
“Tôi nhìn gã, ngỡ ngàng vì kinh ngạc. Gã đứng đó trước mặt tôi, mặc lốt áo hề như thể vừa trốn khỏi gánh hát, hăng hái và huyền bí. Sự tồn tại của gã, bản thân nó đã là hoang đường, vô phương giải thích, về tổng thể là làm ta hoang mang. Gã là một nan đề không có lời giải. Thật không hiểu nổi làm sao gã lại tồn tại, làm sao gã đến được tận đây, làm sao gã trụ lại được - vì sao gã không biến mất ngay lập tức. ‘Tôi đi xa hơn một chút,’ gã nói, ‘rồi lại xa hơn chút nữa - đến khi xa tới mức tôi không biết liệu có còn quay lại được không. Có hề gì. Còn nhiều thời gian. Tôi sẽ lo được. Hãy đưa Kurtz đi ngay - ngay đi - hãy nghe tôi.’ Vẻ mỹ lệ của tuổi trẻ bao phủ tấm áo vá muôn màu, cảnh cơ hàn, sự cô đơn, và nỗi tịch liêu ăn vào cốt tủy trong mỗi cuộc lãng du vô vọng của gã. Suốt nhiều tháng - nhiều năm - tính mạng của gã chỉ tính bằng ngày; thế nhưng gã vẫn can trường và vô tư sống sót, tựa hồ bất diệt chỉ bằng tuổi đời ít ỏi và sự gan dạ không suy nghĩ của mình. Tôi bị cuốn vào một cảm xúc gần như ngưỡng mộ - như ghen tị. Hào quang giục gã tiến lên, hào quang giúp gã không mảy may thương tổn. Gã hiển nhiên chả cần gì từ hoang dã, ngoài không gian để hít thở và xông pha. Nhu cầu của gã là tồn tại, là tiến lên đối mặt với hiểm nguy tột cùng có thể và trong tình trạng thiếu thốn tối đa. Nếu tinh thần tuyệt đối thuần khiết, không toan tính và phi thực tế của máu phiêu lưu có từng chiếm lĩnh một con người, thì đó phải là gã thanh niên vá víu này. Tôi gần như ghen tị vì gã sở hữu ngọn lửa khiêm nhường và trong trẻo ấy. Dường như nó đã nuốt chửng mọi suy nghĩ về bản thân, đến mức ngay khi gã nói chuyện tới ta, ta còn quên mất rằng chính gã - người ngồi trước mặt ta - là người đã trải qua những điều đó. Tuy nhiên, tôi không ghen tị với sự tận tụy gã dành cho Kurtz. Gã không ngẫm nghĩ về điều đó. Nó đến với gã, và gã hào hứng đón nhận nó như một thứ định mệnh. Phải nói rằng tôi cảm thấy, xét trên mọi phương diện, đó dường như là điều nguy hiểm nhất gã phải đối mặt từ trước đến giờ.
“Họ đến với nhau là điều không tránh khỏi; như hai con tàu đứng lặng ở gần nhau cuối cùng sẽ cọ mạn. Tôi nghĩ Kurtz cần thính giả, vì có một lần, khi cắm trại trong rừng, họ nói chuyện suốt đêm, hay nhiều khả năng là chỉ Kurtz nói.
‘Chúng tôi nói về mọi thứ,’ gã kể, lâng lâng hồi tưởng chuyện cũ. Tôi đã quên mất trên đời có khái niệm ngủ. Đêm hôm ấy ngắn chẳng tày gang. Mọi thứ! Mọi thứ!... Cả tình yêu nữa,’ ‘À, ông ấy tâm sự với cậu về tình yêu?’ Tôi hỏi, hứng thú gia tăng. ‘Không phải như ông nghĩ đâu,’ gã thốt, gần như đắm đuối. ‘Tinh yêu nói chung... Ông ấy đã cho tôi thấy nhiều điều - nhiều điều,’
“Gã giơ tay lên trời. Chúng tôi đang ngồi trên boong, và tay trưởng nhóm đốn củi của tôi, đang nằm ườn gần đó, ngoảnh nhìn gã bằng đôi mắt nặng nề và lóng lánh. Tôi nhìn quanh, và tôi không rõ vì sao, nhưng tôi cam đoan với các anh rằng, chưa bao giờ, chưa một lần nào, miền đất này, dòng sông này, khu rừng này, vòm trời chói lóa này, lại hiện lên trước mắt tôi vô vọng và tối tăm đến thế, vô phương thấu hiểu trước suy nghĩ và tàn nhẫn trước điểm yếu của con người đến thế. ‘Từ đó tới nay, cậu vẫn ở cùng ông ấy chứ?’ Tôi hỏi.
“Ngược lại. Hóa ra, mối tương giao giữa họ thường xuyên bị gián đoạn vì nhiều lý do. Gã kiêu hãnh khoe rằng mình đã chăm sóc Kurtz qua hai trận ốm (cách gã ám chỉ như thể đây là một kỳ tích đầy mạo hiểm), nhưng trên nguyên tắc, Kurtz rong ruổi một mình, đi sâu vào rừng. ‘Mỗi lần đến dịch trạm, tôi thường phải đợi ngày này qua ngày khác để gặp Kurtz,’ gã kể. ‘À, chờ đợi vậy cũng đáng! - đôi khi,’ ‘Ông ấy đi đâu? Thám hiểm hay là gì?’ tôi hỏi. ‘À, dĩ nhiên’; y đã tìm thấy rất nhiều làng, cả một cái hồ nữa - nhưng gã không biết chính xác ở hướng nào; hỏi nhiều là điều rất nguy hiểm - nhưng phần lớn các cuộc viễn du của Kurtz là để săn ngà. ‘Ông ta làm gì còn hàng mà đổi,’ tôi chất vấn. ‘Nhưng đạn thì còn nhiều lắm,’ gã trả lời, và ngó đi chỗ khác. ‘Nói trắng ra là, ông ta đi cướp,’ tôi hỏi. Gã gật đầu. ‘Hẳn là không thể một mình!’ Gã lí nhí gì đó về các làng quanh hồ. ‘Kurtz chiêu mộ được thổ dân đi theo, phải không?’ Tôi mớm. Gã hơi nhấp nhổm. ‘Họ ngưỡng mộ ông ấy,’ gã nói. Âm sắc những chữ ấy kỳ dị đến nỗi làm
tôi phải nhìn gã dò xét. Thái độ hào hứng xen lẫn ngần ngại của gã khi nói về Kurtz làm tôi tò mò. Con người này phủ bóng xuống đời gã, chiếm lĩnh tâm trí gã, thao túng cảm xúc của gã. ‘Thế ông nghĩ sao?’ Gã bật ra; ‘ông ấy xuất hiện mang theo sấm chớp, và đấy - họ đã bao giờ nhìn thấy cái gì như thế đâu - và rất kinh khủng. Ông ấy có thể rất kinh khủng. Ta không thể phán xét ông Kurtz như người bình thường. Không, không, không! Đây - cho ông dễ hình dung - tôi không ngại kể ông nghe, có hôm ông ấy định bắn cả tôi - nhưng tôi không phán xét ông ấy,’ ‘Bắn cậu!’ Tôi thốt. ‘Vì sao?’ ‘À, tôi có một ít ngà voi của tay tù trưởng ngôi làng gần chỗ tôi ở cho hồi trước. Tôi hay đi săn giúp họ. À, ông ấy đòi lấy, và không chịu nghe giải thích. Ông ấy dọa sẽ bắn tôi nếu tôi không giao ngà rồi xéo khỏi xứ này, vì ông ấy nói được là làm được, thích thú việc ấy, và trên đời này chẳng có gì ngăn được ông ấy giết người nào mình thích. Và đúng như thế thật. Tôi giao ngà cho ông ấy. Tôi có thiết đâu! Có điều, tôi không cuốn xéo. Không, không. Tôi không thể bỏ ông ấy được. Dĩ nhiên, tôi phải cẩn thận, đến khi quan hệ hai bên hòa hảo trở lại. Rồi ông ấy ngã bệnh lần nữa. Từ đó tôi phải tránh đi; song tôi không lấy thế làm phiền. Phần lớn thời gian, ông ấy ở khu làng ven hồ. Mỗi lần xuống sông, có khi ông ấy vui vẻ, có khi tôi nên coi chừng. Con người ấy phải chịu đựng quá nhiều. Ông ấy chán ghét xứ này, nhưng vì lẽ gì đó chẳng thể ra đi. Khi có cơ hội, tôi van xin ông ấy cố bỏ đi khi còn kịp; tôi xin được đi cùng. Ông ấy sẽ bằng lòng, nhưng vẫn ở lại; tiếp tục lên đường săn ngà; biệt tích hàng tuần liền, và quên hẳn bản thân giữa lũ người này - quên hẳn bản thân - ông hiểu không?’ ‘Tại sao! Y điên rồi,’ tôi nói. Gã phản đối gay gắt. Ông Kurtz điên thế nào được. Nếu tôi có dịp nghe ông ấy nói chuyện, chỉ hai ngày trước thôi, tôi sẽ chẳng dám ám chỉ một điều như thế... Trong khi nói chuyện tôi đã cầm ống nhòm lên, và nhìn về phía bờ sông, rà soát phần bìa rừng hai bên và phía sau ngôi nhà. Ý thức được việc trong bụi cây có người, rất đỗi im hơi lặng tiếng - im hơi lặng tiếng như căn nhà đổ nát trên đồi - làm tôi thấy bất an. Không có bất kỳ dấu hiệu nào trên diện mạo thiên nhiên của câu chuyện kỳ dị này, được kể cho tôi thì ít, mà ám chỉ bằng những tiếng cảm thán bi ai, tô điểm những cái nhún vai, bằng những lời lẽ đứt đoạn, những ẩn ý kết thúc trong tiếng thở dài thì nhiều. Rừng cây bất động như chiếc mặt nạ - nặng nề, đóng im im như cửa ngục - quan sát với vẻ hiểu biết ngấm ngầm, kiên nhẫn chờ đợi, và im lặng xa cách. Gã người Nga giải thích, gần đây Kurtz mới xuống sông, đem theo tất cả chiến binh của bộ lạc ven hồ. Y vắng mặt đã vài tháng - đi tìm kiếm sự sùng bái, chắc vậy - và vừa bất ngờ xuất hiện, với ý định hiển nhiên là làm một trận càn sang bên kia sông, hoặc xuống hạ lưu. Rõ ràng cơn thèm ngà đã lấn át những - nói sao nhỉ? - khát vọng ít vật chất hơn. Tuy nhiên, bệnh tình y đột ngột trở nặng. ‘Tôi nghe nói ông ấy ốm liệt giường, nên mới lên đây - tranh thủ cơ hội,’ gã kể. ‘Hỡi ơi, bệnh ông ấy nặng, nặng lắm.’ Tôi hướng ốm nhòm về phía ngôi nhà. Không có dấu hiệu gì của sự sống, chỉ có mái nhà đổ nát, bức tường đất dài lấp ló sau tầng cỏ với ba ô cửa nhỏ hình vuông, không cái nào to bằng cái nào; qua ống nhòm, tất cả như đang ở trong tầm tay. Thế rồi tôi đột ngột chuyển hướng, và một trong những cây cột sót lại của cái hàng rào nay đã biến mất bỗng lọt vào ống kính. Tôi vừa kể rằng từ xa nhìn lại tôi đã ngỡ ngàng trước nỗ lực trang trí của chủ nhân, một điều đáng chú ý giữa diện mạo tan hoang của nơi này. Giờ tôi đột nhiên được nhìn cận cảnh, và ấn tượng đầu tiên làm tôi bật ngửa đầu ra sau như bị trúng một cú đấm. Rồi tôi thận trọng rà từng cây cột qua ống nhòm, và nhận ra sai lầm của mình. Những trái cầu không phải để trang trí, mà có tính biểu tượng; chúng vừa biểu cảm vừa bí ẩn, vừa ấn tượng vừa kinh động - thức ăn cho tư duy và cho cả kền kền, ví thử có con nào lượn lờ trên bầu trời; nhưng bất kể thế nào thì lũ kiến vẫn đủ cần mẫn để leo lên cột. Chúng sẽ còn gây ấn tượng mạnh hơn, dãy đầu lâu trên cọc ấy, nếu gương mặt không bị quay về phía ngôi nhà. Chỉ có một, chiếc đầu tiên tôi nhận ra, là quay mặt về phía tôi. Tôi không đến nỗi sốc như các cậu nghĩ đâu. Tôi bị giật đầu ra sau chủ yếu là vì ngạc nhiên. Tôi dự kiến nhìn thấy một trái cầu gỗ, thế thôi. Sau đó tôi chủ đích quay lại tìm cái đầu tiên tôi thấy - và nó vẫn ở đó, đen, khô, sâu trũng, mi mắt nhắm lại - tựa hồ đang thiếp ngủ trên đỉnh cột, và, với đôi môi héo quắt, hé lộ một hàng răng trắng hẹp, cũng đang mỉm cười, mỉm cười liên tục với một cơn mơ khôi hài và bất tận trong giấc ngàn thu ấy[1].
