“Ông có thể nhóm lò sưởi được rồi đó!” - Kerekes, người sống ở xóm trại, nói. Những con ruồi trâu mùa thu bay rì rì quanh chiếc chụp đèn nứt vẽ thành những hình số tám rối mù trong ánh sáng yếu ớt, chúng cứ lao vào chiếc chụp đèn bằng sứ hết lượt này đến lượt khác, để sau một tiếng đập nhẹ chúng rơi xuống chính cái lưới dính nhạy mà chúng đã giăng, và chúng tiếp tục cái chuyển động trên quỹ đạo vô tận nhưng kín cho tới khi ánh sáng tắt hẳn; nhưng bàn tay có thể thực hiện động tác nhân ái này - tắt điện - còn đang bận đỡ lấy khuôn mặt râu ria của ông chủ quán rượu, ông ta ngái ngủ hấp háy nhìn những con ruồi trâu với những âm thanh của trận mưa không muốn dứt trong tai, và lầm bầm: “Mẹ kiếp, mưa dai như giẻ rách!” Halics ngồi trong góc gần cửa ra vào, trên một chiếc ghế khung sắt ọp ẹp, mặc áo mưa công vụ cài khuy từ trên xuống dưới, cái áo - nếu gã muốn ngồi xuống lão phải làm gãy ở vùng bụng dưới, vì phải thú thật rằng mưa gió đã không nương nhẹ cả người lẫn áo, lão thì bị nó làm cho xấu xí và mềm yếu, để cuối cùng mất hẳn những đường nét, còn cái áo thì ướt đến nỗi mất hết độ đàn hồi, và như vậy nó đã không còn bảo vệ lão khỏi cơn mưa như trút nước, mà đúng hơn, như lão thường nói, “cơn mưa cái chết thấu tim”, đập bầm giập trái tim khô héo của lão và ngày đêm không ngừng rửa các cơ quan dễ tổn thương của lão. Quanh chiếc ủng của lão nước chảy thành vũng, cái cốc không trong tay lão cũng đã nặng, và dù lão cố tránh không nghe: ở phía sau, tì khuỷu tay lên “bàn bida”, quay mặt về phía lão chủ quán, Kerekes nói chậm rãi qua kẽ răng, rồi uống rượu vang, tham lam và thô lỗ. “Tôi bảo: ông có thể nhóm lò sưởi được rồi đó!” - hắn nhắc lại, rồi hơi nghiêng đầu về phía bên phải, để không bỏ sót một âm thanh nào. Mùi mốc bay lên từ chân tường vây quanh những chú gián đi tiền trạm bò xuống từ các bức tường phía sau, và chỉ lát sau cả đội quân gián cũng tới, chúng chạy tản ra trên nền nhà dính bết mỡ. Ông chủ quán trả lời bằng một động tác tục tĩu, ông nhìn vào đôi mắt ướt của Halics với nụ cười đồng lõa, lấp lửng, nhưng sau những lời đe dọa của người xóm trại (“Đừng có làm trò, đầu đất!”) ông hốt hoảng co người lại trên ghế. Sau quầy bằng sắt tây có một mảnh quảng cáo dính vết vôi treo lệch trên tường, phía bên kia ngoài quầng sáng của ngọn đèn, bên cạnh một tờ quảng cáo Coca Cola là một chiếc móc áo bằng sắt, bên trên móc một chiếc mũ, và chiếc áo choàng bụi bặm bị bỏ quên; ai nhìn cũng thấy nó giống như một kẻ treo cổ. Kerekes đi về phía ông chủ quán rượu, tay hắn cầm một chiếc vỏ chai; cái nền nhà rung lên cót két dưới chân hắn, người hắn hơi lao về phía trước; thân hình to lớn của hắn như choán đầy hết căn phòng, như thể một con bò đực vừa sổng chuồng, trong một khoảnh khắc không gian bị thu hẹp lại. Halics thấy ông chủ quán biến mất sau cửa kho, và nghe thấy ông vội vàng cài then cửa, hốt hoảng, vì đã xảy ra chuyện gì đó, nhưng lão cảm thấy hơi yên tâm, rằng lần này thì lão không cần phải nép mình giữa các bao phân đạm chất lên nhau thành đống lù lù từ mấy năm nay, giữa các đồ nghề làm vườn và thức ăn cho lợn, trong cái mùi khó chịu, lưng dính chặt vào cánh cửa sắt lạnh như băng, và một cảm giác thích thú chạy dọc người lão, vì chủ nhân vừa đây của các loại rượu ngon đã trở thành tù nhân của người xóm trại, nóng tính và nguy hiểm. “Cho một chai nữa!” - Kerekes hùng hổ quát. Hắn lôi từ trong túi ra một nắm tiền giấy, nhưng do động tác quá nhanh, một tờ - sau khi từ từ chao nghiêng - rơi xuống trước mũi giày cao cổ của hắn. Halics, vì là - dù chỉ trong vài phút - chuyên gia của các quy luật khoảnh khắc, có lẽ biết hắn kia sẽ làm gì, và chắc chắn rằng lão cần phải làm gì, lão đứng dậy ngay, đợi một lát, biết đâu hắn kia chẳng cúi xuống nhặt, rồi lão hắng giọng, đi tới đó, moi ra những đồng xu cuối cùng, và mở lòng bàn tay ra. Những đồng xu rơi tung tóe, đến khi đồng cuối cùng đã nằm trên mặt đất, lão quỳ xuống nền nhà để nhặt chúng lên. “Nhặt cả đồng một trăm của tao lên!” - Kerekes gầm lên, và Halics, biết cấu trúc của thế giới (“... Tao nhìn rõ tâm địa mày!”), với sự tận tâm giả dối của một kẻ nô bộc: lão sẵn sàng, lặng lẽ và căm thù nhặt đồng tiền lên và đưa cho gã kia. “Hắn ta nhầm mệnh giá!...” - lão hốt hoảng nhủ thầm. “Hắn ta nhầm mệnh giá rồi!” Lúc này, sau khi Kerekes nói (“Sao lâu thế!?) lão đứng dậy, phủi bụi đầu gối, và hy vọng, nhưng lão chống khuỷu tay lên mặt quầy cách Kerekes một khoảng đủ xa, bởi không thể biết chính xác liệu lời thúc giục mới đây có dành cho cả hai người bọn họ hay không. Kerekes có vẻ ngần ngừ, nếu điều này là có thể, và trong im lặng giọng yếu đuối, chỉ vừa đủ nghe của Halics (“Nào, chúng tao chờ đến khi nào đây?”) đã tăng lên nhiều lần, như mọi ngôn từ không thể rút lại được nữa; sự bắt buộc, rằng hắn phải tồn tại bên cạnh một sức mạnh lớn thế này, khi đã tránh xa những từ ngữ trót văng ra, vô tình cảm thấy một sự đồng cảm mơ hồ với Kerekes; điều duy nhất mà lão có khả năng chấp nhận, vì không chỉ lòng tự trọng dễ tổn thương của lão, mà cả từng tế bào của lão cũng phản đối việc lão không thể rời bỏ tình bằng hữu keo sơn của những kẻ hèn nhát, vì vậy mà có sự cộng tác hốt hoảng này. Đến lúc Kerekes từ từ ngoảnh lại, thì lòng trung thành bắt buộc, vốn ẩn náu trong người Halics, đã nhường chỗ cho sự rụt rè, e ngại khác lạ, vì lão có thể khẳng định một cách tự hào rằng “viên đạn bắn vu vơ đã trúng đích”. Tất cả điều này tới bất chợt, lão không chuẩn bị cho giọng - như thế này - của mình, vì thế để xua đi và để giảm thiểu sự bất ngờ có thể cảm nhận được của Kerekes, lão nhanh chóng - như một sự rút lại ngay lập tức và vô điều kiện - nói thêm: “Tất nhiên tôi chẳng có liên quan gì...” Kerekes bắt đầu hết kiên nhẫn. Gã cúi đầu, và thấy trên mặt quầy xếp các cốc đã rửa sạch; đúng lúc gã giơ nắm đấm lên thì ông chủ quán bước ra khỏi cửa kho và đứng trên bậc cửa. Ông dụi mắt, tựa một bên vai vào khung cửa, và mấy phút ở trong đế chế của ông ở phía sau, đủ để kinh nghiệm của ông ta rũ sạch nỗi sợ hãi bất chợt và xét cho cùng là nực cười (“Nó tấn công, thằng thô bạo này sẽ tấn công!”), và thế là tổn thất lòng tự trọng của ông ta chỉ như vết xước ngoài da, không có gì nghiêm trọng, vì tiếp theo gần như không thể diễn ra bất cứ điều gì, và nếu có, thì “giống như thêm một hòn đá rơi xuống một cái giếng không đáy”. “Cho một chai nữa!” - Kerekes nói, và đặt tiền lên mặt quầy. Rồi, khi thấy ông chủ quán cứ dò xét từ xa, gã nói thêm: “Đừng sợ, đồ đầu đất! Tao không làm gì mày đâu. Có điều đừng có ra hiệu đểu!” Đến khi hắn ta quay trở lại chỗ của hắn, bên cạnh “bàn bida”, và thận trọng ngồi xuống, như thể hắn sợ một ai đó sẽ rút chiếc ghế dưới đít hắn, thì chủ quán đã đổi tay tì dưới cằm; phủ lên đôi mắt cáo của ông là lớp màng của sự ngờ vực và khao khát một điều gì đó cụ thể, từ gương mặt trắng bệch của ông ta tỏa ra hơi nóng ngột ngạt thường trực vĩnh hằng, khiến da mặt bóng nhẫy và lòng bàn tay ướt át; những ngón tay nõn nà, trắng bóng, dài từ nhiều năm nay hoạt động ven lòng bàn tay hoàn hảo đó, đôi vai so, cái bụng ỏng… tất cả đều bất động, chỉ có những ngón chân ông ta động đậy trong chiếc giày đã cũ. Chiếc đèn treo cho tới lúc đó vẫn lặng lờ bỗng bắt đầu chao đi chao lại, và quầng sáng không rọi tới trần và phần trên của các bức tường, làm nổi lên ở phía dưới ba con người, cái bàn quầy với các thứ bánh nướng khô khốc, với mì sợi, với đầy kín các cốc uống rượu mạnh và chai rượu Palinka, những chiếc bàn và những con ruồi