📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

TRUYỆN NGẮN

68 trả lời, 7.444 lượt xem — Trang 3 / 3



CÕI LINH
Lê Công

Ẩn dưới chân núi Liang, dãy núi chạy dài theo bờ biển đến đây thì ăn ra tận ngoài khơi, chia thành nhiều đảo nhỏ. Làng Trẻn trông như một con hổ xám khổng lồ không hề khuất phục trước những cơn đổ lửa của mặt trời thiêu đốt hoặc những trận cuồng phong của bão biển. Về mùa hè dân làng Trẻn còn phải chịu những cơn gió tây nóng rát chỉ còn chui vào bụi rậm mà nằm thoi thóp.

Như vạn vật sinh ra trên đời, hắn có một cái tên: thằng Lù. Lù là lù mù, lờ mờ. Mẹ hắn bảo thế. Chẳng biết cha hắn vì bất đắc dĩ sinh ra hắn hay vì lẽ gì mà gọi hắn là Lù. Mọi đứa con sinh ra trên cõi trần đâu phải đều có chủ định. Lù luôn luôn tự hỏi mình là ai? Nguồn gốc của mình như thế nào. Tại sao cha mình không kể cho mình biết?

Bất chấp nắng gió. Lù lớn lên như một mãnh hổ. Da dần sùi như da trâu. Tóc quăn tít. Trán đóng chữ thập mỗi khi nhướn mày lên. Môi cắt ra có thể làm được một bữa nhậu. Lưng hắn như tấm phản. Giọng nói ồm ồm như nước chảy vào thùng rỗng. Hắn đi đứng khệnh khạng. Mặt lúc nào cũng cúi gằm xuống đất.

Âm điệu giọng nói của Lù cũng như âm điệu giọng nói của làng Trẻn chính là do ăn mắm. Làng này có cái lạ, cá mú để ươn bao giờ cũng đắt hơn cá tươi. Những người dân chài đến bán cá thường ngạc nhiên về dân làng Trẻn chọn mua những con xể ruột. Làng Trẻn làm nước mắm hoàn toàn khác với dân vạn chài. Họ mua cá ươn, ướp muối rồi bỏ vào vại. Dùng một tấm đan tròn bằng nứa ép lên trên, dằn đá rồi phơi ra nắng. Họ đặt chính giữa một cái ống nứa gọi là "lù" để chắt nước mắm ra ăn mỗi ngày. Nhà nào cũng có một vại mắm để trước sân. Những ngày đẹp trời vạn chài được cá thì làng Trẻn cũng sặc mùi nước mắm. Mùa đông hoặc những năm mất mùa cá, làng Trẻn còn muối cả chân trâu, lợn, gà làm mắm. Bây giờ vạn chài sản xuất đủ loại nước mắm kể cả mắm viên nhưng làng Trẻn chỉ thích ăn thứ nước mắm do chính tay mình muối. Thứ nước mắm mà Lù nhớ mãi, khi thả miếng thịt lợn luộc vào bát nước chấm mới chắt từ vại ra, lật qua lật lại cho mắm thấm đều vào mỗi thớ rồi thả tõm vào miệng nhai ngồm ngoàm đến đâu, chất béo trộn với vị đậm đà của mắm tan vào lưỡi ngất ngây đến đó.

Hết chiến tranh, ông Sáng, cha của Lù trở về cày ruộng nuôi con. Với ông cuộc sống đã an bài. Tương lai chỉ nhìn vào người con trai đã lớn. Nhưng thằng Lù con ông thật lạ lùng. Ba tuổi, nó đã cào em chảy máu. Năm tuổi, nó cắn bạn cùng lớp đứt thịt không gớm mồm. Mười tuổi thì bơi với con Xuân, một con bé "mò cua bắt ốc" nổi tiếng bơi giỏi của làng. Hắn không bơi mà lặn xuống đáy sông tụt quần con Xuân rồi lên bờ ngồi, làm con bé khóc sướt mướt về mách cha mẹ nó. Ông Sáng buộc phải đến trực tiếp gặp thầy Nho, chủ nhiệm lớp bốn, nhờ kèm cặp cho Lù. Ðược ba bữa, thầy Nho đến bảo: "Thằng Lù lười học lắm. Lúc nào cũng chực ngồi, chực đứng, chực đi. Bài vở chẳng chịu làm". Ông Sáng dùng roi mây quất nó và bảo:

- Muốn nên người thì phải học hành tử tế!

Thằng Lù vẫn không chịu học. Chữ như gà bới, viết trang sau, xé trang trước. Vở lúc nào cũng nhàu nát. Nghe thầy Nho bảo, mặt hắn vằn lên những đường gân trắng. Chữ thập ở trán sâu hoắm. Môi hắn trề ra quá cằm. Ông Sáng quát: "Mày muốn đi học hay đi cày?". Hắn bảo: "Ði cày!".

Ông Sáng bắt Lù mỗi ngày phải cày một thửa ruộng. Hắn hỏi một người làm thế nào để điều khiển được bò. Người ta bảo: "Phải hô "tắc, hò, rì". Hắn bảo: "Tắc, hò, rì là cái quái gì?" Xem người ta cày, hắn thấy "tắc, hò, rì" chẳng qua là bắt con bò rẽ phải, trái, và đi thẳng. Hắn bảo: "Gọi cha nó phải, trái, tiến cho xong". Hắn liền đập bò ra ruộng và cứ hô: "Phải, trái, tiến!". Con bò chẳng biết đi đường nào. Hắn liền dùng roi vọt quất vào mông con bò hằn lên những con chạch. Con bò đau quá bươn thẳng, kéo cả cày lẫn người ngã chổng khoèo. Cày thì gãy mà hắn thì bị sái chân. Hắn bò dậy nắm lấy dây thừng lần tới cái "trẹo" bằng ngọn hóp xuyên qua sóng mũi bò, giật mạnh làm con bò đứng ngắt.

- Tao phải sống mái với mày!

Hai tay hắn cầm lấy hai sừng con bò, chân cố gắng bám vào mặt đất. Lấy hết sức bình sinh, hắn vặn cổ con bò. Chú bò thuần mới đầu tưởng thằng bé giỡn chơi. Ðến khi đau quá chú mới lật lại, húc vào thằng bé. Con bò và Lù đẩy tới đẩy lui. Biết mình không thắng nổi, hắn tháo lưỡi cày xỉa mạnh vào đầu con bò, bị trúng thóp bò quỵ xuống sùi bọt mép, đến đêm thì chết.

Trước khi xử tội Lù, ông Sáng hỏi hắn một câu:

- Mày không chịu học, cũng không biết cày ruộng, thì mày định làm gì?

- Ði săn!

Ông Sáng giật thót mình. Ðiều ông chôn chặt bấy lâu bỗng bùng dậy. Ông đã thường kể chuyện với con về sự trả thù của các loài thú. Ông đã nhắc đi nhắc lại với con trai hàng trăm lần rằng: "Thú rừng cũng như người, chúng ham sống. Chúng cũng biết đau, biết giận và biết căm thù". Thế mà Lù không chịu nghe, bây giờ hắn lại hoác mồm ra bảo muốn đi săn...

Ðể trừng trị tội giết chết con bò mộng và đề phòng Lù bỏ trốn lên rừng, ông Sáng trói hắn vào cột nhà. Hàng ngày bảo mẹ hắn chỉ cho ăn một bát cơm, một ngày thả ra vài phút cho đến lúc nào hắn chịu thề hai điều: Một là không gây tội ác đối với bất kỳ một con súc vật nào trong nhà. Hai là cấm không được đi săn. Ðến ngày thứ mười hắn vẫn không chịu thề. Người hắn gầy rộc chỉ con da bọc xương nhưng mắt hắn vằn lên tức tối. Cuối cùng ông Sáng phải thả hắn ra mặc dù hắn câm miệng. Tuy vậy ông dọa hắn nếu mò vào rừng thì ông sẽ chém. Nhưng chẳng bao lâu Lù đã biến khỏi làng.

*
* *

Ông Sáng bảo vợ chuẩn bị tay nải để ông lên đường đi tìm con trai. Ông biết chắc chắn thế nào thằng Lù cũng đi tìm hổ-loại thú dữ được mệnh danh là chúa rừng xanh để đối chọi. Ông Sáng mang một bao tượng gạo, một ống muối mè. Mè của ông làm rất công phu. Rang giòn tỏa ra mùi thơm phức, cho vào cối bằng gỗ ổi giã. Gỗ ổi cứng hạt vừng bị chà xát biến thành bột mịn thả vào lưỡi tan ngay. Muối ông cũng dùng loại muối kết tinh bằng hạt đậu sáng lấp lánh, rang khô nổ lép bép, giã nhỏ trộn với mè thật đều, mỗi ngày chỉ cần ăn hai muỗng mè là đủ chất. Ông Sáng quyết định đi về phía rừng Liang.

Rừng Liang bây giờ cũng ít cây cối. Thú dữ vẫn còn nhưng ít hoạt động. Ông Sáng đi vào khu rừng mà cha ông chết ở đó. Ông lấy hương ra thắp. Bó hương bỗng cháy vụt lên thành một ngọn lửa. Trong ngọn lửa đó hiện lên mặt người đàn ông không có mắt. Bộ mặt bị cào cấu, vết máu đen lại khô cứng. Ông Sáng cố trấn tĩnh xem hình ảnh đó là thật hay mình tưởng tượng ra. Phải rất lâu bộ mặt đó mới biến mất.

*
* *

Hồi ấy ông Sáng mười tuổi. Ngoài nghề trồng trọt, trai làng Trẻn còn nghề đi săn. Lão Mơ, cha đẻ của ông Sáng là một tay bắn cung thiện nghệ. Mỗi cuộc đi săn dù trai làng thất bại lão vẫn hạ được con nai, con đỏ, chưa bao giờ chịu về tay không. Mỗi mùa săn lão hạ được vài chục con thú.

Những con gấu chó khỏe như Min, lão chỉ cần bắn một phát tin tim. Thợ săn làng Trẻn hiếu thắng nhất vùng. Họ tôn vinh lão Mơ làm thủ lĩnh. Vũ khí bấy giờ chỉ là tên, nỏ. Lão Mơ có cây nỏ siêu hạng, cánh cung bằng giang già. Dây cung bằng da Min do ông nội Sáng làm khi ông săn được con Min lớn nhất rừng Liang. Những thợ săn khác khó lòng mà giương nổi cung của lão nhưng lão Mơ chỉ giương một cái là được ngay.

Ðể truyền nghề cho con trai, lão Mơ cho Sáng đi vào rừng mỗi chuyến săn. Khi đội săn đuổi theo những mãnh thú thì Sáng tìm những con nai tơ, đùa giỡn với chúng. Bỗng một con hổ vằn xám xuất hiện. Hai mắt nó mở to nhìn Sáng. Những chiếc răng nanh của nó như lưỡi cuốc chim. Sáng lạnh toát người chỉ biết đứng nhìn chằm chằm vào mắt hổ. Con hổ bỗng quay đầu bỏ đi. Sau này Sáng mới nghe dân làng kể, loài hổ rất sợ ánh mắt người nhìn vào mắt nó.

Mùa săn năm ấy lão Mơ quyết tâm hạ con hổ vằn xám chuyên đi mây về gió. Tiếng gầm của nó làm đám thợ săn hạ đẳng sợ vãi linh hồn. Những tay thợ săn nổi tiếng nơi khác đều không dám động đến nó. Họ bảo rằng nếu bắn con hổ xám vằn thì không những mạng phải đổi mạng mà con cháu sau này cũng phải gánh chịu hậu quả vì sức mạnh của "ông ba mươi".

- Tại sao phải giết nó hở cha? - Sáng hỏi.

- Vì nó là chúa tể của muôn loài, ta phải giết nó mới trở thành người hùng làng Trẻn.

Lão Mơ không sợ hổ, tuy vậy cũng không dám giáp mặt nó. Lão phải dùng mẹo. Sau một tháng dò dẫm đường đi lối về của hổ xám vằn, lão bắt đám thợ săn đào gấp gáp một cái hố sâu chừng thước, rộng vừa đủ để con hổ rơi gọn xuống hố. Lão cắm dày đặc chông tre, thứ tre già, vàng hươm, đặc ruột, lão vót nhọn, khắc ngạnh để khi đâm vào là không rũ ra được. Sau đó lão đậy miệng hố bằng những cành khô, mục, dễ gãy, phủ lá rừng lên mặt không để lại dấu vết. Sáng nói:

- Con tưởng người hùng là tay không bắt hổ như Võ Tòng chứ cha?

- Thằng nhãi này, con người hơn con thú là biết dùng mẹo chứ! - Lão Mơ quát.

Con hổ vằn đi mây về gió gần nửa tháng thì trúng bẫy. Nghe tiếng gầm gào xé, đau đớn của con hổ, lão Mơ nhảy lên sung sướng. Lão dẫn Sáng tới xem. Con hổ sau khi vùng vẫy tìm cách thoát nạn đã bị chông tre đâm dày đặc lên mình. Nó kiệt sức đang nằm thoi thóp. Lão không manh động, mà trở về làng gọi đám thợ săn. Tất cả phải mang theo cung nỏ. Ðến nơi, lão hết sức ngạc nhiên không hiểu con hổ bị trọng thương ấy làm cách nào mà thoát khỏi hố sâu, chỉ để lại một vệt máu dài trên đất. Lão Mơ lần theo vết máu lùng tìm con hổ. Sáng níu lấy tay cha bảo: "Tha cho nó đi cha!". Lão Mơ trợn mắt: "Ðồ nhãi biết gì. Xéo! Khỏi vướng chân!" Lão Mơ xô Sáng ngã rồi lò dò quan sát xung quanh khi đã mất vết máu, chợt giật mình khi thấy trong đám lá của mấy cây rừng thấp lè tè, đôi mắt con hổ vằn xám đang mở trừng trừng nhìn lão. Lão ra hiệu cho đám thợ săn dàn hàng ngang, giương cung về phía con hổ.

- Nhằm vào nó, bắn!

Tiếng hô vừa dứt. Tên bay rào rào. Bỗng một luồng gió mạnh hơn bão táp ùa về phía lão Mơ, xô lão ngã xuống. Con hổ với sức bình sinh đã phóng ra chính xác đến kinh hãi, hai cặp móng trước móc vào đôi mắt lão Mơ. Cặp vuốt sau cặp vào xương chậu. Lão Mơ vật vã nhưng không thể thoát ra được. Con hổ đã chết khi vồ được lão Mơ vì ngấm thêm thuốc phát tên hiểm của lão. Ðám thợ săn cố hết sức lôi xác hổ ra khỏi lão. Bộ vuốt trước đã móc sâu vào mắt lão vì vậy khi kéo ra hai tròng mắt lão cũng phọt theo. Bộ móng sau cào gãy bốn cái xương của lão. Sáng lao tới ôm lấy lão khóc: "Cha!"...

- Bảo đám thợ săn moi tim con hổ cho ta ăn! - Lão Mơ thét lên. Ðám thợ săn cố hết sức moi tim hổ nấu cao. Một tay thợ săn lấy bộ móng treo trong nhà để răn đe con cháu bỏ nghề đi săn. Sáng vẫn trong trạng thái mộng mị. Cậu không ngờ rằng cha cậu lại chết đau đớn như vậy.

Hàng đêm sau đó, Sáng cứ nghe tiếng hổ gầm ngoài mộ cha. Con hổ cái đánh hơi về làng. Dân làng kinh hãi không ai dám ra khỏi nhà. Khi không nghe tiếng hổ nữa, mọi người ra thăm thì mộ lão Mơ bị bới tung. Xương thịt tanh bành, vương vãi khắp mọi nơi. Con hổ cái đã trả thù lão đến tận cùng. Dân làng lượm lặt từng mẩu xương, cất cho lão ngôi mộ khác. Từ đấy làng Trẻn bỏ nghề đi săn...

*
* *

Gần một tháng, hết lội rừng lại đến các bản làng ven sườn núi để hỏi tin tức về thằng Lù, ông Sáng vẫn chưa gặp được nó. Ông chỉ biết rằng con ông đang lao vào một cuộc mạo hiểm. Ðến đâu cũng nghe dân làng kể về đội săn của thằng Lù giết quá nhiều thú rừng. Chúng nó bắn bất kỳ con thú nào chúng gặp, lột da, nhồi bông đưa về thành phố bán. Nhiều đứa đã làm giàu nhờ săn gấu, hươu, nai và khỉ. Có tên bắn chết cả con tê giác quý hiếm. Có người kể, thằng Lù giết thú không gớm tay, không phải vì lợi mà để thỏa mãn tính ngông cuồng, khát máu của hắn. Hắn còn bảo phải giết được chúa tể của rừng xanh bằng một phát súng trường. "Phải ngăn chặn hắn". Ông Sáng lẩm bẩm.

ở một hẻm núi phía Tây rừng Liang nơi Lù cắm trại, Lù đang xách khẩu súng trường ra ngắm nghía. Già làng ở Krông-Knô kể, có con hổ xám thỉnh thoảng qua lại nơi đây, lúc ẩn, lúc hiện như một bóng ma. Lù không cho bất kỳ một tay thợ săn trong đội theo. Hắn muốn một mình sống mái với con hổ. Lù chuẩn bị súng ống thật cẩn thận. Loại súng trường hắn dùng là thứ vũ khí từ thời chống Pháp. Súng này chỉ bắn từng viên một. Bắn được rất xa và chính xác. Nhồi đạn vào súng, hắn đi ra khu rừng nơi già làng bảo con hổ thường đi qua. Hắn tìm một chỗ tương đối an toàn, thuận tiện, phục chờ.

Màn đêm bắt đầu buông xuống với núi rừng Liang. Từng lớp sương mờ ở đâu xuất hiện rất nhanh trong các bụi cây. Rừng ở đây khác hẳn rừng nơi khác mà Lù đã đến là quá nhiều vắt. Buổi chiều Lù đã chuẩn bị hai hộp dầu cù là. Loại dầu này bôi vào chân làm vắt sợ mùi không dám bám. Hễ hết mùi là vắt lại bám chặt rứt không ra. Ðêm ở đây cũng dày đặc hơn. Mặc dù đã chuẩn bị đèn săn, loại đèn pin chóa to, xài đến sáu cục pin vị chi là chín vôn nhưng tầm soi vẫn quá ngắn. Nếu con thú xuất hiện ở xa thì cũng khó nhận ra.

Bỗng có tiếng gió ào ào rồi lá rừng xào xạc. Lù nghĩ chắc con hổ đang đến. Hắn không bật đèn vội mà căng tai ra nghe ngóng. Tuy trời tối nhưng mắt hắn cũng nhìn được trong phạm vi bán kính vài mét. Quả thực có tiếng quất vun vút trong gió. Ðúng là hổ rồi. Lù để ý xem nó đi từ hướng nào. Cố gắng đoán định thật chính xác rồi bấm đèn pin. Bấy giờ khoảng cách chừng mười thước, một con hổ xám hiện lên. Nổi bật là đôi mắt đỏ, chói sáng của nó. Con hổ dài độ mét bảy, to lớn, dữ dằn. Vằn xám của nó chạy dài tới đuôi. Con hổ rất manh động vì vậy Lù phải nằm yên chờ cơ hội giương súng lên chĩa vào giữa hai đốm sáng màu đỏ. Loài thú này phải hết sức bình tĩnh, để nó thấy súng nó sẽ bỏ chạy và khó có thể gặp nó lần thứ hai. Cuối cùng thì Lù cũng đã nâng được súng lên.

- Ðòm!

Phát đạn của Lù xé toạc không khí. Con hổ ngã xuống nhẹ tênh khiến Lù cũng ngờ vực. Chẳng lẽ mình bắn "tin" đến như vậy sao. Lù phải leo lên cây, bấm đèn pin xuống quan sát. Ðúng là con hổ đã chết nằm bất động. Nhưng sao hình dạng của nó quái lạ thế kia. Lù nhảy xuống đất lò dò tới gần. "Ma quỷ gì thế này!". Hắn thấy lạnh cả gáy. "Người!" Ta đã bắn nhầm người. Hắn định tìm cách phi tang nhưng vừa chạm vào hắn đã bủn rủn cả chân tay. "Trời ám hại ta rồi. Cha ơi!...".

Ông Sáng bị bắn xuyên ngực trái, ra nhiều máu và kiệt sức, Lù dìu cha về trại. Sau khi cứu chữa cho cha, hắn đưa ông về làng. Lù bây giờ đã chịu cày ruộng. Làng Trẻn sản xuất nhiều gạo tám thơm. Họ lại mua cá ươn vạn chài làm nước mắm. Làng xóm thanh bình. Ông Sáng bây giờ đã già yếu. Chỉ có Lù là khỏe như vâm. Tấm lưng trần luôn bóng nhẫy. Cơm ăn ba đọi, nước chè mọi uống ba vò. Hắn đang là trụ cột của cả nhà.

1995 - 1997


Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Con Gấu

Nguyễn Quang Huy

Nàng là một cô gái ngoại thành, con nhà trồng hoa. Từ ngày lên thành phố ở, nàng không trồng hoa nữa, nhưng vẫn rất yêu hoa. Hình như mỗi một loài hoa, đều mang một phần cái hồn trinh nữ của nàng, mong manh, e ấp, mộc mạc, thấm đẫm hương đồng nội. Nàng hay đi chợ và mua hoa lúc chín, mười giờ sáng, lúc ấy mới có hoa tươi vừa cắt ở vườn, chứ còn đi sớm quá, có khi lại là hoa từ chiều qua. Nàng chẳng lầm giữa hoa tươi và hoa cũ, nhưng nàng không muốn nhìn thấy vẻ rầu rĩ của những bông hoa hái qua đêm. Còn những bông hoa mới cắt xong, ngay hít thở cái mùi hương dịu lành của nó, cũng thấy thơm mát vào tận da, và nước từ cuống hoa rịn ra nơi vết dao cắt, cũng thoáng làm nàng chạnh nhớ một thời trinh bạch đã qua...

Nàng đang vừa mải chọn hoa, vừa nghĩ, thì cảm thấy có một cái gì mềm mại cọ cọ dưới chân mình. Nàng nhìn xuống, và mừng rỡ thốt lên:

- Ôi! Gấu! Sao mày lại ở đây hả?

Con chó - Gấu là tên nó - ngước cái mõm đen mượt hít hít tay nàng, và nàng cảm thấy cái lưỡi mềm ấm của nó rụt rè, chứ không vồn vã như mọi khi.

- Sao lâu lắm rồi, mày không đến chỗ chị? Thôi nào, đợi chị chọn mấy bông hoa nữa, rồi thì về...

Nàng vỗ nhẹ mấy cái lên đầu nó, rồi chọn tiếp. Con Gấu quanh quẩn đi theo.

Nó là một con chó Mẹo to, đậm. ức nở, cổ lực lưỡng, vai tròn, xuôi xuống phía lưng. Mõm ngắn, hàm khỏe, với hàm răng sắc, nhọn và đều. Mắt nó mầu đen, giống như mầu cánh của con bọ sừng, có cái nhìn lung linh mầu hổ phách. Ðuôi nó cụt ngủn, toàn thân phù hợp với lớp lông đen dày, vừa cứng vừa mềm mại. Trông nó hệt như một con gấu và có bản lĩnh của một con gấu: những cử động từ tốn và điềm tĩnh, chắc chắn và uyển chuyển.

Nàng đã chọn xong hoa, bảo:

- Về đi, Gấu ơi!

Con chó đi cách nàng vài bước, lững thững chứ không có vẻ tung tẩy, ra chiều đang nghĩ một điều gì đó.

Ðến một tòa nhà to, ở tách biệt, nàng mở cổng, rồi mở cửa bước vào. Con chó đứng ngoài cửa, không vào theo. Nàng lắc đầu, bảo:

- Vào đi, Gấu! Không có ai đâu! Ðây này...

Và nàng mở toang cửa chính, cửa sổ, rồi ngồi xuống một chiếc ghế bọc đệm nhung mầu mận chín. Con Gấu chậm rãi đi đến cạnh nàng, ngồi xuống, áp cái mõm của nó lên đùi nàng, mắt lim dim.

Nàng đưa bàn tay mềm mại, thơm tho kê dưới mõm nó.

- Chủ mày có khỏe không? Sao lâu nay không thấy mày đến chơi với chị? Chị buồn lắm, Gấu ơi!

Hình như cái giọng nghèn nghẹn của nàng làm con Gấu chợt run rẩy. Nó thè lưỡi liếm lòng tay nàng, ngọ nguậy cái mõm.

- Mày thương chị, phải không, Gấu? Sao dạo này mày gầy vậy? Chắc chủ mày vất vả lắm phải không?

Con Gấu vẫn nhắm mắt, chỉ có cái tai hơi động đậy, và thỉnh thoảng nó lại thoáng rùng mình nhè nhẹ.

- Thôi, để chị đi lấy cái gì cho Gấu ăn nhé! Ngồi đây!

Nàng đứng dậy, xuống bếp, mang lên một cái bát to cơm, canh và mấy miếng thịt quay - cái món mà Gấu thích. Nhưng, Gấu không ăn ngay. Nó cứ ngồi như thế, ngước mắt nhìn nàng.

- Gấu cũng nhớ chị à? Hay muốn nói điều gì với chị? Thôi nào ăn đi đã...

Con Gấu nhởn nha ăn. Hai chỗ hõm ở hông nó phập phùng. Nàng thích cách ăn của con Gấu, biết rằng nó ít khi được ăn ngon. Bàn tay mềm mại của nàng đang vuốt dọc lưng con vật, bỗng dừng lại. Một nỗi buồn cứ từ từ dâng lên, đầy ắp trong nàng, rồi những giọt nước mắt cứ lần lượt ứa ra, nhỏ xuống bát cơm của con Gấu... Con Gấu làm nàng nghĩ đến chủ của nó, và thân phận của mình. Cứ thế, nàng lặng lẽ khóc...

*
* *

Chủ của con Gấu, một anh giáo trường làng, mồ côi bố, ở với mẹ bệnh tật. Và nàng, một cô con gái nhà trồng hoa ngoại thành, xinh đẹp nết na, thi không đỗ đại học. Ðã có một thời, họ sống thật hạnh phúc với nhau dưới mái nhà vá víu bằng đủ mọi thứ vật liệu. Chàng dạy học trường làng, nàng trồng hoa. Một mảnh đất nhỏ thôi, nhưng cũng đủ cho một gia đình sống đơn giản và ấm cúng. Sáng sáng, nàng dậy sớm, cắt hoa mang đi chợ bán. Con Gấu đưa chân nàng đến tận đầu làng, mãi khi nàng bảo:

- Thôi Gấu, đi về trông nhà đi!

Con Gấu dừng lại, đứng nhìn theo mãi cái dáng đi mềm mại của cô chủ, đến khi nó chỉ còn là cái bóng mờ mờ, rồi phi một mạch về nhà. Cũng đôi lần, nó lặng lẽ theo nàng đến tận chợ. Nàng mua cho nó mấy miếng dồi lợn, gói bằng một nửa tàu sen. Nó nằm, thong thả nhai từng miếng vẻ khoái trá, thỉnh thoảng đưa mắt nhìn cô chủ nó đang bán hoa cho khách...

