Cọ Hoang

Lượt đọc: 87 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
ÔNG GIÀ

❊ ❊ ❊

Đúng như lời khai của tù nhân có dáng người thấp đậm, khi ngoi lên khỏi mặt nước, tù nhân có dáng người cao vẫn cầm trong tay cái mà hắn gọi là mái chèo. Hắn giữ chặt vật đó không phải để phòng trường hợp trèo được lên thuyền và sẽ dùng đến nó, mà bởi hắn không tin mình có thể trở lại thuyền hoặc có được gì khác để bám víu và cũng chẳng có thời gian để nghĩ đến việc buông mái chèo. Mọi chuyện diễn ra quá nhanh với hắn. Hắn không được cảnh báo khi cảm thấy cú giật đầu tiên của dòng nước xoáy, hắn đã nhìn thấy chiếc thuyền bắt đầu xoay tròn và người đồng hành của mình biến mất thật đột ngột và dữ dội, sau đó chính hắn cũng bị cuốn theo dòng xoáy, vật lộn với cái mái chèo - vật mà hắn không ý thức được rằng mình vẫn đang cầm trong tay, và hắn cố ngoi lên mặt nước, bám lấy chiếc thuyền đang xoay tròn - chiếc thuyền mà mới phút trước còn cách xa hắn chừng mười bước chân, phút sau đã ở ngay phía trên đầu như thể sắp đập vỡ sọ hắn, cho đến khi bám được vào đuôi thuyền; hắn cứ bám nhằng nhẵng lấy chỗ đó, trở thành bánh lái của chiếc thuyền, hai đối tượng - hắn và chiếc thuyền với mái chèo thẳng đứng ở phía trên trông giống như một cột buồm - biến mất khỏi tầm nhìn của tù nhân có dáng người thấp đậm (người đã biến mất khỏi tầm nhìn của tù nhân có dáng người cao cũng trong chớp mắt nhưng theo chiều thẳng đứng) như một con rối bị giật khỏi sân khấu một cách thô bạo với tốc độ nhanh đến khó tin.

Giờ đây, hắn đang ở nơi từng là một con kênh, một nhánh sông cạn mà có lẽ từ khi lục địa này được hình thành cho đến trước ngày hôm qua vẫn chưa có nước chảy thành dòng. Bây giờ kênh đầy ắp nước; từ đuôi thuyền, hắn dường như thấy cây cối và bầu trời đang lướt qua mình với tốc độ chóng mặt và nhìn xuống hắn giữa những khối màu vàng lạnh lẽo trong nỗi ngạc nhiên đầy đau thương và sầu thảm. Nhưng bầu trời và cây cối được một thứ gì đó cố định và giữ an toàn; hắn nghĩ đến thứ ấy trong một thoáng phẫn nộ đầy tuyệt vọng, hắn nhớ ra rằng đất - thứ nằm ở đâu đó phía dưới hắn - ở ngoài phạm vi mà bàn chân hắn có thể chạm tới, cố định và có được nền móng chắc chắn, được mồ hôi lao động của nhiều thế hệ làm vững chãi đến vĩnh viễn; hắn đang nghĩ như vậy thì một lần nữa, không báo trước, đuôi thuyền lại đập vào sống mũi hắn một cú gây choáng váng. Bản năng đã khiến hắn bám vào đuôi thuyền giờ đây lại khiến hắn quẳng mái chèo lên thuyền để bám lấy mép thuyền bằng cả hai tay khi chiếc thuyền lại điên cuồng xoay tròn theo vòng xoáy của nước. Bám cả hai tay vào mép thuyền, hắn trườn lên đuôi thuyền, nằm úp sấp, mặt nhoe nhoét máu và nước, hắn thở hổn hển, không phải vì kiệt sức mà vì phẫn nộ - hậu quả của nỗi kinh hoàng.

Nhưng hắn phải tỉnh dậy ngay lập tức vì tin rằng mình đã đi quá nhanh (và quá xa). Vậy là hắn gượng dậy từ tư thế nằm úp mặt trên mái chèo dính máu và ướt rượt, người hắn cũng ướt đẫm, chiếc quần may bằng vải bông chéo sũng nước nặng như đeo đá trên người hắn, tóc ở phía sau đầu dính bết vào sọ hắn, nước lẫn máu chảy thành vệt trên áo hắn, rồi hắn vừa vội vàng vừa thận trọng đưa cẳng tay lên quyệt ngang mặt rồi liếc nhìn cẳng tay và vội chộp lấy mái chèo, bắt đầu cố điều khiển chiếc thuyền theo hướng ngược dòng. Hắn thậm chí không chợt nghĩ hay biết bạn đồng hành của mình đang ở đâu, ở trên cái cây nào trong số những cái cây hắn đã hoặc có thể đã lướt qua. Hắn thậm chí không suy nghĩ về điều đó bởi hắn biết chắc chắn rằng người kia đang trôi theo hướng ngược dòng với mình, và sau trải nghiệm vừa rồi, hắn biết rằng thuật ngữ “ngược dòng” tàng ẩn ý nghĩa của sự ác liệt, sức mạnh và tốc độ mà ý niệm về nó là điều mà trí thông minh và lý trí của hắn từ chối nắm bắt, giống như ý niệm về một viên đạn súng trường trước một cánh đồng trồng bông rộng mênh mông.

Mũi thuyền bắt đầu quay ngoắt lại theo hướng ngược với dòng chảy của con sông. Nó quay nhanh đến nỗi trong khoảnh khắc kinh hãi và phẫn nộ, hắn không kịp nhận ra nó đã quay dễ dàng đến mức nào theo hình cánh cung và một bên mạn thuyền đã nằm sát mép của vùng nước xoáy, lại bắt đầu xoay tròn một cách dữ dội trong khi hắn ngồi đó, răng nhe ra trên khuôn mặt rỉ máu, hai cánh tay bận rộn cầm mái chèo đập lia lịa xuống mặt nước - cái phương tiện có vẻ vô hại đã một lần khiến hắn bị quấn trong những nếp cuộn chuyển động rắn như thép tựa một con rắn anaconda đang dường như không có chút chống cự nào trước sự thúc bách của hắn và nhu cầu về không khí, hoặc thứ na ná như không khí: Chiếc thuyền từng đe dọa hắn đã thực sự đập vào mặt hắn một cách dữ dội gây choáng váng, chẳng khác gì cú đá bằng móng guốc của một con la, giờ đây dường như nằm nhẹ tênh như vật không trọng lượng trên vùng nước xoáy tựa một bông hoa kế, xoay tròn như chong chóng trong khi hắn đập mái chèo xuống nước, nghĩ và mường tượng đến sự an toàn của người bạn đồng hành chẳng phải động chân động tay và sự thoải mái của người mà hắn được phái đi cứu đang ở trên cây chẳng biết làm gì ngoài chờ đợi, nghĩ ngợi trong cơn giận dữ đầy sợ hãi và bất lực trước tính độc đoán của con người đã đẩy một kẻ lên cây để hưởng an toàn và đẩy một kẻ khác lên chiếc xuồng điên cuồng không thể điều khiển nổi bởi nó biết chắc rằng hắn, một trong hai kẻ được phái đi, sẽ cố gắng quay trở lại để cứu người bạn đồng hành của mình.

Chiếc thuyền đã xoay ngược và bây giờ lại trôi vào dòng nước xoáy. Dường như nó lại chuyển phắt từ trạng thái bất động sang chuyển động với tốc độ chóng mặt, và hắn nghĩ mình chắc hẳn đã trôi xa, cách chỗ người bạn đồng hành nhiều dặm, mặc dù thực ra hắn đã cua một vòng tròn lớn từ khi trở lại thuyền và cái vật (một đám cây bách đang bị những đoạn gỗ và củi rều của cơn lũ vây quanh) mà chiếc thuyền giờ đây sắp sửa đâm vào chính là vật mà lúc trước nó đã đâm phải trước lúc đập đuôi vào mặt hắn. Hắn không biết điều ấy vì chỉ chăm chăm nhìn vào mũi thuyền mà chẳng nhìn lên cao hơn. Bây giờ hắn cũng không làm vậy và chỉ nhận thấy rằng mình sắp sửa đâm vào cái gì đó; hắn dường như cảm thấy sự ngoan cố hết sức hoang dã và nguy hiểm, đầy hân hoan và háo hức không thể sửa chữa được như một dòng điện chạy qua kết cấu vô tri của chiếc thuyền; và hắn - kẻ không ngừng đập mái chèo xuống mặt nước xảo quyệt và buồn tẻ, với những gì mà hắn tin là giới hạn của sức lực, sự dự trữ cuối cùng - đã huy động mẩu cuối cùng của sức chịu đựng cùng ý chí để tiếp tục đập mái chèo ngay trước khoảnh khắc cú va đập xảy ra, hoàn thành việc đẩy và tỉnh lại trong phản xạ dữ dội của bản năng, như một người đàn ông trượt trên băng đưa tay giữ mũ với túi đựng tiền của anh ta, khi chiếc thuyền đâm vào bụi cây và một lần nữa khiến hắn đập mặt xuống đáy thuyền.

