Tạm Biệt Alzheimer

Lượt đọc: 166 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10. Bức Tranh Toàn Diện: Bạn Có Thể Thành Công

❊ ❊ ❊

Bí mật của việc vượt lên trước là hãy bắt đầu.

- MARK TWAIN

Chương sách này tóm tắt lại phác đồ ReCODE, tập trung vào những điểm mấu chốt để việc ứng dụng trở nên dễ nhất có thể và cung cấp thêm sự lựa chọn điều trị khi cần thiết. Như bạn sẽ thấy, nó khá đơn giản. Tất cả những thông tin khoa học, tất cả kết quả xét nghiệm và các biến thể trong điều trị mà các chương trước đã mô tả chi tiết được đúc kết lại thành 5 yếu tố then chốt tác động lên sự sa sút trí tuệ ở hầu hết mọi người. Trong đó, không có điều gì là không thể can thiệp hiệu quả:

1. Sự đề kháng insulin

2. Viêmnhiễm trùng

3. Việc tối ưu hóa hormone, chất dinh dưỡng và yếu tố hướng thần kinh

4. Các độc chất (hóa học, sinh học và vật lý)

5. Sự phục hồi và bảo vệ các synapse bị mất (hoặc bị rối loạn chức năng)

a16
a17

Phần tóm tắt khá đơn giản, nhưng việc triển khai mới là chìa khóa của vấn đề. Bạn hoàn toàn có thể thực hiện nó!

Khi ngày càng nhiều người ứng dụng phương pháp ReCODE, tôi có cơ hội quan sát những biện pháp can thiệp có khả năng thành công cao nhất. Một vài biện pháp cho thấy thành công rõ rệt, trong khi một số khác không thành công bằng.

1. Bạn càng điều trị sớm, tác dụng bảo vệ của phác đồ và sự hồi phục hoàn toàn càng cao. Một phụ nữ nói với tôi bà ấy không sẵn sàng để bắt đầu phác đồ này. “Các triệu chứng của tôi hãy còn ở giai đoạn sớm mà, khi nào bệnh tiến triển thêm tôi sẽ đến bác sĩ để điều trị”, bà nói.

Không, một ngàn lần không!! Bạn càng bắt đầu sớm càng tốt, bởi vì quá trình sinh lý bệnh dẫn đến Alzheimer tiến triển trong suốt vài chục năm. Điều làm nhiều người cho rằng “còn sớm” về mặt triệu chứng thực tế không hề sớm chút nào về mặt tiến triển của bệnh tật.

Trong trường hợp lý tưởng, phác đồ này nên được thực hiện như một cách điều trị dự phòng. Hầu như ai cũng biết rằng, khi bạn bước sang tuổi 50, bạn nên đi nội soi đại tràng để tầm soát ung thư đường tiêu hóa. Vậy nên, khi bạn đến 45 tuổi hoặc một thời điểm sớm nhất ngay sau đó, bạn nên cân nhắc “tầm soát nhận thức” như tôi đã mô tả ở Chương 7.

Việc kiểm tra các xét nghiệm di truyền học, hóa sinh, chức năng nhận thức và hình ảnh học (xét nghiệm hình ảnh học là tùy chọn nếu bạn không có triệu chứng gì) khá dễ dàng và ngày càng dễ dàng hơn. Nếu bạn quyết định không điều trị dự phòng thì khi bạn bắt đầu có biểu hiện sa sút trí tuệ, bạn cần đến bác sĩ để được thăm khám và điều trị sớm nhất có thể.

Cho đến nay, tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán suy giảm nhận thức chủ quan (SCI) đã cải thiện bệnh khi điều trị với phác đồ này, vì thế bạn đừng nên trì hoãn điều trị một khi đã mắc bệnh.

2. Hãy “đồng hành” với bác sĩ ít nhất 6 tháng. Việc thay đổi hành vi vốn chẳng dễ dàng, vì thế đừng tự trách mình nếu bạn cần một khoảng thời gian để điều chỉnh chế độ ăn, giấc ngủ và luyện tập như bảng mô tả ở trên. Mọi việc trở nên dễ hơn sau 1-2 tháng, nên bạn hãy cố duy trì cho đến lúc đó! Bạn cần thật sự tuân thủ phác đồ, chiến đấu với bệnh tật của chính bạn trong vòng khoảng 6 tháng để thấy được những hiệu quả tích cực. Việc chỉ làm một chút phần này hay phần khác và lờ đi toàn bộ việc điều trị còn lại thường sẽ không giúp ích gì cho bạn.

