📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Lịch sử Sài Gòn 🔒

126 trả lời, 21.374 lượt xem — Trang 2 / 5
MỸ DIỆM THIẾT LẬP BỘ MÁY CAI TRỊ MỚI
Ngày 7-7-1954, trước khi hiệp định Genève được ký kết 13 ngày,
Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm (người được Mỹ nuôi dưỡng từ lâu) về
nước làm thủ tướng bù nhìn thay thế Bửu Lộc. Tháng 9-1954, Mỹ
quyết định viện trợ trực tiếp cho Ngô Đình Diệm. Tháng 11-1954, Mỹ
cử tướng L. Colins sang làm đại sứ ở Sài Gòn. Colins đề ra kế hoạch 6
điểm để củng cố chính quyền Ngô Đình Diệm nhằm độc chiếm miền
Nam bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Kế hoạch Colins gồm những
vấn đề sau :
Bảo trợ chính quyền Diệm. Viện trợ thẳng cho Chính phủ Sài
Gòn. Xây dựng quân đội Nam Việt Nam gồm 15 vạn người do Mỹ
trang bị, huấn luyện. Bầu cử quốc hội ở miền Nam, hợp pháp hóa
chính quyền Sài Gòn. Định cư cho số người công giáo miền Bắc di cư
vào Nam và vạch kế hoạch cải cá ch điền địa. Thay đổi chế độ thuế
khóa, dành ưu tiên cho hàng hóa Mỹ ở miền Nam. Đào tạo cán bộ
hành chính.
Ngày 13-12-1954, Pháp buộc phải ký với Mỹ bản hiệp ước giao
trách nhiệm huấn luyện, trang bị quân ngụy ở miền Nam cho Mỹ.
Ngày 19-12-1954, Pháp ký hiệp định trao quyền hành chính,
chính trị ở miền Nam cho Ngô Đình Diệm.
Sau khi lên nắm chính quyền, Ngô Đình Diệm đã xây dựng
miền Nam thành một "quốc gia mạnh" của "thế giới tự do", có một
"đạo quân cảnh sát" và một "đạo quân sen đầm" lớ n mạnh để chống
cách mạng, chống cộng sản. Để tạo chỗ dựa, Diệm đã cho thành lập
"Đảng Cần lao nhân vị", phong trào "cách mạng quốc gia", "thanh
niên cộng hòa", "phụ nữ liên đới" từ Trung ương tới địa phương nhằm
tập hợp bọn phản động trong gia cấp tư sản, địa chủ , Thiên Chúa giáo
và những tên có hận thù với cách mạng, làm hậu thuẫn cho chính
quyền Diệm. Ngày 4-3-1956, Diệm tổ chức bầu "Quốc hội" riêng rẽ và

ngày 26-10-1956 cho công bố "Hiến pháp Việt Nam cộng hòa". Đây là
việc làm hoàn toàn bất hợp pháp, trái với tinh thầ n Hiệp nghị
Giơnevơ nhằm biến miền Nam nước ta thà nh một "quốc gia" riêng.
Về quân sự, cho tớ i tháng 6-1955, Mỹ đã xây dựng cho chính
quyền Sài Gòn một đội quân dưới quyền điều khiển trực tiếp của Mỹ
gồm 10 sư đoàn bộ binh, 17 tiểu đoàn pháo binh, 5 tiểu đoàn xe tăng
thiết giáp và 54.000 quân địa phương. Số cố vấn Mỹ từ 35 người (năm
1950), tăng lên 699 ngườ i (năm 1956). Cá c cố vấn Mỹ có mặt đến tận
cấp sư đoàn. Đội quân đó được trang bị tương đối hiện đại và huấn
luyện theo chương trình do cố vấn Mỹ đặt ra. Mỹ còn cho xây dựng
một hệ thống sân bay, quân cảng, đường giao thông chiến lược nhằm
biến miền Nam nước ta thành một căn cứ quân sự khổng lồ. Chúng
hò hét "Bắc tiến", "lấp sông Bến Hải" và chuẩn bị đánh ra miền Bắc.
Về kinh tế, chúng đưa hàng hóa ế thừa vào miền Nam, làm cho
nền kinh tế dân tộc bị lũng đoạn và phụ thuộc vào Mỹ. Viện trợ Mỹ
tăng vọt : từ năm 1955 - 1957, Mỹ đã viện trợ cho Diệm 1,1 tỉ đô la
(trong đó gần 60% chi dùng vào mục đích quân sự). Tháng 1-1955,
Diệm tuyên bố "Cải cách điền địa" vớ i những luận điệu "chia ruộng
đất cho dân", "hữu sản hóa vô sản", "bài phong, đả thự c"... Thực chất
là chúng tước lại ruộng đất mà cách mạng đã chia cho nông dân từ
thời kháng chiến chống Pháp và khôi phục, củng cố lại giai cấp địa
chủ ở miền Nam.
Về văn hóa, chúng đưa "lối sống Mỹ" tràn vào miền Nam để đầu
độc nhân dân ta, nhất là tầng lớp thanh - thiếu niên.
Dựa vào các đạo dụ cũ của Bảo Đại đã ban hành từ năm 1953,
Mỹ - Diệm cho bổ sung thành những đạ o dụ mới : Dụ số 2 (ra ngày 8-
1-1955), Dụ số 7 (ra ngày 3-2-1955) và Dụ 57 (22-10-1956). Dụ số 2
quy định tá điền phải lập khế ước lĩnh canh. Dụ số 7 quy định hàng
tháng chủ ruộng đất phải khai báo về việc khai thác ruộng đất. Mục
đích của hai đạo dụ này là lấy lại ruộng đất của nông dân đã được
chia từ thờ i kháng chiến chống Pháp, khôi phục lại quyền chiếm hữu
của giai cấp địa chủ, biến nông dân đã có ruộng trở thành tá điền của
địa chủ như trước đây.

Dụ 57 quy định những ruộng đất đem phân phối cho nông dân
là những ruộng bỏ hoang và đất "truất hữu" của những địa chủ có
trên 100 mẫu. Tính đến 31-12-1959, tổng số ruộng đất khai báo để
"truất hữu" là 463.557 mẫu (trong số 454.874 mẫu đã "truất hữu" với
tổng số điền chủ bị "truất hữu" là 1980 người). Trong số ruộ ng đất
"truất hữu", chỉ có 252.179 mẫu được cấp bán cho 128.719 người. Nếu
cộng thêm vào số đó số ruộng "truất hữu" của Phá p kiều là 228.620
mẫu, trong đó chỉ có 52473 mẫu đem cấp bán cho nông dân thì số
người được "hữu sản hóa" quá ít ỏi so với số người cần ruộng. Qua đó,
ta thấy rằng đại bộ phận giai cấp địa chủ và 2/3 số ruộng đất mà họ
chiế m giữ không bị động chạm tới qua "truất hữu" ruộng đấ t.
Như vậy, thông qua cá c Dụ số 2, Dụ số 7 và Dụ 57, chính quyền
Diệm đã khôi phục và câu kế t với giai cấp địa chủ để cướp đoạt ruộng
đất của nông dân, khôi phục lại chế độ chiếm hữ u ruộng đất của địa
chủ, tăng tô lan tràn để từ đó, xóa bỏ những thành quả mà cách mạng
đã đem lại cho nông dân.
Với một hệ thống cố vấn chặt chẽ cắm từ Phủ Tổng thống, Bộ
Tổng tham mưu, Nha cảnh sát, cá c Bộ của chính quyền Sài Gòn đến
các đơn vị quân đội, các địa phương và dựa vào quyền lự c của vũ khí,
đôla viện trợ, Mỹ đã can thiệp ngày càng sâu vào miền Nam, quyết
định từ đường lối, chính sách đến các công việc cụ thể của chính
quyền miền Nam như chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa xã hội và
ngoại giao. Miền Nam đã trở thành "thuộc địa kiểu mới" của Mỹ. Âm
mưu xâm lược của Mỹ ở miền Nam là nhằm biến nơi đây thành thuộ c
địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ để tiến công miền Bắc và hệ
thống XHCN, làm "con đê" ngăn chặn chủ nghĩa xã hội và không cho
phong trào cách mạng trà n xuống vùng Đông Nam Á.
(Theo Lịch sử Việt Nam đại cương tập 3)

Chán đời đi lang thang !
0
CẢI CÁCH ĐIỀN ĐỊA, CƯỚP ĐẤT NÔNG DÂN
Để "tranh thủ trái tim khối óc người nông dân", tách nông dân
khỏi ảnh hưởng cách mạng, chương trình "cải tiến nông thôn" của
Diệm được sớm triển khai. Lấy việc thực hiện chính sách "cải cách
điền địa" làm khẩu hiệu trung tâm, ngà y 8 tháng 1 năm 1955 Diệm
ra Dụ số 2, tiếp đến ngày 3 tháng 2 năm 1955 ra Dụ số 7 "cải cách
điền địa" về giảm tô và giao đất bỏ hoang cho tá điền canh tác. Ngày
22 tháng 10 năm 1956 lại ra Dụ số 57 về quyền truất hữu ruộng đất
của chính phủ và "tiểu điền chủ hóa tá điền". Những cái gọi là "cải
cách" trên quanh đi quẩn lại đã làm cho 650.000 ha mà cách mạng đã
cấp cho nông dân miề n Nam trong kháng chiến và trước ngày tập kết,
bị gặc cướp không rồi lại bán đấu giá ngược trở lại; nhưng người
nghèo không có tiền mua, người giàu không đủ đất mua. Thà nh quả
cách mạng bị xóa. Việc này, nông dân không thể nhịn được, do đó "cải
cách điền địa" chẳng những đã không "tranh thủ trái tim khối ó c
người nông dân" mà còn làm cho mâu thuẫn giữa nông dân và tay sai
đế quốc thêm quyết liệt. Nhà sử học Mỹ Gabriel Kolko thừa nhận :
"chỉ có 12% tá điền được nhậ n đất, nhưng phải mua trong khi chính
sách của Việt Minh là cho không", do đó, "trước 1955, địa chủ là đối
tượng chủ yếu của sự cay đắng của nông dân, bây giờ còn thêm những
quan chức hung hăng của Diệm".
Nông dân Gia Định vào cuộc đấu tranh về ruộng đất ngay sau
khi "Dụ 1" ra đời. Ngày 9 tháng 3 năm 1955 trong một cuộc họp tá
điền tại Sài Gòn, có hơn 100 đại biểu nông dân đòi hủy bỏ chế độ đấu
giá công điền. Ngày 1 tháng 5 năm 1956, trong cuộc biểu tình lớn tại
Sài Gòn, nông dân Gia Định trương khẩu hiệ u đòi sửa đổi luật công
điền.
Địch lại bắt 96 nông dân các xã Đông Hưng Thuận, Trung Mỹ
Tây, Tân Thới Hiệp rời làng để chúng lấy đất xây dựng khu căn cứ
quân sự liên hoàn Lê Lợi và Quang Trung, mở xa lộ Sài Gòn - Biên

Hòa. Nông dân hai xã Đông Hưng Thuậ n và Trung Mỹ Tây cử đại
biểu lên tận "quốc hội", phủ tổng thống Diệm, Bộ quốc phòng phản
đối dời làng. Cuộc đấ u tranh chố ng dời làng kéo dài đến hàng năm, có
người như chị Trương Ngọc Thanh bị bắt đến cả chục lần, có những
nông dân cầm dao, mác, gậy đuổi cố vấn Mỹ. 96% nông dân các huyện
xung quanh Sài Gòn đã nhập cuộc trong cuộc đấu tranh chống "cải
cách điền địa", buộc việc đấu giá công điền phải tạm ngưng. Đến cuối
1956, Diệm mới lấy lại được khoảng một phần ba đất công của nông
dân Gia Định.
(Theo sách Lịch sử Sài Gò n - Gia Định - Chợ Lớn kháng chiến 45-75)

Chán đời đi lang thang !
0
NỘI DUNG HIỆP ĐỊNH GENEVE
VỀ ĐÔNG DƯƠNG 1954
Tiếp theo hội nghị ngoại trưởng 4 nước Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp
tạ i Béc-lin tháng 1/1954 để bàn về việc triệu tập hội nghị quốc tế tại
Genève giải quyế t vấn đề Triều Tiên và lập lại hòa bình ở Đông
Dương; ngày 26/4/1954, giữa lúc quân ta chuẩn bị mở cuộc tấn công
thứ 3 để quyết định số phận quân viễn chinh Pháp ở Điện Biên Phủ,
thì Hội nghị Genève về Đông Dương khai mạc.
Ngày 8/5/1954, Hộ i nghị Genève bắt đầu thảo luận vấn đề lập
lại hò a bình ở Đông Dương. Phái đoàn chính phủ ta do Thủ tướng
Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn bước vào hội nghị với tư thế là đại
biểu cho một dân tộc chiến thắng. Trong phiên họp ngày thứ hai
(ngày 10/5/1954) trưởng đoàn Phạm Văn Đồng đã tuyên bố lập trường
căn bản của chính phủ và nhân dân ta là hòa bình, độc lập, dân chủ,
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Lập trường chính
nghĩa và những điểm cụ thể nêu lên làm cơ sở cho việc lập lại hòa
bình ở Đông Dương được nhân dân tiến bộ Pháp và các lực lượng yêu
chuộng hòa bình trên thế giới nhiệt liệt đồng tình và ủng hộ. Ngượ c
lại các thế lự c đế quốc và hiếu chiến Pháp hết sức lúng tú ng, bị cô lập
trong âm mưu phá hoại hội nghị Genève nhằm kéo dài và mở rộng
chiế n tranh Đông Dương. Trải qua 26 phiên họp toàn thể và hạn chế,
hội nghị đã thảo luận 4 vấn đề chính :
Vấn đề ngừng bắn cùng một lúc trên toà n cõi Đảng. Vấn đề liên
quan giữa hai mặt chính trị và quân sự. Vấn đề quyết định khu vực
tập kết của quân đội hai bên. Vấn đề kiể m soát việc thi hành hiệp
định đình chiến.
Ngày 18/6/1954, chính phủ Pháp do Laniel làm Thủ tướng, một
chính phủ ngoan cố và phản động bị đổ, chính phủ mới Mendès
France lên làm thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ ngoại giao chủ trương

thương lượng trực tiếp với Chính phủ ta để đi đến một giải pháp hy
vọng cứu vãn được ít nhiều uy tín và danh dự của nước Pháp. Phái
đoàn chính phủ Pháp đã có những đóng góp tích cực hơn, góp phần
đưa hội nghị Genève tiến tới một bước mới.
Thể hiện tinh thần yêu chuộng hòa bình của nhân dân ta và xu
thế chung giả i quyết các vấn đề tranh chấp của thế giớ i bằng thương
lượng, Việt Nam đã chấp thuận giải pháp mà hội nghị đã thỏa thuận.
Ngày 20/7/1954, tại Genève chính phủ Pháp phải ký kết hiệp
định đình chiến với ta. Chính phủ Pháp cù ng với các nước tham dự
hội nghị tuyên bố : "Mỗi nước tham gia hội nghị và toàn vẹn lãnh thổ
của nhữ ng nước trên (tức Việt Nam, Lào, Campuchia) và tuyệt đối
không can thiệ p vào nội trị của nhữ ng nước đó". Hai bên phải ngừng
bắn, tập kế t quân đội về hai vùng, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến
quân sự tạm thời cùng với một khu phi quân sự ở hai bên giới tuyến.
"Giới tuyến quân sự chỉ có tính chất tạm thời, hoàn toàn không thể
coi là ranh giới về chính trị và lãnh thổ".
Hiệp định cấm việc đưa quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí
nước ngoài vào 3 nước Đông Dương. Các nước ngoài không được đặt
căn cứ quân sự ở Đông Dương. Các nước Đông Dương không được gia
nhập nhữ ng khối liên minh quân sự và không được để các nước khác
dùng lãnh thổ của mình để gây lại chiến tranh hoặc phục vụ mục đích
xâm lược. Việt Nam sẽ thực hiện thống nhất bằng cuộc tổng tuyển cử
tự do trong cả nước. Cuộc tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7/1956
dưới sự kiểm soát của Ủy ban quốc tế (gồm Ấn Độ, Ba Lan, Canada
do Ấn Độ làm chủ tịch). Trách nhiệm thi hành hiệp định Genève
thuộc về những người ký Hiệp định và những người kế tiếp nhiệm vụ
của họ. Đế quốc Mỹ không ký vào bản tuyên bố chung của hội nghị,
mà đã ra một tuyên bố riêng cam kết tôn trọng hiệp nghị Genève về
Đông Dương.
Tuy còn những hạn chế, nhưng hiệp định Genève cùng chiến
thắng Điện Biên Phủ đã chấm dứ t cuộc chiến tranh xâm lược của đế
quốc Phá p và can thiệp Mỹ ở Đông Dương. Pháp phải rút quân viễn
chinh về nước, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và chuyển sang
giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa. Một thời kỳ mới của cách
mạng Việt Nam đã được mở ra thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở

miền Bắc, đồng thời tiếp tục đấu tranh hoàn thành cách mạng dân
tộc dân chủ ở miền Nam.
(Lịch sử Việt Nam - tủ sách ĐHTH 1996)

Chán đời đi lang thang !
0
PHONG TRÀO ĐẤU TRANH ĐÒI HOÀ BÌNH, ĐÒI
HIỆP THƯƠNG Ở SÀI GÒN - CHỢ LỚN
Tháng 10 năm 1954, cuộc họp Xứ ủy tại Cán Gáo - Biển Bạch
(Tây Nam rừng U Minh) chính thức thành lập lại Khu ủy Sài Gòn -
Chợ Lớn. Tỉnh Gia Định vẫn duy trì tỉnh ủy đương nhiệm do đồng chí
Phạm Khải (Ba Ka) làm bí thư. Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớ n do đồng
chí Nguyễn Văn Linh làm bí thư; Nguyễ n Ngọc Thanh - phó bí thư,
Trần Quốc Thảo - ủy viên thường vụ (một năm sau làm phó bí thư)...
Tháng 9 năm 1954, Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương
Đảng họp xác định nhiệm vụ cách mạng dân tộc giải phóng của ta
chưa hoàn thành, cuộc đấu tranh cứu quốc không vì đình chiến mà
kết thúc mà đang tiếp tục, song về phương châm đấu tranh thì "phải
thay đổi từ đấu tranh vũ trang chuyển sang đấu tranh chính trị", mọi
"hình thức đấu tranh kịch liệt (như kiểu khởi nghĩa và chiến tranh
du kích) cần phải thay đổi ngay" (NQ9, BCT).
Tháng 11 năm 1954 Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn và Tỉnh ủ y Gia
Định đều họp, tiếp thu nghị quyết trên và đề ra nhiệm vụ hai năm tới
đẩy mạnh phong trào quần chúng đấu tranh đòi hỏi thi hành Hiệp
định Genève, bảo vệ hòa bình, đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống
nhất đất nước, đòi các quyền dân sinh, dân chủ; về sách lược, phải
khôn khéo, triệt để lợi dụng mâu thuẫn địch, đề ra khẩu hiệu sát hợp
với yêu cầu của quần chúng; về tổ chức và hành động; tận dụng cả ba
thế : hợp pháp, nửa hợp pháp, không hợp pháp, với ba hình thức :
công khai, nửa công khai, bí mật. Theo phương châm đó , thành lập
các Ban vận động trong các ngành các giới : công vận, phụ vận, tư sản
vận, trí vận, riêng hoa vận do Xứ ủy nắm các Ban báo chí, Văn nghệ,
Ban học sinh, sinh viên; đưa Đả ng viên vào bám và xây dựng cơ sở ở
các trọng điểm; gấp rút đào tạo cán bộ hoạt động đô thị; tổ chức cài
cắm người và xây dựng cơ sở nội tuyết trong các cơ quan đầu não địch
như : Sở công an Nam phần, Bộ tư lệnh đệ nhất quân khu (Nam Bộ),

Phủ tổng thống, Sở Nghiên cứ u chính trị, văn hóa xã hội, Bộ tổng
tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất... Tỉnh ủy Gia Định chủ trương
chống khủng bố kết hợp đòi thi hành hiệ p định, giữ ruộng đất mà
cách mạng đã tạm cấp cho nông dân, vận động nông dân trở về vườn
cũ làm ăn... củng cố các căn cứ cũ, địa đạo, hầm bí mật...
Phong trào hòa bình bắt liên lạc với Ủy ban quốc tế kiểm soát
và giám sát đình chiến. Đại biể u của phong trà o đi thăm tù chính trị,
yêu cầ u Ủy ban quốc tế đòi các nhà chức trách Liên hiệp Pháp phải
thả người mà họ đang cố giữ.
Qua theo dõi, ngày 7 tháng 11 năm 1954, Diệm ra lệnh khám
xét trụ sở của Phong trào ở đường Galliéni, bắt một số cán bộ của
phong trào đưa ra tòa, nhưng không đủ lý để buộc tội. Diệm lại dựng
lên "tội lập hội không xin phép", bắt giam 8 người, trong đó có luật sư
Nguyễn Hữu Thọ, giáo sư Nguyễn Văn Dưỡ ng, giáo sư Phạm Huy
Thông, kỹ sư Lưu Văn Lang...
Không kết tội được những người yêu nướ c, Diệm dựng lên các
bằng chứng man trá, như tổ chức rải truyền đơn rồi vu là của phong
trào Hòa Bình, để tiếp tục khủng bố. Số người bị bắt tiếp tục tăng vọt.
Cuộc đấu tranh ở tòa án Sài Gò n ngày càng quyết liệt. Các trò gian
trá, vu khống liên tiếp bị lật tẩy, nhưng địch thua keo này bày keo
khác, cố đưa các vị ra tòa án quân sự, uy hiếp phong trào đấu tranh
chính trị đang dâng cao.
Cuộc đấu tranh phản đối hành động phát xít của ngụy quyền
trở thành phong trào lớ n, thu hú từ lớp nghèo thành thị đến giới thợ
thầy, công thương gia. Các sạp của 50 chợ, mỗi người góp một số tiền
để mướn 6 luật sư bênh vự c những người bị bắt. Suốt hai tháng 11,
12 năm 1954, Diệm mở phiên tòa xử "Phong trào Hòa Bình Sài Gòn -
Chợ Lớn", nhưng các ủy ban cơ sở của phong trào lại càng hoạ t động
mạnh.
Cuối tháng 12 năm 1954, gần 25.000 công nhân trong 28 cơ sở
quân sự của Pháp ở Sài Gòn -Chợ Lớ n đình công đòi tăng lương 20%,
đòi giảm giá sinh hoạt, đòi thi hành Hiệp định Genève. Cuộc đấu
tranh lan ra Thủ Dầu Một, Biên Hòa, kéo dài đến ngày 4 tháng 1
năm 1955 mới tạm dừng, sau khi đạt được một phần yêu sách.

Ba tháng đầu năm 1955, đã có trên 80.000 người dân Sài Gòn -
Chợ Lớn, trong đó công nhân lao động giữ vai trò nòng cốt, với 30
cuộc bãi công, đấu tranh đòi giải quyết đời sống, đòi thi hành hiệp
định.
Phong trào đấu tranh của nông dân ngoại thành đòi thi hành
hiệp định bắt đầu từ huyện Củ Chi lan nhanh đế n Gò Vấp, Thủ Đức,
Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè.
Tháng 6 năm 1955, Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn họp thường kỳ
tạ i nhà số 300A đường Ngô Tùng Châu, làng Bình Hòa (nay là quận
Bình Thạnh) để kiểm điểm, đánh giá tình hình công tác của đảng bộ
trong 3 tháng đầu năm 1955, và đề ra những nhiệm vụ trước mắt.
Cũng tại nơi đây, tháng 7 năm 1955, Khu ủy họp lần thứ hai và định
ra chế độ họp thường kỳ 3 tháng một lần trong hai năm 1955 - 1956
để chỉ đạo phong trào được liên tục.
Cuộc đấu tranh của các tầng lớp nhân dân đòi thả những người
của "Phong trào Hòa Bình Sài Gòn - Chợ Lớn" và đòi hiệp thương hai
miền tiếp tục phát triển mạnh.
(Theo sách Lịch sử Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn kháng chiến 45-75)

Chán đời đi lang thang !
0
ĐÔLA MỸ VÀ LỐI SỐNG MỸ
Sức nặng của đồng đôla và giá cả điên đảo
Trong những năm đầu sau Hiệp định Genève, từ 1955 đến
1960, Mỹ viện trợ cho Diệm gần 2 tỷ USD. Dưới tác động của viện trợ
Mỹ, kinh tế của Sài Gòn phát triển khá nhanh theo chiều hướng kinh
tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa. Nhà máy mọc lên khá nhiều: 70%
trong tổng số 12.000 cơ sở công nghiệp của toàn miề n Nam tập trung
tạ i vùng Sài Gòn - Gia Định - Biên Hòa. Công cuộc sản xuất ở thành
phố sớm bộc lộ nhiều nhược điểm nghiêm trọng, như phụ thuộc quá
lớn vào nước ngoài (Mỹ, Nhật...) về nguyên liệu, phụ tùng, thiết bị và
cả về Kỹ thuật; phát triển một cách què quặt (vì thiếu những ngành
then chốt như cơ khí chế tạo máy, hóa chất cơ bản, sản xuất nguyên
liệu kỹ thuật) và mất cân đối, không những không chú trọng toàn bộ
nền kinh tế mà ngày cả trong từng ngành, từng xí nghiệp (như thiếu
sợi cho công nghiệp dệt, thiếu bột giấy cho công nghiệp giấy...). Từ
khi chiến tranh lan rộng, những ngành nghề trực tiếp hay gián tiếp
phục vụ chiến tranh có điều kiện phát triển mạnh, còn nhiều ngành
nghề khá c bị chựng lại hay suy sụp. Mặt khác, do viện trợ, Mỹ cũng
buộc ngụy quyền Sài Gòn phải mua hàng của Mỹ rồi bán hàng đó mà
lấy tiền trả lương cho công chứ c, binh lính... khiến hàng sản xuất
trong nước không cân sức với hàng ngoại nhậ p.
Mười mấ y năm sau, các tác giả của Tài liệu mật Lầu Năm Góc
kể công: "Không có sự giúp đỡ của Mỹ, gần như chắc chắn là Diệm
không thể củng cố được chỗ đứng của mình ở miền Nam trong thời
gian 1955 và 1956 (...) Không có việ n trợ của Mỹ trong những năm
sau đó, chắc chắn là chế độ Diệm (...) không thể sống sót được". Họ
kết luận một cách không úp mở : "Về cơ bản, miền Nam Việt Nam là
sản phẩm do Mỹ tạo ra".
Được Mỹ cố vấ n và tài trợ, chính quyền Diệm đáp lại những
nguyện vọng của nhân dân bằng đàn áp, khủng bố. Diệm đề ra "quốc

sách tố Cộng" (11-4-1955), dụ số 6 (11-1-1956) thành lậ p cá c trại tập
trung để an trí nhữ ng người bị xem là "nguy hại cho quốc phòng và
an ninh", luật 10/59 (6-5-1959) lập các tòa án quân sự đặc biệt chỉ xử
hai mức án: tử hình và khổ sai chung thân. Tài liệu mật của Lầu
Năm Góc ghi: "Trong cái gọi là chiến dịch tố Cộng bắt đầu từ mùa hè
1955, có từ 5 đến 10 vạn ngườ i bị bắt vào các trại giam". Đó là những
người yêu nướ c, trước đây đã kháng chiến giành độc lập tự do, nay
tiếp tục đấu tranh cho hòa bình thống nhất. Đặc biệt, nhiều cán bộ
lãnh đạo Khu ủy Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định lần lượt bị Mỹ - Diệm
bắt giết như Trần Quốc Thảo, Nguyễn Trọng Tuyển, Đoàn Văn Bơ...
Để nắ m rõ tình hình và âm mưu của địch, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ
Lê Duẩn quyết định vào Sài Gòn. Từ tháng 6 đến tháng 12-1956,
đồng chí sống và làm việc tại nhà số 29 đường Huỳnh Khương Ninh
(Đakao, quận 1) giữa sự bao bọc của đồng bào, đồng chí. Chính trong
lòng địch, đồng chí đã viết bản Dự thảo đề cương Đường lối cách
mạng miền Nam, khẳng định: "Nhân dân ta ở miền Nam chỉ có một
con đườ ng là vùng lên chống Mỹ - Diệm để cứu nước và tự cứu mình.
Đó là con đường cách mạng. Ngoài con đường đó , không có con đường
nào khác". Và nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là "đánh đổ chiến
quyền độc tài phát xít của Mỹ - Diệm" để "cùng toàn quốc thực hiện
hòa bình, thống nhấ t".
Để thực hiện ý đồ xâm lược Mỹ không tìm đâu ra đất trống giữa
đô thành đông dân để lập doanh trại, một mặt Mỹ thuê một số khách
sạn ở những khu vực "an ninh" (thường là ở các quận trung tâm của
Sài Gòn), mặt khác chi tiền cho các nhà thầu xây dựng mới một số
cao ốc. Sau khi ký hợp đồng với Mỹ và nhận trước tiền cho thuê trong
hai năm, các chủ thầu tiến hành xây dựng cấp tốc. Vì vậy, hầu hết
cao ốc này là những tòa nhà hình hộp với đường nét kiến trú c cực kỳ
đơn giản, hoàn toàn không có hoa văn cầu kỳ như các công trình xây
dựng dưới thờ i thuộc Pháp.
Quân Mỹ đổ vào Sài Gòn càng đông thì các cao ốc xây cho Mỹ
thuê mọc lên càng nhiều. Chỉ riêng đường Trần Hưng Đạo đã có
khoảng mười cao ốc từ 5 đến 10 tần mọc lên bên cạ nh những ngôi nhà
trệt hay hai, ba tầng xây dựng từ trước.

Luôn luôn sống trong nỗi lo sợ bị tấn công, Mỹ cho canh gác cá c
cư xá này một cách cẩn mật ngày đêm. Bất chấp vẻ thẩm mỹ của
cảnh quan đô thị, các cư xá này thường được che chắn bằng hàng rào
kẽm gai, tấm lưới chống B.40 và thùng phuy chứa đầy cát và xi-măng
để làm ụ chiến đấu khi cần!
Sau vụ Tòa đại sứ Mỹ bị quân giả i phóng tấn công hư hại nặng,
Mỹ treo bả ng cấm người đi bộ và người đi xe dừng lại trước cư xá Mỹ;
nếu không, lính gác Mỹ sẽ nổ súng. Đọc bảng cấm đó, người Sài Gòn
ai ai cũng phẫn nộ. Có tờ báo viết: "Thành phố này là của người Việt
Nam. Lính Mỹ là khách không mời mà đến, có quyền gì mà ra lệnh
cấm chủ nhà?". Một hôm, một chiếc xe lam chạy ngang một cư xá Mỹ
trên đường Hai Bà Trưng thì hỏng má y. Tài xế vừa bước xuống đất
định đẩy xe đi nơi khác thì lính gác Mỹ xả súng vào xe, khiến tài xế
và nhiề u hành khách chết tại chỗ. Những sự cố tương tự như thế xảy
ra như cơm bữa, không tháng nào không có.
Thực hiện chiến lược "hai gọng kìm: tìm - diệt và bình định", Mỹ
- Thiệu liên tục mở các cuộc hành quân càn quét ở nông thôn, ném
bom bắn phá xóm làng, xua đuổi hàng chục vạ n nông dân lìa bỏ
ruộng đồng, chạy lên Sài Gòn. Trên tạp chí Xây dựng mới số 5 xuất
bản ở Sài Gòn thá ng 9 - 1967, tác giải Phạm Hoàng Thanh viết: "Mỗi
ngày dân chúng ở quê lũ lượt kéo lên thành phố khiến dân số nơi đây
gia tăng một cách kinh khủng, có nơi mật độ lên tới 28.000 người một
cây số vuông. Người ta chen lấn giành giựt nhau từng tấc đất để xây
cất. Hiện giờ ở Sài Gòn, sau những cao ốc đẹp đẽ, có ai ngờ có hàng
ngàn hàng vạn ngôi nhà ván lợp tôn chèn ép nhau, tối tăm bẩn thỉu,
bên cạnh những ao tù nước đọng, những đống rác thối tha ghê tởm".
Báo cáo của Tổng cục gia cư ngụy quyền cũng thừa nhận: trong
những xóm nhà ổ chuột đó, người dân "sống trong cảnh thiếu thốn,
không thể tưởng tượng được, chen chúc bên cạnh những ao vũng, rắn
rết, thiếu từ không khí, vệ sinh, ánh sáng... thậm chí đến cả lối đi.
Mùa mưa thì bị ngập nước, sình lầ y nhơ nhớp, mùa nắng thì lo sợ hỏa
hoạn".
Những khu ổ chuộ t đó không chỉ làm mất vẻ mỹ quan của "thủ
đô" mà còn khó kiể m soá t về an ninh chính trị và trật tự xã hội. Vì
vậy, một số chung cư bắt đầu được xây dựng. Tuy có điện nước, đường
sá, cống rãnh... song cuộc sống không lấy gì làm thoải mái lắm trong

những căn hộ khá chật hẹp (nhất là đối với những gia đình đông
người) chồng chất lên nhau trên những diện tích không rộng lắm
(chung cư Ấn Quang gồm 850 căn hộ trên khu đất rộng 2,39ha; chúng
cư Bàn Cờ, 1.260 hộ/ 3,62ha; chung cư Nguyễn Văn Thoại và Nguyễn
Kim: 2.445 hộ/5,06 ha; chung cư Minh Mạng: 3.150 hộ/10,82 ha). Khu
cư xá Thanh Đa được xây dựng trên diện tích khá rộng (36ha) ven bờ
sông Sài Gòn, cảnh trí nên thơ, bốn bề gió lộng, nên khắc phục đượ c
cảm giác tù túng của những chung cư trong nội thà nh. Khu cư xá này
gồm 31 tòa nhà 5 tầ ng, chứa được 4.074 hộ, thuộ c nhiều loại khá c
nhau (và giá bán cao, thấp khác nhau): có loại chỉ rộng 53m2, có loại
rộng tới 80m2, có loại cầu thang chung cho cả một tầng lầu, có loại
cầu thang riêng cho từng hai hộ...
Để giải quyết nạn khan hiếm nhà hết sức trầm trọng ở Sài Gòn
lúc đó, theo tính toán củ a ngụy quyền, thành phố cần xây mới 50.000
căn hộ và giả i tỏa 110.000 nhà ổ chuột. Thế nhưng, trong suốt 10
năm trời, chỉ có vẻn vẹn 15.700 căn hộ được xây.
Hai công trình kiến trúc lớn được xây trong những năm 1960 là
dinh Độc Lập (mới) và Tòa đại sứ Mỹ (mới).
Ngày 27-2-1962, hai trung úy phi công ngụy Nguyễn Văn Cử và
Phạm Phú Quốc (thuộc một tổ chức chống Diệm) đã ném bom dinh
Độc Lậ p trong 10 phút. Cánh bên trái của dinh bị hư hại nặng. Ngô
Đình Diệm cho san bằng dinh để xây lại mớ i hoàn toàn theo bản thiết
kế của kiến trúc sư tài ba Ngô Viết Thụ. Nhưng Diệm không được ở
dinh mới: ông ta bị nhóm tướng tá đảo chính giết chết ba năm trướ c
khi dinh mới khánh thành (31-10-1966). Dinh mớ i cao 4 tầng, gồm
100 phòng, được trang trí lộng lẫy, kinh phí xây dựng lên tới 2,7 triệu
đôla Mỹ.
Công trình thứ hai là Tòa đại sứ Mỹ ở góc hai đường Thống
Nhất (nay là Lê Duẩn - Mạc Đĩnh Chi), xây xong tháng 9-1967, để
thay cho Tòa đại sứ Mỹ cũ (ở số 39 đường Hàm Nghi) bị các chiến sĩ
biệt động thuộc đơn vị F.21 tấn công ngày 30-3-1965 làm hư hại
nặng.
Sứ quán mới là một tò a nhà lớn hình khố i chữ nhật, sơn màu
trắng, cao 6 tầng, gồm 140 phòng, được xây dựng hết sức kiên cố như

một pháo đào. Báo chí gọi là "Tòa nhà trắng ở phương Đông" vì tại
đây các kế hoạch chính trị và quân sự được bàn bạc và quyết định.
Để thu hút thanh niên Mỹ tham gia vào cuộc hiến tranh xâm
lược Việt Nam, Chính phủ Mỹ dành cho họ nhiều ưu đãi về vật chất.
Lương tháng của mộ t binh nhấ t Mỹ là 90 đôla (sau tăng lên 95đôla),
nghĩa là bằ ng thu nhập bình quân của một người Sài Gòn trong một
năm. Chưa hết, nhờ mua đi bán lạ i hàng PX (hàng được Chính phủ
Mỹ trợ giá), thu nhập của lính Mỹ ở miền Nam Việt Nam tăng lên
gấp nhiều lần lương chính thức. Do đó, họ mặc sức tiêu pha gây đảo
lộn trong sinh hoạt kinh tế - xã hội của thành phố.
Trước hết là tình trạng phân hó a ngày càng sâu sắc trong xã
hội. Giữa lúc đại đa số nhân dân lao động, trí thức... vật lộn hết sứ c
khó khăn với đời sống hằ ng ngà y do vậ t giá không ngừng leo thang,
thì một bộ phận trong dân cư thành phố trở nên giàu có nhanh chóng.
Đó là những người sống bằng những nghề phục vụ cho các nhu cầu ăn
ở, đi lại, chơi bời... của lính viễn chinh, từ những chủ thầu cung cấp
hàng hóa và dịch vụ cho lính Mỹ, những người làm sở Mỹ... đến bọn
ma cô, gái điếm, gái nhảy, gái tắm hơi, gái bán "bar"... Sự phân hóa
về kinh tế đó dẫn tới sự đảo lộn các bậc thang giá trị truyề n thống
trong xã hội: "thứ nhất là sở Mỹ, thứ nhì là gái đĩ, thứ ba bọn ma cô,
thứ tư tướng tá ngụy".
Hàng Mỹ và hàng các nước và lãnh thổ trong phe Mỹ (Nhật,
Nam Triều Tiên, Đài Loan...) được nhập trà n lan hoặc được tuồn từ
các cử a hàng PX của quân viễn chinh vừ a sang, vừa rẻ, đã bóp chết
nhiều ngành sản xuất thủ công và nửa cơ giới truyền thống của
thành phố. Nhiều nhà sản xuất hàng nội hóa muốn tồn tại phải chấp
nhận hạ giá hàng (như 1kg xà bông giá 66,6đ (1965) hạ còn 44,7đ
(1966), 1 tạ đường cát giá 2.745đ (1965) hạ còn 2.580,6đ (1966)... Đặc
biệt nghề dệt - vốn là một thế mạnh của thành phố với những xóm
dệt nổi tiếng ở Tân Bình, Gò Vấp... bị giáng một đòn trí mạ ng: "Hàng
vạn khung cửi phải ngừng hoạt động, hàng tỉ bạc đầu tư trong máy
móc bỗng nhiên trở thành vô dụng và hàng chục ngàn thợ phải từ bỏ
lãnh vực sản xuấ t bước sang lãnh vực khác". "Bướ c sang lãnh vực
khác" chẳng qua là một lối nói "tế nhị" nhằm tránh bị kiểm duyệt,
trong thực tế, đông đảo những người thợ dệt này đã gia nhập vào đạo

quân thất nghiệp của thành phố (đông đến 30 vạn người vào tháng 2-
1966).
Chiến tranh càng leo thang, nạn lạm phát càng nghiêm trọng
(bá o chí gọi là "lạm phát phi mã"): 140 tỷ (1969), 162 tỷ (1970), 187,4
tỷ (1971), tỷ lệ gia tăng bình quân hằng năm là 15%.
Để đối phó, Thiệu - Kỳ không cò n biện pháp nào khác hơn là
phá giá đồng bạc và tăng thuế.
Ngày 17-6-1966, với tư cách là Chủ tịch Ủy ban hành pháp
trung ương, Nguyễn Cao Kỳ ký hai sắc lệnh 001/66 và 002/66 quy
định 1 đôla Mỹ ăn 118 đồng (trướ c đó 1 đôla tương đương 60 đồng).
Trên chợ đen, giá 1 đôla Mỹ lên tới 270 đồng và không ngừng tăng
đến 360đ (1969), 414đ(1971), 640đ (1974), 700đ (1975).
Hậu quả tức thời của biện pháp phá giá đồng bạc là cả mọi hàng
hóa đều tăng vọt. Theo thống kê của Ngân hàng quốc gia ngụy, giá
một số thực phẩ m vào cuối năm 1965 và cuối năm 1967 như sau:
1kg thịt gà tăng từ 96 đồng lên 309 đồng (gấp 3,2 lần).
1kg thịt vịt tăng từ 63 đồng lên 203 đồng (gấp 3,2 lần).
1kg tôm tươi tăng từ 62 đồng lên 216 đồng (gần 3,5 lần).
Người dân lao động Sài Gòn không dám động đến các món
hàng "cao cấp" nói trên, nhưng họ không thể không ăn cơm với rau
trong bữa ăn hàng ngày. Thế nhưng giá cả các thực phẩm thiết yếu
này cũng tăng không dưới 3 lần (vẫn theo thống kê của cơ quan ngụy
quyền nói trên):
1kg gạo sóc nâu từ 9,03đ lên 27,83đ (hơn 3 lần).
1 kg rau muống từ 7đ đến 21đ (gấp 3 lầ n).
Mặt khác, như báo Điện tín ngày 5-12-1973 viết: " với nhu cầu
ngân sách gồm những cho phí cực nặ ng trên lĩnh vực quốc phòng...
người dân sẽ phải hứng đỡ gánh nặng thuê khóa bằng tất cả mọi tàn
lực của mình". Thật vậy, chính quyề n Thiệu không ngừng tăng thuế
cũ và đặt thêm thuế mới: thuế nhà hàng (31-3-1966), thuế lương bổng
(3-9-1966), thuế lợi tức (3-9-1966)... để ngày càng vơ vét tài lực của

người dân: từ 77 tỷ (1969), 97 tỷ (1970) lên 126 tỷ (1973), 240 tỷ
(1974)!
Tức nước phải vỡ bờ, công nhân và nhân dân lao động thành
phố lập các tổ chức như Ủy ban bảo vệ quyền lợi lao động, Ủy ban
đấu tranh chống sa thải công nhân, Ủy ban cải thiện đời sống công
nhân, v.v... để đòi chính quyền Thiệu và giới chủ phải tăng lương, hạ
giá sinh hoạt, chống đuổi thợ dưới bất kỳ hình thức nào và nhất là đòi
Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút quân về nước vì đó là
những nguyên nhân của mọi khổ đau về vật chất và tinh thần của
dân ta.
Lối sống sa đọa và trụy lạc
Để "giúp vui" cho đạo quân viễn chinh, Mỹ - Thiệu cho phé p mở
cửa hàng loạt snack bars, phòng tắm hơi, hộp đêm, tiệm nhảy và
nhất là nhà chứa, nhan nhản khắ p Sài Gòn, đặc biệt là xung quanh
các cư xá Mỹ. Thị trường mại dâm - được gọi một cách nôm na là "chợ
heo" - được Mỹ - Thiệu công khai hóa và hợp phá p hóa. Năm 1966, từ
Sài Gòn về, Thượng nghị sĩ Mỹ William Fulbright nhận xét: "Mỹ đã
biến Sài Gòn thành một ổ điếm". Câu nói đó tuy có xúc phạm đến thể
diện và danh tiếng của thành phố, song đã phản ánh một thực tế đau
lòng. Một tạp chí xuất bản ở Sài Gòn mô tả: "Tại chợ heo đó, hằng
ngày có hai ba trăm người con gái Việt Nam đứng sắp hàng... cho lính
Mỹ đế n chọn dắt đi. Với một nắm đôla trong tay, lính Mỹ thật là
nhiều tự do: tự do phá hoại văn hóa Việt Nam".
Lối sống dâm ô trụy lạc, không chỉ là hậu quả tất nhiên của sự
có mặt của hàng ngàn, hàng vạn lính viễn chinh đú đởn và lắm tiền,
nó còn nằm trong chủ trương thâm độc của Mỹ - Thiệu muốn sa đọa
hóa thanh niên Việt Nam hòng làm cho giới trẻ quên đi hoàn cảnh
đất nước đang bị xâm lược, quay lưng lạ i với nghĩa vụ đối với dân tộc.
Từ chủ trương đó xuất hiện ở Sài Gòn một dòng văn học khiêu
dâm trong đó các tác giả chuyên khai thác thị hiếu thấp kém của
người đọc, đề cao bản năng thú tính, công khai cổ vũ cho lối sống
hưởng thụ, xem việc thỏa mãn tính dục là mục đích tố i thượng của
cuộc đời. Bên cạnh những phim "con heo", báo chuyên in hình phụ nữ
khỏa thân (như Play-boy, Penthouse, Nude...) bày bán công khai trên
vỉa hè các đường Lê Lợi, Công Lý... ở ngay trung tâm thành phố, là

những tiểu thuyết Yêu, Sống, Loạn... của Chu Tử, Cậu chó, Chú Tư
Cầu, Đêm không cùng... của Lê Xuyên và những truyện ngắn, truyện
dài khiêu dâm của các tác giả khác như Mai Thảo, Dương Nghiễm
Mậu, Thụy Vũ, Túy Hồng...
Sự có mặt của quân Mỹ cũng như chủ trương nói trên của Mỹ -
Thiệu gây ra những hậu quả nghiêm trọng trong đời sống văn hóa -
tinh thần của thành phố . "Sự sa đọa, sự trụy lạc trong xã hội... đã gây
ra biết bao thảm cảnh gia đình, bao nhiêu đổ vỡ hạnh phúc, bao
nhiêu chuyện bi đát thương tâm. Qua các báo hằng ngày, không ngày
nào là không có những vụ án mạng vì tình, những vụ tự tử, đâm
chém, bắn giết lẫn nhau vì giành nhau một người đẹp..."
Bảo vệ văn hóa dân tộc
Chống lại âm mưu đồi trụy hóa xã hội của Mỹ - Thiệu, nhân
dân Sài Gòn nhanh chóng thành lập các tổ chức quần chúng rộng rãi
như Lực lượng bảo vệ văn hóa dân tộc, Hội bảo vệ nhân phẩm và
quyền lợi phụ nữ, Hội bảo vệ tinh thần thanh thiếu niên..., xuất bản
các tạp chí Tin Văn, Hồn Trẻ, Tiếng Nói Trí Thức..., tổ chức nhiều
buổi diễn thuyết, hội thảo, ra tuyên ngôn, nghị quyết vạch rõ: chính
chiế n tranh xâm lược và sự hiện diệ n của quân viễn chinh là nguyên
nhân dẫn tới những đổ vỡ trong đời sống văn hóa - tinh thần của Sài
Gòn nói riêng và toàn miền Nam nói chung: "Hiện tượng văn hóa đồi
trụ y lúc này thể hiện rõ nhất, tai hại nhất ở khía cạnh khêu gợi bản
năng dục tính, khuấy động thú tính. Trong văn chương thì rõ nhất,
nhưng không phải chỉ có văn chương bao gồm báo chí, mà cả hội họa,
âm nhạc, điện ảnh, ca kịch nữa. Nguyên nhân là chiến tranh và
người ngoại quốc (ám chỉ lính Mỹ) quá đông, là sự nhập cảng những
tác phẩm văn nghệ, phim ảnh kiểu sexy, cũng là tinh thần vô trách
nhiệm của những văn nghệ sĩ vong bản".
Người tiêu biểu nhất cho đám "văn nghệ sĩ vong bản" đó là Chu
Tử. Các nhà phê bình văn học như Vũ Hạnh, Lữ Phương,... đã phê
phán Chu Tử phục vụ cho chủ trương đồi trụy hóa xã hội của Mỹ -
ngụy. Sinh viên tổ chức "phiên tòa" để "xử án" Chu tử và quyết định
thiêu hủy cá c tiểu thuyết độc hại của ông ta. Mỹ - Thiệ u ra mặt bênh
vực Chu Tử, bắt giam Vũ Hạnh và định bắt Lữ Phương, nên Lữ
Phương phải ra bưng tham gia Liên minh các lực lượng dân tộ c, dân
chủ và hòa bình.