Cuộc sống của nàng, có lẽ cứ lặng lẽ trôi đi, nếu bàn tay của tạo hóa không bày ra những trò cay nghiệt để thử lòng dạ con người. Ðầu tiên, là lấy nhau hai năm rồi, nàng vẫn chưa có một mụn con. Theo lời thầy thuốc ở bệnh viện, thì lỗi ấy do chồng nàng. Họ nội của chàng, ba bốn đời chỉ có một con trai. Thôi thì, có một con trai hay một con gái cũng được! Nàng an ủi chồng vậy. Chút tiền bán hoa ít ỏi, đắp cả vào việc nuôi mẹ chồng và chạy chữa cho chồng, nàng cũng chẳng hề kêu ca. Nhưng, hình như trời không thương nàng, cố tình phụ công nàng. Ðã có lúc, chồng nàng bảo:

- ở với tôi, mình khổ đã đành, lại uổng một đời con gái. Hay là...

Nàng hốt hoảng:

- Hay là... sao...?

- Hay là... mình kiếm lấy một đứa con để nuôi. Là con của mình... Người ta nói con gái có thì...

- Anh bạc lắm! Nàng khóc.

Nhưng cái thực tế phũ phàng, cay nghiệt kia, nàng đã lờ mờ cảm thấy, song từ lâu, nàng cố coi như không có nó. Nay cả chồng và mẹ chồng đều nhắc đến, thì nó lại hiện diện, rõ rệt, tàn nhẫn, lý trí yếu ớt của nàng làm sao chống lại nổi. Và, nàng mặc cho nó dày vò mình. Nàng sống như một người chết đuối vớ phải một mảng bèo, liền bám lấy nó và để mặc cho dòng nước dữ cuốn đến đâu thì cuốn. Thôi thì, trăm sự nhờ vào may rủi...

Cho đến một hôm, nàng đi chợ bán hoa như mọi sáng...

- Hoa tươi quá... Chỉ tiếc người hơi héo! Có bán cả không em?

Nàng chợt ngẩng lên, toan mắng người ấy, thì nhận ra người làng.

- Tưởng ai, ra anh!

Rồi nàng nhoẻn cười. Một bên má lúm đồng tiền.

- Sao lâu rồi, không thấy anh về làng?

- Còn ai nữa mà về! Còn em, thì em... Dạo này, sao em khác quá!

- Vừa già, vừa xấu...?

- Cũng có gầy đi, trông vất vả hơn. Còn xấu thì... Em vẫn đẹp như trước, có khi còn duyên hơn...

Thoáng chút hồng trên má nàng. Nàng hơi cúi mặt xuống, cắn cắn môi dưới.

- Nhà anh gần đây, em đến chơi! Tiện thể, chọn cho anh một ít hoa và cắm bình hộ anh!

- Em còn phải bán nốt, kẻo héo mất.

- Nhanh thôi mà. Em đến cho biết nhà... Ðưa anh gánh cho.

Nàng không có lý do để lưỡng lự, gánh hoa đi theo người đàn ông ấy. Mà, nàng đã đến cái nhà mà bây giờ nàng đang ở. Còn người đàn ông ấy, chính là chồng nàng bây giờ.

Cho đến bây giờ, nàng cũng không hiểu ma đưa lối, quỷ đưa đường như thế nào, mà nàng lại rơi vào cái nhà này, lại chấp nhận làm vợ anh ta. Anh ta không gài bẫy nàng. Anh ta chỉ nói thẳng với nàng những đề nghị của mình, với sự tính toán trần trụi, chính xác và chí lý. Em còn trẻ, lại đẹp, lại nết na. Em lấy anh giáo làng, nghèo kiết xác, lại mẹ già, đau ốm luôn, không hy vọng gì ở đường con cái. Bây giờ, thì em còn có thể chịu đựng được. Nhưng dăm ba năm nữa, ở hoàn cảnh ấy, em sẽ già rất mau. Em sẽ xấu xí, sẽ nhăn nheo như một bà cụ già, người sẽ héo quắt đi. Như vậy, có ích gì cho em, và cũng chẳng ích gì cho mẹ con người ta. Rồi cuộc sống túng quẫn liệu có giữ mãi được cái tươi vui của gia đình hay không? Còn em ở với anh, nhà này là của em, của các con em. Tiền anh kiếm được cũng là của em, em toàn quyền quản lý, chi tiêu. Em sẽ chẳng phải làm gì cả, chỉ đi chợ cơm nước, quán xuyến nhà cửa giúp anh...

Không phải anh ta nói một lúc tất cả những điều ấy trong lần đầu tiên nàng đến nhà anh ta, mà là nói dần dà trong những lần sau, mỗi khi nàng đi chợ bán hoa và anh lại mời nàng đến nhà. Anh ta cứ nhẩn nha, ung dung, tự tin mà đi đến cái đích của mình. Giống như đêm tân hôn, người đàn ông cứ từ từ lột từng thứ quần áo trên người đàn bà. Dù người đàn bà có yêu người đàn ông ấy hay không, nhưng mặc nhiên cam chịu, hoặc thích thú. Sự e lệ, trinh bạch lúc ấy chỉ còn là một trò giả vờ cố ý... Nàng cũng vậy. Những lời nói của anh ta, lần lượt tước bỏ dần những dằn vặt, cái băn khoăn của nàng lần lượt dồn nàng vào cái thế phải chấp nhận. Nó không hẳn là tự nguyện, nhưng nàng lại không thể làm khác. Nó đúng, nhưng tàn nhẫn, khốc liệt và man rợ. Ngay cả khi anh ta ôm nàng, ghì riết thân hình nàng bởi một vòng tay mạnh mẽ, phả vào mặt nàng cái hơi thở hầm hập, gây gây của một giống đực, thì nàng cũng không còn một chút ý chí nào để chống cự. Cả người nàng mềm lả. Nàng nhắm mắt, chấp nhận cuộc hành quyết, để mặc cho cái cảm giác đau đớn, tủi hổ tràn vào, lấp đầy con người nàng với cường độ của những cơn xoáy lũ. Nàng hoàn toàn đầu hàng số phận. Nàng chấp nhận cái chết của kiếp sống này, để đổi lấy một kiếp sống khác, mà cũng chẳng cần biết nó sẽ như thế nào, mà giống như một sự giải thoát nhục nhã.

Nàng đổi kiếp sống mà không gặp phải sự ngăn trở gì nhiều nơi gia đình chồng cũ. Người làng có trách móc, thì nàng có bao giờ về đâu mà nghe. Ðến mẹ anh giáo mất, nàng cũng không dám về, dẫu nàng biết là nghĩa tử là nghĩa tận, và biết nếu vậy thì nàng là một con đàn bà khốn nạn. Nàng không đủ can đảm. Nàng chỉ khóc rấm rích và tự xỉ vả mình suốt những đêm sau đó. Sợi dây duy nhất nối nàng với quá khứ là con Gấu. Những ngày mới lìa bỏ ngôi nhà dột nát của anh giáo, nàng sợ gặp người làng, nhưng vẫn không thể không đi chợ mua hoa. Những đóa hoa tươi làm lòng nàng dịu lại. Nhưng một nỗi đau không tên cứ âm ỉ thiêu đốt nàng, mỗi khi nàng bước chân đến cái chợ quen thuộc. Rồi sự gặp gỡ với con Gấu. Nó ngạc nhiên lắm, khi nàng là người mua hoa chứ không phải là cô chủ bán hoa của nó. Chắc nó tìm nàng mấy hôm rồi, hôm nay mới gặp. Nàng bảo nó về nhà. ấy là lần đầu, nó bước vào cái ngôi nhà đồ sộ kia. Chắc nó ngạc nhiên tại sao cô chủ nó lại ở cái nhà này. Nó cứ ngồi im mà quan sát tất cả mọi đồ vật trong ngôi nhà với vẻ cảnh giác, sẵn sàng bỏ chạy hoặc tự vệ. Chỉ có thái độ của cô chủ cũ làm nó hơi yên tâm. Khi cô cho nó ăn xong, đang nói chuyện với nó, thì người chồng mới của cô chủ bước vào. Anh ta giật mình, lùi lại một bước:

- Con chó nhà ai đấy? Sao lại đưa nó vào nhà!

Cẩn thận đấy!

Nàng vỗ vỗ con Gấu:

- Chó nhà em đấy mà! à... Nhà trước. Không sao đâu, nó hiền lắm...

Con Gấu yên lặng quan sát anh ta, không tỏ thái độ gì. Nhưng khi anh ta vừa bước một bước đến phía nàng, nó liền nhếch mép, để lộ một khóe hàm răng trắng ởn. Nàng phải đưa tay ôm lấy đầu nó:

- Gấu, ngoan nào...

- Tốt nhất là tống ngay nó đi...!

Nàng nhíu mày, nhưng cũng đứng dậy, kéo con Gấu đi theo. Nàng mở cổng, ngồi xuống, nâng đầu con Gấu lên, nhìn sâu vào mắt nó:

- Thôi, Gấu về đi, về đi! Từ nay đừng tìm chị nữa! Nhớ chưa?

Cái động tác lắc lắc đầu của nàng và ánh mắt nàng chắc con Gấu hiểu. Nó đưa lưỡi liếm liếm, hít hít bàn tay nàng, rồi phóng thật nhanh ra cổng...

Sau cái lần ấy, nàng không mua hoa ở cái chợ ấy nữa, mà đi chợ khác, xa hơn. Và con Gấu cũng không đến nhà tìm nàng. Không hiểu sao, hôm nay, nàng lại trở lại cái chợ cũ, và gặp con Gấu ở đấy...

Con Gấu cọ cọ cái mõm đen mượt của nó vào lòng tay nàng, làm nàng sực tỉnh. Nàng biết, giờ này chồng nàng sắp về. Nàng không muốn để anh ta gặp con Gấu, và chắc con Gấu cũng không muốn gặp anh ta. Nàng lý giải vẻ bồn chồn của con Gấu như vậy. Nó cứ định đứng lên, rồi lại thôi, hết nhìn ra cổng, lại nhìn nàng, và trong đôi mắt nó, cái ngọn lửa mầu hổ phách cứ lung linh, lung linh.

Nàng đứng dậy, lấy một chiếc dép của chồng, đưa vào mũi Gấu, và bảo:

- Nào, về thôi, Gấu! Kẻo họ sắp về rồi đấy!

Con Gấu, sau khi hít hít cái dép, như hiểu, đứng dậy theo nàng ra ngõ. Nó lủi thủi đi sau, cái đầu cúi thấp.

- Ðừng giận chị nhé, đừng trách chị, Gấu nhé!

Và nàng mở cổng. Con Gấu nhìn nàng, tru lên một tiếng, rồi phóng đi.







Nàng đóng cổng, ngồi thừ một lúc trên chiếc ghế bọc nhung, rồi uể oải đứng dậy nấu cơm trưa, vừa làm, nàng vừa nghĩ miên man. Và, cái cảm nhận cuối cùng, là nàng vừa tự trách mình, vừa tự thương thân. ở với người chồng mới, nàng là một người làm công, một con ở, một kẻ tù giam lỏng hơn là một người vợ. Công việc của nàng: Là quét dọn, giặt giũ, đi chợ, cơm nước, coi nhà và những công việc khác để hầu hạ chồng - ông chủ. Ngay tiền đi chợ, anh ta cũng khoán cho nàng từng ngày, nếu cần thì phải xin, trừ cái dây chuyền hai chỉ và một cái nhẫn một chỉ anh ta mua tặng nàng hôm cưới. Nàng hiểu, ngay cả những thứ đó, cũng không phải của mình, bởi anh ta để mắt đến chúng luôn. Những người giàu có thường ích kỷ và keo kiệt, hay chính vì ích kỷ và keo kiệt mà họ giàu có? Nàng không muốn nghĩ nhiều đến điều này, bởi dẫu sao thì cuộc đời nàng cũng đã như thế rồi...

*
* *

Sáng sớm hôm sau, con Gấu lại đến nhà tìm nàng.

Mõm nó tha một chiếc dép đứt quai. Thấy cổng còn đóng, nó lấy hai chân trước giật giật vòng xích khóa. Không có nàng ra mở cửa, nó bỏ chiếc dép xuống, chõ vào trong nhà sủa. Nghe tiếng con Gấu, nàng vội vã chạy ra, không giấu nổi vẻ mừng rỡ:

- Gấu đấy à? Ðợi chị mở cổng cho mày ngay đây!

Con Gấu tha chiếc dép chạy vào trước. Ðến thềm nhà, nó bỏ chiếc dép xuống, rồi đợi nàng và tru lên mấy tiếng thảm thiết. Nàng nhận ra chiếc dép nhựa cũ của anh giáo, và chợt hiểu:

- Thì ra vậy đấy! Chủ mày ốm phải không, Gấu?

Nàng vừa nhặt chiếc dép lên, dứ dứ vào mũi con Gấu, vừa nói vậy. Con Gấu lặng lẽ nhìn nàng, như cầu khẩn, rồi đứng dậy, cắn gấu quần nàng, lôi ra phía cổng.

Nàng ngồi xuống đưa hai tay giữ nó lại:

- Không được đâu, Gấu ạ! Chị không đi được!...

Nàng lắc đầu, và kéo con Gấu vào phòng:

- Thôi, phải ngồi đây! Ðể chị đi lấy cái gì cho mà ăn, rồi về...

Con Gấu không động đến bát cơm. Nó cứ quanh quẩn bên nàng, tru từng tiếng ngắn trong cổ họng. Nàng bối rối và bất lực. Chợt nàng "à" một tiếng, và đi xuống bếp. Lần này, con Gấu đi theo nàng. Nàng mở chạn, lấy một cái bánh giò mà nàng mua ăn sáng, một miếng chả to, hai quả cam và nửa cân đường. Nàng gói các thứ vào một túi nilon rồi bỏ vào một cái túi vải có quai. Xong xuôi, nàng bảo:

- Thế là được rồi! Nào Gấu, chịu khó một tí nhé! Không nặng lắm đâu!

Nàng quàng cái túi vải vào cổ con Gấu, dẫn nó ra cổng:

- Bây giờ, thì Gấu về ngay đi! Ði đi! Mai lại đến nhé...

Gấu co cẳng một mạch, quên cả từ biệt nàng. Nàng biết là anh giáo đang ốm nặng. Nàng cứ bần thần, bởi một ý nghĩ: anh giáo sẽ biết những thứ con Gấu mang về là của nàng, anh sẽ không thèm động đến. Tự nhiên, nước mắt nàng ứa ra, những giọt nước mắt tủi hổ của một người vợ trót bội bạc. Nhưng không, chắc anh ấy sẽ ăn. Anh ấy đang ốm mà. Nếu anh ấy không ăn, thì con Gấu cũng sẽ không ăn. Nó không bao giờ ăn trước chủ. Mà anh ấy thì quý con Gấu, thương con Gấu lắm. Bây giờ anh ấy chỉ có một mình nó...

Sáng hôm sau con Gấu lại đến, tha theo cái túi vải. Nhìn thấy cái túi, nàng mở ra nhẹ nhõm. Anh ấy hiểu mình và anh ấy vẫn còn thương mình. Một nỗi đau cứ thế nhói lên, làm nàng không chịu nổi. Nàng ghì đầu con Gấu vào ngực mình:

- Chủ mày không giận chị à? Chủ mày vẫn còn thương chị à?

Rồi nàng lại vội vã bỏ các thứ vào túi vải, quàng lên cổ con Gấu, những thứ mà sớm nay, nàng đã kịp đi chợ mua.

*
* *

Cứ như vậy, con Gấu đến nhà nàng, ba, bốn lần sau đó, đều trót lọt, chồng nàng không hay biết.

Rồi một tối, khi ăn cơm, anh ta hỏi:

- Cái con chó nhà cô nó vẫn đến đây phải không?

Nàng đang gắp thức ăn, dừng đũa, không dám ngẩng lên ngay:

- Ðâu có, chắc anh nhìn nhầm con chó nhà ai đấy!

- ờ... cũng có thể! Nhưng cô vẫn cứ cẩn thận. Nó thả rông thế, dễ mắc bệnh dại lắm! Nó mà cắn tôi, thì cô cứ liệu!

- Nhưng mà em khóa cổng kia mà...

- Cô mới học đâu cái kiểu cãi giả chồng thế hả! Tôi nói thế thì phải biết im đi mà nghe!

Nàng nín lặng, cố nuốt nốt miếng cơm. Chiều hôm sau, anh ta về sớm, quăng gói giấy báo cái "bịch":

- Cô không thích ăn thịt quay, nên mua miếng thịt cũng chẳng ra hồn. Từ nay, cô cứ để tôi khi nào thích ăn thì mua...

Nàng lẳng lặng mang gói thịt xuống bếp thái. Miếng thịt to, nàng bớt lại một phần, để sáng mai cho con Gấu mang về. Nàng cất miếng thịt trong chạn, úp một cái bát lên trên, yên tâm vì biết anh ta chẳng bao giờ thèm ngó ngàng đến bếp núc.

Sáng sớm hôm sau, con Gấu đến. Nàng mở chạn, lấy miếng thịt quay gói lại cho vào túi vải, cùng với những thứ khác, vội vã giục nó về ngay. Nàng sợ chồng bắt gặp con Gấu.

Buổi chiều, nàng cảm thấy ruột gan cứ bồn chồn không yên. Cái tâm trạng ấy, khiến nàng như mất hồn, hết đứng lại ngồi, đi ra lại đi vào. Không phải vì chiều nay, chồng nàng ở nhà. Anh ta cũng chẳng quan tâm đến trạng thái ấy của nàng, cứ nửa nằm nửa ngồi trên đi văng, vừa nghe nhạc, vừa đọc chưởng.

Bỗng có tiếng tru thảm thiết của con Gấu ở ngoài cổng. Nàng run bắn người, linh cảm thấy có một tai họa khủng khiếp. Nàng không đủ sức đứng lên mở cổng nữa. Chồng nàng hỏi:

- Cái con chó đen nhà cô phải không? Nó chưa chết à?

Nàng tái mặt lắp bắp:

- Anh... anh... bảo... bảo... ai ... Ch... chết?

- Con chó nhà cô ấy. Nó không ăn cái miếng thịt quay ấy à? Tôi đã tẩm thuốc độc vào đấy đấy!

Nàng ngã khuỵu xuống, như một cây chuối thối gốc:

- Giời ơi là giời... Anh giết anh ấy rồi...

Nàng khóc và ngất đi. Chồng nàng hoảng sợ, vội vớ lấy dầu bạc hà xoa cho nàng, lay gọi nàng:

- Cô nói làm sao? Ai chết? Tôi giết ai? Cô điên rồi à?

Nàng dần dần tỉnh lại, cũng với tiếng hờ khóc càng to hơn:

- Giời ơi là giời... Anh giết anh ấy rồi... Anh ấy ốm... Tôi lấy miếng thịt bảo con chó mang về cho anh ấy... Ðồ độc ác... Ðồ dã man!...

Anh ta cho nàng một cái tát, hai cái tát. Nàng choáng váng, nín bặt, nhìn trừng trừng:

- Mày đánh nữa đi! Mày giết nốt tao đi! Tao có cần sống đâu mà... Quân giết người!

Anh ta dằn từng tiếng:

- Này! Cô nghe đây! Tôi định giết là giết con chó. Tôi ghét vì nó cứ lui tới đây tìm cô. Cô tưởng cô giấu tôi cho nó mà lọt à! Tôi biết hết! Nhưng tôi lại không ngờ anh ta lại ăn tranh của chó. Chính cô mới là người giết chết anh ta!

Nàng giận bắn người, miệng há hốc, mắt trợn trừng. Nàng ghê sợ cái suy nghĩ, cái cách nói trần trụi, tàn nhẫn của con người đó, nàng lảo đảo đứng dậy, xiêu vẹo đi ra phía cổng, nơi con Gấu đang đu người lên mà tru từng hồi. Anh ta quát to:

- Cô không được mở cổng! Tôi cấm cô!

Nàng không thèm nghe. Nàng đang ở vào cái trạng thái không biết sợ một cái gì - kể cả cái chết. Nàng mở toang cửa, ôm lấy đầu con Gấu mà khóc không thành tiếng. Nước mắt của con Gấu cũng ướt cả tay nàng. Rồi nó toài ra, ngoạm tay nàng kéo đi. Nàng đắn đo giây lát, rồi bảo:

- Gấu, ở đây nhé. Ðợi chị.

Nàng ấn con Gấu ngồi bên góc cổng, rồi rảo bước vào nhà. Nàng nói với chồng, nhỏ nhưng quyết liệt:

- Tôi phải đi! Anh có cấm, tôi cũng đi! Nếu anh cấm tôi, tôi sẽ tố cáo anh. Rồi ra sao thì ra.

Anh ta nhìn vẻ mặt nàng, nhìn ánh mắt điên dại của nàng, nghĩ một lát, rồi gằn giọng:

- Thôi được cô cứ đi, nếu cô thích. Nhưng tôi nói để cô biết, cái mặt cô cũng chẳng đẹp đẽ gì, nên cứ liệu đấy mà phơi ra...

Nàng không thèm trả miếng, hấp tấp quay ra cổng, con Gấu vẫn đứng đấy, vội vã vượt lên trước, cứ một quãng, nó lại đứng đợi, vẻ bồn chồn. Mãi đến khi đi một quãng xa, nàng mới sực nhớ ra mình chẳng có một đồng nào cả. Nàng gọi:

- Gấu lại đây đã!

Và nàng đi đến một tiệm vàng. Nàng tháo chiếc dây chuyền, cái nhẫn, chủ tiệm nhìn vẻ mặt nàng, không hỏi, đem đi cân, thử, và nói giá, tính tiền, đếm tiền. Nàng lặng lẽ cầm bọc tiền và lặng lẽ ra khỏi tiệm.

Trên đường đi, cho đến lúc này, nàng mới nhớ lại tình cảm của mình. Và, những lời nói của chồng, làm nàng phải cân nhắc: "Có nên đến thẳng chỗ anh ấy không?"

Nàng hình dung ra căn nhà tồi tàn không khí lạnh lẽo của nó, vẻ mặt khổ não và ảm đạm của người quá cố, ánh mắt của người làng... Nàng thoáng rùng mình và do dự. Nàng thấy tốt nhất là hãy cứ sang nhà bên cạnh xem sao đã. Hai vợ chồng ông lão hàng xóm vốn phúc hậu, rất quý nàng, khi nàng còn là vợ anh giáo. Vả lại, trời cũng đã nhá nhem, ít người nhận ra nàng...

Ðến gần ngôi nhà cũ, nàng thấy người vào ra thì đông mà tiếng khóc thì thưa thớt, nàng thấy mình có tội với anh ấy, thấy mình chẳng còn mặt mũi nào mà bước vào ngôi nhà đó, nhìn mặt người chồng cũ lần cuối. Nàng vội vã rẽ vào nhà bên cạnh, lén lút như một con ăn cắp. Gặp bà cụ, nàng òa khóc:

- Anh ấy đi rồi à, bà ơi?

- Tội nghiệp... sao chị biết mà về?

- Con Gấu nó đến báo cho cháu...

- Lạy giời Phật! Thảo nào... vừa mới trưa, nó sang nhà tôi. Ông lão nhà tôi đang nghỉ. Nó cứ vừa tru, vừa ngoạm tay ông lão lôi dậy. Sang, thì anh giáo đã đi rồi. Người ta bảo là do ốm sẵn mà ngộ độc thức ăn... Ðồ nóng anh giáo không ăn mà chỉ ăn đồ nguội. à... à... ra con Gấu nó đến báo cho chị đấy...!

Những lời của bà già làm nàng buốt nhói đến tận ruột gan. Nàng muốn nói "Bà ơi! Chính cháu đã giết anh ấy!", mà không dám. Một cơn ớn lạnh làm nàng rùng mình, nàng vội giở bọc tiền, dúi vào tay bà lão, mếu máo:

- Bà ơi... cháu có lỗi với anh ấy... Cháu chẳng còn mặt mũi nào mà nhìn anh ấy nữa. Số tiền này, cháu dành dụm được, nhờ ông bà với hàng xóm láng giềng lo cho anh ấy. Thôi thì, trăm sự nhờ cả ông bà...

Bà lão, thấy nàng như vậy, cũng mủi lòng:

- Chị nghĩ vậy, là phải! Ðể tôi đi gọi ông lão về!

Nàng vội níu tay bà cụ:

-Thôi bà ạ! Cháu xin phép bà, cháu phải về ngay đây!

Nàng nấc lên, vội vã đi như chạy ra khỏi cái ngõ hẹp nhà bà cụ. Và cứ thế, nàng lầm lũi đi. Con Gấu không biết nàng về. Nó bỏ nàng ngay từ lúc nàng đến gần nhà. Nó làm thế là đúng thôi. Chỉ có nàng mới là kẻ phụ bạc.

Ðêm! Trăng suông. Con đường vắng. Những ngọn gió hoang thỉnh thoảng lại cồn lên, nàng có cảm giác đó là âm hồn đang đi lang thang...

Có tiếng chân chạy phía sau, làm nàng giật bắn người. Một bóng đen vụt qua, rồi đứng khựng lại. Con Gấu, nàng mừng rỡ, ngồi thụp xuống, ôm lấy đầu nó và cảm thấy trống ngực vẫn đập thình thình.

Con Gấu đi cùng nàng đến đoạn đường sáng đèn phố, thì dừng lại. Nó để yên cho nàng vuốt ve một lúc, rồi vùng chạy ngược về nơi mà nàng đã từ bỏ.

Tháng 3-1993



Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Một quãng đời và cả cuộc đời

Phạm Duy Tương

Thế là xong! Ký xoẹt một cái, tôi quẳng chiếc bút xuống mặt bàn. Ðứng dậy, nhìn bản như nhìn một công trình khó nhọc, bám riết lấy tôi, hút máu thịt tôi, nay đã được hoàn thành, đã ra khỏi cơ thể của mình. Nó không thuộc về tôi nữa. Cũng như người đàn bà nhỏ bé đang run rẩy như chiếc bút tôi vừa bỏ xuống, bây giờ đã trở thành người dưng nước lã. Tôi hơi buồn cười với ý nghĩ chua chát nảy lên trong đầu: cô nàng xanh xao kia mới đây là của tôi đấy nhỉ?

Bà thẩm phán dán mắt vào bàn tay lóng ngóng của cô ta, mãi không cầm được cây bút cho vừa ý, chợt dịu giọng hỏi:

- Cô có điều gì băn khoăn nữa không?

- Dạ... không ạ - Cô ta khẽ lắc đầu.

- Cô hoàn toàn đồng ý cho đứa con về sống với ba nó chứ?

- Dạ... - Cô ta thoáng giật mình, khuôn mặt gầy gò biến sắc, tái mét và run bắn lên. Ngòi bút vừa chạm tờ giấy vội rụt lại.

Bà thẩm phán đặt tay lên một góc tờ giấy. Bà ta làm gì thế nhỉ? Tôi nhăn mặt, sốt ruột. Hai ngày qua, chúng tôi đã trả lời cả một loạt câu hỏi rồi. Chúng tôi không thể sống với nhau bởi giữa chúng tôi không còn tình yêu. Cô ta đã phản bội tôi. Hai năm qua tôi ở chiến trường, cô ta đã to bụng với một tay lái máy cày nào đó. Tôi cũng chưa biết mặt. Cái thai đã bị sẩy, lạy trời! Trước khi lấy nhau chúng tôi đã giao ước với nhau về trường hợp này. Tôi không còn muốn nhìn thấy cô ta, nghe thấy cô ta, thậm chí cảm thấy cô ta ở bên cạnh. Vậy sống với nhau thế nào được! Nghe nói cái anh lái máy cày kia, đến làng tôi làm và xin nghỉ trong một gian xép của nhà trường, nơi vợ tôi dạy học và vợ tôi đã chung chạ với anh ta...

