📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

TRUYỆN NGẮN

68 trả lời, 7.445 lượt xem — Trang 2 / 3


Sau những mùa trăng

Giải nhất cuộc thi sáng tác văn học
hướng tới giao thừa thế kỷ 1998 - 1999
của Tạp chí Văn nghệ quân đội

Ðỗ Bích Thủy

Không hẹn trước mà lần nào trở về cũng gặp trúng mùa trăng. Mùa trăng có ý nghĩa với người miền núi nhiều lắm. Thường thì người ở trên nương cứ khói bếp dưới bản bay lên là bảo nhau về, nhưng vào mùa trăng thì ai cũng cố nán lại. Thêm một gùi, hai gùi cũng cố, vì người già bảo hạt lúa, bắp ngô cuối ngày bao giờ cũng mẩy hơn, chắc hơn buổi sáng. Thế nên nhiều hôm về đến nhà thì trẻ con đã ngồi chờ cơm gà gật bên bếp.

Ðã mấy lần trăng lên rồi trăng tàn tôi không về. Mấy mùa trăng là mấy lần mẹ mang mẹt thuốc ra phơi, rồi lại mang vào cất đi. Ngày tiễn tôi đi, cha tôi bùi ngùi: "Mày đi thì tốt cho cái thân mày chứ ở đây mãi cũng như tao, như anh mày thôi, tóc bạc, mỏi chân, cũng chỉ có chín bậc cầu thang với cái ngưỡng cửa. Cố mà học lấy cái khôn vào đầu nhưng phải nhớ giữ cái lưng cho thẳng, giữ cái đầu không cúi xuống... Lìn à". Lúc ấy, nhìn vào mắt cha tôi định không đi nhưng cha đẩy tôi lên xe. Không ngờ đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy cha. Vào đời, chưa kịp học lấy cái khôn vào đầu cho "mắt sáng ra, cho miệng rộng ra" để mang về khoe với cha thì cha đã ra đi, sau cái chết đột ngột của anh Lân tôi. Từ đó, mỗi khi nhớ về căn nhà rộng thênh thang của mình tôi không hình dung nổi nó ra sao khi thiếu vắng bàn tay sắp đặt kỹ lưỡng của cha.

Về đến con suối đầu bản tôi gần như vấp phải một người đang ngồi trên một phiến đá rộng như mặt bàn. Một chàng trai còn rất trẻ, hai bắp vai vồng lên dưới lớp áo tà pủ còn thơm mùi lá nhuộm. "Làm gì mà ngồi ở đây một mình thế?". "Ngồi chơi đợi trăng lên thôi.". "A, lại thổi khèn gọi con gái nhà ai phải không?". Chàng trai cúi đầu ngượng nghịu. Tôi ngồi xuống cạnh anh ta, để nguyên cả giày sục xuống suối. Nước suối ấm, chầm chậm uốn quanh bãi lanh mọc cao hơn đầu người. Vì thế về bản phải lội hai lần trên cùng một con suối. Ngày nhỏ anh em tôi với lũ bạn cứ nằm xoài ra, để nước cuốn trôi từ trên xuống dưới bãi lanh, đập nước mỏi chân vài lần là biết bơi.

Một tốp con gái đi nương về lột áo qua mặt tôi, phảng phất mùi của lá dẻ khô, mùi nương đồi, mùi cỏ cháy, buông lời chòng ghẹo. "Hôm nay lại có thêm một người nữa à. Anh gì ơi, đến Vần Chải tìm ai đấy?". "Chắc là tìm đứa con gái đẹp nhất rồi". "Thế thì không có đâu. Con gái Vần Chải ai cũng đẹp như nhau mà". Tiếng cười rộ lên, khuất sau bãi lanh rồi vẫn nghe tiếng cười, cả tiếng hát cất lên: "... Dêu hẩn lầu tẩu lốc, bản nuông bàu mi lóc. Lóc hẩn lầu tẩu lải, bản nuông bàu mi vai..." (Bản em không có nắng lấy trời râm làm cảnh đẹp. Bản em không mưa phùn, thì chàng ơi hãy về...). Tiếng hát bay lên, dội vào vách núi cao ngất, xao động cả đêm đang xuống. Tôi đi qua bãi lanh, cảm giác hơi ấm của đám con gái vừa đi qua vẫn còn phảng phất.

Ðến đoạn suối thứ hai, định lội ào qua rồi về nhà mình luôn thì tôi bắt gặp một người đang dầm mình dưới chỗ nước sâu. Trên bờ, một gùi củi cao ngất dựng cạnh bụi cây. Tôi ngồi thụp xuống sợ bất chợt người con gái quay lại nhìn thấy mình thì khó xử quá. Trăng đã bắt đầu lên phía sau ngọn Tạ Ðú làm cả đoạn suối sáng bừng lên. Người con gái có đôi bờ vai rất tròn, cái cổ cao mà trắng như đá núi vỡ. Tôi nghe rõ cả tiếng khỏa nước... Ðang định đứng dậy, quay lại chỗ ban nãy, chờ cho cô gái đi trước rồi mới về. Thì cô gái đã đứng lên. Tôi cứng đờ như thằng ăn trộm bị bắt quả tang. Cô gái ú ớ không thành tiếng một lúc rồi kêu lên: "Ôi chú Lìn. Chú Lìn phải không? Làm chị hết cả hồn. Chú về, sao không báo trước cho mẹ mừng?". Tôi líu ríu: "Chị dâu! Sao đi nương về muộn thế, lại còn đi một m쮨!". "Cố một tí cho xong để mai còn sang nương khác". "Ðưa gùi em mang cho". "Thôi, chú không gùi được đâu. Lâu lâu không gùi cái gì thì đau vai lắm". Chị cúi xuống xốc gùi củi lên vai. Gùi củi cồng kềnh lại nặng nên cả người chị phải lao về đằng trước. Ði sau tôi nhận ra hơi nóng từ cơ thể chị lୠcho vṠᯠướt như c󠳦#432;ơng m񠢡y lꮮ Ở miền núi, con gái phải tập gùi từ lúc tám, chín tuổi. Gùi mãi, đủ thứ trên lưng, già rồi vẫn gùi nên bao giờ lưng cũng còng sớm hơn lưng đàn ông. Chị dâu tôi còn phải gùi nhiều hơn người khác, gùi thay cả mẹ, thay cả tôi. Chẳng biết đến bao giờ mới thôi không phải gùi nữa. Từ sáng sớm đến tối mịt cái lưng chỉ thẳng ra mỗi lúc ngủ.

Hai chị em mải miết đi, phía sau tiếng khèn lá đã cất lên.

Nhà tôi có ba anh em, anh cả, tôi và em gái út. Tôi và anh giống nhau y hệt. Ngày nhỏ, nghe hàng xóm hay đùa bảo mẹ tôi phải lấy nhọ nồi bôi lên mặt một đứa để còn biết đâu là anh, đâu là em. Hai đứa đã cãi nhau mà cãi không xong là đánh nhau. Vì chẳng đứa nào chịu nhận mình là người phải đánh dấu. Lớn lên tí nữa thì tôi lại cao vượt lên. Mười tám tuổi anh Lân mới chỉ đứng đến tai tôi. Ngày anh cưới vợ, tôi đã biết cầm dao chọc tiết con lợn gần một tạ, anh em thôi không còn cãi cọ nữa. Nhưng tôi đi chưa đầy năm thì anh bị lợn rừng húc chết trong một đêm lên nương canh ngô. Cha tôi đau buồn suốt mấy tháng trời vì chưa kịp có cháu nội. Không riêng gì cha mà cả họ đều trông chờ vào anh Lân. Nhưng chị dâu lúc ấy còn đứng thấp hơn cái khung cửa vài gang tay, một tay tôi cũng đủ sức nhấc bổng chị lên. Không biết có phải vì thế mà chị chưa kịp có con hay không?

Tôi bước lên cây cầu thang quen thuộc, kịp nhận ra sự thiếu vắng bóng đàn ông ngay trong ngôi nhà của mình. Một bậc cầu thang bị vỡ ra một miếng từ bao giờ chưa có ai thay, cái cặp tre cời bếp cháy nham nhở gần đến tay cầm vẫn cố dùng, cần giã gạo long ra, để chỏng chơ... Ở nhà thì thế, còn khi trong họ, ngoài bản có việc gì lớn nhà mình không có đàn ông, đàn bà có đến cũng chỉ được ở dưới bếp, trưởng họ có nói gì không thuận tai cũng phải nghe theo. Lâu nay mẹ tôi đau yếu thế, chắc chị dâu cũng chẳng bao giờ mặc váy áo đẹp đi đâu.

Mẹ sờ nắn khắp người tôi, bắt tôi ngửa hai bàn tay xem vết chai còn hay mất, nhìn tôi chăm chăm suốt bữa ăn. Dường như mẹ vẫn chưa hết ngỡ ngàng vì sự trở về đột ngột của tôi. Tôi đã xa ngôi nhà của mình quá lâu, lâu đến nỗi quên cả chỗ ngồi của mình trên tấm phản lớn nhất bên bếp.

Chị dâu mở tủ, lấy gói chè gói kỹ trong mấy lần giấy ra pha. Chị biết tôi nghiện chè, mà phải thứ chè tự nhà sao lấy. Thỉnh thoảng có người xuôi, tôi lại nhận được chè chị gửi. Chè ở đây mọc hoang. Dưới thấp người ta còn chặt đi để lấy chỗ trồng thứ khác chứ trên cao, tít trên đỉnh núi mặc kệ, muốn lớn đến đâu thì lớn. Mùa xuân nhà nào có người hay uống chè lại mang gùi lên lấy về mà sao. Ði hai lần là đủ chè uống cả năm, uống đến mùa xuân năm sau.

Mí quấn lấy tôi một lúc lại bỏ sang ôm cổ chị dâu đòi đi ngủ. Ngày chị về nhà tôi Mí mới được hơn hai tuổi vẫn chưa rời vú mẹ, nó quấn quít với chị cho đến giờ. Cả nhà chỉ muỗi mình Mí dứt khoát không gọi chị dâu mà gọi chị gái, mẹ nói thế nào cũng không nghe.

Tôi bảo với mẹ rằng lần này tôi về để đón mẹ xuống ở với tôi, lần sau thì đón cả chị dâu, cả em Mí, tôi muốn mọi người ở bên mình, muốn mọi người hết khổ. Mẹ nắm chặt đôi tay trên đầu gối: "Ðấy là những gì mày học được từ khi ra khỏi nhà phải không Lìn? Mắt mày sáng ra bằng nào tao chưa thấy, chỉ thấy mày quên hết lời cha mày dặn thôi, quên cả lời hứa.

Khi nào tinh như con cắt lúc rời tổ mày sẽ về, sẽ lấy vợ, có nhiều con trai. Mày nói ở quê khổ quá à? Khổ mà tao vẫn sống đến giờ, khổ mà trẻ con vẫn lớn được! Không có ai chết vì khổ được đâu, chỉ có ai chết vì trong bụng đựng toàn điều xấu thôi...".

Tôi muốn bảo mẹ rằng ý tôi không phải như mẹ nghĩ, nhưng không mở miệng được. Mẹ không cần tôi cho mẹ cuộc sống khác, mẹ cần một đứa con trai để ngày mưa gió có người dọi nhà, có người chèn cửa. Chị dâu khẽ khàng lên tiếng: "Chuyện ấy để mai hẵng nói, chú Lìn đi nghỉ kẻo mệt". Chị đã trải chiếu, mang chăn ra chỗ ngủ cho tôi từ lúc nào. Mệt, đau nhừ, mỏi rã rời mà không sao ngủ được.

Ðã gần giữa thu, trời bắt đầu lạnh, những cơn gió hun hút luồn qua vᣨ nứa. Ánh trăng sáng trắng lọt qua ô cửa nhỏ, hắt cả một quầng sáng vào trong nhà. Cả bản tôi nằm gọn trong một thung lũng, bốn phía là rừng, qua rừng đến nương ngô nương lúa, qua nương lại đến rừng rồi đến bản khác. Bản ở dưới thung lũng nên ngập trong ánh trăng. Ban đêm, những nếp nhà sàn lô nhô lẫn vào rừng cây trông không rõ đâu là nhà, đâu là những tán cây rậm rì, cao vút. giữa mùa, trăng cứ rọi vào nhà cả đêm, trăng đi một vòng cửa trước ra cửa sau. Ðêm, trời càng gió, trăng càng sáng thì hôm sau càng nắng to.

Hồi còn ở nhà, mùa trăng nào tôi cũng bám áo anh Lân tìm đến nhà nào có con gái đẹp thổi sáo suốt đêm. Anh Lân thổi khèn lá tài lắm, phiên chợ nào cũng có con gái quấn theo mãi, tối không về được. Thế mà về bản, đứng ở đầu hồi nhà người ta có khi ba đêm liền cũng không thấy ai ra. Ba đêm không được thì bảy đêm, bảy đêm cũng không được là hỏng rồi, sang nhà khác thôi. Lần anh đến nhà chị dâu tôi bây giờ cũng hết đêm thứ bảy mà không được gì đã định bỏ. Cả ngày hôm sau anh bỏ cơm, gắt om xòm. Ðến đêm thứ tám lại mang mũ nồi giấu dưới gối, đi. Ðêm thứ chín, trăng lên muộn lắm, tôi đã thiu thiu ngủ lại thấy anh dậy mặc áo. Anh bảo: "Thôi đêm nay mày đừng theo tao nữa, muộn rồi. Tao đi, có khi ngủ luôn ngoài rừng không về". Gần sáng thì anh về, lật chăn ra, bắt tôi dậy để anh cho xem chiếc khăn tay mൠxanh thu꠭ấy b��hồng trắng lấm tấm. It lâu sau, anh cưới vợ...

Ðêm khuya, bản đã yên ắng lắm, nghe rõ cả tiếng nước đập vào ghềnh đá rào rào ngoài sông, tiếng trâu thở phì phì đuổi muỗi, tiếng chim lợn rít lên cuối rừng... và càng rõ hơn tiếng khèn lá từ ngoài suối vọng vào. Tiếng khèn lúc gần lúc xa, lúc như tiếng gió dài lê thê, lúc ào ào như nước lũ, lúc cao vun vút, rộn rã như cánh chim buổi sớm... Tiếng khèn như thế nói được nhiều điều lắm, đủ để cô gái nào đó hiểu rằng chàng trai sẵn sàng làm tất cả vì cô, đổi tất cả những gì mình có để lấy ánh mắt của cô, bán tất cả để mua nụ cười của cô. Chàng trai ấy sợ đôi chân cô dẫm phải đá sắc lúc lên nương, sợ gai cào tay cô, làm rách vành khăn của cô lúc vào rừng. Chàng trai ấy nhìn cô cười để vui, nhìn cô khóc để buồn... Không biết chàng trai có đôi tay nổi bắp cuồn cuộn ấy gọi ai.

Ðột nhiên có tiếng cọt kẹt của sàn nhà. Chị dâu từ trong buồng rón rén bước ra, vừa đi vừa vấn lại mái tóc dài đến eo lưng. Tự dưng tôi run bần bật, một cảm giác đau buốt nhói lên phía ngực. Tôi nhắm nghiền mắt. Hẫng hụt, như người rơi xuống đáy sông sâu hun hút...

Kéo chăn lên ngang mặt, chỉ hở hai con mắt tôi cố nén để không vùng dậy. Nhưng chị dâu chỉ đi ra bếp thổi lửa, mang lanh ra quấn ánh lửa bập bùng hắt lên gương mặt tròn của chị. Hình như đến giờ tôi mới thực sự hiểu ra vì sao ngày xưa anh Lân có thể thổi khèn lá tới đêm thứ chín. Ðôi gò má căng, đỏ rừng rực, ba khuy áo bên trên bật ra trễ nải, để lộ ba ngấn cổ cao trắng ngần, khuôn ngực phập phồng nhè nhẹ... Tiếng khèn mỗi lúc một réo rắt, đôi tay chị quấn lanh nhanh hơn, cuống quýt mà ánh mắt thẫn thờ. Ðược một lúc, chị đứng dậy với thúng ngô trên gác xuống tẽ... Tiếng gà rừng tít thăm thẳm xa đã eo óc gáy. Tôi thiếp đi răng vẫn cắn chặt môi tê dại, mãi đến lúc nghe tiếng cối xay ngô rền rĩ dưới gầm sàn mới tỉnh dậy. Chị dâu đã trở lại vẻ hoạt bát, thậm chí tôi không dám tin chắc vào tiếng khèn đêm qua, nếu như cuộn lanh không rối tung nằm đó... Chị mang ấm nước nóng ra pha cho tôi rửa mặt: "Ðêm qua ngủ có phải co chân không chú Lìn?". Tôi hấp tấp: "Ðặt mình xuống là ngủ luôn chị dâu à. Lâu quá mới ngủ được một giấc ngon như thế". Chị dâu cười. Tôi thấy đâu óc váng vất.

Trời còn chưa sáng rõ chị dâu đã xay ngô xong. Mẹ tôi bảo: "Năm nay nhà mình làm cốm được đấy con dâu?". "Vâng, có ch򠌬n về nhࡦquot;. Ở quê tôi, mùa cốm là mùa hội. Sáng mười bốn âm lịch, mặt trời còn chưa lên đã mang đòn gánh lên nương lúa cao nhất "tan" lúa về. Buổi chiều đàn ông xuống gầm sàn tìm chỗ đắp bếp đất, đàn bà nhóm lửa nướng thóc non. Ðêm xuống, trăng lên thì con trai con gái trong bản kéo nhau tới giã cho từng nhà. Giã cốm thâu đêm, hết cốm thì cho rơm vào giã, giã để còn được ngắm nhau, được nói lời hay với nhau mà không sợ ai nghe mất. Thế nên sáng hôm sau về nhà có ai hỏi đêm qua giã được mấy mẻ cốm, cốm năm nay có ngon hơn năm trước không cũng chẳng biết. Mấy năm rồi, đến mùa cốm chị dâu chỉ mang một cum sang gửi hàng xóm lấy cốm cho cái Mí ăn chứ nhà không làm.

Chị dâu đi đến trưa mới về, bốn cum thóc nếp còn xanh mọng nặng trĩu hai đầu đ򮠧ᮨ. Mẹ k굠lꮺ "Ấy da, lấy về nhiều thế con dâu? Ðịnh cho thằng Lìn ăn cốm thay cơm thay thịt hay sao?". "Ðể chú Lìn khỏi quên mùi núi rừng thôi mẹ ạ".

Chập tối, hai chị em đắp bếp, nướng thóc, xếp sẵn một lượt vào cối dài thì đám thanh niên tới, chia ra mỗi bên hai, ba đứa con trai con gái xen nhau. Ðứa con gái có cái lúm đồng tiền cất tiếng hát, hát xong, bọn con trai nhấc chày lên, lúc con trai giã xuống, bên kia con gái nhấc lên. Vừa giã vừa chòng ghẹo nhau thỉnh thoảng lại rúc rích cười. Một đứa con gái nói to, át cả tiếng chày thùm thụp: "Chị Lân à, làm sao con gái có chồng rồi mà cứ đẹp mãi, ngày càng đẹp thế". "Em nói ai?" "Còn ai nữa. Bao nhiêu đứa muốn hỏi chị đun nước lá gì gội đầu mà tóc đen thế, nhiều thế, đun củi gì mà má hồng thế đấy!". "Chỉ nói lung tung thôi. Chị già rồi mà". "Không già tí nào đâu chị ơi. Cứ đẹp mãi thế lại khối người Vần Chải khổ thôi". "Bậy quá. Không được đùa thế đâu". Mặc kệ, tiếng cười vẫn cứ lanh lảnh. Chị dâu bối rối, sảy mẹt cốm vãi cả ra ngoài.

Bốn cum thóc, chỉ một loáng, trăng lên đến ngọn cây dẻ cao nhất cuối rừng thì đám thanh niên giã xong, lại lũ lượt kéo nhau sang nhà khác. Còn một mình chị dâu lúi húi dọn dẹp. Chị khe khẽ hát. Bất chợt tiếng khèn lá đêm trước lại dội lên, chị luống cuống bê thúng cốm đi như chạy lên cầu thang, suýt vấp ngã. Chị cài chặt then cửa, lao vào buồng, tôi còn nghe tiếng thở dồn dập rất lâu.

Mẹ tôi ra khỏi buồng, đến trước bàn thờ cha tôi. Tôi chỉ nghe được tiếng thở dài nén rất nặng trong lồng ngực mỏng manh của mẹ. Sau khi làm hai đám ma, trong nhà tôi hầu như không còn gì. Bò, dê, gà, lợn mổ để thầy mo cúng làm lễ hết, ngô lúa cũng hết. Cha tôi mất tháng trước thì tháng sau trời nắng to, nắng ghê gớm, nắng từ lúc mặt trời chưa lên hẳn đến lúc mặt trời sắp lặn. Nắng từ ngày này sang ngày khác, già bản tụ tập tất cả bô lão trong làng lập đàn cầu khấn mà trời vẫn không cho một giọt mưa. Trên nương, ngô vừa ra bắp bằng chuôi dao đã khô quắt lại, lúa ngả sang mầu trắng, bông phất phơ như lau. Rừng già lách tách tiếng vỡ nứt. Rồi cháy, cháy khủng khiếp, cháy ba ngày ba đêm, thiêu trụi mấy cánh rừng, đến sáng thứ tư thì thôi. Ðứng dưới bản nhìn lên chỉ còn thấy một mầu đen của cây cháy. Ðột ngột, kinh hoàng quá, không ai còn khóc được.

Nương sắn chưa đầy năm cũng nằm trong vùng cháy. Chị dâu mang dao, mang gùi đi từ sáng sớm đến trưa mới về, gùi một gùi sắn đã chín, củ nào cũng chỉ như ngón chân cái, Mí hớn hở ăn, rồi say, nôn ra máu. Nó ốm, tóc dụng trơ cả da đầu, nằm ẹp như một con mèo con, chỉ còn thấy hai hốc mắt. Mẹ cũng kiệt sức, ngồi bó gối bên giường Mí mấy đêm liền, đến lúc chị dâu đỡ mẹ nằm xuống, đôi chân vẫn co như đang ngồi. Ban đêm, lúc mọi người ngủ, chị dâu đốt đuốc ra suối lật từng viên đá lên tìm cua. Sáng sớm, lúc mọi người chưa dậy chị đã mang ống bương qua hai quả núi đi lấy nước... Những ngày tháng ấy nếu không có chị dâu không biết điều gì sẽ xảy ra. Còn tôi, khi về được bản, nương lúa mới trỉa đã bắt đầu lên xanh, phủ dần mầu đen của tro than. Như một sự trả nợ, vụ ấy trời cho được mùa, lúa ngô mang về không còn chỗ để.

Chú tôi đến chơi, bảo là "để xem bao giờ thằng Lìn mới chịu lấy vợ". Chú thím cố mãi cũng chỉ toàn con gái. Tưởng có mỗi chuyện ấy thôi nhưng đến lúc ăn cơm xong, đợi chị dâu mang bát đi rửa chú mới nói: "Chị à, con dâu ngày càng đẹp ra đấy, khéo mà giữ kẻo mang tiếng họ Bàn". "Chú nói gì? Nó đi đâu mà phải giữ. Ði từ nhà lên nương, từ nương về nhà, mặt chỉ biết cúi xuống nhìn lối đi...". "Chị không biết rồi...". "Biết cái gì?". "Người già mà ngủ say được thế, sao chị dâu? Ngủ say quá nên không nghe đêm trăng nào cũng có đứa đến gần nhà thổi khèn lá: Ðứa ấy gọi ai? Gọi cái Mí chín mười tuổi à? Con gái có chồng, cái bụng mà không nghĩ lung tung thì má không như hoa đào thế đâu".

Tiếng nước xối ào ào rồi lặng yên. Mẹ liếc nhìn chú, lại nhìn ra cửa. Chị dâu khệ nệ bưng chồng bát vào, nước bắn lên váy ướt lem nhem, dính vào đôi bắp chân tròn. Con gái miền núi có đôi bắp chân đẹp là nhờ quấn xà cạp lúc đi làm, lúc ra khỏi cửa, chỉ đêm mới tháo ra. Chú tôi vê điếu thuốc lào phả khói mù mịt, ngồi thêm lúc nữa rồi lẳng lặng ra về. Chị dâu rút nắm đuốc trên gác bếp châm lửa, đưa chú xuống cầu thang. Ngày trước, chú là người phản đối việc anh trai tôi đòi cưới chị. Chú chê chị bé, chê con gái mà ngực lép, lông mày rậm là không biết làm dâu, là có lúc cãi bố mẹ chồng. Sau này, khi anh tôi rồi cha tôi mất, chính chú lại là người thương chị dâu nhất, chuyện gì cũng nói như với con gái. Thế mà bây giờ...

Chú Phin về rồi, mẹ bảo tôi: "Mày mới về, nghe chú nói, biết thế, đừng nghĩ xấu cho nó". "Mẹ thì nghĩ thế nào?". "Tao làm dâu họ Bàn, nó cũng là dâu họ Bàn, chết đi làm ma họ Bàn. Muốn gì cũng không được đâu".

Chị dâu ngồi vào khung cửi. Chị bảo cố dệt để còn kịp đi phiên chợ tới. Tôi bảo để tôi thức cùng cho chị đỡ buồn, chị bảo đàn ông chỉ thức đêm ngoài sông, trên rừng, không ai thức cạnh khung cửi. Nghe tiếng lạch xạch, lúc gấp gáp, lúc trễ nải tôi không sao ngủ được.

Tiếng khèn lá vẫn réo rắt từng đêm, từng đêm. Ðêm nào chị dâu cũng ngồi bên khung cửi, đống lanh trắng chất đầy hai quẩy tấu không hết. Từng đêm, từng đêm ấy, tôi nằm cứng đơ như khúc gỗ, nghiến mỏi hàm răng nhìn chị hai lần, ba lần đứng lên mang dây lanh ra buộc cửa, buộc thêm, thêm mãi, thành một đống rối tung to xù. Không biết có phải tại ánh trăng hắt từ bên ngoài vào hay không mà tôi thấy mặt chị đã không còn hồng, mà tái xanh, cặp mắt như mắt người say rượu. Ðêm thứ tư, đêm thứ năm... đến đêm thứ bảy thì tôi vùng dậy, lao như một con thú ra cửa, giằng tay chị ra khỏi mớ dây lanh bùng nhùng. Chị giằng co với tôi, sợi lanh thô cứng cứa vào tay chị bật máu...

Tôi không nhớ mình đã nói gì để thằng con trai còn rất trẻ, tóc ướt sũng sương đêm ấy lủi thủi bỏ đi. Lúc trở về nhà, chị dâu đang đứng ở chân cầu thang, mắt nhìn chằm chằm vào bàn tay đang nắm chặt của tôi. Tôi đi qua chị không nói một lời nào, run lên vì hơi nóng rừng rực đang toát ra từ đôi cánh tay trần phơi dưới ánh trăng, từ đôi mắt thẳm của chị.

Chú Phin ốm, bảo tôi lên canh nương thay chú vài hôm. Tôi mang dao quắm, đèn pin đi. Nương ở xa nên chắc sẽ ở lại luôn đến hôm nào chú khỏi mới về. Buổi chiều, chị dâu lên, mang theo cá nướng với thịt dê. Chị cắm cúi dọn nồi niêu, chăn màn, không nói câu nào. Mãi đến lúc chị định về, tôi cũng mới mở miệng được: "Chị dâu à, em bảo thằng Sìn đem khèn lá đi nơi khác mà thổi. Nhìn vào mắt nó em không chịu được...". Chị dâu run run: "Chị không nghĩ đến thằng Sìn bao giờ đâu chú đừng lo". "Thế thì chị dâu nghĩ đến ai? Ai hở chị dâu? Người ấy có ở Vần Chải không?. "Chú đừng hỏi nữa, chị xin...". Chị dâu khóc. Tiếng khóc bật ra như thác lũ thượng nguồn không gì ngăn được. Khóc như để trôi đi những bức bối trong lòng. Nước mắt chảy ròng ròng trên gương mặt bợt bạt, rớt xuống ướt ngực áo...

Cuối mùa trăng, tôi lại đi. Mẹ vẫn không một lời ngăn cản, mẹ mặc tôi. Tiễn tôi đi chỉ có chị dâu với em Mí. Ðến chỗ con suối chảy qua chị dừng lại, cúi nhặt một viên sỏi đưa cho tôi: "Chú mang đi để khỏi quên đường về Vần Chải". Tôi cố nhìn chị, mắt chị rưng rưng, lấp lánh cuối rừng chưa kịp lặn. Chị quay đi. Gió sớm từ trong khe núi lùa ra thông thốc làm váy chị, váy em Mí xòe ra.

Tôi mím môi, bước đi. Bãi lanh còn đẫm sương đêm quệt vào mặt lạnh buốt. Ra đến đoạn suối bên ngoài lại nhìn thấy ngay trước mặt, trên phiến đá rộng, một người đang gục đầu lên hai cánh tay vòng trên đầu gối. Xung quanh, lá rừng bị xé tung tơi tả. Sìn! Ðúng là Sìn. Ngẩng đầu lên nhận ra tôi hình như nó định đứng dậy, định chạy đi, nghĩ sao lại ngồi yên. Ðầu tóc, quần áo Sìn ướt sũng, râu mọc tua tủa trên gương mặt tím tái...

Tôi đi qua Sìn. Hòn sỏi trong tay bỏng rát. Trăng cuối mùa vẫn chưa kịp lặn nhưng đã lẫn vào chân trời đang sáng dần lên...

31-12-1999.
Ð.B.T
(Văn nghệ quân đội xuân Canh Thìn)





Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



San Cha Chải

Ma Văn Kháng
(Giải đặc biệt Cây bút vàng)

Muốn biết thế nào là San Cha Chải, mình phải leo dốc cật lực một ngày trời. Một ngày ròng gánh cực lên non, nhưng lên tới nơi mình cảm thấy ngay là được đền bù. Trời mở toang tám cánh cửa cho mình phóng tầm mắt thỏa sức. Mình nhìn thấy sông Hồng một vệt lênh láng nơi lưng trời xa. Nhìn xuống phố huyện nhà cửa xúm xít như một bãi nấm, mình nghĩ mà buồn cười: Giá có thang dây tụt xuống, chắc chưa kịp sôi ấm nước, mà đi chân thì phải tận tối mịt. Gần đấy mà xa đấy, xa đấy mà gần đấy, đến hay!

San Cha Chải, tiếng Quan Thoại, dịch ra Việt ngữ là Thôn Ba Nhà. San Cha Chải nay đã ba chục hộ, mà không khí vẫn heo hút như thời khởi thủy. Nơi đây, cỏ ngải tàn rồi cỏ ngải lại xanh như câu hát hết câu hát lại bắt đầu. Nơi đây cỏ ngải bị chân ngựa giẫm bốc mùi thơm tinh dầu nằng nặng. Nơi đây, hoa tục đoạn nở và tam thất rừng mọc nhơ nhởn cho riêng nó. Không khí thanh sạch mùi hoa lá. Yên bình như thời mở đất, chó nhà thiu ngủ trong nắng, chỉ hậm hực đánh hơi nếu có con thú lạ về. San Cha Chải không biết khóa sắt khóa đồng, chỉ lấy hai thanh gỗ gài bắt chéo, để ngăn gà nhà vào bới bếp mỗi khi vắng chủ. Nơi đây, gà rừng ăn lẫn gà nhà. én làm tổ đầu hồi. Nơi đây, trâu thả rông, mắt chưa thấy màu gì hơn màu chàm đen, màu lá rừng xanh, nên khi thấy thầy giáo Tính người miền xuôi mặc cái áo trắng toát như kẻ lạc bước tới đây, chúng liền lổm ngổm chống chân đứng dậy từ vũng đầm, hồng hộc chạy ra, giương hai cánh sừng nhọn. Thầy giáo Tính cười: "Thế nào, không cho tao đến lập trường dạy trẻ con học à?". Hiểu tiếng người, trâu San Cha Chải liền quay lui, mặt gằm gằm ngượng nghịu. Mấy tháng đầu, chưa có trường lớp, chưa có học trò, cất cái áo trắng duy nhất, thầy giáo Tính đánh bộ quần áo nâu dấn bùn khâu tay kiểu ta đi vác nước cho ông Mo Chúng nấu rượu. Rượu nấu bằng ngô. Ðược nước đầu, ông Mo Chúng biếu thầy một chai. Thầy tợp một hớp, kè lưỡi, kêu: Rượu này một chén ba ngày say xỉn, chỉ biết lấy trời làm màn, lấy đất làm chiếu. Rượu này, rơi một giọt xuống đất, giun ngửi say lử đử. Gà rừng gà nhà ăn phải giun này, cơn say mê mết truyền sang cả người ăn tiết canh nó. Mo Chúng gật gù: "Thầy biết người biết của, xứng đáng bậc sư phụ đấy! Rượu này được thế vì ngô ở đây bẩm thụ khí trời thanh cao, vì nước nguồn chảy ra từ lòng đất sâu thanh khiết, vì người nấu, người chuyên nước chưa vong thân".

Mo Chúng sáu mươi tuổi, đang lập vườn thuần phục cây tam thất rừng, giàu có tiền bạc và trí khôn là nhà thông thái, bậc thánh triết dân gian, nói đúng quá về giọt nước ở San Cha Chải.

Nước ở San Cha Chải quý lắm. Trong suốt, mỗi giọt lóng lánh như hạt bạc, nhưng nó phun từ lòng đất lên thì trôi tuột theo dốc đi. Một người Kinh thứ hai sau thầy giáo Tính, là cán bộ thủy lợi, lên San Cha Chải mới giữ lại được. Cái giếng xây vuông vức mỗi bề ba bước chân, trong trơn láng, ngoài gắn mạch cẩm quy, như cái kho kiên cố giữ báu vật, lúc nào cũng ăm ắp nước. Mo Chúng nói: "Nước ở dưới sâu nước không có ích. Nước muốn có ích phải chuyển động lên khỏi mặt đất. Muốn hữu ích phải làm việc".

Mo Chúng tuổi cao mà lúc nào cũng luôn tay luôn chân. Thầy giáo Tính hết việc, gọi trẻ con tới lớp lại, dắt trâu kéo cây gỗ dẻ vè dựng trường sở. Mọi người đều làm việc. Cái giếng nước cũng làm việc. Nó cho người, ngựa, gà vịt nước để họ ăn uống tắm giặt. Nó còn làm cái gương soi. Lòng trong văn vắt nên nó soi gì cũng tỏ. Những đám mây trắng bay qua ngó xuống. Mấy đàn thiên nga đi tránh rét qua cũng liệng một vòng nhìn xuống. Mọi người trong làng đều đến lấy nước, soi mình. Các cô gái tới. Các em học sinh lớp một của thầy Tính tới. Hết trai khôi ngô Tráng A Lừ, Lý A Tếnh, đến gái xinh xẻo Seo Say, Seo Mùa. Phải để Mo Chúng giục: "Soi xem có đạt cái tước hiệu làm người chưa?", Pao mới tới. Pao tới sau cùng vì ngượng ngập, vì thấy mình to phộp, trời cho sức vóc thân thể hơn hẳn bạn bè mà lại ngồi cùng lớp. Chỉ thoáng qua một chút, Pao đã hiện lên trọn vẹn. Trên mặt gương nước, Pao tròn trĩnh, mặt sáng như cái mâm bạc, nét mắt, nét mày, phân minh như nét vẽ, không mảy may tư dục, tà niệm, lại ngác ngơ như ngọn măng mới chồi khỏi đất. Mo Chúng nói : "Bằng tuổi Pao, thằng Tủa đã biết đi cướp gái rồi đấy!". Tủa là anh trai Pao, có lớn có khôn, hai mươi hai tuổi đã là công an xã. Tủa đen cháy. Mặt soi trong nước vẫn thấy đỏ lừng bao ham muốn.

Cả San Cha Chải chỉ có một người không tới giếng soi mặt. Ðó là Cư A Cấu, người quê đâu đó, một buổi chợ huyện tan thấy bà góa Lý Cài dẫn về cùng ăn cùng ở. Cấu lẻo khoẻo, da dẻ quánh chắc, mặt như ám khói. Mo Chúng nói: "Cấu đâu có phải đứt dây trên trời rơi xuống! Ông nó theo bọn Cờ trắng làm thổ phỉ cướp đường bị Tây bắt. Bố nó đón đường giết người buôn, lấy vàng bạc, bị Chính phủ ta bỏ tù. Nó là đứa lêu lổng, chuyên trộm cắp vặt ở bên Pa Cheo Phìn. Buồn cho bà góa Cài quá. Xưa, có hồi ở đội văn nghệ hát bài Mùa xuân hoa nở, họa mi còn đòi hát theo. Giờ lại chịu nó. Người không bằng cái giếng rồi".

- Nhà này có ai tên là Cấu thì ra cho tôi hỏi. Chả lẽ đất San Cha Chải là đất hoang. Còn tôi là thằng bù nhìn giữ dưa, hả!

Một buổi chiều sương sa, trưởng công an Tủa, mặt đỏ hăm, kìm chẳng được đã đến trước cửa nhà bà góa Cài quát vậy. Tủa vốn là người làm việc có trách nhiệm. Tủa tức lão Cấu lắm. Tủa quyết định bắt lão Cấu lên trụ sở viết kiểm điểm và sau đó trục xuất lão về quê cũ. Tiếc thay hôm đó, Tủa không gặp lão Cấu. Giáp mặt Tủa chỉ là bà Cài. Bà góa Cài ba mươi mà tươi mởn. Cổ trắng mịn, ngực bồng bềnh, đàn ông nhìn vào như bị say sóng. Bà lại có hai con mắt ướt, bình thường thì lăn tăn, lúc cười thì xoáy tít, khiến nhiều anh bị nó hút hồn chóng mặt. Chả hiểu đôi bên nói năng, trao đổi những gì, chỉ thấy lát sau, Tủa hứ một tiếng rồi chỉ mặt bà góa ỡm ờ: "Hừ, đại hạn lâu quá rồi hả? Nhưng chớ cậy mình đẹp mà đáo để với đây nhé". Rồi bỏ đi. Cái lý thua cái tình. Tình này lại là tình dục giống cái bếp lò nuôi lửa thâu đêm. Nghe chuyện này từ miệng Tủa, mọi người cười lăn lóc. Cài từ lúc thiếu nữ đã thuộc nòi đa tình, đa dục. Quyến quyện nhau với Cấu trong sắc dục, ngập ngụa trong chăn gối mây mưa, người đàn bà háo tình này còn đâu biết gì khác! Thôi, thể tình hãy cho qua.

*

Chuyện qua đi.

Bốn năm, bốn lần ngải tàn ngải lại xanh, Cấu như cây bén rễ, đã thành người San Cha Chải. Pao đã sang tuổi mười sáu, học xong lớp bốn, môn gì cũng khá, đặc biệt toán hay, vẽ đẹp. Thầy giáo Tính nói: "Tôi hết chữ dạy em Pao rồi. Cơm chấm cơm, tôi cũng chỉ học hết lớp bốn trường làng dưới xuôi thôi mà". Mo Chúng bảo: "Thế thì nếu thầy ưng, tôi sẽ dậy thầy các bài cúng mo. Học các bài cúng mo mắt sáng ra nhiều. Chẳng hạn câu này thầy biết nghĩa lý nó làm sao không? Ba buổi sáng cũng là một đời người. Còn chuyện đo đất đo trời buổi mới khai thiên thầy biết chưa?". Thầy giáo Tính gật đầu: "Cụ lại cho tôi nhấp chén rượu đầu nồi. Thế thì còn gì bằng nữa!". Rồi quay sang Pao: "Còn em Pao, như nguồn nước dưới sâu vận chuyển lên mặt đất thành giọt nước có ích đi!".

Pao soi mặt mình trong mặt giếng. Mặt Pao vẫn sáng trưng vậy. Rõ hơn là hai con mắt một mí, cái cằm vuông và gò mũi thẳng, toát ra một thần thái vừa chất phác hồn hậu, vừa văn vẻ, không hôn ám. Pao đã lớn, lớn thật sự rồi. Buổi sớm, nghe con gà gáy, Pao phắt dậy. Ngoài sân, con ngựa hồng một tuổi bậm bịch chân, răng nhe dữ tợn, thách thức. Trong hiên, anh Tủa đứng chống sườn, môi bậm, mắt nheo nheo cạnh chị dâu đang đẩy cối xay ngô rì rầm. Pao xuống sân, bước tới, tay trái đặt lên cổ con ngựa. Con ngựa phì hơi qua lỗ mũi trắng lóa. Thình lình, chân Pao gập lại và tay phải Pao như kìm ngoạm trúng chân trái con hồng, giật mạnh. Con ngựa ngã nghiêng, hai chân trên không đạp loạn xạ, cố chống cự. Pao nhanh như cắt vòng cả hai tay qua lưng bụng nó, cổ bành căng, hực một tiếng trong lồng ngực, xốc nó lên. Con ngựa như đứa trẻ quá khổ bị nhấc khỏi đất, kêu thất thanh sợ hãi. Anh Tủa cười gật gật: "Sức trai vật ngựa được rồi thì mọi việc nương ruộng giao cho em nhé, Pao!".

Pao đã lớn. Pao đi cày nương đá. Pao phát rừng lau. Pao tham gia lực lượng công an của anh Tủa. Pao vác súng đi săn con lợn độc chuyên phá nương sắn. Một bận, ở giữa rừng già thuần phác gặp một thảm hoa sặc sỡ các cung màu nhưng ẻo lả, èo uột, chập chờn, người bỗng thấy mê mê như hít phải hơi độc, sợ quá liền cắm cổ chạy về. Gặp thầy giáo Tính ở nhà Mo Chúng đúng lúc trời đổi mưa, sấm sét rung trời. Mo Chúng nói: "Nó là cây thuộc phiện đấy, Pao à. Cái cây ra hoa kết quả gây hoảng loạn cả trời đất nên sấm chớp ầm ĩ lên đấy. Thằng Cấu đem cái xấu, cái ác về San Cha Chải rồi!".

*

Cấu đem cái xấu, cái ác về San Cha Chải rồi. San Cha Chải bình an, chó không lo giữ nhà, nhà không cần khóa đồng, khóa sắt, chim dạn người, trâu không biết màu trắng, miền đất chưa vong thân, như người nhảy một bước vượt rào, nẩy nòi ra thằng ăn trộm.

Kẻ trộm Cấu lẻo khoẻo, tiểu nhân lộ tướng, giờ đã có da có thịt. Ðầu hói mũi khoằm, mặt rỗ, mắt rắn, bao nhiêu tinh tướng ác nghiệt giờ hiện ra cả. Cấu thổ vào không khí thanh sạch San Cha Chải mùi á phiện khài khài. Tình dục và nghiện ngập là hai kẻ xấu dẫn đường cho tội lỗi. Cấu ăn trộm quả bí, ổ trứng, con gà đang ấp. Cấu chẹn đường người đi chợ. Cấu đột nhập vườn cây tam thất nhà Mo Chúng. Cấu nhăm nhăm sấp tiền năm nghìn, mười nghìn buộc dây chuối Mo Chúng giấu trên gác bếp. Cấu thù ông vì ông biết quá nhiều về nó.

Cuối cùng cái phải đến đã đến. Buổi sáng ấy hiện ra trong tiếng người nhôn nhao và chó sủa hoang mang. Pao mở mắt đã thấy chị dâu giúi vào tay một túi lanh đựng bột ngô đồ, giục: "Chú cầm đi ăn đường. Ra trụ sở ủy ban, anh Tủa đang cần gặp".

Trụ sở ủy ban xã mái lợp cỏ ủ ê sương mây, sân đầy người, cửa ra vào nghẽn tắc. Trong nhà, Tủa, trưởng công an xã, chễm chệ trên ghế. Dưới đất, Cấu áo rách xõa vai ngồi gục mặt trong hai cánh tay vòng qua gối. Cạnh Cấu, bà góa Cài váy lanh, áo hở cổ trắng nhễu, má đỏ rạn, ngực nở phập phồng.

Tủa đập bàn, quát:

- A Cấu! Mày chưa chết đã thối. Ðã nghiện hút lại không lo làm ăn, chuyên đi trộm cắp của người. Mày như lông mọc trên da cũ. Mọi người cầm cày cuốc, kèn sáo, mày lại thủ trong tay con dao nhọn để đâm ông Mo Chúng. Ông Mo Chúng bị mày đâm hai nhát, may chỉ vào tay vào chân, nhưng tội mày vẫn đáng tội chết. Mày là ngọn gió độc đem dịch bệnh về đây, ta sẽ đưa mày ra huyện để mọi người biết cái tội của mày.

Bà góa Cài ngẩng cái cổ nõn nà lên, nhễ nhại:

- Giải nó ra huyện thì giải, nhưng đừng trói nó. Cái lý người Mèo nói: Ðời người Mèo bị sợi dây dính vào mình là hỏng hết rồi, anh Tủa à.

Tủa đứng dậy, bé choắt, đen sắt, bước tới. Kéo Cấu đứng lên, quay ra cửa nhìn mọi người chứng kiến, Tủa đánh nhanh tia mắt vào khuôn ngực nở bồng của người thiếu phụ đa tình, đoạn tủm tỉm:

- Tình yêu biết vận cả lý lẽ để tự vệ, mọi người nên học tập. Còn bây giờ, chiều lòng cô Cài, tôi có lời giải động cho nó đây - Ðấm nhẹ một cái vào lưng tên tội phạm, anh trưởng công an xã cao giọng, rành rọt - Từ nay mày không còn là người Mèo ta nữa - Ðoạn chống tay lên sườn, thét to:

- Ðược chưa? Dân quân đâu, trói nó lại. Pao, dẫn nó lên huyện!

Ðám đông ngoài sân, ngoài cửa dào lên một tiếng reo thán phục Tủa và giãn ra cho Pao dẫn Cấu đi.

*

Ði sau Cấu là Pao chĩa khẩu CKC.

Trời mở bốn phương, tám hướng, sáng choang như được một nguồn thần lực chiếu tỏa. Trần mây cao vút, vắt qua vắt lại những sợi mây trắng muốt, mảnh như lông đuôi ngựa. Vòm trời bát ngát như thuở ông Chày bà Chày mới làm ra đất ở chuyện đo đất đo trời Mo Chúng kể. Ðất rộng quá, nhờ nhái bén đo, nhái bén đo không nổi. Trời rộng quá, nhờ chim én đo, chim én đo không xong. Phải nhờ diều hâu. Ðất trời rộng rãi quá, một mặt trời, một mặt trăng soi chiếu không đủ. Phải chẵn ba mươi cái mặt trời, phải đủ ba mươi cái mặt trăng. Ðất trời bao la quá, Pao nhìn xuống chân mình, tự hỏi chẳng biết đôi giầy nào lạc bước tới đây. Ðất trời mênh mông quá, đời người rộng quá, Pao ngơ ngẩn tự hỏi, biết bao giờ mới hiểu hết mọi điều, mới trở nên khôn ngoan như anh Tủa của mình.

Pao thấy mình bé nhỏ và nhìn xuống chân núi xa mờ thấp thoáng cảnh tượng phố huyện như trong hư giác, Pao có cảm giác như vừa từ xứ sở này bước sang xứ sở khác, lạ lẫm, khó hiểu vô cùng.

Cấu hoàn toàn không giống Pao.

Bị trói hai tay quặt ra sau mà Cấu vẫn phăm phăm bước. Gặp dốc, chân toại đít trệt đất, Cấu trượt từng đoạn dài. Sau mỗi khúc ngoặt, cái đầu mới gọt của Cấu lại nghênh ngáo nhìn trời. Có lúc lại dừng lại, hít hà thích thú vì chợt nhận ra một cảnh trí quen thuộc. Tới một vòng cua, nhìn thấy phố huyện nhấp nhô hình khối, lão quay lại hất hàm vào Pao, thân mật như bạn bè: "Pao, giá mà có một cái thang dây thả xuống thì có phải tiện không nhỉ?".

Lát sau, tới đỉnh một con dốc. Cấu bỗng dừng chân và quay lại nhìn Pao, nằn nì:

- Pao à. Bên trái ta là miếu Quan Âm thiêng lắm. Tay anh bị trói, nhờ cậu nhặt một cây sậy khô đặt cạnh nơi thờ phụng hộ.

Bên trái đường là một hốc đá nhỏ, bên trong có một bát hương và ba cồ đá quàng vải đỏ từa tựa hình người. Tục truyền đó là miếu thờ Phật bà Quan Âm. Ai qua đây, đặt cây sậy sẽ được Phật phù hộ leo dốc chân không mỏi, xuống dốc gối không chồn, đường xa gặp nhiều điều may mắn.

Pao nhặt hai cây sậy, một cho mình, một cho Cấu, đặt cạnh hốc đá thờ.

- Cám ơn cậu. Thôi anh em ta đi kẻo nắng. Con mắt đánh lừa thôi chứ đường còn xa lắm.

Cấu nói và rảo bước đi trước, tự nhiên như kẻ dẫn đường. Pao theo sát lão. Lát sau, một già một trẻ chênh vênh bên bờ một vực sâu. Cấu ngoái lại:

- Cậu Pao này, cứ nghĩ một mình lại thấy buồn cười.

- Sao?

- Anh Tủa thì đen thủi đen thui. Em Pao thì trắng hồng đẹp đẽ.

- Sì!

- Nói thật đấy. Cậu là giọt nước quý, là hạt bạc hạt vàng San Cha Chải. Tôi là con gái tôi mê cậu liền.

- Sì!

- Ơ kìa, anh trai Pao ơi, anh trai không biết là các em Seo Say, Seo Mùa mê mẩn anh như thế nào à. Húi! Chẳng bù ông Tủa. Ông Tủa mấy cũng chưa đủ. Cả con mụ Cài của tôi nữa. Chà, nhất là Seo Say, uống chén rượu đầu của lão Mo Chúng say thế nào thì nó say anh như thế đó. ồ, thế anh trai Pao là con gà trống thiến à? Nếu không, sao không thử một lần xem sao!

Mặt Pao nong nóng. Cấu bịa chuyện, lại chuyện trai gái tục tĩu. Nhưng có chuyện nghe, đường xa cũng đỡ nản. Mặt trời đứng bóng, cái đói râm ran bụng, tới đoạn đường có cây mí già rợp bóng, Pao dừng lại: "Nghỉ một tí" Pao nói, đi cách Cấu hai bước chân, móc túi bột ngô, ngồi xuống.

- Này, ông Cấu, ngủ à. - Vốc mấy vốc ngô bột đút miệng, nhoai cổ nuốt, Pao quay lại, thấy lão già tựa lưng gốc mí, mắt gà gà, liền bước tới: - Há miệng ra, tôi bón cho. Cấu mở choàng mắt. Cổ họng nhún một miếng nuốt. Rõ ràng là đói ngấu rồi. Ðêm qua mò vào ăn trộm, rồi vật lộn với ông Mo Chúng, đã có gì vào bụng! Mệt, đói, lại đã nửa ngày đường, họa có sức ngựa dữ mới không lử lả!









Cấu há mồm, thè lưỡi. Nhưng tay Pao vừa chạm môi lão, lão đã giật lui, gục mặt xuống, rũ rượi:

- Tôi bằng đứa bé lên một rồi.

- Phải thế thôi. Cũng là tại ông thích làm kiếp già lừa ưa nặng, nhìn con mèo lại vẽ thành con hổ?

Ngẩng mặt lên, tắt ngay một ánh nhìn dò xét lướt qua mặt Pao, Cấu gượng gạo há mồm. Miếng bột ngô quện nước bọt đắng ngắt nghẹn ắng. Lão nhoai cổ nuốt:

- Thì tôi phải tự thồ lấy tội thôi.

- Tôi không ngờ ông độc ác thế!

- Tôi xấu hổ lắm. Tôi biết tôi hư đốn từ lâu rồi, cậu Pao à.

- Hừ!

- Nhưng cậu cũng thông cảm cho tôi! Tôi bị con mụ góa nó quyến rũ. Tôi bị con ma nó sai, con quỷ nó khiến. Tôi có muốn hại ông Mo Chúng đâu, thực tình là thế.

Nước ứa khỏi hốc mắt, Cấu đứng dậy, mặt giần giật như là bị cơn tự thú giày vò. Hai tay bị trói, Cấu chỉ còn cách nhấc bả vai lên đập vào mặt mình. Mỗi lần đập là một lần rít qua hàm răng nghiến chặt tự rủa: "Cấu"! Mày là người không tốt. Cấu! Mày là con chó thối!".

Pao vội chống súng đứng dậy, đưa tay xua, ngất ngứ nghẹn hơi:

- Ông Cấu, không nên thế! Không nên thế, ông Cấu!

- Cậu cứ để tôi tự trừng phạt mình. Cứ để tôi khóc cho tôi nhẹ lòng. Tôi biết, cậu có thù oán gì tôi đâu. Còn ông Tủa, thực tình ông cũng chỉ ghen tôi với cô Cài thôi. ối!

Ðang than vãn và tự sỉ vả, Cấu bỗng như giẫm phải gai, giật nảy người, thét to một tiếng. Vừa lúc, gáy Pao cũng bị một mũi kim nhọn hoắt xuyên thấu buốt tới tận đỉnh đầu. Nhìn sang, thấy Cấu há hốc mồm, mắt đảo thiên đảo địa, chân nhảy tành tạch, cuống cuồng. Pao liền kêu to: "Ruồi vàng đấy! Chạy đi".

Quanh Pao, quanh Cấu, đuổi theo hai người là những vòng bay vu vu. Lũ ruồi vàng làm tổ ở khu rừng vầu cạnh đường, vừa ngửi thấy hơi người, đã bay ra, nhằm họ hút máu, hút mồ hôi mặn.

Cấu trước, Pao sau, cả hai cùng tung tóa, hốt hoảng. Qua cánh rừng vầu, hết bãi nương sèo, tới một bờ suối lớn, hai người mới dừng lại và vừa thấy mặt nhau liền ôm bụng dụi xuống đất. Buồn cười lắm mà mệt quá không cất được tiếng. Cả kẻ tội phạm lẫn người áp giải đều như nhau. Cùng lem luốc, nhễ nhại.Cùng lử lả như sắp đứt ruột mà chết. Cùng dị hình dị tướng vì sưng vếu, méo mó mặt mày. Nọc ruồi vàng ác hiểm quá. Pao bị nó chích một phát vào gáy, một phát vào cổ, ngứa ran, nóng bừng. Khốn nạn là Cấu. Hai tay bị trói, chạy đã khó, lại vô phương chống đỡ. Ðâu có được như Pao còn có thể cởi áo, vừa chạy vừa văng áo đánh đuổi lũ ruồi ác. Ðã thế cái đầu trọc giờ mới thật báo hại lão! Ðầu lão, trước sau, trái phải, nổi cục nổi hòn mưng tấy. Ðau, buốt, nhức, ngứa, xót lão chỉ còn cách cọ lưng vào tảng đá bên đường và cắn răng nuốt nghẹn, để mặc nước ri rỉ chảy ở đuôi mắt.

- Ngứa lắm, hả ông Cấu?

- Ngứa!

Lọt qua giữa hai hàm răng nghiến chặt là một tiếng rít gió. Ðau đớn, uất nghẹn, tủi nhục, đã có lúc Cấu nhảy dựng lên và hộc một tiếng kêu tắc nghẹt. Pao quay mặt đi. Pao chưa bao giờ gặp cảnh huống này. Chưa bao giờ Pao thấy một người già khóc tức tưởi uất hận như thế.

- Ông Cấu này, bây giờ tôi cho ông tắm một tí nhé.

Vừa nhướng hai mi mắt trên, Cấu vội cúi gập mặt, rầu rầu:

- Tôi sợ phiền cho cậu. Với lại, tôi bị trói thế này.

Pao nhìn dòng suối bên đường, nhìn quanh, ngần ngừ giây lát, rồi đi ra sau lưng Cấu, tay lần tìm nút dây trói:

- Ông Cấu! Ông đã ân hận. Tôi tin ông.

- Cám ơn cậu. Thân ong tự ngắt làm ba đoạn, tôi tự biết chứ!

Cấu nhảy ùm xuống suối. Lặn một hơi, Cấu ngoi lên, thấy Pao lăm lăm ngọn súng dõi theo, liền nhe hàm răng xỉn:

- Mát lắm, Pao ơi! thật không đâu mát như nước suối quê ta. Tắm đi, cậu.

Pao lắc đầu. Cấu lại ngụp đầu, lại ngoi lên, kỳ cọ bả vai, xoa cổ, vò đầu, hít hà khoái trá. Rồi phởn, lão còn chúc đầu chổng phộc người, chồng cây chuối, vẫy vẫy hai cẳng chân giơ ngược gọi Pao. Lát sau, thỏa mãn, Cấu bò lên bờ đá, ý tứ khum khum tay che hạ bộ, mặc lại quần áo, đi đến bên Pao:

- Cậu trói lại tôi đi! Rồi cậu tắm một cái đi cho mát mẻ. Xong, ta đi. Một thôi đường nữa là tới huyện rồi.

Thít vòng dây cuối cùng, thắt thật chặt núi trói hai tay Cấu, Pao chỉ tảng đá bên bờ cho lão ngồi, rồi ghếch khẩu súng vào cạnh một bụi cây và cởi quần áo, tụt xuống nước. Nước mát lịm mời mọc. Pao vớt nước táp lên mặt, lên tóc. Thích quá, Pao nhúi đầu xuống nước. Pao chìm hẳn xuống nước như con rái cá. Hai lần như thế, ngoi lên Pao đều thấy Cấu giậm chân cười khành khạch: Lặn giỏi thế, San Cha Chải chỉ có Pao thôi!.

Lần thứ ba, Pao nhô đầu khỏi mặt suối, đưa tay vuốt mặt, bỗng thấy hẫng con mắt. Chỗ Cấu ngồi giờ chỉ còn là tảng đá trống: "Ông Cấu!", Pao quát gọi, nhảy vọt lên bờ, nhấc khẩu súng và nổ một phát chỉ thiên. Núi vọng lại tiếng súng, tiếng Pao thét: "Cấu, lão đã lừa ta. Ta cho lão nợ một món to đấy!".

Lừ lừ hai con mắt im phắc như hai vết dao xẻ, Pao đến nhà bà Cài. Gọi bà góa ra, Pao nói thật chậm:

- Bà Cài. Ông Cấu hơi coi thường tôi... Nhưng tôi nói để bà bảo ông ấy: Nợ càng để lâu lãi càng lớn đấy!

Bà Cài vênh đôi gò má cao:

- Cấu với tôi thành người lạ rồi.

Pao lừ mắt:

- Bà cũng tưởng tôi còn là trẻ con, hử ?

Pao lầm lì. Miệng ngậm. Mắt gườm, suốt ngày không mỏi. Soi trong giếng nước, có lúc giật thột, vậy đưa tay lên rờ mặt: Ai thế nhỉ ? Con người luôn xa lạ với chính mình. Con người luôn dao động giữa các cực căng thẳng. Chỉ có thể hiểu được nó bằng kinh nghiệm riêng, bí ẩn và sự từng trải cũng rất bí ẩn. Vì con người khó hiểu, khôn lường. Như anh Tủa đó. Anh Tủa được điều ra làm việc ở huyện, được đề bạt làm phó công an huyện. Nghe nói anh sẽ xây nhà gạch ở ngoài đó. Rượu ngô của Mo Chúng anh chê uống xổng, giờ anh uống toàn rượu Tây. Anh tuyển mộ cô Seo Mùa xinh nhất xã làm nhân viên văn phòng. Có người nói thấy hai người sống với nhau cùng buồng những ngày chủ nhật. Anh Tủa chỉ mặt Pao quát: "Cái thằng ngu xuẩn, dái có to mà không có hột kia! Mày không bắt lại được lão Cấu thì mày thay nó vào tù". Chị dâu bênh Pao, bảo Pao không có lỗi, lỗi là ở lão Cấu, là do xã dung dưỡng lão quá lâu. Anh Tủa quát: "Bà là cái chõ đồ xôi biết gì!". Pao uất. Pao đến nhà thầy giáo Tính, gặp Mo Chúng ở đó. Mo Chúng đã chữa lành vết đâm của Cấu. Mo Chúng bảo: "Ðừng lo! Cái gì đến nó khắc đến! đừng sốt ruột". Rồi ông thêm: "Cấu nó có lòng thành với Phật bà Quan Âm nên nó được phù hộ đấy". Pao ngất ngư: "Sau lúc ấy, cháu như người bị mê". Mo Chúng cười: "Thầy Tính và Pao biết câu hát này chưa: Mười tuổi tắm không biết rét. Hai mươi tuổi yêu không biết mệt. Ba mươi tuổi bắt chim không cần nỏ. Bốn mươi tuổi, giỏi buôn bán đường xa. Cháu muốn khôn trước tuổi à ?!".

Pao muốn khôn trước tuổi! Quên cả mối tình mới nở với cô Seo Say, ngày đêm Pao nung nấu ý chí thanh toán khoản nợ với lão Cấu. Pao rình ở trước nhà bà Cài. Pao nấp ở nương nhà bà góa nọ. Lão Cấu không phải là con thú, không thể sống đơn độc một mình. Lặng lẽ Pao theo sau người đàn bà đa tình này đi chợ. Bà này địu trên lưng những cái ống điếu, những cái gáo gỗ, những quả nhạc đuôi ngựa. Tay đàn bà không làm ra được những đồ vật này. Dõi theo bà này từ xa, thấy bà bán hết những vật dụng nọ, lại ra hàng may mặc mua hai bộ quần áo đàn ông, Pao chắc mẩm Cấu chỉ quẩn quanh đâu đây, như kiến bò miệng chảo nóng thôi. Bạn bè Pao cười: "Pao à, cứ chui gầm giường nhà bà góa Cài là bắt được lão Cấu đấy". Lại có thằng thêm: "Nhỡ không phải lão Cấu thì sao?". Những đứa khác nhao nhao: "Ai! Ai?". Pao biết, chúng ám chỉ ai rồi, mặt đỏ rần rần, Pao bỏ đi.

Một lần, có việc sang thôn bên, trở về đến đoạn miếu Quan Âm thì trời nhá nhem. Ðang đi, bỗng vấp nhẹ, Pao ngẩng lên, liền thót người đứng ngay đơ, mặt đỏ dừ. Trời, ngay cạnh hốc đá thờ, một người đàn ông đầu trọc đang hấp hổm trên bụng một người đàn bà tóc xõa rối, váy áo tung tả nằm trên thảm cỏ ngải. Sao lại làm tình với nhau giữa ban ngày, nơi đường lối đi lại! Sao Pao lại lỡ bước tới đây! Xấu hổ cho Pao quá. Quay ngược trở lại con đường vừa đi, Pao chạy trong mê. Qua cơn mê hoảng, Pao dừng lại, vì sực nhớ. Cái đầu trọc méo mó của người đàn ông sao giống đầu lão Cấu. Vội vàng, Pao quay trở lại. Tới hốc đá nọ. Pao sững người, lưng như sụt mất đốt sống, mồ hôi toát đầm đìa. người đàn ông đầu trọc đã biến mất. Cạnh hốc đá thờ chỉ còn lại bà góa Cài ngồi trên thảm cỏ nhầu, cổ, mặt lấm tấm mồ hôi, vừa xốc lại váy áo, đang thong thả chải đầu. Cỏ ngải xanh bị chà nát bốc mùi tinh dầu thơm nằng nặng. Khóm ngải tàn rồi khóm ngải lại xanh. Câu hát hết rồi câu hát lại bắt đầu. Thời gian đã đi qua bao lâu không nhớ, chỉ biết lại đến một hôm xóm thôn nhộn nhạo tỉnh giấc. Nhìn ra đường thôn, mình lại thấy: Cấu đi trước, hai tay bị trói quặt sau lưng, Pao đi sau, nách cắp khẩu súng kíp, má trái có vết xước rớm máu, mắt lì lì. Ðang giờ vào lớp, học trò thầy giáo Tính chen đến cạnh Pao, líu tíu: "Anh Pao ơi, anh bắt lão ấy ở đâu thế?". "Nó cào anh, anh có đau không, anh Pao?". Pao không đưa lão Cấu vào trụ sở ủy ban xã. Pao dẫn thẳng Cấu ra huyện. Coi như mấy năm qua vẫn là trên đường đi chưa đến đích.

Cấu đi trước, Pao đi sau. Cảnh lặp lại, nhưng không giống lần trước. Vì lần này qua miếu Quan Âm, Pao chỉ chống một cây sậy cho Pao. Hai người đi tắt không qua rừng vầu có ruồi vàng. Qua con suối lớn, Pao không dừng lại. Ðường đi không có tiếng nói đi theo. Vì lần này Cấu còn có chuyện gì mà nói. Vì lần này môi Pao không một lần mấp máy. Pao đã khôn rồi. Pao nghiêm nghị ngẫm nghĩ. Pao câm lặng như núi đồi, như cảnh trí vô thanh.

Vô thanh cả trời đất, xóm làng San Cha Chải, vì từ sau hôm Pao áp điệu Cấu ra huyện, ba ngày qua, vẫn không một tin tức theo gió bay về. Một tuần qua, cũng vẫn vậy. Thầy giáo Tính sang nhà Mo Chúng, xoa xoa hai bàn tay, khấp khởi:

- Hóa ra Pao nó rình ở nhà bà góa Cài, Mo Chúng à.

- Vậy à?

- Nó rình cả đêm như con mèo rình con chuột. Muỗi hút máu đỏ mọng cả hai bàn chân. Lão Cấu nửa đêm mò về, nó biết. Nó cứ để mặc. Gần sáng, lão dậy, mở cửa đi ra. Nó mới đưa tay ra tóm cổ lão, áp lão vào bờ tường: "Sao hôm ấy tắm xong ông đi đâu mà tôi gọi mãi không thấy về. Thôi, anh em ta đi kẻo nắng". Bà Cài chạy ra, tốc váy xong lại cào cấu Pao. Rồi kêu van: "Em đừng trói nó, tội nghiệp, Pao ơi!". Pao nói: "Tất cả là do trâu be muốn mang ách thôi, đừng trách oán gì tôi".

- Pao là người có trí lực đấy! - Mo Chúng nói.

Thầy giáo Tính thêm:

- Hồi đi học, Pao là đứa hay xấu hổ, ít nói lắm. Một bận tôi cho cả lớp vẽ tự do. Pao nộp tôi bức tranh vẽ một con chuột nhắt đứng run rẩy cạnh một khối hình tròn. Tôi hỏi: "Khối hình tròn là cái gì?". Nói đáp: "Thưa thầy, đó là phía sau lưng con mèo". Con người ta nói thì không nhất thiết, nhưng nghĩ ngợi thì nhất thiết phải có - Ngừng một lát, thầy giáo Tính cắn môi, gật gù: - Sao đến giờ vẫn chưa thấy Pao nó về. Liệu có bị Cấu lừa lần nữa không? Sao, tôi cứ lo. Cái xấu, cái ác, sao nó quỷ quái, nó khôn ngoan hơn cái tốt cái đẹp?

- Không! Cái xấu cái ác là cái ích kỷ nhằm hại người nên nó phải khôn ranh quỷ quái. Cái tốt, cái đẹp là cái hiền hậu, nó vô tư bền vững hơn. Nó là cái khởi thủy. Có điều nó phải chuyển động, để tự khôn lớn dần lên, để trở nên có ích. Như thầy đấy. Mười năm thầy ở lại đây dạy trẻ con Mèo rồi. Cái tốt, cái đẹp của thầy lớn lao, cái gì so nổi.

- Thế thì có khi huyện giữ Pao lại?

- ừ, có thể là huyện giữ Pao lại!

Huyện giữ lại? Ðể làm báo cáo thật tỉ mỉ. Ðể Pao đi các nơi kể chuyện cho mọi người học tập, rút kinh nghiệm. Bọn can án thường bỏ trốn, bắt lại chúng là một công việc rắc rối, phức tạp. Nhưng, huyện giữ lại thì cũng có hạn thôi chứ. Hai tuần trôi qua rồi. Sốt ruột, chiều nào thầy giáo Tính cũng sang Mo Chúng trò chuyện và ngóng mong. Thì trưa ấy, nghe tiếng nước rơi tành tạch ở giếng nước, thầy giáo Tính liền ngó ra. Cạnh giếng, một người trai trẻ, ngực trần, thân tròn trĩnh, dáng thẳng như cây thông nhựa, đang đứng trong màn nước trắng xoá đổ từ chiếc gáo múc ở trên đầu xuống. Lát sau, đặt chiếc gáo trên bờ giếng, người nọ đưa hai tay lên vuốt mái tóc rậm đen, ngửa mặt nhìn lên trời cao. Trên anh, vòm trời xanh thăm thẳm cổ kính, như một linh hồn thanh tao ẩn mật lớn lao đang tỏa xuống xóm thôn San Cha Chải niềm ưu ái thật dịu dàng và nhân hậu thiết tha. Ôi! San Cha Chải! Thế là sau một ngày leo dốc cật lực ta lại trở về với mình.

Thầy giáo Tính gọi tên người học trò cũ và chạy ra. Mừng quá, mồ hôi ướt đầm trán, thầy lắp bắp:

- Pao! Sao Pao đi lâu thế mới về? Sao lâu quá thế, Pao?

Pao khoác vội cái áo, chắp tay:

- Thưa thầy, em không biết tháng biết ngày, em tưởng không lâu.

- Lâu đấy. Tôi có tính ngày. Pao đi từ ngày thứ hai tuần trước.

Cảm động long lanh hai khoé mắt, Pao ngập ngừng, rưng rưng:

- Thưa thầy, em cám ơn thầy vẫn dõi theo em. Em mong được thầy thông cảm, vì suýt nữa em lại tủi hổ. Vì chả lẽ gạo ngon không có người nấu. Vì chả lẽ lại có chuyện người cầm cương, người cưỡi ngựa chống nhau, hả thầy? Em đưa ông Cấu ra huyện gặp anh Tủa em, anh Tủa em bảo: Ðể lâu quá năm năm, án thối rồi. Mày bắt nó làm gì! Lại mang tiếng là tao vì mê con mụ Cài mà ghen tức nó! Thiếu gì gái non mà tao phải dây vào con mụ nạ dòng. Vả lại, tao đang thiếu gì việc to lớn khác. Thế là em phải đưa ông Cấu ra tỉnh. Ra tỉnh đi mất hai ngày đường. Hai ngày, không lâu, nhưng đường từ huyện ra tỉnh bằng phẳng nên mỏi chân quá. Gần đấy mà xa đấy, xa đấy mà gần đấy là thế. ồ, thế là đã năm năm! Em qua tuổi hai mươi từ lúc nào, thầy ơi!

Nói hết câu cuối cùng, Pao liền bật khóc. Pao khóc tiếng khóc tủi hờn như con trẻ. Người San Cha Chải mình nghe Pao khóc, nói: Ðó là tiếng khóc lớn khôn của Pao.




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Ðùa của tạo hóa

Phạm Hoa

Quê hương tôi từ xưa thường có câu: Trai núi Ðể, gái hàng Ðông. Các cụ chỉ nói vắn tắt: con gái ở đó đĩ thõa. Tôi đồng tình với cái nhìn dân dã đó. Thực chất là nhựa sống tràn trề trong cơ thể các thiếu nữ. Bản năng sinh tồn dư dật của họ. ở cái làng thật lạ. Cô gái nào cũng xinh đẹp, đẫy đà, hấp dẫn một cách gợi tình.

Tôi có quen Loan, một cô gái làng Ðông điển hình. Từ những ngày nhỏ cô đã trội hẳn bọn con gái cùng lứa. Hình hài cân đối, trắng trẻo, cô còn hơn đứt bạn ở đôi mắt xanh nhìn mãi không tới đáy! Con bé sẽ sung sướng. Nhiều người cũng nghĩ vậy. Cũng không ít người ngờ vực. Hình như cái gì "quá" cũng hỏng! Mặc cho mọi người bàn tán, Loan vẫn lớn lên, xinh đẹp, tự nhiên, bình dị như cỏ cây. Mẹ cô nhiều lúc nghe ngóng qua thiên hạ, mà nghi ngại. Con bé nó làm sao ấy! Có lần nó ra thị xã, bà còn lấy than bôi lên mặt. Cô Loan cười rất tươi, nhưng trong bụng thì chê mẹ lẩm cẩm. Ai lại thế! Nhưng bà cương quyết hơn trong việc bắt con bé mặc áo vá khi đi dân công đắp đê.

Con sẽ sung sướng cho mẹ xem! Loan đinh ninh như vậy. Cô xinh đẹp mới là một điều kiện. Cô còn cảm thấy như vậy nữa. Chắc chắn là khác! Bao nhiêu lần chơi trò công chúa, vô tình nhưng cô đều bắt thăm được cả. Vận may có dành cho đứa nào trong đám đông ấy đâu. Và ngay lúc này thôi - Loan đã hoàn toàn là một thiếu nữ, cô đang đi trên đường cái. Trước mặt cô không rõ đàn ông hay đàn bà. Cô mỉm cười và chơi trò may rủi. "Lạy vua Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiên Thúy Kiều..." bài lạy quá quen thuộc của cô. Cô nguyện thầm: Nếu người đang đi về phía ta là đàn ông, thì các đấng thần linh trên cao hãy chứng giám cho con được sung sướng... Con cũng đoán cái bóng đang đi là đàn ông. Sau đó, cô choàng mở to mắt. Bóng người mà cô đoán đã lại gần. Nhưng sao thế này: con người đi qua mặt cô có nét của đàn bà trên mặt. Nhưng chân tay và dáng đi thì không! Cô chợt hoang mang... Ðây là một người đàn ông! Tóc, gò má, dáng đi rắn rỏi. Nhưng ngực ông ta lại lùm lùm thế kia? Loan ái ngại, cứ cố khẳng định mình đúng.

Càng ngày, càng có người dợm đặt Loan cho con em mình. Họ vào tận nhà làm quen. Họ đánh tiếng...

***

Trong số những kẻ đánh tiếng giành Loan cho con mình có bà Thuận vợ đại tá Lý, liệt sĩ. Nói đến bà Thuận, vùng tôi ai cũng biết. Ðó là người đàn bà đẫy đà, da dẻ tươi tốt, tính tình xởi lởi. Bà nổi tiếng bởi đẹp, bởi là vợ đại tá. Ngày đó, vùng tôi chỉ mỗi ông Lý là cán bộ cao cấp quân đội. Bà còn có tiếng bởi sự gia giáo, thủ tiết thờ chồng, dạy thằng Tuấn trưởng thành. Thằng Tuấn, con trai của bà và ông Lý đẹp như cái mầm cây. Tuổi con nít, Tuấn đã có dấu hiệu lêu lổng, bà phải nhờ ông chú đánh cho một trận. Trận đòn quá tay, hơn với sự hình dung của bà Thuận. Thành thử thằng bé chết khiếp. Bà giận ông chú, nhưng bấm bụng chịu. Cứ thế, Tuấn lớn lên rồi vào đại học. Cha là liệt sĩ, Tuấn được miễn giảm nghĩa vụ. Bà Thuận đánh tiếng là đánh tiếng cho Tuấn. Một thanh niên đẹp trai cao lớn lại xuất thân từ gia đình có nguồn gốc chính trị và kinh tế vững chắc như thế thì cả vùng ai còn bì kịp.

Bà Thuận cũng tin như vậy. Do đó, bà tìm hiểu tính tình con bé. Biết nó tốt bụng, dễ tính cũng là được. Ngủ dậy muộn, thì chả lo. Miễn có người con gái khỏe, tốt tính, về nhà, bà rèn sau.

Một hôm, bất ngờ bà gặp Loan đi cùng đường. Bà biết nó, chứ nó đâu có biết bà. Bà chủ động lùi lại phía sau để xem người con bé. Bà đã nhìn nhận kỹ vai, hông, chân con Loan. Dáng đi của con bé thật mềm mại, uyển chuyển. Eo thắt lại, nhưng đến mông thì phình ra, tròn trịa gọn gàng. Với con mắt thật tinh đời, bà biết đây là con mái tốt. Da dẻ mát mẻ, trắng trẻo, dáng đi thoải mái, không vướng víu gò bó thì có lợi cho việc sinh nở.

Nhưng tận sâu trong cảm giác, bà Thuận vẫn còn lấn cấn. Có một cái gì đó chưa rõ, chưa chắc chắn. Là người đàn bà sắc sảo, giỏi giang, tự tin vào hiểu biết của mình, bà cả Thuận nhận ra rằng, chưa nên vội vàng kết luận.

Thiên hạ đồn đại không sai: bà Thuận quả là đáo để. Bà vừa có một quyết định táo bạo: Phải xem lại người con bé một lần nữa. Xem trong tư thế con bé trần truồng: chủ yếu là muốn xem ngực nó. Ðối với bà, ngực chứa toàn bộ cái tốt xấu hay dở của một đứa con gái. Nếu ở ngực: khoảng cách hai vú hẹp thì người đó sức khỏe yếu. Khoảng cách giữa hai vú rộng, đầu vú vểnh ngang thì cô gái ấy khó dạy như con ngựa bất kham. Còn hai đầu vú nằm ngay ngắn chĩa thẳng vào mắt ta - cô gái ấy là vàng. Người như vậy sẽ trung thực, ngay ngắn, không biết làm điều xấu, điều ác. ấy là chưa kể đầu vú to hay nhỏ, đỏ hay đen, tròn hay méo. Ðầu vú nhỏ, tròn, mầu hồng, cô gái ấy dẻo người, mềm tính, nuôi con khéo léo. Vô phúc cô nào đầu vú đã đen, lại to, lại méo, tính tình vụng về, đụng đâu vỡ đấy, làm việc gì hỏng việc nấy, nuôi con không sài đẹn cũng chậm lớn. Cô gái nào như vậy mặt có đẹp như vầng trăng cũng xin vái chịu! Bà Thuận đinh ninh điều mình nghĩ là có thật. Hình như bà ngoại dạy bà thế, vì bà cũng chiêm nghiệm như thế. Rồi bà xuống làng Ðông gặp bà bạn. Bà này là dì của Loan. Vừa nghe xong, người bạn của bà Thuận trố mắt ngạc nhiên. Nhưng bị nài, bị ép, lại nể bạn, dì Loan cũng thuận lòng.

Hôm ấy Loan sang nhà dì giúp sửa lại chuồng lợn. Gần trưa lỡ tay dì làm đổ cái vại đựng nước tiểu. Cô bé kêu rú lên! Nước tiểu bắn tung tóe vào cả người dì và cả cháu. Loan vẩy tay, ái ngại nhưng cười rất vui. Nghe lời dì cô săm sắn đi ra ao để tắm gội.

Vườn vắng lặng. Ao nước trong vắt. Chỉ có con chim vàng anh nhảy nhót cành xoan. Loan chợt mỉm cười khi thấy khuôn mặt của mình in trên mặt gương sáng loáng. Cô đưa mắt nhìn quanh trước khi lội xuống nước. Một thoáng nghi ngại lẫn thích thú. ùm! nước bắn lên tung tóe.

Từ sâu trong bụi mía, tim bà Thuận đập thổn thức. Mặt bà có vẻ đăm chiêu. Bà đã thấy được tất cả những gì bà cần thấy. Con bé có đủ ba cái đen và cả ba cái đỏ. Các cụ bảo như vậy thì tốt lắm. Bà thấy yên tâm về Loan. Nó cũng chỉ như bà ngày xưa là cùng! Có khi còn thua kém. Và hình như bà Thuận thấy nao nao. Bà thấy mệt mỏi và buồn xỉu. Từ trong cõi vô thức bà chợt thấy mênh mang... mênh mang...

*
* *

Ðại tá Lý từng là người đàn ông mẫu mực về mọi phương diện. Thân thể ông cũng cường tráng khó ai bì. Và như thế ông mới lấy được chị Thuận đẹp có tiếng. Hai người từng có trên mười năm đầy đặn, hạnh phúc không chê vào đâu được. Sau khi chồng hy sinh, có đau đớn, có tự hào, nhưng bà Thuận gầy rộc đi phải một năm, bà mới gượng dậy được. Giống cái cây bị bão quật, bà lại mọc cành, trổ hoa tươi xanh. Thời gian ngắn, bà lại lấy lại phong độ cũ: đẫy đà, hồng mượt, ung dung, đĩnh đạc. Bà lại đẹp vẻ đẹp riêng: hấp dẫn và bề thế. Phảng phất dáng quý phái. Nhưng đấy là bề ngoài. Số phận lại đặt cược để trêu chọc. Bốn mươi tuổi, bà Thuận đang bước vào độ tái xuân. Toàn bộ sinh lực được huy động, được sử dụng. Thành thử thân thể bà càng đẹp ra, hai mắt long lanh. Nói theo lối nói các nhà sinh học thì đó là tiếng hót của con mắt, tín hiệu phát ra để đi tìm tín hiệu!

Ngoại tình thì không bao giờ. Dứt khoát là như vậy. Nhưng bà vẫn thường mơ ông Lý về. Bà lại ôm chầm lấy ông bằng cảm giác da thịt thật sự. Cả khối người, hai vòng tay, đùi ngực va chạm, xoắn riết lấy nhau. Bà tận hưởng cái tuyệt diệu của tạo hóa: cứng và mềm, rắn và nhũn, tung và hứng, trên và dưới, tấn công và bị động. Nhiều lúc người đàn bà hổn hển, mồ hôi đầm đìa với cuộc tình mà nào tạo hóa đã buông tha! Có sự tính toán nào cân đong nổi sự mất mát này chăng? Và bao giờ cũng vậy, tưởng đến sự tột đỉnh mãi nguyện, số phận lại thức tỉnh bà. Có lẽ phải nửa phút gì đó, bà Thuận mới ngơ ngác nhận ra mình vừa qua giấc ngủ. Bà giật thót tim khi thấy bóng người đàn ông lù lù tiến tới. Những bốn người. Thì ra họ có mặt trong nhà từ lúc nào đó. Bốn bóng đen im lặng từ từ tiến lại. Ðồ đều! Ðồ ăn cắp. A...! Bà kêu lên khiếp đảm. Nhưng ngay lúc đó, bà biết mình lầm. Không có ai khác ngoài bà. Bốn cây cột nhà lặng lẽ, vô tri vô giác được rọi qua ánh trăng xanh lét rõ mồn một.

Ðó là đêm! Còn ngày bà lại nghiêm ngắn chững chạc, bề thế. Ðố thiên hạ bắt gặp bà có ánh mắt lẳng lơ, đa tình hay một câu đùa sờm sỡ. Trừ một lần. Tất nhiên không ai biết. Ðêm trăng vằng vặc! Ôi những đêm trăng chết tiệt bao giờ cũng gợi tình, hướng người ta, bao che và dụ dỗ người ta vào chuyện nhố nhăng. Thoạt đầu tiếng sáo trúc thoang thoảng. Thật chỉ nghe không rõ, tiếng sáo lại chìm đi. Hình như theo gió, tiếng sáo lại hiện lên hết sức vu vơ. Bà thừa biết tiếng sáo ấy là của ai! Lão Hoành thợ đấu. Một tay gã vo miệng lốm, dỡ nhà để ăn. Nhưng người lão đậm chắc như được làm bằng lim bằng sến. Có lần nào đó, bà Thuận đã trông thấy hai chân lão đen dài, chắc nịch, đánh đều đều trên đường. Ðúng như vậy, có một lần! Lão Hoành ở một mình, không có vợ, nhưng đã ăn nằm với khối đứa con gái dễ dãi đĩ thõa trong làng. Cũng là một thằng mất dạy! Tiếng sáo lại hiện lên hết sức vu vơ. Mặt lão Hoành thì xấu, đầu óc lại đần độn. Nghe đâu đi lính, tập bắn súng mãi không thuộc, phải loại về. Ðúng là thứ đầu óc ngu si tứ chi phát triển. Cái khoản kia hắn vung vãi cho khắp thiên hạ. Gió chợt đưa tiếng sáo dội lên vu vơ như da diết một cách kỳ lạ. Thậm chí có thể tưởng tiếng sáo được thổi ở ngay đầu ngõ. Ngọn cau chợt rung đành đạch. Trăng vẫn xanh lét. Bà Thuận nhổm dậy. Bà đi ra ngõ. Tất nhiên vẫn đoàng hoàng, chững chạc. Có lẽ phải nhờ cái lão này sửa lại cho góc nhà bị dột. Nhưng sao lại đi đêm hôm? Ban ngày gặp hắn làm sao được? Bà Thuận vững dạ hơn khi tìm được cái lý để đoàng hoàng.

Bà đi vào sân nhà lão. Mạnh dạn và dứt khoát, bà đến để có việc thuê lão Hoành. Bà đã thấy lão. Cái khối đen chắc nằm dài ở chiếu. Bà chạm phải cái mùi đàn ông, quen thuộc, nhưng hơi gắt, đậm của lão. Có gì không chị? Tôi nhờ anh sửa cho cái mái nhà bị dột. Lão Hoành cười, hàm răng trắng nhởn, đần độn. Mùi đàn ông trong cơ thể sến lim của lão Hoành lại bốc lên. Một phút bối rối. Nhưng bản lĩnh và đức hạnh của bà Thuận chợt lên tiếng. Thỏa thuận xong với lão, bà Thuận bước từng bước ra ngõ. Ði như trôi về nhà, tiếng sáo của lão Hoành lại vu vơ vu vơ đến phát điên lên được. Sao đàn ông mùi mồ hôi lại giống nhau thế? Từng có lúc bà úp mặt lên ngực ông Lý. Cái mùi nồng quen thuộc thấm sâu vào bà, có lúc khó chịu, nhưng bây giờ, bà đang nhớ, thậm chí đang khổ sở vì nó.

Sáng hôm sau lão Hoành đến, bà Thuận vẻ lạnh tanh, kẻ cả. Bà mở cửa cho gã đàn ông vào nhà. Bà đang cố chống lại chính mình. Nhưng cái mùi ấy, mùi con đực chính cống lại phảng phất ngay sát bên cạnh. Trái tim bà như bị lục dậy, bị khởi động. Thân thể bà nóng dần lên. Bà cầm tay lão đến vô ý thức. Chỗ này này. Bà kéo gã vào sau nửa gian trong. Nơi tối tăm và sực mùi ẩm mốc, mùi gỗ mục. Vai bà chạm phải lão. Sự đụng chạm ít ỏi ấy khiến bà thở dốc! Cái mùi đàn ông đậm một cách gay gắt. Vú bà chợt quẹt vào cùi tay lão Hoành. Cái cùi tay rắn như sắt ấy tạo một sự dễ chịu. Bà muốn buông thả theo dòng nước. Tạo hóa vẫn không tha, vẫn dứ mồi vờn bà, diễu cợt và hành hạ con người. Tim bà đập mạnh. Hơi thở ngợp trong lồng ngực. Hình như lão Hoành ngửi thấy cái mùi ấy. Mùi con mồi chín nẫu. Lão quay lại cười nhăn nhở: cho rờ cái! lão nói rồi cầm ngay lấy tay bà Thuận. Lập tức bà Thuận tỉnh như sáo: ấy chết... đừng có vớ vẩn.

Chính đêm đó, không kìm được, bà Thuận ôm gốc cột khóc lóc vật vã. Chính nó tiễn đưa bà êm đẹp không tai tiếng gì tuổi tái xuân rực rỡ, cháy đỏ...

Thêm hai tuổi, bà Thuận cảm thấy nực cười! Bà đã qua hẳn dòng sông đục tình cuồn cuộn tạo hóa bày đặt để đùa giỡn với con người. Kể từ đó, bà thấy thanh thản, nhẹ nhõm. Bà tự hào về mình. Trong vùng người ta đua nhau khen bà trong sạch thủ tiết với chồng. Bà mỉm cười thừa nhận sự đánh giá đó. Bà vẫn giữ phong độ ung dung thư thái.

Và lúc này, bà đang kén vợ cho thằng Tuấn.

*
* *

Nghỉ hè, Tuấn đang dội ào ào nước trên đầu. Mẹ đủng đỉnh bảo...

- Tối nay, con có việc đi với mẹ đấy - Không nói nhiều và không phải bàn. Bà ra lệnh để Tuấn biết thu xếp. Anh chàng sinh viên đẹp trai ấy ngớ ra.

- Ði đâu hả mẹ?

Ðủng đỉnh nhưng vẫn tươi tắn, bà mẹ nhắc lại...

- Ði có việc.

Bỏ mẹ! Tuấn chột dạ. Tối nay anh đã có hẹn. Nói dối mẹ chăng? Không được! Có trời cũng không dám lừa bà được. Rồi tự anh thu xếp: đầu tối đi với mẹ. Sau một lát nữa, anh sẽ đến gặp bạn tình của mình. Người bạn tình anh vừa biết tên. Số phận dun dủi cô đến với anh. Tuy mới gặp nhưng hai cái nhìn đã nóng bỏng như có lửa. Cô thổn thức nhưng đầy sự e ngại. Ðấy mới là cuộc gặp chủ yếu của đợt nghỉ hè này. Niềm vui, sự hy vọng của anh. Còn mẹ, hẳn lại dắt đến một con bé nào đó! Chiều bà thôi, ta sẽ thu xếp sau.

Hôm qua, đang trên đường về nhà, tự nhiên nghe đánh đoàng một cái. Quay lại Tuấn đã gặp một thiếu nữ cúi xuống bên lốp xe bị nổ. Anh sửng sốt: quê anh sao lại có người hoàn hảo như vậy! Gương mặt trái xoan, mái tóc mềm bay lõa xõa, vẻ đẹp trẻ trung và hoàn hảo. Một thoáng lưỡng lự. Tuấn xuống xe để giúp đỡ cô bé. Cái nhìn đầu tiên khiến Tuấn không thể nào bình thường được. Có thể vì cái nhìn mạnh như một tia chớp, gây sự bùng nổ khác thường trong anh. Cái nhìn ấy sáng lóe lên, e lệ, có chứa cả thiện lẫn sự rụt rè bối rối. Sau đó Tuấn đã vận động cô gái ngồi lên sau xe. Anh đã làm công việc cồng kềnh, phức tạp chưa ai dám. Vừa dắt xe, vừa đi xe, vừa lai cô gái. Hai người đã "chết " vì nhau ngay từ phút đầu tiên. Tình yêu của tuổi trẻ là như vậy. Nó bốc cháy tự nhiên và được thừa nhận ngay từ phút đầu. Tên em là gì? Tuấn hỏi cô gái, Thanh! Cũng rụt rè, nhỏ nhẹ cô bé đáp. Hình như cô vẫn giữ lại được sự phòng thủ hờ hững. Em ở làng nào? Làng Xuân. Cô gái đã nói dối Tuấn. Khi đưa tới làng Ðông, thấy cô dắt xe vào ngõ có cây gạo. Tuấn mới mỉm cười nhận ra sự nói dối của cô gái. Tuy thế, cô vẫn lặng lẽ gật đầu, hai mắt long lanh đồng ý cho anh chàng tới chơi. Suốt một ngày đêm, Tuấn hồi hộp chờ đợi cuộc gặp lại với Thanh.

Bà Thuận cũng đưa Tuấn xuống làng Ðông. Khi bà rẽ vào ngõ có cây gạo anh chột dạ. Không có lẽ cô Loan mẹ giới thiệu lại cùng nhà với Thanh? Chớ trêu thay tạo hóa lại một lần nữa tạo nên sự trùng hợp ngẫu nhiên đến lạ lùng. Khi bà mẹ trong nhà gọi Loan bê nước cho khách thì tim Tuấn ngừng đập. Cô gái sẽ xuất hiện trước hai mẹ con Tuấn là ai đây? Loan hay Thanh? Rồi cô gái từ từ đi ra. Chính là Loan. Bối rối, nhưng sung sướng chan chứa ánh mắt nhìn. Cô bé lướt mắt qua Tuấn. Lễ phép chào mẹ, chào anh, khoảng một chút gì đó lui vào nhà. Thì ra Loan nói dối Tuấn. Tên cô không phải là Thanh.

Sau này khi thuộc về nhau Loan nói: Em yêu anh ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên. Tuấn đáp: Anh cũng thế. Họ vùi người vào nhau. Tuấn tận hưởng sự thơm tho tuyệt vời dành riêng cho anh. Hôn lên mặt, lên mắt, lên tóc, vào gáy, vào ngực. Tuấn vẫn thấy khát khao, chưa thỏa. Anh ôm riết lấy Loan vào lòng. Hình như anh cảm thấy sẽ có một lực lượng nào đó sẽ cướp mất Loan của anh. Vì thế, phần nhiều thời gian anh dành cho Loan, anh còn có ý tranh thủ, gấp gáp tận hưởng sự ngọt ngào có được từ Loan.

Mặc Tuấn vòi vĩnh được thỏa mãn cái việc ấy. Loan cốc vào đầu giễu cợt, cảnh cáo. Anh vẫn như con thú say máu đến ngơ ngác. Lần đầu tiên bà Thuận cáu với Tuấn:

- Con phải sống cho điều hòa đứng đắn. Dạo này mẹ thấy con có vẻ buông thả.

Bà Thuận nghiêm khắc cảnh cáo Tuấn. Yêu con, bà lo cho nó thực sự. Thân thể thằng bé hao đi đến một nửa. Bà xót xa chăm sóc Tuấn. Có đêm bà còn lặng lẽ ngồi bên đứa con trai, dùng khăn chấm từng giọt mồ hôi cho nó. Chợt bà nhận ra một điều: sự hấp dẫn chết người của con Loan làm hao kiệt Tuấn chứ ai? Mặc cho việc chuẩn bị đám cưới vẫn tiến hành, trong sâu xa, bà Thuận chợt thấy một con Loan như mụ phù thủy vậy. Chính nó, cái con bé bà đã lựa chọn ấy, hãm hại thằng Tuấn chứ ai!

*
* *

Ðám cưới khá to.

Người giúp việc cuối cùng ra khỏi nhà trả lại sự ắng lặng vốn có. Tuấn rửa mặt mũi, chân tay sắp sửa đi ngủ. Bên trong cánh cửa buồng kia Loan đang chờ anh. Giới hạn cuối cùng bao nhiêu lần định phá mà không phá được đang chờ anh. Sự nguyên vẹn trinh trắng của người vợ yêu quý đang chờ đợi. Giây phút đẹp nhất trong đời một con người đang đến từ từ trong đêm nay. Loan sẽ không cốc vào đầu, hoặc không cưỡng được nữa. Hai người chỉ chờ đợi đến nín thở giây phút này thôi.

Phơi khăn mặt, giục mẹ đi ngủ, Tuấn vừa bước vào hướng cửa buồng thì có tiếng gọi:

- Tuấn.

- Dạ.

- Lại đây.

Tiếng gọi nghiêm trang dứt khoát của bà mẹ khiến Tuấn như sực tỉnh.

- Có gì à mẹ.

- Có.

Mẹ anh vẫn ung dung, thư thái ngồi trên sập gụ. Bà chưa có ý gì đi ngủ. Tư thế của bà chuẩn bị cho cuộc nói chuyện dài. Tuấn tỏ vẻ sốt ruột.

- Ngồi xuống đây.

Mẹ anh nói bình tĩnh, đầy quyền uy. Bà vừa nhai trầu, vừa ngẫm nghĩ. Vẻ mặt của bà sâu xa, nghiêm khắc, âm thầm và rõ ràng không nhiều niềm vui như ngày trước. Anh vội, còn bà thì thong thả, đĩnh đạc.

- Có gì không hở mẹ?

- Có.

Bà vẫn không thèm nói ngay. Ðó cũng là cung cách giao tiếp của bà. Không bao giờ vội. Bà để cho người được giao tiếp phải chờ đợi, mệt mỏi, thậm chí bẳn cáu. Bà không thèm quan tâm. Cuối cùng bà Thuận lên tiếng.

- Mẹ có chuyện nói với anh thế này. Hạnh phúc là về lâu về dài. Mẹ muốn anh phải giữ gìn, đừng có dốc, đừng có cố quá. Các cụ dậy đa dâm thì bại thận! Con phải coi chừng! Yêu ai cũng phải vậy, phải có điều, có độ. Phải biết chăm đến mình. Có còn cái thân mình thì mới còn sống, còn vui còn buồn, còn mẹ còn con. Mẹ khuyên con chỉ một lần thôi đấy, quá đi là không có được.

- Vâng ạ.

Tuấn trở vào buồng. Bà Thuận nhìn theo, ánh mắt long lanh là lạ. Một lát sau, bà tắt đèn đi nằm. Nhưng bà đâu có chợp mắt được. Hình như bà bắt đầu mất thằng Tuấn. Bà đã truyền nó qua tay con Loan. Ðứa con gái hoàn hảo bà đã tìm kiếm, lựa chọn, ngắm nghĩa và xem xét kỹ như ông nông dân tính toán trước khi mua một con giống. Vậy mà chính nó lại gây nên sự mất mát này. Bất chợt, như có những ngọn gió lạnh réo xiết trong lòng bà đến buốt nhói. Ði đâu về là nó nhào xuống làng Ðông. Bà không còn được vuốt má, vuốt đầu con. Và thằng Tuấn cũng không có bụng dạ nào nhổ tóc sâu cho mẹ. Nó cũng không còn thì giờ để nói chuyện hoặc nhìn thẳng vào mặt mẹ âu yếm, tươi cười lấy một lần. Bà Thuận càng nghĩ càng ngấm ngầm bực bội. Lại còn con bé kia nữa. Nó lễ phép với mình, nó vâng vâng dạ dạ cho qua chuyện rồi vội vã cuốn xéo đi với nhau.

Vẫn không ngủ được. Trái lại, hai con mắt của bà mở trừng trừng. Nó cứ sáng dần lên, rồi từ từ cháy đỏ như hai ngọn đèn quá điện. Màn đêm huyền diệu, bí ẩn, hấp dẫn, đồng nghĩa với sự sinh sôi tang tóc, êm dịu và ma quái. Trong cái mịt mùng tứ bề ấy hai mắt bà Thuận cháy rực lên. Nội lực nào đã khiến mắt bà sáng hết cỡ. Chợt bức tường chắn căn buồng đôi vợ chồng trẻ trở nên mỏng tang như được thưng bằng vải màn mỏng. Bà Thuận nhìn thấy tất cả, rõ mồn một. Những hình ảnh đang diễn ra trong cửa buồng kia hiện lên không thiếu một cử chỉ, động tác. Chúng xoắn lấy nhau, chúng vật lộn cấu xé. Những âm thanh không kém phần kích động. Tiếng vật mình, tiếng hổn hển. Tiếng quật chăn thình thịch. Tiếng thở dài khác thường. Bà Thuận thấy rõ thằng Tuấn (da thịt của bà, hòn máu của bà, hình ảnh còn lại của ông Lý) đang phớt bà đi. Nó đâu có thèm lưu ý đến sự chỉ bảo của mẹ. Láo thật. Hết lần này đến lần khác, thằng bé đang dốc kiệt sức mình cho con bé. Sự tham lam của con Loan là không thể chấp nhận được. Không những thế, nó còn giang vòng tay chờ đón nồng nhiệt. Bà Thuận thấy rõ như vậy. Ôi, cái lỗ thủng không đáy ấy sẽ giết chết con trai bà mất.

Hết đêm bà Thuận không nhắm mắt, và hết đêm đôi trai gái đắm say trong cuộc lăn lộn như vậy. Sáng ra, dường như cả ba đều kiệt sức. Tuấn và Loan vui vẻ nhưng xơ xác sau đêm tân hôn. Thân thể họ vơi đi một nửa. Loan vốn thanh mảnh những béo ngầm như vậy, mà đi đứng trở nên nhẹ băng, hẫng hụt. Tốc độ hao hụt của Tuấn còn rõ rệt hơn. Vẫn cao lớn, khôi ngô nhưng sự nây nây của bắp thịt cứ biến dần đi. Bà Thuận sút hơn tất cả. Béo đầy như vậy nhưng bà bây giờ nằm xẹp bên giường như một con bé. Một con bé về kích thước, nhưng lại có mái tóc điểm bạc, nét mặt nhăn nheo. Bà nằm lỳ không dậy. Do mệt một phần, nhưng do ý bà một phần. Ðể xem chúng nó có nhìn đến bà không. Ðể xem thằng Tuấn có tíu tít như trước nữa không. Phép thử này sẽ giúp bà đánh giá rõ sự thật. Rồi thằng Tuấn có đến thật. Cả con Loan. Sờ trán, xuýt xoa an ủi sáo rống. Tếch một cái, chúng đã vào buồng hoặc xuống bếp, quấn lấy nhau, vồ vập, cấu véo. Và chỉ cần bước qua cánh cửa kia, chúng đã tụt quần áo, lõa lồ bên nhau, hú hý, thỏa thuê. Mặc cho bà ngóng trông vô vọng, mòn mỏi xơ xác. Mặc cho cái thân kiếp bà một thời bú mớm nâng niu chồng nó yếu ốm, tan rữa trong cảnh cô đơn. Quân mất dạy. Chợt bà lại nghe những tiếng động khả nghi. Và bà lại thấy thằng Tuấn trong cảnh cố gắng đến tuyệt vọng vắt kiệt sức mình cho con bé đang chờ đón.

Ðêm nào cũng vậy. Cả ba người đều thức chong chong. Bà Thuận càng trở nên gầy nhỏ, khẳng khiu. Tỷ lệ nghịch với sự hao hụt ấy, lòng đố kỵ của bà mẹ cứ tăng dần lên. Ðôi mắt của bà đêm đêm vẫn cháy đỏ một cách ma quái. Và lạ thay nước da trắng nõn của bà, một tháng đã trở nên đen đủi, dễ sợ. Ðiều này hẳn các nhà y học sẽ hết sức kinh ngạc. Da trắng liên quan đến bí mật các ẩn số về gen di truyền. Vậy mà sự bùng nổ tâm lý đã tác động đến các cấu trúc vi mô trong các tế bào. Nó phủ định cái cũ, tạo nên cái mới. Việc bà Thuận trở nên gầy guộc, đen đủi là có thật. Càng về sau này, đôi mắt của bà trở nên ma quái. Nó không còn khả năng bộc lộ sự vui tươi, thiện ý.

Ðã đến tận cùng giới hạn của sức chịu đựng. Một hôm bà Thuận gọi phắt thằng Tuấn ra. Không dậy không bảo gì hết. Bà cấm! Tuấn im lặng không nói gì. Thâm tâm anh không đồng ý với mẹ. Bà gọi Loan tới. Con bé nen nét sợ hãi. Bà mắng té tát. Mày đừng có giết thằng Tuấn. Không nghe, bà tống cổ ra khỏi nhà. Loan khóc như mưa. Nhưng tạnh nước mắt, trong lòng con bé chợt nổi chông gai chĩa về phía bà mẹ. Một thế trận đã bày chuẩn bị nghênh chiến. Tuấn là con bà, nhưng anh ấy là chồng tôi. Chả ai dễ gì lùi bước. Rồi bất chấp, chúng lại yêu nhau như điên như dại. Dường như trong thái độ của Loan có cái gì đó giống như sự thách thức. Cô công khai thúc đẩy tình yêu. Trước mắt bà Thuận, cô ép vào anh, nhặt sợi tóc rơi trên trán. Con người thù địch có sẵn trong mỗi nàng dâu ở Loan bắt đầu hiện diện. Nó đang chờ đợi và sẵn sàng đối mặt với bà Thuận. Hơn thế, cô còn có ý quyết đánh bại người mẹ trong cuộc giành giật sở hữu sau này.

Ðêm đêm, các cuộc lõa lồ, cô chẳng cần giữ gìn ý tứ nữa. Cô còn để mặc cho âm thanh phát ra một cách tự do. Tận cùng sự chịu đựng, bà Thuận đập mạnh xuống giường.

- Thằng Tuấn, mày ra đây.

- Anh không phải đi đâu hết.

- Có ra không?

- Không!

Sầm. Cánh cửa buồng bật gẫy tung. Tuấn luống cuống quỳ xuống chân mẹ. Loan đứng dậy trong tư thế hoàn toàn trần truồng. Cô kiêu hãnh, ngang nhiên bước xuống từng bước bên Tuấn. Cô ôm lấy vai anh giục đứng dậy. Cô còn có ý xác định sở hữu một cách công khai, nguy hiểm. Ung dung tự tại nhưng lòng cô đang có sự sụp lở, tổn thất ghê gớm. Sau cái vẻ thật tự nhiên đàng hoàng kia là một thái độ cứng rắn, quyết liệt, sẵn sàng giằng xé và chấp nhận cả cái chết.

- Cút! Ðồ đĩ, - Bà Thuận nghiến răng thét lên - Mày giết con tao. Mày hãm hại nó.

Loan càng dịu dàng vuốt ve Tuấn. Chồng cô khóc rưng rức. "Mẹ ơi! Con lạy mẹ". "Cút ngay!" Soạt. Bà Thuận rút con dao. Cuộc đấu đã lên đến tột đỉnh.

Muôn đời như vậy. Mẹ chồng và nàng dâu, cuộc đùa dai của tạo hóa, cuộc đấu vĩ đại. Lúc vờ vịt, giả dối, lúc bùng nổ như bom, như đạn bắn. Cuộc giành giật ấy muôn năm không có thắng và không có bại. May thay, hóa ra Tuấn lại tỉnh táo hơn cả. Anh cướp tay Loan kéo chạy. Dùng dằng, Loan muốn chết ngay tại cửa buồng của vợ chồng mình. Nhưng Tuấn khoẻ hơn đã kéo cô ào ra giữa đồng. Thiên nhiên mát mẻ, rộng lớn, thiện ý, cưu mang họ.

Hôm sau, và hôm sau nữa, Tuấn về để điều đình với mẹ. Nghe lời chồng, Loan đồng ý chấp nhận về xin lỗi bà Thuận. Nhưng không xong. Niềm tự ái của bà Thuận vẫn đang ở vị trí tột đỉnh. Hoặc mình Tuấn về, hoặc xéo cả.

Khôn ngoan Tuấn kéo cả Loan về sụp lạy dưới chân bà. Không nhúc nhích. ý muốn của bà mẹ đã rắn lại như đá. Hàng xóm cũng mặc. Ông nào, bà nào, cũng chỉ như nước đổ lá khoai. Mẹ Tuấn vẫn ngồi im phăng phắc. Mắt bà như nhìn vào chỗ không người. Bà không thèm biết đến sự có mặt của Loan. Bà có một điều kiện và chỉ nói một lần: hoặc Tuấn về, hoặc xéo tất cả.

Tuấn cảm giác rõ sự hết lời của mình. Giới hạn cuối cùng của cuộc xin xỏ đã hết. Chợt anh mỉm cười mềm yếu và dễ dãi. Anh không thể chặt ba xác Loan ra được. Anh bỗng thấy lạnh run người. Anh im lặng đứng dậy loáng thoáng ý nghĩ. Thôi mẹ muốn thế cũng được. Anh sẽ ra đi vậy. Ðể cho các người ở lại giành giật, cấu xé lẫn nhau. Một khi đến yêu mà vẫn không biết yêu thì tồn tại sao nổi. Chính lúc đó, trong anh diễn ra cuộc biến đổi dữ dội. Anh cảm thấy cô đơn lạnh vắng, như đang lững thững bước chân lên miền đất nào đó rất xa lạ. ở đó cái gì cũng chập chờn, mênh mông, nhấp nhô như gò như đống. Chân trời xa lúc ấy có mầu hoàng hôn. Cái gì anh cũng thấy hư hư thực thưc, xa vời. Loan gọi nhưng anh không tỉnh. Vẫn câm lặng, ngơ ngác. Giữa đêm, anh tỉnh dậy và đi đâu mất tăm.

Hôm đó tôi có việc leo lên hòn núi Ðề cao ngất. Từ trên cao, tôi chợt thấy nhà cửa, đất đai, và cả con người mới nhỏ bé làm sao. Giống như những con kiến.

- Họ đi lại, vui chơi, cày ruộng cấy lúa, yêu nhau rồi ghét bỏ nhau. ấn tượng đó bây giờ tôi vẫn không quên.




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Ðối mặt

Nguyễn Hồng Thái

Ðồn rằng hắn là một thằng cướp khá kỳ quặc. Có lần toán cướp ba thằng do hắn chỉ huy chặn cả một xe khách biển trắng. Hơn bốn mươi hành khách mặt cắt không còn một giọt máu khi nhìn hắn tay súng, tay thuốc nổ, mắt đảo nhanh như điện, miệng nhoẻn cười không thèm quát hay dọa nạt lời nào. Sau khi cầm khóa điện, vứt bao thuốc Vi-na cho lái xe, hắn nói giọng nửa nam nửa bắc.

- Tụi tôi khuyên mọi người không nên chống cự mà thiệt mạng - Rồi hắn lách từ đầu xe đến hàng ghế cuối cùng hất hàm hỏi - Những ai là cán bộ đi công tác thì đứng dậy, tụi này có chế độ riêng.

Bốn người đàn ông trung niên, ba cô gái, sáu người luống tuổi rụt rè đứng dậy. Hắn hỏi từng người làm gì, quê quán và đi công tác ở đâu. Hắn yêu cầu mười ba người trên tháo nộp cho hắn nhẫn vàng, lắc vàng, khuyên tai. Hắn bảo đây là những thứ dự trữ của từng người trong khi có nhiều người đang rất cần hằng ngày. Một chị phụ nữ làm bên thuế vụ sợ quá, tháo luôn cả đồng hồ Sen-kô Phai đưa thì hắn bảo: "Không, cô cứ giữ lấy đồng hồ. Cái ấy rất cần cho các vị. Tụi này không cạn tình đến như vậy". Riêng tiền mặt, hắn cho hai thằng đàn em tận thu được đến gần hai mươi triệu. Sau đó hắn "lại quả" cho mỗi người một trăm, nói rằng để các vị còn ăn đường và quà cáp cho ai đó. Riêng những người buôn thúng bán mẹt, hắn cho qua.

- Xong rồi. Cho xe chuyển bánh! - Hắn giục lái xe đang sợ xanh cả mắt.

Trước khi nhảy xuống xe, hắn còn ra đòn trấn áp. Câu này hắn dành cho hành khách:

- Nếu công an Quỳ Hợp hỏi: Các vị cứ nói tôi là "Cung cùng đường". Nhớ đấy.

Xe chuyển bánh đến chừng hai cây số. Ai đó thốt lên "Sống rồi!".

Lần khác toán thằng Cung chặn hẳn một xe U-oát biển số Nhà nước. Lần này thằng Cung khoác hẳn một khẩu AK báng gấp. Hắn lại tận thu hết tiền của bốn người thuộc Viện Kiểm sát huyện đi về tỉnh để xin tiền xây trụ sở. Lúc bọn đàn em lật ghế ngồi lên, thằng Cung phát hiện có đến năm cân thuốc phiện. Lạ thay thằng Cung không vui tí nào, hắn quát:

- Từng này thuốc phiện nếu theo pháp luật bắn cả năm vị một lúc mới hết có ba cân. Còn hai cân bắn vào đâu? Nào xuống xe xếp hàng ngay đi.

Người lái xe run rẩy đứng ra nhận tội. Thằng Cung tát hai cái khiến tay lái xe té vào vách núi hộc cả máu miệng. Theo lệnh hắn, bọn đàn em nổi lửa.

- Cái này, chắc các vị đồng ý với tôi là ta thiêu luôn. Còn mày - Hắn chỉ vào lái xe - Muốn sống thì gập người xuống lạy các anh bên Viện Kiểm sát đi. Nếu tao không bắt được về đến Nghĩa Ðàn thể nào công an huyện cũng cho tất cả mọt gông. Ðúng là oan gia.

Hắn thả cho cả đoàn đi.

Xe đi, vì tay lái run quá đâm vào núi hỏng máy phải chờ suốt cả một ngày giữa đường nhựa nóng bỏng mới có xe tải đi qua kéo hộ.

Công an tỉnh đã nhiều lần cử đội đặc nhiệm, hình sự vây ráp, nhưng chưa phát hiện tăm hơi thằng Cung. Tỉnh cử trinh sát đóng giả nhử thằng Cung vào tròng nhưng hắn lặn không sủi tăm. Tỉnh về bản hỏi dân, già làng lại khen thằng Cung tử tế. Chết thật. Dân bản kể, nếu bản có đám cưới, thằng Cung gửi quà về mừng. Bao giờ hắn cũng đề ngoài phong bì là "Cung cùng đường". Hồi nọ vợ chồng trưởng bản có đứa con duy nhất bị lũ cuốn, toán thằng Cung gửi đến một dây chuyền vàng dễ đến năm chỉ để giúp. Ngay hôm đó, sợ quá trưởng bản đem nộp cho chủ tịch xã. Chủ tịch gói lại đem đến trụ sở cất vào tủ cẩn thận. Nhưng đêm đó toán thằng Cung đột nhập đòi lại ngay. Có người nghe toán thằng Cung nhắn lại: "Ai không cần thì thôi, Cung đây sẽ phân phối lại".

Ðến hỏi một bản khác, trưởng bản nói cách đây một tháng toán cướp thằng Cung nửa đêm vào cướp một nhà giàu trên thị trấn. Chủ nhà là một đàn ông lực lưỡng giỏi võ nghệ, một mình đánh nhau với hàng chục thằng cướp. Tụi cướp đã bắn chết người đàn ông này, nhưng sau đó chúng bí mật mang trả toàn bộ của cải. ở thị trấn đã xảy ra hơn chục vụ cướp như vậy. Dân bảo là cũng toán của thằng Cung cả thôi. Hắn cướp toàn nhà giàu.

Qua rất nhiều nguồn tin, công an tỉnh nhận định rằng, toán cướp của thằng Cung đã vượt ra ngoài những vụ cướp thông thường theo góc độ hình sự. Thanh niên nhiều bản đã gia nhập toán cướp này. Số thanh niên này thường ngày thì sống ở bản, lúc cần lực lượng để cướp vụ lớn thì thằng Cung mới cho người về huy động. Như vậy bọn thằng Cung đã là nửa cướp nửa phỉ. Thằng Cung có uy, biết mua lòng người rất giỏi. Hắn từ thiện cho nhiều nhà nghèo nhưng luôn giấu mặt. Chả thế mà bao nhiêu lần công an tỉnh tổ chức mật phục ở nhiều bản, nhưng mọi động tĩnh đã có người báo hết cho thằng Cung.

Thế là những ngày đó thằng Cung lủi vào hang moi của dự trữ ra ăn dần. Nhiều con gái đẹp ở bản lại mê hắn, theo hắn vào hang dâng hiến cho hắn một cách tự nguyện. Khi về bản còn kể cho nhau cười khúc khích...

Thằng Cung trước đây là một công nhân phọt phẹt của lâm trường Sông Hiếu. Chuyện hắn trở thành tướng cướp có liên quan đến ông giám đốc lâm trường này. Lúc hắn là đội trưởng đội bảo vệ thì hắn quả là một anh hùng hảo hớn. Cánh buôn gỗ mời bia là hắn uống, mời thuốc là hắn hút, nhưng đố tay nào đưa gỗ ra khỏi cửa rừng. Ngày ấy lâm trường có hàng ngàn mét khối gỗ. Khi có lệnh đóng cửa rừng thì đống gỗ trở thành đống vàng. Cánh lâm tặc không mua được thằng Cung bèn tuyên bố:

- Mày thích thì cho rượu thịt chó. Mày không thích thì để thứ ấy cho giám đốc. Ðời mày thế là bốc đất rồi con ạ!.

