Solaris - Hành Tinh Bí Ẩn

Lượt đọc: 111 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUÁI VẬT

❊ ❊ ❊

Ánh sáng làm tôi chợt tỉnh dậy vào lúc nửa đêm.

Tôi chống một tay nhổm dậy, còn tay kia đưa lên che mắt. Hari cuốn mình trong tấm vải lót chăn ngồi thu lu nơi góc giường, tóc xõa che kín mặt. Vai cô rung lên. Cô khóc không thành tiếng.

– Hari!

Cô thu mình nhỏ hơn nữa.

– Có gì xảy ra thế?... Hari...

Tôi ngồi hẳn dậy, giấc mơ nặng nề vừa rồi giờ mới thôi ám ảnh tôi. Tôi ôm lấy thân hình cô gái đang run run. Cô đẩy tôi ra.

– Đừng nói vậy.

– Kìa, Hari, em làm sao vậy?

Cô ngẩng khuôn mặt ướt đẫm lên. Những giọt nước mắt to tướng như của trẻ thơ lăn trên má, lóng lánh nơi lúm đồng tiền và rơi xuống giường.

– Anh không yêu em.

– Em có ý nghĩ kỳ cục quá.

– Em đã nghe thấy.

Tôi cảm thấy mặt mình thuỗn ra.

– Nghe thấy gì? Em có hiểu không, đó chỉ là...

– Không, không. Anh nói rằng đó không phải là em, rằng muốn em đi khỏi. Em đã đi. Đi hẳn rồi, nếu như có thể. Em không biết tại sao lại thế. Muốn, nhưng không thể. Em thật là... thật là... đê tiện!

– Hari!

Tôi siết chặt cô vào lòng, hôn lên tay, những ngón tay mặn mòi nước mắt, lặp đi lặp lại những lời thề nguyền nào đó, cầu xin tha thứ, thanh minh rằng đó chỉ là một giấc mơ ngu xuẩn, đáng nguyền rủa. Một lát sau Hari bình tĩnh lại, quay đầu về phía tôi:

– Không, đừng nói chuyện đó, không cần thiết. Em không thích những lời nói không thật lòng...

– Không thật lòng!

Câu nói bật ra khỏi cổ họng tôi như một tiếng rên rỉ.

– Đúng. Anh không yêu em. Lúc nào em cũng cảm thấy điều đó. Có điều, em chỉ giả vờ là không nhận biết đó thôi. Em nghĩ có thể, em có cảm giác... Không. Anh xử sự... một cách khác thường. Anh không nghiêm chỉnh. Đó đúng là một giấc mơ, đúng thế, nhưng dường như anh đã mơ thấy em. Anh gọi tên em. Em làm anh phát ngấy. Tại sao? Tại sao?

Tôi ngả vào lòng Hari, ôm lấy đôi chân cô.

– Cô bé của anh...

– Em không muốn anh gọi em như vậy. Không muốn, nghe chưa! Em chẳng phải là bé bỏng nào của anh cả. Em...

Hari lại khóc nức lên, cô đổ người xuống và úp mặt vào gối. Tôi đứng dậy. Luồng khí từ máy điều hòa thổi ra làm tôi thấy lành lạnh. Tôi khoác áo choàng tắm vào người, ngồi xuống giường và chạm nhẹ tay vào vai Hari.

– Hari, hãy nghe đây. Anh sẽ nói với em một chuyện gì đó. Nói sự thật.

Cô gái chầm chậm chống hai tay ngồi dậy. Tôi nhìn thấy ở cổ cô, dưới làn da mỏng, mạch máu đang đập. Mặt tôi lại trở nên gỗ đá, tôi cảm thấy lạnh lẽo giống như đang đứng trên băng. Đầu óc tôi hoàn toàn trống rỗng.

– Sự thật? - Cô hỏi lại. - Lời hứa danh dự?

Tôi không trả lời ngay được, cổ họng nghẹn lại.

Đó là câu nói quen thuộc ngày xưa của chúng tôi. Khi “lời hứa danh dự” được đưa ra thì không một ai trong chúng tôi có quyền nói dối, thậm chí không được giấu giếm nhau một chuyện gì đó. Đã từng có thời gian chúng tôi bị hành hạ bởi thái độ cực đoan về lòng trung thực, ngây thơ cho rằng đó là cứu cánh.

– Lời hứa danh dự, - tôi nói nghiêm túc. - Hari...

Cô chờ đợi.

– Em cũng thay đổi. Tất cả chúng ta đều thay đổi. Nhưng đó chưa phải là điều anh muốn nói. Thực tế là, dường như... do một nguyên nhân mà chúng ta không biết... em không thể bỏ anh. Nhưng như thế lại rất tốt, bởi vì anh cũng không thể bỏ...

Tôi bồng Hari, vẫn quấn mình trong tấm vải lót chăn, trên tay và đi đi lại lại trong phòng. Cô nhìn thẳng vào mắt tôi.

– Không. Anh không thay đổi. Đó là em, - cô thì thầm. - Điều gì xảy ra với em? Hay là...

Theo ánh mắt cô, tôi nhìn ra phía cửa ra vào trống huếch trống hoác mà những mảng vỡ của nó tôi đã đưa vào trong kho. “Cần phải làm lại cửa mới”. - Tôi nghĩ và đặt Hari xuống giường.

– Em có khi nào ngủ không?

– Em không biết.

– Sao lại không biết? Hãy nhớ lại, em thân yêu.

– Có thể đó không phải là giấc ngủ thật sự. Có lẽ em bị bệnh? Em nằm, suy nghĩ, và rồi...

Cô lại bắt đầu run rẩy.

– Rồi sao? - Tôi hỏi lại rất nhỏ.

– Đó là những ý nghĩ rất kỳ cục. Em không hiểu do đâu chúng lại có.

– Ví dụ?

– “Cần hết sức bình tĩnh, dù có nghe thấy bất cứ điều gì”. - Tôi tự nhủ và căng tai nghe ngóng.

Hari lắc đầu khổ sở:

– Cái đó giống như... như... xung quanh...

– Anh không hiểu...

– Giống như không chỉ ở trong em, mà còn ở đâu đó rất xa, giống như... em không thể nói được. Em không thể bằng ngôn từ để diễn tả nó...

