Người ta nói rằng cờ vua được sinh ra trong đổ máu. Truyền thuyết kể lại khi trò chơi này lần đầu tiên được ra mắt trước triều đình, nhà vua quyết định thưởng cho người phát minh vô danh của nó bằng cách đáp ứng bất cứ sở nguyện nào của ông ta. Phần thưởng nhà phát minh thỉnh cầu có vẻ thật khiêm nhường: tổng số lượng gạo gộp lại khi đặt một hạt gạo lên ô đầu tiên trong số 64 ô của bàn cờ, rồi hai hạt lên ô thứ hai, bốn hạt lên ô thứ ba, cứ như thế.
Thoạt đầu, nhà vua vui vẻ đồng ý, song đến khi nhận ra tất cả các kho lương vựa lúa trong vương quốc của mình, hay có khi cả thế gian, cũng không thể cung ứng đủ lượng gạo như thế, ông ta thấy tốt hơn nên giải thoát cho mình khỏi thế khó bằng cách cho chém đầu người phát minh khốn khổ.
Truyền thuyết không nhắc tới chuyện nhà vua sau đó còn phải trả cái giá đắt hơn, ông ta bị trò chơi mới mê hoặc tới mức mất trí. Hóa ra chỉ có sự tham lam của chính trò chơi ấy mới bì kịp lòng tham của người phát minh trong truyền thuyết.
Các báo ra hôm nay thuật lại cái chết của một người đàn ông tại một ngôi làng nằm cách Vienna không xa. Hôm qua, sáng Chủ nhật, một người có tên Dieter Frisch chết vì bị bắn. Báo cáo pháp y cho biết thời gian tử vong là khoảng 4 giờ sáng, kết quả của một phát đạn súng ngắn ở cự ly rất gần, viên đạn xuyên qua vòm họng và vọt ra qua thùy chẩm.
Bài tường thuật trên báo đi kèm một bức ảnh mới chụp gần đây của người chết, cho thấy ông ta đang thư thái ngoài khu sân vườn ngôi biệt thự của mình như một điền chủ miền quê vừa trở về sau cuốc đi dạo thường ngày. Mặc đồ vải lanh sáng màu, ngồi duỗi trên chiếc ghế đan bằng liễu gai, vẻ như ông ta đang chìa bàn tay ra vuốt ve một trong hai con chó cuộn tròn dưới chân. Tôi đã xem bức ảnh đó và thấy thật khó nhận ra khuôn mặt, vì nó bị chìm dưới bóng cái vành một món đội đầu trông giống mũ Panama nhẹ. Chẳng lẽ diện mạo của một con người chỉ đơn thuần là tổng hòa của hình khối và trọng lượng, là những đường nét của một cấu trúc cơ thịt? Hay còn có thứ gì khác lâu bền hơn, nằm bất biến dưới những lớp thời gian tàn nhẫn? Ẩn dưới cái tên và diện mạo đó có khi nào là người tôi quen biết? Chỉ sau một hồi tập trung, những nét mặt đuợc luu giữ thật sâu trong trí nhớ tôi lại hiện lên, nhu một tấm hình trong suốt áp chồng lên khuôn mặt đã bị thời gian bào mòn song trông vẫn còn trẻ một cách ngoan cường đó.
Các hàng tít nói nhiều tới sự ra đi của “nhân vật xuất chúng” này, song không hề nói xem chuyện này xảy ra như thế nào. Dưới sức ép từ gia đình nạn nhân, kiên quyết bác bỏ giả thuyết tự sát, gần nhu tất cả các tờ báo đều nhắc đến một “tai nạn”, “sự cố” hay cái chết trong “tình huống khó hiểu”. Cho dù bằng chứng có là gì đi nữa, nó cũng trở nên vô giá trị khi thiếu vắng một động cơ hợp lý. Tất cả những ai từng biết ông ta dường như đều sẵn sàng thề rằng ông ta hoàn toàn không có bất cứ lý do nào để tự kết liễu đời mình. Ông ta chưa bao giờ bị trầm cảm hay tỏ ra chán đời. Lần kiểm tra cuối cùng, mới gần đây, cho thấy sức khỏe ông ta hoàn toàn bình thường, và ông ta có phom dáng đáng để thèm muốn: ở tuổi sáu mươi tám, ông ta vẫn tích cực chơi các môn thể thao ưa thích, tennis và cưỡi ngựa, dù vẫn hơi tập tễnh kể từ cuộc phẫu thuật sau chấn thương do ngã ngựa. Cũng không hề có bất cứ dấu hiệu nào của rắc rối tài chính. Trên thực tế, chỉ vài ngày trước đó ông ta vừa giành được một hợp đồng xây dựng trị giá nhiều triệu đô la từ Bundesbank.
Frisch là một trong những người dường như được vận may mỉm cười trong mọi lĩnh vực. Ông ta kết hôn với một người thừa kế giàu có và có bốn con trai, tất cả giờ đây đều có địa vị nổi bật trong xã hội. Ông ta có một cuộc sống ngăn nắp bình lặng, tuần dành ra bốn ngày ở Munich để điều hành việc làm ăn và quay lại Vienna vào thứ Sáu để được lái xe đưa tới nơi ông ta thích rồi dùng toàn bộ thời gian tự do của mình ở đó: một biệt thự nằm giữa khu tư viên mênh mông, bao quanh là khu săn bắn rộng 125 mẫu. Khu tư viên, được xây dựng từ cuối thế kỷ mười tám, từ lâu đã trở thành một điểm thu hút khách du lịch, được mở cửa vào mùa hè. Khách tới thăm được phép tham quan trại nuôi ngựa và tản bộ khắp khu đất, một kiệt tác thực thụ về nghệ thuật làm vườn và điều tiết nước, được thiết kế từ hơn một thế kỷ trước. Điểm nhấn là một mê cung đồng tâm được tạo thành từ những hàng rào cây cao ba mét dẫn tới một khoảng trống hình bàn cờ lát những phiến cẩm thạch vuông màu trắng và đen. Ở hai đầu đối diện của bàn cờ, các quân cờ đã được cẩn thận tạo nên bằng cách xén tỉa những cái cây tán rậm cao bằng người thật. Các quân đen được tạo thành từ thủy tùng, quân trắng từ hoàng dương.
Như phần lớn những người ở tuổi mình, Frisch sống nề nếp. Một tuần ba ngày ở biệt thự, đúng 7 rưỡi sáng ông ta dậy và dành ra đúng năm phút dưới bể bơi nước lạnh trong nhà, tiếp đó là vài động tác thể dục mềm dẻo và tiến trình chỉnh trang mặc đồ tỉ mẩn như một nghi lễ. Đến khoảng 8 giờ, đã ăn vận chỉnh tề, ông ta sẽ đi xuống phòng ngồi chơi rộng thênh thang dùng bữa sáng thanh đạm được bưng ra trên những món đồ sứ tinh xảo: tách cà phê đen không đường và ít bánh mì nướng làm hoàn toàn từ bột mì cùng xíu mứt cam. Sau đó, ông ta sẽ lui vào phòng làm việc và dành thời gian còn lại của buổi sáng cho niềm đam mê lớn của bản thân, cờ vua. Ông ta sở hữu tất cả sách vở tài liệu về chủ đề này và tự hào về một bộ sưu tập quý giá những bộ cờ vua cổ. Cho dù đã nhiều năm không thi đấu, ông ta vẫn thuộc hàng kiện tướng và là chủ bút của một tạp chí uy tín về cờ vua.
Mọi bằng chứng cho phép phỏng đoán là đã không có gì tác động đến thời gian biểu thường quy của ông ta cho tới tối thứ Sáu cuối cùng. Lái xe đến đón ông ta tại nhà ga ở Vienna như thường lệ. Họ chỉ trao đổi với nhau vài lời trên đường quay về biệt thự, và về tới đó lúc nửa đêm - chính xác là 1 giờ 45 phút. (Người lái xe luôn cẩn thận tính toán thời gian chuyến đi.) Frisch ra khỏi xe, và như thường lệ, trước hết đi tới khu chuồng chó, vuốt ve từng con trong số “cún con” của mình, đáp lại màn chào đón hân hoan của chúng. Sau đó ông ta vào nhà. Như tất cả những thứ Sáu khác.
Nhưng ngay sáng sớm thứ Bảy bà hầu phòng lớn tuổi đã để ý thấy một điều lạ lùng trong cách cư xử của ông chủ. Frisch trông có vẻ như đã ngủ rất ít và không ngon giấc. Trên thực tế, bà sẵn sàng thề rằng kể cả có lên giường nằm, ông ta cũng không buồn cởi đồ. Vốn quen lấy thời gian biểu thường quy chính xác như đồng hồ của ngôi biệt thự làm niềm khuây khỏa lớn lao nhất, bà này rất lo lắng trước sự thay đổi đột ngột trong thói quen của ông chủ.
Tuy nhiên, là một người làm công tận tụy hết lòng, bà cảm thấy ở vị trí của mình bà không nên nói gì với ai, thậm chí cả với những người làm khác. Bà cũng không báo với vợ Frisch, một phần vì vợ chồng ông ta ở các khu khác nhau của biệt thự và trên thực tế là sống đời riêng, chỉ xuất hiện cùng nhau ở những dịp lễ lạt hiếm hoi có tính nghi thức. Theo lời kể của bà hầu phòng, Tiến sĩ Frisch không hề ăn sáng ngày hôm đó, và bữa trưa của ông, được bưng tới vào giờ thường lệ, còn nguyên trên khay không được đụng đến.
Ông ta dường như đã trải qua cả ngày một mình trong nhà, không tiếp vị khách nào. Chỉ khi nhân chứng của chúng ta mang bữa tối tới cho ông ta trong phòng làm việc, bà mới để ý thấy một ngọn đèn đã được bật lên. Nó vẫn bật khi bà đi ngủ vào khoảng 2 giờ sáng.
Chủ nhật, quá 8 giờ sáng rất lâu mà vẫn chưa thấy bóng dáng Frisch. Lo lắng trước sự chậm trễ khác thường này, bà hầu phòng lên lầu tới phòng ngủ. Thấy trong phòng không có ai, giường chiếu phẳng phiu, thoạt đầu bà nghĩ ông chủ đã ngủ qua đêm ở nơi khác, dù đó không phải là thói quen của ông ta. Bà bắt đầu nghi ngờ khi thấy không thiếu chiếc xe nào trong gara. Sau đó, bà liên tục gõ cửa phòng làm việc, lớn tiếng gọi tên ông chủ. Không thấy ai trả lời, bà quyết định vào trong phòng, nhưng không có ai trong đó. Đến lúc này, bà cảm thấy mình không có lựa chọn nào khác ngoài đánh thức vợ Frisch, một nước đi không phải không có rủi ro, vì bà chủ nhà bị chứng mất ngủ hành hạ và vào thời điểm đó rất có thể đang tận hưởng thời khắc nghỉ ngơi đầu tiên của mình.
Toàn bộ người làm nhanh chóng được huy động để tìm kiếm khắp hai mươi tám căn phòng, các hầm, khu dành cho khách, cuộc tìm kiếm được mở rộng ra tận khu tư viên xung quanh nhưng vẫn công cốc. Cuối cùng, một người nghĩ tới chuyện đưa mấy con chó của ông chủ tới. Hai con chó chăn cừu Đức yêu quý của ông ta đã sủa liên tục suốt buổi sáng. Khi con thứ nhất được thả ra, nó lao thẳng tới chỗ mê cung trong vườn; con thứ hai, được tròng dây, lập tức dẫn họ tới nơi. Thi thể Frisch, nằm ngửa trong vũng máu của chính ông ta, ở chính giữa mê cung; khẩu súng ngắn quân dụng cũ của ông ta được tìm thấy cách đó vài bước. Khẩu súng được lắp ống giảm thanh, và đã không ai nghe thấy tiếng nổ.
Họ tìm kiếm xem có lời nhắn nào không nhưng vô ích, tất cả những gì họ thấy trên bàn làm việc của ông ta là một bàn cờ vua được sắp xếp trong thế trận phức tạp của một ván cờ đang chơi dở.
Đó là một bàn cờ rất lạ: những mảnh vải xơ xác cả sáng lẫn sẫm màu được khâu lại với nhau. Những chiếc khuy áo có kích cỡ khác nhau đại diện cho các quân cờ, biểu tượng của mỗi quân được vạch một cách thô sơ lên mặt khuy, có lẽ bằng đinh.
Trong tất cả các tờ báo tường thuật lại hiện trường được những nhân chứng tìm thấy, chỉ có một bài, trên một tờ báo tỉnh lẻ rất có thể thiếu thông tin trực tiếp, là bình luận về chi tiết có vẻ vặt vãnh này. Bài báo kết luận: “Sẽ không ai biết được vì sao Tiến sĩ Frisch lại chọn một mảnh giẻ rách như thế thay vì bộ sưu tập quý giá nổi tiếng của ông. Có lẽ nó chỉ được dùng cho ván đấu cờ cuối cùng của ông, với cái chết.”
Không ai trong số các điều tra viên ngờ rằng sự thật nằm trong những từ ngữ mơ hồ đậm chất bi kịch đó. Bộ quân cờ kỳ lạ tất nhiên là được lấy dấu vân tay, song việc nhấc chúng ra khỏi bàn cờ đã xóa đi thứ đã có thể là manh mối thực sự duy nhất - dù tôi buộc phải thừa nhận là sẽ khó lòng giải mã đuợc nó.
Nhiều kịch bản đã được đưa ra - tự sát, tai nạn, thậm chí cả vài lời thì thào về giết người - nhưng không ai xem xét tới khả năng cái chết của Frisch là một cuộc thi hành án, dẫu đã bị trì hoãn về không gian và thời gian. Cũng không ai nhận ra rằng lời nhắn của ông ta đã được mã hóa trong thế cờ đó, và lại càng không ngờ nó được dành cho vị quan tòa vừa tuyên án tử hình ông. Không tìm thấy dấu vân tay nào khác trên các quân cờ ngoài của nạn nhân, nhưng chính tôi là người lĩnh xướng cuộc chơi. Bộ cờ vua là của tôi, tôi có thể thiết lập lại thế cờ đó và chơi theo tất cả các biến thể của nó dù có bị bịt mắt. Thế phòng ngự đó, thứ mà Frisch đã cố gắng trong vô vọng để phá hủy từ đỉnh cao của tạp chí danh tiếng của ông ta, là tất cả những gì gắn kết chúng tôi với một cơn ác mộng ma quái của quá khứ. Thế phòng ngự đó, thứ mà Frisch đã cả gan gọi là “Biến thể Luneburg” là manh mối đã giúp tôi lần ra ông ta.
Bản án đã được tuyên vào tối thứ Sáu, trên chuyến tàu tốc hành Munich - Vienna.
Như tôi đã nói, tuần nào Dieter Frisch cũng tới văn phòng của ông ta ở Munich bốn ngày, rời đi vào thứ Ba và trở về Vienna trên chuyến tàu tốc hành lúc 7 giờ 20 phút tối thứ Sáu. Ông ta đã theo lộ trình đó trong nhiều năm, và thấy chuyến đi tàu quay về đặc biệt dễ chịu, vì nó đem lại vài giờ thư thái đáng tận hưởng. Người bạn đồng hành thông thường của ông ta là ông Baum, phụ trách văn phòng Munich, một đồng nghiệp không thể thiếu, và là người bạn từ thời chiến đã qua từ lâu. Họ gần như luôn tìm thấy một khoang cho riêng mình, và sau khi kéo rèm xuống để ngăn cản những kẻ không mời tiềm năng, ông Baum sẽ mở cái túi đi đường nhỏ của mình và lấy ra một bộ cờ vua cầm tay gắn nam châm từ tính. Hoạt động đã trở thành một thứ nghi lễ vào tối thứ Sáu vậy là bắt đầu. Nó làm cho thời gian trôi qua như chớp. Trên thực tế, đôi khi họ thậm chí còn chưa kịp kết thúc một ván, vì ông Baum xuống tàu trước Frisch một ga, để ông ta trải qua hơn bốn mươi phút cuối cùng một mình, khoan khoái ngẫm lại những ván cờ mới trước đó.
Những ai không chơi cờ vua có thể ưa nghĩ về nó như một trò chơi tẻ ngắt thích hợp nhất cho những kẻ lập dị ăn không ngồi rồi và người già - hội có sự kiên nhẫn sánh tựa trời bể và vô khối thời gian mà phung phí.
Điều này chỉ đúng một phần, vì cờ vua cũng đòi hỏi nguồn năng lượng khác thường và trí óc nhanh nhạy như trẻ thơ. Nếu các kỳ thủ đôi lúc được phác họa như những người già cả với cặp lông mày rậm, thì đó chỉ đơn thuần là miêu tả mang tính biểu tượng về một hoạt động có thể đem nhiều ngày, nhiều năm, thậm chí cả đời người tiêu hủy trong một ngọn lửa cháy vĩnh hằng. Các kỳ thủ ưa thích thứ bù trừ ngược đời: thời gian vĩnh viễn bị đóng băng trong một vòng lặp hiện tại bất tận, trong khi cuộc sống bên ngoài bàn cờ trôi qua dường như với tốc độ nhanh đến chóng mặt. Vì thế họ liên tục tìm cách khám phá trở lại trạng thái thoát tục đó, quyền năng mơ hồ nhưng lại rõ ràng đó, thứ chỉ có được từ việc tập trung tâm trí vào ván cờ. Tẻ ngắt ư? Các kỳ thủ không biết từ đó nghĩa là gì. Một người lính xông trận liệu có khi nào lại cảm thấy dù chỉ một thoáng tẻ ngắt? Trong toàn bộ lịch sử cờ vua, hẳn chỉ có Capablanca vĩ đại cảm thấy điều gì đó gần như thế trên đỉnh cao sự nghiệp của ông, cách chơi của ông đã đạt đến đỉnh cao hoàn hảo, và lòng tự tin bản thân bất khả chiến bại đã trở nên không thể lay chuyển, đến mức trên thực tế ông đã đề nghị thay đổi và mở rộng bàn cờ, thêm vào các quân mới để trò chơi thách thức hơn. Nhưng ngay cả ông cũng sớm phải trả giá đắt cho tội quá tự tin của mình.
Gần như tất cả những người đã ngồi trước bàn cờ vào một thời điểm nào đó, nhấc các quân cờ lên, di chuyển chúng tới lui theo các ô vuông, cũng bị mê hoặc bởi những hình thù thể hiện một ông vua, một hoàng hậu, và cả một đạo quân thu nhỏ. Nhiều người đã thử vờ đây là một cuộc chiến tranh, cảm nhận sự phấn khích của chiến thắng và nỗi ê chề của chiến bại. Nhưng chỉ một số ít - gọi họ là kẻ được chọn hay kẻ bị nguyền rủa - đã nhìn thấy trong những vật điêu khắc mang tính biểu tượng này một dòng giống xa xôi mà họ không bao giờ thoát ra được. Hans Mayer (con trai nuôi của tôi) và tôi thuộc về nhóm người này. Tôi chỉ hy vọng rằng vẫn chưa phải quá muộn với Hans, rằng nhờ vào tuổi trẻ của mình, nó vẫn có thể thoát ra được mà không trầy vi tróc vảy. Tôi chúc mừng nó vì chuyển sang cống hiến cho hội họa và sống cuộc đòi bình lặng trong đó cờ vua chỉ đơn thuần là một thú vui. Nhưng với tôi thì không còn lối thoát, vì tôi chỉ còn lại ít thời gian để sống, và tôi e rằng cả cái chết cũng không đem đến sự giải thoát. Cả Dieter Frisch cũng là một phần của bè phái này. Trong nhiều năm ông ta tận hưởng an toàn tuyệt đối - danh tính mới, cuộc sống mới, sự nghiệp mới. Chính dam mê không cưỡng nổi với cờ vua đã hạ gục ông ta.
Nhưng hãy để tôi quay trở lại vài ngày, trở lại ngày thứ Sáu đó, một ngày đã bắt đầu thật thuận lợi cho Frisch. Quãng thời gian ở Munich với ông ta kiểu như kỳ nghỉ. Ông ta qua đêm với nhân tình ở một căn hộ thoải mái trên phố Ludwig mà ông ta đã mua cho cô này vài năm trước. Sống với cô nhân tình buộc ông ta phải thay đổi thói quen của mình, cho dù hầu như ông ta cũng chẳng miễn cưỡng gì cho lắm. Những buổi sáng nghiêm khắc và bữa sáng thanh đạm nhường chỗ cho việc thức giấc một cách biếng nhác, uể oải vào lúc 9 giờ, tiếp theo là những bữa sáng ê hề kiểu Bavaria mà phần lớn ông ta chỉ nếm qua. Chỉ đến khoảng 10 giờ ông ta mới xuất hiện tại văn phòng, bước vào như một lãnh chúa tới thăm lãnh địa của mình, được các chư hầu đầy ngưỡng mộ chào đón.
Sáng hôm đó, ông ta bị đánh thức lúc 8 giờ 30 phút bởi một cuộc điện thoại từ ông Baum nhắc nhở Frisch rằng ông ta cần có mặt để ký một họp đồng quan trọng.
Ông ta rời khỏi giường, vừa chuẩn bị vừa khe khẽ hát ngân nga trong phòng tắm như thường lệ. Hilda, nhân tình của ông ta, chuẩn bị bữa sáng ê hề không thể tránh khỏi, Frisch thưởng thức hào hứng hơn thường lệ. Hôm đó là một ngày tuyệt đẹp, tràn ngập ánh nắng rạng ngời đúng kiểu tiết trời cuối tháng Năm, đến mức ông ta quyết định không dùng đến chiếc xe đang đợi mình ngoài cửa, đúng giờ như thường lệ. Thay vì thế, ông ta cho lái xe nghỉ và đi bộ.
Ông ta dành buổi sáng để giải quyết các chi tiết của hợp đồng, ở lại trong văn phòng phần lớn thời gian nghỉ trưa. (Ông ta thích thể hiện cho nhân viên thấy mình không sợ công việc.) Đến khoảng 2 giờ, ông ta và ông Baum cùng đi tới nhà hàng quen thuộc của họ, ông ta không chỉ cho phép mình làm một vại bia thay vì món nước táo thường lệ mà còn quyết định nấn ná lại sau khi ăn - một hành động khác thường nữa - để nhâm nhi một ly Obstler có đá với bạn mình.
Đến khi ông ta quay trở lại văn phòng thì đã gần 4 giờ. Ông ta dặn dò thư ký là không muốn bị quấy rầy vì bất cứ lý do nào, rồi nằm duỗi dài trên chiếc xô pha bọc da đẹp đẽ thơm nức trong chuỗi phòng tổng thống của mình và ngủ thiếp đi.
Ông ta thức dậy lúc 6 giờ 30 phút - hay đúng hơn là bị đánh thức bởi tiếng chuông dai dẳng từ hệ thống liên lạc nội bộ.
“Tiến sĩ Frisch,” thư ký của ông ta nói, “xin được nhắc ông bây giờ là 6 giờ 30.”
“À, được rồi,” Frisch trả lời, rõ ràng khó chịu trước việc bị bắt quả tang đang ngủ. “Tôi biết mấy giờ rồi.” Trên thực tế, hẳn ông ta sẽ rất hài lòng tiếp tục ngủ, và ngay cả khi nói ông ta cũng không hoàn toàn chắc mình đã tỉnh ngủ.
“Còn một việc nữa...” Người thư ký đánh bạo. “Có một người khăng khăng muốn nói chuyện với ông hôm nay. Ông ấy đã gọi tới vài lần để nói rằng cần gặp ông có việc khẩn cấp.”
“Ai vậy?”
“Tôi không biết. Ông ấy từ chối cho biết tên.”
Frisch giờ mới nhận ra không phải mình đang mơ. Khi đã trấn tĩnh lại sau khoảnh khắc bối rối, nhận ra mình đang mặc bộ quần áo của chính mình và trong khung cảnh quen thuộc, Frisch cũng hồi phục được trọn vẹn uy quyền vốn dĩ.
