Cô Thợ Thêu

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iv

❊ ❊ ❊

Khi chúng tôi chia tay nhau, Cô Thợ thêu và tôi, không phải là điều như người ta thường gọi là sự tan vỡ. Chúng tôi không nói với nhau chút gì về điều đó. Chúng tôi không bao giờ nói với nhau về tương lai.

Tôi rất yêu cô. Chúng tôi sống cạnh nhau nhưng chúng tôi không có cùng một thói quen, không cùng một thời gian, chúng tôi ít gặp nhau. Chúng tôi chưa bao giờ cãi cọ nhau. Không có lý do để phải cãi nhau. Chỉ đơn giản là chúng tôi đã rời bỏ căn phòng.

Tôi, tôi đã đi về một tỉnh lẻ, trong vòng tay một hay hai năm. Cô Thợ thêu trở về nhà mình. Chúng tôi sẽ tìm đến nhau thường xuyên, đó là điều đã thỏa thuận. Và sau đó, chúng tôi không hề gặp nhau. Điều đó đã được xác nhận rất nhanh. Đối với tôi. Nhưng đối với cả cô nữa, tôi tin thế, không bao giờ tìm để gặp lại tôi. Chúng tôi đã bỏ nhau cùng lúc với việc chúng tôi rời bỏ căn phòng.

Tôi rất nhớ rõ căn phòng ấy. Đó là căn phòng của một bà cụ già người Nga, không xa Trôcađêrô là bao. Một sự lăn lộn đau buồn. Bà cụ người Nga không bao giờ phải quét vôi lại căn nhà. Theo thời gian, những mảnh bụi đã khảm chặt vào tường. Những tấm rèm che lẫn vào với ô cửa sổ. Không phải là bẩn, mà là hóa thạch. Bụi bẩn không rời xa nữa, đã đóng lại như đá. Có lẽ phải tu sửa lại. Tôi đã quét lại căn phòng của tôi bằng ve trắng, quét đè trên cả những mảng bụi. Thế là biến thành toóc si.

Tôi có đặc ân được viếng thăm tất cả căn hầm của bà già Nga, bởi vì cụ tỏ ra có cảm tình với tôi. Tôi là người khách trọ không gây chuyện. Tôi trả tiền đều đặn nhờ những lớp dạy Latinh, và bà cụ vẫn thường đến đứng ở ngoài cửa các lớp học để nghe. Còn bà cụ thì dạy tiếng Nga cho bọn trẻ trong khu, nhưng tôi tin rằng bà cụ chẳng hiểu gì lắm về món ngữ pháp, của thứ tiếng này. Bà cũng không biết tiếng Pháp. Tóm lại bà nói không thành thạo lắm. Bà chẳng có thứ tiếng nào để mà diễn đạt. Bà đã học hầu như tất cả các thứ tiếng. Bà trộn lẫn chúng với nhau. Cũng chẳng có gì quan trọng, bà không thích nhiều lời. Điều cơ bản, chính là các con số. Bà già gần như lẫn cẫn này đếm số tiền phờ răng mới, trông thật đáng phục. Không hề có chuyện nhầm lẫn. Bà biết những từ cần thiết, và cách dùng những từ ấy nữa.

Bà rất mến tôi. Bà chỉ cho tôi xem tất cả các căn phòng, và cả những cái khăn trải bàn cùng những chiếc bàn một chân. Bà cũng có những đồ vật! Không hề bám bụi. Chắc là vào tất cả các buổi sáng bà phải lau chùi và đếm lại những đồ đạc bày biện.

Khi cô Thợ thêu đến cùng với tôi, với chút ít đồ đạc, tôi hơi sợ rằng bà già lẫn cẫn của tôi sẽ nổi giận. Hoặc giả bà tăng tiền, hoặc bà ta ám hại tôi. Bà đã từng nói với tôi rằng không được cho ai đến thăm, không được gây chuyện. Nhất là không được đưa con gái về! Cùng lắm là đưa bọn học trò của tôi, những đứa chỉ chạc tuổi mười hai mười ba. Quá độ tuổi đó bà phải dè chừng. Tôi cảm thấy con mắt bà lục lọi ở lỗ khóa.

