Cả người quản lý mỏ lẫn vợ anh ta - một cặp vợ chồng ít tuổi nhưng già dặn hơn Charlotte và Wilbourne, ít nhất là qua vẻ mặt - đều không ra đón họ. Cặp vợ chồng đó mang họ Buckner, tự gọi nhau là Buck và Bill. “Cứ gọi tôi là Billie, i, e”, cô vợ nói bằng giọng miền Tây khàn khàn. “Tôi người gốc Colorado (cô ta phát âm chữ “a” như “æ”), Buck quê ở Wyoming.”
“Đó là tên của một gái điếm tuyệt vời, đúng không?”, Charlotte nói bằng giọng thích thú.
“Cô nói thế là có ý gì?”
“Không có gì. Tôi không hề có ý xúc phạm đâu. Đó là một cô gái điếm tốt bụng. Tôi muốn cố gắng phấn đấu để được như cô ấy.”
Vợ Buckner nhìn Charlotte. (Hai người đàn bà trò chuyện với nhau trong khi Buckner cùng Wilbourne tới nhà kho để lấy chăn, áo khoác lông cừu, quần áo lót và tất.) “Cô và anh ta chưa cưới nhau phải không?”
“Điều gì khiến cô nghĩ như vậy?”
“Tôi không biết. Chẳng hiểu sao tôi có thể dám chắc như vậy.”
“Chưa, chúng tôi chưa cưới nhau. Tôi hy vọng cô không phiền, bởi vì kiểu gì thì chúng tôi cũng sẽ sống chung dưới một mái nhà.”
“Tại sao tôi lại cảm thấy phiền chứ? Tôi và Buck cũng từng sống chung với nhau một thời gian trước khi cưới. Nhưng bây giờ thì ván đã đóng thuyền rồi.” Giọng cô ta không bộc lộ nét vui mừng cũng chẳng ra vẻ tự mãn. “Và tôi phải cất kỹ nó ở nơi Buck không biết. Điều đó thực ra cũng chẳng quan trọng lắm. Anh ấy không bận tâm. Chẳng có hại gì khi một cô gái muốn được an toàn.”
“Cô nói cô cất cái gì đi cơ?”
“Giấy tờ ấy mà. Giấy chứng nhận kết hôn. Sau đó (cô ta đang nấu bữa tối còn Wilbourne và Buckner vẫn đang ở mỏ, phía bên kia hẻm núi) cô ta nói: “Hãy làm cho anh ta cưới cô đi”.
“Có lẽ tôi sẽ làm thế”, Charlotte nói.
“Cô hãy khiến anh ta buộc phải cưới cô. Tốt hơn nên làm như thế đi. Nhất là khi cô đã dính bầu.”
“Cô đang mang bầu à?”
“Đúng thế. Được khoảng một tháng rồi.”
Thực ra, khi chiếc xe lửa của mỏ quặng trông như hình nộm chẳng có đầu, chẳng có đuôi, chỉ có ba toa và một khoang bếp xuất hiện trên đường ray ngập tuyết, không ai xuất hiện trong tầm nhìn của họ ngoài một người đàn ông cao lớn mặc chiếc áo khoác lông cừu bẩn thỉu với đôi mắt lờ đờ có thể do thiếu ngủ hiện ra trên khuôn mặt chắc hẳn không được rửa và cạo râu trong một thời gian - một người Ba Lan, với vẻ mặt dữ tợn, vừa kiêu hãnh vừa hoang dại, pha chút cuồng loạn, không nói tiếng Anh, cứ lúng búng và cuống quýt chỉ tay về phía bên kia hẻm núi nơi có chừng sáu, bảy ngôi nhà như kiểu được lắp ghép bằng những tấm kim loại với các ô cửa sổ được trổ lác đác. Hẻm núi không rộng, chỉ bằng một cái hào hoặc một con mương, hướng lên cao rồi lao xuống thấp, và các căn nhà cùng những đống rác tạo thành các vết bẩn, vết sẹo trên mặt tuyết mới tinh khôi trong khi lối đi dẫn vào hầm mỏ hiện ra như một đường kẻ; ở phía bên kia hẻm là những đỉnh núi cao không thể chiếm lĩnh nhô lên trên bầu trời đầy gió rải rác mây. “Mùa xuân ở đây đẹp phải biết”, Charlotte nói.
“Có lẽ vậy”, Wilbourne đáp.
“Chắc chắn là như thế. Bây giờ quang cảnh cũng đẹp mà. Nhưng hãy tìm chỗ để sưới ấm đã. Em sắp chết cóng rồi.”
Wilbourne ướm hỏi người đàn ông Ba Lan. “Ông quản lý”, anh nói. “Nhà nào thế nhỉ?”
“Vâng, ông chủ”, người đàn ông Ba Lan nói. Anh ta vung tay chỉ về phía bức tường đối diện của hẻm núi trong lúc bước đi với một tốc độ đáng kinh ngạc xét trên cơ thể to lớn của mình, và khi Charlotte hơi lùi lại một chút mà chưa kịp lấy lại bình tĩnh, anh ta đã chỉ vào đôi dép mỏng trong lớp tuyết ngập đến cổ chân cô và bằng một cử chỉ dịu dàng giống như phụ nữ, anh ta dùng đôi bàn tay thô kệch của mình dựng ve cổ áo của cô lên để nó ôm quanh cổ và một phần khuôn mặt cô trong khi đôi mắt lờ đờ của anh ta cúi xuống cô vừa hoang dã vừa ân cần; anh ta đẩy cô về phía trước, vỗ vỗ vào lưng cô, và quả thực anh ta đã vỗ khá mạnh vào mông cô. “Ron”, anh ta nói. “Ron.”
Sau đó họ nhìn thấy một lối mòn vắt ngang thung lũng hẹp và đi theo người đàn ông Ba Lan tới chỗ ấy. Đó không hẳn là một lối đi không có tuyết hay tuyết ngập bàn chân, mà chỉ ít tuyết hơn, với bề rộng bằng một người ở giữa hai đống tuyết và khá khuất gió. “Có lẽ người này sống ở mỏ và chỉ về nhà vào cuối tuần”, Charlotte nói.
“Nhưng anh ta có vợ, họ nói với anh thế. Cô vợ làm gì ở đây nhỉ?”
“Có lẽ mỗi tuần xe chở quặng chỉ đến đây một lần thôi.” “Em dám chắc mình không nhìn thấy tay kỹ sư.” “Chúng ta cũng chưa gặp vợ anh ta”, cô nói. Cô bật ra một tiếng than thở biểu lộ nỗi chán chường. “Chẳng có gì đáng buồn cười hết. Em xin lỗi, Wilbourne ạ.”
“Ừ.”
“Xin lỗi nhé, những ngọn núi. Xin lỗi nhé, tuyết. Em nghĩ mình sắp chết cóng đến nơi rồi.”
“Dù sao sáng nay vợ anh ta cũng không có mặt ở mỏ”, Wilbourne nói. Cả người quản lý cũng không. Họ không hề chọn căn nhà một cách hú họa, không phải bởi nó là căn rộng nhất, cũng chẳng phải vì nó có cái nhiệt kế (cái thứ cho biết nhiệt độ lúc đó là mười bốn độ âm) ở ngoài cửa, mà đơn giản vì đó là ngôi nhà đầu tiên họ có thể tiếp cận, và giờ đây, lần đầu tiên trong đời cả hai đã thấm sâu cái lạnh đến mức không thể tách bỏ - cái lạnh để lại một dấu ấn không thể quên ở chỗ nào đó trong trong tâm hồn và ký ức họ giống như trải nghiệm tình dục đầu tiên hoặc hút chết. Wilbourne gõ cửa bằng bàn tay đã tê cóng không còn cảm giác trên mặt gỗ, song chẳng đợi ai đó bên trong trả lời, anh tự mở cửa và đẩy Charlotte vào trước; họ bước vào một căn phòng có một người đàn ông và một người đàn bà đều mặc áo len, quần bò, đi tất len và không đi giày, đang ngồi ở hai phía của một cái thùng gỗ trước một bộ bài với những quân bài đã sờn mép được chia làm hai phần sẵn sàng cho cuộc chơi.
“Anh nói rằng ông ta đã cử anh đến đây hả? Chính ông Callaghan hả?”
“Đúng thế”, Wilbourne nói. Anh có thể nghe thấy Charlotte và cô vợ Buckner đang nói chuyện với nhau ở gần lò sưởi cách đó khoảng mười bước chân (lò sưởi được đốt bằng dầu hỏa); khi một que diêm được châm vào lò - điều chỉ xảy ra khi người ta phải tắt lò để nạp nhiên liệu cho bình chứa, bởi vì nếu không, ngày cũng như đêm, nó sẽ cháy liên miên - nó bắt lửa rồi phát ra một tiếng nổ, cháy bùng lên và phải sau một lúc Wilbourne mới quen được với điều đó, không còn há hốc miệng ra rồi vội ngậm lại trước khi tim anh nảy bật ra khỏi lồng ngực): “Hai người chỉ mang có chừng này quần áo đến đây thôi hả? Hai người sẽ chết cóng đấy. Buck sẽ phải tới nhà kho thôi”. “Đúng thế”, Wilbourne nói, “Tại sao anh lại hỏi như vậy? Không phải ông ấy thì còn ai khác cử tôi tới đây chứ?”.
“Anh... à... anh không mang theo bất cứ thứ gì ư? Một bức thư hay là không có gì cả?”
“Không. Ông ấy bảo rằng tôi không cần...”
“À, tôi hiểu rồi. Anh tự lo tiền tàu xe. Tự mua vé tàu hỏa.”
“Không. Ông ấy thanh toán tiền tàu cho tôi.”
“Ồ, tôi sẽ bị chửi cho mà xem”, Buckner nói. Anh ta quay đầu về phía vợ mình. “Bill, em có nghe thấy anh ta nói gì không?”
“Sao cơ?”, Wilbourne hỏi. “Tôi đã nói gì không đúng sao?”
“Không có gì đâu”, Buckner nói. “Chúng ta sẽ tới nhà kho để lấy chăn và quần áo ấm cho hai người. Ông Callaghan thậm chí không dặn trước là hai người nên sắm mỗi người một cái áo khoác lông cừu trước khi tới đây sao?”
“Không”, Wilbourne nói. “Nhưng hãy để chúng tôi sưởi cho ấm người cái đã.”
“Ở đây anh sẽ không bao giờ có thể cảm thấy ấm người đâu”, Buckner nói. “Nếu ngồi trước một cái lò sưởi để cố sưởi ấm, anh sẽ không bao giờ nhấc thân ra khỏi chỗ mình ngồi được. Anh sẽ chết đói, thậm chí sẽ không đứng dậy để tiếp dầu cho lò sưởi khi nó cạn nhiên liệu. Hãy xác định rằng anh sẽ luôn bị lạnh, ít hoặc nhiều, ngay cả khi nằm trong chăn, vậy nên hãy cứ lo việc của mình đi, và sau một thời gian anh sẽ quen với cái lạnh, sẽ quên nó, rồi thậm chí sẽ không thấy mình lạnh nữa bởi vì anh đã quên mất cảm giác ấm. Hãy đi nào. Anh có thể dùng tạm áo khoác của tôi.”
“Thế còn anh thì sao?”
“Nhà kho không xa lắm đâu. Tôi có áo len rồi. Khoác cái này sẽ làm anh ấm hơn một chút.”
Nhà kho là một căn phòng đơn được dựng bằng kim loại, lạnh toát và được chiếu sáng bởi thứ ánh sáng trắng lạnh lẽo của tuyết ở bên ngoài ô cửa sổ duy nhất. Cái lạnh ở trong kho là cái lạnh chết người. Cái lạnh thấu xương ấy giống như con rắn độc đang trườn mà trong đó, người ta ngại thở và sự sống trở thành một đòi hỏi quá cao đối với cơ thể con người. Kề sát bức tường phía trong căn phòng là các giá gỗ cao, trừ những ngăn thấp thì các ngăn còn lại trông đều ảm đạm và trống trải, như thể căn phòng này cũng là một cái nhiệt kế không phải để đo độ lạnh mà để đo sự hấp hối - một cái nhiệt kế bách phân (lẽ ra bọn mình nên mang bức tượng Mùi khó ngửi tới đây để đặt trên cái giá này, Wilbourne nghĩ). Họ vơ chăn, áo khoác lông cừu, áo len cùng giày cao su trên giá gác; họ cảm thấy những thứ ấy cứng như băng và kim loại; mang những thứ đó trở lại căn lều, Wilbourne (anh đã quên khuấy đây là một nơi khá cao so với mặt nước biển) khó nhọc hít vào thứ không khí dường như đã đặc quánh khiến anh cảm giác như có lửa cháy trong buồng phổi.
“Vậy ra anh là bác sĩ cơ đấy”, Buckner nói. “Tôi là bác sĩ”, Wilbourne đáp. Bây giờ họ đã ở bên ngoài. Buckner khóa cửa nhà kho lại. Wilbourne nhìn sang phía bên kia hẻm núi về phía bức tường đối diện nơi đống rác và lối đi vào mỏ quặng hiện ra như những vết sẹo không có sự sống trên mặt tuyết trắng. “Có chuyện gì ở đây thế?”
“Cứ từ từ rồi tôi sẽ cho anh biết. Anh là bác sĩ thật hả?” Wilbourne nhìn anh ta trừng trừng. “Tôi đã nói điều đó với anh rồi. Anh hỏi thế là có ý gì?”
“Tôi cho rằng anh phải có gì đó để chứng minh mình là bác sĩ chứ. Bằng y khoa chẳng hạn: Họ gọi như thế phải không nhỉ?”
Wilbourne nhìn anh ta. “Anh nói thế là có ý gì? Tôi phải có trách nhiệm chứng minh khả năng của mình với anh, hay với người sẽ trả lương cho tôi hả?”
“Lương ư?”, Buckner cười khùng khục. Rồi anh ta dừng lại. “Tôi không hề có ý làm anh tức giận đâu. Khi một người đến đây và chúng tôi cho anh ta một việc làm, còn anh ta tuyên bố rằng có thể cưỡi ngựa, thì dĩ nhiên chúng tôi muốn có bằng chứng về khả năng của anh ta và anh ta sẽ không nổi khùng khi bị yêu cầu đưa nó ra. Chúng tôi thậm chí sẽ cung cấp cho anh ta một con ngựa để anh ta chứng minh khả năng của mình, chỉ có điều đó không phải là con ngựa tốt nhất, và nếu chúng tôi chỉ có duy nhất một con ngựa tốt thì điều đó không có nghĩa nó là con ngựa tốt nhất. Vậy nên nếu chẳng có con ngựa nào để anh ta chứng minh khả năng của mình, chúng tôi buộc phải hỏi anh ta thôi. Đó là điều tôi đang làm.” Anh ta nhìn Wilbourne, đầy nghiêm túc và chăm chú bằng đôi mắt màu nâu lục trên khuôn mặt hốc hác đáng sợ.
