp ra ngoài sân khu gia đình, tay run run mở khóa, mắt vẫn để ý về phía xảy ra điều kỳ quái.

Kể từ hôm ấy, dân K42 không nghe thấy chân chạy thể dục buổi sáng của anh Hảo, đám trẻ con đá bóng thiếu trọng tài, cãi nhau ỏm tỏi. Anh Hảo trở lại căn bệnh như cũ, chỉ tủm tỉm, nét mặt ngây dại. Anh lại quên, chẳng những quên hết quá khứ, mà quên rất nhanh, kể cả những việc vừa xảy ra- Anh bảo cái Hằng vào ngủ với mẹ, còn anh chung giường với thằng Hiếu, hai bố con anh đắp hai chăn. Chị Phúc thở dài, cái Hằng và thằng Hiếu cũng buồn. Buồn nhất là lũ trẻ con mất dạy trong K42 lại cúi gập người "cháu chào chú Hiển ạ" và phá ra cười. Chị Phúc cho treo lại tấm biển "Xin đừng gõ cửa" vừa gỡ ra chưa đầy tháng. Niềm vui ngắn ngủi quá, tiếng thở dài của chị não nuột hơn. Lời khấn của chị trước bàn thờ hương khói nay có khác. Chẳng những khấn tổ tiên ông bà phù hộ độ trì, chị còn khấn vái cầu mong người đàn bà có tên là Mỹ Hường quay lại. Biết đâu người đàn bà xinh đẹp nọ là tiên trên trời giáng thế cứu giúp chồng chị chăng? Chị hoàn toàn không hiểu cội nguồn những việc xảy ra, lắm lúc muốn đến đơn vị cũ của chồng, hỏi chuyện thiếu tá Cần mà ngại ơi là ngại. Chị Phúc đâu biết, sau ngày xảy ra điều kỳ quái ấy và nghe tin Phan Nhân Hảo trở lại bệnh cũ. Cần đã xin chuyển công tác. Không biết anh đến đơn vị nào và chắc gì còn tiếp tục công việc cũ nữa.


Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0

truyện ngắn:XA NHAU

tác giả:Trần Huy Quang

Em đã biết anh biết chuyện của em, nhưng nhất định không thể biết được tất cả. Mà dù anh có biết hết đi nữa thì em cũng muốn, tự em, em nói với anh "cái điều uẩn khúc ấy". Anh là người con trai chưa quá một lần yêu, còn em đã một lần yêu, chưa làm vợ nhưng đã làm mẹ. Anh đã đến với em mà không định kiến, vượt qua định kiến, em không mặc cảm, nói với anh tất cả không phải vì mặc cảm.

Lân đã về nông trường vào cái thời kỳ sóng gió nhất. Sản lượng cam dăm năm nay cứ tụt dần, tụt dần. Cậu em trông già hẳn đi, mới có trên năm mươi nhưng cứ như đã sáu, bảy mươi, tóc bạc ra từng đám, lưng như còng hẳn xuống. Là người khai sinh ra nông trường, làm giám đốc từ ngày "khai thiên lập địa" cho đến ngày nay, cụ coi cây cam là con đẻ của cụ, là nỗi lo toan, cũng là niềm tự hào, nói hơi quá nhưng đó là sự nghiệp của cụ. Mợ em vẫn công tác ở tỉnh hội phụ nữ, năm chỉ mươi ngày phép, muốn cũng không thể chăm sóc đẩy đủ cho ông cụ được. Thằng con trai vẫn ở bộ đội biền biệt, không thèm về phép. Nhà trường vắng. Em tốt nghiệp trường trung học chuyên nghiệp thống kê thì cậu em xin em về nông trường. "Về Sao Ðỏ, cậu cháu ở với nhau cho vui", cậu em bảo thế. Bố em đi công tác xa, cậu cũng như bố vậy.

Dạo ấy chủ nhật nào, chú Hưng, phó giám đốc cũng đến nhà. Chuyện chỉ xoay quanh việc làm ăn thua lỗ của nông trường. Một người thì cho tất cả đều do kỹ thuật lao động kém, công nhân làm dối, làm ẩu, cỏ cuốc không sạch, phân bón không đều, có người còn bớt phân để trồng mía trong vườn... Một người thì lại đổ cho thời tiết. "Trời đất làm ác thật. Ðấy chú thử tính lại xem. Không năm nào mưa thuận gió hòa, không hạn thì lụt, sương muối cứ kéo dài hàng tháng..."

Tiếp đó là những cuộc họp kéo dài cả ngày. Ðịnh mức chặt chẽ hơn, phân bón đầu tư nhiều hơn. Nhưng năng suất không báo hiệu một sự ổn định nào. Cũng một thông số kỹ thuật như thế, điều kiện thời tiết, chăm sóc như thế, nhưng lô này lên, lô kia xuống. Nhưng nhìn chung, vẫn là xuống, như có quy luật. Lân về trong sự hy vọng của em, nhưng không thay đổi được gì cả, những quả cam vẫn úa vàng trước khi vào mùa chín. Con người ấy có thể thay đổi được gì, ai có thể mong đợi cái gì ở anh ta, em lý lẽ và dò xét mà nghĩ thế! Lân xuất hiện trước mặt bọn con gái như một tài tử về những cái tài vặt chứ không phải về sự thông hiểu về cây cối. Là một kỹ sư trồng trọt, chuyên gia về cây cam như lời đồn, nhưng lại rất say mê bơi lội, ném hết cả những buổi chiều chủ nhật lên sân cỏ, vào phòng nhảy, vào một đĩa nhạc mới. Sẵn sàng chạy theo những ham mê nhất thời, vô bổ, dễ cuốn hút bởi những cuộc tán chuyện không tiếc thời gian của những anh chàng chưa vợ. Cũng săn đuổi một bộ phim đang ăn khách... Chờ đợi Lân đưa lại một cái gì cho nông trường? Thật là mờ mịt, không chờ mong được một cái gì cả! Một lần em ở đội 7 về nông trường bộ, còn Lân ở bể bơi về. Lân gọi em. Biết có biết, để ý có để ý, một kỹ sư mới về nông trường, lại đẹp giai, sống phóng khoáng, sinh hoạt tài tử, cô nào mà chẳng để ý nhận xét, nhưng gặp để nói chuyện tay đôi thì chưa. Ðây là lần đầu tiên làm quen. Với hàng chục cô gái ở nông trường bộ mà anh ta biết tên em không phải vì em có gì xuất sắc mà chỉ vì em là cháu gái ông giám đốc.

- Hương đi đâu về? - Anh ta hỏi một cách rất thân mật, ra vẻ cầu thân, dù sao vẫn là suồng sã, thô lỗ.

- Chủ nhật em đi loăng quăng thăm mấy đứa bạn - Em nhìn Lân từ đầu đến chân mà nói: - Anh Lân về đây, đội bóng của nông trường mừng lắm!

- Sao Hương biết?

- Ðội bóng đang thiếu mũi nhọn vớ được ông "vua phá lưới" như anh bằng bắt được vàng còn gì! Sao anh không chuyển hẳn sang đá bóng chuyên nghiệp hoặc bơi lội chuyên nghiệp?

- Tôi cũng đang muốn - Anh ta đáp thủng thẳng và cười cười. Lân không phải là người dễ tự ái.

- Tổ chức Bộ thế mà giỏi đấy anh ạ, tìm cho nông trường một danh thủ bóng đá tuyệt vời.

Chờ đợi sự phản ứng của anh ta nhưng anh ta không nói gì cả, chỉ cười cười. Chuyện bóng đá, chuyện làm quen ban đầu mà em vẫn bốp chát như thế. Mặc, em đâu muốn mơn trớn một người nào, cũng không muốn tiếp cận với Lân. Nông trường đang cần một kỹ sư trồng trọt. Cây cam đang cần một cách xử lý mới cho nó. Con trai cần phải hướng tới một mục đích lớn lao. Nhưng Lân chỉ là một anh chàng thích trổ tài vặt với bọn con gái. Ðến chỗ rẽ, anh ta dừng xe lại và hỏi:

- Hương có vội gì không? nếu không ta đi dạo một đoạn.

Một đề nghị táo tợn! Ði dạo một đoạn, nghe cũng hay. Em bảo:

- Em đang vội, nhưng nếu anh cần em sẽ đi - Và em đang quay xe. Lúc ấy em đang vội thật, em cũng đang đeo đuổi một suy nghĩ về cây cam nhưng có thể để tối làm. Mới hơn ba giờ. Vả lại xem anh chàng lông bông này làm cái gì.

- Từ lâu tôi đã có ý định cùng với Hương đi dạo một ngày, nhưng tôi muốn từ từ. Nhưng hôm nay nhân tiện, xin Hương hãy cùng đi với tôi.

- Sẵn sàng thôi, nhưng em thích đi bộ và không quá ba mươi phút.

- Xin chấp nhận điều kiện thời gian, nhưng nếu ba mươi phút mà đi bộ thì chả được cái gì cả.

Lân nói với vẻ hết sức nhũn và phục tùng. Nói thật lúc ấy nhìn cái vẻ mặt nhũn nhặn kia, em đã thoáng có một ý nghĩ: con người có nhiều tài vặt này đã bắt đầu bộc lộ sự tầm thường của mình; trước mặt các cô gái, nhất là những cô gái đẹp, thì nhũn nhường và nịnh bợ để đạt cho nhanh mục đích.

Em và Lân đạp xe đi. "Anh muốn đi đội nào?" - "Tôi muốn bắt đầu từ đội 15, rồi ngoặt sang đội 13 một tý, có hơi trái đường, lại trở sang đội 12, từ đó chỉ cần một vòng cung thôi là hết các đội 6, 7, 5, 4 và về cơ quan bộ".

Mới về mà biết thông tỏ địa hình như thế cũng là khá. Nói lại với anh quy hoạch cam hồi đó hơi khác cây mía bây giờ. Ðội 15 là đội trung tâm, là sự tiêu biểu của cung cách làm cây cam, là nơi tập trung những chỉ tiêu kỹ thuật, nơi áp dụng mọi quy trình công nghệ mới đầu tiên khi du nhập đến nông trường. Gần mười năm nay đội 15 vẫn thế, là nơi được chú ý nhiều và cũng luôn lôi cuốn được sự chú ý của cả nông trường và cả nhiều nơi. Có nhiều kỹ sư, nhiều kỹ thuật viên và cũng là nơi bộc lộ chiều hướng thảm hại rõ rệt hơn. Còn các đội khác là khuôn mẫu đi sau, là sự sao chép của mô hình đó mà ra.

Từ nông trường bộ đến đội 15 không xa, chỉ dăm cây số, dọc đường là những khu nhà ở của tập thể của cán bộ, công nhân viên. Chỉ có gần đến lô HA1 thì có hệ thống cho thiết bị cơ khí, gần đó có trạm sửa chữa cơ khí. Buổi chiều đó để lại cho em một ấn tượng khá mạnh nên em nhớ. Người con trai cao to như nằm úp trên cái xe đua Sport thủng thẳng đi trước em độ vài mét. Em cứ giữ khoảng cách đó mà đi dạo với Lân. Hai bên đường là hai hàng phượng vĩ trồng xen với những cây dừa đã trên hai mươi năm, tay phượng vĩ vươn dài, buông rũ xuống như khép tán, đường nhựa mới rải năm ngoái đẹp không thua phố Lý Thường Kiệt nhiều phượng vĩ nhất của Hà Nội.

Em không gợi chuyện. Không, nhất định không hỏi chuyện trước. "Ðối với tôi, đâu phải là một sự mong đợi, là một dịp may khi anh rủ đi dạo, mặc dù người rủ đang là niềm say mê của rất nhiều cô gái ở nông trường bộ". Lân dường như cũng linh cảm được cái thiếu thiện ý của người đồng hành nên anh ta vẫn im lặng. Thật là một cuộc đi dạo có một không hai, nhưng em vui lòng chịu đựng vì cái điều này lôi cuốn sự tò mò của em: anh chàng này sẽ làm gì, sẽ cần gì đến mình bây giờ và sắp tới?

Trước đây, cái năm đầu tiên cây cam bắt đầu giảm sản lượng vì sương muối, cậu em về Bộ họp nói chuyện gì đấy rồi có mấy ông chuyên gia theo về. Ngay trong đêm mùa đông, mù và sương đặc quánh lại, xe con vẫn lao đi lao về đưa các ông ấy về các đội, cứ hai tuần lấy một cặp số liệu đầy rồi về Bộ, tưởng có những biện pháp mới được áp dụng, nhưng rồi mất hút không có một tín hiệu phản hồi nào. Cây cam vẫn tiếp tục làm cho người ta khổ sở. Phải công bằng mà nói cậu em đã đổ tâm huyết của đời mình cho cây cam. Cụ vẫn tiếp tục mời những cán bộ giỏi về nông trường, không tiếc một cái gì cho những cuộc nghiên cứu như thế. Năm nào cũng có một đoàn, vài đoàn. Không khác trong nhà đang có người bệnh nặng, ai mách đâu thì tìm đến đấy, tây y, đông y, may ra gặp thầy gặp thuốc. Nhưng vẫn không gặp. Lân về nông trường không phải là thuộc loại cán bộ kỹ thuật, những chuyên gia cây trồng được cậu em mời. Lân là một kỹ sư trồng trọt giỏi, em được biết như thế, nhưng là một kỹ sư đang "ngồi chơi xơi nước" ở Bộ rồi được điều về. Trước đây nghe nói Lân có một công trình gì đó ở nông trường Thầu Ðâu nhưng bỏ dở, khi đã yêu nhau em có hỏi nhưng Lân bảo vì nông trường đó không muốn chi vốn...

Ðến ngay đội 15, Lân bảo em bỏ xe trên đường đi xuống từng lô một, Lân hỏi em về các lô, các luống về ngày trồng, số lượng, quy trình công nghệ, nhưng em không nhớ, em phải gọi đội trưởng và thống kê đội. Thế là cả bốn người đi hết cả phần đất đội 15, trong khi cô thống kê giở sổ đọc cho Lân hàng tràng số liệu cây trồng trong từng lô, ngày tháng, còn đội trưởng minh họa tình hình sâu bệnh, điều kiện thời tiết, phân bón, xử lý... Lân nghe cứ như nghe chơi, con mắt nét mặt cứ như người đi thưởng ngoạn. Giống như hoàng tử đi thăm thần dân chứ không thể là một người đang đau lòng vì cây cam. Thất vọng, em dừng lại để mặc ba người đi, nhưng Lân cũng đi, không bỏ sót một luống nào của đội 15 cả. Trời đã rất chiều mà lề lối làm việc như thế thật sốt cả ruột. Nhìn con đường phẳng lì về nông trường bộ đã vắng người, những chiếc xe tải chạy chuyến cuối cùng cũng đã rẽ. Anh ta nói đi dạo, thật là một con người không hề biết nói dối. Thế mà em lại hy vọng hay ít ra đang mong đợi một cử chỉ nghiêm túc, một ý nghĩ có trách nhiệm của người ấy có thể có trong cái lời nói bông đùa "đi dạo" này, "Tôi đã làm cho Hương mỏi chân, xin lỗi! Một cuộc đi dạo thật thú vị, ít nhất cũng đối với tôi". Lân đã trở lại và nói. Thú vị, đối với anh thì cái gì chả thú vị, chỉ trừ con người anh. Em không bắt chuyện và buồn bã nghĩ thầm như vậy "Thôi thế này, không dám làm phiền Hương nữa đâu. Ta đi về. Những đội khác tôi sẽ tự đi dạo, cùng lắm chỉ một ngày thôi. Chỉ có đường vào đội 2, nhất là vào lô KT3 hơi vất vả".

Cũng lạ, suốt ngày chỉ thấy đấm đá ngoài bãi rồi lại nhảy nhót trong phòng thế mà cũng tinh tỏ quá nhỉ. Trước tiên biết xuống đội 15 cũng phải là một trí lực nhạy bén đấy chứ! Trí tuệ thì khá mà con người thì lêu lổng. Em vừa đi vừa nghĩ một cách chán nản về Lân như thế.

- Hương này - Lân cố tình đi sát vào xe em và nói - con đường này vào buổi chiều mà đi dạo thì tuyệt quá!

- Nhưng ở đây không ai có thì giờ để đi dạo cả.

- Còn tôi thích đi chơi đi dạo, thích đá bóng nghe nhạc hơn là thích làm việc. Không ai ngu xuẩn lại tự làm khổ mình suốt ngày làm việc khi biết rằng những giờ ấy không có năng suất và không hiệu quả gì cả.

Em lặng lẽ đi mong chóng thoát khỏi Lân và không buồn tranh luận gì.

Buổi tối em lên phòng đọc tài liệu, ngày ấy phòng làm việc của em còn ở cạnh nhà, vả lại em thích yên tĩnh, những buổi tối không có việc gì cần, không đi chơi, em thường lên đấy, đọc sách hoặc khâu vá. Ðược độ 30 phút thì có tiếng gõ cửa. Lân ló nửa người vào và bảo em: "Cô Hương có cái thư đây này, hồi chiều tôi ghé qua thường trực và cầm hộ". Em hoảng cả lên chỉ sợ đó là cái thư tỏ tình dở hơi của Lân được ngụy trang bằng đường bưu điện. Nhưng không phải, thư của thằng em trai, bộ đội biên giới. Em hơi ngượng với ý nghĩ vừa xong và mời Lân vào chơi. Lân không đợi nói dứt câu. Tối hôm đó Lân rất bảnh, các cô tấm tắc quả không ngoa, quần bò, áo sọc rất nhã. Tóc quăn tự nhiên, kín gáy. Nét mặt hơi dài. Trán cao. Mắt đẹp. Lắm lời nhưng không rỗng. Ngồi chơi được một lúc em bảo:

- Anh Lân định đi đâu mà em mời anh vào đây lại lỡ mất việc của anh.

- Ðịnh đi thật, ra chỗ xí nghiệp thi công nhưng vào đây lại nhìn thấy cái mà mình cần nên có thể không đi nữa.

Cái lối nói thật khó chịu, hiểu thế nào cũng được. Em im lặng và anh chàng biết ngượng buộc phải nói rằng:

- Tôi cần một số giấy Croquis cần nhiều đấy nhưng trước mắt chỉ vài tờ. Vài ngày nữa tôi phải đi vắng ít ra cũng một tuần. Hương giúp tôi nhé. Tôi nghĩ chỉ có Hương giúp tôi mới làm nổi.

- Ðể làm gì mấy tờ giấy ấy?

- Làm đồ thị. Thí dụ đội 15, lô...

Rồi Lân đọc vanh vách ngày tháng gieo trồng, cách thức chăm bón, sản lượng từng năm hết cả chín lô của đội 15... Em trố mắt kinh ngạc cảm thấy xấu hổ vì hiểu sai về Lân. Lân có trí nhớ tuyệt vời và nhạy bén. Nhưng đáng tiếc nhìn cái cách làm việc bề ngoài sao mà chán thế! Rất tài tử, rất tùy hứng! Ðêm đó em rất khó ngủ vì nghĩ ngợi, vì hy vọng, vì sự xáo trộn... và xúc động vì một viễn cảnh một giải pháp mới từ những suy nghĩ ở Lân được áp dụng làm thay đổi hẳn quy trình trồng trọt và như phép tiên, cây cam sẽ tự vực dậy được và làm sống lại những con số huy hoàng của năm tháng trước.

Những ngày sau Lân vẫn không từ bỏ những sở thích của mình được. Hết giờ trên phòng thấy Lân vẫn quần nhau trên sân cỏ, hoặc trong đám văn nghệ hát xướng. Các cô gái ra sức chèo kéo Lân: anh Lân ơi, em với anh hát đôi... Anh Lân ơi, em hát thử... Trước đó em không hề để ý đến những lời đó thế mà bây giờ em lại thấy ghét những cô gái cứ sán lại Lân. Còn em, thực sự vì cây cam là chủ yếu, em đã chuẩn bị cho Lân hết tất cả những số liệu mà Lân yêu cầu. Tối hôm sau, độ khoảng mười giờ, Lân gõ cửa phòng làm việc của em, lại ló đầu vào hỏi:

- Ðược một nửa chưa hả Hương?

- Một nửa gì anh?

- Số liệu ấy mà!

- Xong cho anh cả rồi đấy. Vào đây đã, xem còn thiếu gì nữa không.

Lân đi vào và đón tập giấy em đưa cho. Lân xem được nửa trang thì trả lại cho em và bảo:

- Thế này cho nhanh, anh nói những danh mục cần thiết, Hương xem có đủ không nhé. Ðại để cây cam đạt đến sản lượng cao nhất vào năm thứ ba sau khi ra quả và kéo dài độ bảy năm, sau đó sản lượng giảm, không nói đến. Chỉ lấy sản lượng những năm cao nhất của từng lô và từng thế hệ.

- Nhưng cả những lô phải trồng xen mới và cũ...

- Những lô ấy bỏ ra, sẽ không giải quyết được gì cả. Còn tất cả mình sẽ thể hiện lên đồ thị xem thế nào?

- Ðể làm gì anh?

- Ðể khảo sát thôi. Mà nói ra trước sợ Hương thất vọng. Nhưng cũng chỉ là giả thiết, một cái giả thiết đang cần kiểm tra. Xong đồ thị sẽ bàn với Hương, vì Hương là người cộng tác. Anh nói thật đấy.

Ðến bây giờ em mới để ý đến cái đại từ "anh" của Lân, hình như lúc nãy cũng có một lần dùng. Chỉ là một thói quen chăng?...

- ấy quên - Lân nói thêm với vẻ hốt hoảng - thời kỳ phồn thịnh của cây cam có thể dài ngắn khác nhau, tùy trình độ kỹ thuật từng nơi, nhưng lấy thời gian quãng bảy năm, rồi lấy sản lượng bình quân của bảy năm đó...

- Thế thì em chưa chia bình quân.

Em mất một ngày về việc tính bình quân sản lượng rồi phải xuống các đội xác định lại các lô trồng xen để loại bỏ. Hết ba ngày. Tìm hỏi xem Lân có bổ sung gì không nhưng Lân biệt tăm tích. Nhớ hôm trước Lân nói phải đi đâu dăm ngày, em chắc Lân đã đi vào việc gì đấy. Em có một bà dì công tác ở Hà Nội, con cái đi làm cả rồi, còn lại hai ông bà già. Kỳ phép năm nay dì em về chơi với cậu em. Buổi sáng em tiễn bà đi ra ga. Còn hơn một tiếng nữa tàu mới chạy. Vé phải nhờ mua, hai dì cháu ngồi khuất vào một góc cửa phòng đợi nói chuyện, chợt em nhận ra Lân từ trên một chiếc xe tải của nông trường nhảy xuống. Cậu lái xe nhảy xuống sau, khệ nệ bê cái va-li, va-li loại bé nhưng nặng, cùng với Lân vào sân ga. Lái xe đưa thuốc đầu lọc mời Lân rồi đưa cho Lân hẳn cả bao thuốc, dùng dằng mãi cậu lái mới ra xe được. Thì ra kỹ sư trồng trọt cũng có nhiều say mê thật. Và giao du cũng rộng. Cái va-li kia đựng gì? Một cú áp-phe? Một tay chạy hàng? Một đường dây móc nối?... Em định tránh đi để cho Lân khỏi ngượng và cũng chính cho em khỏi phát ngượng lên nhưng tính em lại thích "chua", sao lại phải tránh? Em chờ lúc lên tầu, chính lúc mà Lân lặc lè xách cái va-li mồ hôi giỏ giọt, em sẽ chào Lân... Chợt có bàn tay vỗ nhẹ xuống vai em và cái mặt Lân đã ngay bên cạnh.

- Hương đi đâu thế này?

Bà dì em trả lời hộ và hai người nói chuyện...

- ồ thế thì Hương ra chơi với bác luôn đi, một công đôi việc. Chứ nếu không tôi ở Hà Nội một tuần lang thang hết nhà này đến nhà khác, giữ ý giữ tứ, tôi điên lên mất. Chỉ thế này thôi, đưa cái này (Lân chỉ vào cái va-li) cho cậu bạn tôi ở Viện Ðất, nhờ nó làm hộ 15 mẫu đất trong này. Chờ lấy kết quả. Và trả nó hộ tôi số tài liệu cũng ở trong này.

- Ðược đấy cháu ạ, vừa công tác vừa ở chơi với dì một tuần, hợp quá rồi còn gì.

Em chưa kịp nói gì thì Lân mở sổ tay:

- Tôi sẽ gửi thư dặn nó, nó sẽ làm tất cả cho, Hương chỉ phải đến Viện một lần thôi...

- Nhưng em chưa xin phép... - Em chỉ từ chối lấy lệ.

- Ðược, Lân sẽ về báo cáo, khỏi lo... Nhưng này đi đường phải chú ý kẻo kẻ cắp thấy cái va-li nặng tưởng có món gì bở.

Ðợt công tác vừa tư tác ấy mỹ mãn, em về nộp kết quả cho phòng kỹ thuật chứ chưa gặp Lân. Nghe bảo Lân nằm ở dưới đội, không biết đội nào. Sờ đến đống số liệu, số liệu cũng đã đi theo Lân. Tức là Lân mang nó đi làm ở một nơi nào đó cho yên. Biết không thể tìm được Lân vả lại cũng không muốn hỏi chứ em rất muốn gặp Lân. Xa công việc một tuần em thấy buồn bã, chỉ muốn về. Thực lòng, thấy văng vắng thế nào ấy!

Khoảng gần trưa Lân gọi điện về chỗ em, em mừng quá hét vào máy:

- Có nhiều cái hay lắm, nhiều người hỏi thăm anh, anh về ngay nhé, em sẽ nói cho anh nghe.

- Em thật là tuyệt vời, rất tuyệt vời, bà hoàng của anh ạ. Anh sẽ về ngay.

Lân vội bỏ máy. Có lẽ Lân rất bận. Còn em nghĩ lại mà giật thót mình. Lân đã nói gì nhỉ? "Trời ơi, mình đã nhớ Lân suốt cả một tuần nay!". Cả buổi chiều hôm ấy em không thể làm được một việc gì cả. Về nhà lại lên phòng, có đến dăm lượt. Lân bảo về ngay nhưng cả buổi trưa, cả buổi chiều vẫn mất tăm.

Dạo ấy đâu khoảng đầu tháng sáu ta. Trời thường có những cơn giông bất ngờ. Hôm ấy cũng thế, chiều đang nắng chói chang, chập tối gió nổi lên và chỉ một chốc sau mây đen ùn ùn kéo tới. Rồi gió quật lên như có bão. ở dãy nhà khách gió bật tung cửa chớp ra đập uỳnh uỳnh. Mấy cái pa-nô dọc đường đi vào hội trường đổ hết. Cát và lá bay mù mịt, có đám bốc lên cao rồi tạt trở lại chỗ nó xuất phát. Mưa lắc rắc mấy hạt thật to. Trong khu nhà tập thể, tụi trẻ cởi trần truồng chạy lao ra đường cái chờ tắm mưa mặc cho mẹ chúng la ó. Và mưa nặng hơn, tiếng tụi trẻ hét la: "Mưa đá, mưa đá" lẫn trong tiếng gió. Quả thật em nhìn thấy những cục đá to bằng quả cà, quả táo ném xuống mái tôn, xuống cái sân trước phòng làm việc. Em cũng lây cái nhộn của tụi trẻ lao ra sân nhặt mấy cục nước đá.

"Kìa tránh đi, tránh cái cột nó đổ". Có tiếng quát của ai đó và em phải đề phòng, tránh né đi một tí. Cái cột giáng đúng chỗ em. Ðó là cái cột treo áp-phích, áp-phích đã bay đi, bây giờ đến lượt cái cột đó. Hú vía. Không biết tiếng quát đó nhằm vào ai nhưng em theo phản xạ tự nhiên tránh né đi, hóa ra tiếng quát đó nhằm vào em. Gần như cùng một lúc, em và Lân lao vào phòng làm việc để tránh mưa. Con người đến không bao giờ đúng lúc cả.

- May quá, về đến nơi thì mưa.

Em sờ vào lưng áo đẫm nước mưa của Lân.

- Còn may gì nữa, ướt hết rồi đấy ông tướng ạ. Ðược cái ni-lông thì gói cái khỉ gió gì đây. Cởi ra đi không thì ngấm nước mưa vào người.

Lân cứ loay hoay vừa đi hết bốn góc bàn vừa chống chế: "Mặc thế này cho nó chóng khô", chắc chắn Lân ngượng. Em giằng lấy cái áo mà bảo:

- Cởi ra, không thì ông ốm chết bây giờ.

- ừ thì cởi, nhưng bây giờ nhiều việc lắm đấy.

Em cởi cái áo sơ-mi của Lân ra và treo lên lưng ghế. Về sau nghĩ lại em mới thấy ngượng, không biết cái gì đã sai khiến em có những cử chỉ thân mật với Lân đến như vậy.

- Anh ở đây chờ tạnh rồi về, để em đi kiếm cho anh lọ dầu xoa và vò qua cái áo đi kẻo mốc.

- Trời ơi! Thôi xin Hương, bây giờ đang có việc cần làm còn gấp vạn cái áo.

Vừa nói Lân vừa mở gói ni-lông. Ðó là một mớ giấy tờ, tài liệu, bản vẽ, cả mấy củ sắn luộc. Lân nói với em một cách rất xúc động:

- Rồi cuối cùng chân lý vẫn được tìm ra... Thật là một biển con số, một đại dương hiện tượng, nó chồng chéo lên nhau, tương phản nhau, đến hoa cả mắt. Nhưng sẽ nói sau... Bây giờ có hai việc cần làm: một, nhờ Hương vẽ lại cho độ ba mươi bản đồ thị, cốt cho rõ ràng thôi, đó là bản phụ lục minh họa. Còn Lân làm việc thứ hai. Ðây là bản báo cáo đã gần đến trăm trang, phần nội dung gồm có phần I: "Ðiều kiện thời tiết và hệ số loại trừ khi tính sản lượng. Tác động của yếu tố kỹ thuật". Phần hai: "Sản lượng của những lô có khoảng cách ba năm. Ðiều cần nhìn nhận, v.v..." Lân cần viết ngay phần dẫn luận và phần đất. Và làm đề cương gửi lên đăng ký báo cáo trong hội nghị khoa học về cây công nghiệp tuần tới ở Viện. Thế thôi, Hương làm đi. Lân nghĩ lại cho thật chắc để viết phần dẫn luận.

Em yên lặng để Lân làm cho nhanh. Vẽ được độ một nửa phần phụ lục, nhìn đồng hồ đã một giờ sáng. Lân vẫn chăm chú viết. Em hé cửa sổ ra nhìn ngoài trời. Mưa vẫn rất to và trời tối đen còn hơn cả hũ nút. Cũng may em còn lại ít đường trong tủ tài liệu. Lấy ra pha cho Lân một cốc. "Cảm ơn em!' Cái ánh mắt nhìn lên của Lân bất ngờ nhưng tin cậy và đằm thắm. "Giải lao một tí đã anh". Lân ngoan ngoãn bỏ bút và cầm lấy cốc nước.

- Vấn đề rất lý thú Hương ạ. Bắt đầu anh chỉ phỏng đoán mơ màng thôi. Nhưng khi sờ vào đống số liệu, cứ loại trừ cái này cái khác, tự nhiên thấy nó hiện ra. Anh mới lấy sản lượng của những lô thuần khiết, tính trung bình, so sánh với những lô khác với khoảng cách gieo trồng là ba năm, thấy nó giảm dần. Nếu như năm nào đó có tăng lên chút ít thì năm sau lập tức giảm xuống gấp đôi. Và kết luận như đã có sẵn; cây cam không thích hợp với chất đất Sao Ðỏ, hay là đất không chấp nhận cây cam, chấp nhận cây gì đó chưa biết, nhưng cây cam thì không.

- Hóa ra đất nó khó tính thế anh?

- Khó chứ! Ðất rất chi li. Có nhiều nơi ta trồng cây gì xuống đó chỉ do sở thích, hoặc do ý nghĩ tình cờ của một cán bộ, mà người ta không hỏi: "Ðất ơi! Mày có chịu cái cây này không?"

Cái kết luận của Lân làm em xúc động và mến phục. Lâu nay người ta đã tìm vào kỹ thuật, thời tiết phân bón và cả con người. Nhưng không ai tìm xuống đất, cái đối tượng im lặng đó, dễ bị giẫm đạp, bị coi thường.

Em nhìn vào mặt Lân mà không muốn kiềm chế. Cốc nước Lân uống còn một nửa. Em cũng đang khát, em giằng lấy cốc nước và uống một hơi hết. Lân đỡ chiếc cốc trong tay em, để xuống bàn và từ từ cúi xuống... Em không chống cự và cảm thấy mình nhỏ bé quá trong vòng tay đầy xúc động của Lân... Sau đêm đó và cả về sau này, cả bây giờ trước anh, em không cảm thấy phải hối hận. Em đến với Lân vì em yêu Lân, chân thành, vì có chung một sự tìm kiếm em chỉ theo tiếng gọi của trái tim mình chứ không vì ai ép buộc cả, cũng không phải vì sự mua chuộc, hoặc lừa phỉnh nào cả. Em thấy em đúng.

Nhưng con người thông minh ấy thật tội nghiệp. Bản báo cáo của Lân được đánh giá cao ở hội nghị khoa học của Viện sau đó ít tuần. Thế mà Lân lại đề nó rất thấp ở nông trường và cũng không thèm dùng nó để về làm cải cách cây trồng ở nông trường. Cậu em một đời về cây cam, cây cam là cuộc đời cụ phủ nhận cây cam tức là cụ biết mình hết vai trò cụ. Lân đưa bản đề án của mình ra, đưa mía vào thay cây cam, cây mía đã được xác định sẽ là một cuộc đối thoại "quyết liệt", giữa cái đang có và cái đến thay thế. Em sẽ tách ra ngoài cuộc đối thoại đó và sẽ tác động tới cậu em bằng tình cảm, vì em tin chắc rằng cái thế của cụ yếu, dù đang nắm quyền hành, còn Lân đã có chân lý, mà chân lý thì là sức mạnh vô địch. Một tháng trôi qua, nông trường Sao Ðỏ vẫn bình yên, rất bình yên. Hỏi Lân. "Anh không muốn mất em". Lân nói thế và tảng lờ một cách khó hiểu. Tháng sau, em làm căng hơn, Lân bảo Lân đã đưa đề án đó cho riêng cậu em. Không biết ý kiến hai bên thế nào, Lân không kể, nhưng sau đó Lân nói với em xin chuyển về Bộ và sẽ lôi em về Bộ. Em rất công phẫn về sự chạy trốn của Lân nhưng Lân về Bộ thật. Từ ngày Lân về Bộ, sức khỏe cậu em sa sút hẳn. Cụ về nhà lặng lẽ như một cái bóng. Họp thì gắt gỏng. Ðâu còn sự say mê của ngày trước. Mãi mấy tuần sau, một hôm em trốn vào bụi cây để nôn ọe, thì nghe mấy bà tài vụ bàn tán với nhau:

- Tay ấy bở, về chưa đầy một năm lên một bậc lương, lại về Bộ.

- Ông giám đốc mua đề án của hắn bằng một bậc lương: Thật là rẻ.

- Thế này... cô cháu gái nhất định không lấy, đẻ thì nuôi, ông cậu đành tống tiền thằng cháu rể bằng một bậc lương.

Em suýt ngất ngay ở đấy. Những chuyện ghê gớm thế kia sao bây giờ em mới được nghe? Sự thật rồi em cũng tìm ra: Lân sợ mất em đành đổi đề án bằng một bậc lương và rút về Bộ.

Trời ơi! Con người ta tìm đến Cái Ðúng để làm gì, nhận thức ra Cái Ðúng để làm gì? Quá trình đó đâu phải không tốn nhiều nước mắt và máu hay sao? Ðể cuối cùng bán nó còn rẻ hơn "ba đồng bạc trắng".

Mối tình coi như đã tan, Lân đeo đẳng đi về có đến chục lần vào những tháng em sắp sinh cháu, nhưng em đã không còn yêu Lân nữa. Lân thông minh nhưng lại hèn nhát, biết tìm ra Cái Ðúng, nhưng lại không dám đấu tranh cho Cái Ðúng chiến thắng...

*
* *

Ðộ hai tuần sau, trước khi trở lại đơn vị chiến đấu ở biên giới, tôi và Hương đã tổ chức lễ cưới vào mùa thu.


Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0


truyện ngắn: Kiều Tam cưới vợ

tác giả:Khuất Quang Thụy

Không ai trong chúng tôi tin được rằng chuyện cậu Tam cưới vợ vào đúng những ngày cuối năm này lại là một chuyện nghiêm túc. Chí ít cũng đã một lần chúng tôi bị hố với hắn rồi. ấy là vào cuối năm ngoái, khi đơn vị vừa rã rời sau một đợt diễn tập trở về, trung đội của Tam đạt loại giỏi, có tới năm chiến sĩ trong trung đội được thưởng phép, trong đó có cả trung đội trưởng Tam. Ðó cũng là chuyện bình thường. Nhưng điều đáng kể là chiều hôm đó trước khi ra tàu về quê Tam tới chia tay tôi với vẻ mặt rầu rĩ: "Ðại đội trưởng ạ, tôi về phép đợt này kể như là hết một đời trai!" "Sao thế?" "Cưới vợ, chứ còn sao nữa." Tôi bật cười: "Cưới vợ là chuyện vui mừng sao mà cậu lại trình cái bộ mặt thiểu não ra thế?" "Em bị ép duyên - Tam nhăn nhó kể - Chả là ông cụ nhà em với sư đoàn trưởng của mình vốn là đồng đội cũ của nhau từ những năm đánh Mỹ, chẳng hiểu vì ân oán gì mà hai cụ lại hứa hẹn gả con cho nhau. Bố em viết thư lên nói rằng chỉ chờ em được nghỉ phép là sẽ sang thưa chuyện với nhà gái, tức là với sư trưởng của mình ấy, để xin tổ chức. "Thế thì càng tốt chứ sao. Cậu trở thành con rể của sư trưởng anh em đại đội ta cũng được nhờ". Vẻ mặt của Tam càng trở nên khổ hơn. "Vấn đề là ở chỗ... em đâu có yêu cô ấy". "Sao lại không yêu? Nàng có xinh không?". Tam nhăn mặt: "Xấu ma chê quỷ hờn. Ðã thế tính nết lại chẳng ra sao, lúc nào cũng lên mặt con ông lớn, khinh người như rác". "Thế thì vứt - Tôi cũng bắt đầu bất bình - cậu không việc gì phải biến thành vật hy sinh cho tinh thần đồng đội của mấy ông cựu chiến binh. Nếu cần, tớ sẽ kéo mấy anh em trong đại đội đi cùng với cậu lên tận sư đoàn gặp ông ấy để nói cho ra nhẽ". "Thôi thôi...- Tam vội gạt đi - Làm thế sao tiện, tôi không muốn kéo anh em vào chuyện này, để tôi tự giải quyết lấy".

Tôi tiễn Kiều Tam ra về mà lòng vẫn không yên, thời buổi này mà còn bị ép duyên theo kiểu đó thì chịu sao nổi? Mà là ai chứ, một thằng sĩ quan trẻ giỏi giang ngang dọc hẳn hoi kia mà! Là cán bộ cấp phân đội, chẳng mấy khi tôi có dịp được gặp sư đoàn trưởng của mình nhưng trong tâm trí tôi từ trước tới nay vẫn lưu giữ được những ấn tượng tốt đẹp về ông. Ðó là một người chỉ huy dày dạn, giỏi giang, vừa có kinh nghiệm trong thực tế chiến đấu, lại vừa được học hành đào tạo đến nơi đến chốn và đã kinh qua hầu như tất cả các cấp chỉ huy từ tiểu đội đến sư đoàn, nên cán bộ cấp dưới khó mà qua mặt ông được điều gì. Nghe đồn ông sắp được điều lên làm phó tư lệnh tham mưu trưởng quân đoàn và cái lon cấp tướng cũng không phải là điều gì quá xa vời đối với một vị chỉ huy giàu năng lực như ông. Vậy mà không hiểu sao ông ta lại có thể có một hành động lạ lùng đến như vậy? Cũng không loại trừ khả năng ông quá lo lắng cho tương lai của con gái hơi bị... khiêm tốn về nhan sắc, nên đã cố bám vào những lời hứa hẹn trời ơi đất hỡi của cánh lính trận những lúc vui mồm để hy vọng kiếm cho con gái một tấm chồng "ở chốn ba quân": Và cái cậu Tam lớ quớ thế nào lại trở thành nạn nhân. Chuyện ông bố Kiều Tam là bạn chiến đấu của sư trưởng thì cả tiểu đoàn chúng tôi đều biết. Hồi Kiều Tam mới ra trường, chính ông bố đã đích thân đưa Tam lên sư đoàn nhận công tác và đã gây ra một vụ to tiếng với cánh lính cảnh vệ vì ông cứ một mực đòi xộc thẳng vào Sở chỉ huy để gặp bằng được "thằng Tâm mốc" (biệt danh của ông sư trưởng thời đánh Mỹ), cho đến khi trực ban phải điện thoại báo cáo Sở chỉ huy và sư đoàn trưởng Tâm phải đích thân ra đón khách thì ông mới chịu thôi. Gặp mặt nhau, ông cười đẩy chàng thiếu úy Kiều Tam ra trước mặt sư trưởng rồi nói: "Không phải là tao xin xỏ cho nó được về đây đâu nhé? Nhưng nó đã được điều động về đây thì tao giao nó cho mày. Hãy rèn nó cho cẩn thận. Không có ưu tiên ưu tót gì đấy nhé. Nó mà hư hỏng thì mày liệu mà ăn nói với bà Vân". Bà Vân là vợ ông, dĩ nhiên là mẹ của Kiều Tam rồi, nhưng có trời mới hiểu vì sao mà ông lại đem vợ mình ra để dọa thủ trưởng mới của con. Chỉ biết rằng từ đó Kiều Tam quả là có được sư trưởng để mắt tới theo đúng yêu cầu của ông bố, nghĩa là rèn tới nơi tới chốn chứ không một chút nương nhẹ nào, thậm chí còn bị "phân biệt đối xử" nữa là đằng khác, nghĩa là trong những lần tập huấn cán bộ phân đội trước mùa huấn luyện, khi đích thân sư trưởng kiểm tra thì bao giờ Kiều Tam cũng được một suất ưu tiên và sẽ bị hành đến nơi đến chốn nếu có sơ suất. Về phía Kiều Tam cũng vậy chưa một lần cậu ta có ý định lợi dụng mối quan hệ này để tạo thuận lợi cho mình trong công tác, thậm chí cũng chưa một lần cậu ta bén mảng tới sư đoàn bộ thăm "chú Tâm" như lời dặn của ông bố. Cũng có lẽ vì những điều ấy mà cán bộ, chiến sĩ trong đại đội càng thêm nể trọng Kiều Tam, thời buổi này mà còn có những người không coi ô dù là cái đinh gì thì kể cũng đáng nể thật. Nay bỗng dưng lại nghe Tam tâm sự về cái chuyện khó xử này tôi bỗng nổi máu anh hùng, muốn thử xả thân giúp bạn một phen.

Chiều hôm đó, sau khi Tam đã lên đường về quê, tôi và Hải chính trị viên đại đội hội ý chớp nhoáng và đi đến nhất trí phải hành động ngay để vừa tránh cho một cán bộ cấp dưới của mình một cuộc đối đầu nan giải với việc ép duyên? vừa tránh cho thủ trưởng cấp trên của mình rơi vào một lầm lỗi có khi là "chết người" chứ chẳng chơi. Thế là ngay sau khi hết giờ buổi chiều tôi và Hải lập tức phóng xe lên thẳng sư đoàn bộ xin gặp sư đoàn trưởng. Ðang hăng hái với vị trí hậu vệ trên sân trong một trận thư hùng giữa đội sư đoàn bộ và đội tiểu đoàn thông tin, sư đoàn trưởng Tâm bị gọi ra khỏi sân vì "có một việc rất hệ trọng". Vẫn trong bộ đồ thi đấu của cầu thủ số 5, ông tiếp hai sĩ quan cấp dưới ngay tại bộ bàn ghế kê để ngồi hóng gió dưới bóng một cây si xanh tốt rễ rủ lòng thòng trước sân của ngôi nhà nghỉ dành cho các vị chỉ huy sư đoàn.

- Hai cậu uống nước đi, xin lỗi vì ngoài giờ nên mình không được chỉnh tề lắm - Dường như để cho hai vị sĩ quan trẻ yên tâm rằng ông nhận ra họ, sư đoàn trưởng tiếp luôn - Hai cậu ở đại đội hai, tiểu đoàn một phải không? Cậu này là Sinh, đại đội trưởng, một trong năm tay thiện xạ của sư đoàn, còn cậu này là Hải, chính trị viên đại đội... Tớ không lầm đấy chứ?

- Dạ... Thủ trưởng có trí nhớ tốt thật đấy - Tôi khen một câu lấy lệ.

- Sư đoàn trưởng mà không nhớ mặt, nhớ tên các cán bộ chỉ huy phân đội của mình thì chỉ huy sao được. Mình biết đến tận cán bộ trung đội kia, không tin các cậu cứ thử kiểm tra xem.

Tôi làm như tình cờ hỏi:

- Thế thủ trưởng biết cậu Tam chứ ạ?

- Sao lại không? Nó là một trong những cán bộ trung đội giỏi nhất của sư đoàn ta đấy. Ðại đội các cậu có được một trung đội trưởng giỏi như nó là may mắn lắm đấy. Hồi đánh Mỹ mình và bố cậu ấy cùng chiến đấu trong một tiểu đội, thân nhau lắm. Nói cho đúng ra ông Thành, bố thằng Tam là người chỉ huy của mình. Là tiểu đội trưởng thôi, nhưng ông ấy hách lắm nhé, mình đã từng bị ông ấy phạt mấy lần cơ đấy. Nhưng đánh đấm thì hăng. Ðến năm bảy mươi lăm, mình đã là tiểu đoàn trưởng, còn ông ấy thì vẫn chỉ là trung đội trưởng, nhưng mình vẫn ngại ông nhất. Trong chiến dịch Tây Nguyên, ông ấy bị thương rồi sau đó về phục viên luôn. Hôm đưa thằng Tam lên đơn vị gặp mình, ông ấy vẫn còn cay cú bảo: "Mẹ kiếp! Thằng oắt con này mới nứt mắt ra, chỉ đi học có ba năm đã được phong thiếu úy rồi. Mình thì đánh nhau bạc mặt mười năm trời mà lúc ra quân cũng chỉ là thằng thiếu úy quèn!"

Trong lúc sư trưởng say sưa "hồi ký", tôi và Hải nhấp nháy đùn đẩy nhau chưa biết nên vào chuyện thế nào, cũng may sư trưởng hiểu ý liền ngừng lời hỏi:

- Thế có việc gì mà cả hai cậu kéo nhau lên đây gặp chỉ huy sư đoàn?

- Dạ... chẳng là... chẳng là - Tôi ấp úng.

- Cứ mạnh dạn trình bày đi - Sư trưởng khích lệ.

Tôi hít một hơi thật sâu lấy can đảm xông thẳng vào vấn đề.

- Dạ... thưa thủ trưởng, chúng tôi rất hiểu mối tình đồng chí đồng đội rất sâu đậm của những người đã từng sống chết với nhau trên chiến hào như thủ trưởng và bác Thành bố của cậu Tam. Nhưng không nên vì thế mà để ảnh hưởng tới tương lai hạnh phúc của thế hệ sau...

Sư đoàn trưởng ngạc nhiên nhìn chúng tôi.

- Các cậu đang nói gì thế nhỉ?

Tôi cười thầm trong bụng "Cha này còn giả ngây giả ngô đây. Ðã thế thì ta phải xông thẳng vào trận thôi".

- Là chúng tôi đang nói về chuyện hôn nhân của cậu Tam với... con gái của thủ trưởng ấy mà.

Sư trưởng trợn tròn mắt nhìn chúng tôi:

- ... Chuyện hôn nhân... giữa... con gái tôi với... cậu Tam... nhưng...

- Vâng... - Vì nghĩ rằng thủ trưởng sắp nổi điên đến nơi nên tôi nắm chặt lấy tay cậu Hải như để lấy thêm lòng can đảm rồi xả tiếp một hơi - Chúng tôi vừa được đồng chí Tam cho biết rằng trong đợt nghỉ phép này đồng chí ấy sẽ... phải kết hôn theo ý nguyện của hai gia đình chứ không phải vì tình yêu. Ðồng chí ấy nói rằng chỉ vì ngày trước thủ trưởng và bác Thành đã hứa hẹn với nhau rằng sau này sẽ gả con cho nhau. Ðồng chí Tam đang rất đau khổ và khó xử vì từ chối thì vừa trái ý bố vừa trái ý thủ trưởng, mà... bố và thủ trưởng thì đều là giời cả, nên...

Mải nói, tôi không để ý thấy nét mặt thủ trưởng hết đỏ bừng lên lại tái dại đi rồi ông bỗng ôm bụng mà cười, cười ngả nghiêng xiêu vẹo cả người. Tiếng cười vốn dĩ hay lây nên chỉ một lúc sau cả Hải và tôi cũng ngặt nghẽo cười theo... mặc dù chúng tôi chưa hiểu mình cười vì cái gì?

- ối trời đất ơi... - Thủ trưởng vừa lau nước mắt nước mũi vừa kêu trời - ông Thành ơi là ông Thành ơi! Cái thằng quỷ con nhà ông nó nghĩ ra chuyện gì thế này?

Ðến lượt tôi và Hải nhìn nhau ngơ ngác "Như vậy là... như vậy là..." Miệng tôi lắp bắp, tôi đã lờ mờ cảm thấy hình như mình vừa làm một việc dại dột. Sau khi cười thỏa thuê, sư đoàn trưởng nhìn chúng tôi như hai thằng ngố.

- Các cậu bị thằng quỷ ấy nó lỡm rồi. Làm quái gì có cái chuyện hứa hôn nhảm nhí đó cơ chứ? Trí khôn của các cậu để ở đâu thế? Mãi tận cuối năm bảy mươi nhăm, khi ông bố nó ở chiến trường ra thì mới đúc ra nó cơ mà. Còn tớ, vào thời điểm đó đã vợ con gì đâu mà dám hứa trở thành thông gia của ông Thành? Tớ cũng có một cô con gái kém thằng Tam ba tuổi vừa tốt nghiệp trường cao đẳng sư phạm mẫu giáo thật, nhưng cái thằng quỷ ấy đã nhìn thấy nó bao giờ đâu? Các cậu sống với nhau mà chẳng hiểu nhau gì cả. Một thằng cứng đầu như thằng Tam mà lại có thể bị ép duyên à? Nó mà không thích thì dù có dí súng vào đầu nó, nó cũng chẳng chịu huống nữa là...

Tôi và Hải chỉ muốn chui ngay xuống đất cho rồi. Thì ra tôi đã bị thằng khốn ấy cho ăn quả lừa. Còn may là tôi chưa kể ra những lời mà thằng Tam chê con gái sếp là vừa xấu người lại vừa xấu nết đấy. Thông cảm với cảnh ngộ bẽ bàng của chúng tôi sư đoàn trưởng vừa tiễn chúng tôi về vừa an ủi.

- Dù sao thì cũng phải khen ngợi tinh thần vì đồng đội của hai cậu. Còn cái thằng trời đánh ấy thì cứ để đấy cuối tuần này tớ sẽ về tận nhà bảo với bố nó để bố nó cho nó một trận.

Mặc dù chúng tôi sẵn sàng trả "nhuận mồm" với giá cao để được nghe Kiều Tam kể lại tấn hoạt kịch trứ danh xảy ra vào cái hôm sư trưởng của chúng tôi đến tận nhà để "bảo bố nó cho một trận", nhưng Kiều Tam vẫn im lặng. Sau khi lặng lẽ chịu phạt nửa tháng lương vì can tội dựng chuyện khiến tôi và Hải bị hố trước mặt sư trưởng, Kiều Tam tuyên bố một cách hào phóng: "Tớ vẫn có thể xét chiếu cố về nhiều mặt để lấy con gái ông ấy". Nghe hắn nói phách lối như vậy chúng tôi chỉ phì cười, không thèm chấp. ở đại đội này ai còn lạ gì miệng lưỡi của Kiều Tam nữa. Chỉ có một điều lạ là kể từ sau cái lần đi phép ấy Kiều Tam rất hay viết thư, một việc mà từ trước tới nay hắn rất ngại. Nhưng hắn viết thư cho ai và thi thoảng cũng nhận được thư của ai thì chịu, không ai đoán ra được. Theo cậu liên lạc đại đội thì chắc chắn thư gửi cho hắn là thư của con gái. Ðiều đó thì chẳng khó khăn gì, chỉ cần ngửi và nhìn nét chữ là biết ngay. Nhưng người con gái đó là ai, có quan hệ như thế nào với đương sự? Ðoán mãi không ra, "hội đồng sĩ quan đại đội" bèn đi đến một biện pháp cứng rắn. Nhằm đúng vào buổi chiều hôm hắn vừa nhận được thư, sau giờ hành chính tôi cho liên lạc gọi hắn lên hội ý gấp. Lên tới nhà đại đội, thấy có mặt đông đủ các cán bộ trung đội Kiều Tam không nghi ngờ gì, chỉ thấy hắn tủm tỉm cười rồi thỉnh thoảng lại đưa tay lên nắn túi áo ngực. Tôi liếc nhìn mọi người ra hiệu rồi hô lớn: "Bắt đầu!. Lập tức hai cán bộ trung đội ngồi hai bên chồm tới ghì cứng cu cậu vào ghế, tôi ung dung bước tới mở túi áo ngực của hắn, lôi ra một bức thư. Ðúng như lời cậu liên lạc bức thư sực nức mùi con gái. Kiều Tam la lên: "Không được, đó là thư riêng của tôi." Nhưng tôi cứ phớt lờ, mở lá thư ra đọc.

Anh thân yêu của em!

Nhận được thư của anh em mừng quá. Vậy là anh không giận em vì em đã chậm biên thư lên cho anh. Thực tình hồi này em bận quá, vừa phải dạy lại vừa phải học thêm. Em muốn lấy được tấm bằng đại học trước khi trở thành vợ anh, là vì em muốn xứng đáng với anh, một sĩ quan trẻ giỏi giang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng...

Vỗ tay rào rào. Thế là rõ rồi, Kiều Tam đã có người yêu. Tôi lật trang cuối cung cấp thêm cho "hội đồng sĩ quan" một thông tin quan trọng nữa, tên của người yêu cậu Tam là... Em yêu của anh Nguyễn Thùy Linh. Gửi anh nhiều cái hôn nồng cháy. Lại vỗ tay rào rào. Kiều Tam giận điên lên, mặt mũi đỏ phừng phừng. Tôi trịnh trọng tuyên bố kết thúc điều tra. Từ đó Tam được xóa tên khỏi danh sách trắng, vì dù sao cũng đã có một mối tình vắt vai.

Nhưng có người yêu là một chuyện, cưới vợ lại là một chuyện hoàn toàn khác, đó là một việc nghiêm túc hệ trọng. Ðến như tôi đây, xét về thâm niên yêu đương thì ăn đứt Kiều Tam rồi, nhưng đã bao giờ dám mơ tưởng đến chuyện cưới xin đâu. Dù rằng hắn vừa được phong quân hàm trung úy, nhưng tôi còn là đại úy mà vẫn chưa nghĩ rằng mình có thể đủ sức để xây đắp một cái tổ uyên ương đâu nhé. Chẳng lẽ thằng này cưới vợ về rồi thả cỏ?

Với bản tính của một người thích cầm đèn chạy trước ô-tô tôi liền lấy tình đồng chí đồng đội ra thử khuyên bảo xem có thể chữa được cái máu thích lấy vợ của Kiều Tam hay không. Hắn lắng nghe một cách rất chăm chú, rồi cũng gật đầu đồng tình: "Anh nói cũng có lý nhưng kẹt một nỗi cô vợ tương lai của tôi lại hơi bị xinh gái, những điều khác lại quá lý tưởng. Tóm lại là phải theo lời dạy của các cụ thôi: "Cưới vợ phải cưới liền tay, chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha".

Nghe hắn nói cứ tức anh ách, nhưng biết làm thế nào được, hắn cưới vợ chứ có phải tôi đâu mà tôi lo. Nhưng cái điều hắn nói rằng cô vợ tương lai của hắn... hơi bị xinh thì còn phải xem lại, xinh mà sao hắn giấu biệt như mèo giấu cứt ấy thế". Chưa một lần hắn dám đưa người yêu lên trình diện "hội đồng sĩ quan đại đội hai", đến một tấm ảnh hắn cũng không dám trình ra. Không khéo lại ma chê quỷ hờn chị em với Thị Nở. Gì chứ khiếu thẩm mỹ của Kiều Tam thì cũng rất đáng nghi ngờ.

Nhưng rồi điều gì phải đến cũng đã đến. Có điều, lại một lần nữa Kiều Tam khiến chúng tôi ngã bổ chửng vì bất ngờ. ấy là vào một buổi chiều, tôi vừa từ bãi tập chiến thuật trở về thì chính trị viên Hải nhảy bổ vào phòng tôi với một gương mặt thất sắc, khiến tôi lập tức nghĩ tới một tai họa, chí ít cũng phải là một cú kỷ luật cấp sư đoàn.

- Thằng Tam... nó... nó... - Hải líu cả lưỡi khiến tôi cũng phát hoảng.

- Nó làm sao? Nói nhanh lên?

- Nó... nó cứ.. ớ.. i...con... ô.. ông.. Tâ.. m..

- Con nhà ai thì mặc cha nó, việc gì mà ông cuống lên thế?

- Nhưng... đó là... là ... con...ga..ái...sư ...sư trưởng.

- Hải? Ông nói sao?- Ðến lượt tôi ngớ ra vì ngạc nhiên - Con gái thủ trưởng Tâm à? Sao nó bảo... con gái ông ấy vừa xấu người lại vừa xấu nết? Hay nó vẫn bị ... ép...?

- ép cái con khỉ? - Hải bỗng nổi khùng lên - Mặt nó cứ tươi hơn hớn như bắt được vàng ấy. Nó lỡm bọn ta thì có. Ðây này, nó đưa lý lịch nhà vợ để báo cáo chính thức xin cưới vợ. Ðúng một trăm phần trăm cô Nguyễn Thùy Linh là con gái của ông Nguyễn Thanh Tâm, đại tá sư đoàn trưởng.

- Thế này thì... láo thật? - Tôi quay sang quát cậu liên lạc đại đội - xuống trung đội một gọi đồng chí Kiều Tam lên gặp chỉ huy đại đội ngay?

Cậu liên lạc lao ra khỏi nhà ban chỉ huy đại đội như một mũi tên nhưng phải nửa tiếng sau Kiều Tam mới đủng đỉnh tới, lại còn véo von thổi sáo mồm nữa chứ! Tôi sửa soạn một bộ mặt thật nghiêm trang đứng đợi trước cửa. Khi hắn vừa vào tới hiên là tôi lên giọng chỉ huy hạ mệnh lệnh ngay:

- Trung úy Kiều Tam... Ðứng nghiêm? Chỉnh đốn trang phục?

Tuy hơi bị bất ngờ nhưng Kiều Tam cũng hiểu rằng lúc này không phải là lúc có thể đùa giỡn nên lập tức trở lại tư thế nghiêm chỉnh, chỉnh đốn trang phục rồi đập gót đứng nghiêm:

- Báo cáo... Tôi, trung úy Kiều Tam, trung đội trưởng trung đội một, đã có mặt theo lệnh triệu tập của đồng chí đại úy đại đội trưởng. Báo cáo hết!

Tôi giả vờ nhìn đồng hồ:

- Ðồng chí đã tới muộn hai mươi phút?

- Báo cáo... Ðồng chí liên lạc truyền đạt mệnh lệnh cho tôi không nói rõ thời gian tôi phải có mặt trình diện đại đội trưởng. Tuy vậy, tôi sẵn sàng chịu trách nhiệm nếu tôi đã không chấp hành đúng mệnh lệnh của chỉ huy cấp trên.

- Ðược rồi... - Tôi bỗng trở nên lúng túng - Ðồng chí nghe tôi hỏi đây. Tại sao... đồng chí không báo cáo chỉ huy cấp trên rằng đồng chí... yêu con gái của sư đoàn trưởng?

- Báo cáo... Tôi nghĩ rằng đó hoàn toàn là chuyện riêng tư. Tôi chỉ có trách nhiệm phải báo cáo với tổ chức khi nào tôi có ý định xây dựng gia đình và tôi đã làm điều đó .

- Nhưng đây lại là chuyện khác, người mà đồng chí định cưới làm vợ lại là con gái...

- Báo cáo... Là con cái nhà ai thì có gì là quan trọng ạ?

- Thằng quỷ, vào đây - Tôi điên tiết bỏ hết cả lễ nghĩa quân phong quân kỷ túm lấy ngực hắn lôi tuột vào trong nhà - Nào, mày nói đi, không phải với tư cách cấp dưới cấp trên gì cả mà với tư cách bạn bè xem mày đối xử với chúng tao như thế có được không?

Bây giờ thì Tam mới thật sự hiểu rằng chúng tôi rất giận hắn, hắn có thể không sợ cấp trên, vì hắn chẳng làm gì sai cả, nhưng hắn cũng biết sợ sự tự ái của bạn bè.

- Xin lỗi các anh... nhưng tôi... không thể nói sớm hơn được... Vì năm ngoái tôi đã một lần đẩy hai anh vào thế khó xử. Thực tình lúc đó tôi cũng chỉ vui miệng nói đùa cho vui thôi, chứ chưa hề biết con gái ông Tâm mặt ngang mũi dọc thế nào. Ðến khi hai anh lên gặp ông ấy để... can thiệp về cái chuyện ép duyên mà tôi đã bịa ra, ông ấy giận tôi lắm. Ngay trong ngày chủ nhật tuần ấy, ông ta liền phóng xe xuống nhà tôi gặp bố tôi. Hai cụ định liên thủ để cho tôi một trận, nhưng ông Tâm lại dại dột mang con gái theo, có ý khoe, lại có ý dằn mặt tôi rằng con gái ông ấy đẹp như tiên thế này, một thằng thiếu úy ba trợn ba trạo như tôi thì đừng có mà mơ mộng hão huyền. Nhưng ông ta đã đánh giá thấp Kiều Tam này rồi. Tôi mà đã phát hiện ra mục tiêu thì... các anh biết rồi đấy, chỉ có tiến tới chứ không bao giờ chịu lùi bước...

- Thế cậu làm cách nào để câu được con gái ông ấy? - Tôi tò mò hỏi.

Tam nháy mắt cười:

- Dễ ợt, bài một - dương đông kích tây - Trước hết phải làm cho ông cụ nhà mình tin rằng mình đã mê tít con gái ông Tâm nên đã dùng kế bịa ra chuyện hai cụ hứa hôn để dụ ông ấy tới đây. Ðiều này không khó khăn gì, chỉ cần nháy ông già ra rỉ tai vài ba câu là ông ấy hiểu liền, sau đó mình yêu cầu ông ấy phải làm mọi cách giam chân "địch" lại. Về khoản này thì ông già nhà mình nhiều mưu lắm. Muốn giữ ông Tâm lại thì chỉ cần dùng ba kế, thượng sách là "Hồi ký cách mạng"; trung sách là dùng lệnh bài của bà Vân, tức là mẹ mình, ông Tâm rất nể mẹ mình vì chính bà ấy đã làm mối xe duyên cho ông ấy lấy được bà vợ này; còn hạ sách là rượu. Nhưng rồi trên thực tế là đã có sự phối hợp nhịp nhàng cả ba kế trên. Hai cụ ngồi một lúc thì bắt đầu lên cơn hồi ký, cái mặt bàn uống nước lập tức thành sa bàn chiến lệ để hai vị bày hết trận này đến trận khác; bà Vân chạy qua chạy lại vừa phục vụ làm cổ động viên kiêm trọng tài cho cả hai người; và cuối cùng thì vẫn phải có một bữa cơm thân mật để chén chú chén bác...

- Thế còn cậu thì làm gì?

- Hỏi một câu rất thừa... Dĩ nhiên là tôi phải đơn thương độc mã tiến hành một lúc hai bài chiến thuật còn lại rồi: Bài hát - chia cắt đội hình "địch" ra mà đánh. Chỉ cần nháy mẹ mình một cái là bà liền ngọt nhạt nói với cô con dâu tương lai: "Cháu đi với thằng Tam giúp bác một chút chứ để cho thằng gà tồ ấy đi một mình thì bác chẳng yên tâm một chút nào". Khi chỉ còn một mình với nàng thì bài chiến thuật thứ ba - bao vây tiến công liên tục bắt đầu, tất cả các mũi các hướng, tất cả các ngón chiến thuật đều được huy động, kể cả việc nhắc tới tình đồng chí đồng đội thiêng liêng giữa các bậc phụ huynh và nói xa xôi về việc rất có thể các cụ hình như đã có một quyết định trọng đại nào đó liên quan tới tương lai của hai chúng mình... Tóm lại, chỉ trong một hai tiếng đồng hồ phải biết được những thông tin chính xác nhất về nàng và phải gây được cảm tình và sự tin cậy, đặc biệt là sự tin cậy ở nàng. Hai mũi vu hồi của chiến dịch do ông già bà già mình đảm nhiệm cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Ðến nỗi ông Tâm quên béng cả mục đích chính của chuyến hành quân trừng phạt. Cho đến tận xẩm tối, khi sắp sửa ra về hình như ngài mới sực nhớ ra nên chỉ vào mặt mình và nói với ông già mình bằng cái giọng nửa tỉnh nửa say: "Ông Thành này, cái thằng quỷ nhà anh nó dám nói với đám bạn bè của nó trên đơn vị rằng tôi và anh đã từng hứa với nhau rằng rồi chúng ta sẽ gả con cho nhau. Anh bảo... thế nó có láo không cơ chứ?. Láo! Thằng Tam chưa được phép nói như thế khi bố mẹ hai bên chưa cho phép, phải không?". Ông già nhà mình cũng ngất ngưởng phụ họa- "Nhưng mà tôi nói thế này khí không phải... Bây giờ anh làm quan to rồi, anh có chê thằng Thành này nghèo nàn, kém cỏi không đấy?". Ông bố vợ tương lai ôm lấy ông thông gia tương lai để tỏ tình thân ái: "Ai dám chê anh nào. Anh từng là thủ trưởng của tôi, anh đã từng một lần cứu tôi thoát chết, chị Vân lại là người giúp tôi có được một người vợ hiền, đảm đang... Làm sao mà tôi dám coi thường anh chị". "Thế... còn thằng Tam nhà tôi... anh thấy nó thế nào?". "Nó... thằng Tam nhà anh ấy là... một thằng khá đấy. Có bản lĩnh, có ý chí, thông minh lanh lợi... Nhưng cũng láu cá, bướng bỉnh lắm. Nó chưa một lần tới thăm tôi đâu nhé... Cu cậu ra cái vẻ không thèm nhờ vả gì ai đấy mà... ấy thế mà cu cậu dám bịa ra cái chuyện tôi với anh đã hứa...". "Ðây là tại tôi! Chính tôi đã nói với cháu rằng... Mày cứ liệu hồn, ông Tâm không những chỉ là thủ trưởng của mày mà có thể sẽ là bố vợ tương lai của mày nữa đấy. Mẹ mày đã rỉ tai với bác Tâm gái rồi đấy...". Ông sư trưởng ngớ ra nhìn mẹ tôi: "Thì ra chị đã nói với nhà tôi rồi hả?" Mẹ tôi khéo léo đánh trống lảng: "Thì... chị em chúng tôi gặp nhau chả nói về chuyện con cái thì còn biết nói chuyện gì?". Các ông thấy cha mẹ tôi có thần tình không chứ? Thế là mọi chuyện không những được hóa giải một cách tuyệt vời mà còn tạo cho tôi những điều kiện vô cùng thuận lợi để tiếp tục cuộc chinh phục của mình. Với một điều kiện thuận lợi như thế mà tôi không đánh thắng thì còn mặt mũi nào mà nhìn các ông nữa?

Tam kể chuyện rất hấp dẫn khiến chúng tôi quên cả sự tự ái vì đã bị qua mặt. Nhưng còn một điều nữa tôi nhất định phải hỏi.

- Thế cô Thùy Linh có thực sự xấu như cậu đã ca cẩm với chúng tớ hồi cuối năm ngoái không?

- Nếu vậy thì tớ thà ngậm miệng ăn vài cái roi mây của bố còn hơn. Trái lại nàng rất đẹp, rất dịu dàng nết na nên tớ mới choáng ngay từ cái nhìn đầu tiên chứ. Chính từ giây phút ấy tớ đã quyết định phải chinh phục nàng bằng mọi giá, cho dù bố nàng có là đại tướng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thì mình cũng chẳng ngán.

- Ðến đây thì chúng tôi chẳng còn cách nào khác hơn là nói câu chúc mừng đồng đội!

Ðám cưới của trung úy Kiều Tam được tiến hành vào dịp giáp Tết, khi đơn vị đang thảnh thơi sau một mùa huấn luyện. Ðó thực sự là một đám cưới điển hình của con nhà lính. Hội trường của sư đoàn bộ đã được trang trí thành một phòng cưới lộng lẫy. Khách mời đa phần là lính trong đó có cả trung tướng Phó Tổng Tham mưu trưởng, vốn là bạn chiến đấu với cả hai bậc phụ huynh của cô dâu chú rể. Tôi, đại đội trưởng đại đội hai, được "hội đồng sĩ quan" của đại đội nhất trí bầu là một sĩ quan chưa vợ đẹp trai nhất đại đội nên phải phù rể. Nhờ trời, phù dâu là một cô gái trẻ rất xinh gái nên tôi cũng đỡ bị thiệt thòi. Học tập Kiều Tam, tôi cũng nhanh chóng triển khai các bài chiến thuật nên chỉ trong khoảng thời gian vàng ngọc của ngày hôn lễ tôi cũng đã kịp làm quen và có những thông tin quan trọng nhất, đủ để tiến hành chiến dịch biến cô dâu phụ thành cô dâu chính vào mùa cưới năm sau.

Có Kiều Tam làm cố vấn, tôi tin rằng mình nhất định sẽ thành công.






Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



truyện ngắn:Kiều nương

tác giả:Ngô Khắc Tài

Ngôi nhà với những cửa sổ vòm cung, hiện đại pha trộn chút cổ kính mốt thời thượng, sơn trắng toát từ trong ra ngoài. Chủ nhân cũng sơn phết mình nhưng tương phản với căn nhà về mầu sắc, ông ánh nhuộm lại mái tóc đen bóng. Ông ánh có thể lên truyền hình quảng cáo cho thuốc nhuộm tóc hiệu con Công được: Rằng thuốc giúp các bạn qua thời gian nhưng các bạn phải siêng, hãng không chịu trách nhiệm mái tóc nào nửa đen nửa vàng.

*
* *

Ông ánh đến tuổi chú bác nên nàng luôn bực dọc, gắt gỏng, nàng chưa bao giờ gọi ông ánh bằng anh, gọi bằng ông nghe dễ chịu hơn. Gia đình nàng khuyên nhủ, dù sao ông ánh là người ơn giúp ba nàng trả nợ để khỏi lâm vào tù tội. Hơn nữa ông ánh ra hợp đồng nàng chỉ cần hủ hỉ với ông vài năm cuối đời sẽ được hưởng phần gia tài không nhỏ, nếu các con ở nước ngoài không về tranh chấp nàng sẽ hưởng trọn. Ngược lại cứ mỗi năm chung sống ông cũng tính toán sòng phẳng cho nàng, rồi nhân lên. Bản hợp đồng quái quỷ mua đứt luôn tuổi trẻ của nàng, nàng vừa bực, vừa sợ. Trong khi nàng trở chứng nết, ông ánh lại nhẫn nại dịu dàng không chịu nổi. Dường như ông bằng lòng cái mình có, gọi ông bằng gì cũng được, tiếng anh cũng không no béo. Ông cũng viết thư cho các con: các con đã kêu ba lấy vợ, ba đã nghe lời. Các con đừng lo lắng, dì là người có học đàng hoàng, săn sóc ba chu đáo. Sao lại có thể như vậy được? Tình cờ đọc lén lá thư chưa kịp gởi có nội dung mèo đẻ ra trứng, nàng có cảm tưởng bị chọc tức thay vì bằng lòng. Biết làm sao bỏ được thói quen hành hạ kẻ khác đã thành nếp? Nàng ở tuốt trên sân thượng gọi vọng xuống dưới cho ông ánh mang lên ly nước cam vắt, rồi trở xuống mua tờ báo, ông ánh càng được sai khiến, càng thấy vui vẻ khiến nàng thêm khó chịu. Nàng kêu ly nước cam nhưng không uống, cục nước đá tan ra. Lớp rêu khô nằm giữa những viên gạch tàu nhờ vậy được tươi tỉnh ra. Coi như nàng tưới nước cho rêu, ông ánh vẫn thơn thớt miệng lưỡi: "Kìa cưng, sao không uống, cam loãng mất rồi, anh làm ly khác nghe, ly này để anh uống. Nàng hờ hững làm như không chú ý, nghe như gió thoảng ngoài tai, nhưng hơi thở già nua của ông nó lại nhẹ nhõm. Ông ánh kìm hãm, hay là ông đạt tới trình độ nội công thượng thừa biết điều hòa hơi thở? Từ dưới nhà lên sân thượng có tám chục nấc thang, mỗi lần nàng đi lên sân phơi quần áo phải đứng thở dốc một lúc huống gì ông ánh đi lên, đi xuống rồi đi lên đúng ba lần. Nàng nhớ đọc đâu đó trong sách, các triết gia Ðông Tây kim cổ đã thống nhất ý kiến: "Ai đánh người ta như đánh ông già nó, kẻ đó sẽ bị bội thực, táo bón vì chính thức ăn của mình đã dọn cho người nhưng người không nhận". Bỗng dưng nàng đâm ra sờ sợ, có cảm giác ông ngày một trẻ ra và nàng như già thêm vì không đẹp bằng Tây Thi mà thêm nhăn nhó suốt ngày. Vài năm cuối đời của ông ánh kéo dài tới đâu...

*
* *

Ông ánh tỉnh queo như kịch sĩ tài ba, cuộc đời xung quanh lại không khác sân khấu. Thay vì hỏi: "Ông ánh đã hết xí quách chưa", lại đổi thành: "Ông vẫn mạnh giỏi". Tại sao nàng lại thua kém? Hay là mỗi lần cảm thấy bực dọc nàng sẽ vào quán ăn thưởng thức đủ món Tây Tàu, ăn cho quên, trở về yêu ông hơn. Rất nhiều phương thức để nàng trị bịnh bất bình thường nhưng tai hại ở chỗ người ta đã nâng thành cuốn từ điển tra ngược. ở tỉnh lẻ, chín giờ tối đường phố đã thưa người như chỉ còn có tiếng mõ rao người sực tắt. Hồng Loan là cô bạn gái còn sót lại của buổi thiếu thời. Bạn nói: "Mầy là chuột sa hũ nếp". Nàng nghe ra: "Mầy là bông hoa lài cắm bãi cứt trâu". Tới lượt bà cô thương đứa cháu gái hy sinh vì gia đình nên ai ủi: "Con là Huyền Trân đổi lấy hai châu Ô, Lý". Nàng gạt phắt bàn tay bà cô xuống. Nàng biết phản xạ của nàng lúc sai, lúc đúng, biết đâu Hồng Loan cũng ước một miếng dai dai cỡ ông ánh nên nói thực tình. Nhưng ai giận, nàng xin chịu. Nàng đã ăn một buổi tiệc do đời dọn gồm đủ vị ngọt, cay, chua, thừa chất béo lại thiếu vị chát... Nàng gặp lại Quảng đi đâu không biết tung tích và nàng ngã người vào người tình không phải việc tình cờ, Quảng vuốt ve mái tóc nàng như vuốt đầu em nhỏ, thủ thỉ:

- Em là Kiều Nương bán mình chuộc cha.

Bỗng nàng như gặp lại vật cũ đã đánh mất, mặc dù cái kiểu nói bất cần sắp xếp văn tự cho bùi tai, cứ trực chỉ trái tim đen xì xì của Quảng. Kiểu nói mà những ngày còn đi học nàng với bạn bè rất ghét! Tuy nhiên nàng vẫn có cảm giác giống điện giật. Nàng đã hai lần bị điện giật. Một lần nàng mở cái tủ lạnh hư. Một lần nàng đi châm cứu với cây kim điện... Và lần này nàng nép trong vòng tay khỏe mạnh của Quảng. Nàng không còn bất động hóa thân một vật nào khác như bộ ghế trường kỷ, bộ đồ trà thời Khang Hy, những món mà ông ánh quý như trong vòng tay mà da bắt đầu trổ mồi của ông. Lúc này nàng là nàng, nàng giống con vịt xuống nước, dòng nước chảy xiết cuốn trôi quện mất lối về bến cũ...

Bỗng nhiễn nàng thành kẻ đa hệ. Một bên ông ánh mềm mại bao nhiêu, một bên là Quảng rắn rỏi (bộ râu nhám như rễ tre) bấy nhiêu. Ðiều nàng sợ nhất là dối trá ngay chính mình là thứ khi yêu người ta vẫn hay mắc phải. Nàng tự hỏi, Quảng có gì quyến rũ với thế giới của mình. Ðấy là trại nuôi trẻ em mồ côi lang thang...

Thiếu thốn trần trụi. Khoảnh sân không bóng cây che, giếng bơm nước kêu kẽo kẹt. Căn nhà lợp tôn buổi trưa nắng hầm hập, nóng như mê. Ðồ vật cũ kỹ, bàn ghế đủ mầu, đủ kiểu như lượm đây đó về ráp lại thành bộ. Máy truyền hình đen trắng cũng khác người, phải giơ tay đấm mạnh mới phát hình. Gần ba chục đức trẻ chen nhau sống như cỏ cây bởi trại không có nội quy. Không quy định giờ ngủ. Không được ai dọn cơm, nghe tiếng kẻng chúng tự động xách chén xuống nhà bếp lấy thức ăn ra chia cho nhau. Nàng rơi vào hoàn cảnh khác người, tới đây lại gặp cái không giống ai, lần đầu tiên nàng đâm bối rối. Nhưng sau đó nàng nhận ra, đời tuy không dồn ép nhưng những kẻ hơi khác người, người vô hình bị đẩy lùi vào một góc đâu đó. Quảng thật là hay khi đã thoát ra được và sáng lập cõi riêng cho mình. Có phải người ta tuy vẫn ăn, vẫn hít thở không khí, vẫn luôn mơ một cõi riêng tư giữa cõi đời phù du để ca nghêu ngao, để tự do múa may, nhưng mấy ai có được, mặc dù thừa phương tiện hơn Quảng nhiều? Mọi thứ trong trại mồ côi rõ ràng đều được đóng dấu made Quảng, không phải ở chỗ cỏ cây không có quy luật. Buổi sáng lũ trẻ thức dậy trễ sẽ bị mất phần cơm. Trong lúc đang ăn, hai đứa đánh nhau dành phần, đám nhỏ sẽ bị phạt. Và Quảng vui nhộn, tỏ ra có máu khôi hài cao độ, nhưng không thể cười được, đứa kia được dẫn ra sân cho gặp một thằng lớn hơn. "Nào, đánh lộn giỏi quá hé, tiếp tục đánh nữa đi em". Quảng ra lệnh, không ngờ cái gọi là các đứa trẻ tủi thân lạ lùng sao, những đứa trẻ lại như được an ủi, sống mạnh dạn!

Ông ánh chính là người thành công trên đường đời, từ lơ xe đò, bốn mươi tuổi ông đã có trong tay một gia tài kếch xù, cuối cùng ông đã mua được nàng. Ông thật khó hình dung những kẻ lội dòng nước ngược, Quảng học xong thay vì xin vô một xí nghiệp dược lại đi học thêm nghề bốc thuốc nam phục vụ cho một tổ bốc thuốc từ thiện, rồi Quảng lập ra trại nuôi trẻ mồ côi này. Nhân viên phục vụ trại toàn dân tình nguyện không hưởng lương bổng, họ tự túc nuôi sống nhờ miếng ruộng và miếng đất trồng ra nằm phía sau trại. Không một ai bị ràng buộc bởi hợp đồng như nàng, ngoài hợp đồng với chính mình. Và ông ánh cũng khó tưởng tượng tiền bạc của ông được nàng mang tới phục vụ cho sự nghiệp người khác. Nhận được tiền thay vì cảm ơn, Quảng chỉ nheo nhéo mắt nhìn nàng, rồi nhe răng cười:

- Kiều Nương ơi! Kiếp này em phải chịu mười lăm năm đoạn trường!

- Còn anh, Từ Hải rời khỏi việc mình làm sẽ bị chết đứng.

Riết rồi Quảng ăn nói quá trớn, lần nào cũng chọc nàng tức anh ách. Sống gần như ba trợn, trước sau cũng trở thành ba trợn. Gần Quảng, nàng bị lây thói nói điều gở...

Lúc còn chế độ quân quản, một phiên Tòa nhân dân đã mở ra ở phường để xử chị đàn bà chủ quán phạm tội ngoại tình, đem tiền cho trai. Không hiểu sao câu chuyện đã mười tám năm qua nàng vẫn nhớ nó như in. Hay là nàng có chứa sẵn mầm phạm tội trong người, nên nàng không quên?

Nhìn chị đàn bà có dáng đi uốn éo giống như rắn lượn, vừa bước ra, mọi người tham dự phiên tòa đã thấy ghét, tất cả đồng thanh rủa: "Ðồ mình xà". Khi cán bộ pháp luật hỏi ý kiến, lập tức bên dưới nhao nhao lên, một người đàn ông phát biểu: "Tội này theo tôi ngày xưa bị xử đóng bè chuối thả trôi sông". Chị khác chắc rất ghiền đọc sách chưởng, hăng hái đứng dậy: "Tội này phải hỏa thiêu Hồng Liên Tự". Anh cán bộ miền bắc lúng túng không biết hỏa thiêu Hồng Liên Tự là thế nào, lập tức bên dưới có nhiều tiếng hét: "Là tẩm dầu đốt". Không khí phòng xử ồn ào hăng hái đưa người vô chỗ chết. Bỗng nhiên chị đàn bà quay xuống nhìn phía dưới: "Thôi bà con cô bác, anh chị em ơi, hôm nay thì tôi rơi vào nỗi này, ngày mai sẽ tới lượt chị em". Tất cả vụt im lặng. Ðang hăng hái, người ta đột nhiên cụt hứng, rồi tất cả bỗng đâm ra phẫn nộ thật sự, nổ ra những tiếng vỗ bàn, giậm chân, tiếng chửi: "Con đĩ, con ngựa, có ai giống mày, ai ngu như mày vậy", phòng xử đâm ra mất trật tự, anh cán bộ lắc chuông, mãi năm phút sau mới ổn định.

Trong thâm tâm, nàng không hề nghĩ mình đã ngoại tình, Hồng Loan nghe nàng nói chắc che miệng cười. Cô ơi, người ta ngọ nguậy từ trong tâm dẫn tới ngoài bàn tay ám khí u mê, mấy ai chịu nhận mình quấy. Nhưng mà Hồng Loan, người đời cười như thế nào đây? Nụ cười mỉa xưa nay vẫn tự giễu mình. Nhờ ngoại tình nàng trở nên dễ chịu, ngoan ngoãn khi trở về nhà. Quên nàng chưa nói hết, ông ánh là đệ tử của ông đạo vuốt nên rất thích rờ rẫm. Nhiều lúc con chó vàng Bắc Kinh nằm dưới chân bàn kêu ăng ẳng như ganh tỵ. Ông lại có thêm tật: lúc ăn uống hay gõ chén kêu keng keng khiến nàng rất gớm ghiếc. Nhưng giờ đây nàng tỏ ra độ lượng, ngồi yên. Nàng đã cho ông phút giây hạnh phúc, khi nàng mua cho ông một thang thuốc bổ để ông uống một cách công khai không giấu giếm nàng như trước đó. Nàng thích thú khi nhìn gương mặt ông lộ rõ vẻ xúc động. Nhưng phút giây hạnh phúc ngắn ngủi ấy vẫn không bù được những lúc nàng bực dọc, gắt gỏng (chẳng qua là mưu kế làm cho ông chán nản để nàng đi ra khỏi nhà một mình tự do tìm đến Quảng). Một hôm nàng bối rối:

- Tại sao ông chịu đựng được con nhỏ trái tính nết như tôi?

- Tại tôi thương em!

- Tôi làm bộ gắt gỏng với ông thôi.

- Không cần biết, tôi thương em.

- Tôi đi với bồ, ông giả bộ không biết nữa sao?

- Em đừng nói chơi, tôi thương em.

Ông ánh nhẫn nại, dịu dàng đến độ nàng không chịu nổi. Nàng muốn kêu trời một tiếng, rằng ông già hay trẻ? Dù cho trời già hay là trẻ, sự cay nghiệt của tuổi già với sự tinh nghịch của tuổi trẻ đều gây cho nàng sự khó chịu như nhau. Ông đã và sẽ chứng minh cho nàng là ông còn sống rất dai, hơn mười lăm năm con số mà Quảng đã dự trù cho cuộc đời Kiều Nương. Nhưng ai lại có thể hạn định được cuộc đời của người khác, trừ người trong cuộc. Nàng tự quyết định lấy cuộc hôn nhân giống như đôi đũa lệch so không đều. Năm năm thôi. Năm năm đã quá đủ để nàng trả món nợ hộ gia đình, món nợ ân tình của ông chồng già. Nếu nàng tiếp tục sống mòn, trái tim lúc nửa đêm về sáng của nàng sẽ vỡ ra. Cả ba người là nàng, ông ánh, Quảng lập tức trở thành lố bịch. Về chuyện tiền bạc, nàng đã đem tiền của ông ánh cho sự nghiệp Quảng, nàng khó lòng bào chữa, ông ánh không bao giờ tin, dư luận không bao giờ tin một con nhỏ như nàng. Tất cả, ngay cả Tòa án cũng chỉ căn cứ vào hiện tượng bên ngoài, không thể đi sâu bên trong mọi bí ẩn cuộc sống sẽ như dòng thác vỡ òa khi nàng đã đi đứt cả một số tiền không nhỏ của ông ánh. Và, ông hoàn toàn bất ngờ khi tìm thấy nó dưới tên tuổi của mình: Ông Dương Hoàng ánh trong quyển sổ vàng ở trại mồ côi! Nàng hỗ trợ cho Quảng chỉ-vì-có-những-việc-nàng-không-thể-làm-được, với cá nhân của Quảng là hai việc hoàn toàn khác nhau.

Xa khỏi nhà ông ánh, với cái túi rỗng, nàng sẽ đi về đâu, nàng cũng chưa biết, nhưng trước hay sau nàng cũng tìm được đâu đó một cõi riêng của nàng.




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0


truyện ngắn:Khúc nhạc đồng quê

của:Văn Lừng

Ðã mấy ngày nay lão lần mò khắp các ao chuôm bờ bãi mà không được gì. Bụng đói, miệng khát, vẫn gắng gượng vừa đi vừa hát.

Tiếng hát đều đều, buồn buồn, có lúc như tiếng cầu kinh, có lúc thầm thì như nói chuyện một mình. Dân làng Ðà gọi lão là Thoán ếch, Thoán Ðiên - có điên khối lão! Thoán là tên cha mẹ đặt cho, còn ếch và Ðiên là do người làng đem cái nghề và cái tính cách để gọi ra cái đặc điểm con người lão. Lão đi bắt ếch, lang thang khắp đó cùng đây, ngày đêm, mưa nắng, đói ăn, khát uống, mệt thì ngơi giấc dưới mái cầu mái quán hoặc một gốc cây nào đó, chẳng bận sự đời chẳng tham danh vọng, ngay đến vợ con cũng ít khi quan tâm săn sóc. Hàng ngày lão gắn bó, thiết tha với ếch. Ôi những con ếch xanh, ếch vàng, ếch cốm ếch cụ... sao mà gần gũi thân thương! Nào phải cao sang hiếm lạ gì đâu? Có ở khắp mọi nơi. Bờ tre, bãi mía, ruộng lúa, ao chuôm... chỗ nào cũng có. Mắt lồi, lưng gù, da ướt lạnh... chứ có cao sang đẹp đẽ gì đâu mà sao gắn bó, thân thương đến thế? Phải chăng vì cái uy khiến loài cua khiếp vía mà rúm cẳng? Hay vì cái sang trong tiếng ếch kêu uôm uôm cho ao chuôm đầy nước? Có lẽ vì cái e thẹn của đôi lứa khi đang ân ái bị người đời trông thấy nên phải đưa tay lên che mặt. Nhưng cũng có thể vì tính ham mê hoa mướp vàng đến quên cả sống. Từ thuở lên năm, lên bảy lão đã theo cha ra đồng bắt ếch, cho đến bây giờ hơn 70 tuổi, có con có cháu, thành nội thành ngoại, vẫn giữ cái giỏ bên người. Nó là cái nghiệp, cái phận và cũng là cái duyên một đời của lão.

Vậy mà đã mấy ngày nay lão mò mẫm sục khắp các hang cùng ngõ hẻm cũng không tìm đâu ra được một con ếch. Dù mệt nhọc, nhưng lão không lùi bước. Chiều qua ném câu ở ao làng, hoa mướp vàng nhảy nhót trên mặt bèo, rõ ràng có con ếch đuổi theo ăn mồi, giật lên đã thấy trĩu nặng, bụng ếch trắng hếu, vậy mà đến khi giơ tay ra định bắt lấy, chút nữa thì tóm phải con rắn. Lại đến sớm nay, lật viên đá chắn cầu mương, rõ ràng một con ếch cụ ngồi chồm hỗm như cái bát úp ở trong hõm đất, liền giơ tay chộp lấy, hí hửng vì con ếch to cạng bàn tay, nhưng khi đưa lên nhìn, hóa ra là một nắm rêu xanh nhớt. Thực thực hư hư, là ếch thật hay chỉ là ảo ảnh? Y như là có ma. Ðồng quê đã hết sạch ếch, chỉ còn có ma ếch về trêu lão chăng? Trêu cợt nhau làm gì, ơi hồn thiêng những chú ếch? Hay là hồn còn bơ vơ phiêu bạt chưa có chỗ nương dựa nên hiện về đây trêu lão. Nếu vậy thì cứ về...

Lão Thoán lang thang khắp nơi tìm gọi hồn ếch. Bước chân xiêu vẹo, loạng choạng, nhưng miệng lão vẫn không ngừng ngân nga...

Lão gọi hồn ếch như người ta hát kinh. Tiếng hát đưa lão về những ngày xa xưa.

Những ngày xưa ấy, cơ man nào là ếch.

Ðêm tháng ba sấm chớp mưa rào, sáng ra ruộng khoai ruộng đỗ, từng đôi ếch nằm rạp mình lên nhau, hai tay xấu hổ che mặt là lão chỉ việc nhặt cho vào giỏ. Rồi đến tháng mười, sau mùa gặt hái, trời thu se se lạnh là ếch làm mà để ngủ đông. Hầu hết ếch đồng làm mà ở dưới gồi rạ. Giở rạ lên, tha hồ mà bắt. Có khi tới ba, bốn cái mà ếch ở dưới một gồi rạ. Gặp những khi ếch đàn ếch lũ như vậy, phải những kẻ tham, những đứa thô, sẽ nhét đầy bao bố này sang bao bố khác. Nhưng với lão Thoán, chỉ lấy một giỏ là vừa đủ dùng cho ngày hôm ấy, thiếu một con chưa thôi, thừa một con cũng không thèm lấy.

Những khi khan hiếm, hoặc là ruộng đang lúa không thể lội vào, hoặc là đông giá ếch đi tránh rét, bắt được con ếch hết sức khó khăn, người khác có thể về không, nhưng lão Thoán đã ra đi là bắt được đầy giỏ. Một cút rượu thủ vào trong bọc, một cái giỏ toòng teng bên hông, tay cầm thuổng móng, móc sắt, cần câu là đủ để cho lão soi tìm bờ bụi ao chuôm, lang thang ngày này tháng khác, tối đâu là nhà, ngã đâu là giường, chẳng cần hay biết trong làng động trời động đất ra sao. Ðối với lão, ngoài vợ con ra, chỉ còn có ếch. ếch vui buồn sướng khổ với lão. Vì kế sinh nhai mà phải đi bắt ếch. Nhưng bao giờ lão cũng lấy việc nâng niu gìn giữ làm chính. Không bao giờ bắt những con ếch nhỏ bé. Và khi, bất cứ ở đâu, trông thấy một con ếch chết thì dù bận đến mấy lão cũng đào hố, mồ mả cho nó chu đáo. Ngày nào lão cũng làm thịt ếch. Trước khi chặt đầu, lột da, bao giờ lão cũng hát:

Bắt sâu bắt bọ
ở hang ở mà
Vẫn bị đem ra
Phán quan xét hỏi
Rằng mi nhiều tội
Nên phải chặt đầu
Sang đến kiếp sau
Ðừng làm thân ếch!

Lão hát như khóc. Giọng đều đều, buồn buồn như khóc thương cho chính mình. Lời hát làm nhịp cho những thao tác của lão. Hát xong một lượt là lão cũng chặt đầu, lột da, moi ruột... một con ếch vừa xong.

