Nunu bày bàn điểm tâm, khách khứa ngồi ngoài hàng hiên, lại chào hỏi nhau và dùng bữa một cách không thoải mái. Mọi người đều cảm thấy, chỉ sức mạnh ma quái của Lajos mới khiến sự gượng gạo này tan biến. Như thể mọi ngôn từ, mọi câu nói đều thuộc về những vai kịch. Mỗi giờ đồng hồ đều là một sự sắp đặt; “màn một”: ăn sáng, muộn hơn “thăm vườn”. Đôi khi, với con mắt đạo diễn, Lajos phát hiện ra không khí ỉu xìu ở một nhóm nào đó, anh vỗ tay và khơi nhịp. Nhưng cuối cùng, anh bỏ mặc họ để ở lại một mình với tôi ngoài vườn. Laci vẫn đang phấn khích, vừa ăn vừa trò chuyện, anh trai tôi hoàn toàn để cho niềm vui cuốn mình đi, bởi Laci là người đầu tiên lập tức bị khuất phục, anh đã quên hết mọi hồ nghi, sung sướng tắm mình trong ánh hào quang của bạn, trong sự hiện diện của Lajos. Câu nói đầu tiên Lajos thốt lên khi quay sang tôi là:
– Bây giờ chúng ta sẽ giải quyết tất cả.
Tim tôi đập dồn hồi hộp. Tôi không trả lời. Tôi đứng đối mặt anh, dưới tán bạch lạp, cạnh tảng đá, nơi anh từng nói dối vô sô lần, và ngắm kỹ anh.
Lajos có vẻ buồn. Nỗi buồn của một tay phó nháy, hoặc một chính trị gia về già không theo kịp thời gian chẳng học được thêm mưu mẹo gì, đành dừng lại với những thói quen cũ kỹ, cổ hủ. Hoặc có vẻ gì đó của một tay nuôi dạy thú về già không còn uy phong với lũ thú dữ nữa. Trang phục của anh cũng cổ lỗ sĩ một cách đặc biệt: như một nguời đua đòi theo thời trang, nhưng bị một thứ gì đó từ bên trong ngăn cản khiến không thể trở nên sang trọng, họp mốt như mong muốn. Cổ anh thắt chiếc cà vạt lòe loẹt, đối nghịch với màu quần áo, tính cách anh và thời tiết. Quần áo anh màu sáng, rộng thùng thình, theo thời trang của các diễn viên nuớc ngoài trên những tấm bưu ảnh. Tất cả đều mới, và được lựa chọn không theo một gu gì, kể cả giày và mũ. Có chút gì bất lực ở đó. Lòng tôi se lại. Có lẽ, nếu anh đến với vẻ tàn tạ, bơ phờ và tuyệt vọng, thì tôi đã không ái ngại trước ấn tượng về sự rẻ tiền này bởi ý nghĩ thân phận của anh chỉ đến thế. Nhưng dáng vẻ thô thiển đáng hổ thẹn và tuyệt vọng này khiến tôi chạnh lòng. Tôi nhìn Lajos và chợt thấy thương xót.
– Ngồi xuống đi, Lajos! – tôi nói. – Anh muốn gì ở tôi?
Tôi cảm thấy bình tĩnh và thiện cảm. Tôi không còn sợ anh nữa. Con người này đã thất thế, tôi nghĩ, không cảm thấy hả dạ vì thế, chỉ thương hại, một cách sâu sắc và nhục nhã. Như thể tôi phát hiện ra, anh nhuộm tóc hay làm một điều gì đó khác cũng lố bịch tương tự: bởi quá khứ và hiện tại, tôi những muốn quở trách anh thành thực nhưng không hề nghiêm khắc. Cùng lúc, tôi cảm thấy mình già dặn hơn, từng trải hơn rất nhiều; Lajos đã dừng trưởng thành ở đâu đó, năm tháng trôi qua, anh vẫn chôn chân vào lối sống phóng túng, tuy không đặc biệt nguy hiểm, nhưng có lẽ đáng buồn hơn –là chẳng có mục đích gì đặc biệt hơn. Đôi mắt của anh vẫn lơ đãng và trong suốt một màu xám, như lần cuối cùng tôi gặp anh. Anh hút thuốc bằng tẩu – bàn tay nổi gân xanh già nua nom rõ, những ngón tay run run – ánh mắt chăm chú, bình thản và thẳng thắn, như một kẻ hiểu rõ rằng mọi sự giả dối đều vô ích và không có lợi lộc gì, tôi đã biết tỏng các trò diễn và mọi mưu mẹo của anh, dù anh có nói gì đi nữa thì đến cuối cùng anh cũng phải có lời đáp, bằng lời hay không bằng lời, ngay lúc này đây, chỉ một lần, nhưng phải là sự thật… Tất nhiên, anh bắt đầu bằng sự giả dối:
– Anh muốn giải quyết tất cả mọi việc, – anh nhắc lại một cách máy móc.
