Giữa Lòng Tăm Tối

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ii

❊ ❊ ❊

Image

“Tối nọ, khi đang nằm ngửa trên boong, tôi chợt nghe tiếng người tới gần - hóa ra là hai bác cháu nhà kia đang sải bước bên bờ sông. Tôi lại gối đầu lên tay và gần như chìm vào giấc ngủ thì có người nói, có thể gọi là sát bên tai: ‘Tính cháu lành như con nít, nhưng cháu không ưa bị chỉ đạo... Cháu có còn là giám đốc nữa không? Họ ra lệnh cho cháu cử hắn tới đó. Vớ vẩn hết sức,’ Tôi sực hiểu, hai bác cháu đang đứng trên bờ, sát thân tàu, ngay dưới đầu tôi. Tôi không cử động; tôi không nghĩ đến chuyện động đậy: tôi đang buồn ngủ. ‘Đáng ghét thật,’ lão bác lầm bầm. ‘Hắn yêu cầu Ban Quản Trị cử đi,’ gã cháu tiếp, ‘để chứng tỏ khả năng của mình; còn cháu được lệnh làm theo. Thế lực của hắn hẳn phải gớm lắm. Bác bảo thế có đáng ngại không?’ Cả hai nhất trí như thế thật đáng ngại, rồi đưa ra vài bình luận kỳ quái: ‘Ngửa tay làm mây, lật tay làm mưa - một cá nhân - cả Hội đồng - dắt mũi - từng mẩu hội thoại kỳ quái dần lấn át cơn buồn ngủ, vì thế nên tôi gần như hoàn toàn tỉnh táo khi lão bác thốt, ‘Biết đâu thời tiết sẽ giúp cháu chấm dứt nỗi lo này. Hắn có một mình à?’ ‘Phải,’ gã giám đốc đáp; ‘hắn cử trợ lý xuôi dòng mang đến cho cháu một lời nhắn, nội dung thế này: “Hãy tống cổ gã khốn kiếp ấy về nước, và chớ bận tâm gửi thêm cái ngữ đó tới đây nữa. Tôi thà xoay xở một mình còn hơn nhận loại anh có thể thí cho tôi.” Vụ ấy từ hơn một năm trước. Bác có hình dung nổi thái độ hỗn xược ấy không!’ ‘Từ đó còn gì nữa không?’ Lão kia khàn khàn hỏi. ‘Ngà,’ gã cháu giật giọng; ‘nhiều... loại hảo hạng... rất nhiều... thế mới đau chứ.’ ‘Và cùng với đó?’ Giọng trầm khàn hỏi. ‘Hóa đơn,’ câu trả lời được khạc ra. Rồi im lặng. Chúng vừa nói về Kurtz.

“Lúc đó tôi đã tình như sáo, nhưng vẫn ở tư thế hoàn toàn thoải mái, bất động, không có nhu cầu thay đổi thế nằm. ‘Chỗ ngà ấy đến tận đây bằng cách nào?’ Lão già gầm gừ, có vẻ rất bức xúc. Gã cháu giải thích, nó được đội thuyền dưới sự chỉ huy của viên thư ký lai Anh của Kurtz chở đến; ban đầu Kurtz định đích thân áp tải, do trạm lúc đó đã cạn hàng lẫn dự trữ, nhưng sau khi đi được ba trăm dặm thì đột ngột quyết định quay lại trên chiếc xuồng độc mộc, một mình cùng bốn tay chèo, để gã con lai tiếp tục áp tải ngà xuống hạ lưu. Cả hai có vẻ kinh ngạc khi có kẻ hành xử như vậy. Họ không tìm được một động cơ thỏa đáng, về phần mình, tôi dường như đã thấy Kurtz lần đầu tiên. Một hình ảnh thoáng qua nhưng đậm nét: con thuyền độc mộc, bốn tay chèo man dân, người da trắng cô độc, đột nhiên quay lưng lại tổng đàn, lại đồ tiếp tế, và có thể cả ý niệm hồi gia; thẳng tiến về thẳm sâu hoang dã, về dịch trạm hoang lương trống vắng của y. Tôi không biết động cơ của y. Có thể y chẳng qua là một con người tử tế hết lòng vì công việc. Tên y, các cậu hiểu không, chưa được ai nhắc đến lần nào. Y là ‘gã đó,’ Viên thư ký con lai, người, theo chỗ tôi thấy, đã thực hiện hành trình gian nan kia với sự can trường và cẩn trọng, trước sau luôn bị gọi là ‘tên vô lại,’ ‘Tên vô lại’ trình báo rằng ‘gã đó’ ốm rất nặng - chưa hoàn toàn bình phục... Hai nhân vật bên dưới dời đi vài bước và đi tới đi lui cách đó không xa. Tôi nghe thấy: ‘Đồn binh... bác sĩ... hai trăm dặm... có mỗi một mình... chậm trễ không tránh khỏi... chín tháng... không tin tức gì... tin đồn kỳ quái.’ Cả hai lại tới gần, vừa đúng lúc viên giám đốc lên tiếng, ‘Không ai, theo chỗ cháu biết, trừ bọn buôn rong - một giống ôn dịch, đi cướp ngà của thổ dân.’ Họ đang nói về ai nhỉ? Tôi lõm bõm đoán ra, hẳn đó là một kẻ ở khu của Kurtz mà tay giám đốc không vừa ý. ‘Chúng ta sẽ chẳng thể chấm dứt tình trạng cạnh tranh không lành mạnh chừng nào ngữ ấy chưa có kẻ bị treo cổ làm gương,’ gã nói. ‘Đúng thế,’ người kia gầm gừ; ‘treo cổ nó lên! Sao lại không? Xứ này có gì là không thể. Chính thế đấy; không ai ở đây, ở đây cháu hiểu không, có thể đe dọa vị thế của cháu. Tại sao? Cháu chịu được khí hậu - cháu sống dai hơn hết thảy. Nguy cơ ở châu Âu kia; nhưng trước khi đi bác đã lo liệu cả rồi..,’ Cả hai ra xa, thì thầm, rồi lại cao giọng. ‘Một loạt những chậm trễ bất thường này đâu phải lỗi của cháu. Cháu đã hết sức rồi,’ Lão béo thở dài. ‘Thật đáng buồn.’ ‘Và sự ngớ ngẩn độc hại trong ngôn từ của hắn,’ người kia tiếp; ‘hồi ở đây hắn làm cháu khó chịu ra trò. “Mỗi dịch trạm phải là một ngọn vọng đăng, trên con đường hướng tới những cái tốt đẹp hơn, một trung tâm của thương mại, dĩ nhiên, nhưng còn của cả văn minh, tiến bộ, khai sáng”. Bác nghĩ xem... thằng mả mẹ ấy! Hắn còn muốn làm giám đốc! Mẹ kiếp, thật là...’ Đến đây gã uất nghẹn đi, khiến tôi hơi ngóc đầu lên tí chút. Tôi giật mình nhận ra cả hai đứng rất gần - ngay bên dưới. Tôi chỉ nhổ một phát là trúng đầu hai bác cháu. Cả hai cúi nhìn xuống đất, chìm trong suy tính. Viên giám đốc cầm một cành cây con nhịp nhịp vào ống chân: người họ hàng khôn ngoan của gã ngẩng đầu lên. ‘Lần này từ hồi tới đây cháu vẫn khỏe chứ?’ Lão hỏi. Gã giật mình. ‘Ai? Cháu à? Dào! Như có bùa... như có bùa. Còn bọn khác thì... ôi chao! Ốm sạch. Và chóng chết đên mức cháu không kịp cho đưa chúng rời khỏi đây... thật kinh khủng!’ ‘Hừm. Cứ thế thôi,’ lão bác gầm gừ. ‘Đấy! Cháu ơi, hãy tin ở đây - nghe ta, tin ở đây.’ Tôi thấy lão xòe cái vây ngắn ngủn hình cánh tay và làm một động tác bao quát cả cánh rừng, dòng suối, bãi bùn, con sông - như thể thực hiện, bằng một cử chỉ táo tợn đáng hổ thẹn trước dung nhan nắng chiếu của xứ sở này, một lời khẩn cầu phản trắc hướng tới tử thần đang lởn vởn, tới cái ác ẩn hình và tới cái tăm tối thẳm sâu trong trái tím lục địa. Nó kinh dị đến mức tôi giật mình nhỏm dậy, và ngoảnh nhìn ra bìa rừng, như chờ đợi một lời đáp ứng nào đó trước cách thể hiện lòng tin đen tối ấy. Các cậu cũng biết đôi khi đầu ta lại nảy ra những ý tưởng ngốc nghếch. Cái tĩnh lặng cao vời ấy đối diện hai bóng người bằng sự kiên nhẫn đáng sợ, chờ đợi cuộc xâm lăng hoang đường này qua đi.

“Cả hai cùng lớn tiếng chửi thề - thuần túy vì kinh hoảng, tôi nghĩ vậy - và vờ như không biết đến sự tồn tại của tôi, rảo bước quay về trạm. Mặt trời xuống thấp, và cùng sánh vai chúi đầu về trước, trông cả hai như đang lặc lè kéo theo lên đồi hai chiếc bóng kỳ dị dài ngắn khác nhau, lệt sệt sau lưng họ trên mặt cỏ cao mà không đè rạp một nhánh cỏ nào.

“Vài ngày sau, đoàn thám hiểm Eldorado tiến vào vùng hoang dã kiên nhẫn ấy, và nó nuốt chửng họ như biển nuốt chửng thợ lặn. Khá lâu sau có tin rằng bầy lừa đã chết sạch, số phận của những động vật thấp kém hơn ra sao thì tôi không rõ. Bọn chúng, lẽ tất nhiên, như tất cả chúng ta, đều tìm thấy kết cục xứng đáng với mình. Tôi cũng không tìm hiểu. Khi ấy tôi đang hứng thú với khả năng sẽ sớm được gặp Kurtz. Chữ ‘sớm’ ở đây chỉ có tính tương đối. Từ khi chúng tôi rời con kênh đến khi cập bờ ở chỗ dẫn lên trạm của Kurtz vừa tròn hai tháng.

“Đi ngược con sông ấy giống như ngược về thuở hồng hoang của thế giới, khi thực vật tung hoành khắp địa cầu và đại thụ là chúa tể. Một dòng chảy trống rỗng, một sự im lặng vĩ đại, và một cánh rừng không thể xuyên qua. Không khí ấm, đặc, nặng nề, trì trệ. Mặt trời rực rỡ chẳng đem lại chút hân hoan nào. Những chặng thủy lộ dài chạy suốt, giữa hoang vu, vào cái âm trầm của những vùng xa xôi âm ám. Trên bờ cát ánh bạc, hà mã cùng cá sấu chen nhau nằm phơi nắng. Dòng nước rộng dần chảy qua một nhúm đảo nhấp nhô cây; trên con sông ấy, ta cũng bị lạc đường như ngoài sa mạc, và suốt ngày va phải những cồn cát ngầm, khi cố tìm lại luồng nước, cho đến khi nghĩ mình bị ma ám và vĩnh viễn đoạn tuyệt với mọi thứ ta từng quen thuộc... ở đâu đó... rất xa xăm... có lẽ từ kiếp khác. Có những giây phút dĩ vãng trở về, điều đôi khi vẫn xảy ra khi ta không có lấy một giây phút cho bản thân; nhưng nó hiện về trong hình hài một giấc mơ bất an và huyên náo, mà ta hồi tưởng trong nỗi bàng hoàng giữa thực tại choáng ngợp của thế giới kỳ dị của cây, của nước, và của im lặng này. Và sự tĩnh lặng này của sự sống tuyệt nhiên không giống với hòa bình. Đó là sự tĩnh lặng của một sức mạnh bất khả trấn an đang nuôi dưỡng một ý đồ vô phương đoán định. Nó nhìn ta bằng một diện mạo đầy thù hận. Sau này, tôi đâm quen với nó; tôi không nhìn nó nữa; tôi không có thời gian. Tôi liên tục phải phán đoán luồng lạch; tôi phải phát hiện, chủ yếu bằng linh cảm, dấu hiệu của các doi cát ẩn; tôi phải đề phòng đá ngầm; tôi học cách khôn ngoan nghiến răng trước khi tim vọt ra ngoài mỗi lần may phúc quẹt qua một khúc cây già hiểm độc dư sức tước đoạt sinh mệnh của con tàu hơi nước ọp ẹp và nhấn chìm mọi kẻ lữ hành; tôi phải không ngừng lùng sục dấu vết củi khô, để tối đến chặt sẵn làm nhiên liệu cho hôm sau. Khi phải lo lắng những chuyện đó, những sự vụ bề nổi ấy, thực tại... thực tại, các cậu hiểu không - nhòa đi. Sự thật bên trong bị ẩn đi... may thay, may thay. Nhưng tôi vẫn cảm thấy nó; tôi vẫn hay cảm thấy sự tĩnh lặng bí hiểm ấy đang dõi theo những trò ranh vặt của tôi, cũng như nó vẫn xem các cậu diễn trò thăng bằng trên sợi dây của mỗi người, để đổi lấy... bao nhiêu hả? Năm xu một cú ngã...”