“Hừm”, Wilbourne nói. “Tôi hiểu. Tôi có bằng y khoa do một trường khá nổi tiếng cấp. Chỉ thiếu chút ít thời gian nữa là tôi hoàn thành chương trình bác sĩ thực tập tại một bệnh viện lớn. Nếu tôi hoàn thành chương trình đó thì mọi người sẽ thừa nhận tôi là người biết tất cả những gì mà bất cứ bác sĩ nào cũng biết và thậm chí biết nhiều hơn một số bác sĩ khác. Hoặc chí ít, tôi cũng hy vọng như vậy. Anh thỏa mãn rồi chứ?”
“Rồi”, Buckner nói. “Được rồi.” Anh ta quay đi, tiếp tục rảo bước. “Anh muốn biết có gì không ổn ở đây hả. Chúng ta sẽ mang những thứ này vào trong lều rồi đi ra mỏ và tôi sẽ chỉ cho anh thấy.” Họ mang chăn áo vào lều và đi sang phía bên kia hẻm núi qua con đường chẳng ra đường, cũng giống như cái nhà kho chẳng ra nhà kho, mà chỉ là tấm biển đường khó hiểu như một ký hiệu mật mã được đặt bên lề đường.
“Chúng tôi tới đây trên chiếc xe lửa đó”, Wilbourne nói. “Nó chở gì xuống thung lũng vậy?”
“Ồ, nó luôn trong tình trạng đầy ắp”, Buckner nói. “Nó phải tới rồi rời khỏi đây trong tình trạng đó. Tôi phải đảm bảo chắc chắn nó được chất đầy nếu không muốn bị cắt cổ.”
“Nó chở gì vậy?”
“À”, Buckner nói. Mỏ quặng đó không phải một cái giếng mà là một đường hầm chạy ra phía sau xuyên vào lòng núi - một đường hầm vòng tròn như miệng khẩu súng bắn đạn trái phá được chống đỡ bằng những cột gỗ, lúc đó đầy ánh sáng chết chóc của tuyết và tràn ngập cái lạnh như băng giá giống trong cái nhà kho mà trước đó họ từng tới, được viền bởi hai đường ray chạy dọc mà khi bước vào (họ bước nhanh để tránh cái đường ray dẫn mình chạy tuột xuống phía cuối đường hầm), họ gặp chiếc xe goòng chở đầy quặng được đẩy bởi một người đàn ông đi như chạy - người mà Wilbourne nhận ra cũng là người Ba Lan dù ông ta thấp và mập hơn (về sau, Wilbourne hiểu ra rằng không ai trong số họ cao lớn như anh tưởng, rằng sự đánh lừa về khổ người là một dạng xạ khí toát ra từ sự ngây ngô và cả tin mà những người đó cùng sở hữu); người đàn ông Ba Lan mà họ gặp trước đó cũng có đôi mắt lờ đờ cùng khuôn mặt râu ria xồm xoàm hiện ra phía trên chiếc áo khoác bẩn thỉu viền lông cừu y hệt người đàn ông đầu tiên họ gặp.
“Tôi đã nghĩ rằng...”, Wilbourne định nói nhưng lại bỏ lửng. Họ tiếp tục bước đi; vệt sáng cuối cùng của tuyết đã mờ nhạt và giờ đây họ bước vào một nơi tựa như trong phim của Eisenstein [1]. Đường hầm trở thành một nhà hát mini được thiết kế theo kiểu đài vòng, có các nhánh hầm nhỏ hơn giống những ngón tay, được chiếu sáng bởi ánh điện quá thừa thãi như đang thắp cho một lễ hội - sự phung phí năng lượng của những bóng đèn điện bụi bặm, mặc dù theo tỉ lệ nghịch, toát lên vẻ giả tạo và hấp hối giống hệt cái nơi nghèo nàn và gần như trống rỗng mang cái mác Nhà kho; và trong ánh sáng thừa thãi đó, Wilbourne nhìn thấy những người đàn ông trông có vẻ to lớn khác mặc áo lông cừu, có đôi mắt lờ đờ như bị mất ngủ đang hối hả, điên cuồng làm việc với cuốc và xẻng như anh đã thấy ở người đàn ông chạy phía sau chiếc xe goòng chở quặng, thốt ra những tiếng kêu la và cảm thán bằng thứ ngôn ngữ mà Wilbourne không thể hiểu được, nghe gần giống tiếng cổ vũ của các cầu thủ trong một đội bóng khi từ các nhánh hầm - vẫn có nhiều bóng đèn điện chiếu sáng trong không gian bụi bặm, lạnh lẽo mà họ chưa đặt chân tới - dội lại những âm thanh hoặc tiếng kêu không rõ nghĩa và kỳ quặc của những người đàn ông khác tràn ngập bầu không khí nặng nề, tựa những con chim mù đang bay loạng choạng. “Ông ấy nói với tôi rằng ở đây các anh thuê cả người Hoa và người Ý”, Wilbourne nói.
“Đúng vậy”, Buckner nói. “Họ bỏ đi rồi. Đám người Hoa đã đi khỏi đây hồi tháng Mười. Một buổi sáng tôi thức dậy thì phát hiện ra bọn họ đã biến mất. Không còn một mống nào. Họ đi bộ xuống núi, tôi đoán thế. Họ đi những đôi dép bằng rơm với đuôi áo bay phấp phới. Nhưng dạo đó là tháng Mười và ở đây không phải chỗ nào cũng có nhiều tuyết. Họ đánh hơi thấy có chuyện nên bỏ đi. Đám người Ý thì...”
“Đánh hơi thấy có chuyện ư?”
“Từ tháng Chín ở đây người ta đã không phát lương rồi.”
“Ồ”, Wilbourne nói. “Bây giờ thì tôi hiểu rồi. Hiểu rồi. Vậy là họ đánh hơi thấy có chuyện. Giống như người da đen.”
“Tôi không biết. Tôi chưa bao giờ để hở ra điều gì. Đám người Ý ồn ào hơn. Họ đình công theo đúng cách thức. Họ buông cuốc, xẻng và bước ra khỏi mỏ. Có một người - bọn họ gọi đó là gì nhỉ? Bọn họ gọi là người đại diện phải không nhỉ? Một cuộc đối thoại ra trò, khá ầm ĩ, và có nhiều bàn tay giơ lên, những người phụ nữ đứng trong tuyết ở bên ngoài, nâng những đứa con nhỏ lên cho tôi nhìn. Vậy là tôi mở cửa nhà kho, phát cho đàn ông, đàn bà, trẻ con, mỗi người một chiếc áo len (phải tận mắt nhìn thấy họ anh mới hiểu cơ, những đứa trẻ trong chiếc áo của người lớn rộng thùng thình. Chúng mặc những cái áo được phát ra ngoài, như mặc áo khoác vậy.) và một hộp đậu rồi cho bọn họ lên xe lửa chở quặng. Có khá nhiều bàn tay, nắm đấm giơ lên và sau khi xe lửa biến mất khỏi tầm mắt, tôi vẫn còn nghe vang vang bên tai tiếng nói của họ. Hogben xuống núi (anh ta điều khiển xe lửa); ngành đường sắt trả lương cho anh ta chỉ để sử dụng động cơ khi phải phanh tàu lại mà thôi, vậy nên xe lửa hầu như chẳng phát ra tiếng ồn. Không ồn ào như đám người đó. Người Ý bỏ đi, nhưng người Đông Âu thì ở lại.”
“Tại sao? Họ không...”
“Anh muốn hỏi tại sao họ không đánh hơi thấy rằng ở đây đang có chuyện chứ gì? Khả năng hiểu và nắm bắt tình hình của họ không tốt. Họ có thể nghe đấy; những gã người Ý có thể nói chuyện với họ: Một trong số những người Ý làm thông dịch cho họ. Nhưng họ là những con người kỳ quặc và không thể ngửi được mùi giả dối. Tôi đoán rằng khi những người Ý cố gắng nói sự tình cho họ biết, họ không hiểu và tin rằng trên đời này lại có một con người có thể khiến những người khác tiếp tục lao động hùng hục mà không định trả lương cho họ. Vậy nên bây giờ khi những người khác bỏ đi, những người Đông Âu đó nghĩ mình đang có thêm việc. Họ làm tất cả. Những gã người Đông Âu ấy vốn chẳng phải thợ đẩy xe goòng, cũng chẳng phải thợ đào, xúc quặng, mà là những người đảm nhận việc liên quan đến thuốc nổ. Đám người Đông Âu ấy có tính khí ồn ào như thuốc nổ vậy. Nhưng bây giờ họ làm mọi việc. Họ cũng muốn đưa vợ con đến đây. Sau một thời gian, tôi hiểu ra điều ấy và ra sức ngăn chặn ý muốn đó. Đó là lý do tại sao họ không ngủ nhiều. Họ nghĩ nay mai khi tiền lương được chuyển đến, họ sẽ lĩnh cả cục. Có lẽ lúc này đây họ nghĩ anh là người mang tiền tới và tối thứ Bảy này, mỗi người bọn họ sẽ được lĩnh hàng nghìn đô la. Họ ngây thơ như trẻ con vậy. Họ sẵn sàng tin bất cứ điều gì. Đó là lý do tại sao họ sẽ giết anh khi phát hiện ra anh đã đùa giỡn họ. Ồ, không phải giết bằng cách đâm một nhát dao vào lưng đâu, và thậm chí không dùng dao, họ sẽ đi thẳng đến chỗ anh và gí một que thuốc nổ vào túi áo anh, giữ anh bằng một tay không cho anh thoát trong khi dùng tay kia bật diêm châm ngòi thuốc nổ.”
“Và anh chưa nói cho họ biết sự thật ư?”
“Nói bằng cách nào? Tôi không thể nói chuyện với họ; thông dịch viên thuộc nhóm người Ý đã cuốn xéo khỏi đây rồi. Vả lại, chủ mỏ phải làm cho mỏ của ông ta có vẻ như vẫn đang hoạt động chứ và tôi cũng phải làm vậy. Ông ta phải khiến người ta nghĩ như thế để có thể tiếp tục bán cổ phiếu chứ. Đó là lý do tại sao anh - một bác sĩ - lại có mặt ở đây. Việc ông ta nói với anh rằng sẽ không có thanh tra y tế nào ở đây nên anh không phải lo gì về chuyện kiểm tra bằng cấp hết là sự thật đấy. Nhưng ở đây có những thanh tra về mỏ, mà luật pháp và các quy định được ban hành lại đòi hỏi các mỏ đang hoạt động bắt buộc phải cần bác sĩ. Đó là lý do tại sao ông ta lại trả tiền tàu xe cho anh và vợ anh tới đây. Biết đâu đấy, tiền có thể sẽ đến. Khi nhìn thấy anh sáng nay, tôi cũng nghĩ anh là người mang tiền tới. Thế nào? Tôi nói như vậy đã đủ để anh hiểu vấn đề chưa?”
“Rồi”, Wilbourne nói. Họ quay ra cửa hầm mỏ; một lần nữa, họ lại phải bước nhanh sang một bên để nhường đường cho một chiếc xe goòng được đẩy bởi một người Ba Lan trông thật hoang dại và hốc hác. Họ bước ra ngoài trời lạnh thấu xương của một ngày đang tàn. “Tôi không tin chuyện đó”, Wilbourne nói.”
“Anh hiểu rồi cơ mà?”
“Ý tôi là tôi không hiểu lý do anh vẫn còn ở lại đây. Anh không nghĩ mình sẽ nhận được tiền cơ mà.”
“Có lẽ tôi đang chờ cơ hội để chuồn. Những gã khốn đó thậm chí thức thâu đêm và sẽ không cho tôi cơ hội làm thế đâu. Chết tiệt thật”, anh ta nói. “Tôi nói xạo đấy. Tôi đợi ở đây vì bây giờ là mùa đông và tôi ở đây hay ở đâu cũng thế mà thôi, miễn sao có đủ thực phẩm trong kho và chúng tôi có thể giữ mình khỏi chết cóng. Và bởi tôi biết ông chủ sẽ phải sớm gửi một bác sĩ khác tới hoặc đích thân ông ấy sẽ đến đây nói với tôi và những gã khốn ngớ ngẩn đó rằng mỏ sẽ đóng cửa.”
“Ồ, tôi đã đến rồi đấy thôi”, Wilbourne nói. “Ông ta đã gửi một bác sĩ tới rồi đấy thôi. Anh muốn gì ở một bác sĩ chứ?”
Buckner nhìn anh một lúc lâu bằng đôi mắt nhỏ lạnh lùng, chắc hẳn rất giỏi trong việc đánh giá và điều khiển một hạng người cụ thể - những con người thuộc tầng lớp nhất định - nếu không phải như vậy thì anh ta đã chẳng có mặt ở nơi này và làm cái việc anh ta đang làm; Wilbourne thầm nghĩ rằng có lẽ trước đây đôi mắt lạnh lùng ấy chưa từng bị buộc phải đánh giá một người đàn ông tự nhận mình là bác sĩ mà không có gì để chứng minh điều đó. “Nghe này”, anh ta nói. “Tôi có một việc làm tốt, chỉ có điều từ tháng Chín đến giờ tôi chưa được trả lương. Chúng tôi đã tiết kiệm được khoảng ba trăm đô để rời đi khi chuyện ở đây kết thúc, và với số tiền đó chúng tôi có thể sống qua ngày cho đến khi tôi tìm được việc làm mới. Thế nhưng Bill lại có thai được một tháng rồi và chúng tôi không có đủ tiền để sinh con. Anh nói anh là bác sĩ và tôi tin lời anh. Thế nào, anh đồng ý không?”
“Không”, Wilbourne nói.
“Đó là điều không may đã xảy ra với tôi. Tôi sẽ sòng phẳng với anh.”
“Không”, Wilbourne nói.
“Ý anh nói là anh không biết phải làm việc đó như thế nào ư?”
“Tôi biết. Việc đó đơn giản thôi. Ở bệnh viện tôi đã quan sát người ta làm việc đó cho một bệnh nhân cấp cứu, có lẽ để chỉ cho chúng tôi thấy những gì chúng tôi không bao giờ phải làm. Người hướng dẫn không cần chỉ cho tôi thấy phải làm việc đó như thế nào.
“Tôi sẽ trả cho anh một trăm đô la.”
“Số tiền đó tôi cũng có”, Wilbourne nói.
“Vậy thì một trăm năm mươi đô. Gấp rưỡi còn gì. Anh thấy đấy tôi không thể trả hơn được.”
