Bỗng nhiên, giáo sư Quý Ngọc Kim ở bên cạnh lên tiếng: "Cậu điều chỉnh góc độ camera một chút, để tôi xem toàn mạo của cung điện này."
"Vâng." Bạch Hiểu Văn y lời làm theo.
Yêu cầu của Quý giáo sư rất tỉ mỉ, không chỉ bảo Bạch Hiểu Văn điều chỉnh ống kính, mà còn phóng to để xem các chi tiết như đầu đao mái hiên, cột hành lang vân vân của cung điện.
"Nhìn từ phong cách kiến trúc, hẳn là thời kỳ Tùy Đường," Giáo sư Quý Ngọc Kim nói, "Phong cách kiến trúc cổ Hoa Hạ, sơ lược có thể chia thành ba giai đoạn lớn Tần Hán, Tùy Đường, Minh Thanh. Kiến trúc Tùy Đường coi như là thừa kế trước mở ra sau, đặc điểm biểu hiện chính là tạo hìnhhồn hậu (hùng hậu), trang trí hoa lệ, vừa có sự phác thảo kiên cường của Tần Hán, lại vừa dung hợp các yếu tố lãng mạn của thời kỳ Ngụy Tấn Nam Bắc Triều..."
"...Đến thời Minh Thanh, phong cách kiến trúc cổ Hoa Hạ cuối cùng cũng hướng đến sự thành công. Kiến trúc Minh Thanh kế thừa các yếu tố lãng mạn lý tính của triều đại trước, nhưng lại có những đột phá mới..."
Bạch Hiểu Văn không biết Quý giáo sư làm thế nào mà nhìn ra triều đại của một cung điện từ vẻ bề ngoài của nó, thế nhưng điều này cũng không ảnh hưởng đến việc trong lòng Bạch Hiểu Văn dâng lên một cảm giác không hiểu rõ lắm nhưng thấy rất lợi hại.
Thấy Quý giáo sư nói không ngừng nghỉ, chém gió tơi bời, Bạch Hiểu Văn vội vàng nói:
"Quý giáo sư ngài nghỉ ngơi một lát đi, cháu thay mặt mọi người cảm ơn ngài nhé."
Thái An Dân ở bên cạnh tiếp lời nói: "Nếu là cung điện được xây dựng vào thời kỳ Tùy Đường, vậy rất có thể là do chính Dương Quảng xây dựng. Bởi vì phụ thân của Dương Quảng là Dương Kiên tính tình tiết kiệm, Đường Thái Tông sau này rút kinh nghiệm từ việc vong quốc của nhà Tùy, cũng luôn đòi hỏi sự giản phu, vẫn sử dụng cung điện cũ của nhà Tùy. Dương Quảng thì khác, thường xuyên ra ngoài tuần sủng các nơi, mỗi đến một nơi đều đại tu ly cung, hành cung, cung điện này không có biển đề tên, hẳn là một trong những hành cung mà hắn đã xây dựng."
"Vậy bài từ này, thiếu đi những chữ nào?" Sau khi đại khái làm rõ tình hình, Bạch Hiểu Văn hướng ống kính nhắm lại vào bài Bộ Hư Từ trên cánh cửa đồng xanh.
"Để tôi xem," Thái An Dân dừng lại một lát rồi nói, "Câu thứ ba, 'Bát hành phân bảo thụ, thập trượng tán phương liên', thiếu đi hai chữ bát và thập; câu thứ sáu 'Quan pháp nhị nghi lập, bội đới ngũ tinh liên', thiếu đi hai chữ nhị và ngũ; câu thứ chín 'Hồi kỳ du bát cực, phi luân nhập cửu huyền', thiếu là hai chữ bát và chín."
"Bát, thập, nhị, ngũ, bát, chín."
Bạch Hiểu Văn nhìn về phía đĩa tròn bằng đồng ở bên dưới, trầm tư một chút rồi cười nói: "Em hiểu rồi."