“Lịch sự tí đê, Marlow,” ai đó gầm gừ, và tôi biết ngoài tôi có ít nhất một thính giả còn đang thức.

“Anh em đại xá cho. Tôi quên mất cảm giác thót tim làm nên phần còn lại của tiền vé. Mà nói thật, tiền nong có sá gì, nếu trò xiếc diễn hay? Các cậu ai cũng diễn giỏi. Còn tôi cũng không tệ, vì tôi không làm đắm tàu trong chuyến đi đầu tiên. Đến giờ tôi vẫn còn kinh ngạc. Thử tưởng tượng một người bịt mắt phải lái xe trên đường xấu. Chẳng giấu gì các cậu, tôi run rẩy toát mồ hôi ra trò đấy. Rốt cục, với người đi biển, làm quệt đáy con tàu đáng lẽ phải luôn nổi dưới quyền anh là một tội lỗi bất khả dung tha. Có thể không ai hay biết, nhưng ta sao mà quên được cái tiếng khực ấy, hả? Một cú đấm thắt tim. Ta ghi nhớ nó, ta nằm mơ thấy nó, ta bừng tỉnh trong đêm nghĩ về nó - tận nhiều năm sau - và nóng bừng lạnh toát cả người. Tôi chẳng dám vờ là con tàu lúc nào cũng nổi. Đã hơn một lần nó phải lội qua chỗ cạn, trong khi hai mươi tên ăn thịt người bì bõm lội nước và đẩy thuyền. Chúng tôi tuyển mộ đám này dọc đường. Một bọn rất khá, đám ăn thịt người này. Chúng rất được việc, và tôi thật sự biết ơn chúng. Và, xét cho cùng, chúng không ăn thịt nhau trước mặt tôi: chúng đem theo thịt hà mã làm lương khô, nó thiu và khiến sự bí hiểm của nơi hoang dã bốc lên mùi thối trong mũi tôi. Phì! Đến giờ tôi vẫn ngửi thấy cái mùi ấy. Trên boong có viên giám đốc cùng ba bốn gã hành hương cầm dùi cui - đủ bộ. Đôi khi chúng tôi bắt gặp một trạm ven sông, như bám víu lấy gấu váy của xứ sở xa lạ này, và đám da trắng từ một túp lều xập xệ ào ra, hoa chân múa tay với vẻ hoan hỉ ngạc nhiên và mừng rỡ cực độ, toát ra vẻ rất kỳ quái - như thể họ bị một câu thần chú cầm tù ở đó. Chữ ngà voi sẽ ngân nga trong không khí một lúc - trước khi bọn tôi quay về với im lặng, men theo từng đoạn sông trống vắng, vòng qua từng khúc quanh tĩnh lặng, giữa hai bức tường cao chạy dọc thủy đạo ngoằn ngoèo này, vang vọng thành từng thanh âm trống rỗng nhịp quạt nước trầm đục của bánh xe chèo. Cây, cây, hàng triệu gốc cây, đồ sộ, hùng vĩ, cao chót vót; và dưới chân chúng, men theo bờ sông, ì ạch bơi ngược dòng, là con tàu hơi nước nhỏ bé lem luốc, như một con bọ cánh cứng bậm bạch bò giữa hai hàng cột chất ngất. Nó khiến ta cảm thấy thật nhỏ bé, thật lạc lõng, nhưng cảm giác ấy lại không hoàn toàn trầm uất. Vì nói cho cùng, dù ta có nhỏ bé, con bọ nhem nhuốc kia vẫn bò tới - đúng điều ta mong muốn. Đám hành hương kỳ vọng nó bò đi đâu, tôi không rõ. Đến chỗ chúng có thể kiếm chác chút gì, tôi cá vậy! Với tôi nó bò về phía Kurtz - riêng mình Kurtz; song khi đường ống dẫn hơi bắt đầu rò thì chúng tôi bò rất chậm. Từng khúc sông rộng mở ra trước mắt rồi khép lại sau lưng, như thể rừng già từ tốn bước ra giữa dòng để chặn đường quay lại của chúng tôi. Chúng tôi thâm nhập ngày một sâu hơn vào giữa lòng tăm tối. Chốn ấy cực kỳ im lặng. Về đêm, đôi khi tiếng trống rền sau bức rèm cây sẽ lan tới dòng sông và lưởng vưởng ở đó, như lửng lơ trong không trung trên đầu chúng tôi, tới khi bình minh ló dạng. Nó hàm ý chiến tranh, hòa bình, hay cầu nguyện, chúng tôi không biết. Một sự tĩnh lặng buốt giá buông xuống báo hiệu ban mai; tốp phu đốn củi đã ngủ, đống lửa của họ cháy liu riu; tiếng một cành khô gãy rắc khiến ta trỗi dậy. Chúng tôi kiệt quệ giữa một trái đất tiền sử, một trái đất mang diện mạo một tinh cầu xa lạ. Chúng tôi có thể hình dung mình là kẻ đầu tiên bắt gặp một di sản bị nguyền rủa, cái giá phải trả để chiếm hữu nó là bi thống sâu xa và lao khổ cực cùng. Nhưng bỗng nhiên, khi đang khổ sở vượt một khúc quanh, sẽ thấp thoáng hiện ra những bức tường bấc, những mái cỏ chóp nhọn, một tràng gào rú, một cơn lốc tứ chi đen trũi, và một trận vỗ tay, giậm chân, trợn mắt, lắc lư người, dưới vòm lá trĩu nặng và bất động. Con tàu ì ạch chậm chạp bơi đi, ven cơn điên loạn màu đen vô phương lý giải ấy. Người tiền sử đang nguyền rủa, đang cầu chúc, đang hoan nghênh chúng tôi - ai biết được? Chúng tôi bị đoạn tuyệt với khả năng tri nhận môi trường xung quanh; chúng tôi lướt qua như những bóng ma, hoang mang và ngấm ngầm kinh hãi, phản ứng tự nhiên của người tỉnh táo trước cơn vỡ trại tưng bừng ở một nhà thương điên. Chúng tôi không hiểu được bởi đã cách quá xa và không còn nhớ nửa, bởi chúng tôi đang đi trong đêm trường sơ cổ, những thời đại đã qua, hầu như chẳng để lại dấu tích gì... và không chút ký ức nào.

“Thế giới ấy toát lên vẻ phi trần thế. Chúng ta đã quen với hình hài xiềng xích của con quái vật bị thuần phục, nhưng ở đó - ở đó, ta bắt gặp một sinh thể quái đản và tự do. Nó phi trần thế, còn đám người kia thì - Không, họ không phi nhân. Hà, các cậu biết đấy, cái đó mới là khốn nạn nhất - nỗi hoài nghi rằng họ không phi nhân. Nó từ từ xuất hiện trong ta. Họ hú hét, nhảy nhót, xoay mòng mòng, và làm vẻ mặt kinh dị; nhưng điều khiến ta kinh sợ lại là ý nghĩ về nhân tính của họ - như của ta - ý nghĩ rằng ta có họ hàng xa với cơn điên loạn hoang dại và cuồng nhiệt ấy. xấu xí. Nó xấu xí, rõ rồi; nhưng ai đủ can đảm sẽ thừa nhận rằng, trong ta có phản ứng tuy rất nhạt nhòa với sự chất phác kinh khủng của thanh âm ấy, một nỗi hoài nghi mơ hồ rằng nó hàm chứa một ý nghĩa mà ta - dù đã cách rất xa đêm trường sơ cổ của nhân loại - có thể hiểu được. Và sao lại không? Mọi thứ đều khả thi với trí não con người - bởi nó chứa đựng hết thảy, cả quá khứ lẫn tương lai. Rốt cục trong đó có gì? Bi, hoan, kinh, nộ, dũng khí, sự sùng kính - ai biết được? - nhưng sự thật thì chắc chắn - sự thật được tước bỏ lớp áo thời gian. Mặc cho kẻ khờ rùng mình há miệng - con người biết, và có thể quan sát không chớp mắt. Nhưng chí ít y phải có dũng khí như những kẻ trên bờ. Y phải đối diện sự thật ấy bằng cái thật trong bản thân mình - bằng sức mạnh nội sinh của y. Đạo lý ư? Đạo lý chẳng để làm gì. Ngoại thân chi vật, y phục, lớp giẻ hào nhoáng - tất cả sẽ rơi rụng ngay khi ta rũ mạnh. Không; ta cần một niềm tin xác quyết. Một tiếng vẫy gọi tôi giữa cơn ma loạn ấy - có không? Đã đành; tôi có nghe; tôi thừa nhận, nhưng trong tôi cũng có một giọng nói, và xấu tốt gì thì đó vẫn là một tiếng nói không thể bị bắt câm nín. Tất nhiên kẻ khờ, vì hèn nhát và tư tưởng đúng đắn, luôn được an toàn. Ai lầm bầm đấy? Cậu thắc mắc vì sao tôi không lên bờ hú hét nhảy múa à? À, không - tôi không làm thế. Cậu bảo tư tưởng đúng đắn à? Đúng đắn mẹ gì! Tôi làm gì có thời gian. Tôi phải đánh vật với chì trắng[1] và những cuộn chăn len để bịt lỗ rò. Tôi phải giám sát việc lái tàu, vòng tránh củi dạt, và giữ cho cái hộp thiếc ấy tiếp tục hành trình bằng mọi giá. Sự thật bề mặt trong những điều này đủ để cứu rỗi một kẻ khôn ngoan hơn. Thỉnh thoảng tôi còn phải canh chừng gã mọi đốt lò[2]. Gã là một mẫu vật tiến bộ; biết cách đốt lò đứng. Gã ở ngay dưới tôi, và, thật chứ, quan sát gã cũng khai sáng như xem cảnh chó đóng vai người - mặc quần bó, đội mũ lông và đi bằng hai chân sau. Mấy tháng huấn luyện đã cải tạo hoàn toàn anh chàng xuất chúng ấy. Gã nheo mắt soi đồng hồ áp suất và đồng hồ đo mức nước với một nỗ lực rõ rệt của lòng can đảm, gã lại còn mài răng, thằng cha tội nghiệp, mái tóc xoăn tít cạo thành hoa văn kỳ quái, mỗi má có ba vết sẹo trang trí[3]. Thay vì đứng trên bờ, vỗ tay giậm chân, thì gã lại nai lưng làm việc ở đây, nô lệ cho tà thuật phương xa, đầu đầy tri thức tiến bộ. Gã hữu dụng bởi gã đã được chỉ bảo; và điều gã học được là - nếu nước trong thứ trong suốt kia biến mất, cơn khát kinh hồn của con quỷ trong nồi hơi sẽ khiến nó nổi trận lôi đình và giáng xuống một đòn thù khủng khiếp. Thế nên gã đổ mồ hôi đốt lửa và theo dõi mặt kính lòng đầy khiếp sợ (với một lá bùa tự chế bằng vải vụn, buộc quanh cánh tay, và một mảnh xương mài nhẵn bằng mặt đồng hồ đeo tay gài ngang môi dưới), trong khi hai bờ sông cây phủ chầm chậm trôi qua chúng tôi, thanh âm cụt lủn kia bị bỏ lại sau, những dặm dài bất tận của sự im lặng - còn chúng tôi tiếp tục trườn đi, về phía Kurtz. Nhưng củi dạt dày đặc, nước nông và đầy bất trắc, trong nồi hơi xem ra quả thật có một con quỷ cáu kỉnh bên trong, thành thử cả gã thợ đốt lò lẫn tôi đều không có thời gian soi vào những suy nghĩ đáng sợ của chính mình.

