Ngày 8 tháng 7 năm 1835, Nam tước người Anh, William King, đã tổ chức một hôn lễ nhỏ ở ngoại ô phía tây London, tại điền trang Fordhook, trước đây từng thuộc về tiểu thuyết gia Henry Fielding. Sự kiện này khá vui vẻ dù nó nhỏ hơn nhiều so với kỳ vọng của nhiều người, xét theo tước vị của King và gia sản nhà ông. Sở dĩ, đám cưới diễn ra hết sức thân mật là bởi lòng mến mộ của dành cho cô dâu mười chín tuổi xinh đẹp, tài năng Augusta Byron, ngày nay được biết đến nhiều với đệm Ada, con gái của thi sĩ lãng mạn tai tiếng Lord Byron. Byron đã qua đời trước đó một thập niên và đã không gặp con gái từ khi cô còn nhỏ, nhưng tiếng tăm về tài năng cùng sự rệu rã đạo đức của ông vẫn vang khắp châu Âu. Vào năm 1835, không có tay săn ảnh nào làm phiền Nam tước King và vị hôn thê song vì sự nổi tiếng của cô dâu Ada, lễ cưới vẫn cần kín đáo.
Sau kỳ trăng mật ngắn ngủi, Ada và chồng mới cưới bắt đầu phân chia thời gian giữa điền trang của gia đình ông tại Ockham, một điền trang khác tại Somerset và ngôi nhà tại London, khởi đầu cuộc đời hứa hẹn an nhàn, dẫu không tránh khỏi những khó khăn nhất định khi phải duy trì một lúc ba cơ ngơi. Đến năm 1840, cặp vợ chồng đã có ba con, còn King đã được thăng lên Bá tước sau lễ đăng cơ của Nữ hoàng Victoria.
Xét theo tiêu chuẩn xã hội thời Victoria, cuộc sống của Ada có lẽ là mơ ước với đa phần phụ nữ: được gả vào gia đình danh giá, có một người chồng biết yêu chiều và ba người con khỏe mạnh trong đó có một người con trai thừa kế tước vị. Nhưng khi gánh trên vai bộn bề nghĩa vụ của một người mẹ và quản lý đất đai, Ada cảm thấy cuộc đời mình ngày một lụi dần và bị cuốn theo con đường vốn hoàn toàn xa lạ với phụ nữ thời đại Victoria. Vào những năm 1840, phụ nữ có thể tham gia vào các ngành nghệ thuật sáng tạo, thậm chí là viết văn. Nhưng Ada lại bị hút sang một hướng khác. Cô đam mê những con số.
Khi Ada còn nhỏ, mẹ cô, bà Annabella Byron, đã động viên con gái học toán và thuê rất nhiều thầy giỏi để hướng dẫn bộ môn đại số và lượng giác – ngành học cấp tiến vào thời đại mà phụ nữ bị loại trừ khỏi các tổ chức tầm cỡ như Hội Khoa học Hoàng gia và bị cho là không có khả năng tư duy khoa học chặt chẽ. Nhưng bà Annabella có động cơ riêng khi khuyến khích con gái trau dồi kỹ năng toán học: bà hy vọng rằng bản chất thực tiễn và phương pháp của môn học này sẽ áp chế những ảnh hưởng nguy hiểm từ người cha quá cố của con gái. Annabella mong rằng thế giới những con số sẽ giúp con gái bà thoát khỏi sự cám dỗ của nghệ thuật.
Đã có lúc tưởng chừng kế hoạch của bà Annabella thành công. Chồng của Ada được phong làm Bá tước Lovelace và gia đình họ dường như đã né được mọi sự bất thường, lập dị, rắc rối từng hủy hoại Lord Byron 15 năm về trước. Nhưng khi đứa con thứ ba của Ada hết thời ẵm ngửa, cô bị lôi cuốn trở lại với thế giới toán học; cô cảm thấy không thỏa mãn với trách nhiệm tại gia trên vai một người mẹ thời Victoria. Những lá thư cô viết trong giai đoạn này thể hiện một sự kết hợp kỳ lạ giữa tham vọng giàu lãng mạn – ý thức của một linh hồn lớn hơn hiện thực thông thường đang mắc kẹt trong hiện thực đó – với niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của lý trí toán học. Ada đã viết về phép vi phân với niềm đam mê, nhiệt thành và kiêu hãnh như khi cha cô viết về tình yêu bị cấm đoán:
Vì một đặc thù nào đó trong hệ thống thần kinh, tôi nhận thức được một số điều mà không ai có thể… một nhận thức bản thể về điều sâu kín – những thứ bị giấu kín khỏi mắt, tai và các giác quan thông thường. Bản thân điều này cho tôi đôi chút lợi thế trên con đường khám phá, nhưng ngoài ra còn có khả năng lập luận lớn lao và khả năng tập trung.