Lần này, hắn không gượng dậy ngay tức khắc. Hắn nằm úp mặt, hầu như duỗi thẳng tay trong tư thế gần như thả lỏng - một kiểu thiền bất đắc dĩ. Hắn biết dù thế nào mình vẫn phải gượng dậy, giống như trong cuộc sống sớm muộn gì con người ta cũng phải đứng lên và rồi sau một thời gian, sớm muộn gì sẽ lại nằm xuống. Và hắn không hẳn đã mệt lử hay hết hy vọng, cũng chẳng phải sợ gượng dậy. Đối với hắn, chuyện đơn giản chỉ là tình cờ rơi vào một hoàn cảnh mà khi đó thời gian và môi trường, chứ không phải bản thân, bị thôi miên; hắn đang bị một dòng nước chảy tới đâu chẳng rõ dùng làm đồ chơi trong một ngày dần tàn lụi về điểm không có buổi tối; khi kết thúc trò chơi với hắn, nó sẽ phun hắn trở lại thế giới khá an toàn nơi hắn bị giật khỏi và trong thời gian đó, nó chẳng thèm quan tâm hắn đã làm gì hoặc không làm gì. Vậy nên hắn nằm úp mặt, giờ đây không chỉ cảm thấy mà còn nghe được tiếng ào ạt của luồng nước bên dưới ván thuyền. Rồi hắn ngẩng đầu lên và lần này khẽ đưa tay sờ lên mặt, sau đó giống như lần trước, hắn lại nhìn máu dính trong lòng bàn tay, thế là hắn ngồi dậy trong tư thế quỳ, cúi xuống mạn thuyền và hỉ ra một cục máu; khi hắn đang lau tay vào quần thì một giọng nói khe khẽ vang lên từ đâu đó trên cao: “Phải mất một lúc anh mới dậy được đấy”, và hắn - kẻ mà vào lúc đó chẳng có lý do cũng như thời gian để ngước mắt lên bất cứ điểm nào cao hơn mạn thuyền - đã nhìn lên và thấy một người đàn bà ngồi trên chạc cây đang nhìn mình. Cô ta ở cách hắn chưa tới mười feet, đang ngồi trên chạc thấp nhất của một trong những cái cây đã làm hắn bị mắc kẹt, mặc chiếc áo choàng rộng in hoa và chiếc áo nhà binh của lính trơn, đội mũ che nắng; đó là một người đàn bà hắn thậm chí không buồn nhìn kỹ bởi cái liếc nhìn đầu tiên gây giật mình đã quá đủ để nói với hắn về mọi giai đoạn trong cuộc đời và gốc gác của cô ta - người có thể đã là em gái của hắn nếu hắn có em gái, là vợ của hắn nếu hắn không phải vào tù ở giai đoạn giữa niên thiếu và thanh xuân khi mà chỉ thêm vài tuổi nữa hắn sẽ trở thành một người đàn ông sung mãn để lập gia đình; người đàn bà đó ngồi bám chặt lấy thân cây, đôi chân không đi tất mang giày lao động cao gót của đàn ông không buộc dây cách mặt nước không đến một thước, cô ta có khả năng là em gái của người nào đó và chắc chắn (hoặc đáng ra phải là) vợ của ai đó, hắn biết vậy mặc dù hắn phải vào tù khi còn quá trẻ để có đủ trải nghiệm về phụ nữ và phát hiện thêm điều gì đó về người mà mình vừa mới nhìn thấy. “Trong một phút, tôi đã nghĩ rằng anh sẽ không quay lại cơ đấy.”

“Quay lại ư?”

“Sau lần đầu tiên. Sau khi anh đâm vào cái bụi cây này lần thứ nhất, trở lại thuyền và chèo đi.” Hắn nhìn quanh và lại đưa tay khẽ sờ lên mặt mình; thật kỳ lạ khi hắn lại ở đúng cái chỗ mà lúc trước bị chiếc thuyền đập vào mặt.

“Đúng vậy”, hắn nói. “Dẫu sao bây giờ tôi cũng đang ở đây.”

“Anh có thể chèo thuyền lại gần đây hơn một chút được không? Tôi đứng dậy hơi khó; có lẽ tôi nên...” Hắn không chú ý nghe những gì người đàn bà nói vì vừa phát hiện ra rằng mái chèo của mình đã biến mất; lần này khi bị chiếc thuyền ném về phía trước, hắn đã làm văng mái chèo, không phải văng vào lòng thuyền mà văng ra khỏi thuyền. “Nó ở trên ngọn của đám cây này này”, người đàn bà nói. “Anh có thể lấy nó xuống. Đây. Hãy bắt lấy cái dây leo này.” Đó là một cây nho leo trên cái cây thân gỗ và bị nước lũ làm bật rễ. Người đàn bà đã quấn một vòng cây nho này quanh người; và bây giờ cô ta đang gỡ nó ra rồi quăng về phía hắn cho tới khi hắn bắt được. Cầm một đầu của dây nho, hắn kéo thuyền vòng qua phía cuối của bụi cây, lấy mái chèo xuống và kéo thuyền đến phía dưới một cành cây to rồi buộc thuyền vào đó; và bây giờ hắn nhận thấy người đàn bà đang cựa quậy, cố nhấc mình lên với vẻ nặng nề, cẩn trọng để tụt xuống khỏi chạc cây - vẻ nặng nề không thể hiện nỗi đau đớn mà chỉ cho thấy sự cẩn thận hết mức, còn vẻ lúng túng chẳng bổ sung gì vào toàn bộ nỗi kinh ngạc thoạt đầu có thể được gọi là thất kinh - thứ đã sẵn sàng cho linh cữu của một giấc mơ bất khả chiến bại vì thậm chí trong cảnh tù đày, hắn vẫn cứ tiếp tục (và thậm chí với niềm khao khát xưa cũ, mặc dù chúng đã khiến hắn bại hoại) bí mật đọc ngấu nghiến những truyện huyễn tưởng in trên các tạp chí giật gân bị kiểm duyệt và được đưa lậu vào nhà tù theo cách bí mật không kém, và ai mà biết được khi cùng với bạn đồng hành bước lên chiếc thuyền này, hắn lại không mơ đến việc giải cứu Helen, hoặc Garbo ở ngoài đời thực [1] khỏi đỉnh tháp chót vót hay hang rồng hiểm trở. Hắn nhìn người đàn bà, không có một nỗ lực nào khác để giúp cô ta ngoài việc giữ cho chiếc thuyền thăng bằng trong khi cô ta di chuyển từ chạc cây xuống; hắn nhìn toàn bộ cơ thể ấy, cái bụng to làm phùng cả áo, bị treo lơ lửng bởi hai cánh tay, thầm nghĩ: Đây là những gì mình vớ được đây. Trong toàn bộ cái gọi là thế giới đàn bà, đây là những gì mình buộc phải dính líu trên một chiếc thuyền đây.

“Cái nhà trang trại đó ở đâu?”, hắn hỏi. “Nhà trang trại ư?”

“Cái nhà có người ở trên mái ấy. Người còn lại ấy.” “Tôi không biết. Ở quanh đây có vô số nhà trang trại.

Với đầy người trên mái nhà, tôi nghĩ vậy.” Người đàn bà nhìn hắn chăm chú. “Anh bị chảy nhiều máu quá”, cô ta nói. “Anh trông như một tù nhân.”

“Đúng vậy”, hắn làu bàu. “Tôi cảm thấy như thể mình đã bị treo cổ rồi ấy. Thôi, tôi phải cầm mái chèo lên và tìm cái nhà trang trại đó ngay thôi.” Hắn nhổ neo. Nói đúng hơn, hắn tháo cái dây nho buộc thuyền. Đó là tất cả những gì hắn phải làm, mặc dù lúc ấy mũi thuyền nghếch lên trên một đám gỗ bị mắc kẹt và hắn thì giữ thuyền bằng cái dây nho trong vùng nước phía sau đám gỗ, hắn cảm thấy tiếng ầm ì đều đều và không ngừng nghỉ, năng lượng của nước ở phía ngoài những tấm ván thuyền ọp ẹp mà mình đang ngồi xổm bên trên lập tức cướp lấy quyền điều khiển chiếc thuyền, không phải bằng cú giật mạnh mà bằng một loạt những cái chạm nhẹ, ngập ngừng như mèo vờn ngay khi hắn tháo cái dây nho ra; giờ đây hắn hiểu mình đã ấp ủ một niềm hy vọng thiếu cơ sở rằng trọng lượng bổ sung có thể giúp hắn dễ điều khiển chiếc thuyền hơn. Trong một hoặc hai phút đầu tiên, hắn nuôi niềm tin điên rồ (và cũng thiếu cơ sở) rằng có thêm người đàn bà chiếc thuyền sẽ bớt chòng chành; hắn đã điều khiển con thuyền ngược dòng nước và cố xoay xở để duy trì việc đó, rồi bằng sự ráng sức đầy sợ hãi, hắn tiếp tục xoay xở được thậm chí cả sau khi phát hiện ra rằng thuyền đang trôi nhưng đuôi của nó lại ở phía trước và bằng cách nào đó vẫn tiếp tục lướt đi dù mũi thuyền bắt đầu rệu rã, lắc lư: Giờ đây hắn biết cách chống lại sự chuyển động không thể cưỡng lại được để có thể giữ mũi thuyền ở hướng xuôi dòng với hy vọng tận dụng đà của chính chiếc thuyền để đẩy nó đi theo vòng tròn rồi sau đó theo hướng ngược dòng; chiếc thuyền chuyển động từ mạn thuyền, sau đó đến mũi thuyền rồi lại đến mạn thuyền, trôi từ bên này sang bên kia con kênh, tiến về phía những cái cây mọc như một bức tường bị ngập nước khác; thế rồi con thuyền bắt đầu lướt đi với tốc độ đáng sợ, họ đang ở trong một vùng nước xoáy mà không hề hay biết, hắn còn chẳng có thời gian để rút ra kết luận, thậm chí không kịp kinh ngạc; hắn cúi rạp người, răng nhe ra trên khuôn mặt sưng vù bê bết máu, phổi muốn nổ tung trong khi khua mái chèo tới tấp và bị những cái cây rũ xuống đầu. Chiếc thuyền bị va đập, quay tròn, rồi lại va đập; người đàn bà nửa nằm nửa ngồi phía mũi thuyền bám chặt lấy mép thuyền, như thể đang cố né để tránh cái bụng chửa của mình; không phải hắn đập mái chèo xuống nước mà xuống một cái thân cây đang chảy nhựa, mong muốn của hắn bây giờ không phải là đến được một địa điểm nào đó, mà là giữ cho chiếc thuyền khỏi va cái thân rệu rã của nó vào các thân cây. Thế rồi hắn cảm thấy có gì đó bất ngờ nổ rồi đập vào gáy mình, và những cái cây ủ rũ, dòng nước xoáy cuộn, khuôn mặt của người đàn bà cùng tất thảy mọi thứ biến mất trong một vùng ánh sáng chói lóa câm lặng.

Một giờ sau, chiếc thuyền trôi chầm chậm trên con đường dùng cho xe chở gỗ đã bị ngập thành sông cho đến tận cuối khu rừng, tiến vào một cánh đồng trồng bông - một quang cảnh tiêu điều u ám, lặng như tờ, mênh mông, chỉ bị phá vỡ bởi hàng cột điện giống như sinh vật nhiều chân đang lội dưới nước. Người đàn bà giờ đây đang chèo thuyền một cách đều đặn và khoan thai, với sự tập trung đến lạ lùng, trong khi người tù ngồi xổm, đầu gục xuống hai đầu gối, cố làm máu mũi ngừng chảy bằng những vốc nước. Người đàn bà ngừng chèo và để mặc chiếc thuyền trôi chầm chậm, trong khi đưa mắt nhìn quanh. “Chúng ta đến nơi rồi”, cô ta nói.

