Sau Đêm Vũ Hội

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 18 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
8

❊ ❊ ❊

Đã lâu Pasenka không còn là Pasenka nữa mà là Praskovia Mikhailovna già nua, héo hắt, da nhăn nheo, mẹ vợ của Mavrikiev, một viên chức nghiện rượu, một kẻ không thành đạt. Bà sống ở huyện lỵ, nơi làm việc cuối cùng của con rể, và tại đây bà làm lụng nuôi sống gia đình: Nuôi cả con gái, con rể đau ốm vì bệnh loạn thần kinh, lẫn năm đứa cháu.

Bà nuôi sống họ bằng cách đi dạy âm nhạc cho các cô gái con lái buôn, mỗi giờ năm mươi kopek. Mỗi ngày bà dạy bốn, đôi khi năm tiếng đồng hồ, bởi thế mỗi tháng bà kiếm được khoảng sáu chục rúp. Cho tới nay trong khi chờ xin một chỗ làm mới, họ sống bằng số tiền đó. Để kiếm việc cho con rể, Praskovia Mikhailovna đã gửi thư cầu xin tới tất cả bà con thân thuộc và những người quen biết của mình, trong đó có Serghi. Nhưng bức thư đó đã không đến tay ông.

Đã thứ bảy rồi, Praskovia Mikhailovna tự mình nhào bột mì với sữa và nho khô để làm thứ bánh mà người đầu bếp nông nô của cha bà đã từng làm rất khéo. Praskovia Mikhailovna muốn chiêu đãi các cháu nhân dịp ngày lễ sáng hôm sau.

Masa, con gái bà, đang chăm sóc đứa con nhỏ nhất, những đứa lớn, một trai một gái, đi học. Người con rể đêm không ngủ được, nên bây giờ ngủ thiếp đi. Tối hôm qua Praskovia Mikhailovna mãi vẫn không ngủ được, vì còn phải cố dẹp cơn thịnh nộ của con gái đối với chồng.

Bà thấy con rể là một kẻ yếu đuối, không thể nói năng và sống khác thế được, những lời trách móc của vợ đối với anh ta chẳng ăn thua gì và bà đã đem hết sức ra để xoa dịu họ, để không có những lời trách móc, không có chuyện độc ác. Hầu như bà không thể chịu đựng được về mặt thể chất những quan hệ không tốt đẹp giữa người với người. Bà thấy rõ rằng những quan hệ kiểu đó không thể dẫn tới điều gì tốt đẹp hơn, mà tất cả sẽ ngày càng tệ hơn. Thậm chí bà cũng không nghĩ tới chuyện đó, bà chỉ cảm thấy đau khổ trước cảnh hằn thù, giống như bà khổ sở trước mùi hôi, âm thanh chói tai, hoặc những đòn đánh vào người.

Bà vừa mới đắc ý dạy cho Lukeria cách nhào bột như thế nào thì Misa, đứa cháu lên sáu tuổi, mặc áo có yếm, chân đi đôi tất đã mạng vá, chạy vào bếp với vẻ mặt sợ hãi:

– Bà ơi, có một ông lão trông kinh lắm hỏi bà.

Lukeria nhìn ra ngoài.

– Đúng thế, một người hành hương nào ấy, thưa bà.

Praskovia Mikhailovna cọ hai cẳng tay gầy guộc vào nhau, lau tay vào tạp dề và đã toan bước vào trong nhà tìm ví lấy năm kopek để bố thí, nhưng sau bà sực nhớ là không có tiền lẻ nhỏ hơn đồng một hào, nên bà quyết định sẽ cho bánh mì và bà quay lại phía chiếc tủ, nhưng bỗng nhiên bà đỏ mặt khi thấy mình tiếc của, thế là bà ra lệnh cho Lukeria cắt một khoanh bánh mì, rồi tự mình leo lên lấy mười kopek. “Thế là nhà ngươi bị trừng phạt nhé, - bà tự nhủ, - lại phải cho gấp đôi”.

Bà đã đem những thứ đó cho người hành hương, vừa cho vừa xin lỗi và khi đem cho như vậy, không những bà không thấy hãnh diện vì sự hào phóng của mình, mà ngược lại bà cảm thấy hổ thẹn vì mình cho quá ít. Vẻ mặt người hành hương trông trang trọng quá. Mặc dầu ông đã nhân danh Chúa đi suốt ba trăm versta tới đây, quần áo rách rưới, người gầy tọp đi, da đen nhẻm, mái tóc ông đã cắt ngắn, chiếc mũ lông kiểu nông dân cũng tàng tàng như thế, mặc dầu ông đã nghiêng chào một cách khiêm nhường, Serghi vẫn giữ được vẻ trang trọng đầy sức hấp dẫn như vậy. Nhưng Praskovia Mikhailovna không nhận ra ông. Bà không thể nào nhận ra ông được, vì hầu như đã ba chục năm nay bà không gặp ông.