“Tôi sẽ không tiết lộ bí mật thương mại nào. Kỳ thực, sau này chính viên giám đốc nói rằng phương pháp của Kurtz đã tàn phá vùng đất nọ. Tôi không có ý kiến gì về vụ ấy, nhưng muốn các cậu hiểu rõ rằng việc đám đầu lâu ở đó không mang lại lợi nhuận gì. Nó chỉ cho thấy rằng Kurtz thiếu kiềm chế trong việc thỏa mãn dục vọng đa dạng của y, rằng trong y thiếu hụt một điều gì đó - nhỏ thôi, nhưng khi nhu cầu bức thiết dâng cao, không thể tìm thấy dưới tài hùng biện xuất chúng của y. Y có ý thức được sự thiếu hụt đó không, tôi không rõ. Tôi nghĩ nhận thức ấy rốt cục cũng đến với y - vào phút chót. Nhưng hoang dã tìm ra y từ sớm, và giáng xuống y đòn báo thù khủng khiếp vì cuộc xâm lăng điên rồ này. Tôi nghĩ nó đã thì thầm bên tai y những điều y chưa rõ về bản thân, những điều y cũng chưa có ý niệm gì cho đến khi lắng nghe sự tịch liêu vĩ đại này - và lời thì thầm ấy hóa ra hấp dẫn vô phương cưỡng lại. Nó vang vọng trong y, bởi nội tâm y hoàn toàn trống rỗng... Tôi đặt ống nhòm xuống, và cái đầu vừa ở gần đến mức có thể cùng tôi nói chuyện dường như đột ngột nhảy vọt ra xa tôi đến một cự ly không thể tiếp cận.
“Kẻ hâm mộ Kurtz có chiều ủ rũ. Bằng giọng vội vã, ấp úng, gã thanh minh rằng gã không dám gỡ những - tạm gọi là biểu tượng - ấy xuống. Gã không sợ thổ dân; họ sẽ không loạn động khi Kurtz chưa ra lệnh. Y có quyền uy phi thường. Họ cắm trại quanh đây; hàng ngày các tù trưởng đều tới ra mắt y. Họ sẽ bò... ‘Tôi không muốn biết gì về nghi lễ của họ khi yết kiến Kurtz hết,’ tôi hét. Kỳ lạ thay, cái cảm giác vừa xâm chiếm tôi, rằng những chi tiết ấy còn khó bề chịu đựng hơn đám đầu lâu bêu trên cọc ngoài cửa sổ nhà y. Nói cho cùng, đó chỉ là một cảnh tượng dã man, trong khi tôi sau một cú nhảy dường như đã được dịch chuyển đến một xứ sở vô quang của những điều kinh hoàng vi tế, nơi tục dã man giản đơn, thuần khiết - một hiện tượng có quyền tồn tại hiển nhiên dưới ánh mặt trời - lại thành ra niềm an ủi tích cực. Gã thanh niên kinh ngạc nhìn tôi. Việc tôi không thần tượng Kurtz có lẽ chưa từng thoáng qua đầu gã. Gã quên rằng tôi chưa hề nghe những đoạn độc thoại huy hoàng của y về, gì nhỉ? Tình yêu, công lý, cách sống và này kia. Nếu nói đến chuyện phủ phục trước Kurtz thì gã cũng phủ phục không kém gì kẻ man rợ nhất trong số họ. Tôi đâu có hiểu đầu đuôi câu chuyện, gã nói: đấy là đầu của bọn phản loạn. Tôi khiến gã choáng váng ghê gớm khi phá ra cười. Phản loạn! Không hiểu định nghĩa tiếp theo tôi sắp được nghe sẽ là gì? Đã có kẻ thù, tội phạm, công nhân - và nay có thêm phản loạn. Tôi thấy những cái đầu phản loạn ấy rất trầm lặng khi bị bêu trên cột. ‘Ông đâu biết người như Kurtz bị cuộc đời thử thách ra sao,’ tông đồ sau cùng của Kurtz thốt lên. ‘À, còn cậu?’ Tôi hỏi. ‘Tôi! Tôi! Tôi là người đơn giản. Tôi không có tư tưởng lớn lao. Tôi chẳng có bất kỳ đòi hỏi gì. Sao ông có thể so tôi với..,’ Cảm xúc dào dạt làm gã nghẹn lời, và đột nhiên, gã vỡ òa. ‘Tôi không hiểu,’ gã than. ‘Tôi đã làm hết sức mình để cứu sống ông ấy, và thế là đủ. Tôi không dính dáng đến tất cả những chuyện này. Tôi không có khả năng. Đã vài tháng nay ở đây chẳng có lấy một giọt thuốc hay một thìa thức ăn cho người ốm. Ông ấy bị bỏ rơi một cách thật đáng xấu hổ. Con người như thế, với tư tưởng như thế. Đáng xấu hổ! Đáng xấu hổ! Tôi... tôi... không ngủ đã mười đêm liền..,’
“Giọng gã lạc đi trong cái tính lặng của buổi tối. Những bóng dài của cánh rừng đã trườn xuống chân đồi trong khi chúng tôi nói chuyện, và đi quá cả căn lán xập xệ, quá cả hàng cọc biểu tượng kia từ lâu. Mọi thứ đều chìm trong bóng tối, trong khi chỗ chúng tôi ngồi vẫn nằm dưới nắng, và quãng sông trước mặt bãi trống vẫn lấp lánh một vẻ huy hoàng chói chang và tĩnh lặng, với một khúc quanh tối tăm và âm ám phía trên lẫn bên dưới. Trên bờ chẳng một bóng người. Bụi cây không xào xạc.
“Đột nhiên từ sau nhà xuất hiện một nhóm người như thể từ dưới đất chui lên. Họ lội trong cỏ cao tới thắt lưng, tụ thành tốp nhỏ, khênh theo một chiếc cáng tự chế. Lập tức, giữa khung cảnh trống rỗng ấy, dậy lên một tiếng rú chói tai xuyên thủng không gian tĩnh lặng như một mũi tên nhọn sắc đâm thẳng vào trái tim xứ sở này; rồi, tựa hồ có ma thuật, từng dòng người - từng dòng người ở trần - tay cầm giáo, cầm cung, cầm khiên, nhãn thần hoang dại và động tác man rợ, được rừng già hắc diện và trầm tư trút ào ra khoảnh đất trống. Bụi rậm rung rinh, cỏ lao xao một lúc, rồi tất cả lại đứng yên trong một sự bất động đầy chăm chú.
“ ‘Rồi, nếu ông ấy không nói với họ điều nên nói thì chúng ta coi như xong,’ gã Nga níu tay tôi. Tốp khiêng cáng đã dừng lại cách con tàu một đoạn, tựa hồ tê liệt. Tôi thấy người trên cáng ngồi dậy, gầy gò và một cánh tay giơ cao, quá vai phu khiêng cáng. ‘Hy vọng người có thể cao đàm khoát luận về tình yêu nói chung sẽ tìm thấy một lý do nói riêng để xá tội cho chúng ta lần này,’ tôi nói. Tôi ghét cay ghét đắng tính lố bịch của tình huống hiểm nghèo này như thể bị đặt dưới lòng nhân từ của bóng ma tàn ác kia là một sự cùng đường ô nhục. Tôi không nghe thấy tiếng động gì, nhưng bằng ống nhòm tôi thấy cánh tay gầy guộc vươn lên đầy quyền uy, hàm dưới chuyển động, cặp mắt u linh tỏa ánh hắc ám từ sâu trong cái đầu xương xẩu đang gục gặc gật đầu một cách kỳ dị. Kurtz - Kurtz - tiếng Đức là ngắn phải không nhỉ? Hà, cái tên ấy cũng chính xác như mọi thứ khác trong cuộc sống - lẫn cái chết - của y. Trông y ít nhất phải dài hơn hai mét. Tấm chăn đã tuột xuống, và cơ thể y nhô ra thảm thương và kinh khiếp như từ một tấm vải liệm. Tôi thấy rõ lồng ngực y nhấp nhô, xương tay y vẫy vẫy. Trông y như thể một hình ảnh hoạt họa của tử thần, điêu khắc từ ngà voi cũ, đang giũ đôi tay chất chứa tai ương lên đám đông bất động tạc bằng đồng đen lấp lánh. Tôi thấy y há miệng thật lớn - nó đem lại cho y một diện mạo tham tàn kỳ quái, như thể y muốn nuốt hết cả trời, cả đất, và cả người trước mặt. Một giọng nói âm trầm vẳng đến tai tôi. Hẳn là y vừa hét. Bỗng y ngã ngửa ra sau. Chiếc cáng lắc lư khi tốp phu loạng choạng tiến lên, và gần như đồng thời tôi phát hiện ra, bầy man di đang biến mất mà không có dấu hiệu nhận biết được nào của việc tháo lui, như thể rừng già sau khi phun những sinh vật này ra lại bất ngờ rút chúng về theo hơi thở trong một nhịp hít dài.
“Vài gã hành hương đi sau cáng mang vũ khí cho y - hai khẩu súng đạn ghém, một cây súng trường hạng nặng, và một khẩu carbine ổ quay - những lưỡi tầm sét của vị thần Jupiter thảm thương ấy. Tay giám đốc cúi xuống thì thầm với y khi đi cạnh cáng. Họ đặt y vào một trong những căn lán nhỏ - loại chỉ đủ kê cái giường và một hai chiếc ghế. Chúng tôi cầm theo thư từ đến muộn của y, và quanh giường y vung vãi nhiều phong bì đã xé và thư đã mở. Bàn tay y lẩy bẩy lần sờ chỗ giấy tờ ấy. Tôi ngỡ ngàng trước ngọn lửa trong mắt y và vẻ suy nhược điềm tĩnh trên gương mặt y. Nó không hẳn là sự kiệt quệ vì bệnh tật. Y không có vẻ đau đớn. Cái bóng này có vẻ thỏa mãn và bình thản, như thể lúc này mọi cảm xúc của nó đều trọn vẹn.
“Y loạt soạt giở một lá thư, rồi nhìn thẳng mặt tôi và thốt, ‘Ta rất vui,’ Ai đó đã viết cho y về tôi. Những lời giới thiệu đặc biệt kia lại xuất hiện. Âm lượng của tiếng nói được y phát ra một cách dễ dàng, gần như không cần mấp máy môi, khiến tôi kinh ngạc. Giọng nói ấy! Giọng nói ấy! Nó thâm nghiêm, sâu thẳm, rung động, trong khi nhìn y như không còn hơi sức thì thầm. Dù vậy, y vẫn còn đủ sức - tất nhiên là hư trương - để suýt nữa kết liễu chúng tôi, như các cậu sắp được nghe.