“Cô Hermes, cô biết quá rõ là tôi không hẹn gặp ai vào thứ Sáu cả, nhất là với một người không chịu xưng tên.”
“Tất nhiên tôi biết,” cô Hermes trả lời, hoàn toàn có lý do để cảm thấy bị xúc phạm. Cô đã làm việc cho công ty này suốt hai mươi hai năm. “Đó chính là lý do tại sao tôi cảm thấy có trách nhiệm phải báo với ông.”
“Cô đang muốn nói gì vậy?”
“Thế này,” cô Hermes nói, do dự trong giây lát. “Tôi có cảm giác ông ta đang tìm cách lừa tôi.”
“Lừa cô?”
“Có vẻ thế. Ông ta khẳng định là một người bạn cũ của ông. Hay đúng hơn ông ta nói mình được một người bạn cũ ‘cử tới’.”
“Một người bạn cũ?”
“Chính xác. Nhưng tôi e rằng đây chỉ là một cách để tìm hiểu thông tin về các động thái của ông.”
“Động thái của tôi?” Chỉ tới lúc này Frisch mới nhận ra là ông ta đang nhắc lại những lời cô thư ký nói, chỉ thay dấu chấm bằng chấm hỏi. Cùng lúc, tâm trí ông ta chạy lướt qua một bản danh sách tất cả những người, cả bạn lẫn thù, có thể núp sau cuộc điện thoại này.
“Ông ta chừng bao nhiêu tuổi?”
“Sao ông lại cho là tôi biết?” cô thư ký trả lời đầy ngạc nhiên. “Tôi đã bao giờ trông thấy ông ta đâu.”
Frisch sắp sửa mất bình tĩnh. “Từ giọng nói của ông ta, cô Hermes ạ, từ giọng nói của ông ta. Ý tôi là nghe giọng ông ta chừng cỡ tuổi nào? Ông ta có vẻ trẻ hay già? Ông ta có giọng địa phương đặc trưng không?”
Cô Hermes ngẫm nghĩ một lát về chuyện này.
“Trẻ, tôi cho là vậy. Và không nói giọng địa phương.”
Frisch thở phào nhẹ nhõm. Nếu ông ta có điều gì để sợ, thì chỉ từ những người già, từ những người trạc tuổi ông ta, những người có chung quá khứ.
“Cô đã nói gì với ông ta?”
“Không gì cả... hay đúng hơn đều là chuyện ai cũng biết,” cô thư ký lắp bắp. Frisch cảm giác như có thể nhìn thấy cô này, mắt mở to sau cặp mắt kính dày, đang cắn môi. Chúa biết đã bao nhiêu lần ông ta muốn tống khứ cô ả. Ông ta chưa làm thế chẳng qua chỉ vì bản tính cân nhắc thận trọng ai nấy đều thừa nhận. Nhưng giờ đây...
“Chính xác thì thế nghĩa là sao?”
Cô thư ký có vẻ như sắp khóc. “Tất cả những gì tôi đã nói là ông sẽ đi Vienna tối nay.”
Cho dù chính mình cũng không hiểu vì sao, Frisch nổi điên lên vì lời thú nhận này, và hoàn toàn không thể che giấu cơn tức giận của mình. Những lời ông ta nói bỏng rát như roi quất: “Cô không biết tôi thất vọng tới mức nào đâu, cô Hermes. Tôi không ngờ cô lại như thế này.”
“Nhưng tôi...”
Frisch không để cô thư ký nói gì thêm. Ông ta bấm nút ngắt liên lạc nội bộ, quyết định rằng sẽ xử trí cô này khi quay trở lại Munich.
Frisch đứng dậy. Ông ta cảm thấy chóng mặt và buồn nôn. Giờ đã quá 6 giờ 30. Ánh sáng đã tắt, và trong văn phòng của ông ta gần như tối om. Ông ta đi tới cửa sổ và liếc nhìn xuống dòng xe cộ ở phía dưới tám tầng nhà. Con đường chật ních ô tô. Từng đám đông trên vỉa hè bước đi thành những dòng ngược chiều, xen lẫn vào nhau. Từ trên thật cao như vậy, tất cả có vẻ như trôi chảy và ngẫu nhiên, như một đám mảnh vụn đang bị nước cuốn đi. Đó là tất cả những gì bạn thực sự phải làm để định đoạt vận mệnh con người: vươn lên đủ cao để thay đổi cách nhìn của mình, làm nó trở nên thần thánh. Lòng trắc ẩn, sự nhân từ, tình yêu - đây là những khái niệm tương đối, tùy thuộc vào bối cảnh, không bao giờ là tuyệt đối. Bạn có thể cảm thấy thứ tình yêu hay lòng trắc ẩn nào cho một quân cờ bị hy sinh? Trong một khoảnh khắc Frisch bị hoài niệm tuổi trẻ không thể kìm nén được xâm chiếm. Đột nhiên ông ta thấy tất cả những con người này đang đắm mình trong thất bại của chính họ. Cho dù những thứ này có vẻ huy hoàng và đầy sinh lực đến thế nào đi nữa, vẫn có một thất bại tập thể, mà phần lớn dường như hoàn toàn quỵ ngã trước nó.
Liệu cái gì mới có thể thức tỉnh đám đông miên hành này đây? Có lẽ thậm chí cả chiến tranh cũng không.
Chuông điện thoại lại reo lên. Là Baum, ông ta có vẻ lo lắng. “Có chuyện gì thế?” ông ta hỏi. “Xe đang đợi.”
Frisch rũ mình khỏi dòng suy tưởng. “Tôi đang ra đây.” Song ông ta nán lại thêm vài phút, bị bứt rứt bởi một cơn ngứa không ý nghĩ vui vẻ nào có thể gãi được. Cô ả Hermes đó! Người đàn bà nhanh nhảu đoảng đó! Cung cấp thông tin cho một kẻ lạ mặt, có thể là một kẻ bán hàng, hay tệ hơn nữa, một tay nhân viên bảo hiểm. Còn có thể là ai nữa đây? Một người bạn ư? Liệu ta có thể có những người bạn mà ta không hề biết chăng? Hay hoàn toàn không phải bạn bè. Vậy thì có thể là kẻ quái nào chứ? Ông ta có vô khối kẻ thù, tất nhiên rồi, nhưng tất cả ông ta đều biết: những kẻ cạnh tranh, các chính trị gia, vài phụ nữ bị khinh rẻ, một ông chồng ghen tuông chỗ này chỗ khác. Còn ai nữa? Trong những con ác mộng kinh khủng nhất của ông ta, những kẻ thù đó phình ra thành một đám đông đầy đe dọa. Một trong những nỗi lo thỉnh thoảng lại tái hiện của Frisch là ông ta có thể trở thành nạn nhân của một vụ úp sọt. Nỗi sợ đó giống như con đau nửa đầu kinh niên, lúc gần như không cảm thấy, lúc không sao chịu thấu. Cho dù chưa bao giờ nhận được lời đe dọa dưới bất kỳ hình thức nào, ông ta vẫn sợ những kẻ sát nhân lẩn lút trên các tuyến đường quen thuộc của mình. Đôi khi, đứng bên cửa sổ phòng mình quan sát đường phố bên dưới, Frisch tự hỏi liệu tay đao phủ hành quyết mình trong hình dung có thể trông thế nào. Rồi ông ta tưởng tượng mình nhận ra hắn giữa đám đông. Một ngày, có thể đó là người đàn ông đang dắt chó ở góc phố; ngày khác, có thể là người đi mô tô vận đồ da màu đen cứ lượn lờ quanh khối nhà. Hay hôm nay, biết đâu chính là cậu sinh viên đang sải bước đi ngang qua, hai bàn tay đút sâu vào túi áo khoác.
Frisch rời văn phòng, khóa cửa lại, đi thang máy xuống ga ra dưới tầng hầm. Baum đang đợi ông ta trong xe. Frisch ngồi xuống bên cạnh ông này trên băng ghê sau và gật đầu với lái xe.
“Ông mệt à?” Baum hỏi.
“Không hề. Sao vậy?”
“Trông ông có vẻ nhợt nhạt.”
“Chắc tôi ăn nhiều quá.” Nhưng Baum có vẻ không bị thuyết phục. “Ô, thiếu chút nữa tôi quèn mất. Nhắc tôi nhớ về cô Hermes khi tôi trở lại nhé. Phải làm gì đó với cô ta.”
“Được.” Baum không bao giờ đặt câu hỏi về các quyết định của Frisch.
Họ im lặng đi xe tới nhà ga. Lần đầu tiên trong nhiều năm hai người quen nhau, Frisch cảm thấy khó ở với Baum. Nhưng ông ta nhanh chóng nhận ra cảm giác khó chịu này đã lan rộng ra mọi thứ quanh mình, kể cả bản thân ông ta.
Tại quầy bar ở nhà ga, ông ta uống một ly cognac, thứ này có vẻ khiến ông ta hào hứng lại. Đoàn tàu đang đợi bên ke, may thay vẫn còn vài khoang trống. Họ chỉ vừa ngồi xuống những chiếc ghế bọc nhung chốc lát thì tiếng còi khởi hành vang lên, và chỉ khi cảm thấy đoàn tàu bắt đầu chuyển bánh, Frisch mới hoàn toàn lấy lại được tâm trạng vui vẻ của mình. Lấy lại vẻ ôn hòa như cũ, ông ta nhìn chăm chăm khuôn mặt gầy gò và những cử chỉ quen thuộc của Baum: cởi chiếc áo khoác vẫn luôn mặc ra và cẩn thận gập lại, vừa ngồi xuống vừa vuốt phẳng những nếp nhăn trên quần, đặt chiếc va li da lên đầu gối đồng thời bấm mở cả hai chốt khóa, rồi cuối cùng lấy ra bộ cờ vua một cách cẩn thận tới mức như thể đó là hòm đựng thánh tích, đặt nó lên chiếc bàn gấp nhỏ và tỉ mẩn bày các quân cờ. Động tác cuối cùng của ông này trước khi bắt đầu ván cờ là lục lọi trong túi quần tìm một đồng xu một penny và đặt xuống cạnh bàn cờ. Frisch cũng làm tương tự. Đó là phần tiền cược mang tính biểu tượng.
Baum là một kỳ thủ khá, không phải tài năng, nhưng cũng không thể bị gọi là kém cỏi. Kỹ thuật đáng ghen tị của ông này đã bù đắp lại cho sự thiếu hụt về năng khiếu. Ông ta là một lý thuyết gia giỏi, những nước khai cuộc luôn luôn chỉn chu. Quả đúng là Baum nghèo nàn về ý tưởng; bất cứ khi nào tìm cách đi ra khỏi các lối mòn có sẵn, ông ta đều bị qua mặt, song về tổng thể đó là một đối thủ đáng giá, không bao giờ dễ bị đánh bại. Thông thường, họ có thời gian cho hai, hay thậm chí ba ván. Họ sẽ nhanh chóng lướt qua phần ra quân, và sau vài cuộc giao chiến nhỏ ở trung tâm và vài cuộc đổi quân, sẽ quyết định xem ván cờ có đáng để tiếp tục hay không. Một số tình huống không tránh khỏi đưa tới kết quả hòa. Trong trường hợp đó họ sẽ bắt đầu lại, dần dần lựa chọn những biến thể mạo hiểm hơn. Tuy nhiên, Baum luôn thận trọng, chỉ đưa ra những nước đi thử nghiệm dè dặt. Quả thực, ông này hài lòng với việc thủ hòa, coi đó là một kết quả tốt. Nhưng có lúc họ thấy mình chìm vào đúng một ván cờ kéo dài mãn ý tới mức họ sẽ dừng lại để xem xét nó, phân tích mọi biến thể của nó.
Một đặc trưng có vẻ phổ biến ở mọi kỳ thủ là việc từ chối thừa nhận rằng vị trí của họ trong một ván cờ bị thua là thực sự không thể chống giữ được. Vậy là Baum, khi thua, sẽ bướng bỉnh xem lại mọi nước đi, tìm cách khám phá xem mình đã phạm sai lầm từ đâu và lúc nào. Những ván cờ và những cuộc phân tích sau đó của họ thường đem đến cho Frisch những ý tưởng hay ho cho cột bài về cờ vua của ông ta.
Tối nay Baum chơi quân trắng. Nước ra quân bằng quân tốt che mặt hậu là nước ưa thích của ông này. Ông ta thích giương buồm trên mặt nước lặng sóng, trên một con tàu vững chãi. Nhưng Frisch không muốn trải qua kịch bản quen thuộc. Ông ta quyết định khuấy động mọi thứ lên một chút. Với Baum người ta có thể cho phép mình mạo hiểm một hai nước cờ.
“Chúng ta sẽ xem ông thoát ra thế nào, ông bạn già,” Frisch nói, nhanh chóng đi nước ra quân. Nhưng không mấy chốc, đã rõ là phương án chơi của ông ta hoàn toàn khác lệ thường. Ông ta đang nóng lòng muốn được thấy khuôn mặt Baum đáng mến khi ông này nhận ra mình đang phải đối mặt với biến thể nào. Liệu có phải mong muốn tự mình dấn thân vào sự phiền phức của một thế phòng ngự nguy hiểm như thế của Frisch là một trò đùa không? Hay là một dạng thách thức cho bản thân ông ta?
Các kỳ thủ thường có khuynh hướng mang những thiên kiến với cõi tục vào trò chơi, mang theo những điều họ thích và ghét, những điều họ tin chắc và những thứ gây kích thích. Frisch coi bản thân là người theo chủ nghĩa thuần túy, ghê sợ bất cứ thứ gì không logic và tuần tự, hay ít nhất có thể quy về một lý thuyết nào đó đã đuợc xây dựng. Ông ta đánh giá sức mạnh dựa vào số lượng quân cờ nhiều hơn là chất lượng cách chơi cờ. Tựu trung, ông ta là kẻ không thể chịu được thất bại - và không chỉ trong cờ vua; một kẻ không thể từ bỏ những niềm tin thâm căn cố đế của bản thân, dù chỉ một chút.
Đã gần một năm trôi qua kể từ khi ông ta tình cờ bắt gặp biến thể cho quân đen này trong quá trình thực hiện các phân tích cho tạp chí. Nó đã thỉnh thoảng xuất hiện trong các giải đấu, giành được thành công không lý giải nổi. Biến thể này đòi hỏi hy sinh một quân hiệp sĩ vào một thời điểm chỉ để đổi lấy hai quân tốt, nhưng nước cờ này ngăn cản quân trắng củng cố vị trí vua của mình, từ đó bắt đầu một mối đe dọa tới vua trắng. Nếu quân trắng quyết định duy trì lợi thế số lượng của mình, bên này sẽ buộc phải ở vào thế phòng thủ một thời gian dài.
Biến thể đã lập tức đập vào mắt Frisch như sự sỉ nhục tới những tiêu chuẩn thẩm mỹ của chính ông ta, và ông ta đã bàn về vấn đề này một cách trọn vẹn trên các trang tạp chí của mình, tìm cách hủy hoại biến thể ấy, chứng minh nó vô căn cứ tới mức nào. Nghiên cứu đầy thuyết phục của ông ta, đuợc đăng nhiều kỳ trên vài số tạp chí, được mang tựa đề “Biến thể Luneburg”, thứ ông ta mô tả là “không mạch lạc”, “cẩu thả” và “khiêu khích”. Nhưng đôi khi chúng ta ghét một thứ tới mức rốt cuộc đồng nhất hóa với nó, và lúc này đây Frisch đang thực hiện chính xác những nước đi ông ta không tán thành. Ông ta hẳn phải cảm thấy sự phấn khích đầy tội lỗi khi hành động đối lập với niềm tin của chính mình như thế. Khi đón nhận cách nhìn của đối thủ, có lẽ là lần đầu tiên, ông ta nhận ra mọi thứ có thể khác biệt biết chừng nào chỉ bằng việc xoay bàn cờ lại.
Ông ta tự nhủ liệu Baum thậm chí có nhớ nổi biến thể này hay không.
Nhưng tất nhiên Baum từng là một phụ tá vô giá trong quá trình phân tích những ván cờ căng thẳng thần kinh đó. Và phải, ông này đã nhận ra. Và như thế nào chứ!
“Ồ,” Baum thốt lên, rõ ràng rất ngạc nhiên, gần như thể để nói, Con quỷ đó lại ngóc đầu lên rồi!
Frisch tiếp tục gây sức ép. Tuy nhiên, dù đã nghiên cứu thế cờ rất tỉ mỉ, dường như vẫn luôn có những khía cạnh của biến thể này ông ta không tài nào nắm bắt được. Ông ta tự hỏi vì sao mình lại đi chuốc lấy thứ rắc rối này. Ông ta đột nhiên cảm thấy một sự thôi thúc muốn đề nghị bỏ ván cờ này và bắt đầu một ván khác, song ông ta biết Baum sẽ tính một lần bỏ cuộc là một chiến thắng, mà ông ta thì không hề có ý định chịu thua cái kiểu như thế. Cùng lắm thỉnh thoảng ông ta mới ban cho Baum một ván hòa. Vài lần ít ỏi giành đuợc phần thắng, Baum luôn hân hoan suốt hàng tuần liền. Và vì một chiến thắng duy nhất có thể chuộc lại rất nhiều thất bại, nên một thất bại duy nhất có thể làm giảm giá trị hay thậm chí hủy hoại hết cả một chuỗi dài chiến thắng. Nhưng trong thâm tâm, Frisch vẫn lạc quan. Nếu chơi với sự tập trung cao độ, ông ta có thể ít nhất kết thúc ván cờ với kết quả hòa.
Đắm chìm trong suy tưởng, ông ta thậm chí không nhận ra có thêm một hành khách nữa bước vào khoang và đang chực ngồi xuống bên cạnh họ. Hiếm khi có ai đó không buồn bận tâm đến tấm rèm được kéo kín mà xâm phạm khoang tàu của họ. Frisch ngước mắt nhìn lên khỏi bàn cờ và dành cho kẻ thâm nhập một cái nhìn đầy bực bội. Ông ta có cái kiểu nhìn xéo người khác đầy ngờ vực, một kỹ năng vẫn dùng từ hồi còn trong quân đội. Ông ta không bao giờ nhìn thẳng vào mắt ai, mà thay vào đó tập trung nhìn với vẻ chê trách vào một điểm trên cổ họng người đàm thoại với mình, như thể phát hiện thấy một vết bẩn trên cổ áo người đó, hay huy hiệu đã bị bung ra.
Cảm thấy mình bị săm soi, người đàn ông trẻ nói khe khẽ gì đó, lẩm bẩm một câu chào, rồi ngồi xuống.
Kẻ xâm nhập có lẽ ngoài hai mươi tuổi. Anh ta có mái tóc vàng để dài tới vai, râu đã đến độ cần cạo, và trên mình là chiếc áo khoác màu trắng nhưng không còn tinh tươm, cài khuy tới tận cổ. Cái kiểu ăn mặc này cố nhiên Frisch rất ghét.
Cậu thanh niên cúi gập người thật thấp trên ghế và giữ hai bàn tay đút sâu vào túi áo. Vai anh ta đeo một chiếc cặp da. Việc anh ta không có thêm hành lý nào khác khiến Frisch hy vọng cậu thanh niên chỉ đi một quãng ngắn.
Sau khi theo dõi họ vài phút, cậu thanh niên mở cặp của mình ra, lấy ra vài tờ giấy vẽ, rồi hắng giọng để thu hút sự chú ý của họ. “Thưa các ông, nếu các ông cho phép,” anh ta nói, “tôi muốn vẽ tặng các ông một bức ký họa các ông đang chơi cờ.”
Frisch cộc lốc từ chối, và cậu thanh niên, có vẻ cam chịu, dường như thu mình lại trên ghế. Anh ta gỡ quai cặp xuống rồi để nó bên cạnh mình, đầu tiên lấy từ trong cặp ra một gói nhỏ bằng vải xám, rồi nhanh chóng nhét nó vào túi áo khoác.
Frisch trở lại với những suy nghĩ của mình, song sự hiện diện của người lạ quấy rầy ông ta. Thỉnh thoảng ông ta lại liếc mắt thật nhanh về phía người lạ mặt, anh này không lúc nào rời mắt khỏi bàn cờ. Đôi đồng tử dao động gần như không thể nhận ra cho thấy cậu thanh niên đang đánh giá các khả năng khác nhau. Cả Baum cũng hoàn toàn đắm chìm vào ván cờ. Thấy mình ở vị trí thuận lợi, ông này tập trung toàn bộ sự chú ý của mình, di chuyển các quân cờ với vẻ hài lòng rõ rệt.
Họ chơi thêm nửa tiếng nữa, đến lúc đó Frisch đề nghị hòa, tin chắc rằng Baum, như thường lệ, sẽ đồng ý. Nhưng trước sự thất vọng lớn của ông ta, đối thủ không chịu, còn trề môi ra như thể đang nhâm nhi một thứ vang lâu năm và cuối cùng từ chối một cách trơ tráo: “Tôi thích xem ván cờ này sẽ kết thúc ra sao, nếu ông không thấy phiền.”
Sau đó, theo từng nước đi, Frisch nhận ra rằng bất chấp những nỗ lực của mình, ông ta sẽ đi đến nước không thể trụ vững, một tiến trình mà ông ta biết rõ vì đã phân tích nó một cách kỹ lưỡng, dù rằng phân tích của ông ta đầy thiên kiến. Vốn là người tin chắc “Biến thể Luneburg” không thể đứng vững, ông ta tìm cách, có lẽ trong vô thức, củng cố cho niềm tin của mình. Khi nước chiếu hết đã cận kề, ông ta lật ngược quân vua của mình lên cam chịu.
“QED, Baum thân mến,” ông ta thốt lên, giả đò tin chắc, cho dù không thể giấu được vẻ sưng sỉa điển hình của những người không sẵn lòng chịu thua dù đã thực sự thua. “Biến thể này không thể đứng vững.” Và vì thất bại luôn khiến chúng ta khoan dung hơn, ông ta quay sang vị khán giả trẻ tuổi như thể tìm cách kéo anh ta vào cuộc. Cậu thanh niên tiếp tục nhìn chăm chăm vào bàn cờ với vẻ mặt ngờ vực, như thể đang cộng gộp lại những kết quả không cân bằng. Nhưng không có cách nào biết anh ta hiểu cờ vua tới mức nào.
Cậu thanh niên hắng giọng và nói, “Theo tôi thấy có vẻ như ông đã không đi những nước cờ tốt nhất có thể.”
Frisch chết lặng. Ông ta phải gồng mình lên để nuốt trôi câu nói xúc phạm, nhưng sau khi lấy lại được bộ dạng đĩnh đạc của mình - vì cách tốt nhất để đáp lại một kẻ không hiểu biết là thái độ đĩnh đạc tuyệt đối - ông ta mỉm cười giả tạo.
“Cậu nghĩ là không ư?”
Nếu có điều gì ông ta không thể chịu đựng được, thì đó là quan điểm được đưa ra từ một khán giả tay mơ, kẻ có lẽ chỉ vừa biết các quân cờ di chuyển ra sao. Chẳng hạn, tay soát vé là mẫu người như thế, sự xuất hiện của ông ta luôn là một sự khó chịu không sao thoát khỏi. Cách nhìn về cờ vua của ông ta thật nông cạn và phiến diện. Tay soát vé thuộc kiểu người luôn thấy các nước chiếu hết lấp ló khắp nơi như những ảo ảnh trên sa mạc, và thường phải ngăn cản để bàn tay ông ta không hạ xuống bàn cờ, kéo theo sau nó thảm họa. Trong khi tay soát vé là một mối đe dọa thường trực nhưng có thể lường trước, sự xâm phạm của kẻ gà mờ này lại hoàn toàn không thể lường trước, thậm chí chưa bao giờ có tiền lệ. Suốt nhiều năm Frisch và Baum đi theo lộ trình này, có vài lần hiếm hoi một kẻ thích chõ mũi vào chuyện người khác, đáng lẽ đã có thể chọn một khoang tàu trống thì lại quyết định ám quẻ họ, cảm thấy có quyền tha hồ xen vào tràng giang đại hải. Những lời bình luận vô hại, thiển cận do những kẻ vô dụng đưa ra tất nhiên là nhanh chóng bị gạt phắt. Song kẻ xâm phạm này dường như hiểu cờ vua, và anh ta nói với ý định khiêu khích rõ ràng.
