Hồng Lâu Mộng (có hình minh họa)

Lượt đọc: 201 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chứ Thích Tập 2

❊ ❊ ❊

[←1]: Lông mày ông già, tức là trà búp trắng như tuyết.

[←2]: Chén hình quả bầu.

[←3]: Đồ chơi quý của Vương Khải ngày xưa.

[←4]: Tháng tư năm Nguyên phong thứ năm đời Tống, ông Tô Thức người ở My Sơn tìm thấy trong bí phủ.

[←5]: Có tâm linh thông cảm với nhau. Kiều: một thứ chén xưa hơi lớn hơn cái chén uống rượu.

[←6]: Chữ trong kinh phật, nghĩa là: tăng tục đều bình đẳng với nhau.

[←7]: Xem chú thích hồi 17.

[←8]: Nguyên văn là “Khả xảo”, già Lưu nghe vậy mới đặt tên là “Xảo Thư”.

[←9]: Khi Uyên Ương đọc “tửu lệnh”, Đại Ngọc theo lệnh hai câu thơ lấy trong “Mẫu Đơn Đình” và “Tây Sương Ký”: “Ngày vui cảnh đẹp tự giời biết sao” và “song the nào thấy ả Hồng báo tin” (xem hồi 40).

[←10]: Bức tranh vẽ mang con cào cào đi cắn.

[←11]: Tức Vương phu nhân.

[←12]: Lạc Thần tên là Bật Phi, tương truyền là con gái họ Nhân. Khi Tào Tháo đánh Viên Thiệu, bắt được Nhân Thị mang về. Tào Thực xin không cho, đem cho con trưởng là Tào Phi. Tào Phi lập Nhân Thị làm hoàng hậu, sau có tội bị chết. Tào Thực nhớ Nhân Thị quá khi đến bến Lạc Thủy thấy Nhân Thị hiện ra. Tào Thực vui mừng làm bài Lạc Thần Phú.

[←13]: Tích vợ Vương Thạch Bằng là Tiến Ngọc Liên nghe đồn chồng lấy vợ lẽ, đâm đầu xuống sông tự tử, nhưng lại có người cứu. Vương Thạch Bằng cũng nghe đồn vợ đã chết rồi liền đặt một bàn tế.

[←14]: Ý nói hay ghen tuông.

[←15]: Thời phong kiến, những người được phong chức tước hoặc con làm quan to mà cha mẹ được phong, đều gọi là phong quân hoặc phong ông.

[←16]: Những người làm tôi tớ cho bọn quý tộc địa chủ trong thời phong kiến.

[←17]: Tư Mã Ngưu: học trò Khổng Tử, không có anh em nào.

[←18]: Các bài thơ trong Nhạc phủ.

[←19]: Đêm giăng hoa ở sông mùa xuân.

[←20]: Buổi chiều mưa gió trước cửa sổ mùa thu.

[←21]: Trọng của hơn người.

[←22]: Nguyên văn: truyện con cắt của vua Huy Tông đời Tống, con ngựa của Triệu Tử Ngang và truyện quan trạng lên đậu mùa đang mưng.

[←23]: “Bão” là ôm, “bội” là cõng. Người Trung Quốc thường dùng chữ trong khi khôi hài. Việc Giả Liễn ngoại tình với vợ Bão Nhị xem ở hồi 44.

[←24]: Ý nói được cái nọ lại mong cái kia.

[←25]: Nguyên văn: Vũ thôn “phong thôn”.

[←26]: Vợ vua Thuấn là Tương phu nhân. Khi vua Thuấn chết, bà khóc nhiều quá, nước mắt nhỏ vào cành trúc đến đâu thì có vằn đến đấy, nên gọi là Tương phi trúc.

[←27]: Tức Lục Du, người đời Tống, làm thơ rất giỏi.

[←28]: Nguyên văn “Hàn”, vì hạn chế của dịch, phải dịch theo vần khác.

[←29]: Tức Đỗ Phủ.

[←30]: Tức Vi Ứng Vật, người đời Huyền Tông và Đức Tông nhà Đường.

[←31]: Tức Ôn Đình Quân người đời nhà Đường, làm thơ rất nhanh, xoa tay tám lần là làm xong bài thơ, vì thế người ta gọi là Ôn Bát Soa.

[←32]: Đã chú thích ở hồi 40.