Người tù ngẩng đầu lên và cũng đưa mắt nhìn quanh. “Đến đâu cơ?”

“Tôi cứ nghĩ anh phải biết chứ.”

“Tôi thậm chí không biết mình đã ở đâu. Mặc dù biết đâu là hướng bắc, nhưng tôi không biết liệu đó có phải là nơi mình muốn tới hay không.” Hắn vã một vốc nước nữa lên mặt rồi hạ tay xuống và nhìn máu đỏ thẫm trên tay mình, không phải với vẻ buồn nản hay lo lắng, mà là bối rối đầy giận dữ và mỉa mai. Người đàn bà nhìn vào gáy hắn.

“Chúng ta phải đến chỗ nào đó.”

“Chẳng lẽ tôi không biết điều ấy sao? Một người ở trên mái của nhà trang trại. Một người ở trên cây. Và bây giờ lại thêm cái thứ trong bụng cô nữa.”

“Tôi chưa đến ngày sinh đâu. Có lẽ do hôm qua phải trèo lên cái cây đó nhanh quá, và phải ở đấy cả đêm nên trông tôi nặng nề như vậy thôi. Tôi sẽ làm tất cả những gì có thể. Nhưng chúng ta nên sớm tìm đến một chỗ nào đó.”

“Đúng”, người tù nói. “Tôi cũng nghĩ mình muốn tới chỗ nào đó song tôi không may mắn trong chuyện ấy đâu. Cô chọn một chỗ đi và chúng ta sẽ thử vận may. Đưa mái chèo cho tôi nào.” Người đàn bà đưa mái chèo cho hắn. Con thuyền bây giờ có hai đầu nên hắn chỉ việc xoay người lại.

“Anh định đi đường nào đấy?”, người đàn bà hỏi. “Đừng bận tâm. Cô cứ việc ngồi cho vững.” Hắn bắt đầu chèo thuyền qua cánh đồng bông. Trời lại bắt đầu mưa, mặc dù lúc đầu không nặng hạt. “Đúng”, hắn nói. “Hãy hỏi chiếc thuyền. Tôi đã ở trên chiếc thuyền này từ sáng và chẳng biết mình định đi tới đâu, cũng chẳng biết mình đang đi đâu.”

Lúc đó là khoảng một giờ. Đến cuối buổi chiều, chiếc thuyền (họ lại đang ở trên một con kênh mà họ chèo thuyền vào đó từ lúc nào không hay biết và giả dụ có lý do nào đó để ra khỏi đấy thì cũng đã quá muộn để thực hiện, và đối với người tù thì rõ ràng chẳng có lý do nào hết và thực tế là tốc độ của họ đã lại tăng lên là lý do đủ để họ ở trên con kênh này) gặp một vùng nước rộng đầy những thứ trôi nổi mà nhờ kích thước của nó, người tù nhận ra đó là con sông Yazoo, mặc dù hắn chỉ được thấy đất nước này trong một khoảng thời gian ngắn ngủi - đất nước mà hắn đã không rời bỏ dù chỉ một ngày trong bảy năm đã qua của cuộc đời mình. Điều mà hắn không biết là thuyền của mình đang dần bỏ xa những thành phố. Vậy nên ngay khi cách con thuyền trôi cho họ thấy hướng của dòng chảy, hắn bắt đầu chèo theo hướng mà hắn tin là xuôi dòng, nơi hắn biết có những thành phố - thành phố Yazoo hoặc chí ít là Vicksburg nếu như vận may của hắn khiêm tốn; còn không, thì cũng là các thành phố nhỏ hơn mà hắn không biết tên nhưng ở đó có thể có con người sinh sống, có những ngôi nhà, đại loại thế, và bất cứ chỗ nào hắn có thể đến được để bàn giao cái trách nhiệm này và quay lưng lại với người đàn bà này mãi mãi, chấm dứt vĩnh viễn toàn bộ những gì liên quan đến người đàn bà bụng mang dạ chửa đó rồi trở về với cuộc sống tu viện của những khẩu súng ngắn và những sợi xích, nơi hắn được an toàn và không phải vướng víu với những chuyện như thế này. Giờ đây, với khả năng sắp tìm thấy bến bờ cùng cảm giác sắp được giải thoát khỏi người đàn bà này, hắn thậm chí không cảm thấy căm ghét cô ta nữa. Khi nhìn lên cái thân hình nặng nề, xồ xề hiện hữu trước mặt mình, hắn cảm thấy dường như đó không phải là người đàn bà ấy mà đúng hơn là số đông những người đang sống, ì trệ, hằm hè, đòi hỏi và đối với số đông ấy, hắn và cô ta đều là nạn nhân; hắn nghĩ, như đã từng nghĩ trong ba hoặc bốn giờ đầu, rằng chỉ cần một chút sơ sẩy của con mắt hoặc bàn tay trong phút đó - không, trong giây đó - cũng đủ để đẩy cô ta xuống nước và bị dìm chết bởi cái khối trọng lượng vô nghĩa kia, thậm chí không nhất thiết phải cảm thấy đau đớn, và với tư cách là người chịu trách nhiệm về sự an toàn của cái khối trọng lượng đó, hắn không còn muốn trả thù cô ta chút nào, mà cảm thấy thương cô ta như đã thương cái cây sống trong một khu nhà kho bị thiêu để diệt trừ những loài sâu bọ sống ký sinh trên mình nó.

Hắn chèo thuyền đều và mạnh tay xuôi theo dòng nước, điều tiết sức của mình một cách có tính toán, điều khiển chiếc thuyền di chuyển về phía mà hắn tin là xuôi dòng, là thành phố, là con người, là thứ gì đó họ có thể tin cậy, trong khi thỉnh thoảng người đàn bà lại rướn mình về phía trước để tát nước mưa khỏi thuyền. Bây giờ trời mưa đều đều, mặc dù vẫn chưa xối xả, bầu trời và ánh sáng ban ngày lại đang mờ đi không thương xót; chiếc thuyền di chuyển trong màn mưa mù mịt và xám xịt kết hợp với nước bị củi rác cản dòng, sủi bọt. Giờ đây ánh sáng ban ngày bắt đầu tắt và người tù tự hứa với bản thân phải tăng mức cố gắng thêm một hoặc hai lần bởi dường như hắn chợt cảm thấy tốc độ di chuyển của con thuyền đã giảm đi. Quả đúng như vậy, mặc dù hắn không biết điều ấy. Hắn đơn thuần coi đó là một hiện tượng mụ mị đầu óc, hoặc cùng lắm là kết quả của sự cố gắng vật lộn liên tục trong cả một ngày dài mà không được ăn uống gì bị những giai đoạn của nỗi lo lắng và tức giận đầy bất lực trước tình trạng khó xử hoàn toàn vô lý mà mình đã lâm vào và làm phức tạp thêm. Vậy nên hắn khua mái chèo nhanh hơn, không phải vì sự báo nguy mà, trái lại, vì lúc đó hắn cũng đã nhận được sự nâng lên của dòng chảy một con sông được biết đến bởi cái tên không thể xóa bỏ với nhiều thế hệ con người - những người đã kéo đến sống bên các dòng sông, thậm chí trước khi họ đặt tên cho nước và lửa, bị thu hút đến sống bên các vùng nước chảy - dòng chảy của số phận con người, của sự xuất hiện bằng thực thể bị ép buộc và bị đòi hỏi một cách cứng nhắc bởi cái thứ đã hấp dẫn họ. Vậy là hắn đã không được cảnh báo gì hết. Hắn chèo thuyền ngược với hướng mà hắn tưởng mình định tới, không hề hay biết rằng toàn bộ lượng nước mà trong bốn mươi tiếng đồng hồ đã tràn về phía bắc qua vùng đê bị vỡ lại ở phía trước hắn, đang trên đường đổ ra sông.

