Cô Thợ Thêu

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ii

❊ ❊ ❊

Pom đang độ mười tám. Cô sống cùng với mẹ ở ngoại ô Pari, tại một nơi cạnh Xurexnờ hay Axnie gì đó. Trong một ngôi nhà lớn, cầu thang D, phòng F, được gọi đó là Khu phố của những Nhà Du hành vũ trụ.

Ở đây ta thấy Pom và bà mẹ ngồi cạnh nhau trên một chiếc đivăng bằng gỗ mun đen. Cả hai đều bất động. Cái nhìn trống rỗng của họ cùng hướng vào một góc, giống như chiếc ống kính máy ảnh vậy. Chính màn ảnh máy thu hình đã tạo nên một vầng sáng mờ đục, trên đó những vết bẩn của các bộ mặt được làm mờ đi như trên một tấm ảnh cũ trong cuốn an bom. Kìa Pom đang nằm sấp đọc một tờ đặc san. Mái đầu và tờ đặc san chỉ hơi cách ra đôi chút so với phần còn lại của người cô, hướng về phía ánh sáng cửa sổ, được chiếu rọi thêm bằng chiếc đèn ngủ treo trên tường cách cửa sổ không xa lắm.

Nói cho thật đúng là Pom không đọc mà lật từng trang báo. “Đột nhiên Giordano ôm chặt lấy nó. Nó muốn chống cự nhưng nó chợt thấy một cảm giác hoàn toàn mới lạ, dễ chịu, khiến cho cả người nó cứ run lên. Họ nhìn nhau và vào giờ phút này đã nảy sinh trong họ một cái gì đó. Giordano cảm thấy có một cái gì đó lan truyền khắp trong cơ thể... Một chiếc áo măng tô bằng sao chiếu sáng trên đầu họ trong khi họ chậm rãi đi lại, tay nắm chặt tay”.

Từ một năm nay, mẹ con Pom sống ở một căn hộ có hai buồng; tại đó bắt đầu một cuộc sống mới, cuộc sống có hoa cắm trong lọ và hộp đựng xà phòng trong nhà tắm.

Mẹ Pom đã thay đổi nhiều. Bây giờ bà mặc áo blu bằng nilông trắng khi làm bếp, hay khi không làm gì khi đứng bán trứng.

Bà cũng bán cả những chiếc kẹo sữa thơm, bán bơ đựng trong ca, bơ xắn từng cục và pho mát. Bà cầm con dao to hai chuôi, bà đặt lưỡi dao lên đầu miếng bơ tùy theo ý muốn của khách hàng và bà thường gạn hỏi: “Thế này nhé, hay hơn nữa?”.

Do sự tình cờ nào mà bây giờ “bà bán bar” và người hầu ở tầng trên lại trở thành người bán bơ và pho mát? Họa có Chúa mới biết nếu chính Người là tác giả của cái công trình đó. Vì thế, chúng ta chẳng nên đặt câu hỏi làm gì.

Buổi sáng, bà mẹ của Pom thường thức dậy rất sớm. Bà giúp các ông chủ rỡ hàng từ xe tải xuống. Bà chất đống những chiếc sọt rỗng trên vỉa hè cho những người nhặt rác. Sau đó bà đứng trông nom sau quầy hàng, nửa người phía trên của bà nhô lên giữa hai tảng pho mát. Buổi chiều bà về muộn, sau một động tác quỳ mọp xuống để chui qua tấm màn sắt mà ông chủ đã hạ xuống nửa chừng trước khi đóng sập hẳn (lúc mà những người khách trở thành những con vật thuộc loài bò sát dưới luồng ánh sáng cuối cùng, vẫn kéo đến kìn kìn khiến bà bán hàng càng thêm rối ruột vì lo lỡ ôtô buýt. Mà họ đến chẳng qua cũng chỉ để mua một mẩu bơ hay một nửa lít sữa mà thôi).

Sống ở thành phố, bà mẹ vẫn có một chút gì đó của đồng quê, và cũng như khi ở đồng quê, bà lại giữ một chút gì đó của thành thị. Luôn luôn sạch sẽ, nhưng không còn diêm dúa nữa. Bà đi những đôi giầy thấp, không còn bị đau chân nữa. Và ở vào tuổi bốn mươi này, bà đang tìm lại được cái vẻ thanh xuân của một cô gái quê, với đôi má ửng hồng khi trời nóng. Nhưng sự thay đổi quan trọng nhất không thuộc về thể xác. Ít ra thì cũng không phải là điều đáng ngạc nhiên nhất, như khi bà thanh thản cởi bộ quần áo đã sờn, để mọi người chiêm ngưỡng làn da của bà, được phủ một lớp kem mỏng màu hồng vào mùa đông.

Sự thay đổi thật sự là ngôi nhà, ở hai căn phòng có sàn gỗ được quét sơn bóng, ở những đồ mới tinh và ở gian bếp nơi lũ kiến ngự trị.

Buổi tối, chiếc tràng kỷ trở thành giường trải thảm màu trắng hay màu xanh da trời. Ánh mắt nhúng chìm trong màu sữa tươi của trần nhà, bà bán hàng và đứa con gái ngủ thiếp đi dưới những tấm chăn len màu hồng.

So sánh với ngôi nhà có khoảng vườn đầy mảnh chai vỡ trước kia, rõ ràng bây giờ là một sự giàu có mặc dù đó chỉ là những đồ đạc mua theo lối trả tiền dần: bàn, ghế, tủ buypphê, tràng kỷ đồng thời cũng là giường, hai chiếc ghế bành cùng kiểu, đều bằng gỗ mun đen, cùng được ghi vào một quyển sổ nợ với mười tám lần ba trăm bốn mươi phờ răng.

Điều này cũng hiện rõ đồ án thức uống, chất lượng mới của cuộc sống. Hai mẹ con chăm chỉ làm lụng để ăn. Họ tự nấu nướng. Nhà có một chiếc lò điện có kẹp nướng chả. Khi thịt chín nó tự dừng lại và đổ chuông như một chiếc đồng bồ báo thức. Do vậy mà Pom trở nên háu ăn. Đó là nét đầu tiên ở cô bé có vẻ như là một say mê; nhưng đó là một say mê thầm kín và những cử chí giữ ý của cô cũng giống như những sự giữ ý và e thẹn của các cô gái trẻ, cũng không thoát ra ngoài vè tròn trĩnh và hồng hào của tuổi thơ. Pom thích ăn đồ ăn ngọt, cá nhám, kẹo dồi và kẹo sôcôla. Nhưng đến bữa cô vẫn có thể chén một cách ngon lành như vậy cả tảng đùi cừu hầm đậu đựng trong một chiếc đĩa bằng sứ khá đẹp. Còn món nước xốt thì đựng trong chiếc đĩa nhôm.

Sáng sáng, cô bé đi làm bằng tàu điện. Cô xuống tàu ở ga Xanh - Lada và chạy lon ton đến thẳng hiệu uốn tóc, không đưa mắt nhìn sang các cửa kính hai bên đường. Cô mặc chiếc áo blu màu hồng. Cô liếc nhìn mình trong gương, tô điểm thêm tí chút.

Vào giờ này, những cô bán hàng nhỏ nhắn, những cô thư ký đánh máy hoặc chính xác hơn là những cô gái làm nghề uốn tóc ào ra đường phố, điểm thêm sắc màu cho đám đông vốn chỉ có một màu nâu.

Nhưng ngoài dáng vẻ xinh đẹp ấy Pom còn có những điều khác. Có thể là một vẻ đẹp, cho dù chiếc váy cô mặc chỉ cũn cỡn đến nửa đùi và chiếc áo pun quá chật.

Và sau hết, điều đó khiến cô trở thành một con người không rõ nét. Giữa những lọ nước hoa, những bánh xà phòng thơm, những cái hoa hòe hoa sói của hiệu uốn tóc, sự giản dị của cô lại thành ra bí hiểm. Vẻ quyến rũ của Pom chính là ở chỗ cô khác với mọi người, ngoại trừ chút khêu gợi tầm thường của cái ngấn gờ lên ở khoảng giữa áo pun và váy.

Tuy vậy vẻ quyến rũ này tạo ra một khoảng cách nào đó. Nó vừa hấp dẫn và giữ người ta ở trạng thái tôn trọng. Nó thu hút mạnh đấy nhưng vẫn ngăn cản người ta thực sự ý thức được nó. Cô không phải là người đĩ thõa, cả cách nhìn của cô cũng vậy. Thay vào đó, có thể có một sự sỗ sàng nếu như ta có thể đọc được cả những điều không được viết ra. Bởi vì sự trinh trắng này (trang “giấy trắng” này), nhưng ở đây cả đến sự trần trụi thật sự của một khuôn mặt không trang điểm (không hề có một ẩn ý nào) cũng không thể dẫn tới chỗ không sỗ sàng, sự sỗ sàng của một Xudan hay Xudôg nào đó bị bắt gặp ở bãi tắm, và được lặp lại nếu ta có thể nói là không hề có chủ định, không muốn được ai nhìn.

Miệng của cô chỉ được trang điểm bằng chính sự dịu dàng đầy đặn của riêng nó, hai hàng mi đôi khi khép lại vì cái vị trong lành của cuộc sống. Không một sự khêu gợi đáng ngờ nào trong một khung cảnh hòa bình sâu lắng đến như vậy. Nhưng Pom chẳng cần phải khêu gợi, cũng chẳng cần phải dâng hiến. Cô vốn đã được dâng hiến rồi, cũng như những cô gái khác bước vào độ tuổi này, họ có một dáng điệu chưa hoàn toàn thích ứng với những điều có thể xảy ra.