trâu say lử, quầng sáng khiến cả cái quán rượu giống như một con tàu chao lắc trong ánh hoàng hôn. Kerekes mở chai rượu, với tay kéo một chiếc cốc lại gần, rồi gã cứ ngồi bất động như thế mấy phút, một tay giữ chai, một tay cầm cốc, như người đã quên không nhớ mình phải làm gì, hay chỉ là trong bóng tối mà gã đang sống, mọi tiếng nói và mọi tiếng động bỗng câm lặng, và như thế, tất cả những gì xung quanh gã, cả cơ thể gã, chỗ ngồi, đôi cánh tay, đôi chân giạng háng của gã đều trở thành không trọng lượng, câm điếc và mù lòa; như thể các khả năng sờ mó, nếm, ngửi của gã bỗng nhiên biến mất, như thể lúc này làm phiền trạng thái vô thức, và dòng máu sôi sục bên trong, chỉ có sự vận hành cơ học lạnh lùng của các bộ phận, bởi các trung tâm bí ẩn của chứng lo âu đã lùi vào bóng tối địa ngục, vào khu vực cấm của trí tưởng tượng, mà rồi từ đó chúng lại xuất hiện, hết đợt này đến đợt khác. Halics chẳng hiểu đầu cua tai nheo ra sao, lão cứ sốt ruột loay hoay trên ghế, vì lão cảm thấy Kerekes đang chú ý đến lão. Sẽ là quá thoải mái, nếu từ sự bất động bất ngờ của hắn lão nghe thấy khả năng đang mở ra từ từ của một lời mời; có lẽ lão cảm thấy sự đe dọa trong ánh mắt chết chóc quay về phía lão hơn, nhưng lão lục lọi mãi trong trí nhớ, lão không làm điều gì xúc phạm mà vì nó lúc này lão có thể bị truy cứu trách nhiệm, càng không phải, bởi trong những giờ phút khó khăn, khi “con người đau khổ” lao xuống những tầng sâu giải thoát của sự tự thóa mạ, lão đã tự thú nhận rằng 52 năm tuổi trôi vèo qua của lão quá vô nghĩa trong sự vật lộn cay đắng của các số phận lớn, các sự nghiệp lớn, giống như không thể nhận ra khói thuốc lá trong một toa xe đang bốc cháy. Tất nhiên ý thức tội lỗi ngắn ngủi này (liệu có phải là tội lỗi hay không? bởi “nếu vòng tròn tội ác cháy rụi, như một chiếc bóng đèn cũ rích”, thì bóng tối lờ mờ còn lại dễ đồng nhất với một sự thiếu trong sáng nào đó trong lương tâm), trước khi ăn sâu hơn vào con người lão, thì nó đã biến mất, đã mất hút đâu đó trong vòm miệng, cổ, cuống họng và dạ dày, trong sự cần thiết đầu tiên và cuối cùng, cái đã săn đuổi nó tới đây từ trước, trước nhiều, so với lão có thể hy vọng, bọn Schmidt sẽ tới, và tính ra “số tiền phải trả lão”. Cái lạnh chỉ làm cho tình hình thêm xấu đi, và như vậy chỉ một cái liếc mắt duy nhất qua chiếc ghế của lão chủ quán rượu tới các khay đựng rượu vang chất đống lên nhau đã đẩy trí tưởng tượng của lão vào vòng xoáy nguy hiểm, đe dọa sẽ nuốt chửng nó, nhất là lúc này khi lão nghe thấy tiếng bọt khí nổi lên trong chai của người xóm trại; lão không cưỡng nổi: một sức mạnh lớn hơn hút ánh mắt lão tới đó, để lão nhìn thấy những bọt khí như những viên ngọc đang mất hút. Ông chủ quán cụp mắt xuống, nghe tiếng sàn nhà cót két dưới đế giày của Halics, ông không ngẩng đầu lên cả khi đã cảm thấy hơi thở chua lòm của lão kia, ông cũng chẳng để ý tới những giọt mồ hôi lấm tấm trên mặt lão, vì ông biết đằng nào thì đến lần thứ ba lão cũng bỏ cuộc. “Này, ông bạn... - Halics hắng giọng, - một cốc, chỉ một thổi! Lão nhìn ông ta với ánh mắt nghiêm chỉnh, đáng tin cậy, còn hơn thế nữa: có khả năng chi trả và trong sáng, lão còn giơ ngón tay trỏ lên nữa. - Đằng nào rồi bọn Schmidt cũng sẽ tới đây. Ông biết đấy...” Lão nhắm mắt nâng cốc rượu lên, chậm rãi uống từng ngụm nhỏ, hơi nghiêng đầu về phía sau, và khi cốc rượu đã cạn, gã còn giữ nó trên miệng một lát để giọt cuối cùng cũng lăn xuống. “Rượu ngon quá...” - lão chép môi khen, và lão nhẹ nhàng, thận trọng đặt chiếc cốc xuống mặt quầy, như người ở giây cuối cùng còn hy vọng một điều gì đó, rồi lão từ từ quay đi, và lẩm bẩm một mình (“Mẹ kiếp, rượu gì mà nhạt thếch!”) quay về chỗ ngồi. Kerekes gục cái đầu đã nặng trịch xuống mặt “bàn bida”, lão chủ quán lơ mơ trong ánh sáng đèn, sửa lại chỗ ngồi, rồi lấy khăn lau bắt đầu phẩy mạng nhện xung quanh. “Halics, nghe đây! Có nghe không hả! Nói đi, bên kia có chuyện gì thế?” Halics nhìn quanh không hiểu. “Ở đâu?” Lão chủ quán nhắc lại. “A, ở Nhà văn hóa ấy à?... À, - lão gãi đầu - không có chuyện gì đâu.” “Ừ, nhưng chúng nó chiếu cái gì thế?” “Ôi giời, tôi đã xem ít nhất ba lần. Nhưng tôi chỉ đưa vợ đến rồi chuồn thôi.” Lão chủ quán lại ngồi xuống ghế đẩu, tựa lưng vào tường và châm thuốc hút. “Nhưng ông hãy nói chúng nó chiếu phim gì?.” “Cái gì ấy nhỉ... À phim Vụ Scandal ở Soho,” “Aha? - lão chủ quán gật gật đầu. Chiếc bàn bên cạnh Halics rung lên, rồi tấm gỗ trên bàn quầy thở dài bằng một tiếng rắc chầm chậm, phá vỡ dàn đồng ca đơn điệu của lũ ruồi trâu: gợi nhớ về tất cả quá khứ, mà vẫn nói tới sự băng hoại phi quá khứ, như thành phần của một quả lắc kỳ lạ. Và, để trả lời tiếng nổ này của gỗ - như một bàn tay bất lực lật giở một cuốn sách ngấm mùi bụi phủ, cố tìm một ý tưởng chủ đạo đã mất, ngọn gió xoáy trên quán rượu lúc lúc lại hỏi cùng câu hỏi, mong đem “vẻ bề ngoài rẻ mạt của câu trả lời” cho lớp bùn lười nhác, và tạo ra xung động chung giữa cây cối, khí trời và đất, và để rồi tìm thấy, qua những vết nứt không thể nhìn thấy của cửa ra vào và các bức tường, con đường tới âm thanh đầu tiên: Halics nấc. Người xóm trại ngáy khò khò trên “bàn bida”, nước dãi chảy rớt từ cái miệng há hốc. Bất chợt từ phía xa, như tiếng ầm ì từ từ tiến lại gần, chưa thể biết chắc chắn đó là tiếng kêu của đàn bò đang về chuồng, tiếng rú của chiếc xe khách chở học trò có cắm cờ trên nóc, hay một dàn quân nhạc, từ một hõm sâu nào đó trong dạ dày Kerekes trồi lên tiếng lục bục không thể nhận biết nổi, tiếng động bị đứt gãy trên đôi môi khô bất động. Chỉ nghe lõm bõm “...đĩ…” và “...rất...”, hay “... to hơn...” Tiếng lục bục cuối cùng biến thành một động tác giáng xuống, có thể là một cú đấm vào ai đó hoặc một vật gì đó. Chiếc cốc của gã đổ nghiêng, rượu vang chảy loang trên mặt lớp dạ thành hình một con chó chết bị cán bẹp, rồi biến thành vôn số hình chồng lấp lên nhau và thấm hết (liệu có thấm hết không? Hay rượu vang chỉ lọt qua các kẽ sợi chảy xuống mặt nền lát gỗ, loang ra thành những vũng nhỏ, chỗ liên hoàn, chỗ thành các vũng tách biệt nhau... Tuy nhiên tất cả như vậy chẳng có ý nghĩa gì đối với Halics, vì...) Halics thở hắt ra. “Mẹ cha cái mặt say mèm kia!” Và lão giơ nắm đấm dư dứ về phía Kerekes, rồi với cơn tức giận bất lực, như người không muốn tin vào mắt mình, lão quay về phía ông chủ quán nói như phân bua: “Hắn đổ rượu ra đó!” Chủ quán nhìn Halics rất lâu, đăm chiêu, chỉ sau đó ông mới liếc qua người ở trang trại, mà cũng không hẳn ông ta nhìn ra chỗ đó, chỉ về phía đó, hơi lướt qua chỗ đó, để đo mức độ thiệt hại. Bằng một nụ cười khinh bỉ, ông chủ quán trấn an sự căng thẳng của Halics, người chưa có nhiều trải nghiệm trong việc này, rồi ông gật gật đầu lái câu chuyện sang hướng khác. “Hắn to lớn như một con bò mộng, đúng không?” Halics lúng túng nhìn thấy ánh mắt giễu cợt lấp ló giữa hai mi mắt của ông chủ quán, rồi gã lắc đầu, nhìn người xóm trại từ đầu đến chân. “Ông nghĩ sao, một thằng to xác thế này một ngày ăn hết bao nhiêu?” - gã hỏi cộc lốc. “Ăn à?! - ông chủ quán bật ra. - Hắn không ăn, mà ngốn ngấu!” Halics đến tựa vào bàn quầy. “Hắn phải đánh một lèo hết nửa con lợn! Ông có tin không?” “Tôi tin.” Kerekes ngáy hộc lên khiến cả hai im lặng. Với sự thán phục và sợ hãi, họ ngắm nghía cái thân thể bất động, không thể dịch chuyển, to lớn của Kerekes, cái đầu đỏ như máu, đôi giày vấy bùn ló ra từ bóng tối lờ mờ dưới gầm “bàn bida”, như người ta ngắm nhìn loài hoang thú đang nằm ngủ, với sự an toàn kép của lưới