– Xin ông lượng thứ cho. Có lẽ ông muốn ăn phải không?

– Praskovia. Tôi đến với bà. Xin bà hãy đón nhận tôi.

Và cặp mắt đen đẹp của ông nhìn bà chằm chằm, ra ý khẩn cầu, long lanh nước mắt. Dưới hàng ria bạc trắng, đôi môi ông run lên một cách đáng thương. Praskovia Mikhailovna ôm lấy bộ ngực héo hắt, hé miệng và cụp tròng mắt xuống, lặng người đi nhìn khuôn mặt người hành hương.

– Chả có lẽ nào! Stefan! Serghi! Cha Serghi.

– Đúng, chính hắn đấy, - Serghi khẽ thốt lên. - Chỉ có điều đây không phải là Serghi, không phải là cha Serghi mà là kẻ tội trọng Stefan Kasatski, con người đã chết rồi, kẻ có tội trọng. Xin bà hãy đón nhận, hãy giúp đỡ tôi.

– Nhưng chả có lẽ nào, mà sao trông ông cam phận như thế? Ta vào nhà đi.

Bà chìa tay ra, nhưng ông không nắm lấy bàn tay đó và đi theo sau bà.

Nhưng biết dẫn ông vào đâu? Căn hộ quá nhỏ. Thoạt đầu đã ngăn ra một phòng nhỏ xíu, gần như cái buồng xép nho nhỏ, dành riêng cho bà, nhưng sau đó ngay cả cái buồng xép nho nhỏ đó bà cũng cho nốt đứa con gái. Và lúc này Masa ngồi trong đó, đưa nôi cho đứa con còn bú.

– Ông ngồi đây, hiện giờ thì thế đã, - bà nói với Serghi, chỉ tay lên chiếc ghế dài ở trong bếp.

Serghi lập tức ngồi xuống và tháo gỡ chiếc túi dết khỏi vai này, rồi đến vai kia, rõ ràng là bằng động tác quen thuộc.

– Trời ơi, trời ơi, sao mà trông ông cam phận quá! Danh tiếng vang lừng như thế, ấy thế mà bỗng dưng lại.

Serghi không đáp và chỉ mỉm cười một cách hiền lành, đặt chiếc túi ở gần mình.

– Masa, con có biết ai đây không?

Rồi Praskovia Mikhailovna thì thào kể cho con gái biết Serghi là ai và họ cùng nhau đem chăn nệm và chiếc nôi ra khỏi buồng xép, dọn sạch cho Serghi.

Praskovia Mikhailovna dẫn Serghi vào căn buồng bé tí đó.

– Ông sẽ nghỉ ở đây. Xin ông lượng thứ cho. Còn tôi có việc phải đi.

– Bà đi đâu?

– Tôi có giờ dạy ở đây, nói ra thật xấu hổ - tôi dạy âm nhạc.

– Dạy âm nhạc thì tuyệt quá. Chỉ có điều, Praskovia Mikhailovna ạ, tôi đến chỗ bà có chút việc. Khi nào thì tôi có thể nói chuyện với bà?

– Tôi rất sung sướng được ông tới thăm. Chiều được không?

– Được, chỉ xin bà một điều nữa: Bà đừng nói tôi là ai. Tôi chỉ bộc lộ với bà thôi. Không ai biết tôi đi đâu. Cần phải như vậy.

– Chao, thế mà tôi đã nói với con gái tôi rồi.

– Vậy thì bà hãy xin cô ấy đừng nói.

Serghi tháo giày, nằm xuống và lập tức thiếp đi ngay sau một đêm không ngủ và chặng đường bốn chục versta. Khi Praskovia Mikhailovna trở về nhà, Serghi đã ngồi trong căn buồng nhỏ xíu của mình và chờ đợi bà. Ông không ra dùng bữa trưa mà ăn cháo và súp do Lukeria đưa vào cho ông.

– Sao bà về sớm hơn giờ đã hẹn thế? - Serghi nói. - Bây giờ có thể nói chuyện được không?