Cái giây phút kỳ lạ nhất của cuộc sống mà ngay cả những cô gái xấu nhất cũng rực rỡ hẳn lên vì niềm ước vọng có ở trong họ và không một âm mưu nào có thể làm mất đi được, Pom đã có lợi thế là giữ được giây phút ấy gần như vĩnh cửu.

Và cái chưa hoàn chỉnh phô bày ra như vậy lại biến thành một trọn vẹn, nhưng chưa chắc chắn, một sự phí phạm khó chịu đến trật tự bình thường của mọi sinh vật.

Chẳng phải đã có những người Pom yêu đó sao, vì vậy mà cái tuổi cập kê mười tám của cô, hay đúng hơn là những cảm xúc của cô, đã chấp nhận họ, cái cảm xúc đã làm cô rực rỡ thêm một chút khi họ nhìn cô.

Cô sẽ không nói là không biết nếu trước đó ta cắt nghĩa cho cô về sự cám dỗ. Chỉ cần một cái nhìn, ta có thể làm cho cô biết rằng cô mong đợi điều gì. Chắc chắn là cô sẽ thuận theo, không phải với người đàn ông; với cô, phong thái và tuổi tác của người đó chẳng quan trọng lắm, mà vì cô phát hiện được trong mình một nhu cầu mới mẻ làm cô bừng nở vào giây phút cô lãng quên đi tất cả.

Nhưng cô đã ở phía lề đường bên kia: cô đi hơi quá nhanh trên đường phố để cho người khác nảy ra ý muốn đuổi theo. Buổi sáng rời khỏi giường cô hoàn toàn thỏa mãn với giấc ngủ không hề bị quấy phá giống như một cái ôm siết chặt, thân thể cô mang nặng nỗi nhớ tiếc mà ban ngày, đám đông và ngay cả sự xô đẩy cũng không thể làm mất đi được. Cô vấp ngã xuống đống tuyết còn nguyên vẹn từ đêm hôm trước. Điều đó chẳng gây hại gì cho những người khác vào cái giờ phút u sầu tượng trưng sự đầy đủ trọn vẹn này. Người đàn ông nào ngắm nhìn cô cũng không thể không nhận thấy rằng đó chính là mình và cái nhìn của mình, khâu cơ bản, nhưng vẫn còn thiếu, của cái kết cục hoàn hảo và nguyên vẹn này. Chính vì thế mà người đàn ông ấy đã xuống trước hoặc sau ga mình phải xuống; tuy nhiên trừ khi trời mưa, không phải ngày nào, Pom cũng đi tàu điện từ Xanh - Lada đến Nhà hát kịch.

Pom không biết uốn tóc, cắt tóc hay nhuộm tóc. Người ta thuê cô làm công việc thu nhặt những chiếc khăn mặt đã đùng. Cô lau chùi các công cụ. Cô quét tóc rơi vãi trên mặt đất. Cô xếp lại thành chồng những tờ báo Nước Pháp trong ngày bị vứt bừa bãi. Cô lau mũi bằng một chiếc khăn mùi xoa kẻ ô.

Cô cũng gội đầu cho khách, kỳ cọ những đám da đầy tóc của các bà khách với một sự chăm chút vẫn có trong cô. Cô còn có thể chăm chút hơn nữa. Chỉ cần bảo cô một tiếng.

Khách là những bà mệnh phụ đã có tuổi, giầu có lắm mồm. Thực ra họ đều một giuộc những mụ già bà ba hoa bất trị.

Nhưng cả những cặp kính lấp lánh, những đôi môi màu hoa oải hương dưới màu xanh da trời của mái tóc, cả những ngón tay đeo đầy đá quý cùng những vết nâu, cả những chiếc túi cá sấu hình như cũng chẳng thể làm Pom chú ý đến; cô hoàn toàn đắm mình vào việc pha thử trên mu bàn tay mình một thứ nước không quá nóng cũng không quá lạnh để dùng cho những mái tóc, và một khi nó đã ướt rồi thì tóc nào cũng giống như tóc nào thôi.

Với sự cung kính mỉa mai, cô đặt ngửa một cách nhẹ nhàng cho những mái đầu dựa vào những chiếc ghế xoay, nửa trên người họ được phủ bằng một chiếc khăn tắm trắng, và mái tóc ướt bị xà phòng dính bết lại, làm thành những đám tảo trôi lập lờ trong những cái chậu men trắng to tướng.

Những đôi mắt với đôi lông mày vẽ thêm cũng chẳng nhìn thấy gì nữa, những đôi môi đỏ mọng máu dưới đầu mũi, và những khuôn mặt bị lật ngửa ra bây giờ biến thành những tàu lá bị nhúng ướt, trong suốt, trừ những đường gân, trôi nổi theo dọc bờ sông.

Kể cũng lạ lẫm nhưng chẳng có gì đáng sợ, những khuôn mặt lập lờ trên mặt nước, những khuôn mặt của những bà Ophéli già cỗi bị mất đi quyền lực thống trị của mình trong chốc lát và không những thế, nó còn là đối tượng để Pom nhìn bằng con mắt khinh rẻ. Và cô tự nhủ mình rằng cô có xấu thì cũng không bao giờ đến mức ấy. Chẳng bao giờ đột nhiên cô lại như thế. Nếu cô có những ý nghĩ độc địa, nếu như cô không chỉ mơ hồ cảm thấy trong lòng một sự thù hận vào lúc người ta cho cô tiền thù lao, sự thô bạo kinh khủng của những mụ già ăn thịt người (tỉ dụ như cách thức họ mở và đóng đánh roạt một cái những cái ví của họ), có lẽ Pom sẽ còn thú vị hơn khi được ngắm nhìn họ, những con người hoàn toàn bị chinh phục, hoàn toàn tan biến đi dưới những chiếc mũ sấy tóc, đầu bất động, gần như là vô tri vô giác, luôn kiêu căng và đe dọa mọi người, mà giờ đây lại hoàn toàn quy phục. Tóm lại, Pom đôi khi đã ngắm nghía họ khá lâu nhưng cũng chẳng hề lấy đó làm vui.

Marylen, có một cô có tên như vậy (thì ta cứ giả định thế).

Chị đã từng thì thào những lời hoa mỹ sau một chiếc quạt hay sau chiếc ống nhòm cẩn xà cừ cầm tay trong lô của mình ở Nhà hát kịch. Chị đã từng có bộ tóc màu nâu chải rẽ thành hai mái có đường ngôi ở giữa. Chị đã từng nghiêng cái màu ngà của đôi vai trần của mình về một phía một người đàn ông có chiếc cà vạt trắng trên một chiếc áo dài đen, với một cử chỉ mơn trớn có ý để phô ra bộ ngực của mình nhưng lại đặt chiếc quạt lên miệng làm bộ e dè. Đó là những điều mà chị đã thấy trong phim ảnh. Thế nhưng trong cuộc sống thực chị ta lại không nén nổi để khỏi bật ra tiếng cười đường đột, đến nỗi tóc trên đầu bỗng nhiên biến thành đỏ rực và miệng thì ngoác ra.

Dầu sao thì Marylen vẫn là một cô gái đẹp. Chị có vóc người to lớn, bộ mông dài mềm mại núng nính. Chị luồn qua hết người khách này đến người khách khác trong cửa hiệu: đó là một khu rừng, khu rừng đại ngàn đang chiếm chỗ những đổ nát của lâu dài Ăngco.

Tuy nhiên người nghệ sĩ cũng sẽ không thể quên nhắc đến một cái gì đó cuối cùng là nỗi khốn cùng của loài người đẹp hoang dã, quyết liệt, hung hăng và thích leo trèo này. Và cuối cùng, Malylen cũng đã hiểu ra rằng làm một người đàn bà đẹp như thiên hạ vẫn thường nói quả là hết sức mong manh, có thể bởi vì chẳng có gì khác để mà nói nữa. Do vậy mà mới có sự lưỡng lự giữa cái lãng mạn, cái tao nhã, cái tại sao không cao thượng và tính dung tục lộ rõ của cái kiểu cười ầm ĩ, loảng xoảng như người ta xếp một chồng đĩa vào chậu rửa bát.

Cuối cùng, Marylen tự hỏi rằng liệu thực ra đây có phải là nơi cần phải nói năng, đi đứng một cách ý tứ hay không? Nói gì thì nói, như thế cũng thật là ngu xuẩn. Thế là chị cứ làm ầm ĩ lên một cách xuẩn ngốc. Lối tự biện ấy cũng chẳng tốt gì hơn những cách khác, nhưng có thể nó sát hợp hơn với bản chất sâu xa của Marylen. Trừ phi mọi người không đưa ra giả định là Marylen chẳng hề có “bản chất sâu xa”.

Vào lúc này, chị đã ba mươi tuổi, có một bộ tóc hung, trong túi có một chiếc bật lửa của hãng Cáchiê. Trước kia chị từng có bộ tóc vàng, khi đó người ta gọi chị là Marlèn. Điều này đối với chị cũng chằng có gì là bất tiện. Chị đã từng thích những chiếc áo dài có kim tuyến cơ mà.

Chị ở căn hộ buồng (số XVI, gần Rừng. Sang trọng. Phòng rộng 30m2. Có thang máy, có nhà tắm, có một gian bếp). Liệu mọi người có hình dung được rằng ngôi nhà đó nằm trong một cái chái nào đó ở Xanh Mô không? Trên hình thức, căn nhà này cấm cửa đối với những ngài đại diện, những kẻ lùng sục, những người mách mối.