KHI LAURA Ở ĐỘ TUỔI 75, bà bắt đầu bị mất trí nhớ. Mẹ của bà cũng từng bị lú lẫn nặng ở tuổi 70. Khi thăm khám Laura, bác sĩ chẩn đoán bà bị nhiều rối loạn chuyển hóa, bao gồm bất thường nồng độ hormone, tăng homocysteine và giảm vitamin B12. Tất cả điều có thể điều trị được. Sau vài tháng tuân thủ phác đồ ReCODE, bà đã trở nên minh mẫn hơn và tương tác tốt hơn. Tuy nhiên, sau đó bà bắt đầu suy giảm nhận thức trở lại, hóa ra bà đã ngưng thực hiện nhiều phần trong phác đồ.

Khi tôi trò chuyện với bà và gia đình, bà đưa ra nhiều lý do và biện bạch. Bà nói rằng bà thích ăn đồ ngọt và không thể kiêng chúng được, bà cũng chẳng thích tập thể dục cũng như không muốn thay đổi chế độ dinh dưỡng. Một chuyên viên sức khỏe đã dành nhiều thời gian để giúp bà, nhưng bà không muốn áp dụng pác đồ này dù đã thấy những kết quả tốt trước đó. Ngay cả gia đình cũng không làm bà thay đổi ý kiến, bà cứ thế ngày một sa sút thêm.

Đúng là thay đổi chế độ ăn rất khó khăn, đặc biệt là khi nhiều người không có niềm tin rằng việc ăn uống có tác động lớn đến nhận thức và nguy cơ sa sút trí tuệ, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu – ví dụ nghiên cứu về chế độ ăn vùng Địa Trung Hải – đã chứng minh điều này (Khi chúng tôi tiến hành cử các chuyên viên sức khỏe đến thăm bệnh những người đang điều trị với phác đồ, mọi người thường không trung thực khi trả lời về chế độ ăn!).

Nhiều sự thay đổi hành vi trong phác đồ rất quan trọng, có thể cải thiện nhận thức. Mỗi thứ đều có vai trò riêng, vì thế bạn cần kiên nhẫn. Chúng tôi nhận ra rằng, vai trò của chuyên viên sức khỏe rất có ích, có thể giúp bệnh nhân tạo ra các thay đổi cần thiết. Sự hỗ trợ của người vợchồng, các thành viên gia đình và bác sĩ điều trị cũng đóng vai trò tương tự.

3. Cần tìm hiểu vấn đề cụ thể nằm ở đâu, đừng điều trị mù. Tôi thường được hỏi biện pháp can thiệp nào trong phác đồ là quan trọng nhất. Có phải là dinh dưỡng không? Hay các hormone? Hay giải quyết tình trạng viêm? Hay là cái gì khác? Câu trả lời là đây: cần phải đánh giá bệnh nhân kỹ càng, như tôi đã giải thích trong Chương 7. Chỉ khi đó bạn và bác sĩ của mình mới có thể nhận diện yếu tố nào góp phần làm bạn sa sút trí tuệ.

Hơn nữa, nếu chức năng nhận thức của bạn không cải thiện trong vòng vài tháng điều trị theo phác đồ ReCODE, bạn cần xem lại điều gì đang cản trở sự hồi phục bệnh. Điển hình, sẽ có từ 10 đến 25 xét nghiệm cho thấy kết quả chưa được tối ưu. Việc biết được các kết quả xét nghiệm cụ thể sẽ giúp bạn tập trung vào những biện pháp tương ứng trong phác đồ ReCODE nhằm cải thiện chúng – và tôi hy vọng rằng điều này cũng cho bạn thêm động lực để đừng “ăn gian” khi thực hiện việc thay đổi hành vi đó nhé!

4. Luôn duy trì việc điều trị tối ưu. Một trong những khác biệt chính yếu giữa ReCODE và các biện pháp đơn trị liệu (dùng 1 loại thuốc) tiêu chuẩn là bạn luôn cần tiếp tục tối ưu hóa việc điều trị. Hết lần này đến lần khác, chúng tôi quan sát thấy, khi điều chỉnh việc điều trị tùy theo các kết quả xét nghiệm và đáp ứng của bệnh nhân, chức năng nhận thức tiếp tục cải thiện tốt hơn. Điều này đặc biệt đúng với những người quan tâm đến việc theo dõi sự tiến bộ của mình.