[←33]: Mạnh Quang là vợ Lương Hồng, nhà nghèo, nhưng vẫn kính trọng nhau như chủ với khách. Khi đưa đồ ăn cho chồng, Mạnh Quang dâng khay lên đến tận lông mày.

[←34]: Chữ trong “Tây Sương Ký”.

[←35]: Một bài thơ Đường luật 5 chữ, tả cảnh trước mắt, mỗi người nối một câu, hạn vần “nhị tiêu”.

[←36]: Nguyên văn mỗi câu năm chữ. Muốn đọc dễ hiểu, chúng tôi xin dịch ra thể lục bát.

[←37]: Núi Đại Dĩu cao tuyệt vời có nhiều hồng mai và bạch mai.

[←38]: Cát Hồng đời Tấn tu tiên ở núi này.

[←39]: Ông tên là Cửu Anh, người quận Thái Thương, nhà Minh, có tài vẽ, nhất là vẽ nữ sĩ, thì thần thái rất sinh động.

[←40]: Đây là câu đố, chưa rõ nghĩa là gì.

[←41]: Chữ ở sách Đại học, nghĩa là cốt ở chỗ làm điều lành.

[←42]: Chữ trong sách Trung dung. Nghĩa là: tuy làm điều lành nhưng không có báo ứng.

[←43]: Sơn Đào người đời Tấn. Theo nghĩa chữ Hán, “sơn” là núi, “đào” là sóng. Có nghĩa là nước ở trong núi. Đúng với nghĩa câu đố “nước ở bên đá chảy ra”.

[←44]: Theo chữ Hán, chữ “hoa” trên là bộ “thảo”, dưới là chữ “hóa”. Tục truyền giống đom đóm là do cỏ mục hóa ra, tức là chữ “thảo” và chữ “hóa”, cho nên đố chữ “huỳnh”, đoán chữ “hoa” là đúng.

[←45]: Tên điệu hát.

[←46]: Chữ trong sách Luận ngữ.

[←47]: Các cô gái đẹp họp trong buồng mùa đông.

[←48]: Nguyên văn là thơ ngũ ngôn, vì hạn chế về vần, chúng tôi dịch theo thể lục bát.

[←49]: Phù hư vi xúc: danh từ mạch lý của Đông y, ý nói khí huyết suy nhược.

[←50]: Một thứ đồ chơi làm bằng vàng bạc hay ngà voi, có chạm cỏ chi, hoặc đám mây, để mừng tặng nhau.

[←51]: Tiếng của nhà Phật, là tám thứ quý báu.

[←52]: Nhà thờ họ Giả.

[←53]: Sao Phụ bật sáng ngời.

[←54]: Cẩn thận việc về sau, tưởng nhớ người đã khuất.

[←55]: Theo điển tế tự của Trung Quốc thời trước, trong nhà thờ thủy tổ ở giữa, hai bên hàng chiêu ở bên tả, hàng mục ở bên hữu, chiêu thuộc hàng cha, mục thuộc hàng con.

[←56]: Rồng mây chúc thọ.

[←57]: Một thứ rượu nấu bằng cỏ đồ tô, uống vào ngày nguyên đán để trừ dịch khí.

[←58]: Canh nấu bằng hoa hợp hoan, một thứ hoa màu đỏ, sớm nở tối cụp, tượng trưng cho sự đoàn kết.

[←59]: Quả ăn vào được phúc lành.

[←60]: Ba người bạn trong mùa rét: tùng, bách, mai.

[←61]: Hoa mẫu đơn.

[←62]: Giống thú trông giống con rồng, có một chân đỡ lấy cái bình phong.

[←63]: Một cái dùi nhỏ bằng gỗ bọc da hình như nắm tay người con gái, dùng để đấm mình.

[←64]: Tên vở kịch của Viên Vu Lệnh nhà Thanh soạn, diễn điển Vu Quyên cùng Mục Tố Huy khi tan khi hợp.

[←65]: Vở kịch do Từ Thúc Hồi đời nhà Minh soạn, diễn tích Triệu Thuẫn người nước Tấn đời Xuân Thu.

[←66]: Một chuyện thần thoại diễn tích Kim Hoa nương nương.

[←67]: Phượng Thư dùng toàn những câu cuối hồi các truyện ra để pha trò cười.