– Do đâu mà tôi có diễm phúc được đón một vị khách như thế này? Tôi đã bỏ giờ dạy. Để sau… Tôi đã từng luôn mơ ước đi tới chỗ ông, viết thư cho ông, thế mà bỗng nhiên lại có cái may mắn này.

– Praskovia ! Xin bà hãy xem những lời tôi nói với bà lúc này đây là lời thú tội, là lời tôi nói trước mặt Chúa lúc lâm chung. Praskovia! Tôi không phải là một con người thánh thiện, thậm chí cũng không phải là một con người bình dị, thông thường: Tôi là kẻ có tội bẩn thỉu, xấu xa, lầm lạc, kiêu hãnh, tôi không biết mình có xấu hơn tất cả không, nhưng xấu hơn những con người tồi tệ nhất.

Thoạt đầu Praskovia trố mắt ra nhìn, bà đã tin. Sau đó, khi đã tin hoàn toàn, bà chạm bàn tay vào tay ông và mỉm cười thương hại, nói:

– Stefan, có lẽ ông nói quá chăng?

– Không, Praskovia ạ. Tôi là một kẻ lầm lạc, một tên giết người, một đứa sàm báng và một thằng lừa dối.

– Trời ơi! Sao lại như vậy? - Praskovia Mikhailovna thốt lên.

– Nhưng cần phải sống. Và tôi, kẻ từng nghĩ rằng mình hiểu biết hết, mình đã dạy người khác nên sống như thế nào, - tôi chẳng hiểu gì hết và tôi xin bà dạy bảo tôi.

– Sao thế, Stefan. Ông cứ giễu cợt. Vì sao bao giờ ông cũng giễu cợt tôi như vậy?

– Thôi được, cứ cho là tôi giễu cợt đi; chỉ có điều bà hãy nói cho tôi biết bà sống như thế nào và cuộc sống đã trôi qua ra sao?

– Tôi ấy à? Tôi đã sống cuộc đời ti tiện, xấu xa nhất và bây giờ Chúa trừng phạt tôi, quả là đáng đời, tôi sống tồi tệ quá, tồi tệ quá…

– Thế bà đã đi lấy chồng như thế nào? Bà đã sống với chồng ra sao?

– Tất cả đều tồi tệ. Tôi đã đi lấy chồng, đã yêu một cách xấu xa nhất. Ba tôi không tán thành chuyện đó. Tôi đã không suy xét gì cả và đi lấy chồng. Và khi lấy chồng rồi, đáng lẽ phải giúp đỡ chồng, tôi đã giày vò nhà tôi bởi cái máu ghen mà tôi không thể nào chế ngự được.

– Tôi nghe nói ông ấy rượu chè.

– Phải, nhưng còn tôi thì đã không biết cách can ngăn ông ấy. Tôi đã trách móc nhà tôi. Mà đó là một căn bệnh. Ông ấy không thể kìm mình được, còn tôi bây giờ nhớ lại, lúc ấy tôi đã không cho ông ấy tiền để uống. Thế là giữa chúng tôi xảy ra những cảnh lục đục khủng khiếp.

Và khi hồi tưởng lại chuyện đó, bà ngước cặp mắt đẹp, đau khổ nhìn Kasatski.

Kasatski nhớ lại, người ta đã kể cho ông biết chồng Praskovia đánh đập bà ta. Và giờ đây khi nhìn cái cổ gầy gò, héo hắt với những mạch máu lớn ở phía dưới tai và cụm tóc thưa màu hung nhạt đã điểm bạc, tựa hồ ông đã nhìn thấy cảnh đánh đập đó diễn ra như thế nào.

– Sau đó tôi sống một mình với hai đứa con và chẳng có chút của nả gì cả.

– Bà có trang trại cơ mà?

– Ngay từ thời còn sống với nhà tôi, chúng tôi đã bán sạch hết cả… và đã tiêu hết ráo… Cần phải sống, vậy mà tôi chả biết làm gì, giống như tất cả lũ tiểu thư chúng tôi. Nhưng lúc ấy tình cảnh của tôi đặc biệt tồi tệ và bất lực. Chúng tôi sống cực khổ, tôi dạy dỗ lũ trẻ - bản thân tôi cũng đã học hành được chút ít. Mitia học đến lớp bốn thì bị ốm và Chúa đã rước nó đi. Masa yêu Vania, anh con rể tôi. Biết làm sao được, anh ta là người tốt, chỉ có điều bất hạnh, anh ta ốm đau.