“Viên giám đốc lặng lẽ xuất hiện trên ngưỡng cửa; tôi lập tức rút lui và gã kéo rèm lại sau lưng tôi. Gã người Nga, dưới ánh mắt tò mò của bọn hành hương, đăm đăm nhìn ra bờ sông. Tôi dõi theo hướng nhìn của gã.
“Có thể nhận ra từ xa những bóng đen, thoắt ẩn thoắt hiện trước bìa rừng tăm tối, và gần sông là hai dáng người màu đồng, tì vào cây giáo dài, đứng trong ánh nắng, dưới vành mũ xòe cầu kỳ bằng da đốm, tư thế như tượng chiến thần. Và đi từ phải sang trái dọc bờ sông tỏa sáng là nhân ảnh hoang dại và mỹ lệ của một nữ nhân.
“Ả bước từng bước đều đặn, vấn xà rông kẻ sọc và tua rua, hai bàn chân kiêu ngạo giẫm lên mặt đất, với một chút leng keng lóng lánh từ những trang sức man sơ. Ả ngẩng cao đầu; tóc vấn thành hình mũ trụ; chân quấn xà cạp đồng tới gối, bao tay sợi đồng đến khuỷu; gò má ngăm điểm nốt ruồi son, vô số vòng hạt cườm trên cổ; đủ thứ dị vật, bùa chú, tặng vật của thầy mo... lủng lẳng trên người, lấp loáng rung rinh theo những bước chân. Giá trị ả mang trên người phải tương đương mấy cặp ngà. Ả man dã và mỹ miều, cuồng nhiệt và diễm lệ; trong bước tiến điềm tĩnh của ả có vẻ gì đó vừa uy nghi vừa đe dọa. Trong sự thinh lặng vừa bất ngờ phủ xuống xứ sở bi thương này, chốn hoang dã bao la này, thực thể khổng lồ của sự sống đầy phồn thực và bí hiểm kia dường như đang quan sát ả, trầm ngâm, tựa hồ nó đang nhìn thấy hình ảnh linh hồn hắc ám và cuồng mê của chính mình.
“Ả đi đến ngang chỗ con tàu, đứng yên, đối diện chúng tôi. Bóng ả đổ dài đến mép nước. Gương mặt ả mang sắc diện ai oán và dữ dội của nỗi bi thương hoang dại và đau đớn tái tê hòa trộn cùng nỗi sợ hãi một quyết tâm đang vật lộn thành hình. Ả nhìn chúng tôi, bất động, giống như bản thân hoang dã, với vẻ đang ấp ủ một mục đích bí hiểm khó dò. Tròn một phút trôi qua, và ả bước lên một bước. Có tiếng leng keng khe khẽ, ánh vàng kim lấp lánh, bóng tua rua đong đua, rồi ả dừng lại như thể tim vừa ngừng đập. Gã trai ngồi cạnh tôi gầm gừ. Đám hành hương rì rầm sau lưng tôi. Ả nhìn tất cả chúng tôi, như thể sinh mệnh ả phụ thuộc vào vẻ trầm ổn khôn lay chuyển trong ánh mắt. Đột nhiên ả giang đôi tay trần và cứng nhắc giơ lên quá đầu, như trong một nỗi khát khao bất diệt muốn chạm trời, và cùng lúc những bóng đen mau lẹ vụt ra, tràn quanh bờ sông, vây lấy con tàu thành một vòng ôm u tối. Một sự im lặng ghê gớm bao phủ hiện trường.
“Ả chậm rãi xoay lưng bước đi, men theo dòng sông, rồi tiến vào lùm cây phía trái. Duy nhất một lần mắt ả lóe lên nhìn lại chúng tôi từ bóng tối của bụi cây trước khi biến mất.
“ ‘Ban nãy, nếu ả đòi lên tàu thì không khéo tôi phải nổ súng,’ gã áo vá run rẩy nói. ‘Suốt nửa tháng qua ngày nào tôi cũng phải liều mạng ngăn ả vào nhà. Một lần vào được, ả làm um sùm về mớ vải vụn tôi trữ trong kho để vá quần áo. Bảo tôi không đàng hoàng. Tôi đoán chí ít là vậy, bởi ả nói như điên với Kurtz cả tiếng liền, thỉnh thoảng lại xỉa xói tôi. Tôi không hiểu thổ ngữ của họ. May thay, hôm ấy có lẽ Kurtz quá yếu nên không lòng dạ nào quản việc này, nếu không chắc tôi gặp vạ rồi. Tôi không hiểu... Không - tôi chịu hết nổi rồi. Mà thôi, chuyện qua rồi,’
“Đúng lúc này, giọng nói trầm đục của Kurtz vẳng ra từ sau rèm: ‘Cứu ta! - Ý mi là, cứu chỗ ngà. Chớ bảo ta. Cứu ta! Vì sao ta phải cứu mi. Mi đang phá hoại kế hoạch của ta. Ốm! Ốm! Không nặng như mi mơ tưởng đâu. Khỏi cần. Kiểu gì ta cũng thực hiện dự định của mình - ta sẽ trở lại. Ta sẽ cho mi thấy ta làm được gì. Mi và mớ ý tưởng hèn mọn của mi - mi đang cản trở ta. Ta sẽ trở lại. Ta..,’
“Viên giám đốc trở ra. Gã dành cho tôi vinh dự là nắm tay tôi dẫn ra một bên. ‘Ông ấy rất yếu, yếu lắm,’ gã nói. Gã thấy cần phải thở dài, nhưng chẳng buồn duy trì bộ mặt ưu phiền. ‘Chúng ta đã làm tất cả những gì có thể vì ông ấy - phải không? Tuy nhiên không thể phủ nhận thực tế, những gì ông ấy làm cho Công ty hại nhiều hơn lợi. Ông ấy không nhận ra, hiện nay chưa chín muồi để hành động quyết liệt. Thận trọng, thận trọng - đó là nguyên tắc của tôi. Chúng ta vẫn phải thận trọng. Nơi này sẽ đóng cửa với ta một thời gian. Tệ hại! về tổng thể giao thương sẽ bị ảnh hưởng. Tôi không phủ nhận ta có một lượng ngà đáng kể - chủ yếu là hóa thạch. Bất luận thế nào ta cũng phải tẩu tán chúng - nhưng nhìn xem tình hình đang bất trắc thế nào - và tại sao? Vì phương pháp ấy không ổn,’ ‘Ông vừa bảo,’ tôi đáp, mắt nhìn ra biển, ‘phương pháp ấy “không ổn?” ‘ ‘Dĩ nhiên,’ gã gay gắt. ‘Anh không thấy thế à?’ ‘Chẳng ra phương pháp gì sất,’ lát sau tôi lẩm bẩm. ‘Chính xác,’ gã tự mãn đáp. ‘Tôi đã dự báo trước vụ này. Chứng tỏ hoàn toàn thiếu óc xét đoán. Tôi có trách nhiệm phải chỉ ra điều đó với bộ phận liên quan.’ ‘À,’ tôi nói, ‘anh bạn - tên gã là gì nhỉ? - thợ gạch, sẽ chế cho ông một bản báo cáo xuôi tai,’ Gã sững ra mất một lúc. Dường như chưa bao giờ tôi hít thở một bầu không khí ô trọc đến thế, và tôi tìm tới Kurtz về tinh thần để giải tỏa - giải tỏa thực sự. ‘Nói gì thì nói, tôi nghĩ ông Kurtz là một con người xuất chúng,’ tôi nói với vẻ nhấn mạnh. Gã giật nảy, ném vào tôi một ánh nhìn nặng nề lạnh lẽo, nói rất khẽ, ‘đúng thế,’ đoạn xoay lưng bỏ đi. Giờ phút được sủng ái của tôi đã dứt; tôi thấy mình bị vứt chung với Kurtz vào rọ những phần tử theo đuổi phương pháp chưa chín muồi về mặt thời gian: tôi thuộc loại không ổn! À! Nhưng ít ra có quyền lựa chọn cơn ác mộng nào cũng là cái hay.
“Tôi quả thực đã tìm đến với hoang dã, chứ không phải Kurtz, người, tôi phải thừa nhận, không khác gì đã nằm dưới đất. Và trong một giây phút tôi cảm thấy dường như mình cũng bị vùi trong một nấm mồ vĩ đại, chứa đầy những bí mật không thể nói ra. Tôi cảm thấy một áp lực khôn kham đè nặng trên ngực, mùi ẩm mốc từ đất, sự hiện diện vô hình của sa đọa đang chiến thắng, sự tối tăm của một đêm trường vô phương thấu hiểu... Gã người Nga gõ vào vai tôi. Tôi thấy gã lúng búng lắp bắp gì đó về ‘hải hồ huynh đệ’ - không thể giấu giếm - biết những việc ảnh hưởng đến uy tín của ông Kurtz.’ Tôi chờ đợi. Rõ ràng, với gã ông Kurtz không nằm dưới mộ; và tôi ngờ rằng với gã ông Kurtz đã bước vào hàng ngũ bất tử. ‘À!’ rốt cục tôi thốt, ‘nói đi. Trên thực tế, tôi cũng là bạn của ông Kurtz - theo một cách nào đó.’
“Gã tuyên bố với vẻ khá trịnh trọng rằng nếu chúng tôi không là ‘đồng đạo,’ thì gã sẽ giữ kín việc này bất chấp hậu quả. ‘Ông ấy ngờ rằng đám da trắng kia có ác ý đối với mình...’ ‘Không sai,’ tôi nói, nhớ lại một đoạn hội thoại mình nghe lỏm được. ‘Viên giám đốc cho rằng cậu đáng bị treo cổ,’ Gã thể hiện một vẻ quan ngại ban đầu làm tôi buồn cười trước thông tin tình báo này. ‘Tốt nhất tôi nên lẳng lặng rút êm,’ gã thật thà nói. ‘Giờ tôi chẳng giúp gì được ông ấy nữa, và chúng sẽ sớm tìm ra lý do. Có gì ngăn chúng đâu? Cách đây ba trăm dặm mới có một trại lính đồn trú,’ ‘À, nói thật lòng,’ tôi đáp, ‘có lẽ cậu nên đi, nếu có bạn bè thổ dân ở gần đây,’ ‘Nhiều lắm,’ gã đáp. ‘Họ vốn chất phác - mà tôi thì chẳng cần gì, ông biết đấy.’ Gã đứng cắn môi rồi nói, ‘Tôi không muốn tai ương gì xảy ra với đám da trắng này, nhưng dĩ nhiên tôi lo nghĩ về thanh danh của ông Kurtz - nhưng chúng ta là hải hồ huynh đệ và..,’ ‘Được rồi,’ một lúc sau tôi thốt. ‘Thanh danh của ông Kurtz sẽ an toàn với tôi,’ Tôi không biết mình nói thật đến đâu.