Trong suy nghĩ của người Sà i Gòn, cách tốt nhất để chống lại
những tác hạ i của chủ trương văn hóa đồi trụy, phản động là xây
dựng một nền văn hóa dân tộc, tiến bộ và lành mạnh.
Phong trào hát sử ca (những bài hát ca ngợi các sự kiện oanh
liệt trong lịch sử dân tộc như Hội nghị Diên Hồng, các chiến thắng
Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa...) và kháng chiến ca (những bài hát
sáng tác trong thời kỳ chống Pháp) lan nhanh trong các trường phổ
thông và đại học, làm sống lại truyền thống đấu tranh bất khuất của
dân tộc ta. Sinh viên học sinh phá t động phong trào Hát cho đồng bào
tôi nghe phổ biến những bài hát do chính sinh viên sáng tác, phản
ánh thực tiễn đấu tranh phong phú của các tầng lớp nhân dân Sài
Gòn (như Người mẹ Bàn Cờ, Tự nguyện, Dậy mà đi, Tổ quốc ơi ta đã
nghe...). Sinh viên học sinh còn trình diễ n các vở kịch (như Tiếng gọi
Lam Sơn, Tiếng trố ng Hà Hồi, Hàm Tử quan, Diêm Vương xử án Sáu
Thẹo (ám chỉ Nguyễ n Văn Thiệu)..., các nhạc cả nh (như Tiếng trống
hào hùng, thảm cảnh Mỹ Lai, Làm thân cỏ cú, Công trường chiều
nay...) rất được quần chúng tán thưởng. Nhà nghiên cứu âm nhạc Tô
Vũ nhận xét: "Trong lịch sử âm nhạc cách mạng, hiển nhiên phong
trào Hát cho đồng bào tôi nghe với sự hưởng ứng rộng rãi của quần
chúng đô thị, với hàng loạt bài hát xuất sắc, đã chiếm lĩnh một vị trí
đẹp đẽ mà giới nghệ thuật nói chung, ngành âm nhạc nói riêng, có thể
tự hào".
Phát huy tác dụng của phong trào Hát cho đồng bào tôi nghe,
sinh viên học sinh Sài Gòn tổ chức những đêm không ngủ bên ánh
lửa trại để ca hát và hội thảo về các chủ đề: Hát cho hòa bình Việt
Nam, Đốt lửa lên cho rõ mặt kẻ thù...
Bất chấp lưỡi kéo kiểm duyệt của Mỹ- Thiệu, khi Bác Hồ qua
đời, nhiều trí thứ c, nhà văn, nhà báo đã công khai ca ngợi công đức
của vị lãnh tụ kính yêu ( như nói chuyện với người đã khuất của Lý
Chánh Trung, chói sáng như mặt trời của Lưu Nghi...) Các bài
nghiên cứu của nhà sử học Trương Bá Cần như Từ cách mạng tháng
mười đến Cách mạng tháng tám, hai mươi lăm năm xây dựng xã hội
chủ nghĩa ở miền Bắc...được dân Sài Gò n hoan nghênh, còn Mỹ-
Thiệu thì run sợ, đưa tác giả ra tòa, tịch thu sách báo...
Mặc cho Mỹ- Thiệu đàn áp khủng bố, những nhà bá o chân
chính vẫn anh dũng phản ánh nhữ ng suy nghĩ của người Sài Gòn

trên mặt báo công khai qua các bài như Lòng dân ( của Thanh Giang,
báo Thân Dân),Những ngày tàn của cuộc chiến (của Giang Nguyên,
báo Tin Lửa), Viễn Cảnh hòa bình mới ở Việt Nam ( củ a Phạm Hồng,
báo Tin Lửa)...
Văn hóa trở thành mặt trận
Sài Gòn là nơi tập trung nhiều tờ báo nhất nước. Ngoài những
tờ vô thưởng vô phạt nặng về kinh doanh, báo chí Sài Gòn lúc đó có
hai lập trường chính trị đối lập hẳn nhau.
Lập trường thứ nhất là chống Cộng, chống hiệp thương tổng
tuyển cử, kêu gào "lấp sông Bến Hải" để mở cuộc "Bắc tiế n". Những tờ
báo có lập trường này đều nhận tiền của Mỹ - Diệm, như các tờ: Cách
mạng quốc gia, Tự Do, Dân Tộc, Ngôn Luận, Tin Bắc, Tin Mới, v.v...
hô hào chống cộng lớn nhất là số ký giả di cư như Tô Văn, Vũ Bắc
Tiến, Hiếu Chân (Nguyễ n Hoạồt), Phạm Việt Tuyền...
Sau chín năm khó i lửa, người dân Sài Gòn hiểu thế nào là giá
trị của hòa bình, độc lập, thống nhất, nên họ ủng hộ những tờ báo chủ
trương thực hiện đầy đủ Hiệp định Genè ve như các báo Công Lý,
Điện Báo, Duy Tân, Nhân Loại, Gọi Đàn, Hừng Sáng, Bình Minh,
v.v... Tất cả những tờ báo này đều có sự cộng tác - tất nhiên là rất kín
đáo - của những cán bộ kháng chiến như Nguyễn Văn Hiếu, Dương
Tử Giang, Lý Văn Sâm, Lý Văn Sinh, Trường Xuân Thúc, Tô Nguyệt
Đình, Thanh Giang, Nguyễ n Khắc Công, Văn Phụng Mỹ, Trần Ngọc
Sơn, Hương Ngô, v.v...
Báo chí trở thành một mặt trận đấu tranh chính trị quyết liệt.
Các nhà báo kháng chiến càng được bạn đọc Sài Gòn mến mộ thì Mỹ
Diệm càng "để ý" đến họ. Ái Lan, Hương Nam, Trần Thanh Thế,
Nguyễn Văn Mại, Dương Tử Giang, Lý Văn Sâm... bị bắt; Trần Ngọc
Sơn, Anh Hoàng... bị đày ra Côn Đảo và hy sinh ở ngoài đó.
Lúc đầu sau chiến tranh kết thúc, các đoàn cải lương hoạt động
rộn rịp hẳn lên. Bên cạ nh các đoàn của Sài Gòn, còn có các đoàn ở các
tỉnh lên thành phố trình diễn. Ngoài ra, còn mấy đoàn từ ngoài Bắc
vào như Kim Chung, Bích Hợp, Phụng Khánh... hát cải lương theo
giọng Bắc.

Nhiều đoàn cải lương tiến bộ chuyên dàn dựng các vở về đề tài
lịch sử, ca ngợi truyền thống chống xâm lược của dân tộc như Bạch
Đằng Giang nổi sóng, Hỏa hồng Nhật Tảo, Ngược sóng Phù Luông,
Tiếng sấm Phú Kinh, Cứu lấy non sông... hoặ c khoác lên sự kiện cũ
một ý nghĩa thờ i sự (chẳng hạn, vở Lấp sông Gianh không chỉ phê
phán cuộc phân tranh của hai dòng họ phong kiến Trịnh - Nguyễn
mà chủ yếu là lên án âm mưu của Mỹ - Diệm muốn kéo dài tình
trạng chia cắt đất nước, chố ng hiệp thương tổng tuyển cử tái thống
nhất Tổ quốc). Vì vậy, giữa lúc đoàn Kim Thoa đang diễn vở nà y tại
rạp Nguyễn Văn Hảo, Mỹ - Diệm cho ném lựu đạn lên sân khấu
khiế n nghệ sĩ Ba Cương và nhiếp ảnh viên Nguyễn Mai chết tại chỗ,
nghệ sĩ Duy Lân và hàng chục người khác bị thương nặng.
Sân khấu Đuốc Việt ở Phú Nhuận cũng bị đốt vì diễn vở Bứt
xiềng nô lệ.
Diệm ra lệnh cấm diễn các vở có nội dung tiế n bộ như Người
mặt cháy, Nhụy hoa lan...
Nhiều soạn giả và nghệ sĩ cải lương bị bắt như Phạm Trần (Phi
Vân), Năm Châu, Tám Cao... Soạn giả Trần Hữ u Trang bị truy lùng,
đến 1960 phải rời thành phố ra vùng giải phóng.
(300 năm Sài Gòn-TP.HCM)

Chán đời đi lang thang !
0
CÁC CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH CỦA MỸ
Ở VIỆT NAM
Trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam kéo dài tháng 7/1954 đến
tháng 5/1975 qua năm đời tổng thống Mỹ (Aixenhao, Kennơđi,
Giônxơn, Nichxơn, Pho) điều hành 4 kế hoạch chiến lược thực dân
mới và chiến tranh xâm lược của Mỹ. ("Chiến tranh đơn phương",
"Chiến tranh đặc biệt", "Chiến tranh cục bộ", Chiến tranh "Việt Nam
hóa"). Chúng đã chi trực tiếp cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam tới 676
tỉ đôla (so với 341 tỉ trong Chiến tranh thế giới thứ hai và 54 tỉ trong
chiến tranh Triều Tiên), và nếu tính cả chi phí gián tiếp thì lên tới
920 tỉ. Chú ng huy động lúc cao nhất là 55 vạn quân viễn chinh, lôi
kéo 5 nước ở châu Á - Thái Bình Dương tham chiến với số quân lú c
cao nhất là hơn 7 vạn người vào cuộc chiến, trực tiếp chiến đấu và
làm nòng cốt cho hơn một triệu quân tay sai ở miền Nam. Chúng đã
giội xuống hai miền đất nước ta hơn 7,8 triệu tấn bom đạn, một khối
lượng bom đạn lớn hơn lượng bom đạ n mà chung đã sử dụng trong
bất cứ cuộc chiến tranh nào trước đó.
Chú ng tôi xin giới thiệu vài chiến lược tiêu biểu mà đế quốc Mỹ
đã thực hiện tại Việt Nam.
Chiến lược "Chiến tranh đặ c biệt" của Mỹ
Thắng lợi của phong trào "Đồng Khởi" của nhân dân ta ở miền
Nam đã đẩy chính quyền Sài Gòn vào thời kỳ khủng hoảng triền
miên. Chiế n lược "Chiến tranh đơn phương" của Aixenhao được thự c
thi ở miền Nam đã bị phá sản.
Phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới đang cuồn cuộn
dâng lên, làm sụp đổ từng mảng lớn của hệ thống thuộc địa của chủ
nghĩa thực dân.

Trước tình hình trên, G. Kennơđi lên làm Tổng thống Mỹ đã
phải điều chỉnh lại chủ nghĩa Aixenhao. Kennơđi đề ra chiến lượ c
"phản ứng linh hoạt" thay cho chiến lược "trả đũa ồ ạt" với ba loại
chiế n tranh: chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ và chiến tranh
tổng lực. Hai kiểu chiến tranh trên được coi là "chiến tranh hạn chế".
Mục đích của "Chiến tranh đặc biệt" (còn gọi là "chiến tranh thứ ba",
"chiến tranh chống du kích", "chiến tranh lật đổ") là chống lại phong
trào giải phóng dân tộc. Công cụ để tiến hành chiến tranh là lực
lượng quân sự người bản xứ do Mỹ trang bị và chỉ huy; tiền bạc, vũ
khi trang trị của Mỹ là công cụ chủ yếu của chiến tranh đặc biệt.
Chú ng coi đó là hình thức linh hoạt, kịp thời để đối phó có hiệu quả
đối với phong trào giải phóng dân tộc. Cùng ngày nhận chức Tổng
thống Mỹ, 20-1-1961 Kennơđi chính thức công bố học thuyết mới và
chọn Việt Nam làm nơi thí điểm "chiến tranh đặc biệt". Kennơđi đã
chấp nhận viện trợ cứu nguy chế độ Diệm và đưa 19.000 quân chiến
đấu, dưới tên gọi cố vấn quân sự, sang Việt Nam. Kennơđi coi Việt
Nam là tuyến cuối cùng chống cộng sả n ở Đông Nam Á và nếu Mỹ rút
khỏi Việt Nam thì sự sụp đổ sẽ diễn ra ở cả khu vực Đông Nam Á!
Ngày 8-5-1961, chính sách đối với Việt Nam đã được chính thức phê
chuẩn và mang tên NSAM-52 với nội dung chủ yếu: Tăng cường và
mở rộng quyền điều hành tác chiến, chỉ huy yểm hộ của phái đoàn cố
vấn quân sự MAAG; đưa lực lượng đặc biệt của Mỹ vào miền Nam
Việt Nam, giúp Diệm xây dựng lực lượng đặc biệt, chốt chặt biên giới,
chống miề n Bắc thâm nhập; tăng cường mở rộng, cải tiế n trang bị và
huấn luyện quân đội, coi đó là công cụ chủ yếu để chống chiến tranh
du kích; khẩn trương bình định, lập "ấp chiế n lược" hòng dồn hơn 10
triệu người dân miền Nam vào các trại tập trung trá hình để thự c
hiện "Tác nướ c bắt cá", cô lập để tiêu diệt cách mạng miền Nam; ra
sức củng cố chính quyề n các cấp và đẩy mạnh các hoạt động chiến
tranh phá hoại chống lại miền Bắc. Ngày 11-5-1961, Mỹ đưa 400 tên
lính đầu tiên thuộc lực lượng đặc biệt Mỹ vào miền Nam, nâng tổng
số quân Mỹ ở miền Nam từ 1077 cố vấn quân sự (1960) lên 10640
(1962) - gồm 2360 cố vấn và 8280 tên thuộc các đơn vị kỹ thuật.
Tháng 4-1961, Mỹ tiến hà nh cải tổ hệ thố ng tổ chức chiến trường: bỏ
các quân khu, lập ba vùng chiến thuật, do các quân đoàn chủ lực đảm
nhiệm với đủ các thành phần quân địa phương, binh chủng yểm trợ,
chỉ huy; dưới là các tiểu khu (tỉnh) và các chi khu quân sự (huyện
hoặc quận). Cố vấn Mỹ có mặt ở các cấp đến tận các tiểu khu, cá c

trung tâm huấn luyện, các cơ quan tác chiến, các cấp tiểu đoàn, các
biệt khu - chi khu chủ yếu. Chúng tăng cường trang bị cho quân đội
Sài Gòn nhiều máy bay, xe bọ c thép, vũ khí hiện đại và đưa dần lự c
lượng không quân, hậu cần yểm trợ Mỹ vào miền Nam. Diệm đã cử
người học hỏi kinh nghiệm chống du kích, dầ n dân lập "ấp chiến lược"
ở Malaixia, Philippin về để đàn áp cách mạng. Mỹ cho mời Tômxơn
(Thomson) - chuyên gia quân sự chống du kích của Anh tại Malaixia,
sang làm cố vấn "bình định". Năm 1961, quân củ a Diệm tăng lên 17
vạn người, 5 vạn bảo an dân vệ và 85 đại đội đặc biệt. Đồng thời, Mỹ -
ngụy tăng cường bắt lính, tăng thời hạn quân dịch từ 12 đến 18
tháng. Được Mỹ hỗ trợ, quân đội Sài Gòn đã mở 2 vạn cuộc càn quét
quy mô (từ tiểu đoàn đến trung đoàn), đánh phá ác liệt phụ c vụ cho
việc gom dân lập ấp chiến lược. Chúng cò n dự định tăng quân của
Diệm lên 27 vạn người. Tháng 6-1961, Kennơđi cử E.Xtalây sang
miền Nam Việt Nam. Xtalây đưa ra một kế hoạch chiến lược gồm ba
điểm: 1- Dự kiến trong vòng 18 tháng (từ giữa năm 1961 đến cuối
năm 1962) sẽ lập được 16.000 ấp chiến lược, đánh phá cơ sở cách
mạng, cơ bản bình định được miền Nam; 2- Dự kiến trong năm 1963
sẽ khôi phục nền kinh tế, phát triển lực lượng, tiến hành các hoạt
động gây rối, phá hoại làm mất ổn định miền Bắc; 3-Chuyể n sang
phát triển kinh tế và dự kiến đến cuối năm 1965 miền Nam sẽ trở
thành một quốc gia mạnh của "thế giới tự do".
Tháng 5-1961, Mỹ quyết định tăng gấp hai lần việ n trợ quân sự
cho Diệm. Ngày 14-11-1961, Kennơđi chuẩn y kế hoạch Xtalây và
những kiến nghị của Taylo (Taylor) (trừ 2 điể m là đưa lực lượng đặc
nhiệm Mỹ vào miền Nam và ném bom miền Bắc). Sau một năm thăm
dò thử nghiệm, kế hoạch này được hoàn chỉnh dần. Ngày 8-2-1962,
Mỹ thiết lập Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại miền Nam (gọi tắt là MACV,
thay cho phái đoàn MAAG). Bộ tư lệnh lực lượng đặc biệt Mỹ cũng
được thành lập. Lực lượng không quân, hậu cần cũng dần dần được
đưa vào miền Nam. Đầu năm 1962, kế hoạch Xtalây - Taylo được tiến
hành toàn diện. Cuối năm 1962, lực lượng yểm trợ chiến đấu Mỹ đã
lên tớ i 11300 tên, lực lượng quân của Diệm cũng tăng lên 354000
người. Thá ng 7-1961, đợt thí điểm lập ấp chiến lược được triển khai ở
Vĩnh Long (Nam Bộ) và Quảng Ngãi (Trung Bộ). Đến tháng 8-1961,
chúng triển khai kế hoạch này trên toàn miền Nam. Kế hoạch này
được chúng coi là "quốc sách", dự định dồn 10 triệu ngườ i dân vào
16000 ấp chiến lược, trong tổng số 17000 ấp trên toàn miền Nam. Ở

những vùng chúng nắ m được quyền kiểm soát, chúng dùng sức mạnh
của bộ máy quân sự và chính trị để cưỡng bức, càn quét dồn dân lập
"ấ p chiến lược". Ở những vù ng chúng không kiểm soát được, chúng
dùng quân đội đánh phá bao vây, cô lập, càn quét, buộc dân phải chạy
vào vùng chúng kiểm soát. Chúng còn tiến hành các cuộc hành quân
càn quét dài ngày đánh vào vùng Bến Cát, Tây Ninh, vùng giải phóng
Bình Định, Phú Yên, các căn cứ U Minh, Cà Mau, Bạc Liêu, Só c
Trăng, Long An, chiến khu Đ. Chúng dùng xe rải bom đạn chà xát
nhiều lần, đánh vào từng khu vực, chia thà nh từng lô để khống chế,
biến những "ấp chiến lược" thành điểm tựa phòng thủ chống cộng.
Đối với Campuchia, Mỹ xúi giục và vũ trang cho bọn phản động tiến
hành các hoạt động phá rối (kể cả ám sát nhà vua), bạo loạn nhằm
thực hiệ n âm mưu cướp chính quần, lật đổ chính phủ hòa bình trung
lập, gạt bỏ ảnh hưởng của Pháp. Ở Lào, Mỹ đưa lực lượng lính thủy
đánh bộ vào Thái Lan, sẵn sàng tham chiến ở Là o và thúc ép chính
quyền Sài Gòn đưa quân vào Đông Nam Lào để ngăn chặn đường tiếp
tế của ta từ Bắc vào Nam. Từ giữa năm 1961, quân đội phái hữu Lào
từ 3 vạn tăng lên 5 vạn với 11600 cố vấn Mỹ, chúng thúc đẩy bọn
phản động lấn chiếm vùng giải phóng Lào. Trên thực tế từ năm 1961,
cùng vớ i việc thực hiện "chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam, Mỹ còn
tiến hành "chiến tranh đặc biệt" cả ở Lào.
Chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ
Đầu 1965, cuộc "chiến tranh đặc biệt" mà Mỹ tiến hà nh chống
lại nhân dân ta ở miền Nam đã phát triển đến đỉnh cao và đứng trước
nguy cơ thất bạ i hoàn toàn. Để cứu vãn tình thế, Mỹ đã ồ ạt đưa quân
viễn chinh cùng với vũ khí, phương tiện chiến tranh vào miền Nam,
đẩy mạnh chiến tranh xâm lược, chuyển sang chiến lược "chiến tranh
cục bộ" ở miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc.
"Chiến tranh cục bộ" là loại hình chiến tranh xâm lược thực
dân mới, một trong ba hình thức chiến tranh (đặc biệt, cục bộ, tổng
lực) được đề ra phù hợp với chiến lược quân sự toàn cầu "phản ứng
linh hoạt". "Chiến tranh cục bộ" bắt đầu từ giữa năm 1965, được tiến
hành bằng lực lượng của quân viễn chinh Mỹ, quân của một số nước
thân Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương và quân của chính
quyền Sài Gòn, trong đó quân Mỹ giữ vai trò quan trọng và không
ngừng tăng lên về số lượng và trang bị.

Lính Mỹ có mặt ở miền Nam vào cuối năm 1964 là 26.000
người, đến cuối năm 1965 lên tới 180.000 người và 20.000 lính của
các nước thân Mỹ. Đó là chưa kể 70.000 lính hải quân và không quân
trên các căn cứ của Mỹ ở Guam, Philippin, Thái Lan và Hạm đội 7
luôn sẵn sàng tham chiến ở miề n Nam.
Sau khi đã đưa một đại đội máy bay F.105 và o Biên Hòa và một
tiểu đoàn tên lửa phòng không "Hố c" vào Đà Nẵng, ngày 8-3-1965,
Mỹ cho hai tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn 9 lính thủy đánh bộ từ Ôkinaoa
vào Đà Nẵng, mở đầu việc đưa quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam
Việt Nam.
Ngày 26-6-1965, Oétmolen được Chính phủ Mỹ cho phép đưa
quân Mỹ ra trận "khi nào thấy cần thiết".
Ngày 17-7-1965, khi Giônxơn thông báo quyết định đưa 44 tiểu
đoàn Mỹ vào miền Nam Việt Nam và chấp nhậ n chiến lược "tìm diệt"
của Oétmolen, một quyết định đã "vượt quan ngưỡng cửa bước vào
cuộc chiế n tranh trên bộ ở châu Á", thì cuộc chiến tranh xâm lược của
Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã bước vào giai đoạn mới - giai đoạn
"chiến tranh cục bộ".
Tiến hành "Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam, Mỹ nhằm thự c
hiện âm mưu:
Nhanh chóng tạo ra ưu thế về binh lực và hỏa lực có thể áp đảo
được chủ lực ta bằng chiến lược quân sự mới "tìm diệt", cố giành lại
thế chủ động trên chiến trường, đẩ y lực lượng vũ trang của ta trở về
phòng ngự , buộc ta phải phân tá n đánh nhỏ, hoặc rút về biên giới,
làm cho chiến tranh cách mạng tàn lụi dần. Mở rộng và củng cố hậu
phương của chúng, lập đội quân "bình định" kết hợp hoạt động càn
quét với các hoạt động chính trị và xã hội lừa bịp; tung tiền, đổ của
nhiều hơn nữa, cố thực hiện cho kỳ được "mặt trận thứ hai" nhằm
"tranh thủ trái tim của nhân dân", thự c chất là giành lại dân (trước
hết là nông dân ở vùng đượ c giải phóng), bắt họ trở lại ách kìm kẹp
tàn bạo của Mỹ - ngụy.
Ỷ vào ưu thế quân sự vớ i đội quân đông, vũ khí hiện đại, hỏa lực
mạnh, cơ động nhanh, Mỹ vừa mới vào miền Nam đã cho quân viễn
chinh mở ngay cuộc hành quân "tìm diệt" tiến công đơn vị quân giải

phóng ở Vạn Tường - Quảng Ngãi (8-1965). Tiếp đó, Mỹ mở liền hai
cuộc phản công chiến lượ c trong hai mùa khô 1965 - 1966 và 1966 -
1967 bằng hàng loạt cuộc hành quân vào "đất thánh Việt cộng".
Chiến lược "Việt Nam hóa" của Mỹ
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy năm 1968, mở đầu bằng cuộc tập
kích chiến lược Tết Mậu Thân, là đòn bất ngờ góp phần quyết định
chiề u hướng của cuộc chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương, làm
phá sản chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ, làm chấn động dư
luận nước Mỹ và thế giới.
Sau đòn bất ngờ Tết Mậu Thân, phong trào chống chiến tranh
xâm lượ c Việt Nam, đòi rút hết quân đội về nước của nhân dân dấy
lên khắp nước Mỹ. Hạ nghị viện Mỹ cũng ra quyết định đòi rút tất cả
quân đội Mỹ ở Việt Nam về nước trong thờ i hạn ngắn nhất.
Lợi dụng tâm lí chống chiến tranh, mong muốn sớ m chấm dứt
cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam và đổi mớ i tình hình chính trị -
xã hội nước Mỹ, Níchxơn tung ra lời hứa chấm dứt chiến tranh trong
vòng 6 tháng và sẽ có những thay đổi trong chính sách đố i nội, đối
ngoại của nướ c Mỹ, để mong trúng cử tổng thống trong kỳ bầu cử cuối
năm 1968.
Sau khi trúng cử tổng thống, chính thức bước vào Nhà Trắng
(đầu năm 1969), Níchxơn đã cho ra đời học thuyết mang tên mình -
"Học thuyết Níchxơn" và tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh xâm lượ c
Đông Dương.
"Học thuyết Níchxơn" với chiến lược quân sự tương ứng "Ngăn
đe thự c tế" được thay thế cho chiến lược toàn cầu "phản ứng linh
hoạt" của Kennơđi đã bị phá sản. Đề ra học thuyết mớ i, chiến lượ c
toà n cầu mới, tập đoàn Níchxơn mưu toan khôi phục lại sức mạnh
của Mỹ, cố giữ vai trò "sen đầm quốc tế", vai trò lãnh đạo "thế giới tự
do", cố bám lấy những lợi ích đế quốc chủ nghĩa trên thế giới.
"Học thuyế t Níchxơn" được thực hiện thí điểm ở Việt Nam và
Đông Dương, là nơi Mỹ đã từng dùng làm điểm khởi đầu thực hiện
chiế n lược toàn cầu "Phản ứ ng linh hoạt" (1961 - 1968) và cũng đã trở
thành điểm kết thúc chiến lược đó. Học thuyết này được vận dụng cụ
thể trong những chiến lượ c chiến tranh ở từng nước. Ở Việt Nam, đó

là chiến lược "Việt Nam hóa" chiến tranh; ở Lào - "Lào hóa" chiến
tranh; ở Campuchia - "Khơme hóa" chiến tranh và trên toàn Đông
Dương là "Đông Dương hóa" chiến tranh.
Chiến lược này được đề ra trên cơ sở điều chỉnh chủ trương "phi
Mỹ hóa" chiến tranh củ a Giônxơn. Chiến lược "Việt Nam hóa" chiến
tranh của Níchxơn giống chủ trương "phi Mỹ hóa" chiến tranh của
Giônxơn ở chỗ: rú t dần quân Mỹ ra khỏi Đông Dương, tránh những
tổn thất lớn hơn đối với quân viễn chinh Mỹ, trong lú c vẫn bám giữ
miền Nam Việt Nam.
"Việt Nam hóa" chiến tranh hay "phi Mỹ hóa" chiến tranh, như
tên gọi của nó, về cơ bản, đó là cuộc chiến tranh giữa nhữ ng người
Việt Nam với nhau. Âm mưu cơ bản củ a Mỹ vẫn là "dùng người Việt
đánh người Việt", "dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương"
với bom đạn, đôla Mỹ, do Mỹ chỉ huy và vì lợi ích củ a Mỹ.
Mỹ rút quân không chỉ ở lời tuyên bố như của Giônxơn (3-1968)
mà cả trên thực tế, bắt đầu từ sau trận đòn Tết Mậu Thân (1968).
Nhưng không phải vì thế mà cho rằng cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt
Nam và Đông Dương đã "tàn lụi" dần. Trái lại, cuộc chiến tranh của
Mỹ dưới thời Níchxơn càng được tăng cường và mở rộng ra toàn Đông
Dương. Có điều khác với Giônxơn, là Níchxơn đã tận dụng triệt để
xương má u của người bản xứ vào những mục tiêu chiến lược ở Việt
Nam và Đông Dương. Với "Việt Nam hóa" chiế n tranh, xương máu
của người Mỹ có giảm, nhưng vai trò "cố vấn" của Mỹ ngày càng quan
trọng, nhữ ng điều kiện vật chất của Mỹ để thực hiện chương trình
"Việt Nam hóa" chiến tranh ngày càng lớn.
Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu của "Việt Nam hóa" chiến tranh,
quân Mỹ vẫn còn giữ vai trò quan trọng, cùng với quân đội Sài Gòn là
hai lực lượng chiến lược: quân Mỹ là chỗ dựa của quân đội Sài Gòn và
của "Việt Nam hóa" chiến tranh còn quân đội Sài Gòn là công cụ chủ
yếu để thực hiện "Việt Nam hóa" chiến tranh.
Để đạt được mục tiêu chiến lược của "Việt Nam hóa" chiến
tranh, Níchxơn đưa ra thực hiện cùng lúc ba loại chiến tranh là
"chiến tranh giành dân", "chiến tranh hủy diệt", "chiến tranh bóp
nghẹt", trên cơ sở huy động sức mạnh tối đa về quân sự của nước Mỹ,
kết hợp với những thủ đoạn chính trị và ngoại giao xảo quyệt.

Khi triển khai chương trình "Việt Nam hóa" chiến tranh, một
yêu cầu trọ ng tâm được các nhà chiến lược Mỹ nêu lên là bằng mọi
cách "bình định", cho được vùng nông thôn rộng lớn miền Nam, thự c
hiện cái gọi là "chiến tranh giành dân" ("tranh thủ nông dân chống
lại Việt Cộng").
Chính sách "bình định" trong tất cả cá c thờ i kì của cuộc chiến
tranh được nâng lên thành "quốc sách". Tuy nhiên, dưới thời Kennơđi
và nhất là thời Giônxơn, vẫn lấy việc tiêu diệt các lực lượng cách
mạng làm mục tiêu đầu tiên. Đến thời Níchxơn, "quốc sách bình
định" được nâng lên thành lí luận và dùng là m cơ sở cho chiến lượ c
"Việt Nam hóa".
Để thực hiện cái gọi là "quốc sách bình định", chính quyền
Níchxơn đã giúp chính quyền Sài Gòn thiết lập một hệ thống chính
trị và vũ trang ở cơ sở cho hoàn chỉnh, được huấn luyện theo kiểu
thống trị của chủ nghĩa thực dân mới, tạo cho chính quyền Sài Gòn
một cơ sở xã hội kiểu chủ nghĩa thực dân mới. Mỹ và chính quyền Sài
Gòn đã thực thi chương trình "cải cách tiền địa", ban hành "Luật
người cày có ruộng" (26-3-1970) nhằm xóa bỏ chế độ bóc lột phong
kiến, chuyển địa chủ sang kinh doanh tư bản chủ nghĩa, "giúp nông
dân có ruộng đất để cày cấy"(!); phát triển kinh tế nông nghiệp hàng
hóa, tạo lập chủ nghĩa tư bản ở nông thôn, xóa bỏ ảnh hưởng sâu
rộng của cách mạng đối với nông dân, tăng cường bóc lộ t nông dân,
xây dựng cơ sở kinh tế, chính trị và xã hội mới của chế độ thực dân
mới của Mỹ.
Đi đôi với việc thực hiện chính sách "bình định", Mỹ còn giúp
chính quyền Sài Gò n xây dựng lực lượng quân chủ lực với hơn 1 triệu
người, đượ c huấn luyện đầy đủ, trang bị hiện đại để có thể "tự đứng
vững", "tự gánh vác chiến tranh" khi quân Mỹ rút hết về nước.
Quân đội Sài Gòn được tăng cườ ng và hiện đại hóa để rồi biến
thành "công cụ" của Mỹ trong chiế n lược "Việt Nam hóa". Đội quân
này đượ c sử dụng vào các cuộc hành quân càn quét chống phá cách
mạng, xó a bỏ các căn cứ của quân giải phóng, hòng đẩy chủ lực quân
giải phóng ra xa, cắt đứt con đường tiếp tế từ hậu phương lớn miền
Bắc. Quân đội Sài Gòn cùng với quân Mỹ, còn bị đẩy vào các cuộc
hành quân xâm lược Lào và Campuchia.

Cũng như ở Việt Nam, Mỹ đẩy mạnh "chiến tranh đặc biệt" ở
Lào. Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Lào dưới hình thức "chiến
tranh đặc biệt" bắt đầu từ thời Kennơđi, qua thời Giônxơn, đến thời
Níchxơn thì được tăng cường phù hợp với "học thuyết Níchxơn", gọi là
"chiến tranh đặc biệt tăng cường" hay "Lào hóa" chiến tranh. Lự c
lượng tiến hành "chiến tranh đặc biệt tăng cường" ở Lào là quân phỉ
Vàng Pao và quân ngụy Viêng Chăn, ngoài ra có sự tham gia của
quân Thái Lan và quân Sài Gòn. Còn Mỹ đóng vai trò cố vấn, trự c
tiếp chỉ huy và yểm trợ bằng hỏa lực và không quân.
Mở đầu cho hành động tăng cường "chiến tranh đặc biệt" ở Lào
là cuộc hành quân lớn mang tên "Cù kiệt" (có nghĩa là gỡ danh dự)
của lực lượng lớ n quân phỉ Vàng Pao, quân Thái Lan và quân Sài
Gòn do Mỹ trực tiếp chỉ huy, đánh chiếm vùng giải phóng Lào ở Cánh
đồng Chum-Xiêng Khoảng.
Đồng thời với những hành động đẩy mạnh chiến tranh xâm lượ c
Việt Nam và Lào, Mỹ còn mở rộng chiến tranh xâm lược Campuchia.
Ngày 18-3-1970, Mỹ làm cuộc đảo chính quân sự ở Campuchia,
lật đổ Chính phủ trung lập Xihanúc, thành lập Chính phủ bù nhìn
Lon Non, vớ i hi vọng bằng cách đó sẽ cô lập được cách mạng Việt
Nam. Tiếp đó, ngày 30-4-1970, Mỹ đưa hơn 10 vạn - vừa quân Mỹ
vừa quân Sài Gòn, mở cuộc hành quân đánh chiếm Campuchia, nhằm
cứu bọn ngụy Lon Non đang có nguy cơ sụp đổ, triệt phá cái mà
chúng gọi là "đất thánh Việt cộng" trên đất Campuchia, biến nước
này thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của Mỹ, thực hiện ở
đây một chiến lược chiến tranh mới phù hợp với "học thuyết Níchxơn"
- chiến lược "Khơme hóa chiến tranh".
Đi đôi với việc sử dụng sức mạnh tối đa củ a nước Mỹ vào những
cuộc phiêu lưu quân sự mới ở Đông Dương, Níchxơn còn dùng nhiều
thủ đoạn chính trị và ngoại giao nhằm đạ t những mục tiêu của cuộc
chiế n tranh xâm lược Đông Dương và mục tiêu của chiến lược toàn
cầu phản cách mạ ng.
Lên nắm quyền, Níchxơn liền cho triển khai chiến dịch "ngoại
giao toàn cầu", đóng vai trò "sứ giải hòa bình" đi thương lượng với
nhiều nước (trước hết là với các nước lớn) với mưu đồ lôi kéo họ, nhất
là các nước đồng minh, vào hùa với Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm

lược Đông Dương, thực hiện cái gọi là "cùng chia sẻ trách nhiệm";
chia rẽ các nước xã hội chủ nghĩa với phong trào giải phóng dân tộc;
chia rẽ ba nước Đông Dương trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù
chung; cô lập cuộc kháng chiến của nhân dân Đông Dương với cá c
nước xã hội chủ nghĩa và bè bạn gần xa trên thế giới.
(Đại cương Lịch sử Việt Nam tập 3 - NXB Giáo dục)