“Tôi cũng có một trăm năm mươi đô la. Tôi có một trăm tám mươi lăm đô la cơ. Và cho dù tôi chỉ có mười đô la thì...”
Buckner quay đi. “Anh thật may mắn. Thôi đi ăn đã.” Anh kể cho Charlotte nghe chuyện đó. Không phải là kể ở trên giường như họ đã quen trò chuyện với nhau, bởi vì tất cả bốn người bọn họ đều ngủ chung phòng - căn nhà đơn phòng với cái chái nhà có thể sử dụng cho nhu cầu riêng tư tối cần thiết - mà ở bên ngoài, nơi tuyết ngập đến đầu gối và phải mang ủng cao su, họ có thể nhìn thấy bức tường đối diện của hẻm núi cùng những đỉnh núi lởm chởm mây phủ lác đác, và Charlotte một lần nữa lại nói bằng giọng chắc chắn: “Vào mùa xuân ở đây đẹp phải biết”.
“Và anh đã từ chối”, cô nói. “Tại sao? Một trăm đô la cơ mà, đúng không?”
“Em biết rõ rồi còn gì. Một trăm năm mươi đô la.” “Anh từ chối vì anh nghĩ ‘thù lao của tôi không cao, nhưng chẳng thấp đến mức ấy’, đúng không?”
“Không. Anh từ chối vì...” “Anh sợ à?”
“Không. Việc đó không là gì cả. Đơn giản thôi. Xoẹt một cái là xong thôi. Đó là vì anh...”
“Nhưng phụ nữ có thể chết vì nạo thai đấy.”
“Do người tiến hành việc đó không biết cách làm thôi.
Có thể trong mười nghìn trường hợp mới có một ca tử vong. Tất nhiên không có thống kê chính xác. Anh từ chối là vì...”
“Thôi được. Không phải vì anh ta đưa ra giá quá thấp, cũng chẳng phải vì anh sợ. Em chỉ cần biết như vậy thôi. Anh không cần phải giải thích đâu. Không ai có thể bắt anh làm việc đó. Hãy hôn em đi. Chúng ta thậm chí không thể hôn nhau ở trong kia, chứ nói gì đến...”
Bốn người bọn họ (Charlotte giờ đây đã ngủ trong bộ đồ bằng len giống những người khác) ngủ trong cùng một căn phòng, không phải trên giường mà trên những tấm đệm được trải trên sàn nhà (“ngủ như thế ấm hơn”, Buckner giải thích. “Cái lạnh luồn từ dưới lên.”) và lò sưởi không ngừng hoạt động. Họ nằm ở hai góc đối diện nhau nhưng dẫu vậy, hai chiếc đệm cũng chỉ cách nhau không quá năm mét, thế nên Wilbourne và Charlotte không thể trò chuyện với nhau, dù là nói thầm. Đối với Buckner, có không gian riêng để trò chuyện hay không chẳng quan trọng, mặc dù vợ chồng họ dường như có đủ nhu cầu để thầm thì to nhỏ; dưới ngọn đèn chập chờn nhiều lần, Wilbourne và Charlotte nghe thấy tiếng động như một con ngựa đực đang chồm lên phát ra từ phía tấm đệm kia cùng tiếng chuyển động mạnh và gấp gáp bị chiếc chăn hãm bớt rồi ngừng lại nhường chỗ cho tiếng rên và thở hổn hển của người đàn bà; nhiều lần những tiếng hét vô thức bật ra hòa vào nhau, mặc dù chuyện đó không dành cho họ. Rồi một ngày, chiếc nhiệt kế đảo số, chuyển từ mười bốn độ âm thành bốn mươi mốt độ âm và họ chuyển hai tấm đệm đến cạnh nhau để ngủ chung cho đỡ lạnh: Hai người đàn bà nằm giữa, song thỉnh thoảng trước ánh đèn chập chờn như sắp tắt phụt, họ vẫn nghe thấy tiếng chuyển động hùng hục, dữ dội của con ngựa đực (có lẽ tiếng chuyển động đó làm họ thức giấc), cứ như thể từ trong giấc ngủ, họ bị hút vào nhau một cách dữ dội và điên cuồng như sắt bị hút bởi thỏi nam châm trong tiếng thở hổn hển, gấp gáp, tiếng rên rỉ vọng tới tai họ với động tác giật dữ dội của người đàn bà, và Charlotte buột miệng nói: “Các người không thể làm chuyện ấy mà không kéo chăn sao?” khi chuyện ấy xảy ra với hai người kia chứ không phải với họ.
Họ đã ở đó tròn một tháng, và tháng Ba cùng mùa xuân mà Charlotte mong đợi đang đến gần hơn, thế rồi bỗng đâu một buổi trưa, Wilbourne trở về từ mỏ quặng nơi những người Ba Lan bẩn thỉu, không ngủ vẫn đang lao động một cách mê mải vì bị lừa gạt - nơi có những giọng nói mà họ không thể hiểu được nghĩa giống những con chim mù vẫn bay qua bay lại giữa những bóng đèn điện phát ra thứ ánh sáng thừa mứa - nhận thấy Charlotte cùng vợ của Buckner đang nhìn ra cửa khi anh bước vào. Và anh biết điều gì sắp xảy ra, thậm chí đã được chuẩn bị cho điều đó. “Này, Harry”, Charlotte nói. “Họ sắp rời khỏi đây. Họ phải đi. Họ chỉ có ba trăm đô la để đến cái nơi định đến và sống qua ngày cho tới khi anh ta tìm được việc làm. Vậy nên họ phải làm điều gì đó trước khi quá muộn.”
“Chúng ta cũng vậy”, anh nói. “Và chúng ta không có ba trăm đô la.”
“Chúng ta không có con. Chúng ta không phải hứng chịu điều không may đó. Anh nói việc đó đơn giản thôi mà, rằng trong mười nghìn trường hợp mới có một ca tử vong thôi, rằng anh biết cách làm và không sợ mà. Họ sẵn sàng chấp nhận rủi ro.”
“Em muốn có một trăm đô la đến thế kia à?”
“Em đã bao giờ nói em muốn số tiền đó chưa hả? Em đã bao giờ nói về tiền chưa, ngoài một trăm hai mươi lăm đô la của em mà anh không muốn cầm? Anh biết điều đó mà. Em biết anh sẽ không nhận tiền của họ.”
“Anh xin lỗi. Anh không có ý đó. Đó là bởi...”
“Đó là bởi họ đang gặp khó khăn. Cứ thử đặt mình vào hoàn cảnh của họ mà xem. Em biết anh sẽ phải hy sinh một số thứ. Nhưng chúng ta đã hy sinh cái này hay cái khác vì tình yêu nhiều rồi, và chúng ta không hề hối tiếc.”
“Không”, anh nói. “Anh không hề hối tiếc. Không bao giờ.”
“Chuyện này cũng vì tình yêu thôi. Có lẽ không phải là tình yêu của chúng ta. Nhưng cũng là vì tình yêu.” Cô đi tới chỗ chiếc giá gác nơi để chiếc hộp xoàng xĩnh đựng y cụ mà anh được phát trước khi rời Chicago cùng hai vé tàu hỏa. “Nếu ông Callaghan có thể biết việc này thì tốt, rằng lần duy nhất anh sử dụng những thứ này là để cắt người quản lý của ông ta khỏi mỏ. Anh có cần gì nữa không?”
Buckner đi tới bên Wilbourne. “Ổn chứ?”, anh ta hỏi. “Tôi không sợ và cô ấy cũng vậy. Bởi vì anh đáng tin cậy. Tôi quan sát anh cả tháng trời không phải là không có mục đích. Có lẽ nếu anh đồng ý ngay thì tôi sẽ e sợ và không để anh làm việc này. Nhưng bây giờ thì tôi yên tâm rồi. Tôi sẽ chấp nhận rủi ro và không quên lời hứa đâu: Tôi sẽ sòng phẳng với anh. Và không phải là một trăm đâu, mà là một trăm năm mươi đô.”
Anh cố nói Không, cố hết sức. Đúng, anh nghĩ, mình đã hy sinh nhiều thứ, nhưng dường như không phải thứ này. Mình đã trung thực trong vấn đề tiền nong, sự an toàn cùng trình độ và trong một khoảnh khắc u ám anh nghĩ, có thể mình đã hy sinh tình yêu trước tiên nhưng kịp chặn ý nghĩ đó lại; anh nói: “Anh chị không có đủ tiền đâu, cho dù anh chị mang họ Callaghan. Tôi sẽ chấp nhận mọi rủi ro”.
Ba ngày sau, họ - những người khi đến đó không được ai đón - đã tiễn vợ chồng Buckner qua phía bên kia hẻm núi tới chỗ xe lửa đang đợi. Wilbourne khăng khăng không chịu nhận một trăm đô la tiền mặt, cuối cùng đã nhận một giấy ghi nợ một trăm đô la từ Buckner - cái giấy ghi nợ mà tất cả bọn họ đều biết sẽ không bao giờ được thanh toán bằng tiền nhưng được dùng để đổi lấy lượng thực phẩm tương đương từ cái nhà kho mà Buckner đã trao cho chìa khóa cho anh.
“Chuyện này với tôi có vẻ ngớ ngẩn”, Buckner nói. “Dù sao cái kho đó bây giờ cũng thuộc về anh rồi.”
“Nó sẽ giúp cân đối sổ sách”, Wilbourne đáp. Họ đi theo con đường chẳng ra đường để đến chỗ chiếc xe lửa chẳng có đầu cũng chẳng có đuôi, chỉ có ba toa chở hàng, giống như cái xe lửa đồ chơi. Buckner ngước mắt nhìn về phía mỏ quặng cùng cái miệng hố trống hoác, về phía vùng tuyết trắng xóa lốm đốm những đống rác tựa vết sẹo loang. Trời quang đãng, vầng mặt trời mỏng xuống thấp, lơ lửng phía trên các đỉnh núi lởm chởm nhuốm hồng giữa bầu trời tràn ngập một màu xanh kỳ diệu. “Họ sẽ nghĩ gì khi phát hiện ra anh đã chuồn khỏi đây?”
“Tôi hy vọng có lẽ họ sẽ nghĩ tôi đi lo chuyện tiền nong vì anh.” Rồi anh ta nói: “Bọn họ nên ở lại. Ở đây họ không phải lo về tiền thuê chỗ ở, có thể uống say rồi tỉnh để rồi lại say tiếp, có đủ thức ăn để tồn tại cho đến mùa xuân. Ở đây họ có việc để làm, để bận rộn cả ngày, và ban đêm họ có thể nằm nhẩm tính số tiền công mà họ nghĩ mình sẽ nhận được. Một con người có thể đi khá xa khi anh ta nghĩ về những gì mình sẽ nhận được. Và biết đâu đấy, có thể chủ mỏ sẽ gửi tiền tới”.
“Anh tin như vậy sao?”
“Không”, Buckner nói. “Tôi biết anh cũng chẳng tin.” “Tôi nghĩ mình chưa bao giờ tin điều đó”, Wilbourne đáp. “Thậm chí vào cái ngày hôm đó, khi ở văn phòng của ông ta tôi cũng không tin. Có lẽ đó là khi tôi có ít lòng tin vào chuyện ấy hơn bao giờ hết.” Họ đứng cách hai người phụ nữ một đoạn. “Này, khi rời khỏi đây và tìm được cơ hội, anh hãy đưa cô ấy đi khám một bác sĩ giỏi ngay nhé. Hãy nói cho bác sĩ biết sự thật.”
“Để làm gì?”, Buckner nói.
“Tôi muốn anh làm như vậy. Tôi sẽ cảm thấy nhẹ nhõm hơn.”
“Không”, Buckner nói. “Cô ấy không sao đâu. Bởi vì anh là người đáng tin cậy. Nếu không chắc anh là người đáng tin cậy, thì đời nào tôi lại để anh làm việc đó, đúng không nào?” Đã đến lúc chia tay, tàu hỏa phát ra một hồi còi lanh lảnh, vợ chồng Buckner bước lên tàu và con tàu bắt đầu chuyển bánh. Charlotte và Wilbourne chỉ nhìn theo đoàn tàu hỏa đó trong chốc lát rồi Charlotte quay gót và bắt đầu chạy. Mặt trời sắp lặn, những đỉnh núi trông vừa huyền bí vừa êm dịu, bầu trời nhuốm màu hổ phách và xanh trong vời vợi; trong chốc lát, Wilbourne nghe thấy những giọng nói xa xăm, hoang dại và khó hiểu từ phía mỏ vọng tới.
“Ôi, Chúa ơi”, Charlotte nói. “Tối nay thậm chí chúng ta đừng ăn. Nhanh lên nào. Chạy đi nào.” Cô tiếp tục chạy, sau đó dừng bước và quay đầu lại, khuôn mặt cô ửng hồng trong ánh hoàng hôn, đôi mắt phía trên ve cổ của chiếc áo khoác lông cừu đã đổ dáng giờ đây nhuốm một màu xanh. “Không”, cô nói. “Anh chạy trước đi, để em có thể cởi đồ cho cả hai chúng ta trong tuyết. Chạy đi nào.” Nhưng anh không chạy trước, thực sự không chạy, anh bước đi chầm chậm để có thể nhìn thấy bóng cô nhỏ dần nhỏ dần phía trước trên con đường chẳng ra đường, rồi leo lên bức tường đá hướng về phía căn nhà đơn phòng, nhìn theo người phụ nữ mà đáng lẽ ra không nên mặc quần trừ khi quên mất, và khi bước vào trong nhà, anh thấy cô đã cởi hết quần áo trên người, thậm chí cả quần áo lót. “Nhanh lên nào”, cô nói. “Nhanh lên. Đã sáu tuần rồi. Em gần như quên cách làm chuyện ấy rồi. Không”, cô tiếp tục, “em sẽ không bao giờ quên. Anh sẽ không bao giờ quên, tạ ơn Chúa”. Rồi với hai cánh tay và bắp đùi căng cứng, cô ôm anh và nói: “Em cho rằng mình khá e thẹn trong chuyện yêu. Em không thể nào làm chuyện ấy khi có dù chỉ một người ngủ chung phòng với chúng ta.”
