[←1]: Theo thống kê có đến 900 loại.
[←2]: Cao Ngạc (? –?) tự Lan Thự, tác giả 40 hồi sau Hồng Lâu Mộng và Lan Thu thi sao, Lan Thự văn tồn, Nghiễn hương từ… tự Vân Sĩ, biệt hiệu Hồng Lâu ngoại sĩ (Hồng Lâu Mộng vốn tên Thạch Đầu ký. Có lẽ Cao Ngạc là người đặt tên nó là Hồng Lâu Mộng), làm quan dưới triều Kiền Long, Gia Khánh, trải các chức Nội các thị tộc, Hình khoa cấp sự trung, Nhập tịch Mãn Thanh (Kỳ quán “nhương hoàng” màu vàng pha).
[←3]: Dùng chữ trong Tây Sương Ký.
[←4]: Hồi này có thể chia làm 2 phần. Phần thứ nhất bắt đầu từ câu: “Người làm sách xin nói” đến câu “Ai hay thú vị chứa đầy ở trong”, nói tóm tắt nguyên uỷ nội dung của cuốn truyện và dụng ý của tác giả. Thí dụ Chân Sĩ Ẩn, Giả Vũ Thôn… đều là báo trước những điều sẽ nói ở phần hai. Đây là một lối văn ký thác, ẩn ẩn hiện hiện, thực thực hư hư, một nghệ thuật đặc biệt, khác với các tiểu thuyết diễn nghĩa; còn phần thứ hai mới bắt đầu vào chính truyện.
[←5]: Chân Sĩ Ẩn và Chân Sự Ấn (dịch nghĩa là “giấu những sự thực”) theo âm Trung Quốc đọc giống nhau. Tác giả có ý dùng ba chữ Chân Sĩ Ẩn đặt tên cho nhân vật đầu tiên trong truyện để nói nội dung toàn bộ cuốn truyện là giấu sự thật đi mà nói như là một chuyện chiêm bao.
[←6]: Nguyên văn chữ Trung Quốc “Giả ngữ thôn ngôn”. Chữ “giả ngữ thôn” đọc cũng giống như “Giả Vũ Thôn”.
[←7]: Truyện thần thoại: Trước kia trời chưa kín hẳn, họ Nữ Oa luyện đá năm sắc lên vá trời.
[←8]: Theo thuyết nhà Phật, phàm cái gì giác quan không cảm thấy được thì gọi là “không”, cái gì giác quan cảm được thì gọi là “sắc”.
[←9]: Gương báu để coi việc gió trăng, tức là việc tình duyên, gương soi để khuyên răn người đời.
[←10]: Theo Thần thoại Trung Quốc từ lúc mới có trời đất, trời nghiêng về phía tây bắc,
đất trũng về phía đông nam
[←11]: Thân hào trong làng.
[←12]: Đường thư chép: nhà sư Viên Quan gặp Lý Nguyên, trỏ viên đá ở Tam Giáo: “Đây là chỗ thác sinh của ta, 12 năm sau, chúng ta sẽ gặp lại nhau ở đây”. Đến đêm, Viên Quan chết, 12 năm sau, Lý Nguyên lại đến chỗ cũ, gặp một mục đồng, tức là Viên Quan. Về sau người ta dùng điển này để chỉ cuộc tình duyên của một đôi trai gái, phải trải qua kiếp khác, có khi phải trải qua ba kiếp, vì thế gọi là tam sinh
[←13]: Hòn đá thiêng.
[←14]: Cõi đời đáng oán giận vì phải chia lìa nhau.
[←15]: Quả chứa những tình riêng bí mật.
[←16]: Nước để tưới sự buồn.
[←17]: Theo thuyết nhà Phật, ba ác đạo: địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ gọi là hố lửa.
[←18]: Lăng hoa kính: một thứ gương quý ở lâu trang, cũng dùng để ví người đàn bà đẹp. Chữ Lăng ở đây còn ẩn giấu một sấm ngữ, vì Anh Liên về sau bị Tiết Bàn cướp lấy làm tiểu thiếp, đổi tên là Hương Lăng.
[←19]: Ngày rằm tháng giêng, còn gọi là tiết hoa đăng.
[←20]: Bài hát này trong nguyên văn, chữ cuối trong câu thứ nhất đều là chữ “hảo” là tốt, chữ cuối cùng của các câu thứ hai và thứ tư đều là “liễu” là hết, cho nên gọi là “Hảo liễu ca”.
[←21]: Lục Triều: Ngô, Đông Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần. Sáu triều đều đóng đô ở Kiến Khang, tức là Nam Kinh của Trung Quốc.
[←22]: Chữ trong sách Đại học: “trí tri tại cách vật”: muốn đưa trình độ hiểu biết đến bực cao siêu phải suy xét đến nơi đến chốn mọi lý lẽ của sự vật. Tham huyền: dò sâu vào chỗ huyền bí. Ngộ đạo: hiểu thấu đạo mầu nhiệm.
[←23]: Vận và kiếp theo thuyết thuật số có nghĩa khác nhau. Vận chỉ thời vận tốt, kiếp chỉ kiếp hạn xấu.
[←24]: Vua Nghiêu nhà Đường, Vua Thuấn nhà Ngu, Vua Vũ nhà Hạ, Vua Thang nhà Thương, Vua Văn vua Vũ nhà Chu, Chu Công Đán, Thiệu Công Thích đều là con Văn Vương, có công lớn với nhà Chu; Khổng Tử, Mạnh Tử là bậc thánh hiền của nho học. Đổng Trọng Thư đỗ bác sĩ đời Hán Vũ Đế, có tài chính trị, suốt ba năm buông màn đọc sách, không nhìn ra ngoài.
Hàn Dũ là một nhà văn nổi tiếng đời Đường, tính thẳng, có làm bộ Hán Xương lê toàn tập.
Chu Đôn Di: Tên chữ là Liêm Khê, tự là Mậu Thúc. Ông là thủy tổ nền lý học nhà Tống, có làm quyển Thái cực đồ thuyết và Thông thư, thầy học của hai ông Trình Di, Trình Hạo.
Trình Hạo: Tên chữ Bá Thuần, đỗ tiến sĩ đời Thần Tông nhà Tống, học rộng, có làm bộ sách Định tính, người ta gọi là Minh Đạo tiên sinh.
