Cần phải nhớ rằng, không có gì khó khăn hơn việc lên kế hoạch, ước lượng về một tương lai thành công còn mơ hồ, cũng không gì nguy hiểm hơn việc kiểm soát rủi ro từ việc sáng tạo ra một hệ thống mới. Cái khởi tạo sẽ phải đối mặt với tất cả những ai đang thu lợi từ việc bảo tồn thể chế cũ, và những người ủng hộ thường hờ hững dù hưởng lợi từ cái mới sinh ra.
— NICCOLÒ MACHIAVELLI
Để có một công nghệ thành công, thực tại phải làm tiền đề cho các mối quan hệ công chúng, bởi vì Tạo hóa không thể bị dối lừa.
- RICHARD FEYMAN
Nếu bạn muốn được ưa, hãy nói về sự đình trệ. Nếu bạn muốn bị ghét, hãy cải thiện nó.
— REFLOEB
Chúng ta thường xuyên nghe rằng bệnh Alzheimer là một bệnh không thể phòng ngừa hay chữa trị. Thế nên, tôi sẽ không ngạc nhiên nếu những câu chuyện thành công tôi đã kể và nền tảng nghiên cứu khoa học của phác đồ RECODE vẫn còn làm bạn nghi ngờ. Về điểm này, tôi luôn giữ trong mình thái độ nghi ngờ.
Vài năm trước khi bài báo đầu tiên của tôi về việc quay ngược tiến trình sụt giảm nhận thức được xuất bản năm 2014, tôi nhận được điện thoại từ một bác sĩ điều trị lỗi lạc được xác định là mắc bệnh Alzheimer trong giai đoạn sớm. Ông ấy nói mình biết căn bệnh này hiện vẫn đang khiến các bác sĩ bó tay, nhưng nếu những cuộc thử nghiệm đem lại bất cứ kết quả hứa hẹn nào, liệu tôi có thể nhắn cho ông ấy được không? Tôi nói với ông rằng ông đã gọi rất đúng lúc, vì chúng tôi hiện có nhiều bệnh nhân đáp ứng tốt khi điều trị với ReCODE.
Ông ấy không tin những gì tôi nói. Khi tôi lần lượt giải thích từng thành phần trong phác đồ, ông ấy phản hồi lại, đôi khi bằng thái độ dễ cáu gắt: “Chưa có bằng chứng nào được xuất bản cho thấy đây là cách điều trị Alzheimer hiệu quả cả”. Tôi cố gắng giải thích tại sao cách tiếp cận bằng nguyên một chương trình sẽ giải quyết được cơ chế sinh ra bệnh, tốt hơn nhiều so với một liệu pháp đơn độc; và về chuyện hiệu quả khiêm tốn của các biện pháp điều trị đơn lẻ được nêu trong nghiên cứu không phủ nhận được hiệu quả của khả năng kết hợp nhiều thứ. Sau tất cả, ông ấy vẫn tỏ ra hoài nghi.
Sau khi chịu đựng thái độ giễu cợt của ông ấy chừng 20 phút, cuối cùng tôi nhún vai và lắc đầu đáp: “Thế này nhé, hãy cho tôi 6 tháng. Nếu tôi không thể điều trị và giúp ông cải thiện, ông có thể tìm đến chỗ khác”.
“Tôi còn nơi nào khác đâu”, ông đáp lại, tỏ vẻ mỉa mai. “Vậy ông còn sợ mất gì?”, tôi hỏi.
Rồi ông đồng ý thử áp dụng ReCODE. Sau 3 tháng, vợ của ông gọi lại cho tôi, nói rằng ông đã cải thiện rất nhiều, và ông vẫn duy trì được như vậy thêm 3 năm nữa. Sau này, ông đã nói với tôi rằng ông đang dần trở thành người ủng hộ phương pháp này và bắt đầu giới thiệu chúng cho những bệnh nhân của mình.
Tôi vẫn nhớ bộ phim được phát hành vào năm 1984 tên là Blood Simple (Tạm dịch: Nhuốm máu ngây ngô), một tác phẩm biếm họa sắc sảo của anh em nhà Coen. Tất cả những người vướng vào phi vụ máu me đều trở nên ngây ngô – phi lý trí, không còn tư duy. Điều tương tự cũng xảy ra khi các bác sĩ điều trị, nhà quản trị, nhà khoa học, chính trị gia và những người khác tiếp xúc với một phương pháp không tuân theo cách tiếp cận đơn trị liệu tiêu chuẩn, đón nhận những kết quả họ không lường trước.
Hãy để tôi minh họa cho bạn thấy một bức tranh tổng quan những phản ứng tôi đã nhận được.