Frisch cố gắng trấn tĩnh. Thậm chí ông ta còn cảm thấy quý ông trẻ tuổi này rất có thể sẽ là một nguồn giải trí thú vị.
“Điều gì khiến cậu nghĩ có những nước tốt hơn ở thế cờ này?” ông ta hỏi, hơi nhô nửa người trên ra.
Cậu thanh niên cười mỉa mai, gần như khinh miệt. “Ở thế cờ này thì rõ ràng là không,” anh ta nói.
“Nghĩa là sao?”
“Nghĩa là chúng ta cần lui lại vài nước đi để tôi có thể giải thích với ông.”
Frisch lại có thêm một đấu tranh nội tâm nhanh chóng nữa. “Thật sao?”
“Thật vậy. Biến thể này cần phải được chơi năng động hết mức có thể, không bị thu về thế phòng ngự bất động mà ông áp đặt. Mục đích của nó là giúp một con tốt hóa hậu - đó là mối đe dọa chủ yếu. Nếu không có gì đền bù cho việc hy sinh quân hiệp sĩ ban đầu, ông sẽ đối diện với một ván thua, hiển nhiên rồi.”
“Hiển nhiên,” Baum lẩm bẩm với chính mình, không rời mắt khỏi bàn cờ. “Hiển nhiên,” ông ta nhắc lại, như thể mắc chứng lặp lại lời người khác thể nhẹ.
Frisch đang chực nói gì đó thì cậu thanh niên giơ một bàn tay lên.
“Tôi đã chơi biến thể này nhiều lần đến mức chẳng nhớ nổi,” anh ta nói. “Kỳ thực, tôi luôn sử dụng nó để chống lại nước ra quân bằng quân tốt che mặt hậu.”
“Một cách thành công, tôi đoán vậy,” Frisch lên tiếng đầy mỉa mai.
“Ồ vâng,” cậu thanh niên trả lời. “Tám mươi phần trăm các trường hợp. Mà với quân đen thì đó là thành công thực sự.”
“Quý ông thân mến,” Frisch lên tiếng, không thể kiềm chế lâu hơn nữa, “tôi chỉ có một điều để nói với cậu: thế phòng thủ này là công cốc. Nó đột nhiên giành được sự ưa chuộng khoảng một năm về trước, chủ yếu như một trào lưu thoảng qua (vì thậm chí cả trong cờ vua, các xu hướng thời thượng cũng tới rồi đi), cho tới khi bản thân tôi cảm thấy buộc phải phá hủy nó trên tạp chí của mình.” Ông ta nói đầy quyền uy. “Lợi ích duy nhất - và tôi lặp lại, duy nhất - của nó là người khuấy động mặt nước đôi khi sẽ tạo ra những nhiễu loạn khó coi có thể khiến đối thủ mất thăng bằng và ngã. Nhưng chỉ có thế. Nó trông đợi vào mỗi sự bất ngờ. Nó dựa trên thủ đoạn bịp bợm, chứ chắc chắn không phải nhờ trí thông minh.” Đến đây, ông ta im bặt, có vẻ hối tiếc vẻ thái độ gay gắt của mình. Chuyển sang giọng hòa hoãn hơn, nói với sự cẩn trọng có lẽ ông ta sẽ dùng để chọn một chiếc cà vạt nghiêm túc hơn để tương thích với bộ vest mặc buổi chiều, Frisch nói thêm, “Dù thế nào đi nữa, có vẻ cậu cũng chơi cờ vua.”
“Giờ thì không còn chơi nữa,” cậu thanh niên đáp.
“Nhưng có vẻ cậu vẫn theo dõi.”
“Tôi đã chơi trong nhiều năm, cho tới khi đạt cấp kiện tướng. Nhưng đã một thời gian rồi tôi không làm gì liên quan tới cờ vua nữa.”
“Đã vậy,” Frisch hào hiệp đề xuất, “tại sao không bắt lấy cơ hội?” Sự xuất hiện của kẻ xâm nhập thật phiền toái, nhưng giờ đây, khi nhận ra mình đang đối diện với một chuyên gia, ông ta đột nhiên đổi ý. “Nêu cậu muốn...” ông ta nói tiếp, đưa bàn tay về phía bàn cờ nhỏ mà Baum vẫn đang nhìn chăm chăm như thể bị thôi miên bởi thế thắng của mình.
Cậu thanh niên rụt rè từ chối. “Tôi không thể, tôi thực sự không thể.”
“Nhưng sao lại không? Liệu còn cơ hội nào tốt hơn không? Tôi là Tiến sĩ Frisch, kiện tướng và trọng tài cờ vua quốc tế. Cũng là chủ bút tạp chí Der Turm.”
Cậu thanh niên bắt bàn tay được chìa ra cho mình, hơi gật đầu và khẽ nói, “Mayer.”
Frisch không chịu bỏ cuộc. “Cậu có thể chơi quân trắng, nếu cậu muốn. Hoặc lấy quân đen, và dùng biến thể này.”
Cậu thanh niên kiên quyết lắc đầu. “Tôi xin lỗi vì có vẻ bất lịch sự. Tôi nói ‘không thể’, nhưng sự thật là tôi không thể đấu tay đôi.”
Đến đây, thậm chí cả Baum cũng bừng tỉnh khỏi cơn mơ màng của mình và nhìn đầy tò mò về phía cậu thanh niên dường như đang cảm thấy buộc phải giải thích lý do mình từ chối - tên cậu ta là Mayer phải không nhỉ? Ít nhất Baum nghĩ cậu ta đã nói thế.
“Tôi đoán đó là vấn đề về thần kinh. Ý tôi là tôi nghĩ tôi vẫn là một kỳ thủ khá. Chỉ có điều tôi không có tâm trí để chơi với một người bằng xương bằng thịt.”
“Tâm trí?” Frisch hỏi, đầy sửng sốt. “Cậu không có tâm trí?”
“Nó nằm ngoài khả năng kiểm soát của tôi,” cậu thanh niên nói tiếp. “Nhiều khả năng là một nỗi ám ảnh sợ, nhưng tôi không thể đừng đuợc. Cờ vua đã gần như hủy hoại cuộc đời tôi. Nó đã đẩy tôi tới cận kề điên loạn. Chỉ sau một đêm tôi đánh mất tất cả, không còn gì nữa. Ngay cả bây giờ cũng thật khó tin nổi điều đó đã xảy ra như thế nào. Tôi kết thúc trong cảnh không nhà, ngủ đêm trên đường phố hay tại những chỗ ở cho người vô gia cư. Có những lúc tôi thực sự nghĩ mình đã điên. Tại một nơi mà tôi đã phải ở một thời gian, cùng những kẻ cặn bã của thành phố, có một người tuyên bố ông ấy có thể tìm ra điều gì không ổn trong bộ não người khác đó. Ông ấy đưa cho tôi các biểu mẫu để điền vào và hỏi đủ câu phát ngượng. Ông ấy quyết tâm tìm ra vì sao tôi lại rơi vào tình trạng như vậy. Ông ấy muốn chỉ ra chính xác nguyên nhân đã cướp đi động lực sống của tôi. Khi tôi mô tả vấn đề cho ông ấy, ông ấy có vẻ rất quan tâm. Trên thực tế, từ trước đến giờ ông ấy là người duy nhất lắng nghe những gì tôi cần nói và tin vào câu chuyện của tôi. Ông ấy kết luận rằng lý do khiến tôi không thể chơi cờ vua nữa là vì tôi nhìn nhận đối thủ của mình như hình ảnh người cha tôi đang xung đột. Và chẩn đoán của ông ấy đúng về cơ bản, dù dựa trên những tiền đề sai lầm. Ông biết đấy, đó không phải là người cha thực của tôi, và câu chuyện tôi kể cho ông ấy chắc chắn không phải do trí tưởng tượng của tôi nhào nặn ra hay là sản phẩm của nhu cầu vô thức muốn trừng phạt chính mình về một tội lỗi nào đó như ông ấy đã khẳng định. Cho dù tôi thừa nhận rằng vào thời điểm ấy, tôi bắt đầu có những nghi ngờ về bản thân.
“Tất cả bắt đầu từ dam mê tôi dành cho cờ vua, một trò chơi tôi đã dấn thân vào theo cách không thể khác thường hơn...”
Cuối cùng, những lời nói của cậu thanh niên có vẻ thu hút được sự chú ý của thính giả. Lần đầu tiên Frisch ngước đôi mắt xanh nhạt của ông ta lên nhìn thẳng vào mắt Mayer, thể hiện thái độ ôn hòa hơn, hoặc Mayer thấy có vẻ thế. Và quả thực đây chính là điều cậu thanh niên đã chờ đợi, đã sợ rằng nó sẽ không bao giờ tới, như người ta đôi lúc tìm kiếm những phản hồi mang tính người từ mắt những con vật được huấn luyện. Mặt Frisch đột nhiên dãn ra. Ông ta từ bỏ vẻ thủ thế ban đầu, dù vô thức hơn là với chủ đích thực sự.
Mayer hít thở sâu. Anh ta có vẻ đỡ căng thẳng hơn. Giọng anh ta không còn khàn khàn để lộ ra sự bồn chồn như ban nãy.
Anh ta bóp chặt lấy gói vải nhét trong túi áo khoác như để đảm bảo là chưa quên lý do mình có mặt trên chuyến tàu này. Giờ đây anh ta có thể nhìn đối thủ của mình không sợ hãi. Bất chấp mọi thứ anh ta biết về con người này, anh đã nhìn nhận ông ta là một người bình thường và không có khả năng tự vệ, một người - saư khi để rơi chiếc mặt nạ cứng nhắc của mình trong một khoảnh khắc - thực sự có vẻ bề ngoài đúng tuổi, một người tới ngưỡng già, mái tóc màu xám sắt cắt ngắn để che giấu quá trình hói đang lan rộng, thân thể khỏe mạnh, dinh dưỡng đầy đủ, được chăm sóc chu đáo, và hẳn là đầy ắp sự biết ơn bên dưới bộ đồ tối màu được cắt may hoàn hảo.
Người còn lại, Baum, rõ ràng khá tầm thường. Ông này đang ngồi bắt tréo chân, quay ba phần tư người về phía Mayer, hai bàn tay đặt lên một đầu gối, các ngón tay đan vào nhau, dường như đang đắm mình trong suy tưởng, song chỉ ra vẻ vậy để có thể lắng nghe mà không lộ.
Đoàn tàu chạy qua một cây cầu sắt làm hắt những luồng sáng chói lóa lên các ô cửa sổ. Một ngôi làng lướt qua, ánh sáng của nó cuộn xoáy, để lại những cột và vệt sáng xanh đằng sau, cho tới khi khu rừng đen ầm ầm quay trở lại.
Sự im lặng của hai người họ, cùng sự tò mò chăm chú công khai của Frisch, giờ đây thuyết phục Mayer bắt đầu câu chuyện của mình.
Tôi dần bị cờ vua mê hoặc khi còn là một đứa trẻ. Tôi học những nước đi đầu tiên từ cha tôi, một người chơi cờ nghiệp dư tài năng. Trên thực tế, một trong những ký ức sống động nhất của tôi là dáng vẻ ông cúi người xuống bàn cờ trầm ngâm suy nghĩ.
Nhưng cả cha mẹ tôi đều qua đời trong một tai nạn ô tô khi tôi sáu tuổi. Tôi được đưa đến sống với bà ngoại ở Vienna.
Trong nhiều năm, tôi không nghĩ gì tới cờ vua nữa, nó trở thành một ký ức mơ hồ, huyền bí kết nối với thế giới mầu nhiệm thuộc về giai đoạn đầu thời ấu thơ của tôi. Bộ cờ vua của cha tôi được để trong ngăn kéo ở nhà bà tôi. Đó là một bộ cờ với bàn cờ đóng lại thành hộp đựng các quân cờ bằng gỗ hoàng dương và gỗ mun. Nhưng cả bàn cờ và quân cờ đều nằm im lìm không được đoái hoài đến trong cái ngăn kéo đó, cùng những đồ vật khác từng thuộc về cha tôi: hộp đựng thuốc lá bằng kim loại, vài chiếc tẩu, một cái dao cạo với tay cầm bằng đồi mồi. Giữ lại chỉ để làm kỷ niệm.
Tôi được khoảng mười ba tuổi khi cờ vua lại chiếm hữu tôi, và điều đó diễn ra theo cách thật lạ lùng, gần như thể bản chất đối ngẫu của trò chơi được hé lộ cho tôi như một dấu hiệu.
Vào một buổi sáng mùa xuân, tôi ngồi với bà ngoại ở một quán cà phê ngoài trời ở trung tâm thành phố, quan sát phần kem còn lại của mình tan chảy trong cái cốc thủy tinh. Đột nhiên, những vết máu nhỏ xuống trên mặt bàn cẩm thạch trắng bong. Bà ngoại tôi nhổm dậy, tìm cách cầm dòng máu chảy từ mũi tôi ra bằng một cái khăn ăn. Bà chủ quán cà phê, sau khi rửa cho tôi bằng nước vòi, đua tôi tới một căn phòng lịch sự phía sau quán, tường ốp gương toàn bộ. Tôi được bảo ngồi im không nhúc nhích cho tới khi máu mũi ngừng chảy. Sau khi nhắc tôi không được nhúc nhích, bà ngoại để tôi lại một mình. Nhưng hóa ra tôi không hoàn toàn chỉ có một mình, vì ngay lập tức tôi nghe thấy những tiếng thì thầm từ phía sau một tấm rèm nhung đỏ dày ngăn đôi căn phòng. Cứ như thể ai đó đang cố nói mà không ra tiếng, và sự tẻ nhạt của cảnh bất động bị áp đặt khiến tôi đặc biệt tò mò muốn tìm ra xem đó là ai. Đầu tôi đang ngả ra sau; tôi đang áp nước đá lên trán, nhìn chăm chăm vào một điểm thẳng trên đầu, và nhận ra rằng nếu tôi đưa mắt nhìn xuống cuối phòng, hình ảnh phản chiếu trên trần căn phòng, cũng được lắp gương, cho phép tôi thấy được những gì diễn ra đằng sau tấm rèm, hay gọi là cánh gà cũng được. Chẳng mấy chốc, tôi nhận ra một thứ quen thuộc: một bàn cờ vua, bao quanh là những người, mà căn cứ vào những cái đầu đang hói dần hết và mái tóc muối tiêu, có vẻ đều khá lớn tuổi. Họ đang nhìn chăm chú vào bề mặt vuông hơi sáng mờ mờ như thể chờ đợi câu trả lời của một nhà tiên tri. Nhưng còn thứ gì đó nữa, một điều tôi không thể nào nhìn rõ được dù có cố gắng đến đâu. Điều đó tương phản rõ nét với vẻ nghiêm trang trong phòng, và cho dù tôi không thể hòa họp được nó với những đôi vai chùng và cái đầu đang cúi xuống, theo cách nào đó nó đem đến trong tâm trí một hình ảnh vui vẻ, như thể tất cả những con người đó đang chờ đợi một cao trào.
“Nếu cháu thấy đỡ rồi thì chúng ta có thể đi,” tôi nghe thấy bà ngoại nói.
Nhưng thay vì thế, tôi đứng dậy, băng qua căn phòng tới chỗ tấm rèm như thể di chuyển từ một giấc mơ tới một giấc mơ khác. Có lẽ bà tôi đã quá bất ngờ để ngăn tôi lại, hoặc cũng có thể bà bị sự im lặng lan tỏa khắp căn phòng đe dọa và không dám cao giọng. Dù thế nào đi nữa, bà chỉ giơ một cánh tay lên đầy vẻ kinh ngạc, nhưng hầu như tôi không nhận thấy, vì tôi đã bước ra đằng sau tấm rèm và lại gần nhóm người xúm quanh bàn cờ. Không ai để ý đến tôi, ngay cả khi tôi lách mình chen vào để thấy bàn cờ. Khi đã tới nơi, tôi hiểu ra lý do tạo nên cảm giác lạ lùng tôi vừa có lúc trước. Hai người đang ngồi bên bàn: một người, quay lưng về phía tôi, là một ông già với mái tóc bạc trắng phủ kín trên đầu và mặc đồ tối màu. Đối diện với ông lão là một cậu bé tóc vàng gầy gò có vẻ trạc tuổi tôi. Ngồi bất động bao quanh bàn cờ là tất cả những người lớn tuổi hơn cậu nhiều, cậu bé trông giống như Jesus thiếu thời bị các học sĩ của đền tra vấn.
Đó là lượt đi của ông lão, và không lâu sau ông đưa bàn tay lên, nhấc một quân cờ, và đặt nó vào một vị trí khác trên bàn cờ với vẻ vô cùng buồn nản. Cậu bé ngồi đối diện lập tức đáp lại, không nói gì, nhưng động tác đầy tàn nhẫn và lộ ra sự tự tin đầy giễu cợt tới mức như thể ngụ ý đây là nước cờ tối thượng.
Tôi vẫn luôn nghĩ người ta cần tuyên bố chiến thắng của mình bằng cách nói “chiếu” hay “chiếu hết”, dù chỉ vì sự hài lòng của chính mình. Nhưng trước sự ngạc nhiên của tôi, không có điều gì như thế diễn ra ở đây. Ông lão ngẫm nghĩ thêm vài phút nữa - hay đúng hơn có vẻ như ông đang chăm chú đánh giá một bảo vật hoặc xem xét tính xác thực của một tác phẩm nghệ thuật - sau đó ông chỉ đứng dậy và bắt tay đối thủ.
Đột nhiên, tất cả những người cho tới lúc đó vẫn nín thở bắt đầu bàn tán sôi nổi, hàng chục bàn tay cùng chỉ xuống bàn cờ trong sự hỗn loạn tột cùng. Đúng lúc đó, bà ngoại tôi cầm lấy cánh tay tôi và chực dẫn tôi đi. Tôi không muốn đi. Tôi bắt đầu vùng vẫy và phản đối, nhưng bà không chịu nhượng bộ. Trong khi bà lôi tôi đi, lách qua giữa những người đang tiếp tục ồn ào quanh bàn cờ, tôi ngoái lại lần cuối cùng và thấy - không còn nghi ngờ gì nữa - người lúc nãy tôi cho là một cậu bé kỳ thực là một người trưởng thành, một người lùn, cơ thể mảnh khảnh nhưng tỉ lệ cân đối và khuôn mặt trẻ con, không râu và nhăn nheo. Và anh ta nhìn tôi như thể nháy mắt đồng lõa.
Liệu đó có phải là ngày tôi được khai tâm không? Tôi không chắc nữa. Nhưng tôi biết chắc rằng từ đó trở đi, mối quan tâm tôi dành cho cờ vua dần dà thức tỉnh. Tôi là một cái thùng được làm đầy từng giọt một. Điều đầu tiên tôi làm là lục lọi qua tất cả những món đồ từng thuộc về cha tôi, lấy bộ cờ vua ra như thể đào một kho báu được chôn giấu lên. Tôi đếm các quân cờ, xoay chúng trên các ngón tay như thể nhìn thấy chúng lần đầu tiên, rồi sau đó xếp chúng lên bàn cờ như cha tôi đã dạy nhiều năm về trước. Dường như tôi có thể cảm nhận bên trong bản thân mình tất cả các cảm xúc được định hình trong những vật điêu khắc tinh túy đó. Cũng giống như có mặt tại buổi tuyên đọc một bản di chúc mà tôi là người thừa kế duy nhất vậy.
Đam mê đến tức thì và không hề suy giảm. Trong một thời gian, tôi chỉ đơn thuần di chuyển các quân trên bàn cờ, cảm nhận tính nhất quán của chúng và đơn thuần quan sát chúng. Chúng là ý nghĩ đầu tiên của tôi vào buổi sáng và ý nghĩ cuối cùng của tôi buổi tối. Chúng xuất hiện trong tất cả những giấc mơ của tôi. Tôi vẫn chưa chơi một ván cờ nào, song tôi hình dung bản thân như một nhà vô địch bất khả chiến bại. Bất cứ ai hỏi tôi muốn trở thành người thế nào khi lón lên, tôi chưa bao giờ có chút ngờ vực nào dù nhỏ nhất.
Ngoài bộ cờ, cha tôi cũng để lại cho tôi không ít sách về cờ vua, tôi lật giở qua chúng với sự khao khát hời hợt, cố gắng để không bị chết chìm trong đại dương các biểu tượng khó hiểu của chúng.
Thế rồi đến một ngày, tôi quyết định đã đến lúc để đem năng lực bậc thầy vẫn tự cho của mình ra thử thách. Tìm đối thủ không dễ gì. Bất cứ khi nào cảm thấy một đam mê thực sự với điều gì đó, chúng ta cũng phiền muộn nhận ra rằng cái thế giới dường như chúng ta coi là tất cả lại được những người khác đánh giá chẳng cao lắm, thậm chí còn không hề biết đến. Tôi không có ai để chơi cùng ngoài các bạn cùng lớp, với họ đôi khi tôi chơi được vài ván cờ chóng vánh, và tôi háo hức tìm những đối thủ tiềm năng tới mức hễ gặp ai tôi cũng muốn biết liệu người đó có chơi cờ vua không. Tôi không có chút quan tâm nào tới ai trả lời không, trong khi những người thừa nhận có dù chỉ những hiểu biết ít ỏi nhất về luật chơi cũng lập tức được tôi quý trọng hơn hẳn, để rồi trở thành nạn nhân khi đồng ý thử sức với tôi.
Vậy là những đối thủ đầu tiên của tôi là bạn bè và bạn học cùng lớp. Nhưng cả bà ngoại tôi cũng không được miễn cho. Bà thường xuyên tìm cách né tôi bằng cách đẩy một người bạn không may nào đó của gia đình tình cờ có mặt vào thế chân.
Như bất cứ người mới chơi cờ nào khác, tôi thích thực hành hơn lý thuyết và chơi hơn nghiên cứu, tin rằng việc sau là thừa khi có sự hiện diện của thiên tài toàn trí ẩn trong tôi, đôi khi gợi ý những nước cờ chiến thắng.
Hẳn các ông cũng biết Alekhine coi cờ vua là một nghệ thuật trong khi Capablanca nhìn nhận nó thuần túy là mưu mẹo. Lasker, mặt khác, nghĩ về nó như chiến đấu. Tôi không nhìn nhận cờ vua như chiến đấu, mà như một cuộc chọi gà, với những tiếng quang quác và những cái lông bay tứ tung. Tôi ít để ý tới phòng thủ, hy sinh các quân cờ không chút do dự, hài lòng với việc chế ngự những ngọn lửa nhỏ mà không nhận ra toàn bộ công trình có thể đã bắt lửa. Tôi tin tưởng rằng trí tưởng tượng (thứ tôi tin chắc mình có thừa thãi) sẽ luôn chiếm thế thượng phong trước những toan tính tỉ mẩn khốn khổ được rất nhiều đối thủ của tôi ưa chuộng, họ, thông qua những bản tính toán được mất chi li, kết thúc cuộc cờ ai ăn được nhiều tốt hơn đảm bảo sẽ thắng. Tôi mơ được chơi cờ như Morphy vĩ đại hay như Anderssen “bất tử” và “mãi xanh”, thiết lập một chuỗi những hy sinh ngày càng phô trương hơn, kết thúc bằng nước chiếu hết với quân cờ duy nhất còn lại trong tay, được thực hiện như một nét chấm phá. Song tài năng không luôn tương xứng với đam mê, kết quả là tôi bướng bỉnh bám lấy giấc mơ tôi không bao giờ thực hiện được. Thực tế là còn xa tôi mới hiểu được trò chơi. Dẫu vậy đam mê vẫn lớn lên trong tôi, đạt tới mức độ bất thường.