Dĩ nhiên, bạn có thể theo dõi sự cải thiện chức năng nhận thức qua các bài kiểm tra (test) tâm lý - thần kinh định tính trên mạng như BrainHQ, Lumosity, Dakim, Cogstate và nhiều loại khác nữa. Ngay cả khi bạn thấy triệu chứng của mình đã cải thiện, việc lặp lại xét nghiệm mỗi 4-6 tháng nhằm phát hiện những yếu tố chưa đạt mức tối ưu và thực hiện các bài test nhận thức sẽ giúp bạn biết được diễn tiến bệnh của mình như thế nào.

Quá trình này giống như chạy marathon, không phải chạy nước rút, vì thế bạn hãy tiếp tục điều trị tối ưu. Có thể bạn sẽ ngạc nhiên bởi sự cải thiện không ngừng chức năng nhận thức của mình đấy.

5. Hãy lưu tâm đến các kết quả xét nghiệm. Có một định mức bạn cần vượt qua để quá trình tạo synapse (bảo tồn các synapse, tạo ra và duy trì trí nhớ) hoạt động trội hơn quá trình hủy synapse (phá hủy synapse, dẫn đến sa sút trí nhớ và chức năng nhận thức). Khi bạn được thăm khám để nhận diện các yếu tố tiềm tàng làm sụt giảm trí tuệ, bạn sẽ không biết chắc chắn cần phải điều trị tối ưu bao nhiêu trong số đó là đủ để giúp bạn đạt được định mức nói trên, để việc hủy synapse không còn lấn át quá trình tạo synapse. Hiện cũng chưa có phương pháp đo lường trực tiếp nào để xác định định mức này, nó có thể rất khác nhau giữa mỗi người. Vì thế, điều quan trọng vẫn là điều trị tối ưu nhiều yếu tố nhất có thể.

DIANE bắt đầu bị mất trí nhớ ở giai đoạn quanh tuổi mãn kinh, và tình trạng này càng trầm trọng hơn sau mãn kinh. Cô đáp ứng rất tốt với phác đồ ReCODE. Tuy nhiên, sau một năm, cô nhận ra trí nhớ của mình lại bắt đầu tệ đi, vì thế cô ghi chép vào nhật ký thời điểm mà trí nhớ của cô suy giảm. Dù vậy, Diane không trở lại bác sĩ để tái khám ngay sau đó. Mãi đến khi cô đi khám lại, bác sĩ mới phát hiện nồng đồ estradiol của cô đã giảm từ mức > 100pgml xuống còn 0. Hóa ra là, người bác sĩ phụ khoa của cô đã thay đổi cách dùng estradiol kê toa cho cô từ đường âm đạo (hấp thu rất tốt) sang dạng hấp thu dưới da (sự hấp thu kém hơn). Các vấn đề về trí nhớ của cô cũng xấu hiện trong vòng vài tháng sau sự thay đổi này.

Thỉnh thoảng, ta đạt được định mức giúp thúc đẩy việc tạo synapse khi những hormone nhất định trong máu đạt nồng độ tối ưu, đôi khi là do việc ngủ nghỉ được tối ưu, khi khác là do glutathione được tiêm vào tĩnh mạch, do giảm căng thẳng hoặc do đảm bảo được lượng ketone tăng nhẹ trong máu. Ý tôi là cần chú trọng vào chi tiết cụ thể. Khi bạn làm đúng, các chỉ số chuyển hóa sẽ thể hiện điều đó, và bạn sẽ có cơ hội tốt nhất để cải thiện thành công chức năng nhận thức.

6. Thực hiện những gì trong khả năng – bạn không nhất thiết phải thực hiện toàn bộ chi tiết phác đồ ReCODE. Một khi bạn vượt qua ngưỡng bảo tồnphá hủy synapse, bạn đang ở trạng thái lành mạnh. Bệnh nhân Số 0 đã đạt được những kết quả rất khả quan khi tuân thủ 12 trong số 36 khuyến nghị.