◆ Một bác sĩ chuyên khoa thần kinh nói với tôi rằng anh ấy sẽ không cân nhắc việc dùng ReCODE cho bệnh nhân của anh vì “Tôi không thích những cách tiếp cận chung chung”. Một người khác nói: “Phác đồ này kết hợp cùng lúc quá nhiều thứ nên FDA sẽ không cấp phép đâu”. Người thứ ba nói rằng, một bệnh nhân của anh ấy dùng phác đồ ReCODE và đã cải thiện điểm số MMSE (thang điểm đánh giá nhanh tình trạng tâm - thần kinh) từ 22 lên 29 (khoảng bình thường là 27-30 điểm), nhưng lý do tại sao như vậy thì “không rõ ràng”. Rồi một người khác nói: “Chắc hẳn phương pháp này không quan trọng, vì tôi chưa từng nghe nói về nó”.
◆ Vào năm 2011, tôi tình cờ gặp một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới về bệnh Alzheimer tại hội nghị Alzheimer ở Paris. Anh ấy đã hỏi về chủ đề tôi đang nghiên cứu. Khi tôi bày tỏ mình đang nghiên cứu về khả năng việc điều trị bằng chỉ một loại thuốc có lẽ sẽ không phải là tối ưu cho bệnh Alzheimer, ông ấy cười phá lên, đặt tay lên vai tôi và bảo: “À, ừ, đừng tốn quá nhiều thời gian vào việc đó nhé!”.
◆ Một chuyên gia khác về Alzheimer nói: “Tôi sẽ không bao giờ cho làm các loại xét nghiệm đó, bởi vì tôi không biết phải diễn giải các kết quả ra sao”. Một chuyên gia khác đề nghị bắt đầu dùng sớm hơn những loại thuốc điều trị từng thất bại để giải quyết bệnh Alzheimer.
◆ Theo sau một nghiên cứu trên chuột, các tờ báo giật tít rằng một trường đại học đã “vừa tìm được cách chữa Alzheimer”. Hai nhân viên thuộc quỹ tài trợ nghiên cứu đã liên hệ tôi sau bài báo đăng năm 2014 về tính hiệu quả của ReCODE và cho rằng các bệnh nhân không thật sự mắc bệnh Alzheimer. Tôi đưa ra bằng chứng chẩn đoán của từng bệnh nhân một, và rồi họ nói: “Ồ, được rồi”.
◆ Một quan chức chính phủ đã tiến đến gặp tôi sau buổi hội nghị và nói: “Tôi đã đọc bài báo của anh, Dale. Nó có vẻ kỳ cục...”.
Donald Gittet, người được giao trọng trách cứu thế giới không thua gì nhóm G8 trong mảng bệnh Alzheimer, đã lắng nghe các kết quả vô tiền khoáng hậu của chúng tôi và nhu cầu cần một chương trình có thể giải quyết tất cả “36 lỗ hổng trên mái nhà” cho những người bệnh Alzheimer. Ông ấy nói: “Nếu anh có thể đơn giản hóa nó xuống thành 3 lỗ, có thể tôi sẽ hứng thú”.
Khoan đã, cái gì cơ? Ông muốn chúng tôi thương lượng với bản chất căn bệnh Alzheimer sao? Tôi cố gắng giải thích những quá trình ẩn dưới căn bệnh, và ông đáp lại rằng: “Nghe có vẻ hàn lâm quá. Tôi không phải kiểu người hàn lâm lắm đâu”. Cái gì? Đây là người có trách nhiệm sẽ cứu chúng ta thoát khỏi bệnh Alzheimer sao? Tôi nhận ra ông ấy chẳng biết tẹo nào về bệnh Alzheimer hay ngành khoa học thần kinh – ông đang đóng vai thuyền trưởng được kỳ vọng sẽ cập bến chân trời mới trong việc điều trị Alzheimer, nhưng không hề biết cách giương buồm ra khơi.
Không có ai hỏi về tính hiệu quả! Không ai đề cập đến những gia đình đang tuyệt vọng. Không một ai trong số những người hoài nghi đề nghị được gặp hay nói chuyện với bất cứ bệnh nhân nào! Không ai đề cập đến việc các loại thuốc họ đang kê toa chẳng giúp ích gì, và rằng bất cứ cách nào có khả năng cải thiện có thể là một bước tiến đáng kể. Không ai nói đến việc hàng trăm thử nghiệm thuốc thất bại kia đã tiêu tốn hàng tỷ đô la. Như câu trích dẫn từ phim The Big Short (Tạm dịch: Cuộc đại suy thoái): “Sự thật giống như thơ ca. Và phần lớn mọi người chúa ghét thơ ca”.
Một kiểu phản ứng “suy nghĩ nông cạn” tương tự đến từ những người trực tiếp tham gia, người thật sự có những bằng chứng về hiệu quả của phác đồ:
KEN, 67 TUÔI, BỊ SA SÚT TRÍ NHỚ và có tiền sử gia đình mắc bệnh Alzheimer, bản thân mang gen ApoE4 (ApoE3/4), được chẩn đoán mắc Alzheimer qua phương pháp chụp PET amyloid và PET fluorodeoxyglucose (FDG-PET). Phim MRI cho thấy hồi hải mã của ông bị teo nhiều đến nỗi nó chỉ còn ở mức bách phân vị thứ 20 theo độ tuổi.