Trình Di: Em ruột Trình Hạo, tính thành thực, thấu hiểu mọi sự vật. Có làm truyện giải thích Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu; Người ta gọi là Y Xuyên tiên sinh.
Trương Tái: Tên chữ là Tử Hậu, bạn học của hai ông Trình Di và Trình Hạo. Có làm ra Trương sử toàn thư mười bốn quyển như Đông Tây Minh, Chính Mông, Kinh Học, Lý Quật…
Chu Hy: Tên chữ là Nguyên Hối, đỗ tiến sĩ đời nhà Tống. Học hiểu thấu mọi sự vật rồi sau quay vào thực tiễn. Nền lý học đời nhà Tống đến ông này mới thực hoàn toàn. Người ta tôn là Khảo đình học phái.
[←25]: Xuy Vưu là chư hầu của vua Hoàng Đế, chế ra đao nỏ, đi quấy rối thiên hạ, Vua Hoàng Đế đánh hắn ở Trác Lộc, hắn thua, hóa ra đám mù, vua Hoàng Đế chế ra xe chỉ nam. Xuy Vưu bị giết chết.
Cung Công là quan trị thủy đời vua Nghiêu, trễ biếng công việc, bị đày ra U Châu. Cùng thời với hắn có: Hoan Đâu, Tam Miêu, Cổn, người ta gọi là Tứ hung.
Hoàn Ôn: Người đời Tấn, khi mới đẻ, người ta nghe thấy tiếng khóc, cho là vật lạ. Sau lấy Nam Khang công chúa, đánh giặc được nhiều trận, phong là Nam quán công, uy thế lừng lẫy, lấn cả quyền vua, có ý phản dân phản nước. Hắn thường nói: “Con trai không để được tiếng thơm cho đời, cũng nên để tiếng xấu cho đời sau”.
An Lộc Sơn được vua Đường Minh Hoàng tin dùng làm đến chức Tiết độ sứ. Thường đi lại với Dương Quý phi, xin làm con nuôi, sau làm phản, tự xưng là Hùng Võ hoàng đế nhà Yên, rồi bị con là Khánh Tự giết chết.
Tần Cối tính tàn nhẫn, hiểm ác, nhờ thế lực nước Kim làm đến chức tể tướng, giết hại nhiều trung thần võ tướng như Nhạc Phi.
[←26]: Hứa Do: Một vi cao ẩn ở đất Bái Trạch, được vua Nghiêu nhường cho thiên hạ không nhận, ra sông Đinh Thủy rửa tai.
Đào Tiềm: Tên chữ Uyên Minh, người đời Tấn, tính cao thượng giản dị. Khi làm quan lệnh ở Bành Trạch, trên quận sai quan đến, người ta bảo phải mũ áo ra tiếp, Đào Tiềm nói: “Ta không thể vì năm đấu gạo mà uốn lưng được”, rồi bỏ quan về.
Nguyễn Tịch: tên chữ là Tự Tôn, người đời Tấn, học rộng, thơ hay, đàn giỏi, thích uống rượu, biết phân biệt kẻ hay người dở, người hay thì tiếp bằng mắt xanh, người dở thì tiếp bằng mắt trắng. Có làm một tập thơ Vịnh hoài hơn tám mươi bài, bài Đạt sinh luận và truyện Đạt nhân tiên sinh.
Kê Khang: Người đời Tấn. Học rộng, tính lười biếng, làm quan trung tán đại phu, là một trong bọn bảy người ở Trúc lâm thất hiền.
Lưu Linh: Làm chức Kiến uy tham quân đời Tấn. Là một người trong Trúc lâm thất hiền, tính nghiện rượu, đi đâu cũng uống sai người mang đi theo, dặn hễ chết thì chôn ngay. Có làm bài Tửu đức tụng.
Vương, Tạ: Vương Thản Chi và Tạ An, hai họ này có tiếng nhất đời Tống; vì thế con trai nhà quý phái đều muốn lấy con gái họ Vương, họ Tạ.
Cố Hổ Đầu: Người đời Tấn. Học rộng, tài giỏi, vẽ khéo.
Trần Hậu Chủ: Hay chữ, sau khi lên ngôi vua, ham mê tửu sắc, suốt ngày chỉ chơi đùa với phi tần và hiệp khách, ăn yến làm thơ, chẳng nghĩ gì đến công việc. Khi quân Tùy đến đánh vẫn còn say rượu, hát xướng. Sau bị tướng nhà Tùy là Hàn Cầm Hổ bắt được ở trong giếng Cảnh Dương đem về. Vua Tùy phong cho làm Trường Thành công.
Ôn Phi Khanh: Người đời Đường. Tư chất thông minh, làm từ phú rất hay, nhưng không biết giữ gìn tính nết, thích nói những lời dâm đãng, bị sĩ phu thời bấy giờ khinh bỉ.
Thạch Mạn Khanh: Người đời Tống, tính lỗi lạc, có khí tiết, biết phân biệt điều phải
điều trái. Thơ hay chữ tốt, thường làm những bài nói về sách lược quốc phòng.
Mễ Nam Cung: Người đời Tống, thơ hay, vẽ khéo, thường dắt bạn đi thưởng ngoạn sơn thủy. Trong thuyền lúc nào cũng đầy thơ và tranh vẽ. Vì đã làm chức Nam Cung Xá Nhân, nên người ta thường gọi là Mễ Nam Cung.
Liễu Kỳ Hình: Tên là Vinh. Đỗ Tiến sĩ đời Tống, làm chức đồn điền viên ngoại lang, nên người ta thường gọi là Liễu đồn điền. Tính lãng mạn, làm nhiều bài ca từ lẳng lơ như bài Nhạc thường tập. Hễ có vở hát nào mới ra, tất phải nhờ ông làm từ giới thiệu, thì bán mới đắt. Sau vì túng thiếu, đi lưu lạc khắp nơi. Khi chết, các chị em ca kỹ phải góp tiền làm ma cho.
Tần Thiếu Du: Người đời Tống. Học rộng nhưng tính kiêu ngạo, vì có tài nên được cử làm chức Hán lâm học sĩ, giữ việc chép sử với Tô Triệt, Tô Thức. Sau lấy em hai ông này.