– Mẹ ơi, - con gái bà ngắt lời bà. - Mẹ hãy đón thằng Misa cho con, con không thể xẻ mình làm đôi làm ba được.

Praskovia Mikhailovna giật mình, đứng dậy và đi nhanh trên đôi giày vẹt gót, bước qua cửa và quay trở lại ngay, bế chú bé trên hai tay, chú bé ngật người về đằng sau và đưa đôi bàn tay bé xíu túm lấy đuôi khăn của bà.

– À mà tôi nói đến đâu rồi nhỉ? Ấy thế, con rể tôi cũng đã kiếm được một chỗ làm tốt đáo để, quan trên cũng dễ thương, nhưng Vania không thể đi làm được và đã xin về hưu.

– Anh ta ốm bệnh gì?

– Suy nhược thần kinh, đấy là một căn bệnh khủng khiếp lắm. Chúng tôi đã bàn bạc là cần phải đi nơi khác, nhưng tiền nong không có. Tuy vậy tôi vẫn hy vọng rồi mọi việc sẽ qua đi. Anh ấy không đau đớn gì đặc biệt, nhưng…

– Lukeria! - Giọng nói của anh ta vang lên, tức bực và yếu ớt. - Lúc cần đến nó là y như rằng bao giờ người ta cũng sai nó đi đâu đấy ấy. Mẹ đi!…

– Tôi vào ngay đây, - Praskovia Mikhailovna lại ngắt lời. - Anh ấy chưa ăn trưa. Anh ấy không thể ăn cùng với chúng tôi được.

Bà bước ra ngoài, thu xếp gì ở đó, rồi quay trở lại, lau đôi tay gầy guộc, rám nắng.

– Đấy, tôi sống như vậy đó. Cứ luôn luôn phàn nàn và luôn luôn không hài lòng, ấy thế nhưng, lạy Chúa, lũ cháu tôi tất cả đều kháu khỉnh khỏe mạnh, nên còn có thể sống được. Với lại nói đến tôi làm gì.

– Vậy thì bà sống bằng cái gì?

– Tôi cũng kiếm ăn được chút ít. Tôi đã từng chán ngấy âm nhạc, vậy mà nay âm nhạc cũng có ích cho tôi đấy.

Bà đặt bàn tay nhỏ nhắn lên chiếc tủ nhỏ cạnh chỗ bà ngồi và lướt những ngón tay gầy guộc như thể dạo một bài tập về âm nhạc.

– Thế người ta trả bà bao nhiêu một giờ?

– Người ta trả khi thì một rúp, khi thì năm mươi kopek, cũng có khi ba chục kopek. Tất cả bọn họ đều tốt bụng với tôi lắm cơ.

– Thế học trò học hành tiến bộ chứ? - Mắt thoáng cười, Kasatski hỏi.

Praskovia Mikhailovna không tin ngay rằng đó là một câu hỏi nghiêm chỉnh và bà ngước mắt nhìn ông có ý dò hỏi.

– Học trò cũng có tiến bộ. Có một cô bé cừ khôi lắm, con gái ông hàng thịt. Cô bé hồn hậu, tốt bụng. Giá như tôi là một phụ nữ chín chắn thì cố nhiên, dựa vào những chỗ quen biết của cha tôi, chắc tôi đã có thể tìm được chỗ làm cho con rể. Ấy thế nhưng tôi chả biết cách gì cả, và thế là tôi đã dẫn tất cả chúng nó đến nông nỗi này.

– Ra thế, - Kasatski cúi đầu. - À, bà Praskovia này, bà có tham dự vào sinh hoạt của nhà thờ không? - Ông hỏi.

– Chao ôi, ông đừng nói làm gì. Tôi đã xao nhãng, tồi tệ lắm. Tôi cũng ăn chay cùng với lũ trẻ và đi nhà thờ, ấy thế nhưng có khi hàng tháng tôi không đi. Tôi cho lũ trẻ đi. Thật tình mà nói, - bà đỏ mặt lên, - đi nhà thờ mà ăn vận rách rưới thì ngượng với con cái và lũ cháu lắm, quần áo mới không có. Với lại chẳng qua là tôi lười thôi.

– Vậy bà cầu nguyện ở nhà à?

– Tôi cầu nguyện, mà kinh kệ gì đâu, tôi đọc một cách máy móc thế thôi. Tôi biết là không nên thế, nhưng không có tình cảm thật sự, chỉ có tất cả sự xấu xa của mình thôi, ông ạ…

– À, ra thế, ra thế đấy, - Kasatski đế vào như thể tán thành.