– Có lẽ đó là những giấc mơ, - tôi làm ra vẻ thờ ơ và thở dài nhẹ nhõm. - Còn bây giờ thì hãy tắt đèn và chờ đến trước buổi sáng, chúng ta sẽ không bị những phiền não giày vò nữa. Sáng ra nếu muốn thì chúng ta sẽ quan tâm tới những chuyện khác mới mẻ. Em đồng ý chứ.

Hari vươn tay với công tắc, phòng trở nên tối om. Tôi nằm xuống và cảm thấy hơi thở nóng hổi của Hari đang gần lại, tôi vòng tay ôm lấy cô.

– Ôm chặt em hơn đi, - cô thì thầm. Và sau một lúc lâu im lặng:

– Gì vậy?

– Em yêu anh!

Tôi những muốn thét lên.

Buổi sáng đỏ. Đĩa mặt trời khổng lồ lơ lửng không cao lắm trên đường chân trời. Có một bức thư ai đó đặt ở ngay ngưỡng cửa ra vào. Tôi xé phong bì. Hari đang trong buồng tắm, tôi nghe rõ tiếng cô hát.

Thỉnh thoảng cô lại thò đầu với mớ tóc sũng nước ra ngó chừng. Tôi đến bên cửa sổ và đọc thư:

“Kelvin. Sartorius tích cực hành động. Ông ta tin rằng có thể phá hủy sự ổn định của các hệ notrino. Ông ấy cần cho thí nghiệm một ít huyết tuơng.

Ông đề nghị anh hãy thực hiện một cuộc trinh sát ra ngoài kia và lấy về một ít huyết tương. Cứ hành động theo cách mà anh cho là cần thiết, tuy nhiên hãy thông báo cho tôi quyết định của mình. Tôi không có ý kiến gì về việc này. Tôi muốn rằng anh hãy coi việc mình làm, nếu anh đồng ý thực hiện nó, chỉ nhằm một ý nghĩa là dù sao chăng nữa thì chúng ta cũng đang tiến về phía trước, dù rằng cái đích của nó vẫn còn đang mờ mịt. Nếu không, chúng ta sẽ chỉ còn mỗi việc là ganh tị với G.

Horek

TB. Đừng đến trạm vô tuyến. Anh có thể vì tôi mà làm điều đó. Tốt hơn cả là anh hãy gọi điện cho tôi”.

Tim tôi thắt lại khi đọc bức thư này. Tôi chăm chú đọc lại lần nữa, sau đó xé ra và ném vào sọt rác. Tôi bắt đầu tìm kiếm áo bay cho Hari. Thật là đáng sợ. Cũng y như lần trước. Nhưng thật may mắn, Hari hoàn toàn không biết (hay là không nhớ) gì về chuyện đã xảy ra, bởi vì khi tôi đề nghị cô cùng bay ra ngoài thực hiện cuộc trinh sát nhỏ, cô đã reo lên vui vẻ. Sau khi ăn sáng (cô phải rất khó nhọc mới nuốt được vài miếng), chúng tôi đi vào thư viện.

Trước khi thực hiện yêu cầu của Sartorius, tôi muốn xem các tài liệu có liên quan tới các hệ notrino. Hiểu biết về công việc của ông ta là điều cần thiết. Tôi lần lượt đưa các yêu cầu của mình cho thư mục điện tử. Sau khi nhận chỉ dẫn, tôi lại gần một cái giá sách rất lớn, cao đến tận trần. Nhìn các dãy sách xếp chặt kín các ngăn tôi chợt thấy ngờ vực giá trị của chúng và đã phân vân định bỏ đi. Sự hiện diện của chúng ở đây chắc chỉ để chứng tỏ lòng tôn kính và những kỷ niệm về những nhà nghiên cứu Solaris tiên phong. Trên các ngăn có tới gần sáu trăm tập chuyên khảo về Solaris, bắt đầu từ bộ hồi ký gồm chín tập của Heze. Tôi lấy một quyển lớn, nặng trịch rồi ngồi mớm trên thành ghế và lật lướt qua vài trang. Hari cũng tìm được một quyển gì đó cho mình, nhìn qua vai cô tôi nhận ra đó là quyển sách thuộc loại hiếm, xuất bản từ thời kỳ sau cuộc thám hiểm đầu tiên lên Solaris: “Đầu bếp liên hành tinh”. Tôi suýt phì cười khi thấy Hari đang rất chăm chú xem chỉ dẫn về cách thức làm những món ăn trong điều kiện khắc nghiệt của vũ trụ, song lại cố nén và cúi xem quyển sách của mình. Đó là công trình của Heze: “Mười năm nghiên cứu Solaris”.

Một đặc tính cần thiết đối với nhà nghiên cứu Solaris là phải có óc viễn tưởng. Mà cái này thì Heze không có đủ. Trên hành tinh này mọi sự đều có thể diễn ra. Đại dương huyết tương sáng tạo nên những tạo hình mà việc mô tả lại chúng thoạt nghe có vẻ như phi lý, thế nhưng đó là sự thật hoàn toàn. Đại dương gần như không khi nào lặp lại nguyên xi những tạo hình đó để cho chúng ta có cơ hội kiểm tra. Chúng làm cho người chứng kiến phải bàng hoàng bởi vẻ bí ẩn và kích thước vĩ đại của mình. Trước những tạo hình muôn vẻ đó, một trí tuệ siêu việt cũng trở nên bất lực như một khối óc mộc mạc. Heze chỉ đơn giản là làm công việc của một người phân loại. Ông thuộc loại người mà ẩn giấu bên trong vẻ ngoài điềm tĩnh là niềm say mê nghề nghiệp cháy bỏng. Để mô tả những hiện tượng dị thường của đại dương sống, ông đã đưa ra nhiều khái niệm mới, thường là không đạt lắm. Vả lại những “hình dung từ” đó chẳng có gì liên quan tới những gì đang diễn ra trên hành tinh. Những từ như “núi cây”, “tai dài”, “nấm”, “mimoid”[1], “symmetriada”[2], “asymmetriada”[3], “cột sống”, v.v... nghe thật gượng gạo, tuy nhiên nó cho phép những người chưa từng được chứng kiến tận mắt những tạo hình đó, mà mới chỉ nhìn thấy chúng qua những phim và ảnh không rõ nét, một cách hình dung sơ lược về Solaris. Heze cho rằng “tai dài” là tạo hình chủ yếu và so sánh chúng với những lớp sóng triều trùng điệp, nhưng với kích thước được phóng đại lên nhiều lần của các biển trên Trái đất. Mỗi một tai dài - đó là một dải “sóng” trải dài nhiều kilômét trông như một con rắn khổng lồ đã nuốt chửng những trái núi lớn, và bây giờ đang lặng lẽ tiêu hóa chúng, tạo ra những dao động chầm chậm trên thân hình uốn lượn của mình. Nhưng những gì quan sát được rõ ràng bằng mắt không phải đã là đủ đối với khoa học. Trong nhiều năm ròng rã liên tục, diễn ra những cuộc tranh luận quyết liệt về vấn đề cái gì diễn ra trong lòng những “tai dài”. Có giả thiết cho rằng đó là những cơ quan nào đó của đại dương, trong đó diễn ra các quá trình trao đổi chất, thở, chuyển tải những thực thể dinh dưỡng và còn những gì nữa thì chỉ có những chồng sách ám bụi trong các thư viện mới biết được. Mỗi một giả thiết cuối cùng cũng bị bác bỏ bởi biết bao nhiêu cuộc thí nghiệm cần mẫn, đôi khi đầy phiêu lưu.