Thằng Cung ức lắm. Nhưng nghĩ thân phận là thằng bảo vệ, số trời sinh ra đóng ở cung nhường nhịn, đâu được quyền hách với ai, tranh đấu với ai. Thế là ngậm miệng. Nhưng ông trời lại cạy miệng hắn ra. Giám đốc ra lệnh xuất gỗ. Hắn mở cổng mà tứa cả máu mắt. Những cái xe tải vào ra cố tình xả khói dầu ma-dút vào mắt hắn cay xè. Hắn nghiến răng kèn kẹt. Thế là miệng há ra, cãi nhau với giám đốc. Một bữa, giám đốc gọi hắn lên phòng quát:

- Này, nói cho chú mày biết. Thời thị trường này không có dân chủ đâu. Thích lý sự thì về quê chăn vịt, cãi nhau với vịt. Nhé! Tao đây này. Một tại chức, một chuyên tu chẳng gấp vạn cái đít-lôm thời bao cấp của mày à. Tao học chán thầy rồi, chẳng cần chú mày dạy thêm.

Thằng Cung cứng miệng phải mượn cái bút viết đơn kiện. Ông bố ở quê nhắn người lên dặn: "Phải làm tới cùng, trắng đen cho rõ cái mặt bọn tham nhũng. Nhỡ có làm sao về quê bố nuôi". Bố thằng Cung cũng là giáo làng, được cái trong sạch nhưng nhiều người bảo là hâm. Giám đốc gọi Cung lên bảo:

- Cho cậu nghỉ ba tháng nguyên lương để đi kiện. Sang tháng thứ tư, kẻ nào thua thì đi khỏi lâm trường này.

Cung hiểu đây là keo vật cuối cùng liền về tỉnh đi kiện. Sau ba tháng lên lâm trường thì đống gỗ ngày trước không còn một cây mục nào. Ðau đớn, Cung chạy lên gặp ông giám đốc. Ông giám đốc vứt toẹt cái quyết định buộc thôi việc vào mặt Cung kèm theo một câu nói mà chỉ ở miền quê ấy mới có:

- Cả họ nhà mày ngu!

Máu nóng bốc lên. A ha! Nó dám động đến dòng tộc nhà ta à? Số trời thế mà sai, thằng Cung đâu có nhịn mãi. Nó nhảy tới. Hai bên đu đẩy, đầu giám đốc tóe máu. Có tiếng kêu thất thanh: "Gọi công an mau lên!". Có tiếng xe xít-đờ-ca. Thằng Cung bỏ chạy. Tối hôm đó, đã khuya lắm, thằng Cung mò vào nhà giám đốc tuyên bố: "Tôi sẽ chơi với ông bằng một thứ luật khác. Ông phải khuynh gia bại sản". Giám đốc gọi điện thoại cho công an. Cung biến vào đêm tối mênh mông của rừng đại ngàn...

Thằng Cung trở thành cướp từ ngày ấy. Hai tháng sau, hắn dẫn quân về cuỗm sạch tiền, của... trong nhà giám đốc, chỉ để lại ít gạo muối cho bọn trẻ. Tưởng đã xong mối thù cũ nhưng dẫu sao một tay thằng Cung đã nhúng chàm mất rồi. Thế là hắn trượt dài rồi vấy tay kia vào máu...

Ðã sáu năm nay, toán cướp của thằng Cung có khi lên tới hàng trăm. Cả một con đường huyết mạch bị bọn này khống chế, dân quanh vùng, cán bộ đi công tác lẻ sợ hết vía. Sự tồn tại của "Cung cùng đường" trở thành sự thách thức đối với công an tỉnh. Ta đánh cơ sở vào được biết hiện thằng Cung đang sai đàn em tìm dấu vết ông giám đốc cũ. Sau khi bị mất chức, ông ta bí mật đưa cả gia đình đi đâu không ai biết. Thằng Cung bảo chỉ cần giáp mặt tay giám đốc một lần nữa. Thế là đủ. Ðủ là như thế nào không ai rõ.

Nhiệm vụ Bộ giao phải bắt sống bằng được thằng Cung, từ đó mới có thể bóc dỡ hết cơ sở tay chân của nó. Muốn vậy phải tìm được tay giám đốc ngày xưa, nhử thằng Cung đến đấy mà bắt. Hiềm một nỗi sau khi rời lâm trường vào miền nam, tay giám đốc bỏ luôn vợ con trong đó. Nghe nói, một mình ông ta chạy ra Hà Nội mua nhà sống với bồ nhí. Nhưng Hà Nội rộng lắm, sống bất hợp pháp tìm còn khó hơn tìm chim. Nhưng chả nhẽ cả một nghìn người mà lại chịu thua trí một thằng cướp. Tương kế tựu kế, một kế hoạch vạch sẵn nhử thằng Cung rút chân khỏi vùng sơn cước. Hắn đã từng thề phải cắt gân thằng giám đốc cũ. Khát vọng trả thù đẩy một người hiền như cục đất, óc có mấy lạng trở thành tên cướp gian ngoan xảo quyệt...

Ngồi ở phòng, hai trinh sát tăng cường ở Nghệ An ra, rủ rỉ, kể cho Ðinh nghe như vậy, bởi họ biết Ðinh là đồng hương. Công an Nghệ An khẳng định thằng Cung đã trúng kế, và đã lên xe ra Hà Nội tìm giám đốc cũ theo địa chỉ mà ta cho cơ sở tung vào sào huyệt. Ðinh nghe một cách dửng dưng, nghĩ, dân gian thường tô vẽ những chuyện hiếu kỳ để kể cho sướng cái tai. Tuy vậy, anh cũng thấy thời buổi thị trường tội phạm ở ta cũng biến thiên một cách khó hiểu không thể đoán trước được. Người tử tế hôm qua phút chốc giết người một cách vô cớ. Rồi xuất hiện những chàng Lía hiện đại chuyện ăn cắp của người giàu vứt cho kẻ nghèo hèn. Ðứa trẻ con mới lớn, và ông già trước khi xuống lỗ tự nhiên cũng làm những chuyện vô luân. May mà Nhà nước cấm tàng trữ vũ khí chứ nếu để thả cửa mua bán súng đạn như phương Tây, thì tội phạm sẽ mọc lên phức tạp, dã man đến mức nào...

Có tiếng điện thoại. Ðinh nhấc máy. Ðầu dây bên kia, giọng trưởng phòng ra lệnh:

- Ðinh hả. Cho hai trinh sát Nghệ An ra đây ngay. Còn cậu, cho cậu nghỉ. Mới đi Yên Bái về, giữ sức không quỵ đấy. Báo động toàn phòng nhé. Thông báo, thằng Cung cắp một đứa trẻ con chạy ra hướng sông Hồng.

Ðinh đặt ống nghe. Chưa kịp thông báo thì tiếng chuông lại réo. Ðầu dây bên kia tiếng nói khẩn trương:

- Nghệ An đây! Hà Nội hả? Ai đó? Lấy giấy ghi bổ sung ngay. Thằng Cung tên thật là Nguyễn Văn Bôn, con giáo học, xóm Dàn, làng Yên...

Bôn..., con... giáo học, xóm chợ Dàn, làng Yên... Ðinh lẩm bẩm. Thôi bỏ mẹ rồi. Cung cái phải gió, cái thằng Bôn chó chết. Cái thằng bạn học cùng làng với mình.

Ðinh nhanh chóng dẫn một tốp lính trẻ phóng xe ào đi ra hướng bờ sông. Trời đã tối từ lúc nào.

*
* *

Vứt xe, Ðinh chạy một mạch tới Ban chỉ huy đang túm tụm bên gốc cây xà cừ. Tiếng trưởng phòng:

- Khép chặt vòng vây. Không được bắn! Thư đâu, đưa loa đây. Rồi, bật lên!

Lại tiếng trưởng phòng:

- A lô! A lô! Anh Cung nghe đây! Anh không được làm gì đứa bé. Ðằng nào anh cũng không thể thoát, đầu hàng đi! A lô! A lô!...

- Ðoàng!

Thằng Cung trả lời bằng một phát đạn.

Trưởng phòng tắt loa chửi: "Sư bố nó!".

Thỉnh thoảng tiếng loa vang lên.

Ðáp lại chỉ là tiếng súng phát một như A.K điểm xạ. Hai trinh sát Nghệ An chạy lên thở hổn hển. Trưởng phòng đang sốt ruột thấy Ðinh lên, quát lớn:

- Ông lên đây làm gì. Khổ quá. Ðã bảo ở nhà. Thôi về đi! Ðinh tiến gần trưởng phòng nói nhanh:

- Nghe tiếng súng tôi biết thằng Cung chỉ còn một vài viên thôi. Anh để tôi lên nói chuyện với nó.

- Nói chuyện! - Trưởng phòng đai dài - Không được ! Nó khử cậu ngay. Không được đâu. Thôi... thôi!...

Vẫn tiếng Ðinh:

- Nghệ An vừa gọi ra nói trích ngang thằng Cung anh ạ. Bây giờ tôi mới biết thằng Cung là bạn học cùng làng với tôi. Tên thật của nó là Bôn, anh cứ để tôi lên...

Tất cả cùng im lặng. Trưởng phòng đi đi lại lại. Hình như có tiếng kêu nhói đau của đứa trẻ. Giọng trưởng phòng trầm xuống:

- Ðến nước này thì tùy cậu.

Ðinh bật loa gọi:

- A lô, a lô, Bôn ơi! Tao là Ðinh đây. Ðinh con cô giáo Thụ ở làng Yên đây. Bôn ơi! Bôn ơi! Nghe rõ không? Tao là Ðinh đây! Tao muốn gặp mày để nói chuyện. Nghe rõ không?

Sau tiếng loa, không có tiếng súng đáp lại. Hình như thằng Cung nhận ra tiếng Ðinh. Ðinh vứt loa, bấm đèn pin chạy lên phía trước. Vừa chạy vừa gọi: "Bôn ơi, Bôn ơi! Ðinh đây, Ðinh đây!". Ðinh cứ nhằm hướng có tiếng súng nổ mà lao tới. Ðược hơn trăm mét Ðinh bỗng nghe tiếng quát:

- Ðứng lại! Thằng Ðinh!

Ðinh thở hổn hển:

- Mày đấy... ư. Hả... Bôn?

Thằng Cung giật giọng quát:

- Mày quay lại ngay! Không tao bắn!

Tiếng Ðinh nói vào bóng đêm:

- Thôi! Tao không quay lại đâu. Mày muốn làm gì tao thì làm. Chỉ xin mày thả con bé ra. Nó bằng tuổi con tao ở nhà. Ðây! Mày hãy nhìn rõ mặt tao đây.

Nói rồi, Ðinh bấm đèn pin vào khuôn mặt mình. Mắt hơi nheo lại. Chắc thằng Cung nhìn thấy rất rõ khuôn mặt hơi rỗ của Ðinh. Thằng Cung hạ giọng xuống:

- Uổng quá! Quá uổng! Mày ngu, mày xông lên trước hòn tên mũi đạn; mày xông lên trước mũi súng của tao! Khờ, khờ... khờ lắm! Sau lưng mày là ai hở Ðinh? Là sếp của mày với nhà cao cửa rộng. Sau lưng mày, hậu phương của mày là ai? Là vợ con mày không một tấc đất cắm dùi. Sao để vợ mày phải khổ. Mày thừa biết điều đó chứ? Người ta đẩy mày vào chỗ chết mà mày không chịu hiểu. Giỏi lắm. Nào. Mày bước lên đi!

- Tao sẽ bước lên. Nói trước với mày câu này. Mày không được giết đứa trẻ. Viên đạn cuối cùng mày cứ nhằm vào trán tao mà bắn. Rồi mày bỏ chạy đi. Nhưng mày phải hiểu: Chẳng ai, ngay cả sếp của tao cũng không thể đẩy tao lên trước mũi súng.

- Tao hiểu. Vợ mày sẽ đeo vành tang trắng. Con mày được hưởng tiền tuất. Và sau đó, vợ mày thành vợ người ta, con mày thành con người ta. Có phải như thế là hy sinh đời bố để củng cố đời con không Ðinh? Chua chát hay ngọt bùi đây?

- Tao bất ngờ vì mày lọc lõi và nghiệt ngã quá. Ðúng! Nếu tao buộc phải chết thì tao hy sinh để củng cố đời con. Ai dạy mày nói về những đồng tiền tuất. Anh trai mày, chú ruột tao cũng hy sinh ở Tết Mậu Thân thành Huế, chẳng nhẽ để bố mẹ mày, để bà nội tao hưởng số tiền ấy ư? Với tao, chỉ cần sau này con gái tao lớn lên, nó biết rằng bố nó vì nghĩa hiệp mà xông lên như một anh hùng. Như anh trai mày, như chú ruột tao. Chỉ cần thế là con gái tao sẽ có đủ bản lĩnh để đối chọi với cuộc đời thời mở cửa này.

- Mẹ ơi...ơ...i! - Tiếng đứa trẻ rấm rức... Ðinh nhói đau.

- Im ngay!

Và gió thổi hun hút. Sóng tràn vào bãi lầy ì oạp. Ðinh thấy nóng ruột tiến lên một bước.

- Ðứng lại!

- Ðoàng!

- M...ẹ...ẹ ới... ới. - Tiếng đứa trẻ.

- Thằng Bôn... Bôn... B...ô...n! - Tiếng Ðinh.

Chỉ còn lại màn đêm và tiếng con chim kêu oang oác ngang trời.

Cả tiểu đội ào ào lao lên. Tiếng í ới thúc giục, tiếng ùm ùm rút chân trên bãi lầy. Ðinh trúng đạn rồi ư?

ánh sáng đèn pin loang loáng. Người ta phát hiện cả người Ðinh cựa quậy nằm trùm lên tấm thân bất động của đứa trẻ. Trời ơi! Có tiếng kêu thất thanh, thằng cướp giết đứa trẻ rồi! Bỗng Ðinh ngồi bật dậy. Ðứa trẻ nhoài theo ôm lấy cổ anh mà khóc rưng rức. Mọi người đổ xô đến. Ai đó bế thốc đứa trẻ lên. Ai đó sờ nắn khắp người Ðinh. Anh nói trong hơi thở mệt nhoài: "Không sao cả".

Còn thằng Cung, không hiểu nó biến hóa kiểu gì. Mất hút!

*
* *

Gần Tết, Ðinh chuẩn bị đưa vợ con về thăm quê thì nhận được bức thư từ Nghệ An gửi ra. Thư không dán tem, vợ Ðinh phải trả cho nhân viên bưu điện số tiền phạt gấp ba lần giá một con tem trong nước. Sợ ở quê bố mẹ Ðinh có mệnh hệ gì nên anh bóc rất vội. Thật bất ngờ. Thư thằng Cung. Chữ hắn viết nguệch ngoạc: "Ðinh. Mày hiểu cho tao. Tao không muốn rơi vào tay mày trong cái đêm nghiệt ngã ấy. Ðể mày không phải mang tiếng với làng xóm, với người đời rằng mày cố bắt bạn mình để lấy thành tích. Mấy chục năm gặp lại, mày được lắm.

Tao tự đến nhà giam vì hiểu lẽ đời có vay có trả. Việc tao tự thú chẳng liên quan đến mày; cũng chẳng liên quan đến thằng đếch nào cả. Mày không nên nói với ai về lá thư này. Thôi. Vĩnh biệt".

Sững sờ, đút thư vào túi áo, tự nhiên Ðinh lẩm nhẩm, đúng cũng chẳng nên kể cho ai biết chuyện này.




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Quê mẹ

Chiều chiều ra đứng cửa sau
Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều
(Ca dao)

Cô Thảo ra lấy chồng đã ba năm. Anh Vận chồng cô hiện làm Hương - thơ ở làng Mỹ-Lý. Anh Vận trước kia có theo học chữ quốc ngữ, nhưng đã hai năm thi Yếu-lược không đậu nên anh ta lại thôi. Qua năm sau dân trong xóm bầu anh ta lên làm hương thơ trong làng. Ngày nào anh ta cũng đi nhà này qua nhà khác phát thư, rồi chiều đến lại phải ra tận đình để lấy hòm thư đem lên huyện.

Công việc của anh tuy vất vả, nhưng lương tháng - hay nói cho đúng lương năm - của anh trông ít quá. Làng chỉ trích cho anh ta ba mẫu ruộng và năm đồng bạc làm tiền lộ phí. Nhưng năm đồng ấy thì không bao giờ anh nhận được. Vì các viên chức đã khéo léo trừ với món tiền phải đóng sưu này thuế khác gần hết.

Nhưng ở vùng quê, được một chức nghiệp như thế, anh Vận cũng cho là danh giá lắm. Và bà Lại, mẹ anh Vận, lúc nói chuyện với những người quen, cũng không quên tự hào được một người con ra đảm đương việc làng việc nước.

Cô Thảo ra lấy chồng vốn liếng không có nên không đi buôn bán gì hết. Cả nhà chỉ trông vào sáu mẫu ruộng tranh và ba mẫu ruộng làng để sống năm này tháng khác.

Chiều hôm ấy lúc thoáng thấy bóng chồng đi về đến cổng, cô Thảo liền vội vàng ẵm con ra sân để đón. Thấy anh Vận ra dáng mệt nhọc nên cô ta chưa dám hỏi gì hết. Vào tới sân, anh Vận liền đến ngồi trên cái chõng. Cô Thảo để con ngồi một bên chồng rồi đột ngột chỉ cây thanh-trà bên bờ hè nói khẽ:

- Cây thanh-trà mới đấy mà đã có trái rồi cậu ạ.

Anh Vận để con ngồi trên chân, rồi cúi đầu xuống nhìn mặt con dịu lời đáp:

- Thế à, cây thanh-trà ấy trông dáng khô khan không ngờ lại giống tốt.

Cô Thảo ghé ngồi một bên chồng nói tiếp:

- Cây thanh-trà ấy tôi đem từ bên nhà qua đây. Mới hai năm đã có trái ăn được kể cũng nhanh thật.

Anh Vận như sực nhớ một việc gì, nhìn vợ hỏi vội:

- Tôi nhớ ra rồi. Hôm ấy là ngày giỗ ông bên mợ. Mợ về làng ăn giỗ rồi đem cây thanh-trà ấy qua cho tôi. Tôi cũng quên lúc ấy mợ đã có thằng Lụn chưa?

- Rồi, nhưng nó mới được ba tháng.

- Mà tôi quên giỗ ông nhằm ngày mấy?

Cô Thảo nhìn chồng mỉm cười:

- Ðược vài ông rể quý như cậu thì ngày giỗ của nhà tôi cũng không khỏi hương tàn bàn lạnh. Giỗ ông nhằm một ngày dễ nhớ nhất mà cậu cũng quên.

Anh Vận như nhớ lại được, gật đầu lia lịa:

- Thôi tôi nhớ được rồi. Giỗ ông vào tiết Trung-thu phải không mợ?

- Không phải, ngày rằm tháng tám.

Anh Vận lớn tiếng cười vang làm cho thằng Lụn cũng phải ngẩng mặt lên nhìn ngơ ngác.

- Rõ ngớ ngẩn như đàn bà. Tiết Trung-thu hay rằm tháng tám có khác gì nhau. Có khác là người hay chữ họ thường gọi tiết Trung-thu, còn người ... ít hay chữ thì gọi rằm tháng tám...

Cô Thảo nhìn chồng cười mỉm:

- Người hay chữ với lại người ít hay chữ! Thì cậu cứ nói người dốt với người thông có được không.

Thật ra thì anh Vận cũng có ý nói người hay chữ với người dốt, nhưng lại sợ làm mếch lòng vợ.

Anh Vận nhìn ra trước cổng yên lặng. Thằng Lụn cũng muốn tụt xuống đất đùa với đàn gà con đang đi qua gần đấy. Cô Thảo vào nhà thắp đèn rồi lại trở ra ngồi chỗ cũ. Mảnh trăng trong lúc ấy đã bắt đầu giọi ánh sáng dìu dịu qua hàng tre trước cổng.

Trông thấy ánh trăng anh Vận quay lại hỏi vợ:

- Hôm nay là mấy rồi mà trăng sáng quá?

- Ngày mười ba.

Anh Vận thả hai chân xuống chõng nhìn vợ ngơ ngác:

- Thế ngày mốt là ngày giỗ ông rồi à? Và ngày mai là ngày mợ phải về làng.

Cô Thảo cúi đầu nhìn xuống đất đáp khẽ.

- Phải.

Anh Vận đưa tay lên gãi đầu:

- Thật tôi vô tình quá. Ngày kỵ đã gần đến mà cũng quên.

Cô Thảo ngồi yên lặng không đáp. Thật ra tối hôm ấy cô muốn xin chồng về làng giỗ ông, nhưng cô không muốn nói thẳng. Cô tự nghĩ nhắc chồng ngày giỗ ở nhà mình là một việc chướng lắm. Thật tự nhiên để cho chồng nhớ lại thì tốt hơn. Nhưng mãi đến chiều cũng không nghe chồng nói gì, nên cô phải mượn đến chuyện cây thanh-trà để nhắc xa xôi cho chồng nhớ.

Tối hôm ấy, cơm nước xong xuôi, anh Vận liền đến xin mẹ cho vợ về làng ăn giỗ.

Bà Lại nhìn cô Thảo đang ẵm con đứng tựa bên cột bảo khẽ:

- Ừ về thì về. Nhưng bên nhà ngày mai giỗ ai mà tôi cũng quên phắt đi rồi.

- Thưa mẹ, giỗ ông con.

- Thế à.

Nghĩ một lát bà ta nói tiếp:

- Mai mợ chắc phải về làng sớm. Lúc ấy có lẽ tôi cũng chưa dậy. Vậy tối nay mợ ra ngoài vườn cắt một buồng chuối mật - buồng chuối gần bên cái giếng ấy - để về giỗ ông. Năm nay tôi bận việc nhà quá, chắc qua không được. Thôi nhờ trời năm khác.

Nói xong bà Lại lách bàn tay vào túi yếm lấy ra một hào xu rồi đưa cho cô Thảo.

- Thôi cho mợ một hào để đi đò. Và nhớ chớ để em nhìn xuống mặt nước.

Cô Thảo vội vàng đỡ con xuống, đưa hai tay nhận tiền tỏ ra vẻ sung sướng lắm.

Trước khi đi ngủ anh Vận cũng chạy quanh xóm mượn chỗ này chỗ khác cho cô Thảo thêm bốn hào nữa.

Tối hôm ấy cô Thảo không đi ngủ sớm. Cô đặt con ngủ yên bên chồng xong lại lật đật xách dao ra sau vườn chuối. Loay hoay một lúc lâu cô mới đem được buồng chuối mật vào nhà. Cô đem để vào một góc thật kín vì cô sợ nửa đêm chuột đến khới. Xong rồi cô mới qua bên nhà cô Thị mượn đôi hoa tai vàng và cái nón lá mới. Sắp đặt đâu đó xong xuôi cô mới lên giường nằm ngủ.

Trời tờ mờ sáng cô Thảo đã trở dậy sắm sửa đi về làng. Làng cô ở cách xa làng Mỹ-Lý hơn mười lăm cây số. Vì vậy nên mỗi năm cô chỉ được về làng chừng hai ba lượt là nhiều. Xưa kia cô từng qua lại làng Mỹ-Lý ngày một để bán gạo, nhưng sau lúc cô ra lấy chồng thì quê nhà đối với cô đã là nơi xa lạ.

Qua những con đường mòn chạy nắp theo bờ ruộng, cô lại nhớ đến quãng đời bán gạo của cô ngày trước. Trong trí cô hiện ra lần lần hình ảnh của cô Thu, cô Nguyệt, cô Hương, những cô bạn mà trước kia cô cho là thân nhất.

Nhưng đời các cô ấy cũng như cô, nghĩa là cũng có chồng, có con và quãng đời làm dâu cũng vất vả, cũng phẳng bằng như nhau hết.

Ði chưa được bốn cây số cô Thảo đã thấy mỏi. Cô tự nhận thấy sức cô yếu hơn trước nhiều lắm. Cô muốn đi đò cho đỡ chân, nhưng sực nhớ đến những món quà cần phải cho em, cô lại gắng gượng đi nhanh hơn trước.

Qua khỏi đầu làng Duyên-Hải thì cô Thảo gặp cô Ðài, người bạn cùng làng thường chơi với cô ngày trước. Cô Thảo nhờ cô bạn gánh hộ buồng chuối mật và mấy gói bánh mua bên chợ Kỳ-Lâm. Cô Ðài vui vẻ nhận lời ngay. Vào quán nước ở gần đấy nghỉ một chốc, hai cô lại cùng nhau lên đường chuyện trò không ngớt.

Về đến làng cô Thảo gặp ai cũng đón chào niềm nở. Lòng cô lúc ấy nhẹ nhàng và vui sướng lắm. Còn họ gặp cô đi đằng xa đã kêu réo om sòm như gặp được người sống lại. Họ hỏi thăm cô chuyện này chuyện khác, mục đích là để xem cô ăn mặc độ này có khá hơn trước không. Cô Thảo thấy người làng chào hỏi mình vồn vã nên đáp lại rất vui vẻ. Cô ta không quên lấy cái nón xuống, giả vờ quạt vào mình để mấy người đứng chung quanh được thấy đôi hoa tay vàng của cô.

Ðến trưa hôm ấy thì cô về đến nhà. Mấy cậu em đua nhau ra níu áo chị. Cô Thảo xoa đầu đứa này đỡ cằm đứa khác, nụ cười trên môi cô không khi nào tắt. Trông thấy mẹ trong nhà đi ra cô mừng quá. Cô chạy lại đứng bên mẹ cảm động quá đến rưng rưng nước mắt. Một lúc sau cô đưa thằng Lụn cho mẹ ẵm rồi đi thẳng vào nhà để chào những người quen biết.

Bà Vạn cứ quấn quít bên cháu, bên con quên cả ngày giờ. Bà giới thiệu cô Thảo với người này người khác, bà nhắc đến chuyện cô Thảo lúc cô còn năm sáu tuổi. Bà kể đến đoạn nào bà cũng có ý khoe cô Thảo đức hạnh và khôn ngoan đủ thứ. Bà nói mãi mà không biết chung quanh bà không ai nghe bà hết.

Sung sướng nhất là cô con gái có chồng về nhà mẹ. Cô Thảo tuy về giỗ ông nhưng không làm gì hết. Cô vào phòng mẹ nằm ngủ cả buổi chiều, mãi đến lúc gần cúng cô mới chịu đi ra ngoài.

Lúc cô đứng lễ thì ông Vạn, thân sinh cô, vuốt râu cười nói:

- Con phải lễ thế phần chồng con nữa. Nó làm gì bên ấy mà không qua.

Cô Thảo sau khi thụt lùi ra khỏi chiếu, mới khẽ đáp:

- Dạ, nhà con mắc việc quan.

Cô Khuê, chị em chú bác với cô Thảo, đứng gần đấy trề môi nói tiếp:

- Thứ đồ làm Hương-thơ mỗi năm ăn ba mẫu ruộng mà cũng gọi là việc quan.

Ai nấy đều nghe thấy nhưng không ai cãi lại. Ông Vạn đứng cúi đầu xuống hơi ngượng. Còn cô Thảo gương mặt đỏ bừng, quay đầu nhìn xuống bếp. Nhưng ngay lúc ấy cô lại gặp cặp mắt của mẹ đang nhìn cô chòng chọc. Cô đau lòng quá đến để hai dòng lệ chảy dài trên má.

Sáng hôm sau, cúng cơm sáng xong xuôi, cô Thảo lại sắm sửa đi qua làng Mỹ-Lý. Cô gọi mấy đứa em đến gần rồi cho mỗi đứa năm xu. Trong nhà ai cũng khen cô rộng rãi và biết thương em, nên cô vui sướng lắm. Ðang lúc cao hứng cô còn hứa sẽ gửi cho mẹ hai cặp quần áo mới để mặc Tết nữa. Nhưng chính cô cũng không biết sẽ lấy đâu ra hai cặp quần áo ấy. Chỉ trong nháy mắt cô Thảo đã phân phát tất cả số tiền cô đã dành dụm trong một năm.

Lúc sắp sửa lên đường, bà Vạn cho cô nửa con gà và một gói xôi để về nhà chồng. Lúc ra đi cô cảm động quá, đứng bên mẹ và mấy em khóc nức nở.

Về nhà chồng, cô Thảo lại làm việc từ mai đến chiều, tối tăm cả mày mặt. Lúc nào cô cũng nhớ đến mẹ nghèo, đến em thơ, nhưng nhớ thì lòng cô lại bùi ngùi, trí cô lại bận rộn.

Rồi chiều chiều gặp những lúc nhàn rỗi, cô lại ra đứng cửa sau vơ vẩn nhìn về làng Quận-Lão. Nhưng làng Quận-Lão ẩn sau đám tre xanh đã kéo một gạch đen dài trên ven đồi xa thẳm.




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Ðêm xóm chùa

Ðoàn Lê

Ðường lên trời hai mươi cây số trong đêm
Ta trót nắm tay nhau đến là dại dột...

Hạ Thảo

Tôi trở mình.

Một cái giường xét về phương diện thực dụng cũng như đạo đức vốn được đóng cho hai người nằm, nói rõ hơn, cho một người nam cùng một người nữ của Ðấng - Tạo - Hóa. Khi phải chứa đến ba người thì độ bức bối chuyển thành giông bão không thể chịu đựng được. Tôi, chồng tôi, cô ta đã ở cả trên một cái giường. Ðương nhiên chỉ hai người là có thực, còn người kia quanh quất giữa chồng tôi với tôi. Nhưng ý nghĩa chữ thực, chữ ảo cũng bất định như hai chữ số trên quân xúc xắc. Ðôi lúc sự tồn tại của người ảo còn thực hơn cả người thực. Rất nhiều đêm tôi gặp ánh mắt chăm chắm của cô ấy nhìn đôi tay chồng tôi lần cởi khuy áo lót tôi. Tất cả bỗng lạnh giá.

Nhạc đêm khuya thật hay. Người ta có sáng kiến đáng kể khi soạn chương trình nhạc suốt đêm cho những cái giường mất ngủ. Ðã lâu lắm tôi mới được nghe lại nét nhạc cũ... Kiệu công chúa từ xa đang tới gần khu chợ phiên ồn ào. Ai cũng biết đằng sau những tấm rèm lụa lộng lẫy dính đầy châu báu là một nhan sắc khuynh thành mơn mởn thanh xuân. Thần dân Ba Tư kính cẩn quỳ rạp bên đường chờ đám rước trang nghiêm với tiếng nhạc dìu dặt, với đoàn thị nữ tha thướt đi qua... Hỡi nàng công chúa mười sáu năm xưa, nay nàng ra sao? Nàng hạnh phúc hay bất hạnh? Ðời sống vương giả có cứu nàng thoát khỏi bi kịch cay đắng?

Chồng tôi trở mình.

Tôi bỗng nhớ chiều nay một con ong vàng mật săm soi quanh quẩn bên cái vì kèo chạm đầu rồng của ngôi từ đường cổ kính nhà tôi. Tiếng vo ve dai dẳng khiến tôi sinh lo ngại. Tôi bảo anh:

- Anh nhìn xem con ong tìm gì ở đó vậy?

- Nó tìm nơi làm tổ. Em không thấy mẩu sáp bằng hạt lạc kia ư?

- Chẳng lẽ nó không có tổ hay sao?

- Sao lại không. Nhưng đến một lúc nào đó chúng chia đàn, đi tìm nơi làm tổ mới.

Tôi không nghe được hết những lời giải thích của anh ấy. Tự nhiên đầu óc tôi lãng đi. Tổ mới... chia đàn... Sau hai mươi tám năm chung sống có hai con ong cũng sắp chia đàn, tìm nơi làm tổ mới... Chuyện ấy thật khó tin. Phần lớn người ta sống theo thói quen. Như đêm đến cứ phải đi nằm dù không ngủ được. Như gần ba chục năm tôi quen sống bên cạnh anh ấy tựa bóng với hình, quen cả những lúc hình bóng co kéo vật vã để giữ cho cái tổ chúng tôi đứng vững trước sóng gió muôn mặt đời thường.

Bởi vậy tôi thật bàng hoàng khi nghe anh ấy thổ lộ: "Em thể tất cho anh. Em thuộc con người của những hoạt động xã hội. Anh lại cần một tình yêu tầm thường thôi, một người để làm vợ anh theo nghĩa thông tục nhất". Tại sao anh ấy nhận lấy một sai lầm khó bào chữa như thế? Tôi thương anh. Giá anh chỉ nói đơn giản rằng sau gần ba mươi năm rã rời vì cuộc mưu sinh, tình cảm của chúng tôi đã rách tươm như lá cờ giữa trận tiền, không thể vá víu được nữa.

Và sẽ không ai có lỗi nếu người ta phải chạy trốn một đời sống nhàm chán đến phát sốt.

Dù sao con số hăm tám năm chung sống trong thời buổi này cũng đã có một độ bền xấp xỉ mức kỷ lục. Pho ái tình ấy xứng đáng đứng chung hàng ngũ những chàng lực sĩ khổng lồ. Chàng đã chiến thắng mọi gian khổ qua hai cuộc chiến tranh, cái thời chúng tôi tranh nhau phần ngoài cửa hầm tránh bom, nhường nhau nửa giường thoáng gió đêm sơ tán. Chàng khổng lồ ấy chỉ vô ý xỉa răng bằng cái kim sắt rỉ, do đó bị tê-ta-nốt chết. Ðã đành cái chết luôn diễn ra dưới muôn vàn mầu sắc, nhưng chết kiểu anh chàng ái tình to xác này thật quá lố bịch. Lẽ nào chỉ vì một dịp chồng tôi đi công tác, một dịp tình cờ gặp cô ấy, tình cờ phải nói dối... rồi tất cả tự nó chấm dứt, tất cả sụp đổ trong lặng lẽ?

Tại sao lại ra thế này hở anh? Tôi hỏi chồng tôi đến hàng ngàn lần và lần thứ ngàn lẻ một tôi vẫn đầy ngơ ngác.

Ông cụ bên ngành thứ, tôi thường gọi là cụ trưởng tiểu tông, mấy hôm trước sang chơi với vợ chồng tôi, khề khà chén chú chén anh một chặp, ông già gần bảy mươi tuổi mới do dự bày tỏ:

- Thưa hai bác, dù hai bác có bảo em lẫn cẫn, em cũng cứ tình thực góp ý. Hai bác là trưởng ngành đại tông, tức thị trưởng cả Họ ta, lại đang giữ gìn hương khói từ đường thay mặt Họ tộc, làm sao đừng để trong Họ ngoài làng xì xào dị nghị. Họ ta đâu phải vô danh tiểu tốt. Các cụ Tổ được cả nước ngưỡng vọng, cả nước quan tâm. Nay di duệ sống không ra gì tránh sao khỏi tai tiếng. Xin mỗi bác cố gắng một chút.

Tôi thật cảm kích trước tấm lòng ông. Nhưng người ta không thể cố gắng yêu. Biết đâu hăm tám năm chung sống đối với anh chẳng là một sự lưu đầy. Biết đâu bây giờ anh sẽ tìm được một chút hạnh phúc cho tuổi về già... Tôi chỉ cay đắng tự hỏi những khoảng thời gian hạnh phúc ít ỏi tôi đã trải qua cùng anh rút cục là có thật hay cũng chỉ là một con số ảo trên mặt quân xúc xắc.

Với tôi như vậy sẽ là một kết thúc buồn. Tôi được anh dắt về đây từ một đêm huyền hoặc cổ tích. Hai mươi cây số ở một địa điểm sơ tán, chúng tôi cứ nắm tay nhau đi bộ. Tới bờ sông Hồng anh rụt rè hôn tôi, cái hôn bị kìm nén sau bao ngày tháng... Nay tình yêu ấy đã bay mất, tôi còn lý do gì ở lại đây? Tôi sẽ chia tay anh. Một người đàn bà tự trọng phải biết rút lui đúng lúc.

Những lời cuối cùng đã nói với nhau. Tôi bảo rằng đã chuẩn bị một nơi ở mới, nhưng không báo trước sớm mai sẽ lên đường. Với mấy bộ quần áo, chẳng có gì phải chuẩn bị ồn ào. Sự ra đi sao cho giống những đợt công tác càng tốt.

Tôi sẽ tính cách đưa con cháu đi cùng. Khu nhà thờ hương hỏa này anh ấy cần có mặt để gìn giữ. Tôi chỉ giữ lại căn phòng bên tả mặc nhà thờ, nơi đặt cái giường đôi chúng tôi đang nằm đây. Không phải để phòng lúc quay về. Ðơn giản vì tôi không muốn một người đàn bà khác bước vào phòng, nằm trên cái giường này và anh ấy sẽ nói những lời rất riêng, những lời ngớ ngẩn thơ dại, thứ ngôn từ của những đêm ân ái chúng tôi thường dùng. Ðể tránh xúc phạm cả tôi lẫn cô ấy. Dù sao mọi thứ đang còn nóng hổi. Là tôi vẫn nghĩ anh ấy thuộc diện đàn ông có tâm hồn nhạy cảm.

Tôi trở mình.

Tích tắc! Tích tắc! Tiếng cái đồng hồ treo tường kiên nhẫn đếm từng khắc mất ngủ. Gần nửa năm nay, nó thao thức cùng tôi, rất khẽ khàng, trung thành. Một tặng vật tôi giữ làm kỷ niệm. Ngày mai phải nhớ cho nó vào va ly. Trong căn phòng rồi sẽ khóa cửa im ỉm, bụi bặm dần phủ mờ mọi dấu vết tôi, nó ở lại sẽ giống như một trái tim thoi thóp giữa đống phế tích. Tội nghiệp nó.

Gần nửa năm, quãng thời gian không phải ngắn, đủ để anh ấy suy nghĩ quyết định. Và chồng tôi đã nói rằng anh trót lỡ nặng lời hứa hẹn với cô ta, anh không muốn trở thành người lừa dối.

Gần nửa năm, quãng thời gian đủ dài để tôi cân nhắc trước quyết định chia tay. Nếu phải ra đi, điều tôi sợ là ở phía đứa con trai duy nhất của chúng tôi. Tuy nó đã lấy vợ lại mới sinh một cháu bé gái đầu lòng, nhưng cái tiểu gia đình ấy thật mỏng manh dễ vỡ. Chúng đang còn như những đứa trẻ chơi trò vợ chồng. Tôi đã không ngăn được một đám cưới xảy ra ba năm trước đây. Rút cục một thiên thần bé bỏng ra đời ngoài sự lựa chọn của chính mình.

Chồng tôi năn nỉ: Hãy ở lại với con cháu. Cũng đừng khắt khe với anh. Coi như anh đã chết rồi vậy.

Chồng tôi tính lầm. Những ngày sống của tôi không còn dài lắm. Với thứ bệnh tai ngược tôi đang mang trong người, sự chịu đựng cùng những cơn trầm uất sẽ nhanh chóng cướp nốt cái mẩu quỹ thời gian ít ỏi tôi còn lại. Mà với một quyết tâm sắt đá tôi phải sống, sống để vớt vát gây gột cho đứa trẻ mới rời nôi kia. Như thế tôi đã nhìn thấy trước những số phận nó...

Ôi hai con mắt đen láy tươi cười nhìn tôi như những đốm nắng rực rỡ chiếu sáng căn phòng u tối tâm hồn tôi. Ngay khi bà đỡ quấn vội mảnh tã cho nó rồi trao vào tay tôi, tôi đã linh cảm rằng cái sinh vật đỏ hỏn vừa mới chào đời sẽ gắn chặt với đời tôi như một tiền duyên từ kiếp trước.

Những ngày đầu mẹ nó nhiều sữa quá, mỗi khi cho con bú chỉ ngừng năm phút đã phải dứt ra. Thời gian còn lại con bé mút mát vú bà cho đỡ cơn thèm. Và bao giờ cũng thế, khi con bé cuống quýt rúc vào ngực tôi, vồ vập núm vú, nún lấy nún để, tôi bỗng muốn khóc vì một cảm giác sung sướng khó tả. Như thể thiên chức thiêng liêng của người đàn bà đơn giản chỉ là cái nhồn nhột rạo rực đang dâng lên trong ngực tôi từ từ từng chút một... dâng lên nóng hai vai, lên cổ, lên má và tê dại xâm chiếm tận từng ngọn tóc. Tôi ngồi bất động thấm đẫm niềm ngọt ngào nồng nàn của những bản thánh ca vang đâu đó trong một khoảng không gian mơ hồ... Rồi ngọn triều êm đềm rút xuống, rất chậm. Thân thể tôi thoắt trong veo, mềm tựa bông. Con bé ngừng nún từng quãng ngắn. Cái nốt nghỉ ngân nga lâu dần đến lúc tự đôi môi nhỏ xíu rời ngực tôi. Nó đã ngủ. Tôi khe khẽ hít lấy mùi thơm gây của bàn tay bé tí nắm chặt. Tôi không rời mắt khỏi cái miệng ươn ướt, đôi lúc vẫn nhóp nhép núm vú trong tưởng tượng.

Tôi ngồi như vậy hàng giờ, say mê không chán. Ðó là quãng thời gian sung sướng nhất. Tôi thong thả ngẫm nghĩ về lẽ huyền diệu của trời đất, ngồi xem cái sinh vật mình đang bồng ẵm che chở lúc này đang nhích dần vào thế giới hỉ nộ ái lạc của con người. Mười hai bà mụ đang dạy nó nheo mày, nhíu mắt, cười khóc trong mơ.

Ðêm đêm tôi đặt tay lên đầu con bé thì thầm niệm Phật: "Nam mô Ðại từ Ðại bi Cứu khổ cứu nạn Quan thế âm Bồ tát...". Lòng tôi thổn thức nhận ra sự mộ đạo chân thành bất ngờ của chính mình. Tôi chỉ nguyện một điều: Xin các đấng từ bi hãy cứu mọi khổ nạn cho sinh linh bé bỏng này. Xin để tôi gánh chịu mọi tai ương nghiệp chướng của số phận nó. Trong giây phút huyền nhiệm ấy tôi có cảm giác một luồng điện từ lòng tay tôi đang truyền sang cơ thể con bé qua nơi được gọi là huyệt Bách hội, là Luân xa số bảy.

Hồi gia đình tôi chưa xảy chuyện, không hiểu nghĩ ngợi ra sao, tôi đã vẽ bức tranh Thiên đường. Trên một hoang mạc cát có đứa hài đồng ngồi cô đơn, lưng quay về phía nắng chiều. Bên cạnh nơi nó ngồi rải rác những mảnh vỡ của một cái bình cổ. Những mảnh vỡ này ngập chìm dưới cát bụi làm biến mất một phần họa tiết được khắc trên đó. Chân trời mờ mịt gió lốc trắng xóa.

Dù tôi vẽ phía sau đứa trẻ nhưng ai cũng nhận ra con bé cháu nội chưa đầy hai tuổi của tôi. Tôi đã lấy nó làm mẫu. Nhìn vẻ cô đơn đến thắt lòng của Thiên đường, sau này tôi chợt hiểu đó là một điềm báo chẳng lành. Lẽ ra tôi không được nảy ý nghĩ ví von Thượng đế với đứa trẻ côi cút, một mình lặng lẽ giữa hoang mạc với những mảnh vỡ quá khứ vàng son.

Tôi luôn tin vào những điềm báo. Tôi đã có những giấc mơ ứng nghiệm lạ lùng. Ví như tôi phát hiện chuyện dan díu của anh ấy cũng nhờ một giấc mơ báo trước. Trước giấc mơ tôi hoàn toàn tin vào sự thủy chung của chồng tôi. Nhưng tôi mơ thấy người đàn bà lạ đang uốn éo quyến rũ anh ấy vào chuyện sa ngã. Hai ngày sau nhờ một bức ảnh tôi tình cờ biết được sự thật như thế. Cũng những tình tiết y hệt tôi mơ.

Không thể giải thích được. Tôi biết rất nhiều câu hát ru, nhưng không hiểu tại sao cứ ôm cháu tôi lại buột miệng hát:

Con cò đi đón cơn mưa
Tối tăm mù mịt ai đưa cò về...

Ðến bây giờ con bé cũng ngọng nghịu véo von: "Ton tỏ đi đón tơn mưa...", đó cũng lại là một điềm báo.

Ðến bây giờ tôi hiểu cơn mưa giông mù mịt đang sắp ập xuống đầu con cò tội nghiệp của tôi.

Mỗi lời ru ẩn chứa một tâm sự với nhiều biến thể tùy theo cảnh ngộ người hát. Ngày xửa ngày xưa cũng trên một cánh võng đay cũ kỹ, tôi nhớ như in tiếng mẹ trầm bổng vời vợi hát ru em gái tôi:

Chàng ơi phụ thiếp làm chi
Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng...

Con gái một cụ chánh tổng, mẹ làm dâu nhà nội tôi từ thuở mười lăm. Ba chục năm sau mẹ chiều ý chồng đội lễ đi hỏi vợ lẽ cho ông. Tôi cứ mãi hình dung con đê chiều mùa thu, cỏ bông lau phơ phất, từ bãi dâu bên kia sông tiếng gọi đò tha thiết vẳng sang, mẹ cùng một bà cô già lầm lũi đi. Tráp quả mang trầu cau, cân chè, mẹ đội trên đầu đè nặng từng bước. Nặng hơn nỗi buồn nức nở trong lòng mẹ. Như thể mẹ đang mang trái tim mình đi tới nơi hiến tế cho một thói tục, âm thầm nhẫn nhục.

Mẹ ơi, cớ sao mẹ cam làm hạt cơm nguội, cái hạt cơm hẩm hiu khiến tim con buốt nhói suốt một đời, khi con nghĩ về mẹ?

Chồng tôi trở mình.

Anh ấy cũng không ngủ ư? Hay anh đã đoán được sáng sớm mai tôi đi, lần ra đi mãi mãi? Càng hay. Tôi rất muốn tránh sự sướt mướt.

Nghe đâu cô ta đã ba con, đứa lớn sắp gả chồng. Năm ngoái anh chồng bỏ cô ta để sống với một cô gái mới ngoài hai mươi tuổi... Rõ cái vòng luẩn quẩn!

Thuở nhỏ tôi có người bạn trai tên Báu, con ông cụ hàng mã nổi tiếng phố chợ. Báu rất chiều tôi. Một rằm trung thu cậu tự tay làm cái đèn kéo quân thật đặc biệt để tặng tôi. Nhưng Báu không cho phép tò mò xem cậu chuẩn bị. Suốt nửa tháng trời tôi nài nỉ, giận dỗi, đòi được tham gia, nhưng Báu nhất định giữ bí mật. Khi mọi thứ sắp xong, Báu nhặt những sợi tóc rụng dài nhất lúc tôi chải đầu để buộc lũ hình nhân giấy. Báu nói phải buộc bằng chính tóc tôi đèn mới dễ quay. "Tớ đã phù phép như thế đấy".

Ðúng đêm rằm trung thu, mặc những tiếng trống thì thùng ngoài sân đình, Báu cầm cái đèn vẫn còn được che bọc kỹ rủ tôi ra cầu đá sông Cái để "làm lễ" khánh thành. Tôi sốt ruột tưởng phát điên, luýnh quýnh chạy theo Báu.

Cầu đá ngay đầu làng tôi, nơi một dải sông xanh biếc êm đềm chạy qua. Lúc này mặt nước gọn gió như mang trong lòng sông cả triệu ngọn lửa vàng rực.

Ðã đến giây phút long trọng tháo gỡ giấy bọc món đồ chơi thần kỳ. Cậu ta vẫn còn hành tôi, bắt lấy tay che mặt. Nhưng vừa nghe tiếng giấy loạt xoạt tôi đã mở bừng mắt. Trời ơi, quả thật trước mắt tôi là một báu vật chưa hề xuất hiện trên thế gian này. Dưới ánh trăng cái đèn kéo quân rực rỡ lóng lánh những giấy trang kim, tựa hồ nó được dát vàng dát bạc. Tôi mê mẩn nhìn, thậm chí nghẹt thở... Phải nói rằng cái đèn kéo quân ấy là món đồ chơi quyến rũ nhất tôi từng nhìn thấy. Cho đến giờ tôi vẫn không thể quên, dù nó chỉ tồn tại trong chốc lát.

- Rồi cậu sẽ thấy một điều tuyệt vời ngay bây giờ.

Báu khéo léo đốt một ngọn nến, cắm vào giữa trụ đèn hình lục lăng. Ngọn lửa làm bừng sáng mầu đỏ huyền hoặc của giấy bóng kính. Mầu đỏ đột ngột choàng lấy hai đứa chúng tôi tựa hồ nó nhuộm cả không gian chung quanh, kéo chúng tôi vào một thế giới bí ẩn. Và khi ngọn nến được thắp lên, trong giây lát tất cả lũ hình nhân bằng giấy cắt bỗng rùng rùng chuyển động. Trước con mắt kinh ngạc của tôi thoắt hiện ra đoàn kỵ binh với cờ bay phấp phới đang truy đuổi quân giặc. Tưởng đâu đây nghe rõ tiếng vó ngựa dồn dập, vũ bão. Tiếp đến chàng Kim Trọng nôn nóng lướt tới hàng liễu rủ, nơi cô Thúy Kiều thướt tha e lệ lùi dần về phía sau như thể chạy trốn. Bên bờ sông Ngân Hà nàng Chức Nữ cắm cúi dệt vải. Ngưu Lang bên sông dắt trâu đứng ngóng. Cặp vợ chồng ấy trôi nhanh cùng dải sông sao giữa một khoảng cách trời đày. Rồi chú rể chuột gò lưng phóng ngựa nước đại, kéo theo sau một bầy rước dâu chấp chới kèn, lọng.

Cái vòng quay đã hút tất cả hồn vía tôi. Thật bõ công mỏi mòn chờ đợi. Tôi không còn biết đến trăng thu vằng vặc trên đầu, mặt nước lấp lánh phía dưới. Mắt tôi dán chặt vào món đồ chơi phi thường để mặc cho Báu được nắm tay tôi vuốt ve dịu dàng.

Thế rồi đến phút thế giới mộng ảo của tôi sụp đổ. ở giữa một vòng quay tôi bỗng rụng rời phát hiện nàng Thúy Kiều biến đâu mất. "Ơ này, cậu xem này..." Tôi chưa kịp chỉ cho Báu thì chú rể chuột cũng không còn. Vài vòng quay sau, đoàn quân dũng mãnh rơi rụng dần tựa hồ bị địch bắn tỉa.

Tôi hét lên một tiếng.

- Nóng lâu quá tóc cậu bị cháy mất rồi... Tớ xin lỗi... Báu nói như khóc.

Phải mất một lúc tôi mới hoàn hồn, trống ngực dịu xuống, nước mắt tự dưng ứa ra. Một nỗi buồn giận xâm chiếm tôi. Và thường ngày đành hanh với Báu thành quen, tôi luồn tay xuống dưới lồng đèn, giật đứt những mảnh giấy bám lủng lẳng, những hình nhân mới đó còn là Thúy Kiều, Kim Trọng, Ngưu Lang, Chức Nữ... Trước đôi mắt rầu rĩ của Báu, tôi thả từng hình nhân xuống dòng nước chảy xiết phía dưới, hờn dỗi, không để Báu kịp phân trần.

Hơn bốn chục năm đã qua, tự nhiên đêm nay tôi nhớ lại chuyện cái đèn kéo quân tới từng chi tiết... ồ vâng, sự Ðứt là quy luật tối thượng. Rồi sẽ đến lúc định mệnh buông tha chúng ta khỏi vòng quay luẩn quẩn, từng người một rơi rụng chẳng khác lũ hình nhân giấy.

Tháng trước trong khi chờ đợi chuyện này ngã ngũ, tôi nhận lời mời đi làm bộ phim tài liệu ở Quảng Ninh.

"... Rất cần một khoảng không gian xa cách, một khoảng thời gian yên tĩnh để người nọ ngẫm nghĩ về người kia, bình tĩnh tìm ra giải pháp tốt đẹp nhất..."

Tôi đã đọc những lời khuyên đại loại như vậy ở hàng chục tờ báo. Dạo này tình hình ly hôn tới mức báo động, tờ báo nào cũng có ít nhất một bài khéo léo khuyên nhủ mọi người nên khôn ngoan giữ lấy hạnh phúc gia đình. Tôi sinh ra vồ vập nhiều tờ báo mang chất tâm giao. Bài Người phụ nữ làm gì khi có chồng ngoại tình thậm chí được tôi cắt giữ, coi như một cẩm nang.

Quảng Ninh là vùng đất tôi bỏ quên từ thuở mười ba. Bởi duy nhất một lần năm mười ba tuổi tôi theo lớp học sinh đi nghỉ hè, tham quan mỏ than để trau dồi tinh thần lao động. Sau này tôi lang thang làm phim gần khắp đất nước, nhưng chưa một lần trở lại Quảng Ninh. Tôi hy vọng sẽ được gặp lại ngôi biệt thự mầu vôi vàng sáng rực trên sườn núi với những vòm cột kiểu kiến trúc Gô-tích, gặp lại mảnh sân có cột cờ, những luống hoa sân nhà ủy ban, nơi hồi đó tôi chôn cất một con chim chết.

Nhưng tất cả đã khác xưa. Không còn Bãi Cháy mơ màng giữa làn sương buông trắng đồi sim nữa. Bãi Cháy giờ ồn ào náo nhiệt với đủ mọi kiểu khách sạn, nhà nghỉ, nhìn đến chóng mặt.

Tuy vậy con đường xuống mỏ Mông Dương còn giữ được vẻ hoang vắng thơ mộng của vùng thiên nhiên chưa bị khai phá. Mươi mái nhà bên sườn non yên tĩnh. Một cây gạo đỏ rực giữa những mảng xanh uyển chuyển âm u. Tôi cho hạ máy quay, xuống ô-tô, làm một cảnh toàn lia thật chậm.

Tôi nói với anh bạn quay phim người địa phương:

- Sau cảnh này anh cho máy vào gần ngôi nhà sát chân núi kia kìa. Ðàn gà con đang tha thẩn giữa sân đấy. Giá có người mẹ trẻ cho con bú trên cái võng ngoài thềm nữa kia thì tuyệt... Tôi rất thèm được ở một ngôi nhà nhỏ dưới chân núi như thế.

Anh bạn quay phim nhìn tôi một giây chăm chú, hơi mỉm cười.

- Chị có biết cơn bão năm ngoái đã cuốn rơi đá, đè sập một ngôi nhà dưới chân núi. Hai vợ chồng trẻ cùng đứa con năm tuổi chết ngay bên mâm cơm.

Hình như bằng lời nói thiếu đồng cảm của mình, anh ta muốn dội một gáo nước lạnh vào thói lãng mạn tôi buột ra. Tôi bẽn lẽn. Cảm ơn anh.

Tôi chẳng giữ được ấn tượng gì về cuốn phim tài liệu đó. Tôi hào hứng với chuyến đi vì một lý do riêng. Tôi muốn tìm kiếm một người đàn bà chưa biết mặt.

Cũng nhờ dò hỏi anh quay phim người địa phương, tôi may mắn tìm thấy ngôi nhà bên bến sông, nơi những thuyền gỗ, sà lan thu gom than trôi nổi tư nhân. Ðó là một gian hàng bán tạp phẩm, thức ăn, gạo mắm cho những thuyền đỗ dưới bến. Chủ hàng, người đàn bà đứng tuổi với gương mặt héo úa bỗng rạng rỡ hẳn lên khi tôi tự giới thiệu mình ở Hãng phim X. đang trên đường đi công tác.

- Thế ư? Ngày xưa khi còn trong đoàn văn công tỉnh, mình đã từng tham gia đóng phim đấy nhé.

Người đàn bà ấy không bao giờ biết chính vì lý do đó tôi đã lặn lội đi tìm chị ta. Ðương nhiên chị cũng không biết tôi thật sự là ai, dưới một cái tên giả.

Câu chuyện thăm hỏi được tôi dắt dẫn vòng vo cho tới lúc chị nhắc tới tên chồng tôi.

- Em biết không, tay ấy trước là người yêu của chị. Gớm, mê nhau lắm, một hai sống chết quyết lấy nhau. Nhưng khi gia đình tay ấy mang lễ ra đây ăn hỏi, không hiểu ông bố mình nhìn tướng mạo thế nào, nhất định không nhận lễ, không cho lấy. Ôi chao, giá mà...

Chị ta bỏ dở câu nói, mắt đẫm buồn. Tôi thương cho sự tiếc nuối dại dột ấy. Ðôi khi dở dang không phải là không may mắn. Như tôi, thà dở dang ngay khi chúng tôi cùng nhau từ nơi cơ quan sơ tán về Hà Nội đêm đó!

Tôi không biết mình đã nhỏ nhen theo thói đàn bà, sợ người tình cũ của anh ấy hả hê, hay tôi muốn giữ cho hình ảnh anh ấy mãi đẹp trong tâm khảm người đàn bà này, tôi đã không hé lộ tí gì chuyện đã xảy ra giữa chúng tôi, mặc dù chị ta gặng hỏi tha thiết.

- ở lại ăn cơm với chị đi. Ngồi đây buồn đến nhão người ra, chẳng biết trò chuyện cùng ai cả em ạ.

Chị ta không ngờ kém tôi đến ba tuổi, vẫn ngọt ngào xưng chị rất tự nhiên. Tôi không hề phản đối, sợ chị ngượng. Chị ta chóng phai tàn hơn tôi hình dung.

Tôi ra về vẫn không tìm được lời giải cho lòng hiếu kỳ. Anh ấy muốn tìm hiểu gì ở những người đàn bà anh yêu? Những người đàn bà, kể cả tôi đã đặt tình yêu vào con người này vì sao?

Tôi chấm dứt đợt quay ở đảo khỉ một hòn đảo cách bờ vịnh không xa. Tôi đã chộp được những cảnh sinh hoạt của lũ khỉ thật sinh động. Hàng ngàn con khỉ được nuôi dưỡng ở đây để cống hiến vắc-xin chống bại liệt cho con trẻ.

"Chúa đảo khỉ" là một người đàn ông dễ mến. ở trên hòn đảo này cùng vợ con gần hết đời người, anh đã thuộc tính nết từng thần dân của mình, chăm sóc chúng với một tình thương rất lạ.

- Chúng chẳng khác con người là mấy đâu chị. Kia, chị có thấy con khỉ vàng nhạt đang nấp ở cành cụt cây trứng cá kia không? Chị để ý kỹ nhé... Ðấy...

Con khỉ vàng nhạt ló đầu rình một cặp mẹ con khỉ khác ôm nhau quấn quýt trên chạc cây bên cạnh. Ông chúa đảo phát một tín hiệu bằng thứ âm thanh lạ hoắc, ném quả chuối đang cầm tay xuống gốc cây. Con khỉ mẹ do dự một chút rồi nhẹ nhàng đặt chú khỉ tí hon bám lấy cành cây, nó đu mình nhảy xuống nhặt quả chuối. Con khỉ vàng nhạt chỉ chờ lúc đó, lao vội đến chỗ chú khỉ tí hon, vồ vập ôm ấp hít ngửi. Con mẹ quay lại thấy vậy lập tức buông rơi quả chuối, lăn xả cào cấu kẻ trộm. Tiếng chí chóe đan xen nhau. Con khỉ vàng nhạt xoay mình chịu trận lôi đình của khỉ mẹ, cố hôn hít chú tí hon đến cùng. Nhưng rốt cục nó vẫn phải bỏ chạy. Khỉ mẹ ôm chặt khỉ con sờ nắn, nâng niu. Thỉnh thoảng nó ngoái nhìn, nhe răng gừ con khỉ vàng nhạt vẫn còn lởn vởn cạnh đó.

- Cô khỉ cái vàng nhạt vô sinh ấy suốt ngày rình mò dỗ dành bế ẵm con của bạn nó. Tội nghiệp, lắm khi bị cắn xé máu chảy ròng ròng, phải bắt về băng bó. Ðám khỉ mẹ yêu con ghê gớm lắm chị ạ. Chẳng may con nó bệnh chết, nó cứ khư khư ôm chặt mà kêu gào kỳ đến lúc cái xác thối rữa, không cho gỡ ra. Tôi nghĩ khỉ sợ mùi mắm tôm có lẽ do vậy chăng.

Tôi ngẫm nghĩ về những con khỉ. May cho chúng không bị đảo lộn đời sống như con người.

Vị chúa tể đảo kể cho tôi nghe rằng chuyện tình của khỉ cũng đầy thi vị. Mùa thu, mùa tình yêu, những chú khỉ đực chia từng bộ lạc đánh nhau chí tử để tranh giành bạn tình. Những bạn tình đã gắn bó sẽ sống chết với nhau đến hết đời. Anh kể, hồi chiến tranh ác liệt nhất đàn khỉ phải chia đôi, sơ tán một nửa sang đảo đá bên cạnh, cách xa đây khoảng nửa cây số mặt biển. Người ta không ngờ đã chia rẽ những cặp tình nhân. Thế rồi đột nhiên có những con khỉ cứ leo lên tít ngọn cây cao, hướng về phía đảo đá kêu gào, không chịu ăn uống cho tới lúc chết lả. Ngược lại phía đảo đá có những chú khỉ đực nhào xuống biển bơi về đây. Người bạn tình bên này thương cảm các chàng đuối sức cũng lao ra. Chúng ôm nhau chết đuối giữa mênh mông sóng nước. Không phải lúc nào thuyền cứu hộ của chúa đảo cũng cứu được hết.

Ngồi trên thuyền rời khỏi đảo khỉ tôi chợt mơ mộng. Tôi hình dung lúc này người ta đang nháo nhác tìm tôi. Tôi đã biến đi đâu mất tích. Người ta lùng sục từng gốc cây ngọn cỏ khắp đảo vẫn không thấy. Cuối cùng mọi người đều nghĩ tôi đã gieo mình xuống biển... Không đâu, ồ không ngu xuẩn như thế. Tôi đang khúc khích trên một cành cây cao nào đó, khẹc khẹc, chào từ biệt con người. Tôi đã ở lại đảo, nhập đàn với đồng loại hoang dã tự do.

Tôi và chồng tôi cùng trở mình.

Gà gáy sáng. Một bàn tay tôi chạm vào tay anh. Tự nhiên những ngón tay tôi tìm xiết chặt lấy những ngón tay anh, đan vào nhau. Tôi thấy những ngón tay của anh cũng từ từ riết chặt. Ngỡ chẳng bao giờ chúng ta lạc mất nhau phải không anh? Vĩnh biệt.

Trăm nghìn xin gửi lại
Buồn thương vô tuyệt kỳ...
Xóm núi, năm Mậu Dần




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Ðêm nguyệt thực

Trung Trung Ðỉnh

Không muốn làm trái tim những người thân yêu thêm một lần rỉ máu, anh thương binh tàn phế quyết định không trở về. Những trải nghiệm khốc liệt nơi chiến trường bão lửa chưa thấm vào đâu so với những day dứt dằn vặt cứ âm thầm giằng xé lòng anh. Quyết định ở lại chiến trường xưa, xây dựng cuộc đời mới bằng sức lực còn lại của mình, tưởng chừng như vô tâm, bạc bẽo, nhưng thấm đẫm sự bao dung, lòng trắc ẩn và nhân bản. Bởi trong hoàn cảnh nào người lính cách mạng cũng không chỉ sống riêng cho mình.

Tôi được cơ quan phân công tới làng Plei-O-K, nơi cách đây hơn chục năm, hồi còn đánh Mỹ có nhiều dịp qua lại. Nhiệm vụ của tôi là phải viết được một bài báo, phản ánh kịp thời về sự đổi mới của bản làng sau mấy năm giải phóng. Làng nằm dưới thung lũng, xung quanh toàn đồng cỏ. Cách đó không xa là nông trường chăn nuôi của huyện M. Nơi đây có nhiều sự tích đánh Pháp và nhất là đánh Mỹ.

Từ huyện lỵ về làng phải đi bộ mất non một tiếng.

Lúc ấy đã hơn sáu giờ tối. Hơn sáu giờ tối trong thung lũng trời chuyển hẳn sang không khí ban đêm. Gió se lạnh. Tít xa chỉ thấy những mảng đồi và vô khối đường viền lấp lánh do lửa cháy rải rác trong các khe núi hắt ra. Những vệt khói chuyển động dưới bầu trời sao chi chít. Tôi háo hức bước trên đường cái về làng. Phía trước có tiếng reo hò huyên náo và tiếng chinh chiêng ầm ĩ. Có cả những tiếng gõ nghe loạn xạ không ra bài bản, nhịp điệu gì. Mới đầu tôi nghĩ, chắc làng đang hội hè hoặc có cuộc vui nào đó.

Nhưng càng tới gần càng cảm thấy không phải. Chẳng có cuộc vui nào lại nhiều tiếng gõ, tiếng hú, tiếng hò la đến vậy.

Tôi bước vào sân làng. Những bó đuốc sáng rực chạy vội vã từ nhà này sang nhà khác. Những tiếng hú nối nhau thảng thốt. Tôi chột dạ lo ngại. Không phải là làng đang vui mà rõ ràng đang có sự cố gì. Vì biết nói tiếng địa phương, nên tôi nghĩ, mình đến có thể giúp gì được bà con.

Tôi hăng hái vào làng và gặp vài người. Tôi chào bằng tiếng địa phương. Nhưng họ chỉ ngoái lại nhìn rất nhanh rồi quay đi, tiếp tục la hét và gõ vào những đồ dùng đang cầm sẵn trên tay. Ngoài sân làng, một người huơ huơ đuốc. Nhiều người cùng cầm đuốc xúm lại. Tôi thấy một cái bóng cao to trao cây đuốc cho chú bé rồi bắc loa tay, hú lên một tiếng rõ dài. Mọi người im phắc. Người đó đứng giữa vòng, chỉ lên trời nói rất to bằng tiếng Gia Rai. Anh ta giải thích cho bà con hiểu là, hiện tượng nguyệt thực chẳng qua do mặt trời, trái đất, mặt trăng quay đến một chỗ thẳng hàng nhau, rằng ánh sáng của mặt trời tỏa ra khuất bóng trái đất, nên ta chỉ thấy mặt trăng có chút xíu thế kia. Sau đó anh ta bắt ba em nhỏ đứng thẳng hàng, đứa đầu cầm đuốc, hai đứa sau đứng nghiêm. Nhưng anh không nhớ, cả vòng người quanh anh, hầu như ai cũng có đuốc. Và vì thế, ba cái bóng nhỏ nhoi của ba chú bé ngả nghiêng, chĩa ra nhiều phía. Dân làng ồ lên rồi tỏa ra hò hét, la ó. Tiếng chinh chiêng càng dồn dập hơn. Tiếng hú càng dài hơn. Tôi bất giác nhìn lên khoảng trời trước mặt. Một quầng sáng đen kịt như đang rung chuyển. Cái quầng đen phát sáng ấy gây cho ta cảm giác rùng rợn. Phía sau quầng đen, những ngôi sao sâu hút, le lói. Một mảnh ánh sáng sắc lẹm hơi cong, chập chờn hiện lên, như là rất rõ, lại cũng như là không thấy gì, khiến ta tưởng như đang bị loạn thị vậy. Tôi dụi mắt, nhắm chặt một lúc lâu. Khi mở ra, cảnh tượng vẫn y như cũ. Ðây là lần đầu tôi thấy hiện tượng nguyệt thực trên cao nguyên.

Chợt có một cánh tay huých vào ba lô tôi, nhắc nhở bằng tiếng Gia Rai: "Sợ à! Sợ thì làm theo người ta đi!". Tôi quay lại. Người nhắc tôi đã nhảy lên sàn cửa, gõ tới tấp vào mảnh máy bay Mỹ treo trên chái hiên.

Tôi quay ra tìm người cao to vừa giải thích hiện tượng nguyệt thực. Nhưng sân làng đã vắng hoe. Tôi đang phân vân không biết chọn nhà nào để lên, thì thấy nhiều người ùa ra. Cái bóng cao to khi nãy bây giờ chạy trước, tới giữa sân anh lại hú, lại huơ đuốc. Một đám đông xúm quanh. Anh hô to, bảo mọi người tắt đuốc. Ðêm trở nên huyền ảo với những bóng người và tiếng bàn tán xì xầm. Người ta bê tới cho anh một cái cối gỗ để làm bệ đứng. Anh nhẩy lên, châm một cây đuốc, rồi dõng dạc gọi tên ba em nhỏ. Ba chú bé tranh nhau đứng trước. Nhưng chỉ cần một cái khoát tay của anh, chúng rất nhanh về đúng vị trí của mình. Dân làng kéo lại chờ đợi. Dường như anh đang dồn hết tâm lực, cố dùng những lời ngắn gọn, dễ hiểu nhất để giải thích một hiện tượng thiên nhiên, không phải dễ gì người ta chấp nhận ngay được. Anh mặc quần đùi, áo lót! - loại áo do các thiếu nữ Gia Rai thường dệt tặng các chàng trai dũng cảm. Lẽ ra áo ấy phải mặc đồng bộ với chiếc khố có nhiều tua, nhiều đường hoa văn sặc sỡ. Chợt anh hú lên một tiếng ngắn gọn. Chú bé cầm đuốc vung mạnh rồi hạ xuống ngang người. Nó đứng trang nghiêm, hô to bằng tiếng Gia Rai: "Tôi là mặt trời!". Lập tức hai em đứng sau lần lượt hô: "Tôi là trái đất!" - "Tôi là mặt trăng!".

ánh đuốc hắt ba cái bóng dài chập vào nhau. Dân làng xúm lại chỉ trỏ, cười nói. Anh lại hú giật lên một miếng ngắn gọn nữa.

Mọi người nín lặng. Cái nín lặng đột ngột khiến tôi cảm thấy như có một sức mạnh của uy quyền. Sức mạnh mà dù muốn dù không ta vẫn phải làm theo.

Anh lại bắt đầu giải thích. Tôi thấy lần này có hiệu nghiệm hơn. Ba em nhỏ vẫn luôn miệng hô: "Tôi là trái đất!" - "Tôi là mặt trăng!".

Tôi đứng ở vòng ngoài, chờ dân làng tản ra sẽ bám theo anh. Nhưng chỉ loáng một cái, sau khi hỏi người đứng cạnh, biết anh là cán bộ văn hóa xã, thì anh đã không còn trên sân làng nữa.

Người ta chỉ cho tôi nhà anh. Một ngôi nhà không làm sàn duy nhất trong làng.

Trăng sáng trở lại, nhưng phía chân trời xa còn vương một đám mây đỏ thẫm. Mọi người đã ai về nhà nấy. Ðâu đó có tiếng chinh chiêng và tiếng hát trầm. Nếu ta chú ý lắng nghe, có thể nghe rõ lời bài hát.

*
* *

Anh đang nằm trên chiếc giường tre nhỏ kê sát cửa, nghe tiếng động liền vùng dậy:

- Gì đấy? - Anh hỏi bằng tiếng Kinh.

- Báo cáo anh. - Tôi ấp úng. - Tôi là nhà... báo...

Anh vội vã ngồi dậy, bước vào nhà trong. Một lúc sau anh cầm đèn dầu ra với vẻ lúng túng. Tôi giả lơ vô tình, đặt ba lô lên thềm và bắt chuyện:

- Nãy nghe anh giải thích hiện tượng nguyệt thực hay quá! - Tôi nói tiếng Gia Rai, hy vọng được anh đón tiếp vui vẻ.

Chợt anh đánh rớt chiếc đèn xuống nền nhà, vỡ tan. Tôi vội bấm đèn pin giúp anh thu lượm mảnh. Bàn tay phải của anh chỉ còn ngón trỏ và ngón út, một bên má sạm đen, bên kia tấy lên có những chấm trắng. Chắc anh là thương binh, tôi nghĩ. Tôi cố giữ thái độ bình thường. Anh lầu bầu câu gì đó không rõ. Thoáng có mùi rượu. Từ lúc vào tới giờ, anh chưa hề nói với tôi lời nào, ngoài câu "gì đấy" bằng tiếng Kinh. Hai tiếng ấy bật ra không hề ngượng nghịu. Chắc anh ta thạo tiếng phổ thông, tôi nghĩ. Liệu tôi có làm anh khó chịu không? Tôi băn khoăn mở cặp lấy giấy tờ, định nhờ anh liên hệ giúp với các đồng chí lãnh đạo xã. Anh ném mảnh giấy vào góc nhà, kéo xê chiếc giường con ra hiên, nói:

- Ðồng chí chờ tôi một tẹo.

Anh nói tiếng Kinh, theo giọng miền Bắc. Tôi chưa thấy ai là người Gia Rai nói tiếng Kinh sõi hơn thế. Cái từ "một tẹo" anh dùng, phải là người thạo ngôn ngữ đồng bằng Bắc Bộ lắm. Nhưng tôi lại nghĩ, chắc anh là cán bộ tập kết về. Ðiều ấy cũng có thể xảy ra. Tôi có tật, mỗi lần lên lại Tây Nguyên, được tiếp xúc với đồng bào là nói tiếng địa phương. Phần vì dễ gây được cảm tình với bà con. Phần nữa, đây là dịp ôn lại vốn từ mà tôi đã có.

- Chắc anh đã ở nhiều miền Bắc? - Tôi vẫn hỏi bằng tiếng Gia Rai. Anh lặng lẽ đặt chai rượu trên giường và hai cái ly nhựa. Anh rót đầy hai ly, không trả lời tôi mà nhận xét:

- Ðồng chí nói tiếng quê tôi thạo đấy. Chắc là từng công tác ở đây?

Tôi khoe với anh là đã ở vùng này hồi đánh Mỹ. Rằng tôi đã từng được cử xuống làm cán bộ du kích một thời gian.

- Trước ông ở đơn vị nào? - Anh hỏi tiếng Kinh.

Không thể cứ một người nói tiếng Gia Rai, một người nói tiếng Kinh mãi được. Tôi trả lời:

- Trước tôi ở huyện đội M mà.

- Ủa! - Anh reo lên - Thế những năm nào?

- Dạ, từ sáu tám.

- Từ sáu tám? - Anh tiếp. - Còn tôi là lính K5. Nhưng trước đó kia. Mà thôi nào, mời ông. Chúng mình coi như anh em bạn cũ nhau. Trăm phần trăm nhá!

Tôi cầm ly rượu ráng uống hết. Anh cũng làm một hơi. Tôi lấy mấy cái bánh mỳ mang theo mời anh. Anh cứ ngồi ngây ra, một lúc bỗng đứng dậy vào nhà. Tôi liếc theo. Anh ăn ở chu đáo, gọn ghẽ. Chợt có tiếng trẻ khóc và tiếng phụ nữ nựng con bằng tiếng Gia Rai. Anh ra, tôi lấy giấy công tác đưa anh. Anh chỉ xem qua, nói:

- Cán bộ xã đi họp trên huyện cả, chỉ còn mình tôi ở nhà vì vợ tôi mới sinh cháu trai khi sớm.

- Thế ạ. Xin chúc mừng anh chị! - Tôi nói. - Tôi hỏi thật: Hình như anh là người Kinh?

- Vâng. - Anh đứng dậy, linh hoạt hẳn. - Tôi là dân Bắc chính cống đấy ông ạ.

- Thảo nào...

- Hôm nay tôi lên chức bố, - Anh tiếp. - Lại là bố thằng cu. Mừng quá hóa ngơ ngẩn từ sáng tới giờ. Ông đến gặp dịp vui của tôi, cứ tự nhiên nhé.

Anh cười cởi mở rồi xoa xoa tay, chạy vào nhà trong với cái dáng tất bật đầy vui sướng. Tôi thấy miệng anh bị lệch, hàm răng trên không còn cái nào. Nhưng giọng vẫn bình thường. Anh vừa bước ra đã nghe tiếng chị gọi theo. Anh lật đật vỗ vỗ vai tôi mấy cái rồi quay lưng. Chị nói với anh bằng tiếng Gia Rai: "Ơ kìa, con gà đang muốn theo nước sôi nhảy ra khỏi nồi rồi!". Và chị bảo anh rút bớt củi trong bếp rồi lấy thêm rượu mời khách. Anh đề nghị chúng tôi uống rượu cần, nhưng chị bảo sợ người khách lạ cười. Anh ra hỏi, tôi đồng ý ngay. Anh lại quay vào. Có tiếng chị mắng yêu anh và tiếng cháu bé khóc.

Rồi lại lặng im.

Tôi cảm thấy lâng lâng, phần vì ly rượu vừa uống, phần vì lây cái vui của anh chị. Trăng giữa tháng sáng tới mức ta có cảm giác không gian rộng hẳn ra. Tôi rút cây kèn ác-mô-ni-ca ra thổi. Tôi thích thổi những bài dân ca Gia Rai. Những bản tình ca của người đi săn. Những khúc hát đối nhau của các chàng trai và các cô gái trong dịp hội hè. Những điệu nhảy mừng ngày mùa thắng lợi. Rồi tôi bỏ kèn, nghiêng người tựa vào thành giường hát. Chợt có bàn tay đặt lên vai tôi. Tôi ngừng lời. Anh bắt tay tôi bằng bàn tay lành và khen tôi hát tiếng Gia Rai khá chuẩn. Có tiếng chị nhắc:

- Ơ người khách mới! Hát đi cho con nít mình mau lớn.

Tôi cao hứng hát tiếp.

Anh đặt ghè rượu sát cửa, lấy lá ủ ra và cắm cần. Chị bê tới một cái rá con bốc khói. Thì ra nãy giờ anh chị luộc gà. Tôi chào chị bằng tiếng Gia Rai. Chị bẽn lẽn gật đầu. Anh lấy thêm đĩa rau thơm và muối ớt. Chị nắm tay tôi, bảo tôi ngồi xuống chiếu hoa - loại chiếu chỉ những nhà giàu xưa mới có. Anh nói:

- Cả ngày nay bà con mừng tôi hơn chục con gà, ba ghè rượu thơm, một gùi gạo nếp. Năm nay chúng tôi được mùa cả lúa ruộng lẫn lúa nương ông ạ.

Chị vít cần rượu cho tôi, mỉm cười nhìn tôi và anh uống chung một cang(1). Rồi chị vào nhà trong với cháu. Tôi cám ơn chị. Anh kéo tay tôi, bảo tôi đừng làm khách. Tôi hỏi anh về công việc làm ăn của địa phương, anh cười:

- Khi nào làm việc xin ông tha hồ phỏng vấn. Còn bây giờ ta vui, ta nói chuyện đời...

- Vâng! - Tôi vít cần rượu. - Xin chúc mừng anh chị! Chúc mừng cháu!

Tôi nghe rõ tiếng rượu chuyển trong ghè. Bỗng anh buông cần nói với vào nhà trong bằng tiếng Gia Rai:

- Ơ em. Tui muốn say rồi! Ngày vui uống chút cho say, được. Ngày thường uống say, không phải người Gia Rai xã hội chủ nghĩa đâu cán bộ phụ nữ nhỉ?...

Rồi anh cười to và buông cần chạy vào nhà đòi bắt tay chị, khiến chị cười rũ.

Anh bước ra với quả bầu đựng nước. Chúng tôi chế thêm nước vào ghè rồi đặt cang. Anh bảo tôi uống hết. Tôi vít cần thầm nghĩ, phải cố gắng. Anh nhẩy quanh ghè rượu cổ vũ tôi. Cả chị cũng nói vọng ra cổ vũ tôi nữa. Tôi đã làm hết bổn phận. Ðến lượt anh, anh ngồi xếp bằng điềm tĩnh, hút rượu từ từ. Cục yết hầu trên cổ anh đưa lên đưa xuống đều đặn. Rồi anh buông cần, nói:

- ¡n thịt gà đi. Vợ chồng tôi ăn từ trưa, uống từ trưa rồi.

Tôi cầm cái đùi gà anh đưa và bắt chuyện:

- Hồi tôi vào huyện đội M này thì K5 các anh chuyển đi đâu nhỉ?

- Bọn tôi vào trong nước La Pà.

- Thế từ ấy anh có gặp ai bạn bè cũ không?

- Không.

Anh vít cần uống thêm rồi tiếp:

- Mà gặp làm gì...

- Sao vậy anh?

- Chẳng sao cả. Nhưng tôi thích thế. Mỗi người có một hoàn cảnh, một niềm vui, nỗi khổ khác nhau. Nhưng chúng mình - Anh kéo vai tôi tiếp - Chúng mình đều là lính - Mà lại là lính cách mạng. Tất cả cái vui, cái buồn chung, phải không ông?

- Ðúng thế, tôi nói - Anh vào Nam năm nào nhỉ?

- Tôi vào sáu nhăm.

- Anh đã về thăm quê chưa?

- Chưa. Mà mình không về nữa, ông ạ. Mình ở đây suốt đời.

Anh lặng lẽ rút tẩu thuốc rồi vào nhà lấy nhánh củi đang cháy. Anh bập thuốc có vẻ khó khăn, nhưng đúng kiểu của người Gia Rai. Tôi cũng xin anh một ít thuốc, dùng giấy pơ-luya quấn hút. Chúng tôi dường như bắt đầu chuyển sang một không khí mới - không khí tâm tình của đồng đội. Anh ngồi xích gần tôi bảo đổ thêm nước từ quả bầu vào ghè. Rồi anh vít cần cho tôi, nói:

- Ông nên nhớ rằng, ông là người Kinh đầu tiên tôi tiếp từ khi bị thương đến giờ.

- Vậy ra anh...

- Chẳng ra sao cả, ông ạ. tôi vào Nam, đánh đấm được mươi trận. Không phải nói khoe, tôi đã ba lần được bằng dũng sĩ diệt Mỹ, một lần dũng sĩ diệt cơ giới. Hai năm liền chiến sĩ thi đua cấp Quân khu. Từ tổ trưởng nhẩy thẳng lên trung đội phó. Từ trung đội phó nhẩy thẳng lên chính trị viên đại đội. Tất cả những cái đó đều đáng nói, nhưng cũng đều không đáng nói phải không ông?

Bỗng anh quàng tay qua vai tôi. Tôi cũng quàng vai anh.

Tôi nói:

- Anh nói hay lắm!

Chợt anh buông tôi ra, đẩy mạnh vai, nhìn tôi như người lạ.

- Sao? Ông bảo tôi nói hay à? Tôi không nói hay mà tôi nói đúng! Giải phóng rồi, ông được xuống đồng bằng, ông được ra miền Bắc với vợ con ông, với người thân của ông. Vậy mà ông dám bảo tôi nói hay? - Anh lay mạnh vai tôi - Tôi nói cho ông biết - Anh tiếp giọng đứt quãng - Ông sướng hơn tôi nhiều! Ông may mắn... hơn tôi nhiều!

Mắt anh, qua ánh đèn sáp, đỏ sọc lên rồi mờ dần. Anh khóc. Tôi lúng túng không biết xử sự thế nào. Bỗng anh dụi mắt vào vai tôi rồi nhìn tôi chằm chặp. Môi anh mấp máy. Hai chúng tôi ngồi lặng thinh. Cái lặng thinh như có lỗ thủng. Trăng sáng ngằn ngặt. Có tiếng chị cựa mình và tiếng cháu bé khóc. Rồi thật bất ngờ, chị cất tiếng ru. Mà chị ru tiếng Kinh, theo đúng điệu của các bà mẹ miền Bắc:

à A... a... à... ơi... i - i...

Em xinh... cái dáng á... á-à-à cũng à... à-à... xinh... i - i...

Em giòn... cái tỉnh a... á... a tình tinh... a... cũng à... giòn... ả-à-à-ơi...
Tôi sững sờ cúi xuống. Chị đang ru con hay chị đang nhắc nhở chúng tôi? Chị đang ru con hay chị muốn góp điều gì cho vui câu chuyện? Anh bật cười to và sau đó trở lại trạng thái tỉnh táo hoàn toàn. Những người say rượu thường thế, tôi nghĩ. Thường có những phút tỉnh táo hoàn toàn. Anh đứng bật dậy chạy vào nhà trong lấy ra nải chuối đặt lên đùi tôi, nói:

- ¡n đi! Nhà tôi nó bảo chú ăn đi mà!

- Vâng, cảm ơn anh. Thế chị quê vùng nào nhỉ?

- Vợ tôi người Gia Rai, con Plei-O-K này. Trước công tác ở tỉnh, sau về huyện. Bây giờ thì về xã. Chúng tôi cứ rút dần vào cái tổ của mình ông ơi!

Anh cười rất hồn nhiên. Tôi hỏi:

- Anh dạy chị điệu ru con Bắc Bộ đấy à?

- Nhà tôi thích hát ru với lại thích hát chèo lắm.

- Thế anh có dạy chị hát chèo không?

- Có chứ - Anh vui hẳn - Tôi còn dạy chèo cho đội văn nghệ xã. Bà con Tây Nguyên nói chung rất thích hát chèo ông ạ. Ðội văn nghệ xã tôi quyết đoạt giải hội diễn sắp tới đấy!








- Tuyệt lắm!

Chúng tôi cùng vui vẻ vít cần.

- Ông mà ở lại đây lâu lâu thì hay quá.

- Tôi sẽ ở chừng nửa tháng.

- Ðược đấy! Thế ông đã đánh đám trận nào chưa? Anh hỏi tôi.

- Dạ, cũng có nhưng chỉ đánh kiểu du kích. K5 các anh đánh thì khiếp lắm!

- Ôi dào! - Anh ngả người ra sau, nói. - Trước tôi là chính trị viên đại đội. Bây giờ là "chính trị viên làng" - Anh cười.

- Hồi bị thương, anh nằm bệnh viện nào đấy?

- Chả bệnh viện nào cả. Anh kéo vai tôi xuống, tiếp - Tôi nằm cái "bệnh viện Plei-O-K" này.

- Hay nhỉ!

- Hay gì ông? Các ông thì cái gì chả hay? - Anh chống tay ngồi dậy, tiếp. - Ðùa chút cho vui chứ trận ấy, đơn vị tôi được trên giao là phải hốt ba cái đồn dân vệ trên trục đường quốc lộ. Hai kho đạn địch cách thị xã K ba mươi kilômét về phía Tây. Nhiệm vụ nhiều, lại phân tán mục tiêu. Ðại đội tôi, thực ra chỉ còn hơn chục tay súng. Giờ nổ hiệp đồng với mặt trận không được cách nhau quá mười lăm phút. Tôi chỉ huy mũi chủ công, trực tiếp nắm tổ điểm hỏa diệt kho đạn địch. Chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc, có thể nói như thế. Sau trận đánh, rút về gần tới khu rừng tập kết thì không may, chính ba anh em chúng tôi lọt vào ổ phục của địch. Tôi đi giữa, cậu Chung đi trước. Nó bị thương, tôi thoáng thấy thế. Nhưng nó vẫn phụt được một quả B40 rồi mới hy sinh. Thằng Châu cũng thế. Nó cũng bắn đâu được vài loạt AK. Tôi không hiểu sao lại bật tít vào bụi, cách đó đến gần chục mét! Hình như chúng tôi bị mìn và cả ÐK nữa. Tôi bị ngất khá lâu. Tỉnh dậy, sờ lên mặt chỉ thấy máu. Bàn tay phải bị thiến phăng mấy ngón, còn mặt tôi bị luồng lửa ÐK xoẹt qua! Vâng, chả hiểu sao lúc ấy tôi khỏe thế? Tôi kéo lê khẩu súng bên tay trái, bò quanh đó tìm Châu, Chung. Nhưng không thấy chúng nó đâu cả. Có thể chúng nó bị thương rồi địch bắt, lúc ấy tôi nghĩ thế. Cũng có thể chúng nó hy sinh rồi bị địch kéo xác đi! Tôi bò quẩn mãi, chỉ sờ mó thôi chứ mắt có thấy gì nữa đâu! Rồi cũng đến lúc phải tính, tôi bò theo linh cảm vào rừng. Không biết bao lâu nhưng đến khi mở được mắt đã thấy mình nằm bên đống lửa, chỉ có một khuôn mặt xương xẩu, già nua, râu tóc xồm xoàm cúi xuống. Người ấy dùng nước rễ cây tưới lên những chỗ bỏng và vết thương cho tôi. Sau này tôi biết điều ấy. Vâng, ông già vợ tôi bây giờ đấy. Hôm đó ông đi săn, vớ được tôi và cõng về cứu chữa. Ông già chỉ sống có một mình. Hai người con trai là du kích đã hy sinh, còn mỗi cô út thì công tác xa. Bà lão mới mất trước khi có mặt tôi vài tháng. Ông già sống lầm lì, suốt ngày chỉ nói vài câu cần thiết. Tôi khỏi rồi ở lại với ông, với dân làng. Tôi học tiếng Gia Rai, học việc của một người đàn ông Gia Rai. Tôi không về đơn vị nữa. Tôi về làm gì khi bàn tay không còn cầm nổi súng. Tôi về làm gì, tôi hỏi ông? - Anh lay mạnh vai tôi. - Tôi về làm gì khi đơn vị tôi, anh em đồng đội của tôi đang phải đương đầu với bao nhiêu khó khăn? Ông ạ, gạo phải tính bằng tay, muối phải đong bằng nắp cù là, phải đếm từng hạt chia nhau. Mà nhiệm vụ chiến đấu thì cứ nối tiếp nhau liên miên.Tôi là cán bộ tôi biết. Một đại đội độc lập kiểu đơn vị tôi, lo được cho một thương bệnh binh khốn khổ lắm. Căng thẳng lắm. Vừa quần nhau với địch lại vừa phải bảo vệ thương binh, ông bảo đơn giản sao được? Mình thiếu thốn cắn răng mà chịu, kiếm măng, kiếm rau ăn quáng ăn quàng cho xong. Chứ thương bệnh binh mà thiếu, mà đói thì có tội với không những đồng chí mình, mà còn mang tội với Ðảng, với dân nữa. Tôi về, mất đứt bốn năm đồng chí chuyên môn lo cho tôi. Hơn thế, sổ gạo, muối dự trữ phải trích ra chi cho tôi. Mà cái chính là tôi không cầm súng được nữa. Ðúng thế. Tôi mà về, anh em mừng cho tôi nhưng lại phải lo cho tôi! Phải nai lưng ra gánh vác cho tôi. Tôi là cán bộ tôi biết ông ạ. Tôi về là chỉ để được thấy anh em mừng là mình còn sống thôi ư? Không! Tôi không về nữa. Thế thôi. Ðồng đội hãy tha thứ cho tôi. Lúc ấy tôi nghĩ thế và tôi làm đúng theo ý nghĩ của tôi. Bây giờ cũng thế, tôi sẽ làm đúng theo tôi nghĩ...

Chợt có tiếng chị gọi. Anh chạy vào với chị. Một lúc sau quay ra, nét mặt có vẻ rạng rỡ hơn, anh túm tay tôi:

- Ông ạ, chúng tôi mới sinh cháu trai. Tôi vừa bảo nhà tôi sẽ đặt tên cháu là Thực. Rơ Lan Thực. Mẹ cháu họ Rơ Lan, lại sinh đúng bữa nay có nguyệt thực, đặt thế để nhớ ngày hôm nay được không ông?

- Tuyệt lắm! Xin chúc mừng anh chị. Chúc mừng Rơ Lan Thực!

Chúng tôi lại đổ thêm nước vào ghè và đặt cang uống chung. Tôi thấy anh có vẻ mệt nên bảo anh đi nghỉ. Anh cười:

- Ông mệt à? Nếu không thì lo gì tôi. Tôi đã trót nói với ông rồi! Tôi ở lại đây và thành người Gia Rai. Tôi không về quê nữa. Nhưng ông ạ, hồi còn chiến tranh, mịt mù tin tức còn có lý. Giải phóng rồi mà tôi không về. Mà tôi nỡ bỏ quê - Ðiều ấy lúc nào cũng dằn vặt tôi...

Bỗng anh kéo đầu tôi xuống hôn. Anh vò tóc tôi, tiếp:

- Tóc vợ cũ của tôi dày và đẹp lắm! Mỗi lần chải, cô ấy phải đứng lên giường mà buông tóc xuống. Vợ tôi đẹp nhất vùng, tôi dám nói thế. Cô ấy là kế toán hợp tác. Hôm về phép trước khi đi B, vừa xuống xe ngang đường, tôi gặp cô ấy. Chà, cô bé lên huyện có việc gì đó, lốp xe đạp bị xịt. Thấy có người dắt xe, tôi đặt ba lô lên phócbaga. Ði được một đoạn mới có hiệu sửa, tôi bảo vào vá xăm. Cô ấy cứ lúng ta lúng túng. Thì ra cô nàng hết tiền ông ạ. Tôi nhận trả cho. Sửa xong, tôi đèo cô ấy về. Ðến gần làng thì gặp nguyệt thực. Tôi dừng xe đứng xem. Tiếng gõ nong nia, thúng mủng từ trong làng vọng ra nghe mà rùng rợn. Cô ấy nép sát vào người tôi mà thì thầm: "Gấu ăn mặt trăng!". Hơi ấm từ người cô lan sang khiến tôi ngơ ngẩn. Vâng, tôi đã nắm tay cô gái ấy từ lúc nào. Ðến lúc trăng sáng lại, chúng tôi sực nhớ ra là mặc dù cùng quê, nhưng mới chỉ quen nhau được vài chục phút!...

- Hôm sau cô ấy đem tiền trả tôi - Anh ngừng một lát, rồi tiếp - làm sao có thể nhận tiền trong trường hợp như vậy, phải không ông. Nhưng kể cũng hay! Cứ đưa đẩy mãi hóa ra tình cảm. Rồi chúng tôi yêu nhau. Cứ như tôi về phép chỉ để gặp cô ấy, để cưới cô ấy. Xưa nay, ba anh em tôi đi đâu về cũng ở nhà ông chú. Bố mẹ tôi mất sớm vì nạn lụt. Chú tôi trông nom chúng tôi thay cha. Hồi ấy thằng em tôi đã đi nước ngoài. Cô út cũng đã lấy chồng, dạy học tận một tỉnh sát biên giới phía Bắc. Tôi định về nhà với chú thím chục ngày rồi lên ngược thăm em gái. Nhưng tình yêu đã níu chân tôi lại. Tôi cưới vợ, khoác ba lô sang nhà vợ ở, điện cho em gái về chơi. Vâng, tháng rưỡi phép cứ như trong mơ. Thời gian đối với tôi chưa bao giờ vụt nhanh đến thế. Khi quất ba lô lên vai chia tay vợ, chia tay làng xóm, lên xe rồi mà tôi vẫn thấy ngỡ ngàng...

- Rồi từ đó anh chị bặt tin nhau luôn? - Tôi hỏi.

- Không. Tôi là thằng chịu khó viết thư nhất đơn vị. Hành quân trên Trường Sơn vất vả là thế mà tôi vẫn gửi đều đặn mỗi tuần một lá. Ðến đơn vị chiến đấu, bận hơn thì mỗi tháng một lá. Sau này vì quá căng thẳng, tôi gửi thưa dần, chỉ khi nào có dịp thuận tiện. Tôi cũng nhận được hai lá thư của vợ. Thế nhưng, từ ngày bị thương, từ ngày tôi quyết ở lại đây thì không thư từ gì nữa! Tôi đã thành người Gia Rai, thành người làng Plei - O-K này rồi. Mà đã thế thì thôi, thì còn thư từ làm gì? Tôi hỏi ông - Anh lay mạnh vai tôi - Tôi chỉ muốn - Anh tiếp - Ngoài bà con Plei-O-K ra, không ai nghĩ có thằng tôi trên đời này nữa. Hãy để cho vợ tôi, em tôi, chú thím và bà con dân làng quê tôi coi tôi là liệt sĩ. Có lẽ như thế tốt hơn. Tôi không có ý định lộ mặt ra, mặc dù nhiều lần tôi không chịu nổi. Ngoài nông trường chăn nuôi của huyện kia, khối anh em miền Bắc. Nhất là mấy sư đoàn bộ đội làm kinh tế gần đây lại càng đông. Vâng, đã vài lần tôi ra nông trường chơi, tới chỗ anh em bộ đội chơi. Họ không phát hiện ra tôi là người Kinh. Tôi lân la hỏi thăm, cũng gặp vài anh em cùng huyện. Có hai cậu cùng xã. Nhưng anh em còn ít tuổi quá. Hồi tôi đi B, chúng nó mới sáu, bảy tuổi. Tôi hỏi chuyện làng xóm rồi đến chuyện gia đình. Nhưng hai cậu đồng hương ấy chẳng biết gì cho rõ ràng cả. Họ hỏi sao tôi biết quê họ với lại quen nhiều người thế? Tôi bảo tôi có được ra Bắc học và sơ tán về vùng quê họ mấy tháng. Và thế là các đồng hương của tôi tin ngay! Một cậu bảo có biết "cái chị ấy" - tức là vợ tôi, và thậm chí biết cả "anh chồng chị ấy" - tức là tôi. Nhưng theo cậu ấy thì hiện nay anh ấy đã hy sinh ở chiến trường, còn chị ấy hình như vẫn ở vậy. Cậu kia lại bảo hình như chị ấy đã có con với ai đó. Trời đất, cái gì cũng hình như, hình như! Tôi không thể chịu được. Nhưng mà trách ai? Anh em người ta có việc của người ta. Mà dẫu tôi có hy sinh hay còn thì đối với họ cũng thế thôi. Tôi đã mời được hai cậu đồng hương về nhà chơi. Tôi cư xử với anh em theo đúng kiểu của người Gia Rai... Vâng, lúc gặp anh em thì tôi cảm thấy tôi đóng kịch không đến nỗi kém. Vậy mà sau đó chỉ có một mình với những kỷ niệm cũ, ông ạ, tôi không tài nào chịu nổi. Tôi như thằng tâm thần nhưng lại cũng rất tỉnh táo. Tôi nói dối ông già là được trên cử đi học hai tháng. Ông già bán con heo nái đang nuôi lấy tiền cho tôi, không hề nói gì. Thậm chí ông còn vui hơn thường ngày. Sau này tôi mới biết, ông già cũng tinh ý gớm. Ông bảo lúc ấy ông đếm được trong đầu tôi nghĩ những mưu mẹo gì? Tôi chỉ nghĩ là đi chừng hai tháng. Về quê, tôi định thế. Nhưng với kế hoạch không lộ mặt cho ai biết. Tôi thèm biết tình hình vợ và hai em tôi, với lại được đi trên cánh đồng làng trong cảnh thanh bình quá! Rồi tôi vào, nhất định thế. Tôi không bỏ ông già và dân làng Plei-O-K của tôi được. Có lẽ như thế tôi sẽ yên tâm hơn, phải không ông? Hôm ấy tôi đi sớm. Ra khỏi làng, trời còn mù sương, ngoái lại chỉ thấy những đốm lửa nhập nhòe. Tôi vừa đi vừa chạy tới bến xe thì sáng. Tôi chỉ mặc độc một bộ đồ bộ đội. Vâng, rủi cho tôi mà, cũng thật may cho tôi. Tôi lao vào xếp hàng mua vé. Chỉ còn hai người nữa đến lượt tôi thì bỗng cửa bán vé sập xuống. Hai chữ HếT Vé đập vào mắt tôi như một cái tát! Tôi bấm lòng chờ mua chuyến trưa. Tôi xếp đầu tiên và cố không nghĩ ngợi gì. Thời gian căng thẳng ấy rồi cũng qua. Cửa bán vé vừa mở tôi đã thọc tay, đưa tiền vào. Cô bán vé định bán thì một người nào đó, cũng từ phía trong phòng hỏi giấy. Tôi không có giấy tờ! Không có gì cả! Tôi bảo tôi là thương binh, đi thăm bạn cũng là bình thường! Người ta hỏi: "Thế thẻ thương binh của bác đâu?". Tôi đấm ngực: "Thế à? Tôi thế này mà cũng phải thẻ à?". Người ta vẫn nhẹ nhàng: "Vâng, đã là thương binh thì phải có thẻ thương binh, bác ạ". Tôi nuốt giận đi ra khỏi hàng. Tôi chộp mua một nải chuối bằng số tiền định mua vé nắm trong tay, không phải vì thèm ăn, mà tôi cứ mua, thế thôi. Tôi thấy một cháu bé chừng bốn, năm tuổi đứng nhìn. Tôi đưa cả nải chuối cho nó. Ðứa bé bỗng khóc thét lên, còn mẹ cháu thì lao tới, ôm ghì lấy con. Tôi ngơ ngác giây lát và sực nhớ, mình không còn là người bình thường nữa! Tôi nuốt nỗi cay cực xuống ngực và cắm đầu đi! Rồi tôi nằm vật trong một bụi cây. Ông già lại cõng tôi về. Ông già theo dõi tôi, ông ạ. Ông bảo, tôi đi lọt thì cho đi, nhưng nếu không lọt sẽ có chuyện xấu. Ông già đắp lá rừng mát cho tôi. Rồi tôi cũng trở lại bình thường. Có đến vài tháng tôi không được khỏe lắm, đêm nào cũng nằm mơ. Thậm chí cả lúc thức, cả ban ngày nữa! Khi thì thấy thằng em tôi vào. Rõ ràng nó đang đứng ngoài cửa xách cái cặp sách ngày xưa nó vẫn đi học. Tôi chạy ra thì nó biến đâu mất. Tôi quay vào chỗ cũ lại thấy nó xuất hiện. Tôi ngồi im nhìn và nó cũng đứng ngoài cửa nhìn tôi. Tôi quát lên: "Sao chú lại đứng đó?" "Em vào tìm anh", nó nói nhẹ nhàng. "Không!" Tôi bảo nó: "Chú về đi. Về lo công chuyện của chú đi. Anh không còn nữa đâu!". - "Anh nói gì lạ vậy?", nó nói: "Anh vẫn còn sống. Hôm trước anh đã định về với chúng em kia mà!". "Không!". Tôi bảo nó: "Chú nằm mơ đấy!". "Chính anh đang nằm mơ" - nó nói - "Chính anh đang tự dối mình. Anh ngu lắm!" Nó dám bảo tôi thế. "Anh không biết rằng anh đang làm khổ chúng tôi, làm khổ chị ấy và chính bản thân anh nữa: - "Trời ơi", tôi bảo nó. "Chú được học rộng biết nhiều mà hiểu về anh hạn hẹp quá. Anh đã là liệt sĩ rồi. Anh hy sinh ngày giờ, năm tháng nào chắc chú đã biết. Chú đã từng cúng giỗ và khóc anh. Vậy mà bây giờ chú nỡ mắng anh như vậy? Người ta có nhiều cách biểu hiện lòng thương yêu. Khóc là một kiểu và chú mắng anh cũng là một kiểu. Nhưng chú ạ, anh đã hy sinh rồi. Chú hãy cứ tin như thế như chú đã từng tin bấy nay!..." - "Không được!", nó lạnh lùng đáp. "Anh còn sống, em biết. Và chính vì thế, anh đã làm khổ bao nhiêu người. Bây giờ đã đến lúc phải nghĩ lại. Ðất nước hòa bình thống nhất rồi. Và anh đã góp một phần xương máu vào sự nghiệp chung. Bây giờ anh có điều kiện được hưởng hạnh phúc. Anh cứ về với bọn em đi! Anh về với chị dâu của chúng em đi!" - "Này", tôi bảo nó: "Chú im miệng ngay đi!". Tôi cũng phải ra vẻ cứng với nó. "Anh cấm chú không được nói năng như thế. Anh đã là liệt sĩ rồi. Nhất định đơn vị anh, bạn bè, đồng đội của anh đã làm chính sách đối với anh chu đáo" - "Không! Anh còn sống", nó vẫn một mực. "Anh hèn lắm! Anh không dám chấp nhận sự thật" - "Sự thật nào?". Tôi quát lên. Nó thì ngồi khóc, ông ạ. Em tôi nó khóc vì tôi là liệt sĩ thật rồi! Mà liệt sĩ không phải đã chết, rõ ràng thế. Tôi bảo nó: "Chú đừng tưởng, chú ạ. Chính liệt sĩ, chính những người anh hùng vô danh, những người không có tên tuổi; những người vì Ðảng, vì dân vì tổ quốc - họ đã chiến đấu và chiến thắng kẻ thù. Họ hy sinh. Ðúng! Nhưng hy sinh thì không phải là chết! Họ sẽ sống lâu hơn chúng ta. Chú đừng tưởng. Tôi phải nhắc lại với chú: chú đừng nghĩ chú được học rộng, biết nhiều mà hiểu thấu mọi nhẽ. Chú đừng mong tôi phải ân hận, phải nghĩ lại gì cả. Mỗi con người được sinh ra, nếu chúng ta muốn thành người tốt thì trước nhất, chú ạ. Trước nhất phải làm tròn bổn phận của mình...".

Anh buông tay, ngả người ra sau tiếp:

- Tôi nói nhiều quá phải không ông? Có lẽ tôi say rồi. Cũng có lẽ quá lâu chưa có dịp uống rượu. Hôm nay vui quá. Thằng con tôi ra đời. Tôi đặt tên cháu là Rơ Lan Thực. Lúc ông vào tôi đang nằm mơ nhớ cái đêm nguyệt thực ở quê.

Bây giờ thì anh ngả hẳn người vào lòng tôi. Một lúc sau sực tỉnh, anh tiếp:

- Những ngày sau tháng Ba năm Bảy lăm, chắc các ông sướng lắm nhỉ. Còn tôi, ông ạ! Tôi không dám cho phép mình tự ra khỏi huyện. Ðó là nguyên tắc mà tôi đặt ra, là kỷ luật mà tôi không cho phép mình vi phạm. Có những đêm tôi cứ lẩn thẩn nhớ lại khuôn mặt từng anh em một trong đơn vị. Tôi điểm lại quân số những người đã hy sinh từ khi tôi vào đến lúc tôi bị thương. Tôi nhớ hết cả tính tình, khả năng từng người. Nói thật với ông, chỉ tính riêng đại đội tôi thôi, anh em mà còn cả sẽ thành lập gần đủ một tiểu đoàn với những tay súng kỳ cựu và dũng cảm. Có lần tôi mơ thấy tất cả anh em chúng tôi - những liệt sĩ cùng đơn vị - tất cả, dưới sự hướng dẫn của tôi. Anh em tập trung về làng Plei-O-K này để nghe tin tức trên đài giống như hồi còn chiến tranh chúng tôi vẫn làm. Ðây, ông là nhà báo, chắc ông dễ thông cảm với chúng tôi. Lúc nào anh em cũng muốn biết tình hình thời sự. Mà phương tiện thông tin thì chỉ có mỗi cái đài của tôi. Báo chí thất thường và chậm lắm. Nhưng hiện nay thì đài của tôi đã gói kỹ rồi. Pin đắt lắm mà chẳng phải lúc nào cũng mua được! Ông bảo ông cho tôi pin hả? Thế thì hay lắm, chút tôi sẽ mở đài cho cả thằng con tôi nghe. Chắc khi con chúng mình lớn lên sẽ không còn thiếu pin nữa?...

Anh nhanh nhẹn cầm hai viên pin tôi đưa, chạy vào nhà. Sau đó không lâu có tiếng đài rọt rẹt. Chị nói vui với anh bằng tiếng Gia Lai:

- Không phải đài người ta cũng mới sinh con trai đâu, mà còn thức khuya để nói.

Anh cười hì hì:

- Ðài không nói thì mình nói. Mình mới sinh con trai, lại gặp bạn cũ, thức cả đêm chắc cán bộ phụ nữ giận một nửa, thương một nửa nhỉ?...

Rồi anh bước ra. Chúng tôi đổ tiếp nước vào ghè và vít cần. Tôi gợi chuyện:

- Ðã bao giờ anh kể chuyện ngoài Bắc cho chị nghe chưa?

- Có - Anh buông cần, nói. - Lúc chưa cưới, tôi kể hết. Cô ấy khóc. Sau này thì thôi. Nói làm gì nữa ông? Chúng tôi đều là những người muốn có hạnh phúc cả. Nhưng bây giờ cái làm tôi sợ nhất là chiêm bao ông ạ. Có lần tôi mơ thấy em gái tôi vào và khi tôi tỉnh, tôi vùng dậy. Thấy tôi có vẻ hốt hoảng, nhà tôi ôm ghì tôi. Tôi kể cho cô ấy nghe và cô ấy khóc. Tôi phải an ủi, giải thích mãi. Chiêm bao là chiêm bao, còn sự thật vẫn là sự thật phải không ông? Tôi không tin chiêm bao phản ánh đúng sự thật. Cô em gái tôi vào, tôi thấy thế. Nó dẫn theo cả một đoàn cháu gái. Tôi mừng quá, reo lên. Nó thì đẩy vai tôi ra, nói: "Bác còn sống đấy à?", nó dụi mắt và lao vào lòng tôi. "Anh đã hy sinh rồi em ạ", tôi bảo nó thế. "Vâng", em gái tôi tức tưởi. "Lúc nào anh cũng bảo anh đã hy sinh, đã là liệt sĩ! Thôi thì em tin anh. Nhưng sao anh là liệt sĩ mà chẳng phù hộ em? Cháu của bác đây. Bác xem lại đi, toàn cháu gái cả! Em sinh đến đứa thứ năm rồi mà vẫn toàn con gái. Các chị nhắc em phải kế hoạch. Nhưng vợ chồng em muốn có một cháu trai quá. Bác bảo bác là liệt sĩ, sao bác chả phù hộ vợ chồng em? Chúng em dạy học trên miền núi có chục năm hơn rồi mà vẫn chưa xin chuyển được về quê. Bác thì đã hy sinh, bác V công tác xa lắm, ai là người lo giỗ chạp, hương khói cho ông bà, cho bác?". Rồi lại cả vợ tôi nữa, ông ạ. Cô ấy cứ buông tóc xuống đất cho các cháu gái tôi tha hồ mà chải. Tôi đến thu lại thì cô ấy bảo: "Sao cả tháng giời ăn ở với em, em muốn có con, anh lại gạt đi. Anh bảo anh không muốn em vất vả mang thai, sinh con mà vắng mặt anh. Bây giờ anh là liệt sĩ, anh có biết em sống vò võ một mình buồn thế nào không? Anh bảo em đẹp ư? Trời đất, đẹp mà làm gì khi không có anh trên đời này nữa? Tóc dày, tóc xanh mà làm gì khi không có bàn tay anh luồn vào?..." Rồi cô ấy bảo tôi bạc. Rằng tôi sống như thế là không có hậu. Rằng ít ra cũng phải nghĩ tới vợ, tới em, tới công lao của bà con xóm giềng. Cô ấy bảo biết tôi còn sống, có một người mách với cô ấy thế. Vợ tôi không bao giờ tin tôi có thể chết được, ông ạ. Trước hôm đi B, tôi có nói đùa: "Nếu anh có lỡ việc gì...". Cô ấy gạt phăng ngay: "Anh im đi! Không được nói gở thế. Chẳng bao giờ có chuyện gì xẩy ra cả!". Bây giờ cô ấy nhắc lại với tôi điều ấy. Vâng, tôi nhìn vào mắt vợ tôi và cô ấy, cũng nhìn tôi chằm chặp. Tôi bảo: "Em hãy bình tĩnh. Hãy đặt mình vào hoàn cảnh của người khác và suy nghĩ...". Cô ấy thét lên: "Anh không phải là người khác! Anh là của em! Hãy về với em đi!". Tôi bảo: "Em hãy nhìn vào mặt anh đây. Hãy nhìn vào tay anh đây. Bàn tay anh không còn luồn vào tóc em được nữa. Môi anh cũng không còn bình thường để đặt lên đôi má lúc nào cũng như rắc phấn của em được nữa!". Có thể tôi nghĩ thế là sai. Nhưng tôi nghĩ thế nào thì tôi làm đúng như thế. ở đời, có những cái sai mà người ta cũng chấp nhận được. Nhưng em thì tùy. Em có quyền trách cứ tôi. Vì yêu em mà tôi xử sự với em không phải.

Bỗng anh ngửa cổ ra sau, nói:

- Không! Tôi là liệt sĩ rồi, ông ạ. Tôi là liệt sĩ như muôn ngàn đồng đội chúng ta là liệt sĩ. Em là vợ tôi, em là vợ liệt sĩ như muôn ngàn chị em có chồng đã hy sinh. Và điều ấy an ủi tôi. Em có quyền tự hào về tôi và cả về em nữa. Chúng anh, những liệt sĩ, em ạ. Chúng anh không sống cho mình và cũng không chết chỉ cho mình . Nhưng anh mắc lỗi vì có em trên đời này. Biết làm thế nào khác được? Tổ quốc đối với anh là em, là bà con xóm làng mình. Nhưng lại không phải chỉ có thế. Tổ quốc còn là ông già Gia Rai đã cứu anh, còn là bà con dân làng Plei-O-K này nữa. Tổ quốc là tất cả. Là Ðảng mình, dân mình, là tất cả! - Anh vươn tới chụp mạnh vai tôi, lay lay - Tổ quốc là những đêm chúng mình xuống đồng bằng cõng muối, gùi gạo. Thèm đồng bằng quá. Thèm chui vào bếp lửa quá. Thèm được nghe tiếng ruộng lúa dẫm bùn, sặc sụa mùi phân quá. Thèm được nghe tiếng trẻ khóc, tiếng la rầy của mẹ quá. Thèm được phanh cúc ngực trên đồng hát nghêu ngao quá.

Chợt anh cắn mạnh vào cánh tay và sực ngẩng lên, nhìn tôi:

- Tôi đang nói chuyện với ông nhỉ? Thỉnh thoảng tôi cứ phải hoặc cắn vào cánh tay mình như thế. Hoặc đá vào cái gì đó cho rõ đau để biết mình đang tỉnh hay nằm mơ. Có lẽ thần kinh tôi yếu rồi. Nhưng tôi với ông là đồng đội, chúng mình hiểu nhau hơn. Từ ngày quyết định ở lại đây, tôi không nghĩ là tôi sẽ lấy vợ. Thật thế, thề có mặt trăng đêm nay! Tôi ở với ông già gần chục năm. Mãi năm kia ông già ốm nặng rồi qua đời. Cô út về chăm sóc và chịu tang. Chúng tôi lo cho cụ chu đáo đúng với phong tục của người Gia Lai. Sau đó tôi mới biết cô ấy đã có chồng và chồng cô cũng là liệt sĩ. Vâng, chúng tôi yêu nhau. Dân làng vun vén cho chúng tôi. Tôi được bà con tín nhiệm. Tôi đem hết năng lực ra làm những gì có thể làm được. Rồi tôi được vào Ðảng. Ðúng hơn, tôi được chi bộ và Ðảng ủy xét cho sinh hoạt lại. Bây giờ tôi phụ trách công tác thông tin văn hóa xã, ông ạ. Ðội chèo của chúng tôi không những đã vững vàng có thể nói như thế. Chúng tôi còn đang ra sức tập tành để hội diễn văn nghệ quần chúng sắp tới đạt được giải một cách bất ngờ...

Anh ngả hẳn người vào tôi nhìn trăng. Anh lại kéo má tôi hôn tới tấp. Rồi anh thì thầm:

Vừa rồi tôi đã nói gì với ông, tôi không nhớ nữa. Có lẽ tôi say. Nhưng hôm nay vui quá! Suốt từ sáng dân làng tới mừng cho vợ chồng tôi. Chả có gì phải ân hận nữa phải không ông? Thằng con tôi đã xóa đi mọi cực nhọc cho tôi. Ông nên nhớ rằng, tôi không có ý định thay đổi lại cuộc sống. Chỉ có một điều, ông có điều kiện, khi nào về quê tôi chơi, ông thăm dò giúp tình hình vợ và hai em tôi. Nhưng bằng giá nào cũng không được để lộ ra là tôi còn sống. Tôi tin ông, ông giúp tôi nhé. Chúng mình sẽ thư từ cho nhau. Mai tôi ghi địa chỉ cho ông...