Họ không dậy để nấu hoặc ăn bữa tối. Một lúc sau, họ ngủ; Wilbourne thức giấc vào lúc nào đó trong đêm và phát hiện ra lò sưởi đã tắt ngấm, còn căn phòng lạnh đã đóng băng. Anh nghĩ đến bộ quần áo mặc bên trong của Charlotte mà lúc trước cô đã quẳng trên sàn; cô sẽ cần nó, bây giờ cô nên mặc quần áo vào. Anh nghĩ quần áo của cô chắc hẳn đã lạnh như băng nên tính sẽ dậy mang nó vào giường để ủ cho tan giá bằng cơ thể của mình cho đến khi cô có thể mặc nó và cuối cùng, anh cũng tìm được sức mạnh để bắt đầu cựa mình, nhưng cô đã giữ anh lại. “Anh đi đâu đấy?” Anh nói cho cô biết anh muốn đi lấy quần áo cho cô. Cô giữ anh lại thật chặt. “ Bất cứ lúc nào em lạnh, anh cũng có thể ủ ấm cho em bằng cơ thể của anh.”
Ngày nào anh cũng đến mỏ quặng nơi công việc điên rồ không hề suy giảm vẫn đang tiếp diễn. Trong lần đầu tiên anh đến mỏ sau khi Buckner bỏ đi, những người đàn ông ở đó không nhìn anh với vẻ tò mò hay ngạc nhiên mà đơn giản nhìn anh bằng ánh mắt chất vấn, rõ ràng muốn hỏi Buckner đâu. Nhưng chỉ vậy thôi, không có chuyện gì xảy cả và anh hiểu rằng có lẽ họ thậm chí không biết anh chỉ là bác sĩ được thuê đến mỏ, rằng họ coi anh chỉ là một người Mỹ khác (anh muốn nói là người da trắng), một đại diện khác của Ngài Quyền Lực ở xa không thể bắt bẻ mà họ đã đặt niềm tin và sự trung thành của mình một cách mù quáng. Anh và Charlotte bắt đầu bàn đến việc cố gắng nói cho họ biết sự thật. “Làm thế liệu có tốt không?”, anh hỏi. “Buckner nói đúng đấy. Nếu rời khỏi đây, họ sẽ đi đâu, sẽ làm gì? Ở đây có thừa thức ăn để họ tồn tại qua mùa đông, và có lẽ họ chẳng có tiền tiết kiệm để mà đi (cứ cho là họ vẫn được hưởng các thứ trong kho ngay cả khi được trả lương đầy đủ để dành dụm ra chút ít) và như Buckner đã nói, em có thể sống khá hạnh phúc trong một thời gian dài nhờ sự ảo tưởng. Có lẽ nếu không sống trong ảo tưởng, em sẽ không cảm thấy hạnh phúc. Anh muốn nói, nếu em là một trong những người Đông Âu chưa bao giờ biết đến bất cứ điều gì khác ngoài việc tính thời gian cho một khối thuốc nổ dưới hầm cách mặt đất khoảng hai mét. Và còn một điều nữa. Chúng ta vẫn có ba phần tư giá trị của một trăm đô la nằm trong thực phẩm, và nếu tất cả bọn họ rời khỏi đây, thì chuyện sẽ vỡ lở và ông ta có thể sẽ cử người tới để lấy đi tất cả những hộp đậu còn lại.”
“Và còn một điều khác nữa”, Charlotte nói. “Hiện giờ họ không thể đi khỏi đây. Họ không thể đi bộ trong tuyết dày như thế này. Anh không nhận thấy điều đó ư?”
“Nhận thấy điều gì cơ?”
“Rằng đã hai tuần rồi chiếc xe lửa bé tẹo đó không quay trở lại kể từ khi nó đưa vợ chồng Buckner rời khỏi đây.”
Quả thực anh đã không nhận ra điều đó cũng chẳng biết liệu chiếc xe lửa đó có quay lại hay không, vậy nên họ nhất trí với nhau rằng lần tới nó đến, họ sẽ không đợi thêm nữa, họ sẽ nói (hoặc sẽ thử nói) sự thật với những người đàn ông đang làm việc ở mỏ. Hai tuần sau, xe lửa quay trở lại. Họ đi sang phía bên kia hẻm núi đến nơi mà những người đàn ông bụi bặm nói thứ tiếng họ không hiểu đang bắt đầu chất quặng lên xe. “Bây giờ phải làm gì đây?”, Wilbourne hỏi. “Anh không thể nói chuyện với họ.”
“Anh có thể mà. Bằng cách nào đó. Họ tin rằng bây giờ anh là ông chủ và chẳng ai lại không hiểu người mà họ tin là ông chủ của mình. Bằng cách nào đó hãy cố bảo họ đến nhà kho đi.”
Wilbourne bước lên phía trước, đi tới chỗ cái máng chở quặng khi chiếc xe goòng chở quặng đầu tiên bắt đầu chuyển động và giơ tay lên. “Khoan đã”, anh nói to. Những người đàn ông ngừng làm việc, những khuôn mặt hốc hác với đôi mắt lờ đờ ngước lên nhìn anh. “Nhà kho”, anh kêu to. “Kho!”, anh chỉ tay về phía vách núi đối diện bằng cử chỉ dứt khoát và mạnh mẽ; rồi sực nhớ ra từ mà người đầu tiên họ gặp khi đến đây, người đã dựng cổ áo của Charlotte lên trong ngày hôm đó, đã sử dụng. “Ron”, anh nói. “Ron.” Họ nhìn anh một lát, những cặp lông mày nhạt màu nhíu lại, những khuôn mặt đầy vẻ háo hức, bối rối, và hoang dại. Rồi họ nhìn nhau, đứng túm tụm lại rồi nhao nhao nói với nhau điều gì đó bằng thứ tiếng mà anh không hiểu. Sau đó một nhóm người tiến về phía anh. “Không, không”, anh nói. “Tất cả mọi người.” Anh dùng tay ra hiệu cho họ đi về phía cửa hầm mỏ. “Tất cả các anh.” Lần này có người hiểu ý của anh rất nhanh, và gần như ngay lập tức người đàn ông có dáng người thấp mà Wilbourne đã gặp khi anh ta vừa chạy vừa đẩy xe goòng bằng đôi chân ngắn to khỏe như thể gắn pít-ton chạy biến vào trong hầm rồi xuất hiện trở lại, kéo theo một hàng dài những người đàn ông làm việc trong đó. Những người đó nhập vào nhóm thứ nhất nói liến thoắng và ra hiệu loạn xạ. Sau đó tất cả họ ngừng nói khi nhìn Wilbourne với vẻ ngoan ngoãn và phục tùng. “Nhìn mặt họ kìa”, anh nói. “Lạy Chúa, anh không thích là người phải làm chuyện này chút nào. Gã Buckner chết tiệt.”
“Thôi nào”, Charlotte nói. “Hãy làm cho xong việc đi nào.” Họ đi sang phía bên kia thung lũng, những người thợ mỏ bụi bặm tương phản với tuyết trắng đi theo họ - những khuôn mặt của một đoàn hát rong được trang điểm một cách vụng về - tiến đến nhà kho. Wilbourne mở cửa nhà kho. Rồi anh nhận thấy một đám gồm năm người đàn bà đang đi theo đám thợ mỏ. Anh và Charlotte chưa bao giờ nhìn thấy họ;
họ dường như vừa mới đội tuyết lên, tất cả đều mang khăn choàng; hai người trong số đó bế con nhỏ chưa đầy tháng.
“Lạy Chúa”, Wilbourne lẩm bẩm. “Họ thậm chí không biết anh là bác sĩ. Họ thậm chí không biết luật pháp yêu cầu phải có bác sĩ ở mỏ.” Anh và Charlotte bước vào nhà kho. Trong không gian u ám không còn ánh sáng phản chiếu của tuyết, các khuôn mặt biến mất và chỉ còn những con mắt trơ trọi nhìn anh với vẻ ngoan ngoãn, kiên nhẫn, phục tùng, tin cậy và hoang dại. “Bây giờ phải làm gì đây?”, anh lặp lại lời nói ban nãy. Rồi anh bắt đầu nhìn Charlotte và tất cả bọn họ đều nhìn cô, năm người đàn bà chen lên phía trước cũng nhìn cô khi cô buộc bốn góc của một tấm giấy cứng kiếm được từ đâu đó lên một ngăn của giá đựng thực phẩm nơi ánh sáng từ ô cửa sổ duy nhất rọi vào và bắt đầu dùng một trong những mẩu than chì cô mang theo từ Chicago vẽ rất nhanh lên tấm giấy hình một bức tường cao với ô cửa có chấn song, không khó để hiểu ra đó là cửa thanh toán và bên ngoài cửa có một đám người rõ ràng là những thợ mỏ (cô thậm chí vẽ cả người đàn bà ôm con nhỏ); ở bên trong cửa sổ là một người đàn ông to lớn (cô chưa bao giờ nhìn thấy ông Callaghan mà chỉ nghe qua lời kể của anh, song quả thật cô vẽ rất giống) ngồi phía sau một chiếc bàn với đống tiền xu mà ông ta dùng bàn tay có đeo chiếc nhẫn kim cương to cỡ quả bóng bàn gạt vào chiếc túi vải bố. Sau đó cô bước sang một bên. Trong phút chốc, tất cả mọi người im phăng phắc. Sau đó những tiếng kêu nổi lên, dữ dội nhưng không quá ầm ĩ, trừ giọng những người phụ nữ rít lên nghe to hơn tiếng thì thầm, rên rỉ, và tất cả bọn họ cùng quay về phía Wilbourne, những đôi mắt lờ đờ hoang dại nhìn anh trừng trừng đầy giận dữ lẫn oán trách.
“Khoan đã!”, Charlotte kêu lên. “Đợi đã!” Họ dừng lại nhìn cô một lần nữa khi mẩu than chì trong tay cô di chuyển, và giờ đây, bên rìa của đám đông đang đợi ngoài cửa sổ, Wilbourne nhìn thấy khuôn mặt của mình ló ra dưới thỏi than chì đang lướt nhanh; bất cứ ai cũng có thể ngay lập tức nhận ra người cô đang vẽ là anh. Tiếng ồn ào tắt lịm, họ nhìn Wilbourne rồi nhìn nhau bằng ánh mắt hoang mang. Rồi họ lại nhìn Charlotte khi cô giật tờ giấy khỏi nơi nó được treo và bắt đầu thay một tờ giấy mới; lần này một trong số họ bước tới giúp cô, Wilbourne lại đợi mẩu than chì lướt qua, lướt lại trên tờ giấy. Cô vẽ anh, vẽ rõ ràng anh là một bác sĩ, bất cứ người nào cũng có thể nhận ra điều đó - cặp kính gọng sừng, chiếc áo bờ lu của bệnh viện mà mọi bệnh nhân nghèo - bất kỳ người thợ mỏ nào bị thương do đá, sắt thép hoặc chất nổ gây ra được đưa đến các trạm cấp cứu - đều đã nhìn thấy cùng hành động lấy thìa thuốc ra từ lọ thuốc trong tay anh cho người đàn ông mà họ có thể hiểu là một người trong số họ, hoặc bất cứ người nào lao động trong lòng đất, gương mặt râu ria hoang dã, thậm chí cả cái cổ áo lông cừu và phía sau, chính bàn tay đeo chiếc nhẫn kim cương đó đang móc chiếc ví mỏng quẹt như tờ giấy khỏi túi áo của người bác sĩ. Những con mắt lại đổ dồn về phía Wilbourne, vẻ oán trách trong những ánh mắt đó không còn nữa, chỉ còn nỗi giận dữ không nhằm vào anh. Anh ra hiệu cho họ bước tới những ngăn giá để đồ vẫn còn chứa lương thực. Giờ thì anh có thể đi đến chỗ Charlotte và nắm cánh tay cô.
“Đi thôi”, anh nói. “Hãy ra khỏi đây nào.” Sau đó (anh đã quay trở lại chỗ xe lửa đang đỗ, nơi Hogben, cũng là toàn bộ kíp lái, đang ngồi bên lò sưởi ấm trong cái khoang không rộng hơn một cái tủ đựng chổi là bao. “Vậy là ba mươi ngày nữa, anh sẽ quay trở lại đây?”, Wilbourne hỏi.
“Cứ ba mươi ngày tôi phải thực hiện một chuyến đi để duy trì quyền hoạt động của mỏ”, Hogben đáp. “Anh nên đưa vợ anh đi khỏi đây bây giờ.”
“Chúng tôi sẽ đợi”, Wilbourne nói. Anh quay lại căn nhà họ ở và cùng Charlotte đứng trước cửa nhìn hàng dài đám đông xuất hiện từ phía nhà kho trông thật thiểu não, tiến về phía bên kia hẻm núi leo lên xe lửa, nhét nhau vào đầy ba toa. Nhiệt độ lúc này không phải là bốn mươi mốt độ, cũng không vọt lên đến mười bốn độ. Xe lửa chuyển bánh; họ có thể nhìn thấy những khuôn mặt nhỏ xíu nhìn về phía lối vào mỏ quặng và những đống rác với vẻ ngơ ngác, buồn bã, choáng váng, cho thấy họ không thể tin nổi chuyện vừa mới xảy ra; khi con tàu chuyển bánh, âm thanh của những giọng nói nổi lên, bay đến chỗ họ qua hẻm núi nghe thật tuyệt vọng, thê lương, hoang dại và yếu ớt vì khoảng cách khá xa), anh nói với Charlotte: “Ơn Chúa trước tiên chúng ta đã có cái ăn”.
“Có thể chỗ thực phẩm đó chưa hẳn thuộc về chúng ta”, cô nói bằng giọng tỉnh táo.
“Vậy thì chỗ thực phẩm đó là của Buckner. Họ cũng chưa trả tiền công cho anh ta kia mà.”
“Nhưng anh ta đã chuồn khỏi đây rồi. Họ không trả công cho anh ta đâu.”
Mùa xuân đã đến gần hơn; trước khi cái xe lửa ấy đến mỏ theo đúng lịch có thể, họ đã nhận thấy sự chớm hé của mùa xuân trên núi - mùa xuân mà cả anh và cô đều chưa từng thấy và chẳng hề biết nó sẽ không thực sự đến cho tới thời điểm mà theo trải nghiệm của họ là đầu mùa hè. Đêm hôm ấy, họ nói về điều đó, khi cái nhiệt kế có lúc lại báo bốn mươi mốt độ âm. Nhưng chí ít, giờ đây họ có thể tâm sự với nhau ở trên giường, trong bóng tối và dưới những tấm chăn, sau một hồi loay hoay kéo và quấn (việc này cũng mang tính thủ tục), Charlotte cuối cùng cũng trút bỏ quần áo để trở về với thói quen ngủ trần truồng của mình. Cô không ném bộ quần áo vừa cởi ra ngoài mà cuộn chúng trong chăn thành một mớ nệm bên trên, bên dưới và xung quanh họ để sáng ra, tất cả đều không đóng băng. Một đêm, cô nói: “Anh vẫn chưa nhận được tin gì của Buckner. Nhưng tất nhiên anh chưa nhận được rồi; làm thế nào anh nhận được chứ”.