Tôi với anh trai cô ta ở chung một đơn vị gắn bó với nhau mười mấy năm trời và chính anh đã giới thiệu em gái cho tôi. Hôm tôi về phép nhằm bữa đơn vị báo động luyện tập phương án chiến đấu, anh kéo tôi ra một đoạn vắng, dựa súng vào vách hào nói chuyện. Trước sự việc tệ hại, anh và tôi đều cảm thấy khó xử. Dù biết không hề có lỗi, thâm tâm chúng tôi vẫn trách móc lẫn nhau.

Anh nhấc hai khẩu súng dằn mạnh sang bên, khẽ chạm vào tay tôi, nói:

- Tôi biết chú sẽ giải quyết như thế nào rồi. Tôi hoàn toàn đồng ý.

- Mong anh hiểu cho - Tôi nặng nề nói, tôi có tính xấu là cố chấp. Bởi cố chấp nên đã muộn vợ và có lẽ suốt đời phải chịu cô đơn.

- Cố chấp chưa hẳn là xấu - Anh tiếp lời ngay, người lính không thể cúi đầu chịu đựng tất cả mọi thứ rác rưởi của xã hội. Tiền tuyến không phải là cái bãi phế thải của hậu phương - Giọng anh gay gắt bất ngờ rồi dường như nhớ đang đứng ở đâu, nét mặt giãn ra cởi mở - Dù thế nào cũng đến thăm mẹ tôi chốc lát nhé.

Ðến lượt tôi cảm thấy bối rối. Anh vừa vượt qua cương vị người anh vợ thẳng thắn trở về người đồng đội. Tôi xúc động hứa với anh là sẽ tới.

Ðêm tháng năm, chẳng mấy chốc đã sang canh, bà con anh em vê từ lâu tôi vẫn ngồi bên bàn. Sờ ấm nước thấy hết, tôi bấm đèn pin xuống bếp, bắt gặp cô ta ngồi thu lu trong ngách nhà. Cô ta nhìn tôi rất nhanh, hoảng hốt co chân về tránh đường cho tôi và cúi gằm mặt giấu vào hai đầu gối. Múc xong bát nước, tôi đã toan bước đi nhưng nghĩ sao lại dừng lại. Cô ta ngửng lên lí nhí hỏi:

- Anh sẽ bỏ em phải không?

Câu hỏi thật thẳng thừng và nếu không thẳng thừng như thế chắc tôi sẽ không trả lời.

- Chính Lệ cũng biết cần phải như thế nào rồi đấy!

- Anh ngồi xuống đây - Cô ta cất giọng nhẹ nhàng. Trong ánh đèn sáng rực, tôi thấy cô ta gầy đi rất nhiều. Khuôn mặt dịu dàng, đằm thắm giờ đọng đầy vẻ thảng thốt, dằn vặt. Tôi cảm thấy ghê tởm nhưng vẫn ngồi xuống với tay tắt đèn.

Cô ta trao cho tôi chiếc ghế con. Tôi chạm phải một bàn tay giá lạnh và tiếng nói trong hơi thở hổn hển. - Em muốn xin anh đừng bỏ em.

Tôi nhăn mặt phản đối nhưng nhận ra bóng đêm đang trùm kín, bèn giương mắt nhìn thẳng ra phía trước với thâm ý tò mò độc ác.

Khuôn mặt nhờ nhờ trắng đang dịch lại gần tôi, một bàn tay mềm nhũn chạm vào đầu gối. Tôi hất ngay xuống, hình như có một tiếng kêu cố nén lại:

- Anh cứ khinh bỉ em, nhưng xin anh nghĩ coi, suốt bốn năm lấy nhau anh ỏ với em được mấy ngày - Cô ta đã lùi ra xa, không còn nhìn thấy cái vệt trắng nhờ nhờ trước mặt, chỉ nghe tiếng nói thảng thốt như hơi thở hấp hối của bóng đêm sâu thẳm. Tiếng rên rỉ ngắt quãng nhưng vẫn khá mượt mà - Em biết anh rất kiên quyết, khó lòng lay chuyển nhưng vẫn cầu xin theo sự thôi thúc của trái tim. Nếu anh không chấp thuận lời cầu xin của em thì cũng mong anh hiểu cho dù hư hỏng, dù đáng tội nhưng trái tim em luôn luôn hướng về anh. Cả khi, cả khi... thể xác em phản bội anh - Cô ta nói nhanh và bỗng bật khóc. Tiếng khóc cố nén nghe tức tưởi - Em khổ sở nhục nhã lắm anh ơi. Lúc em không giữ gìn được là lúc em không thể nào giữ được, cho nên em nhận thức đầy đủ sự nhục nhã ê chề của nó. Mà anh, sao anh chẳng đoái hoài giúp đỡ em một chút gọi là... - Tiếng khóc làm cho lời nói trở thành rên rỉ nghẹn lại.

Tôi bắc chân lên ghế:

- Ở chiến trường tôi cũng chỉ biết ôm lấy khẩu súng mà nhớ tới cô, xây đắp hạnh phúc bằng tưởng tượng.

- Em biết - Sợi dây đàn ngỡ đã đứt rồi lại rung lên não nề - Anh là đàn ông, anh có biết bao nhiêu chuyện vui để khuây khỏa. Anh còn có đông đúc bạn bè, được ngẩng đầu lên kiêu hãnh. Còn em, thui thủi như một cái bóng. Hàng ngày đâu có dám nhìn ai. Ði trên đường gặp ánh mắt bất ngờ đều phải cúi xuống, lẩn tránh cả ánh mắt của người thân. Xây đắp hạnh phúc bằng niềm hy vọng chờ đợi mỏng manh đôi lúc tưởng như hão huyền. Và đứa con...

Tôi thở hắt ra, lạnh lùng cắt ngang:

- Ðứa con là của tôi, không còn của cô.

Hai bàn tay gầy giá lạnh chộp lấy đầy gối của tôi, run lên bần bật. Tôi hất mạnh đầu gối, đứng dậy. Tôi ngửa cổ uống một hơi cạn sạch bát nước còn nguyên trên tay và thô bạo hắt chút cặn cuối cùng vào bóng đêm ngoài cửa.

- Cô cứ vào giường mà ngủ. Ðứa con của tôi để nó ngủ với bà - Tôi nói vọng lại khoảng tối đen, trống rỗng sau lưng, kiên quyết bước tới bên bàn.

Một lúc mẹ tôi bế đứa cháu ra rồi ngồi đối diện với tôi, chếch bên tay trái. Im lặng hồi lâu, mẹ rụt rè nhìn tôi, hỏi:

- Con định thế nào?

Tôi cúi xuống bối rối không tìm được câu trả lời. Mẹ nhấc bàn tay rơi thõng của đứa cháu xếp vào lòng.

- Chuyện của con tùy con - Giọng mẹ buồn rầu nhưng rất bình tĩnh, riết róng của một cuộc đời nhiều vất vả, khổ đau: Chồng mất sớm, một mình nuôi dạy ba đứa con. Họ hàng anh em thì cũng người nói thế này, người nói thế khác. Riêng mẹ không chấp nhận thứ gái lăng loàn.

Tôi ngước lên, lén nhìn khuôn mặt khô héo nhưng cương nghị của mẹ. Ðôi mắt mẹ đang nhìn vào cõi tâm tưởng thăm thẳm trong cuộc đời đầy khúc khuỷu của mình. Khi mẹ dùng hai tiếng lăng loàn đúng như ý nghĩ của tôi lúc nãy, lòng tôi dâng lên một niềm vui chua xót.

- Vợ của con lăng chứ không loàn.

Như thể đọc được ý nghĩ của tôi, mẹ cắt ngang - Nó ăn ở biết điều. bà con xóm giềng có công việc gì đều chạy đi chạy về, chân tay nhanh nhẹn, nói năng dễ nghe, ai cũng quý - Mẹ quay lại nhổ nước trầu vào chân phên - Dạo đầu năm, mẹ ốm phải nằm bệnh viện hơn tháng, nhờ tay nó cơm nước, thuốc men mới khỏi đấy chứ. Nhiều đêm thức trắng ngồi quạt cho mẹ. Không có nó mẹ khó lòng qua khỏi...

Lờ mờ đoán ra mục đích của mẹ, tôi vội chen ngang.

- Cô ta si mê máy cày thì phải để cô ta đi theo máy cày mẹ ạ.

- Nói dại! Nó si mê nhưng đâu có ham muốn gì thằng đó?

- Mẹ mà lại nói như thế - Tôi vùng vằng xoay người chống tay lên bàn. Cảm thấy nặng nề trước ánh mắt đau đớn, bất lực của mẹ, lòng căm giận trong tôi bùng lên - Con còn phải đi xa, hạnh phúc không thể bảo đảm với một người vợ như thế.

Mẹ trở tay ủ đứa cháu đang ngủ say. Giọng vẫn bình tĩnh thủ thỉ:

- Con phải nghĩ đến em con nữa chứ. Anh mà bỏ vợ thì con gái trong làng đứa nào dám lấy em của con.

- Không phải. Con phải ly dị với cô ta thì hàng xóm mới hiểu và tôn trọng anh em chúng con.

- Tùy con - Mẹ thở dài.

Tôi cố mỉm cười;

- Con sẽ kiếm cho mẹ một đứa con dâu hiền thảo, nết na hơn hẳn cô ta. Ðất mình có thiếu gì người tốt hở mẹ?

Mẹ tôi lại thở dài.

Ðêm ấy, tôi không ngủ. Sáng sớm, tôi đến thăm mẹ cô ta, lòng trĩu nặng u buồn, ngượng ngùng như kẻ có lỗi. Mới hai năm mà bà cụ già yếu rất nhiều. Ði đã phải chống gậy. Lập cập cố bước nhanh, bà nắm chặt lấy cánh tay tôi và cứ đứng im giữa sân, mãi không nói được một lời nào. Rồi như chợt tỉnh, bà cuống quít hỏi thăm sức khỏe của tôi, của con trai, chuyện đi đường. Tôi cũng vội vã trả lời, còn kể lể hơn những gì bà cụ hỏi. Thỉnh thoảng còn cố cười lên, cố tình quên đi một người con gái ở giữa chúng tôi. Nhưng càng nói cười, lòng tôi càng tan nát và thấy rõ bà cụ còn đau đớn hơn. Cuối cùng không chịu nổi tôi đứng dậy xin phép ra về. Bấy giờ bà cụ chợt òa lên khóc nức nở!

- Mẹ có lỗi với anh - Bà cụ mếu máo - Anh tha lỗi cho mẹ.

Tim tôi run lên. Trong một thoáng, tôi đã định nắm lấy bàn tay nhăn nheo đang tựa trên đầu gậy mà nói: "Ðừng gọi con bằng anh, con vẫn là con của mẹ" nhưng cổ họng tôi ứ nghẹn.

- Trưa nay anh ở đây ăn cơm với mẹ nhé - Bà cụ run run hỏi.

- Xin mẹ để hôm khác - Nói rồi tôi quả quyết bước nhanh ra cửa.

Từ hôm tôi về, những bữa ăn ở gia đình tôi rất nặng nề. Hoặc ăn trước, hoặc đi chơi cho quá bữa, tôi không chịu ngồi ăn chung mâm cơm với cô ta. Nếu ăn trước, tôi thấy mẹ để dành cơm cho cô ta trong một chiếc liễn sứ khá đẹp, thức ăn có phần tươi. Tôi không nói gì càng thêm kiên quyết ý định đẩy nhanh cô ta ra khỏi nhà.

Tôi tìm mua một cuốn luật hôn nhân và gia đình rồi cắm cúi viết đơn ly dị.

Tôi đưa lá đơn cho cô ta. Cô ta đọc lại nhiều lần, không nhìn tôi, khàn giọng hỏi:

- Con để cho anh à? - Rồi nói tiếp - Anh ở nhà ít bữa lại ra đi. Hay là... để con cho em nuôi?

- Không được... - Tôi lạnh lùng gạt đi, cắm đầu bút chì vào tờ giấy - về tài sản tôi còn để trống. Cô muốn lấy gì ở ngôi nhà này thì cứ ghi vào.

Cô ta mắm môi ký phăng một nhát, đẩy sang cho tôi, không viết thêm chữ nào. Từ hôm ấy cô ta xin về ở bên nhà mẹ đẻ.

Cô ta rất muốn đứa con, tôi biết thế, nên kiên quyết giữ lấy. Bà thẩm phán rõ cũng muốn bênh vực cô ta nhưng làm thế nào được, pháp luật đứng về phía tôi. Bởi vậy, khi cô ta đặt bút xuống tờ giấy, bà ta còn hỏi về đứa con, làm chiếc bút nảy lên, tôi mới bực mình.

- Ký đi, còn đợi gì nữa - Tôi tàn nhẫn nói.

Cô ta từ từ hạ bút nắn nót một dòng đầy đủ họ tên và đệm. Cái vẻ tỉ mỉ của kẻ vô công rồi nghề ngồi giết thời gian!

Nhưng rồi cũng xong. Bà thẩm phán đống sập ngăn kéo. Chà! Từ nay hai ta là người dưng nước lã nhé! Có một chút tiêng tiếc nhưng tôi gạt ngay, cúi chào bà thẩm phán và bước đến quán phở gần đó.

Từ quán phở quay ra thì trời đã gần trưa. Nắng như thiêu như đốt. Mùa hè, ở quê tôi, cây cối đều khô héo. Ðứng trên đường, nhìn bốn xung quanh, hút tầm mắt nhức nhối một màu bạc phếch, nghèo đói. Nghĩ đến hơn chục cây số trong quang cảnh trơ trụi giữa nắng trưa tôi thây ngao ngán, ước có một chỗ quen biết để trú chân đợi chiều xuống. Nhưng không có. Tôi sinh ra ở quê mình lớn lên ở quê người, ngoài cái làng chôn rau cắt rốn tôi là người xa lạ, lạc lõng. Cô ta có mấy nhà bà con quanh đây thì từ nay đâu còn bà con của tôi!

Ra khỏi thị trấn chừng hai cây số. Tôi chợt thấy bên vệ đường, cô ta đang cúi đầu bước lủi thủi. Chiếc nón lá che sụp nửa mặt. Lưng áo gầy sọp, nhưng vẫn còn rõ những đường nét thanh tú, duyên dáng. Hồi sáng, cô ta đi lên thị trấn bằng cách nào nhỉ? Tôi chợt cảm thấy ngỡ ngàng trước sự vô tâm, xa cách của mình. Có lẽ nên cho cô ta đi nhờ một đoạn. ý nghĩ tinh nghịch của lòng trắc ẩn vụt đến. Tôi phanh kít chiếc xe đạp sát bên cô ta, mỉm cười:

-Cô đi nhờ không?

Cô ta giật bắn người, hai nét lông mày đậm cau lại rất nhanh. Nhận ra tôi, cô ta không nói gì, lẳng lặng lách người, định bước tiếp.

-Cô lên xe. Tôi đèo giúp nào! -Thấy cô ta chần chừ, tôi hạ giọng - Nắng nôi thế này gặp người cả đời không quen biết cũng cho đi huống hồ chúng ta là người lạ đã quen mặt.

Một cái cười khô héo trên khuôn mặt nhợt nhạt:

-Vâng. Cảm ơn anh!

Tôi bất ngờ nhận thấy cô ta nhẹ xọp đi nhiều quá, khác hẳn ngày trước.

Sau một hồi im lặng, Lệ hỏi nhỏ:

-Bao giờ anh đi?

-Một tháng nữa.

-Chắc... Tiếng nói vừa bật ra lập tức bị bóp nghẹt lại. Tôi hiểu Lệ định nói gì.

-Không! - Tôi cố giữ vẻ thản nhiên cất tiếng cười giòn giã, biết rằng mỗi tiếng cười sẽ là một mũi kim ngập sâu vào trái tim đang rớm máu của cô ta - Vừa bỏ người này làm sao đã có thể lấy ngay người khác!

Tôi vừa dứt lời nói độc địa, cảm thấy có bàn tay định bấu vào lưng áo nhưng rụt lại. Chiếc xe chợt chao nghiêng và cô ta ngã chúi xuống nền đường. Tôi kịp chống hai chân, ngoảnh nhìn... Cô ta lồm cồm bò dậy, người không việc gì, chỉ ngón chân cái bị toé máu. Cô luống cuống nhìn quanh, nét mặt thoáng đanh lại, hai bàn tay thoăn thoắt mở chiếc quai nón buộc vết thương. Tôi nhớ đúng đoạn đường này, có một lần cô ta cũng vấp phải một hòn đá. Tôi đã xé áo lót buộc cho cô. Sự phản bội tàn phá đi tất cả rồi. Nó đã tiêu diêt hết mọi lòng tốt, làm chai sạn cảm giác thương xót đối với cô ta mà hình như có tồn tại trong lương tâm tôi. Tôi thờ ơ đứng dạng hai chân giữ chiếc xe đạp. Cô ta lúc ấy đã đầm đìa mồ hôi, thậm chí tôi đã định nhấn bàn đạp bỏ mặc cô ta ở lại một mình với vết thương.

Ðến lối rẽ vào nhà cô ta, từ đấy về nhà tôi còn hơn hai cây số nữa. Tôi đạp chậm, cô ta nhảy xuống thảng thốt, nói với theo:

-Cảm ơn anh!

Tội không trả lời, không ngoảnh lại, rướn người trên xe. Chợt có tiếng đổ uỵch phía sau, tôi liếc thấy cô ta ngồi bệt xuống bên đường, úp mặt vào nón khóc hu hu. Tiếng khóc ấm ức, tủi thẹn, bị kìm nén bao lâu, nay phá lồng ngực ùa ra như lũ vỡ đê quét phăng sự yên tĩnh. Ðó là tiếng kêu gào của tình thế tuyệt vọng. Buổi trưa hè ngột ngạt, lờ đờ bị xáo trộn lên, réo sôi trong tiếng khóc xé lóng ấy. Ði một quãng xa, vì chiều gió hay vì tâm tưởng, tôi vẫn nghe tiếng khóc văng vẳng bên tai như tiếng kêu gọi, níu kéo.

Sau này nhiều người hỏi, lúc ấy trong lòng tôi xảy ra điều gì? Sự mềm yếu hay dằn vặt, luyến tiếc hay run sợ, anh hùng, hèn nhát, nghĩ đến mẹ hay nghĩ đến con, thương cô ta hay thương mình? Không có điều gì xảy ra nhưng cũng có thể đã xảy ra tất cả những điều đó. Tâm linh hay một cái gì na ná như thế đã thôi thúc tôi quay xe trở lại. Tôi dừng trước mặt Lệ, hắng giọng mấy lần, tiếng nói nghe vẫn lạc đi.

- Sao lại ngồi giữa đường. Về nhà đi.

Khuôn mặt chan hòa nước mắt trắng bệch ra ngửng lên, cặp lông mày xanh đậm rung rung. Ðôi mắt mở to ngơ ngác. Ðôi mắt chớp mạnh. Cô nhón chân xoay lưng lại phía tôi. Ðôi vai nhỏ rung lên từng hồi. Tôi chợt nhận ra cô đang mặc chiếc áo xanh Sĩ Lâm. Tấm vải tôi gửi cho Lệ nhân dịp sinh con. áo may đã lâu nhưng chỉ những dịp đặc biệt đi với tôi, Lệ mới mặc nên trông còn như mới. Tôi đứng thừ người hồi lâu. Nhìn ngược, nhìn xuôi, hai phía con đường đều vắng ngắt. Trên cánh đồng cằn cỗi không một sinh linh, đất trời bao la và quạnh quẽ quá. Bất giác tôi thở dài:

- Thôi lên xe, ta về!

Chợt hiểu mình vừa thốt ra một lời ghê gớm như thế nào, tôi định bỏ chạy thì Lệ đã vùng dậy đứng chắn trước bánh xe. Mái tóc xù ra, đôi môi mím chặt, chiếc nón che kín ngực. Cô ngửng cao đầu phóng thẳng vào tôi luồng mắt căm thù, cay cú điên dại. ánh mắt gườm gườm với một vành trắng dưới hàng mi vẻ khiêu khích, tàn nhẫn, nghiệt ngã. Cô thở hổn hển, chiếc nón trên ngực phập phồng nặng nề. Cơn giận dữ chất chứa của một trái tim mạnh mẽ lâm vào cảnh cùng quẫn, một tâm hồn đầy kiêu hãnh đòi hỏi sự đối xử công bằng, cơn giận dữ bột phát bùng lên ở thời điểm tận cùng tuyệt vọng. Cô biến đổi hẳn đi. Như một người khi quyết định bước vào cửa tử, cái chết cũng coi thường nên không còn có gì để sợ. Khuôn mặt nhỏ nhắn ngời sáng một tình yêu mãnh liệt trần trụi, không che giấu đang đốt cháy đỏ rực đôi má vẻ trinh nguyên. Vầng trán phẳng sau mái tóc xõa xuống trông như cẩm thạch và đôi môi đang mím chặt cay nghiệt vẫn tươi rói nỗi khát khao cuộc sống bình yên. Ðôi môi đau đớn cong lên và quả quyết:

- Anh cần gì ở tôi nữa. Ðến thế này anh vẫn chưa thỏa lòng hay sao? Anh độc ác lắm. Anh về phép mà chỉ lao theo trả thù cho hả dạ! Vậy thì nếu muốn anh cứ giết tôi đi. Ðừng cho tôi nhìn thấy anh, nghe thấy anh, đừng cho tôi thầm thì nhắc tên anh trong những đêm hoang vắng. Anh cứ dày xéo lên tôi, nhưng cầu xin anh đừng nhạo báng, giễu cợt thân phận đau khổ này. Cứ nguyền rủa nhưng xin đừng bóp nghẹt trái tim tội lỗi vì cô đơn. Dù sao, tôi cũng không xa lạ với anh cơ mà!

Tôi hạ chân xe về phía trước. Lẳng lặng cầm lấy chiếc nón không còn quai trong tay Lệ và nhoáng cái bóp nát, vò thành một cục vung cánh ném ra xa. Lệ đứng im không nhúc nhích, đôi vai buông xuôi. Trong tư thế đó có cái gì thách thức, liều lĩnh. Ðột ngột, cô dang hai tay lao đến vòng lấy cổ tôi, toàn thân đổ xuống mềm nhũn, nóng bỏng. Tôi hoang mang chưa kịp phản ứng thì Lệ đã lại vùng ra, trân trân nhìn tôi. ánh mắt ráo hoảnh có chiều sợ hãi. Nụ cười ngập ngừng và hai cánh mũi phập phồng. Dường như Lệ định nói một câu gì đó hoặc bỏ chạy nhưng không đủ sức.

Tôi đưa tay nắm bàn tay Lệ. Cô run bắn lên. Ðôi mắt mệt mỏi khép lại và hai bên khóe mắt từ từ ứa ra hai giọt nước long lanh, chói lóe ánh nắng. Tôi kéo cô lại gần.

Lệ dụi đầu vào ngực tôi thổn thức.

Tôi vuốt nhẹ mái tóc Lệ, muốn an ủi, dỗ dành. Thôi! Lệ đừng khóc nữa! Chúng ta đã tìm thấy nhau rồi mà. Trong đám sương mù dày đặc trên cõi đời này, nhấn chìm biết bao kiếp người nhỏ bé, đơn côi. Tôi và Lệ đã lạc nhau và phải chăng đã lại tìm thấy nhau, tìm được số phận của chính mình? Chao ôi, mất mát thiệt thòi đâu phải là cái chết. Quên lãng, chia lìa mới là cái chết. Trong khoảng khắc, tôi nhìn thấy những khuôn mặt thân thương: Hai bà mẹ, người anh và đứa con, những cuộc đời cực khổ, đói nghèo không còn ly tán vì tôi.

Một làn mây trôi ngang, lơ lửng giữa bầu trời. Không gian chợt mát dịu. Chặng đường trước mặt trải rộng ra, hun hút xanh.




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Một năm làm vợ

Trần Văn Thước

Vào một đêm trăng sáng trên bờ đê bên bụi tre chắn sóng tôi trở thành đàn bà. Tôi vật vã trên lằn ranh cảm giác bị cưỡng bức và dâng hiến. Hôm ấy tính theo dương lịch tôi tròn mười chín tuổi. Bây giờ người ta gọi là ngày sinh nhật. Tôi khóc. Toản gạt lá tre bày bọc kẹo như làm lễ, dỗ dành.

Trong việc tôi và Toản yêu nhau, gia đình tôi chia làm hai phe. Mẹ tôi, vợ chồng anh cả cho rằng tôi lấy Toản khác nào chuột sa chĩnh gạo. Nội cái tiếng dâu trưởng dòng họ Ðào Ðức đã là mơ ước của bao nhiêu gái làng. Nhà người ta như thế, về làm dâu chỉ việc ăn với đẻ! Chị dâu tôi chua thêm: "Bây giờ đẻ cũng phải theo luật, ít con càng sướng em ạ". Bố tôi đơn phương một phe. Ông vận dụng phép xem tướng và thiên về phê phán. Ðàn ông mỏng môi, dẻo lưỡi, con mắt chảo chớp là mưu xảo lắm! ở tuổi hai nhăm Toản thiếu chất sôi nổi thanh niên nhưng thừa cung cách kẻ phú gia lọc lõi. Xem ra phe nào cũng có cái đúng. Tôi thực sự hoang mang. Ðúng lúc ấy anh hai có thư riêng cho tôi. Anh phân tích, góp ý đúng chín cái gạch đầu dòng. Rồi anh kết luận: "Anh tin út không mù. Hơn người hay không ở chỗ cầm cương con tuấn mã bất kham". Ông anh sĩ quan hải quân thế mà hóm. Toản cầm tinh con ngựa mà.

Ðám cưới ấn định ngày mùng sáu rước dâu lúc một giờ.

Ðêm mùng năm bạn bè tôi đông đủ. Anh chàng Hưởng chỉ hai hào rượu là say cả chấy bị ép trăm phần trăm cốc tàu. "Hưởng ơi! Na! đi lấy chồng, người vui nhất là cậu. ". "ừ! Vui nhất.". "Này! Cạn cốc này vì hạnh phúc bạn bè.". "Nào! Vì hạnh phúc bạn bè.". "Na đi lấy chồng thì cậu say. Bao giờ cậu lấy vợ thì Na say". "ờ! Say đi! Bao giờ Na bỏ chồng thì tớ lấy vợ. Thề đấy". Không có hơi men trong những lời bạn bè. Tôi cạn cốc vì nỗi buồn khác. Ngày mai tôi đi lấy chồng. Biết bao giờ được đông đủ bạn bè, được vui buồn như đêm nay?!

Mùng sáu là ngày hoàng đạo. Một giờ "con sáo sang sông".

"Cười như anh khóa hỏng thi. Khóc như cô gái sắp đi..." Biết thế mà tôi không cầm nổi nước mắt. Phấn son nhòa vào nước mắt loang lổ khăn mùi soa. Ði qua người đón vía thợ ảnh bắt tôi phải trang điểm lại. "Ðêm tân hôn". Mười một giờ kém Toản vẫn ở dưới nhà. Tôi đoán có việc quan trọng tôi chưa được phép tham gia. Không lẽ ngủ biến như gái chưa chồng. Tôi chống được cơn buồn ngủ nhưng không tránh được những ý nghĩ vẩn vơ. Tôi nhớ đến ánh mắt cô út nhà chồng. Tối muộn tôi đang tắm thì Cúc xộc vào. Cúc ngang nhiên trút hết quần áo: "Nuy đi chị. Ðàn bà với nhau ngại cóc gì". Tôi chỉ dám cởi áo lót. Cúc nhìn như nuốt lấy tôi, thở dài: "Chị thế ông anh em chết mệt là phải". Tôi nhớ đến lời chị dâu: "Em phải nhớ đêm tân hôn là...là...". Thôi rồi chị ơi! Là đã qua rồi trên bờ đê đêm trăng sáng. Giả như lúc này Toản lên giường "chiều và đòi" tôi sẽ dành như một nghĩa vụ để được nhanh chóng ngủ thiếp.

