LUCAS BƯỚC THẬT KHẼ vào trong nhà, cởi đôi bốt rồi dừng lại và nghe ngóng. Lò sưởi hẳn là vừa được bật. Các đường ống sưởi chứa đầy khí nóng kêu lách cách và giãn nở. Đèn ở chỗ bồn rửa đã được Weather bật sáng. Lucas nhón chân đi qua bếp và phòng khách, bước vào phòng ngủ dành cho khách và bật đèn.
Căn phòng dường như đã lâu chưa được sử dụng. Cảm giác thật trống vắng. Cái bàn có tủ kéo đã được phủi bụi, nhưng trên bàn và trong ngăn kéo đều không có gì cả. Một chiếc đèn và một chiếc đồng hồ báo thức nhỏ được đặt trên chiếc tủ đầu giường cùng một tập giấy và một cây bút. Tập giấy vẫn còn nguyên. Có vẻ như căn phòng được sắp xếp gọn gàng để đón khách, nhưng chưa ai từng tới đây.
Anh cởi áo khoác parka, áo sơ mi, quần, đồ lót giữ nhiệt rồi ném chúng lên bàn có tủ kéo. Lucas đặt lên tủ đầu giường chiếc đồng hồ cùng với đồ cạo râu và đồ lót mới mà anh vừa lấy ở nhà nghỉ. Anh rút khẩu .45 ra khỏi bao, nạp thêm một băng đạn rồi đặt nó cạnh cái đồng hồ. Sau khi nghe ngóng thêm một lúc phía cánh cửa phòng để mở, Lucas tắt đèn và trèo vào giường. Chiếc giường quá cứng lại quá nảy như thể chưa có ai từng nằm trên đó vậy. Cái gối thì lại quá cao. Anh sẽ không ngủ được mất.
Chiếc giường lún xuống.
Có người trong phòng. Bị mất phương hướng, Lucas quay đầu lại, mở mắt ra. Anh nhìn thấy ánh đèn ở hành lang và nhớ ra sức nặng đang bên cạnh mình. Một cái bóng đi qua. Anh ngồi dậy, chống người bằng hai khuỷu tay và thấy Weather đang ngồi ở cuối giường. Cô mặc sẵn quần áo để đi làm, nhấm nháp cốc cà phê trên tay.
“Lạy Chúa, mấy giờ rồi?”
“Mới hơn sáu giờ thôi. Em chuẩn bị đi đây.” Weather đã tỉnh như sáo, “Cảm ơn anh đã ghé qua.”
“Anh dậy ngay đây.”
“Không cần đâu. Shelly cử một cảnh sát tới rồi. Em cứ cảm thấy ngớ ngẩn sao sao ấy.”
“Không có gì là ngớ ngẩn cả,” Lucas bỗng trở nên gay gắt. “Tốt nhất là em nên ngủ lại nơi nào đó vào ban đêm. Chọn bừa đi. Một nhà nghỉ ở Park Falls chẳng hạn. Khi nào em định tới đó thì cứ gọi cho cảnh sát, Shelly sẽ cử người đi theo em ra đường cao tốc và để mắt tới bất cứ ai bám theo em.”
“Để em nghĩ đã.” Cô vỗ nhẹ vào chân anh, “Anh trông giống như một chú gấu vào buổi sáng vậy. Bộ đồ lót của anh trông rất đáng yêu. Em thích màu đó đấy.”
Lucas liếc nhìn bộ đồ lót dài. Màu hồng nhạt. Anh lẩm bẩm, “Chỉ vì giặt chung với áo màu đỏ thôi. Mà bây giờ vẫn chưa phải buổi sáng đâu. Khi nào người đưa thư đến thì mới tính.”
“Người đưa thư không đến trước một giờ trưa đâu.”
“Thế thì buổi sáng tính từ một giờ trưa,” Lucas lại ngả người xuống đệm. “Có tìm được thằng bé John Mueller chưa?”
“Họ không tìm thấy thằng bé. Em hỏi lúc cảnh sát gọi tới rồi.”
“Lạy Chúa tôi.”
“Em sợ là cậu bé chẳng còn sống nữa.” Weather liếc nhìn chiếc đồng hồ, “Giờ em phải đi đây. Anh nhớ khóa hết các cửa và đi ra ngoài bằng cửa garage nhé. Cửa garage tự động đóng đấy.”
“Được. Vậy em…”
“Sao vậy?”
“Ăn tối với anh được không? Tối nay ấy?”
“Lạy Chúa, anh đang hối thúc em đấy. Em thích mẫu đàn ông như vậy. Đương nhiên rồi, nhưng sao chúng ta không ăn tối ở nhà nhỉ? Em sẽ nấu.”
“Tuyệt.”
“Vậy sáu giờ tối nhé.” Cô hất đầu về phía cái tủ đầu giường lúc đi ra cửa. “Khẩu súng lớn quá nhỉ?”
Anh nghe thấy tiếng cửa gara mở rồi lại đóng. Ngôi nhà trở về trạng thái tĩnh lặng. Lucas tiếp tục giấc ngủ. Giờ thì anh đã hoàn toàn thấy thoải mái trong căn phòng ngủ xa lạ. Lucas tỉnh giấc lúc tám giờ sáng. Anh ngồi trên mép giường một hồi rồi đi ra hành lang vào phòng tắm. Lucas cạo râu, loạng choạng bước ra chỗ vòi sen, xả nước lạnh xuống để gột sạch những rắc rối. Anh đứng chờ bên ngoài tấm rèm nhựa cho đến khi nước nóng, sau đó bước vào và để cho những tia nước châm chích lên cổ.
Harper. Nhất định phải theo dõi hắn. Tính đến hiện tại, hắn ta là người duy nhất có khả năng có manh mối của vụ này. Anh bước ra khỏi vòi sen, lục tìm dầu gội trong tủ thuốc nhưng không có, chỉ còn hai vỉ thuốc tránh thai. Anh cầm chúng lên, lật qua lật lại và đọc phần thông tin và kê đơn thuốc. Cô uống thuốc này được hơn hai năm rồi. Anh cứ ngỡ cô phải vứt chúng đi sau ngày hôm qua cơ đấy. Lucas có hơi tự phụ quá rồi. Anh để nó lại vị trí cũ. Tất nhiên, nếu cô ấy không uống thuốc tránh thai hai năm liền thì hẳn là đời sống tình cảm cũng không có gì quá đặc sắc.
Anh nhìn xuống bồn, tìm thấy lọ dầu gội đầu Pert, quay lại vòi hoa sen và gội đầu.
