Đường Ra Trận

Lượt đọc: 10 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
III
III

❊ ❊ ❊

Am về gác trạm chắn xe một mình. Gần sáng, đường đã hết xe vào xe ra. Sương mù từ dưới thung lũng bốc lên, tràn qua các hẻm núi, cuồn cuộn lùa vào trong trạm. Màu sương trắng bệch và ấm lạnh. Ngọn đèn hiệu mờ hẳn đi, thành một đốm vàng nhòe. Nhìn ngọn đèn hiệu, Am tưởng đến cảnh đoàn xe anh Chiến đang vượt sương mù và tưởng đến cái đang đi trầm lặng, vững chắc của anh Hồi đang dẫn đoàn xe. Các anh vất vả quá…

Am đang nghĩ miên man, đột nhiên một tiếng hồ da dội ngay phía trước trạm. Nghe một làn gió mạnh tạt qua mặt và tiếng cây rừng rung rào rào, Am thầm kêu: “bom nổ chậm!” và chú nhào ra đường. Tiếng nổ đã dứt, nhưng âm vang của nó đập qua lại giữa các vách núi còn lan rất xa. Màn sương mù dày đặc hình như cũng bị chấn động. Nhưng sương mù che phủ mọi địa hình, Am không sao nhận biết được tiếng nổ vừa phát ra ở đâu. Am đang lúng túng thì một tiếng nổ, rồi một tiếng nổ nữa tiếp theo liền. Am đã nhận ra điểm nổ, Am nhảy xuống chân ta–luy đường, nằm dán mình dưới rãnh thoát nước. Mặt đất chao đi, một sức ép ngầm, dội mạnh vào ngực Am. Am nghe rõ một tiếng rất dài, nhọn hoắt, xoay tròn ngay trên đầu, và một vật gì đó rất mạnh trên bờ đá ta–luy, bắn tóe ra những tia sáng nhỏ… Lát sau, Am dò dẫm theo bờ đá ta–luy và nhặt được một mảnh bom dài, nham nhở và cong vặn.

Am giữ mảnh bom, đợi anh Hồi trở về, đưa cho anh. Anh Hồi nói:

– Theo chú thì mảnh bom này là thế nào?

– Đây là mảnh bom cũ. Chắc mấy quả bom nổ chậm vừa rồi bị vùi ở dưới sâu, khi chúng tôi, chúng hát mảnh bom phá này ra xa. Mấy quả bom nổ chậm vừa rồi là ở bãi bom dưới chân đèo, chỗ có cây dâu da rừng…

Anh Hồi ngắm nghía mảnh bom hồi lâu rồi lắng lặng đi xuống chân đèo. Lát sau, anh trở về và nói với Am:

– Chú khá lắm, mấy quả bom nổ chậm vừa rồi đúng là bị vùi dưới bãi bom cạnh gốc cây dâu da rừng… Dạo này bọn địch thường thả bom nổ chậm lẫn với bom phá, để bom phá nổ chùm lên. Nhưng chúng “khôn mà không ngoan”! Chú có để ý đường bay của chúng thường phải cố định không? Thế tức là mình nắm được “đường bom” của chúng rồi. Chú nên cẩn thận, ở bãi bom gần lối rẽ vào bãi giấu xe chắc còn bom nổ chân! Đây là loại bom nổ cách nhau khoảng từ tám đến mười tiếng đồng hồ. Thế nào chiều mai chúng cũng nổ…

Quả nhiên chiều hôn sau, một dây bom nổ chậm đã nổ đúng chỗ anh Hồi chỉ. Am rất ngạc nhiên về sự phản đoán tinh tường và chính xác của anh Hồi. Am nghĩ: “Mình đã ra gác trạm với anh ấy bao nhiêu đêm, nhưng mình chẳng hiểu gì hết!” Am ân hận, tự trách mình đã thờ ơ với cái trạm chắn xe nhỏ bé, đơn sơ và để bù đắp lại, Ai bắt đầu chú ý đến từng chi tiết nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống thường ngày của anh Hồi.