Ở tuổi mười bảy, tôi đăng ký nhập học vào Học viện Mỹ thuật, rời khỏi ngôi nhà của bà ngoại tới ký túc xá dành cho sinh viên. Bà ngoại tôi không phải một bà lão tóc bạc phơ ủy mị, mà trái lại, là một phụ nữ duyên dáng năm mươi lăm tuổi, một cựu ca sĩ vẫn còn được những người hâm mộ trung thành theo đuổi; bà có một cuộc sống hào nhoáng, nếu không nói là phóng đãng, và rõ ràng rất nhẹ nhõm khi không còn bị ràng buộc với một cậu nhóc cứ dứt khoát gọi bà là bà ngoại, dù tất nhiên tôi không có ý nói bà không yêu tôi.
Tôi ở cùng phòng với một sinh viên không hề có chút quan tâm nào tới cờ vua. Tuy nhiên, giờ đây tôi đã toàn tâm toàn trí với nó, và không bận tâm điều gì khác. Hoàn toàn có thể nói rằng tôi ăn, uống và hít thở cờ vua. Nếu Plato dứt khoát rằng Chúa là một nhà hình học, thì với tôi lại có một vị Chúa vĩnh viễn chơi cờ vua.
Vào các buổi tối, tôi lang thang trên các con phố của khu Vienna cổ, ngó vào cửa sổ các quán cà phê đông nghịt để tìm kiếm một cuộc cờ, luôn bị thu hút tới những nơi tôi thấy người ta xúm lại quanh những cái bàn, nhưng hầu như luôn thất vọng khi thấy khán giả đang theo dõi những người chơi bài - một thú chơi dường như cực kỳ phổ biến. Hiếm khi tôi đủ may mắn để liếc thấy một bàn cờ giữa các bàn chơi bài, với hai kỳ thủ như đã hóa thạch đang trông nom hơn là trú ngụ ở đó, và từ tuổi tác và thời gian họ bỏ ra cho mỗi nước đi mà suy, có vẻ như đang tiếp tục những ván cờ đã bắt đầu từ thời tuổi trẻ, như hai kỳ thủ trong câu chuyện đùa nổi tiếng - thoạt đầu là hai cậu thiếu niên, sau đó hai người đàn ông trưởng thành, rồi cuối cùng là hai ông lão - vẫn ngồi đúng tư thế đó mà nhìn chằm chằm, cuối cùng có một người hỏi người kia, “Đến lượt ai đi đây?”
Thế rồi đến một buổi tối tôi cũng được toại ước mong. Rẽ vào một con phố lạ hoắc tối mờ mờ, chẳng có động tĩnh gì, tôi bỗng thấy tấm biển vẽ hình một thiên thần đỏ cầm bông huệ đen. Đó là một quán bia có tên Der Rote Engel - Thiên Thần Đỏ, và tôi gần như không tin nổi vào mắt mình khi liếc nhìn qua những ô cửa sổ ám đen vì khói: không chỉ một mà hàng chục bàn cờ, với những người theo dõi xúm lại quanh những chiếc bàn nhỏ đầy hào hứng như thể đang xem chọi gà.
Tôi đã vô tình bắt gặp thế giới của chính mình, tôi chưa bao giờ ngờ đến sự tồn tại của nó. Tôi vẫn luôn hình dung ra các câu lạc bộ cờ vua như những tổ chức khép kín tọa lạc ở những nơi khó lòng tiếp cận, giống như các hội quán Tam điểm, nơi việc gia nhập đòi hỏi một nghi lễ thử thách. Nhưng ở đây tôi chỉ việc bước qua ngưỡng cửa là đã thấy mình ở trong một câu lạc bộ cờ vua của thành phố - không phải danh tiếng nhất, nhưng nhiều khả năng là đa dạng nhất, và chắc chắn là ầm ĩ nhất.
Tôi bắt đầu lui tới một cách đều đặn, nhưng vì không ai có vẻ để ý tới tôi, tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài gia nhập đám người chầu rìa xúm xít quanh các bàn the thé trút lời khuyên xuống đầu các kỳ thủ, phần lớn là những điều tai hại. Tại Thiên Thần Đỏ, cờ vua không phải một môn rèn luyện trí óc mà là một thú vui thiếu trí tuệ nghiêm trọng, nơi tất cả các luật chơi đều bị bẻ cong. Những người chầu rìa và người chơi cười hô hố đầy nhạo báng giữa làn khói xì gà và các vại bia, thường xuyên tuôn ra những lời chửi rủa thô lỗ và tung cả nắm đấm. Tôi sớm nhận ra câu lạc bộ bị chia thành hai khu vực rõ rệt. Những người ham vui chiếm cứ khu vực quanh quầy bar, chỗ đó không mất nhiều thời gian để được phục vụ. Đôi khi họ hòa lẫn cùng những người chơi bài, một phần vì những người này cũng chơi vì tiền. Những người khác, nghiêm túc và kiềm chế hơn rút lui vào phía trong căn phòng, phần yên tĩnh nhất của quán, ở đó họ trải qua cả buổi tối trui rèn chất xám. Mối quan hệ giữa hai nhóm này không phải lúc nào cũng thân thiện. Nó giống một cuộc xung đột đòi đòi giữa giới quý tộc và bình dân, ân oán được định đoạt tại một giải đấu thường niên mà tất cả thành viên câu lạc bộ phải tham gia.
Đối thủ đầu tiên của tôi là một ông già khá kỳ dị với khuôn mặt bợm nhậu. Nghề nghiệp của ông ta là nhặt nhạnh giẻ rách và bản thân ông ta mặc cũng toàn giẻ rách, cho dù có vẻ đều là những món tinh tuyển trong gia tài của ông ta, tàn tạ nhưng đều may bằng vải tốt. Đôi giày của ông ta đã mòn vẹt gót nhưng không có lỗ thủng nào.
Ông ta thường tới, đẩy theo một cái xe chất đầy những món rác rưởi với một tấm vải dầu trùm lên trên để che chắn cho các món hàng khỏi thời tiết xấu. Sau khi đẩy cái xe vào một khoảng sân nhỏ đằng sau quán bia và khóa một bánh lại với sợi xích và chiếc khóa, ông ta sẽ ngang nhiên bước vào, lớn tiếng chào mọi người. Phần lớn những lúc đó mọi người tảng lờ, thậm chí cố gắng tránh ông ta, song ông ta chẳng bao giờ có vẻ bận tâm. Ông ta sẽ tìm chỗ ngồi tại một cái bàn và bày các quân cờ ra với vẻ đầy lạc quan, như thể đang bày ra một sạp hàng và chờ đợi một khách hàng tiềm năng.
Trong một thời gian tôi đã cố tránh xa ông ta. Từ cách ông ta nhìn tôi, tôi có thể thấy ông ta có những hy vọng lớn lao về tôi, nhưng nếu không ai khác muốn chơi với ông ta, thì sao tôi lại nên làm vậy? Thế rồi đến một buổi tối, cưỡng lại những xét đoán sáng suốt hơn của mình, tôi chấp nhận một lời mời thẳng thừng. Với một người mới tập chơi như tôi, như thế sẽ tốt hơn là quan sát những ván cờ của người khác.
Tôi sớm nhận ra vì sao không ai muốn chơi cờ với ông ta. Ông ta có tất cả những thói quen xấu của một kỳ thủ ở quán cà phê. Không chỉ ngâm ngợi các nước đi của mình lâu kinh khủng, mà khi nhận ra mình đã phạm sai lầm, ông ta vẫn tỏ vẻ dửng dưng, còn chẳng buồn nghĩ tới việc lấy lại quân cờ của mình, và vì thế gần như vô phương cảm nhận được sự hài lòng khi đánh bại ông ta. Trên hết, ông ta bình luận về ván cờ bằng những câu kỳ dị khó hiểu nghe cứ như tiếng lóng của sinh viên thời Trung cổ.
“Deo gratias... kakkus!” ông ta thốt lên như thế khi chiếu được vua đối phương. Chìm đắm trong những suy ngẫm ảm đạm, ông ta sẽ lẩm bẩm những lời vô nghĩa, những lời này có vẻ có tác dụng kích thích với ông già, giống như tiếng trống với những người lính trong một cuộc dàn trận. “Du, du, Strumpfel Lump...” ông ta nhắc đi nhắc lại thành một tràng điệp khúc bất tận.
Câu này trở thành biệt danh của ông ta, và cả tôi cũng gọi ông ta là Strumpfel Lump. Ông ta chơi cũng chẳng hơn gì tôi, song tôi đã khám phá ra thứ thánh ca ru ngủ của ông lão, và ông ta cũng có chút kinh nghiệm, chính nó trợ giúp cho ông ta vào những thời điểm khó khăn. Khá thường xuyên, ông ta xoay chuyển một tình thế tuyệt vọng sang hướng có lợi cho mình bằng cách lợi dụng tính bốc đồng tuổi trẻ của tôi. Nhưng không phải tối nào ông ta cũng tới. Khi ông ta vắng mặt, tôi không còn lựa chọn nào ngoài vào vai khán giả.
Chẳng bao lâu tôi đã nhận ra được tất cả hay hầu hết những nhân vật quen thuộc ở Thiên Thần Đỏ. Trong số họ có người rồi sẽ trở thành thầy của tôi. Tên ông là Tabori, và ông có lẽ là thành viên duy nhất trong câu lạc bộ được cả hai phe chấp nhận và nể trọng.
Tôi những muốn biết nhiều hơn về ông, song Strumpfel Lump chẳng giúp được mấy. Một vại bia cho phép đi một quãng dài trong việc khơi mở cái lưỡi của ông già, và sau khi đã giải mã ra những gì ông ta lảm nhảm trong những khoảnh khắc ba hoa hiếm hoi, tôi biết được kha khá về những nhân vật đầy màu sắc vẫn thường xuyên lui tới Thiên Thần Đỏ, song ông già chẳng bao giờ nói lời nào về Tabori, dù tôi chắc chắn họ biết nhau. Khi gặp, hai người trao đổi với nhau những cái nhìn hơi nấn ná tuồng như một lời chào, và có lần ông già uống một vại quá đầy và bắt đầu làm phiền những người xung quanh, tôi có cảm giác rõ ràng rằng vô số nỗ lực nhằm làm dịu ông ta xuống cũng không ăn thua, mà Tabori chỉ cần nhìn một cái đã khiến ông ta cúp đuôi đi ra ngoài. Vậy là đến một hôm tôi đãi ông ta ba vại và vận hết can đảm đánh bạo đưa ra một câu hỏi.
“Có chuyện gì với Tabori vậy?” tôi hỏi.
Strumpfel Lump bừng tỉnh khỏi những tràng dông dài của mình. Đôi mắt vô hồn của ông ta dường như đột ngột trở nên tập trung, như khi một người kéo quần lên vậy. Lần đầu tiên ông ta nhìn thẳng vào mắt tôi.
“Tránh xa gã đó ra,” ông ta lên tiếng, cau mày như một người thuyết giáo ở nông thôn. “Người đàn ông đó... Ông ta đã chơi cờ ở địa ngục.”
Ông ta chỉ chịu nói có ngần đó, và chỉ càng khiến tôi thêm tò mò.
***
Tabori là một người rắn rỏi trông khoảng sáu mươi tuổi nhưng có thể già hơn nhiều. Khuôn mặt ông lấp dưới bộ râu lởm chỏm, nhưng hai bàn tay được giữ gìn cẩn thận, và ông ăn mặc hơi màu mè. Tabori mang theo một cây gậy chống, giúp ông có dáng vẻ tao nhã thời xưa. Ông tới vào đúng sáu rưõi và bắt đầu tha thẩn giữa các bàn. Khi ông lại gần một bàn cờ, thậm chí cả những kỳ thủ sôi nổi nhất cũng im lặng, cố suy nghĩ trong suốt thời gian ông nấn ná gần bên. Người ta đồn rằng thời trẻ ông là một kỳ thủ kiệt xuất, rằng ông từng đấu cờ với các nhà vô địch, thậm chí từng cầm hòa cả Capablanca bất bại. Nhưng tôi chưa bao giờ thấy ông chơi dù chỉ một ván cờ. Tất cả những gì ông làm là quan sát, tản bộ quanh các bàn như người đứng đầu một cơ sở chữa bệnh đi thăm bệnh nhân hằng ngày, đưa ra chỗ này một lời bình luận, chỗ kia một dự đoán, rất nhiều chỉ đạo, và họa hoằn thì có một lời an ủi. Thỉnh thoảng ông nán lại lâu hơn bên một bàn cờ, nhìn chằm chằm với sự chăm chú gần như khổ sở.
Một ngày, trong khi đang dạo qua các bàn cờ, ông có lòng hạ cố dừng lại ở bàn của tôi. Tôi đang chơi với Strumpfel Lump, và những lời ê a rên rẩm của ông ta ngừng bặt khi Tabori lại gần. Chúng tôi khi ấy đang ở vào một thời điểm kịch tính của ván cờ. Đến lượt tôi đi, và gặp khó khăn trong việc quyết định. Tôi phải lựa chọn giữa một nước tiếp tục chói sáng mà không phải tất cả các hệ quả của nó đều có thể lường trước được và một nước dấn tốt khiêm tốn cho phép củng cố vị trí của tôi. Cho dù đối diện với rất nhiều mối đe dọa từ đối thủ của mình, tôi vẫn tự tin rằng mình đang nắm chắc tình thế trong tay, và vì Tabori đang đứng sau lưng nhìn qua vai tôi, tôi hấp tấp lựa chọn nước đi tôi cho là thông minh hơn. Khi tôi nhấc quân cờ định di chuyển lên, Tabori quay người bước đi trước khi tôi kịp đặt nó xuống bàn. Chẳng mấy chốc đã rõ là nước tấn công của tôi quá hấp tấp.
Đêm đó tôi không tài nào ngủ được, cứ bị giày vò bởi ý nghĩ là Tabori đã chứng kiến sai lầm của mình. Hành động đột ngột rời đi của ông cháy rực trong tâm trí tôi như một lời quở trách đầy khinh miệt. Tôi thấy phiền muộn tới mức chẳng còn tâm trạng nào để chơi cờ trước sự hiện diện của ông.
Vào lúc ấy ông là người tôi ngưỡng mộ nhất quả đất. Ông đã từng đọ sức với những kỳ thủ xuất sắc nhất trên đời, trụ vững trước họ. Với một kẻ mới ra ràng như tôi, ông là một tấm gương. Nếu có thể, hẳn tôi đã bắt chước cả dáng đi và giọng nói của ông.
Như tôi đã nói, đây là những ngày đầu tiên, giai đoạn đẹp đẽ nhất của bất cứ nỗ lực nào, khi mọi thứ tuồng như một giấc mơ. Lúc đó tôi không hề biết cái giá nghệ thuật phải trả cho cuộc sống, món cống nạp ghê sợ mà lý tưởng nợ vật chất.
Tôi đã chứng kiến những trò đáng kinh ngạc nhất do những con vật được huấn luyện thực hiện, những con vật mà đằng sau những động tác thành thạo là dấu ấn không thể xóa nhòa của vô vàn đòn roi hành hạ. Tất cả mọi niềm vui có vẻ đều tan biến một khi đã đạt tới sự hoàn hảo - mà thực ra là từ trước đó rất lâu. Nhưng tôi không bao giờ hình dung chính Tabori sẽ là người chỉ ra cho tôi mặt tối của cờ vua. Như đã nói, tôi vẫn đang đắm chìm trong giấc mơ, và mỗi buổi tối nó lại hiện hình trong nhân dạng của ông. Kể từ khoảnh khắc đặt chân vào Thiên Thần Đỏ, tôi liên tục nhìn về phía cánh cửa Tabori sẽ bước vào, luôn đúng giờ. Chỉ đến khi đó tôi mới bừng tỉnh trước không gian xung quanh mình, dường như được sự hiện diện của ông thanh tẩy. Tôi dõi theo ông mà không để ông nhận ra - hay tôi tin là thế -không để ông một mình lấy một giây. Tôi cẩn thận xem xét những ván cờ ông nán lại, và đôi khi đủ may mắn để nghe thấy những lời bình luận của ông khi chúng kết thúc. Ông thường xuyên tái dựng một thế cờ ông coi là thú vị, lui lại mười hay mười lăm nước đi, trình bày một hệ thống rẽ nhánh phức tạp của những khả năng đem lại thắng lợi. Cái cách ông nhấc các quân ra khỏi bàn cờ thật lạ lùng, ông cầm chúng giữa các ngón của một bàn tay rồi bày lại đúng thứ tự nhanh chóng và chính xác tới mức cử chỉ của ông giống như những cái phẩy tay của một ảo thuật gia. Khi nghe ông nói về các nước đi, tất cả đều rõ như ban ngày.
Sự tò mò của tôi về người đàn ông này lớn dần tới mức tôi bắt đầu bám theo khi ông ra về, lúc đầu là vài trăm mét, rồi sau đó dài hơn, nhưng thật khó: ông không bao giờ đi hai lần cùng một đường và thường xuyên dừng hay rẽ và đi ngược trở lại. Áp sát người vào tường, tôi bám theo ông qua những con hẻm của thành phố cổ, nhưng dù tôi có cẩn thận đến đâu đi nữa, cuối cùng ông cũng thoát khỏi tôi, cho tới một buổi tối thì kẻ truy đuổi lại biến thành con mồi. Tôi đang trên đường về nhà sau khi để mất dấu ông nhu thường lệ, thì đột nhiên có cảm giác mình bị bám theo. Cảm giác rõ dần theo từng bước chân, cuối cùng tôi nhận ra có hai người luôn ở đằng sau bám theo tôi như hình với bóng, họ chậm bước lại khi tôi đi chậm, rảo bước lên khi tôi tìm cách cắt đuôi. Tới một lúc tôi rẽ vào góc phố, định sẽ vùng chạy hết sức ngay khi thoát ra khỏi tầm mắt, nhưng đúng lúc đó tôi thấy một người ở đằng xa đang tiến lại phía mình. Tôi cảm thấy tuyệt vọng. Tôi không rõ vì sao, nhưng có điều gì ma quái, đáng sợ trong cái bóng lờ mờ đó, thứ đã khiến tôi muốn quay lại đối diện với hai người đằng sau mình hơn là bước tới gặp nó. Nó càng lại gần, tôi lại càng thấy khó mà tin vào mắt mình. Tôi tự nhủ điều đó không thể đúng, song khi ông đi qua dưới một ngọn đèn đường và tôi thấy ông đang cười, tôi nhận ra ông đã biết tôi bám theo ông và cắt đường lui của tôi, cho dù tôi không hiểu nổi nhờ trò phù thủy nào. Vì tìm cách trốn hay lỉnh đi đều vô ích, tôi liền bước ra khỏi bóng tối.
“Tối nay ẩm thật, cậu có nghĩ vậy không?” Tabori bình thản nhận xét. “Cậu đang làm gì ở đây vậy, chàng trai?”
Tôi đang ở bên kia đường đối diện với ông, chỉ cách vài mét. Hai người lạ mặt đứng trên khung cửa phía sau cách tôi chừng ba mươi bước chân. Trong tâm trạng bối rối, tôi nghe thấy mình nói dối, bảo ông là tôi sống gần đây. Ông mỉm cười. Tôi tin chắc ông biết đó không phải sự thật. Liệu có phải chỉ là ấn tượng của tôi, hay quả thực có sự đe dọa ẩn sau nụ cười đó?
“Cậu đã bám theo tôi một thời gian rồi,” ông nói. “Tôi có thể làm gì cho cậu chăng?”
Nếu lời buộc tội không được nối tiếp bằng câu hỏi, cho dù đúng là nghe hoàn toàn chỉ mang tính tu từ, hẳn tôi đã tháo lui và rồi mãi mãi quên lãng Tabori cũng như cờ vua. Nhưng vào lúc đó, đột ngột được sự táo bạo thúc đẩy, tôi bật ra lời đề nghị đã ấp ủ lâu nay. “Thầy,” tôi nói - từ đó như vọng lại tất cả những tiếng gọi thầy từ muôn đòi nay - “tôi muốn thầy dạy tôi chơi cờ vua.”
Ông có vẻ thực sự ngạc nhiên. “Đó là lý do vì sao cậu bám theo tôi à?” ông nói, như thể cho chính mình nghe.
Tôi hăm hở gật đầu. Tim tôi nhảy vọt lên tận cổ họng, và tôi không còn hơi sức để thốt ra dù chỉ một âm tiết.
Tabori buồn bã mỉm cười và, tôi nghĩ, với vẻ thông cảm. Vẻ đe dọa của ông tan biến. Ông phác một cử chỉ nhanh chóng, gần như khó lòng nhận ra, và hai người trên khung cửa rảo bước đi.
Đột nhiên ông có vẻ bất an, như thể xấu hổ về bản thân do đã nghi ngờ tôi đến thế, có lẽ đã đoán tôi muốn trấn lột ông hay đâm sau lưng ông. Song tôi không hiểu ông đã sợ gì.
“Nói cách khác, cậu thực lòng thích chơi cờ?”
“Phải,” tôi quả quyết.
Ông tặc lưỡi. Đó là lần đầu tiên tôi nghe ông cười, và nó không phải tiếng cười mỉa mai hay khinh miệt - như thoạt đầu tôi đã sợ - mà là bày tỏ sự hài lòng, cảm giác hài lòng của một thợ săn cuối cùng cũng có được con mồi của mình sau khi tìm kiếm suốt một thời gian dài. Đó là tiếng cười thoảng qua, khi đã lắng đi thì dường như chỉ còn là ảo giác.
Tôi không rõ chúng tôi cứ đứng im lặng và bất động trong con hẻm đó như thế bao lâu. Tabori dường như đang cân nhắc đề nghị của tôi, và cuối cùng ông lắc đầu. “Tôi không biết, chỉ là tôi không biết. Tôi không biết liệu tôi có thể làm được điều đó không. Chủ yếu phụ thuộc vào cậu, vào việc liệu ước muốn của cậu có thực hay không.”
“Nó là thực,” tôi nói.
“Hoặc liệu cậu đã sẵn sàng cho sự hy sinh mà...”
“Bất cứ điều gì ông đòi hỏi ở tôi.”
Ông gật đầu trước sự bày tỏ niềm tin nồng nhiệt của tôi, vỗ lên lưng tôi, rồi rời đi.
Các ông có thể hình dung tôi chờ đợi câu trả lời của ông ấy bồn chồn ra sao. Tất nhiên, tôi đã ngừng bám theo ông ấy từ câu lạc bộ về. Trên thực tế, tôi xử sự như thể thậm chí tôi không hề quen biết ông. Tôi không muốn tỏ ra nhũng nhiễu. Gần một tháng trôi qua, và một buổi tối, khi tôi đã bắt đầu mất hy vọng, ông lại gần tôi, đưa cho tôi một tấm thiếp nhỏ trên có in địa chỉ và một dòng chữ viết bằng mực: “Mười giờ sáng Chủ nhật.”
Tôi đến đúng hẹn sau một cuộc chờ đợi khổ sở và một đêm không ngủ.