Cảm giác lành lạnh khiến tôi choàng tỉnh. Bàn tay Toản đang day ngực tôi và khuy áo cuối cùng đang bị gỡ. Tôi co người lại. Toản cười đập tay lên tập phong bì:

- Anh phải "giở vở" ông bà già mới chia cho một phần phong bì. Mai chúng mình đếm, vào sổ.

Tôi hoàn toàn tỉnh ngủ. Toản dúi tập phong bì xuống dưới gối, quay ra. Mùi bia mùi thuốc lá quyện mùi mồ hôi, nước hoa. Tôi buồn nôn. Toản hùng hục như gã lực điền cày xới mảnh vườn hoang.

"Có lẽ tôi sướng thật". Nhà chồng tôi có tám sào ruộng nhưng cho cấy rẽ. Thành thử nhà nông mà không phải làm ruộng. Bố chồng tôi là sĩ quan cấp tá về hưu. Lương một tháng của ông đủ cho cô út đang học đại học hai tháng đóng góp, ăn tiêu thỏa thích. Mẹ chồng tôi là cán bộ trưởng thành từ phong trào "phân xanh, lò thúc mầm". Bà đầu thai nhầm xứ nên tên tuổi chỉ gắn với chữ "phó". Ðội phó, trung đội phó, phó cửa hàng trưởng, phó chủ nhiệm... Bà về làm dân sau hai nhiệm kỳ phó chủ tịch xã. Người thân trong họ ghé tai tôi: "Bà dân ấy có trong tay bốn sổ tiết kiệm. Chỉ một sổ cũng thừa mua ba cơ ngơi cỡ nhà đẻ cô". Một lần Toản bảo: "Lãi tháng đủ cho cả nhà chẳng phải làm gì".

Chủ nhật Cúc về trường. Sinh hoạt gia đình trở lại bình thường. Tôi không phải trở dậy sớm nấu cơm sáng, bèo cám. Bữa sáng nhà chồng tôi đổi món luôn. Bánh cuốn, bún chả, cháo lòng... Mẹ chồng tôi biết uống rượu, nhâm nhi như đàn ông. Bà có thói quen ngồi hàng ăn sáng. Vài lần buộc phải đi theo bà tôi được biết hàng ăn sáng là nơi gặp gỡ của những người khá giả, đám chức sắc làng xã. Họ đến để khao đãi nhau, gặp gỡ bàn đủ thứ chuyện. Bố chồng tôi nhận xét đại ý đấy là trạm thu phát những thông tin rất giá trị: "Với những người như mẹ con đó là nhu cầu thiết yếu đấy".

Công bằng mà nói phép xem tướng của bố tôi không hoàn toàn sai. "Ðêm tân hôn" là một ví dụ. Tàn cuộc, Toản lật đi lật lại tấm vải lót, con mắt đầy nghi ngờ xói vào ngực tôi. Tôi hiểu. Tôi nói với Toản rằng dấu vết lần đầu ở trên bờ đê và giọt máu tình yêu đã năm mươi ngày tuổi. Toản nhếch mép: "Thế à". Gần sáng tôi bị phá giấc. Toản dụi đầu vào ngực tôi: "Anh xin lỗi. Phỉ phui những trò tối qua đi". Ðang xoay xở Toản ngồi lên với lấy tập phong bì. Nét mặt Toản vụt sa sầm: "Sao lại thiếu ba phong bì của bạn anh. Không thể thế này được". Toản lao xuống nhà dưới gõ cửa ầm ầm.

ít lâu sau ngày cưới hầu như tối nào chồng tôi cũng đi đâu đó. Chưa có gì phải nghi ngờ nhưng tôi tưng tức thế nào ấy. Một hôm rất khuya Toản mới về. Tôi để mặc anh gõ cửa. Cũng là đùa chồng một chút. Không ngờ Toản nổi đóa lên.

- Cô làm trò khỉ gì thế!

Vừa lúc mẹ chồng tôi dưới nhà đi ra sân. Bà ngước lên, mát mẻ:

- Trời nóng, lên sân thượng nằm cho mát con ạ.

Vào buồng Toản đá ghế nhót lên giường kéo màn gió đánh soạt.

- Tắt điện đi!

Tôi tắt điện, lên giường. Toản làm lành ngay được. Bàn tay Toản làm tôi giật nhột buồn cười. Nằm ngửa rồi nằm nghiêng Toản nói:

- Bố em bố anh cực đúng!

- Ðúng gì em không hiểu.

- Lại còn không hiểu! Anh được sướng mà không biết sướng chứ sao. Thời bố mẹ còn "tỏa bóng" thì anh chơi bời phá phách. Bây giờ hiểu ra thì thua xa chúng bạn. Xấu hổ cả với em.

Toản nhìn lên trần màn vẻ mặt đau khổ như con chiên đang xưng tội. Anh đã thú nhận điều tôi nghe thấy bấy nay. "Bố thế, mẹ thế được mỗi người con trai thì...". Mà kể ra Toản cũng lận đận. Hai lần thi trượt đại học. Lần thứ ba có người hứa chắc như đinh đóng cột: "Yên trí! Cứ yên trí. Dăm bảy điểm đại học với tôi là chuyện vặt". Người ấy ôm bọc tiền rồi "yên trí" mất hút. Toản chán đời ăn chơi quậy phá. Ông bố đành ép con trai vào bộ đội. Ông hy vọng đứa con được rèn luyện lập chí vươn lên. Nước cờ đã tính sai. ở đơn vị thủ trưởng là lính của bố. Toản không bỏ được thói "con nhà". Ðược vài năm vui bạn ở công ty liên doanh Toản xin ra quân. Nhờ quen biết, Toản chuyển ngành. Ðầu năm "chín sáu" liên doanh phá sản. Toản lêu lổng ăn chơi. Dịp ấy anh hai tôi về phép. Anh bổ đi tìm bạn. Toản ăn ở nhà tôi cả tháng... Nhớ đến khúc nhôi ấy tôi bảo Toản:

- Anh buồn thì em vui nỗi gì. Ðâu đã hết cơ hội để anh phấn đấu. Cốt nhất vợ chồng mình hạnh phúc.

- Bố em cũng nói thế. Từ mai đừng cài cửa anh nữa nhé. Anh đi chơi vì sự nghiệp đấy.

- Anh thì... - Tôi oằn người tránh cử chỉ thái quá của Toản.

Hôm sau Toản ngồi với bố cả buổi sáng. Bố chồng tôi có vẻ không vui. Cớ sao người bố không vui trước những ân hận, quyết tâm "làm lại" của đứa con? Tôi nói điều ấy với mẹ chồng. Bà cười hàm ý:

- ối dào! Bố con chỉ giỏi chuyện giặc giã thôi. Chuyện chính trường làng xã thì ông ấy mít tịt. Mọi việc mẹ khắc lo. Cốt ông ấy đừng phá ngang là được.

Có lẽ mẹ chồng tôi đúng? ! Bà muốn con trai khởi nghiệp từ việc nhỏ. Giống như con đường bà đã đi từ "xuất sắc bèo - phân" lên các "ghế" tiếp theo. Bạn bè của bà còn nhiều người đương chức đương quyền. Từ ngày chồng về hưu, tiếng nói của bà có thêm trọng lượng. Tính quảng giao có thêm động lực. Những ngày này bà vắng nhà luôn. Lắm hôm bà đi từ sáng đến khuya. Mẹ chồng tôi buồn vui thất thường. Tôi lựa lời hỏi chồng. Toản có vẻ nản: "Công việc đang vào dây thì có tin tách xóm. Không phải tin vịt đâu. Mẹ phải làm lại từ đầu. Dây mới hoàn toàn..." Tình cờ một hôm tôi nghe được chuyện giữa bố mẹ chồng. Thoạt đầu hai người bàn luận về việc tách xóm. Như thế là trở lại như ngày xưa. Rồi mẹ chồng tôi nói:

- Tách ra, xóm Thường Kiệt này chỉ có thằng Toản nhà mình là đảng viên trẻ nhất, văn hóa cao nhất. Lãnh đạo dự kiến con trai mình vào chi ủy kiêm trưởng xóm.

- Thật ý lãnh đạo, hay ý mình?

- Mình muốn con mãi làm dân thường thua bạn kém bè suốt đời ư!

- Bố mẹ nào lại không mong con cái tiến bộ bằng anh bằng em. Mình thử nhìn lại, nghĩ lại xem nào. Con mình đã làm được những gì mà nảy sinh tham vọng, toan tính cơ hội? Mình đã không khuyên bảo lại ra tay sắp đặt, tiếp sức. Rồi sẽ đi đến đâu? Nhân đây tôi lưu ý mình: Con dâu chúng ta trẻ quá, vô tư quá chưa hiểu hết ngóc ngách cuộc đời. Mình đang vô tình gieo mầm xấu vào đứa con ngoan...

*

... Bữa sáng chỉ có hai bố con. Vài tuần nay thường như thế. Bố chồng tôi chỉ ăn lấy lệ. Sau đó ông uống trà và đi ra vườn. Ban ngày ông làm vườn, đêm thức viết hồi ký. Tôi biết ông lấy công việc khỏa lấp những nỗi niềm. Bố chồng tôi ít nói, sống giản dị. Tiếp xúc với ông không ai tin được đó là người chiến binh dày dạn từng lập nhiều chiến công. Về hưu ông vẫn giữ tác phong quân nhân. Giường cá nhân kê bên cửa sổ. Ba lô, mũ cối treo trên tường. Ông nói đùa: "Chỉ nửa hồi còi là bố đã đứng đầu hàng quân". Ông làm việc, sinh hoạt rất duýt thời gian biểu. Người ngoài không ai biết ông là "thế giới riêng" trong ngôi nhà chung. Mọi việc trong nhà đều do mẹ chồng tôi tính toán, quyết định. Ông sẵn sàng, vui vẻ nghe những lời "thông qua, báo cáo". Có lần bạn lính căn vặn: "Cái gì buộc anh đứng trên cao nhìn xuống dòng đời thường bằng con mắt thờ ơ kẻ cả mãi vậy". Bố chồng tôi chỉ cười.

Chiều muộn mẹ chồng về. Tôi đang quét dọn từ đường. Ngày mai rằm, như lệ, các cụ dâng hương tổ tiên. Bà cầm tay tôi kéo ra góc hiên, nói nhỏ:

- Các con vô tâm đã đành. Mà mẹ cũng sơ ý quá. Hôm nay mẹ đi lễ cửa "cậu" với các bác. Chồng con là đảng viên đã đăng ký kế hoạch hóa gia đình. Con chưa đến tuổi mà đã thế kia. Các bác ấy bảo...

- Các bác bảo sao ạ. - Tôi rùng mình, líu cả lưỡi. Tôi hiểu các bác này là những ai.

- Chồng con sẽ là cán bộ. Sẽ tiến xa. Cán bộ không gương mẫu, lãnh đạo ai? Ðã trót thế thì phải tìm cách chữa cháy. Hai tuần nữa đại hội chi bộ. Con thít bụng lại, ít ra ngoài thôi. Không sao đâu.

Tôi làm theo lời mẹ chồng. Ðúng là không sao thật. Vài hôm sau Toản mới phát hiện ra. Anh áp tai lên bụng tôi nghe ngóng.

- Em thấy khó chịu không?

Tôi buột miệng:

- Em chịu được.

Cuộc họp đúng tối thứ bảy ngày cuối tháng. Cũng là ngày tôi hết hạn "thít bụng". Toản đứng trước gương sửa mái tóc mới sang mốt ba phân. Anh vận "xơ vin", ca vát trông nghiêm chỉnh, khỏe khoắn. Bố chồng tôi trang nghiêm quân phục. Mẹ chồng mặc đồ lụa tơ tằm. Tôi đứng trên gác nhìn theo tổ đảng gia đình. Xóm mới tách chưa có trụ sở, họp hành nhờ nhà trẻ. Nơi ấy, vài tiếng đồng hồ nữa con đường sự nghiệp của chồng tôi sẽ được khai thông. Tôi hồi hộp đứng ngồi không yên. Mười một giờ đêm. Tiếng bước chân như nện vồ trên cầu thang. Tôi mở toang cánh cửa. Toản lao vào nằm vật xuống giường. Mùi rượu nồng nặc.

- Có chuyện gì thế anh?

- Hỏng hết. Ông ấy phá anh.

- Ông ấy là ai?

- Còn ai vào đấy nữa! Anh chỉ kém người trúng cử bốn phiếu. Bố ở trong số bốn người gạch tên anh.

Tôi rùng mình vì cơn gai sốt đau đau bụng dưới từ mấy hôm nay. Hình như Toản uống quá chén, không làm chủ được hành động. Tôi đẩy Toản ra nép vào sát tường. Toản chồm lên vục đầu vào ngực tôi xiết mạnh cánh tay. Tôi oằn người lên. Có cái gì đó chuồi ra nóng nhớp hai bên đùi, dưới mông. Tôi gào lên.

Tôi không nhớ mình ngất đi từ lúc nào, trong bao lâu. Khi tỉnh dậy tôi thấy bụng dưới hết đau, nhẹ bẫng. Mùi cồn, mùi thuốc tây nồng nặc. Toản ngồi ủ rũ cuối giường. Tôi chồm về phía Toản.

- Con đâu?

- Kìa em... nằm xuống.

Tôi xô Toản ngã ngửa, lao ra sân. Con tôi đâu? Vì sao? Vì sao? Tiếng kêu trồi ra đến cổ họng bị đẩy thuốt vào lồng ngực. Tôi ngã vật xuống hiên. Vũng nước nong nóng nhơm nhớp. Ai đó bế tôi lên. Ai đó gọi bác sĩ.

Suốt ba tuần Toản không đi đâu quá hai tiếng. Tôi nhanh chóng bình phục nhưng Toản già đi trông thấy. Chồng tôi đau khổ kém gì tôi đâu. Tôi khóc.

- Tha lỗi cho em... những ngày qua...

Toản lau nước mắt cho tôi.

- Em không có lỗi. Số chúng mình phải thế. Anh từng phút mong em mau khỏe. Em vui khỏe cho anh yên tâm làm lại từ đầu.

- Không! Dứt khoát em không để anh đi con đường ấy. Em chỉ mong có con, vợ chồng hạnh phúc.

- Anh còn mong hơn em ấy. Việc đã qua cho qua luôn? Anh đã chọn cho mình hướng đi khác.

Tôi không thể tin nổi. Toản ngoắt một trăm tám mươi độ chuyển ngay sang thương trường. Anh quyết tâm trở thành thương gia nông thôn. Không! Dứt khoát tôi không để chồng tôi tiếp tục phiêu lưu.

- Em xin anh từ bỏ ngay quyết tâm ấy đi. Chuyện buôn bán phức tạp lắm. Nhà mình không nghèo nên muốn giầu hơn không khó. Sao anh không làm theo lời khuyên của bố! Vườn đất kia, ao kia. Vợ chồng mình quán xuyến, sẽ không vất vả mà thu không ít tiền đâu. Lại chẳng phải ganh ghé với ai.

- Em đúng là phiên bản của bố! Xin em yêu hãy nghe cho rõ. Bố mẹ hai bên cùng nhất trí cao. Các bô lão trong họ gật đầu sái cổ nhé.

Ðến lượt tôi bị thuyết phục. Mảnh đất chái từ đường liền đường liên huyện. Ðất cằn, cây cối oặt èo, hoa lợi cả năm không đủ mua hương nến tuần tiết. Mấy lần trâu bò húc đổ tường bao. Mấy lần "tự vệ" chộp trai gái xé dậu làm trò bậy bạ. Ðất hương hỏa cho thuê sẽ sinh lợi cho cả họ. Tiền thu được đập vào việc tu bổ giỗ chạp... Tránh được việc bổ bán nhiêu khê. Toản nói thêm:

- Tránh tiếng trưởng họ lợi dụng, mẹ đã nhờ người ngoài phát giá. Chiều mai các cụ họp làm văn bản.

Thì ra mẹ chồng tôi đã ngầm chuẩn bị "con đường mới" cho con trai. Chiều hôm trước xong thủ tục thuê đất. Sáng mai bà mời thầy làm lễ động thổ. Gần trưa xe đầu ngang chở vật liệu đổ đống.

Ðúng là "mạnh vì gạo bạo vì tiền". Mười ngày sau cửa hàng khai trương. Kiểu kiến trúc cửa hàng khá độc đáo, hài hòa với ngôi từ đường cổ kính, vườn cây lưu niên.

Tôi rất bỡ ngỡ với công việc mới. Nhà đẻ tôi mấy đời không có ai làm nghề buôn bán. Trái lại Toản có duyên và am hiểu thị trường, anh như sinh ra để làm thương gia vậy. Làng rục rịch cải tạo đường điện. Toản chở về cả xe dây dẫn, phụ tùng điện. Chỉ bằng một mẹo nhỏ anh kéo được mấy vị sếp xã tham gia hợp đồng đường điện. Vào vụ, kho hợp tác còn trống không thì Toản đã có trong tay hàng tấn phân bón. Một lần Toản tung vốn mua phụ tùng giếng khoan. Cả tháng không ai hỏi đến mặt hàng này. Mẹ chồng tôi lo mất ăn mất ngủ. Chồng tôi vẫn bình chân như vại. ít hôm sau đài xã thông báo chương trình nước sạch. Toản có ngay hợp đồng cung cấp vật tư.

Dần dà tôi cũng quen với công việc. Toản bàn mở quầy bia rượu. Quán nhậu bên cạnh cửa hàng vật liệu. Cái lợi rõ mười mươi nhưng có điều phải nghĩ. Tôi nói thẳng ý mình:

- Theo em, việc này không nên. Quanh đây đã mấy người bán như thế rồi. Cụ Hảo với đứa cháu mồ côi thím Bao lòa, chú Rụ thương binh nặng... Toàn những người trong họ mình cả. Vợ chồng mình trẻ khỏe nỡ nào cạnh tranh với họ.

Toản lắc đầu:

- Em mới nghĩ một chiều thôi. Thử đi dọc làng xem! Mới có mấy tháng mà hàng loạt đại lý mọc lên. Họ giở đủ mánh hòng đè bẹp chúng mình đấy thôi.

- Em biết. Nhưng đấy là chuyện người giầu với nhau. Ðằng này họ là những người nghèo, tội nghiệp họ.

- Em ơi. Thị trường là chiến trường. Chiến thắng thuộc về kẻ mạnh. Anh muốn chứng tỏ năng lực của mình.

Mẹ chồng tôi góp vốn chín triệu mua tủ lạnh, dàn video. Ðiều dự báo của chồng tôi rất đúng. Hàng vật liệu chững lại, hàng bia rượu "vào cầu". Ðồng vốn có sức mạnh kỳ diệu. Quán bia rượu của chồng tôi tấp nập đến khuya. Thiếu chỗ, khách tràn cả sang sân từ đường. Rồi thành quen. Khoảng sân lát gạch cổ rợp bóng cây cổ thụ trở thành sân sau của quán nhậu... Nơi thờ cúng tôn nghiêm nhuốm mầu trần tục bê tha. Họ mạc đã có lời ra tiếng vào. Bố chồng tôi rất không hài lòng. Tôi nói với chồng điều này. Toản thản nhiên: "Ðất đã cho thuê. Người trả tiền toàn quyền sử dụng".

Tháng ba âm lịch. Liên doanh thăm dò khoáng sản đóng trụ sở ở làng tôi. Dịch vụ các kiểu mọc lên như nấm. Chồng tôi chấp nhận điều kiện xây tường bao để được thuê thêm đất hương hỏa. Anh có dự định nâng cấp "quầy" lên thành nhà hàng to nhất làng.

Tôi đã có thai được hai tháng. Việc có thai vội, những cơn ốm nghén hành tôi khổ sở. Những việc nhẹ nhàng cũng trở nên nặng nề quá sức. Toản "ăn ké" được hợp đồng vật liệu công trình cống Lân, đi suốt ngày. Tôi luôn phải gắng. Mẹ chồng tôi khó chịu ra mặt, bâng quơ.

- Ðến phải thuê người làm.

Tôi thật thà:

- Việc này phải chờ bố con về.

- Dào ôi! Vẽ! Ông ấy biết gì mà bàn. Có bàn lại chỉ giỏi phá ngang.

Có khách. Vẫn là ông chủ đại lý phố huyện và chiếc dim đỏ. Mẹ chồng tôi tươi ngay nét mặt.

- Ơ... ô anh.

- Chào bà bạn. Ði ba chục cây số để đỡ nhớ bia bà bạn đấy.

Tôi giúp mẹ chồng bày bia, đồ ăn rồi rút vào sau quầy. Tiếng nắp bia nổ bôm bốp. Mẹ chồng tôi làm duyên giọng nói:

- Hôm nay em khao.

- Hôm nay đến lượt anh. Hiểu chưa.

Tiếng cười. Tiếng cụng ly. Những lời mời ép nhau. Hai người có tuổi mới quen nhau mà cứ như đôi bạn thân, quá thân nữa là khác. Tôi nhìn trộm mẹ chồng. Men bia, những câu chuyện làm đẹp thêm gương mặt vốn xinh đẹp của bà. Không hiểu vì uống nhiều hay quá vui mà bà đem chuyện nhà ra đãi bạn. Ðang xây mới cửa hàng bố chồng tôi có giấy mời đi dự lễ truyền thống binh chủng. Xe hẹn ngày đón. Mẹ chồng tôi cười nhạt: "Công việc ùn ùn thế kia. Mình tính sao?". "Tôi phải đi mình ạ. Lâu lâu mới có dịp gặp anh em đồng đội". "Vâng! Lễ hội, chiến hữu ra tiền thì mình cứ đi". Trước ngày hẹn đón bố chồng tôi có thư về. Ông vào Quảng Bình thăm thủ trưởng cũ bị ốm. Sau đó ông đi Tây Nguyên tìm hài cốt người bạn. Ông không hẹn trước ngày về.

Hình như việc thuê người mẹ chồng tôi trù tính từ lâu. Lý là con gái bạn mẹ chồng tôi. Nhà Lý trên phố huyện, có cửa hàng đồ điện. Vì sao cô rời phố về làng phụ việc? Tôi lấy làm khó hiểu nhưng không muốn hỏi. Toản rất hài lòng với việc "tuyển" người. Lý đẹp người, thành thạo công việc, có duyên ngồi hàng, khéo chiều khách.

Từ hôm Lý đến hầu như tôi không phải trông hàng. Hết ốm nghén tôi lại mắc chứng khó ngủ. Hễ chợp mắt là chìm vào những giấc mơ kinh dị. Vỡ giấc là thức đến sáng. Một đêm tôi mơ thấy trần nhà nhỏ nước như mưa. Nước lênh láng khắp nhà. Tôi bị vùi trong màn nước mầu đỏ, mằn mặn. Sáng ra vui chuyện tôi kể với Lý. Lý gạt đi "Mơ mộng vớ vẩn lắm". Tôi cũng nghĩ thế.

Buổi trưa, giấc mơ đêm tái hiện. Tôi sợ vã mồ hôi chạy xuống nhà hàng. Tôi đẩy cửa gian trong. Mẹ chồng tôi và ông chủ đại lý ngồi uống bia. Tôi ra gian ngoài. Lý hỏi đón:

- Lại mơ hả!

- ừ. Vẫn giấc mơ đêm rồi.

Lý ngẫm nghĩ một lát.

- Tớ vẫn cho rằng mơ mộng là chuyện vớ vẩn. Còn như đêm nay cậu vẫn mơ tương tự thì tớ sẽ đưa cậu đi xem bói lá trầu. Cậu Học làng Trình giỏi cực nhé.

Tối muộn. Mẹ chồng tôi đứng giữa sân ới lên:

- Cô Na xuống tôi có câu chuyện.

Tiếng "cô" tiếng "tôi" phát ra từ cửa miệng mẹ chồng thường báo trước chuyện không êm. Tôi vội đi xuống. Mẹ chồng tôi chao chát phủ đầu:

- Cô ăn chơi thế chưa đủ sướng hay sao mà còn lắm chuyện.

- Chuyện gì ạ?

- Cô còn không biết hả! Nhà này được như thế này là nhờ công lao người đánh giặc, người công tác cống hiến. Cô mơ mộng vớ vẩn rồi đem chuyện nhà đi kháo. Chẳng hóa ra nhà này bóc lột mồ hôi nước mắt thiên hạ.

- Mẹ cứ nghe ai mách lẻo suy diễn lung tung.

- A! Mất tiền cưới xin, nuôi cô ăn sung mặc sướng để được "ní nuận" thế đấy! Cô dỏng tai lên mà nghe đây. Người ta mách lẻo ra tiền ra bạc, giỏi giang bằng vạn nhà cô. Ngữ cô thì làm ăn cái gì.

- Con đã thưa với bố mẹ rồi. Con không hợp với việc buôn bán. Vụ tới mẹ lấy ruộng về cho con làm.

- Cô giỏi rồi. Nhưng nhà này chưa đến nỗi phải bám vào sào ruộng mới sống nổi.

Tôi đi lên gác. Có tiếng xe máy vào sân. Lại ông bạn chủ đại lý của mẹ chồng tôi. Họ chào mời líu ríu. Tôi uống liền hai bát nước sắc lá vông, cao lạc tiên. Bài thuốc của đẻ tôi, cả trò đếm dỗ ngủ đều vô tác dụng. Chuông đồng hồ điểm mười giờ. Tôi đi ra sân thượng. Nhà dưới vẫn sáng đèn. Cửa hàng sáng đèn, mở cửa sổ phía vườn. Chắc chồng tôi đang nhập hàng hoặc tính sổ. Phải giúp anh một tay! Tôi đi xuống. Nhà dưới khóa cửa ngoài! Mẹ chồng tôi vẫn chưa về. Ngay bố chồng tôi cũng đã quen với việc bà vắng mặt đêm hôm. Từ nửa tháng nay vài ba hôm ông đại lý lại đến đón bà đi đâu đó. Trong nhà hàng vẳng ra tiếng cười. Tôi sang vườn vòng lại phía cửa sổ. Trời ơi! Trên nền nhà Toản đang cùng Lý nhồng nhỗng làm tình. Tôi ngoắt về. Lời đồn đại của dân làng đã có bằng chứng. Dấu hiệu Lý có thai không còn là "hình như" nữa. Tôi đi không vững. Ðến giữa cầu thang tôi vấp ngã sấp mặt. Bụng dưới quặn lên, hẫng nhẹ. Trời ơi! Con tôi chuồi ra, vỡ bục, lênh láng. Tôi khóc.

Bố chồng tôi về. Tôi đã xuất viện được ba tuần, ba tuần qua tôi thay bố chồng giữ một vùng riêng trong ngôi nhà to đẹp nhất làng. Thời gian tạm đủ cho tôi nhìn lại chính mình, những ngày tháng qua và đi đến quyết định. Mẹ chồng tôi thản nhiên: "Cô cứ nghĩ cho kỹ..." Toản độc một câu: "Tùy cô."

Ba ngày thôi mà bố chồng tôi già sọm đi, tóc bạc thêm, con mắt đờ đẫn mất hồn. Tôi nói với ông việc chỉ có tôi và bà bác sĩ biết. Hai lần sẩy thai đã để lại di chứng nặng nề. ít nhất dăm bảy năm nữa tôi mới được phép mang thai.