sắt và giấc mơ. Halics đã tìm, và đây, hắn đã tìm được tình đồng chí - trong một khắc? trong một phút? - với lão chủ quán, niềm vui gặp gỡ của con linh cẩu bị nhốt trong cũi với con kền kền tự do lượn vòng trên đầu nó, khi tất cả từ khốn cùng trở thành sự hợp tác vô thức ấm áp... Họ sửng sốt bởi một tiếng động lớn, như thể trời nứt vỡ ra trên đỉnh đầu họ. Trong quán trời bỗng bừng sáng, gần như có thể cảm thấy mùi sét đánh. “Cú này rất gần đây...” - Halics bắt đầu, đúng lúc ấy có tiếng ai đó gõ cửa mạnh. Lão chủ quán bật dậy, nhưng lão không đi về phía cửa ngay, vì trong một tích tắc lão nghĩ, phải có sự liên hệ giữa cú sét đánh và tiếng gõ cửa. Lão chỉ trấn tĩnh lại và ra mở cửa khi người bên ngoài đã đập cửa ầm ầm. “Hóa ra là ông à?...” Halics nhướng mắt về phía cửa. Lúc đầu lão chẳng nhìn thấy gì ngoài tấm lưng ông chủ quán, rồi sau đôi ủng nặng nề và chiếc áo mưa bằng chất chống thấm nước thấy bộ mặt sưng và của Kelemen dưới chiếc mũ soát vé đẫm ướt. Cả hai thở phào. Người mới đến vừa chửi tục vừa giũ nước khỏi áo mưa, tức giận ném nó lên mặt lò sưởi, rồi nhìn chằm chằm lão chủ quán, người đứng quay lưng lại phía ông ta và đang loay hoay với chiếc móc cửa. “Các người điếc cả hay sao?! Tôi đập cái cửa khốn nạn mãi, suýt nữa đã bị sét đánh chết, thế mà các người không chịu mở là sao?” Chủ quán đi về phía quầy hàng, rót một cốc rượu Falika và đẩy về phía lão già. “Trong tiếng ầm ĩ động trời thế này…” - ông thanh minh. Cặp mắt sắc của ông soi mói, nhanh chóng đoán xem cơn gió nào đã đem Kelemen tới đây trong mưa bão thế này, sao cốc rượu trong tay hắn ta lại run run, sự bí hiểm trong mắt hắn có ý nghĩa gì. Cả ông, cả Halics đều không hỏi hạn gì trước; bên ngoài trời lại vỡ toác ra, và như thể đổ ập xuống trong một khối, lại bắt đầu mưa xối xả. Ông già, với chừng mực có thể, cố vắt hết nước ra khỏi chiếc mũ dạ, và chỉnh lại hình dạng ban đầu của nó bằng các động tác thành thục, rồi ông đội mũ lên đầu, và uống cạn chén rượu với vẻ mặt đầy âu lo. Giờ đây, lần đầu tiên kể từ sau khi ông đóng ngựa vào xe và nín thở trong đêm tối mù lòa để tìm con đường vắng vẻ đã chẳng ai đi qua từ thời khai thiên lập địa (cỏ hoang mọc đầy), ông chợt nhớ tới nét mặt hốt hoảng của hai con ngựa, ánh mắt khó hiểu của chúng nhìn ông chủ lúng túng nhưng quả quyết, ông thấy chúng bối rối vẫy đuôi, ông nghe tiếng thở gấp gáp của chúng và tiếng rên rỉ cót két nhọc nhằn của chiếc xe trên con đường đầy ổ gà nguy hiểm, và ông thấy mình đứng trên tấm thanh ngang ở đầu xe, tay cầm dây cương, trên con đường bùn ngập ngang ống chân, đối chọi với gió buốt, và chỉ tới giờ ông mới tin những gì xảy ra, tới lúc này; ông biết rằng, không có chúng sẽ chẳng bao giờ ông xuất phát, “không có thế lực nào ngoài chúng” có thể bắt buộc được ông, vì bây giờ thì ông đã chắc chắn rằng, đúng là thế, bởi - dẫu sao, ông đã thấy bản thân ông trong cái bóng của sự vĩ đại của chúng, như người lính trên chiến trận, nếu anh ta cảm thấy mệnh lệnh còn đang trăn trở của vị tướng của mình, và anh ta sẽ tiến lên mà không cần một ai sai khiến. Những hình ảnh lại im lặng lướt qua trước mắt ông, lần lượt, cứng nhắc, như thể tất cả những gì quan yếu mà con người muốn lưu giữ cho mình đều có một trật tự độc lập và không thể phá vỡ, và chừng nào ký ức còn hoạt động, để dung nạp ở một mức độ tin chắc nhất định và nâng cái-bây-giờ nhẹ nhàng bay bổng của nó lên tồn tại, biến những quy luật sống động của trật tự này thành có hiệu lực trong các mô tự do của các sự kiện, ký ức sẽ buộc con người bắc cây cầu từ bản thân tới cuộc đời không bằng tự do, mà bằng sự mãn nguyện cố hữu của người chủ; và như vậy lúc này, ở lần đầu gợi nhớ lại ông cảm thấy tất cả những điều này đáng sợ hơn những gì đã diễn ra, nhưng chẳng bao lâu nữa, với nỗi lo lắng hơn nữa của chủ nhân ông sẽ bám vào hồi ức này, - và thường xuyên sau đó “trong vài năm còn lại” hình ảnh được gợi lên - cho tới lần cuối cùng nhớ tới hình ảnh, tựa khuỷu tay lên khung cửa sổ nhỏ phía bắc của căn nhà trang trại trong giờ tang tóc nhất của đêm, đơn độc và mất ngủ, chờ trời rạng. “Ông đi bộ à?” - Halics bước lại gần với vẻ mặt ngạc nhiên. - “Ít ra phải mất nửa ngày đường..” Người mới đến lẳng lặng châm thuốc hút. “Đi bộ ư?” - ông chủ quán hỏi. “Không, tôi đi ngựa, xe ngựa. Theo con đường cũ.” Rượu đã làm ấm người lên, ông nheo nheo mắt nhìn hết người này sang người kia, nhưng ông còn chưa biết bắt đầu ra sao, vì bằng cách nào đó ông cảm thấy đây chưa phải là dịp thuận lợi: ông chưa định rõ được thật ra ông muốn gì, ngay cả khi ông biết rõ sự trống rỗng này, sự buồn tẻ phả ra từ những bức tường này chỉ là vẻ bề ngoài, bởi (đúng đây chỉ là món quà của người đưa tin) ở giao điểm vô hình, nhưng có thực tế hơn này của khu trại, sự ồn ào náo nhiệt của những giờ sắp tới, âm thanh nghi lễ, hoang dã sắp tới lúc này đã có thể nghe thấy, vậy mà ông vẫn chờ đợi nhiều hơn thế, nhiều sự chú ý hơn, so với những gì mà Halics và ông chủ quán cùng ban tặng cho ông, vì ông cảm thấy số phận không ưu ái ông xứng đáng, nếu trong giây phút quyết định này nó đưa tới trước mặt ông hai con người này: ông chủ quán cách xa ông “một vực thẳm không đáy, vì cùng một con người, đối với ông là “khách vãng lai”, hay khắt khe hơn là “người lữ hành”, thì đối với ông ta là “khách”, và Halics, một cái ống rỗng khô kiệt, đối với lão “kỷ luật và sự dứt khoát, khả năng va chạm và sự tin cậy” hôm nay và ngày mai cũng sẽ chẳng nói lên điều gì. Ông chủ quán căng thẳng nhìn cái gáy sấp bóng của người soát vé, ông hít thở chậm rãi và cẩn thận. Còn Halics - cho tới khi Kelemen chưa bắt đầu câu chuyện - nghĩ: “Có ai đó vừa mới chết!” Tin lan nhanh trong khu trại, và trong nửa giờ, cho tới khi chủ quán quay lại, thừa đủ để Halics, trong bí mật - gần tới mức sờ tay được - kiểm tra xem dòng chữ RIZLING - đối với lão là đa nghĩa - nhãn dán trên các chai rượu hàm chứa điều gì, và thời gian còn đủ để - với sự có mặt của một người đang ngủ và một người đang gà gật - với một thử nghiệm cực nhanh lão chứng minh giả thiết từ lâu của lão là khi pha rượu vang với nước lã thì màu sắc của hợp chất mới giống màu sắc của rượu gốc đến mức khó phân biệt nổi. Cùng lúc với thời điểm lão làm xong thử nghiệm, trên đường tới quán rượu, vợ Halics thấy hình như có một vì sao rớt xuống chỗ nhà xay. Mụ chững lại, đặt tay lên chỗ trái tim, đưa mắt dò xét nhìn lên bầu trời càng lúc càng giống như một cái chuông úp trên đầu, nhưng vô ích, có lẽ chỉ tại mụ hoa mắt bởi sự hồi hộp bất chợt; tuy nhiên: sự bất an, khả năng có thể xảy ra, quang cảnh nặng nề của vùng đất vắng vẻ đè nặng lên mụ đến nỗi mụ đổi ý, vòng trở lại, tìm cuốn Kinh Thánh rách nát giấu dưới chồng vải trải giường đã là sắc cạnh, và ôm cuốn sách với cảm giác tội lỗi mỗi lúc một tăng, mụ lại xuất phát, mụ vòng ra con đường đá ngay dưới tấm biển chỉ địa danh một thời, và đi hết một trăm lẻ bảy bước tới quán rượu - trong khi sự giác ngộ chín dần lên trong mụ với tốc độ của sự khai sáng - dưới làn mưa táp vào mắt. Để có đủ chút thời gian, vì từ trạng thái căng thẳng, từ sự hỗn loạn đáng sợ của ngôn từ dẫu sao cũng cần phải tỏ rõ một sự rành mạch nhất quán nào đó và sự khải ngộ không thể cưỡng nổi, rằng đây chính là “thời Kinh thánh”, mụ dừng lại trước cửa quán rượu, và giật mạnh cửa, để đứng vững trên bậc cửa, ném vào những gương mặt bất ngờ: PHỤC SINH!, khi đã chắc chắn rằng mình đã tìm được một cách không thể nhầm lẫn từ ngữ thích hợp, mà sự ngắn gọn đậm đặc của nó chỉ làm tăng thêm