Nghê Văn Lâm: Người đời Nguyên. Nhà giàu, danh sĩ các nơi thường đến chơi, thơ hay, vẽ sơn thủy khéo. Lúc già thích thanh đạm và tĩnh mịch. Chỗ ở có Thanh bật các, Văn lãm đường, trong chứa rất nhiều thơ họa, đồ cổ, sách lạ, thường đi thuyền thưởng ngoạn các nơi sơn thủy. Mặc bộ quan áo nhà quê, ở lẫn lộn vào chốn hương thôn. Có làm bộ Thanh bật các tập.
Đường Bá Hổ: Người đời Minh, nhà nghèo nhưng thích bạn, văn hay, vẽ khéo, cùng bọn Từ Trinh Khang, Chúc Chi Sơn, Văn Trung Minh. Người ta gọi là bốn tài tử ở đất Ngô Trung.
Chúc Chi Sơn: Người đời Minh, vì lúc mới đẻ có ngón tay thừa, tự hiệu là Chi Sơn. Chúc Chi Sơn xem sách rộng, thơ hay chữ tốt.
Lý Quy Niên: Người đời Đường, giỏi âm luật, cùng với Tôn đại nương lúc bấy giờ giỏi về múa hát.
Kính Tân Ma: Trùm phường chèo đời Ngũ Đại. Bấy giờ vua Trang Tông đi săn, giẫm vào ruộng lúa. Viên huyện ở đấy can, vua giận định đem giết. Kính Tân Ma trách viên huyện: “Ông làm quan ở đây lại dám cho dân cày cấy nộp thuế. Sao không để trừ chỗ này để cho vua đi săn. Thây kệ dân đói có được không? Tội ông thế đáng chết là phải”. Vua nghe nói cười lên rồi tha viên huyện.
Hồng Phật: Tên là Xuất Trần, người đời Tùy, gái hầu của Dương Tố. Lý Tĩnh mặc áo vải vào chầu Dương Tố, Xuất Trần có sắc đẹp, tay cầm phất trần, mắt vẫn liếc Lý Tĩnh. Đêm hôm ấy, lẻn sang nhà Lý Tĩnh nói: “Thiếp là thị tỳ nhà họ Dương đây, dây
leo này giờ ai uốn nhờ bóng cây cao”. Rồi hai người cùng trốn sang đất Thái Nguyên. Sau Trương Minh Phương đời Minh có làm bài Hồng Phật ký.
Tiệt Đào: Danh sĩ đời Đường, hiểu biết âm luật, làm thi từ hay, thường xướng họa với bọn danh sĩ lúc bấy giờ như Nguyên Chẩn, Bạch Cư Dị, Đỗ Mục… lại biết chế giấy hoa tiên. Hiện giờ còn có cái giếng tên Tiệt Đào Tĩnh. Có độ năm trăm bài nho truyền ở đời.
Thôi Oanh Oanh: Con gái đời Đường, văn từ giỏi. Nguyên Chẩn làm bộ Hội Chân ký nói: “Cha Oanh Oanh chết sớm. Oanh Oanh theo mẹ về Trường An ở chùa Bồ đông phổ cứu, gặp Trương Sinh thơ từ đi lại, tình yêu rất nồng nàn”. Sau Vương Thực Phủ đời nhà Nguyên có làm ra vở hát Tây Sương Ký truyền kỳ.
Triều Vân: Người đời Tống, là kỹ nữ ở Tiền Đường. Khi Tô Thức làm quan ở đấy, lấy làm nàng hầu, lúc trước thì chưa biết chữ nghĩa gì, sau nhờ có Tô Thức dạy bảo, biết làm thi từ, lại hiểu đạo Phật. Sau Tô Thức bị biếm ra Huệ Châu, đám tỳ thiếp bỏ cả, chỉ có một mình Triều Vân đi theo.
[←27]: Chỗ này Tử Hưng muốn dẫn chứng lối đặt tên con gái của họ Giả không phải là theo lối cũ như Vũ Thôn vừa hỏi ở trên.
[←28]: Theo chiếu chỉ của nhà vua cho xây nên.
[←29]: Nhà để đi qua bốn mặt không có cửa.
[←30]: Tên một huyện thuộc tỉnh Vân Nam có thứ đá hoa rất đẹp.
[←31]: Tức Giả mẫu.
[←32]: Tức Hình phu nhân.
[←33]: Tức Vương phu nhân.
[←34]: Năm chim phượng đậu núi Triệu Dương.
[←35]: Tay sắc sảo, đanh đá.
[←36]: Vương phu nhân là cô Phượng Thư, về họ nhà chồng, bà ta là thím Phượng Thư nhưng Phượng Thư lại sang ở trông coi bên nhà Vương phu nhân, nên thường gọi bà ta là thái thái. Chúng tôi tạm dịch là mẹ.
[←37]: Hưởng phúc sung sướng.
[←38]: Vạn cơ là muôn việc. Thần hàn là chữ của vua viết.
[←39]: Chờ đợi giờ để theo các quan vào chầu.
[←40]: Tức Vương phu nhân.
[←41]: Theo tục ngữ ngày xưa, muốn cho trẻ con khỏi chết non, người ta thường đem cúng vào đền chùa xin làm con nuôi thần phật và đeo cái khóa ở cổ để Bản mệnh trường sinh.
[←42]: Tên một từ chức đặt ra từ đời Đường.
[←43]: Tỉ Can là chú vua Trụ đời Ân, đời đồn tim ông có chín khiếu.
[←44]: Tích Tây Thi, một cô gái nước Việt. Vua Việt Câu Tiễn dâng lên làm vợ vua Ngô.
[←45]: Nhà gác xây kín có lò sưởi ấm.
[←46]: Mùi hoa thơm trùm phủ cả người.
[←47]: Một cung xây dựng từ đời Tần.
[←48]: Đời Thanh, các đồ dùng trong cung nhà vua đều có đặt những hiệu nhận sắm. Phải trình tên tuổi người đứng cửa hiệu để ghi vào sổ nhà vua.
[←49]: Chờ dịp tuyển vào cung.