Đến cuối năm 1841, những mâu thuẫn của Ada về đời sống tại gia và tham vọng toán học đã lên đến đỉnh điểm khi, thông qua mẹ, cô được biết cha mình đã có con với một người chị cùng cha khác mẹ. Cha của Ada không chỉ là tác giả lừng danh nhất vào thời đại của ông mà còn vướng vào mối tình loạn luân và sản phẩm của cuộc hợp thân tai tiếng này là cô gái mà Ada đã quen biết nhiều năm. Annabella chủ động cho con gái biết tin này, lấy đó làm bằng chứng rằng Byron là một kẻ đồi bại và lối sống trái luân thường sẽ chỉ dẫn đến một kết cục băng hoại.

Augusta Ada, nữ Bá tước Lovelace, khoảng năm 1840
Vì thế, ở độ tuổi 25, khi hãy còn trẻ, Ada Lovelace thấy mình giữa ngã ba đường, cô phải đối diện với hai lựa chọn khác biệt để trưởng thành. Cô có thể thu mình vào con đường yên ổn của một bà Bá tước, sống trong những ràng buộc của lễ nghi truyền thống. Hoặc bám lấy “đặc thù nào đó trong hệ thần kinh” để tìm ra con đường độc đáo và năng khiếu đặc biệt của chính mình.
Lựa chọn ấy phụ thuộc sâu sắc vào văn hóa của thời Ada sống: những mặc định đã đóng khung và giới hạn vai trò của phụ nữ. Nhưng con đường trước mặt Ada còn chịu sự chi phối của gen di truyền, của tài năng và khuynh hướng – thậm chí cả sự điên cuồng – mà cô thừa kế từ cha mẹ. Lựa chọn giữa cuộc sống gia đình ổn định và cuộc sống phá cách, theo một nghĩa nào đó chính là cô đang lựa chọn giữa mẹ và cha. Sống ổn định ở Ockham Park là con đường dễ dàng hơn vì mọi lực xã hội đều đẩy cô tới đó. Nhưng dù muốn hay không, cô vẫn là con gái của Byron. Một cuộc đời theo truyền thống dường như càng lúc càng lu mờ.
Tuy nhiên, đến giữa những năm tuổi hai mươi, Ada Lovelace đã tìm được cách vượt qua bế tắc. Nhờ cộng tác với một người thời Victoria cũng đi trước thời đại giống mình, Ada đã tìm ra con đường vượt qua các rào cản xã hội mà không bị khuất phục bởi cơn hỗn loạn về sáng tạo đã phủ lên cha cô. Cô trở thành một người lập trình phần mềm.
Giữa thế kỷ 19, lập trình dường như là việc chỉ khả thi nếu đi vượt thời gian. Song như nó đã xảy ra, Ada gặp một người ở thời đại Victoria, người có khả năng trao cho cô một dự án như thế: Charles Babbage, nhà phát minh tài năng và chiết trung đang phác thảo kế hoạch về một cỗ máy hão huyền có tên Analytical Engine (Máy phân tích). Ông đã dành hai thập kỷ trước đó để chế ra chiếc máy tính hiện đại nhất bấy giờ; song từ giữa những năm 1830, ông bắt đầu thực hiện một dự án sẽ kéo dài hết phần đời còn lại của mình: thiết kế một máy tính có thể lập trình, có thể thực hiện những chuỗi phép tính phức tạp vượt xa khả năng của mọi máy móc đương thời. máy phân tích của Babbage chắc chắn đã thất bại trên thực tế – ông đang cố chế tạo một máy tính thời kỹ thuật số với các linh kiện ở thời cách mạng công nghiệp – song nó vẫn được xem là một bước đột phá xuất sắc. Thiết kế của Babbage đã dự đoán mọi bộ phận chính của máy tính hiện đại: ý tưởng về một bộ xử lý trung tâm (mà ông gọi là “nhà máy”), bộ nhớ truy cập tạm thời (RAM) và một phần mềm điều khiển chiếc máy tính, khắc trên các tấm thẻ đục lỗ sẽ được sử dụng để lập trình máy tính hơn một thế kỷ sau đó.