Harper không phải là vấn đề duy nhất. Cái khoảng cách thời gian vẫn không khớp. Có gì đó không ổn. Chắc chắn ông linh mục đang giấu giếm cái gì đó. Trông ông ta dường như không giống với loại người thích ấu dâm. Đã từng có mấy vụ linh mục lạm dụng trẻ em theo giáo xứ ở Minnesota, nhưng trong những vụ đó, họ thường luôn hành động một mình. Vai trò của linh mục trong một cộng đồng nhỏ sẽ gần như tự động loại trừ khả năng tồn tại một đường dây.
“Ôi, không,” Lucas lắp bắp như chợt nhớ ra thứ gì đó. Đáng nhẽ anh nên nhìn ra điều đó mới phải. Lucas bước ra khỏi vòi sen, lau mặt và đi qua hành lang vào tới nhà bếp.
Anh vơ ngay lấy cái điện thoại và gọi tới văn phòng của Carr. “Anh có ngủ được tí gì không?” Lucas hỏi khi Carr vừa nhấc máy.
“Tôi ngủ được vài tiếng trên sô pha ở văn phòng. Tôi có lệnh khám xét nhà của Judy Schoenecker rồi. Anh có thể bắt đầu.”
“Tôi sẽ đi cùng Gene. Hôm tới khám nhà Harper, anh ấy đã làm rất tốt.”
“Hình như Russ bị sổ mũi lúc sáng nay” Carr nói.
“Chắc tại thời tiết thôi,” Lucas đáp. “À này, có bao nhiêu người sống ở đường hồ Storm phía bên kia nhà của gia đình LaCourt?”
“Ờ. Có lẽ khoảng hai mươi hoặc ba mươi người. Có một vài khu nghỉ dưỡng đang đóng cửa nữa nhưng chẳng có ai ở đó ngoại trừ chủ sở hữu đâu.”
“Cho tôi danh sách đi.”
“Được thôi. Người định giá tài sản sẽ biết đấy. Chúng ta có thể lấy sổ thống kê của anh ta. Nhưng mà anh đang tìm gì vậy?”
“Xem danh sách tôi mới biết được. Tôi sẽ đến đó trong vòng hai mươi phút nữa.”
Lucas cúp máy, chợt nhận ra mình đang lạnh cóng. Anh vội vã quay lại phòng tắm, thả mình vào dòng nước. Sau hai phút ngâm mình trong nước nóng, anh lau người, mặc quần áo vào và ra khỏi nhà.
Carr đang thong thả nhai một chiếc bánh rán bọc bột khi Lucas bước vào. Ông chỉ vào một cái túi giấy màu trắng, “Lấy một cái bánh đi. Sao anh lại cần danh sách những người sống trên đoạn đường đó?”
“Tôi chỉ tò mò có những gì dưới đó thôi,” Lucas lấy một chiếc bánh cuộn từ trong túi. “Có danh sách chưa?”
“Tôi đã nói với George rồi. Anh ta là người định giá tài sản. Tôi bảo anh ta là anh đang cần gấp nên chắc bây giờ có rồi đấy. Để tôi đưa anh đi.”
George là một anh chàng da ngăm cao lớn với mái đầu hói và những ngón tay dài như những cây bút mực. Anh ta lấy một tấm bản đồ khu vực hồ rồi dùng móng tay sắc nhọn của ngón trỏ lần theo con đường đánh dấu những hộ dân sống ở đó, kể cả trẻ sơ sinh. Có ba ngôi nhà là của những người đàn ông độc thân.
“Anh có biết mấy người này không?” Lucas hỏi Carr, tay chỉ vào ba căn nhà.
“Có chứ. Nhưng tôi chỉ thân quen với Donny Riley thôi. Ông ta tham gia câu lạc bộ câu cá và súng của hạt Ojibway. Ông ta là một người khá tử tế. Trước đây, ông ta là người đưa thư nhưng giờ thì về hưu rồi. Bob Dell làm việc ở một nhà máy cưa còn Darrell Anderson là chủ của khu nghỉ dưỡng Stone Hawk.”
“Họ đã kết hôn chưa? Đã ly dị, góa vợ hay thế nào?”
“Riley kết hôn được nhiều năm rồi. Vợ của ông ấy qua đời rồi. Darrell thì qua lại với một cô làm việc trong bệnh viện nhưng tôi không biết nhiều về anh ta cho lắm. Bob thì thuộc tuýp mấy anh nông dân độc thân ấy.”
“Có ai trong số họ theo Công giáo không?”
“Cái đó…,” Carr liếc nhìn anh chàng trợ lí rồi cả hai cùng nhìn Lucas. “Bob có đến thánh lễ ngày Chủ nhật.”
“Anh ta là người ở đây à?”
“Không, anh ta chuyển đến từ Milwaukee. Nhưng mà những cái này sẽ dẫn đến đâu đây?“
“Không có gì. Lên tầng thôi.” Anh quay lại phía George, “Cảm ơn nhé.”
Lacey đang ngồi gác chân lên góc bàn trong văn phòng của Carr. Khi Carr và Lucas bước vào, anh ta nhanh chóng bỏ chân xuống và vắt chéo chân lại.
“Anh mà làm hỏng bàn làm việc của tôi là tôi trừ lương đấy,” Carr càu nhàu.
“Xin lỗi.”
“Thế rốt cuộc thì anh muốn tìm kiếm cái quái gì trong danh sách của George vậy?” Carr hỏi Lucas ngay khi vừa ngồi xuống chiếc ghế xoay.
“Có tin đồn Phil Bergen là người đồng tính nên tối qua tôi mới hỏi ông ấy đã bao giờ quan hệ với ai cùng giới chưa.”
“Đó là điều ngớ ngẩn nhất tôi từng nghe đấy. Anh nghe được tin đấy từ ai thế?”
“Tôi chỉ đang cố tìm hiểu xem tại sao ông ấy lại nói rằng mình đã ở đó trong khi lúc đó nhà LaCourt đã chết rồi thôi mà. Ông ấy nhất quyết bám vào câu chuyện đó nên tôi đã nghĩ tới trường hợp ông ấy ở đâu đó loanh quanh đoạn đường đó nhưng lại không dám thú nhận.”
“Chết tiệt,” Carr xoay ghế và nhìn ra phía cửa chớp mở hờ. “Anh có cái đầu đen tối quá đấy, Davenport.”
“Anh có đang nghĩ đến một ai đó cụ thể không?” Lacey hỏi. Lucas nhắc lại ba cái tên hồi nãy. Lacey nhìn chằm chằm vào anh một lúc, rồi hắng giọng, ngồi vươn người ra đằng trước và nhìn cảnh sát trưởng. “Ừm, Shelly, nghe này. Vợ tôi quen biết Bob Dell đấy. Tôi từng nói đùa với cô ấy rằng Bob Dell khá ưa nhìn đấy, nhưng cô ấy nói rằng cô ấy nghĩ Bob hình như không có hứng thú với phụ nữ. Cô ấy nói vậy đấy.”
