Vũ Điệu Quỷ Satan

Lượt đọc: 87 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
III. TIỀN ĐỒ, NHÌN TỪ PHÍA SAU

❊ ❊ ❊

Mưa lặng lẽ rơi, như không bao giờ dứt, trong làn gió lúc to lúc nhỏ, bề mặt của những vũng nước lạnh rung lên, nhưng nhẹ đến nỗi những màng mỏng chết chóc của sự phòng vệ hình thành từ đêm không bị nứt vỡ, và thay vì lấy lại được sự lấp lánh mỏi mệt của hôm trước, mỗi lúc chúng càng hấp thụ nhiều hơn thứ ánh sáng đang dần ló dạng từ phía đông. Một lớp màng mỏng trơn nhớt bao phủ lên những thân cây, những cành cây thỉnh thoảng kêu lắc rắc, lớp cỏ dại bẹp gí, đang mục nát và phủ lên “tòa lâu đài”, như thể những tín sứ lướt qua của bóng tối đã đánh dấu chúng cho đến đêm hôm sau, khi sự tàn lụi bền bỉ và mòn mỏi lại tiếp diễn. Khi mặt trăng, ở rất xa trên những đám mây liên hoàn, lặng lẽ lặn xuống đường chân trời, và họ nheo mắt nhìn qua khoảng sáng trống hoác của ô cửa chính một thời, thì họ dần hiểu ra: buổi sớm hôm nay một điều gì đó đã thay đổi, một cái gì đó đã không còn ở đúng chỗ của nó, rồi trong chốc lát họ nhận ra rằng, điều mà họ vẫn thầm lo ngại đã tới: giấc mơ mà sáng hôm qua còn khích lệ họ hăng hái lao lên phía trước đã kết thúc, và giờ đây là sự thức tỉnh đắng cay... Sự bối rối ban đầu chẳng mấy chốc được thay thế bởi sự nhận thức hoảng hốt, bởi họ đã hiểu rằng, họ đã đẩy nhanh “sự việc” một cách ngu xuẩn. Chuyến đi của họ không được dẫn dắt bởi sự xét đoán tỉnh táo, mà bởi một sự hăng hái tàn độc, và vì họ đã đốt cháy ở phía sau cả con đường duy nhất có thể dẫn họ trở về, họ đã mất cơ hội rút lui - là cách làm mỗi lúc càng tỏ ra hợp lý hơn. Vì lúc này đây, trong thời khắc khốn khổ nhất của buổi sáng sớm này, khi họ chui ra khỏi chỗ nằm tạm bợ, nắn bóp tứ chi tê dại, run lập cập vì lạnh, môi tím tái, hôi hám và đói, họ hiểu ra rằng, vẫn cái “lâu đài” hôm qua còn hứa hẹn sự đổi thay sắp tới cho những ước mơ của họ, thì hôm nay - dưới thứ ánh sáng ma quái này - đang giam cầm họ một cách lạnh lùng, không thương tiếc. Họ vừa lẩm bẩm, mỗi lúc một chán ngán hơn, vừa xộc vào các căn phòng lạnh lẽo của tòa lâu đài, ủ dột và im lặng tránh những đống sắt vụn máy han gỉ nằm ngổn ngang, và trong sự tĩnh lặng chết chóc đó, một mối nghi hoặc càng lúc càng đè nặng lên họ đến nghẹt thở: họ đã mắc bẫy, và họ chỉ là những nạn nhân khờ dại của một âm mưu hèn hạ, và lúc này tất cả họ đứng đây không nhà cửa, bị lột hết tài sản và bị hạ nhục. Vợ Schmidt là người đầu tiên trở lại những chỗ nằm của họ, nom chúng thảm hại trong ánh sáng ban mai, ả run rẩy ngồi xuống mớ đồ cuộn thành một đống tròn, và thất vọng nhìn ánh sáng mỗi lúc một rõ hơn. Sơn kẻ mắt ả được “người ấy” tặng đã nhòe nhoẹt trên nét mặt hụp của ả, miệng đắng, cổ khô, bụng đau, ả cảm thấy không còn đủ sức để sửa lại mái tóc rối và chỉnh lại áo quần. Vì ký ức về mấy giờ tuyệt vời ở bên “gã” - lúc này, khi sự không giữ lời hứa của Irimiás mỗi lúc càng trở nên rõ ràng - không còn đủ để kìm nén cảm giác phấp phỏng của ả: có lẽ tất cả đã mất... Không dễ dàng, nhưng ả còn biết làm gì khác: ả cố chấp nhận, Irimiás ( “tới khi nào sự việc chưa rõ ràng...”) không đưa ả đi khỏi đây, và như vậy, giấc mơ giải thoát khỏi “những móng vuốt bẩn thỉu” của Schmidt, và bỏ lại “mảnh đất thối tha” ấy chỉ có thể trở thành hiện thực sau nhiều tháng, có khi nhiều năm nữa (“Lạy Chúa, nhiều năm, lại nhiều năm nữa...”); nhưng cái ý nghĩ khủng khiếp, rằng ngay cả điều đó cũng là giả dối, và “gã” có thể đã phắn xa, với một cuộc phiêu lưu mới, khiến bàn tay ả nắm chặt lại. Đúng là, nếu nghĩ lại đêm hôm qua, khi ả đã trao thân cho Irimiás ở một xó cuối trong nhà kho của quán rượu, ngay cả lúc này, trong giờ phút khốn khổ này ả vẫn phải thú nhận, rằng ả không thất vọng: những khoảnh khắc đê mê, những giây phút viên mãn thần tiên cần phải bù đắp tất cả; chỉ có “tình yêu dối lừa”, sự chà đạp xuống bùn “tình cảm trong sáng mãnh liệt” của ả là không có sự tha thứ trên thế gian này! Không thể là gì khác khi chia tay gã đã nói thầm vẻ bí mật vào tai ả (“Trước khi trời rạng sáng, chắc chắn...”), những lời nói đó cuối cùng đã rõ ra rằng “tất cả là sự dối trá bẩn thỉu”.... Ả nhìn làn mưa qua chỗ hổng khổng lồ của cửa chính một cách vô vọng, nhưng vẫn khát khao, ả còng người xuống, trái tim thắt lại, mái tóc rối rủ xuống khuôn mặt bơ phờ. Nhưng ả cố ép mình để cho khát vọng trả thù chế ngự, chứ không phải nỗi buồn của sự phó mặc bất lực hành hạ, cũng vô ích, lúc nào ả cũng như nghe thấy giọng nói mơn trớn của Irimiás, lúc nào mụ cũng thấy dáng cao, gầy, rắn rỏi đáng nể của gã trước mặt, thấy đường cong dứt khoát, tự tin của cái mũi, cặp môi mỏng, mềm, thấy thứ ánh sáng không thể cưỡng nổi trong mắt gã, thấy trò chơi tinh nghịch của những ngón tay gã trên mái tóc mình, thấy lòng bàn tay nóng ấm của gã trên đôi vú, trên đùi, và mỗi tiếng động nhỏ trong tưởng tượng hay thực tại đều khiến ả hy vọng gã đã đến, và thế là - khi những người khác quay lại, và thấy vẻ cay đắng não nề trên mặt họ cũng giống như những gì ả phải chịu đựng - những rào cản yếu ớt của sự phản kháng kiêu hãnh cuối cùng cũng bị sự thất vọng của ả cuốn trôi. “Không có gã ta sẽ ra sao?!... Lạy Chúa tôi, ừ, gã hãy bỏ ta, nhưng... chớ vào lúc này! Lúc này thì đừng!... Ít ra một lần!... Một giờ!... Một phút!... Gã làm gì với những con người kia