Dân làng Ðà cho là lão nghiện thịt ếch. Chỉ ngoa truyền! Cái món thịt thơm ngon, thanh mà đượm ấy, chưa ăn thì thôi, ăn vào nhớ mãi, ăn mãi không chán, nhưng không phản ứng cơ thể để tạo thành thói quen thì làm sao mà nghiện? Chỉ có những kẻ không được ăn, không biết ăn thì ghen tức mới tuyên truyền là lão nghiện. Lão tiếc cho ai một đời không được ăn thịt ếch. Có được con ếch mà đem chặt nhỏ rồi xào nấu là không biết làm, không biết ăn. Ðến như băm viên làm chả mà thiếu gia vị, rán chưa chín hay quá lửa khô xác thì thôi đi cho khỏi xấu hổ thịt ếch. Xào mướp cũng vậy, phải chọn quả mướp bao tử, không bị ong châm, ruột còn đặc chắc. Xào vừa chín tới, ăn nóng, vừa ăn vừa thổi, xuýt xoa trong hương vị ngọt ngào nồng thơm của ếch, của mướp và của gia vị. Thói đời chuộng lạ, chuộng sự cầu kỳ, tưởng như thế là sang, là ngon, có biết đâu đã làm mất đi hương vị ngọt thơm rất đặc biệt của ếch. Ví như ếch tẩm bột và ếch tần. Công phu, cầu kỳ, đắt tiền, xài sang thật, nhưng còn đâu hương vị thanh sạch, đậm đà thịt ếch nữa? Ðối với lão, không gì ngon bằng ếch nướng. Con ếch vừa bắt được, lấy bùn đắp vào, chất rơm chất rạ mà đốt. Bao giờ đất khô, có mầu trắng là được. Khi bóc đất, từng miếng da cũng tuột theo, để lộ thịt ếch trắng tinh. Một mùi hương thơm ngào ngạt bay lên. Rút be rượu thủ trong bọc ra... Sự đời quên hết, chỉ còn ta với ếch với rượu! Thường khi tháng năm, tháng mười vừa cắt lúa xong, gốc rạ còn nồng nàn hương lúa, cánh đồng nhiều ếch, sẵn rạ thì mới nướng ếch. Thịt ếch nướng phải nhắm rượu ở giữa cánh đồng mới thật là lên tiên. Ngồi giữa cánh đồng sau mùa gặt hái, tu một hớp rượu với thịt ếch nướng, có cảm giác như ngửa cổ tu vào người cả đồng quê và thân xác ta cũng ngào ngạt hương quê. Tỏm vào trong miệng miếng thịt ếch nướng, chiêu một hớp rượu, để cho hương vị ngọt ngào nồng thơm chạy ran khắp cơ thể rồi ngửa cổ, khà một tiếng, như lại quả cho đời hương vị ngất ngây mà đồng quê đã trao tặng cho ta. Lúc ấy, đầu lão ngất ngơ, đôi chân loạng choạng, tay bẻ tay ếch giang ra, trong lòng lâng lâng thanh thản, tưởng chừng như chỉ cần giơ tay cao hơn chút nữa là có thể bay lên trên trời uống rượu với các tiên ông. ếch nướng thật ngon, nhưng có lẽ đậm đà hương sắc đồng quê thì phải là món da ếch. Những người không sành, thường vứt da ếch đi. Có biết đâu là đã vứt đi phần đặc sắc nhất của con ếch và cũng là phần ngon nhất của đời. Da ếch nhầu muối, rửa sạch, nướng lên, lại rửa và thái ra thành miếng. ếch xào chín tới, bắc xuống, cho da vào đảo, tự nhiên sẽ thấy một mùi hương thơm thanh sạch, quyến rũ đến nao lòng. ếch xào vừa bắc xuống , còn nóng nguyên là phải cho da vào đảo ngay, nếu để nguội không đủ độ nóng, da ếch sẽ dai và kém hương thơm. Nhưng nếu đảo ngay trên bếp, miếng da quá nước, quá lửa, vừa nhạt vừa nồng, còn gì là da ếch nữa! Ðảo qua cho vừa mắm muối, hương vị, rồi gắp riêng ra đĩa. Ðĩa da ếch là một phần của đồng quê kết tụ lại. Những miếng da ếch phồng lên, cong queo, vừa trong vừa trắng, lấm tấm như hoa cà hoa cải, nhìn kỹ hình như có cả bờ tre ruộng lúa, bãi mía, nương dâu lặn vào trong đó. Hớp một ngụm rượu nồng say, nhai một miếng da ếch, sẽ thấy giòn ngon, thơm nức đồng quê. Có mía ngọt khoai bùi, có hoa thơm cỏ mật. Vị đậm, hương nồng, tưởng như trên đời không còn có món ăn nào ngon mà thanh hơn thế.

Nhưng bây giờ còn đâu?

Những ngày vui, lão đeo giỏ ra đi, cái đầu ngấc ngấc, cái chân liêu xiêu, be rượu thủ trong bọc, lòng đầy kiêu hãnh như một viên dũng tướng chỉ còn những kỷ niệm.

Bây giờ... Lão đã đi bốn ngày rồi, lùng sục hang cùng ngõ hẻm, chui rúc bờ bụi, chịu đói chịu rét mà không bắt được con ếch nào. Họ hàng nhà ếch đã bị tuyệt chủng rồi chăng? Ðời đã mất đi món ăn mang hương vị đồng quê, những món ăn đã trở thành nét đẹp văn hóa rồi hay sao? Lão đi gọi hồn ếch. Lão sẽ vẫn còn đi...

Lão đi lang thang, vật vờ cuối bãi đầu soi không phải vì lão không có nhà cửa, con cháu. Lão có ngôi nhà cổ năm gian to đẹp giữa một khu vườn cây cối sum xuê. Con cháu lão ăn nên làm ra, nhà tầng nhà hộp ở thành phố, đứa nào cũng muốn rước lão về nhà mình phụng dưỡng. Lão cũng đã lên phố, được chăm sóc chu đáo, sống những ngày nhàn, cơm bưng tận mặt, nước mời tận tay. Lão biết con cháu thật lòng phụng dưỡng, không như con cháu người ta quan to chức trọng, giàu có cao sang mà sợ bạn bè chê cười bố mẹ quê mùa cổ lỗ. Nhưng ở phố lão cảm thấy ngày dài lê thê, đi ra đi vào, lên lầu xuống trệt hàng bao nhiêu lần mà vẫn không tối. Cao lương mỹ vị, món nọ món kia mà không ăn được, không muốn ăn. Mãi sau mới hiểu ra rằng, lão đã là người của đồng quê thôn dã, bây giờ xa nó, nhớ ruộng nhớ vườn, thèm một tiếng chim kêu buổi sớm, thiếu những tiếng gà tao tác lúc chiều hôm, khát khao một vầng trăng lạnh buốt sương đêm, một làn khói lam chiều bảng lảng. Ðôi bàn tay chơi không, nhớ dao nhớ dựa, nhớ cái thuổng móng, nhớ chiếc cần câu nên buồn bã, lóng ngóng không biết để vào đâu. Tiếng ếch gọi sấm tháng ba, cánh diều chiều thu bay bổng, cây đa đầu làng, bến sông cuối xóm... tất cả đã nhập vào lão, thành hơi thở, thành máu thịt lão rồi, nên lão phải về với chính bản thân mình. Lão đi tìm ếch, lão gọi hồn ếch cũng chính là gọi hồn lão về với thân xác lão. Hơn 70 tuổi, nhưng lão còn khỏe chân khỏe tay chưa phải nương nhờ vào con vào cháu. Mảnh vườn, bờ tre, chiếc thuổng... thênh thang ngày tháng, câu hát nghêu ngao, bạn bè với be với ếch... như thế không phải là cảnh tiên, người tiên hay sao? Lọ là gấm vóc mới ra con người? Lão có cuộc sống riêng của lão. Ra khỏi cuộc sống đó, còn đâu là lão Thoán nữa!

Chiều nay, bầu trời ụp thụp, núi đùn ra một trời mây. Lão Thoán cảm thấy khắp người đau mỏi, sống lưng như bị dần. Cơn đau nhắc lão là đã sang tháng ba, tiết trời thay đổi. Lão thở dài ngao ngán. Buồn! Chưa bao giờ lão thấy trống trải, cô đơn như bây giờ. Cảm giác hẫng hụt, thiếu vắng một cái gì đó. Ðang lang thang, bỗng nhiên lão đứng lặng giữa đường đi, đôi mắt chớp chớp, bàn tay đưa lên rứt chỏm tóc. Chợt lóe lên điều gì đó, lão vội đâm bổ về nhà. Không biết vì đường xa sức yếu hay vì khí trời oi bức mà lão mệt mỏi rã rời, về đến nhà là nằm lăn ra giường. Ðịnh bụng nằm lấy sức một lát rồi sẽ ra vườn. Nhưng rồi thiếp đi, ngủ một giấc quên trời quên đất.

Ðang ngủ, bỗng giật mình choàng thức. Trời đang sấm chớp mưa rào. Ngoài vườn òa vỡ ra hàng trăm tiếng ếch kêu. Ðã lâu lắm, bây giờ mới được nghe bản nhạc đồng quê rộn rã thân quen. Lão Thoán vội nhỏm dậy, dụi mắt, lắng tai... Rõ ràng không phải mơ. Thực đó mà cứ như là trong mộng. Lão nhớ ra rồi. Lũ cháu con của đôi ếch mả.

Có lần lão Thoán đi một đám cải táng. Trời chưa sáng rõ, mở nắp quan tài, nghe lõm bõm, biết là có nước nhưng lại tưởng là hòn đất rơi. Ðổ rượu xuống được một lúc thì toàn bộ hài cốt nổi lên. Những xương ống, xương sườn, những đốt tay, đốt chân... Nhưng, ô hay, làm sao thế kia? Lạ lùng chưa! Hộp xương sọ tự chuyển động, xoay xoay, dập dềnh, nhấp nhô trên mặt nước. Y như có quỷ thần ma chi đây. Trong ánh chập chờn đuốc lửa, dưới làn khói hương nồng nặc mịt mờ, chiếc sọ người bơi trong quan tài nước, lúc ẩn lúc hiện , thực thực hư hư khiến mọi người chết lặng. Sửng sốt ngạc nhiên quá đỗi. Không thể nào giải thích được hiện tượng hết sức lạ lùng này. Hẳn là oan trái chi đây nên trời phật bắt tội. Hay là ma đói ma khát, quỷ quái, yêu tinh đến quấy nhiễu? Vội vàng khấn vái, kêu cầu trời phật độ trì cho tai qua nạn khỏi. Người cứng bóng vía cũng phải ngoảnh đi hoặc nhắm mắt lại. Không dám nhìn. Chỉ có lão Thoán là không sợ, vẫn chăm chú vào hộp sọ đang bơi. Thì đã bảo lão là Thoán điên mà! Người điên còn biết gì là sợ? Lúc đầu lão cũng sửng sốt ngạc nhiên, nhưng một lúc sau thì lão đã hiểu ra. Vội vàng cúi xuống cầm hộp sọ lên. Trước con mắt kinh hoàng của mọi người, lão lần lượt lôi ra hai con ếch sụ. Mọi người đồng thanh một tiếng "ồ' và cùng thở dài như trút được gánh nặng.

Lão Thoán đem đôi ếch về nuôi ở ao nhà. Một năm, hai năm, rồi ba năm...

Bản đồng ca của hàng trăm con ếch nhắc lão phải đứng dậy đi làm nốt công việc còn dang dở. Mặc dù lão đang đau mỏi khắp người, những tiếng ếch - khúc nhạc đồng quê đã tiếp sức cho lão, thôi thúc lão phải làm một cái gì. Lão Thoán mở cửa nhìn ra, hơi mưa mát rượi ùa vào. Trời đất đang được tắm gội, đang rung lên trong một bản nhạc... ếch!




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



truyện ngắn:Khúc dân ca miền biển

của:Chu Văn Mười

Anh thường kể những chuyện gắn bó với một dòng sông.

- Sương biết không, chính trên cánh đồng ven đê, khi đào mương, bọn anh đã vớ được những cây gỗ lim vót nhọn đầu, những nhà khảo cổ xác nhận đó chính là chiếc cọc xưa Trần Hưng Ðạo đã dùng đâm bể những chiếc thuyền của quân Nguyên...

- Trời! Phải chi em được ra quê anh một lần!

- Chắc có ngày ấy thôi. Chỉ e... em không có lòng.

Câu nói rụt rè và như thể bâng quơ ấy cứ rung mãi trong tâm hồn cô. Anh không sôi nổi, có duyên như anh Phương quê Hà Nội, anh cũng không tốt giọng để hát những làn điệu chèo uyển chuyển và tình tứ như anh Nhữ tóc xoăn quê Thái Bình... Anh chỉ có những câu chuyện. Vậy mà dư âm của nó cứ làm Sương bâng khuâng.

Ra ở đâu cũng vậy thôi - cũng sông nước, cũng ruộng đồng, cũng cấy cày, gặt hái, cũng những xóm thôn... Ðất nước hiện lên trước hết từ một xã Tăng Hòa chôn rau cắt rốn của cô tới một miền xa lắc, nơi có tiếng kẻng gọi người mỗi sớm mai ra đồng, nơi ngày mùa lúa chất đống ở những sân kho, và có những ngày hội cổ truyền... Ôi, phải chi, phải chi...

Năm ấy Sương mười sáu tuổi.

Sương được các anh đưa lên khu học văn hóa, rồi theo học lớp y tá ngắn ngày. Xong cô được điều về ở huyện đội.

Các anh ấy đến cơ quan huyện đội từ lúc nào lặng lẽ và khiêm nhường. Ngày ấy cực lắm. Miền Tây Nam Bộ là vựa gạo, nhưng hạt gạo từ vùng dân ra "cứ" nhiều phen thấm máu. Ðêm đêm, các anh đi. Ði đâu, làm gì, chỉ ban chỉ huy và các anh hay. Vất vả thế, sáng về, khi có vài chén cơm, khi một phong lương khô, cũng có khi chỉ cháo loãng. Chú huyện đội trưởng bảo Sương:

- Cháu phải chăm sóc những chàng Yết Kiêu này thật chu đáo, nghe!

- Yết Kiêu là chi chú? - Sương ngây thơ hỏi.

- à Yết Kiêu là... là những người bơi lặn giỏi, làm nổi những công việc lớn - Chú cười, tiếng cười thật vui, hồ hởi và tin cậy.

Sương không biết nói gì thêm. Cô cố gắng chăm sóc các anh chu đáo như lời dặn dò của người chỉ huy. Cô kiểm tra mùng khi các anh đã ngủ, ép các anh uống hết liều thuốc phòng sốt rét, la những ai vô ý có thể làm các anh thức giấc... và Sương lặn lội tìm hái quả mắm mang về luộc, bắt cáy nấu canh với lá rừng, cải thiện bữa ăn.

Chiều ấy khi nước đã lùi xa về biển, Sương vừa lội xuống bãi, bỗng nghe tiếng gọi phía sau. Cô giật mình ngoái lại:

- Trời, anh Hải! Anh làm em... Sao anh không chịu ngủ?

- Bụng lép kẹp, ngủ nghê sao được!

Anh ngoẹo cổ, mắt nheo nheo như thể khôi hài, nhưng Sương chợt nghe buốt nhói trong ngực. Cô nhận ra gương mặt hốc hác và tái sạm của người chiến sĩ với bao thiếu thốn anh đã phải chịu đựng.

- Bữa nay Sương cho tôi cộng tác với.

Anh vừa nói vừa cúi xuống vuốt nhanh hai ống quần.

- Con trai miền Bắc hổng quen việc mò cua bắt ốc đâu anh ơi!

Sương vội ngăn, nhưng anh đã hăm hở sục chân xuống bùn. Ðôi mắt dài thường tít lại mỗi khi vui cười, lập tức trở nên tinh nhanh trước những vật chấm li ti trên mặt bãi. Phút sau anh cúi xuống túm gọn một lúc hai con cua bên gốc cây trang.

- Ðây rồi!

Anh cười hồn nhiên quá. Sương càng ngạc nhiên. Ðôi bàn chân to khỏe của anh bước trên bãi hà táo bạo và nhanh nhẹn như người ta đi trên đường phẳng. Giữa vô vàn những miệng lỗ dày đặc, anh gọi ra đâu là lỗ còng lỗ cáy, đâu là hang ổ của nhệnh, của hớp.

- Sương biết không, bãi sông quê tôi cũng nhiều cá lắm. Mùa này tôi thường đi bẫy nác. Những chiếc bẫy làm bằng tre giương trên miệng lỗ. Những chú cá nác nhắm tít mắt, vừa ngoi lên vừa lắc lắc cái đầu rũ bùn. Pựt! Thế là cu cậu bị chặn cổ. Chà, cá nác nấu với dọc mùng! Sương biết dọc mùng không?

Vừa nhẹn tay xắn đất chặn bắt những chú cá thòi loi, anh vừa say sưa kể chuyện. Chưa bao giờ Sương thấy anh vui thế, cởi mở thế. Cô mải nghe, cứ xách giỏ theo anh lúc nào không hay. Những kỷ niệm về anh sao đằm thắm thế. Sao anh có thể nói về quê hương mình hay đến vậy, dù khi anh chỉ nhắc tới một buổi đi kiếm mật ong giữa rừng nước mặn, một buổi tối bạn bè rủ nhau đi chao cá tối ven sông, hay một mùi thơm của quả lậu chín vào hồi tháng bảy...

*
* *

Giờ đây, trước mặt Sương, con sông Bạch Ðằng cồn lên những đợt sóng bạc đầu. Con sông quê anh. Con sông trong những chuyện anh kể... Khu rừng lậu ven đê mới bắt đầu đâm chồi sau những ngày rét mướt, những hương hoa sú đã ngọt lịm trong gió đông. Và lúc này, con sông mênh mang hơn nhiều, sôi động hơn nhiều trong trí tưởng tượng của cô, những con tàu lừng lững. Những đoàn sà lan nối dài và buồm nâu rờm rợp. Dòng sông huyên náo trong tiếng còi xin luồng, tiếng động cơ, tiếng những ngọn sóng chồm lên bị chẻ xé, bị khuấy sôi. Không xa nơi Sương đứng là xưởng sửa chữa tàu thủy đang ầm ầm những âm thanh hỗn độn, chói gắt ánh lửa hàn. Xa hơn, một dải khói xanh đục bí ẩn tuôn lên từ trong khe núi.

- Ðấy là nhà máy đất đèn, một cơ sở hóa chất mới xây dựng. Nghe nói đất đèn của ta được khách nước ngoài chuộng lắm, nhưng không có mà xuất khẩu vì dùng trong nước còn chưa đủ. Hiện nay chúng ta đang tiếp tục xây thêm những lò có công suất cao hơn.

Bé, cô bí thư xã đoàn Ngũ Xã có vóc người chẳng hợp với tên cô chút nào, trân trọng giới thiệu cùng đoàn khách từ miền Tây Nam Bộ xa xôi tới đây tham quan. Nhiều cặp mắt mở to trước cô, không chỉ thông thạo công việc đồng áng, mà còn tỏ ra am hiểu tình hình trong vùng.

Sương không chen hỏi về khu cảng than, về vùng đồi thông xanh hút tầm mắt phía bên kia sông. Cô lặng ngắm dải sóng trắng xóa chảy suốt sát chân đê ra quá giữa sông, một đàn hải âu đông ngộn đang nhộn nhạo, đang sắp vụt tóa lên khỏi mặt nước. Ban nãy Bé giới thiệu đấy là Ghềnh Cốc - một bãi đá ngầm. Nơi đây bảy thế kỷ trước, quan quân nhà Trần đã lợi dụng nó như một bãi cọc trong trận thủy chiến lừng lẫy tiêu diệt quân xâm lược. Giữa tiếng ồn ào của biển lớn ngoài kia đang lúc triều lên, tiếng nổ rền của những loạt mìn phá đá phía thượng nguồn, nỗi bồn chồn vẫn không lắng lại trong lòng Sương. Cô kín đáo nhìn nhanh gương mặt cô bí thư xã đoàn. Bé nghiêng nghiêng đầu đưa tay cài gọn lại mái tóc. Chiếc áo cộc cổ màu gụ rất vừa vặn, hài hòa với nước da nâu mịn của cô gái miền duyên hải. Vẻ đẹp riêng biệt của cô gái ấy giữa đám đông khiến Sương liên tưởng với cô gái trong những câu chuyện anh Hải kể hồi nào. Và cô xúc động nghĩ rằng mình đã đoán không nhầm. Giữa lúc ấy Bé chợt nở nụ cười duyên dáng, chỉ tay xuống khoảng đất trước mặt mọi người:

- Báo cáo các đồng chí, đây là trận địa súng máy cao xạ của dân quân xã chúng tôi trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại. Anh chị em đã diệt hai máy bay phản lực Mỹ, một chiếc đâm đầu ngay xuống cuối Ghềnh Cốc kia, một chiếc cố bươn ra được đến cửa Nam Triệu...

Tất cả cùng "ồ" lên một tiếng thán phục, và ai nấy cùng nhìn vội xuống cái nơi bây giờ chỉ là một màu xanh nhu mì những vạt ngô.

Từ bấy giờ cho hết buổi tham quan là những câu hỏi dồn dập về chiến thuật, về kiểu loại những chiếc máy bay giặc phải đền tội, về cấp bậc, quê quán thằng giặc lái bị bắt sống... Riêng những câu hỏi về người chỉ huy trung đội dân quân hồi ấy, Bé chỉ trả lời qua loa đó là một đồng chí gái, nhưng hai vành tai cô thì cứ đỏ tía lên. Mỗi lúc Sương một náo nức, cô phải cố ghìm câu hỏi riêng của mình trên đường về làng, chờ lúc Bé hơi lùi về phía sau, Sương bước lại gần. Và như hụt hơi vì hồi hộp, Sương hỏi:

- Cô... cô có biết nhà anh Hải?

- Anh Hải? - Bé dừng bước, ngước cặp mắt trong suốt nhìn Sương, hàng lông mày cong cong rướn xếch lên vùng trán có nếp nhăn đột nhiên:

- Chị quen anh Hải?

- Phải chị quen - Sương cảm giác tiếng nói mình nhỏ quá.

- Trời ơi! Anh trai em đấy.

Bé reo to, bàn tay bá lên vài Sương, lắc mạnh.

Sương thấy tức thở:

- Anh Hải... Anh Hải bộ đội, cô à.

- Ðúng rồi, anh Hải em đi bộ đội, vào Nam chiến đấu gần mười năm, vừa rồi mới ra nghỉ phép. Tiếc quá! Anh em vừa lên đường hôm qua.

Bé càng sôi nổi và như những cô em gái khác, phát hiện điều bí mật ở anh trai, đôi mắt cô càng rực lên vẻ thích thú.

- Không... Không... - Tiếng Sương đứt quãng - ở vùng trong chị trước đây có anh tên là Hải đến hoạt động một thời gian. ảnh bảo quê ảnh ở ven sông Bạch Ðằng này. Mà anh hy sinh rồi, Bé ơi!

Sương nói nhanh câu cuối và lại thấy nóng rực hai mi mắt. Cô vội ngoảnh nhìn ra cánh đồng. Cánh đồng như thể bồng bềnh trước mặt. Và lúa, lúa đang thì con gái ràn rạt xô cái màu xanh ngút ngát tới chân đê, với những tia nắng vàng rực cứ rung rinh, rung rinh.

- Thế thì anh ấy không ở xã em. Xã em có bốn anh Hải đi bộ đội, đều đã về cả. Chắc anh ấy ở xã khác. Chị xem, dọc hai bờ sông có bao nhiêu là làng mạc thế kia...

Sương nín lặng. Con bói cá đậu trên đường dây cao thế đang thu mình bỗng giật mình bay đi, tiếng "các các" xa dần về phía rừng rậm.

Buổi tối, đoàn khách tham quan được mời xem vở chèo do đội văn nghệ xã tự biên tự diễn. Vở chèo nói về công cuộc khai hoang lấn biển. Bây giờ, Bé trở thành cô dân công có nhiều sáng kiến trên công trường. Cô lưu luyến tiễn dặn người yêu lên đường chiến đấu sau bao ngày cùng nhau đắp đê, nhổ sú...

"Rủ là - rủ nhau ới là xuống biển...

Lời ca ấy cùng làn điệu dân ca ấy Sương mới nghe lần đầu. Và rõ ràng tích chèo chỉ nói về những người sản xuất, vậy mà Sương không cầm nổi nước mắt. Chao ơi, có lẽ nào, chính tâm hồn của anh, tâm tình của mình, giờ mới được gọi ra, được cất lên bằng một giai điệu tuyệt vời đến thế!

"Rủ nhau xuống biển mò cua

"Ðem về nấu quả mơ chua trên rừng

"Anh ơi gian khổ đã từng

"Non xanh nước biếc ta đừng quên nhau...

Chiều ấy nắng cũng vàng như nắng chiều nay giữa đồng làng Ngũ Xã.

"Ðêm nay xong việc, ngày mai ta lại đi lên bãi nghe Sương".

Lần đầu tiên anh kín đáo nói với Sương bằng giọng Nam Bộ. Rồi chia tay. Ba người, mỗi người một ba-lô thuốc nổ, đi theo con đường mòn dẫn ra phía bờ sông. Ngày hôm sau anh không về đúng hẹn. Chỉ biết chiếc cầu trên tỉnh bị đánh sập, giặc đang lồng lên, đang chặn bủa các ngả sông, các ngả đường. Hôm sau nữa các anh vẫn không về tin được phổ biến chính thức trong cơ quan: trên đường rút ra, các anh sa vào ổ phục kích của giặc. Và sự im lặng kéo dài sau đó báo với Sương rằng anh và đồng đội anh đã hy sinh.

Sương đang sống những ngày cuối cùng ở miền bắc. Hà Nội mùa hè trời trong vắt, hồ trong vắt. Ði dưới những hàng sấu um tùm lá biếc, Sương bồi hồi nhớ những hàng me quê nhà. Chương trình rút ngắn, chỉ còn ít bữa nữa Sương đã phải về với làng quê phương nam, lại đi dưới những hàng cây quen thuộc ấy, lại thích thú để mặc những cánh hoa vàng nhỏ xíu trút xuống đậu trên mái tóc. Và những bãi triều đất bồi ra bao la ven sông mỗi khi nước xuống. Những bãi triều năm xưa hai người vẫn đi qua...

- Chị để lại địa chỉ cho em. Có thể em sẽ hỏi bạn bè ở những xã bên, chắc em tìm được gia đình anh ấy...

Lúc chia tay, Bé hẹn vậy.

Nhưng sao mãi hôm nay Sương vẫn chưa thấy thư báo của Bé gửi tới. Giữa tiếng ve ran ran, Sương bỗng gặp mình đang hát. Và lạ lùng thay, tiếng hát lại có thể hay như vậy, luyến láy đúng như vậy, với một làn điệu dân ca mới được nghe lần đầu.

"Rủ là rủ nhau ới là xuống biển...".




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0


truyện ngắn:Trôi giạt

của:Phạm Hoài Vũ

Khi Giáo sư Phước tìm được đứa con của mình cũng là lúc ông mất vĩnh viễn người đàn bà mà ông từng yêu thương. Ông tiếc nuối một tình yêu bị trôi giạt trong chiến tranh và ân hận vì lỗi lầm của mình.

Hiền nép sâu trong góc tối của toa tàu. Những toa tàu thời chiến lầm lũi nối đuôi nhau chìm mãi trong đêm. Cả toa chỉ thấy nhập nhoạng ánh sáng tù mù của cây đèn bão, chốc chốc lại bùng lên cắt dòng suy tư đứt đoạn của Hiền... suy tư về chuyến đi đêm nay, ... về những năm tháng lênh đênh sông nước. Cả cái làng bến sông chẳng ai để ý đến chuyện mẹ con cô đã đến đây tự bao giờ, nhưng cái chuyện cha cô mất tích trong chiến tranh thì hình như ai cũng nói, ... nói không có mặt cô.

Mẹ thường kể, hồi năm bốn mươi mẹ sống với người anh họ là bác Cử Giang ở thị xã Thái Bình. Rồi chiến tranh. Mẹ theo chân bạn hàng xén về một nơi rất xa, gọi là chợ Ðống Năm. Rồi mẹ đưa Hiền về đây, một làng nhỏ ven sông Trà Lý. Bên này là đồng ngô mượt, gió lộng. Bên kia có những làng chạm bạc, ngói đỏ nhấp nhô. Mẹ con cô sống với cha con ông lái đò. Mẹ bảo cô gọi ông là thầy. Con của ông gọi mẹ là u. Cuộc sống êm ả trôi trên dòng sông. Hiền đi học. Học xong cấp một ở xã, cô lên học cấp hai trên huyện, rồi thi đỗ vào trường sư phạm. Sau ngày tốt nghiệp, cô được phân công về dạy ở trường cấp hai.

Hôm làm giấy tờ, người ta bảo cô khai lý lịch. Ðến mục người cha, cô khai là lái đò. Bà tổ chức bảo không phải. Cô khai lại. Thấy cô lúng túng, bà buông thõng: "Khai là cha mất tích trong chiến tranh".

Sau thời gian tập sự, cô được xét vào biên chế. Biên chế là việc hệ trọng. Người ta phải xét năng lực chuyên môn, phải xét lý lịch gia đình. Nhưng còn người cha mất tích trong chiến tranh. Không tìm đâu bằng chứng về sự mất tích. Thế là cô không được vào biên chế. Cô lại trở về với mẹ. Cô lại trở về với bến sông. Dòng sông bằng lặng. Những cánh bèo hoa tím trôi giạt hiền hòa, không biết về đâu.

Ðêm nay cô bước lên tàu ra đi là vì nể mẹ, không mảy may một niềm hy vọng mỏng manh. Mẹ bảo, dù thế nào, cô cũng phải tìm bằng được bác Cử Giang, vì chỉ có bác mới giúp được cô. Tàu đến thành phố thì trời rạng sáng. Cô hỏi tìm bác ở bất kỳ nơi nào gọi là cơ quan. Cũng may, bác là một luật sư có tên tuổi ở thành phố. Vì vậy, cô đã tìm được ông không mấy khó khăn.

Câu chuyện của cô làm ông ngỡ ngàng. Chỉ có điều ông phân vân, là trong suốt ngần ấy năm không một ai nói cho ông điều gì về cô.

Ông nhớ lại cái ngày vừa đỗ cử nhân luật, mùa hè năm 1938, ông về thị xã Thái Bình mở trường tư. Ngay từ buổi đầu đưa tin mở trường, ông đã được mọi người mến mộ. Người ta mến mộ ông vì tiếng tốt của cụ thân sinh ngày trước, là cụ Tú Lâm. Thuở sinh thời cụ cũng mở trường tư theo tân học.

Ông tìm đến ngôi trường ngày trước. Cỏ mọc um tùm. Mái ngói rêu phong. Cụ Tú mất đã mười năm. Các thầy mỗi người đi một phương. Chỉ còn một người duy nhất qua lại đây. Ðó là cụ Giám. Cụ Giám là cậu họ, vốn là thầy đồ ở quê nhà bên huyện Trực Ninh, Nam Ðịnh. Cụ được cụ Tú mời ra trông coi trường sở. Người ta gọi cụ là ông giám thị. Về sau chỉ gọi là Cụ Giám. Sau khi cụ Tú qua đời, cụ bà về quê, riêng cụ Giám vẫn ở lại. Cụ sống cùng với vợ và cô con gái tên là Liên. Cụ bà và cô Liên ra chợ Bo mở hàng xén. Cô Liên vốn là trò ngoan của cụ Tú. Cô học sắp hết lớp "Pri-me Xuýp" thì cụ Tú mất. "Pri-me Xuýp" là lớp cuối cùng của bậc tiểu học thời đó. Sau ngày cụ Tú mất, trường đóng cửa. Cụ Giám phiền muộn suốt từ bấy đến giờ.

Nghe ông Cử ngỏ ý muốn mở lại trường, cụ Giám lặng đi hồi lâu:

- Anh Cử! Cậu thương nhớ cha anh. Cậu chỉ mong có ngày các anh về nối nghiệp. Bây giờ anh về, cậu trao lại cơ nghiệp cho anh. Còn nếu anh không chê cậu tuổi tác yếu hèn, thì cậu sẽ lại ra giúp anh như cậu đã tâm niệm trước vong linh của Bác Tú.

Thế là ngôi trường được sửa lại. Ông Cử treo biển trắng với dòng chữ xanh "Trường Trung học Port Royal". Ai hỏi tại sao ông lại đặt tên như thế, ông chỉ cười. Học sinh thì mỗi người cắt nghĩa một kiểu. Người thì dịch sát nghĩa "Bến cảng huy hoàng", nơi ấy có những con tàu cập bến, có những con tàu ra khơi. Có người thì nói, hình như ông có ý đặt tên trường bằng cái tên của tu viện Port-Royal được thành lập ở Paris từ bẩy tám thế kỷ trước, sau thành nơi hội tụ của các danh nhân, ở đó có những cuốn sách giáo khoa nổi tiếng đã ra đời, còn lưu truyền mãi đến ngày nay, như Ngữ pháp Port-Royal, Lô-gíc học Port-Royal. Thật chỉ một cái tên thôi mà ẩn dụ biết bao ý nghĩa.

Cụ Giám trở lại công việc giản dị ngày trước. Ngoài cụ còn có cô Liên, con gái cụ, giúp ông Cử trông coi việc sổ sách.

Trường không lớn, nhưng có đủ các lớp, từ lớp đệ nhất đến lớp đệ tứ, giống như trường cấp hai của ta bây giờ. Trong số các thầy giáo có một thầy tên là Phước. Thầy dạy tiếng Pháp và văn học. Thầy rất nghiêm khắc. Nghiêm khắc đến lạnh lùng. Hết giờ lên lớp là thầy ngồi đọc sách, ngày nào cũng như ngày nào. Cô Liên chỉ gặp thầy vào những ngày phát lương. Ðiều duy nhất mà cô Liên nghe được ở thầy chỉ vẻn vẹn một lời khô khốc: "Merci!", tiếng Pháp nghĩa là "cám ơn". Cô đáp lại bằng cái cười xã giao cho phải phép. Nhưng một lần, sau khi nghe "Merci", cô không chỉ cười xã giao, mà còn lên giọng thách thức "Rien de quoi, Monsieur le Professeur", nghĩa là "Ðâu có gì, thưa ngài giáo sư". Thầy trố mắt: "Parlez-vous francais, Mademoiselle ?", nghĩa là "Cô cũng nói tiếng Pháp, thưa cô ? ". Từ đấy hai người trở nên gần gũi.

Nhưng rồi chiến tranh. Dân chúng thực hiện tiêu thổ kháng chiến. Nhà cửa, trường học, công sở đều bị phá hủy. Phố xá trở nên một đống gạch hoang tàn. Ông Cử và các thầy mỗi người đi một phương. Cụ Giám cũng qua đời năm ấy. Cô Liên theo chị em về buôn bán ở chợ Ðống Năm. Bé Hiền ra đời.

Luật sư hồi tưởng lại cả quãng đời đã chìm trong năm tháng. Từ ngày ấy đến nay đã quá nhiều năm. Ông không được tin gì về thầy Phước. Hồi ở Việt Bắc, ông có nghe nói thầy sang dạy ở một trường Việt Nam ở Quế Lâm bên Trung Quốc, gọi là Khu học xá. Sau hòa bình vào năm năm mươi tư, Khu học xá giải thể, thầy Phước về nước. Vừa đúng lúc một số trường đại học được thành lập ở Hà Nội. Thầy Phước về dạy ở một trường nào đó. Ðấy là tất cả những điều mà ông nghe được. Cũng là vì ngay từ khi đóng cửa trường, nhiều bạn học trong ngành luật đã mời ông ra làm việc và từ đấy ông không còn mối liên hệ với các đồng nghiệp trong làng giáo học nữa.

Ông mất hàng tháng trời để tìm lại bạn bè hồi trước chiến tranh. Ông đã gặp may, vì cuối cùng đã biết được tin tức về thầy Phước. Thầy hiện là giáo sư ở một trường đại học. Cái khó bây giờ là các trường đều sơ tán, tàu xe thời chiến khó khăn. Dù sao, việc đầu tiên là về Hà Nội, đến mấy trường đại học, ở đó mọi chuyện chắc sẽ rõ ràng hơn.

Ðại lộ Ba-bi-lô, nay là Ðường Lê Thánh Tông, từ thời trước chiến tranh đã nổi tiếng là đường phố của học vấn. Từ đầu thế kỷ, người Pháp đã mở Trường Thuốc để đào tạo y sĩ Ðông Dương. Sau này mở thêm các đại học khác. Lần nào có dịp về Hà Nội, Luật sư Giang cũng đi dạo trên đường phố này. Ông đã gửi gắm ở đây cả một thời tuổi trẻ trong những năm còn học trung học và sau đó là đại học luật khoa.

Từ phía Bệnh viện Ðồn Thủy, ngày nay là Viện Quân y 108, ông lặng bước dưới lùm cây sấu, qua cổng Ðại học Dược, rồi đến trường của ông. Tất cả nguyên vẹn. Vẫn những hàng cây xum xuê. Ðôi cánh cửa lớn, đường bệ, nặng quá khổ đưa lối vào giảng đường lớn. Ông dạo quanh sân tìm lại bầu không khí còn đượm hơi ấm của ba mươi năm trước. Lần theo những lối đi thân quen, ông bước vào giảng đường. Những dãy bàn ghế hình cung, đổ dồn từ trên cao xuống bục giảng. Bình thản. Tôn nghiêm. Cuối cùng ông cũng biết được thêm nhiều điều về Thầy Phước. Thầy Phước hồi đó, nay là giáo sư văn học Pháp. Ông hiện có mặt ở Hà Nội. Nhà ở phố Nguyễn Gia Thiều.

Ông hồi hộp, trong lòng dội lên niềm vui xen lẫn nỗi lo. Sau một phút do dự, ông gõ cửa. Một người trạc tuổi ông bước ra.

Luật sư lên tiếng trước:

- Xin lỗi ông cho hỏi thăm, đây là nhà của giáo sư Phước ?

- Vâng thưa ông.

- Chào anh. Tôi là Giang, Cử Giang ở trường Port Royal.

- Trời ơi! Anh Giang, mời anh v௮ ẤY chết, xin lỗi, cho phép tôi thu dọn phòng... Bừa bộn quá. Chúng tôi sắp đi sơ tán mà.

- Anh đừng bận tâm.- Luật sư thoáng thấy mọi người trong nhà đang nằm ngủ dưới sàn, chừng là vợ con của giáo sư, ông chuyển sang nói tiếng Pháp, - Ðã ba chục năm... - Luật sư ngập ngừng- ... có chuyện rất riêng tìm gặp anh, ... anh cho phép nói tiếng Pháp.

- Xin anh tự nhiên. - Giáo sư đỡ lời bằng tiếng Việt, vừa kéo ghế mời luật sư ngồi đối diện mình cùng một bên mép bàn làm việc.

Giáo sư Phước bối rối:

- Thầy trò chúng tôi đã đi sơ tán, người Mỹ sắp ném bom Hà Nội. Chắc anh biết. Gia đình tôi cũng chuẩn bị đi theo trường, nhà luộm thuộm. Anh chờ để tôi gọi vợ con dậy...

Luật sư đỡ lời, vẫn bằng tiếng Pháp:

- Anh đừng bận tâm. Ðể chị và các cháu nghỉ. Tôi có chuyện muốn nói, nhưng liệu ở đây có tiện không ?

- Anh đừng ngại..., - Giáo sư trả lời vẫn bằng tiếng Việt.

Luật sư Giang đưa giáo sư trở về dĩ vãng..., về cái thị xã thanh bình trước chiến tranh, về cuộc chia tay giữa thầy và trò, giữa những bạn đồng nghiệp. Cuối cùng Luật sư nói về cha con người giám thị... ngập ngừng:

- Nhưng,..xin anh thứ lỗi, nếu như câu chuyện tôi sắp nói đây là không gửi đúng địa chỉ...

- Ôi, anh Giang, xin anh đừng câu nệ.

Lặng giây lát, Luật sư hỏi:

- Anh còn nhớ cô Liên thư ký nhà trường không ?

- Tôi nhớ.- Giáo sư Phước chần chừ, và cũng chuyển sang nói tiếng Pháp, chậm rãi, khẽ khàng.

- Sau này anh có được tin cô ấy không ?

- Có. Khi ở Việt Bắc, tôi gặp mấy phụ huynh học sinh. Họ đều cho biết cô Liên về chợ Ðống Năm buôn bán, sau đã có chồng con.

- Thế, thế...anh không được tin gì hơn nữa ?

- Quả thật là không. Vả lại sau này tôi được tin cô ấy đã yên phận gia đình...Tôi nghĩ, hãy để cho cô ấy yên phận .

- Không đâu, anh Phước ạ. Cô ấy không được yên phận, mặc dầu đã có gia đình. Cô ấy dõi trông anh ngần ấy năm trời.

- Trời ơi! Anh nói sao ? Sao lại dõi trông tôi ?

- Nói thế nào nhỉ ? - ông Cử Giang chần chừ. Anh có nghĩ đến một đứa con chung của hai người không ?

- ..., mà một trong hai người đó là tôi ?

- Anh không nghĩ là như thế ?

- Trời ơi! Anh Giang, thật là quá sức tôi!

- Tôi rất tiếc đã làm anh bận tâm. Mong anh thứ lỗi. Có thể câu chuyện của tôi đặt ra không đúng lúc. Cũng có thể có một sự lầm lẫn nào đó. Rất có thể là như vậy, anh Phước ạ.

- Không, anh Giang, trong mọi trường hợp, tôi xin cảm ơn anh về câu chuyện này. Tôi xin thú thực với anh là có câu chuyện giữa tôi và cô Liên. Chỉ có điều, ... xin anh thứ lỗi là tôi đã không nói ngay với anh từ dạo ấy. Nhưng còn đứa con? Ðứa con ư ? Anh Giang. Anh cho phép tôi có thời gian.

- Tôi cũng hy vọng có một sự lầm lẫn nào đó. - Luật sư ngắt lời. Anh cho tôi được cáo lui. Ðây là địa chỉ để anh liên hệ khi cần.

Luật sư đi rồi, mọi người trong nhà đều thức dậy. Giáo sư Phước bàng hoàng. Ông không giấu nổi điều sâu kín đang dội lên, từng hồi, từng hồi một. Người đầu tiên nhận xét là bà vợ:

- Ai vừa nói chuyện với ba đấy ? Hình như có chuyện gì rất hệ trọng giữa hai người ? Ba có thể nói cho em được không ?

- Chuyện cơ quan thôi mà! - ông lảng chuyện vụng về.

Hồi đó, lúc nào chẳng có chuyện cơ quan... người Mỹ ném bom miền bắc, chuẩn bị sơ tán các phòng thí nghiệm. Vợ ông biết rõ tình hình.

Ðêm đó ông trằn trọc. Ông hồi tưởng lại những kỉ niệm với cô thư kí nhà trường. Từ sau cuộc đối thoại ngắn ngủi bằng tiếng Pháp với Liên hôm lĩnh lương, ông bắt đầu để ý đến cô. Ngoài giờ làm việc, cô thích đọc các tác phẩm văn học Pháp. Cô quý trọng ông vì ông uyên bác. Ông giảng giải cho cô về nhiều thứ, nhưng cuối cùng đọng lại, hình như cô bị ông cuốn hút vào những truyện ngắn của Guy de Maupassant và Alfonse Daudet. Về sau cô được biết là ông đang học đại học hàm thụ văn học Pháp. Hai người, từ lúc nào đó, đã từ lòng mến mộ trở nên gắn bó. Với cô, ông là biển khơi trí tuệ. Còn với ông, thì cô như một ngôi sao chói lọi trên trời trong cái đêm cô tịch ở miền Provence xa xăm. Ông bàng hoàng sống trong cuộc hạnh ngộ giữa cái tỉnh nhỏ bình dị này... Rồi ngôi sao trên bầu trời thơ mộng kia đã tàn lụi theo năm tháng trên những nẻo đường chiến tranh, bãi ngô, sông nước.

Ngay sau cái đêm trắng ấy, ông dậy rất sớm, tự châm bếp dầu nấu nước pha cà phê... Nói qua vài lời tạm biệt vợ, ông bảo ông lên chỗ sơ tán với sinh viên. Dắt xe đạp ra khỏi nhà vào đúng lúc nổi giông. Ông chần chừ, rồi vẫn lao xe về phía sông Hồng. Sau khi qua cầu chui, ông không đi Bắc Ninh để lên nơi sơ tán, mà đi về phía Hải Phòng. Trời dội mưa. Ông đạp hối hả. Những roi nước quất ngang mặt, nhòa đôi kính... Ðến Bần, ông hỏi thăm nhà cô Hiền bán hàng xén. Trời mưa, cô chưa dọn hàng. Ông tìm lối vào nhà. Men theo bờ mương, băng qua quãng ruộng ngập nước, ông lội vào căn nhà cheo leo ở ngoài bìa một xóm trại giữa đồng. Ông bước vào sân. Do dự.

- Chào cô,- ông lên tiếng, - xin lỗi cho tôi hỏi thăm đây có phải nhà cô Hiền, cô Hiền con gái bà Liên ?

- Vâng thưa ông. Cháu là Hiền. Vậy ông là...

- Vâng tôi là bạn của bác Cử Giang,..

Hiền trân trân nhìn ông. Nghi ngờ. Ngập ngừng giây lát, ông tiếp:

- Nhân có việc về vùng này, tôi vào thăm mẹ con cháu.

- Trời ơi! Bác là bạn bác Cử cháu... ấy chết, mời bác vào nhà. Ðể cháu đi đun nước.

- Thế chỉ có mẹ con cháu ở đây thôi ư ? - Ông vừa hỏi, vừa tháo tấm vải mưa quanh cổ.

- Thưa bác, nhà cháu... vừa chuyển quân vào sát tuyến lửa.

Ông lặng thinh, nhìn ra ngoài mưa, lảng chuyện ...

- Thì ra cháu không có tin tức về bố cháu hay sao ? Bác nghe nói, cháu vẫn sống ở nhà quê với bố mẹ cháu kia mà ?

- Vâng, nhưng chỉ có mẹ cháu thôi, còn đấy là bố dượng cháu. Mẹ cháu chờ bố cháu mãi. Cháu cũng chẳng biết là bao nhiêu năm.

Rồi ông chia tay với xóm trại. Trời vẫn còn mưa.

Một tuần qua. Rồi hai tuần. Lại một tuần nữa, kể từ cái hôm mưa giông. Lòng ông ngổn ngang. Ông sẽ viết thư cho Hiền. Ông sẽ dành cho con gái những tình cảm đặc biệt nhất. Ông đền bù cho nó tất cả những gì đã mất mát. Ông sẽ làm tất cả. Trước hết ông viết cho nó cái trang còn bỏ trống về người cha mất tích trong chiến tranh. Hơn thế, không chỉ là điền đầy một trang giấy, mà là trả lại cho nó cơ hội làm một con người.

Nghĩ đến đó ông như trút được một nỗi đau nhân thế. Nhưng ông chợt nghĩ, ông sẽ nói với vợ con thế nào đây về một cuộc tình dang dở mà, suy cho cùng, chính ông là người có lỗi. Ông vẫn giữ điều thầm kín này. Cuộc tình kia cứ níu kéo ông, giày xé ông. Ông bất lực. Chỉ có thể ... sống để bụng chết mang đi... mang theo đến một nơi nào đó rất mơ hồ, bất định. Nhưng sự trớ trêu của số phận đã lại thách thức ông. Ông không thể câm lặng mãi... Ông sẽ phải mang sự câm lặng ấy phô diễn trước người đời. Và rồi... cái gì sẽ xảy ra ? Người đời sẽ chia sẻ với ông nỗi đau nhân tình. Con ông sẽ được sống trong tình cảm của cha nó. Nhưng còn người vợ đôn hậu đã cùng ông đi gần hết cuộc đời? Ðáng ra bà có thể tự hào về một cuộc sống trọn vẹn hạnh phúc với ông, thì đằng này, ở đoạn xế chiều, lại phải ôm hận vì đã chọn lầm người bạn đời... là ông. Còn các đồng nghiệp của ông ? Họ sẽ lên án ông như một kẻ không có tư cách.

Cơn bão táp suy tư thế thái nhân tình cứ dội lên... dội lên mãi.

Bốn tuần trôi qua. Rồi hai tháng. Cuối cùng ông quyết định. Không thể chậm trễ hơn được. Mấy đêm ròng dưới ngọn đèn tù mù ở nơi sơ tán, ông viết.

Hà Bắc, 10-4-1966.
Gửi Hiền, con gái của ba.

Ba đã sống trong những ngày đầy sóng gió. Cuối cùng ba quyết định viết cho con. Chắc con nhớ người bạn của bác Cử Giang đến thăm con trong ngày mưa giông? Người đó chính là ba. Từ hôm ấy ba đã nhiều đêm không ngủ. Ba nghĩ về sự bất hạnh trong câu chuyện dang dở giữa ba và mẹ con.

Nói cho cùng, ba là người có lỗi. Lỗi của ba không thể nào chuộc lại được. Ba chưa được gặp lại mẹ con. Nhưng con có thể nói với mẹ rằng tuy cuộc đời trôi giạt, nhưng mẹ vẫn để lại trong lòng ba những kỉ niệm trong sáng nhất.

Giờ đây, ba và mẹ con, mỗi người đã có một thân phận riêng tư trong cuộc đời. Những gì đã qua không có cách nào lấy lại được. Ba sẽ dành phần còn lại trong cuộc đời của ba để đền bù những gì con đã phải chịu đựng.

Một tuần sau ba sẽ tới thăm con. Hãy nói với mẹ con, ba có lời thăm.

Ba của con. Phước"

Ðúng một tuần, ông trở về xóm trại.

Vừa bước vào nhà, mùi khói hương làm ông kinh hoàng. Trên bàn thờ là ảnh một người đàn bà đã luống tuổi, nhưng ông vẫn nhận ra vẻ mặt thân thuộc của cô thư ký Liên ngày trước. Ðầu vấn tóc trần. Chuỗi hạt trắng nổi trên chiếc áo dài nhung the ông đã thấy Liên mặc hồi trước chiến tranh.

Hai mẹ con Hiền đều chít khăn tang. Con gái của ông lạnh lùng nhìn ông trân trối. Không một lời. Nước mắt dàn dụa trên đôi gò má cháy xạm.

- Con, - ông nghẹn lại, - Ba vẫn mong có ngày gặp lại mẹ con.

Rồi ông cũng không cầm nổi lòng mình. Nước mắt trào ra. Ông run run, thắp ba nén hương. Im lặng. Ông sám hối.

Bác sĩ bảo bà bị ung thư. Ðã ủ bệnh từ mấy năm trước. Bà chỉ ho thúng thắng. Người cứ gầy mòn. Không biết là bệnh gì. Trạm xá ở xã nghi bà bệnh lao, cho lên bệnh viện huyện. Huyện bảo không phải. Ba tuần trước đây ho nặng, nổi hạch khắp người. Ðưa lên bệnh viện tỉnh. Tỉnh chuyển lên Bệnh viện K ở Hà Nội. Bệnh viện bảo về, cho bà ăn cái gì bà thích. Họ bảo bà bị ung thư tuyến giáp trạng đã đến giai đoạn di căn. Vô phương cứu chữa. Mọi người bảo vì bà quá khổ. Bà vĩnh biệt cuộc đời ở tuổi bốn lăm.

- Ba ơi.- Hiền như sực nhớ điều gì đó, òa lên khóc nức nở như một đứa trẻ. Thằng bé ôm chặt chân cô, lấm lét nhìn ông khách. Cô tiếp, - Mẹ trao cho con cái ống nứa này. Mẹ bảo "nếu gặp ba thì thưa với ba, mẹ có lời vĩnh biệt".

Ông như tỉnh lại, đón từ tay Hiền khúc ống nứa đã ngả màu vàng xỉn của bồ hóng như vừa rút ra từ gác bếp nhà quê.

Ông thấy mình lảo đảo. Tay run rẩy, khẽ khàng rút từ trong ống nứa một cuộn giấy hoen vàng: Một tờ Giấy khai sinh đề ngày năm, tháng chín, năm một ngàn chín trăm bốn mươi sáu. Tên đứa trẻ là Nguyễn Thị Phước Hiền. Cha Nguyễn Trọng Phước. Mẹ Hoàng Thị Liên. Một bức thư bà viết cho ông hai mươi năm trước, vào ngày con gái ông đầy cữ. Thư viết bằng tiếng Pháp. Bà không muốn những người chung quanh biết chuyện riêng tư.

"Ðống Năm, ngày 5-10-1946.

"Anh yêu dấu.

Em viết cho anh khi con gái của chúng ta vừa tròn một tháng, nói theo các cụ là nó được đầy cữ.

Nó đã ra đời không có mặt anh. Em biết anh đang mong tin về con chúng ta. Bởi vì, anh biết đấy, lúc chia tay, em đã nói với anh điều mà em lo sợ. Nhưng em sẽ chịu đựng để chờ anh. Em sẽ thay anh nuôi con.

Sao mà con giống anh. Em viết cho anh, nhưng em không rời đôi mắt nó. Ðó là đôi mắt của anh. Ðôi mắt hơi xếch như dáng quan võ trông rất ngộ, như chính đôi mắt của anh vậy. Em ngắm nó đắm đuối như đang sống trong phút giây hạnh phúc với anh. Nhưng rồi em chợt buồn. Buồn vì thiếu anh. Buồn vì thương con. Con ra đời không có sự chăm sóc của cha nó.

Em viết cho anh để kỷ niệm ngày con đầy tháng, nhưng em chẳng biết làm thế nào mà gửi được. Biết anh ở đâu mà gửi phải không anh ? Em sẽ giữ nó cho đến ngày chiến tranh kết thúc. Một năm. Cùng lắm là hai năm. Anh sẽ trở về. Em sẽ trao con cho anh. Anh đọc thư em. Em sẽ ngồi ngắm anh vừa nựng con vừa đọc. Rồi anh sẽ lại cho điểm bài văn tiếng Pháp của em. Rồi anh sẽ lại kể chuyện bằng tiếng Pháp, bắt em kể lại như một bài tập dịch.

"...Chung quanh chúng tôi, những vì sao tiếp tục cuộc hành trình lặng lẽ, dịu hiền như một bầy cừu lớn, và bỗng nhiên tôi cảm thấy như có một vì sao trong số đó, một vì sao đẹp nhất, chói lọi nhất đã lạc đường, sa xuống vai tôi mà ngủ yên lành"

Em đố anh truyện gì nào ? Anh nhớ đấy. Anh vẫn gọi em là Stê-pha-net của anh, là cô chủ Stê-pha-net trong câu chuyện về những vì sao.

Anh ơi. Con nó khóc. Nó muốn mẹ bế, anh ạ! Vừa lọt lòng đã biết đòi cưng nựng. Em không chịu nổi nữa anh ơi. Sao mà con đáng thương. Em không viết được nữa. Em sẽ còn viết cho anh.

Em của anh. Liên.

Ông ngây dại. Nước mắt lại trào ra. Ông chờ Liên viết tiếp. Nhưng có bao giờ nàng viết được nữa đâu! Cuộc sống gian lao đã làm kiệt sức nàng. Ông ở lại với con gái qua đêm. Hiền cố níu ông ở lại thêm với mẹ con cô cho nhà đỡ quạnh. Nhưng ông phải trở về.

Từ đấy, dường như tháng nào cũng vậy, dường như ngày hai mươi tám tết nào cũng vậy, mọi người quanh phố Bần lại thấy một ông già với chiếc xe đạp tồng tộc, lặn lội về cái xóm trại heo hút giữa đồng không. Ông về đều đặn, kể cả những ngày mưa giông. Cả xóm biết ông là cha cô hàng xén. Cha con lạc nhau trong chiến tranh. Rồi ít lâu sau, phố chợ vắng bóng cô. Bạn chợ không thấy cô bán hàng. Có người bảo gặp cô dạy học ở đâu đó, mãi tận xóm Ðầm Xa, cách trại của mẹ con cô hai quãng đồng.

Riêng với giáo sư Phước thì câu chuyện vẫn còn được giữ kín. Cả ông và người con gái đều phấp phỏng chờ đợi một điều gì đó . Hối thúc. Lo âu. Trĩu nặng. Mơ hồ .

Rồi bỗng bặt đi rất lâu không ai thấy bóng ông già về xóm trại. Mãi sau mới có người bảo ông đã qua đời sau một cơn đau tim. Hôm tiễn đưa ông, người ta thấy một thiếu phụ, dường như không ai quen biết, dắt đứa con trai, lặng lẽ xen trong dòng người bước sau linh cữu. Cả hai mẹ con đều không chít khăn tang mà chỉ cài kín đáo một dải băng đen khiêm nhường trước ngực. Ông mất năm 1972, sáu năm sau khi cha con ông tìm lại được nhau.

Tháng năm cứ trải dài phẳng lặng không gợn buồn vui. Làng bến sông ngày xưa xa vời vợi. Nơi ấy có một người mẹ yên nghỉ trong đồng ngô ngút ngàn gió lộng. Sông Trà Lý hững hờ buông những cánh bèo hoa tím trôi giạt theo dòng.




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0


Trinh nguyên

Hàn Nguyệt

Chị xắn quần. Chị xắn quần khéo như người cuốn bánh. Chân chị vẫn còn trắng lắm, trắng đến xót xa. Chị đặt chân phải xuống ruộng, lớp bùn nâu thẫm phún lên kẽ chân. Cảm giác lành lạnh chạy dọc theo chân phải. Chị rùng mình. Cái cuốc con lưỡi chỉ to hơn môi múc canh rơi chỏm xuống ruộng. ấy chết, gãy mất hai nhánh lúa. Chị vội nhặt cuốc lên. Tay phải thấm nước, lạnh rờn rợn lên vùng ngực. Chị ôm lấy ngực theo phản xạ tự nhiên. Ngực chị đầy chặt tay. Chị mỉm cười cúi xuống. Vớ vẩn. Ruộng vẫn nguyên cỏ, làm kẻo trưa.

Nắng bắt đầu lên. Tháng giêng nắng nhạt, lẫn bụi sương, rủ rê trên da thịt. Cái cuốc con đẩy lui thoăn thoắt trong tay chị. Một mình có ba sào lúa với hai sào khoai, chăn nuôi gà, đàn lợn nái cũng mướt mồ hồi. ¡n một mình đau tức, làm một mình cực thân. Số chị đã vậy, đành chịu.

Chị thấy nhồn nhột đằng sau gáy. Có ai đó đang nhìn mình. Nắng chếch đổ một chiếc bóng dài xuống ruộng, những gợn sóng làm cho chiếc bóng ngùng ngoằng. Chị dừng tay. Ðúng ông ta. Người cao lớn vòm ngực nở, mắt hơi xếch, ông ta như một kẻ sơn tràng. Cục mịch mà mạnh mẽ. Chính cái đôi mắt xếch với tia nhìn dữ dội ấy làm chị khó chịu đằng sau gáy. Chị cố tình không quay mình. Cái cuốc con tiếp tục động đậy.

- Thím Thư, tôi có chuyện.

- ủa anh Hải. Chuyện chi mà trái đường trái gió rứa.

- Là... cũng chuyện quan trọng. - Ông Hải nhè nhẹ đặt cày xuống đất, xắm rắm lựa thế ngồi - Thím nghỉ tay lên bờ tôi nói rõ.

Ai thấy thì chết. Chị ngượng nghịu dúi dúi cây cuốc.

- Thôi trưa về nhà hãy nói. Ruộng còn ngồn ngộn cả cỏ. Anh thông cảm.

- Không, thím Thư, là tôi muốn nói cái chuyện mộ chú Ngộ ấy mà. Tiện đây gặp thím, tôi cũng không có ý tìm.

Rứa thì được. Thanh thiên bạch nhật. Mình cứ thói xấu hổ đa nghi, trách gì già rồi như kẻ nít.

- Dạ để tôi rửa tay.

Ông Hải bảo hồi này Nhà nước quan tâm đến chính sách thương binh liệt sĩ. Mộ chồng chị đừng nên để mãi trong vườn nhà. Nghĩa trang liệt sĩ ta đẹp, vừa rồi mới được tôn tạo, nên để xã đưa chú ấy vào nghĩa trang, ở vườn nhà chị chăm sóc chu đáo đấy nhưng chú ấy không có đồng đội, cô đơn.

- Rứa là anh muốn để tôi cô đơn? - Chị rơm rớm nước mắt.

- ờ... mà... ý tôi là như các anh trên xã. Còn thím thì... để mấy sào khoai tôi cày luôn thể, thím tự làm cực quá.

Chị quẹt nước mắt, bùn ở tay áo dính một chút vào đuôi mày. Ông Hải định gạt vệt bùn cho chị nhưng ông đã rụt tay lại. Gương mặt nồng nàn nhưng trầm uất của chị khiến ông không nỡ đụng vào. Ông Hải bứt vài ngọn cỏ, bập bập vào hàm răng chắc rịt:

- Việc cày bừa của nhà tôi chỉ một mình tôi lo thừa sức. Chỉ tội cho hai đứa con gái, phần lo học hành, phần lo vườn tược. Thím thì chẳng chịu làm bạn với tôi. Ông Hải dặng hắng - Thím có mang nước theo không?

Chị giật mình:

- Dạ. Dạ, có.

Nước lá nấu sôi kỹ, cho vào bi đông ủ trong bọc vải, quá nửa buổi nước vẫn còn ấm. Chị thận trọng rót nước ra nắp bi đông mời ông Hải. Mỗi nắp bi đông vừa vặn một ngụm. Nước lá chị nấu uống thơm tận tóc.

Ông Hải chép miệng:

- Ngon. Thiệt tình thím nấu nước lá ngon nhất xóm.

Quê chị lắm đồi trọc, lúp xúp cây, đa phần là sim mua, thảo mộc. Trưa đúng ngọ lên đồi bẻ lá, lá vối, lá vằng, lá hón, lá bướm bạc, lá ngấy, bông trang rừng... phơi khô, nấu kỹ, đi biệt chân trời vẫn còn lẩn quẩn mùi nước lá trên môi.

"Bọn mất gốc mới uống nước trà. Trà móc câu, trà Thái, trà nhài, trà sen, trà gì cũng đậm lưỡi nhưng chẳng có thức uống gì vừa bổ dưỡng vừa đậm đà hương vị bản xứ như nước lá". ấy là chị nghe lỏm chuyện của ông giáo Phùng với tay kỹ sư nông nghiệp buổi tối chị gánh nước qua.

Chị đặt bi đông nước xuống cỏ:

- Anh Hải à. Ơn anh tôi còn mang nặng lắm. Anh khuyên gì, bảo gì tôi cũng cúi dạ, riêng chuyện mộ anh Ngọ, anh cứ nói thẳng với mấy ông trên xã đừng đụng đậy làm chi. Sinh có nguồn, thác có cội, anh Ngọ ở trong đất đai cha mẹ tổ tiên là tốt lắm rồi.

- Thím Thư, hai mươi mấy năm rồi thím đày đọa thân. Tôi thiệt bụng thương thím. Nếu thím gật đầu thì trầu cau vẫn chưa muộn. Tôi có ý...

- Thôi anh Hải. ủa nắng lên lửng ngọn cây vối. Anh về kẻo thiên hạ nhòm ngó. Ruộng vẫn còn ngộn cả cỏ, anh thông cảm.

Chị lật đật xuống ruộng. Chị xắn quần vội như người cuốn bánh bị khách giục. Ông Hải lắc đầu, uể oải nhấc cày lên vai. Ông cười thảm hại.

Ông Hải vác cày đi chông chênh trên bờ ruộng. Chị cảm thấy rõ lúc này chiếc cày quá nặng với sức lực vốn rất cường tráng của ông. Mái tóc ông còn đen dày hơn tuổi năm mươi ba. Ông Hải đẹp hơn chồng chị nhiều. Chồng chị ngày xưa lỏng khỏng, ai nói gì cũng rụt cổ cười. Nhưng chồng chị có tài ép hoa thị thơm lâu đến mê muội cả đám con gái mấy làng thung. Mớ hỗn độn ký ức lẫn với những cảm xúc hiện tại làm chị nhói đau. Chị ôm ngực ho húng hắng rồi lệt xệt dần vào bờ. Chị ngồi phệt xuống mép ruộng, thõng chân xuống nước. Thế là quá buổi sáng. Thế là quá nửa đời người. Chị khép đôi mi rợp cho hai giọt nước mắt lăn khẽ qua.

Ngày chị lấy chồng, chỉ có mẹ vui. Ngày ấy chị có hai mươi tuổi lẻ. Cha mẹ chị chỉ có mỗi mình chị. Cấy lúa ruộng trũng, trồng khoai đất đồi, dăm bảy cây mít cây dứa đủ để nuôi chị lớn. Da hồng rựng, tóc dày mượt, đôi mi rợp buồn. "Ngữ ấy hồng nhan bạc phận" - mấy mệ bà chằng tụm đầu dè bỉu chị. Chị đẹp ngời ngợi ở tuổi mười chín, đôi mươi, điều đó khiến thằng cha thợ rèn khó tính nhất làng cũng phải thừa nhận. Trời còn cho chị một cái đẹp hiếm có: gót chân son. Cha chị gót chân chai sần, đi rừng không cần dép. Chân mẹ chị nứt nẻ, ra đồng mùa nắng khó phân biệt đường nứt ruộng với đường nứt chân. Gót chân chị đỏ hồng, mịn bóng hơn cả da mặt. Chân đất lội bùn, đạp đồi đào củ, hái rau, từ bé cho đến tuổi lấy chồng gót chân chị không hề có vết rạn nhỏ. Chị yêu gót chân chị lắm. Mỗi tối sau khi rau heo cháo chó chu tròn, chị ngồi lên giường nắn nắn gót chân. "Mình nghèo chẳng có gì cũng được đôi gót chân son" - Chị cười an ủi.

Tưởng chẳng ai chú ý đến đôi gót chân ngà ngọc của chị, nào ngờ anh chàng Ngọ làng bên phát hiện ra. Ngọ là con út ông bà Liên, hai vợ chồng bác sĩ duy nhất của cả ba làng.

Những năm ấy trai gái rậm rực vào dân quân du kích. Ngày cày ruộng cuốc rẫy, đêm tập trận bày bố kế hoạch đánh đấm không khí bùng bục như rượu nén. Chị vào du kích làng Thung Thượng, Ngọ du kích làng Thung Hạ. Một đêm vào cuối năm 1971, tiểu đội du kích của chị và tiểu đội của Ngọ được phân công đi dò đường lên cứ điểm địch ở Ðầu Mầu. Ði từ tám giờ tối, lần theo núi, đồi, khe, suối, khi trở về thì trời đã rạng. Chị thấm mệt, bấu vào vai Ngọ để vượt suối La La. Ðôi mắt tinh anh của Ngọ đã phát hiện ra đôi gót chân hồng ửng như táo chín. Ngọ mê gót chân chị. Bà Liên giục chồng hỏi vợ cho con.

Cha chị chưa muốn gả con. Nó còn dại quá, tội nghiệp. Nhưng mẹ chị mừng lắm, lấy được con trai gia đình thầy thuốc duy nhất trong vùng, trái gió trở trời cũng đỡ lo, lại gia đình cách mạng, tốt quá, phúc quá.

Những tháng sau Tết 1972, ngòi cháy của cuộc chiến tranh sắp đến độ bùng nổ. Hình như ai cũng linh cảm được điều đó. Ðám cưới chị buồn tẻ, vội vã, đầy những âu lo. Chỉ có mẹ chị vui như tất cả các mẹ nông thôn Việt Nam gả được con gái không còn lo ế ẩm.

Ðêm tân hôn. Chị khổ sở ngượng ngập vì đúng ngày kiêng trong tháng. Ngọ rụt cổ cười, hai đứa bẽn lẽn như trẻ chơi đồ hàng bị hỏng. Chị hôn Ngọ rất lâu, để bù lại những cái hôn vội vàng đêm trăng tập trận, bù lại sự rủi ro của chu kỳ con gái rơi đúng vào đêm ngọc ngậm hoa cười.

Cưới nhau được hai ngày. Cuộc tổng tấn công bùng lên. Cả vùng bờ nam sông Bến Hải ầm ầm trong bão đạn. Ngọ nhận lệnh theo tốp giao liên dẫn bộ đội chủ lực đánh chiếm cứ điểm Ðầu Mầu. Ðó là ngày mùng hai tháng tư năm bảy mươi hai. Chị nghe tin báo nhận xác chồng. Ông bà Liên đau đớn mất con nhưng lẫn cả niềm tự hào, nó đã hoàn thành nhiệm vụ. Hôm đó. Gio Linh, Cam Lộ chấp chới cờ đỏ sao vàng, chị đeo tang chồng, ôm gót chân khóc không thành tiếng.

Chị ở với cha mẹ chồng ba năm nữa thì anh Thìn, anh trai cả của Ngọ về. Anh Thìn là đại tá, chị vợ thượng úy. Anh chị cất được ngôi nhà khang trang ở phố huyện, mời cha mẹ cùng ở. Chị một mình với ngôi mộ chồng côi cút cho đến tận bây giờ.

Chị cũng không ngờ mình nguyên vẹn cho đến lúc này. Chị đã yêu chồng biết bao nhiêu. Ngọ cao mảnh, da trắng, miệng nói có duyên. Khi Ngọ nói, chị muốn uống từng tiếng. Ngọ yêu chị lắm. Ngọ ép rất nhiều hoa tặng chị. Nhiều khi tập trận, Ngọ giấu theo một gói hoa thị ép khô. Mãn buổi tập, hai đứa lại lên đồi sim, Ngọ rải hoa thị lên tóc chị, lên môi chị, bỏ vào ngực áo chị. Thơm. Thơm ngất cả đồi trăng. Thế mà bao giờ Ngọ hôn chị cũng vội vàng: "Về nhé, bảo đảm sức khỏe mai đi tập. Khi nào hai đứa cưới nhau..." Chao ôi. Vậy mà cả ngay một lần làm vợ chị cũng không có được. Nhiều đêm nghĩ miên man, chị bóp gót chân đến buốt mà không biết.

Hồi mới giải phóng, chị suýt ngã lòng. ấy là vì cái anh chàng hạ sỹ Mận ở tiểu đoàn 17 đóng quân gần làng chị. Mận quê ở Bắc Ninh, hát quan họ ngọt mướt, miệng hát duyên hết rớt lưỡi hái. Mỗi lần chị đi gặt, Mận đòi làm "dân vận", gặt lúa giúp. Lúc đầu chị đuổi khéo, dần dà mê hát, ngồi bệt xuống cỏ quên cả bó lúa, cười đắm đuối. Tình hình đến tai ông bà Liên, bà Liên mắng chị tơi bời. Nào bẽ mặt cha mẹ chồng. Chồng hy sinh chưa hết khó đã lúng liếng. Liệu mà ở cho thơm mặt nhà chồng, thơm mặt vợ liệt sĩ. Chị khóc. Chị tự rủa mình. Chị lặng lẽ ôm gót chân và tự hứa chẳng bao giờ mềm lòng nữa.

Chị tưởng chị sẽ bị cha mẹ chồng cột chặt vào ngôi nhà rường ba gian với ngôi mộ chồng quanh năm hoa cỏ. Ai dè bà Liên có lần đến ở lại thủ thỉ với chị hẳn một đêm. Ðại khái làm thân đàn bà con gái phận mỏng, con còn trẻ tuổi, mẹ tùy con lựa bề tái giá. Bà Liên còn gợi ý có thằng Phi đẹp người tốt nết ở làng Yên Thịnh, dạm ý bà gả con dâu.

Chị sực nhớ. Phi có chiếc xe đạp Thống Nhất, mỗi lần chị đi chợ thường dắt theo. Hỏi: "Sao không đạp xe?", đáp: "Xe hỏng". Phi rất đẹp trai. Mái tóc bồng hay gãi rối lên mỗi khi nhìn chị.

Mấy buổi chiều sau hôm bà Liên thủ thỉ. Chị bồn chồn không yên. Chị nhận ra mình mong Phi, đợi Phi, rồi giả tảng mắng mình vô duyên.

Phi đến thật. Phi mang đến mấy bông hoa giấu trong vạt áo. Phi ít nói, chỉ cười, nụ cười úp mở lời yêu. Chị rót nước, rơi vỡ hết bốn cái cốc. Phi nhặt từng mảnh sứ, vô tình nhặt phải ngón tay chị. Phải đến bảy tám hôm sau chị mới quên được cái vô tình hôm ấy.

Thỉnh thoảng Phi đến, vẫn dắt xe.

- Sao anh không đạp mà dắt cho mỏi?

- Xe hỏng. Thử giúp xem nó hỏng chỗ nào.

- úi dà. Súng các loại hỏng đâu em còn biết cách chữa chứ xe pháo thì em xin hàng.

- Nói đùa. Pháo thì tôi là tay thiện xạ. Hồi lính, xe tăng xe pháo đối với tôi như trò chơi. Hay thật. Xe tăng trườn đồi. Xe tăng lội nước mới khoái, đạn sẵn tha hồ vãi. ấy chết... - Phi bịt miệng không kịp. Anh ta quên mất anh là lính thiết giáp ngụy đang nói chuyện với vợ liệt sĩ.

Chị ôm gót chân tự rủa mình đúng mười lăm hôm. Trời ơi, biết đâu quả đạn của Phi đã cướp đi Ngọ của chị... Phải rồi, hồi giải phóng Phi đi cải tạo, vợ chưa cưới bỏ Phi. Trời ạ, mà sao mẹ chồng ta cũng loạng quạng. Chị oán mình, oán đời rồi khóc, bóp đau nhừ cả gót chân.

Ðêm vùng trung du u u tiếng côn trùng. Thi thoảng lắm vào mùa mưa mới có tiếng ếch nhái, ễnh ương. Ðêm chị thường tắt đèn đi ngủ sớm, nửa khuya lùng bùng dậy dỏng tai nghe tiếng cú, tiếng vạc, tiếng chuột sục sạo. Ðôi khi các cháu nội ông giáo Phùng khóc đêm, nghe hủ hủ rồi nhòa hẳn vào tiếng đêm. Ngôi nhà cha mẹ chồng nhường cho chị ba gian lợp ngói. Ðêm cả ba gian nhà là vương quốc của chuột, gián, thạch sùng, có cả rết và bò cạp. Chị chẳng nỡ đuổi chúng. Ðêm quạnh quẽ, quan sát chúng đỡ cô đơn.

Khổ sở nhất là những đêm trăng sáng. Trăng trung du độc địa, sáng vặc như soi tận nơi sâu kín của người ta. Vại nước đầy trăng. Chị vục nước tắm, trăng vỡ ra xõa lên mình chị. Trăng trung du trần truồng rất khó chịu. Tàu lá chuối gợi tình, phẩy phẩy, lấp lóa sáng. Gốc mít lâu năm đen đủi như gã đàn ông rình rập, dòm ngó chị. Chị cười khẩy, chẳng có ai cả, ai mà rỗi hơi.

Chị cẩn thận kỳ cọ, dù biết chẳng có gì để kỳ cọ. Từ cái cổ tròn, chị lần xuống ngực. Tay chị làm lụng nhiều da tay ram ráp, xoa lên cặp vú căng muốt cứ ngỡ ai đặt tay lên. Vai chị cũng mềm. Ngày xưa Ngọ chỉ mới hôn lên đó. Ngọ chưa hôn vào chỗ nào ngoài môi và vai. Mấy mệ bà chẳng bảo đàn bà sướng nhất là mông, mông nục nạc đàn ông đụng vào như nam châm gặp sắt. Chị chẳng dám sờ tay vào nơi khốn khổ nhất của mình. Nếu phải kỳ cọ, chị dội nước thật nhanh như ma đuổi. Chị ngắm mình rồi ngửa cổ hình dung những điều quái gở. Nếu có ai đó yêu chị, hẳn người ta sẽ xiết lấy chị mà thốt lên, chị là nữ thần, như tượng nữ thần cụt tay chị thấy ở nhà ông giáo. ừ, nếu có ai đó để yêu, chị sẽ làm thế nào nhỉ, ít nhất là xem cặp mông tròn mẩy của chị có phải là nam châm không.

Mùa trăng trung du dài. Chị hao mòn đi chút ít và đôi mi rợp thấp hơn.

Một đêm vào cuối mùa trăng, trời se lạnh, chị tắm táp vội vã. Chưa kịp mặc áo, chị bắn người vì hai bàn tay sắt quắp lấy chị. Một thân thể nóng rực như lò than áp vào. Chị chỉ kịp hét lên: "Bác Phùng ơi, cứu cháu", thì bị đè vật xuống. Gã sờ soạng, gã tìm miệng chị để bịt lại. Một tay gã tìm nơi khốn khổ nhất đời chị, gã thở như lợn bị trói. Nhưng trời cho chị sức lực đạp đổ cả cây vối chặt nửa. Gã đàn ông đen nhẻm lòng khòng, tay chân cứng như nạng sắt bị chị xô bật, văng ra đám nhầy chỗ vại nước. Chùm bầu khô rơi loảng xoảng.

Gã đàn ông biến vào vạt chuối.

Ông giáo Phùng vác gậy lạt xạt băng qua vườn.

- Trộm hử?

- Dạ. Dạ không. - Chị khép vạt áo - Thằng Thỉ thợ rèn bác ạ.

- Không sao chứ? Khổ quá! Thằng này phải nhờ ông Hải giã cho một trận mới được.

- Dạ thôi bác, không có sao đâu mà, bác đừng nói gì xấu mặt cháu.

Ông Phùng không nói gì thật. Ông chỉ bảo con Hồng cháu ngoại học lớp bốn sang ngủ đêm với chị. Con Hồng tính rụt rè nhưng chăm đọc sách. Có lần đọc sách xong nó bảo:

- Dì Thư sao không lấy bác Hải? Bác Hải coi bộ thương dì lắm.

- úi dà. Hồng muốn dì Thư thành mụ dì ghẻ trong chuyện Tấm Cám đó hử?

- Eo! Vậy thì thôi. Làm dì ghẻ chán chết, dì ha.

Con Hồng ngủ, mặt nó phảng phất cười, chị nắn nắn gót chân không ngủ được.

Cây vối đơn độc đầu bờ ruộng hồi bom đạn sạt tận gốc. Hai mươi mấy năm chồi khẳng khiu cao dần. Lá của nó đủ chị hái uống suốt đời. Mùi vị nước lá uống không tả được, chỉ thấy ngan ngát nhẹ bẫng cả mặt, cả đầu. Nước lá chị nấu, có một người biết là nó ngon đến mềm môi. Ông Hải. Ông Hải là trung đội trưởng du kích hồi ấy, ông Hải xót Ngọ lắm. Ông Hải cũng thương chị. Ban đầu ông thương như một người anh cả thương đứa em út bạc mệnh. Rồi ông cũng không cắt nghĩa được sự quyến luyến của ông. Hình như. Mà phải. Ông yêu chị. Vợ ông hiền thục, sinh hạ được hai cô con gái rồi chết trong lần sinh thứ ba. Vợ ông to khỏe, có thai chín tháng vẫn đi chặt củi, đốt than. Sinh con to quá, trạm xá xã dốt nát, uể oải chẳng ai giúp chị kéo được đứa con trong bụng ra. Vợ ông chết, đứa con thứ ba chưa sống được một giờ cũng chết. Ông thành người bất hạnh.

Ông Hải là người hay mộng mị. Suốt nhiều năm rồi ông ít mơ thấy vợ, chẳng mơ thấy gã thợ rèn khó tính thường cãi nhau với ông vì rèn rựa chóng cùn, ông chỉ mơ thấy chị. Chị đẹp quá, nồng nàn quá. Ngọn đèn leo lét nhà chị bao giờ cũng tắt khi bầy lợn không còn kêu in ỉn nữa. Chị một mình nuôi lợn nái, gà bầy, một mình cuốc đất, bó lúa, sảy rơm. Chao ôi. Những việc nặng nề kia, ví như việc sửa lại gian bếp lâu năm mối mọt, lẽ ra lực trai như ông làm mới phải. Ông muốn nói với chị ông yêu cả những nếp nhăn mủi lòng bắt đầu gợn lên đuôi mắt chị. Vậy mà ầm ờ mãi ông chẳng nói được gì.

Cả vụ lúa đông xuân, ông theo dõi năm thửa ruộng cộng bằng ba sào của chị. Vụ này không sâu bệnh, mưa thuận gió hòa.

- Ðược mùa rồi đó anh Hải. Mấy năm ni mưa lũ nhiều, huyện đồng bằng nghe nói có nước cuốn trôi cả trăm ngàn tấn. Mình đây lúa má ít ỏi, dăm bảy tạ được mùa cũng đã mừng húm.

- Thím Thư à. Ruộng thím ruộng tôi chập lại bằng một sức người làm. Thím cứ để chuyện gặt hái cho tôi, ở nhà nấu nước lá cho ngon là được.

- Anh Hải hay đùa. Quá nửa đời tôi có chết cũng đã vừa, huống chi đôi ba sào lúa đâu có nặng nhọc mà anh làm lớn chuyện.

Chị tủm tỉm. Tay chị bó lúa chắc và khéo như tay đàn ông. Chân trái bấm xuống ruộng, chân phải đạp hờ lên bó lúa, dây lạt tre mềm mại "kít" một tiếng khe khẽ. Bó lúa gọn thon như lưng chị. Chị xóc lúa cũng khéo. Tay phải nhấc đòn xóc, xoay một vòng, chị đặt mũi xóc đúng vào giữa tâm bó lúa, nhún một cái, mũi xóc găm qua chạm mặt ruộng. Chị hất bó lúa ngược lên, đặt mũi xóc kia vào bó lúa thứ hai, nhún nhẹ. Gánh lúa vụt bẫng lên vai, không rơi một hạt.

Ông Hải chỉ còn biết lắc đầu. Hai bó lúa vàng rộm nhún nhẩy theo bước chân.

Từ xa vẫn thấy đôi gót chân đỏ hồng của chị đạp lên thảm gai trinh nữ, có cả mùi nước lá theo về dưới chân đồi.

Tháng tư 1997



Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Im lặng

Nguyễn Thi

Tôi đến đây vào lúc đã mờ mất người. Chưa bao giờ tôi gặp ở miền Bắc có những chiều hè dai dẳng, nặng nề như thế. Không khí oi oi không gợn gió, mây phủ hết lớp này đến lớp khác như một tấm mền bông xám ngoét muốn úp lấy thân người, rơi xuống đầu người. Mây che mất ánh sáng và gói tròn không khí lại. Dưới cái mền bông khổng lồ ấy, những con người ngơ ngác nhìn nhau, lo ngại đến một ngày giông bão, đổ vỡ.

Tôi đứng ở bờ sông như phải đội cả khoảng trời nặng nề ấy trên đầu. Từng đống đá sắp được đem đi công trường xếp thẳng hàng ngăn nắp trước mặt. Nước tháng bảy cuộn nhanh như chạy trốn, rủ những đàn bèo bọt, cành cây lũ lượt sợ hãi chạy theo. Bên kia bờ sông, bóng khu nhà quân y viện đen xám lẫn với mầu mây. Một hồi kẻng chiều rên rỉ, xoáy vào không gian, miệng tôi như cắn phải một múi chanh, nhăn mặt lại.

Bước khỏi cổng ngoài bằng nứa quét vôi của quân y viện, tôi nghĩ ngay đến việc minh đi thăm sai giờ giấc. ấy thế nhưng tôi cứ bước, cũng như những ý nghĩ lạ lùng đã thúc đẩy tôi phải đi, ngay từ lúc bước chân lên chuyến ô tô cuối cùng về đây.

Chị y tá nhìn tôi bằng đôi mắt rất tròn, trả lời như thương hại:

- Ðồng chí Hải là người miền Nam phải không? Tiếc cho anh quá.

Linh tính đã báo cho tôi một việc không hay. Có lẽ anh bạn thân của tôi đã được đem đi nơi khác, hay là... Chị y tá nói tiếp:

- Ðồng chí Hải mắc bệnh thần kinh nặng. Anh gặp bây giờ cũng như không. Một ngày lên mấy cơn đập phá. Chúng tôi phải để riêng một nơi để phục vụ.

Sau khi đã khẩn khoản nhờ chị cho nhìn mặt, tôi đi theo cái bóng trắng ấy về mãi gian phòng cuối cùng của quân y viện.

Ngọn đèn dầu được vặn to hơn. ánh sáng vàng không đủ chói nhưng mắt tôi hoa lên. Bạn tôi vừa dứt một cơn điên, không mặc quần áo, đầu ngoẹo sang một bên, nằm lăn trên nền gạch. Người ta phải đắp cho anh một chiếc khăn mặt nhỏ ngang bụng. Hai chân anh phải cột vào hai chiếc vòng sắt để tránh sự hủy hoại thân thể lúc lên cơn. Người anh gầy hẳn, vàng xạm đi như nhuộm phải ánh đèn. Tóc anh nham nhở, nhiều nấc, có lẽ người ta phải khó nhọc lắm mới cắt đi được. Tôi cố hình dung lại con người đã sống chung với tôi mấy năm trước. Ngày tập kết anh còn đi chung chuyến tàu, hay đùa cợt, dám vật nhau cả với những thân hình to lớn của các đồng chí bạn. Con mắt nụ cười của anh bao giờ cũng đến trước với mọi người. Mỗi lần bắt tay, ai cũng phải nhăn mặt lại. Anh hay nháy mắt dơ bộ ngực nở nang của mình ra để xin lỗi và thường gồng lên để thách phụ nữ đấm vào đến đau tay thì thôi. Ngày chia tay ở Sầm Sơn, anh còn chạy theo cả trăm thước, cắn vào bả vai tôi một cái thật chảy máu, bảo rằng kỷ niệm để nhớ lâu.

Ba năm rồi bây giờ mới gặp lại anh ở căn phòng nhỏ hẹp này. Mùi lá gồi mới lợp vừa thơm, vừa mốc quyện với mùi thuốc sát trùng nồng nồng, khó thở. Tất cả đã đổi thay như trải qua một dĩ vãng tàn phá, ghê rợn. Có những mẩu đời trong cuộc sống hòa bình đã thách thức con người ta phải trả giá gấp trăm lần trong chiến tranh. Anh bạn tôi đang lao vào sự thử thách ấy mà anh không thể biết. Trí khôn anh đã mất rồi. Vầng trán thông minh ngày xưa của anh vẫn còn đang như lơ láo nhìn tôi, mắt anh bỗng mở to trừng trừng, môi anh chu ra nhìn mọi người một cách dè bỉu, khinh bỉ, tiếp theo là một tiếng cười khô khốc, nức nở như một đường nẻ của đất hạn vọng lên, rồi tắt hẳn. Anh ngủ dễ dàng như trẻ thơ sau khi đọc truyện thần thoại.

Tôi nghĩ rằng mình cũng sắp sửa lên một cơn điên trong buồng ngực. Cơn điên của một người còn đầy đủ trí khôn. Tôi đến đây để tìm một người bạn có đôi mắt sắc sảo đáng yêu, có một tâm hồn mà nguồn vui tưởng như vô định. Tôi đã từng nghĩ lúc gặp nhau, tha hồ chuyện miền Nam, chuyện lá dừa đọt sắn, chuyện vợ con bè bạn... Tôi sẽ giơ vai cho anh coi vết sẹo anh cắn ngày trước và lúc đi, thế nào cũng được anh tặng thêm vết nữa cho cân đối. Tất cả bây giờ đều ngược lại.

Tiếng một người con gái làm tôi giật mình:

- Anh cũng là người miền Nam đấy à?

Mải nhìn bạn, tôi không thấy chị y tá đã về phòng thường trực lúc nào, bên cạnh tôi, khuất trong bóng tối còn một người con gái nữa. Chị nói tiếp, rõ ràng giọng miền Bắc âm ấm, nhè nhẹ:

- Lắm lúc anh Hải lên cơn, mặt tái xanh, húc đầu vào cửa ầm ầm. Người ngày càng xọm đi. Thấy anh ấy bỏ cơm bỏ cháo tôi cũng chẳng lòng nào mà nuốt được.

- Chị y tá ở đây à?

- Không, tôi là hộ lý, là... công vụ.

- Chị được phân công giúp Hải?

- Vâng.

Chị soi đèn khẽ mở chiếc vòng sắt dưới chân Hải. ánh sáng thu gọn vào khuôn mặt chị. Thu gọn vào hai mắt thì đúng hơn. Ðôi mắt long lanh ươn ướt hình như vừa có ngấn nước. Trên gò má cao cao, nó càng sâu thăm thẳm như đọng ở đấy nhiều đêm nghĩ ngợi. Tóc chị xõa xuống lấp nửa vừng trán, tôi nhìn thấy rõ một vết sẹo dài nằm ngang thái dương. Mái tóc chị càng làm tôi ngạc nhiên, chỉ ngắn như tóc người con trai để dài, chưa che hết gáy. Chị cử động nhanh nhẹn, hơi thở mạnh từng giây đứt đoạn, mệt mỏi. Tất cả đã nói với tôi một con người chịu đựng và đang buồn.

Thấy tôi nhìn, chị sẽ khép tà áo đứt chiếc cúc dưới lại. Tôi biết ý quay đi, hiểu thêm một sự chín chắn nữa trong con người chị.

- Trong lúc lên cơn vừa rồi năm sáu người giữ cũng không được. Mấy người bị toạc cả áo.

Nói xong chị hộ lý lại nhìn Hải, tay quạt cho anh đều đều như đã thành một thói quen. Thấy Hải ngủ say sưa chị thở một hơi dài. Cái thở dài nhẹ nhõm của một người đàn bà vừa qua một thử thách. Tôi hỏi:

- Chị ở đây suốt ngày suốt đêm à?

- Vâng.

- Ðược bao lâu rồi chị?

- Năm tháng.

- Chị có biết tại sao Hải bị điên không?

Tự nhiên tôi thấy hai mắt chị cùng với ngọn đèn nhìn tôi như soi mói. Một lúc lâu chị sẽ quay đi, lắc đầu. Từ lúc ấy chị không nói gì nữa cho tới lúc tôi rời khỏi quân y viện.

Lần ấy là lần thứ nhất tôi gặp Hải từ ngày ra Bắc. Cũng từ đêm ấy tôi giữ mãi hình ảnh một người điên và một người con gái lạ lùng trong đầu.

*
* *

Khi một gã con trai, vì một sự xúc động quá mạnh nào đó, phải để rơi vài giọt nước mắt, thì lập tức sau đó gã sẽ tìm thấy ngay ở mình một sự hèn yếu. Lòng tự ái sẽ làm cho mắt gã nẩy những tia uất ức, gã sẽ lao vào cuộc sống phá cho an những gì làm cho gã thành kẻ yếu hèn. Có lẽ cũng vì thế mà trên trán những gã con trai cứ ngày ngày cứng cỏi, dày dạn hơn, bình tĩnh và trầm lặng hơn, để đến một ngày nào đó, không một cái gì có thể làm hoen được mắt gã nữa.

Lần thứ hai gặp Hải trong câu chuyện ấy.

Tôi trở lại quân y viện vào một sáng mùa đông chớm nắng, không lạnh lắm. Sau mười tháng điều trị, Hải đã khỏi, anh sắp trở về đơn vị.

Chúng tôi ngồi trên đống đá cạnh bờ sông. Hải hút thuốc hết điếu này đến điếu khác. Còn mấy điếu cuối cùng tôi đưa anh cả. Hải nói:

- Bây giờ tôi nghiện thuốc thật sự rồi anh ạ. Chỉ có những lúc quá buồn hay quá vui người ta mới sinh ra hút thuốc. Trên đời này mấy ai bỗng dưng quen với thuốc lá bao giờ.

Tôi hiểu. Ngay lúc mới gặp, tôi đã thấy cái bắt tay, tiếng cười, giọng nói của anh khác ngày tập kết nhiều lắm. Người anh có nhiều thay đổi, duy đôi mắt quầng đen lồ lộ là rõ nét nhất. Hải nói tiếp:

- Bây giờ cũng chẳng giấu anh làm gì. Rồi thì anh sẽ hiểu tại sao tôi không nói với anh trong mấy năm qua. Ðằng nào vợ tôi cũng không còn nữa. Anh là người thứ hai sẽ nghe chuyện đời tôi. Người thứ nhất là người nữ hộ lý anh đã gặp mấy tháng trước. Ðó là việc tình cờ.

Thấy tôi hơi ngạc nhiên, Hải tiếp:

- Những người điên không hợp với sự săn sóc khô khan cứng cỏi của đàn ông, bệnh họ chỉ hợp với bàn tay người đàn bà. Do đó chị ta được phân công phục vụ tôi. Tôi không rõ chị ta bao nhiêu tuổi, chỉ biết chị đã đáng tuổi phải lấy chồng. Chẳng bao giờ tôi được nghe chuyện đời riêng của chị ta, mặc dầu chị ta lại hay hỏi chuyện riêng của tôi tỉ mỉ. Lúc đầu bệnh nhẹ, cả tuần lễ tôi mới lên một cơn. Những chiều tỉnh táo, chúng tôi thường nói chuyện với nhau. Tôi biết chị ta hỏi chuyện riêng để an ủi chữa bệnh cho tôi, nhưng đã hỏi thì tôi cứ nói. Tôi cũng không hiểu chuyện mình có thành một tiếng động, đánh thức một nỗi gì trong lòng chị. Tôi thấy nét mặt chị có nhiều biến đổi. Khi những biến đổi ấy dằn vặt đến lúc không tự chủ được nữa, chị sắp nói đời riêng với tôi thì tôi bị bệnh nặng. Câu chuyện bị cắt đứt từ đấy. Khi khỏi bệnh, tôi không thấy chị đâu nữa. Người ta bảo chị đã đổi đi một quân y viện nào xa lắm.