"Cậu hiểu cái gì rồi?" Không chỉ có đám người ở hiện trường, mà ngay cả chuyên gia nối tuyến, tiểu cưu phụ Thái An Dân, giáo sư Quý Ngọc Kim, đều ngơ ngác.
“Mọi người xem, đĩa tròn bằng đồng trên cánh cửa này chia làm ba vòng tròn, chẳng phải đại diện cho ba câu có phần thiếu sót hay sao?”
Sau khi đã hiểu rõ nội dung của Bộ Hư Từ, cách giải mã chính là sở trường của Bạch Hiểu Văn. Hắn chỉ vào đĩa tròn bằng đồng và nói: "Thực ra con số bị thiếu trong mỗi câu chính là một loại mật mã. Đĩa tròn bằng đồng này có thể xoay chuyển được, chỉ cần theo đúng thứ tự, xoay chuyển các vạch độ tương ứng... hẳn là có thể mở được đại môn."
"Mỗi câu thiếu hai chữ số, tức là phải có hai cách xoay khác nhau sao? Vậy đó là xoay theo chiều kim đồng hồ trước, hay là xoay ngược chiều kim đồng hồ trước?" Thái An Dân hỏi.
"Cổ Hoa Hạ có quan niệm tả hữu tôn ti, trước Tần Hán tôn hữu, sau Tùy Đường tôn tả. Dựa vào đây để suy luận, hẳn là nên xoay từ phải sang trái trước, tức là thuận chiều kim đồng hồ trước. Còn về phần vòng đồng tương ứng với câu thơ, hẳn là theo thứ tự từ ngoài vào trong."
Nói đến đây Bạch Hiểu Văn lại bông đùa một câu: "Đúng rồi, cánh đại môn này không biết đã tồn tại bao lâu rồi, có bị hư hỏng do năm tháng hay không, nhỡ mà không mở được, cũng không thể đổ lỗi cho em."
"..."
Đằng Thanh khóe miệng giật giật, quả nhiên là đại lão chưa đầy hai tuổi, lại thích đùa dai như vậy.
Tả Hồng Lượng cùng các chiến sĩ đặc chiến đội trẻ tuổi đều cười hì hì, ngược lại cảm thấy thân thiết hơn với Bạch Hiểu Văn đôi chút.
Dưới ánh mắt dõi theo của mọi người, Bạch Hiểu Văn xoay chuyển đĩa tròn bằng đồng.
Vòng ngoài, trước tiên thuận chiều kim đồng hồ xoay tám khắc chữ, sau đó ngược chiều kim đồng hồ xoay mười khắc chữ.
Vòng giữa, trước tiên thuận chiều kim đồng hồ xoay hai khắc chữ, sau đó ngược chiều kim đồng hồ xoay năm khắc chữ.
Vòng trong, trước tiên thuận chiều kim đồng hồ xoay tám khắc chữ, sau đó ngược chiều kim đồng hồ xoay chín khắc chữ.
Sau khi vòng cuối cùng được xoay xong, đĩa đồng vốn dĩ có các khắc chữ hơi hỗn độn ban đầu, vạch độ của mỗi vòng đều trở nên khít khao không một kẽ hở, ngay ngắn quy củ.
Thái An Dân đột nhiên lên tiếng: "Ơ, vị trí Càn của ba vòng, có chút thú vị đây."
Vị trí Càn còn gọi là Thiên vị, chỉ cửu ngũ chí tôn. Bạch Hiểu Văn nhìn qua, thấy trên ba vòng lần lượt khắc các chữ "Mậu Dần", "Tân Dậu", "Tân Mùi", hắn không hiểu ý nghĩa của nó, liền hỏi: "Cái này có gì thú vị chứ?"
Thái An Dân nói: "Năm Mậu Dần, chính là năm 618 sau Công nguyên, năm Tùy Dạng Đế Dương Quảng băng hà đó. Cổ Hoa Hạ sử dụng thiên can địa chi để ghi chép năm tháng ngày giờ, Tân Dậu chính là mùng mười tháng ba năm Mậu Dần, cũng là ngày Dương Quảng băng hà. Vậy chữ 'Tân Mùi' cuối cùng, hẳn là thời thần rồi, xem ra Dương Quảng chết vào giờ Mùi..."
