
Nellie, chiếc thuyền hai buồm, buông neo không một tiếng buồm lật phật, lặng lẽ nghỉ ngơi. Nước đã xuống, gió cơ hồ đã lặng; được buộc dưới sông, nó chỉ còn một việc là đậu đó đợi triều lên.
Cửa sông Thames trải dài trước mắt chúng tôi, như khởi đầu của một thủy lộ dài bất tận. Ngoài khơi xa biển và trời liền thành một tấm áo không thấy đường may, và trong không gian lung linh này, những cánh buồm rám nắng vẫn dập dờn trên ngọn thủy triều như đứng yên thành từng cụm vải bạt đỏ chóp nhọn, lấp lánh ánh vécni từ những cột buồm. Sương lan trên những bãi bồi phẳng lì chạy dài tít tắp về phía biển. Bầu trời trên Gravesend[1] tăm tối, còn phía xa dường như vẫn ngưng tụ thành một quầng u ám thảm sầu, âm trầm bất động trùm lên đô thành lớn nhất và vĩ đại nhất trên trái đất.
Tay Giám đốc Công ty là thuyền trưởng và chủ nhà của chúng tôi. Bốn người bọn tôi[2] trìu mến nhìn bóng lưng gã đứng trên mũi thuyền, nhìn về phía biển. Cả sông không có hình ảnh nào đại dương bằng nửa gã. Nhìn gã như một hoa tiêu, niềm tin của người đi biển được nhân cách hóa. Khó mà nhận ra, nghề của gã không phải ngoài kia, nơi giang khẩu lung linh, mà ở sau lưng, giữa vùng âm trầm u ám nọ.
Giữa chúng tôi, như đã có lần tôi từng nói[3], có sự gắn bó của biển khơi. Ngoài việc neo đậu lòng nhau sau những quãng dài xa cách, nó còn giúp chúng tôi chịu đựng được những huyên thuyên, thậm chí là định kiến, của nhau. Tay Luật sư - loại bạn già chơi rất được - bởi tuổi cao đức trọng nhất hội, sở hữu cái đệm duy nhất trên boong, và nằm trên tấm thảm duy nhất. Tay Kế toán ôm theo hộp domino và đang lẩn mẩn xây nhà với những mảnh ngà. Marlow ngồi xếp bằng ở đuôi tàu, lưng dựa vào cột buồm lái. Má hóp, da vàng, lưng thẳng, dung mạo khắc khổ, đôi tay buông xuôi, lòng bàn tay ngửa ra trước, gã nhìn như một bức ngẫu tượng. Tay giám đốc, yên tâm là neo đã chắc, xuống đuôi tàu nhập bọn với chúng tôi. Cả bọn uể oải trò chuyện đôi lời. Rồi boong tàu chìm trong im lặng. Bởi lẽ gì đó, chúng tôi không bắt đầu ván domino ấy. Chúng tôi thấy trầm tư, chẳng có hứng làm gì ngoài tĩnh tâm quan sát. Ngày tàn dần trong cái bình lặng của ánh quang huy thanh tĩnh và tú lệ. Nước tỏa sáng một cách bình yên; vòm trời, không một gợn mây, như một khoảng mênh mông ôn nhuận ngập tràn thứ ánh sáng vô nhiễm; màn sương trên đầm lầy miền Essex[4] giống một tấm sa mỏng phát quang, rủ xuống từ những triền cao cây phủ trong nội địa, buông từng lớp trong mờ lên những bãi bồi. Chỉ riêng vùng ảm đạm phía tầy, vần vũ trên thượng lưu, là mỗi lúc một thêm u ám, như thể phẫn nộ trước sự lấn tới của mặt trời.
Và cuối cùng, trong một đường lặn hình cung không thể cảm nhận được, mặt trời chìm dần, và từ màu trắng rực đổi sang sắc đỏ đục không phát quang và tỏa nhiệt, như thể sắp đột ngột tắt lịm, bị hạ sát khi chạm phải quầng u ám đang vần vũ trên một vùng người.
Lập tức mặt nước bắt đầu thay đổi, và vẻ bình lặng kia bớt xán lạn nhưng lại nồng đậm hơn. Con sông lâu đời an tĩnh nghỉ ngơi giữa dòng nước mênh mang lúc ngày tàn, sau bao thuở phục vụ đắc lực chủng tộc định cư hai bên bờ, trải rộng trong vẻ tôn nghiêm bình đạm của một thủy lộ dẫn đến những chốn tận cùng trái đất. Bọn tôi quan sát dòng chảy khả kính này, không phải dưới hồng quang rực rỡ của một ngày ngắn ngủi một đến rồi đi không trở lại, mà trong ánh sáng uy nghi của ký ức trường tồn. Và quả thực, với kẻ từng, như người ta vẫn nói, “đi theo tiếng gọi biển khơi” với niềm đam mê và sùng kính, không gì dễ dàng hơn việc triệu hoán những anh linh quá khứ trên hạ lưu sông Thames. Con nước thủy triều vẫn miệt mài, tận tụy xuống lên, tràn ngập ký ức về người và thuyền từng được nó đưa về lại cố hương hoặc đem vào hải chiến. Nó từng quen biết và phục vụ tất cả những con người mà dân tộc này hằng tự hào, từ Sir Francis Drake tới Sir John Franklin, đều là Hiệp sĩ, có tước hiệu và không tước hiệu[5] - những hiệp khách giang hồ của biển cả. Nó từng vận chuyển những con tàu với cái tên lấp lánh như ngọc trong đêm tối thời gian, từ chiếc Golden Hind trở về với hai mạn tròn chất đầy châu báu và được ngự giá Nữ hoàng đến thăm, rồi từ ấy rời xa dòng chảy huyền thoại này[6], đến chiếc Erebus và Terror, theo đuổi những cuộc chinh phục khác - và không bao giờ quay lại[7]. Nó biết rõ cả hải thuyền và hải khách. Họ giong buồm từ Deptford, Greenwich và Erith[8] - kẻ phiêu lưu lẫn người lập nghiệp; tàu Hoàng gia cùng thuyền thương khách; thuyền trưởng, đô đốc, đám hắc thương[9] vùng Viễn Đông, các “tướng lĩnh tự phong của Hải đội Đông Ấn. Săn vàng hay cầu danh, ai nấy đều khởi hành theo dòng chảy ấy, mang gươm, và thường là cầm đuốc, sứ giả của quyền uy từ lục địa, hộ tống một điểm tinh hỏa từ ngọn lửa thiêng. Có sự vĩ đại nào không từng theo con nước của dòng sông ấy đến với bí ẩn của một miền đất lạ!... Giấc mơ của con người, hạt giống của thịnh vượng chung, mầm mống của đế quốc.
Mặt trời lặn; hoàng hôn trùm lên dòng sông, và ánh đèn bắt đầu xuất hiện ven bờ. Hải đăng Chapman, một vật thể ba chân mọc lên từ bãi lầy, chiếu sáng rực rỡ. Ánh đèn từ những con tàu di chuyển trên thủy đạo - một dòng ngược xuôi tấp nập của những ngọn đèn. Và xa hơn về tây, trên thượng lưu, vùng trời phía trên thành phố khổng lồ kia vẫn mang dấu hiệu bất tường, một vầng âm trầm u ám trong ánh tịch dương, một tia nhìn giận dữ chói gắt dưới trời sao.
“Nơi đây,” Marlow đột ngột lên tiếng, “cũng từng là một trong những chốn tối tăm trên trái đất.”[10]
Gã là người duy nhất trong cả hội còn “đi theo tiếng gọi biển khơi.” Nếu có nói xấu được gã điểm gì thì đó là gã không đại diện cho tầng lớp của mình. Gã là hải khách nhưng cũng là lãng khách, trong khi phần lớn những người đi biển khác sống một cuộc đời, ta tạm gọi là, yên vị. Đầu óc họ mang tâm thức tại gia, và nhà của họ luôn đi cùng họ - con tàu; và tổ quốc của họ cũng vậy - biển cả. Tàu nào cũng giống tàu nào, và biển cả thì muôn đời vẫn thế. Trong sự bất biến của môi trường quanh họ, những duyên hải xa xôi, những mặt người xứ lạ, những bao la biến động của cuộc đời, tất cả lướt qua, được che phủ không phải bởi cảm giác huyền bí mà dưới một thái độ vô tri ít nhiều khinh thị; bởi đối với người đi biển, chẳng có gì huyền bí trừ bản thân biển cả, người tình của sự hiện tồn của y, và khó nhìn thấu như chính số mệnh. Với họ, sau giờ lao động, một cuộc dạo chơi hoặc truy hoan tùy tiện trên bờ là đủ khám phá bí mật của cả một lục địa, và nhìn chung họ thấy bí mật này chả có gì đáng biết. Chuyện của dân đi biển có một sự giản đơn trực diện, toàn bộ ý nghĩa của nó chỉ gói gọn trong một cái vỏ lạc vỡ[11]. Nhưng Marlow không phải dân đi biển điển hình (không kể xu hướng huyên thuyên ở gã), và với gã, ý nghĩa của sự kiện không nằm trong hạt lạc, mà ở ngoài, bao quanh sự tích phát sinh ra nó giống như nguồn sáng nhiệt phát sinh hồng quang, tương tự như những quầng sáng đôi khi ta vẫn quan sát thấy nhờ quang phổ của ánh trăng.
Bình luận của gã không làm ai ngạc nhiên. Marlow là như thế. Phát ngôn ấy được đón nhận trong im lặng. Thậm chí chẳng ai buồn lầm bầm; và lúc này gã đang nói, rất chậm rãi...
“Tôi đang nghĩ về thời xa xưa, khi quân La Mã lần đầu đặt chân đến đây, một ngàn chín trăm năm trước[12] - như mới hôm qua... Ánh sáng đã phát xuất từ dòng sông này từ... thời các Hiệp sĩ, nhỉ? Phải; nhưng nó như một lưỡi lửa chạy trên đồng cỏ, một vệt chớp giữa trùng mây. Chúng ta sống dưới ánh sáng bập bùng ấy - cầu cho nó bền lâu như vòng quay của trái đất này! Nhưng hôm qua bóng tối vẫn ở đây. Thử tưởng tượng, cảm giác của viên chỉ huy một chiếc... gọi là gì nhể? – Trireme[13] ưu tú trên Địa Trung Hải, đột nhiên bị điều lên phương bắc; vội vàng đi đường bộ băng qua Gauls; và được giao một con thuyền, loại vẫn được các quân đoàn La Mã - hẳn toàn những kẻ khéo tay ghê gớm - đóng cả trăm chiếc trong một, hai tháng, nếu những gì ta vẫn đọc là đáng tin. Thử hình dung ra gã ở đây - nơi tận cùng thế giới, biển màu chì, trời màu khói, kiểu thuyền vững chãi như cây đàn concertina[14] - bơi ngược sông đem theo quân nhu, hoặc mệnh lệnh, hoặc gì cũng được. Bờ cát, đầm lầy, rừng rú, man dân - cơ hồ không có gì vừa miệng người văn minh, không có gì để uống ngoài nước sông Thames. Ở đây chẳng có rượu Falernian[15], và cũng chẳng có chuyện lên bờ. Thi thoảng lại thấy một doanh trại thất tung trong hoang dã, như cây kim mất tích giữa đụn rơm - giá, sương, bão táp, bệnh dịch, lưu đày và chết chóc - cái chết lởn vởn trong không khí, dưới nước, trong bụi rậm. Binh sĩ chắc hẳn chết ở đây như ngả rạ. Phải rồi - gã sống sót. sống tốt là đằng khác, sống mà không nghĩ ngợi gì nhiều, có chăng chỉ đủ để sau này khoác lác về những gì đã trải qua. Họ đủ nam nhi để đối mặt với bóng tối. Mà có lẽ gã đã phấn chấn hơn khi tơ tưởng đến cơ hội được đề bạt lên hải đội ở Ravenna[16] trong ngày một ngày hai, nếu gã có bạn bè thân cận ở Rome và sống sót qua mùa lam chướng này. Hoặc hãy nghĩ tới một công dân trẻ tử tế, khoác toga - chắc hẳn cháy túi vì cờ bạc - theo gót thái thú, hoặc thuế quan, thậm chí thương gia, đến đây mong kiếm chác được chút gì. Đặt chân lên đầm lầy, cuốc bộ xuyên rừng, và khi đến dịch trạm trong nội địa, thì cảm thấy cái man di, man di cùng cực, vây bủa lấy mình, - tất cả sự sống hoang dã bí hiểm sục sôi trong rừng rậm, trong rừng già, trong tim đám man dân. Chẳng có thời gian để làm quen với những bí ẩn ấy. Gã phải sống giữa chốn vô minh, vốn dĩ là điều đáng hận. Song nó cũng tỏa ra sức dụ hoặc, tác động lên gã. Thứ dụ hoặc nảy sinh từ oán hận - hãy tưởng tượng nỗi hối hận, cơn khát khao đào tẩu, sự ghê tởm trong bất lực, tâm lý buông xuôi, cảm giác căm ghét ngày một dâng cao.”
Gã ngừng lời.
“Nhớ là,” gã tiếp, một tay giơ lên từ khuỷu, bàn tay hướng ra trước, thành thử, với hai chân xếp bằng, trông gã như Đức Phật thuyết pháp trong bộ Âu phục mà thiếu cành sen - “Nhớ là, chúng ta chẳng ai có cảm nhận y như thế. Cái cứu rỗi chúng ta là tính hiệu quả - sự sùng bái hiệu quả. Nhưng tụi La Mã này chẳng xuất sắc gì cho lắm. Họ đâu phải thực dân; tôi ngờ rằng với họ cai trị chỉ đơn thuần là bóp nghẹt, không hơn. Họ là kẻ chinh phục, mà chinh phục thì chỉ cần vũ lực - vốn chả có gì đáng huênh hoang, vì sức mạnh của anh chỉ là ngẫu nhiên phát sinh từ cái yếu của kẻ khác. Họ vơ vét được bao nhiêu hay bấy nhiêu, vơ vét để mà vơ vét. Đó chẳng qua là cưỡng đoạt bằng bạo lực, sát nhân có tình tiết tăng nặng trên diện rộng, và con người mù quáng lao vào - điều rất hợp lẽ khi đối mặt với bóng tối. Cuộc chinh phục Trái đất, phần lớn đồng nghĩa với việc chiếm đoạt của người khác màu da hoặc mũi tẹt hơn chúng ta tí chút, là thứ chẳng đẹp đẽ gì nếu nhìn thật kỹ. Cái duy nhất cứu vãn nó là một ý niệm. Một ý niệm hậu thuẫn nó; không phải sự giả bộ đầy cảm tính mà là một ý niệm; cùng niềm tin vô vị kỷ vào ý niệm ấy - một thứ ta có thể tôn lên, khấu đầu trước, và hiến tế cho...”