Ada gặp Babbage khi mới mười bảy tuổi tại một trong những phòng khách nổi tiếng của ông ở London và hai người đã giữ mối thâm giao suốt nhiều năm. Do đó, khi cô đứng trước những ngã rẽ vào đầu thập niên 1840, Ada đã viết một lá thư cho Babbage và tỏ ý ông chính là lối thoát giúp cô ra khỏi những giới hạn của cuộc đời ở Ockham Park:
Tôi rất nóng lòng chuyện với ngài. Tôi sẽ cho ngài một lời gợi ý về điều đó. Tôi cảm giác đến một lúc nào đó trong tương lai, cái đầu của tôi sẽ phục tùng các ý định và kế hoạch của ngài. Nếu đến lúc nào đó, tôi có thể có ích hoặc có khả năng được ngài sử dụng, cái đầu của tôi sẽ là của ngài.
Babbage thật sự đã có cách để sử dụng bộ óc thông thái của Ada và sự hợp tác giữa họ đã đem lại một trong các tài liệu nền tảng của lịch sử máy tính. Một kỹ sư người Ý đã viết tiểu luận về cỗ máy của Babbage và theo đề nghị của một người bạn, Ada đã dịch nó sang tiếng Anh. Khi Ada chia sẻ với Babbage về việc này, ông đã hỏi tại sao cô không tự viết một bài cùng chủ đề. Dù tham vọng nhưng Ada chưa từng nghĩ đến việc tự viết bài phân tích. Nhưng nhờ sự động viên của Babbage, cô đã soạn bài bình luận cách ngôn làm hệ thống chú dẫn mở rộng cho bài luận tiếng Ý.
Bản phụ chú rốt cuộc lại có giá trị và tầm ảnh hưởng lớn hơn nhiều so với văn bản gốc mà nó chú giải. Chúng bao hàm một chuỗi hướng dẫn căn bản để chỉ đạo việc tính toán của Analytical Engine. Ngày nay, chúng được xem là thí dụ đầu tiên về phần mềm làm việc từng được công bố, dù cỗ máy thật sự có thể chạy chương trình phải một thế kỷ sau đó mới được chế tạo ra.
Có nhiều tranh cãi về việc Ada là tác giả duy nhất của chương trình này hay chỉ là người tinh chỉnh các đoạn chương trình của Babbage. Song đóng góp lớn nhất của Ada không chỉ nằm ở việc soạn ra các bộ hướng dẫn mà là việc hình dung ra loạt ứng dụng cho cỗ máy mà chính Babbage cũng chưa từng nghĩ đến. Cô viết: “Nhiều người lầm tưởng rằng, vì công việc của cỗ máy là cho ra các kết quả dưới dạng số, do đó bản chất các quá trình của nó phải là số đếm và số học chứ không dùng đại số và phân tích. Đây đích thực là một sai lầm. Cỗ máy có thể sắp xếp, kết hợp các đại lượng số một cách chính xác như thể chúng là các con chữ hay bất cứ ký tự chung nào khác.” Ada nhận ra cỗ máy của Babbage không đơn thuần là một bộ siêu xử lý.

Charles Babbage
Giá trị sử dụng tiềm năng của nó vượt khỏi công việc thuần tính toán. Đến một ngày, nó thậm chí còn có thể phục vụ nghệ thuật đỉnh cao.
Giả sử mối liên hệ căn bản giữa cao độ âm thanh trong khoa học hòa âm và soạn nhạc đều nhạy cảm với các lối thể hiện, điều chỉnh này, cỗ máy có thể soạn ra những khúc nhạc chi tiết và khoa học với bất kỳ độ phức tạp hoặc độ dài nào.
Bước nhảy vọt về trí tưởng tượng như thế ở giữa thế kỷ 19 gần như vượt quá sự lĩnh hội. Riêng việc hiểu về ý tưởng lập trình máy tính đã đủ khó – gần như tất cả những người cùng thời Babbage đều không nắm bắt nổi phát minh của ông. Vậy mà bằng cách nào đó, Ada còn đưa khái niệm này lên một tầm cao hơn với ý tưởng cho rằng cỗ máy có thể tạo lập ngôn ngữ và nghệ thuật. Chú thích đó đã mở ra không gian khái niệm mà sau cùng đã được văn hóa đầu thế kỷ 21 gần như khỏa lấp: công cụ tìm kiếm Google, các trang nghe nhạc điện tử, iTunes và cả siêu văn bản. Máy tính không chỉ là một chiếc máy tính toán siêu linh hoạt, nó sẽ trở thành một cỗ máy biết diễn đạt, biết đại diện và thậm chí có óc thẩm mỹ.