“Cách Trạm Nội khoảng năm mươi dặm[4] chúng tôi bắt gặp một túp lều tranh, một cây cột xiêu vẹo và ủ rũ, phất phơ mấy mẩu vải rách của thứ mà không ai nhận ra nổi đã từng là một lá cờ bay phấp phới, và một đống củi xếp chỉn chu. Điều đó hết sức bất ngờ. Chúng tôi lên bờ, và thấy trên đống củi một tấm ván viết bút chì đã phai màu. Giải mã ra nó viết: ‘Củi cho các anh. Nhanh lên. cẩn trọng khi tiếp cận,’ Thư có chữ ký nhưng không đọc nổi - không phải Kurtz - một chữ dài hơn nhiều. Nhanh lên. Đi đâu? Ngược dòng? ‘Thận trọng khi tiếp cận,’ Trước giờ chúng tôi đã không làm vậy. Nhưng lời cảnh báo này hẳn không phải dành cho nơi người ta chỉ có thể tìm thấy nó sau khi tiếp cận. Trên kia có gì không ổn. Nhưng cái gì - và đến mức nào? Đó mới là vấn đề. Chúng tôi bình luận tiêu cực về sự tối nghĩa trong thứ văn phong điện tín kia. Bụi rậm vây quanh không hé lộ điều gì, và cũng không cho chúng tôi nhìn đi quá xa. Một tấm rèm rách bằng vải chéo go đỏ lơ lửng trước cửa lều, buồn bã phất vào mặt chúng tôi. Nội thất đã bị tháo dỡ; nhưng có thể thấy có một người da trắng sống ở đây cách đó chưa lâu. Vẫn còn một chiếc bàn thô - một phiến gỗ đặt trên hai cây cột; một đống rác trong xó tối, và cạnh cửa tôi nhặt được một cuốn sách. Nó đã mất bìa, các trang sách bị giở quá nhiều trở nên mềm oặt và cực kỳ lem luốc; nhưng gáy đã được khâu lại bằng chỉ trắng rất dễ thương và nhìn vẫn còn sạch sẽ. Đó quả là một phát hiện bất ngờ. Cuốn sách nhan đề Vài tìm hiểu về Nghề đi biển, tác giả là Towser hay Townson gì đó, Sĩ quan hải hành[5] thuộc Hải quân Hoàng gia. Nội dung đọc chán ngấy, với hình vẽ minh họa và bảng biểu nhìn phát gớm, và cuốn sách tuổi đời đã sáu mươi năm. Tôi nâng niu cổ vật phi thường ấy hết sức nhẹ nhàng, chỉ sợ nó tan rã ngay trên tay mình. Bên trong, Towson hay Towser nhiệt thành tìm hiểu tính biến dạng đứt gãy của xích và dây buồm cùng các vấn đề tương tự. Không hấp dẫn gì cho lắm; nhưng chỉ cần liếc qua ta đã thấy tính nhất quán về mục đích, mối quan tâm chân thành đến phương cách làm việc đúng đắn, điều khiến những trang sách khiêm nhường ấy, được thai nghén từ rất nhiều năm trước, lung linh một thứ ánh sáng khác hơn là đức chuyên nghiệp đơn thuần. Người thủy thủ già chất phác, bằng câu chuyện về xích và ròng rọc, khiến tôi quên đi rừng già và đám hành hương trong nỗi xúc cảm hân hoan vì bắt gặp một thứ gì đó thật đến mức không thể nhầm được. Bản thân việc một cuốn sách xuất hiện ở đây đã kỳ diệu lắm rồi; nhưng đáng kinh ngạc hơn lại là những dòng ghi chú bằng bút chì ở bên lề, hoàn toàn đề cập đến nội dung cuốn sách. Tôi không tin vào mắt mình! Chúng được mã hóa! Phải, nhìn y như mật mã. Thử tưởng tượng có kẻ đem theo cuốn sách nhan đề như vậy, đến nơi khỉ ho cò gáy này để nghiên cứu - và ghi chép - lại còn dưới dạng mật mã! Bí hiểm đến cùng cực.

“Tôi đã mơ hồ cảm thấy từ trước một âm thanh đáng lo ngại, tới khi ngẩng lên tôi thấy đống củi đã biến mất, còn viên giám đốc, được cả đám hành hương trợ giúp, đang hét gọi tôi từ bờ sông. Tôi nhét cuốn sách vào túi. Cam đoan với các cậu rằng dứt mạch đọc ở đây chẳng khác gì rứt tôi ra khỏi tổ ấm của một tình bằng hữu lâu dài và bền vững.

“Tôi khởi động trước cỗ máy tậm tịt. ‘Đây chắc là thằng cha thương lái khốn nạn - kẻ xâm phạm,’ viên giám đốc cảm thán và ném một ánh nhìn độc địa lại nơi chúng tôi vừa rời đi. ‘Chắc hắn là người Anh,’ tôi nói. ‘Điều đó cũng chẳng giúp hắn tránh được tai vạ nếu không cẩn thận,’ tay giám đốc âm hiểm lầm bầm. Tôi nhận xét với vẻ ngây thơ vờ vĩnh rằng trên đời này tai vạ có chừa ai đâu.

“Nước chảy càng lúc càng xiết, con tàu xem ra đã kiệt sức, bánh xe chèo lọp phọp đầy uể oải, và tôi thấy mình rón rén lắng nghe mỗi nhịp đập kế tiếp của con tàu, vì thực lòng tôi chờ đợi cỗ máy khốn khổ ấy gục ngã bất kỳ lúc nào. Nó như thể quan sát tro tàn le lói của sự sống. Nhưng chúng tôi vẫn bò tiếp. Đôi khi, tôi chọn ra một gốc cây phía trước không xa làm mốc đo tiến độ đến chỗ Kurtz, nhưng tôi luôn lạc mất nó trước khi tàu đến nơi. Dán mắt vào một vật lâu thế vượt quá giới hạn kiên nhẫn của con người. Viên giám đốc thể hiện một vẻ nhẫn nhục nhìn sướng cả mắt. Tôi bồn chồn khấp khởi và tự tranh luận với bản thân xem có nên nói chuyện cởi mở với Kurtz; nhưng trước khi kịp đi đến bất cứ kết luận gì tôi lại nhận ra, mở lời hay im lặng, kỳ thực bất cứ hành động nào của tôi, cũng chỉ là vô nghĩa. Chuyện ai biết hay không thì có ý nghĩa gì? Chuyện ai làm giám đốc thì có ý nghĩa gì? Đôi khi ta bỗng nhiên bừng ngộ như thế đấy. Bản chất của việc này nằm sâu dưới bề mặt, ngoài tầm với, và ngoài khả năng can thiệp của tôi.

“Đến tối ngày thứ hai chúng tôi ước tính mình còn cách trạm của Kurtz chừng tám dặm. Tôi muốn dấn tới; nhưng viên giám đốc mặt lầm lì, và nói lộ trình phía trước rất nguy hiểm, trong khi mặt trời đã sắp lặn, nên tốt nhất là đợi tới sáng hôm sau. Ngoài ra, gã lập luận, nếu lời cảnh báo cần thận trọng khi tiếp cận là đáng tin cậy, thì chúng tôi phải tiếp cận vào ban ngày chứ không phải lúc chạng vạng, hay khi trời tối. Lập luận của gã cũng hợp lý. Tám dặm tức là gần ba tiếng đi tàu, và tôi cũng có thể thấy những gợn nước đầy bất trắc phía trên quãng sông trước mặt. Dù vậy, sự chậm trễ ấy vẫn khơi dậy trong tôi một nỗi bức bối khôn tả, và gần như phi lý, bởi thêm một đêm chẳng nghĩa lý khi đã đi ngần ấy tháng. Bởi còn nhiều củi, và châm ngôn là thận trọng, tôi cho cập bờ ở giữa dòng. Quãng sông này hẹp, thẳng, bờ dốc như hào đường sắt. Bóng tối tràn đến từ lâu trước khi mặt trời lặn. Nước chảy rất êm và xiết, nhưng trên bờ là một sự bất động đờ đẫn. Những rặng cây sống, bị dây leo và đám cây bụi ở tầng thấp bó xiết lại với nhau, dường như đã hóa đá, từ cành cây mảnh mai nhất đến chiếc lá mỏng manh nhất. Chúng không ngủ - mà lâm vào một trạng thái phi tự nhiên, như thể hôn mê. Chúng tôi tuyệt không nghe thấy âm thanh nào, dù mơ hồ nhất. Ta thẫn thờ quan sát, và bắt đầu hoài nghi: hay mình bị điếc - thế rồi màn đêm bất ngờ ập xuống, làm ta mù luôn. Độ ba giờ sáng, một con cá to nhảy lên, và tiếng nước tõm làm tôi giật nảy mình như nghe thấy tiếng súng. Mặt trời lên cùng với một màn sương trắng, rất ấm và ẩm ướt, mịt mù còn hơn cả bóng đêm. Nó không dịch chuyển; mà cứ ở yên đó, vây quanh ta như một thứ hữu hình. Độ tám, chín giờ nó lật lên như một tấm cửa chớp. Chúng tôi thoáng thấy vô vàn chất ngất thân cây, trùng trùng điệp điệp rừng già, và lơ lửng bên trên là trái cầu mặt trời đỏ rực - tất cả đều bất động tuyệt đối - thế rồi tấm cửa chớp trắng kia lại sập xuống, êm ru như trượt trong rãnh bôi dầu. Tôi ra lệnh thả sợi xích neo vừa được kéo lên trở lại. Trước khi nó ngừng tuột xuống trong tiếng lạch xạch tắc nghẹt, một tiếng hú, một tiếng hú rất lớn, như thể từ một nỗi cô liêu bất tận, chầm chậm vang vọng giữa không gian mờ đục. Rồi lịm tắt. Một tràng hét la rền ri, được điều tiết trong nhịp hỗn loạn man dại, tràn ngập tai chúng tôi. Nỗi bất ngờ tột độ khua tóc tôi dựng đứng dưới

vành mũ. Tôi không rõ người khác cảm giác thế nào, nhưng với tôi, hình như chính màn sương vừa thét lên, đột ngột, và rô ràng là cơn om sòm náo động và bi thương ấy đồng thời trỗi dậy từ mọi hướng. Nó tích tụ rồi cấp tập bùng phát thành một tràng rú rít cực độ gần như không ai chịu nổi, và bất ngờ chấm dứt, để lại chúng tôi đờ người với đủ kiểu biểu cảm ngớ ngẩn, và ương ngạnh lắng nghe sự im lặng cũng kinh hoàng và cực độ không kém. ‘Lạy Chúa! Cái đó nghĩa là s..,’ một gã hành hương bíu lấy khuỷu tay tôi lắp bắp, - một gã béo lùn tóc hung, ria đỏ, đi ủng, pyjama hồng nhét vào bít tất. Hai gã khác há hốc mồm cả phút, xộc vào cabin rồi chạy xổ ra ngay, tay lăm lăm khẩu Winchester và dớn dác nhìn quanh. Tất cả những gì chúng tôi nhìn thấy là con tàu của mình, đường viền của nó nhòa đi như đang tan rã, và một dải nước mù sương rộng chừng nửa mét quanh nó - thế là hết. Đối với thị giác và thính giác của chúng tôi, phần còn lại của thế giới đã chìm vào hư không. Chỉ hư không. Tan đi, tiêu biến; bị quét sạch không để lại một tiếng thì thầm hay một chiếc bóng.

