Phiên tòa bắt đầu vào sáng hôm sau với rất ít sự phản đối từ phía Sidney. Các cáo trạng và chi tiết vụ án được đọc rõ ràng, ba bị cáo tuyên bố không nhận tội, rồi Goodham bước lên với một tờ giấy trên tay để trình bày trước tòa. Sidney liền lật đật chạy lên đứng ngay cạnh ông.
"Thưa Tòa, bên nguyên xin phép, với sự đồng ý của bên biện hộ, được đưa ra các thỏa thuận pháp lý sau đây, cụ thể là: Thứ nhất, cố Silas Cumshaw là một chính trị gia hoạt động theo đúng nghĩa của luật pháp. Thứ hai, ông ấy nay đã qua đời, và cái chết đã xảy ra đúng theo cách mà viên pháp y của Châu lục Sam Houston đã xác nhận. Thứ ba, ông ấy thiệt mạng dưới tay của các bị cáo đang có mặt tại đây."
Trong mọi tính toán của mình, tôi đã quên mất điều đó. Tôi không thể để những thỏa thuận đó trôi qua mà không phản đối, đồng thời, nếu tôi phản đối việc coi Cumshaw là một chính trị gia hoạt động, phiên tòa hoàn toàn có thể kết thúc ngay tại chỗ. Thế nên tôi liền cầu nguyện cho một phép màu, và Clement Sidney đã không làm tôi thất vọng.
"Bên biện hộ không thỏa thuận bất cứ điều gì cả!" hắn quát lớn. "Các thân chủ của tôi ở đây là nạn nhân của một âm mưu quái đản, một âm mưu nhằm che đậy sự thật về cái chết của Silas Cumshaw. Lẽ ra họ không bao giờ bị bắt giữ hay mang ra đây xét xử, và nếu bên nguyên muốn chứng minh điều gì, họ phải làm điều đó thông qua lời khai, theo con đường thông thường và hợp pháp. Cái trò thỏa thuận tùy tiện này chỉ là một trong số rất nhiều thủ mưu mà các tòa án trên hành tinh này đang bị bóp méo để phục vụ cho những mục đích nhơ nhuốc, bất công của một lũ chủ đất phản động!"
Cây búa của Thẩm phán Nelson nện xuống bục vang lên một tiếng đanh gọn như tiếng súng trường.
"Ông Sidney! Vì lợi ích của các thân chủ ông, tôi rất ngại phải ép họ đổi luật sư giữa chừng phiên tòa, nhưng nếu tôi còn nghe thấy một lời nào mỉa mai như thế về các tòa án ở New Texas, thì chuyện đó chắc chắn sẽ xảy ra, vì khi đó ông sẽ phải vào tù vì tội coi thường tòa án! Ông đã rõ chưa, thưa ông Sidney?"
Tôi ngả người ra sau với một tiếng thở phào nhẹ nhõm, và điều đó khiến tôi nhận ra những ánh mắt tò mò từ các đồng nghiệp Đại sứ của mình. Tôi phớt lờ những câu hỏi ẩn chứa trong ánh mắt họ; tôi đã đạt được điều mình muốn.
Họ bắt đầu gọi các nhân chứng lên.
Đầu tiên là vị bác sĩ đã ký giấy chứng nhận cái chết của Đại sứ Cumshaw. Ông đưa ra một bản mô tả ngắn gọn về những vết thương đã cướp đi sinh mạng của người tiền nhiệm tôi. Sidney đang cố xoáy sâu vào chi tiết vị bác sĩ này là y sĩ gia đình của Hickock và cố tình dây dưa thêm thời gian, thì tôi đứng dậy.
"Thưa Tòa, tôi có mặt ở đây với tư cách là amicus curiae (bạn của tòa án), bởi vì Chính phủ Liên minh Mặt trời có lợi ích hiển nhiên trong vụ án này..."
"Phản đối!" Sidney hét lên.
"Xin mời ông nêu rõ lý do," Thẩm phán Nelson ra hiệu.
"Đây là tòa án của nhân dân hành tinh New Texas. Tên sứ giả ngoại kiều này của Liên minh Mặt trời, được cử đến đây để cấu kết với những kẻ phản bội New Texas nhằm biến người dân New Texas thành một chư hầu cúi đầu, bị giày vò của đế quốc tham tàn khắp dải Ngân hà—"
Thẩm phán Nelson gõ búa cộc lốc.