Nhưng cuối cùng, bà ta đã chấp thuận cô Thợ thêu. Thực lòng tôi rất ngạc nhiên. Thậm chí bà còn cho cô ấy mượn bếp. Hai người đàn bà sống rất hòa thuận với nhau. Thật lý tưởng!

Bà cụ già ra sức làm chuyện môi giới. Đó là sở thích, ước muốn, là niềm vui cao nhất của bà. Buổi tối, bà thường đột nhập vào phòng chúng tôi. Bà muốn biết rằng chúng tôi hòa thuận với nhau, rằng do ngẫu nhiên mà chúng tôi không cãi cọ nhau (nhưng khi đó không có gì trầm trọng, và tự nó sẽ đâu vào đấy, tôi đã nhầm và mất bình tĩnh). Dù thế nào thì chúng tôi không bao giờ tranh cãi với nhau. Bà bịa ra những cuộc cãi vã đấy thôi.

Chúng tôi đã hai ba lần mời bà. Thậm chí cầu xin bà đến ăn cơm tối. Chẳng khi nào bà muốn đến. Dù thế nào đi nữa, chúng tôi chỉ là người thuê nhà. Chứ không phải là bạn.

Tôi tin rằng bà có đôi chút hy vọng rằng chúng tôi, cô Thợ thêu và tôi, sẽ cưới nhau. Bà có thể nhường cho chúng tôi một buồng khác nữa, một hôm bà đã nói là nếu chúng tôi muốn. Bà còn chỗ, còn khối chỗ. Bà vẫn còn năm, sáu buồng để chứa những cái bàn một chân, những tranh vẽ trên gỗ, những bóng ma của bà. Và sau đó rất nhiều lần bà kéo cô Thợ thêu ra một góc, hỏi cô rằng “cô có chú ý không”.

Bà nói chuyện với Pom thoải mái hơn với tôi. Tôi thường bắt bà phải nhắc lại. Và bà già Nga ấy không muốn người khác giả vờ không hiểu mình. Bà không muốn phải nhắc lại. Còn cô Thợ thêu chỉ hiểu tất cả. Với cô không hề có chuyện hiểu nhầm: tôi đã có kinh nghiệm về chuyện đó.

Bà già người Nga chỉ vẽ cho cô ấy về nghề thêu ren. Cô Thợ thêu rất ham học. Cô chẳng hề nuôi ảo tưởng. Cô không bao giờ nhìn thấy cái xấu. Họ cùng nhau làm những chiếc khăn trải bàn. Họ uống nước chè rất đặc. Họ ăn những chiếc bánh ga tô nhỏ. Họ kể chuyện cho nhau nghe, tôi tự hỏi không hiểu họ nói bằng thứ tiếng gì!

Khi tôi nói với bà già người Nga rằng chúng tôi ra đi, điều đó hẳn đã gây cho bà một cái gì đó. Tôi tin rằng bà đã quen với sự có mặt của hai chúng tôi, và bà luyến tiếc chúng tôi, hơn là luyến tiếc số tiền thuê nhà chúng tôi trả cho bà. Và tất cả tiền khí đốt chúng tôi trả từ khi bà cho chúng tôi mượn bếp.

Tính bủn xỉn, cái tính đã khiến bà tích trữ mọi đồ mỹ nghệ, tất cả những đồ vật xung quanh bà, có lẽ là một cách để chống lại sự cô đơn, chống lại cái mênh mang của ngôi nhà. Nếu như có ai thực sự đau khổ, vào lúc chúng tôi ra đi, có nghĩa là sự đổ vỡ giữa cô Thợ thêu và tôi, thì người đó chắc chắn phải là bà già người Nga.