[←68]: Chuyện ông Lão Lai đã 70 tuổi, còn mặc áo hoa sặc sỡ, múa hát để bố mẹ vui.

[←69]: Trong Tây Sương Ký: Khi Tôn Phi Hổ đem quân đến vây chùa Tướng Quốc, chú tiểu Huệ Minh đã dũng cảm, cầm lá thư của Trương Sinh đưa đến Bạch Mã tướng quân, nhờ đem quân về giải vây, cứu thoát mẹ con Thôi Oanh Oanh trong tay giặc.

[←70]: Vui mừng xuân đến cả cuối lông mày, ý nói vui mừng quá.

[←71]: Tức là Chu Hy, tên chữ là Trọng Hối, Hối Ông, Khảo Đình hay Chu Văn Công, là một nhà lý học đời Tống. Đời sau thường gọi là Khảo Đình học phái. Bất tự khí là không nên bỏ phí vật gì.

[←72]: Hình như tác giả bịa ra để cười cho vui, chứ không có người như thế.

[←73]: Chữ trong sách Luận ngữ.

[←74]: Tiền mừng tuổi, hoặc thưởng, ngoài gói bằng giấy đỏ.

[←75]: Trong thời phong kiến, việc đến hỏi thăm vua chúa, hoàng hậu, hoặc quí tộc bậc cao, đều gọi là “thỉnh an”.

[←76]: Trong sách Luận ngữ khi ông Khổng tử đến nước Khuông, người nước Khuông tưởng là Dương Hóa, liền đến vây lại.

[←77]: Bạn thân với nhau, đời này đến đời khác.

[←78]: Ý nói đi không bằng ở lại.

[←79]: Kinh Kha và Nhiếp Chính: hai người nghĩa hiệp đời Chiến Quốc. Kinh Kha nhận lời với con vua nước Yên, đến giết Tần Vương, không trúng, bị quân Tần giết chết. Nhiếp Chính nhận lời với Nghiêm Trọng Tử, giết vua Hàn Ai Hầu và Hiệp Lũy rồi cắt mũi khoét mặt tự tử.

[←80]: Người dạy.

[←81]: Học trò Khổng tử, ông biết nghe hiểu tiếng chim.

[←82]: Nguyên văn: một bàn tay vỗ không nên tiếng.

[←83]: Cây hoa nhài.

[←84]: Phương là vuông, viên là tròn; đây là dùng chữ trái nghĩa để đối chọi lại.

[←85]: Câu này có bản chép là lão thái thái (tức Giả mẫu), có bản chép là đại thái thái (tức Hình phu nhân) và tiếp ngay câu sau nói: “Hai mẹ con khéo gặp nhau thế”. Nhưng ở Hồi hai mươi hai có nói đến sinh nhật Bảo Thoa vào ngày 21, ngoài ra không có sinh nhật ai nữa. Chúng tôi dịch theo chữ đại thái thái (bà Cả) và dưới đổi là “hai người khéo gặp nhau” để đợi trả lời sau.

[←86]: Theo tục lệ phong kiến Trung Quốc đời xưa, ngày sinh nhật chủ nhà, thì tôi tớ phải lạy mừng; ngày sinh nhật của tôi tớ, cũng phải lạy chủ nhà.

[←87]: Một trò chơi rượu, đại khái: người này dùng chữ đố, người kia dùng chữ giảng.

[←88]: Đánh toan.

[←89]: Ta không bằng lòng lão làm vườn chữ trong sách Luận Ngữ.

[←90]: Ngôi nhà yên lặng để đọc sách.

[←91]: Chức quan giữ trống canh buổi sáng.

[←92]: Gà đậu trên giậu chữ trong Kinh Thi.

[←93]: Bài này mỗi câu có một điển tích, đúng như lời Tương Vân giao hẹn.

[←94]: Võ Hậu đời nhà Đường, có Chu Hưng và Lai Tuấn Thần tra xét tội phạm rất là tàn ác. Sau có người nói: Chu Hưng làm phản. Võ Hậu sai tra hỏi. Lai Tuấn Thần mời Chu Hưng đến hỏi: “Tôi tra xét tù phạm nhiều đứa không chịu thú thì nên làm thế nào?” Chu Hưng nói: “Việc ấy rất dễ, chỉ lấy một cái vò lớn, đốt than nóng xung quanh, rồi bắt nó vào, thì việc gì nó chẳng thú nhận”. Lai Tuấn Thần liền sai người lấy cái vò lớn, đốt than đỏ lên, rồi nói với Chu Hưng: “Xin mời bác vào trong vò, vì có người cáo giác bác”. Chu Hưng cúi đầu xin nhận tội.