- Lời bác sĩ con phải nhớ. Còn việc vợ chồng con không còn cách nào ư?

- Không bố ạ. Chính con đặt vấn đề trước. Mẹ con, anh Toản nhất trí đó là lối thoát tốt nhất cho cả hai bên.

- Bố có lỗi với con... với ông bà bên nhà... - Bố chồng tôi nấc lên, tắt lịm giữa lời. Ông khóc. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy nước mắt người lính già. Những giọt nước mắt đặc quánh lại, hằn vết trên gương mặt. Tôi khóc.

Giấy tòa hẹn ngày đầu tuần. Tôi thu xếp về nhà đẻ. Tư trang gọn gàng túi xách nhỏ. Tôi không quên bóc lịch treo tường. Mảnh thời gian bay bay nặng trĩu cánh tay. Ngày mười hai tháng bảy. Tức ngày mùng tám tháng năm theo lịch can chi. Tôi cất tờ lịch vào túi xách.

Ðường về vơ vẩn tôi nhẩm tính thời gian. Tính theo âm lịch tôi đã có mười ba tháng hai ngày làm vợ. Thời gian vừa đủ cho tôi qua tuổi hai mươi. Rồi sẽ có lúc tôi ngồi một mình "tính sổ" mười ba tháng hai ngày ấy có bao nhiêu ngày hạnh phúc bao nhiêu ngày đau khổ. Bạn cho là khó ư! Không đâu! Tôi tính được mà. Chờ nhé!.

T.V.T.


Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Miền cỏ hoang

Trần Thanh Hà

Trong vườn, có một khoảng nhỏ bà trồng đủ các thứ rau: chân vịt, mã đề, diếp cá, cả rau dền đất. Bà dùng thân lau nẹp thành liếp. Ken dầy đến nỗi gà cũng không chui vào được. Suốt ngày bà ở ngoài bám đất, cuốc xới, nhặt cỏ, ươm cây. Bà bảo các thứ rau này, đừng nghĩ nó dại, thuốc nam hết cả. Mùa hè bà luộc rau sam, rau chân vịt "ăn cho nó mát", nhưng đến bữa cả nhà chỉ ăn hết góc đĩa, bởi nó cứ nhơn nhớt, nhàn nhạt thế nào ấy. Hơi nóng sốt một tí là y như rằng bà nhai diếp cá bắt đắp lên trán, hôi ơi là hôi. Chỉ bữa nào có cua đồng, mẹ nhổ rau dền đất nấu canh, cô Sửu mới khen ngon. Ngày cô Sửu đám cưới, đám thanh niên hè nhau đạp gãy cái hàng rào của bà để vào xem cái video bố đem từ trên huyện về chiếu bộ phim đánh chém nhau của Hồng Công. Sáng sau ra vườn, thấy đất bị dẫm đạp vô số dấu giày, rau cỏ nát bét lẫn với đầu mẩu thuốc lá, bà sốt ruột chửi um, đến nỗi mẹ phải gắt bà mới thôi. Chiều lại đã thấy bà mang cuốc chét ra cuốc xới. Chú Thao từ bên kia đồi vác sang mấy bó lau, lụi hụi trồng cái liếp rào cho bà. Bố cằn nhằn: "Không có việc bà nghỉ cho khoẻ, việc gì phải đất với cỏ". Bà thở dài, dặn nhỏ: "Nhớ đái vào cái máng sau nhà cho bà tưới cây".

***

Lối dẫn ra nhà chú Thao băng qua một vạt đồi cỏ léc cao quá đầu người. Men bờ khe có hơi nước, léc xanh um tùm, lá to và dài, trông rợn cả người. Trong rừng không có loại cây nào lá sắc như cây léc, chỉ cần vương nhẹ nghe đau, y như rằng lá léc cắt. Thế nhưng chú Thao không phát đường, cứ đạp léc xuống mà đi, chân léc gãy không cong rẽ ra hai bên tạo cho lối đi hình cái máng vòm. Mùa khô, những người đi bứt lá về bỏ chuồng hay đi qua lối nhà chú Thao, nhưng hễ mưa xuống trên phiến léc thỉnh thoảng có vắt, sên, nên con đường hầu như bỏ hoang. Lâu ngày, từ những gốc léc gãy, những mầm léc non lá tươi và mềm vươn lên vẫy vẫy.

Chú Thao là người trở về cuối cùng của xóm. Ngày chú ôm chiếc túi lép bước vào cổng nhà, thím Hồng đã hai mặt con, ở với chồng bên chợ, cách sông và một thôi đường. Bà ôm lấy chú mà khóc, mà kể lể thôi là kể lể. Mẹ và cô Sửu khóc thút thít. Chú đứng trước bàn thờ mình chẳng nói gì, cơ má trái giật giật. Mặt chú trông chẳng giống mặt người trong ảnh, phía hay giật đen một mảnh và đầy sẹo nhỏ.

Bà nhắn qua chợ cho thím Hồng. Thím về có một mình, mắt đỏ hoe. Vừa thấy chú Thao thím liền sụp xuống lạy. Cơ má trái của chú càng giật mạnh hơn. Chú bảo: "Sự thể đã thế, đừng nghĩ ngợi gì. Cố mà sống vuông tròn với người ta". Thím Hồng về, rồi lâu không thấy sang nữa.

ở nhà được ít lâu, chú Thao làm cái nhà bây giờ. Căn nhà lúc mới dựng nằm chỏng lỏn giữa bạt ngàn cỏ léc, đứng xa không trông thấy. Chú Thao cặm cụi cuốc đất trồng khoai, trồng sắn. Ðất tốt, chả mấy chốc vườn chú đã có cái để thu hoạch. Bây giờ, những cây xoài cây mãng cầu đã lớn nhanh lên khỏi ngọn léc. Nghe đâu chú còn định xin xã cho khai phá mấy vạt đồi phía sau để trồng bạch đàn nhưng xã không cho. Ông Bính chủ tịch nói là đất ấy nhiều bom đạn, đụng vào lỡ xảy ra chết chóc, không ai chịu trách nhiệm. Chú gặp bố nhờ nói hộ. Bố bảo: "Không dễ", chú nhắc lại: "Vâng, không dễ", rồi về.

Những chiều muộn chăn trâu bên này đồi nghe vẳng từ bên kia tiếng sáo. Dặt dìu nôn nao. Tiếng sáo phảng phất trong sương khói chiều nghe có cái gì quằn quại trong lòng. Cả rừng léc rập rờn theo tiếng sáo. Lũ chăn trâu đứng ngẩng quên cả ngày đang tắt, quên cả đói cả lạnh. Dứt tiếng sáo chúng mới lục đục lùa trâu về, thầm thì kháo nhau: "Ông Thao trông mặt sợ thế mà thổi sáo hay tàn bạo nhỉ!".

Bà kể, ngày con gái thím Hồng xinh nhất làng Thượng, nhà đã gả chồng rồi vẫn nhất quyết chối chỉ bởi mê tiếng sáo chú Thao. Ðêm văn nghệ nào có chú thổi sáo, thanh niên nam nữ đứng xem đông nghịt, hết thảy đều ngây ngất. Tiếng sáo như có bùa quyến rũ hết con gái làng, đến nỗi trai làng có bận dọa bẻ hết ống sáo chú Thao, cấm chú thổi. "ấy vậy mà bây giờ..." Nói thế, bà lại khóc. Mỗi lần nghe bà khóc, cô Sửu nhăn mặt: "Ai người ta cũng biết, mẹ kể mà làm gì".

Khoảng gần Tết, mấy cây chanh ghép trong vườn chú Thao trổ bói. Giữa một vùng chỉ cỏ là cỏ, hương chanh ngọt ngào, tinh khiết. Ong rừng nương theo mùi hương rủ nhau bay về, rập rờn trên những vầng hoa trắng. Chú Thao ngồi hàng buổi trầm ngâm, mắt vời vợi mông lung trông ra bạt ngàn ngọn léc uốn cong theo gió, cơ má trái giật giật.

Từ độ hoa chanh vườn chú Thao nở, cô Sửu thỉnh thoảng sai "Mày chạy vào nhà ông Thao kiếm ít hoa về gội đầu". Cô đâm nghiền thứ nước bồ kết nấu thả vài cánh chanh trắng, hương thoang thoảng, thanh và cay, gội xong nhiều ngày mà hương còn ủ trong tóc. Hoa chanh nở có kỳ, nhưng cô Sửu bao giờ cũng có để gội đầu là nhờ chú Thao nhặt hoa rụng, hong khô, cất kỹ, mỗi bận lại cho cô Sửu một ít. Cô Sửu có lần đùa: "Vì mấy cây chanh nhà ông Thao mà tao lấy được chồng, cô hếch mặt: "Còn mày, đến thời không bù giá bằng hoa chanh được. Bảo bố mày sắm cho ít vòng xuyến...".

Cô Sửu vốn không đẹp, da đen, vóc người to ngang, ăn nói đốp chát. Học xong trung cấp nông nghiệp, về xã làm kỹ thuật viên, cũng chân lấm tay bùn như ai, nhưng hễ trai làng buông lời tán tỉnh là cô bỉu môi ra chiều cười thường. Cô nói cô thích người trình độ. Ngoài ba mươi, cô còn ở vậy. ấy thế nên cô nhận lời lấy anh kỹ sư ở cơ quan bố.

Bà cũng hay sai. Bà thường bảo mang những thức rau trong vườn cho chú Thao. Mỗi lần sai đi bà lại đem chuyện chú Thao hồi chưa đi bộ đội ra kể, nào là chuyện chú Thao tát cá về bắt bà nấu canh rau tập tàng ra sao, nào là chuyện chú Thao cuốc đất khỏe như thế nào. Thôi thì đủ chuyện, dài có khi hết buổi, làm mẹ phải nhắc khẽ: "Chạy ù đi rồi về học bài".

Chú Thao ít qua nhà nhưng hễ qua là thế nào chú cũng mang cho chục trứng, miếng thịt nhím, thịt chồn bẫy được, ngồi với bà một chốc, nói dăm ba câu là đi ngay. Có lần cô Sửu bảo: "Hay anh lấy vợ đi. Ðã già đâu. Em sẽ mối cho anh con bạn học..." Không chờ cô Sửu nói hết, chú Thao trừng mắt làm cô ấn gãy thỏi son đang tô môi giở, xịu mặt. Chú Thao đi rồi cô mới toang toang: "Dở hơi, ông Thao ông ấy dở hơi. Thời này đàn bà rẫy ra, khối đứa thèm đàn ông không ai để mắt. Ông Thao có hơi bị cháy mặt một chút nhưng cũng là đàn ông. Có vợ có chồng vẫn cứ hơn thui thủi một mình. Biết toan tính, chăm chỉ như ông ấy, chả mấy chốc mà giàu. Hay còn chung thủy với bà Hồng? Bà ấy đã là vợ người ta, còn thương tiếc nỗi gì nữa không biết..." Bố gắt: "Biết thì nói, không thì đừng. Cô là hay nói nhiều". Cô Sửu đùng đùng: "Thấy phải là tôi nói chứ! Ông làm như ông thương ông Thao lắm không bằng. Thương sao để ông ấy ra ở rừng một mình? Sao không chạy cho ông ấy cái giấy thương tật? Mà ông chỉ bảo với xã một tiếng là người ta cho ông Thao thầu cái đồi léc, thế mà không. Ðể cho cỏ nó mọc bạt ngàn, người ta muốn làm kinh tế lại không cho". "Ðã bảo lắm bom...". "Bom cái gì? Ông không phải sợ cho cái tính mạng của ông Thao, ông sợ cái khác. Ðạo đức giả tuốt!". "Cô đừng có hồ đồ. Im đi cho tôi nhờ!". Bố bực bội. Cô Sửu không im, cô xỉa xói: "Ông đừng ỉ mà quát tôi nhé! Ông bắt ai im được chứ tôi thì đừng hòng. Tôi biết tỏng trăm ngàn chuyện xấu xa của ông. Tôi biết cả cái giấy đòi nhập ngũ là đề tên ông, nhưng vì ông sắp đi nước ngoài nên phải cạy cục lo cho ông Thao đi thay. Có ông Thao gánh hết thiệt thòi ông mới thành ông này ông nọ. ấy thế mà giá ông Thao chết đi có khi ông lại dễ chịu hơn là thấy ông ấy lù lù dẫn xác trở về..." "Mày, mày, mày..." - Bố lắp bắp, mặt đỏ ngầu. Cô Sửu ngoảy mặt bỏ đi. Bà rên rẩm: "Vô phước, tao vô phước..." Mẹ lặng im cắn môi ngồi một mình trong buồng. Bố nổ máy xe phóng ra huyện dù chưa hết ngày chủ nhật.

*
* *

Cô Sửu lấy chồng chưa đầy năm thì tay xách nách mang về nhà. Mẹ kéo cô vào buồng, mặt tái nhợt: "Làm sao thế hả". Cô Sửu khóc, nói trong nước mắt: "Em dại. Ðã trót ở đến chừng ấy thế mà không ở luôn, lấy chồng làm gì cho nó nhục...". Mẹ đảo mắt chung quanh hoảng sợ: "Thì nho nhỏ thôi! Có gì cô nói đi xem nào". Cô Sửu quệt nước mắt: "Cái số em nó khổ. Ngót ba chục tuổi đầu ai cũng cười ế ẩm, lấy chồng trình độ, ăn trắng mặc trơn thiên hạ tưởng sung sướng, nào ngờ vớ phải thằng cha bất lực. Biết em có bầu, nó đánh chửi em thậm tệ...". "Trời ơi là trời!" - Mẹ bưng mặt.

"Tôi bỏ chồng. Ai nói gì thì nói". Cô Sửu tuyên bố khi có đủ mặt cả nhà. Bà chu chéo, bà bảo rằng chính cô làm nhục gia phong, rằng cô bôi tro trát trấu vào mặt bà. Bà khóc, bà chửi ầm cả nhà. Bố im lặng hút thuốc, mãi sau mới nói: "Chuyện xấu, chẳng biết giấu đi, cứ vạch áo cho người xem lưng. Cái làng này không khéo đến lúc cô Sửu đẻ, họ kéo cả đến xem đứa bé giống ai...". "Muốn xem tôi cho xem chứ! Tôi sợ gì mà giấu với diếm". "Hay hớn lắm đấy, cô lên phố mà xem, mấy hôm nay đầu đường xó chợ, đâu cũng thấy tụ tập đàm tiếu chuyện vợ chồng cô. Cô không ngượng nhưng mà tôi ngượng, tôi nhục...". Cô Sửu cúi nhìn cái bụng sắp sửa vượt mặt, lại khóc. Nhà buồn như có đám.

Tháng Chạp thứ hai, hoa chanh vườn chú Thao nở. Cô Sửu đã không còn sai chạy sang chú Thao lấy hoa chanh nữa. Cỏ léc vẫn rập rờn xanh biếc một màu, ngàn ngàn lớp sóng xô đuổi nhau chạy qua, xôn xao, khấp khởi. Heo may thổi lồng lộng buốt lên tận óc. Lại mưa phùn hay đổ vào buổi chiều tối, giăng mắc lên làng mạc một làn sương mờ dày đặc. Bà bây giờ chỉ còn ngồi hong tay trên bếp lửa, hết sáng tới chiều, hết chiều tới tối, đêm bà ngủ mẹ cũng phải vùi than dưới giường cho bà. Lâu bà không còn nhắc đái vào cái máng sau vườn nữa. Khoảng đất của bà dền đất già nở từng bông hoa xanh xám dài ngoẳn ngoẵn, chen chúc với lũ cỏ hôi hoa màu hồng hồng, lá phủ một lớp lông mọc nham nhám. Cái liếp rào một lần gió lay là xiêu vẹo chực ngã. Phần cái cuốc chét, cán gãy mẹ đã cho vào bếp đun, lưỡi sắt hôm qua thằng cu Ti đã bán cho đồng nát.

Con cô Sửu xinh như tranh, chỉ mỗi hay đái dầm. Không thấy hàng xóm đến xem mặt đứa bé như lời bố, chỉ có ông Bính chủ tịch không con đến nhận thằng bé nhưng cô Sửu cười bảo: "Tôi đẻ, con tôi, chẳng con ai cả".

Cô đặt thằng bé vào cái nôi buông mùng trắng rồi hát:

Cái vạc mày ngủ cho ngon
Mai sau mày lớn, tìm cho ra gái ngoan mà hẹn hò...

Cô bảo: "Mày trông chừng em cho cô nhé! Cô chạy quàng đi một tí. Lâu ngày nằm ổ, buồn quá!". Cô vấn tóc chùm khăn kín mặt, đi. Quá bữa cô mới về. Từ ngoài ngõ đã nghe tiếng cô oang oang: "Ðiên, ông Thao nhà mày điên mất rồi". Mẹ tất tả chạy từ dưới bếp lên. Cô Sửu vừa tháo khăn vừa nói: "Ðàn bà không chồng làng này thiếu gì. Lấy ai chẳng lấy, lại đi rước mẹ con con mụ Nền. Mang gông suốt đời mà không tránh khỏi miệng thế gian"...

à, ra cô Nền về ở với chú Thao. Cô Nền nhà ở gần trường học, không thấy nói có chồng nhưng có ba đứa con. Bọn học trò hay vào nhà cô xin nước uống, lợi dụng bứt trái đu đủ non, dăm quả ổi xanh, trốn học chấm muối ớt, có đứa táo tợn còn lấy cắp trứng gà, bồng cả gà mẹ. Cô Nền biết nhưng không chửi, không mắng. Ðược thể bọn trẻ lại làm quá. Cô là đối tượng trong những câu chuyện của đám đàn ông tụ tập khi rỗi rãi. Họ đùa phát vào lưng nhau đôm đốp: "Em Nền ấy à, cứ xuống xề kể lể nỗi bất hạnh là em mềm lòng cho tuốt...". Ðàn bà khinh nhờn cô ra mặt. Họ bảo cô đĩ thõa, họ bảo cô khốn nạn. Quanh năm suốt tháng, ngoài lũ học trò chẳng có ai tới nhà cô ban ngày ban mặt.

Cô Sửu lay gối bà, than thở, chuyện chú Thao. Bà ngồi lặng im hong tay trên bếp, chẳng ra nghe, chẳng ra không. Mắt bà đục mờ như có phủ sương khói. Bà cười, phô hàm lưỡi trống trơn sóm sém. Lâu bà mới hỏi mẹ: "Thế bao giờ đến giỗ thằng Sơn?". Mẹ dịu mắt, nhắc khẽ: "Chú ấy còn sống, đã về...". à thế..." Mắt bà ánh lên một chút sáng, rất nhỏ, rất mỏng, rồi nguội tắt nhanh chóng, lại chỉ thấy sương khói đục mờ. Mẹ và cô Sửu nhìn nhau, không ai nói.

***

Trong hơi may, trên những triền đồi hoang chỉ còn độc mỗi lũ trẻ chăn trâu. Chúng co ro trong áo tơi, da tái xám, giữa lồng lộng gió. Trên muôn triệu lá léc xanh xuyên qua lớp lớp mưa phùn là trong trẻo, là réo rắt, là huyền hoặc tiếng sáo. Chưa bao giờ nỗi niềm da diết đến thế. Không đứa nào lên tiếng. Chúng nắm chặt tay nhau nhìn về hướng ngôi nhà nhỏ bên kia đồi. Phía đó, một làn khói bếp mỏng bay lên, vẽ một đường cong mềm mại, rồi tỏa tỏa vào trong chiều muộn.




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Bà lão lòa

Vũ Trọng Phụng

76 tuổi đầu, mỗi bữa thất thểu ăn một lưng cơm, bà lão lòa ở nhờ một đứa cháu họ, thật đã lắm phen cực nhục. Cháu bà, một bác đánh giậm, với vợ, một chị mò cua bắt ốc, khốn thay, dưới nách hai đứa con mọn, cũng đã lắm phen nhăn nhó vì chẳng đủ ăn.

Hai mươi năm về trước, bà lão lòa này còn là người có của trong làng. Con trai bà nó chơi, nó phá, nó bán ruộng, cầm nhà rồi nó bỏ bà nó đi, chẳng biết đi đâu, lòng mẹ đối với con, tuy có giận mà vẫn có thương, bà khóc lóc một mình đến nỗi lòa cả mắt. Trong thời bà còn giàu có, ngoài những việc cúng tiền tô tượng đúc chuông, bà còn năng giúp đỡ kẻ nghèo khó; trong họ ngoài làng, nhiều người đã được nhờ bà mà đến khi gặp bà bước khốn cùng thì chẳng ai thương cả. Cũng vì xưa kia đã nhiều phen ngửa tay nhận lấy đồng tiền cứu giúp của bà, bác đánh giậm đành cắn răng, vuốt bụng, nhắm mắt nuôi cô trong lúc hoạn nạn.

Nhưng vốn bị ma nghèo ám ảnh, mới nuôi cô được độ ba năm, bác đánh giậm đã thấy nản lòng. Cái cảnh túng bấn nó thường đẩy người ta vào chốn bùn nhơ, nó thường buộc người vào vòng tội lỗi, đối với bác đánh giậm, ác hơn, nó làm bác quên bỏ cả lương tâm. Quên hẳn cái ơn ngày trước, bác ta chỉ còn biết xót ruột khi thấy bà lão lòa lò rò ngồi vào mâm, cướp cơm của vợ, của con nhà bác.

Buổi chiều hôm ấy...

Trước túp lều tranh xiêu vẹo như chỉ còn chờ một trận gió to là đổ ụp xuống, cái sân đầy những bã mía, lá khô, một mâm cơm bát đàn đũa mộc trong để đĩa cá rô kho chuối với đĩa cà đen sịt đen sì, cầm trên tay mấy bát cơm ngô vàng ói, bà lão lòa, bác gái và hai đứa bé chỉ còn chờ bác trai rửa mặt rửa chân tay, ngồi vào là cùng cầm đũa. Ðàn ruồi vù vù bay lung tung như đánh trận, hết bâu đầy vào mấy nốt mụn chốc trên đầu thằng cu con lại bay xuống đặt mình vào đĩa cá.

Bác trai, người mảnh khảnh, đen như củ súng, trán răn, má hóp, mắt kèm nhèm, mặc cái áo vải đã đến năm mười miếng mụn, đóng khố, vừa ngồi xổm xuống đất cầm lấy bát cơm, vợ đã vội hỏi:

- Bố nó hôm nay kiếm được bao nhiêu tất cả...? ấy tôi chỉ được có bốn sóc cua hai xu với một mẹt tôm riu năm xu là bảy đấy thôi. Gạo ăn bữa mai hết rồi...

- Hôm nay được thêm mẻ lươn thì, ác quá, gặp đứa nào cũng trả rẻ, lang thang khắp chỗ, mãi đến chiều chẳng thấy ma nào hỏi lại phải bán tống bán tá tháo đi... cả ếch cả cá cũng chỉ được ngót hai hào.

Vợ nhìn chồng thở dài rồi lại nhìn đến niêu cơm. Thằng cu lớn xới một bát nhường cho em, còn mình thì cầm cái đũa cả, gắp những hột còn dính lại. Bà lão lòa, ăn hết một lưng, tay lẩy bẩy chìa bát ra toan xin ít nữa, chưa kịp nói, bác gái đã quát:

- Hết rồi...! Còn đâu nữa mà chìa mãi bát ra... Ðến tôi đây quần quật suốt ngày, đã ốm cả xác mà cũng chỉ được có ba lưng thôi đấy... Bà không phải làm gì, ngồi nhà ăn ít cũng được.

Bà lão giật mình, đớ người ra một lúc rồi đứng lên đi vào trong nhà, ngồi xuống bậu cửa, lấy cái tăm gài trên mái tóc xuống xỉa răng.

Mặt trời sắp lặn, còn xiên qua lũy tre xanh, tầu lá chuối mà rọi ánh sáng đỏ đó vào gian nhà. Dưới những đám mây thiên hình vạn trạng mầu cá vàng chăng dọc chăng ngang phủ kín một bầu trời, một đàn sếu xếp hàng chữ nhân bay từ Bắc về Nam, vươn cổ kêu oang oác. Trên mấy ngọn tre gió thổi ngả nghiêng, dăm ba con chèo bẻo tung tăng chuyền cành này sang cành khác, còn đua nhau hót như muốn cất giọng chào mặt trời trước khi vào tổ.

Bà lão lòa ngồi trầm ngâm chống tay lên trán, nhân hôm ấy chiều trời êm ả, gió thổi hây hây, chim kêu xào xạc mà một mảnh đời dĩ vãng như một luồng chớp nhoáng, trong trí bà lại hiện ra:

Ngoài cổng, một ông lão ăn mày lụ khụ đến ăn xin. Con vện con vàng đang nằm trong sân bỗng nhảy xổ ra cắn xa xả. Tiếng mặt bà ngồi trên sập gụ bên trong quát thằng nhỏ ra mắng chó, giắt ông lão ăn mày vào thết một lưng cơm.

Bác nhiêu B, vừa bị nạn hỏa, rủi đâu, vợ lại hậu sản mà chết. Trong gian nhà lụp xụp, thằng cu lớn, cái đĩ con ngồi mã la mã lệnh dưới đất với thằng cu mới đẻ, cuộn tròn trong cái tã nâu, nằm ngay cùng giường cái xác mẹ nó. Tiếng ba đứa trẻ khóc như ri. Cả đêm hôm trước, bố chúng nó ôm đầu mà khóc, sáng hôm sau mới bảnh mắt đã thấy đội nón ra đi, mặt trời lên đến đỉnh đầu rồi mà chưa thấy về, bụng chúng nó đói cào như muối xát. Bỗng thấy ai nói văng vẳng như tiếng bác nhiêu. Thằng cu lớn quệt nước mắt, lủi thủi bước ra... Quái thay! Một bà khách lạ nào miệng bỏm bẻm nhai trầu, váy sồi, áo lụa, xệ nệ trên đôi dép da cong, bước vào nhà ôm lấy thằng cu con mà kêu: tội nghiệp...! Rồi thấy bà khách cởi hầu bao, lấy ra một cuộn giấy bạc, bác nhiêu đưa hai tay nhận lấy, dòng dòng nước mắt tạ ân.

Giữa chợ gần chỗ hàng gà, hàng cá, mùi hôi tanh xông lên nhức đầu, một đám đông xúm quanh một người đàn bà ăn mặc rách rưới, tay ôm đưa bé chừng bốn năm tháng.

- Thưa bà, cháu chỉ lấy có năm đồng thôi đấy ạ.

- Thôi, chả của đâu mà trả đến năm đồng. Trông gầy thế kia, biết rồi có sống được không? Ba đồng đấy, bằng lòng đi!...

Người nọ xô người kia, chen nhau len vào. Có người đứng ngoài, không hiểu chuyện, tưởng họ mà cả gà, khi kiễng chân, nghển cổ nhìn vào mới rõ. Giọng nói phều phào một bà cụ già lụ khụ:

- Rõ tội nghiệp chưa! Tôi mà có năm đồng thì tôi trả ngay...!

Bỗng có một bà ăn mặc lụa là, người trông phúc hậu, len lỏi vào cất tiếng dõng dạc hỏi:

- Này nhà bác kia! Làm gì mà đến nỗi phải bán con đi thế?