– Tôi vào ngay, vào ngay đây, - bà đáp lại tiếng gọi của con rể và sau khi sửa lại bím tóc trên đầu, bà bước ra khỏi phòng.

Lần này mãi bà mới trở lại. Khi bà quay lại, Kasatski vẫn ngồi nguyên trong tư thế đó, khuỷu tay tựa trên đầu gối và đầu cúi xuống. Nhưng chiếc túi đi đường của ông ta đã được đeo lên lưng.

Khi bà bước vào phòng cùng với chiếc đèn sắt tây không có chụp, ông ngước cặp mắt đẹp, mệt mỏi của mình nhìn bà, rồi thở dài rõ sâu.

– Tôi không nói cho chúng nó biết ông là ai, - bà bắt đầu nói một cách rụt rè, tôi chỉ nói rằng đây là một người hành hương trong số những con người cao quý và tôi có quen biết. Ta đi sang phòng ăn uống trà đi.

– Không…

– Thế để tôi đem đến đây vậy. - Không, không cần gì cả. Chúa sẽ cứu vớt bà, Praskovia ạ. Tôi đi đây. Nếu bà thương tôi, bà đừng nói với ai là đã gặp tôi. Nhân danh Chúa hằng sống, tôi van xin bà, bà đừng nói với ai. Cám ơn bà. Giá tôi quỳ sụp xuống chân bà thì phải, nhưng tôi biết rằng làm như thế khiến bà bối rối. Cám ơn, vì Chúa, xin bà lượng thứ cho.

– Xin ông hãy ban phước.

– Chúa sẽ ban phước. Vì Chúa, xin bà hãy lượng thứ cho. Ông định đi, nhưng bà không cho ông đi và đem bánh mì, bánh vòng và bơ tới cho ông. Ông nhận tất cả bà mới bước ra khỏi phòng.

Trời đã tối và ông ra đi mới cách độ hai nhà, bà đã không nhìn thấy ông nữa, và chỉ căn cứ vào tiếng con chó của vị tu sĩ trưởng sủa theo ông, bà mới biết là ông đang đi.

“Đấy, giấc mộng của ta có nghĩa là như vậy đấy. Praskovia chính là mẫu người mà ta phải đạt tới và ta đã không đạt được. Ta đã sống vì người đời, lấy cớ là sống vì Chúa, bà sống vì Chúa, nhưng lại tưởng tượng rằng mình sống vì người đời. Phải rồi, chỉ một việc làm tốt đẹp, một chén nước đem cho mà không nghĩ tới phần thưởng, còn quý hơn những gì ta đã ban ơn cho mọi người. Nhưng cũng có một phần ý muốn thành thực phụng sự Chúa chứ?” - Ông tự hỏi và trả lời: “Phải, nhưng tất cả những cái đó đã bị hư danh của người đời bám vào, làm cho nhơ nhớp. Phải, đối với những kẻ như ta, sống vì hư danh của người đời, thì không có Chúa. Ta sẽ đi tìm Chúa”.

Và ông ra đi, như ông đã đi tới nhà Praskovia, từ làng này tới làng kia, gặp gỡ và chia tay với những người đàn ông và đàn bà hành hương và cầu Chúa kiếm miếng bánh ăn và chỗ nghỉ đêm. Thỉnh thoảng một bà chủ độc ác xỉ vả ông, một bác nông dân say bét nhè chửi bới ông, nhưng phần lớn người ta cho ông ăn uống, thậm chí cho ông thức ăn đi đường. Bộ dạng quý tộc của ông khiến một số người có thiện cảm với ông. Ngược lại, một vài người chừng như thể hể hả vì thấy một nhà quý tộc cũng đã rơi vào cảnh cùng khốn. Nhưng vẻ hiền lành của ông đã chinh phục tất cả mọi người.

Thường thường khi thấy trong nhà có cuốn kinh Phúc âm, ông đọc to lên, và mọi người ở khắp nơi, bao giờ cũng xúc động và ngạc nhiên như thể họ nghe ông đọc một cái gì mới mẻ, đồng thời đã quen thuộc từ lâu.

Nếu như ông đã giúp đỡ được mọi người hoặc bằng lời khuyên bảo, hoặc bằng vốn học vấn, hay bằng lời can ngăn những kẻ cãi nhau, thường ông không nhận sự cảm ơn, vì trước đó ông đã bỏ đi. Và Chúa đã bắt đầu thoáng xuất hiện ở trong ông.