Thực hiện một số lượng giới hạn những khuyến cáo trong phác đồ sẽ không đảm bảo việc mang lại hiệu quả cho mọi người. Miễn là những yếu tố góp phần làm sa sút trí tuệ vẫn hiện diện, bạn vẫn có nguy cơ. Vì thế, hãy cố gắng không bỏ qua bất kỳ thành phần nào trong phác đồ. Việc giải quyết được những yếu tố quan trọng nhất cho thấy kết quả tích cực với nhiều bệnh nhân.

7. Với mỗi điều chỉnh trong phác đồ, hãy cố gắng nhận diện những thay đổi tương ứng của chức năng nhận thức theo hướng tốt hơn, xấu đi hay không thay đổi. Những kết quả tạm thời liên quan đến sự điều chỉnh không nhất thiết phải có quan hệ nhân quả. Nhưng tôi muốn nhắc lại rằng những người có trạng thái chuyển hóa, kết quả xét nghiệm và các chỉ số đáp ứng với nhiều phần trong kế hoạch điều trị cá nhân hóa của họ là những người có sự cải thiện nhận thức ngoạn mục nhất, xét về lâu dài. Bạn cũng hãy nhớ, sự sụt giảm nhận thức, hay nói chung là thoái hóa thần kinh, có tính tiến triển. Nói cách khác, chúng vốn sẽ tiến triển ngày một tệ hơn.

Vì thế, khi bệnh không tiến triển, nghĩa là không xấu đi, đó chưa phải là kết quả tối ưu. Đây thường là dấu hiệu đầu tiên cho thấy bạn đang đi đúng hướng. Thậm chí một chút cải thiện nho nhỏ thôi cũng là một dấu hiệu rất khả quan, bởi vì nó đồng nghĩa với việc bạn đã ngăn chặn được sự tiến triển xấu đi, lật ngược được thế cờ, và đang tiến bộ đúng hướng.

8. Đừng để sự cầu toàn lấn át những tiến bộ khả quan. Chừng nào bạn vẫn có mức insulin máu khi đói tăng cao, có sự đề kháng insulin, bị viêm mãn tính, có sự sụt giảm các hormone hoặc tiếp xúc với những yếu tố gây sa sút trí tuệ, tình trạng nhận thức của bạn nhiều khả năng sẽ không cải thiện. Bộ não sẽ tiếp tục sản xuất ra amyloid như một đáp ứng bảo vệ trước những mối đe dọa này và amyloid sẽ phóng thích bộ tứ phá hủy thần kinh.

Khi tất cả những chỉ số chuyển hóa và độc chất này bắt đầu được cải thiện, chẳng còn lý do nào để bộ não sản xuất amyloid và bạn thường sẽ bắt đầu thấy sự tiến bộ trong chức năng nhận thức của mình – thậm chí ngay cả khi kết quả xét nghiệm chưa đạt đến mức tối ưu. Để tôi cho bạn thấy một trường hợp bệnh nhân, người từng có bất thường trong 24 chỉ số xét nghiệm chuyển hóa và độc chất, đã tiến bộ như thế nào trong 10 tháng điều trị với ReCODE.

bs2

Bệnh nhân này không chỉ có tiến bộ về chức năng nhận thức. Hình ảnh MRI của ông ấy còn thể hiện sự cải thiện rõ rệt. Như bạn thấy, điều này xảy ra song song với sự cải thiện trong các xét nghiệm chuyển hóa ở trên, mặc dù bệnh nhân chưa đạt đến chỉ số tối ưu: ví dụ, nồng độ insulin lúc đói của ông ấy giảm từ 32 xuống còn 8, trong khi chỉ số tối ưu là dưới 4,5. Tương tự, nồng độ hs-CRP, chỉ báo chính của quá trình viêm, giảm từ 9,9 xuống 3, trong khi mức tối ưu là dưới 1,0. Homocysteine giảm từ 15 xuống 8, trong khi mục tiêu tốt nhất là dưới 7.

Vì thế, bạn hãy theo dõi chỉ số của mình để giúp bản thân có sự hồi phục nhận thức tốt nhất, nhưng đừng nản lòng nếu bạn chưa đạt được mức tối ưu ngay lập tức: chỉ cần những chỉ số về tình trạng chuyển hóa thay đổi đúng chiều hướng, chức năng nhận thức cũng sẽ cải thiện một cách đúng đắn.