cũng mặc, chỉ với ta... Với ta... thì đừng! Ít nhất gã hãy để ta là nhân tình, nhân ngãi, là kẻ hầu hạ của gã! Thế nào cũng được! Gã hãy đá ta, hãy đánh đập ta như một con chó, chỉ... lúc này, một lần thôi hãy quay lại đây!...” Họ ngồi sát tường, trong lòng là mấy thứ đồ ăn ít ỏi, họ im lặng ngồi nhai trong cái lạnh lùa vào, trong ánh sáng xanh nhợt nhạt của buổi sớm mai. Bên ngoài có tiếng kêu răng rắc của cái tháp cũ đã xiêu vẹo, là gác chuông một thời của cái nhà nguyện ở bên phải tòa lâu đài, và từ bên trong của tòa nhà nghe có tiếng ầm ì lan tỏa, như thể sàn nhà lại sụt lở... Không có cách nào khác, lúc này họ đã thấy, chờ đợi tiếp tục là vô ích, bởi Irimiás đã hứa sẽ tới “trước khi trời sáng”, mà đã gần hết hừng đông rồi. Nhưng phá vỡ sự yên lặng, nói ra những từ có sức nặng, rằng “ở đây đã diễn ra một trò lừa đảo”, thì không ai dám, vì lúc này rất khó thay đổi ngay từ “đấng cứu thế Irimiás” thành “kẻ khốn nạn”, “tên dối trá bẩn thỉu”, “thằng kẻ cướp đê tiện”, đấy là chưa kể vẫn chưa biết chắc chắn điều gì đã diễn ra... Biết đâu giữa chừng có chuyện gì đó?... Biết đâu họ chỉ đến chậm, vì đường xấu, vì trời mưa, vì... Kráner đứng dậy, đi tới chỗ cửa chính, tựa vai vào bức tường ẩm, và căng thẳng nhìn ra lối đi nhỏ rẽ quành ra từ con đường đá; ông châm thuốc hút, rồi bực tức đẩy mình ra, đấm vào không khí một cái, và ngồi lại chỗ cũ. Lát sau ông nói, giọng run run: “... Này mọi người... Tôi có cảm giác chúng ta đã bị lừa...” Nghe thấy thế, cả những ai đang nhìn vào khoảng không cũng cụp mắt nhìn xuống, và tất cả bắt đầu thấy căng thẳng khó chịu. “Tôi nói, chúng đã lừa chúng ta, các bạn ạ.” - Kráner cao giọng. Nhưng không một ai động đậy. Trong sự yên lặng đáng sợ chỉ có tiếng Kráner vọng lại. “Sao thế, tất cả điếc hết rồi sao?! - Kráner mất tự chủ gào lên. - Các vị không nói gì sao?” “Tôi đã nói rồi! - Schmidt vằn mắt lên. - Tôi đã nói ngay từ đầu rồi.” Môi lão run run, và ngón trỏ của lão chỉ vào Futaki, lúc đó đang ngồi co rúm lại, vẻ trách móc. “Hắn đã hứa, - Kráner nói như quát, mắt ông ta lồi lên, người hơi đổ về phía trước -, hắn đã hứa sẽ xây cho chúng ta ở đây một thiên đường!... Nào, các vị hãy nhìn xem! Thiên đường của chúng ta đây! Tất cả chỉ có thế, trời hãy sập xuống đầu tất cả bọn đê tiện trên cái thế giới khốn nạn này! Tất cả đều là đồ con lừa...” “Còn hắn, - Schmidt bồi thêm - hắn đã phắn lẹ theo hướng ngược lại! Ai mà biết giờ hắn đang ở đâu?! Giờ thì chúng ta có mà tìm được hắn...” “Ai mà biết hắn đang đốt tiền của chúng ta trong quán rượu nào?! “Một năm lao động của chúng ta, - Schmidt tiếp tục với giọng run rẩy. Một năm quần quật khổ sở! Và tôi chẳng còn một xu! Lại một đồng xu khốn khổ cũng không!” Kráner - như một con thú bị nhốt trong cũi - lồng lộn đi đi lại lại, tay nắm đấm, thỉnh thoảng lại đấm mạnh vào không khí. “Rồi hắn sẽ phải trả giá cho vụ này! Rồi hắn sẽ phải hối hận, thằng khốn kiếp! Kráner này sẽ không để yên đâu. Vì tôi sẽ lôi cổ hắn ra, dù hắn có chui xuống đất! Tôi thề sẽ bóp chết hắn bằng chính hai bàn tay này!” Futaki bực bõ giơ tay lên. “Từ từ thôi! Hãy từ từ thôi ông ạ! Nếu như hai phút nữa hắn xuất hiện?! Thì ông sẽ gầm gào cái gì ở đây?! Hả?!” Schmidt chồm dậy. “Ông còn nói nữa à?! Ông mà còn dám nói à?! Vì ai mà tôi bị chúng nó ăn cướp?! Vì ai?!” Kráner bước lại gần, nhìn thật sâu vào mắt Futaki. “Hãy đợi! - và ông hít một hơi thật sâu. - Được! Chúng ta sẽ đợi hai phút! Đủ hai phút! Rồi xem... điều gì sẽ xảy ra!” Ông kéo Schmidt đi theo, cả hai dừng lại trên bậu cửa chính, Kráner giạng hai chân, người đung đưa từ sau ra trước, từ trước ra sau. “Nào, thấy chưa, hắn đến rồi kia! - Schmidt giễu cợt, rồi quay đầu về phía Futaki. - Nghe thấy chưa! Vị cứu tinh của ông đang đến đó! Đồ khốn!” “Ông im đi! - Kráner xen vào, và giữ chặt tay Schmidt. - Hãy chờ hai phút ấy kết thúc! Rồi chúng ta sẽ thấy, ông ta sẽ nói sao!” Futaki gục đầu lên gối. Im lặng. Vợ Schmidt hốt hoảng co rúm lại trong góc. Halics nuốt nước bọt, rồi - vì lờ mờ cảm thấy chuyện gì sắp xảy ra - nói rất khẽ: “Thật kinh khủng. đến nước này mà các ông còn... hoạnh họe nhau...!” Ông đốc học đứng dậy. “Này các ông! - ông ta nói với Kráner vẻ dàn hòa. - Thật chẳng ra sao. Đó không phải là... giải pháp! Hãy suy nghĩ...!” “Im mồm đi, thằng hề! - Kráner gầm gừ, và thấy cái nhìn đe dọa của ông ta, ông đốc học vội ngồi lại chỗ cũ. “Thế nào, ông bạn?! - Schmidt hỏi cộc lốc, quay lưng lại phía Futaki, nhìn con đường nhỏ. - Đã hết hai phút chưa?” Futaki ngẩng đầu lên, lấy hai tay ôm gối. “Ông hãy nói cho tôi nghe, trò khỉ này có nghĩa gì không. Ông nghĩ lỗi là tại tôi ư?” Mặt Schmidt đỏ gay. “Thế ai dỗ ngon dễ ngọt tôi trong quán rượu?! Hả?! - và ông từ từ tiến lại phía Futaki. - Ai lải nhải bảo tôi cứ yên tâm, vì thế này thế nọ?! Hả?!” “Ông mất trí rồi, ông bạn! - Futaki cũng cao giọng hơn, và xoay trở người với vẻ căng thẳng. - Ông điên rồi à?” Nhưng Schmidt đã đến trước mặt, Futaki chưa kịp đứng dậy. “Hãy trả lại tiền cho tao! - ông rít lên, mắt đỏ vằn. - Có nghe tao nói gì không? Trả lại tiền cho tao!” Futaki lùi lại, dựa lưng vào tường. “Làm gì có tiền của ông ở chỗ tôi! Hãy tỉnh lại đi!” Schmidt nhắm mắt lại. “Tao nói lần cuối, hãy trả tiền tao!” “Các vị ơi, hãy kéo nó ra khỏi đây, vì nó điên..” - Futaki kêu lên, nhưng chưa kịp nói hết câu, thì