Mỗi tuần hai tối. Malylen tiếp một người đàn ông trạc tuổi ngũ tuần, tóc hai bên thái dương đã bạc trắng, cằm vuông vức và có cái nhìn sắc nhọn. Tuy nhiên (tại sao lại “tuy nhiên” nhỉ?) con người này làm chủ một hãng quảng cáo. Một cái máy ngốn công việc, ông ta chỉ có thể chơi quần vợt vào sáng chủ nhật mà thôi.

Marylen dành cho Pom một tình bạn. Chị cảm thấy rõ rằng Pom sẽ không gì có hại cho mình, rằng Pom sẽ không làm mình hỏng mông hỏng ngực. Và tình bạn của Marylen có chiều trở thành một sự bảo hộ tử tế.

Nhưng đồng thời, với chị, Pom cũng là một bí ẩn. Chị và Pom không chiếm cùng một khoảng sinh tồn. Và Marylen cứ muốn giữ trong tay mình điều bí ẩn ấy vì cũng chẳng có cách nào để khám phá. Ở chỗ nào mà chị nhìn thấy, ở chỗ mà sự ngây thơ có hiệu lực, thì ở đó có một sức mạnh tiềm ẩn xa lạ một cách không chịu nổi đối với Marylen, cũng như một tiếng động đột khởi giữa đám đông trên tàu điện ngầm.

Chắc chắn Marylen cũng không nổi cáu để làm đụng chạm tới cái điều bí ẩn đó. Như vậy, hợp lẽ hơn cả là tìm cách chấm dứt nó đi. Và chỉ có thể làm được việc đó bằng cách phá đi những gì thật sự khác biệt trong con người Pom.

Quả thật đó là điều mà chị đang cố làm. Thoạt đầu chị đã nói với Pom: “Em không thể làm đỏm theo cái kiểu đó được, em không thể không trang điểm được”. Pom đã học cách trang điểm, nhưng cô vẫn giữ được vẻ tươi tắn như trước, dưới lượt phấn mỏng mà cô vẫn chưa biết cách thoa. Và Marylen suýt nữa đã bực mình.

Marylen mời Pom về nhà mình. Họ mày tao chi tớ với nhau. Pom lên nhà bằng thang máy vẫn thường cấm dùng đối với những người giao hàng và uống uýtxky. Trước đây cô chẳng thích thú gì thứ rượu mạnh đó.

Pom ra về trước khi ông bồ của Marylen đến. Đôi ấy thuộc loại chỉ ăn ở nhà hàng và chỉ làm tình sau khi ở nhà hát về.

Pom chưa bao giờ nhìn thấy ông bồ của Marylen và Marylen cũng chưa bao giờ nói với bồ về Pom. Điều đó cũng bình thường. Marylen báo Pom đi trước khi bồ đến, cũng như người ta sửa sang lại đầu tóc khi đi ra ngoài phố. (Xin hãy cho phép! Xin hãy cho phép được đặt câu hỏi: Liệu Marylen có e sợ chút đỉnh khi để cho nhà quảng cáo nọ nhìn thấy cô gái vừa thô lỗ vừa xinh đẹp này chăng? Và sau nữa, dù sao thì Pom cũng là sự đối lập với cái Marylen muốn người khác nghĩ về mình. Đó chẳng phải là những lý do hay sao? Và chắc là còn những lý do khác nữa!).

Pom tròn mười tám tuổi vào tháng Năm. Marylen được mời đến. Họ ăn món vai cừu.

Marylen tỏ ra rất dễ thương, đối với bà mẹ của Pom tuy chỉ mới gặp lần đầu. Chị ta ăn mặc giản dị hơn ngày thường vì biết rằng mình đi đến nhà của những kẻ khiêm nhường. Không phải Marylen không tinh tế, ngoại trừ tinh tế một cách quá đáng. Cách cư xử ăn mặc của chị ta chứng tỏ rằng chị ta đến ăn cơm ở một gia đình nghèo và chị luôn cố gắng để đừng tỏ ra vụng về. Bà mẹ Pom không hề nhận thấy điều đó. Nhưng Pom tỏ ra biết ơn vô hạn đối vớí Marylen; sự biết ơn hòa trộn với tình cảm hổ thẹn mỗi lúc một tăng. Marylen nhận thấy mọi thứ đều tốt và “cảm ơn” rõ to mỗi khi người ta tiếp thức ăn hay rót rượu cho mình. “Xin hầu cô”, mẹ của Pom vẫn nói vậy, trong khi Pom lại muốn mẹ mình phải nói khác đi. Cô cảm thấy như mình là người có tội, còn tội gì thì cô cũng chưa rõ.

Pom bị hút vào trạng thái mơ màng ấy một hồi lâu. Có vẻ như cô đang tìm những ngọn nến trên dĩa bánh ga tô trong đó Marylen còn để lại một nửa phần của mình (hình như cô ta không thích của ngọt). Kỳ thực Pom chẳng nhìn thấy gì sất. Cứ cho là cô đang cảm thấy dửng dưng và sầu muộn. Chẳng hạn dửng dưng với cái phần bánh ga tô của Malylen còn để lại trong đĩa. Cô không muốn cử động; cô đã quá mệt mỏi: chân tay mềm nhũn ra và nặng trình trịch, đôi vai như bị mỏ neo ghì xuống. Cô để mình trôi giạt vào sự cám dỗ mênh mông của cảm giác tự chán ghét mình.

Chiều hôm đó trời đẹp, Marylen dẫn mọi người vào rừng Bulô. Họ đi xem hồ. Pom vẫn nghĩ ngợi, cô chẳng biết làm gì hơn. Bà mẹ cũng chẳng nói gì, bà e rằng nói ra những điều buồn chán. Có lúc bà nói: “Tôi ngồi đây. Các cô cứ đi dạo đi. Lát nữa qua đây đón tôi”. Tuy vậy họ vẫn đi bơi thuyền. Họ trả tiền thuê thuyền mất hai mươi phờ răng, cộng thêm phần tiền thưởng dành cho người đàn ông tốt bụng đã giúp họ bước lên thuyền. Họ rời khỏi bờ một cách khó khăn; người đàn ông tốt bụng lại đẩy giúp thuyền bằng chiếc sào của mình.

Marylen rất vui thích vì có những gã đàn ông ở các thuyền khác dùng bơi chèo đạp mạnh cho nước bắn lên người họ. Bà mẹ thì hét lên rằng thuyền sắp bị lật và bíu chặt lấy mạn thuyền, và bà ngồi thụp xuống. Pom vẫn chèo, cô chèo với nỗi vui thích hệt như một trẻ nhỏ; cô dần dần lấy lại được tính nhất quán và sự yên bình, sau mỗi lần khua mái chèo.

Chỉ vài ngày sau đó, Marylen và người đàn ông có chiếc cằm vuông phải rời bỏ nhau. “Lẽ ra phải làm điều đó sớm hơn nhiều” Marylen nói như thể giải thích. Chị còn nói thêm là mình đã đánh mất năm năm đẹp nhất của cuộc đời (vào những ngày thứ hai và thứ sáu) với một người thô lỗ; nhưng như thế cũng chẳng sao, bởi vì đàn ông đều thế cả thôi mà. Bằng cách nào đó Marylen đã biểu lộ một sự thông minh của chính mình chứ không phải của những gã đàn ông.

Thây kệ! Chị ghét tuốt, tất nhiên, bọn con trai, những con đực, những gã làm nghề quảng cáo. Cả những chiếc xe ôtô Apha - Romêo, cả những nhà hàng có nhạc digan, tầng thượng của nhà Phukê và những chiếc áo sơmi của hãng Lanvin. Chị ta dẫn dắt Pom đi vào những quan niệm mới của mình về các “sự vật”. Pom lắng nghe không nói một lời: tất cả những điều này rồi cũng chẳng ngăn được Giordano, tay luật sư trẻ, ôm Lina, cô thư ký trong vòng tay âu yếm và đầy sức mạnh của mình. Hai làn môi hòa quyện vào nhau trong một chiếc hôn trinh tiết với vô vàn hứa hẹn. Chiếc áo khoác sao trời vẫn ngời sáng, vân vân.

Trong cả tháng sáu, Pom trở thành người bạn thân tình của Marylen. Tối nào hai người cũng cặp kè bên nhau và cùng ăn sáng ở nhà Marylen. Pom không cần phải rút lui để nhường chỗ cho người đàn ông có cái nhìn sắc nhọn.

Pom đã nhiều lần ngủ ở chiếc giường to. Bên cạnh Marylen. Buổi sáng, cô cố tìm cách dậy trước nhất và chuẩn bị bữa điểm tâm. Marylen làm giây món mứt cam ra cả mặt. Họ cùng tắm với nhau. Cùng kỳ lưng cho nhau. Marylen hôn phớt vào cổ Pom và nói rằng đàn ông là đồ con lợn.