Hải nhìn vào mắt tôi như đắn đo gởi gắm một điều gì, rồi tiếp:

- Bây giờ anh có thể nghe chuyện riêng của tôi như tôi đã từng kể với chị ta. Từng đoạn anh sẽ hiểu thêm về người hộ lý ấy:

... Năm anh xuống miền Tây công tác, chúng mình chia tay tại Vàm Cỏ Ðông, anh còn nhớ đấy. Chính bên dòng sông ấy sau này tôi đã gặp vợ tôi. Một người con gái không đẹp lắm, không gan dạ như những cô du kích khác nhưng tôi xin bảo đảm là ngoan ngoãn và yêu chồng. Tất nhiên trước khi gặp tôi, cô ấy có quen nhiều người. Tại sao chúng tôi thành vợ chồng, đó là việc khác. Cô ấy làm liên lạc của huyện trong vùng địch hậu. Cứ cách vài đêm tôi lại ra chỗ hẹn gặp cô để lấy gạo, tiền, giấy tờ và nhận thêm một ít... nụ cười. Cái cười nửa miệng chỉ mờ mờ trong ánh trăng, không dám thành tiếng vì đồn giặc bên cạnh, nhưng nó gắn chặt mãi vào mắt tôi. Mỗi lần chia tay, cô đều ghé sát tai tôi, nói nhỏ:

- Em chào hết mấy anh ở nhà nhé!

Mái tóc lòe xòe của cô cọ vào má tôi ngưa ngứa. Tiếng "hết" kéo dài một cách nhũng nhẽo dễ thương, phả một hơi nóng trên má tôi và dần dần chạy khắp cơ thể. Sau này nói chuyện về đàn bà, anh thấy tôi xoa tay lên má là do đấy. Không hiểu sao chỉ một hơi thở nhẹ mà đàn bà họ cũng chinh phục ngay được những thằng con trai như mình.

Thế rồi chúng tôi yêu nhau. Suốt một năm trời tôi chỉ được ngắm khuôn mặt và nụ cười người yêu qua bóng trăng. Nói chuyện bằng chữ nhiều hơn bằng lời. Bóng đêm lúc ấy đối với tôi là chiến thắng và hạnh phúc.

Dắt nhau về vùng căn cứ làm lễ cưới xong, chúng tôi lại trở về vùng địch hậu. Vợ tôi cất một quán nhỏ bán trà thuốc ở ven sông, cách xa xóm để tiện đường liên lạc với tôi và trên huyện. Tuổi trẻ thà chưa bước vào yêu, khi đã phải nếm mùi, lúc nào tôi cũng như người khát nước. Cuộc đời, xin thú thật, nó thu gọn chỉ trong một người đàn bà. Chiến trường ngày càng găng. Mấy tháng trời tôi mới mò mẫm về thăm được vài giờ rồi đi. Mỗi lần đi tôi lại mang ít đồ về cho anh em, và không bao giờ quên cái cảm giác hơi âm ấm và cảm giác ngưa ngứa trên da mặt. à, hình như tôi chưa bao giờ thấy vợ tôi khóc. Trước mặt tôi chỉ toàn là động viên, cười tươi như hoa, coi bộ cứng rắn lắm, nhưng nhìn trong mắt, tôi biết cô ta còn để dành nước mắt. Lát nữa tôi đi, tha hồ úp mặt xuống giường. Những đau khổ trong lòng cũng như ngoài thể xác chẳng bao giờ người đàn bà tốt nết lại dễ dàng thổ lộ với chồng anh ạ.

Ðêm ấy, trên đường công tác trở về, tiện đường tôi được phép ghé nhà. Trời không mây nhưng sao cũng biến mất. Bóng tối lành lạnh vùng địch hậu không một ánh đèn làm người không quen đến rợn người.

Tới nhà, tôi làm ám hiệu mấy lần vợ tôi vẫn chưa ra mở cửa. Lúc ấy tôi không tin đã có chuyện gì xảy ra, cũng như trước đây tôi rất ít nghĩ đến. Tình yêu và tuổi trẻ đã làm tôi nhìn đời băng cái thế bách chiến bách thắng, hai mắt mình chẳng còn kẽ hở nào để lọt vào được vài mất mát đau xót. Tôi yên trí gọi ám hiệu.

Một lúc lâu lắm, cánh cửa khẽ hé ra dè dặt. Một tiếng nói khẽ, hoảng hốt, ướt những nước mắt:

- Anh mới về...

Vợ tôi hiện ra và khóc mùi. Tôi chỉ còn biết giương to mắt nhìn một việc mà mình cho là hết sức mới lạ. Qua bóng tối, nước mắt người đàn bà lần đầu tiên trở thành mũi dao nhọn nhay cứa vào tim tôi. Tất nhiên tình thương đến với tôi trước nhứt. Tôi ước ao được chịu thay cho vợ mình những đau khổ gì gì ấy.

Nửa đêm ấy tôi đã biết rõ mọi việc. Ai ngờ thủ phạm lại chính là thằng Lộc, bạn tôi. Trước kia vợ tôi còn con gái, nó đã say mê theo sát hàng năm. Nhưng đôi mắt hay đảo ngược của nó không ai có thể ưng ý được. Hôm trước, vì thân tình cùng đơn vị, tôi đã dẫn nó ghé nhà chơi một bận. Ðêm ấy vợ tôi đã nấu cháo gà, bưng tới mời tận miệng nó. Không ngờ trong những ngày tôi đi công tác vắng, đêm vừa qua nó mò về. Nó nói dối tôi chết rồi. Chết bỏ xác trong lúc nghiên cứu giữa đồn giặc. Vợ tôi như một con gà giẫy chết, lăn lộn trên giường, chỉ ấm ứ trong miệng không dám khóc to. Nó đưa cái đồng hồ mới ăn cắp của tôi cho vợ tôi coi để làm tin. Tỏ lòng thương hại xong, tất nhiên nó thi hành ngón sở trường của nó. Gạ gẫm dụ dỗ mãi không được, nó dở tới cái sức mạnh của một thằng đàn ông. Anh coi, một tên lưng rộng như một thớt trâu đang mang một sự thèm muốn cuồng dại, đối với một người đàn bà suốt đời hai tay chỉ cầm nổi hai mái chèo làm ăn ở ven sông, thì anh đã hiểu câu chuyện nó xảy ra như thế nào...

Nghe vợ nói đến đấy, máu trong người tôi như dồn hết lên mặt, tay run lên, tôi xách cây tiểu liên bước ra cửa. Phải gặp nó ngay đêm nay và nếu cần, tôi sẽ dành cho nó một băng vào giữa ngực. Mắt tôi đỏ ngầu như con thú bị đạn. Tôi vừa bị mất một cái gì quá lớn: một cánh tay, một bàn chân hay một trái bom từ trên cao rơi xuống giữa đỉnh đầu. Nhưng không hiểu sao, lại đàn bà, tiếng khóc của người đàn bà nhọn như mũi dao giữ chân tôi lại. Tôi trở vào với hai con mắt nhìn kẻ tình địch. Trước mặt tôi đang hiện rõ ràng một thằng Lộc không sai một nét. Tôi bước tới sau lưng vợ tôi, giọng nghiến ngấu giữa hai hàm răng:

- Nó đã làm gì được cô chưa?

Vợ tôi không trả lời, càng khóc to hơn. Tôi vẫn chưa dám tin và mong cái "việc" ấy đừng đến. Giọng tôi rít lại, điên dại:

- Nó đã làm gì được chưa?!

Vợ tôi lại nức nở... nức nở... Tiếng khóc đã cho tôi biết sự thực tàn nhẫn ấy. Mắt tôi nhắm lại, một cái tát rất mạnh, rất gọn in trên má vợ tôi.

Việc thân thể vợ tôi bị xâm phạm có lẽ không làm tôi khổ bằng cái tát này anh ạ. Mãi mãi về sau tôi sẽ nói với người còn sống như thế nào để chuộc lại tội lỗi ấy. Lúc giơ tay lên, tôi cũng không hiểu mình đánh để làm gì. Chỉ loáng thoáng thấy vợ tôi đáng ghét, tiếng khóc như một lũ yêu ma, đĩ thõa. Nhưng khi tát xong, cô ta chúi vào tường, tiếng khóc bị câm lặng ri rỉ trong miệng, người tôi mềm ta, chân đứng không vững nữa. Khi tình thương trở lại, tôi mới bắt đầu hiểu được cái đức tính nhịn nhục yêu chồng vô giá của người đàn bà. Tại sao những đau khổ nhỏ nhặt khác họ thà chịu đựng một mình, không hề hé răng với chồng, nhưng những đau khổ lớn người ta dám nói thật ngay với mình. Rõ ràng mong tìm ở mình một sự che chở chứ không phải cái thái độ như tôi.

Lúc bị cưỡng ép, vợ tôi có thể la lên một tiếng là giặc sẽ ập lại ngay. Người bị bắt nhất định phải là thằng Lộc. Nhưng cô ta không muốn làm như thế. Thằng Lộc là một trinh sát giỏi, liều lĩnh, gan dạ. Bọn giặc gọi nó là mèo rừng. Bao nhiêu lô cốt khó khăn nguy hiểm, nó đều mò vào đặt mìn được. Giặc chết nhiều, uy tín của nó càng lớn. Ban chỉ huy tiểu đoàn coi nó như con cưng. Nhân dân tôn sùng nó như đấng thánh thần. Mất nó như mất cánh tay mặt của đơn vị, mất sức che chở thiêng liêng của đồng bào. Vợ tôi vừa sợ vừa không nỡ để nó bị bắt. Ðể nó mất đi là mất một người đắc lực cho cơ sở. Không chịu được tra tấn biết đâu nó chẳng làm hại cho bao người khác. Những ý nghĩ ấy làm cho vợ tôi cắn răng, im lặng chống trả với nó. Chửi bới chán rồi van lạy nó, mong nó hồi tâm. Cho đến khi quần áo, đầu bị đập vào tường đau quá, mệt lả đi, thằng Lộc mới được tự do làm cái việc khốn kiếp của nó.

Ðêm sau tôi về đơn vị. Vợ tôi tha chết cho nó nhưng tại sao tôi lại không thể tha chết cho nó được? ý nghĩ ấy dằn vặt tôi suốt dọc đường, ngay cả lúc nói chuyện với đồng chí bí thư. Không, vợ tôi không phải là nạn nhân chính, chính tôi mới là nạn nhân chính. Tôi xin phép nói thẳng với đồng chí bí thư, tôi đã để dành cho nó một băng đạn. Nhớ lúc đi, vợ tôi run run van tôi đừng nóng. Tôi nghĩ ngay đến chuyện cô ta che chở cho nó. Mắt tôi ngùn ngụt lửa. May sao vợ tôi đã giúp cho tôi qua một tội lỗi nữa, cô ta lùi ra xa, nếu không một cái tát khác đã đến rồi.

Ðồng chí bí thư nói chuyện với tôi suốt đêm tới sáng. Cuối cùng, trước sau tôi cũng phải làm như vợ tôi, không còn con đường nào khác. Ðêm mai chúng tôi đã phải đi hạ một đồn lớn. Nếu vắng thằng Lộc không ai kịp đảm nhiệm phá lô cốt chính. Không thắng trận này cả huyện quê tôi sẽ hỏng chương trình phối hợp, công lao chuẩn bị cả năm sẽ toi công. Chính vợ tôi cũng lặn lội bao lâu để đổi lấy chiến thắng này.

Cả ngày hôm sau tôi tránh không gặp nó. Nó yên trí tôi đi công tác về chưa biết gì, nên vẫn nghiêng nghiêng nhìn mọi người bằng nửa đuôi mắt. Suốt ngày tôi ngậm sự im lặng trong lòng như mang một mụn nhọt đã cương lên không được nặn. Mấy lần lời nói đưa ra tới miệng, lại uốn lưỡi nuốt vào. Do đó, sự cắn răng chống trả với thằng Lộc của vợ tôi đã làm tôi mến phục đến khiếp.

Tối hôm ấy đang hành quân đi đánh đồn, bỗng nhiên chúng tôi bị giặc phục kích giữa đường, bắn dữ dội. Cả cuộc tấn công đồn bị lộ. Thì ra thằng Lộc đã trốn về với giặc. Bọn phòng nhì đã lợi dụng được nó trong hàng ngũ chúng tôi từ bao giờ. Cái kiêu ngạo và sự được trọng vọng quá trớn đã làm nó sa ngã. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao nó dám liều lĩnh cưỡng ép một người vợ bạn nó.

Lập tức đêm ấy tôi xin về thăm nhà đồng thời chuyển trạm liên lạc của vợ tôi đi nơi khác. Tới nơi, vợ tôi lại ôm chặt lấy tôi, khóc nức nở như vừa qua một sự khủng khiếp. Quần áo rách tả tơi, trên thái dương một giọt máu ri rỉ chảy. Hồi nãy thằng Lộc lại mò tới. Trên đường ra đồn giặc, nó ghé lại đây để gỡ gạc lần cuối. Vợ tôi vẫn cắn răng chống trả quyết liệt. Cái tát của tôi như còn nóng hổi trên má. Nhứt là lời tôi nói đêm qua, câu nói mà vợ tôi bảo sẽ nhớ mãi trọn đời không bao giờ quên được: "Em hãy bảo vệ tình yêu như bảo vệ sinh mạng của mình. Thà chết còn hơn chịu nhục". Không, vợ tôi không bao giờ chịu nhục. Hôm trước bị thua nó vì muốn bảo vệ cho kháng chiến còn một người trinh sát giỏi. Câu nói ấy ở một người nóng nẩy, thiếu suy nghĩ như tôi, nhưng đêm nay đã làm vợ tôi tăng sức chống trả. Cô ta đã lấy dao chém lại nó, chạy thoát được ra ngoài, vẫn không hề hé răng một tiếng. Anh coi, sự im lặng của một người đàn bà.

Nghe vợ nói lại, tôi vừa tức vừa mừng. Từ lúc ấy tôi càng thấy yên trí, sung sướng với câu nói chí tình ấy của mình. Tôi tin lời tôi như con bồ câu tin hạt thóc vàng trước mặt. Nhưng cuộc đời cứ tạm như vậy cả, có lẽ tôi đã không ra thế này.

*
* *

Hải ngừng kể. Trong khuôn mặt chỉ có đôi mắt anh hơi biến sắc. Nó vụt lóe lên rồi nheo lại như vừa chạm phải một tia sáng quá mạnh. Một lúc, Hải nói:

... - Anh đừng vội cho tôi không xứng đáng làm chồng. Với lòng yêu vợ không bao giờ tôi có thể quên tội lỗi của tôi. Nhưng trước đây, chị hộ lý trong quân y viện này lại hiểu khác. Tôi đã kể cho chị ta nghe đoạn trên đây vào hai buổi chiều liền nhau. Khi mặt trời xuống đỏ dãy núi đằng kia, chúng tôi cũng thường ngồi nhìn ra quãng sông này nói chuyện. Làm sao mà đọc được tâm tư của người con gái khó hiểu này. Khi nghe vợ chồng tôi yêu nhau, chỉ nhìn nhau qua ánh trăng, mắt chị cũng tự nhiên sáng lên óng ánh. Nhưng chỉ được một lúc người chị lại rũ xuống. Nụ cười vẫn động viên tôi tắt hẳn. Chị cố giữ kín đáo nhưng dù sao cũng là sự kín đáo của đàn bà, chỉ đến tối tôi đã thấy hai mắt chị sưng lên. Tôi nghĩ rằng mình đã làm điều gì có lỗi. Chiều hôm sau tôi ngỏ ý ấy, chị gạt ngay đi. Yên trí, tôi lại tiếp tục kể. Lúc tôi kể đến đoạn vợ tôi bị cưỡng hiếp, mặt chị bỗng co lại, gò má nhô lên, tia mắt ánh lên một điều gì kinh khủng. Một hình ảnh khác ghê tởm hơn những sự cưỡng hiếp đã hiện ra trước mắt chị chăng? Khuôn mặt ấy cứ giữ như thế cho tới khi vợ tôi bị tôi tát chị bỗng nhìn thẳng vào mặt tôi như soi mói. ánh mặt trời từ trên ngọn núi rơi trong mắt chị vài tia lửa đỏ, mặt tôi cũng bỗng cảm thấy từng vết nong nóng như bị đôi mắt kia in vào. Bắt đầu từ hôm ấy, chị không nói chuyện với tôi nữa. Ðôi lúc chị cố khuyên tôi một cách bâng quơ, ngây ngô như nói trong quãng trống:

- Anh làm sao cho mau khỏe mạnh kẻo tội nghiệp chị ấy ở miền Nam...

Chị bưng cơm tới cho tôi rồi đi, không ngồi quạt như mọi khi. Một buổi sáng chị mang tới cho tôi phích nước đầy. Không hiểu tôi chưa cầm hay chị vội quay đi, cái phích rơi xuống đất nổ tung. Chiều hôm ấy chị mua về đền quân y cái phích mới hơn vạn đồng. Anh biết đấy, lương tháng người hộ lý vừa hơn hai vạn.

Nhưng một tuần sau chị lại đến với tôi bằng nụ cười như cũ. Bệnh tôi vẫn chưa bớt đỡ chút nào, cách năm sáu ngày lại lên một cơn. Chị an ủi tôi như một cái máy làm nhiệm vụ chữa bệnh. Cái máy có đôi mắt rất buồn và khó hiểu. Dù sao tôi cũng cảm thấy có một bàn tay trìu mến. Những lời an ủi của người con gái vẫn ngọt như chùm nhãn ngày hè. Nể lòng chị, tôi lại kể tiếp câu chuyện của mình...

*
* *





... Từ khi thằng Lộc theo giặc, cơ sở bị lộ, vợ tôi phải chuyển công tác. Chúng tôi xa nhau từ đấy. Ngày tập kết, vợ tôi mới có dịp xuống thăm tôi. Nửa tháng trời sống chung với nhau tại Cao Lãnh, đó là lần gần nhau lâu nhứt kể từ khi cưới. Nụ cười cửa miệng qua ánh trăng bây giờ tôi mới được ngắm rõ nét giữa ban ngày. Lần đầu tiên chúng được tự do trao đổi thoải mái. Ðêm đêm nằm gần nhau tôi ao ước có một đứa con gởi lại miền Nam trong lúc mình tạm thời ra Bắc. Vợ tôi chỉ đỏ mặt cắn vào vai tôi im lặng. Hình như đã từ lâu cô ta muốn có con hơn cả tôi. Tôi tin tưởng ngày về vợ tôi sẽ trao cho tôi bồng một đứa con gái rất giống má nó, có đôi mắt nâu nâu, đôi môi nho nhỏ hay chu ra và lấm tấm mồ hôi những lúc buồn. Mái tóc mai của nó cũng lòa xòa trên mặt, biết đâu lúc lớn lên nó chẳng làm ngứa má một người con trai nào khác. Vì thế, trên chuyến tầu tập kết, tuy nhớ vợ nhưng anh thấy lúc nào tôi cũng nhảy nhót như một con chim. Con chim đang đi tha mồi cho vợ ở nhà ấp trứng. Mệt mỏi mà hí hửng.

Tôi nhớ mãi lúc tầu chạy, thấy tôi đứng tần ngần suy nghĩ, vợ tôi như hiểu ý. Cô ta khuyên tôi bằng tất cả sự thông minh của một người đàn bà:

- Em biết rồi, anh đừng lo. Có bề gì có bà con lối xóm. Em vẫn nhớ lời anh. Em sẽ giữ gìn... như giữ gìn sinh mạng của mình. Thà chết còn hơn chịu nhục.

Ngừng một lúc để trút hơi thở dài, cô ta nói tiếp:

- Nếu có con em sẽ cố gắng nuôi nó một mình, sau này anh về nuôi phụ với em...

Tôi nhìn chăm chú như muốn nuốt cả khuôn mặt, thân người vợ tôi vào gan ruột.

Ra đây một năm tôi mới nhận được thư. Vợ tôi có thai, đẻ con gái thật. Phần vui chỉ ở đoạn đầu, đoạn sau toàn chuyện buồn. Thằng Lộc bây giờ là thiếu tá quân đội Diệm, nó phụ giúp cho bọn cố vấn Mỹ ở tỉnh tôi. Chúng lùng bắt người kháng chiến như chó hục hặc tổ chim trên cây. Vợ tôi bị nó chọc ghẹo chán rồi hăm dọa, phải gửi con cho mẹ tôi rồi đi trốn. Cô ta đã phải nhịn ăn liên tiếp để thân thể gầy ốm lại, rồi xin phép tôi cạo trọc đầu để làm xấu duyên mình đi. Anh coi, khi làm một thằng chồng, anh có thể bảo vệ mái tóc vừa ấm vừa thương của vợ như con mắt mình. Huống hồ mái tóc ấy đã ghi cho tôi bao kỷ niệm ngưa ngứa trên da mặt.

Sau đó, tôi nhận được mấy cái thư nữa. Tình hình ngày càng găng. Vợ tôi trốn mãi, ở nhà mẹ tôi và cháu có thể đói. Cô ta đã phải cạo trọc đầu thật rồi. Vài sợi tóc gửi ra cho tôi làm kỷ niệm. Trước khi cạo cô ta đã bồng con đi chụp hình. Mái tóc cố ý xõa ra, biêng biếc dài, che lấy thân con. Bức ảnh ghi như thế này: "Anh hiểu dùm em. Thà chịu xấu. Thà cái thân em không còn. Bao giờ em cũng giữ lời hứa với anh..."

Bắt đầu từ ngày ấy, vết thương cũ trên đầu tôi nhức nhối trở lại. Mắt tôi nhoi nhói, có lẽ mái tóc vợ tôi bị mất, đôi mắt mình ai cũng đã moi đi một ít ánh sáng. Có chiều tôi nằm im lặng hàng giờ. Có đêm hình như rân rấn nước mắt. Liền sau đó tôi lại xấu hổ vì sự yếu đuối. Tôi lao vào luyện tập. Có lần xung phong, tôi đâm vào bù nhìn rơm đến nỗi tôi và nó cùng lăn xuống chiến hào. Nắng hè nóng gay gắt, muốn nóng tôi cho nóng, tôi đứng lì ngoài trời không thèm vào bóng mát. Anh em bảo tôi có đôi mắt đỏ ngầu như cá sông.

Cách năm tháng sau tôi mới lại nhận được thư. Một nét chữ khác của người chú họ gửi ra. Chắc chắn từ nay tôi sẽ không bao giờ điên nữa nên mới đủ sức kể anh nghe chuyện này. Anh coi, vẫn cái lưng như một thớt trâu của thằng Lộc, với đôi mắt hau háu trả thủ và thèm muốn đến cực độ; còn vợ tôi chỉ có hai bàn tay của người đàn bà xa chồng chống lại. Nhưng lần này vợ tôi không im lặng nữa. Ðã đến lúc phải cất tiếng lên, mặc dầu biết rằng những tiếng nói cuối cùng của đời mình. Tiếng chửi rủa tố cáo của vợ tôi vọng ra bên ngoài đồn, dân xóm đều biết. Ðêm ấy vợ tôi đã vĩnh viễn trao con lại cho bà ngoại nó. Bây giờ thì có lẽ cô ta đã nằm yên trong một miếng vườn nhỏ, mặt nhìn ra ngã ba sông, ở đấy có ngôi nhà cũ của mẹ tôi, hồi còn bé tôi cũng thường hay ngồi trong miếng vườn ấy nhìn ra, ngắm mẹ trong đám xuồng về chợ. Sau này trở về, xuồng chúng ta cũng lại sẽ đi ngang con sông ấy. Tôi sẽ có dịp nhắc lại với anh lời hứa của cô ta ngày tập kết. Câu nói bây giờ như còn văng vẳng bên tai.

Như vậy anh đã hiểu tại sao hai ngày sau người ta phải mang tôi vào bệnh viện với vết thương cũ trên đầu nhức nhối trở lại. Tôi đã để lỡ vài giọt nước mắt. Người yêu tôi sống lại chắc sẽ nhìn tôi bằng con mắt trách móc. Cứ ném câu chuyện vợ chồng tôi vào giữa thế hệ chúng mình thì nó chỉ lọt thỏm như giọt sương rơi xuống giữa cánh đồng, nhưng nhiều khi, tôi vẫn nghĩ những người như tôi là khổ nhứt trên đời. Khổ hơn cả những sự đói cơm rách áo, mất chân mất tay. Sự khó chịu ấy nghiến ngấu tôi thành điên dại.

Rồi cũng lại đàn bà, hình như trời đã sinh ra đàn bà để cho chuyện đời sâu thêm nhiều lý lẽ. Tôi gặp người nữ hộ lý ở tại đây, ở cái quân y viện nhỏ bé của người điên này. Tôi chưa kịp hiểu chị ta có những tâm sự gì day dứt hơn tôi, nhưng tôi biết, trong sự im lặng ấy chắc có nhiều điều đáng nói.

Ðến đây, Hải ngừng kể, anh lượm mấy tàn thuốc hồi nãy xé ra vấn thành điếu mới hút lại. Trưa mùa đông mây chỉ còn đọng dưới chân đèo xa xa. Trên ngọn núi, nắng đã dọn thành mầu ửng hồng. Kẻng quân y lại rền rĩ báo tin giờ ngủ, bầy chim như bị hất tung ra khỏi tổ, náo động.

Hải chỉ cho tôi những đường vá rất khéo léo trên áo anh:

- Trong những ngày điên tôi đã xé mất mấy bộ quân phục. Chính chị hộ lý đã vá dùm tôi. Trên cổ lại thêu thêm một chữ H rất xinh. Anh xem, rõ ràng đường chỉ của một bàn tay cẩn thận.

- Chị ta có hỏi gì chuyện riêng của anh nữa không?

Hải không đáp. Tôi biết lòng anh bây giờ đang mang hai con đường, mỗi con đường có một người đàn bà, mỗi người đàn bà đều để ở trong anh một cái gì rất nặng. Một lúc sau, Hải kể tiếp:

- Tôi kể cho chị hộ lý ấy nghe đoạn sau của vợ chồng tôi vào nhiều buổi chiều nữa. Từ đấy cứ sáng dậy, tôi thấy hai mắt chị sưng lên. Ngồi bên tôi chị hay quay đi giấu mặt. Chị nói ít hơn và quấn quýt bên tôi hơn. Người chị ngày càng xanh xao. Ðôi mắt thiếu ngủ sâu vào, tỏa ra những cái nhìn tím sẫm. Ðôi lúc chị lại hỏi đến vợ tôi. Lúc này chị không còn an ủi tôi nữa, mà có lẽ, giá tôi được tỉnh táo như bây giờ, tôi phải an ủi chị mới đúng. Chị nói buồn buồn:

- Tội nghiệp chị Hải nhỉ, chị không còn sống ra đây mà chăm sóc anh Hải...

Tôi chỉ thở dài. Rồi chị nói bâng quơ:

- Em cũng ước gì được vào Nam mà cắn chết chúng nó như chị Hải. Chết như vậy mà sung sướng anh ạ. Tội nghiệp cái thân người đàn bà...

Câu chuyện chỉ chấm dứt ở đấy vì như có cái gì đã chặn ngang cổ, chị không nói được nữa. Trong sự nghẹn ngào ấy, chị đã có một tâm sự gì với vợ tôi chăng? Cùng một giới với nhau có lẽ chị hiểu vợ tôi hơn tôi cũng nên. Tôi hiểu như thế và tự nhiện như có một cái gì đã làm gần chị lại với tôi. Giống như sau cuộc đắm thuyền còn lại có hai người, cùng gặp nhau trên một tấm ván.

Có một buổi tôi còn nhớ rõ, giữa trưa nắng gắt chị mang về cho tôi một chùm nhãn trái lớn lắm. Suốt từ ngoài cổng vào ai xin chị cũng không cho. Chị vuốt mồ hôi trên mớ tóc ngắn, nhìn trước nhìn sau không có ai, khẽ bảo tôi:

- Anh ăn đi, nhãn quê nhà ta đấy!

Quê nhà nào? Tôi mở tròn đôi mắt. Chị nói tiếp:

- Ngày xưa anh hay ăn nhãn lắm mà. Nhãn Hưng Yên đấy, anh ăn đi!

Một lần nữa tôi lại phải kiểm lại bộ óc không bình thường của mình. Rõ ràng quê tôi ở Nam Bộ. ở cái miền Lái Thiêu đất đen, nước phèn, nhiều sầu riêng, măng cụt. Từ nhỏ tôi thích ăn măng chớ có khi nào thấy trái nhãn bao giờ. Tôi ngơ ngác hỏi:

- Hưng Yên ở đâu? Tôi có ăn nhãn hồi nào đâu?

Biết tôi không phải lúc loạn trí, chị hơi ngượng ngùng. Giọng chị khào khào trong hơi thở dài:

- ờ Hưng Yên quê nhà em đấy. Nhãn ở quê em đấy. Anh ăn đi!

Nói xong chị bỏ đi, đôi vai sẽ cúi suống. Tôi biết chị sắp khóc.

Nhưng chỉ có lần sau này là tôi không thể nào quên được. Hôm ấy nếu chỉ nhìn bộ quần áo gọn gàng, mái tóc vẫn chải một cách bình thường thì không ai biết chị đang có sự gì giận dữ trong lòng. Sau khi dọn mâm cơm của tôi, lời chị cộc lốc, ngắn ngủi:

- Như thế này mà anh không ăn được à?

Tôi chưa kịp trả lời, chị lại nói:

- Anh làm khổ cho người ta ở miền nam rồi. Anh nói có một câu mà chết người. Các anh ích kỷ vừa vừa chứ!

Chị ngồi xuống quay ra cửa, mặt hầm hầm. Tôi ngơ ngác:

- Chị nói gì tôi không hiểu?

- Phải, chờ chừng nào các anh hiểu cho thì chúng tôi chết cả rồi!

Nói xong chị bưng cơm đi. Tôi biết câu chuyện riêng của mình có gì làm buồn lòng chị. Thú thật, trong những ngày bệnh nhẹ, tôi vẫn thấy lòng mình không lúc nào có thể rời được người hộ lý ấy. Nói rằng yêu thì không phải, vì chuyện vợ con đang còn nặng nề làm mình đến trở thành bệnh hoạn. Mến phục thì đúng hơn. Chị đã phải thức khuya dậy sớm hầu hạ tôi rất cực. Hơn nữa, dù không phải là một người con gái đi nữa, khi người ta đã nói tâm sự với bất cứ ai, sự thân thiết cũng đến rất mau chóng.

Bệnh tôi ngày càng nặng, hai - ba ngày lại lên một cơn. Mắt chị hộ lý có những nỗi lo lắng trông thấy. Có bao giờ anh phải khiêng một người bạn bị đạn trúng bụng từ mặt trận đi về viện không? Ngoài miệng anh vẫn phải an ủi bạn là không hề gì, nhưng trong lòng anh đang chắc mười phần chết chín. Dù cứng rắn cách mấy anh cũng phải buông tiếng thở dài khi thấy bạn mình ôm bụng quằn quại cố níu lấy sự sống. Ðấy, chị hộ lý đã có những cái nhìn như thế đối với tôi. Cho tới một hôm, tôi bỗng thấy trên má trái chị sưng tím lên phải cuốn băng. ít bữa sau lại thấy chị nằm li bì trên giường bịnh. Lúc khỏi, thái dương chị lộ ra một vết sẹo dài. Chính cái sẹo ấy đã chọc vào mắt tôi như một lưỡi dao nhọn. Vợ tôi cũng bị một vết ngay chỗ ấy từ đêm chống lại với thằng Lộc. Những đêm ở Cao Lãnh, mỗi lần sờ má vợ là tôi lại đụng phải. Nó như một cái dấu in sâu trong những trang hạnh phúc chúng tôi. Từ đấy, lúc nào nghĩ về vợ, tôi không thể nào quên cái sẹo của người hộ lý. Về sau, nhìn mái tóc ngắn ngủi của chị ta tôi cũng hình dung thấy mớ tóc bị cắt cụt của vợ tôi. Bệnh thần kinh đã làm tôi nghĩ loạn chăng? Tôi không rõ lắm. Nhưng cả đến bàn tay đưa cháo của chị hay những lời an ủi sau này tôi cũng đều thấy giống. Ðêm đêm nửa tỉnh nửa mê tôi thấy vợ mình đang ngồi quạt cho mình. Có lúc không hiểu chị ta hay vợ tôi đang dắt tôi đi chơi dưới trăng cạnh bờ sông, trèo lên cây rồi tắm mát. Có những lúc tôi gọi chị bằng tên vợ tôi, thử xem có đúng vợ tôi thật không, chị đáp lại một tiếng "dạ" thật ngoan. Tiếng "dạ" êm êm man mát cứ quẩn lấy bên tôi suốt đường về trong những đêm trăng còn ở địch hậu.

Có một đêm, hình như quân y viện tổ chức đám cưới. Từ hồi chiều người ta lôi kéo mời mãi chị mới đi dự. Ðêm ấy, sau một cơn mệt mỏi tôi chợt tỉnh dậy. Tiếng vỗ tay trong đám vui còn văng vẳng xuống. Mưa lâm râm hắt vào buồng, tôi cảm thấy lành lạnh thật sự. Rõ ràng tôi tỉnh thật chứ không phải loạn trí như mọi khi. Tôi bắt gặp chị đang nằm gần tôi, ôm chặt tay tôi vào ngực khóc nức nở. Mắt tôi không chớp được vì ngạc nhiên. Hơi nóng trong ngực chị tỏa ra ủ lấy tay tôi âm ấm. Không hiểu có một sức mạnh gì làm tôi không thể rút tay về được nữa. Mạch máu trong người tôi căng lên. Thân thể như làm bằng hơi bong bóng. Một ý nghĩ thoáng qua: không hiểu người nằm đây và khuôn ngực tròn trĩnh kia có phải là vợ tôi không? Nhưng không, rõ ràng là chị hộ lý. Cái cảm giác vừa sợ vừa êm ái ấy làm tôi miên man khó nghĩ. Thấy để lâu không tiện, tôi khẽ trở mình rút tay ra. Nhưng không, chị cứ giữ chặt lấy. Tiếng nức nở rõ hơn. Tôi không muốn nói một câu gì với con người đáng thương kia nhưng răng cứng lại. Mà biết nói gì đây? óc tôi tối mò mò. Tôi chỉ đoán rằng chị có một tâm sự gì dính với tôi nhiều lắm. Một lúc sau bỗng chị ôm chặt cổ tay tôi lần chót rồi thả ra, đứng dậy bỏ ra ngoài. Qua tiếng mưa và tiếng lội nước bì bõm, tôi còn nghe thấy cả tiếng khóc, tiếng xuỵt mũi ấm ức...

*
* *

Hải chỉ kể được đến đấy. Sau đó chắc còn nhiều chuyện nữa nhưng bệnh thần kinh ngày càng nặng không cho anh nhớ hết. Tôi đi tìm chị y tá trên phòng thường trực. Người ta nói chị là bạn thân của chị hộ lý.

Tôi hơi lạ vì sự càu nhàu của chị y tá. Hình như đối với tôi, chị đã có sự bực bội nào trước:

- Các anh hỏi làm gì? Chuyện chúng tôi có gì đáng nói!

Tôi biết mặt chị còn trẻ lắm, chưa có nét gì tỏ ra sắt đá mà ngại. Sau vài lời khẩn khoản quả nhiên chị đã nói hết với tôi, nói thật dài như chẳng ai có thể ngăn lại:

... ở nhà nó tên là cái Nhãn. Từ khi nó ra đây làm hộ lý nó đổi tên là Vân. Nhà nó cách nhà tôi một con đê. Hai đứa tôi thân nhau từ ngày còn đi chăn trâu, coi nhãn, tắm sông ở bến Chùa. Nghịch lắm anh ạ, bẻ cả đầu bụt, ăn cắp oản chùa về cho mẹ. Nhà chùa bắt nó cạo trọc đầu bôi vôi, nó dám chặt chuối lội qua sông cái về nhà. Năm mình giải phóng biên giới chúng tôi đã mười sáu mười bảy tuổi. Tôi đi theo quân y, Vân vào du kích xã ở quê nhà, cô ta đánh hăng lắm. Giặc lơ mơ ló ra bẻ nhãn là ăn lựu đạn gài dưới chân sào. Cách một năm sau Vân có yêu một người trong bộ đội, tên anh ta là Hải. Hai người yêu nhau ghê lắm. Thư từ anh chàng gửi về hàng tệp. Năm 53 Vân bị giặc bắt trong lúc đi liên lạc vào thị xã. Khả nghi chúng bắt thôi, năm hôm sau nó thả ra. Ai ngờ từ khi được về người Vân xanh xao vàng vọt đi đứng không vững được nữa. Vân đã bị nó truyền cho cái bệnh khốn khiếp anh ạ. Thì ra lúc ở trong đồn nó đã trói chặt người ta lại để làm chuyện đồi bại. Từ đó Vân ngày càng rụng dần, rồi phải cạo trọc đi. Người ghẻ lở hôi hám như một con ma đi đến đâu ruồi bâu theo đấy. Thuốc men nào trong kháng chiến mà chữa nổi. Một tự tử, hai tự tử, chị em khuyên nên vui vẻ mà chờ Hải. Hòa bình được một năm. Vân mới được chữa khỏi người trông khác hẳn không ai nhận ra. Vân xin làm hộ lý ở đây một năm nay. Tên Nhãn mất đi từ đó.

Giọng nói trầm lặng của chị y tá xoáy vào lòng tôi như những tiếng động âm vang trong lòng chiếc chum lớn. Mặt chị lặng ngắt như đã quá quen thuộc với câu chuyện này. Tôi hỏi:

- Thế còn người yêu của chị Vân?

- Anh Hải ấy à? Năm ngoái về thăm được một lần vội vàng rồi đi. Sau viết thư về ngại đường tương lai con cái gì đó, xin với Vân cho cắt đứt. Anh ta mới có vợ khác rồi.

Tôi cảm thấy mình đang đứng gần một hơi nước đá. Chính cái hơi lạnh ấy làm tôi chợt hình dung lại tất cả những cử chỉ của người hộ lý mà anh bạn điên đã kể với tôi. Một lát, tôi hỏi:

- Có phải anh Hải là người cùng quê với chị Vân . Ngày còn ở nhà thích ăn nhãn lắm phải không?

Chị y tá hơi ngạc nhiên:

- Ðúng, trước anh có làm du kích cùng với Vân ở xã. Anh ta thích ăn nhãn nhưng người có tên là Nhãn thì anh ta chóng quên lắm.

Tối hôm ấy chị y tá còn kể với tôi nhiều nữa. Trước kia ở nhà, Vân hay đùa bao nhiêu bây giờ càng sợ cuộc vui bấy nhiêu. Nhất là đám cưới, chẳng ai mời được Vân dự cả. Hôm cưới chị y tá, bạn thân nhất, Vân cũng chỉ ngồi một tý rồi bỏ đi. Ðêm ấy trừ chị y tá, không ai biết được Vân đã ngồi giữa trời mưa lâm thâm khóc ấm ức một mình. Từ đấy Vân càng ít nói hơn, như một căn buồng khép nốt cánh cửa cuối cùng lại.

Chị y tá kể:

- Vân làm việc đến rạc cả người đi. Suốt từ tối đến sáng, cơm nước, tắm rửa cho bệnh nhân, quét hót phân tro. Như anh Hải bộ đội miền Nam vừa qua, trong những ngày điên nặng, Vân đã phải dỗ dành cho ăn từng thìa cơm. Ðêm anh hay chạy đi đập phá, Vân phải buộc chân anh vào tay mình để ngủ. Vân bị anh chửi bới đánh đập nhiều lắm. Một hôm Vân bị anh đạp đập mặt xuống tường, phải nằm mất mấy ngày. Vân không sợ đau nhưng chỉ buồn trên mặt mình có một vết sẹo. Có những buổi anh Hải ra bờ sông, Vân phải chạy theo lôi lại. Có đêm Hải leo tít lên ngọn cây cao, Vân cũng phải trèo lên lạy van dỗ xuống. Anh em biểu dương Vân về tinh thần phục vụ, về đoàn kết Bắc Nam. Ngược lại, tâm tình Vân ngày càng khó hiểu, lúc cười vui, lúc càu nhàu. Có đêm Vân ôm lấy tôi khóc như trẻ con...

Chị y tá thở dài:

- Có những lần anh Hải lên cơn, nắm chặt tay Vân, gọi tên người vợ ở miền Nam luôn miệng. Có khi anh ôm chặt Vân vào lòng, Lần đầu tiên, Vân ngơ ngác đến tìm tôi như một kẻ mất hồn. Nhưng những lần sau, quen đi, Vân cứ im lặng để anh ôm, vuốt ve trở lại, nói như một người vợ an ủi chồng. Có như vậy anh Hải mới dần dần hạ được cơn điên xuống.

Ngừng một lát như để nghĩ chuyện gì, chị y tá nói tiếp:

- Chuyện đàn bà chúng tôi các anh biết đấy. Ai đến tuổi chẳng mong một tấm chồng. Chưa có, người nó cứ chông chênh lo lo đến lạ. Nhưng Vân thì như cây củi khô trôi đi, còn mong gì đáp được vào bến nào nữa. Bây giờ chỉ còn lăn vào công việc cho nó quên đi, nhưng công việc thì nó lại cứ phải ra như thế.

Chị y tá thở dài. Hai làn mi cong cong hơi khép lại nhìn xuống đất. Một nỗi buồn thẫn thờ, buông xuôi khi có cái gì chạm vào giới tính. Tôi bỗng nhớ lại các cách chữa bệnh, đôi khi người ta phải lấy sự cho chung đụng với đàn bà để chữa cho những anh điên vì tình khỏi bệnh. Vài phút sinh lí để cứu một mạng người, sau này họ sẽ thành những cặp vợ chồng chính thức. Tôi nghĩ tới những lúc Hải mê man nhìn người hộ lý thành vợ mình. Những lúc đêm khuya trong căn phòng nhỏ hẹp ấy còn lại có hai người...

Câu chuyện giữa một người loạn trí và một người đang giận dỗi cuộc đời ấy sẽ đi đến đâu? Trong lúc nào đó, với bộ óc mê muội, anh bạn tôi nhìn người bên cạnh là vợ anh, anh phải làm tới cái tính tự nhiên của loài người. Còn chị hộ lý, tôi biết chị đang đau khổ nhưng càng giận đàn ông người ta lại càng nghĩ đến đàn ông... Vài phút yếu đuối khi trong lòng đang sôi nổi tình yêu thương chân thật, có gì là vô lý trong lúc này? Ai cấm được người ta không nhìn thấy ánh sáng khi đôi mắt mình tưởng như khép lại.

Tiếng chị y tá làm tôi trở lại câu chuyện:

- Lạ lắm anh ạ. Một hôm đột nhiên Vân bảo tôi là sẽ lấy chồng. Người ấy biết thương vợ, thương con, thương Vân lắm. Vân nói như muốn khóc. Tôi gạn hỏi ai, Vân chỉ trả lời lấy anh chàng đã bỏ Vân từ hơn một năm nay. Một lúc sau Vân bỗng cười, đấm vào vai tôi. Cái cười lâu lắm mới thấy trên đôi môi nứt nẻ. Tôi cho là Vân nói đùa, buồn quá nên nói nhảm với bạn.

Nghe chị y tá, tôi càng thấy ước đoán trên kia là sự thật. Tôi hỏi:

- Chị có thể cho tôi biết chị Vân bây giờ ở đâu không?

Chị y tá không trả lời, Tay di di giọt nước trên bàn. Tôi hỏi lần nữa, lông mày chị bỗng hơi nhăn lại, giống như sự cau có lúc đầu. Một bóng mây bay qua che mất bóng nắng ngoài cửa sổ. Khung trời hiện ra một màu nâu nâu, bàng bạc của trưa mùa đông. Tôi không hỏi nữa, lòng phân vân một sự gì không hay. Một lúc lâu lắm, chị y tá mới quay mặt đi, nói ấm ức:

- Vân về... nhà rồi. Chẳng bao giờ còn lại đây nữa. Có một buổi anh Hải lên cơn điên chạy xuống sông bơi giữa nửa đêm. Chúng tôi nghe được tiếng thét kêu cứu của Vân chạy ra thì thấy Vân và bạn anh đang giằng co nhau chới với giữa dòng. Nước tháng bẩy chảy băng băng. Anh em nhảy xuống cứu đều bị nước cuốn bạt đi. Một lúc lâu lắm, cố hết sức người ta cũng chỉ vớt được một người lên. Người ấy là bạn anh, anh Hải...

Tôi hỏi vội, đầu óc quay như chong chóng:

- Thế còn Vân?

Chị y tá khẽ nhìn tôi rồi đứng dậy, vừa đi vừa rút chiếc khăn đưa lên mắt:

- Con sông ấy nó chảy về Hưng Yên, quê nhà Vân đấy.

*
* *

Hải tiễn chân tôi ra tận bờ sông của quân y viện. Nước hôm nay không đỏ ngầu như mùa tháng bảy. Mặt sông vàng vàng như còn rơi lại ít nắng của những ngày vừa qua. Tôi cố tìm một dấu vết gì mà thời gian có thể gửi ở đó một người con gái.

Có lẽ vì cái bệnh nguy hiểm của Hải không bao giờ tôi được phép quân y nói cho anh nghe đoạn đời sau của người hộ lý. Có thể khi về Nam anh sẽ kể cho mọi người nghe câu chuyện những ngày thương vợ nhớ con ở miền Bắc. Có thể anh sẽ nói đến người con gái Hưng Yên đã săn sóc anh tận tình như người ruột thịt. Nhưng anh sẽ không thể kể được vì sao người con gái ấy không còn nữa. Vì sao người con gái ấy đã thương mến anh, một tình thương dậy lên từ những đau khổ, dậy lên từ những mất mát đang chịu chung với đất nước, cũng như trước kia, vợ anh đã im lặng để yêu anh trọn đời.

Tôi siết chặt tay Hải, bắt anh phải kêu đau để cố tạo một sự vui vẻ. Hải nói nhỏ:

- Vợ tôi không còn nữa, con gái tôi bây giờ nó cũng phải sống một mình. Ai dám bảo trẻ con không có những thử thách ngang với chúng ta.

Rồi anh nói tiếp, miệng khẽ mỉm cười:

- Anh cố tìm hộ tôi địa chỉ của cô hộ lý. Có lẽ tôi phải đi thăm cô ta mới được. Biết đâu lại chẳng được cô mời ăn nhãn ở miếng vườn nào đó.

Tôi cười, gật đầu. Tôi muốn nói với anh là mùa nhãn đã qua rồi. Những trái nhãn ngọt lịm trong ngày hè vừa qua đã hết rồi. Bây giờ thì anh đang đứng giữa bóng mát của một con sông, chảy về nơi có rất nhiều vườn nhãn.



Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0


Trăng muộn

Phan Thanh

Người y tá phòng trực bệnh viện huyện rê cây bút bi trên trang sổ ghi tên bệnh nhân, rồi gióng giả gọi:

- Quách Thị Bầu, lĩnh thuốc.

Tôi rời hàng ghế băng ngoài hiên chật chỗ ngồi, tập tễnh tới bên bàn.

- Cô là con gái bác Bầu à?

Ðám người ngồi chờ trong phòng và cả ngoài hè đều hướng cái nhìn tò mò về phía tôi, tiếng xì xào nổi lên, làm tôi bối rối:

- Dạ không... em là Bí, lên đây trông nom chị em từ chiều hôm qua.

Cái người ngồi sau bàn kia thừa biết, do vô tâm đã đẩy tôi vào tình huống khó xử. Nhưng rồi cũng không vì thế mà con người vô tâm vô tính chuyển thái độ. Dẫu sao tôi cũng không trách chị. Cũng chả dám trách ai, chỉ thương thân. Tôi sống vậy mãi đã quen. ở đây, ở chợ, hoặc bất cứ nơi nào cũng đều thế cả. Trước mặt thì chả sao. Hễ tôi quay đi là mọi người xúm vào bàn tán. Cũng chỉ tại gương mặt và đôi chân tôi mà ra hết. Câu nói bâng quơ của mọi người, tôi cứ thấy như đá ném sau lưng. Thật trớ trêu. Mặt thì đẹp, còn đôi chân lại khèo. Hẳn như bà mụ nặn cho tôi gương mặt sần sùi xấu xí để hợp với đôi chân tàn tật có phải hay biết bao nhiêu. Cho tôi được an phận một bề, tôi sẽ phải biết mình, kìm bớt lòng ham muốn, tự nguyện tránh sang bên để nhường bước cho tất cả...

Ngày bé, mỗi bận bố tôi bế tắm cho ở cầu ao, vừa vớt nước kỳ cọ, bố tôi vừa khen: "Con gái riệu của bố đây..." tôi thích chí khanh khách cười, đu mạnh người trên cánh tay bố, làm mặt nước vỡ ra từng vòng từng vòng, chạm vào chùm hoa súng nổi lềnh bềnh, chạm vào vạt bèo tây tốt xanh như rừng, rồi lặn mất. Nhưng cũng có hôm ông nói với tôi như đang nói chuyện với ai: "Ðường làng là đường chung. Ðường đời mới là đường riêng của con, con gái ạ. Phận con gái mai sau lắm nỗi nhọc nhằn chứ chả chơi đâu..."

Bố tôi lạ lùng thật. Ông gốc gác nông dân. Song không thuộc hàng lão nông thuần phác. Mẹ tôi kể rằng một dạo ông đã bỏ nhà, bỏ vợ con gần năm năm, đi làm chân đập đá. Khi ông về mới sinh tôi. Lúc đó gia cảnh vẫn còn khốn khó. Món tài sản lớn nhất ông mang về gia đình chính là con người tôi và cách nói năng ý vị như những câu hát đồng dao rơi vãi đó đây.

Do đâu mà ông tiên đoán được quãng đời tôi chưa đi tới? Không tài nào giải thích nổi. May ra chỉ bố tôi mới có câu trả lời. Nhưng ông đã mất sớm, trước cả khi tôi bị mắc bệnh quai bị, sinh biến chứng. Thế lại hóa hay. Trong mắt ông, tôi mãi mãi là đứa con ngoan, xinh xắn, lành lặn. Tôi luôn nghĩ vậy, mong làm sao vui vong linh bố tôi đang ngày đêm đi mây về gió.

Từ năm bảy tuổi, tôi đã phải mang đôi chân tàn tật. Hai nỗi buồn lớn liên tiếp ập xuống đầu mẹ tôi làm sức lực và ý chí của mẹ hoàn toàn suy sụp. Mẹ quẩn quanh trên nhà, dưới bếp vật vờ như cái bóng. Kiếm miếng cơm, manh áo nuôi cả nhà lúc này trông hết vào tay người chị cả, chị Bầu. Bầu thường dành cơm không độn phần tôi, cho tôi bao lời dạy bảo, cho tôi tình thương, cho tôi nhiều thứ... Trời phú cho chị là người đàn bà nhớn nhao, có sức lực, có đức hạnh, hiếu thảo, quý con, chiều chồng. Chị lấy chồng cách nhà một con sông. Tuy chị xa nhà, mọi việc vẫn như có sự sắp đặt của chị. Từ vườn tược, đồng áng, cho chí mớ rau, con lợn, con gà. Cách một đôi ngày chị lại về, khi có chồng đi cùng, khi thì chị về một mình. Lúc đã có một, hai cháu bé rồi, bên nhà chồng bận bịu, chị qua nhà có phần thưa hơn. Hai chị gái trên tôi, chị Chanh, chị Bưởi, và tôi luôn kính trọng chị. Chị nói điều gì, lập tức chúng tôi cứ răm rắp. Chính chị ngày chưa lấy chồng đã thu xếp cho tôi làm nghề dệt chiếu. Ngỡ rằng chị yêu quý tôi, sợ tôi buồn nên đã tìm một việc làm hợp hoàn cảnh cho đời vui lên. Dè đâu một cái go dệt đã làm bạn với tôi trong suốt đời người.

*
* *

Trưa hôm ấy, tôi ngồi chọ cói ngoài bậc thềm, hóng tai vào trong nhà nghe mẹ tôi và chị Bầu nói chuyện. Giọng mẹ trầm trầm. Thường mẹ ít nói. Hay mẹ tôi cố tình làm ra tươi tỉnh để chị khỏi suy nghĩ. Mẹ tôi quý trọng chị hết nhẽ. Ðã có mấy người con gái bước chân về nhà chồng gần hai chục năm vẫn lo toan, quán xuyến việc nhà đỡ đần mẹ đẻ như chị Bầu tôi! Chị ốm đận ấy người vàng bủng. Bốn tháng trời, ra viện, cả nhà chăm bẵm phục sức cho da dẻ nom đỡ xanh. Cũng nhờ kinh tế nhà bên ấy dư dật, chứ rơi vào cảnh neo đơn khốn khó thì có mà nằm chờ chết. Cả mấy chị em trong nhà, chỉ có mình chị giống bố tôi nhất. Từ nét mặt hơi to, thô, rộng rãi, đến dáng đi, dáng đứng. Tính chị vốn xởi lởi, mau mắn, sao về nhà hôm nay chị im tiếng thế. Hay là có chuyện gì? Bao nhiêu năm chả khi nào thấy gia đình vợ chồng anh chị xô xát. Quá nửa đời người rồi, con cái lớn ngộc, cả hai anh chị vẫn xưng hô "mình mình, em em" cứ như vợ chồng mới cưới. Tuy vậy, nhìn vào cung cách của chị ngày hôm nay, tôi dám chắc phải có chuyện. Một lần, ngày chị vẫn đang nằm viện, mẹ nói với ba chị em tôi, giọng có bề nuối tiếc:

- Thế là mẹ Bầu nó không còn sinh nở được nữa...

Chị Bầu tôi có bốn con, tất cả là gái: Hay vì sinh toàn con gái mà bên anh chị đâm lục đục. Tôi dừng tay nghe thật chăm chú. Trong nhà ắng lặng lúc lâu, rồi tiếng mẹ tôi chầm chậm:

- Cũng vì vậy, ngày xưa bố mày mới bỏ đi mấy năm giời...

- Ðiều mẹ nói con nghĩ đã lâu lắm.

- Thế vợ chồng mày bàn bạc kỹ chưa?

- Chúng con đã thống nhất với nhau rồi. Phần con... Nói thực với mẹ, con không muốn của nả trong nhà chạy sang tay người hàng xứ...

- Ðiều này thì mẹ biết, vì mẹ đẻ ra mày... Nhưng mẹ vẫn thương nó út ít, lại phận hèn...

Tôi nghe rõ giọng mẹ tôi nghẹn lại. Rồi khác hẳn mọi bận, ngay lúc ấy, chị Bầu tất tả ra về, để lại biếu mẹ tôi rất nhiều quà.

Nhân lúc nhà vắng người, mẹ gọi tôi vào, nhìn tôi chằm chằm, rồi mới ướm lời:

- Mẹ Bầu nó muốn đón con về bên ấy trông nom cửa nhà cho nó. Con nghĩ thế nào?

Tôi vô tư hỏi lại:

- Anh chị ấy muốn con sang trông nhà hộ, lâu không hả mẹ?

- Bao lâu, ấy là ở con... Con sang bên ấy sinh cho chồng nó một thằng con giai... Rồi con muốn gì được nấy.

- ối...

Tôi suýt ngã ngửa vì quá bất ngờ. Chị Bầu xin mẹ cho tôi về làm lẽ anh Quàng, chồng chị ư? Tự dưng tay tôi rời nắm cói đang cầm. Sao lại thế? Trong đời tôi đã dệt hàng trăm, thậm chí hàng nghìn lá chiếu trải giường hạnh phúc cho các đôi trai gái sống bên nhau. Trong khi bản thân tôi chưa một lần nghĩ mình sẽ lấy chồng. Bảy tám năm trước, hồi đó tôi mới hăm hai tuổi, cái tuổi đầy mơ mộng xa xôi. Ðược biết tờ báo nọ mở mục kết bạn. Tôi đã gửi vài dòng thổ lộ tâm tình cùng bức ảnh mầu chụp nửa người, ngồi nghiêng, môi đỏ mọng, mặt tươi tắn, rạng rỡ. Sau đấy, tôi thấp thỏm đợi chờ. Và tôi nghiệm ra sự đợi chờ cũng là một niềm vui, một hạnh phúc. Con người ta sống mà lại không có gì để nhớ mong, để chờ đợi thì thật buồn tẻ... Trong đầu tôi luôn có ý nghĩ lá thư của mình đang bay lượn đâu đó với những lời lẽ mong kết bạn. Chỉ kết bạn thôi, chắc chắn báo đăng, và người bạn chưa quen nào đấy sẽ đón nhận...

Có điều hơi buồn, thực trạng đã đi quá mức tôi mơ tưởng. Một buổi chiều giống như bao buổi chiều bình thường khác, tôi đang ngồi dập go dệt chiếu, hai thanh niên lạ mặt dắt hai chiếc xe đạp Mifa mới vào tận sân tìm tôi...

Hóa ra trong cuộc sống, cái xa vời, không thực, đôi khi lớn hơn, cần thiết hơn cái có thực. Giá tôi cứ bằng an sống với thế giới thực của riêng mình hẳn tâm tư được thảnh thơi mát mẻ. Ðừng ai hỏi tôi thêm nữa. Sự thật bao giờ cũng là sự thật. Tôi ngồi rũ ra như con chim gẫy cánh, không đủ can đảm đứng lên tiếp khách. Cuối cùng thì hai người con trai lạ ở huyện bên cũng biết tình trạng thật của tôi. Họ lịch sự chào từ biệt và không bao giờ còn quay trở lại...

Từ đấy tới nay tôi không muốn nghĩ gì ngoài go dệt chiếu, cũng không muốn nhìn cái gì xa hơn ngoài bờ rào bờ dậu nhà tôi. Vì rốt cuộc rồi ai cũng phải sống bằng chính cái mình đang sống. Không thể khác. Ðiều cần quan tâm hiện tại thuộc về phía chị tôi. Chị đã thay mẹ nuôi nấng dạy dỗ tôi. Cũng chính chị là người đã tiếp máu cứu sống tôi trong trận ốm mới cách đây gần một năm. Dạo ấy bên chân bệnh tật của tôi tự dưng phù to như cái lọ. Ðưa cấp cứu bệnh viện tuyến trên, và phải mổ. Các thầy thuốc chuẩn đoán chân tôi do di chứng căn bệnh cũ tái phát. ở nhà, chỉ có chị Bầu đủ điều kiện tiếp máu cho tôi. Phần chị hợp nhóm máu, phần chị cao to, sức lực. Hiện trong số máu đang nuôi cơ thể tôi, có một phần máu của chị. Cả thời gian tôi nằm chữa bệnh, anh Quàng, chồng chị dành cho tôi sự chăm sóc đặc biệt. Anh đã từng nâng giấc, bế ẵm tôi. Thì tôi vẫn coi anh như anh trai mình, chứ có gì đâu. Giờ ngồi nhớ lại, tôi thấy nóng râm ran khắp người...

*
* *

Mẹ tôi ở lại, chỉ có chị Chanh, chị Bưởi, dăm người họ hàng, cùng mấy đứa bạn gái thân thiết đưa tôi sang sông. Từ trong nhà bước xuống sân, tôi ngoái nhìn, đã thấy mẹ lên giường, kéo chăn đắp. Chiều lấm tấm mưa, trời se lạnh, nhà vắng vẻ quá. Ra đi lấy chồng, tôi cứ nghĩ mình đang rơi vào quãng đời không thực, tâm trạng bồng bềnh như say. Mái nhà lợp lá mía từng che nắng che mưa cho tôi ngần ấy năm, giờ bỗng cách xa; mé đầu hồi nhà, mấy buồng chuối tiêu quả lớn vập vạp, xanh ngắt; đàn gà lang thang bới giun bắt dế góc cầu ao...

Vậy là đã một lần tôi được thấy mâm cỗ cưới mình, giữa chiều thu, nguội ngắt. Ðám cưới không dàn nhạc, không phòng hoa. Chỉ có lòng lợn bưng lên từng rổ và rượu ngang chảy thì thùm...

Khi ăn uống xong, mọi người ra về, còn trơ lại một mình, tôi bỗng thấy lo sợ. Rồi tôi lấy lại can đảm. Ðám con chị Bầu xưa nay vẫn quý mến dì Bí, giờ hẳn cũng vậy thôi. Dường như chúng nhận thức được rằng tôi là chỗ ruột thịt với mẹ chúng, rằng tôi đến ở không phải để cướp đi những gì mà chúng đang có trong tay. Mấy việc nồi niêu, bát đĩa đã đâu vào đấy, các cháu, chúng đều đi ngủ. Tôi chuẩn bị một ít việc riêng của mình. Một ngày yên ả sắp qua đi.

Việc riêng của tôi tại nơi ở mới chưa có gì nhiều. Tôi ngồi xuống cầu ao, tắm, giặt... Sau còn đi ra, đi vào chán chê. Rồi vòng lại cầu ao rửa ráy, cứ một mình, cùng cây đèn nhỏ. Chắc đã khuya lắm. Tôi thấm mệt vì hôm nay đi lại quá nhiều. ở với mẹ, chập này tôi đã được giấc ngủ ngon. Thế nhưng bây giờ tôi không hề buồn ngủ, do đầu óc quá căng thẳng. Tại cửa buồng của tôi và anh Quàng - bộ cánh cửa bằng gỗ xoan mới đóng - cũng có cây đèn dầu khêu bấc cao, rất sáng, soi rõ người đàn bà ngồi khâu áo ngay trên ngưỡng cửa. Ðó là chị Bầu. Chị đem thúng khâu ngồi chắn lối ngay từ lúc nhà bắt đầu yên ắng. Tôi biết. Nhưng tôi không hiểu vì sao chị ngồi ở đấy lâu đến vậy. Tôi chỉ còn cách quẩn quanh mé nhà ngang, không dám bước chân vào buồng. Hẳn anh Quàng đang nằm trên chiếc giường màn mới trong buồng cũng thừa hiểu rằng rôi không thể. Khi gà gáy canh một, chị vẫn ngồi khâu... Gà gáy canh hai, chị khêu cao bấc đèn... Canh ba, chị ngồi lặng lẽ, tay buông xuôi. Tôi nhìn kỹ vào quầng sáng nơi cửa buồng, thấy chị xọm đi nhanh quá. Một người sức lực là thế quay đi quay lại đã sắp thành bà già. Rồi cuối cùng tôi cũng nhận ra, chị đang cố sức ngồi canh gác ngôi đền... Tôi cúi gập người, trút hơi thở mạnh. Chị ruột tôi đấy, đồng thời cũng có thể ví chị như người mẹ thứ hai của tôi. Chị là người tôi có phận sự mãi mãi phải kính trọng.

Tôi lẳng lặng xách túi quần áo ra ngõ, tập tễnh về mé bến đò. Phải lúc lâu nữa trời mới sáng. ánh trăng vàng vọt lấp ló ngọn tre. Trăng muộn. Sao mãi giờ mới thấy trăng lên.

6-1995



Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Hoa "Ti-gôn"

Thanh Châu

"... Hoa leo ti-gôn sắc đỏ, sắc hồng, sắc trắng năm nào cũng vậy, một mùa tàn lại một mùa nở. Nó chẳng giống lòng bất trắc của con người..."

Khái Hưng
(Gánh hàng hoa)

Sáng nào cũng vậy, hết giờ dạy vẽ ở trường Mỹ thuật về qua phố Tràng Tiền, họa sư Lê cũng không quên mua một bó hoa "Ti-gôn". Ðó là thói quen của họa sư mà không một người bạn hay người bạn học trò thân nào là không biết rõ. Ðến mùa hoa "Ti-gôn" nở nhiều nhất, trong nhà họa sư Lê người ta chẳng còn thấy một thứ hoa nào khác. Mà có người nào tẩn mẩn ngắt một nụ hoa nho nhỏ ấy xem kỹ, họ sẽ phải cho lời nhận xét của họa sư Lê là đúng : "Hoa Ti-gôn hình quả tim vỡ làm mấy mảnh, màu hồng dịu như nhuộm máu đào". Rồi người ta tự hỏi thầm :

"Tại sao họa sư Lê lại thích chơi cái thứ hoa trông như giấy ấy, để trong phòng quá một ngày đã rụng rồi ? Chắc lại có điều tâm sự chi đây..."

*
* *

Một buổi trưa - hồi đó Lê Chất hai mươi bốn tuổi, còn là hoạ sĩ nghèo mới ở trường ra - đạp xe về các vùng lân cận Hà Nội, Lê Chất rẽ vào làng Mọc với giá vẽ buộc trên xe. Người thiếu niên ấy đi tìm cảnh đẹp.

Mà cảnh đẹp ở đây là một thiếu nữ chàng mới gặp chiều qua.

Ðến gần một ngôi nhà cũ kỹ, trông ra dáng biệt thự của một quan hưu dùng làm chỗ nghỉ ngơi. Chất hãm xe, nghển cổ nhìn qua một hàng rào cây tốt um tùm. Chiều qua, lúc Chất dắt xe rất nhanh qua đó, tình cờ liếc mắt vào nhà, bỗng thấy một thiếu nữ đứng trên một chiếc ghế cao, đang với tay lên những dây hoa đỏ trên giàn nữa. Người con gái mặc áo cánh lụa cụt tay, hở cổ, để lộ một màu da khỏe mạnh, như thứ da thường ra nắng của những cô gái nhỏ. Hai má ửng hồng, vài sợi tóc trên vừng trán, cảnh "con gái hái hoa" ấy như một bức tranh linh động, khiến người họa sĩ phải dừng chân ngắm không chán mắt. Khuôn mặt đều đặn, vẻ đẹp thông minh, nhất là đôi môi có một nét vẽ lạ, đó là thứ nhan sắc hiếm hoi, ai trông thấy lần đầu đều in sâu trong trí nhớ. Thiếu nữ vô tình, bận gỡ hoa trên giàn đã để Lê Chất có thì giờ nhìn ngắm kỹ. Ðến khi cô gái bước xuống đất, sắp vào nhà, đưa mắt nhìn ra đường thấy có người đứng nhìn mình, mới cau mày tỏ vẻ không bằng lòng.

Nhưng từ hôm đó, hôm nào họa sư cũng đạp xe vào làng Mọc, giá vẽ buộc trên xe, mà chẳng vẽ bao giờ, vì còn bận quanh quẩn gần biệt thự. Thiếu nữ động trông thấy bóng anh chàng là lẩn vào nhà.

Lê Chất chỉ được trông thấy nàng vài lần nữa rồi thôi, bởi ngôi nhà hình như sau đó không có người ở nữa, ngày nào cũng chỉ thấy có một ông già cuốc cỏ trong vườn.

Rất lâu, Lê Chất mơ màng đến người thiếu nữ. Anh cố nhớ lại khuôn mặt, thân hình, hai cánh tay đẹp để trần, nhất là đôi môi của thiếu nữ. Anh đã vẽ nhiều croquis cất trong an-bom để ghi giữ lại, rồi dần dần cũng quên đi...

*
* *

Lê Chất đã nổi tiếng. Thầy học cũ của anh vì mến tài, đã đưa anh lên một địa vị mà nhiều người ghen tỵ. Tranh của anh được nhiều báo nước ngoài nói đến và bán với giá cao. Anh bỏ lối phong cảnh để vẽ người. Tranh vẽ người, nhất là tranh vẽ đàn bà khiến các bạn Chất tặng cho cái tên : "Người lấy máu để vẽ các cô gái đẹp". Họa sĩ đã trở nên giàu có, ăn mặc sang, khó tính, Lê Chất bây giờ đã đứng tuổi, từ lâu không còn là gã họa sĩ nghèo huýt sáo đạp xe quanh vùng lân cận Hà thành đi tìm cảnh đẹp, với giá vẽ buộc trên xe đạp.

Mùa lạnh năm ấy, Lê Chất đi vẽ ở một vùng Vân Nam phủ. Trong một bữa tiệc chiêu đãi của tòa nhà lãnh sự Pháp, họa sĩ trông thấy một thiếu phụ ta, đẹp một vẻ khác thường, nhưng có dáng buồn. Chất bỗng ngờ ngợ như hơn một lần đã gặp người này. ở đâu ? Chất giật mình. Có thể nào ? Nhưng quên làm sao khuôn mặt ấy, đôi môi ấy ? Nhờ một người quen giới thiệu, Chất được rõ : thiếu phụ là vợ một viên chức trong tòa lãnh sự.

Trong khi nhảy với thiếu phụ trong một bản "tăng gô", Lê Chất đột nhiên hỏi :

- Bà vẫn thích hái hoa "ti-gôn" chứ ?

Thiếu phụ nhìn chàng rất ngạc nhiên :

- Ông nói gì... tôi không hiểu.

- Có lẽ bà đã quên cả Hà thành, làng Mọc, cái biệt thự xinh xinh có một giàn hoa...

Người đàn bà ấy kêu lên, mắt long lanh :

- Có phải ông là cái anh chàng họa sĩ vẫn nhìn trộm tôi ngày trước đó không ?

Nàng nói tiếp :

- Thảo nào mới nhìn ông tôi cũng nghĩ không biết đã gặp ở đâu rồi. Tám

chín năm rồi đấy, thế mà chúng ta còn nhận được nhau...

*
* *

Mai Hạnh - tên thiếu phụ - rất buồn ở Vân Nam phủ. Nàng không có bạn. Lấy một người chồng gia thế cân đối với nhà mình, cuộc đời nàng bằng phẳng nơi đất khách. Bây giờ gặp được người cùng xứ, người đó đã dự vào dĩ vãng tươi đẹp của mình, một họa sĩ nổi danh, nàng không có cảm tình với Lê Chất làm sao được ? Hạnh thường đến chỗ họa sĩ trọ, thăm viếng mỗi ngày, và thuận sẽ cho chàng vẽ một chân dung.

Một buổi sáng, hai người đi chơi, trên một ngôi chùa Tàu cheo leo trên đỉnh núi, Lê Chất hỏi :

- Tôi biết thế nào trong đời tôi cũng còn gặp Hạnh, bởi vì không bao giờ tôi quên cái buổi chiều ở làng Mọc. Nhưng số mệnh khiến chúng ta gặp nhau lần này có phải là để chúng ta chỉ có thể trở thành đôi bạn thôi ư ? Hạnh có đoán được lòng tôi lúc này không ?

Mai Hạnh, giọng run run, tái nhợt, giơ tay bịt miệng Lê Chất. Nhưng khi Chất đã ôm nàng thì Hạnh không cưỡng lại :

- Em cũng yêu anh ngay từ buổi đầu.

Thế là, hai người như sống trong một cơn mê.

Mai Hạnh cố chống chọi lại với tình yêu mỗi ngày một lớn, còn Lê Chất thì lo ngại, tính toán như ngồi trên đống lửa. Chàng dự định cùng Hạnh trốn đi Nhật, không cần danh dự, chức nghiệp, dư luận của người đời. Nhưng Mai Hạnh tuy yếu đuối hơn, rụt rè, e ngại, sau cùng cũng nhận lời.

Lê Chất trở về Hà Nội, sắp đặt song mọi việc, lo lót giấy tờ tiền bạc, đồ dùng đi xa, tất cả đã sẵn sàng, thì phút cuối cùng nhận được thư của Hạnh : "Chất, anh hãy đi một mình và quên em đi, vì em không có thể theo anh. Ðừng giận em tội nghiệp, em không phải là loại đàn bà có thể vượt được hết những khó khăn như anh đã tưởng. Ðến phút cuối cùng em bỗng sợ, em sợ gia đình tan tác, khổ thân thầy mẹ em, chồng em khinh bỉ, tai tiếng ở đời, những lo ngại ở tương lai... Em đã thấy rằng : nếu đi với nhau chưa chắc chúng ta đã sung sướng. Anh thấy chưa ? Em là một đứa hèn ! Em không yêu anh được như anh tưởng đâu, vì em đã hy sinh anh cho tất cả những lo ngại trên kia. Vậy mà em yêu anh có thể chết vì anh được. Trong đời anh còn nhiều chuyện, anh có thể quên em được đấy ! Nhưng còn em thì thật chẳng bao giờ, chẳng bao giờ ! Vì em biết sẽ không bao giờ an ủi được, bởi em đã làm hỏng đời em, nếu em chẳng theo anh...".

Trong thư, một dây hoa "ti-gôn" nhỏ ép rơi ra : những nụ hoa chum chúm hình quả tim vỡ, đỏ hồng như nhuộm máu đào.

Lê Chất đặt một cái hôn lên những cánh hoa, và khóc. Nhưng đó là một kẻ đàn ông có nghị lực. Chàng đi du lịch Phù Tang có một mình.

*
* *

Bốn năm sau, một hôm họa sư Lê Chất thấy trên bàn mình một phong thư viền đen báo tang. Ông mở ra xem thì đó là người chồng Mai Hạnh báo tin nàng đã chết.

Họa sĩ đáp xe lửa đi Vân Nam ngay để một buổi chiều đặt trên mồ Mai Hạnh những dây hoa quen thuộc. Rồi trở về Hà Nội, ông sực nhớ ra rằng đã quên không hỏi xem Mai Hạnh chết vì một bệnh gì, một cơn cảm sốt.. hay vì sầu muộn...

Ngày nay, họa sư Lê Chất đã già, nhưng cứ đến mùa hoa "ti-gôn" nở, không buổi sáng nào ông quên mua một ôm về thay thế cho hoa cũ trong phòng vẽ, vì thứ hoa ấy chóng tàn.




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0


Tiếng lục lạc

Nguyễn Quang Lập

Quá nửa đời người anh chị mới gặp nhau. Âu đó cũng là chuyện thường tình. Sau hai mươi mốt phát đại bác vang trời báo tin ngày toàn thắng, có hàng ngàn cặp vợ chồng cách biệt hàng chục năm đã tìm gặp lại nhau. Chồng Bắc vợ Nam, chồng vợ trong ngoài song sắt nhà tù Mỹ - Ngụy, trên rừng dưới biển... ôm nhau mừng mừng tủi tủi. Thế là may mắn lắm rồi, còn bao nhiêu cặp vợ chồng cách nhau một thước đất mà gọi hoài có nghe tiếng nhau đâu!

Anh tìm chị ở Nha Trang, không có, ở Phan Thiết, không có. Ra Ðà Nẵng, mất mười ngày long đong, tất tả ngược xuôi thì gặp chị ở khu tập thể ban quân quản phường Minh Hiếu. Chị đang đứng giữa sân, tay ôm một đứa bé lên hai. Hình như chị đang nói gì với nó. Anh đứng sừng sững ở lại cổng, ngực như bị kim châm hỏa đập mạnh. Ngày anh chị xa nhau, hai người nào đã có con...

Nhưng anh đã bước lên - từng bước chậm và chắc. "Tiến lên đi, không có gì đáng sợ cả ", đó là khẩu hiệu của riêng anh suốt ba mươi sáu năm mặc quần áo lính. Chị chưa nhận ra anh - "Lại một ông nào đến ban quân quản đề nghị, hợp đồng, trách móc, kiện cáo chi đây". Anh thấy rõ chị lắm. Chao ôi, chị vẫn trẻ, trắng xanh thế kia.

- Lành! - Anh kêu khẽ.

Chị mở to mắt nhìn. Chị lúng túng đặt đứa bé xuống đất, vừa sửa lại mái tóc vừa nhìn anh chằm chằm. Anh dừng lại, cúi đầu xuống sửa lại quai dép - "Khỉ! Tại sao mình lại làm cái trò này nhỉ?" - Anh ngước lên.

- Ơ! Trời!

Chị nhận ra anh, kêu lên và đứng ôm mặt khóc. Anh chạy bổ tới, dang tay ômg ghì lấy chị. Chị bỗng giật mình đẩy mạnh anh ra. Anh kinh ngạc, ngẩn ngơ... Chị ngẩng lên: "Ơ, chồng mình kia mà, chồng mình đó chớ ai!". Thì ra đó là phản ứng tự vệ bản năng của chị - hai mươi mốt năm ròng có ai ôm ấp chị đâu! Chị sà vào ngực anh nấc lên: "Anh ơi! Sao lâu... thế". Ngày chia tay anh hứa với chị chỉ hai năm là gặp nhau thôi mà...

Anh đưa chị về khu gia binh sư đoàn. Anh là đại tá tham mưu trưởng sư đoàn. Còn chị, ròng rã hai mươi mốt năm xa anh, chị vẫn là cấp dưỡng của các binh trạm 17, 26, 34... Tin anh tìm được chị, chỉ một ngày sau tất cả cán bộ, chiến sĩ trong đoàn đều biết, đến chúc mừng. Sư trưởng Hùng, người cùng anh chiến đấu mười năm nay, đến chơi liên tục chín mười tối liền. Ông không giấu giếm tình cảm đặc biệt của mình đối với vợ chồng người cán bộ cấp dưới này. Một lần, ngần ngừ mãi, ông hỏi anh: "Hỏi thực, chị vẫn còn có thể... có con chứ?". Anh mỉm cười: "Còn, anh ạ. Cũng lạ... nhà tôi đã bốn sáu tuổi rồi!". Sư trưởng nắm hai bả vai anh lắc lắc: "Tốt quá! Tốt quá!...".

Chị vẫn còn sinh nở được nhưng sức yếu lắm rồi. Mười sáu năm ở rừng chị bị nhiễm bệnh sốt rét kinh niên. Da chị xanh nhợt, tóc rụng nhiều, vàng ợt. Ðêm đêm, anh ôm chị vào lòng. Chị lắng nghe nhịp tim anh còn khỏe không. Anh cũng đã già rồi, năm nay đã năm mươi bảy tuổi chứ ít đâu. Rất nhiều lần chị ngước lên, thấy kề sát mình khuôn mặt già nua của anh, những nốt sần của tuổi già cùng với mồ hôi cộm lên... Chị ôm anh, sờ thấy da lưng anh trơn khô - những lớp tế bào chết mỗi ngày một dầy thêm. Chị thở dài, chỉ một năm nữa, nếu anh chị không có con, coi như hết. Tuổi sinh nở của phụ nữ mấy ai tới được năm mươi.

Sáu tháng trôi qua, vẫn chẳng có dấu hiệu gì báo cho anh chị rằng sẽ có một đứa con. Anh mệt mỏi nhìn chị mỏng như tờ giấy, ngủ khó nhọc. Một đôi lần chị kêu chóng mặt, buồn nôn. Và nôn thật. Nôn thốc tháo. Anh cuống lên, nhưng cũng khấp khởi mừng thầm....

- Không phải đâu anh ạ- Chị buồn rầu nói: - Em đã sáu lần ngộ độc chất độc hóa học của Mỹ thả dạo em còn ở "xanh", từ đó em vẫn hay bị thế này!

Cổ họng anh nghẹn tắc.

Sư trưởng Hùng vẫn đến thăm anh chị thường xuyên. Ông hay nói về những bài thuốc bắc "kéo dài tuổi trẻ, hạn chế tuổi già". Ông tự đánh xe ra viện 17 mời trung tá bác sĩ Lê Giàu, bạn chiếu đấu của ông thời kháng Pháp, một chuyên gia có tiếng về khoa sản, vào khám bệnh cho anh chị. Bác sĩ Giàu là một người hiền lành, đa cảm. Nghe sư trưởng kể lại hoàn cảnh của anh chị, ông vui vẻ nhận làm một "bác sĩ riêng" cho chị. Ông tỉ mẩn kê đơn tất cả các loại thuốc có thể có trong thành phố này để chị uống, gia tăng thêm sức khỏe. Anh cầm thư giới thiệu và đơn thuốc của bác sĩ đi lùng khắp nơi và kiếm được không thiếu một thứ thuốc gì kể trong đơn, kể cả những thứ thuốc quý hiếm nhất.

Ðêm đêm, anh vẫn ôm chị vào lòng. Mỗi đêm trôi qua chị càng thấy sự bất lực của hai người trước hy vọng của mình. Có đêm chị đã để tay lên mũi anh, cố tình đánh thức anh dậy, rồi chị lại nằm ôm anh khóc. Chị đâu nỡ đầy đọa anh như thế nếu trước khi chia tay anh kịp để lại cho chị một đứa con. Một đứa con! Thiếu nó mà nỗi nhớ thương xót xa của chị về anh suốt bao nhiêu năm đã tăng lên gấp bội. Những ngày ở rừng, cứ nghe tin có một đoàn cán binh nào sắp đi qua là chị lại thắc thỏm mong chờ. Mong chờ và ngồi khóc với bếp lửa rừng. Có một lần, dạo chị còn cấp dưỡng ở binh trạm 26, nghe tin anh đang nghỉ chân ở binh trạm 34, chị gói cơm, một mình cắt rừng, đi suốt hai ngày đêm. Ðến nơi, chị kiệt sức và ngất xỉu đi vì người đàn ông tên Chi đó không phải chồng chị. Anh ấy cũng có một người vợ xa cách như chị. Anh ấy đã cầm tay chị nói một câu mà chị không thể quên được:"Thôi chị về đi. Vui vẻ mà về chị ạ. Chị cứ coi như đã gặp anh ấy rồi. Và tôi, tôi cũng coi như đã gặp vợ tôi rồi. Chị ơi! Trong chiến tranh đôi khi cũng phải có những giả sử huyền hoặc như thế để mà sống, để mà trụ vững được...". Chị về, cố gắng níu kéo cái niềm vui "giả sử" ấy để vượt qua 30 cây số rừng. Cánh rừng chị đi qua vừa bị chất độc hóa học dội xuống, lá rừng bắt đầu rụng. Chị chạy sấp ngửa và ngã sấp bên một con suối. Tỉnh dậy, chị gặp ngay ánh mắt của người binh trạm trưởng: "Có... gặp không?" Chị ứa nước mắt, khẽ gật đầu: "Gặp rồi". Mới đó đã mười một năm... Có lẽ vì chất độc ma quỷ ấy mà chị không có con chăng? Câu hỏi đột ngột ập đến cuối ký ức của chị làm chị bất ngờ ngồi dậy, mồ hôi ướt đầm.

Nhưng cuối cùng chị đã mơ hồ nhận thấy hạnh phúc đã về với anh chị. Khi đó, chị ngước lên, vẫn khuôn mặt già nua của anh lấm tấm mồ hôi. Chị rơm rớm nước mắt, tự nhiên chị khẽ rùng mình. Một cảm giác mát rượi chạy từ gót chân lên môi chị. Chị níu anh xuống, hôn đến nghẹn thở và chị òa khóc. Một chút ngơ ngác của anh. Mặc kệ. Chị rúc đầu vào nách anh, mỉm cười.

Hạnh phúc đã thực sự đến với chị. Nhưng chị chưa thông báo cho anh hay. Chị phấp phỏng chờ đợi cho đến khi nó hoàn toàn chắc chắn. Một tháng sau, chị vén áo lên, thấy hai núm vú của mình đã chuyển màu tím sẫm. Chị ngắm say sưa bầu vú của mình đang căng dần... lúc đó chị mới nở nụ cười mãn nguyện. Chị đổ bệnh, nôn và nhiệt độ tăng cao. Anh phải nghỉ việc một ngày. Trong sự mệt mỏi, nhức nhối của cơn bệnh, chị nhận ra đứa con thân yêu của chị đang thành hình. Ðến ngày thứ ba, chị tỉnh dậy, ngồi tựa lưng vào anh, thì thầm.

- Em... đã... có... mang...

Anh rú lên, ôm chặt chị, hỏi:

- Có đúng không? Xem nào!

- Xem gì kia? Vô duyên - Chị đỏ mặt đẩy anh ra.

Anh ngượng nghịu ngồi bên, ôm vai chị lắc lắc:

- Ðúng thế hả em?

Chị không trả lời, lặng lẽ hôn đôi gò má nhô gầy của anh. Ðêm đó, anh ngồi hút thuốc cho đến sáng, chị giục anh mấy chục lần anh cũng chẳng chịu chợp mắt.

... Cuối buổi giao ban hàng ngày, anh quay sang nói với sư trưởng:

- Anh Hùng này, vợ tôi... có thai rồi!

Sư trưởng Hùng ngửa người ra sau:

- Thế hả? Có chắc không? Anh đã kiểm tra chưa?

Anh cười, gãi đầu:

- Tôi biết thế nào mà kiểm tra. Vợ tôi nói thế... chắc đúng. Một tháng năm ngày rồi...

Ông Hùng đưa tay giật giật cổ áo, mỗi lần xúc động ông thường làm thế.

- Tốt quá! Tốt quá rồi!

Ông quay sang thông báo "tin mới nhận được trong ngày" cho các sĩ quan dự giao ban:

- Tin mới toanh: Ðại tá Chi sắp có con!

Mọi người ồ lên. Bắt tay. Bắt tay. Cười. Cười râm ran. Anh cười ứa nước mắt.

Ngay sau đó, khu gia binh râm ran chuyện vợ chồng đại tá Chi sắp có con. Vợ các sĩ quan kéo nhau đến chia vui với chị. Chị ngồi lặng lẽ nghe các chị đã có con bày vẽ cho cách giữ gìn thai: ăn thứ gì, kiêng thứ gì, đi đứng, ngủ ngáy ra sao... Chị nghe rồi mường tượng thấy đứa con của mình: khôi ngô, bụ bẫm, nó chập chững lần thành giường đi về phía ba nó. Chợt nó kêu: "Pa! Pa" và vẫy vẫy tay nhờ ba nó dắt qua một quãng khó đi... Tiếng người nói quanh chị nhỏ dần, quyện lại bồng bềnh trôi mơ màng như một bản nhạc nhẹ, nhàng, êm dịu...

Ðêm khuya, khi chị đã chợp mắt được một lúc, tỉnh dậy thấy anh đang lục lọi va li riêng của mình "Tìm gì vào lúc này nhỉ?". Chị nghiêng người nhìn anh. Anh ngẩng lên, hớn hở:

- Ðây rồi!

Anh chìa ra cho chị xem tấm ảnh của anh thời còn bé:

- Thằng con của chúng ta sẽ giống như tôi... như thế này.

Chị lườm anh:

- Biết là "thằng" hay "con" mà đã...

Anh ngẩn người "ờ nhỉ !" rồi cười xòa.

- Nhưng thế nào nó cũng giống tôi.

Tháng sau, tháng sau nữa... Chị bắt đầu đi lại khó khăn. Da chị đã xanh lại càng tái xanh hơn. Anh tích cực bồi dưỡng cho chị. Sư trưởng Hùng tặng chị một lít mật ong trộn rượu trắng với lòng đỏ trứng gà. Bác sĩ Giàu vẫn thường xuyên đạp xe đến thăm thai cho chị. Chị đang sống trong thời kỳ sung mãn nhất của hạnh phúc thì đột nhiên đổ bệnh. Lần này nặng hơn, đến nỗi sư trưởng Hùng có đêm phải thức trắng với anh ngoài hành lang phòng hồi sức. Bác sĩ Giàu trực tiếp chạy chữa cho chị. Ông nhận thấy khát vọng của chị đã trở thành nhiệm vụ khắc nghiệt đối với ông. Bệnh của chị khá trầm trọng. Không chỉ suy dinh dưỡng, thiếu máu vì tuổi già như một số ca bệnh thường gặp, chị còn có một bệnh đáng sợ hơn, đấy là chất điôxin của chất độc màu da cam đã ngấm toàn thân chị. Tất cả các bảng phân tích hóa nghiệm về chị đã cho ông khẳng định như vậy. Cố nhiên điều này thì ông giấu mọi người. Ông bình tĩnh chống trả quyết liệt với căn bệnh nguy hiểm của chị. Tin tưởng ngay vào tay nghề của mình, không bao giờ ông mất hy vọng.

Và rồi chị cũng đã khỏi bệnh. Chị ra viện, tuy có yếu hơn, vàng vọt hơn. Khi sắp đến ngày sinh nở, hầu như chị không đứng vững nữa. Anh dành tất cả thời gian rảnh ở bên chị. Anh trở thành cái nạng chống thực sự của chị. Mỗi ngày mỗi mệt nhọc, uể oải hơn nhưng trên nét mặt vẫn không hề giảm đi niềm hân hoan của một phụ nữ đến cuối kỳ sinh nở bỗng nhiên có một đứa con.

Ðêm. Anh vén áo chị lên, ghé tai nghe tiếng đập của con mình. Anh nghe một cách nghiêm túc và kiên nhẫn. Rồi anh nằm xuống, ngó lên cái lục lạc treo ở trần nhà. Cái lục lạc đã theo anh mười bốn năm nay khắp tất cả các chiến trường. Một người bạn chiến đấu trước lúc hy sinh đã trao lại cho anh: "Cứ mỗi lần thắng trận mày rung lên cho tao nghe thấy, tao mừng". Anh đã làm theo lời dặn dò chưa lúc nào quên. Cái lục lạc bằng sừng dê, được chuốt, chạm trổ bằng bàn tay nghệ nhân, mỗi lần rung lên nghe như tiếng trẻ con cười. Sau ngày toàn thắng nó được treo lên ở trần nhà. Ngày mai, thằng con anh - không hiểu sao anh cứ nghĩ đó là "thằng" - lớn lên, chỉ cần một tuổi thôi là anh đã giao lại cái lục lạc cho nó rồi. Nó có nghĩa vụ phải giữ cái lục lạc cho hết đời mình. Ðể khi bố mẹ nó đã yên nghỉ dưới "suối vàng", mỗi lần thành công việc gì, nó phải rung lên cho bố mẹ nó mừng...

Anh lại nhổm dậy, vén áo chị, ghé tai nghe tiếng con mình.

- Thôi mà! Chị dịu dàng phản đối: - Anh làm phiền con quá.

Anh không chịu:

- Yên nào! Ðể anh xem con nó có ý kiến gì không?

Chị phì cười. Rồi chị cũng tự nhiên tò mò:

- Nó có "ý kiến" gì không?

Anh ngẩng lên, đáp tỉnh khô:

- Không. Nó nhất trí hoàn toàn. Nhưng tại sao anh lại nghe "te- è, te-è"... hay nó đang thổi kèn?

Chị đạp khẽ vào vai anh:

- Ông già ơi... ma bắt ông đi cho rồi.

Anh cười khà:

- Ngày mai anh sẽ giao cái lục lạc cho nó, nó không cần phải thổi kèn, mệt.

Và anh ôm hôn chị.

- Lão già này sẽ hỏi vợ cho thằng con lúc nó mười sáu tuổi.

- Lại "thằng".

- Nhất định là "thằng", lão già này đã nằm mơ thấy lão và con lão đến nhà bố vợ nó rồi!

*
* *

Ngày đứa trẻ ra đời đã đến. Chị run rẩy bước vào phòng hộ sinh. Hai nữ y tá dìu chị từng bước một lên bậc tam cấp. Bác sĩ Giàu đứng chờ ở cửa. Ông trực tiếp đỡ đẻ cho chị, bởi vì ông biết chắc đây là một ca đẻ khó. Sau lưng chị là anh, sư trưởng Hùng và gần sáu mươi sĩ quan cùng sư đoàn. Họ hồi hộp ngóng theo bóng chị. Bác sĩ Giàu khép cửa, ông giơ tay chào, ra hiệu cho mọi người "cứ yên tâm".

Một giờ... hai giờ... ba giờ... Anh đã uống liền mấy cốc nước đầy. Sư trưởng Hùng thỉnh thoảng lại đưa tay rung cổ áo. Một vài sĩ quan ghé tai vào khe hở căn phòng chờ nghe tiếng trẻ khóc. Bốn giờ... năm giờ... một nữ y tá mở cửa bước ra, lập tức chị bị giữ lại:

- Ra sao rồi?

- Chị Lành sinh rồi. - Chị y tá mỉm cười, nói run run - Con trai.

- A, hoan hô.

Mọi người nhảy lên. Sư trưởng Hùng ôm lấy anh lắc rất mạnh. Anh quay cuồng trong niềm vui sướng tột độ. Chợt anh nghĩ đến cái lục lạc mà anh đã nhớ mang theo khi đưa vào viện...

Trong buồng hộ sinh, chị nằm lịm đi sau khi đã hỏi "trai hay gái" và mỉm cười sung sướng được bác sĩ Giàu cho biết: con chị là con trai. Ðứa trẻ đã được đua sang phòng hồi sức thai nhi. Người hộ sinh già đang "tắm cho thai nhi trong bể nước hấp nhiệt. Bác sĩ Giàu đứng dựa lưng vào tủ thuốc thở dốc. Ðiều mà ông cố gạt đi trong tiềm thức có lý của ông đã đến... Ðứa bé là một con - người - dị - dạng! Chân trái cháu bị bẻ gập ra sau, cứng ngắc. Mặt cháu bị bóp méo đến ghê gớm: mi mắt trái phình ra rất lớn, kéo xuống bịt kín toàn bộ gò má. Môi dưới cháu cũng phình to, trệ xuống quá cằm. Không! Tạo hóa không tàn nhẫn như vậy. Chỉ có chất độc màu da cam đã ngấm với một nồng độ rất cao trong cơ thể người đàn bà tội nghiệp kia, mới gây ra như thế.