Và anh nằm gối đầu lên đùi tôi ngủ. Anh ngủ ngon lành như không phải vừa rồi đã nói ra những điều sâu kín của đời mình.

*
* *

Sau chuyến công tác Tây Nguyên, tôi thu xếp xuống miền quê anh ngay. Trong thời gian đó, tôi ở nhà đồng chí chủ nhiệm, xuống các đội sản xuất lấy tài liệu. Lân la trò chuyện với bà con xã viên, tôi được biết chị P. Vợ anh, năm 1970 nhận tin chồng hy sinh. Người ta kể rằng, chị bị ngất nhiều lần khi nghe tin đó. Nhưng cũng như nhiều chị em có chồng hy sinh ở chiến trường, chị đã vượt qua . Chị lao vào công tác và được trên cử đi học đại học nông nghiệp tại chức. Năm 1975 chị tốt nghiệp và nhận công tác trên phòng nông nghiệp huyện. Năm 1977 chị lấy chồng, anh K. chồng chị cũng là bộ đội chuyển ngành. Họ đã có một cháu trai. Người ta còn kể rằng , anh K. hiền lành, rất chu đáo với vợ con. Xóm làng, mỗi khi nhắc tới tên anh đều được nghe những lời tốt đẹp. Tôi còn biết thêm, anh V. em trai anh đã về nước, hiện đang công tác ở một viện nghiên cứu khoa học của Trung ương tại Hà Nội. Cô em gái anh chuyển xuống gần anh V. Vợ chồng cô có hai cháu, một trai, một gái.

Sau khi rời hợp tác quê anh, tôi còn ghé phòng nông nghiệp huyện, định tìm gặp chị P. Nhưng chị đã đi công tác phong trào. Anh K. đang nghỉ phép, dẫn cháu về quê nội. Tôi rất tiếc không được trực tiếp gặp chị. Nhưng kể thế cũng có cái hay. Ðiều gì cần biết về chị tôi đã biết rồi. Và tôi cũng đã báo tin cho anh. Tuy nhiên, tôi muốn nói thêm dòng cuối là, trong câu chuyện này, tên anh, tên chị, tên những người thân của anh và cả quê hương cũng như vùng đất của anh đang sống, chỉ là những chữ cái tình cờ mà tôi đặt ra.

Hà nội, 10-1982


--------------------------------------------------------------------------------

(1) Cang: Ðơn vị đo rượu cần của đồng bào Tây Nguyên.




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Quá trình êm dịu

Nguyễn Anh Biên

Vợ tôi là cán bộ kỹ thuật của nhà máy chế tạo máy cái, thuộc Bộ Công nghiệp nặng, người học hành đến nơi đến chốn, có bằng cấp hẳn hoi, năm nay gần 40 tuổi nhưng đã về nghỉ mất sức, mặc dù sức khỏe vẫn còn rất tốt, chẳng đau ốm bệnh tật gì. Bà ấy là người có năng lực làm việc lại xinh xắn nổi tiếng, được nhiều anh chị em trong cơ quan bầu làm hoa hậu "Ðã có chồng". Tính tình bà ấy cởi mở thẳng thắn, trung thực, không biết ton hót xu nịnh ai, nhất là lãnh đạo bà ấy phê bình thẳng cánh, cho nên cũng không được lãnh đạo quý, tất nhiên về phía bè bạn cũng có vài người dài môi thì ghen ghét, đố kỵ, nhưng phải nói rằng bà ấy được nhiều người yêu mến, vậy mà lại về "Vườn"!

Số phận của vợ tôi cũng như số phận của nhiều cán bộ công nhân viên khác, nó là "sản phẩm" ưu việt một thời của nền kinh tế bao cấp, khi mà nước ta đổi mới, cải tổ, thì nó lại là "sản phẩm" thừa của kinh tế thị trường.

Những năm trước đây, hàng ngày bà ấy dậy thật sớm nấu cơm sáng; rồi xách cặp lồng cơm trưa đến cơ quan làm việc, công việc đều đều vui vẻ, cuối năm bình bầu lao động tiên tiến, chiến sĩ thi đua rất quyết liệt, thận trọng trong việc chọn người tài, so đo từng ly từng tý. Nhưng vài năm trở lại đây tự nhiên nhà máy hết việc làm, sản phẩm của nhà máy làm ra không tiêu thụ được chất cao như núi, giống như nguồn suối tự nhiên cạn nước. Ngày ngày cán bộ công nhân viên đến cơ quan, công việc quá nhàn hạ, phải làm gì cho hết 8 giờ vàng ngọc? Mỗi người phải tự tìm lấy việc mà làm, linh hoạt phải biết: Người thì đi chợ mua rau, mua cá về làm thịt, xào nấu bằng bếp điện (dùng điện cơ quan) chuẩn bị bữa cơm chiều cho gia đình tại ngay cơ quan thật là thuận tiện; kẻ thì cắt may, đan lát, người thì đi tác chiến, những hợp đồng kinh tế riêng, từng tổ, hoặc từng cá nhân cũng cực kỳ linh hoạt. Còn Vân nhà tôi thì đánh tú lu khơ, đọc báo, tán chuyện chồng con với các bà nạ dòng, trình bày quan điểm yêu đương với các cô gái trẻ, bàn luận những vở kịch kệch kỡm, những bộ phim dởm, với những pha sếch rẻ tiền làm ô uế nền nghệ thuật nước nhà; phê phán những cuốn sách tình ái nhảm nhí và uống trà vặt.

Một hôm sau bữa cơm chiều bà ấy nghiêm trang nói:

- Anh ạ! Em đã bàn với anh nhiều lần rồi mà anh không chịu nghe em, lần này em muốn...

Tôi biết chuyện gì rồi, bình tĩnh hỏi:

- Bà đã quyết rồi chứ gì?

- Tại sao anh không thể hiểu, không thể thông cảm được nỗi lo lắng của em nhỉ?

- Sao lại không?

- Cuộc sống cứ kéo lê kiểu này thì đến chết đói cả lũ. Lương của anh của em, cộng với nhuận bút còm, những tác phẩm của anh, may ra đủ trả tiền điện, tiền nhà, tiền nước, chưa chắc đã đủ nuôi chúng ta, thì làm sao chúng ta có thể nuôi con?

- Nhưng em làm nghề gì để sống? - Tôi lo lắng đặt câu hỏi. Buôn bán không biết, nghề phụ không có, cả đời học hành rồi đi làm cán bộ, lao động chân tay không quen?

- Em vẫn nhớ câu chuyện anh kể: Ngày xưa trong kháng chiến chống Mỹ, anh vào Nam đánh giặc. Trong một trận đánh đơn vị anh bị bao vây, anh là người dũng cảm mở đường máu, thật bất ngờ, chính nhờ lòng dũng cảm ấy đã cứu anh và đồng đội. Ngày nay không còn bom đạn ác liệt, nhưng cuộc sống đã bao vây chặt chúng ta, dồn chúng ta đến chân tường. Cũng giống như cuộc phá vòng vây của anh ngày xưa, bây giờ ta cũng phải liều, phải có quyết định táo bạo mới thoát khỏi cảnh đói nghèo.

Nghe vợ nói trong lòng tôi thầm nghĩ cũng có lý, song tôi vẫn không chịu công nhận, nói lời phủ định luôn:

- Em đừng ví dụ, đừng so sánh như vậy, mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau lắm, phải có lòng tin, phải biết tin tưởng... - Tôi ngập ngừng cách dùng từ tiếp theo thì Vân cướp lời:

- Phải tin tưởng ở lãnh đạo đúng không? Anh mới ngoài năm mươi mà suy nghĩ đã trì trệ, không khác gì các "cụ" lãnh đạo nhà máy em, thế cho nên nhà máy đang trong cơn hấp hối, không thể cứu vãn được, nó sẽ phá sản nay mai.

- Này! ¡n nói thận trọng. - Máu tôi đã dồn ngay lên mặt, sao hôm người bạo phổi thế nhỉ? Bà ấy nói tiếp quyết liệt hơn:

- Là nhà thơ mà anh không có tư tưởng đổi mới thì anh viết cho ai đọc?

Lúc ấy tôi đang ngắm nghía tập thơ "Bông hồng sầu muộn" của tôi, Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa mới in xong còn thơm mùi mực, và đang định khoe với vợ, bỗng "Bông hồng sầu muộn" run lên bật bật, không kìm chế được bởi câu phê rất mạnh, thậm chí quá nặng nề, chạm đến danh dự đảng viên, đến nghề nghiệp thiêng liêng của tôi, mà xưa nay chưa bao giờ bà ấy nói thế, hoàn toàn nói những lời ca ngợi phẩm chất của chồng, văn chương cao quý của chồng. Lập tức cuốn sách bay vèo qua cửa kính, ô cửa vỡ tan những mảnh thủy tinh rơi loảng xoảng rào rạo. Con mèo đực hiếu động tưởng trò đùa của tôi với nó thường ngày, nó bay theo "Bông hồng sầu muộn" lao qua lỗ vỡ cửa kính vồ quyển sách, bị một mảnh vỡ trên cửa sắc như dao nhọn chọc tiết lợn cứa vào đầu, máu vãi ra đầm đìa. Sau giây phút bất ngờ, hoảng hốt và bối rối Vân chạy lại ôm lấy con Liu Liu. Liu Liu bị đau kêu toáng lên, Vân lặng lẳng ôm con mèo vào lòng, đi lấy bông băng băng lại cho nó, âu yếm vuốt ve nó. Tôi liếc nhìn, thấy máu thấm loang đỏ chiếc áo sơ mi trắng ở phía ngực trái, như máu từ trái tim của bà ấy phun ra, trông nét mặt đau đớn dữ dội vô cùng. Hình ảnh ấy làm cho lòng tôi quặn đau, mồ hôi toát ra. Tôi ngồi im như chết rồi trên chiếc ghế tựa, đầu gục xuống bàn viết. Tôi có cảm giác cả căn nhà như quả núi khổng lồ đang đè tôi xuống.

Thời gian nặng nề, chậm chạp, không gian lặng im bối rối, nóng nực và vỡ vụn!

- Hàng tháng anh đưa về cho em hết cả số tiền lương mà anh được trả, anh nghĩ rằng thế là ổn rồi phải không? Và anh yên tâm ngồi mà sáng tạo ra những mẫu nhân vật, có cuộc sống phong phú đầy tính cách, và những vần thơ hiện đại sống động cuộc đời trong đó. Nhưng cuộc sống hàng ngày ở gia đình này và vợ anh ngày ngày phải đối mặt với đồng tiền với giá cả. Có thể nói không khác gì ngày xưa anh bị địch bao vây, sống chết chỉ còn treo trên sợi tóc. Nhưng cuộc bao vây ngày nay em không kêu, và cũng không bao giờ anh cần biết đến vợ anh đã phải chèo chống như thế nào trong cơn bão tố mà không có gió, trong lửa nóng như thiêu mà không có ngọn lửa.

- Ngao ngao... nào nào... - Con Liu Liu đau đớn rên rỉ.

- Ðừng rên nữa con, ráng chịu đau. - Bà ấy vỗ về, cưng nựng con mèo. - Không phải mày mở đường máu mà bị thương trong trận chiến này. Chính mẹ! Mẹ mở đường máu mà bị thương đấy con ạ.

À... đàn bà rất tài nói cạnh nói kháy, tôi rùng mình, có một giây lạnh chạy từ đỉnh đầu dọc xuống sống lưng rồi lan nhanh khắp cơ thể.

- Thôi! Cô im đi, đau đầu lắm. - Tôi nói như một mệnh lệnh, nhưng âm sắc và ngữ điệu thì như là một yêu cầu khẩn thiết. Tôi khẳng định, đây là lần đầu tiên vợ chồng to tiếng với nhau, và kịch tính đẩy nhanh đến không ngờ, chính là vì cuộc sống đè nén, lý do thứ hai có lẽ là do một chất xúc tác đã làm bùng lên ngọn lửa: đó là lòng say mê nghề nghiệp của tôi, mà cổ nhân đã có lời cảnh cáo rồi: "Lập thân tối hạ thị văn chương" làm cái nghề mang lại cảnh nghèo nàn, đói khổ cho vợ con mà vẫn vui, vẫn sướng mà hành nghề. Là một người vợ hiền lành mấy cũng có khi phải khó chịu đức ông chồng nghệ sĩ của mình. Chuyện nhanh chóng xảy ra như một cơn lốc xoáy, đẩy cả hai vợ chồng đến trước bờ vực thẳm, cả hai đều giật mình phải cầm tay nhau lui lại.

Lúc này ngữ điệu của bà ấy hoàn toàn thay đổi, song thái độ vẫn cương quyết:

- Anh còn cái thú sáng tạo của người nghệ sĩ, anh có thể quên đói mà ngồi viết, còn em, em là con người của đời thường. Trong chuyện này chúng ta không cùng chung tiếng nói. Em không thể nghe anh nói được.

Ðây là một tuyên ngôn đanh thép, tôi nhìn thẳng vào mặt bà ấy, vừng trán đang căng ra, suy nghĩ dồn nén chồng chất trong đầu, nhưng nói ra bằng lời chỉ có thế. Bà ấy bế con Liu Liu đứng lên ủ nó vào tấm chăn cũ:

- Con nằm đây, đừng đi đâu nhé, để mẹ đi làm cơm, ăn cơm xong mẹ sẽ cho con uống thuốc bổ, thuốc kháng sinh chống nhiễm trùng, người ta có thể chết vì nhiễm trùng đấy con ạ!

Ðấy, thấy chưa, bà ấy lại nói kháy rồi, như thế có nghĩa là quan điểm của tôi là một thứ siêu vi trùng, nếu kh��thay đổi th젨ạnh ph򣠳ẽ tan vỡ. Á cha cha bọn nữ giới họ cũng thâm thúy ghê, thì ra mình nằm cạnh vợ hơn chục năm nay mà không hiểu vợ, bà ấy dữ dội ghê gớm, chứ không hiền lành dịu dàng như bạn bè thường ca ngợi.

Cần phải thoát khỏi bầu không khí này, mình phải làm gì bây giờ! Ngồi vào bàn viết... làm sao mà viết nổi. Ðọc! Thật là kỳ cục, nếu như anh giở trang sách ra, và anh sẽ không hiểu người ta viết gì trong trang sách đó, đi làm cơm với bà ấy!... Thế là mình tự thú, mon men đến làm lành "anh đã thua em"... À! Phải rồi đi đ󮠣ᣠcon, h��ay chúng nó nghỉ học đi sang bà ngoại chơi?... Không thể được, bà ngoại phát hiện ra ngay bộ mặt "cãi nhau" giữa hai vợ chồng. Thôi, mình đến nhà Trong tán phét cho khuây khỏa, thằng cha này rất hay thông báo thời sự "mật" trong nước và thế giới, rất hay kêu ca, thường đưa ra những dẫn chứng sinh động về sự xuống cấp trong tất cả những lĩnh vực của xã hội, rồi tự đau đớn đến não lòng.

- Chào nhà đạo diễn.

- Ông Tiên!... Tôi đã trông thấy tập thơ "Bông hồng sầu muộn" của ông rồi, mang đến tặng đấy hả?

- Làm việc miệt mài như thế là đang lấy lại niềm tin đấy.

- À! Phân cảnh phim Lý Tử Trọng. Tuyệt vời, một con người tuyệt vời... Hắn nói say sưa một thôi một hồi về con người quang vinh của đảng của d⮠tộc, sau đ󠬦#7841;i b੠ca cũ: "Cậu là đảng viên...". Tôi bực bội nói như quát:

- Vợ chồng tớ vừa cãi nhau to, gây đổ máu. - Không định thông báo cho Trong biết tin này, nhưng không hiểu sao sau câu nói nhàm chán của hắn làm cho tôi bực mình nghĩ hắn "hâm" thật sự hâm, là nghệ sĩ thằng nào cũng hâm, lại bực cho cả chính mình, tôi bật ra câu thông báo chết người ấy. Trong tròn mắt kinh ngạc, mặt tái đi, buộc lòng tôi phải kể tỉ mỉ, nghe xong câu chuyện hắn phá lên cười và nói:

- Ðồ hâm ạ! - Rồi hắn tiếp tục cười như chế giễu tôi.

Ấy đấy thế có tức mình không kia chứ, mình nghĩ rằng nó "hâm" thì nó lại nói toẹt ra là mình "hâm". Hắn nói:

- Nếu cô ấy là nhà thơ thì cô ấy thơ tài hơn cậu nhiều, vì cậu có hiểu quái gì cuộc sống đời thường đâu, cô ấy đã làm hết mọi việc để giúp đỡ cậu viết hết quyển sách này đến quyển sách khác, nhưng xin lỗi, tác phẩm của cậu chưa thuyết phục tôi mấy đâu. Cô ấy đã hành động đúng, còn cậu lúc nào cũng thơ thơ thẩn thẩn, ngất nga ngất ngưởng chả ra cái gì, chỉ ra một thằng hâm!

Ðấy! Tưởng tìm đến hắn cho khuây khỏa, thì hắn lại vào hùa với vợ mình mắng mình xa xả, thế mới biết bọn đạo diễn chúng nó thực dụng hơn cánh nhà thơ nhiều. Như mọi khi, Trong đứng lên lấy hũ rượu rót ra hai chén, còn tôi thì đứng dậy ra về, lòng buồn bã, đau đớn, không thèm uống rượu, không thèm chào hắn nữa, cay cú nghĩ: bọn đạo diễn rất tài tán các cô gái trẻ xinh đẹp để đóng phim cho mình, rồi làm người tình của mình, chứ báu gì mà rao giảng.

- Nào, uống!...

Trong khi đó tôi đã bước ra khỏi nhà.

- Ơ! Tiên! Ông giận tôi đấy à?

Về mặt nào đó nhà đạo diễn nói cũng có lý, lời nói của hắn làm cho tôi suy nghĩ rất nhiều... Về đến nhà cơm nước đã sẵn sàng, các con đã về, đang léo nhéo bên mẹ, trông thấy bố chúng reo lên:

- Bố đã về, mẹ ơi bố đã về,

- Ăn cơm thôi, con đói rồi.

Các con reo mừng, tôi chú ý để nghe xem bà ấy có phản ứng gì không?... Tuyệt nhiên im lặng. Ðứa con gái út 8 tuổi ôm con mèo lo lắng hỏi:

- Nó có đau không mẹ? - Không trả lời.

- Nó có chết không hở mẹ? - Không trả lời!

- Hở mẹ?

- Việc gì mà nó chết, em chỉ hỏi vớ vẩn. - Con Ngà trả lời thay mẹ.

Một tiếng nói rất nhỏ, cốt để cho tôi không nghe thấy, song tôi đã nghe được.

- Con hỏi bố? - Ðấy là bà ấy xui con Ngọc.

- Chết không hở bố? - Im lặng!

- Hả bố?

- Ai chết? - Tôi quát lên. - Cái gì mày cũng hỏi, mày hỏi bao giờ tao chết hả.

- Không ạ! Con hỏi con mèo.

Tôi nghe tiếng cười, rõ ràng bà ấy cười, song rất kìm chế. Bữa cơm dọn ra có đĩa rau muống luộc, nước rau vắt chanh, và đĩa nhộng rang. Như những bữa ăn khác, dù không có thức ăn, vợ chồng con cái vẫn vui, nhưng hôm nay không khí đầm ấm không còn nữa, tôi biết lỗi ấy là do tôi gây nên, cần phải sửa chữa.

- ¡n mạnh đi các con, sao uể oải thế, rau non luộc xanh ăn giòn lắm, chan nước rau vào mà và cho mau, bố chan cho cái Ngọc nào, nhộng còn bổ hơn thịt, ngon hơn ăn tôm đấy các con ạ.

Có lẽ bà ấy cũng nghĩ, cần phải tạo bầu không khí này:

- ¡n đi, mỗi người gắng lên một bát, đừng để cơm thừa.

Mẹ đã có lời động viên, tình trạng bữa ăn lập tức được cải thiện, mọi người đều cố gắng, bát đũa khua lanh canh, nồi cơm hết nhẵn.

Cạnh nhà tôi có một cái lò mổ, bình thường mỗi ngày người ta mổ trên chục con lợn, ngày lễ ngày tết có đến vài chục con. Cả khu tập thể rất phiền lòng về cái lò mổ này, bởi vì tiếng lợn kêu đinh tai nhức óc, thông thường từ 18 giờ cho đến 24 giờ, là lúc người ta nhập lợn, giờ cao điểm là lúc từ 4 giờ cho đến 5 giờ sáng. Trong khi cả khu tập thể đang say sưa trong giấc ngủ mệt mỏi, sau một ngày vật lộn với cuộc sống, thì cả chục con lợn bị hóa kiếp kêu la thảm thiết, đánh thức mọi người trong khu chung cư dậy. Nhưng biết làm thế nào, không ai có thể có ý kiến gì ngoài sự im lặng và chịu đựng, vì đấy là cuộc sống và nhất là ông chủ lò mổ là một người thương binh nặng cụt cả hai chân lên đến tận bẹn. Cô Lấy vợ anh ta là một cô gái trẻ, lùn mập, đen đúa nhưng lại rất có duyên, mồm năm miệng mười tay dao tay thớt, ra thịt chặt xương, cắt giò như làm xiếc, xông xáo, táo tợn vô cùng. Gia đình ấy rất quý gia đình chúng tôi, vợ tôi thường được mua chịu, mua rẻ hơn người khác, họ rất biết chúng tôi có khó khăn về kinh tế, có lần chị ta sang nhà tôi chơi rồi bảo:

- Nói thật sự chứ ! Trí thức như các bác thời buổi này đói khổ là phải rồi, như chúng em lại kiếm ăn được.

Ðúng, hoàn toàn đúng, đấy là một hiện thực đau lòng. Cô Lấy nói với vợ tôi:

- Nói thực sự chứ! Sớm hôm nào chị mua thịt cho em là y như rằng ngày hôm ấy em bán hàng sướng vô cùng, vèo một cái đã hết sạch. Chị có duyên lắm, em mà được cái duyên như chị thì để đâu cho hết tiền.

À, thì ra vì cái duyên của nhà tôi mà chúng tôi được quý, được mua rẻ, mua chịu hàng của cô hàng thịt. Nghe vui tai tôi phải dừng bút lại, cô hàng thịt nói:

- Chị không biết à, cả cái chợ khu tập thể này đa phần là cán bộ về hưu, về mất sức, xin thôi việc ra làm con buôn. Em nói thực sự chứ! Chị còn tiếc gì, về xin lấy một chỗ mà ngồi làm gì mà chả kiếm được mỗi ngày mười nghìn, gấp mấy lần lương của chị rồi. Em nói thực sự chứ! Vợ chồng em quý các bác, nếu bác muốn em xin giúp đỡ.

- Chị giúp tôi gì nào? - Vân chân thành hỏi lại.

- Nói thực sự chứ! Bác rất có duyên, nếu bác không chê nghề của chúng em thì em sẽ giúp, ngày ngày bác lấy thịt ở lò mổ của em mang ra chợ bán, chỉ cần bác mỉm cười mời chào: Mời anh mua thịt của em, bà ơi, bác ạ, em này, lại đây, lợn Móng Cái nạc nhiều, mỡ ít, thịt thơm, cân tươi... thế là chị gạt đi không hết khách. Các anh giai chả lao vào mà mua thịt để ngắm chị, để nghe chị nói như hát. Nói thực sự chứ, em cũng mê chị.

Vợ tôi mỉm cười thú vị, còn tôi thì cười to.

- Em nói thực sự chứ!...

Chị hàng thịt nghĩ rằng chúng tôi nghi ngờ lời chị. Vài hôm sau k hí trời mát mẻ, khi các con đã ngủ say, tôi đang ngồi viết, bỗng nhiên đôi bàn tay thon dài, nuột nà và mềm mại, êm dịu như nhung, lần lần lên hai bờ vai tôi. Tôi dừng bút. Ðôi bàn tay, tôi yêu đôi bàn tay này vô cùng...

Khi nàng 18 tuổi thì tôi đã ba mươi lăm. Tôi là người lính, một sĩ quan cấp tá từ chiến trường trở về, tôi đến với nàng đầy lòng kiêu hãnh của một người lính chiến thắng và chiến công. Còn nàng là một thiếu nữ tuổi xuân đang phơi phới, cũng đầy lòng kiêu hãnh về nhan sắc lẫy lừng của mình, chưa hề chấp nhận bất cứ một tình yêu nào. Tất cả những ai đến với nàng đều trở thành vệ tinh quay chung quanh từ trường của nàng. Khi người lính xuất hiện trước người đẹp, không tấn công mệt sức, và cũng không bao giờ dám ngộ nhận do tài cán của mình mà giành được chiến thắng vẻ vang. Ðây chính là duyên số, Trời Phật đã ban nàng cho anh, là thưởng cho chiến công của người lính một trinh nữ tuyệt vời.

Hai cánh tay của bà ấy ôm chặt lấy người tôi, toàn bộ thân thể phía trước áp sát vào lưng tôi nóng hôi hổi, tôi nắm chặt lấy hai bàn tay. Ðôi bàn tay này, tấm thân này đã làm cho đời tôi dịu ngọt vô cùng, làm cho thơ tôi đằm thắm và hào sảng. Ðôi bàn tay này đang muốn trình bày, thuyết phục tôi điều gì. Sau vụ con mèo bị thương cả bốn bàn tay đang nắm chặt lấy nhau phải rút kinh nghiệm. Chủ đề gì mới, hay chủ đề cũ được nhắc lại. Tôi thành tâm chờ đợi.

- Hôm nay anh nghỉ làm việc sớm hơn được không? Phải nói rằng toàn bộ con người nàng lúc này là sự thuyết phục hoàn toàn, tôi làm sao cưỡng nổi. Tôi chưa kịp trả lời, nàng đã hỏi lại:

- Anh vui lòng không?

- Tất nhiên rồi! - Vân không giận mình nữa, tôi quay lại nhìn vào mắt, tôi biết rằng đôi mắt ấy đang có một yêu cầu chân thành, và một mong muốn cháy bỏng. Tôi ôm lấy ngang lưng nàng, kéo sát ghì chặt vào mình, vùi mặt vào bụng nàng, hương thơm trên da thịt nàng nồng nàn, lan tỏa bao bọc.

- Ðể anh sắp xếp tài liệu, em lên giường trước đi.

Tôi nhanh tay thu dọn tài liệu, trong lòng phấn chấn, tình cảm dâng lên phơi phới, xao xuyến men say. Tôi đi nhanh vào giường ngủ, thì bà ấy lại ngồi trên xalông chờ đợi.

- Nào đi em!

- Anh ngồi xuống đây, em muốn nói chuyện.

Tôi đã hiểu sai ý bà ấy rồi! Tôi hỏi:

- Chuyện gì mà quan trọng thế?

- Anh ạ... em đã làm thủ tục thôi việc rồi.

Tôi biết việc này sẽ phải đến, nhưng vẫn thấy hơi bất ngờ.

- Mình em hay còn ai nữa?

- Em chưa kịp làm đơn xin thì nhà máy đã tuyên bố phá sản, mình phải về là lẽ đương nhiên. Toàn bộ cơ quan bị xóa sổ, ai xin đi đâu được cứ đi, em về nhà để anh xin việc cho em.

Nghe vợ nói mà tôi gai hết cả người. "Anh xin việc cho em" thật sự là một lời thách đố, thời buổi này chỉ có vợ con quan to thì mới xin được việc làm. Thế thì từ hôm nay vợ chồng tôi phải đối đầu với cuộc sống một cách quyết liệt, thật là "cơm áo không đùa với khách thơ".

- "Ðã mang lấy nghiệp vào thân" quá nửa đời người rồi, anh không biết làm nghề nào khác để nuôi vợ nuôi con được nữa.

Biết chồng quá lo lắng bà vợ mỉm cười nói:

- Em không phải là người phụ nữ chỉ biết sống dựa vào chồng, chỉ cần anh bớt chút thì giờ giúp đỡ em, em sẽ xoay xỏa nuôi anh, nuôi con được, anh có tin em không?

Tôi nhìn Vân bằng ánh mắt lo lắng, thương yêu trìu mến vô cùng, tôi thấy mình có lỗi trong những trận cãi nhau. Tôi nói:

- Không phải con mèo bị thương, không phải em trúng đạn, chính anh, anh là người bị thương. Lần thứ nhất vết thương chiến tranh ở chân bên phải, xuýt nữa toi mạng; lần thứ hai, lần này bị thương trong hòa bình.

- Em xin lỗi! Hôm ấy ý em muốn nói một điều khác cơ...

- Thôi đừng nhắc lại chuyện cũ nữa. Em định làm gì để sống?

- Lò mổ!

- Sao?

Vân phì cười, còn tôi thì ngơ ngác khó hiểu, và tôi nhớ lại buổi nói chuyện của chúng tôi với cô hàng thịt:

- Làm sao mà em có thể làm được cái nghề ấy?

- Cuộc sống đã dồn chúng ta đến chân tường rồi, phải quăng chữ "sĩ" đi, ta sẽ làm được tất cả. Bà ấy khẳng định như một chân lý.

Ôi! Cuộc sống mới khắc nghiệt làm sao, đúng như cô hàng thịt nói: "Trí thức như các bác thời buổi này thì đói khổ rồi". Nhìn bàn tay thon dài mềm mại kia mà phải ra làm nghề đồ tể, nhìn gương mặt đẹp thuần hậu, đôi mắt thông minh sắc sảo kia, phải ra ngồi giữa chợ mời chào khách qua đường: "Thịt lợn Móng Cái nạc nhiều, mỡ ít thơm ngon đây, mời anh, mời chị, mời bác, mời bà... Bỏ kiến thức khoa học xuống phản thịt, đè lên mà chặt mà băm vằm, bằng con dao to nhọn hoắt, sáng loáng của nghề đồ tể. Thấy tôi ngồi lặng đi suy nghĩ, bà ấy hiểu tâm trạng của chồng mình, mỉm cười nói:

- Anh không muốn cho em làm nghề bán thịt phải không? Em sẽ làm một nghề khác, bất ngờ với anh đấy, nhưng chắc là kiếm ăn được. Em đang còn phải giữ bí mật chỉ xin anh yên tâm, viết cho hay vào.

Tôi mệt mỏi rã rời.

- Thôi, đi ngủ.

Trên giường hạnh phúc, bà ấy ôm lấy tôi, như ôm con Liu Liu vào lòng, trong tôi tiêu tan đi hết sức xuân phơi phới khi nẫy, lúc này tôi chỉ là một con mèo, hay một đứa trẻ được che chở trong bàn tay dịu dàng của người mẹ.

Mắt nhắm nghiền giả vờ ngủ là để cho bà ấy yên tâm. Tôi thức chong chong cho đến khi những con lợn bị hóa kiếp, kêu vang thảm thiết náo động cả khu tập thể. Tôi bật dậy pha một ấm trà thật đặc, ngồi uống một mình và nghĩ: "Trong cuộc chiến đấu này ta bị bao vây thật rồi". "Phá vòng vây" bằng cách này ư? Trên giường Vân cựa mình trong giấc ngủ mệt mỏi, mơ màng tiếng lợn kêu về sáng.

Toàn bộ số tiền người ta trả cho bà ấy sau mười sáu năm công tác, để ra khỏi biên chế được sống cuộc đời tự do, tự lo là 500 ngàn đồng, bà ấy mua ngay một cái tivi Việt-tô-nich 450 ngàn, để nâng cao đời sống văn hóa cho cả nhà, còn 50 ngàn liên hoan một bữa cho chồng con. Hôm bà ấy bê cái tivi về cả nhà rất phấn khởi, nhất là bọn trẻ. Tôi nói với mấy mẹ con: "Thôi cũng được, có 450 ngàn được ngồi ở nhà mà biết toàn thế giới. Cám ơn mẹ mày!".

Phải nói rằng tôi hoàn toàn bị động, lo lắng, lúng túng trước cuộc sống. Còn bà ấy lại tỏ ra rất bình tĩnh như một đấu thủ đã nắm chắc phần thắng trong tay. Vân đi đâu từ sáng đến giờ không thấy về? Tim tôi đập mạnh, ruột gan cồn cào, đúng lúc ấy Vân tươi cười xuất hiện trước cửa:

- Em đi đâu từ sáng đến giờ?

- Em có cái này. - Vân bình tĩnh khoe.

- Cái gì?






Bà ấy giơ ngón tay lên, một chiếc nhẫn vàng to sáng lấp lóa nơi ngón tay.

- Ở đâu ra? - Tôi hỏi.

- Ðố anh biết.

- Làm sao mà anh biết?

- Em vay con bạn, thế là em đã có một triệu trong tay, không lo chết đói nữa đâu anh ạ. Các con đi học chưa về à?

- Em vay ai? - Tôi hỏi lại.

- Con Thư.

- Nhưng em sẽ làm gì?

- Hôm nay em có thể nói cho anh biết được rồi. Em sẽ đi biên giới với con Thư.

- A!... - Tôi nhớ, cô Thư là giáo viên cấp III bạn học thân thiết của Vân, nghề tay trái là nghề đi buôn biên giới đã thành thạo, mấy năm nay kiếm ăn cũng khá. Thật may mắn đúng kỳ nghỉ hè, hai hôm sau cô Thư về nhà tôi chơi, hai bạn rủ nhau đi biên giới Lạng Sơn. Cứ hai ngày một chuyến hàng về, họ giao vải cho các quầy hàng bán buôn, bán lẻ ở chợ Ðồng Xuân, chợ Hôm, Hàng Da... Nhờ có cô Thư hướng dẫn nghiệp vụ, dần dần Vân quen với thị trường, với cuộc sống mới. Mỗi chuyến đi như vậy, chị em chia nhau được dăm chục, chuyến thắng một trăm, có chuyến hòa, có chuyến lỗ. Nhưng nói chung cuộc sống đã bắt đầu tươi tỉnh, bữa ăn có chút thịt cá, các con có quà bánh.

Tháng hè đã hết, Thư trở lại với nghề dạy học, bà ấy phải hoạt động một mình. Khi mà đã kiếm được tiền, có đồng ra đồng vào, thì người ta ham lắm, không riêng gì ai, bà ấy cũng vậy, dù nóng bức, dù rét mướt, thậm chí có khi giông bão, hàng đóng rồi thì không thể lùi bước, giống như người lính đã đi vào trận, đạn đã lên nòng, không thể không xông lên. Một hôm hàng bà ấy đóng đã khá nhiều, nhưng toàn là những thứ hàng "lông vịt" nào là giày bảo hộ, quần áo bảo hộ, nhồi vào bốn bao tải tạ. Hàng đóng xong đã năm giờ chiều, bỗng mây kéo đen kịt, trời sập xuống thấp tè, phía tây xuất hiện những ráng đỏ bầm như máu, gió bắt đầu nổi lên. Tôi lo lắng nói với bà ấy:

- Em ạ, bão đến nơi rồi, hay là... chuyến này nghỉ được không?

- Không được. - Bà ấy kiên quyết - Vì khách ăn hàng đã hẹn, bất cứ giá nào cũng phải đi.

Không dám bàn ra tính vào nữa, bởi thông thường một chuyến đi, người ta cấm kỵ những lời nói bàn lùi, và không ăn cá mè, không ăn thịt chó... rất kỵ gặp đàn bà khi ra khỏi nhà... trời đất hôm nay lại nổi cơn giông đột ngột thế này. Hiểu được nỗi lòng của tôi, và chính trong lòng bà ấy cũng đang cồn lên những lo lắng.

- Anh à! Hay là... hay là... chuyến này nhiều hàng lại có một mình em, anh đi với em?

Nghe vợ nói trong lòng tôi xảy ra cuộc đấu tranh quyết liệt: - Ði là cực kỳ gian khổ, nhưng tại sao mấy tháng nay vợ mình chịu đựng được mà mình lại sợ? Thế là hèn, phải đi. Còn công việc cơ quan, bỏ một ngày thì đã sao? Phải vậy thôi. Các con ở nhà với ai? Gửi hàng xóm. Nếu từ chối thì bà ấy sẽ nghĩ: "Ðích thị ông chồng mình là người vô tích sự, thơ phú chữ nghĩa thì cần cho ai, khi mà cuộc sống không có gạo mới là cái chết, không có thơ cuộc sống vẫn nhăn răng cười"... lộ bộ mặt thằng chồng hèn, khó khăn dồn tất cả lên lưng vợ, ăn bám vào sức lao động của vợ, thế không hèn là gì hỡi nhà thơ?

- Ðược! Anh đi. - Tôi mạnh dạn trả lời.

Mắt Vân sáng lên trong cơn mưa giông đang ùn ùn kéo về.

Thế là cả hai vợ chồng nhanh chóng thu dọn nhà cửa, mọi việc tạm ổn. Bấm giờ tốt, đúng 8 giờ tôi thuê xích lô chở hàng ra bến xe Hàng Ðậu đi Lạng Sơn. Xe nhiều, hàng đầy, người đông, Vân nhanh chóng tính cước phí hàng hóa với lái xe. Cửu vạn bốc hàng lên mui, tôi trèo lên buộc hàng, chăng bạt rất chắc chắn, xong công việc tôi xuống ghế ngồi, mà bà vợ đã xí chỗ từ đầu nhưng chỗ của chúng tôi đã bị một thanh niên chiếm mất rồi. Tôi nói khó:

- Anh cho tôi xin chỗ.

- Ông già nói gì? Chỗ nào của ông?

- Chỗ này chứ còn chỗ nào, yêu cầu anh đi nơi khác.

- Ð... mẹ thằng già, bố mày lại cho mấy chưởng bây giờ, cút!

Nghe lạ tai, ngơ ngác, và khó hiểu, máu dồn lên mặt song tôi vẫn cố kìm mình. Tiếng một tên trong bọn:

- Xe chật bố già ạ, phấn khởi lên mà tìm chỗ khác đi, thế mới là người biết điều.

- Nhưng đây là chỗ tôi đã giành từ trước.

- Làm việc đi! - Một tên trong bọn hô lên, tôi hiểu nó xúi thằng này đánh tôi.

Ðúng lúc ấy Vân hớt hải, tay cầm hai cái bánh mì kẹp batê chạy lại:

- Cái gì, cái gì thế các chú? Chị xin, có gì các em cho chị biết, đây là chồng chị, anh ấy đi lần đầu.

- Em ạ, bọn này mất dạy quá. - Tôi nói.

- Anh im đi! - Vân trừng mắt quát tôi.

- Thằng già kia!

Ba bốn tên xô lại, Vân cuống cuồng đẩy chúng ra, - Chị xin, chị xin lỗi các em. - Vân quay sang tôi: Anh già rồi mà dại. - Ðẩy mạnh tôi ra nơi khác. - Các em thông cảm, chị vẫn thấy các em hay đi chuyến xe đêm này với chị, hóa ra quen nhau cả.

   - À! Ðúng rồi, chị gái này cũng là dân làm ăn biên giới, thôi nể mặt chị gái, chúng tôi tha cho, cứ như thằng chồng già của bà, không biết phép tắc là gì, đáng lẽ bọn này phải cho mấy bài học cần thiết, nhưng chị gái phải biết dạy chồng nghe chưa.

- Vâng! Chị nhớ - Bà ấy kéo tôi ra khỏi điểm nóng, trách móc một thôi một hồi... - Anh không hiểu gì cả, suýt nữa thì tai vạ, đấy là bọn chuyên đi trấn lột, trên tàu, trên xe, anh dây với chúng nó làm gì, không có em hôm nay thì chúng nó đánh anh chết, kêu ai, kiện ai, hậu quả vợ con anh gánh chịu hết. - Bà ấy rơm rớm nước mắt. - Thấy việc chúng nó làm, lời chúng nó nói mình phải như câm như điếc như mù, chẳng may chúng nó đụng đến mình, còn lạy chúng để chúng buông tha ra kia. - Bà ấy giảng giải cho tôi hiểu về lẽ đời ở chợ búa, bến tàu, bến xe, ở đường biên, mà tôi đang phải tiếp cận. Quả thật tôi bây giờ mới thực sự giáp mặt với cuộc sống, và rồi sẽ còn xảy ra những gì nữa trên đường "hành quân chiến đấu" này.

Xe đi biên giới trong lòng nó chứa đầy người, đủ các hạng người, đầy hàng hóa, nhiều loại hàng nói ra nghe rất kỳ cục: Rùa đá, rùa vàng, ba ba, rắn, trăn, khỉ, culi, gà, mèo, chó, đồng, chì, niken, thuốc phiện... trăm thứ bà rằn, chuyến xe bão táp này có vợ chồng tôi ở trong đó, với mấy tạ hàng tầm tầm không đáng giá gì. Chiếc xe lầm lũi đi trong đêm mưa gió tơi bời, thỉnh thoảng sét cục, sét hòn nổi lên dội xuống nghe chừng như muốn đánh tan nát trời đất, thỉnh thoảng điện trời lại chập mạch, những dây lửa xiên xẹo ngang dọc trông thật khiếp đảm, chiếc xe vẫn đội mưa gió, sấm chớp tiến lên biên giới, tôi liên tưởng đến những chiếc xe đội bom đạn ra mặt trận năm nào. Những ngày ấy tôi là một thanh niên còn rất trẻ, ngày ấy vì tự do độc lập thống nhất của dân tộc; còn ngày nay vì tự do và cuộc sống của chính mình.

Chuyện cãi cọ với bọn người kia rồi cũng qua đi, đặc biệt trong chuyến đi gian khổ này, nhưng vợ tôi lại rất vui vì có chồng bên cạnh, vừa chia sẻ nỗi nhọc nhằn, vừa có bạn đường tuyệt vời. Từ Hà Nội lên biên giới qua nhiều trạm kiểm soát của công an thuế vụ, hải quan, người ta phát hiện những hàng quốc cấm, hàng của chúng tôi là thứ "lông vịt" chỉ phải nộp thuế, chứ không phải "làm luật", yên tâm mặc cho các nhà chức trách khám xét.

Qua trạm kiểm soát Ðồng Bành, gió đã ngưng, mưa đã tạnh, trăng cuối tháng mờ nhạt, mòn vẹt, trông rất bẽ bàng nhô lên đằng đông, nhìn qua ô cửa những đám mây đen mờ xám vần vụ vây quanh, nghe chừng trời đất còn muốn mưa gió nữa.

Một sợi dây thừng? Ðúng! Sợi dây buộc hàng rơi xuống lòng thòng vắt vẻo bên cửa sổ chỗ tôi ngồi. Tôi nghi ngờ, trườn mình ra cửa sổ nhìn lên nóc xe, hàng chồng đống trên ấy, giờ không còn nữa. Tôi đập thành xe thét lớn:

- Hàng bị mất hết cả rồi! Dừng lại... ại...

Cả xe nhao nhác.

- Hàng của mình? - Vân kinh ngạc hỏi.

- Mất hết rồi em ơi!...

Chiếc xe dừng lại, phụ lái nhảy xuống, sau đó là tôi rồi đến những người có hàng trên xe. Tôi nhanh chóng trèo lên nóc, thì những hàng nhôm Liên Xô, những sọt ba ba đều biến mất, chỉ còn những túi hàng của chúng tôi, thì ra hàng "lông vịt" chúng không thèm lấy. Tài tình thật, xe đang chạy với tốc độ nhanh như thế mà chúng "đánh" được. Theo yêu cầu của tôi, lái xe đồng ý cho chuyển hàng vào trong xe.

- May quá! Hàng mình còn là còn cuộc sống. - Vân sợ hãi, hồi hộp nói giọng còn run run.

- Ừ, may quá em ạ.

- May quá! Em đã linh cảm thấy chuyến đi này sẽ có chuyện chẳng lành, nên bảo anh đi với em mà.

- May thật!

- Anh này! Bọn thanh niên ấy chuồn hết theo số hàng trên nóc xe rồi. Khi đèn trong ô-tô bật sáng, tôi đảo mắt nhìn khắp lượt, bọn chúng không còn một tên nào thật.

Chiếc xe bò lên được đến Ðồng Ðăng thì trời bắt đầu hừng sáng, đám cửu vạn tranh nhau, xô đẩy, chào đón các chủ hàng từ dưới xuôi lên. Vân thuê tám thanh niên cả trai lẫn gái gánh hàng qua biên, người hàng nườm nượp, tôi không khỏi liên tưởng đến những cuộc hành quân ra phía trước cách đây hai mươi năm, ngày ấy bộ đội, thanh niên xung phong đi đánh giặc cứu nước, ngày nay từng người, từng tốp bạn bè, từng cặp vợ chồng, cha con, mẹ con, anh em, đi đánh giặc đói cho chính mình. Một cuộc đi tự do cũng đầy nguy hiểm, nhưng nét mặt "chiến sĩ" nào cũng đầy khí phách. Người ta chuyền lại cho nhau rằng: - Ði cẩn thận, hai bên đường rừng vẫn còn mìn cài trong cuộc chiến tranh biên giới năm nọ.

Chợ biên giới ở phía bên kia, dân buôn Trung Quốc háo hức chờ đón dân buôn Việt Nam mang hàng qua. Khách hàng chờ đón chúng tôi từ lâu, Vân giao thiệp với họ bằng tiếng Trung Quốc, tiếng dân tộc Nùng, tiếng Việt, lộn xộn mỗi tiếng vài từ để bổ sung cho nhau, nghe rất vui tai làm tôi phải bật cười, giá cả thì được viết bằng chữ số! Vân nhẩm đổi tiền rồi quay sang nói với tôi:

- Ðược lãi rồi, cần giải phóng hàng cho nhanh, ăn ít thôi anh ạ.

- Tùy em.

Vân quyết định bán, đôi bên đang trao tiền, thì có một tiếng kêu thất thanh:

- Cướp! Cướp!

Cả chợ nhốn nháo, ngay sau lưng chúng tôi một làn khói mỏng lờ mờ bay từ họng súng của người công an chưa tra vào vỏ, thì trước mắt chỉ cách 30 mét một người đàn ông đổ gục giẫy giụa trong vũng máu.

- Trời ơi! Nó cướp của tôi, toàn bộ số tiền một tạ mực khô, đáng đời nhà nó.

Tôi quay lại phía sau nhận ra tiếng nói Thanh Hóa của một cô gái quãng 30 tuổi, mặt cô không còn hột máu, cô gái rên rỉ:

- Làm thế nào để lấy lại được, nó còn nhét trong bụng nó.

Dân chợ ồn ào nói:

- Báo cho công an biết để người ta lấy lại cho.

- Họ có cho không?

- Sao lại không?

- Hu hu... Cô gái khóc rống lên đau đớn như chính phát đạn trúng vào mình, còn kẻ dính đạn thì đang nằm im không kêu rên giữa trời nắng. Khi người ta khênh hắn đi qua như khênh một con thú, bị người ta săn bắn trọng thương, tôi nhìn bộ mặt của hắn, đúng là mặt của tên gây gổ định đánh tôi tối hôm qua. Lúc này tôi không giận y, không khinh bỉ y, không chửi rủa y, mà trong lòng tôi dấy lên một sự cảm thương. Ôi! Cơm áo không đùa với con người, chứ chẳng riêng gì với nhà thơ. Vợ tôi bấm cánh tay tôi ý hỏi: "Anh có nhận ra mặt nó không?".

- Anh ạ! Ngày hôm nay dữ lắm, ta không vào chợ mua hàng nữa, phải về cho sớm. - Thế rồi Vân kéo tôi vào chỗ khuất, chia đôi số tiền, một nửa bà ấy giấu vào nón, còn một nửa giấu vào bao tải đựng hàng, nếu gặp bọn trấn lột thì chỉ việc quăng hai thứ này ra khỏi mình là an toàn.

Ðoàn người lũ lượt, chủ hàng kèm cửu vạn vượt biên giới trở về. Ðến gần dốc Quýt thì bỗng Vân kêu to:

- Chạy nhanh!

Vân chạy thục mạng, chưa kịp nhận thức, thì cả đoàn người ào ào chạy như bị giặc càn.

- Trấn lột! Trấn lột!..ột...ột...

Tôi trông thấy một họng súng vung lên, chặn một người phụ nữ lại. Nhớ lời vợ dặn, "phải như câm, như điếc, như mù" người tôi gai lạnh cũng chạy bán sống bán chết. Ra đến cửa rừng thì gặp Vân đứng đón ở đấy. Hú vía!

- Anh có thấy bọn trấn lột không?

- Có.

- Bằng một giác quan kỳ lạ em nghe được, chúng nó bàn nhau trấn em. Chúng theo dõi mình từ trong chợ kia, trông thấy tướng mạo của anh, chúng nó nghĩ rằng anh là một ông chủ lớn, chứ có biết đâu là một nhà thơ nghèo. Khi phát hiện ra bọn chúng đón đường, em đã hô lên và chạy lẫn trong dòng người, thế là chúng mất mục tiêu.

- À! Ra thế, nhưng đã có một bà khác bị trấn thay em rồi, anh trông thấy.

Mồ hôi tôi toát ra đầm đìa như ngã xuống nước. Vân thuê xe ôm chở ngay hai vợ chồng ra thị xã, ra đến thị xã Lạng Sơn, không kịp ăn uống gì, vọt ngay lên xe về Hà Nội...

Sau chuyến đi buôn ấy, tôi suy nghĩ rất nhiều. Từ ngày bà ấy đi biên giới kiếm được ăn cho gia đình, sắm sửa tấm vỏ chăn, cái nồi áp suất... ngoài vốn ra lại còn có chỉ vàng đeo tay, nhưng biết bao khó nhọc, vất vả, biết bao nguy hiểm, luôn luôn theo sát bên mình, ngoài nạn trấn lột ra, tôi nhìn thấy những chiếc ô tô bẹp dúm dó dưới đáy vực mà lạnh toát hết cả người.

- Em ạ! Cứ hôm nào em lên xe đi biên giới, thì bố con anh ở nhà khắc khoải mong chờ, đêm nào cũng chong chong chờ tiếng gõ cửa quen thuộc, khi bố và con được trông thấy mẹ mới hết lo lắng. Thôi bỏ, không tham nữa, làm gì loanh quanh ở Hà Nội, rau cháo cho qua ngày.

- Biết thế em không cho anh đi chuyến ấy, khó khăn gian khổ, nguy hiểm em quen rồi, sợ gì, anh cứ cho em đi.

- Không đi nữa!

- Sẽ lấy gì mà sống?

- Không sống thì chết, chứ đi biên giới thì thôi.

- Ðể em làm nghề hàng thịt thì anh không muốn.

- Thà rằng làm hàng thịt.

- Cả ngàn con người kiếm ăn trên con đường này, có sao đâu?

- Kệ người ta! - Tôi quát ầm lên.

Các con ngơ ngác, cả hai vợ chồng im lặng không ai nói gì nữa. Với thái độ kiên quyết của tôi làm cho bà ấy phải nghĩ lại.

Mấy ngày hôm nay bà ấy một mình một xe, đạp đi lang thang khắp Hà Nội, đến bạn bè bàn bạc, đi các chợ để nghiên cứu thị trường. Khi chưa có thể làm được gì lớn hơn, vợ chồng bàn nhau làm cò con vậy, thế là bà ấy đã từng thổi xôi, nấu chè, bán bún chả, bún cua. Làm nghề hàng ăn cũng đâu có dễ, phải làm thật ngon, sạch sẽ mới có khách. Phải tìm ra công thức đặc biệt sẽ trở thành đặc sản, thì sống với nghề lâu dài. Khó nhọc mà lãi suất lại quá thấp, Vân nhiều lần tỏ ý luyến tiếc biên giới. Tôi động viên:

- Anh biết đi biên giới kiếm ăn khá hơn, nhưng đầy nguy hiểm, vất vả em phải chịu đựng hết, làm sao anh có thể yên lòng được.

Rồi một hôm Vân ôm lấy tôi trong vòng tay nồng nhiệt, vừa cười vừa nói hài hước:

- Em phải làm tên đồ tể thôi anh ạ.

- Ðồng ý. - Tôi cũng cười vui.

- Thật nhá!

- Thật.

Chuyện là thế này: Vân ngầm đi tìm hiểu thị trường, rồi về bàn bạc với vợ chồng cô Lấy, nhà tôi đã góp vốn đầu tư với cô ấy một tuần nay, mỗi ngày vợ chồng cô ấy chia cho được hai chục nghìn. Cảm thấy chắc ăn rồi hôm nay nàng mới khai báo với chồng. Vân cười nói vui vẻ:

- Sợ ông chồng bảo thủ không chịu đựng đổi mới lại phá đám nên phải bí mật.

- Hà hà hà... - Tôi bật cười - Anh là phần tử lạc hậu thật à?

- Anh này, mai là chủ nhật, anh có muốn đi chơi với em một chuyến không?

- Ði đâu? - Tôi hỏi.

- Ði ngoại thành, sáng đi tối về thôi.

- Ðể làm gì?

- Ðể tìm nguồn hàng.

- Ðược! - Ðang đà phấn khởi, tôi vui vẻ nhận lời.

Sáng ngày hôm sau hai vợ chồng lên đường bằng chiếc xe Honda cà tàng mượn của nhà đạo diễn. Theo tính toán của Vân, nếu khai thác được nguồn hàng đều đặn, đóng góp với vợ chồng Lấy, thì lãi suất sẽ còn khá hơn nhiều. Vân hy vọng đây sẽ là nguồn sống lâu dài của chúng tôi. Xe chạy bon bon, Vân ôm lấy chồng tình cảm và tin tưởng, như cặp tình nhân trẻ tuổi trên đường du lịch. Bỗng Vân thét lên kinh hãi, tôi phanh gấp, xe đổ kềnh, người văng ra khỏi xe, phía trước là hai cô gái và chiếc xe đạp nằm đè lên nhau. Mấy giây trôi qua, Vân lồm cồm bò dậy đến bên tôi lo lắng hỏi:

- Anh có sao không?

- Không sao!

Có cái gì buồn buồn, nóng nóng trên mặt, tôi giơ tay lên ôm lấy mặt, máu tứa ra đầm đìa cả bàn tay.

- Anh bị thương rồi! - Vân thét lên kinh hãi.

Chỉ một phút sau tôi hiểu ra mọi chuyện: Hai cô gái đi từ trong ngõ ra trên chiếc xe đạp nam, lại không có phanh, cũng may không ai việc gì, chỉ có mình tôi bị thương vào trán.

- Có nhà thương gần đây không? - Vân hỏi cả đám người đang vây quanh chúng tôi.

- Quay lại Bạch Mai. - Có tiếng trả lời.

Chiếc xe máy nằm quay ra lề đường, máy vẫn nổ. Vân dựng xe lên.

- Ði anh!

Tôi ngồi lên xe, tay ôm đầu máu. Chiếc xe lao vun vút.

- Ði chậm thôi! - Tôi đề nghị.

- Anh bị có bị choáng không, có đau lắm không?

- Không!

- Ðây rồi! Vân trông thấy một hiệu thuốc bên đường, chủ hiệu là một bác sĩ, khám vết thương và băng bó, tiêm thuốc ngay cho tôi. Chiếc băng trắng ngang mặt, quanh đầu, không trông khác nào người chiến sĩ bị thương trên mặt trận năm xưa.

Nằm nghỉ tại hiệu thuốc nửa tiếng, người bình thường trở lại, tôi nói với Vân:

- Ta đi tiếp!

- Em quên, năm nay anh sao thái bạch, chuyến đi không ra gì, ta về thôi.

- Ðến nơi rồi, sao lại quay về. Ði!

Cám ơn người bác sĩ, thanh toán tiền thuốc. Vì cuộc sống hai vợ chồng lại tiến lên. Trong lòng tôi vang lên câu nói "bất hủ": "Cơm áo không đùa với khách thơ". Chúng tôi rẽ vào nhà một người bạn văn bên đường. Trông thấy chúng tôi anh hốt hoảng chạy ra.

- Trời ơi! - Ông Tiên! Sao thế này. - Mặt anh xao xác hỏi.

- Không sao, ông cho chúng tôi uống nước đã...

Nghe kể chuyện vợ chồng nhà thơ đi mua lợn về làm lò mổ, anh bạn tôi cười, nụ cười như người đang muốn khóc, song có người pha trò tài quá mà phải bật cười.

- Giỏi! Kính phục bà, còn ông, thế mà ông vẫn viết được, vẫn say sưa với nghiệp văn chương được, quả là lạ, lạ lắm.

Hôm ấy chúng tôi không thống nhất được với khách hàng, cũng có thể là chưa có kinh nghiệm, hay là vì một ngày xấu? Hai vợ chồng phải về tay không. Trên đường về bà ấy nhận xét:

- Anh là người sinh ra để làm thơ, để mơ mộng, anh không phải là con người của đời thường. Cho nên chuyến đi làm ăn nào có anh cũng dữ dằn, từ nay em không cho anh đi nữa.

- Không đúng, không phải vậy đâu. Anh cho rằng những chuyến đi như thế này là thú vị và cần thiết cho anh.

Xe về đến nhà, các con chạy ra đón bố mẹ reo vui. Khi chúng phát hiện ra cái đầu kỳ lạ của bố, em khóc, chị run lẩy bẩy:

- Bố ơi! Bố làm sao thế?

- Bố ngã, nhưng không sao, các con đừng sợ.

*
* *

Vết thương trên trán bây giờ mới thấy đau. Bà ấy bắt tôi nằm im, không được làm gì cả, bên ngoài tốc độ cuộc sống của nền kinh tế thị trường đang diễn ra chóng mặt. Tôi thương mình, thương vợ, thương con vô cùng. Mắt nhắm nghiền, nhưng tôi biết "bà hàng thịt" đang đứng nhìn tôi, mỉm cười, nụ cười thương cảm, sau đó nàng cười thành tiếng, như phát hiện điều gì mới mẻ ở chồng, mọi điều bí ẩn nay đã bị nàng khám phá, nàng cúi xuống rất nhẹ đặt cái hôn trên môi chồng.

- Hoan hô bố mẹ hôn nhau. - Bé Ngọc bắt được quả tang hành động của mẹ reo lên.

Tôi mỉm cười trên môi nàng.

- Con cái nhà! - Bà ấy đỏ mặt đứng dậy mắng yêu con.




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Ðàn bà

Nguyễn Khải

Lưu là đội trưởng đội cảnh sát hình sự tuyến, tức là cảnh sát chống tội phạm hình sự trên các tuyến giao thông. Năm 1982, Lưu 22 tuổi, anh lấy vợ. Vợ chồng bằng tuổi nhau, cùng học với nhau ba năm trung học. Chồng làm công an, vợ làm ở khách sạn, được công ty du lịch phân cho một căn nhà ở trung tâm thành phố. Về đời riêng, bắt đầu như thế cũng là hơn nhiều người. Lưu rất đẹp trai, dáng vóc cao lớn, hao hao giống các diễn viên Hồng Kông trong phim hình sự. Vợ cũng rất xinh gái, đẻ một con lại càng xinh. Vợ chồng bế con đi chơi phố ai cũng phải ngoái cổ lại nhìn. Một cặp vợ chồng thời bình quả nhiên có khác với những cặp vợ chồng thời chiến. Họ là những người may mắn khiến các thế hệ sinh trước phải ghen tị. Chỉ có một trục trặc rất nhỏ không đáng để ý, ấy là lương một trung sĩ công an hơi ít, chỉ có 51 đồng, đóng tiền ăn đã mất 18 đồng. Lương vợ bao nhiêu chồng cũng không hỏi vì biết lương của vợ chỉ là hình thức, còn "bổng" mới là nguồn thu chính. Vì là "bổng" nên số tiền không cố định nhưng trong tủ lúc nào cũng có sẵn từng xấp tiền. Ðẻ con, nuôi con, nuôi mẹ từ quê ra trông cháu đều là tiền của vợ. Lưu đi bắt cướp, có khi phải đi vài ngày, tiền công tác rất ít cũng phải ngửa tay xin vợ. Xin mãi cũng ngượng, vợ lại để sẵn tiền trong tủ nên về sau Lưu cứ tự tiện lấy, không mấy khi hỏi. Của vợ như của chồng, đã là vợ chồng ai còn phân bì của tôi với của anh. Nghĩ ngợi lẩm cẩm quá có khi vợ lại ngờ rằng tình yêu của anh với cô không trọn vẹn.

Một tối Lưu về nhà đã rất khuya nhưng vợ anh vẫn chưa về. Bà mẹ ra mở cửa mặt buồn rười rượi, hỏi câu nào trả lời câu ấy, mắt cứ nhìn xuống. Lưu đã vào giường nằm mới nghe bà cụ nói: "Anh thử hỏi vợ anh xem nó có muốn gửi con bé đi nhà trẻ không? Hàng xóm họ đều gửi con ở nhà trẻ cả, nghe nói các cô trông cháu cũng cẩn thận lắm". Lưu hỏi: "Mẹ không thích ở đây nữa à?". Bà cụ nói: "Tôi muốn về quê ít tháng, ở mãi đây cũng nóng ruột ở nhà". Chuyện ở hay về là chuyện thường nhưng giọng nói bà cụ lại không bình thường, cứ như người muốn khóc. Lưu lại hỏi: "Mẹ chồng nàng dâu lại có chuyện gì không vui, phải không mẹ?"." Không, chả có chuyện gì. Bỏ nhà đi cả năm, còn các em anh..." Mấy ngày sau Lưu nói chuyện với chị ở phòng kế bên mới hay, dạo này vợ anh nói hỗn với mẹ chồng nhiều lắm. "Chắc là nó mới đổi tính, trước kia đâu có thế". Chị kia nói: "Lâu lắm rồi chú ơi. Bà cụ rất hiền, cứ bế cháu sang đây khóc lén khóc lút, lại còn dặn tôi phải giấu chú". Lưu lại hỏi: "Cách đây mấy ngày chị có biết đã xảy ra chuyện gì không?". "Mọi ngày giờ trưa cô ấy không về, trưa hôm ấy bỗng nhiên lại xồng xộc về thấy bà cụ ôm cháu ngủ, bát đũa chưa rửa, thế là cô ấy làm ầm lên. Bảo là lấy chồng chứ ai lấy thằng ăn cắp. Chả biết lấy tiền cho gái hay cho anh cho em mà để tiền bao nhiêu cũng hết bấy nhiêu". Lúc ấy Lưu mới ngớ người ra. Vợ lấy tiền của chồng là chuyện tự nhiên, nhưng chồng không làm ra tiền lại lấy của vợ tiêu lại là chuyện không bình thường. Lấy tiền mà không nói tức là ăn cắp, chứ còn gì nữa.

Bà mẹ chồng về quê. Con gái gửi nhà trẻ rồi gửi mẫu giáo, thỉnh thoảng vợ chồng Lưu vẫn mời bạn bè tới nhà dùng cơm. Thỉnh thoảng họ vẫn cùng nhau đi xem kịch, xem chiếu bóng, đi và cùng uống nước giải khát ở các quán quen. Họ dắt con đi chơi vẫn có nhiều người ngoái lại nhìn, vẫn là một cặp vợ chồng đẹp đôi và có vẻ thỏa mãn. Người ngoài tưởng thế, bạn bè cũng nghĩ thế nhưng hàng xóm thì biết giữa họ không khéo đã có chuyện to rồi. Vì căn hộ của cặp vợ chồng trẻ ấy không có tiếng cười, không có cả tiếng nói. Chồng về rất khuya cũng chỉ nghe có tiếng mở cửa rồi tiếng giội nước, không thấy bật đèn cũng không nghe có ai hỏi ai. Vợ về muộn cũng thế. Họ chỉ nói với nhau khi có bạn bè tới thăm hoặc trước mặt hàng xóm. Con bé đã lên năm, đi mẫu giáo rất ngoan, đến giờ đón con mà bố mẹ chưa về thì bác hàng xóm đón, thường là ăn cơm tối với các con của bác, nũng nịu với các anh chị, hỏi han, cười đùa như mọi đứa trẻ khỏe mạnh. Nhưng ở với bố mẹ những ngày nghỉ thì cả ngày con bé không nói, cười cũng không, mắt nhìn lấm lét như là sợ.

Lưu cũng biết vợ không còn yêu anh nữa, anh khỏe mạnh, đẹp trai, đàn bà con gái đủ mọi lứa tuổi rất thích được nói chuyện với anh, chọc ghẹo anh và cũng rất muốn được anh nắm tay, nắm chân ghẹo lại. Anh chỉ thiếu có tiền thôi. Chả lẽ một thằng đàn ông thiếu tiền nằm cạnh vợ mà không gây được một xúc động nào ở người đàn bà, dẫu rằng họ không còn là tình nhân nữa? Vô lý! Nhưng là chuyện có thật. Họ vẫn nằm chung giường, con gái ngủ giường con kê liền cạnh, nhưng rất nhiều đêm họ không hề biết đến nhau. Lưu luôn luôn về muộn và đôi khi mệt mỏi, chán chường, không phải lúc nào cũng chán vợ, mà là chán cái nghề truy lùng, bắt, khám xét. Tới đâu cũng chỉ vấp phải những bộ mặt sợ hãi, dối trá, oán hận. Bất cứ lúc nào cũng có thể nhận một nhát dao đâm từ lưng hoặc một gậy bổ xuống đầu. Cứ hẳn thế anh lại dễ ăn, dễ nói, dễ xử sự. Còn vợ anh thì sao? Từ mấy năm nay chị có một gương mặt rất lạ, không vui, không buồn, cũng không giận, như gương mặt tượng. Vừa là vợ lại vừa là người lạ, vừa là người thân nhất, vừa là người có thể căm ghét anh nhất. Không có mũi dao nào ló ra nhưng đứng cạnh nhau là đau nhói, sau đó là rã rời như đã bị chảy máu từ bên trong. Anh phải xử sự như thế nào, phải nói năng ra sao? Anh không biết, anh lúng túng, vụng về, cau có và càng trở nên đáng ghét hơn. Cũng có đêm Lưu rất muốn được yêu vợ. Anh nằm cạnh vợ, cười nịnh nọt và đưa tay khẽ vuốt ve một cánh tay của vợ. Chị hất tay anh ra như người ghê tởm, càu nhàu nói: "Ông ngủ đi, tôi mệt quá". Có lần anh nhẫn nại năn nỉ thì chị quay mặt về phía anh, một gương mặt trắng xanh dưới ánh điện đường chiếu vào, nói dửng dưng: "Ông muốn làm gì thì làm nhanh lên". Anh thở dài, nằm lùi lại, nói nhỏ: "Em ngủ đi, anh cũng thấy mệt rồi!". Ai mà tin được một cặp vợ chồng đẹp đôi như thế, nằm cạnh nhau cả năm mà không ai đụng chạm vào da thịt của ai.

Thời gian đầu chỉ có vợ chồng Lưu là biết cái gia đình nhỏ bé của họ có nguy cơ tan vỡ, còn bạn bè và họ hàng vẫn không hay biết gì. Thời gian sau, mọi người đều biết vợ Lưu có ngoại tình, biết rõ cả địa chỉ của người tình nhưng Lưu lại không hề biết. Có thể anh cũng đã lờ mờ biết nhưng anh không muốn tin vì người tình của vợ lại là ông trưởng phòng vật tư của một công ty du lịch. Ông ta đã năm chục tuổi, xấu trai và thô lỗ, chỉ được cái khỏe mạnh và rất lắm tiền. Người như thế làm sao quyến rũ nổi vợ anh. Vợ anh còn trẻ, vẫn đẹp và cũng có tiền. Anh cũng còn rất trẻ, mới ngoài ba mươi, là một sĩ quan cảnh sát có triển vọng, đã được báo Hải Phòng nêu tên và đăng ảnh. Anh chỉ có một khuyết điểm nhỏ là không nghĩ ra được những cử chỉ âu yếm lặt vặt của mỗi ngày để chiều vợ, không luôn luôn có mặt bên cạnh vợ những lúc cô ấy cần. Và đã rất nhiều đêm anh nằm vật bên cạnh vợ như một khúc gỗ sau một ngày bám theo những chiếc xe ca chật như nêm cối để phục bắt bọn cướp giật. Nhưng Lưu vẫn tin mối quan hệ bất chính kia nếu có thì cũng để trêu anh thôi, cảnh cáo cho biết chứ chưa hẳn đã muốn dứt bỏ thật. Cơ quan vật tư của công ty du lịch gần ngay khu nhà tập thể của công nhân viên. Gia đình trưởng phòng vật tư ở Kiến An nên ông ta chỉ về nhà tối thứ bảy và ngày chủ nhật, còn các ngày làm việc ông ta ăn ở ngay tại cơ quan. Các buổi trưa vợ Lưu cũng không về nhà, đi chợ nấu ăn tại nơi làm việc, cùng ăn với trưởng phòng và ngủ trưa tại phòng ông ta như một cặp vợ chồng. Không ai dám nói đã đành, người vợ ngoại tình cũng không thích giấu giếm nữa, kể cả với ông chồng cảnh sát. Cho tới một buổi trưa, Lưu đã bí mật leo ống máng như cách vây bắt một tội phạm hình sự, đột nhập từ cửa sổ khép hờ vào phòng riêng của trưởng phòng vật tư và bắt gặp vợ mình cùng người nhân tình lớn tuổi chỉ vừa kịp quơ chăn phủ lên người...

Họ đã đưa nhau ra tòa để ly hôn. Lưu thì xấu hổ và đau đớn nhưng vợ anh rất thản nhiên như đang thay mặt ai đó để làm cái việc nghiêm trọng ấy. Khi tòa hỏi ai sẽ nuôi đứa con gái, theo luật thì đứa con duy nhất sẽ theo mẹ, trừ phi... Người đàn bà nói luôn: "Ðể bố cháu nuôi, lương tôi thấp không đủ khả năng nuôi cháu". Nói rất tự nhiên, không đắn đo, nghĩ ngợi gì cả. Vài tháng sau, Lưu được tin cô vợ cũ đang ăn sáng thì bị bà vợ chính thức của người tình đưa con trai lớn tới đánh ghen, mẹ thì chửi, con thì đánh. Một năm sau, tay trưởng phòng chuyển công tác đi nơi khác và bỏ luôn người đàn bà còn trẻ và đẹp đã vì hắn chịu mất hết những gì cô ta có từ mười năm nay. Rồi có tin cô đi cặp với một người khác, thanh niên mới lớn, kém cô ta cả chục tuổi. Lúc thì cô ta sống với người trẻ tuổi hơn, lúc thì với người bằng tuổi, có lúc lại chạy theo một ông già tóc đã muối tiêu, đạo mạo như một ông bố. Chả hiểu ra sao cả. Như một con điếm. Mà cô ấy vẫn có tiền.

Lưu gửi con về quê nhờ mẹ nuôi, làm việc vẫn hăng say nhưng cứ nghĩ tới đàn bà là đau nhói. Ðàn bà thật khó hiểu mãi mãi anh không thể hiểu. Theo cách đánh giá của anh, họ đều tham tiền, ham vui và cạn nghĩ như nhau cả. Sau cuộc chia tay với vợ, đưa con gái về quê gửi mẹ và các em. Lưu đã là người hoàn toàn tự do, như thời anh mới đi làm. Anh xin nghỉ hẳn hai ngày để ngủ. Anh ngủ từ sáng đến tối, ra phố ăn cơm bụi rồi lại về ngủ tiếp. Tới trưa ngày hôm sau, anh dậy tắm rửa, cạo râu, lấy xe chạy một vòng quanh thành phố rồi chui vào một quán cà phê tồi tàn gần bến xe Niệm Nghĩa ngồi cho đến tối. Chưa bao giờ Lưu mệt mỏi đến thế và buồn đến thế. Thất bại về gia đình là thất bại đau đớn nhất vì lòng kiêu hãnh của thằng đàn ông bị tổn thương đến tột cùng. Cũng trong khoảng thời gian ấy Lưu còn phải chịu đựng thêm một thất bại khác là đơn vị anh sau nhiều tháng truy lùng vẫn không thể bắt được tên tội phạm thuộc loại đặc biệt nguy hiểm của thành phố. Tên đó là Tích. Tích "híp", là sói độc, không thuộc một băng nhóm nào, không có lãnh địa riêng, gặp cơ hội là làm, đã làm là chuẩn bị kỹ lưỡng và luôn luôn giữ được sự bất ngờ. Ðến vợ con nó cũng sống rất bí mật, khi ở Kiến An, khi ở Thủy Nguyên, có khi lại sống ngay giữa Hải Phòng, không ai biết mặt mũi thị, cũng không ai biết vỏ bọc của thị. Sự thách thức ấy khiến mọi người phát điên lên. Trong đơn vị chỉ có hai người biết rõ mặt Tích "híp" là Ðội trưởng Lưu và một chiến sĩ trinh sát. Nó có một gương mặt không có đặc điểm riêng, rất dễ trộn lẫn vào đám đông, ngoại trừ đôi mắt híp. Cách đây đã dăm năm, Tích "híp" còn làm thư ký đội bốc vác của một bến xe khách, đã vài lần Lưu đứng trò chuyện với nó, chuyện bâng quơ thôi, nhưng anh chợt gai người, cũng chỉ một thoáng, vì cái đảo mắt và cái cười không thành tiếng của nó. Vài tháng sau nó biến mất, không để lại một dấu vết nào vì vẫn còn là một tên tuổi vô danh. Sau đó hai năm trong giới giang hồ bắt đầu xì xào cái tên Tích "híp" sau nhiều vụ làm ăn rất mạo hiểm: buôn thuốc phiện, buôn xe hơi, xe máy qua biên giới, buôn người. Rồi cũng vẫn là Tích "híp" đụng độ bằng dao, bằng súng với Công an Móng Cái, Công an Cẩm Phả, Công an thành phố Hạ Long. Ðội trưởng Lưu là người đa mưu, chân tay trong giới giang hồ cũng nhiều, xử trí nhanh, đã từng bày nhiều thế trận rất lắt léo để nhử con mồi, nhưng Tích "híp" vẫn lọt qua hết sức ngoạn mục hoặc nhởn nhơ múa nhảy ở vòng ngoài. Một lần, qua một hệ thống truyền tin rất công phu, Lưu biết được Tích "híp" đang náu thân tại nhà người bạn của ông anh nuôi cách Kiến An dăm cây số. Ông này vừa mở quán vừa chăn vịt, quán nhà quê, bán bánh đúc riêu cua, chè xanh, rượu và lạc rang. Lưu và một chiến sĩ trinh sát vào quán uống rượu từ trưa đến ba giờ chiều, rồi Lưu giả vờ đau bụng xin nằm nhờ gian trong của chủ quán. Vẫn không có ai ra vào hoặc thăm hỏi, không có dấu vết nào có người lạ trong nhà. Khoảng 4 giờ chiều Lưu hỏi lối đi đại tiện, nhìn ra cánh đồng thấy một bóng người đội nón đang cất vó tép. Một cái lưng rất quen thuộc. Là nó chăng? Lưu đứng ngắm nghía một lúc rồi xăm xăm bước lại, tới gần lưng người kia anh rút súng quát to: "Tích "híp" mày đã bị bắt!". Người kia quay từ từ gỡ nón, một gương mặt lạ hoắc, râu quai nón, tóc muối tiêu, một bên mặt có vết nám to bằng nửa bàn tay bầm đỏ. Lưu lúng túng nhét lại súng vào bụng, tự giới thiệu là công an thành phố đi bắt cướp nhưng đã nhận lầm người. Người kia giương mắt nhìn không nói gì lại quay lưng nhấc tiếp các vó tép. Trên đường trở lại thành phố, Lưu mới thoáng ngờ cái bộ mặt râu quai nón của người cất vó tép. Rất ít người ở nông thôn để râu quai nón. Người buôn bán thì có, người đi cất vó tép thì không. Ông ta lại không nói, không hỏi thêm câu nào về cái chuyện bắt cướp, là ông nông dân mà không có tính tò mò sao? Một gương mặt muốn giấu đi, một giọng nói muốn giấu đi, thì là ai nhỉ? Là "nó" chứ còn ai nữa! Lúc này có quay lại cũng quá muộn. Nó đã cao chạy xa bay từ lâu rồi. Nó biến mất nhưng ông chủ quán, kẻ chứa chấp nó nhiều ngày, nhất định vẫn còn đó. Từ đó...

Sáng hôm sau. Lưu quay trở lại từ rất sớm, ông chủ quán vẫn bán bánh đúc riêu cua cho đám thợ làm đường, nhìn thấy anh vẫn mời chào vồn vã. Nhưng Lưu không cười, anh bước vào kéo ghế ngồi rồi hỏi ngay: "Cái ông cất vó tép còn ở đây không?". Người kia mặt không đổi sắc, hỏi lại rất tự nhiên: "Anh hỏi ông cất vó tép nào? Ông ta ở đâu?". Lưu nói gằn giọng: "Nó ở đây, ở ngay cái nhà này, nó là tội phạm, ông hiểu chưa?". Ông chủ quán quay sang hỏi đám thợ đang ăn: "Các chú có nhìn thấy ông cất vó tép nào lảng vảng quanh đây không?". Một người nói: "Vào trong làng mà hỏi, chứ ở đây làm sao biết". Ông chủ quán nói thêm: "Xin lỗi anh, từ ngày bán đi lứa vịt, tôi chỉ ngồi suốt ngày ở đây, không mấy khi bước chân ra đồng. Anh vào trong làng hỏi công an xã xem". Lưu cười cay đắng, anh vẫn khờ quá, khờ như thế làm sao bắt được một kẻ rất ranh ma là Tích "híp".

Sau ngày li dị vợ được nửa năm, Lưu nhận được tin Tích "híp" đã trở lại Thủy Nguyên, lần này nghe nói có cả vợ con. Cuối cùng Lưu đã mò được ra hang ổ của nó ở một hẻm núi, cách làng chừng nửa cây số. Anh đi một mình, giả làm nhân viên thu mua cây thuốc nam của viện dược liệu. Anh đã nhìn thấy nó một lần đi cùng với vợ và đứa con trai khoảng 13, 14 tuổi. Nó để râu quai nón, mang kính râm nhưng vẫn là cái dáng đi lòng khòng của thằng thư ký đội bốc vác năm nào, rất may nó chưa mập ra, chưa có bụng mặc dầu tuổi cũng đã ngoài bốn chục rồi. Chỉ cần thêm dăm năm sống ngoài vòng pháp luật là nó có thể xóa hẳn hình bóng cái thằng Tích "híp" năm xưa để trở thành một kẻ chỉ có tên chứ không có con người thật. Một buổi chiều, khoảng năm giờ. Tích "híp" về nhà được hơn nửa tiếng thì Lưu đạp cửa ngoài nhảy vào. Người vợ đang cầm siêu nước bước xuống bếp vội quẳng ấm nước ra sân rồi quay nhanh vào nhà trong. Lưu vẫn bám theo một bóng người đang nằm trên giường nhảy xuống, cúi người lủi dọc vách tường vào sâu trong nữa. "Có cửa sau lên núi chắc?". Lưu vừa thoáng nghĩ, sải chân định bước vọt lên thì bị vấp ngã chúi xuống. Không phải vấp mà bị con vợ Tích quỳ xuống ôm chặt lấy chân của Lưu kéo lại. Lưu thúc thẳng bàn chân bị ôm vào chét ngực teo tóp của người đàn bà, một tay vơ lấy chiếc ghế đẩu ném mạnh vào lưng Tích đang loay hoay trước khuôn cửa gỗ ăn thông lên núi, rồi anh rút súng nhằm vào Tích hét to: "Tích đứng lại! Mày mở cửa là tao bắn!". Thằng Tích hình như cũng sợ quá, hắn không quay người lại, vẫn loay hoay với cái then cửa. Con vợ liền buông chân của Lưu nhảy chồm lên kéo cánh tay cầm súng về phía thị, dồn hết sức mạnh ghì chặt khẩu súng đạn đã lên nòng ép vào ngực thị, nếu súng nổ thì sẽ được chết thay chồng, chồng thị sẽ có cơ hội chạy thoát vì sự lúng túng của kẻ bắt giữ. Cánh cửa phía hông nhà đã mở, Tích lao vào khoảng trống có rất nhiều bụi cây dại ở sườn núi mặc cho Lưu hò hét, chửi rủa cả vợ lẫn chồng. Mấy phút sau vợ Tích mới buông tay, nhìn kẻ thù với ánh mắt mừng rỡ và biết ơn: "Chúng em biết anh đã thương nên không nỡ bắn chết cả hai vợ chồng. Xin anh yên tâm, nhà em đã muốn ra đầu thú từ lâu rồi nhưng đang sợ". Lưu buông người xuống ghế, giắt súng vào người, nhìn chằm chằm người đàn bà nhỏ, ốm yếu vừa giận vừa phục. Chị ta lấy đâu ra cái sức mạnh đến kinh ngạc ấy nhỉ? Một cái thúc của anh vào ngực đến thằng thanh niên cũng phải há miệng buông tay, huống hồ...

Có tiếng gọi cửa của đứa con trai ở phía ngoài, mẹ nó búi vội cuộn tóc vừa bị xổ, nói bằng giọng rất nhẹ nhàng:

- Nhà có khách vào chào chú đi con.

Một thằng bé cao lớn, rất khôi ngô, cầm cặp sách bước vào:

- Thưa chú, thưa mẹ con đi học về.

Mẹ nó quay lại nhìn Lưu, nói to cho cả con nghe:

- Mời chú ở lại ăn cơm với mẹ con tôi rồi chờ anh ấy về luôn thể.

Lưu biết ý tứ của người mẹ trước con cái, anh mỉm cười nói theo:

- Xin chị cho bữa khác. Nhờ chị nói lại với anh, nếu anh tới gặp tôi sớm mai thì mọi chuyện sẽ không xấu lắm đâu.

Vợ Tích với đứa con trai tiễn Lưu ra cổng. Có mấy bà hàng xóm đứng ở đường chào Lưu rồi hỏi vợ Tích:

- Vừa rồi nghe ầm ầm như có đánh nhau to ở đâu thì phải?

Vợ Tích liếc mắt nhìn Lưu trả lời thản nhiên:

- Tôi mải nói chuyện với chú cháu từ thành phố sang chơi nên chả nghe thấy gì.

Rồi chị ta giục con: "Con chào chú đi" và nói với Lưu: "Xin mời chú lại nhà. Chỉ vài bữa nữa nhà tôi sẽ xin sang gặp chú ngay, mong chú giúp cho". Lời nói dịu dàng, cung cách con nhà gia giáo mà chịu làm vợ một thằng tướng cướp ư? Vợ con như thế, trời ưu đãi đến thế mà không chịu làm người đàng hoàng thật là uổng quá, là một thằng đàn ông ngu quá. Cũng như đã có những con đàn bà hết sức ngu...




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0





Con yêu con ghét

Vũ Thị Thường

Bớt vừa đi vào đến giữa sân, bà Ngải ngồi trong nhà đã chì chiết:

- Sao chị chả đi chơi lấy một lúc nữa hãy về, cơm nước đã có con già ở nhà nó thổi!

Bớt đang hớn hở bỗng sững lại. Bớt đi tát cá cả buổi hôm, Bớt có đi chơi đâu mà mẹ cũng mắng. Bớt vùng vằng, vất cái giỏ lấm như trát bùn xuống đất. Cái giỏ lăn chiêng, một con cá trê từ trong giỏ rơi ra, quẫy đành đạch. Con mèo mướp từ nãy vẫn khoanh tròn trên đầu hè lim dim ngủ, lúc này bỗng nhảy vụt ra như một mũi tên, gừ gừ sắp sửa vồ lấy con cá.

Bà Ngải cuống quít hét lên the thé:

- Kìa! Mèo nó vồ cá kia! Bớt!...

Bớt chộp lại được con cá nhét vào giỏ rồi, bà vẫn còn thở hồng hộc chưa thôi.

- Cha tiên nhân quân trắng mắt! Quân trắng mắt nó ra gan với tôi! Suýt nữa không có tôi thì con mèo nó vồ mất con cá!

Những cơn chửi mắng vô lý thế, chẳng mấy ngày là Bớt không phải chịu. Thường mẹ mắng, Bớt chỉ lặng im. Bớt quen rồi. Mẹ chửi quá thì Bớt bỏ đi, sang hàng xóm vá vẩn hộ bà cụ Xã, hoặc đi kiếm lá hòe về vò đầu trốc cho con chị Hồi. Ði chán chốc về, mẹ lại có cớ chửi cái tội con gái đi ngồi lê, mẹ chửi thêm cho một chập nữa.

Song cũng có những lúc Bớt tủi thân muốn. Ấy là lúc mẹ âu yếm chị Nở, âu yếm thằng Tấn, đối xử chênh lệch hẳn với Bớt. Thằng Tấn là con giai, nó lại là em Bớt. Bớt chả thèm suy tị nó làm gì, nhưng đối với chị Nở thì sao...? Thì sao mẹ lại thế? Này nhé, có những hôm Bớt đi cắt cỏ về, giời thì nắng, mắt Bớt hoa lên, cổ khe khé, người hầm hập nóng, nóng như than và mặt, mắt đỏ dứ đỏ dừ. Bớt cảm. Nhũng lúc ấy mẹ đã không thương Bớt thì chớ, mẹ còn lườm còn nguýt Bớt, làm như Bớt chỉ giả ốm đau để mà trốn việc! Mẹ kể lể:

- Ôi dào! "con gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu", ngày xưa tôi bằng tuổi các chị, đố ai bắt được tôi nhức đầu, xổ mũi lấy một buổi.

Nhưng chị Nở, giá đi về có hơi hu hi, mẹ đã giục chị lên giường nằm, rối rít sai Bớt đi nấu cháo, đi rang cám, đánh cảm cho chị. Thỉnh thoảng nhà mua được ít đường ngoài hàng hợp tác, mẹ lại dành dụm cho chị Nở. "Chị mày nó nhiệt, có tí đường để cho nó hòa với bột sắn sống nó uống. Mày thì nồi bảy quăng ra, nồi ba quăng vào, hàn nhiệt gì mà phải ăn đường nào?".

Chị Nở đi đâu, mẹ cũng phần cơm, phần canh cho cẩn thận. Chị Nở về, chỉ việc trèo lên giường, chĩnh chệ ngồi ăn, hiềm nào! Còn Bớt đi thì đi, về thì về, mẹ mặc thây. Mẹ không phần. Ðói, Bớt phải đi lục niêu vét cơm nguội ăn. Mẹ lại ngồi kể xấu Bớt:

- Rõ đẹp mặt con gái chưa kìa! Chửa về đến nhà đã hục vào buồng, cạo nồi xoèn xoẹt? Cứ bảo sao tao lắm điều? Con gái, con đứa, ăn uống xấu thói thế, ở nhà mẹ không dạy, mai kia đi lấy chồng, nhà chồng nó lại không đào mồ cuốc mả lên nó chửi, tao chớ kể!.

Bớt đi ngang qua chỗ mẹ, mẹ cũng nhìn theo chê bai:

- Con cái Bớt này giống bà Dẫn ngoài đó, hai cái chân thì dài như chân cò dóc; ngồi, đầu gối quá tai; má thì má có bớt; mũi, mũi nhòm mồm chỉ có ăn; miệng thì miệng chum chúm thổi lửa, hơi ai nói gì, ngồi ngoài cũng hơn hớt hơn hớt cái miệng nói leo được. Người hình dạng đã xấu, có cái nết thì mười nết bỏ đi cả mười, khổ thân đời nó vậy.

Một lần chị Nở với Bớt đi cất vó tôm. Ði một lúc buổi tối, về được lưng cái rá nhỡ tôm, toàn những con tôm càng to tướng, nhảy tanh tách, chị em rủ nhau bỏ vào rổ, trên đậy sàng cạp chặt, xong đem thả lơ lửng xuống ao, sáng mai đem đi chợ bán. Sáng mai, mẻ tôm chỉ còn vài chục con, rang lên khéo chỉ được một đĩa. Mẹ tiếc của chửi mãi. Mẹ không chửi cả hai, chỉ nhè một Bớt chửi. Nở đã không bị sao còn nói hùn vào, đổ tại Bớt tối qua đi sống, đã đốt đèn lại nói oang oang, để lão Nhờ nhà bên kia ao nghe thấy, đêm khéo lão lần sang lão đổ mất.

Cả con ngan thằng Tấn mua về nuôi cũng thế. Ðược hôm trước, hôm sau mở cửa chuồng, đã thấy con ngan nằm chết cứng giữa chuồng, cái mình màu vàng nghệ bẹp dí xuống đất. Mẹ lại nghiến ngẩm Bớt, đổ chỉ tại hai con ngan lớn của Bớt nuôi riêng, vật cũng giống chủ ác, giẫm chết con ngan bé!

Những chuyện bất công ấy, giá Bớt có phàn nàn thì mẹ đã ầm lên:

- Phải rồi! Mày cứ chửi tao đi. Tao chỉ con yêu con ghét thế thôi. Mày cũng là con tao đẻ ra, mày có làm sao, tao mới ghét mày chứ!

- Rồi mẹ ngồi mẹ so. Nào là Bớt vô ý vô tứ. Bớt cục cằn, Bớt hay đi ngồi lê, hay cãi mẹ... Thôi thì hàng thúng tội. Còn chị Nở thì khôn ngoan. Chị Nở nhiệm nhặt. Chị Nở biết thương mẹ, quý mẹ, vun vén cho mẹ.

-... Cái đứa khôn, có phải ai dạy nó mới khôn. Con cái Nở năm nó mới lên năm, bé lũn chũn vừa bằng cái nấm, ấy thế nhưng ra đồng thế này, gặp nhà ai rỡ khoai, con bé cũng tìm cách lần vào, xin. Người ta thấy con bé bẻo lẻo thì người ta lại cho, chốc con bé đã kệ nệ ôm về năm, bảy củ to kếch. Còn Bớt ấy à? Nhà đáng có thứ gì cất kỹ trong buồng, ai đến hỏi, mẹ còn đang chối không, con đã tông tốc đem ra cho người ta; người tử tế họ vay họ còn giả, phải cái người tham là thôi, mình mất không. Con, có đứa làm giàu làm có, lại có đứa chỉ có làm hại... Ðấy, cứ bảo sao con yêu con ghét?

Từ sau ngày chị Nở đi học lớp ươm tơ một tháng về, ra làm ở đội chăn.nuôi, mẹ lại càng quý chị. Trời mưa, mẹ thương chị đi hái dâu, ướt át tội nghiệp. Trời nắng, mẹ chép miệng chèm chẹp:

- Tội con bé? Nắng này mà ngồi ươm được mẻ tơ thì còn gì là hơi sức. Chỗ ươm tơ tao vào rồi, tao biết. Chỉ có ba gian, cũng kích thước như ba gian nhà này mà đây một lò, kia một lò, bảy, tám lò ươm, toàn lò đun than, các cô thợ ươm, cô nào cô nấy mồ hôi cứ đẵm như tắm. Chả trách con cái Nở này ăn không ăn được, gầy rộc đi đêm tao sờ, trên lưng nó phải có đến trăm cái mụn đầu đanh - đến đây mẹ lại lườm Bớt -Thế giá có bảo nhường nhịn cho con bé ít đường, mặt nó đã sưng lên bằng cái thớt!

Mẹ làm như cả nhà đói hay no là trông cả vào số điểm chị Nở làm ra, còn công Bớt chăn trâu, cắt cỏ, công Bớt đi mò, đi tát, đi cất vó, bỏ chỗ - chả ngày nào là ngày không được cá, được cua, hết bán lại ăn - thì mẹ không kể.

Bớt càng lớn lên, mẹ càng ghét Bớt. "Con gái đâu có con gái mười đêm đi ngủ lang cả chín, tao sợ lại không có ngày mà bôi gio trát trấu vào mặt tao ấy à?" Mẹ nhiếc thì nhiếc; Bớt vào dân quân, Bớt phải đi ngủ tập trung, ban đêm còn canh phòng tuần tiễu trong làng với chị em, Bớt chả làm chuyện gì xấu. Mẹ chửi Bớt: "Cha tông môn quân trắng mắt! Quân trắng mắt, việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng", Bớt chỉ lặng thinh, càng hùng hục làm cho mau việc nhà, nhưng đến lúc đứng lên đi họp, mẹ vẫn không hết chửi. Làm thế nào được? Ðoàn phân công cho Bớt công tác, Bớt phải làm, không lẽ Bớt bỏ? Mẹ chê tướng Bớt đi như tướng đàn ông, đúng tướng khổ, khổ thì khổ, Bớt là quân báo. Bớt còn tập sao cho Bớt đi nhanh nữa, đi nhanh như bay. Ðêm, mẹ nằm nhà, mẹ không biết: "anh" quân báo, ban đêm, bất cứ lúc nào, hễ có lệnh ới một tiếng là đã phải vùng dậy đi ngay. Không phải đi mà là chạy. Chạy sao cho từ xã lên huyện, lại từ huyện đem lệnh về xã, chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ, đi cho có tướng nhàn thì có mà... hỏng việc!

Chị Nở đã được mẹ chiều, lại càng hay về hùa ton hót với mẹ:

- Bu có bảo cái Bớt thế nào không? Tối qua họp đội bên sân kho, ông Thanh ăn cắp thóc của đội hay không thì kệ ông ấy, nó cũng nói. Nói, bà ấy mới chửi cho: "chị có bắt được tay, day được tóc chồng tôi không mà chị nói?". Bu bảo thế nó có dơ không?

Mẹ nghe chị Nở, mẹ lại lườm, chửi Bớt:

- Thế mới đẹp mặt giống mỏng môi ! cứ để người ta đánh, người ta xé nó ra, cho nó chừa cái tính hay hớt!

Mẹ chửi rồi, mẹ vẫn còn tức. Không chỉ tức một cái nhẽ "để vợ ông Thanh chửi cho" mࠣ򮠴ức v젮hiều nhẽ khᣮ Ừ, của - của hợp tác - ai khiến nó mà nó lanh chanh nó giữ? Cái năm nọ cũng thế. Mùa đến, con người ta đi mót đông mót tây cả, con nhà mình, ai giục, chỉ được mỗi cái Nở chịu đi (mà con bé đã đi là nó phải mót được bằng người ta chứ nó không chịu kém). Còn cái Bớt đã không đi, nó còn quay cổ lại nó đe con cái Nở: "Chị cứ đi đi, hôm nào sinh hoạt đội, tôi đưa ra!" Nó đe là con cái Nở lại sợ, lại rụt vào không dám đi. Con đâu có con tai hại!

Chị Nở lại xúi mẹ: Bớt đã khỏe đi họp, đi công tác thế, mẹ cứ cho phắt Bớt ra ăn riêng. Tưởng mẹ với chị nói đùa, Bớt cũng cười ngay thật:

- Ðược! Bu cứ chia thóc ra cho tôi, mai tôi ăn riêng ngay. Mẹ chửi:

- Ðừng có mà đòi tao chia thóc, tao vạc mặt ra bây giờ.

Chị Nở hùa vào:

- Mày làm điểm à? Ðiểm của con, còn thóc của bu, bu nhỉ?

- Phải rồi! Mai mấy đứa thổi cơm, dứt khoát đừng thổi cho con Bớt. Nó ở đâu có cơm ăn, đi công tác được thì nó ở. Tao già rồi, việc gì tao phải còm cọm làm nuôi báo cô nó mãi.

Người lành thì ra dễ cục. Bớt tức, khóc ầm ĩ:

- Bu đừng có con yêu con ghét? Ðược, đã thế xem sau này bu già, một mình cái Nở có nuôi được bu không, hay lúc ấy lại phải gọi đến tôi?.. Nay bu dọa đuổi ra ăn riêng, mai bu dọa đuổi ra ăn riêng... Tôi đi công tác chứ tôi có đi đánh đĩ?...

Bà mẹ cười khẩy:

- Phải, tôi chỉ đối xử thế thôi. Chị tức th젣hị đ⭠đầu xuống s�� xuống ao kia mࠣhết. À, chị lại đe tôi nữa kia! Mai sau tôi già cái Nở, thằng Tấn nó không nuôi nổi tôi thì tôi đi ăn mày thiên hạ tôi sống, tôi không thèm nhờ cái mặt chị đâu, tôi bảo cho chị biết thế...

2

Sang năm sau, cả Bớt và Nở đều đi lấy chồng. Nở lấy chồng bên kia sông - đám mà bà Ngải vẫn thường khoe với bà con một cách hãnh diện:

Ðám này nhà cháu nể nhời bà Lân bên ấy quá, phiên chợ trước, nhà cháu có rẽ vào... Vâng, cũng phải xem cửa xem nhà thế nào mới dám định đoạt cho cháu chứ ạ! Nhà bên ấy cũng còn lợp rạ, nhưng nhà xây năm gian, cửa toàn cửa kiểu mới, chả có kiểu cổ cửa bức bàn như ta thế n๠đ⵮ Ấy, hôm nọ bà Lân lại sang, nhà cháu cũng tiền tiện thế nào xong thôi, chỉ xin đôi hoa tai, cái nhẫn, hai thứ hai đồng cân, đôi áo bô-lin, đôi quần lụa, cái khăn len, cái áo len. Còn tiền mặt thì xin ba trăm. Ba trăm chỉ vào khoản giầu nước, với lại thế nào cũng phải chạy lấy dăm, ba mâm mời bà con trong họ khéo thiếu đấy ạ? Bà tính đời người mới có một lần, tôi cũng xin cho cháu gọi là cho cháu khỏi tủi... Không ạ! Ông bà bên ấy ưng ngay. Hoa, nhẫn thì người ta đã sắm trước - từ những ngày vàng mới lên năm mươi. Bảo chỉ khó có cái khăn len, đằng mười sáu đồng hai hào, đi tìm khắp mấy cửa hàng, lên cả cửa hàng bách hóa trên huyện cũng không có, chỉ có đằng mười hai đồng bốn hào, xấu hơn, họ lại không dám mua, lại nhờ bà Lân sang nói hay là họ gửi tiền, nhưng cháu nó không nhận.

Ấy là đám cưới cô con gái lớn. Nhưng đến đám cưới Bớt giá có ai nhắc đến, là bà Ngải mặt đã tái ngăn ngắt:

- Tôi có gả bán đâu, bà? Tôi không thừa con tôi gả cho đứa không cha, không mẹ, không cửa, không nhà cơ mà! Nói, bà tha phép, tôi bảo con cái Bớt: Ðấy, mày dại đi theo nó thì mày cứ theo, nhưng đừng có mở mồm xin tao một xu tao cũng không thí cho đâu... Ôi dào! Bà bảo cán bộ xã còn chả ăn ai nữa là cán bộ đội sản xuất! Nếu có tử tế, nó đã chả tự do đem con Bớt lên xã đăng ký...

*
* *

Ba năm sau, Tấn đi bộ đội. Dạo ấy, Nở mới đẻ đứa thứ hai. Bà Ngải vét tất hai ổ gà đẻ, mua thêm nữa đầy đủ năm chục trứng xếp vào cái bị có lót trấu, lễ mễ xách sang cho con gái. Tưởng ở chơi với cháu dăm ba bảy ngày đỡ nhớ rồi về, chẳng ngờ con rể, con gái giữ ở dịt. Bà giẫy lên:

- Còn gà, lợn của tao ở nhà?

Gà, lợn thì con rể dồn vào một gánh - bên rọ lợn, bên lồng gà gánh cả sang bên này nuôi khó gì.

Mùa đến, bà cụ cuống cuồng:

- Cho tao về, tao còn gặt ruộng phần trăm, còn xem hợp tác chia chác thóc lúa ra sao, rồi mùa tao lại sang, chứ bắt tao ở đây bây giờ thì tao chết.

Con gái, con rể lại thu xếp khéo léo:

-... Ruộng phần trăm - cả phần của cậu Tấn - được năm miếng chứ gì thì gặt mấy lúc! Còn thóc lúa hợp tác xã chia cho, bao nhiêu đã có phương án, giấy trắng mực đen rành rành đấy rồi, ai bớt xén được? Bà không phải về, để chúng con về, chỉ vài buổi là xong, được bao nhiêu, chúng con gánh tất sang đây, quây riêng ra cho bà, bà giữ.

Ðấy được hai cái mùa còn rành mạch, của mẹ riêng, của con riêng, chưa có chuyện gì xảy ra cả. Nhưng dần dà, lúa thóc của bà gộp lại với nhà nó lúc nào không biết. Con lợn nuôi đến cuối năm đem bán - nào có bán cho Nhà nước, lại bán thầm bán vụng cho mấy anh chuyên đi giết lợn lậu! - được một trăm bốn chục đồng. Món tiền ấy bà giữ trong người khéo chỉ được nửa tháng, rồi thì con gái vay, con rể vay, nay năm đồng, mai một chục, quanh quẩn mà rồi hết nhẵn.

Cho đến một hôm, ấy là hôm bà cụ nhận được thư của cậu con trai. Trước khi đi xa, Tấn gửi thư về xin mẹ một trăm đồng để mua đồng hồ với mấy thứ lặt vặt. Bà cụ quýnh lên, hỏi Nở. Nở làm ra bộ ngơ ngác:

- Tiền gì bà nhỉ?

Bà cụ gắt lên:

- Tiền bán lợn chứ còn tiền gì. Phiên chợ hôm mười sáu tháng giêng, chị hỏi vay tôi mười đồng, tôi đưa chị hai tờ giấy năm đồng thì một tờ có vết mực tím. Ðến phiên chợ hôm mười một tháng hai, anh ấy lại hỏi vay mười lăm đồng, bảo đi mua cái gì? có phải cái dũi dũi cắt tóc không nhỉ?... Lại cái hôm có ông cụ bên Sở...

Nở ngắt ngang:

- Con tưởng bà sang ở bên này với chúng con, tiền nong, thóc lúa mẹ con có gì thì tiêu chung, chứ ai biết đâu bà lại...

Bà cụ choáng cả người. Nó nói thế là làm sao? Chả có nhẽ ngay con gái mình nó cũng định cướp không của mình con lợn với mấy chục thùng thóc. Ruột bà nóng điên lên, bà bỏ bữa cơm trưa hôm ấy không ăn. Nở cũng lờ đi, bế con đi chơi hàng xóm. Ðợi đến tối, con rể về, bà lại hỏi, hy vọng nó là đàn ông biết điều, chắc nó phải thu xếp nó giả. Nhưng thằng chồng cũng chẳng hơn gì con vợ. Nó cũng làm bộ ra ngơ ngẩn - ngơ ngẩn ăn người - hỏi lại vợ:

- Kìa mình? Tiền gì mà mình nợ bà nhỉ?

Vợ nó nói buông xõng:

- Nợ gì? Bà muốn đòi thì đòi chứ nợ gì?

Bà cụ khóc lóc, làm toáng lên. Nghĩ tức mất của thì ít, mà tức con gái, con rể thì nhiều. Chẳng thà nó xin, nó lại dáo dở! làm toáng lên thì chỉ mệt bà; một đồng cũng không cạy được ở chúng nó. Thằng chồng còn hầm hầm chửi vợ:

- Ông đã bảo mày rồi, có sai đâu, rằng mấy đứa bé ấy thì tống nó vào nhà trẻ hợp tác! Cứ vẽ sự, để bây giờ điếc tai ông, điếc tai hàng xóm.

Nó chửi vợ nó thế là nó chửi mình rồi còn gì? Bà cụ điên tiết, chửi con rể, con gái một thôi, xong cắp quần áo về ngay tức khắc hôm ấy.

Về đến nhà, việc đầu tiên là bà cụ nhờ một em học sinh gần nhà viết cho bà một lá đơn - lá đơn thật dài kể các chi kỳ việc, kể hết.

Ðơn được viết xong, bࠧấp cất đi cẩn thận, định bụng mai thứ hai, Ủy ban huyện làm việc là bà lên tận nơi đưa đơn. Ðúng lúc ấy thì Bớt tìm đến.

Từ khi đi lấy chồng, dù ở đầu làng - cuối làng, Bớt cũng ít khi về nhà thăm mẹ. Bớt không giận gì mẹ, nhưng cứ nghĩ đến cái đận đi lấy chồng nhục nhã thì Bớt lại buồn tênh, lại chả muốn về chơi làm gì. Anh Sâm, hồi chưa đi nhập ngũ có lần cũng bảo với Bớt:

- Mẹ đã rẻ rúng thế thì thôi, đến in ít chứ. Ðến luôn, có khi mẹ lại tưởng hay là mình định bòn rút gì mà đến, thật đấy. Cứ để khi nào mẹ già mẹ yếu, không làm gì được nữa, lúc ấy mình hãy đến. Cần thì mình đem mẹ về, san sẻ nuôi mẹ. Tôi không phải cái đứa mẹ mày mẹ tao đâu, cô không phải lo.

Cho nên lần này, nghe biết chuyện, Bớt lật đật đến ngay. Vừa ngồi xuống phản Bớt đã hỏi mẹ:

- Bu định... bu định kiện chị Nở hay sao đấy?

Giá là ai khác, có lẽ bà cụ đã kể ra rông rốc một thôi. Kể cho nó hả, với để tìm lấy một thái độ đồng tình. Nhưng đằng này lại là Bớt: "Khổ! Xưa nay thì mình vẫn cứ ngỡ con cái Nở nó hiếu nghĩa!".

Bớt mở ghim băng, rút ở túi ra một cuộn tiền đưa cho mẹ. Thoạt đầu bà lão còn ngẩn ngơ, chưa chi đã ngờ cái Nở nó nghĩ lại, nó gửi tiền sang cho em nó giả mình? Nhưng đến khi Bớt bảo là "tiền Bớt bán đi ổ lợn chín con với một mớ ba mươi quả mít cho người ta buôn, bòn tất cả được trăm mốt bạc, đem lên xem bà có cần gửi đi cho cậu Tấn" thì bà cụ khóc, khóc rưng rức, và nhất định đẩy cuộn tiền ra, không lấy. Bà cụ muốn kêu lên rên rỉ: "Ôi! Xưa nay mẹ đối xử với con bất công, giờ mẹ lại cầm tiền của con thì ra mẹ là giống chó".

Bớt nhặt cuộn tiền, cố nhét vào túi áo mẹ:

- Còn kiện cáo thì thôi thôi, bu nghe con, chuyện mẹ con trong nhà, bu bới ra làm gì, rồi người ta cười cho chả bõ - Bớt đứng dậy cười to. Ðấy rồi bu xem, đố rồi chị ấy có bỏ được bu, bu có bỏ được chị ấy.

3

Vài hôm sau, bà cụ Ngải khóa cửa, xuống cuối làng ở với mẹ con Bớt, ngày nọ - ngày bà cụ còn ghét bỏ con gái ấy - thoạt nghe tin con rể đi bộ đội, lại nghe con gái được cử ra thay, làm đội phó đội sản xuất, thì bà cụ đã cười, mỉa mai:

- Con Bớt mà cũng làm đội phó, chả trách làng này bây giờ hết người!

Và cứ nghĩ đến cái tính lành chanh của Bớt ngày bé, bà cụ lại lẩm bẩm:

- Rõ mới thối!

Ngày ấy cũng có người đã hỏi:

- Sao bà không xuống trông cháu, đỡ dần cho cô Bớt? Chú ấy thì đi bộ đội vắng, cô ấy thì bận công tác đi suốt ngày, lại con cái...?

Bà cụ chỉ lặng thinh hoặc gượng gạo đổ lỗi cho con rể, con gái:

- Chị ấy có thèm nhờ đến tôi đâu? Cả anh ấy nữa, khi đi chẳng thà anh ấy bảo tôi lấy một câu "nhờ bà ở nhà" hay là sao? Ðã không nhờ đến tôi thì thôi, tội gì tôi lại phải ngửa tay ra xin việc ấy nhỉ?

Nhưng bây giờ, thoạt bước chân vào sân nhà Bớt, nhìn cái nhà khóa cửa để đấy, cái bếp thì gà qué bới tung hoăng, trấu lộn với gio, cái vung đất vỡ làm đôi nằm lăn lóc bên mấy ông đồ lốc, còn hai đứa bé, chả hiểu mẹ nó gửi nhóm trẻ ở tận đâu thì bà cũng nhận ra mình bây giờ mới đến với mẹ con nó là muộn quá.

Ừ, hoàn cảnh như con cái Nở thì việc gì mình phải đến bế con nó giúp nào? Không phải vợ chồng nó dáo dở với bà rồi bà mới nghĩ thế, nhưng cái Nở thì công tác gì, còn thằng chồng nó béo khỏe như vâm, cứ đợt nghe sắp tuyển binh, lại thấy nó nhăn nhó kêu đau tim, với thấp khớp... mưu mẹo trốn nghĩa vụ đấy!

Thấy mẹ đem quần áo, nồi niêu đến ở chung, Bớt rất mừng. Nhưng chị cố gặng mẹ cho hết lẽ:

- Bu nghĩ kỹ đi. Chẳng có sau này lại phiền bu ra, như chị Nở thì con không muốn...

Nghe con nhắc thế thì bà cụ lại ngượng. Bà cụ gượng cười:

- Mày khác, nó khác. Với có gì mà phải nghĩ hở con? Ðây này, bu cứ tính thế này: bao giờ đánh xong thằng Mỹ; bố con Hiên với cậu Tấn nó về, lúc bấy giờ ở đâu rồi hãy hay. Còn bây giờ thì bu cứ ở đây với mẹ con mày, chứ bu ở trên ấy một mình vong vóng cũng buồn, mà mẹ con mày dưới này thì lại bấn quá. Mày thì đã lắm thứ công tác. Lại còn lo làm lấy điểm lấy thóc nuôi con...

Từ ngày có bà đến ở chung, Bớt như người được cất đi một nửa gánh nặng trên vai. Giờ Bớt chỉ còn lo công tác với ra đồng làm, giá có phải đi họp hay đi học dăm, bảy ngày liền như lớp học chống sâu bệnh cho lúa vừa rồi, là Bớt có thể yên trí đùm gạo đi được, không phải như cái đận ngày xưa vừa họp đấy, mà bụng thì nôn lên với mấy đứa con còn vất vạ ra ở nhà, gửi liều cho hàng xóm. Mấy đứa trẻ được bà trông, chỉ vài tháng đã lớn, béo ra trông thấy. Cái Hiên con đã chập chững bước nhanh, cứ bà đi trước, cháu đi sau, hai bắp chân có ngấn, lảo đảo như anh say rượu. Còn con Hiên lớn, giống mẹ ngày xưa như đổ khuôn, da cũng ngăm ngăm đen, lông mày cũng rậm cũng to chỉ khác má không có cái bớt. Tội con bé, cả cái tính lủi thủi hay làm cũng giống mẹ. Mới bốn tuổi đầu đã nhớn nhao gì, cứ cái xảo với cái liềm cùn, lê la một mình ngoài ngõ cắt cỏ. Cắt được một dúm cỏ cháu lại khệ nệ bê xảo về, đổ vào chuồng lợn, bắt chước người lớn làm phân đấy. Bà sợ cháu mỏi tay, gọi cháu về ăn hạt mít, cháu mải cắt không về, bà nghĩ thương (có phải chỉ thương nó, mà là bà thương cái hình bóng ngày xưa của mẹ nó), bà lại ôm cháu, nựng:

- Cháu bà chăm làm quá? Mai kia hợp tác cân phân, đổi cho thóc, bà bảo mẹ mày cho hai đồng, bà cháu ta đi chợ mua đôi ngan con về nuôi, công cái Hiên cắt cỏ bỏ lợn nhỉ.

Chiều về, nghe bà kể chuyện, Bớt móc túi chìa ra cho con hai con niềng niễng chị vừa bắt được ở ngoài ruộng.

- Ðây con ngoan, mẹ cho con. Ừ, con đưa bà, chốc bà nấu cám bà nướng cho. Ðừng ăn sống. giun sống, nó vào nó đục bụng cho đấy, Hiên ạ?

Bớt kéo con vào lòng, vạch tóc con ra, và chỉ vào cái sẹo to bằng cái trôn bát ở gần đỉnh đầu, vô tình kể với bà:

- Còn bố nó ở nhà, bố nó thương con này nhất, bố nó cứ bảo: Tội! Con gái xấu xí.

Bà cụ thở dài, và buột ra cái điều mà bà vẫn lấy làm ân hận:

- Ừ, đáng ra thì thế, con nào chả là con. Có mẹ cổ nhân cổ sơ, ngày xưa mẹ mới dọa ra thế chứ!

Bớt vội buông bé Hiên, ôm lấy vai mẹ:

- Ô hay? Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ.

1966-1974





Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Ông gàn

Ngô Bằng Dực

Mắc tiếng gàn mà tự nghĩ không có điều gì gàn, thì ông gàn cho là đời nói càn, không để ý đến. Nhưng sau thấy vợ rầy-rựt, vì ông chồng gàn mà bà vợ bị giễu là "bà gàn", nên muốn tìm người hỏi xem mình gàn về nỗi gì. Một hôm dạo sơn-thủy, gặp một ông cụ ở trên một ngọn núi cao, bèn đem câu chuyện ra hỏi.

Ông cụ hỏi: "Thế anh có hay nói chuyện đạo-đức không?"

Ông gàn đáp: Thưa cụ, có.

- Thế là một tội gàn rồi! vì người ta đều nói chuyện lợi danh, sao anh lại nói chuyên đạo-đức.

Ông cụ lại hỏi: "Thế anh còn tròn không?"

- Thưa cụ, không, cháu tất phải bánh chưng ra góc mới được.

- Thế là hai tội gàn rồi! Sao người ta tròn như cây gỗ, lăn đâu cũng được, mà anh lại bánh chưng ra góc cho chướng đời.

Ông cụ lại hỏi: "Thế anh có hay ngâm thơ không?".

- Thưa cụ, có.

- Thế là ba tội gàn rồi! đời bây giờ người ta tranh nhau vì miếng ăn, giết nhau vì đồng tiền, nghĩ nát óc vì cách cướp ăn, vét tiền mà anh ngồi ngâm thơ thì sao hợp thời được. Cái gàn của anh ở đây chứ ở đâu. Anh phải biết: phàm trái với đời là gàn, dẫu mình phải mười mươi cũng mặc. Nhưng thôi! sẵn tiền đây, anh có bán cái gàn ấy, lão mua.

- Thưa cụ, nếu thế là gàn, thì cái gàn ấy bao nhiêu tiền cháu cũng không bán. Muốn tạ cụ có lòng chỉ giáo, cháu lại xin ôm cái gàn này về nhà.

Thực là:

Gàn cũng năm bảy đường gàn,
Bàn tay bưng miệng thế-gian được nào
Ðời này còn muốn thanh-cao,
Khen chê thôi có để vào chi tai.





Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0

Nước trong nguồn

Trần Hồng Long

Hôm đó là một chiều cuối tháng giêng. Tôi vừa ở đằng nhà máy chà gạo của ông già vợ tôi về, chưa kịp nghỉ ngơi thì có tiếng gọi ở ngoài sân: "Cậu ơi! Làm ơn cho tôi hỏi thăm một chút!". Tôi bước ra ngoài thì thấy một người đàn bà chừng năm mươi tuổi, tay xách một chiếc xách đệm - hoàn toàn không phù hợp với dáng vẻ quý phái của bà trong bộ đồ bà ba màu tím than bằng gấm ngoại nhập đắt tiền làm tôn thêm làn da trắng và gương mặt thánh thiện như Đức bà Maria của bà. Tôi hỏi: "Thưa, bà muốn hỏi thăm gì ạ?". Bà không đáp mà cứ đăm đắm nhìn tôi, rồi bước vào đối diện với tôi, môi lắp bắp: "Khanh! Con có phải là thằng Khanh không?". Tôi ngạc nhiên lẫn ngờ ngợ: "Bà là...?". "Má đây! Con không nhận ra má sao Khanh?". Bà buông rơi cái xách, giang hai tay ra định đón tôi, để ôm lấy tôi. Nhưng tôi đã lùi lại tránh vòng tay thân ái của bà, mặc dù lúc ấy ký ức của những ngày thơ trẻ sống bên bà đã cho tôi biết bà là má của tôi. Tôi nhếch môi cười, không ra vui cũng không ra buồn: "Bà là má của tôi thật sao?". Bà vừa gật đầu, vừa đưa tay chặn nước mắt: "Thật, má là má của con, của thằng Kha, con Vy, con Thắm đây!". Tôi gằn giọng mai mỉa: "Bà mà còn nhớ tới ba đứa nó nữa à?". "Làm sao mà không nhớ được hả con? Các con là núm ruột của má mà!". Tôi bảo: "Thôi bà vô nhà đi! Chuyện dài lắm, để từ từ tôi kể cho mà nghe, đã hơn hai mươi năm rồi còn gì!"...