Mẹ Pom rất hài lòng với con gái mình về sự qua lại thường xuyên ấy. Bà dành cho con gái những lời khen trịnh trọng về tình bạn của cô với Marylen. Những lời  khích lệ ấy, cái lối nịnh nọt dễ thấy trước ấy khiến Pom hơi buồn chán. Có thể Marylen là người dù sao thì cũng tốt hơn cô rất nhiều, nhưng Pom không hề muốn mình giống như Marylen, ngay cả khi cô cảm thấy cô có thể như vậy trong một ngày nào đó. Dưới một tâm hồn ngay thẳng, Pom còn có một cái nền của sự thông thái, tuy chưa được phóng thoát song tự nó đã thể hiện bằng một khả năng lớn lao của sự chấp thuận; cô thuộc loại những người khiêm tốn, trong những người khiêm tốn đến độ được tận hưởng cái hạnh phúc rất hiếm hoi là tự bằng lòng hết mức với chính mình: trừ một chút khó chịu thoáng qua trong bữa cơm sinh nhật, Pom chưa bao giờ biết đến một nỗi lo cháy bỏng là mình sẽ trở thành người khác. Cô không muốn để mình có vẻ đẹp của Marylen. Cô chiêm ngưỡng vẻ đẹp ấy, chỉ đơn giản vậy thôi. Vả lại, sự chiêm ngưỡng có thể không hẳn đã không có sự dè dặt. Pom đã đạt đến cực điểm của tính ngây thơ, đến đỗi nhiều khi cô ta nhìn hau háu vào người này, vật nọ.

Bây giờ thì Marylen hoàn toàn tự do. Cần phải tận dụng điều đó. Thế là chị ta cố tô điểm cho sự hờn dỗi của mình bằng những sắc màu diêm dúa nhất của tình bạn. Chị ta đã có Pom. Sau đó chị ta đã tình cờ gặp lại một trong số những bạn cũ. Chị này đã lấy chồng và chồng chị lại vừa mua một ngôi nhà ở vùng quê, không xa Pari lắm. “Cậu cần phải nhìn thấy ngôi nhà ấy”, tất nhiên bạn cũ phải nói với chị ta như vậy. Marylen và Pom đã đến đó để ăn mừng ngày 14 tháng bảy[1].

Đó là một trang trại cũ vừa được tu bổ lại. Trần nhà được đỡ bởi những xà ngang rất đẹp. Ống khói vừa được làm lại và nom không có vẻ thôn dã lắm. Người ta cũng đã thay gạch lát nền cũ bằng loại gạch mới ở địa phương. Thật không chê vào đâu được.

Các buổi chiều, ba chị em Marylen, Pom và chị bạn ngồi trong những chiếc ghế dài trong mảnh sân cỏ bắt đầu mọc, chiếc ghế luôn luôn được chuyển dịch theo hướng mặt trời. Trong khoảng thời gian ấy, anh chồng của chị bạn chơi quần vợt ở trang trại bên cạnh.

Trong lần kết hôn trước, ông ta đã có một đứa con trai mười bốn tuổi, xấu xí và to lớn, cậu này đang cố phá đi cái kho thóc cũ vì “nó vướng tầm mắt”, như bố cậu nói.

Cậu quý tử sở hữu bộ mặt xấu xí đỏ lừ như mặt đứa trẻ sơ sinh, với cặp môi to bè, hai má đỏ lựng, mũi hơi tẹt. Cậu ta quá mập so với tuổi (gáy trần, da trơn tuột và đỏ bầm vì phơi nắng, quần thì cứ như sắp tụt. Chắc là Pom rất muốn cậu ta mặc thêm một chiếc áo sơmi). Ghê hơn cả là cậu ta có một cái nhìn xảo trá.

Cậu ta vung chiếc búa tạ to tướng lên với bộ mật hớn hở và mỗi khi một mảng tường bung ra là cậu ta lại hét lên vì vui sướng. Marylen gọi cậu bé là Tácgiăng và chọc tức cậu. Chị ta giả bộ coi cậu chàng như một đứa trẻ con (một trong những cách trêu tức mà chị ta không thể không dùng). Nhưng cậu ta thì lại chỉ nhìn Pom. Cô chẳng thích cậu con trai này, cũng chẳng thích cái nhìn của cậu ta cứ như dính chặt vào mình. Cô chẳng biết làm cách nào để thoát được.

Không lúc nào cô muốn cởi áo quần. Marylen thì cứ nài nỉ: “Chị bào đảm với em chẳng ma nào nhìn thấy chúng mình đâu” (Chị ta và người bạn kia thì chẳng mặc gì trên người, che một mẩu giấy hình tam giác ở chỗ tế nhị nhất). Nhưng Pom thì cho rằng cậu con trai đang vung chiếc búa phá tường kia không thể “không là ai” được. Cô chỉ bằng lòng sắn cao ống tay áo và cởi hai chiếc cúc ở trên cùng.

Ngày đầu tiên họ chủ yếu bàn về những công việc đang làm. Marylen nắm bắt được những lo lắng của bạn mình, đến nỗi chính chị ta đã đứng ra chỉ huy các nhóm thợ nề, thợ quét vôi và thợ làm vườn. Chị ta còn có ý kiến về cách bài trí vườn tược, cứ đơn giản như là trang điểm cho mình vậy: cần phải loại bỏ trang trại ở phía xa kia vì nó phá vỡ độ dốc thoai thoải của quả đồi; cần phải trồng một cánh rừng, hay ít ra thì cũng là một khoảng rừng, để che đi cái đường tàu hỏa vì dây cáp điện của nó phá mất vẻ đẹp của đường chân trời. Chị bạn của Marylen lắng nghe tất cả, chị cứ để cho Marylen nói nhưng chị biết rất rõ rằng chị mới chính là chủ của ngôi nhà này.

Ngày hôm sau trời càng nóng hơn. Pom tìm được cho mình một chỗ có bóng râm, hơi cách xa hai người phụ nữ kia. Chị bạn của Marylen có một bộ ngực đồ sộ. Chị đứng lên để đi tìm nước trái cây trong bếp. Chị cố giữ cho đôi vai ngả về phía sau, bước từng bước rất ngắn, nhưng ngực, mông và cả cặp đùi vẫn cứ núng na núng nính. Marylen, tuy ở nhà thuê nhưng lại có một tấm thân trần cao quý và cực kỳ sang trọng: bộ ngực nẩy nhưng chắc, lộng lẫy kiểu phương Đông, đẹp như tượng, nước da bóng lên nhờ ánh nắng mặt trời.

Ngồi trên làn vải hâm hấp của chiếc ghế dài, Pom cảm thấy hơi buồn chán. Cô chỉ nghe lõm bõm tiếng hai người đàn bà tán gẫu và cười khanh khách. Cô nhìn họ qua hàng mi bị mớ tóc che khuất. Rồi cô thiu thiu ngủ trong vùng bóng râm nhỏ bé của mình. Tiếng cười của Marylen vẫn vọng đến, tựa như tiếng những viên đá kêu lanh canh trong chiếc cốc thủy tinh. Một tràng cười hô hố từ phía cao hơn đổ xuống đột nhiên đánh thức cô dậy. Trước đó một phút, Marylen và chị bạn vừa nói to hơn. Họ ngắt lời nhau và sau đó đột nhiên im lặng. Marylen làm cho cả người chị bạn bóng loáng lên một lớp kem màu đồng. Pom nhìn họ có thể là với một sự chăm chú nào đó nhưng cô không thể nói được thành lời. Sau đó cô nằm ngửa duỗi dài trên bãi cỏ. Tiếng cười lúc này nhường chỗ cho những tiếng thì thào, và Pom không thể không vểnh tai lên để lắng nghe. Họ nói với nhau những câu chuyện mỗi lúc một sỗ sàng. Cô chưa bao giờ nói những điều như vậy nhưng có nghe cũng chẳng đến nỗi chán. Cô nhìn những giọt mồ hôi lăn tăn trên cổ mình, ở nơi mà cô vừa cởi cúc ra. Bây giờ thì đến lượt cô cũng muốn cởi hết quần áo để có thể cảm thấy luồng không khí mát rượi lướt qua giữa hai chân. Nhưng cô không thể cử động được. Mặt trời và những lời nói dâm đãng của hai người đàn bà kia làm cô mụ mẫm đi và trở nên bất động, tựa hồ như có một bàn tay đè chặt lên bụng.

Gã đàn ông mà chị bạn của Marylen vừa nói đến chắc là người tình của chị ta, Pom tự nhủ. Người vợ trẻ đột nhiên dừng lại. Chồng chị ta đang đứng ở của để gọi: “Các bà chú ý nhé! Tôi đến đấy, mà không chỉ có một mình tôi đâu!”. Pom quay lại và nhìn thấy bốn chàng trai mặc quần soóc trắng đang từ từ tiến lại, họ nom có cái vẻ thể thao và ung dung lắm. Marylen và chị bạn giả bộ mặc quần áo mãi không xong.

Khi không phá cái kho thóc cũ nữa, cậu bé có cái nhìn thâm hiểm rút lui vào những bụi cây nhỏ quanh trang trại. Hoặc cậu ta chọc ghẹo con chó nhỏ thuộc giống chó béc ghê Đức, con chó này sẽ đảm nhiệm việc giữ nhà. Thoạt đầu cậu ta tát yêu vào mõm con chó nhỏ, trong khi con này làm điệu bộ như là muốn cắn. Đến đó cuộc chơi kết thúc bằng hai hay ba cú đá khá đau vào bụng con vật. Hoặc cậu ta đọc hàng chồng tranh truyện: trên trang bìa có những hình người với những kiểu cười thật đáng sợ, được trang bị đến tận răng, đầu đội mũ sắt, được họa sĩ thể hiện vào cái lúc đẫm máu nhất của cuộc giao tranh. Những quyển sách bị cậu ta vứt bừa bãi ở trong nhà và cả ngoài bãi cỏ. Pom tò mò lật xem và cảm thấy vui khi nhìn thấy những bộ mặt nhăn nhó.