Gã dứt lời. Những ngọn lửa lướt đi trên sông, những ngọn lửa nhỏ màu xanh, màu đỏ, màu trắng[17], rượt đuổi nhau, vượt mặt nhau, dung hợp nhau, giao cắt nhau - rồi lại chậm rãi hay hối hả tách ra. Giao thông của đại đô thành vẫn tiếp tục giữa đêm sâu trên dòng sông không ngủ. Chúng tôi quan sát, kiên nhẫn chờ đợi - đâu còn gì để làm khi triều chưa rút, nhưng phải đến khi, sau một quãng dài im lặng, gã ngập ngừng hỏi, “Chắc các cậu còn nhớ, có một thời tôi chuyển sang đi tàu nước ngọt,” chúng tôi mới biết là số mình sẽ phải, trước khi triều xuống, lắng nghe một trong những trải nghiệm không có hồi kết của Marlow.
“Tôi không muốn bắt các cậu nghe nhiều về chuyện xảy ra với cá nhân tôi,” gã bắt đầu, qua đó cho thấy nhược điểm chung của nhiều người kể chuyện, vốn hiếm khi nhận thức được đâu là cái thính giả thích nghe nhất; “nhưng để hiểu tác động của nó với tôi, các cậu cần biết sao tôi lại đến đó, tôi đã thấy những gì, tôi ngược sông ra sao để đến nơi gặp kẻ bất hạnh ấy lần đầu. Đó vừa là điểm tận cùng của thủy trình vừa là cao trào của câu chuyện. Không rõ từ đâu nó đã rọi một thứ ánh sáng lên mọi điều về tôi - vào cả nội tâm tôi. Nó lại tăm tối - bi ai nữa - chẳng có chút gì đặc biệt - cũng không thật sự rõ ràng. Không, không thật sự rõ ràng. Thế nhưng nó lại soi rọi một thứ ánh sáng.
“Dạo ấy, chắc các cậu vẫn nhớ, tôi vừa về London sau rất nhiêu lênh đênh trên Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, Biển Trung Hoa - nghĩa là trải đủ mùi phương Đông - độ sáu năm gì đó, đang lang thang vạ vật, quấy quả các cậu làm việc và ăn nhờ ở đậu như thể tôi có thiên mệnh giáo hóa các cậu. Lúc đầu, tôi thấy rất thoải mái, nhưng sau một thời gian tôi đâm chán nghỉ ngơi. Thế là tôi bắt đầu kiếm một con tàu - đó khéo là việc khó nhằn nhất trần đời. Song chẳng tàu bè nào đoái hoài đến tôi. Chẳng bao lâu tôi cũng nản.
“Hồi bé, tôi rất mê bản đồ. Tôi dành hàng giờ ngắm nghía Nam Mỹ, hoặc châu Phi, hoặc châu Úc, và đắm chìm trong huy hoàng của niềm vui khám phá. Thời ấy, trên Trái đất vẫn còn nhiều vùng trống, và khi thấy chỗ nào đặc biệt quyến rũ trên bản đồ (khốn nỗi chỗ nào cũng quyến rũ cả), tôi lại chỉ vào đó và nói, khi nào lớn mình sẽ tới đây. Tôi nhớ Bắc Cực là một trong số ấy. Ờ, tôi vẫn chưa đến đó, và giờ chắc cũng không định đến. Hết hấp dẫn rồi. Những chỗ khác thì rải rác quanh Xích đạo, trải khắp các vĩ tuyến trên cả hai bán cầu. Tôi đã đến một số chỗ, và... mà thôi, nói chuyện ấy làm gì. Nhưng hãy còn một chỗ - nói sao nhỉ, lớn nhất, trống vắng nhất, mà tôi vẫn đau đáu nghĩ về.
“Đành rằng giờ đây nó không còn là vùng trống nữa. Từ thời tôi bé tới nay, nơi ấy đã xuất hiện những sông, những hồ, những địa danh. Nó không còn là một khoảng trống của niềm bí hiểm hân hoan - một vạt trắng cho giấc mơ huy hoàng của một thằng nhóc. Nó đã trở thành một vùng tăm tối. Nhưng đặc biệt chốn ấy có một con sông, một con sông hùng vĩ[18], hiển hiện trên bản đồ, như thể một con mãng xà đang vươn mình, đầu quay ra biển, thân nghỉ ngơi uốn lượn trải dọc một đất nước rộng lớn, còn đuôi thất tung trong nội địa thẳm sâu. Khi tôi nhìn bản đồ con sông qua ô kính cửa hàng, nó mê hoặc tôi như rắn mê hoặc chim - một con chim bé bỏng khờ khạo. Tôi sực nhớ đến một công ty lớn, một thương hãng hoạt động trên con sông ấy. Đéo gì! Tôi tự nhủ, buôn bán trên cái bể nước ngọt ấy, kiểu gì chẳng phải dùng một loại thuyền nào đó - tàu hơi nước! Sao ta không xin chỉ huy một cái? Tôi tiếp tục đi dọc phố Fleet[19], nhưng không thể rũ bỏ ý tưởng ấy. Con rắn đã dụ được tôi.
“Các cậu cũng biết, cái thương hội ấy là một công ty Lục địa[20]; nhưng tôi có đầy họ hàng ở Lục địa, vì cuộc sống bên đó, theo họ, rẻ hơn và không đến nỗi nhếch nhác như bề ngoài.
“Tôi lấy làm hổ thẹn khi phải phiền đến họ. Nẻo đường này hoàn toàn mới mẻ với tôi. Các cậu vẫn biết, trước nay tôi không quen được việc bằng cách ấy. Tôi luôn đi đường tôi, bằng chân của tôi, đến nơi nào tôi muốn đến. Chính tôi cũng không tin nổi mình; nhưng, lúc đó - các cậu biết đấy - không hiểu sao tôi cảm thấy phải đến đó bằng mọi giá. Nên tôi cầu viện họ. Các ông nói ‘Cháu quý hóa ơi,’ và không làm gì sất. Thế là - ai mà tin được? - Tôi tìm đến các bà. Tôi, Charlie Marlow, lùa các bà đi tìm việc cho mình. Chúa ơi! Ờ, các cậu biết đấy, ý tưởng ấy, nó xui khiến tôi. Tôi có một bà dì, một tâm hồn nhiệt tình dễ mến. Bà lão viết: “Thế thì hay lắm. Dì sẵn lòng làm bất kỳ, bất kỳ điều gì cho cháu. Một dự định tuyệt vời. Người quen của dì là vợ một nhân vật đức cao vọng trọng trong Chính quyền, còn là người rất có ảnh hưởng với,” vân vân và vân vân. Bà quyết không từ một phiền toái nào để giúp tôi làm thuyền trưởng một con tàu hơi nước, nếu quả đó là mơ mộng của tôi.
“Dĩ nhiên, tôi được bổ nhiệm; và được rất nhanh. Hình như bên Công ty vừa nhận được tin một thuyền trưởng bị giết vì ẩu đả với người bản xứ. Đó là cơ hội cho tôi, và nó khiến tôi càng háo hức. Phải nhiều, nhiều tháng sau, khi định thu nhặt di hài cho gã, tôi mới hay vụ cãi cọ ban đầu bắt nguồn từ hiểu nhầm về mấy con gà. Phải, hai con gà đen. Fresleven[21] - đó là tên gã, dân Đan Mạch - cho rằng gã bị lừa bịp thế nào đó, bèn lên bờ dùng gậy vụt tay tù trưởng túi bụi. Tôi chẳng ngạc nhiên tí nào khi nghe chuyện đó, đồng thời cũng chẳng ngạc nhiên khi họ nói Fresleven là sinh vật hiền hòa lặng lẽ nhất từng đi hai chân trên thế gian này. Cái đó đã hẳn; nhưng đã mấy năm gã lăn lộn vì đại nghiệp, và có lẽ rốt cục gã thấy ít nhất cũng cần khẳng định lòng tự tôn bằng cách nào đó. Thế nên gã quật ông lão da đen không thương tiếc, trước ánh mắt thảng thốt của cả đám đông bộ lạc, đến khi một người - nghe nói là con trai vị tù trưởng - tuyệt vọng khi thấy ông cụ rên la, rón rén cầm giáo xiên tên da trắng - và tất nhiên mũi giáo xuyên rất ngọt vào giữa hai xương vai. Rồi cả làng tháo chạy vào rừng vì sợ đủ loại tai ương giáng xuống, trong khi con tàu hơi nước của Fresleven cũng táng đởm rút đi, dưới sự chỉ huy của tay thợ máy, tôi nghĩ vậy. Sau đó có vẻ chẳng ai quan tâm đến di cốt của Fresleven, cho đến khi tôi xuất hiện và kế nhiệm gã. Tôi không nỡ để gã nằm lại đó; nhưng cuối cùng, khi tôi có cơ hội gặp gỡ người tiền nhiệm, cỏ mọc xuyên lồng ngực đã cao đến mức che kín hài cốt gã. Tất cả vẫn còn nguyên đó. Không ai động đến sinh vật siêu nhiên ấy sau khi gã ngã xuống. Ngôi làng bị bỏ hoang, những túp lều há miệng đen ngòm, mục nát, tất cả ngả nghiêng sau lớp rào đã đổ. Tai ương đã ập xuống, hẳn rồi. Dân làng đã biến mất. Nỗi khiếp sợ kinh hoàng đã ly tán họ, đàn ông, đàn bà, con trẻ, vào rừng rậm, không bao giờ quay lại. số phận mấy con gà ra sao, tôi không rõ nữa. Có lẽ tôi nên nghĩ rằng trước sau gì chúng cũng bị cuốn vào guồng quay của tiến bộ. Tuy nhiên, nhờ biến cố huy hoàng này mà tôi được bổ nhiệm, trước khi tôi bắt đầu mơ tưởng đến điều đó.
“Tôi bươn bả khắp nơi để chuẩn bị, và sau chưa đầy bốn mươi tám giờ tôi đã băng qua eo biển để ra mắt Công ty và ký hợp đồng. Sau mấy tiếng tôi đặt chân đến một thành phố luôn khiến tôi nghĩ tới một lăng tẩm tô vôi[22]. Định kiến, hẳn rồi. Tôi tìm được trụ sở Công ty chẳng khó khăn gì. Đó là thứ lớn nhất thành phố, nó nằm trên cửa miệng mọi người tôi gặp. Họ sẽ điều hành một đế chế ở hải ngoại và kiếm tiền không đếm xuể từ buôn bán.
“Một con phố hẹp, hoang phế chìm dưới bóng râm, những ngôi nhà cao, vô số cửa sổ che rèm sáo, một sự im lặng tuyệt đích, cỏ loi nhoi giữa những khe đá, trái phải là cổng vòm xe ngựa uy nghi, những cánh cổng đôi đồ sộ đờ đẫn khép hờ. Tôi lách qua một khe cửa như thế, leo lên một cầu thang quét tước sạch sẽ và không trang hoàng, cằn cỗi như sa mạc, rồi mở cánh cửa đầu tiên tôi gặp. Hai phụ nữ, một béo, một gầy, ngồi ghế mây, đan len đen. Bà gầy đứng dậy tiến lại gần tôi - tay vẫn đan còn mắt nhìn xuống - và khi tôi vừa nghĩ tới việc tránh đường, như khi gặp người mộng du, thì bà ta đứng lại, ngẩng lên. Chiếc váy may bằng vải trơn như vải làm ô, và bà ta chẳng nói một lời, quay lưng đi trước dẫn tôi vào phòng đợi. Tôi xưng tên và ngó quanh. Bàn giao dịch đặt giữa phòng, một dãy ghế đơn điệu kê xung quanh tường; cuối phòng treo một tấm bản đồ khổ lớn bóng loáng, đánh dấu bảy sắc cầu vồng. Có rất nhiều màu đỏ - nhìn rất bắt mắt, vì ta hiểu rằng chỗ đó đang làm việc đến nơi đến chốn, kha khá màu lam, một ít xanh, dăm vệt cam, và ở Bờ Đông, một vạt tím, ghi dấu nơi đội quân tiên phong tươi tắn của tiến bộ đang nốc thứ bia hơi tươi tắn[23]. Nhưng tôi không định đến mấy chỗ này. Tôi muốn đến màu vàng. Ngay chính giữa. Và con sông kia ở đó - mê hoặc, chết người - như loài rắn. Úi! Cửa bật mở, một cái đầu thầy ký tóc bạc, nhưng mặt đầy vẻ trắc ẩn, xuất hiện, và một ngón tay trỏ khẳng khiu ra hiệu cho tôi bước vào thánh điện. Dưới ánh sáng lờ mờ, một chiếc bàn viết đồ sộ chễm chệ giữa phòng. Từ sau vật thể ấy bước ra một hình thù tròn trĩnh lợt lạt mặc vét đuôi dài. Chính thị đại nhân vật. Ông ta cao, tôi đoán, gần mét bảy, và là kẻ nắm trong tay một đế chế hàng nhiều triệu. Ông ta bắt tay tôi, và lầm rầm khe khẽ, tôi dự là bằng lòng với tiếng Pháp của tôi. Bon voyage[24].
“Sau khoảng bốn mươi lăm giây, tôi thấy mình đã quay lại phòng đợi cùng thầy ký lục nhân từ, người, đầy vẻ bi thương và trắc ẩn, yêu cầu tôi ký vài văn bản. Tôi tin rằng mình đã cam kết, ngoài các điều khác, không tiết lộ bất kỳ bí mật kinh doanh nào. Mà tôi cũng không định thế.