"Bạn của tòa án được định nghĩa là những người có lợi ích chính đáng trong vụ án. Vì vụ án này xuất phát từ cái chết của cựu Đại sứ Liên minh Mặt trời, tôi không thể hiểu tại sao Đại sứ đương nhiệm và các cộng sự của ông ấy lại bị gạt ra ngoài. Bác bỏ phản đối." Ông gật đầu với tôi. "Xin mời tiếp tục, thưa ngài Đại sứ."
"Theo tôi hiểu, tôi có quyền xét hỏi chéo nhân chứng giống như luật sư của bên nguyên và bên biện hộ; điều đó có đúng không, thưa Tòa?" Sự việc đúng là như vậy, thế nên tôi quay sang phía nhân chứng. "Thưa bác sĩ, tôi cho rằng trong quá trình hành nghề, hẳn ông đã có khá nhiều kinh nghiệm với những vết thương do đạn bắn chứ?"
Ông ta khúc khích cười. "Thưa ngài Đại sứ, chính những vụ thương tích do đạn bắn mới là thứ duy trì sự sống cho ngành y học và ngoại khoa trên hành tinh này. Vâng, tôi chắc chắn là có."
"Bây giờ, ông nói rằng nạn nhân đã trúng sáu phát đạn khác nhau: vai phải gần như đứt lìa hoàn toàn, phổi phải và xương sườn phải bị thổi bay khỏi lồng ngực, lá lách và thận nát bét hòa lẫn vào nhau đến mức gần như trở thành một, còn chân trái thì đứt lìa do vùng chậu và khớp háng bên trái vỡ vụn hoàn toàn?"
"Đúng vậy."
Tôi cầm khẩu súng trường tự động cỡ nòng 20-mm — nó nặng tới sáu mươi cân Anh — từ trên bàn lên, và hỏi ông ta liệu thứ vũ khí này có thể gây ra những vết thương như thế không. Ông ta đồng ý rằng nó vừa có thể, và thực tế là đã gây ra.
"Đây có phải là loại vũ khí thông thường được sử dụng trong các vụ thanh trừng chính trị ở New Texas của các ông không?" tôi hỏi.
"Chắc chắn là không. Vũ khí thông thường là súng ngắn; đôi khi là súng săn hoặc súng shotgun."
Tôi đặt câu hỏi tương tự khi xét hỏi chéo nhân chứng chuyên gia về đạn đạo.
"Đây có phải là loại vũ khí thông thường được sử dụng trong các vụ thanh trừng chính trị ở New Texas của các ông không?"
"Không, hoàn toàn không. Đó là một thứ vũ khí rất đắt tiền, thưa ngài Đại sứ. Thậm chí nó còn không được sản xuất trên hành tinh này; mà do cụm sao z'Srauff chế tạo. Một thứ vũ khí như thế có giá tới năm, sáu trăm peso. Nó được dùng để săn những con thú thực sự lớn — siêu voi ma mút, và những thứ đại loại thế. Và tất nhiên, là dùng cho chiến đấu."
"Dường như," tôi nhận xét, "bên biện hộ đang bỏ sót một điểm hiển nhiên ở đây. Tôi nghi ngờ việc ba bị cáo này trong suốt cuộc đời của họ, có bao giờ gom đủ tiền để mua một thứ vũ khí như thế hay không."
Điều đó, dĩ nhiên, đã khiến Sidney nhảy dựng lên, tuôn ra hàng tràng phản đối trước nỗ lực hạ thấp sự nghèo khổ lương thiện của các thân chủ hắn, và điều đó chỉ càng kéo sự chú ý đổ dồn vào điểm mấu chốt ấy.
Sau đó, bên nguyên triệu tập một nhân chứng tên là David Crockett Longfellow. Tôi từng gặp ông ta ở trang trại Hickock; ông ta là quản gia của Hickock. Ông ta đi khập khiễng do một chấn thương cũ khiến ông phải giải nghệ khỏi công việc chăn gia súc trên đồng cỏ. Ông ta tuyên thệ và khai báo tên cùng nghề nghiệp của mình.
"Ông có biết ba bị cáo này không?" Goodham hỏi ông ta.
"Có chứ. Tôi thậm chí còn rạch một dấu trên người một tên để dễ nhận dạng sau này," Longfellow đáp.
Sidney liền đứng phắt dậy, lớn tiếng phản đối. Sau khi hắn được yêu cầu giữ trật tự, Goodham bày tỏ rằng ông ta sẽ quay lại vấn đề đó sau, và bắt đầu một loạt câu hỏi nhằm chứng minh rằng Longfellow đã có mặt tại trang trại Hickock vào ngày Silas Cumshaw bị sát hại.