Schmidt đã lấy hết sức đá vào mặt ông ta. Đầu Futaki ngả ra sau, trong tích tắc đã bất động, máu mũi tuôn chảy, và người từ từ đổ nghiêng sang một bên. Đến lúc ấy thì cả các bà phụ nữ, cả Halics, cả ông đốc học cũng đã lao tới, bẻ quặt tay Schmidt ra sau, rồi xô đẩy, khó khăn lắm họ mới lôi được Schmidt ra khỏi chỗ đó. Kráner căng thẳng cười, đứng giạng chân, khoanh hai tay ở chỗ cửa, rồi đi về phía Schmidt. Vợ Schmidt, vợ Kráner, vợ Halics hoảng hốt, vừa kêu gào vừa loay hoay bên cạnh Futaki đang bất tỉnh, sau đó vợ Schmidt tỉnh ra đầu tiên, mụ lấy một miếng giẻ, chạy ra ngoài hiên, nhúng vào một vũng nước, rồi chạy trở lại, quỳ xuống bên cạnh Futaki, lau máu trên mặt gã, mụ mắng vợ Halics đang khóc lóc bên cạnh. “Thay vì khóc lóc, hãy đi lấy một miếng giẻ dày lại đây để thấm máu!”... Futaki từ từ tỉnh lại; gã mở mắt, ngơ ngác nhìn trần nhà, nhìn gương mặt lo lắng của vợ Schmidt đang cúi xuống gã, sau đó bất chợt cảm thấy đau như dao cứa, và gã định ngồi dậy. “Ôi, lạy Chúa! Ông cứ nằm yên đó! - vợ Kráner kêu. - Đến khi cầm máu hẳn đã!” Họ đặt gã lên tấm chăn, vợ Kráner chạy ra ngoài để rửa máu trên áo, vợ Halics quỳ xuống bên cạnh Futaki, và bắt đầu lầm rầm cầu nguyện. “Hãy lôi mụ phù thủy này đi khỏi đây... - Futaki rên rỉ. - Tôi còn sống... Tôi còn sống...” Schmidt thở dốc, ngồi gục ở góc đối diện, với cái nhìn bối rối, lão đặt hai nắm tay lên bẹn, làm như chỉ như thế lão mới kiềm chế được mình ngồi yên một chỗ. “Xin các vị, - ông đốc học lắc đầu, đứng sau ông ta là Halics để chặn lối không cho Schmidt nhảy tới chỗ Futaki một lần nữa, - tôi không tin ở mắt mình! Ông là một người lớn, đứng đắn! Ông nghĩ thế nào mà lại hành hung người khác?! Ông có biết đó là hành động gì không? Bạo lực!” “Hãy để tôi yên!” - lão lẩm bẩm qua kẽ răng. “Đúng đấy! - Kráner lại gần hơn. - Vì ông thì có liên quan gì đến chuyện này. Ông nhúng mũi vào mọi chuyện làm gì? Hơn nữa gã quê mùa kia đáng bị như thế. Đáng đời gã!...” “Ông im đi, đồ đê tiện! - ông đốc học đáp trả. - Ông… chính ông đã kích động! Ông tưởng tôi không nhìn thấy à? Tốt nhất là ông nên im!” “Tôi khuyên ông... - Kráner nói, mặt tối sầm, và túm lấy ông đốc học. - Tôi khuyên ông hãy đi khỏi đây chừng nào ông còn lành lặn!... Tôi không muốn dây với ông.” Đúng vào tích tắc ấy, một giọng nói âm vang, cả quyết và nghiêm khắc vang lên ở cửa. “Có chuyện gì ở đây?” Mọi người ngẩng đầu, vợ Halics hốt hoảng la lên, Schmidt bật dậy, Kráner bất giác lùi lại. Irimiás đứng giữa cửa chính. Chiếc áo mưa xám đóng cúc tận cổ, mũ phớt kéo xuống trán. Ánh mắt sắc lẹm nhìn quanh, tay đặt trong túi, trên miệng gã điếu thuốc ướt trễ xuống. Im lặng rợn người. Futaki cũng ngồi dậy, rồi lảo đảo đứng lên, lau máu mũi vẫn rỉ xuống, rồi nhét vội mảnh giẻ ra sau. Vợ Halics mặt nghệt ra, làm dấu thánh, rồi buông hai tay xuống, vì Halics giơ tay ra hiệu “.. Thôi ngay đi!” “Tôi hỏi, chuyện gì đã xảy ra ở đây?” - Irimiás gay gắt nhắc lại. Hắn nhổ chiếc đầu mẩu thuốc, đưa một điếu mới lên miệng, và châm lửa. Những người dân trại cúi người trước mặt hắn. “Chúng tôi đã tưởng ông không tới...” - vợ Kráner rụt rè nói, rồi gượng gạo cười. Irimiás nhìn đồng hồ, rồi gõ gõ lên mặt kính: “Sáu giờ bốn mươi ba phút. Chính xác.” Vợ Kráner đáp vừa đủ nghe. “Chỉ có điều, đúng là... ông đã nói, trước khi trời sáng.” Irimiás nhíu mày. “Các vị nghĩ tôi là gì chứ, tài xế taxi à? Tôi đã bán cả linh hồn cho các vị, ba ngày nay tôi không ngủ, đã đi bộ hàng giờ trong mưa, đã chạy hết cửa này tới cửa khác, để tháo gỡ các vướng mắc, thế còn các vị?! - Gã đi về phía họ, nhìn lướt qua những chỗ nằm lộn xộn của họ, rồi dừng lại trước Futaki. - Còn ông, ông làm sao thế?” Futaki ngượng ngập cúi đầu. “Tôi bị chảy máu mũi.” “Tôi đã nhìn thấy. Nhưng vì sao?” Futaki không đáp. “Ông bạn... - Irimiás thở dài. - tôi không chờ đợi ở ông điều này. Nhưng từ cả các vị nữa cũng không! - hắn quay sang những người kia. - Mà chúng ta mới ở bước đầu tiên! Sau này sẽ ra sao? Các vị sẽ đâm chém nhau? Không... - hắn ra hiệu cho Kráner, người đang định nói, - tôi không quan tâm đến các tình tiết! Những gì tôi nhìn thấy, đã quá đủ! Buồn, có thể nói, rất đáng buồn!” Hắn đi qua trước mặt tất cả những người dân trại, vẻ suy tư, khi tới gần cửa ra vào chính, gã quay lại đối diện với họ. “Tôi không biết đích xác điều gì đã xảy ra ở đây. Và tôi cũng không muốn biết, vì chúng ta không có thời gian để phí hoài cho những chuyện vớ vẩn. Nhưng tôi sẽ không quên, đặc biệt là đối với ông, ông bạn Futaki. Nhưng một lần này tôi bỏ quá cho các vị chuyện này. Với một điều kiện: việc kiểu này sẽ không bao giờ tái diễn! Rõ chưa? - Hắn nghỉ một lát, rồi với vẻ mặt lo lắng hắn đưa tay vuốt trán. - Bây giờ ta hãy đi vào vấn đề! - hắn rít điếu thuốc đã cháy sát tới móng tay, rồi gí lên mặt sàn lát đá. - Tôi có một số thông báo quan trọng.” Như thể vừa thoát khỏi một cơn mê độc ác, tất cả tỉnh như sáo ngay lập tức. Và đơn giản là họ không hiểu điều gì đã xảy ra với họ trong mấy giờ vừa rồi, mọi sự cân nhắc tỉnh táo của họ đã thui chột như các nạn nhân của một trò ma quỷ nào, điều gì đã khiến họ điên dại lao vào nhau, như “lũ lợn con bẩn thỉu đói cám”, và làm sao lại có thể xảy ra, là họ, những người vừa thoát ra khỏi sự bế tắc cố hữu của những năm qua, cuối cùng vừa được hít thở bầu không khí mê hoặc của