Loại tạo hình khó hiểu và bí ẩn nhất là “mimoid”.

Có thể nói Heze rất say mê chúng, và đã cống hiến gần như trọn vẹn bản thân cho công cuộc nghiên cứu mô tả và làm sáng tỏ bản chất của chúng.

Vào một ngày đẹp trời nào đó, từ sâu dưới bề mặt đại dương xuất hiện một khối tròn, phẳng rất lớn, đen sì như tấm hắc ín. Sau vài giờ đồng hồ nó bắt đầu tách ra làm nhiều phần và đồng thời nổi dần lên trên. Những người từng được chứng kiến thường đều có chung một cảm tưởng rằng trước mắt họ đang diễn ra một trận chiến kinh thiên động địa của những thế lực vô hình nào đó. Những dải sóng vòng tròn từ khắp mọi phía trùng trùng từng đợt dồn tới, chồm vút lên cao và giáng ụp xuống cái bóng đen ma quái đang lấp ló dưới lớp bề mặt của đại dương. Mỗi một đòn giáng xuống như vậy của hàng trăm ngàn tấn huyết tương lại kèm theo tiếng sấm rền trầm đặc làm rung chuyển cả một khoảng không rộng lớn. Tất cả diễn ra với một quy mô khổng lồ. Con quái vật đen bị bổ ra làm nhiều mảnh và chìm dần xuống dưới sâu sau mỗi một đòn đánh như vậy. Tuy nhiên sau đó, từ mỗi một mảnh riêng biệt treo lơ lửng dưới sâu đó lại thò ra những chuỗi dài ngoằn ngoèo trông như vòi bạch tuộc, chúng quyện vào với nhau và cả khối trông như một cái đĩa khổng lồ chắp vá từ nhiều mảnh lại bắt đầu nổi dần lên. Trong khi đó ở bên trên, những vòng sóng cứ từng đợt dần dần khép lại, vươn lên cao và đổ ụp xuống không mệt mỏi. Trò chơi này kéo dài có khi suốt cả một ngày đêm.

Tuy nhiên điều đáng kinh ngạc nhất đối với con người vẫn còn ở phía trước. Trò chơi “đại tai biến” đó không phải là vô nghĩa, mà dường như để đạt tới một mục tiêu: nhào nặn “mimoid non” - theo cách gọi của Heze - trở thành “mimoid trưởng thành”, đó là một tập hợp những khối lô nhô màu sáng, trông như một quần thể san hô trên biển (kích thước thường là không thua kém gì những thành phố lớn trên Trái đất) mà nhiệm vụ của nó là mô phỏng lại tất cả những vật thể ở chung quanh, gần cũng như xa.

Người quan sát mimoid từ trên cao sẽ có cảm giác trông nó giống như một thành phố, tuy nhiên, đó chỉ là sự nhầm lẫn do anh ta đã cố gắng tìm hình ảnh tương đồng giữa những hiện tượng có thật. Khi trời trong, tất cả những đảo nhiều tầng và các đỉnh của chúng được bao phủ bởi những lớp không khí nóng, tạo nên những dao động giả và những thay đổi hình dạng đánh lừa mắt người quan sát. Đám mây đầu tiên vừa xuất hiện trên bầu trời đã gây ra phản ứng tức thời. Bắt đầu sự phân hóa mau lẹ. Một màn sương đặc sệt bốc lên cao, thoạt nhìn giống như chiếc bắp cải màu, ngay sau đó xám dần lại và một vài phút sau thì biến thành một bản sao của đám mây thật bên trên với độ chính xác tuyệt vời. Nhưng loại sản phẩm đơn độc đó của mimoid chẳng đáng gì so với những loại sản phẩm “trêu ngươi” khác: đó là việc mô phỏng lại những vật dụng và thiết bị mà con người mang từ Trái đất lên. Tất cả mọi thứ ở cách xa không quá 12-15 kilômét đều bị sao lại. Thường nhất là những hình ảnh trung thực được phóng đại nhiều lần, đôi khi lại bị bóp méo thành những bức tranh biếm họa hoặc làm thành tầm thường đến lố bịch, nhất là đối với những máy móc. Vật liệu cũng chính là cái chất phát sáng phun lên từ đại dương. Đáng lẽ phải rơi xuống thì nó lại treo lơ lửng trong không khí và được nối với mimoid bên dưới bằng những “cuống nhau” mảnh. Mimoid chỉ không có phản ứng đối với những con người, hay chính xác hơn là đối với tất cả các sinh vật, bao gồm cả động vật và thực vật mà những nhà nghiên cứu không mệt mỏi mang tới đây từ Trái đất với những mục đích thí nghiệm. Tuy nhiên, những thứ như thằng hình nhân búp bê, hình tượng cây cối hay con mèo đều không bị loại trừ, mà lập tức được sao lại nhanh chóng.