Lúc đó là mùa thu, và một con mưa phùn nặng hạt đang rơi xuống. Tôi tới nơi sóm nửa tiếng và lang thang xung quanh để giết thời gian. Địa chỉ trên tấm thiếp là một tòa chung cư năm tầng đã xuống cấp. Mọi thứ luôn diễn ra khác những gì chúng ta hình dung. Tôi hẳn không bao giờ trông đợi một nơi như thế. Tòa nhà trông giống như kẻ sống sót duy nhất sau một cuộc tái thiết đô thị không khoan nhượng đã dọn sạch bách mọi thứ xung quanh nó, để nó trơ lại như lát bánh cuối cùng trên đĩa - và tòa nhà nom đúng như thế thật, như một cái nêm mỏng quẹt chia đường phố thành hai làn ôm hai bên sườn nó. Lối vào duy nhất là qua nhà trọ Fischer, theo như biển hiệu xập xệ của nó. Phần còn lại của mặt tiền bị bao phủ bởi tàn tích của những cánh cửa chớp hẳn từng là những cơ sở kinh doanh hưng thịnh thời quá vãng: một hiệu sách, một hiệu thuốc, một hiệu may.
Song những nơi này, từng có thời tràn đầy sức sống, đã roi vào quên lãng với bụi bặm và tàn tạ. Ô cửa duy nhất vẫn còn trưng bày hàng là một cửa hiệu đồ cũ, trên ô cửa sổ mang những chữ cái màu đen ghép thành cái tên Tabori.
Trong lúc đợi cho tới 10 giờ, tôi cố ngó qua cửa sổ vào các ngóc ngách tối nhất, tìm xem có bàn cờ quý giá nào giữa tất cả những thứ vụn vặt đó, nhưng vô ích. Khi tâm trí ta bị đam mê kiểm soát, ta muốn cả thế giới thể hiện ra các dấu hiệu và biểu tuợng. Nhưng tôi vô cùng thất vọng khi tất cả những gì tôi thấy là những món đồ vô giá trị xếp chồng chất lên nhau: những chiếc tủ ngăn kéo đủ hình dạng kích cỡ để rải rác không theo thứ tự nào trên sàn, những cái bình đựng nước thánh và ghế cầu nguyện cùng hàng chồng cây thập giá bằng đồng thau và những giá nến bảy nhánh - giống như chiến lọi phẩm bị một đám người đi hủy hoại tượng thánh bỏ lại.
Trời bắt đầu mưa nặng hạt hơn. Tôi đi bộ quanh tòa nhà, tìm một lối vào khác, nhưng không thấy. Bức tường phía sau được gia cố bằng những giàn giáo sắt như thể nó đang có nguy cơ đổ sập. Trông cứ như một bộ giàn sân khấu khổng lồ. Cuối cùng, tôi quyết định bấm chuông nhà trọ, vì số nhà của nó là số nhà trên tấm thiếp. Tôi ra sức bấm chuông và nghe thấy tiếng chuông reo khe khẽ bên trong, nhưng cánh cửa vẫn bướng bỉnh đóng kín. Tôi thử đi thử lại, đồng thời cũng đấm cửa thật mạnh, và cuối cùng, sau một hồi có vẻ lâu lắc, một cánh cửa sổ tầng trên đuợc đẩy mở ra đầy nhọc nhằn và một người đàn ông lớn tuổi với cái đầu hói trụi nhô người ra xẵng giọng báo với tôi rằng nhà trọ đang đóng cửa để sửa chữa.
“Tôi tới tìm Tabori,” tôi lớn tiếng. “Ông ấy cho tôi địa chỉ này.”
Người đàn ông có vẻ không hiểu. “Đóng cửa rồi,” ông ta nhắc lại. Sau khi tôi đã nói với ông ta đến lần thứ n với tất cả hơi sức có thể vận ra được rằng mình đang tìm Tabori, thậm chí còn giơ cả tấm thiếp, lúc này đã ướt nhẹp nước mưa, lên vẫy vẫy, ông ta đóng cửa sổ lại và để mặc tôi đứng ngoài mưa như trút nước. Tuyệt vọng, tôi lại bấm chuông. Tôi đá và đấm thình thình vào cửa. Cuối cùng, tôi nghe thấy tiếng bước chân của ai đó có vẻ như đi một đôi guốc gỗ nặng trịch. Cửa mở ra.
“Không cần đấm đá thế,” vẫn người đàn ông đã mở cửa sổ ra cấm cẳn, lời quở trách vang lên gay gắt khác thường, vì nó xuất phát từ một người rõ ràng là nặng tai.
Ông ta để tôi vào, đóng cửa lại đằng sau tôi, rồi cài then. Tôi đứng ướt sũng ở chỗ từng là tiền sảnh nhà trọ. Rõ ràng đã từ nhiều thập kỷ nay nó không còn được thấy người khách nào, dẫu vậy mọi thứ vẫn ở nguyên chỗ, từ những cuốn sổ đăng ký phòng dày cộp trên mặt quầy cho tới những chiếc chìa khóa có đánh số treo ngăn nắp trên một cái giá gỗ. Ở trong một ngăn hộc thậm chí còn cả những lá thư đã ngả vàng mà không ai buồn tới nhận. Phòng tiếp tân có vài chiếc ghế bành xơ xác được kê quanh cái bàn thấp có để cái gạt tàn bằng nhựa bị một đầu mẩu xì gà làm chảy tách đôi. Những dấu hiệu hiếm hoi về sự sống là một cái áo khoác cũ treo trên giá móc và một vật dụng thanh lịch khác thường trên giá để ô: một cây gậy chống đi bộ bằng gỗ với phần cán đồng thau tạo hình đầu con chó săn thỏ.
Người đàn ông không cho tôi nhiều thời gian để nhìn quanh. Ông ta ra hiệu bảo tôi đi theo. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy rằng ông ta mặc một cái tạp dề phục vụ phòng kẻ sọc, món trang phục lạc loài về niên đại so với cảnh điêu tàn xung quanh, chẳng khác gì một bộ đồ thời Trung cổ.
Chúng tôi đi bộ ra đằng sau cái khu hẳn từng có thời là phòng ăn, còn giờ là kho chứa bàn ghế chất đống gần như chạm trần. Chúng tôi dừng lại ở chỗ một thang máy phục vụ nhỏ có cánh cửa bằng sắt uốn hoa văn. Ông già ra hiệu bảo tôi đi vào, rồi sau khi đã đóng kín tôi trong buồng thang máy tí xíu, bảo tôi bấm vào “cái nút trên cùng”. Thang máy đi lên chậm rì rì đến phát sốt ruột. Nó chạy lên bốn tầng, ở mỗi chiếu dừng đều trưng ra cùng một cảnh: hành lang với thảm trải sàn sờn rách, ố bẩn, những cánh cửa mở vào các căn phòng trống không. Các góc của giấy dán tường bong ra quăn lại, và khắp nơi chình ình những đống đệm và chồng ga trải giường, khăn trải bàn tỏa ra mùi mốc chua gắt.
Thang máy dừng lại với một cú xóc nẩy giật mình. Tôi bước ra ngoài như được giải thoát khỏi một cái chuồng. Thêm một hành lang nữa trải thảm màu rượu vang giống như những hành lang khác, và ở cuối là lời mời âm thầm từ một cánh cửa để hé. Tôi đi tới chỗ nó song lại do dự trước ngưỡng cửa, vì căn phòng chìm trong bóng tối, nguồn sáng duy nhất tới từ bầu trời tháng Mười xám xịt len vào qua những tấm rèm nhung nặng nề. Khi đôi mắt đã thích ứng được với cảnh tranh tối tranh sáng, tôi cố gắng quan sát căn phòng mình vừa đặt chân vào.
“Vào đi, chàng trai, vào đi.” Đó là giọng Tabori, niềm nở khác thường. “Cậu gặp Boris rồi phải không? Cố nhớ là ông ấy hơi nặng tai.” Tôi nói với ông là tôi để ý thấy rồi. “Đóng cửa lại và ngồi xuống đi,” ông nói. “Cậu có thể treo áo khoác vào góc đó.”
Tôi làm theo, tuân lệnh giọng nói của Tabori, dù vẫn chưa thấy bóng dáng ông đâu. Những tiếng động vọng ra từ phía sau bức tường trong cùng cho phép đoán có một căn bếp ở đó, và một lát sau Tabori xuất hiện, cầm trên tay một ấm trà bốc hơi nghi ngút. “Cậu ăn sáng chưa, Hans?” Đó là lần đầu tiên ông gọi tôi bằng tên riêng. “Cậu có muốn dùng chút trà hay bánh quy không?”
Tôi nói với ông là tôi ăn sáng rồi.
“Thứ lỗi cho tôi, nhưng tôi thì chưa. Cậu cứ tự nhiên như ở nhà nhé,” ông nói thêm trong khi quay đi.
Còn lại một mình, tôi nhìn quanh. Kích thước căn phòng, lớn hơn nhiều so với những không gian chật chội trong phần còn lại của khách sạn, cho phép phỏng đoán rằng căn hộ tầng trên cùng từng có thời là chuỗi phòng thượng hạng. Nhưng các món nội thất và vật bài trí trong phòng khập khiễng tới mức đem đến ấn tượng nơi này đã bị cả một đại dương đầy những mảnh vỡ trôi dạt tràn qua. Chúng được xếp đặt thành những lớp hỗn độn, như thể một hệ thống duy lý logic đã sụp đổ, mỗi mảnh của nó nhường chỗ cho những kẻ mới đến, bị buộc phải chống đỡ những đồ vật khác, những thứ đến lượt mình lại là giá đỡ cho những thứ khác. Chỉ một người điên đã vô vọng - hay một thiên tài cờ vua - có thể sống trong cảnh hỗn loạn như thế. Nếu cửa hàng đồ cũ dưới tầng trệt thuộc về Tabori, hẳn ông đã giữ lại những món tốt nhất cho mình, chỉ mang những thứ bỏ đi ra bán. Căn phòng chắc từng có thời thực sự tiện nghi. Sàn nhà trải kín những tấm thảm cổ dày dặn, và những món nội thất kiểu cổ có vẻ được đóng hoàn hảo. Ở giữa căn phòng, tựa như một hòn đảo, sừng sững một chiếc piano lón, trên nắp đàn được đóng xuống bày hàng chục khung ảnh đủ kiểu dáng kích cỡ. Trên tường có treo những chiếc giá gỗ xếp kín sách và những tập tờ gấp. Tôi lấy một cuốn ra giở qua các trang. Có những trang báo được cắt ra tập họp lại, một bộ sưu tập ấn tượng các cột báo viết về cờ vua, và những bài báo về đủ khía cạnh của trò chơi, cho tới tận những bài viết ngắn nhất về nó theo bất cứ cách thức nào. Cuối cùng tôi đứng dậy, mê mụ cả người trước một bức tường được phủ kín tranh đúng nghĩa đen - sơn dầu, ký họa chì, màu nước và màu keo làm người ta nghĩ tới những nghệ sĩ như Chagall, Munch và Kandinsky. Những tác phẩm này không nổi tiếng, song phong cách của mỗi bức đều có thể nhận ra rõ ràng. Tôi đương nhiên đoán chúng là những bản sao chép được thực hiện xuất sắc; nếu chúng là tranh thật, bộ sưu tập hẳn phải vô giá. Tôi bị cuốn vào cuộc chiêm ngưỡng các kỳ quan đó tới mức không hề nhận ra Tabori đang đứng sau lưng.
“Cậu thích hội họa chứ?”
“Tôi là một sinh viên Học viện Mỹ thuật,” tôi trả lời với chút tự hào, cho dù những thành tựu nghèo nàn tôi giành được cho tới lúc ấy chắc chắn chẳng đem lại cơ sở nào cho cảm giác đó. “Chúng không phải là hàng thật, đúng không?” Tôi hỏi, định bụng chỉ hỏi cho có, và chắc chắn không hề trông đợi ông trả lời rằng “bức nào cũng là thật”. Nhận thấy vẻ sửng sốt của tôi, ông nháy mắt và nói thêm, “Nhưng mà có lẽ tốt hơn nên giữ chuyện này cho riêng cậu thôi.”
Không hề mời tôi ngồi, Tabori ngồi xuống một chiếc ghế đẩu và bắt đầu một cuộc thẩm vấn bình tĩnh nhưng quyết liệt. Ông có vẻ kiên quyết xác nhận lại những điều vốn đã biết, và tôi nghĩ ông cố gắng che giấu một chút hài lòng khi tôi cho biết tôi là một đứa trẻ mồ côi không còn thân thích nào khác ngoài bà ngoại.
“Cậu biết không,” ông nói, “khi còn là một đứa trẻ, tôi có thể nói được cờ vua có ảnh hưởng nhiều tới mức nào lên người đang đối thoại với mình, chỉ bằng cách nhìn chăm chú vào ngay đây, chính giữa trán anh ta.” Thế rồi đột nhiên ông vỗ hai bàn tay vào nhau như thể hối tiếc vì đã chia sẻ thông tin đó và mong muốn thay đổi chủ đề. “Được rồi,” ông thốt lên, “chúng ta vào việc nào.” Ông nhìn tôi từ đầu đến chân như thể ngẫm nghĩ xem tôi cần dạng trang bị gì cho vai trò mới của mình. “Nhân thể,” ông nói, “cậu thích làm anh hùng hay nhân vật phản diện hơn?”
Khi tôi bảo là tôi không hiểu ông có ý gì, ông cố giải thích. “Nhìn đây,” ông nói, “theo nhà phân tích tâm lý Reuben Fine, một trong những kỳ thủ vĩ đại nhất thế giới, kỳ thủ có hai kiểu tương phản nhau. Một là anh hùng, người không có tôn giáo nào, không có lý do nào để tồn tại ngoài cờ vua. Toàn bộ cảm giác hài lòng và niềm vui của anh ta đều bắt nguồn từ bàn cờ và những chiến thắng nó đem đến cho anh ta; nguợc lại, mọi nỗi đau và sự sợ hãi cái chết của anh ta là hiện thân của những thất bại anh ta gặp phải. Anh hùng không thể hình dung ra sự tồn tại bên ngoài chiến trường của cờ vua. Anh ta không thể tồn tại mà không tranh đấu, vì chỉ mình nó chống đỡ anh ta, và anh ta mất hết mọi quan tâm tới xung quanh mình khi sự vượt trội của anh ta bắt đầu nhạt nhòa. Vì với anh ta không thứ gì khác tồn tại, anh ta biến mất, nếu không phải về thể xác (vì có thể hàng thập kỷ sau cái chết mới tới), thì ít nhất cũng với tư cách một cá nhân. Tất nhiên, đây là con đường rủi ro nhất...”
Tôi bị những lời Tabori nói làm cho bất an, vì chúng mô tả hoàn hảo các triệu chứng của tôi, và ông nói thật nghiêm trang, như thể bàn về một chứng bệnh khủng khiếp. Không lẽ tôi đã bị xâm nhiễm kinh khủng tới mức đó rồi sao? Song tôi vẫn còn hy vọng.
“Còn nhân vật phản diện?”
“Hắn cũng có thể đứng trong hàng ngũ những kỳ thủ vĩ đại nhất, thậm chí là một nhà vô địch thế giới, như Lasker chẳng hạn, có điều hắn không được tiền định cho chuyện đó. Hắn không bán linh hồn cho quỷ vô điều kiện, mà cài vào một hai điều khoản tháo lui. Hắn không sống chỉ vì cờ vua, nếu cậu hiểu ý tôi. Hắn cũng là con người, và trong vai trò đó giữ lại quyền tự do lựa chọn. Lasker là một nhà toán học và triết gia, một nhạc công nghiệp dư và, như người ta nói, cũng là một tay chơi bài bridge cừ khôi nữa.”
Loại này có vẻ hợp với tôi hơn. Nói cho cùng, tôi yêu hội họa, tôi thích các cô gái... nhưng thế đấy, thua một ván cờ giống như chết vậy.
Tabori dường như đọc được tâm trí tôi. “Vì chính cậu, tôi vô cùng hy vọng cậu thuộc loại thứ hai, nhưng có thể vẫn còn quá sớm để nói. Dù thế nào đi nữa, cậu sẽ tự tìm ra thôi.” Sau đó ông nói ra một câu bí hiểm, gần như tự nhủ với chính mình: “Tôi hy vọng đã tới lúc loài người quay lưng lại với mọi loại á thần.”
Tôi không thể yêu cầu ông giải thích câu nhận xét cuối cùng này, vì ông đã ra hiệu bảo tôi đi theo.
Ông bắt đầu đi về phía một cánh cửa ở cuối phòng. Khi chúng tôi đi ngang qua chỗ chiếc piano, tôi liếc nhìn vào bộ sưu tập các khung ảnh và cảm thấy một cơn ớn lạnh không thể kìm nổi trước những bức ảnh trong đó.
Tabori dẫn tôi xuống một hành lang được trải kín bằng những tấm thảm nhiều màu sắc với họa tiết phương Đông vào một căn phòng nhỏ rộng chưa đến ba mét vuông, hoàn toàn không có đồ nội thất gì và chỉ được chiếu sáng nhờ một thứ ánh sáng tự nhiên, ở giữa phòng có một cái bệ, và trên bệ đặt một cái bàn vuông đầy sát khí, ở chính giữa bàn là một bàn cờ kim loại với các quân cờ kim loại. Nó gần giống như cái đài treo cổ dành cho một tội nhân bị kết án “treo cổ cho đến chết”. Các quân cờ, với quân đen làm bằng một thứ họp kim đồng thau, quân trắng bằng bạc, rõ ràng đuợc đúc một cách hoàn hảo. Chúng sáng mờ lạnh lẽo, không có vẻ nhẵn nhụi của nhựa hay sự ấm áp của gỗ. Chúng dường như được phơi trần, là tinh hoa của sức mạnh chết chóc từ một thanh kiếm.
Các quân cờ được sắp xếp ở một thế cờ giữa ván phức tạp có vẻ quen thuộc một cách mơ hồ.
“Nhận ra nó chứ?” Tabori hỏi.
“Tôi không rõ; tôi nghĩ...” Thoạt đầu tôi không thể nhớ ra, nhưng khi nhìn kỹ hơn, tôi đột nhiên nhớ tới ván cờ đã chơi vào buổi tối Tabori đứng bên bàn tôi và tôi quá hấp tấp nên đã làm ông thất vọng. Tôi ngạc nhiên trước việc chỉ cần liếc qua một cái ông đã có thể thiết lập lại một thế cờ phức tạp như thế, và tôi cảm thấy đầy tự hào khi ông coi nó đủ thú vị để nhớ.
“Đáng lẽ tôi phải đi quân tốt,” tôi hối tiếc thừa nhận.
“Phải, cậu hấp tấp quá. Cậu đã rơi vào bẫy sự phù phiếm của chính mình. Nhưng, chỉ trong một khoảnh khắc thôi, hãy giả sử rằng ván cờ gây ra những hệ quả rất lớn lao. Khi đó cậu có mạo hiểm không?”
“Tôi không nghĩ vậy.”
Giờ đây, khi bình thản nhìn xuống bàn cờ, mọi căng thẳng bồn chồn đã tan biến, tôi thấy ngay mình đã có thể chiến thắng dễ dàng ra sao. Quân tốt khiêm nhường tiến lên đã có thể tạo lập một thế phòng thủ không thể phá vỡ đuợc, và cho dù đối thủ của tôi có thể đã duy trì đuợc cân bằng về số quân, ông ta sẽ sớm phải rơi vào thế bất lợi: bất cứ nước đi nào ông ta thực hiện cũng sẽ chống lại ông ta.
“Dù cậu nói gì đi nữa,” Tabori nói tiếp, “cờ vua luôn là một trò chơi, dù là loại trò chơi rất đặc biệt, và như thế hẳn sẽ luôn có các hệ quả. Hệ quả càng lớn, sự chú ý của cậu sẽ càng sắc bén. Vì với một số người nỗi sợ thua cuộc cũng đủ là động lực rồi, nhưng không phải tất cả đều có niềm kiêu hãnh khác thường của anh hùng, không phải tất cả đều bị khổ sở trước thất bại với mức độ như nhau. Nỗi đau của họ ngắn ngủi, và rất nhanh chóng bị lãng quên. Và tất nhiên nó có thể được xoa dịu bởi vô số lời biện hộ - do bị phân tán, mệt mỏi, quá tự tin trước một đối thủ yếu hơn. Và còn có những kẻ thua cuộc bẩm sinh, những kẻ luôn nuôi dưỡng thảm họa trong mình.”
Tôi có thể nói rằng nhược điểm lón nhất của tôi là thiếu kiên nhẫn, song Tabori không tán thành.
“Nhược điểm của cậu là thiếu tập trung,” ông gầm lên, thốt ra câu cuối cùng như tuyên một án tù. “Và cậu không phải người duy nhất. Đó là nhược điểm lớn nhất của tất cả các kỳ thủ. Và khi tôi nói chú ý, tôi muốn nói đến một điều lớn hơn nhiều cái thường được nghĩ tói. Trong các lễ hội thiêng liêng, các tu sĩ Maya tranh tài trong một trò chơi tương tự như bóng ném ngày nay, nhưng khi vồ lấy hay ném trái bóng đi, họ tin rằng sai lầm nhỏ nhất cũng khiến mặt trời rơi từ trên bầu trời xuống. Đó là thứ chú ý tôi đang nói tới, như thể hệ quả sẽ là chính tính mạng của cậu vậy - hay đúng hơn không chỉ là của cậu, vì cậu có thể là một kẻ tự sát tiềm tàng, mà cả tính mạng của tất cả những ai thân yêu với cậu. Còn lại thảy đều là thứ yếu. Chiến lược, chiến thuật, nghiên cứu các thế ra quân và kết ván - tất cả đều vô dụng nếu không có thứ chú ý này. Tất nhiên, tôi đang nói tới chơi cờ ở đẳng cấp cao, ở đẳng cấp kiện tướng, chứ không phải những màn trình diễn tồi tàn tôi thường được chiêu đãi tại câu lạc bộ của chúng ta.”
Tabori đến lúc này đã nói liên tục một hồi khá lâu, nhưng dường như tôi đang thấy ông lần đầu tiên, dường như những lời ông vừa nói đã làm thay đổi nét mặt ông.
Ông đang mặc một chiếc áo trong nhà bằng lụa dài thêu kim tuyến, đi dép lê, ngón chân hơi nghếch lên. Chúng làm ông có dáng vẻ của người Cận Đông. Hai gò má ông tối sẫm, như thể được xoa bột than, tạo ra một sự tương phản hoàn toàn với vầng trán tái nhợt. Cho dù ông vừa cạo râu, có thể thấy vệt râu của ông chạy cao trên hai gò má. Nếu ông để râu mọc, hẳn nó đã phủ kín khuôn mặt ông với những lọn rậm lượn sóng như của Gilgamesh. Nét đặc trưng này loại bỏ bất cứ hy vọng nào về việc có một ngày tôi có thể giống như ông, khi mà tôi mới chỉ là một cậu nhóc vị thành niên tóc vàng, mặt có đúng một lớp lông tơ.
Ông vừa tiếp tục nói vừa bắt đầu sắp xếp các quân cờ, và điều này khiến tôi phỏng đoán ông sắp dành cho tôi bài học đầu tiên. Và đúng là vậy, dù không chính xác như tôi trông đợi. Sau khi đặt quân cờ cuối cùng xuống bàn, ông bỏ quân hậu của bên mình ra và nói, “Cậu chơi quân trắng. Đi đi.”
Ông đang trao cho tôi một lợi thế khó tin. Chơi cờ vua không có hậu cũng chẳng khác gì bước vào một trận đấu quyền Anh với một bàn tay bị trói quặt ra sau lưng. Và như thể chừng đó còn chưa đủ mất mặt, tôi sửng sốt quan sát ông quay lưng ghế vào bàn và tuyên bố ông sẽ không nhìn vào bàn cờ. Tôi sẽ nói cho ông nước đi của tôi, ông sẽ nói với tôi nước đi của ông, và tôi sẽ di chuyển các quân cờ cả của ông và của tôi. Thoạt đầu, tôi thấy lời đề nghị này thật ê chề, nhưng giờ đây, nghịch lý làm sao, điều đó có vẻ thật thú vị. Ông đã chơi không chỉ với một tay buộc ra sau lưng mà còn bị bịt cả mắt. Thách thức ông đưa ra cho bản thân dường như gần giống một trò ảo thuật.