Bây giờ trời đã tối hẳn. Màn đêm đã thực sự buông xuống, bầu trời mờ mịt xám xịt đã biến mất, mặc dù tầm nhìn trên mặt nước đã trở nên rõ hơn và ánh sáng mà màn mưa buổi chiều xóa khỏi không gian giờ đây đã tập trung trên mặt nước như được chính mưa tạo ra khiến vùng nước lũ màu vàng trải rộng phía trước hắn, ngay ở chỗ tầm nhìn kết thúc, trông như thể có lân quang. Thực ra bóng tối cũng mang đến những lợi ích nhất định; giờ đây hắn không còn nhìn thấy mưa nữa. Hắn cũng như quần áo của hắn đã ướt sũng trong suốt hơn hai mươi tư giờ vậy nên từ lâu rồi, cảm giác về mưa với hắn đã tắt lịm. Giờ đây hắn không cần cố gắng để khỏi phải nhìn thấy cái bụng to của người đàn bà ngồi trên thuyền nữa. Vậy nên hắn cứ việc chèo thuyền, mạnh tay và đều đặn, không bị cảnh báo và chẳng phải bận tâm mà chỉ cảm thấy tức tối khi chèo mãi mà vẫn chưa nhìn thấy bất kỳ sự phản chiếu nào trên những đám mây báo hiệu sự hiện diện của một hoặc những thành phố mà hắn đinh ninh rằng mình đang tiến đến nhưng thực ra lại là những gì đã bị hắn bỏ xa phía sau nhiều dặm, rồi bỗng nhiên hắn nghe thấy một âm thanh. Hắn không biết đó là tiếng gì vì hắn chưa từng và sẽ chẳng nghe thấy âm thanh đó một lần nữa bởi âm thanh đó không phát ra cho mọi người nghe mà cũng không người nào có khả năng nghe nó nhiều hơn một lần trong đời. Và bây giờ hắn cũng không bị âm thanh đó làm hoảng sợ bởi hắn chẳng có thời gian để sợ và bởi mặc dù toàn bộ tầm nhìn phía trước không xa và rõ ràng, nhưng trong khoảnh khắc tiếp theo, hắn đã nhìn thấy cái trước đó mình chưa từng nhìn thấy trong khi nghe âm thanh ấy. Những gì hiện hữu trước mắt là cái đường sắc nét nơi mặt nước ánh lên như phát quang gặp bóng tối giờ đây cao hơn tới mười feet so với chính nó trong khoảnh khắc hắn nhìn thấy trước đó và nó cuộn về phía trước như tấm bánh tráng được cuộn lại để làm thành bánh pudding. Nó vồng lên rồi gập xuống; đỉnh của nó cuồn cuộn tựa như bờm của một con ngựa đang phi nước kiệu, cả ánh lân quang cũng vậy, lăn tăn và rung rinh như lửa. Trong khi người đàn bà ngồi gục đầu ở mũi thuyền, ý thức hoặc không ý thức được rằng người tù chẳng biết điều gì đang đợi họ ở trước mặt, thì hắn với cái mặt sưng vù và đầy những vết máu lại há hốc miệng trong nỗi kinh hãi cũng nỗi ngạc nhiên đầy ngờ vực, tiếp tục chèo thuyền hướng thẳng tới nơi hắn không biết là đâu. Lại một lần nữa, hắn đơn giản không có thời gian để ra lệnh cho các cơ bắp đang vận động như bị thôi miên của mình ngừng hoạt động. Hắn tiếp tục khua mái chèo mặc dù con thuyền đã ngừng chuyển động về phía trước mà dường như đang treo trên không trung trong khi mái chèo vẫn cứ được đẩy lên, thu về, rồi lại được đẩy lên; giờ đây thay vì ở trên không trung, chiếc thuyền bất ngờ bị vây quanh bởi một mớ hỗn độn - những tấm ván, những ngôi nhà nhỏ, những xác động vật chết đuối, những cái cây nhấp nhô lặn ngụp như những con cá heo - như đang trôi lơ lửng trong tình trạng không trọng lượng và đầy lưỡng lự giống một con chim bay là là phía trên một vùng thôn quê đang trôi nổi, chẳng biết nên đỗ xuống đâu hoặc có nên đỗ xuống hay không, trong khi người tù trong tư thế ngồi xổm vẫn đang miệt mài chèo thuyền và chờ đợi cơ hội để thét lên. Hắn không phát hiện ra mình đang đối mặt với điều gì. Trong chớp mắt đuôi thuyền dường như dựng đứng rồi sau đó vọt lên, loạng choạng trườn lên bức tường nước cuồn cuộn như một con mèo, rồi lướt lên đỉnh của bức tường đó và bị treo trong không trung giữa những cành cây đã ra lá mới mà từ đó người tù, tựa một con chim trong tổ đợi cơ hội để thét lên trong khi vẫn không ngừng thực hiện động tác chèo thuyền mặc dù giờ đây trong tay hắn không còn mái chèo nữa, nhìn xuống một thế giới hỗn loạn đang chuyển động theo kiểu nghịch hành lạ lùng và kỳ cục.

Vào khoảng nửa đêm, cùng với tiếng sấm rền như đại bác và những tia sét giống một chiếc ắc quy đang tóe lửa, như thể các phân tử bị dồn nén, tích tụ trong bốn mươi tiếng đồng hồ, chứng táo bón của bầu trời tuôn ra trong sự chào mừng bằng những tiếng nổ ầm vang và ánh sáng chói lòa trước sự nhất trí hoàn toàn với quá trình tuôn chảy như tháo dạ dữ dội không ngừng với cái đám hỗn độn gồm những xác bò, xác la và các gian nhà phụ, các căn lều cùng những cái lồng gà, con thuyền của hắn trôi qua Vicksburg. Người tù không biết điều đó. Hắn không nhìn lên bất cứ điểm nào cao hơn mặt nước mà vẫn ngồi xổm, bám chặt mép thuyền và nhìn chằm chằm vào mớ lộn xộn màu vàng xung quanh - cái đám rác gồm nào là cây, nào là cột chống của những ngôi nhà, những cái đầu dài trông thật tang thương của những con la mà hắn tránh được nhờ chiều dài của một tấm ván gãy được giật ra từ đâu chính hắn cũng không biết trong lúc thuyền cứ dập dềnh lên xuống (và những cái đầu la đó dường như cứ hướng vào hắn với vẻ trách móc qua đôi mắt không còn sinh khí, trong nỗi ngạc nhiên đầy ngờ vực), và chiếc thuyền lúc thì trôi về phía trước theo hướng nằm ngang, lúc thì đuôi thuyền lại trôi trước, có lúc ở trong nước, lúc lại dềnh lên trên các mái nhà, những cái cây, thậm chí trên lưng những con la cứ như thể ngay cả khi đã chết rồi, những con vật khốn khổ ấy vẫn không thoát khỏi cái số kiếp phải mang gánh nặng, chịu cảnh đè đầu cưỡi cổ mà giống vật bị thiến như chúng phải chịu. Nhưng hắn không nhìn thấy Vicksburg; chiếc thuyền di chuyển với tốc độ nhanh ở một cửa sông chẳng có chút gì êm ả với bờ ngăn cao chóng mặt và ánh sáng chói lóa phía trên nhưng hắn không nhìn thấy, hắn chỉ chứng kiến cái đám hỗn độn nổi lềnh bềnh phía trước mặt mình đang tản ra với tốc độ dữ dội rồi lại dồn tụ lại, và hắn bị hút qua một vùng nước không có vật cản nhanh đến nỗi chẳng kịp nhận ra đó là một cái trụ cầu của đường sắt; trong một thoáng kinh hoàng, chiếc thuyền dường như bị treo trong sự lưỡng lự bất động trước cái sườn to lù lù của một tàu thủy chạy bằng hơi nước, tựa hồ đang chần chừ không biết có nên trườn qua hay lặn xuống bên dưới nó, rồi sau đó một làn gió mạnh, lạnh buốt sặc mùi vị cùng cảm giác ướt át và hiu quạnh mênh mông thổi ào tới chỗ hắn; chiếc thuyền vọt lên và trong cơn bộc phát cuối cùng, nó mửa hắn lên bộ ngực hoang dã của Cha đẻ của những dòng sông [2].

Và đây là những gì hắn kể khi đã yên vị trên giường của mình ở trong trại tù với tấm chăn quấn quanh người, được cắt tóc và cạo râu sạch sẽ.

Trong ba hoặc bốn giờ tiếp theo, sau khi tiếng sấm sét đã ngừng, chiếc thuyền trôi trong bóng tối mịt mùng trên một vùng nước đục ngầu mà dù có thể nhìn ra được, hắn cũng sẽ thấy nó không có biên giới. Hoang dại và vô hình, nước quăng mình xung quanh và bên dưới thuyền, nổi sóng nhấp nhô với những đám bọt bẩn thỉu đầy mảnh vỡ và rác rưởi của sự hủy diệt - những vật không tên, khổng lồ và vô hình cứ va đập vào con thuyền rồi lại trôi theo dòng nước xoáy. Hắn không biết mình đang ở trên Sông. Lúc đó cho dù biết, hắn cũng không chịu tin điều đó. Ngày hôm qua, hắn biết mình đang ở trên một con kênh nhờ các khoảng trống đều đặn giữa những cái cây tạo thành đường biên. Giờ đây, dù có đi trong ánh sáng ban ngày, hắn cũng không nhìn thấy một đường biên nào hết, nếu đây là nơi cuối cùng dưới mặt trời (hoặc đúng hơn dưới bầu trời u ám) mà hắn đang đứng thì hắn mới ngờ ngợ nó là một con sông; nếu bận tâm suy nghĩ mình đang ở đâu, nếu ngẫm nghĩ về đất phía dưới, thì hắn đơn giản chỉ buộc bản thân phải tin rằng mình đang chèo thuyền đi với tốc độ chóng mặt không thể lý giải nổi trên cánh đồng trồng bông rộng nhất thế giới; nếu hắn - kẻ mà ngày hôm qua biết rằng mình đang ở trên một con sông - đã chấp nhận sự thật đó trong niềm tin tốt đẹp và thái độ nghiêm trang, sau đó nhìn thấy con sông ấy quay ngoắt lại mà không hề cảnh báo, xô vào hắn một cách có mục đích, đầy khủng khiếp và cuồng nộ như con ngựa thiến điên cuồng lao vào một đường mòn, nếu hắn ngờ rằng vùng nước mênh mông hoang vắng mà hắn phát hiện ra mình đang lạc vào là một con sông dù chỉ trong một giây, thì đơn giản ý thức của hắn cũng không chịu tin điều đó; hắn sẽ chết ngất.

Khi ánh sáng ban ngày - một buổi bình minh xơ xác và u ám đầy mây lướt nhanh giữa những cơn gió mạnh kèm theo mưa lạnh buốt - ló rạng và lại có thể nhìn thấy cảnh vật xung quanh, hắn biết không phải mình đang ở trên một cánh đồng trồng bông. Hắn biết rằng vùng nước hoang vắng mà trong đó chiếc thuyền bị quăng quật không chảy trên bất cứ mảnh đất nào có dấu chân thuần hóa của con người, phía sau chiếc thuyền là cái mông trương phình và biến dạng của một con la. Đúng lúc đó hắn chợt nảy ra ý nghĩ rằng tình trạng hiện tại của con sông không phải là điều bất thường của một thập kỷ, mà những năm nó chấp nhận chịu đựng các loại máy móc tạm bợ thuộc phát minh vụng về của con người trên bề mặt phẳng lặng và yên ả của nó mới là điều bất thường; dòng sông giờ đây đang làm những gì nó thích và đã phải kiên nhẫn đợi chờ trong mười năm, như một con la làm việc cho bạn mười năm để có quyền đá bạn một cái. Và hắn cũng biết một điều khác về nỗi sợ hãi hắn thậm chí đã không thể khám phá ra vào một dịp khác lúc thực sự sợ hãi - dịp mà trong khoảng ba hoặc bốn giây của cái đêm đó, vào thời trai trẻ khi hắn nhìn xuống khẩu súng lục hai nòng của người bưu tín viên đang hoảng sợ trước lúc người đó có thể tin rằng khẩu súng của hắn (của người tù) sẽ không nhả đạn - nếu cứ chịu đựng nỗi sợ hãi đủ lâu thì sẽ đến lúc anh không còn cảm thấy khổ sở cực độ về mặt tinh thần nữa mà đơn giản chỉ cảm thấy ngứa ngáy, bứt rứt giống như cảm giác ran rát sau khi bỏng vậy.