"Bây giờ," Goodham nói, "ông hãy thuật lại trước tòa những sự việc đáng chú ý mà ông đã tận mắt chứng kiến vào ngày hôm đó."
Longfellow bắt đầu câu chuyện của mình. "Vào khoảng 09 giờ sáng, tôi đang phủi bụi và dọn dẹp lại phòng thư viện trong lúc Đại tá đang ngồi làm việc ở bàn giấy. Bỗng nhiên, ông ấy bảo tôi, 'Davy, cậu thử gọi điện sang Đại sứ quán Mặt trời xem hôm nay ông Cumshaw có bận gì không; nếu không bận, hãy mời ông ấy ghé chơi.' Tôi đang làm việc ngay cạnh màn hình truyền hình. Thế là tôi gọi tới Đại sứ quán Liên minh Mặt trời. Ông Thrombley nhấc máy, và tôi hỏi xem ông Cumshaw có ở đó không. Lúc này, Đại tá đã làm xong việc ở bàn giấy và bước lại gần màn hình. Tôi quay lại công việc của mình, nhưng tôi nghe thấy Đại tá hỏi ông Cumshaw xem ông ấy có thể ghé qua chơi cả ngày được không, và ông Cumshaw trả lời là được; ông ấy sẽ có mặt vào khoảng 10 giờ rưỡi."
"Rồi, tầm khoảng 10 giờ rưỡi, chiếc xe bay của ông ấy bay đến và hạ cánh xuống lối đi. Một chiếc xe một chỗ ngồi nhỏ xíu do chính tay ông ấy lái. Ông ấy đáp xuống cách hiên ngoài khoảng một trăm thước, như mọi khi, rồi bước ra."
"Sau đó, chiếc xe thứ hai này từ đâu lao thình lình xuống. Tôi không để ý lắm; cứ nghĩ đó có thể là một vị Đại sứ khác đi cùng ông Cumshaw. Nhưng ông Cumshaw quay lại nhìn nó, rồi ông ấy bắt đầu cắm cổ chạy về phía hiên nhà. Tôi đang đứng ở cửa khi thấy ông ấy bắt đầu chạy. Tôi nhanh chóng nhảy phóc ra hiên, rút súng ra, và rồi khẩu súng trường tự động kia bắt đầu nhả đạn từ chiếc xe bên kia. Chỉ có khoảng tám hoặc mười phát đạn được bắn ra từ chiếc xe đó, nhưng phần lớn chúng đều trúng người ông Cumshaw."
Goodham đợi vài giây. Giọng của Longfellow nghẹn lại và cơ mặt ông giật giật, cứ như thể ông đang cố kìm nén những giọt nước mắt.
"Bây giờ, thưa ông Longfellow," Goodham nói, "ông có nhận ra những kẻ ngồi trên chiếc xe phát ra những phát súng đó không?"
"Có. Như tôi đã nói, tôi đã rạch một vết trên người một tên. Chính là tên kia kìa: Jack-High Abe Bonney. Hắn ta là kẻ đang cầm súng, và từ vị trí của tôi, hắn quay bên trái về phía tôi. Tôi nhắm vào đầu hắn, nhưng tôi toàn bị bắn chệch cao hơn, thế nên tôi có thói quen ngắm thấp xuống. Lần này thì tôi lại ngắm thấp quá." Ông nhìn Jack-High với ánh mắt căm thù lạnh lẽo đến tận xương tủy. "Tôi sẽ thấy hối hận vì điều đó suốt quãng đời còn lại."
"Và còn ai ngồi trên xe nữa?"
"Hai con chó săn còn lại trong cùng một bầy: Switchblade và Turkey-Buzzard, ở đằng kia kìa."
Những câu hỏi tiếp theo hé lộ rằng Longfellow không hề có kiến thức trực tiếp về cuộc truy đuổi, hay vụ vây hãm nhà giam ở Bonneyville. Đại tá Hickock đã trực tiếp chỉ huy việc đó, và để Longfellow ở lại phía sau để gọi điện cho Đại sứ quán Liên minh Mặt trời cùng lực lượng Kiểm lâm. Ông không hề có ý định di chuyển thi thể, mà để mặc nó nằm ngay trên lối đi cho đến khi bác sĩ và lực lượng Kiểm lâm tới nơi.