Cậu con trai để ý sự thích thú của Pom vì cậu ta lúc nào cũng rình mò cái cô gái không chịu cởi quần áo ấy. Cậu ta ngồi xổm trên cỏ, ngay bên cạnh Pom. Vừa đưa đôi mắt bò dần lên bộ ngực của Pom, cậu ta vừa nói với cô rằng nếu cô muốn, cậu ta có thể cho cô xem cả một bộ sưu tầm các loại tranh truyện. Pom hơi tự trách mình vì sự ghê sợ của mình đối với cậu bé vạm vỡ này. Cô theo cậu ta vào phòng.  Trên sàn nhà, và trên tường có vô khối những khí giới dùng để đâm hoặc để đập (sau này cô mới biết), cả súng nữa. Trên mỗi chiếc giá, Pom nhìn thấy những con vật nhỏ được nhồi rơm và cậu bé lấy làm hãnh diện mà khoe rằng chính mình hạ được.

Sau vài phút, Pom nghĩ rằng cuộc viếng thăm cái nhà xác thế là xong, nhưng về phía cậu bé, cậu ta lại thấy có trong tay một cuộc mổ xác. Dù sao thì cậu ta, nửa thân mình phía trên đỏ ửng lên và cứng nhắc, cũng đã đứng chặn ngang giữa Pom và cửa ra vào. Tình huống trở nên thật khó xử.

May sao đúng lúc đó Marylen bước vào. “Hai người đang mưu toan gì đấy?” chị hỏi rất to. Sau đó, chị nói rất khẽ với Pom: “Em không nhìn thấy sao? Suýt nữa thì nó nhảy bổ vào em đấy!”

Pom chạy như bị ma đuổi xuống cầu thang, theo sau là Marylen và cậu bé, lúc này mặt đỏ như gấc.

Buổi tối, ở trong buồng, Marylen vừa cười vừa nói với Pom: “Này, thế là lần đầu tiên em chinh phục được người khác rồi đấy nhé!”. Pom trả lời rằng cô sẽ không quay lại ngôi nhà này nữa.

Pom đi mua mấy chiếc bánh kem. Lúc trở về cô phải chạy gằn vì kem ở bánh đã bắt đầu chảy nhòe nhoẹt ra bàn tay. Ở hiệu uốn tóc họ thường chỉ mở tiệc trong năm phút. Có bà thủ quỹ, có anh chàng Giăng Pie (những bà mệnh phụ có những chiếc túi bằng da cá sấu đã gọi điện đến trước đó một tuần để có thể được Giăng Pie uốn tóc cho). Tất nhiên là có cả Marylen và Pom.

Giăng Pie đã có lần để quên một mụ lố bịch với chiếc mũ sấy tóc trên đầu trong góc của hiệu. Mụ ta vẫn còn cựa quậy. Phần lớn các mụ ấy đều đã ở Canari[2], hoặc đi bằng máy bay đến đây. Trừ một vài người đi bằng tàu thủy.

Pom đã quét đi những mẩu vụn bánh kem cùng với tóc mà người ta không mang theo lên máy bay. Marylen lúc đó ngồi ở một trong số những chiếc ghế xoay và giũa móng tay. Giăng Pie đọc tờ Equipe[3]  và huýt sáo. Bà thủ quỹ, béo quá cỡ và chắc là phải chảy mỡ ra ngay từ khi mới nứt mắt, đọc những lá số tử vi trên tờ Nước Pháp trong ngày.

Mọi người nổi cáu lên vì cái mồm liến thoắng của bà ta:

“Cô là cái thá gì”

- Là con bò tót, - Pom trả lời trong khi vẫn tiếp tục lia chổi một cách máy móc dưới chân tường.

- Người ta bảo bà phải chăm sóc trọng lượng của bà đấy.

- Đúng đấy, bà ăn khí nhiều bánh, - Marylen khích nhẹ một câu.

Trong khi đó, cậu bé có cái đầu con nít, mà người ta để lại một mình suốt cả tuần trong ngôi nhà ở vùng quê, vẫn điên cuồng nghĩ đến hai chiếc cúc để hở ở trên ngực Pom. Ở Paris, bà mẹ nuôi của cậu ta (cái bà mà đáng lẽ ra cậu phải gọi là dì ghẻ) vội vàng lồng vào người bộ quần áo mỏng dính (lúc đầu bà ta đã quyết định không mặc đến bộ đó vì nó lộ liễu quá).

Ở Surexơ (hoặc ít ra là ở Atxnie) bà mẹ Pom thông báo cho các ông chủ rằng pho mát Camănbơ không thể để đến buổi chiều hôm đó. Cả pho mát Bri cũng không chắc chắn gì hơn. Lại còn cả pho mát Pông Lêvếch nữa (thưa Đức ông, quả là một cuộc xoay vòng). Bà cân nhắc giữa cái thảm họa sẽ xảy đến với cái cảm giác bất lực và tội lỗi: ngay cả khi bà không thể làm gì, bà cũng không thích điều đó xảy ra khi bà đang có mặt.

Trên chuyến tàu điện ngầm từ Odêong đến Satơlê có một gã động kinh, ngồi thu lu ở trên ghế băng, áo sơ mi mở phanh, áo vétstông xoắn lại đặt trên đầu gối. Gã này lơ mơ nhìn một gã đàn ông khác, nhưng gã thứ hai này không nhìn mà đang nhìn chăm chú vào khe chân một cô gái, còn cô gái thì lại nhìn vào một gã đàn ông khác để xem gã này cuối cùng có nhìn đến mình không. Tay đàn ông thứ ba này lại nhìn gã động kinh nhưng cũng chẳng trông thấy gã.

Gã đàn ông này có thân hình ngắn ngủn và cái cổ rụt. Gã cảm thấy cô đơn đến kinh khủng, vì quá béo và quá xấu, mà gã nào có muốn thế đâu.

Trong chính gã có một cái gì đó, có thể là một sự cám dỗ mơ hồ, cứ đòi gã phải biến đi khỏi cái bến tàu Saint Michel này, ở đó đoàn tàu vừa dừng lại, và sau đó biến mất khỏi đường phố, khỏi căn nhà mà gã còn nợ những ba tháng tiền thuê. Bây giờ gã ngồi ở chỗ này, tuy phải đối chọi với cái nóng nhưng cũng không đến nỗi như những chỗ khác. Gã tính toán xem còn bao nhiêu tuần nữa phải sống như một cái cơ vòng ở hậu môn phải rặn để tống đi những gì hôi thối. Bà chủ nhà sẽ kéo cần xả nước. Thế mà gã vẫn cứ ngồi nguyên tại chỗ mà lẽ ra gã không còn nữa vì đã đi qua ga Satơlê là nơi gã phải xuống để đi về nhà. Nhưng đâu còn là nhà của gã từ ba tháng nay rồi. Thế mà gã cứ ngồi. Gã tự nhủ rằng ngoài kia, ngày hôm đó, bầu trời cũng làm bằng sứ trắng, cũng chẳng thương xót gì những kẻ động kinh như gã hơn là ở trong những bến tàu điện ngầm.

Gã đàn ông cao lớn ấy tự nhủ rằng gã chẳng còn quan hệ gì đến ai nữa. Lẽ ra lão phải trườn đi vào một lúc nào đó, vừa nãy hay trước đó nữa rất lâu; lúc đó gã không biết. Bây giờ gã nhìn thấy mọi vật bên cạnh đang lướt qua mình, những tấm biển quảng cáo, cái chòi gác của ông trưởng ga chạy mỗi lúc một nhanh. Nhà ga đã thoát khỏi gã. Đã thấy những người ngồi vút qua rồi những tên Stratxbba Xanh Đờni, Rốtsờsua. Sau Cờlinhăngcua, gã biết rằng sẽ chẳng còn tên nào khác nữa. Giống hệt như một hố đen vô cùng tận.

Gã mơ hồ nhớ lại người vợ và đứa con gái nhỏ mà một hôm nào đó gã đã bỏ rơi, cũng chẳng biết vì sao nữa. Có thể đó là Pom, con gái gã. Nhưng điều đó có gì là quan trọng đâu? Những cái tên, những dòng chữ, những hướng đi, tất cả đã thôi không chạy qua trước mặt gã nữa, “Tờriganô”, “Banania”, “PNP.”, “Atuya Mactanh”, thây kệ mọi thứ.

Vào giờ phút đó Pom vẫn đang quét nhà, Marylen vẫn đang đánh móng tay, Giăng Pie đang chải móng tay, và bà thủ quỹ thì quét nhà, Marylen thì đoán số tử vi cho tất cả mọi người và Pom thì huýt sáo kiểu Chêrubin[4]: “Voi che sapete...” Chẳng ai nghĩ đến gã động kinh kia, con người chắc là sắp chết đến nơi.

Nhưng chúng ta không nên đi xa câu chuyện của chúng ta, tức là lúc này mà Nây Amxtờrông[5] đặt chân lên Mặt trăng.

Marylen để máy thu hình trên giường ngủ của mình. Pom ngồi cạnh cô ta. Hình hiện rất xấu nhưng điều đó không quan trọng: Cả Marylen và Pom đều đã ngủ từ rất lâu.

Sáng hôm sau, vào lúc ăn điểm tâm, Marylen hỏi Pom: “Có thật lần này em để chị đi một mình không?”.

- Đến nhà các bạn chị ấy à?

- Đến nhà bạn của chúng ta chứ, - Marylen trả lời với giọng tán tỉnh (chị ta tự nhủ là mình vừa trở thành kẻ chuyên tán tỉnh). - Em biết rồi đấy, họ yêu em cũng như yêu chị ấy mà, ngay bây giờ đây này, họ thấy em thật xinh đẹp, thật ngộ nghĩnh. “Họ” đã nói với chị như thế qua điện thoại, nói hôm qua ấy.