“Tôi bắt đầu thấy hơi thấp thỏm. Các cậu vẫn biết là tôi không quen lễ nghi kiểu đấy, và bầu không khí có gì đó bất tường. Tôi có cảm giác mình đang bị lùa vào một âm mưu - tôi không biết nữa - có gì đó không ổn, và tôi chỉ muốn thoát ra cho mau. Ở phòng ngoài hai người phụ nữ vẫn đan len đen lia lịa. Khách đến và người trẻ hơn dẫn họ ra vào liên tục. Bà già hơn yên vị trên ghế, đôi dép bệt bằng vải dựa vào cái ủ chân, một con mèo cuộn tròn trên lòng. Đầu bà đội thứ gì đó hồ cứng màu trắng, má có cái mụn cóc, cặp kính gọng vàng đeo trễ trên chỏm mũi. Bà ta liếc tôi từ bên trên cặp kính, vẻ bình thản lãnh đạm và mau chóng của cái nhìn ấy khiến tôi phấp phỏng. Hai thanh niên mặt mày ngờ nghệch và hớn hở vừa được dẫn vào, và bà ta lại ném về phía họ ánh mắt ngắn ngủi của sự minh triết bàng quan ấy. Dường như bà nhìn thấu tất cả về họ, và về tôi. Tôi bỗng thấy rờn rợn. Bà ta toát ra vẻ bí hiểm và định mệnh. Sau này, khi lênh đênh ngoài kia, tôi hay nghĩ về họ, hai người canh gác lối vào Tăm tối, đan len đen như để làm tấm khăn ấm phủ quan tài, một người dẫn lối, không ngừng dẫn lối vào chốn vô minh, người kia soi xét từng gương mặt ngây ngô và hớn hở bằng con mắt già đời vô cảm. Ave! Các mệnh phụ đan len đen! Morituri te salutant[25]. Không mấy ai lọt vào mắt bà sẽ gặp bà lần nữa - nhiều nhất cũng không đến một nửa.
“Tôi còn phải đi khám bác sĩ. ‘Thủ tục ấy mà,’ thầy ký trấn an, với vẻ sẵn lòng chia sẻ một phần lớn lao mọi đau buồn của tôi. Theo đó một gã trẻ tuổi, đội mũ che kín lông mày bên trái, chắc là thư lại - công việc tại đây chắc phải có thư lại chứ, mặc dù tòa nhà vắng tanh như ở thành phố của người chết - ở đâu đó trên tầng xuống, và dẫn tôi đi. Gã có vẻ tuềnh toàng luộm thuộm, mực lem đầy tay áo, cravat to bản và dăn dúm bên dưới cái cằm hình thù như mũi ủng cũ. Tới gặp bác sĩ giờ này hãy còn sớm, nên tôi rủ gã làm một ly, và thế là gã tỏ ra hồ hởi hơn. Bên ly vermouth gã tán tụng việc làm ăn của Công ty, và chẳng được bao lâu tôi thuận miệng bày tỏ sự ngạc nhiên rằng gã không ra ngoài đó. Gã bỗng trở nên rất bình thản và điềm tĩnh. ‘Trông vậy thôi chứ tôi không ngu đâu, Plato từng bảo các môn đồ,’ gã trịnh trọng đáp, cạn ly với vẻ cực kỳ quả quyết, và chúng tôi đứng dậy.
“Ông bác sĩ già bắt mạch cho tôi, nhưng rõ ràng đầu óc đang để đâu. ‘Tốt, thế là tốt đấy,’ ông ta lầm bầm, rồi với vẻ hào hứng rõ rệt hỏi tôi có bằng lòng cho ông ấy đo đầu không[26]. Hơi ngạc nhiên, tôi đồng ý, vậy là ông ta sử dụng một loại thước kẹp đo trước đo sau đủ kiểu rồi ghi chép rất kỹ lưỡng. Đó là một người nhỏ thó, không cạo râu, chiếc áo vét cũ sờn như áo gaberdine[27], chân đi dép trong nhà, và tôi nghĩ ông ta thuộc diện ngớ ngẩn vô hại. ‘Vì lợi ích của khoa học, tôi luôn xin phép được đo hộp sọ những ai ra ngoài đó,’ ông ta nói. ‘Cả khi họ quay về chứ?’ Tôi hỏi. ‘À, tôi chẳng gặp họ bao giờ,’ ông ta đáp; ‘vả lại, thay đổi diễn ra ở bên trong cơ, anh bạn ạ,’ Ông ta mỉm cười, như thể có một ý đùa ngầm. ‘Vậy là anh sắp ra ngoài đó. Oách đấy. Thú vị nữa,’ Ông ta nhìn tôi dò xét, rồi tiếp tục ghi chép. ‘Nhà anh có ai bị điên không?’ ông ta hỏi giọng thản nhiên. Tôi thấy rất khó chịu. ‘Câu này cũng vì lợi ích của khoa học à?’ ‘Có chứ,’ ông ta nói, không nhận thấy vẻ bức xúc của tôi, ‘theo dõi sự biến đổi tinh thần của các cá nhân ngay tại chỗ, là điều rất lý thú, nhưng..,’ ‘Ông là bác sĩ tinh thần à?’[28] Tôi ngắt lời. ‘Bác sĩ nào cũng nên am hiểu cái đó một chút,’ con người lập dị ấy bình thản đáp, ‘tôi có một lý thuyết nho nhỏ mà các Messieur[29] có dịp ra ngoài đó cần giúp tôi chứng minh. Đây là đóng góp của tôi vào những lợi ích mà đất nước tôi sẽ thu được từ việc chiếm lĩnh một thuộc địa hoành tráng đến thế. Việc đóng góp của cải tôi nhường cho người khác. Xin lỗi vì đã hỏi nhiều, song anh là người Anh đầu tiên mà tôi có dịp nghiên cứu…,’ Tôi vội cam đoan với ông ta mình còn xa mới là mẫu người Anh điển hình. ‘Nếu vậy,’ tôi bảo, ‘tôi đã chẳng ngồi đây nói chuyện thế này với ông,’ ‘Điều anh nói khá phức tạp, mà có thể là sai lầm,’ ông ta cười đáp. ‘Tránh bực bội còn quan trọng hơn tránh nắng. Adieu. Tiếng Anh các vị nói thế nào nhỉ? Good-bye. À! Good-bye. Adieu. Ở xứ nhiệt đới điều đầu tiên là phải giữ bình tĩnh’... Ông ta giơ ngón tay trỏ như răn đe... ‘Du calme, du calme. Adieu.’[30]
“Tôi chỉ còn một việc phải làm - tạm biệt bà dì tuyệt vời của mình. Thấy tôi, bà rất hoan hỉ. Tôi uống trà - tách trà tử tế cuối cùng trong nhiều ngày sắp tới - và ở căn phòng nói theo cách nhẹ nhàng nhất là giống những gì ta vẫn hình dung về phòng khách của một mệnh phụ, chúng tôi rủ rỉ khá lâu bên lò sưởi. Trong quá trình tâm sự tôi mới dần nhận ra, mình đã được giới thiệu với vợ của nhân vật đức cao vọng trọng kia, và trời mới biết với bao nhiêu người khác nữa, như một tạo vật tài năng xuất chúng - một bảo bối với Công ty - mẫu người phải hữu duyên mới gặp được. Lạy Chúa! Và tôi chuẩn bị chỉ huy một con tàu hơi nước ba cọc ba đồng gắn cái còi ba xu! Tuy nhiên, có vẻ tôi còn là một Công nhân, với chữ C viết hoa - các cậu biết đấy. Một dạng sứ giả của ánh sáng, một kiểu á tông đồ. Đúng vào dạo ấy báo chí và xã hội đương nói rất nhiều ba thứ dớ dẩn này, và bà dì quý hóa của tôi, sống ngay giữa dòng chảy ấy, và bị nó đưa lên mây. Bà nói chuyện ‘cải hóa hàng triệu kẻ man di khỏi kiếp đời mọi rợ,’ đến khi, nói thật, bà làm tôi rất không thoải mái. Tôi đánh bạo bóng gió rằng mục đích của Công ty là lợi nhuận.
“ ‘Charlie yêu quý ơi, cháu quên rằng, làm thợ thì đáng được trả công,’[31] bà hớn hở nói. Mức độ xa rời hiện thực ở phụ nữ quả là kỳ lạ. Họ sống trong một thế giới riêng, một thế giới vô tiền khoáng hậu. Nó đẹp đẽ đến độ hoang đường và nếu họ có biến nó thành hiện thực thì nó sẽ sụp đổ trước khi mặt trời lặn. Một thực tế nào đó, mà đàn ông chúng ta vẫn vui vẻ chấp nhận từ thuở hồng hoang, sẽ bật dậy và phá tan tất cả.
“Sau đó bà ôm tôi, dặn tôi mặc đồ flannel, nhớ viết thư đều, vân vân - và tôi cáo lui. Ra ngoài phố, không hiểu vì sao một cảm giác kỳ lạ tràn đến rằng tôi là một kẻ giả mạo. Lạ ở chỗ tôi, kẻ vẫn khăn gói đi bất kỳ đâu trên thế giới sau hai bốn tiếng từ khi có thông báo, thời gian cân nhắc còn ít hơn đa số dành nghĩ về việc sang đường, chợt có một khoảnh khắc - không hẳn là ngần ngại, mà là kinh ngạc, trước sự việc bình thường này. Cách giải thích tốt nhất là, trong một hai giây, tôi cảm thấy như thể, thay vì đến trung tâm một lục địa, mình sắp khởi hành vào trung tâm Trái đất.
“Tôi lên đường trên một con tàu Pháp, và nó cập tất cả đám cảng ngoài đó, chỉ với một mục đích, theo tôi thấy, là thả lính và nhân viên thuế ty. Tôi quan sát bờ biển. Quan sát bờ biển khi nó trôi qua mặt con tàu cũng như suy nghĩ về một câu đố. Nó nằm đó - mỉm cười, nhíu mày, mời gọi, uy nghi, nhỏ mọn, nhạt nhẽo, hay dã man, và luôn câm lặng với vẻ thì thầm: lại khám phá đi. Đây là một khuôn mặt gần như không đường nét, tựa hồ vẫn đang nặn dở, với vẻ âm ám buồn tẻ. Đường biên của một vạt rừng khổng lồ, xanh sẫm đến độ gần như màu đen, diềm là từng đợt sóng trắng, chạy thẳng, như một đường kẻ bằng thước, dài tít tắp dọc biển cả lung linh đang nhòa dần dưới màn sương âm thầm trườn tới. Mặt trời chói gắt, đất như rực lên và ròng ròng nhỏ nước. Đó đây thấp thoáng vài điểm xam xám trăng trắng, co cụm trong tầng sóng bạc, ở trên có thể phất phới một lá cờ. Những thuộc địa, tuổi đời đã vài thế kỷ, song vẫn không lớn hơn đầu ghim trên nền lục địa mênh mông chưa người động tới. Chúng tôi bậm bạch lên đường, cập bến, đổ quân; đi tiếp, thả thuế lại xuống thu thuế ở những xứ như hoang địa bị Chúa ruồng bỏ, nơi một mái lều tôn với cột cờ chìm nghỉm giữa hoang vu; lại đổ quần - để bảo vệ đám thuế lại, chắc vậy. Nghe nói một số đã chết chìm trong sóng; nhưng dù có hay không, hình như chẳng ai thật sự quan tâm. Chúng tôi chỉ lẳng họ xuống đó, rồi đi tiếp. Bờ biển ngày nào cũng giống ngày nào, như thể tàu đứng yên tại chỗ; nhưng thực tế chúng tôi đi qua nhiều nơi - các thương cảng - với những cái tên như Bassam Lớn, Popo Nhỏ; những cái tên nghe như thuộc về một vở hài kịch thô tục diễn trước một tấm phông tà ác. Kiếp vật vờ của kẻ lữ khách, sự tách biệt khỏi đám người tôi chẳng có chút liên hệ nào, mặt biển nhờn bóng và uể oải, vẻ ảm đạm đồng nhất của đất liền, tất cả như ngăn cách tôi khỏi thực tại, nhốt tôi vật lộn trong một ảo giác bi thương và vô nghĩa. Tiếng sóng thỉnh thoảng vọng tới, mang đến cho tôi cảm giác dễ chịu, như tiếng nói của một người anh em. Nó như một điều gì đấy tự nhiên, có logic, có ý nghĩa. Thỉnh thoảng, một con thuyền từ đất liền đem lại cho ta một khoảnh khắc tiếp xúc với hiện thực. Chèo thuyền là dân da đen. Từ xa ta đã thấy lòng trắng mắt họ lấp loáng. Họ hò hát; người đẫm mồ hôi, dung mạo như những chiếc mặt nạ dị dạng - cái đám này; nhưng họ có xương cốt, có cơ bắp, có một sinh lực hoang dại, một động năng mãnh liệt, tự nhiên và chân thực như con
sóng dọc bờ biển của họ. Họ không cần biện giải cho sự hiện diện của mình. Nhìn họ khiến tôi cảm thấy cực kỳ dễ chịu. Trong một chốc tôi thấy mình vẫn thuộc về thế giới của những sự thật rõ ràng; nhưng cảm giác này không kéo dài. Có gì đó sẽ xuất hiện và xua nó đi. Tôi nhớ có lần chúng tôi gặp một chiếc tàu chiến thả neo ngoài biển. Trên bờ chẳng có mống nhà nào, và tàu thì nã pháo vào bụi rậm. Hình như một trong các cuộc chiến tranh của Pháp đang nổ ra gần đó. Lá hiệu kỳ thõng thượt tựa một mảnh vải rách; những họng pháo sáu inch chĩa ra từ thân tàu; mặt biển nhầy nhờn uể oải đẩy con tàu dập dềnh lên xuống, lắc lư những cột buồm mỏng manh. Giữa bao la trống trải của đất, trời, và nước, là con tàu nọ, vô phương lý giải, đương nhả đạn vào một lục địa. Bụp, một khẩu sáu inch rung lên; một tia lửa nhỏ phụt ra và biến mất, một làn khói trắng be bé tan dần, một viên đạn tí hon rít lên yếu ớt - và chẳng có gì xảy ra. Chẳng gì có thể xảy ra. Quá trình ấy phảng phất một sự điên rồ, cảnh tượng ấy tỏa ra một vẻ khôi hài khốn khổ; và nó chẳng thể tiêu tan dù ai đó trên tàu thành thực cam đoan với tôi rằng có một trại thổ dân - gã gọi họ là kẻ thù - lẩn khuất đâu đó sau những bụi cây.
“Chúng tôi trao thư cho họ (nghe nói thủy thủ đoàn của con tàu lẻ loi ấy đang chết bởi dịch sốt với tốc độ ba người một ngày) rồi đi tiếp. Tàu cập thêm một số bến có tên khôi hài khác, nơi điệu hoan vũ của tử thần và thương mại tiếp tục giữa không khí tĩnh lặng, nồng hơi đất như một hầm mộ bị nung nóng; đi dọc bờ biển vô dạng được những tầng sóng nguy hiểm vây quanh, như thể cô gái Tự nhiên đang cố xua đuổi kẻ xâm phạm; ra vào từng con sông, những dòng chảy của cái chết giữa cuộc sống, nơi đôi bờ mục rữa thành bùn, nơi nước quánh thành nhớt, tràn vào những rặng đước méo mó như thể đang quằn quại với chúng tôi trong cùng cực của nỗi tuyệt vọng đầy bất lực. Chúng tôi chẳng lưu lại đủ lâu để có ấn tượng cụ thể về bất kỳ đâu, nhưng cảm giác của nỗi hoang mang mơ hồ và ngột ngạt lớn dần trong tôi. Như một cuộc hành hương rã rời giữa chập chờn bóng những cơn ác mộng.