Ván cờ bắt đầu. Tôi trông đợi mình có thể tấn công bất cứ khi nào và ở đâu tôi thích. Trong giây lát, thậm chí tôi còn cảm thấy tôi có thể ăn gian. Chúng tôi đang chơi không giới hạn thời gian. Tabori ngồi quay lưng lại với tôi, thỉnh thoảng lại châm một điếu thuốc lá, nhìn chằm chằm vào bức tường trống trơn, trên đó có vẻ như ông nhìn thấy còn nhiều thứ hơn tôi thấy trên bàn cờ. Ván cờ kéo dài sang tận chiều, đến lúc đó Tabori tuyên bố ông đã khởi đầu một chuỗi nước đi cưỡng bức sẽ dẫn tới chiến thắng sau bảy nước. Vì ông vẫn quay lưng lại với tôi, số phận trớ trêu đã quyết định rằng tôi có nhiệm vụ chứng thực lời tuyên bố của ông bằng cách di chuyển các quân cờ cho tới khi tôi bị chiếu hết.
Bài học khắc nghiệt đầu tiên từ người thầy của tôi là thế đó, và nó đã nghiền nát tự tôn của tôi. Nếu có thể bị đánh bại theo cách này, tôi còn cách vị trí lý tưởng muốn vươn tới bao nhiêu nghìn năm ánh sáng nữa đây?
Tôi rời khỏi tòa nhà như thể bừng tỉnh khỏi một cơn ác mộng vẫn tiếp tục giày vò tôi ngay cả sau khi tỉnh giấc. Tôi không nhớ gì về những lời chào chia tay của chúng tôi hay chuyến trở về ký túc xá sinh viên của tôi. Tôi thấy ghen tị với anh bạn cùng phòng, chẳng phân biệt được quân hiệp sĩ với quân giám mục, và tôi lại cầm những cuốn sách lịch sử nghệ thuật của mình lên, tìm niềm an ủi cay đắng trong ý nghĩ trên đời còn nhiều thứ ngoài cờ vua.
Niềm kiêu hãnh bị tổn thương của tôi nhức nhối trong nhiều ngày. Cứ nghĩ tới cờ vua tôi lại chỉ cảm thấy nôn nao vô hạn. Tất nhiên, tôi tránh xa Thiên Thần Đỏ.
Nếu tôi tuân theo những thôi thúc nhất thời đó, sự nghiệp chơi cờ của tôi hẳn đã là ngắn nhất trong lịch sử trò chơi này. Nhưng các vị biết cũng rõ như tôi rằng chúng ta đâu phải kẻ được quyết định từ bỏ cờ vua như thế nào và khi nào, mà cờ vua chế ngự chúng ta. Dẫu vậy, tôi đúng là đã tránh xa câu lạc bộ một thời gian, thậm chí còn không muốn để mắt tới bàn cờ nào. Thế rồi tới một ngày, tôi ngồi xuống và cố gắng hình dung lại ván cờ mà tôi đã phải chịu thất bại ê chề đến thế, và tôi kết luận rằng nếu nó đã thực sự diễn ra như tôi nhớ lúc này, tôi quả đã ngu ngốc hết mức. Đây không phải là cách tôi đã chơi. Có một điều đã rõ ràng: tôi cần phải nghiền ngẫm lại mọi thứ một cách nghiêm khắc hơn. Tôi đặt ra cho mình một kỳ hạn và bắt đầu đọc qua số sách lớn thừa hưởng từ bố tôi, những cuốn sách mà trước lúc đó tôi vẫn hợm mình tới mức cho là vô ích. Tôi bắt đầu nghiên cứu ván cờ của các đại kiện tướng, tìm cách thấu hiểu những bí mật của chúng. Khi tôi quay lại câu lạc bộ sau vài tuần nghiên cứu miệt mài, vết thương đã lành đủ để tôi sẵn sàng chơi cờ với bất cứ ai, kể cả Tabori - và lần này tôi sẽ chấp ông một quân hậu!
Nhưng chẳng thấy bóng dáng ông đâu. Đã hơn một tuần rồi không ai thấy ông. Có người nói ông đã đi Thụy Sĩ dự một giải đấu quan trọng, người khác lại bảo ông có vấn đề về sức khỏe. Tôi quay lại nhà trọ Fischer, tại đây tôi được Boris, người đàn ông nặng tai, cho vào. Ông ta chẳng có vẻ gì hân hoan khi thấy tôi. Ông ta cho tôi hay không ai biết khi nào Tabori có thể quay về. Tôi sắp sửa bỏ cuộc tới nơi thì ông ta đưa cho tôi một cái phong bì Tabori để lại cho. Trên đó ông viết: “Để cậu có thể nghĩ tốt hơn.” Bên trong phong bì là một bài cắt ra từ một tờ báo địa phương, tiêu đề được gạch đỏ. Bài báo là câu chuyện về một tai nạn. Một chiếc xe buýt chở học sinh trong chuyến đi của lớp đã rơi từ trên cầu xuống. Hai đứa trẻ thiệt mạng, hàng chục đứa bị thương nặng. Tôi đọc đi đọc lại bài báo, không tìm thấy bất cứ mối liên quan nào tới bản thân hay Tabori, chưa kể chẳng liên quan gì đến cờ vua. Tôi không chắc phải nghĩ sao nữa, và đã sắp đi đến quyết định rằng đây là một nhầm lẫn nào đó thì tình cờ lật ngược mảnh báo và nhìn thấy dòng chữ được viết tay rất nhỏ nhưng rõ ràng, một câu đã khiến tôi mất ngủ vài đêm: “Sẽ thế nào nếu chuyện này do sự mất tập trung của cậu gây ra?”
Tôi không còn nhớ câu nói - hay có lẽ tôi nên gọi là lời buộc tội đó - đã vang vọng trong đầu mình bao lâu. Tôi hiểu bài báo đó chỉ thuần túy mang tính biểu tượng, song nó có sức mạnh của một lời cáo buộc, tước đoạt của tôi mọi cơ hội để biện hộ cho sự vô tội của mình cũng chính vì tính trừu tượng của nó. Quả thực, làm thế nào chúng ta có thể luôn đoan chắc rằng cách hành xử, hay thậm chí chỉ đơn thuần là ý nghĩ của mình, đã không vô tình gây ra thảm họa?
Tôi mong mỏi được hỏi chính Tabori để có một lời giải thích, song ông vẫn tiếp tục vắng mặt. Giải đấu tại Thụy Sĩ đã kết thúc được một thời gian, và vẫn chẳng thấy tăm hơi ông đâu.
Thế rồi ông đột nhiên xuất hiện trở lại ở câu lạc bộ vào một buổi tối, được chào đón bằng những tràng hoan hô, các thành viên xúm lại quanh ông. Với sự trợ giúp của một tấm bảng trên tường, ông tái hiện và bình luận về một số ván cờ hay nhất ông đã chứng kiến tại giải đấu, những ván cờ vắng bóng sai lầm và ngớ ngẩn, những chiến thắng giành được nhờ những khác biệt chỉ mỏng mảnh như lưỡi dao cạo. Tabori đưa cho tôi cuốn sách do các nhà tổ chức giải đấu ấn hành, tường thuật tất cả các ván cờ đã được chơi. Ông mời tôi tới nhà vào Chủ nhật tuần sau đó, nếu tôi vẫn muốn đến.
Suốt quãng thời gian trước đó tôi đã mong đợi ông trở về để có thể yêu cầu ông giải thích thông điệp bí hiểm của mình, song khi trở lại căn hộ của ông, tôi quyết định không nhắc tới nó nữa, cảm thấy rằng đó chính là điều ông trông đợi. Hơn nữa, sự thực là khi ngẫm nghĩ câu ông đã viết, tôi cảm thấy sự thức tỉnh của thứ Chú Ý ông đã nhắc tới nghiêm trang đến vậy. Nó thậm chí đã vượt ra ngoài khuôn khổ cờ vua, lan ra thế giới quanh tôi. Đó là việc quan sát thay vì chỉ nhìn đơn thuần, một mục tiêu đã được nhiều triết gia theo đuổi. Tôi cảm thấy đây là một phần trong việc dạy dỗ của ông, và rằng ông trông đợi tôi chấp nhận nó không chút dè dặt.
Hôm ấy lại là một ngày Chủ nhật mưa dầm nữa, và nghi lễ chẳng hề thay đổi, bao gồm cữ đợi dài ngoài phố. Tôi được đưa vào căn phòng cũ. Tôi cởi áo khoác ra. Tabori đi vòng vào trong bếp.
Trong lúc chờ đợi, tôi bước tới chỗ chiếc piano để nhìn gần hơn những khuôn mặt được trưng bày trong những khung ảnh quý giá đó. Lần đầu tiên tôi đã kìm mình không làm thế, gần như thể vì sợ phạm vào một điều kiêng kỵ ngầm. Tại sao tôi lại cảm thấy trống rỗng đến thế khi nhìn vào họ? Tôi lại gần hơn, cố gắng lắm mới trấn tĩnh lại từ một cơn rùng mình khiến toàn thân chấn động. Tôi đứng bất động trước chúng.
Các bức hình được sắp xếp thành các nhóm như thể của một đại gia đình, dù họ có vẻ hoàn toàn xa lạ với nhau, không có điểm gì chung ngoại trừ sự vô hồn rõ ràng mà dường như chỉ những bức ảnh chân dung người chết là có được. Tôi không thể thấy có bất cứ mối quan hệ họ hàng nào giữa người nữ giáo viên với người nông dân xanh xao có khuôn mặt hình ô van và để ria mép, hay giữa người phụ nữ mập mạp thuộc tầng lớp lao động với vị triết gia hiền lành đeo cặp mắt kính dày cộp. Ấy thế nhưng có điều gì đó gắn kết họ lại với nhau. Có tất cả bao nhiêu nhỉ? Có vẻ hơn hai chục người. Một tổng hòa kỳ lạ về nét mặt, chủng tộc, vóc dáng và văn hóa, chỉ cùng chia sẻ cảm giác chung về bi kịch. Bản thân mặt giấy cũng đã bị tổn hại, bị uốn cong như thể bị thương, bị máu hoặc bùn vấy bẩn.
Tôi tự hỏi không biết chúng có nghĩa gì với ông. Chắc chắn là một thứ quan trọng, nếu xét đến sự chu đáo của ông khi sắp xếp những nấm mồ nhỏ trong ký ức mà ánh mắt tôi đang tha thẩn lướt qua như thể tìm kiếm một bí ẩn mà tôi cần giải đáp. Nhưng có những điều chỉ có thể nắm bắt tốt nhất khi không dùng đến thị giác. Khi thâm nhập sâu hơn vào rừng khuôn mặt đó để tìm kiếm một lối mòn dẫn tới đâu đó, tôi lại bị tấn công lần nữa và mạnh hơn nhiều bởi cảm giác đau đớn khi phải từ bỏ không chỉ đơn thuần là một mảnh mà cả một vùng rộng lớn của bản thể mình, một khu vực không ngừng mở rộng, tối tăm và dễ thay đổi như cát lún. Vào khoảnh khắc đó - tôi không biết mình đã thấy gì hay đã đoán gì - máu dồn lên não tôi rầm rập như tiếng trống đại, và trên nền của thứ mà tôi nghĩ mình đang nhìn vào lướt qua một chuỗi nhanh chóng những cảnh tàn bạo không thể tin nổi, những cảnh ghê rợn, đáng phẫn nộ nối nhau thành một chuỗi vô tận. Tôi ù tai trước tiếng gào thét của chính máu mình. Cứ như thể một dàn hợp xướng đã trỗi dậy từ những khuôn mặt đó, đột nhiên đầy ắp một khát vọng tồn tại mãnh liệt.
Tôi buộc mình lùi lại một bước đúng lúc Tabori bước vào phòng. Tôi không muốn ông thấy mình đã nhìn chằm chằm, song vẻ lo lắng của tôi đã bị ông nhận ra. “Thứ cậu đang nhìn là một ban thờ,” ông nghiêm trang nói, “một ban thờ cho sự vắng mặt, cho cái chết của tinh thần.”
Ông ra hiệu bảo tôi đi theo, và trong khi chúng tôi đi ngang qua chỗ chiếc piano, ông dừng lại giây lát để đưa mắt nhìn những bức ảnh như thể để kiểm tra rằng không có bức nào suy suyển.
Chúng tôi quay lại căn phòng chật hẹp. Bàn cờ vẫn ở vị trí chúng tôi để nó lại lần trước. Tôi gần như thấy buồn nôn khi nhìn vào nó. Tabori bảo tôi sắp xếp các quân cờ.
Tôi đã quên nói rõ là các quân cờ bằng kim loại này khá nặng và kềnh càng. Đế của chúng không phẳng mà có những mấu nhô ra như các kẹp đạn. Bàn cờ có những cái lỗ vừa khít với các mấu lồi này, khiến cho người ta không thể đặt quân cờ xuống bất cứ chỗ nào khác ngoài chính tâm một ô vuông.
Trước sự ngạc nhiên lớn lao của tôi, Tabori muốn chơi một ván cờ bình đẳng, không nhường tôi dù chỉ một quân tốt. Tôi tự hào về cử chỉ tôn trọng không ngờ đến này, và bắt đầu chơi cực kỳ chính xác. Tôi chơi quân trắng, và chiến thuật phòng ngự Tabori triển khai, một biến thể của phòng thủ Ấn Độ, đã được biết rõ trong cả lý thuyết lẫn thực hành trong hơn nửa thế kỷ - cho tới khi ông bước ra khỏi lối mòn và hy sinh một quân hiệp sĩ để khởi đầu một cuộc phản kích về phía hậu. Những biến cố phức tạp nhanh chóng nhân lên, và không khí trong căn phòng hẹp tràn ngập căng thẳng. Trong một khoảng thời gian khá lâu, tôi đã duy trì được thế chủ động, thậm chí ăn thêm một quân tốt nữa. Tôi thấy có một cách để tung ra chuỗi nước đi gây sức ép hòng thêm lợi thế về quân số, thậm chí có thể đưa tới chiến thắng.
Ván cờ lúc này đã tới thời khắc kịch tính. Lần này tôi không có lý do nào để tin Tabori muốn nương tay với tôi. Song tôi đã có một lợi thế rõ ràng, và tôi cảm thấy nước cờ quyết định đã cận kề. Tất cả sức lực của tôi đều tập trung vào nỗ lực nhằm nhận diện một chuỗi nước đi chiến thắng, nhưng nó vẫn tiếp tục lẩn tránh tôi, như một người hiện ra từ màn sương mù, cho phép mình lộ diện lờ mờ trong giây lát để rồi lại biến mất. Từ vẻ mặt Tabori tôi nhận ra rằng ông đang ngầm cảnh cáo: ván cờ đang nằm trong tay tôi; tôi không được phép để nó tuột đi.
Thời gian tôi dành để ngẫm nghĩ xem nên đi nước cờ nào dường như bị lôi ra khỏi thực tại. Nó không thể được đo đếm bằng phút, bằng tiếng chuông báo giờ hay tiếng tích tắc của đồng hồ hay vòng quay của bất cứ động cơ nào, vì nó là hiện thời thuần túy, như thể trong một phi thuyền không gian lao đi với vận tốc ánh sáng, thời gian dừng lại với tôi trong khi hàng thế kỷ trôi qua trên hành tinh tôi để lại sau lưng.
Lựa chọn nào cũng tự động bao hàm việc từ bỏ những lựa chọn khác. Chúng ta sẽ bất tử nếu không bị buộc phải thực hiện những lựa chọn, và cuối cùng cả tôi nữa cũng phải tuân thủ theo quy tắc này.
Ngay cả lúc này tôi vẫn có thể thấy những khoảnh khắc kế tiếp nhau trôi qua từ lúc tôi đưa ra quyết định tới lúc thực hiện nó, như một chuỗi những hình chiếu thể hiện chuyển động tới một đoạn kết đã định trước, như đôi khi vẫn xảy ra trong những giấc mơ, khi nguyên nhân và kết quả bị đảo ngược để chen vào một biến cố thực tế khiến chúng ta bừng tỉnh.
Đột nhiên bàn tay tôi được định hình. Được điều khiển bởi vô vàn nơ ron có lẽ tập trung ở đâu đó trong bán cầu não phải, nó di chuyển về phía một quân cờ - thậm chí ngay cả lúc này tôi vẫn có thể thấy cái đầu ngựa, hất ngược ra sau như thể con vật bị bắt gặp khi đang dựng thân trên hai chân sau. Tôi giật quân cờ lên khỏi mấu đỡ của nó và di chuyển nó vào vị trí của quân cờ kế bên.
Toàn bộ cuộc đời tôi, tất cả những biến cố lớn nhỏ của nó, mọi niềm vui và nỗi phiền muộn của nó, dường như đang bồng bềnh trên một bề mặt tù đọng, ảm đạm, trên đó mọi thứ không phải luôn ở chỗ có vẻ là vị trí của chúng khi ta nhìn vào chúng, trên đó không điều gì là rõ ràng hay nhất quán hay logic, hoặc thậm chí chỉ đơn giản là có kết nối tới những thứ khác, trên đó không thứ gì có ranh giới rạch ròi hay hình dáng có thể nhận thức được - không gì cả ngoại trừ vị trí đó trên bàn cờ, thứ thậm chí ngay lúc này đây vẫn rực cháy trong ký ức tôi với thứ ánh sáng của chính nó, như tôi hình dung bụi cháy cháy sáng đã lưu lại trong ký ức của Moses.
Tôi cầm quân hiệp sĩ lên. Không có gì xảy ra khi tôi giữ nó ở trên không trung, vì lựa chọn của tôi vẫn chưa được đưa ra. Tôi vẫn có thể đặt quân cờ xuống đâu đó (có ít nhất hai khả năng khác). Nhưng cuối cùng, khi đặt nó xuống ô bàn cờ định mệnh, tôi đã bị nhiễm điện - và tôi muốn nói theo nghĩa đen. Một cú sốc khủng khiếp lan ra từ cái đầu màu bạc của con ngựa, chạy theo cánh tay tôi tỏa ra phần còn lại của cơ thể, làm tôi kêu thét lên và đứng bật dậy. Chiếc ghế của tôi đổ kềnh ra sàn.
***
Đoàn tàu bắt đầu chạy chậm lại. Baum, vốn đã ngủ thiếp đi, đột ngột bừng tỉnh dậy trong góc.
“Chúng ta ở đâu rồi?” ông này hốt hoảng hỏi, rồi nhẹ nhõm khi thấy đoàn tàu đang chạy vào Salzburg.
Sau một quãng dừng ngắn, đoàn tàu lại chuyển bánh tăng tốc, lao đi như một ngôi sao chổi trong đêm.
Baum ngáp, xem đồng hồ rồi đứng dậy. Ông ta xếp bộ cờ vua cất lại vào hộp rồi cất hộp trở lại vào va li. Ông kiểm tra để đoan chắc áo khoác của mình vẫn yên vị chỗ cũ rồi ngồi về tư thế cũ, quyết tâm không ngủ lại nữa.
Frisch vẫn không nhúc nhích. Ông ta đã trải qua tất cả các thủ tục ở biên giới với hai chân bắt tréo và hai cánh tay khoanh lại, và lúc này, khi đoàn tàu đang tăng tốc trở lại, ông ta dường như sẵn sàng lắng nghe phần còn lại câu chuyện của Mayer, có lẽ đoán rằng nó có gì đó liên quan tới mình.
Nhưng Mayer không bắt đầu trở lại ngay. Anh ta không thể đoan chắc họ đã ngồi im lặng bao lâu, có lẽ vì quãng thời gian dài kinh khủng mà một nước đi khó đòi hỏi. Cuối cùng, chính Frisch là người đề nghị anh ta tiếp tục, ông ta rướn nửa người ra trước, phải để ý lắm mới nhận thấy, một cử chỉ thể hiện sự tò mò và có lẽ cả một chút e sợ.
“Mời cậu tiếp tục,” ông ta nói.
Đó chính là động thái Mayer đã chờ đợi. Giờ đây anh ta cảm thấy hoàn toàn thoải mái, đúng như anh ta vẫn cảm thấy khi chơi cờ - sự căng thẳng không chịu nổi ban đầu được thay thế bằng trạng thái bình yên cao độ, trong đó mọi thứ trở nên rõ ràng và mạch lạc, và anh ta có thể nắm bắt được những thoáng thay đổi nhỏ nhất của tương lai.
Người thanh niên đút tay vào túi áo khoác và dùng các ngón tay mân mê cái gói vải, như một kẻ móc túi sau khi đã khéo léo thực hiện vụ trộm của mình, lén lút định giá thành quả chỉ bằng xúc giác. Kẹp chặt nó giữa các ngón tay, anh ta cảm thấy một tiếng sột soạt khe khẽ. Có thứ gì đó được gói trong mảnh vải thô. Có thể là những đồng tiền xu, chỉ có điều là thứ này lại không đủ nặng. Hans biết quá rõ trong gói vải chứa gì, và cũng chính ý nghĩ đó giờ đây thuyết phục anh ta tiếp tục câu chuyện của mình không trì hoãn chút nào nữa.
Tôi không biết mình đã đứng đó bao lâu, bị sự kinh ngạc, nỗi sợ hãi và sự bối rối làm cho tê liệt, hay có lẽ chỉ đơn giản là bám chặt lấy chính mình. Tabori đã không còn tồn tại. Ông chỉ còn là một thực thể xa xăm, hư cấu. Tôi không nghĩ ông có thể là nguyên nhân của điều vừa xảy ra. Ông ngồi đó thụ động, một nhân chứng bất đắc dĩ cho cuộc tấn công tôi phải hứng chịu, một cuộc tấn công ông chẳng hề chia sẻ hay thấu hiểu - hoặc tôi đã tin như vậy.
Tôi từng đọc được ở đâu đó về việc tu luyện của một số thiền sư, những người giữ tư thế tuyệt đối bất động trong khoảng thời gian rất dài, đắm mình trong thiền định và được các sư phụ của họ giám sát gắt gao. Chỉ vào khoảnh khắc thuận lợi nhất cho sự khai sáng, vị sư phụ mới lặng lẽ tung ra một cú đánh bất thần bằng một cây gậy tre, một cú đánh chính xác từ trên xuống vào chính giữa hai mắt người đệ tử lúc này đã được coi là trưởng thành, vào đúng lúc anh ta ít ngờ tới nhất. Có vẻ như kết quả không phải lúc nào cũng tích cực, nhưng những lúc như thế, sự thức tỉnh liền đi kèm với một tiếng cười âm vang vọng ra từ lồng ngực người đệ tử.
Vậy đấy, một điều tương tự đã xảy đến với tôi. Đột nhiên tôi bị một tràng cười không thể kìm nén nổi thôi thúc, tuy nhiên nó đã không thể lan sang cả vị sư phụ của tôi. Nhưng có một lý do chính xác cho việc tôi bật cười. Trong nháy mắt tôi lần ngược từ kết quả tới nguyên nhân, thứ nằm ngay trên bàn cờ chứ không phải ở đâu khác. Và bàn cờ thuộc về Tabori. Tôi tự hỏi liệu có phải mình đã trở thành nạn nhân của một người điên hay không. Thái độ không hề bối rối của sư phụ là thứ duy nhất ngăn tôi bỏ chạy. Cho dù tôi đoán mình vừa nhận được một lời cảnh cáo nào đó, phần lý trí trong tôi vẫn đòi hỏi một lời lý giải.
Tôi không cần phải yêu cầu. Tabori lại bên tôi, cúi người xuống nâng cái ghế tôi làm đổ lên và thúc giục tôi ngồi xuống. Vị trí các quân cờ trên bàn cờ vẫn nguyên vẹn, và tôi đột nhiên nhận ra nước đi cuối cùng của mình là một sai lầm lớn.
Tuy nhiên, Tabori không nói gì về chính ván cờ, biết rõ rằng trong đầu tôi đang là những ý nghĩ khác.