Goodham bước tới chiếc bàn ở giữa và cầm lên một khẩu súng lục tự động hạng nặng.
"Tôi xin lưu ý tòa về khẩu súng lục này. Đây là một khẩu súng tự động cỡ mòng mười một mi-li-mét, do Công ty Súng đắt tiền Colt của New Texas sản xuất, là công ty con được cấp phép của Công ty Súng Colt ở Trái Đất." Ông trao nó cho Longfellow. "Ông có nhận ra khẩu súng này không?" ông hỏi.
Longfellow tỏ ra gần như bị xúc phạm bởi câu hỏi đó. Dĩ nhiên là ông phải nhận ra khẩu súng của chính mình rồi. Ông đọc vanh vách số sê-ri, đồng thời chỉ ra những vết sẹo và vết trầy xước khác nhau trên vũ khí, kể lại cách mà chúng đã có được những vết tích ấy.
"Tòa ghi nhận việc ông Longfellow am hiểu vũ khí của chính mình," Nelson nói. "Tôi cho rằng đây chính là khẩu súng mà ông khẳng định đã dùng để bắn Jack-High Abe Bonney?"
Đúng là vậy, mặc dù Longfellow tỏ ra khó chịu trước cách diễn đạt có phần dè dặt đó.
"Đã rõ. Xin mời ngài Đại sứ tiến hành xét hỏi chéo," Goodham nói.
Sidney lập tức mở màn cuộc tấn công.
Chất vấn thị lực, trí tuệ, sự trung thực và lòng chính trực của Longfellow, hắn cố gắng chứng minh sự thù hằn cá nhân của ông đối với anh em nhà Bonney. Hắn ngầm ám chỉ rằng Longfellow đã cấu kết với Cumshaw nhằm thực hiện âm mưu thôn tính New Texas của Liên minh Mặt trời. Cuộc đấu khẩu trở nên gay gắt đến mức cả nhân chứng lẫn luật sư đều liên tục bị chủ tọa phiên tòa khiển trách. Nhưng dù ở bất kỳ điểm nào, Sidney cũng không thể lay chuyển được lời khai cốt lõi duy nhất của Longfellow: rằng anh em nhà Bonney đã bắn Silas Cumshaw và chính ông đã bắn vào vai Jack-High Abe Bonney.
Khi hắn dứt lời, tôi đứng dậy và tiếp quản phiên tòa.
"Thưa ông Longfellow, ông nói rằng ông Thrombley đã nhấc máy truyền hình tại Đại sứ quán Liên minh Mặt trời," tôi bắt đầu. "Ông có biết ông Thrombley không?"
"Chắc chắn rồi, thưa ngài Silk. Cậu ấy đã đến trang trại cùng ông Cumshaw rất nhiều lần."
"Được rồi, ngoài ông và Đại tá Hickock cùng ông Cumshaw và, có thể là cả ông Thrombley nữa, còn ai khác biết rằng ông Cumshaw sẽ có mặt tại trang trại vào lúc 10 giờ 30 phút sáng hôm đó không?"
Không một ai. Nhưng chiếc xe bay rõ ràng đã chờ sẵn ông Cumshaw; anh em nhà Bonney chắc chắn phải biết trước thông tin đó. Những câu hỏi của tôi đã làm sáng tỏ vấn đề đó bất chấp những sự phản đối hiển nhiên — và miễn cưỡng được tòa chấp thuận — từ phía ông Sidney.
"Thế là đủ, thưa ông Longfellow; cảm ơn ông. Có ai muốn đặt câu hỏi nào nữa không?"
Vì không còn câu hỏi nào khác, Longfellow bước xuống. Lúc đó vừa điểm vài phút trước trưa, thế nên Thẩm phán Nelson tuyên bố hoãn phiên tòa trong một tiếng rưỡi.
Vào buổi chiều, vị bác sĩ phẫu thuật từng chữa trị vết thương ở vai cho Jack-High Abe Bonney ra làm chứng, nhận diện viên đạn đã được lấy ra từ vai của Bonney. Một chuyên gia đạn đạo từ phòng thí nghiệm tội phạm của Kiểm lâm bước lên bục khai báo rằng viên đạn đó đã được bắn ra từ khẩu Colt của Longfellow. Sau đó, Đại úy Kiểm lâm Nelson bước lên bục. Lời khai của ông cũng tương tự những gì ông đã cung cấp cho tôi ở Đại sứ quán, ngoại trừ việc lời thú nhận của nhà Bonney rằng họ đã bắn Đại sứ Cumshaw bị loại bỏ vì cho rằng nó được đưa ra dưới áp lực cưỡng bức.