“Không”, anh nói, bằng giọng tỉnh táo gây ngạc nhiên. “Anh ước gì mình sẽ nhận được tin của anh ta. Anh đã dặn anh ta ngay khi đến chỗ mới hãy đưa vợ đến gặp bác sĩ.
Nhưng có lẽ anh ta... anh ta đã hứa sẽ báo tin cho anh mà.”
“Em cũng ước gì anh sẽ nhận được tin của anh ta.”
“Có thể lần tới khi xe lửa đến chúng ta sẽ nhận được một lá thư.”
“Nếu như cái xe lửa đó quay lại.” Nhưng anh không nghi ngờ gì cả, mặc dù sau đó anh cảm thấy việc mình không nghi ngờ quả là lạ, dẫu anh không thể nói tại sao hay vì lý do gì mà mình nên như vậy. Nhưng quả thật anh đã không nghi ngờ. Thế rồi một hôm, khoảng một tuần trước thời điểm mà theo lịch xe lửa sẽ đến thì có người gõ cửa, và anh thấy một người đàn ông có khuôn mặt của người vùng núi đeo một cái túi và đôi giày dùng để đi trên tuyết sau lưng.
“Anh là Wilbourne phải không?”, anh ta hỏi. “Tôi có một bức thư cho anh.” Anh ta lấy thư ra - một chiếc phong bì có ghi chữ bằng bút chì, đã bẩn lem nhem, được đề ngày gửi từ ba tuần trước.
“Cảm ơn”, Wilbourne nói. “Vào trong ăn chút gì đã.” Nhưng người kia từ chối. “Có một chiếc máy bay to bị rơi đâu đó ở đằng kia ngay trước Giáng Sinh. Dạo đó anh có nghe hay nhìn thấy gì liên quan đến vụ máy bay rơi không?” “Dạo đó tôi không có mặt ở đây”, Wilbourne nói. “Anh nên vào trong này ăn chút gì đã.”
“Người ta có treo thưởng cho vụ đó. Tôi nghĩ tôi sẽ không ghé vào đâu.”
Đó là thư của Buckner. Bức thư chỉ có vẻn vẹn mấy chữ, Mọi chuyện ok, ký tên Buck. Charlotte cầm lá thư từ tay anh và đứng đó nhìn đăm đăm những con chữ. “Đúng như anh đã nói rằng việc đó đơn giản thôi, đúng không? Bây giờ anh cảm thấy nhẹ nhõm rồi nhỉ?”
“Đúng vậy”, Wilbourne nói. “Anh thấy nhẹ nhõm rồi.” Charlotte nhìn bức thư dài bốn chữ, đếm các chữ cái, từ chữ đầu đến chữ cuối, đếm hai chữ một. “Trong mười nghìn trường hợp mới có một ca tử vong thôi. Chỉ cần anh cẩn thận là ổn, đúng không? Luộc dụng cụ tiệt trùng, đại loại như vậy. Không quan trọng anh đang giải quyết chuyện đó cho ai đúng không?”
“Họ phải...” Anh đang nói bỗng ngừng lại và nhìn cô, rồi anh nghĩ rất nhanh. Có chuyện gì đó sắp xảy ra với mình. Khoan đã. Khoan đã. “Giải quyết chuyện đó ư?”
Cô nhìn bức thư. “Thật ngớ ngẩn, đúng không? Có lẽ mình đánh đồng nó với tội loạn luân.” Bây giờ thì anh hiểu chuyện đó đã xảy ra với mình. Anh bắt đầu run, thậm chí trước cả khi nắm lấy vai cô lắc mạnh để buộc cô phải nhìn thẳng vào mắt mình.
“Em nói giải quyết chuyện đó nghĩa là sao?”
Cô nhìn anh trong khi vẫn cầm bức thư có những chữ được viết bằng bút chì đậm nét - cái nhìn chăm chú, tỉnh táo từ đôi mắt vẫn tràn ngập ánh xanh do sự phản chiếu của tuyết. Cô nói những câu ngắn, cộc lốc như thể đang đọc chữ từ một cuốn sách vỡ lòng. “Tối hôm đó đấy. Tối đầu tiên chúng ta được ở một mình với nhau và không thể đợi để nấu bữa tối ấy. Khi lò sưởi tắt thì cái túi thụt rửa em treo ở phía sau lò sưởi bị đóng băng và khi chúng ta đốt lò sưởi lại, em quên không bỏ nó ra và nó bị nổ mất.”
“Và thế là từ hôm đó em đã không...”
“Đáng lẽ em nên biết nhiều hơn. Em bất cẩn quá. Chẳng phòng ngừa gì cả. Em nhớ ai đó đã từng nói với em khi em còn bé rằng khi hai người làm chuyện yêu, yêu điên cuồng, yêu thực sự, họ sẽ không thể có con được, bởi vì hạt giống sẽ bị cháy trong cuộc yêu, trong say đắm, đê mê. Có lẽ em đã tin và muốn tin nó vì em không còn cái dụng cụ đó nữa. Hoặc có lẽ em chỉ hy vọng như vậy thôi. Dù sao chuyện cũng xảy ra rồi.”
“Từ khi nào?”, anh hỏi, lắc vai cô bằng đôi tay run rẩy. “Em mất kinh từ khi nào? Em có chắc không?”
“Em có chắc là em mất kinh không á? Chắc. Em bị chậm kinh mười sáu ngày rồi.”
“Nhưng em chưa biết chắc cơ mà”, anh luống cuống nói, biết rằng đang nói với chính mình: “Em chưa chắc chắn cơ mà. Bất cứ người phụ nữ nào thỉnh thoảng cũng bị chậm kinh chứ. Em không thể chắc chắn được cho đến hai...”.
“Anh tin như vậy à?”, cô nói khẽ. “Đó chỉ là khi anh muốn có con. Em không muốn và anh cũng không muốn bởi vì chúng ta không thể nuôi con. Em có thể nhịn đói, anh cũng thế, nhưng con thì không. Vậy nên chúng ta phải giải quyết chuyện đó, Harry ạ.”
“Không!”, anh gào lên. “Không!”
“Anh nói việc đó đơn giản thôi mà. Chúng ta đã có bằng chứng chứng minh anh có thể giải quyết tốt việc đó, có khó khăn gì đâu, chẳng là gì hết, chỉ đơn giản như cắt một cái móng chân thôi. Em khỏe kém gì cô ta. Anh không tin à?”
“Có”, anh gào lên. “Vậy nên em đã để cô ta thử trước. Thế đấy. Em muốn xem liệu cô ta có chết hay không. Đó là lý do tại sao em cứ cố uốn anh theo cái ý đó khi mà anh nói không...”
“Đêm đó, sau khi họ đi khỏi đây thì lò sưởi tắt, Harry ạ. Nhưng đúng vậy, em đã đợi để nghe tin xem cô ta có ổn không. Cô ta cũng sẽ làm như thế nếu người làm trước là em. Nếu người làm trước là em, thì em cũng muốn cô ta đợi để xem mọi chuyện có ổn không và sống sót cho dù em sống hay không cũng như cô ta muốn em sống dù cô ta có vượt qua được hay không sau chuyện đó.”
“Đúng vậy”, anh nói. “Anh biết. Anh không có ý gì đâu. Nhưng em... em...”
“Anh giải quyết việc đó tốt mà. Việc đó đơn giản thôi. Anh biết anh có khả năng giải quyết việc đó mà.”
“Không! Không!”
“Thôi được”, cô nói khẽ. “Có lẽ tuần tới, khi rời khỏi đây chúng ta có thể tìm một bác sĩ để giải quyết việc này.”
“Không!”, anh gào lên, túm lấy vai cô lắc mạnh. “Em có nghe anh nói không hả?”
“Anh muốn nói là không ai khác sẽ làm việc đó, và anh cũng vậy chứ gì?”
“Đúng! Đó là điều anh muốn nói!” “Anh sợ ư?”
“Đúng!”, anh nói. “Anh sợ!”
Tuần đó trôi qua. Anh đi bộ như thể để hành xác, bước một cách khó nhọc trong những đường hầm ngang nối các mạch mỏ sâu đến thắt lưng, Để khỏi phải nhìn thấy nàng, vì ở đó, mình không thể thở nổi, anh nói với chính mình; một hôm, anh đi ra cái hầm bị bỏ hoang với những bóng điện thừa thãi ánh sáng mặc dù đối với anh, dường như trong mỏ vẫn có những giọng nói, những con chim mù cùng âm thanh dội lại của những lời nói mà anh không hiểu nghĩa - chúng vẫn còn đó, như những con dơi treo mình trên cao quanh các hành lang chết chóc cho đến khi sự có mặt của anh khiến chúng giật mình bay loạn xạ. Nhưng sớm hay muộn gì thì cơn lạnh - hoặc một điều gì đó - cũng đẩy anh trở lại căn nhà tạm bợ ấy và họ không cãi nhau đơn giản vì cô không chịu để bản thân mình bị kéo vào một cuộc cãi vã, còn anh lại nghĩ, Nàng không chỉ làm người tốt hơn mình mà còn là người lịch sự hơn mình, nàng đóng vai trò gì cũng tốt hơn mình; họ ăn cùng nhau, thực hiện các thủ tục hàng ngày, ngủ với nhau để giữ cho cả hai khỏi lạnh cóng và rồi (khi cô chấp nhận anh) anh ôm cô bằng sự ghì siết điên cuồng, vừa khóc vừa nói: “Cuối cùng thì chuyện đó không quan trọng; cuối cùng thì em sẽ không phải thức dậy trong cái lạnh”. Sau đó họ lại đối mặt với ban ngày; anh lại tiếp nhiên liệu cho lò sưởi khi nó tắt, mang những chiếc hộp đựng thức ăn mà họ mở ngày hôm trước ra ngoài và ném chúng vào tuyết, và anh chẳng có việc gì khác để làm dưới ánh mặt trời. Vậy nên anh đi bộ (có một đôi giày đi tuyết ở trong nhà nhưng anh chưa bao giờ thử) dưới lòng những nhánh hầm ngang - nơi anh chưa kịp học cách phân biệt để tránh, anh đầm mình, lún sâu trong đó, ngẫm nghĩ rồi nói to một mình và cân nhắc cả nghìn cách: Một loại thuốc viên, anh nghĩ - một bác sĩ có kinh nghiệm: Những cô gái điếm sử dụng loại thuốc viên, chúng ắt phải có tác dụng chứ; việc đó không thể khó đến mức này, cũng không tốn tiền, anh nghĩ thế rồi sau đó lại không tin điều mình nghĩ, biết rằng mình sẽ không bao giờ có thể cho phép bản thân tin điều đó, rồi lại nghĩ, Đây là cái giá của hai mươi sáu năm đây, mình cố gắng duy trì sự tồn tại trong bốn năm với hai nghìn đô la bằng cách không hút thuốc, giữ trinh tiết của mình cho đến khi nó gần như thối rữa, hai đô la mà mỗi tuần hoặc mỗi tháng chị gái mình phải chắt bóp, xoay xở mới có được để gửi cho mình: Đáng lẽ mình nên tống khứ vĩnh viễn khỏi con người mình mọi hy vọng về tác dụng gây mê của cả thuốc lẫn sách chuyên đề. Và bây giờ thì chẳng thể làm gì khác được nữa. “Chỉ còn mỗi một cách mà thôi”, anh nói to, bằng giọng nguôi dịu giống như cảm giác sau một trận nôn nhẹ bụng. “Chỉ còn mỗi một cách mà thôi. Chúng ta sẽ tới nơi nào đó ấm áp, giá cả sinh hoạt không đến nỗi quá đắt đỏ, nơi anh có thể tìm được việc làm và chúng ta có đủ khả năng nuôi con; nếu anh không kiếm được việc làm, thì ở đó còn có những trung tâm nuôi trẻ từ thiện, trại trẻ mồ côi, hoặc chúng mình có thể để người ta nhận đứa trẻ làm con nuôi. Không, không, không cho con vào trại trẻ mồ côi; không cho con làm con nuôi. Chúng ta có thể nuôi con, chúng ta phải nuôi con; anh sẽ tìm ra cách... Đúng vậy!”, anh nghĩ và hét lên giữa một vùng tuyết trắng hoang vắng, bằng giọng khàn khàn mỉa mai nghe rờn rợn. “Mình sẽ kiếm sống bằng cách hành nghề nạo thai.” Rồi anh quay trở về căn nhà tạm bợ và họ vẫn không cãi nhau đơn giản vì cô không làm vậy với anh, không phải vì sức chịu đựng đầy kiên nhẫn cũng chẳng phải vì cô bị khuất phục hay sợ hãi mà đơn giản bởi (anh biết lý do và khi ở ngoài trời tuyết, anh đã tự nguyền rủa bản thân mình vì điều đó) cô biết rằng một trong hai người bọn họ phải giữ cái đầu tỉnh táo, cũng sớm hiểu người cần phải giữ cái đầu tỉnh táo không phải là anh.
Thế rồi xe lửa tới. Anh gói một lượng đồ ăn mà anh ước tính tương đương với một trăm đô la của Buckner rồi bỏ vào một cái hộp. Họ chất cái hộp thực phẩm đó và hai chiếc túi họ đã mang theo khi rời New Orleans lên toa tàu dành cho công nhân. Tại ga đầu mối, anh bán những hộp đậu, cá hồi, mỡ lợn và những gói đường, cà phê cùng bột cho chủ của một cửa hàng nhỏ để lấy hai mươi mốt đô la. Họ ở trên tàu trong hai đêm một ngày và bỏ lại vùng tuyết phủ phía sau để đến nơi có thể tìm được những chuyến xe buýt giá rẻ, và giờ đây đầu cô ngả trên chiếc ghế phủ lớp vải ren thêu bằng máy, khuôn mặt nghiêng nghiêng trông giống Joan Crawford [2] của cô in vào bóng tối của vùng thôn quê hoàn toàn không có tuyết, những thị trấn phảng phất sự mất mát, ánh đèn nê-ông, những phòng ăn với các cô gái phương Tây nở nang, khỏe khoắn bước ra từ tạp chí Hollywood (Hollywood không còn nằm trong giới hạn không gian của nó nữa mà đã được khắc dưới dạng những chấm nhỏ lên khắp bề mặt của lục địa châu Mỹ bởi cả tỉ bước chân của ánh sáng rực rỡ), và anh không biết cô đang ngủ hay thức.