[←50]: Hồi này có hai điểm nên chú ý:
a)Tổng quát tất cả những nhân vật và những sự việc quan hệ mật thiết tới Bảo Ngọc và gia đình họ Giả. Kim Lăng thập nhị thoa chính sách, phó sách, hựu phó sách và mười hai bài ca Hồng Lâu Mộng, có thể gọi là những câu sấm hoặc là lá số tiền định. Theo những việc ở các hồi sau chúng ta có thể đoán: thí dụ bài một: Tình Văn bị đuổi về nhà rồi chết; bài hai: Tập Nhân về sau lấy Tưởng Ngọc Hàm là một chàng hát tuồng; bài ba: Hương Lăng tức Anh Liên con Chân Sĩ Ẩn lấy Tiết Bàn đẻ con rồi chết; bài tư: Bảo Ngọc yêu Đại Ngọc, Bảo Thoa lại lấy Bảo Ngọc, rồi Bảo Ngọc bỏ Bảo Thoa đi tu; bài năm: Nguyên Xuân lấy vua, không được lâu rồi chết. Còn những bài khác hoặc nói về Đại Ngọc chết non hoặc nói về Diệu Ngọc bị kẻ cướp bắt đi, hoặc nói về Nghênh Xuân lấy phải chồng bất lương, hoặc nói về Tích Xuân chán đời đi tu… Đọc các hồi sau sẽ đoán ra được, kể ra cũng hoang đường thật. Tác giả cố ý bài trí dàn ra một cảnh mộng để xây dựng nội dung cuốn truyện đó mà thôi.
b) Nói nhiều về tình như Triệu đề, Mộ khốc, Xuân cảm, Thu bi… Lại nói đến cả chữ “dâm”, có thể ngờ là “dâm thư”, nhưng suy nghĩ hai chữ “Cảnh Ảo” (cảnh là cảnh tỉnh, ảo là mộng ảo) tác giả có ngụ ý khuyên răn, không nên lấy từ hại ý mà chê là tục.
[←51]: Bức tranh vẽ người đốt gậy cỏ lê. Lưu Hướng đời Tây Hán đến đọc sách ở gác Thạch Cừ, có một vị tiên chống gậy cỏ lê đến đốt đầu gậy làm đèn cho Lưu Hướng đọc. Về sau dùng điển này chỉ người chăm học, đọc sách cả đêm.
[←52]: Hải đường ngủ đêm xuân.
[←53]: Vợ Đường Cao Tông. Khi Cao Tông chết, bà ta tự xưng là Tắc Thiên hoàng đế.
[←54]: Vợ Hán Thánh Đế, người rất nhẹ, có thể đứng trên cái mâm mà múa.
[←55]: An Lộc Sơn, người đời Đường, tư thông với Dương Quý Phi.
[←56]: Cũng gọi là Thọ Dương Công Chúa, con gái vua Tống Vũ Đế.
[←57]: Chưa tường.
[←58]: Thái Hư: hư không, không có thật, Ảo Cảnh: cõi huyền ảo.
[←59]: Phóng xuân: thả cho mùa xuân được tự do.
[←60]: Nghiệt hải: bể oan nghiệt, tình thiên: trời ái tình.
[←61]: Cao hoang: hai cái huyệt ở trong người, châm cứu không hết, thường dùng để chỉ cái bệnh không chữa được.
[←62]: Con hát.
[←63]: Đây là kiểu đố chữ. Cây tức là mộc, đất tức là thổ. Mộc ở bên hai chữ thổ là chữ quê.
[←64]: Ngọc tức là Bảo Ngọc. Rừng tức Lâm Đại Ngọc.
[←65]: Thỏ tức là Mão, hùm tức là Dần. Theo chuyện, Nguyên Xuân chết vào cuối năm Dần, đầu năm Mão.
[←66]: Đây là một câu sấm ngữ theo tức chữ tòng. “Lệnh” tức chữ lệnh. “Thôi” tức chữ hưu. Ý nói: Lúc đầu nói gì cũng nghe, sau sai khiến được người, cuối cùng bị người bỏ.
[←67]: Tinh túy của các thứ hoa thơm.
[←68]: Một cái hang, chứa hàng nghìn màu hoa đỏ.
[←69]: Một thành ngữ có ý nói: đành chịu với định mệnh.
[←70]: Muôn sắc đẹp cùng chuốc chén.
[←71]: Tên một con sông ở Hồ Nam, chỗ Nga Hoàng và Nữ Anh ngồi khóc vua Thuấn. Về sau dùng điển này tả nỗi trai gái tương tư.
[←72]: Chỉ những người làm quan ăn lương.
[←73]: Bài thuốc của các tiên ở ngoài bể.
[←74]: Theo âm lịch một năm có hai mươi bốn tiết, chia thành xuân phân, vũ thủy, bạch lộ, sương giáng, tiểu tuyết…
[←75]: Thứ thuốc viên có mùi hoa thơm mát.
[←76]: Một thứ đồ chơi có chín cái vòng, đánh một cái làm cho chín cái vòng liền nhau.
[←77]: Theo thần thoại: tên một vị thần con vua Tỷ sa môn, diện mạo hung dữ, pháp thuật cao cường.
[←78]: Thi đỗ trạng nguyên; bốn chữ thường khắc vào cái khánh, hay những thỏi vàng; bạc nhỏ; làm tặng phẩm cho con trai, ngụ ý chúc mừng được thi đỗ cao.
[←79]: "Tiểu thúc", "Ba hôi" đều là những tiếng lóng: em chồng nằm với chị dâu; bố chồng nằm với con dâu.
[←80]: Nơi chay tịnh mộng tưởng đến Tô Đông Pha.
[←81]: Một thứ trang sức vàng hay bạc làm hình cái khóa khắc bốn chữ “Bản mệnh trường sinh” đeo lên cổ trẻ con lấy phước.
[←82]: Xem chú thích ở hồi thứ ba.
[←83]: Thông suốt đến cõi thiêng liêng.
[←84]: Đừng đánh mất, đừng bỏ quên; tuổi tiên được khỏe mạnh mãi.
[←85]: Trừ ma quỷ; chữa bệnh tật; biết được những điều dữ, điều lành.
[←86]: Không xa lìa, không rời bỏ; tuổi thơm được lâu bền mãi.
[←87]: Đôi lông mi cau lại có vẻ buồn. Các nhà văn thường dùng để tả vẻ đẹp của người buồn, có nghĩa là càng buồn càng đẹp. Cũng có khi dùng để tả vẻ đẹp của người đàn bà đa sầu đa cảm.