Mỗi một mimoid trưởng thành đều có những “ngày nghỉ” của mình, nếu có thể được gọi như vậy. Vào những lúc đó, mimoid không có biểu hiện gì ngoài việc thực hiện những xung động rất chậm không thể nhận thấy bằng mắt thường. Chu kỳ của mỗi một xung kéo dài trong hơn hai tiếng đồng hồ, và để ghi nhận nó người ta phải dùng tới những phương pháp quay phim đặc biệt. Đó là những lúc rất thuận tiện để nghiên cứu mimoid, đặc biệt là đối với “mimoid già” vì người ta có thể đặt chân lên nó mà không phải lo lắng gì.

Đương nhiên là các nhà nghiên cứu có thể có mặt trên mimoid vào những “ngày làm việc” của nó, tuy nhiên khi đó tầm nhìn gần như bằng không, bởi vì từ các hốc nằm rải rác đó đây phun lên một thứ sương mù dày đặc gồm những hạt mềm mại màu trắng trông như tuyết và bám nhớt như một thứ chất keo nào đó. Ngoài ra, những hạt sương đó bay lơ lửng trong không khí, rồi sau đó rơi xuống bề mặt mimoid, tạo nên một lớp màng trơn tuột, và chỉ sau đó vài giờ mới biến thành cứng và nhẹ hơn phù thạch. Thêm nữa, nếu không có những phương tiện đặc biệt thì rất dễ bị lạc trong một trận đồ những cấu trúc to hơn, hình vẽ lạ lùng và những phun trào nghi ngút.

Có những ngày hiếm hoi, việc quan sát mimoid từ trên cao sẽ để lại cho nhà nghiên cứu những ấn tượng không thể phai mờ. Đó là lúc mà “hứng khởi sáng tạo” của mimoid được bộc lộ một cách đầy đủ nhất khi nó thể nghiệm một siêu sản phẩm trái với tự nhiên nào đó. Không thể bằng ngôn từ của loài người để có thể mô tả lại những cảnh tượng làm rung động tâm hồn người họa sĩ theo trường phái trừu tượng, trong khi “chất bác học” trong nhà nghiên cứu tỏ ra hoàn toàn bất lực khi cố công tìm hiểu xem những quá trình gì đang diễn ra phía dưới.

Vào những năm đầu tiên của lịch sử nghiên cứu Solaris, các nhà bác học đã dành sự chú ý cao nhất cho các mimoid khi cho rằng đó chính là những trung tâm của đại dương, là nơi sẽ diễn ra cuộc tiếp xúc giữa hai nền văn minh. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau đó người ta đã vỡ lẽ ra rằng những hoạt động của các mimoid chẳng có liên quan tới ý đồ tiếp xúc nào cả.

Theo nhóm Heze, symmetriada là loại hình phi thường nhất với ý nghĩa là tuyệt đối không có một cái gì đó tương đồng trong số những hiện tượng mà nhân loại đã từng biết đến trên Trái đất. Mỗi ngày người ta một hiểu ra rằng đại dương không hề có những biểu hiện phi thiện chí đối với những vị khách không mời mà đến của mình. Cái chết thường chỉ đến với những người cố tình tìm đến nó, nếu như không kể đến những trường hợp ngộ nạn do sự cố kỹ thuật. Thậm chí các phương tiện bay của con người có thể bay xuyên vào lòng những “tai dài” hay những cái vòi khổng lồ của “xương sống” đang ngất ngưởng giữa trời mây mà không sợ bị nguy hiểm: huyết tương nhường đường cho các vật thể lạ với tốc độ bằng tốc độ của âm thanh truyền trong khí quyển hành tinh bằng cách tạo nên những đường ống thậm chí có thể dưới bề mặt đại dương (năng lượng dùng cho những mục đích này thật khổng lồ - theo tính toán của Sorabin nó ước chừng khoảng 1019 ec!!!). Riêng đối với các symmetriada thì lại khác. Việc nghiên cứu chúng được tiến hành cực kỳ thận trọng, với tất cả các quy tắc về an toàn, còn tên tuổi của những người đầu tiên thâm nhập được vào symmetriada thì bất kỳ một em bé nào trên Trái đất cũng đều biết.

Điều hãi hùng nhất đối với những người khổng lồ này không phải là vẻ ngoài của các symmetriada, dù rằng chỉ riêng nó cũng đủ để gieo rắc nỗi kinh hoàng cho bất cứ ai yếu bóng vía, mà là ở chỗ khác. Đó là trong giới hạn của các symmetriada không có cái gì là ổn định, không có gì để mà tin tưởng chắc chắn, ở đó thậm chí các định luật vật lý cũng không còn chỗ đứng nữa. Chính điều này đã làm cơ sở cho niềm tin của các nhà bác học về một đại dương sống có lý trí.

Các symmetriada thường xuất hiện đột ngột. Cấu trúc của chúng làm ta liên tưởng tới sự phun trào. Cả một cùng đại dương với diện tích vài chục kilômét vuông bỗng dưng sáng lên lấp loáng như được phủ một lớp thủy tinh. Một lúc sau lớp màng thủy tinh đó phồng lên giống một cái bong bóng khổng lồ in hình toàn bộ bầu trời bao gồm mặt trời, các đám mây và đường chân trời. Trò chơi thần tốc của màu sắc gây ra bởi sự khúc xạ và hấp thụ các tia sáng của quả bóng đó thật là vô tiền khoáng hậu.

Hiệu quả ánh sáng đặc trưng cho các symmetrimia sẽ đặc biệt đặc sắc nếu chúng xuất hiện vào ngày xanh hay thời điểm trước lúc mặt trời lam mọc. Khi đó ta sẽ có cảm giác rằng Solaris đang sản sinh ra một hành tinh mới mà kích thước của nó đang lớn dần trong khoảnh khắc. Quả cầu chớp lửa đang khó nhọc trỗi dậy từ vực thẳm đại dương. Xuất hiện những đường nứt xẻ dọc xuống từ đỉnh khối cầu làm tách ra những hình rẻ quạt thẳng đứng. Nhưng đó không phải là sự phân rã. Quá trình này được người ta đặt cho một cái tên không đạt lắm: “pha đài hoa”. Nó diễn ra trong thời gian tính bằng giây. Rồi những vòm màng đó bắt đầu rủ xuống, liên kết với nhau tạo nên một hình thể hoàn toàn mới và bên trong bắt đầu diễn ra đồng loạt hàng trăm hiện tượng khác nhau. Symmetriada bắt đầu thể hiện nét đặc dị nhất của mình - mô hình hóa, hay nói đúng hơn là vi phạm các định luật vật lý.