Chán đời đi lang thang !
0
SÀI GÒN TRONG CUỘC ĐẤU TRANH HOÀN
THÀNH SỰ NGHIỆP GIẢI PHÓ NG DÂN TỘC
THỐNG NHẤT TỔ QUỐC
a) Từ đấu tranh chính trị đến phát động chiến tranh nhân dân
Hiệp định Genève về Đông Dương ký kế t (tháng 7/1954) lập lại
hòa bình ở Đông Dương trên cơ sở công nhận nền độc lập, chủ quyền,
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của các nước Việt Nam, Campuchia
và Là o. Nhưng ngay tức khắc, đế quốc Mỹ ra sức phá hoại việc thi
hành hiệp định Genève.
Đế quốc Mỹ đặc biệt chú trọng xây dựng và củ ng cố Sài Gòn
(hiện nay bao trùm cả Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định với số dân hơn 3
triệu ngườ i) thành thủ đô của cái gọi là "Việt Nam cộng hòa". Về
chính trị, Sài Gòn là nơi tập trung bộ máy đầu não của đế quốc Mỹ và
bọn tay sai, trong đó có đại sứ quán Mỹ, các cơ quan cố vấn cao cấp
Mỹ, các cơ quan trung ương của cái chính phủ bù nhìn tay sai Mỹ . Về
quân sự, Sài Gòn trở thành một căn cứ quân sự khổng lồ với một hệ
thống đồn bót dày đặc, một lực lượng quân đội rất lớn (gần 40% tổng
số quân địch). Đế quốc Mỹ đã xây dựng quân cảng Sài Gòn, các căn
cứ không quân Vũng Tàu, sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Biên Hòa
thành căn cứ không quân chiến lược loại lớn ở Đông Nam Á. Để bảo
vệ Sài Gòn, đế quốc Mỹ xây dựng một vài đai quân sự từ Vũng Tàu,
qua Phú Mỹ, Biên Hòa, Xuân Lộc, Tân Uyên, Bình Dương, Bến Cát,
Phước Vĩnh, Củ Chi, Đức Hòa, Bến Lức, đến Cần Giuộc, Gò Công. Về
kinh tế, Sài Gòn tràn ngập hàng hó a thừa ế của đế quốc Mỹ và của
các nước phe Mỹ. Đời sống của nhân dân rất khó khăn. Nạn thất
nghiệp thường xuyên đe dọa nhân dân lao động. Về văn hóa, lối sống
cao bồi, du đãng và sinh hoạt đồi trụy thối tha của Mỹ và phương Tây
tràn vào Sài Gòn. Cùng với nhân dân miền Nam, nhân dân Sài Gòn -
Chợ Lớn lại bắt đầu một giai đoạn đấ u tranh mới: giai đoạn đấu
tranh chống Mỹ cứu nước. Mười ngày sau khi Hiệp nghị Genève được
ký kết, phong trào hòa bình Sài Gò n, Chợ Lớn ra đời. Đây là một
phong trào do một số trí thức yêu nước sáng lập nhằm đấu tranh cho
hòa bình và thống nhất đất nước. Do đó bọn Mỹ - Diệm thẳng tay

khủng bố, bắt nhiều người cầm tù . Giáo sư Nguyễn Văn Dưỡng, một
trong nhữ ng người lãnh đạo phong trào này đã chết trong nhà giam.
Sau phong trào bảo vệ hòa bình ở Sài Gòn một phong trào đã thu hút
được hầu hết các tầng lớp nhân dân Sài Gòn tham gia. Đó là phong
trào cứu tế, xây cất lại nhà cửa, quyên góp quần áo chăn màn cho bà
con sau khi Ngô Đình Diệm, vì xung đột với Bình Xuyên đã đốt sạch
hằng mấy vùng liền lưng với nhau giữa Sài Gòn và Chợ Lớn.
Ngày 10 tháng 7 năm 1955, nhân dân Sài Gòn trong đó phần
đông là công nhân và lao động đình công, bãi công, bãi chợ họp mít
tinh... đò i Mỹ - Diệm phải nhậ n hiệp thương với miền Bắc để tổ chứ c
tổng tuyển cử, hòa bình thống nhất nước nhà. Mỹ - Diệm thẳng tay
đàn áp bắt bớ sá t hại nhiề u người, trong đó có nữ giáo sư Nguyễn Thị
Diệu đang có mang 4 tháng.
Gần đến ngày 20 tháng 7 năm 1956, ngày mà Hiệp nghị Genève
đã qui định có cuộc tổng tuyển cử để thống nhất hai miền Nam - Bắc,
phong trào đấu tranh chính trị ở Sài Gòn lại lên mạnh. Đi đầu là
phong trào công nhân: 5 ngàn công nhân xe lửa bãi công cả tháng; 5
ngàn rưỡ i công nhân của 20 kho, cảng Sài Gòn đình công; công nhân
Nhà máy đèn Chợ Quán bãi công 3 ngày liền... Nhữ ng cuộc đấu tranh
đó đã lôi cuốn hàng vạn quần chúng các tầng lớp khác xuống đường
tham gia đấu tranh.
Trước khí thế đấu tranh của nhân dân Sài Gòn, các đô thị khá c
và vùng nông thôn, bọn Mỹ - Diệm đã dùng mọi hình thức, thủ đoạn
đàn áp rất dã man như "quố c sách chống cộng" luật 10-59, nhưng
càng áp bức bao nhiêu thì đấu tranh lại càng có điều kiện để chuyển
lên mạnh bấy nhiêu.
Năm 1960 với cuộc đồng khởi long trời chuyể n đất của nhân
dân miề n Nam đã bước vào một thời kỳ đấu tranh mới: kết hợp đấu
tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Năm 1960, ở Sài Gòn có 1.500
cuộc đấu tranh của công nhân dưới nhiều hình thức khác nhau và rất
nhiều cuộc đấu tranh của bà con dân nghèo thành thị, trí thức học
sinh, tiểu chủ, tư sản dân tộc, văn nghệ sĩ, ký giả v.v... Ngày 20 tháng
12-1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra đời và công bố

bản Tuyên ngôn và Chương trình 10 điểm. Toàn thể nhân dân miền
Nam vô cùng phấn khở i đón mừ ng sự kiện lịch sử đặc biệt quan trọng
đó. Trong ngày 2-1-1961 nhân dân Sài Gòn và ngoại ô đã bãi chợ,
không chạy xe, thuyền, đóng cửa tiệm vài giờ... để họp mít tinh hoan
nghênh Mặt trận.
(Theo sách Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định
kháng chiến 45-75 - NXB TP.HCM)
b) Chống chiến tranh đặc biệt
Đế quốc Mỹ tiến hà nh cuộc "chiến tranh đặc biệt" vào giữa năm
1961 cũng không thể ngăn cản được phong trào đấu tranh củ a nhân
dân Sài Gò n ngày một phát triển. Trên cơ sở lực lượng chính trị, tại
các nhà máy, các xóm lao động đã phát triển các đội tự vệ vũ trang.
Năm 1962, có nhiều cuộc đấu tranh đáng chú ý: cuộc đấu tranh của 5
vạn công nhân cao su kéo vào thành phố. Cuộc đình công của một vạn
công nhân xích lô, của một ngàn công nhân ô tô buýt và tắc xi; cuộ c
biểu tình của công nhân hãng dệt Việt - Mỹ "Vi-mi-tếch"; cuộc bãi
công kéo dài 17 ngày củ a công nhân hãng cầu đường Ep-phen; công
nhân làm đồ điện Vi-đê-cô bãi công chiếm xưởng... Phong trào học
sinh cũng đặc biệt sôi nổi, đã được Chủ tịch Đoàn Mặt trận Dân tộc
Giải phóng miền Nam, luật sư Nguyễ n Hữu Thọ, quyết định tuyên
dương ngày 20-12-1962.
Bên cạnh những cuộc đấu tranh chính trị, xuất hiện ngày càng
nhiều những tiếng súng, tiếng lựu đạn nổ trong các khách sạn, câu
lạc bộ, trại lính, nhà cố vấn Mỹ... Từ tháng 1 đến tháng 9-1962 ở Sài
Gòn có tớ i 86 vụ "cố vấn" Mỹ bị tiêu diệt. Tháng 9-1963, quan và dân
ta thắng lớn trận Âp Bắc (Mỹ Tho) ngay sau đó nhân dân Sài Gòn,
mà ngòi phá o là sinh viên, học sinh đã tổ chức mít tinh, biểu tình
hưởng ứng. Đến đây Sài Gòn lại sôi nổi thêm phong trào đấu tranh
của đồng bào Phật giáo. Cuộc biểu tình của đồng bào Phật giáo trong
hai ngày 7 và 8 tháng 5-1963 đã bị Mỹ - Diệm thẳng tay khủng bố.
Ngày 21-5-1963, 600 nhà sư biểu tình đi từ chùa Ấn Quang đến chùa
Xá Lợi để phản đối Mỹ - Diệm. Ngày 30-6-1963 hàng ngàn sư sãi Sài
Gòn bắt đầu tuyệ t thực để ủng hộ cuộc đấu tranh của đồng bào Phật
giáo ở Huế. Hôm sau, các nhà sư Sài Gò n có sự hưởng ứng ủng hộ của

học sinh, sinh viên đã kéo đến biểu tình ngồi trước trụ sở quốc hội
Ngô Đình Diệm. Ngày 11-6-1963 trước hàng ngàn sư sãi và hàng vạn
nhân dân, hòa thượng Thích Quảng Đứ c đã tự thiêu. Năm ngày sau,
ngày hỏa táng cho Hòa thượng, 70 vạn nhân dân Sài Gòn đã xuống
đường biểu tình. Cả nh sát của Diệm dùng súng, lựu đạn đàn áp.
Quầ n chúng biểu tình dùng đá, gậy gộc đánh lại kịch liệt.
Tình hình Sài Gòn căng thẳng. Biểu tình luôn luôn diễn ra. Mỹ
- Diệm thẳng tay khủ ng bố bắt 2.000 sư sãi, 4.000 học sinh, sinh viên,
giết chết và làm bị thương 200 người. Ngày 7-9-1963 nữ sinh Gia
Long dù ng guốc, bàn, ghế, lọ mực đánh lại bọn cảnh sát dã chiến.
Ngày 1-11-1963, Mỹ tổ chức cho tay sai làm cuộc đảo chính, giết anh
em Diệm - Nhu và đưa Dương Văn Minh rồi đến Nguyễn Khánh lên
nắm chính quyền ở Sài Gòn. Ngày hôm sau, gần một triệu đồng bào
Sài Gòn - Gia Định tổ chức thành 20 đoàn biểu tình đi qua cá c phố
với khẩu hiệu "Đánh đổ chế độ độc tài phát xít", "Phải thực hiện tự do
dân chủ!", "Đế quốc Mỹ cút khỏi miền Nam Việt Nam"... Đế quốc Mỹ
ra lệnh đàn áp. Nhưng lính ngụy không tuân lệnh. Đoàn biểu tình
tiến vào trụ sở "quốc hội", bộ công dân vụ, nha thông tin ngụy phá cá c
bót cảnh sát Lê Văn Ken, quận 2, Chương Dương, Ký Con; xé báo
phản động, lùng bắt ác ôn... Lực lượng cách mạng phát triển mạnh.
Các đội biệt động, tự vệ vũ trang hình thành ngày càng nhiều. Ngay
tạ i Sài Gòn, bên cạnh những cuộc đấ u tranh chính trị, đã xuất hiện
ngày càng nhiều những cuộc đấu tranh vũ trang. Hai hình thức đấu
tranh chính trị và vũ trang xen kẽ nhau, nương tựa vào nhau và thúc
đẩy nhau phát triển.
Năm 1964 năm Mỹ bắt đầu ném bom, bắn phá miền Bắc, Sài
Gòn có một số cuộc đấu tranh và trận đánh làm nức lòng quần chúng
cả nước.
Trận nổ bom ở sân bóng rổ trong khu vự c Tân Sơn Nhất (9-2-
1964), trận tập kích rạp chớ p bóng Kinh Đô giành riêng cho Mỹ (16-2-
1964) làm chết và bị thương 150 tên Mỹ. Ngày 2-5-1964, đánh chìm
hàng không mẫu hạm Ca-đơ trọng tải 15.000 tấn tại bế n Sài Gòn diệt
55 Mỹ và 19 máy bay.
Từ 15 đến 22-5 liên tụ c có những cuộc biểu tình với khẩu hiệu
"Đả đảo Mỹ - Khánh", "Đế quốc Mỹ cút đi!... Ngay sau đó có cuộc đập
nát tượng Ken-nơ-đy tại Quảng trường Hòa Bình (7-6-1964).

Ảnh hưởng của trận đánh mìn nhà ăn đường Nguyễn Minh
Chiếu (1-8) gần sân bay Tân Sơn Nhất diệt 10 Mỹ chưa dứt thì lại
tiếp luôn trận đánh sập tầng gác thứ 5 khách sạn Ca-ra-ven, làm chết
và bị thương gần 100 Mỹ (25-8). Cũng trong ngà y này 10 vạn học
sinh, sinh viên và đồng bào Sà i Gòn xuống đườ ng biểu tình đòi lật đổ
Nguyễn Khánh và đòi tống cổ đế quốc Mỹ.
Ngày 31-8, một quả lựu đạn nổ ở ngã tư Đồng Khánh - Chu Văn
Tiệp làm 8 Mỹ chết.
Trước phong trào đấu tranh chính trị và vũ trang của Sài Gòn
lên mạnh, Nguyễn Khánh tuyên bố "tình trạng khẩn cấp" và đưa ra
sắc luật 18-64 cấm biểu tình, đình công, hội họp; bóp nhẹt báo chí hạn
chế hoạt động nghiệp đoàn. Ngay tức khắc 20 vạn công nhân cá c
ngành dệt, vận tải, điện nước, xăng dầu, xích lô, tắc xi, xe buýt,
cảng... xuống đườ ng tỏ thái độ phả n đối Nguyễn Khá nh (21-9). 6 vạn
công nhân cao su tuyên bố sẽ tiến về Sài Gòn ủng hộ yêu sách của
anh em cùng giai cấp mình. Nguyễn Khánh buộ c phải cho đại diện ra
tiếp đoàn đại biểu công nhân, hứa tôn trọng quyền tự do hội họp, hứa
thu nhận lại những công nhân củ a hãng Vi-mi-tếch bị sa thải,...
Ngày 7-10-1964, đặc công đánh 3 tàu chở xăng của Mỹ ở sông
Nhà Bè thiêu hủy 70 vạn lít. Ngày 18-11 đánh mìn câu lạc bộ hàng
không ở sân bay Tân Sơn Nhất diệt 77 Mỹ. Trong tháng 11-1964,
thanh niên học sinh liên tục đấu tranh. Mỹ - Ngụy bắ n chết em Lê
Văn Ngọc (25-11-1964). Ba ngày sau, 2 vạn học sinh xuống đường
phản đối. Mỹ -ngụy khủng bố bắn chết chị Loan, nữ sinh trường Gia
Long. Chấm hết năm 1964 là trận đánh khách sạn Bơ-rin-cơ kỳ diệu,
một tò a nhà 6 tầng ngay trung tâm thành phố, diệt 155 sĩ quan Mỹ,
trong đó có 2 đại tá, 9 trung tá, 5 thiếu tá, phá hủy 24 xe quân sự.
Cũng trong năm 1964 một sự kiện làm xúc động lòng người, và
mãi mãi còn in đậ m nét trong lòng người dân Sài Gòn là sự hy sinh
cao cả của người thợ điện anh hùng Nguyễn Văn Trỗi. Anh Trỗi là
một thanh niên quê ở Quả ng Nam, vào Sài Gò n trướ c đó vài năm để
sinh sống. Vì không chịu được cả nh sống ngột ngạt giữa một thành
phố mà người công nhân điện không có điện dùng, người thợ nề
không có nhà ở, cò n lũ giặc cướp Mỹ thì phè phỡn, nghênh ngang
hống hách, anh Trỗi đã gia nhập hàng ngũ cách mạng và nhận nhiệm
vụ trừng trị tên "hung thần chiến tranh" Mắc-na-ma-ra khi hắn đến

Sài Gòn. Nhưng nhiệm vụ chưa thành thì anh Trỗi bị bắt và ngày 15-
10, đúng 9 giờ 59 phút, chúng đã sát hại anh tại Khám Chí Hòa. Cả
Sài Gòn đều sôi sục phẫn nộ.
9 phút cuối cùng của anh Trỗi cũng là 9 phút anh tiến công
quyết liệt kẻ đã gây ra tộc ác đối với đồng bào ta. Anh nói: "Còn giặ c
Mỹ là không ai có hạnh phúc được". Bọ n ác ôn xô đến bịt mắt, nhưng
anh đã giựt phăng miếng vải đen, phóng tầm mắt ra xa như muốn ôm
trọn cả thành phố, nơi đây đồng bào, anh chị em, đồng chí và người
vợ yêu thương của anh đang sống và chiến đấu. Tiếng nói cuối cùng
của anh cũng là lời nhắn nhủ đồng bào và người thân:
"Hãy nhớ lấy lời tôi:"
"Đả đảo đế quốc Mỹ!"
"Việt Nam muôn năm!"
"Hồ Chí Minh muôn năm!"
Và, Nguyễn Văn Trỗi đã hiên ngang đi vào lịch sử! Sau đó đúng
ngày cúng anh, theo tập quán dân tộc, đồng bào Sài Gòn đã dựng lên
4 đài kỷ niệm Nguyễn Văn Trỗi ở ngay 4 gó c nhà lao Chí Hòa. Cờ Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam tung bay trên đỉnh cao các đài ấy.
(Theo sách Sài Gòn TPHCM - NXB SGGP 1975)
c) Chống chiến tranh cụ c bộ
Năm 1965 đánh dấu một chuyển biến mới: "chiến tranh đặ c
biệt" của đế quốc Mỹ đã bị phá sản hoàn toàn; ngụy quân, ngụy
quyền đang đứng trước sự sụp đổ không gì cứu vãn nổi. Để cứu nguy,
đế quốc Mỹ, một mặt điên cuồng tiến hành chiến tranh phá hoại ở
miền Bắc; mặt khác, chuyển từ "chiến tranh đặ c biệt" sang một hình
thức khác "chiến tranh cục bộ" ở miền Nam, ồ ạt đưa quân Mỹ và chư
hầu vào miền Nam Việ t Nam. Nhưng càng vào nhiều thì chúng càng
chết nhiều. Trên đà chiến thắng, nhân dân Sài Gòn - Gia Định tiếp
tục giáng vào đầu quân Mỹ - ngụy những đòn đích đáng. Chiến tranh
du kích phát triển mạnh mẽ và rộng khắp chung quanh thành phố và
ngay cả nội thành. Nhiều cơ quan chỉ huy và căn cứ quan trọng của

Mỹ - ngụy liên tiếp bị quân và dân Sài Gòn - Gia Định đánh phá, gây
cho chúng nhiều thiệt hại nặng nề như Sở chỉ huy phá i đoàn MAAG,
sứ quán Mỹ, sân bay Tân Sơn Nhất, khách sạn Mỹ Cảnh trên sông
Sài Gòn, tổng nha cảnh sát ngụy. Khách sạn Mê-tơ-rô-pôn, đồn lính
gác cầu Tân Thuận và các đồn cảnh sát quận 6 và quận 7, cơ quan
tình báo quân sự của lục quân Mỹ, v.v... Với những thành tích xuất
sắc nói trên, quân và dân Sài Gòn - Gia Định đã được Ủy ban Trung
ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam "tuyên dương công
trạng" (25-12-1965) và tặng thưởng 3 huân chương quân công giải
phóng hạng nhì, 5 huân chương quân công hạng ba, 4 huân chương
chiế n công giải phóng hạng nhất, 8 huân chương chiến công giải
phóng hạng nhì.
Trên cơ sở những thành tích lớ n lao đó, Ủy ban Trung ương Mặt
trận dân tộc giải phóng miền Nam đã quyết định tặng thưởng Huân
chương Thành đồng hạng nhất cho quân và dân Sài Gòn - Gia Định.
Cùng với những chiến công vang dội của nhân dân miền Nam
anh hùng, nhân dân Sài Gòn - Gia Định liên tiế p lập được những
thành tích xuất sắc, góp phần đánh bại hai cuộ c phản công chiế n lượ c
mùa khô (1965 - 1966, 1966 - 1967) của đế quốc Mỹ.
Trong hai năm 1966 - 1967, nhiều cơ quan chỉ huy và căn cứ
quan trọng của Mỹ, ngụy tiếp tục bị đánh phá dữ dội và bị tổn thất
nặng nề. Nhiều tên sĩ quan Mỹ bị trừng trị, trong đó có cả cấp tướng
và rất nhiều cấp tá, cấp úy. Nổi bật là những trậ n đánh vào trụ sở bộ
tổng tham mưu ngụy (tháng 2-1966), tòa nhà 6 tầng Vích-tô-ri-a, nơi
ở của bọn sĩ quan cao cấp Mỹ (tháng 4-1966), đánh chìm hàng chục
tàu vận tải có cả loại trọng tải 10.000, 12.000 tấn và tà u vớt mìn trên
sông Lòng Tàu (tháng 6 và 8-1966, tháng 1, 2 và 4-1967), đốt cháy
một kho quân sự lớn của quân Mỹ ở Nhà Bè (tháng 9-1966), đánh đồn
Phú Lâm (tháng 10-1966), phá sập chiếc cầu dài 100 mét cách Sài
Gòn 7km (tháng 10-1966), đánh cuộc diễu binh trong ngày "Quốc
Khá nh Cộng hòa" (1-11-1966) bắn súng lớn vào sân bay Tân Sơn
Nhất (tháng 12-1966, tháng 4-1967), tiến công sở chỉ huy chiến tranh
tâm lý của lục quân Mỹ (tháng 12-1966), sở chỉ huy tiểu đoàn Mỹ
(thuộc lữ đoàn 199) ở tại Long Thớ i cách Sài Gòn 6km về phía Nam
(tháng 5-1967), phá hủy trung tâm thông tin quân sự Mỹ (26-10-
1967).

Song song với phong trào đấu tranh vũ trang, phong trào đấu
tranh chính trị của nhân dân Sài Gòn - Gia Định trong những năm
này cũng phát triển mạnh mẽ, nhất là phong trào công nhân, phong
trào thanh niên, sinh viên, học sinh và phong trào trí thức đòi hòa
bình, đòi quyền tự quyết của nhân dân miền Nam. Bọn Mỹ, ngụy mở
rộng chiến tranh, hạ giá đồng bạc gây khó khăn cho đời sống của công
nhân và lao động, đa đưa đến những cuộc đấu tranh của công nhân
đòi đế quốc Mỹ cút đi, đòi lật đổ ngụy quyền bán nước Thiệu Kỳ nổ ra
liên tục. Nhiều cuộc đấu tranh lớn đã nổ ra trong các xí nghiệp thuộ c
các ngành chiến lược của địch như hãng thầu quân sự RMK - BRJ,
các hãng dầu Sen, Can-tếch, Eét-xô và bến cảng Sài Gòn. Riêng cuộ c
đấu tranh của công nhân hãng thầu quân sự RMK - BRJ kéo dài đến
4 tháng (5-9-1966). Trong cuộc biểu tình của công nhân cảng Sà i Gòn
tháng 12-1966, quần chúng đã trang bị dao, gậy gộc chiếm bến tàu,
kịch liệ t chống lại bọn cảnh sát đến đàn áp.
Phong trào thanh niên, sinh viên, học sinh cũng tiến lên mạnh
mẽ. Các cuộc hội thảo của học sinh, sinh viên vạch mặt bọn phát xít,
bóp nghẹt dân chủ của Mỹ, Thiệu, Kỳ liên tiếp diễn ra. Cuộ c đấu
tranh chống bắt lính trong giáo sư và sinh viên, tố cáo chính sách bắt
lính tăng cường chiến tranh của Mỹ, Thiệu, Kỳ của sinh viên trường
Đại học Nông Lâm Súc và Kỹ thuật Phú Thọ đã lôi cuốn được nhiều
giáo sư và chuyên viên cao cấp của Mỹ, ngụy tham gia.
Nhiều cuộc biểu tình chống Mỹ rầm rộ có từ hàng ngàn đến
hàng chục vạn người gồm công nhân, lao động, thanh niên, sinh viên,
học sinh và các tầng lớp khác đã nổ ra rất quyết liệt như những cuộ c
biểu tình 10.000 người đòi hành hình bọ n Thiệu, Kỳ, Có (31-3-1966);
15.000 người diễu hành đi suốt đêm 2 rạng 3-4-1966 thét vang những
khẩu hiệu "đả đảo Mỹ", "Mỹ cút khỏi miền Nam Việt Nam" và bao
vây đài phát thanh Sài Gòn; 100.000 người bao vây "dinh thủ tướng"
của Nguyễn Cao Kỳ với khẩu hiệu "Lật đổ ngụy quyền Thiệu, Kỳ" (8-
4-1966): 300.000 người kéo đi khắp các đường phố lớ n đòi lật đổ bọn
Thiệu, Kỳ bá n nước (14-4-1966) và cuộc xuống đường của 4 vạn công
nhân lao động ngày 1-5-1966 đòi chấm dứt chiến tranh, đòi hạ giá
sinh hoạt, đòi Mỹ cút đi. Đặc biệt là cuộc đấu tranh chống trò hề bầu
cử gian lận của bọn Mỹ - Thiệu - Kỳ ngày 3-9-1967 của nhân dân Sài
Gòn - Gia Định. Nhiều cuộc mít tinh lớn tố cáo mánh khóe gian lận
của bọn Thiệu, Kỳ và tẩy chay cuộc bầu cử gian lận đó. Những cuộc

đấu tranh của các nhà báo đòi bãi bỏ chế độ kiểm duyệt. Những tổ
chức như "lực lượng bảo vệ tinh thần thanh thiếu niên", "hội bảo vệ
quyền lợi và nhân phẩm phụ nữ", "lực lượng bảo vệ văn hóa dân tộc",
"Ủy ban xây dự ng kinh tế tự chủ" lần lượt được thành lập và tiến
hành đấu tranh chống bọn Thiệu, Kỳ. Phong trà o đấu tranh trên đây
đã có tiếng vang lớn và đã có ảnh hưở ng mạnh mẽ trong quần chúng,
được các tầng lớp nhân dân Sài Gòn nhiệt liệt ủng hộ. Đây là một
phong trào đậm nét dân tộc, dân chủ, kích thích tinh thần yêu nướ c
chống xâm lược Mỹ của nhân dân ta ở miền Nam. Các cuộc đấu tranh
của nhân dân Sài Gòn - Gia Định đã được đông đảo anh em binh sĩ
đồng tình và ủng hộ. Chính hãng thông tin Mỹ UPI đã than phiền
"binh sĩ Việt Nam (ngụy) đã cung cấp các phương tiện truyền tin,
phóng thanh cho các cuộc biểu tình". Số binh sĩ bỏ ngũ ngày càng
nhiều.
Bọn Mỹ , Thiệ u, Kỳ hết sức hoang mang, lo sợ trước phong trào
đấu tranh ngày càng mạnh mẽ và quyết liệt của nhân dân thành phố
Sài Gòn - Gia Định. Chú ng điên cuồng khủng bố, dùng những biện
pháp hết sức trắng trợn, dã man: thẳng tay đàn áp và bắt bớ quần
chúng biể u tình, ra "lệnh khẩn cấp chống biểu tình và mít tinh" trên
đường phố, dựng thêm nhiều hàng rào dây thép gai, dựng cả "pháp
trường cắt" ngay giữa chợ Bến Thành, rải quân đội, cảnh sát khắp
đường phố và đe dọa sẽ dốc toàn lực ra đối phó mạnh hơn nữa.
Nhưng, bất chấp khủng bố và đe dọa, nhân dân Sài Gòn vẫn
tiếp tục đấu tranh chống Mỹ, ngụy ngày càng quyết liệt. Các cuộc đấu
tranh toàn diện và mạnh mẽ trong những năm này đã thực sự chuẩn
bị một bước nhảy vọt kỳ diệu cho phong trào Sài Gòn - Gia Định
trong Tết Mậu Thân (1968).
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt đưa chiến tranh vào đô
thị của nhân dân miền Nam anh hùng trong Tết Mậu Thân là một
đòn trời giáng đánh vào đầu Mỹ, ngụy khiến cho chúng thất điên bát
đảo, không phương chống đỡ, bị tổn thất cực kỳ nghiêm trọng.
Riêng ở Sài Gòn - Gia Định bão lửa dữ dội vào đầu Mỹ, ngụy hai
đợt: đợt 1 từ đêm 30 rạng 31-1 đến giữa tháng 2; đợt 2 từ đêm 4 rạng
ngày 5-5 đến 31-5. Trong cả hai đợt, Quân giải phóng đã cù ng với các
lực lượng vũ trang của nhân dân và nhữ ng người yêu nước trong
quân đội ngụy quyền Sài Gòn nổi dậy dồn dập tiến công nhiều cơ

quan đầu não và căn cứ quan trọng củ a bè lũ Mỹ, ngụy ngay giữa
thành phố Sài Gòn - Gia Định cùng với nghĩa binh yêu nướ c đánh
phá sứ quán Mỹ, bộ tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất, phá hủy
đài phát thanh Sài Gòn, trại huấn luyệ n Quang Trung, "dinh độ c
lập", tổng nha cảnh sát, bộ tư lệnh biệt khu thủ đô, bộ chỉ huy hải
quân và nhiều căn cứ khác, tiến công tiêu diệt các trân địa pháo, các
bãi để xe tăng ở Trại Phù Đổng, Cổ Loa và nhiều kho xăng dầu, đạn
dược, trong đó có những kho lớn như Long Bình, Hạnh Thông Tây.
Nhiều giặc Mỹ, binh lính và cảnh sát ngụy kể cả lính dù, lính thủy
đánh bộ bị diệt và bị bắt. Nhiều cơ quan và căn cứ của địch bị đánh đi
đánh lại nhiều lần, đặc biệt là sân bay Tân Sơn Nhất bị đánh hàng
chục lần trong hai đợ t và riêng trong đợt 1 đã bị quân giải phóng
chiế m khu vực phía Bắc và phía Tây. Cũng trong đợt 1, bộ tổng tham
mưu ngụy bị Quân giải phóng chiếm hoàn toàn.
Nhân dân nhiều nơi trong thành phố đã xuống đường phối hợp
với Quân giải phóng và các lực lượng du kích đá nh phá các đồn bốt,
quét bộ máy ngụy quyền, bắt trừng trị bọn phản cá ch mạng ác ôn,
kêu gọi binh sĩ ngụ y mang súng trở về với nhân dân, làm chủ nhiều
khu vực trong thà nh phố (quận 5, 6, 7, 8 và phần lớ n quận 3, 4) và
nhanh chóng mở rộng lực lượng. Ởã những nơi nhân dân làm chủ,
hàng ngàn thanh niên Sài Gòn đã nô nức cầm sú ng đứng vào hàng
ngũ các lực lượng vũ trang cách mạng chiến đấu chống địch; hàng
trăm đơn vị dân quân du kích và các đoàn thể chính trị, cách mạng
đã nhanh chóng thành lập và sôi nổi hoạt động, nhiều nơi đã lập tòa
án nhân dân xử tội bọn ác ôn ngoan cố. Trước khí thế đồng khởi
mãnh liệt của nhân dân, nhiều binh sĩ ngụy đã vác súng tham gia
hàng ngũ cách mạng, nhiều đơn vị quân ngụy đã giao súng cho nhân
dân và cùng nhân dân đi đánh chiếm các đồn bót.
Tất cả các đường giao thông vận tải chạy về Sài Gòn đều bị băm
nát, cắt đứt kể cả đường số 4, đường số 1, đường số 15 liên lạc giữa
bọn Mỹ, ngụy ở Sài Gòn vớ i các địa phương bị tê liệt.
Bị thua mộ t vố đau nhưng Mỹ, ngụy vẫn rất ngoan cố, liều
mạng đến cùng. Chúng cố gắng tập trung lực lượng chống lại một
cách điên cuồng, dùng cả xe tăng, đạ i bác, máy bay bắn và thả bom
bừa bãi xuống nhiều nơi trong thà nh phố, phá hủy nhiều nhà cửa và

tà i sản của nhân dân, giết và làm bị thương nhiều người kể cả những
người già cả, phụ nữ, trẻ em.
Các chiến sĩ cách mạ ng kiên cường của Sài Gòn - Gia Định vừa
chiế n đấu quyết liệt với địch, vừa tận tình giúp đỡ đồng bào thành
phố, cứu chữ a những người bị thương, dập tắt các đám cháy do bom
đạn Mỹ và Thiệu, Kỳ gây ra, hướng dẫn đồng bào đào hầm hố, công
sự, tổ chức đội ngũ chiế n đấu để bảo vệ khu phố. Đồng bào thành phố
đã hết lòng ủng hộ các chiến sĩ vũ trang cách mạng. Đông đảo thanh
niên, học sinh, sinh viên cả nam lẫn nữ đã ra tận chiến hào tiếp tế
lương thực cho các chiến sĩ và tiếp tay với quân cách mạng lùng diệt
bọn tay sai ác ôn ngoan cố. Việc ra đời của Liên minh các lực lượng
dân tộc dân chủ và hòa bình giữa thành phố Sài Gòn rực lửa là thêm
một đòn đau cho Mỹ, ngụy. Qua hai đợt củ a Liên minh tổng tiến công
và nổi dậy, quân và dân Sài Gòn - Gia Định đã loại khỏi vòng chiến
đấu 47.000 tên địch (có gần 20.500 tên Mỹ và chư hầu), tiêu diệt và
đánh thiệt hại nặng 21 tiểu đoàn, 97 đại đội Mỹ, ngụy và chư hầu,
bắn rơi và phá hủy gầ n 500 máy bay các loại, phá hủy 1.480 xe quân
sự (có gần 630 xe tăng và xe bọc thép), 45 kho bom đạn, xăng dầu,
đánh chìm và bắn cháy hàng chụ c tàu (có nhiều tàu trọng tải 10.000
đến 13.000 tấn), đánh sập 29 cầu, tiêu diệt, bức rút, bức hàng 150 đồn
bót. Với những chiến thắng hết sức to lớn đó, quân và dân Sài Gòn -
Gia Định đã vinh dự được Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải
phóng miền Nam tuyên dương công trạng và tặng thưởng 2 huân
chương Thành đồng Tổ quốc hạng nhất và hai huân chương Quân
công giải phóng hạng hai.
Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậ u Thân nhân dân
Sài Gòn - Gia Định lại trải qua nhiều đợt giành giật ác liệt với quân
thù. Ở vù ng nông thôn ven thành phố về phía Đông Bắc, phía Tây
Nam, đồng bào đã chịu đựng hàng chục trận ném bom tọa độ của máy
bay B. 52 và hàng trăm cuộc rải chất độ hóa học đã hủy diệt hầu hết
các vườn hoa quả nổi tiế ng củ a miền Nam như chôm chôm, măng cụt,
mãng cầu, xoài, cam, chuối... Mỹ ngụy còn rải thả m bom bi, mìn nổ
chậm hòng ngăn cản việc đi lại của du kích. Nhưng Sài Gòn vẫn vững
chãi lớn lên. Tháng 6-1969, một sự kiệ n lịch sử quan trọ ng đã làm
nức lòng nhân dân miền Nam, đó là việc thành lập Chính phủ cách
mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Tiếp theo đó, Ủy ban

nhân dân cách mạng Sài Gòn - Gia Định được thành lập là một trong
những đơn vị chính quyền được hình thành sớm nhất ở miền Nam.
d) Đấu tranh chống Việt Nam hóa chiến tranh
Sau chủ trương "Phi Mỹ hóa chiến tranh" của Johnson (từ giữa
năm 1968), ngày 7 tháng 4 năm 1968, Nixon (Tổng thống Mỹ tiếp sau
Johnson) chính thức tuyên bố bắt đầu Việt Nam hóa chiến tranh theo
kế hoạch 3 giai đoạn, trong đó quyết đâm của giai đoạn 3 là hoàn
thành chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, củng cố thành quả đã
đạt đượ c, đối phương suy yếu và chiến tranh tà n lụi dần.. Báo cáo
trước ủy ban quân lực thượng nghị viện Mỹ, Melvin Laird, bộ trưởng
quốc phòng Mỹ tuyên bố: "Chính sách Việt Nam hóa có nghĩa vừa kết
thúc vừa mở đầu... kết thúc sự dính líu của Mỹ vào Việt Nam, mở đầu
một chính sách mới của chúng ta về việc họ phải tự lực, tự dựa vào
bản thân họ...". Từ tháng 10 năm 1968 đến tháng 1 năm 1969, địch
"bình định cấp tốc", tháng 1 năm 1969 bắt đầu bình định "xây dựng".
Từ tháng 1 năm 1969 (trước cả tuyên bố của Nixon) đến tháng 2
năm 1972 là thời kỳ mà 3 vấn đề trung tâm được triển khai thự c
hiện.
Trên chiến trường Sài Gòn - Gia Định, ngoài 3 tuyến phòng thủ
(tập trung 47% quân chiến đấu Mỹ, 37% quân chủ lực ngụy so với
toà n Miền), đã hình thành từ giữa năm 1968, ở nội thành Sài Gòn,
địch tổ chức 9 quận thành 11 đặc khu, bổ nhiệm sĩ quan cấp trung tá
là đặc khu trưởng, tăng cường cho mỗi đặc khu một đại đội đặc vụ
(công an đặc biệt), hai đại đội cảnh sát dã chiến và từ 1 đến 2 đại đội
tuần cảnh. Để kiểm soát chặt chẽ nội thành hơn, các phường, khóm
lại được chia nhỏ, nâng số phường từ 56 lên 72, số khóm từ 861 lên
1100. Địch lại bắt đầu đổi thẻ căn cước, người tập kết, gia đình theo
Việt cộng, chỉ cần có một người tố cáo là có thể bắt ngay không cần
chứng cứ.
Sau các sắc lệnh tổng động viên, địch quân sự hóa học đường,
quân sự hóa phường, liên gia, công tư sở, công tư chức, ra sắc lệnh
cấm hội họp, biểu tình, đình công. Thực hiện tuyên bố: "Bắn bỏ ngay
tức khắc bất cứ ai đòi hỏi hòa bình".

Lực lượng nhân dân tự vệ được đặc biệt coi trọng phát triển
không chỉ để đôn quân, bắt lính mà còn để mỗi người dân thành một
người lính địch. Chúng thà nh lập ở mỗi phường một ban và ở mỗi
khóm một tiểu ban quân sự.
Nhân dân tự vệ được trang bị súng, phải làm nhiệm vụ canh
gác, lùng sục, gây không khí căng thẳng triền miên ở trong dân
chúng. Chỉ riêng quận 7 đến cuối năm 1969, địch đã tổ chức trên
6000 nhân dân tự vệ thuộc lứa tuổi từ 14 đến 50, trang bị 2433 súng.
Công an, cảnh sát, nhân dân tự vệ... kết hợp liên tụ c lùng sục, vây
ráp trong nộ i thành gây cho ta rất nhiề u khó khăn. Tại Sài Gòn năm
1969 có trên 7000 cuộc hành quân cả nh sát và có đêm như đêm 20
tháng 1 năm 1969 trên 9.700 người bị khám xét, bị bắt giam. Nhiều
cơ sở Đảng bị phá vỡ, nhiều đảng viên, cán bộ bị bắt. Các căn cứ Rạch
Bà Tàng, Hố Bần, Bến Đá, Cầu Sập, Phú Định, Hàng Thái, Chánh
Hưng, Rạch Ông, Rạ ch Cát... bị đánh phá chà đi xát lại liên miên. Đời
sống nhân dân lao động điêu đứng, đi lại, làm ăn khó khăn. Trong lú c
đó phim ảnh, sách báo Mỹ, văn hóa đồi trụy, dâm dật, tràn ngập
đang đầu độc tầ ng lớp thanh niên, họ c sinh, gieo rắc tâm lý hưởng
thụ, sống gấp, không cần biết lý tưởng, không cần biết tương lai.
Ởã ngoại thành, quân Mỹ vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ lá chắn, đẩy
lùi chủ lực ta ra xa hơn, đại bộ phận quân ngụy làm nhiệ m vụ càn
quét với mật độ lớn hơn các năm trước nhằm triệt phá các nhóm căn
cứ, các bàn đạp, làm bật gốc các lực lượng ta ra khỏi ven đô.
Tiếp sau phong trào chống lệnh động viên, quân sự hóa họ c
đường, đòi hòa bình, tháng 4 năm 1969, đội vũ trang tuyên truyền
học sinh đột nhập trường Huỳnh Khương Ninh kêu gọi học sinh vùng
lên lật đổ Thiệu, Kỳ, gia nhập các lực lượng vũ trang cách mạng.
Vào dịp lễ Phậ t Đản năm 1969, "Ủy ban thanh niên học sinh,
sinh viên tranh thủ dân chủ và hòa bình" được thành lập, phối hợp
cùng các giới khác lên án Mỹ ngụy tiến hành chiến tranh hủy diệt,
đòi vãn hồi hòa bình.
Nguyễn Văn Thiệu cấm tổ chức lễ Quốc tế Lao động ngày 1
tháng 5 năm 1969, nhưng hơn 500 đại biểu của 118 nghiệp đoàn Sài
Gòn - Chợ Lớn bất tuân lệnh, cứ tổ chức ngày hội lớn của giai cấp

công nhân, vạch mặt Thiệ u và tay sai, đò i tự do nghiệp đoàn, đòi hòa
bình, lập lại quan hệ bình thường Nam - Bắc.
Tháng 5 năm 1969, Đại hội đại biể u các lực lượng thành phố
bầu ra Ủy ban Nhân dân Cách mạng thành phố do giáo sư Nguyễn
Văn Chì làm chủ tịch.
Sau đợt tiến công tháng 5 trên chiến trường, Đại hội Đại biểu
Quốc dân miền Nam họp trong các ngà y 6, 7, 8 tháng 6 năm 1969
quyết định thành lập chế độ cộng hòa, bầ u ra Chính phủ Cách mạng
lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Hội đồng cố vấn Chính
phủ. Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, làm Chủ tịch
Chính phủ Cách mạng lâm thời. Hội đồng cố vấn Chính phủ do luật
sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, làm Chủ tịch và luật
sư Trịnh Đình Thảo, Chủ tịch Ủ y ban Liên minh các lực lượng Dân
tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam làm Phó Chủ tịch. Đại hội ra đời
hiệu triệu quân và dân miền Nam tăng cường đoàn kết, ra sức chiến
đấu đưa sự nghiệp chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.
Vào lúc này ở Sài Gòn, Gia Định xuất hiệ n hai phong trào mới:
phong trào các nghiệp đoàn nông dân, tá điền và phong trào lực lượng
quốc gia tiến bộ. Các nghiệp đoàn nông dân và tá điền ở các tỉnh lân
cận Sài Gòn, từ trước năm 1968 đã đấu tranh chống dự luật của Hạ
nghị viện ngụy về nông dân, nay lại kéo về thành phố tiến hành đại
hội. Lực lượng quốc gia tiến bộ do luật sư Trần Ngọc Liễng làm chủ
tịch, với nội dung đấu tranh từ cứu giúp nạn nhân chiế n cuộc, tiến
lên đòi hòa bình, chấm dứt chiến tranh: tờ nội san Hòa Giải của lực
lượng không chỉ phát hành nội bộ mà còn phát hành công khai, đòi
hòa bình, lên án chiến tranh.
Tháng 7 năm 1969, công nhân ngành xe buýt đấu tranh chống
chủ trương của Mỹ -ngụy, giải tán việc công quản xe buýt để cho tư
nhân tham gia đấu thầu, thực chấ t là chú ng âm mưu sa thải những
công nhân tích cực đấu tranh, chuyển việc quản lý xe buýt cho những
tên tay chân của ngụ y quyền, ngụy quyền để dễ bề nắm giữ, thao
túng. Toàn thể công nhân xe buýt kiên quyết giữ vững vị trí, dũng
cảm chống lại lực lượng cả nh sát dã chiến ngụy đến đàn áp, kiên trì

giữ vững yêu sách đò i chính quyền phải hủy bỏ chính sách đấu thầu
xe buýt.
Cuộc đấu tranh kéo dài trong nhiều tháng, được đại biểu của
118 nghiệ p đoàn ra tuyên bố ủng hộ. Công nhân các ngành dầu hỏa,
bến cảng, hóa phẩm, các hãng ESSO, Silico, Mic, xưởng Caric, bệnh
viện Đồn Đất, các hãng pin Quang Minh, Con Ó, cơ quan USAID...
đồng tình hưởng ứng. Một số đồng bào ở các chợ mang cơm gạo, bánh
mì, thực phẩm đến tiếp tế cho công nhân xe buýt. Các lực lượng vũ
trang nội thành đẩy mạnh hoạt động trừ gian, trừ ng trị nhiều tên tay
sai quan trọng như Lê Minh Trứ, tổng trưởng văn hóa giáo dục và
thanh niên (ngày 6 tháng 1 năm 1969), Lê Diệu Luận, phó chủ tịch
nhân dân tự vệ khóm 24 phường Chợ Quán, Trưởng văn phòng đặc
vụ Đài Loan (ngà y 6 tháng 4 năm 1969) Văn Diễn Quang, nghị viện
đô thành (ngày 19 tháng 6 năm 1969), Hà Thành Tín phụ trách Phân
cục cảnh sát quận 6 (tháng 7 năm 1969)... Biệt động đã tấn công
Phân cục cảnh sát ngụy trên đường Nguyễn Tri Phương, quận 10,
Phân cục cảnh sát quận 5. Các xe quân sự Mỹ liên tục bị tấn công,
chúng buộc phải tổ chức yểm trợ các cuộc di chuyển quân sự trong
thành phố. Một lực lượng đáng kể binh lính địch bị trói chân vào công
việc canh gác ở đường phố. Nhân dân Củ Chi có câu "giết một thằng
bình định bằng giết ba thằng Mỹ", bọn tâm lý chiến được xếp vào
hàng đầu trong số này. Du kích Tân Thạnh Tây, một lần đột nhập ấp
chiế n lượ c Tân Quy diệt một đội bình định 7 tên. Vào khoảng tháng 8
năm 1969, trước tình thế khó khăn, huyện chủ trương cử một trung
đội nữ du kích Củ Chi về hoạt động bên trong các ấp chiến lược, vào
các tổ du kích mật và bổ sung một số chỉ em cho biệt động thành. Lực
lượng này thật sự trở thành lự c lượng biệt động tại chỗ, tấn công địch
bất kỳ nơi nào: quán nước, nhà ăn, trụ sở... Các khẩu cối 82 ly phân
tán cho du kích giấu dưới địa đạo, khi cần lấy lên sử dụng ngay. Các
công trườ ng xã tiếp tục duy trì, phát triển, du kích nghĩ ra nhiều loại
mìn gạc, mìn hóa học, "mìn chĩn mắm", mìn nylon... chống được máy
dò của địch. Những bãi mìn, trái lớn hình thành, có những bãi dài
đến hàng nghìn mét như ở Nhuận Đức, An Nhơn Tây, Thái Mỹ. Bãi ở
An Nhơn Tây gài đến 900 trái các loại. Có nhiều người rấ t thành thạo
trong sản xuất vũ khí như: Tô Văn Đực, Phạ m Văn Cộ i, Nguyễn Văn
An, Lê Văn Đạm...