Năm 1976, nhà tôi ở một vùng ngoại ô thị xã. Ba tôi chạy xe đạp ôm, còn má tôi thì bán xe nước mía dạo. Nhờ sự cần cù của ba má tôi, nên cũng đủ cho bốn anh em tôi đắp đổi qua ngày. Nhưng rồi định mệnh đã giáng xuống gia đình tôi. Chiều hôm ấy, ba tôi đang trên đường đạp xe về nhà sau một ngày cật lực mưu sinh thì bị một chiếc honda chạy ngược chiều tông phải. Kẻ gây tai nạn vô lương tâm đã rồ ga bỏ trốn, để lại ba tôi nằm ngất lịm bên đường. Những người dân tốt bụng đã đưa ba tôi vào viện cấp cứu... Hậu quả là ba tôi bị gãy cột sống, phải nằm bệnh viện mấy tháng liền. Để có tiền chữa trị cho ba tôi, mới đầu má tôi bán cái xe nước mía, sau thì bán luôn căn nhà. Vì ba má tôi đều là những đứa trẻ mồ côi lớn lên từ cô nhi viện, không có họ hàng để nương tựa, nên phải thuê nhà của dì Ba - một gái goá hàng xóm khá thân thiết với má tôi, làm nghề bán thuốc lá dạo ngoài bến xe - ở tạm, với giá rẻ như là cho không. Rồi ba tôi xuất viện trong trạng thái bất động toàn thân. Tiền bán nhà đổ vào thang thuốc cho người bệnh, cộng với năm miệng ăn của người lành chẳng mấy chốc đã hết. Má tôi đổ bánh bò đi bán dạo. Bạn thử nghĩ xem, một xề bánh bò hằng ngày thì làm sao có thể nuôi nổi một gia đình những sáu người? Vì vậy, chuyện chúng tôi ăn khoai, ăn cháo trừ cơm là chuyện thường. Trong lúc đói khổ như vậy, bỗng đâu có người đàn ông lạ đến ngỏ ý giúp đỡ má tôi một số tiền, nhưng má tôi nhất mực từ chối. Sau này, tôi được biết, ông ta là người tình cũ của má tôi. Vì chê má tôi là đứa con gái mồ côi mà ba má của ông ép ông phải cưới một cô gái khác, nhưng cuộc hôn nhân ấy không mang lại hạnh phúc cho ông, nên ông đã ly hôn. Vậy rồi, có một chiều má tôi đi bán bánh bò và đi luôn mấy ngày không về. Anh em tôi ngồi quanh giường ba khóc hết nước mắt. Còn dì Ba thì đi tìm má tôi khắp nơi.
Một hôm vừa bước vào nhà thì dì đã la chúng tôi: "Tụi bây đừng có ở đó mà khóc lóc nữa. Nó đã bỏ tụi bây đi theo thằng chả mất rồi". "Chị nói cái gì hả chị Ba? Vợ tôi đã đi theo thằng ấy rồi à?". Ba tôi hỏi dì mà như hét. Dì Ba nói: "Thì hồi nãy tôi đến nhà thằng chả, để nhờ thằng chả đi tìm má tụi nó tiếp tôi thì mới hay thằng chả đã bán nhà một tuần nay rồi. Má tụi nó không đi theo thằng chả thì theo ai chớ? Thiệt là, tình cũ không rủ cũng tới, chứ đừng nói chi đã rủ!". Không biết ba tôi có nghe hết những lời dì Ba nói hay không mà đôi mắt ông đã khép chặt lại. Và, cũng kể từ đó trong tâm thức tôi không còn chứa đựng hình bóng yêu thương của một người mẹ tần tảo sớm hôm, mà chỉ tồn tại sự thù ghét căm hờn đối với một người đàn bà đã đoạn đành bứt lìa những núm ruột của mình, chỉ vì một người đàn ông.

"Con hãy kể về cuộc sống của con, của các em con cho má nghe đi Khanh!". Tôi nói: "Chỉ e rằng bà không đủ can đảm để nghe thôi! Bà có biết không, khi ba tôi chết được hai ngày thì con Thắm bị nổi trái rạ, dì ba không có tiền đưa nó đi bệnh viện mà chỉ xin thuốc của mấy ông thầy lang. Trị hoài không hết, toàn thân nó lở loét đầy máu mủ đến nỗi không thể nằm trên chiếu được, tôi phải cắt lá chuối lót lưng cho nó, được ba hôm thì nó chết. Trước khi chết, nó còn khóc gọi má ơi!". "Thắm ơn, con chết thật rồi sao hả Thắm? Bà gào lên rồi lảo đảo khuỵu xuống nền nhà. Tôi đỡ bà đứng lên và dìu bà lại ghế ngồi, rót cho bà ly nước mát.
Sau khi con Thắm chết mấy tháng thì dì Ba cho thằng Kha cho một ông chủ lò bánh Pía ở ngoài thị xã - ngày người ta đến dẫn thằng Kha đi, tôi và con Vy cố giành giựt nó lại nhưng không được. Người ta cho dì Ba một số tiền, dì bèn làm vốn nhảy dù gạo lên Sài Gòn. Mấy chuyến đầu trót lọt, nên dì gom hết cả vốn lẫn lời đánh lớn một chuyến mong có tiền bắt lại thằng Kha. Nhưng không ngờ chuyến ấy đứt dù, trắng tay. Dì định cho tiếp con Vy, tôi nói nếu dì cho con Vy thì tôi sẽ dẫn nó bỏ nhà dì đi bụi. Dì còn dùng dằng chưa quyết thì may sao có người bà con của dì ở quê lên chơi bảo rằng sẽ làm mai cho dì một ông sồn sồn đã chết vợ mấy năm, không con cái nhưng có nhà cửa đất vườn hẳn hoi. Nếu dì chịu thì ông ta sẽ rước về quê ở luôn và hai anh em tôi cũng được theo dì. Nói cho ngay, những ngày sống chung với dì dượng, tuy rằng có cực nhọc một chút nhưng chúng tôi không bị đói. Năm hai mươi mốt tuổi, tôi cưới vợ - hay nói đúng hơn là vợ tôi đi cưới tôi, vì vợ tôi là con gái của một ông chủ nhà máy chà gạo, khá giả - nhà này cũng do ông già vợ tôi cất cho. Còn con Vy thì lấy chồng sau khi tôi cưới vợ một năm. Vợ chồng nó cất nhà riêng tuốt trong Xẻo Lá. Bên chồng nó chia cho ba công ruộng, nhưng vì đông con nên đầu tắt mặt tối quanh năm mà vẫn không đủ ăn.

"Còn thằng Kha, chắc là cuộc sống của nó có khá hơn?". Bà thở dài não ruột, rồi hỏi tôi. "Không đâu! Ngược lại còn bi đát hơn nhiều nữa kia - Tôi vừa nói thật, vừa cốt để hành hạ bà. Tưởng đâu nó về ở nhà giàu có thì sung sướng tấm thân. Ai dè người ta đày đoạ nó làm lụng cực nhọc ngay từ lúc nhỏ. Năm mười sáu tuổi thì nó bỏ nhà ông chủ lò bánh Pía mà đi hoang. Năm năm trước nó đánh đánh lộn gây thương tích cho người ta, phải ở tù hết ba năm!". "Trời ơi, các con của tôi vì đâu mà ra nông nỗi?". Bà lại khóc. Từ lúc đầu gặp tôi đến giờ lúc nào bà cũng khóc, tưởng chừng như nước mắt của bà đựng trong cái lọ để nằm nghiêng. Mặc dù tôi thừa biết bà đang rất đau khổ nhưng tôi vẫn không buông tha. "Vì đâu mà ra nông nỗi à? Vì chúng tôi không có mẹ đó, bà hiểu không". "Má hiểu, nhưng Khanh ơi... Mà thôi, cho dù má có nói gì đi nữa thì các con cũng không thể tin má. Mấy năm thằng Kha ở tù, con và con Vy có đi thăm nom gì nó không?". "Trong ba năm thằng Kha ở tù, tôi có đi thăm nó được hai lần. Còn con Vy, gạo không đủ ăn thì tiền đâu mà đi thăm nó chứ? Khi nó ra tù, tôi rước nó về đây ở để đi làm nhà máy cho ông già vợ tôi, chung với tôi. Làm đâu chừng hơn một tháng thì nó lại bỏ đi!". " Sao em con lại bỏ đi, hả Khanh?". "Vì nó đã quen lối sống giang hồ!" - Đó là tôi nói dối má tôi, chứ thật ra thằng Kha bỏ đi là do nó không thể chịu nổi khi hàng ngày nhìn thấy vợ tôi lấn lướt tôi, mà tôi thì cứ nhẫn nhịn, chịu đựng cho êm nhà, ấm cửa. Thật ra tôi cũng đâu phải là một thằng đàn ông nhu nhược, nhưng đã sống bên vợ đôi lúc cũng phải chịu sự lép vế. Vả lại, vợ mình mình sợ chứ có sợ vợ ai đâu mà lỗ chứ? - Má tôi hỏi; "Vậy, con có đi tìm em của con không?". Rồi má tôi hỏi thăm dì Ba. Tôi cho bà biết, dì Ba đã chết hồi năm ngoái, vì bệnh tim.

Chuyện vừa tới đó thì vợ tôi và hai con của tôi đi chơi nhà ngoại hồi sáng về tới. Vợ tôi ngỡ ngàng nhìn người khách lạ: "Ai vậy hả anh?". "Má của tôi đó!". Nghe vậy, vợ tôi lại càng ngạc nhiên hơn. "Sao anh nói má anh chết hồi anh còn nhỏ mà?". Má tôi nói: "Má đi làm ăn xa, đã lâu không về nên thằng Khanh tưởng má đã chết!". Tôi bảo hai đứa con tôi thưa bà nội. Hai đứa nhỏ liền khoanh tay thưa bà. Má tôi mở cái xách lấy ra hai ổ bánh mì mềm èo, xẹp lép cho chúng. Vợ tôi nhìn hai ổ bánh, rồi nhìn cái xách chau mày. "Má định ở đây chơi mấy ngày rồi đi?". Tôi biết, má tôi cũng hiẻu cái nhìn và ẩn ý của vợ tôi trong câu hỏi ấy, nhưng bà vẫn nói: "Má tính về đây ở luôn với các con!". Vợ tôi giương mắt: "Ở luôn? Vậy còn nhà cửa có má thì bỏ cho ai?". "Má đâu có nhà cửa gì đâu con. Mà thôi, nếu như các con thấy má ở đây không tiện thì má sẽ vô ở với con Vy!". "Cô Tư à?" Cổ "nghèo khạc ra tro" thì làm sao mà...?". "Con cứ yên tâm, cho dù ở với đứa nào thì má cũng tự làm ăn được. Má không bắt đứa nào phải nuôi má đâu!". Tôi nghĩ, có lẽ má tôi đã bị người đàn ông kia phụ bạc, đuổi xua nên mới tìm chúng tôi để nương nhờ. Ngày xưa tôi đã từng tự nhủ, sau này nếu có gặp lại bà, tôi sẽ không bao giờ nhận bà là má của tôi. Nhưng, trong hoàn cảnh này thì một chút, chỉ là một chút tình mẫu tử còn lại trong tôi, làm tôi cảm thấy mủi lòng. Tôi nói: "Thôi, má cứ ở đây với tụi con, rồi từ từ tính. Em vô nấu cơm, ăn cho sớm để anh đưa má vô nhà con Vy!". Vợ tôi quạu quọ bỏ ra nhà sau. Rõ ràng em không vui trước quyết định của tôi.

Nếu nói cuộc gặp gỡ giữa má tôi và tôi là ngỡ ngàng và xa lạ thì cuộc gặp gỡ giữa má tôi và con Vy mới khiên cưỡng, lạnh lùng làm sao. Con Vy không còn một khái niệm nào về má cả. Cũng phải thôi, vì lúc bà bỏ đi nó vẫn chưa đầy bốn tuổi mà bây giờ nó đã có bốn con rồi còn gì? Nó nói: "Kêu bà bằng má, làm tui mắc cỡ muốn chết đi được vậy!". Má tôi nói: "Không sao! Con kêu má bằng gì cũng được! Nhưng với má thì bao giờ con cũng là đứa con gái bé bỏng của má!". Con Vy cười như mếu : "Tui mà bé bỏng gì nữa hả trời? Già "cóp thùng thiết" rồi. Coi bộ tôi còn già hơn bà nữa không chừng!". Thằng chồng của nó thì ngồi im như khúc cây, giấu mặt trong bóng tối lờ mờ của chá đèn trứng vịt. Còn bốn đứa con gầy đét, đen thủi của nó thì túm tụm lại một chỗ trên chiếc giường tre, chóp chép nhai bánh mì của bà ngoại cho.

Việc má tôi về ở với vợ chồng tôi, làm cho không khí gia đình tôi khá là căng thẳng - chỉ là tại vợ tôi không ưa gì bà mẹ chồng từ trên trời rơi xuống với hai bàn tay trắng, mặc dù má tôi luôn tỏ ra là một người mẹ, một người bà hết lòng yêu con, thương dâu và quý cháu. Má tôi chăm sóc hai đứa nhỏ từng li, từng tí từ giặt giũ, tắm rửa cho đến ăn mặc. Vậy mà vợ tôi luôn cáu gắt, thậm chí là thiếu lễ độ với má tôi. Có lần con tôi đùa nghịch vấp té, vợ tôi đã quát má tôi: "Bà đó! Chỉ có mỗi việc là coi chừng hai đứa nhỏ mà cũng không xong nữa!". Má tôi vừa giỗ cháu vừa nói: "Xin lỗi con! Vì má đang bận chắt nước cơm ở nhà sau!". Vợ tôi chừng mắt gầm lên: "Đồ báo cô ăn hại!". Đến nước ấy thì tôi không còn chịu đựng được nữa, tôi giơ tay lên định tát vợ tôi, nhưng má tôi đã kịp ngăn lại: "Thôi, cho má lạy tụi bay đi, lỗi là do má. Nếu tụi bây còn cãi nhau nữa má đập đầu chết bây giờ!". Nói rồi má tôi lủi thủi đi ra sau bếp, tiếp tục chuẩn bị bữa ăn chiều cho chúng tôi.
Sau lần cãi vã ấy hai hôm thì má tôi hỏi mượn vợ chồng tôi năm chục ngàn để làm vốn đổ bánh bò bán. Tôi chưa kịp nói gì thì vợ tôi đã la lên: "Trời đất ơi! Bộ má muốn cho thiên hạ nguyền rủa vợ chồng tôi sao hả má?". Má tôi vẫn nhẹ nhàng: "Cái gì mà thiên hạ nguyền rủa hả con? Má biết, vợ chồng con nuôi má cũng đầy đủ lắm. Nhưng má còn sức thì phải biết bươn chải chứ. Vả lại, bán bánh bò là nghề của má, giờ nghỉ ở nhà ngồi không cũng buồn!". Vợ tôi nói: "Đó là tự má muốn đó nghen! Tui mà nghe má kêu rêu là vợ chồng tôi bắt má làm là không được với tôi đâu à!". Nói rồi vợ tôi móc tiền ra đếm đủ năm chục ngàn dằn trước mặt má tôi. Má tôi lấy tiền, bơi xuồng ra chợ rồi đem về nào cối xay bột, cái bồng, cái thau và cả gạo nữa... để làm bánh. Chẳng biết má tôi thức dậy xay bột đổ bánh từ lúc nào mà trời vừa tờ mờ sáng thì bà đã đổ và cắt xong những ổ bánh. Rồi bà chất đầy một cái thau nhỏ, chống xuồng vô Xẻo Lá cho mấy đứa con của con Vy. Khi bà trở về thì trời cũng đã sáng rõ, bà xếp bánh vào thau bưng dọc theo xóm bán dạo và không quên để lại nhà cho hai đứa con tôi những miếng bánh đã chan sẵn nước cốt dừa. Hễ bán hết bánh trở về thì má tôi lại lao vào công việc nhà và chăm sóc hai thằng cháu nội. Rồi lại ngâm gạo, chuẩn bị đổ những ổ bánh cho ngày mai. Tối tối, lúc đã xong hết công việc nhà, má tôi lại sang nhà hàng xóm - chuyên chầm lá vàng đốp bán cho ghe chở đi miệt trên - để chầm mướn tận mười một, mười hai giờ khuya mới về. Vậy mà sáng ra bà vẫn có bánh để bưng đi bán. Đâu chừng hơn mười hôm thì bà trả năm chục ngàn tiền vốn đã mượn của vợ tôi. Và, dường như đã thành quy luật, cứ cách một tuần thì bà mua gạo, dầu lửa, nước mắm, tiêu ỏi, bột ngọt... đem vô Xẻo Lá tiếp tế cho con Vy - nhưng xem ra sự lo lắng của bà đối với nó cũng không làm cho tình cảm của nó đối với bà khá hơn. Mỗi lần tôi gặp con Vy, nó đều bảo, hồi đó bà bỏ anh em mình đi bây giờ bà muốn chuộc lỗi đó mà - và cứ cách hai tuần thì bà lại ra thị xã, đến nhà ông chủ lò bánh Pía, hỏi thăm tin tức của thằng Kha. Lần gần nhất má tôi về với vẻ mặt đầy đau khổ: "Thằng Kha phạm tội giết người, đang bị Công an truy nã, bây giờ không biết nó trốn chui, trốn nhủi ở đâu? Trời ơi, con tôi!". Bà nói rồi ngã vật xuống giường, nức nở.

Rồi, một thời gian sau, tôi không nhớ rõ là bao lâu, má tôi ốm đi nhiều. Da không xanh, nhưng lại tai tái màu nghệ non, hai mắt đờ đẫn có màu vàng nhạt. Có lúc đang làm việc gì đó bà lại bỏ tắt ngang leo lên giường nằm thở dốc, lại có lúc tôi thấy bà chải đầu mà tóc rụng ra cả nắm. Tôi nói: "Má bệnh rồi, để con đưa má lên huyện khám, nghen má!". Má tôi trấn an tôi: "Không sao đâu con! Má lên chùa hốt vài thang thuốc uống sẽ khỏi thôi mà!". Chiều bà lại lên chùa hốt thuốc đem về và tự sắc uống một mình. Thấy bà đang trong thời gian uống thuốc mà vẫn không chịu nghỉ ngơi, tôi khuyên: " Thôi, má nghỉ đi, chừng nào khỏe hẵng hay!". Bà bảo: "Má phải dành dụm chút ít tiền, nó rất cần cho thằng Kha sau này, con à!". Tôi hiểu, má tôi nói như vậy có nghĩa là bà đã biết một ngày nào đó thằng Kha sẽ bị tù và bà cần tiền để thăm nuôi nó.

Mặc dù má tôi uống thuốc đã nhiều thang, nhưng sắc diện vẫn không khá hơn, ngược lại càng lúc càng kém đi nhiều. Một đêm, tôi giật mình tỉnh giấc thì gnhe tiếng rên khe khẽ ở dưới nhà sau. Tôi tốc mùng chạy xuống thấy má tôi đang nằm trên giường vẻ đầy đau đớn, bên cạnh bà là thau gạo đang xay dở dang, nước bột trong cối vẫn còn nhểu ton tỏn. Tôi gọi bà: "Má, má sao vậy, hả má?". Bà thều thào: "Má hơi mệt một chút thôi con!". "Để con đưa má đi bệnh viện!". Má tôi gượng dậy cản tôi, nhưng không được. Tôi biết bệnh của bà đã nặng lắm rồi, nên bồng bà xuống xuồng đưa lên huyện ngay trong đêm.

Má tôi nằm ở bệnh viện huyện được hai ngày thì người ta chuyển lên bệnh viện tỉnh. Sau khi đã làm đủ các xét nghiệm, một bà bác sĩ gọi tôi lên phòng làm việc của bà cho biết, bệnh của má tôi cần phải kịp thời chuyển lên Sài Gòn điều trị thì mới khỏi. Tôi hỏi bà, lên Sài Gòn thì tốn bao nhiêu tiền, bà bảo, chừng vài chục triệu. Vài chục triệu thì tôi không thể nào kham nổi. Vì vậy, tôi đành phải đưa má tôi về nhà sống những ngày còn lại. Chở má tôi về nhà chưa được nửa ngày thì vợ tôi đã đùng đùng thu xếp đồ đạc, chuẩn bị dẫn hai đứa nhỏ về ở bên nhà mẹ đẻ. Má tôi nói: "Vợ thằng Khanh à, con kỹ càng như vậy là phải.
Nhưng má đã tính rồi, má sẽ vô chùa nằm chờ ngày theo ba con và con Thắm!" - Nhà tôi ở gần ngôi chùa cổ, đã từng nhận nuôi những người già yếu, những người bệnh tật mà không muốn lụy phiền cho người thân. Tôi nói: "Má tính như vậy không được đâu má! Dù sao thì má cũng còn có hai con, có con Vy mà!". "Má biết, má vẫn còn hai con, và cả hằng Kha nữa. Nhưng để má vô chùa nằm cho các vãi sắc thuốc, biết đâu phước chủ may thầy, má sẽ qua khỏi!". Suy đi nghĩ lại, lời của má tôi nói cũng phải

Hàng ngày, ngoài những giờ đi làm ở nhà máy, tôi đều tranh thủ lên chùa thăm má tôi. Còn con Vy thì chỉ thỉnh thoảng, chẳng trách vì hoàn cảnh của nó khổ hơn nhiều. Lần nào gặp tôi, má tôi cũng nhắc tới thằng Kha, rồi khóc. Mặc dù được các vãi tận tình chăm sóc, nhưng càng lúc má tôi càng teo tóp lại. Những ngày sắp đi bà chỉ còn da bọc lấy xương. Có lần tôi hỏi: "Má sống với người chồng sau này có con cái gì không? Nếu có thì má cho con biết tụi nó ở đâu để con đi cho hay!". Má tôi chỉ khóc mà không nói. Thấy vậy, tôi cũng không hỏi thêm.

Một hôm tôi ở đằng nhà máy về muộn - vì phải xay cho hết lúa của một bà hàng xáo - ăn vội mấy chén cơm, tắm rửa qua loa, rồi ra cây rơm vấn con cúi để lên chùa thăm má tôi. Vấn chưa xong con cúi thì thấy lù lù một người vai quảy túi xách, đầu đội nón sùm sụp bước đến bên tôi, gọi khẽ: "Anh Hai!". Thì ra là thằng Kha. Tôi buông rơi con cúi lôi nó tuồn tuột vào nhà, cài chốt cửa lại. Vợ tôi buông một câu mất dạy vô cùng: "Cô hồn nào nữa đây?". Có lẽ vợ tôi không nhận em tôi, vì râu ria lởm chởm. "Thằng Kha đó! Làm ơn tóp cái miệng lại giùm chút đi!". Thằng Kha móc con giao bấm thảy lên bàn cái cộp. Vợ tôi run như cua nướng, hai hàm răng va vào nhau lập cập. "Chị đừng sợ! Tôi sẽ không làm gì chị đâu, nếu như chuyện tôi về đây chị không nói cho ai biết!". Vợ tôi gật đầu lia lịa. Rồi em tôi kể vì sao nó phạm tội giết người.

Sau khi bỏ nhà đi, em tôi xin làm lơ xe được một thời gian thì nó quen với hai anh em nhà thằng kia, là dân đầu trộm đuôi cướp - thằng em trước đây cũng là dân tài xế. Cả bọn bàn nhau thuê xe mười hai chỗ ngồi chạy tuyến Sài Gòn - Cà Mau để hành sự. Lần ấy, lên xe của chúng, ngoài những hành khách là người trong nước, còn có một bà Việt kiều chở theo nhiều đồ đạc, trong đó có chiếc vali mà lúc nào bà cũng ôm kè kè bên mình. Dưới con mắt nhà nghề, bọn chúng hiểu trong đó đựng gì. Xe chạy đến địa phận tỉnh... thì trời sụp tối, bọn chúng đưa mời khách những chia nước suối đã bơm sẵn thuốc mê. Khi khách đã mê man, đến đoạn đường vắng chúng hè nhau thả họ xuống đường sau khi đã lột sạch tư trang, tiền bạc. Rồi cả bọn về chỗ chia tài sản vừa cướp được. Khi đã cạy được nắp chiếc vali, ngoài những thứ quà cáp đắt tiền mang từ Mỹ về chúng còn đếm được tất cả hai trăm ngàn đô la. Hai anh em thằng kia chơi tồi, định cuỗm sạch số tiền đó nên một cuộc ẩu đả đã xảy ra. Em tôi vốn giỏi võ nên giết chết thằng anh và đánh cho thằng em què quặt. Song, lại bị lực lượng tuần tra của Công an phát hiện, trước khi chạy trốn em tôi đã kịp mang theo hai trăm ngàn đô la. Nó thay tên đổi họ ẩn náu rất nhiều nơi, cuối cùng thì thì cũng bị nhận dạng, nên nó chạy về đây tạm vài hôm rồi sẽ tìm đường qua Miên. Thật lòng tôi không chấp nhận việc làm của nó. Và, tự trong thâm tâm tôi rất mong có tiền để trị bệnh cho má tôi. Tôi bèn kể cho nó nghe chuyện má tôi về đây... Cuối cùng, tôi nói: "Hay là em để lại một ít tiền để anh đưa má đi Sài Gòn trị bệnh!". Nó nạt: "Tôi không có má nào hết há! Nếu tôi có má thì tôi đâu bị người ta bán đi, tôi đâu bị người ta đày đoạ, để rồi cuối cùng tôi phải đi hoang, tôi phải là một tên ăn cướp, một tên giết người đang bị truy nã chứ? Bà chết hay sống không liên quan gì tới tôi, cũng như tôi sống hay chết đâu liên quan gì tới bả!". Tôi biết trong nhất thời khó mà làm cho thằng Kha chấp nhận một người mẹ đã từng bỏ rơi nó, nhưng chưa kịp thì đã nghe tiếng của cô vãi từ ngoài sân vọng vào: "Cậu Khanh ơi! Cậu lên chùa ngay đi! Má của cậu đang hấp hối ở trển!". "Như vậy là không còn kịp nữa! Nghĩa tử là nghĩa tận, em hãy đi gặp má lần sau cùng, đi Kha!". Em tôi còn chần chừ, tôi bèn nắm tay nó đứng lên, vợ tôi cũng dắt hai con cùng theo. Chúng tôi vào phòng của má tôi. Mắt má tôi nhắm nghiền, bà hỏi: "Vợ chồng thằng Khanh đến chưa hả Vy?". Tôi nói: "Tụi con đến rồi nè má! Má coi con đưa ai đến đây nè!". Má tôi mở mắt và rút bàn tay gầy guộc ra khỏi mền nắm lấy tay thằng Kha. "Trời ơi! Thằng Kha, con của má đây sao?. Còn thằng Kha thì máy móc đưa tay cho bà và nói như người trong cơn mê sảng: "Tại sao? Sao lại là bà được chứ? Trời ơi!". Tôi hết ngỡ ngàng nhìn thằng Kha, rồi nhìn má tôi: "Má! Chuyện gì đã xảy ra vậy hả má? Má hãy nói cho chúng con biết đi má!". Má tôi vẫn nắm chặt tay thằng Kha và đảo mắt một lượt nhìn tất cả chúng tôi. Rồi, bằng một giọng chậm dần đều má tôi kể về quãng đời nghiệt ngã của mình.

" Các con có biết không, chiều hôm ấy má bưng xề bánh bò đi bán. Đi rất xa mà bánh vẫn còn nhiều, má sợ bán không hết thì sáng mai sẽ không có tiền đong gạo cho các con, nên mặc dù trời đã sụp tối má vẫn quẹo xuống đường sông, với hy vọng bán thêm chút ít nữa. Nhưng, không ngờ, má lạc vào bãi đáp của một nhóm người chuẩn bị vượt biên. Vì sợ bị lộ nên họ định thủ tiêu má. May sao có một người đàn bà bảo rằng, giết người trước lúc ra đi là một điều hết sức xui xẻo, tàu của họ sẽ không đến được bến bờ cần đến, hay là để cho má cùng đi luôn. Má van xin họ hãy thả má ra cho má về, vì chồng của má đang bệnh ở nhà, các con của má còn nhỏ. Má hứa với họ là sẽ không nói cho ai biết chuyện này. Mặc cho muốn van xin khóc lóc, họ vẫn đẩy má xuống hầm tàu. Không biết qua bao nhiêu ngày đêm thì tàu cập đảo. Và, má cũng không nhớ mình đã ở trong trại tị nạn bao nhiêu năm thì mới được gọi phỏng vấn. Những thuyền nhân nói với má rằng, nếu má khai thiệt chuyện của má bị ép lên tàu thì họ sẽ nhốt má trong trại đến suốt đời. Cuối cùng thì má được định cư ở Mỹ. Hàng chục lần má gửi tiền về cho các con - qua dì Ba thì cũng hàng chục lần bị hoàn trả, vì không có người nhận. Rồi khi Nhà nước mở cửa cho Việt kiều về thăm quê má đã ba lần về Việt Nam tìm các con, thì cũng ba lần má đều phải trở về Mỹ với niềm đau khôn tả. Nhưng bằng linh cảm của một người mẹ, má tin rằng một ngày nào đó má sẽ tìm được các con. Quả nhiên một hôm má cũng gặp được một người quen cũ, hiện đang sống ở Mỹ, biết được dì Ba đã lấy chồng và đem các con về xứ này... Má lập tức rút hết tiền ở ngân hàng mà gần hai mươi năm má dành dụm là hơn hai trăm ngàn đô la để về Việt Nam cùng sống với các con, cho bõ những tháng ngày khắc khoải nhớ thương. Má dùng số tiền lẻ để mua vé máy bay và quà cáp cho các con, còn số chẵn má để trong vali để chia đều cho bốn đứa - Vì bà ấy không nói cho má biết là con Thắm đã chết, có lẽ bà ấy không nỡ làm cho má đau lòng khi vừa biết được tin của các con. Khi má xuống phi trường Tân Sơn Nhất cũng đã ba giờ chiều, lẽ ra má phải nghỉ ở Sài Gòn, nhưng vì nóng lòng muốn gặp các con nên má lên xe đi luôn... Khi má tỉnh lại thì thấy mình nằm trong bệnh viện. Bác sĩ bảo, lúc trời sáng có anh xe lôi thấy má và mấy người nữa nằm bất tỉnh bên vệ đường, nên đưa vào bệnh viện cấp cứu, rồi, có một người đi nuôi bệnh thương tình cho má ba chục ngàn để đi tìm các con!".

Tiếng sụt sùi của những người đàn ông, tiếng nức nở của những người đàn bà hoà cùng tiếng cú kêu ở ngoài hậu viên nghe não nùng bi thiết làm sao. Và, tôi cũng đã hiểu rồi, chuyện ông ấy - người tình cũ của má tôi ngày trước - bán nhà đi đâu đó hoàn toàn không có liên quan gì đến má tôi, đó chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên mà con tạo đã tàn nhẫn sắp bày. "Má ơi! Sao má không nói cho chúng con biết để chúng con cứ mãi trách móc, oán hờn má?". Má tôi nói: "Làm sao má có thể nói được khi mà tiền bạc đã mất, hộ chiếu cũng không còn hả con? Kha ơ! Hãy nghe lời má, ra đầu thú để hưởng lượng khoan hồng, mong có ngày về đoàn tụ với anh, với em của con! Con có hứa với má không Kha?". Thằng Kha gục đầu lên ngực má thổn thức: "Dạ, con hứa, con hứa với má, má ơi!". Má tôi thở hổn hển, gấp gáp: "Vợ chồng thằng Khanh nghe má dặn nè, tụi con là anh, là chị thì phải biết chăm sóc các em của mình, nghe con!". Vợ chồng tôi cùng nói: "Dạ, con hiểu rồi, má ơi!". Má tôi nở một nụ cười mãn nguyện, rồi bà như hét lên: "Khanh ơi, Kha ơi, Vy ơi! Các con đâu hết rồi? Sao má không thấy đứa nào hết vậy? Các cháu ơi, sao bà cũng không thấy đứa nào hết vậy?". Tay má tôi từ từ vuột khỏi tay thằng Kha. Nó gào lên điên dại: "Má ơi! Con đã giết chết má rồi, má ơi!". "Má! Má ơi! Má không thể chết được đâu!". Chúng tôi cùng lay gọi bà, nhưng bà đã ra đi về miền vĩnh cửu.




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Có một đêm như thế !

Phạm Thị Minh Thư

Có lẽ dừng ở đây thôi nhỉ? - Ðấy, bây giờ công việc tiến triển nhanh hay chậm là tùy thuộc vào việc cung cấp số liệu của bên các chị.

Gập quyển sổ lại, cẩn thận nhét cây bic vào túi áo ngực - Phụng vừa cười, vừa nói với tôi. Tuy mới ra trường, tuổi đời và tuổi nghề so với anh chỉ đáng mặt làm "cháu" nhưng bao giờ Phụng cũng gọi tôi bằng "chị" hết sức trịnh trọng. Cũng có thể với anh đó là thói quen xưng hô trong cuộc sống hàng ngày nhưng về phần mình - mỗi lần sang công tác ở cơ quan này tôi không khỏi cảm thấy tí chút khoai khoái. Chả gì tôi cũng đại diện cho một cơ quan cấp cao hơn.

Công việc kết thúc, chúng tôi quay sang nói chuyện phiếm. Cùng làm việc với tôi hôm nay, ngoài Phụng còn có một người nữa - kỹ sư Vịnh, tuổi trạc ba mươi, Vịnh không hay nói lắm. Tôi chưa khi nào thấy anh tham gia vào những chuyện ngoài lề. Ðặc biệt hôm nay hình như ở con người kín đáo ấy còn có điều gì khác thường, Vịnh cứ lặng lẽ hút thuốc suốt. Ngay cả trong công việc anh cũng không đưa ra nhiều ý kiến tranh luận như những lần khác. Bởi vậy khi nói "chúng tôi" thì có nghĩa là chuyện phiếm chỉ có giữa tôi và Phụng. Sự và Linh - hai kỹ sư khác có mặt trong phòng đang ngồi mài mực tàu. Trước mặt họ, trên bàn la liệt những bản vẽ.

Thế anh chị, cái ông học sinh vật ấy liệu chiều nay có rẽ ngang, rẽ tắt đâu không nhỉ? Qua nhà gặp được ông ta để hỏi cặn kẽ về cách ươm hạt thì tuyệt.

- Cả phòng này, tiếp sau lời Phụng - Vịnh đột ngột lên tiếng - Mình có cái này, còn gần một tiếng nữa, liếc mắt vào đồng hồ nơi tay Vịnh tiếp - Mình đọc cả phòng nghe nhé.

- Cái gì vậy? Một bài báo mới hả? Ngón tay trỏ đang giơ lên định đỗ xuống đầu tàn điếu thuốc dừng lại - Phụng xăm sắn hỏi. Rồi chẳng đợi câu trả lời của Vịnh anh quay sang tôi. Chắc chị không biết nhỉ? Anh Vịnh của chúng tôi đây "tâm hồn" lắm. Thơ, văn đủ cả. ấy, xin lỗi, cái tật cứ hay nói thành lời những điều chỉ nghĩ, cậu nói bao lần vẫn không sửa được! Nhưng thôi, dẹp qua chuyện vặt. Cậu đọc đi. Ðừng để ý đến đồng hồ. Quá giờ một tý có chết đâu!

- Phải đấy, Vịnh đọc đi - Sự sốt sắng. Bọn mình vừa mài mực vừa nghe cũng được chứ?

Vẫn ngồi ở chỗ mình, tuy nhiên cả Sự và Linh đều đã thay đổi tư thế, họ quay cả về phía chúng tôi.

- Cái này, có thể coi là... Thôi, Vịnh khẽ chặc lưỡi, khỏi dài dòng, cứ đọc nhé.

Rút trong túi đi làm ra một tập giấy, sắp xếp lại những trang phía trên, nhìn đi đâu đó giây lát, Vịnh bắt đầu.

- Có một đêm như thế - Ðây là tên của truyện ngắn, Vịnh dừng lại giải thích và bắt đầu đọc vào chuyện:

Một buổi tối mùa hạ. Trời oi ả lạ thường. Cái oi ả nung nấu suốt cả một tuần lễ vừa qua theo dự báo của Nha khí tượng, ngày mai bão sẽ về. Ngày mai bầu trời sẽ cao và xanh. Rất cao và rất xanh. Những dải mây "si" trắng và mảnh như những rẻo voan nhỏ sẽ bay về. Thế rồi bão sẽ đến. Bất ngờ nhất trong những bất ngờ là bão tố.

Qua ô cửa sổ, Miên nhìn lên bầu trời. Những đêm như thế này mà được nằm ngoài trời thì thật thích.

"Những đêm thế này được nằm ngoài trời, thật thích" Vịnh chữa lại. Sau câu vấp giọng anh có vẻ nhanh hơn:

Dưới bầu trời rộng lớn, uy nghiêm có thể sẽ thao thức, thao thức mãi, lại cũng có thể thiếp đi ngon lành như trẻ nhỏ. Nơi Miên đứng, thẳng xuống là vòi nước công cộng. Mới sau giờ ăn cơm, người rửa bát, người giặt giũ, cái vòi nước ồ ồ chảy suốt. Tiếng thùng, chậu va loảng xoảng chen trong tiếng người chạo nhau về những chuyện xảy ra trong ngày. Lương tăng một trăm linh năm phần trăm, nhưng mấy bà tài vụ tính thế nào lại quên quách không cộng mười hai phần trăm khu vực cho bà Nga, cái bà có giọng nói rin rít như bản lề khô dầu; giá thịt ngoài hạ nhanh đến ngạc nhiên; tình hình Ba Lan xem ra thật đáng lo ngại quá, chẳng hiểu Bộ Chính trị mới sẽ xoay xở ra sao; xuyên tâm liên thực ra là thuốc kháng sinh đấy, vậy mà sao con bé nhà tôi uống đến ngày thứ ba vẫn chưa hạ sốt... Những âm thanh hỗn tạp, và bầu trời đang mở ra trên tít tắp kia - có gì liên quan nhỉ?

"Ngày đêm ta bên nhau, những đêm dài chiến đấu"...

Giọng hát của một ca sĩ nào đó bỗng réo lên. Tội nghiệp cho cô gái. Cô ta không sao xoay xở nổi với chiếc máy hát cũ kỹ. Ðứng ở đây Miên vẫn nhìn được đôi mày đen rậm như con trai của cô gái trên căn gác hai chênh chếch kia. Gia đình cô mới chuyển đến, Miên chưa quen họ.

... "Thời gian trong cách trở đốt cháy lửa tình yêu...".

Giờ thì có đỡ hơn. Song vẫn chệch choạng như thể người sắp ngã. Giai điệu tha thiết ấy, trái tim tha thiết thế, mà lại vấp phải cái đầu máy hát ngỗ ngược. Ðến hỏng đĩa hát thôi! Mà sao máy hát của cô gái chỉ quay với một đĩa. Chỉ quay với một đĩa như thế mấy đêm rồi?

Giá như lúc này cái đầu máy hát tỏ ra biết điều, để giọng hát được cất lên như nó đã từng cất lên. Giá như lúc này được nhìn sâu vào đôi mắt của người hát và đôi mắt của cô gái còn mang đầy vẻ "cô bé" kia! Những lời ca tuyệt đẹp không bay đi, cũng không tắt bao giờ. Nó đọng lại, đọng mãi trong đáy mắt của người hát và người nghe.

Thời gian - Cách trở - Tình yêu... Vượt lên trên tất cả. Ngọn lửa không gì dập tắt nổi trong lời hát của người con trai ấy, nó có thật trong cuộc đời không nhỉ? Ngày mới lớn cùng với "những vì sao của Ðôđê", Miên đã yêu vô cùng câu chuyện cổ tích về Chử Ðồng Tử và nàng Tiên Dung. Theo Miên, tình yêu phải là như thế: Giản dị và hồn nhiên. ấy thế mà sau này Miên đã gặp ở mình một tình yêu hoàn toàn ngược lại. Và buồn thay, khi thần tượng sụp đổ trong Miên thì cũng là lúc những năm của tuổi thanh xuân đã trôi qua.

Nước vẫn ồ ồ chảy xuống thùng và chậu. Chuyên đề về thời sự vẫn sôi nổi tiếp tục. Ðầu máy hát trở về điểm xuất phát của nó. Hành khúc ngày và đêm của cô gái lại chấp chới cất lên. Trong âm thanh hỗn tạp ấy, những ý nghĩ của Miên sẽ tiếp tục đan nối. Chẳng có gì vội vàng cả. Ðêm này là của riêng Miên. Bầu trời trên kia... Ngày mai...

Cũng không biết Miên sẽ còn đứng bên ô cửa sổ bao lâu nữa, và tiếp sau những dải mây "si" những gì sẽ bay đến trong ý nghĩ của chị, nếu không có tiếng gõ cửa vang lên.

Trong ánh sáng vàng ệch tỏa xuống từ chiếc bóng đèn cũ kỹ trên mái vòm bụi bậm, gương mặt của người khách lạ có những đường nét thật quen. Mũi ngắn và hếch. Một nốt ruồi đen sậm ngay trên khóe miệng, kéo chiếc miệng hơi lệch về bên phải (cái miệng gây cho người ta cảm giác nó đang giấu một tiếng cười sau vành môi rộng). ánh mắt sâu và trầm tĩnh thoát ra khỏi cả cặp kính cận. Một cậu bé, hay một chàng trai - đã gặp ở đâu rồi khuôn mặt này.

- Thưa cô...

Một sinh viên... Không, Miên đã gặp khuôn mặt này ở một khoảng thời gian nào đó khác cơ. Quỷ bắt cái trí nhớ của chị đi! Sao hôm nay nó lại tồi tàn thế.

- Mời bạn vào. Chắc đợi tôi đã lâu?

- Em mang bài đến nộp. Em nộp bài sau thế này...

- ồ, không sao đâu, tôi cũng chỉ muốn biết tình hình học của lớp thôi. Vừa nói, Miên vừa dẹp nhanh mặt bàn lộn xộn. Cô Ngọc đi an dưỡng, tôi sẽ dạy nốt phần còn lại của giáo trình cho lớp. Sáng nay chắc bạn nghỉ. Tên bạn là Long... Ngồi xuống đi Long.

Nhưng... sao lại thế này? - Sau thoáng liếc nhanh nơi góc vẫn đề tên và lớp, Miên hết sức ngạc nhiên. Dưới phần câu hỏi "hãy nói về hiện tượng nguyệt thực" - bài viết chỉ vẻn vẹn mấy dòng:

"Trên mặt trăng không có hoàng hôn...".

- Cạch! Cạch! Cạch!

Ai đó gõ vào cửa phòng làm việc ba tiếng. Giọng đọc đang dập dồn của Vịnh bị cắt ngang.

Sự đứng dậy đi về phía cửa.

- Gì thế? - Tiếng Sự hỏi ai đó.

- Tiền! Tiền! Tiền!

Tiếp theo ba tiếng "tiền" mạnh như tiếng gõ cửa, một thanh niên thấp nhỏ, tay cầm nắm tiền bước vào. Nhìn thấy tôi anh ta gật đầu chào, rồi đi lại bàn Sự.

- Cậu nộp tiền may ô nhé!

- Bao nhiêu?

- Hai mươi đồng. Phòng này chỉ còn mình cậu. Bốn đồng lưỡi dao cạo nữa là hai tư. Mà cho tiền lành đấy - Ông cứ nắm cả đống thế kia tiền nào lành nổi, lưỡi dao cạo... thôi khoản này "nghỉ".

Vừa nói Sự vừa móc ví, đếm đủ hai mươi đồng đặt trước mặt anh cán bộ đời sống. Không hiểu ở đâu ra mà anh có lắm tờ năm hào thế. Hôm nay chắc là "ngày căng tin" ở đây. Có nhiều tiếng lao xao phía ngoài. Hẳn người ta đang bàn xem nên mua thứ gì: áo may ô hay là lưỡi dao cạo. Lưỡi dao cạo - ở nhà tôi mọi người đang rất cần... Hỏi nhờ mua suất của Sự chăng?

"... Biển phong phú, biển Nhụy hoa, biển Mây..."

Thôi chết, Vịnh bắt đầu đọc tiếp từ lúc nào thế nhỉ? Nhưng... chẳng có ai nhìn tôi cả. Anh cán bộ đời sống vẫn đang trao đổi về tem phiếu gì đó với Sự. Phụng và Linh im lặng nhìn ra ngoài cửa sổ. Còn Vịnh - anh đang cúi xuống những trang bản thảo và đọc, giọng khẽ hơn, thong thả như lúc bắt đầu:

... Rời mắt khỏi bàn kiểm tra của Long, Miên bắt gặp trong đôi mắt trầm tĩnh ánh nhìn nửa mừng rỡ, nửa lo ngại. Cái ánh nhìn như đang dò hỏi, chờ đợi.

"Trên mặt trăng không có hoàng hôn, nhưng lại có biển, Biển theo cách gọi của Galilê...".

Luật sư, trời ơi, có phải em đấy không?

Sự bừng dậy của trí nhớ gần như vô ý thức. Tờ giấy mỏng mảnh rơi nhẹ xuống mặt bàn.

*
* *

Ngày 16 tháng 4 năm 1972, sau ba năm rưỡi kể từ ngày 31 tháng 10 năm 1968 những - người - Mỹ - không - biết - im - lặng đã đột ngột lên tiếng, bằng cách trút hàng loạt bom và rốc két xuống Hải Phòng, Hà Nội. Các trường học phải đóng cửa mặc dù năm học chưa kết thúc. Rồi những người dân Hà Nội được lệnh phải gấp rút rời khỏi thành phố. Những trận bom hủy diệt đang lơ lửng trên đầu họ - về điều này Chính phủ Mỹ vốn thành thạo lắm, hành động của họ bao giờ cũng đi đôi với lời nói.

Ðêm buông xuống trên dòng người cuồn cuộn đổ ra các ô cửa của thành phố, đi về các ngả. Ô-tô, xe máy, xe đạp, rồi xe bò, thậm chí cả người đi bộ gánh gồng nữa; người, đồ đạc, nồi niêu, chăn màn, giường chiếu... mặt đường bị cuốn phăng đi trong dòng thác ấy... Trong một đêm như thế Miên đã gặp anh sinh viên có cái tên Luật sư chị vừa buột kêu lên, khi ấy Luật sư mới là một cậu bé trạc 10 tuổi, và một thanh niên nữa - Lai. Phải rồi, người thanh niên ấy tên là Lai...

Lúc bấy giờ xe của Miên bị hỏng. Xe hỏng đúng vào lúc cô đã rời khỏi đường quốc lộ, rời khỏi dòng người ít nhất cũng hơn nửa giờ. Trên con đường tắt này - đoạn đường phía sau và phía trước chẳng có ai. Ngoài những bóng cây và những thửa ruộng im lặng đến chết người.

Chập tối khi mẹ từ cơ quan đạp xe về, báo tin đã xin các chú trong cơ quan cho Miên đi nhờ xe về quê ngoại sơ tán, cô đã bực bội vô cùng vì bị coi thường. Tự nhận thấy mình là một phần tử độc lập, hoàn toàn có thể tự lực cánh sinh được Miên tuyên bố với mẹ việc đạp xe một mình về quê hoàn toàn là chuyện vặt.

Với một bọc quần áo và sách vở nhỏ, đạp xe đi giữa dòng người đông đúc, "phần tử độc lập" cho việc đi xe một mình là chuyện vặt thật hoàn toàn hợp lý, cũng như nỗi sợ hãi và chút ân hận giờ đây, khi đứng chôn chân với chiếc xe hỏng giữa cái im lặng đến chết người của những bóng cây và những thửa ruộng.

- Ðồng bào nào mà đứng như vạc thế kia!

Từ thửa ruộng sau lưng Miên, một tiếng người đột ngột cất lên. Mừng rỡ ngoảnh lại, Miên trông thấy một cậu bé tay cầm chiếc đèn bão nho nhỏ đi về phía mình. Thì ra trong lúc đang hoảng, chỉ ngó trước ngó sau, Miên đã không nhận thấy cái nếp nhà nho nhỏ, nằm lẫn giữa những vạt lúa tối um trên mé đường cô đang đứng.

- Xe của chị bị hỏng.

Cùng với câu than, Miên tò mò ngắm cậu bé. Nó đã tới nơi. Hai vai nhọn hoắt đung đưa theo nhịp vung vẩy của chiếc đèn bão, gương mặt nhỏ choắt, một cặp kính cận dầy cộp, rồi vành môi bị kéo lệch đi trong "nụ cười bẩm sinh" - Cậu bé như vừa nhảy ra khỏi một bức tranh biếm họa nào đó.

- Chị đi sơ tán phải không?

- ừ, chị đi sơ tán. Xe của chị đang đi tự nhiên bị hỏng.

- Tự nhiên? Cậu bé phì cười. Cặp kính nảy lên. Hẳn nó đã thấy hết vẻ sợ sệt trong giọng nói của Con - Vạc - Khổng - Lồ này. May cho chị đấy, chứ đạp thêm một đoạn nữa thì chẳng có ma nào trên quãng đường này đâu. Thôi vào nhà bọn em đi. Cậu bé nói như ra lệnh. Ðể em đi trước soi đường cho.

- Nhà em có ai biết chữa xe không?

- Em thì không. Nhưng chị yên trí, có anh Lai. Anh ấy có thể làm được tất cả mọi thứ trên đời. Thần thông biến hóa, có kém Tôn Ngộ Không, thì cũng chỉ tí ti thôi.

Miệng nói, chân đi, chỉ một loáng cậu bé đã dẫn Miên tới nơi. Căn nhà xem ra còn bé nhỏ hơn lúc nhìn từ xa. Nó dường như lọt thỏm trước một đầm nước rộng mênh mông.

"Chúng tôi kêu gọi các bạn hãy coi tình yêu, cuộc sống của người Việt Nam là tình yêu, cuộc sống của bản thân mình, hãy coi cuộc đấu tranh...".

- Cạch - cửa phòng mở. Một phụ nữ bé nhỏ và nhanh gọn bước vào.

- Linh ơi - Xin lỗi, chào cả nhà. Mực mài xong chưa, cho chị một tí vào đây. Này chỗ len ấy để cho chị nhé.

- Vâng! Vâng! - Linh trả lời rồi trút cho người phụ nữ một ít mực vào cái lọ con tí của chị.

- Ðan cho anh cô cái mũ. Anh ấy cứ hay phàn nàn, so sánh. Lúc nào cũng thở than.

- Chậc!

Anh cán bộ đời sống khẽ buông một tiếng. Câu chuyện tem phiếu giữa anh và Sự ngừng từ lúc nào tôi cũng chẳng hay.

- Gì thế? ở đây đang đọc báo à? Thôi, chị về nhé. Chào cả nhà!

Cũng nhanh gọn như lúc vào, người phụ nữ biến mất sau cánh cửa.

"Chúng tôi kêu gọi các bạn". - Lặp lại câu vừa đọc, Vịnh tiếp.

... Hãy coi tình yêu cuộc sống của người Việt Nam là tình yêu cuộc sống của bản thân mình, hay coi cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, vì tiến bộ xã hội là cuộc đấu tranh của chúng mình. Hãy hành động ngay bây giờ để cứu nhân loại khỏi thảm họa...

... Chúng tôi đưa ra lời kêu gọi này từ các hầm tránh máy bay ở Hà Nội.

Ký tên Gớt Hôn(1)
Raxít Xtôri
Giôdép Noócthơ

Trong căn nhà ai đó đang mở đài. Giọng đọc truyền cảm mạnh mẽ của người phát thanh viên đã ngừng. Phần nhạc xen giữa các đoạn tin cất lên. Miên đứng lại bên chiếc xe. Một thanh niên từ trong nhà bước ra. Hai tay đút túi quần, chân đa đá vào một vật gì đó dưới đất, anh nói một mình: "Tất cả đang sôi lên, vậy mà mình cứ ngồi đây...".

Hẳn đây là anh Lai của cậu bé, con người có thể làm được tất cả mọi thứ trên đời - Miên nghĩ thầm và quay sang cậu bé, dáng chừng để chờ một sự giới thiệu nào đó.

- Chào bạn.

Nhận ra sự có mặt của Miên và cậu bé, người thanh niên niềm nở lên tiếng.

- Anh làm như cả thế giới đã lên đường rồi không bằng. Nếu anh không ở đây - ai sẽ trông đống tre, lá này, lại còn lo đất làm nhà nữa. Ðặt chiếc đèn bão lên hè, cậu bé lên tiếng chững chạc đến bất ngờ.

- Xin có lời cảm ơn Luật sư. "Ngài" đây cứ bào chữa cho mình suốt đấy. Thân mật như đã quen từ lâu, người thanh niên vui vẻ nói với Miên. Xe của bạn bị hỏng phải không? Luật sư thế mà tài. Bọn này đang ngồi câu, lúc quay lại lấy mồi, cậu ấy phát hiện ra bạn. Mình cho là bạn dừng lại nghỉ, nhưng nó thì bảo: "đường vắng thế này bọn con gái có đố cũng chẳng dám ngồi nghỉ, kiểu này chỉ có hỏng xe". Mình định nghe nốt bản tin rồi chạy ra. Mình là Lai. Nào đưa xe mình xem cho. Mà có thể gọi bạn là gì nhỉ?

- Em là Miên - Trao xe cho Lai, Miên trả lời.

- Mình sẽ gọi bạn là Miên.

- Sao lại "sẽ gọi" ạ?

- Anh ấy không biết gọi mọi người bằng tên của họ đâu. Như em chẳng hạn, hẳn hoi là có tên, tên đẹp nữa là khác. Con Rồng Xanh, - ông em vẫn gật gù bảo thế, vậy mà anh cứ réo Nhóc, lại réo Luật sư...

- Có người để than phiền cũng thích thật. Nhưng than vừa thôi, kính tụt khỏi mũi rồi kìa! - Săm của bạn bị hỏng. Lại sang vành nữa. Ðồ chữa xe bọn này không có. Ðồ chữa xe... Sau một thoáng đắn đo Lai tiếp - kể ra chạy vào làng mượn ngay cũng được, có điều đi tiếp nếu lại hỏng dọc đường thì gay. Tối lắm rồi, hay Miên ở lại sáng mai đi sớm? Nhà này chỉ có mình và Luật sư. Trong nhà có đài, có thể nghe đọc truyện đêm khuya, hoặc nếu không thích thì tắt nó đi và nằm ngủ. Ðêm sẽ qua rất nhanh thôi.

ở lại đêm trong nhà một người không quen - bố, mẹ chắc không bao giờ nghĩ đến chuyện này. Nhưng đi tiếp làm sao được. Anh ấy nói đúng đấy - nhỡ giữa đường xe lại hỏng thì sao? Quả là lúc đi Miên không hề nghĩ đến điều này.

- Nhưng - Miên ngập ngừng, thế còn anh và Luật sư?

- Bọn này nằm ngoài trời. Với lại cũng chẳng ngủ đâu. Nhóc con đang khoái câu cá.

- Chị ở lại đi! Từ đây đến làng sơ tán của chị dọc đường chỉ có một lũ bạch đàn thôi. Ghê chết lên được. ở lại xem bọn em câu cá. Hay lắm!

Ðưa tay đẩy cặp kính dày và nặng đến mức cái mũi hếch ngược lên cũng không giữ nổi, Luật sư giục giã.

- Anh và Luật sư câu được nhiều không ạ? Miên hỏi.

- Một chú! Cậu bé láu táu.

- Thế là chị ấy đồng ý rồi. Của "Ngài" Luật sư đấy. Nom hắn khá đấy chứ? Cả ba đã ở bên bờ đầm. Lai giơ con cá lên ánh trăng soi rõ vệt lấm và những sợi rác vụn bám trên cái lườn bàng bạc của con trôi. Nó đã chết.

Rời mắt khỏi con cá Miên lại gặp vầng trăng. Ðã lên cao, lúc này vầng trăng mảnh hơn, và màu đỏ cũng nhạt hơn. Giờ mới thấy đôi chân mỏi rã rời, mỏi đến không thể làm chủ được. Chả gì, Miên cũng đã đạp trên ba mươi cây số, cô ngồi bệt xuống.

- Sao lại có trăng đỏ hở anh? - Chưa bao giờ em thấy trăng thế kia.

Không phải chỉ riêng Miên dừng mắt trên cái màu đỏ đồng kỳ lạ ấy, có tiếng Luật sư hỏi khe khẽ. Chắc nó sợ nói to cá sẽ nghe thấy.

- Em thì biết gì ngoài sách. Rồi sẽ đến lúc phải đeo lồng hai kính vào nhau nữa kia. Có người bảo đấy là điềm của chết chóc, của mất mùa, rồi chiến tranh Lai bật cười.

- Ðiềm của chiến tranh... Ðừng giễu cợt thế! Nếu như lúc này anh cũng có mặt trong dòng người...

Bàn tay đang bóp bóp chỗ chân nhức dừng lại - Giọng Miên run run.

- Mình xin lỗi, nếu có gì không phải... Nhưng - Miên đã thấy gì nào?

Thấy gì ư?

- Kịch - cửa phòng mở, một người đàn ông đứng tuổi vào.

- Chào cả phòng - Sau khi quay lại khép cửa - ông hướng về phía Phụng. Cho mình xin tí lửa. ồ, xin lỗi...

- Cạch! Cạch! Cạch! Sang lĩnh lương cho người ta còn về chứ!

Cùng với tiếng gõ cửa, ai đó nói to ngoài cửa phòng rồi vội vã đi, tiếng "gộc" khua lộp cộp.

- Lương với chả lậu - Anh cán bộ đời sống lầu nhầu.

- Thôi, dừng ở đây... Tiếng Vịnh nói khẽ.

- Không, không! Ông cứ đọc tiếp! Lương chả lĩnh hôm nay thì mai. Nào! Phụng hất hàm.

Tôi và mọi người cùng gật đầu đồng tình với Phụng. Và Vịnh lại cúi xuống những trang bản thảo.

- Trở lại câu trên nhé - Anh nói, rồi tiếp tục đọc.

Thấy gì ư? Trong đôi đồng tử đang dãn ra của Miên vầng trăng trên kia như đang "to" lên, to mãi. Rồi biết bao ý nghĩ bỗng lấp gấp xô về. Lai và cậu bé Luật sư, không, cả Miên nữa - Chính cô cũng cần phải hiểu lại những xúc cảm miên man ấy.









Em cũng không biết. Vầng trăng như nhòe đi. Tiếng Miên khẽ khàng. Có điều trăng thượng huyền mà lại to và nặng, lại còn màu đỏ nữa... Tưởng như có một mặt trời được kéo ngược từ phía hoàng hôn trở về. Một mặt trời trong đêm - Vầng trăng đỏ ối. Trên dòng người đang im lìm đổ ra khỏi thành phố, trên bầu trời với những đám mây rạn ra từng khoảng lớn, cái mặt trăng lừng lững ấy...

Nói tới đây Miên có cảm giác như đang đi trở lại trên con đường đã qua, lẫn vào dòng xe cộ đông đúc. Trên những chiếc xe ấy Miên đã thấy gia tài bé nhỏ của những người dân trong thành phố của cô, đã thấy những chiếc ghế mây mà trên đó những cái đầu bé bỏng cứ gật lên gật xuống theo nhịp xe xóc, hai bàn tay - cũng bé bỏng như thế buông lơi trên thành ghế - phần lớn các em bé đều đã ngủ ở dọc đường. Có một cái gì đó cứ dâng lên trong mí mắt Miên, cô không sao nói tiếp được.

- Ðừng sợ!

Giọng Lai thấp xuống. Trong giọng nói của anh Miên cảm thấy Lai đã hiểu những gì cô không diễn tả nổi. Trước sự quá tinh tế của những diễn biến tình cảm trong tâm hồn con người - ngôn từ bỗng trở nên khô cứng, nghèo nàn. Vào lúc ấy, may chăng chỉ có âm điệu trong giọng nói mới giúp con người truyền đạt được những gì họ muốn. Bởi vì nếu không, chỉ căn cứ vào hai tiếng "đừng sợ" Miên hẳn đã cho rằng Lai đã hiểu sai cô. Không phải điềm chiến tranh. Cũng chẳng thể là nỗi khiếp sợ. Một sự bất nhẫn chăng? - Nhẹ quá! Vậy thì điều gì đã diễn ra trong tâm hồn khi bắt gặp sự liên tưởng: Có một kẻ nào đó đã dùng cái gam màu ghê sợ ấy xóa đi màu trắng xanh dịu của những ngày tháng thanh bình?

Im lặng trôi qua. Tiếng Lai khe khẽ:

- Trước lời kêu gọi của Gớt Hôn, đài đọc thơ của Nam Hà, Miên có thích bài đó không?

- "Ðường dài đi giữa Trường Sơn. Nghe vọng bài ca đất nước..." - Ðúng không? Thích ghê lên ấy chứ! Cái Dự bạn em, anh có biết không - Miên tiếp - Hơn em hai tuổi. Khai tăng một tuổi, đợt sơ tán này nó ở nhà để xin đi thanh niên xung phong. Bố nó thích lắm, trong mọi việc chẳng bao giờ chú ấy cấm đoán cả.

- Thế bố Miên hay cấm Miên những việc gì?

- Cấm đủ thứ - Miên trả lời. Hai năm lớp tám, lớp chín tối nào Dự cũng đến học nhóm với em. Bàn học của bọn em kê ở một góc, nhưng chỉ liếc qua là bố em biết ngay là đang ngồi học, hay đang xem truyện.

- Giờ học lại ngồi đọc truyện, bị mắng cũng phải. Luật sư xen vào.

- Kìa Nhóc, để chị ấy nói! Lai giơ một ngón tay lên "đe" cậu bé.

"Giờ thì chị hiểu tại sao em bị gọi là Luật sư rồi. Nhưng cấm cũng chẳng được! - Giọng Miên thoáng vẻ đắc thắng. Kéo cái ngăn kéo ra một chút, em để truyện trong đó, và cứ đàng hoàng thế mà đọc. Dự ngồi đối diện với em, lúc nào bố em từ buồng đi ra, nó khẽ ho lên một tiếng, thế là ngăn kéo tự động ập vào. Tất cả những cấm đoán - bố em cứ nghĩ rằng nếu không mê đọc truyện quá, chăm chỉ học hành em sẽ trở thành một người giỏi giang. Rất giỏi giang nữa cơ đấy!

Khẽ bật cười, như thể vì đang hình dung ra mình trong vai trò một người giỏi giang, rồi Miên tiếp:

Có một lần em suýt chết... Anh có biết không - bố em rất hay kiểm soát ngăn kéo và giá sách. Lục truyện mà. Nhưng ai đời dại dột để ở những nơi ấy. Muốn tìm truyện phải xuống dưới bếp cơ! Thùng gạo, chạn thức ăn, thùng đồ vật, rồi trong đống củi, dưới gầm lò cũ... Phái mạnh các anh, nhất là cực mạnh như bố em, ai để ý đến những nơi vớ vẩn?

Thế nhưng "đi đêm lắm cũng có ngày gặp ma". Lần suýt chết ấy - buổi tối đọc xong, khuya rồi mệt quá, em quên không sơ tán sách. Sáng ra dậy muộn, quáng quàng xách cặp chạy. Ðến lớp, học hết giờ đầu, vào tiết thứ hai, tiết toán của thầy "Tuấn bút chì" em mới sực nhớ: quyển Phục sinh vẫn để trong ngăn kéo. Sợ quá, chẳng còn nghĩ được đến xin phép nữa, em bật ra khỏi cửa sổ lao một mạch theo đường tắt về nhà. Em ngồi bên cửa sổ, bọn em học ở dãy nhà một tầng, chỗ đó có con đường dẫn ra ruộng rau. Theo đường này qua làng Quỳnh. Chỉ mười lăm phút sau là có thể có mặt ở nhà.

Nếu bố em mà giở ngăn kéo ra... thì ôi thôi. Liép sẽ tan tành! Sáng đó sương mới nhiều làm sao. Sương như từ vùng hồ ao dâng lên - Một bức tường sương kéo suốt dọc đường. Lạnh thế mà mồ hôi cứ toát ra...".

- Chị thoát không? - Luật sư hỏi dồn. Chẳng hiểu nó đang hồi hộp lo cho số phận Liép, hay cho Miên.

"Thoát!" - Miên trả lời Luật sư. Rồi tiếp - giọng bâng khuâng. Thế mà thầy Tuấn không mắng em. Thầy Tuấn rất hiền. Gày nữa, mùa đông trong chiếc áo bông rộng lùng thùng, trông thầy giống hệt chiếc bút chì trên đậy nắp bút máy Hồng Hà, loại bút đàn ông ấy.

Giờ học cuối cùng trước ngày 16 tháng 4, lẽ ra thầy cũng phải giận em, vậy mà... Thực ra em không nên làm thế. Bao giờ em cũng sai. Nhưng tại sao người ta cứ viết ra những quyển sách hay quá như thế?

- Trong giờ toán hôm đó Miên đã làm gì? - Lai hỏi.

- Giờ kiểm tra một tiết, nhưng em lại ngồi đọc "Ðất Quảng". Kiểm tra hình. Bài rất dễ, chỉ mười lăm phút là xong. Quyển "Ðất Quảng" vẫn còn một phần nữa, cuối giờ toán bọn nó lại đòi... Miên khẽ thở dài. Lẽ ra hết giờ em phải xin lỗi thầy. Thầy ngồi trong lớp chấm bài để trả ngay. Nhưng em đã không xin lỗi. Bọn con trai chơi cờ tướng vui quá... Nếu biết đấy là buổi học cuối cùng em đã không làm thế. Không bao giờ làm thế!

- Hết hè đến xin lỗi vậy.

- Anh bảo sao? Miên hỏi lại.

- Mình bảo hết hè đến xin lỗi - Lai nói.

- Thầy đi bộ đội rồi. Bài làm hôm ấy thầy vẫn cho em điểm mười. Thầy Tuấn đi bộ đội. Dự đi thanh niên xung phong, còn em đi sơ tán. Thế mà bố, mẹ em còn định gửi em theo xe các chú trong cơ quan... Ngừng một lát Miên lại tiếp. Ban nãy anh bảo mặt trăng đỏ là điềm chiến tranh. Ðiềm chiến tranh dứt khoát không phải rồi, nhưng mất mùa thì có thể lắm chứ. Biết đâu chẳng có liên quan nhất định về thời tiết?

- Chẳng phải đâu - Lai trả lời. Ngoài hiện tượng thủy triều và áp triều ra, mặt trăng không có ảnh hưởng gì đến trái đất cả. Còn màu đỏ hồng kia là do sự khúc xạ của các tia sáng mặt trời vào trong khí quyển, các tia đỏ dập lên mặt trăng... Mà có biết không - trên mặt trăng không có hoàng hôn đâu nhé. Nhưng lại có biển. Biển theo cách gọi của Galilê. Người ta đặt cho biển của mặt trăng những tên như: Biển Mưa, biển Trong Sáng, biển ẩm ướt, biển Yên tĩnh, biển Phong phú, biển Nhụy Hoa, biển Mây...

- Anh học về những cái đó à?

Miên thốt lên, ngạc nhiên và thích thú. Ðôi mày doãng ra trên vầng trán phẳng và cao.

- Ðâu có, giọng Lai thoáng vẻ ngượng ngập.

- Ðưa hộ mình cái cần câu với.

Khi đưa cần câu cho Lai, Miên nhận thấy anh có một đôi mắt rất đen. Có lẽ còn đen hơn cả những dải nước mà sóng đang lôi vào bờ, rồi lại ném ra xa tít tắp kia.

- Sao cần câu ngắn thế anh? - Giọng Miên trong và nhẹ.

- Tháng tư cá thường ăn sát bờ... Nhưng kìa, ngồi không khéo bạn sẽ làm hỏng hết hoa đấy!

- Hoa nào?

Theo bản năng Miên nhổm người lên, như thể đang ngồi trên hoa thật. Thì ra chỗ Miên đang ngồi là một thẻo vườn, mà vạt cỏ tươi tốt bên đầm đã mọc trườn vào. Phải nhìn kỹ mới thấy những gốc cây đã héo.

- Có thấy gì không?

- Những gốc cây?

- Chỉ thế thôi à! - Thở ra rồi hít vào thật mạnh xem nào.

- Hít vào thật mạnh... Trời, sao từ nãy đến giờ em không nhận ra nhỉ?

- Suỵt! Luật sư quay lại, đưa tay lên miệng cảnh cáo tiếng reo của Miên.

Hẳn cậu ta sợ cá nghe thấy.

Hoa loa kèn. Một mùi thơm ngọt mát dâng lên.

Giữa những gốc cây đã héo, giữa những lá cỏ dài tươi tốt, cây hoa còn sót lại ở một góc thẻo vườn chỉ có một bông hoa duy nhất. Thật khó tưởng tượng nổi hương thơm ôm đầy cả khoảng không bao la này, chỉ dâng lên từ đài hoa mảnh dẻ đến dường kia.

- Trước đây là nhà của một ông già rất yêu hoa. Giờ ông chuyển vào làng, nhường đất cho sinh viên làm nhà ở và giảng đường. Có biết vì sao mình nhắc đừng ngồi lên không?

- Miên lắc đầu.

- Hoa đã cắt, nhưng còn củ để lại ươm dưới đất đấy - Lai giải thích.

- Giật đi anh... Thôi, hỏng rồi!

Có tiếng quẫy nhẹ. Tiếp theo là tiếng thở dài thực to của Luật sư. Dưới ánh trăng, cái gọng kính của cậu in hình to kệch, nom đến kỳ dị.

- Hôm nay đen quá. Thôi chả thèm câu nữa.

Luật sư ngáp dài, và nằm xoài luôn xuống. Nó gỡ kính. Lại ngáp. Một lát im lặng. Rồi bỗng cất tiếng, giọng ngái ngủ:

- Cái ông Gớt Hôn ấy buồn cười nhỉ. Ngồi dưới hầm rồi kêu gọi... Mà ban nãy anh nói về mặt trăng là bịa thật đấy?

- Xin cứ tin tôi - ngài Luật sư!

Có gì đó vừa giễu cợt, vừa trìu mến trong giọng Lai.

Cả ba cùng im lặng. Trong đêm tĩnh mịch chỉ còn vang lên tiếng nước vỗ bờ. Mặt đầm cứ rộng ra, rộng mãi và, và bầu trời dường như cũng được nâng lên - cao và nhẹ hơn. Luật sư chừng đã ngủ. Tiếng nó thở nhè nhẹ. Cái kính cận rời khỏi tay, từ mặt kính loáng lên một vệt sáng.

Lai đứng dậy đi vào nhà, rồi trở ra với một cái áo. Anh cuộn áo lại, nâng đầu cậu bé lên và luồn xuống dưới.

- ở nhà nhóc được chiều lắm. Ngủ không gối hắn ta bị đau đầu đấy. Lai khẽ cười, rồi như nhớ ra điều gì anh bỗng ngập ngừng... Thực ra mình cũng chẳng biết gì đâu, về mặt trăng ấy. Ban nãy là mình đọc thuộc lòng một đoạn trong giáo trình thiên văn của Pôlác đấy. Quyển sách tình cờ rơi vào tay mình. Ông ta viết hay đến nỗi không thể không thuộc được... Cả chuyện cá ăn sát bờ vào tháng 4, và hoa loa kèn khi cắt rồi, thì củ để dưới đất ươm tiếp mình cũng "nghe" sách thôi. Bao giờ về Hà Nội mình sẽ tìm lại quyển sách của Pôlác cho Miên đọc.

- Thật chứ?

- Thật. Có điều đừng đọc trong giờ của thầy "Tuấn bút chì" nữa và cũng đừng nhét Pôlác vào gầm lò cũ hay chạn thức ăn mà ông ta lại kiện mình.

Im lặng.

- Anh Lai này... Trong quyển sách thiên văn của Pôlác có viết về đêm không? - Anh bảo có à? Tiếng Miên như từ sóng nước vọng lên. Bố em bảo em sinh ra vào lúc nửa đêm...

- Một giấc mơ - ừ, tên Miên... Nhưng với mình Miên sẽ là đêm, Lai như nói một mình. Rồi bỗng anh thốt lên: Miên xem kìa!

- Trăng...

- Không, đừng nhìn trăng. Vì sao đổi ngôi - Miên có thấy không? Hẳn một vệt sáng xanh... Nó rụng xuống đâu nhỉ?

Im lặng.

- Khuya lắm rồi - tiếng Lai như bừng tỉnh. Thôi Miên ngủ đi, lấy sức sáng mai còn đạp xe tiếp. Mình nhường cho cái bờ đầm này đấy. Nằm đây ngủ khoái hơn vào nhà. Lai đứng dậy nhìn quanh, rồi trỏ vào vạt cỏ ngay chân Luật sư. Nằm đây này!

- Còn anh?

- Mình thức. Phái mạnh mà...

Im lặng. Sóng xô nước vào bờ. Cùng với cảm giác một cái gì mềm mại lướt dưới lưng, Miên nghe tiếng Lai từ trong nhà cất lên:

- Thế... Ngủ đi, đừng sợ!

*
* *

... Tất nhiên không phải ngay trong lúc này tất cả những điều xảy ra trong đêm ấy đã trở về cùng lúc trong trí nhớ Miên. Mà phải một thời gian, một khoảng thời gian dài sau này Miên mới có thể sắp xếp được những ý nghĩ của mình, sắp xếp được những gì đã xảy ra theo một trình tự rành mạch. Mới có thể mường tượng đến từng chi tiết nhỏ những gì đã có trong đêm đó. Còn bây giờ, trong cuộc gặp gỡ quá đỗi bất ngờ này chỉ kịp cảm thấy trong tâm hồn đang mệt mỏi của mình luồng gió năm xưa tươi mát ùa về. Những ngọn cỏ đâm vào chân buồn buồn. Ðài hoa mảnh dẻ đỡ lấy năm cánh hoa trắng ngà, trên mỗi cánh hoa ấy có muôn vàn tia nước li ti chảy - Những tia nước trong lành đã vọt lên từ mặt đất ẩm ướt trong suốt cả mùa xuân, qua thân cây xôm xốp. Rồi hương thơm của nó... thứ hương lúc thì dậy lên nồng nàn, lúc lại mất đi trong những đợt gió ào ạt đưa về từ phía bên kia bờ đầm. Và sau hết, trên tất cả là âm hưởng của một giọng nói - Cái âm hưởng vừa giễu cợt, vừa trìu mến lạ lùng, nhớ lại chị chưa hề gặp ở một người nào khác.

Phải chăng trọn vẹn những gì Miên mơ ước đều đã có trong đêm đó?

Khoảng im lặng của những xao động trôi qua, Miên hỏi:

- Anh em giờ thế nào nhỉ?

- Anh Lai không phải anh trai em. Em sơ tán về làng đó, gặp rồi quen thôi. Ngày ấy anh Lai là một trong những sinh viên đi tiền trạm để lo xin đất, và lo chuyện làm nhà cho trường. Cho đến hôm đó anh Lai đã có tên trong danh sách đi bộ đội. Mắt anh Lai còn cận nặng hơn em rất nhiều, nhưng anh ấy không đeo kính. Anh Lai bảo tập cho quen đi, chứ có kính thì còn đánh đấm gì. Nhưng thực ra không đeo kính để được đi khám tuyển thì đúng hơn. Ðã có tên trong danh sách đi bộ đội, nhưng vì chưa có người tiếp quản công việc, nên mặc dù rất sốt ruột anh ấy cũng phải ở lại. Còn bây giờ, chị hỏi anh Lai... Long quay đi, và cũng như đêm nào cái gọng kính lại in hình to kệch nom kỳ dị, có khác chăng là in trên tường chứ không phải trên bờ cỏ tươi tốt năm nào - Anh Lai mất đã năm năm. Im lặng một lát Long tiếp - Hà Nội thế mà rộng. Sau những - ngày - bê - năm - hai về em tìm chị suốt cả mà không thấy. Những năm sau cũng không hề thấy. Có cái này em vẫn giữ cho chị. Long đặt trước Miên một phong thư đã cũ và nhàu, nét chữ ngoài bì không còn rõ nữa, nhưng lành lặn sạch sẽ. Thư không dán tem. Một người bạn anh Lai đã cầm về - Long giải thích và đứng dậy đi về phía cửa sổ.

Trong phần đầu lá thư gửi cho Luật sư. Lai đã kể về cuộc sống của anh khi chuyển sang đơn vị mới. Bằng vào thư thì những gì anh đã trải qua trong những ngày này đều tuyệt vời hết sức. Cái giọng điệu "từng trải" trong thư, hẳn Lai rất hay dùng với Long, tuy không phải lúc nào anh cũng thành công. Nhớ đêm ấy Long đã tỏ ra ngờ vực hết sức khi nghe Lai nói về mặt trăng. Thậm chí nó còn hỏi thẳng thừng có phải chuyện của anh là bịa không.

Còn phần sau của thư - cứ theo ngày tháng thì phần sau viết cách một khoảng thời gian dài.

"Luật sư ơi, bọn anh giờ bắt đầu vào cuộc rồi. Có kể em cũng không hình dung hết được những gì bọn anh đã qua đâu. Em còn nhớ anh Kiệm không? Cái cậu beo béo, hay cười, cùng đi một đợt với anh ấy. Cách đây hai ngày anh và các bạn anh đã mai táng cho Kiệm cùng hai người nữa. Riêng Kiệm, thật thương tâm - thi hài cậu ấy chỉ là một mảnh áo...

Cứ qua một đợt đơn vị lại vơi đi. Rất có thể ngày mai trong số vơi đi tiếp theo sẽ có anh. Nhóc vẫn hay giễu cợt, rồi lại bào chữa cho tính hay bịa đặt của anh. Nhưng trong những điều anh sẽ nói sau đây - em phải tin và đừng hỏi lại nhé. Trong khoảng thời gian thuộc về mình này sao anh nhớ Hà Nội, nhớ đêm trước mấy ngày nhập ngũ của anh - nhớ đến cồn cào. Tên chị ấy là đêm. Thật may mắn cho anh làm sao, vì như thế lúc này anh có cảm giác như chị ấy đang đứng ở đâu đó rất gần anh thôi. Cô bé có vầng trán thẳng dưới mái tóc hất ngược về phía sau... Vầng trán và đôi mắt - mỗi lúc nhớ lại anh không khỏi liên tưởng đến những đám mây trắng, thứ mây vẫn thảnh thơi bay trên bầu trời, trong những sáng hè yên tĩnh...

Nếu ngày nào đó anh hỏi địa chỉ thì trong từng ấy năm anh đã có thể biết được những gì đã đến với "cô bé" của anh. Giờ đây nếu sau trận pháo này - anh có mặt trong số vợi đi, thì nghĩa là cuộc gặp gỡ sẽ không bao giờ có. Luật sư sẽ bào chữa cho anh thế nào nhỉ? Anh đã chia tay không hề tìm cách biết thêm ngoài một đôi điều chị ấy đã nói, và cũng không hề tỏ ra cần biết tiếp về những gì sẽ đến với chị ấy. Ðêm trôi qua dưới một vầng trăng màu đỏ, dòng người đổ đi vô tận qua các ô, lời kêu gọi của Gớt Hôn... Những ngày tháng dữ dội và khốc liệt đã bắt đầu, vậy mà tại sao anh lại chia tay với Miên như chia tay một cô bạn cùng phố - hết hè rồi sẽ gặp lại. Tại sao thế?

Nhưng thôi tìm cách giải thích những trạng thái tâm lý để làm gì. Tất cả đều kỳ lạ... chỉ chút nữa thôi mặt đất sẽ rung chuyển vì pháo của bọn anh và pháo của bọn nó, vậy mà, Nhóc có tin không - anh nghe thấy cả tiếng cá quẫy đấy. Anh đã để hụt nó. Lúc ấy em thở dài mới khiếp chứ. Lại còn bực lây với cả Gớt Hôn. Con cá hẳn không nhỏ. Nhưng anh có thể chú ý được đến điều ấy chăng - khi mà, trong cái dáng đang vươn về phía trước, chị ấy sao mà giống như bông hoa loa kèn ở góc vườn đến lạ lùng?

Bông hoa vươn thẳng, hắt một tia sáng trắng dịu lên vầng trăng đỏ ối - lúc này đây - giữa không gian khét lẹt và nóng bỏng, anh đã gặp lại hình ảnh này..."

*
* *

Ðọc tới đây, Vịnh ngừng lại. Anh để tập bản thảo xuống bàn, nơi từ đó đang vang lên tiếng con sâu nghiến vào gỗ kèn kẹt, rồi đưa tay lên xoa mãi vào trán và mắt.

Cái đêm ấy - trong cuộc chiến tranh vừa qua, phải chăng niềm tin ở mỗi chúng ta đều dựa trên những điểm tĩnh đầy thơ mộng như thế, và với niềm tin đó chẳng có sự tàn bạo, khốc liệt nào đè bẹp nổi? Mọi người trong phòng im lặng. Họ đang theo đuổi ý nghĩ gì?

Phần mình, tôi nghĩ chỉ thấy trước mặt một đầm nước rộng mênh mông, bên đầm nước - trong yên tĩnh đầy tin cậy giấc ngủ hồn nhiên của cậu Luật sư và Miên. Làm sao không ngủ được khi vì sao của Lai đã rụng - Khuya lắm rồi... Làm sao không ngủ được khi hai tiếng "đừng sợ" đầy trìu mến đã cất lên? Bên giấc ngủ thật sâu của bông hoa và cậu bé ấy - Lai có biết rằng anh đã thực sự lên đường?

Nhưng kia - có tiếng chân ai vang lên ngoài hành lang... Tiếng dép kéo, rồi tiếng gì đó khua rủng rẻng. Cửa phòng bật mở - và người thường trực của cơ quan xuất hiện với chùm chìa khóa to tướng.

- Chà, các vị - Giọng ông cáu kỉnh. Sao giờ này mà chưa gửi chìa khóa? Bộ không cho người ta ăn cơm nữa sao? Họp thì phải báo trước chứ!

- Xin lỗi bác, chúng tôi có chút việc.

Nở một nụ cười xin lỗi với người thường trực, Vịnh quay sang mọi người:

- Chúng ta về thôi chứ nhỉ?

- Kẻng hết giờ lúc nào mà không nghe?

Trong tiếng ghế xô, tiếng chân bước và tiếng cặp lồng va chạm, anh cán bộ đời sống nói to, hẳn cố ý để người thường trực nghe thấy. Ðúng vào lúc này, chuông đồng hồ của thành phố điểm sáu tiếng.

- Ðúng là ngày tháng mười. Mới sáu giờ mà đã tối là tối.

Trên dãy hành lang, lặng tanh vẫn tiếng anh cán bộ đời sống vang lên.

- Cậu về đâu? Ði bên tôi Linh khẽ hỏi.

- Cuối phố Huế - Tôi trả lời chị.

- Xa nhỉ. Mà cậu có gần chỗ bị bom không? Buồn cười, ngày mới lấy nhau "ông nặn tượng nhà mình" cứ lôi mình đến đấy suốt. Chả là dạo đó bạn bè anh ấy đang đắp phù điêu. Về sau nghe đâu người ta đã bỏ nó.

- Phù điêu là gì? - Sự chen vào.

- Phù điêu trên bức tường của phố Huế - Anh không biết à? Linh hỏi lại Sự.

- ờ, ờ... mình là dân ngoại thành.

- Các vị nhanh chân lên một tý để tôi còn khóa cầu thang. Cơm canh nguội tiệt rồi!

Người thường trực lúc này đã xuống đến bậc thang cuối cùng - ông ta khua nắm chìa khóa lên và giục giã.

Cả mấy người chúng tôi cùng vội vàng rảo bước. Và trong sự vội vàng đó. Linh đã không nhắc lại câu chuyện về những phù điêu ở phố tôi. Thật may cho tôi, vì chính tôi - tôi cũng không hề biết những phù điêu ấy có còn hay không.

Hà Nội - Những ngày áp thấp
Tháng 11 năm 1981


--------------------------------------------------------------------------------

(1) Khi đế quốc Mỹ ném bom Hà Nội và Hải Phòng ngày 16-4-1972, đoàn đại biểu Ðảng Cộng sản Mỹ lúc đó đang ở thăm nước ta đã ra lời kêu gọi này gửi nhân dân Mỹ.




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Nợ trần gian

Nguyễn Bản

Mưa dầm dề, sùi sụt mấy ngày liền. Ngõ xóm lầy lội. Không ai muốn bước chân ra khỏi nhà, kể cả những người chuyên đi xem nhờ nhà hàng xóm. Thế mà tối, chị đội nón, khoác vải mưa lặn lội tới nhà Mận. Con trai Mận học bài xong đã ngủ rồi. Chị lặn lội tới nhà Mận để khóc. Chị leo lên giường Mận, nằm vào trong, thu người lại, nằm cò queo rồi khóc. Chị phải nằm cò queo, vì dưới chân, vướng chiếc hòm quần áo của Mận. Chị nằm cò queo, ngoảnh mặt vào tường, vì chị không muốn nhìn vào đâu cả. Chị muốn nhìn vào lòng mình, nghe tiếng mưa rơi. Chị bảo chị nhớ con, nhớ quá. Chị bảo, mưa thì mưa, mai chị cũng phải đi. Chị đến để chia tay với Mận, và chưa biết đến bao giờ mới gặp lại nhau, chị bảo chưa đi chị đã nhớ Mận, nhớ mọi người, nhớ làng xóm rồi. Nhưng chị còn nhớ con hơn. Mai chị phải đi. Con em dâu đã hẹn, nói chỉ chờ chị ở Ðồng Ðăng nhiều nhất là hai ngày, nếu không nó sẽ đi trước. Nó đi trước, chị sẽ không biết đằng nào mà lần. Tiếng chị chưa biết nhiều, vả lại tiếng mỗi nơi mỗi khác, lại không có nhiều tiền. Mọi người, bố mẹ, anh chị em, mỗi người cho chị một ít, người dăm chục, người vài ba chục, được ngót năm trăm ngàn, tính ra khoảng ba trăm tệ. Năm chục tệ, chị mang về, mới chỉ tiêu chưa hết hai chục tệ, mua mất gói kẹo gọi là có chút quà cho bố mẹ và các cháu, thế thôi. Trung Quốc tràn trề hàng hóa, hoa quả to ngon, bổ dược. Nhưng chị nghèo, nghèo lắm và còn nợ đầm đìa. Lúc về trong nhà chỉ có hơn một trăm tệ, chưa tới hai trăm nghìn tiền mình. Chồng chị bảo:

- Mày cầm về cả, ba bố con ở đây sống bằng gì?

Vì vậy, chị chỉ mang theo năm chục tệ. Con em dâu ứng tiền xe, tiền ăn đường cho chị. Nó quê ở Thái Nguyên. Nó đã bốn lần lấy chồng Tàu, hai lần ở Quảng Ðông, một lần ở Quảng Tây, và bây giờ là em dâu chị. Nó về cùng chị. Nó có tiền. Nó về là để kéo người đi. Nói xui chị về kéo Mận đi - Chị kể chuyện về Mận với nó. Chị bảo Mận trắng trẻo, đẹp gái, cao hơn, đẫy đà hơn và ít tuổi hơn chị. Nó bảo nếu vậy, gặp chỗ khá, có thể được mấy vạn tệ, bét nhất cũng một vạn. Nó sẽ tìm được người mua ngay. Chị sẽ có tiền trả nợ. Vợ chồng chị hiện còn nợ hơn năm nghìn. Ba nghìn chồng chị vay để mua chị. Hai nghìn vay để góp tiền làm ma mẹ chồng. Con Tị bán chị được ba nghìn, cho bà mối hai trăm trừ năm trăm nghìn tiền Việt đưa cho chị để biếu bố mẹ lúc ra đi, trừ tiền tàu xe đem chị sang Tàu, tiền nuôi ăn nửa tháng, tiền mời y sĩ tới chữa hen cho chị, tất cả khoảng bốn trăm, còn lại khoảng hai nghìn nó hưởng. Chị không biết ngay khi chị ra đi, Mận đã đón được con về, đến nay đã gần được năm năm rồi, con Mận đã học lớp tám.

Nghe chị vừa khóc vừa kể lộn xộn, Mận phẫn uất ngắt lời:

- Mẹ nó, thế thì khác nào mình đi vay nợ để mua chính cái bản thân mình cho kẻ khác.

- Lúc đầu, cũng tưởng được dăm trăm nghìn đó, gọi là đền đáp chút công sinh thành của bố mẹ, bây giờ lại ngửa tay nhận lại dăm trăm nghìn mọi người cho, mày bảo có tủi nhục tao không?

Chị khóc nấc lên.

Làng chị như vậy đã có tới năm người sang lấy chồng Tàu. Người nọ kéo người kia đi. Làng đã nghèo, lại toàn những cảnh hẩm hiu, lỡ làng. Lần ấy con Tị cũng gạ Mận. Nó bảo chẳng giàu sang, phú quý lắm, nhưng cũng sướng hơn ở làng nhiều. Nó bảo nó mang về hai chục triệu. Chẳng biết đúng hay không, nhưng nó biếu bố mẹ hai triệu, anh em mỗi người một trăm nghìn, các cháu mỗi đứa năm chục nghìn thật.

Chị bảo như có ý trách Mận:

- Lần ấy, mày không bỏ tao vào Buôn Mê Thuột, tao cũng chẳng theo nó đi đâu.

- Chán chị chưa, em vào là để đón con em về kia mà.

Phải, Mận vào là để đón con về. Khi bố nó đem nó vào, hắn nói dối cho vào chơi ít lâu, đỡ nhớ con. Rồi biệt tăm. Hai năm sau hắn ra đòi ly hôn. Mận khóc. Hắn bảo, đằng nào cũng chót có con với người khác rồi. Hắn bảo, hắn biết tính Mận, không đời nào chịu cảnh chồng chung, không đời nào Mận chịu bỏ làng vào sống chung trong ấy. Hắn bảo để hắn nuôi con. Hắn có điều kiện hơn. Hơn nữa, Mận đỡ vướng, dễ lấy chồng. Nhưng chỉ một năm sau đó, hắn xác xơ khánh kiệt. Hắn thuận để Mận đón con về.

Chị thở dài:

- Cũng là cái số cả. Tao cứ tưởng mày vào, nó dỗ ngon, dỗ ngọt sẽ ở luôn trong ấy, thiên hạ bây giờ thiếu gì cảnh chồng chung. Như tao ấy, chỉ mong làm lẽ cũng không xong. Vì thế mày đi rồi, tao mới theo con Tị.

Tên chị là Bùi, đặt vần theo tên chị gái là Ngọt. Nhưng chưa bao giờ chị được nếm vị ngọt bùi. Số phận quá nghiệt ngã với chị. Chị đã đen, lại xấu, mắt một bên lại hơi bị nhài quạt, lại mắc bệnh hen. Nhưng chị hiền, sởi lởi và tốt bụng. Mận chơi thân với chị từ lúc mười bốn, mười lăm tuổi, từng đi dân công hỏa tuyến với nhau, cùng nhau đi nhổ rau má bờ đê, đi tuốt kê cỏ về chống đói, những năm Mận làm được tới gần bốn trăm công mà chẳng được cân thóc nào, lại còn bị âm gần bốn chục cân thóc, những năm đa số dân làng sống bằng thóc rơm, rau má và kê cỏ. Hai mươi tuổi, Mận lấy chồng, tình bạn nhạt nhòa đi đôi chút. Rồi bẩy năm sau xảy ra chuyện Buôn Mê Thuột, tối tối, Mận lại ra nhà chị, ôm nhau và khóc với nhau. Ngôi nhà hai gian lợp ngói móc, bố chị làm cho ở một góc vườn. Ngói loại hai, loại ba vênh váo, mưa hắt dột khắp giường, hai người nằm cạnh nhau, nghe tiếng giun dế và than thân trách phận.

Chị tâm sự, thật ra chị chỉ cần một đứa con. Nghèo cũng được, khổ cũng được, nhưng là đàn bà mà không được làm mẹ thì không chịu nổi. Chị bảo, chị chỉ mong làm lẽ thôi cũng được. Nhưng bọn đàn ông đều muốn vợ lẽ phải trẻ hơn, đẹp hơn vợ cả. Mà chị thì xấu quá. Muốn đi kiếm bừa của một thằng đàn ông nào đó, một lão già cũng được, nhưng cũng không nổi. Bọn đàn ông kháo nhau, dưới Vạn Linh, gái ế mà lại xấu, muốn kiếm con phải mất một chỉ vàng, nhưng cũng chỉ được của thằng đánh rậm. Thật ra đã có một kẻ hỏi chị làm vợ lẽ. Trông cũng khỏe mạnh, tươm tất. Nhưng nó lại là thằng tù về. Nó trộm gà, trộm chó nhiều lần, lần cuối cùng bị bắt quả tang - Tù thì tù, chị cũng bằng lòng, nếu không, mã người như thế nó đã chả thèm đến chị. Mẹ chị cũng bằng lòng. Anh em chị đều bằng lòng. Nhưng bố chị không chịu. Bố chị quát:

- Bà thích con rể biếu thịt gà, thịt chó lắm phải không? Bố chị vốn chỉ là một anh đồng nát bán hàn nồi, tới một làng khác, hàn nồi cho mẹ chị, lúc đó đang là một gái góa. Ông ta làm tới gần tối mới xong, đành phải nhờ nấu cơm ăn, rồi lại nhờ đi mua rượu.

- Sao ông đưa nhiều tiền thế này.

Ông ta cầm tay cô gái góa đẩy đi:

- Cứ cầm lấy, mua cho tôi loại thật ngon vào.

Ông ta uống hơi nhiều, rồi say, đi không nổi, lảo đảo ngã vào giường. Phải mất đến ba lần nhờ mua rượu, lần thứ tư, ông mới đón cô gái góa, cùng đứa con gái riêng, chính là thị Ngọt về nhà mình. Về đến nơi, mới biết hóa ra làm vợ lẽ. Nhưng trong bụng đã chót có chị rồi, và thời buổi ấy đâu có chuyện nạo hút thai dễ như bây giờ.

Mẹ chị cãi:

- Cứ làm như nhà mình danh giá lắm ấy. Chẳng qua cũng đồng nát chứ ngọc ngà châu báu gì.

Bố chị đập bàn:

- Ðồng nát có danh giá của đồng nát. Ðồng nát đem đúc lại cũng thành tượng đồng, chuông khánh để thờ.

- Thì tù tội tu tỉnh lại cũng thành người chứ sao, chả khối người tù tội cũng ông nọ, bà kia.

- Hừm, bà đang dạy con cái thói nóng đít rồi đó.

- Phải, mẹ con tôi nóng đít, nóng đít nên mới bồng bế nhau theo ông về ăn đồng nát nhà ông.

Bà khóc. Bà bù lu, bù loa đay nghiến thân phận bà. Gã đàn ông nghe chuyện chuồn thẳng. Mận thật thà hỏi chị:

- Chị bảo chị cần kiếm đứa con, sao không bảo thẳng nó, sợ chó gì.

- Nhưng nó lại là đứa đứng đắn. Nó bảo dù lẽ, cả gì cũng phải phép tắc cưới xin, cẩn thận. Mấy tối ngồi bàn chuyện ở bờ đê, nó ngồi cách ra, ngay ngắn, không ngả ngốn, bờm xơm, nên tao sợ nó khinh cho.

Chị kể, ít lâu sau đó, một tay y sĩ về hưu, từ tỉnh bên cạnh đến lang thang chữa bệnh ở làng. Hắn đến chữa hen cho chị, vạch mông chị ra tiêm. Tuy chị đen, nhưng mông cũng trắng. Tiêm xong, hắn day mãi, bảo cho tan thuốc, nếu không dễ bị áp xe. Tối, hắn ăn cơm và nghỉ lại. Tờ mờ sớm, chị dậy nấu cám lợn dưới bếp. Hắn mò vào bảo ngồi sưởi ấm, đêm lạnh quá không ngủ được, rồi vật chị ra. Chị cho ngay, không phản ứng gì. Chị đang muốn thế. Nhưng không kết quả. Mà hắn lại về quê hắn mất rồi. Hắn nhắn, nếu muốn chữa bệnh hen cho khỏi hẳn, thì xuống nhà hắn. Chị nghĩ nhiều lắm. Người ta còn phải mất một chỉ kia mà. Mà lại chỉ của thằng đánh rậm. Ðằng này y sĩ hẳn hoi. Chị mò xuống quê hắn hỏi thăm nhà. Y sĩ nào, làng này làm gì có ai là y sĩ. à, tay y tá bị đuổi việc ấy à, lối cuối xóm kia kìa. Chị chép miệng, mặc kệ, còn hơn thằng tù, đã chót đi mấy chục cây số, chẳng lẽ lại về không. Nhưng con vợ hắn đáo để quá. Ðêm, hắn dậy đi giải, vợ hắn cũng đi giải, hắn dậy vờ hút thuốc, vợ hắn cũng dậy vờ khát nước... Hơn một tuần, chẳng nước non gì, chị đành khăn gói ra về.

Chị bảo Mận:

- Tao xấu quá, nếu được như mày, có khối đứa thèm. Khối đứa thèm Mận thật. Ðứa thì vợ đẻ toàn con gái. Ðứa con gái, con trai đủ cả, nhưng vợ lại mắt trắng môi thâm. Nhiều đứa ở xa cũng mò tới. Thằng chủ cá, đứa xe ôm, thằng thợ may, đứa thợ gò hàn. Mận cười bảo:

- Về bỏ vợ đi rồi hãy đến.

- Nhưng anh để em ở riêng cơ mà. Nếu cần em vẫn cứ ở nhà em, làng em.

Mận bĩu môi:

- Thôi đi, anh hãy để của quý của anh mà dùng, nhà tôi không có mả chồng chung.

Mận đuổi đi có tới cả một tá. Nhưng trong lòng, không phải Mận không ước ao, thèm khát. Ðến nhà ai, thấy vợ chồng người ta âu yếm nhau, Mận thèm lắm. Mận mong gặp được ai đó. Nhưng người ấy như thế nào nhỉ. Mận đã ba mươi, đã gái xề. Mận lại nghèo, chẳng hơn gì chị. Vậy người như thế nào sẽ chịu lấy Mận. Mận không thể hình dung ra nổi người ấy. Nhiều lúc Mận cũng muốn dấn thân, mặc cho số phận, đến đâu thì đến. Lắm lúc Mận như con dở: Hai người đang nằm khóc, Mận ngồi bật dậy diễn "Súy Vân giả dại" cho chị nghe. Rồi Mận bắt chước kẻ khóc chồng. "ới anh ơi, sao anh nỡ bỏ mẹ con em ở lại, anh đi thế này, bây giờ hồn anh lang thang vật vờ ở đâu..." Rồi Mận khóc thật, khóc như mưa. Rồi hai người lại cùng khóc. Mận nhớ con điên dại. Rồi Mận biên thư cho hắn. Rồi hắn thuận để Mận đón con về. Rồi Mận đi Buôn Mê Thuột. Và chị theo con Tị sang Tàu.

Bây giờ Mận sống vững vàng cạnh con. Con Mận đã học lớp tám. Nó đang ngủ say tít chẳng biết hai người nói chuyện gì. Chị hỏi:

- Nghe nói bây giờ học hành tốn kém, phải đóng góp nhiều khoản tiền lắm phải không.

- Tốn kém lắm, em đến phát sợ.

- Vậy mày xoay sở cách nào. Trông vào mấy sào lúa sao đủ được.

- Ðủ nghề chị ạ. Ðông xuân đi chợ cá, hè đi bán giát giường, mùa thu đi bán chè. Nhưng kiếm được dăm ba nghìn, cũng có khi một vài chục nghìn, cũng khốn nạn lắm.

Mận kể chuyện đi bán chè. Mua xong, thằng thì vuốt má: "Em xinh quá!", thằng thì cầm tay "tháng sau, nhớ đến nhé". Có thằng trắng trợn thộp luôn vào ngực. Có thằng pha thử một ấm to rồi chê không mua. Mận nói luôn: một lạng chỉ được năm sáu ấm, mất năm trăm của em rồi đấy. Nó sĩ diện quăng năm trăm ra trả.

- Em đút túi liền, mẹ nó chứ, nửa quyển vở của con mình đấy.

- Ði giát giường tươm hơn phải không?

- Tươm hơn, nhưng cũng khốn nạn hơn, lắm lúc nghĩ như mình đang ăn thịt chính mình.

Mận kể, có lần Mận đạp xe đi gần bảy mươi cây số đến tận mỏ Ðông Triều. Ðến nơi chỉ bán được mỗi một cái. May mà ngủ, ăn cơm nhà bà Thỉnh người làng, không thì tiền lãi không đủ ăn cơm hàng ngủ trọ. Hôm sau về sớm đến nông trường Sao Ðỏ, Chí Linh, đành bán hòa ba chiếc, chả lẽ lại đèo về. Một lần rẽ vào một ngõ núi, một thằng mặt non choẹt hỏi mua. Mận nói năm mươi nghìn. Nó bảo: "Thôi, anh cứ trả ba nhăm nghìn, nếu bằng lòng mang vào lắp thử, rồi anh em mình cùng nằm thử với nhau". Mận đã định nói chua: "Tao có nằm thử thì thử với bố mày, chứ đâu với mày". Nhưng vắng vẻ sợ nó đánh, đành chửi thầm quay ra. Một lần khác, vào một làng, một thằng đòi bớt một chục sẽ mua cả hai chiếc. Nó đưa về nhà, chặt bớt cho vừa giường, lắp xong đâu đấy, nó bảo chịu tiền, tháng sau nó trả. Mận đành tháo ra định quấn lại, nhưng nó giằng co, bảo nó sẽ trả lãi tháng năm phần trăm. May lúc ấy có một bà gọi cổng, hóa ra nó đóng cổng từ lúc nào rồi. Lúc Mận ra, cùng đi, bà ấy bảo: may cho cô nhé, không thì mất cả chì lẫn chài, cái thằng chó má nhất làng đấy.

- Hóa ra mày cũng khổ lắm nhỉ.

- Cũng chỉ vì con cả thôi chị ạ.

Chị cũng chỉ vì con. Bây giờ chị đã có hai con, hai con trai cả. Chị đã đạt được ước nguyện làm mẹ. Nhưng chị còn khổ hơn Mận nhiều.

Chị vừa khóc vừa kể. Ði ô-tô, hai ngày một đêm mới đến nhà con Tị. Ðường hai bên toàn núi với rừng, chỗ núi đất, chỗ núi đá. Ðường đi chênh vênh, vòng vèo, lúc lên cao xuống thấp, có lúc nhìn sâu hoắm phía dưới chính là quãng đường mình vừa đi qua. Ðến nơi, chị lăn ra ốm, rồi lại lên cơn hen. Con Tị mời y sĩ đến. Y sĩ bảo:

- Bệnh này lâu rồi, mãn tính, có chữa, chỉ khỏi tạm thời.

Con Tị quát chị:

- Ðáng lẽ bà phải bảo trước tôi chứ.

Chị nhìn nó như van:

- Hay mày đưa tao về vậy. Tiền mày đưa, chi phí bao nhiêu, tao hoàn lại tất.

Nó nguýt chị:

- Về bán nhà, bán vườn để trả hả. Tôi ở lại mấy tháng hay mấy năm để chờ chị bán. Thôi đã chót rồi, cứ để người ta chữa cho chị. Rồi tôi đi kiếm mối. Nồi méo úp vung méo vậy.

Nó đi kiếm mối. Nhưng mối nào tới xem cũng lắc đầu chê xấu quá. Cuối cùng cũng có người mua. Ðó là chồng chị. Chồng chị lúc đó năm tư tuổi, hơn chị hai chục tuổi. Ðàn ông Trung Quốc ngoài bốn nhăm tuổi là không lấy nổi vợ rồi, hơn nữa lại nghèo, lại ở nơi heo hút, cách nhà con Tị một ngày đường, lấy được vợ cũng là may rồi, giá chị có tập tễnh thọt chân cũng lấy. Ðấy là về sau, khi đã có con, chồng chị mới nói ra như vậy. Chồng chị có bốn anh em trai, chồng chị là anh thứ hai, con em dâu quê Thái Nguyên là vợ người thứ ba. Hai người còn lại đều lấy vợ Trung Quốc. Bốn anh em ở chung một nhà do bố mẹ để lại, ngăn vách ra làm bốn, chung cửa ra vào.

- Hôm đến có cỗ bàn gì không? - Mận hỏi.

- Cũng thịt một con ngỗng, thổi xôi, cúng bái. Mấy anh em ăn ăn uống uống, vui mừng lắm, nhưng líu la líu lường, chả biết nói những gì, chắc là trêu nhau.

Ðể chị bớt buồn, Mận hỏi tếu:

- Rồi tối?

- Thì nằm ườn ra đấy, mặc xác nó vần vò thế nào thì vần vò.

- Bao lâu thì có con?

- Ðược năm tháng thì có chửa. Thằng lớn bây giờ ba tuổi rưỡi rồi. Thằng bé mới hơn một năm.

- Thôi chứ?

- Triệt chứ?

- Triệt sản rồi.

- Nó có nói được tí tiếng nước mình nào không?

- Tao cũng dạy nó, nhưng nó chỉ nhớ được tiếng gọi "mẹ ơi". Nếu gọi mẹ bằng tiếng Tàu, tao không trả lời. Thế mới nhớ đấy. Lúc buồn, tao dạy nó hát "Bèo dạt mây trôi... chốn xa xôi...". Nó hát: "Pèo dẹ me chuôi..." Rồi lăn ra cười: "Tiếng Việt khó lắm, không học được!" Tao điên tiết phát cho mấy cái bảo: "Nhưng mẹ mày là người Việt, mày phải nói được tiếng Việt, hát được tiếng Việt, rồi có ngày còn về Việt Nam thăm ông bà, nếu không đừng có mẹ nữa". Nhưng khó lắm, đi làm suốt ngày, thời giờ đâu dạy nó.

- Thế thì tiếng chị cũng khá rồi đấy chứ.

- Cũng phải học chứ biết làm thế nào.

- Có học chữ của nó không.

- Chữ như que, gậy, có cái trông như cái cào răng, lại móc lên như lưỡi câu ấy, học thế nào được, mà học để làm gì.

- Nhà có ti-vi chưa?

- Lấy tiền đâu ra mua ti-vi, ngày hai bữa cháo ngô, một bữa cơm còn vất.

- Sao bảo ti-vi đen trắng bên ấy rẻ lắm.

- Rẻ, tính ra tiền mình chỉ hơn trăm nghìn, nhưng nợ như thế, bao giờ mua được ti-vi.

- Thế mà làng mình bây giờ năm bẩy nhà một chiếc, mà hầu hết là mầu, tất nhiên hầu hết là mầu nội địa.

- Chuyện, làng mình còn có ruộng, có nghề, ở đấy toàn núi, trồng sắn, trồng ngô thôi. Như nhà tao là chỉ có hai thước ruộng.

Mận ngơ ngác hỏi, tưởng như nghe nhầm:

- Hai thước ư, có khác thước mình không?

- Như thước mình, hai bốn mét vuông.

- Vậy làm ăn, sinh sống thế nào.

Chị thở dài:

- Phát nương, làm rẫy, làm thuê, chứ thế nào nữa.

Ngừng một lát chị tiếp:

- Mày biết không, ban ngày khí núi bốc ra nóng hầm hập, mùa đông, ngày cũng nóng muốn cởi trần, đêm thì mùa hè cũng lạnh, tối tắm vẫn phải đun nước nóng. Mỗi khi chiều xuống, bất kể mùa đông, mùa hè, trời và đất cứ tím sẫm lại, nhớ nhà ghê lắm.

- Thế thì khác gì người Dao, người Mèo của mình.

- Thì Mèo Dao thật chứ còn gì, người Choang cũng bao nhiêu giống khác nhau ấy chứ.

- Thế thì sang làm chó gì nữa. Thôi, ở nhà.

Mẹ chị, anh chị em chị cũng bảo thế. Con Tàu, chứ đâu phải con mình. ở nhà, xin đâu chẳng được đứa con đem về nuôi. Bây giờ chửa hoang, con hoang, vứt con lại bệnh viện vô khối. Ti-vi cũng nói thế cơ mà. Nhưng bố chị mắng: "Bỏ là bỏ thế nào" - Ông hàn nồi nói chữ "mẫu tử tình thâm, xui con cái chuyện thất đức".

Phải, chị bỏ làm sao được. Nó là máu thịt của chị. Nó cười, nó khóc, nó hờn dỗi chị. Nó xú xí, hôn chị, ngả ngốn trong lòng chị. Nó lẫm chẫm tập đi, bập bẹ tập nói. Nó làm chị lo âu, vui mừng, sung sướng. Nó là thế giới sinh động của chị trong cái bầu trời và đất triền miên tím sẫm kia. Sao chị có thể bỏ được.

Hôm chị về, chồng chị bảo:

- Về xem thế nào, bán đất vườn đi lấy tiền trả nợ và nuôi con.

Chị cáu tiết:

- Nợ là anh vay để mua tôi, anh làm ra mà trả. Ðất vườn của tôi, tôi cứ để đấy. Nếu sống ở đây khổ quá, tôi sẽ mang chúng nó về quê tôi, về Việt Nam tôi nuôi, tôi sẽ cho nó ăn học, nó sẽ thành kỹ sư, bác sĩ, anh hiểu không.

Tới đây chị hơi vui bảo Mận:

- Tuy vậy vẫn không giận tao đâu. Lúc bế con ra tiễn, vẫn tình cảm ra phết: "Về nhà, tối tắm, nhớ đun nước nóng, kẻo ốm" à, con mày có còn cuốn tập đọc lớp một không. Tao đã xin được cuốn vần vỡ lòng rồi. Tao sẽ mang sang dạy chúng, chúng phải nói được tiếng Việt, viết được chữ. Lần sau, tao về, có thể là dăm ba năm nữa, nhưng nó phải nói được chào ông, chào bà, xưng cháu, đọc được tên làng, tên xóm của mẹ nó, tao mới mang theo về.

Mận biết, không ai có thể ngăn nổi chị đi, nhưng chia tay nhau buồn quá, nên gặng chị:

- Hay ở nhà vài hôm nữa, hội chùa xong rồi hãy đi.

- Thôi, tao nhớ con lắm, mà ở đấy cũng đầy lễ hội, nơi càng nghèo càng lắm hội hè.

- Nhưng chị phải cẩn thận, kẻo con em dâu nó lại lừa bán chị đi nơi khác, lại mất cả con lẫn chồng, Trung Quốc bao la như thế biết đâu mà tìm.

- Không lo đâu. Tao già rồi, lại xấu thế này, không bán nổi nữa đâu.

Chị nói như mếu.

Sáng hôm sau chị đi sớm. Chị nói dăm ba năm nữa chị lại về thăm nhà. Bao giờ chị mới trả xong nợ mà về.

Mà đâu chỉ nợ tiền, những nợ khác còn nặng hơn nhiều lắm. Ðến lượt Mận khóc.

Tháng 10-1998
N.B
(Văn nghệ - số 44)


Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Những mảnh vụn

Ngô Ngọc Bội

Truyện đã cách đây hơn hai mươi năm. Trong một buổi chiều trời bắt đầu se lạnh, từ cơ quan Mơ ôm về chiếc vỏ chăn tiết kiệm. Nét mặt cô vừa sượng sùng vừa hân hoan, giơ trước mặt chồng.

- Em vừa mua được cái này. Cũng phải bình nghị mãi, nhà mình "hoàn cảnh" nhất mới được ưu tiên.

Biền đỡ cái vỏ chăn vội vàng giơ lên xem. Ðây là cái vỏ chăn hai lớp, can từ hàng trăm những mảnh vải vụn, mầu xanh công nhân. Những mảnh vụn từ xí nghiệp may nào đó, rồi một lớp người nào đó chắp vá thành chăn. Biền mừng và thốt lên:

- Thế nhà ta "hoàn cảnh" gì mà được ưu tiên?

Nét mặt Mơ chợt xịu xuống, dằn dỗi:

- Anh còn không biết hoàn cảnh gì à?

Biền sực tỉnh liếc nhìn vợ: Ôi... Mơ đã sắp tới ngày.

- Anh xin lỗi em. Hoàn cảnh công tác của anh. Cái nghề phóng viên quèn trong chiến tranh này, suốt năm, suốt tháng lang thang, hết Quảng Bình, Vĩnh Linh, lại Hàm Rồng, Long Ðại, ở nhà em tự lo như vậy, thật cảm ơn.

Nhưng còn nét mặt ỉu xìu trầm lắng của Mơ, không chỉ hàm chứa giận chồng về mặt vô tâm, nó còn khắc sâu nhiều điều khác nữa. Trong đó có một điều, từ khi vợ chồng cưới nhau, cho tới nay đã hai năm, việc sắm sửa đầu tiên cho cái tổ ấm sáu mét vuông này chính là cái vỏ chăn tiết kiệm. Nó cũng trị giá bằng một phần tư số lương tháng của vợ anh. Biền an ủi vợ:

- Thôi, đừng buồn nữa em. Có cái vỏ chăn này chúng mình cũng đỡ lo một phần.

Bốn tháng đi phục vụ chiến dịch Quảng Trị, khi quay về thì Mơ đã sinh cái Lợi được hai tháng. Lúc ấy trời vẫn còn lạnh. Biền ôm chiếc vỏ chăn ra bàn làm việc của cơ quan căng màn ngủ. Anh thầm nghĩ: nếu không có cái vỏ chăn này không biết tối nay anh sẽ chui vào đâu.

Chẳng biết cái vỏ chăn có bao nhiêu mụn vải, mụn lớn nhất bằng bao diêm, nhỏ nhất bằng lá lúa. Có lúc lẩn mẩn Biền đã đem ra đếm thử, nhưng lẫn lộn lung tung, nó chẳng ra hàng lối gì. Nó chỉ là cái vỏ chăn, nhưng nhờ những mép vụn còn ùn lại phía trong tạo thành một lớp mền dày, giữ hơi ấm tuyệt vời. Nó nặng tới bốn cân. Nó chẳng mỏng manh như vỏ chăn "con công" của các cô gái. Không đếm được rành mạch từng mảnh vụn, Biền lại nghĩ tới người nào đó, chẳng biết ở hoàn cảnh nào đã kỳ công khâu thành? Có phải là một cô gái đang "phục hồi nhân phẩm", hay một bà già không có công ăn việc làm. Người ấy chắc phải có tính kiên trì lắm. Khéo tay và sắt se lắm mới làm nổi. Ðây là một công trình lao động. Công trình mỹ thuật, chứ không còn ở phạm trù "tiết kiệm" nữa.