“Tôi bước lên, ra lệnh kéo xích lên nửa chừng, để sẵn sàng gỡ neo và cho tàu chạy ngay nếu cần. ‘Chúng có tấn công không?’ một giọng nói khiếp sợ thì thầm. ‘Sương mù thế này thì chúng sẽ làm thịt chúng ta,’ một giọng khác lầm rầm. Những khuôn mặt méo mó vì căng thẳng, những bàn tay run lẩy bẩy, những đôi mắt quên không chớp. Thật kỳ lạ khi chứng kiến nét tương phản trong biểu cảm giữa đám da trắng và dân da đen trong thủy thủ đoàn, những kẻ cũng xa lạ với đoạn sông này không khác gì chúng tôi, dẫu quê họ chỉ cách đây tám trăm dặm. Đám da trắng, ngoài vẻ hoang mang tất yếu, tỏ ra choáng váng cực độ hước cơn náo động dữ dội nhường ấy. Tụi da đen có vẻ cảnh giác và hiếu kỳ tự nhiên; khuôn mặt họ về bản chất là im lặng, kể cả một, hai gã nhe răng cười khi kéo xích neo. Vài gã trao đổi mấy lời ngắn gọn, cụt lủn, có vẻ thỏa mãn vì đã giải quyết xong vấn đề. Trưởng toán, một gã da đen trẻ, ngực nở, người quấn tuyền vải thô viền xanh tím than, mũi dữ dằn, tóc tết điệu đà thành những vòng xoắn ốc bóng dầu, đứng cạnh tôi. ‘Aha!’ tôi nói, chủ yếu để tạo không khí thân mật. ‘Bắt nố,’ gã thốt, mắt trợn đỏ ngầu, hàm răng sắc nhọn lóe lên - ‘bắt nố. Giao cho bọn tui,’ ‘Cho tụi mày, hả’ tôi hỏi; ‘để làm gì?’ ‘Ăn nố!’ gã đáp, cụt ngủn, tì khuỷu tay lên lan can và nhìn vào màn sương với thái độ nghiêm trang và thâm trầm suy tưởng. Đáng lẽ tôi cũng đã kinh hãi ra trò, nếu không nhớ ra gã và đồng bọn hẳn đang đói lắm: chắc rằng trong ít nhất một tháng qua cả bọn ngày càng đói hơn. Họ theo tàu đã được sáu tháng (tôi không nghĩ có ai trong bọn có khái niệm gì rõ ràng về thời gian, như chúng ta rốt cục đã có, sau vô vàn thế hệ. Họ vẫn thuộc về buổi bình minh của thời gian - nghĩa là không được thừa kế kinh nghiệm gì để dạy dỗ bản thân), và tất nhiên, miễn là có một mảnh giấy soạn theo một đạo luật lố bịch nào đó được ban hành dưới hạ lưu, chả ai buồn quan tâm tới chuyện họ sống sót ra sao. Họ quả tình có mang theo một mớ thịt hà mã ôi, nhưng cũng chẳng kéo dài được bao lâu, kể cả nếu đám hành hương có không, trong một trận rùm beng náo loạn, ném một phần đáng kể xuống sông. Thoạt nhìn đây có vẻ là một hành vi độc đoán; nhưng kỳ thực là một trường hợp tự vệ chính đáng. Anh không thể vừa hít thở mùi hà mã chết cả lúc thức, lúc ngủ, lúc ăn, vừa duy trì nhận thức chông chênh về sự sinh tồn được. Ngoài ra, họ được cấp mỗi tuần ba đoạn dây đồng, mỗi đoạn dài hơn một gang tay; trên lý thuyết họ sẽ dùng loại tiền này mua đồ tiếp tế từ các làng ven sông. Các cậu thấy kết quả thế nào rồi. Hoặc là không có làng, hoặc dân làng rất thù địch, hoặc là viên giám đốc, kẻ cũng chén đồ hộp như tất cả bọn ta, thi thoảng ‘cải thiện’ bằng một con dê đực già, không muốn dừng tàu vì một lý do ít nhiều mù mịt. Thành thử trừ phi họ ăn sống mớ dây đồng, hay thắt thành thòng lọng bắt cá, tôi không thấy khoản lương xa xỉ ấy có ích gì cho họ. Nhưng phải nói rằng tiền lương được thanh toán với sự đều đặn xứng tầm của một thương hãng lớn và uy tín. Với đám còn lại, thứ duy nhất để ăn - mặc dù nhìn chẳng có vẻ gì là ăn được - tôi thấy họ mang theo là mấy đùm gì đó, giống như bột nhào, màu tím lợt lem luốc, họ gói trong lá chuối[6], thỉnh thoảng lại nhấm nháp một miếng, nhưng miếng nhỏ đến mức có vẻ chỉ mang tính tượng trưng hơn là vì mục đích nghiêm túc là duy trì sự sống. Thề có tất cả lũ quỷ đói trên đời, việc họ không nhảy xổ vào chúng tôi - ba mươi so với năm - và chén một bữa thỏa thuê, đến giờ vẫn làm tôi kinh ngạc mỗi lần nghĩ lại. Bọn họ toàn người lực lưỡng, chẳng có mấy năng lực cân nhắc hậu quả, hãy còn dũng khí, còn sức khỏe, dù da không còn bóng và cơ bắp chẳng còn săn chắc. Và tôi thấy có sự kiềm chế nào đó, một trong những bí ẩn ở con người khiến toán xác suất phải hoang mang, đã đóng vai trò ở đây. Tôi nhìn họ với niềm hứng thú gia tăng mau chóng - không phải do tôi chợt nghĩ rằng khéo chẳng bao lâu nữa mình sẽ thành miếng ăn của họ, mặc dù phải thừa nhận là lúc này tôi chợt nhận thấy - tạm gọi là, dưới ánh sáng mới - đám hành hương mới ‘độc hại’ làm sao, và tôi hy vọng, phải, tôi thực lòng hy vọng, mã ngoài mình không đến nỗi - nói sao nhỉ? - kém hấp dẫn khẩu vị như thế: một cơn phù phiếm hoang đường rất phù hợp với cảm-giác-trong- mơ luôn thường trực trong tôi suốt những ngày ấy. Có lẽ tôi còn hơi gai gai sốt. Chẳng ai chăm chăm tự bắt mạch từ sáng đến tối được. Tôi thường thấy ‘gai gai sốt,’ hay lên một cơn gì đó - những đòn tát yêu đùa giỡn của hoang dã, những cợt nhả ban đầu trước khi cuộc mãnh kích đáng sợ hơn ập tới. Phải; tôi nhìn họ như các cậu nhìn bất cứ con người nào, với nỗi tò mò về nỗi thôi thúc, động cơ, năng lực, điểm yếu của họ, khi đứng trước khảo nghiệm của một nhu cầu thể chất không thể xoa dịu. Kiềm chế! Cái gì đủ sức kiềm chế? Là mê tín, ghê tởm, kiên nhẫn, sợ hãi - hay một dạng thức tự trọng nguyên thủy nào đó? Không sợ hãi nào thắng nổi cơn đói, không kiên nhẫn nào nguôi được nó, và ở đâu có cơn đói, ghê tởm đơn giản là không tồn tại; còn về phần đức tin, mê tín, các thứ nguyên tắc, mấy cái đó chỉ như gió thoảng mây bay. Có ai biết ma tính của cơn đói dai dẳng, sự giày vò sôi sục của nó, những ý nghĩ đen tối của nó, cơn hung bạo thâm trầm âm ám của nó chưa? Tôi thì có. Muốn kháng cự cái đói đòi hỏi người ta phải vận hết nội lực bình sinh. Đối mặt với tang tóc, với ô nhục, sự sa đọa của linh hồn, nói thật là dễ dàng hơn với cái đói triền miên kiểu này. Buồn, nhưng thật. Và các anh bạn này, họ chẳng có lý do trần thế nào để phải ngại ngùng. Kiềm chế! Tôi lập tức liên tưởng tới sự kiềm chế của một con linh cẩu đang sục sạo xác chết trên chiến địa. Nhưng còn thực tế ở trước mắt tôi - thực tế sững sờ, hiển hiện, như bọt sóng trên biển khơi sâu thẳm, như gợn sóng trên một câu đố bí hiểm khó dò, một bí ẩn - mỗi khi tôi nghĩ đến - còn lớn lao hơn âm sắc bi thương tuyệt vọng khó bề lý giải trong cơn huyên náo man di vừa ào đến chúng tôi từ bờ sông, phía sau màn sương trắng mù lòa nọ.

“Hai gã hành hương đang hấp tấp thì thầm tranh cãi xem là bờ nào. ‘Trái,’ ‘Không, không; sao lại thế? Tất nhiên là phải, phải.’ ‘Tình hình rất nghiêm trọng,’ giọng nói của tay giám đốc cất lên sau lưng tôi; ‘Tôi sẽ rất đau buồn nếu ông Kurtz có mệnh hệ gì trước khi chúng ta đến nơi,’ Tôi nhìn gã, và không chút nghi ngờ nào rằng gã nói thật. Gã đích thị là mẫu người coi trọng thể diện. Đấy là sự kiềm chế của gã. Có điều khi gã lí nhí gì đó về chuyện lên đường ngay, tôi chẳng buồn đáp lời. Tôi biết, và gã biết, điều này là không thể. Neo thuyền chỉ cần rời khỏi đáy sông, chắc chắn chúng tôi sẽ lơ lửng giữa không trung. Chúng tôi sẽ không biết mình đang đi đâu - ngược hay xuôi dòng, hay đi ngang - cho đến khi chạm một trong hai bờ... và đầu tiên chúng tôi cũng sẽ chẳng biết đó là bờ nào. Tất nhiên tôi chẳng có động thái gì. Tôi chẳng có lòng dạ nào gây ra tai nạn. Không ai hình dung nổi địa điểm nào chết chóc hơn cho một vụ đắm tàu. Dù có chìm ngay không, chắc chắn chúng tôi kiểu gì cũng sẽ tiêu ma nhanh chóng. ‘Tôi lệnh cho anh chấp nhận mọi rủi ro,’ gã thốt, sau một thoáng im lặng. ‘Còn tôi kiên quyết từ chối,’ tôi đáp gọn lỏn; cũng chính là câu trả lời gã chờ đợi, cho dù ngữ điệu có thể khiến gã bất ngờ. ‘À, thế thì tôi phải tuân theo phán đoán của anh. Anh là thuyền trưởng,’ gã nói, với vẻ lịch thiệp rõ rệt. Tôi quay lưng về phía gã để tỏ vẻ cảm kích, và nhìn vào màn sương. Nó sẽ kéo dài bao lâu? Chưa có phiên gác nào vô vọng đến thế. Hành trình đến với tay Kurtz đào ngà trong rừng thẳm này bị vây phủ bởi vô vàn hiểm nguy như thể y là một nàng công chúa bị yểm bùa ngủ giữa tòa lâu đài tráng lệ. ‘Anh bảo chúng có tấn công không?’ Viên giám đốc hỏi, giọng tin cẩn.