Ở Thủ Đức, Gò Vấp, Hóc Môn, lực lượng võ trang tập trung chia
nhỏ ra thành từng phân đội cùng du kích bám địa bàn, bám địch,
đánh tiêu hao ở các khu vực Bình Trung, Phước Long, Long Trường,
Tăng Nhơn Phú, Long Thạnh Mỹ, An Phú Đông, Thạnh Lộc, Quới
Xuân, Nhị Bình, Tân Thới Hiệp, Đông Thạnh...
Ởã Rừng Sác, đại hộ i Đảng Đoàn 10 lần thứ ba cuối mùa xuân
1969, diễn ra trong tình thế hết sức căng thẳng: Rừng Sác đang bị
bao vây, đội 5 vào sinh ra tử quân cảng Nhà Bè trung bình tấn công
hơn chục trận mà chỉ hy sinh 1 chiến sĩ, nhưng sau một trận đánh
càn số quân còn một nửa, đánh đi đánh lại chỉ còn 9 tay súng. Các đội
khác (cấp đạ i đội) còn 15, hai ba chục tay súng đượ c coi là sung sức.
Các chiến sĩ dùi đường về chiến khu Đ lần lượt hy sinh. Hàng loạt
DK75, B40, B41 hết đạn. Lần lượt từ đại đội 2 trên sông Ông Kèo,
đến các đơn vị khác bắt đầu ăn cháo rau kềm, có nơi luộc trái sú, vẹt
ăn thay cơm. Đảng ủy lúc này gồm các đồng chí Bảy Ước (chính ủy),
Cao Thanh Tao và đồng chí Hải lã nh đạo, chỉ huy đơn vị vượt thời kỳ
khó khăn nhất.
Hàng loạt câu hỏi đặt ra: lấy gì đánh, lấy gì ăn, đánh rồi lui về
đâu, hay tạm lui hết về đất liền?
Trong tình thế đó, Nghị quyết Đại hội Đả ng lần thứ III của
Đoàn 10 nêu rõ: "bấ t cứ giá nào cũng phải đứng tại Rừng Sác", bằng
biện pháp và quyết tâm "Rừng Sác là nhà". Nghị quyết nêu thành
khẩu hiệu lịch sử:
Rừng Sác là nhà.
Sông Lòng Tà u là trận địa.
Bến cảng, kho tàng, tàu địch là quyết chiến điểm.
Có lệnh là đi, hoàn cảnh nào cũng đánh thắng, đánh phải
thắng.
Nghị quyết xuống các đơn vị kèm theo chỉ thị:
Bắt cá, mò cua.
Tại chỗ tùy cơ ứng biến - Nghe xã luận đài mà đánh...

Chỉ huy Đoàn nhận được những lá thư quyết tử bám trụ từ phía
Tây sông Lòng Tàu. Lá thư viết bằng máu của đội 6: "Chúng tôi một
tấ c không đi, một ly không rời khi chưa có lệnh"; "còn ngườ i còn chiến
đấu, còn người còn trận địa". Có biết bao tấm gương về những chiến
sĩ Rừng Sác chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, hơi thở cuối cùng, về
trận địa một người chống chọi hàng đại đội giặc. Trên một cù lao
không tên, đồng chí Kiệt, một cán bộ đại đội là ngườ i còn lại cuối
cùng, bị địch bắn gãy lìa một khúc chân, còn bò đi gom súng đạn của
đồng đội hy sinh để lại, đánh gãy đợt xung phong tiếp của địch. Lịch
sử Đoàn 10 đang trải qua những tháng năm gian khổ nhất gọi là thời
kỳ "bắt cá - mò cua - mua gạo - cháo rau kềm". Gần 200 cơ sở quần
chúng gắn bó với Đoàn tập trung lo tiếp tế gạ o, thực phẩm thuố c
men. Cán bộ chiến sĩ đội quân giới của Đoàn vào "chiến dịch"truy tìm
bom pháo lép (tính đến năm 1971 lấy được 4275 kg thuốc nổ từ trái
bom lép). Đội quân giới của đồng chí Tư Tiên và kỹ sư Mười Thiện đã
sáng chế, cải tiến ra nhiều loại mìn trong đó có "bom bay" chế từ DKB
đánh được tàu 10.000 tấn, mìn ngòi phè n chua thay mìn hẹn giờ Liên
Xô...
Ngày 18 tháng 5 năm 1969, quyết lập công mừng sinh nhật Bác,
trong vòng 30 phút trên sông Lòng Tàu, chiến sĩ Đoàn 10 bắn cháy 2
tà u dầu của giặc, một chiếc 7.000 tấn và một chiếc 12.000 tấn.
Thấy hiện tượng hoạt động của đặc công ta tăng lên, ngày 24
tháng 6 năm 1969, địch tổ chức trận càn Mỹ - Ngụy hỗn hợp quy mô
lớn do lữ đoàn 199 Mỹ chủ công, lữ trưởng David chỉ huy, đánh vào
khu vực sông Ông Kèo, nơi mà chúng đinh ninh có cơ quan chỉ huy
của Đoàn 10.
Qua cơ sở quân báo, ta nắm đượ c ý định của địch nên đã bố trí
trận địa đánh địch từ Vàm Ông Kèo vào gồm các chốt: B40, B41,
DKZ, mìn củ a đội 1, đội 2, các trận địa bộ binh đại đội 1, đại hội 2.
Chiến sự ác liệt diễn ra từ sáng sớm đến 15 giờ, phía sông Ông
Kèo, ta loại đoàn tàu 10 chiếc của Mỹ, nhưng phía sau tiểu đoàn ngụy
tràn qua được, gây thiệt hại cho đại đội 2. Ta giế t, làm bị thương 200
tên Mỹ - Ngụy, bắn chìm cháy 10 tàu. Đặc biệt tại Vàm sông Ông
Kèo, ta bắn rơi chiếc máy bay chỉ huy của tướng David lữ trưởng lữ
199, tên này bị thương.

Cũng tháng 6 năm 1969, đặc công Rừng Sác đã tổ chức vượt lên
đất liền, liên tiếp pháo kích Bộ tư lệnh Hải quân ngụy và kho xăng
Nhà Bè.
Giữa những ngày chiến tranh ác liệt, đêm 3 tháng 9 năm 1969,
Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam truyề n đi một tin đau thương,
mất mát không gì bù đắp nổi của dân tộc ta: Chủ tịch Hồ Chí Minh từ
trần. Không ai tưởng tượng một sự thật đau buồn như vậy có thể đến,
dù đó là điều không thể tránh. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người sáng
lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, Người xây dựng nền Cộ ng hòa
Dân chủ và Mặt trận thống nhất, là Bác Hồ, Người Cha thân yêu của
dân tộc. Bác ra đi để lại cho toàn đảng, toàn quân, toàn dân ta bản di
chúc lịch sử. Người khẳng định: "Cuộc chống Mỹ cứu nước củ a nhân
dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất
định thắ ng lợi hoàn toàn".
Sài Gòn - Gia Định đang trong nhữ ng ngày khó khăn gian khổ
nhất. Quân dân Sài Gò n -Gia Định nén đau thương, anh hùng phấn
đấu, quyết tâm vượt lên, đạp bằng mọi trở lực, chông gai để đánh
thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam.
Với lòng tiếc thương vô hạn, nhiều đồng bào thành phố bất chấp
sự theo dõi của địch đã tổ chức truy điệu Bác bằng nhiều hình thứ c
công khai hoặc bí mật.
Công nhân xe buýt giành cả ngày và đêm 9 tháng 9 làm lễ truy
điệu Hồ Chủ Tịch. Trên 100 thanh niên, sinh viên thuộc đoàn văn
nghệ học sinh, sinh viên Sài Gòn kính cẩn mặc niệ m Bác trong tiếng
hát trang nghiêm củ a bài "Hồn tử sĩ".
Tại nhà lao Chí Hòa, anh chị em tù chính trị để tang Bác 7
ngày. Suốt tuần lễ tang, sáng nà o 600 anh chị em tù chính trị cũng
hát Quốc ca và làm lễ tưởng niệm Người.
Tại Ngã Bảy, anh chị em công nhân và các nghiệp đoàn quanh
vùng đó chiếm trụ sở Tổng liên đoàn lao động để tổ chức mít tinh,
làm lễ truy điệu Bác.
Tại vùng Hòa Hưng 200 Phật tử, nhân sĩ trí thức, sinh viên học
sinh tập trung về chù a Khánh Hưng. Đúng 2 giờ chiều ngày 9 tháng
9 năm 1969, chỉ mấy tiếng đồng hồ sau lễ tang truy điệu Bác Hồ ở

quảng trường Ba Đình (Hà Nội), lễ truy điệu tại đây bắt đầu. Thượng
tọa Thích Pháp Lan đọc điếu văn ca ngợi công lao và đức độ Bác Hồ.
Nhiều người không cầm được nước mắt. Bốn ngày sau, tổng nha cảnh
sát gửi giấy mời thượng tọa Thích Pháp Lan đến thẩm vấn suốt từ 8
giờ đến 5 giờ chiều. Trước lý lẽ sắc bén của thượng tọa và khí thế của
phong trào đấu tranh của thành phố, địch buộc phải thả thượng tọa.
Trong khi đó, đồng bào ở hẻm 258/5/21A phường Phan Thanh Giản,
quận 10 làm lễ truy điệu Bác và nghe đọc tiểu sử bác dưới hình thứ c
một đám giỗ tạ i nhà chị Biểu. Ở quận 8, chi bộ phường Hưng Phú,
sau khi tổ chức canh phòng chu đáo, tập trung đồng bào tại xóm Đầm
để truy điệu Bác. Cảnh sát ngụ y biết, nhưng không dám xúc phạm
đến tình cảm của nhân dân. Nhiều gia đình trong thành phố đốt
nhang trên bàn thờ làm lễ tang Bác, đón nghe các buổi phá t thanh về
Bác trên đài Hà Nội, Giải phóng. Quân dân ngoại thành làm lễ truy
điệu Bác ở nhà, ngoài căn cứ, dưới địa đạo. Có nơi cán bộ làm lễ truy
điệu Bác dưới hầm bí mật.
Toàn Đả ng, toàn quân và toàn dân nguyện biến đau thương
thành hành động cách mạ ng, thự c hiện di chúc Bác để lại: "... Dù sao
chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đế n thắng lợ i hoàn toàn...".
Thực hiện chủ trương của Thành ủy, các đội biệt độ ng tổ chức
lại thành 3 cụm, mỗi cụm có nhiều độ i, khẩn trương vừa củng cố vừa
xây dự ng và hoạt động theo phương châm kết hợp chặt chẽ chính trị
với vũ trang, thực hiện "3 mũi giáp công" ở cơ sở.
Trong thời kỳ khó khăn này, tức mồng 3 Tết âm lịch, Đoàn Thị
Ánh Tuyết cùng nữ biệt động Sáu Hạnh thực hiện cuộc tấn công
Trung tâm Quốc gia báo chí, loại một số cố vấn tình báo Mỹ và 28 tên
mật vụ, cán bộ bình định và sĩ quan tình bá o Sài Gòn.
Cũng vào những ngày này, ta đánh chất nổ trong Tổng nha
cảnh sát ngụy, do một nữ chiến sĩ an ninh thực hiện, nhiều tên chết
và bị thương, phầ n lớn là thẩm viên cảnh sát, làm cháy trên 100 xe
gắn máy. Địch huy động đến máy bay lên thẳng để chữa cháy, đem xe
GMC đến lấy xác và đưa số bị thương đi cứu chữa. Trận này làm cho
địch nghi ngờ lẫn nhau.
Với ý thức đánh địch để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, cuối
tháng 1 năm 1970, nữ chiến sĩ Tư Kiên thuộc Lực lượng vũ trang

Thành Đoàn, đang bụng mang dạ chửa tự nguyện xin "đi đánh trận
nữa để cổ vũ phong trà o rồi đi đẻ". Ngày 30 tháng 4 chị đã cùng cá c
chiến sĩ Lê Phi Hùng, Phạm Văn Triệu thực hiệ n cuộc tiến công táo
bạo vào cư xá Thái Lan thuộc sư đoàn Báo Đen ở phường Phan
Thanh Giản (nay là công trình bưu điện II ở phường 14 quận 10) gây
thiệt hại cho địch không đáng kể nhưng có ảnh hưởng ngay đến khí
thế tiến công chính trị củ a sinh viên đang diễn ra tại khu vực Bàn
Cơõ. Cũng chính nơi này địch phát hiện chỗ đặt cối 60 li của biệt động
Sài Gòn đích thân chỉ huy cuộc lùng sục. Đồ ng chí Thanh một mình
chống chọi một đại đội địch từ 10 giờ tối đến 4 giờ sáng, hy sinh tại
trận.
Tại đường Nguyễn Văn Thoại, chị Tám A và nữ đồng chí Ngoạn
hy sinh trong trận dùng thuốc nổ đánh nơi tập trung binh lính Đại
Hàn.
Theo phương hướng Nghị quyết Bình Giã IV, khẩu hiệu đấu
tranh chính trị tập trung lúc này là đòi Mỹ rút hết quân, chống chính
quyền phản động Nguyễn Văn Thiệ u, đòi thành lập chính quyền tiến
bộ, chấm dứt chiế n tranh, vãn hồi hòa bình, tận dụng các hình thứ c
công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp của học sinh, sinh viên, của công
nhân và lao động, của mọi ngành, mọi giới và các tầng lớp trung gian.
Nội dung và hình thức đề ra nói trên rất sát hợp yêu cầu và tình
hình nhân dân Sài Gòn trong tình thế hiệ n tại.
Học sinh, sinh viên là lực lượng nắm bắt và khơi dậy ngay
thành phong trào tiến đến cao trào theo phương hướng khẩu hiệu
được phát động, đồng thời tạo được sự hỗ trợ mạnh mẽ của các ngành
các giới, có liên kết các phong trào khá c tạo thành sức mạnh tổng hợp
của mặt trận chính trị thành phố.
Tháng 6 năm 1970, trong một cuộc biểu tình đòi trả tự do cho
tất cả sinh viên, học sinh còn bị giam giữ tại nhà lao Chí Hòa, sinh
viên, học sinh xung đột dữ dội với cảnh sát ngụy đến đàn áp, đốt cháy
1 xe, sau đó lại tấn công đốt cháy 1 xe cảnh sát và 1 xe quân cảnh
Mỹ, đánh bị thương 2 tên Mỹ đi trên xe, thu cả súng đại liên, dùi cui
và mũ sắt. Phong trào học sinh, sinh viên từ Sài Gòn lan xuống Mỹ
Tho, Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Giờ , Châu Đốc, Rạch Giá, ra Đà Lạt,
Bình Định, Quảng Ngã i, Đà Nẵng, Huế... trở thành cao trào học sinh,

sinh viên toàn miền Nam đấu tranh chống Mỹ - Thiệu - Kỳ, đòi hòa
bình, chấm dứt chiến tranh, tự do, độc lập và ngay người nước ngoài
cũng đấu tranh kêu gọi hòa bình cho Việt Nam.
Cuối tháng 6 năm 1970, sinh viên liên viện đại học Sài Gòn,
Huế , Đà Lạt, Cần Thơ, Vạn Hạnh, tổ chức đại hội nhằm thống nhất
khẩu hiệu và hành động của sinh viên trên toàn miền Nam. Một
trong những khẩu hiệu hà nh động chung đó là: chống huấn luyện
quân sự học đường với nội dung: không học, không thi, không đi quân
trường.
Kết quả suốt các tháng 7, 8, 9 năm 1970, trong các trường đại
học, phong trào chống quân sự học đường phát triển rất mạnh mẽ. Có
đến 30.000 sinh viên không đi học quân sự, không thi môn quân sự
học đường, 450 sinh viên đang học ở quân trưởng bỏ về. Sinh viên cá c
trường đại học Y, Văn, Vạn Hạnh, Kỹ thuậ t Phú Thọ, đốt cháy các
phòng huấn luyện quân sự học đường.
Đêm 17 tháng 7 năm 1970, học sinh, sinh viên tổ chức đêm văn
nghệ "Năm châu đấu tranh cho hòa bình" tại số 240 đường Công Lý,
đại diện sinh viên Việt Nam tặng cho phái đoàn sinh viên quốc tế 1 lá
cờ có vẽ hình chim bồ câu trắng tượ ng trưng cho khát vọng hòa bình
của nhân dân ta. Đáp lại, các sinh viên Mỹ rút thẻ quân dịch châm
lửa đốt và dẫ m nát dưới gót giày để biểu hiện tinh thần phản đối
chiế n tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Tiếp theo, đêm văn nghệ "Năm
châu đấu tranh cho hòa bình" là những đêm "Văn nghệ xung kích",
những đêm "Đốt lửa căm thù", nhằm "đốt lửa lên để nhận mặt kẻ
thù, đốt lửa lên để nung nấu ý chí căm hờn, đốt lửa lên soi sáng niềm
tin hy vọng", để cùng nhau sát cánh đấu tranh.
Bài hát "Dậy mà đi" thôi thúc, giục giã lớp lớp người vùng dậy
đấu tranh. Từ tháng 5 đến tháng 10 có đến 24 đêm biểu diễn văn
nghệ tập trung, 27 buổi văn nghệ xung kích, 49 tổ báo sinh viên, 66
tập san học sinh, và 26 cuộc đi cắm trại. Hàng trăm đội xung kích
thanh niên học sinh, sinh viên tỏa về cá c xí nghiệp, các chợ, các xóm
lao động và các vùng nông thôn ngoại thành để nói "cho đồng bào tôi
nghe và nghe đồng bào tôi nói" để "hát cho đồng bào tôi nghe và nghe
đồng bào tôi cù ng hát" nhằm tuyên truyền vận động nhân dân đấu
tranh đòi quyền sống, đòi hòa bình, đòi chấm dứt chiến tranh, đòi lật
đổ Thiệ u, đòi Mỹ phải rút hết...

Ngày 18/3/1970 Mỹ cho tiến hành cuộc đảo chính lật đổ nền
trung lập của Campuchia. Sau đảo chính, Mỹ tập trung dựng lên chế
độ Lon Non làm tay sai và tìm cách mở rộng chiến tranh xâm lượ c
sang Campuchia. Ngày 29/4/1970 Mỹ ngụy Sài Gòn sử dụng 10.000
quân phiêu lưu đánh sng khu vực phía Đông - Bắc Campuchia, giáp
với miền Đông Nam Bộ của Việt Nam.
Từ giữa tháng 6/1970 quân dân miền Nam và liên quân Việt
Nam - Campuchia đã phối hợp để đánh Mỹ ngụy Sài Gòn, ngụy
Phnôm-pênh. Sau hai tháng phối hợp chiến đấu ta và bạn đã giải
phóng hoàn toàn 5 tỉnh và giải phóng phần lớn 6 tỉnh khá c của
Campuchia sát với vùng giải phóng của miền Nam Việt Nam. Tình
hình khó khăn ở Campuchia đượ c cải thiệ n rõ rệt, trong khi ấy ở Lào
và ở miền Nam Việt Nam ta cũng tranh thủ đẩy mạnh hoạt động. Ở
Lào, liên quân cách mạng Việt - Lào đã tấn công và giải phóng thị xã
Xaravan (hạ Lào). Ở miền Nam ta mở đợt hoạt động Xuân - Hè trên
toà n miền chố ng phá bình định của địch. Các đô thị miền Nam từ
tháng 4/1970 đến tháng 6/1970 bùng lên nhiều cuộc đấu tanh của
hàng vạn người chống Mỹ - Ngụy, đòi tự do, dân chủ, hòa bình, chấm
dứt chiến tranh. Đến giữa năm 1971 đã làm xuất hiện nhiều hình
thức tổ chức công khai hợp pháp chuẩn bị đưa đấu tranh chính trị ở
miền Nam lên một cao trào mới. Sinh viên học sinh chống quân sự
hóa họa được, những cuộc xuống đường của "Phong trào phụ nữ đòi
quyền số ng", "Ủy ban nhân dân tranh thủ hòa bình", "Ủy ban nhân
dân đòi quyền sống", "Nghiệp đoà n 36 chợ đô thành", những cuộc
tổng bãi công của 21 nghiệp đoàn chống thế lương bổng, phong trào
chống bắt thanh niên miền Nam Việt Nam đi làm bia đỡ đạn ở Lào và
Campuchia... Đó là những trận đấu tranh rung chuyển phố phường
và từ đó một "Mặt trận nhân dân tranh thủ hòa bình" đã ra đời từ Sài
Gòn lan nhanh khắp các thành thị miền Nam.
Đón trước thời điểm chính trị của nước Mỹ năm 1972, từ tháng
5/1971 Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã đề ra chủ trương "Kịp
thời nắm lấy thời cơ lớn, trên cơ sở phương châm chiến lược đánh lâu
dài, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, phát triển
thế chiến lược tiến công mới trên toàn chiến trường miền Nam và cả
trên chiến trường Đông Dương, đánh bại một bước quan trọ ng kế
hoạch xâm lược của chúng ở Campuchia và Lào, giành thắng lợi
quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến

tranh bằng thương lượng trên thế thua, đồng thời sẵn sàng chuẩn bị,
kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến trong trườ ng hợp chiến tranh còn
kéo dài". Điều bất ngờ là hành động điên cuồng của Mỹ chỉ càng làm
cho loài người tiến bộ, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ công phẫn, lên án
và đòi chính quyền Nixon phải chấm dứt chiến tranh. Ngày 27/7/1972
tạ i hội nghị các Đảng Cộng sản và công nhân châu Âu đoà n kết với
nhân dân Việt Nam, 27 đoàn đại biểu các nước Đông Âu, Tây Âu, Bắ c
Âu đã ra "Tuyên bố Paris" kêu gọi "chính phủ Mỹ chấ m dứt tức khắc
các cuộc ném bom và mọi hành động chiến tranh chống nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa... chấm dứt mọi sự can thiệp vào công việ c
nội bộ của Việt Nam, Lào và Campuchia".
Mỹ không muốn chấp nhận việc ký kết hiệp định bất lợi cho Mỹ
và Ngụy nên chủ trương đánh đò n quân sự để ép ta phải nhượng bộ
chúng. Chúng cho rằng "đe dọa phải... kết hợp với hành động thực thì
mới có hiệu quả thuyết phục đối phương". Johnson năm 1965 đã dùng
biện pháp leo thang đánh phá ra miền Bắc để thực hiện ý đồ chiến
lược ở miền Nam; còn Nixon năm 1972 dùng biện pháp leo thang để
gây một sức ép cuối cùng theo cách tính toán "được ăn cã, ngã về
không". Ngay sau ngày thắng cử , Nixon cho đánh phá mạnh hơn nữa
ở vĩ tuyế n 20, ồ ạt tuôn đổ vũ khí và viện trợ cho ngụy, đốc thúc ngụy
phản kích mạnh ở miền Nam, đòi ta sửa đổi 120 chỗ trong dự thảo
hiệp định. Bộ Chính trị Đảng ta đã nhắc nhở "phải đề phòng Mỹ tăng
cường hành động quân sự. Tuyệt đối ta không được lơ là mất cảnh
giác". Trậ n chiến đấu của quân dân miền Bắc chống tập kích của
không quân Mỹ bắt đầu từ 19 giờ 40 phút ngày 18/12/1972 và kéo dài
suốt 12 ngày đêm sau đó. Chưa bao giờ và ở đâu có 1 chiến dịch
phòng không như 12 ngày đêm cuối năm 1972 ở miền Bắc; cũng chưa
từng có trong lịch sử cảnh tượng B.52 của Mỹ cháy rụng đỏ mặt Hồ
Gươm. Quân dân miền Bắc đã dám đánh và đã đánh thắng chúng.
Phó tham mưu trưởng không quân Mỹ thú nhận "Bắ c Việt Nam đã
phát triển được các lực lượng phòng không dày dạn nhất thế giới .
Bảy (7) giờ sáng ngày 30/12/1972 chính phủ Mỹ tuyên bố ngừng nén
bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 và đề nghị nối lại đàm phán ở Paris. Mỹ
muốn giáng cho đối phương một đòn quân sự mạnh thì lại gặp một
trận "Điện Biên Phủ trên không"; muốn tỏ rõ sức mạnh không thể
tưởng tượng nổi của không quân chiến lược Hoa Kỳ thì những biểu
tượng của sức mạnh răn đe bị mất uy thế. Tổng thống Nixon vừa tái
đắc cử đã bị một trận "phản đòn", muốn đàm phá n trên thế mạnh đã

phải trở lại Paris khẩn cấp và "cần đạt được một giải pháp dù đối
phương đưa ra những điều kiện khắt khe", chấ p thuận tất cả những
gì đã chối từ và chấp nhận cả kết quả đàm phán ngoài mong muốn.
(Theo sách Lịch sử Việt Nam tập 3 - NXB Giáo dục)
e) Đấ u tranh đòi thi hành Hiệp định Paris
Sau gần một năm phá hoại Hiệ p định Paris, ngụy quyền đứng
trước những khó khăn mới, quân số tụt giảm, việ n trợ quân sự của
Mỹ bị cắt bớt, kinh tế đình đốn, ngân sách ngụy quyền 1973 - 1974
hao hụt 266 tỉ (tiền Sài Gòn), lạm phát tới 200 tỉ, số người thất
nghiệp lên tới 1 triệu 32 vạn. Trong thông điệp tháng 6 năm 1974,
Thiệu đã phải kêu gọi binh lính "đánh giặc theo kiểu con nhà nghèo".
Trong khi đó cuộc thanh lọc và sa thải công nhân viên chức của Thiệu
làm cho nội bộ ngụy quân, ngụy quyền càng lục đục gay gắt.
Nhưng tậ p đoàn tay sai Thiệu vẫn còn rất ngoan cố. Ngày 6
tháng 1 năm 1974, Thiệu trắng trợn tuyên bố"... không có hòa bình,
không có tổng tuyển cử... "Y gào thét "phải đẩy mạnh tấn công ngay
tạ i vù ng cộng sản kiểm soát", "phải đánh trước"... và tiếp tục ráo riết
thực hiện kế hoạch 2 năm 1973 - 1974, lần lượt tung xuống xã, ấp
40% công chức và 2400 sĩ quan để tăng cườ ng bộ máy kềm kẹp tại cơ
sở.
Đầu năm 1974, địch huy động lực lượng sư đoàn 25 mở cuộ c
hành quân đánh sâu vào các vù ng căn cứ giải phó ng Bắc Củ Chi,
đồng thời sử dụng một bộ phận chủ lực còn lại kết hợp vào bảo an,
dân vệ, phòng vệ dân sự, cảnh sát và các đoàn bình định mở các cuộ c
hành quân bình định lấn chiếm vùng ven chung quanh Sài Gòn.
Trong tình hình trên, Hội nghị Thành ủy tháng 1 năm 1974 chủ
trương: dưới khẩu hiệu trung tâm là hòa bình, độc lập, dân chủ cải
thiện dân sinh, ở nội thành đẩy mạnh phong trào đấu tranh đòi thi
hành Hiệp định Paris, ra sức xây dựng lực lượng cơ sở, tạo điều kiện
và thời cơ đi tới cao trào, phối hợp chặt chẽ với phong trà o nông thôn
và mũi tiến công của quân sự, tiến lên đánh đổ tập đoàn quân phiệt,
phát xít tay sai phản động của đế quốc Mỹ ở miề n Nam, hoàn thành
cách mạng dân tộc dân chủ.

Phối hợp chặt chẽ với phong trào ở nội thành, ở nông thôn, phải
tậ p trung chống phá bình định của địch, chố ng phá địa hình, chống
phá càn quét, lấn chiếm, chống cướp lúa, gom dân, chống đôn quân
bắt lính...
Hội nghị đề ra yêu cầu: phát triển các loại lực lượng lên từ 2 đến
3 lần ở cả thành phố lẫn nông thôn; tăng cường số lượng và chất
lượng của lực lượng vũ trang đảm bảo tiêu diệt lực lượng ác ôn, kềm
kẹp, lực lượng sùng lục, đánh bại lực lượng càn quét, lấn chiếm; đẩy
mạnh đấu tranh phá lỏng kềm và giành quyền làm chủ của nhân
dân; công tác xây dựng Đảng, xây dựng thự c lực cách mạng đô thị
phải đi sâu hơn nữa vào xí nghiệ p, xóm lao động và các ngành trọng
điểm.
Sinh khí mới về chính trị của các tầng lớp quần chúng sau Hiệp
định Paris gặp sự khủng hoảng kinh tế củ a ngụy và thái độ hiếu
chiế n của Thiệu hợp thành một phát khở i mới trong phong trào đấu
tranh chính trị ở đô thị. Kinh nghiệm ngày một dày dạn, trong lãnh
đạo, chỉ đạo, tổ chức của Thành ủy với phong trà o ngày một chặt chẽ,
sắc sảo hơn.
Ngày 14 tháng 2 năm 1974, Tổ chức nhân dân đòi thi hành
Hiệp định Paris mà tiền thân của nó là Lực lượng quốc gia tiến bộ, do
ông Trần Ngọc Liễng làm chủ tịch ra mắt. Hà ng loạt tổ chức khác của
các giới cũng được thành lập: Ủy ban chống sa thải, Ủy ban chống
đàn áp, bất công, Mặt trận nhân dân cứu đói, Ủy ban bảo vệ các bạn
hàng chợ, Ủy ban bảo vệ quyền lợi sinh viên, Ủy ban bảo vệ tự do báo
chí...
Theo sự chỉ đạo của ta, một lực lượng chính trị mới, "lực lượng
thứ ba" đang hình thành sau Hiệp định Paris bao gồm các nhân sĩ trí
thức, binh sĩ, dân biểu, nhà báo, tu sĩ, công thương gia, cựu tướng tá
ngụy... có khuynh hướng chống Thiệu, đòi hòa bình, độc lập, dân chủ;
nổi bật là các nhân vật như: bà luật sư Ngô Bá Thành, ông Trần Ngọc
Liễng, kỹ sư Dương Văn Đại, dân biểu Hồ Ngọc Nhận, dân biểu Lý
Quý Chung, giáo sư Lý Chánh Trung, linh mục Phan Khắc Từ,
thượng tọa Thích Pháp Lan, dân biểu Kiều Mộng Thu, ni sư Huỳnh
Liên, nhà báo Nam Đình... Tổ chức nhân dân đòi thi hành Hiệp định
Paris đóng vai trò nòng cốt trong hoạt động của lực lượng thứ ba.
Cũng trong thời gian này Ủy ban Liên minh các Lực lượng Dân tộc,

Dân chủ và hòa bình khu Sài Gòn - Gia Định ra mắt bao gồm nhiều
nhân sĩ, trí thức đã ra vùng giải phóng, do giáo sư Nguyễn Văn Chì
làm Chủ tịch. Lực lượng thứ ba tiêu biểu cho xu hướng chính trị của
giai cấ p tư sản dân tộc, tuy còn những mặt hạn chế, nhưng hoạt động
của lự c lượng này làm cho đế quốc Mỹ và tập đoàn quan liêu quân
phiệt, đại biểu cho giai cấp tư sản mại bản và phong kiến phản động,
bị phân hóa, cô lập, tạo ra một thế rất tốt cho phong trào đô thị.
Tháng 4 năm 1974 tất cả các nghiệp đoàn ở Thành phố đã phát
động một chiến dịch đấu tranh chống sa thải. Tiêu biểu là những cuộ c
đấu tranh của 1000 công nhân hãng MIC, của 1500 công nhân cá c
hãng bột mì Sakibomi, Viphumico của 1000 công nhân bốc vác Khánh
Hội và cuộc đấu tranh của 3000 công nhân Hàng không Việt Nam.
Ngày 30 tháng 4 năm 1974, đại diện 200 nghiệp đoàn họp Hội nghị
chống sa thải, kêu gọi công nhân đòi Thiệu phải ban hành về lương
tối thiểu, vãn hồi hòa bình.
Cùng với phong trào dân sinh dân chủ củ a công nhân và lao
động, phong trào đấu tranh đòi trả tù chính trị cũng liên tục tiếp diễn
đến cuối năm 1974. Tháng 10, tháng 11 có hai cuộc biểu tình hàng
ngàn người ở Gia Định và ở Sài Gòn đòi thả tù chính trị, có đông đảo
ni sư và phật tử tham gia.
Giới báo chí đã nhập cuộc và trở thành một mũi xung kích công
khai chống chế độ độc tài Nguyễn Văn Thiệu. Ngày 20 tháng 9 năm
1974 các chủ báo và ký giả họp mít tinh, diễu hành trước tòa soạn báo
Điện Tín, một trong những tờ báo đối lập chế độ Sài Gòn và do ta chi
phối, mở đầu cuộc đấu tranh chống sắc luậ t 007, sắc luật kềm kẹp
báo chí của Thiệu.
Ngày 25 tháng 9 năm 1974 Ủy ban Liên minh các Lực lượng
Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Khu Sài Gòn - Gia Định ra lời kêu gọi
chống Thiệu, đòi hòa bình, tự do, dân chủ. Đối phó với phong trào đấu
tranh của nhân dân đô thị, ngày 22 tháng 9 năm 1974, Mỹ Thiệu
vạch ra "Kế hoạch Sao chổi" nhằm "đàn áp cho kỳ được các phong
trào này", "thanh toán toàn bộ phản động (cộng sản, thân cộng...)",
"cô lập, chia rẽ nội bộ các phong trào".

Ngày 1 tháng 10 năm 1974, báo chí lột trần "Kế hoạch Sao chổi"
này trước dư luận, gây nên làn sóng căm phẫn lan tràn. Tập đoàn
Thiệu hết sức bối rối.
Thừa thắng, ngày 10 tháng 10 năm 1974 lực lượng báo chí đượ c
sự hỗ trợ củ a các lực lượng sinh viên, UYy ban bảo vệ quyền lợi lao
động và Mặt trận nhân dân cứu đói... tổ chức một cuộ c xuống đường
gọi là "ngày ký giả ăn mày" do nhà báo lão thành Tô Nguyệt Đình
đứng đầu. Hàng trăm ký giả mang bị, gậy xuống đường đã thu hút
nhiều dân biểu, nghị sĩ đối lập và một "biển đồng bào" trên đoạn
đường công trường Lam Sơn đến chợ Bến Thà nh với khẩu hiệu: "Còn
Thiệu, còn chiến tranh". Một "rừng cảnh sát" đã không làm gì được.
Các hãng thông tin UPI (Mỹ ), AFP (Pháp), Reuter (Anh) đều cho đây
là cuộc biểu tình lớn nhất trong 9 năm cầm quyền của Thiệu. Tiếp
sau đó là 3 cuộc biểu tình lớn nữa vào các ngày 31 tháng 10, ngày 28
tháng 11 và ngày 22 tháng 12 năm 1974 gọi là những "ngày báo chí
và công lý thọ nạn", gây tiếng vang lớn trong ngoài nước. Thiệu phản
ứng quyết liệt, nhưng lực lượng quần chúng và giới báo chí vẫn xốc
tới. Cho đến cuối năm 1974, Sài Gòn có đến 30 tổ chức chính trị xã
hội chống Thiệu, đòi tổng tuyển cử, đòi tự do dân chủ, đòi cải thiện
đời sống. Đáng chú ý là trong phong trào đô thị có cả lực lượng
thương phế binh, mà về quan điểm, ta coi là một bộ phận quần chúng
đau khổ vì bị ngụy quyền hắt hủi và có thể đấu tranh với chế độ độc
tài, phản dân. Ngày 4 tháng 12 năm 1974 Ủy ban hành động cho công
bằng xã hội ra đời tập hợp trên 10.000 sinh viên Thiên chúa giáo là
một nét mới củ a phong trào Công giáo chống Thiệu. Đêm Noel ngày
24 tháng 12 năm 1974, tại nhà thờ dòng Chúa cứu thế và nhà thờ
Vườn Xoài, hàng trăm thanh niên học sinh và sinh viên Thiên Chúa
tổ chức mít tinh phản đối ngụ y quyền bắt lính. Tổ chức rất rộng rãi
Mặt trận nhân dân cứu đói ra mắt từ tháng 9 năm 1974 do đại đức
Thích Hiến Pháp làm Chủ tịch và dân biểu Nguyễn Văn Hàn làm
tổng thư ký, thu hút nhiều thành phần có thế lực: tổng vụ trưởng vụ
cư sĩ giá o hội Phật giáo thống nhất Thích Quảng Long, ni sư Huỳnh
Liên, linh mục Phan Khắc Từ, chủ tịch Ủy ban bảo vệ quyền lợi lao
động, các dân biểu đối lậ p Kiều Mộng Thu, Hồ Ngọc Nhuận, giáo sư
Lý Chánh Trung, luật sư Ngô Bá Thành, các nghệ sĩ Kim Cương,
Thanh Nga... Ta đưa một số cán bộ tham gia đứng tên vào Mặt trận:
Ngọc Trảng, Ba Thép, Xuân Thượng. Với khẩu hiệu "lá lành đùm lá
rách", ẩn giấu nội dung tố cáo chế độ. Hình thức hoạt động của mặt

trận thật sáng tao: biểu tình có ca hát "dậy mà đi", biểu tình "xa luân
chiế n" (biểu tình không lớn mà liên miên ngày này qua ngày khác,
đêm này qua đêm nọ như bánh xe quay làm cho cảnh sát mất ăn mất
ngủ). Phong trào công khai, nhưng ra báo bí mật "Cứu đói" với 10.000
bản được báo công khai cổ vũ (Điện Tín của Lý Chánh Trung, Đại
Dân tộc của Kiều Mộng Thu). Mặt trận còn lậ p "Khối dân tộc xã hội"
đấu tranh nghị trường, tổ chức "báo nói", "văn nghệ chạy", "biểu tình
ngồi", "phát chẩn", có cả dân biểu, ni sư tham gia. Chưa lúc nào tập
đoàn phản dân Thiệu bị cô lập hơn lúc này. Ngày 25 tháng 1 năm
1975, 18 đoàn thể thuộc nhiều khuynh hướng chính trị cùng ký
chung một bản kiến nghị đòi Mỹ chấm dứt viện trợ cho Thiệu, đòi
Thiệu từ chứ c. Một tuần sau, ngày 1 tháng 2 năm 1975, 23 tổ chứ c
tiến bộ công bố chung một bản cáo trạ ng tố cáo Thiệu là sản phẩm
của chiến tranh, còn Thiệu là còn chiến tranh. Thiệu "chữa cháy"
bằng con đường phát xít hóa ngày càng trắ ng trợn. Nhữ ng trận xô xát
của nhân dân với mật vụ, cảnh sát xảy ra hàng ngà y trên đường phố.
Ngày 4 tháng 2 năm 1975, các ký giả tổ chức mít tinh mừng xuân Ất
Mão tại rạp Khải Hoàn. Đêm trước đó, mặc dù bị công an, mật vụ
đồng loạt khám xét nhà, bắt giữ một số ký giả và đóng cửa một loạt
các báo đối lập, nhưng cuộc mít tinh vẫn được tiến hành. Lễ đài mừng
xuân trở thành diễn đàn tố cáo chế độ phát xít độc tài của Thiệu, lên
án việc khủng bố, bắt ký giả, sinh viên và đóng cửa các báo. Tính ra
từ tháng 5 năm 1972 đến đầ u năm 1975, Thiệu ban hàng 60 sắc lệnh
phát xít, thủ tiêu mọi quyền dân chủ sơ đẳng nhấ t, đặc biệt là sắc
lệnh ngày 12 tháng 5 năm 1973 (ký hiệu 009-SLNV) khủng bố tất cả
những ai không đồng tình với Thiệu. Trong 2 năm 1973 - 1974 chúng
đã giam cầ m 93.340 người... Trong tình thế đó, sự lãnh đạo phong
trào đô thị của Thành ủy ngày càng sắc bén, biết tìm ra khẩu hiệu
cho từng giới, từng ngành, biết căn cứ và o khả năng và điều kiện cụ
thể từng thời điểm mà chuyển các khẩu hiệu cho từng giới, từng
ngành và từng thờ i điểm chuyển các khẩu hiệu từ thấp lên cao,
chuyển hình thức và quy mô đấu tranh một cách linh hoạt, sát hợp...
Nhờ vậy phong trào đô thị không chỉ thu hút quần chúng cơ bản mà
còn lôi kéo được nhiều thành phần trung gian, thậm chí tranh thủ
được sự đồng tình của một bộ phận sĩ quan, binh lính, nhân viên
ngụy quyền giúp phong trào đấu tranh vừa có hiệu quả vừa bảo tồn
được lực lượng. Gần 2 năm sau Hiệp định Paris, phong trào đô thị
vươn lên mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy nhanh sự khủng hoả ng toàn

diện của ngụy quyền Sài Gòn, đồng thời tập dượt quần chúng đô thị
tiến lên phối hợp ngày càng chặt chẽ với đòn tấn công quân sự trong
cuộc chiến mùa khô 1974 - 1975.
(Theo sách Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định
kháng chiến 45-75 - NXB TP.HCM)

Chán đời đi lang thang !
0
SỰ KIỆN CẦU CÔNG LÝ
Ngày 2-5-1964, một sự kiện gây chấn động dư luận thời bấy giờ
là kế hoạch gài bom dưới chân cầu Công Lý (nay là cầu Nguyễn Văn
Trỗi) hòng giết chết Bộ trưở ng Quốc phòng Mỹ Mac Namara. Người
thực hiện kế hoạch này là chiến sĩ biệt động nội thành Nguyễn Văn
Trỗi.
Anh Nguyễn Văn Trỗi sinh ngày 1-2-1940 tại làng Thanh Quýt,
huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Sau hiệp định Genève anh theo
gia đình vào Sài Gòn làm nghề thợ điện ở nhà máy đèn Chợ Quán.
Tại đây anh giá c ngộ cách mạng, tham gia vào tổ chức vũ trang biệt
động thuộc Đại đội Quyết tử 65, cánh tây nam Sài Gòn. Năm 1964
nhân dịp Tết Nguyên đán, anh ra căn cứ Rừng Thơm (thuộc huyện
Đức Hòa, tỉnh Long An) học chính trị và nghệ thuật đánh biệt động
tạ i nội thành.
Tháng 5-1964 chính phủ Mỹ cử một phái đoàn chính trị quân sự
cao cấp sang Sà i Gòn nghiên cứu tình hình miền Nam. Với lò ng căm
thù giặc, anh xin Ban chỉ huy quân sự biệt động cho anh thự c hiện
nhiệm vụ tiêu diệt phái đoàn này. Do bị lộ, trước giờ xe Mac Namara
chạy qua anh bị bắt. Trận đánh không thành, nhưng là một đòn cảnh
cáo đối với những hoạt động chuẩn bị leo thang chiến tranh của đế
quốc Mỹ . Mac Namara không dám ngồi ô tô vào Sài Gòn mà phải đi
bằng trực thăng.
Trong nhà lao, dụ dỗ không được, địch dùng nhiều cực hình
nhưng anh cương quyết không khai báo. Trước kẻ thù, câu trả lời duy
nhất của anh là : "Tôi nói với mấy người, tôi làm việc phải, tôi giết
bọn cướp nước thì dù nguy hiểm, thương tật hay hy sinh, tôi cũng vui
lòng. Tôi không thể sống như bọ n tay sai mong được an thân để làm
hại đồng bào!". Chính quyền Nguyễn Khánh đưa anh ra tòa án quân
sự kết án tử hình nhằm uy hiếp tinh thần chống Mỹ trong nhân dân
thời bấy giờ. Được tin nà y, phong trào cách mạng Vénézuéla tuyên

bố, nếu tử hình anh họ sẽ trừng trị ngay tên trung tá Mỹ mà họ đang
bắt giữ. Mỹ buộc phải cam kế t không tử hình anh. Nhưng khi tên
trung tá Mỹ vừ a được thả ra thì chúng trở mặt. Ngày 15-10-1964, bọn
đao phủ Mỹ ngụ y đưa anh ra pháp trường tại bãi bắn sau nhà lao Chí
Hòa. Trong phút cuối cùng của đời mình, anh giật phắt mảnh băng
đen mà kẻ thù bịt mắt và dõng dạc nói : "Không, phải để tôi nhìn
mảnh đất này, mảnh đất thân yêu của tôi!". Và anh hô to : "Hãy nhớ
lấy lời tôi! Đả đảo đế quốc Mỹ!" "Hồ Chí Minh muôn năm!" "Việ t Nam
muôn năm!"
Anh hy sinh lúc 9 giờ 45 phút ngày 15-10-1964 hưởng dương 24
tuổi. Sau khi hy sinh, anh được Đảng nhân dân cách mạng miền Nam
truy nhận là Đảng viên và truy tặng Huân chương thành đồng hạng
nhất.
(Hỏi và đáp 300 năm Sài Gòn - TPHCM)