Sau đó tôi chỉ gặp cô Thợ thêu có một lần. Rất nhiều năm sau, tôi vẫn dạy tiếng La tinh. Và sau đó dạy văn học. Mỗi tuần mười lăm tiết, cộng với ba tiết dạy thêm để trả tiền thuê nhà. Tôi không phải sinh ra để làm việc khác.

Và một hôm, tôi nhận được một lá thư. Lá thư được gửi từ Axnie hay Xurex, tôi không nhớ rõ lắm. Người viết thư nói rằng “cô gái đau ốm”, nhưng bây giờ cô đã khá hơn nhiều, và cô ấy “có quyền được tiếp khách”. Cô ấy hy vọng rằng tôi sẽ đến thăm cô ấy, nếu như tôi có thời gian.

Trong một lúc, ít nhất là một phút, tôi cứ hỏi đây là ai và về vấn đề gì. Trí nhớ của tôi giống như một chai dấm bị khuấy động. Làm như vậy cặn sẽ vẩn lên, mọi thứ lẫn lộn và đục ngầu. Cuối cùng tôi cũng tĩnh trí trở lại. Tôi chỉ gặp bà mẹ cô Thợ thêu có mỗi một lần, nhưng bà ta có một cách nói rất dễ nhận. Các diễn đạt, lối viết chữ nắn nót như trẻ con, chỉ có thể là của bà ta. Nhưng thế thì tại sao bà ta lại viết cho tôi? Tôi đã không gặp cô Thợ thêu từ nhiều năm nay. Lẽ ra tôi phải mờ nhạt đi trong tâm trí của cô ấy cũng như cô ấy phải biến khỏi trí nhớ của tôi.

Dường như khi tôi nhận ra chính khuôn mặt mình trong cuốn album của một gia đình xa lạ: đây là người đàn ông, đây là cô cháu gái trong ngày lễ thánh; đây là cả gia đình vào ngày cưới của người con trai cả, và đột nhiên, giữa những người ấy, giữa những người xa lạ, là khuôn mặt của anh! Đúng vậy, không thể nghi ngờ gì được, đúng là anh! Ngoại trừ việc… Khi đó anh hỏi: “Người này là ai vậy? - Ồ! Người này, đó là một người bà con xa. Anh ta sống ở nước ngoài”. Họ lật sang trang khác, nhờ trời! Và đây là những nhân vật mới, hoàn toàn xa lạ, hoàn toàn dửng dưng. Đây chỉ là một ảo giác, một sự giống nhau. Tuy nhiên, anh là người duy nhất để ý đến điều đó.

Nhưng dù sao thì bức thư này cũng có ý nghĩa rằng con người tôi có trong cuốn album đó, trong ký ứng của gia đình ấy. Thế là tôi đi đến địa chỉ viết trong bức thư.

Bệnh viện gồm ba hay bốn ngôi nhà, xung quanh là cây cối, cách thủ đô ba mươi ki lô mét, trên con đường đi đến Chart-es. Đang vào tiết tháng sáu, khách đến thăm, và người ốm ngồi trên những chiếc băng. Đến lượt tôi cũng ngồi với cô Thợ thêu.

Tôi có thể nghĩ rằng mình đang nghỉ hè cùng với cô, trong một thành phố có suối nước nóng, giữa những người khác cùng đến chữa bệnh (một số mặc quần áo ngủ). Nhưng trước mặt tôi là một con người gầy đến thảm thương và một cái nhìn như thôi miên. Những khoảng đất đầy hoa và bóng rợp nhẹ nhàng đung đưa của một cành cây ở phía sau khuôn mặt cô Thợ thêu là thuộc về thế giới khác. Tôi hỏi cô là cô đến đây từ bao giờ. Từ mùa xuân, còn trước đó? Chẳng có chuyện gì. Chỉ có bệnh tật. Cô không thể ăn nổi nữa, liệu tôi có thể hiểu được chăng? Điều đó còn mạnh hơn cả chính cô. Lẽ ra cô rất muốn, nhưng chẳng có gì xả ra. Đó là căn bệnh kỳ quặc. Thế là người ta đưa cô đến bệnh viện, lúc đầu ở Paris, sau đến đây. Bây giờ thì mọi chuyện đều ổn định; tôi không có gì phải lo lắng nữa. Nhưng tôi không lo lắng về điều đó, hay ít ra thì cũng không chỉ vì điều đó. Và tôi cố nài: Còn trước đây? Đã có chuyện gì xảy ra? Cô vẫn lặp lại “không có gì”.