Sau 10 tháng áp dụng ReCODE, Ken đang cải thiện rất tốt và hình ảnh MRI khi tái khám của ông cho thấy hồi hải mã tăng thể tích lên đến mức bách phân vị thứ 70. Tuy nhiên, ngay sau khi ông nhận được kết quả MRI, Ken nhận được thư từ trung tâm chụp MRI rằng đã có sai sót xảy ra: vị bác sĩ hình ảnh học thần kinh nói với Ken rằng anh ta không tin rằng sự cải thiện mà máy đo được ở trên là chính xác hoặc thật sự xảy ra. Vị bác sĩ đề nghị phiếu báo kết quả mới này sẽ được chỉnh sửa thành hồi hải mã có thê tích ở mức bách phân vị thứ 35, và phiếu kết quả ban đầu cũng sẽ được tăng lên thành 35, để thể hiện rằng không có thay đổi gì xảy ra.
Người bác sĩ đó không thể tin sự cải thiện ngoạn mục như vậy là điều khả thi. Các tâm phim của Ken được mang đến cho một bác sĩ hình ảnh học thần kinh khác đọc lại một cách độc lập: bác sĩ này kết luận rằng thể tích đo ban đầu thực ra là dưới mức bách phân vị thứ 10, và tăng lên trên mức 80 ở lần chụp sau.
Vậy đó, như tôi đã nói, sự không tin tưởng hay thậm chí ngờ vực là điều tôi luôn phải làm quen. Để tôi giải quyết một vài gốc rễ của sự nghi ngờ này:
◆ “Bác sĩ của tôi nói rằng bệnh Alzheimer là bệnh không chữa được.”
Vì vậy cuốn sách này mới ra đời, cùng với các ấn bản nghiên cứu gần đây của chúng tôi. Lần đầu tiên, sự suy giảm nhận thức được chứng minh là có thể chữa được, đặc biệt là trong những giai đoạn sớm của bệnh. Vì thế, điều thiết yếu là bắt đầu chương trình điều trị sớm nhất có thể.
◆ “Tôi muốn trì hoãn việc áp dụng chương trình điều trị cho đến giai đoạn sau, hiện giờ bệnh của tôi đâu quá nặng.”
Làm ơn đừng trì hoãn! Bạn càng bắt đầu điều trị trễ, việc phục hồi chức năng nhận thức càng khó khăn hơn.
◆ “Chả có phần nào trong nguyên cả phác đồ trông có vẻ là chữa được bệnh.”
Suy giảm nhận thức, bao gồm cả chứng sa sút trí tuệ, là một quá trình cực kỳ phức tạp, chịu tác động bởi hàng tá yếu tố. Việc nhắm vào tất cả các yếu tố liên quan đến ca bệnh của bạn, với mục tiêu là thay đổi tiến triển bệnh tật, sẽ gia tăng khả năng thành công lớn nhất cho quá trình điều trị. Trong thực tế, không có yếu tố đơn lẻ nào trong số này đủ để chữa được bệnh, nhưng điều đó không có nghĩa là việc điều trị phối hợp không có ích. Điều này không loại trừ khả năng một ngày nào đó liệu pháp đơn trị liệu sẽ chữa được bệnh. Tuy nhiên, cơ chế sinh học phức tạp làm cho điều này khó xảy ra, bởi vì cách điều trị này sẽ cần phải giải quyết được nhiều yếu tố gây bệnh cùng lúc.
◆ “Phần gluten nghe dở hơi quá. Gluten sao mà liên quan đến tôi được?”
Tôi cũng mong là không liên quan. Nhưng thật không may, nghiên cứu từ nhiều nhà khoa học đã phản bác quan niệm lỗi thời rằng chỉ có những bệnh nhân bị bệnh viêm ruột mãn tính mới cần quan tâm đến vấn đề gluten. Gluten có thể làm suy giảm sự đồng nhất của hàng rào bảo vệ trong ruột (và tiềm tàng nữa là hàng rào máu não), dẫn đến chứng rò ruột, tình trạng viêm toàn thân và tăng nguy cơ sụt giảm nhận thức.
◆ “Một vài xét nghiệm bác sĩ đề nghị làm không được thanh toán trong gói bảo hiểm của tôi.”
Việc đánh giá cơ bản tình trạng sụt giảm nhận thức không bao gồm những xét nghiệm chuyên biệt giúp tìm nguyên nhân tại sao bệnh xảy ra, đó chưa nói đến việc gợi ý cách điều trị tối ưu. Các công ty bảo hiểm sẽ chi trả một vài hay phần lớn các xét nghiệm. Dẫu vậy, ít có sự đầu tư nào đáng giá hơn việc tự giúp bản thân và người thân yêu tránh xa các bệnh viện và cơ sở y tế, mà bản thân việc này cũng đã tốn kém rồi.