[←95]: “Đầu vịt” tiếng Trung Quốc cũng đọc là a đầu, và a đầu có nghĩa là đứa ở.

[←96]: Cỏ tinh tinh cứ đến mùa hạ mùa thu nở hoa nhỏ như sao.

[←97]: Hoa nguyệt nguyệt là một loại hoa hồng, cứ đến cuối tháng sáu thì nở.

[←98]: Trong nguyên bản, chỗ này còn thêm một đoạn: Bảo Ngọc cho Phương Quan ăn mặc giả trai và đổi tên là Hung Nô, sau lại đổi thành tên Thổ Phồn là “Da luật hung nô”. Mọi người thấy vậy cũng mến, liền cho Quỳ Quan, Đậu Quan cũng ăn mặc giả trai và đổi tên… Nhưng các bản Hồng Lâu Mộng khác đều lược đi. Chúng tôi thấy đoạn này không cần thiết lắm, nên cũng không dịch thêm nữa.

[←99]: Tức Giả Kính.

[←100]: Người con gái đẹp nước Việt, mỗi khi nhăn mặt lại thấy đẹp thêm. Có nàng Đông Thi rất xấu, cũng bắt chước ôm bụng nhăn mặt, người ta trông thấy bỏ chạy. Tục truyền Tây Thi có đến giặt áo quần ở khe Nhược Gia (thuộc huyện Thiệu Hưng).

[←101]: Vợ Hạng Vũ nước Sở, thường theo Hạng Vũ ra trận. Khi Hạng Vũ bị thua ở đất Cai Hạ, nàng rút kiếm ra tự tử.

[←102]: Kình Bố và Bành Việt là hai viên tướng đời Hán Cao Tổ; bị Cao Tổ giết chết và xào thịt làm mắm.

[←103]: Tức Vương Chiêu Quân, đời Hán Nguyên Đế, bị đưa sang cống Hồ.

[←104]: Ái thiếp của Thạch Sùng đời Tần. Khi Thạch Sùng bị giết, Lục Châu nhảy trên lầu xuống tự tử.

[←105]: Con hầu của Dương Tố đời Tùy, tên là Xuất Trần. Khi Lý Tĩnh vào hầu Dương Tố, Xuất Trần liếc mắt nhìn. Đêm ấy lẻn ra theo Lý Tĩnh.

[←106]: Vịnh năm người con gái đẹp.

[←107]: Người thợ vẽ đã vẽ xấu dung mạo Chiêu Quân.

[←108]: Tức Vương An Thạch, tể tướng đời Tống.

[←109]: Tức Âu Dương Tu, một nhà văn nổi tiếng đời Tống.

[←110]: Chỉ Giả Trân.

[←111]: Tức Phượng Thư.

[←112]: Quỳ là giống thú, giống trâu mà không có sừng.

[←113]: Người đẹp tuyệt vời.

[←114]: Theo âm lịch, sau tiết hạ chí mười ngày là “sơ phục”, mười ngày nữa là “trung phục”, đến mười ngày cuối là “mạt phục”.

[←115]: Danh từ đông y.

[←116]: Tức Chung Do và Vương Hy Chi, người đời Tấn, có tiếng là chữ tốt.

[←117]: Dưới các bài từ, chúng tôi đặt thêm thể lục bát để các bạn đọc thưởng thức.

[←118]: Tức mồng 9 tháng 9 âm lịch.

[←119]: Thạch Sùng người đời Tấn, giầu địch với vua. Đặng Thông người đời Hán, được vua yêu cho quả núi đồng để đúc tiền. Vì thế Đặng Thông rất giàu.

[←120]: Theo tục đời xưa, người chết, thì bỏ một ít tiền hoặc gạo vào trong miệng và rải một ít tiền dưới kê sau lưng để đặt người chết xuống.

[←121]: Túi có ướp chất thơm.

[←122]: Sách dạy người làm điều lành, răn điều ác.

[←123]: Chuyện Mục công nước Tần định xâm chiếm các nước chư hầu, hẹn gặp nhau ở đất Lâm Đồng, đem mỗi nước hai thứ của báu đến thi để định được thua.