“Đó chỉ là một nước đi yếu,” ông nói, gần như tìm cách an ủi tôi. “Nhưng sự căng thẳng của chính cậu đã quá lớn.”
Ông ngừng lời. Quầng sáng từ ánh sáng trên bầu trời dường như bao quanh khuôn mặt ông, làm biến đổi nó trong khoảnh khắc. Tôi chưa bao giờ thấy ông như thế. Cứ như thể ông không còn ở đó bên cạnh tôi, mà đã đi đâu đó, cách căn phòng rất xa.
Khi lại cất lên, giọng nói của ông khác hẳn. Ông nói với tôi rằng bàn cờ này từng thuộc về bố ông. Nó bị thất lạc trong chiến tranh, và phải hai mươi năm sau đó ông mới tìm lại được khi bắt gặp nó một cách tình cờ giữa một mớ những món đồ vô giá trị khác được mua theo lô khi đồ đạc của một ngôi nhà cổ tại Vienna được mang rao bán.
Nó đã được truyền lại trong gia đình ông qua hàng thế kỷ. Truyền thuyết kể rằng nó là một trong những món đồ đã được những người theo phái Kabbalah - rất có thể là chính Abulafia - truyền vào một thứ sinh mệnh. Cho dù câu chuyện này có chút sự thật nào hay không, nó rõ ràng là đưa đến kết quả nhanh chóng, vì nó trừng phạt các sai lầm một cách tức thì. Bất cứ ai chơi với bộ cờ này đều cảm thấy nỗi đau tỉ lệ thuận với sai lầm phạm phải, và cuối cùng đi tới cảnh giới cảm nhận được và dừng lại trước bất cứ nước đi bất cẩn nào. Thêm nữa, ảnh hưởng của nó là lâu dài, sau đó sẽ có thể cảm nhận được cả trên những bàn cờ thông thường. Nhờ thế, tâm trí được khai sáng, và không nước đi nào được thử tung ra cho tới khi kỳ thủ tuyệt đối chắc chắn đã đánh giá hết những hệ lụy sâu xa nhất của nó.
“Một thời gian trước cậu có đưa ra một thỉnh cầu với tôi, và tôi đã trả lời rằng phần lớn phụ thuộc vào cậu, vào ý chí học hỏi của cậu. Tất nhiên, cậu đang bối rối trước những gì vừa xảy ra, nhưng cậu đã nói cậu sẵn sàng làm ‘bất cứ điều gì’, và tôi đã chấp nhận lời thỉnh cầu của cậu, nhưng tôi đã để tâm quan sát cậu một thời gian. Tôi theo dõi cách cậu chơi, và tôi tin chắc cậu có tài năng thực sự.”
A, thưa các quý ngài, những giá trị chúng ta gán cho các sự vật mới tương đối làm sao, thật vô nghĩa khi so sánh với niềm tự hào của chúng ta! Câu nói cuối cùng đó xóa đi mọi hoài nghi và sợ hãi của tôi. Tôi tin thậm chí mình đã đỏ mặt, vì tôi chưa từng mơ mình xứng đáng với một lời khen như thế. “Nhưng tôi đã để thua một ván cờ khi được chấp một quân hậu,” tôi lúng túng phản đối. “Và thậm chí ông còn chẳng thể thấy bàn cờ.”
Tabori phẩy tay bác bỏ.
“Vô nghĩa,” ông nói. “Tôi thấy bàn cờ đó trong đầu mình cũng rõ ràng như cậu thấy nó bằng mắt vậy. Còn về phần thiệt quân, sự thật là tôi mới là người có lợi thế trong ván cờ đó, cho dù điều này nghe có vẻ nghịch lý đến đâu đi nữa.”
“Tôi không hiểu.”
“Xem đây, cờ vua - hay đúng hơn là sự sắp xếp các quân cờ trong trò chơi này - cũng giống như việc bố trí đồ đạc trong một căn hộ cậu đã sống nhiều năm: một cái ghế bành ở đây, một cái ghế đẩu ở kia, một cái bàn ở giữa phòng. Nếu vị trí của các đồ vật này bị thay đổi, nếu một món đồ bị di chuyển khỏi vị trí nó được đặt lâu nay, cậu sẽ thấy khó chịu. Quen thuộc với việc di chuyển trong một không gian đã biết rõ, cậu tiếp tục hành xử như thể mọi thứ vẫn còn y nguyên ở chỗ của chúng, và sớm muộn gì cậu cũng vấp chân phải một thanh rầm chìa hay ngã giập mông khi định ngồi xuống một cái ghế đã bị di chuyển đi.
“Bất lợi mà cậu đối diện là phải chơi với các quân cờ của cậu được sắp xếp như thể quân hậu của tôi vẫn còn hiện diện. Cậu thực hiện những nước đi như thường lệ, không nhận ra rằng vì quân cờ đó đã được bỏ đi, hoàn toàn có thể tấn công theo cách khác. Và vì cậu nghĩ tôi không thể thấy bàn cờ, cậu cố tìm cách kéo tôi vào những cái bẫy trẻ con, không hề ý thức được rằng bàn cờ cũng hiện diện trước mắt tôi chẳng kém gì trước mắt cậu. Tôi tin chắc mọi thứ hẳn sẽ khác nếu chúng ta chơi lại một ván cờ như thế.”
Với vị thế đệ tử của mình, tôi nghĩ tốt nhất là im lặng.
“Cậu có biết đã bao nhiêu năm trôi qua từ khi tôi từ bỏ cờ vua không?” ông hỏi sau một hồi lâu dừng lời.
“Không...”
Vậy là ông cho tôi hay ván cờ của chúng tôi là ván cờ đầu tiên của ông trong hơn bốn mươi năm nay. Tôi thấy thật khó tin, cho dù cả tôi hay bất cứ ai khác cũng đều chưa từng thấy ông thi đấu với một đối thủ nào.
Không gì đưa chúng ta tới gần người khác hơn việc chia sẻ một bí mật, và niềm tự hào của tôi, vốn đã được nhân lên đáng kể, giờ đây nhận được món quà cuối cùng không ngờ tới.
“Tôi muốn chơi cờ trở lại,” ông nói, “nhưng cậu sẽ thực hiện điều đó thay tôi.”
Ông đứng dậy và rời khỏi phòng. Khi trở lại vài phút sau, ông đã mặc áo khoác ngoài.
“Đi nào,” ông nói. “Có một việc khác chúng ta cần làm. Một thứ tôi cần chỉ cho cậu. Sẽ không mất nhiều thời gian đâu. Chúng ta sẽ trở lại sau hai tiếng nữa.”
Boris đang chờ chúng tôi sau tay lái một chiếc Mercedes cổ, động cơ đã nổ sẵn. Chúng tôi ngồi xuống băng ghế sau, và chiếc xe chuyển bánh chạy ra ngoài trời mưa. Tôi không hình dung được chúng tôi đang đi đâu, và cũng không dám hỏi. Sau hồi lâu im lặng, Tabori hỏi liệu tôi đã bao giờ thấy xác chết hay chưa.
Câu hỏi khiến tôi lạnh người. Tôi trả lời ông là chưa, tôi không nghĩ mình từng có dịp nào thấy qua một xác chết.
“Cậu đã bao giờ dự đám tang chưa?”
Tôi nói tôi từng đi dự một lễ đưa tang, khi còn là một đứa bé.
“Tang lễ của bố mẹ cậu à?”
Không, tôi đáp, đó là tang lễ của một người họ hàng xa. Người ta đã không cho tôi dự tang lễ bố mẹ tôi. Tôi còn quá bé, và người ta cố gắng che giấu khỏi tôi tấn bi kịch. Có lẽ chừng một năm sau khi họ qua đời, cuối cùng bà ngoại cũng cho tôi biết, với sự thận trọng cần thiết, rằng bố mẹ tôi đã chết trong một tai nạn.
Boris rời khỏi đại lộ Vòng và gia nhập dòng xe cộ trên Lazarettgasse, con phố dẫn tới bệnh viện đa khoa của Vienna. Tôi nghĩ chúng tôi đang tới thăm ai đó. Có lẽ là một người bạn hay họ hàng của Tabori đang ốm nặng.
Nhưng chúng tôi không dừng lại ở bệnh viện. Thay vì thế, chúng tôi lướt qua bức tường bên ngoài bệnh viện rồi chạy vòng qua nơi này, cuối cùng rẽ vào một phố cụt và dừng lại trước mặt một tòa nhà gạch thấp bè có song sắt trên các cửa sổ và cổng ngoài lớn. Chờ chúng tôi là một ông lão gầy gò đến mức đáng kinh ngạc mặc áo choàng phòng thí nghiệm màu xám, chiếc áo rũ xuống từ đôi vai ông lão như từ một cái mắc áo. Boris ở lại trong xe. Tabori và tôi đi qua một cánh cửa nhỏ cắt vào cánh cổng ngoài đồ sộ. Có một lối vào có mái che, rồi sau đó chúng tôi chạy dưới mưa băng qua một khoảng sân hẹp vào lối đi nữa giống lối vào đầu tiên. Chúng tôi đi xuống một cầu thang dài xuống một hành lang, rồi xuống một cầu thang nữa, rồi thêm cầu thang nữa, tất cả đều được thắp sáng lờ mờ bởi những bóng điện huỳnh quang yếu ớt nằm cách xa nhau tới mức nhiều chỗ gần như tối hoàn toàn. Người đàn ông dẫn chúng tôi đi qua một mê cung những hành lang dưới lòng đất. Mùi formaldehyde gay gắt cho tôi hay đây là nơi nào. Tôi nhìn Tabori, ông trả lời bằng một cái liếc mắt trấn an. Ở cuối hành lang cuối cùng, cũng là hành lang dài nhất, là một cánh cửa.
Ông lão lấy một cái chìa khóa ra khỏi túi, mở cánh cửa ra, và dẫn chúng tôi vào một căn phòng rộng lát gạch men cho tới tận trần cao. Những khung lưới ở mép trên cùng các bức tường xác nhận cảm tưởng ngột ngạt của tôi rằng chúng tôi đang ở sâu dưới lòng đất. Mọi âm thanh (tiếng đóng cánh cửa sắt, tiếng bước chân của chúng tôi trên sàn) đều bị những bức tường cao trơ trụi khuếch đại lên gấp bội, quấy nhiễu sự yên lặng tuyệt đối mà những người đã khuất ở xung quanh dường như yêu cầu. Ông lão đưa chúng tôi vào tận phía trong cùng căn phòng, tới chỗ một chiếc cáng mạ crôm, trên đó đường viền bất động của một thi thể hiện rõ dưới một tấm vải xám. Ở bên cạnh là một chiếc xe đẩy với vài cái giá để dụng cụ giải phẫu tử thi. Ông lão nhìn Tabori, nhìn tôi, rồi cuối cùng nhìn tấm vải xám, một bên lấm tấm một đám những vết sẫm màu. Ông lão nhìn chằm chằm như có thể xuyên qua tấm vải. “Hai mươi tuổi,” ông nói. “Được phát hiện đã chết tối qua. Nguyên nhân tử vong nhiều khả năng là chấn thương sọ não sau một cú ngã, có lẽ từ tầng năm của một khu chung cư.” Ông cầm lấy rìa tấm vải kéo ra để lộ cái xác.
Tôi cảm thấy mình như một con người khác khi chúng tôi đi xe quay về dưới cơn mưa tầm tã thử thách quyết liệt mấy cần gạt nước. Tôi hẳn đã gặp khó khăn trong việc nhớ ra tên mình nếu có ai hỏi. Tabori đưa ra một tràng độc thoại dài giải thích vì sao lại cần đến chuyến thăm này. Ông nói đến lúc kể cho tôi hay vì sao ông không chơi cờ vua suốt hơn bốn mươi năm, ông muốn đoan chắc là tôi hiểu chuyện.
“Nếu có lúc nào đó tôi nói với cậu về người quá cố,” ông kết luận, “tôi muốn chắc chắn là cậu biết tôi đang nói về điều gì.”
Ký ức ngột ngạt về nơi chúng tôi vừa rời khỏi đột nhiên xâm chiếm lấy tôi. Mùi bốc lên từ quần áo bị ướt của chúng tôi làm dậy lên một cơn buồn nôn không sao kìm nén được. Tôi yêu cầu họ cho tôi ra khỏi xe. Boris đánh xe dạt vào vệ đường trên phố Mariahilfer, và chiếc xe chạy đi, để tôi thẫn thờ bên lề đường. Tôi cảm thấy như thể mình vừa trở lại sau một chuyến đi dài hoặc thoát ra khỏi tình trạng mất trí nhớ hoàn toàn, như thể tôi đã bị lôi ra khỏi thời gian và ném trở lại một nơi khác. Cảm giác này làm tôi nhớ tới huyền thoại về một tu sĩ đã ngủ thiếp đi trong lúc cầu nguyện và tỉnh dậy sau đó một thế kỷ.
Lúc tôi tới được ga tàu điện ngầm thì trời đã tối hẳn. Mưa đã ngừng, và các con phố đột nhiên đông nghịt. Dòng xe cộ chạy đi như một chuỗi xích dài đủ màu sắc. Dường như không hề có gì thay đổi, ngoại trừ tôi.
Cuộc huấn luyện của tôi bắt đầu ngày hôm đó và tiếp diễn trong hơn một năm. Căn phòng bé xíu tầng trên cùng của nhà trọ Fischer trở thành nơi trú ẩn và nhà tù của tôi. Thế giới bên ngoài chẳng còn lại bao nhiêu, và có vẻ dần dần tan biến. Một cơ thể giống như của tôi đã dự các lớp học, thỉnh thoảng tới thăm bà ngoại tôi, ăn, ngủ, và đi loanh quanh như thường lệ, nhưng tôi luôn ở bên trong căn phòng đó, vật lộn với chính mình. Tôi cam đoan với các vị là điều đó không hề đơn giản. Cái bàn cờ đó, được Tabori gọi một cách hoa mỹ là học cụ, quả là một hình cụ tra tấn thực sự. chơi cờ với nó cũng giống như bước qua một bãi mìn vậy. Không phải vì điện thế cao; những cú giật tôi cảm thấy khi phạm phải các sai lầm chẳng hề mạnh hơn những cú giật bạn phải chịu vì tĩnh điện, nhưng thật khó chịu đựng mối đe dọa của chúng, nhất là trong những ngày đầu, khi những sai lầm của tôi xảy ra thường xuyên hơn. Tabori chẳng bao giờ bận tâm sửa cho tôi, không bao giờ nói với tôi liệu tôi đã thực hiện một nước đi tốt hay tồi, không bao giờ dạy tôi chiến lược, chiến thuật hay một cách ra quân, một thế cờ tàn. Trong vài tháng đầu, ông chẳng hề nói với tôi nửa lời. Ông chỉ đơn giản là để tôi chơi. Ông ngồi bất động đối diện với tôi ở bên kia bàn cờ, trơ như đá, hiện thân của dạng kỳ thủ tồi tệ nhất bạn có thể gặp phải. Ông di chuyển các quân cờ của mình chậm chạp đến phát điên, gần như thể tìm cách khắc sâu vào tâm trí tôi trọn vẹn tiềm năng hủy diệt của chúng. Thật đáng kinh ngạc khi cùng một nước đi, thậm chí cả nước ra quân đầu tiên được tất cả mọi người biết rõ, kể cả những người chỉ mới vừa học qua luật chơi, lại có thể khác nhau đến thế khi nó được hai kỳ thủ khác nhau thực hiện. Nước đi vẫn vậy, quân tốt di chuyển lên vào đúng ô đó. Nhưng với người mới nhập môn nó chỉ là một nước đi, còn với kiện tướng nó trở thành bước đầu tiên trong một chuỗi dài. Nó giống như sự khác biệt giữa hai nốt nhạc có thể mở đầu một điệu hát ru hay một bản giao hưởng. Tôi cũng không thể đoán được từ vẻ mặt ông liệu khi nào sẽ có một cú giật xảy ra. Thậm chí không thể lượm được những ám chỉ mơ hồ nhất từ các cử chỉ của ông. Tôi buộc phải tập trung chỉ vào ván cờ, vượt qua vấn đề và nhìn thấu qua vẻ bề ngoài để bước vào một thế giới của năng lực trí tuệ thuần túy. Khi tôi đạt tới cảnh giới này - và tôi vượt qua ngưỡng cửa của nó ngày càng thường xuyên hơn - thế giới đó, thấm đẫm năng lượng của chính nó, sẽ tiếp tục tự mình vận động cho dù tôi có nhắm mắt lại và để bàn cờ được mang đi.
Như tôi đã nói, chuyện này không hề dễ dàng. Tôi thường xuyên rời khỏi căn phòng đó và tòa nhà đó trong tình trạng cận kề suy sụp thần kinh. Những cú giật điện trừng phạt, giờ đây trở nên ngày càng hiếm, là một kiểu nhắc nhở rằng tôi vẫn còn sống, vẫn là con người. Thật nghịch lý, chúng thực sự làm dịu bớt tình trạng căng thẳng thường trực.
Đã hơn một lần tôi gần như bỏ cuộc, song cuối cùng tôi trở nên bị phụ thuộc tới mức thành ra không thể tưởng được cái ý định từ bỏ việc luyện tập. Tôi thậm chí còn thèm muốn thêm nữa, ước mong có thể trở lại ngày càng thường xuyên hơn thế giới lý tưởng ấy, nơi các đối cực liên tục tranh đấu để hòa vào và triệt hạ lẫn nhau. Thoạt đầu, trạng thái ý thức này kéo dài trong những khoảnh khắc thoáng qua, sau đó tôi lại chìm vào bóng tối, nhưng khi quá trình luyện tập của tôi tiếp tục, những khoảnh khắc lóe sáng ngày càng thường xuyên và kéo dài hơn, cuối cùng trở thành một quá trình liên tục mà tôi có thể đắm mình vào và ở lại trong đó lâu bao nhiêu tùy thích, không cảm thấy chút mệt mỏi nào, một trạng thái bình yên quả thực là siêu phàm và không tả được thành lời. Một khi đã đạt tới trạng thái đó, không còn có khả năng nhỏ nhất tôi phạm phải sai lầm. Tôi trở nên thấm đẫm cái cảm nhận về quyền năng vô hạn và sự bất khả chiến bại. Bất cứ điều gì không phải hoàn hảo đều là sai sót. Những nước đi chỉ đơn thuần là trung tính hay thụ động, không hoàn toàn xấu cũng chẳng hoàn toàn tốt, cũng bị trừng phạt. Cân nhắc tới mọi khía cạnh, tôi có cảm giác rằng chỉ sai sót tầm thường nhất (trong trường hợp khó lòng xảy ra là tôi vẫn phạm phải một sai lầm) chắc chắn cũng khiến tôi phải trả giá bằng tính mạng.
Thế nhưng cũng còn một chuyện nữa. Tôi đi tới chỗ nhìn nhận cờ vua như một thực thể sống, một sinh thể được tạo ra một cách kỳ diệu, mà một khi đã sống dậy sẽ hình thành nên một thứ bản năng tự bảo tồn. Đó là một phức hợp màu sắc như xuất hiện trên một nhiệt đồ, và tôi buộc phải tự tay xử lý nó như một bác sĩ giải phẫu, cắt và khâu các bó cơ và mạch máu, hết sức cẩn thận với những gì đang làm. Sự đòi hỏi quyền tồn tại của nó ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn, và chính vì lý do đó mà tôi ngày càng sợ mình sẽ phá hủy nó bởi một nước đi sai lầm. Cho dù ít phức tạp hơn nhiều so với một cơ thể người - vẫn bị các đồng loại của nó tra tấn và hạ sát thật thường xuyên và dễ dàng, cả nó cũng cảm thấy đau đớn thực sự, và nếu không may tôi làm tổn hại tới một cơ quan trọng yếu, năng lượng sẽ đột ngột mất đi và ngay sau đó là một cơn đau, truyền tới tôi dưới hình thức một cú điện giật. Tôi tiếp tục phải cảm nhận cảm giác này ngay cả sau đó, khi Tabori cam đoan với tôi là không có dòng điện nào truyền qua và thứ tôi cảm thấy chỉ là một xung động thần kinh.
Bước vào đấu trường có vẻ dễ dàng sau tất cả những điều này, và tôi nhanh chóng thu thập được đủ điểm để được phép tham dự những giải đấu lớn nhất, cho dù tôi vẫn chưa chính thức đạt được hạng kiện tướng. Tôi thi đấu với các kiện tướng và đại kiến tướng của mọi quốc gia. Tabori và tôi dành ra hơn một năm đi khắp châu Âu, không bỏ lỡ một giải đấu nào. Nếu tình cờ có hai giải đấu diễn ra cùng lúc, ông sẽ chọn giải mà ông cho là quan trọng hơn.
Ông đóng vai trợ lý của tôi, phân tích các ván cờ đang dừng nửa chừng, chuẩn bị các biến thể để tôi thi đấu, đôi khi đề xuất các nước xuất quân và phòng thủ chống lại các đối thủ cụ thể. Ông biết thói quen và phong cách của họ, điểm mạnh và điểm yếu của họ. Trí nhớ của ông đáng nể tới mức ông có thể tái hiện tất cả các ván cờ của những kỳ thủ vĩ đại nhất. Với ông, điều đó cũng giống như nhận diện một khuôn mặt với những đường nét riêng biệt tới mức khó lòng quên nổi dù ông mới chỉ nhìn qua có một lần. Thường ông có thể tái tạo những chi tiết nhỏ nhất của một biến thể từng được chơi nhiều thập kỷ trước.
Về phần mình, giờ đây tôi sở hữu trực giác bất bại. Chỉ cần sắp sửa phạm phải một nước đi yếu thôi, chứ chưa nói đến một sai lầm, tôi có thể thề rằng quân cờ tôi sắp chạm tới bừng lên một thứ ánh sáng xanh, giống như lửa Thánh Elmo trên cột cờ của một con tàu khi cơn bão đến gần. Sự có mặt của Tabori tất nhiên là một trợ giúp lớn lao với tôi, dù quy định không cho phép chúng tôi trao đổi trong khi một ván cờ diễn ra. Chỉ cần biết ông đang có mặt là đủ. Chỉ cần thấy ông là can đảm tràn ngập trong tôi, như thể sức mạnh và hiểu biết của ông có thể được truyền cho tôi thậm chí từ một khoảng cách.
Chỉ có một điều kiện bất di bất dịch cho sự đồng hành của chúng tôi: Tabori nhất quyết yêu cầu bất cứ khi nào quân trắng ra quân bằng cách đi tốt chắn mặt hậu, tôi nhất định phải chơi một biến thể mà ông đã dạy tôi tới từng chi tiết nhỏ nhất. Biến thể này bao gồm việc hy sinh một quân hiệp sĩ, làm ván cờ rơi vào hỗn loạn, nhưng nếu ý thức được các hệ quả, bạn cầm chắc tám phần mười chiến thắng. Tôi giành được giải ván cờ hay nhất tại các giải đấu nhờ chơi biến thể này. Tabori đặc biệt gắn bó với nó, ông thường nói với tôi rằng đó chính là thứ ông cống hiến cho lịch sử cờ vua.
Cuộc chinh phục châu Âu của chúng tôi kéo dài trong hơn một năm. Đó là một thời gian căng thẳng quá sức người bình thường có thể chịu đựng, dẫu vậy nó đã đem đến cho tôi những khoảnh khắc hạnh phúc thực sự.
Cho tới một ngày Tabori biến mất. Không hề có dấu hiệu nào báo trước việc này sẽ kết thúc như thế, có điều trong những ngày cuối cùng ấy, ông có vẻ mệt mỏi và căng thẳng, có vẻ định chia sẻ với tôi một bí mật nào đó song không bao giờ viện đủ can đảm.