9. Hãy ghi chép lại tiến trình cải thiện chức năng nhận thức, để bạn biết mình đang ở đâu, đã tiến bộ ra sao và khi nào cần điều chỉnh phác đồ. Cũng giống như việc theo dõi kết quả xét nghiệm là điều rất cần thiết để định hướng cho phác đồ điều trị, theo dõi chức năng nhận thức cũng cung cấp thông tin quý giá để đánh giá kết quả.

Bạn có thể dùng những bài kiểm tra chuẩn hóa tâm lý - thần kinh định tính; hoặc những bài kiểm tra online từ BrainHQ, Lumosity, Dakim, Cogstate; hoặc từ các công ty khác. Nếu bạn không thấy sự tiến bộ theo thời gian (qua vài tháng), bạn cần điều chỉnh phác đồ điều trị, tìm thêm những yếu tố khác có thể tác động lên sự thay đổi nhận thức hoặc cả hai.

Bạn có thể theo dõi hình ảnh cấu trúc não trên phim MRI theo thời gian bằng những công cụ đo lường thể tích như Neuroreader hoặc NeuroQuant (hiện tại, các công cụ này có giá chưa tới 100 USD và tại Mỹ, chúng thường được bảo hiểm chi trả). Các công cụ này biến phim MRI thành phương tiện đắc lực để ước đoán sự teo não ở nhiều vùng khác nhau.

10. Tận dụng các mối quan hệ xã hội. Việc trao đổi các triệu chứng, vấn đề, thắc mắc và mối quan tâm của bạn với những người có cùng căn bệnh thường rất hữu ích. Bạn có thể thảo luận trực tiếp hoặc qua mạng internet, bao gồm cả việc tham gia vào các nhóm tương tự ApoE4.info.

11. Thận trọng với việc dừng trị liệu đột ngột. Nói chung, các hệ thống sinh học về bản chất không hoạt động như những công tắc có thể bậttắt nhanh chóng. Nếu bạn muốn dừng một liệu pháp hormone, Aricept, hormone tuyến giáp hoặc bất cứ liệu pháp nào khác, hãy giảm dần liều thuốc thật chậm rãi. Ví dụ, đối với Aricept, việc dừng thuốc đột ngột có thể dẫn đến sụt giảm trí tuệ nhiều hơn.

12. Gắn bó với quá trình điều trị. ReCODE đem lại nhiều lợi ích, không chỉ về chức năng nhận thức mà còn các quá trình chuyển hóa, kiểm soát đường huyết, cân nặng và thải độc. Tôi từng hy vọng rằng, một khi những bệnh nhân đầu tiên có cải thiện bệnh nhờ điều trị, dù họ quyết định dừng điều trị, các triệu chứng sẽ chỉ xấu đi sau nhiều năm kể từ lúc dừng. Nói cách khác là, vì quá trình đằng sau căn bệnh phát triển dần qua nhiều năm, nên sau khi bệnh nhân đã cải thiện bước đầu, tôi hy vọng các triệu chứng cũng sẽ chỉ quay lại sau nhiều năm tính từ khi chúng biến mất.

Tuy nhiên, không may là thực tế không như vậy. Những người từng điều trị rồi ngừng nhiều lần sẽ bị sa sút trí tuệ trở lại trong vòng 2 tuần. Việc quay trở lại phác đồ điều trị vẫn giúp cải thiện tình trạng bệnh nhân, nhưng đi từ mức độ nền xấu hơn so với khi bệnh nhân tuân thủ phác đồ ngay từ đầu.

Chúng tôi không biết tại sao chức năng nhận thức lại sụt giảm nhanh đến vậy khi dừng điều trị. Sau đây là một lý do khả dĩ. Bạn hãy tưởng tượng có một quốc gia gửi quân đội đến vùng có chiến sự. Sau khi cuộc chiến kết thúc, nước đó thường để lại lực lượng cảnh sát tại vùng chiến sự để nhanh chóng ứng phó khi có bất kỳ sự vụ nào xảy ra trong tương lai. Hệ miễn dịch của bạn cũng vậy: ngay sau khi bạn bắt đầu ReCODE, có vẻ hệ miễn dịch đã sản xuất ra và để lại một đội quân amyloid để chống lại các vi sinh vật, kim loại nặng hoặc độc chất.