“Tôi không nghĩ rằng chúng sẽ tấn công, vì mấy lý do hiển nhiên. Sương mù dày là một. Nếu rời bờ, chúng sẽ bị lạc, giống như chúng tôi nếu định di chuyển. Tuy vậy trước đó tôi cũng nhận định rằng rừng rậm hai bên bờ không thể xuyên qua được - rốt cục trong đó lại có mắt, những cặp mắt theo dõi chúng tôi. Bụi rậm ven sông chắc chắn là rất dày; nhưng tầng cây bụi phía sau rõ ràng là đi qua được. Tuy vậy, khi sương rút đi trước đó tôi không thấy trên sông có con thuyền độc mộc nào - ít nhất là ngang hàng với con tàu. Nhưng điều làm tôi cảm thấy kịch bản tấn công là không tưởng nằm ở bản chất của âm thanh kia - của tiếng hú chúng tôi vừa nghe. Nó không chứa đựng sắc thái dữ tợn báo hiệu một ý định thù địch tức thời. Dù rất bất ngờ, hoang dại, và mãnh liệt, nó lại gây ra trong tôi ấn tượng khó cưỡng về nỗi bi thương. Vì lẽ nào đó, thoáng thấy con tàu trong sương đã khơi dậy trong họ nỗi buồn đau vô hạn. Nguy hiểm, nếu có, tôi giải thích, sẽ đến từ việc chúng tôi ở quá gần một nỗi thống khổ lớn lao của nhân sinh đang bộc phát. Ngay cả bi thương tột độ chung cục cũng có thể thoát thai thành bạo lực - nhưng nói chung thì biểu hiện thường gặp của nó là sự hững hờ.

“Các cậu phải thấy mặt bọn hành hương lúc ấy! Chúng chả có lòng dạ nào cười cợt hay xỉ vả tôi; nhưng tôi tin chúng nghĩ tôi đã hóa điên - có lẽ vì sợ hãi. Tôi ban cho chúng một bài giáo huấn ra trò. Các chàng trai ơi, lo lắng mà làm gì. Canh gác ư? À, chắc các cậu đoán tôi theo dõi dấu hiệu sương tan như mèo rình chuột; nhưng nói thật ngoài cái đó ra cặp mắt cũng chẳng ích gì hơn khi chúng ta ngập trong một bể bông sâu hàng dặm. Và cảm giác cũng như vậy - ngột ngạt, ấm áp, khó thở. Ngoài ra, những điều tôi nói, dù nghe rất hoang đường, là hoàn toàn xác thực. Cái mà về sau chúng tôi nhắc tới như một cuộc tấn công hóa ra là một nỗ lực cự tuyệt. Hành động này còn lâu mới gọi là công kích - nó thậm chí không phải là phòng thủ theo nghĩa thông thường: nó được thực hiện dưới cơn căng thẳng của niềm tuyệt vọng, và về bản chất hoàn toàn nhằm mục đích bảo hộ.

“Nó phát sinh, tôi ước đoán, quãng hai tiếng sau khi sương tan, và bắt đầu tại một điểm cách trạm của Kurtz chừng một dặm rưỡi về phía hạ lưu. Tàu vừa chật vật lê qua một khúc quanh thì tôi chợt ngó thấy một doi đất, một đụn cỏ màu xanh biếc, nằm ở giữa dòng. Mặt sông chỉ có mình nó; nhưng khi nhưng khi đến gần hơn, tôi nhận ra đó là phần đầu của một cồn cát dài, hay đúng hơn là một chuỗi những vạt cát nông trải dài giữa dòng sông. Chúng có màu sắc bợt bạt, ngập nước, và tất cả đều ẩn dưới mặt sông, hệt như xương sống một người chạy dọc lưng, dưới lớp da. Lúc này, căn cứ theo tầm mắt, tôi có thể đi bên phải hoặc bên trái cồn cát. Tất nhiên cả hai luồng tôi đều không biết. Hai bờ nhìn khá giống nhau, độ sâu cũng như nhau, song do biết trại nằm ở bờ tây, theo lẽ tự nhiên tôi chọn lạch phía tây.

“Khi vừa tiến vào, tôi đã nhận ra nó hẹp hơn mình tưởng. Bên trái chúng tôi là doi cát kéo dài không dứt, bên phải là bờ sông cao, dốc đứng và bụi rậm um tùm. Phía trên lớp cây bụi là rặng cây gỗ mọc khít khao. Cành nhỏ ken dày che kín mặt sông, cách một quãng lại có một cành to gân guốc chĩa ra giữa dòng. Lúc ấy đã sang hẳn buổi chiều, sắc diện cánh rừng u ám, một dải bóng tối thênh thang đã trải dài trên mặt nước. Trong bóng tối này con tàu chuyển động - chắc các cậu cũng hình dung được, rất chậm. Tôi lái tàu chếch về phía bờ - cây sào dò cho thấy, nước ở đây sâu hơn cả.

“Một trong các bạn đồng hành đói khát và nhẫn nại của tôi đang dò nước trên mũi thuyền, ngay phía dưới tôi. Con tàu này y hệt một chiếc xà lan có mái. Trên mái có hai căn nhà nhỏ bằng gỗ tếch, có cửa nẻo đàng hoàng. Nồi hơi nằm đằng trước và khoang máy ở phía sau. Bên trên lợp một lớp mái nhẹ và đỡ bằng cột chống. Ông khói trổ xuyên qua mái, đằng trước ống khói là một cabin nhỏ dựng bằng ván nhẹ làm buồng lái. Bên trong có một chiếc ghế dài, hai ghế xếp, một khẩu súng trường Martini-Henry dựng ở góc, một cái bàn con, cùng bánh lái. Nó có cửa ra vào lớn và mành sáo rộng che hai bên. Tất nhiên lúc nào tất cả cũng được cuộn lên. Ban ngày tôi đậu lì trên đó, chót mũi của cái mái ấy, ngay trước cửa. Đêm đến tôi ngủ, đúng hơn là cố ngủ, trên sofa. Một gã đen lực lưỡng đến từ một bộ lạc duyên hải nào đó và được người tiền nhiệm đáng thương của tôi giáo hóa, giữ vai trò lái tàu. Gã đeo một đôi khuyên tai đồng thau, quấn xà rông vải xanh dương từ thắt lưng tới mắt cá chân, và rất mê đắm bản thân. Gã thuộc loại đần độn khó lường nhất tôi từng gặp. Có tôi ở cạnh, gã cầm lái với vẻ vô cùng vênh váo; nhưng vừa khuất mắt tôi, gã sẽ lập tức biến thành con mồi của một nỗi khiếp sợ hèn mọn, và để con tàu què quặt này bắt nạt bất kỳ lúc nào.

“Tôi đang nhìn xuống cây sào dò, và rất đỗi lo ngại khi thấy cứ mỗi lần dò lại thêm một đoạn sào lộ ra khỏi nước, thì thấy gã cầm sào bỗng nhiên bỏ việc, nằm xoài ra boong, thậm chí không buồn kéo sào lên. Nhưng tay gã vẫn nắm sào, và kéo lê nó trong nước. Cùng lúc, gã đốt lò, đứng dưới và cũng trong tầm mắt tôi, thụp xuống sau lò và hụp đầu né tránh. Tôi kinh ngạc. Ngay sau đó, tôi phải nhanh chóng nhìn ra sông vì giữa luồng nước có củi dạt. Que, một trận mưa que, bay tung tóe: chúng lao vù vù qua mủi tôi, rơi dưới chân tôi, cắm lên tường buồng lái sau lưng tôi. Lúc này mặt nước, bờ sông, và rừng cây, tất cả đều lặng im - lặng im tuyệt đối. Tôi chỉ nghe thấy tiếng quạt nước nặng nề của bánh xe chèo và tiếng lộp độp của thứ kia. Chúng tôi vụng về dẹp khúc củi dạt. Tên, trời ơi! Con tàu đang hứng một trận mưa tên! Tôi vội bước vào hạ tấm mành hướng lên bờ. Gã ngốc lái tàu, tay đặt trên nan bánh lái, đang giậm chân, cao gối, nghiến răng như ngựa bị ghìm cương. Tổ sư gã! Và tàu đang lê lết cách bờ chưa đầy ba mét. Tôi phải dướn ngay ra kéo tấm mành nặng trịch xuống, và tôi thấy một khuôn mặt ẩn trong tán lá, ngang tầm mắt, đang chằm chằm và dữ tợn nhìn mình; rồi bỗng nhiên, như thể một lớp màng vừa được vén lên khỏi mắt, tôi nhận ra, sâu bong vùng âm ám um tùm ấy, những ngực trần, những tay, những chân, những mắt rực lửa, - bụi rậm đang lúc nhúc những tứ chi người ngọ nguậy, lấp lánh, màu đồng. Cành cây lắc lư, đung đưa, lào xào, tên từ đó bay ra, thế rồi rèm hạ xuống. ‘Đánh lái thẳng,’ tôi thét gã lái tàu. Gã ngẩng cao đầu, nhìn thẳng; nhưng mắt đảo như rang lạc, tiếp tục co chân giậm xuống nhẹ nhàng, mép hơi sùi bọt. ‘Im lặng!’ Tôi giận dữ quát. Tôi cũng có thể cấm luôn cả cây lắc lư trước gió. Tôi phi ra ngoài. Boong tàu phía dưới rào rào bước chân; tiếng kêu thét hỗn loạn; có tiếng rống, ‘Quay tàu lại mau!’ Tôi bỗng thấy một gọn sóng hình chữ V phía trước. Hả? Lại củi dạt nữa! Một loạt đạn rền vang dưới chân tôi. Đám hành hương đã khai hỏa mấy khẩu Winchester, và đơn giản là đang vãi chì vào bụi rậm. Cơ man là khói từ từ tràn về đằng trước. Tôi chửi thề. Giờ thì chẳng thể nhìn thấy gợn sóng lẫn củi dạt nữa. Tôi đứng trên bậu cửa ngóng ra, và tên bay vào như ong vỡ tổ. Chúng có thể tẩm độc, nhưng nhìn như thể không đủ sức giết một con mèo. Bụi rậm bắt đầu tru lên. Đám thợ đốn củi trên tàu trỗi lên một tiếng hú chiến trận; một tiếng súng trường nổ sát sau lưng làm tai tôi ù đi. Tôi liếc ra sau, và buồng lái vẫn náo động và đầy khói khi tôi lao đến bánh lái. Gã ngốc mọi đen đã vứt tất cả, kéo mành lên và nã đạn từ khẩu Martini-Henry. Gã đứng trước cửa mở toang, mắt long sòng sọc, và tôi vừa phải thét gọi gã quay vào vừa trả lái cho tàu thằng lại sau cú ngoặt bất ngờ. Bây giờ có muốn cũng chẳng còn chỗ mà tránh nữa, bởi khúc củi dạt đã ở quá gần sau màn khói chết tiệt ấy, và chẳng thể mất giây nào nữa, nên tôi

đành ép tàu sát bờ - lao thẳng vào bờ, nơi tôi biết là nước sâu.