Bây giờ, hắn (người mà đã hai mươi tư tiếng đồng hồ không được ăn uống và năm mươi tiếng đồng hồ không được ngủ) không phải chèo thuyền nữa mà chỉ việc lái chiếc thuyền đi trong một vùng hoang vắng - nơi mà đã từ lâu rồi hắn không dám tin rằng có khả năng đó là một con sông - cố gắng dùng mảnh gỗ ấy chỉ để giữ cho chiếc thuyền không bị vỡ và có thể nổi giữa những ngôi nhà, cây cối cùng xác động vật (toàn bộ những thành phố, cửa hàng, công viên và sân trại dập dềnh đùa giỡn xung quanh hắn như những đàn cá), không gắng sức để đến một cái đích cụ thể nào, chỉ cố giữ cho chiếc thuyền nổi đến chừng nào có thể. Hắn đâu có mong muốn gì nhiều cho bản thân. Hắn chỉ muốn rũ bỏ người đàn bà cũng như cái bụng to kềnh càng này, và hắn đang cố gắng làm điều đó một cách đúng đắn, không phải vì bản thân hắn mà vì cô ta. Hắn có thể đã tống cô ta trở lại một cái cây nào đó, vào bất cứ lúc nào.

“Anh có thể bỏ thuyền và mặc xác cô ta”, tù nhân có dáng người thấp đậm nói. “Rồi người ta sẽ phạt anh mười năm tù vì tội bỏ trốn, sau đó treo cổ anh vì tội giết người và bắt người nhà của anh phải bồi thường chiếc thuyền.”

“Đúng vậy”, tù nhân có dáng người cao nói, nhưng hắn đã không làm thế. Hắn muốn rũ bỏ người đàn bà đó một cách đúng đắn, tìm được bất kỳ người nào hắn có thể giao lại cô ta cùng một chỗ vững chắc để gửi cô ta ở đấy, rồi hắn sẽ quay trở lại sông, nếu điều ấy làm vừa lòng ai đó. Đấy là tất cả những gì hắn muốn - gặp được cái gì đó, bất cứ cái gì. Hắn đâu có đòi hỏi nhiều. Chỉ có bấy nhiêu thôi, vậy mà hắn không thể thực hiện được. Hắn kể cho các bạn tù nghe chiếc thuyền đã trôi đi như thế nào.

“Anh không gặp ai trên đường đi sao?”, tù nhân có dáng người thấp đậm hỏi. “Không gặp một chiếc tàu thủy hay bất cứ phương tiện gì sao?”

“Tôi không biết”, tù nhân có dáng người cao nói. “Tôi cố giữ cho chiếc thuyền nổi trên mặt nước cho đến khi bóng tối mỏng dần, loãng đi và cảnh vật trở nên rõ hơn.”

“Bóng tối ư?”, tù nhân có dáng người thấp đậm hỏi. “Tôi tưởng anh nói khi đó là ban ngày chứ.”

“Đúng”, tù nhân có dáng người cao nói. Hắn đang cuộn một điếu thuốc, cẩn thận đổ thuốc lá sợi từ một cái túi thuốc mới ra một mảnh giấy nhàu nhĩ. “Một điếu nữa này.”

Chiếc thuyền vẫn trôi nhanh theo một hành lang nước ngoằn ngoèo có những cái cây ngập nước vây quanh mà người tù một lần nữa lại nhận ra đó là con sông chảy theo hướng mà cho đến hai ngày trước, vẫn ngược dòng so với hướng di chuyển của con thuyền. Cũng như hai ngày trước, trực giác của hắn không cảnh báo một cách chính xác rằng hắn đang lái ngược dòng. Hắn sẽ không nói giờ đây hắn tin mình đang ở trên chính dòng sông mà hai ngày trước hắn đã ở, mặc dù hắn sẽ không ngạc nhiên khi nhận thấy mình đang tin, đã tin và có vẻ như vẫn tiếp tục tin như vậy ở một giai đoạn không xác định, trong tình trạng hắn là một thứ đồ chơi và con tốt trên vùng địa lý không ổn định, hoang dã, nguy hiểm này. Hắn đơn thuần hiểu ra mình lại đang ở trên một con sông, với kết luận tiếp theo về một phần của bề mặt trái đất dù không quen thuộc nhưng có thể nhận ra được. Giờ đây hắn tin tất cả những gì mình phải làm là chèo thuyền đi đủ xa và hắn sẽ đến một nơi nào đó được gọi là đường chân trời, cao hơn mặt nước dẫu không khô ráo thì có lẽ chí ít cũng có người ở; và nếu hắn chèo thuyền đủ nhanh và đến kịp, và rằng sự thúc bách mãnh liệt duy nhất là kiềm chế không nhìn người đàn bà chẳng thể biến mất ấy hay sự tồn tại của người hành khách mà hắn có trách nhiệm đảm bảo an toàn - người có hình hài đã lại hiện hữu trước mắt hắn khi bình minh lên, trông không còn ra người nữa - bạn có thể cộng thêm hai mươi tư giờ nữa vào hai mươi tư giờ năm mươi phút đầu tiên cho dù tính cả con gà mái bị chết đuối - con vật có một bên cánh bị mắc kẹt dưới tấm ván của một cái mái lợp mà trong chốc lát đã trôi ngay cạnh chiếc thuyền ngày hôm qua và bị hắn ăn sống một phần mặc dù người đàn bà không đụng đến nó, mà đã trở thành một cái bụng đơn nhất có tri giác, kỳ quái, trơ ì mà hắn tin nếu hắn có thể nhìn đi chỗ khác và tránh xa nó, thì nó sẽ biến mất, và nếu như cái liếc nhìn của hắn không dừng lại tại cái điểm nó chiếm cứ, thì nó sẽ không hiện hữu trở lại. Đó là những gì hắn đang làm lúc này khi phát hiện ra sóng đang xô về phía mình.

Hắn không biết bằng cách nào mình lại phát hiện ra sóng đang xô về phía mình. Hắn chẳng nghe thấy âm thanh của sóng, chẳng chạm vào và cũng chẳng nhìn thấy sóng. Hắn thậm chí không tin rằng việc nhận ra chiếc thuyền giờ đây đang ở trong vùng nước không chảy - sự chuyển động của dòng nước, dù đúng hay không, lúc trước theo phương nằm ngang, rồi sau đó không như vậy nữa mà chuyển sang chiều thẳng đứng - đủ để cảnh báo hắn. Có lẽ hắn biết được điều đó là nhờ niềm tin gần như cuồng tín và không gì lay chuyển nổi vào tính sáng tạo cùng hoang dã bẩm sinh của cái phương tiện mà trên đó số mệnh của hắn dường như bị phó mặc vĩnh viễn cho may rủi; một sự kết án vượt trên cả nỗi kinh hoàng hoặc ngạc nhiên và giờ đây không phải còn quá sớm để con sông chuẩn bị làm bất cứ điều gì nó định làm. Vậy là hắn điên cuồng điều khiển đuôi thuyền xoay theo hướng ngược lại như một con ngựa đang chạy, hắn thậm chí không thể phân biệt được con sông mình đã gặp trước đó nằm ở đâu. Hắn không biết liệu có phải mình không thể nhìn thấy con sông ấy hay nó đã biến mất vào một thời điểm nào đó hắn không hề hay biết; liệu nó đã biến mất trong một thế giới bị nước nhấn chìm hay là thế giới đã bị nhấn chìm bởi một con sông không giới hạn. Vậy nên giờ đây hắn không thể xác định được liệu thuyền của mình đang chạy ngay trước những con sóng hay rẽ sóng; tất cả những gì hắn có thể làm là đẩy cái cảm giác về sự tàn bạo đang tăng lên nhanh chóng lại phía sau và chèo thuyền nhanh hết mức mà hệ thống cơ bắp tê dại và rã rời của mình cho phép, cố giật cái liếc nhìn của mình khỏi người đàn bà để gắn nó vào một điểm khác cho tới khi hắn đến được một chỗ nào đó bằng phẳng và cao hơn mặt nước. Sự cố gắng cũng như đấu tranh của hắn bộc lộ gần như rõ ràng trong đôi mắt sâu và hốc hác, cứ như thể đôi mắt đó là hai mũi tên cao su có đầu mút được bắn ra từ một cái súng đồ chơi của trẻ con; hệ thống cơ bắp phải làm việc liên tục trong nhiều giờ liền của hắn giờ đây không tuân theo ý chí mà tuân theo sự suy hao vượt trên cả tình trạng kiệt sức đơn thuần, gần như mê dại, như bị thôi miên, tiếp tục hoạt động dễ hơn là dừng lại, và hắn, một lần nữa, lái chiếc thuyền liêu xiêu đâm thẳng vào một chướng ngại vật mà nó không thể vượt qua và một lần nữa, để mô tả chuyện đã xảy ra, hắn lao người về phía trước, ngồi bằng cả tứ chi với khuôn mặt sưng vù, nhìn chằm chằm vào người đàn ông mang súng ngắn và nói bằng giọng khàn khàn sầu thảm: “Vicksburg ư? Vicksburg ở đâu?”.

Thậm chí khi hắn đã cố kể tất cả, thậm chí sau bảy tuần, sau khi sự an toàn, an ninh, tính đảm bảo cùng việc canh gác cẩn mật tăng cường gấp đôi và mười năm tù được bổ sung vào thời gian thụ án của hắn vì tội cố ý bỏ trốn, nỗi oán giận đầy hoài nghi và kỳ cục trước kia vẫn quay trở lại hiển hiện trên khuôn mặt, trong giọng điệu và lời nói của hắn. Hắn thậm chí đã không lên một chiếc thuyền khác. Hắn kể lại rằng hắn đã bám vào một cái cọc (đó là một nhà thuyền không được sơn, có ống khói, đang trôi thì bị hắn đâm vào và có vẻ như nó không đổi hướng mặc dù ba người trên thuyền chắc hẳn đã nhìn thấy hắn rõ rành rành và không rời mắt khỏi hắn; người đàn ông thứ hai đi chân trần để râu, có mái tóc được tết bím, và sau đó - hắn không biết trong bao lâu - một người đàn bà trong bộ quần áo đàn ông bẩn thỉu, nghiêng người bên cửa với ánh mắt lạnh lùng) bị kéo đi một cách không thương tiếc, không ngừng cố gắng giãi bày, giải thích nguyện vọng và nhu cầu khiêm tốn, hợp lý (ít nhất là đối với bản thân hắn) của mình; cố gắng nói ra mong muốn giản dị của mình, một lần nữa hắn dường như lại cảm thấy nỗi nhục nhã xưa cũ không thể nào quên được tựa một cơn sốt rét hoành hành trong người khi nhìn vụn thuốc lá rơi xuống đều đều và nhạt nhòa giữa những ngón tay run rẩy và sau đó, ngay cả mảnh giấy quấn thuốc lá cũng rơi xuống với một tiếng động khô khốc, mỏng tèo.