Mặc dù ReCODE đang dần loại bỏ các mục tiêu chiến đấu này của amyloid, nhưng hệ miễn dịch dường như đã tạo chỗ cư trú cho amyloid dưới hình thức các pháo đài sinh học (các mảng amyloid) để chúng không phá hủy các tế bào não, vẫn sẽ có mặt khi cần thiết. “Khi cần thiết” có thể hiểu theo nghĩa khi bạn dừng ReCODE và vì thế làm cho các yếu tố phá hủy synapse tăng lên và tích tụ trở lại.

Kết quả là, các mảng trên sẽ giải phóng ra các phân tử amyloid để chiến đấu chống lại mối đe dọa, và như chúng ta đã biết, amyloid sẽ phá hủy các synapse. Dù cơ chế đứng đằng sau là gì, điều quan trọng là bạn cần tuân thủ quá trình điều trị và không ngừng điều chỉnh, tối ưu hóa nó qua nhiều tháng và nhiều năm.

13. Bạn không cần bắt đầu toàn bộ chương trình điều trị ngay một lúc; bạn có thể thực hiện theo từng giai đoạn. Thật dễ bị choáng ngợp khi cố thực hiện toàn bộ chương trình hoàn chỉnh ngay từ khi bắt đầu, vì vậy đừng lo lắng! Các bác sĩ, chuyên viên sức khỏe và các thành viên gia đình có thể giúp đỡ bạn, góp phần cải thiện thêm một yếu tố này hay yếu tố khác trong phác đồ. Nếu bạn muốn khởi đầu bằng việc tối ưu hóa giấc ngủ và tăng cường tập thể dục, hãy trì hoãn việc thay đổi chế độ ăn trong vài tuần đầu. Nếu bạn muốn bắt đầu thay đổi chế độ ăn bằng việc nhịn đói 12 tiếng ban đêm trước và hoãn các biện pháp tối ưu hóa hormone lại, điều này vẫn ổn cả. Chỉ cần đảm bảo rằng cuối cùng bạn sẽ thực hiện cùng lúc nhiều biện pháp nhất có thể, lý tưởng là sau 3-6 tháng. Tôi hứa rằng việc thay đổi này sẽ dần trở nên dễ hơn theo thời gian.

Bằng việc quan tâm đến 3 yếu tố chính yếu dẫn đến thành công, chúng tôi nhận ra những kiểu bệnh nhân có đáp ứng tốt nhất với việc điều trị. Những trường hợp này thường bao gồm:

◆ Những người có nguy cơ bệnh vì kiểu gen ApoE của họ, nhưng chưa có triệu chứng lâm sàng. Sẽ cần nhiều năm để chúng tôi biết chắc về mức độ hiệu quả của ReCODE trong việc phòng ngừa bệnh, nhưng cho đến nay chúng tôi chưa quan sát thấy trường hợp nào chuyển từ không có triệu chứng sang có triệu chứng khi đang điều trị.

◆ Những người được chẩn đoán “Suy giảm nhận thức chủ quan” (SCI). Tương tự, cho đến nay, chưa bệnh nhân nào trong nhóm SCI không cải thiện triệu chứng khi điều trị bằng phác đồ.

◆ Những người bị “Suy giảm nhận thức nhẹ” (MCI) được chẩn đoán sớm. Trong các giai đoạn sớm của bệnh, với điểm số MoCA (thang điểm đánh giá nhận thức Montreal) từ 24 trở lên, các bệnh nhân này có cơ hội cải thiện bệnh tốt hơn. Tuy nhiên, ngay cả với những người có điểm thấp ở mức 1, nghĩa là mức điểm số có mối liên hệ đến bệnh Alzheimer tiến triển, cũng cho thấy sự tiến bộ khi điều trị. MCI có xu hướng đáp ứng điều trị tốt nhất nếu là dạng aMCI (dạng mất trí nhớ) và nếu phát hiện được những kết quả xét nghiệm chưa tối ưu.

◆ Những người mắc dạng bệnh Alzheimer sớm. Mặc dù chúng tôi gọi nhóm này là “dạng bệnh Alzheimer xuất hiện sớm”, nhưng quá trình sinh lý bệnh học đằng sau đó cũng đã hiện diện trong khoảng hai thập kỷ hoặc khoảng đó. Việc này cho thấy tại thời điểm phát hiện, quá trình bệnh đã diễn tiến đến giai đoạn muộn. Dù vậy, chúng tôi vẫn có nhiều bệnh nhân mắc dạng Alzheimer sớm này (với điểm số MoCA ở khoảng mười mấy hoặc điểm số MMSE khoảng mười mấy hai mươi) có sự tiến bộ rõ rệt trong chức năng nhận thức.