Sống trên mặt bàn làm việc của cơ quan và cái buồng xép sáu mét vuông, vợ chồng con cái Biền cũng trụ được tới chín năm. Vì cơ quan xa, sáng ra Mơ phải đi rất sớm. Còn Biền trở dậy ôm tất cả chăn màn về buồng vợ. Nhưng rồi anh phát hiện ra ngay ở những kẽ tủ, kẽ bàn làm việc có thể nhét chăn màn vào đấy và khẽ nói với bà phục vụ cho anh để nhờ. Rồi anh tình nguyện riêng buồng này anh sẽ chịu trách nhiệm làm vệ sinh. Khi anh em trong phòng đến làm việc, thì Biền đã chững chạc ngồi tại bàn mình. Anh em khen: "Ông Biền lúc nào cũng là người giờ giấc nghiêm túc nhất!". Biền chua chát: "Tôi nhập được cách sống của loài chuột, loài gián đấy, ông ạ".

Thế rồi năm thứ mười vợ chồng Biền dùng cái vỏ chăn tiết kiệm, anh được cơ quan phân phối cho căn hộ mười tám mét vuông trên tầng năm - một ngôi nhà tập thể lớn, cạnh cái hồ nước mới đào của thành phố. Về nhà mới, hai năm đầu chưa có điện nước. Vợ đi làm xa, ngày nào Biền cũng phải đem quần áo của cả nhà xuống hồ giặt giũ, và gánh bảy gánh nước lên tầng đổ vào thùng phuy cho vợ con dùng.

Sống như thế nhưng đời đâu hết hoạn nạn. Mơ lâm bệnh tim. Ba năm trời anh đèo vợ đi hết bệnh viện Tây y lại sang Ðông y. Rồi Mơ qua đời. Chôn cất vợ xong anh không dám hủy bỏ thứ gì vợ chồng đã dùng. Kể cả những bộ quần áo tàu tàu của Mơ, anh đều giặt cẩn thận rồi gấp cất đi. Anh muốn giữ hơi hướng của Mơ mãi mãi. Cũng có thể những thứ ấy sau này cái Lợi sẽ phải dùng. Nếu không thì cho người thân của anh, của Mơ còn muôn vàn thiếu thốn. Cha con sống quá khổ cực thiếu thốn như vậy, Biền chẳng bao giờ nghĩ mình sẽ bước đi bước nữa. Anh chỉ nghĩ chăm lo học hành cho con gái.

Mười bảy năm Biền dùng cái vỏ chăn tiết kiệm cũng là cái Lợi vừa 17 tuổi, cái Lợi vừa học chữ lại vừa học máy khâu, đi khâu thuê. Một hôm nó ôm về cái vỏ chăn hoa vải Nam Ðịnh. Mặt cái Lợi tươi hơn hớn, chứ không ỉu xìu như mặt mẹ nó ngày xưa ôm cái chăn tiết kiệm về. Nó đưa cho Biền:

- Thôi, hôm nay thì bố phải vứt cái vỏ chăn đi, con biếu bố cái này.

Nó sầm sập ôm vỏ chăn tiết kiệm lao xuống cầu thang. Biền ngồi lặng đi, chẳng ra đồng ý cũng chẳng phản đối. Khi cái Lợi qua khỏi nhà, Biền quay ra ban công nhìn xuống bãi rác ở ven hồ. Nơi đó có hai ba người đang bới rác bằng cái cời sắt. Khi thấy cái Lợi ôm rác ra họ đều ngừng tay, ngóng chờ. Ðứng trên nhà Biền cũng thấy hồi hộp. Khi cái Lợi vứt cái vỏ chăn xuống bãi rác, mọi người xúm lại lấy cời bới tung tung ra. Biền nghĩ thế nào cũng có người nhặt. Dầu sao thì vẫn còn dùng được. Nếu không đem bán cho hàng giẻ rách cũng có giá. Nhưng lạ chưa, họ lại lấy cời cời lại lẫn với rác bẩn. Họ chỉ nhặt giấy vụn, ni-lông và những mảnh nhôm. Biền thấy ruột quặn đau. Khi cái Lợi quay lên, Biền khẽ nói với con:

- Con ạ, con vứt đi bố thấy băn khoăn lắm. Vì dầu sao nó vẫn còn dùng được. Hai nữa nó đã đi gần suốt cuộc đời của bố mẹ. Khi con mới là hòn máu trong lòng mẹ con.

- Thì dùng mãi rồi bố cũng phải "hóa kiếp" cho nó chứ?

- Không, nhưng mà bố còn một băn khoăn lớn nữa, bố chưa được gặp cái người khâu ra nó.

- Ôi dà, bố hay cả nghĩ. Coi chừng, bố lẩn thẩn rồi đấy. Cái người khâu ra nó chắc cũng đã được hóa kiếp rồi.

- Không, con phải xuống mang về cho bố. Nếu không bố sẽ không chịu nổi.

- Thế bố định giữ tới bao giờ?

- Bao giờ bố xuống lỗ thì con chôn theo cho bố. Về dưới ấy bố mẹ sẽ lại đắp chung.

Cái Lợi chạy xuống ôm vỏ chăn về, nó giao hẹn với Biền:

- Ðem về thì đem nhưng bố không được đắp nữa. Nhà mình trống trải chẳng có buồng, chẳng có màn gió. Bố đắp, khách khứa đến chơi, người ta cười con.

Vụ rét tiếp theo Biền đem trải lên chiếu nằm. Cái Lợi sắm thêm cho bố cái ga bằng vải hoa, mầu hoa cà phủ lên vỏ chăn cho khuất. Nó ý tứ vì biết bố rất yêu mẹ nó. Bố dùng mầu hoa cà mới hợp.

Con gái Biền học giỏi. Tốt nghiệp đại học nó được phân công đi phụ giảng ở trường Ðại học sư phạm hai. Cách chỗ ở hơn ba mươi cây số. Thế là niêu cơm của hai bố con Biền phải chia đôi. Lúc này Biền đã ở tuổi năm mươi, sức khỏe thuộc loại B. Mỗi lần về thăm bố, cái Lợi tỏ ra sốt ruột:

- Thế bố vẫn chịu sống thế này thôi à bố?

- Thế con bảo bố sống thế nào?

- Chắc phải hóa kiếp cái vỏ chăn kia đi thì rồi bố...

Nói thế, nhưng không bao giờ cái Lợi dám "xúc phạm" tới cái vỏ chăn tiết kiệm. Biền nói với con:

- Thôi thì con cố ở trên ấy vài năm, rồi dần dần xin chuyển về gần bố. Mà có yêu thằng nào cũng phải yêu cái thằng nó có hộ khẩu ở nội thành. Rồi đưa nhau về đây mà ở.

*
* *

Thế là lại qua đi vụ rét thứ hai mươi hai Biền dùng chiếc vỏ chăn tiết kiệm. Hôm nay trời nắng to, anh mang nó ra hồ giặt. Vừa mới xát bàn chải lên chăn thì từng đường chỉ khâu mủn tung ra. Hai mươi hai năm rồi còn gì nữa. Nhưng anh vẫn không chịu bỏ. Anh gượng nhẹ giặt cho sạch, rồi giăng lên bức rào gần đấy, phơi. Làm xong mọi việc vệ sinh trong nhà để đón mùa nắng ấm thì đã một giờ chiều. Anh hạ lưng nghỉ và chợp đi một giấc. Chợt có tiếng gõ cửa. Tiếng gõ vừa rụt rè, nhút nhát vừa hấp tấp. Biền rút chốt hé cửa. Trước mặt anh là người đàn bà rách rưới bẩn thỉu. Ðầu đội nón mê, tay xách bị cói. Thấy Biền chị ta lắp bắp, sợ sệt:

- Em làm phiền bác quá!

- ăn xin chứ gì? Biền đang định quay vào lấy ví thì người đàn bà nói nhanh:

- Vâng, em đi ăn xin, nhưng lúc này lên với bác em không phải để ăn xin. Bác là bác Biền có phải không ạ?

- Phải. Thế có chuyện gì?

- Cái vỏ chăn phơi ở dưới kia là của bác ạ?

- Ðúng. Thế thì sao?

- Có phải bác đã dùng hơn hai mươi năm nay?

- Ðúng. Làm sao mà cô biết?

- Chính tay em đã khâu ra nó!

- A...a... a! Thật à! Thế thì mời cô tạm vào trong nhà.

Người đàn bà len lén bước vào góc nhà.

- Cô ngồi xuống kia, tôi pha nước cô uống.

Người đàn bà trấn tĩnh dần. Và cố tranh thủ thanh minh để cho chủ nhà chóng tin:

- Nhìn thấy cái vỏ chăn ấy, người em sửng sốt nóng bừng bừng. Cứ thấy như cả cuộc đời đã qua của mình hiện lên. Em đi gõ cửa từng nhà, từ tầng một đến tầng ba. Có một bà già phúc hậu bảo vỏ chăn ấy là của bác Biền trên tầng năm, nên em mới tìm lên chỗ bác.

Biền cảm thấy có cái gì như mộng ảo, như huyền thoại. Nhưng anh vẫn chưa dám tin và đang nghĩ cách thẩm tra:

- Có gì chứng minh là cô đã khâu cái chăn ấy?

- Em làm thì em nhớ, mặc dầu đã hơn hai mươi năm rồi. Bác đem về bác đếm nó sẽ là 1.534 miếng vụn. Không đúng thì bác có quyền lột xác em.

- Làm sao mà đếm được, nó sẽ lẫn lung tung.

- Nếu vậy, em sẽ đếm cho bác coi.

- Chuyện lạ đấy. Vậy cô ngồi uống nước, tôi sẽ mang lên ngay.

Nhờ trời nắng to, cái vỏ chăn đã khô cong. Người đàn bà ôm vỏ chăn vào lòng nước mắt dàn dụa:

- Bác cho em xin một viên phấn.

Biền mở ô kéo chiếc máy khâu của con gái, đưa cho người đàn bà viên phấn mầu. Người đàn bà đứng lên:

- Bác cho em trải cái vỏ chăn lên giường của bác. Em cứ đếm đúng một trăm thì bác gạch một gạch vào mảnh giấy của bác.

Biền lấy giấy bút ra. Người đàn bà vạch phấn lên từng mụn vải một. Miệng đếm một, hai, ba, bốn... một trăm. Hiểu ra cách đếm của người đàn bà, Biền òa lên sung sướng. Người đàn bà thấy chủ nhà vui cũng hồ hởi dần:

- Ngày xưa khâu xong cái nào em cũng đều phải đếm như thế này để ghi công. Tý nữa đếm xong em sẽ dở cho bác xem con số mà em đã ghi ở trong lần trái cái chăn này, sợ lâu ngày thế, nó có còn nhìn thấy hay không. Xong rồi! Bác thử cộng xem có đúng với con số em nói với bác không?

- Cô bảo là bao nhiêu nhỉ?

- 1.534, bác ạ!

- Ðúng. Chịu "thầy"!








Người đàn bà lại hăm hở lật trái chiếc chăn. Tít mãi tận góc cuối cùng có miếng mụn bằng con tem vẫn còn ghi nguyên con số trên, bằng mực cửu long, khá rõ. Hai người nghỉ tay và cùng uống nước. Biền nhìn người đàn bà, trầm ngâm:

- Ở hoàn cảnh nào mà cô chịu ngồi khâu cái vỏ chăn như thế?

- Chuyện dài lắm chẳng biết bác có chịu nghe hay không?

Lúc ấy trời đã gần tối. Nỗi băn khoăn của Biền hàng chục năm nay, lần này có cơ tháo gỡ.

- Thôi được. Nếu vậy thì hôm nay cô nghỉ lại đây. Chắc bây giờ cô cũng chẳng còn biết đi đâu.

- Ở lại đây rồi bác gái về bác ấy xé xác em!

- Vợ tôi mất từ lâu rồi. Hôm nay thứ tư, con gái tôi nó cũng không về. Cô ở lại với tôi không vướng bận gì. Rồi cô kể cho tôi nghe câu chuyện của cô. à, hàng ngày thì cô ở đâu nhỉ? Tên cô là gì nữa?

- Tên em là Xuyến, Minh Xuyến. Quê em ở dưới đồng bằng. Dưới quê em có một túp nhà, mẹ em để lại, và ba sào ruộng khoán. Nhưng mẹ em đã chết lâu rồi. Quê em có tập quán xấu. Rỗi rãi là hay rủ nhau đi ăn xin. Ði ăn xin người ta bịa ra đủ mọi hoàn cảnh: Bị bão lụt, bị hỏa hoạn, bị nhỡ đường, bị trấn lột. Bị con ốm nằm bệnh viện lâu, bây giờ ra viện không có tiền về quê... Nghĩa là nói thế nào cho người ta xiêu lòng.

- Thế cô cũng đi "hành nghề" lâu rồi à?

- Cũng đã sáu bảy năm nay.

- Nhưng ở hoàn cảnh nào thì dễ xin nhất?

- Dễ nhất là có con mọn ôm trên tay.

- Thế lần này lên không có con thì cô nói thế nào?

- Cứ bảo là bệnh tật, là đi kinh tế mới, bị trấn lột ngang đường, cũng tùy cơ ứng biến. Nhìn từng đối tượng mình xin mà bịa ra cho hợp.

- Cô cũng nhiều kinh nghiệm đấy.

- Vâng. Nhưng lần này em lên là vì có con bạn nhắn lên. Nó tên là Thu. Bạn từ ngày còn ở thanh niên xung phong chống Mỹ. Nghe nói nó mới có con. Nhưng lên tới nơi thì buồng nó khóa cửa. Hỏi người ta bảo Thu bế con về thăm bà ngoại, em mới lang thang tới đây.

- Thế cô là thanh niên xung phong?

- Vâng. Cả cái Thu nữa. Chúng em đi đợt năm 1966. Hết đợt một, năm 1969 cái Thu quay ra đi học. Em đăng luôn đợt nữa đến năm 1972.

- Thế cô khâu cái chăn ấy vào dịp nào. Nhưng thôi, để đến tối kể.

- Ðời cái Thu cũng khổ cực lắm, anh ạ. Nhưng nó hơn em là có con và được ở thành phố. Hơn bốn mươi tuổi mà có con được thì mừng lắm. Nhưng nó có con rồi lấy gì mà nuôi con. Cái cơ quan của nó suốt ngày "đoán gió dò mưa" nghèo như xơ mướp.

- Thôi được. Cô đi tắm đi. Tôi chạy ra chợ kiếm thức gì về thổi cơm.

- Em không có quần áo thay. Ði ăn xin em chỉ mặc thế này thôi. Về với cái Thu em thay bằng quần áo của nó.

- Gớm ghiếc lắm, bẩn thỉu lắm. Người đã may cho tôi cái chăn tôi đắp hai mươi năm nay, không được bẩn thỉu thế này. Vừa nói Biền vừa mở hòm lấy ra bộ quần áo của Mơ - Ðây là quần áo của vợ tôi ngày xưa, cô mang thay. Trong buồng tắm có xà phòng, có nước bồ kết. Cô tắm gội cho sạch, tôi đi một lúc tôi về.

Ðường từ nhà ra chợ, trong lòng Biền khấp khởi: biết đâu đây chẳng là số kiếp. Ra phố, Biền cố ý loăng quăng để cho Xuyến có nhiều thì giờ. Khi về, Xuyến đã mặc bộ đồ của Mơ đang đứng trước gương chải tóc. Trông Xuyến đã thay đổi hẳn. Xuyến nguyên là một cô gái đẹp. Nhưng nay thì đã quá tàn tạ. Nhìn thấy Biền về, Xuyến tỏ ra bẽn lẽn:

- Trông em có giống chị ấy ngày xưa chút nào không anh?

- Chỉ giống đều là đàn bà thôi. Vợ anh ngày xưa đậm người, còn em thì mỏng như tờ giấy.

- Em ngày xưa to khỏe lắm, anh ơi. Ngày xưa em năm mươi ba ki-lô, bây giờ em chỉ còn bốn mươi ba ki-lô thôi.

Cũng là một cử chỉ rất tự nhiên, khi hai người khác giới cô đơn sống bên nhau, lại có những hoàn cảnh rất thuận lợi. Biền đi lại phía Xuyến, quàng vai Xuyến cùng ghé vào gương - "Chúng mình cũng vừa đôi đấy chứ nhỉ". Xuyến liền ngả đầu vào Biền, hai người dìu nhau lại giường. Xuyến trơ ra như một khúc gỗ mục.

- Em làm sao thế?

- Em chẳng làm sao cả.

- Như khúc gỗ mục thế này à?

- Em không biết. Có bao giờ em...

Chợt có sự thức tỉnh của đạo đức, Biền buông Xuyến ra. Xuyến vùng lên ôm ghì Biền xuống:

- Em van anh, em lạy anh, anh đừng khinh em, đừng bỏ em. Gần chót đời em chưa biết thế này là thế nào. Anh cho em được làm đàn bà với. Chả nhẽ chết đi em vẫn là... Cái Thu nó đã có con. Nó đã mãn nguyện. Em tội lỗi gì mà đời hắt hủi em.

Thực tình Biền cũng không phải là người tuyệt đối đứng đắn. Các cụ bảo rằng: "Rắn đến nhà chả đánh cũng quái..." Anh lại ôm Xuyến và lăn lộn xoay xở đủ vành. Nhưng Xuyến vẫn cứ trơ trơ.

- Khốn khổ, em không còn là đàn bà nữa rồi.

- Ai bảo anh thế, em còn tất cả.

- Ðúng, nhưng nó chỉ còn là cái xác thôi. Không có cái hồn nữa. Ngực của em đã teo hết. Chỉ rõ hai cái núm nhỏ như ngực đàn ông. Nó vô dụng.

- Thế là hôm nay em được đắp chung với anh cái chăn tự tay em khâu. Ðây là cả đời con gái của em... Biết đâu trời phật đang định trả công cho em. Ðời em vất vả lắm, anh ơi. Bố em chết trẻ. Khi bị truy bức, bố em tự sát. Mẹ em ở vậy nuôi em ăn học. Bà ngầm thu vén em nên người để trả nợ cho đời. Năm mười lăm tuổi em đang học lớp tám nhưng người em đã phổng phao đầy đặn . Giữa lúc phong trào đi thanh niên xung phong, phục vụ chiến trường nổi lên rầm rộ. Em xin đi, mẹ em buồn nhưng không ngăn cản. Ông cậu ruột em lúc ấy là chủ tịch xã, khai tăng cho em hai tuổi để em được đi. Lúc đầu ra đi chúng em đóng quân ngoài Quảng Bình, sau dần dần chuyển vào tuyến trong. Những năm đầu em rất khỏe. Ba năm liền không phải thuốc thang. Nhưng từ năm thứ ba trở đi thì em ốm quặt quẹo. Mái tóc rụng gần hết, kinh nguyệt thất thường. Thế rồi mất hẳn. Hồi ấy bọn nữ chúng em một trăm phần trăm mất kinh nguyệt. Nhưng tuổi thanh niên đang hăng hái chúng em cứ ào đi. Không thấy có kinh nó lại giúp mình đỡ phiền hà. Vì ở chiến trường đâu đâu cũng thiếu nước, thiếu điều kiện làm vệ sinh. Em đã mất tới gần một năm. Rồi một chị bác sĩ vào khám sức khỏe. Chúng em nói ra chuyện ấy, chị bác sĩ nghe nét mặt cứ tái xám. Vội vàng đề nghị với cấp trên cho chúng em lui ra Quảng Bình điều trị. Hồi ấy chúng em gồm mười bốn chị em. Vì chúng nó mới bị nên chỉ vài tháng là phục hồi. Riêng em vẫn cứ trơ trơ. Trạm xá chuyển em ra điều dưỡng dài hạn ở đồng bằng. Trạm điều dưỡng toàn là người què cụt, hay thần kinh. Riêng em chẳng sao cả, chỉ thấy người dần dần khô đi. Ðiều dưỡng gần một năm thấy em ngán quá. Suốt ngày chỉ chực hai bữa ăn, lại ngủ, lại đánh tú lơ khơ. Nhiều lần em đòi ra viện, nhưng chị trạm trưởng nhất định không nghe. Chị động viên: "Em cứ phải kiên tâm. Nhiệm vụ thanh niên xung phong là vô cùng cao quý, và đầy sự hy sinh. Người chết thì đã chết rồi, ai thành thương tật thì đã có sở Thương binh ghi thương tật. Còn em, em xin ra chị chẳng biết ghi cho em thế nào. Lương tâm chị là phải trả lại quyền làm đàn bà cho em".

Ðể cho chúng em đỡ nhàn rỗi dễ sốt ruột, chán nản, chị trạm trưởng bày cho chúng em tập máy khâu. Nhưng rồi lấy đâu ra vải mà khâu, trong chiến tranh cái gì cũng khan hiếm. Chị trạm trưởng liên hệ với xưởng may cũng sơ tán gần trại. Người ta cũng chẳng có vải cung cấp cho chúng em khâu. Xưởng may này chuyên may quần áo bảo hộ lao động, họ cung cấp cho chúng em những mụn vải, hướng dẫn cho chúng em can thành những cái vỏ chăn, cái áo gối... bán cho người tiêu dùng. Chính là cái vỏ chăn này đây.

Em ở trạm điều dưỡng hai năm, bệnh tình cũng chẳng khỏi. Hòa bình năm 1973, trại điều dưỡng giải thể, em xin về với mẹ em. Vì lúc đó mẹ em đã già yếu, mà chỉ có một mình em.

*
* *

Thế rồi em nhận được thư của cái Thu gửi về qua địa chỉ của mẹ em. Nó cho biết, nó đã ra trường từ lâu. Về công tác ở cơ quan "Ðoán gió dò mây". Nhà riêng ở khu tập thể X. Nó mong nếu em còn sống thì phải tìm lên chơi với nó. Ðường từ quê em lên Hà Nội là 90 cây số. Con gái nông thôn như em nói tới lên Hà Nội có khác gì như tìm đường lên cung trăng. Sáu bảy năm trời em không dám thò mặt đi. Thế rồi trận bão lụt năm 1988. Mấy bà trong xóm em rủ nhau lên Hà Nội ăn xin. Em đòi đi theo, lúc đầu thấy em lành lặn mọi người không cho đi. Em kiếm được cái bị rách và mấy bộ quần áo rách của mẹ em để lại. Hình như ngày em còn đi vắng mẹ em cũng đi ăn xin. Ðoàn chúng em đi có bốn bà già và con mẹ Soạn có con nhỏ vừa tám tháng. Con bé cũng kháu khỉnh. Mẹ Soạn thì mới vừa ba mươi hai tuổi. Người nhẹ nhõm chắc lẳn da dẻ hồng hào. Nó vào loại "gái một con... mẩy mày sây hạt". Nhưng ra đi nó chuẩn bị rất chu đáo. Trong bị nó toàn đồ rách rưới. Nó mang theo cả nghệ, lá han, phẩm xanh, nhựa xương rồng...

Từ nhà lên Hà Nội chúng em đi tập thể. Ðến nơi trụ lại ở gầm cầu Long Biên. Trao đổi hội ý xong mỗi người đi mỗi hướng. Em chưa thuộc thung thổ Hà Nội thì đi theo mẹ Soạn, em đóng vai chị gái Soạn đi trông nom cháu ở bệnh viện. Cháu gái được mẹ Soạn hóa trang băng hai mảnh băng. Riêng mặt thì mẹ nó xoa mỏng một lớp nghệ. Vào nhà ai cũng thiểu não kể lể: Trận bão lụt vừa qua con nó bị tai nạn. Lên nằm bệnh viện nhi hơn tháng nay, giờ ra viện hết sạch tiền gạo chẳng thể về được. Bà con "lá lành đùm lá rách, xin sinh phúc..." Thế là gần như một trăm phần trăm người ta cho. Có người cho vài trăm. Có người hào phóng cho cả ngàn đồng. Tối về lại tụ nhau ở gầm cầu. Em và mẹ con nhà Soạn chủ yếu hoạt động ở các khu vực bệnh viện. Hết Bạch Mai, rồi Việt Ðức, Thanh Nhàn... vẫn cứ cái giọng điệu như thế.

Lần mò mãi em cũng tìm đến được chỗ cái Thu ở. Ðấy là một khu tập thể ba tầng. Tầng dưới là các gia đình. Hai tầng trên là độc thân. Mỗi gian mười sáu mét, ở bốn người. Bốn cái giường một, bốn cái hòm gỗ, bốn cái bếp dầu. Những thứ nồi niêu, thùng gạo thì lèn dưới gậm giường. Ðến bữa thổi nấu thì tíu tít. Bốn cái bếp dầu đốt bốn góc, khói bốc lên mù mịt sặc sụa. Em đã mò được tới buồng cái Thu. Nó ở một mình dưới gầm cầu thang lên tầng ba. Hôm ấy em nép vào một chỗ theo dõi nó. Ðã xa cách nhau mười chín năm nhưng cái Thu là loại xinh gái, lại biết ăn diện nên nó cũng chẳng già đi bao nhiêu. Hôm ấy em không ra mặt mà lại quay về gầm cầu Long Biên.

Hoạt động ở Hà Nội hơn 10 ngày. Cuối cùng bà nào cũng được một bọc tiền. Các bà rủ nhau về làm mùa, em xin ở lại ít ngày. Riêng mẹ Soạn bọc tiền càng lớn thổ lộ với em: "Lần này về nó em sẽ mua thêm ít sắt thép đổ nốt cái mái bằng. Từ sang năm trở đi thì không còn lo lụt bão nữa". Em đưa tiễn mọi người ra bến xe, mẹ Soạn đưa cho em ba mươi ngàn đồng, bảo đấy là công của em. Số tiền ấy em đi sắm một bộ áo cánh cũng tạm tạm. Mua ít quà bánh, thuê xích lô đi thẳng tới chỗ cái Thu. Hôm ấy cái Thu đang hí húi thổi cơm, em luồn tay qua đằng sau bịt mắt nó lại. Nó không cựa mà cũng chẳng kéo tay em ra. Nó hỏi:

- Ai đấy nhỉ?

Em ghé sát vào tai nó:

- Mày có còn nhận ra ai không?

- ối cha mẹ, mày có phải là con Xuyến không? Tiếng mày thì thầm vẫn y như hồi còn ở Trường Sơn! - Thu giật bung tay em ra, nó quay lại ôm chầm lấy em. - ối trời đất, con Xuyến nó còn sống thật. Hôm kia nó đã giả làm ăn mày đến đây mà. Con Hảo nó nói: có một đứa ăn xin đến đây hỏi thăm tao. Con Hảo tả hình dáng, tao đoán đúng là mày. Ðã đến đây thì thế nào mày cũng quay lại.

Hồi ấy em ở lại chơi với chị Thu ba ngày. ở cái khu tập thể này còn tới mười sáu chị em luống tuổi chưa chồng. Cái ngành "Ðoán gió dò mưa" này cũng có những thời kỳ lãng mạn. Ðào tạo ở trường xong nhiều chị em xung phong lên Mèo Vạc, Lũng Cú, Sa Pa... rồi thì hải đảo xa xôi, hết tuổi thanh niên trở về già người ta mới cho về xuôi. Cái Thu cũng là người "tốt" số. Vì có đôi chút nhan sắc, được ông trưởng phòng tổ chức bao thầu cho về công tác ở Hà Nội. Tưởng là nên vợ nên chồng. Ai ngờ anh ta bị tai nạn giao thông, chết. Cái Thu héo hắt mấy mất năm.

Thời nào thì con gái có nhan sắc cũng hay gặp cuộc đời lận đận. Xong đận người yêu bị tai nạn giao thông, Thu vẫn còn được nhiều chàng trai dòm ngó. Nhưng các chàng trai đến nhà chơi cứ thấy bốn cô gái độc thân nằm bốn góc nhà, anh chàng nào cũng ngán ngẩm bỏ đi. Cho đến năm ba chín tuổi, tuổi càng cao, má đào phai nhạt dần. Thấy nguy to Thu mới giở quẻ phá bĩnh, gây mâu thuẫn với mấy cô cùng buồng. Cày cục mãi ban quản lý cơ quan mới xếp Thu ở dưới chân cầu thang. ở một mình Thu lại trở nên đắt khách. Có một anh kỹ sư trạm trưởng trạm điện, tên là Sới tìm đến. Người anh ta thấp lùn cục mịch nhưng chân thực, thiết tha yêu Thu. Hai người đã cam kết. Sới đưa bạn đến, ra mắt người yêu. Anh này tên là Thắng. Thắng hào hoa phong nhã, đẹp trai, tiêu tiền như rác. Không ngờ Thắng bập ngay được Thu. Ðạp thẳng Sới ra ngoài. Hai người đã sắm sửa quần áo chuẩn bị làm lễ cưới, thì công an đến xích tay Thắng lôi đi. Một tên tù trọng án vượt ngục lẩn trốn mấy năm nay. Truyện ấy xảy ra Thu bị chị em chê bai hắt hủi cho là Thu "thả mồi bắt bóng", đáng đời.

Nhưng rồi mới đây em lại nhận được thư của Thu báo Thu đã có con. Nhận được thư nó em khóc rưng rức. Ðời cái Thu thế là toại nguyện, còn đời em thì sao đây. Em chuẩn bị vội vàng lên với nó. Nghĩ là dịp may hiếm có này vì nhờ có trẻ con, em sẽ bắt chước mẹ Soạn, bế nó đi ăn xin. Thế nào cũng kiếm cho cái Thu một khoản vốn. Ai ngờ lên đến nơi thì cái Thu lại vừa bế con về thăm mẹ mất rồi. Em mới lang thang ra đây lại gặp ngay cái vỏ chăn của anh phơi.

Lần ấy, Thu cũng hỏi em về hạnh phúc gia đình. Em kể hết đầu đuôi, nó bĩu môi chê em là phong kiến, là cù lần. Em kể về bệnh tật, nó bảo như thế là chả có bệnh gì. Nó bảo cơ thể mình cũng giống như cỗ máy để rỉ lâu ngày, bây giờ phải tìm cách lau dần mà "khởi động" lại. Em hỏi thế khởi động bằng cách nào? Nó phá lên cười ngặt nghẽo. Nó hỏi lại em: Thế mày có biết ôtô người ta khởi động bằng gì không? Em trả lời là khởi động bằng bình ắc quy. Thế chẳng nhẽ lại đem bình ắc quy mà cắm vào người mình. Nó ấn ngón tay vào trán em mà dằn dỗi:

-Sao mày ngu thế? Gần bốn chục tuổi đầu rồi mà còn ngu lâu. Mày là phải khởi động bằng những thằng đàn ông. Những thằng đàn ông hám gái: cổ to, ngực nở, lưng gù...

- Nhưng tao làm sao mà có được đàn ông?

- Chuyện đó là ở mày.

Nhưng nào em có được như các chị. Ðôi lúc em cũng dùng đôi mắt để lườm liếc. Nhưng ánh mắt của em nó vô hồn. Muốn dùng nụ cười để quyến rũ. Những nụ cười của em nó méo mó gượng gạo. Muốn dùng lời nói ý nhị, thì câu nói của em cái giọng ồm ồm, sống sượng, vô duyên. Thế mà tại sao anh lại bỗng nhiên...

Có thể vì em mặc bộ của vợ anh. Lúc đó anh tưởng là vợ anh hiện hình.

Biền cùng nằm với Xuyến, đắp chung cái chăn do Xuyến khâu. Mà cũng chẳng thấy có tác dụng gì. Cái chăn cũng là thứ vô sinh, đối với Xuyến. Nam nữ cùng nằm chung mà Biền thấy hoàn toàn nguội lạnh, y hệt như nằm với người bạn trai. Nhưng tình thương cảm của Biền đối với Xuyến lại càng dâng cao. Thấy mình phải có trách nhiệm đối với Xuyến. Phải thực sự đóng vai trò như một "Bình ắc quy", hay như một thầy thuốc.

Thế rồi hai người sống với nhau tới bảy tám ngày, Biền đã sử dụng hết khả năng nhưng vẫn không giúp gì Xuyến được.

Thôi đành vậy em ạ. Chúng ta chẳng được làm vợ làm chồng thì làm người thân trong nhà, như các cụ ta nói: "Chuyến đò nên nghĩa, buổi chợ nên quen". Cuộc sống của anh cũng là cuộc sống cô đơn. Từ nay em sẽ về với anh như tình ruột thịt".

Xuyến khóc và hứa với Biền: Xuyến sẽ đưa cái Thu đến, để cùng nhận anh, nhận em với Biền.

Cái Lợi về nhà nghỉ hè với bố. Nó cảm thấy có điều gì khác lạ trong nhà này. Thứ nhất nó thấy bố nó thay đổi tươi tỉnh, vui vẻ hơn. Nhà cửa gọn gàng ngăn nắp hơn. Nó thấy chiếc máy khâu của nó có ai sử dụng. Nó phát hiện ra cái vỏ chăn can hàng trăm miếng vụn đã có ai khâu lại từng đường chỉ đã mủn nát, gói gém cẩn thận, xếp gọn gàng trong ngăn tủ. Lợi gợi hỏi thì bố nó sẵn sàng kể lại hết. Lợi vội vàng bỏ thời gian đi tìm hiểu kỹ chuyện này. Thế rồi Lợi đề nghị với bố: cho mời cả dì Xuyến, dì Thu đến chơi. Lợi tổ chức bữa liên hoan. Trong bữa ăn Lợi đem chiếc vỏ chăn tiết kiệm ra, nghiêm chỉnh nói: "Mọi chuyện con đã biết hết cả rồi. Cảm ơn dì Xuyến đã khâu nên cái vỏ chăn này. Nó đã đắp cho bố mẹ con. Cả khi con còn là hạt máu trong lòng mẹ con. Con xin suốt đời giữ gìn cái vỏ chăn này. Con nhận dì Xuyến là mẹ kế của con". Vừa nói, mắt cái Lợi vừa cháy bỏng lên, vì niềm hạnh phúc bất ngờ đem đến cho bố nó. Nhưng Biền thì não lòng. Biền không thể nói mọi điều sâu kín với con gái, vì nó còn ngây thơ quá. Nó chưa đến tuổi để nói hết những chuyện của đàn ông, đàn bà. Nó đang hồn nhiên dồn bố nó vào một bi kịch. Nhưng Xuyến đã đánh ánh mắt sang cho Thu, gỡ bí cho Biền. Nét mặt Thu cứ dần dần đỏ tấy lên.

Biền đứng lên nhận những lời tốt lành của con gái.

Hà Nội, tháng 3 năm 1992.



Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0

Chuyện tình ở biển

Đỗ Kim Cuông

Khó có thể tìm ra lời giải thích xác đáng, vì sao tay thư ký công đoàn lại giao tôi cái giấy đi nghỉ dưỡng. Hắn chỉ nói vỏn vẹn có một câu: "Vậy là thêm cho cậu nửa tháng lương nghe. Kẻo cậu lại phê bình tôi không quan tâm".

Tôi nhìn tờ giấy nghỉ dưỡng như nhìn một tờ giấy lộn, ánh mắt thờ ơ, nhưng tôi không quên dòm vào mặt tay thư ký công đoàn, vốn có ác cảm. "Cảm ơn" - Tôi bảo. Muốn chọc tức chơi, tôi nói thêm: "Anh nên cho tôi cái quyền là có nên cho phép mình được nghỉ hay không đã". Tay thư ký công đoàn chớp ngay: "Nếu không đi phải báo ngay cho tôi để sắp xếp cho người khác. Nhưng tôi nhắc lại - nửa tháng lương cán sự 4 của cậu đấy". Tôi muốn phỉ nhổ vào bộ mặt đen đúa, môi thâm của tay thư ký nhưng rồi tôi lạnh tanh trả lời bằng một cái nhếch mép.

Chẳng lẽ, họ "thông cảm" cho cảnh tôi góa bụa? Vợ tôi đã mất hơn một năm. "Ồ không phải! Ông Quyên cũng chết vợ. Bà Lụa cũng chết chồng. Ông Tảo đứa con trai cũng mới có giấy báo tử ở Campuchia...". Tôi gạt lý do thứ nhất. Thôi đích thị rồi. Tôi đập tay đánh đét xuống mặt bàn khi nghĩ tới bài báo. Tôi không biết viết báo, nhưng cô phóng viên báo tỉnh quá ư nhiệt tình đã xin bài phát biểu của tôi trong một hội nghị khoa học. Tôi không để ý. Cách đây vài hôm, tay thư ký công đoàn kiêm trưởng phòng của công ty chìa ra trước mặt tôi tờ báo, cười nham nhở: "Chết thật, bữa nay cũng viết báo...". Dù chẳng mấy ưa hắn, tôi vẫn cười đỏ mặt khi nhìn tít bài do Tòa soạn đặt "Vài suy nghĩ về công nghiệp hóa..." cùng với cái tên tôi in đậm ở cuối bài. Hèn chi, tay thư ký cứ nhai đi nhai lại cái khoản hai trăm ngàn tôi được hưởng trong 15 ngày nghỉ dưỡng.

Nếu thế thì tôi cứ nghỉ. Dại gì! Ngót hai chục năm đeo đẳng với nghề, chả lẽ tôi không có quyền nghỉ ngơi? Ít nhất, trong 15 ngày15 ngày ấy, tôi khỏi phải nhìn thấy cái bộ mặt luôn soi mói, vặt vãnh của tay trưởng phòng hành chính. Tôi biết, cả ngày hắn chẳng làm gì cả. Ðúng 7 giờ sáng, hắn có mặt loạt soạt ngồi đọc báo. Một cuốn sổ công tác mở ra hờ hững. Nhưng giá có một ai rẽ vô văn phòng sẽ bắt gặp ngay một bộ mặt nửa như trang nghiêm, chú mục vào công việc, nửa như có ý nhìn xem kẻ kia đến là ai. Số thời gian rảnh rỗi trong ngày, hắn sẽ đếm bước chân của mình qua các phòng làm việc và nghe ngóng. Hắn sẽ không cần biết lao động "chất xám" là gì và làm cách gì để có được một sáng kiến khoa học, một sáng tạo... Bởi vậy, tay trưởng phòng hành chính thấy tôi có bài in báo đã ngạc nhiên.

Nhưng tôi coi cái việc vô tình được đi nghỉ dưỡng như một cuộc trốn chạy. Rằng tôi sẽ thoát được cái không khí tù hãm của gian phòng làm việc luôn vẩn lên mùi thuốc lá, tránh phải nhìn thấy những đĩa tách cáu bẩn vương vãi những bã trà và đống giấy tờ sổ sách xếp cao như núi. Tự do trong 15 ngày ngắn ngủi của một đời người, vốn suốt quanh năm ngày tháng phải chúi mũi vào công việc, và lo cho đứa con mất mẹ, lo cơm nước chợ búa và lo cho những cuộc họp...

Hai dãy nhà hai tầng, thêm hai dãy nhà trệt cao ráo, sạch sẽ, một dãy dùng làm nhà quản trị, phòng xem ti vi, một dãy dùng làm nhà ăn, nhà bếp... Ðấy là tất cả những gì thuộc về cơ ngơi của nhà nghỉ Công đoàn, đặt trên một đỉnh đồi cao lộng gió. Ðứng từ đó, có thể nhìn thấy cả một vùng biển rộng, với xóm chài Cầu Bóng. Thấy lưỡi cát kéo dài từ Ba Làng cho đến tận ngôi biệt thự Cầu Ðá, dài chừng 7 cây số. Hòn Rùa, Hòn Tre như bị thu nhỏ lại trong một tầm nhìn bao la. Còn những con thuyền máy như những chiếc lá tre quăng rải rác trên một tấm thảm xanh nhìn đến nhức mắt.

Tôi cảm thấy sung sướng khi đặt mình trên tấm nệm mút êm ái, nằm vô tư lự suốt cả buổi sáng chờ đến giờ ăn cơm trưa. Lại họp - họp để quán triệt nội quy an dưỡng, thông báo chế độ. Trong bữa ăn, tôi đã nhìn suốt lượt hai trăm con người cùng đi an dưỡng nhưng tôi chẳng quen biết một ai cả. Càng hay, tôi muốn được thảnh thơi. Sang ngày thứ hai, số người ăn trong phòng vơi đi quá nửa. Ngày thứ ba, còn một phần năm. Và sang ngày thứ năm, chị cấp dưỡng chỉ dọn ra một mâm vừa đúng ba cái chén, ba đôi đũa. Tôi đói, ngồi chờ mất gần nửa giờ đồng hồ để nhìn những con ruồi bay loạn xạ hạ cánh xuống dãy bàn ăn trống rỗng và chỉ chực xâu xé vào mâm cơm đã được đậy lồng bàn. Ðến lúc ấy, hai trại viên an dưỡng mới xuất hiện. Một ông cán bộ trạc tuổi ngót 60, dáng người hom hem, ốm yếu. Sau này tôi biết, người đàn ông ấy mắc bệnh hen suyễn mãn tính. Còn người thứ hai là một phụ nữ tuổi trên dưới ba mươi. Trông vóc dáng và cách đi đứng nói năng của cô ta, tôi đoán là người có chồng con. Nhưng phải công nhận đây là người đàn bà có nhan sắc, trông thật ưa mắt. Tôi cũng sẽ không bao giờ được biết lý do vì sao Nguyệt - tên người đàn bà - được nghỉ dưỡng. Chẳng ai ở vào hoàn cảnh như tôi lại đi hỏi một người phụ nữ, ngay giây phút đầu tiên đã gây cho người ta cảm tình, điều ngớ ngẩn ấy. Tôi lấy làm thích thú khi được ngồi chung bàn ăn với một phụ nữ đẹp, duyên dáng, nhưng là sự duyên dáng kín đáo của người phụ nữ biết tự trọng trước mặt người đàn ông xa lạ là tôi.

Tôi ăn rất ít, không hẳn vì món ăn kém ngon. Càng không phải vì bữa ăn ít người không còn đông vui tấp nập như ngày đầu nhập trại. Té ra hơn hai trăm thành viên đi nghỉ dưỡng đã nhận tiêu chuẩn về nhà tự "an dưỡng". Hai chục ngàn đồng không phải là to nhưng đủ để phụ vào đồng lương ít ỏi cho một gia đình nghèo khó cho con chút cá, rau trong bữa ăn. Hỡi ôi, những ông cha bà mẹ Việt Nam của tôi, chẳng mấy ai nỡ để cho con cái mình chịu khổ cực rồi chọn lấy cái sướng cho riêng mình! Còn những người quản lý ở nhà nghỉ dưỡng cũng đâu có đáng trách? Họ cũng là những ông bố bà mẹ. Họ cũng có những đứa con. Cũng bận trăm công ngàn việc để lo cải thiện đời sống. Càng ít công việc, càng hay. Vậy chẳng hóa ra, ba chúng tôi đây là những kẻ nhàn rỗi?

Ông già nọ vợ con ở ngoài Phú Yên. Con tôi, đã được ông bà nội đưa ra Hà Nội chăm sóc. Và quả thật tôi thấy ngượng khi thò tay nhận lấy vài chục ngàn bạc đem về nhà, thà là tôi nằm đây ăn nghỉ.

"Em là con người tự do!" Nguyệt tuyên bố vào buổi sáng hôm sau khi tôi đã trở thành một người có đủ tin cậy, ít ra là một người bạn trong mười ngày còn lại của đợt nghỉ dưỡng.

Ông già chiếm một phòng ở tầng trệt. Tôi ở đầu phòng tầng hai, quay mặt lên hướng tây. Nguyệt ở căn phòng cuối hướng đông, nhìn ra biển. Tôi muốn đến chỗ cô phải qua một hành lang dài hun hút, qua các căn phòng luôn đóng kín cửa. Chính trên chiếc ghế gỗ trước cửa phòng Nguyệt, hay trên những chiếc ghế xi măng đặt dưới gốc dừa trồng quanh chân đồi, tôi và Nguyệt đã nói mọi chuyện trên trời dưới biển. Một ngày chúng tôi có đến 8 giờ để đàm tiếu. Và đêm nữa. Lúc đầu còn thêm ông già. Nhưng ông ta không chịu nổi những cơn gió biển, chỉ ngồi chừng một giờ đồng hồ là tìm cách tháo lui. Vậy là chỉ còn lại tôi với Nguyệt cùng với bầu trời mùa hè vằng vặc ánh trăng. Ðã nhiều lúc, tôi ngồi nhìn cô, trong lúc cô vẫn kể cho tôi nghe một câu chuyện nào đó ở trường nơi cô đang dạy học. Chẳng lẽ đấy là tình yêu?

Tình yêu trong tôi đã chết. Chết sau đêm tân hôn, và đã thật sự bị đẩy lùi vào dĩ vãng cùng với đống tã lót sau khi đứa con trai ra đời, cùng với bộ mặt luôn cau có của Hòa. Tôi điên lên vì sự túng thiếu vây bủa, vì những mốt nọ, quần kia của vợ... Ðã vậy, còn phải lo đối phó với sự trù úm của tay "trưởng phòng vô tích sự". Rồi vợ tôi chết trong một ca ung thư dạ con. Ðã lâu rồi cái khái niệm tình yêu với tôi chỉ còn nằm trong sách vở, trong trí tưởng tượng bịa đặt của những tay nhà văn, trong ánh mắt yêu đời đến ngây thơ của đám thanh niên mới lớn, tôi chưa thể là già nhưng không còn gọi là trẻ nữa.

Chẳng lẽ, người đàn bà đã có hai mặt con này lại đang nhen nhóm trong tôi ngọn lửa tình yêu? Sẽ không bao giờ tôi hiểu được vì sao Nguyệt không chịu theo gia đình chồng vượt biên, đành chịu để mất hai đứa con trai. Vì sao, một cô gái không chịu theo cha mẹ để định cư hợp pháp tại Mỹ. Một cô gái đã có 13 năm sống trong dòng tu kín, nhập thế để đi làm nghề dạy học và sống ở một vùng quê với những người dân thật thà, chất phác nhưng nghèo đói? Nguyệt không nói ra điều bí mật ấy, cũng như mối tình của cô và anh thợ may giờ đã ung dung ở Canada. Cô câm lặng như tượng Ðức Mẹ đồng trinh trong ngôi nhà thờ Ðá. Và tôi, tôi cũng chẳng cần biết. Nhưng sự quý trọng cũng như lòng thiện cảm với tôi của Nguyệt thì tôi cảm nhận được qua ánh mắt của cô.

Té ra Nguyệt quá rành khu đồi La San. Vào một buổi chiều, khi ánh nắng tàn trên những chỏm núi đã bao quanh thành phố, chúng tôi đi chơi trên những con đường rải nhựa lẩn khuất quanh khu đồi. Ở đây có những con đường mòn dẫn vào ngôi nhà thờ nhỏ cả chục năm đã trở nên hoang phế. Những tảng đá nằm rải rác dưới gốc cây si, cây xoài để lại chứng tích của đám sinh viên lên đây học thi, đi picnic vào ngày chủ nhật. Có những lúc tôi và Nguyệt ngồi bên nhau hàng giờ để nghe cái âm thanh vi vút của gió đùa trên những chòm lá thông xanh, hoặc ngồi bên ghềnh đá theo dõi những con cá leo bằng hai chân, quật đuôi để lên mỏm đá tránh sóng. Không ai nói gì cả. Chỉ thỉnh thoảng nhìn nhau với ánh mắt không cần né tránh. Có lẽ vậy là quá đủ và hạnh phúc với tôi - một người sống đơn độc và luôn giày vò bản thân bởi những chuyện không đâu. Hoặc Nguyệt kể chuyện. Tôi nghe cái âm thanh dịu dàng trong lời nói của cô hơn là cần biết kết cục của câu chuyện.

Có một lần, Nguyệt đột ngột hỏi tôi: "Anh thích tôi phải không?". Tôi tự ái bởi chữ "thích". Giá như cô nói "yêu", hẳn tôi đã gật đầu, thú thật cái cảm giác có thật của lòng tôi lúc ấy. Tôi không trả lời chỉ cầm lấy một bàn tay của Nguyệt vuốt lên những chùm ngón tay như những búp măng. Và tôi châm thuốc hút. Còn cô, như đã quên câu hỏi, đôi mắt mơ màng nhìn ra ngoài Hòn Ðỏ, nơi có dải khói xanh bốc cao.

Còn thím Tư nấu ăn ở trại an dưỡng, trong lúc ngồi nhìn tôi và Nguyệt ăn cơm lại bảo: "Ðẹp đôi đấy... Cô chú tìm hiểu xong báo cáo với tổ chức, cưới cho lẹ. Tôi nói bỏ qua nghe... Thôi thì rổ rá cạp lại".

Cả tôi và Nguyệt đều cười vui. Nhưng tôi thì hơi giận thím Tư. Tình yêu sao có thể gọi là "rổ rá cạp lại". Không, tôi quyết định cãi tới cùng. Tôi yêu Nguyệt, nhưng khi tôi đứng trước mặt nàng tôi lại câm nín. Và tôi sợ nữa, khi tôi nói ra sự thật ấy với Nguyệt, tôi sợ sẽ mất nàng. Tôi muốn giữ cho tôi những giây phút đẹp đẽ của đời người. Hạnh phúc ấy tôi đã không tìm thấy được ở Hòa, vợ tôi. Không thể nào có được trước nhiều người đàn bà mà tôi đã gặp trong cuộc đời... Tôi đang sống giữa những ngày êm đẹp.

Buổi sáng chủ nhật của kỳ nghỉ dưỡng ngày thứ mười hai, Nguyệt dậy sớm sang rủ tôi đi tắm. Tôi dũng cảm nhận lời cùng còn một lẽ biết chắc là "ông già khốt" - Nguyệt gọi ông già đi nghỉ dưỡng như vậy, đã được con gái đón về từ chiều hôm trước.

Trong lúc Nguyệt đứng ngoài cửa chờ, tôi lại loay hoay với chiếc quần xà lỏn. Rõ khổ quần xà lỏn của tôi: ống rộng, xếch, màu vàng cứt ngựa - thứ quần phát cho lính, họ đem ra bán rẻ. Chẳng lẽ tôi đi tắm với một cô gái bằng chiếc quần "xà lỏn" như vậy? Rốt cục tôi tự an tủi: mình có cặp đùi to, chắc - cặp giò cầu thủ sẽ cứu nguy cho cái quần lót đáng ghét.

Nguyệt hồn nhiên và hào hứng với buổi đi tắm nên không để ý tới sự lúng túng của tôi.

Bãi đá dưới chân Hòn Chồng lạnh ngắt sương đêm. Nước ròng để lộ ra những tảng đá đen trơn nhẫy rêu. Gió sớm mơn man trên da thịt làm tôi thấy lành lạnh, càng ngại nước. Tuyệt nhiên, tôi không hé ra cho Nguyệt biết điều này. Sống ở Nha Trang có hơn chục năm, nhà cách mặt biển chưa tới cây số, nhưng những lần đi tắm biển của tôi tính ra chưa đến mươi lượt. Vài tháng trời không ló mặt ra tới bãi cát là chuyện thường. Nhưng giá về quê, ra Hà Nội, bạn bè có ai đó khen bãi tắm Nha Trang sạch đẹp, thì tôi sẵn lòng mô tả về biển Nha Trang, về giống cá ngựa cường dương, về những đảo yến khiến thiên hạ phát thèm... Dĩ nhiên không phải tôi không biết bơi. Hơn một lần tôi đã vượt phá Tam Giang, sông Bồ.

Hình như Nguyệt có ý đợi tôi xuống nước trước. Loay hoay mãi vài phút, tôi mạnh dạn cởi quần áo dài và lao xuống biển trong chiếc quần xà lỏn kiểu lính. Lúc tôi trồi lên khỏi mặt sóng, cả cơ thể Nguyệt hiện ra như một pho tượng thạch cao trong bộ áo tắm mầu xanh có kẻ sọc trắng. Ðôi chân thon dài, eo nhỏ, còn bộ ngực nhô cao. Cô nhìn tôi cười thật tươi rồi đứng từ mỏm đá lao xuống mặt nước xanh thẳm. Cô sải cánh bơi ra xa, bỏ mặc tôi lại phía sau loay hoay giữa một vùng rong mới bị sóng đêm qua đánh tấp vào bờ.

Thoáng một giây, lúc Nguyệt bơi lao ngang qua trước mặt tôi, thân hình cô có những khoảng trắng đen chìm trong nước, dậy lên trong tôi một cảm giác ham muốn. Giây phút ấy qua nhanh, trả lại cho tôi sự mệt mỏi và cảm giác chán ngán khi nghĩ rằng chỉ ba ngày nữa "niềm tự do ưu ái" của tôi sẽ mất. Tôi lại trở về với căn phòng chật chội ngửi thấy cái mùi hôi nồng của khói thuốc lá, thấy bước đi còm cõi, bệnh hoạn của tay trưởng phòng hành chính, tay chắp sau đít đi ngoài hành lang với đôi mắt nhòm ngó. Tôi sẽ gặp lại những kẻ chỉ muốn bổ óc mình ra xem đang nghĩ điều gì. Và đám bạn bè công chức của tôi, trong những giây phút ngồi bù khú quanh ấm trà, điếu thuốc, hào hứng kể cho nhau nghe về một tay giám đốc nọ làm thất thoát bạc triệu, bạc tỷ, một quan chức nọ sắp ra hầu tòa... Hoặc háo hức báo tin đã bán "xuôi" được chú heo không bị con buôn chèn giá.

Còn tôi, cũng chẳng hơn gì họ, quẩn quanh trong mớ buồn vui ấy. Treo trước mắt tôi là bát cơm manh áo hàng ngày, viên thuốc cho con khi trở trời trái gió, phấp phỏng kỳ tăng lương có kẻ xấu bụng xoi mói.

Phải chăng, Nguyệt của tôi đã thoát ra được mối lo toan nhỏ bé, hèn mọn ấy? Bởi hiển nhiên, cô nằm phơi gần trọn cơ thể mình trên mặt nước ngoài xa kia, ngửa mặt nhìn bầu trời cao vời vợi, có những dải mây trắng vắt ngang. Nàng hạnh phúc quá. Niềm hạnh phúc mà tôi luôn khát khao mơ ước. Và mỗi khi trí tưởng tượng phóng túng vượt ra khỏi đầu óc tăm tối u buồn của tôi, y như nó vấp phải một bức tường vô hình đánh bật trả lại. Tôi như kẻ ham bóng đá bị việt vị, giật mình bởi tiếng còi của người trọng tài tinh quái.

Chả lẽ, tôi hèn kém hơn Nguyệt?

Chỉ vài chục sải bơi, tôi đã ra tới chỗ Nguyệt. Cô nằm im, tay chân khua nhẹ dưới nước để giữ thế cân bằng và như không biết tôi đến gần. Tôi lẹ làng lặn xuống và ngay lúc ấy, gặp ngay khuôn mặt Nguyệt trong nước. Cô cũng lặn xuống theo tôi. Chúng tôi quấn lấy nhau như những sợi dây leo trong rừng già và hai môi tìm đến nhau... Tôi bơi trong một niềm khoái cảm, cái sức sống bất diệt trong tôi như được đánh thức trở dậy sau những ngày tháng tê liệt, héo mòn. Tưởng đâu đã chết.

Vào đêm thứ 13 của "mười lăm ngày hạnh phúc", tôi bị cảm nhẹ. Khoảng chín giờ tối, Nguyệt sang thăm tôi. Cô cầm theo cốc nước cam. Nguyệt vào, tôi biết nhưng không lên tiếng và nằm im trong khoảng sáng mờ ảo của ngọn đèn ngủ. Cô cầm lấy bàn tay tôi, nâng đầu tôi dậy ép uống cạn cốc nước cam. Bàn tay nàng mát rượi. Nguyệt không nói gì, cúi xuống hôn lên trán, lên đôi mắt và cuối cùng lên đôi môi khô nẻ và nóng bỏng của tôi. Tôi mê man cảm nhận nụ hôn nồng ấm, mãnh liệt. Và suýt ngạt thở vì mùi nước hoa và son phấn. "Anh nghỉ cho khỏe". Nguyệt chỉ nói vậy.

Lúc tôi tỉnh dậy, căn phòng vẫn sáng mờ, nhưng trống rỗng và lạnh lẽo. Nguyệt đã về bên phòng riêng. Nàng để lại trong tôi một niềm vui khó tả, như thể có hàng nghìn đợt sóng dội vào bờ đá dữ dội và mạnh mẽ. Tôi được Nguyệt yêu và tôi cũng rất yêu nàng. Té ra cái tay thư ký công đoàn kiêm trưởng phòng hành chính đã mang đến cho tôi một nguồn hạnh phúc mà chính hắn và cả tôi nữa đều không thể ngờ tới. Giờ phút này, tôi không có lý do gì để phát biểu, ngược lại còn phải biết ơn hắn là đằng khác.

Sáu giờ sáng hôm sau, tôi ăn mặc chỉnh tề đi sang phòng Nguyệt. Cửa phòng khép hờ, nhưng bên trong vắng lặng. Chiếc giường nàng thường nằm, chăn màn xếp gọn gàng và không có một chút hơi ấm. Cầu thang, khoảng sân đều vắng vẻ, không còn để lại một chút dấu vết nào của Nguyệt. Nàng đã đi rồi!




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Những con cá cờ

Trần Ðức Tiến

Hàng năm, cứ vào dịp hè là khu khu tập thể n๠lại ầm ĩ lꮠđược một dạo. Ấy là nhờ có lũ trẻ con. Lũ trẻ từ khắp các miền quê khác nhau theo bố mẹ ra Hà Nội nghỉ hè, đến ở trong khu nhà toàn những hộ độc thân này. Một bọn lau nhau với những bộ quần áo cộc cỡn, ngả mầu cháo lòng suốt lượt, trông đứa nào cũng có vẻ rụt rè, ngơ ngác, thảng hoặc có một vài ông tướng con ngổ ngáo thì cũng chỉ là cái ngổ ngáo nhà quê - vừa chân ướt chân ráo đến buổi sáng, buổi trưa đã có thể tót lên vắt vẻo trên ngọn cây bàng trong sân, nhưng hễ có việc cần qua đường phố lại nhớn nhác mắt trước mắt sau, chỉ chực va vào dòng xe cộ ngược xuôi không ngớt...

Mùa hè năm nay, Chất cũng đưa vợ con ra nghỉ trong khu tập thể. Cả khu nhà có hai cái "buồng hạnh phúc" thì hai cặp vợ chồng khác đã đến ở trước, nên người bạn cùng phòng với Chất phải tạm "sơ tán" sang phòng bên để Chất có thể kê ghép hai cái giường cá nhân với nhau. Vợ con anh ra đây nghỉ có vài tháng hè, không ăn đời ở kiếp gì nên sự chật chội cũng không đáng ngại.

Vợ Chất là một người đàn bà hiền lành, ít nói, và có vẻ hơi chậm chạp. Chị quanh năm sống ở một vùng quê rất hẻo lánh, rất xa Hà Nội, cái vùng mà theo Chất là rất ít ánh sáng văn hoᠲọi tới! Ở một nơi như vậy, kẻ khôn ngoan cũng còn là ngu ngơ so với chốn thị thành, huống chi người bản tính thật thà, chất phác... Có lẽ chính vì thế mà hè năm nào, Chất cũng cố gắng thu xếp cho vợ con ra nghỉ ở chỗ mình ít ngày.

Thằng Quang - con Chất - mới tám tuổi, làm quen với bọn trẻ rất nhanh. Nó chơi với cả bọn khá vui vẻ và... biết điều. Một phần do nó cũng là trẻ con nông thôn như những đứa kia, phần nữa, do cung cách ăn ở, sinh hoạt của bố nó cũng giống hệt như những người lớn khác trong khu này. Họ là bạn đồng nghiệp của nhau đã hàng chục năm, hàng vài chục năm, nhiều người tóc đã ngả mầu và vẫn còng cọc trên một cái xe đạp cũ, một cái giường cá nhân, một cái bếp dầu... và căn bản nhất là không khi nào to tiếng! Trong sân khu tập thể, suốt ngày (khi người lớn đi làm vắng vẻ) và suốt cả những buổi tối mất điện (không được xem ti-vi), lũ trẻ la hét, chạy huỳnh huỵch, leo cả lên hiên nhà và bám lủng lẳng ở đấy như những con dơi... Thằng Quang không biết trèo nhưng rⴠgiỏi cⵠcᮠỞ giữa sân khu nhà, vốn là một tòa biệt thự cổ hai tầng được cải tạo và mở rộng, vẫn còn một cái bể xi-măng hình bầu dục khá lớn, giữa bể là hòn non bộ và trong bể lúc nào cũng lưng lửng một lớp nước lưu cữu, đen sẫm như mực. Những chú cá cờ sống trong đó, có vẻ sặc sỡ, nhưng lại lờ đờ ngốc nghếch hơn nhiều so với đồng loại sống ở nơi thông thoáng. Chỉ cần một sợi chỉ, một mẩu dây phanh xe đạp uốn thành lưỡi câu, vài hạt cơm nguội, Quang đã có thể một loáng bắt sống được năm sáu chú. Rửa sạch một cái lọ thủy tinh, đổ đầy nước vào, thả các chú cá vào đó là chúng có thể sống và bơi lăng xăng...

Chất thấy con chơi ngoan, cũng bớt dần đi sự coi sóc, nhắc nhở hay quát nạt. Anh cảm thấy yên tâm, và cái ý định đưa vợ con đi chơi đó đây mỗi nơi một tí cho mở mang tầm mắt cứ nhạt dần. Ngại, rất ngại. Ban ngày bận bù đầu lên ở cơ quan. Buổi chiều về, mâm cơm dọn sẵn, vợ con sạch sẽ phởn phơ thế kia là tốt lắm rồi. Áo quầ, xe phᰠdăt d�nhau ra đường làm gì nữa cho thêm bụi và thêm mệt? Cái nếp sống không riêng gì của Chất, cái nếp sống của cả khu tập thể này từ xưa tới nay vẫn là như vậy, luôn luôn coi sự yên ổn, chừng mực làm trọng.

Nhưng thằng Quang và bọn trẻ thì không. Tất cả mọi trò chơi, dù hấp dẫn đến đâu, chúng cũng rất mau chán. Chúng dần dà phát hiện ra khu nhà này quá chật hẹp, chật hẹp đến mức thuộc lòng từng chỗ đặt vòi nước, từng cống rãnh, từng gốc cây và mọi xó xỉnh khác. Ngay đằng sau khu nhà là Hồ Tây, một mặt nước rộng mênh mang và ngằn ngặt xanh. Nhưng lũ trẻ chưa tìm được cách chui qua cánh cửa gỗ để có thể nhảy tùm xuống đó mà vùng vẫy.

Ðợt nghỉ hè xắp hết. Trưa nay bọn trẻ ngồi vạ vật với nhau dưới gốc bàng. Mấy quyển truyện tranh nhàu nát vứt lăn lóc bên cạnh. Lăn lóc những xác máy bay, tàu chiến giấy... Một thằng bé trong bọn có tiếng là ngoan, con ông phó tiến sĩ kính trắng lưng gù bên cạnh phòng bố Quang, đã bỏ về từ nãy, đang giở sách ra ôn tập hè. Nó có cái dáng người cần mẫn, nghiêm chỉnh hệt như bố... Thằng Quang đột nhiên quay mặt đi nơi khác. Nó sực nghĩ đến lúc phải theo mẹ về quê, phải tiếp tục đến trường. Chưa bao giờ nó thấy sợ và ngán sách vở đến như vậy.

Ngoài kia phố xá vẫn ồn ào. Leng keng tiếng chuông tàu điện và ầm ầm ô- tô. Những quả bóng bay đủ mầu sắc... Những que kem ngọt lịm và mát lạnh... Công viên, mặt hồ xanh, chiếc xuồng máy lao vun vút tung bọt trắng... Vườn bách thú, nào sư tử, hổ báo, cá sấu, đại bàng và khỉ, đủ mọi loài khỉ... Thành phố rộng lớn còn biết bao nhiêu điều mới lạ, kỳ thú nữa mà nó chưa được biết...

***

Buổi tối lại mất điện. Ðiện hồi này tập trung dành cho việc chống hạn, đôi khi không thông báo trước mà vẫn cứ cắt. Mất điện thì cái hội tổ tôm của Chất không hoạt động được. Vắng đi tiếng đập bàn, tiếng xuýt xoa và thỉnh thoảng là một chuỗi cười vỡ ra, làm giật mình những người đi ngủ sớm... Nhưng mất điện thì lại chưa thể đi ngủ ngay. Trời oi ngột như thế này, nghĩ đến việc phải chui vào màn đã vã mồ hôi, còn mong gì ngủ?

Ngọn đèn dầu được thắp lên, đỏ quạch và ngun ngút muội. Năm sáu người đàn ông, không ai hẹn ai, tụ tập lại trong một căn phòng, vừa nằm vừa ngồi lố nhố. Ấm ch蠦#273;㠴஬ ph� nước s��hấc lên đã nhẹ bỗng, mấy cái chén uống nước lỏng chỏng bốn góc bàn. Những câu chuyện cũng ông chẳng bà chuộc bởi đề tài quá quen... Lương bổng, cất nhắc... vật giá leo thang... con trẻ hư hỏng vì người lớn...

- Các ông có biết không? Lão Q. bị kỷ luật, không phải vì mấy cái tội ấy đâu nhá?

Trong im lặng bỗng một người nào đó reo lên như vậy. Câu chuyện đổi hướng, những bóng người bất động bắt đầu cựa quậy. Không ai ngồi đây còn lạ ông Q. - vị thủ trưởng cũ của họ. Ngoài thói quan cách, độc đoán, trù úm người này người nọ, kéo bè kéo cánh gây mất đoàn kết trong cơ quan, ông còn mắc cả một cái tội tầm thường mà những người tầm thường lại rất ít khi mắc, vì nhiều lẽ... Một cô nhân viên phục vụ so với ông còn quá trẻ... Một buổi trưa, trong giờ nghỉ, ngay trên chiếc bàn làm việc trong căn phòng dành riêng của ông... Của đáng tội, cái chuyện trăng hoa ấy là người ta đồn thế, chứ nào có ai bắt tận tay day tận mặt. Nhưng mà người ta tin. Cũng giống như trước đây, khi ông còn đương chức, người ta vẫn tin nhất cử nhất động của ông...

Cái người ban nãy đột nhiên reo lên trong căn phòng yên lặng lại reo lên chuyện ấy. Lại tranh cãi rất hăng. Ngọn đèn dầu được khêu to thêm, càng ngun ngút muội. Bóng những cái đầu ngả nghiêng, những cánh tay khua khoắng trên tường nhà. Chất cũng tham gia mạnh mẽ. Ðạo đức hay vô đạo đức? Ðủ mọi thứ tiêu chuẩn được đưa ra. Ðủ mọi thứ lý sự xoay như chong chóng. Chất dường như đã đi xa quá, chính mình cũng không còn tin lắm vào những điều mình đang nói...

Ôi ôi! Thành thực hay giả dối? Cái cô nhân viên phục vụ kia, giờ đã ngoài ba mươi rồi, nhưng trông vẫn còn duyên dáng lắm. Mới đầu giờ làm việc ngày hôm qua, khi mang phích nước sôi đến phòng Chất, cô ta còn mỉm cười với anh. Bỏ cái nón mới mua trên đầu xuống, cô ta nằn nì anh kẻ hộ tên cô ta lên đó. Chữ Chất chả đều tăm tắp mà. Nhưng không hiểu sao, Chất chỉ kẻ được mấy chữ xô lệch và nghiêng ngửa. Hơi thở của cô ta ngay bên cạnh, và cái thứ mùi rất đàn bà từ tóc, từ áo quần, da thịt của cô ta cứ tỏa ra như giăng bẫy anh. Cô ta vùng vằng cầm lấy nón, nhưng lại nhăn mũi lại một cách đáng yêu... Một hy vọng mơ hồ le lói... Một ý nghĩ gần giống như sự phản bội không sao cưỡng lại ... ấy là sự so sánh ngấm ngầm những lần ăn nằm với vợ gần đây... Dường như ở vợ Chất đã cạn hương hoa, đã cạn sức cám dỗ mê muội vốn có ở một người đàn bà khỏe mạnh. Sau những lần như vậy, Chất đã ngạc nhiên thấy mình tỉnh táo một cách lạ kỳ. Thậm chí có thể chui ra khỏi màn để rít một hơi thuốc lào... Vậy thì buổi sáng hôm qua, được người đàn bà đẹp và rừng rực ấy cười với mình, nhăn mũi với mình, Chất thèm khát, mặc dù biết cả đời cũng không dám đi xa hơn cái sự thèm khát vụng trộm ấy. Thì có gì lạ? Vị thủ trưởng kia cũng là một con người, và ông ta...

Chất thở dài, ngao ngán nhìn xung quanh. Câu chuyện đã cũ mèm, đã xảy ra từ mười năm trước mà sao bây giờ vẫn còn gây ra những cuộc tranh luận đầy rẫy những lý lẽ cao siêu. Nó có vẻ giống như cỗ bài tổ tôm vẫn làm náo động các buổi tối, cỗ bài đã dùng quá lâu, những quân bài mòn vẹt cả bốn góc, đen xạm lại, bợt trắng đi rồi lại đen xạm lại, mỗi lần cầm lên tay lại thấy bốc lên một mùi u ám và mục ải...

Ngọn đèn trong phòng vẫn đỏ quạch. Ðêm nay chắc sẽ mất điện cho tới sáng. Cái nóng mỗi lúc một tăng. Không khí như ngưng đọng trong căn phòng. Ai vừa hút một điếu thuốc lào, búng khói đặc như sữa, lơ lửng, lơ lửng mãi chưa chịu tan. Cảnh tượng giống như trong một toa tàu. Một toa tàu đã dừng lại từ lâu lắm. Mà sao khu tập thể tối nay im ắng một cách lạ lùng như vậy?

Giữa lúc ấy, vợ Chất bần thần xuất hiện ở cửa:

- Các anh ơi, bọn trẻ con!...

Tiếng kêu hốt hoảng của chị làm căn phòng lặng đi trong một giây. Một giây đủ cho họ nhận ra: lũ trẻ con đã biến mất! Bất ngờ và kinh hoảng... Ngọn lửa đèn chao nghiêng. Mấy người nằm bật dậy. Cái điếu cày bị chân ai đá phải lăn lách cách. Quát tháo la gọi. Chân người chạy. Khóa xe đạp mở...

Khu tập thể, vì lũ trẻ con, lại một phen nháo nhác...

***

Lũ trẻ đi thành hàng dọc, trên vỉa hè.

Ði đầu là những đứa bé nhất, mỗi đứa níu chặt tay một đứa lớn hơn. Ðích thân thủ lĩnh của cả bọn, một thằng bé chừng mười hai tuổi, rắn rỏi trong cái dáng cao ngồng và mái tóc đỏ cạch trên đầu, đi sau cùng. Thằng này có thể một mình từ nhà quê lên đây với bố, qua một chặng đường dài bằng tàu hỏa, rồi xe điện, những đường phố ngoắt ngoéo và xa lạ của Hà Nội, mà không hề sợ lạc.

Chúng đi, lặng lẽ và hồi hộp như một đoàn thám hiểm...

Không nói cho bố mẹ biết, bởi vì nói ra thì chắc chắn sẽ bị ngăn cản. Người lớn hay sợ hãi đủ mọi thứ chuyện...

Phố đông người quá. Toàn những người lạ. Họ đi lại nhớn nhác vội vã. Xe cộ phóng vun vút. Hình như ở một nơi nào đó, một cái gì đó rất quan trọng, rất to tát đang chờ đợi họ. Không ai để ý đến bọn trẻ. Có một vài chú công an ngoái nhìn theo chúng, nhưng lại quay đi ngay vì nhận ra những bộ quần áo và những dáng điệu hiền lành.

Trong cái tập thể trẻ con này cũng có một kẻ "đào ngũ". Ðấy chính là thằng con ông phó tiến sĩ. Ði được một cây số, thằng này đã tụt lại sau. Nửa cây số nữa, nó dừng hẳn lại và tuyên bố bỏ cuộc. Hình như nó cho rằng cứ tiếp tục a dua với lũ trẻ này thêm đoạn đường nào thì cái đức ngoan ngoãn của nó - đã được người lớn thừa nhận - sẽ bị rơi rụng đi một ít.

- Quay lại! Không tao bắn!

Hoàn toàn không đùa, "thủ lĩnh" chĩa ngón tay trỏ làm súng vào bụng thằng con ông phó tiến sĩ và ra lệnh.

- Mày không có quyền! Chúng mày không muốn học, thích đi lêu lổng thì cứ việc...

- Này ông cụ non, đừng có láo! Không học mà chúng ông lại biết cá cờ là cá cờ, chứ không nhầm là cá vàng như mày. Nhưng thôi, sợ thì cứ chuồn đi. Nhưng nếu mày mách với mọi người là chúng ông đi thì... "Thủ lĩnh" không ngần ngại biến khẩu súng thành cái kìm, xoắn ngay vào tai thằng kia một cái nghiêng cả người - Nhớ đấy, cút!

Sự việc diễn ra không làm cho bọn trẻ mất hứng thú, trừ thằng Quang. Nó tiếp tục đi ở gần giữa hàng, im lặng, vừa ghét thằng quay về, vừa sợ thằng cầm đầu. Giá không có chuyện đó thì vẫn thích hơn.

...Bọn trẻ đã đi được khá xa, qua khá nhiều nơi mới chỉ thấy nói đến trong sách vở. Vì không thạo đường nên có thể cả bọn đã phải đi loanh quanh, nhưng Quang nhớ rất rõ là đã qua Lăng Bác, chùa Một Cột, chợ Ðồng Xuân, hồ Hoàn Kiếm... Và bây giờ, không đứa nào bảo đứa nào, tất cả đứng sững lại trước một tòa nhà cao lớn và rực rỡ như một tòa lâu đài. Những tòa lâu đài trong chuyện cổ tích có lẽ cũng chỉ đẹp đến thế...

- Cung thiếu nhi!

"Thủ lĩnh" hét lên bằng một cái giọng nghe rất lạ, nửa như thán phục, nửa như coi thường. Và nó thọc hai tay vào túi quần rộng thùng thình, nghênh mặt nhìn tòa nhà, vừa ngạo ngược, vừa ngốc nghếch.

Thằng Quang ngồi thụp xuống trên hè, vì hồi hộp hơn là vì mỏi. Cái thiên đường trẻ con có thật ấy đang ở ngay trước mắt nó, chỉ cách có một hàng rào bằng sắt.

Những cầu trượt, cầu bập bênh, đu quay... Cả một vòng quay khổng lồ chạy bằng điện, chở những trẻ con trên ô-tô, máy bay, tàu vũ trụ và những con thú hiền như đất... Những ghế đá xinh xinh, êm ái và mát lạnh... Một vườn hoa chi chít những bông hoa tươi tắn dưới ánh điện xanh như nước mưa... Những câu chuyện thú vị và bí ẩn chắc chắn đang diễn ra trong từng căn phòng có hai cánh cửa sổ mở rộng trên tầng hai. Căn phòng sáng xanh. Một cô bé mặc áo váy xanh đang một tay nâng đàn lên ngang mặt, má tì lên hộp đàn, tay kia đưa nhẹ... Thằng Quang không biết tên gọi cây đàn, nhưng tiếng đàn thì nó nghe như nuốt lấy... Khi cô bé bỏ đàn xuống, đưa tay lên sửa lại cái nơ trắng cài lên tóc, một tình cảm mơ hồ chợt làm se thắt trái tim thằng bé... Nó đoán cô bé đúng bằng tuổi nó. Nó không ghen tị. Nhưng nó thèm muốn...

- Muộn rồi, về thôi! Xem thế chưa chán à?

Cùng lúc với câu nói vang lên, một bên tai thằng Quang bị xoắn lại đau điếng. Khuôn mặt thằng "thủ lĩnh" chập chờn, nhăn nhở. Ðòn trừng phạt của nó lần này không trúng đích, thằng Quang vùng đầu ra, lùi lại, đôi mắt dại đi. Nó hét to, lạc cả giọng:

- Cút đi! Tao không thèm đi với mày nữa... Không thèm!

***

Còn lại một mình nó, trên đường phố. Lòng tự ái, nỗi giận dữ đã nguôi giảm. Bây giờ thì nó sợ. Phố xá về đêm càng có vẻ lạ lẫm. Nó không nhận ra một tín hiệu quen thuộc nào trên đường nhưng vẫn cứ đi, cho đến lúc biết chắc rằng mình đã lạc.

Thằng bé cảm thấy chán nản vì những đường phố rất giống nhau. Nhưng ở mỗi xó tối trước mặt đều có thể xảy ra những chuyện bất ngờ khiến nó hốt hoảng. Và thế nào rồi bố nó cũng tìm thấy nó...

... Rằm trung thu năm ngoái, bó nó về nhà nghỉ phép. Nó vòi vĩnh bố làm cho nó một cái đèn ông sao. Nhưng không biết vì sao bố nó không chịu làm. Gần đến tối rước đèn, thằng bé uất ức bỏ nhà trốn sang bà ngoại, cách xa đến mười cây số. Sang ngày sau, bố nó tìm đến. Cầm chắc được ăn mấy cái bạt tai. Nhưng không. Ông con rể ngượng với mẹ vợ, cả năm về phép được mười ngày mà nằm bẹp ở chỗ vợ hàng tuần chưa thèm vác mặt đến... Bố nó chỉ lấy mấy ngón tay nâng cằm nó lên, nhìn vào mặt cười: "Mày có trốn lên giời"...

Bản năng xúi giục thằng bé trong đêm phải tìm tới chỗ đông người. Nó mừng rỡ dừng lại trước cửa ga tàu hỏa và tìm đến một chỗ có điện sáng rồi ngồi nghỉ, giữa những người đang chờ tàu. Nhưng nó dò xét, nghi ngại. Mấy bàn tay bất giác giữ chặt hơn quai ba-lô, miệng túi xách... thằng bé vừa hãi sợ, vừa bực tức, liền tìm chỗ tối hơn và ít người hơn.

Bây giờ thì thấm mệt. Nó ngồi tựa đầu vào chiếc cột đá, nhắm mắt lại.

... Vẳng đến từ rất xa một tiếng đàn, ban đầu còn bị át đi bởi tiếng còi tàu, tiếng người gọi nhau í ới, tiếng một chiếc xe tải ầm ầm chạy... Nhưng tiếng đàn rõ dần, rõ dần... Một tòa lâu đài lộng lẫy... Không phải những chiếc bóng điện sáng bình thường, mà là cơ man những chiếc đèn ông sao... Ngững ngôi sao hồng hồng, xanh biếc phơi phới bay... cô bé mặc chiếc áo váy mầu xanh đứng đợi cậu bé ở chân cầu thang. Cô mỉm cười, chìa bàn tay trăng trắng xinh xinh của mình ra cho cậu. Tay kia cô bé vẫn cầm đàn, cây đàn có âm thanh kỳ lạ mà cậu chưa biết tên. Cậu bé nắm chặt miệng chiếc túi giấy bóng, bên trong sóng sánh nước và những con cá cờ... Bàn tay xinh nhỏ và cái bóng áo xanh huyền ảo luôn luôn ở phía trước mặt... Những bậc thang bằng đá loang loáng sáng... Rất nhiều trẻ con... ở đây toàn là trẻ con... Lên cao, lên cao nữa... Chân cậu bé ríu lại, và tim đập, tim đập, tim đập...

Một giọt nước mắt ứa ra, lăn chậm rãi trên má thằng bé. Người cảnh sát khu vực tần ngân hồi lâu, rồi quả quyết đưa bàn tay rắn chắc của mình ra và nắm lấy vai nó, lắc nhẹ...

***

Chất thất kinh đã điên tiết văng tục cả với vợ, đã hoang mang vì đủ mọi thứ mẹ mìn ám ảnh, và bây giờ, khi đã tìm thấy con thì cổ anh cứ ứ lên một nỗi cáu giận không để đâu cho hết. Anh gần như quẳng thằng bé lên chỗ ngồi sau xe đạp, rồi mặc kệ vợ vừa khóc vừa đi bộ từ đồn công an về nhà, nhảy lên xe phóng như điên...

Thằng Quang không đủ thời giờ để bình tĩnh lại và sợ hãi. Quả thật thằng bé đã không sợ hãi, kể cả khi ngọn roi đầu tiên quất vào đít đau quắn lên. Ðôi mắt mở to, nó nhìn khuôn mặt hốc hác và đẫm mồ hôi của bố. Vẻ mặt ấy như muốn nói, nó đã hư đốn đến mức không thể tha thứ được. Nó không biết, như vậy có đúng không, nhưng chắc là bố nó, mấy bác, mấy chú và cả mấy đứa trẻ đã từng là đồng bọn với nó đang nhao nhao ở ngoài cánh cửa kia, không biết được giấc mơ ban nãy của nó...

Chất lại vung roi, trong tiếng ồn ào can ngăn của mấy người đứng ngoài. Và lần này thằng Quang bỗng giật thót người. Giật thót người, không phải vì bị ăn đòn, mà vì một vật gì đó vừa vỡ choang trên nền nhà. Mấy giọt nước lạnh bắn vào chân nó. Trời ơi, cái lọ thủy tinh, cái lọ thủy tinh nuôi cá cờ...

Chất đã hất đổ cái lọ thủy tinh từ trên bàn xuống đất.

Theo phản xạ tự nhiên, thằng Quang sụp ngay xuống. Bây giờ mới thấy nó khóc. Nước mắt thằng bé trào ra, trào ra, rơi xuống và hòa tan ngay vào vũng nước đang loang rộng trên nền nhà. Những con cá cờ quẫy quẫy... Một bàn tay thằng bé xòe ra, nhưng ngón tay kia run rẩy, thận trọng nhặt từng con cá vô tội lên, đặt vào đó.

Chất bàng hoàng nhìn cảnh tượng đang diễn ra trước mắt. Những ý nghĩ thoáng nhanh trong đầu... Ngọn roi của anh... Nỗi lo lắng của anh... Những điều bận tâm của anh, của mấy ông người lớn trong khu tập thể này... Tất cả những thứ đó, lúc này đều trở nên vô nghĩa trước sinh mệnh của mấy con cá nhỏ.

Thằng bé đứng dậy, không nhìn bố, khe khẽ mở then cửa. Nó rón rén đi ra sân, về phía bể nước có hòn non bộ. Nhưng bất ngờ nó dừng lại và đổi hướng, hấp tấp chạy ù về phía sau... Chất sực tỉnh, lao vút theo, rơi mất cả roi. Không hiểu bằng cách nào, thằng bé đã lọt được ra ngoài cánh cổng gỗ... Rõ ràng phải có một lối mòn nào đó mà những người lớn không thể ngờ được. Nếu không thì chỉ một chút nữa thôi, một chút nữa thôi là những chú cá này có thể chết vì mắc cạn. Thằng bé từ từ thả nhẹ bàn tay đựng cá xuống. Nước Hồ Tây mát lạnh. Những con cá vùng bơi đi. Thằng bé hớn hở một cách rất trẻ con quay mặt lại, nhìn mọi người lố nhố đằng sau cánh cổng gỗ.

Cho đến nay, những con cá cờ ấy vẫn còn sống. Chúng may mắn không phải luẩn quẩn trong bể nước dưới chân hòn núi giả. Giờ đây là cả lòng hồ mênh mông...

11 - 1985




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Chuyện riêng với bão

Mai Ly

Gần hết giờ làm việc buổi chiều thì trời nổi gió. Hôm qua nàng nghe dự báo thời tiết là sẽ có bão, một cơn bão trái mùa. Trời âm u suốt từ sáng làm nàng đợi mãi. Nàng thích những cơn bão vào ban ngày hơn là vào đêm. Tuy nhiên bão đêm cũng được. Ngắn gọn lại là nàng thích bão. Mọi người trong phòng vội vàng chuẩn bị áo mưa và về sớm. Còn nàng thì chẳng vội gì. Nàng có một lý do chính đáng để nói với mọi người: "Em không mang áo mưa và nhà em xa, sợ về không kịp".

Mọi người đã về hết, ai đó đã đóng cửa sổ: cả cửa kính và cửa chớp. Nàng nghe thấy tiếng gió vọng bên ngoài. Trong phòng kín như hòm nhưng nàng thấy hơi lạnh. Nàng mở cửa đi ra hành lang. Cả tầng hai không có một ai. Ðến khi nàng mở cánh cửa ở đầu hồi khu nhà thì gió thốc vào. Nàng ngột thở nhưng vẫn cố đi ra và nhìn xuống đường. Trời tối sầm lại nhưng vẫn nhìn rõ mọi thứ. Gió thổi ào ào. Lá cây cũng rụng ào ào. Mọi thứ đều bị gió thổi. Gió làm quần áo nàng dính chặt vào người, tóc rối tung. Bụi đập vào mặt nàng rát như kim châm. Một tấm tôn ở mái bếp nhà nào bay xuống đường kêu rầm một cái, át cả tiếng gió. Rồi giấy vụn, quần áo và cả bụi nữa, tất cả nháo nhào trong không trung. Vẫn những cảnh của một cơn bão nhưng nàng thấy thật thích thú. Nàng nhớ đến tuổi thơ của mình. Hồi đó nhà nàng ở trong một khu chung cư. Mỗi lần có bão là nàng sẽ được nghỉ học. Nàng cũng sẽ cuống quít chạy theo bố mẹ để đóng cửa khi trời bắt đầu nổi gió. Sau đó nàng sẽ ngồi trên chiếc giường kê sát cửa sổ, quấn chiếc vỏ chăn quanh người, dán mắt vào cửa kính để xem thiên hạ vội vội vàng vàng, để xem gió bứt những tấm liếp trong chợ, tung lên rồi đập xuống, để xem mưa đổ xuống đường trắng xóa, để xem bọn trẻ con cởi trần tắm mưa. Thế nào nàng cũng đòi mẹ mở cửa để gió thổi vào nhà và thế nào mẹ cũng không đồng ý. Nàng sẽ giả vờ dỗi và ngồi xuống bậu cửa, giơ tay vào khe cửa để hứng gió, vì thế gió của bão bao giờ cũng chỉ đủ làm mát bàn tay nhỏ xíu của nàng khi đó mà thôi. Khi bão tan, nàng sẽ cùng bọn trẻ hàng xóm trốn mẹ xuống gác để lội bì bõm trong cái thứ nước bẩn mà bão làm dâng lên hoặc để thả thuyền giấy trong cái "hồ" ấy, thậm chí còn té vào nhau cái thứ nước ấy nữa. Bão của tuổi thơ thật tuyệt. Cô bé con là nàng khi đó chẳng bao giờ nghĩ đến giá gạo có tăng không, bao nhiêu ngôi nhà bị sập, bao nhiêu người bị chết. Sau này khi lớn lên một chút, có lần nàng nói với bố: "Con thích bão lắm bố ạ".

Bố nàng vội vàng: "ấy đừng con ạ! Bão thì người nông dân khổ lắm. Ông bà ở quê mất mùa đấy". Nàng ngúng nguẩy: "ứ ừ! Nhưng mà con vẫn thích bão". Rồi nàng lại nhớ đến cơn bão số 5 của mùa hè năm kia. Nàng nhớ rõ là cơn bão số 5, mà cũng là cơn bão lớn nhất trong năm bởi vì hôm đó cuộc thi chung kết Hoa hậu toàn quốc được tổ chức ở thành phố nàng. Biết rằng sẽ có bão nhưng nàng vẫn đi. Thực ra nàng cũng chẳng thích lắm các cuộc thi sắc đẹp nhưng cô bạn thân của nàng được ai cho một đôi vé, cứ rủ nàng đi bằng được. Ngồi trong nhà hát ấm áp ba tiếng đồng hồ, đến khi ra ngoài bất ngờ bị gió và mưa thốc vào mặt, ai cũng rét run. Hai đứa mang có một cái ô mà mười hai giờ đêm rồi thì còn núp ở đâu được. Cô bạn nàng cầm lái, còn nàng ngồi sau cầm ô che. Cái xe 50 của bạn nàng cứ ỳ ra trước gió, còn nàng cắn chặt răng vì rét, hai chân kẹp chặt vào xe, hai tay căng ra để giữ ô. Ðược một lúc thì tay chân mỏi nhừ, hàm cũng mỏi nhừ mà người thì ướt sạch. Nàng thu ô vào mà cảm thấy thật khó khăn. Hóa ra cán ô đã bị gió làm cong như hình cánh cung. Quả thật đấy là lần đầu tiên nàng đi trong mưa bão và cũng là lần đầu tiên nàng cảm thấy mình thật nhỏ nhoi.

Có vài hạt bụi bay vào mắt làm nàng bừng tỉnh. Ðưa tay lên dụi mắt xong thì trời đã bắt đầu mưa. Mưa hắt vào làm ướt mặt và tóc nàng. Mẹ mà ở đây thì mẹ sẽ bắt nàng vào nhà ngay lập tức. Nhưng mà mẹ lại đang ở nhà! Bất giác nàng mỉm cười sung sướng. Cuống lên về sớm thì có phải sẽ không được thoải mái thế này không! Trời vẫn chưa tối hẳn. Nàng đưa mắt nhìn sang bên kia đường. Ðã có một đôi trai gái đứng tránh mưa ở đấy từ bao giờ. Gã trai đưa tay vuốt tóc cô gái và ôm lấy cô ta. Nàng chợt thấy khô cổ và bỗng thèm có một người đàn ông nào đấy đứng bên cạnh, ôm lấy nàng và cùng nhau ngắm mưa. Nàng chưa bao giờ được ở bên cạnh ai để ngắm mưa. Rất ít người biết sở thích này của nàng, mà có biết thì hoặc là mặc kệ, hoặc cho là nàng dở hơi. Nàng cảm thấy rất rõ tim mình nhói lên. Ðôi trai gái kia yêu nhau lắm thì phải. Còn nàng thì không biết yêu. Nói chính xác là không biết yêu say đắm, không biết yêu hết mình. Chỉ những khi mưa to gió lớn thế này tim nàng mới mềm ra, còn không tình yêu say đắm đối với nàng thật sự chỉ là ảo tưởng mà những kẻ mù quáng nghĩ ra với nhau. Mà nàng cũng chẳng bao giờ tin rằng có ai đó yêu nàng say đắm cả. Nàng thật sự không hiểu tại sao người ta lại đắm đuối nhau, lại có thể chết vì nhau. Có người bảo nàng quá thực tế nên không thể yêu được. Nhưng nàng cũng yêu đấy chứ, nàng yêu chồng nàng, yêu như là số phận đã sắp đặt trước. Số phận cho nàng một gia đình hạnh phúc, bố mẹ cưng chiều, công ăn việc làm ổn định, thêm một ông chồng chiều nàng hết mực. Và chắc sau này sẽ là những đứa con ngoan. Nàng có được mọi thứ mà chẳng phải cố gắng gì. Nàng chẳng mơ cũng vẫn được những thứ mà người khác mơ ước. Có điều mà nàng mơ thì chẳng bao giờ thành hiện thực. Có người bảo nàng là lạnh lùng, khô khan và một loạt những tính từ đại loại như vậy. Có người bạn còn đùa rằng nàng là con người khô khan đến mức chỉ ăn cơm mà không ăn canh. Nàng mà khô khan ư? Cũng có thể. Nhưng những lúc thế này liệu có ai biết nàng mong muốn điều gì không? Nàng chợt rùng mình vì lạnh và cô độc. Nàng lắc đầu thật mạnh và tự bảo mình rằng xem bão thế đủ rồi, vào nhà cho ấm, đứng ở đây suy nghĩ lung tung làm gì cho mệt người.

Nàng quay về phòng, bước những bước thật dài. Và nàng bất ngờ đến giật mình khi thấy anh ta ngồi ở bàn làm việc. Trời mưa bão thế này không về với vợ con còn tỏ ra mẫn cán thế làm gì. Nàng mở cửa bước vào phòng và hỏi: "Ơ thế anh chưa về à?". "Tôi có chút việc đang làm dở. Em đi đâu về mà ướt thế kia?". Nàng cười không trả lời, lấy báo ra đọc. Mở tờ báo ra nhưng nghe tiếng ì ầm bên ngoài nàng lại muốn chạy đi. Ngồi đây chán chết, chẳng có tí lãng mạn nào! Anh ta lên tiếng: "Ra đây ngồi nói chuyện bé ơi! Tờ báo ấy hôm qua tôi thấy em đọc rồi mà, đọc làm gì kỹ thế". Nàng cười như bị bắt quả tang, nói lảng: "Anh xong việc rồi à?".

Câu chuyện lúc đầu hơi gượng ép, nhưng đến khi đề về thời sinh viên thì anh ta sôi nổi hẳn lên. Ðôi lúc anh ta nhìn và nói với nàng thật dịu dàng. Nàng có cảm giác nàng đã làm anh ta nhớ đến ai đó trong quá khứ. Anh ta có một thời trai trẻ hào hoa, đa tài để mà nhớ, để mà tự hào. Còn nàng thì chẳng có gì để nhớ cả. Tất cả đều êm ấm, bình lặng như từ trước đến giờ thì liệu sau này bằng tuổi anh ta nàng có gì để kể đây? Chỉ có những cơn bão là làm khuấy động trời đất, khuấy động tâm hồn nàng, nhưng chẳng lẽ lại đi kể chuyện bão? Nàng chợt nhớ ra ngoài kia vẫn đang mưa. Nàng nghĩ giá mà anh ta là người tình của nàng thì nàng sẽ kéo anh ta ra ngoài mưa cùng với nàng ngay lập tức. Nhưng tất nhiên đó chỉ là tưởng tượng bởi vì nếu là người tình của anh ta thì hoặc là phải thông minh hơn nàng thật nhiều, hoặc là phải ngốc nghếch hơn nàng một chút. Hình như anh ta cũng có một cô "tình nhân bé nhỏ" ở đâu đó thì phải. Cô ta hay gọi điện thoại đến văn phòng vào lúc sáng sớm hoặc chiều muộn. Mỗi khi thấy anh ta hạ giọng và vui mừng: "Em đấy à?" thì nàng biết ngay là cô ta. Có đôi lần nàng đang ngồi trước mặt anh ta trao đổi công việc thì có điện thoại. Thường thì anh ta bảo: "Chút nữa anh gọi lại cho em nhé", nhưng cũng có lần anh ta mặc kệ nàng, xoay người qua hướng khác, tựa lưng vào ghế và thản nhiên nói chuyện làm nàng không còn cách nào hơn là đứng dậy. Những lúc như thế nàng rất muốn trêu anh ta vài câu nhưng ngay lập tức nàng lại nhớ ra vị trí của mình. Không hiểu sao những lúc ngồi nói chuyện phiếm với anh ta thì nàng hay quên mất điều đó nhưng khi nói chuyện công việc hoặc có ai đó nữa thì nàng ý thức rất rõ nàng phải vợ, chẳng phải tình nhân, chỉ là một nhân viên quèn, cấp dưới của anh ta và chẳng có ý nghĩa gì với anh ta để mà ghen tuông hay tức giận, nàng chỉ là kẻ mà thỉnh thoảng anh ta buông vài câu tán tỉnh vô thưởng vô phạt mà thôi. Anh ta là người thừa khôn ngoan để có thể vừa thương vợ quý con, vừa yêu một cô bồ trẻ trung xinh xắn lại vừa tán tỉnh vài cô ngu ngốc như nàng. ở bên anh ta, nàng luôn cảm thấy mất tự tin. Anh ta thông minh hơn nàng quá nhiều làm nàng lúc nào cũng nơm nớp sợ anh ta khiển trách, sợ anh ta chê mình ngu dốt. Mặc dù thế nàng vẫn thích được làm việc cùng anh ta vì nàng học được ở anh ta nhiều điều. Nàng biết đó chính là động lực khiến nàng cố gắng: không phải vì đồng lương, không phải vì danh vọng mà chính là vì nàng muốn một lúc nào đó nàng hoàn toàn tự tin trước anh ta. Bất giác nàng quay sang nhìn anh ta. Nàng thích khuôn mặt của anh ta khi nhìn nghiêng. Anh ta cũng quay sang nhìn nàng và lẩm bẩm một câu bằng tiếng Anh: "Tôi muốn hôn lên đôi môi em". Thế đấy, anh ta không bao giờ giấu giếm rằng nàng có đôi môi đẹp và anh ta rất muốn hôn đôi môi nàng nhưng chưa bao giờ anh ta nói rằng anh ta thích nàng cả. Nàng giả vờ ngạc nhiên: "Sao anh lại đùa thế?". Bất ngờ anh ta cười phá lên: "Em giống hệt cô bạn gái của tôi ngày xưa, cho dù tôi có nói thì nói thầm cô ấy cũng vẫn hiểu, còn những câu tôi nói rõ ràng mạch lạc thì lại chẳng hiểu gì cả". Nói xong anh ta lại cười. Nàng ngượng nhưng phải tự thú nhận rằng nàng rất thích tiếng cười của anh ta: tiếng cười thật vang, thoải mái, phóng khoáng và rất ngạo mạn. Có mấy ai cười được như anh ta?

Tiếng chuông điện thoại cắt đứt câu chuyện. Ai gọi đến giờ này không biết! Nàng thấy anh ta nhấc máy và ừ ừ một hồi, quay sang nói với nàng: "Tôi về trước nhé, bà xã tôi mang áo mưa đến rồi".

Anh ta về. Nàng ngồi một mình, cảm thấy như bị bỏ rơi. Và nàng biết rất rõ tại sao nàng lại không chọn anh ta làm người tình. Nàng đã quen được đàn ông săn đón, chiều chuộng, mà đó lại chính là điều nàng không bao giờ nhận được từ anh ta. Trận mưa to năm ngoái, chồng nàng - khi đó mới là người yêu của nàng thôi - mang áo mưa đến cho nàng và đưa nàng về nhà. Bố mẹ nàng đã rất hài lòng vì cậu con rể tương lai chu đáo, thương vợ. Thế mà bây giờ đã hơn bảy giờ rồi vẫn không thấy tăm hơi đâu. Nàng nghĩ hay là chồng nàng cũng đang ướt như chuột lột ở đâu đó rồi. Nàng gọi điện đến công ty thì không có ai nghe máy, gọi điện về nhà thì "ông xã" hỏi luôn: "Em không về còn ở đấy làm gì? - Mưa á? Mưa thì mua áo mưa mà về chứ còn đợi gì nữa?". Nàng vâng gọn lỏn rồi cúp máy. Ðây là lần đầu tiên từ khi cưới chồng nàng nói với nàng bằng cái giọng lạ lùng ấy. Nàng cảm thấy hơi thất vọng. "Hơi" thôi bởi vì trước khi cưới nàng đã được các bậc đàn chị đi trước cảnh báo về các ông chồng trong tương lai rồi và vì thế nàng đã chuẩn bị tinh thần từ trước là sẽ có lúc sẽ nhận được câu nói này. Nàng gọi điện cho bố. Bố nàng vẫn chưa về: "Bố đang định về đây, con chưa về à? - Không có áo mưa à? - Sao con không mua một bộ mà về? - Không chạy ra mà mua được à? Thế thì đợi chút nữa ngớt mưa rồi hãy về không ốm đấy! - à hay là con cứ ở đấy đi, tẹo nữa bố mang áo mưa đến cho. Bố có mỗi một bộ, bố ra kia mua cho con bộ nữa rồi hai bố con cùng về - ừ! Ðói hả! Hôm nay ở lại bố mẹ ăn cơm, bao giờ hết mưa nó sang đón rồi về. Thế nhé!". Nàng cúp máy và cảm thấy hạnh phúc lại tràn đầy. Nàng vừa hát vừa bật máy tính lên chơi điện tử. Vừa chơi được một lúc thì lại có điện thoại. Hay là ông chồng yêu quí của nàng nghĩ lại rồi không biết. Ðầu dây đằng kia là một giọng đàn ông, không phải giọng chồng nàng, không phải giọng bố, mà là giọng anh ta: "Tôi mang áo mưa đến cho em nhé". Nàng từ chối và đột nhiên cảm thấy giận dữ. Anh ta làm như thế để làm gì cơ chứ. Anh ta biết thế nào nàng cũng từ chối còn giả vờ giả vĩnh làm gì. Nếu mà nàng có đồng ý thì anh ta cũng đâu có dám đội mưa mà mang áo đến cho nàng! Nàng biết anh ta lắm chứ. Thế rồi câu cuối cùng trong máy điện thoại là: "ừ thế thôi nhé, chút nữa tạnh mưa rồi hãy về. Hôn em thật nhiều!". Nàng nghĩ thầm: "Vâng thưa sếp, 12 giờ đêm mới tạnh mưa".

Nàng tiếp tục chơi điện tử nhưng không được tập trung lắm. Nàng nghe thấy tiếng mưa rơi bên ngoài liền mở cửa đi ra. Trời đã tối lắm rồi. Mưa to làm ánh đèn đường nhòe đi. Nàng lắng nghe tiếng mưa. Dường như mưa đã ngớt rồi thì phải. Nàng cảm thấy có ai đó gọi tên mình, lẫn trong mưa. Nàng chạy xuống mấy bậc cầu thang, ghé tai vào cửa sổ. Ðúng là bố gọi rồi! Nàng chạy hai bậc một xuống tầng trệt. Bố nàng mặc áo mưa kín mít làm nàng thiếu chút nữa thì không nhận ra. Nàng nghe loáng thoáng tiếng bố lẫn trong tiếng mưa: "Mặc nhanh lên rồi hai bố con cùng về".

Mưa lại đổ xuống. Hai bố con mỗi người một xe. Nàng co hai chân lên, để số một và bắt đầu biểu diễn tài nghệ "tay lái lụa", khoái chí khi thấy nước bắn tung toé sang hai bên. Bố chắc không chịu nổi nửa bánh xe. Trời đã ngớt mưa nhưng nước thì chẳng rút đi chút nào, lại thêm đông người đi lại làm cho nước sóng sánh, chao đảo giống như khi nàng cho cái muôi vào nồi múc canh vậy. Nàng cười thầm cái tính háu ăn của mình. Gần tám giờ rồi còn gì nữa mà không đói! Bao nhiêu chủ đề thì cuối cùng cũng quay lại ăn uống thôi!

Mưa thưa dần. Gần về đến nhà thì bố bảo nàng: "Trời ngớt mưa rồi lại tiện quần áo, con đi về luôn đi kẻo nó mong". Nàng đi một đoạn nữa thì trời tạnh hẳn. Thế là đã qua một cơn bão!

24 Ðiện Biên Phủ, Hải Phòng

* Truyện ngắn được tặng thưởng Tác phẩm Tuổi xanh 1998.



Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0
Nhật ký một chuyện tình

Ngô Văn Phú

30-4

Anh, em bàng hoàng khi anh đứng trước em. Một giải phóng quân đột nhập vào nhà riêng của viên quận trưởng, thiếu tá quân lực cộng hòa. Anh mặc bộ đồ mà trong xứ Nam Bộ này chỉ dùng ở đám hạ tiện. Nhưng uy thế của anh thì là một Việt Cộng lừng lẫy. Anh nhìn em, một phút sững sờ rồi lịch thiệp nói:

- Thưa bà, ông nhà đâu? - Khẩu súng của anh nhăm nhăm chĩa thẳng vào ngực em!

Em nói:

- Chồng tôi ẩn ở phía dãy nhà phụ, ở giữa đám lái xe, vệ sĩ.

Anh quay ngoắt xuống dưới cầu thang... Em sững sờ! Sao lại có chàng trai xinh đến thế! Gọn ghẽ, thanh thoát. Trong phút cứng nhắc vẫn mềm mại, lịch thiệp. Em đứng trên gác hai nhìn xuống. Anh dẫn chồng em đi... Súng chĩa sau lưng, đầy khí thế. Như một người chiến binh kiêu hùng. Chồng em tóc rũ xuống! Còn anh kiêu hãnh...

Trời xanh ở phía anh. Em khóc. Lo sợ cả gia đình tan nát. Nhưng em lại thấy mây trắng trên sông đẹp lạ thường. Anh là giải phóng quân đến trong ngày vẻ vang nhất của đời chiến trận.

Em nhớ lắm. Anh đội mũ tai bèo, mặc chiếc áo lót cổ vuông của bộ đội cụ Hồ, quần dài, chân đất. Một chiếc khăn mặt trắng vắt ngang vai để các anh nhận ra nhau, và cũng để lau mồ hôi khi òa xuống mặt...

15-5

Em lên thị xã. Nơi cách biệt thự của em chừng 4 km. Bây giờ người bất ngờ không phải là em, lại chính là anh, chàng giải phóng quân đã bắt gọn tên thiếu tá quận trưởng một tỉnh đồng bằng mà không phải đụng độ. Em khóc hết nước mắt một tuần ròng. Chồng đã bị Cách mạng giữ rồi. Hai con còn nhỏ. Vườn rộng thênh thang. Ðám người giúp việc bỏ về gần hết. Chỉ còn một vài người... Em cảm thấy bơ vơ, lạc lõng. Bốn bề người ta vui tươi trong cảnh đoàn tụ, còn em là chia ly, tan tác và hụt hẫng. Nhưng em vẫn không quên được hình ảnh mát rượi như một tán lá cây trưa hè phủ xuống đầu em, một chàng giải phóng quân...

Em tìm người thân Cách mạng. Một ông anh con ông bác ruột, lớ ngớ, ngại ngùng. Em đã chọn bộ đồ kém nhất, mà vẫn khác lạ với những người ở tòa báo "Ðồng Khởi". Em lại sững người. Anh tươi cười, cởi mở, khuôn mặt không đằng đằng sát khí như bữa nọ. Anh vẫn nhận ra em. Anh gọi em bằng tên rất thân mật như thời sinh viên, bạn trai thân thương nhất... Em phải cố ghìm không để nước mắt lăn trên má, nhưng nước mắt vẫn ứa ra. Anh nhìn thẳng vào mắt em.

Lúc ấy nếu không có sự xa cách, ngại ngần về kẻ thắng trận và dân dã trong vùng thua trận, thì em đã ngã vào ngực anh rồi...

17-5

Em đã nhận ra người nhà. Anh họ em dù ngại ngần, song vẫn hiền như cũ. Các anh trong tòa báo "Ðồng Khởi" cũng chẳng ai giận em..., lại thích nói chuyện với em. Có thể là em xinh chăng... Cũng có người không thích em đánh móng tay và kẻ mi xanh trên mắt. Hình như họ không quen... Thứ ấy với trong này quá tầm thường, song có người nhột như chạm phải nước nóng... Em biết là sự xinh đẹp của mình đã dẹp được những thành kiến lớn hơn thế... Dù sao em chỉ thích gần anh... Anh ngồi ở trong phòng nhỏ, mắt mơ màng... Khi thấy em đi ngang, anh mỉm cười rồi lại cắm cúi viết. Mỗi cử chỉ của anh đều đem lại cho em một sự thân gần. Em biết rằng em đang bị quỷ ám.

22-5

Em vắng mặt mất năm hôm, bởi đắm đuối việc nhà. Em theo tin chồng xem bị giam ở đâu... Em chăm sóc mấy đứa nhỏ. Em săn tin bố chồng em di tản sang Hawai có trót lọt không, để còn lo nhờ cậy sau này. Em lân la hỏi dò, những người thân, xem thử rồi đây Cách mạng sẽ đối xử với gia đình mình như thế nào?... Nhưng em chỉ mong xong việc để đạp xe về với anh...

Anh vẫn đi đó đi đây. Có hôm em chờ cả nửa ngày, sốt ruột quá chừng mà anh thì thăm thẳm. Rồi anh cũng về, huýt sáo vang từ cửa mà vào, lật mũ một người quen, giơ tay vẫy một đứa bé răng sún... Anh không vẫy em. Em suýt khóc... Nguy hiểm quá, em yêu mất rồi...

25-5

Và anh nói chuyện. Anh hỏi thăm gia đình em. Em nói thật với anh hết tất cả. Em yêu rồi. Em làm sao có thể giấu anh hết được. "Ra thế!" Ông già em cũng là một người trí thức có hạng, có quen ông Phạm Huy Thông, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát... Em từng cứu một chiến sĩ giải phóng quân ở trong nhà, và chính ông già em, một bác sĩ ngoại khoa đã chạy chữa cho anh ấy và thả về rừng! Em kể anh nghe, anh trân trọng lắm! Từ bữa đó, anh thân thiết hẳn... Ðến những bữa sau em lại kể tình duyên của em. Chồng em là một quận trưởng có thế lực. Anh ta thích binh nghiệp và cũng lăm le đeo lon tướng, nếu không có ngày 30 tháng 4 xảy ra... Anh ta cũng biết chiều em bởi em đẹp, và cũng biết xài đủ danh lợi trong cái vai quận trưởng. Anh nhún vai. Em ngại ngần không kể nữa, thì anh đưa bàn tay vỗ rất nhẹ vào vai em an ủi... Ðấy là bàn tay thần... Vai em bây giờ vẫn còn cảm giác run rẩy, khi bàn tay anh chạm tới! Lúc ấy phòng vắng lắm. Em chỉ muốn choàng lấy anh mà hôn. Vâng nếu được hôn lúc ấy, anh sẽ hiểu định nghĩa về cái hôn với đúng nghĩa được yêu của nó...

26-5

Chúng ta nói về thơ mới. Em hiểu thêm những điều trước đây người ta đã bóp méo khi hiểu về các anh. Anh nói rành mạch về Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Phạm Huy Thông. Em càng lạ hơn anh thuộc thơ Vũ Hoàng Chương, Ðinh Hùng, Hồ Dzếnh... Anh có một giọng nói chậm rãi. Anh có những nhận xét hóm hỉnh. Anh biết pha trò làm các câu chuyện đậm đà thêm. Anh thông minh và không hợm mình. Anh nói đến văn học Mỹ. Em bất ngờ anh lại yêu Faulkner, người khổng lồ của văn học Mỹ đầu thế kỷ, anh xếp ông ta trên Heminway và Steinberg. Anh cho thơ Whitman như những giọt sương lành ban mai, mãi mãi sáng trong bình minh nước Mỹ. Anh nói đến hội chứng Việt Nam của văn học Mỹ những năm sáu mươi, bảy mươi và anh tiên đoán nó còn bùng lên ở những năm tám mươi, sau đó mới chuyển động được... Em nghe, em nghe.

Anh đem đến cho em hết bất ngờ này, đến bất ngờ khác.

Em yêu anh... Em muốn gần anh, cả thân xác lẫn linh hồn. Anh mang đến cho em ngọn gió lành mà em khao khát. Dù chỉ một lần thổi qua mặt, cũng không thể nào quên.

5-6

Ngày nào em cũng đến với anh. Anh giữ một cự ly cần thiết. Em hiểu anh cũng rất mến em, thậm chí yêu em. Em đọc được những điều đó từ những phút bối rối của anh khi bất ngờ em xuất hiện. Qua những phút giây đi vào lối khuất em đi sát bên anh, anh vẫn chẳng phản ứng gì. Nhưng ở cơ quan Báo, anh luôn luôn nói năng đúng mức. Anh vẫn thân thiết nhưng không có ai có thể ngờ giữa anh và em đang có chuyện gì. Em biết anh đã có vợ. Vợ anh là một người đàn bà nhà quê rất hiền, chịu thương chịu khó. Nhưng anh vốn sống bằng nghĩa vụ. Anh đã yêu một lần thời học sinh. Người yêu anh để cho anh một nỗi buồn kéo dài không bao giờ dứt. Trước em, có lúc anh nhìn vào mắt em rất lâu đầy âu yếm, khi em lấy trộm được một cuốn sổ riêng ở trên bàn, em ngắm cô ta và thột mình, cô ấy có những nét giống em. Có điều cô ấy là sinh viên xã hội chủ nghĩa. Nét đẹp chất phác, sắc sảo... Còn em là vợ một sĩ quan thời ngụy ở Nam Bộ. Em hơi tự ái, ghen vớ vẩn. Ra anh từ người ấy đã có tình với em, chứ không phải yêu em.

Em hỏi anh:

- Nếu một người yêu anh ở đất này, anh có yêu không?

Anh nói:

- Yêu chứ!

Anh tự nhiên và thành thật. Bản lĩnh của anh thật lạ. Lúc nó hiện ra, lúc nó tiềm ẩn.

6-6

Em đọc thơ chưa in và những tập thơ đã xuất bản của anh. Thơ chưa in là thơ tình. Em hỏi:

- Anh yêu ai mà đau khổ vậy?

- Một tình yêu đã chết!

- Anh có định làm nó sống lại không?

Anh cười hóm hỉnh:

- Em giúp anh đi.

Và em mừng rỡ. Em đưa anh về dinh thự của em. Chàng Hoàng tử của em hôm ấy, một giải phóng quân tài hoa... Các con em bấu lấy anh. Anh hòa nhập với chúng rất nhanh về tài bắt chuyện. Chúng líu lo hỏi chuyện Hà Nội. Anh kể cho chúng nghe về những cái hồ đẹp của thủ đô, về những cái vườn trong thành phố. Chúng lặng đi nghe anh. Ðến em cũng lặng đi. Hà Nội là một điều gì riêng biệt của anh. Những câu thơ của anh, chỉ một lần đọc em đã thuộc:

Ðêm càng khuya, phố lặng như tờ.
Hàng cây đứng im thâm trầm
Theo anh chỉ là cái bóng
Dãy đèn đường vào khuya, sáng lắm
Ði loanh quanh chẳng muốn về nhà.
Ði, đi hoài để thấu hạt mưa khuya.
Cái buốt lạnh của trời đất buốt lạnh.
Chẳng có bên em, căn nhà trống lắm
Thà cứ dầm mưa như thế, đỡ buồn hơn...

Ðêm ấy anh không về. Anh ở nhà em. Chúng ta ngồi bên hàng dừa. Hai đứa trẻ đã ngủ. Người giúp việc của em cũng bỏ đi chơi. Chỉ còn anh và em. Em thì khát thèm còn anh thì đối phó, bâng khuâng, mơ mộng... Chàng giải phóng quân thiên thần! Em không kìm nổi. Em sà đến lòng anh. Anh đẩy em ra.

Một cảm giác miễn cưỡng. Rồi anh lại ôm em vào lòng, hôn em, lại nhìn thẳng vào mắt em. Em biết anh lại nhớ người cũ. Ghen và yêu. Anh hôn em... Giờ thì em là kẻ thắng trận. Cái hôn ấy dài, ba phần tư là của em, một phần tư là của người cũ.

Cái hiện tại nhàu nát của em bỗng tự phát sáng. Em nhìn anh. Ðêm ấy em và anh thức thâu đêm suốt sáng. Hoàng tử của em! Hoàng tử của em! Chẳng bao giờ em quên anh được.

27-7

Anh bỏ đi đột ngột sau cái đêm hôm ấy. Không để lại địa chỉ. Chỉ để lại chiếc hôn ba phần tư là của em, một phần tư là của người cũ, cái hôn đầu em nhận từ anh.

Em hụt hẫng không chừng. Cái phút thiên thần của em đã thành ác quỷ. Em tự nhiên hiểu anh thành một con người khác. Mắt em hoa lên. Em khóc. Ông anh họ của em cho biết anh đã lên Sài Gòn. Anh có để địa chỉ lại. Nhưng không có thư cho em. Chẳng lẽ anh đã quên đêm thần tiên của chúng ta, hỡi chàng Hoàng tử? Ðêm ấy anh đọc thơ Baudelaire, khi ngà ngà. Bài "Say đi". Em cũng thuộc nhiều bài của Baudelaire, nhưng em thích bài khác hơn, bởi vì em là con gái. "Một bài thơ xuôi viết cuối thế kỷ thứ 19, mà người cuối thế kỷ 20 vẫn tưởng viết cho mình!". Anh nói thế. Anh quả là sành thơ. Em cũng thích bài ấy. Anh đọc to trong phòng. Em cảm thấy muốn uống rượu, muốn hòa đồng vào vũ trụ. Anh hôn em. Hôn cho vũ trụ, hôn cho tình yêu đã mất tìm lại được.