Những suối phun từ vực sâu đại dương tạo nên những hành lang xuyên về tất cả mọi phía, những cái màng tạo nên một hệ những mặt phẳng cắt nhau trong không gian, những vòm cong, những đường cáp đan chéo nhau. Xen vào tất cả những cái này là những hình khối làm ta liên tưởng tới những loại máy móc gì đó dù rằng chúng hoàn toàn chẳng giống chút nào với các thiết bị mà con người đã làm ra (vấn đề ở đây bao hàm ý nghĩa hẹp - đó là về mục đích “cơ học” của hoạt động). Cách đặt tên loại hình này là “symmetriada” là thích đáng khi tính đến đặc điểm đối xứng của các cấu trúc trong lòng nó: ứng với mỗi một cấu trúc ở một cực này có một cấu trúc khác giống y như thế trong từng tiểu tiết ở vùng cực đối diện.

Như đã biết, mỗi một phương trình toán học đều có thể được biểu diễn bằng ngôn ngữ của hình học cao cấp. Điều đó gợi ý cho sự ra đời của một giả thiết cho rằng trước mắt chúng ta, cái mô đen khổng lồ có thể tích nhiều kilômét khối đó là cả một hệ toán học bốn chiều, với mức độ phức tạp mà trí tuệ của con người còn chưa đạt tới được, thể hiện qua cách bố trí của các hình thể bên trong lòng nó. Hay là một ý kiến khác cũng na ná như vậy, đó là một cái “máy toán học” của đại dương sống được tạo ra để thực hiện các phép toán, và nhằm một mục đích nào đó mà ta còn chưa hiểu.

Các symmetriada không bao giờ giống nhau cả về hình dạng lẫn các hiện tượng diễn ra trong lòng nó. Đôi khi âm thanh không thể truyền nổi trong không khí. Các sóng vô tuyến cũng có thể bị chặn đứng. Có khi chiết suất của môi trường bị thay đổi một cách bất chừng, tăng hoặc giảm. Có những lúc lực hấp dẫn lại bị biến đổi thành hình sin hoặc trở thành những nhịp xung riêng lẻ với chu kỳ đều đặn. Kim định vị nhiều khi nhảy múa điên loạn. Bỗng dưng xuất hiện rồi biến mất đột ngột, những tầng điện ly mạnh... Thật khó mà liệt kê hết được những hiện tượng vật lý dị thường như vậy.

Các đoàn thám hiểm đã đo đạc hàng trăm kilômét trong lòng các symmetriada, đặt các thiết bị ghi đo, những máy quay phim tự động, các con mắt truyền hình của các vệ tinh nhân tạo đã theo dõi sự xuất hiện, trưởng thành và kết thúc của các mimoid, tai dài, symmetriada... Các thư viện và các kho lưu trữ mỗi lúc một đầy thêm các tài liệu mà cái giá phải trả cho chúng thật quá cao. Bảy trăm mười tám con người đã bị hủy diệt trong các tai biến. Nổi tiếng nhất là vụ ngộ nạn của một trăm linh sáu người cùng lúc, nổi tiếng có lẽ một phần là do chính Heze đã bị chết trong thảm họa này khi ông đã trở thành một ông già bảy mươi tuổi.

Kế đó là vụ bảy mươi chín người mặc áo giáp vũ trụ cùng với tất cả các thiết bị máy móc của mình bị nuốt chửng bởi một vụ bùng nổ trong vài giây của một thứ chất dịch nào đó. Áp lực của vụ nổ này mạnh đến mức đã đồng thời bắn hạ nốt hai mươi bảy nhân viên còn lại cùng với các phương tiện bay đang lượn lờ phía trên địa điểm tiến hành nghiên cứu.

Lịch sử nghiên cứu Solaris gắn liền trước tiên với những cá nhân tiêu biểu, rực rỡ, với những tính cách mạnh mẽ. Số lượng những con người như vậy ít dần theo thời gian. Chỉ trong vòng mười năm, đại dương trầm mặc đầy bí hiểm đã kéo về phía mình những nhà toán học và vật lý học tài năng nhất những chuyên gia nổi tiếng nhất trong các lĩnh vực sinh vật - vật lý học, lý thuyết thông tin, điện - sinh lý học. Từ năm này qua năm khác, đội ngũ những nhà nghiên cứu mất dần những cánh chim đầu đàn của mình.

Sau những tai nạn đau xót kể trên, lần đầu tiên trong lịch sử nghiên cứu Solaris đã vang lên những tiếng nói đòi sử dụng đòn trừng phạt bằng vũ khí nhiệt hạch. Điều đó thật còn tệ hơn là sự trả thù, bởi vì vấn đề ở đây là hủy diệt cái mà ta còn chưa thể hiểu. Vào thời điểm khi mà người ta đang xem xét tới đề nghị trên thì Chanken, phó của Heze, người may mắn sống sót, đã dọa sẽ cho nổ tung trạm nghiên cứu cùng với số mười tám người còn lại sau thảm họa. Tuy nhiên, cuối cùng thì cả sự phẫn nộ của một số người lẫn tối hậu thư của Chanken đã phải chịu thua trước lý trí tỉnh táo của số đông áp đảo.

Và rồi thời kỳ của những cuộc thám hiểm đông người lên hành tinh cũng qua đi. Trạm nghiên cứu trở nên vắng vẻ. Bản thân trạm là một công trình kỹ thuật tuyệt hảo với cái quy mô mà đáng lẽ Trái đất có thể kiêu hãnh vì nó, nếu như không có một đại dương sống có cái năng lực chỉ trong vài giây có thể sáng tạo nên những cấu trúc có quy mô hàng triệu lần hơn. Trạm treo lơ lửng ở độ cao cách mặt đại dương năm trăm đến một ngàn rưởi mét nhờ các thiết bị cân bằng trường lực. Ngoài các trang bị thông thường mà bất cứ một trạm nghiên cứu nào khác cũng có, trạm Solaris còn được trang bị những rada đặc biệt, có thể ghi nhận những thay đổi dù là nhỏ nhất của bề mặt đại dương để sẵn sàng, nếu cần thiết, là phát động lập tức công suất dự phòng nâng cả cái đĩa thép khổng lồ lên tầng cao khí quyển.