“Gã hạ giọng tiết lộ với tôi rằng, chính Kurtz ra lệnh tấn công con tàu. ‘Đôi khi ông ấy căm ghét việc sẽ bị đưa đi - thế rồi lại... Nhưng tôi không hiểu mấy chuyện này. Tôi là người đơn giản. Ông ấy nghĩ thế sẽ khiến các ông sợ mà lui - làm các ông bỏ cuộc, tưởng ông ấy chết rồi. Tôi can ông ấy mà không được. Ôi, cả tháng cuối cùng này tôi đến khổ vì chuyện đó,’ ‘Không sao,’ tôi nói. ‘Giờ thì ông ấy ổn rồi,’ ‘Vâââng,’ gã lúng búng, rõ ràng là chưa tin lắm. ‘Cảm ơn,’ tôi nói; ‘tôi sẽ thận trọng,’ ‘Nhưng nhớ kín đáo, nhé?’ gã lo lắng dặn. ‘Thanh danh ông ấy sẽ tổn hại nặng nề nếu ai đó ở đây..,’ Tôi hết sức trịnh trọng hứa sẽ tuyệt đối giữ bí mật. ‘Có thuyền độc mộc và ba gã da đen chờ tôi cách đây không xa. Tôi chuồn đây. Ông để cho tôi một ít đạn Martini-Henry được chứ?’ Tôi có thể, và làm vậy với sự bí mật thích hợp. Gã nháy mắt với tôi và tự lấy một nắm thuốc lá đầy. ‘Chỗ thủy thủ với nhau - hả - thuốc lá Anh là nhất.’ Đến ngưỡng cửa buồng lái gã ngoảnh lại - ‘À này, ông có dư đôi giày nào không?’ Gã giơ một chân lên. ‘Này’ Đế giày được buộc thắt nút kiểu xăng-đan dưới bàn chân trần. Tôi móc ra một đôi giày cũ, được gã nhìn với ánh mắt kính ngưỡng trước khi kẹp vào nách. Một túi gã (đỏ tươi) căng phồng những đạn, túi kia (xanh sẫm) lấp ló cuốn sách của Towson, vân vân và vân vân. Xem ra gã thấy mình được trang bị hết sức hoàn hảo cho cuộc tái ngộ với hoang dã. ‘Hỡi ơi! Sẽ chẳng bao giờ tôi gặp được người như thế nữa. Ông phải nghe ông ấy ngâm thơ - thơ của ông ấy sáng tác nữa, ông ấy bảo tôi thế. Thơ!’ Mắt gã long lanh khi hồi tưởng những niềm hứng khởi ấy. ‘Ôi, ông ấy đã mở mang đầu óc tôi!’ ‘Tạm biệt,’ tôi nói. Gã bắt tay tôi và biến mất vào màn đêm. Đôi khi tôi tự hỏi có thật mình đã gặp gã không - có thể nào gặp được một kỳ nhân như thế!...
“Tỉnh dậy khi vừa quá nửa đêm, lời cảnh báo của gã trở lại trong trí tôi, và ám chỉ của nó về hiểm nguy, dưới trời đêm sao sáng, bỗng hiện hữu đến nỗi làm tôi phải trở dậy để ngó quanh một vòng. Trên đồi có một đống lửa lớn, bập bùng rọi sáng một góc nhà trạm méo mó. Một gã đại diện cùng một toán da đen, được vũ trang cho nhiệm vụ này, đang thức canh ngà; nhưng ở sâu trong rừng, ánh hồng quang chập chờn, lúc chìm lúc nổi trên mặt đất giữa những hình trụ hỗn loạn màu đen kịt, cho thấy vị trí chính xác của khu trại nơi những kẻ sùng bái Kurtz đang thực hiện buổi dạ nguyện bất an của họ. Nhịp trống cái đơn điệu lấp đầy không gian bằng những chấn động nghèn nghẹt và dư âm lưởng vưởng. Tiếng u u đều đặn do nhiều người thầm tụng một thứ bùa chú kỳ dị lan ra khỏi bức tường rừng đen, phẳng, như thể tiếng đàn ong bay ra khỏi tổ, gây hiệu ứng thôi miên kỳ quái lên các giác quan còn mơ màng của tôi. Tôi nghĩ mình đã dựa vào lan can và thiếp đi, đến khi một tràng gào rú bất ngờ, một cú bùng phát ào ạt của cơn điên cuồng bí ẩn bị kìm nén, khiến tôi choàng tỉnh trong ngỡ ngàng kinh ngạc. Nhưng nó lập tức bị đứt đoạn, và tiếng u u khe khẽ nọ tiếp tục với một sự tĩnh lặng hữu thanh và có tác dụng an thần. Tôi tiện mắt liếc vào căn lán. Bên trong có ánh đèn, nhưng Kurtz không còn ở đó.
“Chắc hẳn tôi đã hét toáng lên nếu tin vào mắt mình. Nhưng đầu tiên tôi không tin - điều này quá sức hoang đường. Thực tế là tôi hoàn toàn thất đảm trước một nỗi khiếp sợ tuyệt đối trống rỗng, một sự khủng bố hoàn toàn trừu tượng, không liên quan tới bất kỳ hình hài cụ thể nào của mối đe dọa về thể xác. Điều khiến cảm xúc này mãnh liệt đến thế là - biết định nghĩa thế nào nhỉ? - cú sốc về đạo đức mà tôi phải chịu, như thể một thứ gì đó vô cùng quái đản, quá sức chịu đựng của trí óc và kinh tởm với tâm hồn, vừa bất ngờ bị tống cho tôi. Tất nhiên cảm giác này chỉ kéo dài một sát na, rồi ý thức quen thuộc về thứ tai họa chết chóc thông thường, nguy cơ bị tập kích và tàn sát, hay đại khái thế, điều tôi thấy lơ lửng trên đầu, đã trở lại, khiến tôi cảm thấy hoan hỉ và yên lòng. Trên thực tế nó làm tôi nhẹ nhõm tới mức không lên tiếng báo động.
“Một gã đại diện mặc áo măng tô cài hết cúc đang ngủ ngồi trên ghế trên boong, cách tôi chưa đầy một mét. Tiếng hét ban nãy không làm gã thức giấc; gã ngáy nhè nhẹ; tôi mặc gã kéo gỗ và nhảy lên bờ. Tôi không phản bội Kurtz - có lệnh là tôi không bao giờ được phản bội y - có quy định thành văn rằng tôi sẽ phải trung thành với cơn ác mộng mình lựa chọn. Tôi háo hức muốn tự mình đối diện với cái bóng này, - đến hôm nay tôi vẫn không hiểu vì sao mình lại ghen tuông không muốn chia sẻ với bất kỳ ai cảm giác đen tối dị thường của trải nghiệm ấy.
“Vừa lên bờ tôi đã thấy dấu vết - một vệt rộng hằn trên cỏ. Tôi nhớ cảm giác hưng phấn lúc đó khi tự nhủ, ‘Y không đi nổi, phải bò bằng bốn chân - mình tóm được y rồi,’ Mặt cỏ đẫm sương. Tôi siết chặt nắm tay và sải bước. Tôi nghĩ mình mơ hồ có ý tưởng nhảy xổ lên người y và đấm đá túi bụi. Tôi không biết. Tôi có vài suy nghĩ dớ dẩn. Bà già ôm mèo ngồi đan bỗng hiện ra trong ký ức tôi như đối tượng phi lý nhất là khởi đầu cho chuyện này. Tôi thấy một toán hành hương cầm súng trường Winchester ngang hông và vãi đạn trong không khí. Tôi tưởng mình sẽ không bao giờ trở lại tàu nữa, và hình dung ra mình sống đơn độc và không vũ khí giữa rừng đến già. Rặt chuyện ngớ ngẩn ấy mà. Và tôi nhớ mình còn hòa nhịp trống với nhịp tim của bản thân, và mãn nguyện trước sự đều đặn bình thản của nó.
“Dầu vậy, tôi vẫn theo dấu y - đoạn dừng lại nghe ngóng. Đêm rất trong; một vùng không gian lam sẫm, lấp lánh sương và ánh sao, nơi những sự vật màu đen cực kỳ bất động. Tôi cảm giác phía trước thấp thoáng có chuyển động. Đêm hôm ấy tôi tự tin một cách kỳ lạ về mọi thứ. Tôi quả đã từ bỏ dấu vết kia rồi đánh một cung tròn rộng (tôi nghĩ mình còn cười thầm) để chặn đầu cái loạt soạt, cái chuyển động khi nãy tôi nhìn thấy - nếu quả tình tôi có thấy gì đó. Tôi đang đi vòng để úp sọt Kurtz như thể một trò chơi con nít.
“Tôi chặn đầu y, và nếu y không nghe thấy tôi thì chắc tôi đã nhào lên y, song y kịp thời đứng dậy. Y vươn người lên, lảo đảo, dài, nhợt nhạt và lờ mờ, như một luồng hơi mặt đất phả ra, rồi lắc lư nhè nhẹ, chập chờn, im lặng trước mặt tôi; trong khi sau lưng tôi ánh lửa bập bùng giữa rặng cây, tiếng rì rầm của nhiều giọng nói phát ra từ trong rừng. Tôi đã ranh mãnh chặn lối y; nhưng khi phải thật sự đối mặt với y thì sự tỉnh táo dường như trở lại, giúp tôi nhận thức được tầm vóc đích thực của hiểm nguy. Nó chưa hề tan biến. Ngộ nhỡ y hét lên? Dù gắng gượng lắm mới đứng nổi, giọng y vẫn còn rất nhiều khí lực. ‘Chạy mau - nấp đi,’ y thốt, bằng giọng điệu âm trầm ấy. Nghe thật kinh khủng. Tôi liếc ra sau. Chúng tôi chỉ cách đống lửa gần nhất chưa đầy ba mươi mét. Một bóng đen đứng dậy, sải cặp chân đen dài và vung vẩy đôi tay đen dài hước ánh lửa. Trên đầu nó có sừng - linh dương, tôi đoán vậy. Một loại phù thủy, thầy mo gì đó, hẳn rồi: nhìn nó chẳng khác yêu ma. ‘Ông có biết mình đang làm gì không?’ Tôi thì thầm. ‘Hoàn toàn,’ y đáp, lên giọng chỉ vì một chữ ấy: bên tai tôi nó xa xăm nhưng vang dội, như tiếng chào của một cây kèn trumpet biết nói. Y mà làm ầm lên là tất cả đi tong, tôi tự nhủ. Rõ ràng đây không phải tình huống để tay đấm chân đá, dẫu rằng ngoài nỗi ác cảm rất đỗi tự nhiên thì tôi buộc phải đánh bại Cái bóng ấy - vật thể lang thang và thống khổ ấy. ‘Ông sẽ lạc lối,’ tôi nói - Tạc lối hoàn toàn.’ Đôi khi trong óc ta lóe lên một tia sáng tạo như thế. Tôi đã đánh trúng huyệt, mặc dù thực tế y chẳng thể nào lạc lối một cách bất khả vãn hồi hơn chính thời điểm này, khi nền tảng cho sự thân thiết giữa chúng tôi đang được thiết lập - để trường tồn - để trường tồn - đến thời khắc cuối cùng - thậm chí xa hơn nữa.