tự do, lại lồng lộn trong cũi như lũ nô lệ một cách vô nghĩa và vô vọng, và họ đã mờ cả mắt, bởi có thể giải thích bằng điều gì khác, việc ở nơi cư ngụ trong tương lai của mình họ chỉ nhìn thấy sự tàn lụi, thối rữa, trần trụi, và họ đã quên biến lời hứa hẹn, sẽ “xây dựng lại những gì đã đổ nát, và sẽ phát triển những gì đã sa sút”! Và như thể vừa thức tỉnh từ một giấc mơ tồi tệ, họ đứng quanh Irimiás với vẻ cam chịu. Có lẽ chỉ có nỗi hổ thẹn của họ là sâu sắc hơn sự giải thoát, vì sự thiếu kiên nhẫn không thể tha thứ được mà gần như tất cả trong số họ đã phụ bạc con người, mà - dù có đến chậm vài giờ - vẫn giữ lời hứa của mình, và con người mà họ phải biết ơn vì tất cả; sự hổ thẹn chỉ tăng thêm, vì ân nhân của họ không hề biết rằng, những người - mà hắn “cả đời phụng sự” - mới vừa xong đã chửi rủa, đã bôi nhọ, đã nhấn xuống bùn, đã lên án mà không suy nghĩ với tội danh, mà sự phản bác sinh động của nó chính là sự có mặt của hắn vào lúc này, trước mắt họ, để sẵn sàng hành động, và thế là họ nghe hắn nói với sự cắn rứt lương tâm mỗi lúc một lớn hơn, và vì vậy tất nhiên là với sự tin cậy và nhất trí không thể lay chuyển, và trước khi có thể hiểu được đầu đuôi câu chuyện, họ đã hăng hái gật đầu, đặc biệt Kráner và Schmidt, là hai kẻ biết rõ tội lỗi của mình. Mặc dù “những hoàn cảnh đã thay đổi, không thuận lợi” mà Irimiás nói tới, lẽ ra có thể khiến họ chán ngán, bởi hắn đã cho họ biết “phải hoãn vô thời hạn các kế hoạch của chúng ta liên quan tới khu lâu đài Almassy”, vì có những thế lực “không hài lòng trong tình hình hiện tại”, nếu một công trình đối với họ có “mục đích không rõ ràng” sẽ hình thành ở đây, đặc biệt họ băn khoăn, như Irimiás nói, rằng đoạn đường giữa khu Trang trại và thành phố, “tòa lâu đài” đối với họ là gần như không thể tiếp cận, khiến khả năng thực hiện việc kiểm tra bị giới hạn ở mức “gần như tối thiểu”... Trong tình hình này, Irimiás tiếp tục với sự bốc lửa hơi thái quá trong giọng nói bình thường cũng đã âm vang của hắn, để thực hiện kế hoạch đem lại việc làm cho tất cả bọn họ “con đường duy nhất có thể là chúng ta phân tán ra trong tỉnh một thời gian ngắn”, tới khi “các nhà chức trách hết quan ngại, mất dấu vết của chúng ta, lúc đó chúng ta sẽ quay lại đây và thực hiện dự định ban đầu của chúng ta...” Họ càng thêm tự hào, vì cá nhân họ từ phút này trở đi “có một tầm quan trọng đặc biệt, vì họ là những người được lựa chọn của một sự vụ, trong đó sự trung thành, hăng hái và cảnh giác cao độ là không thể thiếu. Và dù ý nghĩa thực tế của rất nhiều ý tưởng còn là ẩn số đối với họ (đặc biệt những ý tưởng kiểu như “mục đích của chúng ta vượt xa bản thân nó”), nhưng rõ ràng việc phân tán họ chỉ là “mánh lới chiến thuật”, và dù trong một thời gian họ không gặp nhau, nhưng họ sẽ giữ liên hệ liên tục và chặt chẽ với Irimiás. “Tuy nhiên, các vị đừng nghĩ rằng, - hắn lên cao giọng, - trong thời gian đó chúng ta thụ động chờ đợi mọi việc tự nó trở nên thuận lợi hơn!” Họ nghe hắn với sự ngạc nhiên thoáng qua, rằng nhiệm vụ của họ là quan sát xung quanh một cách liên tục và tỉnh táo, ghi nhớ chính xác các ý kiến, các lời đồn thổi và các sự kiện “nhất thiết quan trọng đối với sự vụ của chúng ta”, bởi tất cả họ đều phải học được khả năng không thể thiếu, mà với sự giúp đỡ của nó “có thể phân biệt được các dấu hiệu thuận lợi và bất lợi”, nói ngắn gọn là “đãi cát tìm vàng”, vì hắn - Irimiás - rất hy vọng, không một ai trong số họ lại nghĩ rằng, thiếu điều đó họ lại có thể tiến lên, dù chỉ một bước, trên con đường mà hắn đã vạch ra rất cụ thể... Khi sau câu hỏi của Schmidt (“Chúng ta sẽ sống bằng gì”), họ đã nhận được câu trả lời là “cứ yên tâm, các vị, cứ yên tâm: tất cả đã được tính toán, tất cả đã được cân nhắc, mọi người đều sẽ có việc làm, và trong thời gian đầu, từ số vốn chung họ sẽ có đủ tiền để chi dùng cho những gì cần thiết nhất”, trong trí nhớ của họ dấu vết còn lại của sự hoảng loạn buổi sáng sớm nay cũng nhanh chóng tan biến mất, và chỉ còn mỗi một việc là thu dọn đồ đạc, và chất hết lên thùng chiếc xe tải đang đợi ở đầu lối đi nhỏ, sát con đường lát đá... Họ hăng hái bắt tay vào việc, và họ đã bắt đầu trò chuyện vui vẻ; chủ yếu là Halics nêu gương tốt, với một chiếc túi hay một va li trong tay, lúc thì lão đi theo Kráner - người đi lại như một con gấu - lúc thì theo sau bà vợ - người có bước đi dài, dáng đi như đàn ông, - và bắt chước họ như một chú khỉ, sau khi dọn xong đồ đạc của mình lão giúp đem những va li của Futaki - khi đó vẫn còn choáng - ra đường, như muốn nói “trong hoạn nạn biết bạn là ai...” Đến lúc họ chuyển hết mọi thứ ra đường, “thằng nhóc” cũng vừa đánh được xe quay lại (sau một lúc lâu nài nỉ Irimiás cho phép nó ngồi sau tay lái một lúc), và thế là không còn việc gì khác hơn là nhìn lại lần cuối cùng nơi cư trú của cuộc đời họ trong tương lai, họ lặng lẽ tạm biệt “tòa lâu đài”, rồi trèo lên thùng xe mở. “Nào, các bạn thân mến! - Petrina ngó ra khỏi cửa buồng lái. - Các bạn ổn định chỗ ngồi cho hành trình ít nhất là hai tiếng nhé, với chiếc xe cực nhanh này! Đóng cúc áo khoác lại, đội mũ, quàng khăn lên, và bình tĩnh quay lưng lại với tương lai đầy hy vọng, kẻo mưa hắt vào mặt đấy...” Đồ đạc chiếm gần nửa thùng xe, vì vậy họ phải ngồi thành hai hàng sát vào nhau, thế nên khi Irimiás cho động cơ nổ, và chiếc xe