Tuy nhiên, lời khai của Đại úy Nelson chẳng cần đến những lời thú tội đó.
Lớp vải bạt che được kéo ra khỏi chiếc xe bay, và vài người đàn ông dùng một chiếc xe đẩy trợ lực kéo nó ra trước vành móng ngựa. Viên Đại úy Kiểm lâm nhận diện đó chính là chiếc xe mà ông đã tìm thấy tại nhà giam ở Bonneyville. Ông soi nó bằng một chiếc đèn pin cực tím và chỉ ra nơi ông đã viết tên mình và ngày tháng lên đó bằng mực huỳnh quang. Dấu vết của những phát đạn chống máy bay hiện lên rõ mồn một trên thân xe.
Sau đó, vật thể được trùm kín còn lại được mở màn che và được nhận diện chính là khẩu súng đã làm tê liệt chiếc xe bay. Đại tá Hickock xác nhận đó là khẩu súng mà ông đã dùng để bắn vào chiếc xe bay. Cuối cùng, chuyên gia đạn đạo lại được gọi trở lại bục nhân chứng để liên kết hai vật chứng lại với nhau thông qua các mảnh vỡ tìm thấy trên xe.
Tiếp theo, Goodham đưa Kettle-Belly Sam Bonney lên bục nhân chứng.
Vị Thị trưởng Bonneyville là một người đàn ông khoảng năm mươi tuổi, thấp người, hói một phần, mặc chiếc quần Levis màu xanh đã bạc màu, chiếc áo sơ mi trắng sờn cổ, và chiếc áo ghi-lê dính đầy vết dầu mỡ. Không có chút bí ẩn nào về cách mà ông ta có được biệt danh của mình cả. Ông ta khạc một bãi nước bọt chứa đầy thuốc lào vào cái ống nhổ, tuyên thệ với vẻ trang nghiêm đạo đức giả, rồi lại nhét thêm một bã thuốc lào khác vào miệng và kể lại phiên bản của riêng mình về vụ tấn công nhà giam.
Vào khoảng 10 giờ 45 phút ngày hôm đó, ông ta khai rằng mình đang ở trong văn phòng, đầu tắt mặt tối làm việc vì lợi ích công cộng thì một chiếc xe bay, bị hư hỏng một phần do đạn bắn, đã hạ cánh xuống con đường bên ngoài và ba bị cáo lao vào, đòi được tị nạn. Từ đó trở đi, câu chuyện cứ thế trôi chảy suôn sẻ, bám sát kịch bản mà Đại úy Nelson và Parros đã dự đoán. Dĩ nhiên là ông ta đã cho những kẻ trốn chạy nơi trú ẩn; họ viện cớ rằng bản thân vừa suýt gặp một vụ ám sát chính trị và đang vô cùng sợ hãi cho tính mạng của mình.
Dưới sự xét hỏi chéo và mớm lời của Sidney, ông ta trút ra tràng giang đại hải câu chuyện về những bất công mà Bonneyville phải gánh chịu dưới tay lũ chủ đất phản động, cùng hành vi tàn bạo của đám tay sai nhà Hickock. Cuối cùng, sau khi vắt kiệt từng giọt nọc độc căm thù giai cấp từ con người này, Sidney giao lại ông ta cho tôi.
"Có bao nhiêu người bên trong nhà giam khi ba bị cáo đến xin tị nạn?" tôi hỏi.
Ông ta không thể trả lời chính xác được, chắc khoảng bốn hoặc năm người gì đó.
"Gần hai mươi lăm người, theo lời lực lượng Kiểm lâm. Có bao nhiêu người trong số họ là tù nhân đang bị giam giữ?"
"À, không có ai cả. Tù nhân đã được thả ra hết vào sáng hôm đó rồi. Bọn họ chỉ là mấy kẻ say xỉn thông thường, gây rối trật tự công cộng, kiểu loại như thế thôi. Chúng tôi thả họ ra để có thể tiến hành vài tu sửa."
"Các ông thả họ ra vì các ông đoán trước sẽ phải thủ thế bảo vệ nhà giam; vì các ông biết trước rằng ba kẻ này sẽ đến xin tị nạn, và đám nhân công trang trại của Đại tá Hickock sẽ bám sát gót họ ngay sau đó, phải không?" tôi chất vấn.
