Gần nửa đêm, tôi nghe thấy tiếng những bước chân của Nunu; Nunu bước chậm rãi trên các bậc cầu thang gỗ ọp ẹp, khô mục, từng ba bậc một, Nunu dừng lại nghỉ và đằng hắng nhẹ một tiếng. Cũng như đêm qua, vào giờ này, Nunu dừng lại trên bậc cửa, với cây nến chập chờn trong tay. Vẫn trong bộ đồ màu đen trang trọng duy nhất mặc lúc ban ngày mà có lẽ Nunu không có thời gian để thay.
– Con chưa ngủ, – bà nói và ngồi xuống giường bên cạnh tôi; Nunu để cây giá nến lên bàn.
– Con có biết là họ mang đi cả những lọ mứt?
– Không, – tôi nói; rồi ngồi dậy trên giường, và bắt đầu bật cười.
– Chỉ những lọ mứt đào thôi, – Nunu lãnh đạm thông báo. – Cả hai mươi lọ. Eva, cháu nó xin. Cả những bông thược dược còn lại ngoài vườn nữa, họ cũng lấy đi. Chẳng sao. Giá còn thì đến giữa tuần chúng sẽ nở rộ.
– Ai lấy những bông thược dược? – tôi hỏi.
– Người đàn bà.
Nunu đằng hắng, bà khoanh tay ngồi thẳng, bình thản và tự chủ, như bà vẫn xử sự mọi lúc. Tôi cầm lấy bàn tay không lạnh, cũng không nóng của Nunu.
– Để kệ họ lấy đi, Nunu à, – tôi nói.
– Tất nhiên rồi, – Nunu cũng nói. – Họ cứ việc, con à. Nếu không thể khác được.
– Con không xuống được để cùng ăn tối, – tôi còn nói thêm, và siết tay Nunu nài nỉ. – Nunu đừng giận. Họ không ngạc nhiên à?
– Không. Họ chỉ không nói gì. Ta nghĩ họ không ngạc nhiên.
Chúng tôi nhìn lưỡi lửa nến chập chờn. Tôi cảm thấy lạnh.
– Nunu yêu quý, – tôi yêu cầu. – Nunu hãy đóng hộ con những cánh cửa sổ. Và ở kia, trên giá tủ có ba lá thư. Xin Nunu vui lòng mang lại đây cho con.
Nunu chậm rãi đi ngang phòng, thi thoảng bóng bà phình lớn trên tường. Nunu đóng những tấm cửa liếp, cầm mấy lá thư đến rồi đắp lại chăn cho tôi và ngồi xuống bên mép giường, hai tay khoanh vào nhau với vẻ trang nghiêm trong bộ quần áo ngày lễ, cứ như đang trong một lễ hội cuộc đời kì dị nào đó… một lễ hội khác thường, không phải đám cưới, cũng chẳng phải đám tang. Nunu cứ ngồi như thế và im lặng.
– Nunu hiểu? – tôi hỏi.
– Ta hiểu, ta hiểu, con ạ, – Nunu nói và ôm lấy tôi.
Chúng tôi ngồi như vậy, và chờ cho ngọn nến cháy tàn, hoặc chờ những cơn gió lùa rít quanh ngôi nhà từ lúc nửa đêm rung giật cây cối trong vườn thôi đừng thổi nữa, hoặc chờ chóng đến bình minh; tự tôi cũng không biết chúng tôi chờ đợi điều gì. Tôi rùng mình.
– Con mệt đấy, – Nunu nói và đắp lại chăn.
– Vâng, – tôi nói. – Con cảm thấy rất mệt. Nunu biết không, tất cả thật là nhiều đối với con. Con muốn ngủ. Nunu quý mến, đọc cho con ba lá thư này đi.
Nunu lấy chiếc kính lão từ trong túi áo choàng, và chăm chú xem những bức thư.
– Lajos viết, – Nunu nói.
– Nunu nhận ra chữ viết của anh ấy à?
– Ừ, con mới nhận?
– Mới.
– Lajos viết khi nào?
– Hai mươi năm trước.
– Do lỗi của bưu điện hay sao mà đến bây giờ con mới nhận được?… – Nunu tò mò và giận dỗi hỏi.
– Không, không phải do lỗi của bưu điện, – và tôi mỉm cười.
– Thế do lỗi của ai?
– Của Vilma.
– Cô ta đã lấy trộm?…
– Vâng.
– Ra vậy, – Nunu nói và thở dài. – Người hãy yên nghỉ. Ta chưa bao giờ yêu quý cô ấy.
Nunu chỉnh lại gọng kính trên sống mũi, và nghiêng người về phía ngọn nến, và bắt đầu đọc một trong ba bức thư với giọng khẽ khàng như tiếng hát của cô nữ sinh:
– “Người yêu trăm quý ngàn thương duy nhất trên đời của anh, – Nunu đọc, – cuộc đời đang đùa vui một cách kì diệu với chúng ta. Anh không có niềm hy vọng nào khác ngoài việc đi tìm, và cuối cùng đã gặp em trong đời…”
Nunu ngừng đọc, lấy tay đẩy gọng kính lên trán, rồi với đôi mắt long lanh những giọt nước mắt xúc động vì thán phục thực sự, bà quay về phía tôi:
– Anh ấy biết viết những bức thư mới tuyệt diệu làm sao!
– Vâng, – tôi nói. – Nunu đọc tiếp đi. Anh ấy là người có khiếu viết thư mà.
Nhưng ngọn gió cuối tháng Chín, cho đến lúc này vẫn quỷ quyệt gầm rít quanh nhà, giờ đây như thể mang tin báo về từ một nơi nào đó, giật tung cánh cửa sổ khiến những tấm rèm bay phần phật, chạm vào và làm dịch chuyển các đồ vật quanh phòng. Rồi gió thổi ngọn nến tắt phụt. Cảnh đó in rõ trong tâm trí tôi, sau đó tôi mơ màng thấy Nunu khép những cánh cửa lại, rồi ngủ thiếp đi.