– Anh muốn giải quyết cái gì?
Tôi nhìn vào mắt anh và bật cười. Không có gì nghiêm chỉnh cả! – tôi nghĩ. Sau một quãng thời gian, không thể “giải quyết được” gì giữa con người với nhau; trong khoảnh khắc chúng tôi ngồi bốn tảng đá, tôi đã hiểu sự thật tuyệt vọng này. Con người sống, chắp vá, sửa chữa, gây dựng và đôi khi tàn phá cuộc đời mình; năm tháng trôi qua, họ nhận ra rằng cả những gì sinh ra từ lỗi lầm và sự vô tình đã kết thành một khối không thể cải tạo được. Lajos đã không thể làm gì được tại đây. Khi một người trở về từ quá khứ, tuyên bố một cách cảm động, sẽ giải quyết “tất cả”, ý định này chỉ có thể bị thương hại và nực cười; thòi gian đã “dàn xếp” tất cả, bằng cách riêng, cách duy nhất có thể của nó. Tôi trả lời anh:
– Thôi mà, Lajos. Tất nhiên, tất cả chúng tôi đều vui vì được gặp… những đứa trẻ, cả anh nữa. Chúng tôi không được biết những dự định của anh, chúng tôi rất vui được gặp anh. Chúng ta đừng nói về quá khứ. Anh không nợ ai bất kỳ cái gì.
Vừa nói xong, tôi nhận ra, tôi đã để cho sự hăng hái nhất thời cuốn đi; tôi đã thốt ra “những lời đầu tiên” thực sự giả dối. Chỉ có kẻ bốc đồng và khoác lác mới khẳng định quá khứ không còn nữa, và Lajos “không còn nợ ai bất kỳ cái gì”. Cả hai đều cảm thấy như thế thật giả dối, và ngây người ngắm những hòn sỏi dưới chân. Vậy là chúng tôi bắt đầu nói với nhau, cao giọng quá mức, rít lên, và giá dối. Tôi nhận ra, mình bắt đầu tranh luận, chẳng đâu vào đâu, với những lời lẽ và cảm xúc thực sự khó bề kìm hãm:
– Có thể, không phải vì thế mà anh quay lại, – tôi cố nói nhỏ, e ngại khi cuộc trò chuyện ở hàng hiên bớt rôm rả, người ta có thể để ý và nghe thấy tiếng mình.
– Không, – Lajos nói và ho lên một tiếng. – Anh đến không phải chỉ vì việc ấy. Eszter, anh cần phải nói chuyện với em một lần nữa trong cuộc đời.
– Không còn gì nữa, – tôi nói, với vẻ can đảm và thờ ơ.
– Anh không cần gì cả, – Lajos đáp không chút tự ái. – Lúc này điều anh muốn là vì em. Em nghe đây, hai mươi năm đã trôi qua, hai mươi năm! Không còn nhiều hai mươi năm nữa trong cuộc đời; có lẽ đây là lần cuối cùng. Sau hai mươi năm, tất cả đã trở nên sáng tỏ, rõ ràng và dễ hiểu hơn. Anh biết điều gì đã xảy ra, và cũng biết vì sao nó xảy ra.
– Việc này thật đáng ghét, – tôi nói, giọng khản đặc. – Đáng ghét và nực cười. Chúng ta ngồi đây, những người một lúc nào đó từng liên quan đến nhau, và chúng ta nói chuyện về tương lai. Không, Lajos ạ, tôi đã hiểu, không có bất kỳ tương lai nào cho chúng ta. Hãy quay trở về mặt đất. Có một điều mà anh không biết, một sự kiêu hãnh khiêm nhường riêng của sự tồn tại mà thôi. Làm tổn thương nhau thế đã đủ. Nhắc lại quá khứ là xúc phạm. Anh muốn gì vậy? Anh nghĩ gì vậy? Có ai lấy làm lạ không? Đột nhiên, anh tụ tập mọi người, rồi anh xuất hiện, đĩnh đạc, với những lời xưa cũ, cứ như lời Chúa tự trên trời vậy… nhưng ở đây, ai cũng biết rồi. Chúng tôi đều biết cả, anh bạn ạ.