Bạch Hiểu Văn cười hì hì nói: "Nói như vậy, cách xoay của em là đúng rồi..."
Lời còn chưa dứt, liền nghe thấy một trận âm thanh vo ve vang lên, phía trên đại môn bằng đồng có đất đá bụi bặm rơi xuống. Ngay sau đó đại môn mở ra sang hai bên, một đạo cổng vòm lóe lên ánh sáng màu trắng ngọc ngà, xuất hiện trước mặt mọi người.
"Bây giờ đã có thể xác định, cung điện này có liên quan đến Dương Quảng, nói không chừng chính là Thành Tượng Điện chôn cất khi hắn băng hà. Ta sẽ truyền cho các cậu một số tài liệu về cuộc đời của Tùy Dạng Đế Dương Quảng qua... Tóm lại, các cậu cẩn thận một chút."
Tiểu cưu phụ Thái An Dân nhắc nhở một câu, Bạch Hiểu Văn, Kiều Lụy đồng thời nói cảm ơn.
Mặt phẳng cổ Hoa Hạ thường có độ khó tương đối cao, nếu liên quan đến hoàng đế thì độ khó lại càng cao hơn, huống chi nơi này còn xuất hiện loại quái vật yêu ma hiếm thấy.
Đằng Thanh sau khi chào theo nghi thức quân đội liền nói: "Thủ trưởng, tôi đã kiểm tra cường độ năng lượng của cánh cổng không gian này, giống như các không gian bảo địa khác, không thể dung nạp số lượng lớn Giác Tỉnh Giả đi vào. Doanh trại đặc chiến của chúng ta trước khi nhận được mệnh lệnh mới, sẽ đóng quân tại nơi này, không thể đi vào khám phá."
Bạch Hiểu Văn gật đầu nói: "Khám phá bí mật ẩn giấu sau không gian bảo địa này, cũng là một phần nhiệm vụ công hội mà tôi tiếp nhận. Sau khi tôi dẫn người đi vào, các anh cũng cẩn thận một chút."
“Thủ trưởng cứ yên tâm.” Trên mặt Đằng Thanh tràn đầy sự tự tin.
Bạch Hiểu Văn cũng không lấy làm lạ, những binh lính doanh trại đặc chiến này đều là tinh nhuệ quân đội, từ trước đến nay toàn là họ bảo vệ người khác, chưa đến mức rơi vào hoàn cảnh phải để Bạch Hoàng Chiến Đội ở lại làm bảo mẫu. Sau khi dựng xong doanh trại, vấn đề an toàn của bản thân không cần Bạch Hiểu Văn phải bận tâm.
Kiều Lụy tiếp nhận tài liệu về cuộc đời của Dương Quảng từ tiểu cưu phụ Thái An Dân, chỉ có hơn mười mê-ga-byte, tốc độ rất nhanh. Thế nhưng hơn mười mê-ga-byte này toàn là chữ viết, hình ảnh tương đối ít, tính ra nội dung tài liệu phải có khoảng hơn mười vạn chữ.
Bạch Hiểu Văn cũng không vội vàng, cẩn thận đọc những tài liệu này, gặp phải vấn đề không hiểu, còn đặt câu hỏi cho Thái An Dân, đòi hỏi một số tài liệu văn sử cuối Tùy đầu Đường để làm phần bổ sung.
Sau khi Bạch Hiểu Văn chuẩn bị thỏa đáng, doanh trại tạm thời và các trạm gác của doanh trại đặc chiến đều đã làm xong. Hắn kết thúc việc nối tuyến, cáo biệt Đằng Thanh cùng mọi người, sau đó dẫn dắt Bạch Hoàng Chiến Đội, bước vào cánh cửa ánh sáng...