“Con tàu chậm chạp rạch qua những bụi cây lòa xòa trong một cơn mưa cành gẫy và lá rụng. Loạt đạn bên dưới tắt lịm, như tôi dự đoán khi mấy khẩu súng hết đạn. Một tia sáng xẹt qua buồng lái, vào bằng lỗ mành này rồi ra bằng lỗ khác, khiến tôi giật ngửa đầu ra sau. Phía sau gã lái tàu điên rồ đang vung vẩy khẩu súng hết đạn và chửi bới trên bờ, tôi thấy lờ mờ những hình người chạy, nhảy, gập người, nhân đôi, trượt, rõ ràng, khuyết thiếu, phai mờ. Có gì đó khá lớn xuất hiện trong không trung, trước tấm mành, khẩu súng trường rơi xuống dưới, gã lái tàu nhanh chóng lùi lại, ngoảnh nhìn tôi bằng ánh mắt kinh dị, thẳm sâu, quen thuộc, rồi ngã xuống dưới chân tôi. Cạnh đầu gã đập vào bánh lái hai lần, và phần đuôi của một vật như cây gậy dài va đập loảng xoảng trước khi quẹt đổ chiếc ghế xếp. Nhìn như thể sau khi giằng được vật này từ ai đó trên bờ, gã đã mất thăng bằng. Làn khói mỏng tan đi, củi dạt đã dẹp xong, nhìn lên tôi thấy độ chừng một trăm mét nữa, tôi sẽ có thể bẻ lái ra xa khỏi bờ sông; nhưng thấy dưới chân ấm nóng và ướt nên tôi buộc phải nhìn xuống. Gã đã lật ngửa lên và nhìn tôi trân trối; cả hai tay siết chặt cây gậy nọ. Đó là cán một ngọn giáo, vừa được ném hoặc phi qua cửa, cắm vào người gã ngay dưới be sườn; mũi giáo đâm lút vào trong sau khi khoét nên một vết thương kinh hồn; giày tôi lõng bõng; một vũng máu nằm bất động, lóng lánh màu đỏ sẫm dưới bánh lái; mắt gã long lanh một cách kỳ dị. Một tràng súng lại vang lên. Gã nhìn tôi đầy lo lắng, siết chặt ngọn giáo như một bảo vật, tựa hồ sợ tôi cướp mất. Tôi phải gắng gượng bứt khỏi ánh mắt của gã để tập trung lái tàu. Tôi quờ tay lên trên đầu tìm dây còi hơi, rồi hối hả giật liên hồi. Trận náo động của những tiếng la thét giận dữ và hiếu chiến kia liền bị chặn đứng, và từ sâu trong rừng vẳng ra một tiếng rền rĩ run rẩy, ngân dài của nỗi lo sợ bi ai và thất vọng tột cùng, tưởng như tiếp nối tia hy vọng cuối cùng lìa bỏ trần gian. Có một chấn động ghê gớm trong bụi rậm; trận mưa tên dừng lại, vài tiếng súng rơi rớt réo lên chói tai - rồi im lặng, chỉ còn tiếng quạt nước chậm chạp của bánh xe chèo vọng đến tai tôi rõ mồn một. Tôi đang hết lái phải thì gã hành hương mặc pyjama hồng, người nóng bừng và hoảng hốt, xuất hiện trên ngưỡng cửa. ‘Ông giám đốc bảo tôi...’ gã bắt đầu bằng giọng trịnh trọng, rồi khựng lại. ‘Lạy Chúa tôi!’ Gã thốt, chằm chằm nhìn người bị thương.

“Hai gã da trắng tụi tôi cúi nhìn gã, và ánh mắt long lanh, dò hỏi của gã vây phủ cả hai chúng tôi. Tôi thề rằng nhìn như thể ngay lúc ấy gã sẽ chất vấn chúng tôi bằng một thứ ngôn ngữ hiểu được; nhưng gã đã chết mà chẳng thốt ra một tiếng, chẳng cử động một chi, chẳng co giật một cơ nào. Chỉ có vào khoảnh khắc cuối cùng, như thể đáp ứng lại một tín hiệu chúng tôi không nhận thấy, một lời thì thào chúng tôi không nghe thấy, gã nhíu mày thật sâu, và cái nhíu mày ấy đem lại cho chiếc mặt-nạ-tử-thần màu đen của gã một biểu cảm u ám, âm trầm, và bất tường vô phương thấu hiểu. Ánh long lanh của cái nhìn dò hỏi ấy nhanh chóng biến thành đờ đẫn vô hồn. ‘Có lái được không?’ Tôi hăm hở hỏi tay da trắng. Nhìn gã rất lờ đờ, nhưng tôi túm lấy tay gã, và gã hiểu ngay rằng tôi muốn gã lái dù có biết hay không. Nói thật với các cậu, tôi có khát khao bệnh hoạn là thay ngay giày và tất. ‘Hắn chết rồi,’ tay da trắng nói, rất đỗi kinh hoàng. ‘Chứ còn gì nữa,’ tôi nói, điên cuồng bứt dây giày. ‘Mà nhân tiện, tôi nghĩ giờ này ông Kurtz cũng chầu trời rồi,’

“Lúc ấy, ý nghĩ đó lấn át tất cả. Có một cảm giác thất vọng tột cùng, như thể tôi vừa phát hiện ra mình đã tranh đấu vì một thứ hoàn toàn hư ảo. Giả thử mục đích duy nhất khiến tôi lặn lội đến đây là để nói chuyện với Kurtz, thì tôi cũng chỉ chán nản đến thế là cùng. Nói chuyện với... Tôi ném một chiếc giày xuống nước, và bất chợt nhận ra đó chính là điều tôi hằng mong ngóng - nói chuyện với Kurtz. Tôi sững sờ nhận ra mình chưa từng hình dung ra y đang hành động mà là đang đàm luận. Tôi không tự nhủ, ‘Giờ thì mình sẽ chẳng được gặp y nữa,’ hoặc ‘Giờ thì mình sẽ chẳng còn cơ hội bắt tay y,’ mà là ‘Giờ thì mình sẽ chẳng được nghe y nữa. Hiện thân của y là một giọng nói. Nói vậy không có nghĩa là tôi chưa hề gắn y với một dạng hành động nào. Chẳng phải tôi đã được nghe kể, dưới đủ sắc thái ghen tị và ngưỡng mộ, chuyện y đã thu thập, đổi chác, lừa đảo, hoặc trộm cắp được nhiều ngà voi hơn tất cả các đại lý khác cộng lại hay sao? Vấn đề không nằm ở đó. vấn đề ở chỗ, y là một tạo vật tài năng, và trong tất cả những tài năng ấy, thì cái thiên khiếu nổi bật nhất, chứa đựng cảm thức về sự hiện hữu, chính là năng lực diễn thuyết của y, lời lẽ của y - thiên khiếu của ngôn từ, mù mờ và sáng tỏ, tột cùng cao quý và hết sức đê hèn, hải lưu phập phồng của ánh sáng hay dòng chảy trá ngụy từ trái tim của một vùng tăm tối vô phương thấu hiểu.

“Chiếc giày còn lại cũng bay xuống với con sông quỷ sứ ấy. Tôi tự nhủ, ‘Chào nhé! Xong rồi. Quá muộn rồi; y đã tiêu ma - tài năng ấy đã tiêu ma, bởi một ngọn giáo, mũi tên hay cây chùy nào đó. Sau cùng tôi sẽ không còn cơ hội nghe con người ấy nói,’ - và nỗi bi ai này có một sự dào dạt đáng kinh ngạc của cảm xúc, như tôi nhận thấy trong tiếng hú bi thương của bầy man di trong bụi rậm. Nếu tôi bị tước đoạt đức tin hay bỏ lỡ vận mệnh đời mình, chắc tôi cũng chẳng cảm thấy buồn đau cô tịch hơn thế. Ai đấy, làm gì mà thở dài thô lỗ thế hử? Thấy kỳ cục à? Hà, kỳ cục. ơn Chúa! Đời người há chẳng phải nên kỳ cục một lần - Nào, đưa tôi ít thuốc lá.”

Có một sự gián đoạn trong tĩnh lặng tuyệt đối, rồi một que diêm bùng lên, gương mặt gầy gò của Marlow hiện ra, mòn mỏi, trống rỗng, nếp nhăn chảy xuôi, mày mi rũ xuống, sắc diện đầy vẻ chuyên tâm; và khi gã dữ dội rít từng hơi tẩu, nó tựa hồ rút vào rồi lại tiến ra khỏi bóng đêm theo nhịp bập bùng đều đặn của ngọn lửa tí hon. Que diêm lịm tắt.

“Kỳ cục!” Gã thốt. “Kể tới chỗ này là khốn nạn nhất này... Các cậu ở đây, ai nấy đều gắn với hai địa chỉ tử tế, như tàu có hai neo, đầu phố là ông hàng thịt, cuối phố là bác cảnh sát, ăn uống ngon miệng, thân nhiệt bình thường, bình thường hết năm này qua năm khác. Rồi các cậu kêu kỳ cục! Kỳ cục cái mẹ gì! Các cưng ơi, các cưng chờ đợi gì từ một thằng vừa khiếp vía đến nỗi vứt nguyên một đôi giày mới xuống sông. Bây giờ nghĩ lại, tôi vẫn thấy kinh ngạc rằng mình không rơi lệ. Xét một cách toàn diện, tôi tự hào về sự kiên cường của mình. Tôi buồn thấu tâm can khi tưởng rằng mình đã mất đặc quyền vô giá được lắng nghe con người tài ba ấy. Tất nhiên tôi đã nhầm. Đặc quyền ấy đang đợi tôi. Quả vậy - tôi đã nghe quá cả phần mình. Và tôi đã đúng. Tiếng nói. Y chỉ hơn một tiếng nói chút đỉnh. Và tôi lắng nghe - y - nó - tiếng nói này - những tiếng nói khác - tất cả chỉ hơn một tiếng nói chút đỉnh - và ký ức về thời gian ấy vẫn lởn vởn quanh tôi, vô hình, như dư chấn đang lịm dần của một tràng huyên thuyên bất tận, ngu xuẩn, hung tàn, đê tiện, dã man, hay chỉ đơn giản là hèn mọn, chẳng có chút ý nghĩa nào. Tiếng nói - những tiếng nói - kể cả chính cô gái ấy - giờ đây...”

Gã im lặng một lúc lâu.