Mặc dù việc điều trị sớm mang lại kết quả tốt hơn, nhưng thỉnh thoảng chúng tôi vẫn bắt gặp những bệnh nhân đã bắt đầu phác đồ điều trị muộn trong diễn tiến bệnh Alzheimer và vẫn đạt được vài kết quả khả quan. Dưới đây là một email tôi nhận được năm 2015.

Bác sĩ Bredesen thân mến,

Gần đây tôi vừa chuyển từ vùng California đến Oregon, nơi tôi và vợ đang sống cùng. Chúng tôi chăm sóc cho cha vợ của tôi, ông 82 tuổi. Ông mắc chứng trầm cảm và sa sút trí tuệ ở giai đoạn tiến triển, nay tỉnh mai quên. Ông đã tuân thủ nhiều biện pháp can thiệp trong phác đồ ReCODE. Nó đã nhanh chóng cải thiện những triệu chứng trầm cảm và đờ đãn tồi tệ nhất của ông.

Giờ đây ông đã nói chuyện nhiều hơn, hay lặp đi lặp lại những câu chuyện về năm tháng tuổi trẻ tươi đẹp - một sự tiến bộ lớn lao so với việc nức nở, la hét khi ông còn lú lẫn và không biết mình đang ở đâu: Ý tôi là ngay cả khi một người không thể hồi phục hoàn toàn, việc chăm sóc cho người thân bị lú lẫn cũng nhẹ nhàng đi rất nhiều chỉ sau một khoảng thời gian rất ngắn dùng phác đồ. Và vẫn còn khá sớm để đánh giá ông cụ sẽ còn cải thiện đến mức nào.

◆ Những dạng sa sút trí tuệ không thuộc tuýp 3 (tuýp nhiễm độc chất) như SCI, MCI và Alzheimer (AD) dạng sớm. Thực tế cho thấy bệnh AD tuýp 3 là dạng khó điều trị thành công nhất. Dù vậy, ngay cả với tuýp này, những thay đổi xảy ra sớm nhất (SCI) thường vẫn điều trị được. Tuy nhiên, một khi AD tuýp 3 đã biểu hiện rõ rệt, việc điều trị trở nên phức tạp hơn bởi vì nguồn độc chất phải được xác định và loại bỏ, bất cứ vi sinh vật nào hiện diện cũng cần được giải quyết, những phản ứng miễn dịch đang tiếp diễn phải được dập tắt.

Chúng tôi đã từng điều trị thành công một vài bệnh nhân tuýp 3, đặc biệt là những người bị ngộ độc thủy ngân. Việc giải quyết độc chất làm quay ngược diễn tiến sa sút trí tuệ khá nhanh chóng, làm cho kết quả điều trị tốt một cách ngoại lệ so với những bệnh nhân tuýp 3 thông thường.

◆ Những người khỏe mạnh và chỉ có những triệu chứng nhận thức. Những người không phải uống nhiều loại thuốc để điều trị nhiều bệnh mãn tính có xu hướng đáp ứng hoàn toàn với phác đồ.

◆ Những người không bị teo não trên phim chụp MRI, hoặc chỉ bị teo não vùng hồi hải mã. Khi hiện tượng teo não diễn ra trên diện rộng, bệnh nhân thường gặp khó khăn trong việc hiểu các khái niệm, sắp xếp tổ chức, tìm từ vựng và hơn thế nữa. Họ cũng có thể trở nên thụ động hơn và vô tư như trẻ con. Kiểu biểu hiện này thường gặp ở Alzheimer tuýp 3, mặc dù nó cũng xảy ra ở giai đoạn muộn trong các tuýp khác. Khi không có teo não, đáp ứng với phác đồ ReCODE nhìn chung sẽ thành công hơn.

◆ Những người dưới 75 tuổi. Điều này không có nghĩa là những người trên 75 tuổi không hề đáp ứng với điều trị, nhưng khi đánh giá một cách khái quát, bệnh nhân trẻ tuổi hơn sẽ có đáp ứng nhanh hơn và tốt hơn.