[←88]: Hiên: danh từ do các nhà văn xưa dùng để đặt tên chỗ ngồi chơi, ngắm phong cảnh, đọc sách, ngâm thơ… Giáng: màu đỏ; Vân: một loại cỏ thơm dùng để ướp sách cho khỏi mọt; nghĩa rộng là nơi đọc sách, thí dụ: Vân trai, Vân song… Giáng vân hiên: Hiên cỏ vân đỏ, có thể hiểu là nơi đọc sách.
[←89]: Tên một thứ chè ngon.
[←90]: Theo thiên văn thời cổ: Khôi là ngôi sao đẩu của sao bắc đầu, ứng vào người nào thi đỗ trạng nguyên.
[←91]: Một ty coi riêng về công việc kiến trúc.
[←92]: Chữ trong Kinh Thi: Du du lộc minh, thực dã chi bình. Lý Quí không biết đọc sai nên mọi người mới cười.
[←93]: Long Dương quân: một bầy tôi rất được yêu thương của vua nước Ngụy đời Chiến quốc. Về sau dùng điển này chỉ cái bệnh thích con trai hơn con gái.
[←94]: Cũng như nói: học ngày đực ngày cái.
[←95]: Tên một hải đảo ở ngoài Thái Bình Dương, người ta cho là Java ngày nay. Ở đây ý nói cơn giận tan hết.
[←96]: Một thứ văn khuyên người làm phúc.
[←97]: Theo tục lệ cổ, người dưới nhận lời mời của người trên, nếu có danh thiếp mời thì trả lại; tức là tỏ ý khiêm tốn, không dám tự coi là ngang hàng.
[←98]: Chí: Theo phép xem mạch của đông y: mạch trung bình là một hơi thở, mạch mổ bốn cái, không đủ bốn cái gọi là trì, quá bốn cái gọi là sác. Vậy số chí là số mổ nhiều hay ít của mạch trong một hơi thở.
[←99]: Đây là những danh từ về mạch lý và y lý của đông y.
[←100]: Tên một cái suối ở Chiết Giang, tương truyền là chỗ Tây Thi giặt vải ngày xưa.
[←101]: Tên một quả núi ở Chiết Giang. Theo thần thoại Lưu Thần, Nguyễn Triệu gặp tiên ở trên núi này.
[←102]: Nghĩa đen của chữ “thủ dâm” trong Tây Sương Ký.
[←103]: Cái gương báu để cho những người say đắm tình duyên trăng gió tự soi mà tỉnh ngộ lại.
[←104]: Một ty chuyên môn suy tính theo thuyết âm dương sinh khắc chọn ngày tốt cho việc hiếu, hỷ…
[←105]: Nghĩa chung: trường học; nghĩa riêng: trường Quốc Tử Giám dưới triều đại phong kiến.
[←106]: Những nghi trượng như cờ, lọng, bài quan hàm của bọn quan thời phong kiến.
[←107]: Gọi con ong đến, ý nói có nhiều hoa.
[←108]: Linh vị của nghi nhân họ Tần; nàng dâu họ Giả được triều đình phong hàm.
[←109]: Tên quan hàm.
[←110]: Bài làm bằng gỗ, hoặc bằng tre, có dấu hiệu và có số riêng của các gia đình quý tộc phong kiến, dùng để cấp phát tiền lương và các dụng cụ.
[←111]: Theo lễ bên nhà chùa; tức là Đàn mông sơn.
[←112]: Theo phái đạo gia (phái tu tiên): Tam thanh là ba cõi trong sạch nhất: Ngọc thanh, Thượng thanh, Thái thanh. Có thuyết cho là ba vị thánh: Nguyên thủy thiên tông; Thái thượng đạo quân; Thái thượng lão quân.
[←113]: Những nghi lễ riêng bên nhà chùa, thường dùng trong tuần bốn mươi chín ngày để siêu độ vong linh.
[←114]: Đưa linh hồn về cõi phật.
[←115]: Long câu: con ngựa non, giống tốt, ví như con rồng. Phượng sồ con phượng non, dùng để ví những bậc tài tuấn tú. Tấn thư, truyện Lục Vân: đứa trẻ này không phải là long câu thì là phượng sồ.
[←116]: Ví con giỏi hơn cha.
[←117]: Theo tập quán phong kiến Trung Quốc, con gái khi lấy chồng mới cạo mặt, vẽ lông mi.
[←118]: Phượng Thư có ý ghen chồng coi những người đàn bà ngoài thân hơn vợ, mới mượn hai tiếng ấy để nói đùa.
[←119]: Cung phi được phép về thăm cha mẹ, các thân thuộc, gọi là “tỉnh nhân”.
[←120]: Việt: Quảng Đông, Mân: Phúc Kiên, Điền: Vân Nam, Chiết: Chiết Giang.
[←121]: Ý nói việc tuy chưa làm bao giờ, nhưng đã trông thấy người ta làm.
[←122]: Về sau dùng nhiều danh từ chỉ chung cho người đã chết.
[←123]: Màu xanh của núi và của cây cối chồng chất lên nhau.
[←124]: Núi gấm.
[←125]: Trại thi nhau. Hương lô: Đời Hán có người thợ khéo lắm in một cái lư hương như hình quả núi, gọi là Bắc sơn hương lô. Ở đây ý nói quả núi này đẹp hơn Bắc sơn hương lô.
[←126]: Nụ Chung Nam nhỏ: một quả núi ở phía nam Thiểm Tây, phía đông Hà Nam, phía tây Cam Túc, phong cảnh rất đẹp.
[←127]: Con đường nhỏ, quanh co, đưa đến chỗ thắng cảnh.
[←128]: Âu Dương Tu tự là Tính Thúc, hiệu là Túy ông. Một nhà văn nổi tiếng ở đời Tống có làm hai bài ký Túy ông đình. Nay ở Từ Huyện, tỉnh An Huy, còn di tích cái đình này.
[←129]: Quang đãng, sáng sủa.
[←130]: Suối chảy qua khe giữa hai quả núi.
[←131]: Nước chảy ra từng hạt ngọc.
[←132]: Nước suối ngon có thể dùng để nấu rượu.
[←133]: Nước đượm mùi thơm.