“Cô ấy nói anh ta đồng tính à?” Carr quay ghế lại, ngả đầu ra sau, mặt nghiêm nghị nhìn chằm chằm vào Lacey.
“Không hẳn. Chỉ là có vẻ anh ta không phải là kiểu người có hứng thú với phụ nữ thôi.”
“Tệ thật,” Carr quay lại phía Lucas.
“Nếu đó là sự thật thì mọi chuyện sẽ dễ hiểu hơn. Nếu mọi người quanh khu đó biết Bob Dell đồng tính thì … có lẽ Bergen đã tới đó rồi nhỡ nói dối nhưng không dám thú nhận.
Nhìn ông ấy uống rượu đi. Nếu ông ấy vô tội thì chẳng áp lực đến thế đâu?”
“Những tin đồn lan ra từ đây đã khiến ông ấy như vậy đó,” Carr bước ra khỏi ghế, đi một vòng quanh phòng, khớp ngón tay gõ lên răng. “Phải kiểm tra Dell xem sao,” cuối cùng thì Carr cũng quyết định.
“Tìm ngày sinh của anh ta đi. Hỏi bên Hệ thống Thông tin tội phạm Quốc gia và cảnh sát Milwaukee xem sao. Anh cứ nghĩ mà xem, nếu đây là vấn đề của Bergen thì ông ấy vô tội trong vụ lần này.”
“Đúng thế.” Carr lại xoay ghế, nhìn chằm chằm ra phía cửa sổ hướng về một đống tuyết ủi, một hàng rào phủ đầy tuyết và mặt sau của mấy ngôi nhà trên con phố bên cạnh. “Nhưng ông ấy sẽ không bao giờ thoát khỏi tin đồn đồng tính. Chuyện này sẽ giết ông ấy mất thôi.”
Trong một khoảnh khắc, cả ba người đều im lặng suy tư. Carr là người đầu tiên phá vỡ sự im lặng, “Gene Climpt sẽ gặp anh tại nhà hàng Mill vào buổi trưa,” đồng thời đưa cho Lucas lệnh khám xét.
Lucas liếc nhìn tờ giấy rồi bỏ nó vào túi áo khoác. “Không có tin tức gì về thằng bé John Mueller sao?”
Carr lắc đầu, “Chẳng có gì cả. Giờ cảnh sát chuyển sang tìm kiếm thi thể rồi.”
Lucas dành cả buổi sáng ở căn nhà của gia đình LaCourt. Có lò sưởi điện trong garage nhưng lại chẳng có tấm cách nhiệt, và người của đội khám nghiệm lại cứ ra ra vào vào nên căn phòng vẫn chẳng thể ấm nổi. Mọi người ở trong nhà những vẫn mặc áo parka phanh cúc, hoặc áo len. Ít ra thì họ cũng không phải đeo găng tay. Một cái bàn dài được dựng tạm thời bởi mấy miếng gỗ có kích cỡ 5x10 xen ti mét và một tấm gỗ ép. Trên bàn để la liệt những giấy tờ, thiết bị điện tử, một chiếc máy tính và một máy in.
Đội khám nghiệm đã tìm thấy một viên đạn bị biến dạng trong bức tường ở nhà bếp. Sau khi xem xét trọng lượng và hình dáng, tính cả đến trường hợp viên đạn đã bị mòn do phát súng, đội kỹ thuật đã tạm kết luận hung khí là một khẩu Magnum .44. Chắc chắn không phải khẩu .357 rồi. Khẩu súng Lucas phát hiện vào hôm đó thậm chí còn chưa được sử dụng.
“Con bé còn sống lúc bị cắt tai và một số bộ phận khác trên khuôn mặt,” một kỹ thuật viên đọc fax cho Lucas nghe. “Việc khám nghiệm tử thi đã được hoàn thành nhưng vẫn còn rất nhiều thứ cần kiểm tra.”
Anh chàng kĩ thuật viên đọc lướt qua một danh sách những phát hiện khác. Lucas lắng nghe, nhưng cứ vài giây, tâm trí của anh lại chuyển hướng sang Weather. Anh luôn bị lôi cuốn bởi những cô gái thông minh, nhưng chuyện chẳng bao giờ đi đến đâu hết. Anh có một cô con gái với một người phụ nữ mà anh chưa từng yêu, dù anh rất thích cô. Cô là một phóng viên. Cả hai đều rất thích đi đây đó và nghiện áp lực nữa. Anh đã yêu, hoặc có thể đã yêu, một người phụ nữ khác, một người cũng dành hết thời gian cho sự nghiệp cảnh sát của cô. Weather rất giống một cảnh sát. Cô nghiêm túc và cứng rắn nhưng vẫn hài hước.
Không thể làm hỏng chuyện với Weather được, Lucas liên tục lẩm nhẩm trong đầu, không thể làm hỏng chuyện được.
Crane bước vào nhà, thở ra khói. Anh ta giậm chân, đi vòng ra sau Lucas đến chỗ máy pha cà phê, “Hung thủ dùng bình nóng lạnh để phóng hỏa.”
“Cái gì?”
Lucas quay lại trên ghế ngồi. Crane vẫn bọc mình trong chiếc áo parka, tự rót một tách cà phê, “Vòi nước nóng trên bồn giặt vẫn mở. Rất nhiều xăng được đổ quanh bình nóng lạnh. Bây giờ thì nó tan tành rồi, nhưng có dấu vết của một miếng vải cháy trong ống dẫn.”
Lucas nhăn mặt, “Nói tiếng Anh đi.”
Crane cười toe toét, “Hung thủ đổ xăng quanh nhà, ngâm một miếng giẻ vào xăng rồi đặt nó vào bộ phận làm nóng của bình nóng lạnh nhưng phải để xa đèn dẫn. Sau đó, hắn mở vòi để nước nóng chảy ra từ từ rồi ra khỏi nhà. Vài phút sau, mực nước nóng trong bình sẽ giảm xuống, nước lạnh sẽ tràn vào bình…”
“Và cái bộ phận làm nóng của bình nóng lạnh sẽ được bật lên.”
“Bùm.”
“Sao hắn ta lại phải làm thế?”
“Có lẽ để đảm bảo hắn có thể ra ngoài an toàn. Hắn ta rải phải đến bốn mươi lăm lít xăng trộn dầu khắp nhà nên chắc không dám ném một que diêm vào, nhưng cũng có nghĩa là hắn ta dự định phóng hỏa ngôi nhà từ trước đó. Không phải tới lúc đó hắn mới nghĩ tới việc phóng hỏa đâu.”