- Thưa bà, nhà con phải bệnh, liệt giường liệt chiếu đã hơn nửa tháng nay, không có tiền thuốc thang gì thì chết mất. Con phải bán cháu đi để cứu lấy nhà con, mất đứa này còn mong đẻ đứa khác chứ để chồng chết thì rồi tất chết cả mẹ con cháu. Nước mắt chảy xuống dòng dòng, nỗi thương đưa lên nghẹn cổ, người đàn bà không nói được nữa, gục đầu xuống mặt con mà khóc nức nở.

- Này...! Cứ ẵm cháu về, đừng có bán nó đi mà phải tội đấy! Năm đồng đây tôi xin giúp. Hãy cầm về mà liệu thuốc men cho bác trai.

Người kia ngạc nhiên ngơ ngác nhìn lên, mãi chưa dám tin là thật, bàng hoàng như đang lúc chiêm bao, giơ tay ra nhận tiền, rồi không biết nói thế nào với vị ân nhân của mình, phục ngay xuống đất mà rưng rức khóc. Ðám người tản mát, có kẻ thì thào: người đâu mà phúc đức tệ!

ấy đó, đổi lại bao nhiêu điều thiện xưa kia ông trời cay nghiệt nay đều trả bà bằng hai con mắt lòa với một cảnh ăn gửi nằm nhờ cực kỳ khổ sở. Cho rằng kiếp xưa tiền oan nghiệp chướng chi đây, nghĩ thương mình, thương đứa con bất hiếu, thương vợ chồng con cái bác đánh giậm, bà lão lòa thổn thức, trên hai gò má răn reo lại thấy mấy giọt nước mắt chảy ròng ròng. Bà lão gục đầu xuống gối tỉ tê khóc không ra tiếng, chỉ thấy sụt sùi hậm hực, khiến thằng cu con lò rò bò đến với bà, không hiểu ra sao bỗng cũng khóc thét lên. Bác gái chạy vào bực mình xỉa xói:

- Này bà! Bà đừng làm sốt ruột...! Bà ăn xong bà đã chẳng làm được việc gì thì cứ ngồi yên một chỗ hay ẵm cháu giúp tôi, bà đừng có sụt sùi khóc lóc, đây không ai chết mà bà phải khóc...

Giọng nói day dứt mà lanh lảnh như từng nhát búa bổ vào thành sắt vang động bên tai, bà lão hoảng hồn trong hai con mắt lòa trợn trạo cầm nước mắt cho khỏi chảy ra, trông rõ đôi tròng trắng đảo đi đảo lại...

- Trời làm đói kém thế này, vợ chồng chúng tôi không thể nuôi bà được nữa đâu, bà phải liệu mà giúp đỡ chúng tôi mới được. Rồi từ mai trở đi, để thằng cháu nó giắt bà ra đầu đê, bà ngả nón dưới bóng cây gạo mà ngồi, thấy tiếng người chợ búa qua lại thì bà chìa rá ra xin, nếu có được mỗi ngày một vài xu cũng là đỡ được cái mồm bà rồi đấy...

*
* *

Ðã được nửa tháng nay, sáng nào cũng thấy thằng cu lớn dắt bà ra ngồi đầu đê rồi chiều đến lại dắt về. Trong bọn những người chợ búa qua lại con đường cái quan, tạt vào đường đê, thấy một bà lão lụ khụ, hổn hển thở, ngẩng đầu chìa nón kêu van, cũng đôi khi có người vứt cho một vài đồng kẽm. Chẳng may, nếu hôm nào về tay không thì vợ bác đánh giậm - cháu bà - lại nghiến răng xỉa xói thậm tệ:

- Hôm nay chẳng ai thí cho bà đồng nào...! Bà có biết thế là bà lại ăn phần cơm của thằng cu lớn đấy không? Từ mai, bà liệu mà kêu to lên mới được... Hay tại bà ngồi dưới bóng cây mát mà ngủ thiếp đi...? Bà liệu đấy...!

Bát cơm ngô điểm quả cà thiu, bà lão lòa trước khi và vào mồm đã chan đầy như canh bằng nước mắt.

Một ngày kia, trời tháng ba nắng gay gắt, bà lão lòa dưới gốc cây gạo, ngồi từ sáng đến quá trưa, bụng đã đói mềm mà chẳng thấy người khách đi đường nào vứt cho lấy một đồng trinh. Trên cành cây, thỉnh thoảng lộp độp rơi xuống đường đê một vài bông hoa gạo, mỗi khi quạ cái tha mồi về tổ cho con lại đập cánh sập sè vươn cổ kêu: quà! quà...! như gợi một mối thương cho người ngồi dưới gốc.

Xa xa, trong cánh đồng bát ngát một màu xanh, mấy người làm ruộng nhễ nhại mồ hôi, chẳng ai buồn nói chuyện với ai. Một đàn chim vành khuyên trong bụi rậm kia đang chuyển cành này sang cành khác cũng không con nào kêu hót, kiếm ăn một cách rất lặng lẽ. Phong cảnh dường như mệt mỏi. Những tiếng vang động đều bị sức nóng mặt trời át mất hẳn đi. Trên con đường cái quan, thỉnh thoảng thấy tiếng một cái xe hơi như một mũi tên bay, vo vo chạy qua rồi biến mất vào trong đám bụi mù xa tít,... bốn bề im lặng như tờ.

Hai cánh tay khẳng khiu ôm lấy bụng mà nhăn nhó, cố quật lại với cái đói nó cào xé ruột gan, bà lão lòa thở hổn ha hổn hển.

Chợt có tiếng người dẫm lạo xạo trên đống lá khô, đi về phía mình bà lão vội chìa ngay nón:

- Lạy ông đi qua, lạy bà đi lại...! Cứu cho thân tôi lấy một miếng cơm...

- Tôi đây...! Phải ai đâu mà lạy với lục...? Bà được đồng nào chưa thì đưa đây cho tôi...

- Ðã được đồng nào đâu...? Chẳng thấy ai đi qua đây cả... Mẹ nó có dắt tôi về thì dắt, tôi đói lắm rồi...?

- Bà đói à? Bà đói thì dễ tôi no à? Bà hãy ngồi đấy xem sao, buổi chợ chiều này, rồi họ về qua đây nhiều... chốc nữa, tôi sẽ bảo thằng cu nó ra nó dắt...!

Rồi bác ta thoăn thoắt bước đi, cái váy cũn cỡn để lộ hai ống chân trùng trục, đen thui, giỏ cua đeo sau lưng cũng theo nhịp từng bước mà lắc đi lắc lại... Về đến nhà, sung sướng thay đã thấy bác trai ngồi phì phèo thổi lửa làm cơm dưới bếp. Nghĩ thầm hẳn bố nó hôm nay được mẻ phát tài, bác ta rửa chân tay xong, vào hú hí ngay với con.

Bỗng trên trời mây kéo đen nghịt tối sầm hẳn lại, rồi nổi một cơn giông. Bác đánh giậm chạy vội ra sân vơ quần áo đem vào nhà, giục thằng cu lớn mau mau chạy ra để dắt bà về kẻo mưa to gió lớn. Nghe câu ấy, bác gái ngồi ôm con một góc giường cau mày ngẫm nghĩ: thật vậy! ba bốn năm nay, bác ta đã nhịn như nhịn cơm sống ấy rồi, quá lắm thì không chịu được. Mặc kệ bà ấy! để bà ấy chết quách đi cho rảnh mắt...!

Rồi hiện ra lần lượt trong trí bác những ngày trở trời trái gió, những ngày lửa hạ chang chang, ruộng khô đồng nứt, kiếm chẳng ra tiền, hai đứa bé bò nheo bò nhóc, một niêu cơm ngô chia khắp cả nhà, bụng mẹ đã chẳng được no, còn lấy đâu ra sữa nuôi con... Mà bà lão lòa kia thì, ngày kiếm được một vài xu cũng như ngày không kiếm được đồng nào, chẳng nhịn được bao giờ, cứ đến bữa là ngồi vào mâm, chìa bát ra cho thằng cu sới. Không, không! Không thể thế được...! Bà lão ấy chỉ là một bà cô... mà lại là cô họ một người chồng, có lẽ nào báo hại mãi nhau...?

- Kìa! Thằng cu! Tao bảo thế nào...? Không bỏ bếp đấy mà ra dắt bà về à? Ông lại đét cho bây giờ.

Bỗng bác gái đặt phịch con xuống giường, quặn mình nhăn nhó:

- ối trời đất ôi...! ối trời đất ôi...!

- Chết chửa... làm sao thế? Sao thế hở mẹ nó?

- Sao mà bụng tôi cứ thấy đau xoắn lại thế này! ối trời đất ôi, đau thế này thì đến chết mất thôi...

- Chết chửa! Kìa thằng cu... ẵm em dỗ đi... dỗ đi cho nó nín đi rồi dậy đấm cho u mày một chốc... để tao đi nướng hòn gạch mà chườm bụng vậy... Rõ khổ chửa?

Bên ngoài mấy hạt mưa bắt đầu ném vào mái tranh lộp độp rồi trời đổi cơn xuống rào rào. Dần dần mưa càng to, gió càng mạnh, mỗi lần một luồng gió thổi trên không nghe ào ào là một lần nước đổ như trút xuống sân. Trời tối mịt. Thấy mẹ đã ngủ được yên, thằng cu bước xuống đất, phong phanh trong tấm áo vải, ra tựa cửa đứng nhìn.

Tiếng sấm động ù ù, mỗi khi chớp nhoáng chớp nhoàng nó lại nom rõ thấy giữa những vũng bong bóng phập phồng, những dây nước ròng ròng từ mái tranh rỏ xuống. Rồi thỉnh thoảng lại đánh "đoành" một cái, những tiếng sét vang trời đánh nhịp, hòa theo với tiếng mưa rả rích, tiếng sấm hục hặc, nổi sôi...

Chợt nghĩ đến bà nó ở ngoài đầu đê không biết ra sao, quay lại nhìn thì bố nó vẫn lúi húi dọn cơm, nét mặt thản nhiên như không, thằng cu phụng phịu nét mặt, hỏi gắt:

- Kìa thày! Thế bà ở ngoài đầu đê?

Nó chưa nói hết câu, bố nó đã như bị một luồng điện giật, nẩy người ra, mắt tròn xoe, mãi mới nói được.

- Chết chửa! Biết làm thế nào bây giờ? U mày đau bụng, kêu rối rít lên, làm tao cũng quên bẵng đi mất...

- Thế thì chắc bà chết rét mất rồi... Còn gì nữa...

Nghĩ đến cái chết của bà lão lòa ở ngoài đầu đê - tình cháu đối với cô - bác đánh giậm rùng mình, rợn tóc gáy. Nhưng bác tự dối lương tâm, bác đáp lại con:

- Ôi già... chả việc gì phải sợ... dễ bà lại không biết lần mò đến một cái quán nào đấy mà ẩn hay sao...?

Rồi bác gọi vợ con dậy ăn cơm. Bữa ấy bác gái tuy kêu đau bụng mà cũng cố ăn được đến bốn năm lưng, mặc dầu hai đứa bé không thấy bà nó đâu, thường nhắc đi nhắc lại.

Trời vẫn mưa, lúc to lúc nhỏ, rả rích suốt đêm.

Sáng hôm sau, ánh sáng mặt trời xé những đám mây bay tan tác, chiếu xuống, trông lại càng tươi càng đẹp. Trên mặt đường đê, nước đóng từng vũng, những người đàn bà gồng gánh ra chợ phải xắn váy vén quần, lội bì bõm, hễ ai hơi trượt, chân muốn ngã là cả bọn lại khúc khích cười. Những đám cỏ bấy lâu phơi nắng xám cả màu, sau một trận mưa rào đã trông thấy ngay cái vẻ tươi tốt. Trên mấy cây bàng, một đàn chim sâu, con ngửa cổ uống nước, con đập cánh rũ lông, kêu hót vang tai. Vệ đường loáng thoáng thấy cành cây rơi rải rác...

Phong cảnh trông có vẻ khoan khoái. Cái khoan khoái của phong cảnh sau trận mưa rào cũng như cái khoan khoái của người sau khi tắm gội. Bác đánh giậm hôm ấy dậy rất sớm, đóng khố, cài rổ, vác vợt ra đi... Mon men ở dưới chân đê, lội lõm bõm qua mấy vũng bùn lầy xa xa, phía dưới cây gạo - chỗ bà lão lòa vẫn ngồi, bác thấy giữa ruộng, trong một đám mạ xanh tươi tốt, một đàn quạ, con bay con liệng, kêu sào sạc rồi đậu xúm xít vào một chỗ. Bụng tưởng hẳn là một tổ rắn chi đây, bác ta vác ngay một vợt tre lên mặt rồi phăm phăm chạy lại. Ðàn quạ vùng bay lên rồi tản mát đi... Chao ôi! Bước vừa đến nơi thì bỗng bác ta rú lên một tiếng, trợn mắt rít răng mà ngã phục xuống cạnh một cái xác, cái xác một người đã bị quạ mổ nát nhừ, xác bà lão lòa bị gió thổi xuống ruộng đêm hôm trước.

1931


Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Ma Mèo

Phong Ðiệp

Nụ cười trên môi lũ trẻ tắt ngấm khi tiếng chuông gọi gắt gao của người bố vang lên. Hai cái xe đẩy nối đuôi nhau chạy dọc theo đường hành lang hẹp và tối om. Con mèo già rên gừ gừ ở lối nhỏ rẽ vào nhà kho. Hai vệt sáng xanh lẹt, bất động mở trừng trừng về phía chúng.

"Anh bảo có chuyện gì không? Bố về sớm hơn mọi khi đấy".

"Tiếng chuông còn rất tức giận nữa".

"Thế anh bảo..."

Hai chiếc xe cùng bẻ bánh về phía nhà ngang. Tất cả đèn điện đều được bật sáng một cách bất thường. Sàn nhà bóng loáng. Cánh cửa gian chính mở rộng. Bên cạnh chiếc giày to sù của người cha là một đôi xăng đan nhỏ nhắn.

Hình như chủ nhân của nó bước vội nên làm xô một bên mép thảm lót trên bậc cửa.

"Anh nghĩ cha muốn chúng ta vào trong đó chứ? Ðã lâu lắm rồi..." Thêm một lần chuông nữa, ngắn và đanh. Hai đứa trẻ tần ngần đẩy xe đến trước cánh cửa. Một người phụ nữ đang đứng căng thẳng giữa nhà, chỉ chực đợi chúng đến để nhìn. Khuôn mặt lạnh lẽo và buồn. Nước da bà ta trở nên trắng ốm trong ánh đèn điện quá chói.

Người cha ngồi lặng ngắt trên chiếc phô tơi. Chiếc gạt tàn trên bàn đầy những đầu mẩu thuốc lá.

"Từ nay cô Bội sẽ dạy dỗ các con".

Người cha im lặng giây lát và nhìn chúng nghiêm khắc.

"Không một ai được phép cãi lại cô Bội. Các con rõ rồi chứ" Không được phép, đúng thế. Bây giờ thì hãy về phòng của mình đi".

Người đàn bà mệt mỏi giơ tay chào chúng. Bàn tay dài với các ngón khô khan.

"Chúng ta sẽ gặp lại nhau vào sáng mai".

Hai cái xe vòng trở về đường hành lang hẹp, dài hun hút. Con mèo già vẫn ngồi ở lối rẽ vào nhà kho, hai chấm mắt xanh lét. Những lùm cây trong vườn nghiêng ngả vào nhau. Gió thổi ràn rạt.

"Anh ạ, em thấy sợ".

"Bố sẽ đi vào sáng mai. Vẫn những chuyến đi dài ngày".

"Và rất nhiều quà".

"Nhưng chẳng bao giờ bố nói chuyện với hai anh em mình".

"Vì bố rất bận. Bố về nhà để nghỉ ngơi".

"Em thấy thương bố. Nhỡ lúc nào đấy bố trở nên mệt mỏi vì cứ phải chăm sóc hai anh em mình thì sao?".

"Em huyên thuyên rồi đấy!"

Tiếng chuông đánh thức lũ trẻ kéo rền vào lúc bảy giờ. Chúng vội vã mặc quần áo và lết người đến cái xe đẩy đặt sát giường. Tiếng xăng đan của cô Bội nện lạch cạch xuống nền đá hoa. Cánh cửa phòng chúng bật mở ngay trong chớp mắt. Thậm chí lũ nhỏ không nghĩ đến việc khóa trái cửa khi đang ở trong phòng.

Trong ánh sáng ban ngày nhìn cô Bội gầy và xanh xao hơn chúng tưởng. Hai hố mắt sâu trũng nhìn chúng lạnh lẽo. Bộ quần áo bằng vải dày bó chặt lấy thân hình lép kẹp. Thường những người phụ nữ ở tuổi cô người ta không ăn mặc như thế.

"Chúng cháu chào cô Bội ạ."

Những đứa trẻ gượng gạo mấp máy môi. Cô Bội dường như không có ý đáp lại lời chúng. Cô đi thẳng đến những chiếc giường. Ðống chăn màn lùng bùng được thu dọn trong giây lát. Hai cái ga giường được kéo phẳng phiu lại.

"Cô Bội, hôm qua cô ngủ có ngon không?

Ðứa con gái hít một hơi dài, lên tiếng làm quen. Thằng anh nó bắt tay vào bánh xe, đẩy dần ra cửa.

"Cháu định đi đâu đấy?"

Cô Bội quay phắt người ra, hỏi bằng giọng kim hơi gắt.

"Cháu muốn ra vườn".

"Không được. Hãy đi rửa mặt mũi và ngồi vào bàn ăn sáng. Sau đó chúng ta sẽ học".

Ðứa con gái lo lắng nhìn thằng anh đang giãy giụa một cách khó chịu trên xe đẩy.

"Anh sao thế?"

Cô Bội im lặng đẩy từng chiếc xe ra ngoài và khép cửa lại. Bữa ăn sáng bắt đầu trong trật tự. Cô Bội ăn rất nhanh và hầu như không gây ra một tiếng động nhỏ nào. Lũ trẻ nhai nuốt chậm chạp, miễn cưỡng. Cô Bội phải ngồi đợi đến hơn mười phút cho chúng kết thúc xong xuôi phần ăn sáng của mình.

"Tất cả đều là những chất bổ dưỡng giúp nuôi cơ thể khỏe mạnh".

Cô dọn bàn ăn và giải thích.

"Tại sao cháu ăn không hết?"

Ðĩa của đứa con gái còn thừa đến một phần ba.

"Còn con Két nữa cô ạ"

"Ðó là con mèo già bị điên". Thằng anh vừa lau mồm vừa giải thích.

"Một con mèo già bị điên ư?" - Giọng cô Bội loãng ra

- "Nó sẽ gào vào ban đêm và cắn xé tất cả những người nào mà nó gặp".

"Không đâu cô ạ. Nó đã già lắm rồi. Lông rụng từng mảng. Nhưng nó không bỏ đi như những con mèo khác".

Cô Bội im lặng thả chùng người xuống ghế. Lũ trẻ lặng lẽ rời bàn ăn và đi sang phòng bên ngổn ngang sách vở. Một túm lông mèo đậu lơ phơ trên thành cửa sổ.

Cô Bội bắt đầu bài mới bằng vẻ mặt nghiêm trang.

"Những con ma mèo thường hiện về gào thét trong đêm. Chúng gọi nhau thê thiết và rầm rập đi thành từng đàn..."

Ðứa con gái lo lắng đưa mắt nhìn anh. Nhưng chúng vẫn tiếp tục lắng nghe và không nói một lời nào.

Giờ học kết thúc khi cô Bội trở nên phờ phạc. Khuôn mặt cô trắng bệch, vô hồn.

*

Con mèo không xuất hiện vào những bữa ăn sau đó. Từng đám lông thưa thớt mầu tro của nó vương vãi khắp nhà.

Lũ trẻ bị cấm thức khuya. Kết thúc giờ học buổi tối chúng phải lập tức về giường và tắt đèn đi ngủ. Ðiều ấy làm cho đứa con gái áy náy.

"Anh nghĩ nó sẽ chết chứ?"

"Ai cơ? Cái con Két hôi hám đó à? Thì nó đã già quá rồi còn gì".

"ý em không phải vậy". Ðứa con gái ấm ức giảng giải

- "Chẳng ai cho nó ăn cả. Kể từ mấy ngày hôm nay. Nó đâu có làm hại ai".

Cô Bội sẽ tiếp tục kể chuyện về lũ ma mèo nếu em còn tiếp tục nói thế" - Thằng anh nó hào hứng đe em - "Cô Bội luôn có rất nhiều chuyện về chúng".

"Nhưng em không thích chúng".

Ðứa con gái thở dài và trùm hụp chăn qua mặt.

"Nó sẽ chết mất thôi".

Thực ra con mèo chưa chết bởi nửa đêm, khi chợt tỉnh giấc thằng anh nghe thấy tiếng nó kêu bải hoải ở phía sau nhà kho. Nó lần gọi em thì con bé đang đau bụng dữ dội, chân tay co quắp lại, mồ hôi tứa ra đầm đìa.

Ngoài hành lang tối om. Tiếng kêu của con mèo lịm dần đi. Thằng anh lần xe đẩy đi ra. Phòng cô Bội ở phía đầu nhà kho vẫn sáng choang như không có động tĩnh gì. Ðứa nhỏ hít một hơi thật sâu và cất tiếng gọi:

"Cô Bội ơi! Cô Bội ơi..."

Bây giờ thì nó đã đứng trước cửa phòng. Gió phần phật thốc vào giường cô Bội. Không có người trên đó.

- Cô Bội ơi! Cô Bội ơi! Có tiếng đất đá rào rào ở vườn sau rồi đột nhiên im bặt. Ðứa nhỏ cố quay trở về thật nhanh. Tự nhiên nó thấy sợ những tiếng bánh xe xiết lên nền đá hoa vang lên lạc lõng giữa đêm khuya. Khi thằng anh về đến nơi thì cô bé đã đờ người lại. Hai bên mép nó nước dãi nhều ra. Thằng anh lôi con em xuống xe, đẩy ra ngoài vườn theo lối tắt.

Người đàn bà hốt hoảng ra mở cửa cho những đứa trẻ. Có tiếng trao đổi xì xụp ở nhà trong. Tiếng chân người chạy thình thịch ra lối cổng. Tiếng nước xối xèn xẹt. Con bé em được xốc lên giường. Có rất nhiều người quây lại. Cái xe đẩy của thằng anh bị xô vào tít góc tường. Muỗi bay vè vè qua mặt. Nhưng mệt mỏi làm đứa trẻ thiếp đi.

Buổi trưa có ba người đàn ông và một người phụ nữ đẹp tìm cô Bội. Sau đó tất cả cùng kéo lên chiếc xe Zép cũ kỹ có tiếng nổ phành phạch như máy xát.

Ba... tiếp tục sang nấu ăn cho những đứa trẻ. Lúc ra vườn sau hái rau thì phát hiện cả một khoảng đất đã bị quần nát. Lũ trẻ nằm trong phòng đọc sách cho mãi tới khi tiếng chuông báo giờ ăn kêu lên.

Người cha trở về sau những chuyến đi dài ngày. Da ông đen sạm lại và gò má hốc hác.

"Rốt cuộc là đã có chuyện gì xảy ra vậy?"

"Con không biết bố ạ. Nhưng lúc ấy con nghe có tiếng mèo kêu ở sau nhà kho".

Người đàn ông thở dài:

"Ðã có những chuyện mèo điên. Chúng cắn người và họ đã chết vì không biết. Cô Bội có một đứa con như vậy"

Những đứa trẻ ngồi lặng ngắt. Rất lâu sau con bé mới thốt lên:

"Bố ạ. Chúng con muốn cô Bội".

Người cha mệt mỏi đứng dậy.

"Các con về phòng đi. Từ ngày mai các con sẽ học ở trường".

Hai đứa trẻ im lặng đẩy xe về phía hành lang tối om.

"Anh ạ, con Két không bị điên"

"Nhưng chúng ta lại nói khác".

*

Năm học mới bắt đầu và những đứa trẻ phải dậy sớm hơn thường lệ. Chuông kêu rền dọc hành lang hẹp, chói chang ánh nắng. Bà cụ hàng xóm đã đợi chúng sẵn ở dưới sân.

"Con chào bố!"

Cánh cửa phòng khách vẫn đóng im lìm. Tấm đệm lót được đẩy quá ra phía hành lang, một bên mép bị xô lại.

Ở gần trường, luôn có một người phụ nữ trong bộ quần áo bằng vải thô bó sát lấy thân hình lép kẹp, chờ chúng đi qua rồi lặng lẽ bỏ đi.

Hà Nội 8 - 1996



Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Lụy

Trần Duy

Hiền là bác sĩ. Tôi bạn với Hiền từ lúc còn học trung học. Ngày toàn quốc kháng chiến, Hiền đã hết hạn nội trú và tham gia mặt trận. Mỗi người một phương tản lạc theo từng chiến dịch.

Việc gặp lại nhau trên đường kháng chiến thật hiếm có. Và tôi đã gặp được Hiền trên đường cùng đi chợ Rã.

Năm ấy rét. Hai đứa rủ nhau vào một cái quán ven đường. Ðêm có trăng, càng về khuya, trăng càng sáng, rét càng dữ. Tôi và Hiền không ngủ được, phần vì rét, phần vì lâu ngày không gặp lại, chúng tôi rủ nhau ra rìa rừng ngồi nói chuyện. Ðủ mọi chuyện để nói, để nhắc. Từ chuyện lúc trẻ học ở Huế đến những ngày cùng là sinh viên ở Hà Nội. Bỗng Hiền hỏi tôi:

- Ông có nhớ hồi tôi về thực tập ở Viện Giải phẫu không nhỉ?

- Có, hình như trước năm 1942?

Hiền im lặng, rồi anh nói như thì thầm:

- Và cũng từ ngày ấy tôi có một suy nghĩ về con người, về cái giá trị hữu hạn và vô hạn của nó.

Hiền lấy tay xoa vào nhau và áp vào tai cho đỡ rét rồi nói tiếp:

- Chính ở Viện Giải phẫu tôi đã hiểu mọi bất ngờ, mọi bất hạnh đều có thể đến với con người.

Ngày ấy, đại chiến Thế giới lần thứ hai, Nhật đánh Pháp bắt đầu ở biên giới. Tình hình Hà Nội không yên, anh chị tôi lúc bấy giờ ở góc đường Wiellé (1) và Chanceaulme (2), vừa dọn vào Sài Gòn rồi sang Pháp. Tôi đến ở thay anh chị tôi, vừa trông nhà vừa có nơi trú học. Lúc bấy giờ tôi học xong năm thứ ba vào thực tập ở nhà thương Phủ Doãn. Anh chị tôi có một người giúp việc tên là Lụy. Tôi nhận nhà cùng cả người giúp việc. Tôi không mấy khi để ý đến cô ta, cô ta cũng chỉ như cái bóng trong nhà. Không mấy khi tôi hỏi chuyện và hỏi han điều gì trừ việc đưa tiền đi chợ hoặc mua bán những thứ cần thiết. Thật ra lúc bấy giờ chúng ta còn bận tâm nhiều thứ khác hơn là một người ở quê lên giúp việc.

Tôi bận học, lại còn nhận làm gia sư cho một gia đình ở Bưởi, chuyến tàu điện cuối cùng đưa tôi về đến Bờ Hồ đã quá chín giờ đêm. Dù khuya đến mấy, về đến nhà tôi vẫn thấy cô ngồi ở cửa chờ tôi. Cô lặng lẽ đứng dậy sắp xếp bữa cơm, thường lệ cô chờ tôi ăn xong, rồi mới ăn. Sự cách biệt ấy làm tôi áy náy nhưng vẫn không nghĩ ra cách sắp xếp khác. Cái gì đã làm tôi có cái nhìn xa cách ấy? Và tôi cũng không thể không xem cô Lụy là một con người hiện hữu trong nhà tôi.