Vậy là anh bỏ trốn ngay hôm sau. Em tức giận. Em nhìn anh lệch hẳn đi. Em trở về, em khóc, em không ăn uống gì hết, em lần mò vào với các con em. Em ôm chúng để hơi ấm của hai đứa trẻ bù cho những thiếu hụt... Em lại khóc. Em hờn oán anh... Em không tìm anh. Anh như ngọn gió mát thổi qua mặt một lần rồi mất hút...

Năm 198...

Mấy năm cực khổ, em chỉ muốn anh quay lại với em. Em đi tiếp tế cho chồng. Ông ta được tha về. Và chúng em có danh sách hàng đầu trong những người được chính phủ cho ra đi hợp pháp. Chồng em đã về. Một con người hận thù, nhìn cái gì cũng méo mó. Ông ta làm sao đắp bù được cho em. Những câu chửi tục, những cuộc chăn gối cuồng nhiệt để bù lại năm năm tù tội chẳng bù đắp được gì cho em... Tình yêu đến một lần với anh và tắt lụi. Nó lại bị những dòng nước nhớp nháp dội thêm để chẳng bao giờ bùng cháy lên được nữa. Em nhớ anh! Em nhớ anh đến thế! Thiên thần của em. Em mới biết cái đêm ấy em gặp anh, chẳng bao giờ gặp lại... Anh biền biệt chẳng quay về! Em hầu như tuyệt vọng.

Tháng 3 năm 198...

Chồng em ra đi trong trật tự. Sang Mỹ. Quận Cam bang California... Em thương con em. Chúng nó là nguồn an ủi của em, là máu thịt của em, là nỗi đắng cay và thất vọng. Em chỉ muốn có một đứa con với anh. Nếu có đứa con ấy, thì em sẽ trở thành một bà mẹ bất công... Ðúng là như thế. Nhưng làm sao có con được với một người tình rụt rè và luôn chạy trốn... Em nhớ anh mà anh vẫn bặt tăm. Anh càng khó hiểu thì em lại càng muốn tìm anh. Có đêm em thức trắng. Từ lúc nằm xuống giường cho đến lúc mệt mỏi lờ đờ đi trong ánh ngày mới dựng, em chỉ nghĩ đến anh, em thèm khát anh. Em muốn dâng trọn mình cho anh, dù chỉ là một phút, một giờ, một đêm... một tháng... Tất cả chỉ là ảo tưởng. Chồng em gửi thư về... Em phải lo toan để sang Mỹ cùng hai con nhỏ. Em bán nhà. Em được những cây, những chỉ và em muốn tặng cho anh một kỷ niệm. Em gặp anh họ em, khóc đẫy hàng tiếng và gửi cho anh một chiếc nhẫn mảnh mai nửa chỉ... em biết anh chỉ thích những thứ mảnh mai như tâm hồn anh, như thể xác anh mà đó lại chính là vàng ròng. Chắc gì anh đã nhận... Em lại khóc mất rồi!

Tháng 5 năm 198...

Anh đã đeo nhẫn vào tay chưa? Một cuộc hành trình dài ba mẹ con lôi thôi, lếch thếch... phút máy bay cất cánh sao buồn đến thế! Sài Gòn ở phía sau. Anh ở phía sau... Em lại phải lao về phía trước với chồng con, với miếng cơm, manh áo... Bao giờ em mới trở về được. Em phát ghét mình, chửi mình sao mà ngu thế! Sao chẳng lấy của anh một tấm hình để luôn mang theo mình, như một liều thuốc an thần, như một bùa hộ mệnh.

Chồng em ra đón. Nước Mỹ hiện ra ở dọc đường. Từ Sài Gòn qua Mỹ như bước vào một thế giới khác... Em lạ lẫm. Con người ra nước người hình như nhỏ nhoi đi, hèn hạ hơn. Nước Mỹ vẫn là của người Mỹ, của những người da trắng. Ai có tổ tiên là người Anh, người Tây Ban Nha, người Pháp, người Ðức sang từ thời Jefferson, Washington, Lincoln thì lại có giá hơn. Nước Mỹ không thuộc về người da mầu. Người Việt Nam thì cũng chẳng hơn gì những người da mầu khác. Ðặt chân lên nước Mỹ một hôm, em đã như hạt bụi cuốn vào dòng xoáy. Chồng em đặt ra một chương trình ăn ở, tìm việc để hòa nhập. May cho em biết tiếng Anh, tiếng Pháp, ở tuổi gần ba mươi nhưng vẫn chưa phải già, tô điểm vào trông vẫn ngon lắm...

Em phải đi làm cùng với chồng em... Em được nhận vào làm ở một tiệm ăn... Chồng em quen với đám tướng tá cũ, kinh doanh những gì không rõ chỉ biết đi về như điên. Anh ta vẫn còn chưa chán em... Vẫn quanh quẩn với em... Xem ra anh ta cũng kiếm được tiền và biết cách kiếm tiền... Em hòa nhập, hòa nhập, mệt mỏi rã rời... Thú thật không còn thì giờ để nhớ tới anh nữa...

Tháng 6 năm 198...

Em sinh hoạt đã khác nhiều với bên nhà. Sống ở nước Mỹ, khi làm việc như chiếc đồng hồ lúc nào giây cót cũng căng hết mức. Gồng người mà sống... Ca làm việc kết thúc thì người nhão ra... Kỹ thuật sử dụng người kiểu Mỹ đã biến con người thành máy, mặc dù trong người nó không có tí chút cơ khí, điện tử... Chất xám, cơ bắp, ngôn ngữ, hành động bị công việc điều khiển. Tất cả cộng lại để làm ra đồng tiền.

Khi guồng máy công việc vầy nhão mình ra rồi, mình lại rơi vào CHU KỲ ĂN CHƠI. Ở đấy tự xếp mình vào các hạng mục rất dài của xa hoa hoặc bần cùng... Cái bần cùng trong thế giới xa hoa, làm khổ người biết nghĩ. Em đã đi qua tuổi ham hố, tuổi chơi bời và đã bước vào tuổi lo toan. Em lại là người đàn bà sống chuẩn mực, ít thích phá phách, ưa trầm lặng hơn là ồn ào vui nhộn... Trầm lặng ở bên này cũng phải trả giá đắt. Muốn mua được trầm lặng phải ngồi ở trong nhà. Tức là phải có tiền thì mới ở nhà được. Mà tiêu xài ở bên này thì một cuốc taxi cũng vài ba chục đô... Ðồng đô-la lúc nào cũng khuấy động đầu óc con người, từ việc làm ăn nghiêm túc, kiếm sống khắc nghiệt, đến những trò chơi giải trí...

Tháng 7 năm 198...

Em gần chồng em để thành một thứ liên minh, không tìm được những chuyện gì hơn là nghĩa vụ. Em thương con, một phần nào cũng thương chồng. Nhưng khi anh ta thể hiện quyền lực của kẻ kiếm tiền, quyền lực của kẻ cho mình, có thể chi phối kiểu nào cũng được của một ông chủ, thì em không chịu nổi. Anh ta cho là em thả ra khó mà kiếm được tiền, khó hòa nhập, trừ phi vì sinh kế mà phải đem bán mình nuôi mình và nuôi con. Anh ta biết em còn xinh đẹp. Song máu lính tráng, máu sĩ quan "bạch vệ" của anh ta lại dẫn anh ta đi tìm khoái lạc trong đám thượng lưu của dân di tản... Anh ta có tiền gửi ngân hàng, lại nhờ họ hàng vốn sang đây hàng chục năm giúp đỡ. Việc em đi làm ở nhà hàng làm anh ta khó chịu, song em ở nhà thì buồn lắm. Em không muốn làm một thứ con sen, rồi năm tháng sẽ hạ mình xuống chức vú già... Và phần nào đó, em cũng muốn tự lăn mình vào để kiếm tiền nuôi con, như những năm tháng chồng em nằm ở trong trại cải tạo... Những đêm gã mê chơi không về, các con em ngủ mê mệt, em lại nhớ đến buổi đầu gặp anh, khi anh cầm súng chĩa vào gã quận trưởng, chồng em lúc ấy có thể đá băng cây súng của anh, nhưng hắn không làm nổi chỉ còn cách giơ tay lên đầu hàng... Thần chiến thắng của đất nước đã tạo cho cái phút hào hùng có một và phải làm một cách bất đắc dĩ, ở một anh nhà báo quân đội như anh, gặp lúc tình thế buộc phải trong tư thế người chiến sĩ... Cái phút ấy qua nhanh, nhưng em không sao quên nổi. Ngay lúc ấy, là một kẻ ở phía bại trận mà em vẫn thấy tự hào như anh đã tự hào... Em yêu anh ngay từ phút ấy, cái gương mặt học trò trắng trẻo, vầng trán thông minh, đôi mắt đen sáng thăm thẳm đầy chất hào hoa, thầm kín. Sau này gần gũi anh, những vẻ đẹp ban đầu ấy của anh chỉ ngày một tăng lên... càng làm em buồn và tiếc nuối vô hạn. Em thèm làm một cô gái bình dị để gặp anh từ thuở ban đầu, và em mãi mãi là vợ anh, sống cho anh, vì anh, nhận về những vẻ đẹp kín đáo chỉ anh mới có, mà em tìm suốt đời không thấy nổi... Em khóc mất rồi...

Tết Nguyên đán năm con rồng 198...

Mọi người đổ xô đi đón Tết. Chồng em không về. Gã đang cặp bồ với một thiếu phụ Mỹ gốc Hoa, chiêu đãi viên hàng không. Gã đi suốt ngày, đêm về như một con cáo rạc rày, nằm vắt trên đi văng, miệng nồng nặc hơi rượu mạnh. Gã kiếm được tiền. Gã vào một băng ma-fi-a buôn bạch phiến. Mặc gã... Gã có súng ngắn giắt trong người. Gã vẫn là một người hùng như năm tháng làm quận trưởng. Gã ném những tập đô-la cho em như ban phát cho một con điếm. Em nói không ngoa... Em thỉ thương những đứa con của em. Chúng còn nhỏ. Chúng cũng cần có tiền. Bố nó lo theo kiểu kẻ có tiền, làm ra tiền. Còn em lo cho chúng là người mẹ lo cho con. Nhiều lúc em sợ hãi, em cảm thấy có chỗ dựa mà cũng như không có... Em lại nghĩ về anh. Ðất khách quê người tình cảm lạ lắm... Em vẫn đi làm, và cũng kiếm được tiền. Em vẫn biết EM CÒN XINH ÐẸP. Ở bên này xinh đẹp với con gái cũng cần lắm. Những ông chủ Mỹ có thể nhận làm nhân viên ngay và ngay tối đầu tiên họ đã mời mình đi ăn tối... Em đã hiểu quá cái "lệ" Mỹ này... Và em giữ mình. Không hiểu làm sao em chỉ nghĩ tới anh, với một tấm lòng vô cùng thanh sáng...

Ngày... tháng... năm 198...

Nhà cửa tan hoang, chồng em đập phá. Ðó là cái cớ. Hắn bắt em ở nhà. Hắn ghen với một thằng Mỹ, Mai-cơn Ken-vin bám em tận nhà. Hắn tát em hai cái lằn năm ngón tay, cái thằng sĩ quan "bạch vệ" xưa ấy. Bây giờ hắn mới bộc lộ hết thói lính tráng con ông này cháu kia, lưu vong rồi vẫn thấy mình là quý tộc, ma-phi-a buôn lậu vẫn làm hoàng đế trong cái tổ ấm gia đình, vương quốc của hắn. Ở đó, hắn quyền sinh quyền sát, cho ai sống được sống, bắt ai chết phải chết. Em uất lên tận cổ, khóc, muốn chết quách cho rồi. Hai đứa con lẻn đến với em. Nếu không có chúng thì em ra ngay đường, em sẽ ngủ với bất cứ thằng Mỹ nào để trả thù hắn. Nhưng em không làm thế được. Bởi trong em vẫn còn có một tình yêu dai dẳng đối với anh. Lúc này sao em cần anh đến thế?

Em tìm tập thơ Baudelaire. Em đọc những bài thơ anh thích... Em dịu đi được một phần nào. Giờ đây anh ở đâu?

Tháng... năm 198...

Em nghĩ kỹ rồi, em phải tách biệt ra với hắn, con người thú ấy. Em còn hai đứa con. Tách khỏi hắn làm sao nuôi được cho chúng ăn học tử tế, cho hết bổn phận làm mẹ. Em đi làm, em dạy học thêm. Em sẽ tách dần ra khỏi hắn... Hắn cáu, rồi hắn cũng phải chấp nhận. Hắn đòi nuôi hai đứa con. Em không cho. Em muốn nuôi chúng dù chúng có khổ, nhưng thằng con trai quậy phá. Nó mười bốn tuổi rồi, nó muốn cuộc sống sung túc. Nó đi theo bố nó. Ði với em chỉ còn một đứa con gái. Cháu đã mười hai tuổi. Trời ơi, nếu không có nó em không biết có sống nổi không?... Nhiều lúc em nghĩ hay là viết thư rủ anh sang bên này, với sức học và tài năng của anh kiếm một công việc bình thường không khó. Em có anh và anh có em... Nhưng chắc gì anh sang... Cả một đời anh đi theo một lý tưởng, sống cho sự nghiệp văn chương, dễ gì anh chạy theo tình yêu... Mà anh đã hẳn yêu em đâu dù rằng anh hôn em, ba phần tư cái hôn ấy là của em còn một phần tư là của người khác... Nhưng nếu em ở bên anh, nhất định là em chiếm lĩnh được... Em có lúc lại có ý nghĩ điên rồ đó. Kiếm lấy ít tiền, rồi bay về nước, buôn bán kiếm sống đủ ăn, đủ nuôi con... Ðiều ấy với em không khó! Em về, thỉnh thoảng anh bay vào Sài Gòn sống với em. Em sẽ sống cho anh dù một tháng, một ngày, một năm... Dài hơn càng tốt.

Tháng... năm 198...

Em kiếm tiền không đến nỗi tồi. Làm cho một tiệm ăn một người ÚC mới sang.

Lão chủ mê em lắm! Mong anh đừng ghen! Em vẫn mãi là của anh. Lúc nào cũng thế. Nhưng xa đàn ông lắm lúc cũng không chịu nổi. Em gắng kiềm giữ mình. Những lúc ấy em đi đến một phòng tranh, dắt con vào những vườn thú, những cuộc chơi con trẻ... Con em thông minh lắm em biết n󠶦#7873; phe em gh鴠ba n󮮮 thằng chủ ڣ rất mê em... Muốn lấy em. Nó nhốt em vào trong phòng.

Nó cưỡng bức em. Em phải ưng cho nó làm gì thì làm. Khi tỉnh dậy, lúc nửa đêm em nghĩ đến anh, uất ức như một thiếu nữ bị mất trinh... Em giận mình, căm mình. Em uất hận. Mình đã giữ được hàng năm trời sao bây giờ buông tay ra... Buông thả rồi! Em mất anh thật rồi. Em không còn xứng đáng với anh nữa... Khi gặp một người Việt khăc tử tế, em bỏ thằng ڣ đii với anh ta.

Rồi em lại làm cùng với mấy thằng Mỹ khác nữa... Em thả trôi đời mình! Anh tha thứ cho em!

Tháng... năm 198...

Lăn lóc trên tình trường để kiếm tiền. Em nhầu nát đi rồi chán tất cả. Em tìm một chỗ làm của một hãng buôn lớn đứng đắn và xa lánh mọi thằng đàn ông kể cả Mỹ lẫn Việt Nam. Em chỉ bấn bíu về đứa con. Nó ở bên này học hành tốt hơn, tiếp xúc với khoa học tiên tiến hiện đại hơn. Nó thi toán đỗ hàng đầu quận và được học bổng. Con bé tính toán rành rẽ lắm. Nó cũng rất thương mẹ. Có hôm nó thầm thì hỏi:

- Sao dạo này mẹ buồn thế? Con lớn rồi. Mẹ nhớ ai vậy? Con có thể chia sẻ được với mẹ không, mẹ ơi!

- Thôi đi con, nói huyên thuyên...

- Mẹ vẫn thương "người ấy" ư? Người ta có viết cho mẹ một chữ nào đâu, mà mẹ viết cho họ đến hàng chục bức thư rồi!

Em cười nói với con:

- Những bức thư ấy đây này!

- Mẹ không gửi ư?

- Mẹ không muốn khuấy động một tâm hồn luôn luôn tự kìm giữ. "Người ấy" của mẹ còn khắc khổ bằng mấy mẹ. Gửi thư này chắc "người ấy" sẽ khổ thêm!

Và em khóc. Con em hỏi:

- Thế mẹ giữ những bức thư này làm gì?

Ðể thấy tình yêu của mình trong những năm tháng đã qua... Con này, có lẽ khi con học xong trung học, mẹ con mình sẽ về nước một lần đi!

- Mất nhiều tiền lắm! Mẹ đủ không?

- Không đủ thì đi vay!

- Và mẹ sẽ ra Hà Nội...

- Nhất định! Thế nào mẹ cũng phải gặp bằng được "người ấy".

Con gái em nói nhỏ:

- Con cũng thèm có một tình yêu như mẹ...

*

Cuốn nhật ký đến đây thì bỏ dở vì người đàn bà ốm. Chuyến đi về nước chỉ thực hiện được sau đó sáu năm. Một cô bé Việt kiều từ Mỹ về gặp tôi. Cô ngỡ ngàng mất một lúc rồi ôm mặt khóc. Tôi nhìn mặt thấy sửng sốt. Tôi hiểu ngay được, và lựa lời khẽ hỏi:

- Cháu hỏi tôi?

- Dạ... Bác là bác...

- Vâng, đúng vậy...

- Trời ơi, mẹ con... Mẹ con cho đến lúc chết vật mình mãi mà không chết nổi! Bác ác quá!...

- SAO VẬY, CHÁU! À, Sao vậy... con...

Tôi nhìn cô bé thân thương quá, không thể không gọi là con được. Tôi cắn môi nói:

- Mẹ con trong suốt đời chỉ thương có bác, đến con cũng không ngờ.

- Thế ba con đâu?

- Ông ấy và má con bỏ nhau rồi!... Con sống nhờ học bổng. Sau ngày má con mất, ông có đến tìm con, cả anh trai con nữa. Ông có vẻ hối hận muốn đón con về. Ông ở New York... Nhưng con ở lại. Con học luật. Con đã học xong, đỗ cao và đã có việc làm... Con đi làm được một năm. Và hôm nay con về nước.

- Con ở đây với bác nhé!

- Bác ở một mình ư? Bác gái con đâu?

- Cũng mất rồi. Ðã mấy năm nay!

Cô bé thở dài, cắn môi:

- Vậy à, tiếc quá... Bác có nhận con là con gái nuôi không?

- Bác nghèo, nuôi sao nổi con... Mà con lại ở tận Mỹ, bác làm sao gả chồng cho con được!...

- Bác quả là hóm hỉnh và tình cảm... Mẹ con yêu bác cũng phải! Bây giờ con trao quà của mẹ con cho bác nhé! Nó nguyên xi đấy, tự tay mẹ con gói trước khi chết vài tháng, bảo rằng nếu con về nước sẽ trao tận tay cho bác.

- C᭠ơn con! Ở bên ấy có dễ chịu không? Mẹ con hẳn vui chứ?

- Mẹ con có bao giờ vui được. Bà chỉ muốn quay về. Bác cứ nhận tình cảm của mẹ con từ món quà kia sẽ biết...

Tôi đỡ lấy, bâng khuâng... Và món quà đó chính là những dòng nhật ký trên đây và những lá thư không gửi...
Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Người săn gấu

Cao Duy Sơn

Con đường đá rộng hai bước chân nằm nép bên sườn núi. Phía bên phải là vách núi dựng đứng nhìn xuống mặt sông Gâm. Chỗ ngoặt của con sông dưới chân núi, dòng nước lao xuống dừng lại thăm thẳm xanh ngắt gây cảm giác rờn rợn lạnh lẽo. Mặt trời như bị những chàng núi khổng lồ vít xuống sau lưng, nhưng vẫn cố nhô lên rọi xuống mặt sông và con đường những luồng sáng vàng nhạt, thẳng tắp hình rẻ quạt.

Ông Thim đưa bàn tay to xù xoa lên mái tóc đã điểm bạc, thấy mồ hôi đã khô bỗng giật mình như nhớ ra điều gì đó... Ông vội đưa bàn tay gân guốc sứt sẹo lên túi ngực trái, một cảm giác hồi hộp thúc đôi chân ông đứng dậy. Xốc chiếc ba lô trắng chật cứng thư báo lên vai, ông vội vã sải những bước dài trên con đường đá thấm màu nắng vàng nhạt trong chiều sắp lụi.

Hơn ba mươi năm làm chân đưa thư lưu động, đôi chân ông hầu như đã đặt đến khắp vùng hẻo lánh trong tỉnh, nhưng không nơi nào ông ở quá ba năm. Chẳng phải vì mâu thuẫn với cơ quan, cũng chẳng phải nơi ông sống có điều gì khó chịu. Tính ông thích vậy. Ngày mới ở quân đội về, với quân hàm chuẩn úy, người ta xếp cho ông vị trí phó phòng hành chính của ty, nhưng ông không thích, ông tình nguyện về huyện làm chân đưa thư lưu động. Vậy là lãnh đạo phải chấp thuận ý muốn kỳ quặc của ông. Thế rồi cứ ba năm một lần ông lại xin chuyển vùng. Mới đầu nhiều người cho ông gàn và dở người. Người ta để ý thấy ông chẳng họ hàng thân thuộc, cũng chẳng vợ con gì cả. Gần đây, khi đã gần sáu mươi tuổi, ông xin về Bảo Lạc, nơi đã sinh ra ông, nơi ông có một thời trẻ trung chát đắng. Ngày ấy ông là chàng trai Thim mồ côi có sức khỏe kỳ lạ, làm nghề săn gấu bằng giáo. Cây giáo bằng lõi nghiến bịt sắt nhọn ở đầu, cách mũi giáo hai gang tay là một thanh sắt vuông xuyên ngang. Với loại vũ khí này bọn có súng đã phải nhìn Thim bằng ánh mắt kiêng nể. Nhưng trong lũ bọn con nhà giàu có đứa giấu trong bụng một ý nghĩ xấu với Thim, đó là thằng Sài Vẳn, con trai của một chức dịch có vị trí cao ở thôn quê, vùng Pác Miều.

Sài Vẳn cùng lũ con bọn nhà giàu hay đi săn bằng ngựa. Sài Vẳn được bọn đàn em kính nể lắm, nó có thể cưỡi trên lưng ngựa vừa chạy vừa bắn đuổi theo con thú mà viên đạn vẫn trúng vào đầu hay vào con mắt con thú tùy ý. Nhưng Sài Vẳn chỉ bắn được con hươu, con hoẵng thôi, chưa bao giờ nó bắn được con hổ, con gấu, vì đi săn con hổ con gấu không thể cưỡi trên lưng ngựa mà bắn được, mà phải đi bộ, vạch cỏ tranh, vào những khu rừng già, núi đá mới có con thú to. Muốn bắn được con thú to thì cái gan phải to, cái mật phải đầy, cái tay không run thì mới bắn được. Sài Vẳn muốn đi lắm nhưng "Coằng" không cho đi vì sợ trời không phù hộ, con ma rừng sẽ cướp mất đứa nối dõi tông đường của dòng tộc. Mỗi lần thấy Thim mang cây giáo trên vai, cúc áo mở tung để lộ ra bộ ngực vuông vức căng tròn, lưng đeo tấm da bọc xương con gấu, cùng với cái mặt to bằng bát con vẫn còn đỏ máu trên tay đến đổi muối với nhà "Coằng", trong bụng Sài Vẳn như con suối lũ nổi những bọt bẩn. Nó ức lắm! Ngày trước người vùng Pác Miều nói chuyện săn bắn là người ta nhắc đến Sài Vẳn, nhưng giờ người ta lại quay sang nói giọng kính phục về tài săn gấu của Thim. Không được! Sài Vẳn đi ra đường người già người trẻ vùng này thấy nó phải úp mặt xuống đất, để nó đi xa mới dám ngẩng lên, thế mà giờ Sài Vẳn thấy những lời thán phục, khen ngợi không thuộc về nó nữa nó bắt đầu nghĩ đến điều xấu.

Thim sống một mình trong một túp lều lẻ loi cuối bản, cái gia sản cuối cùng của người cha để lại. Nghĩ đến cái ngày khủng khiếp đó, giờ nhắm mắt lại Thim vẫn thấy hiện ra rõ lắm. Buổi sớm giá buốt của mùa đông năm ấy khi con gà rừng gáy lần cuối cùng gọi ông mặt trời lên thì Thim theo gót cha đến cánh rừng xa nhất, dầy rậm nhất. Hai người bám vào vách đá lưng chừng núi gần như dựng đứng nhìn xuống bên dưới là vực sâu hút đến chóng mặt. Phía trên đầu bỗng hiện ra một cửa hang cao bằng người đứng. Người cha dừng lại, đưa giáo cho Thim, hai tay ông bám chắc vào vách đá đu người lên một cách nhẹ nhàng rồi ông ra hiệu cho Thim nắm chắc vào đốc giáo, ông kéo lên theo. Trước cửa hang, một triền đá thoai thoải rộng bằng chiếc chiếu nan. Một mùi tanh nồng từ trong hang bay ra người cha bỗng hạ giọng: - Cẩn thận con, có gấu đẻ! Thim hiểu những điều nguy hiểm mà cha vừa nói. Con gấu cái khi đẻ bản năng tự vệ và tấn công của nó quyết liệt hơn bình thường. Không một tiếng gầm, chỉ nghe tiếng hộc hộc gấp gáp lao đến, một bóng đen ập xuống như một cơn lốc - Người cha chỉ kịp kéo Thim về phía sau mình thì con gấu đã đến ngay trước mặt. Trong giây lát ngắn ngủi ông hiểu mối nguy hiểm đối với người đi săn ở khoảng cách không đầy một tầm tay với loài thú dữ này. Thim chỉ thoáng nhìn thấy người cha lao lên như một mũi tên, cúi người tránh hai cái tát của con thú, nhanh như chớp ông chộp được hai tay của nó kéo mạnh về phía mình, đầu húc ngược lên dưới cổ, toàn thân ông căng lên, từng bước, từng bước một ông đẩy lùi con thú mỗi lúc một sát mép vực. Hai tay con gấu có những vuốt sắc nhọn cắm sâu vào đôi vai lực lưỡng của ông và nó cũng không chịu buông đối thủ đang đẩy nó dần ra phía vực. Cảnh tượng ấy đau đớn, khủng khiếp suốt đời Thim không bao giờ quên - Người cha đã đẩy lùi con thú bằng sức mạnh kỳ diệu nhưng ông đã không thoát ra được trong những chiếc vuốt cong nhọn hoắt của nó, người và gấu đã cùng lao xuống đáy vực hun hút. Hồi ấy Thim mới mười hai tuổi. Những người tốt bụng cùng làng đã tìm thấy chú bé sau hai ngày đói khát đang lả đi bên cửa hang nhưng đôi bàn tay nhỏ bé vẫn cầm chắc cây giáo nặng chịch của người cha để lại.

Không ai ngờ mười năm sau đứa con người săn gấu đã nối nghiệp cha. Giờ đã là một chàng trai, cây giáo cha để lại chỉ còn cách đầu Thim hơn một gang tay. Hơn mười đôi tay gấu đã được treo lên vách. Mỗi khi săn được con gấu to, Thim thường gọi dân bản cùng vào rừng khiêng về, xả thịt ra rồi chia đều cho mọi người. Thim chỉ nhận về mình một phần nhỏ và đôi tay gấu (theo tục lệ người đi săn) còn bộ xương, da và mật phải mang nộp cho "Coằng" và chỉ được trả công một chén muối gạt bằng miệng. Như thế cũng đã là quý lắm! Thiếu hạt ngô, hạt gạo còn có củ nâu, củ mài trên rừng, thiếu hạt muối thì không thể được, người sẽ phù, mắt mờ, chân tay run, yếu đi không làm được việc, không có ăn rồi chết. Nhưng muối chỉ riêng "Coằng" có, "Coằng" có cả hơn mười người ở, luôn đi địu muối từ Nguyên Bình, từ Mục Mã về cho. Ðường xa phải mất hơn mười ngày đi bộ mới về đến nơi, nên hạt muối quý lắm, đi rừng ai cũng đeo bên hông một cái ống nứa, trong đựng mấy hạt muối như một thứ bùa bên mình.

Một lần khi nhận chén muối từ tay người ở nhà "Coằng" đưa, Thim bỗng thấy lạ - chén muối đầy hơn những lần trước...? Thấy Thim đang lúng túng trước một sự hào phóng lạ lùng đó, người đàn bà đưa mắt nhìn quanh một lượt rồi hạ giọng: " Cô Phón bảo tôi cho thêm đấy! - Nói rồi người đàn bà đó đi vào nhà. Thim đưa mắt nhìn theo thấy một cái gật đầu kín đáo của người ở với một đôi mắt đang nhìn Thim qua ô cửa sổ. Thim biết đấy là buồng của cô con gái "Coằng". Thim chợt cúi xuống thoáng xấu hổ với cách ăn mặc của mình - rách rưới quá, chắc cô chủ thương hại nên bố thí cho mình như bố thí cho một kẻ ăn mày đây. Nghĩ vậy, Thim bỗng thấy bực định quay lại đem trả... Nhưng đôi mắt nhìn Thim lúc ấy, Thim bỗng nhận ra có cái gì đó như một câu nói, như một sự cảm thông như... một điều gì nữa Thim không dám nghĩ đến...

Một lần, một lần nữa cũng lại thế, và đôi mắt ấy vẫn nhìn Thim qua ô cửa không chớp. Thim lúng túng, Thim không thích như vậy, săn được con gấu "Coằng" trả cho mình một chén muối bằng miệng, thế là được. Việc cho thêm "Coằng" phải nói, nếu không rắc rối lắm, "Coằng" mà biết việc này chắc sẽ không bỏ qua. Thim bỗng thấy lo nhưng mọi việc xảy ra đều không qua nổi đôi mắt một mí của Sài Vẳn, nó đã nhìn thấy hết.

*
* *

Rừng động! Ðã hơn năm ngày đêm những ngọn lửa bắt đầu từ đâu đó đang liếm vào những khu rừng già, thỉnh thoảng một cơn gió thổi đến làm cái lưỡi đỏ máu cong tớn bốc cao lên những ngọn cây cao vút, những con thú nhỏ từng bầy, từng bầy kéo nhau về những cánh rừng gần bản. Những đám ngô, đám lúa nương như bị một trận mưa đá làm xơ xác gãy nát. Trong bản có người đã gặp hổ, có người bị gấu tát lật cả da mặt. Không khí căng thẳng trùm lên khắp nơi. Không ai dám ra cửa lúc trời nhá nhem tối.

Thim đi vào rừng lúc trời vừa sáng rõ. Cây giáo lên nước đen bóng nằm trên vai. Hai bắp chân đỏ như lõi cây nghiến nhằm hướng rừng trước mặt rảo bước tự tin. Thim nhớ từng lời của người cha để lại về những kinh nghiệm đi rừng. Khi hiểu kỹ từng chiếc lá, ngọn cỏ rừng với con người không còn một khoảng cách xa lạ một sự huyền bí nào nữa. Với đặc điểm của từng loại thú. Thim chẳng lạ, như hổ một loài thú rất tinh, khi tấn công con mồi thường bất ngờ từ phía sau và hai bên cạnh dùng hai chân trước đẩy ngã đối phương, lập tức những chiếc nanh nhọn hoắt cắn ngập vào dưới cổ và hút máu tươi. Với người hổ rất thận trọng, phải thật tinh mới phát hiện ra tiếng động nhỏ và mùi hôi như măng thối và rất khét của nó. Khi đối mặt phải thật bình tĩnh nhìn nó bằng cặp mắt thách thức giao chiến. Khi bị một đòn bất ngờ hổ thường quay đầu bỏ chạy. Khác với hổ, gấu thường chủ động tấn công người từ mọi hướng, khi bị thương gấu không bỏ chạy như hổ mà vết thương chỉ làm nó tăng thêm kích thích và tấn công đối thủ dữ dội. Thợ săn gấu bằng giáo phải có sức khỏe và lòng dũng cảm phi thường. Khi tấn công gấu thường đứng lên bằng hai chân sau và vồ xuống đối thủ bằng cả thân hình nặng nề cùng với những cái tát đứt ra từng mảng thịt. Lợi dụng vào đặc điểm đó, thợ săn phải thật nhanh ghì chắc đuôi giáo xuống đất, hướng mũi giáo về phía trước, khi vồ ập xuống gấu sẽ bị mũi giáo xuyên từ ngực ra sau lưng, thanh sắt ngang cách mũi giáo hai gang tay sẽ là vật cản chắn ngang ngực, lúc đó gấu không thể với đến người được. Thợ săn xoạc hai chân trong tư thế định tấn giữ chắc thân giáo, trong hơn hai mươi phút gấu yếu dần, hai tay cào cấu đã đuối, lúc ấy thợ săn dồn hết sinh lực bất ngờ giật mạnh cây giáo sang một bên - đột ngột bị mất thăng bằng một chân con thú nhấc lên khỏi mặt đất và đổ ngang xuống. Cú thứ hai là cú đâm quyết định tuyệt đối chính xác - rút nhanh mũi giáo phóng thẳng vào hốc mắt xuyên qua óc giữ chắc cây giáo, trong ít phút con thú giãy giụa và chết hẳn lúc đó mới chấm dứt cuộc giao chiến.

Bầu trời đã hửng nắng, những tia nắng đầu tiên vọt tung ra đuổi bóng râm lạnh lẽo đọng trên những tán lá dày trên ngọn núi cao vút là bốc lên những đụn sương mờ đục. Thim hít căng lồng ngực không khí trong lành của buổi sớm thoảng hương nấm và cỏ rừng ngai ngái dễ chịu.

Bỗng... rắc!... một tiếng gẫy khô rất nhẹ làm Thim bừng tỉnh. Ðôi tai hướng về nơi phát ra tiếng động... Không phải thú!... Thim khẳng định đây là tiếng chân người: -Ai thế nhỉ! người nào lại vào rừng sớm vậy? Thim bỗng giật mình bàng hoàng: - Phón! -Cái tên khẽ rung lên bồi hồi trong lòng như một tiếng đàn. Phón gạt nhẹ những ngọn cây ngang ngực bước ra con đường nhỏ. Ðôi bàn chân để trần nõn nà đặt nhẹ từng bước trên thảm cỏ vẫn còn ướt sương đang bước về phía Thim. Ðôi mắt có đuôi dài mở to nhìn Thim không chớp, Thim bỗng thấy ngần ngại, do dự, chợt nhớ đến chén muối đầy ngọn và đôi mắt nhìn mình không chớp qua ô cửa sổ... Thim nhìn xuống bộ quần áo trên người, đôi má bỗng nóng bừng, Thim vội rẽ sang lối nhỏ bên cạnh.

- Anh Thim...! - Tiếng gọi pha chút giận dỗi làm đôi chân Thim chậm lại nhưng vẫn không dám ngẩng lên.

- Con hổ, con gấu trong rừng anh chẳng tránh, sao anh tránh em? Hay em không đáng cho anh nói một lời thường như nói với người khác?

Thim không dám tin vào đôi tai của mình. Lời trách móc giận dỗi của Phón như đẩy ra khỏi lòng Thim, một phần ngờ vực... Thim lắp bắp từng lời:

- Không...! Không... Phón đừng nghĩ sai về tôi như vậy, cho đến giờ tôi vẫn nghĩ rằng mình chỉ là người...

Chừng như hiểu điều Thim không nói hết, đôi mắt Phón thoáng một nỗi xót xa thương cảm, giọng Phón đã dịu xuống:

- Con chim có tiếng hót tìm bạn, lời em nói chẳng rơi vào lòng anh, em muốn được gánh cái nghèo cùng anh nhưng anh chẳng cho...

Một làn gió nhẹ thổi qua. Có một điều gì đó như ngọn lửa đang bùng lên trong thâm tâm của người con trai mới lớn. Cái ngưỡng cửa của ngỡ ngàng hồi hộp muốn cồn lên ồ ạt như một luồng gió mạnh mẽ làm nghiêng ngả trời đất, nhưng trạng thái hư thực thoáng gợn tự ti như tạo một khoảng trống vô hình níu hờ ý nghĩ của Thim lại. Thim im lặng ngẩng lên nhìn Phón, đôi mắt Thim đã thay tiếng nói của lòng mình, Phón đã đọc được tất cả.

Khoảng không bình yên của núi rừng bị vỡ ròn từng mảnh trong tiếng vó ngựa dồn dập xuống con đường mòn rải đá khô khốc. Linh tính như báo cho Thim một điều không lành. Ðôi mắt Phón cũng thoáng bối rối lo lắng. Thim khẽ nói qua hơi thở: - Phón về đi! Hình như có người nhà ra tìm đấy!...

Phón khẽ gật đầu nhưng đôi mắt vẫn nhìn Thim không muốn dứt. Vừa định rẽ vào bụi cây bên đường thì một tiếng quát như hét lên giận dữ:

- Phón, về ngay!

Phón giật bắn người, đôi chân như muốn khuỵu. Sài Vẳn nhảy từ trên lưng ngựa xuống. Ðôi mắt một mí của nó ánh lên dữ dội, nó bỏ cương bước về phía Phón:

- Ai cho mày ra đây?

Nhìn người anh nét mặt dữ tợn Phón chống chế yếu ớt:

- Sớm nay.... em muốn vào rừng chơi...!

- Muốn vào rừng chơi... ! -Thằng Sài Vẳn kéo dài tiếng "chơi" đầy ngụ ý rồi hất hàm nói:

- Mấy hôm nay rừng báo động có nhiều thú dữ về mày không sợ chết à... ! Bố bảo tao đi tìm mày. Về ngay! Có người bên Bắc Mê sang hỏi mày làm vợ đấy, đi đi!

Phón ngơ ngác:

- Làm gì có chuyện đó! Có ai nói gì với tôi đâu?

- Không nhiều lời, về ngay! - Sài Vẳn dằn giọng.

Phón đưa mắt nhìn Thim lo ngại như muốn nói điều gì nhưng thấy Sài Vẳn thì lại thôi. Phón bước nhanh quay sang con đường cũ. Sài Vẳn tiến đến trước mặt Thim, hai chân đứng dạng, nó nhìn Thim trừng trừng rồi đột ngột hạ giọng vui vẻ:

- Thim! Mày cho tao mượn cây giáo này một lát được không! Từ lúc Sài Vẳn xuất hiện Thim vẫn lo lắng cúi đầu, giờ bỗng giật mình khi nghe nó hỏi, chưa kịp nghĩ Sài Vẳn muợn để làm gì thì nó đã giật nhanh cây giáo trong tay Thim rồi nói: - Tao cũng muốn có một cây giáo như mày, chờ tao một lát, tao mang về cho bọn thợ xem để bọn nó làm cho, tao sẽ trả mày ngay! - Vừa dứt lời Sài Vẳn nhảy lên lưng ngựa phi thẳng để lại phía sau những âm thanh khô khốc lốp cốp lốp cốp xa dần. Thim ngồi xuống mỏm đá bên vệ đường trong người còn chưa hết bàng hoàng. Chưa khi nào Thim dám nghĩ mình sẽ có một tình yêu, thế mà mới đây thôi, tất cả như vẫn còn ấm nóng. Cái giọng nói trách móc chứa trong đó là cả nỗi lòng chân thật của Phón. Tất cả như vừa qua một giấc mơ kỳ diệu, đã có lúc nào Thim dám nghĩ đến diều kỳ diệu đó. Nhưng cũng nhanh như chớp mắt Sài Vẳn lại mang đến một tin xét đánh: "Có một người đến hỏi Phón làm vợ". Thim thoáng buồn, một nỗi buồn bất ngờ như tình yêu của Thim, một tình yêu mà Thim vẫn chưa được đụng tay, chưa nói được một lời mềm ngọt như gió, bỗng chốc tan đi như làn sương mỏng dưới ánh nắng chói chang. Nhưng rồi Thim tự an ủi: - Cũng phải thôi, đời nào ai lại gả một đứa con gái con nhà quyền quý nhất vùng cho thằng con trai nghèo khổ như Thim! Thôi không nghĩ chuyện đó nữa. Thim bỗng lắc mạnh đầu như muốn xua đuổi những ý nghĩ đó, rồi khẽ nhếch mép cười, một nụ cười chua chát làm khuôn mặt như méo hẳn.

Tiếng vó ngựa khô khốc lại nổi lên trên con đường rải đá trắng. Thim chẳng buồn để ý. Sài Vẳn đã quay lại, nó nhảy từ trên lưng ngựa xuống, tay cầm cây giáo bước xuống trước mặt Thim:

- Này trả mày đây! Hai ngày nữa tao cũng có một cây giáo như mầy!

Thim vẫn im lặng nhìn nó mà vẫn chẳng để ý nó nói gì, chỉ khẽ gật đầu cho qua chuyện. Sài Vẳn nhảy lên lưng ngựa, con ngựa bị ghìm cương một tay quay một vòng tại chỗ móng côm cốp chừng như sốt ruột. Sài Vẳn nhìn Thim rồi tiếp bằng một giọng nói vui vẻ hiếm có:

- Lần này được con gấu to về, tao sẽ cho mày thêm chén muối nữa, còn chuyện lúc nãy mày đứng với con Phón em tao, tao coi như không có, được chưa? hì hì hì! - Sài Vẳn nhếch môi cười phơi ra ngoài một loạt răng bịt vàng, một kiểu cười đắc ý khó hiểu. Ngoắt một cái con ngựa lại đưa nó quay về bản.

Thim chẳng còn bụng dạ nào để ý đến những điều Sài Vẳn nói, nhằm hướng rừng trước mặt chân bước đi mà đầu chẳng còn nghĩ đến chuyện săn thú nữa. Bứt một chiếc lá cây bên đường Thim đưa lên môi, một điệu kèn lá như bơi vào giữa cánh rừng bạt ngàn, bầu trời cao rộng ngăn ngắt khe khẽ nghiêng tai lắng nghe cái điệu kèn buồn như làn khói trấu gieo chậm trong nắng vàng lặng. Ðiệu kèn Thim dành riêng cho mình một nỗi buồn mà chỉ riêng mình mới thấm được hết nó mà chẳng muốn rơi vào tai ai.

Bỗng có tiếng kêu thất thanh từ phía dốc rừng trước mặt. Thim giật mình dừng lại. Trạng thái linh hoạt như khi phát hiện thú dữ đã truyền khắp cơ thể: "Có người gặp thú dữ". Một phán đoán nhanh làm đôi chân Thim đột ngột bật vút đi lao về phía có tiếng người kêu cứu. Thim dừng phắt lại trước mặt một con gấu ngựa đang đuổi theo một cô gái quanh một gốc cây nghiến. Cô gái quần áo tả tơi, vòng khăn đã văng khỏi đầu, tóc rũ xuống không nhìn thấy rõ mặt. Một mảng áo ở lưng đã rách toạc, để lộ ra những vết cào rướm máu trên làn da trắng mịn. Con thú hồng hộc đuổi theo, những cú tát trượt vào gốc cây càng làm cho nó thêm lồng lộn tức tối. Thim hét lên: - Chạy về hướng này! - Cô gái vụt ra khỏi gốc cây, lao về hướng Thim. Thim chằm chằm nhìn con vật đang lao về hướng mình. Ðôi mắt bình tĩnh đến lạnh lùng, từ trong hai đốm lửa đó bật lên ý nghĩ dữ dội và quả quyết. Một khối đen khổng lồ đứng lên bằng hai chân sau bất ngờ lao vào Thim, Thim gồng người, cúi xuống trong tư thế đinh tấn! - Phập! - Mũi giáo đón nhận chính xác vào giữa ức con thú, một tiếng rú lên rùng rợn man dại. Ngay lúc đó Thim cảm giác cây giáo trong tay nhẹ bỗng, con gấu vừa vươn đôi tay cào cấu đã đổ nghiêng sang một bên. Mũi giáo nằm sâu trong ngực con thú đột nhiên gẫy gọn, lộ ra một đường cắt rất nhỏ ngay sát chuôi mũi giáo... Trong đầu Thim bỗng hiện lên bộ mặt Sài Vẳn lúc nó đem trả cây giáo, một nỗi đắng cay giận dữ đến nghẹn thở. Thim đã hiểu ra tất cả. Con gấu chồm dậy rất nhanh, từ ngực nó một dòng máu đỏ sẫm trào ra ướt đẫm mảng lồng ngực. Cây giáo không còn tác dụng nữa. Vừa né người tránh hai cái tát, nhanh như chớp Thim luồn sát ngực chộp nhanh hai tay của nó đẩy ngay ra, đầu húc ngược dưới hàm, bằng tất cả sức lực cùng với miếng võ hiếm bất kỳ thợ săn nào cũng phải biết, con thú bị đẩy lùi từng bước, sát vách núi dựng đứng. Thim dồn sức vào chân phải đạp mạnh vào bụng nó đồng thời hai tay đẩy bật con thú ra khỏi người - một khối đen sì nặng nề vùn vụt lao xuống chân núi sâu hút, một lát sau dội lên một tiếng va đập nặng chịch như tiếng giã gạo. Không gian trở lại yên tĩnh một cách tàn nhẫn, một thứ yên tĩnh giả tạo như ở đây chưa bao giờ xảy ra điều dữ dội. Chợt có tiếng chim họa mi lảnh lót như căng lại những âm thanh bằng lặng yên ả. Lưng vẫn tựa vào vách đá. Thim lim dim mắt như muốn hút tất cả những âm thanh và ánh nắng của rừng vào bộ ngực vuông vức phập phồng. Cảm giác bàng hoàng như vừa trải qua một giấc mơ khủng khiếp.

Tiếng rên khe khẽ đâu đây đã kéo Thim trở về với thực tại. Thim mở choàng mắt chợt nhớ đến cô gái lúc nãy - giờ đang ngồi tựa lưng vào gốc cây, tóc xõa xuống đôi vai áo đã bị rách, lộ ra những vết cào bầm máu. Thim vội vã chạy đến. Vừa cúi xuống bất ngờ. Thim kêu lên:

- Phón! - Ruột gan Thim như thắt lại. Ðôi mắt Phón từ từ mở, miệng mấp máy:

- Anh ơi! Em cứ nghĩ là anh đã... có thật là, vẫn còn sống không?

- Ðừng nói vậy Phón à, tôi vẫn còn sống đây mà!

Thim quỳ xuống bên cạnh Phón lo lắng, đôi bàn tay gân guốc giờ như thừa thãi, lúng túng không biết đặt vào đâu, Phón thì thào:

- Anh ơi, đỡ em dậy đi...

- Giọng nói khe khẽ như từ một cõi xa xăm vẳng đến truyền sang Thim một cảm giác lo lắng xúc động, phá vỡ tất cả mọi khoảng cách hoài nghi trong lòng. Cái ngỡ ngàng lúng túng đã đi qua, thay vào đó là niềm thương cảm nghèn nghẹn dâng đầy ngực, lấn át những cơ cực cay đắng, những hiểm họa kinh hoàng vừa qua. Thim đỡ Phón trên cánh tay rắn chắc như sợ làm rơi mất điều kỳ diệu, ngay cả trong những giấc mơ cũng không bao giờ dám mơ đến:

- Em đã quay về rồi cơ mà? - Thim buông tiếng nói của mình ra mà trong lòng vẫn chưa hết cái ngây ngất như mơ... như thực. Phón nhìn vào đôi mắt Thim như cầu cứu:
- Sao anh nghĩ em về nhà? Anh không nghĩ người ta sẽ bắt em đi làm dâu nhà khác sao... Em không thể... biết anh qua đây nên em đã...

Tiếng thì thào của đôi trai gái như tiếng lá rừng cọ lưng bỗng bị bẻ vụn ra thành tiếng ngựa hí xé lên từ phía chân dốc. Hai người giật mình nhìn xuống, một đoàn người ngựa dao, súng nai nịt, hối hả lao lên. Ði đầu đám gia nhân là Sài Vẳn, toàn thân nằm rạp trên mình ngựa. Nhìn Sài Vẳn đôi mắt Thim như có cục than đỏ rực, nhưng giọng nói lo lắng cầu khẩn của Phón đã kéo ý nghĩ đang ùn lên trong lòng Thim sững lại: - Anh ơi, đừng bỏ em... đưa em đi với... đi đi, nhanh lên anh! - Thim bàng hoàng nhìn Phón, nỗi lo sợ làm cô gái mỗi lúc như lả đi trên cánh tay Thim. Chừng như đã hiểu tất cả, những điều Phón vừa nói, Thim đứng dậy xốc Phón lên lưng cắm đầu chạy vào rừng. Nhưng cùng lúc ấy bọn Sài Vẳn đã phát hiện ra. Tiếng vó ngựa xen lẫn tiếng ngựa hí cùng với tiếng tù và rúc lên làm rầm rĩ cả khu vừng:

- Không được giết! Không được giết, phải bắt sống lấy nó!

Ðạn nổ quanh người cũng không làm đôi chân Thim chậm lại, mặc gai cào vào mặt vào chân. Thim lao về hướng núi trước mặt. Chỉ cần qua ngọn núi này thôi sẽ đến đất Bắc Mê, đến đấy bọn Sài Vẳn sẽ không dám đuổi theo nữa vì vùng đất đó đã thuộc "Coằng" khác. Cuộc sống sẽ ra sao? Thim không cần biết! Miễn sao lúc này thoát khỏi tay Sài Vẳn. Thim biết điều gì sẽ xảy ra nếu lúc này rơi vào tay nó, nhưng đôi chân của Thim đã không làm nổi ý nghĩ trong đầu mình. Như từ trên trời nhảy xuống. Sài Vẳn xuất hiện ngay trước mặt. Bị ghìm cương đột ngột con ngựa hồng đang đà lao bỗng chồm hai vó trước lên như múa trên không rồi bổ mạnh xuống đất. Nòng súng săn đen sì dí vào ngực làm Thim vừa cõng Phón vừa lùi lại: - Thim, mày đã làm gì...? Bỏ em tao xuống! - Sài Vẳn nén chặt câu nói lạnh lùng đầy thuyết phục. Một thằng, lại một thằng nữa nhảy từ trên lưng ngựa xuống, bộ mặt đứa nào cũng dữ tợn.

Thim quằn quại mê man trong những tiếng quát tháo như từ một cõi hư vô vẳng đến:

- Muối! muối nữa, bỏ hết ra, cả cái ống của nó nữa... xát mạnh vào chỗ kia, chỗ kia! đấy phải trả cho nó như thế mới xứng.

Cảm giác bỏng rát như nằm trên ngọn lửa cháy đến tận gan ruột. Thim quằn người ngất lịm. Ðã bao nhiêu chiếc roi song gãy nát Thim không biết. Những hạt muối hiếm hoi đã bao lần phải đánh đổi bằng sức lực và lòng dũng cảm trước cái chết luôn đe dọa mới có được, thế mà chính nó làm cho Thim phải chịu bao đau đớn xé gan ruột.

- Nó chết rồi, cậu chủ ơi! Một đứa trong đám gia nhân ngẩng lên khúm núm. Sài Vẳn lạnh lùng ra hiệu cho đám gia nhân lùi ra, nó tiến gần cái xác đặt chân đạp mạnh, cái xác bất động nghiêng sang một bên. Ngó nghiêng một lúc nó lên tiếng với lũ gia nhân:

- Nó chưa chết hẳn đâu, nhưng đêm nay cũng phải để cho thú dữ có thịt tươi ăn!

Sài Vẳn quay lại, Phón đã ngất lịm từ lúc nào, nó bước đỡ em gái lên lưng ngựa rồi cùng lũ gia nhân đạp ngựa quay về bản.

*
* *

Cái đêm ấy đã qua đi hơn hai mươi năm, mỗi khi nhớ lại Thim vẫn cảm giác một nỗi cay đắng, chua chát dâng bừng lên mặt. Ðêm ấy nếu không có trận mưa như trút không biết rồi số phận sẽ ra sao. Mưa đã rửa sạch những hạt muối mặn chát trên mình chàng trai săn gấu như muốn rửa hết nỗi oan trái trong lòng. Hơi đất ẩm ướt và tiếng thì thầm đã làm Thim tỉnh lại. Ðôi mắt mệt mỏi của Thim khi vừa mở thấy mình đang nằm trong một hang đá, giữa hai người đàn ông lạ mặt. Thim ngơ ngác định nhỏm dậy - Một người đàn ông có khổ người to, cao, nét mặt nhác nhìn rất dữ bởi bộ râu quai nón rậm xù đã đưa tay ấn nhẹ Thim nằm xuống rồi nói bằng giọng rất trầm ấm áp:

- Bọn tao đã nhìn thấy mày ở dốc "Kéo lùm", và đã đưa về đây! Mày thấy trong người khá hơn rồi chứ?

Thim khẽ gật đầu nhưng vẫn chưa hết ngạc nhiên. Người đàn ông có bộ râu quai nón với tay lấy bát rượu đặt trên hòn đá đưa cho Thim:

- Mày uống đi! Cái mật gấu bọn tao tìm thấy trong túi áo của mày đấy! Rượu thôi mà, một phần xoa lên người mày rồi, uống cái này chỉ mấy tiếng nữa là đi được ngay thôi! Xong mày hãy kể cho bọn tao nghe, sao mày đến nỗi này.

Cử chỉ nhân hậu và tiếng nói trầm ấm của người đàn ông lạ đã làm Thim tan đi mọi nghi ngại. Hơi rượu đã truyền khắp cơ thể làm Thim bớt đi những đau đớn.

Khi nghe Thim kể xong, hai người đàn ông đã nhìn Thim bằng ánh mắt thông cảm như muốn nói từ trong đó những lời an ủi. Rồi họ cũng cho Thim biết - họ là những người cùng cảnh ngộ đang rủ nhau đi tìm Việt Minh, vì họ được biết Việt Minh là những người cầm súng đánh bọn quan châu, bọn "Coằng" bảo vệ những người nghèo như Thim và tất cả những người nghèo khổ khác. Rồi họ rủ Thim cùng đi. Ba người đã tìm thấy một đơn vị quân đội ở một cánh rừng Nguyên Bình, họ tình nguyện xin nhập vào đơn vị và cùng tham gia các chiến dịch biên giới rồi đến chiến dịch Ðiện Biên. Năm tháng đi qua, tuổi xuân của Thim đã gửi gắm ở khắp các chiến trường nhưng hình ảnh Phón vẫn không sao phai mờ trong tâm trí của chàng trai săn gấu. Mỗi khi nhớ về vùng quê xa ấy, nơi Thim đã có cả một thời trẻ trung chát đắng, nơi có một người con gái yêu mình bằng tất cả tấm lòng trong trắng chân thật. Cô gái ấy như không sinh ra từ cái gia đình quyền quý nhất vùng Pắc Miều, mà sinh ra từ hạt gạo thủy chung, nhân hậu. Tình nguyện đánh đổi tất cả để đến với chàng trai săn gấu nghèo khổ mồ côi, để rồi cùng phải chịu những bất hạnh của chính gia đình giáng xuống mối tình như cánh hoa đầu tiên mới nhú, đã bị dập nát dưới cánh đập phũ phàng của loài chim ác.

Thim rời quân ngũ sau ngày đất nước hòa bình được bốn năm. Nỗi khao khát được gặp lại người yêu như ngày đông lạnh giá gọi mặt trời đầy nắng. Sau khi nộp giấy tờ chuyển ngành. Thim đi bộ hơn mười ngày ròng rã không nghỉ và về đến bản mình, cái bản Pắc Miều xa xưa giờ đã khác lạ. Dân bản nhìn thấy anh cứ ngỡ như hồn ma hiện về, vì ngày ấy mọi người đều kháo nhau: anh đã bị nhà "Coằng" giết mất xác trong rừng. Nhà nào cũng muốn kéo anh về ăn cơm. Anh vào nhà nào, già, trẻ, lớn, bé trong bản đều kéo nhau đến để được nghe anh kể chuyện về mình. Vui lắm nhưng anh vẫn buồn vì chưa có ai nói cho anh biết về cô gái ấy giờ ra sao? Rồi có người cũng đã cho anh biết - Từ ngày cán bộ và bộ đội Việt Minh đến, bố con nhà "Coằng" đã trốn biệt sang Trung Quốc. Còn cô gái ấy khi đưa từ trong rừng về đến nhà đã tỉnh lại, có người cho cô biết - Thim đã bị giết trong rừng. Suốt hai ngày cô không ăn uống gì. Thế rồi vào một đêm cô gái đã bỏ đi và không bao giờ thấy trở lại nữa. Nhà "Coằng" cho người đi tìm và họ đã thấy xác một người con gái trôi trên sông, xác đã trương phình không còn nhận ra hình thù ai. Nhà "Coằng" đưa về làm ma ba ngày theo phong tục rồi mới đem chôn. Mấy ngày sau đưa ma có người gặp một gia đình ở bản Nà Nu làng trên Pác Miều cũng đi tìm con. Họ cho biết đứa con gái lớn trong nhà ra sông tắm không thấy về. Biết nhà "Coằng" có thế lực nhất vùng, chẳng ai dám vào xem có phải con gái xấu số của mình không?...

Những câu chuyện như mảnh nứa cứa vào gan ruột, Thim không muốn ở lại nữa. Mấy ngày sau Thim trở lại cơ quan. Nhưng những điều chắp nối khi nghe dân bản kể, Thim linh cảm có điều gì đó trong lòng mình giống như đốm lửa hồng âm ỉ, chờ một luồng gió thổi vào sẽ bùng cháy lên niềm hy vọng bất ngờ. Thế là anh khéo léo từ chối cái chức phó phòng hành chính mà cơ quan giao cho. Thim tình nguyện chọn cái nghề âm thầm vất vả nhất mà chẳng mấy ai muốn nhận, đó là chân đưa thư lưu động đi các làng, xã. Thim giấu trong mình một niềm hy vọng, niềm hy vọng này sẽ vĩnh viễn không thể rời khỏi ý nghĩ mình nữa. Nếu có thể điều bất ngờ tìm thấy bóng dáng xưa sẽ không đến với anh, nhưng dẫu sao như thế vẫn hơn! Anh tự nhủ trong lòng mình vậy, và thế là Thim đã đóng chặt tất cả những cánh cửa của lòng mình và chỉ để ngỏ một lối duy nhất cho tình yêu ban đầu ấy vĩnh viễn tồn tại - lấp ló một đốm sáng vĩnh cửu. Ðã hơn ba mươi năm tìm kiếm qua đi nhưng cái đốm lửa nhỏ nhoi đó vẫn bỏng rát trong lòng.

*
* *

Giờ đã là ông già Thim - trầm tĩnh - ít nói - tóc đã điểm sương. Màn chiều đã buông, trời đã bắt đầu nhá nhem. Bản Vạn đây rồi - ánh lửa bập bùng trong bếp nhà sàn, hắt những tia sáng vàng rực qua kẽ liếp. Ông Thim dừng lại, hồi hộp đưa tay lên túi ngực trái rồi từ từ rút ra một lá thư, đọc lại một lượt nữa. Những dòng chữ hiện ra trước mắt ông nhảy nhót, lập lòe như những ánh lửa làm đôi tay bỗng run lên như lúc sáng. Ông cầm nó trên tay khi soạn thư ông đã bắt gặp: Sầm Kim Bảo... Hòm thư. Gửi mẹ: Sầm Thị Phón... xóm bản Vạn, xã Ðồng Mu, Bảo Lạc, Cao Bằng.

Ông không nhớ là ông đã hỏi, ai đó đã chỉ cho ông ngôi nhà ở phía cuối bản. Nhưng rồi ông lại chợt phân vân nghi ngại: - "Có thể là sự trùng lặp chăng" - Và đứa con nữa, con ai? Sao lại lấy họ mẹ? Con nuôi hay con riêng? - Một loạt những câu hỏi đưa nhau lao vào đầu ông châm chích nhưng vô ích. - Không! Ông không cần biết điều đó, vì trong ông cái linh cảm ông đã nén hơn ba mươi năm nay có gì đó ông tin là sẽ không nhầm. Ngôi nhà hiện ra trước mắt ông, cánh cửa khép hờ như suốt ba mươi năm nay vẫn khép hờ như vậy, chờ ai đó đến mở ra.




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Chén rượu hồng đào

Trịnh Ðình Khôi

Thầy đồ Từ Tiên và họa sĩ dân gian Thuận Thành là hai người ở cùng phố. Cái phố phủ Từ ngắn ngủn, đi bộ từ đầu đến cuối phố chỉ mất mươi phút, vài chục nóc nhà tranh xen lẫn ngói. Các cửa hiệu đều treo biển đơn sơ. Mấy chữ đại tự "Từ tiên thư quán" có chua thêm chữ quốc ngữ ở bên cạnh. Cửa hàng tranh của ông thợ vẽ không đề chữ nào mà chỉ dán hai bức tranh gà lợn ngoài cánh gỗ. Ông đồ dáng vẻ nho nhã ngồi giữa sập bên cạnh là một cái án thư có nhiều tập sách chữ nho và nghiên mực. Ông vừa dạy học vừa viết câu đối bán vào những dịp Tết. Ông thợ vẽ quê đâu cũng chẳng ai biết, ông không vợ không con, sống một mình với đứa con nuôi. Khoảng đầu tháng chạp, trong gian hàng của ông giấy dó, mầu điệp than xoan chất đầy. Những bức tranh chưa ráo mực, treo la liệt trên tường. Ngoài tranh dân gian truyền thống còn có những bức tranh hoa rất đẹp. Những bông cúc, bông hồng rung rinh sống động như hoa thật. Ngày thường người ta mua hoa về chúc thọ, mừng đám cưới. Ngày Tết ông vẽ hoa đào, hoa mai. Những cánh bích đào mầu hồng sẫm, cánh mai trắng như tuyết hiện ra mơn mởn non tơ. Bên cạnh bức tranh, ghi những chữ Hán rất đẹp nhưng không bao giờ ông viết chữ đại tự. Hai người bạn thường qua lại đọc cho nhau nghe một bài thơ, một đôi câu đối và nhấp chén trà sen.

Năm nào cũng vậy cứ sáng mùng hai tết thầy đồ Từ Tiên lại sang chúc Tết thợ vẽ Thuận Thành, cả buổi sáng hôm ấy họ dành cho nhau. Hai người nhắm rượu thưởng xuân trò chuyện với nhau rất tâm đắc. Ông đồ đông con nên gia cảnh khó khăn hơn. Tết nào ông thợ vẽ cũng dành một khoản tiền kha khá gọi là mừng tuổi bạn vào sáng mồng hai, mong giúp ông đồ trang trải một phần cái Tết. Những năm trước, câu đối bán được nhiều. Tết đến ông đồ cũng đỡ gieo neo, nhưng càng về sau chữ nho thầy đồ càng ế ẩm. Học trò trước còn vài chục đứa dần dần thưa thớt còn dăm bảy đứa. Lộc thầy không còn được bao nhiêu. Trong khi đó tranh của ông thợ vẽ vẫn bán được. Tết đến nhà nào mà chả cần tranh cần pháo. Người ta cưới hỏi chúc thọ quanh năm nên vẫn cần đến tranh hoa. Sáng mồng hai Tết, vẫn như thường năm, ông thợ vẽ lại chuẩn bị tiệc rượu đón bạn. Vẫn bánh chưng xanh thịt mỡ, dưa hành thêm khẩu giò, nem quả buộc lạt cánh sen và rượu hồng đào. Những chuyện cổ kim đông tây ông đồ đọc từ ngày xửa ngày xưa hoặc trong năm được đem ra ngâm ngợi. Ông đồ là người uyên thâm chăm đọc sách giỏi chữ nghĩa. Khách vừa bước vào chủ đã nhận ra vẻ mặt không vui của bạn. Từ tốn ông thợ vẽ hỏi:

- Anh có chuyện gì buồn phải không? Nói tôi nghe đi.

Cạn chén trà, ông đồ mới kể.

- Tay đồ tể ở cuối phố đặt tôi nghĩ cho câu đối treo Tết, nó yêu cầu phải có chữ thịt, gan, xương, ruột. Tôi đã dùng chữ cốt nhục, can tràng nhưng nó không nghe lại còn chê chữ mình xấu như hoa phù. Nó muốn nói toạc cái nghề của nó ra kia. Nhưng mình nghĩ câu đối chứ đâu có phải viết quảng cáo thuê cho nó. Bọn ngu đua nhau học làm sang. Ðịnh trả lại tiền cho nó, nhưng nhà tôi đã trót sắm Tết hết rồi. Biết thế nào cũng được anh mừng tuổi, nên tôi hẹn nó chiều nay. Nghe xong câu chuyện của bạn, ông thợ vẽ bực mình bảo:

- Chiều nay nó tới anh cho gọi tôi nhé.

Ðúng hẹn gã đồ tể mò đến với bộ mặt đỏ gay, hắn nói như quát:

- Ông đồ gàn, ông đã đủ tiền trả tôi chưa?

Ông thợ vẽ đứng phắt dậy và ra hiệu cho anh con nuôi.

- Thưa ông hàng thịt chúng tôi đang đợi ông đây.

Nói rồi ông giơ hai câu đối lên, một viết bằng chữ quốc ngữ, một viết bằng chữ Hán rất đẹp, khiến ông đồ cũng phải ngạc nhiên. Ông chỉ vào chữ thịt xương gan ruột trong câu đối viết bằng chữ quốc ngữ, hỏi:

- Trông đây có thịt, xương, gan, ruột chưa?

Gã hàng thịt trông nét mặt giận giữ của ông và anh con trai lực lưỡng đang đứng bên cạnh, đã thấy chột dạ. Gã chưa kịp mở miệng thì ông thợ vẽ lại chỉ vào đôi câu đối chữ hán viết bằng mực nho trên giấy hồng điều, đẹp như bức tranh nhị bình, hỏi:

- Anh bảo chữ này xấu hay đẹp?

- Dạ, đẹp lắm ạ.

- Thế đôi câu đối kia đâu? Mang đây tôi đổi cho.

Ông thợ vẽ dằn từng tiếng:

- Nói đi, anh để đôi câu đối của bạn ta đâu?

Gã hàng thịt run như cầy sấy.

- Dạ, cháu treo ở nhà.

- Sao còn đòi tiền người ta. Nhất tự nhất lệ đấy, anh tưởng... đồng bạc của anh to lắm à. Hãy xéo đi cho khuất mắt, không thằng con trai tôi nó mở hàng cho anh một chiêu bây giờ.

Gã hàng thịt lủi thủi biến mất.

Hàng chục cái tết qua đi nhuộm trắng đầu đôi bạn. Ông thợ vẽ sống cô đơn không gia đình nên gầy yếu lại mắc bệnh lao phổi, một trong tứ chứng nan y. Mải mê với những bức vẽ đến quá sức bệnh tình ông ngày một nặng. Dường như ông muốn để lại một cái gì nên cố vắt hết tàn lực ra để vẽ để viết, ông sợ mình sẽ mang đi những cái quý báu còn ẩn chứa trong đầu. Ông đồ qua lại chăm sóc thuốc thang cho bạn thường xuyên. Dần dần bệnh tình có thuyên giảm chút ít. Hăm ba tháng chạp năm đó, ông thợ vẽ cho mời bạn đến uống chén rượu mừng. Ông đồ nắm lấy bàn tay của bạn lắng nghe những lời tâm sự.

- Ông bạn già của tôi đã đến đây rồi, mừng quá.

Hai tay run run ông thợ vẽ nâng chén rượu.

- Anh Từ Tiên ơi! Năm nay Tết đến sớm, đã qua ngày lập xuân rồi. Tôi mừng tuổi anh trước nhưng không phải bằng tiền đâu. Anh thử đoán xem tôi định mở hàng cho anh thứ gì nào.

- Tôi chịu.

Ông Từ Tiên lắc đầu.

- Tôi có cái này mở hàng cho anh đây. Anh hãy nhận lấy bản khắc in tranh và cả những bức đại tự tôi viết. Ông nói và chỉ vào đống đồ nghề, giấy tờ ngổn ngang trên bàn. Ông đồ ứa nước mắt nhìn bạn rồi lại nhìn những chữ đại tự như rồng bay phượng múa. Bấy giờ ông mới nhận ra rằng chữ của bạn ông còn đẹp hơn chữ của ông nhiều. Lâu nay sao anh ấy lại không viết câu đối bán tết. Vì mình chăng? Ông đồ băn khoăn.

- Thuận Thành, anh nói thật đi, anh là ai vậy?

- Tôi ư? Chả giấu anh làm gì nữa, tôi là con cụ Nghè Bắc, thầy học của anh ngày xưa. Tôi đã đỗ đầu xứ nhưng đi lang bạt làm nghề dạy trẻ và viết thuê kiếm sống. Khi đến phố này biết anh cũng làm cái nghề ấy mà lại đông các cháu nên tôi chuyển sang nghề khác.

Ông đồ Từ Tiên lặng đi hồi lâu, hai tay ôm lấy thân thể gày còm của bạn, nước mắt chảy ròng ròng. Họa sĩ Thuận Thành dùng hết nhãn lực nhìn bạn cái nhìn kỳ lạ. Từ đôi mắt hai giọt nước long lanh lăn xuống gò má hốc hác.

Mới sáng mồng một Tết, không hiểu vì sao ông Từ Tiên cứ nóng ruột không yên. Ông lo sợ có điều gì đang đến. Linh tính mách bảo. Ðúng rồi, cái nhìn nói lời vĩnh biệt, không đợi đến sáng mồng hai, ông lật đật chuẩn bị khăn áo và nói với vợ:

- Mình ơi, tôi sang chúc Tết bác Thuận Thành, trưa mới về.

Vợ ông ngạc nhiên nhìn chồng không biết nói sao. Ông đến nhà bạn thì đã cửa đóng then cài. Ðôi mắt lặng im nhìn những cánh mai gày yếu rơi lả tả trước thềm. Tết những năm sau đó ông đồ không được mở hàng mừng tuổi, nhưng ông có còn khó khăn như trước nữa đâu. Những chữ của bạn để lại đã giúp ông viết đẹp hơn hay hơn, nên câu đối Tết của ông viết ra bán rất chạy. Ngoài ra ông còn có nghề vẽ tranh in tranh nên cũng sống được. Sáng mồng hai tết hằng năm ông vẫn ra khỏi nhà cho đến đúng ngọ mới về.



Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Cau non

Nguyễn Thị Phước

Chị em gái như trái cau non
(Tục ngữ)

Lâu lắm tôi mới về quê. Ðàn bà con gái khổ thế, vài trăm cây số, xe cộ cà rịch cà tàng đến đón khách trả hàng thì cũng đi chiều đến, vậy mà không bạc cũng thành bạc. Ðiện thoại, mẹ tôi nói: "Bận quá thì thôi", nhưng tôi biết mẹ mong tôi về. Giỗ cha tôi năm nào cũng được đứa Nam thiếu đứa Bắc. Lần này, Bắc - Nam về đủ, chẳng lẽ lại thiếu đứa ở miền Trung là tôi? Vả lại, thị thành ngột ngạt nóng rét, tôi cần thoát khỏi nó vài ngày. Phải lấy lại cái bình thường cho một sợi nào đó trong hệ thần kinh vì tôi cảm thấy nó không ổn lắm. Bứt khỏi cái guồng quay cuộc sống thường nhật thật không dễ.

Hai ngày để chuẩn bị cho chuyến đi. Gạo, dầu, mắm, muối, tắm gội cho con, giặt là cho chồng, trăm thứ bà rằn. Biết là chẳng có tác dụng gì vẫn dặn dò đủ thứ. "Anh thấm rồi, em cứ yên tâm về". "Tuyệt đối đừng cho con lại gần giếng". "Em đã có câu đó năm sáu lần rồi!". "Anh phải đổi món cho con đấy!". "Ðã bảo nhớ rồi"... Trằn trọc, thấp thỏm, không biết có còn quên dặn gì? Vừa thiu thiu ngủ, cái đồng hồ báo thức nhà bên đã khua roong roong: Lâu nay chẳng biết trách ai, tôi đâm ra hận cái ông nào đã phát minh cái chuông báo thức ấy. Tiếng gì cứ như tiếng gươm giáo chặt nhau trong đầu. Thà chọc béng một nhát vào ngực còn hơn. Không bật đèn cũng biết 4 giờ. Thế là toi một đêm. Tôi nằm nghe bố con, cậu cháu nhà họ chửi nhau như róc nứa, chán, lại đến tiếng dao thớt, soong nồi, bát đĩa. ở khu tập thể lại còn quay đít ra mặt đường, chẳng sinh hàng sinh quán cũng uổng.

Mình phải kiếm lấy một xó mà bốc ra. Làm cái nghề khốn khổ, cả vợ lẫn chồng, thức đêm thức hôm, lại còn bị tra tấn thế này nữa, năm này tháng khác, chịu không thấu. Cày cho hết báo này tới đài kia, mà mấy năm rồi chưa được cái công trình phụ. Tôi đâm quạu cả ông chồng làm thơ làm văn: Nhà thơ cũng có, chỉ nhà ở là không. Bạn bè cứ thúc. Nội, ngoại cứ mong. Hai quầng mắt tôi cứ sâu thêm, đậm thêm sau mỗi đêm. Kem phấn thế nào cũng không che nổi.

Làng tôi giống hệt một con thuyền nằm giữa biển lúa. Cha tôi bảo cụ tổ của chúng tôi lánh nạn về đây lập làng này. Ông ngờ mình là cháu con họ Mạc, bởi khi ráp gia phả họ Chu chúng tôi với họ Chu làng Thượng mà chúng tôi vẫn còn là nhánh trên, lại không khớp. Không ai để ý lời ông. Chỉ mình ông mang mãi trong lòng ý định tìm kiếm, nhưng không đầu mối. Phút lâm chung, ông gọi riêng tôi, dặn: "Nhắc - thằng - Trung - chuyện - họ - Mạc, khéo... không - mồ - cha - không khóc... lại - khóc - đống mối...". Và ông máy môi như còn định nói điều gì đó, nhưng không kịp. Anh Trung dăm năm mới về một lần, nhà được mỗi ông con trai, thì sống tận Sài Gòn, lại bị vợ giữ rịt chẳng tha cho về một mình, bởi sợ cái lằng nhằng tình cũ nghĩa xưa... Hai bà chị làm cái việc chỉ liên quan đến tiền.

Cô em út là giáo viên thì quá môđéc. Tôi thương nó nhất nhà. Ai cũng bảo mặt mũi hai đứa chúng tôi giống nhau như đúc. Hai chị em tôi lăn lóc dưới hầm mà cứ lớn phổng như khoai lang trồng đất cát pha mầu mỡ. Chúng tôi dẫn nhau đi theo đoàn người già trẻ con, sơ tán hết làng này sang xã khác. Từ khi tắm ở giếng làng còn cởi truồng, chúng tôi đã phải quen với tiếng gào rú của máy bay Mỹ, tiếng kêu khóc của những gia đình có người thân bị bom;

Và chị Tâm khóc không ra tiếng trong buồng vì mới cùng cả chi đoàn đi bới đất, bới nhà, nhặt từng mẩu thịt, nắm tóc... Làng tôi ở gần trạm giao liên. Ngày ngày từng đoàn xe tải dỡ hàng, bốc hàng. Máy bay cứ nghiêng qua, ngó lại, có khi đạp bừa dăm ba trái. Vậy mà chẳng có mảnh đất nào bỏ hoang. Cấy sáng trăng, gặt sáng trăng, trẻ con đội đất mà lớn. Nhà tôi cũng một lần hứng đủ ba trái. "Phúc nhà to bằng cái bình vôi - mẹ tôi thường nói - nó tránh đúng cái hầm". Tôi còn nhớ như in cái cảm giác sắp chết ngạt của hai lăm năm trước. Từng tổ kiến càng rụng xuống người, xâu vào cắn xé. Con út bảo: "Em chẳng nhớ gì". Nó mới ba tuổi mà. Vừa bằng cái phích, bây giờ đã là cô giáo, đã có chồng...

Tôi về đến cổng thì đã nghe mấy trái cau non đang chuyện nhao nhát trong nhà. Lại cả anh Trung về nữa. Mà về một mình.

- Nhà giáo và nhà báo được miễn. Còn lại - mỗi vị một triệu. Nhất trí như ủy ban chưa? Lâu không gặp, tôi nghe giọng chị Tâm tôi là lạ, Hà Nội hơn, có gang có thép hơn.

"Hoan hô trưởng nữ. út nữ này xin đa tạ thịnh tình của tỉ tỉ". út Thảo chắp tay trước ngực, nháy tôi. Quỷ sứ chứ cô giáo gì mà nói năng như bọn choai choai nghiện phim Hồng Kông. Thì em nghiện thật chứ sao. Chị không thấy họ giỏi à? Ra chợ xem, hàng Trung Quốc hơn nửa chợ!

Ðêm, anh Trung nằm nhà ngoài đốt thuốc là liên tục. Thỉnh thoảng có tiếng dép lạt xạt. Chắc anh đi thắp hương. Có cái gì đó khác lạ trong anh, tôi không dám hỏi. Mấy chị em tôi chuyện rầm rì đến khuya. Chuyện làng chuyện xóm mà nghe cứ như tiểu thuyết. Trước kia, chuyện cả làng đi đào đá đỏ bỏ ruộng hoang rất ly kỳ. Bây giờ chuyện hậu đá đỏ hay không kém. Chồng tôi mà về chắc viết được cả pho. Nhiều chuyện cười xong, thấy muốn khóc. Cả chuyện con út lấy chồng cũng vậy. Nó và cậu Bảo yêu nhau, đã mấy năm - hai nhà đi lại. Ðùng cái, thôi nhau. Cả hai nhà ngẩn tò te. Vậy mà hai đứa tỉnh queo. Rồi em đi lấy chồng, anh lấy vợ. Có thứ tình yêu nào vậy chớ? Thịt cắt còn đau nữa là... Nó bảo: "Bà cụ non ơi, phải yêu để kịp chán nhau trước khi ra trường, chứ cứ như bà, hai năm cầm tay, bốn năm mới sờ tóc, mất ăn, mất ngủ dầu - hao - trăng - khuyết, để ra thân tàn ma dại à? Lỡ không lấy được lại tự tử tự tiếc, rách việc!". "Khiếp, cô giáo gì như mày..." Tôi nói chưa xong đã nghe nó ngáy. Nó ngủ trông mới xinh làm sao. Nó là đứa tự buộc chân mình bên gốc chuối cho chúng tôi yên bụng đi xa.

Mùi hương trầm đầy nhà, khiến tôi nhớ cha tôi. Người thích đến nghiện ngập mùi này. Có khi không kịp quấn để thắp, ông xoa bột lên tay để hít hà.

Rễ hương tự ông rửa, phơi, giã riêng bằng cái cối đá nhỏ. Chu hương ông cũng tự tay chẻ, phơi trên cao. Thắp hương, đợi tàn ông mới đứng dậy. Có việc ra khỏi nhà là ông đóng cửa, giữ mùi thơm lại, thành thử chăn, màn, quần áo, nhà chỗ nào cũng mùi trầm. Ðôi khi bây giờ tôi cũng làm vậy. Ði làm về, mở cửa ra, thơm nức mũi, rất thích. Thế là ngày mai cha ở nhà xi măng. Chắc là lạnh lẽo, cô đơn, nhưng sẽ yên ổn hơn. Kín cổng cao tường, khỏi lo đạo tặc quấy phá, người trần làm ô uế, thất lạc. A, nhưng còn khói hương? Chắc sẽ khó vào được nơi người! Có lẽ vì thích mùi trầm quá mà cụ đặt tên chúng tôi là Thơm, Thảo...

Tôi vẫn không ngủ được. Lại sắp hết một đêm nữa. Ngoài kia anh Trung cũng không ngủ. Tôi chỉ biết mang máng rằng vợ chồng anh trục trặc, lại vào cái lúc đã xế chiều. Con Hiền tốt nghiệp xong không chịu nhận công tác, tha về một anh chàng vô công rồi nghề, hai đứa suốt ngày nằm đườn đưỡn, xem ti-vi, nghe nhạc. Thằng Dũng rớt đại học, đua đòi hút sách. út Thảo mắng trộm với tôi: "Ði ra, hò hét lính tráng được, thế mà về nhà có mụ vợ với hai đứa ranh con lại không dạy nổi. Cứ ném về đây cho em, trị trắng xương, ngoan liền". "Có phải đơn giản như em nghĩ!". "Cứ cố làm nó rối rắm làm gì. Làm khổ nhau cho lắm vào rồi cũng ra đất ra nước cả". "ừ, em cũng có lý. Mà sao chị vẫn thấy lo lo cho em". "Em chẳng khổ đâu. Tiền bạc có chồng kiếm, dạy về - quăng mình xuống đệm, bật quạt, gọi ăn thì dậy ăn. Sau này có con - nuôi vú em". Cái con, cứ bộp bạp thế mà lại mau nước mắt. Anh Trung ốm sơ sơ, nó khóc như cha tôi mất...

*
* *

- Chị Thơm ơi, về thôi. ở đây, chị nghe cánh thợ nói tục không quen đâu - Thảo gọi tôi - Chị em xem cái nghĩa địa làng mình giờ sang không? Y như cái thành phố, nhỉ? Cũng nhà tầng, tường bao, tím vàng xanh đỏ. Toàn dân đi làm ăn xa gửi tiền về xây đấy. Ai chưa xây được là như ngồi trên chảo rang. Người chết cũng tranh mặt đường. Chưa chết đã tranh đất xây mộ...

- Kể cũng hay. Bây giờ lại có cái thành phố của người chết! Giá có thật một cái chợ mà người sống người chết gặp nhau được như trong truyện thì hay nhỉ?

Dường như không thèm chấp cái lối nghĩ ngợi vẩn vơ của tôi, Thảo im lặng bước. Cái bím tóc mập mà đen lánh vắt qua vắt lại trên cặp mông tròn đầy. Cả nhà, mỗi mình nó có mái tóc đẹp thế, càng cắt lại càng nhanh dài. Chả bù cho tôi, nuôi thế nào cũng chỉ được như cái đuôi bò, thành thử cứ phải đến thợ uốn tóc.

*

Thế là xong xuôi mọi việc. Coi như ổn được một bề.

Rồi cũng phải chăm cho bọn trẻ về quê, để còn biết cái gốc gác của mình. Với lại để bà cháu, dì cháu ríu rít với nhau, kẻo nữa lại nhìn nhau như khách. Mẹ tôi dạo này trông lạ hẳn đi. Cái vẻ tinh tướng không hiện rõ trên mặt nữa. Tóc bà như nhiều sợi bạc hơn, từng lời nói cũng không ném choang choang. Tôi tính soạn sửa để sáng mai đi sớm thì mẹ tôi gọi. Ðợi đông đủ một lát, bà nói, giọng nghèn nghẹt:

- Tôi có chuyện ni phải nói cho út và cả nhà biết:

O đào Vân ốm nặng lắm, chắc không qua...

Thì có can hệ gì tới chúng tôi mà bà có vẻ quan trọng thế?

Bao năm nay nhà này có thấy nhắc đến bà già tội nghiệp ấy đâu? Cái nghề hát bà đã bỏ hơn bốn chục năm rồi mà cái nghiệp vẫn chưa hết. Nhà văn hóa huyện đưa người xuống dựng bà dậy nằn nì để học hát. ốm lên ốm xuống mà cũng bò dậy, dạy các o múa hát, mà như sống lại, đôi mắt già bỗng lóng lánh. Có kẻ ác miệng dèm: "Sắp xuống lỗ còn lắm chuyện". Bác chẳng sợ, cứ hát, cứ múa, còn lên sân khấu, đi hội diễn... ấy là tôi nghe cô bạn phóng viên kể thế!

Chẳng lấy được người tử tế, bà chịu gãy gánh nửa đường, không kịp có nổi mụn con mà ru, đành ru nhờ con thiên hạ, vậy mà không chịu đi bước nữa.

Nổi tiếng khắp vùng một thời về thanh, sắc; lại biết lắm điệu nhiều lời, cuộc hát nào có đào Vân là không khí khác hẳn. Cha tôi là thầy dạy hát của bà, là ông bầu của gánh hát, cũng phải nể trọng. Cha tôi mê hát, lại được ông nội tôi truyền nghề cẩn thận nên những ngón đàn điệu hát của ông cả vùng không dễ mấy ai sánh kịp. Ðến quan phủ quan huyện cũng không dám cậy quyền cậy thế. Vậy mà vật đổi sao dời, ông bỗng thành người khác hẳn. Chúng tôi cũng chẳng biết đến cái quá khứ say người của ông. Thỉnh thoảng tôi nghe ông ca ư ử như sợ ai nghe: "Ngồi thử ngẫm trăm huê (hoa) ai nuốm (nhuộm)... ư... hư... một huê là riêng một ứ... sắc ứ... hương (*)". Bây giờ thì tôi biết ông đã đau rứt rứt ruột khi phải mang theo hàng chục làn điệu ca trù xuống đất. Ông không dạy chúng tôi. Mà có dạy chắc gì chúng tôi chỉ hát hò láo nháo là giỏi, có biết ca trù nó hay nó đẹp thế nào đâu. Cứ thấy u hừ a hà thế thì chán chết!

- út ơi! Bà Vân là mẹ đẻ con đó... - mẹ tôi khó nhọc trút từng tiếng.

Chưa để chúng tôi kịp hoàn hồn vì quả bom ấy, bà đã lấy hơi nói liền một mạch như sợ sẽ không còn nói được:

- Gần ba chục năm rồi... mẹ có tội với con, với bà Vân.

Mẹ hồi đó là cán bộ. Mẹ buộc bà Vân phải bỏ làng mà đi cho đến ngày sinh con, giao nó cho mẹ mới được về ở làng, với lời thề sẽ mang điều bí mật ấy xuống mồ. út Thảo ngồi như bị đóng đinh xuống phản. Dưới ánh điện, gương mặt nó như nặn bằng sáp. Bất ngờ nó đứng vụt dậy, hét lên một tiếng: "Mẹ!" rồi đâm bổ ra ngõ. Tôi lao theo nó. Tôi rớt sau nó xa lắm mà vẫn nghe tiếng khóc tức tưởi của nó.

Tôi chạy mãi về cuối làng. Mệt quá, tôi dừng lại. Chợt nghĩ ra mình không nên có mặt ở đó lúc này. Tôi quay về, người hững hụt, chân thấp, mấy lần suýt ngã vào bụi, mặc dù đường làng vẫn sáng điện hắt ra từ mỗi nhà. Ðến ngõ, tôi nghe anh Trung đang trách mẹ: "... Chuyện ghen tuông đàn bà còn không dám trách, nhưng bấy nhiêu năm bà Vân sống vò võ, hơn bảy mươi còn phải làm lụng nuôi mình, thế mà mẹ chịu được!". Mẹ tôi phân bua: "Mẹ sợ mất con Thảo. Mẹ thương nó như con đẻ, chăm mớm cho nó từng thìa nước cháo từ khi nó còn đỏ hỏn". Với lại để bà Vân nuôi con, mẹ sợ bố anh đi lại nữa. Bà Vân đẹp, lại hát hay, một thời đàn ông ai cũng mê, nhưng bà ấy lại chỉ mê mỗi ông nhà ta. Mà cứ như có ma, hễ bà Vân ốm đau là y như ông ấy nằm liệt giường, cháo đút không chịu nuốt, dù không ai báo cho ông biết. Mọi tin tức về bà Vân mình giữ kín như bưng mà cũng vẫn rứa.

Tôi chợt nhớ cái trừng mắt lạnh người của mẹ tôi khi trong bận ăn tôi đã nhắc tới bà Vân. Tôi cũng nhớ lại cái phút lâm chung cha tôi nhìn tôi như cầu cứu. ánh mắt ông lạ lắm, như hờn tủi xót xa, lại như bi phẫn, cam chịu đến tuyệt vọng. Bao năm trời ông sống như cái bóng, vợ đảm con ngoan ríu rít đầy nhà vẫn cô đơn. Tôi lần đầu tiên dám nhìn thẳng vào gương mặt loang loáng của mẹ. Cứ ngỡ bà khóc, hóa ra không phải. Ðấy là ánh sáng phản chiếu từ những khung kính treo đầy trên tường. Ðúng là mẹ tôi đã mất cha tôi từ khi phải mang cái bầu giả. Hay chưa bao giờ bà có được ông?

Tự nhiên, cái ước mơ về một ngôi nhà có công trình phụ hoàn hảo trong tôi không còn ráo riết để bám như trước nữa, nếu không nói là biến mất. Cả cái điều tôi định hỏi mẹ - rằng bây giờ chúng tôi phải dậy dỗ con thế nào cho chúng nó sợ, cũng vậy. Chẳng hiểu sao tôi bỗng thấy thèm được như út Thảo. Tôi cảm thấy yêu quý nó hơn bao giờ. Và chuyến về nhà ấy - tôi đã quên nhắc lời trăn trối của cha tôi cho anh Trung.

Tháng 7-79
N.T.P



Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Câu hát tìm nhau

Quế Hương

Tôi gặp lão lần đầu trong quán thịt chó của bà Tư béo, nơi tôi đến bỏ rượu gạo hàng chiều sau giờ đi làm. Lão xuất hiện với bộ dạng một người lỡ đường, tay bị, tay mũ cối, gương mặt rỗ hoa lấm tấm bụi đường và mồ hôi. Tưởng lão là người ăn xin, bà Tư đuổi như đuổi tà:

- Ði ra! Ðể người ta bán, đừng có hãm tài.

- Thưa bà, tôi không xin. Tôi tận Hà Bắc vào đây tìm người quen. Bà cho tôi hỏi... bà có biết người này.

Lão chìa ra mảnh giấy bọc ép nylon như thẻ căn cước, ghi dòng chữ: Hai Xuân, người Bắc Ninh, có chồng tên Tuất. Sau 1975 có người gặp sinh sống ở Ðà Nẵng.

- Mơ hồ thế có trời biết! Không đường, không số nhà... Già rồi lẩm cẩm. Con cháu sáng suốt không sai đi tìm. Thôi đi chỗ khác. Ðây cũng là dân ngụ cư thôi! Không biết!

Bà chủ quay ngoắt, dềnh ngang bộ mông núng nính đi vào bếp. Lão lẩm bẩm:

- Cả tuần nay... hỏi ai cũng trả lời chừng đó!

Thương hại lão, tôi gợi chuyện:

- Thế bà Xuân người như thế nào?

- Cô ấy người dong dỏng. Trắng tươi. Hát hay. Xinh đẹp.

Bàn thịt chó bên cạnh lập tức nhao lên:

- ồ ! Cháu lão hả? Bao nhiêu tuổi? Ðể tụi này tìm giúp coi có "xơ múi" chi không?

- Cô ấy thua tui một tuổi.

Cái quán ven đường bỗng òa vỡ tiếng cười. Tiếng đập bàn, la ó, huýt gió, hô hố... náo loạn.

- Thế thì "cố" chứ "cô" gì! Làm tụi này tưởng bở bố ạ! Cỡ ấy ra nghĩa địa tìm dễ hơn.

- Mà cố Xuân là gì của lão? - Gã để râu xồm xoàm vừa nhai vừa hỏi.

- Xưa cô ấy là bạn hát quan họ của tôi.

- Lão vượt đường dài ở tuổi này để tìm một bạn hát xưa già khú đế à?

- Vâng.

- Trời ơi... là trời... ở mô rớt xuống ông ngố đa tình như ri hở trời! - Gã giọng Huế cùng bàn cúi gập người rên giữa một tràng cười. Còn lão điềm tĩnh, kiên định hỏi tiếp:

- Mua bản đồ thành phố ở đâu mấy chú?

- Thôi lão ơi, có khát tợp ít ngụm rồi mua vé về nhà nằm nghỉ. Kiếp sau yêu cho dài ngày rộng tháng.

Rồi để thưởng câu nói mà gã tự cho là ý vị ấy, gã để râu ngửa mặt lên trời, ném điệu nghệ một miếng dồi chó vào miệng, nhai nghiến ngấu, tợp một ngụm rượu, khà một tiếng khoái trá.

- Ngoài tôi, chỉ có món xào và rựa mận là để bát đĩa. Còn các món khác đựng trong lá tất... ¡n bốc mới đúng điệu. - Ðột ngột lão góp ý.

- Coi bộ cũng là dân nghiện mộc tồn.

- Phải thật thoải mái, không cần giữ ý tứ. Bữa ăn phải đượm mùi hoang sơ của những người lục lâm tứ chiếng.

- Mở đầu được đấy ! Mần ly rượu nói tiếp đi!

Câu chuyện xoay quanh chó: cách chọn chó, nấu chó, ăn chó... Lão sành đến nỗi những cái mặt đỏ gay, những cái miệng bóng nhẫy đều quay về phía lão hóng chuyện. Cái mông núng nính của bà Tư cũng yên vị trên chiếc ghế dựa hồi nào. Bà chủ đang há hốc miệng nghe lão bày cách chế biến từ bảy món cầy cơ bản thành mười món hoặc hơn nữa. Lạ là lão sành món "hương nhục" đến thế lại từ chối động đũa vào đĩa chó bà Tư đích thân bưng đến đặt trước mặt lão để mong thụ giáo. Lão giải thích hễ lão cầm đũa là phải ăn no mới thôi. Cái thứ này hễ ăn là say, ăn mãi... ăn thì phải đúng điệu với bạn tri ân để say còn khóc cười cho hả...

- Khách của tui đủ giới, ở khắp thành phố này - bà chủ lên tiếng - Dò tìm một cố Xuân nói giọng Bắc, vấn khăn, cao dong dỏng, biết hát quan họ không phải là khó. Tui sẽ nhờ anh em... sẽ để lão ăn thịt chó thỏa thuê không lấy tiền... với điều kiện lão giúp tôi tiếp khí sắc cho quán. Dãy này bốn quán... phải có ngón nghề đặc biệt mới kéo khách về mình...

Quán thịt cầy của bà Tư béo từ độ có lão bỗng đông khách hẳn. Thịt bao giờ cũng lớn bùi, bé mềm, cả tơ cả cứng cho đủ vị cuộc đời. Lá sen, lá dong riềng, lá chuối được thay đĩa men. Quán có đến mười hai món "hương nhục", thơm điếc mũi. Buổi tối quán tắt đèn điện thắp đèn cầy ăn thịt cầy... âm âm u u thế mà gọi mời đáo để. Những câu chuyện về đời, về chó của lão dưới ánh nến bao giờ cũng khiến khách ăn cảm thấy bữa rượu thịt đậm đà. Bữa nào lão không tới, họ lại ăn uể oải đòi lão có mặt. Bọn họ gọi lão là "lão Tầm Xuân". Cái quán ven đường rôm rả hẳn lên khi ông lão mặt rỗ hoa, ăn mặc nhếch nhác bước vào. Họ hát ong ỏng đón lão: "Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc. Em đi lấy chồng anh tiếc lắm thay. Già rồi tiếc vẫn chưa nguôi. Xắn quần anh lội suối, khòm lưng anh vượt đèo...". Có hôm, men rượu không giải được nỗi sầu vô vị, họ lại đem lão ra giải buồn. Họ đổi những tin "dỏm" về cố Xuân bằng những câu chuyện của lão hoặc một cú tẩm quất sướng ê người. Nếu quán vắng khách, họ nằm ườn ngay trên nền quán, ưỡn tấm thân trẻ trung rã rời cho lão tẩm. Xương bật dòn tan, còn bọn họ lè lưỡi: "Hồi trẻ, lão phải vật trâu!"

- Hồi trẻ, tôi giật đến hai giải thi vật - Hứng chí lão khoe.

- Thế mà không vật nổi cô Xuân dong dỏng, trắng tươi, hát hay xinh đẹp.

Cả bọn cười ồ còn lão bỗng tiu nghỉu. Lão ngừng đấm hỏi:

- Lần này "dỏm" không đó?

- Dỏm 50%. 50% có thể thật. Ðứa nào nói dối 100% hộc bia ra ngay.

Chân dung cố Xuân thay đổ xoành xoạch. Khi thì cố Xuân ở tận bên làng biển An Hải, mù vì khóc lão. Khi thì ở trên Hòa Khánh, điếc đặc. Khi thì ở tận Hòa Cường, suốt ngày ho sù sụ...

Có lúc bọn trẻ kéo vào quán một bà già nghễnh ngãng, ré lên: "Lão Tầm Xuân ơi, cố Xuân đây nè!". Bà già chửi te tua còn bọn chúng cười hô hố: Chỉ có lão không nói một lời. Tôi có cảm tưởng có cái gì nặng hơn chiếc lá khô vỡ tan tành trong lòng lão. Ôi lão Tầm Xuân! Lão tìm trong cuộc đời nước chảy mây trôi như một hình bóng của ký ức thì tìm sao đặng? Những cuộc "gặp" ấy để lại trong lòng lão dư vị cay đắng. Lão ngồi uống rượu suông, mắt mờ đục như có khói và lão hát. Dĩ nhiên không phải để cho chúng tôi nghe! Lão hát hay lắm. Hay đến nỗi có lần tôi phải chở vợ đến nghe. Nàng đứng ở ngưỡng cửa nghe lão hát bài ruột: "Khi tương phùng, khi tương ngộ. Xuôi lên bộ, văng vẳng tơ tình. Chiêm bao lần chẵn năm canh. Bao lần anh ngồi tựa trăng thanh. Thương nhớ sâu oanh. Lẻ loi chim nhạn. Bạn tình ơi! Em biết đến bao giờ gặp mặt sánh đôi. Suốt năm họa là. Duyên bén ngãn, văng vẳng tơ tình. Trước không phải, sau đền duyên ba sinh". Khó tưởng tượng một giọng hát say đắm ngọt ngào dường kia lại thoát ra từ một lồng ngực hom hem phô những giẻ sườn. Vợ tôi bảo không phải lão hát mà tình yêu lão hát. Nàng có đôi chút học vấn để nhận xét: đằng sau vẻ ngù ngờ, xấu xí, già nua kia là một trái tim thực có một cô Xuân dong dỏng, trắng tươi, hát hay, xinh đẹp trên đời. Cô Xuân ấy không bao giờ già, không bao giờ xấu, không bao giờ chết trong lão!

Sau lần nghe lão hát và những câu chuyện tôi kể về lão, vợ tôi bỗng trở nên "ái mộ" lão. Nàng bảo tôi chở lão đến nhà chơi rồi lão trở thành khách quen thuộc của cả nhà. Họ cũng bị lão "mê hoặc" như cả quán cầy tơ của bà béo. Lũ con tôi quý lão vô cùng. Lão bày chúng hát nghêu ngao những bài quan họ. "Sớm đi chơi hội, tối về quay tơ. Dải yếm phất phơ. Miếng trầu, mồi mốc. Miếng ăn, miếng buộc. Miếng gối đầu giường. Muốn tìm người thương. Tìm đâu cho thấy?"... Lão cho chúng những đồ chơi thật ngộ - những con vật bằng lá dừa biết ngúc ngắc, con gà trống bằng đất sét lòe loẹt xanh đỏ tím vàng kẹp chiếc kèn lá có thể cất tiếng gáy... Bếp nhà ấm áp khi có lão. Lão nếm rượu chính xác như đo, hàn giúp cái xoong, cái nồi rất khéo. Lão mơ màng kể cho chúng tôi nghe những ngày hội Lim, những liền anh áo the khăn xếp, liền chị thắt lưng hoa lý, yếm đào con nhạn, mắt lá răm lúng liếng hát thâu đêm. Tôi ngồi nghe lão tả những làn điệu quan họ đắm say miên man dìu dặt và yêu cầu lão hát nhưng thường lão lắc đầu. Lão bảo hát quan họ phải có đôi, có bạn, có chỗ. Ký ức lão còn giữ nguyên vẹn những ngày hội quê lão: Hội làng, Hội Xuân, Hội mùa... Trai thi mạnh, gái thi mềm. Thi hoa, thi vật, kéo co, hát chèo, nấu cơm, đánh đu, cờ người...

- Lão gặp cố Xuân ở những ngày hội đó à?

- Vâng. Ðó cũng là ngày hội quan họ, cả vùng như ngấm men say, phát cuồng vì hội lễ. Năm ấy anh cu Rỗ là tôi tròn 18 tuổi, được cử vào bọn quan họ làng để luyện giọng thi hát với bọn quan họ làng bên kia sông. Nhà tôi ba đời hát quan họ. Tôi luyện trên dưới 200 giọng, thế mà khi hát đôi với cô ấy tôi run. Tâm hồn tôi lơ lửng không đặt hết vào lời. Cô ấy là tiên quan họ. Ngày xưa cô Tấm cũng đẹp thế là cùng! Giọng hát sóng sánh. Mắt đen lóng lánh. Môi cắn chỉ đỏ thắm. Cần cổ như cuống hoa huệ... Tôi say, say lời hát, say cô ấy, quên cả ngón ruột phải tung ra vào phút chót để thắng dứt điểm. Cuộc thi kéo dài đến ba ngày. Tiếng trống dứt mới giật mình ngơ ngẩn. Dĩ nhiên tôi thua...

- Ða tình thế sao không lấy?

- Lệ quan họ những đôi trai gái đã kết bạn quan họ không lấy nhau. Tình yêu có nảy sinh thì cũng gửi thương gửi nhớ qua lời hát. Kết nghĩa quan họ như kết nghĩa anh em, được cha mẹ hai bên, dân hai làng chấp nhận. Tình bạn ấy chân thành, thủy chung, thắm thiết không chỉ đời mình mà có khi còn đến đời sau. Làng tôi có nhiều cặp quan họ khi đầu bạc răng long, tình yêu trong câu hát xưa vẫn không tàn. Có dịp gặp nhau trên chiếu quan họ, họ lại sống lại thời xuân sắc. Anh em kết nghĩa quan họ gặp nhau "xuân thu nhị kỳ", đến thăm nhau, ăn uống, vui chơi, ca hát với nhau. Mỗi bên có chuyện vui buồn đều tổ chức đi lại thăm viếng. Tôi nhận ra một điều: người ta có thể cho nhau niềm hạnh phúc to lớn biết dường nào và chẳng lần nào giống lần nào... Rồi cô ấy cũng phải đi lấy chồng. Bọn quan họ chúng tôi đến chia vui. Tôi đau lòng hát miên man...

Mắt lão bỗng mơ màng xa vắng. Rồi một giọng hát trẻ trung đằm thắm da diết cất lên: "¡n quả nhãn lồng. Ước sao người ấy tôi bồng trên tay...". Không phải lão Tầm Xuân tóc bạc da mồi hát mà anh cu Rỗ tóc đen như mun, da mầu đồng, có giọng hát Trương Chi hát! Cô ấy hiểu lòng tôi, chú ạ! - Lão lại ngưng hát, kể: Tôi hát bài "Khi tương phùng, khi tương ngộ" ngang nửa bài thì cô ấy xen ngang, hát tiếp: "Bạn tình ơi! Em biết đến bao giờ họp mặt sánh đôi... Trước không phải, sau đền duyên ba sinh". Chúng tôi cắt câu quan họ làm đôi, mỗi đứa giữ một nửa. Hẹn kiếp sau chắp lại.

Sau đó là chiến tranh... nạn đói... Câu quan họ tan tác trăm phương. Tôi vào Vệ quốc quân, tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, khi hòa bình lập lại, tôi về làng thì nghe cô ấy đã theo chồng... nghe nói vào Nam.

Rồi tuổi già đến. Già buồn lắm chú ạ! Cô đơn và bất lực. Chết không đáng sợ bằng tuổi già. Sống đến đó, người ta mới nếm tận cùng chén đắng cay của đời. Tôi sợ hình ảnh ông hàng xóm ngày nắng được bế cả người lẫn chăn ra hong nắng. Nắng rực rỡ đọng thành từng vũng quanh ông ấy, còn ông ấy nhăn nhúm trong cái chăn rách... Tôi có cảm tưởng ông được đem phơi cho chết vi trùng. Có bà, được mua cho một cỗ hậu sự thật tốt. Lâu không chết, áo quan bị mọt đục. Ngày nắng con cháu đem ra phơi, trở qua lật lại rửa ráy càu nhàu... Luật đời chú ạ! Già thì lụi tàn, phải chết. Sống lâu thành nợ của mọi người ngay con cái cũng chán... Một lần tôi ốm, trận ấy ốm thương hàn, thập tử nhất sinh. Trong những cơn mê, tôi cứ nghe một giọng hát lảnh lót níu tôi lại trần thế: "Người về bỏ bạn sao đành. Người về em vẫn đinh ninh tấm lòng...". Giọng cô ấy! Chỉ có cô ấy mới có cái giọng la đà sát ngọn cỏ, cao vút chạm mây xanh, thầm thì luồn lách trong da trong thịt. Tôi tỉnh lại đang mơ màng thì nghe giọng dâu con thở than gần hết ngày tốt mà cha chưa chịu đi. Tôi mở mắt, chúng nó lại ríu rít hỏi han, làm ra vẻ vui mừng... Sau lần ốm ấy, tôi nghĩ đến chuyện đi tìm cô ấy. Chính cô ấy níu tôi lại cuộc đời này. Tôi phải đi tìm nửa câu quan họ cắt đôi. Trẻ không lấy nhau được, già ở bên nhau, hát với nhau cho đỡ côi cút. Trước sau vẫn là bạn có gì sai trái đâu?

Lão im bặt. Ðôi mắt già nua chìm trong cõi vắng. Thời gian với lão chỉ là lớp bụi mờ. Gió thổi, bụi bay, dĩ vãng lại hiện ra nguyên vẹn trước mắt lão. Ðêm ấy, lão hát miên man bên bếp lửa tàn. Một mình hát, một mình nghe, một mình mở hội đồi Lim, lúng liếng, đắm say, chân tình lai láng.

Thế mà sau một tuần đi công tác xa về, con tôi đã mếu máo níu áo ngoài cửa đòi tôi đi tìm lão Tầm Xuân. Thì ra lão đã bỏ đi... Tự nguyện theo lão là con chó mập ú của bà Tư cầy. Dường như chán gặm xương đồng loại, nó bỏ theo lão Tầm Xuân.

Tôi cũng vô tình quên lão nếu không có lần gặp lại ở Hàng Xanh, Sài Gòn cách đó hai năm.

Ðó là một buổi trưa nắng chang chang. Con hẻm em gái tôi ở vang lên tiếng rao lạc lõng: "Ai hàn soong hàn nồi, mài dao mài kéo không...? - Tiếp liền sau một giọng hát cất lên :"Khi tương phùng khi tương ngộ, xuôi lên bộ văng vẳng tơ tình... thương nhớ sầu oanh, lẻ loi chim nhạn. Bạn tình ơi...". "Ôi!". Lão. Lão chứ còn ai nữa. Không kịp xỏ dép, tôi chạy nhào ra hẻm gọi ơi ới: "Lão mài dao... lão Tầm Xuân". Lão quay phắt lại rồi ôm chầm lấy tôi mừng rỡ. Mới hai năm mà lão già thêm nhiều. Lão đã thực sự già thêm nhiều. Lão đã thực sự già! Gương mặt chằng chịt nếp nhăn lỗ chỗ nốt rỗ như tấm gỗ mọt. Ðôi mắt mờ đục, giọng hát khào khào. Lão mang lỉnh kỉnh dụng cụ hàm mài. Câu quan họ lầm lũi lạc theo, lạc lõng trong thành phố hoa lệ. Con chó vàng của bà Tư cầy lẽo đẽo theo bên. Chỉ khác là nó không còn mập ú nữa, nó xơ xác gầy nhom như chủ.

Chúng tôi tấp vào quán nước bên đường. ở đó tôi được biết vì sao lão bỏ đi đột ngột. Bà chủ quán thịt cầy cùng dãy với bà Tư béo bảo có gặp một bà người Bắc đi xin ở Gia Ðịnh biết hát quan họ và y hệt cô Xuân của lão. Thế là họ đi!... Quán bà Tư mất hấp lực, đâu lại vào đấy. Tôi nghĩ thế nhưng không nói ra, sợ lão buồn. Tôi định bụng khuyên lão trở về quê. Không ngờ lão cũng nói:

- May gặp nhau lần cuối... Tuần sau tôi về chú ạ. Tiền tàu xe đủ rồi... Tôi về để mười ba tháng Giêng tới dự hội Lim lần cuối. Hội Lim giờ đâu như xưa nữa... Nhưng tôi vẫn nghe tiếng trống vào hội giục giã lòng tôi. Tôi yếu rồi! Tôi đã nghe đất gọi. Quê gọi. Ðành hẹn kiếp sau vậy...

Tôi nhìn lão, còn lão nhìn dòng xe cộ nườm nượp đến chóng mặt. Chiều tà dần trong đôi mắt mầu hoàng hôn.

- Lâu ngày gặp lại, tui với lão mần đích đáng một bữa thịt chó đi! ở đây có Bồng Lai quán nghe nói khá lắm, ăn hoài không đã miệng. Tui mời lão.

- Cảm ơn chú! Nhưng năm rồi tôi không đụng thứ đó. Tôi sẽ không đụng cho đến ngày cuối đời...

Lão cúi xuống vỗ về vào lưng con vàng. Con chó ngước đôi mắt nặng trĩu yêu thương nhìn lão rồi không dằn lòng nổi, nó đứng trên hai chân sau, vừa kêu ư ử hài lòng vừa liếm khắp người lão.

- Chú thấy đấy! Cứ tưởng tượng nó thành những đĩa dồi, đĩa luộc, đĩa xào, xáo... là tôi lợm giọng rồi... Không có nó tôi không sống nổi ở đây đến hai năm... Nó sưởi ấm tôi, kéo tôi đứng dậy, nó bị đánh què cẳng vì ăn cắp của người ta để cho tôi ăn những ngày tôi ốm... Nó từng sung sướng... theo tôi nó mới cực thế này... Nó...

Lão nghẹn ngào, mắt hấp háy. Giọt lệ tuổi già chắt mãi mới thành dành cho kẻ đồng hành bốn chân!

Khoảng mươi hôm sau, con dao chặt thịt bị mẻ, em tôi nhắc:

- Không thấy lão mài dao kéo vào xóm... cái lão thật lạ, không lo kiếm khách chỉ lo hát... Có đồng nào mua đồ ăn lại chia đôi cho chó một nửa. Con chó cũng đáo để, không bao giờ ăn trước chủ dù có đặt trước miệng... Người già cũng lạ! Trại dưỡng lão em làm có một bà già... nhập trại ba năm không nói một lời, tưởng câm, khi gần chết hóa ra biết hát. Cái giọng cái điệu, cái lời na ná như lão mài dao.

- Ðâu? Bà ấy ở đâu? - Tôi chụp tay nó.

- ở trong, sắp chết rồi. Mà anh hỏi làm gì?

Tôi kéo áo nó, bắt nó chở đi rồi tôi sẽ giải thích. Dọc đường tôi kể vắn tắt chuyện lão Tầm Xuân đi tìm nửa câu quan họ. Tôi linh cảm đó là cố Xuân.

- Ba năm trước, một người đàn ông sang trọng, gương mặt tràn trề nhân ái dẫn bà ấy vào trại. Ông ta bảo với Ban quản đốc ông ta thấy bà già cơ nhỡ, ngủ trước hiên nhà nên thương xót dẫn giúp vào đây. Ba năm ở đây, bà ấy sống lặng lẽ như bóng không hề nói, nằm quay mặt vào vách. Nhưng cách đây một tháng, dường như không nén được nỗi đau đớn, bà ta khóc rống lên: "Hắn là con tôi, cái thằng dẫn tôi vào đây chính là con tôi". Mấy hôm nay bà ta hát... không ăn, không uống... chỉ phều phào hát... -Em tôi kể.

Bây giờ nằm trước mặt tôi, trên chiếc chiếu tỏa mùi khai thối trải trên nền gạch loang lổ là bà cụ tóc trắng như bông vấn vành khăn nhung đã sờn, mỏng như giấy, mặt vàng, hơi thở dốc...

"Dong dỏng, trắng tươi, hát hay, xinh đẹp..."

Hình hài ấy không còn nét nào giống lão Tầm Xuân tả. Thời gian cho, thời gian lấy hay tôi đã lầm? Tôi định lui ra nhưng chiếc lá khô ấy bỗng khẽ khàng động đậy. Rồi từ lồng ngực thoi thóp hơi tàn, phều phào những tiếng, lời rời rạc. "Bạn tình ơi! Duyên bén ngãi, trước không phải... sau đền... duyên... ba sinh".

-Ðúng rồi! Cố Xuân đây rồi! Tôi reo to giữa những gương mặt già nua ngơ ngác - Lão Tầm Xuân ơi! Nửa câu quan họ đây rồi.

Lão tìm ba năm, nay biết tìm lão ở đâu.

Bà cụ mấp máy môi hát, âm sắc yếu dần... yếu dần... Nhanh trí, tôi nắm lấy bàn tay còn xương với da ấy và tôi lập lại lời hát của lão Tầm Xuân: "Khi tương phùng, khi tương ngộ, xuôi lên bộ văng vẳng tơ tình..." Giọng hát vụng về thô ráp như đọc của tôi cất lên, và lạ lùng thay, nó tựa những giọt nước cành dương diệu kỳ... Mí mắt bà lão động đậy, ngực phập phồng rồi giọng hát yếu ớt cứ rõ dần hòa với cái giọng vịt đực ồ ồ của tôi. Những bà già trên nền nhà lập tức ngồi dậy. Họ không hiểu nhưng họ vỗ tay như những đứa trẻ. Họ reo, họ hò, họ hát ru... Những đôi mắt mờ mờ đục chất ngất nỗi buồn và bất hạnh bỗng háo hức như mắt trẻ con. Một bà lão lục đục trong hai ba lần áo một cái gói nhỏ mở hai ba lớp nylon bày một nhúm thịt chà bông, chần chừ ngắm rồi nhón tay bốc hai sợi thịt đem tới đút vào miệng tôi một sợi, miệng cố Xuân, bị lời hát đẩy ra, còn trong miệng tôi, trào thành nước mắt!

Tôi lập tức đạp xe đi quanh vùng Gia Ðịnh tìm lão Tầm Xuân nhưng bóng lão bặt tăm... Hình như lão đã về quê rồi. Em gái tôi góp ý nhắn lão trên tivi. Mẩu tin kỳ quái được nhắc lại hai hôm: "Lão Tầm Xuân! Ðã tìm ra nửa câu quan họ. Ðến gấp trại dưỡng lão số 3, đường... Mau lên kẻo không kịp".

Không kịp thật. Cố Xuân hắt ra hơi thở cuối cùng, lão vẫn bặt tăm. Chiếc xe tang của trại đưa cố đến lò thiêu. Không một vành khăn, không dòng nước mắt.

Có lẽ giờ này lão Tầm Xuân đang lê bước trở về. Nửa câu quan họ lầm lũi theo lão... Chơi vơi... Chơi vơi...