[←134]: Điển tích trong Kinh Thi. Phong nhã của bên Kỳ sót lại.
[←135]: Di tích của vườn Thư.
[←136]: Có chim phượng đến múa, ý nói điềm lành trong cảnh tượng thái bình.
[←137]: Phạm Thành Đại, hiệu Thạch Hồ cư sĩ, một nhà văn nổi tiếng đời Cao Tông triều Nam Tống, có làm bài thơ tả phong vị nhà làm ruộng.
[←138]: Trên ngọn cây mận treo kỳ bài bán rượu.
[←139]: Cờ bán rượu trên cây hạnh trước mặt.
[←140]: Cửa tre dòm xuống nước, mùi lúa thơm ngào ngạt.
[←141]: Theo bài ký “Nguồn đào” (Đào nguyên) của Đào Tiềm đời Tấn.
[←142]: Nhà cũ của người đời Tần, tức là người đời Tần vào tránh loạn ở trong Đào nguyên.
[←143]: Bờ cỏ liễu bên hoa (cỏ liễu là một loại cỏ thơm mọc dưới nước).
[←144]: Gió hoa lan, sương hoa huệ.
[←145]: Hoa cỏ đầy sân khóc bóng chiều.
[←146]: Thơm mát của cỏ hành cỏ chi.
[←147]: Viết lên lá chuối chữ còn xanh.
[←148]: Chỗ này ý nói Bảo Ngọc nhớ lại giấc mộng đã nói ở trong hồi thứ năm.
[←149]: Cây chuối và con hạc.
[←150]: Màu sáng lộng lẫy dọi ra nhiều vẻ.
[←151]: Tùng, trúc, mai gọi là ba người bạn mùa đông.
[←152]: Các nữ quan trong cung.
[←153]: Nhờ nhân đức nhà vua.
[←154]: Cảnh đẹp cõi tiên.
[←155]: Nhà riêng về thăm cha mẹ.
[←156]: Vườn lớn, nhiều phong cảnh đẹp, làm cho người du lãm có một tầm mắt bao la.
[←157]: Trông thấy ơn vua thì nghĩ đến nghĩa lớn.
[←158]: Quán trên sông Tiêu, sông Tương.
[←159]: Màu đỏ, màu xanh cùng vui tươi.
[←160]: Trại giặt vải ở gần núi.
[←161]: Lầu trăng gấm.
[←162]: Thơm mùi ngó sen.
[←163]: (41). Hoa súng tía.
[←164]: Lá ngô đồng gặp gió mùa thu.
[←165]: Hoa lan gặp đêm tuyết.
[←166]: Muôn vẻ đua sáng.
[←167]: Họp mọi màu sáng và chung đức điểm lành.
[←168]: Suối cõi tiên ở ngoài cõi trần.
[←169]: Ngọn ngọc mùa xuân còn đang cuốn (chỉ cây chuối).
[←170]: Cây sáp xanh.
[←171]: Ngọn đuốc không có khói mà cây sáp xanh cứ khô dần.
[←172]: Thầy dạy một chữ.
[←173]: Thơm mùi lúa.
[←174]: Bè từ bi độ chúng sinh trong bể khổ.
[←175]: Nguyên là một tên đồ dùng để gãi lưng về sau làm đồ trần ngoạn, hoặc bằng vàng, hoặc bằng ngọc, ngụ ý chúc tụng những sự tốt lành.
[←176]: Từ chúc tụng.
[←177]: Từ chúc tụng.
[←178]: Từ chúc tụng.
[←179]: Từ chúc tụng.
[←180]: Tập Nhân họ Hoa.
[←181]: Đại Ngọc nói bóng nói gió, nhắc đến “lãnh hương hoàn” của Bảo Thoa (xem hồi thứ 8) có nghĩa là “hương lạnh” nên Đại Ngọc dùng nghĩa trái là “hương ấm”.
[←182]: Theo chữ Trung Quốc: “khoai thơm”, “ngọc thơm” đều đọc giống nhau.
[←183]
[←184]: Trong đời phong kiến Trung Quốc, theo tục mới cưới, chú rể gỡ tóc cài trâm cho cô dâu. Ở đây Tình Văn dùng câu đó để nói đùa hai người.
[←185]: Không vì người thân mà xa người sơ, cũng không vì người trước mà lấn người sau.
[←186]: Tiếng Trung Quốc, chữ “ái” đọc gần giống chữ “hai” (nhị). Ái lại có nghĩa là yêu. Tương Vân nói ngọng bị Đại Ngọc chế, Tương Vân lại dùng chữ đó để trêu Đại Ngọc.
[←187]: Hối khí: nghĩa là xấu, là xúi quẩy. Ở đây dùng nghĩa bóng, ý nói mùi hôi phản lại hương là mùi thơm. Theo tiếng Trung Quốc: chữ "Hối" và chữ "Huệ" đọc giống nhau.
[←188]: Tên bộ sách của Trang Chu, tức Trang Tử, người đời Chiến quốc.
[←189]: Trong kinh Nam hoa có chia làm hai phần: nội thiên cho là của Trang Tử làm; ngoại thiên cho là của người sau chép vào. Khư níp: mở trộm cái hộp kín, là khám phá ra những lý lẽ bí ẩn.
[←190]: Sáu ống luật là những âm nhạc cổ.
[←191]: Tên một nhạc sư nước Tấn đời Xuân Thu, mù mắt, rất thính tai, giỏi về âm nhạc.
[←192]: Tên một người mắt rất sáng ở đời cổ, có thuyết cho là Ly Lâu, người đời Hoàng Đế.
[←193]: Tên một người thợ khéo đời cổ.
[←194]: Hoa chỉ Tập Nhân; Xạ chỉ Xạ Nguyệt.
[←195]: Tục cổ, chứng đậu mùa là chứng rất nguy hiểm, nhưng phải kiêng. Trung Quốc gọi là "hỉ" (tin mừng), ta gọi là "tốt".
[←196]: Có nghĩa là đa tình.
[←197]: Chỉ Phượng Thư hay ghen.
[←198]: Theo tục cổ ở Trung Quốc, con gái đến mười lăm tuổi thì cài trâm.
[←199]: Tên một quả núi thuộc tỉnh Sơn Tây Trung Quốc. Tương truyền nơi Phật hóa thân.