◆ “Tại sao tôi chưa từng nghe về phương pháp này? Kể cả bác sĩ của tôi cũng vậy?”
Mặc dù tôi và các đồng nghiệp trong cùng trung tâm nghiên cứu đã xuất bản các nghiên cứu về cơ chế ẩn sau ReCODE từ năm 1993, nhưng bài báo đầu tiên của tôi mô tả về bệnh nhân áp dụng phác đồ ReCODE chỉ xuất hiện vào năm 2014. Khi tôi viết cuốn sách này vào năm 2017, chỉ mới có thêm 3 bài báo bình duyệt được xuất bản (1 bài về cách điều trị và 2 bài kia về vấn đề chẩn đoán).
Bất cứ hướng tiếp cận mới nào cũng có khả năng đối diện với sự hoài nghi – và bị phớt lờ bởi hầu hết các chính thể y khoa – trừ khi và cho đến khi có một nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có đối chứng trên quy mô lớn. Tôi đã giải thích trong Chương 5 về việc tại sao điều này vẫn chưa xảy ra. Vào năm 2017, chúng tôi đã bắt đầu một thử nghiệm thuộc loại chứng minh khái niệm tồn tại(*), làm tiền đề cho một thử nghiệm lâm sàng tiên phong ở quy mô lớn hơn để đánh giá toàn diện phác đồ ReCODE.
(*) Nguyên văn: proof-of-concent trial. Đây là một dạng thiết kế nghiên cứu dùng trong giai đoạn 2 của thử nghiệm lâm sàng (trong số 4 giai đoạn), tập trung chứng minh tính hiệu quả của phương pháp điều trị. Vì vậy, liều thuốc dùng trong thử nghiệm thường là liều tối đa có thể dùng một cách an toàn.
◆ “Chương trình này có hiệu quả với những nguyên nhân gây sa sút trí tuệ khác, ví dụ sa sút thể Lewy, sa sút trí tuệ mạch máu, bệnh đa xơ cứng, Parkinson và thoái hóa thùy trán - đỉnh không?”
Đây là một câu hỏi quan trọng, nhưng chúng tôi vẫn chưa tìm ra câu trả lời. ReCODE được thiết kế để giải quyết các cơ chế đã dẫn đến quá trình suy giảm nhận thức gây ra bệnh Alzheimer, và cố gắng giải quyết nhiều cơ chế trong số đó nhất có thể. Tuy nhiên, khi điều này xảy ra, nhiều vấn đề tương tự (đề kháng insulin, rò ruột, các chất độc sinh học và nhiều thứ nữa) vốn góp phần vào bệnh Alzheimer cũng sẽ ảnh hưởng lên bệnh đái tháo đường tuýp 2, hội chứng chuyển hóa và bệnh lý tim mạch.
Có khả năng là những bệnh thoái hóa thần kinh ngoài Alzheimer như thể Lewy có chung vài cơ chế. Trong số những bệnh nhân đầu tiên được đánh giá bằng các xét nghiệm được tôi mô tả trong Chương 7, có kết quả cho ra tương tự bệnh Alzheimer tuýp 3 (tuýp liên quan độc chất). Có lẽ, việc xử lý những nguồn độc chất này cũng sẽ có ích trong việc điều trị bệnh Lewy, nhưng vẫn cần thêm các nghiên cứu để tìm hiểu và chứng minh khả năng này.
◆ “Nhưng các xét nghiệm của tôi có kết quả bình thường.”
“Kết quả bình thường” không phải lúc nào cũng đủ khi bạn cố gắng phục hồi chức năng nhận thức. Các chỉ số xét nghiệm nên được điều chỉnh tối ưu chứ không nên chỉ gói gọn “trong giới hạn bình thường” (Xem Chương 8 để hiểu thêm chi tiết).
◆ “Nhưng tôi đã dùng thực phẩm tốt cho sức khỏe rồi.”
Đó là khởi đầu rất tốt! Giờ bạn hãy bắt tay vào những phần khác của phác đồ tùy theo các kết quả xét nghiệm của mình và đừng quên tối ưu hóa chế độ dinh dưỡng để cải thiện chức năng nhận thức nhé.
◆ “Tôi cần được giải tỏa. Tôi và gia đình đã rất tức giận, bực mình và buồn phiền. Tại sao tôi lại mắc bệnh này chứ?”
Bạn hoàn toàn xứng đáng được quyền tức giận, bực mình và buồn rầu. Sự sụt giảm nhận thức xảy ra là có nguyên nhân, có những nguyên nhân ẩn đằng sau nó (thường là cả tá yếu tố góp phần tạo nên). Ta có thể xác định, đo lường và giải quyết nó. Bực tức không sao cả, nhưng sẽ tốt hơn khi bạn được thăm khám và bắt đầu điều trị.
◆ “Tôi nghe nói các loại chế phẩm bổ sung và thảo mộc không được quản lý, và hầu hết là vô dụng.”