Họ đến San Antonia, Texas, với một trăm năm mươi hai đô la và vài xu. Thời tiết ở đó ấm áp, gần giống ở New Orleans; những cây hồ tiêu đã xanh suốt cả mùa đông và những cây trúc đào, Mimosa, ngũ sắc đã trổ hoa còn những cây cọ bắp thì xổ dáng trong thời tiết ôn hòa như ở Louisiana. Họ thuê một phòng đơn trong một ngôi nhà gỗ tồi tàn với thiết bị sưởi ấm hoạt động bằng khí đốt cũ kỹ có ống dẫn nhiên liệu được nối từ bên ngoài vào. Và bây giờ họ cãi nhau thật. “Anh không hiểu ư? Ngày mai là đến kỳ kinh nguyệt của em. Đã đến lúc phải tiến hành việc đó, đơn giản thôi mà. Giống như anh đã làm cho cô ta... Tên cô ta là gì nhỉ? Tên của ả gái điếm ấy là gì nhỉ? Bill... Billie, i, e. Đáng lẽ anh không nên để em biết nhiều về chuyện đó. Nếu khi đó anh không nói cho em biết thì em sẽ chẳng tốn thời gian làm anh lo lắng.”
“Có lẽ anh chẳng cần nói em cũng biết”, anh đáp, cố kiềm chế bản thân và tự nguyền rủa mình: Mi là đồ khốn, nàng là người gặp vấn đề chứ đâu phải mi. “Khi ấy anh đã quyết định rồi cơ mà. Anh đã nói không. Chính em là người...” Anh ngừng lời, cố kìm nén. “Nghe này. Có một loại thuốc viên em có thể uống trong kỳ kinh nguyệt. Anh sẽ cố kiếm được loại thuốc đó.”
“Cố kiếm ở đâu kia chứ?”
“Anh kiếm ở đâu ư? Ai cần loại thuốc đó chứ nhỉ? Ở nhà chứa chứ còn ở đâu nữa. Ơn Chúa, Charlotte! Charlotte!” “Em biết”, cô nói. “Chúng ta không thể dừng được nữa. Chúng ta không còn là chính mình nữa rồi. Đó là lý do:
Anh không thấy ư? Em muốn chúng ta trở lại như trước, thật nhanh, thật nhanh. Chúng ta còn ít thời gian lắm. Hai mươi năm nữa em không thể làm chuyện đó nữa và năm mươi năm nữa cả hai chúng ta sẽ chết. Vậy nên phải nhanh lên mới được. Nhanh lên.”
Anh chưa từng đặt chân đến một nhà chứa và chưa bao giờ tìm kiếm thứ đó. Vậy nên giờ đây anh phát hiện ra vấn đề mà nhiều người gặp phải: Tìm được một nhà chứa và loại thuốc đó khó đến mức nào; bạn sống trong một căn nhà dành cho hai hộ gia đình trong mười năm và bỗng nhiên phát hiện ra rằng những quý cô hay ngủ muộn ở căn hộ bên cạnh không phải là những người trực tổng đài phải làm ca đêm. Cuối cùng, trong đầu anh lóe lên một ý tưởng mà có lẽ mọi gã quê mùa nhất đều biết như lẽ tự nhiên: Anh hỏi một người lái xe taxi; và bây giờ anh đang trước một ngôi nhà trông rất giống căn nhà mình đang ở khi nhấn cái nút chuông chẳng hề phát ra âm thanh, dù tấm rèm cửa sổ bên cạnh cửa chính buông xuống ngay khi anh dám chắc có người nào đó ở trong nhà đã nhìn thấy mình. Thế rồi cửa chính được mở, một cô hầu gái da đen dẫn anh đi dọc một hành lang mờ tối vào căn phòng có chiếc bàn ăn được ốp gỗ dán không có khăn phủ đặt một cái hũ thủy tinh với những hình vòng tròn màu trắng ở đáy đựng rượu punch bên trên, một cái máy chơi piano tự động có rãnh để bỏ tiền xu, và mười hai chiếc ghế được đặt kế tiếp nhau dọc bốn bức tường như những bia mộ ở một nghĩa trang quân đội - nơi người giúp việc bảo anh ngồi xuống; và anh chẳng có việc gì để làm ngoài ngắm một bức tranh thạch bản vẽ hình chú chó của Thánh Bernard đang cứu một đứa trẻ khỏi lớp tuyết dày cùng bức chân dung tổng thống Roosevelt cho đến khi một người đàn bà chạc bốn mươi tuổi có cái cằm chẻ và mái tóc vàng, mặc chiếc váy ngủ màu hoa cà trông không được sạch sẽ cho lắm bước vào phòng. “Xin chào”, bà ta nói. “Cậu mới đến thành phố này phải không?”
“Đúng vậy”, anh trả lời. “Tôi hỏi một lái xe taxi mới biết chỗ này. Anh ta...”
“Khỏi cần khách sáo”, bà ta nói. “Cánh lái xe taxi đều là bạn của tôi cả mà.”
Anh sực nhớ lời khuyên của người lái xe taxi lúc họ chia tay: “Hãy mua bia mời người da trắng đầu tiên anh gặp ở đó. Anh sẽ được thỏa mãn”.
“Bà uống bia nhé?”, anh nói.
“Tại sao không, tôi không ngại đâu”, bà ta nói. “Bia có thể làm chúng ta sảng khoái.” Ngay lập tức (bà ta không hề rung bất cứ cái chuông nào trong tầm nhìn của Wilbourne) một cô phục vụ bước vào. “Hai cốc bia, Lousia”, bà ta nói. Người hầu gái đi ra. Người đàn bà cũng ngồi xuống ghế. “Vậy cậu là người mới tới sống ở San Tone. Ồ, một vài mối quan hệ bạn bè ngọt ngào nhất mà tôi từng biết đã được thiết lập trong một đêm thậm chí sau một lượt chơi giữa hai người mà một giờ trước đó chưa hề gặp nhau. Ở đây tôi có gái Mỹ hoặc gái Tây Ban Nha (những người lạ thích gái Tây Ban Nha. Đó là do ảnh hưởng từ phim ảnh, tôi xin nói như vậy) và một cô nàng người Ý trẻ măng vừa mới...” Người hầu gái mang hai cốc vại bia vào. Người đàn bà mặc váy tím không cần rung bất cứ quả chuông nào để truyền lệnh vì chắc chắn cô hầu đứng ở một chỗ nào đó không xa. Xong nhiệm vụ, cô ta mau chóng rút lui.
“Không”, anh nói. “Tôi không muốn... tôi tới đây... tôi...” Người đàn bà nhìn anh khi bắt đầu cầm bia cốc lên. Rồi thay vì uống, bà ta hạ cốc bia xuống và nhìn anh. “Tôi đang gặp rắc rối”, anh nói khẽ. “Tôi hy vọng bà có thể giúp tôi.”
Giờ thì người đàn bà đó thậm chí đã đặt cốc bia xuống bàn và anh nhận thấy đôi mắt của bà ta dù có bớt mờ đục vẫn cứ lạnh chẳng kém gì viên kim cương to tướng bà ta đang đeo ở ngực. “Điều gì khiến cậu nghĩ rằng tôi có thể hoặc sẽ giúp cậu thoát khỏi rắc rối của cậu hả? Cậu có số của gã lái taxi kia không?”
“Không”, Wilbourne nói. “Tôi...”
“Thôi, quên đi. Cậu đang gặp rắc rối gì?” Anh kể cho bà ta biết rắc rối của mình một cách đơn giản và bình tĩnh, trong khi bà ta nhìn anh chăm chú. “Hừm”, bà ta nói. “Vậy là cậu, một người lạ mới tới đây, tìm ngay một gã lái taxi đưa thẳng tới chỗ tôi để tìm một bác sĩ giải quyết việc của cậu chứ gì.” Bây giờ thì bà ta rung chuông, không rung một cách quá dữ dội mà chỉ lắc mạnh.
“Không, không, tôi không...” Bà ta có một bác sĩ ở đây, anh nghĩ. “Tôi không...”
“Cậu không chắc chắn”, người đàn bà nói. “Cậu nhầm thôi mà. Cậu quay trở lại nhà trọ hoặc bất cứ chỗ nào cậu đang trú ngụ và nhận ra chuyện vợ mình mang thai, thậm chí chuyện cậu có vợ, chỉ là mơ thôi mà.”
“Tôi ước gì chuyện đó không có thật”, Wilbourne nói. “Nhưng tôi...” Cánh cửa bật mở và một gã đàn ông to lớn còn khá trẻ bước vào, ngay lập tức ném về phía Wilbourne cái nhìn đăm đăm, đầy háo hức gần như cái nhìn của một người tình từ đôi mắt nâu bồn chồn phía dưới mái tóc được rẽ ngôi thẳng toát lên vẻ ngây ngô tựa mái tóc của một cậu bé và tiếp tục nhìn anh không dứt. Cằm và cổ của gã đó được cạo nhẵn thín.
“Gã đó đây hả?”, gã hỏi qua vai người đàn bà mặc váy tím bằng giọng khàn khàn của một kẻ nghiện rượu từ khi còn quá trẻ nhưng đồng thời thể hiện vẻ mừng rỡ, thậm chí hân hoan. Không đợi câu trả lời, gã đi thẳng tới chỗ Wilbourne và khi người đàn bà kia chưa nhúc nhích, gã đã chộp lấy anh rồi nhấc ra khỏi ghế bằng một bàn tay tựa như tảng giăm bông. “Mày muốn gì hả, đồ chó đẻ, mày dám đến một ngôi nhà đáng kính và xử sự như đồ chó đẻ hả?”, gã nhìn Wilbourne bằng ánh mắt thích thú. “Mày có biến khỏi đây ngay không hả?”, gã nói.
“Úi chà chà”, mụ đàn bà mặc váy tím nói. “Tao muốn tìm cho ra cái thằng lái taxi đó.” Wilbourne bắt đầu vùng vẫy. Ngay lập tức gã trai trẻ quay sang anh với vẻ vui mừng, hớn hở như thể gặp tình nhân. “Không phải ở đây”, mụ đàn bà gắt lên. “Biến đi, như tao đã nói, đồ khỉ.”
“Tôi sẽ đi”, Wilbourne nói. “Buông tôi ra, tôi sẽ đi.” “Ừ, chắc rồi, đồ chó đẻ”, gã trai trẻ nói. “Tao sẽ giúp mày. Tao sẽ giúp mày. Đi lối này.” Họ quay ra hành lang, và bây giờ ở đó có một người đàn ông mặt đen, tóc đen với vóc người hơi nhỏ mặc chiếc quần tối màu và chiếc áo sơ mi xanh dương: Một gã quản gia người Mê-xi-cô. Họ đi tới một cánh cửa, lưng áo khoác của Wilbourne dúm lại vì bị bàn tay to tướng của gã trai túm. Gã mở cửa. Thế nào đồ súc sinh này cũng phải đánh mình một cái, Wilbourne nghĩ. Nếu không gã sẽ nổ tung và chết vì phải kìm nén. Nhưng mọi chuyện sẽ ổn thôi. Mọi chuyện sẽ ổn thôi.
“Cậu có thể nói cho tôi biết”, anh nói. “Tất cả những gì tôi muốn là...”
“Ừ; chắc chắn rồi”, gã nói. “Có lẽ tôi sẽ cho thằng này ăn đấm, Pete ạ. Ông nghĩ sao?”
“Ăn đấm”, gã người Mê-xi-cô nói.
Anh thậm chí không cảm nhận được quả đấm giáng xuống mà thấy người mình gập lại và nền cỏ đẫm sương trước khi có cảm giác đau ở mặt. “Cậu có thể nói cho tôi biết...”
“Ừ, chắc chắn rồi”, gã trai trẻ nói bằng giọng khàn khàn thích thú, “mày hỏi lần nữa đi”. Cánh cửa đóng sập lại. Một lúc sau, Wilbourne đứng dậy. Bây giờ anh đưa tay sờ mắt, một bên mặt cùng toàn bộ đầu mình, cảm thấy máu chảy từ chỗ đau, mặc dù qua chiếc gương của hiệu thuốc (hiệu thuốc ở góc đường đầu tiên anh tới và bước vào; anh thực sự hiểu ra rằng có những điều đáng ra mình nên biết trước khi bước vào tuổi mười chín), anh chưa nhìn thấy một vết máu nào. Nhưng vết thương rất dễ nhận thấy và không thể giấu được, bởi vì người bán thuốc hỏi:
“Mặt ông bị làm sao thế ạ?”
“Tôi gây lộn”, anh nói. “Tôi đã làm bạn gái của mình dính bầu. Tôi muốn có thứ thuốc gì đó để giải quyết chuyện ấy.”
Người bán thuốc nhìn anh trong giây lát bằng ánh mắt khó chịu. Sau đó ông ta nói: “Thuốc đó có giá năm đô la”.
“Ông đảm bảo thuốc đó có tác dụng chứ?” “Không.”
“Thôi được. Tôi mua.”
Đó là một cái hộp nhỏ, không có chữ nào hết. Nó chứa năm viên thuốc, cũng có thể là năm hạt cà phê. “Ông ta nói uống kèm với rượu whiskey sẽ có tác dụng, và uống xong hãy vận động. Ông ta bảo tối nay em hãy uống hai viên và đi đâu đó, đi nhảy chẳng hạn.” Cô uống tất cả năm viên rồi họ ra khỏi nhà, mua hai chai whiskey và tìm đến một sàn nhảy hạng xoàng với những bóng đèn màu rẻ tiền, những bộ đồ kaki cùng người được thuê làm bạn nhảy và tiếp viên.
“Anh cũng uống một chút đi”, cô nói. “Vết thương trên mặt anh bây giờ đau lắm phải không?”
“Không”, anh nói. “Em uống đi. Uống hết mức có thể đi.” “Lạy Chúa”, cô nói. “Anh không biết khiêu vũ, đúng không?”
“Không”, anh nói. “Có. Có chứ, anh biết nhảy mà.” Họ bước ra sàn nhảy, để mặc mình bị xô đẩy, và chính họ bắt đầu xô đẩy nhau, như những kẻ mộng du, thỉnh thoảng nhảy đúng nhịp trong mỗi đoạn nhạc ngắn cuồng loạn. Đến mười một giờ đêm, cô đã uống gần nửa chai whiskey, nhưng rượu chỉ làm cô nôn ọe. Anh đợi cho đến khi cô từ phòng vệ sinh đi ra với khuôn mặt trắng bệch và đôi mắt màu vàng đầy vẻ bất khuất. “Em nôn tất cả những viên thuốc đó ra rồi hả”, anh hỏi.
“Mất hai viên. Em sợ em sẽ làm mất tất cả từng ấy viên nên em nôn vào bồn rửa mặt rồi tìm những viên thuốc và uống lại. Chai rượu đâu rồi?”