“Đốt quần áo của tôi đi ư?”, người tù nói. “Đốt nó đi ư?” “Anh mong trốn thoát bằng cách nào khi cứ mặc nguyên bộ quần áo tù trên người hả?”, người đàn ông mang súng ngắn trên nhà thuyền nói. Hắn cố kể sự tình, gắng sức giải thích như thể hắn không chỉ cố giãi bày với ba người trên nhà thuyền đó mà còn với vạn vật xung quanh - vùng nước lụt mênh mông, tiêu điều, hoang sơ, đám cây cối sặc nước và cả bầu trời hoang vu, ảm đạm - chẳng phải để biện hộ cho bản thân bởi hắn không cần biện hộ và bởi hắn biết rằng những người nghe mình nói - các tù nhân khác - chẳng cần một sự biện hộ nào từ hắn hết, mà đúng hơn, trong nỗi mệt mỏi cùng cực, hắn có lẽ đã và đang gặm nhấm cơn tức thở trong trạng thái mộng mị, đầy hoài nghi. Hắn kể với người đàn ông mang súng trên nhà thuyền rằng hắn và người bạn tù của mình đã được giao nhiệm vụ chèo thuyền đi cứu một người đàn ông và một người đàn bà như thế nào, hắn đã mất bạn đường ra sao và cố tìm anh ta nhưng không thấy, và lúc bấy giờ tất cả những gì hắn muốn trên đời này là tìm được một chỗ nào đó bằng phẳng không bị ngập nước để người đàn bà bụng mang dạ chửa được ở tạm cho tới khi hắn có thể tìm được một sĩ quan hoặc một cảnh sát trưởng. Hắn nghĩ đến mái ấm gia đình nơi hắn sống từ nhỏ, đến những người bạn mà hắn biết rõ tính tình, đến những người hiểu mình, những cánh đồng quen thuộc nơi hắn làm những việc mình từng được học rồi trở nên thành thạo và đâm ra yêu thích, những con la mà hắn hiểu rõ và tôn trọng tính cách của chúng như đã tôn trọng tính cách của một số người; hắn nghĩ đến cảnh ban đêm ở trại tù với những tấm màn chống rận của mùa hè và những cái lò sưởi hữu ích vào mùa đông, nghĩ đến cả những người cung cấp nhiên liệu và thức ăn; các trận đấu bóng và các buổi chiếu phim vào ngày Chủ nhật - những điều mà trước khi đến trại hắn chưa từng trải nghiệm, trừ các trận đấu bóng. Nhưng trên hết, hắn nghĩ đến tính cách của mình (hai năm trước, người ta đã cho hắn được hưởng đặc ân do cải tạo tốt. Hắn không phải cày ruộng hay chăn gia súc nữa, mà được giao mang một khẩu súng được nạp đạn sẵn để giám sát những người làm việc đó, nhưng hắn đã từ chối. “Tôi nghĩ mình gắn bó với việc cày bừa”, hắn nói một cách hoàn toàn nghiêm túc. “Tôi đã cố sử dụng súng một lần và như thế là quá nhiều rồi.”), cái tên đẹp đẽ của hắn, cái trách nhiệm không chỉ đối với những người đang chịu trách nhiệm về hắn mà với chính bản thân hắn, niềm vinh dự trong việc thực hiện những gì được yêu cầu ở hắn, niềm kiêu hãnh có thể làm được việc, cho dù đó là việc gì. Hắn nghĩ về điều đó, nghe người đàn ông mang súng nói đến việc trốn thoát và dường như đối với hắn lúc này, khi bị mắc kẹt ở đây, bị kéo đi một cách không thương tiếc (hắn nói rằng chính ở chỗ ấy, lần đầu tiên hắn nhìn thấy những đám địa y bám trên cây mặc dù chúng có thể đã tồn tại ở đó vài ngày rồi. Ngẫu nhiên, hắn nhìn thấy chúng lần đầu tiên ở đây), hắn chỉ muốn nổ tung vì tức giận.

“Ông không thể hiểu rằng bỏ trốn là điều cuối cùng tôi muốn làm ư?”, hắn kêu lên. “Với khẩu súng này ông có thể giám sát tôi; tôi sẵn sàng để ông làm điều đó. Tất cả những gì tôi muốn là đưa người đàn bà này...”

“Tôi đã nói với anh rằng người đàn bà đó có thể lên thuyền”, người mang súng ngắn nói bằng giọng bình tĩnh. “Nhưng thuyền của tôi không có chỗ cho bất cứ ai đang tìm kiếm một cảnh sát trong bộ quần áo tù.”

“Khi hắn lên thuyền, hãy lấy báng súng đánh vào đầu hắn”, người đàn ông chèo thuyền nói, “hắn say rồi”.

“Hắn không lên thuyền”, người mang súng ngắn nói. “Hắn bị điên.”

Sau đó người đàn bà lên tiếng. Cô ta không cử động, vẫn nghiêng người bên cửa trong bộ áo liền quần bẩn thỉu bạc thếch như quần áo của hai người đàn ông: “Cho bọn họ đồ ăn và bảo họ biến khỏi đây đi”. Cô ta bắt đầu di chuyển, đi đến bên bàn và nhìn người đồng hành của người tù với bộ mặt sưng sỉa. “Bao lâu nữa thì cô sinh?”

“Trong tháng này”, người đàn bà trên thuyền của hắn nói. “Nhưng tôi...”, người đàn bà mặc áo liền quần quay sang người đàn ông mang súng ngắn.

“Hãy cho họ thức ăn”, cô ta nói. Nhưng người đàn ông mang súng vẫn nhìn xuống người đàn bà trên thuyền.

“Nào”, anh ta nói với người tù. “Hãy đưa cô ta lên thuyền.”

“Và rồi chuyện gì sẽ xảy ra với anh hả”, người đàn bà mặc áo liền quần nói, “khi anh cố giao cô ta cho một sĩ quan cảnh sát. Khi anh gặp một cảnh sát trưởng và ông cảnh sát hỏi anh là ai thì chuyện gì sẽ xảy ra?”. Người đàn ông mang súng vẫn không thèm nhìn cô ta. Gã thậm chí không hạ súng xuống khi dùng mu bàn tay đánh mạnh vào mặt người phụ nữ. “Đồ chó đẻ”, cô ta chửi. Người đàn ông mang súng thậm chí không thèm nhìn cô ta.

“Anh có lên hay không hả?”, gã nói với người tù.

“Anh không thấy là tôi không thể lên thuyền của anh ư?”, người tù gào lên. “Anh không thể hiểu điều đó sao?”

Giờ đây hắn nói, hắn chịu rồi. Hắn phải chịu số kiếp này thôi. Ngay từ đầu hắn đã biết rằng cái số của mình là không bao giờ rũ bỏ được người đàn bà này, cũng như những người đã sai hắn đi cứu hộ bằng thuyền đều hiểu rõ hắn chưa bao giờ thực sự bỏ cuộc; khi nhận ra một trong những đồ vật mà người đàn bà mặc áo liền quần ném sang thuyền của hắn là bình sữa đặc, hắn tin rằng đó là một điềm báo, một linh cảm không thể chối bỏ, như một cái giấy báo tử rằng hắn sẽ không thể tìm thấy một chỗ bằng phẳng, chưa bị ngập nước trước cho đứa trẻ chào đời. Vậy là hắn kể rằng hắn đã điều khiển thuyền của mình trôi bên cạnh cái nhà thuyền đó như thế nào khi sự đùa giỡn ngập ngừng đầu tiên của cơn sóng thứ hai hình thành phía dưới đáy thuyền, trong lúc người đàn bà mặc áo liền quần đi từ trong cái nhà nổi của cô ta ra lan can thuyền, trút thức ăn - những khúc thịt muối, tấm chăn bẩn rách bươm, những tảng bánh mì cháy sém, nguội ngắt - từ một cái chảo đựng đồ ăn gần giống như cái thùng chứa rác thải xuống trong khi hắn bám vào thanh chắn của nhà thuyền để cố chống chọi với cú giật của dòng nước xoáy - một cơn sóng mới mà vào khoảnh khắc đó, hắn đã quên không nghĩ tới vì vẫn đang cố giải thích nguyện vọng và nhu cầu khiêm tốn của mình cho đến khi người đàn ông mang súng (người duy nhất trong ba người trên nhà thuyền đi giày) bắt đầu dận mạnh chân lên bàn tay của hắn, hắn rụt tay lại mỗi lần gã đó làm vậy để tránh sự tấn công của đôi chân đi giày rồi lại bám vào thanh chắn của nhà thuyền đó cho đến khi bị gã đàn ông mang súng giơ chân đá thẳng vào mặt khiến hắn buộc phải né người sang một bên để tránh; vậy là hắn đành phải buông tay khỏi thanh chắn của chiếc thuyền kia, trọng lượng cơ thể hắn làm chiếc thuyền con tròng trành theo dòng nước xoáy ngày càng mạnh còn chiếc thuyền mỏng manh bắt đầu bỏ con thuyền lạ lại phía sau để rồi giờ đây hắn lại hùng hục chèo thuyền như một người đang lao về phía vách núi mà anh ta biết rằng cuối cùng mình cũng sẽ phải chịu sự kết án của định mệnh; ngoái lại nhìn chiếc thuyền cùng ba khuôn mặt sưng sỉa đầy vẻ chế nhạo và tàn nhẫn nhanh chóng trở nên nhỏ dần giữa vùng nước mênh mông kia, hắn tức sôi máu và ngạt thở trước sự thật không thể chịu đựng nổi, chẳng phải vì hắn đã bị từ chối (hắn ít khi bị từ chối), đã mong muốn và đòi hỏi rất ít, tuy nhiên hoàn cảnh lại đòi hỏi hắn trả giá cho từng hơi thở mà (những người kia ắt phải biết) nếu có thể trả, thì hắn đã không ở cái nơi hắn đang ở, đã không yêu cầu điều hắn đã yêu cầu; hắn giơ mái chèo lên cao, khua trong không khí, gào lên những lời nguyền rủa nhằm vào ba kẻ kia ngay cả khi khẩu súng ngắn của một trong hai người đàn ông ở trên nhà thuyền đó lóe sáng và đạn bắn ra trên mặt nước dọc theo một bên thuyền.