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Câu chuyện một chiều thứ bảy

Trần Thanh Giao

Một chiều thứ bảy, bọn chúng tôi dắt nhau ra bờ sông Hồng chơi. Bấy giờ đã là cuối mùa thu rồi. Nước sông rút xuống và lặng lẽ trôi xuôi, cuốn theo vô số phù sa mầu gạch non đùng đục. Chúng tôi trèo lên một đống gỗ ngồi nhìn xuống lòng sông. Chẳng bao lâu mà mặt trời tắt hẳn. Trăng mồng mười treo trên cao. Gió lạnh làm sông Hồng nhăn mặt. Thỉnh thoảng mấy gợn sóng con con sáng lên, lấp lánh như những lưỡi búa vàng.

Cảnh sông thật đẹp nên chuyện cứ nở như gạo rang. Chúng tôi đi từ chuyện cá mè, tép bạc sang chuyện rươi đúc trứng, chuyện tôm tả-pi-lù... Mỗi người mỗi miền đều tranh nhau nói. "Danh cua" với giọng Nam Bộ hòa hợp giọng bắc, đang sôi nổi tán về món sò huyết nướng than hồng, bỏ vào một tý muối tiêu. Danh ngồi chồm chỗm trên khúc gỗ, tay giả vờ vắt một múi chanh vào con sò huyết tưởng tượng, đưa lên miệng húp một cái rồi trệu trạo nuốt làm cả bọn chúng tôi đứa nào cũng phải nuốt nước bọt theo một cách ngon lành.

Từ chuyện sò, chúng tôi bắt sang chuyện ngao, chuyện hến... Danh chợt quay sang một anh bạn miền bắc:

- Ngao à? Trong nam gọi ngao là vọp. Có một lần mình ăn vọp. Năm ấy cách đây vừa đúng bảy năm...

Danh bỗng trầm hẳn xuống rè rè như đang có vật gì mắc ở cổ họng:

- Bảy năm qua rồi mà mình không sao quên được...

Tôi bảo thầm trong bụng: Lại sắp có chuyện đây. Nhìn nét mặt Danh đang thừ ra nghĩ ngợi, nhìn đôi mắt Danh đang mơ màng trông xa xa, tôi đoán có lẽ là một chuyện tình. Các anh em khác chẳng ai bảo ai mà cũng đều ngồi yên chờ đợi. Một lúc, sốt ruột quá, tôi giục:

- Kể đi! Kể chuyện ăn vọp đi!

Danh "ừ" một tiếng, cho tay vào túi áo ngoài, moi moi khoắng khoắng cả hai bên chẳng biết là tìm bao thuốc hay là lục lại vật gì cũ kỹ. Tôi vội đưa cho anh chàng điếu thuốc và đánh diêm. Danh hít một hơi ngon lành, thở khói ra dày đặc, rồi lấy tay khoát nhè nhẹ như đang vén lên một bức màn:

"Câu chuyện này cũng bắt đầu bằng một chiều thứ bảy cuối thu. Lúc ấy cả phân xưởng mình đang đổ dồn vào một công việc đột xuất là đúc lựu đạn. Anh em thay phiên làm quần quật suốt ngày đêm không nghỉ để cho kịp chiến dịch. Trong hoàn cảnh ấy, lại hết củi để nấu cơm, làm bếp. Kể thì cũng nhỏ mọn thôi. Nhưng nguyên tắc bảo mật tuyệt đối cấm kiếm củi ở vùng gần xưởng. Bọn này thường phải đi xuống Vàm Ðầm, xa vài mươi cây số. Sau một bữa cơm nửa sống nửa chín-mà có anh mặt nhăn như bị, cô Miên, cấp dưỡng của bọn này, mới quyết định tự mình đi lấy củi. Ðó là một việc nặng. Mà để cho cô đi xa thì bọn này cũng không yên tâm. Ðịnh cắt một người cùng đi với cô. Nhưng anh em không ai rứt việc ra được. Miên xin cho mình đi theo. Mọi người quay lại nhìn mình. Hồi ấy mình vừa rời ghế nhà trường đi xuống miền tây kháng chiến, công việc trong xưởng cũng mới biết ti toe nên rỗi hơn anh em, hôm sau chủ nhật mình lại được nghỉ, nhưng mà công tác lao động có thể nói là mình dốt đặc cán mai. Tuy vậy, không thể để anh em chờ lâu, mình "xung phong" đi ngay với cô Miên. Xung phong thì cũng có nhiều lý do. Trước tiên nghĩ rằng "cả làng" người ta đang làm cật lực chẳng lẽ mình cứ "cà nhổng chống xâm lăng", "phất phơ làm cách mạng". Hai là thường ngày mình cứ nói vanh vách nào là yêu nước, nào là chủ nghĩa xã hội, nói chuyện Liên-xô kiến thiết cái này, xây dựng cái kia mà bây giờ không đi thì mang tiếng lý thuyết suông, để người ta chê mình là "lạc hậu" thì còn gì giá trị con người của mình nữa. Ba là một mình đi vào rừng với cô Miên thì cũng hay hay. Các cậu cười à? Cái đồ quỷ, cứ nghĩ tầm bậy! Hay, hay là thế này: Lúc bấy giờ mình nghĩ ngay đến cảnh rừng cây mọc vút cao, ánh nắng xuyên qua kẽ lá như rẻ quạt, sóc trên cành nhảy lon ton, có một đôi thanh niên nam nữ vừa đẵn gỗ vừa hát... ấy đại loại hay hay là như thế vậy."

Trong bọn tôi, bật ra những tiếng cười thú vị y như khi xem xiếc thấy anh chàng đi dây rất "chúa" mà lại giả vờ trượt ngã. Thật vậy, "Danh cua" thì ghê lắm! Ông ấy việc gì cũng sành và là tay tiện cừ nhất bọn trẻ trong kíp và cả trong xưởng chúng tôi. Nếu ai mới đi lao động công trường mà thấy Danh cứ xắn hai nhát mai một hòn đất và dạy rạch ròi cho anh em đổ nền, bện sọt thì lại tưởng Danh là nông dân chính cống. Danh năm nay chưa đầy ba mươi tuổi, nghĩa là "còn xoan", người tầm thước, đầu cắt "cua" nên được gọi là "Danh cua". Mà Danh là "cua" cũng vì có đôi tay chắc nịch, sờ vào rắn như sờ phải chiếc kìm càng cua. Ðặc biệt Danh cua "kẹp" đến mức "trời gầm không nhả" những anh chàng nào xem lợi riêng bằng cái hũ còn lợi chung chỉ bằng cái khu tô. Thế mà nay lại nghe Danh nói toàn giọng "đâm hơi" như vậy thì ai mà không cười cho được. Nhưng sau này ngẫm nghĩ cái điều trái ngược ấy chúng tôi mới dần dần hiểu ra tại sao Danh lại tốt và hết lòng lo cho anh em như bây giờ. Ðó cũng là cái đầu mối chính của câu chuyện mà Danh kể tiếp sau đây:

"Thế là sau khi cơm nước, cụ bị xong xuôi, mình và Miên xuống một chiếc tam bản xuất hành đúng vào chiều thứ bảy. Ði loanh quanh mấy con rạch bảo mật, bọn mình trổ ra sông to. Bắt đầu chèo. Mình ở phía sau, Miên đứng trước mũi. Theo nhịp đều đều, hai đứa thong thả chèo đi. Con thuyền chồm chồm, lướt nhẹ trên dòng nước. Mặt trời đã khuất. Gió sông lên. Sóng lưỡi búa đánh lách chách vào mạn thuyền. Gió thổi tung mái tóc ngắn trên vai Miên. Nói thật, ngày thường mình không chú ý đến Miên lắm. Miên tuy có một nước da mịn và trắng, người đầy đặn, nhưng lúc đầu mình trông có phần cục mịch. Vả lại lúc ấy mình cho rằng Miên suốt ngày chỉ hũ mắm, tép hành, hết nấu cháo cho bệnh thì lại đi bổ củi, khó thông cảm. Nhưng ở xưởng, nhiều anh chàng chết mệt với cô gái mười tám tuổi ấy, có đôi mắt mí lót và cái mồm luôn luôn cười cởi mở. Người ta khen Miên làm việc chí tình, khen Miên đẹp, nhất là khen đôi chân. Có người bảo đôi chân ấy mà cho đi múa thì phải biết. Mình thì cho Miên không đẹp. Nhưng tài làm việc và đôi chân của Miên thì mình cũng chịu, không tìm được chỗ nào để mà chê. Quả thật vậy. Gió chiều trên sông thổi ngược. Vạt áo và ống quần bà ba đen dán chặt vào chân Miên bay lật phật... Miên chèo, chân trái bước tới một tí, rồi chân phải nhẹ nhàng đá lên phía trước, thân người nghiêng chênh chếch. Ðôi chân đẹp uyển chuyển cứ như nhảy múa trên sạp thuyền. Máy chèo quạt nước xoáy tròn trôn ốc trôi về phía sau.

Lần đầu tiên mình buột miệng khen lên một tiếng:

- Chị Miên chèo chân đẹp quá!

Miên hất mái tóc về đằng sau, quay lại mỉm cười. Mình thấy đôi mắt Miên sáng lên và đôi gò má ửng hồng:

- Dữ ác! Anh đến đây năm tháng rồi mới thấy anh nói nghe được!

Rồi lại thêm một câu như đã có ý định từ trước:

- Mai vào rừng bắt vọp nướng ăn. Ngọt lắm! Dưới này vọp thật nhiều.

Các cậu hiểu câu ấy thế nào? Mình thì khi đó cảm thấy trong lòng là lạ: Miên chú ý đến mình từ lâu. Ðúng đấy chứ không phải chủ quan đâu. Chẳng biết sao mà mình lại huýt sáo vang lên và chèo thật mạnh.

Chúng mình tới Vàm Ðầm hơi khuya. Trăng đã xế xuống sát ngọn đước bên kia sông. Buộc thuyền lại chắc chắn hai đứa lên một trạm gác bỏ trống, trải chiếu ngủ dưới đất. Ðêm ấy mình suy nghĩ nhiều. Có lúc ngồi dậy nhìn dòng sông. Chung quanh toàn là rừng heo hút. Nhưng nói thật với các cậu là ma không dám đến...".

Danh cười một tiếng nhỏ, vất tàn thuốc lá ra xa. Ðám lửa bay vút đi như ma trơi, loé lên rồi rơi ngay xuống.

"Sáng hôm sau, Miên đánh thức mình dậy trước khi có ánh nắng mặt trời. Miên đem cơm nước xuống thuyền rồi đứng lái. Chèo một quãng, chúng mình bỏ sông to và bắt đầu đi vào rừng. Miên đưa thuyền sâu vào những rạch nhỏ, vào các ngả con, quanh qua quẹo lại mà không do dự một tý nào. Có lẽ Miên thuộc lòng vùng ấy. Ðến một nơi hơi quang. Miên hạ lệnh dừng lại và sửa soạn để lên rừng. Mình định bỏ quần dài ra vì nghĩ rằng lao động thì phải quần đùi, áo cộc cho ra vẻ "con nhà" chứ. Miên đoán được, cúi mặt xuống cười to:

- Bận vô! Bận vô đi ông ơi! Lên kia ô rô nó quào rách chân hết bây giờ.

Rồi Miên đến gần lấy chiếc khăn rằn đội lên đầu mình, hai chéo khăn quấn tròn chung quanh cổ thật chặt chỉ chừa ra đôi mắt và một phần mặt thôi. Miên lôi dưới khoang ra hai chiếc búa mài kỹ, lưỡi sáng loáng. Mình cầm búa lên. Nghĩ buồn cười quá. Y như Ðông-ki-sốt nai nịt lên đường đi chinh chiến vậy!

Cuộc tấn công vào củi bắt đầu. Miên bước lên bờ đi hăm hở, vừa đi vừa phạt những nhánh con, những dây leo để dọn đường. Mình bỏ thuyền bước theo. Nói ra các cậu đừng cười chứ lần đầu tiên đặt chân xuống bãi sình của rừng U-Minh sao mà mình rợn người đến thế! Một cảm giác lành lạnh, kinh kinh từ gót chân chạy lên đầu sởn gai ốc. Giống như bước xuống một ao bùn nhớp nhúa vậy. Mà còn gay hơn nữa kia. Vì đầy đất và lá gai, cành nhọn, sắc như những mũi dao con. Mỗi bước đi, chân lún xuống, lá mục kêu xèo xèo, mùi hôi xông lên khó chịu, ghê ghê như giẫm vào đống phân đã lên men. Mình phải từ từ chọn chỗ đặt chân, khi bước lên một khúc gỗ mục, khi trèo từ rễ đước này sang rễ đước khác. Có lúc hụt chân xiêu bên nọ, vẹo bên kia... Miên đã bỏ mình một quãng khá xa. Mình có cảm giác của một đứa trẻ sợ lạc đường:

- Chị Miên ơi! Ðợi tôi với!

Miên dừng lại. Chờ hồi lâu, mình chưa đến kịp. Miên cau mày:

- Mau lên! Trưa rồi! Làm gì mà cóm róm như bà già đi âm phủ vậy!

Lần đầu tiên Miên gắt với mình, và mình thấy tự ái. Theo con đường Miên đã phát quang, mình bước bạt mạng. Kể ra Miên nói cũng phải. Ði như thế vừa nhanh vừa vững, lại vừa oai. Mà cũng chẳng mất một tý thịt nào cả. Chỉ có mất cái bộ điệu cóm róm thôi. Mình theo kịp Miên ngay và cũng vung búa phạt cây ra tuồng. Lưỡi búa theo nhịp tay đưa, sáng loang loáng.

Ðã đến chỗ hái củi được, Miên dặn mình lấy cây khô với cây dốt dốt thôi, đừng chặt cây tươi, người ta cấm. Mình nhìn vòng quanh. Nơi đây là một rừng đước con. Cây mọc chi chít, chỗ dày chỗ thưa loạn xạ, có nơi cách nhau hàng mấy chục thước, có nơi chen người không qua lọt. Ðước còn nhỏ, đều đều một loạt bằng cổ tay. Thân cây thẳng tắp, cao chừng bốn năm thước. Trên ngọn là vài cành nhỏ mầu xám đỏ, đeo mấy cái lá xanh. Gốc sát đất chỉ bằng ngón tay cái, nhưng lên trên vài mươi phân lại có năm, sáu rễ phụ ăn vòng ra, cắm xuống đất, mường tượng như những chiếc răng nơm. Lá mục, cành khô, ô rô, cóc kèn... giăng đầy mặt đất. Thỉnh thoảng nhú lên những mầm non đen đen, như lưỡi mèo, hay trên các cảnh đung đưa vài quả cám bằng nắm tay mốc mốc. Ngước mắt trông lên, sương mù trùm xuống đầy rừng. Trời xanh chẳng thấy. Chọn một cây khô, mình giơ búa chặt mạnh. Nhưng cây quá dòn, lưỡi búa cắt ngang làm mình mất đà ngã chúi. Cây củi dài và cao gãy làm ba bốn khúc rơi xuống quật vào đầu, vào lưng và cả vào đít mình. Mình thì bực quá nhưng cô Miên thì ôm bụng gục đầu vào cây cười ngặt nghẽo làm rung cả đám lá nhỏ trên cành. Cố nhịn cười, Miên chạy đến giằng lấy búa trong tay mình, cắm phập vào một khúc cây to ngã dưới đất. Rồi cô xoa lưng mình:

- Ðau không? Hái bằng tay thôi. Chừng nào cần mới chặt. Anh coi đây nè.

Miên bước đến một cây đước khô gần đấy. Ðôi chân Miên hơi dạng ra, lấy thế đứng. Tay phải Miên nắm chặt thân cây, chỗ gần gốc. Miên giật gọn một cái, cây củi gãy đánh rắc. Lừa theo đà rơi của cây, Miên đặt nó vào một chỗ đất trống cho thuận đường vác xuống bờ sông. Ðôi chân Miên thoăn thoắt bước sang phải bước sang trái... Ðước gẫy răng rắc, lần lượt nằm chồng chất lên nhau. Mình nhìn theo bước Miên đi. Kể thì cô cũng giỏi đấy, luôn tay luôn chân không nghỉ. Một lát, Miên quay lại:

- Coi kìa! Làm đi chớ! Sao lại đứng từ bi chi phật vậy?

Mình mắc cỡ, vội bắt tay làm như Miên. Lúc đầu cũng hăng, bẻ được vài chục cây. Nhưng mình cứ hay nhìn lên, tìm tìm kiếm kiếm. Cây bé không muốn hái vì nghĩ rằng chẳng bõ công. Cây to lại cứng, giật không quen nó không gẫy. Phải lấy búa chặt. Chặt xong kéo xuống đất lại khó vì cành nhiều, chằng bên nọ níu bên kia. Có khi cây tươi trụi lá lại tưởng cây khô, sấn tới đẩy, nó quật trở về cho bật ngửa một cái nên thân! Càng làm càng thấy khó, mất tinh thần. Không khí trong rừng âm u, mùi hôi hám khó chịu. Thỉnh thoảng mình lại dừng, uốn éo vài cái cho giãn gân, không muốn cất tay nhấc chân lên nữa... Nào đâu ánh mặt trời soi như rẻ quạt? Nào đâu sóc nhảy lon ton? Chỉ có ba con mòng vo ve bay quanh, lâu lâu lại chích cho một cái nhảy nhổm! Còn muỗi đen thì thôi khỏi nói! Khắp mình râm ran, ngứa ngáy. Chỗ da mặt để hở sờ lên đã thấy mấy cục mận to. Mình cứ trông hết buổi cho xong, nghĩ rằng làm nhiều làm ít cũng là hai đứa, về nhà ai biết đấy là đâu bị tra khảo gì mà sợ.

Làm được khá lâu bỗng có tiếng Miên hú lên gọi mình xa xa. Mình đáp lại. Lát sau đã thấy bóng Miên, Miên cởi khăn rằn cầm tay làm quạt. Mấy sợi tóc mềm dán chặt trên trán mướt mồ hôi. Miên vừa lau cổ vừa tươi cười hỏi:

- Mệt chưa? Ðược bao nhiêu rồi?

Mình đưa mắt nhìn đống củi:

- Nội chỗ đó.

Miên sa sầm mặt xuống, nói như dằn vặt:

- Thiệt à? Anh làm gì nãy giờ? Có ngủ gục không?

Mình tự ái quá, cự ngay:

- Tôi chưa biết làm, làm ít. Ðừng có lên giọng thầy đời mà chửi khéo tôi.

Miên đỏ mặt lên, môi run run, mắt phát ra những tia giận dữ:

- Chửi anh thì tôi no béo gì? Sợ anh em ở nhà phải ăn cơm sống thêm một bữa nữa chớ!

Rồi Miên quay phắt người, quấn khăn lên đầu, thắt thật chặt và bước đi chẳng thèm ngó lại. Mình giận run lên. Giận đến tức thở. Con gái gì ăn nói như dùi đục chấm mắm!

Dùi đục thật! Nhưng mà là đục vào xương sống của mình! Cho nên sau đó mình phát lên làm bán sống bán chết. Mình hái củi rốp rốp. Cả đến những cây lúc nãy phải chặt bằng búa, lúc này bẻ một cái cũng gãy lọi. Mình quyết tâm làm cho thật nhiều để "xài" lại cô một phen chơi. Chuyện đời! Khi ý mình đã quyết thì khó cũng thành dễ. Tay chân quen dần, nhanh nhẹn thêm. Mắt tinh hơn. óc sáng ra. Từ cây nọ sang cây kia, từ chỗ đặt ôm củi này đến ôm củi khác... mình đều tính toán chi ly; mà chỉ trong nháy mắt. Chuyện ấy Miên làm thế nào bằng mình được. Bởi vậy chẳng bao lâu mà mình đã có năm đống củi. Mình dừng lại. Miệng như ống bễ thở phò phò. Mồ hôi ra ướt áo. Nhưng trong bụng thì hả lắm. Mình bỏ củi đấy chạy đi tìm Miên.

Nghe có tiếng chặt gỗ, mình mò đến. Miên đang đứng trước một thân vẹt to bằng ba vòng tay, to bằng cây bọn mình đang ngồi đây (Danh vỗ bộp bộp xuống lưng gỗ). ừ, đúng bằng này. Chân trái Miên đứng dưới đất, chân phải đè lên giữ chặt lấy cây cho nó khỏi lăn, hai tay cầm chót cán búa đưa lên cao chặt chếch xuống về bên trái. Mỗi nhát búa giáng vào gỗ lại có một tiếng "hự" kèm theo. Miên đã tháo tung khăn rằn ra. Trên thái dương, một dòng mồ hôi theo tóc mai chảy dài xuống má, đến tận cằm. Mái tóc ngắn cứ rũ xuống lại bị hất lên, không che nổi đôi má đỏ hây hây và bộ ngực căng đầy sức sống. Lưỡi búa sáng bay loang loáng nhịp nhàng. Cây gỗ sợ hãi kêu "cum, cum" vang cả một góc rừng. Nhìn Miên chặt gỗ, bao nhiêu cái giận của mình tan đâu mất. Mình gọi to:

- Miên đứng ra! Ðể đấy!

Mình nhổ nước bọt vào tay, chặt cật lực. Mảnh gỗ vàng phơn phớt liên tiếp văng ra. Miên chống búa quệt mồ hôi trán đứng nhìn mình và cô cười. à! Thế mới được chứ! Cô phục lăn chứ không à?

Miên bảo với mình là cây gỗ ấy có người đã đốn xuống nhưng không vác nổi nên bỏ đấy. Ðịnh chặt lấy một khúc dài độ ba thước mang về, chụm đượm và lợi hơn củi nhỏ gấp mấy lần.

Và Miên liếc nhìn mình, mỉm cười nói đùa:

- Lát nữa phải "hợp tác xã" lại mới khiêng nổi...

*
* *



Dứt xong đoạn gỗ thì mặt trời cũng gần đứng đầu, bọn mình trở về thuyền vì đã thấy đói. Bữa ăn thật là ngon: cơm nếp còn nóng với mắm lóc chưng, có hành, tiêu và tóp mỡ. Cơm xong, Miên rửa mặt chải đầu. Còn mình cứ nằm khoanh trên sạp thuyền mà hút thuốc lá. Nhìn lên, sương mù đã tan từ bao giờ. ánh nắng trưa ấm áp xuyên qua kẽ lá, cành cây, chiếu vào những quả vẹt đung đưa, mầu xanh loang loáng. Rễ đước dài nâu xám, to bằng ngón chân từng khúc nối nhau rủ xuống đầy mặt nước soi những chiếc đầu tròn. Con lạch mầu đỏ đục, cuồn cuộn phù sa. Thỉnh thoảng từ trên rừng một khe nước trong reo reo chảy xuống. Cá thòi lòi giương kỳ, giương mắt chạy xèn xẹt trên mặt nước như đánh thia lia. Quanh bộp dừa, ốc len bám đầy, quơ râu xanh xanh đỏ đỏ. Loáng loáng có vài con vọp lớn nằm phơi trên bãi chiếc vỏ mốc đen. Gió rung lá đước lào xào. Bọn mình cắm thuyền dưới bóng cây. ánh nắng vẽ trên áo bà ba của Miên những hoa vàng lốm đốm. Nói tóm lại với các cậu là "cảnh vật rất hữu tình".

Miên cảm hứng hò khe khẽ như cho mỗi mình mình nghe:

Vắng cơm năm bảy bữa anh không phiền
Vắng em một bữa anh đau liền tương tư
Tương tư đắp chiếu, trùm mền,
Mua con tép bạc nấu canh rau đền anh ăn

Các cậu biết không! Khi mình nghe Miên hò câu ấy thì có thể gọi là "chết được". Giọng Miên trong trẻo và tình tứ, nhẹ nhàng ngân vang trong lặng lẽ của rừng trưa. Mình cứ muốn nằm mãi trên thuyền mà nghe Miên hát. Khỏi cần dài dòng, chắc các cậu cũng rõ tình cảm của mình lúc ấy...

Chải đầu xong, Miên quay sang:

- Anh ngó ra trước đi. Tôi rửa chân một chút.

Mình bảo "được rồi!" và lấy nón lá úp lên mặt, cố nhắm mắt lại ngủ... Nhưng trời xui khiến một luồng gió thổi tới tốc nón rơi xuống sông rơi về phía sau. Mình nhổm dậy và thấy Miên đang duỗi chân phải ra với lấy nón. Cả đôi chân trắng nõn, nổi bật trên dòng nước hồng hồng..."

Kể đến đây Danh đột nhiên dừng lại hấp tấp xin thuốc lá. Một đứa trong bọn tôi vội vàng móc túi nhái đưa cho. Tay Danh run run quấn rất lâu không được một điếu. Tôi lấy làm lạ và đem hết sức mình tưởng tượng xem đôi chân trần ấy đẹp đến mức nào. Ðẹp vì đường nét hay đẹp về mầu da mà đã bảy năm nay rồi còn làm cho "Danh cua" của chúng tôi xúc động đến như thế được. Tôi đang phân vân thì Danh đã châm xong thuốc lá và tiếp tục câu chuyện:

"Sau đấy mình ngủ quên một lúc. Nghe động thuyền và có tiếng gì lộp cộp rơi xuống khoang, mình tỉnh giấc. Hóa ra là một đống vọp. Miên cất nón lá rồi gọi mình đi vác củi xuống thuyền. Thú thật, lúc đó mình buồn ngủ sật sừ, hết muốn ngồi dậy. Tay và nhất là bả vai đau ê ẩm. Những chỗ gai quào ở chân thấm rát. Ðôi chân nặng trình trịch như đeo đá, khó bề nhấc lên. Mình có cảm giác như tất cả máu trong người đều dồn hết xuống hai chân vậy. Miên nhìn mình có vẻ ái ngại:

- Ði đi anh. Vác hết củi rồi về chớ nằm đây hoài sao?

Mình nhớ lại "kinh nghiệm" ban sáng nên cố gắng mở mắt ra. Cứ kể sau khi làm mệt, được ăn no, ngủ một tý, thì cũng thích nằm đấy. Nhưng nghe Miên nói, mình nhớ lại mục đích cuối cùng của hai đứa là kiếm củi về cho anh em chứ có phải đi rừng chơi đâu, nên mình ngồi dậy bước lên bờ theo Miên.

Có lẽ mình ngủ cũng lâu vì Miên đã rút dây cóc kèn bó chặt hết các ôm củi. Mình khom người xuống, vác bó đầu tiên lên vai và theo đường trở lại bờ sông. Nói ra thì xấu hổ chứ quả là lúc ấy sợ thật. Mình nghĩ rằng cứ cho bẻ đước một ngày cũng không sợ bằng vác vài ba chuyến! Ðường xuống bến gần nhất là năm trăm thước.

Bó củi đè nặng vai đau buốt. Mỗi bước đi, chân lún sâu xuống sình rút lên thật khó, cứ ngã tó ngã xiêu. Khổ một nỗi nữa là bó củi dài, đường thì hẹp lại cong cong quẹo quẹo, vì cây rừng nó có mọc ngay hàng cho mình đi đâu. Bởi vậy cứ xoay bên này mắc cây, quay bên kia vướng rễ, lướng ca lướng cướng mãi. Ðau vai quá mình dựng ôm củi lên rồi đưa lưng vào cõng. Nhưng đi như thế thì đầu lại cúi xuống không trông thấy đường, có khi đâm sầm vào cây dội ngược. Vì vậy cứ đi chừng mười thước mình lại đặt xuống nghỉ. Gần đến bến, thấy Miên đã có hai đống củi rồi. Miên gọi to, nửa như khuyến khích nửa như chê trách:

- Cắn răng lại! Nín thở đi một hơi mới được nhiều! Cứ nhứt bộ nhứt bái thì tới tối cũng chưa xong đâu!

Mình đến nơi, hất củi xuống một cái "bịch" thở phào. Nếu có gương mà soi thì chắc mặt mũi bèo nhèo như con mèo ướt. Miên bụm miệng không dám cười lớn. Mình giận lắm, chẳng thèm nhìn cô, đứng lật áo xem vai. Nó đã đỏ ửng. Miên đến gần đặt tay lên vai mình. Cô chu mỏ lại giả vờ xuýt xoa:

- Ui cha! Tội nghiệp quá! Da giấy!

Rồi Miên bật cười khanh khách. Mình giận cành hông, quày quả bỏ đi lên. Miên đã kéo tay mình lại.

- Khoan đã! Ði khiêng khúc vẹt đi. Không chút nữa mệt, khiêng không nổi.

Mình không thèm trả lời cứ đi theo Miên. Hai đứa đến bên khúc củi. Miên ghé vai vào phía trước và ngồi chịu cây gỗ cho mình nâng phía sau lên.

Về sau, nhớ lại những khi Miên chịu nặng thay mình ấy, tim mình cứ nhói lên, yêu Miên không biết chừng nào? Nhưng lúc đó mình ngu dại quá, không hiểu được những chuyện bình thường như vậy... Tay phải Miên giữ cây gỗ trên vai, tay trái chống gối đứng dậy. Mình thấy đôi chân Miên run run. Hai đứa bước đi rất khó nhọc. Miên ngoẹo đầu sang một bên, cây gỗ sần sùi áp chặt vào má, cắn vào vai, mỗi bước đi, chân cứ phải xoạc ra loạng choạng. Mà mình thì chậm nên làm trở ngại cho Miên rất nhiều. Có khi Miên bước tới nhưng vì vướng mình nên phải bước lui. Miên nói hổn hển qua hơi thở:

- Nhanh lên! Anh chậm như rùa!

Lúc ấy tại sao đầu óc mình ngu xuẩn đến thế! Miên muốn làm cho chóng xong, đem củi về cho anh em. Còn mình thì muốn làm từ từ "cho khỏe cái thân một chút" nên nghe Miên gắt mình tự ái ghê lắm: "Lúc nào cũng nhanh lên, nhanh lên. Không thèm nhanh! Giỏi thì cứ nhanh đi!"

Tuy thế, cuối cùng hai đứa cũng đến bến. Mình muốn quẳng ngay khúc gỗ xuống cho rồi, nhưng Miên đã biết ý, nói trước:

- Ði luôn! Ðem luôn xuống!

Mình giận quá! "Không cho người ta nghỉ, cứ đi luôn, đi luôn! Bộ cẳng cây sao chớ?"

Lúc đó chân phải của Miên vừa bước xuống thuyền, chân trái còn trên bờ. Chiếc thuyền bị đẩy, lướt sào trôi dạt ra. Miên la lớn như đứt hơi:

- Bước tới! Nhanh lên!

Mình đã quen với tiếng "nhanh lên" của Miên nên cũng không chú ý lắm.

Và một chuyện đã xảy ra như trong mơ: Miên mất đà ngã dúi, cây gỗ từ trên rơi mạnh xuống, dưới là be thuyền ở giữa là chân phải của Miên. Mình chỉ nghe rắc một cái cùng với tiếng kêu:

- Trời ơi! Cái chân em!

Trong ánh nắng chiều, tiếng kêu đau đớn vang lên tận rừng già, vọng tới trời cao, âm thanh ào ào vang đi vọng lại!..."

Giọng Danh lạc hẳn không còn ra tiếng nữa. Tôi liếc nhìn sang, môi Danh mấp máy như một người sắp khóc. Danh tỳ hai cánh tay lên đùi, hai bàn tay vày vò lấy nhau, đầu cúi xuống như một phạm nhân đang nghe kêu án mình trước vành móng ngựa. Tôi rùng mình, khắp người gai ốc nổi lên. Một anh bạn đang mân mê bật lửa tự nhiên gõ thật mạnh vào cây gỗ chúng tôi đang ngồi. Bỗng đột nhiên Danh hỏi:

- Các cậu có bao giờ nỡ nhẫn tâm vô cớ mà vác cây gậy đánh gẫy chân một người vẫn yêu và lo lắng cho các cậu chưa? Lúc nghe Miên kêu lên, mình mang máng có ý nghĩ ấy. Ðúng thế không sai! Sau này mỗi lần ôn lại, lòng mình cứ như có một bầy quạ đang rỉa rói.

Mình nhớ khi đó chiếc thuyền trôi đi, lôi cả Miên theo, mình vội nhảy xuống như người mất hồn, gỡ chân Miên ra, xốc Miên từ dưới nước lên thuyền. Miên bị đau và sặc nước, ngất lịm đi. Mình để Miên tựa vào ngực, giật tóc mai gọi mãi mới tỉnh.

Vừa mở mắt ra, Miên đã nhổm dậy vén quần lên nhìn chân. Giữa ống chân còn hằn sâu đỏ bầm một vết be thuyền, thịt da không nở lại được. Miên dùng hai tay nhấc lên, phía dưới chân cứ oặt oà oặt oại. Miên giật thót mình, mặt nhăn rúm, mồ hôi và nước rừng đọng lại trên trán lấm tấm, đôi mắt Miên nhìn mình:

- Nó gãy thật rồi anh à!...

Trong câu nói của Miên có cái gì vừa oán trách vừa yêu thương, vừa xót xa, vừa nhẫn nhục. Miên ngoảnh mặt đi, nhìn mấy đống cây trên bờ, chặc lưỡi một cái nghe như xé ruột, xé gan. Mình vuốt tóc Miên an ủi, và định giúp Miên thay quần áo. Miên xua tay:

- Anh lên vác củi đi. Thay một mình được.

Mình không thiết gì củi nữa, đứng dậy ra phía sau nhổ sào chống thuyền đi. Nếu có thể hóa thành ngựa mà chạy được thì mình cũng vui lòng làm ngay để chóng đưa Miên đến nhà.

- Quay lại! Tôi bảo anh xuống củi mà!

Miên hét to quá đến nỗi chiếc sào tụt khỏi tay mình rơi đánh chát trên mặt nước. Mình giật bắn người, cúi nhặt chiếc sào lên. Các cậu ạ, mình đã hiểu Miên rồi và nghĩ rằng phải đem hết củi về dù có gục tại đây cũng được. Mình cắm thuyền thật chặt và nhảy lên bờ, vút đi, vừa vác củi vừa chạy không còn kể gì gai góc nữa.

*
* *






Dứt xong đoạn gỗ thì mặt trời cũng gần đứng đầu, bọn mình trở về thuyền vì đã thấy đói. Bữa ăn thật là ngon: cơm nếp còn nóng với mắm lóc chưng, có hành, tiêu và tóp mỡ. Cơm xong, Miên rửa mặt chải đầu. Còn mình cứ nằm khoanh trên sạp thuyền mà hút thuốc lá. Nhìn lên, sương mù đã tan từ bao giờ. ánh nắng trưa ấm áp xuyên qua kẽ lá, cành cây, chiếu vào những quả vẹt đung đưa, mầu xanh loang loáng. Rễ đước dài nâu xám, to bằng ngón chân từng khúc nối nhau rủ xuống đầy mặt nước soi những chiếc đầu tròn. Con lạch mầu đỏ đục, cuồn cuộn phù sa. Thỉnh thoảng từ trên rừng một khe nước trong reo reo chảy xuống. Cá thòi lòi giương kỳ, giương mắt chạy xèn xẹt trên mặt nước như đánh thia lia. Quanh bộp dừa, ốc len bám đầy, quơ râu xanh xanh đỏ đỏ. Loáng loáng có vài con vọp lớn nằm phơi trên bãi chiếc vỏ mốc đen. Gió rung lá đước lào xào. Bọn mình cắm thuyền dưới bóng cây. ánh nắng vẽ trên áo bà ba của Miên những hoa vàng lốm đốm. Nói tóm lại với các cậu là "cảnh vật rất hữu tình".
Miên cảm hứng hò khe khẽ như cho mỗi mình mình nghe:

Vắng cơm năm bảy bữa anh không phiền
Vắng em một bữa anh đau liền tương tư
Tương tư đắp chiếu, trùm mền,
Mua con tép bạc nấu canh rau đền anh ăn

Các cậu biết không! Khi mình nghe Miên hò câu ấy thì có thể gọi là "chết được". Giọng Miên trong trẻo và tình tứ, nhẹ nhàng ngân vang trong lặng lẽ của rừng trưa. Mình cứ muốn nằm mãi trên thuyền mà nghe Miên hát. Khỏi cần dài dòng, chắc các cậu cũng rõ tình cảm của mình lúc ấy...

Chải đầu xong, Miên quay sang:

- Anh ngó ra trước đi. Tôi rửa chân một chút.

Mình bảo "được rồi!" và lấy nón lá úp lên mặt, cố nhắm mắt lại ngủ... Nhưng trời xui khiến một luồng gió thổi tới tốc nón rơi xuống sông rơi về phía sau. Mình nhổm dậy và thấy Miên đang duỗi chân phải ra với lấy nón. Cả đôi chân trắng nõn, nổi bật trên dòng nước hồng hồng..."

Kể đến đây Danh đột nhiên dừng lại hấp tấp xin thuốc lá. Một đứa trong bọn tôi vội vàng móc túi nhái đưa cho. Tay Danh run run quấn rất lâu không được một điếu. Tôi lấy làm lạ và đem hết sức mình tưởng tượng xem đôi chân trần ấy đẹp đến mức nào. Ðẹp vì đường nét hay đẹp về mầu da mà đã bảy năm nay rồi còn làm cho "Danh cua" của chúng tôi xúc động đến như thế được. Tôi đang phân vân thì Danh đã châm xong thuốc lá và tiếp tục câu chuyện:

"Sau đấy mình ngủ quên một lúc. Nghe động thuyền và có tiếng gì lộp cộp rơi xuống khoang, mình tỉnh giấc. Hóa ra là một đống vọp. Miên cất nón lá rồi gọi mình đi vác củi xuống thuyền. Thú thật, lúc đó mình buồn ngủ sật sừ, hết muốn ngồi dậy. Tay và nhất là bả vai đau ê ẩm. Những chỗ gai quào ở chân thấm rát. Ðôi chân nặng trình trịch như đeo đá, khó bề nhấc lên. Mình có cảm giác như tất cả máu trong người đều dồn hết xuống hai chân vậy. Miên nhìn mình có vẻ ái ngại:

- Ði đi anh. Vác hết củi rồi về chớ nằm đây hoài sao?

Mình nhớ lại "kinh nghiệm" ban sáng nên cố gắng mở mắt ra. Cứ kể sau khi làm mệt, được ăn no, ngủ một tý, thì cũng thích nằm đấy. Nhưng nghe Miên nói, mình nhớ lại mục đích cuối cùng của hai đứa là kiếm củi về cho anh em chứ có phải đi rừng chơi đâu, nên mình ngồi dậy bước lên bờ theo Miên.

Có lẽ mình ngủ cũng lâu vì Miên đã rút dây cóc kèn bó chặt hết các ôm củi. Mình khom người xuống, vác bó đầu tiên lên vai và theo đường trở lại bờ sông. Nói ra thì xấu hổ chứ quả là lúc ấy sợ thật. Mình nghĩ rằng cứ cho bẻ đước một ngày cũng không sợ bằng vác vài ba chuyến! Ðường xuống bến gần nhất là năm trăm thước.

Bó củi đè nặng vai đau buốt. Mỗi bước đi, chân lún sâu xuống sình rút lên thật khó, cứ ngã tó ngã xiêu. Khổ một nỗi nữa là bó củi dài, đường thì hẹp lại cong cong quẹo quẹo, vì cây rừng nó có mọc ngay hàng cho mình đi đâu. Bởi vậy cứ xoay bên này mắc cây, quay bên kia vướng rễ, lướng ca lướng cướng mãi. Ðau vai quá mình dựng ôm củi lên rồi đưa lưng vào cõng. Nhưng đi như thế thì đầu lại cúi xuống không trông thấy đường, có khi đâm sầm vào cây dội ngược. Vì vậy cứ đi chừng mười thước mình lại đặt xuống nghỉ. Gần đến bến, thấy Miên đã có hai đống củi rồi. Miên gọi to, nửa như khuyến khích nửa như chê trách:

- Cắn răng lại! Nín thở đi một hơi mới được nhiều! Cứ nhứt bộ nhứt bái thì tới tối cũng chưa xong đâu!

Mình đến nơi, hất củi xuống một cái "bịch" thở phào. Nếu có gương mà soi thì chắc mặt mũi bèo nhèo như con mèo ướt. Miên bụm miệng không dám cười lớn. Mình giận lắm, chẳng thèm nhìn cô, đứng lật áo xem vai. Nó đã đỏ ửng. Miên đến gần đặt tay lên vai mình. Cô chu mỏ lại giả vờ xuýt xoa:

- Ui cha! Tội nghiệp quá! Da giấy!

Rồi Miên bật cười khanh khách. Mình giận cành hông, quày quả bỏ đi lên. Miên đã kéo tay mình lại.

- Khoan đã! Ði khiêng khúc vẹt đi. Không chút nữa mệt, khiêng không nổi.

Mình không thèm trả lời cứ đi theo Miên. Hai đứa đến bên khúc củi. Miên ghé vai vào phía trước và ngồi chịu cây gỗ cho mình nâng phía sau lên.

Về sau, nhớ lại những khi Miên chịu nặng thay mình ấy, tim mình cứ nhói lên, yêu Miên không biết chừng nào? Nhưng lúc đó mình ngu dại quá, không hiểu được những chuyện bình thường như vậy... Tay phải Miên giữ cây gỗ trên vai, tay trái chống gối đứng dậy. Mình thấy đôi chân Miên run run. Hai đứa bước đi rất khó nhọc. Miên ngoẹo đầu sang một bên, cây gỗ sần sùi áp chặt vào má, cắn vào vai, mỗi bước đi, chân cứ phải xoạc ra loạng choạng. Mà mình thì chậm nên làm trở ngại cho Miên rất nhiều. Có khi Miên bước tới nhưng vì vướng mình nên phải bước lui. Miên nói hổn hển qua hơi thở:

- Nhanh lên! Anh chậm như rùa!

Lúc ấy tại sao đầu óc mình ngu xuẩn đến thế! Miên muốn làm cho chóng xong, đem củi về cho anh em. Còn mình thì muốn làm từ từ "cho khỏe cái thân một chút" nên nghe Miên gắt mình tự ái ghê lắm: "Lúc nào cũng nhanh lên, nhanh lên. Không thèm nhanh! Giỏi thì cứ nhanh đi!"

Tuy thế, cuối cùng hai đứa cũng đến bến. Mình muốn quẳng ngay khúc gỗ xuống cho rồi, nhưng Miên đã biết ý, nói trước:

- Ði luôn! Ðem luôn xuống!

Mình giận quá! "Không cho người ta nghỉ, cứ đi luôn, đi luôn! Bộ cẳng cây sao chớ?"

Lúc đó chân phải của Miên vừa bước xuống thuyền, chân trái còn trên bờ. Chiếc thuyền bị đẩy, lướt sào trôi dạt ra. Miên la lớn như đứt hơi:

- Bước tới! Nhanh lên!

Mình đã quen với tiếng "nhanh lên" của Miên nên cũng không chú ý lắm.

Và một chuyện đã xảy ra như trong mơ: Miên mất đà ngã dúi, cây gỗ từ trên rơi mạnh xuống, dưới là be thuyền ở giữa là chân phải của Miên. Mình chỉ nghe rắc một cái cùng với tiếng kêu:

- Trời ơi! Cái chân em!

Trong ánh nắng chiều, tiếng kêu đau đớn vang lên tận rừng già, vọng tới trời cao, âm thanh ào ào vang đi vọng lại!..."

Giọng Danh lạc hẳn không còn ra tiếng nữa. Tôi liếc nhìn sang, môi Danh mấp máy như một người sắp khóc. Danh tỳ hai cánh tay lên đùi, hai bàn tay vày vò lấy nhau, đầu cúi xuống như một phạm nhân đang nghe kêu án mình trước vành móng ngựa. Tôi rùng mình, khắp người gai ốc nổi lên. Một anh bạn đang mân mê bật lửa tự nhiên gõ thật mạnh vào cây gỗ chúng tôi đang ngồi. Bỗng đột nhiên Danh hỏi:

- Các cậu có bao giờ nỡ nhẫn tâm vô cớ mà vác cây gậy đánh gẫy chân một người vẫn yêu và lo lắng cho các cậu chưa? Lúc nghe Miên kêu lên, mình mang máng có ý nghĩ ấy. Ðúng thế không sai! Sau này mỗi lần ôn lại, lòng mình cứ như có một bầy quạ đang rỉa rói.

Mình nhớ khi đó chiếc thuyền trôi đi, lôi cả Miên theo, mình vội nhảy xuống như người mất hồn, gỡ chân Miên ra, xốc Miên từ dưới nước lên thuyền. Miên bị đau và sặc nước, ngất lịm đi. Mình để Miên tựa vào ngực, giật tóc mai gọi mãi mới tỉnh.

Vừa mở mắt ra, Miên đã nhổm dậy vén quần lên nhìn chân. Giữa ống chân còn hằn sâu đỏ bầm một vết be thuyền, thịt da không nở lại được. Miên dùng hai tay nhấc lên, phía dưới chân cứ oặt oà oặt oại. Miên giật thót mình, mặt nhăn rúm, mồ hôi và nước rừng đọng lại trên trán lấm tấm, đôi mắt Miên nhìn mình:

- Nó gãy thật rồi anh à!...

Trong câu nói của Miên có cái gì vừa oán trách vừa yêu thương, vừa xót xa, vừa nhẫn nhục. Miên ngoảnh mặt đi, nhìn mấy đống cây trên bờ, chặc lưỡi một cái nghe như xé ruột, xé gan. Mình vuốt tóc Miên an ủi, và định giúp Miên thay quần áo. Miên xua tay:

- Anh lên vác củi đi. Thay một mình được.

Mình không thiết gì củi nữa, đứng dậy ra phía sau nhổ sào chống thuyền đi. Nếu có thể hóa thành ngựa mà chạy được thì mình cũng vui lòng làm ngay để chóng đưa Miên đến nhà.

- Quay lại! Tôi bảo anh xuống củi mà!

Miên hét to quá đến nỗi chiếc sào tụt khỏi tay mình rơi đánh chát trên mặt nước. Mình giật bắn người, cúi nhặt chiếc sào lên. Các cậu ạ, mình đã hiểu Miên rồi và nghĩ rằng phải đem hết củi về dù có gục tại đây cũng được. Mình cắm thuyền thật chặt và nhảy lên bờ, vút đi, vừa vác củi vừa chạy không còn kể gì gai góc nữa.

*
* *

Thuyền củi của chúng mình ra đến trạm gác Vàm Ðầm thì mặt trời đã lặn. Miên bắt buộc mình phải đậu lại nấu cơm ăn để lấy sức mà về. Mình không dám cãi đành cõng Miên lên bờ, trải chiếu, lót chăn màn cho Miên nằm, rồi đi nhóm lửa...

Gió đầu đêm thổi lạnh. Trăng mọc đã cao tỏa ánh sáng trên dòng sông, trên ngọn đước. Mình đến, muốn chăm sóc Miên. Nhưng Miên nhất định không cho và bảo đi lấy vọp nướng ăn. Mình làm theo cho Miên vui lòng chứ các cậu nghĩ xem ai còn bụng dạ nào mà ăn uống nữa. Vọp chín, Miên gọi mình đem lại và móc ba lô lấy ra một gói muối tiêu. Miên nhìn mình ăn, mắt ánh lên một niềm vui, và miệng mỉm một nụ cười như sắp khóc:

- Ngọt không anh? Tiếc quá! Em tính xuống củi xong đi hái trái giác, mai về cho các đồng chí ăn canh vọp.

Nghe câu hỏi ấy, con vọp ngọt và nóng chạy ngang cổ mình bỗng tắc lại. Mình như nghẹt thở. Mắt mở trừng trừng nhìn xuống dòng sông. Những sự việc trong ngày lại hiện hết trong đầu óc mình nhanh trong chớp mắt. Nhớ nhất là lúc Miên hét bảo mình quay lại xuống củi. Bây giờ nhiều đêm hễ nhắm mắt thì hình ảnh Miên lúc ấy cứ nổi lên, hằn sâu trong ký ức: Miên nằm nghiêng về một bên, chống thẳng trên cánh tay trái, người dướn cao lên, tay phải nắm chặt lại trỏ về phía trước. Thật chẳng khác gì người chỉ huy dũng cảm bị thương đang giục giã những ai còn bo bo lo cho cái "bổn mạng" của mình, hãy nghe lệnh xông lên đạt mục đích cuối cùng:

- Quay lại! Tôi bảo anh xuống củi mà!!!

Mình nhớ đôi mắt Miên sắc lại, lóe sáng lên. Nó đảo lộn cả tâm trí mình, và cứ ánh mãi, ánh mãi như những gợn sóng lưỡi búa vàng đang lấp lánh trên mặt sông kia vậy..."

Danh ngừng chuyện đằng hắng mấy cái, rồi lấy tay vuốt mớ tóc "cua" không nói nữa. Tôi chẳng có ý định an ủi gì nhưng tự nhiên cứ cầm lấy tay Danh. Tôi mân mê những vết chai cứng cứng giữa lòng bàn tay còn thơm mùi dầu máy như vẫn thường mân mê những chiếc pít-tông sáng loáng đã qua mấy nghìn vòng máy tiện. Danh cứ ngồi lặng im. Cuối cùng không chịu được, tôi phải hỏi:

- Chân Miên sau rồi ra sao?

Danh ngước nhìn lên trời như sợ rơi cái gì trong khóe mắt. Một lúc Danh mới đáp:

- Sau rồi phải cưa đi. Cưa ngang đây.

Danh vén quần lên, bàn tay trái đưa ngang qua ống chân phải, chỗ gần đầu gối:

- Vì hoàn cảnh kháng chiến, thiếu thuốc, thiếu thầy, chạy chữa không khỏi.

Trong bọn tôi, có một tiếng thở dài đau như rứt thịt.

Tôi buột miệng hỏi:

- Thế Miên đã có chồng chưa?

- Có chồng rồi.

- Có con chưa?

- Có con rồi.

Như lúc đầu. Danh lại moi moi lục lục cái túi áo và móc ví chìa cho chúng tôi xem một bức ảnh:

- Vợ mình đây này...

Tôi đánh diêm lên. Giấy ảnh cũ, sờn cả góc, nhưng ánh lửa chập chờn vẫn soi được rõ ràng một người con gái tóc ngắn, miệng cười rất xinh, đang bế một chú bé con bụ bẫm. Bức ảnh không chụp đến chân. Lật phía sau có mấy dòng chữ:

"Anh ra bắc ráng làm. Ðừng quên mẹ con em."

Dưới ký tên Miên và đề tháng 11 năm 1954.

Trả lại Danh tấm ảnh, bọn chúng tôi lặng lẽ ngồi sát vào nhau. Gió cứ dứt dây điện kêu hoài, vi vu, vi vu.

Tận dưới xa kia, dòng sông Hồng vẫn trôi xuôi lấp lánh...

1958


Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Ngày Tết về thăm quê

Nguyễn Khải

Hôm ấy là ngày 29 Tết, những ngày cuối chạp u ám, buốt giá và buồn tẻ. Tôi từ bến đò qua đê đi tắt ruộng xiên chéo một đường thẳng đến tận đầu làng. Bốt Chi Ðiền cách làng năm mươi thước. Ngày tôi đi bốt mới xây xong, có bốn lô-cốt chìm, một lô-cốt nổi cao ba bốn tầng, trên mỏm bắc một khẩu đại liên, bây giờ cỏ mọc xung quanh bốt xanh um, dây thép gai gỡ dỡ cuộn lại từng đống nhớn nhỏ, tầng trên cùng của lô-cốt nổi sạt đi đâu mất, tường chằng chịt vết đạn. Cây gạo cổng làng đã đây rồi, nhưng rõ là không phải cây gạo ngày xưa mà bóng cây che tối cả mấy khoảnh ruộng, trâu bò buộc dưới gốc đen kín, mùa đình đám thì kết nụ, cuối xuân hoa nở đỏ rực như đốt lửa, bây giờ các cành của nó đã bị ai tiện cụt, chỉ còn trơ lại một cái thân chọc thẳng, trùi trũi. Làng tôi rất nhỏ, chỉ có hơn trăm nóc nhà, phong cảnh chẳng có gì đáng để ý, nhân dân chỉ còn hãnh diện ở ngôi đình Cả và lai lịch của ông Thành hoàng. Tục truyền, tám ông Thành hoàng ở vùng này là tám anh em do một mẹ đẻ ra. Ông Thành hoàng làng tôi là anh Cả. Trong đám rước, long đình ông Cả đi đầu, cao nhất, đẹp nhất. Trong làng không có nhà nào có đến năm mẫu ruộng, nhưng mọi người đều tự hào: tuy nghèo kiết nhưng vẫn là nền anh. Những tay đầu bò đầu biếu say rượu đi cà khịa đánh nhau với người thôn bạn phần nhiều họ đều nhường cả. Nhưng cái điều đáng tự hào nhất của dân làng bây giờ cũng không còn nữa. Ngôi đình Cả tiều tụy không khác gì một túp lều rách, hai đầu hồi đình bị đại bác phá tung, mái ngói tróc nham nhở như người đánh vẩy cá. Vào trong làng cảnh tượng càng chán ngán hơn, chỉ thấy những tường đất xếp ngổn ngang, những túp rạ co kéo, tranh giành nhau, những bụi tre mới nhú phờ phạc và từ khối hỗn độn ấy xông lên mùi ẩm ướt, hôi mốc. Ðến chỗ rẽ về ngõ nhà tôi có một chị to béo, khăn vuông che gần kín mặt, từ đám ruộng cấy cần bước lên đi trước tôi vài bước. Trông dáng người tôi nhận ngay ra chị Vườn. Tôi mừng quá bước nhanh đến ngang chị khẽ hỏi:

- Chị vẫn khỏe!

Chị dừng lại nhìn tôi thoáng một cái rồi trả lời:

- Các anh về chơi. Cảm ơn anh tôi vẫn khỏe.

Rồi chị cắp rổ cần bước ngoắt đi. Biết là chưa nhận được ra tôi, tôi vừa cười vừa gọi lại:

- Chị Vườn ơi, tôi đây mà!

Lập tức chị quay phắt lại, nhìn tôi một lần nữa rồi kêu lên:

- Anh Cu phải không?... Thế mà không nói ngay, cứ ngỡ là ông khách nào.

Tôi nhìn chị:

- Trông tôi lạ lắm à. Chị thì vẫn như xưa.

Chị Vườn cứ đứng ngắm tôi từ đầu đến chân, miệng tủm tỉm cười:

- Cao lớn quá. Thoáng trông không thể nào nhận ra. Mới ngày nào nhỉ... à, để tôi gọi ông Kinh cho ông ấy mừng.

Thế là chị cắp cả rổ cần, quần vẫn để xắn đến bẹn, chân đầy bùn, chạy vào ngõ nhà tôi, réo ầm ĩ:

- ối ông Kinh ơi! Anh Cu về kia kìa. Ra mà nhận mặt ông em!...

Ngày tôi đi bộ đội chỉ có ủy ban xã biết, còn đến anh tôi cũng không hay (thầy u tôi mất sớm, từ ngày bé tôi vẫn ở với anh). Năm ấy chị Vườn là thôn đội phó du kích. Chị cho quần áo của tôi vào cái thúng khảo đội lên đầu đi qua bốt, còn tôi tay cầm thuổng, lưng đeo giỏ như người đi đào chuột đi tắt ruộng đón đường. Khi chia tay, chị nắm lấy tay tôi dặn: "Nhớ đến thù làng mà giết cho nhiều Tây nhé!". Hôm nay lại gặp chị và tôi tự xét không đến nỗi hổ thẹn với lời dặn của chị năm xưa. Anh tôi đương phát rào ở ngõ, nghe nói em về vứt cả dao, chạy ra đón. Thấy tôi, anh ôm chầm ngay lấy, vừa khóc, vừa nói:

- Chú Cu về đấy à. Anh tưởng chú lại đi mãi đâu rồi... Sao chẳng chịu thư từ gì cho nhà biết cả.

Tôi nhìn lại anh tôi, sao anh có thể già đến thế. Ngày tôi đi anh cao lớn hơn nhiều, tính lại nghiêm nên tôi càng thấy mình bé bỏng, trẻ con. Bây giờ râu anh mọc sồm soàm, người choắt lại, đứng chỉ có đến tai tôi, mặc cái áo bông rách, quần ống thấp ống cao trông càng tiều tụy. Anh thấy tôi to lớn, đĩnh đạc khác xưa nên cứ luẩn quẩn đi bên cạnh, nói đi nói lại:

- Chú, chú khỏe chứ. Thật không ngờ Tết này chú lại về.

Bà chị dâu đi chợ vắng, các cháu đứa đi cấy, đứa đi học. Hai anh em vừa nói với nhau được vài câu chuyện thì người kéo vào đã đầy nhà, vừa họ hàng, vừa hàng xóm láng giềng nghe tin tôi về nên chạy lại xem mặt. Tôi lấy ở trong ba-lô ra một gói kẹo, một bao thuốc lá, mời từng người, trẻ con thì ăn kẹo, các cụ, các ông hút thuốc, còn các bà, các chị cứ mủm mỉm cười: "Gớm, anh Cu bây giờ giàu nhỉ. Mua quà đãi khắp làng". Mọi người đều khen tôi to lớn, trắng trẻo, đẹp trai hơn ngày ở nhà, và hỏi tôi đã xây dựng gia đình ở đâu chưa, có định cưới vợ ở làng không để còn liệu manh mối, chị Vườn lúc ấy mới nói thật:

- Ngày anh đi trông người cứ bé choắt, tôi cứ chắc mẩm thế nào cũng phải về lộn. Năm ấy anh mới mười bảy nhỉ?... Ai ngờ...

Tôi nói:

- Nhờ có chị khuyến khích tôi, lại mang giúp quần áo nên nay tôi mới trở thành người bộ đội. Ơn chị tôi vẫn nhớ.

Chị vẫn cười to như xưa:

- Ai dám nhận ơn của anh. Bây giờ anh là anh hùng quân đội, đi đây đi đó người ta hỏi quê anh ở đâu thì trả lời quê tôi ở làng Chi Ðiền, huyện Nam Sách, như thế cũng đủ mát mặt chúng tôi rồi.

Trong khi nói chuyện tôi để ý ở góc cửa có một chị trông rất quen mặt, nhìn vài ba lần thì nhận ngay ra là cái Miều, con ông anh họ. Ngày trước, tôi với nó vẫn đi cắt cỏ trâu với nhau, nó mới mười bốn tuổi mà cao hơn tôi cái chỏm đầu, nhưng chỉ được cái lưng dài còn làm ăn đến đuểnh đoảng. Có hôm gánh cỏ về, đường mưa trơn, nó cứ bấm chân xuống đất không dám bước, rồi khóc hu hu. Tôi tức mình mắng nó: "Người cứ đuỗn như con cá rô đực, gánh có gánh cỏ mà cũng khóc, mày thì rồi chó nó lấy". Rồi tôi san một nửa gánh cỏ của nó sang tôi. Bây giờ nó lại có vẻ thấp hơn trước, người béo đỏ mập mạp, trông đẹp gái và gọn ghẽ, lại thấy nó bế một thằng bé chừng lên hai, lên ba tuổi. Tôi hỏi nó:

- Cái Miều đấy hử?

Nó nói như dỗi:

- Giờ chú mới nhận ra cháu đấy à. Sao chóng quên thế.

Tôi chống chế:

- Quên đâu mà quên... Mày bế con ai thế?

Nó toét miệng cười. Tôi gắt:

- Cười cái gì. Con ai đấy?

Nó ngoảnh mặt đi, lấy tay che mặt, tiếng cười càng to.

Anh tôi bảo tôi:

- Con nó đấy. Con lên ba rồi. Rõ chú với cháu.

Lúc ấy nó cũng đặt thằng bé xuống, đun vào giữa nói:

- Vào với ông, ông đấy, vào ông cho kẹo.

Tôi đưa cho đứa bé một cái kẹo, định bế nó, nhưng nó quay ngoắt ra ôm lấy cổ mẹ đu lên, rồi quay lại nhìn tôi lấm lét:

- Anh bộ đội, anh bộ đội cho kẹo...

Miều ôm lấy con phát vào đít:

- Láo, ông mày đấy... ra lạy ông đi. Lạy ông... ạ... Cháu là con mẹ Miều cháu đấy ạ...

Mọi người cười ầm lên. Bỗng vòng người ngồi ở hè giãn ra nhường lối cho một ông cụ tóc bạc phơ bước vào. Tôi nhìn lên: kìa chú tôi. Tôi đứng dậy đỡ lấy chú.

- Lạy chú, chú sang chơi.

Chú tôi năm nay phải hơn tám mươi tuổi. Trước ngày tuy tôi làm ăn ở nhà anh, nhưng đêm đêm lại vác chiếu sang nhà chú ngủ. Chú thương tôi mồ côi bố mẹ, lại làm ăn vất vả nên rất chiều. Chú chỉ có một người con trai ra làm trưởng thôn được hai năm thì bị địch bắt đem dìm chết ở ngay cái giếng xóm trên. Thằng Thâm là cháu nội nhưng lại phải đi ở cho người làng khác, đêm đến chỉ có hai chú cháu tôi ngủ ở nhà. Chú nằm gác chân lên tôi kể chuyện làm ăn chán rồi lại lẩy kiều, hát chầu văn cho nghe. Người chú rất lắm rận, đêm rận bò sang tôi đốt cứ ngoay ngoáy, gãi đến phát ghẻ, nhưng không đêm nào tôi không mò sang đấy ngủ để được chú ủ ấp, an ủi. Chú nhìn tôi rất lâu, mắt nhấp nháy, rồi đưa tay lên quệt nước mắt, mãi mới nói được: Tao tưởng mày bỏ làng rồi đấy. Mày ghét chúng tao lắm phải không? Cứ đi biền biệt như người giận dỗi cái gì...

Thấy chú khóc, tôi cũng ứa nước mắt. Chú lại lẩm bẩm:

- Sao cũng may tao còn sống để được trông thấy mày.

Rồi chú hỏi tôi:

- Bây giờ mày đổi tên là Ðức Song phải không. Song hay là Sang. Tao thấy ảnh chụp anh hùng Ðặng Ðức Song thì đúng là mày. Anh tôi đỡ lời:

- Chú nó đấy ạ. Hồi ở nhà chú ấy cũng đã đổi là Song rồi nhưng không ai gọi.

Tên tôi ngày bé là Sang, song vì trùng tên với con cháu nên người làng cứ gọi tôi là anh Cu. Sau anh tôi phải đổi tên tôi là Song. Ra bộ đội tôi mới thêm chữ Ðức đệm giữa: Ðức Song.

Cái Miều đứng ở ngoài nói chõ vào:

- Chốc nữa chú Song ra mà xem ảnh chú treo ở phòng thông tin ấy. Ðẹp, đẹp là... tha hồ mà đắt vợ.

Tôi phải lườm nó một cái nó mới chịu ngồi thụp xuống nhưng vẫn cười rúc rích.

*
* *

Bữa cơm trưa 29 đã có mùi vị Tết. Dưa nén, hành nén, thịt gà luộc. ¡n xong tôi sửa soạn định lên đình gặp ủy ban thì có tiếng nói từ ngoài cổng:

- Chú Song còn ở nhà không?

Tôi ngó ra thấy thằng Thâm bế con đi vào sân. Thấy tôi nó chạy vội lên hè, cầm lấy tay tôi lắc lắc:

- Ôi, chú hơn tuổi cháu mà chú còn trẻ quá, cháu hóa già hơn chú rồi.

Tôi nhìn lại quả nó biến đổi nhiều quá. Ngày trước nó vào loại đẹp trai của làng, có bộ ngực nở và hai cánh tay rắn chắc. Nhiều cô mê nó cứ đi mua thuốc lào biếu nó hút. Thành thử nó là tay nghiện nặng, tiền không mất một xu mà vẫn có thuốc hút quanh năm. Nay nó già hơn tôi thật, tóc lờm sờm, gò má nhô lên xanh nhợt, mắt trũng sâu lờ đờ.

Nói chuyện được một lát, tự nhiên nó bảo tôi:

- Cái Cún con nó lấy chồng rồi chú ạ.

Tôi cười:

- Mới lấy à?

- Lấy nhau cũng được hơn ba năm rồi, đã gần có ba con.

Tôi chép miệng.

- Nhanh nhỉ.

Thâm nhìn tôi, rồi hắn nói hơi buồn buồn:

- Kể ra ngày con gái cô ấy cũng đẹp thật, cháu đã định ướm hỏi đám ấy đấy, nhưng... sau nghĩ là của chú nên cháu lại thôi.

Tôi đỏ mặt:

- Ai bảo mày thế, bạn chăn trâu thôi, chứ đã có tình ý gì đâu.

Thâm càng có vẻ tiếc rẻ:

- Cháu cũng nghĩ như vậy, vì từ ngày chú đi chẳng gửi về cho cô ấy lá thư nào cả. Nếu có vấn đề gì thì ít ra cũng phải có hứa hẹn với nhau chứ... thôi việc nó cũng đã qua rồi.

Thâm bế con cùng lên đình với tôi. ở đình có lớp học ngắn ngày của các cán bộ trong toàn xã, gồm những người bị xử trí oan vừa được trả lại tự do và anh chị em cốt cán trong cải cách. Tôi vừa bước vào sân đình thì ông Hợp thoáng trông thấy tôi. Ông ngừng nói chuyện rồi chạy ra:

- Chú Song, chú đã về chơi đấy ư?

Trông ông vẫn như xưa, cái mũ nồi rách ở chỏm để lòi cả tóc, một mắt bị kéo màng trắng, còn một mắt rất tinh nhanh, hàm răng trên vàng khè ám khói thuốc lào, hơi nhô ra, khi cười rất độ lượng và hiền lành. Ông nắm tay tôi hỏi:

- Chú được về chơi bao nhiêu hôm?

Khi biết tôi được về phép có một tuần, ông chặc lưỡi:

- Kể ra xa nhà năm sáu năm về chơi được có một tuần thì cũng còn ít. Nhưng nhiệm vụ quân đội thì...

Rồi ông lôi tôi vào trong đình, mọi người xôn xao lên: "Kìa anh Cu, nghe tin về từ sáng kia mà". "Trông chững chạc nhỉ". Ông Hợp tươi cười đun tôi ra phía trước giới thiệu:

- Tôi xin giới thiệu một người của làng ta, một người làm vinh dự cho quê hương ta là đồng chí Ðặng Ðức Song, Anh hùng quân đội... Ðồng chí...

Ông chưa nói hết mọi người đều đứng dậy vỗ tay hoan hô. Tôi liếc nhìn thoang thoáng toàn là những cán bộ cũ của xã, có thêm ít người mới, chắc là anh em cốt cán. Ông ra hiệu im lặng, rồi nói tiếp:

- Ðồng chí Song là anh hùng Ðiện Biên Phủ, nghĩa là có rất nhiều chuyện về Ðiện Biên. Tôi đề nghị hôm nào Tết ra xã sẽ tổ chức cho đồng chí Song nói chuyện với bà con trước khi về đơn vị.

Sau ông dắt tôi xuống nhà dưới nói chuyện. Tôi móc túi lấy bao thuốc lá để trên bàn. Ông nheo mắt, bóc thuốc lá cười:

- Ðộ này cũng hút thuốc lá kia à?

- Không, ngày Tết thì mua về vài bao hút cho vui.

- Thế nào, chú còn nhớ những chuyện hồi còn kháng chiến không. Tôi vẫn nhớ ơn chú đấy nhé. Lắm lúc nghĩ lại thấy mình còn sống được đến bây giờ kể cũng giỏi thật.

Nhân vui chuyện ông nhắc lại thời kỳ hoạt động cũ. Hồi ấy ông là bí thư của chi bộ Ðảng ở xã, nhiều ngày ông đến nằm ngay trong buồng nhà anh tôi để nắm tình hình lính bốt. Những ngày ấy, tôi cứ chăn trâu luẩn quẩn bên ngoài, đến bữa cơm lại đưa cơm vào, có động làm hiệu báo. Có hôm ông mót đái quá liền đục một lỗ nhỏ ở vách sau cho nước tiểu thông ra, ai ngờ nước chảy xuống nền nhà không thấm ngay mà lại kéo thành một đường thẳng chạy ra vườn. Tôi chợt đến thấy thế vội vàng lấy tro đổ lên rồi quét đi, vừa xong thì bọn lính bốt sục tới. Sau biết chuyện ông Hợp cứ khen mãi: "Thắng Song nó bé mà lại tinh khôn hơn mình, suýt nữa thì chết cả lũ". Chuyện cũ chán, ông cho biết tình hình sửa sai của xã, bây giờ ông lại về nhận nhiệm vụ bí thư Ðảng như cũ, kỳ vừa qua ông cũng bị xử trí oan, đi tù mất mấy tháng. Lúc chia tay ông dặn tôi:

Hôm nào chú lại đằng nhà ăn bữa cơm rau muối với vợ chồng tôi, tôi sẽ cho chú biết thêm tình hình của xã nhà. Tôi chắc chú sẽ góp được nhiều ý kiến hay.

Tôi hơi ngượng nghịu:

- Tôi thì còn có ý kiến gì.

Ông trợn mắt:

- Xưa chú khác, bây giờ chú khác. Chú tưởng hễ đi bộ đội là không có trách nhiệm gì về phong trào của xã nữa à. Nhớ hôm nào lại chơi nhá...







Sáng hôm sau tôi dậy sớm đi thăm nhà bà dì em ruột u tôi ở xóm trại. Bà có hai con trai là thằng Cớn và thằng Cởn, một đi bộ đội, một vào du kích, cả hai đều đã hy sinh. Bây giờ bà chỉ còn một người con gái, nhưng vẫn ở riêng vì đứa con rể ăn ở với mẹ vợ chẳng ra gì. Ngày tôi còn ở nhà bà thương tôi như con đẻ, vẫn cứ bảo xuống ở dưới ấy nhưng anh tôi không bằng lòng. Mỗi lần đi chợ bán được một món hàng gì, bà lại rẽ vào gặp tôi, cởi vạt áo khi cho một đồng, khi cho vài đồng. Bà đang xay thóc, cái váy mặc vá chằng vá đụp, hai ống chân gầy choắt khô khỏng. Tôi rón rén đi đến đứng sát đằng sau, khẽ nói:

- Dì đưa con xay đỡ cho nào.

Bà giật mình quay lại thấy tôi ngơ ra một lát rồi vừa chửi vừa khóc:

- Cha bố mày, mày đi bộ đội mà không thèm nói với dì đến một tiếng. Mày về bao giờ thế hả con... Vào trong này.

Bà cầm tay tôi nắn bóp, rồi lại sờ mặt tôi, nắn đùi tôi, nước mắt cứ giàn giụa.

- Bây giờ tao chỉ còn có mày, thằng Cớn, thằng Cởn nó bỏ tao nó đi, mày mà bạc nữa thì tao biết ở với ai.

Tôi an ủi dì:

- Con coi dì cũng như u con, bây giờ con về là vui rồi sao dì lại khóc cho nó thêm buồn ra.

Dì tôi chùi nước mắt, hỏi tôi về chơi được bao lâu, và muốn giữ tôi ở dưới này ăn Tết. Dì đem nải chuối vừa dấm chín ra bảo tôi ăn rồi nói:

- Này, cái Cún con nó lấy chồng rồi. Ðến hoài, con bé vừa đẹp người lại đẹp nết.

Tôi thẹn quá nên nói có vẻ không cần:

- Cô ấy lấy chồng mặc cô ấy chứ.

Dì phát vào lưng tôi:

- Quân bạc, nó để ý mày từ ngày còn bé kia đấy. Nó đợi tin mày mãi thỉnh thoảng lại đến tao hỏi dò. Tao thương nó quá nên cứ nói dối nó là người trong xã đi dân công ra ngoài ấy vẫn gặp mày và mày vẫn nhắn tin về. Mãi năm nọ mới chịu đi lấy người khác. Con bé đến ngoan.

Tôi cởi áo ra xay nốt thúng thóc còn lại, bà chạy đi đâu một lát về bảo tôi ngừng tay rồi móc túi đưa tôi tờ giấy năm nghìn còn mới.

- Con cầm lấy mà tiêu. Dì nghèo cũng chẳng có gì...

Tôi biết dì tưởng tôi đi bộ đội thì túng thiếu như hồi còn kháng chiến nên giật tạm tiền của ai đây. Tôi đưa lại và nói:

- Con không túng đâu, dì cầm lấy mà mua vải, mua thuốc. Con trông dì gầy lắm.

Bà giận dỗi:

- Hay mày chê ít, dì nghèo, dì chỉ có thế thôi con ạ.

Rồi bà mở khuy túi áo trên của tôi, nhét tờ giấy bạc vào. Cò kèo mãi tôi đành phải nhận, nhưng định bụng rằng hôm nào đi tôi sẽ gửi lại cho anh tôi cầm xuống trả bà.

Khi tôi trở ra đến đầu ao có giồng một rặng táo thì thấy một người đàn bà, mặt bầu bầu, bụng chửa, bế con đi lại. Ðúng là cái Cún con!. Cô ta dáng chừng cũng đã trông thấy tôi nên khẽ kéo nón xuống che mặt. Hai đứa chỉ cách nhau có vài bước, tôi đã định bước chéo chân né người vào một bên rào đi thẳng, nhưng có một cái gì bắt tôi phải dừng lại. Cún con thấy tôi đứng chờ, càng luýnh quýnh.

Tôi đi sát lại, hỏi:

- Cô Cún còn nhớ tôi không? Song đây mà.

Lúc ấy Cún mới bỏ nón ra ngượng nghịu nhìn tôi nhưng không nói gì. Ðứa con thấy người lạ nhệch mồm ra mếu rồi úp mặt vào vai mẹ. Mẹ nó đưa mắt nhìn xuống đất rồi cũng mếu máo nốt. Tôi định nắm tay cô ta dắt vào nhà dì tôi nói chuyện một lúc, nhưng người chị gái đi sau cũng vừa tới, chào tôi rồi giục em: "Thôi dì xin phép anh ấy mà đi, muộn rồi đấy". Cún lại đội nón, cúi đầu xuống, bế con theo chị. Tôi ngoái nhìn lại đợi cho hai người đi khuất bờ ao mới quay về.

Tôi thấy cần phải kể lại một chút về mối tình bạn bè giữa tôi và Cún con. Cún là người con gái đầu tiên đến với tôi và chiếm một vị trí quan trọng trong những kỷ niệm của tôi về quê hương. Năm ấy, tôi mười sáu tuổi và Cún con mười lăm. Tôi và nó tuy cùng làng nhưng ở hai xóm cách nhau khá xa. Nó để ý tôi và mến tôi trước khi tôi biết đến nó. Lần đầu hai đứa thật sự quen nhau là do một cuộc đánh tam cúc tay ba ở ngoài đồng: tôi, Cún con và thằng em họ. Tôi chơi bài rất thấp, vả lại vốn cũng không ưa nhưng vì hôm đó lại được thông luôn mấy ván nên đã bắt đầu ham. Một ván tôi kết đôi pháo điều. Cún con nhìn bài tôi ngần ngừ một lúc rồi dúi hai cây bài còn lại vào tận dưới lớp bài chui.

Tôi cười ré lên:

- A tướng, tướng đi ỉa!

Thằng em tôi hơi nghi nên lôi hai con bài chui ra lật xem: ai ngờ lại là đôi tịnh vàng. Tịnh vàng phải chui pháo điều? Thì ra nó muốn ngồi đánh bài lâu với tôi nên cứ giả vờ thua để tôi hăng máu, không chóng chán. Thằng em họ tôi rất láu, nó cứ nhìn con bé chòng chọc rồi cười:

- £, đánh bài hay nhỉ... Tao biết thừa rồi...

Tôi chỉ thấy Cún con đỏ mặt lên nhìn đi chỗ khác.

Hai đứa chúng tôi chăn hai con trâu. Từ ngày quen nhau tôi cứ cưỡi trâu ra đồng lại nhờ Cún chăn hộ, còn tôi đi đánh bẫy chim, đơm cá, đào ổ chuột đến buổi mới về. Thường thường Cún cứ buộc hai đầu thừng của hai con trâu lại, cho chúng nó đi với nhau. Một chiều tôi đi chơi về, tìm trâu lại thấy trâu buộc díu đôi cởi mãi không được, trời thì sắp có cơn giông. Tôi giận quá quát tướng lên:

- ới Cún, Cún ơi... đi đâu rồi!

Cún con ở đâu chạy lại, cười cười. Tôi trợn mắt gắt:

- Sao không chăn riêng lại buộc thừng lại với nhau làm người ta tháo mãi không được.

Nó nhìn tôi gườm gườm.

- Người ta đã chăn hộ cho mà đi chơi lại còn làm bộ. Gắt gắt cái gì...

Tôi càng tức:

- Từ nay không khiến chăn hộ nữa. Tháo thừng ra. Nó cũng găng:

- Sai ai đấy, muốn về trước thì tháo lấy.

Tôi tháo mãi không được liền nắm lấy lưỡi liềm nó cầm ở tay giằng lấy, rồi một chân dận đầu thừng, một tay kéo thừng căng ra cứa đứt đôi. Khi tôi cưỡi trâu về quay lại nhìn thấy nó đương đưa vạt áo lau nước mắt. Hôm sau tôi gặp nó vì ngượng quá nên lại làm ra vẻ giận, mặt hầm hầm không nói. Nó đến bên tôi, làm lành trước:

- Có đi đâu thì đi đi để trâu tôi chăn cho.

Tôi khó trả lời quá nên cứ lặng im.

Nó lại nói:

- Hôm qua tôi cũng định giằng liềm lại nhưng vì anh cầm đằng lưỡi sợ anh đứt tay nên tôi phải buông ra. Vì cái thừng mà u tôi chửi tôi cả một buổi tối đấy.

Ngày bé tôi ăn mặc rất rách rưới, tóc cứ để bờm che kín cả gáy, cả tai. Ngồi chơi với nhau, Cún cứ thủ thỉ bảo tôi:

- Sao không cạo đầu đi, để thế ngứa chết.

Tôi đỏ mặt:

- Nhưng không có tiền.

Nó gặng hỏi:

- Cần bao nhiêu?

Tôi lảng ra:

- Không cần.

Có buổi nó còn mang kim chỉ và mụn đi vá áo cho tôi, bắt cả rận. Tôi bó cỏ vào loại đẹp nhất làng, bó vồng lên như quả trám, lội nước không tuột. Những đứa mười một, mười hai tuổi mới đi cắt cỏ lần đầu, thích làm đỏm đều đến van vỉ tôi đổi công cắt lấy công bó. Buổi nào đi cắt cỏ tôi đều bó cho Cún một gánh đẹp nhất, đến nỗi nó phải bảo tôi: "Bó đẹp vừa thôi, để lúc về dỡ ra đỡ tiếc". Ði đâu hai đứa cũng líu ríu bên nhau. Mới đầu tôi không để ý đến Cún lắm, coi nó cũng như những đứa trẻ khác, sau thấy nó săn sóc tôi, an ủi tôi, khiến tôi cũng bớt tủi vì thân phận mồ côi nên tôi cũng trở lại mến nó. Hôm nào nó ở nhà là tôi thấy như thiếu, trống cái gì, người cứ ngơ ngác suốt buổi, không thiết chơi bời với ai khác. Mọi khi chúng tôi vẫn cưỡi trâu sánh đôi, nhưng sau tôi cứ muốn để nó đi trước, hoặc tôi vượt lên trước, và khi thấy người khác nhìn hai đứa thì mặt tôi đỏ lên, lúng túng. Năm sau tôi đi bộ đội cũng không kịp gặp Cún để dặn dò. Từ bấy đến nay những lúc nằm rỗi tôi lại nghĩ đến người bạn gái bé nhỏ, lúc ấy trong người vừa buồn buồn, vừa thương nhớ lại hơi thổn thức, và tự nhiên tôi nghĩ đến ngày tôi về nhà, gặp lại nó, hai đứa chắc còn thân nhau hơn xưa. Bây giờ nghe Thâm và dì tôi nói chuyện lại thì ra nó đã yêu tôi từ ngày ấy, yêu tôi trước khi tôi kịp biết rằng mình cũng đã... yêu nó. Tôi đã yêu nó thật ư? Tôi chưa hề nói với nó một câu nào hò hẹn, yêu đương. Tôi cũng chưa bao giờ nghĩ rằng Cún sẽ là vợ tôi. Nhưng tôi vẫn nhớ, vẫn thương và bây giờ thì tôi thấy bâng khuâng, hối tiếc như vừa để mất một cái gì rất quý.

*
* *

Tối 30 Tết. Chỉ còn mấy giờ nữa là bước sang một năm mới với những công việc và ước vọng mới. Suốt làng sáng rực ánh lửa. Trai, gái đốt đuốc gọi nhau đi xem chèo của xã ở đình trên. Nhà nào cũng bắc thùng ở giữa sân nấu bánh, nước sôi bánh kêu lục cục, lửa lùa vào các thớ gỗ nổ đôm đốp. Tết năm nay là Tết vui nhất của làng. Tám, chín năm kháng chiến bốt kề đầu làng, tối đến hút thuốc cũng phải vào trong buồng kín, ngày Tết đều luộc bánh chưng ban ngày, mà luộc bánh ngày thì còn gì là hương vị ngày Tết.

Nhà ông anh tôi tối hôm ấy trở thành một cái câu lạc bộ, những người đi nhờ sân định tắt ruộng sang đình trên xem chèo đều dừng lại chơi. Người ngồi trên giường, người ngồi dưới đất, phải giải cả chiếu ra đầu hè. May trời đêm ấy lại đẹp, âm ấm như cuối thu. Ông anh tôi đã cạo râu, húi tóc, mặc bộ quần áo nâu mới, trông sáng sủa, vui vẻ hơn hôm qua nhiều. Nói chuyện một lát ông sai con mang đàn bầu ra đánh. Cũng vì tiếng đàn bầu mà anh tôi lấy được vợ. Nguyên ngày trước anh tôi ở trong phường chèo của xã, thường hay sang các xã bạn diễn những ngày đình đám đầu xuân. Một năm phường chèo ở trọ nhà ông trưởng bạ, ông ta có người con gái út, trạc trên đôi mươi, làm ruộng, buôn bán đều đảm, nhưng chỉ được có tiếng đàn mà người con gái ông trưởng bạ nhất định xin đi theo, dù bố mẹ chửi mắng, đe dọa thế nào cũng mặc. Ông chú đánh đàn tranh, một người anh họ thổi tiêu, ban nhạc gia đình chơi các bài lưu thủy, bình bán, kim tiền... Mọi người lại đề nghị tôi hát. Tôi hát hỏng vốn không ra gì, nhưng sau khi hát bài Giải phóng Ðiện Biên mọi người nắc nỏm khen giọng tôi ấm làm tôi xấu hổ quá. Có tiếng đề nghị cô Tỵ hát chèo. Tất cả quay về phía một cô bé vỗ tay rầm rầm. Cái Tỵ cũng không bé lắm, đến tuổi mười bảy, mười tám rồi. Chị cái Tỵ là Tẹo xưa cũng ở trong phường chèo của xã. Thường Tẹo hát và anh tôi đệm nhị. Giọng của Tẹo rất trường, tiếng vang, khi vào lại ngọt, hơn nữa là người có nhan sắc nên thanh niên làng nhiều anh muốn ngấp nghé. Ngày ấy nó rất mê tôi, và mẹ nó cũng bằng lòng gả nó cho tôi, nhưng tôi lại nghĩ nó là đứa con hát, không đứng đắn, quen ngay lưng, lấy về lại hầu nó nhọc nên cứ thoái thác. Tỵ đẹp hơn chị, giọng hát còn có phần trong trẻo, quyến rũ hơn. Tỵ hát một đoạn chèo trong tích Trương Viên. Mọi người lại đề nghị hát lại lần nữa. Hát xong, nó nhìn tôi tủm tỉm cười: "Em hát hai bài mà anh Song không cho em gái gì à?". Cái Miều ngồi cạnh tôi thừa lúc không ai để ý ghé sát vào tai tôi nói nhỏ: "Chú xem con mắt nó có sắc không?". Tôi biết tính con bé này hay chọc ghẹo nên gạt đi, nhưng nó cứ bám nhằng lấy: "Cháu bảo thật đấy, nó bảo với cháu là nếu chú hỏi nó thì nó nhất định bằng lòng lấy chú". Tôi hỏi lại: "Nếu tao bằng lòng thì mày thấy thế nào?". Nó toét miệng cười: "Cũng phải bằng lòng chứ, nhưng nó lao động kém lắm, còn lười hơn con chị nó nhiều đương có nguyện vọng xin đi văn công đấy. Chú giới thiệu cho nó đi với".

Cả nhà thức cho đến lúc giao thừa. Trên đình có tiếng chiêng và tiếng trống đánh thì thùm, cung coong. Trời hơi sáng vì lửa ở các nhà, ở dọc đường hắt lên. Từ nóc các mái nhà mờ mờ bay lên những mảng sợi trắng rất xốp và nhẹ, khói hương hay sương đêm. Anh tôi lấy vôi ra vẽ bốn góc sân bốn cái cung lớn, có bốn mũi tên chĩa ra ngoài trừ ma quỷ. ở giữa vẽ một cái vòng tròn là cót thóc, chung quanh vẽ cày, bừa, cuốc, hy vọng năm tới thóc lúa đầy nhà, no ấm quanh năm. Anh thông tin của thôn đã trèo lên cái chòi cuối xóm báo tin giao thừa, đọc thư chúc tết của Hồ Chủ tịch, của ủy ban Huyện và Xã gửi tới nhân dân. Sau đó tiếng động nhẹ dần, lắng đi rồi im hẳn. Các cánh cửa khép lại, ánh sáng thu tròn một khoảng trên bàn thờ có những sợi khói nhang uốn éo bay qua. Nhìn ra ngoài trời đen thăm thẳm và mưa xuân bắt đầu rây lất phất.

*
* *

Chiều mồng bốn Tết, tôi từ giã gia đình, quê hương lên đường về đơn vị. Lúc nhấc ba lô lên thấy nặng gấp đôi lúc thường, mở ra không hiểu ai đã xếp lên trên lớp quần áo hai cái bánh chưng, một nửa cái giò nạc, một đĩa chè kho gói lá chuối. Tôi để cả lại chỉ mang đi có một cái bánh. Chồng cái Miều cứ đòi khoác ba lô cho tôi đến tận bến đò, anh tôi cũng đi theo tiễn chân. Vợ chồng Thâm từ sau cải cách đến nay vẫn làm nghề chở đò ngang ở sông, hôm nay đến phiên vợ chồng nó. Chồng đương ngồi ăn cơm bên kia bờ, thấy bóng tôi bỏ cơm, chèo vội sang. Tôi xuống đò, đò chèo xa anh tôi vẫn còn đứng trên bờ vẫy. Gần áp bờ thì Thâm hỏi tôi:

- Chú định ra tàu mấy giờ?

- Tàu bảy giờ.

- Chết, giờ mới có năm giờ, còn sớm chán. Ðể cháu chở chú đi chơi trên sông một lát.

Tôi bằng lòng để ba lô vào trong khoang, ngồi một đầu thuyền, Thâm ngồi một đầu thuyền. Nó nhìn tôi cười:

- Thế là chú nói dối cháu đấy nhá!

Tôi cũng cười:

- Bận khác về phép lâu hơn thì mới có thì giờ lo liệu chứ. Các cô làng ta cũng không dễ tính lắm đâu.

Mái chèo đập xuống nước bì bõm, nước ngoạm hai bên mạn thuyền choàm choạp. Con thuyền lờ lững khi ở giữa dòng, khi men theo phía bên đê dốc thẳng, đất lở xuống đen nâu. Xa xa những cụm tre đứng cô độc, xõa sượi, buồn bã. Khi thuyền đến chỗ ngoặt sông thì ở những mảng bè nép mình dưới chân đê đã có những đốm lửa le lói sáng.

Thâm khẽ nói:

- Ðể cháu chở chú lên bến trên thì đi gần được một quãng đường.

Phía làng đã khuất hẳn, nhưng tôi vẫn đăm đắm nhìn theo. Tôi đi đã nhiều nơi, đóng quân lại ở nhiều chỗ, phong cảnh đẹp đẽ hơn đây nhiều, nhân dân coi tôi như người làng và cũng có những người yêu tôi tha thiết nhưng sao sức quyến rũ, nhớ thương vẫn không mãnh liệt, day dứt bằng mảnh đất cội cằn này. Làng mạc bị tàn phá nhưng mảnh đất quê hương vẫn đủ sức nuôi sống tôi như ngày xưa nếu tôi có ngày trở về. ở miếng đất ấy tháng giêng tôi đi đốt bãi đào ổ chuột, tháng tám nước lên đánh dậm, úp cá, đơm tép, dấm cá rô, tháng chín, tháng mười đi móc con da dưới vệ sông. ở miếng đất ấy những ngày phiên chợ dì tôi lại mua cho vài cái bánh rợm, đêm nằm với chú, chú gác chân lên tôi mà lẩy Kiều, ngâm thơ, những tối liên hoan xã nghe cái Tỵ hát chèo và đôi lúc lại được ngồi nói chuyện với Cún con nhắc lại những kỷ niệm đẹp đẽ hồi thơ ấu. Khung cảnh chung quanh tôi bắt đầu mờ dần rồi trắng xóa, sương xuống dày đặc đến không còn trông rõ cái gì nữa. Phảng phất trong không khí có thứ mùi quen thuộc, không hẳn là mùi nhang ngày Tết, cũng không phải là thứ mùi nào khác có thể gọi tên được, nó man mác, có lẽ đã lâu lắm tôi mới lại cảm thấy nó. Thôi, tôi nhớ ra rồi... đó là thứ mùi vị đặc biệt, mùi vị của quê hương...




Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Nắng chiều

Nguyễn Khải

1

Chị Bơ đe tôi:

- Nếu cậu lại đem chuyện của chị với anh ra viết báo thì đừng có vác mặt đến đây chị chị em em nữa nhá!

Khốn nỗi, cái thằng viết lại vốn có tật thích lôi việc của nhà ra viết. Chuyện hay thì giấu đi, còn chuyện dở thì phóng đại lên. Nên anh em họ hàng phải từ bỏ, vợ con phải giận hờn, bè bạn cũng gớm mặt. Nói tốt về mình là người viết hồi ký, là người bình thường với cái tâm lý thông thường mượn bút mực để tự khoe. Còn kể xấu mình, tự bới móc mọi thói tật của mình thì đích thực là anh nhà văn rồi. Tại sao thế! Tôi cũng không hiểu nữa. Có thể là cái nghiệp dĩ của những người cầm bút chăng? Nhưng lần này tôi viết về bà chị tôi với ông anh rể muộn mằn có khác với những chuyện trước. Lần này tôi chỉ có khoe thôi. Tôi khoe cái hay cái đẹp cái phúc đức của dòng họ nhà tôi, nếu như đây đó thấp thoáng một nụ cười, thì cũng là cái mỉm cười hiền lành, vui một chút, nghịch một chút cho câu chuyện được đậm đà.

2

Tức là chị Bơ tôi bằng lòng đi lấy chồng. Lấy chồng lần thứ nhất là chỉ vừa mới năm nọ. Tôi năm nay đã xấp xỉ sáu mươi tức thì chị tôi không còn trẻ nữa. Năm chị tôi nhận lời xuất giá, là vừa tròn bảy chục tuổi. Chị Ðại, cũng là một bà chị khác của tôi, là em dâu ông Nguyễn Thế Truyền, đứng ra mai mối. Trong họ nhà tôi, đàn ông thì hiền lành, nhút nhát, làm gì cũng sợ, chỉ cầu được yên thân, còn phần lớn các bà lại hết sức ghê gớm, ăn nói ghê gớm, hành động táo bạo, còn các trò chơi của mấy bà thì vô cùng quái đản. Chị Ðại bảo tôi với cái giọng thản nhiên nhất:

- Chúng tao định gả chồng cho bà Bơ, mày thấy thế nào?

- Tôi hét lên:

- Sắp xuống lỗ còn đi lấy chồng, các bà tính toán rõ hay!

Chị Ðại vẫn nói dửng dưng:

- Chúng mày đều là quân ích kỷ. Chỉ nghĩ tới mình mà không nghĩ người. Mày sợ xấu hổ à?

- Chứ lại không, thiên hạ họ biết chuyện phải cười đến vỡ bụng.

Ai cười mặc kệ họ. Là việc hay việc tốt chứ có phải việc xấu đâu mà sợ họ cười.

Tôi vẫn vùng vằng:

- Chị tính lại đi, không phải chuyện đùa đâu. Vỡ lở ra là tai tiếng lắm. Chị Ðại đã hơi cười cười:

- Ðể tao tính lại nhá. Mấy chục năm nay chị Bơ chỉ ở với gia đình cô Hoàng. Nay vợ chồng cô ấy đi Pháp rồi thì chị Bơ ở với ai? Hay là xuống ở với vợ chồng mày.

Tôi lắc đầu:

- Nhà tôi như trại lính, bà Bơ không chịu xuống đâu. ở với chị có được không?

Chị Ðại vẫn cười:

- ở thế nào được. Một bà già đã đủ để con cháu nó cằn nhằn rồi, hầu thế nào được cả hai.

Tôi bắt đầu phân vân:

- Cũng khó nhỉ, tuổi già ở chòm chõm một mình là nguy lắm, lúc đêm hôm...

Chị Ðại thủng thẳng tính:

- ở một mình cũng vẫn được, nhưng đêm phải có người đến cùng ngủ. Mày hoặc vợ mày, hoặc con mày phải thay nhau mà đến, lúc khỏe không đến cũng được, nhưng lúc ốm đau là phải đến.

Sự phản đối của tôi đã bớt hăng hái tới già nửa vì cái viễn cảnh phải cắt phiên nhau xuống cùng ở với bà Bơ. Là mẹ thì buộc phải đến rồi, không thích không vui cũng phải đến. Nhưng là chị, là bà chị họ, cũng phiền nhỉ... à, thế mà khó giải quyết đấy. Nói gì thì nói, cách tính toán của chị Ðại là hết sức thiết thực. Nhân nghĩa hão, sĩ diện dởm, người khổ càng khổ hơn vì có ai chịu đưa tay cho kẻ bất hạnh víu lấy đâu. Trong họ nhà tôi có nhiều bà đẹp đẽ hẳn hoi, có học thức hẳn hoi, làm phu nhân cũng còn được huống hồ làm vợ làm mẹ như mọi người mà đành chịu cảnh phòng không chỉ vì những tính toán không đâu vào đâu của các bậc cha mẹ. Thời Mỹ lại đòi chỉ gả con cho những gia đình quan lại, môn đăng hộ đối, là dở hơi hết sức. Ði làm dâu những gia đình đã tàn lụi, với những bà mẹ chồng hút thuốc sâu kèn, nói năng đài các nhưng một xu không dính túi, những ông chồng quen thói ăn chơi nhưng chẳng có nghề ngỗng gì, ra thở vào than vì thời thế đã đổi thay, thì còn khổ cực, nhục nhã hơn con ở. Thà ở vậy mà hóa hay. Chị Bơ tôi sở dĩ muộn chồng vì cả một thời son trẻ chả ai để ý đến chị cả. Là con ông bác họ lên ở với chú thím với các em. Tiếng là người trong gia đình nhà quan, nhưng cô cháu nghèo làm sao dám so bì với các bà em phú quý. Ðã nghèo lại không được đẹp, lại ăn mặc xuềnh xoàng, nói năng rất ít, luôn luôn xuất hiện ở phía sau, là người rất cần thiết cho mọi người nhưng vẫn bị mọi người quên bỏ. Chị bị bỏ quên cũng vì chị không bao giờ đòi, chị cam phận, lại tự khép mình vào cái khuôn khổ lễ giáo đã không còn mấy ai theo nữa. Các bà chị con ông bác tôi vẫn chê chị Bơ là người cổ mà, trời đất ơi, đã nghèo lại còn cổ thì coi như số phận đã được an bài rồi.

3

Cái chuyện vui lúc tuổi đã xế chiều của bà chị tôi được bắt đầu như sau:

Cách đây khoảng bảy, tám năm, một bà chị khác lập nghiệp ở xứ Bờ Biển Ngà có làm giấy bảo lãnh cho chị Bơ sang ở bên đó. Hai bà vốn hợp tính nhau từ thời con gái, về già đều là những tín đồ rất nết na của đạo Phật, có ăn ở với nhau ít năm cuối chắc cũng êm ấm. Ðã nghĩ mọi việc xong xuôi chỉ còn đợi ngày đi thì bà bên kia lại viết thư về báo hoãn, vì nghe đâu chính phủ bên ấy sẽ thay đổi, sẽ đổ hẳn, nên vợ chồng phải di chuyển cơ nghiệp qua Pháp. Nói vậy thì biết vậy, chứ còn cái gì sau đó ai mà biết. Chị Ðại phàn nàn với tôi: "Bà Bơ tuổi Sửu, cái số ấy là vất vả lắm, một đời hầu hạ các ông em bà em, rút lại tay trắng. "Xưa nay chị Bơ chỉ biết sống cho các em, dựa dẫm vào các em, vui buồn hộ mọi người, nay các em kéo nhau đi tuốt tuột, còn trơ lại có một mình, ăn không ra bữa, ngủ không ra giấc, chẳng có cái gì riêng để mà lo mà buồn, đi lại như cái bóng, va vào cái này đụng vào cái kia của hai căn buồng vừa ẩm vừa tối, nghĩ thật tội. Ai cũng than thở là rất tội mà không một ai mở miệng mời bà chị nhất họ tới ở nhà mình để tiện bề chăm sóc, vợ chồng tôi cũng thế. Lúc khỏe đã vậy, lúc ốm thì sao, ốm một trận rồi chết cũng đã vất vả, lại ốm đến vài năm mới thật rầy rà. Cũng may trong họ còn có chị Ðại. Chị có quyền la mắng tất cả mà không ai dám giận vì chị ăn ở rất thật lòng, lại rất thạo việc. Việc người sống và người chết của cả một họ mà không có chị dúng tay vào là y như bê bết. Nói cho đúng chị cũng không dúng tay, một ngón tay cũng không động đậy, mà chỉ dùng miệng thôi, tính giùm cho thôi. Cái việc này thì thủ tục phải như thế này, sự chi tiêu phải như thế này, và chị cắt đặt luôn, một lũ con cháu và kẻ ăn người làm cứ thế mà chạy. Và chị đã lặng lẽ đảo ngược cái vận số của chị Bơ bằng một bài toán đến thần tình. Số là cách đây đã nửa thế kỷ, có một anh thanh niên con nhà nghèo nhưng rất đẹp trai và học cũng giỏi, vừa đỗ bằng Thành chung xong, tới gia đình ông bác tôi làm người kèm học cho mấy ông anh còn nhỏ tuổi. Người ra mở cửa đóng cửa cho thầy giáo trẻ là chị Bơ, năm đó cũng khoảng mười tám đôi mươi. Ði lại được vài năm thì anh giáo trẻ ngỏ lời xin được cưới chị Bơ, vì anh đã tìm được việc làm ở một nhà thương nào đó. Vậy là cả nhà cười, cười lăn cười lộn. Là cười cái táo tợn của một thằng con trai chẳng biết trời cao đất dầy gì, mới dám mở mồm đòi làm cháu rể cụ Thượng. Cháu cũng như con, phải tìm cửa tương xứng để gả bán chứ. Người con trai vì xấu hổ, vì giận thân không đến nữa. Vậy là thôi. Theo chị Ðại, hình như chỉ có một lần ấy, cái lần duy nhất ấy, có một người đàn ông để ý đến chị Bơ, quý mến cái dịu dàng, cái lặng lẽ, cái đảm đang của chị và mong mỏi được mời chị về sống với nhà mình. Rồi anh ta lấy vợ, đẻ một bầy con, rồi góa vợ và lấy một đời vợ nữa, lại thêm mấy đứa con và góa vợ lần thứ hai. Người đàn ông có cái số phận vất vả ấy tên là Phúc, cái năm bắt đầu câu chuyện cảm động này đã bẩy mươi mốt tuổi, hơn bà chị tôi một tuổi. Tôi cũng chưa rõ, do một tình cờ nào mà chị Ðại được biết ông Phúc sắp đi Pháp theo giấy bảo lãnh của con. Cái kế hoạch đầy tính nhân đạo và thực tế của chị lập tức thành hình và lập tức chuyển động. Chị nhờ một cô cháu có quan hệ họ hàng với ông Phúc tới bàn với ông, bằng cách nào đó có thể đưa chị Bơ đi, sang tới Pháp các bà em sẽ tới đón chị về ở nhà họ, vì anh chị em không có quyền đứng ra bảo lãnh nhập cảnh. Ông Phúc bằng lòng ngay và nói thêm: "Nhưng phải làm giấy giá thú mới hợp lệ!". Chị Ðại đã trả lời liền, giá thú thì giá thú, sang tới Pháp là hết giá trị, mà cũng chả cần làm giấy ly hôn, còn lấy được ai nữa mà cần giấy ly hôn. Tôi hỏi chị Ðại:

- Lần đầu chị bàn với chị Bơ cái chuyện này, chị Bơ bảo sao?

Chị Ðại cười:

- Giẫy nẩy như đỉa phải vôi. Mặt mũi đỏ nhừ đỏ tử. Gái chưa chồng nói chuyện hôn nhân ai chả thế.

Tôi cũng phì cười:

- Cái bà này có những sáng kiến đến quái đản.

Chị Ðại lườm nhẹ tôi, nói đay:

- Nếu mày không thích thì mày mời bà ấy về ở nhà mày. Cho tao được rảnh nợ.

Tôi nín lặng. Chị Ðại nói tiếp

- Bà ấy chửi tao một lúc rồi ngồi im. Tao chỉ hỏi lại có một câu: tùy bà, nếu bà không bằng lòng thì bảo tôi để tôi còn có lời nói lại.

- Chị Bơ bảo sao?

- Còn bảo sao! Bảo là tùy cô, cô muốn làm gì thì làm chứ tôi không biết.

- Vậy là xong à?

- Xong chứ, người ta vẫn còn vướng vất cái tình cũ mới đưa vai ra gánh lấy, chứ vui vẻ quái gì.

4

Vậy là chị tôi đi lấy chồng, nói cho đúng là giả đò lấy chồng, về danh nghĩa vẫn có giấy giá thú, nhưng ông ở nhà ông, bà ở nhà bà, cơm ai nấy ăn, giường ai nấy nằm, không có gì khác trước. Chị Ðại với chị Hoàng là hai bà hay nói tục nhất họ, nói những chuyện đến các em, và các cháu ngồi nghe cũng phải đỏ mặt, nên chị Ðại cũng có những lời bình luận về sự ở riêng này, chị nói tục lắm tôi không tiện viết ra đây. Tôi có nghe nói bữa hai ông bà dắt nhau ra phường đăng ký hôn thú, cô ủy viên thư ký phường hỏi bà cụ theo đúng thủ tục: "Thưa bác, bác kết hôn lần này là lần thứ mấy?". Bà cụ cúi gằm mặt không dám trả lời, ông cụ phải nói thay "Lần thứ nhất". Lấy chồng lần thứ nhất mà không có chạm ngõ, không ăn hỏi, không cưới xin gì cả, đến bữa cơm thân mật trong gia đình cũng phải hai tháng sau mới dám làm, nghĩ cũng tội. Mà là con cháu nhà quan hẳn hoi. Tháng đầu chị tôi đi lấy chồng, tôi không dám lại thăm. Sợ chị tôi ngượng, tôi cũng sợ tôi ngượng. Nhưng tôi vẫn thấp thỏm đợi cái bữa ăn mà bà chị và ông anh sẽ mời. Nói cho thật, không phải vì miếng ăn, mà muốn đến để "quan sát" một chút. Chắc là bà chị tôi cũng biết thế nên nhất định bà không mời cái thằng em mất nết, chuyện bố mẹ nó, nó còn chẳng tha, huống hồ chuyện của các bà chị. Chị Ðại gọi bữa cơm đó là bữa cơm đoàn kết, cái từ cách mạng dùng vào trường hợp này thật là khéo quá. Chứ còn biết gọi gì khác. Sau bữa cơm hai họ chừng vài ngày, bà Bơ cũng làm một bữa cơm thân mật chỉ mời riêng có ông Phúc và mấy người con của ông lại ăn thôi. Bà lão nấu ngon quá, nghề riêng mà, nên chỉ mấy ngày sau ông lão lại mò đến xin ăn một bữa nữa. Rồi ngày nào cũng đến đòi ăn, ăn bữa trưa. Rồi ăn cả bữa tối. Rồi đòi ngủ lại, vì say quá, vì trời tối quá, thiếu gì lý do xin được ngủ lại của một ông già đang ngất ngây trước hạnh phúc mới. Tôi toét miệng cười. Chị Ðại trợn mắt nhìn tôi, quát to: "Thằng mất dậy! Mày nghĩ gì mà lại cười, hả!".

5

Phải hơn hai tháng sau tôi mới được gặp cả hai vợ chồng bà Bơ. Là nhân ngày giỗ ông nội tôi, tức ông ngoại bà Ðại, ông chú bà Bơ, tại nhà ông anh trưởng họ. Bà đến trước đã cả giờ rồi mới thấy ông đến. Chả ai chào ai, cứ như người dưng. Tuy ông Phúc đã ngoài bảy chục tuổi nhưng còn đẹp lão lắm, vóc dáng cân đối đi lại nhanh nhẹn, cái miệng và con mắt của ông già khi cười khi nói còn rất là lẳng. Ðàn ông như thế nếu muốn lấy một bà trong ngoài bốn mươi chả có gì là khó. Lại có tiền nữa. Quả tình ông ấy đối với bà chị tôi vẫn còn vương vấn phần nào cái hương vị của mối tình đầu. Là vẫn không ngớt nghĩ về nhau, nghĩ về một cô gái nhút nhát, lặng lẽ, có thể làm người vợ hiền, người mẹ đảm không ngờ số phận lại hẩm hiu đến thế. Khi ông ấy chưa đến, chị Ðại có hỏi bà Bơ: "Bà đã dặn kỹ địa chỉ chưa? Nhà trong hẻm, lối đi lắt léo là khó tìm lắm". Bà Bơ trả lời ngắn gọn: "Ðã bảo rồi". Chị Ðại lại hỏi: "Ông ấy vẫn đi xe đạp à? Ðừng ỷ vào sức khỏe, ngã chết có ngày". Vẫn trả lời rất ngắn gọn: "Nói mãi nhưng không nghe". Tôi nghiêng mặt cười mủm mỉm, vì chợt nghĩ cách xưng hô của những cặp vợ chồng trẻ mới cưới cái thời còn đánh Pháp. Vào bữa ăn, tôi được xếp ngồi cạnh bà Bơ và ông chồng. Bà Ðại ngồi phía đối diện với ông trưởng họ. Ông trưởng họ là người hết sức thật thà, có nghề xem tử vi và tướng mặt, nghe ông ấy nói về vận số, ai cũng vừa lòng, vì mọi cái xui xẻo đã thuộc về năm qua tháng qua, còn tháng tới và năm tới chỉ gặp toàn những may mắn. Ông trưởng họ ngắm nhìn bà Bơ rồi tán: "Khí sắc chị Bơ rất vượng, năm tới là chuyện vui lắm". Bà Ðại buông một câu, nghe muốn nổi da gà: "Năm tới bà Bơ có tin vui, hả?". Tất cả mọi người đều cúi mặt, không ai dám nhếch môi. Mặt bà Bơ tái đi, còn ông chồng thì quay lại nhòm vợ rồi cười hề hề. Cái giống đàn ông thật quá tệ! Ông trưởng họ vẫn tiếp tục tán tụng bà chị hết sức hồn nhiên: "Chị dạo này trông đẹp hẳn ra". Rõ nỡm. Khen một bà lão đẹp ra, vậy mà cũng đòi làm thầy tướng số! Lại vẫn bà Ðại bình luận: "Cái đó đã hẳn, khỏi cần phải cậu nói". Tất nhiên tôi phải tế nhị hơn ông trưởng họ, nên tôi không nói gì cả, cũng không nhìn chăm chú vào một ai, chỉ lắng nghe và thoáng nhìn thôi. Tôi để ý thấy chị Bơ vẹo cổ tay cầm đôi đũa của ông chồng lấy giấy bản lau qua một lượt, rồi lại lau qua cái bát ăn. Chị không nói một lời và mắt vẫn nhìn thẳng. Lúc ăn cơm, chị gắp một miếng thịt gà, dùng tay lọc xương ra, lại xé miếng thịt cho nhỏ, rồi gắp vào bát của chồng. Cái ông chồng đến là nhõng nhẽo, chỉ đợi vợ gắp thức ăn mới ăn, cho gì ăn nấy, không tự đụng đũa vào bất cứ món nào khác. Chị Ðại nhận thấy ngay, chị quát lên: "Cái ông này đại lãn nhỉ, mắt bà ấy đã lòa dở, không hầu vợ thì thôi lại bắt vợ hầu mình". Ông chồng lại há mồm ra cười, hàm răng giả thật đều và thật trắng. Cuối bữa ăn, nhà chủ đưa cho mỗi người một cái khăn tay dấp nước nóng, ông Phúc mở khăn lau mặt rồi đưa cho vợ. Bà vợ cầm lấy cái khăn lau dở của chồng lau luôn mặt mình. Tôi cúi mặt xuống, sống mũi cay xè, chỉ muốn nhỏ ra mấy giọt nước mắt của yêu thương.

6

Lấy chồng được nửa năm thì chị Bơ phải đi mổ mắt. Một mắt bên phải mờ hẳn đi như có màng kéo, bác sĩ bảo phải mổ. Chị đến nằm ở nhà thương Ðiện Biên Phủ, cô gái út của ông chồng xách hai túi to vừa quần áo vừa đồ dùng vặt vãnh theo mẹ kế cùng vào bệnh viện. Mẹ nằm trên giường, cô con chồng trải mảnh ni lông nằm dưới chân giường, mà là con gái nhà giàu, là tiểu thư. Anh trai và chị dâu thì phóng xe máy đưa cơm ngày hai buổi, vợ đưa cơm trưa, chồng đưa cơm chiều, rồi bón cơm cho mẹ, ép mẹ ăn từng thìa, tiền tiêu như nước. Bữa tôi tới thăm chị Bơ, chị đã được tháo băng mắt, nhưng phải mang kính, nhìn mọi thứ vẫn còn mờ mịt. Chị em trò chuyện được một lúc thì ông Phúc tới. Bà đi bệnh viện được vài ngày thì ông ở nhà bị vấp ngã. Ngã nhẹ thôi nhưng đi lại đã phải dựa vào cây gậy. Ông chống gậy lò dò bước vào, cô con gái vội kéo ghế mời bố ngồi kề giường mẹ. Ông kẹp cây gậy trong đùi, đưa tay nắm lấy bàn tay gầy guộc của bà vợ, hỏi nhỏ nhẹ: "Ðêm qua bà có ngủ được không? Con mắt mổ còn nhức lắm không?". Bà Bơ trả lời: "Thưa, đã đỡ nhiều ạ, đêm qua chỉ thức có một lần thôi ạ". Con gái nói thêm: "Ðêm qua mẹ ngủ say lắm, trưa nay mẹ dùng cơm cũng đã được trên lưng bát". Bà Bơ vẫn để ông lão nắm lấy tay mình, than thở: "Thưa, con mắt tuy đã lành nhưng cái nhìn còn kém lắm, chỉ sợ nó kém mãi thì không làm gì được, ông lại vất vả". Một bà nằm giường bên, cũng ngồi gần đó bắt chuyện: "Bà cụ cứ sợ con mắt bị hỏng con cháu phải hầu, thêm bận họ ra". Ông Phúc nói rất to: "Bà nhà tôi cứ hay nghĩ quẩn, mình hầu hạ chúng nó cả một đời, nay chúng nó có phải hầu lại mình cũng chỉ vài năm chứ mấy. Chả là cái tuổi chúng tôi cũng sắp được về hầu các cụ tôi rồi". Tôi nghe ông anh rể nói chỉ muốn bật kêu lên: "Anh ơi, anh là người đàn ông chung tình nhất, rộng lượng nhất. Ước gì bọn em được tốt như các anh".

7

Bà Bơ ở bệnh viện về được vài tháng, con mắt bị mổ sáng lại dần, bà lại đi chợ, lại nấu cơm ngày ba bữa hầu ông, thì ông chồng lại bị ngã lần thứ hai.Là do ông vẫn đi xe đạp, cái chân đau vừa khỏi lại nhảy lên xe liền, rồi vấp té, tuổi già té xe đâu phải chuyện nhỏ, nhưng ông lão khoẻ chỉ nằm viện có mấy ngày, các khớp xương đã hết sưng nhưng phải nằm, như người liệt. Tôi đến thăm thấy ông nằm đọc sách, chăn nệm trắng tinh, vẻ mặt thỏa mãn như rất bằng lòng với số phận. Chỗ ông nằm thì cực kỳ sạch sẽ, nhưng cái chỗ của bà nằm bừa bộn như cái bếp. Ðúng là cái bếp thật với đủ thứ dụng cụ phức tạp để phục vụ cho cái ăn của người nằm phòng trong. Mà hầu hạ một cách tươi vui, như được dịp báo đáp một ơn nghĩa rất khó trả. Lần nào tôi đến thăm, chị cũng bảo: "Anh vừa nhắc đến cậu, cứ thắc thỏm đã lâu không thấy cậu đến". Rồi bắt phải ở lại cùng dùng cơm với anh. "Anh ăn một mình buồn lắm". Bữa cơm hàng ngày do chị tôi nấu vẫn rất ngon, nấu ngon hơn nhiều bà vợ. Miếng bít tết thật mềm, bát canh cá dưa thật ngon, đến đĩa dưa đĩa cà muối cũng thơm ngon lạ thường. Lần nào ngồi vào ăn tôi cũng hỏi: "Thế chúng nó đâu cả?" "Chúng nó" không phải là người của gia đình nhà gái. Không có người nào bên họ nhà gái tới hầu hai ông bà những lần ốm đau, đến thăm thì có mồm mép đỡ chân tay thì có. "Chúng nó" đây chỉ là mấy người con và cháu của ông anh rể tôi thôi, nhưng gọi thế cho nó thân, vừa thân lại vừa khéo, là không phân biệt con ông hay con bà, là con của cả ông và cả bà. Ông anh rể như có biết cái ý tứ ấy nên ông trả lời: "Cậu tính, bây giờ chỉ có hai vợ chồng già hầu nhau chớ trông cậy thế nào được bọn nó. Tôi đau thì bà hầu tôi, bà đau thì tôi hầu bà. Nói dại, bây giờ bà nhà tôi cũng đau nốt, thì tôi phải tự bò ra bếp nấu cháo nấu cơm chứ biết gọi ai". Chắc không chỉ là một câu nói nịnh mà còn là cái tình thực. Bao giờ ông anh tôi nói tôi đều muốn ứa nước mắt cả.

8

Ông anh rể tôi hóa ra phải nằm thật, nằm đã hai năm nay, nằm ở nhà vợ vì ông đã quyết định về ở hẳn với bà. Có một lần tôi than thở với chị Ðại về cái nghiệp báo nặng nề của chị Bơ một đời người vất vả, đã nghĩ về già được thảnh thơi chút ít lại lẩm cẩm đi rước một người đàn ông xa lạ về hầu, cái số kiếp gì lại đen đủi đến thế.