tải có họ ngồi trên lắc lư chuyển động - quay lại phía thành phố - thì họ cảm thấy đúng sự hào hứng ấy, đúng sự ấm áp ấy của “sự gắn bó không thể phá vỡ nổi”, nó đã khiến đoạn đường đáng nhớ của chuyến đi ngày hôm trước trở nên ngọt ngào. Đặc biệt Kráner và Schmidt thề sẽ không bao giờ để sự nóng nảy chi phối họ, và họ sẽ là những người đầu tiên - nếu giữa họ có xảy ra va chạm trong tương lai, - đứng ra can ngăn ngay lập tức. Schmidt, trong tiếng ồn ã vui vẻ vừa rồi, bằng cách nào đó phát tín hiệu cho Futaki, rằng ông đã “rất ân hận vì việc đã làm”, nhưng không biết tại sao họ không “gặp nhau” trên con đường mòn, hơn nữa ông cũng thiếu can đảm để làm chuyện đó, chỉ tới lúc này ông mới dám “mời ông kia một điếu thuốc”, nhưng ông bị kẹt giữa bà vợ Kráner và Schmidt, đến nỗi không động đậy nổi cánh tay. “Không sao - ông tự nhủ, - để đến lúc chúng ta xuống khỏi chiếc xe cà tàng này... Không thể từ biệt nhau mà vẫn giận!” Với khuôn mặt ửng đỏ và đôi mắt lấp lánh, vợ Schmidt nhìn khu trại lùi xa nhanh, ngôi nhà khổng lồ bị cỏ dại và dây thường xuân phủ kín, những ngọn tháp trơ trọi vươn cao ở bốn góc, con đường lát đá gập gồ xa hút ở phía sau, ả thấy nhẹ người vì “người tình” của ả đã quay lại, ả phấn khích đến nỗi không để ý tới những hạt mưa, và gió táp vào mặt, dù ả đã kéo mũ trùm đầu, vì trong lúc nhộn nhạo ả đã ngồi tận đầu hàng phía sau. Lúc này ả không còn nghi ngại gì nữa, ả biết không gì có thể lay chuyển sự tin cậy của ả vào Irimiás, cũng như bỗng nhiên - trên đỉnh chiếc xe đang lao đi này - ả hiểu vai trò sắp tới của mình: ả sẽ theo hắn tựa một cái bóng lạ kỳ như mơ, lúc như tình nhân, lúc như con ở, lúc như người đàn bà, và nếu cần, có thể biến thành vô hình, để rồi lại xuất hiện bên hắn; ả sẽ hiểu từng cử chỉ của hắn, biết chính xác ý nghĩa bí ẩn của sự nhấn nhá âm thanh của hắn, giải mã những giấc mơ của hắn, và nếu hắn có mệnh hệ gì, thì ả sẽ là người mà hắn ngả đầu vào lòng... Và ả sẽ học chờ đợi, ả sẽ chuẩn bị đón nhận mọi thử thách, và nếu số phận đưa đẩy, Irimiás phải vĩnh viễn rời xa ả, thì ả sẽ chấp nhận, bởi ả còn có thể làm gì khác: ả sẽ lặng lẽ sống những ngày còn lại, thắt tấm vải liệm, và có thể xuống mồ với tâm thức kiêu hãnh, rằng ả đã từng là nhân tình của một người vĩ đại và một người đàn ông đích thực”... Không điều gì có thể dập tắt nổi sự phấn khích của Halics ngồi bên cạnh, dù mưa, gió, và đường xóc cũng không nương nhẹ lão: đôi chân sần sùi của lão dính chặt vào ủng, nước từ mặt đỉnh buồng lái thỉnh thoảng lại ào xuống cổ, và thỉnh thoảng những đợt gió mạnh từ bên sườn khiến lão chảy nước mắt; không chỉ có sự trở lại của Irimiás khiến lão phấn chấn, mà cả chuyến đi cũng làm lão lâng lâng, vì trước đây lão hay nói, rằng lão “không khi nào cưỡng nổi cái thú của tốc độ”, và đây chính là cơ may của lão: Irimiás - không để ý đến những ổ gà nguy hiểm của con đường lát đá - nhấn ga hết cỡ, và thỉnh thoảng nếu lão hé được mắt ra, lão sung sướng thấy cảnh sắc bên đường lao vùn vụt tới chóng mặt, và một kế hoạch bỗng nảy ra trong đầu lão: chưa muộn, nhất là lúc này, để lão thực hiện giấc mơ cháy bỏng của lão, và lão đã tìm những ngôn từ thích hợp, để thuyết phục Irimiás giúp lão, khi đột nhiên lão ý thức được: một tài xế dứt khoát phải né tránh những dịp, mà lão - đáng tiếc! - “do tuổi tác” không thể từ chối... Như vậy, lão quyết định, với khả năng có thể, lão tận hưởng niềm vui của chuyến đi, để sau này khi ngồi đối tửu với bạn bè lão có thể nhắc lại mọi chi tiết cho các bạn, vì “sự trải nghiệm trực tiếp” sẽ làm lu mờ trí tưởng tượng mà lão hay nói tới...” Vợ Halics là người duy nhất không tìm thấy niềm vui trong chuyến tốc hành rồ dại này, vì - trái ngược với ông chồng - bà ta là kẻ thù của mọi sự phát cuồng rồ dại, và vì bà chắc chắn rằng, nếu cứ tiếp tục lao vùn vụt thế này, đến lúc họ sẽ gãy cổ, trong nỗi sợ hãi bà đan hai tay vào nhau cầu nguyện Chúa nhân từ phù hộ, đừng bỏ rơi họ trong hiểm họa chết người này; nhưng bà không thể thuyết phục những người khác (“nhân danh Đức Chúa, tôi xin các vị, hãy nói với gã điên kia, ít ra hãy đi chậm lại!”), nhưng họ “bỏ ngoài tai” những lời hốt hoảng của bà, trong tiếng gầm của động cơ và tiếng rú rít của gió, thậm chí!, hình như “họ còn lấy làm khoái chí bởi mối nguy hiểm!”... Vợ chồng Kráner, cả ông đốc học cũng kiêu hãnh ngồi trên đỉnh chiếc xe tải với niềm vui gần như của con trẻ, họ nheo nheo mắt nhìn xuống vùng đất trơ trụi đang lướt qua với tốc độ chóng mặt. Họ đã tưởng tượng dứt khoát chuyến đi của họ phải như thế này: lướt như gió, nhanh ngây ngất, xuyên qua tất cả, bất khả chiến bại!... Họ tự hào nhìn cảnh sắc vùn vụt chạy lui - có thế chứ! - hóa ra họ rời bỏ vùng đất này không phải như những kẻ ăn mày khốn khổ, mà với tư thế ngẩng cao đầu, tự tại, với thắng lợi cuối cùng!... Họ chỉ lấy làm tiếc là khi họ lao nhanh qua khu trại cũ, rồi tới khúc cua dài cạnh nhà của người nạo đường, vì tốc độ chóng mặt họ không thể nhìn thấy ông chủ quán sắp nổ tung vì ghen tị, bọn nhà Horgos và ông Kerekes mù... Futaki thận trọng đưa tay sờ cái mũi phổng, và yên tâm vì “đã qua nổi vụ này” mà không có hậu họa, bởi cho tới lúc cảm giác đau nhức chưa đỡ đôi chút, gã không dám động đến, và không biết xương mũi có bị gãy hay không. Gã chưa tỉnh hẳn, chóng mặt và buồn nôn. Đầu óc gã vẫn quay