Người hộ sinh già làm việc với một thái độ điềm tĩnh kỳ lạ. Tự nhiên ông thấy ghét người hộ sinh kia. Ông cảm thấy bức bối, khó thở:

- Nước! Cho tôi ly nước.

Ông kêu to. Một trợ tá từ phòng trực vội vàng cầm ly nước bước vào. Ði ngang qua đứa bé, chị đứng sững lại, giật lùi... Choang! Ly nước vỡ tan tành. Chị ngồi thụp xuống, lặng lẽ ngước lên nhìn bác sĩ Giàu.

Ông không nói gì, khẽ thở dài, đi về phía cửa sổ.

Ông mở hé cửa nhìn ra. Ngoài sân, mấy chục người lính đang quây tròn bên bố của đứa trẻ mới sinh. Anh đang giơ cao cái lục lạc rung rung, nói như reo:

- Tôi sẽ hỏi vợ cho nó lúc mười sáu tuổi.

Tiếng lục lạc vang lên, nghe như tiếng trẻ con cười.

Huế, tháng 10 năm 1984




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Hoa nở đêm

Huy Phương

Chị ra đi, để lại cho anh năm nghìn đồng, rút trong món tiền tiết kiệm bé bỏng của hai vợ chồng và một lời dặn.

Khi chỉ còn hai vợ chồng trong căn phòng hẹp, chị choàng tay lên vai anh, nói như nói thầm:

- Công việc của anh, em không phải nhắc. Chỉ xin anh điều độ và giữ gìn sức khỏe... Nhớ coi giùm em chậu hoa ở hiên sau. Chỉ vài ba tuần nữa là hoa nở đấy.

Tưởng là việc gì. Bây giờ anh mới hiểu vì sao mấy hôm nay chị cứ dậy từ tờ mờ sáng. Lịch kịch thu dọn ở cái hiên sau giá buốt gió mùa ấy.

Chẳng biết bao nhiêu lần anh tiễn đưa chị ở sân ga. Lòng anh nao nao, khi vẫy tay theo cái khung cửa cứ bé dần đi như một tấm ảnh thu hình, ở cuối con đường tàu loáng ướt nước mưa.

*
* *

Anh vẫn sống điều độ. Cái trật tự gia đình đã đi theo chị. Bàn viết của anh bây giờ là cả một mớ bòng bong những giấy má, sách báo, những chén trà cáu bẩn, cái gạt tàn đầy ngộn mẩu thuốc lá. Món tiền năm ngàn là quá nhỏ đối với cái công trình khoa học anh đang theo đuổi. Còn chậu hoa dưới mái hiên khuất nẻo kia là biểu tượng quá lớn của vũ trụ thiên nhiên. Anh đóng cửa về phía vũ trụ từ khi chị đi. Vì đó là nơi hứng gió mùa, là một nửa thành phố pha tạp, quay cuồng mua bán. Còn phía sau cửa sổ, nơi bàn viết của anh là mặt hồ yên tĩnh, là hàng sấu lốm đốm lá vàng, là nửa cái thành phố thuộc về suy tưởng. Những đêm thức rất khuya tiêu nốt những đồng bạc cuối cùng thành khói thuốc, anh có cái cảm giác đang sống lửng lơ trên một vùng biên giới nào đó nửa hư nửa thực của cái thành phố vừa đáng yêu lại vừa đáng ghét này.

*
* *

Anh nghiên cứu về Trần Thủ Ðộ. Rồi anh sẽ viết về Cống Chỉnh, về Võ Văn Nhậm. Có thể là cả về Nguyễn ánh... Về những danh nhân ra đời ở nơi giáp giới của Công và Tội, về bao nhiêu bậc tài đức còn khuất tên. Sử học, theo anh, đáng yêu chính là ở những vùng tranh tối tranh sáng ấy. Trong cái môn khoa học đầy bất trắc này, anh muốn soi rọi ánh sáng vào những nơi còn che khuất "đằng sau mặt trăng", như người ta thường nói. Và có thể, với anh, một nhà nghiên cứu trẻ tuổi, đó là con đường mạo hiểm, dẫn dắt bởi một tham vọng điên rồ.

Chị chẳng hiểu gì về nghề nghiệp của anh. Chị chỉ là một thầy thuốc. Chuyên về bệnh sốt rét, yêu con người, yêu thiên nhiên. Không, chị còn yêu anh nữa. Nhưng cái thành phố dở trăng dở đèn này không ráp mối nổi những sợi dây mong manh trong trái tim giầu xúc cảm và sôi nổi của chị. Nên chị vẫn thường sẵn lòng nhận những chuyến đi công tác ở nơi xa.

Giống như anh, chị cũng đang tìm kiếm một điều gì đấy. Họ chẳng bao giờ cản trở nhau. Vì hai người đều hiểu căn phòng ở nơi biên giới của hai nửa thành phố này sẽ chỉ còn là một đảo băng dễ vỡ, ngày nào cả hai người chẳng còn chút khát khao nào đối với những chân trời mà họ muốn tìm kiếm.

*
* *

"Cuối cùng, cũng chỉ là tình yêu thôi". Chị nói thế. Và anh cũng nghĩ thế. Với mỗi chuyến đi xa, chị mang theo nỗi nhớ anh. Vậy mà anh, để làm cái công việc này, anh lại đang cần nhiều quên lãng.

Cứ vậy, cho đến một buổi sáng ngẫu nhiên anh mở cửa, trông ra hiên sau. Anh suýt bật kêu lên thành tiếng khi thấy cả chậu quỳnh sum suê trắng xóa một mầu hoa. Giữa những cành lá rậm rạp, những cuống hoa dài rủ xuống thõng mượt, với những búp hoa đã khép lại như những cái đầu thiên nga đã gẫy cánh. Lồng ngực anh đau tức như có một cái gì đang thít lại: Hoa đã nở hết đêm qua, có lẽ vào lúc cơn gió mùa đổ về dữ dội nhất, những bông hoa mà chị chăm bón, nâng niu, gửi gắm cho anh trước khi lên đường.

Bàng hoàng, anh bước qua bậu cửa sổ. Còn nhìn ngắm gì nữa, những đóa hoa tàn, tối qua đã nở hết mình trong mưa, trước một nửa thành phố ghẻ lạnh, thờ ơ và bên cạnh một ông chủ mải lang thang ở chân trời sử học. Anh đếm từng bông hoa, như đếm sức nặng mỗi lỗi lầm của chính mình.

*
* *

May mắn cho anh, sục tìm một lúc trong đám lá dày, anh vẫn còn thấy sót lại một bông hoa chưa nở. Tim phập phồng, anh tìm kéo cắt vội cả cành hoa, thận trọng mang cắm vào lọ.

Và đêm nay, trong căn phòng vắng, anh thấp thỏm chờ hoa nở. Dưới vầng ánh sáng ngọn đèn bàn giờ phút này, đối diện với nhau chỉ có anh và bông hoa còn khép cánh.

"Em có nở không bông hoa...

"Em có chịu nở không bông hoa hoang dã và hết mực vô tư kia?". Anh thầm thì và hơi thấy buồn cười với cái ý nghĩ chải chuốt của mình. Không, anh đang nghĩ đến một điều thật nghiêm chỉnh. Ðến mức gần như gắn liền với hạnh phúc và số phận của anh lúc này. Lẽ ra, cẩn thận hơn, anh phải đi hỏi bạn anh, một nhà thực vật học, xem hoa quỳnh có còn nở được không khi đã cắt lìa thân đem cắm vào lọ. Và bây giờ anh thấy lo lắng, canh cánh trong lòng một mối băn khoăn, day dứt.

Hai nửa thành phố như không còn nữa. Cái biên giới thực hư lửng lơ trên căn nhà không còn nữa. Mà ngoài cửa sổ chỉ là một thứ ánh sáng bàng bạc mầu xanh của đêm cuối thu, không có thời gian. ánh sáng ấy chiếu tỏa khắp nơi, đến mãi nơi đáy lòng của anh. Và đúng lúc ấy, anh thấy búp hoa cựa mình, giống như một sinh vật vào phút giây thoát xác. Rồi một chớp mắt sau, rất nhanh, khi những chiếc lá bên cạnh chưa ngớt rung rinh, những cánh hoa trắng muốt chậm rãi xòe ra với dáng mực thước, tự tin của những ngón tay nghệ sĩ, một mùi hương thoang thoảng tỏa ra từ những nhị hoa vàng nhạt.

Lúc đó, anh nghẹn ngào cảm thấy như có hàng vạn đóa hoa như thế, cùng một lúc bung nở khắp thành phố với một mùi hương thầm trìu mến và hòa giải.

Riêng với anh, bông hoa này mới thực là bông hoa chị giữ lại cho riêng anh. Cùng với năm ngàn đồng chóng tan thành mây khói, với chìa khóa, với sổ gạo, phiếu dầu và bao nhiêu thứ vụn vặt làm nên hạnh phúc.

Những bông hoa như thế vẫn nở mãi từ ngàn xưa trong lịch sử.

Mùa xuân 1989



Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Tiếng gọi ngàn

Ðoàn Giỏi

Cứ vài ba tháng là bà con ấp Kèo Nèo lại rủ nhau tổ chức đi "săn hội" một lần. Bởi lâu ngày thèm thịt, ăn mãi cá tôm phát chán cũng có. Bởi thích thú chạy nhảy đuổi bắt, hò la thỏa sức cũng có. Ðối với các tay lì lợm có chút ít võ nghệ thì đó là dịp phô phang tài trí, đem gan góc ra thử thách, đối chọi với nanh vuốt của các con vật rừng hung hãn nhất.

Ðàn ông trai tráng khỏe mạnh tích cực, tất nhiên. Mà đàn bà trẻ con yếu ớt cũng hăng hái theo phụ trợ. Bởi các con thịt lớn săn được, đều có phần chia cho từng nhà, còn con nào nho nhỏ thì gia đình ai bắt được nấy ăn. Và cũng bởi trong các câu chuyện kể ở các tiệc nhậu giỗ, nhậu cưới... thì chuyến đi săn được thực khách đứng ra biểu diễn lúc chính mình đánh nhau với ác thú, bao giờ cũng là tiết mục hấp dẫn, hồi hộp, khoái trá được mọi người hoan nghênh nhất. Mà ở cái xứ rừng heo hút của đất Gò Quao - trong những năm hai mươi của thế kỷ chúng ta đang sống đây - đã gọi là tay "võ dõng" thì nào ai há chịu kém ai. Chính vì thế mà hầu như không có mấy con vật rừng sống sót, mỗi lần họ tập hợp hàng đôi ba trăm người hăm hở kéo nhau gõ thùng thiếc, khua chiêng huơ dáo mác vây kín cả một khu rừng nào đó, từ lúc mặt trời còn chưa ló dạng.

Từ hổ báo, lợn rừng, nai, hoẵng, khỉ, vượn, chim nước, kỳ đà, rắn, rùa... cho tới con nhen con sóc vừa giật mình thức dậy nhô đầu ra khỏi bộng cây, con chuột nhum ăn đêm chưa kịp về đến tổ chui trốn xuống hang cũng đều khó lòng thoát khỏi tay họ. Nói chung tất cả các loài bò, bay, lùi, chạy trong khu rừng bị bao vây đều biến thành mồi nhậu của những bữa rượu kéo dài thâu đêm.

Vậy mà lần nọ, có một con lợn rừng con thoát chết. Lợn rừng mẹ đã chống cự quyết liệt để bảo vệ con. Bị mác thông đâm lút cai, nó không ngớt hộc lên dữ dội, còn nghẹo cổ cắn nát cái mác thông và húc mấy người suýt toi mạng. Hạ được mẹ rồi, họ nổi khùng giết luôn cả đàn con. Còn một con trốn chui vào hốc cây. Khi một ngọn mũi chuồi vừa chong ra, sắp sửa thọc vào hông con vật rừng bé nhỏ thì chú Tư Ðằng trưởng ấp phát hiện thấy nó có cái vá trắng giữa trán, bèn la lớn:

- Dừng tay lại! Ðừng đâm... Ðừng đâm nghe các cha nội!

- Tại sao? Người toan đâm, mắt đầy sắc khí, hầm hầm quay lại hỏi.

- Linh vật đa! Không thấy cái đốm giữa trán nó sao? Từ nhỏ tới giờ tôi mới thấy giống heo rừng có con này là một.

- Vậy mà thả nó sống để nó lớn lên thành tinh à?

- Thả đâu! Bắt về chớ! Ðể bắt nó về tặng thầy giáo Bẩy!

Nhờ cái vá trắng giữa trán và lòng mến mộ thầy giáo Bẩy của bà con ấp Kèo Nèo mà con lợn rừng con này thoát chết.

*
* *

Thầy giáo Bẩy thích nuôi chim, nuôi khỉ, nuôi trăn... Khi chúng quen người và lớn rồi, thầy thả sống tự do chứ không nhốt. Dường như con nào cũng "khôn", rong chơi chán - có khi đến vài ba tháng - lại biết tìm về nhà chủ. Nhưng rút cuộc nhà thầy không còn con nào. Có thể chúng sa hầm vướng bẫy, thọ tên chết ở một cánh rừng nào đó, cũng có thể chúng ra đi theo tiếng gọi của núi rừng và giống loài muôn thuở cũng nên. "Thật là uổng công xúc tép nuôi cò, cò ăn cò lớn cò dò lên cây!". Cũng đã có vài người tiếc hộ công lênh, chê thầm thầy như vậy.

Thầy Bẩy được tiếng là người có tài thuyết phục các con rừng mà ai cũng cho là khó nuôi dạy. Nhiều lúc thầy ngồi suy tư hàng giờ, con trăn bò lên cổ, quấn quanh người, thè lưỡi liếm mặt, thầy cũng không động đậy. Chú Tư Ðằng từng nghĩ: ắt thầy là người khai sáng một thứ Ðạo gì đó, chẳng qua "phong vân chưa gặp hội" nên còn ẩn tích mai danh, chưa ra mặt cứu đời. Cho nên khi ôm con lợn rừng con đến tặng thầy, chú có nói vui, giọng thật thà: "Biết đâu nó cũng là một Thiên bồng nguyên soái (1) phải đọa xuống trần cũng nên!". Thầy Bẩy cười, cám ơn chú rối rít, rồi lại lắc đầu cười mà chẳng có ý kiến nhận xét, bình phẩm gì.

Nói cho "miên" thì bà con chẳng ai rõ lai lịch thầy Bẩy. Người thì bảo chắc ông thất tình hoặc trốn nợ; kẻ cho rằng: có chữ nghĩa như ông, ra làm việc thì thông ngôn ký lục dễ như chơi, lại bỏ trốn thị thiềng lánh về xứ khỉ ho cò gáy này, sống như một nông dân lam lũ, là ông muốn tỏ thái độ bất hợp tác với nhà nước Pháp... Tất cả những tiếng xầm xì ấy đều có đến tai thầy. Thầy chỉ mỉm cười. Mà điều này chánh hương quản ở tận trên "nhà việc" cách hai mươi cây số cũng có để mắt tới. Nhất là chuyện khi mới về đây, thầy thường khuyên nhủ bà con cố gắng cho con cháu đi học để "mở mang tâm trí". Biết vậy, nhưng mà học ở đâu? Ngay cả xã và các làng phụ cận cũng không có lấy một trường tiểu học? Hương chức hội tề nhiều ông còn dốt đặc cán mai, tập được một chữ ký tên cũng là khá lắm. Thầy xin phép làng, đứng ra dạy các em học tại nhà mình không lấy một xu cắc bạc nào; trò nào nghèo quá thầy còn cấp cho cả giấy bút. Bà con dân ấp cảm phục nghĩa cử ấy, mặc nhiên gọi ông là thầy giáo. Lâu ngày thành một danh xưng. ở thời đế quốc tư bản Pháp khuếch trương kinh tế lớn tại các thuộc địa sau đại chiến thế giới thứ nhất, giữa lúc mọi người bon chen theo đường danh lợi, giữ mình thanh khiết được như thầy là chuyện hiếm. Thầy cất một ngôi nhà sàn nhỏ ngoài đầu xóm, xin phá đất cấy một khoảnh ruộng nhỏ đủ gạo ăn; cũng đi "ăn ong", đốn củi như mọi người. Ngoài những giờ lao động, thầy lấy sự dạy trẻ và chăm sóc các con vật rừng làm vui. Hầu như thế sự gác ngoài tai.

Thầy đặt tên con lợn rừng còn sống sót ấy, tên con Vá.

Ðó là một con cái đã bước vào tháng tuổi thứ tư. Nếu không gặp tai họa vừa rồi thì nó vẫn còn quây quần bên mẹ cùng các anh chị nó, cho đến hết tuổi hai năm mới lìa đàn. Dù sao trong ba tháng theo mẹ lùng sục giữa rừng bụi hoang vu, nó đã có thể sống tự lập được rồi. Ðâu còn tính thuần khiết ấu nhi như những chú lợn rừng non mới đẻ bị bắt còn chưa kịp phủ lông tơ, chịu phục tùng bú bình sữa hay núc vú một con chó cái đẻ mất con.

Tính chất hoang rợ còn nguyên vẹn đó là trở ngại lớn, trong cố gắng đem lại sự gắn bó với con người cô đơn này. Hơn nữa, nó đâu phải là một con chuột lang mua ở chợ về, một con chuột lang con lần đầu tiên mở mắt trong nhà người. Ngoài khoai sắn, khoai lang và các thứ rễ củ mềm, con Vá còn đánh hơi thịt sống. Nó đã thè chiếc lưỡi nhám thử liếm từng nhát một, khúc thịt rắn thầy Bẩy xin về ném chỗ góc sân. Và cũng bắt chước mẹ trong tư thế ngồi xổm trước thây con chuột nhum hay thây con rắn mai gầm: những cung cách quen thuộc đã thổi vào tâm hồn con vật dễ nổi xung này, tính e dè sợ hãi và thói ưa dọa nạt, vốn là bản tính của các loài thú rừng hoang dã.

Việc dạy tập cho con Vá quen người phải kiên trì từng bước. Tất cả bộ dạng nó đều thoát ra một sự nghi ngờ. Thấy người lạ, nó lùi phắt lại. Hai chót tai nhọn hoắt của nó cụp xuống dựng lên một cách dữ tợn, những nếp cau ngược giữa vá trán rung rung và hai khóe mép bóng như nhọ mỡ chốc chốc lại nhếch một cái để lộ những chiếc răng hàm mới nhú trắng tinh. Chót đuôi cũn cỡn túm lông bé tẹo của nó quật mạnh vào hai bên mông liên tục, và nếu thấy người làm một cử chỉ đe dọa như dư dứ cánh tay chẳng hạn, là y như nó lao tới một bước chẳng khác gì mẹ nó lúc giận dữ chìa hai chiếc nanh cong nhọn hoắt ra, lao thẳng vào bụng kẻ thù xốc ngược lên trước khi quật xuống đất. Tất nhiên là "thế võ cổ truyền" ấy nó mới chỉ đánh vào không khí, đầu hất qua hất lại một cách còn rất vụng về.

Và đã phải khá lâu, con Vá mới quen dần, chịu đứng yên để thầy gãi lưng, trong lúc đang nhai tóp tép những bắp ngô non. Thức ăn bằng động vật sống như ếch nhái, rắn con... mà đám học trò đập được dọc đường, mỗi ngày mang đến cho nó, khoảng cách ấy thưa dần theo lệnh thầy giáo. Khi nó chỉ được cho ăn chuối cây thái ủ chua và các thức ăn nấu chín sền sệt như cháo gạo lức... thì đối với nó từ chỗ lạ lẫm ngạc nhiên buổi đầu, qua vài hôm đã thành một sự thèm quen thích thú. Khi móng nó đã to như chiếc cốc, hai chiếc nanh nhọn bắt đầu nhô ra khỏi khóe mép và chỉ một cái hất mõm, nó đã đánh gẫy rắc chiếc cột chôn giữa sân thì những bữa ăn đúng giờ giấc cũng bắt đầu.

Còn những trò đùa nghịch thì nó mới chỉ học được quen quen thôi. Như ủi lăn những khúc gỗ cắt ngắn chất trong sân chưa bổ thành củi, lắc mõm đánh rơi từng quả mướp xác - tròn như quả bóng te - nít - thầy Bẩy lần lượt tung lên trước đầu nó, đuổi nhau với Bé Hai con chú Tư Ðằng và con chó Mực nhỏ chạy vòng quanh sân... đôi khi thầy Bẩy cũng tham gia. Sắc lông óng mượt hoe hoe toàn thân rực vàng trong nắng, đã xóa hết những vằn lông sọc dài thẫm màu, lùi xùi, thưa và cứng hai bên hông, còn cái vá trắng cũng to gần bằng bàn tay. Nó đã là một con lợn rừng choai có bước đi chững chạc, chân đứng khá cao.

Dù có cao to nặng cân hơn trước, nó vẫn thừa nhanh nhẹn lao theo đớp những con dơi muỗi bay là là trên sân, rồi đứng vẫy đuôi nhai gau gáu, và khước từ không nghĩ đến chuyện làm cho con chồn, con cù lần(2) đã được thuần hóa luẩn quẩn dưới sân nhà lo ngại.

Chỉ có một điều làm nó khủng khiếp: đó là những người nông dân lực lưỡng cởi trần vác đòn xóc, dắt những con trâu có cặp sừng cong nhọn hoắt đi qua bên ngoài rào.

Nhún nhường và tự hạ buổi sáng, nghịch ngợm hoặc lục lọi ủi chơi nhăng nhít sau các bữa ăn, đó là đặc điểm của nó ban ngày. Tuy nhiên, nhiều lúc nó cũng suồng sã nhảy lên sàn, chực bên bàn thầy Bẩy đang ngồi ăn cơm để vòi vĩnh xin một vài miếng xương đang gặm dở. Nhưng ban đêm, khi gió thổi qua rừng đưa đến nó mùi hương của những vành hoa mới nở, hơi thở của rừng rậm và mùi mồ hôi các loài thú hoang, con Vá cảm thấy bồn chồn, nó không ịt ịt nữa, mà đầu hết lắc bên trái lại lắc bên phải, ẹc ẹc giống như lúc nó theo mẹ lần các con đường mòn dẫn ra những rẫy ngô, ra các ven đầm nước. Nó loanh quanh đi trong sân, nhiều lúc chồm lên vách rào cố lách mõm ngó ra ngoài tò mò muốn được đến gần nhìn xem những gì mà các giác quan vừa tiếp xúc, khiến nó cố đoán ra.

Giam nhốt nó vào cũi vào chuồng, chuyện ấy dễ quá, ai chẳng biết nhưng thật là lố bịch. Bởi điều đó, trước hết là trái với quy luật của ngàn xanh. Cũi chuồng vốn là sáng kiến của những kẻ tàn nhẫn. Thầy Bẩy vẫn nghĩ thế. Hơn nữa, con Vá đâu phải là con lợn thịt.

Chủ nó đã tập cho nó quen đeo vòng cổ. Ðầu tiên thầy chỉ buộc quanh cổ nó một vòng dây da có khóa sắt nhỏ, xem như một món trang sức. Và đính thêm chiếc lục lạc, nhất cử nhất động của con Vá đều rung leng keng. ít lâu sau lại buộc vào vòng cổ một đoạn thừng thả lỏng. Tất cả những việc đó đều xem như trò chơi. Dù con Vá nhiều lúc có nổi xung, nhẩy dựng ngược, quay đầu đánh tung sợi thừng vướng víu, sự bực mình ấy vẫn cứ là trò chơi kia mà.

Chiếc vòng de đeo ở cổ con Vá cứ nửa tháng lại được nới rộng thêm một nấc, nhưng không bao giờ rời cổ nó nữa. Thường ban ngày nó vẫn ngủ từ sáng đến ba bốn giờ chiều. Giờ đó, tập tính giống loài mới đánh thức nó dậy đi ăn. Bây giờ cái ăn không phải lo. Nó tha hồ rong chơi, lê la đi khắp sân. Ban đêm, đầu thừng thả lỏng mới được buộc vào bên chân bậc thang lên xuống nhà. Nó chỉ cần ngoái cổ cắn một nhát đủ đứt phăng. Tuy nhiên, con Vá vẫn phục tùng nằm đấy, như một cần vụ trung thành suốt đêm thức canh cho chủ ngủ, an tâm về sự hiện diện của chủ mình trên ngôi nhà với ý thức kiêu hãnh được bảo vệ tuyệt đối, không hề lo sợ một cuộc tấn công bất thình lình của con hổ - con báo nào có thể xảy ra đối với nó.

Ngờ đâu chính đoạn thừng thả lỏng ấy đã gây nên một tai biến.

Hôm nọ thầy Bẩy có việc bận đi vào xóm. Bọn học trò lau nhau về hết rồi, chỉ còn mỗi Bé Hai ở lại thổi nồi cơm giúp thầy - thỉnh thoảng ban đêm nó còn ôm mền đi ngủ với thầy cho vui - con Mực theo lệ thường chạy đến đón cậu chủ nhỏ. Bé Hai nghe tiếng sủa, mở cổng cho con Mực vào. Vá và Mực cùng mừng rỡ nhẩy cỡn lên, hệt đôi bạn nhỏ lâu ngày gặp nhau. Thế là trò chơi đuổi bắt quanh sân như trước kia lại diễn ra. Bé Hai bận quay vào trông nồi cơm, quên khuấy cánh cổng mở. Ðùa nghịch một lúc, Mực bị đuổi gấp, nột quá quay cắn vào chót mõm Vá một cái rồi chạy vọt ra cổng. Vá lập tức phóng theo. Mực về đến gần nhà, cậy nhà bèn quay lại khòm xuống vẫy đuôi nhảy qua nhảy lại, tỏ ý bỡn cợt thách thức. Khi Vá lao tới, Mực nhanh nhẹn chui qua chiếc thuyền úp, kê trên bốn thanh đà gác chéo của ông trưởng ấp kéo lên bờ sông chờ sửa chữa. Ai chẳng biết ngón võ lợi hại của lợn rừng khi đánh nhau với hổ, là dụ hổ đến gần một thân cây đổ ngang mặt đất. Hổ quen thói nhảy lên cao chụp xuống bám lưng để cắn cổ đối thủ, sẽ bị lợn rừng luồn vụt qua dưới thân cây. Hổ bất ngờ bị thân cây đánh vào mặt như búa giáng, tất ngã lăn ra, chưa kịp choàng dậy thì đã bị lợn rừng quay phắt lại, vung hai chiếc nanh cong nhọn hoắt xóc vào hạ bộ hất tung lên. May mắn mà sống sót, nếu con nào không mất giống thì cũng cạch đến già... Mực vừa chui sang bên kia, thì Vá tức khắc vận dụng miếng võ cổ truyền nhoài mình xuống luồn theo như một làn chớp. Sợi thừng thả lỏng bỗng mắc vào gốc đà bắt chéo, giật gẫy thanh đà và chiếc thuyền úp đổ sập xuống, - một bên be đè đúng giữa lưng con Vá. Nó hộc lên dữ dội, hai chân trước cào đất bắn tứ tung cố nhoài ra, càng nhoài thì sợi thừng càng căng thẳng, siết vào cổ họng. Bốn chiếc móng guốc nhọn đen nhánh như sừng của nó cày sâu vào đất cố rướn tới, các bắp thịt nổi vồng lên giữa lớp da ướt mồ hôi, nó vùng vẫy dốc hết lực nhoai ra mà vẫn không thoát ra khỏi khối nặng đè giữa lưng như một quả núi. Tiếng hộc dữ dội của nó ban đầu làm lũ gà vịt trên sân hoảng hốt chạy tán loạn - chốc sau chỉ còn là những tiếng khàn khàn rồi hổn hển từng cơn. Ðôi lúc nó nín im, dường như muốn tìm lại sức dẻo dai. Nhưng lực khỏe dẻo dai của giống nòi, thực ra đã rời bỏ nó rồi. Những bắp thịt nuộc lưng thẳng căng như sắp đứt vẫn còn giữ được các đốt xương sống dính nhau đấy, nhưng mà chóng chầy cũng có thể sẽ bục ra thôi.

Thầy Bẩy trên đường về, nghe tiếng hộc bất thường của con Vá, vừa kịp lao đến bắt gặp tình huống nguy kịch ấy, và con Vá cũng nhìn thấy thầy. Nó cố chồm về phía chủ nhưng sợi thừng mắc trong lòng thuyền úp lại kéo ngược đầu nó lại. Hai chân trước co dưới cổ như con lợn co trên bàn tế, nó ngước mắt lên nhìn chủ đang không bỏ lỡ một giây phút, è ạch cố nhắc be thuyền lên. Chiếc thuyền nặng quá không sao nhấc nổi. Thầy quay lưng chạy vào nhà chú Tư Ðằng, để mặc con Vá nằm nguyên đó, trong thế chết hiểm nghèo. Như một quả bóng xì hơi, từ trong cuống họng của con lợn rừng lâm nạn thoát ra một tiếng rên nhỏ kéo dài đầy oán trách: ông chủ bỏ đi rồi.

Khi thầy Bẩy hối hả trở lại tay cầm con dao yếm, tay xách chiếc đòn tra thì con Vá đã bất động, nhìn thẳng vào thầy bằng cặp mắt chờ đợi mênh mông, đầy nhẫn nhục, như sắp bật ra khỏi tròng bởi quá sức chịu đựng, mép sùi đầy bọt trắng. Xoẹt một cái, sợi thừng đứt phăng, và chiếc đòn tre đã bẩy được chiếc thuyền lên. Con Vá lập tức trườn ra và không phải đợi chờ lâu, chỉ mươi bước chụm chân nó đã phóng bay về nhà, chạy vòng quanh sân.

Thầy Bẩy về đến nhà vừa mệt khát. Thầy bước lại lu nước mưa chỗ đầu hồi, cầm chiếc gáo dừa khom xuống, chưa kịp múc lên uống, bỗng cảm thấy hai vai bị một sức nặng của đôi chân to tướng bất thình lình chụp bổ tới. Thầy ngã sấp xuống, vừa lăn mình chưa kịp trở dậy thì trước mặt thầy, lù lù bộ mặt của con vật rừng đã lớn khò khè thở thẳng vào mặt thầy một mùi hăng hăng.

Thầy muốn tự vệ, tay đẩy mõm nó ra, tay giữ chân nó lại. Nhưng con Vá đã đè lên người thầy, chà qua sát lại với sức nặng gần hai trăm cân của những bắp thịt rắn chắc như thép. Sự lo sợ làm thầy tuần tự mất hết cảm giác, đờ người rồi nhẹ bỗng đi và nặng trịch nhấc tay chân lên hết nổi. Nhưng trạng thái đó diễn ra không lâu. Từ trong cổ họng con Vá không phát ra tiếng gầm rít của những con lợn rừng độc khi nổi xung, đe dọa mà là một giọng gầm gừ trầm đục, sâu thẳm kéo dài. Mép nó không nhe lên, chìa cặp nanh ra mà từ trong mõm nhọn thè ra cái lưỡi nhám liếm hai bàn tay thầy đang đưa lên chống đỡ, liếm lên trán, lên mặt và khắp cả ngực cả vai thầy. Bốn chiếc móng guốc nhọn của nó choãi ra để tránh dẫm lên mình thầy, con Vá cứ đứng vẫy đuôi đưa mõm cọ cọ vào người chủ tốt bụng của nó với tấm lòng kính trọng, thương yêu và chan chứa sự biết ơn.

Bé Hai nghe thấy tiếng thầy ngã, chạy ra chứng kiến hết. Thoạt đầu, tưởng con Vá nổi cơn điên hành hung, thấy tính mạng thầy nguy cấp đến nơi, nó với chiếc đòn xóc chạy tới toan đâm con Vá. Nhưng rồi hai cánh tay bé nhỏ của Bé Hai đang lăm lăm giơ lên lấy đà đâm bỗng sựng lại rồi từ từ hạ xuống. Nó ngạc nhiên, sửng sốt đứng nhìn con vật thường được đem ra ví với người kém thông minh biểu hiện tình cảm mến chủ đến mức gần như người!

Từ hôm đó, con Vá ngày càng thêm quyến chủ. Nó chẳng muốn đùa nghịch lúc không có thầy, nghe thầy gọi dù đang chơi, đang ăn nó cũng bỏ, chạy đến ngay. Ðêm thầy lội đi soi ếch nó cũng lội theo. Buổi trưa thầy nằm đưa võng trước hàng hiên, nó trèo lên sàn nằm dưới chân thầy và đôi lúc thầy ngủ quên nó còn len lén ngước mõm lên liếm nhẹ vào chân chủ. Con Vá đã trở thành bạn chí thiết của thầy giáo Bẩy.

Nhiều người khen con vật khôn. Cũng nhiều người bĩu môi vì ghen tị với thầy: "Có khôn gì cũng là heo rừng. Trước sau gì, động đực nó cũng bỏ về rừng cho mà coi!".

Ðiều họ nghi ngờ đó đã đến!

Sáu tháng mùa mưa, gió ẩm ướt thổi thốc liên miên trong những cánh rừng tràm U Minh Thượng qua rồi, kề đến những ngày nắng nóng cháy da kéo dài của sáu tháng mùa khô cũng trôi qua. Con Vá đã tròn hai mươi bốn tháng tuổi. Ðối với một con lợn rừng cái, đó là tuổi dậy thì của một thiếu nữ mười tám.

Chẳng có gì thay đổi ngoài sự choán chỗ nằm của nó ngoài hành lang mỗi tháng một rộng thêm. Ngoài rừng có vài loại cây đã thay dần lá mới, và điều đó không diễn ra một lúc như cây trổ lộc mùa xuân. Một thứ băn khoăn đang xâm chiếm cả tâm hồn con Vá. Ðêm nó không còn có những giấc ngủ yên tĩnh như trước nữa. Nó thường đứng chồm chân, ngước lên giật giật kéo sợi thừng buộc cổ và đánh hơi bốn phía có các luồng gió thổi về. Những luồng gió từ mọi hướng đưa đến nó tiếng thì thầm của ngàn xanh và mùi rú rậm.

Người không chú tâm có thể cho là đôi tai nhọn, cứng đờ của con vật rừng không chịu nổi tiếng lũ chó xóm dai dẳng khiêu khích; còn như chú Tư Ðằng thì có thể chú tin là nó bị ma trêu quỷ ám cũng nên. Nhưng điều làm con Vá băn khoăn, bồn chồn chính là những tiếng xôn xao mà tai người không thể nghe được, nó gần như tiếng búp lá cựa mình, như tiếng lách nhẹ của một chồi non nhú lên khỏi mặt đất mềm. Ðêm này sang đêm khác, khi vầng trăng thượng huyền cứ lên cao dần thì những tiếng xôn xao mơ hồ đó nghe càng rõ hơn. Chắc chắn là gió có trở mạnh hơn và lay động cây rừng nhiều hơn.

Ðiều ấy chẳng ảnh hưởng gì đến giấc ngủ của thầy giáo Bẩy và các cuộc nhậu, các đám đờn ca đêm của những chàng thanh niên trong xóm. Tối nọ, những tiếng xôn xao ấy rõ lên đến mức lọt tai ông già Nam, một lão lâm kỳ cựu:

- Bà con liệu dỡ khoai, hái bắp đi sớm. Không khéo heo rừng về phá hết rẫy đa!

Các bợm rượu trong xóm nghe vậy liền kháo nhau: "Vậy thì ta đào hầm, gài bẫy bắt... kiếm mồi nhậu đi, các cha!"

Ban ngày con Vá vẫn ăn, tợp nước cám trong máng, vẫn ngủ ngáy rõ to và đùa nghịch như thói quen thường lệ, chẳng có gì thay đổi. Nhiều người đến chơi, tấm tắc khen con lợn rừng lớn nhanh, đẹp mã, khuyên thầy Bẩy nên coi chừng kẻo nó bứt dây, phá rào đi mất thì uổng lắm. Họ nói vui vậy thôi, chứ họ biết tỏng tòng tong con Vá đã trở thành "tù binh nô lệ" của thầy rồi.

Tuy nhiên, một hôm Bé Hai đến sớm thấy con Vá nằm dang xa chỗ sợi thừng buộc cổ. Sợi thừng đã bị răng nó cắn một nhát đứt gọn như dao cạo. Thầy Bẩy nghe kêu, chạy xuống lấy sợi thừng bện bằng da trâu mới, chắc hơn, buộc vào vòng cổ nó và làu bàu nhặt đoạn thừng đứt quật nó cho mấy cái. ồn một chốc rồi đâu đó lại vào khuôn phép. Thầy nghĩ nó muốn thử bộ răng chứ không hề ngờ là con Vá, từ trong tiềm thức, đã có hành động như mấy cậu học trò tinh quái của mình khi muốn đánh cắp của thầy một hòn tẩy, một đoạn bút chì cứ mỗi ngày rời xa bàn một chút cho đến khi thầy không trông thấy. Chuyện đó đã xếp lại và con Vá không còn cắn dây nữa.

Lại một tuần trăng mới. Ðêm sáng hơn, trông rõ cả tàu lá ráng ngời ngời lung linh tận ven tràm bên kia sông. Các loại vật nhỏ thường kiếm ăn đêm dọc chân rừng, không con nào dám mò vào đấy nữa. Tiếng xôn xao đã xua chúng dạt cả vào gần xóm.

Những tuần trăng sau đó, khi con Vá cao thêm vài phân, nặng thêm vài cân, thì tiếng xôn xao mơ hồ ấy càng rõ dần, càng nhiều hơn, thường xuyên hơn từ khi con Vá toát ra những bí ẩn của một thứ mùi đặc biệt thứ mùi bí ẩn gọi kêu đã giục những con bướm đực - từ nhiều dặm xa - bay đến tìm gặp con bướm cái đang bị nhốt trong lồng, thứ mùi khiến cho phấn hoa đực tìm gặp lại một cách diệu kỳ những nhụy hoa cái đang ra sức điểm tô cho một mùa tưng bừng hoa nở.

Ðêm ấy, gió thổi qua rào, ve vuốt sống lưng con Vá. Gió đưa đến nó mùi hương của các bụi lùm và những ngọn cây rừng cao, mùi nhựa chảy từ những cây vỏ nứt, mùi quả chín tươm mật, mùi phấn hoa vàng lay động bởi cánh dơi quạ và các loài chim đêm, li li bay vơ vẩn và ngọn gió trữ tình đón lấy mang đi gieo rắc khắp nơi.

Thầy giáo Bẩy đã ngủ rồi, biết đâu được nỗi bồn chồn của con Vá.

Theo luồng gió, tiếng xôn xao đang chuẩn bị, đã được báo trước, im bặt một lúc, bắt đầu nổi cơn lên, vượt ra khỏi ven rừng tràm và dãy ruộng sáng ngời ánh trăng. Bắt đầu từ một cổ họng, rồi nhiều cổ họng khác tiếp theo. Tiếng hộc...hộc... gào lên vang rền.








Nghe tiếng kêu đầu tiên, con Vá đã đứng phắt dậy, ngước đầu lên, đuôi quật vào mông, giẫm chân trên hành lang và chồm ra lan can. Nó bắt đầu lôi thừng buộc cổ họng ra. Ngoài kia, những con lợn rừng đực của đàn tộc đang không ngớt gọi kêu những tiếng mà thế kỷ này sang thế kỷ khác, các con đực vẫn gọi các con cái trong mùa hôn phối.

Con Vá quên rằng chủ đang ngủ, theo sức mạnh của "Tiếng Gọi", chồm tới, kêu nho nhỏ rồi gầm lên từng cơn kéo dài. Thầy Bẩy tốc màn chạy ra.

Trước mặt thầy là một con Vá chưa từng thấy. Nó như vụt lớn trong phút chốc, nhảy dựng dựng, mọp xuống rồi lại chồm lên cao hơn. Chân sau choãi xuống lấy điểm tựa như sẵn sàng phóng lên. Nó không chú ý gì đến chủ nữa, không thèm đếm xỉa đến sợi thừng thổ tả cắn cái đứt phăng. Mắt nó chằm chằm nhìn sang phía bên kia bờ rạch.

Ðiều mà các con đực đứng ngồi không yên, gào lên, sẵn sàng đánh nhau vì "nàng" đã thấy trong tầm mắt, ấy là Tiếng Gọi giục con Vá "bắc cầu giải yếm", phải tuân theo bổn phận muôn đời của các con cái, chớ bội ước lâu hơn nữa trước định luật của tạo hóa, định luật mà Vá vi phạm để làm vui lòng con người. Và chúng giục gọi đến khản giọng, tiếng gầm gào rung chuyển cả rừng.

- Này, Vá, quỷ bắt mày à? Thầy Bẩy quát lên. Như vừa thoát ra khỏi cơn mơ, nó vụt quay đầu lại. Ðôi mắt đỏ rực chiếu lấp lánh trong bóng tối hành lang. Trông thấy chủ, dáng nghiêng đồ sộ của nó rời khỏi ánh trăng, từ từ hạ xuống. Nó nằm xuống, đuôi duỗi ra, hai chân trước co lại.

Những "anh chàng hiệp sỹ cô độc" kia, mải ngao du chốn đại ngàn, theo bản năng, từ biệt mấy rừng xa đã vượt sông hồ về đây tìm "nàng", đâu biết rằng Vá đã nhiễm mùi con người, đã quen ăn muối và thức ăn nấu chín, đã được con người kỳ cọ tắm rửa, gãi lưng. Chúng đến với "nàng" từng bước một, từ từ như khi phải lần dò tránh bẫy.

- Bé Hai!

- Con đây. Cậu học trò nhỏ thức trước, đứng rình phía đầu hồi bước ra.

- Cái gì vậy? Ai đột nhập vô nhà à?

- Có ai đâu, thưa thầy. Mấy con heo rừng đực kêu con Vá đó mà! Bé Hai vùng vằng đáp vậy. Nó thấy ghét con Vá quá. Thật chẳng khác gì gái nhà lành muốn lộn nài tháo ống đi theo mấy thằng du đãng.

Thầy Bẩy với chiếc thùng thiếc khua ầm lên, rồi đốt một nắm cây chai dùng nhóm bếp ném vù sang bên kia bờ rạch.

Những tiếng gầm gào bên kia im bặt. Chỉ chốc sau, con Vá lôi sợi thừng đến bên chủ. Thầy Bẩy cúi xuống, gãi gãi trên mi mắt, gãi gãi dưới cằm rồi vuốt sống lưng nó:

- Thôi nằm xuống, ngủ đi con!

Con Vá liếm liếm bắp chân thầy rồi ngoan ngoãn ịch sang bên, chờ chủ gãi bụng, gãi lưng.

Giữa lúc ấy, bên kia dẫy rừng xanh biếc ánh trăng, bóng những con lợn rừng đực lắc lư xa dần. Những vệt thẫm di động, óng ánh sắc lông như tơ tằm sống khạc ra những lời nguyền rủa dần dật từng cơn, quyện thành những chuỗi tiếng rền đường bệ hướng về những ngôi nhà đầu xóm ấp Kèo Nèo.

*
* *

Ba năm sau, con Vá nằm giữa Sở thú Sài Gòn. Một gian chuồng hẹp, trần thấp, ba phía tường đá xám và nhưng song sắt thừa sức giam nốt những con sư tử đưa về từ châu Phi.

Thầy trò con Vá kẻ một đường theo số phận.

Tan lìa ấy xảy ra từ hai năm trước.... Một hôm thầy Bẩy đi "ăn ong" chèo xuồng về chưa đến nhà thì thấy ông ấp trưởng hớt hải chặn giữa đường:

- Thầy giáo trốn đi! Trên quận đưa lính xuống xét nhà, bắt thầy!

- Chuyện gì vậy, chú Tư?

- Hai người hôm nọ trời mưa, ghé nhà thầy xin tá túc, rồi ở chơi mấy bữa... Họ là tù chính trị vượt ngục Côn Ðảo về, thầy không biết sao?

- Ai nói vậy?

- Thằng Lin chủ ghe trà vải(3) lên báo quận mà, Chính ông chánh hương quản vừa nói với tôi....

- Cám ơn chú. Tôi phải đi... cũng đành. Nhờ chú về tháo dây thả giùm con Vá ra rừng giúp tôi!

Nhưng con Vá đã bị hương quản bắt đi trước khi chú Tư Ðằng quay lại. Hương quản đưa lên biếu chủ quận tâng công. Chủ quận rừng heo hút nuôi được ít lâu, muốn kiếm chút ân huệ hầu sau có dịp xin đổi về Châu Thành, bèn trở lên biếu chủ tỉnh. Chủ tỉnh Lơcông người Pháp, nhờ lập công trạng tình báo trong trận đánh Ðức thu hồi vùng Andát Loren, được phái sang thuộc địa giữ chức quan cai trị đầu tỉnh Rạch Giá. Lơcông thích thú con lợn rừng hiếm thấy này lắm, bèn nuôi thả trong sân làm cảnh.

Buổi chiều, có quan ba Sácniê tới chơi te nít, ngồi giải khát dưới bóng cây. Con Vá thấy vui, sán đến gần bàn.

- Vas t'en! Vas t'en(4) Sácniê quát lên.

Con Vá ngỡ gọi Vá ơi! Vá ơi! Mừng cuống, xô đến chồm lên người ông ta. Ông ta sợ bẩn quần, nghiêng né làm đổ lăn bàn rượu. Sácniê giận quá, rút súng lục ra toan bắn một phát vào giữa trán con vật ngang bướng! Nhưng Lơcông cười ranh mãnh, chặn tay ông võ biền lại:

- Nó là con thú rừng, như thổ dân xứ này cần khai phá lâu năm mới hiểu được tiếng nói; lòng độ lượng bao dung và nền văn minh của đại Pháp mẫu quốc. Giết nó vô ích! Ðể tớ cho nó lên Sở thú Sài Gòn. Có khi nó còn được đưa về Pari trước chúng ta không chừng!

Nhờ cái Vá trắng mà lần thứ hai con lợn rừng này thoát chết. Tầu Lục tỉnh tu tu chở khách Hậu Giang, kéo ghe chà về thủ phủ thuộc địa Nam Kỳ có chở theo chiếc cũi nhốt con Vá. Dọc hành trình qua nhiều địa phương, nó nghe tiếng hò chèo ghe, tiếng ca vọng cổ của khách thương hồ buồn rã rượi như tiếng thở dài của người dân mất nước - nó chẳng hiểu gì - nhưng cảm thấy bồn chồn xao xuyến, bởi những âm điệu đó chẳng khác mấy giọng hát hò của những người dân ấp Kèo Nèo kia.

Bây giờ thì nó đang ở cạnh chuồng một con hổ, tặng phẩm của Hoàng đế An Nam và một con báo gấm được bắt từ một vùng rừng núi xứ Cao Miên. Chúng không phải cùng loài giống, con Vá không hiểu được chúng. Nhưng nó biết rằng xa xa bên kia - gần chuồng voi sau sở Ba Son - có những con lợn rừng, nó đã nghe tiếng và đánh hơi thấy mà chẳng bao giờ gặp được.

Dọc theo chuồng có hành lang xây theo kiểu khám đường Mỹ quốc, trên vài thân cột giả, có treo biển yết:

"Cấm kích thích các thú vật"

Và trước chuồng nó, có biển đề:

Heo Rừng

"Sus Crofa"

Tặng phẩm của ngài Lơcông

Ðám khách thị thành nhàn du, ngày ngày diễu qua các cửa chuồng, những con gấu rẻ tiền chồm chồm chắp tay há mõm chờ bánh mì, chuối, lạc rang mà trẻ con có quyền vứt cho chúng, và trò đó làm các ông phán già che ô cầm can đứng xem thích thú, cũng như các cô khâu đầm, các chị vú em, các bà mẹ và em bé đều lấy làm hoan hỉ.

Trên thân cột giả nối liền chuồng nó và chuồng con hổ, có treo biển chữ in tráng men bằng tiếng Pháp đưa từ Pa-ri sang:

"En raison des áccidents survénus aux animaux

II est Formellement Interdit

sous peine de poursuites judisiaires

De jeter quoi que ce soit aux carnassiers(5)

Nó bị liệt vào hàng thú dữ ăn thịt sống chăng? Hay đó là một sự giam nhốt nhẫm lẫn? Hay bởi cặp nanh cong để tự vệ của nó khiến người ta nghĩ nó có thể ăn thịt mình? Và chọc phá kích thích giận dữ, biết đâu nó sẽ phá chuồng ra nhai xương họ cũng nên? Dù thế nào mặc lòng, đám khách thượng lưu cũng cảm thấy rất an tâm khi nhìn vào cặp nanh cong nhọn hoắt của con lợn rừng đồ sộ bên trong hàng song sắt, như nhìn bức ảnh một tên bạo loạn bị bắt trương lên trang nhất của tờ Lục tỉnh Tân văn và họ rất mực tri ân nhà cầm quyền đã hết lòng bảo vệ tính mạng tài sản họ.

Khi mới bị đưa lên nhốt ở đây, nó ngỡ đây chỉ là một trạm chuyển tiếp, để rồi người ta lại đưa nó về với chủ nó. Nó lại được đeo vòng da vào cổ, có chiếc lục lạc rung leng keng đến là vui tai. Ðôi lúc nó cũng ịt..ịt... đòi những người đứng bên ngoài đùa nghịch với nó như trước kia người ta đã dạy tập nó không xa cánh rừng quê hương của nó là bao. Ðám khách kiêu sa ngạo mạn càng chỉ trỏ chế giếu, cho là nó cũng xin xỏ đòi ăn như những con gấu chó, gấu lợn. Thái độ khiêu khích điên khùng trước con vật bị cầm tù. Họ không biết rằng chính họ cũng đang bị giam nhốt trong một nhà tù mênh mông đó sao?

Tháng ngày ồn ã trôi qua, cho dù cách biệt ở một nơi có suối nước, có hồ ao, bên một dòng sông nhiễm đặc mùi bùn, những tiếng còi ô tô, tiếng chuông xe điện, tiếng nhà máy, mùi xăng dầu và loa quảng cáo vẫn tràn vào khu vực đầy cây xanh và cổ thụ yên tĩnh, bên rìa thành phố này.

Hai mùa mưa đổ trắng xuống các rặng còng và những cây phượng vĩ gần hồ nuôi cá đã hai lần rắc xuống thảm cỏ xanh những thảm hoa đỏ rực...

Từ lâu, nó không chồm lên song sắt để vận động các cơ bắp, như con báo láng giềng ngày ngày không mệt mỏi nhào lộn phí sức vô ích mà không bao giờ thoát ra được. Nó cũng không nhảy bắt những con mồi tưởng tượng chẳng bao giờ đuổi gặp. Nó nhớ ngôi nhà sàn thấp, xinh xinh, tràn ngập ánh nắng, quanh vuông rừng xưa là một thế giới đầy dẫy những con rắn nước, rắn mai gầm con, bò chậm chạp trong các lùm rang, các bụi gai trùm lé... những tổ trứng chích, trứng le le thơm sực mùi cỏ khô lót trong lau sậy, và cứ nằm ngơ ngẩn nhớ mùi hăng hăng của lá cỏ cây rừng.

ở đây, một cuộc sống đơn điệu, các bữa ăn nhàm chán lặp lại hàng ngày, tường đá xám lạnh lẽo và các chấn song đen sì. Nó không phạm trọng tội gì. Nhưng nó không chống chọi nổi cái lạnh. Cái lạnh đã luồn vào bên trong tim phổi nó. Ngày lại ngày nó càng kém sức dẻo dai, trở nên chậm chạp. Và khốn nạn hơn, thứ khí lạnh ẩm ướt xám xịt tràn ngập dẫy chuồng đá, cuối cùng đã gậm nhấm các đầu khớp bộ phận cơ thể và đường xương sống của nó, đến nỗi nó không thể nhảy lên nằm trên các bậc gỗ.

Từ trong thẳm sâu tâm hồn nó, mong muốn được gặp lại chủ cứ dâng lên. Nó đợi chờ. Nhiều lúc nó cố tình xem trong những gương mặt kia có chủ nó không, có khi nó nằm lim dim lắng nghe trong các giọng nói tiếng cười, hy vọng ra giọng tiếng quen thuộc của con người ngày xưa. Giờ đây mòn mỏi hết trông chừng vào đám đông rồi, suốt ngày nó nằm còng queo, lơ mơ ngủ. Chỉ đến giờ đã định, dạ dày đòi hỏi cần phải ăn, nó mới thấy chút ít hào hứng hoạt động trở lại.

Chính lúc mà con Vá không hy vọng gặp lại chủ nữa, thầy Bẩy đã tới. Nó đứng nhìn ông khách chờ mọi người đi hết mới lẳng lặng một mình bước đến bên chuồng nó. Mắt nó không còn nhận ra ở ông một chút gì. Thầy Bẩy đã trút bộ quần áo bà ba đen, chiếc nón lá... để thay bằng bộ quần áo ka ki xanh bạc màu, lấm tấm vệt dầu.

- Vá ơi! Con gái khốn khổ của ba! Mày không còn nhận ra ba nữa sao?

Con Vá đang bước đi bỗng dừng phắt lại, nhảy sang một bên, mắt nhìn căng thẳng, làn da trán co lại và vẫy đuôi liên tục.

- Con đã lớn rồi mà ba vẫn cứ nghĩ con còn bé dại. Chính vì thương lo đó mà ba đã làm mày khổ cả một đời. ờ, phải chi hồi đó...

Tưởng chừng như trên thế gian này không gì có thể tách rời nó khỏi con người đang tiếp tục nói với nó bằng giọng xúc động, những lời đầy tin cậy và thương quý ngày xưa. Trong khi thầy nói, hai bên hông con Vá hóp vào và từ trong cổ họng sù sì của nó thoát ra một tiếng dài, một tiếng thật dài khàn khàn xiết bao êm ái.

Nó lăn ra, chờ chủ gãi lưng như lúc còn là con lợn rừng bé nhỏ và khi đánh hơi thấy bàn tay chủ thò vào song sắt, nó liền chồm dậy rướn cổ thè chiếc lưỡi nhám nóng hầm hập liếm mãi bàn tay đã từng vỗ về, săn sóc nó ngày xưa. Thầy nhìn lên làn da trán nó cọ liên miên vào song sắt đã dồn lên thành một cục chai, còn túm lông đuôi thì xơ xác quá. Từ lúc nó bị hương quản bắt đi, không ai có thể đến gần để tắm rửa, chải lông cho nó, từ mình con Vá xông ra một mùi hôi nồng nặc làm cho bộ mã u sù của nó trông càng thê thảm. Từng chặp nó ngậm mút bàn tay thầy trong cái họng dài to tướng rồi lại nhả ra, và nhìn chủ bằng cái nhìn cật vấn đầy trách móc, ngốc nghếch y như thuở lên hai tuổi nó đã nhìn thấy vầng trăng đêm đêm cứ tròn dần ra.

- Sắp tới giờ đóng cửa rồi! Người gác điêng nói sau lưng thầy Bẩy. Khi thầy rút tay ra, quay mặt lại, ông ta hất bộ ria củ ấu, hỏi: "Chắc trước kia, anh có làm bồi cho quan chủ tỉnh Rạch Giá?"

- Dà! Mà chỉ ít lâu thôi... Thầy Bẩy cười nhịn nhục, đáp ứng như một tất nhiên để giấu tông tích "tên bạo loạn đang bị nhà nước truy lùng". Còn vài hôm nữa thầy sẽ được các đồng chí đưa xuống tàu ra hải ngoại học tập lớp đào tạo cán bộ phong trào, chọn lựa từ các tầng lớp trẻ: thanh niên đi làm nghĩa vụ và thầy giáo yêu nước vừa được Ðảng giác ngộ.

*
* *

Con Vá nằm đó, trong gian chuồng ẩm thấp, lông hoe hoe một màu vàng xỉn. Thiên hạ gọi nó là dã thú. Nó đã mất tên, không còn là con lợn rừng của ai và cũng chẳng còn là con vật thuộc nhà cầm quyền.

Lá vàng rụng thay cho bụi lốc mùa hè rồi gió bấc thổi về đưa cái lạnh từ phương Bắc xuống, thâm nhập vào buồng phổi con Vá đã yếu ệu lắm rồi. Mùa này sang mùa khác, nó hoài công chờ đợi con người có tâm hồn trong sáng, độ lượng đã âu yếm gọi tên nó là con Vá tới thăm nó một lần nữa, con người đã từng chăm chút dưỡng nuôi, trông thấy nó lớn lên, từng cứu nó thoát chết, đã làm tiêu tan trong lòng nó sự hiểu lầm muôn thuở xa cách những con người với các loài vật sống trong hoang dã.

"Cấm kích thích thú vật"! Con Vá đâu còn có thể bị kích thích nữa. Thứ bệnh khủng khiếp tàn phá buồng phổi con người rình mò dọc dãy chuồng ẩm ướt, kém vệ sinh đã thừa cơ nó suy nhược, tấn công nó đổ gục.

ánh đèn gác vàng vọt chiếu qua hàng song sắt. Nó nằm đó, từ cổ họng thoát ra một tiếng rên dài ảm đạm, khàn khàn. Ðâu phải nơi đây là chốn loài giống nó hẹn gặp tử thần. Một làn sóng gợn chạy dài trên sườn và hai bên hông nó. Và những tiếng rên rỉ nối liền theo. Kiệt sức bởi muộn phiền và số phận nặng trịch đè bẹp xuống, con Vá phát lên một tiếng gào tuyệt vọng về với núi rừng. Ðầu phía kia, những con lợn rừng độc chiếc bị bẫy bắt đưa về từ rừng lá Ninh Thuận, từ rừng cao Tây Nguyên đã nghe thấy tiếng gọi của con Vá. Tất cả những điều mà viên thú y sĩ, ông phó giám đốc và người gác không thể hiểu được, đã làm lay động chúng sau những chấn song. Những chiếc nanh cong của chúng nhe ra vành mép nhếch ngược, lông gáy dựng đứng, cổ họng rung mãnh liệt. Và những tiếng gầm gào không ngớt hộc lên, vang dội cả một dọc dài bờ sông Thị Nghè chìm trắng trong sương đêm.

Lơ láo giữa hư ảo đang bắt đầu trĩu xuống, con Vá bắt gặp lại những tiếng nó từng nghe, trên hàng hiên ngôi nhà sàn, một đêm trăng xao xuyến từ bên kia cánh rừng vọng sang. Nó cựa mình chồm dậy, gượng đứng lên, nhưng lại ngã vật xuống, đập vào nền đá. Bên trong đó đang triển khai cuộc giành giật giữa sự sống cố vận động các cơ bắp lấy lại sinh khí và cái chết lấn dần từng bộ phận, giữa tiếng gọi muốn dựng nó lên và tình cảm đã dí nó xuống trong tâm hồn méo mó đã biến nó thành một nô lệ của những con người.

Trong các chuồng lân cận, bóng đen lờ mờ của các loài dã thú khác cứ nặng nề lượn vòng xát lưng vào tường và các chấn song, đầu nghiêng nghiêng, cổ vươn dài tới trước, chậm chạp từng bước thận trọng như những lúc rõi theo mồi. Con thì mắt đỏ rực, con thì mắt xanh lè chói ngời đầy ánh lân quang.

Ðêm thăm thẳm, buốt lạnh, đen mù. Con Vá lại tiếp tục rền rĩ. Nó thở hổn hển, mũi lắc lư như một ống bễ lò rèn quá cũ mòn đã mất hết tác dụng. Nó thử động đậy. Nhưng cái lạnh cóng dưới bốn chân cứ từ từ dâng lên ngực về đến quả tim, trong bộ da lùng nhùng. Bốn chiếc móng guốc sắc nhọn của nó duỗi ra, không co lại được nữa và tai nó cụp xuống như lúc nó giận dữ. Nó ngóp ngóp nhại lại một cách vụng về động tác nhai rễ củ gau gáu của những con lợn rừng đang sống giữa ngàn xanh tự do.

Tiếng than vẫn kéo dài của con Vá, tất cả đám lợn rừng không ngủ bên kia đều chăm chú lắng nghe. Nó hối tiếc lần cuối cùng rằng nó đã khinh khinh coi thường tình cảm của giống loài, và lòng nhớ ơn mà nó vẫn giữ theo tập tính giống nòi đã ràng buộc nó với con người mà không còn bao giờ gặp lại. Giọng khàn khàn run rẩy của nó thú nhận với tất cả các loài giống láng giềng rằng nó đã bội ước với định luật của ngàn xanh chỉ vì thích ở lại trong nhà người có tổ cỏ ấm, có ủ lá chuối khô và thức ăn nấu chín hơn là về với những con lợn rừng đực dữ tợn và khờ khạo.

Bỗng nó rùng mình một cái, cổ xuôi ra. Vạch cầu nối cuối cùng giữa đầu và tim đã gãy. Khắp vườn cây um tùm của Sở thú Sài Gòn nửa đêm bỗng rung lên, chấn động liên tục các tiếng gầm: lừ đừ hung dữ, phẫn nộ ai oán của tất cả các loài mãnh thú đồng cảm cùng cất lên những tiếng gào tự do, mênh mông vô bờ.

Sáng sớm hôm sau, người gác đi dọc các dãy chuồng trông thấy con Vá cứng đờ nằm lù lù một đống, mép xệ cong, he hé thông ra chiếc lưỡi trắng bợt, một nửa bị răng hàm cắn ngập.

9 tháng 12 năm 1982




--------------------------------------------------------------------------------

(1) Tiền thân của Trư Bát Giới trong Tây du ký

(2) Con cu ly

(3) Thuyền bán tạp hóa lưu động

(4) Cút đi! Cút đi!

(5) "Cấm ngặt không được vứt bất cứ thứ gì cho thú dữ. Nó có thể xảy ra tai nạn cho súc vật. Nếu vi phạm sẽ bị truy tố trước tòa án"




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Tiền của ông

Bùi Bình Thi

Tên ông là Giản. Nhà ông có ba con số tại giữa một đường phố lớn và dài ở Hà Nội. Tôi được biết ông cách đây đã hơn ba chục năm. Dạo ấy vào khoảng giữa năm 1966, tôi bắt đầu làm quen rồi đâm mê một cô gái. Ðang thời buổi chiến tranh, dân thành phố đi sơ tán, tôi đạp xe về thăm người chị ruột của cô gái ấy, chị là cô giáo dạy học tại một trường cấp ba, ở nhờ một xã vùng bán sơn địa của huyện Tiên Phong, Bắc Ninh. Lúc tôi đang trò chuyện với mấy cậu bé con của chị để chờ chị về, thì một ông trạc ngoài năm mươi, với chiếc xe đạp cà khổ hiện ra ngoài đầu hè. Tôi ngước nhìn ông, trong tiếng chào của lũ con trai cô giáo. Ông lão ngồi thụp xuống ôm choàng lấy đám trẻ con và sau đó ông đứng lên gỡ chiếc cặp lồng to treo tòng teng trên ghi đông xe, gọi tên một cô bé lớn nhất cái đám trẻ ấy, ông bảo cô bé đem ra một đĩa sắt tráng men to và đôi đũa, ông lại ngồi bệt xuống hè, mở cặp lồng cầm đũa gắp từng miếng thịt đặt gần vành đĩa. Ông gắp đến miếng thứ hai, thứ ba, rồi thứ tư, thứ năm, năm miếng thịt đặt đều đặn theo vành đĩa. Và cứ thế ông gắp tiếp, lặng lẽ nghiêm túc, cẩn thận cho kỳ năm suất thịt mỗi suất sáu miếng. Sau đấy, ông lại bảo cô bé lấy ra một cái bát ăn cơm và gắp vào bát hai miếng để tách riêng ra hai bên và mỗi bên đủ năm miếng thịt. Ông ngẩng lên, nhìn đăm đăm vào mặt năm đứa trẻ bốn trai một gái rồi giọng ông trong và nhẹ như hơi thở:

- Ông cho năm cháu năm suất thịt. Mỗi miếng ăn dè làm hai bữa, vị chi là sáu ngày. Còn hai suất trong cái bát thì cho bố mẹ các cháu đủ ăn trong năm ngày tới. Ðến ngày thứ sáu ông lại về cho nốt bố mẹ mày một suất nữa cho đủ sáu suất và ông sẽ cho các cháu mỗi đứa hai miếng bằng những miếng này, để các cháu ăn trong ngày chủ nhật, rõ chưa?

Bọn trẻ con dạ ran...

Chứng kiến, tôi hết sức ngạc nhiên hình dung ngay ra một lão với tính cách hà tiện kiệt sỉ. Mặc dù những năm tháng đó tìm cho ra một miếng thịt cũng không phải là chuyện dễ. Nhưng, tôi lại không thể nghĩ được rằng, trên đời này, còn có một ông như ông này. Tôi chăm chú hơn khi ông đứng lên, tra cặp lồng vào ghi đông của chiếc xe Xít-téc-ling không chuông, phanh, không gác-đờ-bu, gác-đờ-sen. Và tôi chợt nhận ra, cách ăn mặc của ông, tôi cũng gặp là lần đầu. Ông đạp xe đầu trần. Ðầu ông, tôi chỉ vừa mới ngước lên nhìn, tức khắc có ngay một cảm giác, ông có cái đầu vừa to vừa hết sức rắn chắc, như bằng đá được gọt nhẵn láng. Trời nắng chang chang cái đầu rắn như đá của ông khinh tất cả các loại mũ nón. Ông mặc một chiếc áo sơ mi màu cháo lòng. Vạt trước và vạt sau vá nhiều miếng, bên trái có một túi áo to, miệng túi cài hai kim băng, thoạt nhìn tôi tưởng đó là một miếng vá nữa. Dưới cái áo ấy là chiếc quần lửng vốn do từ quần âu dài cắt ra và khâu gấp lên một đường gấu mũi kim to, nhìn đến một cái người ta hiểu ngay đây là đường kim đàn ông. Ông Giản chậm rãi dắt chiếc xe ra, lúc ông nhấc bánh trước lên tam cấp, tôi vội hỏi:

- Giờ bác về Hà Nội?

Ông lão quay lại, vẫn giọng trong vắt nhẹ nhàng:

- Thưa ông, tôi còn đi thăm hai mốt gia đình các cháu như thế này nữa, mà mỗi gia đình đều cũng đông. Bảy giờ tối, tôi mới về đến Hà Nội.

Tôi dặn ông:

- Cụ nhớ chú ý máy bay nhé...

Ông Giản gật nhẹ, lại cúi đầu chào tôi một lần nữa mới quay ra dắt xe, chạy chầm chậm nhảy lên yên, y như kiểu lên xe đạp của người thời những năm trước 1945 vậy. Ông lão đi khuất, tôi được biết ông là ông nội của sắp nhỏ, bố chồng của cô giáo, mẹ của mấy đứa trẻ và là chị của cô gái mà tôi đang theo đuổi.

Sau này, tôi với cô gái ấy thành gia thất. Lẽ đương nhiên, lịch tích của ông lão, tôi thường xuyên được nghe bởi những người bà con bên vợ kể lại. Thế rồi, đến Tết năm nọ, tôi còn được một vinh dự nho nhỏ, tháp tùng bà mẹ vợ đến thăm ông ngày mồng một. Biết về ông, nghe phong phanh về ông kể cũng đã lâu, đến hôm ấy tôi mới thực sự giáp mặt ông, ngồi trò chuyện với ông. Vì là ngày Tết, trời lại rét nên ông mặc một chiếc áo Pa-đờ-xuy đã rách xơ và cuốn ngộn trên cổ một chiếc áo len cũ, hai tay của chiếc áo len thắt lại trước ngực. Ông tiếp chuyện tôi bằng một vẻ lịch sự, thân mật, cởi mở. Mỗi lần câu chuyện chuyển đoạn, ông lại nhìn vào mắt tôi thoắt lặng im. Ðôi lông mày thưa cong và dài hơi nhướng lên dưới một vầng trán phẳng và dựng đứng, khuôn trán rộng và cao ấy gặp mảng đầu hói một vẻ rắn chắc và bóng láng, trông thật đáng nể. Ngắm nhìn ông, với đôi mắt to và đuôi mắt đầy vết chân chim, sống mũi cao và thẳng, chóp mũi tròn tỏa ra là hai cánh mũi dày và cặp môi mím chặt mỗi khi chợt đăm chiêu, tôi hình dung có lẽ ở thời trai trẻ, ông hẳn là một trang nam nhi sáng giá.

*
* *

Tốt nghiệp trường cao đẳng kế toán tài chính Ðông Dương khoa thuế quan, Giản được người Pháp ưu đãi ngay những năm tháng đầu tiên làm viên chức chỉ vì anh học rất giỏi và đỗ thủ khoa. Hai mươi bảy tuổi Giản đã thành đạt. Ðến năm ba hai, ba ba, ông viên chức quan thuế này đã nhà cửa tòa ngang dãy dọc cho thuê, không kể hai dinh cơ lớn của hai bà vợ. ở cái thời Tây đô hộ, rất hiếm người làm quan thuế mà lại giàu có như ông Giản. Ông giàu và làm giàu rất nhanh, đến nỗi những ai quen biết ông, nghe kể về sự giàu có của ông đều phải bàng hoàng, sửng sốt. Bởi họ đều biết thằng Tây đâu có ngu mà để cho một anh An-na-mít toòng làm nghề thu thuế mà lại giàu được. Làm nghề thu thuế mà giàu chỉ có đi ăn cắp đục khoét. Nhưng trò đời, của ăn cắp không bền. Sướng đấy mà khổ đấy. Nhà đá luôn luôn chờ đón. Vậy ông Giản giàu bằng cách gì. Vâng, ông giàu có nhờ vào ban thưởng của quan Tây, về tất cả những vụ ông chống lậu thuế. Ông có biệt tài về chống đủ các kiểu lậu thuế. Trong đó, một biệt tài rất ít người có, hễ thằng cha nào có hành tung lậu thuế, ông chỉ gọi đến cho ngồi trước ông, ông vặn vẹo mấy câu là người đối diện cứ phải khai ra. Và khoản ông được tiền thưởng nhiều hơn cả là những vụ ông chủ động nuôi béo những kẻ lậu thuế. Sao lại nuôi béo được những kẻ lậu thuế? Vâng có đấy. Trong vùng buôn bán nơi ông quản lý, ông ngầm thống kê, theo dõi những thằng cha nào có máu mặt và đang máu mê kiếm lời. Chỉ ngó qua số hàng mà ai đó đang buôn hay đang bán, ông đã nhẩm tính được giá trị mà hắn ta nộp thuế. Thế là ông sai bọn đàn em đến thu, bằng một linh cảm tuyệt diệu, ông biết chắc chắn nó đã giấu, đã khai man bao nhiêu tiền thuế, trong khi kẻ ông sai đến không thể nào có được khả năng như của ông. Sau đó, ông cứ vậy mà giả vờ "quên" đi "lơ" đi, quãng thời gian "quên" này càng xa bao nhiêu càng tốt, cho đến ngày ông biết, ông làm vụ truy thu này sẽ được sếp thưởng là bao nhiêu, nhất là khi số tiền ông sẽ hưởng ấy, đủ để ông mua được một tòa nhà, hay một miếng đất béo bở, bấy giờ ông mới ra đòn. Lúc ấy, con mồi chỉ có nước nộp xong số thuế truy thu rồi thì chọn lấy một trong hai ngả. Nhẩy xuống cầu sông Cái hoặc bán xới tuyệt tăm dạng.

*
* *

Cuối năm 1946. Kháng chiến bùng nổ. Dân Hà Nội tản cư. Ông Giản đem vợ con theo đường số 3 ngược lên Việt Bắc. Trước khi đi ông Giản còn kịp mang hết số vàng và tiền Ðông Dương trong két sắt nhà ông chia cho hai bà vợ giắt lưng, còn đâu thì ông giữ, để phòng lúc cơ nhỡ phải lưu lạc xa vợ con chẳng hạn.

Pháp nhảy dù xuống Bắc Cạn. Ông và hai bà vợ một lũ con, cùng đám dân thị thành luồn rừng sâu, sống nhờ vào dân bản vùng cao, rau củ lần hồi. Tây rút về xuôi, nghe ngóng binh tình đã thấy yên, Tây mũi lõ không thể bén mảng được chiến khu Việt Bắc, ông Giản với bấy nhiêu người lại trở ra tìm đến những vạt rừng bằng phẳng ven theo quốc lộ 3, gần những nơi trước đây là huyện, là thị trấn. Lâu nay ông luôn nghĩ đến chuyện phải mở quán để buôn bán nhì nhằng có cái mà sinh sống. Muốn thế, không bao giờ làm nhà ở một cái nơi không một ai hay qua lại miền này biết đến. Người ta chỉ nhớ đến những địa chỉ quen thuộc. Những năm tháng ấy, đông đảo dân buôn, dân xe thồ, cán bộ, bộ đội thường ngược xuôi đi đi về về trên con lộ 3, đều thuộc lầu một câu vè như thế này: "Qua Ðu, tới Ðuổm, sang Trào. ¡n cơm phố Ngữ, đi vào chợ Chu...". Ông Giản cùng đám dân thành thị đã lập hẳn một dãy phố tre nứa lá, nép dưới chân rừng rậm ven đường gần địa danh Ðuổm.

Một dãy phố đẹp rất khang trang mà lại kín đáo. Máy bay khu trục Hen-cát, Bê-vanh-xít có nghiêng ngó xăm xoi cũng như mù. Một năm sau, quán ông Giản và dãy quán xá dọc theo phố Ðuổm người ngược kẻ xuôi ghé qua tấp nập, mùa nào thức ấy, chẳng thiếu một thứ gì.

Thời gian này dưới xuôi trong khi không ngày nào là không râm ran tiếng súng Tây mở ra những cuộc càn quét khốc hại, và quân đội cùng du kích của ta quyết liệt chống càn, thì trên vô vàn các nẻo đường, các lối mòn giữa đồng, giữa ruộng hoang, ven ao chuôm, trên sông, ven vùng tề từng tốp từng nhóm người, ấy là dân buôn đêm đêm kìn kìn mang vác đủ mọi thứ hàng hóa tỏa lên mạn ngược trên này bày bán.

Những đoàn người, dân buôn tứ chiếng ấy dù đi nẻo nào, cũng thảy đều hợp lưu thành dòng trên con lộ 3. Tốp buôn lên đến Ðuổm thì cũng đều một kiểu, dạt cả vào rừng bên dãy phố Ðuổm này nghỉ ngơi, xuống sông Cầu tắm giặt, nằm ngồi ngả ngớn quanh những gốc cây cổ thụ rợp mát. Ðây là một chặng nghỉ, nơi tụ bạ duy nhất của miền rừng Việt Bắc này. Sau cái chặng rất quan trọng đó, họ lại chất hàng lên lưng ngựa. Ðoàn ngựa thồ lông đẫm mồ hôi, gõ móng côm cốp trên mặt đường đá tróc hết nhựa, đi ngược lên một vài thôi đường, dăm bảy ngày mươi hôm và rồi tỏa về những nhánh liên huyện, liên xã, cỏ mọc um tùm phủ mặt đường. Gắn bó với đám dân buôn nhiều nhất là ông Giản. Khi họ còn đang giấc ngủ vùi vì mệt nhọc, thì ông cắp tay sau đít, len lỏi vào giữa những bao, sọt, túi, bị lặng lẽ ngắm nghía. Ðến lúc họ thức, bắt đầu trò chuyện râm ran, thì ông lại xáp vào ngồi với họ, lắng nghe không thiếu một lời nào. Những khi ấy, trong đầu ông luôn luôn dằn vặt một câu hỏi: "Số hàng hóa này, nhiều lắm, có đủ mọi thứ, trong đó hàng xa xỉ cũng không ít. Vậy, thuế má ra sao đây. Ðương nhiên là chính quyền kháng chiến phải đánh thuế. Nhưng đã áp dụng chưa. Và đánh thuế từ đâu. Bao nhiêu là hàng hóa, mà chủ hàng hóa chẳng phải nộp một đồng thuế, thì rồi sẽ ra sao đây. Hỏi ai bây giờ... Cơ quan ủy ban kháng chiến của tỉnh này đóng ở đâu. Mình phải biết, mình nhất định mò tới đưa kiến nghị... Ðể thế này phí phạm quá".

Thế rồi ông Giản bắt chuyện với đám dân buôn từ hôm qua tới giờ nằm ngồi chật như nêm trên bãi đất mát rượi đằng sau nhà ông. Ông đưa ánh mắt sắc và sáng như đèn lướt qua bấy nhiêu người:

- Này, xin lỗi các ông các bà, bây giờ các ông các bà cho tôi hỏi, vậy từ khi vượt tề thồ hàng lên đến đây, đã có quãng nào các ông các bà phải dừng lại nộp thuế cho Chính phủ Kháng chiến?

Mọi người chen nhau đáp:

- Từ vùng tạm chiếm ra vùng tự do thì phải tự do đủ các kiểu chứ ông, sao lại còn phải thuế nữa. Thuế má làm gì, trong cái lúc đất trời loạn lạc.

Bệnh nghề nghiệp của ông Giản đã bắt đầu thôi thúc:

- Không được đâu các ông các bà ơi... Các ông các bà không đóng thuế, Chính phủ không thu thuế thì Chính phủ lấy đâu tiền mà nuôi quân, mua vũ khí đánh Tây?

Tiếng một người đấu dịu:

- Vâng, ông nói chí phải. Chúng em có trốn thuế đâu... Mà có muốn trốn cũng không có lối trốn. Ðường độc đạo, hai bên toàn rừng thiêng nước độc, trốn đằng trời... Nhưng cũng chưa thấy Chính phủ cử người đứng ra thu thuế quãng nào?

- Nếu Chính phủ Kháng chiến có sắc lệnh thu thuế, các ông các bà đồng tình nộp thuế chứ? - Ông Giản hỏi mọi người...

Tất cả đều biểu đồng tình với ông Giản. Mấy tháng sau, ông Giản đã bắt liên lạc được với ủy ban Hành chính kháng chiến của huyện, rồi của tỉnh. Ông Giản tường trình một cách cặn kẽ về bản thân và cái nghề mà ông đã làm từ hồi còn trai trẻ. Thế rồi ông cũng tường trình luôn thể những dự kiến của ông về việc thu thuế hàng hóa đang được dân buôn khuân kìn kìn từ vùng địch tạm chiếm lên Việt Bắc theo ngả đường quốc lộ số 3 và số 2 ngoài kia. Cấp trên hỏi ông vì sao ông lại nắm vững địa lý và đường sá đến vậy. Ông Giản trả lời rằng những điều ông vừa nói, ấy là kiến thức ông có được hồi ông học trường Cao đẳng Tài chính kế toán Ðông Dương khoa Quan thuế. Các thầy giáo ở trường này đã nhồi vào cái đầu cực kỳ thông minh của ông như sau: "Một viên chức thuế quan phải biết một cách chắc chắn và thông tỏ đường ngang ngõ tắt của một địa phương mà anh ta quản lý, có như vậy anh ta mới không để lọt kẻ trốn thuế, đương nhiên rồi, mà còn biết được ngả đường nào, loại đường nào, dân buôn trốn thuế hay qua lại". Anh sinh viên Giản đã chẳng những thuộc lầu ý tưởng ấy, lại còn vẽ được đầy đủ hệ thống đường sá của mấy tỉnh huyện miền thượng du Bắc Kỳ.

Thế rồi, một điều ông hoàn toàn không một chút nào dự kiến hoặc nghĩ tới đã đến với ông. Cấp trên giao cho ông đứng đầu cơ quan Thuế quan của tỉnh mà con lộ 3 này đi qua.

Ông Giản vào cuộc thật là hào hứng và khẩn trương. Ông những tưởng chiến tranh, ông tản cư lên Việt Bắc, vậy là mãi mãi ông không còn làm cái nghề mà cứ như có sẵn từ khi nào trong con người ông.

Ông Giản lên hẳn một bản những mặt hàng cần thu thuế, và thu bao nhiêu thì đủ, và những mặt hàng miễn thuế, giảm thuế. Ví như: Thuốc chữa bệnh, muối, vải vóc, vải diềm bâu và chúc bâu v.v... không một cắc thuế nào.

Sau mấy năm làm việc này, ông Giản được cấp trên khen thưởng đều đặn, giấy khen, rồi bằng khen. Cấp trên còn khen ông là một cán bộ thuế phụ trách hàng trăm nhân viên, lập thêm hàng chục trạm thuế vụ, vậy mà từ lúc ông bắt đầu nhận công tác, đến lúc ông xin thôi, tiền nong chi thu rất là rành rọt. Ông Giản không tơ hào lấy một đồng, nhân viên của ông cũng vậy, không một ai bớt xén bỏ túi một hào tiền công quỹ.

Hôm ấy, ông Giản đi họp trên tỉnh về thì nhận được một tờ thiếp, mời ông đến dự tiệc cưới. Xem kỹ tấm thiếp, ông nhận ra một dòng họ tên ông mới quen: Ðại tá Trần Dụ Châu. Ông đại tá này mời ông Giản đến chung vui một hôn lễ của viên sĩ quan do ông ta đỡ đầu: Lê Sĩ Bửu.

Trời tối, ông khoác chiếc áo đại cán đã cũ, con trai cả của ông vừa tặng ông cách đây hai hôm, khi anh dẫn quân về xuôi góp lính cho một chiến dịch.

Ông Giản đến một nơi có hàng rào, cổng, lính gác. Qua cổng, lối đi dẫn ông tới một hội trường lớn. Vừa đặt chân đến cửa, nhìn vào, ông Giản hoảng hồn. Trước mặt ông, những dãy bàn dài trên mặt bàn chi chít hàng nến trắng to bằng cổ tay cao đến hai gang thắp sáng tưng bừng, dưới chân nến để kín những đĩa chim quay, gà tần, giò chả bê thui. Vây xào su hào, bóng nấu chân giò, và vô vàn những chiếc ly cao chân bằng pha lê, đứng quây quần bên những chai rượu vang boóc-đô màu đỏ và những chai sâm banh. Tiếng đàn réo rắt.

Trông thấy ông, Trần Dụ Châu oai vệ trong bộ quân phục đại tá ra bắt tay ông, hoan hỉ mời ông vào. Trong hội trường, các tân khách ngồi đã gần đông đủ. Ông Giản đáp lễ đại tá Châu, và ông cảm thấy hối hận thật sự. Nếu biết trước ông sẽ không đến. Thế rồi, ông Giản cứ cật vấn lương tâm, ông tự hỏi: "Ðang lúc chiến tranh ác liệt, thiếu thốn đủ đường, vậy mà cái nhà ông đại tá này lại có thể tổ chức được một tiệc cưới không thiếu một thứ cao lương mỹ vị nào như thế này, thì ông ta thật là to gan...". Nghĩ ngợi, ông Giản bỗng thấy xót xa, với câu hỏi vừa chợt đến. "Không biết để có được vô vàn các món ăn quí tộc này, cái nhà ông đại tá kia có xà xẻo tiền thuế của ủy ban Hành chính kháng chiến góp cho quân đội để mua súng đạn? Phải, có thể lắm chứ".

Ông ngồi dự một cách chiếu lệ, rồi lẻn ra về khi các tân khách bắt đầu nghiêng ngả bên những ly rượu cô-nhắc, mác-tanh thơm phức và đàn sáo vang lừng.

Ðêm đó ông thức luôn tới sáng, tiết trời rừng núi càng thâu đêm, càng giá lạnh. Ông đã cố ngủ mà không thể chợp giấc vì trong đầu ông cứ luẩn quẩn một câu hỏi: "Cái thằng cha đại tá ấy nó làm cách nào mà có được nhiều tiền đến thế. Nhất là lại trong những năm tháng khó khăn này... Phải, nó đã khoắng được tiền Nhà nước bằng cách nào? Ðời ông, tiền ông cũng cầm cả tỉ bạc trong cái thời thằng mũi lõ đô hộ, ông quá biết, chỉ với những qui định do sở thuế bên mẫu quốc gửi sang, không thể có cái thằng cha nào mà xà xẻo được, dù chỉ một cắc bạc. Ðến bây giờ bên ta... cái thằng cha đại tá ấy..." Ông Giản cứ càng nghĩ càng kinh hãi... và ông tự nhủ, để dứt bỏ cái ý nghĩ đã làm ông khổ sở. "Lòng dạ tim gan cái thằng ấy, nó phải được chế tạo bằng thép inốc".

Tết âm lịch năm 1950 - 1951, ông Giản xin cấp trên cho thôi việc, để ông lại đem gia đình hồi cư Hà Nội. Trước hôm chia tay với cơ quan, một người về ngồi vào cái chức thay ông, hỏi ông: "Hay là anh bất mãn vì có công mà không được trên đối xử cho tương xứng". Ông Giản lắc đầu ngay, chỉ nói lý do là vợ con ông thấy nhiều người đã về thành, nên cũng muốn về. Cũng có một lý do khác thúc bách ông. Nhưng ông tự thề là sẽ chôn chặt đáy lòng... "Ðã có một thằng Châu thế này, thì rồi sau này đâu lại chỉ có một... Mình không thể cúc cung tận tụy mà lo đi tìm mọi cách thu gom tiền thuế để nộp vào một chỗ nào đó, cho những cái loại như thằng cha ấy mưu kế thò tay khoắng được một cách dễ dàng...".

Ông Giản còn trịnh trọng hứa với cấp trên rằng ở trong thành tuy sống trong lòng giặc Tây, nhưng ông sẽ tìm mọi cách để có thể giúp đỡ cho kháng chiến được chóng đến ngày thắng lợi.

1954, thời gian 300 ngày, đủ chán cho những ai muốn di cư vào Nam. Ðám con ông bốn người, lũ em ông và họ hàng gần xa, họ đông lúc nhúc và phát rồ lên vì ông không nhúc nhích. Hỏi vì sao, ông im lặng. Lũ chúng, đứa nào muốn đi, ông cấp vàng, kim cương để sang đất mới mà có vốn làm ăn sinh cơ lập nghiệp. Rồi đến năm phong trào cải tạo tư sản ở Hà Nội. Ngay trong thời gian còn đang dịp phát động, ông đã đến ủy ban xin hiến tất cả những nhà mà con ông bỏ đi. Họ hàng, gia tộc ông mãi về sau này vẫn có người không quên hỏi vì sao, ông không di cư vào Nam, ông mới thủng thẳng trả lời: "Tao là trưởng họ, tao cắp theo mồ mả ông bà tao vào Nam, qua Pháp, qua Mỹ được sao, mà tao đi...".

Thế rồi họ thấy ông năm năm tháng tháng, ngày nào cũng như ngày nào, ông dậy từ sớm, mùa hè thì trên chiếc áo mầu cháo lòng tay cộc đến nách đầy những mụn vá, còn dưới thì quần soóc lửng, mùa đông thì chiếc pa-đờ-suy của sĩ quan Pháp mầu cứt ngựa, tay xách một túi nhỏ, ông ra đi. Có hôm ông đi từ tinh mơ và cũng vậy tận tối mịt ông mới về, có hôm thì ông cưỡi chiếc xe đạp Xít-téc-linh ấy, và nhiều hôm ông đi bộ, thì họ rất băn khoăn. Ðã băn khoăn thắc mắc, các chất chứa cần được giải đáp. Nhân một chủ nhật, biết chắc ông ở nhà, họ kéo đến. Trong câu chuyện, chợt một người hỏi ông: "Thế từng ấy năm tháng chúng tôi thấy ông cứ đều đặn đi bộ từ sáng sớm đến tối mịt, chúng tôi bảo nhau ông ấy không thể chỉ đi chơi... Vậy?". Câu hỏi mới có đến thế, ông Giản đã đỡ lời, ông bảo ông đi kiếm ăn. Vậy, ngày bác kiếm được bao nhiêu, có thì bác cứ giấu, bọn tôi không thóc mách, nhưng là bác kiếm ăn độ nhật là bao nhiêu. Ông Giản cười mỉm, khẽ thưa, thong thả, rằng ông kiếm đủ ăn. Chỉ có người trong nhà và một vài anh con trai thì am tường cái việc mà ông gọi là đi kiếm ăn đó. Cái sự này tóm tắt gọn lỏn một câu, như ông nói với mấy thằng con ông rằng ở Hà Nội này khi nào còn người buôn kẻ bán, thì đó chính là nguồn sống của ông. Ðúng là ông không thiếu việc. Tỉ như thế này, bà chủ sạp hàng khô nọ ở chợ Hôm hỏi ông, bà buôn món gì và bán món gì thì sạp hàng của bà tiêu thụ được. Rồi tiền thuế nữa, bà phải nộp là bao nhiêu. Lúc ấy ông Giản đăm chiêu giây lát và ông trả lời cho bà ấy rất đầy đủ, cho kỳ bà ấy thỏa mãn, hết tiệt các câu hỏi mới thôi. Và sau khi ông trả lời xong, như đã thành nếp, bà ấy lần tay trong hầu bao bồi dưỡng ông một vài đồng, những năm sau đổi tiền rồi thì dăm nghìn, một chục. Ông lão cho tiền vào túi cài kim băng, chỉ được vài bước lại có một bà chủ sạp khác vẫy ông lại ghé tai ông, lặp lại những câu hỏi muôn thuở ấy, ông lại dừng và trả lời cặn kẽ, xong xuôi bà ta lại dúi vào tay ông mấy nghìn. Ông vừa ngoặt sang chỗ hàng khác thì một bà chủ sạp nữa lại ngoắc ông tới, và hỏi một câu thường nhật khác: "Ông ơi, chỗ hàng này tiền thuế của con là bao nhiêu, xin ông "cố vấn" cho con, để con chuẩn bị nộp". Ông nghe xong khẽ gật đầu và mắt ông lướt trên sạp hàng của bà ta, ít phút sau ông cho bà một đáp số mà đã nhiều lần bà làm theo với một cán bộ thuế đứng đắn, thì đâu như số tiền phải nộp chỉ chênh có vài nghìn đến mươi nghìn là cùng. Nghe giải đáp xong, bà ta lại đưa cho ông ít nghìn bạc gọi là tiền trà thuốc. Xong xuôi ông đi thẳng đến quỹ tiết kiệm. Từ ngày ấy cho tới tận bây giờ ông Giản vẫn chỉ gửi tiền ở một quầy. Quầy tiết kiệm ấy thay bao nhiêu cô chủ, ông đều am tường là bởi vì, cứ dăm bữa nửa tháng, ông lại tới, nói với cô ngồi sau quầy đưa cho ông sổ ghi số tiền ông gửi, cầm lấy, ông moi cuốn sổ của ông ra so sánh. Dạo đầu, cô trông coi quỹ tiết kiệm chưa hiểu đầu đuôi ngọn ngành, đã bẳn gắt ông mỗi khi ông quấy rầy như vậy, sau thì cũng đâm nhàm. Dần dần, cô ta để ý cứ mỗi lần như thế, ông Giản lại ngắm nghía kỹ lưỡng một hàng những con số ghi bằng số và ghi bằng chữ của hai số. Thế rồi trên khuôn mặt ông đang mồ hôi mồ kê bỗng tươi rói lên, thì cô ta mới vỡ nhẽ, rằng ông chỉ đến để mà gửi tiền để mà chiêm ngưỡng số tiền ông tích cóp, tính ông vậy...

*
* *





Ông Giản có hai vợ, hăm nhăm người con. Con bà hai cả trai lẫn gái đều thành đạt. Tại sao vậy? Cái thứ con cái lẽ mọn thì hòng gì trông vào của gia bảo, nên bà mẹ mới dặn các con phải gắng mà học hành cho nên người, không có chữ nghĩa thì chỉ là phường trộm cướp. Còn đám con bà cả, được mỗi ông trai trưởng, người điềm đạm, có học hành đến đầu đến đũa. Thời còn đi làm anh cũng là một ông giáo dạy rất giỏi, học trò của anh đều đỗ đạt, và sau này đều ở cương vị đáng nể trọng cả. Chỉ có mấy anh thì phát tán, chơi bời cờ bạc, lêu lổng, trừ bốn người di tản. Trong hàng các con, hết thảy trai gái của bà cả, bà hai, dù đang hiện tình ra sao, mỗi cô cậu nếu còn tá túc, làm ăn ở Hà Nội thì cứ rất đều đặn tuần một lần ông tới, và câu đầu tiên ông hỏi, - câu hỏi ấy được nói ra rất nhỏ vào tai thằng con trai hoặc cô con gái ông: "Nào, tuần sau anh góp tiền nuôi bố mấy đây, thì anh đưa đi". Tay ông chìa ra, anh con trai hoặc cô con gái dù tính tình có đến thế nào, cũng đều lấy tiền lễ phép đưa cho ông. Xong xuôi lộ trình, ông lại từ nhà anh con trai ấy, nhà cô con gái ấy đến quầy tiết kiệm. Gửi tiền xong, ông chỉ để trong túi đúng cái số tiền ông dự định chi trong hai ngày hoặc ba ngày. Từ quầy tiết kiệm ông về nhà, bấy giờ sâm sẩm chiều, và ông dừng lại ngay trước cô con gái ở với ông và vợ ông, ông đưa cho cô ta tiền chợ ngày mai. Và số tiền chợ ấy cũng được ông tính sít sao. Tỉ dụ: Ngày mai cô ta đi chợ mua những món gì và món đó giá bao nhiêu tiền, ông vừa đưa cho con gái ông số tiền khuýp khuỳm khuỵp, vừa nói giá từng món một, mà con gái ông phải mua, và ông cũng không quên tổng cộng tất tần tật là bao nhiêu. Ðến nỗi, cô ta đã quá quen với tính chắt bóp của ông và khi cho tiền vào túi rồi, cô vẫn cứ phải lườm xéo ông bố già một cái, cho bõ bực. Trong cái lệ ông giao cho các con ông phải nhất nhất tuân theo đó, chỉ có anh trai trưởng, anh em đồng hao với tôi là làm theo một cách riêng. Cứ đầu tháng anh lại sai thằng con hoặc thằng cháu cầm một phong bì trong đó đựng một số tiền đúng với số tiền ông Giản hẹn, và kẹp một tờ biên lai. Ông Giản nhận phong bì, giở ra đếm tiền và ký vào tờ biên lai rồi đưa thằng cháu hoặc thằng chắt đem về cho bố nó cho ông nó.