Chán đời đi lang thang !
0
TRẬN TIẾN CÔNG PHỦ TỔNG THỐ NG
Tết Mậu Thân 68 - Trận tiế n công "Phủ tổng thống" (giờ G,
ngày N trên toàn miền được quy định là 00 giờ đến 2 giờ ngày
31/1/1968 (đêm mùng 1 sáng mùng 2 Tết) lực lượng tiến công "Phủ
tổng thống" (Dinh Độc Lập) gồm 15 chiến sĩ đội 5 (có 1 nữ) do Trương
Hoàng Thanh chỉ huy. Lúc 1 giờ 30 phút sáng, từ số nhà 280/70 Trần
Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần), lự c lượng xuất phát với 3 xe hơi nhỏ và
một honda (có 1 xe hơi chứa chất nổ để phá hủy mục tiêu). Gầ n đến
Dinh Độc Lập ở phía đường Nguyễn Du, lính gác địch phá t hiện bắt
dừng lại. Đoàn xe cứ tiến, chúng la lên báo động. Các chiến sĩ đi trên
xe đầu tiên nổ súng diệt mấy tên này và dùng bộc phá để phá cổng
cho xe chứa chất nổ lao vào, tiếc rằng bộc phá không nổ do trục trặ c
kỹ thuật. Tuy vậy, tổ đột phá đã lọt vào được bên trong. Địch bắn xối
xả, 2 chiến sĩ hy sinh, số còn lại phải tạm lui, hai bị thương. Địch từ
các phía bên trong ập tới bịt kín các cổng. Cá c tổ xung kích buộc phải
triển khai đội hình chiến đấu trên đường Nguyễn Du. Từ phía Đông
xuất hiện 1 toán 7 tên Mỹ, theo sau có 7 xe Jeep chở đầy lính đang
lao tới. Các chiến sĩ dùng B40 bắn cháy cả hai xe và dùng AK quét
sạch đám chạy bộ. Ngay sau đó trên đường Thủ Khoa Huân lại xuất
hiện 1 xe Jeep chở lính cũng đang lao tới. Đợi chúng đến thật gần,
chiế n sĩ ta liên tiếp đánh 5 lựu đạn, diệt tất cả địch trên xe. Như vậy,
sau 30 phút, đội 5 diệt 3 xe Jeep và khoả ng 20 tên địch. Địch kéo đến
mỗi lúc một đông, có cả xe bọc thép. Thêm một số chiến sĩ hy sinh. Đã
3 giờ sáng, không thấy tiểu đoàn bộ binh mũi nhọn và thanh niên,
sinh viên kéo đến tiếp sức như kế hoạch. Đến 4 giờ sáng thêm đội
trưởng Trương Hoàng Thanh hy sinh. Gần sáng điểm lại còn 8 người,
anh em rút vào số nhà 56 Thủ Khoa Huân và tổ chức cố thủ trên lầu
3. Đói, mệt, giữa vòng vây giặc, 8 chiến sĩ ngoan cường, chiến đấu
suốt cả ngày 31 tháng 1 năm 1968 tức mồng 2 Tết (trong đó có nữ y tá
Chín Nghĩa). Quân ngụy dùng thang cứu hỏa leo lên lầu. Anh em
chiế n đấu đến viên đạn cuối cùng, tháo súng, vứt bỏ, lại dùng gạch
đá, gỗ chặn địch. Đồng chí Lê Tấn Quốc (Bả y Rau muố ng), với khẩu

AK làm nhiệm vụ chốt chặ n ở cầu thang đã anh dũng hy sinh. Mờ
sáng hôm sau, 7 chiến sĩ còn lại lên sân thượng chuyển qua ngôi nhà
kế tiếp và tiếp tục di chuyển. Đến ngôi nhà 108 đường Gia Long
(đường Lý Tự Trọng bây giờ), tất cả rơi vào tay giặc. (Liệt sĩ Lê Tấn
Quốc được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang).
(Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định
kháng chiến 45 - 75 - NXB TPHCM 1994)

Chán đời đi lang thang !
0
CHI BỘ HỒ CHÍ MINH
VÀ TRẬN ĐÁNH TOÀ ĐẠI SỨ MỸ
Khoả ng hơn 12 giờ đêm mồng Mộ t Tết một thanh niên đi
mobylette xanh đến quán Phở Bình (số 7 đường Yên Đổ). Đó là đồng
chí Ngô Văn Vân tứ c Ba Đen người chỉ huy tổ biệt động đánh vào tòa
đại sứ Mỹ. Chủ quán phở Bình là ông Ngô Toại một cơ sở cách mạng
đã bố trí nhà mình thành trung tâm liên lạc bí mậ t của một bộ tư
lệnh tiền phương bao gồm : biệt động võ trang Thành Đoàn, tham
mưu, chính trị, binh vận và hậu cần. Nơi đây trướ c mặt đại tá
Nguyễn Đức Hùng, Ba Tam (tức Tư Chu) tham mưu trưởng khu Sài
Gòn - Gia Định năm 68 - đồng chí Ngô Văn Vân thay mặt toàn đội
cảm tứ củ a đoàn biệt động F.100 hạ quyết tâm hoàn thà nh nhiệm vụ
trong trận đánh chiếm tòa đại sứ Mỹ. Đội cảm tử này được đặt phiên
hiệu là D5 gồm 17 đồng chí đặt dưới sự lãnh đạo của một chi bộ mang
cái tên vinh dự là Chi bộ Hồ Chí Minh, do đồng chí Ngô Văn Vân là
chỉ huy trưở ng kiêm bí thư, đồng chí Uút Nhỏ phó bí thư, hai đồng
chí Bảy Tiến và Sơn là chính trị viên. Giờ nổ sú ng được quy định :
chậm nhất là 3 giờ sáng phải đánh chiếm và giữ cho đến rạng đông sẽ
có các đơn vị mũi nhọn đến tăng viện.
2 giờ 45 phút : Toàn đội biệt động D5 ngồi trên ba chiếc du lịch
từ phía đường Mạc Đĩnh Chi quẹo qua đường Thống Nhất, rà sát
trước tòa đại sứ Mỹ. Xe chưa ngừng hẳn mấy loạt AK đã lia vào cổng
chính. Hai tên lính Mỹ gác cổng vội thụt vào bên trong và nhanh tay
đóng sập cánh cửa thép khóa lại. Bên ta hai chiến sĩ biệt động khác
nhanh nhẹn nhảy xuống xe ôm bộc phá đến đánh sập một lỗ hổng
trên vách tường tòa đại sứ chỗ gần bót gá c ở góc đường Mạc Đĩnh Chi
- Thống Nhất. Theo đột phá khẩu, toàn đội tràn và o chiếm lĩnh trận
địa bên trong. Mũi thứ nhất khống chế cổng chính. Mũi thứ hai kiểm
soát cổng phụ bên đường Mạc Đĩnh Chi. Mũi thứ ba do đồng chí Ba
Đen chỉ huy đánh thẳng vào trung tâm "Tòa Nhà Trắ ng" này. Nói thì
lâu nhưng diễn biến đó chỉ xảy ra trong vòng chưa đầy hai phút hầu

hết các đòn tiến công của biệt động thành đều mở đầu như vậy - bất
ngờ và thần tốc từ chiến lượ c đến chiến thuật.
2 giờ 47 phú t : Hai quân cảnh Mỹ một là Charles Daniel, một là
William Sebast ban nãy thoát chết trong đường tơ kẽ tóc vừa lọt vào
bên trong đã gọi điệ n thoại báo động. Chúng phát "Tín hiệu số 300" -
mật hiệu ngắn nhất của quân cảnh Mỹ có nghĩa là "Bị Địch Tấn
Công". Nhưng Daniel chỉ kịp gào lên hai lầ n trong máy : "Chúng
đang tràn vào tràn vào. Cứu với! Cứu vớ i!" - Rồi im tiếng. Liên lạ c
điện thoạ i đã mất. Một băng đạn AK đã quạt vào đầu hắn phá hủy
luôn máy điện thoại. Sebast cũ ng chết gục tại chỗ vì một băng đạn trổ
qua ngực.
3 giờ 5 : Một xe Jeep của quân cảnh Mỹ đi tuần bắt được "Tín
hiệu 300" vội từ hướng Dinh Độc Lập chạy tới. Hai quân cả nh Mỹ -
một là Jonnie Thomas, một là Owen Mebust - vừa từ trên xe nhả
xuống đã bị bắn gục ngay tại chỗ. Bên trong các chiến sĩ biệt động
chiế m lĩnh tầng dưới một cách dễ dàng bắt được một số từ binh gồm
quân cảnh và lính thủy đánh bộ Mỹ lại đánh lên lầu ba lầu bốn bắt
thêm một số tù binh nhốt cả vào phòng. Số tù nhân này cả quân sự
lẫn dân sự, Mỹ có Việt có. Khi đã đầu hàng chúng đều được tha chết.
(Ngay cả những phút ngặt nghèo nhất sau đó các chiến sĩ biệt động
vẫn chấp hành đú ng chính sách, không thèm sát hại một mạng nào).
3 giờ 30 đến 4 giờ : Xe hú còi vang ngoài đường. Địch đã điều
động các lự c lượng hỗn hợp Mỹ ngụy đến phản kích tái chiếm Tòa Đại
sứ. Chú ng không dám đột phá vào cổng chính mà bố trí hỏa lực mạnh
từ một cao ốc đối diện bắn sang. Bên trong ta vẫn làm chủ trận địa.
Ba Đen dẫn một tổ sục sạo khắp các phòng ốc trên lầu ba để tìm bắt
sống đại sứ Mỹ Ellsworth Bunker. Anh có biết đâu rằng lão già "tủ
lạnh" này đã được nhân viên bảo vệ đưa ra khỏi Tòa Đại sứ theo một
lối đi bí mậ t để sau đó trốn vào phòng ngủ của Leo Crampsay, một
tên trùm mật vụ, nhà ở đường Pasteur. Gặp một căn phòng kiên cố
cửa đóng im ỉm, tổ Ba Đen bắn vào đấy một quả B.40. Bên trong
không có người mà chỉ toàn hồ sơ mật bị bốc cháy.
5 giờ sáng : Giặc vây bốn phía. Quân cảnh Mỹ học theo cách của
biệt động phá một lỗ hổng khá c ở tường tràn vào bố trí hỏa lực ở các
bồn cỏ cao trong sân. Quân ta di động trong sân đánh trả Ba Đen
nhìn đồng hồ; đã qua hơn hai giờ chiếm giữ. Chi bộ Hồ Chí Minh đã

hoàn thành nhiệm vụ đúng thời hạn trên giao. Trời đã hừng đông
nhưng viện binh đâu? Ba Đen than thầm : "Các anh ơi! Hãy đến
nhanh. Nếu chậm thì đơn vị cảm tử của chúng tôi sẽ không còn mấy
người".
5 giờ 30 : Trực thăng củ a sư đoàn Kỵ binh không vậ n 101 ầm
ầm quần đảo trên nóc Tòa Đại sứ. Súng ở dưới bắn lên dữ dội. Máy
bay chuồn mất. Nhưng bên cổng Mạc Đĩnh Chi đã không còn nghe
tiếng súng củ a các chiến sĩ ta. Trong tổ của Ba Đen lại thêm đồng chí
Vinh, hy sinh vì bắn quả B.40 cuối cùng trong góc phòng chật hẹp vì
nghi trong phòng có lão già Bunker.
6 giờ : Nguyễn Văn Luận, Trung tá giám đốc Cảnh sát Đô thành
điều động bộ hạ đến tiếp tay cho Mỹ. Từ trên lầu nhìn xuống cá c
chiế n sĩ ta thấy cả một rừng phóng viên báo chí nhiếp ảnh, quay
phim...
7 giờ : Trời sáng rõ. Lính Mỹ mang mặt nạ đầu heo xuất hiện
tấ n công các chiến sĩ biệt động bằng lựu đạn cay.
7 giờ 20 : Hãng tin Mỹ AP bắt đầu loan tin do ký giả danh tiếng
Peter Arnett từ Sài Gòn điện về New York : Việt cộ ng đã chiế m lĩnh
bên trong Tòa Đại sứ". Các hãng thông tấn khác cũng tới tấ p đưa tin.
Cả thế giới đã biết và đang hồi hộp theo dõi trận đánh của biệ t động
Sài Gòn.
8 giờ : Trực thăng quay trở lại đổ quân lính Mỹ từ sân thượng
dồn hỏa lực đánh xuống. Uút Nhỏ, Sơn, Văn bị thương vẫn chiến đấu
quyết liệt. Bên ta đã gần hết đạn. Phía Mỹ thêm một tên bị hạ. Đó là
James Marehall, hạ sĩ quân cảnh. Tên này chết gục trên sân thượng.
Lính Mỹ tiếp tục tràn xuống.
8 giờ 30 : Đồng chí Mang bắn phát B.40 cuối cùng của đời mình
cam chịu hy sinh vì sức ép của đạn lõm để tạm thời đẩ y lui thêm một
đợt phản kích của giặc.
9 giờ : Địch tràn ngập. Bên ta, toàn đội cảm tử đã chiến đấu đến
viên đạn cuố i cùng. Tất cả mười bảy người đều thương vong. Sau này
chỉ còn mộ t người may mắn sống sót và bị bắt làm tù binh. Đó là đồng
chí Ba Đen.

Những chi tiết trong trận đánh này về phía ta do đồng chí Ba
Đen kể lại. Thờ i điểm, giờ giấc và các tình tiết phía bên địch do nhà
báo Mỹ Don Oberdorfer tường thuật trong quyển sách nhan đề là
"TET" nói về Mậu Thân - sách bán chạy nhất năm 1972 ở Mỹ.
Sau ngày giải phóng; đồng chí Ba Đen có lần tâm sự :
"Cho đến nay tôi vẫn không quên những hình ả nh má u lửa của
trận đánh Tòa Đại sứ Mỹ. Suốt đời nhớ từng gương mặt, từng lời nói.
Tôi thường nghĩ : các tướng lãnh chỉ huy hàng chục vạn quân khi
phải hy sinh mười mấy chiến sĩ không biết có vấn đề gì đọng lại trong
trái tim của các đồng chí ấy không? Còn tôi chỉ huy có 16 người và đã
hy sinh cả 16. Toàn đội đã làm tròn nhiệm vụ nhưng con số 17 - 16
mà hỡi ôi! Một người còn sống sót đó lại là tôi"...
Đấy là lời cuối cùng để kết thúc trận đánh. Đánh Tòa Nhà
Trắng ở phương Đông mà chấn động cả Tòa Nhà Trắng ở phương
Tây.
(Nguyễn Lê Thu An - trong sách Mậu Thân Sài Gòn NXB Trẻ - 1988)

Chán đời đi lang thang !
0
TRẬN ĐÁNH ĐÀI PHÁT THANH SÀI GÒN
Lực lượng tấn công Đài phát thanh Sài Gòn gồm 12 chiến sĩ đội
4 biệt độ ng do Nguyễn Văn Tăng, cụ m trưởng cụm 3-4-5, phụ trách
chung, Năm Lộ c trực tiếp chỉ huy. Vũ khí được ém tại nhà vợ chồng
đồng chí Trần Phú Cương (Năm Mộc), Trần Thị Út số 65 đường
Nguyễn Bỉnh Khiêm quận I (tiệm may Quốc Anh), xuất phát tại đấy
là một tổ đi bộ, 2 tổ đi xe (1 xe Toyota và 1 honda) lúc 2 giờ 59 phút.
Vừa tiếp cận mục tiêu, mới bước xuống xe, địch đã nổ súng, đồng chí
Trần Phú Cương bị thương nặng, trước khi tắt thở, đồng chí động
viên đồng đội tiến lên. Sau 3 phút chiến đấu, ta đã làm chủ Đài phát
thanh. Yý định của ta là dập tiếng nói của địch, đồng thời dùng
phương tiện của địch vừa chiếm đượ c phát đi tiếng nói của cách mạng
động viên tinh thần, sĩ khí của quân dân thành phố và toà n miền
Nam tiến lên giành thắng lợi quyết định. Thế nhưng sau khi chiếm,
kỹ thuật viên của ta đã bị địch ngăn chặn không đến được, kỹ thuật
viên của địch thì đã bỏ chạy, nên kế hoạch không thực hiện được.
Trong khi đó, trực thăng của địch đã xuất hiện và kêu gọi đầu hàng
(!), 15 phút sau từ hướng Đa Kao, một đoàn xe thiế t giáp địch lao tới.
Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt đến sáng. Đội 4 đánh thiệt hại 1 đại đội
lính dù, 1 trung đội an ninh thủ đô ngụy. Nhưng nhiều cán bộ chiến
sĩ lần lượt hy sinh. Không có lực lượng mũi nhọn Phân khu 5 và lực
lượng thiết giáp địch làm binh biến đến tiếp cứu như hiệp đồng. Các
chiế n sĩ biệt động trước lúc hy sinh dùng 20 kg thuốc nổ phá hủy hệ
thống má y móc của đài. Tậ p thể 4 đồng chí đã hy sinh ở Đài phát
thanh : Năm Lộc, Bảy Thân, Nhẹ, Hồng. Sáng hôm ấy, trong dòng
người tiến về Đài phát thanh, chị Trần Thị Út, vợ đồng chí Năm Mộc,
hết sức bàng hoàng, tận mắt thấy địch khiêng xác chồng mình quăng
lên xe, chị cố nén đau thương để không cất lên tiếng khóc. Quay trở
lại nhà, chị bình tĩnh và thông minh trước tình huống địch đang bao
vây, khám nhà, đặt máy nghe trộm... trong lúc 2 cán bộ ta về được
còn trong hầm bí mậ t. Mãi đến sáng ngà y 3 tháng 2 tức mùng 5 Tết,
chị mới tổ chức được cho các anh Tư Tăng và Ba Tẻo thoát ra được

khỏi nhà về căn cứ an toàn. Đêm hôm đó, chị Uút độn bụng giả làm
người đi nhà thương sinh đẻ để thoát khỏi ngôi nhà, đến tạm trú nhà
chú ruột là Trần Văn Trổ ở đường Trần Quý Cáp. Ngày 10 tháng 2
năm 1968, địch khám xét, lục lọi nhà chị một lần nữa, phát hiện được
hầm bí mật, nhưng mọi việc đã rồi.
Cuối năm 1969, với tấm căn cước thật mà địch đã cấp mang tên
Trần Thị Liên, chị Út hợp pháp trở lại Sài Gòn với cương vị đội
trưởng một đội trinh sát gồm 20 chiến sĩ hoạt động trong thành phố,
cho đến ngày Sài Gòn giải phóng.
Trận đánh Đài phát thanh Sài Gò n đã làm câm tiế ng nói gọi là
"Tiế ng nói Việt Nam Cộng hòa" từ những giờ phút đầu ta đồng loạt
tấ n công Tết Mậu Thân vào Sài Gòn. Đồng chí Trần Phú Cương sau
được tuyên dương anh hùng.
(Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định
kháng chiến 45 - 75 - NXB TPHCM 1994)

Chán đời đi lang thang !
0
QUẦN CHÚNG THAM GIA
ĐỢT TẤN CÔNG NỔI DẬY VÙNG CẦU THO
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968)
quần chúng công nhân và lao động, dưới sự chỉ đạo chung đã phối
hợp chặt chẽ với Quân Giả i phóng chiến đấu dũng cảm và làm chủ
nhiều khu xóm lao động trong cả các đợt một và hai.
Riêng trong đợt hai (5-1968). Trước giờ hành động, công tác
chuẩn bị của quận ủy và các chi bộ được tiến hành khẩn trương, có
kiểm tra nhiều lần khá chu đáo. Lự c lượng nòng cốt tại chỗ gồm 30
đảng viên và đoàn viên thanh niên, 40 quần chúng tích cực kể cả
những người bị lộ trong đợt một nay trở về hoạt động.
Công tác tuyên truyền, vận động được tiến hành khá tốt : treo,
dán cờ Mặt trận, rải truyề n đơn nơi công cộng, phát truyền đơn vào
tậ n nhà dân, gửi thư cảnh cáo bọn thám báo ác ôn, v.v...
Trong mộ t thờ i gian ngắn, đã vận động thêm được 10 gia đình
nhận chứa người, 10 gia đình khác nhận chứa người và vũ khí. Vũ
khí đượ c đưa từ ngoài vào gồm 80 súng các loại AK, K54, B40 có đủ
cơ số đạn, 200 ký thuốc nổ TNT. Ngoài ra còn chuẩn bị được 40 lá cờ
lớn, hàng trăm lá cờ nhỏ, 30.000 truyền đơn, 4 micro pin, 15 xà beng,
15 cuốc và cúp để đào công sự. Trong lú c chuẩn bị có 12 ngườ i bị mất
liên lạc hoặc bị bắt lính nhưng không lộ kế hoạch. Lực lượng nòng cốt
còn 58 người gồm 18 người từ ngoài vào và hai phầ n ba là nữ thanh
niên. 21 giờ của đêm nổi dậy, ta mở kho súng phân phát cho lực lượng
vũ trang và bao vây sẵn nhà bọn ác ôn. Địch vẫn canh phòng nghiêm
ngặt ngoài đườ ng lớn nhưng không sục sạo vào xóm. Đến giờ G, pháo
của Quân Giải phóng nổ rất ít nhưng ở đây vẫn hành động theo kế
hoạch.
Việc đầu tiên là diệt ác ôn, chiếm lĩnh trận địa, phát loa kêu gọi
đồng bào nổi dậy lật đổ chính quyền, giành quyền làm chủ. Cả một

vùng rộng lớn bao gồm nhiều xóm lao động đã thức dậy bật đèn, mở
cửa. Một số rất đông các gia đình tự phá bảng liên gia, xé các áp
phích chống cộng của địch, cùng lực lượ ng vũ trang bắt cảnh cáo bọn
liên gia trưởng, khóm trưởng, đồng thờ i tham gia dựng chướng ngại
vật và đào công sự chiến đấu trên đường Đề Thám. Thanh, thiếu niên
nhận truyền đơn và cờ đi tán phát trên các đường phố lớn.
Khoả ng 300 gia đình vùng Bến Chương Dương, Cầu Kho chuẩn
bị để sáng đi biểu tình, nhưng do phải chiến đấu vũ trang nên không
thực hiện được. Đến 3 giờ sáng, ta đánh vào Chi khu cảnh sát Cầu
Kho trong lúc tiếng loa hô vang làm chúng hoảng sợ. Cho đến 8 giờ
sáng, địch mới điều được hai đại đội cảnh sát dã chiến, mộ t đại đội
biệt độ ng quân và ba xe bọc thép đến đàn áp cuộc nổi dậy. Lực lượng
địch gấp hàng chục lần lự c lượng ta, nhưng ta vẫn cố thủ và đánh trả
nhiều đợt tiến công của địch. Dựa vào công sự chiến đấu và nhờ
chiế m được điểm cao, ta đã dũng cảm chố ng trả cuộc phản kích của
địch. Đến gần trưa, địch phải dùng xe bọc thép ủi sập nhà đồng bào
và phá được phòng tuyến của ta. Quân ta xông ra đánh xáp lá cà với
chúng, trong lúc đó đồng bào tràn ra là m công tá c binh vận, kêu gọi
chúng đừng bắn vào đồng bào và cản địch để ta rút quân vì chênh
lệch lực lượng quá lớn.
Cuộc nổi dậy tuy mới ở mức đó nhưng thể hiện khả năng và
tinh thần quần chúng khu xóm lao động rất cao, có thể nổi dậy ngay
giữa trung tâm thành phố và ngay lúc nổi dậy, đồng bào vẫn có khả
năng duy trì thế hợp pháp để bảo toàn lực lượng. Đó là những cuộc
tập dượt cho cuộc Tổng tiế n công và nổi dậy mùa Xuân 1975.
(Theo sách Chung một bóng cờ)

Chán đời đi lang thang !
0
WESTMORELAND VIẾT VỀ MẬU THÂN
William C. Westmoreland, gọi tắt là Wesly - tướng bốn sao, giữ
chức tư lệnh quân đội Mỹ ở Việt Nam. Trong thời gian ở Việt Nam,
Wesly có nhà riêng tại số 60 đường Trần Quý Cáp (nay là đường Võ
Văn Tần quận 3, TP. Hồ Chí Minh). Sau những thất bại chiến lượ c
chiế n thuật trên chiến trường miền Nam, nhất là sau "sự thất bại bất
ngờ" của đợt I Mậu Thân, Westmoreland bị cách chức ngày 23-3-
1968.
Sau đây là những giòng tâm sự của Westmoreland trích từ tập
bút ký nhan đề "Tường trình của một quân nhân" - một tài liệu tham
khảo thú vị.
Người Mỹ không có cái lễ nào giống với cái Tết của Việt Nam
bắt đầu từ ngày đầu năm âm lịch - dù là lễ Noel, lễ tạ ơn hoặc ngày 4-
7 cũng không đủ nói lên tầm quan trọng mà người Việt Nam gắn cho
những ngày Tế t của họ...
Tết bắt đầu vào hôm trước ngày đầu năm Âm lịch : năm 1968,
năm con Khỉ. Mồng Một Tết tương ứng ngày thứ hai 29 tháng 1
Dương Lịch. Hôm đó năm mới bắt đầu và sau đó là một chuỗi ngày
nghỉ quan trọng nhất kéo dài cả tuần lễ. Có thể vì cuộc chiến tranh
đang tiến triển tốt và một chính phủ dân chủ muốn chứng minh sự
thông cảm với nhân dân nên chính phủ Sài Gòn đã hủy bỏ lệnh cấm
đốt pháo được thực hiện từ nhiều năm nay. Đối với người Việt Nam,
pháo đồng nghĩa với Tết...
Sợ rằng việc mở đầu cuộc tấn công sẽ làm cho máy bay Mỹ trở
lại quấy rối lễ Tết ở Hà Nội, chính phủ Bắc Việt Nam đã đề ra chỉ thị
thay đổi ngà y Tết. Đáng lẽ ngày Mồng Một Tết là vào thứ ba 30-1 thì
nó lại được lùi lại vào tháng thứ hai 29-1 như vậy có nghĩa là đêm
giao thừa ở Hà Nội sẽ bắt đầu từ chủ nhật 28-1 : Làm như vậy là đã
cho người Việt Nam ở miền Bắc có ba ngày Tết quan trọng trướ c khi

binh lính của họ ở miền Nam đi vào cuộc tấn công thực sự bắt đầu
vào ngày 31-1...
Lúc những tháng mùa thu đã trôi qua, ngà y càng có những dấu
hiệu chứng minh là đang hình thà nh một hình thức thay đổi nào đó,
có lẽ là thay đổi lớn. Sự dẻo dai được thể hiện ở Lộc Ninh trong tháng
10 và Dakto trong tháng 11 có tính chấ t khác thường. Số lượng cá c
trận tấn công gia tăng trong cả nước. Số người đầu hàng theo chương
trình chiêu hồi giảm xuống rõ rệt. Lực lượng địch ở khu phi quân sự
tăng lên. Số xe vận tải phát hiện dọc đường mò n Hồ Chí Minh tăng
200 phần trăm.
Theo tôi, trong giai đoạn này, cách là m lô gích nhất đối với địch
là nỗ lực đánh tràn vào hai tỉnh phía Bắc kết hợp các cuộc tấn công
nhỏ khắp nơi để tìm cách giam chân các lực lượng Mỹ không cho tăng
viện ra phía Bắc...
Rất dễ hiểu là hầu hết báo chí, bộ chỉ huy của tôi và các quan
chức Washington đều chăm chú vào Khe Sanh. Đó là một mục tiêu
đương nhiên nếu họ muốn luồn qua các đồn bót vùng phi quân sự để
tiến sâu vào Quảng Trị. Khe Sanh là một vị trí cô lập và có nhiều đặc
điểm giố ng như Điện Biên Phủ để kích thích các chiế n lược gia bàn
giấy. Sau đó tôi được biết tổng thống Johnson đã bắt đầu chăm chú
đến nó. Tướng Taylor đã thành lập một phòng tình hình đặc biệt ở
Nhà Trắng để theo dõi và phân tích cá c độ i hình của Mỹ và của địch
kết hợp với một bức ảnh lớn chụp bằng máy bay và một sa bàn vùng
Khe Sanh. Tổng thống yêu cầu tướng Wheeler nộp một bản báo cáo
về cách thức bảo vệ Khe Sanh, dẫn tới một chuyện giả tạo là tổng
thống yêu cầu hội đồng tham mưu trưởng liên quân "ký tên bằng
máy" cam kết bảo vệ Khe Sanh...
Tết càng đến gần, tôi càng lo lắng trước việc địch tăng cường
binh lực ở phía Bắ c Khu phi quân sự và ở Lào và tranh thủ lệnh
ngừng bắn để chuyển quân ví dụ mới nhất là địch dù ng máy ủi đất để
xây dựng một con đường ở thung lũng A Sao hướng về Huế.
Theo yêu cầu của tôi, đại sứ Bunker đã yêu cầu Washington cho
hủy bỏ hoàn toàn việc ngừng bắn ở hai tỉnh phía Bắ c và nếu
Washington ngừng ném bom ở đâu thì ngừng nhưng vẫn cứ tiếp tục ở
hai tỉnh ấy. Cả Washington và tổng thống Thiệu đều tán thà nh. Để

địch có ít thời gian thích ứng với việc hủy bỏ lệnh ngừng bắn này,
chính phủ Nam Việt Nam đã hoãn thông báo cho tới sáng thứ hai 29-
1, tức 24 giờ trước khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực. Nhưng buổi sáng
đã trôi qua mà không có lệnh hủy bỏ. Tôi gọi điện thoại cho sứ quán
để yêu cầu chính phủ Nam Việt Nam bảo văn phòng báo chí của họ ra
thông báo. Nhưng văn phòng này đã đóng cửa nghỉ Tết. Tổng Thống
Thiệu đã đi Mỹ Tho ăn Tết ở quê vợ.
Một thái độ như vậy của phía chính phủ thật là đáng kinh ngạ c
và thất vọng nhưng đó là dấu hiệu cho thấy một trạng thái tinh thần
gần như hể hả, hí hửng đang bao trùm lên ngườ i Việt Nam vào ngày
Tết...
Làm thế nào mà báo động cho mọi người biết khi mà báo chí,
quốc hội và Nhà Trắng đang lo chuyện Khe Sanh và tác động có thể
của việc ngừng ném bom để thúc đẩy cuộc thương lượng? Bắc Việt
Nam đã vạch ra một bài bản khôn khéo trong đó có việc đe dọa Khe
Sanh rồi đánh tiếng khôn ngoan về vấn đề thương lượng? Thế rồi...
Lúc 12 giờ 35 phút sáng 30-1, hơn nửa giờ sau khi năm con Khỉ
bắt đầu, các pháo thủ cộng sản đã bắn 6 phát súng cối vào Trung tâm
huấn luyện Hải quân ở Nha Trang. Một giờ sau, lúc những người ăn
Tết đang dạo chơi trên đường phố Buôn Mê Thuột thì mộ t loạt súng
và rốc kết nã vào thành phố, sau đó là cuộc tấn công của 2 tiể u đoàn.
Đồng thờ i một tiể u đoàn địch đánh vào quận lỵ Tân Cảnh, gần Dakto.
Nửa giờ sau, 3 tiể u đoàn tấn công vào Nha Trang. Chưa đầy một giờ
sau đó, cuộ c tấn công diễn ra ở Hội An. Và tại Đà Nẵng, một đại đội
đánh vào Sở chỉ huy quân đoàn I của Việt Nam. Đến 4 giờ 10 phút
sáng, 2 tiểu đoàn Việt Cộng tấn công ngoại ô Quy Nhơn rồi nhanh
chóng thâm nhập chiếm đài phát thanh của chính phủ . Đến 4 giờ 30
phút cuộc tấn công mà người ta chờ đợi từ lâu đã diễn ra khiế n tướng
Vĩnh Lộc vội vã từ Sài Gò n trở về, hình như lo cho biệt thự của ông
hơn là lo cho trận đánh...
Mà lời cảnh cáo của các cuộc tấn công quá sớm đó đưa ra không
kéo dài, nhưng là một lời cảnh cáo đầy đủ Philippe Davidson nói với
tôi : "Nó sẽ xảy ra khắp cả nướ c đêm nay hoặc sáng mai".

Vào giữa buổi sáng 30-1, tổ ng thống Thiệu thông báo hủy bỏ
việc ngừng bắn khắp cả nước, mặc dầu đài phát thanh suốt ngày hôm
đó ra lệnh cho tất cả quân nhân Việt Nam trở về các đơn vị của họ
nhưng ít ai thi hành. Các cuộc tấ n công mà chúng tôi đã dự kiến và
một số cuộ c mà chúng tôi không dự kiến đã diễn ra, kể cả cuộc tấn
công của đặc công vào tòa đại sứ Mỹ.
Tôi mặc quần áo và đứng cạnh máy điện thoại ở nhà tôi. Cuộc
tấ n công vào sứ quán là đáng tiếc. Nhưng dù địch đã kiểm soát từng
tấ c đất trong sứ quán, điều đó vẫn không ảnh hưởng đến hoạt động
quân sự của Mỹ và nhân viên sứ quán đã có địa điểm thay thế ở nơi
khác trong thành phố. Đáng lo ngại nhất về mặt quân sự là các cuộ c
tấ n công vào Tân Sơn Nhất. Khu vực Bộ Tổng Tham mưu và những
cuộc tấn công khác đã diễn ra trong các thành phố trong cả nước...
Lúc đó là 8 giờ 30 phút sáng, tôi lái xe đến sứ quán. Cũ ng giống
như bất cứ chiến trường nào, khu sứ quán thật là hỗn độn, xác người
Mỹ và người Việt ngổn ngang. Nhưng không giống như hầu hết chiến
trường, ở đây các nhà báo và nhà quay phim vô tuyến truyền hình
Mỹ hình như có mặt khắp nơi. Nét mặt họ ánh lên nỗi buồn bực và
tuyệt vọng như thể đã đến ngày tận thế...
(Theo sách Mậu Thân Sài Gòn - NXB Trẻ 1988)

Chán đời đi lang thang !
0
MẬU THÂN TRÊN MẶT BÁO
Vào thời điểm bình thường, Sài Gòn có 39 tờ báo, mỗi ngày phát
hành 800.000 số. Điểm lại những tờ báo cũ Tết Mậu Thân 1968
chúng ta thấy :
• Báo Chính Luận (số Tất niên 27-01-1968). Về chiến sự
Thiệu có phần lạc quan hơn : "Từ những chiến dịch lớn
chuẩn bị chuyển sang tổng phản công năm 1965, địch đã
bị đẩy dần vào thế giằng co cầm cự vào năm 1966 và đến
nay dần dần rơi vào thế phò ng ngự... Các đơn vị cộng sản
đã bị đánh bật rễ khỏi các chiến khu kiên cố. 95% vùng
sản xuất lúa gạo và đông dân cư đã được kiểm soát trở
lại".
• Báo Sống Mới số Tất niên. Trang một dành trọn cho tranh
hí họa nhiều cả nh, nhiều nhân vật. Nào cảnh 15.000 quân
nhân được thăng cấp, còn sinh viên lại bị gọi lính. Cảnh
học sinh đâm thầy và cảnh "Quốc hội" họp hành bát nháo.
Cảnh binh lính Mỹ nghênh ngang đi đứng vì có luật pháp
riêng và cảnh bọn tham nhũng hoành hành...
Các trang báo cũ ng đã không cho biết được gì về những dấu
hiệu của một cuộc tập kích lớn sẽ bùng nổ ngay trong Têtở! Trong khi
ấy công nhân các cơ quan quân vận Mỹ, công nhân điện nước, công
nhân thương cảng đã bãi công từ cuối tháng 12. Trong khi ấy ở một
số trường đại học, sinh viên vẫn tiếp tục hội thảo chống sắc lệnh tổng
động viên họ, và tên Ngô Vương Toại, một sinh viên phản động, bị
biệt động Thành Đoàn bắn bị thương ngay ở diễn đàn Văn khoa trong
một cuộc tuyên truyền xung phong ở đây và o ngày 16-12.
Và trong khi ấy, Tết 1968 đã đến!

Chợ Tết đã mở, Báo Chính Luận vào những số cuối năm, nói
đến hội Tết của tổ chức "Thanh niên nguồn sống" ở 96 Lê Thánh Tôn,
hội Tết của "Việt võ đạo" ở sân Hoa Lư, chợ Tết của cựu chiến binh ở
đường Hiền Vương... nhưng không thấy nói đến một hội Tết có quy
mô gấp bội đang được chuẩn bị ở Học viện Quốc gia hành chánh. Đó
là Hội Tết Quang Trung do Tổng hộ i sinh viên Sài Gòn tổ chức, đó
cũng là địa điểm của Thành Đoàn "đăng cai" phát động khởi nghĩa
khi giờ G điểm.
Bí mật về cuộc tiến công trong Tết vẫn được giữ kín trước dư
luận.
Đợ t 1
Chiến sự xảy ra quá bất ngờ không chỉ làm cho các bộ phận
ngụy quân ngụy quyền lâm vào thế bị động mà các cơ quan báo chí,
nhất là báo in cũng bị lúng túng, tê liệt. Nhiều tờ bá o mãi đến giữa
năm 1968 mới gắng gượng xuất bản lại. Nội dung và hình thức in ấn
rất lôi thôi luộm thuộ m.
Tờ Chính Luận - nhật báo vẫn được tiếng "thân chính phủ", ít
đưa tin bài đố i lập, đã ra được sớm nhất, cũng sau nhiều ngày chiến
sự. Trên số ra ngày 8-2-1968 chỉ đưa những tin hiếm hoi về hoạt động
của quân giải phó ng : "Trưa 7-2 vẫn cò n đánh nhau tại khu Trần
Nhân Tôn, Sư Vạn Hạnh", "Việt cộng dùng thiết giáp từ Lào kéo về
tấn công căn cứ ở Quảng Trị".
Tin bài bị kiểm duyệt đục bỏ khá nhiều nên trên mặt báo trang
một, người đọc có cảm tưởng báo giống như một mảnh đất bị pháo
kích, chi chít những lõm trắng. Có cả một mẩu quảng cáo nước hoa
"Au printemps" đăng chình ình trên trang 1 để lấp bài! Những tin bài
nào đã bị bóc bỏ nơi những khoảng trống đó?
Một điều lý thú là ta có thể tìm thấy trên báo Chính Luận tin
và bài viết về hoạt động củ a "Ủy ban thanh niên cứu trợ đồng bào
nạn nhân chiến cuộc" với Trung tâm cứu trợ đặt ở số 4 Duy Tân!
Trưởng trung tâm này là sinh viên Lê Công Giàu. Báo cho biết Ủy
ban chỉ có 4 sinh viên Y khoa, 12 dì phướ c, một bác sĩ mà hoạt động
rất "trôi chảy". Nó đã phục vụ trực tiếp 200 người dù chỉ mới nhận

một ít gạo và dầu của Bộ Xã hội và đã tổ chức chương trình sinh hoạt
cho thiếu nhi để các em quên đi những cảnh đau lòng.
Lê Công Giàu là ai? Số 4 Duy Tân là địa điểm nào? Chỉ một thời
gian sau, người ta mới đượ c biết người cán bộ Tổng hộ i sinh viên ấy bị
tống giam vì là một "phần tử cộng sản" trong tổ chức Thà nh Đoàn. Và
đến ngày 3-8-1968 thì cảnh sát đã xông vào chiếm mất trụ sở 4 Duy
Tân một điểm hẹn tập hợp lực lượng đấu tranh của sinh viên học sinh
thành phố do những thanh niên cộ ng sản bí mật tổ chức.
Trong khi báo chí Sài Gòn hầu như không đưa tin nhiều và có
được cái nhìn khái quát về cuộc tập kích đợt I, thì các phóng viên
nước ngoài lại có vẻ "dễ ăn dễ nói" hơn.
• Báo Pháp Le Monde ngày 1-2-1968 đã đặt câu hỏi cho
người Mỹ: "Người Mỹ từng khẳng định rằng dân chúng
Việt Nam chịu đựng hơn là ủng hộ Mặt trận dân tộc giải
phóng, giờ đây liệu họ có thể nêu lên những lý lẽ như thế
nữa không sau khi đã xảy ra một cuộc biểu dương đáng
khâm phục về sức mạnh và lòng dũ ng cảm của Việt cộng
như vậy?".
• Báo Pháp Le Combat ra cùng ngày nói trên lại khẳng
định: "Điều hiển nhiên là người Mỹ đã thua đứt về mặt
chính trị trong cuộc chiến tranh này. Những gì đã xảy ra ở
Sài Gòn đủ cho thấy Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã nắm
được các tầng lớp nhân dân trong mức độ to lớn biết chừng
nào!". Đà i B.B.C. trong buổi phát ngày 6-2-1968 cho biết :
"Trong mấy ngày này, quân đội cộng sản thâm nhập đã ăn
cơm của nhân dân như người trong nhà họ".
Hãng thông tấn A.P của Mỹ dẫn lại lời kể của một Pháp kiều,
giám đốc Công ty BGI : "Hàng trăm thanh niên số ng ở vùng nhà máy
rượu Chợ Lớn đã đi theo Việt cộng và được phát băng đỏ đeo cánh tay
và được phát súng".
Thông tấn xã Reuter nhận xét "Điều có ý nghĩa nhất là Việt
cộng được sự ủng hộ của các nhân sĩ liên minh với Việt cộng".

Báo Time đã không để lỡ cơ hội chạy trước tờ Newsweek, nó đã
dành phần lớn số báo ra ngày 9-7-1968 cho chuyên đề "The days of
death in Vietnam" (Những ngày chết chóc ở Việt Nam). Hình bìa của
số báo này là bức họa chân dung đại tướng Võ Nguyên Giáp (báo
Time vốn có nét truyền thống là sử dụng tranh họa chân dung của
các nhân vật trên bìa báo!). Còn lại hơn 10 trang kế tiếp là tin bài
hình ảnh về cuộc tập kích Sài Gòn mới xả y ra. Báo đăng những tấm
ảnh màu ghi nhận quang cả nh tang thương của Tòa Đại sứ Mỹ sau
khi bị biệt động Sài Gòn đột nhập. Aónh lính Mỹ trúng đạn trên
đường phố Huế.
Báo Time có đoạn viế t : "Double Trouble!" (Họa vô đơn chí!)
Quân cộ ng sản đã tấn công đồng loạt Nam Việt Nam làm cho chính
Washington cũng choáng váng. Bởi vì trong khi mọi cặp mắt đều đổ
dồn về Khe Sanh nơi có 5 sư đoàn địch đang vây chặt như là một trận
đánh then chốt thì thật bất ngờ địch lại tấn công cùng lúc 38 thành
phố quan trọng, kể cả việ c đánh vào Tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn và
chiế m giữ nó sáu giờ rưỡi đồng hồ liền".
Báo Newsweek tuy tỏ ra chậm chân hơn nhưng để bù lại, đến số
11-3-1968, bá o này đã kịp cho ra mắt bài tổng luận "The Tet offensive
: how they did it" (Cuộ c tiến công Tết : họ đã tiến hành nó như thế
nào). Có lẽ đây là lần đầu tiên báo chí Mỹ dùng nguyên xi chữ Tết vào
ngôn ngữ tiế ng Anh để nói đặc thù của cuộc tấn công Tết Mậu Thân.
Sau này, nhiề u sách báo Mỹ đều dùng như vậy.
Cùng tuần, tờ Time số ra ngày 8-3-1968 có bài "Saigon under
siege" (Sài Gòn trong sự phong tỏa). Bài báo điểm ra nhiều chi tiết :
Các phương tiện giao thông công cộng đình trệ. Cơ sở chính quyền chỉ
làm việc ít tiếng đồng hồ vì sợ quân khủng bố Việ t cộng. Giá cả lên
cao. Bài báo nhận xét : "Sài Gòn chỉ sống có một nửa".
Một phát hiện khác của phóng viên báo Time là những chiếc áo
dài xuất hiện nhiều hơn trên đường phố thay cho những chiếc áo
diêm dúa, lai căng. Ở một số quán rượu ngườ i ta thấy có một thức
uống mang tên "Saigon tea" (Trà Sài Gòn) đã được chuyển thành
"Saigon - Hanoi tea".