Có lần ông đi cùng với hai bà già và một người lính. Một ông và một bà quý tộc ngồi trên chiếc xe ngựa hai bánh thắng con ngựa chạy nước kiệu và một người đàn ông cùng một cô gái cưỡi ngựa chặn bọn ông lại. Chồng của bà quý tộc cùng với cô con gái cưỡi ngựa, còn trên xe có lẽ là bà quý tộc đi cùng với một nhà du lịch người Pháp.

Đám người quý tộc chặn bọn ông lại để chỉ cho nhà du lịch Pháp thấy les pélérins[1] theo thói mê tín cố hữu của dân Nga, những người hành hương này đáng nhẽ làm việc thì lại đi lang thang từ nơi này đến nơi kia.

Đám quý tộc nói tiếng Pháp, tưởng rằng bọn ông không hiểu họ nói gì.

– Demandez leur, - người Pháp nói, - s’ils sont bien sûrs de ce que leur péléri- nage est agréable à díeu.[2]

Đám quý tộc hỏi bọn ông. Các bà lão đáp:

– Chúa tiếp nhận như thế nào là tùy ý Người. Chúng tôi đi bằng đôi chân mình, thành tâm là ở đấy chăng.

Đám quý tộc hỏi người lính. Người lính nói rằng có một mình biết đi đâu được.

Đám quý tộc hỏi Kasatski rằng ông là ai.

– Nô lệ của Chúa.

– Qu’est ce qu’il dit? Il ne répond pas.[3]

– Il dit qu’il est un serviteur de dieu.[4]

– Cela doit être un fils de prêtre. Il a de la race. Auez vous de la petite mon- naie?[5]

Người Pháp có tiền lẻ. Và hắn phân phát cho tất cả mọi người, mỗi người hai mươi kopek.

– Mais dites leur que ce n’est pas pour des cierges que je leur donne, mais pour qu’ils se régalent de thé Chè, chè,[6] - hắn ta mỉm cười, - pour vous, mon vieux[7] - hắn nói, đưa bàn tay đeo găng vỗ vai Kasatski.

– Chúa sẽ cứu rỗi, - Kasatski đáp, không đội mũ lông vào và nghiêng mái đầu hói của mình cúi chào.

Kasatski đặc biệt vui mừng vì cuộc gặp gỡ đó, bởi vì ông đã khinh thường dư luận của người đời và đã làm cái việc hời hợt, hão huyền nhất - ông đã nhẫn nhục cầm lấy hai mươi kopek và đã cho một người bạn của họ, một người hành khất mù. Càng ít coi trọng dư luận của người đời, thì càng được cảm nhận thấy Chúa một cách mạnh mẽ hơn.

Kasatski đã đi phiêu bạt như vậy được tám tháng, tới tháng thứ chín ông bị người ta bắt giữ tại một quán trọ ở tỉnh lỵ, nơi ông nghỉ đêm cùng với những người hành hương, và vì không có giấy thông hành nên người ta đã đưa ông về đồn cảnh sát… Trả lời câu hỏi giấy thông hành của ông đâu và ông là ai, ông đáp rằng ông không có giấy thông hành và ông là nô lệ của Chúa. Người ta xếp ông vào hạng người lang thang, kết án và đày ông đi Xibir.

Tại Xibir, ông ngụ trong trại của một nông phu giàu có và bây giờ vẫn sống tại đó. Ông làm lụng trong vườn rau của chủ nhà, dạy trẻ học và đi chăm sóc người ốm.

❀ ❀ ❀

[1] Những người hành hương (tiếng Pháp).

[2] Anh hãy hỏi họ xem, - họ có tin chắc rằng cuộc hành hương của họ làm cho Chúa hài lòng không (tiếng Pháp).

[3] Lão ta nói gì thế? Lão ta không trả lời (tiếng Pháp).

[4] Lão ấy nói rằng lão là kẻ tôi tớ của Chúa (tiếng Pháp).

[5] Chắc lão là con một cố đạo. Ra dáng con nhà nòi lắm. Anh có tiền lẻ đấy không? (tiếng Pháp).

[6] Nhưng anh hãy bảo với bọn họ rằng tôi cho họ tiền không phải để mua nến mà để họ làm một chầu nước chè (tiếng Pháp).

[7] Cho ông đấy, ông lão ạ (tiếng Pháp).

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.