[←124]: Trong nguyên bản nói cách đánh bạc như Thương Tân Khoái, Công Phiên… xét không cần thiết lắm, nên chúng tôi đổi ra là mạt chược và bài cẩu.

[←125]: Nhà làm nhô lên sườn núi.

[←126]: Đời Đông Hán có hai anh em họ Trần: anh là Nguyên Phương, em là Quý Phương đều có tài học bằng nhau, khó phân được anh hơn hay em hơn, do đó có chữ “nan huynh nan đệ”.

[←127]: Khó mà dạy bảo.

[←128]: Nhà thơ lớn đời Đường.

[←129]: Đời này nối đời khác làm quan.

[←130]: Nhà ở giữa hẻm núi có nước trong như thủy tinh.

[←131]: Nghiên cổ hơi sâu chứa mực nhiều.

[←132]: Người đời Vũ Đế nhà Hán, thích nói chuyện khôi hài.

[←133]: Người đời Nam Triều, vẽ khéo, nhất là vẽ truyền thần.

[←134]: Ý vòi được cái nọ lại đòi cái kia.

[←135]: Nguyên văn là ngũ ngôn, vần “Thập tam nguyên”, giữa câu nọ với câu kia đều đối nhau, chúng tôi dịch thoát.

[←136]: Tên hai vì sao.

[←137]: Theo âm lịch: “Hối” là ngày ba mươi hết tháng. “Sóc” là ngày mùng một đầu tháng.

[←138]: Tức cái bia.

[←139]: Nghĩa là chỉ nói suông, không có thực tế.

[←140]: Chỉ người con gái vừa đẹp vừa biết võ nghệ.

[←141]: Cuối đời Tây Hán, anh em Trương Giác khởi binh đánh triều đình, quân lính đều đội khăn vàng làm hiệu.

[←142]: Cũng cuối đời Tây Hán, Phàn Sùng nổi quân chống lại triều đình, quân lính đều vẽ lông mày đỏ.

[←143]: Đời xưa là con trai hai mươi tuổi mới đội mũ.

[←144]: Đại Nguyễn tức Nguyễn Tịch, Tiểu Nguyễn tức Nguyễn Hàm, người đời Tấn, đều nổi tiếng về vần thơ.

[←145]: Tức Ôn Đình Quân, Lý Hạ, Bạch Cư Dị, đều là những nhà thơ nổi tiếng đời Đường.

[←146]: Giả Nghị đời Hán, bị dèm pha phải đày ra Trường Sa.

[←147]: Nơi biên cương chỉ có chim nhạn mới qua được.

[←148]: Cộng huyệt và đồng hôi có nghĩa là sống chết có nhau.

[←149]: Diệp Pháp Thiện người đời Đường. Ông nhờ Lý Ung viết bài văn bia. Lý Ung không nhận. Một hôm, Lý Ung nằm ngủ, mơ thấy mình viết bài văn bia. Khi tỉnh dậy, vẫn chưa tin thì Diệp Pháp Thiện cầm bài văn đến.

[←150]: Tức Lý Hạ đời Đường. Một hôm, có người con gái mặc áo đỏ đến mời Lý Hạ nói: “Ngọc Đế đã làm xong lầu, mời ông lên làm bài ký”.

[←151]: Tức Hằng Nga.

[←152]: Tức Lạc thần.

[←153]: Đời Tần Mục công, nàng Lộng Ngọc học sáo Tiêu Sử, sau hai người lấy nhau.

[←154]: Ống sáo.

[←155]: Cõi tiên.

[←156]: Cõi tiên.

[←157]: Cõi tiên.

[←158]: Cõi tiên.

[←159]: Độ Thượng đời Hậu Hán làm bài văn bia ghi sự tích người thiếu nữ tên là Tào Nga.

[←160]: Chữ trong Luận Ngữ.

[←161]: Một tên trộm đời Xuân Thu, tính rất tàn bạo.

[←162]: Xem chú thích ở hồi 76. Ở đây ý nói Hạ Kim Quế ghen không muốn để cho Hương Lăng sống yên ổn bên cạnh.

[←163]: Danh từ đông y, vinh là huyết, vệ là khí, tức là bổ khí huyết. Danh từ đông y, tức là mở khẩu vị để ăn cho ngon cơm.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Tào Tuyết Cần

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.