Đi vớ i bài trên là tấm ảnh những cao ốc của Sài Gòn trong đêm
mà nhìn xa xa nơi ngoại ô là ánh chớp hỏa châu hay là những vệt đạn
đại bác cũng chính là hình ảnh của tâm trạng hoảng sợ phập phồng,
lo lắng bị giáng trả sau cuộc tiến công và nổi dậy vào ngày Tết.
Thế mà đợt 2 của "Việt cộng" lại tiếp tục nổ ra.
Đợ t 2
Đợ t 2 Mậu Thân bắt đầu vào ngày 5-5-1968. Sang tháng 6, lại
thêm một đợ t tiến công khá c. Cường độ chiến tranh trong thành phố
gia tăng dữ dội.
Hãng thông tấn AFP (Pháp) ghi nhận trong những ngà y đầu
tháng 5, máy bay Mỹ phải phóng bom lửa đốt hơn 16.000 nhà để
ngăn chặn quân giải phóng ở nhiề u khu vực. Mỹ còn dùng cả phá o đài
bay B.52 để rải thảm bom ở ngoại ô Sài Gòn. Hãng AFP nhận xét
"Trong 40 ngày qua, số bom Mỹ ném xuống vùng phụ cận ở Sài Gòn
đã bằng tổng số bom Mỹ ném ở Nam Việt Nam trong năm 1962, 1963,
1964. Còn hãng AP thì đưa tin : "Tại Sài Gòn, người ta nghe tiếng nổ
ầm ầm như sấm dậy của những quả bom 500 cân Anh, 700 cân Anh,
của 20 chiếc B.52 ném một triệu cân thuốc nổ!".
Sài Gòn phải đội lửa như vậy nhưng báo chí Sài Gòn không nói
hết chuyện ấy! Báo Sà i Gòn Mới, số ra ngày 7-5, cho biết giờ giới
nghiêm mới ở Sài Gòn là 7 giờ tốt và tòa đô chính phải kêu gọi đồng
bào đừng ra đường nếu không có chuyện cần thiết.
Tờ Trắ ng Đen ra ngày 8-5, chạy hàng tít lớn : "Nhiều trận đánh
(đục bỏ) còn tiếp diễn. Đại tá Lưu Kim Cương tư lệnh Tân Sơn Nhất
tử thương (...). Việt cộng pháo kích tấn công 116 nơi. Xáp lá cà ở góc
đường Đề Thám - Cô Giang. Việt cộng đánh ở đường Trần Quý Cáp,
Phó Cơ Điều, Tòa hành chánh quận 5, truyền đơn củ a liên minh
Trịnh Đình Thảo xuất hiện. 4 phóng viên ngoại quốc bị bắt ở đường
Minh Phụng".
Tờ Tia Sáng, có tòa soạn ở trong khu vực hành quân - nên ra
báo trễ - số ra ngày 7-5 có nhiều thông tin : "Theo BBC, Bắc Việt sẽ
cứng rắn ở Ba Lê (đục bỏ). Việ t cộng điều động (đục bỏ) để kéo dài
cuộc tấn công. Chợ Lớn, Thị Nghè và gần Tân Sơn Nhất là ba nơi có
đánh nhau trong ngày vừa qua, Phi cảng Sài Gòn đóng cửa".

Tờ tuần báo hiếu chiến Văn nghệ tiền phong số ra ngày 9-5-1968
có bài bình luận thời sự tán thành tổng động viên. Số kế tiếp, ra ngày
16-5, có bài lược thuật "Trận đánh Sài Gòn lần thứ 2". Riêng số ra ngày
23-5 thì có bài "tiết lộ" về những kỹ thuật quân sự của Mỹ để bảo vệ Sà i
Gòn. Nào là những "Bụi kim khí mắt thầ n" nào là các "luồng điện rada"
phát hiện cả đoàn quân... Song cuố i cùng bài viết này phải thừa nhận :
"Nhưng dầu sao thì việc bảo vệ thủ đô cũng cần rất sớm sự có mặt của
những đoàn biệt kích chuyên đánh trong thành phố. Điều này cần hơn
là các lực lượng nhân dân tự vệ. Nhân dân tự vệ là để phòng ngừa các
đoàn biệt kích thành phố là để đánh thật, ít thiệt hại".
Đề cao quân chính quy như vậy cũng phải vì lực lượng nhân
dân tự vệ đã tan rã.
Một sự kiện lúc này mà cả thế giới đã biết đến qua truyền hình
và bá o chí là cảnh thiếu tướ ng cảnh sá t ác ôn Nguyễn Ngọc Loan bắn
chết tù binh quân giải phóng ngay trên đường phố Sài Gòn. Hình ảnh
trên đã lột trần bản chất phi nhân phi nghĩa, hung hăng của những
tên tay sai Mỹ và do đó gây ra "phản tác dụng" trong dư luận của các
nước thế giới tự do, vốn bị ngợp choá ng bởi hình ảnh đế quốc Mỹ văn
minh bấy lâu!
Chính vì vậy mà báo Time số 7-1968 khi viết về sự kiện này đã
cố gắ ng lồng vào một lời thanh minh bên tấm ảnh Loan trỏ súng Mỹ
vào màng tang tù binh : "Chuẩn tướ ng Nguyễn Ngọc Loan 37 tuổi, tư
lệnh của 75.000 cảnh sát quốc gia đã lạnh lùng bắn chết một người
cao gầy, sợ hãi nhưng bướng bỉnh, khả nghi du kích mặc áo ca rô và
quần đùi, bị bắt trên đường phố Sài Gòn. Mặt vẫn không biến sắc và
trên tay vẫn còn cầm khẩu P.38, tướ ng Loan nói với phóng viên
truyền hình : "Vừa lú c nãy có mấy người Mỹ bị giết. Nhiều người bạn
thân của tôi cũng vị vậy Đức Phật sẽ hiểu cho tôi về hành động này,
phải không?".
Chỉ ít lâu sau, trên gần khắp các tờ báo trong và ngoài nước,
hình ảnh tướng "Sáu Lèo" (tức Nguyễn Ngọc Loan) lại xuất hiện.
Trong trậ n đụng độ tại Hàng Xanh, hắn bị thương nặng đến thân tàn
ma dại. Phải chăng Đức Phật đã mượn tay quân giải phóng để trả lời
Nguyễn Ngọc Loan : "Thiện ác đáo đầu chung hữu báo?"
(Theo sách Mậu Thân Sài Gòn - NXB Trẻ 1988)

Chán đời đi lang thang !
0
LỄ THỌ TANG BÁC HỒ TẠI KHÁM CHÍ HOÀ
Ngày Bác Hồ qua đời, lần lượt các nhà tù ở miền Nam nơi sớm,
nơi muộn đều nhận được cái tin đau đớn đó. Một đồng chí lúc bấ y giờ
bị địch giam ở khám Chí Hòa, kể lại rằng (Theo cuốn Trui rèn trong
lửa đoó), ban đầu chúng tôi không ai tin rằng Bác đã mất. Làm sao có
thể có chuyện đó được. Rồi mọi người bảo nhau : "Coi chừng, đây lại
là đòn tâm lý của địch!". Nhưng sau đó, chính tên trưởng khu nói một
câu này thì nhiều người tù mới tin và bắt đầu xuống nước mắt : "Ông
Hồ Chí Minh đã mất, một người có một không hai trên thế giới!". Rồi
qua tin báo của những người đi thăm nuôi, ngày một nhiều và chính
xác mà họ đã nghe được qua đài Hà Nội. Sau đó thì tất cả những
người tù, tuy sống cách biệt thế giới bên ngoài, đều được thông báo
tường tận về sự qua đời của Bác.
Tổ chức Đảng trong nhà tù Chí Hòa quyết định tất cả những
khu trại giam chính trị sẽ làm lễ thọ tang Bác Hồ trong vòng mười
ngày. Nhờ sự giúp đỡ của một số tù thường phạm, nhữ ng người tù
chính trị đã có một số phương tiện cần thiết làm bàn thờ Tổ quố c
ngay tại phòng giam... Những người tù cách mạng ở Chí Hòa, trong
suốt những ngày để tang Bác, nước mắt rưng rưng. Nhiều người hát
ca về Bá c, kể chuyện về cuộc đời Bác mà ít nhiều họ biết được...
Sáng ngày 10-9-1969, hơn 1.000 tù chính trị của khu EG và 400
tù nữ của khu BC chính thứ c nêu yêu sách đòi được quyền để tang
Bác Hồ. Không chờ quyết định của bọn quản đốc nhà lao, tập thể tù
chính trị tự động để tang. Các anh chị em đeo băng trắng, đeo băng
đen ở ống tay áo và treo cờ tang ở các xà lim...
Tất nhiên bọn địch không bao giờ để yên cho những người tù
được tự do làm chuyện ấy.
Ngày 25-9-1969, một số tên "trật tự an ninh" xông và o các xà
lim vớ i đầy đủ vũ khí để đánh đập tù nhân. Có người bị thương nặng.

Tất cả những người bị giam giữ đều thét vang : "Đả đảo đàn áp!" và
treo một mảnh vải trắng vào chấn song xà lim ý để báo cho tù ở các
khu khác biết là có một đồng đội của mình đã bị lâm nguy. Một mệnh
lệnh của tổ chức Đảng lập tức được truyền đạt rộng rãi : "Nhân lễ thọ
tang Bác, chính thức phát độ ng đấu tranh chống chấp hành nội quy,
phá bỏ việc bắ t buộc chào cờ ngụy...". Khí thế đấu tranh lên cao chưa
từng thấy.
Kẻ thù lùi bước chỉ là tạm thời. Bọn chúng vẫn quyết tâm tìm
cách đánh tổ chức lã nh đạ o Đảng ở Chí Hòa. Sau đó, chúng đưa
những người mà chúng cho là cầm đầu ra chuồng cọp ở Côn Đảo để
cắt đứt mọi sự liên lạc. Nhưng đó lại là theo cách hiểu củ a chúng.
Trong lao tù vừa mới nghe Bác mất Tuy chưa tin nhưng tai tế
cả lòng Khắp không gian là cả một mùa đông Giữa ngục tối con miên
man suy nghĩ : Bác Hồ ơi, phải Bác đã ra đi Đi vĩnh viễn vào tận lòng
lịch sử Đi vẻ vang khi làm xong phận sự Với quê hương và nhân loại
năm châu ... Giữa ngục tù vang dội tiếng kêu la Khóc miền Nam chưa
thấy mặt người Cha Và khóc Bác chưa thấy được niềm ước mơ trọn
vẹn.
Đoạn thơ này chúng tôi trích trong bài thơ dài mang tựa đề
"Thương nhớ Bác" của đồng chí Hồ Vĩnh, tức là đồng chí Hồ Hiếu,
làm tại xà lim Nha cảnh sá t đô thà nh Sài Gòn ngày 4-9-1969, một
ngày sau khi Bác mất.
(Theo sách Đây các nhà tù Mỹ ngụy - NXB TPHCM - 1995)

Chán đời đi lang thang !
0
GIĂNG-PIERƠ-ĐÊBRI
Tự giới thiệu :
Tôi sinh tại Ăng-danh, vùng mỏ miền Bắc nước Pháp, ngày 27
tháng 3 năm 1944. Cha tôi làm trưởng kíp tán ri-vê. Tôi có một người
anh và một người chị. Tôi học ở vùng Ăng-danh rồi đi học ở trường Sư
phạm Đu-e ba năm. Tôi học một năm ở trường trung học Sắp-tan tại
Paris để chuẩn bị thi vào trường Đại học Sư phạm, nhưng thi trượt.
Tôi trở về Lin, học một năm ở trường Sư phạm Lin rồi năm năm ở đại
học để thi lấy bằng cử nhân toán.
Năm 1968, đi làm nghĩa vụ quân sự, tôi xin làm nhiệm vụ hợp
tá c quân sự ở nước ngoài và xin sang Indonesia, Thái Lan, Lào,
Campuchia, hoặc Việt Nam. Tôi được điều sang Việt Nam.
Tôi thích đi du lịch, hồi còn rất trẻ tôi đã đi thăm châu Phi đen,
Bắc Phi. Tôi đã đượ c chứng kiến cuộc chiến tranh Angiêri chấm dứt,
thời gian tiếp theo các hiệ p nghị Ê-vi-ăng, không khí các doanh trại
Pháp, chủ nghĩa phân biệt chủ ng tộc ngấm ngầm ngay cả những
thanh niên mà xét cho cùng, khi ra đi cũng chỉ là nhữ ng thanh niên
như tôi. Tôi cũng đã nhiều lần đi tới các nước A-rập, sang châu Á, ở
Ấn Độ, ở Áp-ga-ni-xtăng.
Tôi chưa hề bao giờ làm chính trị và không có thẻ của một đảng
phái chính trị nào : đến giờ vẫn vậy. Tôi vốn ưa thích khám phá
những phong cảnh mớ i, nhữ ng con người mớ i và cố gắng có những
tiếp xúc với con người.
Tôi thích Việt Nam; tôi cảm thấ y mình có liên quan đến Việt
Nam như bất kỳ ai khác; đối vớ i một sinh viên, đó là chuyện thường
thôi.

ĂNGĐƠRÊ-MĂNGRAX
Tự giới thiệu :
Tôi quê ở Bê-di-ê, tỉnh Hê-rôn, gia đình tôi làm nghề trồng rau.
Sinh ngày 25 tháng chạp năm 1945, tôi là con một. Tôi học ở Bê-di-ê
rồi học trường Sư phạm Mông-pe-li-ê bốn năm và đã làm giáo viên
một năm tại Vi-lơ-nơ-vơ-lé t-Bê-di-ê, một làng nhỏ trồng nho. Bị gọi đi
làm nghĩa vụ quân sự, tôi xin sang Việt Nam, trong khuôn khổ hợp
tá c. Trái với Găng-Pie-rơ, tôi hoàn toàn không hề xúc cảm gì cả , tôi
không thấy mình có liên quan gì đến chiến tranh Việt Nam.
Đó là một thế giới khác ở cách xa tôi hơn 10.000 cây số. Sở dĩ tôi
xin sang Việt Nam là vì tôi muốn phiêu lưu phát hiện một dân tộ c
mới, mộ t đất nước mới. Trước đó, tôi chưa đi đâu bao giờ. Bây giờ đã
biết được những gì tôi biết, tôi không quan niệm nổi tại sao mình đã
đứng ngoài cuộc đến như thế.
Giăng-Pie-rơ và tôi, quen nhau trên máy bay chở khoảng 15, 16
thanh niên đi làm nghĩa vụ "hợp tác".
Ngay sau khi đến Sài Gòn, chúng tôi đã có một ấn tượng giống
nhau về những kẻ đại diện phái bổ văn hóa Pháp mà thái độ, hành
động sau này đã gây cho chúng tôi một sự bất bình, và những phản
ứng như nhau. Tình trạng thối nát dễ dàng nhận thấy ở Sài Gòn đã
lây sang họ , mà rất có thể là ngược lại không chừng. Tậ p thể người
Pháp tách rời hẳn người Việ t Nam; ngay khi vừa tới, người ta đã cảm
thấy tinh thần đẳng cấp ấy rồi.
Một ví dụ trong rất nhiều thứ buôn gian bán lận : vấn đề đồng
"phơ-răng" và đồng "pi-a-trơ". Chúng tôi hoàn toàn bị bọn đổi tiền bắt
sao phải chịu vậy, họ chính là đồng bào của chúng tôi và họ đã nẫng
nhẹ bớt một phần số tiền mà chúng tôi có được.

Chán đời đi lang thang !
0
NHỮNG ĐÁM TANG NUNG NẤ U CĂM THÙ
Cuộc đấu tranh củ a sinh viên, học sinh chống kẻ thù tàn bạo
không tránh khỏi sự hy sinh xương máu. Mỗi lần như vậy, căm thù
lại dâng cao, không những trong học sinh, sinh viên mà trong tất cả
các tầng lớ p nhân dân thành phố. Những đám tang có hàng trăm
ngàn ngườ i dự thể hiện lòng căm thù đó.
Cuối tháng 11-1964, những cuộ c bãi học chiếm trường nổ ra
trong sự giằng co với cảnh sá t. Chống trả cảnh sát bằng mọi phương
tiện sẵn có, những cánh tay học trò lăn cả những ống cống để bịt
đường ở Viện Hóa đạo. Một chiếc xe Jeep cảnh sát bị đốt bất ngờ. Bọn
lính dù xuất hiện và xả súng. Khoảng 20 giờ 30, em Lê Văn Ngọc 16
tuổi, học sinh trường Hồng Lạc đứng ở hàng đầu bị chúng bắn trúng
tim. Cảnh sát vội vã nhào tới cướp xác nhưng sinh viên, học sinh
giằng lại được.
Sáng hôm sau, chính quyền Hương thiết quân luật khẩn cấp.
Thành phố số ng trong không khí sục sôi và đám tang Lê Văn Ngọc sẽ
là đám tang chính trị khổng lồ như đám tang trò Ơn ngày nào.
Các phe phái chính trị Sài Gòn rất muốn giành giữ xác em
Ngọc, tổ chức đám tang này để gây uy tín chính trị của mình. Ta kịp
thời thuyết phục gia đình Ngọc, kiên quyết giữ quyền tổ chức đám
tang. Ban tang lễ bao gồm nhiều thành phần. Trong ba ngày sau đó,
đồng bào nườm nượp đến Viện Hóa đạo đặc hoa và cắm những nén
nhang thương tiếc em, căm thù giặc.
Sáu giờ sáng ngày 29-11, đám tang được cử hành. Các khẩu
hiệu phát động căm thù đượ c chuẩn bị khá tốt, tránh quá khích,
nhưng cũng không ngăn được nhữntg lời phẫn uất của quần chúng.

Đoàn xe tang đi trong vó ngựa chậm rãi, trầm hùng. Bao quanh
quan tài là đội bảo vệ của học sinh Cao Thắng. Vòng ngoài có nhiều
lực lượng khác hộ tống. Ta dự định kéo thẳng ra trung tâm. Bị công
an ngăn cản, đồng bào vẫnợ tìm mọi cách đến đưa đám. Lộ trình đám
tang là : Trầ n Quốc Toản - Hiền Vương - Cầu Bông - Bà Chiểu. Đoàn
đầu đến Cầu Bông mà đoạn cuối còn ở Viện Hóa đạo.
Địch quyết tâm phá bằng được, xua lính cắt đoàn đưa tang làm
nhiều bộ phận, xe chở hoa cũng bị chặ n lại, xúc đi. Anh em giải thích
cho binh lính và nêu câu hỏi: "Vì sao đến người chết cũng bị đàn áp?",
làm cho nhiều lính chùn bước. Địch phải điều Tiểu đoàn 7 dù từ lự c
lượng tổng trừ bị chiến lược, có cả xe tăng "tham chiến". Xô xá t xảy ra
dữ dội, cuối cùng chúng cũng cướp quan tài Lê Văn Ngọc. Điều đó bộc
trần bộ mặt dân chủ giả hiệu của chúng.
Tháng 8-1971, bị cưỡng bách đi học quân sự học đường, sinh
viên Đại học Vạ n Hạnh tổ chức đấu tranh ngay tại quân trường, từ
biểu tình chuyển sang đốt quân trang, quân dụng, phá rào trở về
nhà. Trong không khí đấu tranh đó, ngày 1-9-1971 sinh viên Phạm
Hạnh bị bệnh não chết sau những đợ t bị cưỡ ng bức huấn luyện quân
sự. Đám tang Phạm Hạnh trở thành một cuộc đấ u tranh biểu hiện sự
căm phẫ n cao độ của sinh viên và quần chúng. Hàng chục ngàn
người, hầu hết là đồng bào lao động các quận nội thành tự nguyện
đứng vào hàng ngũ những người đưa tang nối dài không dứt. Nhữồng
vành khăn trắ ng căm hờn, trùng trùng đi bên nhau, bảo vệ lấy nhau
trong vòng vây kẻ thù, trải dài từ cầ u Trương Minh Giảng đến ngã
Bảy. Những biểu ngữ trắng chữ đỏ "Đả đảo quân sự học đường", "Tiếc
thương Phạm Hạnh - nạn nhân quân sự học đường", "'Mỹ cút về
nước", "US go home" xuất hiện theo đám tang. Bọn cảnh sát lao vào
bứt xé đoàn đưa tang, bắt đi 200 sinh viên, nhưng chúng không ngăn
chặn được cuộc tuần hành.
(Theo sách Chung một bóng cờ)

Chán đời đi lang thang !
0
ĐỒNG BÀO THÀNH PHỐ SÀI GÒN TỔ CHỨC
LỄ TRUY ĐIỆU BÁC HỒ
Giữa những ngày tháng chiế n tranh ác liệt, đêm mồng 3-9-1969
qua Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, đồng bào thành phố đau đớn
trước tin Chủ tịch Hồ Chí Minh đã qua đời. Với lòng tiếc thương vô
hạn, bất chấp mọi sự theo dõi, bắt bớ của địch, ngay trong lòng Sài
Gòn, hang ổ của kẻ thù, nhiều đồng bào thành phố đã tổ chức lễ truy
điệu Bác bằng nhiều hình thứ c công khai hoặc bí mật. Có thể nêu ở
đây một số hoạt động tiêu biểu :
Công nhân xe buýt Sà i Gòn đã dành cả ngày và đêm 9 tháng 9
làm lễ truy điệu Hồ Chủ tịch. Trên 100 thanh niên, sinh viên thuộ c
đoàn văn nghệ học sinh sinh viên Sài Gòn kính cẩn mặc niệm Bá c
trong tiếng há t trang nghiêm của bài "Hồn tử sĩ". Tại nhà lao Chí
Hòa, 600 anh chị em tù chính trị để tang Bác 7 ngày. Suốt tuần lễ
tang, sáng nào anh chị em cũng hát Quốc ca và làm lễ tưởng niệm
Người. Tại Ngã Bảy, anh chị em công nhân và các nghiệp đoàn quanh
vùng đó chiếm trụ sở Tổng Liên đoàn lao động để tổ chức mít tinh,
làm lễ truy điệu Bác. Tại vùng Hòa Hưng, 200 Phậ t tử, nhân sĩ trí
thức, học sinh sinh viên tập trung về chùa Khánh Hưng. Đúng 2 giờ
chiề u ngày 9-9-1969, chỉ mấ y tiếng đồng hồ sau lễ truy điệu Bác Hồ ở
quảng trường Ba Đình (Hà Nội), lễ truy điệu ở đây bắt đầu. Đồng bào
ở hẻm 528/5/21A đường Phan Thanh Giản quận 10 làm lễ truy điệu
Bác và nghe đọ c tiểu sử Bác dướ i hình thức mộ t đám giỗ. Ở quận 8,
Chi bộ phường Hưng Phú, sau khi tổ chức canh phòng chu đáo, tập
trung đồng bào tại xóm Đầm để truy điệu Bác. Nhiều gia đình trong
thành phố đốt nhang trên bàn thờ làm lễ tang Bác đón nghe các buổi
phát thanh về Bác trên đài Hà Nội, Giải Phóng. Quân dân ngoại
thành làm lễ truy điệu Bác ở nhà, ngoài căn cứ, dưới địa đạo, hầm bí
mật.
(Hỏi và đáp 300 năm Sài Gòn - TPHCM)

Chán đời đi lang thang !
0
MƯỜI HAI NGÀY ĐÊM LÀM CHỦ TOÀ ĐẠI SỨ
LON NON
Tháng 4-1970, bọn cầm quyền Lon Non, tay sai Mỹ ở
Kampuchia, gây ra một tội ác tày trời: thảm sát hàng loạt Việt kiều
từ lâu sinh sống bên Kampuchia, thả xác trôi đầy sông, lay động tình
máu mủ ruột rà của mọi người dân Việt. Sự kiện đó lại diễn ra trong
lúc Mỹ - Thiệu đàn áp thẳng tay phong trào sinh viên, học sinh, báo
hiệu bão táp chính trị sẽ nổi lên.
Ngày 18-4-1970, Đại hội sinh viên, học sinh kỳ III kết thúc bằng
một cuộc xuống đường tiến thẳng ra Hạ nghị viện với các khẩu hiệu :
"Đả đảo Lon Non, chặt đầu Lon Non để trả thù cho đồng bào chúng
ta!". Đêm hôm đó, sinh viên Đại học xá Minh Mạng tổ chức đêm "uất
hận" làm lễ truy điệu Việt kiều, đốt hình nộm Lon Non, Sêrik Matak,
Cheng Heng rồi kéo đi tuần hành ở Ngã Sáu. Bọn cảnh sát dã chiến
bắn phi tiễn, đạn cay vào đoàn biểu tình, lập tức bị sinh viên, họ c
sinh chống trả bằng gạch đá, gậy gộc và nhữ ng tiếng thét phẫn nộ.
Chú ng phải rút lui, bỏ lại những chiếc mặt nạ đầu heo, dùi cui, khiên
mây...
Đêm 24-4-1970, "một đêm không ngủ" được tổ chức tại Đại học
Khoa học và cũng là nơi xuất phát của một chiến dịch mới: "chống tàn
sát Việt kiều ở Campuchia". Mặc dù bọn công an chìm cúp điện để
phá nhưng đống lửa đã được đốt lên giữa sân, các micro pin vẫn hoạt
động. Bàn thờ Tổ quốc rất uy nghi trên có các dòng chữ : "Dân tộc
Việt Nam bất khuất", "Đồng bào ơi! Máu chảy ruột mềm". Cả rừng
người vây quanh đài kỷ niệm và bàn thờ gồm thanh niên sinh viên
học sinh, công nhân và các tầng lớ p đồng bào khác đã đến dự với tấm
lòng nồng nàn yêu quê hương, dân tộc. Những khăn tang được phân
phát. Những ngọn đuốc nhỏ làm bằng lon sữa bò được tỏa ra thắp
sáng cuộc đấu tranh.

Đúng 7 giờ tố i, sau lời khai mạc của ban tổ chức, đốt nến,
nhang, mặc niệm là đến phần phát biểu của đại diện sinh viên, họ c
sinh, các dân biểu tiến bộ và các tầng lớp nhân dân cùng với những
tiếng hô "đả đảo Lon Non". Hình nộm bọn Lon Non bị đốt trong tiếng
hát hào hùng "Dậy mà đi! Dậy mà đi! Hỡi đồng bào ơi!".
Một học sinh Pétrus Ký phát biểu: "Đến bây giờ sự phẫn nộ
không thể chỉ bằng tiếng thét. Chúng ta phải hành động! Phải chiếm
Tòa đại sứ Kampuchia để đòi hỏi chính quyền Sài Gòn phải can thiệp
yêu cầu Lon Non chấm dứt tàn sát đồng bào chú ng ta". Tiếng vỗ tay
vang dội. Tổng hội sinh viên phát động cuộc xuống đường tiến chiếm
Tòa đại sứ Lon Non. Mặc cho Đoàn Kỉnh - sinh viên khoa học nằm
trong Ủy ban đấu tranh chống đàn áp học sinh, sinh viên nhưng
chống lại phong trào - tìm cách ngăn cản và lên tuyên bố không chị
trách nhiệm về cuộc xuống đường này, đoàn biểu tình vẫn tràn ra Đại
lộ Cộng Hòa tiến tới Tòa đại sứ Lon Non.
Anh Nguyễn Hoàng Trúc cùng một nhóm xung kích đi xe gắn
máy, túc trực sẵn trước cổng Đại học Sư phạm, được lệnh chạy trướ c
đến Tò a đại sứ Lon Non để hỗ trợ đoàn biểu tình, mang theo đèn pin,
kìm cắt dây kẽm gai, cưa sắt, bao ny lông, chanh để đối phó với hơi
cay.
Một cuộc hành quân nước rút của đoàn chiến sĩ biểu tình bằng
mọi phương tiện sẵn có : xe gắn máy, xe đạp, chạy bộ... Sinh viên
chạy xe hon đa cầm micro pin hướng dẫn đoàn và kêu gọi đồng bào
tham gia xuống đường. Nhiều thanh niên lao động hai bên đường,
sau khi hiểu đượ c "nội vụ", đã gia nhậ p đoàn quên.
Cảnh sát dã chiến ngăn chặn đoàn từ ngã tư Trần Quý Cáp - Lê
Văn Duyệt bằng hàng rào kẽm gai và lựu đạn cay, nhưng anh em vẫn
xông tới. Các xe gắn máy rú ga mở hết tốc lực phóng ngay vào cảnh
sát dã chiến làm chúng hoảng hồn dãn ra. Thế là vòng vây thứ nhất
bị phá.
Tuyến cảnh sát dã chiến thứ hai đã chờ sẵn đoàn ở gần cổng
Tòa đại sứ bắn phi tiễn từ xa và ném lựu đạn cay dồn dập. Đồng bào
các nơi và bà con bán quán hai bên đường đã tiếp tế cho đoàn những
bọc ny lông, nướ c đá, chanh và cả những chai bia đã đập gẫy cổ dùng
để chống đàn áp. Lực lượng xung kích học sinh, sinh viên đi xe gắn

máy vừa lạng xe, vừa giơ chân đạp mạnh là m té nhào mấy tên cảnh
sát dã chiến, dùng võ thuậ t đánh xáp lá cà với chúng. Thế là vòng vây
thứ hai cũng bị chọc thủng.
Anh em xung kích cùng đoàn biểu tình đã phá kẽm gai và phá
tung hai cánh cửa lớn của Tòa đại sứ, khóa bằng lòi tói sắt, ùa vào
chiế m trận địa và phản công trở lại cả nh sát dã chiến.
Lúc đó là 20 giờ 30 phút đêm 24-4-1970, chỉ khoảng một tiếng
đồng hồ sau khi xuất phát, 300 học sinh, sinh viên Sài Gòn đã hoàn
toà n làm chủ Tòa đại sứ Lon Non. Lực lượng học sinh, sinh viên đã cố
thủ ở Tòa đại sứ này 12 ngày trong vòng vây và sự tiến công liên tụ c
của bọn cảnh sát dã chiến. Đó là một điề u khó tưởng tượng nổi ở một
"thủ đô" mà lính tráng được "trang bị đến răng!".
Sinh viên, học sinh tuyên bố chiếm Tòa đại sứ này làm trụ sở
Tổng hội học sinh, sinh viên Sài Gòn cho đến khi được cấp trụ sở mới
và kẻ hẳn một hàng chữ đỏ to tướng dài mấy chục mét phía trước Tòa
đại sứ : Tổng hội sinh viên học sinh Sài Gòn.
Tổ chức cố thủ trên sân thượng được bố trí khá chu đáo bằng
mọi thứ vũ khí sẵn có và cướp được củ a cảnh sát dã chiến. Anh chị
em còn chế được hàng trăm bom xăng bằng các nhiên, nguyên liệu dễ
kiếm như : mốp, crếp cao su nhồi vào những chai cô ca, xá xị đầy
xăng..., một loại vũ khí đáng sợ đối với bọn cảnh sát dã chiến. Cuộ c
chiế n đấu diễn ra liên tục, khi thì để tự vệ, khi thì chủ động tiến
công, kể cả dùng bom xăng đốt cháy xe jeep của cảnh sát dã chiến.
Tuổi trẻ học đường đã chứng tỏ khả năng tổ chức và sức sáng tạo của
mình. Một hệ thống phóng thanh được thiết lập với những chiếc loa
có công suất lớn đặt trên bố n góc sân thượng phá t đi hằng ngày
những bài tố cáo chính quyền, kêu gọ i đồng bào tham gia đấu tranh,
hát những bài ca yêu nước v.v... Anh chị em còn đặt bàn thờ Việt kiều
bị tàn sát và làm lễ cầu siêu với biểu ngữ : "Lon Non vay nợ máu,
phải trả bằng máu". Cũng tại đây, trong những ngày chiếm giữ, học
sinh, sinh viên đã tổ chức những cuộc họp báo, tiếp nhiều phái đoàn
đến thăm, có cả những dân biểu đối lập với những lờ i hứa "mỗi ngày
sẽ cung cấp vài cây nước đá để mấy em uống chơi cho má t".
Bên ngoài, cuộc đấu tranh của học sinh, sinh viên diễn ra liên
tục, hội thảo, biểu tình, kéo đến bổ sung lực lượng cho đoàn quân cố

thủ... cùng với sự hỗ trợ của phong trào các giới đồng bà o đã gây sứ c
ép lớn đối với chính quyền.
Bên trong, do tổ chức chặt chẽ, có kế hoạch hành động, chỉ huy
thống nhất nên đã giữ vững được trận địa. Gian khổ như thế nhưng
sinh hoạt văn nghệ cũng sôi nổi phong phú. Có nhiều cuộc lửa trại
thật vui vẻ. Quanh đống lửa đốt bằng vỏ xe hơi cũ, đã trình diễn vở
hoạt cảnh - Xử án Lon Non, Sêrik Matak, Cheng Heng. Có đủ các vai
: Chánh án, biện lý, luật sư, bị cáo... với những câu đối thoại khôi hài,
cười ngặt nghẽo. Kết cuộc tòa tuyên án bọn khát máu Lon Non phải
làm trâu cày ruộng để đền tội giết Việt kiều.
Đồng bà o các nơi đã gửi đến giúp hàng tấn gạo, thực phẩm.
Riêng sữa hộp có thể sử dụng cả tháng vẫn không hết, thuốc men thì
có hàng mấy tủ.
Việc vậ n chuyển hàng tiếp tế từ ngoài vào được tổ chức chu đáo,
từ một lỗ khá lớn được đục thủng sau tòa nhà với sự giúp đỡ ngầm
của đồng bào xung quanh. Nhiều bà má và chị em bên ngoài thay
phiên nhau vào nấu cơm nước, vá quần áo cho học sinh, sinh viên.
Một số thiếu nhi đã đến tình nguyện làm liên lạc, trinh sát quanh
Tòa đại sứ.
Nhiều bài thơ, bản nhạc hay đã được sáng tác ngay trong chiến
dịch này như bài Bà mẹ Bàn Cờ (nhạc củ a Trần Long Âớn, phổ thơ
của Nguyễn Kim Ngân) :
Có người mẹ Bàn Cờ Tay gầy, tóc bạc phơ Chuyền cơm qua vách
cấm Khi ngoài trời đổ mưa...
Sau khi phái đoàn cảnh sát quốc gia đến gặp học sinh, sinh viên
chiế m giữ, đề nghị đổi Tòa đại sứ lấy căn nhà 207 đại lộ Hồng Bàng
để làm trụ sở Tổng hội, nhưng không được chấp thuận, chúng đã
dùng mấy trăm cảnh sát dã chiến biệt đoàn 222 để tiến công lấy lại.
Mặc dù được mật bá o trước, trừ một số phải chuyển ra ngoài
làm nhiệm vụ khác, tất cả chiến sĩ nam nữ đã sẵn sàng chố ng trả.
Địch nổ súng lúc 2 giờ 30 phút sáng 5-5-1970. Cuộc chiến đấu ngoan
cường đã diễ n ra, trừ một số thoát ra được phía sau và trốn vào nhà
đồng bào, số còn lại gồm 72 nam nữ học sinh, sinh viên bị bắt và đánh
đập tàn nhẫn.

Có thể nói, vụ chiếm giữ Tòa đại sứ Lon Non là một đỉnh cao
đầy sáng tạo của phong trào học sinh, sinh viên chống Mỹ - Thiệu
trong thời gian đó. Trong số ngườ i trực tiếp chỉ huy chiến dịch này, có
: Nguyễn Hoàng Trúc, Nguyễn Văn Thắng, phụ trách Tiểu đoàn sinh
viên, Lê Văn Nuôi và Trương Anh Dũng, phụ trách Tiể u đoàn học
sinh và người chỉ huy hậu cần xuất sắc : Nguyễn Thị Yến.
(Theo sách Chung một bóng cờ)

Chán đời đi lang thang !
0
CUỘC ĐẤU TRANH THUẾ LƯƠNG BỔNG
CỦA CÔNG NHÂN LAO ĐỘNG
Cuộc đấu tranh chống "thuế lương bổng" của công nhân và lao
động thành phố có qui mô khá lớn và kéo dài. "Thuế lương bổng"
đánh vào đời sống vốn đã quá khó khăn cho người lao động, chỉ 1
ngày sau khi ban hành, một Ủy ban vận động yêu sách giảm "thuế
lương bổng" đã được thành lập.
Mở đầu đợt đấu tranh nà y là cuộc đình công ngày 24 tháng 1
năm 1971 của gần 8 vạn công nhân và tư chức. Ngày hôm sau số
người tham gia đấu tranh tới gần 10 vạn.
Ngày 29 tháng 4 năm 1971, hơn 4 vạn công nhân thuộc 26
nghiệp đoàn, nắm những cơ sở chủ yếu của Sài Gòn tiếp tục bãi công.
Các bến cảng, các ngân hàng trong thành phố hoà n toàn ngưng hoạt
động. Các hãng dầu Esso, Caltex bị tê liệt đến 70%. Hãng hàng không
bị tê liệt 50%. Mỹ ngụy bị thiệt hại trên 10 tỷ đồng.
Địch vẫn ngoan cố, dây dưa, mãi đến ngày 14 tháng 1 năm 1972
chính quyền ngụy mới buộc phải tuyên bố hủy bỏ chính sách thuế
lương bổng và hứa sẽ bồ i thường một tỷ rưỡi đồng cho công nhân lao
động, tư chức đã bị thiệt hại do thứ thuế này gây ra.
Song song với những cuộc đấu tranh chống thuế lương bổng,
trong từng nhà máy, xí nghiệp nổ ra những cuộc đấu tranh qui mô
nhỏ đòi cải thiện đời sống, hầu hết thu được thắng lợi. Tiêu biểu như
cuộc đấu tranh của hãng Pin Con Ó (Vidopin) - Một hãng sản xuất
lớn về pin đèn ở miền Nam độc quyền cung cấp pin cho quân đội
ngụy. Lúc đầu cuộc đấu tranh của công nhân chủ yếu là đòi chủ giải
quyết một số quyền lợi vật chất. Nhưng chủ hãng dự a vào một số tên
tai to mặt lớn trong chính quyền ngụy, bác bỏ yêu sách của công nhân
và tuyên bố sa thải hàng loạt người tham gia đấu tranh. Song công
nhân kiên quyết giữ vững yêu sách của mình. Hãng Pin Con Ó hoàn

toà n bị tê liệt. Việc cung cấp pin cho quân đội Sài Gòn bị đình trệ.
Trước tình thế đó, chẳ ng những địch không nhượng bộ, trái lại đưa
cảnh sát đến can thiệp, đánh đập dã man nhiề u người và bắt đi 30
cán bộ nghiệp đoàn. Công nhân không chùn bước, tiếp tục đấu tranh.
Tiếng vang bắt đầu vượt khỏi hãng Vidopin. Ngày 23 tháng 10 năm
1971, các nghiệp đoàn thuộ c Tổng liên đoàn lao động Việt Nam đã
quyết định đình công 12 giờ để phản đối cuộc đàn áp đẫm máu tại
hãng Pin Con Ó. Các báo chí tiến bộ , các tổ chức quần chúng tiến bộ,
các tầng lớp công nhân lao động và một số linh mục, các liên đoàn
công nhân Nha Trang, Cam Ranh và thậm chí cả một số nghị viện và
dân biểu ngụy quyền ra tuyên bố ủng hộ công nhân hãng Pin Con Ó,
lên án chủ hãng và phê phán hoạt động dã man của chính quyền Sài
Gòn. Tại quốc hội ngụ y, một số dân biểu tuyên bố ngừng họp tháng,
không dự lễ đăng quang tổng thống và phó tổng thống Thiệu Kỳ.
Cuộc đấu tranh đòi quyền lợi của công nhân ở một số xí nghiệp
đã trở thành cuộc đụng độ gay gắt, lâu dài giữa một bên đòi tự do dân
chủ, đòi dân sinh, dân quyền với một bên là lực lượng ngụy quyền
phản tự do dân chủ. Tình hình ấy buộc địch phải nhượng bộ : chịu
tăng lương 30% cho công nhân, nhận lại số công nhân bị sa thả i và
thả hết nhữ ng ngườ i bị bắt.
Phong trào công nhân lao động thành phố tiếp tục giữ vững
sang đầu năm 1972, trong 3 tháng đầu năm đã có tới 150 cuộc đấu
tranh lớn nhỏ.
(Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến 45 - 75)

Chán đời đi lang thang !
0
TỪ HỘI THẢO ĐẾN CUỘC ĐẤU TRANH
CHỐNG MỸ 1/5/1966
Cuộc biểu tình ngà y 1-5-1966 của công nhân, lao động Sài Gòn
là điểm cao của cả một đợt vận động đấu tranh hàng thá ng trước đó.
Ngay từ cuối tháng 3 đến suốt tháng 4-1966, nhiều cuộc hội thảo đã
được tổ chức ở cá c xí nghiệp, ngành nghề, xóm lao động, chợ búa,
trường học, trong các tổ chức nghiệp đoàn, v.v... Nội dung hộ i thảo
xoay quanh việc tố cáo tội ác của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, phản
đối việc dùng chất độ c hóa học, chà xác nông thôn, đòi Mỹ rút quân,
vận động trốn lính và bàn bạc các yêu sách đấ u tranh. Rõ ràng là nội
dung hội thảo không chỉ là những vấn đề dân sinh, dân chủ mà còn
mang màu sắc chính trị rõ rệt.
Có ba cuộc hội thảo lớn được tổ chức tại trụ sở Tổng Liên đoàn
lao động, mỗi cuộc có hàng ngàn người đại diện các nghiệp đoàn nhà
máy, nhà xưởng, chợ, xóm. Từ những cuộc hội thảo hợp pháp đó, các
đại biểu được tỏa về các cơ sở tổ chức những cuộc hội thảo nhỏ, phát
động tư tưởng của quần chúng một cách sâu rộng và chuẩn bị tư thế
đấu tranh.
Chính quyền Sài Gòn phản ứng quyết liệt, ra lệnh cấm biểu
tình, nhưng trước khí thế đấu tranh của công nhân, lao động, họ
nhượng bộ với điều kiện không được bạo động.
Cuộc biểu tình ngày 1-5-1966 diễn ra trong vòng vây vũ trang
của cảnh sát. Có 3 tổ chứ c nghiệp đoàn chỉ đạo riêng cuộc biểu tình
của mình. Tổng Liên đoàn lao động và Lực lượng thống nhất hành
động lao động Việt Nam huy động mỗi đoàn khoảng 1 - 2 nghìn người.
Đoàn của Tổng liên đoàn lao động đông nhất, lúc xuấ t phát có khoảng
2 vạn người, được đồng bào hai bên đường nhập vào, cuối cù ng được 4
vạn người. Đoàn này tập trung trước tòa đại sứ Mỹ nêu khẩu hiệu đòi
Mỹ chấm dứt chiến tranh, rút về nước, rồi đưa hà ng tập yêu sách cho

Cảnh sát trưởng Nguyễn Ngọc Loan, diễu hành về trụ sở Tổng Liên
đoàn mới giải tán.
Tuy sau đó, chính quyền Sài Gòn bắt ông Lê Văn Thốt, chủ tịch
Tổng Liên đoàn lao động cùng nhiều ủy viên chấp hành và thẳng tay
khủng bố nhiều nghiệp đoàn cơ sở , nhưng phong trào vẫn tiến bướ c
theo những hình thức khác. Đợt đấu tranh này đánh dấ u bước trưởng
thành mới và nâng cao uy thế của phong trào công nhân, lao động
thành phố Sài Gòn.
(Theo sách "Chung một bóng cờ")

Chán đời đi lang thang !
0
MỘT SỐ CUỘC ĐẤU TRANH TRONG CÁC CƠ SỞ
HẬU CHIẾN CỦA MỸ
Tiếp theo cuộc đấu tranh của gần ba vạn công nhân làm việc
trong các hãng nhà binh Pháp nổ ra ngày 7-12-1954 kéo dài gần một
tháng, ngày 16-11-1956, 500 công nhân hãng dầu SVOC của Mỹ phối
hợp với công nhân khuân vá c Sài Gòn đã tổ chức bãi công đòi tăng
lương. Quân cảng Sà i Gòn bị tê liệt ba ngày; năm chiếc tàu bốc dỡ
hàng "viện trợ" Mỹ phải ngừng lại và nhiều tàu của công ty tư bản
Nhật, Mỹ không dám cập bến.
Ngày 28-2-1958, công nhân hãng dầu Caltex của Mỹ bãi công 10
ngày chống sa thải và tăng lương. Hàng ngàn công nhân các hãng
khác như SVOC, Shell, công nhân điện nước và nhiều hãng xưởng
khác ủng hộ công nhân Caltex bằng nhiều hình thức.
Trong những ngày đó, 30 cây xăng ở Sài Gòn hết dầu, ảnh
hưởng lớn đến việc cung cấp dầu cho các đơn vị cơ giới, không quân
của địch.
Cuộc đình công chiếm xưởng của 400 công nhân hãng dầu
Stanvac trực tiếp chống chủ Mỹ bạc đãi công nhân và đòi tăng lương
đã nổ ra ngày 4-9-1961, kéo dài ba tháng mới thu được thắng lợi.
Cuộc đấu tranh nà y đã đượ c sự ủng hộ của trên một trăm nghiệp
đoàn tại Sài Gòn, của công nhân cao su, cả nông dân và một số giới
kinh doanh. Hơn 100 trạm bán xăng dầu bị tê liệt, làm ngừng trệ
từng lúc việc cung cấp xăng dầu cho máy bay Mỹ. Chủ Mỹ bị thiệt hại
khoảng 3 - 5 triệu đồng tiền Sài Gò n mỗi ngày.
Trong năm 1964 còn có cuộc bãi công của hãng Vô tuyến viễn
thông làm tê liệt việc liên lạc điện thoại giữa Sài Gòn và các tỉnh,
cũng như giữa Sài Gòn với nước ngoài trong 20 giờ.