cuồng, lúc thì gã thấy bản mặt đỏ ửng của Schmidt, lúc lại thấy Kráner đứng sau ông ta sẵn sàng lao tới, rồi gã cảm thấy ánh mắt của Irimiás chiếu vào gã như thiêu đốt... Khi mũi đã bớt đau, gã mới lần lượt phát hiện ra những vết thương khác: một chiếc răng cửa bị gãy, môi dưới bị rách. Gã gần như không nghe thấy những lời an ủi thân thiện của ông đốc học (“Thôi, ông đừng có để tâm tới chuyện đó nữa! Ông thấy đấy, cuối cùng thì mọi chuyện cũng đâu vào đấy cả!”), vì tai gã ù, thỉnh thoảng gã lại xoay đầu sang bên vì khó chịu, không quyết định nổi xem có nên nhổ ra thứ máu đã đông, mằn mặn trong miệng hay không; gã chỉ cảm thấy dễ chịu hơn đôi chút khi thoáng nhìn thấy khu trang trại lướt qua, thấy cái nhà xay bỏ hoang trong tích tắc, mái nhà lụp xụp của vợ chồng Halics, nhưng dù xoay trở thế nào, đáng tiếc gã không nhìn thấy nhà để máy vì khi tìm được thế ngồi thuận lợi hơn thì chiếc xe tải đã lao ngang qua quán rượu. Gã rụt rè liếc nhìn Schmidt ngồi thu lu ở phía sau, rồi gã tự thú nhận, dù kỳ lạ đến đâu, gã không cảm thấy giận Schmidt một chút nào hết; về phía gã, gã biết rõ, từ lâu gã đã biết, tính Schmidt nóng như lửa, vì vậy - trước khi ý nghĩ trả thù nảy ra trong đầu - từ trong thâm tâm, gã đã tha thứ cho Schmidt, gã quyết định, nếu có dịp càng sớm càng hay, gã sẽ biểu hiện cho Schmidt hiểu, bởi gã đoán được điều gì đang diễn ra trong đầu lão ta. Gã buồn bã nhìn hàng cây lướt qua hai bên đường, và cảm thấy việc đã xảy ra trong “lâu đài” là việc tất phải diễn ra. Tiếng ồn, tiếng gió rít, làn mưa táp vào từ bên cạnh khiến gã quên để ý đến Schmidt và Irimiás, gã khó nhọc lôi ra được một điếu thuốc, rồi cúi gập người, khum bàn tay che diêm, và châm được thuốc. Họ đã đi qua khu trại, quán rượu một đoạn khá xa, gã hé mắt nhìn sang bên, ước đoán có lẽ họ chỉ còn cách trạm điện vài trăm mét, và từ chỗ đó chỉ nửa giờ nữa là chắc chắn họ đã ở trong thành phố. Gã để ý thấy cả ông đốc học và Kráner đang ngồi bên cạnh ông đều phấn khích, kiêu hãnh quay đầu nhìn quanh, như chưa có chuyện gì xảy ra, như thể vụ trong “tòa lâu đài” chỉ là việc thoáng qua, không đáng nhớ; còn gã thì không hề cảm thấy với sự trở lại của Irimiás mọi chuyện rủi ro đã qua... Dù không nghi ngờ gì, khoảnh khắc họ nhìn thấy Irimiás đứng trên bậc cửa là “bước ngoặt lớn”, sự vội vàng này, chuyến đi lạ lùng này trên con đường rải đá hoàn toàn không có vẻ như họ đang tiến về một phương hướng đã được tính toán kĩ, mà có vẻ như một cuộc trốn chạy điên rồ, như thể họ chỉ lao đầu vào “thế giới mông lung” một cách không mục đích, phập phù, mà họ không hề biết điều gì đang chờ đợi họ, nếu như họ sẽ dừng lại ở một nơi nào đó... Với cảm giác bất an, gã thấy mình không hề có khái niệm nào về việc Irimiás nghĩ gì trong đầu, cũng như gã hoàn toàn mù mờ không hiểu tại sao họ phải vội vã rời khu trại như thế này. Thoáng lóe lên trong đầu gã một hình ảnh đáng sợ, trong những năm vừa qua gã không thể nào rũ bỏ được nó: gã lại nhìn thấy mình với chiếc áo khoác rách nát, chống gậy, đói khát và cay đắng cùng cực, đi bộ trên con đường đá, phía sau gã khu trại nhạt nhòa dần, phía trước là tầm nhìn mờ mịt vô định... Và lúc này, đờ đẫn vì tiếng nổ của động cơ gã phải thú nhận: sự tiên cảm không đánh lừa gã: gã đang ngồi trên đỉnh chiếc xe tải từ đâu bất ngờ đến, như kẻ ăn mày, đói lả, đau đớn, và lao đi, ai mà biết, trên con đường đi tới đâu, tới một nơi xa lạ, và gã không thể quyết định rẽ sang lối nào, nếu con đường chia làm hai ngả, vì chỉ có thể bất lực chấp nhận để một chiếc xe cũ rích, lắc xóc, lọc cọc quyết định đường hướng cuộc đời. “Có vẻ như không có lối thoát, - gã mệt mỏi nghĩ. - Dù thế nào, kiểu gì ta cũng hỏng. Ngày mai ta thức giấc trong một căn phòng lạ, và cũng như hôm nay ta không thể biết điều gì chờ đợi ta, cứ như ta một mình dấn thân đến... Ta sẽ bày ra bàn và ra chiếc giường gỗ hẹp các thứ linh tinh của ta, nếu còn có chúng, và đến lúc hoàng hôn ta lại có thể xem ánh sáng biến mất khỏi cửa sổ...” Gã kinh ngạc nhận ra rằng, niềm tin của gã vào Irimiás đã lung lay ngay từ khi nhìn thấy hắn ở cửa ra vào của “lâu đài”... Có lẽ nếu hắn không quay lại, thì lại còn có chút ít hy vọng... Nhưng thế này? Vì ngay từ lúc ở “lâu đài” gã đã cảm thấy đằng sau những lời nói của hắn ẩn chứa sự cay đắng thầm kín, bởi lúc đó gã đã thấy một điều gì đó đã mất vĩnh viễn, lúc gã nhìn thấy hắn cúi đầu đứng cạnh chiếc xe tải, trong khi mọi người đang bốc đồ đạc lên xe.... Và bỗng nhiên tất cả đối với gã trở nên rõ ràng... Hắn ta đã không còn đủ sức lực, không còn đủ sự hăng hái, hắn đã mất cả “ngọn lửa ngày trước”, và hắn cũng chỉ lúng túng vụng về như họ, chỉ còn thói quen thôi thúc hắn, đến lúc này thì gã hiểu, bài nói vòng vo vớ vẩn ở quán rượu đơn giản cũng chỉ để che giấu sự bất lực của hắn trước mắt họ, những người còn tin tưởng vào hắn, chính hắn cũng không còn tin rằng hắn còn có thể mang lại ý nghĩa cho điều mà từ sự bế tắc của nó chính hắn cũng không tìm thấy hướng giải thoát. Mũi gã phập phồng, cơn buồn nôn của gã không muốn dứt, và ngay cả thuốc lá lúc này cũng không đem lại sự sảng khoái, gã vứt điếu thuốc nửa chừng, chưa hút hết. Họ đi qua cây cầu “Thối”, rong rêu khiến mặt nước tù đọng, ven đường mỗi lúc càng thấy nhiều cây keo hơn, và thỉnh thoảng lại thấy một ngôi nhà đổ nát ở phía xa, với