“Nếu vậy thì sẽ có một khoảng thời gian từ lúc hắn ta rời khỏi cho đến lúc ngọn lửa bắt đầu lan ra.”
“Đúng vậy.”
“Khoảng bao lâu?”
“Tôi không biết. Không thể biết là nước trong bình đã nóng đến mức nào khi hắn ta mở vòi. Hắn ta chỉ để vòi nhỏ giọt thôi. Có thể là bốn, năm phút cũng có thể hai mươi phút sau bình mới nổ.”
Vậy là quãng thời gian lúc xảy ra vụ án mạng và thời gian chiếc Jeep đi qua trạm cứu hỏa lại càng kéo dài. Không thể nhầm lẫn được, và thời gian cũng không còn rối tung cả lên nữa. Bergen không thể có mặt tại căn nhà của gia đình LaCourt.
“…trong những tập tài liệu còn nguyên vẹn…,” Crane bắt đầu chuyển sang chủ đề về bức ảnh.
“Nó không nằm trong tập tài liệu nào đâu,” Lucas ngắt lời. “Họ sẽ để nó ở một nơi dễ lấy, một nơi vừa thông dụng vừa an toàn. Phải là nơi nào đó họ có thể nhanh chóng lấy ra cho người khác xem.”
“Được rồi. Vậy là ở đâu?”
“Lọ đựng bánh quy hay mấy chỗ kiểu đấy.”
“Chúng tôi đã lục soát gần hết đồ đạc ở trong bếp và phòng ngủ của họ rồi, đương nhiên là chỉ có những thứ vẫn còn nguyên vẹn thôi, nhưng không tìm thấy nó.”
“Thôi được rồi.”
“Chúng tôi sẽ tìm lại từng ngóc ngách. Nhưng sẽ tốn thời gian đấy.”
Lucas gọi hai cuộc điện thoại và nhận được một cuộc khác. Cuộc gọi đầu tiên là cho một nữ tu sĩ ở Thành phố đôi, một người bạn cũ, một giáo sư tâm lý học của một trường đại học. Elle Kruger, Xơ Mary Joseph.
“Elle, là Lucas đây. Dạo này cô thế nào?”
“Tôi ổn. Tôi đã nhận được bản thử nghiệm mới của trò chơi Grove of Trees[1] từ Winston. Tôi chạy thử nó cùng với xơ Louisa vào cuối tuần vừa rồi nhưng phải dừng lại ngay. Lỗi tràn bộ nhớ thì phải.”
“Tên nào lại đi đăng mấy câu chuyện nhảm nhí này vậy?” Lucas để tờ giấy ngửa trên lòng bàn tay, nhìn chằm chằm mấy dòng chữ. Không có dấu hiệu chỉ ra cái của này đến từ đâu.
“Chỉ cần một cái máy tính Macintosh, một máy in la de và máy scan bán sắc là đủ để làm một cuốn tạp chí rồi.
Tốn có vài nghìn đô la thôi. Không phải phần in ấn, phần đánh chữ thôi.”
“Có thể tìm được chỗ làm ra cái tạp chí này không?”
Crane nhún vai. “Chúng tôi sẽ cố sao lưu ra bản in chất lượng nhất rồi truyền nó ra ngoài xem sao .”
“Cứ thử xem. Chúng ta rất cần bức ảnh.”
Crane cho bức ảnh vào trong phong bì và mang nó quay lại garage đúng lúc Carr bước vào từ bãi gửi xe. Lucas và Crane cùng đứng chờ Carr ở cửa garage. Sau khi bước vào trong, Crane cho cảnh sát trưởng xem phần còn lại của bức ảnh.
“Chết tiệt. Nếu có bức ảnh nguyên trạng thì chúng ta có thể giải quyết vụ này rồi,” Carr thốt lên.
“Chúng tôi sẽ cố lần ra bức ảnh, nhưng tôi không thể hứa hẹn điều gì cả.”
Carr quay sang Lucas, “Ra ngoài một chút đi.”
Lucas khoác áo parka vào, kéo khóa lên và đi theo Carr ra ngoài.
“Chúng tôi đã tìm ra ngày sinh của Bob Dell trong hồ sơ lái xe và chuyển qua Trung tâm Thông tin Tội phạm Quốc gia rồi. Anh ta từng bị bắt giữ vài lần ở Madison trong lúc vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường. Một lần là vì gây rối an ninh và một lần là do hành hung. Vụ gây rối là do tham gia biểu tình, còn vụ hành hung thì là đánh nhau trong quán bar. Cáo buộc đã bị bác bỏ trước khi bị đưa ra tòa nên cũng không có gì đáng kể xảy ra. Tôi đã gọi đến Madison, quán bar chỗ anh ta đánh nhau chỉ là một quán bar thông thường, không phải bar cho người đồng tính. Cuộc biểu tình liên quan đến vấn đề chính trị nhưng không phải là đòi quyền lợi cho cộng đồng người đồng tính hay gì.”
“Chẳng có gì cả.”
“Anh có nhớ vợ Lacey đã nói là Dell không thích phụ nữ không? Tôi đã gọi cho cô ấy để hỏi cho rõ. Cô ấy đã ấp úng một lúc nhưng cuối cùng cũng thừa nhận rằng những người phụ nữ muốn kết hôn trong thị trấn đồn rằng không nên phí thời gian mà theo đuổi Dell.”
“Những lời đồn liệu có chính xác không? Có bằng chứng gì không?”
“Cô ấy không biết.”
“Anh ta làm việc ở đâu?”
“Nhà máy cưa, từ đây đến đó mất mười phút.”
“Đi thôi.”
Carr dẫn đường đến xưởng cưa, một nhà kho thô sơ xây bằng thép màu vàng dựng trên một tấm nền bê tông. Trên con dốc bê tông dẫn vào xưởng có một chồng gỗ sồi cao mười mét.
Nhiệt độ trong xưởng chỉ vừa đủ để mọi thứ không đóng băng mà thôi. Nửa tá đàn ông đang làm việc quanh mấy lưỡi cưa. Lucas đứng đợi trong khu xưởng làm việc trong khi Carr đi vào trong văn phòng và nói chuyện với chủ xưởng. Lucas có thể nghe thấy giọng Carr vọng ra ngoài, “Không, không, không, không có vấn đề gì cả, thật đấy, chúng tôi chỉ đang cố tìm ra ngọn nguồn …” và rồi tiếng cưa vang lên. Anh đứng nhìn công nhân cưa gỗ cho đến khi Carr quay trở ra.
“Người mặc áo gi lê kia là Bob. Tôi sẽ gọi anh ta ra ngay khi họ cưa xong.”