Dĩ nhiên ý tưởng của Babbage và bản phụ chú của Ada đã đi trước thời đại xa đến mức bị lịch sử bỏ quên suốt một thời gian dài. Hầu hết những nhận thức cốt lõi của Babbage đều được tái khám phá độc lập sau đó 100 năm, khi chiếc máy tính làm việc đầu tiên được chế tạo vào thập niên 1940, chạy bằng điện và ống chân không thay vì năng lượng hơi nước. Ý tưởng về máy tính như một công cụ có tính mỹ học, có khả năng sáng tạo văn hóa cũng như tính toán đã không được khai thác rộng rãi, ngay cả ở những cái nôi công nghệ cao như Boston và Thung lũng Silicon, cho đến tận thập niên 1970.

Máy phân tích của Babbage
Những sáng tạo quan trọng nhất – ít ra là ở thời hiện đại – được đưa đến từ nhóm phát minh lặp. Các mảnh ghép công nghệ và ý tưởng cùng hợp lại để khiến một ý tưởng nào đó được hình dung rõ nét – thí dụ tủ lạnh hay bóng đèn – và rồi trên khắp thế giới, bạn đột nhiên thấy người ta xử lý vấn đề và thường tiếp cận nó với cùng giả định cơ bản về cách thức cuối cùng khả dụng. Edison và bạn hữu có thể bất đồng về tầm quan trọng của chân không hay sợi cacbon khi phát minh bóng đèn điện, tuy nhiên không ai trong số họ nghiên cứu về đèn LED. Sự vượt trội của phát minh đồng thời và lặp lại được lịch sử ghi nhận có một hàm ý thú vị cho triết lý khoa học và lịch sử: thứ tự phát minh tuân theo các quy luật cơ bản của vật lý, thông tin hay các giới hạn về sinh học và hóa học của môi trường Trái đất tới mức nào? Chúng ta nghiễm nhiên cho rằng lò vi ba phải được phát minh sau khi con người đã làm chủ được lửa, thế nhưng việc kính thiên văn và kính hiển vi đi sau phát minh về thấu kính chắc chắn đến đâu? (Thí dụ, ai có thể tưởng tượng việc thấu kính đã được sử dụng rộng rãi nhưng sau đó, bẵng đi vài thế kỷ, mới có người nghĩ đến việc sắp xếp chúng thành một chiếc kính viễn vọng? Điều đó có vẻ không khả thi nhưng tôi cho rằng nó cũng không hề bất khả thi.) Các cụm phát minh lặp nổi bật trong lịch sử công nghệ cho thấy ít nhất sự hợp lưu nào đó của các sự kiện lịch sử đã khiến công nghệ mới trở nên hình dung được theo cách trước đó không thể.
Những sự kiện đó là gì hãy còn tối tăm nhưng cũng đầy lôi cuốn. Tại đây, tôi cố gắng phác ra một vài câu trả lời. Thí dụ, thấu kính là kết quả của một vài tiến bộ riêng biệt: sự lành nghề về thủy tinh, đặc biệt là khi được trui rèn trên đảo Murano; việc sử dụng miếng kính lồi giúp tu sĩ lớn tuổi đọc tài liệu; phát minh máy in khiến nhu cầu về kính lên cao. (Và tất nhiên, các tính chất vật lý cơ bản của silic điôxit.) Chúng ta không thể biết rõ mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này và chắc chắn một số nhân tố quá mờ nhạt khiến nhiều năm sau, con người mới phát hiện ra. Tuy vậy, câu hỏi trên vẫn đáng suy nghĩ cho dù chúng ta phải chấp nhận các câu trả lời thiên về suy đoán, giống như khi đi tìm nguyên nhân của Nội chiến Mỹ hoặc những cơn hạn ở thời kỳ Dust Bowl. Nó đáng để nghiên cứu bởi chúng ta ngày nay cũng đang trải qua các cuộc cách mạng tương tự, tạo nên bởi các ranh giới và cơ hội từ sự kề cận khả thi của chính chúng ta. Học hỏi từ các mô hình sáng tạo đã hình thành nên xã hội hiện đại hẳn sẽ giúp chúng ta lèo lái tương lai vững tay hơn, kể cả khi lý giải của chúng ta về quá khứ đó không thể kiểm chứng như một lý thuyết khoa học.