*
* *

Vào một ngày lạnh giá cuối năm, ông Giản đi thẳng đến nhà anh con trai trưởng. Mọi lần, ông nhẩm đường trong đầu, nhà người con nào xa, ông đến trước, sau đấy ông dịch dần về gần, cuối cùng là nhà anh con út, chỉ cách nhà ông một ngã tư cùng phố.

Anh Tiến đang dạy thằng cháu nội học tiếng Anh, thì nghe tiếng gõ cửa của bố, cộc cộc thật là đều chừng dăm ba cái. Ông Giản vào, ngồi xuống ghế. Thằng chắt buông bút chạy ra, rồi như đã thành nếp, nó đứng trước cụ nó, hai tay khoanh trước ngực, vừa từ từ cúi đầu chào vừa dõng dạc.

- Chắt chào cụ ạ.

- Ngoan lắm, cụ chào chắt - Ông Giản đáp lại và để nguyên cho thằng chắt quay về bàn học.

Ông Giản quay sang Tiến. Anh đang rót trà xuống hai chén nước và đưa một chén mời bố.

Ông Giản đón chén nước uống luôn một ngụm, chép miệng một cái:

- Này, anh cho bố hỏi, anh chị về hưu được mấy năm rồi nhỉ?

- Ðược sáu năm rồi, bố ạ.

- Thế à... - Ông chậm rãi gật đầu, - cái đầu bóng láng không một sợi tóc. Ông hướng cái nhìn trong veo sang anh con trưởng - Kỳ này, bố sẽ bớt ba mươi phần trăm số tiền anh chị đóng góp nuôi bố.

- Ðáng bao nhiêu mà bố phải làm thế - Anh Tiến cười vui vẻ - Vả nữa, vợ chồng con hồi này cũng đỡ bấn, vì các cháu bên kia chúng nó đã gửi tiền về chi viện rồi bố ạ.

Ông tiếp giọng nhỏ nhẹ:

- Bố cũng bớt cho anh Thuần mười phần trăm

- Mới đấy mà chú ấy cũng hưu được hai năm - Anh nghĩ ngợi.

Ông Giản đến sau lưng thằng chắt nhìn xuống hai trang vở mở và thằng bé thì đang hì hụi tô mấy nét chữ tiếng Anh.

Ông Giản nói nhỏ:

- Chắt tôi thật là ngoan... - Rồi ông thong thả đi ra cửa, trong tiếng chào với theo của thằng chắt nội.

Anh Tiến tiễn bố:

- Con cũng vừa nhận được thư của các cháu bên ấy, chúng nó nói kỳ này có người về, chúng sẽ góp tiền gửi về biếu ông.

Ông Giản mở một cánh cửa bước ra ngoài:

- Anh nhớ dặn mấy đứa trẻ, cố mà dành dụm phòng những khi thất nghiệp.

Ông lại thong thả leo lên chiếc xe đạp Xít-téc-linh không chuông, không phanh, không bọc xích, chắn bùn.

Bây giờ, ông Giản đến nhà người con trai thứ ba. Ðây là thằng con mà cứ mỗi lần trên đường đến, là ông lại không sao dẹp được cái cảm giác vừa ngán ngẩm vừa thương hại. Triển khác hẳn mấy anh chị trong nhà. Anh ta máu mê cờ bạc, đề đóm... Những lần ông đến, chỉ cần xéo con mắt nhìn vào cái rổ nhựa mầu đỏ để trong tủ kính cạnh bàn, thì hiểu ngay thằng con ông đang ở tình cảnh nào. Vợ chồng Triển chỉ đựng tiền trong cái rổ nhựa đó. Hôm nào rổ đầy tiền thì vợ chồng con cái mặt mũi tươi mởn, hai bữa mâm cơm như mâm cỗ. Còn khi nào mà ông thấy trong cái rổ ấy chỉ loáng thoáng vài tờ, thì y như rằng chúng nó vợ chồng cắn xé nhau, đám trẻ khóc như ri.

Cửa nhà Triển mở toang. Anh ta nằm ngay trên nền nhà ngáy như kéo bễ. Mới ba giờ chiều mà đã ngủ lăn lóc thế này, thì lại chỉ có say rượu. Ông Giản ngồi trên ghế, chống hai tay lên đầu gối, nhìn xuống cái mặt đẫm mồ hôi tai tái, hai mắt nhắm tịt, dằn giọng:

- Dậy ngay! Dậy, dậy, Triển!

Lập tức Triển nâng mặt lên nhìn ông bố bằng hai con mắt đỏ sọng như mắt cá chày. Rồi anh ta từ từ ngồi dậy:

- Bố cho con khất hôm khác... Ðấy, bố nhìn trong cái rổ nhựa ấy thì biết.

- Lại thua bạc hả? - Tiếng ông như sống dao vằm xuống mặt thớt. - Anh chìm đắm trong cái khốn nạn này cho đến bao giờ? - Ông rút cuốn sổ tay bé bằng cỗ bài tú lơ khơ ra, ghi vào đấy thêm một lần nữa Triển thiếu nợ với ông.

- Sáng nay chúng nó lôi đi nhậu - Triển lầu bầu, giọng nhão nhoẹt.

- Hôm nào trả được cho tôi thì anh nói đi.

Mặt Triển dày bì, lang lổ những chấm đỏ, hai mắt đóng thẳng ra cửa, giọng khê đặc:

- Cho con sáng thứ năm tuần sau... Nhà con nó sẽ mang đến nộp cho bố.

- Hừm! Tôi đã giao hẹn với anh thế nào?

- à không, con mang... con mang...

Ông Giản lừ đừ đi ra cửa. Ðúng ngày hẹn, Triển đến thật. Anh ta để tệp tiền nhàu nát, quăn queo trên bàn trước mặt ông bố, rồi uốn giọng thẽ thọt:

- Con nộp đủ tất cả là sáu lần đấy bố ạ.

Ông Giản cầm xấp tiền, nhìn Triển bằng ánh mắt sắc lạnh và ông hiểu ngay thằng con ông lần này đưa tiền, lại giở cái giọng phường chèo. Ông gỡ sợi dây cao-su, chấm ngón tay trỏ xuống chỗ nước trong khay, rồi vừa đếm vừa vuốt từng tờ một. Ðến tờ cuối cùng, ông nhẹ nhàng cầm xấp tiền thẳng cánh tay đặt sang phía Triển, giọng ông bỗng thật nhỏ:

- Nếu anh chưa thể kiếm được cho đủ thì đừng có mang đến.

Triển cười cười:

- Con xin bố vài ngàn đi mua mấy cái vé số thôi mà.

Triển vừa khép miệng, tức khắc ông Giản cầm tệp tiền đập một cái thật mạnh xuống giữa mặt bàn, xẵng giọng:

- Thế thì cầm về! Cầm về!... Cút! Cút ngay với xấp tiền của anh!

Triển như một quả bóng xì hơi, mặt tái dại, tay lập cập xục vào túi áo ngực. Rút một xếp tiền mỏng nữa vuốt lại cho thẳng, rồi gỡ vòng sợi cao-su của tệp tiền trên bàn, gộp với xấp tiền ấy cho đủ số.

- Con xin lỗi bố... Con xin... Con xin... - Triển khom lưng đứng lên, vừa thều thào vừa cum cúp đi ra.

Trong đám con bà cả, còn một anh nữa na ná như cái nhà anh này. Chẳng hiểu ra làm sao, Hiệp, con trai hơ hớ đi quơ lấy một cô vợ hơn hẳn mười lăm tuổi, vốn là hạng gái nhẩy thay chồng như thay áo. Hết thời, giờ cô ta xoay ra bán tạp hóa, quần áo siđa ngoài chợ. Hiệp bị tật nói lắp. Lắp khổ lắp sở. Vì vậy ông Giản mới cho anh ta đi học cái nghề kẻ biển. Nghề này, suốt ngày đối mặt với mặt tôn mặt gỗ, chẳng cần phải giao thiệp với ai, tuy vậy làm ăn chăm chỉ thì cũng hái ra tiền. Nhất là từ cái ngày phố xá cửa hàng, cửa họ, kẻ mua người bán tấp nập. Nhưng rồi, cũng lại chẳng hiểu ra làm sao, Hiệp chuyển qua cái nghề đánh trống trong tốp nhạc hát rong cho mấy cái tòa "Hầu-theo". Sau mỗi lần biểu diễn, đám hát ấy lại lôi thôi, lếch thếch đi tìm quán phở đêm nào đó.Vợ chồng Hiệp lấy nhau trong hoàn cảnh ấy. Con vợ Hiệp đanh đá cá cầy có hạng. Rất nhiều lần, khi thấy chồng thu xếp tiền nong để nộp cho bố, thị đã chỉ mặt Hiệp: "Này, anh thôi ngay cái trò nộp thuế ấy đi nhé! Anh còn chịu để cho cái ông lão dơ dáy, áo quần như thằng ăn mày, mò đến bóc lột anh đến bao giờ? Ðời tôi, tôi chưa thấy cái nhà nào gia phong lại mạt hạng đến như cái nhà này. Ông bố, cứ tháng tháng đi đến tất cả nhà con cái mà nã tiền. Có thiếu vài đồng cũng không được với cái lão ấy".

Hiệp vẫn ngậm miệng, đến cái lần ấy thị đang ra rả điệp khúc này thì ông Giản đến. Chợt trông thấy bố chồng, lập tức thị im bặt, môi mím chặt, mặt tái như đổ chàm, quay phắt, lủi mất. Ông Giản đã nghe thấy đủ lời cô con dâu nanh nọc. Nhưng ông không thèm chấp. Ông đã không thèm chấp thì cũng đúng như thể là ông không nghe thấy. Ông từ từ tựa lưng vào lưng ghế, nếu hôm ấy mà Hiệp chưa sẵn tiền thì ông lại dịu dàng:

- Anh chưa đủ thì cứ khất. Còn nếu vẫn muốn đưa bố, thì có bao nhiêu anh đưa bấy nhiêu, rồi trả sau. Miễn là hẹn cho đúng hạn, trả cho đủ số.

Hiệp làm theo lời bố anh. Lần nào mà Hiệp có đủ, thấy bố đến, anh mời ông vào, rót nước, rồi lấy trong ngăn kéo số tiền anh đã sắm sẵn. Ông Giản chìa tay nhận, giây lát ông đưa lại cho Hiệp tờ biên lai. Những tờ biên lai của ông Giản cỡ mẫu giống y như ta vẫn thấy bày bán ngoài thị trường, rất đàng hoàng, cũng đánh số thứ tự, cũng ghi đầy đủ ngày, tháng, năm và chữ ông ký hẳn hoi. Xong xuôi ông ra về.

Thấy ông đã thực sự khuất xa, con vợ Hiệp mới dám từ dưới bếp thò mặt lên, nhìn tờ biên lai chặn dưới một chiếc chén, thị lại ngấm nguýt, bĩu dài môi rồi xì ra một tiếng như lốp xe đạp cán phải đinh: "Rõ thật, mạt, mạt. Làm bố mà lại phải đi thu thuế của con cái. Lão ấy đúng là tàn dư thực dân đế quốc".

Vào những năm kinh tế thị trường, chợ búa, quán xá, hàng hóa bày la liệt. Dân chúng muốn gì có nấy. Và, cái công việc mà ông Giản đang làm một cách lặng lẽ đều đặn từ bao nhiêu năm tại mấy khu chợ trong cái quận ông ngụ cư ấy, cũng dần dần mỗi ngày một nhiều lên gấp bội. Tiếng lành đồn xa, công việc của ông Giản cũng loang đi rộng dần, xa dần đến tận cả chợ Ðồng Xuân, Bắc Qua, Long Biên thôi thì không còn sót một chợ nào. Ông đã phải tăng thêm giờ làm việc. Vậy mà hôm nào cũng cứ tám, chín giờ tối ông mới về đến nhà. Nghỉ ngơi, tắm táp xong, ông pha một ấm trà ngon, rồi vừa nhấp ngụm trà, ông vừa kiểm tiền, đếm và xếp riêng ra từng loại một, để rồi vẫn cứ nhất định vào cái ngày cuối tuần đó, ông đem ra quầy tiết kiệm. Như hàng tháng cũng đúng vào cái tuần ấy, ông lại đi một lượt qua tất cả nhà lũ con trai, con gái là con của bà cả. Sau đó, tới lũ con trai con gái là con của bà hai.

Hôm nay, như mọi hôm, ông Giản đặt chân lên bậu cửa nhà anh con trai đầu của lũ con bà hai, thì khác hẳn với mọi lần, tiếng reo của đám đông con cái, cháu, chắt từ trong nhà vang ra râm ran chào đón ông. Năm anh con trai, bốn chị con gái người nào cũng học hành hẳn hoi, đỗ đạt; người nào cũng gia thất trọn vẹn, công kia việc nọ đàng hoàng:

Hưng đon đả mang ra một chiếc ghế mời bố ngồi:

- Chúng con nhớ là hôm nay ngày bố đến, nên các em con bèn bảo nhau tụ tập ở đây, để bố khỏi phải đi từng nhà.

Ông Giản ngồi giữa chín đứa con, một lũ cháu chắt. Nhà đầy những người là người. Ông đặt cả hai tay xuôi lên đùi, vẻ mặt mãn nguyện, rồi thở một hơi thật dài. Hưng mở tủ cầm ra một xấp phong bì đựng tiền, chín chiếc. Anh lễ phép đặt ra bên mặt bàn trước ông. Các em anh, người thì rót nước, người thì gọt táo mời ông xơi.

Hưng nói với bố:

- Bố ạ, con xin báo cáo với bố một tin thật là vui: Con này, em Phương, em Tiếp, em An, em Huy và em Nga nữa. Chúng con đều cùng được lên lương trong đợt này, nên chúng con bảo nhau tăng thêm mỗi suất là hai mươi phần trăm để đưa bố, bố ạ - Vừa nói, Hưng vừa mở từng chiếc phong bì, lấy một tờ giấy mỏng có chữ in sẵn đưa cho bố anh.

Ông Giản cầm tờ giấy có tiêu đề: "Biên lai", ông thấy bên dưới mé trái hai con số là chữ ông thì đã có một nét gạch chéo qua; và bên phải là hai con số khác, trị số to hơn được viết một cách rõ ràng.

Ông Giản gật gật nhẹ, nói nhỏ với một giọng thật trong trẻo:

- Bố cảm ơn các con... Cảm ơn các con... - Ông lần lượt ký tên ông vào từng tờ biên lai, phía dưới tờ giấy có hàng chữ in: "Người nhận".

*
* *

Bỗng nhiên cái tuần đầu của tháng sáu năm nay, ông Giản đến hết thảy nhà của đàn con ông và dặn, ngày thứ mấy, thứ mấy của tuần sau tháng ấy, ông sẽ đến lần nữa và lúc ấy ông cần có một trong hai vợ chồng phải chuẩn bị, để đi cùng với ông. Sự kiện đột ngột này đã gây bàng hoàng trong đại gia đình ông Giản. Ðám con cái dâu rể cháu chắt của ông hoàn toàn không thể hiểu được vì sao ông lại làm như vậy. Họ bèn tìm những cô cậu vốn vẫn được ông yêu mến để thăm dò. Nhưng không kết quả gì. Ông kín như bưng, chỉ riêng con trưởng là bằng chân như vại, vì không hề hay biết chuyện này.

Và, ông Giản bắt đầu cái cuộc đó từ gia đình ông con trưởng. Ông đến, vẫn giọng nhỏ nhẹ ông nói với cả hai vợ chồng: Nào cô trưởng đi với tôi. Bà con dâu ông đã chuẩn bị đâu vào đấy, giờ chỉ còn cum cúp theo ông. Ông lững thững đi trước, vẫn chiếc áo mầu cháo lòng hai ống tay cụt đến nách và cái quần nâu cắt lửng đến đầu gối. Trông thấy thế này rất nhiều người tưởng ông hôi hám lắm. Lầm to, ông rất sạch sẽ. Ông Giản đến trước quầy tiết kiệm thì dừng lại, chờ bà con dâu (gọi là bà, vì anh chị đằng nhà vợ tôi đã về hưu từ lâu) ông Giản vẫn giọng trong veo, chậm rãi:

- Vào đây, tôi bảo cô thế nào thì cô cứ theo thế, rõ chưa.

Bà con dâu vâng một tiếng. Ông Giản vừa đặt chân lên bậc trên cùng thì mấy cô trong quầy tiết kiệm đã reo lên chào ông, chào con dâu ông.

Ông Giản tỳ tay lên quầy, bàn tay xòe ra và giọng nhỏ nhẹ:

- Cô đưa cho cô con dâu tôi ký đi.

Trước khi một trong ba cô nhân viên quầy tiết kiệm đưa cho bà con dâu ông, cô ta đặt vào tay ông tờ giấy hồng hồng có mấy chữ "Sổ tiết kiệm". Ông lão lấy kính ngó một lát, rồi chìa tờ giấy trước mặt bà con dâu:

- Tôi cho vợ chồng cô và các cháu 10 triệu đồng, cô ký vào đây, rồi giữ lấy sổ này, rõ chưa... Phải nhớ mà chi tiêu cho nó tiết kiệm. Cái gì đáng chi thì dù tiền triệu cũng cứ phải chi. Cái gì không đáng chi thì một chinh cũng không. Rõ chưa nào?

Bà con dâu vâng một tiếng ngồn ngột, rồi bỗng thấy hai tai ù đặc, mắt hoa và tim đập dồn, trong tâm trí bà một tiếng nói se sẽ: "Giời ạ, thầy cho vợ chồng mình... những mười triệu, hở giời...! Giá như bây giờ mà được nhìn thấy tiền mặt...".

Rồi cứ thế lần lượt, mười triệu một, mười triệu một cho đến gia đình đứa con thứ hai mươi mốt, từng đứa cháu một, và hết thẩy đám chắt, chắt trai, chắt gái mười một cô cậu nữa của ông.

Ðúng hai tuần sau, ông qua đời.

Trước ngày tang lễ ông Giản, anh con trưởng nhận được từ tay bà mẹ phong thư di chúc của ông.

Tiến bóc phong bì, một tờ giấy vở học trò cắt đôi gấp tư, hiện rõ dòng chữ của ông Giản: "Anh Tiến, tôi về với tổ tiên, anh nhớ thay tôi răn dạy lũ em, lũ con, lũ cháu chắt; phải luôn coi tiền như là người bạn quý đồng hành của mình. Trong cuộc đời chỉ coi tiền là phương tiện thì sẽ không bị đồng tiền nó đè, nó đánh chìm, nó mê hoặc. Tôi còn bốn mươi hai triệu đồng nữa. Ðây là số tiền dành để anh làm tang cho tôi. Tiền hậu sự của mẹ anh cũng có rồi. Tiền hậu sự của bà hai tôi cũng cho rồi. Giản ký".

Hà Nội 1995



Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Họa mi đang hót

Ðỗ Chu

Nhiều năm qua rồi vậy mà anh Thiêm vẫn không sao quên nổi cảnh bãi sình lầy nơi quê nhà thuở ấy.

Thật rất vớ vẩn, chỉ là mấy bông lau bông sậy nhu nhơ lắt lay theo gió, những thân lau sậy bị lửa táp cháy đen đúa nom đến buồn. Gì nữa nhỉ, một chú bói cá vẫy cánh trên nền trời chiều và đâu đó lác đác vẫn đang còn tiếng súng nổ. ấy thế mà vẫn cứ nhớ mãi, nhớ lấy được là nghĩa làm sao.

Sắp già với nhau rồi, phải vậy không chị Lương. Thời trẻ trung tìm bạn đã là khó, nay luống thời, để tìm ra bạn tưởng là chuyện mò kim đáy bể mới phải. Nhưng với hai ông bà này thì không hẳn thế. Là vì chưa biết nên mới phấp phỏng dò đoán đấy thôi. Họ có chung một khoảng trời, có chung một vùng lau sậy kín đáo nhiều âu yếm và họ biết gìn giữ nó lâu bền.

Thế cho nên mọi người trong khắp khu tập thể quân đội vốn rất bình yên này mới ngớ cả ra với nhau khi thấy hai người bỗng thành một đôi bạn già tâm đầu ý hợp, thức với nhau thâu đêm suốt sáng mà vẫn còn chuyện để nói. Không hiểu cái đôi ấy họ to nhỏ với nhau những gì. Chà chà, ông trời sinh ra cái con người, nghĩ cũng hay.

Những người cao tuổi vốn thận trọng sự chờ đợi vốn là bản tính của họ; còn bọn trẻ thì khác, chúng cứ bô vô và hớn hở ra mặt, làm như thể trong khu mình sắp có đám hỷ, sắp có cảnh chim câu chữ lồng vui duyên mới không quên nhiệm vụ. Nghĩa là chúng nó hào hứng chào đón cái ngày mai đang tới với hai cụ một cách rất chân tình. Cô mới làm đầu đấy ạ, con nom cô lạ quá không dám nhận ngay, bao giờ cô cho tụi con cắn hạt dưa hở cô. Bác Lương à, tới đây trên cung Hữu nghị có cuộc thi người đẹp đêm Nôen, chúng cháu sẽ kéo bác cùng đi, bác mới đúng là ứng cử viên có hạng của khu ta chứ chẳng phải ai khác. Mấy năm trước tìm người đẹp trong khu ta chúng cháu cho rằng phải là bác Lý, khổ nỗi từ dạo nghỉ hưu bác ấy xuống mã nhanh quá, mặt tự nhiên đang trắng bỗng chốc xạm xanh như đít nhái, ăn nói thì cấm ca cấu cảu như người hóa dở. Chả bù cho lúc đương chức đương quyền, bà giáo sư viện trưởng khoa học kính đeo túi xách, bước lên xe đi làm mà trang trọng như sắp bay sang Mỹ hội đàm với ngài Poussue. Bác Lương ngồi phơi mặt ngoài chợ suốt ngày mà sao dáng lại vẫn sang, kẻ lên xe xuống ngựa mà sao chợt nhìn thấy mặt mũi lại bự ra, lại vác lên đến khiếp. Cứ bảo nhà phải có thổ công thổ địa phù hộ độ trì, vậy chứ hai mẹ con bác Lương thui thủi sống mấy chục năm trên căn gác sát nóc ngôi nhà cao tầng kia thì biết tìm thổ công thổ địa ở đâu mà thờ, sao họ sống vẫn cứ thơ thới, mẹ nào con nấy, ra đường gặp nhau còn muốn chào mời. Cái con Hoa nhà bác ấy sớm sớm ngoay ngoảy xách hàng ra chợ cho mẹ, lúc nhỏ người như cái mạ, như cái que, vậy mà bước vào tuổi dậy thì bỗng bồng bồng lên như một cô Tấm. Ði lấy chồng rồi, lại được đài truyền hình tuyển vào làm phát thanh viên rồi, người sao tên vậy, nó tươi sáng thế cho hiện lên màn hình cũng đỡ nhức mắt thiên hạ. Hôm nào bật ti vi gặp được con bé ấy đọc bản tin sáng đích thị hôm ấy làm ăn có may mắn, đi chơi cũng vui. Sắp tới bác Lương cũng có thể đi bước nữa lắm chứ, gặp lũ trẻ trong khu thấy chúng nói vui bác có tỏ ra khó chịu đâu, bác chỉ gạt đi, chúng mày bớt mồm bớt miệng để tao còn sống với chứ, sao cứ như liếu điếu thế hả, rõ là rỗi hơi.

Chị Lương nói, giá hôm đó em đừng lội ra chỗ ấy, đừng kéo anh lên.

Anh mà chết, chị Lương kêu lên như không thể tin, anh là người đâu có dễ chết thế. Gò má chị chợt ửng hồng, vầng trán sáng lên, đôi con mắt nhìn anh long lanh tinh quái. Chú mèo tam thể biết là chủ đang vui liền nhảy tót lên giường, nơi chị đang ngồi, quanh mình quấn hờ hững tấm chăn len. Ðập khẽ vào lưng nó, chị mắng yêu, muốn nghe lỏm hả, có xéo ngay không. Con mèo nũng nịu dụi đầu vào đùi chị, nó muốn được ở lại cùng họ.

Năm ấy em mười sáu mười bảy chứ mấy, nhưng hình như đã khôn hơn đám trẻ bây giờ nhiều. Bọn chúng bây giờ tính toán kiếm tiền thì lanh, các bà không kịp được, nhưng ý tứ xem chừng ít, phấp phới xanh đỏ vậy mà nhạt thếch. Chả biết ai khôn ai dại, chị thở dài, chỉ biết cũng đã sắp qua một kiếp với nhau rồi, cái khổ của lũ chúng ta là chưa chịu già cho, trong khi chúng nó, là em nói lũ trẻ đó, chúng nó lao vào sống hết mình, sống tàn bạo xả láng. Vậy mà đứa nào xem ra cũng sớm già, tưởng như con cháu chúng ta chưa hề có tuổi trẻ bao giờ. Là vì trong chúng không có gì để cháy cả. Anh bảo cái gì cháy. Một cái gì đó âm ỉ cháy, thật lâu bền. Ðừng nghĩ ngay rằng đấy là tình yêu, cái đó còn phải cao hơn tình yêu kia, một kiếp người tưởng chỉ cần có vậy cũng là quá đủ. Vâng, cũng là quá đủ. Em nhớ lúc ăn xong bát cháo anh quàng tay ôm lấy eo lưng em, nhột tưởng sắp chết đến nơi. Về sau em vẫn thầm trách sao anh nghịch thế, ông quỷ sứ chứ không phải người, người đâu có người lạ thế. Khắp lưng khắp vai em đến giờ vẫn cứ như đang có những cái gai của những cây sậy cứng quèo cắm vào, nhiều lúc em bật khóc một mình khi chợt nhớ tới cái đêm ăn nằm với anh. Bây giờ anh vẫn muốn làm thế một lần nữa đấy Lương ạ. Bây giờ thì không nên thế nữa. Sao. Em không biết, nhưng anh đừng, mọi chuyện đều đã lùi xa lắm rồi, mờ mờ tỏ tỏ như ta đi trong đám sương vào tiết giêng hai ấy. Ta chợt gặp, chợt gọi, rồi là tất cả lại tan biến đâu hết.

Chị rúc mặt vào tấm chăn phủ qua hai đùi gối. Mái tóc chị đã bạc trắng. Tóc anh nào có hơn gì. Anh lại gần đặt tay lên đó, vuốt từng sợi. Biết là không xuể, tóc chị đang rối bời. Anh nghe ai nói dạo này em năng đi chùa, em thường đi chùa nào. Khuất sau mé Hồ Tây có chùa Trích Sài, phong cảnh còn tạm gọi được là thanh vắng, mấy mụ già rủ nhau lên đó tìm sự khuây khỏa. Trích Sài có nghĩa là cây sậy cháy đấy, ở đó ngày xưa chắc hẳn nhiều lau sậy. Buổi em lẻn ra ngoài đồng sậy quê mình tắm táp, nom thấy cẳng chân anh ngọ ngậy trong bùn, sao em không sợ mà bỏ chạy nhỉ. Lúc đó thì không sợ, nhưng giờ nghe anh nói lại cảm thấy rờn rợn thế nào. Lôi được anh lên đã thấy cái miệng ngáp như bị ngạt, hàng tuần lễ nằm mê man lảm nhảm. Bố mẹ em bảo đấy là nó đang lúc ở trên trần lúc xuống âm ti, lang thang bờ mê sông lú. Người ta có thể sa vào cơ cảnh đó thật sao anh. Ðó là một vùng dở sống dở chết, về sau anh còn sa vào vùng ấy vài ba lần nữa. Trên người anh đếm được bao nhiêu vết thương là ngần ấy lần đã tới sát cõi âm. Quả là mơ màng lặn hụp, nhiều cái chưa bao giờ thấy có, không thể có, không dám tin, lạ lùng thật. Nhưng cứ tỉnh lại là chỉ thấy em, thấy một cô bé đang đi trên bờ đầm, bên những đám lau sậy cháy sém, vậy là biết mình còn sống, mình đã trở lại trần gian rồi. Mai đã là mùng một đầu tháng, anh có lên chùa cùng mấy đứa trong nhóm "bát tiên" chúng em không. Ði chứ, được rong chơi với các bà còn gì vui bằng, những tám bà tiên kia à. Tám đứa tám cảnh, rủ nhau lập thành một hội, có điều lệ hẳn hoi, có quỹ chung, lập được một năm, đi đâu cũng có nhau, đang vui thì một đứa lăn đùng ra chết, thọ năm mươi bảy tuổi, anh nghỉ ở nghĩa trang khu B Văn Ðiển. Ðến lượt em thì không biết là nên như thế nào đây, anh thế nào thì em cũng theo thế. Em phải năng ra ngoại thành, tìm về làng mà thăm thú đồng nước hoa cỏ, vui lây với muôn vật, như thế dễ chịu hơn. Ru rú trên nóc nhà này, mở mắt lại gồng gánh xuống chợ, xung quanh chỉ những xi-măng, là xi-măng người ngợm khéo sắp héo khô cả với nhau rồi. Nhà mới, đường mới, nhấp nhô chen chúc, trông vào đâu cũng là cảnh nhớn nhác tất tưởi. Sống thêm một ngày là thêm những lo toan ham muốn, chả mấy ai thoát được. Lo mẹ già con dại, lo chỗ ăn chỗ ở, thì cũng phải có chỗ che nắng che mưa, phải có cái mà đút vào mồm chứ sao. Thế nào đã đủ, sống là còn phải ganh đua với đời, còn phải lập ngôn lập đức lập công, công đức chả biết hay dở thế nào nhưng trước tiên cứ phải thấy có tiền tài có danh vọng cái đã. Tao phải khác mày, tao phải hơn mày. Ðấy, đã bao nhiêu năm nay anh lặn hụp giữa đám đông, một hai chỉ những chực ngoi lên, ngoi nữa lên. Chỉ đến buổi gặp lại em anh mới giật mình, anh muốn sống khác, nghĩ khác, có thể muộn nhưng bao giờ cũng vẫn kịp, hành trình qua một kiếp người thật quả khó khăn.

Anh gặp lại em hôm ấy là ở đâu nhỉ. ở ngoài chợ chứ còn ở đâu. ở ngay cái chợ của vợ con lính trong khu này này, cũng là duyên ông trời run rủi mà anh được gặp lại em, suốt một thời trai trẻ dọc ngang, qua chỗ nào cũng có ý tìm mà không gặp, mãi tới hôm được phân ngôi nhà mới, dọn về sống dưới này, bỗng thấy nóng ruột thèm một bát cháo tiết ăn cho mát, mới đánh liều mò ra chợ, sà vào đúng quán bà Lương. Chính mấy bà ngồi ngoài đó đã chỉ chỗ em ngồi cho anh tìm đến. Tưởng bác cần cao lương mỹ vị gì thì chợ này mới hiếm chứ tìm một bát cháo lòng thì xin cứ ra quán bà Lương.

Bây giờ khuya rồi, câu chuyện tạm gác lại đã, bà Lương cũng đang cảm thấy phải có cái gì cho vào bụng, vậy bà Lương sẽ nhóm lò làm cho bác Thiêm một tô cháo thật ngon, bác Thiêm chắc bằng lòng.

Chị Lương cười, nụ cười đến là tươi. Mà dáng chị xem vẫn cứ nhanh nhẹn xốc vác như thuở còn con gái. Những người đàn bà nhiều lam lũ bao giờ chả thế, không nhanh thì chết, không xốc vác cũng chết, chả nói bom đạn xa xôi gì mà trước tiên là chết đói. Khi thấy chị tung tấm mền len vụt đứng lên là con mèo tam thể liền vươn vai đứng theo ngay, nó lẻn ra bếp mau lẹ, bỏ anh Thiêm ngồi lại một mình.

ở đời mỗi tuổi mỗi già, lúc đó cái khiến cho người ta dễ buồn nhất có lẽ là mặc cảm bị bỏ quên, là sự cô quạnh, tính nết hóa thuần hơn, dễ dãi hơn, bớt đúng sai bớt đòi hỏi ở nhau hơn. Cũng là vì không muốn mất bạn.

Sáng sáng dậy lọ mọ đun một siêu nước pha ấm trà ngồi uống một mình trên tấm đi văng bọc gấm giả da hổ, hết nhìn mấy chậu cây cảnh lại nhìn sang bể cá vàng. Ðồng hồ điểm tám chín tiếng bính boong vẫn thấy ngày sao còn quá sớm. Nghỉ hưu là một nghệ thuật, không chịu khó lần ra cái nghệ thuật ấy thì sụp nhanh lắm. Chơi cá với người xưa cũng là cách dưỡng trí, còn gì im lặng nhiều suy tư hơn loài cá. Chơi cây với người xưa là để dưỡng lòng nhân ái, đến những kẻ thất phu hung hãn một khi trông vào cái cây cái hoa lòng dạ cũng mềm mại đi. Cho nên nếu hỏi người xưa sao hiền hậu hơn người nay, là bởi vì xưa rừng nhiều lắm, trong nhà ngoài đường đâu đâu cũng gặp cây, gặp chim. Nghe một tiếng chim lảnh lót đâu đó là con người ta chợt cảm thấy mình đang sống thanh thản giữa trời đất yên bình. Một con gáy thổ đồng khi nó gù mới khơi gợi làm sao, cứ như ta đang đi dưới một rặng tre nào, trên một cánh đồng lúa nào của miền đồi trung du những năm xa xôi. Có mấy anh làm như ta sành sỏi lắm, thật ra chỉ là một đám con nít so với các cụ ngày xưa. Các cụ là những ông bành tổ, chơi ra chơi, chơi cả một rừng bàng Yên Thái, khắp một vùng ven hồ những bàng là bàng, gốc bàng cổ thụ một người ôm không xuể. Cây bàng mùa xuân mùa hạ đẹp một cách, sang thu đông lá đỏ như giát đồng rồi lá trút xuống chỉ còn trơ cành, lại thấy đẹp một cách khác. Trong thành phố nếu không trồng sấu là phải trồng bàng, hai cây ấy chịu được gió bão, dễ tỉa mà lại cao tuổi thọ. Ngẫm mới thấy người xưa thật khôn ngoan, tưởng dung dị mà hóa ra sang quá, chúng ta giờ không bén gót. Ai lại đi chơi chó nhật chó phốc như một lũ rồ như thế bao giờ, có thứ chó nào lại đến vài chục triệu đồng một con mà vẫn nhắm mắt rước về, bắt vợ con nhường nhà, nhịn ăn nhịn mặc vì chó. Căn nguyên cũng chỉ tại trọng đồng tiền quá đấy thôi. Ðến khi giá chó sụt xuống, chả ai thèm mua thì thân phận của chúng thật đến là thảm. Bà Lương ngồi bán cháo ngoài chợ, mỗi lần thấy con chó nào ủ rũ bước tới, lông lá bẩn thỉu, mắt mũi kèm nhèm là bà lại thương hại vứt cho nó một miếng dồi, bà hỏi nó ân cần như hỏi người, chủ mày là ai, rõ khổ, đang sống trong thịt sữa bỗng chốc bị hất ra hè, một bước cầu bơ cầu bất là vậy đấy con nhé.

Chị Lương đâu phải là người được học hành nhiều, thời kỳ còn chế độ tem phiếu chị làm nhân viên quèn của một cửa hàng gạo, là vợ lính nên chị hóa công nhân của khu tập thể này. Ðến lúc chồng hy sinh, nhà cửa hồi đó rẻ ợt, chị mấy lần đã toan ôm đứa con gái dọn ra bên ngoài, mua một túp nhà nào có vườn, trồng thêm ít hoa, cộng với nhúm tiền lương hưu mất sức sống tùng tiệm. Cứ nấn ná nấn ná, chưa kịp đi đâu thì có chủ trương bung ra, mình tự cứu lấy mình, thế là chị lao ngay ra chợ. Chị có mặt ngoài đó ngay từ lúc cái chợ của vợ con lính vừa hình thành. Thoạt đầu nó chỉ mới là cái túp lều dựng tạm, hàng hóa bày biện cũng dè dặt, ăn nói cũng phải mắt trước mắt sau, người bán chưa quen với việc chợ búa và người đến mua cũng vậy. Giờ thì khác lắm rồi, họ đã làm chủ tình hình, họ đùa cợt trêu chọc nhau, nói kháy nhau, họ khoa chân múa tay nặng lời với nhau. Gọi nhau là thiếu tá, trung tá theo cấp bậc đã từng có của các ông chồng hiện đang còn sống hoặc đã hy sinh. Bà Lương được chị em gọi là bà đại úy, chức vụ gần như bét ở ngoài chợ. Cái chợ của mấy bà vốn lèo tèo mà nay đã ra dáng một cái chợ thực sự, đi từ xa người ta đã nhận ra tiếng ồn ào của một đám người tay cầm miệng nói.

Như đã thành lệ, thường cứ ngang trưa là anh Thiêm lại mò ra đó. Ông ấy ra rồi kia kìa, bây giờ chúng tôi biết gọi bà chị như thế nào đây, bà đại úy hay bà tướng. Chị Lương chỉ cười. Chị sắp cho anh một bát tiết canh có rắc lạc rang lên trên, mấy miếng ngon nhất của một cỗ lòng để phần dưới gầm chõng và một chén rượu. Khách lúc đó cũng đã vãn, anh có thể ngồi lâu lâu, chuyện trò với mấy bà bạn hàng ngồi bên chị Lương. Trong số năm sáu bà gần đó thì anh Thiêm ít nhiều có quen biết chồng của bốn bà. Cũng chỉ là quen sơ sơ vậy thôi, nói chung họ đều là cấp dưới của anh trong một lúc nào đó, ở mặt trận nào đó. Các bà cũng chẳng vừa, lý lịch đời tư của anh các bà nói vanh vách, trước anh sống ở chỗ nào trong thành phố, giữ cương vị nào trong thành, bà vợ anh bị bệnh gì và mất năm nào. Chỉ có hai điều quan trọng nhất thì mấy bà lại rất lơ mơ. Vậy chứ giữa cái ông Thiêm còm này và bà Lương có một bí mật gì chăng, không vậy sao họ vừa gặp mà đã quấn lấy nhau như mật ấy nhỉ. Một điều nữa, bà Lương có một mụn con gái, cái đó rõ rồi, nhưng ông ta với bà trước không được mụn con nào hay sao. Thực ra anh Thiêm cũng có một mụn con, một thằng con trai cao lớn lộc ngộc nhưng học hành thì có phần đuối, nó được gửi sang học nghề bên Ðức từ hàng chục năm trước, rồi nó ở lại không chịu về nữa, lấy vợ đẻ con luôn bên đó. Khi con người ta trở nên kẻ có đồng tiền thì ăn nói dễ thành ngạo ngược lắm. Vừa rồi anh đã viết cho vợ chồng nó một bức thư, kể chuyện mình về hưu, mới được chia một ngôi nhà khá khang trang trong thành phố, khuyên vợ chồng nó mang cháu về sống với ông nội vài năm cuối đời.

Nó trả lời tắp lự, nếu anh cần đô la thì nó có thể gửi ngay về chứ về nước thì nó không bao giờ còn nghĩ đến. Ngôi nhà của anh dù có khang trang cũng chỉ là khang trang so với những ngôi nhà xung quanh, chứ đã bằng sao được so với chỗ nó đang sống. Lý do làm nó sợ sự trở về đơn giản chỉ vì nó sợ khổ nghèo. Có vậy thôi. Nghe cứ ngỡ chuyện vui, ấy vậy mà là mất trắng một đứa con rồi đấy. Mất mà phải chịu, phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Cái cay đắng ở đây là cái rất khó nói ra, thằng con đã sổ toẹt cả quá khứ và hiện tại, cái mà cha nó đã gắn bó, đã mất một đời mới tìm được. Cho nên những ai chủ quan đang quá trông đợi vào con cháu, đang rắp tâm kỳ vọng sự nhờ cậy vào chúng nó lúc mình về già thì xin hãy cứ từ tốn đôi chút, tỉnh táo đôi chút, kẻo lại thành kẻ hấc lờ, không khéo sẽ bị nhục.

Cũng còn rất may là anh Thiêm đã gặp lại được chị Lương. Ðã gặp lại không phải chỉ một quá khứ đẹp mà là một hiện tại cũng đẹp. Ðẹp như chị Lương, như chính cuộc đời chị vậy. Ði vòng rất lâu cái ngỡ đã mất bỗng chốc đã tìm lại được, mà tìm lại một cách đầy đặn, như chưa bao giờ bị mất.

Chỉ có một điều không thể không thấy, đấy là ở điểm xuất phát trước tóc họ đang xanh, còn hôm nay tóc họ đều đã bạc. Sự thể sẽ ra sao đây, mọi người xung quanh hỏi nhau như thế đã đành, chính họ cũng tự hỏi mình như thế.

Dẫu sao thì đời vẫn cứ rất hay - Ngay việc mọi người đang được hồi hộp bàn tán về họ cũng đã là hay. Sống để có cái cho người khác bàn làm sao dám nó là buồn được. Thế là vẫn đang rất trẻ, rất nồng cháy. Lũ trẻ bằng sự nhạy cảm của tuổi thanh xuân ngửi thấy ngay, đánh hơi thấy ngay. ở đây đang có những dấu hiệu không thể nói là đơn giản, rất tuyệt vời và giữa cuộc sống tưởng chừng tẻ nhạt, chuyện đó là hiếm, nó có mang một dư vị riêng. Hay là hai người đang muốn đặt một vấn đề gì mới mẻ cho cái khu phố lính này chăng. Có lẽ là không, nom ra họ vẫn cứ uể oải thế, lửng dửng và nhã nhặn thế, trước mắt tất cả.

Anh Thiêm nói, đôi khi đi trong rừng ta có thể bắt gặp xác một con họa mi nằm phơi khô trên cỏ, lũ kiến đen kiến đỏ bu kín. Cúi xuống nhìn thật kỹ thấy trên mình nó mang nhiều vết thương, có con mắt bị móc lòi ra, có con gãy cánh, rách cổ. Ðó chính là xác của những chàng dũng sĩ. Họa mi sống có đôi, mỗi đôi chiếm giữ một giang sơn, một vùng trời vùng đất. Một hôm nào đó có một chú họa mi từ đâu lạc đến, thế là cuộc tỷ thí bắt buộc phải xảy ra. Một là sống, là có tất cả, kể cả tình yêu, hai là chết. Hai con họa mi đực lao vào nhau chẳng còn biết trời đất là đâu, trời không còn thấy xanh nữa, đất không còn thấy chập chùng sông núi nữa, tất cả đều ngả nghiêng hoa cà hoa cải. Và con cái bay đâu đó, nấp đâu đó ra sức xùi, thúc giục người tình của mình không được nản chí, không được cam chịu thất bại. Một lần anh thấy có một con mi đực bị đối phương khóa chặt họng, hai chân đã duỗi ra giãy giãy, tưởng mười phần chết chín rồi, sắp xong một kiếp rồi, sắp mất tất cả rồi, vậy mà chỉ cần một tiếng xùi đúng lúc của con cái, nó bỗng thu hết tàn lực đạp bật kẻ thù ra để thoát hiểm. Rồi nó lao vào tiếp tục chiến đấu như vừa được tiếp thêm sức mạnh, như có phép thần giúp sức và sau cùng đối phương đành phải bỏ chạy.

Ngày anh bị thương nằm trong bãi sậy, càng cố gắng với vào thân mấy cây sậy cháy thì thấy mình càng ngập sâu xuống bùn. May mà gặp em. Lần ấy một mảnh đạn đã làm anh gãy đùi nhỉ. Phải, cái sẹo giờ vẫn không đầy lên nổi. Em có biết anh đủ sức sống trở lại là nhờ ở đâu không. Là nhờ có em lúc nào cũng ngồi ở bên cạnh, không hỏi han, không động viên an ủi, nhưng nhìn vào mắt em anh hiểu tất cả, chính em đã giục anh gắng mà sống, gắng mà đẩy lùi cái chết. Lúc anh sắp ra đi em đã tin cậy trao cho anh hết thảy những gì được xem là quý giá nhất của một đời con gái. Nhờ có tình yêu ấy mang theo mà nhiều năm sau này anh đã lần lượt vượt qua được mọi hiểm nghèo.

Anh tưởng chỉ em đã giục anh cố gắng phải sống thôi ư, ngược lại thì có, chính anh từ cái đêm trời đánh ấy cũng đã đi bên em, luôn luôn ở bên cạnh em, lúc vui nhất cũng như lúc buồn chán nhất, anh xui em nhiều chứ đâu phải là em đã xui anh. Em cũng đã đi qua không biết bao nhiêu đận tủi khổ, sống được đến hôm nay một phần là có hình bóng của anh đã bám theo suốt cả cuộc đời. Em ngồi giữa chợ, nói nói cười cười, lắng nghe chuyện này, trả lời chuyện kia, mà lòng dạ lúc nào cũng chỉ ngong ngóng chờ anh một hôm nào đó sẽ hiện ra, nhất định anh sẽ hiện ra. Rồi anh hiện ra thật, anh như người âm hiện về trước mắt em, cả ngày hôm đó em không còn làm ăn gì nổi nữa, em cũng không kịp cả khóc nữa, có đúng thế không.

Anh Thiêm trầm ngâm gật đầu. Anh ôm con mèo lên lòng vuốt ve nó như vuốt ve những kỷ niệm không thể quên. Rồi anh đứng dậy, ra đứng bên cửa sổ nhìn ra thành phố. Sương mù đầy trời, đúng là sương mãn thiên, như ý trong một câu thơ Ðường. Chẳng thấy nhà cửa, chẳng thấy đường xá, cây cối, cũng chẳng thấy bóng dáng một ai. Một buổi sáng đang tới, một ngày đang bắt đầu, giữa mờ mịt hơi sương.

Trong thinh không im lặng bỗng vang tới một tiếng chim lảnh lót. Họa mi hót. Một con họa mi của ai đang hót.

Chị Lương tung cái mền len ra giường rồi với tay ấn nút chiếc ti vi. Bản tin buổi sáng bắt đầu phát được mấy phút rồi. Chị gọi anh Thiêm lại ngồi bên mình. Anh nhìn trân trân vào màn hình, con bé hôm nay mặc áo dài vàng có thêu hoa cúc trắng trước ngực, nom nó trang trọng quá, giản dị quá. Và giống mẹ nó quá. Giống mẹ nó những năm giờ đây đã thành xa lắc xa lơ rồi chăng.

Anh vòng tay ôm lấy ngang lưng chị nhưng chị đã nhè nhẹ gỡ tay anh ra. Chị nắm lấy bàn tay anh hồi lâu rồi nói, tất cả đã lùi xa lắm rồi, hôm nay là ngày bọn em rủ nhau lên chùa, anh có đi thì cùng đi, thêm anh nữa là lại đủ bát tiên. Ôi con họa mi kia, sao mày vẫn cứ hót mãi thế, mày không thể im đi được sao.

Hà Nội tháng 12 năm 1995
Ð.C



Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Hoa hải sơn

Ðặng Ái

Tôi yêu Hậu. Ðây là lần thứ hai tôi yêu. Lần đầu là một cô bạn cùng học. Tôi không muốn nói tên cô ta, bởi bây giờ cô ta đã là mẹ của hai đứa trẻ. Tôi cứ nghĩ không nên để cho trẻ con áy náy về người mẹ mình - thật không gì làm hại những tâm hồn non nớt hơn thế.

Tôi và cô ấy yêu nhau suốt năm năm trời. Ở thời sinh viꮬ t쮨 y굠vࠬ��#432;ởng quyện chặt với nhau. Cuộc đời tinh khiết, thiêng liêng vô bờ bến, đầy những niềm vui rạo rực cùng mơ ước êm đềm. Sự thật là trong gần hai ngàn ngày sống bên nhau ấy, chúng tôi không đòi hỏi nhau nhiều. Những câu chuyện linh tinh, nhiều nhất là về bạn bè, học tập, vài gói quà, thường là ăn ngay được sau kỳ nghỉ hè, nghỉ tết: hai bàn tay rụt rè tìm đến nhau những buổi tối dạo chơi... Chỉ có thế! Cần gì phải nhiều hơn? Chúng tôi là sinh viên. Máu chảy trong người chúng tôi nóng ấm, hồng hào. Trong lớp tôi có nhiều đôi. Cũng như chúng tôi, họ yêu nhau không cần đến lời thề thốt.

Rồi chúng tôi ra trường. Tôi và cô ấy mỗi đứa làm việc mỗi nơi. Nhưng ba trăm cây số đâu phải là khoảng cách. Chúng tôi viết thư cho nhau đều đặn. Những lá thư dài dằng dặc, sáu hoặc tám trang giấy!

Một thời gian trôi qua... Thư cô ấy viết cho tôi cứ ngắn dần, ngắn dần. Cô ấy kêu bận, tôi tin thế, bởi tôi cũng bận suốt ngày đêm.

Nhiều người bạn chúng tôi đã "tổ chức". Thật là hạnh phúc: những tấm thiếp nhỏ mầu trắng như những cánh bướm bay đi khắp nơi trong nước. Và từ khắp mọi miền đất nước, người ta gửi về cho uyên ương những lời chúc mừng chân thành nhất, cái thì âu yếm, cái thì nghịch ngợm, tùy theo cá tính của mỗi người gửi.

Tôi cũng muốn tình yêu của chúng tôi sang trang mới. Làm sao lại không nghĩ đến cái phông cưới? Tôi liền viết thư cho cô ấy.

Mười ngày, rồi nửa tháng, một tháng qua đi.

Trong lúc đang bồn chồn không hiểu sao cô ấy chậm trả lời thì tôi nhận được giấy mời đến bưu điện nhận bưu phẩm. Gói thư nhỏ, tôi nôn nóng bóc ngay trước mặt mấy chị nhân viên bưu điện. Thầm đoán là một cái áo gối, cô ấy may và thêu thùa khá thạo. Nhịp tim tôi đập ghê quá, tôi thấy hạnh phúc đến không lời nào tả được... nhưng gói trong thư là một món tóc... Những sợi tóc của cô ta đen nhánh, mượt mà và thơm dìu dịu... một tờ pơ luya gấp nhỏ, giắt giữa món tóc ấy, cô ấy nói rằng ý định của tôi làm cô ấy đau khổ. Cô ấy không muốn tình yêu bị tầm thường hóa. Cô ấy đã yêu tôi và sẽ yêu tôi mãi mãi. Nhưng tình yêu và gia đình là hai khái niệm khác nhau. Mỗi đứa hãy lập một gia đình riêng mà vẫn yêu nhau như xưa...! Bởi vì theo cô ấy, tình yêu là thiêng liêng lắm! Cô ấy khuyên tôi đừng bao giờ nhắc đến cái chuyện trần tục kia nữa!

Giọng cô ta tha thiết quằn quại. Văn của cô ta có nhiều chấm than! Tôi cũng đã chết đứng như một cái chấm than lộn ngược trong phòng giao dịch của bưu điện bữa ấy.

Ai ngờ sự đời lại diễn biến như thế?

Sau đó thì cô ta lấy chồng. Trước khi làm cái "nghĩa vụ tầm thường" của con người, cô ta còn gửi cho tôi khá nhiều chấm than nữa và khẳng định thêm là dù vậy, mặc dù vậy, cô ta vẫn luôn luôn hướng về tôi.

Tôi không thể phân tích được tình cảm của tôi lúc ấy, chỉ biết rằng tôi không thích làm thần tượng. Và thấy ái ngại cho anh chồng cô ta.

Anh ấy hơn chúng tôi độ mười tuổi, có bằng phó tiến sĩ, lương cao, rất có năng lực chuyên môn. Loại như anh ta, nếu cố gắng thì cũng có thể lãnh đạo được một cục hoặc một viện. Còn cô vợ thì, chẳng phải cố gắng gì cũng đã trở thành người lãnh đạo anh. Không phải chỉ lãnh đạo trong bếp đâu. Cô ta đã có lần gợi ý cho tôi là cần gì (muốn làm việc ở đâu, cần nghiên cứu đề tài nào), cô ta sẽ "chỉ thị" cho người bố của những đứa con mình ngay.

Cho đến bây giờ tôi cũng không biết nên kết luận về cô ta thế nào? Lên án cô ta như các bạn tôi đã làm ư? Tôi không thể. Tán thành những việc làm của cô ta ư? Tôi càng không thể. Nghĩ về cô ta, tôi cứ thấy chơi vơi chuếnh choáng thế nào ấy. Chẳng có gì để mà bấu víu, để mà tự hào, để mà căm ghét. Thành ra... dường như... có thể là... suốt năm năm trời đẹp nhất của cuộc đời tôi như thế là trống rỗng. Chân không. Nhưng áp suất mạnh. Nó đè lên tâm hồn tôi, làm tôi thấy khó thở. Là một thằng đàn ông nhưng nhiều lúc tôi phải nghẹn ngào. Tôi ít nói hơn, tính tình trầm hẳn đi. Tôi không để ý đến chuyện ăn mặc nữa. Gọn gàng, đẹp đẽ mà làm chi? Tôi thấy mình không thể yêu người con gái nào. Tại sao lại có thể yêu lần thứ hai? Thôi, ở vậy cũng được. Có phải ai cũng lấy vợ mới thành người đâu!

Về tôi như vậy là xong.

Hiềm một nỗi, có một người, mà mỗi khi nghĩ đến tôi lại thấy nhoi nhói trong ngực. Ðó là mẹ tôi.

Dạo đó mẹ đã sẵn sàng để đón đứa con dâu mà mẹ rất mực thương yêu ấy. Tuy nhà hai đứa ở hai tỉnh khác nhau, nhưng cô ta cũng đã đến nhà tôi dăm ba lần. Xinh, nhanh nhẹn, ngoan đáo để - mẹ tôi nhận xét. Mẹ đã đi khoe với hàng xóm, đã mẹ mẹ, con con với cô ta. Và, nhất là trong lòng mẹ đã hun đúc biết bao tình cảm đầm ấm về tương lai! Nhưng cô ấy không bao giờ làm con dâu của mẹ... Tôi không dám nói ra sự thật. Thà để cho mẹ thất vọng trong tức giận còn hơn là thất vọng vì buồn nản. Tôi nói rằng chính là tôi chưa muốn cưới vợ, mà con gái họ có "thì" - chính tôi buộc cô ta không được chờ tôi... Tôi hy vọng mẹ hét lên. Song mẹ im lặng, sự im lặng thật là đáng sợ.

ít khi tôi về nhà. Tôi lao vào công việc. Biển mênh mông, thả vào đấy bao nhiêu sức lực, trí tuệ cũng vừa. Ðược cái quý là chỗ chúng tôi, mọi người đều làm việc say mê. Những khoang cá tươi rói, ánh bạc là niềm hấp dẫn lớn nhất.

Thời gian cứ lừng lững trôi, bất chấp người ta có để ý đến nó hay không. Tôi đã đến tuổi ba mươi, cái tuổi chín chắn, độ lượng. Nhiều khi chợt như thấy một dáng dấp, chợt như nghe văng vẳng một tiếng cười, một câu nói của cô gái ấy... tôi đã giật mình thảng thốt. Tưởng như vết thương đã không nhức nhối nữa.

Chính trong thời gian này tôi đã gặp Hậu.

Và một tình yêu mới đã đến với tôi. Lần này không say mê mộng ảo như lần trước, nhưng nhờ đó tôi thấy mình có trách nhiệm với cuộc đời hơn, thấy cuộc đời đẹp đẽ, đáng yêu hơn là tôi vẫn yêu...

Dạo ấy, sau những cố gắng liên tục, vượt qua rất nhiều khó khăn, lần đầu tiên chúng tôi hoàn thành kế hoạch sáu tháng đầu năm trước hai mươi ngày.

Ðể ghi nhớ "sự kiện lịch sử" này, thủ trưởng của chúng tôi - một người rất nghiêm về kỷ luật lao động - cho phép chúng tôi nghỉ thông hai ngày. Ông tuyên bố là ông sẽ xua tất cả đi chơi, còn đích thân ông sẽ ở lại trực.

Chúng tôi quyết định nghỉ ngơi thích đáng: Ði "du lịch" quanh vùng và "oanh tạc" vào làng, ấy là nói theo cách của cậu Phái. Cậu ta là một trang hào hoa nói như nước chảy, cắt tóc rất "trình độ". Một cái kéo, mười lăm phút - vậy là phát xong một khu rừng. Phái nói như vậy. Phái kéo mấy ông anh tóc xù ra hiên, đánh kéo tanh tách. Tôi cũng được Phái tặng cho một kiểu tóc trứ danh. Chúng tôi tắm rửa sạch sẽ, diện quần áo lành lặn vào rồi kéo quân đi. Năm anh con trai bảnh bao. Ra đường tôi mới biết mình lạc hậu nhiều so với các bạn, nhất là với Phái. Mới hăm mốt, hăm hai mà cậu ta có vẻ thạo đời lắm.

Cơ quan chúng tôi đóng trong một khu vực dân cư đông đúc, một cái làng khổng lồ, tới hơn một vạn dân. Hầu như cả làng đã lên nhà gạch, những mái ngói cao thấp chen chúc nhau, xoay không phải bốn hướng mà đến bốn mươi hướng, hỗn độn. Nghe nói xưa kia những người đánh cá ở đây rất nghèo, chỉ giàu bệnh tật. Nhất là bệnh đau mắt. Những đôi mắt nhòe nhoẹt của các cụ già nói lên điều đó. Trai gái làng bây giờ diện hơn thành phố. "Xi", "Lon" sặc sỡ, biến hóa luôn luôn... Tuy nhà cửa làm không theo một trật tự nào cả nhưng làng cũng có một cái chung, đó là con đường trục, dài hơn một cây số, chạy song song với bờ biển. Con đường này tuy ngập cát nhưng ô-tô vận tải cỡ lớn vẫn đi được. Rất tự nhiên, con đường trở thành quảng trường của làng. Hễ có chuyện gì, hay vào lúc rỗi rãi, người ta kéo ra đường rất đông. Ðường cũng là chợ; dọc đường thấy nhiều chỗ phình rộng ra, có những túp lều lơ thơ.

Chúng tôi đi dọc con đường trục.

Bây giờ đàn ông trai tráng đang ngoài biển. Trẻ con đến lớp học. Các chị con mọn, các cô gái ngồi đánh đay đột chiếu. Làng vắng tanh, chỉ tiếng máy đánh đay đâu đó nghe rào rào.

Cậu Phái hay láng cháng vào làng hơn cả nên thông thạo thủy thổ, bảo chúng tôi trước hết hãy lên núi, chiều tối vào làng. Cậu ta nháy một bên mắt, vẻ dạy đời: "Lúc bấy giờ các cô gái mới rỗi rãi mà tiếp các ông anh".

Ra khỏi làng một đoạn là đến núi. Ngọn núi không cao lắm nhưng sát biển. Khi ở ngoài khơi chúng tôi vẫn dùng nó làm chuẩn, để định hướng. Trong mắt tôi, cái dáng núi như con ngựa chầu vó ra biển đã quá quen thuộc, nhưng nay tôi mới lên là một. Khi bước đến, ngọn núi nào cũng khác hẳn, không như ta mường tượng ban đầu. Tai đá lởm chởm, một thứ nấm gì đó bám chắc vào tường ngóc ngách. Những phiến đá to hình thù kỳ dị chồng lên nhau, giữa chúng là những hang hóc đen ngòm. Sẽ rất khó trèo lên đỉnh, nếu không có những bậc đá quanh co, chẳng biết ai đã đục từ đời nào. Lên đến đỉnh, chúng tôi đụng ngay một sự kiện không ngờ: Mấy cô gái, mấy anh con trai của một đoàn văn công đang ngồi nghỉ ở bãi bằng dưới gốc cây đề cổ thụ. Trông thấy đàn sáo và vóc người nét mặt cân đối xinh đẹp... chúng tôi nhận ngay ra họ. Cậu Phái khoái ra mặt, kéo cả bọn chạy ào tới. Rồi thì bắt đầu tán, yêu cầu hát. Và cũng chẳng cần ý tứ gì cả, cậu ta khen ngay mấy cô văn công đẹp lắm. ấy thế mà họ bắt chuyện với nhau ríu rít cứ y như người quen cũ. Tôi thì ngượng, không quen cái kiểu làm thân ào ào ấy. Mặt tôi dường đã đỏ lên rồi. Nghĩ cũng thèm cái cách sống thoải mái tự nhiên. Nhưng... dù sao tôi cũng phải chuồn!

Trèo qua mấy mỏm đá, qua bên kia núi, tôi bỗng gặp từng vạt hoa dại. Hoa nở như rắc trên chiếu, ngả nghiêng ngang bắp chân người. Những bó hoa có bông cánh dày mầu hồng nhạt, càng vào trong càng đậm lên và đến nhụy thì thành một vòng đỏ thắm. Lá cũng dày hẳn, mọc đối xứng. Thân cây gầy guộc như cố ẩn đi cho những đóa hoa - cái phần quý nhất của nó - nổi bật lên.

Giữa nước trời mênh mông ngờm ngợp gió thế này nhìn thảm hoa thật là kỳ lạ. Hoa không giữ hương cho mình, suốt ngày đêm nó gửi vào gió làm không khí xung quanh cứ thoáng một mùi ngọt ngào như mật vàng.

Tôi sẽ không quên loài hoa này. Nó gợi cho tôi những ý nghĩ tinh khiết, cao cả của cuộc đời. Sau này Hậu cho tôi biết đó là hoa hải sơn. Theo Hậu, nó có họ với hoa mua. ở nước ta, họ hoa mua có mấy loài: hoa ban, hoa sim, hoa mua và hải sơn nữa. Nhưng sao không có sách nào ghi chép cả? Tôi biết hiện tượng này cũng bình thường thôi, như chúng tôi, đôi lúc gặp một loài hải sơn mà trước chẳng ngờ lại có chúng trên đời này. Hậu định quan sát loài hải sơn cho thật chắc chắn, sau đó sẽ viết thư hỏi mấy nhà thực vật học có uy tín, biết đâu... Hậu nói với tôi ý định này bằng một niềm say mê trầm tĩnh và truyền sang tôi sức sống cao quý ở trái tim cô.

Hậu còn cho tôi biết thêm: Mùa thu, hạt hải sơn rơi vào hốc đá, cả thân cây, lá cây cũng rụng dần xuống đó biến thành mùn thành tấm áo che chở cho hạt dưới bầu trời mưa nắng thất thường, khắc nghiệt. Sang xuân, một cái mầm xanh nhú lên. Và vào một sớm đầu mùa hạ nào đó, bỗng nhiên xòe ra cả một thảm hoa!

Tôi không nghĩ rằng Hậu nói về hải sơn như là một loài thực vật thuần túy - dù cô là giáo viên dạy sinh vật - mà trong đó có cái gì như ân tình, sự hy sinh, dũng cảm, những đức tính của con người...

Lần theo vạt hoa, tôi sang bên kia triền núi. Biển nhấp nhô, ầm ào dưới chân. Ðang lúc nước lên.

Một bầy trẻ, em nào cũng quàng khăn đỏ, chạy tản mát khắp triền núi, đến sát mặt nước. Các em hái những bông hải sơn, cười đùa với nhau. Ðến lưng chừng núi, tôi gặp Hậu. ấy là một cô gái khoảng hăm sáu, hăm bảy tuổi, người đậm đà, trắng. Hậu đã qua cái thì rực rỡ của người con gái, nhưng vẻ đẹp vẫn lưu luyến. Rõ là một người có nhan sắc. Hôm ấy Hậu dẫn học trò lên núi, cho các em học bài thực vật ngoài trời. Hậu ngồi trên một mỏm đá. Bầy trẻ mang đến cho cô giáo những bông hoa hải sơn đẹp nhất mà chúng hái được. Hậu bó lại thành một bó nhỏ để lên lòng. Lũ trẻ lần lượt ngồi xuống quanh cô. Nhìn cái cách chúng đối xử với Hậu, biết ngay là chúng rất yêu cô. Hình như là Hậu bắt đầu giảng giải cho chúng điều gì. Tôi đứng lại, không muốn làm gián đoạn bài giảng của Hậu.

Ðột nhiên có tiếng kêu ơi ới, tiếng la hét dưới chân núi. Một đứa trẻ từ dưới đó chạy lên, hổn hển, vẫy cô giáo, nói không ra lời.

Có chuyện gì không may xảy ra rồi!

Hậu đứng bật dậy, chạy xuống núi. Cô xuống không nhanh dù sao cô cũng là phụ nữ. Dưới chân núi, tiếng la hét lại càng ầm ĩ hơn không nghe rõ là gì, chỉ loáng thoáng những giọng ú ớ...

Tôi lao theo Hậu và bầy trẻ. Lối xuống núi bên này không có bậc xây mà lại hiểm trở hơn. Con đường mòn vừa đặt hai bàn chân, đầy những vụn sỏi, hơi động là lăn rào rào.

Dưới chân núi có những tảng đá đổ rải ra đến mấy chục mét. Khi lên triền núi, chúng nhô lên, lổn nhổn như một bầy trâu đen. Một thứ cát trắng, hạt thô, lấp lánh như vụn thủy tinh trải dưới chân "trâu". Lũ trẻ rất thích thứ cát này. Cái đầu chúng đầy những dự kiến khoa học. Chúng thường lấy cát về đựng trong chai lọ. Cát ở phòng thí nghiệm nhà trường chính là do chúng đem về. Hôm nay cũng có mấy em vui chân, xuống tận những tảng đá ấy. Các em ngồi ngắm trời đất, tâm sự với nhau. Mải vui nước triều dềnh lên. Chúng hốt hoảng nhảy đại vào bờ.

Nhưng có một em gái xúng xính trong bộ quần áo mới, mắc kẹt lại. Nước triều vẫn cứ lên. Càng lên, sóng càng mạnh. Gặp núi đá, biển gầm thét, đánh ập vào, bọt nước tung tóe lên cao. Nước cứ réo cuồn cuộn xoáy tròn, đánh tới tấp vào núi.

Lúc tôi thấy em bé gào khóc trên một "hòn đảo" giữa sóng biển sôi sục thì cũng thấy luôn tình cảnh của lũ trẻ và Hậu trên "lục địa". Mặt Hậu tái mét, hoảng hốt đến cực điểm. Cô chạy qua, chạy lại trên bờ, bất lực và thảm hại như gà mái mẹ thấy con nhiếp vàng rơi xuống ao.

Hậu réo lên thất thanh. Tiếng cô lại bị sóng biển ngắt ra từng quãng.

Không kịp suy nghĩ, tôi ào ngay xuống nước. Sóng, ghê quá, tôi vấp những tảng đá ngầm, ngã nhào ngay. Tôi không phải là loại kỹ sư chỉ biết có cái bằng. Tôi đánh nhau với biển không phải loại tồi, nhưng là ở ngoài khơi, nơi được tha hồ vùng vẫy. Còn ở đây, nó vật tôi chí tử. Cuối cùng, tôi vẫn cứ ra được "hòn đảo".

Nước đã ngập đến bụng chân em bé. Thỉnh thoảng những đợt sóng chồm lên, phủ qua đầu nó! Thấy tôi, nó nhào ra ngay, bíu chặt lấy cổ tôi và hai chú cháu đều ngã lăn.

Nước ở đây sâu tới lút đầu. Tôi cố ngoi lên. Nhưng con bé bíu chặt quá, rất lâu tôi mới gỡ được tay nó ra, dùng một tay mình nắm chặt cả hai cổ tay nó. Tôi vác nó lên vai, lội vào. Thực ra không phải tôi lội mà sóng biển ném cả hai vào bờ.

Mệt lử, tôi ngồi bệt ngang mép nước. Hậu đỡ em bé trên vai tôi. Con bé đã đờ người nhưng cô giáo vừa ôm lấy nó, nó đã tỉnh táo lại, khóc nấc lên tiếng cuối cùng rồi im lặng, nhoẻn cười. Hậu cười theo nó. Nhưng nụ cười vừa nở trên môi cô lại tắt ngay. Mặt tái hơn nữa, Hậu chằm chằm nhìn tôi. Tôi vuốt nước chảy tong tong trên mặt và hiểu: bàn tay tôi đỏ ngầu! Trán tôi đã toạc một mảng vì va vào đá. Một cuộc cấp cứu diễn ra. Hậu luống cuống tháo chiếc khăn mùi soa buộc tóc, ép vào vết thương của tôi. Ðồng thời cô bảo một em học sinh chạy ngay về trường lấy túi thuốc.

Lúc ấy đám cậu Phái cùng mấy cô văn công nghe có chuyện tai họa dưới này cũng đã chạy lại. Phái hỏi tôi có đi được không, để cậu ta cõng? Cậu đùa tếu làm tôi phì cười đứng dậy. Hậu cũng cười, nụ cười ngượng ngập như có lỗi. Cô tập hợp học sinh lại cho các em về. Ướt lướt thướt, máu loang trên mặt, tôi đi giữa đám người xôn xao, như một người anh hùng chính cống.

Trường ở ngay đầu làng.

Lẽ ra chỉ cần đắp lên trán tôi một miếng gạc, hoặc cũng chẳng cần đến thế. Nhưng Hậu băng kín trán tôi lại. Cô giải thích, nếu sơ cứu không tốt có thể bị nhiễm trùng.

Cậu Phái đã nhặt được bó hải sơn của Hậu từ lúc nào. Cậu ta nói vì chiến công của tôi, thay mặt Hậu cậu ta tặng tôi bó hoa... Và, chẳng cần để tôi nói gì, thay mặt tôi cậu ta nhận luôn. Thằng quỷ, vác bó hoa về, hắn lếu láo, hẹn Hậu, buổi chiều phải mang quà đến úy lạo thương binh, mà phải mang nhiều vào, vì vết thương nguy hiểm lắm!

Chiều ấy Hậu đến thật. Hậu mang cho chúng tôi mấy gói thuốc lá. Chỉ béo ông tướng Phái. Cậu ta chị chị em em với Hậu ngọt xớt. Rồi khóa tạch cái xe của Hậu lại, cậu ta đòi Hậu phải đi xem với chúng tôi.

Phải nói rằng văn công miền heo hút này là một sự kiện "tầm cỡ". Năm thì mười họa mới có, cho nên nếu có thì dù bận mấy người ta cũng kéo nhau đi xem. Bãi diễn cứ gọi là chật ninh ních. Ðoàn nào diễn thì cũng thế, chả kể!

Hôm ấy người ta diễn chèo, trích một đoạn trong truyện Hoa tiên. Phương Châu thi đỗ trạng. Vua muốn gả công chúa Ngọc Khánh cho chàng. Nhưng ở nhà chàng đã có Dao Tiên. Người xem cảm thương mối tình éo le đó. Tất cả nhân vật đều đáng quý. Phương Châu có tài mà chung thủy. Dao Tiên, đức hạnh, nết na. Nàng công chúa Ngọc Khánh xinh đẹp biết tôn trọng tình yêu của người khác, chẳng như cái lẽ thường tình của con nhà vua chúa. Câu chuyện kết thúc tốt đẹp. Các chuyện cổ của ta ít khi tạo được sự hòa hợp khéo léo như thế.

Hậu xem chăm chú. Tôi thấy như lòng cô thắt lại khi vở diễn đến cao trào. Còn lúc những cốc rượu mừng nâng lên tới tấp thì Hậu lặng lẽ mỉm cười.

Sau này chúng tôi vẫn thường nhắc đến vở chèo ấy. Nó để cho chúng tôi một ấn tượng, một kỷ niệm khó phai mờ.

Còn cậu Phái thì rất lâu sau vẫn cả quyết rằng cái cô Ngọc Khánh tuy đối đáp với Phương Châu nhưng mắt vẫn liếc xuống cậu ta!

Thế là tôi và Hậu quen nhau.

Tôi thấy mình hay nhớ đến Hậu. Những tình cảm tôi ngỡ rằng mình không còn nữa lại nảy nở. Lần này khác. Dẫu sao tôi cũng đã ba mươi tuổi. Còn Hậu, cô là một cô giáo được các em và bà con trong vùng kính mến. Giữa câu chuyện của chúng tôi không có những lời bóng bẩy. Tôi hỏi Hậu về nhà trường và nói cho Hậu nghe công việc của "ngư ông" là tôi. Nghe nói người ta đang tìm cách nuôi cá biển, Hậu rất ngạc nhiên. Hậu nghĩ là chỉ có thể nuôi cá trong ao. Nuôi cá trên sông cô cũng không hình dung được, huống hồ là biển. Tôi giải thích cho Hậu hiểu. Một bữa tôi đến trường, nghe Hậu nói chuyện với học sinh rằng: người ta sẽ rào biển lại bằng một hàng rào nhiệt độ và thức ăn. Các chú cá sẽ không có đủ can đảm vượt ra ngoài hàng rào ấy vì sự ấm áp và những con mỗi lượn lờ trước mắt chúng. Chúng ta có một trăm hai mươi hải lý biển viền quanh bờ hình chữ S, đó là cái ao của chúng ta... Tôi không khỏi mỉm cười, quả là Hậu lãng mạn hơn chúng tôi, những người đang chinh phục biển. Hậu say mê truyền cho các em những hình ảnh về tương lai sáng lạn của đất nước, về sức mạnh kỳ diệu của khoa học. Những điều còn lâu lắm mới thực hiện được. Nhưng ai bảo nó chẳng giúp ích gì cho bọn trẻ?

Dạo ấy tôi đi biển luôn, có những chuyến đi hàng tuần mới về, thỉnh thoảng tôi mang tặng Hậu những vật hiếm từ hải đảo xa: khi thì một cành san hô, khi thì một túi vỏ ốc. Hậu rất thích, cô bỏ vào phòng đồ dùng giảng dạy nhà trường. Tôi cảm thấy Hậu vui khi có tôi bên cạnh. Tôi không thể nào diễn tả được niềm vui lặng lẽ ấy...

Ðôi lần chúng tôi lên núi chơi. Giữa những đóa hải sơn, chúng tôi ngồi hàng giờ. Gió lồng lộng, vạt hải sơn xôn xao. Chúng tôi hái vài bông hoa, lòng dạ còn xôn xao hơn thế...

Rồi chúng tôi nói về mình cho nhau nghe. Tôi kể hết, cả mối tình ngày xưa. Hậu cũng chẳng giấu tôi điều gì.

Thì ra Hậu không phải người vùng này. Nhà cô ở một thị trấn sầm uất. Một ngôi nhà nho nhỏ, có tấm biển số xinh xinh. Bố mẹ Hậu còn cả, và vẫn khoẻ mạnh. Cô là con thứ ba trong gia đình. Người anh cả là thợ hàn ở một nhà máy. Chị gái thứ hai đã có bốn đứa con, theo chồng lên tận một nhà ga tuyến đường sắt phía tây. Người em giáp Hậu đã hy sinh ở mặt trận phía nam. Cô gái nữa đã lấy chồng. Cậu em út đang học lớp mười, nếu trượt đại học sẽ đi làm công nhân. ở thị trấn, cuộc sống bằng lặng, êm đềm. Ngôi trường cấp ba với sáu phòng học, nằm giữa một khu vườn xinh đẹp, đầy bóng râm mát. Mùa thu lá xà cừ vàng óng rắc xuống đầy cửa lớp. Còn mùa hè thì có hoa phượng. Cơ man nào là ve lấn lên lanh lảnh. Và hình như chỉ chờ có thế, trong vòm lá thưa, những đốm lửa đỏ xòe ra, cháy bập bùng trong mắt học trò... Chính trong ngôi trường ấy, Hậu gặp một người bạn trai. Anh là một thanh niên miền biển lên thị trấn trọ học. Anh cao to đẹp trai, hơi ngộc nghệch. Anh cao một mét bảy mươi. Người con trai ấy có cái tên dữ dội: Kình! Cha mẹ đã lấy tên loài cá oai hùng nhất ở biển đặt cho anh.

Chưa kịp thi tốt nghiệp, Kình đã đi bộ đội. Kình bảo Hậu khi nào giải phóng miền nam, anh sẽ nói với Hậu một chuyện rất hay. Nhưng anh đã không giữ kín được câu chuyện rất hay đó. Hết thời kỳ luyện quân, anh trở lại thị trấn, tuyên bố "tình trạng chiến tranh" luôn. Hậu bị đột ngột. Nhưng cô không thể từ chối anh. Rồi anh khoác ba lô vào chiến trường. Năm thì mười họa Hậu mới nhận được một lá thư.

Hậu trở thành cô giáo. Cô quyết định xin về vùng này nơi quê hương Kình. Cô nghĩ như vậy sẽ được gần gũi gia đình anh, thỉnh thoảng lui tới thầy mẹ anh trong lúc tuổi già. Trường chỉ cách nhà Kình khoảng bốn cây số, nên Hậu có điều kiện đến luôn. Thầy mẹ Kình rất quý Hậu, tất nhiên.

Một hôm, đứa em Kình hộc tốc chạy đến trường gọi Hậu "về nhà". Thì ra Kình về. Anh đi trên một chiếc com măng ca đầy bụi đường trường. Số là anh cùng với đồng chí chỉ huy đơn vị về Hà Nội báo cáo tình hình với cấp trên. Anh được về nghỉ thăm nhà hai ngày. Kể từ lúc anh đi đến lúc ấy đã được ba năm. Người anh kềnh càng, già hơn một chút, nhưng vẫn là anh! Anh nói vô cùng biết ơn Hậu đã nghĩ đến thầy mẹ anh trong lúc anh vắng nhà. Và đưa ra năm cái huân chương của anh, anh bảo công anh chỉ đáng một, hai cái thuộc về đồng đội, còn hai cái nữa là của Hậu. Anh kể cho Hậu nghe những trận đánh của đơn vị anh, những trận đánh mà qua báo chí, Hậu biết rất sơ sài. Hậu vừa tự hào vừa thương anh. Các chiến sĩ ở chiến trường gian khổ quá, gian khổ vượt ra ngoài sự tưởng tượng của cô. Cô khóc. Nước mắt không phải bao giờ cũng làm mềm lòng người đi chiến đấu. Anh bảo Hậu hãy can đảm như hoa hải sơn quê anh, ở đầu gió ngọn sóng vẫn nở rộ, đẹp tươi.

Thầy mẹ Kình muốn nhân dịp này tổ chức cho Kình và Hậu luôn. Nhưng anh không nghe. Hậu biết anh sợ cái điều đau đớn nhất có thể xảy ra với Hậu. Anh nằm xuống, thế là xong. Nhưng còn cuộc đời người con gái? Hậu bảo rằng anh nghĩ vẩn vơ. Anh cười xác nhận điều đó là vẩn vơ thật. Anh sẽ trở về, nhất định anh trở về: không dễ gì viên đạn thù bén được da thịt anh đâu!

Nhưng chiến tranh là chiến tranh. Chưa đầy nửa tháng sau, anh ngã xuống ở vùng ven Ðà Nẵng!

Hậu đau đớn vô hạn. Nhưng nỗi đau không làm cô gục xuống như bão gió không làm héo tàn được hoa hải sơn. Cô vẫn đến trường. Các em học sinh, các bạn đồng nghiệp là nguồn an ủi lớn lao. Kình không phải là người duy nhất hy sinh trong chiến tranh. Ngay trong vòng mấy xã quanh đó, cũng đã có không ít người ngã xuống ở phương nam Tổ quốc. Nhưng tất cả các người thân yêu của họ vẫn cắn răng chịu đựng như hải sơn chịu giông bão, biển sóng... Cho nên lúc Hậu gặp tôi, Kình mất đã gần bốn năm. Thương Hậu, đã nhiều lần cha mẹ Kình khuyên cô quên chuyện cũ. Ðặc biệt là bà mẹ, bà hiểu thế nào là cái "thì" của người con gái.

Tôi quyết định ngỏ lời với Hậu. Sau chuyến đi biển thường lệ về, tôi đến trường. Căn phòng của Hậu xinh xắn, dường như lúc nào cũng có mấy bông hải sơn trên bàn. Nơi đầu giường ngủ còn tấm ảnh Kình. Tấm ảnh chụp từ hồi học sinh, trông trẻ măng. Nhưng cái ánh mắt yêu đời, sáng quắc cứ nhìn thẳng vào mọi người như hứa hẹn sẽ làm một việc phi thường. Tự trong thâm tâm, tôi thấy kính trọng anh.

Tôi nói với Hậu những lời giản dị. Chúng tôi hiểu nhau từ lâu. Bây giờ chỉ còn chờ thời gian, chúng tôi sẽ chuẩn bị đầy đủ và về ở hẳn với nhau.

Hôm đó tôi đưa Hậu từ cơ quan tôi trở lại trường. Buổi trưa nắng rất gay gắt. Cát trên con đường trục như bị rang, nóng bỏng. Vào những dịp như thế này chiếc xe đạp chở kem từ tỉnh thường hay về, đứng bán giữa đường. ở đây kem là thứ hiếm nên người mua thường vòng trong vòng ngoài. Tôi bảo Hậu đứng chờ, tôi còn vào mua kem.

Lúc ấy có một người cao lớn đứng dưới gốc cây chay gần đó, nhìn chúng tôi chăm chú. Anh ta đeo cặp kính đen rất to, trời nóng thế mà một tay cứ thọc vào túi quần không rời.

Người bán kem vừa trao hai chiếc kem cho tôi, thì tôi nghe tiếng Hậu kêu thảng thốt. Tôi giật mình, quay lại đưa mắt tìm Hậu. Cô đang bước nhanh lại phía người thanh niên. Một tay vẫn thọc vào túi một tay anh khẽ giơ lên rồi lại thõng xuống, mắt nhìn tôi rất nhanh rồi lại nhìn Hậu. Tôi sẽ nhớ mãi cái nhìn ấy. Dù anh mang kính, sự thông cảm và độ lượng vẫn ánh lên trong tia nhìn.

Một cảm giác rất lạ lùng dâng lên trong ngực tôi. Tôi biết đó là ai rồi. Ðó là Kình, Kình không chết. Anh chỉ bị thương, mất một tay, một mắt và bên mặt anh đầy những nốt lấm tấm mầu xanh, ăn sâu vào da thịt.

Việc anh trở về thật là kỳ lạ: về đến nhà rồi anh mới biết mình đã chết cách đây bốn năm: thầy mẹ anh vẫn lĩnh tiền tuất đều đặn! Biết Hậu sắp lấy tôi anh bảo người nhà đừng ai cho Hậu biết anh đã về. Thân thể anh đã tàn phế. Anh muốn cứ im lặng để chúng tôi yên tâm về ở với nhau, như là anh đã hy sinh thật... Nhưng trưa hôm ấy, Hậu đã nhận ra anh...

Hậu lâm vào tình trạng khó xử...

Phần tôi, suốt cả buổi chiều và đêm hôm ấy, tôi đã suy nghĩ tường tận một điều... Hôm sau Hậu đến tôi, nước mắt đầy mi. Cô càng đau khổ và thao thức. Thấy cô, tôi sợ cô sẽ nói với tôi rằng, dù thế, việc cưới xin của tôi và cô vẫn cứ tiến hành. Quả tình tôi sợ thế bởi vì, nếu điều đó diễn ra thì Hậu đã chẳng đẹp như tôi tưởng nữa. Nhưng Hậu không nói điều ấy, mà... tôi biết nói sao đây? Một người con gái nữa lại không trở thành con dâu mẹ tôi! Nhưng lần này tôi không giấu người sự thật, bởi tôi biết sự thật này dù có làm cho tấm lòng người mẹ của người thương cái số tôi lận đận, cũng vẫn mang đến cho người một niềm tin một tình yêu cao cả.

Tôi đã không nhầm về mẹ tôi. Khi Kình và Hậu tổ chức lễ cưới, mẹ đã gửi cho hai người một món quà, như cô bác gửi quà mừng đứa cháu yêu nhất của mình. Phần tôi như tôi đã kể trên, sự việc này làm tôi thấy tin tưởng ở cuộc đời và tình yêu hơn. Vâng tình yêu chính như thế... Bây giờ đôi vợ chồng ấy là những người bạn thân của tôi. Chúng tôi say mê sống ở vùng đất quê của hoa hải sơn này.

1978



Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0

Hẹn duyên

Nguyễn Thị Anh Thư

Vậy là Lan đã đến quá chậm. Vì thời tiết xấu, chuyến máy bay Boeing 747 của hãng hàng không Pháp từ Paris đi Hà Nội đã phải hoãn lại mất 5 giờ đồng hồ. Hà Nội vừa qua cơn bão, không khí mát lạnh hơi nước. Cây cối tả tơi và mặt mọi người vẫn còn vương nét bàng hoàng. Như sau này bà được biết thì có tới hơn một trăm cây sấu và xà cừ thuộc dạng cổ thụ đã bị đổ trong trận bão này. Và cả Hiệp nữa, người đàn ông đáng kể nhất, khoảng trời xanh kỳ diệu nhất trong cơn bão lốc đời bà đã ra đi. Ông đã không thể chờ đợi bà thêm được hai giờ nữa trong số năm giờ mà số phận tàn nhẫn lại gieo rắc thêm lên mối tình của họ.

... Nửa thế kỷ trước, bà là một cô hàng xén, mười sáu tuổi xinh đẹp, duyên dáng nổi tiếng tháo vát, đảm đang. Một tay cô với một gánh hàng nuôi nấng một bà mẹ ốm yếu với một đàn em nhỏ dại. Hiệp là con bà giáo góa hàng xóm. Bạn bè từ thuở ấu thơ, nên duyên bao giờ chẳng rõ. Hai người đàn bà góa coi hai đứa trẻ như con một nhà, những mong ngày một ngày hai chúng nên gia thất. Những ngày đi học, Hiệp thường gánh hàng hộ Lan ra phố huyện. Lan thường chăm chút quần áo, sách vở cho anh. Công việc nặng nhọc cần có bàn tay đàn ông đều có chàng trai khỏe mạnh đứng ra xốc vác. Bạn bè Hiệp thường gọi đùa Lan là "chị giáo". Trong số những người hay trêu chọc nhất phải nói tới Bình. Bình cùng học một lớp với Hiệp, và là con một địa chủ giàu có trong vùng.

Cuộc đời tưởng cứ êm đẹp mãi nếu bỗng không có tai ương đổ ập xuống đời họ. Mật thám Pháp ập vào lớp khám xét bắt Hiệp mang đi vì trong cặp sách của anh có truyền đơn Cộng sản. Anh bị giam trong xà lim cầm cố không được gặp thân nhân vì là phần tử nguy hiểm. Bình, người bạn học cùng lớp, không ngờ lại rất hết lòng với Hiệp, chẳng quản liên lụy, Bình tìm mọi cách tiếp tế cho Hiệp. Bình đã tự nguyện trở thành bạn chí thiết của Hiệp và trở thành người thân cận trong gia đình hai bà góa không nơi nương tựa. Rồi nghe nói Hiệp bị chuyển đi nhà giam Hỏa Lò ở tận Hà Nội. Bình cũng biệt tăm. Hai tháng sau, Bình trở về, gày rộc, hốc hác báo tin: Anh tổ chức vượt ngục cho Hiệp. Cuộc vượt ngục thành công, nhưng không may Hiệp bị thương quá nặng đã hy sinh trên tay anh bên một bờ sông giáp biên giới Cao Miên. Lúc hấp hối, Hiệp đã trối trăng gửi gấm mẹ già và Lan cho Bình chăm sóc. Bình đã thề sẽ cống hiến trọn đời mình cho sự sống và hạnh phúc của Lan. Lan chỉ tin khi Bình chìa ra cho cô xem một mảnh vải bẩn thỉu được xé ra từ vạt áo trên đó có mâý chữ bằng máu nguệch ngoạc "Rất yêu em! Bình giúp anh!". Cô đau đớn khóc ngất từng cơn. Trước tin dữ, mẹ Hiệp lặng lẽ qua đời. Bình đứng lên làm đám tang cho bà rất chu đáo như thể Bình chính là con trai bà, và nghiễm nhiên tự coi mình là vị hôn phu mới của Lan. Lan chỉ còn biết khóc ròng trước ý nguyện của người đã khuất. Nhưng cũng phải hai năm sau, cô mới chính thức trở thành vợ của Bình sau bao nhiêu ràng buộc về kinh tế, ơn huệ cũng như lời thúc giục, trách móc của Bình.

Tháng 10-1954, khi đứa con đầu lòng của hai người bị chết yểu vừa được 5 tháng, một cô em họ đi dân công hỏa tuyến nhắn về "... anh Hiệp vẫn còn sống. Anh hiện là tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn quân chủ lực. Nhưng anh đang bị thương rất nặng, chưa tỉnh. Bác sĩ chưa cho ai gặp. Em vội đi theo đoàn không đợi được. Chị lên ngay. Ðịa chỉ: Trạm quân y Thái Bình".

Không một lời để lại cho gia đình, ngay trưa hôm đó Lan bỏ đi tìm Hiệp. Lan hiểu rằng có một điều kinh khủng gì đó đã xảy ra trong cuộc tình tay ba giữa Hiệp - cô - Bình. Cô cần biết sự thật. Sau một tuần lặn lội cô đã tìm được anh. Anh vừa qua cơn hiểm nghèo. Thật không tả xiết nỗi xúc động, vui mừng của anh khi được gặp Lan. Cô không nỡ đập tan niềm hạnh phúc của anh. Anh vẫn không hề biết gì về chuyện cô đã có chồng. "Em biết không, chính thằng Bình, cái thằng con nhà Trùm Khoát, học cùng lớp với anh, đã tố giác anh với bọn mật thám. Cuộc vây bắt ở lớp học là do nó chỉ điểm. Chính nó đã bỏ truyền đơn vào cặp của anh. Những tờ truyền đơn ấy anh đã đi rải hết từ đêm. Nó nhặt lại rồi nhét vào cặp sách của anh. Anh không ngờ...". Choáng váng cả nười, Lan đau đớn vô cùng. "... Lại cũng chính nó đã mua chuộc bọn mật thám để bọn chúng đánh chết anh. Nhưng tụi đao phủ chỉ tra tấn anh tàn nhẫn đến mức phải chở đi nhà thương Phủ Doãn. ở đó tổ chức của ta đã cứu được anh ra vùng tự do. Sau khi lành vết thương, anh được trên cử đi học một khóa huấn luyện ở Côn Minh, Trung Quốc mất ba năm. Vì bí mật quân sự anh không được phép liên lạc với gia đình...". Bàng hoàng trước sự thật nghiệt ngã, ngay đêm đó, Lan lặng lẽ bỏ về sau khi để lại một bức thư trình bày mọi việc và ngàn lần xin anh tha thứ.

"... Em không còn xứng đáng với anh. Em đã trở thành vợ một tên phản bội, chỉ điểm, vợ của kẻ thù của anh và giờ đây cũng chính là kẻ thù của em. Em chẳng còn mặt mũi nào để nhìn lại người em yêu dấu, người mà em tôn thờ. Hãy coi như em không còn sống trong cõi đời đầy ô nhục và bẩn thỉu này. Ðừng tìm em...".

Lan đi luôn xuống Hải Phòng, với ý định sẽ lên bừa bất kỳ một chuyến tàu nào đó để rời xa quê hương, mong xóa đi được mối tình đầy bi thảm và tủi nhục của mình. Sau bảy ngày vất vưởng vạ vật trên bến cảng, cô mới chen nổi lên được một chuyến tàu há mồm. Trên bờ, đã một ngày, loa phóng thanh vẫn kiên trì nhắc đi nhắc lại: "... Anh là Nguyễn Hữu Hiệp tìm vợ là Bùi Ngọc Lan. Về ngay anh đợi...". Cô lấy tay bịt tai lại. Nước mắt không ngừng đầm đìa trên mặt. Cô đã trở nên nhơ nhuốc!

Vào tới Sài Gòn, tiền hết, không nơi nương tựa. Lan gục ngã vì đói, khát và kiệt sức trước một cổng chùa. Nhà chùa đã mở lòng từ bi cứu giúp và bao dung cô suốt hai năm. Chán ngán sự đời, Lan xin vị thượng tọa cho cô được xuống tóc quy y, nhưng Người khuyên cô hãy từ bỏ ý định đó. Vì theo Người, Lan còn nhiều duyên nợ với trần tục. Ba năm sau, có đôi vợ chồng chủ hiệu nhỏ, đã cao tuổi rất nhân hậu, vốn là đệ tử thân cận của chùa hay chuyện, liền hết lòng nhờ thượng tọa gá duyên cầm sắt cho chàng bác sĩ trẻ, người con độc nhất của họ. Lan đã kể hết cuộc đời cô với bao trắc trở, khổ đau cho họ nghe. Mến vì nết, trọng vì tình, đôi vợ chồng già và vị bác sĩ trẻ càng yêu thương cô hơn. Vậy là Lan nên duyên với bác sĩ Tuấn để năm năm sau cô đã là mẹ của hai đứa trẻ bụ bẫm xinh xắn. Dưới bàn tay thu vén đảm đang, tháo vát của cô, cửa hiệu thuốc nhỏ của gia đình Tuấn đã nhanh chóng phát đạt và mở rộng. Ðến giải phóng năm 1975, Lan đã trở thành bà chủ của công ty thuốc tân dược Ngọc Lan có chân rết tỏa ra khắp các tỉnh miền nam, miền trung và là một bạn hàng có uy tín của các công ty lớn của Mỹ, Pháp.