- Chị đã nói về em qua điện thoại à? - Pom cảm thấy nhói lên trong lồng ngực một tình thương mến đối với Marylen, và người thiếu phụ kia vì “họ” đã nói về cô qua điện thoại. Cô hít vào một hơi thật sâu, rồi một hơi nữa, kéo theo cơn ngả nghiêng, xúc động của mình cả những cái chén, bình đựng mứt và ấm chè đặt trên bụng. Tột đỉnh hạnh phúc đã chạm đến đôi mắt cô, khiến nó tràn lệ, trong khi đó Marylen sửng sốt nhìn cô: “Em làm sao vậy? Phải chăng chị đã nói những điều chị không được phép nói ra?”.

Nhưng Pom, đang đắm mình trong sự ngưỡng mộ đối với bản sao của mình mà người ta đã nói đến trong diện thoại, không biết trả lời ra làm sao. Điều đó mở ra trước mắt cô một thế giới bất ngờ và trong đó Pom cũng có thể thành đề tài thế giới cho một câu chuyện. Sự khiêm nhường của cô gái cũng bị cám dỗ đến chóng mặt vì cái tên của mình được nhắc đến giữa hai người nói chuyện đường dài, mọi người xung quanh cô trở thành những tấm gương trong đó chính hình ảnh của cô làm cô phải ngạc nhiên khi nhìn thấy. Việc người ta có thể lo ngại vì mình và có thể nhân sự tồn tại của họ lên có thể chỉ với những con chữ được viết ra là chuyện thường tình đối với những người khác, với tất cả những người khác, thì với Pom, lại là điều kỳ diệu. Lẽ ra cô phải nghĩ đến điều đó, chỉ một lần thôi là đủ, để không phải ngạc nhiên nữa. Nhưng cô chưa bao giờ nghĩ đến.

Và đột nhiên Pom kêu lên: “Ôi! Marylen! Em yêu chị quá”. Sau đó, cô đỏ bừng mặt vì điều mình vừa nói: “Em yêu tất cả các chị!”.

Marylen đoán rằng Pom đang trong cơn xúc động, và tung ngay ra một ý nghĩ hào hiệp: “Nếu em không muốn đến thăm bạn của chúng ta, chị cũng chẳng đến nữa. Vả lại sắp đến kỳ nghỉ hè rồi. Ở lại Paris cũng được chứ sao?”.

- Không thể được! - Pom thốt lên.

- Chúng mình sẽ đi nghỉ với nhau trong hai ngày, và chúng mình sẽ chọn nơi nghỉ.

Pom hiểu rằng Marylen sắp đưa mình đi nghỉ cùng với chị. Họ ở lại trong phòng Marylen suốt buổi tối hôm đó. Pom mua về năm chiếc bánh ngọt, hai cho Marylen và ba để phần mình. Marylen chỉ đụng dĩa vào phần kem. Pom ăn liền một mạch hết tất cả những chiếc bánh còn lại, ăn trong sự âu yếm vẫn còn lại từ lúc ban đầu.

Marylen nhìn Pom với nỗi thương mến thực lòng, vì những chiếc bánh ngọt này, đối với chị ta ngay lập tức đã trở thành biểu tượng tính ngay thẳng của Pom. Và tính ngay thẳng, điều khác nhau giữa Pom và Marylen đó là tất cả tình bạn mà Marylen dành cho Pom. Một tình bạn không hề ân hận.

Ga Reômuya Xevaxtôpôn là ga mà Giăng Pie xuống, sau một ngày thuộc da một cách lịch lãm những con lạc đà cái ở hiệu uốn tóc. Nhưng nói đúng hơn là anh ta phải đi ngược trở lên, như người ta vẫn thường làm khi ra khỏi tầu điện ngầm, để trở về nhà mình ở phố Caire. Anh ta sống ở một gian phòng rộng được cải tạo thành xưởng vẽ, trong đó anh ta vẽ, bằng trí tưởng tượng, những lâu đài và tầu biển. Bởi vì nó chẳng giống lâu đài, cũng chẳng giống tầu nên anh ta ghi thêm ở phía dưới “lâu đài” hoặc “tàu” để phân biệt.

Anh ta đi dọc theo phố Xanh Đờni, có những cô gái luôn chèo kéo anh ta. Anh ta lúng búng một cách lịch thiệp rằng để khi khác. Anh chẳng hề rảo bước. Thậm chí thỉnh thoảng lại còn ngắm nhìn những sinh vật cái ấy và nhận ra trên những gót quá cao, dáng điệu của các cô gái già chắc là phải đi nhờ giầy của mẹ. Thực ra họ đều xấu xí. Thế là anh ta trở về buồng một mình, có thể hơi buồn một chút vì phải luôn luôn về nhà có một mình.

Tuy nhiên Giăng Pie cũng có những thành công đối với giới nữ. Chủ yếu là với những bà già. Họ tranh nhau để được chàng trai vầy vò đầu mình. Ở vào cái tuổi sáu mươi, họ vẫn còn run rẩy khi chiếc ghế bành được ngửa ra, giống như khi họ nhảy điệu tăng gô. Trong tình huống như thế, Giăng Pie có một cái nhìn hơi chán ngán lịch sự của một vũ công chuyên ngiệp. Các mụ già lố bịch kia có lẽ đã đọc được trong cái nhìn ấy một cái gì như nói lên rằng “lần khác, một lần khác”.

*

**

Thì đi ra biển, nhưng đi đâu?

Không còn có vấn đề lựa chọn vì họ nghĩ đến điều đó quá muộn, nhưng vẫn còn có một phòng cho thuê ở Cabua, trên bờ biển Măngsờ. Và cũng chả đắt lắm, nhất là vào tháng tám. Ở hãng người ta còn nói rằng muốn thuê hay không là tùy. Vẫn còn nhiều người đang đợi trên những chiếc ghế băng đặt đằng sau Marylen và Pom. Còn cả những người đứng nữa. Marylen đưa tiền đặt cọc và hai người nhận được một tờ quảng cáo có in ảnh với dòng chữ “Cabua” với bãi cát mịn, con đê dài một nghìn sáu trăm mét, với giải trí trường, có cả vườn hoa.

Không lấy gì làm hấp dẫn lắm, nếu đem so với lần dạo chơi mà nhà quảng cáo có cái cằm chắc như thép hứa hẹn. Marylen sẽ được đi Marốc, đến một “Câu lạc bộ” ở nơi tiếp giáp với sa mạc. Nơi đó sẽ có những ốc đảo, những ảo ảnh, có những cây cọ, có những con lạc đà đi lắc lư trên đụn cát. Chị sẽ được tắm vào ban đêm. Sau đó làm tình với lão ta ngay trên bãi cát. Chị sẽ được biết cái say nồng của một đêm hoang dã. Giữa lòng Châu Phi, sẽ được nghe tiếng hổ và tê giác đánh nhau.

Ở Cabua, chị cũng sẽ có những cồn cát và điện thoại (ở phòng làm việc của ông chủ). Và lúc này Marylen đã trở nên khiêm tốn và giản dị. Chị nói với Pom: “Em may thật đấy! Này, em chưa biết Cốt Đaduya đâu nhé. Em còn khối thứ để mà khám phá”.

Pom chưa bao giờ nhìn thấy biển, trừ phi là biển trên những tấm bưu thiếp hoặc trên những biển quảng cáo của Công ty Đường sắt Quốc gia vì ngày nào cô cũng phải đi qua nhà ga Xanh Lada.

Căn phòng họ thuê còn nhỏ và thiếu tiện nghỉ hơn là họ tưởng. Bên ngoài trời đang mưa. Marylen vừa mở hai chiếc vali to tướng vừa cằn nhằn. Chị lấy ra những chiếc áo dài trắng trong suốt và một số loại quần áo khác, giũ tung ra trước mặt Pom, rồi đau khổ vứt xuống giường như luyến tiếc lắm: “Không bao giờ chị được mặc những đồ này nữa!... Không bao giờ... Thế đấy! Em không nhìn thấy chiếc áo này à!”. Pom lưu ý chị ta rằng ngoài kia mọi người vẫn che ô.

Cuối cùng bầu trời sáng dần lên. “Mưa rào đến là to”, Pom nói, tỏ ý thông cảm với Marylen.

Cô muốn được đi xem biển ngay lập tức. Marylen cũng không hề cảm thấy hài lòng khi được thoát khỏi căn phòng bé xíu này, nơi chỉ độc nghe có tiếng giọt nước rơi trên cửa sổ. Họ đi trên con đê.

Không có biển! Hôm đó là vào dịp nước ròng. Chỉ toàn cát là cát, chạy đến hút tầm mắt và phía xa, rất xa, một dải sáng hẹp. Chỉ có một vài người hiếm hoi đi lang thang trên bờ cái tai họa này, chân đi ủng cao su và khoác áo mưa. Cũng có một vài cái dù, nhưng tất cả đều cụp lại. Một đôi cái còn để chỏng chơ. Gió dồn mây về phương đông, trong khi ở phương tây nhờ có ánh mặt trời đã trở nên quang đãng hơn. Pom thấy lạnh. Marylen vẫn còn vui nhộn và nói về những chiếc áo len mỏng vứt lại ở Paris. Họ quyết định tiếp tục đi dạo “trong thành phố”.