vài cây keo im lìm đứng xung quanh; tuy mưa đã ngớt hơn, nhưng gió táp mỗi lúc một dữ, e rằng gió sẽ thổi bay một gói nào đó của họ khỏi đống đồ đạc. Trước mắt họ không nhìn thấy một bóng người, khi xe vòng vào lối rẽ đi Elek, khi họ đi dọc theo con đường dẫn tới thành phố. “Có chuyện gì ở đây nhỉ? - Kráner cất tiếng hỏi. - Dịch hạch à?” Rồi họ bình tĩnh lại, nhận ra đã tới quán rượu “Mérö”, trước cửa quán là hai gã mặc áo mưa đang lảo đảo bá vai nhau, say khướt, vừa đi vừa nghêu ngao hát; họ vòng vào con phố nhỏ dẫn tới Quảng trường chính, và như thể sau một thời gian dài ở tù, họ nhìn như muốn nuốt chửng những ngôi nhà một tầng, những ô cửa chớp đóng kín, những ống máng nước cầu kỳ, những chiếc cổng chạm khắc. Lúc này thời gian trôi nhanh, và trước khi họ có thể thu hết mọi thứ vào tầm mắt, chiếc xe tải đã dừng lại giữa quảng trường rộng. “Nào, các vị - Petrina hét to, nhưng chỉ thò đầu ra khỏi cửa buồng lái. - Chuyến dạo chơi ô tô kết thúc!” “Chờ đã! - Irimiás ngăn mọi người đang chuẩn bị xuống xe, và hắn rời khỏi tay lái. - Chỉ các ông bà Schmidt, Kráner và Halics chuẩn bị xuống! Ông Futaki, và ông đốc học hãy ở lại đã!” Hắn đi trước, với những bước vững chãi, dứt khoát, những người khác mang đồ, thập thõm bước theo. Họ bước vào phòng chờ, xếp đồ đạc vào một góc, rồi vây quanh Irimiás. “Còn thời gian, nghĩa là chúng ta có thể bàn thảo mọi chuyện một cách bình tĩnh. Các vị có bị lạnh lắm không?” “Tôi nghĩ, chúng tôi sẽ hắt hơi xì mũi suốt tối nay cho mà xem! - vợ Kráner cười. - Ở đây có quán rượu nào không? Lúc này tôi muốn uống chút gì đó.” “Có đấy, - Irimiás đáp, rồi hắn nhìn đồng hồ. - Đi theo tôi.” Quán rượu gần như không người, duy nhất một nhân viên đường sắt đứng bên bàn quầy, đôi chân xiêu vẹo. “Ông bà Schmidt, - Irimiás bắt đầu, vừa dốc hết một ly rượu mạnh, - sẽ đi Elek. - Hắn rút ví, lấy ra một mảnh giấy, nhét vào tay Schmidt. - Trên này có ghi tất cả. Các vị phải tìm ai, phố nào, số bao nhiêu, vẫn vân. Cứ nói là tôi gửi các vị đến. Rõ chưa?” “Rõ rồi!” - Schmidt gật đầu. “Hãy nói vài ngày nữa tôi cũng sẽ đến thăm. Cho tới lúc đó bảo người ta hãy cho các vị việc làm, đồ ăn, chỗ ở. Hiểu chưa?” “Hiểu rồi. Nhưng thế là thế nào?” “Đó là một thợ thịt, - Irimiás chỉ mảnh giấy. - Ở đó có khối việc. Còn bà, bà Schmidt, bà sẽ phục vụ. Ông sẽ giúp bà ấy. Tôi tin là ông bà sẽ trụ được.” “Việc đó ông khỏi lo!” - Schmidt đảm bảo. “Được rồi. Tàu hỏa, xem nào... - hắn lại nhìn đồng hồ. - Ừ, đúng, khoảng hai mươi phút nữa sẽ tới. - Hắn quay về phía vợ chồng Kráner. - Ông bà sẽ làm việc ở Keresztúr. Tôi không ghi ra giấy, vì vậy ông bà hãy nhớ cho kĩ tất cả. Người của ông bà là Kalmar. Kalmar Istvan. Tôi không nhớ tên đường, nhưng đầu tiên các vị đi đến nhà thờ Thiên Chúa giáo, chỉ có một, nên không thể nhầm. Bên phải nhà thờ có một phố nhỏ. Đã nhớ chưa? Nào, các vị đi trên phố đó, tới khi nhìn thấy ở bên phải một nhà ghi “May quần áo nữ”. Đó là nhà Kalmar. Hãy nói với ông ta, là “Dönci” gửi ông bà tới, nhớ kĩ đấy, vì có thể ông ấy không nhớ tên thật của tôi. Hãy nói là các vị cần công việc làm, ăn uống và chỗ ở. Cần ngay. Phía sau có một căn bếp, chỗ giặt, bảo ông ấy cho các vị ở đấy. Các vị nhớ cả chưa?” “Nhớ rồi, - vợ Kráner phấn khởi. - Đến nhà thờ, rẽ vào con phố bên phải, rồi đã có tấm biển ghi. Không có vấn đề gì đâu.” “Cung cách này làm tôi hài lòng đấy! - Irimiás cười cười, rồi quay về phía Halics. - Nào, hai ông bà hãy lên xe khách đi Postelek, xe chạy mỗi giờ một chuyến từ quảng trường trước nhà ga, đến Postelek hãy đến khu mục sư dòng Phúc âm, tìm ngài trưởng dòng tu Gyivicsan. Các vị không quên chứ?” “Gyivicsan.” - vợ Halics mau mắn nhắc lại. “Đúng rồi. Các vị nói với ông ấy là tôi cử đến. Mấy năm rồi ông ấy năn nỉ tôi tìm cho một hai người, không thể đề xuất ai hơn hai ông bà. Ở đó còn khối chỗ, các vị còn có thể chọn, có rượu vang dâng lễ, ông Halics, còn bà Halics, bà quét dọn trong nhà thờ, và nấu ăn cho cả ba người, làm việc nhà...” Vợ chồng Halics nở mặt mày vì sung sướng. “Chúng tôi biết cảm ơn lòng tốt của ông thế nào đây? - vợ Halics nói, mắt đã ậng nước.” “Có gì đâu, có gì đâu! - Irimiás gạt đi. - Các vị sẽ còn dịp để trả ơn tôi. Nào, bây giờ tất cả mọi người chú ý đây. Thời gian đầu, khi mọi việc chưa ổn, mỗi người sẽ nhận được một ngàn forint từ số tiền chung. Hãy chi tiêu dè sẻn, không được hoang phí! Đừng quên điều gì gắn bó chúng ta với nhau. Không phút nào các vị được quên nhiệm vụ của mình. Hãy chú ý đến mọi thứ ở Elek, Postelek và Keresztur, và chỉ như vậy chúng ta mới đạt tới đích! Mấy bữa nữa tôi sẽ đến thăm các vị, và chúng ta sẽ bàn bạc chi tiết. Các vị có hỏi gì không?” Kráner hắng giọng. “Tôi nghĩ, chúng tôi đã hiểu cả. Nhưng bây giờ chúng tôi muốn... chính thức cảm ơn ông, những gì ông đã làm... vì chúng tôi.” Irimiás đưa tay lên như muốn phòng vệ. “Các vị, không có ơn huệ gì hết. Đây là trách nhiệm của tôi. Bây giờ, - hắn đứng dậy, - đã đến lúc chúng ta chia tay. Còn rất nhiều việc đang chờ tôi... Các cuộc đàm phán quan trọng...” Halics nhảy đến chỗ Irimiás, xúc động nắm lấy tay hắn. “Ông nhớ giữ sức khỏe nhé! - lão lí nhí. - Vì ông biết, chúng tôi lo lắng cho ông! Đừng để xảy ra chuyện không lành nhé!” “Các vị đừng lo cho tôi, - Irimiás mỉm cười nói, và đi về phía cửa. - Các vị hãy giữ mình, và đừng quên: cảnh giác cao độ!” Hắn bước ra cửa bên, đi lại chỗ chiếc xe tải, và vẫy ông đốc học. “Ông nghe đây! Chúng tôi sẽ cho ông xuống ở chỗ Stréber, ông hãy ngồi vào quán ‘Ipar’, khoảng một tiếng sau tôi sẽ đến đón ông. Chúng ta sẽ bàn tiếp ở đó. Ông Futaki đâu rồi?” “Tôi đây!” - Futaki đáp, và bước ra từ phía bên kia chiếc xe. “Ông…” Futaki giơ tay. “Ông không phải lo cho tôi.” Irimiás kinh ngạc nhìn vào mặt gã. “Ông làm sao thế?” “Tôi á? Không sao hết. Nhưng tôi biết mình đi đâu. Chắc họ sẽ nhận tôi làm người gác đêm ở chỗ nào đó.” Irimiás nóng nảy trấn an gã. “Đến giờ ông vẫn cứng đầu. Lẽ ra ông cần tới một nơi khác, nhưng thôi, thế cũng được. Ông hãy tới Nagyromanvaros, bên cạnh chỗ Tam giác vàng, ông biết chỗ ấy chứ? Ở cạnh đó có một công trình xây dựng. Ở đó cần người gác đêm, có cả chỗ ở. Trước mắt có một ngàn forint đây. Ông hãy trả tiền một bữa trưa. Tôi thấy chỗ Steigerwald, cách đây một tầm nhổ nước bọt, ăn được đấy.” Futaki cúi đầu. “Cảm ơn ông. Ông nghĩ đến chuyện khạc nhổ à?” Irimiás miễn cưỡng bĩu môi. “Lúc này không thể nói chuyện với ông. Cố gắng lên. Buổi tối hãy đến chỗ Steigerwald. Thống nhất thế nhé?” Hắn chìa tay, Futaki ngập ngừng chìa tay ra bắt, tay kia vo tờ giấy bạc nhét vào túi, rồi bỏ mặc Irimiás đứng cạnh chiếc xe tải, không nói thêm một lời, gã chống gậy đi về phía đường Csokos. “Va li của ông kìa!”- Petrina kêu với theo gã từ trong buồng lái, và nhảy ra giúp đặt lên vai Futaki. “Có nặng không?” - ông đốc học ngớ ngẩn hỏi, và vội giơ tay ra bắt. “Không nặng lắm, - Futaki đáp nhỏ. - Tạm biệt!” Gã bước đi, Irimiás, Petrina, “thằng nhóc”, ông đốc học ái ngại nhìn theo, rồi họ trở lại xe, ông đốc học leo lên thùng, và họ quay lại khu trung tâm thành phố. Futaki nặng nhọc đi về phía trước, gã cảm thấy sắp đổ gục xuống dưới sức nặng của mấy chiếc va li, thế là lúc đến ngã tư đầu tiên gã hạ chúng xuống, tháo dây đeo, sau một chút suy nghĩ gã quăng một chiếc xuống rãnh nước ven đường, và đi tiếp với chiếc va li còn lại. Gã đi vòng vèo từ phố nọ sang phố kia, vô đích, trong lòng tê tái, thỉnh thoảng lại đặt chiếc va li xuống đứng thở một lát, rồi lại bước tiếp... Đôi lúc gặp người đi đối diện, gã cúi gằm xuống đi qua bên cạnh họ, vì gã cảm thấy, nếu nhìn vào những đôi mắt xa lạ kia, thì sự bất hạnh của bản thân sẽ khiến gã càng cay đắng hơn. Bởi với gã thế là hết... “Và ta thật ngu ngốc vì đến tận hôm qua ta vẫn còn tin, còn hy vọng. Và rồi đến cơ sự này đây! Ta lang thang ở đây, với cái mũi bị đánh gãy, răng gãy, môi rách, máu me, như thể ta phải trả giá cho sự ngu ngốc của mình... Nhưng dẫu sao... làm gì có công bằng... làm gì có...” Đến tối khi bật điện lên trong một ngôi nhà tạm bằng gỗ của công trình xây dựng ở Tam giác vàng, gã vẫn còn nhắc đi nhắc lại, và nhìn vào gương mặt nhầu nhĩ của mình trong tấm kính cửa sổ lấm lem. “Đây là Futaki thảm hại nhất mà tôi biết, - Petrina nói khi họ chạy xe dọc một con phố nhỏ dẫn về nội thành. - Mà hắn nghĩ thế nào chứ, hắn tưởng đây là đất hứa hay sao? Hay cái quái quỷ gì nhập vào hắn? Các ông có nhìn thấy bộ mặt của hắn không?” “Im đi, Petrina! - Irimiás lẩm bẩm. - Nếu nói nhiều, mũi cậu cũng sẽ sưng vù lên bây giờ.” “Thằng nhóc” ngồi giữa bật cười. “Petrina, bây giờ thì ông ngồi im chứ?” “Tao ấy à!? - y bật lên. - Mày tưởng tao sợ bất kỳ đứa nào à?!” “Petrina, câm mồm đi! - Irimiás cáu kỉnh quát. - Đừng có loanh quanh, muốn gì thì nói ra đi!” Petrina vò đầu, nhăn nhở cười. “Hừm, đã đến nước này... y ngập ngừng. - Tôi không lòng vòng, ông đừng nghĩ thế!... Chúng ta cần gì đến Payer?” Irimiás cắn môi, phanh xe đi chậm lại, cho một bà già qua đường, rồi nhấn ga. “Đừng can dự vào chuyện người lớn!” - hắn nói khô khốc. “Sếp ơi, dù sao tôi vẫn muốn biết. Chúng ta cần hắn để làm gì?...” Irimiás bực bội nhìn ra phía trước. “Vì chúng ta cần.” “Sếp ạ, tôi không biết, nhưng… hay là?...” “Đúng!” - Irimiás quát. “Sếp, ông định làm nổ tung cả thế giới?! - Petrina thốt ra, vẻ hốt hoảng. - Ông không còn muốn điều gì nữa.” Irimiás không trả lời. Hắn phanh xe. Họ dừng lại ở chỗ Stréber. Ông đốc học nhảy khỏi thùng xe, lại cạnh buồng lái, vẫy chào tạm biệt, rồi bước sang bên kia đường với những bước đi dứt khoát, và mở cửa vào quán “Ipar”. “Hơn tám rưỡi rồi, - ‘thằng nhóc’ nói. - Liệu họ sẽ nói gì?...” Petrina phủi tay. “Ngài đại úy có thể chui xuống địa ngục! Chậm thì có sao? Với tôi chậm là vô nghĩa! Chúng ta còn đến là ông ta phải mừng! Nếu Petrina này đến thăm ai, người đó phải lấy làm vinh dự! Hiểu chưa, ‘thằng nhóc”? Mày hãy nhớ kỹ điều này, vì ta không nói thêm một lần nữa đâu!” “Haha... - ‘thằng nhóc’ cười giễu, và nhả khói vào mặt Petrina. - Hài hước.” “Hãy khắc kĩ vào cái đầu củ đậu của mày, hài hước cũng như cuộc đời, - Petrina nói, vẻ trang trọng. - Cái gì bắt đầu tồi tệ, sẽ kết thúc tồi tệ. Đoạn giữa tốt.” Irimiás im lặng nhìn đường. Lúc này, khi việc đã xong, gã không cảm thấy điều gì đáng hãnh diện. Đôi mắt gã mỏi mệt nhìn phía trước, mặt gã xám xịt. Gã nắm chặt tay lái, trên thái dương gã một mạch máu nhay nháy. Gã nhìn thấy những căn nhà nguyên vẹn hai bên đường. Những khu vườn. Gã không cảm thấy thù ghét, cũng không ghê tởm. Đầu óc gã trống rỗng, lạnh lùng.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Krasznahorkai Laszlo

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.