“Phải hơn ba mươi ngày tôi mới thấy cửa con sông lớn. Chúng tôi thả neo ở ngoài khơi nơi đặt Phủ toàn quyền[32]. Nhưng phải đi quãng hai trăm dặm nữa mới tới nơi tôi bắt đầu công việc. Thành thử tôi lên đường ngay đến một nơi cách đấy ba chục dặm trên thượng nguồn.
“Tôi đi nhờ một con tàu biển hơi nước loại nhỏ. Thuyền trưởng là dân Thụy Điển, khi biết tôi cũng là thủy thủ, bèn mời tôi lên tàu. Gã còn trẻ, gầy, trắng trẻo, lầm lì, tóc suôn và chân đi cà nhắc. Khi vừa rời khỏi cái bến tàu con nhếch nhác, gã khinh miệt hất hàm về phía bờ. ‘Vừa ở đó à?’ gã hỏi. Tôi đáp, ‘ừ,’ ‘Mấy cha chính quyền ở đó gớm nhỉ?’ Gã tiếp, bằng một thứ tiếng Anh hoàn hảo và khá cay đắng. ‘Ngộ thật, những gì người ta có thể làm để kiếm vài đồng một tháng. Không hiểu những ngữ ấy lên thượng nguồn sẽ thành thế nào?’ Tôi bảo gã tôi sẽ sớm biết thôi. ‘Ồ-ồ-ồ!’ Gã cảm thán. Gã lê sang mạn bên kia, một mắt vẫn đăm đăm dõi về phía trước. ‘Đừng chắc mẩm quá,’ gã tiếp. ‘Mới hôm trước, tôi vừa chở một gã tự treo cổ trên đường. Cũng dân Thụy Điển.’ ‘Tự treo cổ! Nhưng làm sao nên nỗi?’ Tôi hỏi. Gã vẫn tiếp tục canh chừng. ‘Ai biết. Chắc chịu không nổi nắng, hoặc cái xứ này.’
“Sau cùng chúng tôi đến một khúc sông thẳng. Một vách đá xuất hiện, đất mới đào chất đống ven bờ, nhà lố nhố trên đồi, một số lợp mái tôn, nằm giữa một vùng đất thải khai quật, hoặc chênh vênh trên sườn dốc. Tiếng ồn không dứt của đoạn sông chảy xiết từ thượng lưu lửng lơ trên khung cảnh tan hoang có người ở này. Nhiều người, phần lớn da đen, cởi trần, đi lại như bầy kiến. Một cầu tàu bắc ra sông. Mặt trời sáng lòa chốc chốc lại nhấn chìm tất cả trong mỗi lần tái hiện bất ngờ của ánh chói chang. ‘Dịch trạm của Công ty anh đó,’ tay Thụy Điển nói, chỉ vào ba kiến trúc gỗ hình thù như lán trại trên dốc đá nhấp nhô. ‘Tôi sẽ bảo người mang đồ lên. Bốn thùng tất cả, nhỉ? Thế nhé. Tạm biệt,’
“Tôi gặp một cái nồi hơi lăn lóc trong đám cỏ, rồi đến một đường mòn dẫn lên đồi. Nó rẽ sang bên tránh một khối đá, và một chiếc xe goòng cỡ nhỏ nằm ngửa chổng bánh lên trời. Một bánh đã rụng. Trông nó chết cứng như xác một con vật. Tôi gặp thêm nhiều máy móc mục nát, một chồng thanh ray rỉ sét. Bên trái, lùm cây tạo nên một vùng bóng râm, nơi có gì đó tối sẫm ngọ nguậy nhè nhẹ. Tôi chớp mắt, con đường khá dốc. Tiếng tù và rít lên từ bên phải, và tôi thấy đám da đen bỏ chạy. Một vụ nổ nặng nề trầm đục rung chuyển mặt đất, một luồng khói phụt ra từ vách núi, và thế là hết. Bề mặt vách đá chẳng suy suyển gì. Họ đang làm đường ray. Vách đá không chắn lối hay gì cả; nhưng vụ nổ vô nghĩa này là toàn bộ công việc đang diễn ra.
“Có tiếng leng keng làm tôi ngoảnh lại. Sáu người da đen đi hàng một, chật vật leo lên đường mòn. Họ thẳng lưng, đi chậm, đầu đội thúng đất đầy, và tiếng leng keng hòa nhịp với bước chân. Họ quấn vải đen ngang hông, mẩu vải ngắn phía sau ngoe nguẩy như cái đuôi. Tôi thấy rõ từng xương sườn, những khớp tứ chi như nút dây thừng của họ; ai nấy đeo vòng cổ sắt, tất cả nối nhau bằng xích, mắt xích đong đưa giữa họ, leng keng theo nhịp. Một tiếng nổ nữa từ vách núi làm tôi chợt nhớ chiếc chiến hạm nã đạn vào lục địa mà tôi từng gặp. Cũng là thứ âm thanh bất tường ấy, nhưng những kẻ này dù cố tưởng tượng đến mấy cũng đâu thể gọi là kẻ thù. Họ bị coi là tội phạm, và thứ luật pháp bị vi phạm, như những viên đạn pháo, đã tìm đến họ, một bí ẩn không lời giải từ biển khơi. Lồng ngực gầy gò của tất cả đều hào hển, lỗ mũi nở toang phập phồng, ánh mắt đờ đẫn nhìn lên đồi. Họ đi qua cách tôi gang tấc, chẳng buồn liếc nhìn, với vẻ vô cảm tuyệt đối, như chết rồi của bầy man di bất hạnh. Đi sau đám rợ này là một gã thuần dân[33], sản phẩm của sự vận hành của các thế lực mới, ủ rủ lê bước, tay xách súng trường. Gã mặc áo lính hở một khuy, thấy một người da trắng trên đường, liền nhanh nhảu bồng súng lên vai. Chẳng qua là gã cẩn thận, bởi dân da trắng giống nhau đến nỗi nhìn xa gã không biết ai với ai. Gã mau chóng yên tâm, nở nụ cười toe toét, trắng nhởn, ranh mãnh, rồi đưa mắt liếc tốp tù nhân như thể xem tôi là đồng sự trong bổn phận quang vinh của gã. Xét cho cùng thì tôi cũng là một phần của lý tưởng vĩ đại đằng sau những hành vi cao thượng và công chính này.
“Đáng lẽ leo lên, tôi rẽ trái và đi xuống. Ý tôi là muốn chờ nhóm tù xích cổ đi khuất mới leo lên đồi. Các cậu biết tôi vốn chẳng phải loại mềm yếu gì; đời tôi đánh cũng nhiều mà đỡ cũng lắm. Có lúc phải thủ, có lúc phải công - công vốn chỉ là một cách thủ - được mất chẳng thể tính toán rạch ròi; cuộc đời mình lỡ sa chân vào bắt sao thì phải theo vậy thôi. Tôi đã thấy ác quỷ của bạo lực, ác quỷ của lòng tham, lẫn ác quỷ của dục vọng; nhưng thề có tinh tú, đó là lũ quỷ hung mãnh, mắt đỏ ngầu, lay chuyển và xúi giục con người - con người, các cậu nhé. Nhưng khi đứng trên triền đồi này, tôi đã dự cảm được dưới ánh nắng chói lòa ở miền đất ấy, tôi sẽ làm quen với một con quỷ èo uột, giả tạo, mắt cụp của lòng tham tàn cuồng dại. Còn nó cũng quỷ quyệt thế nào thì phải mấy tháng và cả ngàn dặm sau đó tôi mới khám phá ra. Còn lúc này tôi sững sờ như bắt gặp một cảnh báo. Sau cùng tôi đi xiên xiên xuống đồi, tới rặng cây ban nãy tôi nhìn thấy.
“Tôi tránh một cái hố nhân tạo khổng lồ ai đó đào trên triền đồi, để làm gì tôi chịu không đoán nổi. Không phải mỏ đá, cũng chẳng phải vỉa cát. Chỉ là một cái hố. Có thể nó liên quan tới khát vọng nhân ái là tạo công ăn việc làm cho tội nhân. Ai biết được. Tôi suýt ngã xuống một con mương rất hẹp, chỉ như một vết sẹo trên sườn đồi. Tôi phát hiện ra, nhiều ống thoát nước nhập về phục vụ công cuộc định cư đã bị vứt xuống đây. Chẳng cái nào còn nguyên vẹn. Một sự phá hoại có chủ đích. Sau cùng, tôi đến dưới tán cây. Tôi định tản bộ dưới bóng râm một lát; nhưng vừa đến nơi tôi đã cảm thấy có lẽ mình đã sa chân vào cõi u minh của Hỏa ngục. Tiếng nước xiết gần hơn, và một tiếng ồn bất tận, đồng nhất, vội vàng, hối hả lấp đầy cái tĩnh mịch sầu thảm dưới bóng cây, nơi không một nhịp thở xôn xao, không một lá cây lay động, bằng một âm thanh bí hiểm - cơ hồ nhịp đứt gãy của trái đất bị bắn phá đột nhiên vọng đến tai người.
“Những hình hài tối đen nằm, ngồi, quỳ giữa những thân cây, dựa vào gốc cây, bấu lấy mặt đất, nửa lộ diện, nửa bị xóa nhòa dưới ánh sáng lờ mờ, trong mọi sắc thái của đau đớn, buông xuôi, và tuyệt vọng. Thêm một quả mìn phát nổ trên vách núi, khiến đất dưới chân tôi khẽ rung chuyển. Công việc đang tiếp diễn! Công việc! Và đây là nơi một số nhân công lui về để chết.
“Họ đang chết dần chết mòn - điều đó rất rõ ràng. Họ chẳng phải kẻ thù, họ chẳng phải tội phạm, họ chẳng còn chút gì trần thế nữa, chẳng còn gì ngoài những bóng đen của bệnh tật và đói khát, nằm vạ vật trong bóng tối nhuốm xanh. Được đưa từ mọi ngõ ngách duyên hải đến đây với đầy đủ thủ tục pháp lý của hợp đồng có thời hạn, không quen thủy thổ, ăn đồ xa lạ, họ ngã bệnh, giảm năng suất, và được phép bò ra đây nghỉ ngơi. Những hình hài hấp hối này tự do như khí trời - và gầy cũng gần như thế. Tôi bắt đầu nhận được ánh mắt họ dưới tàng cây. Rồi, liếc xuống, tôi thấy một khuôn mặt ngay gần tay mình. Bộ xương đen nằm duỗi dài, dựa một vai vào gốc cây, hai mí từ từ mở ra, đôi mắt trũng sâu ngước lên nhìn tôi, to tướng và trống rỗng, như một dạng lòa, lòng trắng lấp loáng sâu trong cầu mắt rồi từ từ tắt lịm. Cậu ta xem ra còn trẻ - gần như trẻ con - nhưng các cậu cũng biết với họ thì rất khó nói. Tôi chả biết làm gì khác ngoài việc cho cậu ta một cái bánh quy từ con tàu của ông bạn Thụy Điển quý hóa sót lại trong túi. Năm ngón tay từ từ khép lại và cầm lấy nó - chẳng có một cử động hay ánh nhìn nào nữa. Cậu ta buộc một dải vải xe trắng quanh cổ - Tại sao? Cậu ta nhặt được ở đâu? Nó là phù hiệu - là trang sức - là bùa may - là cử chỉ cầu tình? Đằng sau nó liệu có chút ý tứ gì chăng? Buộc trên cần cổ đen thui của cậu ta, nó khiến tôi ngỡ ngàng, mảnh vải trắng đến từ hải ngoại ấy.
“Gần gốc cây còn hai mớ bùng nhùng góc cạnh ngồi co ro. Một tì cằm lên gối, mắt nhìn hư vô, toát lên một vẻ hãi hùng khó mà chịu nổi; cái bóng ma anh em thì gục đầu xuống, như bị vùi dưới nỗi mỏi mệt cùng cực; và rải rác xung quanh là những hồn ma khác, trong muôn hình vạn trạng của cơn suy kiệt méo mó, như trong một bức tranh vẽ cảnh tàn sát hay dịch bệnh. Trong khi tôi hãi hùng đứng lặng thì một sinh vật nhổm dậy, bò bằng cả tứ chi ra bờ sông uống nước. Nó lấy tay vốc nước, rồi ngồi đó dưới nắng, hai cẳng chân bắt chéo, và một lúc sau thì gục cái đầu bù xù xuống ngực.
“Tôi chẳng muốn nấn ná trong bóng râm chút nào nữa, và vội vàng đi về phía dịch trạm. Đến gần dãy nhà, tôi gặp một người da trắng, với vẻ lịch lãm bất ngờ đến nỗi ban đầu tôi ngỡ đấy là ảo ảnh. Trước mắt tôi là một cái cổ áo hồ cứng, tay áo trắng tinh, áo vét alpaca[34] nhạt, quần tuyết bạch, cà vạt sáng màu, ủng bóng loáng. Không mũ. Tóc rẽ ngôi, chải chuốt, xức dầu, bên trên là chiếc dù viền xanh trong bàn tay to, trắng. Nhìn gã thật phi phàm, và trên tai gài một chiếc quản bút.
“Tôi bắt tay với phép màu này, và được biết gã là Kế toán trưởng của Công ty, và toàn bộ việc kế toán được thực hiện ở trạm này. Gã vừa ra ngoài để ‘hít thở không khí trong lành,’ Cách diễn đạt ấy nghe kỳ quái đến hoang đường, với sự ám chỉ về cuộc đời quẩn quanh bàn giấy. Đáng lẽ tôi chẳng kể về gã làm gì, chỉ là từ miệng gã lần đầu tiên tôi nghe thấy tên con người vĩnh viễn gắn liền với những ký ức của thời kỳ này. Vả lại, tôi kính ngưỡng gã. Phải, tôi kính ngưỡng cái cổ cồn, hai cổ tay áo thênh thang, mái tóc chải chuốt của gã. Đành rằng ngoại hình gã giống như con ma nơ canh ở tiệm uốn tóc; nhưng trong cái sa sút tinh thần kinh khủng của xứ sở này mà gã vẫn bảo trì được phong thái ấy. Định lực gớm thay. Cái cổ cồn hồ cứng và cái ngực áo điệu đà của gã là thành quả của ý chí. Gã đến đây đã gần ba năm; và sau này tôi không nhịn được phải hỏi làm sao gã có thể chưng diện những thứ vải vóc ấy. Gã chỉ hơi đỏ mặt một chút, và khiêm tốn nói: ‘Tôi dạy một phụ nữ thổ dân cách làm. Cũng khó lắm. Cô ả chán ghét công việc này,’ Nghĩa là gã đích thực đã có thành tựu đáng kể. Và gã rất tâm huyết với đám sổ sách, tất cả được biên chép hết sức quy củ.