Khi đứng lên để đặt quyển sách vào giá, tôi bỗng cảm thấy sàn thép trải thảm dưới chân tôi rung lên trong vài giây. Tôi giật mình. Thư viện được cách âm và chống rung rất tốt đối với xung quanh, vậy thì những rung động vừa rồi chỉ có thể do một nguyên nhân: một tên lửa nào đó vừa được phóng lên. Ý nghĩ này đưa tôi trở về với thực tại. Tôi hãy còn chưa quyết định dứt khoát, có nên thực hiện đề nghị của Sartorius hay không. Nếu như lúc nào tôi cũng tỏ ra đồng tình với các kế hoạch của ông ta thì trong trường hợp tốt nhất, tôi chỉ có làm trùng trình thêm cuộc khủng hoảng. Tôi gần như đã quyết định rằng sẽ làm tất cả những gì có thể để cứu Hari, và do vậy cuộc xung đột tất yếu với Sartorius sẽ phải đến. Vấn đề là liệu ông ta có hi vọng để thành công không. Ông ta có ưu thế hơn hẳn tôi - là một nhà vật lý, ông biết rõ hơn tôi mười lần về nhiều vấn đề, còn tôi thì chỉ còn có thể hi vọng vào mức độ phức tạp của bài toán mà đại dương đặt ra cho chúng tôi.

Trong khoảng thời gian chừng một giờ sau đó, tôi miệt mài đánh vật với các tài liệu về vật lý các quá trình notrino mà ngôn ngữ chủ yếu của nó là cả một bể các phép toán học ghê hồn. Tôi cố gắng để hiểu được thêm chút nào hay chút ấy. Thoạt tiên tôi không tin tưởng vào mình lắm. Vả lại có những năm thuyết hết sức phức tạp về trường notrino cùng tồn tại - dấu hiệu của sự đáng ngờ đối với cả năm thuyết đó. Tuy nhiên, cuối cùng tôi cũng tìm được các gì đó. Tôi ghi chép lại một số công thức và đúng vào lúc đó bỗng có tiếng gõ cửa.

Tôi bước nhanh đến cửa ra vào và mở hé ra. Khuôn mặt bóng loáng mồ hôi của Snaut hiện ra. Hành lang phía sau lưng ông trống rỗng.

– A, anh đấy à? - Tôi nói. - Vào đi.

– Ừ, tôi đây.

Giọng ông khàn đặc. Trên người ông ta là cái tạp dề chống phóng xạ bằng chất dẻo, phía dưới thò ra vẫn hai cái ống quần nhàu nát đó. Mắt ông đảo một lượt khắp phòng và dừng lại nơi Hari đang đứng cạnh đi văng. Tôi và Snaut trao đổi nhanh với nhau bằng ánh mắt, và rồi ông hơi nghiêng mình, còn tôi thì xuống giọng kiểu cách:

– Đây là tiến sĩ Snaut, Hari. Snaut, đây là... vợ tôi.

– Tôi... một thành viên ít nổi bật trong nhóm và bởi vậy... - sự ngập ngừng trở nên đáng sợ, - chưa có hân hạnh được làm quen...

Hari mỉm cười đưa tay ra cho Snaut. Tôi có cảm giác rằng ông ta nắm hơi lâu bàn tay đó, có vẻ mụ người đi, ánh mắt chớp chớp thẫn thờ. Tôi đặt tay lên vai Snaut.

– Xin lỗi bà, - ông như vừa sực tỉnh, hướng về phía Hari, rồi lập tức quay sang tôi. - Tôi có chuyện muốn nói với anh, Kelvin...

– Có lẽ - tôi đáp lại với giọng lịch sự hơi thái quá. Tất cả diễn ra như trong một vở hài kịch tồi, tuy nhiên không còn lối thoát khác. - Hari thân yêu, đừng để ý đến chúng tôi. Chúng tôi cần bàn bạc về những công việc tẻ nhạt.

Tôi nắm khuỷu tay Snaut, đưa ông tới góc đối diện của căn phòng. Hari ngồi xuống chiếc ghế mà tôi đã ngồi khi nãy, nhưng hơi xoay nó về phía mà khi ngẩng mặt lên là có thế nhìn thấy chúng tôi.

– Sao, có gì vậy? - Tôi hỏi nhỏ.

– Tôi đã ly dị.

Vào một lúc nào khác có lẽ tôi đã có thể nhoẻn cười nếu như có ai đó bắt đầu câu chuyện bằng cách thì thào với một tin tức như vậy, nhưng bây giờ, ở trên trạm, tính hài hước đã không còn trong tôi nữa.

– Sao, anh thấy thế nào? - Snaut hỏi khi thấy tôi im lặng.

– Chẳng sao... - tôi dừng lại vì không biết nói gì thêm. Dù rất mến Snaut, nhưng lúc này tôi cảm thấy là phải đề phòng ông ta, hay nói chính xác là đề phòng cái mà ông định mang đến cho tôi.

– Chẳng sao... lại còn thế nữa?

– Anh muốn nói gì? - tôi giả bộ không hiểu.

Snaut nheo đôi mắt vằn những tia máu, ghé sát vào tôi và nói nhỏ:

– Chúng ta hợp tác với nhau, Kelvin. Tôi không thể liên lạc được với Sartorius, chỉ biết mỗi cái điều mà tôi đã viết cho anh. Ông ta nói với tôi về chuyện đó sau cuộc đàm luận nhỏ của chúng ta.

– Ông ta đã ngắt videophon?

– Không. Chập mạch ở cho ông ấy. Có thể ông ta đã cố tình làm vậy, hoặc là... - Snaut dừng lên, tay phác một cử chỉ khó hiểu.

Tôi nhìn ông im lặng.

– Kelvin, tôi đến tìm anh vì... - Snaut không kết thúc câu nói. - Anh định làm gì bây giờ?

– Anh muốn nói về bức thư? Tôi có thể làm việc đó. Chẳng có lý do gì để từ chối, tôi có mặt ở đây cũng chính là để làm những việc đó, cũng muốn tìm hiểu...

– Không, - Snaut ngắt lời tôi. - Không phải về chuyện này.