Dell là một anh chàng cao ráo. Anh ta mặc một chiếc quần bò và một cái áo gi lê cộc tay, đeo găng tay da to xù và đầu đội mũ vành cứng màu vàng. Anh ta luôn tay nhấc những tấm gỗ để cưa. Anh vừa xong việc thì Carr và Lucas cùng đưa anh ta ra ngoài xa khỏi tiếng ồn của máy cưa. Anh ta châm một điếu thuốc lá, “Tôi có thể giúp gì cho ông đây, cảnh sát trưởng?”
Lucas hỏi thẳng, “Vào cái đêm gia đình LaCourt bị sát hại, anh có khách tới nhà hay có ai lảng vảng quanh đó không?”
Dell lắc đầu, “Không. Không có ai cả. Tôi về nhà, xem tivi, ăn tối và sau đó tôi nghe thấy tiếng còi báo động nên tới đó xem.”
Carr bật ngón tay, “Phải rồi, anh cũng làm ở trạm cứu hỏa mà.” Dell gật đầu, “Phải. Tôi đã sớm biết trước sau gì các anh cũng sẽ đến đây nếu không bắt được hung thủ. Tôi sống độc thân, lại còn sống ngay bên kia hồ nữa.”
“Chúng tôi không muốn gây rắc rối cho anh.”
“Anh gây rắc rối rồi đấy,” Dell hướng mắt về phía nhà máy.
“Nghĩa là đêm đó anh không gặp ai cả. Từ lúc anh rời chỗ làm cho đến khi ngọn lửa xuất hiện, anh không thấy ai hết.”
“Không một ai.”
“Cha Bergen có ghé qua không?”
“Không, không,” Dell nhìn Lucas với ánh mắt lộ rõ vẻ tò mò. “Tại sao ông ấy lại tới nhà tôi?”
“Không phải anh là một con chiên của ông ấy sao?”
“Lúc nọ lúc kia. Nhưng ông ấy chưa từng tới nhà tôi.”
“Vậy anh không thân thiết với ông ấy à?”
“Chuyện này là sao hả cảnh sát trưởng?” Dell quay sang nhìn Carr.
“Bob, tôi phải hỏi cậu một số chuyện và tôi thề sẽ không ai biết hết. Tôi không muốn phải hỏi chuyện này đâu nhưng mà…”
“Cứ hỏi đi,” Dell gồng người lên, như thể anh ta lường trước được câu hỏi.
“Chúng tôi nghe một vài tin đồn ở trong thị trấn nói rằng có lẽ anh là người đồng tính.”
Dell quay mặt đi, nhìn về phía khu rừng. “Đó là điều anh muốn hỏi sao?” Anh ta im lặng một hồi lâu trước khi lên tiếng, “Điều đó thì liên quan gì tới các anh?”
Cảnh sát trưởng nhìn chằm chằm vào Bob một lúc lâu rồi quay sang nhìn Lucas, “Anh đúng là tên chết giẫm đấy.”
“Tôi không gặp Cha Phil. Muốn nghĩ sao thì tùy, nhưng tôi không hề gặp ông ấy tối hôm đó. Tôi không nhìn thấy ông ấy ba tuần nay rồi, và chắc chắn điều đó chẳng liên quan gì đến … giới tính của tôi hết.”
Cảnh sát trưởng không dám nhìn thẳng vào mắt Bob nữa, thay vào đó ông nhìn Lucas nhưng lại nói với Dell, “Nếu anh nói dối, anh sẽ phải đi tù đấy. Đây là thông tin quan trọng.”
“Tôi không hề nói dối. Tồi thề trước pháp luật. Tôi thề với Chúa đấy.”
Carr nhìn thẳng vào mắt Bob một lúc rồi lên tiếng, “Thôi được rồi. Lucas, anh có muốn hỏi thêm gì không?”
“Giờ thì không có gì.”
“Cảm ơn, Bob.”
“Nếu tôi còn ở lại đây thì tôi sẽ không sống nổi mất. Tôi sẽ phải rời khỏi đây thôi.”
“Bob, anh không…”
“Tôi sẽ đi. Nhưng tôi thực sự không muốn, vì tôi thích nơi này. Rất nhiều. Ở đây, tôi có những người bạn, không đồng tính, chỉ là bạn thôi. Nhưng giờ thì không được rồi.”
Bob quay đi và bước về nhà xưởng.
“Anh nghĩ sao?”Carr hỏi khi bóng lưng của Bob xa dần. “Nghe có vẻ như anh ta nói thật. Nhưng tôi từng bị nói dối trước đây và tin vào những lời ấy rồi.”
“Muốn quay lại chỗ Phil không?”
Lucas lắc đầu, “Chưa phải bây giờ. Họ đều phủ nhận, và cũng chưa có gì cho thấy là họ nói dối. Xem người bạn trong Giáo hội của tôi có hỏi được gì không đã. Chắc cô ấy sẽ báo lại cho tôi trong tối nay hoặc ngày mai.”
“Chúng ta không còn thời gian …”
“Nếu đây là lời giải cho trình tự thời gian mâu thuẫn thì chúng ta sẽ gạt bỏ được một vấn đề. Cha Bergen sẽ được minh oan.”
“Tệ thật,” Carr nhìn về phía xưởng khi bóng Dell đã biến mất. “Bob không phải là người xấu.”
“Nếu ở đây anh ta có những người bạn thực sự thì chắc anh ta sẽ ở lại thôi.”
“Không, anh ấy sẽ đi thôi. Anh ấy làm cái công việc này, nên sớm hay muộn anh ta cũng rời khỏi đây thôi.”
Lucas gặp Climpt ở nhà hàng Mill, đó là một nhà hàng của một nhà nghỉ bên bờ con sông đóng băng. Cái ao cũ phía dưới cửa sổ nhà hàng đã được tái tạo lại thành một sân trượt băng với một cái máy ủi. Có cả tá đàn ông ngồi trên ghế đẩu tại quầy, và những người khác thì ngồi rải rác quanh các bàn trong phòng ăn. Climp đang đứng cạnh cửa sổ với một bát súp gà, mắt nhìn xuống ao nơi có một cụ già cô độc mặc một chiếc áo măng tô của Nga đang trượt băng theo hình tròn.
Climpt lên tiếng khi Lucas bước tới bên cạnh anh, “Ông ta ở đấy từ khi tôi đến. Năm nay ông ta tám mươi lăm tuổi rồi.”