Họ phải đi ra ngoài để cô uống rượu, sau đó quay vào sàn nhảy. Đến mười hai giờ, cô đã uống gần cạn chai rượu đầu tiên và những bóng đèn đã tắt trừ đèn sân khấu tạo ra ánh sáng xoay tròn như địa cầu đang quay, nơi những người khiêu vũ với khuôn mặt trông như thây ma chuyển động trong ánh sáng đục hình cầu tựa cơn ác mộng trên biển. Có một người đàn ông cầm loa; thì ra đây là một cuộc thi khiêu vũ và Wilbourne cũng như Charlotte thậm chí không biết điều ấy; nhạc rộ lên rồi ngừng bặt, các ngọn đèn bừng sáng, không khí ngập đầy tiếng loa phát thanh ầm ĩ và cặp nhảy giành chiến thắng bước lên phía trước. “Em lại buồn nôn”, cô nói. Một lần nữa, anh lại đợi cô ra khỏi phòng vệ sinh với khuôn mặt trắng bệch cùng đôi mắt bất khuất. “Em lại rửa những viên thuốc đó”, cô nói. “Nhưng em không thể uống thêm được nữa. Đi nào. Một giờ là họ đóng cửa sàn nhảy đấy.”
Có lẽ những viên thuốc đó là hạt cà phê thật bởi vì sau ba ngày, họ chẳng thấy có chuyện gì xảy ra cả và sau năm ngày, anh buộc phải thừa nhận rằng nỗ lực của họ đã trở nên vô ích. Họ cãi nhau và anh nguyền rủa bản thân khi ngồi trên ghế đá công viên đọc mục giải đáp thắc mắc trên các tờ báo mà anh lấy ra từ thùng rác trong thời gian đợi những vết thâm tím trên mặt mình biến mất để lại có thể tiếp tục đi xin việc, và anh nguyền rủa bản thân bởi cô sẽ và có thể tiếp tục chịu đựng nhưng cuối cùng anh lại làm cho cô kiệt sức; anh ý thức được chính mình đã gây ra chuyện đó, thề rằng sẽ thay đổi và chấm dứt tình trạng khổ sở của cô. Nhưng khi trở về phòng trọ (bây giờ cô gầy hơn trước và tất cả những viên thuốc đó cùng rượu whiskey đã gieo một điều gì đó vào mắt cô - điều mà trước kia chưa từng hiển hiện), anh cảm thấy như thể mình chưa từng hứa hẹn gì, và giờ đây cô nguyền rủa anh, đấm anh thật mạnh sau đó lại kiềm chế bản thân rồi ôm ghì lấy anh mà khóc: “Ôi, Chúa ơi, Harry ơi, hãy ngăn em lại! Hãy làm em dừng lại đi! Hãy đập tan cơn nóng giận trong em đi!”. Sau đó, vẫn mặc nguyên quần áo, họ nằm ôm nhau và có được một lúc bình yên.
“Sẽ ổn cả thôi”, anh nói. “Thời buổi này nhiều người buộc phải làm điều đó. Cơ sở nuôi trẻ từ thiện ở bệnh viện không tệ lắm đâu. Rồi chúng ta sẽ tìm người nào đó nhận nuôi đứa trẻ cho đến khi anh có thể...”
“Không. Không được đâu, Harry. Không được đâu.” “Anh biết, thoạt nghe thì thấy cách thu xếp đó không ổn. Từ thiện. Nhưng từ thiện chẳng phải là...”
“Đừng nhắc đến điều đó nữa. Anh thấy đấy, em đã bao giờ quan tâm chúng ta kiếm tiền ở đâu, sống ở đâu hay phải sống như thế nào đâu, đúng không? Vấn đề không phải ở chỗ đó. Đau đớn lắm.”
“Anh biết mà. Nhưng phụ nữ vẫn mang thai và sinh con đấy thôi... chính em cũng đã hai lần...”
“Đau đớn lắm. Em đã bất cẩn và làm nảy sinh những khó khăn, nhưng khốn kiếp, em quen như thế rồi, em không bận tâm. Em đã nói sinh con đau đớn lắm. Rất đau đớn.”
Và rồi anh hiểu cũng như biết cô muốn nói gì; giống trước đó, anh thầm nghĩ, cô đã biết trước rằng anh sẽ từ bỏ nhiều hơn những gì anh từng có để từ bỏ, và chợt nhớ đến một câu trong Kinh Thánh: Đây là xương từ xương tôi, thịt từ thịt tôi, máu và trí nhớ cũng là từ máu và trí nhớ của tôi. Mi không vượt qua được đâu, anh tự nhủ. Mi không thể chiến thắng một cách dễ dàng đâu. Anh định nói, “Nhưng đó là vấn đề của chúng ta”, rồi chợt hiểu chính xác ý cô muốn nói nên im lặng.
Nhưng anh vẫn không thể nói “ừ” hay “thôi được”. Anh có thể nói như thế với chính mình khi ngồi trên ghế đá công viên, có thể giơ tay ra mà không run rẩy. Nhưng anh không thể nói lời đó với cô; anh nằm bên cạnh cô, ôm cô ngủ, và lặng lẽ theo dõi mẩu cuối cùng của lòng can đảm cùng tính đàn ông rời bỏ mình. “Phải rồi”, anh thì thầm với chính mình, “trì hoãn. Trì hoãn. Nàng sắp bước sang tháng thứ tư của thai kỳ rồi, khi đó mình có thể tự nhủ rằng mình biết đã là quá muộn để mạo hiểm; thậm chí khi đó nàng sẽ tin”. Sau đó, cô thức dậy và mọi chuyện bắt đầu lặp lại từ đầu - cuộc tranh luận chẳng đi đến đâu cả trở thành cãi vã và theo sau là những lời nguyền rủa cho đến khi cô trấn tĩnh lại, ôm ghì lấy anh mà khóc trong nỗi tuyệt vọng điên cuồng: “Harry! Harry! Chúng ta sẽ làm gì đây? Chúng ta, chúng ta, chúng ta! Hãy buộc em phải dừng lại đi! Hãy đánh em đi! Hãy đánh em bất tỉnh đi!”. Lần này anh ôm cô cho đến khi cô bình tĩnh lại. “Harry, hãy thỏa thuận với em điều này nhé?”
“Ừ”, anh nói bằng giọng mệt mỏi. “Bất cứ điều gì.”
“Một thỏa thuận. Và từ giờ cho đến lúc đó, chúng ta sẽ không bao giờ đề cập đến chuyện mang thai nữa.” Cô nói ra cái ngày mà đáng ra là kỳ kinh nguyệt sắp tới của mình - mười ba ngày nữa. “Đó là thời điểm tốt nhất, khi đó thai sẽ được bốn tháng và như thế là quá muộn để làm chuyện đó. Vậy nên từ bây giờ cho đến lúc đó chúng ta sẽ không nói về chuyện ấy nữa; em sẽ cố không nghĩ ngợi nhiều trong khi anh tìm được một việc làm tốt có thể giúp ba chúng ta tồn tại...”
“Không”, anh nói. “Không! Không!”
“Khoan đã”, cô nói. “Anh đã hứa rồi kia mà. Nếu đến lúc đó anh vẫn chưa tìm được việc làm thì anh sẽ giải quyết chuyện nạo thai cho em.”
“Không!”, anh gào lên. “Anh sẽ không làm chuyện đó! Không bao giờ!”
“Nhưng anh đã hứa rồi cơ mà”, cô nói bằng giọng khe khẽ, dịu dàng, chậm rãi như thể anh là một đứa trẻ đang học tiếng Anh. “Anh không thấy là chúng ta chẳng còn cách nào khác ư?”
“Đúng là anh đã hứa, đúng vậy. Nhưng anh không có ý...”
“Đã có lần em nói với anh rằng em tin không phải tình yêu chết, mà là điều gì đó ở người đàn ông và người đàn bà đã chết, họ không xứng đáng có cơ hội để yêu nữa. Hãy nhìn chúng ta bây giờ mà xem. Chúng ta có con, chỉ có điều biết mình không đủ điều kiện để sinh con và không có tiền để nuôi con. Và sinh con đau đớn lắm, Harry ạ. Rất đau đớn. Em sẽ buộc anh phải giữ lời hứa, Harry ạ. Từ bây giờ cho đến ngày đó, chúng ta sẽ không đề cập đến chuyện ấy hay nghĩ ngợi về nó nữa. Hãy hôn em đi.” Một phút sau anh nghiêng người tới bên cô. Không ôm, họ hôn nhau, như anh trai hôn em gái.
Giờ đây họ lại giống như những tuần đầu ở Chicago, trong lúc anh đi hết bệnh viện này đến bệnh viện khác, khi mà các cuộc phỏng vấn xin việc dường như đều đi vào ngõ cụt, để rồi bắt đầu trở nên nản lòng và ủ rũ trong lặng lẽ, anh đã biết trước sự thể sẽ thành ra như vậy và không quá bất ngờ, biết mình sẽ thất bại. Nhưng không phải bây giờ, không phải lúc này. Hồi ở Chicago anh từng nghĩ, Mình hình dung ra mình sẽ thất bại và quả thật giờ đây anh biết mình đang thất bại song không chịu tin hay chấp nhận câu trả lời “không” cho đến khi gần như bị đe dọa bằng vũ lực. Anh không chỉ cố tìm việc ở các bệnh viện mà còn ở bất cứ chỗ nào, ở bất cứ ai và dám đưa ra bất kỳ lời nói dối nào; anh tới các cuộc hẹn gặp để xin việc với lòng quyết tâm sắt đá đến mức điên khùng - lòng quyết tâm gắn liền với sự tiêu cực của chính nó; anh hứa với bất cứ ai rằng anh có thể và sẽ làm bất cứ điều gì; một buổi trưa cuốc bộ dọc đường phố, anh ngước nhìn lên cao và chợt thấy một cơ hội mong manh - tấm biển của một phòng khám chữa bệnh, anh liền bước vào và đề nghị với chủ nhân ở đó rằng anh sẽ thực hiện các ca nạo thai mà chỉ cần nhận một nửa số tiền công, thao thao kể về kinh nghiệm nạo thai của mình và chỉ sự tống khứ bằng vũ lực mới ngăn anh không đưa ra bức thư của Buckner như một bằng chứng chứng minh khả năng đó (anh hiểu ra điều đó khi đầu óc tỉnh táo trở lại).
Thế rồi một hôm, anh về nhà vào giữa chiều, đứng ngoài cửa phòng một lúc lâu rồi mới đưa tay mở cửa. Thậm chí khi mở cửa rồi anh vẫn không bước vào nhà mà cứ đứng yên với chiếc mũ có chóp hình ống bễ màu trắng rẻ tiền có gắn một dải băng màu vàng - huy hiệu chẳng mấy ai biết đến của một người hướng dẫn học sinh qua đường từ một trường học hạng xoàng - và trái tim anh vẫn lạnh giá, buồn khổ, nhuốm một nỗi thất vọng âm thầm. “Anh kiếm được mười đô la một tuần”, anh nói.
“Đồ khốn!”, cô nói, và đó lần cuối cùng trong đời anh thấy cô khóc. “Đồ khốn! Anh là đồ khốn! Vậy là anh có thể làm bậy với những đứa bé gái ở công viên vào những chiều thứ Bảy chứ gì!” Cô bước tới, giật chiếc mũ khỏi đầu anh và quẳng nó vào lò sưởi (cái vỉ lò sưởi bị gãy lủng lẳng một bên và được nhồi bởi những mẩu giấy cũ từng có màu đỏ hoặc tím sẫm) rồi ôm ghì lấy anh, khóc nức nở, những giọt nước mắt trào ra ướt đầm khuôn mặt cô. “Đồ khốn, anh là đồ khốn, anh...”
Cô tự tay đun nước và lôi bộ y cụ sơ sài người ta phát cho anh ở Chicago và là bộ y cụ anh đã sử dụng một lần, rồi nằm lên giường nhìn anh. “Được rồi. Đơn giản thôi mà. Anh biết mà; anh đã từng làm việc này rồi mà.”
“Đúng”, anh nói. “Đơn giản thôi. Chỉ cần để không khí lọt vào. Tất cả những gì anh phải làm là để cho không khí lọt vào...” Và anh bắt đầu run. “Charlotte. Charlotte.”
“Chỉ cần làm như vậy thôi mà. Chỉ cần một động tác thôi mà. Sau đó để không khí lọt vào và ngày mai chuyện này sẽ chấm dứt; em sẽ ổn thôi và chúng ta sẽ trở lại là chúng ta, mãi mãi, mãi mãi.”
“Đúng vậy. Mãi mãi và mãi mãi. Nhưng anh phải đợi cho đến khi tay anh... Nhìn này. Tay anh sẽ không hết run đâu. Anh không thể làm cho tay hết run được.”
“Thôi được. Chúng ta sẽ đợi một phút. Việc này đơn giản thôi mà. Buồn cười thật. Ý em muốn nói rằng chỉ cách thức là mới thôi. Chúng ta đã làm việc này bằng nhiều cách nhưng không phải bằng dao, đúng không nào? Đó. Tay anh hết run rồi đó.”
“Charlotte”, anh nói. “Charlotte.”
“Sẽ ổn thôi mà. Chúng ta biết cách làm mà. Anh từng nói với em những người đàn bà da đen nói gì nhỉ? Hãy giải phóng cho em, Harry.”
Và bây giờ, ngồi trên ghế đá ở công viên Audubon đầy cây xanh và ánh mặt trời rực rỡ với mùa hè Louisiana đã đến độ viên mãn mặc dù chưa đến tháng Sáu, với tiếng trẻ con la hét, âm thanh của bánh xe đẩy giống âm thanh anh nghe thấy từ căn hộ ở Chicago, qua khóe mi, anh nhìn chiếc xe taxi (xe taxi được yêu cầu đợi) dừng lại trước một ngôi nhà kiên cố, trông có vẻ tươm tất nhưng không thật nổi bật rồi nhìn cô ra khỏi taxi và bước lên bậc cửa trong chiếc váy tối màu mà cô đã để trong túi xách mang theo mình suốt một năm, từ mùa xuân năm trước, qua ba nghìn dặm. Chuông reo, và có lẽ cũng chính người hầu gái da đen của năm trước lên tiếng: “Tại sao, thưa cô...” rồi không nói thêm gì nữa cả, vì có lẽ cô ta sực nhớ ra ai đã trả tiền công cho mình, mặc dù cũng có thể không phải là cô hầu đó bởi những người hầu da đen thường bỏ việc sau khi chủ nhà chết hoặc ly thân. Bây giờ vẫn chính căn phòng ấy, như lần đầu tiên anh nhìn thấy vào lần gặp gỡ đầu tiên của họ khi cô nói, “Harry, người ta gọi anh là Harry phải không? Chúng ta sẽ làm gì nhỉ?”(Ôi chao, mình đã làm điều đó, anh nghĩ. Nàng sẽ phải thú nhận chuyện đó). Anh có thể nhìn thấy hai người bọn họ, Rittenmeyer trong chiếc áo vest cài khuy chéo (có thể được may bằng vải flanen tối màu với những đường may khéo léo và không hề rẻ); bốn người bọn họ, Charlotte và ba người khác, hai đứa con gái trông không có gì đặc biệt - một đứa chỉ có duy nhất mái tóc giống mẹ, đứa kia nhỏ hơn, chẳng giống mẹ chút nào, ngồi trên đầu gối của bố nó, trong khi đứa lớn đứng dựa người vào anh ta; ba khuôn mặt, một hoàn hảo, hai trong số ba khuôn mặt đó toát lên vẻ bất khuất, khuôn mặt thứ hai lạnh lùng đầy cảnh giác, khuôn mặt thứ ba đơn giản chỉ đầy vẻ cảnh giác; anh có thể nhìn và nghe thấy tiếng họ nói:
“Hãy đến nói chuyện với mẹ của em đi, Charlotte. Hãy đưa Ann đi cùng.”