– Thế thì về chuyện gì?

– Sartorius... - ông ngập ngừng trong giây lát rồi lại tiếp tục. - Ông ta có cảm giác rằng đã tìm ra giải pháp... - Ông đăm đăm nhìn tôi. Tôi cố gắng giữ một vẻ mặt bình thường. - Thứ nhất là về câu chuyện bức xạ rơnghen. Cái thí nghiệm mà ông ta cùng làm với Gibarian ấy mà, anh có nhớ không?

– Nhớ. Nhưng sao?

– Chúng tôi chỉ mới bức xạ vào đại dương bằng chùm tia với tín hiệu đơn giản là làm thay đổi cường độ của chúng theo những định luật khác nhau.

– Tôi biết chuyện đó. Trước đây Nilin cũng đã làm thí nghiệm tương tự. Và còn vô khối những thí nghiệm khác nữa.

– Đúng. Tuy nhiên, người ta chỉ dùng các bức xạ cường độ thấp. Còn đằng này chúng tôi đã dùng cường độ cao, sử dụng toàn bộ công suất vốn có. Việc đó có thể dẫn tới hậu quả không hay ho gì. Các anh đã vi phạm công ước Liên hiệp quốc.

– Kelvin... đừng có làm ra vẻ nữa! Cái đó bây giờ chẳng có nghĩa lý gì hết. Dù sao Gibarian cũng đã chết rồi.

– A. Vậy là Sartorius vẫn cứ muốn trút tất cả lên đầu người đã khuất?

– Tôi không biết. Tôi không nói với ông ta về chuyện này. Điều đó không quan trọng. Theo Sartorius, việc các vị “khách” chỉ xuất hiện vào thời điểm chúng ta tỉnh dậy chứng tỏ rằng đại dương đã khai thác chúng ta vào lúc đang ngủ: rõ ràng nó cho rằng trạng thái quan trọng nhất của con người diễn ra trong giấc ngủ. Và bởi vậy nó đã hành động theo hướng đó. Sartorius muốn gửi tới đại dương ý nghĩ thật sự của chúng ta vào lúc tỉnh táo. Anh có hiểu không?

– Bằng cách nào? Gửi bưu điện à?

– Hãy để dành lời đùa cợt cho sau này. Chùm bức xạ tới chúng ta sẽ phát theo các tín hiệu điện não đồ của một người trong số chúng ta.

Tôi vụt hiểu.

– Hay. Và người đó sẽ là tôi?

– Đúng. Ông ta nghĩ tới anh.

– Xin thành thật cám ơn.

– Anh nghĩ sao về điều đó?

Tôi im lặng. Snaut ngoảnh nhìn về phía Hari đang say sưa đọc, sau đó lại nhìn thẳng vào mắt tôi.

Tôi cảm thấy mặt mình đang tái đi.

– Sao thế nào? - Ông ta lại hỏi.

Tôi nhún vai:

– Tôi coi các bản thông tri về đức cao thượng của con người cùng bài kinh sám hối bằng tia rơnghen này là một trò hài hước...

– Thật à?

– Thật!

– Thế rất tốt, - Snaut nói và mỉm cười cứ như là tôi đã đồng ý thực hiện đề nghị đưa ra... - Vậy là anh không đồng ý với phương án đó?

Tôi im lặng. Có thể nói được gì nữa?

– Thôi được. Hãy còn một phương án khác. Anh có biết thiết bị của Rose không? Chúng ta sẽ tu chỉnh lại nó.

– Annihilator[4]?

– Ừ. Sartorius đã làm những tính toán sơ bộ. Khả năng đó là thực tế. Thậm chí không phải dùng đến nguồn năng lượng lớn. Thiết bị đó có thể hoạt động trong một thời gian không giới hạn, tạo nên phản trường.

– Khoan... khoan đã nào! Anh hình dung chuyện này như thế nào?

– Rất đơn giản. Đó sẽ là phản trường notrino. Vật chất thông thường sẽ không bị ảnh hưởng gì. Chỉ có những... hệ notrino mới bị hủy diệt. Anh có hiểu không?

Snaut nở nụ cười thỏa mãn, nhìn tôi thăm dò, nhíu mày và rồi tiếp tục sau một giây chờ đợi:

– Vậy đó, phương án thứ nhất - “Ý nghĩ” - chúng ta loại bỏ. Còn phương án thứ hai? Có thể gọi nó là “Tự do”. Sartorius đã nắm bắt rất chắc nó rồi.

Một ý nghĩ chợt lóe trong đầu tôi: Snaut không phải là nhà vật lý.

– Tôi thì muốn đặt tên nó là “Tàn sát”... - tôi nói chậm rãi.

– Chính anh cũng đã từng là kẻ vũ phu. Chẳng lẽ không phải vậy sao? Còn bây giờ lại là một chuyện hoàn toàn khác. Chẳng có “khách”, chẳng có sinh vật F, chẳng có gì hết. Tất cả sẽ biến mất.

– Ở đây có sự nhầm lẫn. - Tôi nhếch mép, lắc đầu với vẻ nghi ngại. Tôi hi vọng bộ mặt mình giữ được vẻ tự nhiên. - Đây không phải là vấn đề khó xử mà là bản năng tự vệ. Tôi không muốn chết, Snaut.

– Cái gì...

Ông có vẻ rất ngạc nhiên, mắt mở to nhìn tôi vẻ dò hỏi. Tôi lấy từ trong túi mảnh giấy ghi các công thức.

– Tôi cũng đã nghĩ đến chuyện này. Anh ngạc nhiên hả? Chính tôi là người đầu tiên đã đưa ra giả thuyết về cấu trúc notrino. Không phải vậy sao? Hãy xem đây. Có thể làm phát sinh phản trường. Đúng là đối với vật chất bình thường thì nó vô hại. Điều đó thì quá rõ rồi. Nhưng vào thời điểm trạng thái cân bằng bị phá hủy, tức là khi mà cấu trúc notrino bị phân rã, một nguồn năng lượng lớn sẽ được giải phóng ra. Hãy hình dung ứng với một kilôgam khối lượng tĩnh ta có mười lũy thừa tám ec, vậy mỗi một sinh vật F sẽ từ năm đến bảy nhân với mười lũy thừa chín ec[5]. Anh có hình dung được con số đó không? Nó tương đương với một lượng nhỏ uran...