Một vài loại chế phẩm bổ sung và thảo mộc không tốt như lời quảng cáo. Một vài loại thậm chí còn không có thành phần giống như những gì đã ghi trên nhãn, vì vậy việc lựa chọn đúng sản phẩm rất quan trọng. Có một chuyên gia về thảo dược học rất giỏi – tôi rất nể trọng người này – khuyến nghị nên chọn những sản phẩm từ những thương hiệu đáng tin cậy như Banyan, Gaia Herbs, Metagenics hoặc Natura Health Products.
◆ “Tôi không thấy mình cải thiện gì – chắc chắn là phương pháp này không hiệu quả rồi!”
Để giải quyết tình huống này, bạn nên gặp bác sĩ điều trị hoặc hướng dẫn viên sức khỏe của mình để xác định nguyên nhân cụ thể. Sau đây là một vài lý do khả dĩ:
1. Bạn đã điều trị theo phác đồ được bao lâu? Người bệnh cần từ 3 đến 6 tháng để thấy được những tiến bộ đầu tiên. Việc hồi phục một căn bệnh đã diễn tiến nhiều năm không thể xảy ra trong một sớm một chiều.
2. Bệnh được chẩn đoán kỹ lưỡng ở mức nào? Có khi nào bạn đang mắc một bệnh khác các chứng suy giảm nhận thức nhẹ hoặc suy giảm nhận thức chủ quan do Alzheimer không? Việc loại trừ các chẩn đoán khác như suy giảm nhận thức do rượu hoặc đột quỵ nhiều lần là rất quan trọng vì ReCODE không được thiết kế để áp dụng cho hai căn bệnh này.
3. Nếu bạn đã duy trì tối ưu phác đồ trong ít nhất 6 tháng và các chỉ số xét nghiệm đã cải thiện nhưng tình trạng nhận thức vẫn không khá lên, chắc chắn là có điều gì đó đã bị bỏ sót. Không phải tự nhiên mà bạn bị sa sút nhận thức, cho nên việc đánh giá để tìm nguyên nhân và điều chỉnh phác đồ rất quan trọng.
Ví dụ, nồng độ ketone trong máu bạn đã đạt mức tăng nhẹ chưa? Bạn đã chuyển từ chế độ ăn nhiều tinh bột sang nhiều chất béo có lợi chưa? Một dấu hiệu rất hay gặp cho thấy quá trình chuyển hóa của cơ thể đã thay đổi là cân nặng giảm, thường từ 4 đến 18 kg, tùy thuộc vào cân nặng ban đầu của bạn. Như tôi đã nói ở trên, những người đáp ứng tốt nhất với phác đồ thường là những người được điều trị khi bệnh còn ở giai đoạn sớm. Nếu chẳng may bạn đã bị Alzheimer ở giai đoạn giữa thì việc hồi phục sẽ khó khăn hơn.
4. Nguyên nhân phổ biến nhất ở người không đáp ứng với điều trị là vì họ không thực sự tuân thủ chặt chẽ phác đồ. Nguyên nhân kế đến là do họ mắc bệnh Alzheimer tuýp 3 (nhiễm độc chất), tuýp này cần được điều trị thêm nhiều bước nhằm thải độc và loại bỏ hậu quả của độc chất lên cơ thể. Nếu bạn có những đặc trưng của tuýp 3, hãy tìm một chuyên gia về điều trị hội chứng đáp ứng viêm mãn tính (CIRS), ví dụ như những người được nêu tên trên trang survivingmoldcom(*).
(*) Đây là thông tin tham khảo bằng tiếng Anh về các bác sĩ và chuyên gia trong giới y khoa nước Mỹ. Tại Việt Nam, nhóm dịch chưa có thông tin đáng tin cậy về các chuyên gia trong mảng CIRS.
5. Một vấn đề thường thấy là việc bỏ sót chẩn đoán ngưng thở khi ngủ. Liệu tình trạng này đã được loại trừ chưa? Và bạn có ngủ được ít nhất 7 tiếng mỗi đêm không?
6. Bạn có dành thời gian đều đặn (30 phút mỗi ngày, 3 ngày mỗi tuần; hoặc 10-20 phút mỗi ngày, 5 lần mỗi tuần) cho những hoạt động rèn trí não không? Nếu có, bạn có thấy tình trạng nhận thức vẫn tệ đi dù đã luyện tập thường xuyên không? Hay bạn nhận thấy mình tiến bộ, chỉ là không bằng tốc độ mà bạn kỳ vọng? Thay đổi đầu tiên bạn cảm nhận được thường là quá trình suy giảm nhận thức dừng lại, sau đó nó bắt đầu cải thiện từng chút một. Ví dụ, bạn thấy mình làm được những việc trước đây không thể làm như nhớ được những đoạn trong sách mà bạn đã đọc hoặc làm theo được các hướng dẫn.