“ ‘Tôi có những kế hoạch lớn lao,’ y ngập ngừng lắp bắp. ‘Phải,’ tôi nói; ‘nhưng nếu ông định kêu lên thì tôi sẽ táng vỡ đầu ông bằng..,’ Xung quanh chẳng có khúc cây hay hòn đá nào. ‘Tôi sẽ siết cổ ông chết tươi,’ tôi chỉnh lại. ‘Tôi đang ở ngưỡng cửa những điều vĩ đại,’ y van nài, bằng giọng nói khắc khoải, với một âm sắc hoài vọng làm máu trong người tôi lạnh toát. ‘Giờ chỉ vì thằng nhãi ranh ngu xuẩn này...’ ‘Dù trong hoàn cảnh nào thành công của ông ở châu Âu vẫn được ghi nhận,’ tôi khẳng định, vẻ điềm tĩnh. Tôi không muốn phải siết cổ y, hiểu không - và quả thực cái đó chẳng ích lợi là bao cho bất kỳ mục đích thực tiễn nào. Tôi cố phá giải thứ bùa chú - thứ bùa chú nặng nề, câm nín của hoang dã - dường như đã kéo y vào bầu ngực nhẫn tâm của mình bằng cách thức tính những bản năng tàn khốc bị lãng quên, và khơi dậy ký ức về những dục vọng dị hợm được thỏa mãn. Chỉ có điều này, tôi tin là vậy, đã thôi thúc y bò đến bìa rừng, đến bụi rậm, về phía ánh lửa, phía rộn ràng nhịp trống, phía u u tiếng niệm chú kỳ dị; chỉ có điều này đã mê hoặc linh hồn bất chính của y vượt khỏi ranh giới của khát vọng chính đáng. Và, các cậu hiểu không, nỗi kinh hoàng của tình huống này không phải là bị nện vào đầu - dù tôi vẫn nhận thức sống động về nguy cơ ấy - mà là phải đối diện với một sinh thể ta không thể kêu gọi nhân danh bất cứ điều gì, dù cao quý hay thấp hèn. Tôi thậm chí phải, như đám mọi đen, chiêu cầu y - bản ngã y - sự tha hóa tột đỉnh, phi thường ở y. Trên y không có ai mà dưới y cũng chẳng còn gì, và tôi biết điều này. Y đã vẫy vùng vượt thoát khỏi trần gian. Gớm mặt thay! Y đã quẫy đạp trần gian tan nát. Y chỉ có một mình, và đối diện y tôi không biết mình đang đứng dưới đất hay lơ lửng giữa trời. Tôi vừa thuật lại những gì chúng tôi nói - lặp lại những câu chữ chúng tôi phát âm - nhưng phỏng có ích gì? Đấy là những lời lẽ thường ngày - những thanh âm quen thuộc mơ hồ ta vẫn trao đổi hàng ngày trong cuộc sống. Nhưng thế thì sao? Chúng hàm chứa, đối với tâm trí tôi, ngụ ý kinh hoàng của những từ ngữ nghe thấy trong mơ, những câu chữ thốt ra trong ác mộng. Linh hồn! Nếu có ai từng tranh đấu với linh hồn, thì đó là tôi. Và tôi không hề tranh cãi với một kẻ điên. Tin tôi không tùy các cậu, nhưng trí tuệ y hoàn toàn minh mẫn - tập trung, thật vậy, vào bản thân y với cường độ khủng khiếp, nhưng vẫn minh mẫn; và đây chính là cơ hội duy nhất của tôi - đương nhiên, trừ việc hạ sát y, ngay và luôn, điều không hay ho gì lắm, vì sự ầm ĩ không tránh khỏi. Nhưng linh hồn y đã điên rồi. Cô độc giữa nơi hoang dã, nó đã soi vào chính mình, và quỷ thần ơi, nó đã hóa điên, phải nói như vậy. Tôi buộc phải - vì tội lỗi bản thân, hẳn thế - trải qua thử thách là tự mình nhìn vào nó. Không sự hùng biện nào có thể làm tàn úa niềm tin vào nhân loại ghê gớm như cơn bộc phát cuối cùng của lòng thành thực ở y. Y cũng tranh đấu với bản thân. Cái đó tôi đã thấy, - tôi đã nghe. Tôi nhìn thấy bí ẩn không tưởng của một linh hồn không biết đến kiềm chế, đến đức tin, và đến sợ hãi, nhưng lại mù quáng tranh đấu với bản thân. Tôi tự chủ khá tốt; nhưng khi rốt cục cũng đưa được y về nằm soải trên giường bệnh, tôi mới lau mồ hôi trán, trong khi đôi chân lẩy bẩy như thể vừa gánh trên lưng nửa tấn đi xuống quả đồi kia. Mà đó là tôi chỉ nâng đỡ y, cánh tay xương xẩu của y quàng qua cổ tôi - và y không nặng hơn một đứa trẻ là mấy.
“Trưa hôm sau khi chúng tôi nhổ neo, đám đông mà sự hiện diện sau lớp rèm cây không ngừng ám ảnh tôi suốt thời gian qua, lại tràn ra khỏi rừng, lấp đầy khoảnh đất trống, phủ kín triền đồi bằng vô vàn cơ thể màu đồng ở trần, hít thở, run rẩy. Tôi cho tàu hơi tăng tốc, rồi bẻ lái xuôi dòng, trong khi hai nghìn con mắt dõi theo bước tiến của con thủy quái ì oạp, hục hoặc, dữ tợn, đang quạt nước bằng cái đuôi gớm ghiếc và phun khói đen. Đứng trước hàng đầu, ven bờ sông, là ba gã thổ dân, trét chu sa đỏ rực từ đầu đến chân, lồng lộn lượn qua lượn lại. Khi tàu ngang qua lần nữa, chúng hướng ra sông, giậm chân, gục gặc cái đầu sừng và lắc lư thân hình đỏ au; chúng ném về phía con thủy quái dữ tợn một túm lông chim đen, một bộ da ghẻ lở với cái đuôi lòng thòng - trông như quả bầu khô; chúng đều đặn rú lên một chuỗi từ ngữ kỳ quái, không giống bất cứ âm thanh nào trong ngôn ngữ của nhân loại; và tiếng rầm rì trầm đục của đám đông, đột nhiên gián đoạn, giống như tiếng đồng hưởng một khúc ma kinh.
“Chúng tôi đem Kurtz vào buồng lái: trên ấy thoáng khí hơn. Nằm trên trường kỷ, y đờ đẫn nhìn qua ô cửa ngỏ. Giữa biển người bỗng xuất hiện một xoáy nước, và ả đàn bà đầu đội mũ trụ, gò má ngăm nâu kia ào đến tận mép nước. Ả giơ tay lên, rú vang, và cả đám đông man rợ nhất loạt hòa theo trong điệp khúc gầm gào của một phát ngôn rõ ràng, mau lẹ, và nín thở.
“ ‘Ông có hiểu điều này không?’ Tôi hỏi.
“Y vẫn bỏ qua tôi và nhìn ra ngoài với ánh mắt khát khao rực lửa, với biểu tình lẫn lộn giữa nuối tiếc và căm hận. Y không trả lời, nhưng tôi thấy một nụ cười, một nụ cười vô phương định nghĩa, xuất hiện trên bờ môi không huyết sắc mà chỉ giây lát sau đã co thắt đến méo mó. ‘Có hiểu không à?’ Y nói chậm rãi, hổn hển, như thể có một thế lực siêu nhiên vừa bứt từng lời khỏi cơ thể y.
“Tôi kéo dây còi, và tôi làm vậy vì thấy đám hành hương trên boong đang lôi súng ra trong không khí háo hức đợi một trò vui. Tiếng còi hú đột ngột gây nên một làn sóng kinh hoàng thảm hại giữa biển cơ thể chật như nêm ấy. ‘Đừng! Đừng dọa bọn nó chạy mất,’ trên boong dậy lên một tiếng rên thảm thiết. Tôi kéo còi hết lần này đến lần khác. Tất cả chạy tung tóe, người nhảy, người hụp, người luồn lách, người né tránh nỗi kinh hoàng biết bay của âm thanh. Ba gã trét bùn đỏ nằm bẹp dí, mặt úp xuống cát, như thể bị bắn chết. Duy có ả đàn bà man rợ và kiều mị kia là không hề nao núng, và vẫn oán hận giang đôi tay trần đuổi theo chúng tôi bên dòng sông ảm đạm và lấp lánh.
“Và sau đó lũ đần độn trên boong mở màn trò vui của chúng, làm tôi chẳng thấy gì nữa vì khói súng.
“Dòng nước nâu hối hả chảy khỏi vùng tăm tối, mang chúng tôi xuôi dòng ra biển, nhanh gấp đôi lúc ngược dòng; còn sinh mệnh Kurtz cũng hối hả rời bỏ y, rút dần, rút dần khỏi tim y, ra biển cả tàn khốc của thời gian. Viên giám đốc rất bình thản, không còn nỗi âu lo sống còn nào, gã tiếp nhận chúng tôi bằng cái nhìn thông hiểu và thỏa mãn: ‘vụ việc’ đã kết thúc tốt đẹp như ý nguyện của gã. Tôi biết sắp tới lúc còn lại mình tôi trong nhóm ‘có phương pháp không ổn,’ Bọn hành hương nhìn tôi với vẻ khinh ghét. Có thể nói tôi đã được liệt cùng hàng với kẻ sắp chết. Kỳ lạ thay cái cách tôi chấp nhận sự đồng đạo bất ngờ này, sự lựa chọn cơn ác mộng được áp đặt cho tôi tại xứ sở hắc ám phải hứng chịu cuộc xâm lăng của những bóng ma đê tiện và tham tàn này.
“Kurtz diễn thuyết. Giọng nói ấy! Giọng nói ấy! Nó âm vang tới phút cuối cùng. Nó vượt trên sức khỏe y, để che giấu trong vẻ trùng điệp huy hoàng của tài hùng biện cái đen tối khô cằn của trái tim y. Ôi, y vật vã! Y vật vã! Mảnh đất hoang phế của não bộ kiệt quệ của y giờ bị ám ảnh bởi những bóng ma - bóng ma của tiền tài và danh vọng, ngoan ngoãn xoay quanh thiên tài bất diệt ở y là diễn ngôn cao quý và hướng thượng. Hôn thê của ta, trạm của ta, sự nghiệp của ta, ý tưởng của ta - đây là chủ đề phát ngôn của những thời khắc hưng cảm ở y. Bóng ma Kurtz của ngày xưa không ngừng lưởng vưởng bên giường bệnh kẻ giả mạo héo hon mà số mệnh đã chú định ngay lúc này phải bị chôn vùi trong huyệt mộ của lòng đất cổ sơ. Song cả tình yêu ma quỷ và lòng thù hận phi trần thế dành cho những bí ẩn nó đã khám phá đang giao tranh để chiếm hữu mảnh linh hồn đắm chìm trong những xúc cảm nguyên thủy, thèm khát hư danh, ngụy vinh, cùng mọi hình tướng của thành công và quyền lực.
“Có những lúc y trẻ con một cách đáng khinh. Y thèm khát được xa giá nhà vua ra đón ngoài ga khi y trở về từ một chốn xa xôi kinh dị nào đó, nơi y tham vọng hoàn thành những điều vĩ đại. ‘Cho họ thấy ta có tiềm năng mang lại lợi nhuận thực sự, và sẽ chẳng có giới hạn nào trong việc ghi nhận năng lực của ta,’ y nói. ‘Tất nhiên, phải lưu ý đến động cơ - động cơ phải đúng đắn - bao giờ cũng vậy.’ Những đoạn sông dài như cùng đúc một khuôn, và những khúc quanh buồn tẻ giống nhau như hệt, cứ thế trôi qua dưới thân tàu với vô vàn cổ thụ đang kiên nhẫn dõi theo mảnh vụn lem luốc của thế giới khác ấy, kẻ tiên phong của thay đổi, của chinh phục, của thương mại, của tàn sát, của ơn phước. Tôi nhìn ra phía trước - việc của hoa tiêu. ‘Kéo mành xuống,’ một hôm Kurtz bỗng nói; ‘Tôi không chịu nổi cảnh tượng này.’ Tôi y lời. Y im lặng hồi lâu. ‘Ôi, nhưng ta sẽ vò nát tim ngươi!’ Y thốt lên với hoang dã mà y không còn thấy nữa.
“Tàu hỏng - đúng như tôi dự kiến - và phải tấp vào một mõm đảo để sửa chữa. Sự trì hoãn này là điều đầu tiên khiến niềm tin của Kurtz lung lay. Một sớm nọ, y giao cho tôi một xấp giấy và một bức ảnh - tất cả được bó bằng dây giày. ‘Giữ giùm tôi,’ y nói. ‘Thằng ngốc độc địa này’ (ám chỉ viên giám đốc) ‘dám sục sạo đồ đạc của tôi khi tôi không để ý lắm,’ Buổi chiều tôi lên ngó y. Y đang nằm ngửa, nhắm mắt, và tôi lặng lẽ rút lui, nhưng nghe tiếng y thì thầm, ‘Sống đàng hoàng, chết, chết..,’ Tôi lắng nghe. Nhưng y không nói gì nữa. Y đang tập dượt một bài diễn văn trong giấc ngủ, hay đó là vài chữ trong một bài báo y viết? Trước đây y từng viết báo và định sẽ trở lại với việc đó, ‘nhằm truyền bá những ý tưởng của tôi. Đó là nhiệm vụ,’
“Y là một vùng tăm tối vô phương thấu hiểu. Tôi nhìn y như ta nhìn xuống kẻ nằm dưới đáy vực sâu chưa bao giờ thấy bóng mặt trời. Nhưng tôi chẳng có nhiều thời gian dành cho y, bởi tôi phải giúp tay thợ máy tháo những xy-lanh bị rò, nắn thẳng một cần trục bị cong, và nhiều việc tương tự. Tôi như sống trong hỏa ngục bề bộn của rỉ sắt, mạt giũa, ốc, vít, cờ lê, búa, khoan tay - những thứ tôi chán ghét, bởi tôi không sao quen với chúng được. Tôi phải trông cái lò nhỏ mà con tàu may mắn có được; tôi nhọc nhằn cặm cụi giữa một đống phế liệu thảm hại - trừ những lúc run lẩy bẩy không chịu nổi.