– Anh nói gì vậy? - Snaut hấp tấp ngắt lời tôi. - Nhưng... chính là Sartorius đã phải tính tới...

– Không nhất thiết, - tôi cười độc địa. - Sartorius thuộc trường phái Frezer và Kayoli. Họ cho rằng năng lượng được giải phóng ra dưới dạng bức xạ ánh sáng. Giống như một chớp sáng mạnh ấy mà, không đáng sợ, à mà tôi cũng không dám đoán chắc là sẽ an toàn một trăm phần trăm. Tuy nhiên còn tồn tại những giả thuyết khác, lý thuyết khác về trường notrino. Theo Kaye, theo Avalov, theo Sion, phổ bức xạ rộng hơn nhiều, trong đó mạnh nhất là các bức xạ gamma. Sartorius tin tưởng ở các ông thầy của mình, thật đáng khen. Tuy nhiên ngoài họ ra còn có những người khác với các lý thuyết của mình nữa chứ. Tôi còn điều này nữa muốn nói với anh... - Tôi dừng lại trong giây lát, hài lòng nhận thấy lời nói của mình đã để lại một ấn tượng như thế nào trên nét mặt Snaut. - Còn cần phải tính đến đại dương nữa. Một tiềm năng vĩ đại như vậy không lẽ lại có thể có khiếm khuyết khi làm ra các sản phẩm của mình.

– Cho tôi xem tờ giấy, Kelvin.

Tôi chìa cho ông ta. Ông cúi nhìn với vẻ chăm chú.

– Đây là cái gì? - Ông lấy ngón tay chỉ vào một chỗ trên giấy. Tôi ghé nhìn.

– Đó là hàm số biến đổi của trường.

– Cho tôi mượn tạm nhé.

– Để anh làm gì? - Hỏi vậy chứ tôi biết rõ ông ta sẽ trả lời thế nào.

– Tôi muốn đưa cho Sartorius xem.

– Tùy anh, - tôi hờ hững - Có thể cầm về. Có điều, anh biết đấy, đấy là lĩnh vực chưa từng được ai nghiên cứu bằng thực nghiệm, cấu trúc của nó chúng ta còn chưa rõ. Ông ta tin ở Frezer, còn tôi theo Sion. Ông ta sẽ nói rằng tôi và cả Sion, đều không phải là những nhà vật lý. Ít ra thì đó cũng là theo cách hiểu của ông ấy. Đây là đề tài còn đang được tranh cãi. Tôi thì lại không muốn mình bị bốc hơi để mang lại niềm vinh quang cho ai đó. Tôi biết rằng có thể thuyết phục được anh, còn Sartorius thì không. Và tôi cũng không định tranh cãi với ông ta làm gì.

– Vậy anh định làm gì bây giờ? - Snaut hỏi bằng một giọng đầy vẻ ngao ngán. Niềm hứng khởi của ông ta đã biến mất từ bao giờ. Chẳng hiểu ông ta tin tôi đến mức độ nào. Thôi, dù sao cũng mặc lòng.

– Làm cái việc của một kẻ đang có nguy cơ bị người ta giết, - tôi đáp nhỏ.

– Tôi sẽ thử liên lạc với ông ta. Có thể ông ấy đã nghĩ đến biện pháp đề phòng. À, nghe đây, thế còn phương án đầu tiên. Ít ra thì... cũng còn có hi vọng.

– Anh tin vậy à?

– Không hẳn... Nhưng... cái đó có... làm hại cái gì đâu?

Tôi tìm kế hoãn binh, cần phải vậy. Điều quan trọng đạt được là Snaut gần như đã trở thành đồng minh của tôi trong trò chơi dùng dằng này.

– Tôi phải suy nghĩ đã.

– Thôi, tôi đi đây, - Snaut nói và đứng dậy. Xương trong người ông kêu răng rắc. - Dù sao anh cũng đồng ý cho ghi điện não đồ chứ.

– Được.

Ông lặng lẽ đi ra cửa, không để ý đến Hari (cô vẫn ngồi tại chỗ cũ, sách để trên đùi, mắt hướng về phía chúng tôi). Khi cánh cửa đã khép lại, tôi cũng đứng dậy. Tôi vuốt lại cho phẳng phiu mảnh giấy mà Snaut quên không cầm theo. Các công thức này là đúng, không phải do tôi bịa ra. Liệu Sion có thể đồng ý với cái cách thức tôi “phát triển” thuyết của ông không? Chắc là không. Tôi rùng mình. Hari đã đến bên tôi từ phía sau, cô chạm nhẹ vào tay tôi.

– Cris!

– Gì vậy, em thân yêu?

– Ai vậy?

– Anh đã nói rồi. Tiến sĩ Snaut.

– Đó là người như thế nào?

– Anh ít biết về ông ta. Tại sao em hỏi vậy?

– Ông ấy nhìn em như thể...

– Chắc là ông ta thích em...

– Không, - cô lắc đầu. - Không phải cái nhìn kiểu đó, ông ấy nhìn em cứ như... như...

Cô rùng mình, ngẩng mặt nhìn tôi rồi lại cúi xuống.

– Thôi chúng ta đi khỏi đây.

[1] Tác giả tự nghĩ ra. Có nguồn gốc từ chữ mimic (tiếng Anh) - kẻ bắt chước, hoặc mimesis (tiếng Hy Lạp) - sự bắt chước.

[2] Có nguồn gốc từ chữ symmetria (Hy Lạp) - đối xứng.

[3] Có nguồn gốc từ chữ asymmetria (tiếng Hy Lạp) - Không đối xứng (ND).

[4] Annihilator (nguyên gốc từ Hy Lạp Annihilatio có nghĩa là hủy diệt, biến thành hư không) là thiết bị tưởng tượng dùng để biến các hạt và phần hạt thành những dạng hạt khác khi chúng va chạm vào nhau. Ví dụ biến proton và phản proton thành mezon electron và phản electron thành forton (ND).

[5] Tương đương với bảy, tám trăm Jun (1 ec = 10-7J). Năng lượng này hoàn toàn không lớn (chỉ đủ để đun sôi vài trăm mililit nước).

Bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Thế Long. Đánh máy và làm ebook: 4DHN (TVE)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.