Có hôm nghỉ học sớm về đến nhà bất chợt tôi thấy cô đứng ngắm mình trước gương to và cũng lần đầu tiên tôi nhận thấy cô đẹp, rất đẹp. Qua gương cô nhìn thấy tôi nên sợ hãi úp mặt vào tay. Qua kẽ tay tôi thấy đôi mắt đen thoáng lo, thoáng cười, thoáng vui. Chỉ tiếc tôi không là họa sĩ như cậu để có thể vẽ cô hôm ấy. Cái hay của nghề cậu là cậu thấy được cái đẹp của con người, tôn cái đẹp ấy lên cho cuộc sống. Còn tôi, cái nghề chỉ thấy những bệnh tật, những thân hình tiều tụy, những gì không đẹp đẽ của con người với mục đích giành giật con người ra khỏi cái chết, trả họ về cuộc sống.

Lần đầu tiên tôi thấy chiếc khăn mỏ quạ ôm khuôn mặt trái xoan của cô rất duyên dáng so với đầu tóc xoăn tít, bù xù hoặc chải trần của các cô gái Hà Nội. Người cô cân đối, cao chừng một thước sáu, ngực nở nang che bằng một chiếc yếm xanh đã ngả mầu. Tôi cảm thấy bất nhã khi nhìn cô như một vật trưng bày, tôi nói như vừa để giãi bày vừa xin lỗi:

- Hôm nay tôi mới nhìn cô được kỹ, không thế nhỡ ra đường chẳng nhận được ra thì khốn!

Và cũng lần đầu tiên có nụ cười giữa cô và tôi, và cũng lần đầu tiên tôi nhận được một nụ cười rất xinh tươi trên một khuôn mặt đôn hậu và đẹp của cô Lụy.

Năm ấy đã đến những ngày cuối tháng chạp tôi không thấy cô như mọi người đi làm ngỏ ý về quê ăn Tết. Thấy cô đứng cạnh bàn, tôi hỏi:

- Cô đã cần về quê hôm nay chưa hay chờ đến hai tám?

Cô không trả lời và hỏi tôi:

- Thưa cậu, cậu không về trong ấy ăn Tết ạ?

- Còn cô?

- Cháu không có Tết ạ!

Tôi nghe cô nói một cách tự nhiên và đơn giản.

- Tại sao thế cô Lụy?

Cô ấp úng và lúc nào cô cũng ấp úng như vậy để trả lời những câu tôi hỏi.

- Thưa cậu cháu không có Tết ạ. - Và cô nói tiếp:

- Cậu đốc cần sắm Tết như thế nào cậu bảo cháu. Hôm nay đã hai bảy rồi ạ.

Và trải qua hai cái Tết cô lo cho tôi mà không về quê.

Tôi thấy cô mặc toàn quần áo cũ nhưng tôi không bao giờ có ý định mua sắm hoặc gợi ý cho cô mua sắm. Có hôm tôi đưa tiền công cho cô và nói:

- Cô xem có cần mua sắm gì không?

Cô không tỏ thái độ vui mừng, nhưng tay vẫn cầm tiền.

- Thưa cậu, cậu giữ hộ cháu, lúc nào cậu cho cháu một thể, cháu giữ sợ mất lắm!

Hình như cô Lụy trước kia xem anh chị tôi là nơi nương tựa chính và nay cô chỉ còn biết nhìn vào tôi. Nhưng qua cái rụt rè ngần ngại, tôi có cảm giác cô không thể đặt nơi nương tựa ấy vào tôi. Cái gì đã gây cái nhìn ngắt quãng ấy ở cô?

Tôi trả lời:

- Cậu đừng quên rằng ngày ấy cô Lụy xem mình là người ở và cậu là cậu chủ. Hơn nữa cậu chủ lại là cậu đốc.

Cái danh hiệu "cậu đốc" mà xã hội lúc bấy giờ đã phong quá sớm cho các sinh viên trường Y đã tạo ra khoảng cách chết người ấy.

Hiền tiếp theo tôi:

- Và điều ấy thật ra cũng đã có ở tôi, nó ẩn trong suy nghĩ của tôi và tôi cũng không hề muốn xua nó ra khỏi cách suy nghĩ của mình.

Tôi bảo Hiền: tuy nó không hay nhưng cần thiết cũng chẳng nên xua nó vì chính nhờ nó mà cậu không giống Nghị Hách trong Tắt đèn, cũng chính nhờ con đường mòn nghiệt ngã ấy đã định hình cuộc sống của cậu để cậu không rơi vào những lỗi lầm đáng tiếc.

Hiền nói:

- Nhưng vì nó mà điều đáng tiếc ấy vẫn cứ đến, không cách này thì cách khác.

- Vậy cậu chọn cách nào?

- Thật ra tôi không phải là người muốn chọn!

Ðêm rừng và trăng rừng lạnh buốt. Tiếng hoẵng kêu, tiếng nước lần róc rách rơi trên bản xa. Hiền nói tiếp:

- Tôi phải nói với cậu rằng sự có mặt của cô Lụy đã làm cuộc sống học hành của tôi ổn định từ ăn mặc, giường chiếu. Có lúc tôi nghĩ đến những câu chuyện về một người đẹp trong quả thị hoặc trong tranh bước ra ngoài đời để giúp đỡ lo toan mọi việc cho tôi; cô Lụy ở trong nhà như một cái bóng nhưng một cái bóng có hồn. Có hôm tôi đang học bất chợt ngẩng đầu thấy cô im lặng nhìn tôi, một cái nhìn huyền bí của một ngôi sao lạ, của một kẻ ước nguyện một điều gì. Trong trường hợp như thế tôi lại im lặng cúi đầu xuống sách.

ở những người nghệ sĩ, nhìn một thực thể đẹp là cái đẹp ấy được chuyển vào tranh: từ một mỹ nhân đến con gà, con bướm, từ một cái hoa đến đôi giầy rách, từ một lá cỏ đến một ngọn sóng, tảng đá...Cái đẹp ở các cậu không thông qua một lăng kính méo mó của xã hội nhưng những người như chúng tôi thì không có được cái giáo dục thẩm mỹ toàn diện ấy. Hiền thở dài:

- Cô ấy đẹp, nhưng chính tôi cũng không hiểu vì lẽ gì mà mình không dám nhích lên một bước dù là một bước rụt rè.

Có một hôm tôi vào nhà Bách hóa Gô-đa (3). Tôi đi xem các hàng xa xỉ, nước hoa, cà-vạt, đồng hồ... bỗng tôi nhìn đến một chiếc áo con nịt ngực, chiếc áo đặt trên ngực một hình mẫu đẹp, tôi nghĩ đến bộ ngực cô Lụy. Tôi rụt rè hỏi giá, cô bán hàng nhìn tôi cười:

- Anh dùng à?

Tôi lần đếm số tiền dạy học vừa nhận được đắn đo chưa dám trả lời thì cô bán hàng đã lấy chiếc áo đặt vào tay tôi và nói:

- Nếu tặng thì đẹp, nếu dùng cho anh thì hơi rộng.

Tôi cũng nhạt nhẽo cười theo vì số tiền phải trả tương đương với mười ngày ăn! Tôi đem chiếc áo về nhà đặt lên bàn. Một hôm đi học về trước giờ, tôi thấy cô Lụy mân mê cầm chiếc áo lên xem, lúc quay lại thấy tôi, tôi cảm thấy cô vừa xấu hổ lại vừa sợ hãi đặt vội chiếc áo xuống bàn và định chạy xuống bếp. Tôi cầm chiếc áo đưa cô:

- Cô cất cái này vào tủ hộ tôi, tôi quên để ở bàn.

Cô đáp:

- Cháu cũng định cất, nhưng không thấy cậu bảo nên không dám.

Cô đem chiếc áo cất vào tủ và nói khẽ:

- Ðẹp thế!

Thế là chiếc áo được cất vào tủ. Cậu sẽ hỏi tôi tại sao lại mua? Mua để làm gì? Và tại sao lại không tặng cô ta?

Tôi cũng họa theo:

- ừ, tại sao cậu không tặng cô ta?

Hiền đáp:

- Tôi không thể tặng một cách tùy tiện như vậy, thứ nhất tại vì gái quê người ta vẫn dùng yếm, lẽ thứ hai có thể là cái lẽ làm tôi không tặng cô ta được vì có một nhà văn Pháp nào đó mà tôi quên tên có nói: Nếu một kỷ vật anh tặng mà không gửi gắm vào đấy một phần của tâm hồn mình thì món quà tặng ấy sẽ thành một món cho vô lễ và trịch thượng. Tôi không dám đưa mặc dù tôi nghĩ rằng cô Lụy mặc sẽ vừa. Nhưng nếu cô mặc thì chuyện gì sẽ xảy ra?

Tôi nói với Hiền:

- Trong quan hệ, cậu dở sách ra đọc từng dòng để chiếu theo đó mà đối xử giữa con người với nhau thì quả cậu là một ông đồ Tây thật sự rồi.

Hiền đáp lại có vẻ trách móc:

- Cậu sẽ nghĩ thế nào về tôi nếu tôi gửi gắm vào món quà "thân tình" ấy một phần của tâm hồn mình? Thì điều ấy sẽ là một trò đùa giả dối hay một trách nhiệm? Tôi sợ một trách nhiệm, cũng sợ một trò đùa giả dối ngang thế. Ðó là phần suy nghĩ của tôi, còn cô Lụy nghĩ thế nào về tôi?

Hằng ngày tôi vẫn bắt gặp cô khóc một cách thầm lặng. Nếu nói rằng vì tôi mà cô Lụy buồn thì quả là một suy đoán quá chủ quan nhưng nếu vì gia cảnh thì sự việc xảy ra cũng quá lâu rồi bởi theo lời anh chị tôi thì bố mẹ cô có một bè vó, năm lụt to bè vỡ, hai ông bà mất tích, cô Lụy trôi dạt vào bến nhà thờ xứ. Ðược cứu vớt và năm 1938 cô lên Hà Nội, anh chị tôi gặp cô ở chợ người Ô Cầu Dền và đưa cô về nuôi.

Có một hôm tôi đi dạy về rất khuya cô vẫn ngồi chờ ở cửa, im lặng như một pho tượng. Khi thấy tôi về cô đứng dậy và hỏi:

- Cậu xơi cơm chưa ạ?

Cô dọn cơm, tôi ăn xong thì vừa đúng 12 giờ đêm.

Sáng hôm sau, lúc tôi vừa dậy thì đã thấy cô Lụy xách một bọc nhỏ đựng một ít quần áo. Tôi chưa kịp hỏi thì cô đã nói:

- Thưa cậu, cháu xin phép cậu về quê.

Tôi nghĩ: ngay cả ngày Tết cô cũng không về quê, sao ngày thường cô lại xin về quê? Mà quê cô ở đâu, tôi biết hỏi cô, cô sẽ không trả lời, giữ cô ở lại cũng không được, tôi đành nhận lời cho cô về. Tôi đưa tiền công, cô cầm tiền và bỗng oà lên khóc. Nhân thể tôi nói thêm:

- Ra đi mà buồn thế thì cô về làm gì?

Cô ấp úng trong nước mắt:

- Không phải cháu buồn đâu ạ.

Tôi tiễn cô ra ga Hàng Cỏ về Nam Ðịnh. Tôi hỏi cô:

- Về Nam Ðịnh rồi cô về đâu?

- Cháu về Cổ Lễ, Nam Hồng.

- ở đấy có ai?

Cô đáp:

- Có ạ.

Ðến giờ tầu chạy, cô chào tôi vừa khóc vừa nói: Trời rét cậu đừng đi đêm nữa!

Tầu rời ga.

Tôi về nhà bỗng cảm thấy trống trải, không có người chờ đón, không có người mong đợi. Và điều làm tôi không ngờ đến là sự vắng mặt của cô Lụy, đã có một ảnh hưởng rất lớn trong nếp sống hằng ngày của tôi. Cô Lụy đột ngột ra đi, ở tôi bỗng có cái gì hẫng hụt, mất cân bằng. Cái ấy là cái gì? Một nếp quen, một phản xạ hay là một tình cảm chưa được định hình?

Nhân một đợt thực tập ở vùng quê, tôi xin đi Nam Ðịnh. Nếu nói là nhớ thì chưa hẳn đúng, nhưng mục đích tôi xin đi Nam Ðịnh là để nhân cơ hội tìm cô Lụy.

Tôi về Cổ Lễ hỏi một sư nữ, tôi được biết cô Lụy có đến xin nhà chùa ở nhờ. Sư bà nghe cô Lụy ở Hà Nội về nên từ chối. Không nơi nương tựa, không có giấy tùy thân, lý trưởng Nam Hồng thấy cô xinh đẹp nên đã ép cô làm lẽ hắn. Sợ vợ cả ghen nên đã đem gửi cô Lụy nay đây mai đó những nơi quen biết. Tôi tìm được ra nhà cô ở - một cái lều tựa vào một bức tường sắp đổ, một chiếc chiếu che bên ngoài thay cửa. Trong nhà le lói một ánh lửa bếp. Khi thấy tôi cô kêu lên:

- Ôi! Cậu, cậu...

Tiếng gọi tuy là chào nhưng vẫn ẩn một lời cầu cứu! Cô bảo tôi:

- Nhà chỉ có ổ rơm, cậu đừng vào, cháu đứng đây với cậu. Tôi nhìn cô Lụy mắt thâm đen, đôi môi cánh cung khô và nhợt nhạt. Cô Lụy quay người nhìn thẳng vào mắt tôi. Có lẽ lần đầu tiên đôi mắt ấy đã chạm vào người tôi, tâm hồn tôi. Tôi không biết nói gì và cũng không biết hỏi gì cô. Tôi chỉ biết là cô đang khóc. Tại sao suốt cả đời chỉ lấy khóc thay lời nói? Và nếu nói được thì cô sẽ nói điều gì?

Cô nói:

- Cậu nghỉ trên tỉnh, vậy cậu về kẻo muộn, cháu sẽ lên cậu.

Tôi mừng và hỏi lại. Cô Lụy đáp:

- Cháu không dám dối cậu, nhưng...

Tôi hỏi tiếp:

- Nhưng làm sao?

Cô vừa khóc vừa trả lời:

- Thưa cậu, không làm sao cả ạ, cháu sẽ lên cậu.

Tôi đưa cô một số tiền để đi tầu xe và chào cô ra về, tôi dặn với:

- Cô nhớ lên trong tuần sau, tôi chờ!

Tôi quay lại nhìn cô Lụy, bóng dáng một con người tiều tụy trong hoàng hôn le lói ở Nam Hồng là hình ảnh cuối cùng của cô còn lưu lại trong tôi.

Tôi về Hà Nội, đếm từng ngày chờ cô. Hai tuần trôi qua, và một tháng trôi qua cô Lụy vẫn không lên.

Sự chờ mong đã đưa đến lo lắng và lo sợ. Vào những năm bốn mươi nhiều nơi trên miền bắc có dịch sốt chấy rận, người chết nhiều. Dịch cũng bắt đầu vào đến Hà Nội.

Phần đông các xác là bệnh nhân vô thừa nhận ở các nhà thương làm phúc đưa về. Tôi dặn bác Năm người chọn nhận xác ở bệnh viện:

- Bác cẩn thận nhé, đừng lấy xác người bị bệnh chấy rận.

Hôm ấy tôi vào viện thì bác Năm cho biết vừa nhận thêm ba xác của nhà thương Bạch Mai và đã đánh số làm thủ tục. Họ chết trên tầu từ Nam Ðịnh đến đầu Ô, nhân viên xe lửa cho xuống nhà xác Bạch Mai.

Tôi xuống sân rửa xác. Người phụ nữ nằm úp sấp trên sàn mang số 2. Không hiểu tại sao khi nhìn xác này tôi có linh cảm lo sợ. Bác Năm lấy vòi nước phun vào các xác người và xác được lật ngửa lên. Bỗng dưng tôi hốt hoảng bảo bác:

- Thôi bác đừng phun nữa!

Nhìn bác Năm ngơ ngác tôi bảo:

- Bác cho xác số 2 vào thang đưa lên phòng tôi. Tôi đeo găng đẩy xác lên bàn, dùng cồn rửa sạch xác, và nhìn kỹ.

Cô Lụy!

Vẫn khuôn mặt ấy, tóc rụng gần hết, mắt nửa nhắm nửa mở. Tôi lấy tay vuốt mắt cho cô, đôi mắt vĩnh viễn không còn khóc nữa. Tại sao nên nông nỗi này? Tôi đoán cô Lụy ốm từ Nam Hồng. Hiện tượng rụng tóc có thể là bị thương hàn, cô lần đến Nam Ðịnh để đi Hà Nội nhưng trên tầu gặp lạnh, cô đã quá yếu nên chết dọc đường.

Cô nằm trên bàn xác không quần áo, tôi cảm thấy Con Người đã đối xử quá tàn nhẫn với Con Người. Tôi vội cởi chiếc áo bờ-lu đang mặc đắp lên người cô, và tìm chiếc quần của y tá trực mặc vào cho cô. Tôi gọi bác Năm và nói khẽ:

- Bác không ghi xác này trong sổ, tiện lên phố bác mua cho tôi một cỗ áo, đặt cho tôi một huyệt ở nghĩa trang gần đây và thuê cho tôi một xe đám.

Bác Năm có vẻ không hiểu tại sao nhưng vẫn đi làm.

Thấy hai tay cô vẫn co quắp, tôi lấy cồn nắn thẳng lại và đặt lên ngực cô. Khi làm cử chỉ ấy tôi nhớ đến cái yếm cô vẫn mặc và chiếc áo con tôi đã mua dạo nào. Tôi vội vàng lấy xe chạy về nhà, chiếc áo ở góc tủ vẫn y nguyên như ngày nào cô Lụy đã đặt nó vào đấy. Tôi đến phòng xác, mặc chiếc áo con vào ngực cô. Có lẽ đấy là món quà tặng, tặng cho con người chỉ còn là một cái xác. Món quà đánh dấu một hối hận, một sơ lỡ của tôi. Tôi muốn nói lên một lời với cô nhưng với một nỗi ân hận khôn nguôi tôi cảm thấy mình đã sai trái với cô, một sai trái không hành động, giờ đây nói bất cứ điều gì tôi thấy mình giả dối! Hối hận nào cũng là điều muộn mằn.

Tôi kéo ghế ngồi bên cạnh cô, cố tưởng tượng ra những điều cô có thể nói mà không nói được. Những đêm dài lịch sử không được ghi chép đâu có nghĩa là không có cuộc sống và sự im lặng không có nghĩa là con số không.

Ðến giờ phút này tôi mới thấy được hết ngôn ngữ của sự im lặng. Người thầy mà lúc này đang là một cái xác vô thừa nhận đã dạy tôi những điều trên: Im lặng cũng là lời nói.

Tôi đứng dậy nhìn cô và lấy miếng gạc trắng đắp lên mặt cô.

Bác Năm đưa cỗ áo lên bằng thang máy. Tôi đặt cô Lụy vào áo quan. Xe tang đang chờ ở cổng sau.

Tôi đi theo chiếc xe tang lên dốc đê Lương Yên về nghĩa trang Hợp Thiện. Huyệt đã đào sẵn, mộ đắp xong tôi sực nhớ đến tấm bia. Tôi quay ra đầu cổng mua một bia đá và nhờ người thợ đục chữ Lụy trên mặt bia. Cái điều duy nhất mà tôi được biết về cô chỉ là chữ "Lụy" ấy.

Ai là người đã đặt cho cô cái tên ấy - cái tên đã làm cho người mang "lụy" cả cuộc đời. Riêng tôi từ ngày ấy "Lụy" đã nhập vào đời tôi như một nỗi đau mãn tính...

Không nói gì thêm, Hiền đứng dậy cùng tôi về quán trọ. Gà rừng đã te te gáy. Sáng hôm sau, chia tay nhau, Hiền đi chợ Rã, tôi về Ðại Từ. Từ ngày ấy không còn gặp lại nhau. Không biết Hiền ở đâu.

Hà Nội, 10-1997
T.D

_______________________

(1), (2): Nay là đường Tô Hiến Thành và Triệu Việt Vương

(3): Nay là Mậu dịch Quốc doanh Tràng Tiền




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Họ đã trở thành đàn ông

Phạm Ngọc Tiến

I

Tiếng người dẫn chương trình rành rọt vang trên loa phóng thanh:

- Sinh viên năm thứ tư khoa Văn trường đại học X, Phạm Vân Ngọc với tham luận: "Sự hy sinh - Những giá trị đích thực của nó thông qua số phận người phụ nữ trong chiến tranh giữ nước".

Ðã gần hết giờ buổi sáng của hội thảo khoa học sinh viên khoa Văn các trường đại học. Hội trường ồ lên - Lại chiến tranh, đây có phải văn đàn đâu, lật xới làm gì mảng hiện thực cũ mèm ấy - Rách việc thế, chiến tranh thì can hệ gì đến hội thảo khoa học này - Mà biết quái gì về chiến tranh - Nữ sinh viên Vân Ngọc thoáng chút ngập ngừng. Rồi cô mạnh dạn từng bước một, đĩnh đạc tiến lên bục diễn đàn. Dáng vẻ dứt khoát ấy, cộng vào tà áo dài trắng tha thướt và một khuôn mặt đẹp dịu dàng, bất ngờ làm hội trường ồn ã ắng hẳn đi. Bằng một giọng run run, cô trình bày quan điểm của mình dựa trên các luận cứ khoa học đã được thử thách và một loạt dẫn chứng minh họa. Tham luận rất ngắn. Thoạt đầu chẳng có gì đáng nói. Hội trường im lặng. Thứ im lặng miễn cưỡng và có phần thờ ơ. Vấn đề không mới. Sự hy sinh ấy thời gian đã nghiền ngẫm nó đầy đủ. Chỉ đến phần cuối cùng của tham luận, nữ sinh đặt vấn đề trên nền một dẫn chứng cá biệt, lạ lẫm thì hội trường hoàn toàn sôi động. Có mặt ở cuộc hội thảo, ngoại trừ số ít các nhà văn, nhà lý luận, nghiên cứu và giảng dạy văn học, còn đa phần sinh viên. Cô ta nói gì thế nhỉ? Sao lại thế? Hơn một nửa số người có mặt rầm lên phản đối. Tham luận kết thúc trong tiếng bàn tán, bất bình. Cô gái sững sờ. Mặt cô từ đỏ bừng chuyển dần sang trắng bệch. Phản ứng mạnh mẽ và đột ngột của người nghe khiến cô chôn chân, chết lặng. Phải đến mấy giây cô mới bừng tỉnh được. Giọng nói ai đó căng như loạt liên thanh quất mạnh vào khuôn mặt đang ngơ ngác của cô: "Ðảo lộn mọi giá trị. Không cần sự hy sinh nhơ nhuốc ấy. Ðiên!". Cô gái rùng rùng người rồi đổ sập xuống. Một tích tắc. Cô bật dậy cũng rất nhanh, ào chạy khỏi hội trường. Vấp. Ngã. Lại vấp. Hội trường ắng đi, ngột ngạt. Không đành được, tôi băng theo. Có một cái gì đó ào ụp trên khuôn mặt ngây thơ của cô gái. Cô lau thật nhanh những giọt nước mắt đang tứa ra. Khoảnh khắc. Giọng cô gấp gáp:

- Chú! chú từng là người lính, từng cầm bút. Chú trả lời cháu đi. Chiến tranh đã lâu sao mọi người quên nó nhanh đến vậy? Tại sao không chấp nhận sự hy sinh nhiều thua thiệt ấy? Ðạo lý ư, chiến tranh mà, tại sao lại coi điều đó làm hoen ố chiến thắng? Trả lời cháu đi, kìa chú!

- Cha cháu là một trong những người đã trở thành đàn ông khi đi qua cuộc đời cô ấy. Chú đã biết điều đó. Sao chú vẫn im lặng. Chú cần phải biết thêm điều này. Mỗi khi gặp khó khăn tưởng chừng như phải gục ngã, bao giờ cha cháu cũng gượng dậy bằng được. Vì cái gì? Chính vì người đàn bà năm trước. Cho dù thời gian đã qua đi, nhân cách của cô ấy không hề bị hoen ố.

Im lặng.

- Tại sao thế? Không! không! chú trả lời cháu đi. Ðừng im lặng, chú. Cháu van chú. Sao? chú nhẫn tâm thế. Ðộc ác!

Im lặng.

Tôi xiết chặt tay cô gái. Bằng một sức mạnh của sự đổ vỡ, cô vằng khỏi tay tôi và vùng chạy thật nhanh. Tôi đứng lại. Loa phóng thanh lại vang rành rọt:

- Sinh viên năm thứ tư trường đại học Z Nguyễn Trung Hiếu với tham luận: "Thi pháp ảo trong thơ điên của Hàn Mặc Tử".

II

Năm ấy chị hai mươi hai tuổi và tròn một tuổi quân.

Ðó là quãng thời gian ác liệt nhất của chiến tranh chống Mỹ. Binh trạm của chị nằm kề sát mặt trận. Những đoàn quân sau chặng dài hành quân mệt mỏi, nằm tập kết tại binh trạm để rồi tỏa ra khắp các hướng chiến trường. Chị là chiến sĩ quân lương. Kho của chị nằm giữa một cánh rừng đại ngàn. Tiếng là đại ngàn sóng bom đạn đã phát đi quang quẻ những tầng cây rậm rịp. Vào đến đây số chiến sĩ nữ như chị thật hiếm. Cả binh trạm vài trăm con người chỉ có dăm người là nữ. Duy nhất chị là người thành phố. Chị không đẹp - Ðấy là chị tự đánh giá mình. Ðiều ấy đúng, nếu như chị vẫn còn ở thành phố quê hương. Nhưng ở đây, giữa hoang vắng của rừng rú, giữa nghiệt ngã của chiến tranh với vóc dáng thon thả, tóc đen mượt, nước da trắng của người thành phố lại chưa trải qua sốt rừng, chị là người đẹp nhất. Sát kho chị có một con suối. Nước lặng phắc, trong vắt. Suối không sâu nhìn thấy cả ánh vàng dưới đáy. Chị có thói quen tắm buổi sáng. Vì thói quen này chị bị phê là tiểu tư sản. Cái đó là tất nhiên đối với người chiến sĩ nữ là người thành phố. Chị có học. Văn khoa hẳn hoi. Dở đại học thì tình nguyện đi vào chiến trường.

Sáng ấy!

Hình như đã sang thu, trời lành lạnh. Mặt trời chưa lên. Sương bàng bạc. Nước bàng bạc. Da thịt chị cũng bàng bạc. Tất cả bàng bạc một mầu tinh khiết. Chị bất động giữa dòng suối như một pho tượng tạc vào thiên nhiên, im lặng tận hưởng đến cùng ban mai trong trẻo. Không có chiến tranh, không có phiền não, không có ưu tư... Mọi thứ vào giờ khắc ấy, dường như bị đẩy lùi, tan biến. Chị khỏa nước thật nhẹ. Bỗng chị ngồi thụp xuống. Có tiếng soạt khẽ. Vút từ ngọn búi lồ ô ven suối một chú gà soạch thẳng vào rừng. Ðã sáng. Chị từ từ xoay lưng lại. Linh cảm phụ nữ mách bảo có người nhìn trộm thân thể chị. Giọng nói trẻ xoáy vào hõm đá.

- Ðẹp quá! hệt như thần vệ nữ.