“Hôm nào ông ấy cũng trượt ở đây độ một tiếng vào tầm giờ này. Kể cả trời có lạnh thế nào đi chăng nữa,” một nữ phục vụ đi đến bên cạnh Lucas. Cụ già trượt theo hình số tám, tạo thành những đường tròn trên mặt băng, hai tay bắt chéo sau lưng, mặt ông ngẩng lên trời. Ông cười, không mãnh liệt dữ dội, không phải để tập trung, mà chỉ là niềm vui lúc tâm trí đang vẩn vơ. Ông ấy lướt đi theo một giai điệu, một nhịp điệu của quá khứ. Cô hầu bàn đứng nhìn họ một lúc, “Anh định ăn, hay là …”
“Cho tôi một chén súp,” Lucas đáp.
Cô phục vụ vẫn dán mắt vào cụ già trên sân trượt, “Ông ấy đang cố nhớ lại lúc còn là một đứa trẻ. Ông ấy nói vậy. Chắc ông ấy sắp về chầu trời rồi.”
Nói xong cô ta bỏ đi. Climpt lúc này mới lên tiếng với tông giọng thật trầm, “Anh có giấy khám xét chưa?”
“Rồi.”
“Tôi đã mua một cái xà beng và một cây búa tạ ngắn phòng khi không vào được nhà.”
“Vậy là đủ rồi,” Lucas đáp. Cô hầu bàn quay lại mang trên tay một bát súp gà, “Anh có phải là anh chàng thám tử mà Shelly đưa về không?”
“Đúng vậy.”
“Chúng tôi sẽ cầu nguyện cho anh.”
“Đúng vậy đấy,” một người đàn ông ngồi ở quầy nói chen vào. Anh ta trông rất đô con. Mỡ ngấn thành tầng trên cổ chiếc áo sơ mi làm bằng vải nỉ mỏng. Mọi người trong nhà hàng đều chăm chú nhìn họ, “Anh chỉ cần tìm ra nó là thằng nào thôi. Sau đó, cứ để chúng tôi xử lý.”
Lucas VÀ Climpt lái xe của Lucas đến nhà Schoenecker. Ít ra nó cũng không gây chú ý bằng xe của cảnh sát. “Anh biết gì về mấy người này không?” Lucas hỏi Climpt khi cả hai đang trên đường tới căn nhà.
“Họ kín tiếng, không giao du nhiều. Andy là kế toán của một vài công ty trong thị trấn. Judy thì chỉ ở nhà nội trợ thôi. Họ đã ở đây phải được khoảng hai mươi năm rồi. Cả gia đình hình như đến từ hạt Vilas. Chả ai gặp mấy người trong gia đình họ trừ những lúc Andy đi làm và về nhà. Tôi chỉ biết là họ không giao du nhiều. Tôi không biết liệu họ có theo đạo hay không nhưng hình như là không. Đây là đường vào nhà này.”
“Ngôi nhà cũng kín đáo ha.”
Gia đình Schoenecker sống trên một khu đất ở phía bắc thị trấn. Ngôi nhà được bao phủ bởi những hàng cây dâu len màu vàng được cắt tỉa gọn gàng, thi thoảng điểm vài đốm màu xanh. Bãi cỏ với những lùm cây vân sam màu lam đó đây che chắn ngôi nhà khỏi gió bão và những kẻ tò mò. Lucas lái tới garage rồi đỗ lại.
Con đường dẫn vào nhà bị tuyết phủ kín. Lớp tuyết phải dày tới hai phân.
“Tôi có cảm giác không hay. Không ai ra vào chỗ này thì phải.”
Lucas kéo lê lớp tuyết bằng đôi ủng. “Họ đã dọn tuyết sau cơn bão trước rồi mà. Đây chắc là tuyết mới thôi.”
“Chắc vậy. Họ đâu rồi nhỉ?”
Hai người đi đến cửa trước và bấm chuông. Lucas bấm chuông hai lần nhưng ngôi nhà như trống trơn vậy. “Khóa chắc đấy,” Climpt ngó nghiêng cái cửa trong qua kính cửa bão.
“Vòng ra sau xem có cửa trong garage không. Cửa đó dễ vào hơn,” Lucas gợi ý
Hai người men theo lối đi bị tuyết phủ, vòng ra phía sau căn nhà. Khóa ở cửa sau cũng giống như ở cửa trước. Climpt vặn tay nắm cửa, đè mạnh vào cửa. Không nhúc nhích. “Phải phá thôi. Để tôi đi lấy thanh sắt.”
“Đợi một lát” Lucas ngăn Climpt lại. Có một ổ điện có nắp đậy bằng sắt được lắp trên tường garage, ở độ cao của công tắc đèn. Lucas mở nắp ổ điện ra, nhìn vào bên trong. Chẳng có gì cả. Có một cây đèn lồng đứng với bóng đèn vàng ở phía góc hiên sau. Anh lội qua đống tuyết dày để đến đó, nhìn vào trong chiếc đèn lồng bốn mặt, sau đó tháo một tấm kính ra, mò xung quanh và tìm được chìa khóa.
“Đúng là dân quê,” Lucas cười toe với Climpt.
Là chìa khóa garage. Cửa thông giữa garage và ngôi nhà không khóa. Lucas đi trước dẫn đường. Bên trong nhà lạnh ngắt. Họ nhanh chóng kiểm tra từng phòng trong ngôi nhà.
“Họ đi cả rồi,” Lucas hét vọng ra từ phòng ngủ. Các tủ đồ đều gần như trống rỗng. Một đống dây phơi đồ nằm ngổn ngang trên chiếc giường to tướng trong phòng ngủ. “Họ đã dọn dẹp hành lý.”
“Chắc còn lâu mới quay về,” Climpt nói vọng lên từ hành lang. “Nhìn này.”
Climpt đang trong nhà tắm, nhìn chằm chằm vào bồn cầu. Lucas ngó vào. Bồn cầu trống rỗng nhưng những vết màu tím của chất chống đóng băng vẫn còn đó. “Họ đã chuẩn bị đầy đủ để căn nhà vượt qua mùa đông rồi.”
“Đúng vậy. Có vẻ họ sẽ đi lâu đấy.”
“Vậy kiểm tra ngôi nhà đi.”
Hai người bắt đầu tìm kiếm trong phòng ngủ của cặp vợ chồng. Chẳng có gì. Căn phòng thứ hai là của hai cô con gái. Một lần nữa, họ cũng chẳng tìm được gì. Họ tìm kiếm khắp trong nhà tắm, phòng khách, phòng ăn, nhà bếp và dành hẳn nửa tiếng dưới tầng hầm.
“Không có cái quái gì cả,” Climpt gầm gừ, vò đầu bứt tai. Cả hai cùng quay lại phòng khách. “Tôi chưa từng thấy một ngôi nhà nào lại trống trơn đến vậy.”