tác động mà bản thân sự kiện bắt buộc phải tạo ra. Nghe tiếng kêu, người xóm trại hốt hoảng ngẩng đầu lên, người soát vé đứng bật dậy như thể bị kim châm, còn ông chủ quán cũng không yên: ông bất chợt đẩy người về phía sau, mạnh đến nỗi đập đầu vào tường và trong chốc lát ông thấy thế giới trước mắt tối mù mờ. Lát sau họ nhận ra bà vợ Halics. Không đừng được, chủ quán hỏi gắt lên (“Lạy Chúa, bà làm sao thế, bà Halics?”), và ông cố vặn cái móc cửa đã bị giật hẳn ra vào tấm ván cửa. Halics lúng túng kéo vợ tới chiếc ghế gần nhất (một việc không dễ: “Lại đây, mưa xối vào cửa bây giờ!”), rồi lão gật gật đầu vẻ đồng ý để trấn tĩnh bà vợ đang huyên thuyên, và cơn sóng từ ngữ lúc sôi sục, lúc rên rỉ sợ hãi chỉ kết thúc khi bà vợ Halics nổi cơn thịnh nộ với nụ cười mỉa mai đồng lõa của người soát vé và ông chủ quán: “Không phải trò cười đâu! Hoàn toàn không phải là trò cười!”, và Halics ấn được vợ ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh lão, ở góc phòng. Lúc này bà ngồi yên vì tự ái, ôm cuốn Kinh Thánh áp sát vào ngực, bà nhìn lên cao qua đầu những kẻ tội lỗi, và mắt bà mờ đi vì một sự tin chắc vừa tìm được. Giống như một chiếc cọc mọc lên từ mặt đất, giữa từ trường được tạo nên bởi những cái đầu người cúi gằm và những tấm lưng còng; và vị trí, mà sau đó một thời gian dài bà không muốn từ bỏ, như một khe hở trong không gian kín của quán rượu - khe hở mà qua đó không khí tự do lọt ra ngoài, để thế vào chỗ đó ập tới những luồng gió làm tê liệt, băng giá, độc hại. Trong sự yên tĩnh căng thẳng chỉ nghe tiếng rì rì của những con ruồi trâu, và tiếng mưa không thể ngăn nổi dội lại từ phía xa, và cả hai được hòa trộn trong tiếng xào xạc của các cây keo nghiêng ngả ngoài trời, công việc ban đêm lạ lùng của lũ bọ một diễn ra ở chân bàn và kết cấu đỡ quầy hàng, với các tín hiệu dồn dập không theo quy luật chia thời gian thành các ngăn nhỏ và xác định một cách không khoan nhượng các không gian vừa đủ chứa không thiếu một từ, một câu hay một cử động. Đêm cuối tháng Mười với một nhịp đập duy nhất: một nhịp điệu kỳ lạ không thể hiểu được bằng lời hay bằng trí tưởng tượng, trong cây cối, trong mưa, trong bùn lầy; trong ánh sáng lờ mờ, trong bóng tối đang từ từ rút lui, trong các hình dạng nhạt nhòa, trong các cơ bắp mỏi mệt; trong tĩnh lặng, trong các vật dụng của con người, trong các khúc quanh của con đường lát đá; trong mái tóc cho phép một nhịp điệu khác so với các mô đang tan rữa cơ thể; sự phát triển và sự tàn lụi đi theo các hướng khác nhau, vậy mà: cả ngàn tiếng vọng động, sự ồn ã hỗn loạn vật vã của đêm có vẻ như một thành tố của một nhịp điệu chung, để che lấp đi nỗi thất vọng: sau việc này lại đến các việc khác, và trên tầm mắt chúng không còn phụ thuộc vào nhau nữa. Như thể một cánh cửa mở vĩnh viễn: với một chiếc khóa không bao giờ mở. Một khe sâu: một kẽ hở. Ông chủ quán, sau khi thấy chẳng còn chỗ nào lành lặn trên cái cánh cửa mục, dù ông đã làm mọi cách, liền ném bỏ chiếc móc cửa và thay bằng một cái chêm; ông bực mình ngồi trở lại chiếc ghế đẩu (“Khe hở thì vẫn là khe hở” - ông đành chấp nhận), để tới chừng nào có thể, ông lấy sự yên tĩnh của thân thể mình đối chọi với sự bất an mỗi lúc một tăng mà ông biết rõ rằng ông không thể giải thoát khỏi. Vì tất cả đều vô ích: ý muốn trả thù bà vợ Halics vừa bất chợt nảy sinh, thì sự lúng túng, thất vọng khủng khiếp này đã nhấn chìm nó. Ông nhìn khắp lượt các bàn, ước lượng xem rượu vang, rượu palinka còn đủ đến khi nào, rồi ông đứng dậy đi vào kho, kéo cửa khép lại. Khi không còn con mắt nào nhìn thấy nữa, ông tự do xả cơn tức giận, và bằng những động tác đe dọa, với vẻ mặt cau có đáng sợ ông đi trong mùi han gỉ (“mùi tình” - như trước đây nhiều lần ông khẳng định, khi cái kho này là chỗ lui tới của các cô con gái nhà Horgos) suốt những lối đi giữa đống hàng hóa tồn đọng từ nhiều năm nay, như bao giờ cũng vậy, khi ông cần suy nghĩ lâu, một mình, để tìm ra giải pháp cho những khó khăn cấp bách: tới bên cái cửa sổ được bảo vệ bằng lưới chắn muỗi và lưới sắt to bằng hai ngón tay phòng ngừa bọn trộm rình rập ngoài con đường đá, ông ngoặt chỗ mấy bao bột, đi dọc các bao chất dinh dưỡng chất cao như bức tường tới tận chiếc bàn nhỏ, và ở đó, sau khi đã lẩm bẩm một câu đáng hổ thẹn về đấng Sáng Thế, bởi người “định giết ta bằng lũ nhện sát nhân này”, ông rẽ sang phải rồi bước qua một đống hạt giống chảy ra khỏi bao được quét gọn lại, nhoáng cái ông đã quay về chỗ tấm cửa sắt. Làm gì có chuyện đó: ông chẳng tin vào sự phục sinh nào hết, điều đó ông nhường cho mụ vợ Halics, ông biết rõ những chuyện vớ vẩn đó; nhưng hãy cho phép ông một chút sự bất an, nếu bỗng nhiên lại có chuyện một người đã chết vẫn đang sống. Ông chẳng có lý do gì để dạo đó ông lại nghi ngờ điều mà thằng bé con nhà Horgos đã dứt khoát khẳng định; ông còn gọi thằng bé ra một chỗ để căn vặn nó kĩ lưỡng về các tình tiết; và dù liên quan đến vài chi tiết nhỏ ông cũng thấy những trụ cột của câu chuyện “không đứng như chúng cần phải đứng”, ông không hề nghĩ có thể đó là một cái tin giả. Thế nhưng, ông tự hỏi, có lý do gì khiến thằng bé con nhà Horgos phải nói dối trắng trợn như thế? Dù về phía ông, ông ghi nhận trên mặt đất này không có đứa trẻ nào hư đốn như thằng nhóc ấy, nhưng đừng có bắt ông tin là một đứa con nít lại nghĩ ra trò này mà không có sự can thiệp, thậm chí sự che đỡ từ bên ngoài. Còn riêng bản thân ông, ông chắc chắn rằng, dù người ta bảo có ai đó đã nhìn thấy họ ở trong thành phố, thì sự thật về cái chết vẫn là sự thật. Ông không hề bất ngờ chút nào, về Irimiás thì không thể có kết cục khác. Về phía mình, ông sẵn sàng tin bất cứ điều gì về cái thằng du thủ du thực bẩn thỉu đó, vì cùng với thằng bạn của nó, nó đúng là một thằng du thủ du thực bẩn thỉu, không có gì phải bàn cãi. Ông nảy ra một quyết định: nếu chúng nó tới đây, ông sẽ không ngần ngại, rượu dù sao cũng có giá của nó. Xét cho cùng ông chẳng liên quan gì, chúng có là những hồn ma đi chăng nữa, ai uống ở đây kẻ đó phải trả tiền. Ông không thể chịu thiệt. Ông đã vất vả “suốt cả cuộc đời”, đã đổ mồ hôi sôi nước mắt để mở cái quán rượu này không phải để bọn “cha căng chú kiết” đến đây nốc rượu. Bán chịu thì không, còn sự hào phóng không phải là căn tính của ông. Hơn nữa - ông không loại trừ khả năng bọn Irimiás đúng là đã bị ô tô đâm chết. Tại sao ư? Ngoài ông ra không một ai nghe nói về trạng thái chết lâm sàng? Bằng cách nào đó người ta đã kéo được chúng về cõi sống khốn nạn này, thì đã sao? Việc này - theo ý kiến ông - với trình độ y học hiện đại ngày nay là có thể, làm cho bọn kia sống lại là việc làm thiếu suy nghĩ chín chắn. Dù thế nào đi nữa: ông không quan tâm; ông đâu phải loại người sợ một kẻ “đã chết” đáng ngờ. Ông ngồi xuống chiếc bàn nhỏ, và sau khi đã lau hết mạng nhện, ông lật giở cuốn sổ kiểm kê, ông lấy ra một tờ giấy và một mẩu bút chì ngắn, rồi vội vã cộng các số liệu trong mấy trang cuối, ông viết lên mặt giấy những con số vớ vẩn trong khi mồm ông lẩm bẩm điều gì đó không thể hiểu nổi:
10x16 s. a/4x4
9x16 ü. a/4x4
8x16 b. a/4x4
tart. 2 rek 31,50
3 rek 5,60
5 rek 3,-