“Một tối cầm cây nến bước vào, tôi ngỡ ngàng khi thấy y hơi run rẩy nói, ‘Ta đang nằm đây chờ chết trong bóng tối,’ Ánh sáng chỉ cách mắt y chừng hai gang tay. Tôi tự ép mình lẩm bẩm, ‘Dào, vớ vẩn!’ và đứng lặng bên giường y.
“Bất cứ điều gì tương tự sự biến đổi trên diện mạo y tôi đều chưa thấy bao giờ, và hy vọng không bao giờ thấy lại nữa. Mà tôi không hề xúc động nhé. Tôi thấy hứng thú. Như thể tấm mạng vừa bị xé toang. Tôi thấy trên gương mặt màu ngà ấy biểu tình của niềm kiêu hãnh u ám, của quyền lực tàn khốc, của nỗi kinh hoàng hèn hạ - của sự khốn cùng ghê gớm và tuyệt vọng. Phải chăng y đã sống lại toàn bộ cuộc đời mình với từng chi tiết của khát vọng, cám dỗ, và quy hàng trong khoảnh khắc tối hậu của sự toàn tri tuyệt đối ấy? Y thì thầm rên lên trước một hình ảnh, một ảo giác nào đó - y rên hai lần, một tiếng rên gần như hơi thở...
“ ‘Nỗi kinh hoàng! Nỗi kinh hoàng!’
“Tôi thổi nến và rời buồng lái. Bọn hành hương đang dùng bữa tối dưới phòng ăn, và tôi ngồi xuống đối diện tay giám đốc, kẻ nhướng mắt ném cho tôi một ánh nhìn dò hỏi mà tôi đã lờ đi thành công. Gã ngả người ra sau, bình thản, với nụ cười quái dị phong kín chiều sâu bất lộ của sự đê tiện ở gã. Một trận mưa ruồi bỗng tràn lên ngọn đèn, lên khăn bàn, lên tay, lên mặt chúng tôi. Đột nhiên tên hầu của tay giám đốc thò cái đầu mọi đen lấc cấc vào cửa, và nói với giọng khinh miệt cay độc...
“‘Mít tờ Kurtz - trết rồi.’
“Cả đám hành hương ùa ra xem. Tôi ngồi yên và tiếp tục dùng bữa tối. Tôi tin rằng mình bị coi là loại vô tâm tàn nhẫn. Tuy vậy, tôi không ăn được mấy. Trong phòng có đèn - ánh sáng, các cậu biết không - trong khi ở ngoài thì tối, tối ghê người. Tôi chẳng bao giờ đến gần nhân vật bất phàm đã tuyên lời phán xét về những cuộc phiêu lưu của linh hồn y trên mặt đất này nữa. Giọng nói ấy không còn. Liệu còn gì ở đó? Nhưng tất nhiên tôi biết hôm sau đám hành hương có chôn gì đó trong một cái hố sũng bùn.
“Thế rồi chúng gần như suýt nữa đã chôn tôi.
“Tuy nhiên, các cậu thấy đấy, tôi không theo chân Kurtz luôn lúc đó. Không hề. Tôi tiếp tục mơ nốt cơn ác mộng đến tận cùng, và chứng tỏ lòng trung thành của mình với Kurtz một lần nữa. Định mệnh. Định mệnh của tôi! Tạo hóa khéo trêu ngươi - kiểu xoay vần bí hiểm của thứ logic tàn nhẫn vì mục đích vô nghĩa ấy. Ta cùng lắm chỉ có thể mong đợi ở nó chút ít nhận thức về bản thân - điều xảy đến quá muộn - một vụ mùa của những nỗi ân hận khôn nguôi. Tôi đã vật lộn với cái chết. Và đó là cuộc tỉ thí kém hào hứng nhất trần đời. Nó diễn ra ở một vùng xám vô hình, chẳng có gì dưới chân, chẳng có gì xung quanh, không khán giả, không một tiếng hò reo, không vinh quang, không khát vọng lớn lao để chiến thắng, không nỗi sợ ghê gớm trước thất bại, trong bầu không khí bệnh hoạn của nỗi hoài nghi lãnh đạm, chẳng có mấy niềm tin ở bản thân, và càng ít hơn vào địch thủ. Nếu quả đó là hình tướng của tột đỉnh minh triết thì cuộc đời này hóa ra là câu đố cao siêu hơn một số trong chúng ta vẫn tưởng. Tôi cách cơ hội cuối cùng để tuyên ngôn một đường tơ, và tôi hổ thẹn nhận ra rằng có lẽ mình chẳng biết nói gì. Đó là lý do khiến tôi khẳng định Kurtz là một kẻ bất phàm. Y có cái để nói. Y đã nói. Vì bản thân tôi đã nhòm xuống bờ vực, tôi hiểu rõ hơn ý nghĩa cái nhìn của y, cái nhìn không thấy nổi ánh lửa của ngọn nến, nhưng đủ rộng lớn để bao trọn cả vũ trụ, đủ sắc bén để xuyên thấu mọi trái tim đập trong bóng tối. Y đã đúc kết - y đã phán xét. ‘Nỗi kinh hoàng!’ Y quả là một con người bất phàm. Nói cho cùng, đây là biểu hiện của một kiểu niềm tin; nó thẳng thắn, nó quả quyết, nó mang âm sắc rung động của sự nổi loạn trong tiếng thì thầm, nó mang diện mạo kinh hoàng của một thoáng sự thật - sự pha trộn kỳ lạ giữa khát khao và căm ghét. Và cái tôi nhớ nhất không phải là phút cực hạn của bản thân - ảo cảnh về một vùng xám vô định hình chất chứa nỗi đau thể xác, cùng nỗi khinh ghét hời hợt với sự hư ảo của vạn vật - kể cả nỗi đau này. Không! Chính phút cực hạn của y là điều tôi hình như đã trải qua. Đúng, y đã sải bước cuối cùng ấy, y đã bước qua bờ vực, trong khi tôi được phép rụt lại bước chân ngần ngại của mình. Và có lẽ toàn bộ khác biệt nằm ở đây; có lẽ mọi minh triết, mọi sự thật, mọi chân thành, tất cả đều cô đọng lại trong một sát na vô phương tri cảm khi ta bước qua cái ngưỡng vô hình ấy. Có lẽ! Tôi muốn nghĩ rằng sự tổng kết của mình không phải là một từ chứa đựng lòng khinh ghét hời hợt. Giỏi thay tiếng rên của y - giỏi hơn nhiều. Đó là một sự xác quyết, một thắng lợi tinh thần phải trả giá bằng vô số thất bại, bằng những nỗi hãi hùng kinh tởm, những sự thỏa mãn kinh tởm. Nhưng đó là thắng lợi! Đó là lý do khiến tôi trung thành với Kurtz đến phút cuối cùng, và hơn nữa, khi khá lâu sau tôi lại được nghe, không phải giọng nói của y, mà là tiếng vọng của tài hùng biện xuất chúng ấy, dội đến với tôi từ một linh hồn khói sương thuần khiết như vách núi pha lê.
“Không, chúng không chôn tôi, dù có một quãng thời gian mà tôi chỉ nhớ một cách mờ mịt, với một cái rùng mình hoang mang, như đi xuyên qua một thế giới hoang đường tuyệt không có chút hy vọng hay ham muốn nào. Tôi thấy mình trở lại giữa thành phố lăng tẩm, chán ghét cảnh tượng người người hối hả trên đường phố để moi tí tiền của nhau, để ngốn ngấu thứ đồ ăn ô uế, nốc thứ bia độc hại, mơ những giấc mơ hèn mọn và ngu ngốc. Họ xâm phạm tâm trí tôi. Họ là những kẻ xâm nhập mà sự hiểu đời, với tôi, chỉ như một sự giả bộ đáng ghét. Tôi tin chắc họ không thể nào biết những điều tôi biết. Thái độ của họ, vốn chỉ là thái độ của những cá nhân tầm thường lo việc mình trong điều kiện được đảm bảo an toàn tuyệt đối, với tôi cũng phản cảm như mấy trò khoe mẽ nhố nhăng rồ dại khi đối diện một mối hiểm nguy họ không nhận thức nổi. Tôi không có tham vọng cụ thể nào trong việc khai sáng cho họ, song lại gặp đôi chút khó khăn khi phải kiềm chế không cười vào mặt họ, rặt vẻ quan trọng ngu ngốc. Tôi dám nói hồi ấy tôi không được ổn cho lắm. Tôi dật dờ ngoài phố - có nhiều việc phải giải quyết - nhăn răng cười chua chát trước những nhân vật hoàn toàn khả kính. Tôi thừa nhận cách xử sự của mình không thể tha thứ được, nhưng những ngày này tâm tính tôi hiếm khi bình thường. Tham vọng ‘săn sóc sức khỏe’ cho tôi của bà cô yêu quý xem ra hoàn toàn lạc hướng. Sức khỏe của tôi đâu cần săn sóc, trí tưởng tượng của tôi mới cần được xoa dịu. Tôi giữ tập giấy Kurtz trao cho, không rõ phải làm gì với nó. Mẹ y mới mất không lâu, dưới sự săn sóc của, theo người ta kể, hôn thê của y. Một người đàn ông nhẵn nhụi, dáng điệu quan cách, đeo kính gọng vàng một hôm đến tìm tôi để hỏi han, đầu tiên vòng vo, rồi chuyển sang khéo léo thúc bách, về những thứ gã định danh là một số ‘tài liệu’. Tôi không ngạc nhiên, vì đã hai lần tôi cãi nhau với viên giám đốc về chuyện này ở ngoài đó. Tôi từ chối giao cho gã dù chỉ một mảnh giấy vụn, và tôi vẫn giữ thái độ ấy với gã đeo kính. Cuối cùng, gã tỏ thái độ uy hiếp, và gay gắt tranh cãi rằng Công ty có quyền với mọi thông tín chi tiết về ‘lãnh địa’ của mình. Gã bảo, ‘hiểu biết của ông Kurtz về những khu vực chưa khai phá nhất định phải rất bao la và đặc sắc - nhờ năng lực xuất chúng và hoàn cảnh bi thảm mà ông ấy bị đặt vào: do vậy...’ Tôi cam đoan với gã rằng hiểu biết của ông Kurtz, dù sâu rộng đến đâu, cũng chẳng có tác động gì đến vấn đề thương mại hay quản trị của công ty. Gã bèn viện đến khoa học. ‘Đây là một tổn thất lớn lao đối với...’ vân vân và vân vân. Tôi giao cho gã bản báo cáo về ‘Trấn áp Phong tục Man di’ nhưng đã xé bỏ đoạn tái bút. Gã phấn khởi nhận lấy, nhưng kết thúc bằng cái khịt mũi khinh miệt. ‘Đây không phải cái chúng tôi có quyền chờ đợi,’ gã bình luận. ‘Đừng chờ đợi gì nữa,’ tôi đáp. ‘Còn lại chỉ toàn thư từ cá nhân,’ Gã rút lui, kèm theo lời đe dọa kiện tụng, và tôi không thấy mặt gã nữa; nhưng hai ngày sau một người khác xưng là anh họ Kurtz xuất hiện, thiết tha muốn nghe tường tận về những phút cuối đời của người bà con thân thiết. Ông ta tình cờ tiết lộ Kurtz căn bản là một nhạc công xuất sắc. ‘Chú ấy có tố chất để thành công rực rỡ,’ ông ta kể. Bản thân ông ta, tôi nhớ, là một nghệ sĩ organ, với mái tóc hoa râm suôn dài trùm lên cái cổ áo nhờn dầu. Tôi không có cơ sở nào để nghi ngờ thông tin của ông ta; và đến giờ tôi cũng không rõ Kurtz làm nghề gì, liệu y từng có nghề nào chăng - đâu là tài năng xuất sắc nhất của y. Tôi đã ngỡ y là họa sĩ viết báo, hoặc nhà báo biết vẽ - nhưng cả anh họ y (người hít thuốc lá bột trong cuộc gặp) cũng không thể nói chính xác y là gì. Y là một thiên tài toàn năng - điểm này thì tôi đồng ý với ông ta, người đến đây liền xì mủi rầm rĩ vào tấm mùi soa vải to hước khi rút lui với vẻ già nua lẩy bẩy, mang theo một ít thư từ gia đình và bản ghi nhớ chẳng có gì quan trọng. Sau cùng một nhà báo thiết tha muốn nghe về vận mệnh của ‘người đồng nghiệp thân thiết’ xuất hiện. Vị khách thông tin với tôi rằng lĩnh vực thực thụ của Kurtz lẽ ra phải là chính trị ‘với nhiều người ủng hộ,’ Ông ta có đôi lông mày sâu róm, tóc húi cua lởm chởm, cặp mắt kính gài trên một dải ruy băng rộng bản, và, trở nên cởi mở, đánh giá rằng Kurtz thật sự không có khả năng viết lách - ‘nhưng chao ôi! Tài ăn nói của cậu ta thật ghê gớm. Có thể kích động cả đám đông. Cậu ta có niềm tin - cậu hiểu không? Có thể khiến bản thân tin vào bất kỳ - bất kỳ thứ gì. Cậu ta đã có thể là người lãnh đạo xuất chúng của một đảng cực đoan,’ ‘Đảng nào?’ Tôi hỏi. ‘Đảng nào cũng vậy,’ ông ta nói. ‘Cậu ta là người - người cực đoan,’ Tôi có nghĩ thế không? Tôi tán đồng. Tôi có biết, ông ta hỏi, với một tia tò mò đột ngột, ‘điều gì xui khiến cậu ta ra ngoài đó?’ “Có,’ tôi đáp, và tức thì giao ra bản Báo cáo lừng danh nọ để xuất bản, nếu ông ta thấy phù hợp. Ông ta liếc sơ một lượt, vừa xem vừa lẩm bẩm, nhận xét ‘được đấy,’ và rút lui với món chiến lợi phẩm này.