Bắc, nam sum họp đã khiến các em Lan tìm được chị. Chỉ đến lúc đó, sau bao năm xa cách, bà mới biết rằng mối tình đầu của bà vẫn còn sâu nặng hơn bà tưởng. Ông Hiệp chẳng những đã tha thứ cho bà mà còn đi tìm bà khắp nơi. Khi tuyệt vọng, ông đã ở vậy nuôi mẹ già cùng đàn em nhỏ của bà. Ðể vơi đi nỗi buồn khổ, Hiệp lao vào phấn đấu vừa học vừa làm. Với tài năng và trí tuệ sẵn có cộng với tinh thần nỗ lực bền bỉ, Hiệp rất được cấp trên tín nhiệm. Ông liên tiếp được đề bạt tăng cấp, chẳng mấy chốc đã trở thành một tổng cục trưởng trẻ nhất đầy năng lực của một bộ.

Bao năm đã qua, các em bà đã học xong đại học, có công ăn việc làm tử tế cũng là lúc bà mẹ hấp hối. Cụ cảm ơn ông bằng ba vái lạy và xin ông hãy nghĩ đến bản thân. Cụ xin ông hãy lo nhanh chuyện riêng tư kẻo cuộc đời lỡ dở của ông sẽ làm lương tâm cụ cắn rứt không nhắm mắt nổi "... nếu con không lo, xuống dưới âm, mẹ sẽ chẳng dám nhìn mặt mẹ con, vì gia đình mẹ có tội đã làm mất dòng dõi nhà họ Nguyễn Hữu...".

Trớ trêu thay thằng bé đầu lòng của ông mới vừa đầy hai tuổi thì miền nam giải phóng. Bà viết một lá thư thật dài kể lể hết nỗi lòng thương nhớ. Rằng chồng bà đã rõ hết sự tình, và cho phép bà được lựa chọn. Song trước cửa Phật, bà đã cùng ông Tuấn thề nguyền sẽ ăn ở trọn kiếp, cho nên nay bà chỉ có thể mời ông vào chơi để tạ ơn sâu nghĩa nặng. Nhận được thư, Hiệp vô cùng đau đớn. Ông cũng viết lại cho bà rằng ông không thể gặp lại bà được nữa, bởi lẽ cả hai đều đã có gia đình riêng, đều có những trách nhiệm với những người thân, không thể tùy tiện xóa bỏ. Hơn nữa ông không thể tới gặp bà được nữa bởi ông vẫn còn yêu thương bà da diết. Sợ rằng nếu gặp lại, ông sẽ quên đi hết nghĩa vụ và trách nhiệm của mình. Chỉ xin sau này trước khi nhắm mắt xuôi tay, ông được cầm lại tay bà trong chốc lát.

Vậy mà giờ đây bà lại đến quá muộn. Sau khi nhận được thư của Hiệp, bà và chồng mình hiểu rằng chỉ có thể rời bỏ xứ sở may ra cả hai gia đình mới được yên lành. Bà đã đi Pháp cùng gia đình. Và bây giờ đây, khi nâng đôi bàn tay đã giá lạnh của Hiệp, bà hiểu rằng kiếp sau, nếu lại có kiếp sau thì sẽ chẳng có gì có thể chia cắt nổi tình yêu của họ.





Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Thung Mơ

Hà Nguyên Huyến

Chiều nào cũng vậy, khi cái xưởng cưa khép chặt hai cánh cửa gỗ nặng chịch, thì cũng là lúc không gian yên tĩnh nơi "Phố Núi", cửa rừng này được hoàn trả một cách đầy đủ, ăm ắp nguyên sơ... Trong cái khoảnh khắc ấy Lạc có cảm tưởng mình bị rơi tõm vào một thế giới khác. Anh bần thần đi hết phòng nọ đến phòng kia trong ngôi nhà nhiều tầng của mình, rồi thảng thốt như sợ ai nhìn thấy điều dị biệt trong tính cách của anh. Lạc là chủ một xí nghiệp đang vào thời kỳ làm ăn thịnh phát. Với số vốn liếng mà nhiều người nằm mơ cũng không thấy được dưới tay gần trăm công nhân "cô ta" xuất khẩu gỗ ký thẳng với nước ngoài... Lạc không thể ngờ đời mình lại có ngày như hôm nay!

*

Mồ côi cả cha lẫn mẹ, không họ hàng thân thích, Lạc tồn tại bên người chú họ xa tật nguyền, cả đời ông ta không hề tách rời xa cây nạng gỗ. Hai chú cháu lê lết lần hồi trong sự thương hại của người đời. Chơm chớm biết, Lạc đã hiểu thế nào là nỗi nhục của kẻ ăn xin. Người chú đột ngột qua đời, Lạc quyết định bỏ con đường này. Năm, sáu tuổi Lạc đã tự đi bộ một mình vào rừng lấy lá chuối gánh về bán cho phường thịt gói giò, nhọc nhằn đổi lấy miếng ăn, có những buổi một mình thui thủi nơi rừng chiều thăm thẳm. Lạc giận dữ vung những nhát dao phầm phập vào thân chuối. Nghe tiếng cây ngã ràn rạt hình như cậu thấy nguôi ngoai hơn.

Một hôm, giữa buổi trưa hè nồng nực, mưa rừng xối xả trút xuống, không nơi ẩn náu, Lạc bị trúng cảm khuỵu xuống cạnh một tảng đá lớn nằm kề bên bờ suối. Trong cái chập chờn mê tỉnh, Lạc cảm thấy một ông thần núi bế bổng mình lên, tiếng ông lào khào như tiếng gió lướt bên tai: "Tội nghiệp quá! chẳng biết con cái nhà ai đi đâu mà nên nông nỗi này?".

Lạc tỉnh dậy vào lúc gần sáng. Những thìa cháo củ mài sánh quyện đã giúp cậu lại sức. Lạc đưa mắt ren rén nhìn qua đống lửa đang rừng rực cháy giữa căn lều. Phía bên kia một cặp mắt long lanh, trong đáy mắt thỉnh thoảng cũng lóe lên hai đốm lửa, nhưng nồng ấm và chan chứa tình người đáp lại. Sau khi nghe Lạc kể về hoàn cảnh của mình, ông lão chép miệng thở dài bảo: "Thứ nhất thiếu mẹ, thiếu cha thứ nhì gánh vã, thứ ba sơn tràng". Mới tí tuổi đầu mà mày đã phải chịu đủ cái vất vả của con người rồi! "Ông lão vuốt bàn tay vụng về chai cứng của mình lên mái đầu khé nắng của Lạc, rồi vòng tay ôm cậu bé vào lòng. Từ hôm đó Lạc trở thành con nuôi người gác rừng.

*

Người gác rừng cả núi này đều quen gọi là lão Ngạc. Lão Ngạc là người khó hiểu và khó đoán tuổi, lão sống giản đơn bao năm nay trong một mái lều lợp lá cọ. Căn lều nằm án ngữ trước một lối mòn độc đạo dẫn lên núi, nhiều năm nay vắng người qua lại, cỏ lông lan mọc trùm lên nền đường, con đường chỉ còn lại những dấu vết mờ mờ. Vật dụng trong lều hầu như chẳng có gì đáng giá ngoài một chiếc lồng chim, chiếc lồng treo lơ lửng ngay trên đầu chỗ lão thường ngồi trong lều. Trong lồng chỉ duy nhất có một con rắn hổ mang to cỡ bắp tay, nằm cuộn khoanh ở đáy lồng, đầu ghếch lên cái cóng sứ tráng men. Một mầu xanh tảo, một mầu đỏ tía, thoạt nhìn tựa như một cục máu mới đông. Thỉnh thoảng thấy động con rắn lại ngóc đầu, mắt mở thao láo như hai hòn bi ve, mang bạnh ra, miệng phun phì phì những tiếng ghê rợn vốn có của loài rắn này. Có điều rất lạ là cửa lồng luôn mở mà con rắn không bò ra ngoài trốn đi. Một lần Lạc tò mò hỏi, lão Ngạc bảo: "Một tháng nó cũng ra đôi lần, tới kỳ luyện nọc nó lằm lỳ trong lồng, nhưng ta cũng không hề biết nó ra vào lúc nào".

Lão Ngạc bắn nỏ giỏi lắm, cánh thợ sơn tràng từ khi có lão canh giữ cánh rừng này lảng dần. Những lúc rảnh rỗi, Lạc mân mê cây nỏ, hỏi cách bắn, lão Ngạc bảo: "Ðạn ăn nên, tên ăn xuống, cứ thế mà bắn, mãi cũng thành tài". Một bữa Lạc tỳ đốc nỏ vào rốn, hai chân đạp vào hai cánh nỏ, những ngón tay như những cái móc thép quặp chặt vào sợi dây, cả người cậu gồng lên, chính Lạc cũng không ngờ mình cài được dây vào lẫy. Lão Ngạc trố mắt ngạc nhiên, bảo:

- Mày phải đi học thôi! - Hình như lão Ngạc đoán được sức mạnh của một cậu bé, một thứ nội lực tiềm tàng mà lửa cuộc đời đã hun đúc nên.

Mấy hôm sau lão Ngạc đưa Lạc xuống núi, lão gửi Lạc vào một trường nội trú của các học sinh người dân tộc. Chiều chiều nhìn về phía núi, lòng Lạc chạnh buồn vì cảm giác cô đơn, lạc lõng nhưng cậu không hề oán trách bởi lão Ngạc có bao giờ xuống núi đâu. Cả năm chỉ mỗi một lần, ấy là vào mùa xuân, lần nào lão cũng dắt Lạc theo. Lão về dự Hội làng Yến Vĩ! Yến Vĩ là một làng trù phú nằm cách xa chân núi. Hội làng tưng bừng vào đám, đám nào cũng vui, cũng cuốn hút nhưng lão chỉ xoắn vào đám chọi mi. Hội chọi mi kéo dài năm ngày từ tế khai xuân mùng mười tháng giêng, đến Tết nguyên tiêu rằm tháng giêng là hết Hội. Trong năm ngày ấy lão Ngạc là con người khác hẳn, lão vui vẻ hòa đồng, trên gương mặt phảng phất nét trẻ thơ.

Lão không có chim góp vui nhưng lão được mọi người bầu vào chân trọng tài. Lão đếm mỏ (thời gian cho trận đấu) cho mỗi cặp, có một năm vào chung kết là một cặp quá hăng. Lão Ngạc đếm đến gần bẩy trăm mỏ mới phân thắng bại. Trải đã năm ngày mà giọng lão vẫn sang sảng như tiếng chuông đồng. Nghe tiếng đếm đều đều thả nhịp chắc gọn, đanh thép, cuộc đấu như tăng thêm trang trọng quyết liệt. Mọi người bảo: "Lão Ngạc tốt giọng thật, mấy chục năm trời mà giọng lão vẫn như xưa..."

Thấm thoắt đã mười năm. Lạc tốt nghiệp xuất sắc trong kỳ thi phổ thông trung học và được tuyển vào đại học. Lòng phơi phới Lạc nhằm hướng núi ngược rừng. Nắng lấp lóa trải vàng trên những triền đồi thoai thoải...

Lạc bước chân vào lều, lão Ngạc vẫn như xưa, lão vẫn ngồi bình thản hút thuốc lào, khói thuốc từ miệng lão bay lên trùm kín cái lồng, con rắn lại nhịp nhịp cái đầu như say khói, nhìn thấy Lạc, lão Ngạc quắc mắt hỏi:

- Mày về đây làm gì nữa, hãy đi đi, đừng bao giờ quay lại cái xó rừng heo hút này nữa.

- Không, ông không thể sống như thế này được - Lạc gào lên - Chẳng lẽ sống mà như kẻ cầm tù, câm lặng suốt đời ư!

- Mày nói gì? - Giọng lão Ngạc chùng xuống - Mày phải đi học tiếp.

"Tao còn đủ sức nuôi mày, đừng để những tình cảm mê muội ràng buộc mình".

Lạc quỳ xuống, cậu nấc lên nghẹn ngào và bật gọi: "Cha ơi!". Ðôi mắt lão Ngạc vốn lành lạnh và hoang dại như mắt thú, giờ đây lặng lẽ lăn tròn những giọt nước mắt hiếm hoi. Phần đêm còn lại lão Ngạc đã kể về cuộc đời mình.

Lão tên thật là Nguyễn Phi Ngạc, con trai độc muộn mằn của một gia đình giầu có. Vì hiếm hoi nên cả nhà gọi lão là "Cậu". Năm 13 tuổi bố cậu bảo: "Cậu phải lấy vợ thôi, có lấy vợ cho Cậu thì mới hòng giữ được cái cơ nghiệp này". Ngạc nhe răng cười khì khì:

- Cậu cười gì? - Người bố quắc mắt.

- Lấy vợ để chúng nó giễu à, xấu hổ chết.

- Học hành là cái việc "đại đăng khoa" cậu đã chẳng đâu vào đâu. Ðến cái việc "tiểu đăng khoa" cậu cũng coi là một thứ trò đùa - Người bố nét mặt ràu ràu buông một tiếng thở dài thườn thượt.

Càng lớn Ngạc càng tỏ ra mình là người không còn hy vọng gì. Cậu lêu lổng khắp nơi nhưng cũng may không đụng vào cờ bạc, thuốc sái, cô đầu... mà chỉ một niềm đam mê chim. Trong muôn loài chim, cậu chỉ mê mỗi họa mi. Hễ thấy ai có chim hay cậu liền mang chim của mình đến gạ đấu cho bằng được. Ðược thì thôi, nếu chim của cậu thua thì cậu vật nài mua lại con chim thắng bằng mọi giá. Gặp những kẻ nhẫn tâm, lồng cái ý định "đào mỏ" vào, có nhiều con chim cậu phải mang cả ruộng ra mà đổi. Cứ như thế gia sản từ từ đội nón ra đi, cha mẹ cậu héo mòn trước những đam mê chết người đó. Một ngày kia bố mẹ đặt mình nằm xuống, Ngạc mồ côi vào cái tuổi thành niên. Nỗi đau mất cha mẹ cũng không làm cho Ngạc tỉnh ngộ, ngược lại được tự do Cậu lại càng ngông cuồng hơn. Trong nhà lúc nào cũng có hơn chục thực khách "cùng hội cùng thuyền". Mãi cũng nhàm, một bữa trong số bạn chơi có người bảo: "Tôi nghe nói chỉ có loài chim họa mi sống ở Thung Mơ mới là bách chiến bách thắng". Câu nói của người bạn như thổi bừng lên những đam mê của cậu đến tột cùng. Cậu lao vào Thung Mơ, tìm tòi, theo đuổi những cánh chim để thỏa mãn những khát khao rồ dại của mình.

Gần một năm trời trên núi, Ngạc mới mò về làng. Làng Yến Vĩ được chứng kiến niềm đam mê thứ hai của Ngạc. Ðó là một cô gái sống ở Thung Mơ, hai người nên vợ nên chồng. Họ xây hạnh phúc trong mái nhà của tiên tổ. Nhưng "tiếng cả nhà không", gia sản Ngạc đã phát tán tít tận phương trời nào. Trong hội chơi có người bảo: "Tiền ở trong tay cậu đấy! Việc gì mà phải tìm đâu xa". Cậu như tỉnh người ra sau nỗi đam mê bấy lâu. Cậu lại lao vào những cuộc đỏ đen, rốt cuộc tay trắng vẫn hoàn tay trắng.

Một năm làng Yến Vĩ đã vào kỳ chung cuộc, phần thắng như đã nằm trong tay mình, cậu Ngạc phởn phơ mặt mày. Bỗng có một người khách thuốc gần đây thường hay qua lại vùng này, lách đám đông len vào, miệng líu la líu lô:

- Còn tôi, tôi xin quyết đấu... chim của ông này sẽ thua!

- Sao ông dám quả quyết thế? Ngạc giật mình hỏi lại.

- Tôi dám chắc bởi chim của ông chỉ được nuôi dưỡng bằng nguyên khí trời đất, nên nó còn thô mộc vụng về, ông hãy nhìn chim của tôi xem - Người khách nói và chỉ vào trong lồng của mình.

Trong lồng nổi bật lên là hai cái cóng Tàu lóng lánh đối chọi nhau, làm nền cho thêm phần chói lọi.

- Ðây là hai cái cóng đựng thức ăn và nước uống - Người khách nói - Cái "âm" mầu xanh tảo đựng nước. Cái "dương" mầu tiết dê đựng thức ăn, men của nó được chế ra từ cặp ngọc trong vương phủ nhà Thanh. Mọi thứ đựng vào đây thì kiến, mối, côn trùng đều bất khả xâm phạm. Lại nữa: giảm độc tố, tăng cường sức lực cho chim đấu - Nói xong lão khách dương dương tự đắc.

- Cứ thử xem.

- Nếu vậy ta phải đánh cược!

- Cược gì?

- Nếu mỗ thua - Người khách trỏ tay vào ngực mình. Mỗ mất với ông đôi cóng này. Nếu ông thua thì... thì...

- Ông sẽ được con họa mi này của tôi - Cậu Ngạc tiếp lời.

- Tôi... tôi cần cái khác kia!

- Cái gì?

- Vợ ông.

Cậu Ngạc lắc đầu, hình như còn một chút gì sâu tận đáy lương tâm níu giữ lại. Nhưng cậu vẫn tin vào lời nói của ông bố vợ: "ở Thung Mơ này loài chim họa mi được uống nước đầu nguồn trong vắt, ăn quả chín đầu mùa. Sáng sáng vỗ cánh bay tít tận trời mới hòng thoát khỏi lòng thung. Họa mi là loài chim anh hùng, nghĩa hiệp, thủy chung... Mỗi cặp sống riêng một thung được gọi là quản thung". "Quản Thung Mơ" phải là con chim số một trong vùng bởi có nơi nào thiên nhiên hùng vĩ mà thơm thảo hơn được nơi đây. Họa Mi ở Thung Mơ là loài bách chiến bách thắng.

Lòng tự ái, nỗi đam mê và sự linh cảm chỉ có riêng cậu Ngạc mới có đã thầm mách bảo, Ngạc dứt khoát đặt một chữ "đấu" nặng chịch vào cuộc. Cả làng Yến Vĩ chưa bao giờ chứng kiến cuộc cá cược độc đáo, tàn nhẫn và bạc bẽo đến như vậy!

Người vợ ôm chặt đứa con trai nhỏ vào lòng, nức nở khóc, miệng bải lải van nài bất lực trước vòng người đen đặc, dần dần thít chặt chứng kiến cuộc đấu có một không hai ấy. Hơn bẩy trăm mỏ chưa phân thắng bại, con chim của người khách ra đòn rất phũ, mỗi đòn trúng đích con chim của cậu Ngạc bật ra, cơ hồ không thể đứng vững. Rồi bỗng chúng buông nhau, nhảy lên cầu uống nước. Con chim của người khách sau khi uống nước trong cái cóng ngửa cổ lên trời hót vang. Nguy cơ vỡ trận, cuộc đấu không thành... Trong nháy mắt như hai ánh chớp, chúng sà xuống lăn xả vào nhau. Sau khi tránh thoát "miếng cánh" hiểm hóc, con mi của cậu Ngạc quặp chặt lấy con chim kia, liên tiếp giáng xuống đầu nó những mỏ nặng như búa tạ. Con chim của người khách bật ngửa bụng, chân giãy tê tê... Con chim của cậu Ngạc cũng không đủ sức bay lên cầu nữa, cánh nó xõa ra, nhưng nó vẫn ngẩng cao đầu ca khúc khải hoàn trong tiếng reo hò của cuộc vui giã đám.

Cậu Ngạc thu lại đôi cóng Tàu độc đáo trước con mắt thèm khát của bao người. Con chim của cậu được phong danh "bất khả chiến bại". Có được con chim quý và đôi cóng Tàu, Ngạc lại càng say mê đấu, tiếng tăm lừng lẫy. Của cải, đồ đạc sau mỗi trận lại từ từ bò về. Dân làng Yến Vĩ bảo nhau: "Cách làm giầu của Cậu có một không hai".

Cậu Ngạc quý con chim đó lắm! Nó là cục vàng sống, nó là của gia bảo, nó là niềm kiêu hãnh của kẻ đam mê. Nó là sự sống của đời Ngạc. Việc phục vụ chim kiêng kỵ đầu phần là đàn bà con gái, Ngạc đi vắng chỉ duy nhất có đứa con trai là thay thế được, và cũng chính từ đây dẫn đến khúc ngoặt bất ngờ trong cuộc đời đam mê chim của cậu Ngạc.

Một hôm Ngạc đi ăn giỗ ở làng bên qua đêm mới về được. Ngạc dặn con thay mình cho chim uống, trong lúc sơ sẩy chim sổ lồng bay mất... Quá hoảng sợ, đứa trẻ trốn biệt tăm. Biết chuyện cả nhà bổ đi tìm, tìm mãi chẳng thấy. Vợ Ngạc thuê cả các phường câu về mò các ao đầm, sông suối mà vẫn "bặt vô âm tín". Buồn bã vợ Ngạc qua đời trong mòn mỏi... Ngạc bỏ nhà, bỏ làng ôm mối hận lên núi làm lều cạnh Thung Mơ mà ở... Nguyễn Phi Ngạc từ đó trở thành lão Ngạc gác rừng.

Lão Ngạc là một người mẫn cán với công việc. Từ ngày có lão, khu rừng vơi đi tiếng chặt gỗ và cưa gỗ. Lão bảo Lạc: "Cây lát da đồng trên đỉnh núi là linh hồn của núi này, nó là cây cột chống trời, nó mà đổ cả núi rừng này sụp xuống". Chẳng biết có phải vì đồng lương mà Sở Lâm nghiệp cấp cho lão sống, để lão làm việc hay vì cái gì? Có lẽ do lòng trắc ẩn, sự ăn năn hối hận trước những việc làm của mình, hay còn một nỗi đam mê sâu kín trong lòng mà lão không thể từ bỏ được, đó là hình bóng của người vợ, của những cánh chim họa mi cứ trú ở Thung này.

*

Lạc vào Ðại học Lâm nghiệp, anh chọn khoa Lâm sinh. Sau khi tốt nghiệp, anh một mực xin về đây lập một trạm nghiên cứu lâm sinh ngay bên cạnh căn lều của lão Ngạc mặt hướng nhìn xuống Thung Mơ. Từ trong thâm tâm Lạc muốn bù lấp những mất mát trong đời lão Ngạc, có làm được như thế lòng anh phần nào mới thanh thản được.

Một hôm đi kiểm tra cây trên cốt hai ngàn về, Lạc chột dạ nghe thấy tiếng nói nằng nặng của một người vùng xuôi đang ngồi trong lều. Lạc đứng ngoài vách và vô tình anh nghe được câu chuyện giữa hai người. Lão Ngạc bảo:

- Ông xuống núi đi, đừng bao giờ nói chuyện mua bán với tôi.

- Ông còn chê ít sao, hơn chục cây vàng, cả một gia tài chứ ít gì. Bao kẻ cày đầu, cắm mặt suốt cả cuộc đời mà chẳng có lấy mảy may... vả chăng ông không muốn nuôi chim nữa, đôi cóng ấy ông giữ làm gì.

- Tôi không bán, không bao giờ bán - Lão Ngạc gằn lên từng tiếng. Trong lồng con rắn thấy động cất cao đầu, bành mang bạnh ra phun những tiếng phì phì tức giận. Người khách lắc đầu đi giật lùi ra cửa, mắt lấm lét nhìn con rắn. Một lát sau con rắn lại bình thản nằm ghếch đầu lên hai cái cóng.

Ðời sống con người cũng như con sông, con suối, cũng thác ghềnh, cũng êm đềm và những khúc ngoặt. Lạc cũng có một khúc ngoặt như thế... Vài năm sau khi tốt nghiệp đại học, công việc và tháng ngày chậm chạp trôi đi như một thứ luật "nhắc lại" nhàm chán. Lạc không còn là một anh sinh viên nhiệt huyết, đầy hoài bão nữa, anh hiện nguyên hình là một thằng đàn ông trước cuộc đời đầy ma lực quyến rũ. Một hôm Lạc nói với lão Ngạc bằng cái giọng rầu rầu.

- Con phải đi thôi cha ạ! Cha hãy tha thứ cho con...

Lão Ngạc chỉ lặng lẽ cười nhạt, tiễn Lạc xuống núi bằng cái nhìn vời vợi. Nửa năm sau Lạc lên núi bảo với lão Ngạc rằng mình đã lấy vợ. Vợ Lạc là một cô gái con nhà buôn bán ở phố huyện, nấn ná mãi cho đến nửa đêm Lạc vò đầu bứt tai bảo lão Ngạc:

- Thưa cha, cha đã thương chúng con thì thương cho trọn vẹn. Cha hãy cho chúng con một ít, tạo điều kiện cho chúng con khởi nghiệp.

- Ta còn có gì đâu!

- Cha vẫn còn - Lạc năn nỉ mắt ngước nhìn cầu khẩn.

- Không được! - Lão Ngạc quắc mắt, hình như lão đã đoán được ý định của Lạc - Mà ta cũng báo cho anh biết, không thể động vào nó được, con rắn sẽ không tha mạng cho bất cứ ai mạo hiểm làm điều đó.

Vẻ mặt lão Ngạc đầy tức giận, xách nỏ, lão bỏ ra ngoài. Lạc nhìn theo, tuổi tác đã đè nặng lên vai lão. Lão Ngạc đi ngược lên núi, bàn chân lão choãi ra bám vào đá như bàn chân thạch sùng bám trên tường. Lão đi đơn độc lẻ loi, đến đỉnh núi chỗ cây "cột chống trời". Lão đứng im phăng phắc nhìn xuống Thung Mơ, dáng lão bất động như pho tượng đá. Lạc như kẻ cùng đường, anh ở lại mấy ngày chờ lão về để thuyết phục. Ðã mấy ngày mà chẳng thấy lão Ngạc quay lại lều. Lạc thấy lo lo, vào một buổi chiều tà, bóng tối luễnh loãng khắp Thung Mơ thì lão Ngạc về, bước vào lều, lão bảo:

- Cũng may, tìm mãi đến ngày thứ ba mới tìm được cái thế "tử địa" nếu không thì cũng đành bó tay. Con chim này tướng rất lạ, tản đầu, cát xanh, mắt ướt và đặc biệt "rập mềm" - nó sẽ đánh miếng quắp tuyệt vời. Ðây là lần cuối cùng ta cho anh, cầm lấy mang về mà kiếm tiền lập nghiệp.

Lạc nửa mừng, nửa lo xuống núi...

Qua hai mùa xuân hội làng Yến Vĩ, bằng con chim, Lạc có số vốn... đầu tiên. Cuối mùa xuân năm đó Lạc mở cửa lồng nói: "Mày hãy bay đi và đừng bao giờ mang oan uổng gieo xuống đầu tao". Bằng sự thông minh lanh lợi và tính quyết đoán, với một số vốn ít ỏi ban đầu nhờ vào con chim mang lại, Lạc đã trở thành giàu có, anh mở một xưởng cưa. Gỗ tròn, gỗ tấm, to nhỏ qua lưỡi cưa như hàm răng cá mập của Lạc là tan tành hết. Gỗ ra, tiền vào, rừng teo tóp, gỗ càng khan hiếm. Những phu gỗ đã phải vào sâu trong rừng. Qua chuyện của họ, Lạc biết cánh rừng bên này do lão Ngạc trấn giữ vẫn nguyên vẹn. Lạc muốn như thế bởi trong lòng anh không dễ một sớm một chiều mà quên đi lão Ngạc được. Từ ngày làm ăn phát đạt Lạc đã mấy lần đích thân lên núi đón lão về phụng dưỡng nhưng lão chối đây đẩy và buông một câu nhạt nhẽo: "Về đấy làm sao tôi sống nổi".

Chiều nay, khi đóng cửa xưởng cưa Lạc nhìn về phía núi, miệng lẩm bẩm: "Mũ núi mưa mai, đai núi mưa chiều", lưng chừng núi là một dải mây xám đục sũng nước giăng ngang như một bức tường thành... Lạc quên làm sao được những trận mưa rừng xối xả. Ký ức cứa vào lòng anh lạnh buốt. Anh nỡ phụ bạc cả một tấm lòng nhân hậu, đùm bọc anh từ thuở thiếu thời đến lúc trưởng thành. Giận hờn lẫn lộn, Lạc cáu gắt nói với vợ nhưng chính là để cho mình nguôi ngoai: "Cho lão chết, ôm một đống vàng mà phải sống nghèo, giam hãm đời mình nơi "thâm sơn cùng cốc", thật là lão già cố chấp!". Sáng hôm sau công việc lại kéo Lạc vào những bận rộn thường nhật.

*

Lạc lại ký được một hợp đồng xuất khẩu gỗ rất lớn, anh khấp khởi mừng thầm bảo vợ "Xong chuyến này mình lên đón lão Ngạc, chuyển hẳn ra thành phố làm ăn buôn bán cho nó nhàn". Nhưng khi đặt gỗ với các lái thì họ bảo: "Ðào đâu ra những cây gỗ ấy bây giờ, toàn là "nhóm một", "vanh" lớn như thế cây cũng phải hàng trăm tuổi, gỗ ấy phải rừng nguyên sinh mới có, cánh rừng này xin lạy cả nón!".

Tưởng họ chê ít. Lạc đặt giá cao gấp hai ba lần cũng chẳng ai nhận lời. Tìm mãi mới được một lái rất bợm nhận lời nhưng hắn lại bảo: "Chỉ có thể lấy ở vạt rừng mà lão Ngạc coi giữ là còn". Lạc bỏ đi ngay. Từ ngày đầu mở xưởng Lạc tuyên bố: "Có cho không cũng không lấy nếu là gỗ của vạt rừng ấy".

Một hôm có một lái đánh đến xưởng của Lạc mấy chục mét gỗ lát, giá cả phải chăng, Lạc ra xem, biết là "cây cột chống trời" đã bị phạm tới. Anh quay đi, lòng bồn chồn nhớ lão Ngạc, ông lái nhổ toẹt bãi nước bọt bảo: "Ðã là chó mà còn chê... của béo bở lại để thằng khác phỗng mất". Mối lợi như vừa tuột khỏi tay, máu kinh doanh xem đồng tiền làm trọng. Lạc quay lại, lái gỗ bảo: "Tôi biết "hèm" của ông rồi "cửu gỗ" phải vòng sang bên kia nói mới "đánh" được đấy"! Lạc giật mình hỏi:

- Thế ông già không biết à?

- Lão già khú ấy sắp chết rồi, cựa còn khó nói gì đến gác xách nữa, chúng nó chỉ sợ có cây nỏ thôi, mà hình như lão không đủ sức căng dây nữa.

Lạc đưa cây gỗ vào xẻ, thật đúng như tên của nó, từng súc gỗ rộng bản đông đặc như miếng tiết, nạc như khoanh giò lụa được bong ra, mới chỉ qua đường cưa đi mà vân gỗ đã nổi lên đẹp chưa từng thấy bao giờ. Lạc hình dung ra sau khi đã bào nhẵn nhụi, tráng qua một nước sơn mặt dầu áp mộc, hoa gỗ lồng lộng nở rực rỡ như một cái đuôi công xòe ra, ai dám chê. Lạc như cầm chắc món hàng sẽ được giao trót lọt.

Xuất xong lô hàng, tiền nong gọn ghẽ nhưng Lạc vẫn cảm thấy áy náy. Một cái gì phảng phất trong đầu anh khi xẻ tan "cây cột chống trời" ở rừng này. Sau rồi Lạc chặc lưỡi: "Chẳng qua là những lời nói của lão Ngạc ám ảnh". Anh lại lao vào những phi vụ làm ăn "hẩu" hơn nhiều.

Một đêm mùa hạ, trời oi bức ngột ngạt, mây đen tụ kín bốn bề mà chẳng có giọt mưa. Quãng nửa đêm, sấm chớp bỗng nổ vang trời, rồi mưa ào ạt trút xuống, như đổ nước, kéo dài mấy tiếng đồng hồ liền. Không khí dìu dịu, Lạc thiu thiu ngủ trong cái yên ả, mát mẻ của trời đất sau mưa, anh chập chờn thấy những tiếng ì ầm như từ trong lòng đất vọng tới, mỗi lúc một to, một gần... Ðến lúc Lạc cảm thấy như có ngàn vạn cặp ngựa đang cất vó tung bờm sầm sập từ trên núi lao xuống, anh chỉ kịp thét lên một tiếng man dại: "Lũ quét" và lôi vợ con lên tầng thượng tòa nhà. Bốn bề nước ào ạt đổ về tới một sức mạnh khủng khiếp.

Sáng hôm sau Lạc được chứng kiến quang cảnh đổ nát hoang tàn, chỗ hướng chính lũ đi, mặt đất bị rạch xuống như một dòng sông cạn. Cả nhà Lạc thoát chết nhờ tòa nhà xây cao và vững chắc như một cái lô cốt. Lạc thảng thốt giật mình. Mấy hôm sau Lạc quyết định mang lễ vật lên núi để "tạ thần gỗ" và nhân thể đón bằng được lão Ngạc về. Có lẽ lão đã già lắm rồi, không còn đủ sức gác rừng nữa, vả lại lương tâm không cho phép anh cứ trơ ra mà sống.

Ðến nơi, trong bời bời bông lau nở trắng xóa, cây cối như biến mất, chẳng còn nhận ra đâu là mái lều ngày xưa anh đã từng sinh sống. Tìm mãi mới thấy dấu vết của nền xưa, cỏ lông lan trùm kín nền đất lều. Ðang băn khoăn thì có một người Mán đi săn qua Lạc hỏi, người Mán chỉ cho biết họ đã chôn ông lão ở bờ suối.

Lạc bàng hoàng kinh sợ, anh lội qua suối đến chỗ người Mán chỉ. Một đống đá xếp lùm lùm làm dấu, bên trên những chiếc nan lồng bị thời gian hủy hoại giờ đây chỏng chơ, ải nát như một nắm xương của một khúc cá kho nục. Chẳng cầm đặng lòng mình, nước mắt Lạc rưng rưng.

Lạc lặng lẽ bày lễ vật ra trước nấm mồ lạnh đá, cắm xuống những nén nhang. Lạc bỗng giật thót mình, một tiếng "phè" làm anh ngây người chết đứng. Ðịnh thần anh nhận ra con rắn ngày xưa. Nó đã già lắm, thân hình mốc thếch nhưng cặp mắt vẫn tròn xoe lồi ra nhìn Lạc. Anh cắm hương rồi nằm phủ phục trên mặt đất nức nở gọi "Cha ơi"! Trời lặng gió, khói hương chầm chậm tỏa, con rắn lắc lư cái đầu. Lạc đi xuống Thung Mơ, lòng Thung tan hoang như một bãi chiến trường, đá lổng chổng lộn xộn vì những kẻ đào vàng lật lên, hai bên vách đá đựng đen sì lởm chởm chẳng còn một cội mơ nào sót lại. Trong đống đá Lạc nhìn thấy một vật gì mòng mọng... Anh lại gần nhặt lên xem thì ra đó là một mảnh vỡ của cái "cóng Tàu". Lạc tìm quanh quất rồi ghép lại, rung rung trong tay nó đỏ bầm như một cục máu. Vành của cái viền đáy cóng nổi bật bốn chữ Hán viết đá thảo "Khang Hy niên chế". Cái cóng tuột khỏi tay tóe ra đỏ rực trên nền đất. Lạc ngồi xuống tần ngần nhìn lại hai bàn tay mình, rồi anh ôm đầu gục xuống... Hoàng hôn buông lòng thung bịt bùng hoang dã.

... Mấy năm sau, trên một trục đường mới mở ven chân núi, thấp thoáng trong những vạt rừng trồng đang vào kỳ khép tán, có một nếp nhà sàn nhỏ, trước cửa treo một tấm biển lớn, biển có một dòng chữ đỏ thắm nổi bật giữa mầu xanh núi đồi: "Trạm nghiên cứu lâm sinh". Mọi người đi qua bảo: "Ðó là nhà của anh kỹ sư kiêm gác rừng có một cái tên ngồ ngộ "Lạc Rừng".

Hạ 98



Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Thu Lý

Hoàng Ngọc Hà

Ðã mấy chục năm rồi hai anh em tôi mới gặp lại nhau. Sau những cuộc chiến tranh đằng đẵng mấy chục năm trời, rồi lại đến lo công chuyện làm ăn, mỗi người mỗi cảnh chẳng có lúc nào mà nghĩ đến chuyện thăm viếng họ hàng.

Thế mà hôm nay anh ấy lừng lững xuất hiện mà lại đóng complê ca vát, rõ đúng là nhân vật thời đại đất nước đổi mới. Tôi ngỡ ngàng nhìn người đàn ông tóc bàng bạc mầu sương, đôi mắt hum húp mệt mỏi, chỉ đến khi anh nhoẻn miệng cười, trời, anh Hân! Vẫn cái cười hóm hỉnh, có duyên đã xua tan hết lớp thời gian phủ mờ trên khuôn mặt ngoại lục tuần.

Sau phút ôm chầm lấy nhau, lau mắt nhoèn ướt xúc động, hai anh em tĩnh tâm ngồi xuống sa lông nhấp chén trà sen, anh ngắm tôi lâu hồi lâu rồi thốt lên:

- Ôi bé Ngọc! Thế mà đã mấy chục mùa lá vàng rơi rồi!

Bao nhiêu hồi ức tuổi thơ tràn về, bé Ngọc hồi đó lên tám bây giờ sắp lên lão.

- Thời ấy ở Huế, em nhớ anh mê chị Thu Lý...

Anh ngả mình trên ghế, rút hộp thuốc bằng bạc chạm nổi, vẫn là cái hộp hình chim phượng xòa cánh. Ngày xưa tôi đã trầm trồ thán phục khi thấy anh Hân bật nắp hộp với dáng điệu thành thạo hào hoa, rút điếu thuốc châm lửa hút, nhưng vừa mới hít khói thì ho sặc sụa. Năm đó anh mười tám tuổi. Anh cần sắm cái hộp đó để chứng tỏ phong cách nam nhi.

Bây giờ anh lại bật nắp, nắp hộp không còn tự bật mạnh như trước, anh phải gỡ nắp ra, rồi rút một điếu từ tốn đưa lên môi bật lửa châm thuốc nhưng không hút mà lại đặt xuống cái gạt tàn. Im lặng, có lẽ những người thân gặp nhau chỉ nhìn nhau im lặng, là đã nói với nhau nhiều rồi, là làm sống dậy mọi hồi ức thơ ấu.

- Anh đã gặp lại Thu Lý hai lần... - Anh nhặt điếu thuốc đưa lên môi rít đỏ rực, rồi từ từ nhả khói, mắt mơ màng anh nói như người trong giấc mơ - Cô ấy vẫn như xưa, hoàn toàn không thay đổi...

Tôi ngỡ mình nghe nhầm:

- Anh nói sao, năm mươi năm rồi mà không thay đổi?

Anh thở dài, thốt lên cay đắng:

- ừ, vẫn đẹp hồn nhiên tuổi mười sáu.

- Chẳng lẽ thẩm mỹ viện của Pháp lại tài tình đến vậy?

- Không, đó là tạo hóa thật khôn lường.

Tôi chẳng hiểu gì, còn anh thì im lặng. Hồi lâu sau anh bắt đầu kể với tôi câu chuyện sau đây, mà có lẽ không phải kể với tôi, mà là suy ngẫm được thốt thành lời.

... Ngày đó tôi mê đắm nàng, nhưng nàng như ngôi sao xanh biếc trong đêm thẳm, tôi chỉ có thể ngước nhìn và ao ước. Một thằng học sinh trường litxê (học sinh bậc tú tài) đi trọ học trong một căn gác nghèo, tiền cơm tháng do bố mẹ ở quê gửi lên. Một thanh niên quê mùa và nghèo hèn. Còn nàng ở trong tòa biệt thự kiểu Pháp, có vườn bao quanh, kẻ hầu người hạ ăn mặc còn sang hơn đám học sinh như tôi.

Hàng ngày tôi đứng bên gác xép nhà bà chủ trọ, ngóng sang đợi chờ phút thiêng liêng của mỗi ngày, giờ nàng đi học về, bước từ xe tay xuống và thướt tha đi vào nhà. Con chó bông trắng nhảy cỡn quanh nàng, nàng ngồi xuống vuốt ve nó, có lúc nàng còn ôm đầu nó, ghé má ấp vào cái mũi đen ướt của nó. Ôi ước gì tôi được hóa thành con chó nhỏ ấy! Chỉ cần được nhìn ngắm nàng như thế là đủ cho một đêm vui sướng lâng lâng với những giấc mộng vàng.

Nếu hàng ngày con chiên ngoan đạo cần ngắm nguyện trước Ðức Mẹ Maria để lòng được thanh thản, thì Ðức Mẹ Maria của lòng tôi chính là Nàng.

Thế rồi một buổi chiều, tôi nhìn thấy bên tòa biệt thự ấy, không phải là chiếc xe tay kéo, mà là một chiếc ô-tô sang trọng, đen bóng, và từ đó bước ra một chàng trí thức (tôi đoán thế vì thấy anh ta mang kính trắng). Tay ôm một bó hoa hồng, anh ta bước đi mới chững chạc đàng hoàng làm sao, thật là một đấng hào hoa phong nhã. Anh ta vào nhà rất lâu, tôi đứng bên cửa sổ đã chồn chân, mới thấy anh ta được nàng tiễn ra cổng. Họ dừng lại nói chuyện hồi lâu bên cạnh xe, lúc đó anh ta rút trong túi ra hộp thuốc bằng bạc, bật nắp rút thuốc và khoan thai bật diêm châm lửa hút. Trời, phong thái mới thật là cao sang!

Từ hôm đó tôi quyết tâm phải mua bằng được một cái hộp bạc như thế, và bắt đầu tập hút thuốc. Chính lần ấy tôi đã đến nhà chú thím để khoe với cô cái hộp đẹp ấy, và bây giờ tôi vẫn giữ đây này, cũ rồi nhưng tôi không thể nào thay cái hộp khác được. Các con tôi cứ chế giễu tôi, nhà ngoại giao mà dùng thứ đó mất cả tư thế. Tôi bào chữa: đồ cổ mới quý! Chúng nó thì hiểu sao được kỷ niệm quý giá thế nào.

Khi đỗ tú tài phần thứ nhất, cha mẹ tôi mừng lắm, để khuyến khích tôi học hành, các cụ gửi thêm tiền hàng tháng để tôi may mặc bằng người. Tôi đã sắm đủ bộ cánh như những học sinh thành thị, tuy nhiên vẫn phải đi bộ đến trường, sắm được xe đạp thời ấy phải là con nhà giàu mới mua nổi.

Mỗi lần đi qua ngôi biệt thự ấy, tôi thường căn đúng giờ, lúc nàng bước lên xe để đến trường. Tôi gắng bước đi thật chững chạc, có lúc cũng dừng lại bật nắp hộp lấy thuốc để hút, dáng vẻ trầm ngâm suy tư, cố giữ thẳng đầu để không ngước nhìn hút theo chiếc xe kéo bon bon chạy.

Tình yêu mơ mộng ấy bỗng vỡ tan như bong bóng xà phòng khi Cách mạng Tháng Tám bừng lên một thời đại mới. Tôi gia nhập Vệ quốc đoàn "Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu..." và quyết "Một ra đi là không trở về...". Nàng không còn ngự trị trong tâm hồn tôi nữa, mà lúc này tôi sống giữa đồng đội "Bao chiến sĩ anh hùng, lạnh lùng vung gươm ra sa trường"...

Những lời ca hào hùng ấy là những rung động của trái tim tôi thời kỳ đó. Gia đình, trường học, tình yêu đều trở thành vô cùng nhỏ bé, thậm chí có lúc tôi đã tự giễu mình về cái sự lãng mạn vô duyên ấy. Thế mà thỉnh thoảng trong giấc ngủ nơi chiến trận, hình ảnh khuê các của nàng lại hiện về trong giấc mơ, khi giật mình tỉnh dậy lại buồn cười nghĩ: chẳng hiểu cái cô tiểu thư ấy lúc chạy giặc tản cư thì có phải đi xe kéo không nhỉ?

Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp trôi qua như một dòng thác lũ, cuốn trôi phăng cả chế độ thực dân, và cuốn mất tăm cả nề nếp gia phong nho giáo, cùng với những kỷ niệm xưa.

Tôi đã quên hẳn nàng và đã yêu nhiều lần. Tôi yêu một cô y tá ở trường Lục quân, sau đó lại yêu một cô dân công trong chiến dịch Ðiện Biên, rồi suýt nữa lấy một cô bần nông trong cải cách ruộng đất. May nhờ cái tính vốn mơ mộng đa cảm, nhưng lại rụt rè trong hành động, cho nên những cô ấy cũng chỉ là những hình ảnh xáo trộn tâm trạng nhất thời mà thôi. Ðến khi hòa bình lập lại tôi lấy vợ, một nữ công nhân nhà máy dệt, một người đàn bà khỏe mạnh, hiền hậu và đảm đang.

Tôi tự hào về cách chọn lựa của mình, vừa đúng lập trường lại vừa yên ổn gia đình. Ðó là hậu phương vững chắc của người lính. Tôi đi vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước với tâm trạng bình thản, tự tin của người từng trải chiến trận.

Nhưng, những ngày kháng chiến này sao mà dài thế! Một ngày đêm chỉ hai mươi bốn tiếng mà dường như không chịu trôi đi cho: đêm đêm hành quân dọc Trường Sơn, lê chân nặng nhọc chỉ mong chóng sáng để được nghỉ ngơi. Ngày ngày nằm ẩn dưới hầm hào, rung chuyển váng óc vì bom rải thảm, lại mong chóng tối để tìm chút tĩnh lặng. Ngày này qua ngày khác, chai sạn đi trong gian khổ, đầu óc chỉ có mỗi mục tiêu: đi và đánh.

Vậy mà ngoảnh lại, hai mươi năm chiến tranh đã vụt qua như một ánh chớp. Chiến thắng lừng lẫy giải phóng miền nam.

Thế mà vừa hòa bình thống nhất, bước chân vào Sài Gòn hoa lệ, thì ý nghĩ đầu tiên là tìm gặp Nàng, làm như cuộc đi bộ suốt ba mươi năm ấy chỉ một mục đích là đi tìm nàng.

Thì ra những tình yêu đầu đời có sức bền dai dẳng ngoài ý thức mình. Tình yêu ấy đã chìm lắng trong tiềm thức.

Ngày đó tôi là một đại tá, một sĩ quan cao cấp của đội quân chiến thắng. Hào quang anh hùng của dân tộc tỏa sáng, khiến tôi lúc ấy cũng tự thấy mình oai phong lẫm liệt.

Tôi đã tìm ra địa chỉ nhà nàng. Ngôi biệt thự sang trọng hiện đại, lớn gấp mấy lần cái biệt thự ở xứ Huế trước kia. Tôi run run đưa tay lên bấm chuông, cảm giác hãi sợ hồi hộp y như lúc trước đứng chờ đợi nàng lên xe tay để đến trường mỗi buổi sáng.

Một anh người nhà ra mở cổng, anh ta cung kính cúi đầu thưa:

- Dạ thưa ngài, ngài cần gì ạ?

- Tôi muốn gặp bà Thu Lý.

Loáng qua mắt anh ta một ánh hãi hùng, anh ta lập cập thưa:

- Xin mời quý ngài vào.

Tôi dướn thẳng lưng, bước đĩnh đạc, cố giữ vẻ điềm tĩnh. Vào đến phòng khách, tôi choáng mắt trước căn phòng mênh mông kỳ ảo. Ðịnh thần lại tôi mới nhận ra bốn bề đều lắp gương phản chiếu, nên đồ đạc hiện đại như được nhân lên nhiều lần.

Cửa phía sau hé mở, một bà to béo, lộng lẫy phấn son, tóc uốn cao đen nhánh mầu tim tím, màu thuốc nhuộm. Bà ta đi ra nhẹ nhàng với nụ cười trên môi, nhưng giọng nói run run không giấu được nỗi lo sợ.

- Kính thưa ngài, ngài cần gặp tôi ạ?

Nàng đấy sao? Người đẹp trong mộng của tôi? Tim tôi hụt hẫng, lòng trở nên nguội lạnh, tôi chẳng còn là tôi nữa, nói gì với người đàn bà xa lạ này nhỉ?

Tôi đành gượng gạo nói:

- Tôi là Hân, khi xưa ở Huế cạnh nhà chị, không hiểu chị còn nhớ không?

- Ôi trời, thật mừng quá sức. Không ngờ những người cộng sản như anh mà cũng tình cảm như thế.

Chả lẽ lúc này lại phải giải thích dài dòng về tâm hồn cộng sản, tôi bèn lấy hộp thuốc ra bật nắp rút một điếu, định dùng thuốc che giấu sự lúng túng. Bỗng bà ấy cười vui vẻ:

- Tôi còn nhớ hồi đó anh mới tập hút, cứ ho sặc sụa hoài.

- A! Thế ra chị cũng biết chuyện ấy sao?

- Thì hàng ngày tôi vẫn dõi nhìn theo anh mà!

Niềm vui sướng muộn màng ấy làm tôi sững sờ, tim như ngừng đập. Nàng cũng chú ý đến tôi sao? Hình như mắt tôi hoa, Thu Lý vừa hiện ra ở cửa, nàng cao mảnh mai, mái tóc thề xõa ngang vai, áo dài trắng, tay xách cặp, nàng vẫn chỉ mười sáu tuổi. Tim tôi đập dội lên như thuở mười tám.

- Con chào má.

Bà ấy vui vẻ bảo con:

- Con chào bác Hân đi. - Quay sang tôi bà giới thiệu - Ðây là Thu Lý, con gái út của tôi đó!

Ðúng là Thu Lý rồi. Chợt lúc đó tôi nhìn thấy một ông khách, mặt béo phì phị, da xám xỉn, mặt đầy vết nhăn, tôi nghĩ lão già nào ấy nhỉ, sao lại nhìn mình chằm chặp thế kia.

- Con chào bác. Con xin phép vô nhà.

Giọng Nam bộ dịu dàng, nàng không nói tiếng Huế nữa sao? Tôi nhìn theo ngơ ngẩn, vẫn dáng điệu uyển chuyển duyên dáng ấy, nàng khuất sau cánh cửa. Tôi quay lại với bà chủ, và lúc này tôi chợt nhận ra lão già trước mặt chính là mình trong gương. Một câu hỏi nhói buốt tim, có lẽ nàng cũng thất vọng như mình, chàng thư sinh xưa đâu còn nữa.

Tôi vội cáo từ ra về, mặc cho bà ấy nài nỉ mời ở lại dùng bữa với gia đình...

***

- Ðấy là lần thứ nhất, thế còn lần thứ hai vào lúc nào? - Tôi háo hức hỏi, còn anh trầm ngâm im lặng, lát sau mới chậm rãi nói.

- Vừa gặp lại hôm kia, ở Paris.

Tôi nhổm dậy bồn chồn, thế là anh vừa ở Pháp về đã đến đây ngay. Chắc là có chuyện gì nên anh mới tìm người thân để dốc bầu tâm sự. Tôi lẩm nhẩm:

- Tức là tiếp sau hai mươi năm nữa mới gặp?

Anh tiếp tục kể.

***

... Sau đó tôi nghe tin nàng cùng gia đình sang Pháp định cư. Cũng phải thôi, cuộc sống cần lao của chúng mình đâu phải là môi trường mà nàng có thể sống được. Thú thật tôi chẳng mấy quan tâm đến bà chủ to béo giàu sang nọ đi đâu, ở đâu? Nhưng mà nàng Thu Lý mười sáu tuổi ấy đã hiện ra như một ảo ảnh, và nàng vẫn ám ảnh dai dẳng trong tâm trí tôi. Cô có hiểu không, lúc nào tôi cũng muốn tìm lại nàng, cũng may gia đình họ đã đi xa nên dần dần tôi cũng chẳng vương vấn gì nữa.

Cuộc sống mới đổi thay từng ngày, tôi đã chuyển sang công tác đối ngoại. Từ căn hộ ở khu chung cư, tôi đã chuyển sang ngôi biệt thự mới xây, cũng có khu vườn nhỏ bao quanh. Vợ tôi đã về hưu, người đàn bà xốc vác từng gánh cả gia đình trên vai vượt qua cuộc kháng chiến đằng đẵng. Ðã từng là chiến sĩ thi đua, báo cáo điển hình khắp nơi. Bây giờ suốt ngày đi chùa, tìm niềm thư thái trong chốn Phật thiền.

Còn tôi không còn quân phục sĩ quan, mà đã quen với lễ phục ngoại giao, lên xuống ô-tô đen bóng bước đi thật đàng hoàng, chững chạc giống như chàng trí thức đeo kính dạo nọ đã đến nhà nàng. Sự đổi đời quá chậm nên duyên phận không thành!

Lần vừa rồi có dịp sang Pháp làm việc, ý nghĩ đầu tiên là nhất định phải tìm gặp nàng. Tôi biết gặp cũng chẳng để làm gì, nhưng mà tôi chỉ muốn được nhìn thấy lại nàng, cần lắm lắm. Thật điên rồ, nhưng da diết mong đợi, hồi hộp run rẩy như những buổi sáng thuở xưa đón đợi nàng trước cổng để nhìn nàng lên xe đi học.

Nhà nàng bây giờ ở một căn hộ trên tầng năm, trong một tòa nhà lớn hiện đại. Bước từ thang máy ra, tôi bấm chuông ở cánh cửa có gắn biển đồng đề tên nàng. Cửa tự động mở, một bà già tóc bạc phơ, bước đi chập chững, đôi chân yếu ớt phải đỡ một tấm thân phồn thực mỡ màng, khuôn mặt phúc hậu vẫn đẹp. Bà nhìn tôi trân trân với ánh mắt bạc mầu, rồi một giọng trầm trầm như vang lên từ đáy ngực:

- Trời ơi! Anh Hân, anh vẫn tìm đến cố nhân sao?

Nơi đất khách quê người, gặp người quê hương thật xúc động, nước mắt ròng ròng lan tỏa trên khuôn mặt bà già theo những nếp nhăn thời gian. Thế mà lòng một nỗi bực dọc như vừa bị ai đánh tráo dối lừa. Tôi hờ hững bắt tay bà cụ già, rồi miễn cưỡng ngồi xuống chiếc ghế xa-lông sang trọng. Bà già lập cập đến bên tủ buýp phê lấy rượu, bánh, để tiếp khách.

Tôi lơ đãng ngắm nhìn căn phòng cực kỳ mỹ lệ và hiện đại, nhưng sao mà lạnh lẽo trống vắng quá đỗi.

Cửa lại tự động mở (lúc này tôi mới hiểu khi bấm chuông là cửa tự động mở, nếu không bị khóa). Nàng lại hiện ra sáng ngời nơi khung cửa. Vẫn mười sáu tuổi, dong dỏng cao, tóc xõa ngang vai, áo dài trắng tay cầm mấy bông hoa.

- Me voici, grande mère! (Cháu đây bà ơi).

Nàng chào bà bằng giọng đặc người Paris.

Bà Thu Lý quay ra nhìn, trông thấy nàng bà cụ reo lên:

- Cháu đến thăm bà đấy ư?

- Vâng, cháu vừa đi biểu diễn văn nghệ dân tộc ở hội nghị Việt kiều. Cháu hát được tặng hoa, cháu mang về tặng bà.

Bà già quay sang tôi hãnh diện giới thiệu:

- Ðây là cháu ngoại của tôi, cũng tên là Thu Lý.

Bà cười phô hàm răng giả rất đẹp, bà nói tiếp:

- Thu Lý đệ tam.

Tim tôi lịm đi rồi lại rộn ràng đập như trống trận. Nàng vẫn như xưa, hình như có cao hơn nhưng vẫn khuôn mặt ấy, mái tóc ấy, dáng dấp ấy, và đôi mắt tuyệt vời ấy. Tình cảm xao xuyến tràn ngập của tuổi mười tám trở về, nhưng thân thể của một lão ngoại lục tuần không chịu đựng nổi xúc động mãnh liệt ấy, tay tôi run lên, mắt hoa, mặt tái nhợt. Tôi lịm đi trên ghế. Tôi mơ màng cảm thấy bàn tay dịu dàng của cô bé đỡ tôi, và một chiếc khăn mặt ấm thơm tho nhẹ nhàng lau mồ hôi trán đang vã ra đầm đìa. Nàng bỏ vào miệng tôi một viên thuốc gì đó, rồi giúp tôi uống từng ngụm một thứ nước ngọt thơm và nóng.

Lát sau tôi tỉnh táo lại, cô bé ngồi cạnh tôi thân thiết, nói tiếng Việt bằng một giọng lơ lớ:

- Ôi, ông làm cháu sợ quá, có lẽ ông bị bệnh tim như bà cháu.

Tôi cười gượng gạo:

- ờ bệnh của tuổi già ấy mà.

- Bà cháu vẫn kể về ông cho cháu nghe đấy. Bà tả ông là một thư sinh đẹp trai và học rất giỏi.

Tim tôi lại dội lên, vậy là thời ấy nàng biết tôi rất rõ, và dành cho tôi một tình cảm không phải là ít. Tôi vui vẻ nói:

- Thời đó bà cháu đẹp lắm, giống hệt như cháu bây giờ.

Cô bé cười sáng ngời:

- Ai cũng bảo bà cháu đẹp, mẹ cháu và cháu giống nhau lại cùng đặt một tên, nhưng bà cháu là Thu Lý Phạm, mẹ cháu là Thu Lý Ðào, còn cháu là Thu Lý Hoàng. Bên này họ gọi nhau bằng họ nên cũng chả lẫn được.

Bà cụ già nãy giờ loay hoay gì trong bếp, lúc này đi ra tay bưng một chén chè hạt sen nóng.

- Anh ăn một chút chè sen xứ Huế mình. ở cái đất Paris náo nhiệt này dễ bị tress lắm.

Tôi vội đỡ chén chè, mùi hương sen lan tỏa, một chút quê hương, một thoáng xa xưa tràn vào không gian, xóa nhòa khoảng cách thời gian đằng đẵng nửa thế kỷ.

- Hôm nay, anh ở lại đây một hôm nhé. Tôi sẽ dẫn anh đi thăm thành phố hoa lệ này.

Tôi giật mình nghe giọng nói khàn đục của bà già, giấc mơ tan biến. Tôi chợt thấy bàn tay nõn nà của cô bé đặt trên tay tôi, bàn tay bệch bạc lốm đốm đồi mồi. Lòng tôi như tan chảy, ảo mộng cơ chừng sẽ biến mất.

Tôi vội vàng đứng dậy cáo từ:

- Thật tiếc, tôi đã đến giờ hẹn làm việc với sứ quán. Xin từ biệt Thu Lý của tôi.

Cho đến lúc này hình ảnh hai bà cháu xuống tận đường tiễn tôi vẫn lung linh trước mắt tôi, họ đứng đấy: một tàn úa, một rực rỡ. Ôi thời gian thật kinh khủng! Nhưng tạo hóa đã tái sinh, hình như thời gian chẳng hề trôi bao giờ.

***

Chuyện vãn với nhau quên mất cả bóng đêm đã phủ tấm màn đen lên khu vườn. Loang loáng ngoài đường phố những vệt sáng vùn vụt phóng qua, những đôi thanh niên cưỡi xe, ôm lưng nhau cười khúc khích, họ dạo chơi buổi tối bằng xe máy.

- Buổi tối cũng có niềm vui buổi tối phải không anh. Chúng ta vào ăn cơm đi, các cháu của anh hôm nay làm tiệc đãi anh đấy.

- ừ, niềm vui tuổi chúng ta là được xum vầy với gia đình, được gặp lại nhau, nhớ lại thời xa xưa và tiếc...

Anh nói vậy giọng trầm trầm nghẹn lại, tôi cướp lời:

- Không, không nuối tiếc làm gì. Chỉ đến lúc già mới thấy hết cái đẹp của thời trẻ, mới biết quý giá nó. Vậy là ta không mất gì hết. Thời gian trôi đi, nhưng thời trẻ của chúng ta có mất bao giờ!




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0





Tha thứ

Trần Diệu Linh

Nước mưa vẫn ào ạt chảy trên máng xối vào cái thùng phuy phía đầu hồi, Trang nghiêng người, chong mắt nhìn ra đường qua chiếc cửa sổ con tí xíu trổ trên tường. Qua màn mưa mờ mịt, cái bóng đèn đường hắt vào chị một vầng sáng nhạt nhòa hơn thường ngày. Mọi đêm, Trang vẫn thường đọc sách dưới cái ánh sáng "chùa" này chừng nửa tiếng trước khi ngủ. Nhưng đêm nay thì không. Chị không thể ngủ được dù cái kim ngắn trên chiếc đồng hồ treo tường đã nhích đến số mười hai và những tiếng lao xao của đám người tan xuất chiếu cuối ở rạp đã tắt từ lâu. Bỗng chị thèm ngắm anh đến lạ lùng. Trang trở mình, quay nhìn chồng và giật mình khi bắt gặp đôi mắt anh đang mở to.

- Em sao vậy? Có chuyện gì thế?

Vội vàng co lút cổ vào đám chăn gối, Trang cố nặn ra một câu trả lời:

- Đèn hôm nay sáng hơn mọi khi thì phải. Sáng quá, em không ngủ được.

Rồi nhận ra sau câu trả lời của mình, cái ánh nhìn dò hỏi kia lại càng bừng lên, chị cố ngáp thật to và nhắm mắt lại. Người chồng vòng tay ôm lấy vợ, trong đầu vẫn còn đôi chút ngạc nhiên nhưng cơn buồn ngủ đã xua nó đi thật nhanh và chỉ năm phút sau, tiếng ngáy của anh đã vang đều trên căn gác nhỏ.

Bình minh thuần khiết trào qua những giò lan không bao giờ trổ hoa ập vào đôi mắt của người đàn bà. Cùng với nó là những tiếng chim loét choẹt vọng sang từ những dãy lồng chim treo đầy ban công những nhà gần đấy.

- Một buổi sáng đầy phong lan và tiếng chim. Trang giật mình quay ra. Anh đã dậy từ lúc nào, nhẹ nhàng tới sau lưng chị và giờ đây đang nhìn chị bằng ánh mắt đêm qua.

- Thế mà anh không biết là em cũng thích ngắm lan và nghe chim hót. Tiếc là chúng không thể có hoa.

- Như ngày xưa của anh, phải không?

Trang bật hỏi, không nhận ra nổi giọng mình. Người chồng bật cười. Anh hơi ngạc nhiên song đã từ lâu, anh vẫn coi chị như một đứa trẻ cần được chiều chuộng. Sự nhường nhịn ấy có thể được giải thích bởi sự cách biệt tuổi tác khá lớn giữa họ, nó khiến cho quan hệ của cặp vợ chồng này có cái gì đó giống như mối quan hệ cha con hay chí ít cũng là anh cả - em út. Vì vậy, vẻ gây gổ trong câu hỏi vừa rồi của chị cũng không làm anh bực mình. Ngược lại là khác. Anh ngắm nghía chị với vẻ thú vị ra mặt và điều này, rút cục, làm chị nổi cáu. Sập mạnh cánh cửa sau lưng, chị lại lao lên giường và thiếu chút nữa thì oà khóc. Cứ như thể anh muốn giễu cợt chị và thay vì kể với chị về lá thư ấy, như họ vẫn làm trong bao nhiêu năm trời nay, anh lại giấu biệt nó đi và để mặc kệ chị với nỗi tò mò muôn thuở của phụ nữ. Nếu những dòng chữ trên phong bì không đẹp mềm mại đến thế thì có lẽ Trang sẽ không băn khoăn về nó nhiều như vậy. Nhưng điều khiến chị lo lắng hơn nữa là vẻ vui buồn bất chợt của anh kể từ khi đọc những gì trong đó. Chưa bao giờ chị thấy anh ở trong trạng thái bồn chồn đến thế, hình như anh có một việc quan trọng cần phải quyết định mà lại e dè, hoặc giả anh có một điều bí ẩn kinh khủng thèm được thổ lộ mà lại không đủ gan. Dù gì thì gì, linh tính phụ nữ báo cho Trang biết rằng Hải của chị đang có chuyện. Nếu anh không muốn nói trước, thì tự chị, chị sẽ tìm ra sự thật.

Khi Hải trở về từ bệnh viện vào lúc sáu giờ chiều, anh thấy hai chiếc túi du lịch đặt gọn gẽ cạnh nhau trên sàn nhà, bên chân bàn nước; lá thư bí mật nằm phấp phới dưới chiếc tách trà màu xanh nhạt yêu thích của Trang. Bần thần ngồi xuống ghế, Hải cầm lá thư lên, đọc lại một lần nữa những dòng chữ anh đã thuộc lòng. Khi ngẩng lên, anh bắt gặp đôi mắt Trang đang chăm chú nhìn mình. Bước lại gần anh, chị thì thầm lời xin lỗi:

- Đáng ra em không nên làm thế. Nhưng em chỉ muốn giúp anh đưa ra quyết định. Nếu anh đồng ý, em sẽ đi cùng anh.

Nắm chặt bàn tay lạnh ngắt của Hải, Trang tự hỏi phải chăng mình đã làm đúng điều cần làm? Yêu anh, chị đã chấp nhận biết bao phiền toái không nhỏ của vợ một người nặng lòng quá mức với quá khứ. Anh không tiếc công tiếc của để giúp cho những người đồng đội cũ đã đành, mà cả chị nữa, chị nghĩ mình sẽ bớt yêu anh nhiều lắm nếu anh không hành động như vậy. Nhưng đây là lần đầu tiên chị chủ động bước vào thế giới ấy của anh, đúng vào trường hợp mà chính anh tỏ ra ngần ngại. Có một điều gì đó mách bảo chị rằng anh muốn làm điều này vô cùng mà không đủ can đảm. Chị đã tin là mình làm đúng mặc dù đến khi ngồi bên anh trên chiếc xe đang lướt êm trên đường cao tốc, chị lại không hiểu tại sao mình lại quyết định đi cùng anh và liệu làm thế này có nên không. Và cũng vậy, đến tận lúc này, chị vẫn chưa hết bối rối. Ngôi nhà thờ họ cũ kỹ âm u như trong Liêu trai và người đàn bà đứng tuổi mà vẫn đẹp óng ả kia thật giống như một ả hồ ly tinh hiện hình. Một thoáng bối rối ban đầu đã qua mau và họ nói chuyện với nhau như những người thân thiết. Trang kinh ngạc nhận ra giọng nói của người ấy thuần khiết Hà Nội. Một phụ nữ Hà Nội chuẩn ở giữa một vùng quê cách Hà Nội ngót ngàn cây số, đó không phải là điều đáng ngạc nhiên hay sao. Bắt gặp vẻ ngạc nhiên trong mắt Trang, người đàn bà kín đáo mỉm cười. Dầm tay trong chậu nước giếng mát lạnh, Trang để mặc trí tưởng tượng lôi kéo mình đi ngược lại tuổi trẻ của người ấy, nơi chẳng biết đã có chuyện gì xảy ra giữa họ: Hải và Bích.

Bữa cơm tối trôi qua trong một bầu không khí thân mật và vui vẻ nếu không kể đến vẻ bồn chồn của Hải. Dường như anh đang chờ đợi một điều gì đó.

*

* *

Đêm cuối tháng mịt mù, khu vườn trước nhà chìm trong bóng tối. Im lặng ngự trị cả vùng quê. Không có gì ngoài tiếng cây xì xào trong gió. Ngay cả lũ ve cũng đã tắt tiếng sau một ngày khản giọng hòa ca. Bâng quơ, người đàn bà thả một tiếng thở dài vào im lặng. Có vẻ như sẽ không gì khuấy động sự yên tĩnh kỳ diệu này nếu từ phía cổng tre không vang lên những tiếng lốc cốc tựa tiếng mõ trâu và chỉ ít phút sau, từ bóng đêm, hiện ra một con người kỳ dị với bộ râu tóc rậm rạp bao quanh một khuôn mặt nhăn nhó đễ sợ cùng đôi mắt hấp háy trẻ trung như bị đặt nhầm chỗ. Người đàn ông này chống một chiếc nạng gỗ sần sùi, chính nó là nguyên nhân của những tiếng lộc cộc kể trên.

- Anh Bình! - Người đàn bà reo lên với vẻ vui mừng vô hạn. - Làm sao anh tới được đây, tối tăm thế này mà chân tay thế kia. Ôi em mừng quá. Anh vào đây. Cả vợ chồng Hải cũng đang ở đây. Anh đi bằng gì...

Người đàn ông mới tới giơ cao chiếc nạng lên, phác một cử chỉ cắt dứt dòng lũ hỏi han của Bích. ông ta nghiêm mặt, làm bộ tức giận:

- Dù có phải đi bộ cả đêm thì tôi cũng phải tới. Cô coi tôi là loại người gì? Thằng Hải đâu, gọi nó ra đây!

Hải bước ra. Anh im lặng đứng trước người đàn ông đáng sợ. Ông ta cũng im lặng nhìn anh, một cái nhìn săm soi khó chịu. Họ nhìn thẳng vào mắt nhau một lúc lâu, rồi bất ngờ, người đàn ông cất liếng cười ha hả.

- Được lắm! Mày dám nhìn thẳng vào mắt tao nghĩa là mày đã sống có ích những tháng ngày vừa qua. Lại đây!

Ông ta quẳng chiếc nạng sang một bên và dang rộng hai tay. Hải bước nhanh đến, anh ôm chầm lấy ông và khi anh quay ra, Trang thấy mắt anh nhòe lệ. Thoáng qua khóe mắt chị thấy người đàn bà đưa tay gạt nước mắt. Bất giác, một nỗi xúc động sâu sắc trào đến Trang. Người đàn ông tên Bình lại gần Trang, đưa tay ra cho chị. Chính vào giây phút nắm vào bàn tay chai sần ấy, Trang bỗng thấy như mình đã quen biết con người này từ lâu lắm rồi, như thể bao lâu nay chị vẫn mong ngóng đến giây phút gặp gỡ này đây. Nặng nhọc ngồi xuống ghế, ông hỏi ngay về công việc ngày mai.

- Cháu Nam sẽ đưa hài cốt anh ấy về, chắc là vào khoảng năm giờ sáng. Mọi thứ em đã chuẩn bị đủ cả.

- Họ hàng cậu ấy còn ai không?

- Không còn ai cả. Sẽ chỉ có em và cháu Nam để trở thôi.

Ông Bình gõ gõ lên mặt bàn, chậm rãi nói:

- Cô cho tôi một cái khăn. Tôi là anh em của cậu ấy, tôi cũng có quyền trở.

- Dạ...

Tiếng dạ mênh mang của người đàn bà khiến Trang nao lòng. Chị tự hỏi tại sao anh vẫn im lặng. Tại sao anh không đề nghị được để tang. Nếu đó là một người thân thiết với anh đủ để anh vút bỏ mọi việc để về đây dự lễ nhận hài cốt thì lẽ ra anh nên làm vậy mới phải; nhất là khi người ấy chẳng còn họ hàng thân thiết nào. Mang trong lòng những thắc mắc không dễ hỏi, Trang thao thức trằn trọc đến tận hai giờ sáng và rốt cuộc, chị quyết định trở dậy. Sẽ sàng để khỏi làm người đàn bà thức giấc, Trang xuống giường, rón rén đi ra phía gian chính và giật mình khi nhận ra Hải đang ngồi im như tượng trong ánh đèn dầu lờ mờ hắt xuống lừ ban thờ. Môi anh mấp máy, có lẽ anh đang nói chuyện một mình.

Trang lặng người. Chị hiểu ra những âu lo vô cớ của mình mấy ngày qua là có lý. Nửa muốn chạy đến ôm chặt lấy anh, nửa muốn tránh mặt, chị đứng phân vân trong vùng tranh tối tranh sáng. Không biết Trang sẽ đứng đó đến bao giờ nếu một tiếng chim lợn không bất thần xẹt qua khu vườn, làm tan đi vẻ vô hồn trong mắt anh và hướng nó về phía góc nhà, nơi chị đang đứng trong dáng vẻ mờ ảo của một ru hồn.

- Bích à? Có phải Bích không?

- Em đây - Trang trả lời, chậm rãi tiến về phía chồng với dáng cứng nhắc gượng gạo - Sao anh chưa nghỉ?

- Trang à - Giọng anh mừng rỡ - Sao em cũng không ngủ?

- Em không ngủ được. Ta ra ngoài đi.

Hải nhẹ nhàng đứng dậy, nắm lấy tay chị. Họ cùng ngồi xuống bậu cửa gỗ trông ra màn đêm mịt mù. Những tấm phướn ngoài vườn bay phần phật trong gió, nhác trông như những bóng người đang nhảy múa cuồng loạn trong tấm vải liệm. Bất ngờ với cả chính mình, chị hỏi:

- Anh yêu chị ấy phải không?

Anh im lặng, xiết chặt tay chị đến đau tức.

- Anh đã từng yêu cô ấy.

- Đáng ra anh phải nói với em - Chị rút tay về - Em có quyền được biết chứ!

- Anh biết. Nhưng anh sợ. Đây là một câu chuyện xấu hổ.

Trang bất lực tìm kiếm trong bóng tối những biểu hiện của khuôn mặt anh, phải chăng người đàn ông chị yêu đã thốt ra điều đó.

- Xấu hổ? Vì đã yêu ư?

- Không, không phải vì đã yêu. Tình yêu không bao giờ là đáng xấu hổ. Chỉ có điều.

Anh lại im lặng, đầu gục xuống, đôi tay trống trải xòe ra rồi bất ngờ bóp chặt lại, những ngón tay trắng nhợt ngọ nguy trong một cơn giận dữ cố kìm nén. Trang thoáng hoảng hốt, nhưng rồi chị nén mình lại, và cũng như anh, chị im lặng. Chị đợi.

*

* *

Đó là một mùa hè kinh khủng, kinh khủng ở khắp chốn, ở chiến trường ác liệt đã đành, nhưng cả ở đây nữa, trạm quân y tuyến giữa của Hải. Tất cả những gì xảy ra xung quanh, bom đạn, thiếu thốn, cái nóng như nướng người cùng mùi hôi thối của những vết thương đang lở loét từng ngày do thiếu thuốc men cùng phương tiện cứu chữa của hàng chục con người ngổn ngang quanh trạm phẫu dã chiến chỉ rộng vài trăm mét vuông này làm Hải như muốn phát điên. Anh chưa từng chuẩn bị tinh thần để gặp những tình huống này dù rằng tự anh, chứ không phải ai khác, đã cứa con dao mổ sắc lém vào tay để lấy máu viết đơn xin vào chiến trường.

Hai từ "tuyến lửa" ngày ấy vang lên trong đầu Hải, chàng sinh viên y khoa, chỉ đơn thuần như một thứ mỹ lừ mà anh đã lường tượng ra cái khung cánh đẹp như mơ của rừng già Trường Sơn, nơi anh sẽ lập rất nhiều kỳ tích, cứu sống được không biết bao nhiêu con người và trở thành anh hùng trong mắt của bao cô thanh niên xung phong xinh đẹp. Và hãy để con người đẹp nhất trong số các cô gái quanh đấy phải nhìn nhận anh đúng với những gì anh có - dũng cảm, tài năng và cao thượng - chứ không phải là một anh chàng thư sinh non nới và yếu đuối. Dù gì thì ý nghĩ này cũng an ủi được Hải đôi chút trong những phút ngã lòng và làm anh bớt áy náy khi nghĩ đến vẻ mặt rạng rỡ tự hào của cha khi ông nghe tin anh xung phong ra trận. Ông đã cúi gầm mặt mấy năm trời, không dám nhìn mặt họ mạc xóm giềng kể từ khi Sơn, anh trai Hải, không hiểu vì cớ gì được miễn gọi nhập ngũ với một lý do không ai tin nổi - bệnh tim. Nói không ai tin nổi là vì Sơn to khỏe như một con gấu. Mùa đông anh la vẫn đứng bên cái bể nước chung của cả khu lập thể dội nước tắm ầm ầm, làm bắn lung tóe lên các bà già. đang ngồi nhặt rau vo gạo quanh đấy, mồm huýt sáo vang lừng. Người ta nói rằng tờ chứng nhận bệnh tim đó là do ông Liên, giám đốc một bệnh viện lớn nhất nhì Hà Nội, đồng thời là cha của người yêu Sơn, cấp cho. Đó là họ nói ra nói vào như thế, còn trong nhà Hải không một ai nhắc tới điều này, kể cả cha anh. Ông thuộc típ người yếu đuối và sợ sệt con cái như nô lệ sợ ông chủ. Một năm sau khi Hải vào mặt trận, ông chết trong một đợt ném bom của Mỹ, ngay bên bức tường Đại sứ quán Pháp, nơi ông vẫn ưa đi dạo ngày ngày với một sự an tâm rất trẻ thơ rằng đấy thực sự là nơi an toàn nhất giữa cái thành phố lỗ chỗ bom đạn này. Hải không bao giờ tìm thấy mộ ông, nó đã thất lạc sau bao lần vật đổi sao dời và cả bởi sự vô tâm đến vô hình của Sơn. Ông Liên đã chết, chết trong cô đơn và ân hận, như Hải đã được biết qua những người hàng xóm của ông.

Suốt cái đêm kinh khủng ấy, Hải giấu mình trong bóng tối, má vẫn nguyên cảm giác bỏng rát sau cái tát của Bình, tim nhức nhối một cảm giác nhục nhã đến nỗi chỉ muốn chết đi, tan biến hẳn đi để không bao giờ còn phải nhìn vào mặt bất kỳ ai nữa. Bích đã trở về từ xẩm tối, đi lướt qua lều anh như một bóng ma, khuôn mặt bệch bạc màu xác chết. Trong ánh sáng hoe hoắt cuối ngày, Hải vẫn kịp nhận thấy bàn tay cô nhuộm một màu đỏ bầm của máu và đất. Vậy là anh hiểu. Chằm chằm nhìn vào khẩu súng lục từ nãy vẫn nắm chặt trong bàn tay ướt nhoét mồ hôi, Hải nghĩ về sự giải thoát sẽ đến chỉ sau một động tác đơn giản và gọn ghẽ. Chỉ một cái gập của ngón tay trỏ, thế là sẽ không còn ân hận, giằn vặt, không còn cả Bích, cả Vinh nào ám ảnh nổi anh nữa. Chẳng gì dễ chịu hơn thế, xin lỗi và vĩnh biệt!

Rất có thể Hải đã làm thế nếu không có một sự tình cờ can thiệp: Chính khi Hải nhắm mắt, há mồm hớp lấy ngụm dưỡng khí cuối cùng, nòng súng lạnh tanh áp sát thái dương thì đồng thời vang lên những tiếng lao xao từ phía con đường mòn, tiếng quẹt diêm và bừng lên trước mắt anh, trong quầng sáng nhỏ nhoi của que diêm là khuôn mặt tái dại của Bích. Không nhìn thấy vẻ giật mình lúng túng của Hải, Bích chỉ nói ngắn gọn "Thương binh" rồi quay lưng bước vội đi. Bao nhiêu năm sau, mỗi khi nhớ tới khoảnh khắc đó, Hải lại tự hỏi không biết cô ấy sẽ làm gì nếu biết anh định tự tử. Anh tin là cô sẽ ngăn anh lại, nhưng không biết điều này có ảnh hưởng gì tới thái độ của cô sau đó không; liệu cô, dù một chút thôi, có tha thứ cho anh không? Hải không thể nào tìm được câu trả lời. Loang loáng trong sân trại, những ánh đèn pin quét nhoang nhoáng trên mặt đất, cùng với nó là những tiếng chân rầm rập đập vào não Hải, nhanh chóng lôi anh ra khỏi cơn u uất. Không có thời gian để nghĩ đến bất cứ điều gì, ngoại trừ những con người ngoài kia đang cần đến anh. Hải lao ra khỏi lều, nhập vào công việc hối hả và tất cả lại lập lại cái guồng quay trước đó, như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Những mệnh lệnh ngắn gọn của anh được thi hành một cách nghiêm chỉnh và chính xác. Không có những cái nhìn giận dữ, những vẻ mặt lạnh lùng khinh miệt. Cuộc chiến của những người áo trắng diễn ra liên tục suốt đêm và khi bình minh ló rạng trên khu rừng nhiệt đới, báo hiệu sự trở lại của mình bằng những giọng chim thánh thót mỗi lúc một mau thì mọi việc cơ bản đã xong. Họ cố thể nghỉ ngơi đôi chút để chuẩn bị cho một ngày làm việc mới. Đây thường là thời khắc kỳ diệu nhất đối với họ, khi được mỉm cười với nhau trong một sự mệt mỏi đầy thỏa mãn của những người tự tin rằng mình đã làm tròn nhiệm vụ. Đôi khi họ đau buồn vì thấy bất lực trước bom đạn và số phận, nhưng chưa bao giờ họ phải xấu hổ. Hải đã từng yêu giây phút ấy, cũng như giờ anh sợ nó. Khi khoác chiếc áo trắng trên người, họ là đồng đội, nhưng khi cởi nó ra, anh trở lại là kẻ tội đồ trong mắt mọi người và chính bản thân. Dù rằng tất cả mọi người, kể cả Bích, đều tin Hải sẽ không khi nào cho phép Vinh lên đường trở về đơn vị vào cái ngày định mệnh ấy nếu anh biết cái gì đang chờ Vinh trên đường, song không vì thế mà anh vô can. Chỉ cần sử dụng một lập luận vô cùng đơn giản rằng Hải, người bác sĩ chính, trực tiếp mổ và theo dõi điều trị cho Vinh, tất nhiên phải nhận thấy rằng Vinh chưa thể đủ sức trở lại chiến đấu, thậm chí là trong vòng một tháng nữa, vậy mà lại ký giấy cho phép xuất viện, đủ cho thấy đây là một hành động thiếu trách nhiệm và vô lương tâm, dù là xét trên phương diện nghề nghiệp hay con người thuần tuý. Cho dù Vinh thoát khỏi quả bom năm tấn ấy thì cũng chẳng ai dám chắc rằng anh sẽ không gục ngã trên đường tìm về đơn vị. Một cái tát của Bình là sự trừng phật quá nhẹ nhàng cho tội ác đó. Hải mong muốn tự sâu trong thâm tâm rằng Bích hãy trừng phạt anh, thậm chí giết anh cũng được. Hay chí ít, cô hãy gào khóc và rủa xả anh, hãy nhiếc móc và căm thù anh. Tất cả, miễn là đừng đối xử với anh bằng vẻ im lặng khinh bỉ này.

*

* *

Bích ngồi lặng trong bóng tối, lắng nghe những lời tâm sự của Hải. Chị biết anh đã từng rất ân hận và dày vò, nhưng chị không ngờ rằng anh đã định tự tử. Thật may là điều ấy đã không sảy ra, nếu không, lòng chị làm sao đủ sức chứa thêm một niềm ăn năn nữa. Bích tin mọi việc đã không xảy ra tồi tệ thế nếu trước đó chị chưa tỏ ra thân thiện hơn với Hải. Chính điều ấy đã khiến anh ta bị sức khi Vinh tới. Quả thật, vào đến nơi này, Bích mới hiểu ra rằng Hải khác rất nhiều so với anh trai anh ta, người yêu của chị gái Bích. Nếu Sơn tầm thường, thực dụng và cáo già bao nhiêu thì Hải lại ngây thơ, yếu đuối bấy nhiêu. Bấy nhiêu chưa đủ để Bích yêu anh nhưng cũng đủ để biến sự coi thường trước đây thành một tình bạn chân thành từ phía cô. Còn Hải, chưa bao giờ anh muốn coi Bích là bạn. Bích hiểu rõ điều đó qua những cái nhìn như có lửa của anh. Chị dám tin rằng chưa bao giờ mình có chủ ý khiến anh hiểu khác đi về mối cảm tình giữa họ, song rừng xanh núi đỏ và nỗi cô đơn vắng vẻ chắc gì đã không khiến chị có đôi ánh mắt khác thường và những nụ cười không kiểm soát. Nếu Hải có nảy sinh lòng ghen tức quá đáng ấy thì lỗi lầm cũng không chỉ thuộc mình anh ta.

Từ ba hôm trước, Vinh đã có vẻ nóng lòng sốt ruột muốn đi. Anh là một chàng trai dũng cảm và rất giàu sĩ diện. Anh không chịu nổi cái ý nghĩ rằng mình sẽ còn phải lay lắt ở đây đến tháng trời nữa trong khi những đồng đội đang xông pha nơi chiến trường. ý nghĩ rằng mình hèn kém và lẩn trốn nhiệm vụ cứ đeo bám anh như đỉa, chỉ trừ những lúc có Bích ở bên. Cứ có người ở ngoài trạm tạt qua là anh cuống quít hỏi xem đơn vị mình đang ở đâu rồi cả đêm ấy lại trằn trọc thở than.

- Anh ấy sinh ra để làm trai thời loạn. Bích nên hiểu cho anh ấy.

Bắt gặp Bích đang giận giữ ngồi vặt cỏ bên suối sau một hồi khóc lóc thuyết phục Vinh, Hải đưa ra một lời khuyên. Lời nói ấy ở miệng người khác thì đã an ủi được cô rồi, đằng này lại là của Hải. Thất kinh nhìn ánh mắt trợn trừng giận dữ của Bích, Hải vội vã rút lui. Ngày hôm sau, lợi dụng lúc Bích vào rừng hái rau, Vinh tìm Hải. Anh đòi ra viện. Nếu Bích ở nhà, nhất định cô sẽ không cho phép và rất có thể, cả anh cũng không muốn ra đi. Đầu tiên Hải kiên quyết phản đối. Anh biết Vinh còn rất yếu chưa thể đủ sức ra viện và anh cũng thừa biết dù anh có từ chối thì Vinh cũng không từ bỏ ý định xin về đơn vị. Viện cớ rằng phải chờ hội ý với bác sĩ Bình, anh yêu cầu Vinh chờ đến ngày mai. Đúng thật, Vinh không phải là người đễ từ bỏ ý định, anh ta bám sát lấy Hải, nì nèo nửa ngày trời. Vinh quá trực tính và phóng khoáng, anh không hề biết về mối quan hệ tế nhị giữa Bích và Hải, càng không biết rằng Hải ghét anh như đào đất bỏ đi, vì vẻ hăng hái đầy nam tính và quyến rũ một cách tự nhiên của Vinh đã khiến Bích phải xiêu lòng. Hải thẳng tay ký cái roẹt vào tờ giấy ra viện. Thế là Vinh khoác ba lô, chào mọi người, hớn hở ra đi. Anh nhờ Hải chuyển lời chào Bích.

- Tôi sẽ viết thư cho cô ấy. Nhờ anh nói hộ Bích hãy chờ tôi?

Nếu lúc ấy Hải có ý định giữ Vinh lại, thì lời nói ấy cũng đã làm nó tan thành mây khói. Mười lăm phút sau Bích về. Cô lao theo Vinh không chậm trễ. Năm phút sau, một tiếng nổ lớn phát ra từ phía con đường, có lẽ một quả bom nổ chậm bị sót đã phát nổ. Đất rung nhẹ dưới chân Hải.

*

* *

Hải không nghĩ đến chuyện tự sát nữa vì anh hiểu rằng làm việc tốt là cách duy nhất để chuộc tội. Nhưng trong những giờ yên tĩnh, nhìn trộm Bích lặng lẽ như cái bóng qua khe thủng hẹp tí của tấm bạt căng trước cửa lều, Hải lại muốn một phát súng vào đầu. Khoảng hơn nửa tháng sau cái chết của Vinh, Hải tình cờ bắt gặp Bích nôn oẹ sau tảng đá lớn gần con suối cạn. Bằng hiểu biết của một bác sĩ cộng với linh tính của kẻ đang yêu, anh nhận ngay ra sự thật. Từ hôm ấy, anh cố gắng chăm sóc cô một cách thầm lặng, nhưng Bích đã nhận thấy và lừ chối những đặc cách anh dành cho với một vẻ kiêu hãnh lạnh lùng.

Trong suốt thời gian ấy, Bình cảnh giác trông chừng Bích. Anh cũng thầm yêu Bích nhưng khác với Hải, anh không nuôi trong lòng mối ghen tuông đối với Vinh - chàng trung đội trưởng may mắn ấy. Kể từ khi nhận ra Bích yêu Vinh, Bình đã chấp nhận trở thành người bạn trung thành của họ. Anh đã cố gắng hết sức để giữ cho mối tình đơn phương ấy mãi ở trong bí mật. Anh không muốn Bích phải áy náy cho mình. Với anh, chỉ cần cô vui vẻ là đủ. Chỉ Hải nhận ra mối tình si ấy và đấy cũng là một lý do khiến anh không ưa anh chàng cục súc và nhiều khi vô cùng lỗ mãng này. Bình không phải là một mẫu người đáng yêu cho bất cứ cô gái nào. Nhưng để bù lại phần chưa hoàn thiện ấy, anh lại là một con người vô cùng trung thực và cao thượng. Không bao giờ anh có thể hiểu nổi tại sao có những kẻ sẵn lòng làm bao điều độc ác đê hèn nhân danh tình yêu. Anh gằn giọng, cười khinh bỉ "Yêu ư? Vì yêu ư?". Cái giọng cười nức nở trong họng của anh vẫn ám ảnh Hải cho mãi đến những năm sau này, khi cánh rừng cháy rụi vì bom napan và khét lẹt mùi thịt cháy đã đi vào dĩ vãng. Thật may là hôm trận bom đổ xuống trạm, Bích đi vắng. Hải đã không biết bao lần thắp hương khấn tạ ông trung đoàn trưởng, người đã khăng khăng kỷ luật Bích bất chấp sự bênh vực của Bình và Hải, người chịu trách nhiệm chính ở trạm. Nếu hôm ấy cô không phải lên trung đoàn làm kiểm'điểm thì chắc gì đã còn sống sót và cái mầm sống nhỏ nhoi kia cũng sẽ mất cơ hội hưởng ánh sáng mặt trời. Cầu cho ông yên nghỉ, người trung đoàn trưởng vô cùng nguyên tắc nhưng cũng vô cùng dũng cảm và tài năng ấy. Hai năm sau mùa hè khốn khổ của Hải, ông đã hy sinh trong một trận đánh lớn ở Quảng Trị. Trong tất cả những việc ý nghĩa ông đã làm được trong đời, có bao giờ ông biết được một việc tưởng chừng như rất nhỏ nhưng lại xiết bao vĩ đại - nhờ có ông, một đứa trẻ đã thoát khỏi hàng trăm tấn bom đạn Mỹ.

Phải có một sự thần kỳ can thiệp thì Hải mới có thể sống sót qua trận bom này, khắp người xây xát, phủ đầy bụi, bụi ở cả trong mồm, trong mũi, trong tai, điếc đặc nhưng không có một vết thương nào đáng kể, thậm chí là ở phần mềm. Loạng choạng chui lên từ đống đất cát lỏn nhỏn, giữa những đám lửa ngủn ngút cháy, Hải gào thét gọi tên mọi người. Anh chạy như điên từ đống đá này sang đống đá khác, bới tìm bằng mười đầu ngón tay, nước mắt lã chã tơi hòa lẫn với mồ hôi túa khắp mặt, khắp người. Im lặng ngự trị trong đầu anh, làm trí não tê liệt trong một nỗi sợ hãi không gọi được tên. Không còn gì. Không còn ai. Trong cơn tuyệt vọng, Hải đập đầu vào tảng đá ven suối, không hiểu sao, cũng may mắn như anh, nó chưa bị xé nát thành những mẩu vụn. Qua dòng máu túa đỏ giàn giụa trên mặt, Hải nhận thấy một bàn tay quờ quạng chui lên từ mặt đất, ngay dưới chân anh.

Sáng hôm sau, khi Bích trở'lại, ở chỗ trước kia là trạm quân y tuyến giữa Suối Cam, cô thấy hai người đàn ông đang nằm bất tỉnh bên nhau, giữa đống hoang tàn vẫn đang lên khói nghi ngút.

Một tháng sau, cô cùng Bình được lệnh ra Bắc. Hải ở lại chiến trường. Rất nhiều người lính mãi sau này vẫn nhớ tới một bác sĩ Hải lận tâm và nhiệt tình, người đã cướp lại mạng sống của họ từ tay bom đạn, sốt rét bằng một ý chí ngoan cường và một bàn tay vàng. Tiếc là anh không thích những cô em gái của họ, vì có biết bao người muốn gả em gái cho vị ân nhân cứu mạng này! Phải tới hơn chục năm sau, sự ngây thơ trong sáng và dịu dàng của Trang mới xoa dịu trong anh nỗi day dứt về cái mùa hè ấy. Nhưng anh vẫn chưa bao giờ lấy lại được sự thanh thản. Nó đã nằm lại cùng Vinh trong cây và đất Trường Sơn.