Chị Ðại quắc mắt nạt nộ ngay, theo chị hai năm qua là quãng đời đẹp nhất của bà Bơ, được hai năm ấy rồi có phải chết cũng thỏa. Tôi vẫn nhăn răng ra cười, hơn bảy chục tuổi đầu vẫn phải đi chợ, phải nấu ăn ngày ba bốn bữa, thi thoảng có tạt qua các em, ngồi chưa nóng chỗ đã láo liên đòi về, "vì anh ở nhà có một mình", ngày không được nghỉ mà đêm ngủ cũng không đẫy giấc, sống như thế lại bảo là rất thỏa, có mà điên. Chị Ðại nhìn tôi một cách rất khinh bỉ rồi giảng giải:

- Một đời bà Bơ có cái gì là của riêng mình đâu, đến một thằng đàn ông của riêng mình cũng không có. Bây giờ bà ấy đã có một ông chồng, là của riêng bà ấy, là mon homme, là ông nhà tôi, ông xã nhà tôi, nó vui lắm, hãnh diện lắm, không nói ra nhưng cứ nhìn mặt là tao biết. Hầu hạ một ông già nửa liệt nửa què mà mặt tươi hơn hớn cứ như người vừa bắt được của, mắt mày mù hay sao mà không nhận ra? Còn tao ấy à, tao lại khác, tao lấy chồng từ năm mười bảy tuổi, ăn ở với nhau trên năm chục năm mới dứt được cái nợ đời, ở với nhau lâu quá tức là nợ, hầu một thằng đàn ông trên nửa thế kỷ lắm lúc muốn phát điên lên, nó chán quá, nhàm quá, ngày nào cũng làm từng ấy việc, nói từng ấy câu, giận hờn nhau cũng là trong bài bản đã quen thuộc. Chán muốn chết. Nên đã có lần tao đi mẹ nó sang Mỹ, ở cả năm với con gái và con rể, trông con cho chúng nó, để cho đời nó khỏi nhàm .

ồ, lại ra là thế. Hình như là thế thật vì có thấy chị Bơ phàn nàn gì về những vất vả của chị đâu, mà lại còn vui lắm, lại chẳng ốm đau gì, cứ khỏe ra, mắt như sáng dần, đi lại phăm phăm, nói năng cũng nhiều hơn và hoạt bát tinh tường hẳn. Cái sức mạnh thầm kín nào đã khiến một bà lão trẻ hẳn lại, vui hẳn lại, có vẻ ham sống hơn trước, còn dám tính toán cả những việc của tương lai? Là tình yêu chăng? Này, các bạn trẻ, các bạn chớ vội cười. Các bạn chớ có nghĩ một cách tự phụ rằng chỉ ở lứa tuổi của các bạn mới biết mãnh lực của tình yêu. Không nên chủ quan như thế! Các bà nội cũng vẫn có, nếu như cái ma lực ấy các cụ không tiêu xài quá phung phí lúc thiếu thời.

Trong số các bà chị và ông anh còn đang sống ở thành phố, tôi rất thích đến thăm và tán chuyện với chị Bơ và ông chồng rất tốt bụng của chị. Cũng như trước đây tôi đã nghiền đến chơi với chị Hoàng, dầu rằng mỗi lần gặp, chị đều trêu chọc tôi, chửi thẳng chửi xéo tôi vì tôi là thằng cộng sản rắn mặt như lời đồn đại trong họ. Chị chửi tôi, chửi cộng sản, nhưng chị chửi có duyên quá nên tôi vẫn năng đến. Ðến với chị Bơ tôi lại có một nhu cầu khác. Tôi lặng lẽ ngắm nghía ông anh rể ngồi lom khom trên ghế, cây gậy kẹp trong đùi, vừa nhìn vợ làm cơm, vừa kể chuyện Ðông Tây kim cổ, chuyện vui và cả chuyện buồn, giọng kể ngọt ngào, âu yếm, còn bà vợ chạy lui chạy tới, quay trước quay sau, hai bàn tay không lúc nào ngưng nghỉ, chốc chốc lại quay mặt về phía chồng, hỏi một cách thơ ngây, một cách nũng nịu: "Lại ra thế hả ông?", "Con người đẹp thế, tốt thế mà bạc phận ông nhỉ? "¡n cơm xong, ông ngồi hút thuốc lá, bà ngồi sát cạnh, đặt bàn tay gầy guộc nhăn nheo lên đùi chồng, ông chồng nắm chặt lấy bàn tay ấy, nắn bóp các ngón và trò chuyện với tôi, thỉnh thoảng lại hỏi vợ, "Ngón tay bà sao lạnh thế, lòng bàn tay cũng lạnh, bà đưa hộp dầu tôi xoa cho". Lạy trời cho anh chị tôi được sống thêm mươi năm nữa, cho đời thêm ấm áp, thêm đẹp. Và tôi thầm cảm ơn chị Ðạt, một bà chị hễ mở miệng nói là ai cũng ngán nhưng ai cũng thương vì khẩu xà mà tâm phật. Chỉ có cái tâm tốt của con người mới làm nẩy nở được những cái mầm yêu thương đang bị thui héo ở đâu đó.

Ngày 27-11-1989



Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Bố vợ

Lê Ngọc Minh

Khi tôi quyết định ở rể, những người thân đều rất mừng. Thằng em nói thẳng ra rằng, cái tuổi Tý của tôi đúng là số "chuột sa chĩnh gạo", mà là chĩnh gạo tám thơm, chứ không phải là gạo thường, gạo tấm. Chả là nhà ông nhạc tôi chỉ có hai người con gái. Bà chị lấy chồng xa. Chồng chị là giám đốc sở tài chính ở một tỉnh phía Nam. Ông nhạc tôi là người Hà Nội gốc, có nhà riêng. Mẹ vợ tôi mất khi ông còn ở quân đội. Ðến tuổi 58, ông được nghỉ hưu với quân hàm thượng tá.

Về hưu rồi, ông ham đọc, ham viết. Lúc nào ông cũng có hai loại sổ: loại thứ nhất, ghi lại những điều hay trong sách vở, trong giao tiếp với người đời; loại thứ hai chép những suy nghĩ của mình trước thế sự hoặc những kỷ niệm sâu sắc trong cuộc đời binh nghiệp. Cứ chép đầy cuốn, ông cụ lại đánh số rồi chép tiếp cuốn khác. Lâu ngày hình thành hai bộ, mỗi bộ đã có trên mười cuốn. Tính ông nhạc tôi điềm đạm, nói năng chậm rãi, giọng ấm, vui buồn ít lộ ra sắc mặt. Tôi còn nhớ, sau ngày cưới một hôm, cụ gọi vợ chồng tôi ra, bảo tôi cùng ngồi, dặn riêng con gái :"Cúc con, cái quý nhất của người phụ nữ là phẩm hạnh. Chồng có yêu, đời có trọng cũng từ đấy mà ra. Anh Tôn (tức là tôi) bây giờ vừa là chồng, vừa là anh của con. Con hãy ghi nhớ lấy điều đó". Nghe ông cụ nói xong, tôi liền chắp tay thưa:"Chúng con cảm ơn bố", còn vợ tôi vội tiếp lời :"Con xin vâng lời bố".

Ðúng như lời thằng em trai tôi nhận xét, cưới vợ xong, tôi không phải lo một thứ gì, vì tất cả nhu cầu cho một cặp vợ chồng trẻ vợ tôi đã lo chu tất. Lương và thu nhập của ba thành viên trong gia đình dư hai triệu rưỡi mỗi tháng. Thỉnh thoảng anh chị vợ lại gửi cho vài triệu. Vợ tôi là người đảm theo lối cổ. Nàng không cho tôi đụng vào bất cứ một công việc nội trợ nào, kể cả việc đi đổ rác. Chiều chiều, khi ở cơ quan về, tôi chỉ có việc tắm táp, đọc báo và chờ cơm. Một tuần vài lần ngồi tiếp chuyện ông nhạc, khi thì nói về tình hình thời sự thế giới, khi thì trao đổi về một bài phóng sự mang tính cấp bách trên báo, hoặc một bộ phim nào đó được chiếu trên đài truyền hình. Thường thì quan điểm của hai người ít gặp nhau. Tôi luôn giữ chủ kiến của mình nhất là những vấn đề có quan hệ đến giới trẻ. Những lúc như thế ông nhạc tôi hay có câu vừa như dặn dò, vừa như thể hiện cái lý đuối của mình :"Anh cân nhắc xem có phải như thế không!" hoặc "Tôi thiếu thông tin nhưng chả lẽ vấn đề nó lại đơn giản như thế...". Tôi hăng hái khẳng định luôn ý nghĩ của mình chẳng cần suy nghĩ cân nhắc như ông cụ yêu cầu. Thú thật, có lúc tôi mù mờ biết mình sai, mình hấp tấp nhưng thấy ông cụ có vẻ như thỏa hiệp, như nhường nhịn nên tôi có lấn tới với vẻ hiếu thắng.

Vợ tôi nhận ra điều đó nên có lần nàng nhỏ nhẹ bảo tôi:

- Anh ạ, hình như... em cảm thấy... anh hay quá lời với bố.

Tôi vỗ vỗ vào lưng nàng:

- Ðã tranh luận thì phải bình đẳng, phải nói cho đến cùng lý lẽ. Với lại bố mình hiền ấy mà.

- Cụ không hiền đâu. Cụ biết hết đấy. Cụ nhường anh thì có.

- Biết, sao bố lại không tranh luận cho tới cùng đi?

- Nhưng để làm gì?

Sau câu hỏi của vợ, tôi lựa lời khuyên nàng đừng quá bận tâm với các cuộc trò chuyện của giới đàn ông chúng tôi. Ðó là thứ chuyện vừa quan trọng,vừa tầm phào, vui là chính, chứ có phương hại gì đến ai. Tôi vẫn khẳng định với nàng rằng ông nhạc là người hiền lành, là típ người cũ, bảo thủ và hoài cổ. Sau mỗi lần nghe tôi nói thế, Cúc, vợ tôi thường im lặng, có vẻ như tin lời tôi. Ðược thể, tôi càng cho thái độ sống của mình là đúng.

Cho đến một ngày tôi gặp tai ương, nói thế cũng là quá, vì chuyện đó do tôi gây ra mà sự vỡ lở lại bắt nguồn từ cái buzy, bộ phận đánh lửa của động cơ xe máy. Buổi tối hôm đó, tôi tháo cái buzy, lau chùi cẩn thận, thử "lửa" cẩn thận, lắp vào ổ máy đề, trăm lần máy nổ cả trăm. Cúc mang trà Lipton cho tôi, hỏi: "Sao hôm nay anh chăm thế?". "ờ, mai anh đi quay cái lễ hội, xe máy phải tốt". Vợ tôi không nói gì. Tôi đảo mắt nhìn về phía bố vợ, nhận ra ở môi cụ có một nụ cười. Tuy nhiên, lúc đó tôi chỉ cho là một nụ cười ngẫu nhiên. ít phút sau, thằng bạn nối khố của tôi đến. Nó dặn ngày mai, tôi sẽ đón nó vào lúc 7 giờ. Nó còn bảo camera và băng nó đã chuẩn bị xong rồi. Nó mua được băng ngoại chính gốc loại siêu. Nó hỏi thăm sức khỏe ông nhạc tôi rồi dặn lại tôi một lần nữa, lời dặn rất to muốn là vợ tôi cũng nghe được những nội dung ấy.

Ðúng là tôi đang có chuyện. Chả là lúc trưa trên đường đi làm về, tôi chợt nghe tiếng phụ nữ gọi :"Anh Tôn! Anh Tôn đấy phải không?", tôi ngoái lại, dừng xe gấp. ở chỗ ngã rẽ, một cô gái cao lớn, ăn vận rất bít-zít, váy ngắn, áo hồng, tóc nhuộm vàng, cắt theo mốt Thượng Hải. Tôi ngớ ra không biết người gọi là ai. Cô gái bảo :"Quên nhau rồi à? Noan - lương thực ngày xưa đây". "Ô, Loan à, khác quá, lộng lẫy quá! Cứ tưởng là một bà Tây nào đấy!" "Ðã từng là bà đầm nhưng chia tay rồi. Anh có rỗi không?". "Ðể làm gì?". "Anh chán bỏ xừ, phụ nữ hỏi mà trả lời kiểu đó thì nghỉ khoẻ nhé". Biết sự khiếm nhã của mình, tôi vội xun xoe :"Ngày trước, em hay đùa thì anh cũng lên gân, lên cốt tý thôi". "Chống chế như thế là loại xoàng, nhưng đang buồn, em tha. Có rỗi thì đi uống cà phê với em?". "Xong!" - tôi đáp một cách hứng thú tỏ vẻ ga-lăng.

Tôi và Loan vào quán cà phê, loại quán có ngăn, chia từng ô kín đáo. Loan hất mái tóc nhìn tôi, hỏi cộc lốc :"Hạnh phúc lắm hả?" "Nói hạnh phúc thì e tự phụ nhưng cuộc sống êm ấm, không có bão táp mưa sa". "Giỏi". "Còn em?" "Lấy chồng bỏ chồng, lấy chồng khác, chồng bỏ!". Loan nói tỉnh khô rồi lại hất mái tóc. Cử chỉ mà có lần đọc báo tôi biết đó là một dấu hiệu gợi tình của phái yếu. Tôi cúi đầu lúng túng không biết nên chọn một câu đáp lại thế nào cho hợp. Ngày trước, Loan là người yêu của tôi. Cô làm ở cửa hàng lương thực phường. Những năm còn sử dụng tem phiếu trong mua bán các mặt hàng thiết yếu thì tôi phải nói rằng, các ông, các bà, các chị, các cô ở bách hóa, lương thực, thực phẩm là những ông bà giời. Có lần, tôi đi xếp hàng từ bốn giờ sáng đến ba giờ rưỡi chiều mới mua được 10 cân gạo. Về đến nhà trông thấy tôi, ông chú họ bảo :"Ðộ này mày ốm hay sao mà gầy thế, cháu?" Tôi bảo không ốm đau gì nhưng khi soi gương thấy mặt mày hốc hác, hai gò má nhô hẳn lên phờ phạc. Sẵn có cái bàn cân thu mua sắt vụn của nhà bên cạnh, tôi xem lại trọng lượng của mình, thấy tụt đi ba ki lô. Mua được 10 cân gạo sút mất ba cân thịt, khiến tôi phải trằn trọc nghĩ cách. Tôi cố lượng xem mình có thế mạnh nào không? Tôi là thằng đàn ông có mẽ, có bằng cấp nhưng là con nhà nghèo. Bốn anh em trai lộc ngộc và một chị gái quá lứa chưa có ai "cẩu" đi cho. ở cơ quan tôi cũng có một chức vụ nhưng là chức vụ đoàn thể mà lại là cấp phó, phó tổ trưởng công đoàn của một tiểu ban có sáu người. Một lần thức giấc vào lúc nửa đêm, bởi một cơn mơ kinh hoàng do buổi chiều hôm đó tôi được xem bộ phim "Kinh Kông" của Mỹ (xin lưu ý rằng, đầu những năm 80 phim nước ngoài được xếp vào loại phim tư liệu, xem trong nội bộ hoặc khách mời diện hẹp là có giá lắm), tôi chợt nhận ra mình cũng có một thế mạnh. Ðó là tôi có thể kiếm được những cặp vé xem phim tư liệu. Ngay ngày hôm sau, tôi mạo hiểm xông thẳng vào phòng làm việc của ông viện trưởng, trình bày lưu loát và xin được cặp vé xem bộ phim "Cuốn theo chiều gió". Có được "thế mạnh" rồi tôi phóng thẳng ra cửa hàng lương thực, đứng ở gốc cây nhìn vào chọn một cô có gương mặt dễ coi nhất, đôi mắt có nét mơ màng nhất, vì tôi đoán là chỉ những cô như thế mới ham thích nghệ thuật, mới thấy cái giá của "phim tư liệu xem diện hẹp". Chọn xong, tôi đứng chờ cho đến 5 giờ chiều, khi cửa hàng đóng cửa vì hết gạo, chứ không phải vì hết người mua. Tôi tiến đến chỗ người con gái đó, chào như đã quen biết:

- Chào em, bận lắm phải không, em?

Cô gái ngước nhìn tôi, cái nhìn thăm dò. Khi thấy tôi không mang túi, tải gì và ăn mặc cũng không đến nỗi, cô ngờ ngợ hỏi:

- Chào anh. Anh là...?

- Anh là "dân" nghệ thuật. Cũng đã vài lần mua gạo ở đây. Thấy em bận bịu suốt ngày, nay mang đôi vé để em mời bạn trai đi xem phim tư liệu giải trí vào chủ nhật - Tôi nói và đưa hai tấm vé cho cô.

Cô sững sờ cảm động trước cử chỉ của tôi. Ðôi môi tươi tắn của cô run run một lúc mà chỉ nói được có hai từ:

- Em xin.

- Ðơn giản có thế thôi. Chào em. Nhớ chủ nhật đi xem em nhé.

- ở đâu ạ?

- Trong vé ghi rất nghiêm chỉnh rồi. Ðây là loại vé đặc biệt, hàng ghế ưu tiên.

- Em cảm ơn anh quá! Em xin!- Cô nhắc lại hai từ lúc nãy.

- Không có gì! - Tôi nói rồi bỏ đi ngay và thầm đoán rằng thế nào cô cũng sững sờ nhìn theo tôi.

Chủ nhật, ngày cô gái đi xem phim, tôi có đến nơi chiếu nhưng muộn hơn và xin người canh cửa cho đứng ghé ở một góc, vì tôi không có vé. Khi buổi chiếu sắp kết thúc, tôi ra trước tìm một chỗ quan sát. Dòng người từ cửa buồng chiếu chen nhau ra, ai nấy đều thì thầm với nhau, nét mặt rạng rỡ, chắc là họ đang nói về cái hay của bộ phim. Cô gái cũng đi xem phim. Ði có một mình. Ra khỏi cửa, cô có ý tìm ai đó. Tôi tiến lại chỗ cô. Cô rất mừng khi nhận ra tôi. Chào cô rồi tôi hỏi:

- Bạn trai em đâu?

- Em không có bạn trai. Em đã rủ cô cửa hàng trưởng đi nhưng cô ấy bận việc đột xuất, thành ra thừa vé, phí quá. Phim hay anh nhỉ. Các anh thích thật đấy.

- Ðây mới là phim hay vừa vừa thôi, có nhiều bộ còn mê ly. Nếu em thích, anh sẽ đưa vé cho em đi xem thường xuyên.

- Tên em là gì?

- Dạ Noan ạ - Cô gái tỏ vẻ ngượng, vì tôi biết cô nói ngọng tên của chính mình. Tôi hỏi chuyện cho cô khỏi lúng túng:

- Nếu Loan đồng ý, anh mời Loan đi ăn kem. ở chỗ kia có kem "Bắc Cực" ăn được lắm!

- Em phải về thổi cơm cho mẹ.

- ¡n kem cũng nhanh thôi mà. Nhà Loan có xa lắm không?

- Cũng gần thôi, ở Hàng Bồ anh ạ.

- Bây giờ là 9 giờ 30 phút, mười giờ Loan về vẫn kịp.

Loan không đáp, theo tôi vào quán kem "Bắc Cực". Từ bữa đó, tôi và Loan quen nhau, rồi yêu nhau. Tất tật tem phiếu về lương thực của nhà tôi, của các bạn thân tôi có hộ khẩu trong phường đều gửi cả ở chỗ Loan, cứ cần lúc nào ra mua lúc ấy mà bao giờ cũng được ưu tiên bán cho loại ngon nhất. Tôi cũng đã chấn chỉnh thường xuyên để Loan không nói ngọng tên cô và những tên người có chữ "L" đứng trước. Mẹ tôi, bà chị quá lứa của tôi mừng cho tôi lắm. Mỗi khi Loan đến nhà tôi chơi, mẹ tôi nhìn cô bằng sự ngưỡng mộ. Cụ khen cô vừa có tướng phúc hậu, vừa có sự dịu dàng. Các em trai tôi thì bảo, giá chị Toàn (chị gái của tôi) mà được như chị Loan thì nhà tôi sẽ đổi đời. Mẹ tôi bảo :"Có voi đòi tiên, chỉ cần một cái Loan là đủ. Phúc lộc vào nhiều một lúc thường có họa". Chúng tôi yêu nhau được hai năm. Rồi vào một ngày giáp Tết, sau chuyến đi công tác ở Lạng Sơn về, tôi hớn hở mang đến nhà Loan cành đào phai thứ đặc sản của tỉnh biên giới, cành đào mà người láng giềng của tôi, làm ở ngoại giao đoàn, gạ tôi một tờ (100 USD) để anh đặt vào phòng khách ngôi nhà mới xây, tôi cũng từ chối. Loan đi vắng. Bốn cô em gái của Loan ngày thường hồ hởi với tôi bao nhiêu thì bữa nay vừa lạnh nhạt, vừa lúng túng bấy nhiêu. Cô thứ nhì, tuổi Dần tên cũng là Dần, cái cô rất có cá tính, trán dô, có duyên nhất nhà thẳng thắn bảo tôi :"Anh Tôn ơi, năm nay nhà em "chơi" quất, anh mang đào về cho cụ bên nhà. Nghe nói "chơi" cả đào, cả quất năm mới không hên". Tôi biết có chuyện rồi hỏi thẳng cô Dần :"Chị Loan đâu, Dần?". "Tối nay anh đến đi, chị Loan sẽ nói chuyện hoàn cảnh với anh". Dần bảo thế và nhắc tôi mang cành đào về.

Vừa bực, vừa tức, vừa tẽn, tôi vác cành đào đi ra. ở ngoài phố, tôi vứt cành đào đáng giá một tờ vào cái thùng rác. Chả ai hoài của quý, một bác qua đường nhặt lấy ngay. Bác ta cẩn thận gỡ những mụn rác bám vào cành đào khen đào đẹp và mang đi.

Ðúng như Dần nói, Loan không tránh tôi vào buổi tối. Cô mời tôi ra vườn hoa Hàng Ðậu. Cô đưa ra lý do. Tôi và cô yêu nhau hai năm rồi mà chưa một lần tôi nói đến chuyện cưới cô. Loan cũng nói thẳng ra rằng, nhìn bà chị tôi, nhìn ba thằng em trai tôi cô hãi lắm. Nếu tôi có cưới cô về thì vợ chồng sẽ ở đâu? Chả lẽ lại làm giường cưới trên gác xép? Mà cô thì cần phải lấy chồng để em gái bốn đứa của cô mới có cơ hội đi lấy chồng được. Loan nói xong thở dài não ruột. Tôi hét lên:

- "Rõ rồi".

Và đứng phắt dậy về thẳng, mặc dù Loan có gọi với theo tôi. Trong thâm tâm dù đã thề độc rằng, sẽ không bao giờ nhìn mặt Loan nữa nhưng ngày cưới Loan tôi vẫn đến, mừng một đôi vé đi xem phim. Tôi ngạo nghễ nhìn chú rể. Anh này trông hiền lành nghe nói là học ở Tiệp về. Loan xem tôi như nhiều người quen biết khác, hơn hớn cùng chú rể tiếp khách.

Một thời gian sau, chuyện tem phiếu được dẹp bỏ. Gạo ngon có người mang đến bán tận nhà, thậm chí mua chịu cũng được, vì thế, tôi chẳng phải đi đong gạo nên cũng không biết cuộc sống của Loan thế nào. Rồi tôi cưới vợ, ở rể.

   Ít lâu sau, chị Toàn tôi được một anh 46 tuổi yêu chết mê chết mệt, cứ đòi cưới tắp lự. Chị tôi có ngủng nghỉnh làm bộ vài lần rồi thuận tình lấy anh. Hai em trai tôi cũng theo gương tôi đi ở rể. Chúng nó không may bằng tôi, bởi rơi vào chỗ đông người, đất cát nhà cửa chia bôi thế nào chẳng rõ, cứ thấy ít bữa lại kéo nhau ra toà. Cuối cùng rồi họ phải bán nhà, chia mỗi người một ít, tản ra các phía rồi mới yên ổn được. Mẹ tôi ở với thằng út, nó thừa hưởng chỗ 20m2 nhà cấp bốn. Vợ nó đi làm "liên doanh" nên nhanh chóng xây được nhà ba tầng. Nó vẫn hay so bì với tôi. Nó bảo, nếu có chỗ đất như tôi, nó làm biệt thự năm tầng có khuôn viên, có gara ôtô, tầng chót thì làm bể bơi. Nghe nó nói thế, tôi chỉ cười.

Ngồi uống cà phê với Loan tôi được biết thêm, cô đã có căn hộ bốn phòng, sống độc thân, đã nghỉ "chế độ" nhưng mới nhận làm cố vấn tiếp thị cho một công ty trách nhiệm hữu hạn. Cô bảo cô rất buồn, rất cô đơn. Cô còn thổ lộ chỉ có tôi mới mang đến cho cô tình yêu đích thực, rằng hai năm yêu tôi, cô "được" nhiều lắm. Cô thừa nhận sự nông nổi, vô duyên của mình. Cô đề nghị tôi hãy đưa cô đi chơi xa một lần. Ðưa ra đề nghị ấy, cô nhìn xoáy vào mắt tôi đam mê chờ đợi. Tôi cảm động nắm lấy đôi bàn tay có những móng dài đỏ chót của cô, đưa lên môi hôn. Tôi thấy cô run lên, giọng lạc đi :"Hoàng tử của em". Tôi nuốt khan khối rạo rực, thảng thốt hỏi: "Em đã đi Ao Vua chưa?" "Ði đâu cũng được càng xa Hà Nội càng tốt". "Hay đi Suối Tiên". "Tuỳ anh". Chúng tôi chấp thuận cùng nhau đi Thiên Thai. Bảy giờ sáng hôm sau tôi sẽ đón Loan. Chia tay Loan, tôi rẽ vào nhà thằng bạn, cái thằng hay bảo tôi là "Chó chui gầm chạn", dặn nó như thế, như thế... Buổi chiều hôm đó, tôi lòng dạ bồn chồn như lửa đốt. Buổi tối không biết ma quỷ mê hoặc thế nào, tôi tháo buzy ra lau. Thật ra thì tôi lo xa thôi. Ði chơi với người tình cũ, người tình đang cô đơn, đang xem tôi như một cứu cánh mà xe lại tậm tịt thì hoài thời gian lắm. Khi thằng bạn đến, cụ thể cái sự "như thế, như thế...' của tôi bằng thông báo đi quay lễ hội vào ngày mai. Về rồi, tôi buồn tay thế nào lại ấn đề cho xe nổ không tải một cách ngu ngốc. Tắt máy xong, tôi đi vào, đi ra, huýt sáo vang nhà.

Sáng hôm sau, tôi dậy sớm, lau sàn nhà, đun nước, đi mua đồ điểm tâm, mời ông nhạc ăn sáng. Thời gian trôi thật là chậm. Mãi kim đồng hồ mới nhích đến 6 giờ 45 phút. Tôi chào bố vợ và vợ đi trước. Ra khỏi nhà, tôi phóng như bay về phía Hàng Bồ. Loan đã chờ tôi ở đầu phố. Tôi dừng xe nhanh. Loan lên xe cũng nhanh. Cả hai lặng lẽ rời "toạ độ chết" đi về phía Yên Phụ, dọc theo đê Nhật Tân phóng với 60, 70km giờ hướng về đường cao tốc. Chỉ hết 55 phút chúng tôi đã đến Thiên Thai. Dừng lại trước một quán ăn, tôi định mua mấy thứ nhưng Loan bảo không cần, cô đã chuẩn bị đầy đủ cho hai đứa... cả ngày. Thuê phòng, nhận chìa khóa xong, Loan nhắc tôi là mang cả xe vào phòng. Khi cái thế giới riêng được chốt cài cẩn thận, chúng tôi vồ lấy nhau mà hôn. Loan trẻ trung cù vào ngực tôi:"Có ma kia! ma đấy!". "Không sợ", tôi đáp và siết cô vào ngực mình. Bỗng có tiếng gõ cửa rất gấp rồi giọng cô lễ tân :"Anh gì, chị gì ơi, em gửi phích nước". "Ðể đấy". "Anh ơi, có việc đấy!" "Gì cơ?" "Mở cửa em nói cái này". Chúng tôi vội rời nhau. Tôi thầm bực bõ với cách phục vụ của mấy cô nhà khách tỉnh lẻ.

- Gì đấy cô? - Vừa mở cửa, tôi cau có hỏi.

Cô phục vụ mặt tái mét, nói nhỏ với tôi:

- Hình như là vợ anh đi tìm anh. Chị ấy người cao cao, có một chú đầu húi cua, da đen đen đèo chị ấy. Họ vừa vào lễ tân đấy. Anh có để lại giấy tờ gì không?

- Thuê trọn gói trả tiền trước, không để lại gì?

- Vậy anh chị "thoát" nhanh lên. Ðây có lối vòng ra nhà 4C đi ven hồ ra đường lớn, chị ấy không phát hiện được đâu.

- Cứ đóng cửa ở trong này đã sao?

- Chị ấy biết anh đến đây rồi. Tuần trước có một trường hợp đánh ghen phải đưa đi bệnh viện đấy anh ạ. Lúc đầu, nói anh đừng giận, lễ tân cũng nghi anh nhưng... nể, thành ra...

Nghe xong, tôi bủn rủn cả người. Loan đến sau tôi, bảo: "Anh sợ thì đi về". Tôi trả lời liều :"Sợ thì không nhưng phiền phức lắm. Chả gì mình cũng phương diện...".

- Thôi về cho khỏi rách việc, chú thỏ, về!

Tôi dúi vào tay cô gái phục vụ tờ 20 ngàn rồi lập cập dắt xe ra. Cô gái hướng dẫn chúng tôi lối thoát như cô đã nói. Ra đường, mặt Loan nặng như chì, tôi phải động viên :"Mình về một khách sạn ven Hồ Tây có được không? ở đó, họa là trời có mắt mới tìm thấy.

- Xin lỗi. Anh đưa em về ngay đi! - Loan nói xong, quẳng cái gói đồ ăn, thức uống xuống hồ, môi mím lại chỉ còn một vệt như sợi chỉ.

Biết nói gì lúc này cũng chỉ là đổ thêm dầu vào lửa nên tôi chờ Loan ngồi lên xe là vù đi ngay. Tôi phóng hết cỡ vì như thông báo của cô phục vụ thì người thanh niên kia chính là cháu họ vợ tôi, thằng này có biệt tài đi xe máy. Nó đã rủ tôi lên đỉnh cầu Thăng Long, chờ lúc vắng người, phóng xe với tốc độ 160km một giờ để tìm cảm giác mạnh, tôi hy vọng trong trường hợp này, hắn vì "quyền lợi danh dự" của nam giới mà tìm kế hoãn binh hộ tôi, chứ với sức hắn, với cái Suzuky 350cm3 của hắn thì họa tôi có bay mới thoát. Ði được mười phút, thấy đã ra đến gần ga xe lửa tôi ngoái lại thấy không có cái đuôi nào bám đã mừng. Tôi nảy ra ý định đi ngược lên mạn trên. Thì chắc chắn là thoát. Nhưng cái ý nghĩ ấy chưa kịp thực hiện thì xe tôi ì ra, giống như là hết xăng. Tôi nhìn đồng hồ nhiên liệu, thấy kim vẫn chỉ ở con số 3 nghĩa là xăng trong bình vẫn còn đầy. Chiếc xe dừng lại, tôi mở cửa gió, đề. Máy ặc lên rồi tắt. Kiểu này là trục trặc ở buzy rồi. Tôi đẩy xe vào sau cái bảng tin. Mắt nhìn về phía Thiên Thai. Chỉ thấy có vài bóng xe nhỏ xíu đang phóng tới. Loan cắm cẳn dẫm chân, không muốn lại chỗ bảng tin. Tôi hét lên: "Muốn chết à! Có nép vào đây không thì bảo" - Hét xong, không đợi Loan có nghe hay không, tôi đẩy chiếc xe tậm tịt vào phía sau cái bảng tin. Khốn nỗi vì vội nên bánh trước sa xuống ruộng ngập đến tận moay-ơ. Loan đến, giúp tôi kéo nó lên, giúp tôi đẩy. Khi đã tìm được chỗ khuất, tôi ló đầu, kiễng chân nhìn về hướng cũ, thấy có người đi xe tới, nhưng không phải thằng cháu vợ tôi.

Tôi tháo buzy, lóng ngóng lau, mồ hôi túa ra. Loan thì tựa lưng vào bảng tin, khoanh tay cười. Tôi cáu, hỏi :"Cười gì?" Loan khủng khỉnh :"Cười đời". Tôi nhẫn nại gõ gõ cái buzy vào máy, thử xem nó có đánh lửa hay không. Những tia lửa xanh tí tách nổ. Mừng quá, tôi lắp nó vào, đang chuẩn bị đề cho nổi thì chiếc xe Suzuky 350cm3 tựa như từ trên trời rơi xuống, quành một đường rất khéo đến sát tôi, chỉ còn cách độ 60 phân. Thắng cháu họ trời đánh ngoan ngoãn :"Cháu chào chú Tôn ạ, cháu chào cô gì ạ". Tôi đứng như bị găm chân xuống đất. Vợ tôi nhẹ nhàng hỏi :"Anh Tôn, sao lại thế này? Xe đã sửa xong chưa, anh?" "Xong rồi", tôi đáp như một cái máy và đáo mắt nhìn Loan. Loan nhìn trừng trừng vào tôi. Tôi vội tránh cặp mắt ấy.







- Anh Tôn, sửa xong xe thì mời anh về.

- Về - Tôi đáp vu vơ rồi đẩy cái xe ra đường. Chả biết sức mạnh nào khiến tôi đẩy nó băng băng trên bờ mương gồ ghề. Ra đến đường cái, tôi mới sực nhớ là còn Loan nữa. Làm sao bây giờ? Tôi chưa nghĩ ra giải pháp thì vợ tôi lại giục.

Lời cô nàng lúc này kiên quyết hơn:

- Anh ngồi lên xe đi về.

- Thì về - Tôi "đề" và phóng xe đi.

Thằng cháu họ đèo vợ tôi "áp tải" phía sau. Khi tôi phóng nhanh thì thằng cháu lướt tới dặn:

- Chú Tôn ơi, cô bảo đừng phóng nhanh nguy hiểm.
Tôi không đáp cứ giữ tốc độ một cách ngang bướng, vì tâm trạng tôi vô cùng bực bội. Trời ơi, Loan sẽ về nhà bằng cách gì? Cô sẽ nghĩ về tôi như thế nào? Sao lúc vợ tôi giục tôi về, tôi không can đảm nói với Cúc rằng, dù gì thì gì cũng phải đưa Loan về? Sao tôi không chào Loan một câu? Cố nhiên là Loan sẽ không ngồi chung xe với tôi, bởi làm thế thì có khác nào trêu ngươi vợ tôi nhưng ít ra tôi cũng phải gọi cho Loan một "cuốc" xe ôm chứ?

- Anh Tôn, anh không cần phải phóng nhanh như thế- Khi thằng cháu chở vợ tôi vượt lên, Cúc nói như quát với tôi, điều mà mấy năm chung sống, cô chưa một lần dám thế.

- Chết thì thôi, cần quái gì! - Tôi trả lời liều. Vợ tôi không đáp, nói gì với thằng cháu rồi thấy nó cho xe lên chắn lấy xe tôi. Vợ tôi xuống, ngồi sang xe của tôi. Thằng cháu rồ ga đi chầm chậm phía trước cản đường không cho tôi phóng nhanh nữa.

Chúng tôi về đến thành phố, thằng cháu họ vụt biến mất vào dòng người đông đúc. Tôi gợi chuyện:

- Em với cháu đi từ lúc nào?

Cúc không đáp. Tôi lẳng lặng đi tiếp. Một lúc sau, tôi buồn mồm, lên tiếng thanh minh:

- Ðừng bực anh nữa. Chưa có chuyện gì đâu.

Vợ tôi vẫn im lặng.

Khi tôi định rẽ vào lối để về nhà, Cúc mới mở miệng:

- Ði thẳng đi anh Tôn

- Ði thẳng là thế nào?

- Ði thẳng là đi thẳng chứ còn thế nào nữa.

- Thế, em không muốn về nhà à?

- Về nhà! Anh không phải hỏi nữa!

Thì ra nàng bảo tôi đi thẳng, tức là "dong" tôi về nhà mẹ đẻ của tôi. Chà, mới cao tay làm sao! Khi về đến gần nhà mình, tôi lo cuống cả lên, nói như xin với vợ:

- Làm khổ anh thì em được cái gì? Cúc ơi, thương anh đi!

- Anh cứ về, không ai làm khổ anh đâu.

- Em muốn giao thằng con hư cho mẹ anh chứ gì? "Xấu chàng hổ ai " em ơi?

Vợ tôi không trả lời nhưng nghe tiếng chép miệng, tôi biết cô nàng cười khẩy, củng cố quyết tâm "riềng" tôi. Tôi phải nghĩ cách khác để tự bào chữa cho mình trước mặt mẹ đẻ. Cũng may cho tôi, vợ chồng thắng út đi vắng, chứ chường cái mặt của thằng đàn ông ngoại tình ra với em trai, em dâu thì còn ra thể thống gì nữa. Thấy mẹ tôi, vợ tôi nhào lại chỗ cụ, khóc nức nở như sắp chết đến nơi. Không cần hỏi, mẹ tôi đã hiểu có sự. Bà hỏi tôi:

- Thằng Tôn vụng trộm gì phải không?

- Mẹ ơi chưa có gì đâu ạ, cô ấy nông nổi..

Câu nói của tôi như ngọn gió bùng lên nỗi ức trong vợ tôi. Cúc khóc òa lên, rồi nói trong tiếng nghẹn:

- Mẹ ơi, anh ấy đưa người yêu cũ đi khách sạn, con bắt được quả tang mà anh ấy còn bảo con là nông nổi. Mẹ ơi, khổ con quá!

Mẹ tôi ôm lấy Cúc, vuốt tóc cho nàng và bà nhìn tôi nghiêm khắc, mắng:

- Thằng khốn, sao mày còn đứng đực mặt ra đấy? Mày còn không về đi, à? Về!

- Mẹ...!

- Tôi bảo anh về đi cho mẹ con tôi yên.

- Mẹ ...! Tôi cố giãi bày thì mẹ tôi đứng dậy, bà tát cho tôi một cái và tiếp tục đuổi tôi đi. Tôi lầu bầu, cắm cẳn, dắt xe ra khỏi nhà mẹ đẻ. Dọc đường, tôi mới nhận ra sự khéo xử của mẹ mình. ừ, liệu tôi ở đó thì giải quyết được gì, chỉ thêm ngứa mắt vợ tôi. Lúc này, nàng đang hết sức đau khổ, cần phải có nơi để dốc cho hết nỗi niềm. Tôi tin với bản tính hiền lành, khéo khuyên nhủ, mẹ tôi sẽ giúp nàng vợi đi. Yên được một phần, tôi lại phải lo đến phần tiếp. Về nhà sẽ nói với ông nhạc tôi thế nào đây? Ông đã quý tôi như thế. Tôi đã có lúc lấn lướt ông như thế. Nhà đã cháy, chuột đã lộ mặt. Ôi cái mặt chuột của tôi giờ đây lò dò về nhà! Tôi quyết định sẽ nói hết sự thật với ông cụ. May ra cụ sẽ thông cảm, cụ "ân xá" cái sự đam mê ma xui, quỷ mướn ngu muội của tôi.

Tôi về nhà, ông nhạc đang ngồi ghi chép. Tôi chào cụ, pha ấm trà, mời cụ uống nước. Khi cụ đã ngồi, đã uống trà và hỏi thăm công việc quay "lễ hội" của tôi, tôi ấp úng thưa lại với cụ câu chuyện vừa xảy ra và luôn nhấn mạnh câu :"Chưa có chuyện gì đâu ạ". Nghe tôi trình bày xong, ông cụ chưa phán xét ngay. Tôi lấm lét nhìn bố vợ. Nét mặt luôn điềm tĩnh của cụ buồn hẳn đi. Tôi hiểu rằng, cụ ít nhiều bị sốc, cụ đang thất vọng về tôi. Thấy cụ nhìn tôi, tôi vội cúi mặt xuống ấp úng:

- Con mong bố thương, vả lại cũng chưa có chuyện gì.

- Tối qua - ông nhạc tôi chậm rãi nói - nhìn anh loay hoay với xe pháo, nói anh thông cảm, tôi đã thấy sự bất thường. Cũng thật tiếc, anh lại để cho cái Cúc nó biết. Mà con bé cũng xốc nổi quá, tại sao lại phải đưa anh về bên cụ? Như thế là nó hỗn với cụ quá. Thôi thì đằng nào chuyện cũng xảy ra rồi, anh cứ "hoạt động" bình thường. Mọi việc anh để tôi lo. Mai kia rỗi tôi phải đến xin lỗi cụ bên nhà.

- Thưa bố, trăm sự là tại con. Cúc không có lỗi ạ.

- Anh không phải nói nhiều. Có phải đi việc gì thì cứ đi đi.

- Dạ.. cũng không có việc gì ạ. Con mời bố xơi nước.

Ông cụ nhấp môi chén trà tôi vừa rót thêm rồi đứng dậy, đi lại cái bàn, tiếp tục viết lách. Tôi cũng ngượng ngùng đứng dậy. Nhìn quanh chả có việc gì làm, tôi lại lau nhà, việc mà lúc sáng tôi đã làm. Lau xong tầng dưới, tôi lên tầng trên lau cửa kính, cửa sổ, đầu óc suy nghĩ mông lung, làm mà chả biết làm việc gì. Tôi đã nhầm thảm với nền nhà nên "lau" thảm một lúc mới sực nhớ ra, lại phải dùng quạt để quạt cho khô cái thảm ướt. Quạt không được, lấy bàn là ra là làm cho thảm cháy khét lẹt.

Vợ tôi về. Tôi rụng rời chân tay. Tôi lẻn ra chỗ cầu thang xem, nàng sẽ "tố" với ông nhạc những gì. Tôi thấy Cúc không khóc như lúc gặp mẹ tôi nên cũng có phần mừng. Chờ cho Cúc cất xong mấy thứ, tôi nghe tiếng ông nhạc gọi con gái:

- Cúc, con ra đây bố nói cái này.

Rồi tôi nghe tiếng ông nhạc vừa nghiêm khắc, vừa nhỏ nhẹ:

- Anh Tôn có lỗi với con nhưng con xử sự như vừa rồi là không phải. Còn có biết con làm thế là xúc phạm đến cụ bên nhà không?

- Bố lại nghe anh Tôn mách gì rồi! - Vợ tôi nói thế rồi khóc òa lên.

Ông nhạc tôi nói tiếp:

- Bình tĩnh con gái.

- Con bình tĩnh lắm, con mới xử sự như thế. Nếu là người khác..

- Con chưa bình tĩnh đâu. Nghe bố đã. Vậy con so con với người đàn bà kia ai hơn?

- Con kém cỏi nên anh Tôn mới làm khổ con thế.

- Khiêm tốn, nhún mình là quý nhưng con nói chưa thật lòng. Anh Tôn đã nghe con, đã phải theo con về nhà mẹ đẻ của anh ấy, thế là con đã hơn đứt người phụ nữ kia, đúng không?

- Chả qua là anh ấy bị con phát hiện.

- Dù sao thì anh Tôn đã nghe con. Nói cho phân minh ra, trong trường hợp này con thắng cả hai. Người thắng trận nên bao dung, đại lượng. Ngay ngày mai, con phải sang xin lỗi bà cụ, còn vợ chồng, lúc thấy được, con phải có lời với anh Tôn.

Nghe bố vợ nói thế, không đừng được, tôi vội chạy xuống chắp tay:

- Thưa bố, tại con, tại con tất cả. Con phải là người xin em Cúc tha thứ.

- Anh cứ đi lên nhà lo công việc. Trong chuyện này bố là người bình tĩnh nhất để phân xử đúng sai.

Tôi đành phải cun cút đi lên. Tôi không dám theo dõi cuộc trò chuyện của bố vợ và vợ tôi nữa. Ðến tối, tôi chủ động xin Cúc tha thứ nhưng nàng lặng im. Tiếp những ngày sau, trong bữa cơm hay lúc có ông nhạc, bao giờ Cúc cũng mời chào đúng phép, còn khi chỉ có hai vợ chồng, tôi có hỏi gì nàng cũng im lặng. Tôi rơi vào hoàn cảnh "chó chui gậm chạn" thật. Thôi thì đành lấy công chuộc tội, ngoan ngoãn, nhẫn nại "thi hành" đến cùng các tình tiết của kế khổ nhục. Mất đúng ba tháng mười tám ngày, tôi lăn đùng ra ốm, một trận cảm cấp. Lúc đó, vợ tôi mới mở miệng với tôi, mới chăm sóc tôi như xưa. Lựa lúc nàng dịu dàng nhất, tôi ngỏ lời xin tha thứ, nàng dí tay vào trán tôi bảo :"Chuyện cũ cho qua. Anh mà để xẩy ra chuyện gì nữa thì em không chịu đâu". "Biết tội đáng chết rồi!". Tôi thở phào nhẹ nhõm, tôi thầm cảm ơn trận ốm. "Chiến tranh lạnh" đã qua, đám mây u ám nặng nề trong nhà tôi đã được sự khoan dung của Cúc xua đuổi. Ba tháng mười tám ngày chịu trận, tôi đã có thói quen rửa bát, quét nhà, chiều chiều cứ quanh quẩn bên vợ chờ sai vặt. Nhiều hôm, vợ tôi phải giục tôi ra hầu chuyện ông nhạc.

Cho đến một ngày, chỉ có tôi và bố vợ ở nhà, ông cụ bảo tôi:

- Thế, anh Tôn đã đến xin lỗi bạn gái dạo nào chưa?

- Bố lại trêu con! - Thấy ông nhạc nói vui nên tôi cũng đáp lại một cách thoải mái.

- Có dịp nào thì đến xin lỗi người ta đi. Bỏ rơi đàn bà, con gái giữa đường như thế là không phải. Tôi không dám bày tỏ tình cảm của mình trước câu nói của bố vợ. Song sau đó, tôi lại nghĩ đến Loan, nghĩ dến chuyện hồi ba tháng trước. Loan về nhà bằng cách gì? Loan có thông cảm cho hoàn cảnh của tôi không?... Và vài ngày sau, tôi có bí mật đến nhà Loan để xin lỗi cô. Tôi vào nhà. Loan đang làm bếp. Tôi chào cô. Cô im lặng. Khi tôi hỏi Loan :"Hôm trước Loan về nhà bằng cách gì?" thì cô quắc mắt nhìn tôi. Tôi cười trừ tỏ vẻ làm thân, tiến đến chỗ Loan. Bất ngờ, cô cầm cái chảo, trong đó có hai quả trứng đang sôi lên trong mỡ, hắt về phía tôi. Tôi tránh kịp. Hai quả trứng cùng với mỡ nóng lao thẳng vào tường, bám chặt và tỏa nhiệt nghi ngút.

- Loan - Tôi bàng hoàng kêu lên.

- Cút! - Loan nói và tìm cái gì đó như muốn ném vào tôi nữa.

Tôi vội ra khỏi nhà Loan. Hành động của Loan làm tôi buồn và nghĩ ngợi lắm. Bên tai tôi vang lên lời của vợ :"Bố không hiền đâu. Bố biết hết đấy!". Có phải ông nhạc tôi bảo tôi đến xin lỗi Loan hay là cụ muốn Loan dạy cho tôi một bài học? Nghĩ đi, nghĩ lại, tôi vẫn cho rằng, ông nhạc tôi sai tôi đi với dụng ý tốt, ông cụ chẳng thể đoán trước được cái kết cục mà Loan đã đối xử với tôi vừa rồi. Có điều từ bữa đó, mỗi lúc được hầu chuyện ông cụ, tôi đắn đo cân nhắc trước khi đưa ra chính kiến của mình. Vợ tôi khen tôi là ngoan, tôi đáp lời nàng như người từng trải :"Mỗi tuổi, mỗi khôn, em ạ".



Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Mùa xuân - tiếng chim

Vũ Tú Nam

Anh phải nghỉ lại đây với tôi một đêm, anh Năm ạ. Chẳng mấy khi bạn bộ đội cũ gặp nhau. Vả lại mưa phùn lầy lội thế này, anh đi làm gì vội.

Ðây là nhà mẹ Thái, nơi gia đình chúng tôi ở nhờ những năm tản cư trong kháng chiến chống Pháp. Bắt đầu từ năm 1948, phải, khi ấy tôi mới 14 tuổi. Bao nhiêu kỷ niệm đã dồn dập diễn ra trên mảnh đất này, thấm thoát đã trên 30 năm rồi. Chính vì để nhớ lại chuyện xưa, tôi đã lặn lội về đây. Tình cờ lại được gặp anh, may thế!

Cảm ơn anh đã hỏi về việc vợ con tôi. Tôi vẫn nằm giường cá nhân, nghĩa là "vô sản" như hồi xưa, như hồi sống chung với anh cùng đơn vị. Tâm sự của tôi thì dài lắm, nếu anh chịu khó nghe, tôi xin kể...

Cha mẹ tôi được mỗi mình tôi. Tản cư từ Hà Nội cuối năm 1946, đến 1947 cha tôi nhập ngũ. Ông mất rất đột ngột vì sốt rét ác tính ở vùng Nho Quan - Chi Nê. Mẹ tôi phải gắng gượng để sống mà nuôi tôi. Bà bán dần mòn từ đồ nữ trang đến quần áo, rồi cuối cùng cơ quan phụ nữ tỉnh nhận bà vào biên chế. Mẹ con tôi đến ở nhà mẹ Thái đây.

Trong chuyến đi công tác ở thị trấn Thanh Xuân mẹ tôi tình cờ gặp một bà bạn học Hà Nội tản cư tại đó. Cô Mai - tôi thường gọi thân mật tên bà như vậy - đang sống trong tình cảnh rất gieo neo. Mẹ tôi kể rằng chồng cô đã bỏ cô, "dinh tê" vào thành, để lại cho cô một bức thư đoạn tuyệt và đứa con gái lên mười. Không nơi bám víu. Cô Mai nhận lời chung sống với một lão chủ hiệu chữa đồng hồ. Nào ngờ lão ta đã có vợ. Vợ lão ta đánh ghen, đập phá, mắng chửi, đuổi mẹ con cô Mai ra khỏi nhà. Trong những ngày ấy, mẹ tôi luôn luôn nhắc đến cô Mai và tìm mọi cách giúp đỡ cô.

Thế rồi một buổi chiều, cũng mưa phùn ẩm ướt như thế này, mẹ tôi bước vào nhà - chính chỗ anh và tôi đang ngồi đây - hai mắt mẹ tôi đỏ hoe, một tay xách cái tay nải, tay kia dắt một đứa con gái gầy quắt khóc sướt mướt. Không chịu nổi những khổ đau dồn dập, cô Mai đã nhảy xuống sông tự vẫn! Và mẹ tôi đã nhận đứa con gái bạn - tên là Thu - về nuôi.

*
* *

Khi đó Thu lên mười kém tôi bốn tuổi.

Mấy ngày đầu, Thu không chịu ăn, chỉ khóc. Mẹ tôi giở cái tay nải - tài sản duy nhất còn lại của cô Mai - lấy áo quần ra khâu vá lại cho Thu. Mẹ dạy tôi phải coi Thu như em. Mẹ lập bàn thờ cô Mai ở góc nhà, không xa bàn thờ cha tôi là mấy.

Thế rồi tôi kèm cho Thu học thêm. Mẹ tôi âu yếm một điều "mẹ mẹ con con" với Thu, trong khi Thu cứ một mực xưng "cháu" và gọi mẹ tôi là "bác" Thu ăn uống rất giữ ý, và thường tranh lấy việc để làm: quét nhà, rửa bát, nấu cơm... Có lẽ những ngày ở nhà ông bố dượng chủ hiệu chữa đồng hồ, em đã phải sống gần như đứa ở. Mẹ tôi xót xa về điều đó lắm, và thường thu xếp để em ít phải làm việc nhà chừng nào hay chừng ấy.

Tôi là con trai, khỏe sức, mẹ tôi sai tôi gánh nước ở giếng về đổ vào bể xây nhà mẹ Thái đây, để mọi người dùng chung. Tôi bổ củi. Tôi xay lúa. Tôi giã gạo. Mùa rét, tôi đun nước, múc nước cho mẹ tôi và Thu tắm, gội đầu. Còn mẹ tôi thì ngoài công tác ra phải lo chợ búa, bếp núc, khâu vá, trồng rau, nuôi gà. Bà chi tiêu rất dè sẻn, vì dù sao cũng đã có thêm một miệng ăn.

Có lần mẹ tôi đi công tác dài ngày, ở nhà Thu bị ốm. Em sốt run bần bật. Tôi đun nước xông theo lời chỉ dẫn của mẹ Thái và nấu cháo Thu ăn. Gà đã đẻ được 13 quả trứng, tôi mang ra chợ Song bán đi một chục, còn ba quả tôi luộc dần để Thu bồi dưỡng. Có bữa hai anh em ngồi vào mâm cơm, quay đi quay lại, khi tôi và đến lưng chừng bát cơm thì thòi ra một nửa quả trứng - Thu bí mật giúi trứng vào để buộc tôi phải ăn.

Dần dà, Thu bớt xanh và gầy đi. Em linh lợi và hoạt bát hẳn. Mẹ tôi xin cho em đi học trường làng. Chẳng mấy chốc Thu hòa ngay với các bạn gái trong xóm. Bấy giờ tôi mới phát hiện ra rằng Thu nghịch như con trai. Em đá cầu vào loại giỏi nhất trường và leo trèo như vượn. Có lần mẹ Thái muốn bẻ buồng cau, hỏi tôi có biết trèo không. Tôi lắc. Thế là Thu thoăn thoắt leo lên tận ngọn, không những cắt được buồng cau thả xuống, mà còn bắt gọn hai con sẻ ra ràng làm quà cho tôi nữa. "Chiến công" này của Thu, tôi và mẹ Thái giấu biệt không cho mẹ tôi biết.

Hồi ấy, mẹ con tôi được ở cả gian nhà ngoài này. Mẹ tôi và Thu ngủ giường bên trái, một mình tôi nằm giường bên phải. Hễ mẹ tôi đi công tác thì mẹ Thái ở trong buồng phải ra ngủ với Thu, vì không hiểu sao em sợ ma lắm. Một buổi sớm em kể với tôi rằng em ngủ mơ thấy mẹ Mai nằm nổi lên giữa lòng sông; nước đẩy mẹ quay tròn... Rồi ôm lấy cổ tôi gục đầu vào vai tôi, em khóc. Tôi chỉ biết im lặng vuốt tóc em để an ủi em.

Ðầu năm 1952, tôi tròn 18 tuổi. Theo sự giới thiệu của mẹ Thái, lần đầu tiên tôi thoát ly gia đình, xuống tận huyện Ðông Sơn dạy học tư. Nhà chủ là một gia đình trung nông cứng, muốn nuôi thầy để kèm cho cậu con trai độc nhất - lười và dốt đang học lớp hai. Ngoài ra, thầy còn dạy chữ thêm cho bà vợ và cô em ông chủ, cùng bốn năm chú bé hàng xóm nữa. Thầy được nuôi ăn ngày ba bữa, không bữa nào thiếu thịt và cá biển. Cơm bưng nước rót. Mình thầy một mâm. Ðôi khi ngủ trưa dậy, lại có xôi chè!

Những ngày được ăn uống đầy đủ như vậy, tôi rất thương mẹ tôi và Thu kham khổ. Do đó, cứ cuối mỗi tháng, sau khi ông chủ trả tiền công, là tôi cuốc bộ bốn mươi ki lô mét về thăm nhà và đưa tiền cho mẹ tôi. Không bao giờ tôi quên rẽ vào hàng xén mua quà cho Thu, khi thì cái cặp tóc, quyển vở, khi thì cái gương, cái lược.

Cuối tháng bảy năm ấy, tôi bị ốm đột ngột, không về đưa tiền cho mẹ tôi được. Pháp lại ném bom mấy trận quanh vùng. Thế là mẹ tôi sốt ruột, phái Thu lặn lội đến thăm tôi.

Buổi trưa, tôi vừa dứt cơn sốt, thấy một cô gái tóc tết thành hai đuôi sam, mặc áo nâu non, mặt đỏ hồng vì nắng, cắp nón có gài lá ngụy trang, bước vào sân bẽn lẽn: "Chào bác ạ! Cháu hỏi thăm..." Bước thêm hai bước nữa, Thu mới nhận ra tôi, và cả tôi, tôi cũng không nhận ra Thu lúc em thoạt vào. Bởi vì tôi đang ngồi co ro khoác cái áo ca-pốt lính tẩy bằng dạ mầu cứt ngựa của ông chủ, còn Thu thì nom lạ quá với hai cái đuôi sam mới. Hai anh em mừng rỡ cười chế nhau mãi.

Thu ở lại săn sóc tôi hai hôm. Em đánh gió cho tôi (cách đánh gió do mẹ tôi dạy), nấu canh cua rau đay, và cháo hến là hai món ăn tôi thường thích. Chiều mát, Thu theo tôi ra ngồi bờ ao, bên gốc cây sung xem con rùa thảnh thơi bơi ra lội vào (con rùa của chú bé con ông chủ nhà nuôi thả). Thỉnh thoảng một trái sung chín rụng, con cá trắm to bằng bắp đùi lừ đừ nổi lên, nhẹ nhàng đớp lấy quả sung, ngon lành như nuốt một viên kẹo.

Tối đến, cả nhà ngồi quây quanh ngọn đèn ba dây trò chuyện. Ông chủ bà chủ luôn miệng biểu dương "cậu giáo": - "Cậu giáo thật chăm, chẳng hút thuốc chẳng ăn quà". - "Sau này ai lấy được cậu giáo thì sướng cả đời đấy!".

Cô em ông chủ có vẻ ngượng ngùng, không dám vào ngồi góp chuyện, cứ lượn ra lượn vào ở dưới nhà ngang.

Sớm sau, tôi tiễn Thu ra tận đầu làng, dặn dò em phải cẩn thận khi đi đường, qua đò, phải chú ý nghe tiếng máy bay. Thu ngước thật to đôi mắt đen thẳm - đôi mắt đã ánh lên vẻ đẹp dậy thì, - cười và hỏi tôi một câu thật lạ: "Anh... anh có thân với cô em ông chủ nhà không đấy?"

*
* *

Sau đại thắng Ðiện Biên Phủ, tôi náo nức xin nhập ngũ. Mẹ tôi rất muốn tôi ở gần mẹ, nhưng thông cảm với ước mơ 20 tuổi của tôi, bà khuyến khích tôi đi bộ đội để phục vụ, biết đó biết đây, và thoát khỏi cảnh tù túng của "cậu" giáo dạy tư luẩn quẩn trong làng. Thu cũng không ngăn cản tôi. Em nói: "Ðiều gì anh thích thì em cũng thích".

Buổi tối trước hôm tôi lên đường, mẹ tôi nấu xôi. Thu thịt con gà của em đang đẻ để chiêu đãi "anh bộ đội". Mẹ tôi thắp hương trên bàn thờ cha tôi, và cả bàn thờ cô Mai nữa.

Tối hôm ấy, nhà mẹ Thái đầy khách. Trong số bạn trai đến chào tiễn tôi, có cậu Quyền trắng trẻo và hiền lành củ mỉ cứ nấn ná ngồi lại mãi. Quyền đã là giáo viên cấp I. Tôi để ý thấy cậu ấy rất mến Thu. Có lần tôi đùa: "Cậu có muốn làm em rể tớ không? Cái gì chứ nết hiền lành chăm chỉ của cậu là tớ ưng rồi đấy!". Quyền đã đỏ bừng mặt, bẽn lẽn cười...

Thu lộ vẻ sốt ruột khi thấy Quyền ngồi lì mãi. Em nói: "Anh Quyền không phải chấm bài ư?". Thế là Quyền lúng túng đứng dậy, lí nhí xin phép mẹ tôi và bắt tay tôi để ra về. Tôi và Thu tiễn Quyền ra tận cổng. Ðứng bên giậu ruối, dưới trăng, Thu bỗng nắm lấy tay tôi, nói nhanh và nhỏ: "Anh đi vui thế, chắc chả nhớ em một tí nào đâu nhỉ? "Tôi cười, vỗ nhẹ vào vai Thu: "Sao lại chả một tí nào?... Anh nhớ Thu to bằng cái nhà này này!..." Thế là hai đứa cười giòn tan. Chúng tôi cứ đứng đó hóng gió mát, nhìn lên trời đêm trong vắt và đầy sao, mãi cho đến khi mẹ tôi ra gọi về đi ngủ.

Hôm sau, Thu lẽo đẽo theo tôi đến nơi tập trung cách nhà trên 15 cây số. Cứ đi được một chặng dài Thu lại nói: "Thôi, em đếm đúng tám mươi bước nữa, rồi em về!". Chúng tôi cùng đếm. Hết tám mươi bước, Thu bảo: "Anh đã mỏi chân chưa? Em chẳng mỏi tí nào. Em còn đi được nữa!". Thế là hai đứa cùng cười và cùng bước tiếp. Qua con ngòi nhỏ, Thu vén quần lội. Em có đôi chân đẹp, trắng ngần, khiến tôi bỗng dưng thấy ngượng, bước cách xa ra một chút. Thu dừng lại, chìa tay ra trách yêu: "Anh không dắt em, để em chết trôi ở đây sao?". Tim tôi bỗng như ngừng đập. Câu Thu nói vô tình làm tôi chợt nghĩ đến cái chết oan trái của cô Mai... Tôi lùi lại, nắm lấy bàn tay Thu, bước những bước chập chờn, lòng bồi hồi những vui buồn lẫn lộn.

Không biết từ bao giờ Thu đã gọi mẹ tôi là mẹ và xưng là con một cách tự nhiên, không "bác bác cháu cháu" như những ngày đầu nữa... Và có lần mẹ tôi đã nhẹ nhàng căn dặn tôi: "Thu nó đã lớn, mười sáu tuổi rồi. Anh em thân nhau nhưng đừng suồng sã, kẻo người ta dị nghị. Ðời cô Mai đã khổ thế, mẹ muốn tránh cho nó những tiếng chẳng lành..." Tôi rất thương và quý trọng mẹ tôi. Vì bà đã dành tất cả tình cảm cho tôi và Thu. Bà nhất định không đi bước nữa, mặc dầu khi cha tôi mất, bà mới ba mươi tuổi, và sau đó có đến bốn năm đám ngỏ ý muốn xin được chung sống cùng bà.

Cái hôm tiễn tôi đi bộ đội ấy, Thu đã vượt quá ranh giới những điều căn dặn của mẹ tôi. Hai anh em bịn rịn trò chuyện mãi - có lúc chỉ nhìn nhau chả nói câu nào - Ðến xế chiều thì trời nổi cơ giông gió ầm ầm. Thu đành phải ở lại nơi tập trung lính mới. Ðêm ấy tôi báo cáo với ban chỉ huy, thu xếp cho Thu ngủ ở cái quán ven sông của một bà cụ bán hàng nước. Anh em trong đơn vị đều tưởng Thu là em ruột tôi, và nhiều cậu đã giả vờ "nịnh" tôi trước mặt Thu để "đợi thời cơ làm em rể". Tôi ngồi bên bờ sông với Thu khá khuya. Mấy đứa trẻ nghịch ngợm đi qua ném đất về phía chúng tôi và hô lên trêu chọc: "Lêu lêu vợ chồng! Lêu lêu vợ chồng" khiến tôi ngượng chín cả người; còn Thu thì đứng phắt dậy ném trả bọn trẻ, miệng lầu bầu tức giận.

Mờ sáng hôm sau tôi cùng đơn vị xuống thuyền để đến một địa điểm mới. Nhìn về quán bà hàng nước, tôi thấy Thu đang hớt hải vừa chạy vừa giơ tay vẫy, gọi to: "Anh Dương! Anh Dương! Ðợi em với! Ðợi em với!". Tôi chỉ kịp nhoài người ra khỏi khoang thuyền, cố giữ vẻ mặt tươi cười hét vọng lên bờ: "Em về nhé! Về nhé!"

Con thuyền xuôi nhanh theo dòng nước xiết. Các bạn tôi reo cười, nhất loạt đứng lên chào Thu. Tôi lặng nhìn em đứng im trên bãi cát như một bức tượng, quanh cổ vẫn buộc chiếc khăn thêu đêm qua tôi đã tự tay quàng cho em khi thấy em húng hắng ho sau cơn mưa gió lạnh. Tôi bồn chồn thương em, nhớ em, và lo cho em về nhà mẹ mắng...

*
* *

Ở đơn vị, tôi nhận được thư mẹ tới khá đều, bao giờ cuối thư cũng có vài dòng thêm của Thu. Em không có thói quen viết dài, chỉ luôn đặt những câu hỏi: "Anh có khỏe không?" - "Anh có nhớ em không?" - "Anh có đủ ấm không? - "Bao giờ anh có thể ghé qua nhà?" - "Anh ăn có no không?"

Qua thư nhà, tôi được biết Thu đã tốt nghiệp lớp 7, và ý mẹ tôi muốn hướng Thu vào nghề dạy học. Mẹ còn hỏi tôi khá kỹ về Quyền, cái cậu giáo viên hiền lành bạn tôi ấy. Mẹ cho biết Quyền có vẻ quyến luyến Thu lắm, và mẹ cũng thấy mến chàng trai này. Mẹ muốn biết ý kiến của tôi ra sao. Ðọc thư mẹ, tôi suy nghĩ rất nhiều. Tôi không tự phân tích được tình cảm của mình nữa. Ðiều thật rõ là tôi thương Thu, rất thương Thu. Tôi không muốn đời Thu lại gặp những éo le, trắc trở. Quyền yêu Thu, đó là điều tôi biết chắc. Còn từ ngày tôi ra đi tới nay, Thu đối với Quyền ra sao, trong thư mẹ tôi không nói; và Thu cũng không viết một chữ nào nhắc đến Quyền. Tôi trả lời mẹ chung chung là Quyền chân thật, hiền lành, có thể tin cậy được.

Mùa xuân năm 1956, sau gần hai năm đi xa, tôi có dịp ghé về thăm nhà. Tôi đeo ba lô, bồi hồi bước trên con đường uốn lượn quanh những ngọn đồi đất đỏ. Những bụi hoa mua hoa sim tím lại, những chùm hoa xoan mọng nước lẫn trong mầu mây, những cánh hoa trẩu trắng trên cây và rải trắng mặt đồi, tất cả đều khơi dậy trong tôi những kỷ niệm xốn xang về những năm tháng đã cùng lớn lên, cũng sống với Thu khi em mười tuổi...

Thu đã đón tôi một cách thật là bồng bột. Em đang vo gạo. Thấy tôi bước vào cổng, em quăng cả rá gạo, reo lên, chạy ù ra nắm chặt lấy hai tay tôi mà lắc: "Anh Dương! Anh Dương! Mẹ ơi, anh Dương về!...". Rồi trước mặt cả mẹ tôi, mẹ Thái, Thu đỡ ba lô từ vai tôi xuống, quạt cho tôi, múc nước cho tôi rửa mặt. Em nắm tay tôi, nhìn chăm chắm vào mắt tôi, cười: "Anh đen đi bao nhiêu! Anh có nhận được thư em mới viết không?". Tôi trả lời chưa nhận được vì đơn vị chuyển địa điểm trú quân, chắc là thư đến trễ.

Bữa cơm tối đó, Thu hầu như không ăn mà chỉ ngồi nói chuyện líu lo và gắp cho tôi. Dưới ánh đèn, nom Thu càng đẹp. Người em dỏng cao, chắc lẳn; hai con mắt to, đen nhánh. Thu nhìn tôi, lộ rõ niềm vui rạng rỡ và sự cảm mến không che giấu. Có lúc không chịu nổi cái nhìn ấy, tôi bối rối cúi đầu xuống mâm cơm hoặc quay sang hỏi chuyện mẹ tôi. Thu có đôi môi mỏng, hồng, hơi "đanh đá", nhưng khi em cười thì quả thực tôi chưa hề thấy cô gái nào có sự hồn nhiên trong sáng đến như vậy. Bao giờ tôi cũng chịu thua trước cái cười ấy, và chẳng khi nào giận được Thu lâu.

Sau bữa cơm, Thu dẫn tôi đi chào thăm các bạn bè và gia đình trong xóm. Hai đứa đi trong bóng tối dìu dịu mùi hoa xoan, hoa bưởi. Chốc chốc Thu dừng lại, hỏi tôi có nghe tiếng chim gọi vịt kêu không. Tôi bảo có. Thu nói, giọng rầu rầu: "Như tiếng ai gọi ấy, anh nhỉ...". Thế là từ đấy, tiếng chim gọi vịt vời vợi khi xa khi gần mùa xuân nào cũng gợi cho tôi nhớ đến Thu, một nỗi nhớ giằng xé gần như là một nỗi đau không bao giờ dứt...

Tôi đã đi xa câu chuyện mất rồi! Anh uống nước đi, để tôi xin kể tiếp anh nghe.

Tối hôm ấy, tôi và Thu đi quanh xóm xong, trở về nhà, thì vừa gặp mẹ tôi tiễn mẹ cậu Quyền ra cửa. Thu lảng ngay xuống bếp.

Mẹ tôi ra hiệu cho tôi ngồi vào bàn để mẹ tôi nói chuyện. Mẹ cho biết cha mẹ Quyền muốn xin Thu về làm dâu. Theo ý mẹ, Quyền là một thanh niên đứng đắn, sáng sủa, đã có nghề nghiệp, lại là con trai độc nhất của gia đình tử tế, đủ ăn; nếu lấy Quyền thì Thu sẽ sung sướng.

Tôi ngồi im lặng, cúi đầu nghe mẹ tôi nói. Tôi không thể cất tiếng hỏi mẹ, cũng không thể trả lời, chỉ nghe rõ tiếng trái tim mình đập vội. Cuối cùng, mẹ tôi nắm lấy vai tôi, nhìn vào mắt tôi: "Con đã chẳng nhận xét Quyền là một người chân thật, hiền lành, có thể tin cậy được trong thư con viết cho mẹ là gì?... Và chính con đã nói với Quyền rằng con ưng nhận nó làm em rể, có đúng thế không?...

Tôi giật thót mình. Với một phản ứng tự nhiên, tôi cãi: "Mẹ ạ, đó là con nói đùa!... Với lại, cái chính là phải tùy em Thu chứ!".

Mẹ tôi hạ thấp giọng, nói run run: "Mẹ biết hai anh em con rất... quý nhau. Chính vì mẹ muốn giữ cho tình anh em thương nhau, quý nhau lâu dài, mà mẹ thấy cần để cho Thu đi lấy chồng, con ạ...".

Mẹ tôi vừa nói tới đây thì cánh cửa buồng bật mở tung. Thu từ trong buồng ôm mặt chạy vụt ra, vừa chạy vừa khóc tấm tức. Thì ra em đã từ bếp lẻn vào buồng nghe rõ hết đầu đuôi câu chuyện.

Hai mẹ con tôi đuổi theo Thu, đến gần bờ nông giang mới giữ được Thu lại và dắt Thu về.

Hôm sau, Thu đùng đùng lên cơn sốt. Em vật vã, nói mê lảm nhảm. Mẹ tôi cuống quýt đun nước xông, đánh gió cho em.

Xế chiều em đã tỉnh. Tôi bưng bát cháo đến cho em ăn. Em nằm thẳng ngay ngắn, đầu hơi ngả về một bên. Mẹ tôi đắp cho em một tấm vải đỏ lâu nay vẫn dùng để dán khẩu hiệu trong các cuộc họp - mẹ chẳng có cái chăn đơn nào!

Thu nằm im, lim dim mắt. Má em đã hồng trở lại. Tôi đứng lặng ngắm em, nhìn mầu đỏ của tấm vải khuôn lấy thân hình thon nhỏ của em... Và bỗng nhiên nhói lên trong tôi một sự thật bấy lâu ủ kín: tôi yêu Thu, tôi tha thiết yêu Thu! Tôi muốn kêu to lên điều ấy, ngay lúc này đây, để cho Thu và mẹ tôi cùng biết.

Như đón được ý nghĩ của tôi, Thu từ từ mở mắt. Em đưa bàn tay ra cho tôi nắm, và nước mắt em trào ra câu nói: "Thôi, anh... Thôi, anh đừng nói nữa... Em hiểu hết cả rồi... Ðiều gì anh và mẹ muốn, thì em sẽ làm theo... Em đã làm phiền mẹ và và anh nhiều lắm rồi mà!...".

Thu rút phắt bàn tay lại. Và tôi đứng sững sờ, chết lặng khi Thu òa lên khóc.

*
* *

Hết phép, tôi trở lại đơn vị như một kẻ mất hồn, Thu bắt tôi mang theo hai quả dừa và một gói xôi lạc thật to, nhưng em chỉ tiễn tôi ra đến đầu ngõ.

Tới nơi đóng quân, tôi nhận được lá thư đến chậm của Thu. Lá thư gần như công khai bày tỏ tình yêu của Thu đối với tôi, và cười cợt ý định cầu hôn của Quyền.

Sự việc éo le như vậy đấy, anh ạ. Lá thư như ánh sáng một ngôi sao đến chậm, nhưng mãi mãi chiếu nhói vào tim tôi, không khi nào tắt.

Cuối năm 1957, mẹ tôi viết thư báo tin và gọi tôi về dự đám cưới Thu vào ngày 27 tháng 12. Quyền cũng viết thư cho tôi một bức thư tràn đầy hạnh phúc, và không quên ngỏ lời cảm ơn tôi đã giúp đỡ anh trong việc xây dựng gia đình! Riêng Thu không viết cho tôi, dù chỉ là một chữ.

Tất nhiên tôi không thể về dự đám cưới. Tôi gửi một số tiền dành dụm được cho mẹ tôi, và một tấm vải dù mừng Thu. Ngày 27 tháng 12 đối với tôi trở thành ngày kỷ niệm đau buồn. Tôi biết giận ai trong chuyện này được? Giận Thu ư? Giận mẹ tôi ư? Hay là giận chính tôi?

Sau đó, tôi nhận được thư của Thu đề ngày 1 tháng 1 năm 1958. Thu chúc mừng tôi năm mới, và viết: "Anh Dương ạ, từ nay em sẽ vĩnh viễn là em gái của anh. Ðược mẹ cho phép, em đã đổi từ họ Nguyễn - họ khai sinh cũ - sang họ Ðỗ, họ của cha chúng ta. Em thích như thế, anh bằng lòng chứ?".

Thế là hết đầu đuôi câu chuyện... Bây giờ thì anh đã rõ tôi đến đây cốt để sống lại những kỷ niệm xa xưa. Và chắc anh vừa nghe vừa thầm "khen" tôi là khéo giữ kín câu chuyện tâm tình đến thế. Ðúng như vậy, suốt những năm dài cùng anh lặn lội ở chiến trường B, không mấy khi tôi không nhớ đến Thu, nhưng chưa bao giờ tôi kể cho anh nghe về Thu cả. Lần này tình cờ gặp anh ở đây, thật là dịp may để tôi "trả nợ" anh.

Anh uống đi, cà phê tôi mang theo đấy. Ðêm xuân như thế này ta có thao thức ít ngủ đi một chút cũng là phải lẽ thôi.

Tôi chuyển ngành từ sau 75, anh ạ. Trong một chuyến công tác ở Sài Gòn, tôi có lần theo dấu vết của cha Thu - người cha đã bỏ con bỏ vợ, "dinh tê" vào Hà Nội bị tạm chiếm năm 1948 ấy. Tôi đã gặp được ông ta. Ông ta là chủ một tiệm bán vải - hay nói cho đúng hơn, là chồng của bà chủ tiệm bán vải. Ông ta to béo nhẵn nhụi, ăn mặc chải chuốt, suốt ngày im lặng đứng bán hàng cho vợ như một kẻ làm công. Ông ta chẳng có nét gì giống Thu cả. Chính vì thế, hoặc do một mối ác cảm ngấm ngầm đối với ông, nên tôi chỉ trò chuyện qua loa như một người khách mua hàng, mà không nhắc gì đến cô Mai và Thu hết.

Anh Năm, anh đừng nóng ruột! Tôi sẽ nói nốt những điều anh cần biết: Thu và Quyền hiện đang sống ở Lâm Ðồng, hai vợ chồng đều dạy học và đã có hai con, một trai một gái. Thu đã đón mẹ tôi vào trong đó, nhà Thu có vườn rộng lắm. Mẹ tôi đã trên sáu mươi rồi, yếu rồi. Năm nào bà cũng giục tôi lấy vợ, nhưng tôi đành chịu, chưa làm theo được ý muốn của bà!... Có những cô mến mình, nhưng mình không ưng, lôi thôi thế!...

Anh Năm, anh có nghe thấy không?... đấy, tiếng chim gọi vịt đấy!... Thôi, anh đi nghỉ đi. Ðể mặc tôi ngồi một mình. Tôi không ốm đâu, anh đừng lo.

4-1982


Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Bia đá rìa làng

Văn Linh

Danh lợi ư? Quyền lộc ư? Tôi chán ngấy tất cả và đã đi đến quyết định trở về làng. ở đó tôi có mẹ, có người thầy đầu tiên từng dạy tôi những bài học vỡ lòng về đạo làm người. Tam tự kinh "Nhân chi sơ, tính bổn thiện..." ở làng còn có nấm mồ mối tình đầu của tôi... Nghĩa là về với làng, tôi sẽ có tất cả. Mỗi khi lòng mình lấn bấn, trí mình tù túng, bức bối, tôi lại trở về làng. Quê hương bao giờ cũng dành cho tôi lời mách bảo đúng đắn nhất để mình vững bước trên đường đời.

Về tới làng, việc trước tiên, tôi tới thăm thầy học. Thầy sống thọ, tuổi đã ngoài tám mươi mà da dẻ vẫn hồng hào, râu tóc dù đã bạc nhưng đầu óc còn minh mẫn.

Chỉ tội, đôi mắt thầy, vì bom đạn chiến tranh, giờ chẳng còn nom thấy gì.

Thầy tôi đang ngồi ở tràng kỷ với cái điếu bát đặt trên bàn. Tôi bước vào và lễ phép chào thầy.

Một nét mừng rỡ thấy rõ trên gương mặt thầy:

- Ai như anh Siêu? Lâu ngày anh mới về làng.

- Thưa thầy, thầy nhận ra con sao?

- Trời phú cho kẻ kém mắt. Tôi vẫn nhớ tiếng nói của anh.

Thầy đưa tay ra hiệu bảo tôi ngồi xuống bên, rồi sờ sờ lên mái tóc tôi, vuốt xuống má, xuống cằm, xuống cổ, xuống hai vai tôi... bao âu yếm cứ như với một cháu nhỏ.

Ðoạn thầy hỏi:

- Tóc anh bạc chưa?

- Thưa thầy, đã hết nửa mái đầu.

- Nghe ra tiếng nói của anh còn khỏe.

Thầy ngoái vào nhà trong, gọi cháu nhỏ đem nước chè xanh lên, và thầy trò chúng tôi bắt đầu câu chuyện hàn huyên... Hết chuyện nhà cửa họ hàng, sang chuyện xóm làng. Qua trò chuyện, tôi thấy lòng thầy toát lên một nỗi buồn: dân làng quá ít học hành, đã bao đời nay vẫn mang tiếng "làng dốt", "làng mít"...

Nhưng rồi, thầy trở lại an ủi:

- May còn có anh đi ra học được chữ nghĩa, làm nên nhà văn, cũng mở mày mở mặt cho xóm làng chút ít.

Qua lời thầy, tôi cảm thấy có gì xót xa trong lòng.

- Thưa thầy, con có đáng gì, chỉ là một nhà văn loại năm, loại sáu.

- Nhà văn cũng được xếp loại ư anh?

- Thưa thầy, đó là con tự biết và tự xếp lấy.

Thầy khẽ gật đầu:

- Khiêm tốn, tự biết mình đó là đức tính đáng quý.

Nhưng con nghĩ, thầy cũng đừng nên quá buồn, chẳng qua xóm làng mình chưa tới vận hội. Song chả đến nỗi nào, làng ta cũng đã có người làm nên chức nên quyền rồi đấy, thưa thầy.

- Anh muốn nói tới ông Gừng phải không?

- Dạ, thưa thầy, đó cũng là một ví dụ.

Thầy như chợt nhớ, đưa tay sờ lên trán và hỏi:

- Anh vẫn còn nhìn thấy vết sẹo ở đây chứ?

- Dạ, còn mờ mờ.

- Hồi nhỏ học với tôi, nhà ông Gừng ấy, đã lấy son tự khuyên vào bài mình. Thấy vậy, tôi mắng: "Ðừng hỗn thế". Vậy là ông ta cầm cả đĩa son ném thẳng vào trán tôi, chữ thầy trả thầy luôn. - Thầy chép miệng, lắc đầu và thở dài - Nhà ông ấy, đã không có chữ lại không có nghĩa.

Ðang lúc bên ngoài bỗng có tiếng ồn ào, rồi một đoàn người kéo thẳng vào sân nhà thầy. Trong đó có người lên tiếng hỏi:

- Cụ Mộc có nhà không?

- Có tôi đây. Ai như ông Riềng? Thầy tôi trả lời.

Người lên tiếng lúc nãy bước vào.

- Ðúng rồi, Riềng đây. Tôi có việc phải phiền đến cụ.

- Ông chủ tịch cần gì cứ nói!

Giờ tôi mới biết đây là ông Riềng chủ tịch xã. Ðoàn người đi theo ông vẫn đứng lố nhố ngoài sân, nam có, nữ có...

- Chả là... - Tiếng nói ông Riềng rõ to - mảnh đất xã vừa nhượng lại cho tôi, chẳng rõ từ đâu, có mấy đứa cháu đang đào hố để tôi vôi, bỗng thấy lồi lên một tảng đá xanh, cao khoảng sải tay, rộng chừng bốn gang, một mặt có chữ, toàn chữ Hán. Thấy vậy chúng nó sợ quá liền mua hương thắp, rồi khấn vái. Thế là cả làng chẳng hiểu gì cũng đua nhau đem hương hoa khấn vái tùm lum... Ai lại làm thế! Bởi vậy, tôi mới phải vào, mời cụ ra đọc hộ xem những chữ khắc ở hòn đá đó.

Thầy tôi sốt sắng:

- Ðược, tôi ra ngay. Nhưng ông chủ tịch ra trước đi, cho người rửa sạch mặt chữ tôi mới đọc được.

Thầy liền đi rửa mặt mũi chân tay, mặc áo dài tươm tất, như người dọn mình để đến trước bàn thờ. Ðoạn, thầy rủ tôi:

- Anh Siêu cùng ra chứ?

- Dạ, con đi với thầy.

Quả tình, dân làng đang tụ tập ở thửa đất ấy khá đông, khói hương vẫn đang nghi ngút, cùng với những lời bàn tán to nhỏ:

- Vận làng đã đến, chữ nghĩa mới nổi lên.

- Sông có khúc, người có lúc. Lẽ nào dân làng ta chịu dốt mãi.

- Nghe đâu, ngày xưa, đây còn có cả miếu thờ thiêng lắm.

Ông Riềng, chủ tịch xã lên tiếng:

- Cụ Mộc ra đây rồi. Mời cụ đọc cho, xem đây là hòn đá gì? Kẻo nữa... bà con chưa gì đã hương khói, vái lạy tùm lum như vái bia bà...

Thầy tôi với vẻ trang nghiêm, như thuở trước thầy vẫn dạy học trò "phải biết kính trọng chữ thánh hiền". Ðôi bàn tay gầy guộc, già nua của thầy run run sờ lên mặt đá, lần đọc theo dòng chữ từ phải sang trái... Tay thầy đi qua mỗi dòng chữ, gương mặt thầy một sáng lên. Tôi có cảm giác hai mắt thầy đang dần tỏ, có thể nhìn thấy sau những dòng chữ, trên mặt đá, có một điều gì khác, thiêng liêng lắm.

Thầy đọc xong, đứng lên, bắt thân áo dài lau mồ hôi trán.

Hàng trăm cặp mắt nhìn dồn vào thầy chờ đợi.

Thầy tôi chậm rãi báo:

- Ông chủ tịch ạ, đây là tấm bia kỷ niệm ngày mất của ông Ðặng Ðình Lân, người làng ta. Ông thi đỗ tiến sĩ, khoa Ðinh Mùi dưới triều Tự Ðức.

Số dân làng vây quanh bỗng "ồ!" lên cùng lúc, tỏ vẻ mừng rỡ trước một chuyện lạ chưa bao giờ được biết. Và tiếp đó là những lời đàm đạo, bàn tán đầy phấn chấn nổi lên:

- Vậy mà ai dám bảo dân làng mình nghìn đời vô học.

- Ðứa nào còn gọi làng mình là "làng dốt" "làng mít" đánh bỏ mẹ nó đi!

- Ðúng, vận làng đã đến, liệu mà cho con cháu học hành, theo chữ nghĩa... mai sau...

Các cụ về hưu còn tỏ ra hăng hái hơn:

- Ðề nghị đảng ủy, ủy ban làm đơn ngay lên Bộ Văn hóa xin công nhận di tích lịch sử.

- Phải rồi, nghe nói xưa còn có đền thờ hẳn hoi.

- Khó gì, ta xây lại đền.

- Ðâu đâu người ta cũng có di tích lịch sử, chỉ tiếc mỗi làng mình, trách chi con cháu cứ dốt đặc cán mai.

Riêng ông Riềng chủ tịch xã vẫn đứng đỏ mặt, đầy hồ nghi:

- Cụ đọc chính xác không đấy, cụ Mộc? Bao đời nay, tôi chưa hề nghe ai nói dân làng mình lại có người học cao, đỗ đến tiến sĩ. Việc này phải xem lại, khéo không "mồ cha chẳng khóc, lại khóc tổ mối". Ðược, ủy ban, cấp ủy sẽ làm sáng tỏ chuyện này.

Thế rồi, ngay ngày hôm sau, ông Riềng đã đáp xe lên tận Hà Nội, gặp ông Gừng là anh ruột, nghe đâu làm cán bộ gì ngoài đó, để thỉnh thị, xin ý kiến...

- ... Em lạ chi, ngoài bọn mê tín dị đoan, lại còn có đứa ghen ăn tức ở, chả là... dằm đất đó đẹp, mai đây đường mở sát vào đấy thì cứ gọi đất đó hót ra vàng. Ngán nhất mấy lão về hưu làm đơn trương kiến nghị đi khắp nơi, gửi cả lên đài, báo, để xin công nhận di tích lịch sử.

Thử hỏi, di tích lịch sử cái quái gì, làng ta đã có đền thờ tiến sĩ... Chẳng biết chữ trên đó, cụ Mộc đọc có đúng không. Em chưa tin!

Ông Gừng lim dim mắt, như xem thấu xa xưa, rồi khẽ nói:

- Hồi nhỏ tôi loáng thoáng nhớ, hình như đó còn cái nền miếu thờ, thờ ai thì không rõ. Nhưng làng mình từ buổi chiêu dân lập ấp đến nay, nặn đâu ra được ông tiến sĩ nào... Nếu điều đó không có, thì thứ miếu thờ thần linh ma quái vớ vẩn, bộ nào lại công nhận là di tích lịch sử. Chú sợ gì? Ðược, tôi sẽ giúp địa phương lo việc này...

- Anh tính, ngay cạnh trường cấp một, chả lẽ để các cháu ngày ngày cứ nhìn thấy cảnh người lớn chổng mông lên cúng bái, hương khói mê tín dị đoan. Lại ở ngay trước cửa trụ sở đảng ủy mới chướng làm sao!

- Chú về lo khâu chuẩn bị vật chất để đón các nhà khoa học đến làm việc.

Ông Riềng cười:

- Chữ nghĩa làng mình mới thiếu, vật chất anh chẳng phải lo. Nhưng, đến khi công bố kết quả nghiên cứu anh nhớ về. Có anh, nhiều tay phải nể mặt. Mấy tướng hưu về làng, công thần bỏ mẹ.

Họ nói và họ đã làm, một thời gian không lâu, có ngay một đoàn cán bộ gồm các nhà sử học, văn học, Hán nôm, văn hóa về làng tôi. Dịp này tôi vẫn còn tại làng. Làng bỗng trở nên vui hơn, mấy bà hàng phở, cô hàng quà ngoài phố bưng hàng vào tận làng bán cho đoàn cán bộ, họ cứ ăn, tiêu, tiền nong đã có xã chịu, bia hộp mở xìn xịt...

Ðáng nhớ nhất là ngày ủy ban xã đứng ra tập trung dân làng tại thửa đất có bia đá nọ để nghe đoàn cán bộ khoa học công bố kết quả nghiên cứu về "di tích lịch sử" của làng.

Hôm đó ông Gừng đánh xe con về dự. Xe đỗ ngay trước cửa đảng ủy. Ông Gừng bước xuống và đi ra trước mọi gương mặt hân hoan kính nể của dân làng. Không thể bắt tay hết từng người, ông Gừng chỉ đến với lớp người có tuổi, quen biết ít nhiều... và, ông ta đã đến trước thầy Mộc:

- Thầy còn nhớ tôi nữa không? - Ông chào thầy.

- Ông Gừng thì phải - thầy đáp lại.

- Giỏi! Thầy giỏi!

Thấy thầy Mộc sờ tay lên trán, chừng như ông Gừng chột dạ, nhớ đến chuyện cũ, đành cười và nói:

- Ngày xưa, tôi còn đi học chữ Hán với thầy, đến là nghịch như quỷ sứ. May có cách mạng giờ mới thành người.

Thầy Mộc cười:

- Nghe giọng, thấy ông vẫn còn trẻ như xưa.

Hình như ông Gừng nghe lọt ý đằng sau câu nói nên nụ cười trên mặt ông bỗng nhạt hẳn.

Giờ phút mọi người mong đợi đã đến. Một số người ra đây còn đem theo cả hương hoa, chờ kết quả nghiên cứu để thắp hương tưởng niệm luôn.

Một nhà khoa học, nom còn trẻ tuổi, nhưng đầu đã hói, làm cho đám con gái làng cứ nhìn ông rồi tủm tỉm cười, ung dung bước ra công bố kết quả nghiên cứu của đoàn. Ðoàn công nhận mặt chữ trên bia đúng như cụ Mộc đã đọc cho làng nghe...

Nghe vậy, dân làng vội hý hửng... Song về kết quả nghiên cứu, đoàn cho biết, bia này không đúng. Qua các khoa tiến sĩ, suốt các triều đại, không có vị nào đỗ tiến sĩ tên là Ðặng Ðình Lân. Cũng như không có một ông tiến sĩ nào quê ở làng này...

Sau khi nghe công bố rành rọt kết quả của đoàn cán bộ nghiên cứu, dân làng bỗng lặng cả lại, hương hoa vẫn trên tay. Thảy như đang chờ một điều gì khác.

Nhận thấy không khí trầm lặng, nặng nề quá, ông Gừng liền bước ra:

- Mời cụ Mộc, bậc lão thành có chữ có nghĩa của làng cho ý kiến, xem có gì khác không?

Theo lời mời, thầy tôi run run chống gậy bước ra, rồi nói:

- Ðúng như các cán bộ nghiên cứu vừa công bố, làng ta, chưa có ai đỗ tiến sĩ. Nhưng tôi nhớ ra rồi, ông tôi có kể, làng ta có một người tên là Ðặng Ðình Lân thật. Ông này là người có chí học hành. Nhưng "học tài thi phận" bao năm nhà nghèo, vợ phải bắt ốc hái rau nuôi chồng ăn học, ông ta đi thi cử nhân, không đỗ. Dân làng vốn yêu thương, quý trọng người hiếu học, nên đã góp cơm, góp gạo nuôi ông ăn học, chờ khoa thi sau. Thi lần thứ hai ông lại hỏng. Sự bất quá tam, dân làng lại nuôi ông thêm mấy năm nữa để dùi mài kinh sử. Ông thi khóa thứ ba, không đỗ nốt! Phẫn chí, vừa nghĩ tới công ơn và lòng mong mỏi của dân làng, ông thấy mình đã phụ lòng, không báo đáp được công ơn và lòng mong mỏi của nhân dân đành uống thuốc tự vẫn. Dân làng lấy làm thương xót, tiếc một con người hiếu thảo tiết nghĩa nên đã phong ông là tiến sĩ, tạc bia và lập đền thờ ông...

Không khí cuộc họp lúc này thật khó tả, là cả một sự im lặng kỳ lạ hẳn không phải ỉu xìu buồn bã, như thể một tâm tư, tình cảm mọi người đang nén lại đến căng thẳng.

Giữa lúc đó thì ông Gừng lên tiếng cười, nửa sảng khoái, nửa như có phần giễu cợt. Ðoạn, như cốt phá vỡ không khí im lặng đến khó chịu, ông nói:

- Bà con thấy chưa? Cứ gì thời buổi kinh tế thị trường này, thuở trước cha ông mình cũng từng tỏ ra chịu chơi đồ rởm - Ông cười ha hả - Theo như cụ Mộc vừa kể thì đây là một thứ tiến sĩ rởm - lại cười ha hả.

Ông Riềng và mấy người nữa cũng ha hả cười theo, văng cả nước bọt.

Tôi vốn là người không bao giờ thích, thậm chí còn hay tránh xa các cuộc tranh luận. Nhưng tại giờ phút này, không hiểu sao, lòng tôi bỗng sôi lên một cơn giận! Bản thân bị xúc phạm chăng? Cá nhân tôi chẳng đáng gì. Nhưng đây là quê hương! Quê hương bị xúc phạm, quả là điều không chấp nhận được. Tôi liền bước ra, xin phép dân làng, xin phép thầy, cho tôi với một tư cách con của dân làng được nói đôi lời.

Tôi như một kẻ nhập đồng:

- Thưa bà con dân làng! ở bên Tàu có "Viên ngọc họ Hòa". Người dân nọ đem dâng lên vua Sở một viên ngọc nói là quý. Thợ kim hoàn cho biết đó không phải là ngọc, nên người dân nọ đã bị chặt đôi tay. Qua mấy đời vua, mỗi lần dâng ngọc là một lần chịu tội, đến khi người dân họ Hòa nọ bị chặt cụt cả tay chân, vua mới biết đó là viên ngọc quý nằm trong đá. Ngay nước ta, xứ Nghệ có một người thi chín khóa cử nhân đều không đỗ. Ðến khóa thứ mười vua mới hiểu, chín khóa trước, hội đồng thi đã không chấm nổi bài của ông nên đã đánh hỏng. Do đó, nếu chúng ta cứ lấy xét nghiệm thi cử làm khuôn vàng thước ngọc để đánh giá vạn vật, khó mà chính xác; hơn nữa đây lại là trí tuệ, phẩm giá một con người - tôi phải ngừng một lát để giữ xúc động - Thưa với bà con, trong câu chuyện này, tấm lòng của ông Ðặng Ðình Lân đối với dân làng là hoàn toàn "thứ thiệt" - Không làm tròn trách nhiệm học hành, thi cử, đỗ đạt, trước công lao và mong mỏi của nhân dân thì ông tự vẫn. Còn tình thương yêu với sự trọng vọng của nhân dân đối với người con hiếu thảo, tiết nghĩa như ông hoàn toàn là thứ thiệt.

Ðến đây vì quá xúc động, tôi chưa nói thêm được gì, chỉ biết thụp xuống trước tấm bia, ứa nước mắt, tôi lạy tạ một linh hồn đẹp đẽ.

*
* *

Ngay lúc đó một em bé gái, rón rén đến bên tôi:

- Hương đây chú này!

Em bé trao cho tôi một nắm hương cháy nghi ngút. Tôi đến lấy hương từ tay em bé và dắt tay em cùng quỳ xuống trước bia.

Trong dân làng vọng lên một lời nói:

- Tiến sĩ hay không, công nhận di tích lịch sử hay không, đó là công việc của cơ quan văn hóa. Còn dân làng ta, đối với một con người như ông Ðặng Ðình Lân là đáng thờ phụng.

Hầu hết dân làng có mặt, trừ mấy ông trong đoàn cán bộ và mấy người lẻ tẻ, tất cả đều quỳ rạp trước tấm bia, cúi đầu xúc động tưởng niệm...

Trong tôi bỗng dâng lên một cảm giác vô cùng tuyệt diệu, như thể mình đang được hóa thân giữa bốn bề khói hương nghi ngút. "Khi những gì đã thuộc về nhân dân đều trở nên bất tử thiêng liêng". Trong câu chuyện vừa xảy ra đó, phải chăng tôi đã nhận lời mách bảo trên của quê hương...



Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0



Bến Phà Ðen lặng gió

Triệu Bôn

Bà Ðà thường đi làm từ sáng sớm, chiều chạng vạng mới về. Chiếc khăn thâm trùm cách nào đó mà bịt kín cả gáy cả cổ, ngoài cái khe rất nhỏ dành cho hai con mắt lấp loáng nhìn ra.

Dẫu là một người đẹp lộng lẫy mà trùm bịt như thế cũng thành khó hiểu, huống chi bà Ðà là con người có thân hình cứng cỏi, vai ngang dáng đàn ông, mà tính nết cứ mưa, nắng, nắng mưa luân chuyển nhau không ngừng.

Chiều nào không thấy đồ nghề của ông Ðà - chiếc gánh toòng teng một bên đựng bốn, năm hòn đá mài các loại, và một bên là cái chậu đồng sứt vành dùng đựng nước - để ngoài hè, bà Ðà liền rít lên:

- Mất thây mất xác ở đâu giờ này chưa chịu vác mặt về!

Còn như, nếu thấy ông Ðà ngồi hút thuốc lào trên cái giường do mấy tấm ván thùng kê sát nhau, việc đầu tiên của bà Ðà là lấy từ chiếc túi xách ra chai rượu, thuồi xuống trước mặt ông, kèm theo một lời đay đả:

- Này mồ hồi của tôi đấy. Nước mắt của tôi đấy. Nốc đi!

Không mấy khi bà để cho ông uống rượu suông, mà thường có thêm vài thứ nhắm đạm bạc; miếng đậu phụ bôi nghệ nướng lem nhem, một miếng vó bò quăn queo như vỏ cây, năm thì mười họa còn có quả trứng vịt lộn hoặc bộ lòng gà.

Mỗi tội thức nhắm càng ngon, ông Ðà càng phải nghe nhiều lời nhiếc móc của vợ.

- Ðội thúng than từ xà lan lên bãi được mấy, ông biết không? Ba hào! Thế mà một quả trứng vịt lộn những năm đồng. Không nhờ cái đận phát tiền năng suất thì có khối ra đấy mà hốc. - Bà Ðà vừa nói chồng sa sả vừa móc túi lên vách, cởi khăn trùm, nhen bếp, bắc nồi, lấy gạo đi vo... Công việc thoăn thoắt trôi chẩy qua đôi bàn tay ngấm bụi than đen kịt của bà.

Chai rượu trước mặt ông Ðà cạn, vừa lúc bà Ðà bưng mâm cơm lên, hai vợ chồng cùng ăn. Bấy giờ bà Ðà dù có nói trời nói đất, ông Ðà cũng không lấy làm điều, thậm chí ông còn thấy khoái nữa. Nhịn đói suốt ngày, mỏi rạc cẳng đi diễu qua các phố xá, được nhấm chút rượu là chất men chạy rần rật như kiến bò mười đầu ngón tay ngón chân và làm tê dại mang tai ông, khiến người ông lâng lâng.

Tuy vậy đã vài bận ông Ðà xô cả mâm cơm xuống đất rồi xông vào bà vợ khốn khổ mà đấm đá túi bụi. Ðó là những lần bà Ðà nhiếc ông là giết chết con để ăn một mình cho sướng mồm.

Cánh đàn ông hàng xóm tuy không phải là lũ ác bụng nhưng đều đồng thanh ủng hộ ông Ðà thẳng tay trừng trị bà vợ tai quái.

- Thế! Giã nữa!

- Vợ tôi mà thế tôi tẩn nhừ xương!

- Ðem mà trôi sông cái của nợ ấy đi!

Trước sự "chi viện" nhiệt tình ấy, ông Ðà quắc mắt đáp lại:

- Việc nhà tôi, ai mượn các ông chõ vào? Người ta khổ quá rồi phải để người ta nói cho hả bớt cái khổ đi chứ!

Nói vậy nhưng sau mỗi lần xô xát, ông Ðà sợ, không dám nhìn vào mặt vợ mấy ngày liền.

"... Cái năm Nhật kéo sang ta, ông Ðà đương làm anh chân sào trên một chiếc thuyền đinh bề thế chẳng kém ngôi nhà ngói năm gian. Cứ bẩy ngày một lần ông chủ lại chất đầy gạo, muối, dầu tây, vải, lụa lên thuyền, cho nhổ sào ở bến Lục Dầu để ngược lên mạn Ðồng Trâu, Hố Sếu, qua Ngàn Trâu Danh, lên tận Bãi Thải. Ðến Bãi Thải, nhiều khi dỡ hàng xong không kịp nghỉ, đã nhận khách vội vàng để bắt con nước trở xuôi luôn.

Cánh chân sào thuyền gồm mười tay trai lực lưỡng, năm người chạy be tả, năm người chạy be hữu. Công việc bao giờ cũng bắt đầu từ phía mũi thuyền, hai hàng người nhất tề lao phập những cây sào trẩy dài đầu bịt sắt xuống lòng sông, đuôi sào tỳ vào hõm vai, một người cất giọng: "Bớ dô hò..." chín người kia "dô huậy", mặt nước trước mũi thuyền rẽ thành hai làn sóng trắng hình mũi tên, mấy người chân sào cúi gầm mặt, gò lưng bước xuôi để con thuyền nặng nề lao ngược dòng. Tới đuôi thuyền, tất cả lại nhất tề rút sào, trở về đằng mũi, và lại bắt đầu đúng y như thế.

Một buổi sáng thuyền về đến bến Lục Dầu, hành khách chen nhau qua mảnh ván cầu để lên chợ, có một cô gái cứ quẩn quanh dưới khoang. Ðà bước lại gần cô, cất tiếng hỏi:

- Nhà chị này có hàng nặng, không ai đỡ, hử?

- Không không - Cô gái giật mình hoảng hốt - Tôi có hàng gì đâu!

- Sao còn loanh quanh mãi?

Cô gái bỗng òa khóc:

- Tôi sợ...

- Sợ gì?

- Sợ người ta đón bắt tôi trên ấy...

Ðà hiểu ngay ra tình thế của cô gái:

- à. Lại trốn chúa lộn chồng chứ gì? Phải thế cứ nói thật thì tôi giúp...

Việc nên vợ nên chồng giữa hai người đã bắt đầu một cách rất đơn sơ. Tới năm giáp khởi nghĩa, gặp nạn đói khủng khiếp, khắp nơi người chết xếp chồng đống thì đứa con trai đầu lòng của vợ chồng ông Ðà đã biết chạy lon ton theo bố mẹ đi xin ăn.

Vợ chồng ông Ðà dẫn cu Thấn - tên đứa con - phiêu dạt từ Phả Lại lên Bắc Ninh, Bắc Giang, rồi quay xuống Hà Nội. Họ uống nước lã cầm hơi nằm ở sân ga một đêm, một ngày.

Tối hôm sau bà Ðà nói với chồng:

- Cái chết là cầm chắc rồi. Nhà xem còn cách nào cứu lấy con?

Ông Ðà lẳng lặng đứng dậy bỏ đi. Ông vào một cửa hàng ăn trước cửa ga đèn điện sáng trưng, đứng xòe hai bàn tay đợi hồi lâu không thấy ai cho mình chút gì. Ông đành liều thò tay vào thúng bún của chị chủ hàng, chộp một nắm. Nhưng ông vừa quay ra được vài bước, chưa xuống khỏi vỉa hè, đã ngã sấp mặt vì một cái ghế ném theo đúng giữa lưng. Vốc bún trên tay ông, không hiểu bị những người ăn mày chung quanh xô lại cướp hay bị chủ hàng giật lại lúc nào ông không hay.

Lê lết về được chỗ vợ con nằm, ông Ðà nghĩ ra được một kế để họa may cứu sống được bé Thấn. Ông bế nó đến giữa chỗ đông hàng quán nhất, cắn con một miếng chảy máu ở má rồi bỏ nó lại, vùng chạy.

Suốt mấy chục năm, từ thời Nhật rồi Việt Minh, rồi Pháp tạm chiếm, tới ngày thủ đô được giải phóng và mãi tận bây giờ bà Ðà trở thành công nhân ở cảng than, còn ông Ðà vẫn chỉ làm độc một cái nghề đi mài dao thuê.

Chẳng ai nghĩ chuyện làm giầu bằng cái nghề nhỏ mọn này. Nhưng với ông Ðà thì lại không thể bỏ mà tìm công việc khác. Ngoài cơm gạo ra, vợ chồng ông còn phải nuôi sống lẫn nhau bằng một nguồn hy vọng. Sáng sáng, ông quẩy chiếc gánh nhẹ tênh, một bên đá mài một bên chậu nước, thả bước đến khắp mọi ngõ ngách trong thành phố, gặp bất kỳ người đàn ông trai tráng nào vào trạc tuổi bé Thấn năm xưa ông cũng nhìm chằm chằm vào bên má phải của họ.

Bé Thấn "khi xưa" giống mẹ nhiều nên nó cao lớn, vai hơi ngang, mắt lá răm, khi cười có một lúm đồng tiền ở bên má bị bố cắn, chắc là thành sẹo.

Hai mẹ con giống nhau ở cái dáng đi lúc nào cũng vội vàng "chân không bén đất".

Ông Ðà tin vào câu tục ngữ "trai giống mẹ thì khó ba đời". Nếu trời để bé Thấn qua cái nạn đói kinh sợ ấy mà còn tới ngày nay, may mắn nó chỉ đủ tay vo miệng lốm như bố mẹ nó là cùng. Vì vậy, hễ thấy có người đàn ông nào ăn mặc sang trọng lại có chút gì hao hao giống vợ mình là ông run lẩy bẩy vì hồi hộp. Ông như bị thôi miên, chân chạy theo, mắt nhìn, miệng lắp bắp: "Lạy trời! Biết đâu!..." Dĩ nhiên lát sau ông Ðà lại ỉu xìu và tự nhủ: mình mơ tưởng thế làm gì, nên để mắt vào đám làm thuê làm mướn, chữa xe đạp, đánh xe trâu, quạt bễ lò rèn, gác cổng, thợ nề, thợ mộc... thì hơn.

Chẳng bao lâu kể từ khi ông Ðà cất tiếng rao "Mài dao, mài kéo đây", ông đã có cả một đội ngũ bạn "áo ngắn" rải rác từ Gia Lâm xuống tới Ngã Tư Vọng, từ dốc Vĩnh Tuy lên tới làng Láng, làng Cót. Ông lân la nhờ các "chiến hữu" tìm thằng cu Thấn hộ mình. Những đứa trẻ bị cha mẹ bán, hoặc bị cha mẹ bỏ đường bỏ chợ trong nạn đói ất Dậu tới nay còn nhiều lắm, họ đều đã phương trưởng và đã có bố mẹ anh em gặp lại nhau. Duy có thằng cu Thấn màu da trắng, vai hơi ngang, và có nốt răng của bố để lại trên má, chưa ai gặp.

Ông Ðà vẫn rong ruổi qua các phố xá nội thành, cả những làng ngoại ô. Buổi sáng, vợ chồng ông mỗi người mỗi ngả ra khỏi nhà với chút hy vọng cầu may, để rồi buổi chiều về thấy căn nhà lợp giấy dầu vẫn trống lạnh như xưa, làm bà Ðà lại nổi tam bành, nhè ông chồng mà trút hết những lời cay độc.

Lâu dần hàng xóm đâm quen. Ðám đàn ông thôi làm hậu thuẫn cho ông Ðà "thi hành những biện pháp cứng rắn" đối với bà. Vài người phụ nữ vô công rồi nghề cũng thưa dần câu chuyện về bà trong những cuộc ngồi lê đôi mách. Mặc dù, khi tuổi mỗi ngày một nhiều thì sự căng thẳng giữa vợ chồng ông Ðà lại càng ngày càng khó gỡ hơn.

Một ngày chủ nhật, bà Ðà ở nhà một mình, ông vẫn quẩy gánh đi như mọi khi. Thoạt tiên bà lẩm bẩm nhiếc móc cho riêng mình nghe, sau đó ngọn lửa ma quái xông lên ngực bà, thế là bà bỏ hết mọi việc ngồi ghé mép giường mặc sức réo tên ông ra mà nguyền rủa.

"Cứ vác mặt về đây. Chuyến này thì bà xé xác!" - Bà tuyên án vắng mặt ông như thế, và nhăm nhăm đợi mặt trời chóng lặn để ông "vác mặt" về.

Bà Ðà chẳng phải đợi lâu. Xế chiều hôm ấy ông Ðà đã lử khử quẩy cái gánh thợ mài dao về. Ném cho bà một nắm tiền lẻ toàn loại năm xu, một hào, rồi ông đi nằm. Bà Ðà thấy chồng khang khác, không những đã quên những lời đay nghiến được mài dũa suốt từ sáng, bà còn sờ tay lên trán ông. Người ông Ðà nóng chín, làm bà Ðà cuống cuồng. Mấy chục năm nay, đây là lần đầu bà Ðà nói ra những lời dịu dàng với chồng:

- Nhà ơi. Tôi nấu cho nhà bát cháo đậu xanh ăn cho nó giã sốt, nhé?

Ông lắc đầu, mắt vẫn nhắm nghiền. Bà lại vuốt ve bộ râu lởm chởm bạc gần hết trên cằm ông.

- Dậy tôi bảo này! Chịu khó uống chén rượu. Nhé? Nhà bị cảm nắng đấy!

Ông Ðà thương vợ, ứa hai hàng nước mắt. Ông muốn ngồi dậy nhích nhắc tay chân cho bà vui, nhưng sức ông đuối quá rồi.

Sáng hôm sau thì ông "đi". Bà Ðà bật ngọn điện tù mù ở giữa nhà, ôm lấy thi hài ông mà lay, lắc, nhày nhã như đang đánh vật. Lúc đã kiệt sức mà vẫn không sao làm cho chồng sống lại được, bà Ðà rú lên:

- Ông ơi là ông! Chai rượu tôi mua còn kia. Từ nay mua cho ai uống nữa hở trời!

Tiếng khóc xé ruột gan của bà Ðà cất lên từ lúc còn tối đất. Nghe giọng bà, hàng xóm ngỡ ông bà lại xảy ra chuyện gì, nhiều người lẩm bẩm rủa bà vài tiếng rồi lại ngủ. Mãi lúc nghe kỹ, biết ông Ðà đã chết, mọi người mới choàng dậy chạy túa sang.

Xưa nay cái cảnh góa bụa vẫn thường xảy ra cho loài người. Nỗi đau dội lên, uất lên một thời gian rồi dịu dần. Sự quên lãng là một trong những bản năng tự vệ giúp cho con người tồn tại được.

Nhưng hình như ở bà không có cái "bản năng tự vệ" ấy. Liền mấy tháng, đêm nào bà cũng kêu thét gọi ông suốt từ đầu hôm đến sáng. Trời thì đã sang đông, gió lạnh từ mặt sông Hồng thổi thốc vào căn nhà giấy dầu thủng tan hoang do chính tay chủ nhân của nó xô, đập, cào, xé.

Sang tới mùa xuân, giữa lúc cỏ cây đến con người đều xanh tươi trở lại thì bà Ðà chỉ còn da bọc xương. Một đêm không nghe tiếng bà kêu thét, sáng hôm sau hàng xóm chạy sang đã thấy bà nằm bất tỉnh giữa những mảnh chăn rách, trên mình chỉ một tấm áo dệt kim đã mốc meo và chiếc quần bảo hộ lao động bạc phếch.

ở bệnh viện người ta hết lòng cứu chữa cho bà Ðà. Vài ngày sau, bà tỉnh lại biết thều thào cảm ơn những người hàng xóm đã mang cam, mang đường và luân phiên vào chăm sóc bà.

"Khổ đến thế. Con người cay cực suốt đời. Khi cái sung sướng nằm trong tay thì lại lăn ra chết" - Cả khu phố bờ sông tới nay mỗi khi nhớ đến bà Ðà, bà con lại chép miệng nói thế.

Số là, ở nơi bệnh viện bà Ðà nằm cấp cứu, có một bác sĩ trưởng khoa tên là Dũng, tuổi xấp xỉ bốn mươi, vai hơi ngang, nước da trắng và đôi mắt dài rất linh lợi. Một lần, khi bà Ðà đã qua khỏi cơn nguy kịch, bác sĩ Dũng đến khám bệnh cho bà theo thường lệ trong ngày. Bác sĩ bảo bà tháo áo để đặt ống nghe vào ngực bà. Anh đang chăm chú nghe tiếng tim dội thì thụp tự dưng bà già cứ nhổm người vừa nhìn sát mặt anh vừa sờ lên vết sẹo trên má anh. Bảo bà nằm yên mấy lần không được, bác sĩ Dũng phát bực gắt:

- Cụ làm sao thế!

Bà già không trả lời bác sĩ Dũng mà thét lên một tiếng: "Con!" làm cho cả phòng bệnh giật mình. Rồi bà tắt thở. Mọi cách cứu chữa của bệnh viện đều vô hiệu.

Khi phải tự thú nhận mình hoàn toàn bất lực, bác sĩ Dũng ngồi cạnh bà Ðà, ôm mặt khóc rưng rức.

Dũng là con nuôi của một cán bộ trong quân đội. Ông có tới sáu người con, thêm Dũng là bảy. Những khi gia đình tụ hội, con cháu chật nhà, ông vẫn kín đáo dành riêng cho Dũng chút chăm sóc đặc biệt. Tuy nhiên, càng lớn lên Dũng càng thấy mình đang âm thầm ngóng đợi một con người, dù sớm muộn thế nào sẽ có một ngày con người ấy tìm ra anh...

Nhiều năm về sau, vào những ngày giỗ ông bà Ðà, bác sĩ Dũng thường đưa vợ con về thăm những gia đình hàng xóm của ông bà, và thế nào anh cũng có quà đến thăm hỏi những người là bạn "hạt gạo cắn đôi" của bà Ðà hiện đang nghỉ hưu trong khu tập thể của cảng.

Những người bạn của bà Ðà đều gọi Dũng bằng con, và đối xử với anh đúng như cách xưng hô. Mặc dù bà Ðà không còn, nhưng tình thương bầu bạn bà để lại vẫn còn khắp nơi nơi. Ngày nay hễ nhắc đến bà là những người bạn già của bà lại nghẹn ngào.

Họ kể rằng: vào tiết đông và tiết xuân, lòng sông Hồng cạn rặc, những cồn cát nổi vờ vờ bên dưới mặt nước lắng trong dần dần, ấy là những ngày trời đất gió thổi vô hồi. Cứ sáng ra, những người công nhân phát khổ lên vì những ngọn gió lạnh như dao cắt vào da thịt. "ấy nhưng mà cháu ạ - Các bà già nói với bác sĩ Dũng - cái buổi sáng mẹ cháu "đi", trên mặt sông cũng như trên bến cảng, trời bỗng dưng lặng phắc, không một hồi gió.

Như thế là hồn thiêng lắm!".

19 - Hàng Buồm - Hà Nội
8-1985



Nguyễn Mạnh Hùng
0976 570 045
Đăng nhập để trả lời
0