Ông để lại cho tôi phong bì đựng một món tiền và mẩu giấy nhắn thuyết phục tôi đừng mất niềm tin vào ông. Ông nói mình cần rời đi vì sức khỏe không cho phép ông sống một cuộc đời đầy biến động như thế nữa. Ông cũng nói rằng giá có bất cứ khả năng nào để đạt tới mục tiêu ông đã đặt ra, hoặc giả ông đã đạt tới rồi, hoặc mọi nỗ lực thêm nữa đều là vô ích. Việc ông muốn nói tới mục tiêu nào vẫn là một bí ẩn với tôi.
Chúng tôi lúc ấy đang ở Baden-Baden khi mùa du lịch khép lại. Giải đấu là sự kiện chia tay một năm lúc này đang kết thúc với những con mưa thu đầu tiên. Tôi tin rằng đến cả cái chết của ông cũng không thể khiến tôi cảm thấy thất vọng như khi ông đột nhiên bặt vô âm tín. Nỗi đau từ sự vắng mặt của ông càng thêm nhói buốt bởi cảm giác bị phản bội. Đó là điều khó vượt qua nhất. Tôi nhốt mình trong phòng mình suốt hai ngày liền và có khi đã không bao giờ ra khỏi đó nếu người quản lý khách sạn, rõ ràng rất lo lắng, không dùng chìa khóa riêng của ông để xông vào phòng tôi cùng một viên cảnh sát. Tất cả chuyện này thật phiền toái, nhưng ông xin lỗi ngay khi thấy không có gì xảy ra, và cư xử với tôi bằng tất cả sự tôn trọng thích đáng. Chỉ nguyên thực tế tôi là một kỳ thủ có vẻ đã làm sáng tỏ nhiều điều với ông. Ông cho tôi biết khách sạn đóng cửa vào mùa đông. Cùng chiều hôm ấy, tôi lên chuyến tàu trở về Vienna.
Tôi quay về để đón nhận một bi kịch: bà ngoại tôi đã tự sát sau khi bị một người đàn ông chỉ hơn tôi vài tuổi phụ tình, lựa chọn chết một cách đầy chất kịch như bà đã sống. Trên đường về nhà từ một bữa tiệc tối, bà bảo taxi dừng lại, bước xuống bậc thang của một trong vô số cây cầu bắc qua sông Danube, và - hoặc tôi tưởng tượng là như thế - gieo mình xuống dòng nước.
Thi thể được tìm thấy hai mươi ngày sau đó, mắc vào một cửa cống. Bà vẫn còn mặc chiếc váy dạ tiệc của mình. Người phụ nữ khốn khổ đã cố gắng kết thúc cuộc đời mình thật vinh quang, nhưng cho dù rất cẩn thận với vẻ bề ngoài của mình, bà đã không nhận ra thi thể sẽ bị dòng sông hủy hoại và cái xác tự sát của bà sẽ còn bị tàn phá thêm nữa bởi lưỡi dao mổ của bác sĩ pháp y.
Ngôi nhà, cùng mọi thứ đồ đạc trang bị của nó, bị tịch biên và mang bán đấu giá để thỏa mãn vô số chủ nợ của bà. Chẳng còn mấy tài sản của bà thuộc về tôi: chỉ có mấy lá thư ghi lại đam mê bi thảm của bà.
Tôi không biết mình sẽ xoay xở thế nào nếu không có món tiền Tabori để lại cho. Tôi dùng một phần khoản tiền để dựng một tấm bia mộ ở nghĩa trang cho người nghèo, nơi bà ngoại tôi được chôn cất. Số còn lại không duy trì được lâu. Cuối cùng, tôi buộc phải viện tới việc vẽ ký họa chân dung cho khách tại các quán bia để kiếm ít tiền lẻ. Ngoài vài đồng si linh ít ỏi tôi yêu cầu, tôi còn được mời thêm một vại bia, tất nhiên tôi không thể từ chối. Tôi thường quay về căn phòng của mình giữa đêm khuya say nhừ, mệt nhoài và đói lả.
Cứ như thể tôi đã được nếm qua vị thành công chỉ để rồi kết thúc đời mình ở tuổi hai mươi. Tất cả những gì tôi cảm thấy là sự phẫn nộ với những người đã từ bỏ tôi: bố mẹ, bà ngoại, và hơn hết là Tabori.
Tôi trở lại những chốn mình thường lai vãng chỉ đơn thuần để chìm đắm trong hoài niệm khôn kham. Năm vừa qua thành phố dường như đã thay đổi, và đôi lúc tôi tự hỏi liệu có thực mới chỉ có một năm trôi qua hay giờ đây thời gian được đo đạc bằng đơn vị khác. Nhà trọ Fischer giờ vắng tanh vắng ngắt. Một tấm biển ngoài mặt tiền cho hay tòa nhà sắp sửa bị phá bỏ. Quán Thiên Thần Đỏ, mà tôi chỉ bước vào một lần, cũng đã thay đổi hoàn toàn. Ông chủ quán, các thành viên câu lạc bộ, thậm chí cả đối thủ cũ Strumpfel Lump của tôi đều đã biến mất như thể đã chết hay chưa từng tồn tại. Đôi lúc tôi nghi ngờ liệu tôi đã bao giờ từng gặp Tabori và bàn cờ huyền diệu của ông hay không (quả thực, ai có thể tin nổi chuyện đó chứ?). Tôi thậm chí nghi ngờ cả chính mình: có thực là tôi đã bị lôi kéo một cách mê mẩn bởi trò chơi mà chỉ nguyên ý nghĩ về nó thôi giờ đây cũng đủ khiến tôi ngập tràn nỗi ghê sợ?
Một đêm, tôi trở về phòng mình thì thấy cửa phòng khóa trái, và những món của nả còm cõi của tôi bị xếp ngoài chiếu nghỉ cầu thang. Tôi đã nợ bốn tháng tiền nhà, và ông chủ nhà đã đưa ra một động thái quyết liệt. Kể từ đêm đó trở đi, nơi ở của tôi là đường phố, hay đôi khi là một chỗ trú chân công cộng dành cho những kẻ vô gia cư của thành phố mở cửa lúc mười giờ tối và đóng cửa lúc bảy giờ sáng. Trong ngày, tôi lang thang không mục đích giữa một Vienna lộng lẫy và thù địch, mất hết mọi hy vọng.
Tôi không chạm tới một quân cờ vua nào kể từ khi thầy tôi biến mất, và tôi sợ rằng mình sẽ không bao giờ chơi cờ nữa. Nỗi ghê sợ này được xác nhận một ngày nọ, khi tôi tình cờ rẽ vào một quán rượu tồi tàn gần bờ sông, đói lả và hy vọng tìm được một vị khách nào đó sẵn lòng ngồi làm mẫu cho bức biếm họa của tôi. Nhưng nơi này vắng tanh. Khi tôi lên tiếng gọi, không ai đáp lời. Đúng lúc đó tôi nhận thấy một cái bàn nhỏ cách chỗ mình vài bước, trên đó có một bộ cờ vua bị ai đó bỏ lại, các quân cờ nằm rải rác trên bàn cờ. Tôi buộc mình ngồi xuống bàn, chỉ để xem liệu có còn chơi được không. Nhưng chỉ nguyên việc cầm các quân cờ lên và đặt chúng xuống đúng ô cũng đã là một nỗ lực. Một cơn mệt mỏi chết người trùm lấy tôi. Căn phòng trở nên tối tăm, và mọi thứ quanh tôi bắt đầu dập dờn gợn sóng như thể được vẽ trên một tấm rèm bị một cơn gió bất thần thổi tới làm lay động. Vào khoảnh khắc đó, những giọt máu rơi như mưa xuống bàn cờ, nhỏ xuống liên tục giọt này cạnh giọt kia nối nhau như những vụ nổ im lặng. Bị cơn hoảng loạn siết chặt lấy, tôi bật đứng dậy và chạy ra khỏi quán, đưa hai bàn tay lên ôm khuôn mặt đang chảy máu của mình, hất đổ nhào cả chiếc bàn lẫn bàn cờ. Kể từ đó, tôi không bao giờ có tinh thần để chơi cờ trở lại nữa.
Đến đây Mayer im bặt, chờ đợi xem hai thính giả của anh ta sẽ phản ứng ra sao trước câu chuyện của mình.
“Cậu đã bao giờ gặp lại Tabori chưa?”
Người lên tiếng là Baum. Ông này đã mặc áo khoác vào khi đoàn tàu tới gần ga và lúc này đang ngồi trên mép ghế của mình, chiếc va li kẹp giữa hai đầu gối. Câu hỏi của ông ta chỉ thuần túy là một hành vi lịch sự không chứa đựng chút quan tâm thực sự nào, và Hans không trả lời. Baum sốt ruột nhìn qua cửa sổ ra phong cảnh giờ trông đã quen thuộc. Khi đoàn tàu bắt đầu chạy chậm lại, ông ta đứng lên, mở cánh cửa trượt mở ra hành lang, các hành khách ngoài đó đã bắt đầu xếp thành hàng.
“Quả thực là một câu chuyện đáng chú ý,” ông ta nói, lại với vẻ lịch sự sáo rỗng. “Thật tiếc là giờ tôi phải chia tay cậu.” Ông ta quay sang Frisch. “Hẹn gặp lại ông thứ Năm tuần tới,” ông ta nói. “Khi đó ông có thể kể cho tôi nốt phần còn lại.”
Frisch giơ một bàn tay lên chào tạm biệt nhưng không trả lời. Baum lắc lư khi đoàn tàu chạy qua một bộ ghi. Khi nó chạy vào ga, ông ta quả quyết bước ra hành lang. Hai người còn lại dõi theo ông ta xuống tàu và hối hả bước đi ngang qua cửa sổ khoang của họ ra phía cửa ga.
Không ai khác bước vào khoang tàu khi đoàn tàu chuyển bánh trở lại. Hans kéo cửa đóng lại và ngồi xuống chiếc ghế Baum đã để trống, đối diện với Frisch như một đối thủ chuẩn bị ra những nước kết thúc ván cờ chóng vánh.
Frisch ghi nhận động thái này. Gần như giật mình vì ngạc nhiên, ông ta liếc nhìn đồng hồ đeo tay của mình để che giấu sự khó chịu. “Rất đúng giờ,” ông ta nói. “Đến nửa đêm chúng ta sẽ có mặt tại Vienna.”
Họ ngồi im lặng trong vài phút, song có điều gì dường như đang lơ lửng trong sự im lặng đó.
Vienna, Mayer thầm nghĩ, bóp chặt thứ được giấu trong túi áo. Vào khoảnh khắc đó, nó đã lấy lại trọn vẹn ý nghĩa của mình, bằng chứng của một hành vi tàn ác trong một quá khứ xa xăm. Sự thôi thúc muốn lấy nó ra gần như là không thể cưỡng nổi, như trong quá khứ đã đôi lúc anh không thể cưỡng lại một nước đi hấp tấp sẽ hủy hoại toàn bộ ván cờ của mình. Song anh đã học được bài học. Anh cố viện hết sức mạnh của mình. Anh không được hành động sớm hơn kế hoạch. Anh cần kiên nhẫn cho tới khi họ đến Vienna.
Đối phương đã làm gián đoạn dòng suy nghĩ của anh. Đã một lúc rồi Frisch có vẻ đang tự hỏi đó là nước đi của ai, và lúc này ông ta đang thầm nhẩm tên Mayer vài lần, như thể cố nhớ ra điều gì đó. “Mayer... Mayer... Hans Mayer... có vẻ tôi nhớ có một Mayer từng ít nhiều được nói tới ở Hamburg hồi năm ngoái, rồi hai tháng sau đó tại Hasting, nếu tôi không lầm, và cả trong một giải đấu mở rộng ở Venice...”
“Ông có một trí nhớ tuyệt vời.”
“Tôi đã viết khá nhiều về những ván cờ đó. Và chắc chắn không hề có cảm tình. Ra đó là cậu. Và sau đó là cuộc rút lui đột ngột ấy. Tôi đoán cậu coi mình là một kẻ thất bại không bao giờ chơi cờ trở lại được nữa?”
“Không, tôi không nghĩ có lúc nào tôi sẽ chơi lại.”
“Tính cậu bạc nhược.”
“Có lẽ vậy.”
Frisch làm một cử chỉ mơ hồ, phẩy bàn tay trên không trung như thể từ bỏ mọi nỗ lực mô tả điều không thể mô tả. “Với cờ vua, cậu cần thần kinh thép. Và sau khi tập luyện với người điên đó, thế đấy... Đúng là đôi lúc cờ vua có thể làm cậu cảm thấy quyền lực tuyệt đối, tôi biết rất rõ. Cả tôi cũng đã chơi cờ đầy đam mê trong nhiều năm, và ngay cả bây giờ, già như tôi đây, cờ vua vẫn chiếm gần như toàn bộ thời gian của tôi, hay ít nhất gần như toàn bộ suy nghĩ của tôi. Khi ở cùng bạn bè, hay thậm chí đang trong một cuộc gặp công việc, đôi lúc tôi nhận ra mình không hề chú ý tới những gì đang được nói xung quanh, như thể có một tấm màng ngăn cách giữa tôi và những người khác. Vào thời điểm đó, cờ vua không còn là một sự hiện hữu trừu tượng mà là một thực thể rõ ràng, giống hệt như một thứ cơ hoành ngăn cách tôi khỏi thế giới, và như một cơ hoành, nó cũng vận động và co bóp...”
Frisch đột nhiên nhìn chằm chằm vào Mayer với thái độ chỉ có ở những người già khi họ sắp nói về quá khứ của mình.
“Nhưng cậu biết đấy,” ông ta nói, trán đột nhiên nổi lên những chấm đỏ lựng, “tôi đã có thể là quán quân thế giới.”
Thấy Mayer không nói gì, Frisch sửa lại câu quả quyết của mình với một cái khịt mũi cộc lốc. “Quả thực khi đó không phải là thời điểm tốt nhất để cống hiến bản thân cho một nỗ lực như thế, song có rất nhiều kỳ thủ hứa hẹn tại Đức đã có thể giành vị trí của Alekhine, và nếu không phải vì một cuộc chiến tranh đã đoạt mất của chúng tôi tuổi trẻ... phải đấy, tại sao không chứ? Tôi thực sự tin tôi đã có thể cạnh tranh danh hiệu quán quân thế giới.” Frisch im lặng, đôi lông mày đột nhiên cau lại, như thể cân nhắc sự đúng đắn của điều ông ta vừa nói. “Như các môn nghệ thuật, cờ vua dường như nắm giữ khả năng sống sót khi thể xác đã tiêu vong, khả năng giành lấy danh tiếng vĩnh cửu. Còn điều gì mà chúng ta không sẵn sàng trả để thấy tên mình được ghi lại trong biên niên của cờ vua chứ! Tất cả những gì cậu cần chỉ là một ván cờ, một biến thể, một thoáng độc đáo. Chẳng hạn như cậu, theo một nghĩa nào đó, là nạn nhân cố ý của một kẻ háo danh đã hủy hoại tài năng của cậu chỉ để bán dạo cái biến thể đáng khinh thường đó.”
“À, chuyện không phải chính xác là vậy.”
“Tabori. Thậm chí chưa bao giờ nghe nói tới ông ta. Cái tên này nhiều khả năng cũng là giả, như chính ông ta vậy. Thế giới cờ vua, thật không may, lại là nơi cư ngụ của những cá nhân kỳ dị nhất, vẫn luôn là như thế, cho dù từng có một thời gian trò chơi này có được nhiều hơn sự tôn trọng hình thức, cứ nói vậy. Hay ít nhất từng có một thời gian một số quy định về trang phục được duy trì, không giống ngày nay, khi các giải đấu có thể trông giống như những cuộc tụ tập của đám du đãng. Dẫu vậy, một kẻ lập dị như tay Tabori này... Tôi chưa bao giờ nghe thấy điều gì tương tự trước đây. Một phần câu chuyện của cậu có vẻ thật khó tin, cậu biết đấy. Bàn cờ có điện đó chẳng hạn. Nghe cứ như khoa học giả tưởng. Những người Xô Viết hẳn sẽ thích nó, nếu tính tới các phương pháp và sự điên rồ muốn giành quyền tối cao của họ. Một bàn cờ như thế có thể trở thành báu vật trong bộ sưu tập của tôi, nếu nó thực sự tồn tại. Cậu hình dung nổi không? ‘Bàn cờ đau đớn’. Tôi sẵn sàng trả bất cứ giá nào vì nó.”
“Bất cứ giá nào?”
“Bất cứ giá nào.”
Mayer cân nhắc lời đề xuất. “Tôi có thể lấy nó cho ông,” anh nói. Frisch sững sờ và nhắc lại, “Bất cứ giá nào.”
“Tôi không quan tâm tới tiền.”
“Thì bất cứ thứ gì khác.”
“Được,” Mayer nói, ‘bàn cờ đau đớn’, như ông gọi, có thể nằm trong tay ông vào ngày mai. Thực ra thì coi như nó là của ông rồi. Tất cả những gì tôi yêu cầu để đổi lại là ông lắng nghe nốt phần còn lại câu chuyện của tôi.”
Frisch cười khùng khục.
“Quý ngài thân mến,” ông ta nói, “tôi đã quá già để mắc lừa. Cái bàn cờ đó chỉ là một điều bịa đặt trong trí tưởng tượng của cậu.” Nhưng ông ta lưỡng lự chưa từ bỏ hoàn toàn niềm tin. “Nếu cậu đã từng thấy bất cứ thứ gì như thế, nó hẳn phải là... phải, chúng ta hãy gọi nó là kết quả của một đề xuất được bày bố khéo léo.”
“Giả sử là vậy đi,” Mayer đáp. “Những đề xuất có thể chữa lành... hay giết chóc. Chúng ta đừng đánh giá thấp chúng. Dù thế nào đi nữa, phản ứng với sai lầm luôn xuất phát từ bản thể mỗi người. Ngoài ra, điều đáng nói không phải là các bước tính toán mà là kết cục.”
“Có nghĩa là cậu nói dối tôi?”
“Lương tâm cá nhân là một thực tế không thể bác bỏ - ít nhất thì chừng đó là đúng.”
Frisch đã cảm thấy bực mình vì bị cuốn vào trò chơi này một cách ngớ ngẩn đến vậy. Ông ta không hề có ý định để bị kéo vào một cuộc tranh luận triết học, và ông ta cắt lời Mayer.
“Tất nhiên, tất nhiên rồi. Có lẽ cậu dễ bị ám thị tới mức tin vào bất cứ điều gì. Nhưng nói cho tôi biết xem, cậu đã bao giờ gặp lại nhân vật Tabori này chưa?”
Tôi có thể nói một cách chắc chắn rằng trong ánh mắt Hans Mayer lúc này đang ánh lên sự hài lòng sâu sắc của một kỳ thủ nhận thấy kế hoạch của anh ta định hình trên bàn cờ theo từng nước đi và thầm nghĩ, Nó đây rồi! Từ đây trở đi, chỉ còn là một vấn đề kỹ thuật thuần túy, không hề cần tới sự ứng biến hay tư chất nữa.
Như một nhạc công, Mayer ngừng lại cho một quãng ngân trước khi lên tiếng đáp. “Tôi có tin tức từ Tabori mới chỉ gần đây. Tôi đang ở trong một quán bia bán rao các bức ký họa của mình - không thành công, như thường lệ - thì có một người nắm lấy vai tôi. Người ấy chẳng phải ai khác ngoài Boris, kẻ sống sót cuối cùng của nhà trọ Fischer. Tôi phải thừa nhận đây là lần đầu tiên tôi thấy mừng khi trông thấy ông ta.
‘Cậu đã trốn ở đâu thế hả?’ ông ta hỏi với giọng trách móc và nhẹ nhõm. ‘Tôi tìm cậu cả tháng nay. Tabori không được khỏe. Chính vì thế ông ấy rời khỏi cậu. Nhưng ông ấy cử tôi tới tìm cậu. Chúa lòng lành,’ ông ta thốt lên, nhìn tôi từ đầu đến chân, ‘làm thế nào mà cậu ra nông nỗi này?’
“Tôi ngước mắt lên và nhìn hình ảnh phản chiếu của mình trong một tấm gương lớn. Tôi không thể tranh cãi với ông ta. Nom tôi thật tệ, và nhìn mũi ông ta chun lại, hẳn tôi tỏa ra mùi cũng chẳng dễ ngửi gì.
“Boris rất kiên quyết. Ông ta đưa cho tôi ít tiền. Ông ta bảo tôi ‘quăng những thứ rác rưởi đó’ đi ngay lập tức. Tabori cần gặp tôi gấp. Để đoan chắc là tôi không lãng phí thời gian, ông ta đợi tôi ở một nhà tắm công cộng, sau đó ngồi trong chiếc ghế bành tại tiệm cắt tóc đầu tiên chúng tôi bắt gặp trên đường, đọc báo trong khi tôi cắt tóc và cạo râu. Cuối cùng, ông ta đưa tôi tới một cửa hàng quần áo, chọn mua vài món đồ cho tôi. Chúng tôi ăn vội vàng vài miếng rồi lên đường.
“Điểm đến của chúng tôi là một nhà an dưỡng ở Bodensee, Tabori đang ở đó, phục hồi sau thứ Boris gọi là một cuộc giải phẫu tệ hại. Ông sút cân nhiều tới mức tôi gần như không nhận ra. Mái tóc và bộ râu của ông, tôi vẫn nhớ là đen sẫm, đã ngả muối tiêu hết cả. Ông có một phòng riêng nhìn xuống hồ. Ông có rất nhiều sách và tạp chí, cũng như một máy ghi âm và văn phòng phẩm để viết. Nếu không có bình ôxy ở bên giường ông, căn phòng có lẽ chẳng khác gì một phòng khách sạn bình thường.
“Tôi không thể nào kìm nén được cảm xúc của mình. Ông ôm lấy tôi trong vòng tay xương xẩu hơn tôi vẫn nhớ. ‘Ngồi xuống đi, con trai,’ ông nói. Tôi kéo một chiếc ghế lại cạnh giường. Khi Boris để chúng tôi lại riêng với nhau, Tabori bắt đầu nói. Ông nói ông rời khỏi tôi không nói một lời chỉ vì sức khỏe của ông đã đột ngột xuống dốc. Ông ngỏ lời muốn tôi tha thứ cho ông. Ông chỉ còn lại ít thời gian để sống, và ông đã yêu cầu một luật sư khởi động quá trình nhận con nuôi. Ông đã quyết định nhận tôi làm con nuôi trước khi qua đời và để lại tất cả tranh của ông cho tôi.”
“Câu chuyện vậy là dường như có một đoạn kết hạnh phúc,” Frisch bình luận.
“Thật không may là không.”
“Tại sao, chuyện gì đã xảy ra vậy?”
“Tabori đã nói với tôi rằng phần tài sản còn lại của ông theo di chúc sẽ được để lại cho một tổ chức không nói rõ tên ‘cống hiến cho việc tìm kiếm những người mất tích’. Sau đó, lần đầu tiên ông nói với tôi về một người ông đã tìm kiếm suốt nhiều thập kỷ. Cờ vua là đầu mối duy nhất có thể dẫn tới hắn, và Tabori đã dùng cờ vua để lần tìm dấu vết kẻ này. Chính nhờ tôi mà ông tìm ra hắn. Ông cũng đề nghị tôi tha thứ cho ông về cả việc này nữa. Ông đã sử dụng tôi như một con tốt, và cảnh báo tôi cẩn thận. Mọi thứ vẫn đang trong cuộc chơi, ông nói, và tôi sẽ phải kết thúc ván cờ. Còn rất nhiều thứ tôi cần phải biết, và giờ ông sẽ kể cho tôi câu chuyện của ông, như ông từng hứa. Đó là một câu chuyện tôi sẽ phải thuật lại cho kẻ đó. Đấy là cách duy nhất để hắn có thể nhớ ra Tabori.”
“Và tôi đoán tôi chính là người đó,” Frisch nói.