*

* *

Trang bàng hoàng nhìn ra ngoài xa, trên rặng tre, rạng đông đã đến tự lúc nào trong dải áo lụa hồng và đánh thức lũ gà trống trong xóm dậy khoe giọng râm ran. Làng quê thanh bình và hạnh phúc đến nỗi Trang ngờ rằng câu chuyện vừa rồi chỉ là lời thì thầm của thán mộng. Lẽ nào những con người bình dị này đã phải trải qua những giây phút kinh khủng đến vậy. Lẽ nào anh đã phải sống trong ăn năn bao nhiêu năm qua. Tại sao chị lại không nhận ra, hay chị yêu anh chưa đủ? Cuộc tìm kiếm sự tha thứ của anh bao giờ mới chấm dứt đây, anh đã làm tất cả để chuộc lỗi, đến bao giờ họ mới tha thứ cho anh? Hàng loạt những câu hỏi dồn dập hiện đến, Trang vặn vẹo đôi tay trong tuyệt vọng. Bất chợt chị quay ngoắt đầu lại, nhìn vào trong nhà như tìm kiếm câu trả lời. Trong ánh sáng mờ nhạt của buổi bình minh, Bình và Bích đã đến bên họ tự bao giờ, Bình đang giơ bàn lay sần sùi đặt lên vai Hải.

Trang thấy mình mê đi trong niềm hạnh phúc được tái sinh, khi những con người bình thường mà cao thượng ấy bước ra khu vườn đã tắm mình trong một buổi sớm tinh mơ đẹp nhất trần gian.








Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Gió trên đồng

Nguyễn Kim Châu

Sụp tối, trời mưa như trút. Cả một giang đồng trắng xóa những nước là nước. Y ngồi trong lều, cạnh bếp lửa, còn người đàn bà thì co ro gần cửa. Ngoài đồng lớn nên gió cắt lạnh, ù ù thổi, sức muốn bật tung cái mái lều tạm bợ. Y chực nghĩ: Ðã cho người ta trú mưa, còn tiếc chi bếp lửa. Ðúng là thị đang lạnh, cái áo xám ướt nhèm, bám riết vào mảng lưng thon lẳn, đôi vai run thảng thốt trong cái thế ngồi co quắp. Chốc chốc, con mắt thị lại liếc nhanh về phía bếp lửa. Ðành vậy, y ngoắc tay. Thị bò lại, rón rén ngồi nép vào một góc chìa hai bàn tay hơ lửa. ánh lửa cháy sáng khuôn mặt hốc hác, trắng bệch của người đàn bà. Thị không đẹp, cũng chẳng xấu lắm, lại có duyên ngầm trong đôi mắt sắc sảo. Khi nhìn thẳng, con mắt ấy đủ sức giết chết khối thằng, ấy vậy mà, thị ít khi nhìn thẳng, chỉ cúi nhìn đất như một thói quen, một kiểu nhẫn nhục của lớp phụ nữ nông dân hay lam hay làm. Rồi y lại nghĩ: Mặc thị, mình còn phải ăn cơm. Vậy là, y dọn cơm ra: Một niêu cơm to đùng, một nồi cá kho thơm lừng mùi nước mắm đồng, một chai rượu chỉ còn phân nửa. Y xới cơm nhưng chưa ăn vội, khà khà quất thẳng một ly đế đầy rồi lại ngẩn ra nhìn người đàn bà. Thật là phiền, chẳng lẽ mình ăn lại để thị nhìn miệng. Dụ dự một lúc, y phẩy tay hỏi trống không: "¡n cơm nghe?". Người đàn bà nhìn y, lạ lắm. Giọt ánh sáng đỏ thẫm phản chiếu từ ngọn lửa in trong đôi mắt mở to của thị khiến y chợt rùng mình. Y tránh đôi mắt đó bằng cách xoay người lấy thêm cái chén, xới đầy cơm rồi đặt trước mặt người khách bất đắc dĩ. Thị ăn liền mấy chén đầy, cứ lặng thinh, chậm rãi mà ăn hệt như cái lều này là nhà thị vậy. Giờ thì y thoải mái hơn để làm ly thứ hai, cũng thật đầy. Men rượu bốc lên đầu làm y đâm ra nghĩ ngợi. Y nghĩ về người đàn bà. Lần đầu tiên, y được nhìn thị thật gần. Trước kia, y cũng hay gặp thị. Năm này sang năm khác, ngày nào cũng vậy, sáng sớm, thị đã có mặt ngoài đồng, cặm cụi trên mảnh ruộng nhà mình. Thị siêng lắm, siêng đến mức khó hiểu vì có lúc thị ra đây mà chẳng có việc gì để làm, chỉ ngồi thẫn thờ dưới gốc cây trâm bầu, trưa nắng thì úp chiếc nón lá rách tươm lên mặt mà ngủ, trời sụp tối vẫn còn lấn bấn mãi trên bờ ranh đầy cỏ. Chừng như, thị không muốn về nhà. Rồi lâu dần, y cũng quên béng thị đi, có gặp mặt cũng chẳng một lời chào. Tính y vốn vậy.

Ðược một chốc người đàn bà không ăn nữa mà dụ dự nhìn ly rượu còn đầy bên cạnh chén cơm cũng đầy của y. Rất hờ hững, y hỏi: "Muốn uống hử?" Thị nhè nhẹ gật đầu. Y chưng hửng. ừ, mà có sao đâu! Mặc xác thị! Này, thì uống đi! Thị uống thật, trông cái bộ điệu đà đến là tức cười! Thoạt tiên, thị cứ nhìn mãi ly rượu trên tay mình hệt như nó là ly thuốc độc, rồi thị nhăn mặt, khịt mũi, hít một hơi thật dài để nín thở trước khi trút lọt thứ nước đùng đục vào cổ họng. Cũng may, thị không bị sặc, chỉ hơi tức ngực thì phải! Y nhếch mép cười, hỏi trống không: "Sao không muốn về nhà?". Thị trả lời lí nhí "Nó đánh!". Y lại hỏi: "Ai?". Thị trả lời: "Chồng tôi. Chiều nào nó cũng say. Hễ say là nó đánh". Nói đến đó, thị lại nhăn mặt cố nốc thêm một ly nữa. Y không cản mà bật cười, nụ cười thốt nhiên mà méo xệch đi. Hèn gì - y nghĩ - chó bị đánh mãi còn chạy, huống gì người. Buồn tình, y lại quất thêm ly nữa rồi trầm ngâm nhìn trời mưa. Tiếng mưa mới buồn làm sao, cứ rào rào, rào rào. Bất giác, y thấy lạnh, cái lạnh tê tái ở đâu đó trong lồng ngực.

Khi y quay lại thì người đàn bà đã ngã dúi dụi ra đất. Say rồi! Ðã nói mà, có uống được rượu đâu! Mặc, cứ để thị nằm đấy, hết mưa, y sẽ gọi dậy mà về. Y bưng chén cơm lên, gằm mặt ăn. Lạ thật, sao cơm cứ nhạt như giấy vụn. Nhưng... lỡ thị bị trúng gió thì sao? Hà, thật là phiền. Y bò lại chỗ người đàn bà đang ngủ, lay vai thị: "Dậy, dậy đi!". Thị vẫn nằm như chết, gương mặt đỏ bừng, khóe môi trĩu xuống thành một nụ cười nặng nhọc. Ðành vậy, y lòn tay qua lưng người đàn bà, xốc thị lên chiếc chõng tre. Ngẫu nhiên mà tay y run bắn khi tiếp xúc với tấm lưng chắc nịch, ấm cúng của người đàn bà. Rồi cánh tay thị chợt quàng qua cổ y, ghì sát xuống... Y gượng lại! Trong khoảnh khắc, nơi cái đầu hưng hửng vì rượu của y vụt thoáng qua một tia chớp, một ý nghĩ nào đó mà y không nắm bắt được. Nó đã thoát ra ngoài bầu trời vần vũ. Hoặc giả, nó đã lặn mất trong vùng ngực no tròn, trắng nhẫy, đột ngột hiện ra ngay trước mắt y bởi những chiếc cúc trên áo người đàn bà chợt bật tung lúc nào chẳng rõ. Theo đà ghì sát của cánh tay, y áp khuôn mặt nóng bừng bừng của mình vào cái vùng da thịt mềm mại, mát lạnh như sương sớm ấy trong lúc ngọn gió lồng qua lều vô tình thổi tắt ngọn đèn dầu leo lét. Bóng tối và tiếng mưa ầm ào xóa được hết những mặc cảm, dè dặt, sự khinh bỉ, nỗi khiếp sợ trước một hành vi mà nền văn minh đạo đức của người đời tàn nhẫn lên án...

... Rồi mưa tạnh. Rồi ngọn lửa trong người y và người đàn bà lụn dần sau giây phút tỏa sáng rực rỡ. Y nằm yên lặng, trong lúc người đàn bà trở dậy, chậm rãi mặc lại xống áo. Y chợt nghĩ về mình, về một điều gì đó gần như là một nguyên tắc sống kể từ lúc y dựng lên căn lều này và trở thành một gã chăn vịt chạy đồng mạt hạng. Rồi y bật dậy, mò tay vào vách lôi một gói tiền, số tiền dành dụm, lẳng lặng đếm, cố làm ra vẻ thật bình thản khi chìa những tờ giấy bạc về phía người đàn bà, thị nhìn tiền, rồi nhìn y lâu lắm. Có cái gì đó như là sự ngỡ ngàng, xa xót lướt qua đôi mắt mở to, ươn ướt của thị làm y chực mủi lòng. Nhưng mà không được! Phải sòng phẳng và ... hết! Y trừng mắt như ra lệnh khiến thị hoảng hốt thò tay cầm lấy tiền rồi lò dò ra ngoài lều. Y ngồi phịch xuống chõng, thở hắt ra, lắng nghe tiếng dầm khuấy nước trong cái tĩnh lặng của đất trời sau cơn mưa. Lòng y chợt quặn thắt một nỗi buồn...

Trăng lên. Trời trong vắt và sâu thẳm. Y cảu nhảu quẳng cái mền rách qua một bên, lồm cồm ngồi dậy, vấn thuốc hút. Quái lạ, sao mà không ngủ được! Sao mà quanh y nồng gắt cái mùi đàn bà! Sao cái gì đó cồm cộm vẫn đang cựa quậy trong y: những dư ba của khoái cảm xác thịt đã lâu mới được thụ hưởng, cái đau tê của dấu móng tay người đàn bà trên ngực y hay là những hồi ức về nỗi đau đã trôi qua trong đời y nhiều năm về trước...?

Y lắc cái đầu bù xù, cố tự nhắc mình đừng nghĩ ngợi nữa. Mà khổ nỗi... người đàn bà đêm nay vô tình đốt lại cái bếp lửa đã tàn than trong lòng y, nhắc cho nhớ rằng, có một thời nào đó, xa lắc xa lơ, y từng có một gia đình, một người vợ, một đứa con và những tháng năm tạm gọi là hạnh phúc. Rồi một ngày đẹp trời nào đó, vợ y bỗng biến khỏi cuộc đời của gã thầy giáo nghèo trường làng và hiện ra trong căn biệt thự lộng lẫy của thằng ma cô giàu lên nhờ buôn lậu. Con y cũng biến mất, đứa con gái đẹp như thiên thần của y! Nó chết vì sốt xuất huyết trong lúc mẹ nó bỏ nhà ra đi, còn cha nó thì lồng lên trong cơn ghen tuông, thù hận... Y thù con đàn bà phản bội đến mức bỏ nghề dạy học, trở về làm thằng chăn vịt, sống trong căn lều xa làng, tự nghĩ sẽ chẳng bao giờ tin vào mụ đàn bà nào nữa để rồi bị phản bội. Y sống đơn độc, ghẻ lạnh như một thằng điên hiền lành và tâm đắc lắm với cái đời sống lạ lùng này. Giờ thì y bình thản hoàn toàn trước cái được và cái mất của cuộc đời. Nỗi đau, nó đã lặn vào tim, nó nhắc cho y nhớ rằng cần phải tránh xa mọi cạm bẫy.

Nhưng mà... đến là khổ! Sao y vẫn cứ thừ người ra, vẫn cố tình trông ngóng? Sao y cứ thấy cay cay ở mắt khi nhận ra cái mùi nồng gắt lạ lẫm lẩn vẩn đâu đó trên chăn chiếu? Sao cái dấu móng tay sâu hoắm trên ngực y vẫn lặng lẽ đau? ... Ba ngày rồi, thị không đến! ừ, mà sao y lại phải buồn? Mọi việc đều đã sòng phẳng và ổn thỏa. Cứ quẳng tiền vào mặt nó. Thế là xong hết, không phải liên hệ, không cần lo lắng, không ghen tuông, thù hận. Y ngẫm nghĩ và bật cười một mình. Xem ra, cái cách trả thù đàn bà của y cũng hay hay dù, xưa nay, y chưa từng một lần đi chơi điếm. Nhưng... thị nào phải là một con điếm! Y nhớ cái ánh mắt ngỡ ngàng của thị khi y chìa tiền ra, ngổ ngáo như một thằng ma cô thực thụ. Y chưa từng nghĩ rằng mình lại có thể tệ đến vậy. Hà, mà sao y lại phải nghĩ ngợi nhiều như vậy? Mặc xác thị, muốn nghĩ sao thì nghĩ! Thị có liên quan gì đến y kia chứ?

Khi y vừa cố tâm thoát khỏi được cái cảm giác ngóng trông khoắc khoải thì người đàn bà lại đến. Từ sáng sớm, y đã thấy thị lom khom trên mặt ruộng nhưng cố tình quay mặt đi, thản nhiên lùa vịt ra đồng. Y về sớm hơn mọi ngày, chẳng biết vì sao y làm như vậy trong khi đầu y lại nghĩ rằng: Sẽ tốt hơn nếu câu chuyện hôm trước chỉ là một giấc mơ hão huyền. Nhưng không, y nghe có tiếng khuấy nước trên dòng kênh. Qua khe hở trống toác trên vách lều, y thấy người đàn bà từ dưới nước lên, nửa thân người trên cứ để trần, ướt nhẫy, chậm chạp đi về phía lều hệt như đây mới chính là nhà của thị. Giữa cái nhập nhoạng của ngày và đêm giao nhau trong căn lều ẩm thấp, y đứng lặng lẽ chờ đợi, thản nhiên đón nhận cái thân thể nóng bừng bừng của người đàn bà, lôi thị xuống cái chõng tre xiêu vẹo, thản nhiên giải tỏa những ẩn ức, những chờ mong khắc khoải, rồi hết sức thản nhiên chìa tiền ra cùng với một câu cụt ngủn: "Tối rồi, về đi!". Người đàn bà nhận lấy tiền, mặc vội xống áo, dò dẫm đi ra cửa, không một lần ngoái lại... Những sự việc "thản nhiên" như vậy cứ tiếp nối nhau đều đặn mà không buồn chán. Cả hai như những kẻ đói khát dài ngày, giờ được ăn thì ăn mãi, vừa no xong đã thèm, đã bị day dứt bởi cái tâm thế dự phòng.

Bởi thế, khi phát hiện ra cả đống tiền dành dụm nhỏ nhoi của mình bị hết sạch cho "những buổi chiều thú vị", y đâm ra hoảng loạn và đau khổ như một kẻ chợt nhận ra mình đã nghiện ma túy. Y chết lặng người đi trong cái đêm phải chìa những tờ giấy bạc cuối cùng ra. Vẫn cố bình thản, y nói: "Ðừng tới nữa! Hết tiền rồi". Thị nhìn y. Chẳng biết đây là lần thứ mấy, nụ cười ma quái trên môi người đàn bà làm y chợt rùng mình. Và thị vẫn lấy tiền, vẫn thản nhiên đi ra cửa không một lần ngoái lại. Chiều hôm sau, y cố tình về trễ. Y sợ phải về lều. Phải sòng phẳng - y nghĩ - rồi y sẽ có tiền. Lúc ấy y sẽ lại chi trả cho những giờ phút thanh thản. Còn bây giờ thì không, nhất định là không...

Nhưng người đàn bà vẫn cứ đến. Lờ mờ nhận ra thị vẫn ngồi trên cái chõng tre, y khựng người, thẫn thờ nhìn, mãi sau mới rít lên khe khẽ: "Ði về, đi!" Thị vẫn ngồi yên, đầu cúi xuống. Y lại hét, lần này to hơn, dữ tợn hơn, giọng lạc đi, cứ khản đặc, ồm ồm như là giọng người khác. Vẫn yên lặng! Mẹ kiếp! Có tức không. Y xộc vào lều, xô bệt người đàn bà ra khỏi cái chõng. Cả thân thể mềm nhũn của thị chợt khuỵu dưới chân y và lúc đó, y sững người khi thấy những giọt nước mắt đang chảy lặng lẽ trên gương mặt người đàn bà. Chao ôi, nước mắt! Bao nhiêu lần, y đã chết ngộp, đã vật vã đau đớn trong những vùng nước mắt ngập ngụa của người vợ phản bội! Vậy mà sao, y vẫn cứ thấy tê lòng, chợt dịu đi: "Cô muốn gì?". Thị vẫn làm thinh mà khóc, lâu lắm mới ngẩng mặt lên, đôi mắt mở to, đằm thắm, xoáy vào y một cách dạn dĩ điều mà y chưa bao giờ ngờ được - và rồi, thị nói, giọng lí nhí, run run: "Tôi... muốn làm vợ anh!". Y chết sững người mất một lúc. Cái vết thương trong ngực lặng lẽ nhói đau khiến y rùng người. Không, không thể có chuyện đó. Y đã thề rồi mà! Y đã chán ngán thật rồi mà! Y như con chim bị tên suýt chết, nó không thể lao đầu vào một cái bẫy khác. Y cố sức lắc đầu, giọng khản đặc: "Không... không được". Người đàn bà bật khóc thành tiếng rồi bỏ chạy ra ngoài trời. Có tiếng khuấy nước vội vã trên dòng kênh, tiếng thở dài rất khẽ lẫn trong tiếng gió lộng tứ bề...

... Nhiều ngày trôi qua... hai tháng trôi qua... thị không đến nữa. Khoảng thời gian đó vừa đủ cho người ta kịp quên đi một giấc mơ kỳ lạ nhưng sao y vẫn thấy trống vắng đến tê lòng. Thảng đôi khi, y vẫn gặp người đàn bà lom khom trên mảnh ruộng nhà mình nhưng thị không lấn bấn mãi trên bờ ranh lúc trời sụp tối như trước kia nữa. Bây giờ, y sợ những lúc phải lùa vịt trở về lều. Chạng vạng tối, cánh đồng hoang vu chỉ còn trơ lại vài cái lều của những người chăn vịt giống như y. Họ ở xa lắm! Cái cảm giác cô độc, ghẻ lạnh đè nặng tâm hồn y. Bỗng nhiên mà y có thói quen uống rượu nhiều, mỗi chiều. Không có rượu y không sao ngủ được. Ðôi khi, nửa đêm, y giật mình thảng thốt khi nghe tiếng khuấy nước xa vắng, mơ hồ từ một nơi nào đó trên dòng kênh. Tiếng nước động làm y buồn. Lại ngồi dậy, lặng lẽ cuốn thuốc hút, lại mường tượng ra đủ mọi ngóc ngách của cái miền hoang tưởng mà y đã từng đặt chân vào. Khói thuốc làm y cay mắt. Miệng y nhạt thếch, khô khốc. Ngực y cứ nhói đau trong những cơn xao động âm thầm, khắc khoải. Ðầu y cứ sôn sốt như có lửa. Y cố nấu một bát cháo trắng nhưng cũng không ăn được. Cháo cứ nghẹn cứng trong cổ họng đắng nghét. Rồi y lại uống rượu. Hình như, có rượu, y cảm thấy tỉnh táo hơn, cương quyết hơn. Hóa ra, đôi khi, say cũng có lợi.

Làng đã vào mùa gặt. Tết cũng đã đến bên chân rồi. Lúa năm nay trúng. Người ta hể hả và vội vã mang lúa về nhà để còn kịp sắm Tết. Mấy anh em trong cái hội chăn vịt chạy đồng của y cũng đã bán được lũ vịt vừa đến lứa. Họ làm một buổi tiệc nhỏ, chỉ có cháo vịt và rượu, thật nhiều rượu. Y cũng có mặt trong đám người hả hê đó. Rượu say, câu chuyện cứ râm ran quanh việc tết nhất. Họ sẽ mang tiền về nhà, cho vợ mua cặp dưa, mấy ký thịt; cho con gái, con trai những chiếc áo mới. Ai cũng có một cái nhà để mà về như con chim có tổ, con thú có hang, một chỗ để dừng chân, ngơi nghỉ. Y uống rượu, miệng đắng ngắt, cứ làm thinh mà uống, cứ ngơ ngơ ngẩn ngẩn mà nghe người ta bàn chuyện nhà chuyện cửa. Rồi buồn bã, y bỏ đám nhậu, lén về. Y không về lều mà đi lang thang ngoài cánh đồng, con mắt đau đáu nhìn về phía làng, nơi những mái nhà nhỏ nhô lên khỏi tán cây rậm rạp, quần quận khói cơm chiều. Y ngồi dưới gốc cây trâm bầu, chỗ người đàn bà vẫn thường ngồi, ngẩn ngơ cười, nụ cười méo xệch.

Trở về lều, y thấy một gói nhỏ của ai đó, đặt trên chiếc chõng tre. Y mở nó ra, lặng lẽ nhìn xấp tiền giấy, tờ mới có, tờ cũ có, được xếp theo thứ tự đúng với từng khoản tiền mà y đã đưa cho người đàn bà mỗi đêm. Chiếc khăn gói số tiền đã cũ, những đường chỉ thêu ố mầu, tua ra, đứt khúc, nhàu nát. Y vo chặt cái khăn trong tay mình, thẫn người ngồi phệt ra đất, lâu lắm mới bừng tỉnh, trở dậy, xăm xăm đi về phía làng. Ðã khuya nhưng nhà nhà vẫn còn sáng đèn. Cái làng nhỏ xao động, thao thức chờ tết trong niềm vui lúa trúng. Gặp một thằng bé có lẽ vừa xem chực ti vi về, y chận lại, nói cái tên người đàn bà và hỏi nhà. Nó chỉ tay về phía bờ sông, chỗ rặng bần tối thẫm. Y đi theo hướng đó, rồi dừng lại trước một căn nhà không phải là nhà. Nó rách nát, bừa bãi, rặm rạp những cỏ là cỏ. Từ bên trong vẳng ra những tiếng thét nhừa nhựa, tiếng khóc ri rỉ, tiếng ngả đổ của bàn ghế, cốc chén, tiếng đấm đá thình thịch... Trong cái cảnh bừa bộn, trống hoác của căn nhà, một gã đàn ông gày còm đang cố sức tìm cách lôi người đàn bà dưới gầm giường ra. Tức tối vì không lôi thị ra được, gã lồng lên như một thằng điên. Gã chửi rủa. Rồi tiếng chửi rủa cũng ngơi dần. Gã đã ngủ say lắm rồi, trông cứ như chó đói, thân xác còng queo, trong mơ vẫn lảm nhảm chửi thề. Người đàn bà bò ra khỏi gậm giường, nước mắt nhòe nhoẹt, ống tay rách bươm, thòi ra khoảng da trắng lỗ chỗ những vết bầm tím. Cũng chẳng còn biết đi dâu, thị bò lại góc nhà, ngồi bó gối mà khóc, tiếng khóc không trào ra được, cứ ùng ục trong cổ họng. Khóc chán, thị thiếp đi, đầu dựa vào cột, khóe miệng trễ xuống nửa mếu nửa cười.

Y đứng dưới tán cây xoài rậm rạp, lâu lắm, mãi cho đến khi ngọn đèn trong nhà tắt dụi vì hết dầu mới chịu quay về. Y đi thất thểu trên con đường làng ngập trong ánh trăng hạ tuần vàng vọt. Ðầu y rối rắm, lan man những ý nghĩ. Y nghĩ đến những giọt nước mắt của người đàn bà trong cái đêm y xô thị ra ngoài lều, nghĩ đến vòng tay đã xiết lấy y trong cơn thèm khát hạnh phúc, nghĩ đến cái ánh mắt van lơn, tha thiết mà dạn dĩ, đến cơn mưa chiều này nọ... Suốt đêm, y ngồi ngoài trời. Gió thổi lồng lộng! ừ, giá mà trời mưa, mưa thật lớn như cái buổi chiều người đàn bà bước vào cuộc đời y, bước vào cái lều tăm tối của! Lều ư ? Sao nó không thể là một cái nhà?




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Tập làm người

Dương Thanh Tùng

Tôi, kẻ luôn hoài niệm ưu tư về quá khứ, luyến tiếc tất cả những gì đã một thời tồn tại, đã mất đi. Nỗi quay quắt tâm tưởng vô hình biến tôi thành gã cô đơn- cô đơn trong lòng đồng loại, với những người sống và trở thành bạn của những người chết ở thế giới bên kia... dưới ba thước đất.

Như gã hành khất trên sân ga chìa tay xin mấy cuộc chia ly, tôi có mặt ở nghĩa trang này từ lúc nó chỉ lèo tèo vài ngôi mộ cho đến khi trở thành rừng mộ bạt ngàn. Và, lúc ấy những người sống phải chạy chọt trước cả tuần, cả tháng để mong có được mấy thước đất vừa ý cho người quá cố yên nghỉ. Trong vô số những cuộc chia ly ấy, tôi đã trở thành bạn tri ân của bạn - gã đào huyệt. Nói một cách ví von bóng bẩy thì gã là người bẻ ghi mở lối cho con tàu đưa người ra vào cõi vĩnh hằng.

Hắn từ đâu đến, không ai biết, vì có ai hỏi han hắn bao giờ. Ngay cả cái tên của hắn cũng chẳng ai hay. Dẫu tôi đã trở thành bạn bè tri ân cũng không biết gọi hắn là gì. Nhậu với nhau vài lần trên cái mả xây tôi tự đặt cho hắn cái tên - thằng Ðịa, vì dù sao hắn cũng là kẻ sống nhờ đất, đào đất mà sống. Cả cái giang sơn nghĩa địa này là của thằng Ðịa, một mình hắn cai quản, không kẻ đào đất nào dám cạnh tranh với hắn. Một ngày hắn đào có tới vài chục cái lỗ huyệt. Ai trả công nhiều ít bao nhiêu hắn cũng lấy, chẳng kêu ca phàn nàn, chẳng cò kè thêm bớt nhưng lấy rồi hắn cất đi đâu chỉ có hắn biết, trời biết. Thằng Ðịa có bộ mặt nhăn nhúm. Trong một lần chếnh choáng, hắn có nhắc đến cái tai nạn nào đó, hình như là cháy nhà. Khi ấy, thằng Ðịa mới chập chững biết đi, không hiểu sao hắn bò ra được từ cái đám cháy rừng rực, vục mặt xuống một vũng bùn cho đến khi người ta tìm đến lôi hắn dậy. Tôi đã cố gắng chắp vá, suy diễn mãi để cuối cùng có thể hiểu được na ná cái tiểu sử của thằng Ðịa là như vậy... Và cũng chỉ có vậy, nó đơn giản như cái thân hình cao nghêu nghêu với đôi tay chân dài quá khổ lêu đêu, những ngón tay to bè cứng như cái móc sắt của hắn. Mới đầu thằng Ðịa đến đây để ăn vét những nải chuối, cái bánh, xôi quả hương hoa của người chết. Rồi người ta thuê hắn đào huyệt, hắn đào thật nhanh vì con người hắn sinh ra để làm mỗi công việc này. Và cũng từ đó, thằng Ðịa chọn hẳn nơi này làm chỗ trú thân. Túp lều của hắn chỉ có mái mà không có phên che - bốn mùa nắng mưa thông thốc, nền lều là một ngôi mả xây lâu ngày được tấm thân trần trụi của hắn chà cho bóng láng. Quanh năm suốt tháng chỉ thấy hắn ở trần: xuống chợ mua rượu hắn ở trần, đứng trước ngôi mộ vừa lấp đất hương khói nghi ngút cũng ở trần - chẳng có thứ quần áo nào thích hợp với hắn bằng cái quần lửng đến đầu gối mà phía trên cạp được ở đâu đó thôi. Thằng Ðịa chẳng bao giờ tắm, ngứa thì chà chà vào thành mả xây, không đào huyệt nữa thì uống rượu, uống xong rồi thì lăn kềnh ra làm một giấc cho đến khi người lay dậy. Rất ít khi thằng Ðịa nấu nướng, trong túp lều của hắn lúc nào cũng đầy rẫy xôi quả, đôi khi còn có hẳn con gà luộc hoặc một cái đầu heo còn nguyên vẹn, tất cả là của người sống cúng cho người chết, mà người chết không ăn thì hắn ăn, thậm chí ăn không hết hắn còn phải đem cho, cho ai thì tôi chịu. Sau này, tôi mới biết rằng thằng Ðịa không cô đơn. Có một người đàn bà thường lui tới ngôi mả xây với hắn, trời đất công bằng đưa thị tới làm bạn tình với hắn, cho hắn được nếm mùi đàn bà. Nhà thị ở cánh đồng dưới kia. Thị cũng ở một mình, để giữ vịt cho cả làng. Và, cả cái làng nổi lềnh bềnh giữa vũng nước trũng quanh năm ấy cũng chẳng ai dám đến gần thị. Thị biết điều đó. Thị không oán trời, trách đất. Nhưng, còn cái chất đàn bà ngày đêm giẫy giụa trong con người thị, tự thị, thị không sao kìm giữ nổi. Ðã bao lần thằng Ðịa lếu đếu xách chai đi mua rượu ngang qua cái chòi vịt của thị. Thị thèm, thèm lắm. Ðể rồi, đến một hôm, lúc trời chạng vạng đỏ ối trên nghĩa địa mênh mông, thị lần mò tìm lên ngôi mả xây... Mới đầu thằng Ðịa còn ngơ ngác nhưng rồi thì hắn hiểu, hiểu tất cả. Hắn ghì lấy thị, đè ngược xuống nền mả xây... Ðêm mênh mang, nghĩa địa cũng mênh mang nhấp nhô như ảo ảnh. Hắn - thằng Ðịa và người đàn bà chăn vịt quấn chặt lấy nhau, quằn quại. Cái miệng toàn răng lởm chởm của hắn cạp lấy cạp để, ngấu nghiến trên thân thể tanh nồng và đang hừng hực lửa tình của người đàn bà chăn vịt... sau cùng, hắn làm thị vừa lòng bằng cách của hắn, như lúc hắn hùng hục đào đất. Thị rên rỉ còn hắn thì sung sướng vô ngần. Hắn và thị, hai con người, hai sinh vật bị chối bỏ gắn vào nhau, hòa quyện với nhau như thể tạo hóa sinh ra là để như thế rồi. Cuộc tình của thằng Ðịa và người đàn bà ấy được cả đất trời, cả vô số những vì sao đêm và hàng vạn ngôi mộ im lìm chứng giám, chẳng cần đến nghi lễ rườm rà. Hắn là của thị và thị là của hắn. Cứ vài ba bữa, người đàn bà lại lên với thằng Ðịa một lần, khi thì xách theo chai rượu, khi thì vài chục trứng vịt luộc sẵn. Thằng Ðịa ăn không hết thì dồn vào góc mả xây để đến ngày hôm sau. Bao giờ cũng vậy, sau một lần tình tự, thằng Ðịa ngồi tu rượu và ngắm nhìn người đàn bà, hắn thấy đời thật sung sướng. Ðời này mấy ai được bằng hắn. Có một lần, người đàn bà bảo hắn thôi đừng đào đất nữa, xuống dưới kia ở hẳn với thị, chăn vịt đủ sống thừa thãi thì hắn lắc đầu quầy quậy, hắn trỏ tay đuổi về lập tức. Giang sơn của hắn là ở đây, những người chết không xua đuổi hắn. Người sống, từ đứa con nít lên đây cũng không dám nói một lời làm hắn giận. ở đây hắn được là người xuống dưới kia hắn không còn là người nữa vì chẳng ai chấp nhận cho hắn làm người. Hắn biết vậy, nghĩ vậy nên rất tức tối khi nghe người đàn bà kia nói ra cái điều mà hắn không bao giờ muốn.

Bên cạnh túp lều của thằng Ðịa có một ngôi mộ lúp xúp không xây. Trên ấy có một cụm hồng lúc nào cũng mơn mởn vài búp hoa đỏ thắm, cũng lạ, đất sỏi đá đến cỏ tranh còn mọc không nổi thế mà hoa hồng lại mọc được. Mỗi ngày, sau khi xong công việc, thằng Ðịa lại đem xẻng ra vun đất xung quanh ngôi mộ, hắn làm nhẹ nhàng như sợ người nằm dưới đất giật mình. Và, chiều nào cũng thế, thằng Ðịa xách chai vào tận trong núi hứng lấy từng giọt nước trời về tưới cho khóm hoa trên mộ. Nhiều lúc gió hanh quất ràn rạt, cả vùng đất khô cằn đến người dưới đất còn khát cháy nhưng cụm hồng của thằng Ðịa lúc nào cũng đẫm nước. Bàn tay to bè đen đúa của hắn nâng niu từng nhánh hồng cứ run lên lập cập - hắn sợ gãy. Tôi hỏi thì hắn kể rằng đây là nấm mộ của một người con gái. Cái đám tang ấy rất buồn, chẳng có ai khóc, lấp đất xong người ta vứt lại mấy bông hồng, thoạt đầu thằng Ðịa không để ý, đến hai ngày mà không khô quắt lại. Cho đến một hôm, khi đào đất về, hắn thấy trên mộ vẫn còn một cái cuống hồng tươi xanh. Cuống hồng đã bén rễ vào đất và từ đó nhú lên một cái mầm. Thằng Ðịa rùng mình, hắn nghĩ đến người con gái nằm dưới kia... và cũng từ đó hắn tự đặt ra công việc chăm chút cho cây hồng, cho ngôi mộ. Ngày nào cũng thế, hắn thấy người nhẹ nhàng lắm, sau khi làm xong việc ấy...

Tôi có việc phải đi xa, cuộc đi xa chưa hẹn trước ngày trở lại. Một buổi khi chiều sắp tàn, tôi lên để giã từ thằng Ðịa. Ðêm ấy, tôi và hắn uống nhiều lắm, rượu cứ vơi đầy. Hắn nói gì, tôi không thể nào nhớ hết. Chỉ biết rằng khi tôi chìa tay chào hắn để ra về thì hắn bảo:

- Chờ một chút!

Cái bóng lêu đêu của thằng Ðịa đổ dài dưới trăng hạ huyền, nhấp nhô, nhấp nhô trên từng dãy bia mộ đen kịt cho đến khi mất hút. Thật lâu sau đó thằng Ðịa trở lại, dúi vào tay tôi một cục tiền giấy nhơm nhớp đất. Hắn khóc, khóc thành tiếng, vừa khóc hắn vừa nói:

- Cầm lấy, cầm đi, đừng trả lại. Khi nào không còn việc đào đất nữa tôi sẽ tìm anh nhưng biết tìm ở đâu.

- Không sao đâu anh Ðịa - tôi cố ghìm những giọt nước mắt cứ chực trào ra - đến một nơi nào đó tôi sẽ viết thư về... Nói đến đó thì tôi òa khóc thực sự, tôi biết mình lỡ lời. Thằng Ðịa không biết chữ đã đành rồi, nhưng ai công nhận sự tồn tại của hắn ở nghĩa trang này với tư cách một con người... Thằng Ðịa không cha, không mẹ, không một dòng địa chỉ cư trú. Chẳng có thứ giấy tờ nào của nhà chức trách ghi là: có hắn, trừ khi hắn làm chuyện bậy bạ. Mà, cái thằng người đi đến đâu cũng bị xua đuổi như hắn thì có thể làm được gì bậy bạ ngoài chuyện đào đất?! Chắc chắn sẽ chẳng có ai chuyển thư tôi đến cho hắn được. Tôi quay người lao thật nhanh xuống đường để lại sau lưng tiếng khóc tồ tồ của thằng Ðịa giữa chập chùng hoang mộ.

Thời gian rồi cũng qua đi. Khoảng khắc từ lúc tôi chia tay với thằng Ðịa hôm ấy cho đến ngày trở lại vừa đủ cho một đứa trẻ kịp sinh ra, lớn lên và biết cắp sách đến trường. Cảnh cũ thay đổi nhiều. Trước nghĩa trang, nhà cửa mọc lên san sát, hàng quán buôn bán sầm uất. Nghe nói sắp tới người ta sẽ dời cả nghĩa trang này đi để xây dựng khu chế xuất hay siêu thị gì đó. Tìm mãi mới thấy lối vào nghĩa trang, lối đi nhỏ hẹp chỉ còn vừa đủ cho chiếc xe tang. Ngay ngã ba, một ngôi nhà hai tầng lầu có vẻ như mới vừa được xây dựng cách đây chưa lâu. Trước cổng ngôi nhà treo tấm biển xanh đỏ lòe loẹt.

"Công ty Dịch vụ mai táng Gò Cát.

Tên giao dịch: Matagoca.

Nơi đáng tin cậy của quý khách.

Rất hân hạnh được đón tiếp

Tel...Telex...Fax..."

Trong sân, người ra vào tấp nập. Mấy chiếc xe tang loại vừa, cũ mèm đang sửa máy, phun khói mù mịt. Trước cửa ra vào, dưới mấy bậc tam cấp, một chiếc xe bốn chỗ, đời mới, choáng lộn đậu nghênh ngang, xoay mũi ra cổng sẵn sàng lao đi bất cứ lúc nào chứng tỏ chủ nhân của nó là người rất đỗi sang trọng và hay phải đi công án. Tôi quyết định: chưa vội lên nghĩa trang thăm thằng Ðịa.

Người bảo vệ già sau khi xem xét kỹ giấy tờ của tôi, ngẩng lên nói một hơi:

- Quý anh nhà báo, anh liên hệ xin đất, mướn xe hay có việc chi?

- Tôi muốn gặp giám đốc công ty.

- Dạ, anh chờ cho một chút. Dạ, giám đốc đang bận. Dạ khách khứa của ổng nhiều lắm.

- Nhờ chú nhắn giùm, tôi xin gặp ổng sau mười lăm phút nữa. Nếu không được thì tôi sẽ hẹn ông khi khác vậy.

Sau cú điện thoại của người bảo vệ già, tôi được hướng dẫn vào phòng đợi... Máy lạnh chạy ro ro, ghế xô-pha mềm lún. Một cô gái từ phòng trong đi ra, tay ôm chồng giấy tờ dày cộm. Cô gái nhẹ nhàng bảo tôi chờ, giám đốc Trương Thiên sẽ tiếp ngay bây giờ. Phải công nhận, cô gái có cặp đùi thon thả và dáng đi uyển chuyển đầy hấp dẫn. Tự nhiên tôi nảy ra cái ước mơ hão huyền: Giá như mình được làm giám đốc, chỉ một ngày thôi...

Cánh cửa lại khẽ mở ra. Mùi nước hoa thoang thoảng. Một cô gái khác nhẹ nhàng trong tà áo dài xanh dịu bảo tôi:

- Mời ông vào, giám đốc Trương Thiên đang đợi.

Ôi trời ơi! Tý nữa thì tôi té ngửa. Thằng Ðịa. Ðúng nó rồi!

- Ðịa, phải anh đấy không Ðịa?!

Hắn nhe răng - phải, vì miệng của hắn chỉ toàn có răng, hềnh hệch cười. Càng cười mặt hắn càng dúm dó lại, quái đản.

- Anh, anh về từ bao giờ? Chà lâu quá - Vừa nói hắn vừa đường bệ đứng dậy đưa cái tay dài ngoằng níu tôi ngồi xuống ghế.

Lại một cô gái nữa xuất hiện, tay bưng cái khay đựng mấy lon bia, ba ly đá lạnh. Ðặt nhẹ cái khay xuống bàn, cô gái gật đầu chào tôi rồi quay sang nhoẻn miệng cười tình với Ðịa. Rót đầy bia vào ly xong, cô ta vén gấu váy, ngồi xuống, nép vào lòng hắn. Thằng Ðịa nhìn tôi, cười, lại cười. Hắn bảo:

- Hôm nay anh ở lại đây với tôi. Ngày hôm nay tôi nghỉ làm việc. Ai chết mặc kệ. Tôi với anh uống một trận rồi anh muốn gì, tôi, Trương Thiên này sẵn sàng chiều hết.

Chuông điện thoại leng reng. Cô gái nhoài người, với tay cầm ống nghe:

- Alô, ai đấy? Dạ Hải Yến thư ký giám đốc Công ty MATAGOCA đây, ông cần gì ạ? Dạ, giám đốc, ông Trương Thiên...- Cô gái bịt tay vào ống nghe, đưa mắt liếc nhìn thằng Ðịa - hắn xua tay.

- Dạ, ông Trương Thiên đi vắng, ông cần đất ạ, giá cả sẽ thỏa thuận sau, mà có lẽ hơi cao. Ông nên đến làm việc trực tiếp với công ty chúng tôi vào sáng ngày mai để nhận phần đất như ông muốn, à, đáng lẽ định chôn vào chiều nay thì ông phải liên hệ sớm hơn chứ. Ông, ông cũng là giám đốc, giám đốc công ty hữu hạn? Dạ, dạ được, dạ ông có quen giám đốc Trương Thiên...

- Ai đấy? - Thằng Ðịa hỏi.

- Thằng cha xưng là giám đốc cái công ty hữu hạn gì đó. Chả nói có quen biết anh.

- Xin đất chôn người hay đất cho chả làm nhà.

- Ðất chôn.

Thằng Ðịa sầm mặt xuống, không nói năng gì. Mấy ngón tay dài ngoẵng, to bè của hắn quặp cứng vào nhau. Thật lâu, sau khi ngửa cổ nốc cạn ly bia, thằng Ðịa quay sang tôi:

- Anh, anh có muốn một miếng đất làm nhà không?

- Ðất làm nhà ở đâu?

- Kia, ngoài kia, nếu anh muốn, tôi sẽ bảo chúng nó cắt cho anh vài trăm thước - hắn nói và chỉ tay ra nghĩa trang trập trùng, mênh mông. Tôi rùng mình, một cảm giác lành lạnh chạy dọc sống lưng.

Thằng Ðịa tiếp tục:

- Một trăm thước đất ở nghĩa trang này bữa nay giá cả chục cây vàng rồi đấy. Dân thành phố đổ xô lên đây, giành giật, căng thép gai, cắm cọc gần hết rồi. Tôi vẫn giành lại được ít đất tốt cho người quen...

- Nhưng, mồ mả người ta còn đầy ra đấy - Tôi bảo hắn.

- Còn, không những còn mà mỗi ngày có thêm hàng trăm cái mả mới. Nhưng, có luật pháp nào ngăn cản cấm đoán người sống tranh giành đất của người chết đâu?

Tôi bàng hoàng thật sự khi nghe Ðịa nói ra điều ấy. Hắn, cái thằng vốn không tên tuổi, chẳng biết gì hơn ngoài việc hùng hục đào đất giờ đây đã thực sự là chủ nhân ông của cả một vùng nghĩa địa mênh mênh béo bở mà hàng trăm ngàn con người sống ở dưới thành phố đông đúc đến nghẹt thở kia đang thèm khát. Hắn, bây giờ nghiễm nhiên thành kẻ ban phát, gia ân, gia ân cho cả người sống, lẫn người chết. Tên của hắn - giám đốc Trương Thiên được nhắc đến thường xuyên trong các cuộc họp của Hội đồng tỉnh lỵ.

Người nghèo nhìn hắn như ông thánh, kẻ giàu sang chờ chực đưa rước. Và, không biết từ bao giờ, để củng cố cho cái quyền lực đất đai, thằng Ðịa đã kịp trang bị cho mình cái lý lẽ đầy ấn tượng nhưng cũng đầy thuyết phục. Phải, luật pháp có đủ cả mọi điều nhưng còn điều duy nhất là "cấm người sống và người chết không được tranh giành đất của nhau" thì luật pháp lại vô tình bỏ quên. Và cũng như một thiên mệnh, chính cái điều ấy nghiễm nhiên củng cố thêm sự vững chắc của thằng Ðịa ở vùng mồ mả mênh mông này. Nghĩ cũng buồn cười, tôi gọi hắn là Ðịa thì hắn lại là Thiên, lại còn thêm cái họ Trương nữa - tự hắn nghĩ ra hay không biết ai đặt cho hắn? Cái tên Thiên có vẻ thích hợp lắm với cương vị của Ðịa bây giờ. Qua khung cửa sổ gắn kính màu, tôi lặng yên, đăm đăm nhìn vào khoảng mông lung chập chờn bia mộ, lỗ chỗ cọc ngắn, cọc dài của người sống cắm xuống giữ đất. Xa tít trên kia là nơi có túp lều liêu xiêu ngày nào của thằng Ðịa. Nhưng biết có còn không? Cả người đàn bà đen đúa bẩn thỉu lúc nào cũng tanh mùi vịt là bạn tình của hắn. Còn gì nữa nhỉ... ừ, phải rồi! Tôi quay vào hỏi hắn:

- Cái cụm hồng dạo nọ trên ngôi mả không xây có còn không anh Ðịa.

- Chết rồi! Tôi cho người bưng về đây trồng nhưng sống không nổi. Ðất này mà trồng gì được.

- Còn người đàn bà?

- Vẫn ở dưới đó, chăn vịt nhưng tôi không gặp nữa. Mà thôi anh đừng hỏi nhiều. Uống đi cứ tiếp tục uống đi. - Hắn nói và ngửa cổ dốc trọn vào miệng ly bia đầy ự.

Tôi và hắn không gặp nhau nữa, từ hôm đó. Mãi cho đến một lần, khi cụ thân sinh của một người bạn làm cùng cơ quan qua đời. Không nỡ từ chối sự nhờ vả của anh, tôi tìm đến thằng Ðịa. Vẫn là ngôi nhà cũ, vẫn tấm biển to tướng treo trước cổng...

Tôi hỏi thăm một người vừa trong đó bước ra:

- Giám đốc Trương Thiên có nhà không anh?

- Hả? Anh hỏi ai? Giám đốc nào, Thiên nào?

- Thiên, Trương Thiên.

- á, à, à, cái thằng đào đất đó hả, lên trên đó mà tìm, nhà hắn ở trên đó - Người ấy chỉ tay bâng quơ vào một góc nghĩa trang xa vời.

Người bảo vệ già nhận ra tôi. Ông kể lại rằng cái cơ ngơi này là do một mình thằng Ðịa bỏ vốn ra gây dựng nên. Nghe nói có một ông lớn nào đó cảm kích trước việc thằng Ðịa chăm sóc chu đáo ngôi mộ của con gái ông khi ông đi xa nên đã lo toan giúp đỡ các khoản giấy tờ cần thiết để hình thành công ty mai táng. Sau mấy năm làm giám đốc, với cách toan tính của một thằng người chỉ biết đào đất, một nửa cái chữ bẻ đôi cũng không biết, thằng Ðịa không những trắng tay mà còn thêm nợ nần chồng chất. Ðám con gái đông đúc bu quanh hắn thi nhau vét sạch những đồng tiền bán đất cuối cùng còn sót lại rồi lặng lẽ chia tay mỗi người một ngả. Bao nhiêu chủ nợ ngao ngán nhìn thằng Ðịa lững thững rời bỏ cái cơ ngơi đồ sộ để trở lại với túp lều xưa, trên nghĩa địa. Kiện hắn ư? Thân xác hắn đấy. Ðòi nợ ư? Mênh mông đấy, mà đất đai của nhà nước còn mồ mả là của thiên hạ, ai muốn đòi chia thì cứ đem cọc lên đấy mà cắm. Còn hắn, không làm giám đốc nữa thì lại về đào đất. Dư luận ồn ào xôn xao, nhiều vị chức sắc đau đầu vì hắn một thời gian rồi rốt cuộc đâu lại vào đó. Công ty Matagoca do hắn lập giờ đây đã có người khác đảm đương. Nói tóm lại, người ta lại bắt đầu coi như không có hắn trên cõi đời này như từ bao lâu nay vẫn thế.

Tôi thẫn thờ theo lối mòn xưa dẫn lên túp lều của thằng Ðịa, lòng không khỏi chạnh buồn. Thế là hắn, thằng Ðịa, bạn tôi đã lại về với cái công việc xưa cũ, biết người ta có còn thuê hắn như xưa nữa không!? Nhưng đống tiền mà hắn chắt chiu chôn giấu sau bao nhiêu năm trời đào đất đã tan theo giấc mộng bọt bèo. Ðịa ơi! Tôi hiểu cái gì đã thôi thúc anh. Bao nhiêu năm hùng hục đào đất, chôn giấu nâng niu từng đồng tiền còm cõi để mong có ngày đổi đời, được ngửa mặt, được làm người - thì đấy, anh đã có tất cả, đã mua được tước vị làm người!! Dẫu chỉ là trò phù du nhưng cũng đáng để cho anh mở mặt suốt mấy năm trời...

Túp lều xiêu vẹo trống không. Gió trái mùa đang ra sức giật nốt mấy miếng tôn mục nát còn sót lại. Thằng Ðịa nằm đấy thẳng thớm với chiếc quần lửng cột dây dừa. Vị linh mục già khẽ cúi xuống nới đầu sợi dây thòng lọng quấn quanh cổ hắn. Sợi dây đã được tháo hẳn ra để lại trên cổ thằng Ðịa một vòng tròn sâu hoắm. Sau khi vị linh mục già đọc bài kinh dài rửa tội cho hắn, cầu mong cho hắn được nương náu dưới cánh tay che chở của Chúa trời, một tăng ni của nhà Phật bao lần lui tới tiễn đưa người chết ở nghĩa trang này cũng không ngần ngại ban cho thằng Ðịa những dòng kinh siêu thoát lê thê, bàn tay lần tràng hạt mơ hồ những mong linh hồn hắn thanh thản mà lên cõi niết bàn với Ðức Phật. Nghi lễ của loài người tiễn đưa thằng Ðịa về cõi vĩnh hằng xem ra trọn vẹn vô cùng. Hắn kẻ duy nhất trên thế gian ra đi đã cùng một lúc đón nhận hai đặc ân của Chúa Trời và của nhà Phật. Nếu như ở nghĩa trang này hôm ấy có sự hiện diện của thánh A-la nữa thì chắc ngài cũng không ngần ngại giang tay ra đón hắn. Tôi đăm đắm nhìn xuống vết tròn sâu trên cổ thằng Ðịa, lòng mênh mang buồn, buồn vô tận. Phần hồn thằng Ðịa có lẽ đã được tắm gội sạch sẽ nhưng còn cái vết hằn sâu trên cổ là dấu ấn trên thân xác của kiếp người đa mang thì thằng Ðịa vĩnh viễn phải đem theo vì không ai xóa nổi.

Người đàn bà chăn vịt, hôm ấy, không có mặt để khóc chia tay thằng Ðịa. Nhưng, thật lâu, lâu lắm, khi tôi trở lại, có người kể với tôi rằng trong một đêm mưa, nước từ nghĩa trang tràn xuống đen kịp cả cánh đồng, dân làng nghe trong gió tiếng hú gào thảm thiết của người đàn bà vốn là bạn tình chung thủy của hắn. Sáng ra cả cánh đồng ngập trắng xác vịt. Tự tay người đàn bà ấy đã bóp chết tất cả rồi bỏ đi. Thị đi đâu thì không ai rõ.

Khi ở nghĩa trang ấy đã thấp thoáng bóng dáng của những tòa cao ốc lộng lẫy, một rừng mộ bạt ngàn chỉ còn lại vài ngôi lèo tèo vắng chủ. Với số tiền ít ỏi trong tay, tôi mong tìm thấy mộ thằng Ðịa để cùng người ta đưa hắn đi nơi khác yên nghỉ, chừa đất cho thiên hạ làm nhà. Nhưng, có còn gì nữa đâu mà tìm. Dưới bóng hoàng hôn sậm đỏ, tôi lại nhìn thấy người đàn bà chăn vịt. Thị đứng như trời trồng giữa vùng đất phẳng lỳ gào lên từng chuỗi, từng chuỗi âm thanh ai oán, não nề. Tiếng gào mơn man chập chờn thổn thức quắt quay của thị đến với hắn - thằng Ðịa. Mấy đứa trẻ chăn trâu bảo với tôi rằng chiều nào cũng thấy người đàn bà ấy đứng đấy, gào lên thê thảm cho đến khi đêm xuống...

Ðịa ơi! Tôi thắp ba nén nhang lạy anh để viết lại chuyện này. Dưới suối vàng kia mong anh hãy ngậm cười vì trên cõi đời này còn có người đàn bà điên cuồng gào gọi tên anh trong mỗi buổi chiều tà.

Người ta bảo rằng trước khi chết, suốt mấy ngày trời anh ngồi bó gối trên cái mả xây, thẫn thờ nhìn xuống tòa nhà lộng lẫy khang trang được tạo dựng lên từ sau chuỗi ngày lê thê hùng hục đào đất, chắt chiu chôn giấu từng đồng tiền còm cõi... Anh đã bỏ tiền ra mua được kiếp người ba năm trời trong cái tòa nhà ấy. Nhưng anh có biết đâu rằng suốt ba năm đằng đẵng anh mới chỉ đang là kẻ tập làm người giữa một bầy người hoàn hảo - ấy là tôi nói về những đứa con gái xúm xít quanh anh hàng ngày, những bạn hàng, khách hàng của anh, cả người sống lẫn người chết. Thôi thế cũng đành anh Ðịa nhỉ! Làm người không được thì làm cái thây ma. Mà cái thây ma của anh đã được người ta gột rửa sạch sẽ mọi tội lỗi trần gian thì còn gì nữa đâu mà tiếc nuối. Tiếc làm gì phải không anh Ðịa. Sau này, khi cả nghĩa địa mênh mông biến thành phố phường sầm uất, nhiều người, lúc rảnh rỗi lục tìm trong ký ức và nhắc đến anh như một món nợ khó đòi. Có thể anh còn nợ người ta. Nhưng, đòi từ lúc anh còn sống trên cõi đời đã khó, huống gì...

Trước cửa mỗi ngôi nhà khang trang của khu phố mới ấy thường có cái khóm thờ nhỏ nghi ngút khói hương, đầy rẫy xôi quả vào ngày rằm, mồng một. ở đâu đó trong cõi hư vô, anh có linh thiêng xin hiện về chứng giám lòng thành của con người mà phù hộ cho họ làm ăn phát đạt.




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Giếng trong

Lê Tấn Hiển

Cánh đồng chó ngáp - nghĩa là cánh đồng dài, rộng quá, đi hết, đến chó cũng phải ngáp. Có thể những đoàn quân đầu tiên qua đây đã đặt tên như thế. Dẫu có hơi quá quắt, nhưng quả thật, lính mình không ngoa. Giữa chiến trận, cái quá quắt của ngôn từ lại có gì như dễ thương, thậm chí, cần thiết nữa. Ðơn vị chúng tôi đang hành quân qua cánh đồng mang cái tên khôi hài dữ tợn này.

Ðêm ấy không trăng. Nhưng trời đầy sao. Chúng tôi đã thấm mệt mồ hôi ướt đầm lưng áo, thấm cả sang ba lô, rồi lại khô. Cứ thế đến mấy lần, mà vẫn chưa đi hết cánh đồng. Tiểu đội hậu cần vốn đã lủng củng xoong nồi, lại dắt thêm con cầy tơ - đổi được của đồng bào dân tộc, nghe đâu bằng một cái chăn chiên. Biết lính trung đội mê món "mộc tồn", mấy cậu anh nuôi cố giữ, định đến vị trí tập kết làm bữa khao quân trước khi vào trận mới. Nhưng chưa hết nửa cánh đồng, con chó đã nằm rịt, không chịu đi, tròng dây kéo cũng không nổi. Ðành để cu cậu nằm lại. Tội nghiệp. Nó chưa ngáp nhưng chắc gì sống nổi giữa đồng đất bao la này. Mấy thằng tích giữ được củ riềng trong túi cóc, chép miệng tiếc. Có ai đó lên tiếng: "Dào, nó chưa chết là may. Ngay tao cũng sắp... ngáp đến nơi rồi. Khát khô cổ...".

Người vừa nói là Vinh. Vinh "ba toác". Nó là thằng đa ngôn bạo mồm nhất đại đội. Thằng ruột ngựa nhiều khi đến sống sượng. Nhưng chẳng một ai giận được nó bao giờ, mặc dù nhiều khi phát chối, phát ngượng vì nó.

Không giận nổi, vì nó luôn luôn đúng. Hồi còn ở pháo, thời huấn luyện, có đoàn kiểm tra của "sư" xuống thăm. Vinh đang "đóng vai" trực chiến. Thấy không mang mũ sắt trên mâm pháo, một ông trợ lý hỏi: "Sao không đội?", nó tỉnh bơ: "Dạ trực vờ, đội làm gì, đánh nhau thật, khỏi nhắc. Mới lại, cơm đã ít, nặng đầu chỉ chóng đói...". Mấy đứa cùng khẩu đội tức lắm, mà không nhịn được phải quay đi, cười. Vậy mà nó được việc. Ngay hôm sau đoàn về, thấy cơm nhiều hơn. Không ai nói ra nhưng biết đấy do công thằng "ba toác".

Một lần khác, hồi còn ở trên đất Bắc. Ðơn vị chuẩn bị ăn tết. Có mấy chàng lính, nhớ nhà không chịu nổi, trốn ra đường cái, vẫy xe "vù". ú ớ thế nào vớ ngay được xe trung đoàn bộ. Thế là cả tốp bị mời về. Hôm sau, hội bỏ ngũ phải lên đọc kiểm điểm trước đại hội. Ông chính ủy dự nghe, bảo: "Khuyết điểm rõ rồi. Còn tự nhận kỷ luật, chưa thấy ai nói...".

Bỗng từ dưới hàng quân một người bước lên, giậm gót, đứng nghiêm chào. Thì ra Vinh. Nó dõng dạc: "Tôi xin bảo lãnh và cam đoan với danh dự chiến sĩ, đây sẽ là lầm lỗi cuối cùng của chúng tôi trước lúc ra trận!". Chính ủy nhíu mày, nhưng xúc động nhiều hơn là ngạc nhiên: "Ðồng chí nhân danh gì?" - "Dạ đồng hương" - Vinh đáp gọn lỏn. Kết quả thật không ngờ. Mấy tay trốn hụt được về hàng. Kỷ luật cũng xí xóa. Ông chính ủy, thay vì sự "lên lớp", nán lại hàng giờ với đại đội, kể chuyện kỷ niệm thời tân binh...

Từ đó, Vinh "ba toác" trở thành niềm tin cậy và chỗ dựa của lính tráng đại đội. Bất kể đầu bò đầu bướu đến đâu, hễ Vinh đã nói một tiếng, là răm rắp.

Trước ngày vào B, Vinh được đề bạt A trưởng. Rời đất Bắc, nó được phong trung đội phó. Hành quân được hai trạm, tay trung đội trưởng "khung" lăn ra sốt rét, phải nằm lại. Thế là "ba toác" được chỉ định nắm quyền. Lên cán bộ, nhưng mồm miệng nó vẫn thế, có khi còn bỗ bã hơn. Ðược cái, nó làm ra trò, từ chỉ huy, quản lý, phân công, cách đánh, cách lui... một mình nó một kiểu. Nhưng trận nào cũng thắng. Lính các trung đội khác, trông sang mà thèm.

Chỉ còn chừng cây số nữa là hết cánh đồng. Quân lính anh nào cũng khát. Nước trữ trong bi đông vắt giọt đến mấy bận, khô cong. Dẫu Tào Tháo ở đây cũng khó mà động viên nổi binh sĩ. Vinh cho trung đội dừng lại, bảo: "Xóm làng kia rồi. Nhưng liên lạc tiền trạm chưa báo. Ðịch ta khó biết. Cứ đi. Chỉ được qua. Cấm dừng. Khát ráng chịu, còn hơn tất cả phải ăn đòn!".

Ðến khi qua cái làng ấy, nghe tin đơn vị khác, mấy thằng suýt chết vì uống phải giếng có thuốc độc. Cả trung đội lè lưỡi. Thoát nạn. Chúng nó xúm nhau vào tung Vinh lên, reo hò, khâm phục.

Nhưng vẫn không có nước. Lại suốt một ngày nhai lương khô thay cơm, bụng dạ ráo như bánh đa. Ðến mồ hôi cũng không còn mà ra nổi. Ai cũng biết, nhịn ăn một ngày, còn dễ. Chứ nhịn uống, khó lắm... Vinh vừa đi ngược hàng quân vừa nói: "Thằng nào có tiếu lâm, kể đi. Giời bể, đông tây, yêu đương, ma quái gì cũng được. Hay thằng nào có giọng, thì hát, nhạc vàng, nhạc đỏ, nhạc xanh cho phép tất. Cố lên vài chặng nữa. Cây cỏ sống được thì mình sống được. Lính chưa gặp đạn bom, muốn chết cũng khó...".

Tang tảng sáng. May thay, có liên lạc của C báo: "Vùng an toàn. Cho quân nghỉ nấu cơm. Nhắc các đơn vị tuyệt đối chấp hành chính sách dân vận!". Vinh nghe xong, cười ha hả. Ðợi cậu liên lạc đi khuất, bảo: "Lại có "chất tươi" rồi. Nghe đây, thằng nào thằng nấy cất kỹ "chim" đi! Ðứa nào để sổng, để bay, cứ đúng luật thời chiến mà xử: Chặt!".

Các A trưởng: Anh em xin được đi kiếm nước uống. Vinh lệnh: "Giữ nguyên hàng quân. Tạt vào ven đường mắc võng. Sẽ có người mang nước đến tận mồm". Mệnh lệnh cứ ào ào, bỗ bã như thế, mà nghiêm. Xuống tới tiểu đội, quân chấp hành tắp lự. Cấm thấy tiếng kêu ca phàn nàn gì. Lính trung đội quen rồi. Vinh đã nói là làm. Vả lại, càng vào sâu vùng lửa đạn, họ càng biết rằng, nắm giữ sinh mạng chiến sĩ, không ai khác, chính là người chỉ huy trực tiếp này.

Vinh đi kiểm tra một lượt hàng quân. Rồi lấy thêm hai người - Chi và Tối - hai vị đồng hương trốn hụt hồi tết năm ngoái cùng đi. Tối, thực ra tên là Tôi. Ðiểm danh trung đội đến lần thứ hai, Vinh bảo: "Tên gì nghe khó chịu bỏ mẹ, vào đánh nhau rồi lẫn lộn, chết oan có ngày. Ðổi! Từ nay gọi là Tối. Xấu một tý nhưng đố thằng nào dám nhầm...".

Vinh - Chi và Tối, thành cái bộ ba "tam cúc", cũng chẳng ra "tướng sĩ tượng" hay "xe pháo mã" gì, chỉ biết cứ hành quân hay đánh trận thì thôi, nhưng hễ có chặng nghỉ, lại kè kè, không thể thiếu. Thấy Chi vẻ giữ ý, Vinh to tiếng tuyên bố trước trung đội: "Chúng tao đồng hương thân nhau hơn là đương nhiên. Ðừng thằng nào thắc mắc ghen tị gì. Luật chiến trường không ai cấm móc ngoặc. Mẹ, toàn súng, đạn với cát-tút, thằng nào cũng có cả. Móc cái gì?". Vinh bằng tuổi Tối. Còn Chi kém hai. Thấy hai đứa cứ "anh anh, em em", Vinh phát khùng: "Tao hỏi thật, chúng mày gọi tao là anh vì sao?". Cả hai đứa ngớ ra, chưa hiểu, Vinh tiếp: "Vì tao là chỉ huy hay vì hơn tuổi?", rồi thẳng một lèo: "Thôi, cứ mày tao mẹ nó đi cho dễ, anh em rồi có lúc phải nể, phải nhường. Nể, nhường ngoài mặt trận khó xử lắm... Tối, vốn dân đại học văn hóa lý lẽ: "Thôi, đã là anh em, căn vặn làm gì. Cũng chẳng nệ tuổi tác hay chức vị. Chúng mình kết nghĩa. Xong chưa". Từ đó, Vinh mới chịu nghe, nhưng còn dặn thêm: "Thằng nào không thực lòng, vào trận, cho dính đạn chết quách. Giả dối, chả cứ anh em, sống cũng bằng thừa".

Ba người vào làng. Vinh bảo: "Tao đi lo nước cho anh em. Thằng Chi kiếm nhà nào không có con gái, mình mắc võng, làm một giấc. Còn thằng Tối, xem đâu có hoa quả gì, "dân vận" một ít về đây".

Ðộ một tiếng sau, thấy từ trong làng, bốn năm cô gái, chừng như cũng vừa thay bộ cánh mới, lũ lượt gồng gánh tiến ra. Họ mang nước tới tận hàng quân. Chè tươi hẳn hoi. Lính tráng được dịp thỏa thuê, đem hết bình tông, cả thùng lương khô ra chứa. Lại lâu lắm mới có dịp gặp dân, nhất là con gái, anh nào anh ấy ra sức khua môi múa mép. Pha trò, châm chọc. Lính mà, ở đâu chẳng thế. Ai giận được.

Chi đi khắp làng, rồi quay về thẽ thọt: "Khó quá, nhà nào cũng có, ít là một cô gái, anh Vinh ạ...". Vinh thở dài: "Thôi cũng đành! Chọn lấy một nhà, mắc võng ngoài vườn... mà mình có ngủ với chúng nó đâu mà sợ".

Còn Tối, sở dĩ Vinh phân đi kiếm hoa quả, cũng có lý do của nó. Thằng này cứ như thể sinh ra để làm chỉ huy, biết người biết của, ranh mãnh ra phết. Chả là có một bận, ba đứa vừa mắc võng giữa rừng, đang đung đưa kể chuyện quê, chợt Tối nhìn lên tán lá phát hiện một cành quéo, có quả hẳn hoi. Tối la lên. Ba đứa chụm đầu nhìn, nuốt nước miếng. ở rừng, vớ được thứ hoa quả vườn, cứ như bắt được vàng, lại là của chua, quý lắm. Hóa ra, họ nằm ngủ cách một cây quéo rừng có dăm mét mà không biết. Nhưng khốn nỗi, cây cao chót vót, thân to lỳ chẳng thấy cành chạc gì, xung quanh lại toàn giống săng lẻ trơn tuồn tuột, khó mà trèo hái. Chỉ có bắn tỉa từng quả là chắc ăn nhất, đạn thì không thiếu, nhưng tiếng súng, sợ lộ bí mật hành quân. Ðành chịu chết. Tối chót mạnh mồm: "Tao vốn dân trèo me trèo sấu thành phố, cao thế chứ cao nữa cũng chưa là gì...". Vinh cười khẩy: "Nói phét! Tao thách! Thằng Tối mà hái được mươi quả xuống đây, tao xin... giặt quần cho mày!". Bị kích động, Tối nghĩ mưu, nối ba cái thắt lưng to vào nhau, buộc ngang lưng như kiểu dây an toàn của thợ điện. Loay hoay một hồi cũng leo được tới ngọn. Bữa ấy, chẳng phải mươi quả, mà cả trung đội ăn canh chua gần tuần mới hết quéo.

Trưa. Lính trung đội mệt, ăn uống xong là lên võng ngủ hết. Tối, Vinh và Chi chọn ba gốc cây sau vườn, mắc võng thành hình tam giác. Mà nào đã ngủ được. Chi ngây thơ: "Làng xóm gì chỉ thấy rặt con gái!". Vinh quát: "Ngu, thế mà cũng mở miệng nói. Có về làng mình, bây giờ cũng thế. Khác gì. Trai tráng ra mặt trận cả, gì mà không chỉ còn con gái... Thế con bé nhà này đâu mà chưa thấy mặt mũi ra sao cả?" - "Chắc nó thẹn..." - "Thẹn? Tao cam đoan, nếu đang trong nhà, thế nào nó cũng nấp khe cửa nhìn trộm chúng mình...". Rồi cả ba phá lên cười.

Nửa đêm hôm ấy. Liên lạc báo. Chúng tôi được lệnh thu võng hành quân. Ðời lính kiểu thoắt đến thoắt đi oái oăm thế là thường. Nhưng với Vinh lần này, thấy nó cứ ngơ ngẩn đến khó hiểu. Chi nháy tôi: "Lại có chuyện gì rồi!".

Quả nhiên, độ ba giờ sau, đi qua một cánh rừng khộp lưa thưa. Vinh lệnh cho trung đội dừng lại, đặt ba lô, tập hợp thành hàng ngũ hẳn hoi. Giữa đường hành quân chuyện như thế là hiếm. Nên mọi người đều đoán hẳn có việc gì hệ trọng sắp xảy ra.

Sáng trăng suông. Vinh đứng trước hàng quân dễ đến mấy phút, chẳng nói năng gì. Không khí lặng lẽ, hồi hộp. Cuối cùng nó nói, giọng run run là lạ: - Chúng ta từ đất Bắc vào đây, sướng khổ, sống chết có nhau. Lòng dạ như cái bánh, chẳng giấu giếm lừa dối nhau điều gì. Từ ngày trên bảo tôi làm chỉ huy, tôi đã biết số phận chúng mình gắn bó với nhau rồi. Biết anh em tin, tôi cũng cố xứng đáng với anh em, bấy nay chẳng nề hà phân biệt...

Ngừng một lát, Vinh tiếp:

- Nhưng hôm nay, tôi đã phạm tội đã lừa dối anh em, hưởng vui thú một mình... Tôi muốn dừng lại đây, để trung đội xử tội, đúng luật chiến trường như tôi vẫn nói...

Cả trung đội ngạc nhiên ngơ ngác chưa biết chuyện gì. Như hiểu ra, Vinh nói:

- Ðêm qua, cũng là lần đầu tiên trong đời, không làm sao giữ nổi, tôi... đã ngủ với một cô gái trong làng. Anh em không biết, trên không biết, cấp trên không biết, nhưng tôi biết. Tôi phải chịu kỷ luật trước anh em. Tất cả có thế. Anh em xử đi!...

Cả trung đội im phăng phắc, không biết xử lý ra sao. Anh em ngạc nhiên và bàng hoàng nhiều hơn vì cái tính cách "thẳng thừng" đến độc đáo chưa từng thấy ở người chỉ huy của họ. Cuối cùng, các tiểu đội xin phép được hội ý, thảo luận, rồi cuối cùng thống nhất uỷ quyền Chi và Tối truyền đạt ý kiến anh em tới Vinh. Ðại ý là: "Ðể bảo đảm hành quân chiến đấu, trung đội tiếp tục lên đường. Khuyến điểm B trưởng chưa có căn cứ và nhân chứng, chưa thể quyết định kỷ luật. Ðợi hết chiến dịch xét lục lại. Mệnh lệnh chiến đấu là trên hết, ai cũng phải chấp hành". Vừa mềm vừa rắn, lại có lý có tình, ấy thế mà cũng phải mỏi mồm mới thuyết phục nổi Vinh. Trước lúc hành quân tiếp, Vinh còn nói: "Chúng mày quá đáng lắm. Nghĩ cho kỹ mà xem. Ðừng tưởng vậy là tốt với tao. Người đời bảo: "Nhất tội nhì nợ", đáng tao chỉ mắc một, giờ lại phải đeo hai... Tội còn cho, nợ - lỡ tao chết, ai trả?..." Rồi cứ thế lùi lũi đi. Suốt đêm hành quân ấy, không thấy nó nói gì.

... Chiến dịch nối tiếp chiến dịch. Trung đội đã cùng C phối hợp đánh chiếm và giải phóng nhiều chốt điểm và địa danh quan trọng. Trên gọi trung đội này là "trung đội Nguyễn Quang Vinh", nên thành đơn vị điển hình với nhiều cách đánh táo bạo và dũng cảm. Các tiểu đội cũng đều đã có đứa hy sinh. Bận rộn, tất bật, chuyện của Vinh với cô gái nào đó, cũng không ai nhắc nữa.

Cho đến một đêm, giải phóng xong thị trấn Ð., trung đội nghỉ trong một rừng cao su bên sườn đồi. Ba người lại mắc võng bên nhau, thức rất khua. Vinh hỏi: "Mai mốt toàn thắng, nếu được về, việc đầu tiên chúng mày làm là gì?". Tối nói sẽ trở lại trường đại học. Chi bảo sẽ "Cưới vợ trước đã, rồi làm gì thì làm. Nó chờ lâu quá rồi". Còn Vinh, sau khi im lặng hồi lâu nó nói:

- Việc đầu tiên là tao sẽ đào một cái giếng, thật sâu, cho mẹ tao tắm. à, ừ, phải xây một cái nhà tắm đàng hoàng nữa. Tội nghiệp bà cụ, tao đi rồi phải gánh nước mà dùng. Chúng mày còn nhớ không, cái ngày hành quân qua đồng "Chó ngáp" ấy. Càng khát, tao càng thương mẹ ở nhà, đến rớt nước mắt. Quê mình nghèo quá, mang tiếng gần thành phố, mà đến hạt nước lã cũng chẳng mấy nhà sắm nổi làm của riêng...

Ngừng một lúc như nuốt cơn nghẹn ngào, Vinh trầm ngâm: "Rồi cũng từ cái giếng, mới sinh ra chuyện của tao với đứa con gái làng chiến khu ấy...".

Rồi nó kể:

- "Tối hôm ấy, sau khi cho trung đội giải tán về ngủ lấy sức hành quân, tao cũng về võng, ở cái vườn nhà cô bé mà thằng Chi chọn ấy, đặt lưng, ngủ liền. Ðược một giấc khá dài, tự nhiên tao thức dậy. Không gian im ắng. Trời trăng suông, mà sáng lắm. Trong gian nhà vẫn thấy có ánh đèn. Tao thấy nóng nực nhớp nháp, bỗng muốn đi tắm. Mà của đáng tội, nào đã biết cái giếng ở đâu. Thế là trở dậy, đánh bạo và vô tư nữa, vào gõ cửa. Có tiếng con gái đáp ngay, chứng tỏ cô ta vẫn đang thức. Ngọn đèn khêu to, rồi cửa mở. Trời, chúng mày có biết không, khó mà tưởng tượng nổi, một cô bé trẻ, chừng hai mươi, đẹp, tóc buông sau vai trong bộ đồ ngủ, nói không quá, cứ như tiên giáng trần. Giọng nói nữa, sao mà nhẹ nhàng duyên dáng đến thế. Tao sững lại một lúc. Ðâm lúng túng, mãi mới nói nổi câu hỏi. Cô bé gọi tao là "thủ trưởng". Chứng tỏ đã theo dõi sinh hoạt của trung đội từ lúc sáng. Dẫn tao ra cái giếng sau nhà, nhìn phía sau, dưới ánh trăng thân hình cô bé cân đối, chắc lẳn, và nói thật, hấp dẫn nữa. Ra tới giếng, cô ta còn hướng dẫn "thay đồ chỗ này, để quần áo chỗ kia, múc nước ở đó...", rồi bảo: "Cứ tắm tự nhiên, qua giếng nhà em, thủ trưởng không tắm cũng uổng..." và quay vào.

Khi múc nước tắm, tao mới hiểu ý cô bé vừa mới nói. Cái giếng tròn và to hiếm thấy, đầy ắp, múc không cần dây. Nước mát, ngọt và cảm giác trong sạch tinh khiết kỳ lạ. Ðang dội ào ào, lại thấy cô bé đi ra, tao vòng sang thành giếng bên kia, thụp thấp người xuống, quay lưng lại. Nghe tiếng cô bé: "Em mang xà bông để anh dùng. Mấy bữa nay kẹt ở khẩu, không mua được thứ tốt. Xài tạm nghen...". Tao chờ cô bé vào hẳn, mới quay ra tắm tiếp. Xong xuôi rồi, mát mẻ, thơm tho, tìm áo mặc chẳng thấy đâu nữa. Thì ra, lúc ra đưa xà phòng, cô bé đã cầm cái áo của tao vào nhà. Tình thế thật quá quắt, nhưng không biết đây là âm mưu hay vô tình, tao đang luống cuống thì có tiếng vọng ra, nhỏ nhẹ: "Tắm rồi há, áo của anh mang vô đây rồi. Vô nhà mà thay...". Chết cha đến nước này còn biết làm gì hơn. Thế là tao khép nép, khúm núm bước vào. Cánh cửa khép hờ, đèn khêu đủ sáng, tao thấy rõ cái áo của mình vắt trên sợi dây thép căng trong nhà, bên trên có tấm khăn tắm trắng tinh. Ðẩy cửa bước vào, trong nhà không có ai. à, ra thế, cô gái tế nhị nhường chỗ cho tao thay đồ. Có phần yên tâm hơn, tao máy nhỏ ngọn đèn, rồi bình tĩnh lấy khăn lau người.

Có tiếng chốt cửa rất khẽ, tao quay ra, chúng mày có tin nổi không, trong bóng tối mờ mờ. Cô bé, và cả tao nữa, như chết lặng, đứng im mấy giây, nhìn nhau, rồi đột nhiên, cô lao vào ôm lấy tao, ghì xiết...

Cuối cùng, trước lúc tao về võng cô bé mới bảo: "Hết chiến tranh, anh về đây nhé. Ba má em giặc bắn. Anh Hai cũng hy sinh rồi...". Tao xúc động quá, quay vào ôm chặt cô bé, nghẹn ngào: "Tan giặc, nhất định anh sẽ về. Anh sẽ lấy em!". Sực nhớ, còn giữ được tấm ảnh, tao giở túi lấy ra đưa cho cô, rồi quay về võng.

Cũng may, chỉ lát sau có lệnh hành quân, thú thực, không thì, một là tao sẽ lại vào, hai là sẽ nằm mà khóc suốt đêm ấy mất. Tao thương cô bé vô cùng. Ðơn vị đi, tao cũng chẳng kịp nói với cô lời nào. Nhưng chúng mày tin tao không, cái câu tao nói lúc ấy là nói thật đấy. Hết chiến tranh tao sẽ lấy cô ấy, rồi đưa về Bắc với mẹ tao".

Chi và Tối lặng đi, không ai nói thêm nữa. Câu chuyện kể như một lời tự thú, mà họ cảm thấy không gợn chút tội lỗi nào. Có tiếng pháo địch ì ầm từ xa, kéo ba dòng suy nghĩ chân thành và non trẻ trở về thực tại. "Ôi, chiến tranh, bao giờ hết chiến tranh. Bao giờ đất nước sạch bóng quân thù!".

Và họ cùng đi vào giấc ngủ với những mộng mơ khác nhau. Nhưng thảy đều trong trẻo, hiếm hoi và thật xa lắc, mênh mang với thực tại.

Sớm hôm sau, trước lúc lên đường, tự nhiên Tối và Chi nắm chặt tay Vinh. Mà sao lại bắt tay? Cùng trong hàng quân cả mà. Vinh bảo: "Kỳ này ác liệt đây. Còn lâu mới gặp lại". Tối như bịn rịn: "Gì thì gì, tan trận, tìm nhau nhé". Còn Chi, mắt nó long lanh: "Còn sống, thì chúng mình trước sau cũng gặp lại. Nhưng anh Vinh anh phải về với cô ấy nhé, cô gái có giếng nước trong ấy...".

Mệnh lệnh hành quân thần tốc. Ðơn vị được lệnh phối hợp cùng các binh chủng tiến về Sài Gòn. Trung đội phải xé lẻ ra, đi với tăng, với thiết giáp, với pháo... Bộ ba, mất liên lạc với nhau ngay từ sớm hôm ấy. Và họ không thể ngờ rằng, đêm qua, lại là đêm cuối cùng còn được mắc võng bên nhau...

Chiến tranh qua đi. Ðã hai trục năm đất nước im tiếng súng. Với một cuộc đời, thời gian ấy cũng dài. Nhưng với những người lính của trung đội, một phần năm thế kỷ yên bình sao mà nhanh, và ngắn ngủi. Dư âm của đạn bom cùng những kỷ niệm của chiến trường, trong mỗi chiến sĩ trung đội, vẫn còn rõ nét lắm. Tất cả như vừa mới hôm qua...

*

Cả trung đội ngoài những người đã vĩnh viễn nằm xuống ngoài trận địa, cứ rơi rớt, thưa thớt dần mỗi năm... Tất cả chỉ còn non nửa. Non nửa, theo cách gọi của chiến trường, nghĩa là trung đội vẫn còn.

Họ thỏa thuận với nhau một cái nếp: hàng năm, cứ đúng ngày kỷ niệm hội tòng quân, tất cả mọi người, bất kể xa gần bận rộn, họp về bên nếp nhà tranh ở gần một xã ngoại thành, nhà liệt sĩ Nguyễn Quang Vinh - gặp mặt. Họ góp nhau xây, đào cho bà cụ Vinh một cái giếng, có căn nhà tắm xinh xinh. Cứ mỗi lần về đây, họ lần lượt ra tắm. Cái giếng nước mát, trong lạ kỳ, nhìn thấu tới đáy. Một điều lạ, giữa lòng giếng, trồi lên một vật gì lấp lánh, như tỏa sáng. Những hạt bọt nước li ti cứ từ đó nổi lên liên tiếp, không ngừng.

Lần nào cũng vậy, khi xả nước đầy mặt mũi, nước giếng mát lạnh, mà cảm giác những giọt nước ấm nóng ứa ra từ khoé mắt mỗi người còn rõ lắm. Họ vừa tắm, vừa thầm khóc thương nhớ Vinh, không sao cầm lòng nổi...

Ðoạn kết

Chi đã lấy vợ, vẫn cô bạn chờ đợi từ ngày đăng lính. Họ đã có hai đứa con gái. Cậu ấy tốt nghiệp bác sĩ, lại vừa đi tu nghiệp ở Pháp về. Còn Tối, được giữ lại giảng dạy ở trường đại học. Ngành văn.

Cuối năm vừa rồi, họ quyết định rủ nhau trở lại miền Nam, thăm những vùng đất xưa họ đã đi qua một thời lửa đạn. Và đặc biệt, họ muốn tìm lại cái làng chiến khu có người con gái mà đã từ lâu, họ coi như người thân của trung đội.

Làng xóm đã thay đổi nhiều quá, phải mất non hai ngày đường, họ mới tìm được cái làng xưa. Ðây rồi, căn nhà có giếng nước to tròn, và vườn cây ngày ấy mắc võng. Ra đón họ là một phụ nữ tóc điểm hoa râm nhưng vẫn còn đọng nhiều nét xinh đẹp thuở thiếu nữ. Giữa gian nhà xây khang trang, dáng dấp một trụ sở làm việc nhiều hơn là nhà ở, tấm ảnh Nguyễn Quang Vinh được phóng to lồng trong khung kính trân trọng, tuyệt không thấy một dải băng đen. Nghĩa là, chị ấy chưa biết Vinh không còn nữa? Hay cũng có thể, chị không muốn nghĩ rằng anh đã chết? Dẫu sao họ không thể biết, và không ai bảo ai, hai người tự thấy mình phải tôn trọng những điều mà người phụ nữ này ước muốn. Chị chỉ lên tấm ảnh Vinh, chưa kịp hỏi, thiếu phụ đã lên tiếng vô tư và vui vẻ: "Chồng tôi đấy. ảnh đi xa chưa về".

Không biết như thế có phải là tàn nhẫn không, hai người đồng đội im lặng trong niềm xúc động trào dâng. Và họ quyết định không nói ra sự thực đau đớn về người chồng thân yêu của chị.

Họ ở chơi tới trưa, và được biết chị là phó bí thư và kiêm chủ tịch xã. Hai người được tiếp đãi nồng hậu hơn khi chủ nhà biết rằng họ cũng là những người lính vượt Trường Sơn năm ấy.

Cuối cùng, họ xin phép được ra giếng tắm. Cái giếng đã gắn bó một mối tình thủy chung, sắt son mà chỉ mình họ biết. Hai người lặng lẽ, trầm ngâm bên thành giếng. Và kia, lạ chưa, dưới đáy nước trong suốt, một điểm sáng lấp lánh trồi lên. Và từ đó, những hạt bọt nước li ti cứ nổi lên, liên tiếp, không ngừng.

Nước giếng long lanh. Và trên khóe mắt hai người đồng đội, hai cựu chiến binh, cũng long lanh ướt.

1-1995


Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Hậu thiên đường

Nguyễn Thị Thu Huệ

Tôi cứ tưởng là mình đã quên mọi chuyện từ lâu. Bỗng dưng chiều nay, tất cả ùa về. Ðầy ắp ứ, như thể có ai đó đã thu gọn mọi thứ vào một cái bao tải to tướng, buộc chặt nút lại. Và nay, đem mở òa ra trước tôi. Ðầy đủ nguyên vẹn.

Khi tôi chợt hiểu ra ở đời mọi sự đều có thể xảy ra như thế cả thì cũng quá muộn rồi. Tuổi già sầm sập chạy đuổi sau lưng. Tôi thì quyết giở trò ú tim với nó bằng cách làm sao chạy trốn được nó càng lâu dài càng tốt. Hôm nay sinh nhật con gái. Nó tròn mười sáu tuổi. Mặt con gái tôi giống người bố của nó. Nó không bao giờ biết được điều đó vì khi nó hiện hữu trên đời này thì người thực sự là bố của nó đã ở một nơi xa tít tắp. Bây giờ, khi tôi bốn mươi tuổi, chợt thấy tại sao lâu nay mình để tuổi thơ của con trôi qua trong nỗi buồn của sự cô đơn và hứng chịu nỗi cay đắng của một người đàn bà bị phụ bạc. Bỗng nhiên, lâu lắm rồi, tôi mới lại thấy tội nghiệp nó. Ngày xưa, đã một lần tôi thấy tội nghiệp nó, khi nó chạy ra đón tôi khi đi họp về. Nó với tay đỡ lấy bó hoa của tôi, và ngã lăn xuống cầu thang. Máu trên đầu nó loang xuống mặt. Nó không khóc, chỉ mím môi lại và bảo: "Không sao đâu mẹ ạ. Con không đau đâu. Mẹ về, con mừng quá". Tôi đỡ nó dậy và nói: "Thì đã bao giờ mẹ không về đâu. Chỉ có sớm hay muộn thôi". Nó hơi cố cười. Dù sao tôi biết lúc ấy, nó rất đau: "Mẹ về sớm, hôm nay là sinh nhật con, mẹ mua hoa cho con, con sung sướng quá nên chạy ra đón". Tôi cay đắng nhận ra là con nói với tôi bằng tất cả tình cảm và sự mong chờ tình yêu của tôi với nó. Còn tôi. Lúc ấy, tôi không hề nhớ rằng ngày hôm nay là sinh nhật nó. Bó hoa ấy cắm ở hội nghị. Tan cuộc họp, hai ba người đàn ông loe xoe lôi nó ra khỏi những cái lọ và kính cẩn tặng tôi. Họ rất biết kết hợp những nhu cầu của bản thân và hoàn cảnh khách quan bên ngoài, làm sao vừa được lòng những người đàn bà như tôi. Và họ thì chẳng mất gì cả. Chỉ có con tôi là khổ thôi. Cũng như cái sự sinh ra nó trên đời này. Ngày ấy, khi sung sướng chúng tôi chỉ nghĩ đến mình, nhưng khi đau khổ tôi lại mang nó ra mà so, mà ngắm, và nhìn nó như một chướng ngại vật cản trở tôi trên bước đường đời. Nó chẳng có tội gì. Nó là sản phẩm của nỗi đam mê. Ai sướng. Ai hạnh phúc? Nó không biết. Chỉ được biết và được hưởng sự cô đơn, nỗi dằn vặt mà thôi.

Tôi cho con gái một trăm nghìn để làm sinh nhật. Mặt nó đờ dại đi vì sung sướng trước một hành động đẹp, và hiếm hoi của tôi. Tôi nuôi nó tương đối đầy đủ nhưng không mấy khi chăm sóc. Mà con gái lớn thì thích được chăm sóc. Khi ở nhà thì bố mẹ, khi lớn lên thì người tình, và sau đó là của chồng. Nó bảo: "Con sẽ mua được những gì mà con thích, phải không mẹ?" Tôi gật: "Phải, con mua gì tùy ý con chỉ có điều con không nên làm ầm ĩ. Mẹ không thích những gì lộn xộn".

Giọng nó run run: "Vâng, tuyệt lắm mẹ ạ! Chúng con sẽ lên Tây Hồ, thuê thuyền bơi và liên hoan luôn ở đó".

Tôi ậm ự vì thấy con vui. Lâu lắm rồi nó mới cởi mở với tôi như vậy. Thực ra, tôi và nó ít khi gặp nhau, tôi đi làm, nó đi học. Buổi chiều, thỉnh thoảng tôi ăn cơm với nó. Buổi tối tôi thường vắng nhà. Nó có một khuôn mặt đợi chờ. Nó hay nhìn tôi bằng cái vẻ mặt đợi chờ đó. Nếu tôi lạnh lùng thì nó lảng đi. Tôi vui vẻ và tỏ ý muốn gần nó, cái vẻ mặt ấy thoắt biến đi thay vào khuôn mặt tràn trề hạnh phúc. Bao nhiêu năm tôi luôn nhìn nó để tỉnh táo hơn trước đàn ông và mọi cạm bẫy.

Bỗng dưng hôm nay, mọi sự đó tan biến trong tôi. Con gái tôi lớn quá rồi. Sao lâu nay tôi không biết rằng ngực nó đã dội lên sau lớp áo và lưng nó đã nở nang hơn. Khuôn mặt nó đã đầy lên, loáng thoáng có cái trứng cá. Mặt nó vẫn còn trong sáng lắm. Nó đang loay hoay thay cái áo này mặc cái quần kia, hồi hộp như cô dâu sắp về nhà chồng.

- Hôm nay mẹ có đi nhảy không? - Nó hỏi

- Không, mẹ mệt mỏi rồi con ạ. - Tôi thở dài. Chợt thấy chán ngắt mọi chuyện. Nhạc dặt dìu. Những ngọn đèn mờ ảo và ngào ngạt trăm nghìn loại nước hoa. Hình như nó không làm tôi đam mê nữa. Thực ra, cũng nhờ đó mà tôi bớt đi những ngày đau khổ của tôi. Tôi luôn luôn ở ngoan ngoãn trong tay hết những người đàn ông này đến những người đàn ông khác, nhưng của ai cụ thể thì không. Tôi nhìn tôi trong gương. Khuôn mặt đàn bà sang tuổi bốn mươi. Mí mắt bắt đầu sụp xuống. Biết là mình vẫn còn đẹp, nhưng cũng bắt đầu nhầu nhò rồi.

Con gái chào:

- Con đi chơi mẹ nhé!

Tôi gật:

- Chúc con vui.

Hai chân nó ríu vào nhau, vì quần áo là lượt. Nó đánh tý son môi và ít quầng xanh ở mắt. Hình như nó phải chui vào đâu đó để làm việc này vì tôi chưa cho phép.

Cánh cửa đóng sập lại. Tôi nằm ngả ra giường.

Ðắng ngắt. Thế nào nhỉ? Bốn mươi tuổi tôi đã có cái gì cho mình. Tiền tài thì vớ vẩn chỉ đủ ăn và sống một cuộc sống đạm bạc. Một vài cái váy, áo để đi dạ hội và nhảy đầm. Công việc diễn ra đều đều và nỗi nghi ngờ đàn ông. Dù thiếu họ nhiều khi cuộc sống của tôi lắm lúc gay gay. Có những kẻ yêu tôi thật, thì tôi không ngửi được họ. Còn một vài người tôi yêu họ thì họ chỉ xuê xoa "chơi" với tôi. Biết làm sao được. Con cá trượt thường là con cá to. Không có cái gì trong tay mình là nhất cả. Bỗng dưng, tôi thấy sập xuống người mình, một nỗi trống trải hoang vắng khủng khiếp.

Hàng tối. Khi ông A, ông B đưa tôi về, con gái ra mở cửa và đỡ lấy chiếc xe cho tôi, vác qua phòng khách, nó lau bóng loáng để cất vào bếp, rồi nó pha cho tôi một chậu nước âm ấm và đưa hộp sữa rửa mặt cho tôi rửa sạch những thứ tôi bôi lên mặt. Rồi hai mẹ con đi ngủ. Thi thoảng, có đêm tôi ôm con gái, bàn tay sục vào gáy nó. Ðến khi lùa tay vào mớ tóc dài và dày của nó mới chợt thảng thốt tỉnh ra đấy là con gái mình, chứ không phải là người đàn ông hồi tối.

Lâu lắm rồi. Tối nay, tôi là người ở nhà và con gái tôi thì đi chơi. Người bạn nhảy của tôi cũng không đến. Anh ấy là người luôn rạch ròi mọi chuyện. Vợ con anh ấy là một cái lô cốt chắc chắn mà hàng ngày, hàng giờ anh ta cần mẫn nhặt nhạnh tý vôi, tý xi măng xây xây, trát trát. Và cái lô cốt của anh ngày càng to béo vững chắc. Thi thoảng, để xả hơi và để nạp nhiên liệu cho công việc xây dựng của mình, anh đi nhảy đầm. Rất gallant với phụ nữ và lúc nào cũng mang một vẻ mặt thành kính, tác phong giống như thể anh đang gù gù hệt như con chim câu, tha những cọng rơm đi dệt tổ ấm, chỉ thiếu con chim cái thôi. Có những lúc tôi bỗng thấy cần anh ta một cách ghê gớm. Tôi đạp xe đến cổng nhà anh, và nhìn vào. Anh đang ăn cơm. Xúc cho con một thìa, gắp cho vợ một miếng. Say sưa và sung sướng như thể họ là tất cả cuộc đời anh, không như anh phàn nàn với tôi. Anh hỏi tôi: "Ðố em: con gì ăn lắm nói nhiều, chóng già lâu chết?". Tôi nghĩ mãi không ra lắc đầu chịu thua. Anh bảo: "Ðấy là con vợ". Rồi thỉnh thoảng tôi có việc cần gặp anh buổi tối. Tôi nhờ trẻ con gọi và đợi anh ở đầu đường. Một lúc, anh hiện ra. Chiếc quần đùi vải lòng thòng, anh cởi trần lê đôi dép rách và tay xách một thùng rác. Chớp nhoáng vài câu và anh quay quả bước về, sau khi đã hoàn tất một trong nhiều nghĩa vụ với gia đình.