Trạm chắn xe, nhìn bề ngoài chẳng có gì khác lúc anh Hồi mới tới: Một mái lều dụng chênh vênh. Một ngọn đèn hiệu. Một thanh chắn ngang đường. Phía sau trạm, một căn hầm. Một vỏ phuy xăng đã bị mảnh đạn xuyên thủng lỗ chỗ, trét tạm bằng xi–măng, dùng để chứa nước. Mấy hòn đá kê làm bếp đun, đặt trong một hủm đất, khuất sau rặng cây… Tất cả đều sở sài và khắc khổ. Nhưng nếu để ý kỹ, thì thấy rõ không phải như vậy. Tất cả đều được bàn tay anh Hồi gìn giữ, sửa sang rất chu đáo, sạch sẽ, ngăn nắp và ấm cúng, vẻ như là một cơ ngơi anh sẽ ăn đời ở kiếp vậy. Chăn màn của anh bao giờ cũng gập vuông vắn trên đầu chiếc giường ván hẹp; chiếc giường di động, gặp những ngày địch đánh phá ác liệt, có thể chuyển gọn xuống hầm. Ngọn đèn hiệu không bao giờ ám khói. Trong góc hàm, anh tích trữ từ chiếc đinh ốc, một mảnh vụn xác máy bay và đủ các loại vỏ đồ hộp. Bên cạnh bếp, có cả một chuồng gà ; những đêm yên tĩnh, tiếng gà cục cục trong chuồng nghe như chúng đang rì rầm trò chuyện.

Am nhớ, mỗi lần anh Hội vào nhà Am chơi, anh lại cho cái Hòa, thằng Hợp mỗi đứa một thứ đồ chơi xinh xắn làm bằng mảnh vụn xác máy bay. Lúc nào rỗi, anh Hồi chỉ hí húi làm đồ chơi bằng mảnh vụn các máy bay và bằng vỏ đồ hộp. Anh làm rất khéo. Nào những chiếc nhẫn, chiếc lược; nào những chiếc huy hiệu, máy bay “Mich” của ta đang đuổi bắn máy bay Mỹ, những khẩu pháo cao xạ, những chiếc xe “Din”, xe “Giải phóng” xe “I– pha”… Anh chia đồ chơi cho trẻ con khắp xóm.

Anh Hồi năm nay ba mươi tuổi, đã có ba con. Quê anh ở vùng cửa sông, chỉ cách một bãi cát trắng, một dải rừng phi lao là đến biển. Nhìn thân hình chắc lẳn, vạm vỡ, nước da nâu bóng và săn, nghe giọng nói trầm nặng, âm vang của anh như còn phảng phất hình ảnh của biển, của sông và hương vị của gió cát, của muối mặn… Anh làm công nhân đẩy sào ngoài bến phà, Bến phà của anh bị địch giội bom dữ dội ngay từ ngày đầu chiến tranh. Anh đã trải qua hàng trăm trận bom, giữa lúc con phà lênh đênh trên sông nước. Chẳng bao giờ anh nghĩ đến chuyện đi xa dòng sông. Vậy mà anh đã đi xa, lên tận miền rừng. Suốt mấy năm nay, anh đã giữ nhiều trạm chắn xe; ở trạm nào anh cũng chỉ sống một mình. Tuy nhiên, anh Hồi không sống cô độc. Anh gắn bó với nhân dân địa phương. Vì vậy, những lúc ngồi rỗi rãi, nhớ các con, anh lại hí húi làm đồ chơi và đem chia cho trẻ em trong xóm.

Lũ trẻ trong xóm Mũi Chông rất mến anh Hồi. Chúng thường bày ra trò chơi lái xe vượt đèo Mũi Chông và đứa nào cũng đòi được làm anh Hồi đứng ở trạm chắn xe. Mỗi lần Am đi gác trạm, cái Hòa lại dắt thằng Hợp lẵng nhẵng theo Am ra tận đầu xóm. Am đuôi chúng về. Chúng đứng xị mặt, nhìn theo Am, vẻ thèm thuồng và ghen tị. Những lúc ấy, Am thường nghĩ: “Chúng nó thực trẻ con. Ra trạm chắn xe thì có gì lạ nào!” Bây giờ nhớ lại, Am cảm thấy xấu hổ vì cái ý nghĩ hợm hĩnh mà ngu dốt của mình. Am đề nghị chị Thanh giao cho làm bất kỳ việc gì có thể gần gũi anh Hồi ngoài trạm chắn xe.

Đội xung kích của chị Thanh ở chiến dịch sửa chữa đường. Mùa vận chuyển lớn sắp tới. Các đoàn xe vượt đèo Mũi Chông mỗi đêm một tăng. Máy bay địch cũng tăng cường đánh phá trên khắp tuyến đường. Lực lượng thanh niên xung phong và công nhận giao thông phải tập trung vào những quãng đường xung yếu nhất. Vì vậy, cần huy động tất cả các đội xung kích phục vụ giao thông của thanh niên địa phương ra mặt đường.