Phải mất đúng năm phút Sidney mới ngừng la hét đủ lâu để Thẩm phán Nelson chấp thuận lời phản đối.
"Tôi cho rằng ông đã quen biết những thanh niên này suốt cả cuộc đời họ. Ví dụ như, ông biết gì về hoàn cảnh tài chính của họ?"
"Thì, họ đã bị giẫm đạp và bị giữ cho nghèo đói bởi những chủ trang trại lớn và lũ nhiều tiền..."
"Thế thì chẳng lẽ ông không ngạc nhiên khi thấy họ lái một chiếc xe bay đắt tiền đến vậy sao?"
"Tôi không biết liệu nó có đắt tiền đến thế—" ông ta đột ngột ngậm chặt miệng lại.
Tôi dồn ép: "Ông biết họ lấy tiền ở đâu để mua chiếc xe đó chứ?"
Kettle-Belly Sam không trả lời.
Tôi tiếp tục dồn ép: "Từ kẻ đã trả tiền cho chúng để sát hại Đại sứ Silas Cumshaw ư? Ông có biết chúng được trả bao nhiêu tiền cho vụ đó không? Ông có biết số tiền ấy đến từ đâu không? Ông có biết kẻ trung gian là ai, hắn ta nhận được bao nhiêu, và hắn giữ lại cho mình bao nhiêu không? Có phải là từ cùng một nguồn đã chi trả cho vụ mưu sát Tổng thống Hutchinson gần đây hay không?"
"Tôi từ chối trả lời!" nhân chứng tuyên bố, cố gắng ưỡn ngực ra phía trước khoảng một nửa so với cái bụng phệ của mình. "Với lý do là nó có thể tự buộc tội hoặc làm nhục tôi!"
"Làm sao mà làm nhục được một tên Bonney chứ!" một giọng nói từ trên lầu vọng xuống.
Tôi đáp lại hướng phát ra giọng nói đó: "Thế nên, ý hắn muốn nói ở đây là tự buộc tội." Tôi quay lại phía nhân chứng. "Thế là đủ. Miễn hầu tòa."
Khi Bonney rời khỏi bục nhân chứng và bị dẫn ra bằng cánh cửa bên hông, Goodham hướng về phía bục chủ tọa.
"Thưa Tòa," ông nói, "tôi tin rằng bên nguyên đã thành công trong việc xác định một cách dứt khoát rằng ba bị cáo này thực sự đã nổ súng cướp đi sinh mạng của Silas Cumshaw vào ngày 22 tháng 4 năm 2193. Giờ đây chúng tôi sẽ tiến hành chứng minh..."
Tiếp theo là một loạt các nhân chứng dài dằng dặc, mỗi người làm chứng cho một hành động từ thiện công cộng hoặc tư nhân nào đó, một phẩm chất cao quý nào đó của họ. Đó chính là loại việc mà luật sư bào chữa trong vụ án Whately đã vô cùng sẵn lòng thỏa thuận. Sidney, dĩ nhiên, lại tìm cách biến tất cả những điều đó thành một phần của âm mưu thâm độc nhằm thiết lập một lực lượng ngũ hổ tướng của Liên minh Mặt trời trên đất New Texas. Cuối cùng, bên nguyên tuyên bố khép lại phần trình bày bằng chứng.
Tối hôm đó, tôi mời Gail và cha cô ấy dùng bữa tại Đại sứ quán. Con đường bên ngoài đông nghịt người dân New Texas, tất cả đều đứng về phía chúng tôi và hô vang những khẩu hiệu như, "Đóng cửa tử hình lũ Bonney!" và "Đòi nợ máu cho Cumshaw!" cùng "Sáp nhập ngay lập tức!" Một phần trong số đó hoàn toàn là tự phát. Cha con nhà Hickock đã nhận được những tràng pháo tay vang dội khi họ rời đi, và được những đám đông hò reo bám theo tận khách sạn. Tôi nhìn thấy một tấm biểu ngữ lớn ghi dòng chữ: 'ĐỪNG ĐỂ NEW TEXAS RƠI VÀO TAY LŨ KHỐN' kèm theo bức họa thô kệch vẽ một con z'Srauff. Tôi dường như chợt nhớ ra mình đã thấy vài lính thủy đánh bộ của chúng tôi làm tấm biểu ngữ đó vào chiều tối hôm trước ở sân trong Đại sứ quán, nhưng mà...