[←200]: Côn sơn và Giặc đương là hai điệu hát. Côn thuộc về nhã nhạc. Giặc thuộc về tạp hí.
[←201]: Tích Lỗ Trí Thâm say rượu… nói ở trên.
[←202]: Tên một khúc hát, diễn tích Uất Trì Kính Đức đời Đường giả điên. Ở đây Đại Ngọc dùng tiếng song quan để giễu Bảo Ngọc. Câu này còn có nghĩa: chưa hát "Sơn môn" anh đã giả điên.
[←203]: Ý nói những chỗ rừng núi sông ngòi tự nhiên thành chỗ tụ tập của kẻ cướp kẻ trộm.
[←204]: Bài kệ này viết theo giáo lý nhà Phật. Chứng là theo bằng chứng, giáo nghĩa là giáo lý. Chứng có nhiều bực, từ sắc giới đi đến không giới. Bài kệ này là theo ý bài "Ký sinh thảo" trong vở Sơn môn mà Bảo Ngọc suy rộng ra.
[←205]: Hiểu theo đạo Phật.
[←206]: Sạch sẽ và im lặng. Câu này theo nghĩa bài kệ trên, lên cao một bậc nữa, tức là thoát hẳn ra "không giới".
[←207]: Sư nấu bếp.
[←208]: Áo là áo cà sa, bát là bát khất thực (xin ăn). Theo tục lệ đạo Phật ngày trước, các tín đồ nuôi các sư, đến bữa vác bát đi lấy cơm, gọi là khất thực, nhà sư tùy thân chỉ có cái áo và cái bát, sư thầy truyền đạo cho người thừa tự, gọi là "truyền y bát".
[←209]: Sách chép những triết học, tư tưởng và ngôn luận của các danh tăng.
[←210]: Mùi thơm của hoa ngát xung quanh người, biết là ban ngày trời ấm.
[←211]: Nguyên văn câu này: Khi người tựa cửa quay về thì hoa tuyết rơi đầy.
[←212]: Tức truyện Tây Sương, Nguyên Chẩn đời Đường làm ra.
[←213]: Hoa đỏ rụng thành từng trận.
[←214]: Chữ trong Tây Sương Ký.
[←215]: Câu này trích trong vở Mẫu Đơn Đình, Thang Hiển Tổ đời Minh soạn ra.
[←216]: Cũng chữ trong Tây Sương Ký.
[←217]: Các chất thơm như bạch đàn, băng phiến, xạ hương, v.v.
[←218]: Ý nói tham muốn ăn to.
[←219]: Những bài chú trong kinh Kim Cương của đạo Phật.
[←220]: Lã Động Tân, người đời Đường, tu ở núi Chung Nam, tương truyền là một vị tiên trong Bát tiên. Câu này ý nói không phân biệt người hay người dở.
[←221]: Đời Thanh con gái còn nhỏ thì cạo quanh đầu, chỉ để chỏm giữa. Đến khi lớn mới để tóc.
[←222]: Đuôi phượng là hình dung lá trúc, sáo rồng là hình dung tiếng gió thổi qua lá trúc.
[←223]: Câu trong Tây Sương Ký.
[←224]: Ngày xưa người Trung Quốc trai gái đùa nhau, thường lấy ngón tay cái và ngón tay giữa nhíp lại, xát nhau cho bật ra thành tiếng.
[←225]: Mượn lời trong truyện Tây Sương, Trương Sinh nói với Tiểu Hồng là đầy tớ của Thôi Oanh Oanh.
[←226]: Sự thực chỗ này chưa rõ, xin dịch đúng nguyên văn, đợi nghiên cứu sau.
[←227]: Tên một nhà danh họa đời Minh, cũng hơi giống như chữ "canh hoàng". Tiết Bàn vì dốt nên đọc sai.
[←228]: Thủy cầm: như các giống vịt, ngỗng, le, cốc… thích ở dưới nước.
[←229]: Con ve lột xác, nghĩa là biến đổi thân hình mình để người khác không trông thấy.
[←230]: Thương, buồn, mừng, vui.
[←231]: Dùng để chế anh chồng cho vợ đi ngoại tình.
[←232]: Nguyên văn là "hoa khí Tập Nhân tri trú noãn". Hai chữ "Tập Nhân" trùng với tên Tập Nhân, a hoàn của Bảo Ngọc, nên Tiết Bàn mới lấy đó để chế nhạo Bảo Ngọc.
[←233]: Dùng để chế giễu người ngốc.
[←234]: Ngày xưa, những người quan quí không tự mình đi tu được, kiếm người khác tu thay, để được phúc hoặc chuộc tội. Người ấy gọi là thế mạng.
[←235]: Lưu Bang trước khi khởi nghĩa, chém chết con rắn trắng. Đêm ấy có người đàn bà đến khóc: "Con rắn trắng này là con Bạch Đế, bị con Xích Đế (tức Lưu Bang) chém chết". Sau quả nhiên Lưu Bang giết được Hạng Vũ, lên làm vua tức vua Cao Đế nhà Hán.
[←236]: Hốt bầy đầy giường; chép chuyện Quách Tử Nghi đời Đường, có bảy con trai và tám chàng rể đều làm quan cao và sống lâu.
[←237]: Tên vở kịch do Thang Hiển Tổ đời Minh soạn, tả việc Thuần Vu Phần, đời nhà Đường. Thuần nhân ngày sinh nhật, uống rượu say nằm ngủ ở dưới cây hòe, về bên phía Nam cạnh nhà, mộng thấy đến nước Đại Hòe An lấy công chúa, làm quan thái thú quận Nam Kha hai mươi năm, đẻ được năm trai hai gái, đều hiển quí cả, sau đánh nhau với giặc bị thua, phải cách chức, công chúa đã chết. Lúc tỉnh dậy, mặt trời chưa lặn, chén rượu hãy còn nguyên ở bàn. Khi ra gốc cây hòe, thấy có tổ kiến, ông ta cảm thấy cuộc đời phút chốc, công danh cũng như giấc mộng vậy, liền bỏ nhà lên núi học đạo, chẳng thiết gì việc đời nữa.
[←238]: Nguyên văn: "Đắp tường phải lễ thổ thần" nghĩa cũng như trên.