“Em không muốn.”
“Đi đi. Hãy nắm tay Ann đi.” Anh có thể nghe và nhìn thấy họ: Rittenmeyer đặt đứa nhỏ xuống sàn, đứa lớn nắm lấy tay cô và họ tiến lại gần nhau. Bây giờ nàng bế đứa nhỏ vào lòng, nó nhìn nàng bằng ánh mắt thờ ơ, trống rỗng, đứa lớn hơn nghiêng người về phía nàng, vâng lời, lạnh lùng, chịu đựng sự âu yếm và né người ra xa khi cái hôn chưa được thực hiện xong, và quay trở về bên cha nó; một lát sau, Charlotte ra hiệu một cách bí mật với đứa nhỏ hơn. Và rồi cuối cùng nàng cũng đặt đứa bé xuống sàn để nó quay trở lại với cha nó, quay người tựa vào đầu gối của anh ta và cọ một bên mông vào lòng cha nó như trẻ con vẫn thường làm, trong khi vẫn nhìn Charlotte bằng cái nhìn trống rỗng, thờ ơ.
“Hãy để bọn trẻ đi chỗ khác đi”, Charlotte nói.
“Em muốn các con đi chỗ khác sao?”
“Đúng vậy. Chúng muốn thế.” Hai đứa trẻ đi ra khỏi phòng. Và bây giờ anh nghe thấy tiếng cô nói. Đó không còn là Charlotte nữa, cũng như Rittenmeyer, anh biết điều đó: “Vậy đó là những gì anh đã dạy bọn trẻ cơ đấy”.
“Tôi á? Tôi đã dạy chúng á? Tôi chẳng dạy chúng gì hết!, anh ta gào lên. “Không gì hết! Không phải tôi là người đã...”
“Em biết. Em xin lỗi. Thực lòng em không có ý đó. Em không... Các con vẫn khỏe chứ?”
“Ừ. Như anh đã viết thư cho em. Nếu em còn nhớ, đã mấy tháng nay anh không có địa chỉ của em. Thư anh gửi bị trả lại. Khi nào em muốn và nếu em muốn, anh sẽ đưa cho em những bức thư đó. Em trông không được khỏe. Đó là lý do em quay về nhà, phải không? Em đã quay về đúng không?”
“Em chỉ về thăm các con thôi. Và về để đưa cho anh cái này.” Cô đưa tờ ngân phiếu có chữ ký đầy đủ và được đục lỗ để tránh giả mạo ra - một miếng giấy nhỏ đã tồn tại hơn một năm, có nếp gấp và vẫn lành nguyên, chỉ hơi cũ.
“Vậy là em về nhà bằng tiền của anh ta cơ đấy. Vậy thì tờ ngân phiếu này thuộc về anh ta.”
“Không. Nó là của anh.” “Anh từ chối nhận nó.”
“Anh ấy cũng không chịu nhận.” “Vậy thì hãy đốt nó đi. Hủy nó đi.”
“Tại sao? Tại sao anh lại muốn làm tổn thương chính mình? Tại sao anh lại muốn chịu đựng khi mà còn có nhiều việc cần đến tiền. Hãy để lại cho bọn trẻ số tiền này theo di chúc. Nếu không phải là tiền của em để lại, thì hãy để coi đó là của Ralph. Anh ấy vẫn là bác của bọn trẻ mà. Anh ấy không gây hại gì cho anh đâu.”
“Tiền để lại theo di chúc ư?”, anh ta hỏi. Sau đó nàng tiếp tục nói với anh ta. Ồ, phải, Wilbourne tự nhủ, nàng sẽ nói với anh ta; anh có thể nhìn và nghe thấy hai người nói chuyện với nhau, chắc hẳn đã từng tồn tại điều gì đó na ná như tình yêu giữa hai người, chí ít họ đã biết đến sự hấp dẫn về thể xác và với sự hấp dẫn ấy, họ cũng có thể đạt được chút ít những gì giúp nhận biết tình yêu. Đúng, nàng sẽ nói với anh ta; anh có thể nhìn và nghe thấy cô đặt tấm ngân phiếu lên mặt bàn và nói với chồng:
“Chuyện xảy ra từ một tháng trước. Lúc đó em không sao, chỉ có điều em vẫn tiếp tục bị chảy máu và thế là chuyện trở nên khá tồi tệ. Thế nhưng hai ngày trước, đột nhiên em không bị chảy máu nữa và hẳn là có gì đó không ổn, có lẽ vẫn còn điều gì đó tồi tệ hơn, người ta gọi nó là gì nhỉ? Nhiễm độc máu, nhiễm trùng máu, đúng không nhỉ? Không quan trọng đâu, đó là điều chúng em đang thấp thỏm chờ.
Những người đàn ông mặc com lê bằng vải lanh thô đi qua chỗ anh ngồi và bây giờ anh bắt đầu để ý thấy mọi người đang rời khỏi công viên: Những cô hầu gái da đen mặc đồ xanh da trời có sọc chéo màu trắng được hồ cứng trông thật lòe loẹt và kỳ dị, những đứa trẻ vừa chạy lon ton trên thảm cỏ xanh vừa cất tiếng kêu yếu ớt như cánh hoa trước gió. Đã gần trưa rồi; Charlotte đã ở trong căn nhà đó hơn nửa tiếng đồng hồ. Sẽ mất nhiều thời gian, anh nghĩ, và anh vẫn nhìn cũng như nghe thấy họ nói chuyện: Anh ta đang cố thuyết phục nàng đi bệnh viện ngay lập tức, gặp bác sĩ tốt nhất, giỏi nhất; anh ta sẽ gánh lấy mọi sự trách móc, sẽ nói dối đủ điều; anh ta cố nài, bình tĩnh, nhưng không thúc bách và không chịu bị phủ nhận.
“Không. H - anh ấy biết một nơi. Trên bờ biển Mississippi. Chúng em sẽ đi tới đó. Nếu cần, chúng em sẽ tìm một bác sĩ ở đó.”
“Bờ biển Mississippi ư? Tại sao lại là chỗ đó? Một lão lang băm ở một làng chài tiêu điều của Mississippi ư? Trong khi ở New Orleans này có những bác sĩ giỏi nhất, cực kỳ giỏi...”
“Có thể chúng em không cần đến bác sĩ đâu. Chúng em có thể sống tằn tiện ở đó cho tới khi tìm ra cách.”
“Vậy là em và anh ta có tiền để đi nghỉ ở bờ biển cơ đấy.” “Chúng em có tiền.” Trưa rồi; không gian tĩnh mịch, bóng của những chiếc lá in lốm đốm trên người anh, không nhúc nhích trên sáu tờ bạc trong tay anh, hai tờ hai mươi đô, một tờ năm đô, ba tờ một đô, còn anh vẫn nghe và nhìn thấy họ:
“Hãy cầm lấy tấm ngân phiếu đó đi. Nó không phải là của anh.”
“Cũng chẳng phải của em. Hãy để em đi đường em, Francis ạ. Một năm trước, anh đã để em lựa chọn và em đã làm thế rồi. Em sẽ sống với lựa chọn đó. Em sẽ không để anh nuốt lời, không để anh phá vỡ lời thề với chính mình đâu. Nhưng em muốn xin anh một điều.”
“Xin anh ư? Một ân huệ ư?”
“Anh có thể gọi đó là một ân huệ nếu anh thích. Em không yêu cầu anh hứa đâu. Có lẽ em chỉ đang cố gắng bày tỏ một mong muốn thôi. Không phải hy vọng; chỉ là một mong muốn thôi. Nếu như có chuyện gì xảy ra với em.”
“Nếu có chuyện gì xảy ra với em. Anh phải làm gì?” “Không làm gì cả.”
“Không ư?”
“Đúng vậy. Không làm gì chống lại anh ấy. Em không yêu cầu anh làm như vậy vì anh ấy, cũng chẳng phải vì em. Em bày tỏ mong muốn đó là vì... vì... em không biết phải nói như thế nào. Vì tất cả những người đàn ông và những người đàn bà từng sống và phạm sai lầm nhưng luôn mong muốn điều tốt đẹp nhất và vì tất cả những người sẽ sống, phạm sai lầm nhưng vẫn mong muốn điều tốt đẹp nhất. Có lẽ vì cả anh nữa, bởi anh cũng đang đau khổ nếu như có sự đau khổ, nếu như bất cứ ai trong chúng ta đã gây ra đau khổ, nếu như người nào trong chúng ta sinh ra đủ mạnh mẽ và đủ tốt để đáng được yêu hoặc phải chịu đựng khổ đau. Có lẽ điều em đang cố nói đến là sự công bằng.”
“Công bằng ư?” Và bây giờ anh có thể nghe thấy tiếng cười của Rittenmeyer - người chưa bao giờ cười thành tiếng - bởi tiếng cười là bộ râu thưa thớt của ngày hôm qua, là điều xoàng xĩnh trong các cảm xúc. “Công bằng ư? Em nói điều đó với anh ư? Công bằng ư?” Bây giờ nàng đứng lên; anh ta cũng đứng lên: Họ đối diện với nhau.
“Em không yêu cầu anh hứa”, nàng nói. “Yêu cầu anh hứa là đòi hỏi quá nhiều.”
“Ở anh.”
“Ở bất cứ ai. Bất cứ người đàn ông hoặc người đàn bà nào. Chứ không chỉ ở anh.”
“Nhưng chính anh là người không hứa hẹn gì cả. Hãy nhớ lấy. Em nên nhớ điều đó. Anh đã nói với em rằng em có thể quay về nhà bất cứ khi nào em muốn, và sẽ chấp nhận em trở lại. Nhưng em có thể mong đợi điều đó xảy ra lần nữa không? Có thể mong đợi sự chấp nhận từ bất cứ người đàn ông nào không hả? Nói đi; em đã nói đến sự công bằng kia mà; hãy nói xem nào.”
“Em không mong đợi điều đó. Em đã nói với anh rồi, có lẽ em chỉ đang cố nói rằng mình hy vọng thế.” Anh nói với chính mình, Bây giờ nàng sẽ quay gót, sẽ bước ra cửa, và họ sẽ đứng đó nhìn nhau và có lẽ cũng giống như McCord và mình ở sân ga Chicago trong cái đêm đó. Anh ngừng lại, định nói là “hồi năm ngoái” rồi bỏ lửng câu nói, ngồi im, và lại nói to bằng giọng ngạc nhiên, “Đêm hôm đó không phải đêm của năm tháng trước”... Và cả hai người đều biết rằng họ sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa nhưng chẳng ai nói ra điều đó. “Tạm biệt, Rat”, nàng nói. Và anh ta sẽ không đáp lời đâu, anh nghĩ, Không đâu. Anh ta sẽ không đáp lời, người đàn ông của các tối hậu thư, người được thời gian còn lại của đời mình giao cho những nghị định mà anh ta biết trước rằng mình không thể ủng hộ, người đã từ chối thực hiện lời hứa mà nàng không yêu cầu anh ta phải hứa và biết rất rõ điều đó; khuôn mặt hoàn hảo và không thể khuất phục đó hội tụ toàn bộ ánh sáng tồn tại trong căn phòng, sự khẳng định không phải về lẽ công bằng mà là sự đúng đắn không thể vặn vẹo được; và đồng thời cũng bi thảm vì trong cái đúng chẳng có chút gì của sự an ủi hoặc bình yên hết.
Đã đến lúc phải đi. Anh đứng dậy khỏi ghế đá và bước dọc theo lối nhỏ quanh co lát vỏ sò nằm giữa những cây trúc đào, hoa nhài và cam đang trổ hoa đồng loạt, tiến về phía cổng, bước ra đường phố giữa ban trưa. Chiếc taxi chạy tới, chầm chậm lượn vào khúc quanh; người lái xe mở cửa xe. “Ra ga”, Wilbourne nói.
“Ga liên hiệp?”
“Không. Ga để đến Mobile. Tới bờ biển.” Anh bước lên xe. Cửa xe đóng sập rồi xe chuyển bánh; những thân cây cọ đang tróc vỏ bắt đầu bị bỏ lại phía sau. “Cả hai đứa trẻ đều khỏe chứ?”, anh hỏi.
“Nghe này”, cô nói. “Nếu như chuyện đó xảy ra.” “Chuyện gì cơ?”
“Khi nào chuyện xảy ra anh sẽ biết.”
“Sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra hết. Anh sẽ ôm em. Đã lâu rồi anh không ôm em, đúng không nhỉ?”
“Đừng có ngớ ngẩn thế. Bây giờ chúng ta không có thời gian đâu. Đến lúc đó anh sẽ biết. Đi khỏi đây mau, anh có nghe em nói không?
“Đi khỏi đây mau ư?”
“Hãy hứa với em. Anh không biết họ sẽ làm gì với anh sao? Anh không thể nói dối ai cả, cho dù muốn. Và anh đã không thể giúp em. Nhưng đến lúc đó anh sẽ biết. Nếu chuyện ấy xảy ra anh hãy gọi một xe cứu thương hoặc cảnh sát và gọi điện báo cho Rat rồi hãy rời xa em thật nhanh. Hãy hứa với em đi.”
“Anh sẽ ôm em”, anh nói. “Đó là những gì anh hứa với em. Bọn trẻ khỏe cả chứ?”
“Khỏe”, cô nói; những thân cây cọ đang tróc vỏ nối tiếp nhau lùi về phía sau họ. “Chúng ổn.”
❀ ❀ ❀
[1] Đạo diễn điện ảnh nổi tiếng người Nga.
[2] Joan Crawford là nữ diễn viên nổi tiếng của Hollywood trong những năm 20 của thế kỷ XX.