“Các thứ khác ở dịch trạm đều hỗn loạn, - người, vật, nhà cửa. Từng đoàn mọi đen bụi bặm, chân chữ bát đến rồi đi; từng dòng hàng hóa, bông thứ phẩm, hột cườm, và dây đồng nối nhau tiến vào thẳm sâu tăm tối, đổi lấy nhỏ giọt những chiếc ngà voi quý giá.
“Tôi phải đợi ở trạm mười ngày - dài như vĩnh cửu. Tôi ở một căn lán giữa sân, có điều để thoát cảnh hỗn loạn thi thoảng tôi lại tạt vào văn phòng của viên Kế toán. Nó xây bằng gỗ ván, ghép ẩu đến nỗi khi gã còng lưng trên chiếc bàn cao, từng vạt nắng kẻ sọc ngang người gã từ cổ đến gót chân. Chẳng cần phải mở cánh cửa chớp to để nhìn ra ngoài. Ở đó cũng nóng; nhặng bay vè vè, không chích mà đâm người. Tôi hay ngồi dưới sàn, trong khi gã, với bề ngoài vô khuyết (lại còn hơi xức nước hoa), vắt vẻo trên ghế đẩu và cặm cụi viết. Thỉnh thoảng gã đứng dậy tập thể dục. Khi phòng có thêm một chiếc giường gầm[35] cho người bệnh (một đại diện[36] bị ốm ở thượng du xuống) gã hơi khó chịu. ‘Tiếng rên rỉ của người bệnh,’ gã nói, ‘khiến tôi mất tập trung. Mà như vậy thì cực kỳ khó tránh khỏi sai sót dưới cái thời tiết này,’
“Một hôm, không ngẩng đầu lên, gã bảo, ‘Khi vào nội địa chắc chắn anh sẽ gặp ông Kurtz.’ Khi tôi hỏi ông Kurtz là ai, gã nói đó là một đại diện hạng nhất; và thấy tôi có vẻ thất vọng trước thông tin này, bèn đặt bút xuống rồi chậm rãi bổ sung, ‘Đấy là một nhân vật xuất chúng,’ Gặng hỏi tiếp, tôi moi được từ gã rằng hiện ông Kurtz đang phụ trách một thương điếm hết sức quan trọng, ở xứ sở của ngà voi, ‘tít tận đầu nguồn. Gửi ngà về nhiều bằng tất cả các chỗ khác cộng lại..,’ Gã lại viết tiếp. Người ốm lúc này yếu quá rên không nổi nữa. Lũ ruồi vo ve trong tĩnh lặng tuyệt đối.
“Đột nhiên có tiếng xì xầm ngày một lớn và tiếng bước chân rầm rập. Một đoàn lữ hành vừa đến. Một tràng dồn dập những âm thanh man rợ ào đến từ bên kia vách gỗ. Cả đám phu thồ đồng loạt lên tiếng, và giữa cảnh náo loạn này vang lên giọng than thở đẫm lệ của viên trưởng đại diện, ‘bỏ quách cho xong,’ lần thứ hai mươi trong ngày... Gã chậm rãi đứng dậy. ‘Nhộn nhạo kinh người,’ gã nói. Gã khẽ khàng lại gần người bệnh, rồi quay lại bảo tôi, ‘Anh ta không nghe thấy,’ ‘Hả! Chết rồi à?’ Tôi giật mình. ‘Không, chưa,’ gã trả lời, hết sức điềm tĩnh. Rồi, hất đầu về phía cơn náo động ngoài sân, ‘Khi phải vào sổ cho chính xác, ta đâm căm ghét lũ mọi rợ này - ghét muốn chết,’ Gã trầm ngâm một lúc. ‘Khi nào gặp ông Kurtz,’ gã tiếp, ‘hãy chuyển lời tôi rằng ở đây mọi thứ - gã liếc bàn làm việc - ‘rất ổn. Tôi không muốn viết thư - với đám bưu tá ở đây, chẳng biết thư từ sẽ lọt vào tay ai - ở Trạm trung tâm ấy.’ Gã chăm chú nhìn tôi giây lát, bằng đôi mắt ốc nhồi hòa nhã. ‘Hà, ông ta sẽ còn tiến xa, rất xa,’ gã tiếp. ‘Chẳng bao lâu nữa, ông ta sẽ lên lãnh đạo. Trên đó, họ - Hội đồng ở châu Âu, anh biết đấy - đã nhắm ông ta rồi,’
“Gã quay lại làm việc. Tiếng ồn bên ngoài đã lắng, và khi rút lui tôi dừng bước trên bậc cửa. Trong tiếng vo ve đều đặn của lũ ruồi, viên đại diện sắp hồi hương đang nằm hôn mê, người đỏ ửng; người kia, gò lưng trên sổ sách, đang ghi chép số liệu chính xác từ những giao dịch tuyệt đối chính xác; và mười lăm mét phía dưới bậc cửa tôi vẫn nhìn thấy phần đỉnh lùm cây của sự chết.
“Hôm sau, cuối cùng tôi cũng rời dịch trạm, với một đoàn sáu mươi phu thồ, đi bộ một chặng đường hai trăm dặm.
“Kể cho các cậu cũng chả để làm gì. Đường mòn, đường mòn khắp nơi; một mạng lưới đường mòn trải khắp miền đất trống trải ấy, đi xuyên cỏ cao, xuyên cỏ cháy, xuyên bụi rậm, lên xuống những khe nước lạnh giá, lên xuống những đồi đá rừng rực hơi nóng; và một sự tĩnh mịch, tĩnh mịch tuyệt đối, không bóng người, không bóng lều. Dân xứ này đã cuốn gói từ lâu. Ví thử có bọn mọi đen trang bị đủ thứ vũ khí đáng sợ đột nhiên xuất hiện trên đường từ Deal[37] đến Gravesend, rình bắt đám dân quê làm phu vác hàng cho chúng, tôi tưởng chả mấy chốc mà ruộng vườn nhà cửa quanh đó cũng sẽ trống không. Chỉ khác là ở đây nhà cửa cũng đi luôn. Dù vậy tôi cũng bắt gặp vài ngôi làng bỏ hoang. Những ngôi lều cỏ mục nát toát lên vẻ gì đó trẻ thơ đến tội nghiệp. Ngày qua ngày, tôi đi trong nhịp bước và lê chân của sáu mươi đôi chân trần phía sau, mỗi đôi chịu tải ba mươi cân. Dựng trại, nấu ăn, ngủ, nhổ trại, lên đường. Thỉnh thoảng có một phu thồ chết dưới yên cương và nằm lại trong vạt cỏ cao ngút bên vệ đường, cạnh là bầu nước cạn và chiếc gậy chống dài. Sự tĩnh lặng tuyệt đích bao trùm tất cả. Có lẽ một đêm yên tĩnh nào đó, chấn động của tiếng trống từ xa xăm truyền lại, lúc trầm, lúc bổng, một thứ chấn động khi rõ, khi mờ; một âm thanh kỳ dị, khơi gợi, gọi mời, hoang dã - và có lẽ chứa đựng hàm nghĩa sâu xa chẳng kém gì tiếng chuông của một xứ Thiên Chúa giáo. Có lần chúng tôi gặp một gã da trắng mặc đồng phục không cài cúc, cắm trại ven đường dưới sự hộ tống có vũ trang của một toán lính Zanzibar[38] cao gầy, rất hiếu khách và mê hội hè - nếu không nói là thường say xỉn. Đang giám sát việc bảo trì đường sá, gã tự nhận. Dù tôi chả thấy con đường hay hoạt động bảo trì nào, trừ xác một người da đen trung niên, trán có lỗ đạn mà tôi vấp phải theo nghĩa đen sau đó ba dặm, có thể được coi như một tiến bộ vĩnh viễn. Tôi còn một bạn đồng hành da trắng, tính nết không tệ, chỉ phải cái hơi béo và có cái thói quen rất nản là hay ngất khi leo dốc nóng và còn cách chỗ có nước và bóng râm gần nhất hàng dặm. Các cậu biết đấy, thật phát nản khi phải căng áo của mình như một cái dù trên đầu người khác để chờ gã hồi tỉnh. Có lần tôi không nhịn được đã hỏi rốt cuộc gã mò đến đây làm gì. ‘Tất nhiên là để phát tài. Chứ anh nghĩ sao hả?’ Gã đáp, vẻ khinh miệt. Thế rồi gã bị sốt và phải cáng đi bằng võng. Vì gã nặng hơn một tạ nên tôi đến khốn nạn với đám phu khiêng cáng. Họ ăn vạ, bỏ chạy, nửa đêm ôm hàng trốn đi - một cuộc nổi loạn thực sự. Thành thử, một tối tôi phải làm một bài diễn văn tiếng Anh kèm cử chỉ, sáu mươi cặp mắt trước mặt tôi không bỏ sót chút gì, và sáng hôm sau tôi cho cáng đi trước ngon lành. Một tiếng sau, tôi gặp cả đống tan tác trong bụi rậm - người, cáng, chăn, rên rỉ, hãi hùng. Cái đòn khiêng cáng nặng trịch đã làm con người khốn khổ xước mũi. Gã hung hăng đòi tôi giết ai đó, nhưng xung quanh chẳng thấy ma nào. Tôi nhớ lại lời ông bác sĩ già - ‘theo dõi sự biến động tinh thần ngay tại chỗ của mỗi cá nhân là điều rất lý thú về mặt khoa học,’ Tôi cảm thấy mình đang trở nên lý thú với khoa học. Tuy nhiên những cái đó cũng chẳng để làm gì. Sang ngày thứ mười lăm tôi lại nhìn thấy con sông lớn, và lê bước tới Trạm trung tâm[39]. Nơi này nằm ven một vùng nước lặng, rừng và bụi rậm bao quanh, một mặt là tường bùn chỉn chu hôi rích, ba mặt quây rào bằng cây sậy kỳ dị. Một lỗ hổng không ai chăm sóc là tất cả những gì gọi là cổng vào; và chỉ thoáng nhìn ta đã biết con quỷ èo uột đang điều khiển chốn này. Dân da trắng, tay cầm ba toong, uể oải xuất hiện giữa các tòa nhà, thả bộ đến gần để ngó tôi, rồi lại biến mất đi đâu đó. Một trong số này, một tay lực lưỡng, hồ hởi, ria mép đen, ăn nói rất liến thoắng và vòng vo, lập tức thông báo khi tôi vừa tự giới thiệu, rằng con tàu của tôi đang nằm dưới đáy sông. Tôi sững người. Hả, làm sao, thế nào? ‘À, không sao đâu’. ‘Đích thân ông giám đốc’ cũng có mặt. Tất cả đều đúng quy trình. ‘Mọi người hành xử rất tuyệt vời! Rất tuyệt vời!’ - ‘anh phải,’ gã lo âu nói, ‘đi gặp ông giám đốc ngay đi. Ông ấy đang chờ!’
“Khi đó tôi chưa nhận thức ngay được tầm quan trọng thật sự của vụ đắm tàu. Giờ thì có thể, nhưng tôi không dám chắc - không hề. Đành rằng vụ việc ngớ ngẩn đến nỗi - mỗi khi tôi nghĩ lại - khó lòng là chuyện ngẫu nhiên được. Có điều... Nhưng lúc đó với tôi nó chẳng qua là một sự phiền toái chết tiệt. Con tàu bị chìm. Họ xuất phát hai ngày trước, vội vã ngược dòng với viên giám đốc trên boong, dưới quyền là một tay hoa tiêu tình nguyện, đi chưa được ba giờ đã đâm thủng đáy thuyền do va phải đá ngầm, và con tàu chìm gần bờ nam. Tôi tự hỏi mình sẽ làm gì ở đây khi không còn tàu nữa. Hiển nhiên tôi có rất nhiều việc phải làm để câu quyền chỉ huy của mình từ dưới sông lên. Tôi phải bắt tay vào việc ngay hôm sau. Việc đó và quá trình sửa chữa sau khi trục vớt cũng mất vài tháng.
“Cuộc gặp đầu tiên với viên giám đốc rất kỳ cục. Gã không mời tôi ngồi sau khi tôi đã cuốc bộ hai mươi dặm sáng hôm đó. Con người gã rất bình thường, từ nước da đến nét mặt, tác phong đến giọng nói. Vóc dáng trung bình, cơ bắp vừa phải. Mắt gã, màu xanh lam quen thuộc, có lẽ đặc biệt lạnh lùng, và chắc hẳn gã có thể giáng ánh nhìn của mình xuống người khác sắc bén và nặng nề như một lưỡi rìu. Nhưng kể cả vào lúc này phần còn lại của con người gã dường như bác bỏ ý định ấy. Trừ một biểu cảm mơ hồ, khó bề định nghĩa trên môi gã, gì đó lởn vởn - như cười mà không phải cười - tôi vẫn nhớ, mà không lý giải được. Cái nụ cười này, nó vô thức, mặc dù sau mỗi câu nói của gã, nó rõ nét hơn trong giây lát. Nó xuất hiện mỗi khi gã dứt lời, như con dấu đóng lên từ ngữ, và biến ý tứ của những câu chữ giản đơn nhất thành tuyệt đối vô phương thấu hiểu. Gã là một lái buôn bình thường, đã làm việc ở đây từ hồi thanh niên - có vậy thôi. Người ta phục tùng gã, nhưng gã không khơi dậy sự yêu mến hay sợ hãi, cả kính trọng cũng không. Gã khơi dậy nỗi bất an. Chính thế! Bất an. Chưa hẳn là sự ngờ vực - chỉ là nỗi bất an - không hơn. Các cậu không hình dung nổi hiệu quả của cái... cái... năng lực này đâu. Gã không hề có tài tổ chức, tài sáng tạo, đến tính ngăn nắp cũng không. Điều đó thể hiện trong những thứ như tình trạng tồi tệ của cái trạm này. Gã không có học vấn, không có trí tuệ. Vị trí này tự đến với gã - vì sao? Có lẽ bởi gã chẳng bao giờ ốm... Gã đã phục vụ ba nhiệm kỳ ba năm ngoài đó... Bởi thể chất khỏe khoắn trong một mặt bằng suy sụp về sức khỏe bản thân nó là một thứ quyền lực. Khi về nước nghỉ phép gã quậy tơi bời hoa lá. Như thủy thủ lên bờ - nhưng có chỗ khác, chỉ giống bề ngoài. Điều này ta nhận ra ngay khi nghe gã nói chuyện. Gã chẳng đem lại điều gì mới mẻ, song gã có khả năng duy trì lề thói hàng ngày, thế thôi. Nhưng gã rất xuất sắc. Gã xuất sắc trong việc nhỏ nhặt ấy đến mức không ai biết được điều gì có thể kiểm soát một kẻ như gã. Gã không bao giờ hé lộ bí mật ấy. Có lẽ trong gã chẳng có gì. Nỗi hoài nghi ấy khiến ta giật mình - bởi ngoài đó đâu có cơ chế gì để giám sát gã. Một lần, khi các loại bệnh nhiệt đới đánh gục gần như tất cả các đại diện ở trạm, người ta nghe gã thốt, ‘Đã ra đến đây thì tốt nhất đừng có ruột,’ Gã niêm phong phát ngôn này bằng nụ cười quen thuộc như thể đó là cánh cửa dẫn đến một chốn tăm tối do gã quản lý. Ta ngỡ mình nhìn thấy gì đó - nhưng lối vào đã bị phong bế. Khó chịu vì cứ đến bữa đám da trắng lại tranh giành thứ bậc tại bàn ăn, gã cho đóng một cái bàn tròn khổng lồ, và phải xây một ngôi nhà đặc biệt cho vừa với nó. Đó là phòng ăn mới của trạm. Chỗ gã ngồi là chủ vị, còn lại chẳng là gì hết. Đó dường như là niềm tin bất biến của gã. Gã chẳng văn minh cũng không man rợ. Gã lặng lẽ. Gã cho phép ‘thằng nhỏ’ của mình - một gã trai da đen miền biển mập ú - đối xử với đám da trắng, ngay dưới mắt gã, bằng thái độ xấc xược đầy khiêu khích.