[←239]: Mang roi đến chịu tội. Đời Chiến quốc, Liêm Pha mang roi từ nhà đến xin lỗi Lạn Tương Như.
[←240]: Một viên thuốc trắng và thơm để thấm nhuần nước bọt.
[←241]: Đời Chiến quốc có nàng Tây Thi, nhan sắc tuyệt vời, khi nhăn mặt lại càng đẹp. Ở phía đông trong làng có một người con gái rất xấu, thấy thế cũng bắt chước. Nhưng khi cô ta nhăn mặt, người giàu trông thấy phải đóng cửa, không dám nhìn, người nghèo trông thấy phải đem cả vợ con trốn đi nơi khác.
[←242]: Sao Ngưu Lang và sao Chức Nữ.
[←243]: Theo sách thuật dị: có một giống người ở dưới biển như cá (giao nhân), dệt ra được thứ lụa đẹp, gọi là lụa giao.
[←244]: Nước móc pha với quế.
[←245]: Nước móc pha với nước hoa mai khôi có mùi thơm.
[←246]: Thời phong kiến, phụ nữ đứng như vậy là một cử chỉ khinh bạc.
[←247]: Sợi tơ bay dưới ánh sáng.
[←248]: Tên chữ là Thanh Thần, đỗ tiến sĩ đời Đường, học rộng văn hay, viết các lối chữ rất đẹp. Khi làm thái thủ quận Bình Nguyên, đem quân đi đánh An Lộc Sơn, được phong Lỗ quận công. Sau Lý Hy Liệt làm phản, Chân Khanh bị nó giết.
[←249]: Tức Bạch Liên Xã, pháp sư Tuệ Tiễn đời nhà Tần, ở chùa Đông Lâm, họp 123 người, vừa nho vừa thích, kết làm bạn nghiên cứu triết lý và phật học. Vì chùa này trồng nhiều sen trắng, nên lấy nó đặt tên.
[←250]: Ở tỉnh Chiết Giang, Tạ An đời nhà Tấn thường ra chơi ở đây.
[←251]: Ông già làm ruộng ở Đạo hương thôn.
[←252]: Người ẩn dật ở Thu sảng trai.
[←253]: Người đứng dưới cây chuối.
[←254]: Không có việc nhưng vẫn bận.
[←255]: Chủ hoa ở động Giang Tiên.
[←256]: Theo luật thơ Đường, mỗi bài thơ tám câu phải có năm câu gieo đúng vần, tức câu 1, 2, 4, 6, 8. Những vần đều quy từng nhóm, như vần đồng, vần giang, vần chi… Thập tam nguyên tức là vần “nguyên” ở hàng thứ mười ba. Bồn, hồn, ngôn, hôn đi theo với môn, đều thuộc vần “nguyên”.
[←257]: Thứ hương ngửi vào đâm say sưa.
[←258]: Những bài thơ dưới đây, hạn vần đều gieo đúng chữ (môn, bồn, hồn, ngôn, hôn) cả, nhưng vì hạn chế của dịch thuật, chúng tôi phải dịch theo vần khác
[←259]: Tiên mặc đồ trắng.
[←260]: Tức Dương quý phi.
[←261]: Mặt trăng.
[←262]: Con gái Trương Dật nhà Đường, có sắc đẹp. Lúc đó Trương Dật hẹn gả cho cháu ngoại là Vương Trụ, vì thế hai người vẫn quyến luyến nhau. Đến lúc lớn, Trương Dật đem gả cho người khác. Thiến Nữ và Vương Trụ uất ức lắm. Sau Vương Trụ đi thuyền vào Kinh, nửa đêm Thiến Nữ chợt nhảy qua thuyền rồi rủ nhau trốn vào đất Thục, ở đấy năm năm đẻ được hai con. Khi về thăm nhà, Trương Dật trông thấy sợ lắm, vì con gái mình bị ốm đã mấy năm nay ở trong buồng. Khi Vương Trụ và Thiến Nữ đến nhà, người con gái ấy đương nằm ở trong buồng chạy ra đón, thì hợp ngay với Thiến Nữ thành một; sau người ta thường dùng chữ “Thiến Nữ ly hồn” để tả người con gái vì tình mà chết.
[←263]: Ngày mồng 9 tháng Chín.
[←264]: Tức Đào Tiềm, người đời Tấn. Vì ông làm quan Lệnh ở Bành Trạch, nên cũng gọi là Đào Bành Trạch.
[←265]: Tức Trang Chu, người đời chiến quốc, làm Lại ở Tất viên, nên người ta gọi là Tất Lại.
[←266]: Người đời Tống, tu luyệt thành tiên. Đời sau cũng có người gọi Tô Đông Pha là Pha Tiên.
[←267]: Tức Thích Huyền Trang, người đời Đường, sang Ấn Độ lấy kinh. Vua không cho đi, ông ta trốn ra cửa Ngọc Quan, rồi đến Thiên Trúc, vào chào Thượng tọa giới hiền. Người cho vào nước Chi La. Vua nước ấy cấp cho Đường Tăng con tuấn mã chở kinh về, tất cả hơn 600 bộ.
[←268]: Hạng Võ nước Sở, rất khỏe, một tay nhấc được vạc nặng nghìn cân.
[←269]: Đây là lối nói của một bà già nhà quê, không biết cách tính toán thế nào.
[←270]: The mỏng như cánh ve sầu.
[←271]: Dơi bay theo đám mây.
[←272]: Trăm con bướm hút nhị hoa.
[←273]: Thứ the mềm và mỏng như làn khói.
[←274]: Mưa tạnh trời xanh.
[←275]: Màu hoa mùa thu.
[←276]: Thứ the màu ráng trời.
[←277]: Mễ Tương Dương tên là Mễ Thị, tên chữ là Nguyên Chương, người đất Tương Dương, đời nhà Tống. Văn hay chữ tốt, lại có tài riêng về sơn thủy nhân vật, thích chơi đồ đá lạ vàng quý. Ông đã làm những bộ sách như Bảo tấn anh quang tập, Như sử, Họa sử, Nghiên sử.
[←278]: Tức Nhan Chân Khanh (xem chú thích hồi 37).
[←279]: Hai khánh chồng lên nhau, như giống cá hai mặt ở bên phải.
[←280]: Tức Lý Thương Ân, người đời Đường, có lối thơ chải chuốt tình tứ.