“Vậy là cuối cùng chỉ còn lại một tập thư mỏng và chân dung cô gái. Ấn tượng của nàng với tôi là đẹp - ý tôi là trong hình nàng có một biểu cảm đẹp. Tôi biết, nhiếp ảnh có thể là ánh trăng lừa dối, nhưng có lẽ không sự sắp đặt ánh sáng hay tư thế nào có thể truyền tải được sắc thái vi tế của sự chân thành trên những đường nét ấy. Nàng tựa hồ sẵn sàng lắng nghe mà không chút ngại ngần, không gợn hoài nghi, chẳng mảy may nghĩ về bản thân. Tôi quyết định sẽ tự mình đến gặp và trao cho nàng tập thư. Tò mò? Phải; và có lẽ còn bởi một cảm xúc khác. Mọi thứ từng là Kurtz đều đã qua tay tôi: linh hồn y, thể xác y, trạm của y, kế hoạch của y; ngà của y, sự nghiệp của y. Chỉ còn lại ký ức của y và Hôn thê của y - và tôi muốn hoàn trả cả điều đó nữa, theo một cách nào đó, cho quá khứ - tự mình trao lại tất cả những gì còn lại của y cho sự lãng quên - từ cuối cùng trong số phận chung của chúng tôi. Tôi không định bào chữa. Khi ấy tôi không ý thức rõ ràng là mình thật sự muốn gì. Có lẽ đó là cơn bốc đồng của lòng trung thành vô thức, hay cố gắng thỏa mãn một trong những nhu cầu thiết yếu oái oăm ẩn dưới thực tại của sự hiện tồn của nhân loại. Tôi không biết. Tôi không rõ. Nhưng tôi đã đi.
“Tôi ngỡ hồi ức về y cũng như mọi hồi ức khác về người chết tích tụ trong đời mỗi người - một dấu hằn mờ trên não bởi những bóng ma đã rơi xuống nó trên chặng đường ngắn ngủi tối hậu của chúng; nhưng trước cánh cửa uy nghi và trầm trọng, giữa những căn nhà cao trên con phố tĩnh lặng và mực thước như một lối đi được coi sóc kỹ càng ở nghĩa trang, tôi bỗng hình dung ra y nằm trên cáng, miệng ngoác ra tham tàn như muốn nuốt trọn cả thế gian và nhân loại. Khi ấy y như sống trước mắt tôi; y sống hoàn toàn hệt như y từng sống - một bóng ma tham lam vô độ của ngoại hình lộng lẫy, của những hiện thực kinh hoàng; một bóng ma đen tối hơn cả bóng đêm, cao quý quấn trong những nếp vải của cẩm tâm tú khẩu. Ảo tượng về y hình như đã theo tôi vào nhà - chiếc cáng, phu khiêng hồn ma, đám đông man dại của những bái đồ ngoan ngoãn phục tòng, vẻ âm ám của rừng già, cái lấp lánh của dòng sông giữa những khúc quanh ngầu đục, nhịp trống đều đặn và tắc nghẹt như nhịp đập trái tim - trái tim của sự tối tăm đang ngự trị. Đây là khoảnh khắc chiến thắng của hoang dã, một cơn càn quét xâm lăng và báo thù mà, tôi cảm thấy, mình sẽ phải đơn độc đẩy lùi để cứu rỗi một linh hồn khác. Và ký ức của những gì tôi đã nghe y nói ngoài kia, với những cái bóng đầu sừng nhảy múa sau lưng, trước ngọn lửa bập bùng, trong khu rừng nhẫn nại, những lời lẽ rời rạc ấy trở lại với tôi, một lần nữa vang lên trong sự đơn giản bất tường và kinh dị của chúng. Tôi nhớ tiếng nài nỉ đê hèn, lời đe dọa đê hèn của y, tầm vóc kỳ vĩ của những dục vọng thấp hèn trong y, những bần tiện, giày vò, nỗi thống khổ bão dông trong tâm hồn y. Rồi sau đó tôi như thấy lại phong thái điềm tĩnh uể oải của y, khi một hôm y thốt, ‘Chỗ ngà này giờ thật sự là của ta. Công ty đâu phải trả giá gì. Ta đã phải liều mình ghê gớm để thu thập chúng về. Nhưng chỉ e chúng sẽ đòi chiếm hữu. Hmm. Khó đây. Anh bảo ta nên làm gì - chống lại? Hả? Ta chẳng cần gì ngoài công lý,’ Y chẳng cần gì ngoài công lý - ngoài công lý. Tôi rung chuông cánh cửa gỗ đào hoa tâm dưới tầng một, và khi tôi đứng đợi, tưởng như y đang chằm chằm nhìn tôi từ sau lớp kính - nhìn bằng cái nhìn bao la và dữ dội như muốn ôm trọn, kết tội và căm thù cả vũ trụ. Tôi như nghe tiếng y rên ri, ‘Nỗi kinh hoàng! Nỗi kinh hoàng!’
“Hoàng hôn buông xuống. Tôi phải ngồi chờ trong căn phòng khách trần cao có ba ô cửa sổ chạy suốt từ sàn đến trần, như ba cây cột quấn rèm và tỏa sáng. Lớp thếp vàng ở lưng và chần quỳ của bàn ghế lấp lánh trong những đường cong mờ ảo. Lò sưởi cao bằng cẩm thạch tỏa ra sắc trắng kỳ vĩ và lạnh lẽo. Một cây đại dương cầm đồ sộ đứng ở góc phòng; bề mặt phẳng lì hắt ra những tia sáng đen như một chiếc quan tài đá âm u và bóng loáng. Cánh cửa cao mở ra - đóng lại. Tôi đứng dậy.
“Nàng tiến lại, y phục đen tuyền, với mái đầu nhợt nhạt, bồng bềnh trôi về phía tôi trong bóng chiều chạng vạng. Nàng để tang. Đã hơn một năm từ khi y chết, đã hơn một năm từ khi nàng biết tin; nhưng trông nàng như thể sẽ nhớ và thương khóc y mãi mãi. Nàng nắm chặt hai tay tôi và thì thầm, ‘Em nghe nói có ông đến,’ Tôi thấy nàng không trẻ lắm - ý là không phải kiểu gái non. Nàng có một vẻ thành thục của người sẵn sàng để thủ tiết, để tin tưởng, để chịu đựng. Căn phòng cơ hồ u tối hơn, như thể hết thảy ánh sáng sầu thảm của buổi tối nhiều mây đã náu mình vào vầng trán nàng. Mái tóc vàng này, dung nhan nhợt nhạt này, hàng lông mày thanh khiết này, tất cả như chìm trong một vầng hào quang màu tro tàn, mà từ đó đôi mắt đen đăm đắm nhìn ra phía tôi. Ánh nhìn ấy thuần chân, sâu thẳm, tự tin, và tín nhiệm. Nàng mang trên vai mái đầu ai thương như một niềm kiêu hãnh, như thể nàng sẽ nói, ta - chỉ mình ta biết cách tiếc thương xứng đáng với chàng. Nhưng khi chúng tôi còn đang bắt tay, một nét thê lương kinh dị bỗng hiện lên trên mặt nàng, khiến tôi nhận ra, nàng là một trong những sinh linh không phải đồ chơi của Thời Gian. Với nàng y chỉ mới chết hôm qua. Và, trời ơi! Ấn tượng ấy mãnh liệt đến nỗi cả tôi cũng cảm thấy y vừa chết hôm qua - không, ngay phút này. Tôi nhìn thấy nàng và y cùng một thời điểm - cái chết của y, và nỗi bi thương của nàng - tôi thấy nỗi bi thương của nàng trong chính khoảnh khắc y chết đi. Các cậu hiểu không? Tôi nhìn thấy họ bên nhau - tôi nghe thấy họ bên nhau. Nàng thốt lên sau một khoảng lặng u trầm, ‘Em còn sống,’ trong khi đôi tai căng ra của tôi dường như mơ hồ nghe thấy, hòa trong giọng điệu ân hận tuyệt vọng của nàng, tiếng thầm thì kết luận của lời kết án vĩnh hằng từ y. Tôi tự hỏi mình đang làm gì ở đây, trong tim dậy lên một nỗi hoảng loạn như thể vừa lạc bước vào một nơi đầy những bí ẩn tàn nhẫn và kỳ dị không dành cho cặp mắt con người. Nàng hướng về chiếc ghế và ra dấu mời tôi. Chúng tôi ngồi xuống. Tôi khẽ khàng đặt xấp thư lên chiếc bàn con, và nàng úp tay lên nó... ‘Ông biết anh ấy lắm nhỉ,’ nàng nhỏ nhẹ, sau một khắc mặc niệm.
“ ‘Ngoài đó con người thân nhau rất nhanh,’ tôi nói. ‘Người ta có thể biết nhau đến chừng nào thì tôi cũng biết anh ấy như vậy,’
“ ‘Và ông ngưỡng mộ anh ấy,’ nàng nói. ‘Một khi đã biết thì khó mà không ngưỡng mộ anh ấy. Phải không?’