Nhưng chính từ ba tiếng “không có gì” tôi phải hiểu rằng: đó là khoảng thời gian tính từ ngày chúng tôi chia tay nhau cho tới lúc này, trong đó đã tích tụ nỗi cô đơn vô tận của cái thân thể này, cái thân thể đã không thuộc cõi đời này nữa.

Và sau đó, vẫn không! Chẳng có gì thực sự mới. Cả trong khi tôi nói cũng chẳng gặp khó khăn gì, còn sự câm lặng của cô Thợ thêu thì lại càng sâu lắng hơn trước những lời lẽ của tôi. Hình thể của cô đã khác nhiều, nhưng càng nhớ lại những kỷ niệm về cô, tôi càng có cảm giác là cô vẫn không hề thay đổi. Vẫn là sự có mặt của cô trước mắt tôi. Cô không tỏ ra buồn bã chẳng hạn như vì phải ở trong cái bệnh viện này (nhưng trước đây tôi cũng chưa bao giờ thấy cô buồn). Đơn giản, cô là một người xa lạ, một người khác, một tù nhân không phải của bệnh viện, không phải của “bệnh tật” của cô, cô thuộc về cái xứ sở xa xăm mà ở đó cô chưa bao giờ ngừng tồn tại. Phải chăng đó là sự điên rồ của cô?

Tôi nghĩ đến cái “không có gì” vừa nói với tôi và tôi cố sức lấp đầy, có thể là với những cuộc phiêu lưu khác, như là cuộc phiêu mà chúng tôi đã sống chung với nhau. Nhưng cái “không có gì” ấy đã có biết bao nhiêu cuộc phiêu lưu như vậy, và đều đạt đến đích bằng cùng một cách: không có tiếng vang cũng không có sự hối tiếc phát lộ ra ngoài. Đến tận ngày cô Thợ thêu không chịu ăn, cô đã dứt bỏ cái núm vú khô cằn và xấu xí của cuộc sống của cô?

Khi đó sự dứt mình ra khỏi thế giới của cô là trọn vẹn và hoàn toàn tự giác. Những gì cho đến lúc đó chỉ là vô thức bây giờ đã biến thành sự chối bỏ. Chối bỏ nhân danh thể xác, nhân danh sự câm lặng chân thành

Và bây giờ là nghi thức tâm thần học, là những cái nhà chòi và những cuộc nói chuyện mơ hồ dưới bóng cây, vào lúc viếng thăm này: sự cách biệt của cô Thợ thêu chỉ có thể bị dồn từ sự cách biệt thuộc một loại khác. Cô đã có cái vẻ rụt rè, khốn khổ và lễ phép, đặc biệt là cái vẻ rất lễ phép của những người bệnh khác trong bệnh viện. Và sau nữa, chốc chốc lại có cái bóng trắng của một người hộ lý nhẹ nhàng lướt qua xé rách bóng lợp của cây lá.

Tôi hỏi cô Thợ thêu rằng bây giờ cô có thể tự nuôi nổi mình không. Cô mỉm cười một cách bí ẩn và lấy từ túi áo ra một cái bọc vải nhỏ, trong túi đựng những viên thuốc cô tích góp được bằng cách khéo léo tránh khỏi sự kiểm soát. Chính bằng những viên thuốc đó cô đã nuôi sống mình, cô nói với tôi như vậy. Tôi trách cô – một cách thật ngu xuẩn – rằng đã không uống hết phần thuốc của mình.