Tôi lại bàn học của con gái. Nét chữ nó tròn xoe nắn nót và hàng lối rất nghiêm chỉnh. Con người nó chắc cũng như dòng chữ nó viết. Một là một, hai là hai, chứ không hai cộng hai bằng năm như tôi. Nó đã yêu hay ghét, chỉ là thế chứ không bao giờ thay đổi. Một quyển sổ con ở góc bàn. Ngoài bìa là mấy câu thơ. Sổ nhật ký, Hóa ra con gái lớn hơn tôi tưởng rất nhiều. Trong sổ, nó ghi lung tung nhiều chuyện, chẳng đâu vào đâu. Cãi nhau với đứa này, khen đứa kia có đôi dép đẹp. Nó ước những cái cỏn con, vặt vãnh, "Ngày - Hôm đang ngồi trong lớp đợi mưa tạnh, chợt thấy cuối đường có một chị che cái ô đỏ. Ðẹp thế không biết. Trong mưa màu đỏ là màu đẹp nhất. Giá mình có một chiếc nhỉ?". "Ngày - Có một người đàn ông cởi trần, mặc quần đùi đang mang một chậu tã lót đầy phân ra máy nước giặt. Mình thì thấy kinh kinh, thế mà ông ta vừa giặt vừa cười một mình, lắm lúc môi nhọn ra như trêu ai, lại huýt sáo nữa. Chắc ông ta yêu con vợ lắm". "Ngày - Sao mẹ hay về khuya thế? Mình mà như mẹ, mình sẽ lấy chồng. Chọn người nào hiền lành và hơi ngu một tý để lấy mà không cần đi làm nhà nước, chỉ cần biết một nghề gia công nào đó như ông Chiu hàn nhôm đằng trước - mẹ sẽ sướng hơn là ở thế này. Mình thích những người thông minh nhưng ở với họ thì sợ lắm. Những buổi chiều chủ nhật, vợ chồng người ta đi chơi, mẹ thì ở nhà, còn đi chơi như mẹ, mình chẳng thích". "Ngày - Anh T ở trường bên cạnh, là giáo viên sang dạy hộ văn nghệ, thể dục cho lớp mình, hôm qua rủ mình mình đi xem phim. Mình cũng muốn đi nhưng chưa xin phép mẹ. Hai người đi cả nhỡ hai con mèo con chạy mất thì sao. Nó chưa quen nhà mà, mình thích anh ấy vì mắt anh ấy rất đẹp. Mặt thì lúc nào cũng buồn buồn như ngẫm ngợi điều gì. Những người đàn ông mặt lúc nào cũng hơn hớn lên mình cũng thích nhưng lại ngại. Họ hớn hở với mọi người như với mình, tin làm sao được. Không biết từ bao giờ mà mình có thói quen là cứ gặp anh ấy thì cả ngày mình vui lắm. Hôm nào không nhìn thấy anh ấy, mình cứ thấy văng vắng thế nào...".

Tôi thẫn người. Lâu nay, tôi cứ trượt trên những cái dốc nào. Sao không bao giờ tôi hỏi đến cuộc sống nội tâm của con. Lâu lắm rồi, hình như tôi chưa dừng lại ngoảnh về đằng sau để xem nhỉ, chỉ tiến thôi.

Tôi đọc tiếp.

"Ngày - Tự nhiên hôm qua anh ấy đi ngang qua lớp mình, vẫy mình ra rồi bảo: Triệu người quen có mấy người thân, khi lìa trần có mấy người đưa? Mình nóng bừng cả mặt. Anh ấy bỏ đi, mặt buồn rũ rượi. Cả ngày chẳng vào đầu mình được chữ nào".

"Ngày - Con Cúc "xoe" thì thầm: Tao hôn rồi đấy. Mình hỏi: Nó thế nào? Cúc bảo: Lúc ấy, tao cảm giác như rơi tõm xuống ao, chìm nghỉm đi. - Vừa nói, nó vừa nhắm nghiền mắt lại. Xuôi hai tay và lăn huỵch xuống sàn nhà. Rồi nó lại vùng phắt dạy. Mắt tít lên - Hôn hay lắm mày ạ. Thử đi. Không chết đâu mà sợ, chỉ sợ rồi nghiện thôi.

Thử đi.

Mình cười ngượng: thử thì thử với ai? Tự nhiên đang yên đang lành bỗng đè người ta ra mà bảo ông làm ơn cho tôi hôn thử ông một cái xem hôn nó mồm ngang mũi dọc thế nào? Họ lại chả tát cho vào mặt ấy và bảo rằng: Ðấy, hôn nó thế đấy.

Rồi mình và Cúc cười lăn ra. Kể ra, nếu biết hôn nó thế nào cũng hay".

Con tôi lớn thật rồi. Sao đến bây giờ tôi mới biết điều đó nhỉ? Những người đàn ông đi qua đời tôi như thể bất chợt họ gặp cơn mưa rào, mà họ thì không mang vải nhựa để che. Tôi là một cái hiên rộng để họ chạy vào đó, yên tâm, tưng tửng chờ cho qua cơn mưa, rồi về nhà. Hóa ra lâu nay, tôi đi đường tôi, còn con gái thì tôi tự tìm đường mà đi. Liệu nó còn đi lại con đường của tôi không?

"Ngày - mình nhớ anh ấy quá. Hai ngày không thấy anh ấy đâu. Hay anh ấy ốm rồi. Ði học về, mình cứ thấy ngơ ngác như thế nào ấy. Bỗng anh hiện ra ở đầu đường: "Bé con, mấy ngày vừa rồi anh phải có phi vụ làm ăn, nhớ em quá, phải đón em tại đây". "Ôi giời ơi, sao mà sung sướng thế. Mình yêu anh ấy mất rồi. Lúc ấy, mình không còn thấy cái gì ở trên đời này quan trọng bằng anh ấy. Thế là mình và anh đi chơi với nhau. Bây giờ, mình mới thấy việc mẹ cứ suốt ngày đi vắng là rất hay. Nếu mẹ hay ở nhà, có lẽ chẳng bao giờ đi chơi với anh ấy được như thế. Mẹ mắng chết. Vì mẹ bảo cái bọn đàn ông rặt một loài đểu cả, đừng nên tin ai. Mình thì thấy ai cũng đáng tin hết. Nhất là anh".

" Ngày - Cái Cúc "xoe" bảo: Anh chàng của cậu được đấy - Trông giống chàng Lút lắm. Tớ thích đàn ông phải như Hoanmanuen, vừa bàn nhau tống tiền người ta xong, lại mê cái đàn pianô ngay. Ðàn ông phải có hai bộ mặt, vừa tử tế, vừa đểu giả, thế mới quyến rũ. Chàng Lút của cậu tớ thấy gian gian. Mình chẳng nói gì. Gian, đểu hay tốt, mình cũng không quan tâm nữa, chỉ biết rằng anh ấy là người tuyệt nhất trần gian".

Tôi lặng người. Ðầu bỗng đau buốt. Bỏ quyển nhật ký của con ở đó, tôi đi ra sân. Mùa đông năm nay lạ lắm. Ban ngày thì nắng hoe hoe vàng, tối đến thì gió lồng lộng như mùa hè. Tôi cảm giác như mình đang bắt đầu đứng ở cuối con đường, nhìn thấy con mình đang dẫm chân lên những nơi mà tôi đã đi qua, nhưng không ngăn nó dừng lại được.

Thời gian trôi đi nhanh thật. Thoáng cái. Con gái đã biết yêu. Mới ngày nào nó còn lẫm chẫm chạy bằng đôi giày đỏ. Ra khỏi bệnh viện khi con bị viêm ruột thừa, bà kế toán cùng phòng bảo tôi: "Thương lấy nó một tí em ạ. Dù sao nó cũng là con em mình. Bây giờ thì em chưa thấy cần nó đâu. Nhưng sau này, lúc nào đó, nó sẽ là cái gậy cho em chống đấy".

Lúc ấy, tôi cười nhạt và không buồn tranh cãi với bà ta. Hóa ra bây giờ, cái sự đó cũng gần gần đến rồi.

Mười một giờ. Ðồng hồ nhà hàng xóm đong đưa thả nhịp. Con gái vẫn chưa về. Thì ra lâu nay nó đã đi và thường xuyên về muộn. Tôi lại không hề biết vì tôi cũng thường về muộn sau nó. Lòng tôi nóng như lửa đốt. Chẳng có một lý do gì để nó có thể về khuya đến như vậy được. Sinh nhật từ chiều cơ mà. Xung quanh hàng xóm ngủ im thin thít. Ðường vắng hoe hoắt. Tôi quay vào nhà. Ðến gần bàn học của con gái, định ngồi xuống nhưng tự nhiên cảm thấy hãi hãi trước những gì con ghi trong sổ. Thôi, thà không đọc nữa còn hơn là phải biết những gì khủng khiếp đang xảy ra với con mình. Tôi hồi hộp đợi nó về gần như hồi hộp chờ người tình giờ hò hẹn.

Mười một giờ ba mươi. Con về. Mặt nó nhợt nhạt phấn son, tóc nó bông lên đằng sau vai chứng tỏ có bàn tay xới vào đó. Nó cụp mắt xuống, tránh ánh mắt tôi. Thôi, xong rồi con ơi, mẹ đã qua những gì mà con đang đến. Không bao giờ chỉ nói chuyện và đùa cười lại nhạt cả phấn ở má và quầng xanh ở mi mắt. Tóc lại rối lên thế kia. Tôi cay đắng nghĩ và nhìn con. Sao tôi thương nó thế không biết. Vội vã thế con. Cuộc đời dài lắm. Mà những hoan lạc con người ai cũng phải trải qua thì ngắn vô cùng. Vội mà làm gì. Hai mươi tư tuổi mẹ mới biết thế nào là hạnh phúc thì lập tức một chuỗi đau khổ kéo theo. Thế mới hay, ai cũng nhem nhẻm nói rằng mọi thứ ở đời đều có giá của nó. Hoặc trồng cây gì thì ăn quả đó. Gieo gì gặt đấy. Nhưng tôi, tôi có gieo gì đâu mà sao đời tôi gặt toàn cỏ dại. Chẳng lẽ, một phút xiêu lòng mà lại khốn khổ đến thế này sao?

- Con xin lỗi mẹ, con đã để mẹ phải chờ! - Nó lúng búng trong mồm.

- Vui không con? - Tôi hỏi nó và chỉ muốn ôm nó vào lòng. Bỗng nhiên, nước mắt dâng ắp ứ trên mắt tôi.

- Cũng vui mẹ ạ ! - Nó trèo lên giường và chui vào chăn quay mặt vào tường.

- Sao lại cũng vui? Phải rất vui chứ?

Im lặng. Rồi tôi hỏi thêm vài câu nữa, nó đều không trả lời. Tôi lại giường, đặt tay vào vai nó. Nó quay mặt ra, ngơ ngác. Chứng tỏ từ nãy đến giờ nó không hề nghe câu hỏi của tôi.

- Gì đấy mẹ? - Nó hỏi, mắt tròn xoe.

Tôi lặng người nhìn nó. Xong thật rồi. Con gái tôi thành đàn bà thật rồi. Cái mặt nó ngây dại vì hạnh phúc, và ánh mắt nó như người có lỗi. Ngượng ngùng và đờ đẫn. Ðấy là ánh mắt của tôi mười mấy năm về trước. Lúc ấy, tôi như đi trên chín tầng mây mười tầng gió. Tôi không nhìn ai hết, không biết ai hết ngoài việc là tôi đang hạnh phúc. Tôi vừa bước vào thiên đường của đời người mà anh - người đàn ông đầu tiên trong đời đã mở cho tôi và đã dìu tôi vào đó. Người đàn ông ấy vừa mở cửa để cho tôi kịp thấy những vòng hào quang của nỗi đam mê thì lập tức, sau đó sáu tháng, anh ta dẫn tôi đến một cái hang sâu hun hút rồi đẩy tôi vào đó. Ðến tận bây giờ.

Ðứa nào nhỉ, đứa nào mang mất khuôn mặt đợi chờ của con gái tôi đi mất và trả cho nó khuôn mặt đàn bà, vừa đằm thắm vừa non nớt của cô bé tuổi mười sáu? Nó đã đến tuổi thành niên đâu cơ chứ. Tôi đau đớn nhìn con và nước mắt tôi chảy dài xuống má.

- Mẹ làm sao thế? Nó hốt hoảng, khuôn mặt đã trở lại bình thường.

- Không sao cả con ạ! - Tôi quay đi, không muốn con gái nhìn thấy mình khóc trước mặt nó. Ðấy là một hành động hiếm hoi của tôi.

Tôi lặng lẽ ra sân. Trăng mùa đông lạnh lẽo hắt ánh sáng từ đâu đó. Người tôi thoắt lạnh, thoắt nóng. Rồi bắt đầu run. Con gái đứng sau lưng.

- Vào nhà đi mẹ. Con xin lỗi đã làm mẹ buồn.

- Con yêu người con trai ấy lắm phải không? - Tôi hỏi. Im lặng. Rồi một lúc, nó khe khẽ trả lời:

- Vâng ạ!

- Con nhớ anh ấy lắm phải không?

- Vâng ạ!

- Lâu chưa?

- Gần bốn tháng ! - Nó có vẻ đỡ sợ hãi hơn.

- Và hai người đã gắn bó với nhau?

Im lặng, kể ra khi bắt đầu hỏi đến câu đó, tôi cũng nghĩ là con gái không trả lời được. Không một người đàn bà nào trả lời câu đó cả.

- Con năm nay mới mười sáu tuổi. Sao vội vàng thế? - Tôi cay đắng hỏi nó.

- Hai năm nữa, chúng con sẽ lấy nhau. Khi ấy con đủ tuổi để lấy chồng rồi! - Nó hớn hở dần lên.

- Ðấy chẳng lẽ là tất cả cuộc sống của con hay sao? - Tôi hỏi, tim buốt nhói vì một lần nữa, tôi lại chậm.

- Ðấy là thiên đường, mẹ ạ! - Nó ngẩng nhìn tôi, mắt lóe sáng - Chúng con sẽ đi làm, sẽ chỉ có nhau và những đứa con. Con sẽ không bao giờ phải buồn như mẹ.

Tôi im lặng, người lạnh ngắt. Con tôi bước vào cái gọi là thiên đường của tôi, cách đây mười sáu năm. Lại vẫn như vòng hào quang như tôi đã gặp. Ðến lúc nào, sẽ là một cái hang sâu hun hút?

- Chúng con sẽ ở cùng mẹ. Mẹ sẽ không phải buồn vì được làm bà ngoại của một lũ cháu - Nó vẫn say sưa.

Tôi có cảm giác như mình bỗng hóa thành đá. Thiên đường. Hình như ai trong đời cũng đã từng đặt chân tới đó. Chỉ khác nhau là thiên đường của họ là cái gì, và đem lại hạnh phúc cho họ ra sao. Có người thì chạy hết thiên đường này đến thiên đường khác, có khi vừa lao vào rồi lại chạy vọt ra ngay vì kinh hãi. Tôi đã từng gặp một người đàn bà và người đàn ông từ thiên đường về. Anh ta ngồi trước mặt tôi bên cạnh là một người đàn bà. Người đàn ông mặt bạc phếch, tóc tai dựng tứ phía, môi nhạt thếch và đang ngấu nghiến nhai. Ông ta ăn như bị chết đói hàng thế kỷ. Hai mắt còn đang đờ dại sinh động dần lên. Những sợi phở xào thun thút chui vào miệng anh ta, kèm rau sống, cà chua, như thể trong bụng anh ta có một tảng nam châm và các đồ ăn là vụn sắt hút nhau vậy. Chui từ từ, chui dần dần, ngon lành. Người đàn bà ngược lại. Mỏi mệt, ngơ ngác và không đói. Bà ta chỉ ngồi ngáp vặt. Tôi hỏi hai người đi đâu về mà mệt mỏi thế?

Người đàn bà hơi cười, nụ cười nhệnh nhạc như mếu. Người đàn ông tiếp tục nhai nốt miếng dở, nuốt đến ực rồi tợp một ngụm rượu khà một cái rồi bảo: Vừa lên thiên đường về! Rồi ông ta tiếp tục ăn như thể cái thiên đường ấy nó vặt trụi hết mọi sinh lực của anh ta vậy.

Tôi cười: Vừa lên thiên đường về, và bây giờ thì ở đâu?

- Ðịa ngục! - Anh ta lẩm bẩm, mồm vẫn nhai. Ðôi môi dày bóng loáng mỡ, những vụn mì bám li ti ở hàng râu con kiến.

Về sau này tôi có gặp lại anh ta và người đàn bà ấy (Họ cùng một cơ quan với nhau, và tôi thì làm ở bên cạnh). Họ lấy nhau. Hai bên đều bỏ vợ bỏ chồng vì cái gọi là hậu thiên đường nó to dần lên trong bụng người đàn bà. Người đàn bà trông nhàu nhò hơn, giống như một nắm giẻ lau. Rồi họ đẻ ra một đứa con, quặt quẹo vì bố mẹ chúng cũng mệt mỏi lắm rồi...

- Vào ngủ đi mẹ! - Con gái nói.

- Mẹ không ngủ được.

Con gái im lặng và quay vào.

Xa xa, có tiếng gà le te gáy. Gần sáng rồi.

*
* *

Tôi trở thành một người khác. Hình như cái sự già nó sập xuống với tôi rồi. Tôi không còn chơi trò ú tim với nó nữa. Mọi tâm trí, nghị lực và sức chịu đựng, tôi dành cho con gái. Tôi sợ. Tôi không thể yên tâm ở cơ quan đến chiều và đi thông tầm đến tối như trước nữa. Lúc nào tôi cũng tưởng tượng ra cảnh con gái tôi, mười sáu tuổi, nước mắt nhòe nhoẹt trên mi "Anh ấy bỏ con rồi" hoặc "Con sắp chết rồi mẹ ơi". Lúc nào tôi cũng chỉ thấy nó, đang bò từ bờ vực này đến bờ vực khác. Những vũ trường, những ánh đèn, làm tôi kinh hãi khi nghĩ rằng con gái mình sẽ ở trong đó. Tôi thường về nhà sớm, tối thì không đi đâu nữa.

Con gái tôi hỏi: - Sao dạo này mẹ không đi nhảy?

Tôi trả lời: - Mẹ mệt.

Nó hơi lạ lẫm và hơi khó chịu nhìn tôi. Ðã đến lúc nó không cần sự có mặt của tôi nữa rồi. Nó tưởng rằng đôi chân của nó đã cứng cáp lắm rồi. Tôi đau đớn nghĩ.

"Ngày - Hôm qua mình và anh ấy đi chơi. Mình phải nói dối mẹ là đi mua xà phòng thơm. Vào cửa hàng, toàn những bánh xà phòng sáu bảy nghìn. Mình mua một bánh ZET, mùi nó hăng hắc nhưng lại dễ chịu. Anh ấy trả lại chị bán hàng và chọn cho mình cái bánh xà phòng gì ấy. Nó to hơn cả ZET, cứng đanh và không có mùi thơm. Mình chưa dùng loại đó bao giờ. Bánh xà phòng anh ấy lấy có 2.500 đ thôi. Anh bảo: "Nó vừa to. Vừa bền lại rẻ". Chiều anh ấy mình cũng đồng ý mua. Lúc mình đưa tờ 10.000 đ, thì chị bán hàng trả lại 7.500 đ anh ấy giơ tay cầm lấy và đút ngay vào túi. Mình hơi ngại nhưng không dám hỏi vì có thể anh ấy quên. Chỉ sợ nếu mẹ hỏi thì không biết trả lời như thế nào. Rồi hai đứa ra bờ hồ ngồi. Mình thèm ăn bánh chuối rán. Anh ấy bảo "¡n vặt làm gì, chua mồm!". Anh ấy ôm mình. Mình chẳng thấy chuyện gì quan trọng nữa".

"Ngày - Anh ấy biến đi đâu hai ngày rồi bảo mình: Anh cố gắng thu xếp công việc càng sớm càng tốt. Anh sẽ nuôi một đứa, còn mụ vợ nuôi một đứa. Anh sẽ đấu tranh với mụ vợ để chiến thắng. Mụ ta sẽ phải bật xới khỏi nhà và tay trắng. Rồi anh ấy sẽ lấy mình. Sao anh ấy khổ thế nhỉ? Ước gì mình có thể chia sẻ cho anh ấy được".

"Ngày - Sáng nay hai đứa đi ăn xôi. Bà bán xôi bảo: Hai bố con ngồi đây ăn xôi đi! Anh ấy cáu lắm mắng bà ấy là mắt chó giấy. Mình cố gắng lắm chỉ ăn được năm trăm. Mình thích ăn bún riêu cua. Anh ấy thì dứt khoát không ăn. Anh ấy bảo cái giống ấy nó ỏng bụng và chóng đói, ăn xôi chắc dạ hơn. Mình đưa năm nghìn trả tiền xôi hai đứa ăn hết 2.500 đ anh ấy bảo bà hàng xôi cứ giữ lấy mai ăn tiếp. Mình thì thế nào cũng được, miễn anh ấy vui vẻ thôi".

Tôi run rẩy đứng lên. Chống chếnh và quay cuồng. Sao lại thế hả con? Con lú mất rồi. Tôi phải làm gì bây giờ hả trời? Không phải còn đang chập chững ở miệng vực nữa mà con đang ở trong vực rồi. Bao giờ thì chìm xuống đáy?

Giống như người điên. Lại giống như kẻ bị mất của. Cũng như người đánh xổ số, chỉ chệch một số cuối cùng của giải độc đắc. Cuồng điên, tiếc nuối và bất lực. Tôi lao ra đường. Những khuôn mặt chạy ngược lại tôi, nhạt nhòa. Ai cũng mang khuôn mặt con gái. Chỉ có điều, đấy không phải là khuôn mặt đợi chờ mà là khuôn mặt đàn bà. Người đàn bà mười sáu tuổi.

Những hàng cây, những nẻo phố và người đông đúc.

Con tôi ở đâu? Bên những người đàn ông một vợ hai con chỉ thích ăn xôi cho chắc bụng lại còn bòn rút từng đồng một. ấy vậy mà con tôi, ngỡ rằng, nó đang ở thiên đường?

*
* *

... Mẹ ơi, mẹ đừng đi guốc cao thế, ngã thì sao? Không, mẹ không ngã đâu. Mẹ ơi, mẹ làm thế nào mà xinh thế? Mẹ chẳng làm gì con ạ. Mẹ ơi, mẹ đi chơi với con nhé. Không, mẹ bận rồi.

Con tôi ở đâu, giữa phố đông mịt mùng người và xe. Mạnh ai người ấy sống bởi gánh nặng của kiếp người đè ụp lên vai. Có một phải có hai, có hai phải có ba bốn. Hôm nọ. Nó về, thay quần áo, tôi lấy đi giặt. Chợt sững người vì mở quần áo nó đầy mùi khai nước giải trẻ con. Tôi hỏi nó tại sao, nó bảo: "Con anh ấy ốm, con phải đến trông đỡ vì anh ấy không thể nghỉ làm". Nó còn hãnh diện mắt sáng lên bảo rằng thằng nhóc quấn nó lắm, và con gái cảm thấy đứa trẻ như con trai của mình. Tôi cảm thấy tôi nhìn thấy nó, ngồi bên người đàn ông. Hắn nhếch nhác trong bộ quần áo màu gạch, bẩn thỉu và hôi hám. Hắn đang ôm hôn con gái tôi, hai bàn tay lùng sục trong áo nó. Con gái như mê đi trong vòng tay hắn. Chiếc cặp sách rơi dưới đất. Trên bàn là hai cốc cà phê loãng toét, họ vào quán đâu phải để uống nước.

Tôi cảm giác con gái tôi đang vuốt ve âu yếm hắn, xoa lên khuôn mặt nhăn nhúm vì tuổi tác của hắn với vẻ trìu mến và trải đời lắm. Hóa ra, đàn bà, ai cũng có những khả năng giống nhau: yêu đương, ghen tuông và cuồng si.

... Mẹ ơi, ngày sau con có phải khổ như mẹ không? Mẹ có khổ đâu? Có, mẹ có khổ, đêm nào con cũng thấy mẹ khóc? ừ, mẹ buồn mẹ khóc? Bố làm mẹ buồn à? Con đừng nhắc đến người đàn ông khốn nạn ấy nữa. Không, đấy là bố con, lúc nào con cũng đợi bố về...

Con ơi, con ở đâu. Sao khổ thế hả con, ai cứu con tôi bây giờ, ai giúp tôi lôi nó ra khỏi cái thiên đường địa ngục đó bây giờ?

Mắt tôi bỗng đập vào một rừng hoa. à không, pháo hoa chứ. Còn nhớ, năm hai mươi bốn tuổi, tôi và người tình đầu tiên lách chiếc xe đạp, từng tí một, giữa dòng người, chân chôn chặt dưới đất nhưng ai cũng ngửa cổ lên trời để xem pháo hoa. Từng chùm hoa lắc rắc trên bầu trời tím ngắt. Tôi ôm lấy anh, như nuốt từng vì sao rơi rụng như muốn hét lên vì hạnh phúc. Bây giờ, những chùm hoa đó lại trở về. Chỉ có điều, nó không rụng từ bầu trời tím nữa mà ùa thẳng vào mặt tôi.

Tôi không biết gì nữa ngoài cảm giác tất cả tan biến hết. Con gái. Người đàn ông thích ăn xôi buổi sáng cho chắc dạ và uống cà phê trong lúc yêu đương, lúc nào cũng chỉ cà phê. Những chùm pháo hoa... Thiên đường tuổi mười sáu!...

Chẳng còn gì. Ngoài sự hư vô. Bầu trời pháo hoa vụt tắt và mở ra hun hút một vực sâu...

*
* *

Cô gái ngẩng mặt, khẽ rùng mình:

- Anh, em tắc thở rồi. Gì mà tham!

Người đàn ông, giọng khẽ khàn đi:

- Anh yêu em, lúc nào cũng thèm em, không thể vắng được em trong những năm cuối cuộc đời anh.

Có tiếng vang từ ti vi của nhà chủ: "Mời nhận dạng... Công an quận... thông báo... vào hồi 6h34' ngày... có một vụ tai nạn xe cộ xảy ra trên đường... Nạn nhân là một phụ nữ khoảng trên 40 tuổi, mặc áo màu... xe đạp mi ni.. chân đi giầy... không mang giấy tờ tùy thân... Ai là người nhà, mời đến đồn công an... nhận diện và làm thủ tục".

Cô gái vội đặt tách cà phê xuống, nhưng người đàn ông cũng vừa tợp xong tách cà phê của mình và choàng tay ôm lấy cô gái. Cô nhắm nghiền mắt, say lịm đi, không kịp nhìn lên màn hình. Phải chăng đó là điều may mắn cuối cùng của cô trước khi bước vào... hậu thiên đường?

Noel 1992




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0

Giấc mộng cuối cùng

Triệu Huấn

Bà Mây được xây tặng ngôi nhà "Tình nghĩa" hai chục mét vuông. Thân tộc, xóm giềng, cơ quan đoàn thể đến chúc tụng, pháo nổ đì đùng vui hơn ngày Tết.

Năm nay bà tròn tám mươi. Lấy chồng từ tuổi mười lăm, sinh được hai đứa con trai. Chồng hy sinh ở Ðiện Biên khi thằng thứ hai mới lên năm. Năm 62 người con đầu cưới vợ, được đứa con gái thì đi bộ đội. Sau đó bốn năm, Vũ Văn Bình, cậu thứ hai thi vào đại học cũng vừa độ tuổi nghĩa vụ quân sự. Nghe nói Bình đỗ, nhưng giấy báo điểm về muộn nên anh đã vào quân ngũ. Bà mẹ ngậm ngùi, nhớ thương nuối tiếc khi chiến tranh thực sự bước vào nhịp độ khốc liệt.

Nhà chỉ còn đàn bà trẻ con. Họ sống chờ đợi cho đến khi cuộc chiến kết thúc. Song những người đàn ông đều không trở về. Thay vào đó là hai giấy báo tử cùng đến một lúc! Xã phải bí mật tách làm hai đợt truy điệu cách nhau bốn tháng.

Một năm sau cô con dâu xin đem con về nhà mẹ đẻ rồi lấy chồng bên kia sông Ninh. Bà mẹ Mây sống độc thân từ thuở ấy. Tuổi sáu mươi trời còn để cho bà sức khỏe đủ chống chọi với gian truân. Nhưng sang tuổi bảy mươi thì mọi sự đều biến đổi. Ðứa cháu gái lấy chồng ngoài phố huyện cũng ít khi về thăm nom giúp đỡ bà. Hợp tác xã nông nghiệp suy tàn chẳng còn đủ sức bao cấp cho diện "ưu tiên" ngày một rộng. Bà sống tùng tiệm bằng mảnh đất phần trăm. Bốn gian nhà tranh giột nát mỗi năm một thu nhỏ lại đến nay chỉ như một túp lều. Kèo cột, rui mè mòn mỏi muốn ụp xuống cùng với tuổi già tàn tạ của bà. Họ hàng làng xóm cũng còn người chạy đi chạy lại. Song người tốt bụng thường lại nghèo nên chẳng ai cưu mang nổi.

Một hôm có người đàn bà dung nhan tươi tắn, dáng vẻ phúc hậu, áo quần nền nã, khoác chiếc túi lớn, lần hỏi đến nhà bà. Chị nói giọng miền trong hơi khó nghe.

- Con có công việc buôn bán qua vùng này. Trời gần tối con muốn nhờ bà cho nghỉ lại một đêm được không ạ?

Bà Mây ngần ngại.

- Nhà tôi nghèo, chiếu manh, giường chiếc. Ðêm nằm năm ở, muốn rộng rãi sạch sẽ, để tôi nói với bà Cầm nhà liền ngõ đây thôi. Còn nếu chị vui lòng nằm chung với già thì ở đây cũng được.

- Con cảm ơn bác. Thân gái dặm trường con không muốn đến nhờ vả nhà có đàn ông. Ðược nằm bên bác là con mừng lắm rồi.

Bà Mây vẫn thấy hơi lạ lùng và có phần nghi ngại. Thời nay thiếu gì kẻ gian lợi dụng lòng tốt của người khác để lừa đảo kiếm chác. Nhưng nhà mình thì chẳng có gì đáng để mất nên bà vui vẻ thu dọn cho khách có chỗ nghỉ ngơi tươm tất.

Người khách lạ xin nấu nhờ bữa cơm. Chị có sẵn gạo, thức ăn trong túi. Bà Mây ra vườn tuốt cho nắm rau ngót. Chỉ một loáng bữa cơm ngon lành đã dọn ra. Gạo trắng thơm phức. Giò chả, gà luộc, cá thu kho toàn những thứ mà từ lâu lắm bà Mây chỉ thấy trong ký ức!

- Con mời bác ăn cơm với con!

- Chị cứ tự nhiên, tôi ăn rồi.

Thực ra bà nấu một bữa ăn hai. Còn lưng cơm nguội khô nhăn vẫn trong đáy niêu.

- Con nấu đủ cho hai mẹ con. ít nhiều bác dùng một lưng cho con vui!

Nói rồi chị kéo bà lại ngồi bên mình, rót rượu ấn vào tay, tiếp thức ăn đầy bát, mời chào đon đả thân tình như con cái trong nhà.

- Chị có tiền mua thức ăn ngon sao không dùng bữa ngoài hiệu cho gọn, mang theo làm gì thêm lách cách?

- Dạ con ăn trưa ngoài phố huyện, nghe nói đường vào đây còn xa, sợ trong này không có hàng quán nên phải chuẩn bị tí chút.

- Trong này cũng chẳng thiếu, có tiền là đủ cả... Chắc chị buôn bán kiếm được nên mới tiêu pha rộng rãi thế này?

Thiếu phụ cười hiền lành.

- Nhà con cũng làm ruộng như quê ta đây thôi. Nhưng gần rừng liền biển nên kiếm cũng dễ. Con xin thưa thực với bác là con chẳng phải dân buôn. Con đi tìm em trai con. Cha mẹ mất sớm, chỉ còn hai chị em. Cậu ấy giận vợ chồng con bỏ nhà ra đi, nghe nói đã lấy vợ, lập nghiệp ngoài này. Con phải chuẩn bị tiền bạc cho chuyến đi tới đích.

- Thế cậu ấy tên là gì?

- Em con tên là Bình. Vũ Văn Bình.

- Thì ra cùng họ tên với thằng con thứ hai của tôi! - Bà cụ thở dài. - Nhưng em Bình nhà tôi hy sinh năm 1973 rồi!

Người đàn bà thất sắc, tay run run vội buông bát đũa ngồi chết lặng như người mất hồn. Bà mẹ ngạc nhiên hỏi khách.

- Có chuyện gì thế chị?

- Dạ con nghĩ đến em con, nghĩ đến cái chết ở nơi đất khách quê người. - Chị lau nước mắt cười gượng. - Có lẽ con hỏi thăm nhà cậu Bình mà người ta chỉ tới đây.

- Theo tôi biết thì làng này không có anh rể ngụ cư nào là Bình. Có thể người đưa tin hiểu lầm chăng?

- Con cũng nghĩ vậy... song tâm tưởng lại cứ tin chắc là em con đang sống quanh quẩn nơi đây. Nó mai danh ẩn tích cũng là muốn tránh mặt con thôi. Con sẽ còn đi lại vùng này, bác cho phép con thỉnh thoảng lưu nhờ đôi ba bữa.

- Chị cứ coi đây là nhà mình. Tôi cũng sẽ dò hỏi giúp mấy làng quanh đây, có tin gì tôi mách chị.

Ðêm đó bà Mây nằm cạnh khách chuyện trò thâu đêm. Lâu lắm bà mới có dịp dốc bầu tâm sự, chia sẻ buồn vui với một người xa lạ. Thế mà khách lại chăm chú lắng nghe, hòa chung tiếng cười giọt lệ như người thân trong nhà...

Sáng hôm sau bà tỉnh dậy thì đã thấy chị ta chuẩn bị cơm nước chu đáo bày đặt gọn gàng mời bà đi dùng bữa. Bà mẹ cảm động và thầm nghĩ: y như cô Tấm trong quả thị chui ra vậy.

¡n uống xong chị xin phép bà đi tìm em, gần trưa mới về. Bà hỏi, chị thở dài, chưa thấy tăm hơi gì. Chị mở túi lấy bộ đồ ướm vào người bà ngắm nghía. Lại có cả chiếc áo bông dày dặn bằng láng hoa đen.

- Trong ta không có thứ này hay sao mà chị phải ra đây mua?

- Dạ con mua để biếu bác đấy? Bác mặc chiếc áo bông vào xem có vừa không? Con hẹn với chủ hàng là nếu mẹ tôi mặc không đẹp thì tôi sẽ mang ra đổi chiếc khác?

- Chị mua cho tôi? - Bà ngạc nhiên tròn mắt nhìn người khách lạ. - Ôi tôi không dám nhận đâu! Tốn phí thế này tôi biết lấy gì đền ơn chị!

Thiếu phụ cười đôn hậu:

- Mấy thứ này cũng rẻ thôi, xin bác đừng bận tâm. Con mà tìm được cậu cháu thì ơn bác lớn gấp trăm lần chứ bộ quần áo nào so sánh được?

- Nhưng mà... - Bà Mây xúc động nghẹn ngào không nói được.

- Trời Phật xui khiến hay sao mà anh Bình, con mẹ lại trùng họ trùng tên với cậu em con. Xin mẹ hãy coi con như con gái mẹ.

- Mẹ cảm ơn con! Tên con là gì mẹ chưa biết mà con đã bỏ hàng đống tiền mua quà cho mẹ... Mẹ thật có lỗi với con.

- Tên con là Huệ mẹ ạ.

Từ đấy bà Mây có cô con nuôi người đường trong. Huệ đi rồi, thu xếp chăn gối bà thấy một gói tiền khá lớn. Bà tưởng chị quên nên ngong ngóng chờ quay lại nhưng không thấy. Bà lo lắng đem giấu kín sợ kẻ gian biết đến cuỗm mất thì mang tiếng.

Nửa năm sau chị Huệ quay lại. Mới nhìn thấy chưa kịp hỏi han bà đã vội đi lục gói tiền mang ra trả. Chị ôm lấy bà mẹ ứa nước mắt.

- Mẹ ơi đấy là số tiền con định đưa biếu mẹ nhưng lại sợ mẹ không nhận. Con đặt dưới gối để khi cần mẹ tiêu. Thế mà mẹ vẫn giữ đến giờ?

- Mẹ nghèo nhưng con có để bạc triệu thì mẹ vẫn giữ cho con. Tấm lòng con còn quý hơn vàng!

Từ đấy biếu gì chị phải đưa tận tay, dặn dò kỹ lưỡng. Thấy vách lở chị nhào bùn trát kín, thấy mái dột chị leo lên dọi lại. Tuy hàng năm chị mới ra nhưng bà mẹ cảm thấy ấm lòng, còn có người để mà mong đợi mà nhớ thương.

...

Nhưng từ ngày bà được xây "căn nhà tình nghĩa" thì lại không thấy chị Huệ ra. Bẵng đi một năm rồi, ruột gan bà cứ héo hon buồn thảm. Nhà cao cửa rộng làm gì khi nỗi nhớ mong cứ chìm trong tuyệt vọng.

Từ khi bà có chốn ở khang trang, cái Tuyến, cô cháu nội lấy chồng trên huyện cũng năng phóng xe về thăm. Người con dâu tái giá bên kia sông thỉnh thoảng cũng đáo qua. Nhưng lòng dạ bà vẫn không nguôi ngoai hình bóng người con nuôi xứ lạ...

Rồi một hôm Huệ dẫn theo một chàng trai cao lớn, dung nhan tuấn tú về thăm.

- Thưa mẹ, hôm nay con đưa cháu Vũ Bình Minh, con trai con ra thăm bà.

- Cháu chào bà ạ?

- Ôi! Cảm ơn con, cảm ơn cháu! Hơn năm qua mẹ mong đỏ mắt chẳng thấy con ra. Mẹ cứ lo chưa gặp con thì chết không nhắm mắt nổi.

Ðêm hôm đó Bình Minh nằm nhà ngoài, Huệ và bà Mây chung giường buồng trong chị mới kể lại những điều sâu kín của mẹ con mình cho bà Mây nghe.

*

Năm 87 tiểu đoàn 12 chuẩn bị vượt Trường Sơn vào chi viện cho chiến trường B6. Bộ đội được đi phép lần lượt. Bình về thăm mẹ và gia đình để khởi đầu cuộc trường chinh không hẹn ngày về. Bà Mây thương nhớ con nhưng vẫn động viên anh trả phép đúng hạn để thay phiên cho những anh em đi sau.

Bình đóng quân ở một làng nghèo ven biển miền trung. Một nửa tiểu đội anh ở nhờ nhà anh Hạc, một thương binh chống Pháp, cụt chân trái. Hai anh chị chưa có con nên nhường cả ba gian nhà ngoài cho bộ đội.

Khi Bình về thì bốn anh em còn lại vui mừng giao tất cả quân trang vũ khí cho anh để đi phép đồng loạt.

Ðêm hôm đó anh Hạc rời buồng vợ ra nằm chung với Bình ở nhà ngoài. Hai người lính của hai cuộc chiến tranh thì thào tâm sự với nhau hết chuyện này sang chuyện khác.

Hạc cũng người ngoài Nam Hà, cha mẹ mất sớm phải đi ở đợ. Ðến tuổi trưởng thành anh đi bộ đội, vào chiến đấu ở mặt trận Trị Thiên. Anh bị thương nặng, chuyển ra khu Bốn rồi về Ty Thương binh. Thời đó Hội Phụ nữ có phát động phong trào xung phong nhận thương binh nặng về nuôi dưỡng. Nếu thương yêu nhau thì thành vợ chồng. Còn không hợp thì hết hạn lại chuyển về Ty để chị em khác nhận.

Chị Huệ là cán bộ Phụ nữ huyện, rất hăng hái trong nhiệm vụ này. Thời đó tình yêu nước, thương yêu bộ đội và tình yêu lứa đôi không minh bạch, rạch ròi, tỉnh táo như bây giờ. Ðể làm gương, Huệ viết đơn đầu tiên! Có cả mấy chục chị em theo nhau "xung phong"! Nhưng cả huyện chỉ được "phân" ba anh thương binh loại nặng. Huệ chọn hai cô khỏe mạnh nết na theo mình lên Ty đón về. Ðến nơi thì ai cũng thẹn thùng đun đẩy nhau. Là cán bộ, Huệ phải gương mẫu thu xếp cho êm đẹp.

- Chị nhường hai em lần lượt vào hỏi han, ưng anh nào thì đón. Phần chị thế nào cũng được, anh nào chị cũng thương!

Hai cô vào trước ngồi bên hai chàng ưa nhìn. Hạc cao tuổi, người miền ngoài, thương tật cao... tủi thân ngồi chờ. Mải bàn giao giấy tờ với Ty, nửa giờ sau chị mới vào. Huệ là người xinh đẹp nhất trong ba cô gái khiến Hạc bàng hoàng xúc động! Anh theo chị về ngôi nhà ven biển trước sự đón chào vui vẻ của xóm làng.

Tình yêu của mấy cô gái cấp tiến miền trung có vẻ cực đoan, mã thượng, kiêu sa như khúc quân hành, nhưng cũng mơ mộng, thiêng liêng như những bản thánh ca huyền diệu.

Chẳng bao lâu Huệ nhận ra rằng làm vợ một thương binh nặng không phải dễ dàng. Chị xin thôi công tác để ở nhà phục vụ chồng và tự an ủi đây cũng là một công tác cách mạng vào loại khó khăn nhất.

Anh chị sống với nhau thật thuận hòa êm ấm. Chị khỏe mạnh lo việc đồng áng, còn anh làm đủ mọi việc vặt trong nhà rất khéo léo gọn gàng nên cuộc sống cũng khá sung túc. Song có một nỗi buồn không sao vượt nổi là đường con cái. Lấy nhau đã bẩy năm mà chưa một lần có dấu hiệu hoài thai sinh nở. Vết thương nặng đã biến anh thành người thiếu khả năng tình dục. Ðã nhiều lần anh xin chị li dị để Huệ kiếm người chồng mới và coi Hạc như anh, nhưng chị không chịu. Trong cảnh ấm cúng gia đình vẫn tiềm ẩn một mầm bão tố. Hạc lo sau này chồng già vợ yếu biết trông cậy vào ai?

Bình nghe Hạc kể bỗng thấy thương anh, thương mình, thương cho đời lính chiến. Ðường xa nghĩ bước sau này mà ghê! Hy sinh ngoài mặt trận đã đành chứ rơi vào trường hợp anh Hạc thì còn tội hơn. Nghĩ vậy nhưng Bình vẫn an ủi người lính già:

- Anh chị nên tìm lấy đứa con nuôi.

- Không gì bằng chính mình đẻ ra. Anh đã đành nhưng chị còn khả năng sinh đẻ, còn khát vọng làm mẹ mà phải từ bỏ thì đau khổ biết nhường nào.

Bình yên lặng, còn Hạc thở dài. ít phút sau anh thì thầm vào tai người lính trẻ:

- Bình này... anh chị muốn xin em đứa con... Em có thể giúp anh chị được không?

Bình ngạc nhiên lúng túng không biết trả lời thế nào đành nói lảng:

- Nhưng em đã có vợ con gì đâu mà cho anh chị được!

- Có đấy. Nó đang nằm ở đây này! - Anh cười và đặt tay lên bụng Bình - Em khỏe mạnh chỉ cần vào với chị Huệ vài lần là kết quả thôi!

- Ôi anh Hạc! Anh nói gì lạ vậy! Anh sai bảo gì cũng được, nhưng chuyện đó thì không thể...

Hạc im lặng hồi lâu mới nhẹ nhàng nói tiếp:

- Anh biết em là chàng trai trong trắng, đức độ, em không muốn bị hoen ố tuổi hoa niên... Nhưng thực ra đây là sự hy sinh vì bạn... Huệ đáng tuổi chị lớn của em, nhưng được cái cũng gọn gàng, sạch sẽ, dễ coi. Giá như cô ấy xấu xí ốm yếu thì anh cũng không dám nhờ em.

- Không phải chuyện ấy đâu. Em lo về mặt tình cảm... Sau này anh sẽ hối hận đấy!

- Anh đã có nhiều năm trời suy nghĩ, nhiều tháng để bàn đi tính lại với Huệ, cô ấy mới hơi xuôi.

- Thế thì ở đây thiếu gì đàn ông, anh chị nhờ ai không được?

- Làng xóm cũng chưa hết người, nhưng chỗ quen biết, ra vào gặp nhau, đàn ông họ hay lấn tới. Mình buông xuôi thì tan cửa nát nhà nhà mình. Mình kháng cự, lộ chuyện sẽ đổ vỡ gia đình nhà họ. Vì thế Huệ không thể chấp nhận... Còn em quê quán ở xa, cả đời chỉ qua vùng này một lần. Em lại ít tuổi, sau này hết chiến tranh lấy cô vợ trẻ , còn chị Huệ lúc đó đã già có gặp nhau cũng dễ kiềm chế!

- Ðã xảy ra chuyện đó thì trái đất cũng trở thành nhỏ bé, anh không lường hết di họa của nó đâu!

- Em là chàng trai thông minh đức hạnh. Anh hy vọng đứa trẻ giống em, anh chị có phận nhờ. Khi anh tin cẩn quý trọng em thì chắc là sau này em cũng chẳng nỡ gây đau đớn cho một kẻ tàn tật như anh.

Nghe Hạc nói nước mắt Bình ứa ra. Chàng trai hai mươi tuổi, chưa có người yêu, tuổi học trò cắm đầu vào đèn sách. Ðôi khi cũng có trò trêu đùa gán ghép, nhưng chạm vào bạn gái là mặt đỏ nhừ lảng tránh. Nay Hạc đề cập một cuộc giao hoan thực sự thì anh vừa xấu hổ, tự ti, hốt hoảng lại vừa như bị xúc phạm. Như đoán biết được tâm lý người bạn trẻ, anh Hạc vỗ vai thân tình, dỗ khéo:

- Ðừng ngại! Em đâu có quen chuyện này. Lần đầu cũng lúng túng hoảng sợ một chút. Em không phải nói gì, Huệ sẽ giúp em từ đầu đến cuối.

Nói rồi anh nhổm dậy, tụt khỏi giường lần đôi nạng chống và kéo tay Bình.

- Ði với anh... anh đưa chú vào... cố giúp anh!

- Em sợ chị ấy...

- Anh nói trước với Huệ chiều nay rồi! Xem ra chị cũng quý em đấy. Hãy mạnh dạn lên! Cả hai đều ưng nhau mới chóng kết quả!

Bình bước theo Hạc như kẻ mất hồn, tim đập rộn... Hạc vén cửa màn đẩy Bình vào rồi lịch kịch chống nạng đi ra.

Cái buồng miền trung trống tuềnh, cửa không bao giờ đóng. Một lối đi thông từ nhà ngoài xuống bếp. Chiếc giường đôi ngắn ngủn, ruỗi thẳng không thừa đầu cũng thiếu chân. Bình nằm co con tôm quay mặt ra ngoài, dán mắt vào khuôn cửa tối sẫm. Từ nhà ngoài tiếng cốc chén lách cách, hơi rượu tỏa vào không gian. Hạc uống liền hai chén rồi lên giường nằm. Mười phút sau có tiếng ngáy nhè nhẹ, đôi lúc nấc lên nghẹn ngào rồi lại dịu đi... Thời gian trôi cồn cào như dòng suối xối qua ghềnh đá...

Bàn tay mềm mại của Huệ đặt lên vai Bình kéo nhẹ. Chàng trai xoay người lại. Hơi đàn bà nồng ấm và mùi hương nhu, lá chanh phả vào mặt anh. ánh sao đêm mờ ảo lọt qua cửa sổ làm nổi rõ một đường cong ngồn ngộn... Nhục cảm bén lửa bùng cháy. Bình dang cánh tay vạm vỡ cho Huệ gối lên. Hai cơ thể hút vào nhau như cặp nam châm. Cái nhút nhát ban đầu biến đi nhanh chóng. Tính đàn ông từ dòng máu tổ tông truyền lại đã hướng dẫn hành động của Bình chính xác và mạnh mẽ, không phải đợi đến sự giúp đỡ của người đàn bà thuần thục. Mọi chuyện diễn ra êm đẹp trong bóng tối câm lặng... Họ thức thâu đêm.

Gần sáng Bình quay ra nhà ngoài. Có lẽ Hạc cũng tỉnh giấc từ lâu nên anh hăm hở hỏi ngay.

- Xong việc rồi chứ em?

- Dạ!

Bình đáp cụt lủn rồi nằm xuống. Hạc vỗ nhẹ lên vai người bạn trẻ như thầm cảm ơn.

Hôm đơn vị ba lô lên đường, Bình bắt tay từ biệt Hạc nhưng không dám chào Huệ. Chị đứng trong nhà nước mắt lưng tròng nhìn đám bộ đội tụ tập ngoài sân. Ðôi lúc bắt gặp cặp mắt Bình, chưa nhìn lâu anh đã vội lảng đi. Thế là suốt từ đêm vào cuộc tới lúc chia tay cả hai chưa nói với nhau lời nào.

Huệ có mang sinh được thằng Minh, kháu khỉnh ngoan ngoãn thông minh đúng như mong ước. Nhưng trong làng cũng có vài lời bàn tán về sự kiện dị thường này.

Khi thằng Minh vào học cấp ba, anh Hạc mới nói với vợ:

- Lời ra tiếng vào về huyết hệ thằng Minh có thể gây ra tai họa sau này. Thế gian nghi ngờ không sao chứ để con không tin vào cha mẹ thì nguy hiểm lắm. Nó có thể đoán người này là cha, tưởng kẻ kia là bố, bọn xấu sẽ vu xằng nhận bậy làm lẫn lộn vàng thau, trắng đen đảo ngược. Vả lại con nó có quyền biết sự thật này. Nếu ta dũng cảm tiết lộ thì chính là xây dựng cho nó tình cảm, niềm tin vững chắc.

- Ôi không được đâu anh! Con còn trẻ quá, nó sẽ mặc cảm tự ti, không chủ động trong cuộc sống, dễ dẫn đến thất bại trên đường đời. Vả lại ta có đem lại cho con một người cha khác đâu. Bình cho nó dòng máu, nhưng anh cho nó cuộc đời và anh thực sự là cha nó. Không có lòng cao thượng của anh thì chẳng có Minh hay bất cứ đứa trẻ nào khác trong nhà mình. Em xin anh giữ lại điều bí mật này chí ít cũng đến lúc một trong hai ta qua đời.

- Em nói đúng nhưng chưa hết nhẽ. Chỉ một trong hai ta không đủ sức tạo mềm tin cho con đâu. Bệnh tật thương tích không cho phép anh nấn ná mãi. Ta phải chuẩn bị dần đi. Trước tiên em nên đi tìm cho nó người cha. Tìm chứ anh chưa cho phép em giáp mặt. Nhớ là mình phải đảm bảo hạnh phúc và sự yên ấm cho gia đình Bình nữa. Sau này tìm cơ hội tốt nhất ta sẽ để cho cha con nó gặp nhau.

Hạc ghi địa chỉ Bình cho Huệ nên chị mới tìm đến được nhà mẹ Mây. Tin Bình mất làm Huệ đau đớn bàng hoàng. Anh Hạc cũng đau buồn không kém. Tội cho thằng Minh bé bỏng côi cút mà không hay biết gì. Hạc thấy trách nhiệm người cha dồn cả lên đôi vai mình. Từ đấy anh cố tạo điều kiện cho vợ ra viếng thăm bà. Tự tay anh chuẩn bị từ chai mật ong, lạng cao, cặp nhung, chai rượu thuốc... để chị mang ra biếu mẹ Mây.

Rồi một bữa đau nặng biết mình khó qua. Hạc đã gọi vợ con lại bên, tự mình tiết lộ cho thằng Minh hay nguồn gốc của nó. Ðã vào tuổi thành niên nên Minh nhận thức được sự kiện này. Nó ôm Hạc kêu khóc thảm thiết. Nó đâu biết thân phụ mình là ai. Bình dù có thiêng liêng thì cũng chỉ là người cha hư ảo xa vời. Còn Hạc mới thực sự là người bố thân thiết gần gũi giữa cuộc đời nó.

Hạc mất, hai mẹ con lo việc mai táng cúng bái chu tất. Ðể tang trọn năm, qua đợt giỗ đầu Huệ mới đưa con ra bắc nhận quê cha, cho bà nhận cháu.

Nghe Huệ kể, bà Mây vui mừng ứa nước mắt. Bà bắt chị bật đèn lên để nhìn rõ đứa cháu nội, đích tôn. Nhưng trời đã hửng sáng, bình minh lọt qua khe cửa soi tỏ khuôn mặt khôi ngô tuấn tú của chàng trai. Bà thì thầm với Huệ .

- Nhìn kỹ mẹ càng thấy đúng là khuôn mặt thằng Bình thuở trẻ!

Sáng ra bà Mây cho mời ông bác, bà cô, anh chị em họ Vũ cùng mấy nhà hàng xóm thân tình lại để giới thiệu đứa cháu nội con nhà Bình. Nghe xong câu chuyện mọi người đều trầm ngâm, miệng im như thóc. Ông Bái, bề trên cao tuổi của họ Vũ rít hơi thuốc lào rồi đĩnh đạc lên tiếng:

- Nghe cụ Mây cho biết chị và cháu ra nhận họ hàng, tìm làng xóm chúng tôi cũng mừng. Song anh Bình đã hy sinh. Hồi sống cũng chưa thư từ, tâm sự gì về đường vợ con. Vậy thì chị và cháu có giữ được di vật chứng tích gì của người quá cố chăng? Thí dụ như lá thư, tấm ảnh hay nét chữ ghi tên cha mẹ, xóm làng cũng được!

Chị Huệ bàng hoàng bối rối chưa nghĩ đến chuyện này và cũng chẳng có gì trong tay. Giữa hai người chỉ qua một đêm ân ái câm lặng, sao có thể mang ra đây làm chứng tích. Chị đành nói cho qua chuyện:

- Thưa bác chiến tranh trong con vô cùng ác liệt, nhà cửa cháy đi dựng lại nhiều lần nên chẳng còn giữ được gì.

- Thì lần này cố về tìm đi. - Ông già cười - Chí ít cũng còn chiếc khăn tay, manh áo cũ chứ? Người xưa nói "Giữ tàn y lại để dành hơi" mà!

Mọi người cười ồ vui vẻ rồi lục tục đứng dậy cáo lui. Chị Huệ ngượng chín mặt. Hai mẹ con cảm thấy nhục nhã vô cùng. Bà Mây gạt nước mắt nói với chị.

- Ðây là việc nhà mình. Họ hàng tin hay không tin thì Huệ và Minh vẫn là vợ con thằng Bình, là dâu mẹ cháu bà, đừng nghĩ ngợi làm gì. Trước sau rồi họ cũng sẽ thông cảm.

Chị Huệ chỉ ở chơi một ngày, hôm sau đưa con về sớm. Mấy lần trước ra thăm vui vẻ bao nhiêu thì lần này buồn tủi bấy nhiêu.

*

Mùa đông năm Dậu bà Mây ốm nặng, mẹ con nhà Huệ cũng chẳng biết tin mà ra thăm. Chắc là chưa tìm được chứng cớ. Thật tội. Chẳng lẽ vì những đòi hỏi oái oăm của họ hàng mà bà cháu không được nhận nhau? Một tối bà cho gọi thân tộc đến bên rồi nói:

- Ðêm qua thằng Bình hiện về. Nó nói đã cho vợ con về thăm sao họ hàng không nhận. Tôi hỏi chứng cớ, nó bảo: "Con nói mẹ cũng không tin à?" Rồi nó ôm tôi mà khóc. Tỉnh dậy tôi mới biết con mình về báo mộng. Tôi chỉ có một nguyện vọng điện cho mẹ con nhà Huệ ra ngay. Dù cưới xin hay chỉ là con hoang cũng vẫn máu thịt nhà mình. Nó chẳng bỏ tôi sao tôi lại không được nhận nó. Xin bà con họ mạc đừng lãnh đạm với mẹ con nó.

Nói rồi bà Mây thanh thoát ra đi. Chôn cất xong, mẹ con Huệ mới ra kịp. Chị xin được xé khăn tang, ông Bái đồng ý, nhưng Tuyến phản đối. Minh thay mặt mẹ lên thưa với họ hàng. Lần này chàng trai chủ động tự tin hơn.

- Thưa ông bà cô bác. Khi hấp hối cha cháu mới cho cháu hay cháu là con bố Bình. Cháu tin vào sự thật này. Dù họ Vũ không thừa nhận thì đây vẫn là cội nguồn của cháu. Mẹ con cháu ra nhận bà là để hướng về tiền nhân chứ không có ý vụ lợi. Cái lớn nhất cháu được thừa hưởng là dòng máu ông bà truyền cho bố cháu, giờ đây đang chảy trong tim cháu. Cháu sẽ giữ gìn để sự sống của người trường tồn với nhân gian. Mẹ cháu không có di vật nào về câu chuyện tình hai mươi năm trước. Song pháp luật mới cần bằng cớ chứ tình cảm, lương tâm chỉ cần ở lòng thành. Thưa chị Tuyến, em hy vọng sớm muộn chị cũng sẽ tin em. Giữa chúng ta không có gì đáng phải tranh chấp. Em chỉ mong hàng năm mẹ con hành hương về đất tổ cùng chị thăm viếng mồ mả ông bà, hương khói gia tiên lấy một lần. Nhà em neo người. Em đi học xa, mẹ em thui thủi một mình trông nom mươi đàn ong, dăm cặp hươu, một đồi cây cuộc sống chẳng thiếu thốn gì, chỉ mong có bè bạn họ hàng để mà đi lại. Em tha thiết mời chị vào chơi để thông cảm nhau hơn!

Nghe Minh nói xong Tuyến khóc òa. Cô chạy lại nắm chặt tay cậu em.

- Chị xin lỗi Minh! Chị quen sống nhỏ nhen bủn xỉn. Ngay cả khi nghe bà kể lại giấc mơ cuối cùng gặp chú Bình chị cũng gạt đi. Ôi chị thật tàn nhẫn và độc ác!

- Có thể vong linh bố em xuất hiện trong mơ. Song em nghĩ vì thương mẹ con em nên tâm tưởng của người đã biến thành giấc mộng.

- Dù sao giấc mộng cuối cùng của bà cũng là mộng đẹp, mơ lành!

- Vậy chị em mình phải làm sống lại giấc mơ của người trong cõi thực!

Tuyến quay sang ôm lấy chị Huệ:

- Thím ơi, xin thím tha lỗi cho con. Con nghi ngờ thím là con có tội với chú Bình với em Minh nhiều lắm!

- Tuyến ơi, nghe con nói thím cảm động lắm. Con không có lỗi gì. Mọi niềm tin đều cần thử thách. Niềm tin càng lớn lao




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Số phận

Lê Minh Khuê

Bây giờ người ta thấy bà rờ rẫm đi trong vườn. Vườn vắng tay người chăm sóc nên cây cối cằn cỗi. Chỉ còn mấy cây chè cổ thụ im lìm đương đầu với sương gió. Lá chè càng già càng đậm nước. Bà cụ hái chè bằng những ngón tay thoăn thoắt như thời con gái. Lá chè từng nắm được bỏ vào cái túi vải đeo bên sườn.

Tập đứng ở hiên nhà nhìn mẹ già. Thấy mẹ hái chè, anh yên tâm. Như vậy cụ đã hoàn toàn thư thái sau ngày đưa được hài cốt anh Thắng trở về. Mắt mẹ đã lòa, vì khóc nhiều. Vì mất ngủ. Vì bồn chồn đau xót. "Mấy đứa đi cùng thằng Thắng đã về cả. Xã xây mộ rồi!".

"Mẹ cứ để thư thư cho chúng con có thời gian!".

"Mẹ không biết lý do gì hết. Cứ đưa được nó về cho mẹ".

Tập phát cáu: "Mẹ cứ làm như chúng con không cố gắng".

Bà cụ òa khóc. Khóc nhiều, thức đêm nhiều, mắt mờ dần. Ðưa lên bệnh viện thành phố, các bác sĩ mổ hai lần. Về nhà bà cụ vẫn khóc đêm đêm. Có lúc bà ra vườn đứng nói chuyện với cây chè trước kia Thắng trồng: "Bao giờ thì về, hả con?".

Mắt cụ mổ lần thứ ba thì tìm được hài cốt Thắng. Cụ không còn nhìn rõ. Cụ ngồi xuống ôm thân thể Thắng bọc trong lá cờ, nhẹ nhàng, cụ như lay gọi: "Thắng đây hả con? Thôi được rồi. Về với mẹ!".

Cụ rạng rỡ cười nói. Ði hái chè cho ông lão mời bạn cựu binh quanh xóm. "Thằng Thắng nó về với tôi rồi!". Cụ lần mò ra chợ mua rau mua mắm, giúp đứa con dâu vợ thằng út. Con dâu đi làm trên phố, tối về leo lên giường mẹ chồng, cho hai chân vào lòng để mẹ ủ ấm. "Con đọc Kiều cho mẹ nghe nào". Ðọc được vài câu, nó buông sách ngủ liền. Cụ vuốt tóc đứa con dâu bé bỏng, mồ côi cha mẹ, về làm dâu xem bố mẹ chồng như cha mẹ ruột. Chồng nó đi học tận Sài Gòn, tết mới về. Nhà bên kia vợ chồng thằng Tập đang quát tháo thằng con nhỏ nghịch như giặc, hôm nào cũng thượng cả bùn vào chăn. Ông lão đi đánh cờ với mấy bạn già.

Trời mưa nhè nhẹ. Căn nhà ấm như có lò sưởi, vì giấc ngủ đứa con dâu sâu thẳm. Thằng Thắng đã về đây. Nằm ngoài nghĩa trang của xã. Cụ thở một hơi dài như trút tất cả nhọc nhằn về phía sau. Mọi chuyện thế là ổn rồi Thắng ạ!

*

Ông Tú vốn quê gốc ở vùng La Khê. Cụ tổ ba đời của ông có công với triều đình, là quốc sư, thầy dạy ấu chúa. Khi cụ về già, triều đình phái cụ vào vùng núi Nưa xứ Thanh khai khẩn đất đai, lập ấp gom dân. Ông Tú sinh ra ở vùng núi Nưa, ra đất Thăng Long học rồi xin về làng bốc thuốc dạy học. Một lần ra Kinh Bắc thăm thầy học cũ, là ông Nghè Me nổi tiếng hay chữ một vùng, ông Tú được thầy cho về thăm nhà. Mến đức độ của người học trò cũ, ông Nghè Me gọi con gái đến chào ông Tú. Ông Tú thấy quyến luyến ngay cái áo tứ thân của con gái ông Nghè làng Me. Biết là theo ông Tú về Thanh để làm lẽ, con gái ông Nghè làng Me cũng chẳng quản gì. Chẳng quản cả đường xa, phong thổ khác lạ. Về Thanh, bà vẫn mặc cái váy dài chấm gót của xứ Kinh Bắc, chẳng lạ lùng nhiều giữa những người đàn bà xứ Thanh nóng cũng như lạnh, váy ngắn trên đầu gối. Khi sinh cô Tuy, con gái thứ hai, bà Tú Thanh mới thầy mình hoàn toàn là người của vùng núi Nưa. Bà lo quản cả gia đình lớn để ông Tú chuyên tâm dạy học, bốc thuốc. Cô Tuy xinh đẹp như mẹ, hiền lành như cục đất, chỉ được học dăm ba chữ trong bếp. Con gái không được đi học. Nếp nhà nho ở gia đình ông Tú nặng nề hơn ở đâu hết. Thay hết răng sữa, bà Tú bắt con gái nhuộm răng. Khi cô Tuy 13 tuổi, ông Tú Thanh nhớ lời hứa với người họ xa ở La Khê cách đây 10 năm, là sẽ cho con gái về làm bạn với con trai nhà ấy, khi cô đến tuổi cập kê. Cô Tuy òa lên khóc khi nghe tin mình phải đi lấy chồng. Mười ba tuổi ăn chưa no, lo chưa đến, bà Tú đã tập cho con gái đội khăn, kéo được đuôi khăn qua vành khăn ở mang tai. Ðoàn rước dâu đi xe lửa từ Hà Nội vào Thanh. Chú rể bé tí mặc áo the, khăn xếp ngượng ngùng bước lên thềm làm lễ gia tiên.

Dạo ấy xứ Bắc rét cắt da. Cô Tuy run rẩy đưa bàn tay bé nhỏ cho người anh ruột nắm. Cô muốn nép vào anh, muốn anh đưa về với mẹ. Ðêm đầu tiên ở nhà chồng, cô ngủ chung giường với người chị chồng, tấm tức khóc suốt đêm. Chú rể mười lăm tuổi, xanh xao, siêu thuốc sôi trên hỏa lò suốt ngày đêm. Cô Tuy rụt rè bưng thuốc đến cho chồng "Thưa anh...!". Bà Tú Thanh đã dặn cô xưng hô lễ phép với chồng... Bà mẹ chồng có nghề buôn vải ở chợ Hà Ðông, khi ở chợ về thường mua cho cô con dâu tấm mía, gói bỏng. Bà thương cả hai đứa, con trai ốm yếu quanh năm, con dâu còn bé. Dù sao thì cũng là người trong họ, không phải là con dâu thì cũng hàng cháu chắt. Bà cho cô Tuy ra chợ giúp việc. Chữ nghĩa của cô chỉ đủ ghi chép biên nhận hàng mua vào, hàng bán ra. Năm đó hàng ấn Ðộ, hàng Ba Tư được người ta ưa chuộng, lãi hơn hàng nội. Bà sắm cho con dâu cái vòng cổ, đôi khuyên. Ðã quen với nếp nhà, cô Tuy bắt đầu phổng phao. Hai má đỏ hồng và cánh tay trắng trẻo ưa nhìn. Cô lớn lên bao nhiêu, chú bé chồng cô càng ốm yếu. Chú có bệnh lao phổi, lấy vợ, không được ngủ chung giường. Bà mẹ chồng giữ lời hứa với bà thông gia, đợi cô Tuy đến mười bảy tuổi mới cho động phòng. Bà cũng giữ cả cho đứa con trai bệnh tật của mình. Năm 16 tuổi, bà cho cô Tuy gánh hàng riêng để gây vốn, và để quen dần việc kinh doanh độc lập. Cô Tuy thật thà, bán hàng có duyên, lại xinh xắn ưa nhìn, gánh hàng của cô lãi mẹ đẻ lãi con. Cứ đà này chẳng mấy chốc cô sẽ có cửa hiệu. Nhưng cuối năm ấy, người chồng của cô trở bệnh. Bao nhiêu thuốc thang vào người như đổ xuống đất. Cậu ho ra máu, vật vã nhìn người con gái là vợ mình bấy lâu mà chưa một lần cầm tay. "Thôi, tôi xin mình tha tội. Tôi làm khổ mình! Số tôi không bền". Cô Tuy đau thắt tim khi nhìn hình hài người con trai đang teo tóp lại. Cô giàn dụa nước mắt "Thưa anh...".

Chồng chết, cô Tuy tròn mười sáu tuổi, mặc áo xô nằm lăn lóc trước quan tài, theo phong tục thời ấy. Cô nằm lăn từng vòng, sợ hãi khi thấy bóng đen chiếc quan tài đè nặng lên mình... ít lâu sau bà mẹ chồng bảo: "Thôi, chợ búa thì phải đi, con!". Người ta thấy cô cặm cụi buôn bán. Cửa hàng cô tấp nập khách trên Hà Nội vào mua hàng. Chiến tranh làm mọi người thấp thỏm. Hai mẹ con cô Tuy dồn tiền mua vàng để dành.

Ðầu năm ất Dậu, bà Tú Thanh ra Hà Ðông gặp bà thông gia: "Ông bà cho phép cháu về bên nhà ít lâu...". Cô Tuy đã đoạn tang chồng, đang ở tuổi rực rỡ thanh xuân, cô xinh đẹp như bông hoa mới nở. Bà mẹ chồng nhìn cô mà xót xa cho đứa con trai xấu số. Là con dâu nhưng cũng là cháu họ xa, cô Tuy được bà thương như con đẻ. Bà đồng ý cho cô về Thanh phụng dưỡng cha mẹ, lâu lâu lại ra, lâu lâu lại về. Thế cũng tiện. Như được sổ lồng, cô Tuy mặc áo tứ thân, thon thả và óng ả đi bên mẹ ra ga. Những bước chân cô líu ríu khi trông xa xa thấy vườn chè bát ngát của nhà cha mẹ. Hoa chè thơm kín đáo như níu lấy cô. Ông Tú Thanh ngồi trong nhà làm thuốc, trông thấy đứa con gái mà thương cho nó vất vả bấy lâu. Nhưng tính ông nghiêm. Ông không cho con gái đi học trường, không cho để răng trắng và ông cũng như là không xót thương khi bắt con đi làm dâu lúc mười ba tuổi. Vậy nên ngay ngày hôm sau ông đã bắt con lo chuyện làm ăn.

Nhà có dăm mẫu ruộng phát canh, có nghề chăn tằm dệt cửi, đã có người làm. Cô Tuy thích chạy chợ. Cô gánh hàng lên chợ bán vải. Chợ họp sáng. Buổi chiều cô cùng người em hái chè để có lái từ tỉnh lên đưa chè xuống tỉnh. Hai chị em cùng những người thợ hái chè thì thầm nói chuyện, tiếng ngắt lá chè cùng tiếng trò chuyện rúc rích của họ tạo thành âm thanh dễ chịu khi chiều về. Cách mạng, rồi kháng chiến nổ ra, vườn chè của họ vẫn như là êm đềm. Nhưng người ta bắt đầu đào hào, đào hầm trú ẩn trong vườn. Chợ huyện họp đêm. Ban ngày cô Tuy mải miết giúp mẹ quản lý thợ cấy, thợ gặt, quản lý mấy khung cửi dệt vải dưới nhà ngang, và hái chè.

Ðầu năm 1947, một đoàn các cháu, các dì, các cô từ Hà Nội tản cư về xứ Thanh, vùng tự do. Bà Giáo, người con gái em vợ trước của ông Tú Thanh, chị em cùng cha khác mẹ với cô Tuy, dắt một đàn con nhỏ bảy đứa, cùng ba người ăn ở trong nhà về nương nhờ ông bà Tú Thanh. Nhà của bà Giáo ở thị xã đã bị phá đi, hưởng ứng chủ trương tiêu thổ kháng chiến. Dãy nhà ngang rộng bát ngát vẫn dùng để khung dệt vải và chăn tằm, phải dẹp hết để biến thành khu vực cho người ở. Bà Giáo và đàn con của bà ở hết dãy nhà này. Còn đám trẻ con từ Hà Nội gửi vào phải ở nhà trên. Cô Tuy phút chốc phải làm quản gia cho cả đại gia đình. Kháng chiến dài lâu. Người tản cư chắc còn lâu mới về chốn cũ nên mọi chuyện phải sắp xếp đâu vào đấy. Một năm đầu, đám trẻ con tản cư ở Hà Nội vào lần lượt được đón đi. Bảy đứa con của bà Giáo được cô Tuy sắp xếp cho đi học trường của kháng chiến. Bà Giáo lo phần săn sóc bầy con nhưng một đồng cũng không có. Ông Giáo đã đi tham gia kháng chiến, lương lậu thời ấy đâu có gì, nên trăm sự phải nhờ. Và cô Tuy, với đức hy sinh tự nhiên, như trời sinh cô ra để sống cho người khác, xắn tay áo lên để lo cho cha mẹ, cho em gái, cho bà Giáo và mười miệng ăn của nhà bà. Gần mười năm trời, hơn một trăm lạng vàng cô dành dụm được khi buôn bán ở Hà Ðông, đã phải đổi ra vải, ra gạo, ra thịt cá mắm muối... cho một đại gia đình lúc nào cũng gần hai mươi người ăn. Nhà bà Giáo chiếm nửa số nhân khẩu ấy, một mình tay cô Tuy lo buôn bán, lo bù trì để những cậu ấm cô chiêu của nhà bà Giáo lúc nào cũng phải có cá có thịt. Cô lo cho từ cái bút chì, từ cục tẩy, từng viên thuốc ho thuốc sốt cho đám trẻ con bà Giáo.

Nhưng những năm đó lại rộn rã vui tươi. Vùng tự do, ngoài những trận đánh phá của máy bay Pháp ra, thì chiến sự ở xa lắm. Không như những vùng tề, ở đây trẻ con sinh ra được làm giấy khai sinh có dấu ủy ban kháng chiến. Ðêm đêm các nông hội đoàn thể họp. Tiếng trống ếch rầm rĩ, đuốc cháy như đình liệu. Ông bà Tú Thanh hiến hết vàng bạc cho kháng chiến, lại mở rộng cửa đón người kháng chiến. Nhà rộng, lại cao ráo sáng sủa, đoàn văn hóa khu Bốn tập kết số đông ở nhà ông Tú. Những anh lính tú tài mặc trấn thủ, gảy đàn măng-đô-lin hát "Suối mơ" rồi "Ðây gió đây trong rừng...". Họ vui tính, lễ phép. Họ gọi cô Tuy là chị, là cô. Hai má cô hồng rực lên, hàm răng đen như hạt na đều tăm tắp. Cô chạy chợ, hái chè và bắt đầu đi làm đồng... để có tiền lo cho đám cháu đông đúc con người chị cùng cha khác mẹ. Những thành viên ở đoàn văn hóa khu Bốn, sau này có người lên Ðiện Biên, có người vào thành rồi di cư vào Nam, có người ở lại tỉnh. Những người lên Việt Bắc sau này trở lại Hà Nội... Tất cả họ đều là những người có tiếng tăm, có tài năng. Cô Tuy biết hết và nhớ tính nết từng người. Họ hát những bài ẩm ướt nhưng mắt họ sáng rực, miệng họ tươi cười hạnh phúc. Khi những người lính văn nghệ tản đi các nơi, một đoàn cán bộ cấp tiểu đoàn, bị thương nên được chuyển sang dân chính, nhìn cô Tuy nói giọng Quảng Trị: "Tóc cô dài, đẹp chi lạ!". Cuối năm, ông bà Tú Thanh đánh tiếng ra La Khê, xin phép cho con gái tái giá. Nhà ở La Khê bây giờ là vùng tề, đi lại khó khăn nhưng mẹ chồng cũ của cô Tuy cũng đánh tiếng vào Thanh, cho phép con dâu tái giá. Ðám cưới của cô là đám cưới kháng chiến - Anh Thạch, anh cán bộ người Quảng Trị ấy, làm rể ông bà Tú Thanh như được trở về nhà. Quê anh lúc này khói lửa tràn lan, cha mẹ không biết còn hay mất.

Anh người cao ráo, có dáng nam nhi được ông bà Tú chấm là người trung hậu. Ðám cưới kháng chiến chỉ có nước chè xanh, khoai lang luộc từng rổ, thuốc lá... và hò hát. Cô Tuy mặc chiếc áo dài từ thời buôn bán ở Hà Ðông, đứng bên anh cán bộ mặc binh phục. Hạnh phúc mở ra cho cuộc đời cô những hứa hẹn. Cưới xong ít lâu, anh Thạch theo đoàn cán bộ đi công tác. Cô Tuy sinh đứa con trai đầu tiên đặt tên là Tập và vẫn lần hồi buôn bán làm lụng nuôi cả bầy con của người chị gái, nuôi con nhỏ, nuôi cha mẹ già.

Kháng chiến thành công. Bà Giáo đưa lũ con về thị xã. Cô Tuy giờ đây đã trắng tay nhưng xúc động nhận lời cảm ơn của người chị: "Chị đừng phân vân gì. Em lo cho các cháu cũng như người khác phải lo những việc lớn hơn. Kháng chiến thành công là mừng rồi!"... Cô Tuy không đón chờ những biến động lớn sau đó. Nhưng nó vẫn đến như nó phải đến. Ông bà Tú Thanh đều qua đời sau đó mấy năm, do không chịu được những cú xốc lớn. Ruộng vườn sung công và chia cho tá điền. Anh Thạch về đón vợ con đúng những năm sôi động đó. Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Buôn bán tư nhân triệt tiêu. Anh Thạch xin cho vợ vào làm nhân viên của một cơ quan gần nơi anh làm việc. Anh Thạch đi công tác liên miên. Cô Tuy một mình nuôi hai đứa con nhỏ với 36 đồng lương. Cô nấu cơm, quét dọn, thường trực cho một cơ quan nhỏ, công việc như con mọn. Ðêm về, mấy mẹ con quây lấy nhau trong căn phòng cơ quan chia cho, lợp tranh, tường đất, nóng thì như nung, mong mưa nhưng mưa lại hứng dột, chiếu chăn ướt sũng. Anh Thạch công tác biệt phái ở khu Bốn hai năm. Hai năm ấy anh chỉ đáo qua nhà được một cái tết, mang cho mấy đứa con hũ mắm tôm, ít cân lạc... rồi đi. Cô Tuy nuôi lợn, nuôi gà, tăng gia thêm rau quả. Chắt bóp được ít tiền, xin cơ quan được miếng đất, cô dựng cho con được cái chỗ chui ra chui vào, hai gian, ngay bên bờ con kênh dẫn nước. ở bên con kênh này, mấy mẹ con còn đặt lờ, đặt vó nhặt con tôm, con tép. Bàn tay đảm đang của cô đã gây dựng được đời sống yên ấm cho mấy mẹ con. Khi anh Thạch trở về, anh ngạc nhiên hết ra sân lại vào nhà: "Mẹ nó khéo tay quá!".

Những tưởng như vậy là yên ấm, có chồng, có con, đồng lương ít nhưng chịu khó tăng gia, cải thiện, cũng chả đến nỗi nào. Có lúc cô đã được thảnh thơi, đi xem chiếu bóng ở bãi với con, đi thăm chị em bạn. Một buổi chiều đi làm về, thằng Tập chạy ra đón mẹ ở bờ kênh "có khách, mẹ ơi!". Một người đàn bà còn trẻ, trông điệu bộ không được nền nếp lắm, ngồi trên bậu cửa. Bên cạnh chị là hai thằng bé, một lên ba, một lên hai. Người đàn bà nói giọng miền Trung, thản nhiên lắm, chứ chẳng e ấp gì: "Thưa chị, em đem trả anh Thạch hai cháu đây. Em còn trẻ, em xin phép anh Thạch đi lấy chồng". Lúc ấy anh Thạch ngồi như hóa gỗ, cúi gầm mặt. Hai đứa bé sợ hãi nép vào nhau. Người đàn bà trẻ đứng lên, vấn lại tóc, xách cái tay nải lên: "Thôi, các con ở lại với ba, với mẹ già... có gì anh Thạch sẽ nói rõ với chị. Em xin phép đi ngay chuyến tàu xuôi tối nay!". Hai đứa trẻ nhào ra, chạy theo mẹ. Nhưng mẹ nó đi như chạy, tay quệt mắt, tay xốc cái tay nải, không một lần ngoái lại. Ðó là lần đầu tiên, cũng là lần cuối cô Tuy gặp người đàn bà ấy.

Cô Tuy đứng sững lúc lâu, chờ cho anh Thạch ôm hai đứa con trở lại. Chẳng nói gì, cô òa khóc. Cô khóc vì thương cho phận đàn bà, một chốc phải bỏ lại hai đứa con. Cô khóc vì thương cho mấy đứa trẻ con chồng, ăn mặc rách rưới, chắc từ khi sinh ra đến giờ chẳng sung sướng gì. Cô lẳng lặng đi nấu nồi cơm to, bảo thằng Tập ra gỡ lưới xem có được con tôm con tép gì không, bảo cu Dũng ra vườn nhổ mấy cây cải. Nấu nướng xong, cô dắt hai đứa trẻ ra mương. Cả hai đứa, mắt sưng to vì khóc, tức tưởi, đứng im cho một người đàn bà xa lạ lau rửa, người đàn bà có hai bàn tay phồng rộp vì làm lụng nhưng mọi nét ở bà đều khiến lũ trẻ an lòng, bà hiền hậu như mặt đất, như những cây cỏ bên đường. Ðêm đó cô Tuy nằm giữa. Bên ngoài là hai thằng con cô: thằng Tập thằng Dũng. Bên trong là hai đứa con riêng của chồng: Thắng và Thế. Hai đứa trẻ tức tưởi trong giấc ngủ. Cô Tuy đưa tay vuốt tóc thằng Thắng. Mái tóc trẻ thơ mềm như nắm lông gà con làm cô thổn thức. Thực ra mình cũng chưa đến nỗi khổ. Ðứa trẻ này mới khổ... Một tình cảm tự nhiên lạ lùng xâm chiếm tâm hồn người mẹ. Từ hôm đó, cô Tuy thấy mình quyến luyến với Thắng. Ðứa trẻ ý tứ, rụt rè, hay khóc vụng một mình và hay nhìn cô Tuy bằng đôi mắt mở to, không một nét nào khác với anh Thạch.

Anh Thạch thanh minh nhưng cô Tuy bảo: "Mình ạ, mọi sự đã thế rồi, mình an tâm đi". Con gái ông bà Tú Thanh, dù quanh năm không được một ngày an nhàn, vẫn là con người của gia phong nền nếp. Cô không bao giờ dám nói một lời không lễ độ với chồng. Anh Thạch đã giáng cho cô một vố đau. Những năm anh đi công tác biệt phái, anh đã kịp có một gia đình vụng trộm. Anh không chu cấp một đồng cho những đứa con chính của mình. Rồi bây giờ, anh mang kết quả về cho cô. Nhưng đối với cô, những đứa trẻ vô tội này có thể làm cho số phận cô bớt cay đắng. Chúng thông minh, hiếu thảo từ bé. Cả bốn đứa mau chóng kết thành anh em nhờ bàn tay chăm sóc chu đáo, tấm lòng nhân hậu vô bờ của người mẹ.

Anh Thạch bị cơ quan kiểm điểm. Cô Tuy lên gặp thủ trưởng của anh, xin cho anh. Kỷ luật của anh nhờ thế nhẹ đi nhiều lắm.

Những đứa trẻ dần lớn lên.

Những năm hòa bình ngắn ngủi đi qua. Chiến tranh. Không quân Mỹ ném những loạt bom đầu tiên xuống nhà máy điện bên kia sông. Anh Thạch được gọi tái ngũ. Khi đi, lần đầu tiên trong suốt những năm chung sống bên nhau, anh nắm tay cô Tuy, nước mắt mờ mịt: "Tôi may mắn mà có mình". Cô Tuy cũng khóc: "Em ơn mình mới phải. Em lại có thêm được hai đứa con!".

Lương cô Tuy đã tăng lên được 44 đồng, cộng thêm phụ cấp đi B của anh Thạch, mấy mẹ con bữa no bữa đói nuôi nhau. Suốt những năm chiến tranh, bom cày xới quanh nhà. Căn nhà của mấy mẹ con ở gần cầu tỉnh lộ, bị bom cháy hai lần. Hai lần, xen kẽ vào những quãng nghỉ của bom đạn, Tập và Thắng, hai đứa lớn nhất, lại giúp mẹ dựng nhà. Thắng lớn lên, trầm lặng như có nghĩ ngợi lớn lao, nhưng sức vóc dẻo dai, can đảm như đàn ông thực thụ. Cô Tuy nhặt nhạnh len vụn, đan cho một cái áo. May cho cái sơ mi vải màu cỏ úa, Thắng không dám mặc. Cái áo bằng len vụn mẹ đan trông đẹp đến nỗi mặc vào thấy tiếc. Cái áo sơ mi mẹ may tay cũng vậy, có lẽ chỉ nên mặc vào lúc hội hè... Hai cái áo cứ nằm trong chiếc rương cũ, chờ đợi một ngày vui... Thường ngày, mấy đứa mặc những thứ vá víu. Quần áo anh Thạch để lại, cô vá đụp cho hai đứa mặc. Mong cho có ngày chúng nó không phải mặc áo vá!

Thắng đi học về, chăn dắt đàn vịt và nuôi hai con lợn. Nó nhặt nhạnh cái đun, vơ thức ăn cho lợn đã mệt rã người. Thời ấy, sờ đến cái gì là thiếu cái ấy. Người ta nhặt hết từ hạt thóc rơi cho đến ngọn rau dại. Cánh đồng trống không, cày cấy không nổi vì bom đạn. Thắng vẫn cặm cụi đi đến từng bờ ruộng, lúc về thế nào trong cái rổ mang bên người cũng có cua, có ốc, có những nắm rau dại.

Tập đã vào quân đội. Thắng nghiễm nhiên trở thành người đàn ông quán xuyến mọi công việc trong nhà. Nó cứ thế, mò mẫm suốt đêm ngoài đồng. Khi về đến nhà, chỉ việc chong ngọn đèn, che kín lại ngồi trong hầm học bài. Nó học hành thông minh, mẹ không bao giờ phải nhắc. Hôm ấy, bọn Mỹ bay suốt ngày trên vùng trời gần thành phố. Một chuỗi bom ném quanh nhà. Thắng ngồi học trong lớp học sơ tán, nhìn về phía nhà thấy khói bốc lên, nó vùng chạy. Nó chạy qua cánh đồng, lao bừa qua cả khoảng ruộng có dấu bom nổ chậm công binh cắm biển nhắc. Nó vừa chạy vừa ngột thở vì lo sợ. Hai đứa em đi học rồi. Chỉ có mẹ ở nhà...

Nó vấp ngã, không để ý gì đến xung quanh. Nó lội qua cả một chuỗi hố bom phía cổng dẫn vào nhà. Bờ con kênh bị phá. Nước đang chảy ồ ồ vào mấy hố bom mới. Hai con lợn hồng hộc trong chuồng và mái nhà nghi ngút cháy. Có lẽ nó không cháy to được vì bùn và đất đã hầu như đè sập ngôi nhà. Thắng đứng trên bờ hố bom đào giữa sân, gào to: "Mẹ ơi!". Tiếng kêu của nó chìm trong tiếng máy bay. Nó đi về phía nhà. Bàn tay nó đau nhói vì dọn dẹp các thứ trên đường đi. Nó ráng sức nhấc cái kèo nhà đã sập, lấy cái xô múc nước dội lên đám cháy. Ngọn lửa tắt. Nó chui vào trong nhà và nghe thấy tiếng rên. "Mẹ!". Nó nhào tới. Cô Tuy nằm trên bậu cửa, một cây cột đè ngang, không thể nào ra được. Thắng giúp mẹ nhấc cây cột, rồi ôm choàng lấy mẹ, nó khóc òa lên: "Mẹ ơi, mẹ của con, mẹ...".

Cô Tuy gượng dậy. May quá, không bị thương nhưng cây cột làm cô bị đau như gẫy ở đùi. Ðến lúc này cô mới hốt hoảng: "Chân con làm sao thế?". Thắng nhìn xuống hai cẳng chân, quần rách bươm, máu ra đã dính bết những mảnh vải vào nhau. Nó đã chạy, đã lội qua gai, đã bị mảnh bom cứa vào chân tứa máu. Nhưng tai nạn qua rồi. Hai mẹ con ôm nhau, vừa cười vừa khóc.

Sau lần dựng lại nhà đó, Thắng có giấy gọi nhập ngũ. Ðã là năm 73, chiến tranh đang đến hồi kết thúc. Hôm nó đi, cô Tuy dở cái áo len, cái áo sơ mi đưa cho nó. Nhưng Thắng bảo: "Con có quân phục rồi. Mẹ giữ cho con, khi nào về con mặc"... Cô Tuy đưa con ra chỗ tập trung quân. Thắng dúi vào mẹ cân đường mới được phát: "Mẹ mang về cho các em". Lần đó Thắng đi và không trở về nữa. Cũng không có một dòng thư. Ðiều lạ lùng nhất cô Tuy luôn không hiểu được mình, cô không lo lắng nhiều cho chồng, cho con đẻ. Tất cả đang ở chiến trường. Trong những lo lắng bồn chồn, cô hướng phần nhiều về Thắng. Cô thương Thắng chưa một lần được mặc cái áo lành lặn, chưa biết miếng cơm no. Tính nó hay nhường nhịn. Nó cũng sống để hy sinh, để dành miếng ngon cho người khác. Nó giống cô.

*

Chiến tranh kết thúc. Ông Thạch về trước. Ông bàn với vợ đưa cả gia đình về quê nội. Chiều chồng, bà Tuy bán nhà, bán vườn cây ăn trái mà trước khi đi bộ đội, Thắng đã rào dậu, đem phù sa về tôn vườn, mua cây giống về trồng. Cây sắp có trái thì phải trao cho người khác. Cả nhà dắt díu nhau, đồ đạc đóng vào thùng, vào hộp cho lên xe khách. Chiến tranh mới kết thúc, chặng đường có mấy trăm cây số phải đi hàng tuần. Bà Tuy lại đau xót thấy một lần nữa, mình phải di chuyển, phải bán rẻ những gì hai bàn tay mình làm ra, để đến một vùng đất xa lạ.

Người anh ruột của ông Thạch ở thành phố, có bốn cửa hàng bán dụng cụ xe máy. Cách mạng về, ông sợ nhiều nhà bị tịch thu nên hứa hẹn với ông Thạch, một ông em cách mạng trăm phần trăm: "Chú đưa thím với các cháu vô. Tui cho hẳn cái chỗ ni mà làm ăn!".

Bà Tuy lại xắn tay áo lên, quét dọn, sửa sang cơ sở vốn là chỗ sửa xe cộ, máy móc, thành chỗ ở. Ba năm sau, Tập trở về giúp mẹ. Nhà cửa vừa đi vào nếp thì ông anh ông Thạch trở mặt: "Tui cho cô chú mượn, có cho hẳn mô... Tôi đền cho cô chú ít tiền, tìm chỗ khác".

Ông em cách mạng bị lợi dụng đã xong. Người anh trai đã nhẫn tâm quay lưng lại trước cảnh sống của người em, sau khi nhờ công sức của em để hợp lý hóa tài sản. Ông Thạch tức giận, tính đi kiện. Nhưng bà Tuy cản chồng: "Mình ạ, thôi. Tôi tính nên quay về miền Bắc. Ðó mới là nơi hợp với mình. Tôi cũng muốn về để chờ thằng Thắng!".

Thời gian sau chiến tranh, đám con cái của bà Giáo, người chị cùng cha khác mẹ với bà, những người mà sau cách mạng, bà đã bán đi cả trăm cây vàng để chu cấp... giờ đây là những người giàu có không thể tả. Họ được học hành đến nơi đến chốn, tất cả đều trốn quân đội vì nhiều lý do, giờ đây họ đã vào tiếp quản các chân quản lý khoa học ở các thành phố lớn. Mỗi người năm, ba biệt thự. Vàng hàng két. Họ biết bà Tuy đang gặp khó khăn: bà phải đưa các con trở lại Bắc. Tiền không có - họ kháo nhau như vậy - nhưng một lời thăm hỏi của họ cũng không hề đến tai bà Tuy. Bà Giáo là người duy nhất quan tâm đến người em đã cưu mang gia đình mình. Nhưng tiền bạc là của các con bà. Bản thân bà cũng phải làm quả bóng, ở nhà thằng này một tháng, rồi cuối tháng phải đến nhà kia. Bà không thể làm gì được.

Sau cùng, cơ quan cũ của bà Tuy, bạn bè chiến đấu của ông Thạch, của Tập đã xúm vào giúp đỡ. Bà Tuy mua lại được căn nhà và mảnh vườn cũ. Trở về nơi có những kỷ niệm về Thắng, bà Tuy mới thấy yên lòng.

Một lần, cô Quý con gái thứ ba của bà Giáo dẫn mấy đứa con thơm tho đi du lịch qua nhà bà Tuy. Cô Quý là người con duy nhất của bà Giáo ở lại Hà Nội, vì chồng cô là cán bộ cao cấp, cô không chuyển vào Sài Gòn được. Bà Tuy kiếm cua về rang muối đãi mẹ con cô cháu. Cô Quý ra vườn, vào sân khen nhà đẹp, hứa rằng năm nào cô cũng cho các cháu đến thăm dì. Thằng con cô Quý kêu: "Cua bò lổm ngổm trong bụng con rồi đây này. Lần sau con không thích ăn cua!". Dạo ấy còn là thời tem phiếu. Buổi chiều, bà Tuy dành nửa tháng lương của ông Thạch để mua gà, mua giò. Những đứa trẻ con cô Quý sáng mắt lên: Thịt gà ở đây ngon lắm.

Cô Quý quay về Hà Nội và không một lần quay lại nữa. Cả khi bà Tuy đau ốm, cả khi những đứa trẻ con của bà phải đi học xa, cũng không một ai trong đám con bà Giáo ngó ngàng đến người có thời đã tiêu tốn cả trăm cây vàng cưu mang mình...

Mắt bà không còn nhìn rõ. Nhưng đêm nay bà thấy lòng mình nhàn hạ: Thắng đã được đưa về nằm trong nghĩa trang của xã.

Ðứa con dâu, vợ thằng Thế cựa mình, ôm lấy mẹ.

12-1996


Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 » »»