Họ đi qua đi lại hai hoặc ba lần gì đó trên dường phố Biển. Ở đó cũng có hàng hóa bày trong các tủ kính. Họ mua những tấm bưu thiếp giới thiệu “Các khu vườn giải trí trường” hay “bến vui” trong những ngày trời đẹp. Cuối cùng họ đến uống một cốc sôcôla nóng ở “Tiệm trà có khiêu vũ” của giải trí trường.

Tại đây, có một nhạc công pianô, một nhạc công contrebasse và một người đánh trống, tấu nhạc như những cái máy. Thỉnh thoảng pianô và contrebasse lại đánh sai. Trong vài giây chỉ còn có mỗi tiếng trống, cứ như lồng lên. Thế rồi người nhạc công pianô giụi mẩu thuốc lá vào trong một chiếc đĩa, nhổ một bãi nước bọt to tướng vào lòng bàn tay (hoặc làm một cái gì gần như thế) và bắt đầu đánh như bổ củi[6] vào các phím đàn. Mọi thứ lại đâu vào đấy.

Chẳng có ma nào nhảy vì trên sàn chỉ có hai đôi bạn gái, run lẩy bẩy trước cốc nước uống hãy còn nóng, giống hệt Marylen và Pom được phản chiếu trong gương - nói đúng hơn, theo các định luật quang học - là bóng của Pom và Marylen. Người nhạc công piano đã có tuổi, có dáng điệu của một người gác công viên. Ông ta phân phát một cách rất phải chăng những cái liếc mắt cho từng phụ nữ một có mặt trong phòng. Khi người hầu bàn đến trả lại tiền lẻ, Marylen hỏi liệu có “hộp” nào khác ở cái xứ này không. Hắn trả lời có hiệu Calypsothèque, ở ngay bên cạnh, nhưng chỉ mở cửa vào buổi tối.

Ngày hôm sau họ đã hoàn tất việc tìm hiểu thành phố. Trời vẫn dịu nhưng đã ngớt gió. Thỉnh thoảng mặt trời lại hiện ra và phản chiếu trong những vũng nước trên hè phố.

Marylen muốn đến tận “Vườn câu lạc bộ Quần vợt”. Họ mua vé vào xem có giá trị trong một tháng. Pom và Marylen dạo chơi trên những con đường rải sỏi. Pom nhìn các cầu thủ. Marylen thì dùng mắt đánh giá, sờ nắn các cầu thủ giống như cô vẫn làm đối với các loại vải vóc bày trên giá ở chợ Xanh Pie. Nhiều lần Pom cởi giầy, đứng tựa vào tay Marylen để vứt bỏ những viên sỏi lọt vào.

Marylen ngày càng thêm rầu rĩ. Trước đây chị muốn được cùng Pom nghỉ những ngày hè của những cô gái nhà lành. Lẽ ra thì phải ở Khách sạn lớn kia. Lẽ ra chị đã bảo người gác cổng dắt bầy chó săn đi dạo. Lẽ ra chị đã được mặc một chiếc áo ngủ may bằng vải phin để ngồi ăn bữa điểm tâm. Chị đã mất tiền vào những ván bài và ngày nào cũng nhận được những bó hoa hồng do những chàng trai không quen gửi đến.

Nhưng dù có được thế đi nữa thì cũng vẫn chưa phải là điều chị ta mong ước, tại khí hậu cũng như dáng vẻ của thành phố, của những ngôi nhà, những mảnh vườn, tại thiếu đi những quán hàng đúng mốt. Giá trị biết bao nếu như có một biệt thự lớn hơi cũ một chút, như những biệt thự mà họ nhìn thấy ở trên bờ đê biển. Lẽ ra phải biết chơi quần vợt, cưỡi ngựa (như những người cưỡi ngựa thành thạo, nếu có thể). Khổ một cái là Marylen lại không có thứ vẻ đẹp dành cho những khả năng ấy. Đáng ra là phải đẹp và cao, như chị ta, nhưng ít màu mè đi một chút. Marylen ăn mặc kiểu Juan-les-Pins[7]; một chiếc áo Sơmi ngắn tay trong suốt, và quần lót nổi hằn dưới lớp quần ngoài. Không có váy gấp nếp, không có giầy trắng, không có áo kiểu Lacoste. Chị ta thích ngồi thoải mái trong một chiếc xe nhỏ, cánh tay trần đặt hờ hững lên cửa xe, hơn là phải đạp một chiếc xe đạp lọc cọc, tóc bay tung trong gió, chiếc áo len to sù vắt trên vai. Thế nhưng cái dịu mát thanh lịch và trong lành của Cabua là như vậy đó. Không được đánh phấn, không được hun da dưới nắng mặt trời, da vẫn trắng (có hơi rám một chút), cái nhìn đơn điệu, nữ tính quá mức, phải đi những bước dài qua các vũng nước. Một bộ quần áo mặc liền ba ngày, ngày trời nắng thì ăn dưới bóng râm, còn những ngày khác thì đi lại với một tấm áo mưa cũ rích khoác trên lưng, một chiếc khăn ướt đội đầu.

Cho đến giờ phút đó, Marylen vẫn còn mơ đến các chuyến đi trong những chiếc máy bay phản lực của hãng Pan Am, với bầu trời nhiệt đới trên các đảo san hô và những lần tắm nắng, chỉ đeo trên người có một chuỗi vỏ ốc. Giờ đây chị hiểu rằng đó chỉ là những thèm khát của đám công chức bàn giấy. Ba tuần ở Angti mất bốn nghìn năm trăm phơrăng, tuy đắt thật nhưng vẫn còn là rẻ. Và lúc này cả một nền văn minh đã trở nên chán ngán trong tâm trí Marylen. Đoạn đường chạy qua hiệu Lido sáng rực lên trong vẻ hào nhoáng của các tủ kính. Chị ta có phát hiện một lần cái đẹp thực sự, song vẫn thấy nó xa lạ và không với tới được. Chị còn có thể gặp nhà quảng cáo lực lưỡng nhất Paris và biết cách làm lão ta điên lên vì ghen, trước kia lão ta vẫn luôn luôn bỏ lỡ những cuộc nghỉ hè ở một bãi biển mưa dầm dề trong một biệt thự rộng và âm vang, có những vách ngăn tiếng cười con trẻ và bụi mờ. Còn chị, chị đang ở bên cạnh “những người đi nghỉ hè”, những người đi cắm trại, những người đi đi lại lại, cả những người giầu có đến ở trong các khách sạn lớn.

Đó chẳng qua là do số trời sinh ra thế, Marylen cứ ngờ ngợ. Những mụ già sang trọng ở hiệu uốn tóc cũng còn lâu mới có được kiểu sống bất cần đời như thế này. Họ ấy à, họ cần phải có đồ trang sức, có áo lông, ví đầm của hãng Hermès, những chuyến du lịch bằng máy bay. Và Marylen nhận ra rằng ở ngay bên cạnh mình còn có những người khác cũng với sự ồn ào, một nhân loại cấp cao, thường giấu mình sau một bức tường, một chiếc kính hoặc những người thỉnh thoảng cũng đi tản bộ trong những bộ quần áo cũ nhưng rất tiện lợi và thực dụng. Cái nhân loại ấy sản sinh ra những người đàn bà có sắc đẹp trang nhã, có một sự kín đáo đến khó chịu và có một thiên bẩm hay cung cách sống bằng một thực tại khác, khi tình cờ hoặc không may họ phải sống giữa những người khác.

Pom không đắm mình vào những suy tưởng loại ấy. Cô chỉ cần có một chút ánh nắng mặt trời trên bãi cát, để hâm nóng nhữmg thứ mà cô dùng để ăn điểm tâm. (Khi trời nắng rát quá thì cô tìm chỗ mát cho mình, còn thức ăn thì để vào chạn). Vì cô không biết bơi cho nên cô cũng chẳng lấy gì làm tiếc rằng nước biển thường mát quá đến nỗi không thể tắm được. Buổi tối, cô đi theo Marylen đến tiệm Calypsothèque. Cô dùng ngón tay ghi lại trên bàn nhịp độ của những ngọn đèn nhấp nháy trong đêm. Cô cảm thấy vui vui khi những chiếc đèn nhấp nháy liên tục: đỏ, xanh, đỏ, xanh, đỏ. Mọi người như vặn vẹo trong ánh đèn. Sau đó họ trở lại chỗ của mình vẫn còn vô sự. Cô chờ một lượt khác lại bắt đầu.

Cô từ chối một cách lịch sự khi có người đến mời cô nhảy. Thực lòng cô hơi sợ những vòng đỏ vòng xanh nhỏ bé trên sàn nhảy, nhưng cô thích ngắm nhìn những điệu vũ khoái lạc cuốn hút Marylen trong khi chị ta lại cứ bực bội vì không có được một dáng điệu sang trọng.

Pom không nhận thấy rằng sự có mặt với cung cách hơi thô thiển và cứng nhắc của mình từ mấy hôm nay không phải không làm Marylen mếch lòng.

Nói chính xác là kể từ những buổi tối mà họ đến Tiệm Calysothèque. Ở nơi đó, trong tiếng nhạc chói tai, Marylen quên đi những biệt thự trên bờ đê cùng cái nhân loại mà dưới chân họ biển chết lịm đi một cách dịu dàng. Marylen làm sống lại nhân vật cũ của mình và mỗi lần nhảy là mỗi lần chị ta ngoáy tít bộ mông dưới lớp quần bằng thứ lụa thô mầu hoa cà.

Pom không hề để ý đến một điều gì. Cho đến một đêm từ Calysothèque cô trở về một mình.