“Gã lên tiếng ngay khi vừa thấy mặt tôi. Tôi đi đường lâu quá. Gã không chờ được. Đành xuất phát không có tôi. Các trạm thượng nguồn cần tiếp tế. Có quá nhiều trì hoãn đến nỗi gã chẳng biết ai còn ai mất, tình hình ra sao - vân vân và vân vân. Gã bỏ ngoài tai mọi giải thích của tôi và, vừa nghịch cây sáp niêm phong, vừa nhắc đi nhắc lại rằng tình hình ‘rất nghiêm trọng, rất nghiêm trọng.’ Có tin rằng một trạm hết sức quan trọng đang gặp vấn đề, và trạm trưởng, ông Kurtz, bị ốm. Mong rằng đó chỉ là tin thất thiệt. Ông Kurtz ấy... Tôi nghe mà chán ngấy. Kurtz, Kurtz cái mẹ gì, tôi nghĩ. Tôi ngắt lời gã rằng tôi đã nghe nói về ông Kurtz từ ngoài cửa biển. ‘À! Ra là dưới đó họ cũng nói về ông ấy,’ gã lẩm bẩm. Rồi gã tiếp tục, cam đoan với tôi rằng ông Kurtz là đại diện giỏi nhất của gã, một nhân vật xuất chúng, có tầm quan trọng đặc biệt với Công ty; do vậy chắc tôi cũng hiểu nỗi lo âu của gã. Gã đang ‘hết sức, hết sức bồn chồn,’ Quả thực, gã không ngừng nhấp nhổm trên ghế, cảm thán, ‘Hỡi ơi, ông Kurtz!’, làm gãy cây sáp niêm phong và có vẻ sững sờ trước sự cố này. Tiếp đó gã muốn biết ‘phải mất bao lâu để..,’ Tôi ngắt lời gã lần nữa. Đang đói, các cậu biết đấy, lại không được mời ngồi, tôi đâm ra sỗ sàng. ‘Làm sao tôi biết được?’ Tôi đáp. ‘Tôi còn chưa kịp thấy con tàu đắm - nhưng chắc phải vài tháng.’ Tôi thấy cuộc đối thoại thật vô nghĩa. ‘Vài tháng,’ gã nói. ‘ừm, cứ tạm cho là ba tháng đi. Vụ đó thế là ổn đấy,’ Tôi lao ra khỏi lán (gã sống một mình trong căn lán vách đất có mái hiên), và lầm bầm rủa gã. Một thằng ngu lắm mồm. Về sau tôi phải rút lại bình phẩm này khi sững sờ nhận ra gã đã tử tế biết bao khi dự tính thời gian cần thiết cho ‘vụ đó,’
“Hôm sau tôi bắt tay vào việc, có thể nói là quay lưng lại dịch trạm. Có lẽ chỉ bằng cách đó tôi mới neo đậu được bản thân vào những thực tế có sức cứu rỗi của cuộc sống. Thế nhưng, thỉnh thoảng ta vẫn phải nhìn quanh, và tôi lại thấy cái trạm, với những kẻ vật vờ vô định trong ánh nắng ngoài sân. Đôi khi tôi tự hỏi tất cả những thứ đó nghĩa là gì. Họ tha thẩn khắp nơi với cây ba toong dài kỳ quái trên tay, như một lũ hành hương vô đạo bị quỷ ám sau lớp rào mục nát. Chữ ‘ngà voi’ ngân nga trong không khí, lầm rầm, thầm thì trên môi người. Ngỡ như họ đang cầu nguyện với nó. Một mùi tham tàn si ngốc thổi qua tất cả, như xú khí từ xác chết. Lạy Chúa! Đời tôi chưa thấy gì phi thực đến thế. Bên ngoài, sự hoang dã tĩnh lặng vây quanh cái nốt bé tí được phát quang trên mặt đất này gây ấn tượng mạnh mẽ lên tôi như một thực thể vĩ đại và bất bại, như cái ác hay sự thật, đang kiên nhẫn chờ đợi cuộc xâm lăng hoang đường này chết đi.
“Hỡi ơi, mấy tháng ấy! Mà thôi. Đủ chuyện xảy ra. Tối nọ, một vựa cỏ đầy vải hoa, vải bông, hạt cườm và gi gỉ gì gi nữa bùng cháy đột ngột đến nỗi tưởng như mặt đất vừa nứt ra cho ngọn lửa báo thù nuốt sạch những rác rưởi ấy. Tôi đang lặng lẽ hút tẩu cạnh con tàu tan nát của mình và thấy họ loi choi trong ánh lửa, hoa chân múa tay, trong khi gã lực lưỡng có ria mép cắm đầu chạy xuống bờ sông xách theo cái xô nhôm và quả quyết rằng tất cả đang ‘phản ứng rất tuyệt vời, rất tuyệt vời,’ múc hơn lít nước rồi te tái chạy về. Tôi để ý thấy cái xô thủng một lỗ.
“Tôi thong thả đi lên. Không có gì phải vội. Cái kho bắt cháy như một bao diêm. Vô vọng ngay từ đầu. Ngọn lửa bốc cao, đẩy tất cả lùi lại, chiếu sáng mọi thứ - rồi sụp đổ. Cái kho lúc này chỉ còn là một đống than hồng sáng rực. Một gã da đen đang bị ăn đòn gần đó. Họ bảo chính gã gây ra vụ cháy; mặc dù vậy, gã rên la cực kỳ thảm thiết. Sau đó tôi thấy gã, suốt mấy ngày liền, ngồi dưới bóng râm, rất ốm yếu và cố gắng bình phục: rốt cục gã đứng dậy đi ra ngoài - và hoang dã vô thanh vô tức ôm gã vào lòng. Khi từ bóng tối lại gần đám lửa, tôi nhận ra mình đứng sau hai người, đang nói chuyện. Tôi nghe thấy cái tên Kurtz, và mấy từ, ‘tận dụng cái tai bay vạ gió này.’ Một người chính là viên giám đốc. Tôi chúc gã buổi tối tốt lành. ‘Anh đã thấy cảnh tượng như thế bao giờ chưa - hả? Thật kinh khủng,’ gã nói, đoạn bỏ đi. Người kia vẫn ở lại. Đó là một đại diện cấp một, trẻ và lịch lãm, hơi dè dặt, mũi khoằm, hàm râu hình chữ A. Gã đối với các đồng nghiệp hơi xa cách, và về phần mình họ nói gã được viên giám đốc giao rình mò họ. Bản thân tôi hiếm khi nói chuyện với gã. Bọn tôi bắt chuyện, và dần dà đi khỏi đống đổ nát vẫn cháy lèo xèo. Sau đấy gã mời tôi về phòng, tại tòa nhà chính của trạm. Gã đánh diêm, và tôi nhận ra tay quý tộc trẻ này không chỉ có một hộp tư trang bịt bạc, mà còn cả một cây nến riêng. Vào thời kỳ ấy, viên giám đốc là người duy nhất được quyền sở hữu nến. Trên vách đất treo thảm của thổ dân; một bộ sưu tập giáo, lao, khiên và dao được trưng bày như chiến lợi phẩm. Nhiệm vụ gã được giao là sản xuất gạch - tôi nghe nói vậy; nhưng khắp trạm tịnh không có mẩu gạch nào, mà gã đến đây đã hơn một năm - chờ đợi. Hình như gã thiếu một nguyên liệu, tôi không rõ là gì - rơm thì phải[40]. Dù sao chăng nữa, tại đây không có thứ đó, và vì khả năng gửi từ châu Âu sang là khó, tôi không rõ gã đợi cái gì. Một sự thiên tạo đặc biệt chăng. Tuy nhiên tất cả - cả thảy mười sáu hay hai mươi kẻ hành hương này - đều đợi một thứ gì đó; và tôi cam đoan rằng công việc ấy chẳng có vẻ gì là đáng chán, nếu xét cách họ tiếp nhận nó, mặc dù thứ duy nhất tìm đến với họ, như chỗ tôi thấy, là bệnh tật. Họ giết thời gian bằng cách nói xấu và chơi khăm nhau một cách ngu ngốc. Từ trạm toát ra một không khí đầy mưu mô, nhưng tất nhiên rốt cục chả có chuyện gì. Nó cũng phi thực như mọi thứ khác - như mục đích nhân ái giả tạo của toàn bộ hoạt động này, như những lời họ nói, như bộ máy chính quyền, như màn kịch làm việc của họ. Thứ duy nhất có thật là dục vọng được bổ nhiệm đến một thương điếm có ngà voi để ăn phần trăm. Họ mưu mô và bôi nhọ và căm ghét nhau chỉ vì lẽ đó, song để thật sự nhấc ngón tay út thì - ồ không. Trời ơi! Trên đời lại có điều gì cho phép kẻ này trộm cả con ngựa còn người kia chẳng dám dòm dỏ bộ dây cương. Trộm nguyên con ngựa. Tốt thôi. Trộm cũng đã trộm rồi. Biết đâu lại cưỡi được. Nhưng có một cách dòm dỏ dây cương sẽ khích nộ cả những vị thánh từ bi nhất.
“Tôi không hiểu tại sao gã lại muốn thân cận mình, nhưng trò chuyện một hồi, tôi chợt nhận ra động cơ của gã - moi thông tin. Gã thường xuyên đề cập tới châu Âu, tới những người tôi có thể quen biết ở đó - đặt câu hỏi mớm về quan hệ của tôi ở thành phố lăng tẩm, vân vân. Đôi mắt hạt đỗ của gã lấp lóe như hai mảnh mi ca - với nỗi tò mò - dù gã cố giữ vẻ kiêu kỳ. Sau phút ngỡ ngàng ban đầu, tôi hiếu kỳ muốn biết gã định moi gì ở tôi. Tôi không hình dung nổi mình có gì khiến gã phải nhọc công. Nhìn gã hoang mang tôi rất khoái trá, bởi kỳ thực trong người tôi chỉ toàn những cơn rét run, còn trong đầu tôi chẳng có gì ngoài chuyện con tàu đắm. Dĩ nhiên gã coi tôi là một kẻ chối quanh trơ tráo. Cuối cùng gã nổi cáu, và, để che giấu vẻ khó chịu đầy bực bội, gã ngáp. Tôi đứng dậy. Chợt tôi để ý một bức phác thảo sơn dầu, trên một tấm toan, vẽ một phụ nữ quấn áo choàng và bịt mắt, tay cầm đuốc. Hậu cảnh u tối - gần như đen kịt. Cử chỉ của người phụ nữ toát lên vẻ uy nghi, và ánh đuốc hắt lên khuôn mặt đầy ngụy dị.
“Nó hớp hồn tôi, và gã lịch thiệp đứng cạnh, tay cầm một chai champagne 1/4 lít (thuốc an thần) cắm cây nến bên trên. Đáp lời tôi, gã nói chính ông Kurtz vẽ bức họa ở trạm này hơn một năm trước, trong khi chờ tàu đến thương điếm của mình. ‘Nói tôi nghe xem,’ tôi bảo, ‘cái ông Kurtz này là ai?’