7. Các chỉ số xét nghiệm của bạn đã đạt đến mức tối ưu như bảng tóm tắt ở Chương 7 chưa?
Đến nay ReCODE đã phát huy tác dụng với hàng trăm người. Vì thế, ngay cả khi bạn có nguy cơ di truyền mắc bệnh Alzheimer, đã và đang mắc tình trạng suy giảm nhận thức nhẹ, suy giảm nhận thức chủ quan, hoặc đã được chẩn đoán mắc Alzheimer giai đoạn sớm, hãy hít một hơi thật sâu và xua tan cảm giác vô vọng, bơ vơ.
Bạn có thể nói chuyện với người đã cải thiện bệnh tình khi áp dụng ReCODE, việc này thường đem lại ích lợi, giúp bạn không cảm thấy việc điều trị thật xa vời hoặc chỉ là lời hứa hẹn sáo rỗng. Sau đó, hãy quyết định xem bạn có thực sự muốn chiến đấu lại căn bệnh sa sút bằng phác đồ này không. Không ai và không gì có thể giúp được bạn nếu tự bạn không muốn mình tốt hơn.
Tôi đã từng mô tả trong Chương 5 câu chuyện chống lại những tập đoàn quyền lực và các chuyên gia bảo thủ, cho bạn thấy sẽ ra sao khi họ vốn không thể chấp nhận bất cứ điều gì lệch khỏi khuôn mẫu đang thống trị, thậm chí ngay cả khi khuôn mẫu đó đã thất bại thảm hại trong trường hợp của bệnh Alzheimer này. May mắn thay, một trong những điều tuyệt vời nhất trong khoa học là bằng chứng luôn vượt lên trên tất cả những thứ khác, ít nhất là vậy khi mọi việc ngã ngũ.
Cách duy nhất để đánh giá hiệu quả một biện pháp điều trị là xác định xem nó có giúp người bệnh khá lên không, chứ không phải nhìn vào khía cạnh nó có được tài trợ vốn không, có sinh lãi không, công trình có được đăng trên các tạp chí khoa học thời thượng không, có nhận được tán dương từ giới đồng nghiệp không, có được tung hô không. Ở đây, điều có ý nghĩa duy nhất là liệu nó có cải thiện được bệnh tình không?
Nghe có vẻ đơn giản và rõ ràng. Nhưng trên thực tế, ngạc nhiên thay, mục tiêu này hiếm khi là ưu tiên hàng đầu. “Tầm nhìn nhận thức” này đặc biệt quan trọng trong bệnh Alzheimer vì hiện nay vẫn chưa có lựa chọn thay thế nào. Chúng ta chưa có nhiều biện pháp điều trị hiệu quả và không có cơ hội “chỉ đơn giản là cải thiện những gì sẵn có”. Cách điều trị tiêu chuẩn hiện tại thậm chí còn không thể giúp chặn đứng, chứ chưa nói đến việc đảo ngược diễn tiến của tình trạng sa sút trong các thể bệnh suy giảm nhận thức nhẹ, suy giảm nhận thức chủ quan hay Alzheimer.
Một phần vấn đề là ở chỗ rủi ro quá cao trong khi chuẩn mực quá thấp. Trước miếng bánh nghìn tỷ đô la mà căn bệnh này mang tới ở góc độ toàn cầu – đây chính là thực tế bệnh Alzheimer – sức cám dỗ là quá lớn. Điều này thu hút những kẻ dối trá, những người cơ hội, phường buôn gian bán lận và các kiểu tương tự.
Ví dụ, ngay cả khi các nhà chuyên môn nói họ không tin vào các kết quả đã được công bố hay bình duyệt của chúng tôi, những kẻ bắt chước đã bắt đầu mở công ty, tuyên bố sẽ cung cấp chương trình điều trị tương tự những gì chúng tôi đề xuất, mặc dù họ chẳng hề có chuyên môn trong lĩnh vực này và không có kiến thức về các phác đồ hiện tại.
Có một công ty được thành lập bởi một nữ doanh nhân và vài bác sĩ chuyên ngành giải phẫu bệnh học. Khi họ được phản hồi rằng phác đồ của họ đã lỗi thời, họ đáp lại: “Nó vẫn còn đủ tốt để hái ra tiền mà”. Hay một công ty bắt chước khác được mở ra bởi nhóm người làm mảng IT thiếu đạo đức, chẳng hề có chuyên môn y khoa chứ chưa nói đến mảng thần kinh học. Nếu bạn cần sửa máy in, có thể họ sẽ giúp được bạn, nhưng nếu bạn quan tâm về chức năng nhận thức, bạn sẽ cần gặp một người bác sĩ có khả năng điều trị, tốt hơn là người nắm được gốc rễ vấn đề. Buồn thay, những công ty hút máu này đang kiếm ăn trên nỗi tuyệt vọng của con người.
Sự cám dỗ của con số nghìn tỷ đô la là quá lớn. Khi nguồn lợi nhuận này đối mặt với rủi ro, tiếng nói phản đối sẽ bị khuất lấp như cách họ phát biểu “Cục diện thường bị bưng bít bởi $ố tiền bẩn bạn đang hái được”.