Ông trầm tư nhìn các con số nghiêng từ phải sang trái với vẻ hãnh diện, và cảm thấy sự thù hận vô hạn đối với thế giới, cái thế giới đã tạo điều kiện để bọn đểu giả bẩn thỉu này chọn ông làm mục tiêu cho những toan tính bẩn thỉu mới nhất của chúng; thông thường ông đủ khả năng để chế ngự cơn giận dữ bột phát (“Người bản tính tốt!” - bà vợ ông hay nói với những người hàng xóm ở thành phố) và sự khinh ghét vì giấc mơ của đời ông: để điều này một khi nào đó biến thành hiện thực, ông biết, mình phải luôn luôn tỉnh táo, chỉ cần một lời nói hớ, một tính toán vội vàng là tất cả đổ vỡ hết. Nhưng “đôi khi con người ta không làm chủ được bản tính của mình”, và điều đó bao giờ cũng đi cùng với thất bại. Ông chủ quán hài lòng với đấng Sáng Thế, bởi ông nhận ra từ đâu ông có thể xây dựng “cơ sở” cho giấc mơ lớn của ông. Từ mức độ của sự ghê tởm và thù hận xung quanh ông, ngay từ thời niên thiếu và thanh niên ông đã biết tính toán ra lợi hại tới từng xu. Sau tất cả những cái đó - hiển nhiên - ông không mắc lại đúng sai lầm như thế. Thỉnh thoảng ông nổi cơn giận dữ, những lúc như thế ông lui vào đây tránh những ánh mắt tò mò, ông thả sức xả cơn tức giận. Nhưng dù thế nào ông vẫn biết kiềm chế. Ngay cả những lúc như thế ông cũng chú ý để không gây ra thiệt hại. Ông đá vào tường, hay bất quá, ông quăng một khay nhựa vào cái cửa sắt cho nó “kêu váng lên”. Nhưng lúc này ông không cho phép mình làm việc đó, tiếng ầm có thể vọng ra bên ngoài. Và cũng như những lúc khác, lúc này ông cũng lẫn vào các con số. Vì trong các con số có một chứng cứ bí ẩn nào đó, có một sự “đơn giản cao quý” bị coi thường theo một cách khờ dại nào đó, để giữa hai thứ đó hình thành ý thức mơn trớn sống lưng ông: “Có các viễn cảnh”. Nhưng liệu có dãy số nào có thể thắng được gã Irimiás gầy nhẳng, tóc xám, mặt không một chút sinh khí, đầu như đầu ngựa kia, cái gã vô công rồi nghề, đồ rác rưởi, loài dòi bọ đáng vứt vào hố tiêu kia? Đâu là con số có thể đè bẹp gã khốn kiếp, ma quỷ kia? Bất khả tín? Không thể hiểu nổi? Từ ngữ không đủ. Mọi cách diễn đạt ở đây đều yếu ớt. Ở chỗ này không cần đến ngôn từ, mà cần sức mạnh. Ở đây cần người biết giáng xuống một đòn. Ở đây cần sức mạnh, chứ không cần sự ba hoa của những kẻ yếu đuối. Ông gạch ngang các dòng đã viết, nhưng dưới những đường gạch các con số vẫn rõ nét càng lúc càng sáng lên nhiều điều trên mặt giấy. Chúng đã không chỉ thông tin cho ông chủ quán biết về số lượng các chai vang, chai bia, chai nước giải khát, ồ, không! Các con số càng lúc càng nói nhiều điều hơn với ông. Và ông nhận ra rằng, trong cùng một thời gian càng lúc ông càng trở nên to hơn và to hơn. Các con số càng đa ý nghĩa, thì “ta càng lớn hơn”. Vài năm trở lại đây ý thức về sự to lớn của ông khiến ông khó chịu. Ông mau mắn chạy lại phía sau chỗ các chai nước giải khát để xem mình nhớ có đúng không? Ông thấy bất an vì tay bên trái ông bắt đầu run không dừng được. Biết làm sao được, cuối cùng ông phải đối diện với câu hỏi làm ông nghẹn thở. “Irimiás muốn gì?” Ông nghe thấy một tiếng nói thì thào trong góc, máu ông như ngừng chảy trong tích tắc, bởi ông tưởng những con nhện ma quỷ của ông - thật là hết cấp - lại còn biết nói nữa. Ông hắng giọng, ngả người vào các bao đựng bột, và châm thuốc. “Một kẻ đã uống không trả tiền mười bốn ngày, lại dám vác mặt đến! Và thằng này quay lại thật! Mà không phải nó đến bình thường! Cứ như thể nó cho như thế là còn ít! Ta sẽ đuổi lũ lợn này ra! Ta sẽ tắt hết điện! Đóng đinh bịt cửa ra vào lại!” Ông đã điên đầu! Ông lại đi nhanh trên các lối đi mà ông tạo ra. “Thử xem nào. Nó đã đến khu đất ngoài thảo nguyên và nói: có cần tiền không, vì nếu cần, hãy trồng hành khắp bãi. Chỉ thế thôi... giữa hai câu nói. Hành gì? - ta hỏi. Hành tây, nó đáp. Và ta đã trồng kín hết. Và được thu hoạch. Và ta đã mua cái quán rượu này từ một người Svabian. Vì các việc lớn bao giờ cũng đơn giản. Và sau hôm mở cửa bốn hôm thì nó thò cái mũi khoằm tới, và nó dám nói rằng ta (Tôi!!!) nhờ nó mà được thế này, và nó uống mười bốn ngày, mà chẳng hề nói một lời cảm ơn. Còn bây giờ? Có lẽ nó đến để lấy lại NHỮNG GÌ LÀ CỦA TA? Lạy trời! Cái gì sẽ diễn ra với thế giới này, nếu một ngày bất cứ đứa nào cũng có thể đến và bảo, tiến thoái lưỡng nan, ở đây tôi là chủ! Cái đất nước này sẽ ra sao? Ở đây mọi thứ đã hết thiêng? Không, không, các bạn! Trên thế gian này còn có luật pháp nữa!” Mắt ông sáng ra, ông đã trấn tĩnh lại. Ông bình tĩnh đếm các khay đựng nước giải khát. “Dĩ nhiên là, - ông đặt tay lên trán. - Con người ta nóng nảy một chút, là đã có vấn đề nan giải.” Ông lại lấy cuốn sổ kiểm kê, mở cuốn vở ra và gạch đi trang cuối cùng, và vui vẻ bắt đầu lại:
9x16 ü. a/4x4
11x16 s. a/4x4
8x16 b. a/4x4
tart. 3 rek 31,50
3 rek 3,-
5 rek 5,60
Ông đặt mẩu bút chì xuống, đặt quyển vở vào cuốn sổ kiểm kê, rồi nhét cuốn sổ vào ngăn kéo, ông xoa xoa đầu gối, rồi kéo chiếc khuy cài cửa sắt. “Hãy đợi đến cuối.” Vợ Halics là người duy nhất nhận thấy “ông ở quá lâu trong cái kho chết tiệt”, và lúc này mụ dõi theo mọi cử chỉ của ông với ánh mắt soi mói. Halics sợ sệt nghe câu chuyện oang oang của người soát vé. Ở chừng mực có thể, lão co rúm người lại, thu hai chân về, hai tay đút sâu vào túi, để diện tích có thể tấn công được thu lại càng nhỏ càng hay, ngộ nhỡ “đúng lúc này có ai đó tấn công”. Chỉ việc gã có mặt ở đây trong thời điểm bất thường này, ướt át, hồi hộp thế này đã đủ (lần cuối cùng gã về trang trại cách đây ba tháng), giống như những người đàn ông lạ, áo choàng dài chấm khoeo, rách tã đã xuất hiện trong bếp của các gia đình đang ăn tối yên vui, để gây nên sự hỗn loạn và sợ hãi rồi thông báo bằng giọng mỏi mệt rằng chiến tranh đã nổ ra, rồi trong nỗi sợ hãi họ tựa lưng vào tủ bếp uống hết một cốc palinka, và vĩnh viễn biến khỏi vùng này. Vì bây giờ biết hiểu sự phục sinh bất chợt này, sự vội vàng rối rít quanh đây thế nào? Halics cảm thấy lo lắng bởi xung quanh lão tất cả đều thay đổi: bàn ghế đều dịch chuyển, để lại vết chân màu trắng trên nền nhà thấm dầu; trật tự của các khay đựng rượu ở sát tường cũng khác, trên mặt quầy vẻ sạch sẽ hiện rõ. Lúc khác “các gạt tàn ùn lại thành đống cũng chẳng sao”, vì ai cũng gạt tàn xuống đất - còn bây giờ, nhìn kìa! Cửa ra vào đã được chặn bằng nêm, đầu mẩu thuốc được quét gọn vào một đống trong góc nhà! Có chuyện gì thế nhỉ? Chưa kể đến những con nhện đáng nguyền rủa này nữa, vừa ngồi xuống chưa ấm chỗ đã phải gạt mạng nhện bám đầy... “Cuối cùng thì mặc xác họ, chỉ có điều làm sao tống khứ được con mẹ này về nhà...” Kelemen chờ cốc rượu lại được rót đầy, chỉ khi đó ông ta mới đứng dậy. “Tôi phải vươn vai cho dãn cái lưng một chút!” - ông ta nói, rồi vừa ậm ọe vừa ngả người ra sau làm các động tác thể dục. Rồi ông làm một hơi hết cốc palinka. “Các vị hãy tin, như tôi đang ngồi đây này. Vì khi đó đã yên tĩnh tới mức, con chó cũng nằm bẹp phía sau lò sưởi! Còn tôi thì chỉ ngồi đó, nheo mắt lại, tưởng mình nhìn nhầm! Dù họ ở ngay trước mặt tôi, đúng như người thật, sống động!” Bà vợ Halics lạnh nhạt nhìn ông ta từ đầu đến chân. “Này, thế ông nói xem, ít ra ông đã được bài học chứ?” Người soát vé bực mình quay lại. “Bài học gì?” “Ông chẳng học được gì cả!” - vợ Halics buồn bã nói, và chỉ vào chiếc cốc của Kelemen bằng bàn tay cầm cuốn Kinh Thánh. “Vì ngay lúc này ông cũng nốc rượu!” Ông già hộc lên. “Cái gì? Tôi ấy à? Tôi nốc rượu à? Bà là cái thá gì mà dám nói với tôi như vậy?” Halics nuốt nước bọt, và nói xen vào như xin lỗi. “Ông đừng để tâm, ông Kelemen. Lúc nào mụ ấy cũng thế, xin lỗi ông!” “Sao tôi lại không để tâm! - ông già cao giọng. Các người tưởng mình là ai hả?” Ông chủ quán xen vào theo nghĩa vụ. “Bình tĩnh nào. Ông cứ kể tiếp đi. Tôi muốn nghe.” Vợ Halics sầm mặt quay về phía chồng. “Ông có thể ngồi yên ở đây, như thể không có chuyện gì xảy ra cả à? Ông kia xúc phạm đến vợ ông! Tôi thật không thể ngờ!”