‘Trạm trưởng Trạm Nội,’ gã đáp cụt lủn rồi nhìn đi chỗ khác. ‘Đa tạ,’ tôi cười nói, ‘và anh là người làm gạch của Trạm Trung tâm. Cái đó ai chả biết,’ Gã im lặng một lúc. ‘Đó là một thiên tài,’ cuối cùng gã nói. ‘Sứ giả của lòng từ bi, khoa học, tiến bộ, và gì nữa có quỷ mới biết. Chúng ta cần,’ đột nhiên gã hùng hồn tuyên bố, ‘để dẫn dắt sự nghiệp được châu Âu giao phó, một trí tuệ siêu việt, tình thương bao la, và toàn tâm toàn ý vì lý tưởng.’ ‘Ai bảo thế?’ Tôi hỏi. ‘Nhiều lắm,’ gã nói. ‘Có người còn viết thành văn; thế là ông ta đến đây, một nhân vật xuất chúng, như ông cần phải biết,’ ‘Sao tôi lại phải biết?’ Tôi ngắt lời, ngạc nhiên thật sự. Gã lờ đi. ‘Phải, hiện nay ông ta phụ trách trạm thành công nhất, năm sau sẽ làm trợ lý giám đốc, thêm hai năm nữa... nhưng tôi dám nói ông thừa biết hai năm nữa ông ta sẽ làm gì. Các ông thuộc nhóm mới - nhóm đạo cao đức trọng. Những người biệt phái ông ta tới đây cũng là người đề cử ông. Thôi, đừng chối. Tôi không nhìn lầm đâu.’ Tôi bừng tỉnh. Các bạn bè có thế lực của dì tôi đã gây nên một tác động bất ngờ với gã thanh niên này. Suýt nữa tôi phá ra cười. ‘Anh đọc thư tín mật của Công ty hả?’ Tôi hỏi. Gã nín lặng. Trò này vui ra phết. ‘Chừng nào ông Kurtz,’ tôi tiếp, vẻ nghiêm khắc, ‘lên làm Tổng giám đốc, anh sẽ không còn cơ hội nữa đâu,’
“Gã bỗng thổi tắt nến, và chúng tôi bước ra ngoài. Trăng vừa lên. Những bóng đen lờ đờ đi lại, đổ nước lên đống tro tàn, làm phát ra tiếng xèo xèo; hơi nước bốc lên dưới ánh băng, tiếng gã da đen bị đánh rên rỉ đâu đây. ‘Thằng mọi ăn hại quá!’ Gã đàn ông không biết mệt với hàng ria mép xuất hiện cạnh chúng tôi nói. ‘Đáng đời lắm. Phạm lỗi - trừng phạt - xong! Tàn nhẫn. Tàn nhẫn. Chỉ có cách ấy. Có thế mới chặn được mọi nguy cơ hỏa hoạn trong tương lai. Tôi vừa bảo ông giám đốc...’ Gã nhận thấy bạn đồng hành của tôi, lập tức tỏ vẻ sầu muộn. ‘Cậu chưa ngủ à,’ gã hỏi, với vẻ xun xoe vồn vã; ‘cũng dễ hiểu thôi. Có nguy hiểm đâm ra bồn chồn,’ Gã biến mất. Tôi đi tiếp ra bờ sông, gã quý tộc theo gót. Một tiếng lầm bầm dè bỉu vang lên bên tai tôi, ‘Một lũ vô dụng.’ Từ đây, tôi nhìn thấy đám hành hương túm tụm tranh cãi, hoa tay múa chân. Một số vẫn cầm ba toong. Tôi dám chắc họ ôm cây gậy ấy đi ngủ. Ngoài hàng rào, rừng rậm như bóng ma lừng lững dưới băng, và qua tiếng xôn xao bầm đục, qua những âm thanh mơ hồ từ mảnh sân tang thương ấy, sự im lặng của xứ sở này xuyên thấu tận tâm can mỗi người - cái bí hiểm, cái vĩ đại, hiện thực choáng ngợp của sự sống ẩn trong lòng nó. Gã da đen bị thương rên rỉ yếu ớt đâu đây, phát ra một tiếng thở dài sâu thẳm khiến tôi rảo bước bỏ đi. Một bàn tay bỗng xuất hiện dưới cánh tay tôi. ‘Thưa ngài,’ gã nói. ‘Tôi không muốn bị hiểu lầm, nhất là với ngài, người sẽ gặp ông Kurtz rất lâu trước khi tôi có vinh hạnh ấy. Tôi không muốn ông ấy có ấn tượng sai lạc về tính cách của tôi...’
“Tôi để mặc cho gã nói, tên Mephistopheles[41] giấy bồi này, và cảm thấy nếu thử tôi có thể chọc tay xuyên người gã, và phát hiện ở trong chắc chẳng có gì ngoài ít vụn đất. Gã, các cậu hiểu không, ấp ủ trở thành trợ lý cho viên giám đốc đương nhiệm trong tương lai gần, và tôi có thể thấy sự xuất hiện của tay Kurtz này đã mang đến không ít căm tức cho cả hai. Gã nói liến thoắng, và tôi không định ngăn gã lại. Tôi dựa vai vào con tàu đắm, vừa được kéo lên triền sông như xác một con thủy quái. Mùi bùn, thứ bùn nguyên thủy, lạy Chúa! xộc vào lỗ mũi tôi, cái tĩnh lặng của rừng nguyên sinh cao vút trước mắt tôi; và xen lẫn là những vạt suối đen lấp lánh. Ánh trăng tráng một lớp bạc lên vạn vật - lên thảm cỏ, lên lớp bùn, lên bức tường cây ken dày cao hơn tường một ngôi đền, lên con sông vĩ đại mà tôi vẫn nhìn thấy, sau một vùng trống tăm tối, đang lấp lánh, lấp lánh, mênh mang tuôn chảy không một tiếng thì thầm. Tất cả đều kỳ vĩ, mong ngóng, câm lặng trong khi gã lải nhải về bản thân. Tôi tự hỏi vẻ tĩnh lặng trên bề mặt của sự hùng vĩ đang theo dõi chúng tôi, có hàm ý khẩn cầu hay đe dọa. Chúng tôi là gì mà lưu lạc tới đây? Chúng tôi có khống chế nổi vật câm ấy chăng, hay nó sẽ khống chế chúng tôi? Sao nó to lớn, to lớn quá chừng, vật không biết nói, mà có thể còn bị điếc ấy. Trong đó có gì? Tôi thấy một ít ngà voi rỉ ra từ đó, và thấy bảo ông Kurtz đang ở đó. Tôi nghe nói về nó đủ lắm rồi - có Chúa chứng giám! Thế nhưng, không hiểu vì sao vẫn chưa có hình ảnh nào về nó cả - nếu có ai bảo tôi trong đó có thiên thần hay ác quỷ thì cũng thế. Tôi tin vào điều đó giống như các cậu tin rằng trên sao Hỏa có người. Có dạo tôi quen một tay làm buồm quê Scotland, luôn quả quyết như đinh đóng cột rằng sao Hỏa có người. Nếu có ai hỏi trông họ ra sao, cư xử thế nào, ông ta sẽ ngượng nghịu lí nhí gì đó về ‘đi bằng cả tứ chi,’ Ai mà hơi cười thôi, ông cụ - dù đã sáu chục - sẽ thách họ đánh nhau. Tôi sẽ không đi xa đến mức choảng nhau vì Kurtz, nhưng tôi đã gần như nói dối vì y. Các cậu cũng biết tôi khinh ghét, ghê tởm, và không chịu đựng nổi nói dối, chẳng phải vì tôi ngay thẳng hơn ai, mà chỉ bởi nó làm tôi kinh sợ. Từ nói dối toát ra một hơi hướm chết chóc, một mùi vị tử vong - đó chính là thứ tôi khinh ghét và ghê tởm trên thế giới này - thứ tôi muốn quên đi. Nó làm tôi khổ sở và buồn nôn, giống như ăn phải đồ thối rữa. Có lẽ nó thuộc về tính khí. Ờ, tôi đã gần như nói dối khi để gã khờ ấy tin vào bất cứ điều gì gã muốn vẽ ra về ảnh hưởng của tôi ở châu Âu. Trong giây lát, tôi đã trở nên giả tạo không kém gì đám hành hương bị quỷ ám kia. Chỉ vì tôi nghĩ như thế sẽ giúp được tay Kurtz mà khi ấy tôi còn chưa biết mặt - hiểu không? Với tôi y chỉ là một cái tên. Tôi chẳng hiểu gì về y từ cái tên hơn các cậu. Các cậu có hiểu y không? Có hiểu chuyện này không? Có hiểu gì không? Có vẻ tôi đang cố kể lại một giấc mơ - một nỗ lực vô vọng, vì không sự tường thuật nào tái hiện được cơn phấn-khích-trong-mơ, sự pha trộn của quái lạ, kinh ngạc, hoang mang giữa cơn chấn động của vẫy vùng nổi loạn, được cái ý niệm bị cầm tù bởi sự hoang đường vốn là bản chất của giấc mơ...”
Gã im lặng mất một lúc.
“...Không, chẳng thể nào; chẳng thể nào tái hiện được niềm phấn-khích-trong-đời của bất cứ giai đoạn tồn tại nào của mỗi người - điều làm nên sự thật, nên ý nghĩa của nó - cái bản chất vi diệu và thấm thìa của nó. Điều ấy là bất khả. Ta sống, cũng như mơ - một mình...”
Gã lại ngừng lời, như đang chiêm nghiệm, rồi thêm...
“Dĩ nhiên, trong chuyện này các cậu thấy nhiều hơn tôi hồi đó. Các cậu hiểu tôi, vì biết tôi từ trước...”
Trời tối như mực, khiến thính giả gần như không trông thấy nhau nữa. Từ khá lâu gã, ngồi riêng một góc, chỉ còn là một giọng nói không hơn. Chẳng ai nói gì. Những người khác có thể đã thiếp đi, riêng tôi vẫn thức. Tôi lắng nghe, dỏng tai lắng nghe một câu, một chữ sẽ đem lại manh mối về nỗi bất an mơ hồ được khơi dậy từ câu chuyện dường như tự định hình không cần môi người, trong không khí ngột ngạt của sông đêm.
“...Phải - tôi để kệ gã lải nhải,” Marlow tiếp tục, và thích nghĩ gì về những thế lực sau lưng tôi tùy thích. Thật vậy! Mà sau lưng tôi chẳng có gì hết! Chẳng có gì ngoại trừ con tàu hơi nước cũ kỹ, rách nát thảm hại mà tôi đang dựa lưng vào, trong khi gã liến thoắng về ‘sự cần thiết phải tiến bộ của mỗi cá nhân’. ‘Và một khi đã ra đến đây, ai cũng ý thức được, không phải là để ngắm trăng.’ Ông Kurtz là một ‘thiên tài toàn năng,’ nhưng kể cả thiên tài cũng sẽ thấy dễ dàng hơn, nếu được làm việc với ‘phương tiện tương xứng - những con người thông minh.’ Gã không làm gạch - vì sao, vì điều kiện kỹ thuật không cho phép - cái này tôi quá biết; nếu gã làm nhiệm vụ do thám cho viên giám đốc thì cũng vì ‘không kẻ khôn ngoan nào thẳng thừng từ chối sự tin cậy của lãnh đạo.’ Tôi có hiểu không? Tôi hiểu chứ. Vậy tôi còn cần gì nữa? Cái tôi cần thực sự là đinh tán, trời ơi! Đinh tán. Để tiếp tục công việc - để bịt lỗ thủng. Đinh tán là cái tôi cần. Miền duyên hải dưới kia có hàng thùng - hàng thùng - chồng chất - chặt căng - nứt toác! Trong cái sân trên triền đồi ấy, đi được hai bước lại đá phải một cái đinh tán nằm lăn lóc. Đinh tán tụ thành một vạt rừng chết. Có thể chất đầy đinh tán vào túi để cho người còng xuống nếu thích - song chỗ cần đinh tán thì lại đếch có cái nào. Tấm sắt có đây rồi, nhưng chả có gì để siết hết. Trong khi tuần nào người đưa thư, một gã da đen cô độc, cũng từ trạm ra biển. Và vài lần một tuần, một đoàn phu từ biển vào mang theo hàng hóa - thứ vải hoa gớm ghiếc đến nỗi nhìn đã rùng mình, hạt cườm giá cỡ một xu một gáo, mớ khăn mùi xoa chấm bi chết tiệt. Và không có đinh tán. Chỉ ba gã phu thồ là khuân đủ số cần thiết để con tàu nổi trở lại.
“Lúc này gã bắt đầu thổ lộ, nhưng có lẽ thái độ hờ hững của tôi rốt cục đã khiến gã phát cáu, vì gã thấy cần phải tuyên bố với tôi rằng gã chẳng sợ quỷ thần, đừng nói tới phàm nhân. Tôi đáp cái đó tôi rất hiểu, nhưng cái tôi cần là một cơ số đinh tán - và đinh tán đích thực là cái ông Kurtz cần, giả thử mà ông ấy biết. Hiện tuần nào cũng có thư đi duyên hải... ‘Ngài ôi,’ gã than thở, ‘tôi chỉ chép lời người khác.’ Tôi vẫn đòi đinh tán. Kiểu gì chả có cách - với người thông minh. Gã liền thay đổi thái độ; trở nên rất lạnh lùng, và bỗng nhiên nói chuyện một con hà mã; và hỏi tôi ngủ lại trên boong như thế (tôi dính với con tàu đắm ngày lẫn đêm) có bị nó quấy rầy không. Một con hà mã già có thói quen xấu là đêm đến hay lên bờ và loanh quanh trong trạm. Đám hành hương xô ra và vớ được khẩu súng nào lại vãi bằng hết đạn về phía nó. Một số còn ngồi rình nó cả đêm. Nhưng đều không ăn thua gì. ‘Con vật này có bùa hộ mệnh,’ gã nói; ‘nhưng cái đó chỉ đúng với lũ súc sinh ở xứ này. Còn không ai - ngài hiểu tôi chứ? - không ai ở đây có bùa hộ mệnh hết,’
“Gã đứng đó trong giây lát, dưới ánh trăng, với cái mũi khoằm thanh tú hơi nghếch, cặp mắt mica lấp lánh không chớp, đoạn, với một lời chúc ngủ ngon cụt lủn, gã sải chân bỏ đi. Có thể thấy gã ức chế và khá hoang mang, điều khiến tôi thêm phần hy vọng so với những ngày qua. Thật dễ chịu khi đang từ thằng cha kia được quay lại với người bạn thế lực của tôi - con tàu hơi nước méo mó, ọp ẹp, tan nát, tả tơi. Tôi trầy trật leo lên boong. Nó reo lên dưới chân tôi như một cái hộp thiếc đựng bánh quy Huntley & Palmer lăn lóc nơi ngòi rãnh; chất liệu nó đã không lấy gì làm chắc chắn, ngoại hình cũng chẳng đẹp đẽ gì, nhưng tôi đã đủ vất vả với nó đến mức yêu nó. Không người bạn thế lực nào phục vụ tôi tốt hơn thế. Nó đã cho tôi cơ hội viễn du - và khám phá năng lực bản thân. Không, tôi không thích làm việc. Tôi ưa nằm ườn và nghĩ đến đủ thứ tốt đẹp có thể thành hiện thực. Tôi không thích làm việc - chẳng ai thích hết - nhưng tôi thích cái mà công việc mang lại - cơ hội khám phá bản thân. Bản chất của ta - cho chính ta, không phải cho kẻ khác - cái mà kẻ khác chẳng bao giờ biết. Thiên hạ chỉ thấy vở diễn, và không bao giờ hiểu được ý nghĩa đích thực của nó.