Nếu tôi không lầm, việc thay đổi cơ sở nền tảng của mảng bệnh Alzheimer sẽ tạo ra xung đột nảy lửa và sự e dè va chạm nhau trong tập thể. Mục tiêu giảm gánh nặng của bệnh sa sút trí tuệ trên toàn cầu luôn có nguy cơ mất hút trong mớ tranh giành hỗn độn của doanh số, nguồn tài trợ nghiên cứu, sự chiếm hữu, những giải thưởng, lợi thế chính trị và hoạt động gây quỹ.
Christian Bale, người đóng vai bác sĩ Michael Burry trong phim The Big Short (Tạm dịch: Cuộc đại suy thoái), nói rằng “Thay vì dựa theo các con số hay những sự việc, con người chọn đi theo những thứ có vẻ quen thuộc hoặc thứ nắm quyền”. Điều này có thể dẫn đến hậu quả khôn lường, giống như những gì đã xảy ra trong cuộc khủng hoảng tài chính từ năm 2008.
Gần 200 năm trước, bác sĩ Ignaz Semmelweis đã cứu mạng vô số những người mới làm mẹ nhờ phát hiện ra tỷ lệ tử vong sau khi sinh cao là do lây truyền mầm bệnh từ các xác chết mà sinh viên y khoa đã tiếp xúc trước khi họ tham gia hỗ trợ cuộc đỡ đẻ. Ông quả quyết rằng điều này có thể được ngăn ngừa gần như hoàn toàn bằng việc rửa tay với dung dịch calcium hypochlorite.
Bởi vì lúc bấy giờ người ta chưa biểu biết gì về khái niệm các bệnh nhiễm trùng, các nhà chuyên môn không tin lời Semmelweis. Một quan chức còn tranh luận rằng: “Những vật thể hay chất bay hơi gây nhiễm trùng không thể tích tụ đủ nhiều xung quanh móng tay để khiến bệnh nhân chết được”. Cuối cùng, giới lãnh đạo ngành y tống Semmelweis vào nhà thương điên, nơi ông bị đánh đập và cuối cùng, mỉa mai thay, ông chết vì nhiễm trùng trên chính những vết thương do đánh đập.
Khi con người dần tiến bộ và cải thiện cách tiếp cận để phòng ngừa và hồi phục sự sa sút nhận thức, chúng ta cần những bộ óc cởi mở, để tiến hành những thử nghiệm khác lề lối cũ, những loại xét nghiệm và bộ dữ liệu mới, cùng các chương trình ngăn ngừa trên toàn cầu. Việc phát triển một phương pháp chữa dứt điểm bệnh Alzheimer đòi hỏi các chuyên gia và nhà lãnh đạo sắc bén và phóng khoáng hơn những người ở thời kỳ của Semmelweis.
Hàng thế kỷ nay, loài người chúng ta thường chết vì những bệnh nhiễm trùng cấp tính như viêm phổi do vi trùng, và thành công y - sinh học vĩ đại nhất của thế kỷ 20 là phát triển được các kháng sinh giúp trị bệnh, cũng như các chính sách y tế công giúp ngăn ngừa chúng. Kết quả là ngày càng nhiều người trong chúng ta chết vì những bệnh mãn tính và phức tạp như ung thư, bệnh tim mạch và các bệnh thoái hóa thần kinh. Thật không may, chúng ta đã cố gắng đi tìm lời giải cho các bệnh mãn tính giống như cách giúp ta giải quyết bệnh nhiễm trùng cấp tính: đơn trị liệu, chỉ dùng một loại thuốc. Việc này cũng giống như bạn đang dùng chiến thuật của môn cờ đam cho ván cờ vua vậy.
Để tôi nhắc lại vài điều mình đã nói trong Chương 1: Không một ai đáng phải chết vì bệnh Alzheimer. Tôi hy vọng, dù bạn có ngờ vực cỡ nào vào lần đầu đọc được điều này, tôi vẫn có thể thuyết phục được bạn, rằng nó không chỉ khả thi về mặt lý thuyết mà còn nằm trong tầm khả năng của thời đại này.
Tuy nhiên, để hiện thực hóa viễn cảnh chấm dứt căn bệnh Alzheimer cho tất cả mọi người, nó đòi hỏi chúng ta cần cập nhật thực hành từ nền y khoa thế kỷ 20 sang thế kỷ 21 và có động thái tích cực với sức khỏe tổng quát cũng như chức năng nhận thức của mình.
Điều đó đòi hỏi chúng ta tuân theo một phác đồ y khoa tối ưu, được cá nhân hóa cho chính mỗi người.
Việc này hoàn toàn khác với nền chăm sóc y tế thế kỷ 20. Mọi người sẽ không còn đợi đến khi phát bệnh mới đến gặp bác sĩ. Đặc biệt là khi chúng ta nhận thức được, các triệu chứng của những bệnh này thường không xuất hiện sớm như đối với các bệnh cấp tính (không giống như “bị nhiễm trùng đường hô hấp trên”, triệu chứng sổ mũi và đau họng xuất hiện rất nhanh), các bệnh mãn tính thường biểu hiện muộn.