◆ Những người nhận được sự hỗ trợ tốt từ vợchồng và các bác sĩ. Việc có người bạn đời hỗ trợ đắc lực đã cho thấy lợi ích to lớn. Nhiều vợchồng của bệnh nhân cũng thực hiện phác đồ cho chính họ. Họ hỗ trợ bệnh nhân bằng rất nhiều cách, từ việc động viên người bệnh kiên trì điều trị cho tới việc giúp họ giảm căng thẳng và tìm kiếm niềm vui.

Các bác sĩ được đào tạo chuyên sâu về y học chức năng, y học tích hợp và hiểu được mạng lưới cũng như cách tiếp cận bệnh mãn tính theo chương trình cũng giúp ích rất nhiều cho bệnh nhân. Trái lại, đôi khi một vài bác sĩ có thể tỏ ra thiếu linh hoạt. Dưới đây là một trong hàng ngàn email tôi nhận được sau khi nghiên cứu đầu tiên của chúng tôi chứng minh được sự hồi phục chức năng nhận thức.

Gửi bác sĩ Bredesen,

Chúng tôi đã đọc được bài báo của ông về việc hồi phục chức năng nhận thức và hy vọng được thảo luận về các lựa chọn khả thi của chương trình trị liệu này với vị bác sĩ gia đình của mình. Nhưng anh ta phủ nhận nó ngay lập tức, và cho biết anh ta không có thời gian để đọc tài liệu. Anh ấy thậm chí cũng chẳng chịu nhận một bản sao bài báo của ông.

Khi chúng tôi đề nghị được anh ấy gửi giấy giới thiệu đến một bác sĩ khác — người quan tâm đến việc điều trị theo cách tiếp cận này — anh ta chỉ nói: “Các bác sĩ không điều trị dinh dưỡng đâu”. Vị bác sĩ chuyên khoa Nội thần kinh mà anh ta giới thiệu chúng tôi đến khám nói rằng Aricept là giải pháp duy nhất, và chúng tôi không phù hợp với giải pháp này. Khi chúng tôi hỏi về homocysteine, ông ấy đảo mắt, tỏ ra không tán thành.

Chúng tôi quan tâm về chương trình của ông là vì sáu yêu tố đầu tiên. Tôi vốn đã và đang thực hành một vài trong số đó. Chứng bệnh đau nhức cơ của tôi đang được kiểm soát bằng chế độ ăn, tập luyện và kiểm soát căng thẳng (thay vì uống thuốc).

Mặt khác, ReCODE có xu hướng ít đem lại hiệu quả hơn ở những người có các chỉ số xét nghiệm không khả quan (điều này thường đồng nghĩa với việc họ đã không làm theo phác đồ), hoặc những người không để ý đến các yếu tố cụ thể trong chương trình điều trị, những người không kiên trì điều trị, những người không bắt đầu điều trị sớm mà trì hoãn đến khi Alzheimer đã tiến triển muộn, những người không tái khám theo hẹn, những người không tiếp tục tối ưu hóa việc điều trị, những người mắc Alzheimer tuýp 3 nặng, hoặc những người được điều trị bởi một đội ngũ nhân viên y tế không phối hợp tốt với nhau.

Tôi không thể kết lại chương này mà không thú nhận một việc. Nếu vài chục năm trước có ai nói với tôi rằng “khi trở thành một bác sĩ nghiên cứu về thần kinh học, tôi sẽ đưa ra các phác đồ bao gồm cả thiền, yoga, liệu pháp cười, âm nhạc, niềm vui, nhịn ăn, tập thể dục, thảo dược, dinh dưỡng và giấc ngủ”, tôi sẽ phá lên cười. Nhưng tôi đã không thể chối bỏ những kết quả và kết luận rút ra được từ nhiều năm nghiên cứu.

Thật ra, cách đây 25 năm, trong khi tôi đang thực hiện những nghiên cứu bước đầu về thoái hóa thần kinh, vợ tôi (một bác sĩ xuất sắc về y học gia đình và y học tích hợp) đã từng nói với tôi rằng dù cuối cùng chúng tôi khám phá ra điều gì đi nữa, nó chắc chắn sẽ liên quan đến dinh dưỡng, sự căng thẳng và sự nhiễm độc. Dĩ nhiên, vì tôi chọn cách tiếp cận giản lược, tôi đã tranh luận rằng chúng tôi rồi sẽ phát hiện ra một phân tử đặc thù đóng vai trò cốt lõi trong bệnh Alzheimer. Hẳn rồi, tôi đáng lẽ nên sớm nghe theo lời cô ấy!

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.