“ ‘Anh ấy là một con người xuất chúng,’ tôi ngập ngừng nói. Rồi trước vẻ đăm đắm van cầu trong cái nhìn ấy, như ngóng thêm từng lời trên môi tôi, tôi tiếp tục, ‘Thật khó mà không...’
“ ‘Yêu anh ấy,’ nàng hăm hở tiếp lời, làm tôi nín thinh trong nỗi câm lặng hãi hùng. ‘Đúng thay! Đúng thay! Nhưng khi nghĩ rằng không ai hiểu anh ấy bằng em! Em là tri kỷ của anh ấy. Em hiểu anh ấy nhất,’
“ ‘Cô hiểu anh ấy nhất,’ tôi lặp lại. Và có lẽ đúng vậy. Nhưng theo mỗi lời nói ra căn phòng càng thêm u tối, và chỉ có vầng trán nàng, mượt mà, thanh bạch, là vẫn tỏa sáng nhờ tinh quang bất diệt của lòng tín và tình yêu.
“ ‘Ông là bạn anh ấy,’ nàng tiếp. “Bạn anh ấy,’ nàng hơi cao giọng nhắc lại. ‘Hẳn thế rồi, một khi anh ấy đã trao vật này cho ông, đã cử ông đến đây. Em cảm thấy mình có thể thổ lộ với ông - chao ôi! Em phải nói. Em muốn ông - người đã nghe anh ấy trăn trối - biết rằng em xứng đáng với anh ấy... Chẳng phải vì tự tôn... Phải! Em tự hào biết rằng mình hiểu anh ấy hơn bất kỳ ai trên đời - tự anh ấy nói với em điều đó. Từ khi mẹ anh ấy qua đời, em chẳng còn ai - chẳng còn ai để... để..,’
“Tôi lắng nghe. Bóng tối nồng đậm hơn. Tôi còn không chắc y có đưa đúng tập thư cho mình không. Tôi hơi nghi rằng y muốn tôi lo liệu một tập giấy tờ khác, mà sau khi y chết, tôi thấy tay giám đốc săm soi dưới ánh đèn. Và cô gái cất tiếng, giãi bày nỗi đau trong sự vững tin vào niềm cảm thông của tôi; nàng nói như kẻ khát uống. Tôi nghe nói cuộc đính hôn của nàng với Kurtz bị gia đình phản đối. Vì y không đủ giàu hay gì đó. Quả thực tôi không rõ có phải y đã túng bấn cả đời không. Y cho tôi vài lý do để suy đoán rằng chính cơn sốt ruột không cam phận nghèo đã thôi thúc y ra ngoài đó.
“ ‘Ai nghe anh ấy một lần mà không thành bạn anh ấy?’ Nàng đang nói. ‘Anh ấy thu hút người khác bằng những gì tốt đẹp nhất trong họ,’ Nàng đăm đắm nhìn tôi. ‘Đó là thiên tài của những con người vĩ đại,’ nàng tiếp, và giọng nói nhỏ nhẹ ấy dường như có sự cộng hưởng của mọi âm thanh khác - đầy huyền bí, cô độc và bi thương - mà tôi từng nghe: tiếng sóng lăn tăn trên sông, tiếng cây lao xao trong gió, tiếng rì rầm của đám đông, tiếng ngân mơ hồ của những từ ngữ khó hiểu từ xa vọng lại, tiếng thì thầm của một giọng nói thốt lên từ bên kia ngưỡng cửa của bóng tối vĩnh hằng. ‘Nhưng ông đã nghe anh ấy rồi! Ông biết!’ Nàng nức nở.
“ ‘Phải, tôi biết,’ tôi đáp với một cảm giác như tuyệt vọng trong tim, nhưng cúi đầu trước niềm tin bên trong nàng, trước cái ảo tưởng lớn lao và cứu rỗi đang tỏa hào quang siêu phàm trong bóng tối, bóng tối tất thắng mà trước nó tôi không thể bảo vệ nàng - thậm chí không thể bảo vệ chính tôi.
“Mất mát này thật lớn lao với em - với chúng ta!’ Nàng chữa lại bằng vẻ hào hiệp trang nhã, rồi khe khẽ thêm, ‘với thế giới.’ Nhờ những tia hoàng hôn sau chót, tôi thấy ánh lung linh của đôi mắt nàng, đẫm lệ - những giọt lệ sẽ không rơi.
“ ‘Em đã rất hạnh phúc - rất may mắn - rất tự hào,’ nàng tiếp. ‘Quá may mắn. Quá hạnh phúc trong một thời gian ngắn. Và giờ em sẽ bất hạnh đến - trọn đời,’
“Nàng đứng dậy; mái tóc vàng như thể hấp thụ toàn bộ ánh sáng còn lại trong một vầng hoàng kim le lói. Tôi cũng đứng lên.
“ ‘Và tất cả những điều này,’ nàng ai oán tiếp, ‘tất cả những hứa hẹn, tất cả những gì thuộc về tâm hồn vĩ đại ấy, trí tuệ hào hiệp ấy, trái tim cao thượng ấy, sẽ chẳng còn gì - chẳng còn gì ngoài một hồi ức. Ông và em..,’
“Chúng ta sẽ mãi mãi nhớ đến anh ấy,’ tôi vội vã nói.
“ ‘Không’ nàng kêu lên. ‘Không thể nào tất cả những điều này lại mất đi - một cuộc đời như vậy lại phải hy sinh chẳng để lại gì - ngoài thương đau. Ông biết rõ những kế hoạch đồ sộ của anh ấy. Em cũng biết - có lẽ em không hiểu nổi - nhưng người khác cũng biết. Nhất định phải còn lại điều gì. ít nhất, những lời anh ấy nói, không chết.’
“ ‘Lời anh ấy sẽ còn mãi,’ tôi nói.
“ ‘Và tấm gương của anh ấy,’ nàng thì thầm với chính mình. ‘Họ trông vào anh ấy - sự hào hiệp của anh ấy ngời sáng trong từng hành động. Tấm gương ấy..,’
“ ‘Phải,’ tôi nói, ‘tấm gương của anh ấy. Đúng, tấm gương của anh ấy. Tôi quên mất điều đó,’
“ ‘Riêng em thì không. Em không thể - em không thể tin - chưa thể. Em không thể tin rằng mình sẽ không gặp được anh ấy nữa, rằng chẳng ai gặp được anh ấy nữa, không bao giờ, không bao giờ, không bao giờ,’
“Nàng vươn hai cánh tay ra như thể đuổi theo một nhân ảnh đang rút lui, duỗi dài chúng, tối đen và với đôi bàn tay nhợt nhạt siết chặt, trên nền sáng hẹp đang nhòa dần của ô cửa sổ. Chẳng bao giờ gặp y nữa! Tôi vẫn thấy y rõ mồn một. Chừng nào còn sống, tôi sẽ còn thấy bóng ma hùng biện ấy, và tôi cũng sẽ thấy cả nàng, một u hồn bi kịch và quen thuộc, với động tác ấy mường tượng một u hồn khác, cũng bi kịch như thế và phục sức những bùa chú vô hiệu, giang đôi cánh tay nâu trần trên nền lấp lánh của dòng chảy hỏa ngục, dòng chảy của bóng tối. Đột nhiên nàng thốt lên rất khẽ, ‘Anh ấy đã chết như đã sống,’
“ ‘Cái chết của anh ấy,’ tôi nói, một cơn bi phẫn sục sôi trong dạ, ‘xứng đáng với đời anh về mọi mặt,’
“ ‘Và em không ở bên anh ấy,’ nàng thì thầm. Cơn giận của tôi lắng xuống, nhường chỗ cho một niềm thương cảm vô hạn.
“ ‘Tất cả những gì có thể..,’ tôi lúng búng.
“ ‘Ôi, nhưng em tin tưởng anh ấy hơn bất cứ ai trên đời - hơn mẹ anh ấy, hơn cả... chính anh ấy. Anh ấy cần em! Em! Em sẽ trân trọng từng tiếng thở dài, từng lời, từng cử chỉ, từng ánh mắt,’
“Tôi cảm thấy băng giá siết nghẹt lồng ngực mình. ‘Đừng,’ tôi nghèn nghẹn nói.
“ ‘Thứ lỗi cho em. Em... em... đã khóc thương quá lâu trong câm lặng... trong câm lặng... Ông đã ở bên anh ấy... đến phút cuối cùng? Em nghĩ đến nỗi cô đơn của anh ấy. Chẳng ai ở cạnh để hiểu anh ấy như em. Và có lẽ chẳng có ai để lắng nghe,’
“ ‘Đến phút cuối cùng,’ tôi run run đáp. ‘Tôi đã nghe lời trăn trối của anh ấy..,’ tôi ngừng lại trong kinh sợ.
“ ‘Nhắc lại cho em,’ nàng thì thầm, với ngữ điệu của trái tim tan nát. ‘Em cần... em cần... có gì... có gì đó... để... để sống tiếp,’
“Tôi chỉ chực hét lên với nàng, ‘Cô không nghe thấy ư?’ Chạng vạng đang nhắc lại chúng trong một tiếng thầm thì dai dẳng vây quanh chúng tôi, một tiếng thầm thì dường như căng phồng đầy đe dọa, như tiếng xào xạc đầu tiên của cơn gió sắp nổi lên. ‘Nỗi kinh hoàng! Nỗi kinh hoàng!’
“ ‘Lời cuối của anh ấy... để sống tiếp,’ nàng van vỉ. ‘Em yêu anh ấy, ông hiểu không. Em yêu anh ấy... Em yêu anh ấy!’
“Tôi trấn tĩnh lại và chầm chậm nói:
“ ‘Lời cuối cùng anh ấy thốt ra là... tên cô,’ “Tôi nghe một tiếng thở dài khe khẽ, và rồi tim tôi ngừng đập, chết lặng trước một tiếng khóc hoan hỉ lẫn thê lương, tiếng khóc của một sự đắc thắng không thể hình dung và của một nỗi đau khôn bề diễn tả. ‘Em biết mà... Em chắc mà!’... Nàng biết. Nàng chắc. Tôi nghe nàng nức nở; nàng vùi mặt vào hai lòng bàn tay. Tôi cảm thấy ngôi nhà như sẽ đổ sụp trước khi tôi kịp thoát ra, và trời cao sẽ sập xuống đầu tôi. Nhưng chẳng có gì xảy ra. Trời đâu có sập vì chuyện nhỏ nhoi như thế. Chẳng hiểu trời có sập không, tôi tự hỏi, nếu như tôi ban cho Kurtz thứ công lý thích đáng với y. Y từng nói chỉ cần công lý đấy thôi? Nhưng tôi không thể. Tôi không thể nói cho nàng. Như thế thì tăm tối quá - tăm tối đến vô chừng...”
Marlow ngừng lời, đoạn ngồi tách ra, lờ mờ và lặng lẽ, trong tư thế Phật tọa thiền. Một lúc lâu không ai cử động. “Ta lỡ con nước đầu tiên rồi,” tay Giám đốc bỗng cất tiếng. Tôi ngẩng đầu lên. Biển khơi bị một bờ mây đen che khuất, và thủy lộ thanh bình dẫn tới những nẻo tận cùng Trái đất vẫn âm trầm chảy dưới vòm trời hôn ám - như dẫn vào trái tim của một vùng tăm tối khôn cùng.
❀ ❀ ❀
[1] Một số nhà nghiên cứu phỏng đoán hình tượng Kurtz được dựa trên một vài sĩ quan da trắng tàn bạo trong lực lượng cảnh sát do vua Bỉ Leopold II thành lập ở Congo, những kẻ cũng có thói quen sưu tập đầu lâu nạn nhân và dùng chúng làm vật trang trí.