Bằng nền y khoa thế kỷ 21, mọi người sẽ không còn đợi đến lúc triệu chứng biểu lộ mới bắt đầu thay đổi có chủ đích những thói quen trong cuộc sống nhằm giải quyết các bệnh mãn tính. Họ sẽ quản lý sức khỏe của mình bằng cách tiếp cận những phác đồ có tính cá thể hóa như ReCODE xuyên suốt cuộc đời.
Để tạo ra thành tựu cho nền y khoa thế kỷ 21, chúng ta sẽ phải thu hẹp cách biệt về độ phức tạp, tức hố sâu ngăn cách cơ thể cực kỳ phức tạp của con người và cơ sở dữ liệu thô sơ mà chúng ta đang dựa vào để ra quyết định chẩn đoán và điều trị. Chỉ xét nghiệm nồng độ natri máu và kali máu sẽ không cho thấy được tại sao bạn mắc bệnh Alzheimer.
Thử tưởng tượng, bạn đang cố gắng lái một chiếc máy bay, nhưng người hướng dẫn báo rằng bạn không có thiết bị đo độ cao, không có đồng hồ vận tốc, trong khi kính chắn gió thì mờ đục. Thông tin duy nhất mà bạn có là từ chiếc nhiệt kế báo nhiệt độ tại đầu mút cánh máy bay bên trái. Chắc là chiếc máy bay của bạn sẽ đâm sầm vào đâu đó mất, phải không? Thật ra đây chính là những gì đã xảy ra với các bệnh mãn tính như bệnh Alzheimer. Chúng ta làm những xét nghiệm như natri và kali máu, nhưng chúng ta bỏ sót những chỉ số đang chi phối căn bệnh.
Vì vậy, chúng ta phải thu hẹp cách biệt của sự phức tạp này bằng cách tập hợp những thông tin chủ chốt phù hợp với độ phức tạp của tâm trí và cơ thể chúng ta. Chỉ khi đó chúng ta mới hy vọng ngăn chặn và đảo ngược được bệnh Alzheimer.
Với nền y khoa thế kỷ 21, các chẩn đoán sẽ không còn là phán đoán và sẽ hoàn thiện hơn. Ví dụ, thay vì chẩn đoán suy giảm nhận thức chủ quan ở thời điểm thế kỷ 20, chẩn đoán của thế kỷ 21 sẽ là suy giảm nhận thức chủ quan thuộc các tuýp 1,5 (chiếm 70%) và tuýp 3 (30%), do sự đề kháng insulin mức độ 3, các kháng thể tự miễn liên quan đến AGE, sự hoạt hóa hệ miễn dịch bẩm sinh do nấm Aspergillus và tương tác HLA-DRDQ 12-3-52B, đi kèm sự sản xuất gliotoxin. Việc điều trị do đó sẽ được cá nhân hóa để giải quyết tất cả những yếu tố góp phần này.
Thu hẹp khoảng cách của độ phức tạp sẽ thay đổi mọi thứ. Nó sẽ giúp ta phát hiện được các bệnh mãn tính trước khi nó xảy ra hàng thập kỷ, và còn giúp phòng ngừa chúng. Thu hẹp khoảng cách trên sẽ cho phép bác sĩ điều trị quyết định nhanh chóng, rằng liệu việc phòng ngừa và điều trị có hiệu quả không, có cho phép nhà lâm sàng giúp bệnh nhân trở lại trạng thái sức khỏe tốt và tránh được các rối loạn nghiêm trọng. Khi đó, việc chẩn đoán sẽ không còn là trò chơi phán đoán. Việc giảm gánh nặng toàn cầu của căn bệnh sa sút trí tuệ sẽ khả thi hơn rất nhiều, giúp giảm hàng trăm tỷ đô la chi phí chăm sóc y tế, nâng cao khả năng ra quyết định và tăng tuổi thọ.
Thu hẹp khoảng cách của độ phức tạp sẽ tạo ra nền chăm sóc y tế của thế kỷ 21, đi kèm với đó là một thế giới không còn nỗi ám ảnh về bệnh sa sút trí tuệ, không còn những gia đình bị hủy hoại bởi chứng mất trí. Như người ta nói, mục đích chính là giấc mơ không có hạn chót. Cùng nhau nỗ lực, chúng ta sẽ phác họa nên những giấc mơ này.
“Mọi người có thể từng nghe chuyện ai đó chiến thắng bệnh ung thư, nhưng chưa ai từng nghe chuyện ai đó chiến thắng bệnh Alzheimer”. Điều tôi hy vọng đã chứng minh cho bạn thấy trong cuốn sách này là: câu nói này đã trở thành quá khứ. Thế giới thật sự đã đổi thay!