Chị Thanh chia đội xung kích thành hai nhóm. Một nhóm tuần tra mặt đường, tìm hút bom nổ chậm và phá bom. Một nhóm nhỏ chuyên làm biển báo bom và làm cọc tiêu. Anh Hồi trực tiếp hướng dẫn nhóm đầu. Anh hiểu rõ con đường đèo và mọi đường ngang lối tắt trong vùng đến trước mọi người đều phải kinh ngạc. Anh đã đi lại trên những con đường ấy hàng trăm lần, trong nắng mưa, trong sương gió, giữa đêm khuya và giữa những đợt dinh tạc dữ dội nhất của máy bay địch. Anh thuộc từng con dốc, từng khúc suối quanh, từng mảnh nướng hẹp chênh vênh trên sườn núi. Để theo dõi bom nổ chậm, anh đã “đánh dấu” khắp vùng bằng những ngọn cây đột khởi, hoặc các vạt rừng có màu lá khác biệt. Đến khi đi tìm các hút bom, anh lại tỉ mỉ để ý những dấu vết nhỏ bé trên mặt đất: một hốc cây, một hòn đá có hình thù kỳ quái, một tổ chim trong bụi gai… Am và các bạn đội viên thiếu niên lớn tuổi ở trong nhóm chuyên làm biển báo bom và làm cọc tiêu. Am không thích suốt ngày đi luồn rừng, tìm gỗ, chặt gỗ rồi ngồi cặm cụi cưa xẻ. Am thích được ra mặt đường, đi tìm hút bom nổ chậm. Mỗi lần giao những tấm biển báo bom nổ chậm cho anh Hồi, Am lại khao khát muốn biết những tấm biển ấy sẽ được cắm ở những đân. Mỗi lần nghe tiếng bom đột ngột nổ vang rền ngoài đường đèo, Am lại muốn chạy ngay ra chỗ đỏ, xem anh Hồi đa hướng đẫn nhóm xung kích phá bom bằng cách nào… Trước đây, hình ảnh anh Hồi, đối với Am, càng bình thường bao nhiêu thì bảy giờ càng hấp dẫn Ai bấy nhiêu. Nhưng mỗi lần Am tỏ ý muốn được đi theo anh, anh chỉ cười hồn nhiên và anh nói gọn, vẻ như anh chẳng có gì đặc biệt đáng mọi người phải lưu ý:

– Chú ra gác trạm, chú đã gần anh chán ra rồi đấy thôi! Chú theo anh ra mặt đường hay ở nhà đẽo cọc tiêu thì cũng là nhiệm vụ cả!

Công việc sửa chữa những quãng đường bị mưa rừng làm sụt lở đã sắp hoàn thành. Bọn Am cũng đã đo gần xong số cọc tiêu cần thay trên những cua đường khó đi. Nhưng các anh, chị lớn vẫn tiếp tục đi tìm nguồn khai thác đá, vận động nhân dân ủng hộ gỗ làm vật liệu dự trữ và bọn Am vẫn tiếp tục đẽo cọc tiêu. Am đã quen với những hoạt động của con đường, Am hiểu ngay đó là dấu hiệu mở đầu của chiến dịch vận chuyển lớn. Một hôm, anh Hồi bảo Am:

– Nghe nói chú trèo lên lèn đá bắt sáo giỏi lắm phải không?

Am không hiểu anh Hồi có ý gì.

– Anh muốn lên đỉnh lèn. Anh đã hội ý với chị Thanh, chị Thanh cử chú dẫn anh đi đấy. Chú đi không?

Am định nhón chân đi ngay. Nhưng anh Hồi ngăn chú lại, bảo chú phải chuẩn bị kỹ lưỡng, vì hai anh em sẽ lên đỉnh lên ở qua đêm, đến hôm sau mới về.

Từ xóm Mũi Chông, đi tắt đến chân lên phải mất non một buổi. Lèn đá là một bức tường dựng đứng trên một chóp núi cao; chóp núi đó chắn ngang nên đường đèo Mũi Chông khi đã vươn tới đỉnh, phải đổ xuống theo một vòng cung dài. Những buổi mù sương, đứng dưới thung lũng nhìn lên, chỉ thấy vách lèn lờ mờ một vệt trắng, nhân dân trong vùng liền gọi là “lèn đá lửng”, để phân biệt với những làn đá thấp phía dưới này. Quanh năm, chẳng mấy ai lên đến lèn đá lửng; những đàn sáo mỏ ngà và mỏ vàng kéo nhau về làm tổ đầy các hốc đá. Từ lèn đá, chúng sà xuống và bay dọc ngang khắp thung lũng, có đàn đông rợp như một đám mây. Chúng tha mồi và đủ thứ rơm rác về tổ, chúng bay tíu tít suốt ngày, chúng tranh cãi nhau suốt ngày, ồn ào như họp chợ. Mùa sáo nở, bọn Am thường rủ nhau lên lèn đá lủng bắt sáo con. Chú thuộc đường nên cứ bám vào các mấu đá, leo nhanh thoăn thoắt. Anh Hồi phải vất vả lắm mới theo kịp Am.