“Không hề có một cuộn băng ghi hình nào,” Lucas quay lại phòng ngủ của Andy và Judy, kiểm tra chiếc tivi trong phòng. Một cái máy chạy băng cát sét được gắn vào bệ ti vi. Trong phòng khách cũng có một chiếc ti vi to được kết nối với một máy phát băng. “Họ có hai máy phát băng mà không có cuộn băng nào.”
“Thuê băng chăng?” Climpt đoán. “Kể cả thế thì …”
“Có mấy cái hộp dưới tầng hầm… đợi một chút,” Climpt sực nhớ ra và ngay lập tức chạy xuống tầng hầm.
Lucas đi đi lại lại trong căn nhà lạnh lẽo, sau đó đi ra garage, mở cửa và tìm kiếm. Climpt quay lại, mang theo hai cái hộp. Lucas hét vọng vào, “Họ có hai chiếc xe. Có dấu vết ở cả hai bên garage.”
“Ừ. Hình như vậy.”
“Có gia đình nào đi nghỉ mát mà lại đi hai xe trong khi chỉ có bốn người không?”
“Nhìn này,” Climpt gọi lớn. Anh đưa mấy cái hộp cho Lucas xem. Một hộp các tông của máy ghi hình. Hộp còn lại là của máy ảnh Polaroid Spectra. “Một chiếc máy ghi hình, và không một cuộn băng nào. Hôm qua Henry Lacey có nói rằng bức ảnh Polaroid được chụp bằng một máy dòng Spectra.”
“Lạy Chúa,” Lucas vò đầu. “Thôi được rồi. Giờ anh tìm trong đống ngăn kéo xem có hóa đơn, hay số thẻ tín dụng không. Nhớ tìm cả số thẻ mua xăng nhé. Tôi sẽ xem lại phòng của mấy đứa con gái. Tôi không tin mấy đứa trẻ vị thành niên không để lại thứ gì.”
Anh bắt đầu lùng sục từng ngóc ngách trong căn phòng, kéo hết ngăn kéo trong tủ quần áo ra, tìm phía dưới chúng, kiểm tra hết đống chai lọ và hộp đựng, lật từng đống bài tập về nhà từ hồi tiểu học. Lucas cảm thấy dưới giày có gì đó cộm cộm. Anh nhấc tấm thảm lên.
Climpt bước vào phòng, “Tôi đã ghi lại hết số thẻ rồi. Họ có thẻ xăng Sunoco và Amoco. Họ cũng mua khá nhiều xăng ở chỗ Russ Harper. Hơi kỳ lạ vì từ đây đến chỗ ông ta cách những mười lăm cây số.”
“Giữ hóa đơn lại,” Lucas đặt tấm thảm về vị trí cũ. “Kiểm tra xem có túi rác nào bên ngoài không.”
“Được thôi.”
Có một chồng sách nằm ngay trên mặt bàn học. Trên cùng chồng sách là một cái chặn sách làm bằng đá lông công có hình như quân mã trong cờ vua. Lucas nhìn mấy quyển sách, mở ra, giũ thật mạnh và lật qua các trang. Một tờ giấy gói kẹo cao su bằng nhôm rơi ra khỏi cuốn Kinh Thánh. Lucas nhặt nó lên, mở ra và thấy một số điện thoại đề cùng cái tên Betty được viết bằng mực màu cam.
Anh trả quyển sách lại vị trí cũ và đi vào phòng khách. Cùng lúc đó, Climpt cũng từ bên ngoài bước vào. “Không có rác. Họ đã dọn dẹp sạch sẽ rồi.”
“Được rồi.” Lucas nhấc điện thoại, bấm số ghi trong giấy gói kẹo cao su.
Chuông mới reo có một lần đã có người nghe điện, “Đường dây nóng Ojibway xin nghe. Tôi có thể giúp gì cho bạn?” Đầu dây bên kia là giọng một người phụ nữ, nghe rất chuyên nghiệp và vui vẻ.
“Đường dây nóng Ojibway là gì vậy?” Lucas hỏi. “Ai đó?” Giọng cô ta mất đi sự thân thiện.
“Một cảnh sát trong hạt.”
“Anh là cảnh sát mà không biết Đường dây nóng Ojibway là gì ư?”
“Tôi là người mới.”
“Tên anh là gì?”
“Lucas Davenport. Nếu cô muốn nói chuyện với Gene Climpt thì anh ấy đang ở đây.”
“Ồ, không, không cần đâu, tôi có nghe nói về anh rồi.
Đường dây này cũng không có gì bí mật đâu. Đây là đường dây nóng chuyên giải quyết các vấn đề về nhân quyền trong hạt. Số của chúng tôi ở trang đầu trong cuốn danh bạ mà.”
“Được rồi. Tôi có thể nói chuyện với Betty được không?”
Sau một hồi im lặng, người phụ nữ cất tiếng, “Thực ra không có ai tên là Betty ở đây cả. Đấy là bí danh của chuyên gia tư vấn các vụ lạm dụng tình dục.”