Ngày hôm sau Marylen ngồi thu dọn đồ đạc. Chị tỏ ra hết sức vội vã: “Có người đợi chị ở dưới kia”. Và trước khi khép cánh cửa lại sau lưng mình, chị nói thêm: “Bây giờ thì cô em yêu quý của chị tha hồ mà thoải mái nhé”.

Một biểu hiện khác của cùng một bản chất.

… Phải chăng ở đây có một điều gì không giống như thật? Làm sao mà Marylen lại có thể nhạy cảm được với kiểu cách hào hoa của các cô gái trong các biệt thự kia chứ, kiểu cách mà họ vừa mới gọi là “bất cần đời”? Chị hoàn toàn xa lạ với tất cả những điều đó. Nếu chị có để ý đến những cô gái kia, chắc chắn chị sẽ thấy rằng đó là một lũ thộn.

Đây là điều đã thực sự xảy ra: trước hết là Marylen buồn chán. Tuần trăng mật với Pom không thể kéo dài lâu quá được. Đáng yêu đấy, nhưng tạm bợ thôi. Thế là người ta nhìn thấy Marylen trong bar của câu lạc bộ quần vợt. Pom vẫn cặp kè bên cạnh chị, nhưng bây giờ chúng ta chỉ nhìn thấy cô trong tình trạng ngược sáng; cô tựa nhòa dần đi trong khi uống một cốc sirô lựu. Marylen nhấm nháp một cốc rượu gin. Đắt tiền đấy nhưng chất rượu làm hồng da, tạo nên sự bền chắc và lòng tự tin. Và trong tiểu thuyết, điều này luôn luôn tạo ra sự tốt lành.

Họ ngồi ở thềm, trước sân quần vợt. Marylen quan sát các cầu thủ, chăm chú và lộ liễu, để được họ để ý đến mình. Ánh mắt chị ta làm bóng lộn nắp ca bô của những chiếc ô tô thể thao đỗ ở cửa ra vào sân gôn. Người ta nghe thấy tiếng cười khanh khách của chị ta vang lên khắp mọi nơi, mọi lúc (giống như tiếng còi ô tô trong sương mù vậy). Pom lẽo đẽo theo sau. Marylen đã quên mất Pom, còn Pom thì chạy đứt hơi để đuổi theo cái nỗi cô đơn tuyệt vọng cực kỳ linh hoạt này (đê, phố biển, rồi lại con đê dài một nghìn tám trăm mét, vv...). Cô tự thấy mình có gì đó thiếu ý tứ. Cô làm ra vẻ không thiết một chút gì. Ngủ cùng giường với Marylen, cùng giặt giũ với chị, để chị vuốt ve đôi chút, thực ra cũng chẳng có gì khiếm nhã nếu so với việc Marylen phô trương sự nhiệt thành giả dối của mình. Và tuy vậy Pom vẫn không muốn và không dám phá vỡ đi sự kỳ thú của lòng ưu ái lẫn nhau - cô vẫn tin như vậy - Và rồi thì điều gì phải xảy ra đã xảy ra có phải không nào?

Marylen biến mất suốt cả một buổi chiều. Trước đó chị nói “Chị đi đây” thay vì vẫn nói “chúng ta đi thôi”. Suýt nữa thì Pom đã dậy, hít thở lấy hơi để đuổi theo Marylen vì từ trước đến nay cô vẫn ở trong tình trạng ấy, nhưng từ “chị” thay “chúng ta” đã chạm vào ý thức của cô. Cô ngồi xuống (hay đúng hơn là cô chẳng làm gì cả, vì cô đã dậy đâu, cô chỉ có cảm tưởng là mình ngồi xuống. Marylen khép cánh cửa lại sau lưng mình. Pom nghe tiếng bước chân chị xuống cầu thang, sau đó cô nghe tiếng nước xả ở tầng trên, sau nữa có thể là tiếng bát đĩa va vào nhau rồi chẳng nghe gì nữa. Trời nóng (một đợt nóng hiếm hoi bắt đầu đúng vào ngày hôm đó. Mỗi người ở Cabua vẫn còn nhớ). Pom không còn muốn ngồi dậy nữa. Cô thiu thiu ngủ một lúc lâu. Tiếng chân một người nào đó bước lên cầu thang làm cô choàng tỉnh. Không phải Marylen. Cô lại nhắm mắt. Cô cảm thấy yên ả vô cùng. Ngoài kia, lũ chim én kêu ríu ran.

Điều đó xảy ra giống như ánh sáng vụt tắt ngay trước khi chiếu phim. Những cuộn phim sẽ dành cho Marylen. Pom biết rõ rằng mình chỉ được tính đến vào những giây phút tạm nghỉ giữa chừng. Cô cảm thấy buồn về những điều đã xảy ra: cô quay trở lại, rất đơn giản, với niềm tin, tiềm ẩn nhưng sâu sắc của cô, rằng mình chỉ là một con người nhỏ nhoi thực ra không đáng kể.

Cô nhìn đồng hồ. Vẫn còn thời gian để đi ra bãi biển. Cô rất thích ánh nắng mặt trời vào lúc chiều muộn.

Cô đi tắm vì cảm thấy người nhớp nháp. Cô ngồi trên giường mấy phút cho khô người. Trong giây lát, những tấm thảm, trần nhà, tiếng kêu của những con én cùng lúc trở nên êm dịu. Cô ngồi dậy. Cô soi mình trong tấm gương ở tủ quần áo. Cô tự hỏi không biết mình đẹp hay xấu. Cô luôn ngạc nhiên với mình khi ở trần. Có những phần của thân thể cô vẫn còn chưa quen thuộc. Cô nhìn trộm vào bụng và ngực mình, cứ như mình là một người nào khác vậy, có thể là một người đàn ông mà cũng có thể một đứa trẻ. Không phải không thích thú. Cô mặc áo may ô và áo dài.

Nhưng một khi đã ở trên bãi biển, cô chợt thấy mình quá trắng, quá to béo giữa những cô gái mảnh mai có nước da như mạ vàng, những cô gái này hình như được sinh ra để nằm sưởi nắng mặt trời và trở thành những đối tượng cuốn hút sự nhìn ngắm. Và Pom bỗng tự hỏi sẽ làm gì với đôi tay, đôi chân và cả thân thể mình, những thứ chỉ thuộc về mình, và cốt để làm việc. Bởi vì đó chính là bản chất của Pom, khiến cô trở thành xa lạ đối với những cô gái khác đang phơi mình trên bãi cát (những cánh hoa trên một chiếc đĩa bạc): cô sinh ra vì công việc. Và chẳng hiểu chính xác vì sao nữa, Pom cảm thấy mình không xấu mà bất nhã trong chiếc khăn tắm. Ít ra thì trong ngày hôm đó cô thiếu đi cái tư cách sống nhàn rỗi. Giờ đây cô nhìn những người khác đang tắm như nhìn những người lái ô tô ngày xưa trên đường làng: cô và họ cách biệt nhau bởi một lần kính. Phía bên kia lần kính, đối mặt với những người đàn ông và đàn bà trần trụi này, có một thế giới của sự cần lao, có nghĩa là một sự liêm sỉ đang khẽ nhắc cô hãy mặc quần áo vào.

Trên đường về (nhưng Pom không quyết định trở về: cô chỉ làm cái việc là vâng phục một bàn tay nào đó đang đẩy vai mình), Pom nhìn thấy Marylen. Chị ta đã chiến thắng, đang ngồi trên một chiếc xe đỏ, bên cạnh một người đàn ông có đôi cằm bạnh. Chiếc xe chạy dọc theo phố Biển, theo sau là một xe khác. Với những người này, Marylen có cái nhìn của một vị nguyên thủ quốc gia trước đám đông đang cố nén cơn cuồng nhiệt. Chị là hoàng hậu, là đức vua, là đấng tối cao. Và Pom cảm thấy mình mất hút vào đám đông, tan biến đi trong đám thần dân của Marylen, đến nỗi dù đã nhìn được cái cười mỉm của Marylen, từ rất xa, từ rất cao, cô vẫn không đáp lại.

Khi trở về phòng, Pom lập tức nhận ra rằng Marylen đã mang đi hết thảy đồ đạc của mình. Cô nhận được mẩu giấy viết mấy chữ: “Em thân yêu, em sẽ sống dễ chịu hơn. Chị mang theo những chiếc mắc áo mà em không cần đến nữa. Chị để bánh gatô cho em ở rìa cửa sổ. Thắm thiết hôn em”.

Lần này Pom cảm thấy mình bị giảm giá hoàn toàn: Marylen đã để lại gì cho mình khi ra đi? Chỉ có cái để ăn.

❀ ❀ ❀

[1] 14-7-1789: Ngày Quốc khánh của nước Pháp

[2] Canarie: một quần đảo trên Đại Tây Dương, thuộc Tây Ban Nha.

[3] Equipe: Đồng đội, một tờ báo thể thao có uy tín ở Pháp.

[4] Chérubin: nhân vật trong vở kịch Đám cưới Figarô của Beaumarchais, nhà văn Pháp (1732-1799)

[5] Neil Armstrong: nhà du hành vũ trụ Mỹ, người đầu tiên đặt chân lên Mặt trăng.

[6] Nguyên văn: đánh như giãy cỏ.

[7] Một bãi tắm thuộc vùng Alpes Maritimes (Pháp).

★— CÔ THỢ THÊU Nguyên tác: La Dentellière ebook©MotSAch —★— TVE-4u©BookaholicClub Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn 1991
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Pascal Lainé

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.