- Vệ nữ thì tao không biết nhưng hơn đứt bọn con gái quê tao.

- Mày nhìn trộm chúng nó à?

- Không, quê tao trai gái đều tắm chung cầu ao. Dưng mà không được trắng thế kia - Có tiếng thở dài.

- Lần đầu tiên tao được nhìn con gái rõ đến thế.

- Tao cũng vậy thôi.

- Tao chưa có người yêu đã đành. Còn mày, lẽ ra đã cưới trước khi đi B, tưởng mày phải biết?

- Mày ngu thế, dễ cứ yêu là lột trần con người ta ra được à? Ðừng hòng! - Giọng nói trầm hẳn xuống - Nếu muốn, tao có thể đã biết được cô ấy. Tội nghiệp, cứ giục cưới, mày bảo mình đi biết bao giờ về. Con gái có thì, tao không muốn cô ấy cột vào mình, để phải đằng đẵng chờ đợi. Bom đạn thế này biết cái gì sẽ xảy ra. Tao nhất quyết không chịu cưới. Trước hôm đi hai đứa dắt nhau ra đồng bãi, ngồi đến sáng. Cô ấy tức tưởi khóc. Thương quá. Cô ấy bảo không cưới cũng được, cứ để lại cho cô ấy một đứa con. Chiến tranh kéo dài bao lâu mặc kệ. Tiếng tăm, dư luận mặc kệ. Khổ thế nào cô cũng chịu được. Cô sẽ nuôi con chờ đợi. Bao nhiêu năm cũng vẫn đợi. Thú thật, có giây phút tao đã xiêu lòng định tặc lưỡi. May kìm được. Chắc cô ấy sẽ hiểu. Sau này dù thế nào, tao cũng nhất định tìm về cô ấy. Chỉ tiếc, có mệnh hệ gì...

- Suỵt, khẽ chứ. Ai nghe được thì chết. Tao cũng đang định nói. Ðất nước loạn lạc, mình thân trai xông pha mũi tên, hòn đạn là phải.

Nhưng bom đạn biết đằng mù nào mà tránh. Tao ở thành phố, nhà không đến nỗi, lại được chiều chuộng, cái gì cũng biết cả. Hiềm một nỗi, bây giờ có nằm xuống, mình, tiếng là thằng trai lừng lững mà chưa được thành đàn ông, kể cũng tiếc.

- Thôi ra đi mày, lấy nước rồi còn về. Từ từ thôi kẻo lộ, ngượng chết.

Chị không bỏ sót lời nào. Mắt chị hút theo bóng hai người lính trẻ. Chị đã quên bẵng họ vừa trộm nhìn chị. Ðoạn đối thoại vô tình của hai người lính tác động ghê ghớm đến chị. Người chị ớn lạnh. Chị rùng mình. Sao nước suối bỗng dưng lại lạnh buốt thế này? Toàn thân run rẩy, chị bấu chặt tay vào gờ đá sắc cạnh. Chị nghiến chặt răng, cố đẩy lùi cảm giác buốt tê tái đang dần chiếm cơ thể chị. Có thể thế được chăng? Tại sao chị không hiểu ra điều ấy. Anh ơi, linh hồn anh có phiêu bạt, lang thang ôm niềm tiếc nuối kia không? Chị thấy mình chới với. Không! Ngã xuống là chết. Chị vận hết sức gượng dậy. Lạnh quá. Người chị rùng rùng đón nhận trăm, nghìn mũi kim buốt giá đâm vào da thịt. Không biết bằng cách nào chị lên được đến bờ, mặc quần áo và lết về đơn vị. Chị ngã vật ra sạp hầm bất tỉnh.

*
* *

Chị thấy chòng chành. Người chị nảy lên rồi giần xuống. Bom gì lạ thế. Thôi chết, sao người chị lại trôi đi thế này. Sập hầm rồi. Không phải. Chị đã bị sập hầm một lần. Chị vẫn còn nhớ. Ngạt lắm. Toàn thân bị chèn cứng. Tay chị bươm bả, quào, móc. Tất cả tối đen. Chị gắng sức gào thật to. Không được. Chị cố gắng nghĩ đến một điều gì để dẹp nỗi sợ hãi. Mẹ chẳng hạn. Không, tội nghiệp lắm. Chắc chắn mẹ không thể chịu đựng được khi thấy tình cảnh này của chị. Bố vậy. Bố hy sinh ở Ðiện Biên. Chị chưa một lần biết mặt bố. Bộ đội hay nhỉ. Có dịp đáo qua nhà, gửi lại đứa con, rồi đi biền biệt không về. Không ổn. Bố lắc đầu: "Nhà có mỗi mình con, đừng chết". Tốt nhất là nghĩ đến điều khác. Anh. Ðúng rồi, anh cũng chết trong một trận bom tọa độ. Bom đánh trúng hầm. Ðồng đội vất vả mới đưa được xác anh lên mặt đất. Tay anh vẫn khư khư chiếc bút máy Trường Sơn chị tặng. Có lẽ lúc ấy anh đang miệt mài với trang bản thảo. Nghĩ đến đấy, chị bỗng thấy trời lóe sáng. Chị nhắm chặt mắt. Có tiếng người lao xao. Ðồng đội ơi. Người chị nhẹ bẫng. Sống rồi, chị òa khóc.

Ơ, sao người chị cứ trôi mãi thế n๠ଠchị đang đu quay ở công viên. Bị chóng mặt, sợ quá, chị thét lên gọi mẹ. Không phải mẹ. Mẹ không bao giờ áo trắng, mũ trắng. Tiếng ai đấy nhỉ? Lạ lắm: "Bốn mốt độ bốn. Mê sảng". Bóng trắng nhòa đi. Chị trôi nhanh hơn. Hóa ra chị bị sốt. Ðâu thế kia? Cầu Long Biên. Phải rồi. Vẫn còn khói bom khét lẹt. Cầu vừa mới bị bom bứng đi mất một nhịp giữa. Tiếng ai đó: "Trung đội khoa Văn đâu rồi? Nhanh lên. Văn với viết các bố là chúa lề mề đấy". Cháy. Rốc két bắn vào khu lao động Phúc Tân. Cháy ghê quá. Chị chạy ra mép sông. Xác một con đò vật vờ trên sóng, một đầu dềnh vào bãi cát. Chị chõ loa xuống mặt nước: "Có ai bị thương không?". Sông rền rền hú lại: "... Thương... Không...". Chị bật cười. May, ai nhìn thấy thì chết. Ðồng bào đang lâm nạn, mình lại cười, vô duyên thế. Anh vẫn mắng đùa chị vô duyên. Ghét thật. Ði mà tìm duyên khác mặn mòi. Mẹ bảo: "Con gái vô tâm hay cười, sau này lấy chồng sẽ khổ". Mẹ ơi, thế thì con sẽ ở với mẹ suốt đời, lấy chồng làm gì cho khổ. Nhưng kệ, khổ mà được cười là tốt rồi mẹ ạ.

Chị vẫn trôi nhanh. Bây giờ có cảm giác chị bay thì đúng hơn, chị đã lên đến sân thượng. Anh đâu rồi, chậm thế. Ban nãy chị hỏi: "Có dám lên sân thượng chết cho tình yêu không?". Trả lời: "Mai tớ đi B rồi. Sợ đếch". Chị từ nơi trường sơ tán cố về kịp để tiễn anh. May quá, còn trọn cả một đêm. Ngồi cạnh nhau, chị muốn tựa vào anh mà vẫn cố tình nhích xa thêm. Ðiệu thế mới là con gái. Anh hỏi: "Học khổ không?". Vờ vẫn, ai chả biết vừa tốt nghiệp đã được bổ làm phóng viên mặt trận. Ðây mới năm thứ ba. Thời gian nhanh lắm nh讠"Ờ nhanh, nào hôn đi". Phải mọi khi xem, chị sẽ làm bộ giận. Còn hôm nay, chị ngả hẳn người vào anh. Người đâu tham thế, ngạt quá. Còi hú. Mặc kệ. Còi lại hú. Báo động cấp ba rồi. Mặc kệ. Xoẹt trên đầu, sao nó bay thấp thế. Ðạn cao xạ lừ lừ bay, nở đầy trời. Bom nổ, hắt lên những quầng sáng vàng vọt. Ngôi nhà tầng chao đảo. Anh áp thân thể che kín người chị: "Xuống nhé?". Không, chị lại cồn cào tìm môi anh. Mảnh văng rào rào. Anh gằn giọng: "Thôi đi xuống . Nguy hiểm lắm". - "Anh sợ à?". - "Không. Anh lo cho em". Chị lắc đầu. Giọng chị xa xôi: "Em muốn ở bên anh mãi mãi". Lòng chị rộn ràng, chị xiết chặt anh như muốn truyền sang cho anh tất cả những gì chị có. Tình yêu. Cả thành phố lửa cháy rừng rực. Sân gác thượng hồng lên. Bỗng chị thảng thốt:

- Không! Không được đâu anh.

- Anh yêu em!

- Ðừng, đừng. Ðó là điều thiêng liêng. Em không muốn nó xảy ra vào lúc thảm khốc này.

- Em yêu. Mai anh đi rồi. Vào lúc nào nữa?

- Bao giờ chiến thắng, anh về và cưới em.

- Nhưng bao giờ thì chiến thắng. Mười năm hay một trăm năm?

- Em không biết.

- Chả nhẽ chúng mình cứ phải đợi mãi?

- Ðừng, đừng nói thế. Hãy tin em. Tình yêu của em.

Sau đó chị khóc rất lâu. Anh thầm thì xin lỗi. Không, anh không có lỗi gì cả; Chúng mình yêu nhau cơ mà. Em chỉ muốn...

Hừng đông đã rạng. Chị thấy thương anh vô cùng. Thành phố lúc ban mai trở nên yên tĩnh lạ thường. Dường như tất thảy những gì xảy ra trong đêm đều không phải là sự thật. Chị thấy tĩnh tâm trở lại. Anh cũng thế. Cái đêm đau đớn ấy của chiến tranh như đã lùi thật xa. Anh nồng nàn hôn chị. Chị hiểu rằng nỗi đau đớn của chia ly bây giờ mới thực sự bắt đầu.

*
* *

Trận sốt ác tính quật chị nằm hơn hai tháng trời tại bệnh viện của mặt trận. Bệnh tật tàn phá ghê gớm cơ thể chị. Nhưng điều đó cũng chẳng quan trọng lắm. Câu chuyện xảy ra bên bờ suối sáng ấy hằn vết vào tâm hồn chị. Chị nhớ lại ngày nhận được tin anh hy sinh. Chị đã nấc lên. Nấc nghẹn ngào mà không hề có nước mắt. Thì ra thế, nước mắt không thể dành cho những nỗi đau đến tận cùng. Anh ơi, đau đớn quá. Thời gian nào có xa, mới chỉ cách đêm chia tay không đầy ba tháng. Người chị rộc đi. Chị sụm xuống. Có lẽ những ngày ấy nếu không có mẹ, chắc hẳn chị đã hoàn toàn gục đổ vì tuyệt vọng. Tấm lòng của người mẹ từng nếm trải đau đớn của mất mát, với nỗi cảm thông vô bờ, đã tỏa truyền hơi ấm, sưởi nóng trái tim, tưởng chừng đã lạnh băng của chị. Chị xin phép mẹ đặt ảnh anh lên bàn thờ bố. Rồi chị tình nguyện vào chiến trường. Mãi mãi chị biết ơn mẹ. Chiến tranh khốc liệt đã nhanh chóng cuốn chị vào guồng quay khổng lồ của nó. Chị hy vọng bằng trách nhiệm của người lính, bằng thời gian chị sẽ phần nào nguôi ngoai nỗi đau đớn mất anh. Nhưng buổi sáng khắc nghiệt ấy đã tàn nhẫn quất mạnh vào vết thương của chị. Vết thương chưa kịp lành miệng lại bật ra, túa máu. Anh có thế không? Nếu linh hồn anh đang lang thang với niềm tiếc nuối kia thì chị quả là có tội. Sao đêm ấy, chị không dâng hiến tất cả sự trinh bạch của đời con gái cho anh? Sao lại không? Chị ân hận quá chừng.

   Ý nghĩa ấy ám ảnh dày vò chị. Buổi rời viện về đơn vị, một mình trên con đường mòn xuyên rừng, nỗi ám ảnh ấy càng gia tăng khủng khiếp. Cứ mỗi bước đi, chị lại thấy anh ở đâu đó. Lần thì chị thấy anh thấp thoáng sau một gốc săng lẻ già. Tiếng anh thoảng trong gió: "Anh yêu em". Có lúc chị lại thấy anh bị treo lơ lửng giữa những tầng cây. Người anh đầy máu. Tiếng anh đứt quãng: "Bao giờ thì hòa bình hả em?". Chị cố bước thật nhanh không dám trả lời. Trong hoang vắng của rừng, cái hoang vắng mà từ lâu chị đã quen thuộc không hề sợ hãi, nỗi ám ảnh ấy cứ lớn mãi, lớn mãi, dày vò chị không ngừng. Có lúc không đành được chị phải dừng lại. Vẫn anh, cánh tay băng bó và khuôn mặt đầm đìa máu, tay kia anh thả từng trang bản thảo. Gió tạt những tờ giấy về phía chị. Tiếng anh: "Ðọc đi em. Nhật ký chiến trường đấy. Có em nửa phần trong ấy". Chị ôm lấy đầu. Chị không thấy sợ hãi. Càng tuyệt nhiên không thấy trống vắng. c��273;ơn. Ý niệm c��273;ơn kể từ ngày anh mất đã không còn tồn tại trong chị. Chị dừng lại giản đơn chỉ vì thấy tủi thân quá. Chị òa khác. Lẫn trong nước mắt, trong tiếng nấc nghẹn ngào, là âm thanh tức tưởi: "Nhưng tôi có tội tình gì?". Không có ai trả lời chị. Chị khóc càng lớn. Nỗi tủi quạnh dâng đầy. Khóc chán chị lại đi. Bây giờ chẳng có ai dỗ dành chị cả.

Mẹ ở xa quá. Chị đi đến bờ một con suối rất rộng. Trong veo. Chị ngắm mình dưới nước. Chị bàng hoàng không nhận ra nổi mình. Sau cơn sốt chị như già đi hàng chục tuổi. Chị thấy cả bóng anh bên cạnh, anh tư lự. Chị thảng thốt: "Anh chán em rồi sao?". Thoắt cái bóng anh biết mất. Chị sợ hãi ngẩng tìm. Anh đã ở bên kia con suối. Tiếng anh xa rền: "Yêu em mãi đến ngàn năm". Anh vừa dứt lời, nước suối bỗng réo ùng tục. Tiếng nó rên rỉ phía thượng nguồn. Ðất dưới chân chị rùng rùng chuyển. Nước biến thành mầu máu đỏ, ào lên. Thôi chết, lũ, lũ lớn. Chị quáng quàng quay trở lại. Nước bén gót. Chị bám vội vào một thân cây leo thật nhanh. Bỗng chị giật mình. Có tiếng người ở trên cao: "Ðừng sợ lính T10 đây. Chị ở kho binh trạm phải không? Lũ cường đấy, leo nhanh lên". Nước tiếp tục dâng cao. Chị và người lính trẻ tìm được một chạc cây có thể nghỉ tàm tạm. Mưa tạt xối xả. Lẫn trong tiếng mưa, thoảng ầm ì tiếng động cơ máy bay C130. Tiếng ầm ì nặng dần. Phút chốc cánh rừng ngập nước bỗng run bần bật. Uột... ù... ộ... uột... Ðạn bốn mươi ly vãi tung tóe từng tràng. Chị nép người dưới chạc cây. Một loạt đạn nổ sát sạt. Mảnh cây cứng ráp bị đạn băm trúng, văng khắp người chị. Lại một loạt đạn nữa gần hơn. Người lính đẩy chị xuống, lấy thân mình đè lên che cho chị. Chạc cây chao động. Một quầng lửa lóe sáng. Mái tăng hai người vừa căng để che mưa bị bốc gọn. Thiếu chút nữa cả chị và người lính trẻ đã bị hất tung xuống nước. Hơi thở người con trai xa lạ phả nóng rực một bên tóc chị. Chị có cảm giác mình đang ở trên sân thượng đêm nào và nỗi ám ảnh ấy lại ùa đến. Chị đột ngột quyết định. Chị vít mạnh đầu chàng trai áp vào ngực mình. Thực ra ý định dâng hiến sự trinh bạch của chị đã mãnh liệt ngay từ loạt bắn đầu tiên của kẻ thù. Có lẽ không phải thế, ý định ấy đã đến với chị từ trước. Nó hình thành ngay từ buổi sớm hôm nào bên bờ suối. Chị không hề đắn đo. Còn đắn đo gì nữa, biết đâu chỉ trong khoảnh khắc cả chị và người lính sẽ không còn. Chàng trai trẻ thế. Không, em ơi hãy nhận một chút ít tâm hồn chị để trở thành người đàn ông chân chính, để đừng phải mang niềm tiếc nuối đơn giản kia, nếu chẳng may em vĩnh viễn ra đi từ cuộc chiến tranh khốc liệt này.

Người lính thoáng chút ngỡ ngàng. Rồi anh chợt hiểu. Anh run rẩy áp thân thể thanh xuân của mình vào chị. Tràn ngập trong cảm giác hạnh phúc đến mãn nguyện. Chị nín thở cố giữ thật lâu niềm hạnh phúc ấy. Hạnh phúc ơi! Ðấy là nỗi ám ảnh đã dầy vò chị. Ðấy là mất mát chia ly làm đau đớn chị. Ðấy là niềm nuối tiếc trẻ trai, chị cần san sẻ. Ðấy là sự dâng hiến của chị. Hạnh phúc. Dòng máu ấm, âm ỉ lan tỏa khắp cơ thể chị. Nước bỗng rút. Mưa bỗng tạnh. Ðạn ngừng nổ. Tiếng máy bay câm bặt. Và thời gian ngừng trôi.

Chị hoàn toàn mãn nguyện. Sau này, khi có những chàng trai trẻ đi qua cuộc đời chị, trở thành đàn ông, chị vẫn giữ nguyên vẹn được cảm giác mãn nguyện của lần đầu tiên dâng hiến. Người lính trẻ xúc động tràn nước mắt: "Chị, đời con gái của chị...". Lúc ấy, chị khe khẽ lắc đầu. Hình như chị đã mỉm cười. Chị âu yếm vuốt tóc người lính. "Ðừng khóc em. Kìa nín đi. Ðàn ông sao lại khóc". Chị thoáng thấy bóng anh. Mặt anh rạng rỡ. Nỗi ám ảnh nhẹ dần. Ðúng là chị đã mỉm cười. "Suốt đời, không bao giờ em quên được chị". Chẳng cần phải thế đâu em. Chị hạnh phúc lắm rồi.

Cảm giác mãn nguyện của hạnh phúc làm chị vững tin. Vững tin đến lạ thường. Ngay cả lúc chị đứng trước cơn giận dữ của đồng đội đang kết tội chị, chị vẫn thấy lòng mình thanh thản. Chị im lặng đón nhận sự giận dữ tất yếu ấy.

Chị không nói một lời thanh minh. Thanh minh điều gì nữa. Mọi thứ đã rõ ràng. Chị thấy thương đồng đội của mình. Họ tốt quá. Họ vất vả vì chị. Chị biết ơn họ. Ðồng đội ơi, tôi xin gánh chịu tất cả. Chỉ đến khi người ta lôi ra từ bồng tay của chị vài thứ kỷ vật nho nhỏ những người lính để lại khi chia tay, thì lòng chị thực sự cồn lên. Mặt chị tái đi. Bất giác chị đưa tay áp vào vùng BỤNG. Ở ÐẤY PHÁT RA NHỮNG nhịp thở mỏng manh, yếu ớt. Chiếc bút máy, tấm ảnh ghi dòng địa chỉ, một cánh bằng lăng ép khô, chiếc huy hiệu, cái lược từ xác máy bay, có cả một chiếc nhẫn bằng bạc để chị đeo kỵ gió... Từng khuôn mặt hiện lên. Họ đã trở thành đàn ông. Những người nào trong số ấy đã nằm xuống. Chị lảo đảo ôm chặt lấy bụng. Niềm hạnh phúc của chị đang quẫy đạp. Anh ơi, con của chúng mình...

*
* *

À ơi, con ngủ cho ngoan.

Chị sẽ được làm mẹ. Vào những lúc một mình, chị khe khẽ hát bài ru con. Chị mong nó sẽ là con trai để được mang h쮨 h੠anh. "À ơi con ngủ cho ngoan", cây hát ấy lần đầu tiên bật ra trong giây phúc chị dâng hiến cho người lính trẻ. Chẳng hiểu sao người lính mãi rúc khuôn mặt non tơ của mình vào ngực chị. Chị thấy âm ấm vùng ngực. Có một dòng máu rần rật chuyển.

Ngực chị cương lên. Chị thấy lòng ấm áp quá. Cảm giác lạ lùng lần đầu tiên òa đến khiến chị xao xuyến. Chị thấy thân thể mình lớn vút và hồn mình rộng ra, rộng mãi. Cõi lòng chị mênh mông, bao dung. Có một cái gì đấy nhè nhẹ, nhè nhẹ... động cựa nơi bụng chị. Cảm giác ấy rõ dần. Chị thấy váng vất. Ý nghĩ được hạnh ph򣠬ୠmẹ vụt đến lớn quá. Chị sẽ được làm mẹ! Và câu hát ru của ngàn đời ngàn đời, chẳng biết ký thác vào tâm hồn chị từ bao giờ, khoảng khắc ấy bật ra, ngân nga: "À ơi con ngủ cho ngoan". Cả chị, cả người đàn ông đang thiêm thiếp trên ngực chị đều sửng sốt, lặng đi trước lời ru dịu dàng của mẹ. Hạnh phúc. Chị sắp được làm mẹ.

Ðêm nay, chị cố thức để khâu xong cho con bộ quần áo lọt lòng. Giá không có chặp bom lúc nửa đêm hẳn chị đã hoàn tất công việc. Vừa khâu chị vừa khe khẽ hát. Chợt một bóng người lao vào hầm. Ðèn pin lấp lóe rọi thẳng vào mặt chị. Chị dơ tay. Bộ quần áo bé xíu thành tấm chắn luồng sáng độc ác. Chị không lạ gì hắn. Người đó cùng đơn vị. Từ lâu hắn đã khao khát chị. Rất nhiều lần chị đã thẳng thừng cự tuyệt nỗi ô nhục ấy. Giọng hắn rít lên khác thường:

- Sao? Cô không biết gì à? Trận bom vừa rồi tám đồng chí của ta đã trở thành liệt sĩ. Vậy mà cô vẫn thản nhiên chuẩn bị cái công việc nhơ nhuốc kia. Thật xấu hổ.

Chị đứng phắt dậy. Chị có thể bị nhục mạ, có thể mất mát tất cả và chịu đựng đến cùng. Song, chị không thể để đứa con của chị, đứa con của những người lính bị xúc phạm. Ánh đ讠pin qu鴠xuống ngực chị. Linh cảm chẳng lành, chị lùi lại, lấy tay che ngực. Khoảng khắc của dục vọng. Người đàn ông sấn đến, hổn hển: "Tôi đã giữ cô ở lại. Tôi đã bỏ qua cho cô tất cả. Hôm nay chúng ta sòng phẳng. Cô hãy cho tôi điều mà những người lính khác được làm". Một cảm giác kinh tởm ập đến. Làm sao chị có thể chấp nhận điều nhục nhã ấy. Chị phải đâu sống cho đam mê của bản thân mình. Giọng chị đau đớn van vỉ: "Xin anh đừng làm thế. Ðừng làm nhục đứa bé. Ðừng làm nhục những người lính đã từng làm cha của nó. Có thể trong số họ có người nằm xuống. Xin hãy để linh hồn họ thanh thản yên nghỉ...". Chị chỉ kịp nói đến đây, chị bỗng thấy mình tối tăm mặt mũi. Chị bị quật xuống nền đất. Chị dãy dụa thật mạnh. Chị chồm dậy được, chị cố nhoài tay với khẩu AK treo trên vách. Không kịp. Một lần nữa chị bị quật ngã. Lần này mạnh hơn. Chưa bao giờ chị phải gánh chịu đau đớn đến thế. Con ơi! Thế là hết. Mẹ không giữ được con rồi. Tha lỗi cho mẹ.

Chị bươn bả chạy khắp rừng. Trong đêm tối, không xác định hướng chị vẫn lần tìm đến khúc suối dạo nọ. Ban mai. Sương bàng bạc. Nước bàng bạc. Da thịt cũng bàng bạc. Tất cả một mầu bàng bạc. Chị bất động giữa dòng suối như một pho tượng tạc vào thiên nhiên, im lặng tận hưởng đến cùng hạnh phúc và khổ đau vừa nếm trải. Chị khỏa nước nhè nhẹ. Chị áp tay vào bụng và chị hát thật khẽ: "À ơi con gnủ cho ngoan". Chị thấy lòng mình ấm áp. Vào chính giây phút ấy, chị hiểu rằng, linh hồn anh không hề lang thang với niềm tiếc nuối. Anh đã bình yên an nghỉ. Và họ, những người đàn ông đi qua cuộc đời chị, có ai trong số đó đã hy sinh vì Tổ quốc, chắc chắn trước lúc vĩnh viễn ngã xuống họ đã nghĩ đến chị.

III

Khi tôi vào chiến trường, câu chuyện về người đàn bà ấy đã lan truyền khắp các hướng mặt trận như một huyền thoại.

Ở mặt trận ph�#272;�� người ta kể rằng, xác người đàn bà trôi dạt đến cuối nguồn. Phải đến tuần lễ sau mới tìm được. Không có một cỗ áo quan nào vừa thân thể chị. Phải hạ một cây dẻ to để lấy gỗ đóng hòm. Một trung đội công binh mất đến ngày trời mới hoàn thành nhiệm vụ. Ðó là chiếc áo quan to nhất, xưa nay chưa từng có ở chiến trường.

Ở mặt trận phía Tây, người ta kể rằng, không biết bằng cách nào người đàn bà leo lên được và treo cổ chết trên ngọn cây chò lớn vài chục người ôm, cao đến trăm mét và sống đến ngàn năm có lẻ. Phải vất vả mới hạ được xác chị an toàn. Sau đó một hôm, không bom đạn, không gió, mưa, sấm, sét, bỗng dưng cây chò sập đổ. Trước đấy, kể cả B52 cũng không đánh gục nó.

Ở mặt trận phía Nam, người ta kể rằng, sớm ấy, bất thần bom tọa độ chụp xuống khúc suối. Xác chị văng thành ngàn, vạn mảnh. Sau đó khu rừng trở nên tốt tươi kỳ lạ. Hoa lá, cỏ cây, chim chóc chen chúc ríu rít. Bom đạn, chất độc tàn phá thế nào cũng không hủy diệt nổi.

Còn ở binh trạm, người ta xếp chị vào quân số mất tích. Không ai biết gì hơn về số phận của chị.

*
* *

Tôi không có cách nào để trả lời cô gái. Có điều, tôi nghĩ rằng, người đàn bà năm xưa hẳn phải có một khuôn mặt dịu dàng, thánh thiện như cô sinh viên năm thứ tư này. Tôi đành câm lặng chịu lời kết tội là kẻ độc ác của cô gái. Duy nhất, tôi chỉ có thể làm được mỗi một việc, là viết lại câu chuyện này để ít nhiều tôn trọng một sự thật. Quyền phán xét nó thuộc về bạn đọc.




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 » »»