❀ ❀ ❀
[1] *Rừng Cây “Khỉ thật, mấy người đó nói là đã sửa rồi mà.” Grove of Trees là trò chơi mô phỏng trận chiến Gettysburg được Lucas lập trình trong nhiều năm. Elle Kruger quả là một kẻ nghiện game. “Chúng tôi chơi thử trên chiếc Radio Shack của xơ Louisa. Tôi nghĩ vấn đề là do cái máy vì tôi cũng chạy cái đĩa ấy trên chiếc Compaq thì lại chẳng sao cả.” “Tôi hiểu rồi, tôi sẽ nói với Winston. Trò chơi phải tương thích với tất cả các máy mà. Nghe này, tôi có một vấn đề khác và nó lên quan đến Giáo hội. Cô có thể giúp tôi không? Ở đây có nhiều người chết quá rồi.” “Lúc nào cũng có người chết nhỉ. Anh đang ở đâu vậy? Và tại sao lại liên quan đến Giáo hội?” Anh nhanh chóng tóm tắt lại vấn đề, vị linh mục, thời gian không khớp và những nghi vấn về Bob Dell sống ở phía cuối con đường. “Lucas, anh nên đến gặp tổng giám mục ở Milwaukee.” “Elle, tôi không có thì giờ để đùa giỡn với mấy tay ở Giáo hội đâu. Cô biết cứ có người trong đạo có bê bối thì họ sẽ như thế nào mà. Khó như moi tin từ một ngân hàng Thụy Sĩ ấy. Cha Bergen trạc tuổi cô và tôi cá là cô biết khá nhiều người quen ông ấy. Chỉ cần giúp tôi gọi vài cú điện thoại cho một vài người bạn của ông ấy. Ông ấy đã từng học ở đại học Marquette. Tôi có xem qua thông tin của ông ấy được lưu trữ ở đấy, nhưng nhìn chung không có gì nghiêm trọng.” “Lucas, việc này có thể ảnh hưởng đến tôi đấy. Tôi có nhiều mối quan hệ ở Giáo hội. “Elle . . .,” Lucas năn nỉ. “Để tôi cầu nguyện đã.” “Cô giúp tôi đi. Cố gắng giúp tôi vào tối nay nhé. Elle. Nhiều người chết quá rồi, trong đó có ít nhất một hoặc hai đứa bé mới học cấp hai. Một vụ lạm dụng trẻ em, với mấy tấm ảnh đồng tính được in trong những cuốn tạp chí bất hợp pháp.” “Tôi hiểu rồi. Đừng giục tôi. Để tôi cầu nguyện đã.” Một viên cảnh sát bước vào ngay khi Lucas cúp máy, “Shelly vừa gọi qua điện đàm. Ông ấy muốn anh chờ ở đây. Ông ấy đang trên đường tới đây rồi.” “Được thôi.” Lucas gọi cuộc gọi thứ hai đến một chuyên gia về trộm cướp tên là Carl Snyder ở Sở cảnh sát Minneapolis. “Nếu anh là một phụ nữ đang cần cất giấu đồ trong nhà vài ngày, ví dụ như một bức ảnh dung tục chẳng hạn, giấu ở một nơi không thể bị nhìn thấy bởi hàng xóm đến chơi, nhưng lại vẫn có thể lấy nó ra nhanh chóng, thì anh sẽ để nó ở đâu?” “Hừm … anh có bút chì không?” Snyder biết quá nhiều về mấy vụ trộm cắp, nhiều đến mức Lucas ngờ vực rằng có lẽ anh ta cũng đã thực hành vài lần. Suốt mười hai năm qua đã có hàng loạt các vụ trộm tiền và đá quý ở Thành phố đôi nhưng chưa tìm ra hung thủ. “Tôi không biết gì về vụ này đâu. Có một người tên Crane ở đây. Anh ta đến từ phòng thí nghiệm tội phạm của bang Wisconsin. Tôi sẽ đưa máy cho anh ta.” Crane nói chuyện với Snyder, đầu gật gù liên tục, liên mồm ừ ừ. Sau khi cúp máy, anh ta mặc áo parka vào, “Muốn đến đó không?” “Đương nhiên rồi. Vậy chúng ta sẽ tìm ở đâu?” Lucas hỏi. “Xung quanh tủ lạnh, rồi mấy cái hộp phía dưới chạn bát. Tất nhiên là chẳng còn mấy thứ nguyên vẹn đâu.” Sân ngoài nhà đã bị ủi phẳng bởi băng đá và đoàn người làm việc xung quanh ngôi nhà. Họ bước từ từ trên mặt đất đóng băng, chui qua một tấm vải bạt nặng và đi vào trong nhà. Dàn đèn được đỡ bằng kiềng ba chân thắp sáng gần hết không gian bên trong ngôi nhà. Hai máy sưởi điện to gần bằng cái tủ lạnh chỉ giữ được nhiệt ở mức âm ấm. Phần lớn đống đổ nát trên sàn đã được dọn sạch. Bước qua cánh cửa dẫn vào gian ngoài, Lucas có thể nhìn thấy một vòng tròn vẽ bằng phấn trắng xung quanh cái lỗ nơi họ đã tìm thấy viên đạn từ khẩu .44. “Được rồi. Xung quanh tủ lạnh, trên kệ bếp,” Crane lẩm bẩm. Crane đeo găng tay nhựa, cẩn thận lùng sục trong đống đổ nát trên kệ bếp. Bàn bếp đã bị ố vàng sau đám cháy trừ những chỗ được che chắn. Một cái bát, một hũ bơ đậu phộng và một lọ đựng muối tiêu để lại những hình dạng màu trắng của phần đáy trên mặt bàn. “Không có tờ giấy nào ... thế còn quanh tủ lạnh thì sao?” Crane tìm những tàn tích của bức ảnh phía sau tấm bảng ghi chú có nam châm gắn trên cửa tủ lạnh. Anh gỡ tấm bảng ra, định đính nó lại chỗ cũ thì, “Ối ...” “Cái gì thế?” Lucas cảm thấy bụng mình như thắt lại. Crane mang nó đến bên cửa sổ, soi dưới ánh sáng. Một mẩu giấy báo gập lại thành hình vuông kẹp sau tấm bảng. Nửa tờ giấy đã bị cháy đen và gắn chặt vào phần nhựa chảy. Nửa còn lại thì ngả sang màu nâu. “Tôi không biết. Có lẽ chúng ta nên gửi nó xuống Madison, nhờ họ tách nó ra.” Ngay khi dứt lời, anh trượt ngón tay xuống một góc của tờ giấy báo và nhấc lên. Phần màu nâu bị rời ra. Crane lật nó lại trên tay. “Nó bị cháy gần hết rồi,” anh nhìn vào mẩu giấy dính vào nhựa chảy. “Có lẽ chúng ta có thể khôi phục một phần tờ giấy.” Phần màu nâu của tờ giấy là góc bên trái của một bức ảnh chụp lưng và mông của một người đàn ông khỏa thân. Có một dòng chữ dưới tấm ảnh, NHÌN BÉ BỰ NÀY ĐI. BỮA TỐI ĐẤY. Phía dưới bức ảnh và dòng chữ là một loạt truyện cười, Một người đàn ông có cái đầu nhỏ như trái bóng chày bước vào quán rượu, hét to, “Cho tôi một cốc bia.” Nhân viên pha chế đẩy một cốc Bud trượt ngang qua quầy rượu và nói, “Hơi không liên quan, nhưng mà một người to lớn như anh sao lại có cái đầu bé tí tẹo như thế?” Người đàn ông kia nói, “Khi tôi còn ở Jamaica, đang đi bộ trên bãi biển thì tôi thấy cái chai này. Tôi mở nắp chai ra và thần đèn xuất hiện. Cô ta rất ngon. Cô ta có một thân hình khiến anh không thể rời mắt được, mông to, ngực phải cỡ quả dưa hấu. Cô ta nói tôi có thể ước một điều và rồi tôi nói, “Ồ. Tôi ước được làm tình với cô.” Và rồi thần đèn nói, “Xin lỗi, tôi không được phép làm vậy.” Thế nên tôi nói là, “Vậy một cái đầuthật nhỏ thì sao?” *Nguyên văn, ‘Okay, how about a little head?.” (Một cái đầu thật nhỏ thì sao?). Từ head có nghĩa là “cái đầu,” nhưng cũng là một tiếng lóng chỉ việc khẩu giao. Người đàn ông đang gạ gẫm thần đèn khẩu giao cho mình.