Vậy là hắn ở đó, vừa huơ huơ mái chèo vừa gào thét, và rồi hắn sực nhớ ra có một đợt sóng khác - bức tường nước thứ hai mang theo những ngôi nhà cùng những con la chết đuối - đang hình thành phía sau mình. Vậy là hắn ngừng gào thét để quay trở lại với việc chèo thuyền. Hắn không cố gắng vượt qua bức tường đó. Từ kinh nghiệm của bản thân, hắn biết rằng khi bị bức tường nước đó đuổi kịp, hắn sẽ phải di chuyển cùng hướng với nó cho dù có muốn hay không, và khi nó đuổi kịp, hắn sẽ di chuyển nhanh đến mức không thể dừng lại được cho dù nơi hắn có thể đến để trút cái gánh nợ, tức người đàn bà này, một cách kịp thời là ở đâu chăng nữa. Kịp thời: Đó là nỗi day dứt hiện tại của hắn, vậy nên cơ hội duy nhất của hắn là giữ cho con thuyền ở phía trước mũi sóng chừng nào còn có thể và hy vọng đến được chỗ nào đó trước khi bị bức tường nước ấy tấn công. Vậy nên hắn tiếp tục chèo, lái chiếc thuyền bằng hệ thống cơ bắp đã mệt mỏi rã rời trong một thời gian dài đến mức mất cảm giác, giống như khi một người đã lặn ngụp trong vận rủi lâu đến mức thôi không còn tin đó là vận rủi, chứ nói gì đến việc tin vào vận may. Ngay cả khi hắn ăn những tảng bánh mì cháy xém to cỡ những quả bóng bầu dục với độ chắc và dai của những tảng than nến ngay cả khi chúng nằm ở đáy thuyền, nơi người đàn bà trên chiếc xà lan kia đã ném chúng sang - thứ đồ ăn cứng như sắt mà không một người phụ nữ nào có thể gọi là bánh mì khi chúng ở bên ngoài cái chảo chế biến cháy xém đầy váng - hắn cũng ăn bằng một tay trước sự cho phép đầy miễn cưỡng của mái chèo.

Hắn cũng cố kể lại chi tiết đó: Ngày hôm ấy, thuyền của hắn tháo chạy giữa những cái cây trong khi kẻ do thám của con sóng thỉnh thoảng lại xuất hiện phía sau hắn, đùa giỡn với nó trong chốc lát một cách nhẹ nhàng và tò mò, rồi lại tiếp tục di chuyển với tiếng thở dài khe khẽ, gần như cười thầm; chiếc thuyền trôi đi và hắn chẳng nhìn thấy gì ngoài những cái cây, sóng nước mênh mông và sự hoang vắng đìu hiu cho đến khi, sau một khoảng thời gian, hắn dường như cảm thấy không phải mình đang bỏ khoảng không gian và khoảng cách lại phía sau, cũng chẳng phải đang rút ngắn nó ở phía trước mà cả hắn lẫn con sóng giờ đây đều đồng thời bị treo lơ lửng và không tiến về phía trước trong quỹ đạo của thời gian thuần túy, giữa cảnh hoang vắng mờ ảo mà trong đó hắn đang chèo thuyền không phải với niềm hy vọng rằng mình sẽ đến một cái đích nào đó mà đơn giản chỉ để giữ nguyên vẹn cái khoảng cách ngắn ngủi mà chiếc thuyền cho phép giữa hắn và người đàn bà trước mặt hắn - cái khối thịt ì ạch mà hắn không thể rũ bỏ được; rồi đêm đến và chiếc thuyền vẫn cứ trôi hoài, trôi nhanh bởi bất cứ vận tốc nào vượt qua bất cứ thứ gì không được biết và không được nhìn thấy đều là quá nhanh; thật vậy, hắn và con thuyền trôi đi, không gì ở phía trước và không gì ở phía sau, với ý niệm kỳ quặc về khối lượng nước đang chuyển động theo kiểu đổ dồn về phía trước, cái đỉnh sóng nổi bọt và lưa tưa tựa những chiếc răng nanh, và khi bình minh ló rạng (một sự chuyển hệt như mơ từ ngày sang đêm rồi lại từ đêm sang ngày với tính chất không đầy đủ tạo nên sự hư ảo và sai lệch về thời gian như ánh đèn sân khấu lúc sáng lúc mờ), người đàn bà bụng mang dạ chửa trên thuyền đã không còn nằm ngửa với chiếc áo khoác ướt sũng mà ngồi dậy, bấu chặt lấy mép thuyền bằng cả hai tay, mắt nhắm nghiền, răng cắn chặt môi dưới, còn hắn thì khua cái mảnh ván vỡ một cách đầy giận dữ để lái thuyền đi, phóng ra ánh nhìn chằm chằm vào cô ta từ khuôn mặt sưng vù hoang dại, mệt mỏi vì thiếu ngủ, hết kêu gào lại rên rỉ: “Bám chắc vào! Vì Chúa, bám chắc vào!”.

“Tôi đang cố bám chắc đây”, cô ta nói. “Nhưng hãy khẩn trương lên! Khẩn trương lên!” Hắn kể, thật không thể tin nổi: Khẩn trương, gấp gáp; người đang rơi từ vách núi xuống lại được bảo rằng hãy bám vào cái gì đó và tự cứu lấy mạng mình; sự mách bảo đó thật mơ hồ, hài hước, lố bịch và điên rồ nảy ra từ cơn rùng mình của chứng đãng trí với mức độ dữ dội không thể chịu đựng nổi, hư ảo chẳng kém gì chuyện hoang đường phía sau ánh đèn sân khấu.

Giờ đây, hắn đang ở trong một cái vịnh nhỏ. “Một cái vịnh ư?”, tù nhân có dáng người thấp đậm hỏi. “Anh trôi dạt tới một cái vịnh cơ đấy.”

“Đúng vậy”, tiếng nói gay gắt của tù nhân có dáng người cao bay ra phía trên đôi tay hắn. “Tôi đã dạt vào đó.” Với sự nỗ lực hết mình, hắn giữ yên hai tay đủ lâu để thả hai mẩu giấy cuộn thuốc lá và nhìn chúng bay một cách ngập ngừng xuống sàn nhà giữa hai chân mình, rồi giữ hai bàn tay bất động một lát, một cái vịnh, một vùng biển màu vàng yên ả và rộng lớn có bầu không khí tĩnh lặng đến lạ lùng, khiến hắn ngạc nhiên và ấn tượng rằng vùng đó đã quen với nước mặc dù không phải lúc nào nó cũng bị ngập; hai hoặc ba tuần sau đấy, người ta đã nói cho hắn biết tên của cái vịnh ấy và bây giờ hắn vẫn còn nhớ: Atchafalaya.

“Louisiana ư?”, tù nhân có dáng người thấp đậm hỏi. “Anh muốn nói rằng anh đã bị nước cuốn ra khỏi bang Mississippi ư? Khiếp thật!” Hắn nhìn chằm chằm tù nhân có dáng người thấp đậm. “Ôi chao!”, người tù nói. “Không phải như vậy đâu, anh chỉ bị cuốn sang phía bên kia Vicksburg thôi chứ gì.”

“Ở nơi tôi trôi dạt tới người ta chẳng đả động gì đến cái tên Vicksburg hết”, tù nhân có dáng người cao nói. “Họ gọi nơi đó là Baton Rouge.” Và giờ đây hắn bắt đầu kể về một thị trấn nhỏ sạch sẽ nằm nép mình giữa những cây cổ thụ xanh tươi bất ngờ xuất hiện trong câu chuyện cũng như trước mắt hắn, trong đời thực, phía sau các con thuyền nằm rải rác được cột thành hàng vào những chiếc xe lửa chở hàng bị ngập nước đến tận cửa toa tàu. Và giờ đây hắn cũng đã cố kể lại chi tiết đó: Hắn đã đứng một lát ở chỗ nước ngập đến tận thắt lưng nhìn đi nhìn lại chiếc thuyền có người đàn bà nửa nằm nửa ngồi trong đó với đôi mắt vẫn nhắm nghiền, những ngón tay trắng bệch vì bấu chặt vào mép thuyền và một dòng máu nhỏ đang len lỏi chảy xuống cằm cô ta từ đôi môi bị cắn bởi hai hàm răng, và hắn trông xuống cô ta bằng cái nhìn tuyệt vọng.

“Tôi sẽ phải đi bộ bao xa?”, cô ta hỏi.

“Tôi đã nói với cô rồi, tôi không biết!”, hắn gào lên. “Nhưng ở đâu đó đằng kia có đất! Đất và nhà cửa.”

“Nếu tôi cố di chuyển, thì đứa trẻ sẽ không phải sinh ra trên thuyền”, cô ta nói. “Anh sẽ phải vào gần hơn đấy.”

“Được”, hắn gào lên, đầy hoang dại, tuyệt vọng và hoài nghi. “Đợi đã. Tôi sẽ ra đầu thú và người ta sẽ...” Hắn bỏ lửng câu nói đó, đợi để kết thúc nó; hắn cũng kể lại cả chi tiết ấy: Hắn cố chạy, loạng choạng làm nước bắn tung tóe, vừa khóc vừa thở hổn hển; bây giờ hắn nhìn thấy nó rồi - một vùng bằng phẳng cao hơn mặt nước, những bóng người mặc đồ kaki trên đó trông giống những người mà hắn đã thấy trước lúc được cử đi cứu nạn; hắn nói đến những ngày mình vừa trải qua kể từ cái buổi sáng đầu tiên ấy - khoảng thời gian đã bị rút ngắn lại rồi biến mất như thể chưa từng tồn tại, cái khoảnh khắc khi hắn bắt đầu lên thuyền và khoảnh khắc này, hai khoảnh khắc (kế tiếp nhau hay xảy ra đồng thời nhỉ?), hắn đã di chuyển qua một khoảng không gian nhất định và giờ đây hắn đơn thuần đang bước vào chính những vết chân của mình, lún sâu và làm nước bắn tung tóe trong lúc giơ cao hai cánh tay, hắn rền rĩ bằng giọng gay gắt. Hắn nghe thấy tiếng kêu thất thanh, “Một trong hai tên tù kìa!’ và tiếng ra lệnh, tiếng lách cách của súng ống, tiếng báo động vang lên: “Hắn kìa! Hắn kìa!”.