“Tôi không bất ngờ khi thấy có người ngồi trên boong, ở đuôi tàu, chân đong đưa trên bùn. Hãy hiểu rằng tôi ưa đánh bạn với đám thợ máy ở trạm hơn, những đối tượng theo lẽ tự nhiên bị dân hành hương khinh miệt - do tác phong thô lỗ, chắc vậy. Đó là tay đốc công - nguyên là thợ hàn nồi hơi - một người rất thạo việc. Ông ta cao, gầy, mặt vàng, cặp mắt to và sôi nổi. Thần sắc ông đượm vẻ lo âu, mái đầu hói nhẵn như lòng bày tay tôi; xem ra tóc ông khi rụng xuống đã dính lại ở cằm và sinh sôi nảy nở trên mảnh đất mới này, tạo thành hàm râu dài đến thắt lưng. Ông ta góa vợ, có sáu mụn con (ông gửi cho em gái chăm sóc để tới đây), và niềm đam mê cả đời là chơi chim bồ câu. Ông vừa say mê vừa am hiểu. Lúc nào ông cũng say sưa nói chuyện bồ câu. Hết giờ làm thỉnh thoảng ông lại qua chỗ tôi tâm sự về con cái và bồ câu; lúc làm việc, khi phải lội xuống bùn dưới đáy tàu, ông bèn buộc râu bằng tấm khăn ăn trắng thửa riêng cho việc này. Cái khăn có lỗ để móc vào tai. Tối đến, người ta lại thấy ông ngồi xổm bên bờ suối, cẩn thận vò tấm bọc râu rồi trịnh trọng hong lên bụi cây cho khô.
“Tôi vỗ lưng ông và hét ‘Sắp có đinh tán rồi!’ Ông lảo đảo đứng dậy và ngỡ ngàng ‘Hả! Đinh tán!’ như không tin vào tai mình. Và ông thì thầm, ‘Cậu... hử?’ Tôi không hiểu tại sao bọn tôi xử sự như hai gã khùng. Tôi đặt ngón tay lên cánh mũi rồi gật đầu bí hiểm. ‘Vậy ngon rồi!’ Ông thốt, co một chân, giơ tay lên đầu búng tanh tách. Tôi nhảy điệu jig[42]. Chúng tôi quay cuồng trên boong. Một tiếng loảng xoảng đáng sợ vang lên từ khối sắt ấy, và rừng già nguyên thủy bên kia suối vọng lại thanh âm ấy, như tiếng sấm rền lan đến khu trạm đang say ngủ. Chắc hẳn nó đã làm mấy gã hành hương giật mình nhỏm dậy trong lều. Một bóng người xuất hiện, trên ô cửa sáng đèn ở lều viên giám đốc, biến mất, rồi, độ một giây sau, ô cửa cũng biến mất luôn. Chúng tôi dừng lại, và sự tĩnh lặng bị nhịp chân chúng tôi xua đi lại từ thâm sơn cùng cốc chảy về. Bức tường thảo mộc khổng lồ, một khối xum xuê xoắn xuýt những thân, những cành, những nhánh, những lá, những hoa, bất động dưới trăng như cuộc loạn xâm của sự sống vô thanh, một cơn sóng cây cuồn cuộn, trùng điệp, chất ngất, chực ụp xuống dòng suối, quét sạch sinh mệnh bé nhỏ của tất cả những con người nhỏ bé chúng tôi. Nhưng nó vẫn đứng yên. Một tràng điếc tai tiếng đầm nước và khụt khịt đầy hung mãnh từ xa vọng lại, như thể một con ichthyosaurus[43] đang tắm ánh lung linh của dòng sông vĩ đại. ‘Nói cho cùng,’ người thợ nồi hơi khẽ giọng hỏi, ‘sao ta lại không đòi đinh tán nhỉ?’ Đúng rồi, sao lại không! Chẳng có lý do nào để không đòi cả. ‘Ba tuần nữa sẽ đến,’ tôi tự tin tuyên bố.
“Nhưng chúng không đến. Thay vào đấy, là một cuộc xâm lăng, một tai ương, một đại họa. Nó đến thành từng tốp trong ba tuần tiếp đó, mỗi tốp do một con lừa chở một người da trắng mặc quần áo mới, đi giày da dẫn đầu, ngất ngưởng gật đầu hết trái lại phải để chào đám hành hương đang kinh ngạc. Một đoàn nhốn nháo các phu thồ da đen mặt lầm lì, chân phồng rộp nối gót con lừa; vô số lều, ghế xếp. thùng tôn, va li trắng, kiện hàng nâu sẽ đổ bộ xuống sân, và không khí bí hiểm trùm lên sự nhộn nhạo của khu trạm sẽ nồng đậm thêm đôi chút. Thêm năm tốp nữa xuất hiện, toát ra vẻ kỳ dị của một cuộc tháo chạy tán loạn mang theo của hôi được từ vô số cửa hàng trang bị và hiệu quân nhu, khiến người ta tưởng cả bọn khênh đồ vừa cướp được đào tẩu ra nơi hoang dã để chia chác cho đều. Đó là một mớ lộn xộn rối tung những vật phẩm vốn dĩ đàng hoàng nhưng bị sự điên rồ của con người biến thành như đồ trộm cắp.
“Đoàn người nhiệt huyết này tự xưng là Đoàn Thám hiểm Eldorado[44], còn tôi nghĩ họ là một hội kín. Câu chuyện của cả bọn, dù vậy, chẳng khác gì phường hải tặc hạ lưu: liều lĩnh mà không gan dạ, tham lam mà không táo bạo, và tàn độc mà không dũng cảm; chẳng có một mảy may viễn kiến hay dự định nghiêm túc nào trong đầu cả bọn, và dường như chẳng ai ý thức được rằng sự vận hành của thế giới này đòi hỏi những cái đó. Bứt sản vật khỏi lòng đất đai là dục vọng của chúng, và động cơ đạo đức đằng sau việc làm ấy cũng chẳng khác gì khi kẻ cắp phá két. Tôi không rõ ai đài thọ chi phí cho cuộc viễn chinh cao quý này; nhưng thủ lĩnh của cả bọn là bác của viên giám đốc.
“Ngoại hình lão như một tay đồ tể xóm nghèo, cặp mắt toát lên vẻ lờ đờ giảo hoạt. Lão khựng khiêng khênh cái bụng mỡ trên đôi chân ngắn ngủn, và, trong thời gian đồng bọn quấy nhiễu khu trạm, chỉ nói chuyện với một mình gã cháu. Cả ngày lúc nào cũng thấy cả hai đi quanh trại, chụm đầu to nhỏ không ngừng.
“Tôi thôi không lo nghĩ chuyện đinh tán nữa. Khả năng mơ tưởng điên rồ của con người giới hạn hơn ta tưởng. Tôi bảo ‘Thôi!’ - rồi mặc nó trôi đi. Tôi có nhiều thời gian để suy tưởng, và thỉnh thoảng tôi lại nghĩ đến Kurtz. Tôi không hứng thú với y lắm. Chưa. Tuy nhiên tôi tò mò muốn thấy liệu con người này, kẻ xuất đạo mang theo một hệ giá trị đạo đức nào đó, rốt cục có leo đến đỉnh được hay không, và khi ấy y sẽ điều hành công việc ra sao.
❀ ❀ ❀
[1] Thị trấn bờ nam sông Thames, cách London 42 km về phía đông, là một cảng thương mại trọng yếu của Anh. Phần lớn chú thích trong bản dịch được dịch lại từ các chú thích và bình giải của A. Michael Matin, trong cuốn Heart of Darkness and Selected Short Fiction của Barnes & Noble Books, 2008.
[2] Ba người bạn không nêu tên của Marlow được Conrad lấy cảm hứng từ một nhóm bạn của ông, trên thực tế cũng lần lượt là Giám đốc công ty, Kế toán và Luật sư. Nhân vật tôi dường như không có nguyên mẫu ngoài đời thật. Họ đi dã ngoại ở sông Thames trên con thuyền của viên giám đốc, cũng được đặt tên là Nellie.
[3] Những nhân vật này từng xuất hiện trong một truyện ngắn khác của Conrad (Youth - Tuổi trẻ).
[4] Một hạt ở đông nam nước Anh, giáp Biển Bắc và bờ bắc của sông Thames.
[5] Giới thượng lưu ở Anh có thể chia thành hai nhóm - nhóm có tước hiệu (công hầu bá tử nam) và nhóm được coi là quý tộc nói chung nhưng không có tước hiệu.
[6] Golden Hind (Hươu vàng), do Francis Drake chỉ huy, là con tàu Anh đầu tiên đi vòng quanh trái đất từ 1577 đến 1580. Khi quay về, Drake mang theo rất nhiều châu báu cướp được từ một tàu Tây Ban Nha, và được Nữ hoàng Elizabeth phong tước Hiệp sĩ ngay tại chỗ. Sau đó con tàu được lưu giữ để triển lãm.
[7] Hai con tàu do John Franklin (1786-1847) chi huy, đi tìm con đường thông giữa Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, cả hai bị kẹt trong băng ờ Bắc cực, dẫn đến cái chết của toàn bộ thủy thủ đoàn.
[8] Deptford, Greenwich và Erith: những bến cảng quan trọng trên sông Thames.
[9] Nguyên văn: dark interloper, những thương nhân hoạt động riêng lẻ, không có môn bài, cạnh tranh với Công ty Đông Ấn.
[10] Câu này lấy ý trong Kinh Thánh - Thánh thi 74:20 “Xin Chúa đoái đến sự giao ước, vì những nơi tối tăm của trái đất đều đầy rẫy sự hung bạo”.
[11] Trong tiếng Anh, thành ngữ “in a nutshell” có nghĩa là nói ngắn gọn lại, cốt lõi của vấn đề là... Ở đây Conrad lại sử dụng nó theo nghĩa đen, nhằm thể hiện lối tư duy đơn giản của giới thủy thủ.
[12] Năm 55 và 54 trước Công nguyên, Julius Caesar dẫn hai đạo quân La Mã đến Anh thám hiểm, nhưng phải tới năm 43 sau Công nguyên, La Mã mới thực sự khởi đầu cuộc chinh phục đất Anh.
[13] Chiến thuyền La Mã với ba lớp mái chèo, thường do nô lệ hoặc tù phạm đảm nhiệm.
[14] Một loại đàn nguyên lý tương tự đàn phong cầm (accordion), cấu trúc như ruột mèo. Ở đây chỉ sự ọp ẹp.
[15] Loại rượu nổi tiếng của vùng Campania (miền nam nước Ý), được ca tụng nhiều trong thi ca La Mã.
[16] Căn cứ chính của thủy quân La Mã ở miền bắc Ý.
[17] Thuyền buồm bắt buộc phải có đèn xanh ở mạn phải, đèn đỏ ờ mạn trái; tàu hơi nước phải có thêm một ngọn đèn trắng trước buồm mũi.
[18] Tức sông Congo.
[19] Con phố nổi tiếng ở London, tập trung giới thương nhân và báo chí.
[20] Marlow ở Anh - một quốc đảo, còn công ty này của Bỉ - ở châu Âu lục địa.
[21] Dựa trên nhân vật có thật. Tên đầy đủ là Johannes Freiesleben, thuyên trưởng tàu Florida, bị giết ngày 29,’01,’1890 vì tranh cãi về mấy con gà như trong truyện.
[22] Trong Kinh Tân ước, Phúc âm Matthew (23:27), Jesus nói: “Khốn cho các ngươi, hỡi những luật sĩ và biệt phái giả hình; vì các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ tốt đẹp, nhưng bên trong đầy xương kẻ chết và mọi thứ dơ nhớp.” Thành phố trong ngữ cảnh này là Brussels, thủ đô của Bỉ.
[23] Vào đầu thế kỷ XX, màu sắc được sử dụng để thể hiện chủ quyền trên bản đồ; đỏ là thuộc địa của Anh, lam là của Pháp, xanh là của Ý, cam là Bồ Đào Nha, tím là Đức và vàng là Bỉ. Điểm đến của Marlow là Nhà nước Congo Tự do, thuộc địa của Bỉ vào thời điểm đó.
[24] Tiếng Pháp, nghĩa là Chúc thuận buồm xuôi gió.
[25] Ave! Morituri te salutant: “Xin chào! Những kẻ sắp chết xin chào quý vị.” Đây là câu chào ra mắt của các võ sĩ giác đấu thời La Mã trước khi bước vào trận chiến.
[26] Ông bác sĩ này nghiên cứu ngành đầu học, chuyên đo các chỉ số của đầu, cho rằng hình đáng và kích thước của đầu có sự khác biệt giữa các chủng tộc, đặc biệt là về năng lực trí tuệ.
[27] Loại áo khoác dài, thụng của người Do Thái.
[28] Nguyên văn: alienist, danh hiệu bác sĩ ở thời kỳ sơ khai của tâm thần học.
[29] Tiếng Pháp, nghĩa là Các ông (cách nói lịch thiệp).
[30] Tiếng Pháp, nghĩa là Bình tĩnh, bình tĩnh. Tạm biệt.
[31] Trích trong Phúc âm Luke (10:7), là lời Jesus răn dạy môn đồ nhiệt thành với công việc truyền giáo.
[32] Tức Boma, thành phố cảng ở cửa sông Congo, ngày nay thuộc cộng hòa Dân chủ Congo.
[33] Nguyên văn: reclaimed, nghĩa gốc là được dạy bảo, thuần hóa, là một từ do Conrad dùng để chỉ người bản xứ đã được thực dân huấn luyện, làm nhiệm vụ giám sát nô lệ.
[34] Alpaca: một loại lạc đà Nam Mỹ, thường được nuôi để lấy lông.
[35] Loại giường thấp, được thiết kế đẩy lọt vào gầm chiếc giường khác cao hơn để tiết kiệm diện tích.
[36] Nguyên văn: agent, người được công ty cử xuống phụ trách việc khai thác, thu mua ngà voi ờ địa bàn.
[37] Một cảng trên eo biển Manche, thuộc hạt Kent.
[38] Lính đánh thuê tuyển mộ từ đảo Zanzibar, gần bờ biển Tanzania.
[39] Tức Leopoldville, nay là Kinshasa.
[40] Chỗ này tác giả chơi chữ, lấy ý trong kinh thánh “Người ta chẳng phát rơm cho, lại cứ biểu chúng tôi rằng: Hãy làm gạch đi!” (Xuất Ề-díp-tô-ký 5:16a.) Là tiếng kêu nghẹn ngào, ai oán của dân Israel khi họ phải làm tôi mọi tại xứ Egypt.
[41] Con quỷ trong văn học dân gian Đức. Faust đã bán linh hòn mình cho y.
[42] Điệu nhảy cố truyền của Anh và Ireland, đôi chân giậm rất nhanh và dứt khoát tạo nên tiếng động liên hồi.
[43] Một sinh vật cổ đại dưới nước, hình dáng gần giống cá heo.
[44] Một vương quốc nổi tiếng giàu có trong huyền thoại, được giới thám hiểm thế kỷ XVI cho rằng nằm ở khu vực Nam Mỹ.