Tôi nói thong thả, với vẻ trịnh trọng nực cười, mỗi lời đều có vẻ tự tin, như đã cần nhắc vô cùng kỹ lưỡng. Thực ra, dĩ nhiên tôi không nghĩ chín chắn được gì. Tôi không phút nào tin “có thể giải quyết được” điều gì ở đây, tôi không ao ước gục vào Lajos, và cũng không muốn tranh cãi. Tôi muốn gì đây? Tôi muốn thờ ơ với mọi thứ. Anh đang ở đây, anh đã đến đây, sự kiện này là một cái gì đó đặc biệt tất yếu của cuộc đời, anh đang muốn một cái gì đó, đang nghĩ nát óc để đạt được nó, nhưng rồi anh cũng sẽ ra đi, và chúng tôi sẽ lại sống như những ngày xưa cũ. Quyền lực của anh với tôi đã chấm dứt! – tôi cứ nghĩ như vậy, và bình thản nhìn anh một cách thân thiện. Nhưng đồng thời, tôi lại nhận ra trong lòng mình đang trỗi dậy ngay từ lúc khởi đầu cuộc trò chuyện của chúng tôi, những cảm xúc lẫn lộn nhưng không có sự “dửng dưng”; tôi nhận ra, thứ cảm xúc tràn ngập trong những lời tôi nói với Lajos, là dấu hiệu của một mối quan hệ không cầu kỳ, ủy mị, hay chất chứa những mơ mộng hư ảo của ánh trăng trong dĩ vãng. Chúng tôi trò chuyện về thực tại. Và như thể, sau bao nhiêu sương khói mịt mờ, chúng tôi cần phải bấu víu vào thực tại, tôi trả lời rất nhanh, không lựa chọn từ ngữ:
– Anh không thể cho tôi cái gì được nữa. Anh đã lấy đi tất cả, anh đã tàn phá tất cả.
Anh đáp, đúng như tôi chờ đợi:
– Phải.
Rồi bình thản nhìn tôi bằng đôi mắt xám trong veo; và ngó mông lung phía trước. Lời lẽ của anh có một vẻ thơ ngây, gần như vui sướng, như thể đã được khen ngợi ở một kỳ thi. Tôi rùng mình. Con người này là loại người gì? Anh mới điềm tĩnh làm sao; giờ anh nhìn quanh, kiểm tra ngôi nhà, tự nhiên như một kiến trúc sư. Sau đó, anh bắt đầu kể lể:
– Mẹ em mất trong căn phòng trên gác, phía sau cánh cửa chớp kia.
– Không đúng, – tôi sửng sốt. – Mẹ mất ở dưới, trong phòng khách, giờ là phòng của Nunu.
– Hay nhỉ, – anh nói. – Anh quên mất.
Sau đó, anh ném điếu thuốc và đứng dậy đi loanh quanh. Anh bước đến sát tường nhà, đưa tay sở những viên gạch, rồi lắc đầu.
– Hơi ẩm ướt, – anh lơ đãng chê bai.
– Năm ngoái chúng tôi đã tu sửa, – tôi nói, chưa hết sửng sốt.
Lajos trở lại, nhìn sâu vào mắt tôi. Anh im lặng hồi lâu. Chúng tôi nhìn nhau, mắt hơi cụp xuống, chăm chú và tò mò. Vẻ mặt Lajos nghiêm nghị và hết sức thân ái.
– Eszter, một câu hỏi thôi, – anh nói nhỏ, giọng nghiêm trang. – Duy nhất một câu hỏi thôi.
Tôi nhắm mắt, toàn thân nóng bừng, ngây ngất. Cơn choáng váng chỉ xuất hiện trong vài giây. Theo phản xạ tự vệ, tôi giơ tay ra phía trước. “Bây giờ anh ấy sẽ hỏi, – tôi nghĩ. – Chúa ơi, bây giờ anh ấy sẽ hỏi. Cái gì nhỉ? Có thể là, tại sao lại xảy ra mọi cơ sự ấy? Có thể, tôi là kẻ hèn nhát? Không, đây là lúc phải trả lời anh!” Tôi hít một hơi thật sâu và nhìn anh, sẵn sàng trả lời.
– Em nói đi, Eszter, – anh hỏi nhẹ nhàng, giọng ấm áp, – ngôi nhà này vẫn chưa bị thế chấp đấy chứ?