Song nếu phát minh lặp là quy luật thì phải giải thích thế nào về những ngoại lệ? Làm sao để lý giải về Babbage và Lovelace, những con người thực tế đã vượt trước bất cứ ai trên Trái đất tới một thế kỷ? Đa phần sự đổi mới diễn ra ở thời hiện tại cùng với sự kề cận khả thi, dựa trên các công cụ và khái niệm sẵn có lúc này. Song đôi lúc, một cá nhân hay nhóm nào đó đã có bước nhảy vọt gần như du hành thời gian. Họ làm điều đó ra sao? Điều gì cho phép họ nhìn xa hơn ranh giới kề cận khả thi, một việc mà những người cùng thời không thể? Đó có lẽ là bí ẩn lớn nhất.
Cách giải thích thông thường là một phạm trù đa diện nhưng khá luẩn quẩn: “thiên tài”. Da Vinci có thể tưởng tượng (và vẽ) nên mẫu hình trực thăng ở thế kỷ 15 vì ông là một thiên tài. Babbage và Lovelace có thể hình dung về máy tính lập trình ở thế kỷ 19 vì họ là thiên tài. Cả ba người đều được ban tặng món quà trí tuệ lớn lao, nhưng lịch sử đầy rẫy những người có IQ cao mà chẳng hề có các phát minh đi trước thời đại vài thập kỷ hay thế kỷ. Chắc hẳn mẫu hình thiên tài du hành thời gian đó một phần xuất phát từ trí tuệ nguyên sơ của họ, nhưng tôi ngờ rằng môi trường mà ở đó ý tưởng của họ phát triển, mạng lưới của những mối quan tâm và ảnh hưởng định hình nên suy nghĩ của họ, cũng có vai trò không kém.
Nếu có một sợi dây chung giữa các nhà du hành thời gian, xa hơn sự bất khả giải của thiên tài, hẳn đó là do họ làm việc ở rìa lĩnh vực chuyên ngành của mình, tại giao điểm của nhiều lĩnh vực rất khác biệt. Hãy nghĩ về việc Édouard-Léon Scott de Martinville tạo ra thiết bị ghi âm một thế hệ trước khi Edison bắt đầu nghiên cứu máy quay đĩa. Scott có thể hình dung việc “ghi” lại sóng âm bởi ông mượn những ẩn dụ từ lĩnh vực tốc ký, in ấn và các nghiên cứu giải phẫu tai người. Ada Lovelace có thể nhìn ra khả năng mỹ học ở chiếc máy phân tích của Babbage vì cô đã sống trong sự giao thoa giữa toán học tiên tiến và thơ ca lãng mạn. Những “sự đặc thù” trong “hệ thần kinh” của cô, thứ trực giác lãng mạn giúp nhìn xa hơn bề mặt của sự vật, đã cho phép cô tưởng tượng ra một cỗ máy có khả năng ghi lại ký hiệu hay soạn nhạc, điều mà ngay cả Babbage cũng không làm được.
Ở chừng mực nào đó, các nhà du hành thời gian nhắc nhở chúng ta rằng làm việc trong một lĩnh vực đã định vừa tạo sức mạnh nhưng cùng lúc cũng sinh ra hạn chế. Nếu ở mãi trong ranh giới lĩnh vực của mình, bạn sẽ dễ dàng tạo nên các cải tiến nhỏ và mở các cánh cửa tiệm cận khả thi sẵn có nhờ những đặc trưng của thời điểm lịch sử. (Điều này dĩ nhiên không sai. Sự tiến bộ phụ thuộc vào các cải tiến nhỏ ấy.) Nhưng ranh giới ấy đôi khi lại hóa dải băng bịt mắt, khiến bạn không thể có những ý tưởng lớn hơn, vốn chỉ khả kiến khi bạn dám vượt qua ranh giới. Đôi khi chúng là ranh giới địa lý theo nghĩa đen. Frederic Tudor đã đi tới vùng biển Caribe và mơ tưởng về băng đá miền nhiệt đới, Clarence Birdseye câu cá trên băng với người Eskimo ở Labrador. Đôi khi, ranh giới là các khái niệm: Scott sử dụng các ẩn dụ từ tốc ký để phát minh ra máy ghi âm. Các nhà du hành nhìn chung thường có nhiều sở thích: ta hãy nghĩ về Darwin và những cây phong lan của ông. Bốn năm sau khi Darwin xuất bản Orgin of Species (Nguồn gốc các loài), ông cho ra một cuốn sách mang tiêu đề mang đậm chất thời Victoria, On the Various Contrivances by Which British and Foreign Orchids are Fertilised by Insects, and on the Good Effects of Intercrossing (Về các phương cách khác nhau mà phong lan nước Anh và phong lan ngoại lai được thụ phấn nhờ côn trùng và hiệu quả tốt của sự lai giống). Giờ đây, nhờ vào khoa học di truyền, chúng ta đã hiểu “hiệu quả tốt của sự lai giống”, những nguyên lý áp dụng vào trí tuệ lịch sử cũng vậy. Những nhà du hành thời gian thường không giỏi “lai giống” những trường nghiên cứu khác nhau. Việc kết hợp nhiều lĩnh vực trí tuệ thường dễ dàng hơn khi bạn có một dãy lĩnh vực trải khắp nghiên cứu hay gara của bạn.