Từ con người bà toát ra một vẻ khinh bỉ sâu sắc và không thể giải thích nổi, đến nỗi Kelemen - mặc dù không muốn dừng việc này ở đây - cũng phải nghẹn lời. “Nào, tôi nói tới đâu rồi nhỉ? - ông ta hỏi ông chủ quán, rồi xịt mũi và cẩn thận gấp chiếc mùi soa lại, vuông vức. - ... À, đúng rồi, các cô gái phục vụ bắt đầu chảnh chọe, và thế là...” Halics lắc đầu. “Không, chỗ này chưa.” Kelemen bực bội dằn cốc rượu xuống. “Thế này thì không thể, xin lỗi các vị!” Ông chủ quán ném về phía Halics một cái nhìn trách móc, rồi ra hiệu cho người soát vé, ý bảo “Thôi, ông đừng bắt chúng tôi phải nài nỉ nữa.” “Không, tôi xin chấm dứt!” - ông ta nói. Để Halics kể, ông ta cũng đã có mặt ở đó, đúng không? Ông ấy còn biết rõ hơn tôi!” “Ông đừng để ý đến họ, - ông chủ quán đáp. - Họ không hiểu đâu. Hãy tin tôi, họ không hiểu đâu!” Kelemen gật gù, mặt đã nhẹ bớt; rượu đã hâm nóng xương cốt, nét mặt hơi phù của ông đỏ ửng, và hình như mũi ông cũng to hơn... “Nào, tóm lại là... tôi đã kể đến chỗ các cô hầu bàn... Và tôi nghĩ Irimiás sẽ bạt tai chúng ngay lập tức, nhưng không! Đâu vẫn thế ấy. Dân lấc cấc! Đúng như bọn người ở đây... Tôi biết mặt bọn chúng, một tay chở hàng cho TÜZÉP[1], hai đứa đến từ trại gỗ, một giáo viên ở trường học cơ sở số một, và một nhân viên phục vụ đêm từ quán ngoài ga, và mấy đứa nữa. Tôi nói nghiêm chỉnh, tôi rất phục sự tự kiềm chế của Irimiás... nhưng chúng ta phải công nhận hắn ta đúng. Biết làm gì với lũ người đó? Tôi đã đợi đến khi họ bắt đầu uống thứ rượu pha tạp (đúng, cả hai người đã uống thứ đó), sau khi họ đã ngồi xuống cạnh một bàn, tôi mới bước lại gần. Irimiás, khi nhận ra tôi, hay nói đúng hơn là hắn nhận ra tôi ngay, hắn ôm tôi và nói: Ô, ông bạn, lâu quá mới gặp hả? Gã ra hiệu cho các cô gái bồi bàn, họ nhảy dựng lên như đám châu chấu, dù không có phục vụ tận bàn, gã gọi một rund[2].” “Một rund?...” - ông chủ quán ngạc nhiên hỏi. “Một rund, - Kelemen khẳng định. - Cái đó có gì lạ nhỉ? Tôi thấy lúc đó hắn không muốn trò chuyện, vì vậy tôi và Petrina nói chuyện với nhau. Y đã nói ra hết tất cả.” Vợ Halics dỏng tai nghe không bỏ sót điều gì. “Y đã nói tất cả. Làm gì có chuyện y lại nói cho ông này tất cả.” - bà ta nhận xét vẻ giễu cợt. Và trước khi người soát vé có thể quay lại để nhìn thẳng vào “con mụ phù thủy này”, ông chủ quán cúi qua bàn quầy, đặt tay lên vai ông ta. “Tôi đã nói rồi, ông đừng bận tâm tới bất cứ điều gì. Thế còn Irimiás?” Kelemen cố trấn tĩnh, và không cử động. “Irimiás chỉ thỉnh thoảng gật gật đầu. Hắn không nói nhiều. Hắn đang suy nghĩ điều gì đó.” Ông chủ quán nuốt nước bọt. “Ông nói là... hắn suy nghĩ... một điều gì đó?” “Đúng thế. Cuối cùng hắn chỉ nói: ‘Chúng tôi phải đi. Ta còn gặp nhau, ông Kelemen.’ Sau họ ít lâu tôi cũng đi, vì không thể... ít ra là tôi không thể chịu đựng nổi bọn phát vãng ở đó, hơn nữa tôi lại có việc với ông thợ thịt Hochan ở Kisrománváros. Trời đã tối khi tôi ra về, nhưng ở chỗ lò mổ tôi còn rẽ vào Mérö[3]. Tôi gặp thằng con nhà Tóth ở đó, mấy năm trước họ là hàng xóm của tôi ở trang trại Postelek. Nó nói buổi chiều hình như bọn Irimiás ở nhà tay buôn vũ khí Steigerwald, và họ bàn nhau về một loại thuốc súng nào đó, ít nhất là đám con nhà Steigerwald khẳng định như thế ngoài phố. Sau đó tôi về nhà. Và trước khi rời ngã rẽ Elek, ông biết đấy, chỗ con đường Đất Đen, tôi cũng không biết tại sao, nhưng tôi đã ngoảnh nhìn lại. Tôi biết ngay rằng, chỉ có thể là họ, dù họ cách tôi khá xa. Tôi đi tiếp một đoạn ngắn, để vẫn nhìn thấy chỗ rẽ, và đúng là tôi không bị mắt mình đánh lừa, đúng là họ: không ngần ngừ, họ rẽ vào con đường đá. Rồi khi về đến nhà tôi chợt hiểu ra rằng, họ đi đâu, để làm gì và tại sao.” Ông chủ quán ngả người về phía trước nghe, lim dim mắt, vẻ thích thú và ranh mãnh nhìn Kelemen; ông đoán rằng, điều ông vừa nghe được chỉ là một phần, một phần nhỏ của những gì đã xảy ra, và ngay cả điều đó có lẽ cũng là sự dối trá. Ông nể trọng Kelemen, nên ông cho rằng ông ta không dễ ngửa bài ra như vậy. Hơn nữa, ông biết rằng chẳng có ai lại tự nói hết ra trước như thế, vì vậy mà ông chẳng tin ai, cũng như lúc này ông cũng chẳng tin một lời nào của người soát vé, dù ông đánh giá rất cao những lời nói đó. Ông chắc chắn rằng, dù có muốn con người ta cũng không thể nói ra sự thật, vì vậy ông không gán cho giả thuyết đầu tiên của câu chuyện một ý nghĩa đặc biệt, nhưng ít ra ông nghĩ: “Có thể một việc gì đó đã xảy ra...” Nhưng chính xác câu chuyện này là gì, thì - ông nghĩ - chỉ có thể giải mã cố gắng chung, bằng cách nghe lại những biến thể mới nhất, rồi không cần làm gì khác hơn là chờ đợi; chờ đợi, để đến một lúc nào đó sự thật sẽ sáng tỏ; tới lúc đó, những tình tiết khác của sự việc cũng sẽ hé mở, và khi đó - lần ngược lại - có khi còn có thể kiểm tra được các tình tiết của câu chuyện gốc sắp xếp theo trình tự nối tiếp nhau như thế nào. “Đi đâu, để làm gì và tại sao?” - ông lẩm bẩm hỏi. “Có chuyện, đúng không?” - là câu trả lời. “Có thể,” - ông chủ quán đáp vẻ thờ ơ. Halics xích lại gần vợ hơn (“Thật là những từ ngữ lạnh sống lưng, lạy chúa Giêsu! Dựng tóc gáy!...”), bà vợ từ từ quay về phía chồng. Bà nhìn ngắm kỹ nét mặt nhăn nheo, đôi mắt xám thất thần, cái trán thấp nhô ra phía trước của chồng. Nhìn gần, lớp da mặt nhăn nheo của Halics khiến bà nhớ tới những đống thịt và lớp ba chỉ chồng chất nhau trong các lò mổ lạnh lẽo, đôi mắt nhài quạt xám nhạt khiến bà liên tưởng tới mặt nước phủ đầy bèo tấm của các giếng nước trên sân các ngôi nhà bỏ hoang, cái trán thấp nhô ra phía trước gợi nhớ tới “trán những kẻ giết người được đăng ảnh trên các báo, và không bao giờ có thể quên”. Vì vậy, lòng thương hại Halics vừa thức dậy trong lòng bà cũng nhanh chóng biến mất, thế vào chỗ đó là một câu không đúng chỗ: Giêsu vĩ đại! Bà xua đuổi khỏi ý nghĩ khao khát phải yêu chồng, vì “trong một con chó cũng còn có lòng tự trọng hơn” so với trong con người này; nhưng bà biết làm sao? Điều này đã được ghi trong cuốn sách của số phận. Chờ đợi bà, có lẽ là một góc nhỏ yên tĩnh của thiên đường, nhưng Halics thì có thể hy vọng gì, điều gì sẽ giáng xuống linh hồn thô lỗ, tội lỗi của hắn. Bà vợ Halics tin vào Thượng đế, và hy vọng ở lửa luyện ngục. Bà giơ cuốn Kinh Thánh. “Tốt hơn cả, ông nên đọc cái này!” “Tôi? Bà biết