“Tôi đã chôn hồn ma tài năng của y bằng một lời nói dối,” gã bỗng nhiên tiếp tục. “Cô gái nào? Tôi vừa nhắc một cô gái à? À, nàng chả liên quan - hoàn toàn không. Họ - ý tôi là đám đàn bà - không liên quan gì hết - không nên liên quan. Chúng ta phải giúp họ yên vị trong thế giới đẹp đẽ của họ, ngộ nhỡ thế giới của ta xấu xí đi. Chà, nàng phải đứng ngoài vụ này. Các cậu phải nghe xác sống của Kurtz thì thào, ‘Hôn thê của ta.’ Các cậu sẽ hiểu ngay vì sao nàng lại không liên quan gì hết. Và cái xương trán cao vời của Kurtz! Người ta bảo, đôi khi tóc vẫn tiếp tục mọc trên đầu người chết, nhưng cái - à - cái mẫu vật này thì hói một cách kinh hoàng. Hoang dã đã xoa đầu y, và, kìa, nhìn nó như một quả cầu, một quả cầu ngà voi; nó đã âu yếm y, và - ô! - y đã héo mòn; nó chiếm hữu y, yêu y, ôm ấp y, len lỏi vào huyết quản y, tiêu hóa thịt da y, và gắn liền linh hồn của y vào của nó bằng thứ nghi thức hoang đường trong một lễ kết nạp tà ma. Y là vật cưng được nó nuông chiều sủng ái. Ngà voi? Dám lắm. Từng đống một, từng chồng một. Căn lán đất ọp ẹp nứt vách vì ngà. Ta sẽ nghĩ rằng khắp xứ sở này không còn lấy một chiếc ngà nào, cả trên lẫn dưới mặt đất. ‘Rặt hóa thạch,’ viên giám đốc từng mỉa mai. Về độ hóa thạch thì nó cũng chả hơn gì tôi; nhưng nếu đào dưới đất lên thì họ gọi là hóa thạch. Xem ra đám da đen đôi khi có chôn ngà dưới đất thật - nhưng hiển nhiên là chôn chưa đủ sâu để ngăn ông Kurtz tài ba đến với vận mệnh của mình. Chúng tôi chất ngà lên đầy tàu, và phải chất kha khá lên mái. Như thế y có thể thấy và thích thú chừng nào còn có thể, vì hân thưởng đặc ân này là điều đã ở bên y đến phút cuối cùng. Các cậu phải nghe y gọi ‘Ngà của ta,’ Phải, tôi đã nghe y. ‘Hôn thê của ta, ngà của ta, trạm của ta, sông của ta..,’ tất cả đều thuộc về y. Nó khiến tôi nín thở, chờ đợi nghe thấy hoang dã bật ra một tràng cười kinh dị rung chuyển cả trời sao bất động. Tất cả thuộc về y - nhưng cái đó chẳng đáng gì. Điều quan trọng là biết y thuộc về đâu, bao nhiêu thế lực đen tối đang tranh giành y. Suy nghĩ ấy mới là điều khiến ta rùng mình ớn lạnh, cố gắng hình dung ra điều này là điều không thể - mà cũng chẳng tốt lành gì. Y đã chiếm địa vị cao trong bầy ma quỷ xứ này - theo nghĩa đen ấy. Các cậu không hiểu được đâu. Hiểu sao nổi? - khi dưới chân các cậu là vỉa hè chắc chắn, và xung quanh là láng giềng tử tế sẵn sàng hoan hô hay đâm thọc, khi đang đi nhẹ nói khẽ giữa bác hàng thịt và ông cảnh sát, trong nỗi khiếp sợ thần thánh của tai tiếng, giá treo cổ và nhà thương điên - làm sao các cậu hình dung nổi miền đất nào của thời tiền sử mà bước chân không trở ngại có thể đưa ta đến qua nẻo đường của cô đơn - cô đơn tuyệt đối không bóng hình cảnh sát - và nẻo đường của im lặng - im lặng tuyệt đối nơi ta chẳng thể nghe thấy tiếng nói cảnh báo của người hàng xóm tử tế, thầm thì dư luận xã hội? Những cái nhỏ nhặt ấy làm nên khác biệt lớn lao. Một khi chúng không còn nữa, ta phải trông vào sức mạnh nội sinh, vào năng lực của lòng trung thành. Tất nhiên, có thể ta quá ngu khờ nên không lạc lối - quá đần độn nên không biết mình bị các thế lực đen tối cưỡng đoạt. Tôi thiết nghĩ, chẳng có gã khờ nào lại đánh đổi linh hồn với ma quỷ: hoặc gã khờ quá khờ khạo, hoặc ma quỷ quá quỷ quyệt - tôi không biết nữa. Hoặc anh là một sinh vật cao quý tót vời nên hoàn toàn mù điếc trước mọi sự chỉ trừ tiên cảnh với tiên âm. Thế thì trần gian với anh chỉ là nơi tạm trú - và tôi không dám nói với anh thế này là được hay mất. Có điều phần lớn chúng ta không phải hai loại đó. Trần gian là nơi trú ngụ của chúng ta, là nơi ta phải chịu đựng những cảnh, những âm, cả những mùi nữa! Lạy Chúa, - tỉ như hít mùi hà mã chết và cố không để nhiễm bẩn. Đấy là lúc, các cậu hiểu không, cần đến sức mạnh của bản thân, niềm tin vào năng lực đào thứ hố giản dị không màu mè để chôn vùi những thứ đó - sức mạnh để tận hiến, không phải cho bản thân, mà cho một công việc mơ hồ và lao khổ. Và thế đã khó khăn lắm rồi. Này, tôi không định biện minh hay giải thích gì hết - tôi chỉ cố gắng - cố gắng giải mã Kurtz - cái bóng của Kurtz. Âm hồn vừa được kết nạp này đã từ chốn Hư vô cho tôi vinh dự lắng nghe tâm sự kinh người của y trước khi hoàn toàn tan biến. Đó là vì nó nói được tiếng Anh với tôi. Tiền thân của Kurtz được giáo dục một phần tại Anh, và - như y tử tế tự thừa nhận - y vẫn còn nặng tình với chốn ấy. Mẹ y mang nửa dòng máu Anh, cha y nửa dòng máu Pháp. Cả châu Âu đã góp phần tạo ra Kurtz; và không lâu sau tôi được biết, Hiệp hội Quốc tế về Trấn áp Phong tục Man di, một cách hết sức phù hợp, đã gửi gắm y chấp bút một báo cáo để định hướng hoạt động của Hội trong tương lai. Y quả thật đã viết xong. Tôi đã thấy nó. Tôi đã đọc nó. Nó rất hùng hồn, hùng hồn đến vang dội, nhưng hơi quá kích động, tôi nghĩ vậy. Y đã tìm ra thời gian để viết mười bảy trang chi chít chữ! Nhưng việc này chắc hẳn cũng từ trước khi - tạm gọi là - thần kinh của y, có vấn đề, xui khiến y chủ trì cuộc dạ vũ kết thúc bằng những nghi lễ không thể kể ra, sau đó - theo chỗ tôi miễn cưỡng suy luận được từ những gì tôi nghe nhiều người kể lại - được kính dâng lên y - các cậu hiểu không[7]? Lên chính Kurtz. Nhưng đó quả là một áng văn hay. Tuy nhiên, dưới ánh sáng của một số thông tin về sau, giờ đây tôi thấy đoạn mở đầu đã sớm có triệu bất tường. Y bắt đầu bằng lập luận rằng người da trắng chúng ta, ở cấp độ phát triển hiện tại, ‘nhất thiết phải xuất hiện trước họ [lũ man di] trong hình hài những sinh vật siêu nhiên - phải tiếp cận họ với uy quyền của thần linh,’ như thế và như thế. ‘Đơn giản bằng cách thực thi ý chí bản thân, trên thực tế ta có thể vận dụng không giới hạn quyền lực của mình vi cái tốt,’ vân vân và vân vân. Từ đây, y cao đàm khoát luận và cuốn tôi theo. Phần kết luận rất xuất sắc, mặc dù khó nhớ, các cậu biết đấy. Nó gây cho tôi ý tưởng về một chốn Bao La Huyền Bí dưới sự cai quản của một đấng Từ Bi Oai Nghiêm. Nó làm tôi gai người phấn khích. Đây chính là sức mạnh vô hạn của hùng biện - của ngôn từ - ngôn từ rực lửa cao quý. Không có dấu hiệu nào trên thực tế gián đoạn mạch văn ma thuật ấy, trừ một dòng ghi chú cuối trang kết, rõ ràng sau này mới được viết vội vào bằng một bàn tay run rẩy, và có thể coi như sự biểu đạt cho phương pháp của y. Nó rất đơn giản, và cuối lời kêu gọi cảm động hướng đến mọi tấm lòng vị tha kia, nó chói lòa trước mắt ta, rực rỡ và kinh hoàng, như tia sét giữa trời quang: ‘Tận diệt sạch bọn mọi!’ Điều kỳ lạ là xem ra y đã hoàn toàn quên mất phần tái bút giá trị kia, bởi về sau, khi y theo một nghĩa nào đó trở lại là chính mình, y liên tục dặn tôi phải trông nom cẩn thận ‘tập tiểu luận của tôi’ (cách gọi của y), vì nhất định nó sẽ tác động tích cực tới sự nghiệp của y trong tương lai. Tôi có đầy đủ thông tin về những điều này, và bên cạnh đó, hóa ra về sau tôi là người phải coi sóc hồi ức cho y. Tôi đã khó nhọc với nó đủ để có quyền bất khả tranh cãi trong việc cho nó, nếu tôi được chọn, yên nghỉ vĩnh hằng trong sọt rác của tiến bộ, giữa đủ thứ rác rưởi khác và, nói một cách hình tượng, lũ mèo chết của văn minh. Nhưng, các cậu biết đấy, tôi đâu có quyền chọn. Y sẽ không bị lãng quên. Nói gì thì nói, y không phải hạng tầm thường. Y có ma lực mê hoặc hay hăm dọa những linh hồn nguyên sơ vào một điệu ma vũ cuồng dại để tôn vinh y; y cũng có thể gieo vào linh hồn yếu đuối của bọn hành hương những hoài nghi cay đắng: y có ít nhất một người bạn tận tụy, và đã chinh phục một linh hồn không nguyên sơ và cũng chẳng nhuốm màu vụ lợi của thế giới này. Không, tôi chẳng thể quên y, mặc dù tôi không sẵn sàng khẳng định con người này thật sự xứng đáng với sinh mạng chúng tôi đã bỏ lại trên đường tìm kiếm y. Tôi nhớ gã lái tàu của mình ghê gớm, - tôi nhớ gã từ khi xác gã còn nằm trong buồng lái. Có lẽ các cậu thấy hơi kỳ lạ khi tôi tiếc nuối gã man di chẳng giá trị gì hơn hạt cát giữa một Sahara đen trũi này. Ờ, các cậu không hiểu sao, gã đã làm vài việc, gã đã lái tàu; hàng tháng trời tôi đã dựa vào gã - một sự hỗ trợ - một công cụ. Đấy là một thứ tình đồng đội. Gã cầm lái cho tôi - tôi phải trông nom gã, phải lo âu về những hạn chế của gã, và từ đó hình thành một sự gắn bó vi diệu mà tôi chỉ nhận thức được khi nó bất ngờ bị phá vỡ. Và vẻ thẳm sâu gần gũi trong ánh mắt gã nhìn tôi khi trúng thương vẫn in hằn trong ký ức tôi đến tận ngày nay - như một lời nhận họ hàng xa được thốt lên vào phút lâm chung.

“Gã khờ tội nghiệp! Giá như gã đừng động đến tấm mành. Gã không biết kiềm chế, không biết kiềm chế - hệt như Kurtz - như cây nghiêng theo gió. Vừa xỏ được đôi dép khô vào chân, tôi liền kéo gã ra, sau khi rút ngọn lao khỏi sườn gã, và phải thú nhận rằng tôi làm việc ấy với đôi mắt nhắm tịt. Hai gót chân gã đồng thời nảy lên khỏi bậc cửa thấp; hai vai gã đè lên ngực tôi; tôi ì ạch xốc người gã từ phía sau. Ôi! Gã nặng, nặng kinh khủng; chắc hẳn là nặng nhất trần đời. Và rồi không chần chừ gì nữa tôi lật người gã qua mạn tàu. Dòng nước cuốn lấy gã như một búi cỏ, và tôi thấy cái xác lăn tròn hai vòng trước khi khuất dạng mãi mãi. Cả đám hành hương và viên giám đốc đang tập hợp trên mái hiên trước buồng lái, rôm rả như một bầy ác là lên cơn phấn khích, và có một tràng rì rầm vì quá sốc trước cử chỉ mau lẹ vô tình của tôi. Chúng muốn giữ thi thể ấy vạ vật trên tàu làm gì, tôi chịu không đoán được. Ướp xác chăng? Nhưng tôi còn nghe thấy một tiếng rì rầm khác, đầy vẻ tai ương, từ boong tàu bên dưới. Đám bạn đốn củi của tôi cũng sốc không kém, song có nguyên nhân hợp lý hơn - dù phải thừa nhận rằng bản thân lý do này cũng khó ai nghe lọt. Mà khó thật! Tôi đã quyết định nếu anh bạn lái tàu quá cố của tôi bị ăn thịt thì chỉ có lũ cá được hưởng dụng gã. Lúc còn sống gã là một tay lái tàu hết sức hạng hai, nhưng khi chết đi gã đã thành một món mĩ vị hạng nhất, và có thể gây ra phiền toái kinh người. Ngoài ra, tôi nóng ruột muốn cầm lái, về việc này gã pyjama hồng tỏ ra hết sức bất tài vô dụng.

“Tôi làm việc đó ngay khi lễ tang giản đơn kia kết thúc. Tôi cho tàu đi tốc độ trung bình, chạy ở chính giữa dòng, và dỏng tai nghe chúng bàn tán về mình. Chúng đã từ bỏ Kurtz, chúng đã từ bỏ dịch trạm; Kurtz đã chết, và trạm đã bị đốt - vân vân và vân vân. Gã hành hương tóc đỏ không kìm nổi sự háo hức trước suy nghĩ rằng ít ra tay Kurtz tội nghiệp ấy đã được báo thù xứng đáng. ‘Này! Ta đã tàn sát chúng một trận ra trò, hả? Các anh nói sao? Hả?’ Gã hí hởn nhảy múa, thằng ăn mày ranh tóc hung khát máu ấy. Còn lúc nãy tí nữa thì gã ngất xỉu khi thấy người bị thương! Tôi nhịn không nổi phải lên tiếng, ‘Làm được màn khói cũng ra trò lắm!’ Qua cách phần ngọn của mấy bụi cây sột soạt và tung lên, tôi biết rằng phần lớn những phát đạn đều đi quá cao. Muốn bắn trúng thì phải tì vai và ngắm; song mấy gã này lại cầm súng ngang hông và nhắm mắt bắn bừa. Chúng rút lui, theo tôi - và tôi đã đúng - là bởi tiếng rít của còi hơi. Đến đây bọn kia quên phắt Kurtz và bắt đầu la ó phản đối tôi dữ dội.