Cuộc đình công của công nhân giao thông Gia Định kiên quyết
không đi sửa Đường số 7 đã làm cản trở kế hoạch hành quân càn quét
của địch. Công nhân xi măng Hà Tiên và nhiều xưởng gạch ngói bãi
công làm ảnh hưởng đến kế hoạch xây dựng đồn bót, công sự của
địch.
Đầu tháng 3-1964, 7000 công nhân bốc vác của hãng Xtích, Xôvi-
cô-tơ-ra bãi công làm ngưng trệ mọi công việc của bến tàu Sài Gòn
trong năm ngày.
Cuộc đình công kỷ niệm 10 năm ngày ký hiệ p định Genève (20-
7-1964) củ a hàng ngàn công nhân khuân vác ở cảng Sài Gòn làm tê
liệt bến cảng; chiến tàu Mỹ mang tên tổng thống Mắc Kin-li chở
nhiều xe quân sự cho Mỹ đã buộc phả i rời bến và 10 tàu khác phải
nằm chờ tại bến.
Ngày 21-6-1966 đã diễn ra cuộc bãi công của công nhân trên 10
công trường xây dựng thuộc hãng thầu RMK - BRJ, lúc đầu là 7.000
người và đến ngày 24-6 đã lên đến 15.000 người. Nội dung đấu tranh
là đòi tăng lương, chống sa thải, chống kỳ thị chủng tộc, trực tiếp
đánh vào thái độ hống hách, khinh rẻ người Việt Nam của bọn chủ
thầu Mỹ. Cuộc đấu tranh này được công nhân hãng dầu Caltex ủng
hộ và hàng ngàn công nhân Philippin, Nam Triều Tiên (cùng hãng
RMK - BRJ) hưởng ứng.
Những công trình xây dựng, công trình quân sự thuộc loại ưu
tiên nhất của Mỹ đã bị tê tiệt như:
Đường băng mớ i cho máy bay phản lực và máy bay vận tải hạng
nặng dài 3.000 mét ở sân bay Tân Sơn Nhất và Biên Hòa. Một sở thí
nghiệm phim ảnh trinh sát. Một trung tâm tình báo và một trung
tâm hành quân chiến thuật đang xây dựng ở Tân Sơn Nhất. Một công
trình khai thác trên đường Sài Gòn - Biên Hòa. Một kho lớn cung cấp
nguyên liệu và vật liệu xây dựng của công ty RMK - BRJ (Kho
Island). Một tòa nhà mới cho sứ quán Mỹ . Một bệnh viện dã chiến
Mỹ. Bến số 1 ở cảng mới Sài Gòn là nơi lục quân Mỹ đóng Bộ chỉ huy
hậu cần. Một cơ sở chính của công ty RMK - BRJ.
Cuộc bãi công đã gây trở ngại lớn đến kế hoạch quân sự và hậu
cần Mỹ và có nguy cơ lan rộng nên bản thân đại sứ Mỹ Cabot Lodge

và tướng Wesmoreland phả i can thiệp với bọn chủ thầu RMK - BRJ
giải quyết các yêu sách của công nhân.
Tiếp theo, ngày 26-12-1966, một cuộc bãi công toàn diện của
5.000 công nhân cảng chống Mỹ sa thải 600 công nhân, đã làm tê liệt
cảng mới, ảnh hưởng nặng đến hoạt động của nhiều nhà máy và hãng
xưởng. Gầ n 30 chiếc tàu Mỹ cặp bến không dỡ hàng lên được. Quân
Mỹ phải điều gần một nghìn lính đến khuân vác bốc dỡ nhưng chỉ đạt
một nửa yêu cầu cần thiết hằng ngày.
Ngày 27-12, quyền đại sứ Mỹ Porter ra lệnh cho Sư đoàn bộ
binh Mỹ số 9 tiến vào chiếm bến cảng Sài Gòn. Ngay tối hôm đó, Liên
hiệp nghiệ p đoà n Sài Gòn - Gia Định họp bàn phát động các nghiệp
đoàn bãi công ủn ghộ công nhân cảng. Công nhân cả ng Đà Nẵng,
Cam Ranh, Vũng Tàu... chuẩn bị đấu tranh hưởng ứng. Công nhân
các ngành điện, nước, sơn, dược phẩm, sản xuất vỏ ruột xe máy, công
nhân xe buýt Sài Gòn chuẩn bị bãi công, quyên tiền giúp đỡ công
nhân cảng. Công nhân các cảng ở miền Bắc gửi điện ủng hộ.
Trước sức mạnh đoàn kết của giai cấp công nhân, trưa 30-12-
1966, giám đốc nhân sự của lục quân Mỹ phải xuống nước, đến trụ sở
nghiệp đoàn để thương lượng vớ i đại biểu công nhân. Chúng hứa thu
nhận lại 300 công nhân và số còn lại sẽ giải quyết từng bước nếu chưa
có công ăn việc làm.
Qua những năm sau đó, còn có nhiều cuộc bãi công khác của
công nhân là m trong các cơ quan kinh tế, quân sự quan trọng của Mỹ
như: bãi công chiếm xưởng Eép-phen lãnh thầu cho nhà binh Mỹ hồi
đầu 1967, bãi công của 2.700 công nhân tại kho hậu cần của Mỹ ở
Long Bình và ở cơ quan "viện trợ" Mỹ, công nhân hã ng dầu ESSO
Nhà Bè, hãng sửa chữa cầu cống Paer, công nhân viên chức Việt Nam
tạ i chi nhánh hàng không Pan American Tân Sơn Nhất và Sài Gòn
v.v...
(Theo sách "Chung một bóng cờ")

Chán đời đi lang thang !
0
DIỄN TIẾN CUỘC TỔNG CÔNG KÍCHVÀ NỔI DẬY
TẾT MẬU THÂN 1968 Ở SÀI GÒN
Chấp hành Nghị quyết 14 của Trung ương Đảng ngày
25.10.1967, Trung ương cục miền Nam ra Nghị quyết về tiến hành
Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa lấy miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn
- Gia Định làm trọng điểm, hướng tiến công chủ yếu là Sài Gòn. Nghị
quyết này còn được gọi là Nghị quyế t Quang Trung. Chiế n dịch Xuân
Mậu Thân ở Sài Gòn - Gia Định kéo dài gần 5 tháng gồm 2 đợt tiến
công: đợt 1 từ 31.1.1968 đến 28.2.1968, đợt 2 từ 5.5.1968 đến
18.6.1968.
Trong chiến dịch này, riêng ở khu vực nội thành, ta đã sử dụng
từ 15 đến 22 tiểu đoàn bộ binh cùng các đơn vị đặc công, biệt động và
lực lượng vũ trang địa phương gồm quận huyện, ban ngành, đoàn
thể, kết hợp với các lực lượng chính trị và binh vận.
Vào đợt 1, giờ G, ngày N trên toàn miền được quy định là 00 giờ
đến 2 giờ sáng mùng 2 Tết theo lịch cũ. Các tư lệnh quân khu, các chỉ
huy, các cụm biệt động đã được phổ biến 48 giờ trước giờ G.
Một việc đáng tiếc là do đổi lịch nên ở miền Bắc, Khu 5 và Tây
Nguyên nổ súng trước, theo lịch cũ, B2 (tức miền Đông Nam Bộ và
Sài Gòn - Gia Định) nhận được lệnh hoãn, nổ súng đúng lịch mới.
Kế hoạch củ a ta là: biệt động bất ngờ đánh chiếm mục tiêu và
giữ trong khoảng 1 giờ chờ các tiểu đoàn mũi nhọn và lực lượng
thanh niên xung kích hoặc lực lượng địch binh biến đến hỗ trợ tăng
cường và giữ mục tiêu luôn. Theo hợp đồng, "giờ G" được báo hiệu
bằng những loạt pháo ĐKB bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất và bộ Chỉ
huy MACV, vị trí của tướng Westmoreland, nhưng đã không thực
hiện được. Chờ mãi không thấy, 2 giờ sáng ngày 31.1.1968, bộ phận

phối thuộ c cho tiểu đoàn 268 phân khu 2 ở phía tây Tân Sơn Nhất
bắn 8 quả 82 ly vào sân bay. Cả thành phố coi đó là hiệu lệnh tấn
công.
Đội biệt động nổ súng đúng giờ vào các mục tiêu dinh Độc Lập,
Đại sứ quán Mỹ, Bộ Tổng tham mưu, Đài phát thanh, sân bay Tân
Sơn Nhất. Riêng mục tiêu Tổng nha Cảnh sát, kho xăng Nhà Bè, Bộ
tư lệnh hải quân không thực hiện được. Lực lượng ta chiếm một nửa
sân bay Tân Sơn Nhấ t. Các tiểu đoàn do Bộ tư lệnh tiền phương Nam
phụ trách cùng với các lực lượng bán vũ trang gồm cán bộ, công nhân
viên, các cơ quan khu ủy, trung ương cục lọt sâu vào nội thành, kết
hợp với lực lượng quần chúng, làm chủ một vùng rộng đến tận khu
Ngã Sáu Chợ Lớn, Cầu Muối, Chợ Thiếc. Nhưng lượ ng chính qui
không vào được thành phố nên cuối cù ng phải rút lui.
Ý nghĩa lớn lao nhất của đợt 1 Tết Mậu Thân chính là đòn đánh
"trúng sọ não" và sự bất ngờ về mọi mặt đối với địch. Việc quân dân
ta đồng loạt tấn công vào hậu phương, sào huyệt của địch, "đưa chiến
tranh vào đô thị" chính là điều choáng váng nhấ t đối với đế quốc Mỹ
trong quá trình xâm lược Đông Dương. Ngày 31.1.1968 tổng thống
Mỹ Johnson tuyên bố không ra ứng cử tổng thống nhiệm kỳ tới, chấp
nhận chấm dứt ném bom Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra, đồng ý
thương lượng với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu từ
ngày 3.5.1968 tại thủ đô Paris.
Đợ t 2 được bắt đầu lúc 0 giờ 30 phút ngày 5.5.1968, các loạt hỏa
tiễn M.12, ĐKB bắn vào các mục tiêu sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ tổng
tham mưu, Sứ quán Mỹ, dinh Độc Lập, Tân cảng Sài Gòn, Bộ tư lệnh
Hải quân, Tổng nha cảnh sát. Trong đợt này trung đoàn 1, sư đoàn 9,
tiểu đoàn 6 Bình Tân, trung đoàn bộ binh 2 phân khu 2, các lực lượng
vũ trang các ngành, giới, các quận đã mở diện tấn công rộng rãi và
mạnh mẽ ở các khu phố quan trọng trong khắp nội thành diệt nhiều
cảnh sát, mật vụ ác ôn. Tại cửa ngõ tây nam quân ta thọc sâu vào tận
đường Tổng đốc Phương. So với đợt 1, đợt 2 quân chủ lực tiến sâu
hơn: chiếm ngã tư Hàng Xanh, phía bắc đường Chi Lăng, giữa thị xã
Gia Định.
Vào đợt 2, mặc dầu yếu tố bất ngờ về chiến lược không còn,
nhưng ta tiếp tục "đưa chiến tranh vào thủ đô địch", riêng trong
thành phố ta diệt nhiều sinh lực địch hơn đợt 1.

Với hai đợt tấn công Tết Mậu Thân 1968, ta đã chuyển cuộ c
chiến tranh cách mạng ở miền Nam sang một giai đoạn mớ i giành
thắng lợi quyết định. Đợt Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân còn là
cuộc tổng diễn tập chiến lược, phát huy thành quả đồng khởi 1960 và
tạ o tiền đề cho trận quyết chiến dứt điểm trong chiến dịch mùa xuân
lịch sử 1975. Sau cuộc tổng công kích và nổ i dậy tết Mậu Thân ở Sài
Gòn - Westmoreland đã viết về Mậu Thân và các báo chí cũng ghi lại
cuộc tiến công mùa Xuân năm 1968.
(Hỏ i và đáp 300 năm Sà i Gòn - TP. HCM)

Chán đời đi lang thang !
0
TUỔI TRẺ SÀI GÒN XUỐNG ĐƯỜNG
Trong cuộc chiến đấu chống Mỹ , tên đế quốc hung bạo nhất của
thời đại hiện nay, Sài Gòn như một trái núi lửa, luôn luôn nóng rực,
luôn luôn rung chuyển bởi những cuộc biểu tình, hội thảo, những
"đêm đốt lửa căm thù", "đêm không ngủ", "hát cho đồng bào tôi nghe",
những chiến dịch quy mô chống Mỹ - ngụy đòi hòa bình, đòi áo cơm,
đòi quyền dân chủ, quyền tự quyết của tất cả cá c từng lớp, từ trẻ đến
già, từ những sinh viên sôi nổi đến những công nhân kiên định, từ
những trí thức uyên thâm đến những nhà tu hà nh trầm lặng, thậm
chí cả đến anh em phế binh trong quân đội Sài Gòn cũng có mặt trong
hàng ngũ đấu tranh.
Một vài mẩu chuyện ngắn sau đây chỉ phản ảnh được một phần
nhỏ, rất nhỏ, cuộc chiến đấu hào hùng, sôi động của Sài Gòn đánh Mỹ
vào những năm đầu của thập niên 70 này.
Tinh thần tranh đấu, dù i cui phải gờm.
Đợ t đấu tranh chống Lon-non Ma-tắc tàn sát Việt kiều ta đã
kéo dài gần 2 tháng. Hôm nay tuổi trẻ học đường lại mở trận đánh
lớn. Từng đoàn học sinh sinh viên lũ lượt kéo về quảng trường Quách
Thị Trang. Các nam nữ sinh lái xe honda chở nhau, người ngồi sau
giương cao biểu ngữ nổi bật những dòng chữ:
"Đả đảo chế độ cả nh sát trị!" "Thái thú Bâõn-cơ phải rút lại lời
tuyên bố xấc xược, phải xin lỗi học sinh!" "Mỹ đến đâu đầu lâu đến
đó!" "Mỹ cút đi! chúng tôi muốn hòa bình!"
Đoàn biểu tình tiến tới Ngã Sáu thì đụng phải "chướng ngại"
cảnh sát dã chiến. Bọn chúng đeo mặt nạ "mõm heo"; tay dùi cui tay
khiên mây, xô ra chặn đường. Chúng tung lựu đạồn cay, khói bay sặc
sụa. Người và xe dồn lại, nhốn nháo.... Nhưng chưa đầy một phút
sau, nhóm sinh viên xung kích mang mặt nạ chống hơi cay, tay cầm

thùng nước lao lên phía trước. Thêm một loạt lựu đạn cay từ phía
cảnh sát dã chiến bay tới. Lập tức anh em nhào vào dội nước, dùng
chân dập tắt. Anh em hành động khẩn trương, dứt khoát, vừa làm
vừa "hò dô":
"Lựu cay mặc kệ lựu cay. Tinh thần tranh đấu , lựu cay cũng
xìu"
Khi nhóm xung kích mở xong đường, đẩy lùi bọn "thủ vĩọ lợn"
ra xa, mọi người nhanh nhẹn ào vào quảng trườ ng. Xe honda được bổ
sung, đứng thành một hàng rào người ken đặc. Từ trong đám đông
tiếng loa phó ng thanh cất lên. Một giọng nữ trong trẻo nhưng dứt
khoát, rành rọt: "Các bạn! tình hình sức khỏe của các bạn ta hiện nay
trong khám Chí Hòa rất nguy kịch. Tổng Hội đã quyết định anh chị
em tạm ngừng tuyệt thự c, nhưng anh chị em không chịu. Chúng ta ở
đây, tìm mọi cách, kể cả biện phá p mạnh, đòi nhà cầm quyền phải
ngừng tay đàn áp, phải để cho thân nhân người bị giam được vào
thăm. Nhưng họ vẫn cố tình làm ngơ, không hề tỏ một chút thiện chí
nào. Họ chỉ trả lời bằn lự u đạn cay, dùi cui, phi tiễn và tiếp tục những
cuộc lùng ráp, bắ t cóc...."
Từ trong khối quần chúng biểu tình, một nam sinh thét lớn: "Đả
đảo chính quyền theo đuôi Mỹ!", "Phản đối chế độ cảnh sát trị!". Khối
người rù ng rùng chuyển động. Nhiề u tiếng hô "phả n đối", "đả đảo"
dậy lên. Chờ cho tiếng la thét tạm lắng, Đ, mộ t trong những sinh viên
trong Ban chấp hành Tổ ng hội, bước đến tiếp nhận chiếc loa điện từ
trong tay người nữ sinh. Anh nói: "Qua những sự việc vừa rồi, rõ ràng
chính quyền (chỉ bọn Thiệu) sợ người Mỹ hơn là sợ dân chúng Việt
Nam. Và chúng tôi cho rằng chính phủ Ních-xơn phải chịu trách
nhiệm. Tôi xin dẫn chứng vài trường hợp sau đây:
- Anh Mẫm bị bắt là do đánh điện tín cho sinh viên Hoa Kỳ. -
Anh Thắng bị bắt về Tổng Nha cũng do ký tên vào bức điện gửi Quốc
Hội Mỹ".
Giữa lúc Đ. đang hăng há i tố cáo Mỹ thì tiếng còi cảnh sát rú
lên inh ỏi như heo bị thọc huyết. Đ. nói nhanh: "Đại diện của "chánh
quyền" lại sắp đến nữa đấy! Thôi, chúng ta hãy phân tán mỏng, đánh
"du kích"như kế hoạch đã bàn".

Khối người lập tức chuyển động. Nhưng bọn "thủ vĩ lợn" đã tràn
tới. Nhiều tên hùng hổ xông vào vung dùi cui đánh tới tấp. Phi tiễn
trự c xạ, gián xạ nổ tứ tung. Nhó m sinh viên xung kích chặn chúng lại
bằng bom lửa, gạch, đá và cán biể u ngữ . Anh em vừa đánh nhau với
cảnh sát dã chiến vừa hô vang:
"Dùi cui thì mặc dùi cui. Tinh thần yêu nướ c, dùi cui phải gờm"
Sau hơn mườ i lăm phút xô xát, bọn "thủ vĩ lợn" bị đẩy lùi. Đoàn
biểu tình tràn ra như dòng thá c lũ. Truyền đơn tung ra trắng đường.
Đồng bào hai bên phố đổ ra đường hoan hô không ngớt. Các má, các
chị mang la-ve, nước cam, dưa hấu trao tận tay "Đoàn quân chiến
thắng"
(Sài Gòn TP.HCM - NXB Sài Gòn Giải Phóng tái bản 75)

Chán đời đi lang thang !
0
CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH LỊCH SỬ 30/4/1975
Những ngày đầu chiế n dịch
Thờ i cơ nối tiếp thời cơ, chiến dịch mở ra chiến dịch, hội nghị Bộ
chính trị ngày 31/3/1975 xác định "Từ giờ phút này trận quyết chiến
chiế n lược cuối cùng của quân dân ta đã bắt đầu". Các nghị sỹ Mỹ
theo dõi tình hình miền Nam quả quyết, đã quá muộn để làm bất cứ
việc gì nhằm lật ngược tình thế ở Việt Nam. Ngày 1/4/1975 chiến dịch
giải phóng Sài Gòn đã bắt đầu được chuẩn bị theo tư tưởng chỉ đạo
"thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng" với tố c độ "một ngày bằng 20
năm". Ngày 14/4/1975 Bộ chính trị phê chuẩn đề nghị của bộ chỉ huy
chiế n dịch đặt tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định là "Chiến
dịch Hồ Chí Minh", phương án chiến dịch được thông qua lần cuối.
Như một bức tranh hoành tráng, xe pháo và tàu thuyền đủ loại, bộ
đội và dân nhân du kích, dân công và Thanh niên xung phong, những
ngả đường tấp nập..., cả dân tộc từ Bắc chí Nam đang hành quân,
hậu phương đang dốc toàn lực ra tiề n tuyến, nửa miền Nam vừa được
giải phóng cũng góp sức vào chuẩn bị giải phóng nửa còn lại. Đầu
tháng 4/1975 Trung ương cục miền Nam ra chỉ thị cho quân dân Nam
bộ và Nam Trung bộ (B2) hãy "táo bạo đánh các điểm theo chốt... khi
có thời cơ". Bộ chỉ huy chiến dịch giải phó ng Sài Gò n quyết định mở
chiế n dịch chia cắt địch trong toàn B2 để bao vây cô lập dịch ở Sài
Gòn. Điện của Bộ chính trị và quận ủy trung ương nhắc nhở cần
chuẩn bị thêm trước khi làm ăn lớn. Chỉ thị của Bí thư thứ nhất Lê
Duẩ n căn dặn phải biết tập trung lực lượng đầy đủ vào các trận then
chốt. Ngày 8/4/1975, ta cho ném bom Dinh Độc Lập. Ngày 9/4/1975 ta
tiến đánh địch ở Xuân Lộc. Ngày 16/4/1975 ta đập tan phòng tuyến
phòng thủ từ xa của địch ở Phan Rang. Ngày 17/4/1975 Phnôm-pênh
giải phóng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Campuchia đã kết thú c
thắng lợi. Trong khi đó ở Lào chính phủ liên hiệp đóng cửa sứ quán
ngụy Sài Gòn và ngụy Phnôm-pênh, sau đó vua Lào ra lệnh giải tán
quốc hội, cuộc đấu tranh của quân và dân Lào bước hẳn sang thời kỳ

chính trị hiệp thương để giành thắng lợi hoàn toàn. Ngày 18/4/1975
tổng thống Mỹ. G.Ford ra lệnh di tản người Myọ khỏi Việt Nam.
Ngày 20/4/1975 Mỹ buộc Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Ngày 23/4/1975
Mỹ tuyên bố chiến tranh kết thúc, không thể giúp chính phủ Nam
Việt Nam. Ngày 24/4/1975 Mỹ - Hương đề nghị xin ngưng bắn... Diễn
biến dồn dập ấy diễn ra cùng lú c với 5 cách quân gồm 270.000 bộ đội
chủ lực và 180.000 người khác phục vụ chiến dịch đang từng bướ c
chiếm lĩnh các vị trí xuất phát tiến công vào Sài Gòn. 17 giờ ngày
26/4/1975 cuộc tổng kích đáng chiếm Sài Gòn bắt đầu, các mục tiêu
tấ n công ngập chìm trong bão lửa. Mỹ vội vàng mở chiến dịch "người
liều mạng" để di tản. Các tướng tá quân độ i Sài Gòn từ các sư đoàn bị
đánh tơi tả, kẻ bị bắt, kẻ đầu hàng, kẻ tự sát, kẻ cở i quân phục lẩn
trốn vào đám tàn quân. Tổ ng thống ngụy muốn xin "bàn giao chính
quyền", các đại diệ n Mỹ, Pháp tìm kế hoãn binh... Nhưng tất cả đã
không thể ngăn cản được sức tiến công của lực lượng vũ trang cách
mạng trong "trận đánh cuối cùng" để kết thúc chiến tranh 30 năm.
(Theo sách Lịch sử Việt Nam tập 3 - NXB Giáo dục)
Diễn biến chiến dịch Hồ Chí Minh tại Sài Gòn
Tại Sài Gòn, sáng ngày 30 tháng 4, chuẩn tướng Nguyễn Hữu
Hạnh (tướng Vĩnh Lộc tổng tham mưu trưởng đã bỏ chạy) và Nguyễn
Hữ u Có, lên gặp Dương Văn Minh báo cáo tình hình quân sự, đã thú c
đẩy Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫn (thủ tướng) đi đến quyết định
đơn phương ngừng bắn, chờ "bàn giao trong vòng trật tự". Dương Văn
Minh họp bộ hạ và đưa ra ý kiến "tuyên bố thành phố bỏ ngỏ". Sau
khi bàn luận, Vũ Văn Mẫu viết bản tuyên bố kêu gọi đơn phương
ngưng bắn và bàn giao chính quyền cho cách mạng. Bản tuyên bố
được phát trên đài phát thanh Sài Gòn lú 9 giờ 30 phút.
Trên tất cả các hướng vào Sài Gò n, quân ta tiếp tục tiến công
theo mệnh lệnh của Bộ Chính trị "tiến quân với khí thế hùng mạnh
nhất, giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ, tước vũ khí quân đội địch,
giải tán chính quyền các cấp của địch, đập tan triệt để mọi sự chống
đối của chúng". Địch dùng pháo từ phía Đông xa lộ Sài Gòn - Biên
Hòa bắn ra cắt đội hình lữ đoàn xe tăng 20. Mộ t phân đội của lữ đoàn
rẽ vào đánh diệt chúng ở liên trường Thủ Đức (ở Cây Mai). Tại đây
chiế c xe 707 đã phải chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và người cuối

cùng. 9 giờ 30 phút đoàn xe tăng tiến thuận lợi qua cầu Rạch Chiế c
do Z23, lữ đoàn 316 đặ c công biệt động đang chiến giữ. Phía trướ c là
cầu Sài Gòn, ở đây tiểu đoàn 4 Thủ Đức đã chiến đấu quyết liệt,
giằng co với địch từ đêm 29 rạng 30 tháng 4, đến 7 giờ sáng ngày 30
tháng 4 mới chiếm lại được đầu cầu phía Đông. Đoàn xe tăng lữ đoàm
203 đến đầu cầ u Sài Gòn, 2 xe dẫn đầu đội hình tăng tốc vượt qua
được nửa cầu thì bị xe tăng địch ở phía Tây vò m cầu bắn chá y. Đội
hình xe tăng ta phải dừng lại ở đầu cầu phía Tây. Tiểu đoàn trưởng
tiểu đoàn xe tăng Ngô Văn Nhỡ cầm cờ hiệu và điện đài chỉ huy tốp
xe dẫn đầu vượt cầu lại bị trúng đạn địch và hy sinh trên tháp pháo.
Lữ đoàn phó Trần Minh Công lên chỉ huy vượt cầu. Địch tiếp tục bắn
hỏng thêm 2 xe tăng. Đại đội trưởng Bùi Quang Thận và chính trị
viên Vũ Đặng Toàn chỉ huy đại đội 4 vượt qua cầu. Địch lui về ngã tư
Hàng xanh, ta bám sát và bắn cháy một xe tăng của chúng tại đây.
Các lực lượng tại chỗ bao vây, vận động vô hiệu hóa một số xe khác.
Địch ở cầu Thị Nghè ngoan cố chống cự, ta bắn cháy thêm 1 xe tăng,
1 xe thiết giáp. Qua cầu Thị Nghè, nữ chiến sĩ liệt động Nga (lữ đoàn
16) lên xe tăng cùng Phạm Duy Đô làm nhiệm vụ dẫn đường. Lữ
đoàn 203 tiến vào Dinh Độc Lập theo đường Hồng Thập Tự và Đại lộ
Thống Nhất do xe tăng 483 của trung úy Bù i Quang Thận dẫn đầu.
Một số chiến sĩ biệt động đã có mặt trước dinh Độc Lập. Trong Dinh
cũng đã có mặt một số cán bộ tình báo đường dài của ta: Tô Văn
Cang, Vũ Ngọc Nhạm một cơ sở binh vận (chuẩn tướng Nguyễn Hữu
Hạnh). Chiếc xe tăng 843 húc cánh cổng sắt Dinh Độc Lập, tiến
thẳng vào cửa Dinh. Ngay tứ c khắc chiến sĩ lái xe Jeep Bùi Ngọc Vân
cầm cờ chạy lên tầng 2 phất mạnh trước dân chúng đang reo vui ở
cổng Dinh Độc lập. Trong lúc đó, Bùi Quang Thận nhảy ra khỏi xe,
cùng một số chiến sĩ tiến thẳng lên ban công thượ ng của tòa nhà, giật
bỏ lá cờ vàng 3 sọc và kéo cờ giải phóng lên cột cờ cao nhất của Dinh
Độc Lập lúc 11 giờ 30 phút. Đại đội trưởng Phạm Duy Đô chạy thẳng
vào trong Dinh quan sát và trở ra báo cáo ngay với trung tá chính ủy
lữ đoàn 203 Bùi Văn Tùng xác nhận sự có mặt của tổng thống và nội
các ngụy quyền tại Dinh. Trung tá lữ trưởng Nguyễn Tấn Tài lệnh
điều chỉnh đội hình xe tăng bao vây Dinh đề phòng địch phả n kích,
đồng thời phái một bộ phận ra đánh chiếm cảng Sài Gòn.
Đại úy trung đoàn phó trung đoàn 66 Phạm Xuân Thệ cùng một
số cán bộ, chiến sĩ ta được Nguyễ n Hữu Hạnh dẫn đường tiến thẳng
vào phòng khánh tiết gặp Dương Văn Minh và nội các Vũ Văn Mẫu.

Tiếp đó, các đồng chí Bùi Văn Tùng và Nguyễn Tấn Tài vào phòng
khánh tiết. Hai cán bộ tình báo của ta cũng đã có mặt tại đây từ sáng
với tư cách là người của lực lượng thứ ba đến vận động Dương Văn
Minh sớm đầu hà ng: Vũ Ngọc Nhạ , Tô Văn Can. Dương Văn Minh
đứng dậy nói: "Chúng tôi đang đợi các ông để bàn giao". Ta tuyên bố:
"Các ông đã bị bắ t làm tù bình, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô
điều kiện. Các ông không còn gì để bàn giao". Dương Văn Minh chấp
nhận, trao khẩu súng ngắn cho đại úy Phan Xuân Thệ và đến đài
phát thanh đọc bản tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Trung tá Bùi
Văn Tùng đọc lời chấp nhận đầu hàng của Dương Văn Minh. Từ sáng
ngày 30 tháng 4 cho đến lúc này tại trung tâm Sài Gòn đã có 34 điểm
nổi dậ y của quần chúng và lực lượng tại chỗ. Sau 11 giờ 30 phút ở 41
điểm chủ lực ta chưa tới, quân chúng và lực lượng tại chỗ tiếp tục nổi
dậy. Ở quận 3, tại phường cư xá Đô Thành, lúc 12 giờ ngày 30 tháng
4 khi lự c lượng võ trang ta tiến công quận 3, anh Tư và anh Công,
người địa phương, cùng một cán bộ biệt động của Z15 (lữ đoàn 316)
dùng loa hô hào nhân dân nổi dậy giành chính quyền, kêu gọi sĩ quan
và binh lính địch nộp vũ khí đầu hành. Ngay chiều 30 tháng 4 hàng
trăm đồng bào xin nhận công tác theo yêu cầu của cách mạng, hàng
trăm người khác tự động ra đường thu gom vũ khí, quân trang, quân
dụng của địch. Đồng bà o treo đầy cờ giải phóng trước nhà riêng, công
sở và tự nguyện góp cấp thời lương thực thực phẩm cho bộ đội. Tại
phường Bàn cờ quận 3, các đồng chí cơ sở mật của ta: Chị Bảy, anh
Châu, anh Ba Đông, phát động quần chúng nổi dậy giành chính
quyền, chiếm giữ các kho tàng của địch, giữ gìn trật tự, an ninh, làm
vệ sinh đường phố. Đồng bào thu gom được 3.000 súng các loại đem
nộp cho cách mạng. 16 giờ ngày 30 tháng 4, phường Bàn Cờ tổ chức
mít tinh, có 13.000 người dự lễ mừng chiến thắng và giới thiệu những
người tốt vào chính quyền mới. Đến 17 giờ, thành lập xong các bạn
phụ trách phường, khóm và tổ chức chuyên việc đăng ký ngụy quân,
ngụy quyền ra trình diện. Ở hướng xa lộ Biên Hòa, Z27 sau khi hoàn
thành nhiệ m vụ chiếm giữ cầu Rạch Chiếc cho lữ đoàn 203 đi qua,
theo lệnh trên, tiến chiếm nhà máy xi măng Hà Tiên, nhà máy Zetcô
(nay là liên hợp công trình 4) và giữ nhà máy điện Thủ Đức. Nhờ đó,
điện ở thành phố chỉ gián đoạn có vài giờ trong ngày 30 tháng 4. Tiểu
đoàn 4 Thủ Đức, sau khi lữ đoàn 203 xe tăng qua cầu Sài Gòn tiếp
tục tổ chứ c đánh chiếm các đồn bót địch trên trục lộ 33 đoạn từ ngã
ba Bình Trưng đến ngã ba Phú Hữu, cùng cá n bộ địa phương phát

động quần chúng nổi dậy trừng trị ác ôn, giải phóng hai xã Bình
Trưng và Phú Hữu. Tại nhà máy nướ c Thủ Đức, từ những ngày 27 và
28 tháng 4, nòng cốt công nhân đã lập đội bảo vệ nhà máy. Hàng
trăm công nhân và kỹ sư liên tục bá m giữ máy, không cho địch phá,
bảo đảm cung cấp đầy đủ nước cho thành phố cả nước và sau khi giải
phóng.
Ngày 30 tháng 4, khi xe tăng ta tiến gầ n đến, đồng chí Muống,
đứng đầu ủy ban khởi nghĩa nhà máy, lãnh đạo công nhân tung tin
hù dọa địch và tự mình leo lên nóc nhà máy treo một lá cờ lớn. Địch ở
đây rất đông: thường xuyên có một tiểu đoàn thủy quân lục chiến, 1
tiểu đoàn cao xạ, 1 đại đội bảo an và ngày 30 tháng 4, còn kéo về đây
thêm khoảng 40 xe tăng và thiết giáp... nhưng trước thế tiến như vũ
bão của ta và khí thế công nhân tạ i chỗ, tất cả địch ở đây đã phải bỏ
chạy. Toàn bộ lự c lượng địch ở Thủ Đức tan rã . Quần chúng xông vào
chiế m giữ các căn cứ quân sự của địch, tiến chiếm trụ sở quận. Toàn
bộ ngụy quyền quận bỏ chạy. Với mọi chuẩn bị từ trước, khi đại quân
ta tiến vào Sài Gòn, cơ sở cá ch mạng và quần chúng lao động nội
thành kịp thời nổi dậy chiếm lĩnh, làm chủ và bảo vệ các cơ sở kinh
tế, chính trị văn hóa quan trong, bảo đảm mọi sinh hoạt bình thường
của một thành phố mới giải phóng.
Ở nhà máy điện Chợ Quán, ngay lúc địch đang tồn tại và thiết
quân luật, công nhân đã thay phiên nhau đi sửa chữa đường dây, ổn
định dòng điện. Anh em kêu gọi binh lính ngụy quay về với chính
nghĩa, ủng hộ hành động nổi dậy củ a công nhân. Tại xưởng Ba Son,
công nhân tháo gỡ hết chất nổ địch gài, bả o vệ nguyên vẹn nhà máy.
ở các hãng Esso, Shell, công nhân thành lập các ủy ban công nhân võ
trang bảo vệ kho xăng Nhà Bè. Công nhân các xí nghiệp Vimytes,
Sicovina, Vinatexco, Biopharma và hàng loạt hãng, xưởng khác bất
chấp công an, mật vụ, đã nổi dậy chiếm xưởng bảo vệ máy móc. Các
cơ sở cách mạng và quần chúng nổi dậy chiếm lĩnh, cắm cờ trụ sở
khóm hai phường Huyện Sĩ, ngã ba Thủ Khoa Huân, đường Lê
Thánh Tôn, chợ Bến Thành, cư xá Đô Thành, ty cảnh sát quận 3, sở
văn hóa... Một trí thức, cơ sở của ta, đã giữ gìn và trao lại nguyên vẹn
cho cách mạ ng toàn bộ phòng báo chí Phủ tổng thống ngụy của
Hoàng Đức Nhã (đặt tạ i số 116 đường Hồng Thập Tự, nay là đường
Nguyễn Thị Minh Khai).