đấy, không...” “Ông!” - Bà vợ cắt ngang. - “Đúng! Ông! Để ít ra thì điều không thể tránh khỏi không tới đột ngột.” Những lời nói nặng nề đó không lay chuyển nổi Halics, tuy nhiên lão vẫn cầm cuốn Kinh Thánh với vẻ miễn cưỡng, cho xong chuyện. Rồi gật đầu tỏ ra ghi nhận khi ước đoán trọng lượng của cuốn sách, và lão mở trang đầu tiên. Nhưng bà vợ bật dậy, giật lấy cuốn sách. “Ông đừng đọc Đấng Sáng Thế, đồ bất hạnh!” Và với động tác thành thục, bà mở đúng chương Ngày tận thế. Halics đánh vật với câu đầu tiên khá khó khăn, nhưng sau đó một lát lão đã có thể bỏ dở, chỉ cần lão giả vờ đọc, vì sự theo dõi ngặt nghèo của bà vợ đã có phần nới lỏng. Và dù câu chữ không lọt vào đầu óc, nhưng mùi cuốn sách ập vào mũi có tác động rất tốt đối với lão: lão vẫn ngóng nghe cuộc nói chuyện giữa Kerekes với ông chủ quán, sau đó là giữa người soát vé với ông chủ quán (“Trời còn mưa không?” “Vẫn mưa.” “Thế còn thằng này?” “Say mèm rồi.”), vì lão đã tỉnh táo lại dần, nỗi sợ hãi do bọn Irimiás gây ra đã bay biến mất, lão lại cảm thấy khoảng cách giữa bàn quầy tới chỗ lão, cảm thấy cổ đã khát khô, thấy không gian khép kín của cái quán rượu. Lão cảm thấy dễ chịu vì đang được ngồi ở đây “giữa mọi người”, với ý thức chắc chắn rằng như thế này lão không thể gặp nguy hiểm. “Tối nay ta sẽ có đủ rượu vang uống. Các việc khác ta chẳng bận tâm.” Khi nhìn thấy vợ Schmidt ở khung cửa, hắn còn cảm thấy “chút hy vọng ranh mãnh” chạy dọc sống lưng: “Biết đâu đấy? Có khi ta sẽ có tiền nữa!” Nhưng cái nhìn sắc lẻm của vợ không để lão mơ ước hão lâu, lão cụp mắt, cúi mặt xuống cuốn sách, như một cậu học trò bị bắt quả tang, khi cùng lúc phải đối chọi với ánh mắt không khoan nhượng của bà mẹ và những quyến rũ của mùa hè nóng bỏng ở bên ngoài. Vì - trong mắt Halics, mụ vợ Schmidt chính là mùa hè nóng bỏng, một mùa không thể với tới đối với kẻ chỉ biết tới “mùa thu tàn úa, mùa đông không khát vọng” và mùa xuân náo nức, không viên mãn. “Ôi, bà Schmidt! - ông chủ quán nhảy dựng lên với nụ cười mềm mại, và trong khi Kelemen đang mò mẫm trên sàn nhà để tìm chiếc nêm chèn cửa nãy giờ vẫn giữ cho nó ở đúng vị trí, thì ông dẫn cô ả tới chiếc bàn của nhân viên, đợi ả kia ngồi xuống, rồi ông cúi xuống sát tại ả, để hít lấy mùi nước hoa mạnh và hơi thô chỉ vừa lấn át mùi gắt của sáp bôi tóc. Ông cũng không thể nói được ông thích thứ gì hơn, cái không khí mùa Phục sinh này hay cái hơi ẩm quyến rũ, dẫn ông tới đích giống như dẫn một chú bò đực tới mùa xuân. - Halics đã không thể tưởng tượng nổi chuyện gì đã xảy ra với chồng ả... Cô thấy đó, thời tiết xấu quá. Tôi có thể đem cho cô thứ gì?” Mụ vợ Schmidt, với “chiếc cùi tay có thể ngấu nghiến được” đẩy ông chủ quán dịch ra xa, và nhìn quanh. “Rượu anh đào nhé?” - ông hỏi vẻ thân thiện, với nụ cười không tắt. “Không, - vợ Schmidt trả lời. - À có, cho tôi xin một chút xíu thôi.” Bà vợ Halics dõi theo từng động tác của ông chủ quán với ánh mắt nảy lửa, gương mặt đỏ lựng và đôi môi run run vì căm thù; cơn giận trào dâng trong người bà ta theo từng đợt, theo nỗi đam mê bảo vệ lợi ích của mình, vì vậy bà ta không biết nên làm gì: ra khỏi “cái trại tội lỗi khủng khiếp này”, hay bước lại gần để cho ông già hám sắc khốn nạn kia một cái tát, kẻ dám dùng những mánh lới độc ác giăng lưới những kẻ yếu ớt không người bảo vệ để mê hoặc một tâm hồn ngây thơ? Bà sẵn sàng bảo vệ cô gái (“Ta có thể ôm nó vào lòng, vuốt ve nó...”), để tránh cho cô những trò “thô bạo” của ông chủ quán, nhưng bà không thể làm được. Bà biết rằng bà không thể để lộ những cảm xúc của mình, vì người ta sẽ hiểu lầm ngay (Bởi chỉ thế này họ cũng đã xì xầm bàn tán sau lưng bà), cũng như bà đoán biết rằng họ sẽ buộc cô gái trẻ đáng thương này vào liên minh kiểu gì, và điều gì sẽ chờ đợi cô. Bà ngồi đó với đôi mắt đẫm lệ, với cái lưng còng, đôi vai gầy chất đầy gánh nặng. “Cô đã nghe thấy chưa?” - ông chủ quán nhẹ nhàng hỏi. Rồi ông đặt cốc palinka xuống trước mặt cô vợ Schmidt, và cố thu cái bụng ỏng của ông lại đến mức có thể. Bà vợ Halics từ góc nhà lên tiếng. “Nghe thấy rồi. Cô ấy đã nghe thấy rồi.” Ông chủ quán rầu rầu trở lại chỗ ngồi, miệng mím chặt, vợ Schmidt dùng hai ngón tay nhẹ nhàng nâng cốc rượu lên môi, sau đó - như người bỗng dưng nghĩ lại - ả dốc một hơi cạn cốc như kiểu đàn ông. “Các vị thử nói xem, có đúng là họ không?” “Dĩ nhiên! - ông chủ quán đáp - Không nhầm đâu!” Cô vợ Schmidt bỗng thấy hồi hộp lạ lùng, ả cảm thấy toàn thân rơm rớm mồ hôi, những ý nghĩ thoáng qua quay cuồng trong đầu ả, chẳng có thứ tự, quy luật nào hết, vì vậy tay trái ả nắm chặt lấy cạnh bàn, để giấu kín cảm xúc của ả trong niềm hạnh phúc bất chợt ập đến. Ả còn phải chọn quần áo từ cái thùng quân dụng, phải xem ả cần đến những thứ gì, không cần đến thứ gì, nếu sáng ngày mai - hay có lẽ ngay đêm nay? - họ lên đường; vì ả không mảy may nghi ngờ, rằng sự xuất hiện bất thường (bất thường?, đúng hơn là tài tình) của Irimiás không phải là ngẫu nhiên... Ả, vợ Schmidt, vẫn còn nhớ chính xác những lời nói đó... ôi, làm sao có thể quên được những lời đó? Và tất cả những điều đó, lúc này, vào phút cuối cùng! Những tháng vừa qua, những phút nghe tin về cái chết của gã đã nghiền nát niềm tin của ả, ả đã từ bỏ mọi hy vọng, mọi kế hoạch ả từng nâng niu, và lẽ ra đã hài lòng với cuộc chạy trốn khốn khổ, phi lý, cốt sao trốn khỏi nơi này. Thật là sự nhu nhược ngốc nghếch! Bởi ả luôn biết cuộc đời khốn khổ này là con nợ của ả! Ả có cái để hy vọng, để chờ đợi! Nào, đã đến lúc ả không còn phải chịu đựng, mọi khổ ải đã chấm dứt! Đã bao lần ả tưởng tượng, mơ ước! Và giờ đây nó đã tới! Nó đây! Khoảnh khắc vĩ đại của đời ả! Ả nhìn khắp lượt những gương mặt mờ ảo bằng con mắt sáng rực bởi lòng thù hận và sự khinh miệt. Sự sung sướng gần như khiến thân thể ả muốn vỡ tung ra. “Ta sẽ bỏ các người ở lại đây. Các người hãy chết hết cả lũ đi. Cứ thế này, như các người đang tồn tại. Sét đánh chết các người đi. Ngay bây giờ.” Trong đầu ả nảy sinh những dự định lớn, chưa rõ nét (cái chính là: lớn), ả thấy ánh sáng, những dãy cửa hiệu chiếu sáng, các ban nhạc mốt, các bộ đồ lót đắt tiền, quần tất và mũ (Ôi, những chiếc mũ rộng vành!) dập dờn trong trí tưởng tượng của ả; những chiếc áo choàng lông thú mềm mại và mát dịu, các khách sạn rực rỡ, những bữa sáng