Khoảng xế chiều, anh Hồi và Am lên đến đỉnh lên, Trên đó, có một bãi đất bằng nho nhỏ. Đứng giữa bãi đất bằng, tầm mắt có thể phóng ra xa, bao quát cả một vùng.

– Chú Am nhìn xem kia, con đường đã rõ chưa!

inline

Trước đây, mỗi lần Am lên lèn, Am chỉ chú ý đến những tổ sáo. Nghe tiếng reo vui của anh Hồi, nhìn theo tay anh chi, Am bỗng nhận ra một quang cảnh hoàn toàn mới mẻ, trong đó nổi bật con đường dài phía bên kia đèo Mũi Chông. Con đường chạy ngoằn ngoèo theo sườn núi, khúc ca khúc hiện và đổ xuống thấp dần. Tới thung lũng bên kia núi, con đường vượt qua một bãi trống mênh mông, điểm thành một vệt nâu, thẳng tắp như một sợi chỉ căng trên nền cỏ xanh đậm nhạt. Đấy là “bãi tàu bay”, theo cách gọi của các anh lái xe, một trong điểm đánh phá của địch, ác liệt không kém gì đoạn đường đèo.

– Những hôm mù giời, máy bay chúng sợ vướng núi, chúng thường it đánh phá đường đèo mà tập trung vào đánh phá ở “bãi tàu bay”, anh Hồi nói. Anh đã đi xem xét đoạn đường vượt qua “bãi tàu bay” nhiều lần. Nhưng anh muốn lên đây theo dõi quy luật hoạt động của chúng nó. Lên đây, nhìn bao quát hơn, mình sẽ nắm vững hơn.

Đúng như anh Hồi nói, chỉ lúc sau Am đã chứng kiến một hoạt động bất ngờ của máy bay địch. Lúc đó, mặt trời đã khuất sau dãy núi xa. Khắp các thung lũng, bóng tối nhuộm màn sương thành một màu tím biếc. Do thế núi chạy dùng hàng và mở rộng về phía tây, riêng bãi tàu bay vẫn còn đọng ánh hoàng hôn vàng rực.

– Máy bay!

Am nghe anh Hồi khẽ kêu lên. Am nhìn quanh, không thấy máy bay đâu, cũng không nghe tiếng động cơ máy bay gì cả. Lát sau, chú thoáng thấy một vệt đen và dài, như một con thoi lướt nhanh qua vầng sáng mặt trời. Con thoi đen mất hút, Rồi đột nhiên, nó hiện ra to lù lù, đầu nhọn, hai cánh vát về phía sau; nó nhào xuống, trượt theo “bãi tàu bay”, tiếng động cơ của nó xiết mạnh vào bầu không khi nghe như xé.

– Giờ này, muốn xuống “bãi tàu bay” chúng nó chỉ có một đường thôi; bay từ phía tây bay lại, anh Hồi nói. Mặt trời lặn rồi, chúng sẽ không dám bay kiểu ấy nữa đâu. Anh em ta tìm chỗ cắm lều nghỉ, xem ban đêm chúng sẽ bay theo những kiểu gì!

Anh Hồi mang theo một chiếc lều bạt. Cắm lều xong anh Hồi bảo Am đi ngủ. Nhưng Am không sao ngủ được. Nằm trên đỉnh lèn cao chót vót, Am thấy nó cứ chênh vênh thế nào… Chưa bao giờ Am thấy bầu trời rộng, trong suốt và những vì sao chảy sáng như đêm nay. Đứng dưới sân nhà Am nhìn lên, thường chỉ thấy bầu trời thu hẹp, với những dãy núi chạy vòng quanh, cắt thành hình răng cưa Trong trí nhớ của Am, bầu trời nhỏ hẹp, trên mảnh sân nhà quen thuộc ấy gắn liền với những câu hát mẹ ru từ thuở còn thơ ngây “ Ông giẳng ông giăng, xuống chơi nhà tôi, có nồi cơm nếp, có nệp bánh chưng, có lưng be rượu…) hoặc là những câu hát đố đếm sao: Một ông sao sáng, hai ông sáng sao…? đếm không bao giờ hết. Những câu hát mở ra cả một thế giới huyền bí, xa xôi, không thể nào tới được. Đêm nay, nằm trên đỉnh lửng, ngửa mặt ngắm trời, Am lại thấy cái thế giới của ông giăng và các ông sao xiết bao gần gũi, dường như có thể cầm cây sào kều các vì sao rụng xuống.