15 giờ ngày 30 tháng 4 tất cả cá n bộ Thành ủy cánh A (luồn vào
từ đêm 29 tháng 4) đã có mặt trong thành phố, tập kết nhận nhiệm
vụ kế tiếp tại khu trường Pétrus Ký. Cán bộ, chiến sĩ cánh B của
Thành ủy có mặt cùng nhân dân thự c hiện nổi dậy giành chính
quyền, giành quyền làm chủ từ ấp, xã đến thị trấn ngoại thành, cũng
đã hội tụ về nhận nhiệ m vụ tại dinh tỉnh trưởng Gia Định. Trong
chiế n dịch Hồ Chí Minh, riêng quân dân Sài Gòn - Gia Định đã diệt
và làm tan rã 31.000 tên địch, bắt sống 12.619 tù binh, chiếm 9 căn
cứ quân sự, 5 chi khu, 21 phân chi khu và trụ sở tề... thu 12.275 súng
và gần như toàn bộ hồ sơ các cơ quan từ Phủ tổng thống trở xuống. Số
ngụy quân lần lượt ra trình diện là 40 vạ n và số công an cảnh sát là
10 vạn. 17 giờ ngày 30 tháng 4, tiếng súng đã thực sự chấm dứt ở
"thủ đô" ngụy quyền, trừ một số mục tiêu quân sự. Thành phố hơn 3
triệu dân vừa qua cuộc chiến tranh 30 năm, vẫn nguyên vẹn đã
chuyển sang trạng thái bình yên đến độ gây ngạc nhiên cho mọi
người trên thế giới đang có mặt: nước vẫn chảy đều trong các đường
ống; dòng điện chỉ tạm ngừng trong 2 giờ rồi mọi nhà lại sáng; công
nhân nhà máy vẫn sẵn sàng cho máy chạy; chợ búa, quán xá vẫn sẵn
sàng mở; đường phố vẫn đông người, xe cộ... Người dân Sài Gòn - Gia
Định náo nức cắt dàn cờ hoa để xuống đường ngày 1-5 mừng cuộc
toà n thắng và chờ đêm hội pháo hoa.
Chiến thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử
Sài gòn là đô thị lớn nhất Việt Nam, nằm giữ a miền Trung và
miền Đông Nam Bộ, là trung tâm các đầu mối giao thông chiến lược
cả về đường bộ, đường thủy và đường không. Các vùng nông thôn
rừng núi, trung du đồng bằng và ven biển bao xung quanh thành phố
có mối quan hệ mật thiết về các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn
hóa. Trong thành phố, nhà cửa san sát với những cao ốc nhiều tầng,
dân cư đông và tập trung ở mật độ cao. Những đặc điểm nêu trên làm
cho Sài Gòn giữ một vị trí địa lý đặc biệt quan trọng. Đố i với địch,
nhất là trong chiến tranh xâm lược của Mỹ, Sài Gòn là thủ đô, trung
tâm, chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội của cả miền Nam.
Nơi đây là sào huyệt của tổ chức chính quyền trung ương ngụy và các
đảng phái chính trị, tôn giáo, văn hóa, nơi tập trung cơ cấu chỉ đạo,
chỉ huy quân sự của toàn bộ cuộc chiến tranh với từng vùng chiến
trường, nơi phát ra và chỉ đạo thực hiện các chủ trương chiến lược,
các kế hoạch, biện pháp và thủ đoạn chiến lược, chiến thuật trên toàn

chiến trường miền Nam và Campuchia. Chúng tập trung ở Sài Gòn
và vùng phụ cận một bộ phận quan trọng lực lượ ng, sinh lực và
phương tiện chiến tranh lớn cùng hệ thống phòng thủ nhiều tầng, từ
xa, tập trung các cơ sở kinh tế công nghiệp, thương mại, đáp ứng
phần lớ n âm mưu cướ p vét sức người sức của "lấy chiến tranh nuôi
chiế n tranh"; đồng thời xây dựng, bố trí các cơ sở dự trữ vật chất,
phương tiện chiến tranh lớn nhất ở Đông Dương.
Đối phó vớ i phong trào cách mạng quầ n chúng, ngoài mạng lưới
kềm kẹp đồ sộ và nghiêm ngặt, địch tiến hành đánh phá thường
xuyên và ác liệt, tinh vi trên mọ i phương tiệnc hính trị, quân sự , văn
hóa, kinh tế, nơi chúng thực hiện một cách tập trung, đầy đủ nhất
chủ nghĩa thực dân kiểu cũ (từ năm 1945 đến năm 1954) và kiểu mới
(từ năm 1945 đến năm 1975). Thà nh phố Sài là nơi thực dân Pháp nổ
súng tiến công mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược và là nơi đế quốc
Mỹ cố giữ đến phút cuối cùng của cuộc chiến tranh, là điểm mở đầu
và kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của hai đế quốc Pháp và Mỹ
trong 30 năm qua. Đối vớ i ta, thành phố Sài Gòn là nơi tập trung số
lượng dân cư đông đảo nhất ở miền Nam, nơi có lực lượng học sinh
sinh viên, nhân sĩ trí thức, tư sản dân tộc và đặc biệt là lực lượng
công nhân công nghiệp (vốn có quan hệ huyết thống gần gũi với nông
dân vùng nông thôn Nam Bộ và vớ i công nhân các đồn điền cao su).
Nhân dân Sài Gòn có truyền thống yêu tự do, bất khuất chống ngoại
xâm rất sâu sắc và liên tục trong suốt lịch sử 300 năm của thành phố.
Mọi biến động ở thành phố Sài Gòn, do vị trí trung tâm của nó, đều có
ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình toàn miền Nam, cả nước và trên thế
giới.
Sài Gòn trở thành trung tâm đấu tranh chính trị củ a cả miền
Nam trong cả hai thời kỳ kháng chiế n chống Pháp và chống Mỹ, là
địa điểm quyết chiến chiến lược cuối cùng của cuộc chiến tranh cách
mạng xét về mặt mục tiêu cơ bản của công cuộc giải phóng hoàn toàn
đất nước của dân tộc ta. Những đặc điểm nêu trên tác động sâu sắc
đến toàn bộ tiến trình cuộc kháng chiến diễn ra trên địa bàn Sài Gòn
- Chợ Lớn - Gia Định. Tiếng sú ng gây hấn ngày 23 tháng 9 năm 1945
là hành động kết thúc quá trình chuẩ n bị trở lại xâm lượ c Đông
Dương của giới tư bản quân phiệt Pháp từ khi nước Pháp còn bị phát
xít Đức chiếm đóng. Chuẩn bị và xác định ngay từ đầu quyết tâm
kháng chiến, quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã đứng dậy

tiến hành cuộc đấu tranh toàn dân chống thực dân Pháp dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản, đồng thời nỗ lực đặt nền móng và phát triển
mọi nhân tố của một Nhà nướ c Dân chủ Cộng hòa mới được thành
lập. 15 tháng đầu kháng chiến của quân Sà i Gòn - Chợ Lớn - Gia
Định vào Nam Bộ, Nam Trung Bộ đã giáng một đoàn phủ đầu vào dã
tâm xâm lược của thực dân Pháp, làm xáo trộn kế hoạch chiến lượ c
đánh nhanh thắng nhanh của chúng, tạo ra khoảng thời gian quý báu
để nhân dân cả nước có điều kiện xây dựng lực lượng mọi mặt, chuẩn
bị cho cuộc kháng chiến lâu dài diễn ra trên phạm vi toàn quốc. Từ
đầu năm 1947, trong điều kiện Sài Gòn bị chiếm đóng hoàn toàn,
"được bình định, ổn định" và ngày càng trở thành trung tâm chiến
lược xây dựng Nam Bộ thành hậu phương dự trữ của chúng trong
cuộc chiến tranh xâm lượ c ở Đông Dương, quân và dân Sài Gòn - Chợ
Lớn - Gia Định đã từng tiếp tục xây dựng lực lượng mọi mặt, xây
dựng các loại lực lượng vũ trang thích hợp, mở rộng phong trào chiến
tranh du kích, đẩy mạnh công cuộc kháng chiến toàn diện cả về quân
sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, đưa cuộc kháng chiến phát triển thành
cao trào vào năm 1950. Sau năm 1950, được sự chi viện của đế quốc
Mỹ, thực dân Pháp ra sức bình định Nam Bộ, trọng tâm là Sài Gòn,
Chợ Lớn - Gia Định, đẩy phong trào cách mạng vào thời kỳ khó khăn
kéo dài. Quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định năng động tổ
chức lại chiến trường, bố trí lực lượ ng, kết hợp nhiều hình thức đấu
tranh, vượt qua nhiều khó khăn nhằm khôi phục, giữ vững và phát
triển phong trào trong điều kiện bị địch bao vây và đánh phá ác liệt.
Hoạt động kháng chiến ở Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã làm suy
yếu địch từ trong hậu phương của chú ng, cầm chân địch tại chỗ, tạo
điều kiện cho quân và dân toàn miền đẩy mạnh đợt hoạt động hưởng
ứng chiến cuộc Đông Xuân 1953 -1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ,
góp phần kết thúc thắ ng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược.
Từ sau Hiệp định Genève 1954, đế quốc Mỹ gạt Pháp và các thế
lực thân Pháp, từ ng bước nắm quyền thống trị miền Nam Việt Nam,
xây dựng ngụy quân quyền, thi hành chính sách thực dân mới. Sài
Gòn trở thành thủ đô của ngụy quyền miề n Nam. Dưới sự lãnh đạo
của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân Sài Gòn - Gia
Định đã phát động phong trào đấu tranh chính trị tiến công địch
ngay từ đầu, phát triển phong trào bảo vệ hòa bình, đòi thi hành
Hiệp định Genève, đưa Sài Gòn trở thành trung tâm đấu tranh chính

trị của toàn miền Nam. Vượt qua khó khăn thử thách trong những
năm tiếp sau, đặc biệt trong các năm 1957 - 1958 - 1959, nhân dân
Sài Gòn - Gia Định vẫn bền bỉ bảo tồn, gầy dựng và duy trì phong
trào đấu tranh chính trị liên tục, nhằm bảo vệ quyền dân sinh, dân
chủ, chố ng chính sá ch tố cộng diệt cộng, từng bước xây dựng lự c
lượng tự vệ vũ trang ở vùng nông thôn Gia Định, phối hợp đấu tranh
liên kết giữa đô thị và nông thôn nội ngoại thành, đưa dần đấu tranh
chính trị phát triển lên đấu tranh chính trị có tự vệ vũ trang hỗ trợ,
tiến đến thực hiện nổi dậy từng phần, giành quyền là m chủ ở một số
vùng nông thôn ven sát sào huyệt địch (1960 - 1961).
Chuyển sang thời kỳ chiến tranh cách mạng, chống chiến lượ c
chiế n tranh đặc biệt của Mỹ ngụy, quân và dân Sài Gòn - Gia Định
bám sát đường lối chủ trương và phương châm chiến lược đấu tranh
cách mạng của trên, phát huy tính năng động cách mạng, đề ra
phương thứ c tổ chức và hình thức đấu tranh cụ thể cho các vùng hoạt
động (nội đô, ven đô, nông thôn, ngoại thành), trong xây dựng các loại
lực lượng và kết hợp sử dụng các hình thức đấu tranh thích hợp ở
từng vùng trong thừng thời kỳ lịch sử nhấ t định. Các tầng lớp quần
chúng nhân dân ở nội ngoại ô thành phố đều được huy động vào mặt
trận đấ u tranh chống Mỹ và ngụy quyền tay sai (đặc biệt lực lượng
học sinh sinh viên và quần chúng lao động, phật tử) đưa phong trào
cách mạng phát triển lên thế chủ động tấn công địch, góp phần làm
khủng hoảng sâu sắc chế độ chính trị ngụy quyền và cùng với lực
lượng nhân dân ở vùng nông thôn làm phá sản quốc sách ấp chiến
lược của chúng, Giữa năm, 1965, đế quốc Mỹ buộc phải thay đổ i chiến
lược chiến tranh, ào ạt đưa quân Mỹ và chư hầu vào miền Nam Việt
Nam, tiến hành cuộc chiến tranh cụ c bộ. Quân và dân Sài Gòn - Gia
Định xác định quyế t tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ, hình thành mặt trận
chống Mỹ cứu nước ngày càng rộng lớn ngay tại Sài Gòn - Gia Định.
Cao trào đấu tranh chính trị chống Mỹ cùng với những trận tập kích
quân sự vang dội trong nội đô và sự phát triển tiến công của Quân
giải phóng ở các hướng xung quanh thành phố đã góp phần làm thất
bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1966 - 1967 của Mỹ ngụy.
Bước sang năm 1968, ngay tại sào huyệt địch, các lực lượng
cách mạng Sài Gòn - Gia Định đã tích cực chuẩn bị táo bạo cùng lực
lượng toàn miề n thực hành tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968,
đánh vào nhiều mục tiêu chiến lược quan trọng bậc nhất của Mỹ

ngụy, gây cho chúng những tổn thất nặng nề, góp phần cùng cả nướ c
làm suy sụp ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc Mỹ phải xuống
thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phá n với ta ở Paris.
Sau đợ t 2 Tế t Mậ u Thân 1968, dù trong điều kiện bị địch phản
kích đánh phá khốc liệt, lực lượng bị tiêu hao giảm sú t, cơ sở bị bể vỡ
nhiều, nhưng quân và dân Sài Gòn - Gia Định vẫn vững tin vào sự
nghiệp cách mạng của Đả ng, kiên trì bám trụ địa bàn, chịu đựng gian
khổ hy sinh, khéo léo chuyển hướng và phương phá p đấu tranh, quay
về khôi phục xây dựng cơ sở, thực lực, giữ vững và tiến tới đẩy mạnh
cao trào đấu tranh chính trị dưới nhiều hình thức ở nội đô, kiên
cường đánh địch càn quét, liên tục chống phá chương trình bình định
nông thôn của địch, giành lại và mở nhiều lõm làm chủ, giải phóng,
phát triển hệ thống thông tin giao thông liên lạc ở vùng ven, tạo lại
thế tiến công mới cho đến Hiệp định Paris. Trong giai đoạ n cuối cùng
của cuộc chiến tranh, quân và dân Sài Gòn - Gia Định kịp thời đề
phòng và uốn nắn những biểu hiện hò a bình chủ nghĩa sau ngày ký
Hiệp định Paris, tranh thủ thời cơ, tiếp tục phát triển thực lực cách
mạng, tạo thế tạo lự c mới.
Từ cuối năm 1974, khi thời cơ cách mạng chúng bắt đầu xuất
hiện, đã tích cực xây dựng lực lượng quân sự và lực lượng chính trị,
phát huy hiệu lực ở cả ba mũi chính trị, quân sự, binh vận, đẩy mạnh
tiến công địch trên khắp nội ngoại ô thành phố, góp phần thú c đẩy
tính thế cá ch mạng nhanh chính chín muồi. Toàn Đảng, toàn dân,
toà n quân Sài Gòn - Gia Định kịp thời đón nhậ n thời cơ, tham gia
tổng tiến quân và nổi dậy trong chiến dịch Hồ Chí Minh, tạo điều
kiện cho các binh đoàn chủ lực tiến vào thành phố, đập tan bộ máy
ngụy quân ngụy quyền từ cơ sở tới trung ương, làm chủ mọi sinh hoạt
của thành phố ngay từ giờ phút đầu giả i phó ng. Ba mươi năm chiến
tranh ròng rã, quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã hoàn
thành vẻ vang sứ mạng mà lịch sử giao phó "đi trướ c về sau", cùng
quân và dân cả nước lần lượt đánh bại các chiến lược chiế n tranh của
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, gó p phần xứng đáng vào sự nghiệp giải
phóng dân tộc.
Trải suốt những năm chiến tranh tàn khố c, toà n Đảng, toàn
dân, toàn quân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định một lòng son sắt với sự
nghiệp cách mạng của Đảng, của Bác Hồ, kiên cườ ng chịu đự ng và

vượt qua mọi gian lao thử thách, kiên cường chiến đấu vì sự nghiệp
giải phóng quê hương, giả i phó ng đất nước. Cả trong những ngày cam
go nhất của buổi đầu kháng chiến, giai đoạn từ năm 1951 đến năm
1953, giai đoạn năm 1957 - 1958 -1959, nhữ ng ngày địch khủng bố ác
liệt sau Tết Mậu Thân, dân và quân Sài Gòn - Chợ Lớ n - Gia Định
vẫn vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, lần hồi gầy dựng cơ sở (có khi
đi trở lại từ con số không), sẵn sàng chấp nhận hy sinh vì sự nghiệp
chung, lòng không hề vướng bọn mảy may lợi ích riêng tư của bản
thân mình.
Trên mảnh đất Củ Chi, có những căn nhà được dựng đi dựng lại
không dưới mươi lần trên nền đất cũ, có những người meồ chít ngang
đầu 8 vành tang trắng. Hàng ngàn đồng bào, chiến sĩ trải hết các nhà
tù, nếm đủ các đoàn tra tấn dã man và thâm hiểm nhất mà kẻ thù có
thể nghĩ ra vẫn một lòng trung trinh với sự nghiệp cách mạng. Không
thể nào ghi lại được đầy đủ chiến công và sự hy sinh của toàn thể
dân, quân, cán bộ, đảng viên Sài Gòn - Gia Định những chiến sĩ anh
hùng cách mạng. Máu của họ thấm đẫm trên mọi góc phố, cửa ô, mọi
nẻo đường, làng xó m, vườn tược. Khôn thể nào nhắc lại được đầy đủ
lịch sử các địa danh Vườn Thơm, Láng Le, Bàn Cờ, Bình Mỹ, Khu 5
Hóc Môn, Rừng Sác, Bưng Sáu Xã, Tám Giác Sắt, Củ Chi... những
mảnh đất mà tên gọi và sự tích chắc chắ n sẽ lưu lại mãi mãi trong
lịch sử cuộ c kháng chiến thần thánh của dân tộc ta.
Thắng lợi của quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã góp
phần xứng đáng vào thắng lợi chung của toàn dân tộc trong cuộc
chiế n tranh 30 năm vừa qua, một cuộc chiến tranh "mãi mã i được ghi
vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một
biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách
mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến
công vĩ đại của thế kỷ hai mươi, một sự kiện có tầm quan trọ ng quốc
tế và có tính thời sự sâu sắc" (Báo cáo chính trị của Ban chấp hành
Trung ương Đảng tại Đại hội Đảng toàn quốc lần IV).
Ba mươi năm, xương máu, mồ hôi của hàng vạn đồng bào, cán
bộ, chiến sĩ thành phố đổ xuống đã vun tưới thêm truyền thống chống
ngoại xâm vốn được tinh cất trong suốt chiều dài lịch sử ba trăm năm
của cư dân vùng đất Bến Nghé này. Đó là tình yêu quê hương đất
nước, yêu độc lập tự do, là lòng trung thành vô hạ n và ý nguyện dấn

thân vào con đường cách mạng giải phóng dân tộc. Đó là ý chí bất
khuyất và năng động trước mọi ngăn trở của hoàn cảnh, tinh thần
chiế n đấu dũng cảm kiên cường và trí tuệ mưu lược thấm đẫm tinh
thần thượng võ, nghĩa hiệp, là phẩm chất cần cù lao động sáng tạo
xây dựng cuộc sống mới. Đó chính là tinh thần đoàn kết gắn bó, là
tình thương yêu giai cấp, thương yêu đồng loại, là lối ứng xử bặt
thiệp, hào hiệp, nhân nghĩa, có thủy có chung.
Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Sài Gòn-Chợ Lớn
- Gia Định được vinh dự mang tên Bác Hồ -Thành phố Hồ Chí Minh.
Quân và dân thà nh phố lại tiếp tục bước vào cuộc đấu tranh mới:
khắc phục hậu quả chiế n tranh, sử a đổi lệch lạc trong bước đi, đổi
mới sự lãnh đạo, khôi phục và phát triển lực lượng sản xuất mới,
từng bước đưa thành phố tiến lên theo con đường xây dựng chủ nghĩa
xã hội, xây dựng thành phố ngày càng giàu mạnh, văn minh, đấu
tranh giữ vững thành quả cách mạng, giữ vững an ninh chính trị và
trật tự an toàn xã hội, tăng cường và củng cố nền quốc phòng toàn
dân, xây dựng thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc. Hàng
ngàn người con của thành phố đã lên đường chiến đấu anh dũng
giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây
Nam và làm tròn nghĩa vụ quốc tế trên đấ t nước Campuchia. Lịch sử
cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài gần một phần ba thế kỷ
đang lùi xa vào quá khứ. Nhưng nhữ ng giá trị quyền thống và bài họ c
lịch sử của nó thì còn lại mãi mãi với các thế hệ cư dân chủ nhân của
thành phố Hồ Chí Minh - thành phố anh hùng
(Theo sách Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định
kháng chiến 1945-1975. NXB TP.HCM)

Chán đời đi lang thang !
0
NGƯỜI NÉM BOM XUỐNG DINH ĐỘC LẬP
Đó là Nguyễn Thành Trung, người cán bộ nội tuyến binh vận
của ta được cài vào trong lự c lượng không quân quân lực Việt Nam
Cộng Hò a. Ngày 8.4.1975, anh đã lái máy bay F.5 xuất phát từ sân
bay Thành Sơn (Phan Rang) bay vào ném bom trúng dinh Độc Lập và
sau đó hạ cánh an toàn xuống sân bay Phước Long. Sự kiện này góp
phần gây hoang mang cực độ trong giới đầu sỏ ngụy quyền Sài Gòn.
Ngày 28.4.1975, không đầy 10 phút sau khi tướng Dương Văn
Minh thay Thiệu nhậm chức Tổng thống, Nguyễn Thành Trung đã
dẫn đường cho 4 chiếc A.37 do Mỹ chế tạo từ sân bay Thành Sơn
(Phan Rang), lượn vò ng trên bầu trời Sà i Gòn. Lú c 17 giờ 40 phút phi
đội của Nguyễn Thành Trung đã ném bom và bắ n đạn DK.28 vào sân
bay Tân Sơn Nhất khiến 3 máy bay AC.119 và nhiều chiếc C.47 bị
phá hủy. Hai trái bom nổ giữa trung tâm điều khiển và vọng kiểm
soát. Máy bay phản kích của địch bay mò vì trạm hướng dẫn đã bị
hỏng. Cuộc oanh tạc táo bạo, bất ngờ làm tiêu tan hy vọng "thương
lượng" của "tân tổng thống" lẫn Hoa Kỳ, làm tăng thêm sự hoang
mang và hỗn loạn của địch.
(Hỏi và đáp 300 năm Sài Gòn - TP.Hồ Chí Minh)

Chán đời đi lang thang !
0
TOÁN LÍNH MỸ CUỐI CÙNG RỜI SÀI GÒN
Sau Hiệp định Paris 1973 Mỹ phải rút quân khỏ i miền Nam chỉ
còn để lại những cố vấn quân sự và số lính bảo vệ. Khi chiến dịch Hồ
Chí Minh nổ ra, mấy ngày trước 30.4.1975, Mỹ tiến hành di sản số
người Mỹ gây nên sự hỗn loạn chưa từ ng có.
3 giờ 30 sáng 30.4.1975 Tổng thống Mỹ Ford ra lệ nh cho Đại sứ
quán Mỹ ở Sài Gòn: chấm dứ t di tản. Nhưng lệ nh không thi hành
được. Đế n 4 giờ 20 một máy bay CH.53 đưa Đại sứ Mỹ Martin di tản.
Đến 5 giờ 24 trên nóc tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, chiếc trực thăng Mỹ
CH.46 vội vã cất cánh mang đi 12 lính Mỹ cuối cù ng ra khỏi Việt
Nam, trong đó có thiếu tá James Kean người có quân hà m cao nhất
trong toán lính này.
(Hỏi và đáp 300 năm Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh)

Chán đời đi lang thang !
0
ĐỒNG ĐÔLA VÀ ĐỘI QUÂN DỊCH VỤ
Sự dư thừa của Mỹ về bom đạn và tiền bạc và điều mà ai cũng
phải thừa nhận. Để biến mảnh đất nhỏ bé này thành "mộ t tiền đồn
chống cộng", đế quốc Mỹ đã dốc vào đây một số tiền khổng lồ. Theo số
liệu cho Mỹ công bố thì chi phí trực tiếp của Mỹ cho toàn bộ cuộ c
chiế n tranh Việt Nam từ 1960 đến 1973 là 141 tỉ đô la, con số ấy sẽ
lên đến 700 tỉ nếu tính luôn vào đó cả những chi phí gián tiếp nữa. Tỉ
lệ của năm cao nhất - 1968 - chiếm ba phần trăm tổng sản phẩm quốc
dân, tức là 26 tỉ đô -la/864 tỉ đô - la. So với chiến tranh thế giới lần
thứ hai - mà chi phí trực tiếp của Mỹ vào cuộ c chiến tranh ấy là 341
tỉ và vừa trực tiếp vừa gián tiếp là 900 tỉ - thì con số đổ vào Việ t Nam
quả thật là ghê gớm. Với số tiền đó, Mỹ đã dùng vào những hành
động quân sự là chính, nhưng cũng đã đề ra một phần gọi là "quốc
gia". "Trong niên khóa 1966, những hàng hóa viện trợ trị giá 445
triệu Mỹ kim đã được chở tới Việt Nam thuộc chương trình nhập cảng
thương mại của cơ quan USAID, chương trình chống phiên cộng, viện
trợ phát triển và chương trình thực phẩm phụng sự hòa bình. Con số
này gấp đôi số viện trợ trong năm 1965".
Những loại người nào nằm trong cái phạ m trù "nhân dân Việt
Nam" được hưởng số tiền ấy thì mọi người đều biết. Ngoài việc dùng
số tiền ấy để trang bị và củng cố ngụy quân, ngụy quyền đồng thời
tiến hành các chương trình bình định nông thôn, đã có 5 đến 6 phần
trăm đã thất thoát, rơi vào túi riêng của bọn tay sai hoặc chạy ra thị
trường để tạo nên khu vực dịch vụ to lớn mà mục đích cuối cùng cũng
vẫn là quay trở về phục vụ cuộc chiế n tranh xâm lược của Mỹ. Cộng
thêm với sự tiêu xài của khoảng 700.000 lính viễn chinh Mỹ và chư
hầu - trung bình mỗ i người tiêu thụ một ngày một đô - la - thì khu
vực dịch vụ do đồng đô - la Mỹ tạo ra đã lên tới một mức độ không
phải là nhỏ. Theo sự ước lượng của một chuyên viên kinh tế trong chế
độ cũ, con số ấy đã lên với "vài ba trăm ngàn người", hầu hết đều
sống ở các thành thị và các vùng ngoại ô, trong số những người đó bao

gồm có những công nhân làm sở Mỹ, những nhà thầu cung cấp vật
liệu hay dịch vụ cho quân đội Mỹ, nhữ ng người sống nhờ vào sự chi
tiêu của Mỹ hoặc buôn đi bán lại nhữ ng hàng hóa thất thoát từ PX
(cơ quan Quân tiếp vụ Mỹ) ra. "Vài ba trăm ngàn" là một con số trừu
tượng, một cách nói còn co dãn, nhưng phải nhìn vào sinh hoạ t náo
nhiệt của những con người cụ thể ấy mới thấy hết tác động dữ dội của
đồng đô - la Mỹ như thế nào.
Tất nhiên số tiền ấy không phải đã được phân phối ngang đều
cho các khu vự c khác nhau có liên hệ đến những công việc làm ăn với
Mỹ. Đối với những người Việt Nam trực tiếp đi làm cho Mỹ tại cơ
quan quân sự và dân sự hoặc là qua những hãng năm 1969 là
141.868 người - số tiền thu nhập bình quân vẫn còn ở mức thấp nhất.
So với đồng lương của một người đi làm công chức cho chính quyền
ngụy thì đi làm cho Mỹ vẫn cao hơn - trong lúc lương một công chức
làm khoán cho chính quyền ngụy vào năm 1969 là 3.000 đồng (tiền
cũ) thì lương củ a một người giúp việc cho Mỹ là 3.336 đồng, lao công
làm sở Mỹ là 4.092 đồng - nhưng sự chênh lệch không phải là quá xa
cách. Tuy vậ y, do dễ tìm việc làm, lại nhờ vào những thứ có thể kiếm
chác thêm (mua bán,ăn cắp hàng, giờ phụ trội...) cho nên việc đi làm
cho Mỹ vẫn tạo ra một sự lôi cuốn khá nô nức đối với nhiều ngườ i. Họ
thường phục dịch cho Mỹ bằng nhữồng nghề đơn giả n như lái xe,
thông dịch, thư ký, sửa chữa, xây cất, những công việc lao động linh
tinh như nấu bếp, phụ bếp, giặt giũ, coi kho, gác cổng, kể cả một số
nghề mới mẻ mà lạ lù ng như nghề ướp xác chết và mổ ruột Mỹ nữa.
Bộ phận tư sản làm nghề thầu cho Mỹ mớ i là nhữ ng kẻ được
hưởng lợi nhiều và làm giàu nhanh. "Những nhà thầu hoạt động
trong rất nhiều lãnh vực : xây cất cho quân đội đồng minh cung cấp
sản phẩm dịch vụ cho họ. Người lính đồng minh thường có một nếp
sống cao và quen hưởng nhiều tiện nghi, cho nên việc cung ứng dịch
vụ cho họ đã là một món lợi rấ t lớn cho các nhà thầu người Việt. Có
thể nói không sai lầm là đại đa số những triệu phú trong hai năm gần
đây đã xây dựng cơ đồ do sự lãnh thầu nơi khu vực Hoa Kỳ. Rất khó
có thể xác định số lượng các nhà thầu này, vì ngoài một số nhỏ có
môn bài hẳn hoi, còn đại đa số không có môn bài, nhất là những gia
đình thầu rác Hoa Kỳ, thầu đồ giặt, thầu chuyên chở vận tải.... Mỗi
nhà thầu đó lại thuê mướn một số nhân công trực tiếp hoặc cho hàng
trăm gia đình tái thầ u lại công tác đã lãnh của mình. Tuy nhiên, ta có

thể có một ý niệm đại khái về mức quan trọng của họ qua các con số
về số tiền ký thác tại ngân hàng Sài Gòn - Chợ Lớn và các đô thị. Tại
Sài Gòn - Chợ Lớn, số ký thác trong hai năm qua đã vượt từ gần 8 tỉ
hồi cuối 1964 lên gần 30 tỉ bạc hồi tháng 9/1967 mà một phần không
nhỏ là của những nhà thầu triệu phú mới này. Tại các tỉnh có cơ sở
ngân hành và có căn cứ quân đội đồng minh, số ký thác cũng đã tăng
gấp bội: tại Đà Nẵng hiện nay số ký thác lên tới hơn 800 triệu so với
ngót 100 triệu cách đây hai năm. Tại Nha Trang, con số này là hơn
250 triệu trong khi đó cách đây hai năm chưa có ngân hà ng nào hoạt
động cả. Tại miền Tây, số ký thác tại các ngân hàng mới thành lập (
kể cả số kí thác tại Cần Thơ mà ngân hàng đã thành lập từ lâu), tổng
số kí thác đã vượt 300 triệu...".
Tính chất mại bản, bóc lột của những nhà thầu này rất gần gũi
với bọn tướng tá đầu cơ chiến tranh, bọn thối nát trong guồng máy
ngụy quyền: đây là một gai cấp xã hội hoàn toàn do cuộc chiến tranh
xâm lược của Mỹ đẻ ra và hoàn toàn phục vụ cho cuộc chiến tranh ấy.
(Theo Cuộc xâm lăng về VHTT - NXB VH 1981)

Chán đời đi lang thang !
0
VÀI NÉT VỀ KHÁM CHÍ HOÀ
Toàn bộ khu nhà giam rộng bảy hécta.
Khu khám lớn gồm một tầng trệt và ba tầng lầu, xây theo hình
tá m cạnh, mỗi cạnh là một ô. Gồm các ô : A, B, C, D, E, F, G, H và
chia thành sáu khu : AB, BC, ED, FG, AH, ID, (có lúc chia thành tám
khu); có chấn song sắt kiên cố. Ở mỗi khu được sơn màu sơn khá c
nhau và can phạ m nào ở khu nà o cũng đề u có mang biển số trên
người cùng màu với khu giam của mình. Sự phân biệt này nhằm tạo
thuận lợi dễ dàng cho việc kiểm soát của lực lượng canh giữ trại. Một
phạm nhân ở khu nà y tự ý đi vào khu khác đều có thể bị phát hiện
được ngay.
Ngoài ra còn có ba khu nằm nối lưng với khu bát giác, mà bọn
cai ngụ c gọ i là khu hỏa thự c, khu bệnh xá, khu kỷ luật. Tại khu kỷ
luật có phòng "điện ảnh" và phòng "truyề n hình". Tên gọi đẹp đẽ là
thế, nhưng mỉa mai thay, đây lại là nơi tra tấn ngườ i nghiệt ngã
nhất.
Năm 1972, do yêu cầu của Bộ tư lệnh cả nh sát quốc gia Sài
Gòn, mặc dù có giám thị chịu trách nhiệm phòng an ninh của nhà lao,
nhưng vẫn được tăng cường thêm một toán cảnh sát để theo dõi tình
hình phạm nhân, nhân viên giám thị và phát hiện những điều đáng
nghi qua việ c thăm nuôi. Cũng từ đó , quyền hành dần dần lọt vào tay
bọn cảnh sát chìm.
Khá m Chí Hò a tổng cộng có 238 phòng giam, gồm :
Khu AB có : 52 phòng
Khu ID có : 17 phòng
Phòng an ninh : 3 phòng (biệt giam)
Khu D có : 65 phòng (diện tích hẹp).
Số 101 phòng còn lại đều có diện tích giống nhau.

Khu trung tâm lô cốt có dựng một thanh gươm lớn với các hình
dấu âm dương, càn khôn, vũ trụ mang ý nghĩa rằng, đây là một thế
giới riêng biệt mà những kẻ trót vào đây là không thể nào lọt ra được.
Đã từ lâu, có lắm huyền thoại về khu đất "linh thiêng" này.
Nhiều người cho rằng, do sự chuyển động của âm dương ở đây như
thế nào đó đã gây ra xung khí mạ nh. Vì thế ở khu này thường bị sét
đánh. Thực tế, sét đã đánh ở khu này nhiều lần. Xây đi, xây lại mấy
lượt vẫn bị "đánh". Ngày nay, vào Chí Hòa, các mái ngói của khu bát
giác đều đều nhau, nhưng khu FG bị khuyết thấp xuống. Đó là dấu
vết còn lại của một ngàn lẻ một câu chuyện ở khám Chí Hòa ngày
trước.
Ngoài công trình chính của nhà giam, còn có ngôi nhà hai tầng
làm văn phòng ban quản đốc và một phòng tuyên úy cạnh lối vào khu
AB. Một niệm Phật đài, một ngôi chù a và một nhà thờ được xây dựng
trong khu vực khám Chí Hòa.
Ở chính giữa nhà tù , một tháp nước có trổ lỗ châu mai, với bốn
loa phóng thanh và một cột cờ trên đỉnh. Mùa mưa, sân nhà tù ngập
nước, có khi tràn cả vào xà lim ở tầng dưới.
Ở khám Chí Hòa có một chiếc máy chém. Chiếc máy chém này
có từ thời Phá p được chuyển từ khám Catina sang, do tên đội Phướ c
phụ trách. Theo tài liệu cũ để lại, người cuối cùng chết với chiếc máy
chém này là Ba Cụt, tức Nguyễn Văn Vinh, tướng Cao Đài, bị Ngô
Đình Diệm giết. Ngày trước, hàng năm vào ngày rằm tháng bảy âm
lịch, bọn quản đốc nhà giam tổ chức cúng chiếc máy chém này. Nhiều
tù nhân cũng đến thắp hương, lễ bái.
Theo nhiều tài liệu để lại, thời Mỹ - ngụy, số lượng tù nhân ở
nhà lao Chí Hòa trung bình là 6.000 người, có lúc lên tới 7.000 người.
Cũng có tài liệu nói, cá biệt có đợt vọt lên ngót một vạn !
Trong số những phạm nhân vào Chí Hòa có những nhân vật cao
cấp trong chính quyền Sài Gòn, như Ngô Đình Cẩn (đã bị bắn chết
ngay tại Chí Hòa), Phan Khắc Sử u, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng
Khanh, tướng Vũ Vũ Gia, tướng Lam Sơn... Nghị sĩ Trương Đình
Dzu, dân biểu Trầ n Ngọc Châu..., cũng bị vào Chí Hòa.

Cũng như Côn Đảo, Phú Quố c và nhiều nhà tù khác ở miền
Nam, bọn địch đã huấn luyện cho nhân viên phụ trá ch các nhà lao
hết sức cẩn mật. Dưới đây là vài điều chúng đã quy định tại những
nơi giam cầm tù chính trị, và chưa phải là tài liệu cuối cùng quy định
về việc này.
Phải có một kho vũ khí, đạn dược chắc chắ n, riêng biệt. Nơi đây
cấm ngặt sự lai vãng của bất cứ nhân viên nào không phận sự giữ
kho.
Cũng như hệ thống phòng thủ đồn bót, phải có một sơ đồ hỏa
lực để cho mỗi tháp canh có thể khai thác hết khả năng của những vũ
khí tự động một cách kiến hiệu.
Nếu được, song song với sơ đồ hỏa lực, mỗi tháp canh phải có
đèn rọi mạnh để kiểm soát các rào kẽm gai.
Đặt một hệ thống liên lạc giữa các tháp canh với điểm gác cổng
chính bằng điện thoại.
Tại điểm canh, lúc nào cũng phải có mặt ít nhất hai phần ba
quân số và số tối thiểu quân số có mặt bao giờ cũng không thể dưới
một tiểu đội.
Chặn bắt mọi kẻ khả nghi.
Cho phạm nhân ăn cơm sớm, để có đủ thời giờ kiểm điểm lại
nhân số trước khi họ vào nhà giam... (Kho Lưu trữ Trung ương 2, hồ
sơ mang ký hiệu SC.02, H.184, HS.3512).
Riêng ở Chí Hòa, nhữ ng tên quản đốc vô cùng ác ôn, khét tiếng
ở Sài Gòn một thời. Những tên tộ i ác ấy nối dài, nếu tính từ khi có
nhà tù Chí Hòa đến năm 1975. Dưới đây chỉ nêu một số tên dưới thời
Mỹ - ngụy mà chúng tôi vừa sưu tầm được, chắc còn phải bổ sung.
Những tên quản đốc ở Khám Chí Hòa (1954 - 1975) :
1954 - 1956 : Tên Gia, cảnh sát trưở ng
1956 - 1960 : Thiếu tá Nguyễn Văn Vệ
1960 - 1961: Thiếu tá Lê Quang Nhơn
1961 - 1962: Đại tá Trần Văn Đắc
962 - 1963: Trung tá Luyện

1963 - 1965: Thiếu tá Sáu
1965 - 1968: Trung tá Luyện
1968 - 1970 : Trung tá Lại Nguyên Tấn
1970 - 1972 : Trung tá Đức
1972 - 1973 : Trung tá Nguyễn Văn Vệ
1973 - 1974 : Bùi Văn Tâm (dân sự, ngạch quản đốc)
1974 - 1975 : Đại tá Phạm Văn Hải.
Nhân đây, xin nói đôi chút về tên trung tá ác ôn Nguyễn Văn
Vệ. Trước 1954, Vệ là trung úy cảnh sát ngụy. Sau Hiệp định Genève,
hắn sang phục vụ cho Mỹ, chuyên trách việc cai quản và đàn áp tù
nhân ở các nhà tù miền Nam. Nhận thấy Vệ có khả năng về việc tra
tấ n giết người, chính quyền Sài Gòn giao cho hắn cai quản nhà tù
Côn Đảo từ năm 1965 đến năm 1971. Năm 1969, nhà báo Mỹ Đôn
Luxơ tố cáo vụ chuồ ng cọp ở Côn Đảo, Vệ tạm rút vào "hậu trường" để
phụ trách chương trình "phượng hoàng", nhưng thực chất vẫn là tên
chúa đảo. Năm 1972 -1973, Vệ về làm quản đốc nhà giam Chí Hòa.
Ngày 10-12-1972, hắn ra lệnh cho 100 tên cảnh sát dã chiến mang
gậy tre, mũ sắt, súng ngắn, súng phóng lựu đạn, dùi cui xông vào đàn
áp tù chính trị giam ở các xà lim. Tất nhiên, việc hành hung qui mô
lớn ấy không chỉ xảy ra một đôi ba lần. Nó đã trở thành thường
xuyên và đôi khi liên tục. Hắn còn bày việc bí mật chuyển người tù đi
nơi khác mà không ai biết...
Nguyễn Văn Vệ còn cấm người nhà đến thăm tù, nhằm mụ c
đích các gia đình không hay biết gì về chồng con, cha, anh bị giam ở
Chí Hòa. Hắn thường thông báo rằng một số tù chính trị ở Chí Hòa
đã mãn hạn tù, nay mai sẽ được tha. Nhưng kỳ thực, sau đó hắn cho
xe đến Chí Hòa để chở những người tù có "danh sách được tha" đi
sang Tân Hiệp, Thủ Đức hoặc ra Côn Đảo mà không ai hay biết gì.
Nguyễn Văn Vệ là một tên chúa ngục ác ôn ở Côn Đảo và Chí
Hòa.
(Trần Thanh Phương - trong sách "Đây các nhà tù Mỹ ngụy"
NXB TP.HCM - 1995)

Chán đời đi lang thang !
0
SNACK BAR VÀ CÁC THỨ "NGHỀ NGHIỆP" KHÁC
Một số "nghề nghiệp" khác xoay quanh đồng đô-la cũng đã có
những hoạt động khá rầm rộ.
Đáng kể trước tiên trong các hình thức làm ăn này là nghề mãi
dâm cho Mỹ dưới rất nhiều hình thức khá c nhau, và trong các hình
thức ấy thì nghề làm chiêu đãi viên là khá ồn ào và được coi là hợp
pháp. Con số snack-bar đăng ký với ngụy quyền năm 1969 là 219 cái
và gái bán bar có giấy hành nghề là 4.980 người; nhưng theo những
người biết chuyện thì con số ấy hoàn toàn xa rời sự thật : sự thật là
trên toàn miền Nam năm 1969, số snack-bar có vào khoảng 1.400 cái,
còn gái bán bar là khoảng 200.000 người, rải rác khắp nhữ ng khu có
Mỹ đóng quân, quan trọng nhất là các khu Sài Gòn, Biên Hòa, Phú
Lợi (Thủ Dầu Một), Vũng Tàu, Cam Ranh, Đà Nẵng v.v... Vũng Tàu
có khoảng 50.000 dân thì đã có khoảng 3.000 chiêu đãi viên, 300
snack-bar, 50 khách sạn vào năm 1967; còn Sài Gòn cũng vào năm
1967 đã có gần 200 snack-bar, còn số chiêu đãi viên vào năm 1969 là
khoảng 20.000 người. Trung bình một chiêu đãi viên có thể kiếm đến
40.000 đồng một tháng (tiền cũ, theo giá trị năm 1967). Cõn những
chủ chứa thì số tiền kiếm được tất phải cao hơn nhiều lần : mỗi tháng
ít nhất cũng vào khoảng 200.000 đồng. Thành phần những cô gái đi
làm chiêu đãi viên cũng có nhiều loại khác nhau : có những cô gái quê
ra tỉnh không muốn làm nghề chân tay, có nhữ ng gái bụi đời lao vào
trụ y lạc, nhưng cũng có cả những phụ nữ coi nghề bán bar như một
phương tiện sinh kế nuôi gia đình, trong loạ i này không hiếm gì
những nữ sinh viên; dù khác nhau thế nào thì gốc rễ của vấn đề vẫn
là sự lôi cuốn của những tiện nghi vật chất do Mỹ mang lại.
Đây là những trung tâm du hí, phục vụ cho các nhu cầu sinh lý
và giải trí cho lính Mỹ và chư hầu, nhưng cũng là nơi hoạt động của
việc buôn bán hàng PX, đổi đô-la, là hạt nhân từ đó xoay quanh hàng
loạt những "nghề nghiệp" khác khá tấp nập như nghề lái xe, ma-cô,

rước mối, phá thai, vá bộ phận sinh dục, mỹ viện, dạy tiếng Anh v.v...
Bán thân cho Mỹ là một "nghề" khá náo động, không phải chỉ giới
hạn trong các vùng có snack-bar. Để phục vụ cho bọn lính Mỹ, bọn
thầu đã dùng cả máy bay hoặc hàng đoàn xe cam nhông chở gái điếm
đến các vùng đang đánh nhau hoặc các căn cứ quân sự nữa. Đây cũng
là mộ t khu vực hoạt động có nhiều biến thái phức tạp : có khi lén lút
kiểu lâu lâu "nhảy dù " vài lần, làm vợ hờ cho Mỹ, làm sở Mỹ hoặc
công khai như các khách sạn, các nhà tắm hơi, các vũ trường, các tổ
chức trình diễn thoát y vũ (Sexy show) v.v...
Chợ trời cũng là một trong nhữ ng hoạt động khá tấp nập ở các
đô thị miền Nam trước đây. Thực chất đây là những hoạt động chợ
đen chuyên mua bán những hàng lậu thất thoát từ các PX của Mỹ.
Việc thất thoát này có nhiều ngõ ngách, có thể là do nhân viên người
Việt làm sở Mỹ đánh cắp, do gái bán bar đưa ra, nhưng căn bản vẫn
là do bọn lính Mỹ . Chúng ăn cắp từng xe với số lượng hàng thật lớn,
móc ráp với bọn buôn lậu bên ngoài để tiêu thụ. Số hàng này phần
lớn là thực phẩm như rượu, thuốc hút, đồ hộp... nhưng cũng bao gồm
khá nhiều những mặt hàng công nghiệp tiêu dùng như bột giặt, máy
giặt, ti-vi, tủ lạnh, máy ảnh, máy chiếu phim, ra-đi-ô, máy há t, máy
ghi âm... và hàng loạt nhữ ng thứ hàng hóa linh tinh đủ loại, trong đó,
theo một tác giả Mỹ, có cả súng nữa (tất nhiên không thể bán công
khai). Đây là những hàng miễn thuế bán riêng cho những nhân viên,
binh lính Mỹ cho nên khi thẩm lậu ra ngoài, qua nhiều trung gian rồi
giá vẫn còn rất hạ. Nhữ ng người ở thành thị miền Nam trước đây có
thể mua sắm được những máy móc sử dụng trong nhà chủ yếu là do
các chợ trời cung cấ p.
Theo con số của Ủy ban Nghiên cứu Kinh tế Hậu chiến thiết lập
năm 1969 thì năm 1965, mỗi tháng PX bán ra khoảng 13 triệu đô-la
hàng, tức là khoảng 156 triệu đô-la một năm, còn trong 1967, thì con
số đó mỗi tháng tăng lên đến 23 triệu đô-la, tức là khoảng 276 triệu
đô-la mỗi năm. Nhiều chuyên viên trước đây đã ước lượng là có
khoảng từ 3 đến 25 phần trăm hàng PX đã thẩm lậu ra thị trường
bên ngoài, tính theo tổng số hàng PX đã nhập cảng, và như vậy thì số
hàng thẩm lậu ra vào năm 1966 đã có thể lên đế n khoảng 20 triệu đôla,
tức là vào khoảng 3 tỉ tiền miền Nam (tiền cũ). Chính là số hàng
này đã tạo nên đội quân dịch vụ, mua qua bán lại đông đảo, lôi cuốn
vào đó không phải chỉ nhữ ng người thành thị mà cả những người tị

nạn từ thôn quê đây cũng là nơi dung dưỡng những tệ đoan xã hội
như lưu manh, ăn cắp và hàng loạt những lối làm ăn tạp nham phi
sản xuất khác.
Các nghề nghiệp linh tinh phát triển xung quanh đồng đô-la và
bám vào sự hiện diện của quân đội Mỹ cũng khá phức tạp. Dọc quố c
lộ 19 gần An Khê, nơi có gần 2000 dân tị nạn, đã mọc lên san sát
những tiệm giặt ủi phục vụ cho bọn Sư đoàn I Không kị Mỹ đóng gần
đó. Tất nhiên, xung quanh những trung tâm như vậy, không phải chỉ
có giặt ủi thôi. Bất cứ nơi nào có lĩnh Mỹ đóng quân thì tất yếu nơi đó
sẽ đẻ ra đĩ điếm, buôn lậu và đi đôi với cờ bạc, lưu manh, du đãng,
tấ p nập xung quanh những nhà ngủ, phòng trà, khách sạn, quán xá...
và bao nhiêu thứ làm ăn vặt vãnh khác. Trong khi đàn ông bị đẩy đi
làm lính đánh thuê, đàn bà bị dụ dỗ đi làm điếm thì trẻ con nếu
không đi đánh giày, đi dắt mối thì cũng thất thểu ở những đống rá c
của Mỹ để kiếm sống.
Sức cuốn hút của đồng đô-la trong những năm chiến tranh xâm
lược củ a Mỹ lên cao, thật là dữ dội như mấy câu vè sau đây :
Cơn lốc đô-la xoáy tít mù Từ con đĩ lậu đến thày tu Từ anh trí
thức, thằng lao động Đều bị hôn mê, té ngã cù.
Thật thế, "cơn lốc" đô-la đó đã gây ra những xá o động ghê gớm
về mặt xã hội. Nó phá hoại đờ i sống gia đình, làm cho những phụ nữ
có 5, 6 con mà vẫn bỏ nhà đi lấy Mỹ . Nó hạ bệ cả những giá trị trướ c
đây thườ ng được coi là "thiêng liêng", quý trọng : nó đẩy những nhà
trí thức, những ông giáo đi làm nghề lái xe ôm, nó tạo ra những thày
tu hổ mang, những ông linh mục đi theo Mỹ để lấy tiề n "phát triển
đạo". Nó tạo ra những chính khá ch xôi thịt, những tên quân phiệt
mồm luôn luôn hô hào "cách mạng xã hội", "chống tham nhũng"
nhưng lại sống bằng buôn lậu, hối lộ. Nó là cái nền của mọi sự nhố
nhăng, sa đọa của một thuộc địa kiểu mới.
(Theo : Cuộc xâm lăng về VHTT NXB VH - 1981)

Chán đời đi lang thang !
0
«« « 1 2 3 4 5 » »»