sang trọng, các chuyến mua sắm, và buổi tối, BUỔI TỐI, khiêu vũ... ả nhắm mắt, để nghe tiếng sột soạt, tiếng động hoang dã, cái âm thanh náo nhiệt hạnh phúc không thể nào hơn. Và dưới hai hàng mi khép lại của ả hiện lên giấc mơ kỳ diệu mà ả đã cẩn thận giữ kín từ khi còn là thiếu nữ (đã tái hiện cả trăm lần, ngàn lần “trong một tiệc trà buổi chiều ở salon...”), nhưng trong trái tim đang đập gấp gáp của ả bỗng dâng lên một nỗi hoài nghi cũ: ả đã bỏ qua bao nhiêu thứ! Kể từ nay - cùng một lúc - ả sẽ đứng vững ra sao? Ả sẽ làm gì với “cuộc sống thực sự” trút lên đôi vai mình? Bởi ăn bằng dao, dĩa thì ả còn biết tàm tạm, nhưng ả sẽ làm gì với hàng ngàn loại thuốc bôi mặt, kem, son phấn, ả sẽ đón nhận “lời chào hỏi, đùa cợt của người quen” thế nào, ả sẽ chọn lựa và ăn mặc áo quần ra sao, và nếu - ơn Chúa! - khi họ có ô tô, thì ả sẽ xoay xở thế nào? Ả quyết định trong tất cả mọi việc ả sẽ nghe theo cảm giác đầu tiên, và dẫu sao đi nữa: ả sẽ rất chú ý tới mọi việc. Nếu như ả đã chịu được một gã dở hơi đáng ghét, mặt đỏ như ớt như Schmidt, thì chẳng lẽ bên cạnh Irimiás ả lại thất vọng?! Ả chỉ biết một người đàn ông duy nhất - Irimiás, người cả trên giường, cả trong cuộc đời đều khiến ả ngây ngất. Vì một ngón tay út của Irimiás ả có thể đổi vàng bạc châu báu của cả thế gian, một lời của gã đối với ả có ý nghĩa hơn của tất cả bọn đàn ông... Đàn ông ư? Ở đây đâu có đàn ông, ngoài gã! Chẳng lẽ là Schmidt, với mùi thối chân thường trực! Hay Futaki, với cái chân thọt và đũng quần đái dầm? Hay ông chủ quán? Ông này ư? Với cái bụng phệ và hàm răng cải mả, hơi thở thối?! Ả biết hết bọn đàn ông trong vùng, nhưng như Irimiás thì cả trước đó và sau đó ả chưa gặp. “Những bộ mặt khốn nạn. Thật hổ thẹn là ta có mặt ở đây. Ở chỗ nào, kể cả trong các làng, cũng rặt một mùi hôi thối không thể chịu nổi. Ta đã đến đây như thế nào? Thật bẩn thỉu. Một bãi đầy rác rưởi. Một lũ chồn! “Dẫu sao, - Halics nghĩ, - thằng cha Schmidt cũng là đứa may mắn.” Lão thèm khát nhìn đôi vai rộng, cặp đùi chắc lẳn, mái tóc đen tết thành búi, và đôi vú to tuyệt đẹp ngay cả lúc này khi ả mặc áo khoác, và trong trí tưởng tượng... (Lão đứng dậy để mời ả... một cốc palinka. Và sau đó? Sau đó lão sẽ trò chuyện, và cầu hôn với ả. Nhưng ả sẽ bảo lão đã có vợ rồi. Thì có sao, lão sẽ đáp.) Ông chủ quán đặt thêm một cốc palinka xuống trước mặt vợ Schmidt, và trong khi ả uống từng ngụm nhỏ, miệng ông ứa nước miếng. Khắp lưng bà vợ Halics nổi da gà. Không điều gì còn có thể xua đuổi nỗi ngờ vực, dù vợ Schmidt không gọi, ông vẫn đem rượu tới, và ả, cứ như ả đã gọi, lẳng lặng uống hết cốc rượu. “Ả là tình nhân của ông ta!” Bà cụp mắt xuống để xung quanh khỏi nhìn thấy. Vì nỗi tức giận chạy trong các huyết mạch bà từ tim xuống đầu ngón chân. Suýt nữa bà đã không tự chủ nổi. Bà cảm thấy như mình nằm trong bẫy, vì không thể làm gì chống lại họ, chỉ việc họ “huyên thuyên với nhau liên tục” cũng đã đủ, nhưng bà không thể chịu nổi việc bà phải ngồi ở đây một cách bất lực, trong khi ở kia cứ như chỉ có chúng nó với nhau, thản nhiên làm những trò tội lỗi. Nhưng rồi bỗng nhiên - bà dám thề là do sự xui khiến của ông trời - một luồng sáng rạch vào bóng tối khủng khiếp trùm phủ lên linh hồn bà. “Ta có tội!” bà nắm chặt cuốn Kinh Thánh, môi mấp máy không thành tiếng, nhưng bên trong bà gào lên và bám vào từng chữ, bắt đầu bài kinh tụng Đức Cha. “Sao lại đến sáng! - người soát vé kêu lên. - Khi tôi gặp họ ở chỗ rẽ, không thể quá bảy giờ, bất quá là tám giờ! Từ đó tới đây - dù họ có đi chậm đến thế nào đi nữa - thì nửa đêm cũng đã tới đây. Nếu như tôi - ông ta ngả người về phía trước - đã đi đoạn đường đó mất tiếng rưỡi, hai tiếng, ừ thì ba, bốn tiếng..., dù có vài chỗ ngựa chỉ có thể đi bước một trên bùn lầy, thì họ cũng chỉ cần đến bốn, năm giờ chứ mấy?” Ông chủ quán rượu đưa ngón tay trỏ lên. “Phải tới sáng, rồi ông xem. Đường đầy hố với ổ gà. Ông đừng nói với tôi là trên đường cũ phải mất ba, bốn tiếng. Tất nhiên, con đường cũ chạy thẳng tới đây. Nhưng họ chỉ có thể đi trên con đường đá! Mà con đường đá thì phải qua một vòng, như thể phải vòng tránh biển. Nghĩa là ông đừng có giải thích với tôi, tôi là người sở tại.” Kelemen gần như không còn mở mắt nổi, ông ta chỉ còn biết xua tay, rồi gục đầu xuống bàn, và ngủ thiếp đi. Ở phía sau, Kerekes chậm rãi ngẩng cái đầu hói đầy những vết sẹo cũ, nom rất hãi, giấc ngủ đã gắn chặt gã xuống “bàn bida”... Gã nghe tiếng mưa dai dẳng đến mấy phút, xoa bóp hai đùi đã cứng ngắc, rùng mình lạnh lẽo, rồi gọi ông chủ quán rượu. “Đồ đầu đất, sao cái lò sưởi khốn kiếp không cháy?” Sự thô bạo đạt được chút thành công nhỏ. “Đúng đấy, đúng đấy, - bà vợ Halics để thêm. - Giá có chút hơi ấm!” Ông chủ quán hết kiên nhẫn. “Ông nói thật đi, ông làm gì có quyền to tiếng với tôi? Hả? Đây không phải là phòng chờ, mà là quán rượu nhé!” Kerekes gầm lên. “Tôi sẽ vặn cổ ông, nếu mười phút nữa, hiểu chưa, ở đây không có hơi ấm!” “Được rồi, sao ông cứ phải gào lên thế?” - ông chủ quán nhượng bộ, rồi ông nhìn cô vợ Schmidt và ranh mãnh mỉm cười. “Mấy giờ rồi?” - ông chủ quán liếc đồng hồ. “Mười một giờ. Bất quá là mười hai. Rồi chúng ta sẽ biết, nếu những người khác tới.” “Những người nào?” - Kerekes hỏi. “Tôi chỉ nói vậy thôi.” Người xóm trại tì khuỷu tay lên mặt “bàn bida”, ngáp và đưa tay lấy cốc rượu. “Ai lấy rượu vang của tôi?” - gã hỏi cộc lốc. “Ông tự làm đổ.” “Nói bậy, đồ đầu đất.” Ông chủ quán dang hai tay cười. “Không, đúng là ông làm đổ thật.” “Thế thì đem cốc khác lại đây!” Khói thuốc chầm chậm lan tỏa như sóng trên các mặt bàn, từ xa vọng lại tiếng chó sủa gắt gỏng, khi to lúc nhỏ. Vợ Schmidt ngửi trong không khí. “Có mùi gì thế nhỉ? Lúc nãy còn chưa thấy” - ả ngạc nhiên hỏi. “Chỉ có lũ nhện. Hay là mùi dầu?” - ông chủ quán đáp giọng ngọt xót, và ông quỳ xuống cạnh cái bếp lò đốt dầu để châm lửa. Cô vợ Schmidt ngửi phía trên chiếc áo khoác, ngửi xuống phía dưới, ngửi ghế ngồi, rồi cô quỳ xuống cẩn thận tiếp tục tìm kiếm. Mặt cô gần như đã chạm tới sát sàn nhà, khi cô ả bỗng nhiên đứng thẳng dậy, và nói: “Đây là đất.”
❀ ❀ ❀
[1] Chữ viết tắt cửa hàng kinh doanh vật liệu xây dựng.
[2] Tiếng Đức: một vòng (ý nói gọi rượu cho tất cả mọi người quanh bàn).
[3] Tên một quán rượu, Mérö có nghĩa là đong, đo, rót rượu.