Một trong những lý do khiến gara được lấy làm biểu trưng cho không gian làm việc của các nhà phát minh là bởi chúng tồn tại bên ngoài không gian làm việc, nghiên cứu truyền thống. Chúng không phải văn phòng hay phòng thí nghiệm mà được đặt xa công sở, trường học để những mối quan tâm ngoại vi có không gian sinh ra và lớn lên. Các chuyên gia sẽ hướng tới những văn phòng kín đáo và giảng đường. Còn gara là thế giới của các hacker, người mày mò, nhà chế tạo. Gara cũng không thuộc riêng lĩnh vực đơn ngành nào, nó được định hình bởi các mối quan tâm chiết trung của những người cư ngụ ở đó. Nó là không gian nơi mạng lưới trí tuệ hội tụ.
Mở đầu bài phát biểu khai giảng nổi tiếng tại Stanford, Steve Jobs – nhà phát minh gara vĩ đại ở thời đại chúng ta – đã kể vài câu chuyện về sức mạnh sáng tạo của việc bắt đầu trải nghiệm mới. Ông đã bỏ đại học và theo một lớp thư pháp, quyết định sau này sẽ ảnh hưởng tới giao diện đồ họa của Macintosh. Biến cố bị đẩy khỏi Apple ở tuổi 30 cho phép ông đưa Pixar vào lĩnh vực làm phim hoạt hình và sáng tạo nên máy tính NeXT. Ông lý giải: “Sức nặng của sự thành công đã được thay bằng sự nhẹ nhõm của kẻ mới vào nghề lần nữa, ít chắc chắn hơn về mọi thứ. Nó đã giải phóng để tôi bước vào một trong các giai đoạn sáng tạo nhất đời mình.”
Nhưng vẫn có một sự mỉa mai kỳ lạ ở cuối bài phát biểu của Jobs. Sau khi liệt kê những cách thức mà các va chạm và khám phá bất thường có thể giải phóng trí tuệ, ông kết thúc với một lời kêu gọi ủy mị hơn: “trung thành với bản thân”.
Đừng mắc kẹt trong giáo điều – tức sống với các kết quả từ suy nghĩ của người khác. Đừng để tiếng ồn từ ý kiến của người khác lấn át tiếng nói từ bên trong bạn. Quan trọng hơn cả, hãy can đảm nghe theo trái tim và trực giác.
Nếu chúng ta biết được điều gì về lịch sử sáng tạo của con người – và đặc biệt là các nhà du hành thời gian – thì đó là: trung thành với bản thân thôi chưa đủ. Chắc chắn bạn không muốn bị mắc kẹt với những giáo điều và tri thức quen thuộc. Chắc chắn các nhà sáng tạo được nhắc đến trong cuốn sách này có xu hướng bám lấy linh tính của họ suốt một thời gian dài. Song việc trung thành với ý thức về bản sắc và nguồn gốc của mình cũng có rủi ro đáng kể. Tốt hơn, hãy thách thức các trực giác đó, khám phá các vùng đất mới theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Tốt hơn, hãy tạo ra các kết nối mới chứ đừng thoải mái ở trong thói quen. Nếu muốn cải thiện thế giới chút ít, bạn phải thực sự tập trung và quyết tâm; bạn cần ở trong các giới hạn của một ngành và cùng lúc mở những cánh cửa mới của sự kề cận khả thi. Song nếu bạn muốn giống Ada, nếu bạn muốn có “nhận thức bản thể về những điều sâu kín” – vậy thì, bạn cần một chút lạc lõng.