– Sao chở không ngủ đi! Anh Hồi sẽ hỏi Am.

– Em không ngủ được… Ở đây, nhìn trời rộng quá, em thấy lạ quá…

– Anh cũng không ngủ được! Anh Hồi im lặng giây lát rồi nói, ở quê anh, chỉ có bãi cát và biển, chẳng có gì che chắn tầm mắt mình, trời cũng rộng bát ngát như thế này. Nhìn những cánh rừng đang động gió ở dưới kia, thấy cứ gợn lên, giống hệt những đợt sóng biển đang tràn vào vùng cửa sông, nơi anh vẫn làm phá…

Nằm cạnh anh Hội, rì rầm trò chuyện với anh, dưới bầu trời đêm yên tĩnh, trong sáng và đẹp đến như thế, Am càng thấy tiếng máy bay địch, mỗi lần chúng đến quấy nhiễu, càng vẩn đục lên… Một đêm ấy, máy bay địch đã đến quấy nhiễu nhiều lần. Có lần, chúng chỉ lảng vảng ở một đoạn đường nào ra, ánh đèn dù rớt xuống lấm tấm như tàn đuốc. Có lần chúng bay mò, tiếng động cơ quanh quần tất trên mây. Có lần chúng thả đèn dù liên tiếp, chẳng thành những dãy sáng chạy ngoằn ngoèo và những chiếc máy bay phơi bụng ra trắng lóa… Từ khi về phụ trách trạm chắn xe, chưa bao giờ Am thấy anh Hồi dùng đến bản đồ. Tấm bản đồ chính xác, tỉ mỉ và sinh động nhất ở ngay trong óc anh. Anh đi, anh nhìn, anh nghe, anh thực sự trải qua… và tất cả những điều đó in sâu mãi mãi vào trí nhớ của anh. Anh nói:

– Khi nào địch đánh đèo Mũi Chông, nhất thiết chúng không cùng đánh “bãi tàu bay” được. Khi nào chúng đánh “bãi tàu bay”, nhất thiết chúng cũng không cùng đánh đường đèo được. Vì đường bay của chúng phải giao nhau ngay trên chỗ anh em ta cùng lều đây này Rồi anh lại nói:

– Ở đây ta sẽ đặt mật khẩu cao xạ 12 ly 7 để đón chúng, thực là tuyệt!

Những kết quả quan sát được qua một đêm trên đỉnh lửng khiến anh Hồi đặc biệt vui thích. Sớm hôm sau, trên đường về, anh hào hứng giảng cho Am hiểu cái trạm chắn xe nhỏ bé dưới chân đèo Mũi Chông liên quan đến chiến dịch vận chuyển lớn sắp tới như thế nào. Đó là chiến dịch mở đầu mùa khô – mùa ta đánh địch dồn dập trên khắp các chiến trường.

– Chú đã thấy những đoàn xe nối tiếp nhau đi thâu đêm, qua trạm của ta rồi đấy. Những đoàn xe ấy chở gì? Chở súng đạn, gạo muối, thuốc men… Còn chờ gì nữa? Chở cả thóc giống, phân hóa học, xi–măng, kim chỉ… cho đồng bào vùng hỏa tuyến vừa sản xuất vừa chiến đấu. Lại chở cả giấy bút mực cho các em học sinh, các em sống sát mặt trận vẫn theo đường hào đi học như thường… Nếu trạm của ta không nắm vững tình hình địch, tình hình đường sá, điều khiển giao thông tốt, nhưng toàn xe ấy gặp tai nạn đâm đổ, chạm bom nổ chậm hoặc tắc lại thì chú tính sao?

Anh Hồi dừng lại giây lát rồi say sưa kể:

– Có một vị tướng vào trong này kiểm tra đường. Vị tướng ấy đã nói với đồng chí binh trạm trưởng vận tải: Đồng chí hãy xuống các trạm ba–ri–e một thời gian, đồng chí sẽ hiểu công việc vận tải hàng ra trận phải làm như thế nào!

Nghe anh Hồi nói, Am không muốn trở về nhà nữa. Ngày hôm ấy, Am ở lại trạm chắn xe với anh Hồi.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.