Một người đàn ông đi qua, nhìn chòng chọc vào chúng tôi. “Ông bác sĩ đấy, cô thợ thêu nói với tôi, chính ông ấy chăm sóc em”. Cái nhìn của người đàn ông bắt gặp cái nhìn của cô (phải chăng ông ta, cũng như tôi, tìm kiếm một tội phạm?) và sau đó ông ta quay mặt đi. Nhưng cô Thợ thêu đã đứng dậy. “Em sẽ giới thiệu anh với ông bác sĩ”, đột nhiên cô nói với một giọng vui vẻ. Chúng tôi lại ở trong một thành phố có suối nước nóng. Có thể nói là chúng tôi đang nghỉ hè. Tôi sắp được một trong những người bệnh giới thiệu với ông bác sĩ. Những viên thuốc trong cái bọc vải của cô Thợ thêu, cuối cùng, đó là những thứ ăn chơi, giống như uống nước khoáng, nói chuyện dưới bóng những cây dương, như ta đi dạo trong công viên, như ta chơi bài brit trong phòng khách sạn.

Cô Thợ thêu bước về phía ông bác sĩ và nhẹ nhàng gọi ông ta. Nhưng ông bác sĩ không quay đầu lại: ông ta vẫn tiếp tục bước tưởng chừng không nhìn thấy cô, không nghe tiếng cô gọi. Ông bác sĩ đã trở thành một nhà tâm thần học, một người gác bệnh nhân. Người ta không thừa thức ăn để mà vãi cho súc vật. Cô Thợ thêu lại ngồi xuống chiếc ghế băng, sau cửa kính, sau cái cũi của mình.

Tôi hỏi rằng cô có cảm thấy quá bứt dứt, quá đau khổ khi phải ở trong cái bệnh viện này không. Cô trả lời rằng đây là lần đầu tiên tôi đặt ra với cô một câu hỏi loại như thế. Cô có lý. Nhưng tại sao cô lại nhớ rõ đến như thế về tôi, về chúng tôi? Cô nhắc lại với tôi những cuộc dạo chơi ngày xưa. Trí nhớ của cô cực kỳ chính xác: những tấm bia ghi công trạng trong đền thờ, những con thuyền chạy qua, câu chuyện về Guyôm, người chinh phục. Thế mà tôi cứ tưởng rằng cô là người lãnh đạm và đãng trí! Phải chăng tất cả những điều ấy có một sức nặng nào đó đối với cô?

Một ý nghĩ, không thể chịu đựng nổi, rằng mình là người có tội cứ bám chặt lấy tôi, chừng như chính tôi là người đã làm cô điên, làm cô gầy gò vì bị giam hãm.

Tôi tìm mọi cách loại bỏ ý nghĩ ấy bằng cách nói đến những người đàn ông khác mà cô đã gặp sau tôi. Cô nói là rất nhiều; Cô kể với tôi những căn phòng khác và những cuộc dạo chơi khác, và cả những chuyến du lịch nữa: “Nước Hy Lạp, anh đã biết nước Hy Lạp chưa? Em đã đến đó, đến tận vùng Salôníc, anh có biết vùng đó không?”. Thế là nỗi lo âu rằng mình có thể là người duy nhất đã được giảm nhẹ đi. Cô Thợ thêu nhìn tôi vài giây, với một cái mỉm cười âu yếm gần như của tình mẫu tử. Dường như cô đã đoán được nỗi lo lắng của tôi, và cô thương hại tôi.

★— CÔ THỢ THÊU Nguyên tác: La Dentellière ebook©MotSAch —★— TVE-4u©BookaholicClub Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn 1991
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Pascal Lainé

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.