“Đúng!”, hắn vừa hét to vừa chạy, và lún trong bùn, “Tôi đây! Tôi đây ! Tôi đây!” và tiếp tục chạy vào loạt đạn bắn lác đác đầu tiên, dừng lại giữa tiếng súng, vẫy tay, gào lên: “Tôi muốn ra đầu thú! Tôi muốn ra đầu thú!”, và hắn nhìn, không phải bằng ánh mắt khiếp đảm mà bằng cơn giận dữ đến cùng cực không thể chịu đựng nổi khi một đám người mặc đồ kaki tản ra cùng lúc một cỗ súng máy với họng súng to, ngắn tun ngủn, nghiêng nghiêng, hướng về phía hắn đầy vẻ thăm dò xuất hiện; hắn vẫn đang gào bằng giọng khàn khàn như quạ kêu, “Tôi muốn ra đầu thú! Các ông không nghe tôi nói ư?”, và hắn vẫn tiếp tục gào, ngay cả khi lảo đảo, loạng choạng, chúi đầu xuống nước để tránh đạn, nghe thấy những viên đạn phía trên đầu mình rơi bục... bục... bục, quờ quạng tìm đáy nước, và ngay cả khi chưa đứng được trở lại trên đôi chân mình và vẫn để người chìm trong nước trừ cái mông dễ nhận thấy, tiếng gào giận dữ vẫn tuôn ra từ miệng hắn và tỏa ra xung quanh mặt hắn dưới dạng bong bóng, bởi vì hắn đơn giản vẫn muốn ra đầu thú. Sau đó hắn được che chắn một cách tương đối an toàn trong thời gian không lâu lắm. Vậy là (hắn đã không kể bằng cách nào hoặc ở đâu) trong chốc lát, hắn dừng bước, thở một giây trước khi tiếp tục chạy trở lại chỗ con thuyền hiện đang nằm phơi mình ở đó mặc dù vẫn có thể nghe thấy những tiếng la hét phía sau và tiếng súng nổ lác đác; và hắn vừa thở hổn hển, vừa khóc tức tưởi, những giọt nước mắt giận dữ rơi xuống bàn tay từ khi nào và rơi như thế nào hắn không biết, chỉ biết rằng mình đã lãng phí hơi sức quý giá không phải để nói cho không một đôi tai nào nghe, giống như tiếng kêu của một con thỏ đang hấp hối trước một đôi tai điếc, mà đúng hơn là để lên án toàn bộ hơi sức, sự dại dột và sức chịu đựng vô cùng tận của nó - một khả năng dường như là sự bất diệt duy nhất: “Tất cả những gì tôi muốn trên đời này là ra đầu thú”.

Hắn quay trở lại thuyền, trèo vào trong rồi nhặt tấm ván gỗ được dùng làm mái chèo lên. Và bây giờ khi kể lại, mặc dù cơn phẫn nộ đã lên tới đỉnh điểm song câu chuyện hắn kể lại trở nên khá đơn giản; giờ đây hắn thậm chí có thể xé một mẩu giấy quấn thuốc lá bằng ngón tay mà không hề run hay làm rơi một sợi thuốc nào, như thể đã vượt qua phạm vi tấn công của khẩu súng máy tới phạm vi mà chẳng điều gì có thể khiến hắn kinh ngạc được nữa. Phần tiếp theo của câu chuyện hắn kể đến với người nghe như thể từ phía bên kia tấm kính màu sữa nhưng vẫn trong suốt, tựa thứ gì đó người ta không thể nghe song lại có thể nhìn thấy - một loạt những cái bóng không sắc màu nhưng vẫn có thể phân biệt được, trôi đi một cách êm ả, hợp logic, không hề điên rồ và gây ra tiếng động: Hắn và người đàn bà đó đang ở trên thuyền, giữa một cái máng nước rộng không biên giới và một lần nữa chiếc thuyền lại lao vào vùng sức ép không thể cưỡng nổi của một dòng xoáy mà hắn chẳng biết từ đâu đến, các thị trấn nằm nép mình dưới bóng của những cây sồi xanh tươi và không thể tiếp cận tựa như hư ảo và dường như không gắn với bất cứ cái gì ở phía chân trời bất biến và lộng gió. Hắn không tin những thị trấn đó có thật, chúng không quan trọng, đằng nào hắn cũng đã chịu sự đọa đày của số phận; những thị trấn ấy chẳng khác gì làn khói mong manh hoặc hình ảnh trong một giấc mơ, và hắn cứ chèo thuyền đi miết, không đích đến, không hy vọng, thỉnh thoảng lại nhìn người đàn bà ngồi đó với hai đầu gối nhô cao và toàn bộ thân hình như thể đang bị ghì chặt trong khi những dòng máu nhỏ len lỏi chảy xuống từ đôi môi bị cắn mạnh. Hắn chèo thuyền đi trong vô định, chẳng để trốn khỏi cái gì cả, chỉ mải miết chèo bởi hắn đã làm vậy quá lâu, lâu đến nỗi hắn tin rằng nếu dừng tay thì cơ bắp của hắn sẽ gào lên giận dữ. Vậy nên khi chuyện ấy xảy ra hắn không hề ngạc nhiên. Hắn nghe thấy âm thanh mình biết rõ (hắn đã nghe thấy nó, chỉ nghe một lần là đủ, và không người nào cần phải nghe nó hơn một lần), âm thanh mà hắn biết trước sau gì mình cũng sẽ nghe thấy; hắn nhìn lại phía sau trong khi vẫn đang chèo thuyền, và nhìn thấy nó - bức tường nước cong cong với đỉnh sóng gồm những đám tạp nham nào là cây cối, rác rưởi, xác động vật; và hắn ngoái lại nhìn nó hẳn một phút trong tình trạng kiệt sức vượt trên cả nỗi tức giận - tình trạng mà dù có khổ sở và bị xúc phạm thậm tệ hơn hắn cũng không còn cảm thấy nữa, tình trạng cho phép hắn ngẫm nghĩ trong cảm giác tò mò hoang dại không hề bị tổn thương đạt đến mức độ mà những giây thần kinh dường như đã bị gây mê của mình cho phép - về điều tiếp theo mà định mệnh sắp đặt để hắn và người đàn bà này phải chịu đựng cho đến khi con sóng thực sự bắt đầu chồm lên đầu hắn với vẻ gầm gào cực độ. Lúc đó hắn chỉ kịp quay đầu lại. Nhịp chèo của hắn không hề chao đảo, chẳng chậm cũng chẳng nhanh hơn trước; hắn vẫn chèo thuyền một cách đều đặn như bị thôi miên và nhìn con nai đang trôi. Hắn không biết nó là gì và cũng chẳng biết mình đang lái con thuyền đổi hướng để theo con vật trôi nổi đó, hắn chỉ dõi theo cái đầu đang trôi phía trước khi con sóng ập tới và cả con thuyền dựng đứng lên theo cái cách hắn từng biết trong một đám hỗn độn gồm cây cối, những ngôi nhà, cây cầu, hàng rào, còn hắn thì vẫn tiếp tục chèo, thậm chí ngay cả khi mái chèo không chạm xuống nước, hắn vẫn không ngừng khua tay chèo, ngay cả khi hắn và con nai kia phóng về phía trước, song song nhau và chỉ cách nhau chừng một sải tay; hắn nhìn con nai bắt đầu dựng đứng lên cho đến khi nó thực sự vẫn trôi theo tư thế đó trên mặt nước, rồi biến mất ở phía trước trong tiếng nước bắn tung tóe và những cành cây kêu tanh tách, cái đuôi cụt của nó thoáng hiện trong chốc lát, rồi cả người con vật mất hút như một làn khói tan biến. Và bây giờ, chiếc thuyền va đập mạnh vào các vật nó gặp rồi chao đảo, còn hắn thì bật ra khỏi thuyền, đứng ở một chỗ ngập nước đến đầu gối, sau đó quỳ xuống dõi theo con nai đã biến mất. “Đất!”, hắn rên lên. “Đất! Bám chắc vào! Cứ bám chắc vào!” Hắn túm lấy hai cánh tay người đàn bà và kéo cô ta ra khỏi thuyền, hổn hển và loạng choạng di chuyển theo hướng con nai vừa biến mất. Giờ đây mặt đất thực sự đã hiện ra - mặt đất kỳ cục, trơn trượt, dốc ngược và không thể tin nổi; và hắn đang bước những bước lún trong bùn của một chân gò rồi trượt hoài, trong khi người đàn bà vùng vẫy trong đôi tay đầy bùn của hắn.

“Buông tôi ra!”, cô ta kêu lên. “Buông tôi ra!” Nhưng hắn vẫn thở hổn hển trong lúc kéo người đàn bà đang khóc tức tưởi đó mải miết di chuyển trên chân gò trơn dốc; hắn sắp tới được đỉnh gò bằng phẳng cùng với cái gánh nặng không thể điều khiển nổi thì một cái gì đó đâm vào chân hắn với tốc độ nhanh đến mức khiến hắn giật bắn người. Đó là một con rắn, hắn nghĩ trong khi chân như muốn rụng ra và với chút sức lực cuối cùng, hắn vừa đẩy vừa ném người đàn bà lên chỗ đất cao rồi vẩy vẩy bàn chân, quay đầu nhìn cái phương tiện mình đã ở trên đó bao nhiêu ngày đêm cũng không nhớ nữa, cái phương tiện mà trong khoảng thời gian vừa qua, hắn chưa bao giờ hoàn toàn rời bỏ được như thể thân xác mệt mỏi rã rời của hắn cứ cố mang cái mong muốn dai dẳng đầy phẫn uất được cắt đứt bằng mọi giá, kể cả bị chết đuối, để thoát khỏi mối ràng buộc với gánh nặng mà hắn bị định mệnh bắt phải mang, không thể thoái thác và lựa chọn này. Sau đó, dường tiếng khóc như mèo kêu của trẻ sơ sinh đã đưa hắn trở lại với thực tại.

❀ ❀ ❀

[1] Helen và Garbo là hai nữ diễn viên điện ảnh nổi tiếng từng được mệnh danh là những Nữ hoàng sắc đẹp.

[2] Nhìn chung người ta chấp nhận rằng Mississippi theo tiếng của người Mỹ bản địa (India) có nghĩa là “Cha của những dòng sông”.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của William Faulkner

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.