“Viên giám đốc đứng bên bánh lái, đang kín đáo thẽ thọt về sự cần thiết phải quay lại hạ du trước khi trời tối bằng mọi giá thì tôi thấy xa xa có một bãi đất trống ven sông và đường nét lờ mờ của một công trình gì đó. ‘Gì kia?’ Tôi hỏi. Gã chắp hai tay lại vẻ bàng hoàng. ‘Dịch trạm!’ gã thốt. Tôi liền thận trọng tiến vào bờ, vẫn với tốc độ trung bình.

“Qua ống nhòm tôi thấy một triền đồi thưa thớt cây cao và tuyệt đối không có cây bụi. Tòa nhà dài mục nát trên đỉnh đồi chìm một nửa dưới cỏ cao; những lỗ thủng lớn trên mái từ xa nhìn đen ngòm; ở hậu cảnh là hàng cây cao và rừng rậm. Không có tường bao hay hàng rào gì cả; nhưng chắc chắn trước kia từng có, bởi gần ngôi nhà có một dãy năm, bảy cây cột còn sót lại, vót tỉa sơ sài, bên trên trang trí những khối cầu đẽo tròn. Các thanh ngang, hoặc bất kỳ thứ gì từng nối giữa hàng cột, đã biến mất. Tất nhiên xung quanh đều là rừng bao phủ. Bờ sông quang đãng, và bên mép nước tôi thấy một người da trắng đội chiếc mũ như bánh xe bò đang vẫy liên hồi bằng cả cánh tay. Quan sát kỹ bìa rừng cả trên lẫn dưới, tôi gần như chắc chắn rằng có chuyển động - những bóng người lướt qua lướt lại. Tôi thận trọng cho tàu chạy qua, rồi tắt động cơ và thả trôi. Người trên bờ bắt đầu la gọi, thúc giục chúng tôi cập bờ. ‘Chúng tôi vừa bị tấn công,’ viên giám đốc hét. ‘Tôi biết, tôi biết. Không sao đâu,’ người nọ đáp, cực kỳ hồ hởi. ‘Lên đây đi. Không sao đâu. Tôi mừng lắm,’

“Diện mạo gã gợi nhắc một thứ gì đó rất quen - một thứ ngộ nghĩnh tôi từng thấy ở đâu đó. Vừa đánh lái lại gần bờ, tôi vừa tự hỏi, ‘Thằng cha này giống ai nhỉ?’ Đột nhiên tôi nghĩ ra. Gã giống một harlequin[8]. Quần áo gã làm bằng một thứ chất liệu có vẻ giống vải lanh Hà Lan màu nâu, nhưng vá chằng vá đụp, toàn miếng vá sáng màu, hết xanh, đỏ lại vàng - vá đằng trước, vá đằng sau, vá khuỷu tay, vá đầu gối; dải buộc nhiều màu quanh áo, diềm đỏ tía dưới quần; ánh nắng chiếu vào khiến gã vừa hết sức tươi tắn vừa cực kỳ chỉn chu, vì ta có thể thấy tất cả những mảnh này được vá khéo nhường nào. Một khuôn mặt không râu, non nớt, rất trắng, không đường nét gì nổi bật, mũi tróc da, mắt xanh nhỏ xíu, nụ cười và cái nhíu mày luân phiên đuổi nhau trên dung nhan cởi mở ấy như nắng và bóng râm trên bình nguyên lộng gió. ‘Coi chừng, thuyền trưởng!’ gã kêu; ‘có một khúc củi dạt vào đây đêm qua.’ Hả! Lại củi dạt nữa? Phải thú nhận là tôi đã văng tục. Suýt nữa tôi đã kết thúc chuyến hải hành thú vị bằng cách đục thủng con tàu ọp ẹp này. Gã harlequin trên bờ vểnh cái mũi hếch về phía tôi. ‘Người Anh hả?’ Gã cười toe toét. ‘Cậu người Anh à?’ Tôi hỏi lại từ sau bánh lái. Nụ cười tan biến và gã lắc đầu như thể áy náy vì đã làm tôi thất vọng. Đoạn gã tươi lên. ‘Không sao hết!’ Gã hét, vẻ động viên. ‘Chúng tôi đến có kịp không?’ ‘Ông ấy ở trên kia,’ gã hất đầu về phía quả đồi, và đột nhiên trở nên u sầu. Khuôn mặt gã như bầu trời mùa thu, đang âm u, chợt quang đãng.

“Khi tay giám đốc, được đám hành hương hộ tống, ai nấy vũ trang đến tận răng, đi lên tòa nhà, gã lên boong. ‘Này, tôi không khoái vụ này. Lũ thổ dân đang nấp trong bụi rậm,’ tôi nói. Gã thành khẩn cam đoan với tôi rằng sẽ không sao. ‘Họ chất phác lắm,’ gã tiếp; ‘các ông đến, tôi mừng lắm. Mãi tôi mới dỗ yên được họ.’ ‘Nhưng cậu vừa bảo không sao,’ tôi thốt. ‘À, họ không có ác ý gì đâu,’ gã nói; nhưng trước ánh nhìn chằm chặp của tôi, gã đính chính, ‘Không hẳn vậy,’ Rồi hồ hởi, ‘Trời ơi, buồng lái của ông phải lau dọn đi thôi!’ Vừa dứt lời gã lại khuyên tôi chứa đủ hơi trong lò để kéo còi, nhỡ có chuyện gì. ‘Một hồi còi to còn hữu ích hơn cả dàn súng. Họ chất phác lắm,’ gã nhắc lại. Mức độ liến thoắng của gã làm tôi kinh ngạc. Dường như gã nói để bù lại thời gian dài im lặng, và quả thực gã vừa cười vừa hé lộ điều ấy. ‘Anh không nói chuyện với Kurtz à?’ Tôi hỏi. ‘Với ông ấy, ta không nói - ta lắng nghe,’ gã cảm thán, thập phần hoan hỉ. ‘Nhưng giờ Gã vẫy tay, và trong ánh mắt lấp lánh là thẳm sâu cùng cực một niềm tuyệt vọng. Loáng một cái, gã nhảy dựng lên, nắm lấy hai tay tôi, lắc liên hồi và lắp bắp, ‘Người anh em... thủy thủ... rất vinh dự... vui mừng... hân hạnh... giới thiệu... người Nga... con trai Giáo trưởng... chính quyền Tambov[9]... Gì cơ? Thuốc lá! Thuốc lá Anh! Thuốc lá Anh hảo hạng! Thế mới là anh em chứ. Hút không à? Thủy thủ ông nào chả hút?’

“Chiếc tẩu làm gã bình tâm lại, và dần dần tôi hiểu ra gã đã bỏ học và trốn đi biển trên một con tàu Nga; lại bỏ trốn; làm việc trên các tàu Anh một thời gian; đã làm lành với ông Giáo trưởng. Gã nhấn mạnh điều này. ‘Nhưng khi còn trẻ ta phải ngao du thiên hạ, tích lũy kinh nghiệm và ý tưởng; mở mang đầu óc,’ ‘Ở đây!’ tôi cắt lời. ‘Chả ai biết trước điều gì! Ở đây, tôi đã gặp ông Kurtz,’ gã nói với vẻ nghiêm trang gay gắt của tuổi trẻ. Từ đó tôi nín bặt. Xem ra gã đã thuyết phục được một thương hãng Hà Lan ở vùng duyên hải cung cấp hàng và nhu yếu phẩm cho gã, sau đó lên đường vào lục địa với con tim bồng bột, chẳng có ý niệm gì về chặng đường trước mặt hơn một đứa bé. Gã đơn độc rong ruổi quanh con sông này gần hai năm, cách biệt thế nhân và thế sự. ‘Tôi không trẻ như bề ngoài đâu. Tôi đã hai mươi lăm rồi,’ gã nói. ‘Đầu tiên ông già Van Shuyten bảo tôi cuốn xéo đi,’ gã thuật lại với vẻ khoái trá ghê gớm; ‘nhưng tôi bám riết và lèo nhèo mãi, tới khi ông ấy sợ tôi sẽ nói rụng chân con chó ông ấy cưng nhất, nên đành cấp cho tôi ít hàng rẻ tiền với mấy khẩu súng, rồi bảo rằng ông ấy hy vọng không bao giờ thấy mặt tôi nữa. Ông lão Hà Lan tốt bụng, Van Shuyten. Năm ngoái tôi vừa gửi cho ông ấy ít ngà, để sau này gặp lại ông ấy không thể gọi tôi là quân ăn cắp vặt. Hy vọng ông ấy nhận được. Còn lại, tôi đếch quan tâm. Tôi xếp cho mọi người cho ít củi. Nhà cũ của tôi đấy. Các vị có thấy không?’

“Tôi đưa gã cuốn sách của Towson. Tôi ngỡ gã sẽ hôn tôi, nhưng cố kiềm chế. ‘Đây là cuốn sách duy nhất tôi còn giữ được, và tôi cứ nghĩ đã đánh mất nó,’ gã nói, với ánh mắt hoan hỉ. ‘Vô vàn tai nạn xảy đến với một kẻ lang thang, ông biết mà. Thỉnh thoảng lại lật thuyền - thỉnh thoảng phải chuồn thật nhanh khi dân tình nổi giận.’ Gã dùng ngón cái giở từng trang sách. ‘Cậu ghi chú bằng tiếng Nga?’ Tôi hỏi. Gã gật đầu. ‘Tôi cứ tưởng đấy là mật mã,’ tôi nói. Gã bật cười, đoạn trở nên nghiêm túc. ‘Khó khăn lắm tôi mới giữ yên được họ đấy,’ ‘Họ muốn giết cậu à?’ Tôi hỏi. ‘Ôi, không!’ Gã thốt, rồi ngừng lại. ‘Tại sao họ tấn công chúng tôi?’ Tôi truy vấn. Gã ngần ngừ, đoạn hổ thẹn đáp, ‘Họ không muốn ông ấy đi,’ ‘Thật à?’ Tôi tò mò hỏi. Gã đáp bằng một cái gật đầu đầy bí ẩn và minh triết. ‘Tôi kể ông nghe,’ gã nói, ‘con người này đã khai mở đầu óc tôi,’ Gã dang rộng hai tay, và chăm chú nhìn tôi bằng đôi mắt xanh, nhỏ xíu, tròn xoe.”

❀ ❀ ❀

[1] Muối chì carbonate, một hóa chất được Marlow dùng để bịt lỗ rò ở ống dẫn hơi nước.

[2] Người chịu trách nhiệm duy trì ngọn lửa đốt nồi hơi của con tàu.

[3] Mài răng nhọn, cạo đầu thành hoa văn, rạch mặt đế trang điếm đều là tập quán của thổ dân.

[4] Thác Stanley, nay là Kisangani; điểm xa nhất có thể đi tàu tới trên thượng nguồn sông Congo.

[5] Nguyên văn: Master (hay còn gọi là Sailing Master), chức vụ trong Hải quân Anh thế kỷ XIX, đứng thứ ba sau Thuyền trưởng (Captain), Thuyền phó (Lieutenant), phụ trách việc điều khiển con tàu.

[6] Kwanga, một loại bánh mỳ lên men làm từ bột củ mỳ (củ sắn).

[7] Đoạn này dường như ám chỉ Kurtz chủ trì nghi lễ hiến tế rồi sau đó ăn thịt người. Tuy nhiên câu chữ khá mơ hồ nên khó lòng có thế xác định chính xác.

[8] Vai hề câm ăn mặc lòe loẹt trong thể loại hài kịch truyền thống của châu Âu.

[9] Một tỉnh miền tây nước Nga, nằm về phía đông nam Moscow.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Joseph Conrad

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.